Wikibooks viwikibooks https://vi.wikibooks.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.46.0-wmf.26 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikibooks Thảo luận Wikibooks Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Trẻ em Thảo luận Trẻ em Nấu ăn Thảo luận Nấu ăn TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Thể loại:Sách 14 2702 542277 541719 2026-04-29T15:57:36Z ~2026-26230-55 19578 542277 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Việt]] moptcnk0pa83mkqdrdrjtupk8wcbka5 542278 542277 2026-04-29T15:58:12Z ~2026-26230-55 19578 542278 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Quách trung thành]] pqpscizej6067p899fh2qd5nhdaefjt Sách Vật lý 0 19077 542327 541773 2026-04-29T17:37:08Z ~2026-26125-13 19579 542327 wikitext text/x-wiki * [[Đơn vị đo lường]] * [[Định luật Vật lý]] * [[Vật]] * [[Định luật Newton]] * [[Lực]] * [[Chuyển động]] * [[Nhiệt]] * [[Ánh sáng]] * [[Âm thanh]] * [[Điện]] * [[Điện từ]] * [[Sóng]] * [[Thuyết tương đối động Einstein]] [[Thể loại:Sách khoa học]] 1rmdoamdjei138x9mr4ybucit341huq Sách Đạo giáo 0 36577 542267 531688 2026-04-29T15:48:23Z ~2026-26230-55 19578 542267 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Tao.svg|phải|nhỏ|150px]] Đạo giáo là một tôn giáo Trung quốc xuất hiện trong thế kỉ thứ hai sau CN, khi Trương Đạo Lăng) khởi xướng phong trào Thiên sư đạo tại tỉnh Tứ Xuyên năm 142. Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo Ấn độ và thâu thập các thành phần của Hỏa giáo Ba tư (zh. en. Zoroastrianism). Đạo giáo thâu nhập nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời [[Nhà Chu]] (1040-256 trước CN). Những tư tưởng này luận về vũ trụ và năng lượng bao gồm các thuyết [[âm dương]] , [[ngũ hành]], [[tứ tượng]], [[bát quái]], chân [[khí (triết học)|khí]] cùng những truyền thống tu luyện thân tâm [[Thiền định]] , điều hoà hơi thở như [[Khí công]] , võ công [[Thái cực quyền]], [[thiết tưởng linh ảnh]], [[thuật luyện kim]] và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử. * [[/Trương lăng/]] * [[/Hình thành và phát triển Đạo giáo/]] * [[/Cơ sở Đạo giáo/]] * [[/Kinh sách Đạo giáo/]] [[Thể loại: Sách tôn giáo Trung quốc]] f2sw2xldcxjpiu2z8myhvqe8ff2slyc 542269 542267 2026-04-29T15:49:36Z ~2026-26230-55 19578 542269 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Tao.svg|phải|nhỏ|150px]] Đạo giáo là một tôn giáo Trung quốc xuất hiện trong thế kỉ thứ hai sau CN, khi Trương Đạo Lăng) khởi xướng phong trào Thiên sư đạo tại tỉnh Tứ Xuyên năm 142. Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo Ấn độ và thâu thập các thành phần của Hỏa giáo Ba tư (zh. en. Zoroastrianism). Đạo giáo thâu nhập nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời [[Nhà Chu]] (1040-256 trước CN). Những tư tưởng này luận về vũ trụ và năng lượng bao gồm các thuyết [[âm dương]] , [[ngũ hành]], [[tứ tượng]], [[bát quái]], chân [[khí (triết học)|khí]] cùng những truyền thống tu luyện thân tâm [[Thiền định]] , điều hoà hơi thở như [[Khí công]] , võ công [[Thái cực quyền]], [[thiết tưởng linh ảnh]], [[thuật luyện kim]] và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử. * [[/Trương Đạo Lăng/]] * [[/Hình thành và phát triển Đạo giáo/]] * [[/Cơ sở Đạo giáo/]] * [[/Kinh sách Đạo giáo/]] [[Thể loại: Sách tôn giáo Trung quốc]] 3q80bd83i6gw9fl1h8k7jxjz7wsh9xc Thành viên:James500 2 67573 542328 454247 2026-04-29T22:52:41Z James500 16869 /* */ Remove template 542328 wikitext text/x-wiki {{Trang thành viên}} {{#babel:en}} [[en:User:James500]] sdbc7ydz88oms6xlbe56nxncrhdktea Kinh dịch 0 106704 542212 541702 2026-04-29T14:50:28Z ~2026-26230-55 19578 542212 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc * [[Hình thành và phát triển Kinh dịch]] * [[Hà đồ]] * [[Lạc thư]] * [[Tam dịch]] * [[64 Quẻ Dịch]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc ==Hình thành và phát triển Kinh dịch== Hà Đồ sinh ra Tiên Thiên Bát Quái, đi theo chiều thuận với chiều kim đồng hồ, Âm Dương không bao giờ chống đối lẫn nhau. Lạc Thư sinh ra Hậu Thiên Bát Quái, đi theo chiều nghịch chiều kim đồng hồ, lấy mâu thuẫn, ghen ghét kiềm chế nhau làm cơ bản. Hà đồ là thể, còn lạc thư là dụng, hà đồ chủ thường, lạc thư chủ biến. Hà đồ trọng họp, Lạc thư trọng phân, vuông tròn che chở nhau. Âm Dương ôm ấp nhau, sử dụng tương hỗ lẫn nhau, không thể chia cắt. === Hà đồ=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} ===Lạc thư=== Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ===Tam dịch=== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền ==8 quẻ kinh dịch Phục hy== Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau Lưỡng nghi, Tứ tượng và Bát quẻ ==64 quẻ kinh dịch vua Ha Vũ== Dưới triều [[hạ Vũ|vua Vũ]] (禹 ''Yǔ'') [[nhà Hạ]], vua [[Hạ vũ]] đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, thành ra sáu mươi tư cái sáu vạch, gọi là [[Sáu mươi tư quẻ]] (tức là [[Quẻ kép]]) được ghi chép lại trong kinh [[Liên Sơn]] (連山 ''Lián Shān'') được gọi là [[Liên sơn dịch]]. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng [[quẻ]] [[Thuần Cấn]] (艮 ''gèn'') (núi), với '''nội quái''' và '''ngoại quái''' đều là ''Cấn'' (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là [[Tiên thiên Bát quái]]. * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] 7g1x0o1s070l6356euij0g53du062qc 542213 542212 2026-04-29T14:51:47Z ~2026-26230-55 19578 542213 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc ==Hình thành và phát triển Kinh dịch== Hà Đồ sinh ra Tiên Thiên Bát Quái, đi theo chiều thuận với chiều kim đồng hồ, Âm Dương không bao giờ chống đối lẫn nhau. Lạc Thư sinh ra Hậu Thiên Bát Quái, đi theo chiều nghịch chiều kim đồng hồ, lấy mâu thuẫn, ghen ghét kiềm chế nhau làm cơ bản. Hà đồ là thể, còn lạc thư là dụng, hà đồ chủ thường, lạc thư chủ biến. Hà đồ trọng họp, Lạc thư trọng phân, vuông tròn che chở nhau. Âm Dương ôm ấp nhau, sử dụng tương hỗ lẫn nhau, không thể chia cắt. === Hà đồ=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} ===Lạc thư=== Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ===Tam dịch=== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền ==8 quẻ kinh dịch Phục hy== Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau Lưỡng nghi, Tứ tượng và Bát quẻ ==64 quẻ kinh dịch vua Ha Vũ== Dưới triều [[hạ Vũ|vua Vũ]] (禹 ''Yǔ'') [[nhà Hạ]], vua [[Hạ vũ]] đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, thành ra sáu mươi tư cái sáu vạch, gọi là [[Sáu mươi tư quẻ]] (tức là [[Quẻ kép]]) được ghi chép lại trong kinh [[Liên Sơn]] (連山 ''Lián Shān'') được gọi là [[Liên sơn dịch]]. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng [[quẻ]] [[Thuần Cấn]] (艮 ''gèn'') (núi), với '''nội quái''' và '''ngoại quái''' đều là ''Cấn'' (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là [[Tiên thiên Bát quái]]. * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] 6uecfaakd17n54xadbddr0tq7cv0v06 542215 542213 2026-04-29T14:53:11Z ~2026-26230-55 19578 542215 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] === Hà đồ=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} ===Lạc thư=== Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ===Tam dịch=== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền ==8 quẻ kinh dịch Phục hy== Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau Lưỡng nghi, Tứ tượng và Bát quẻ ==64 quẻ kinh dịch vua Ha Vũ== Dưới triều [[hạ Vũ|vua Vũ]] (禹 ''Yǔ'') [[nhà Hạ]], vua [[Hạ vũ]] đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, thành ra sáu mươi tư cái sáu vạch, gọi là [[Sáu mươi tư quẻ]] (tức là [[Quẻ kép]]) được ghi chép lại trong kinh [[Liên Sơn]] (連山 ''Lián Shān'') được gọi là [[Liên sơn dịch]]. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng [[quẻ]] [[Thuần Cấn]] (艮 ''gèn'') (núi), với '''nội quái''' và '''ngoại quái''' đều là ''Cấn'' (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là [[Tiên thiên Bát quái]]. * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] 5xu01qk0eob5p65x6wey49zekdewbuj 542220 542215 2026-04-29T14:57:54Z ~2026-26230-55 19578 542220 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/8 Quẻ dịch/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] === Hà đồ=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} ===Lạc thư=== Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ===Tam dịch=== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền ==8 quẻ kinh dịch Phục hy== Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau Lưỡng nghi, Tứ tượng và Bát quẻ ==64 quẻ kinh dịch vua Ha Vũ== Dưới triều [[hạ Vũ|vua Vũ]] (禹 ''Yǔ'') [[nhà Hạ]], vua [[Hạ vũ]] đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, thành ra sáu mươi tư cái sáu vạch, gọi là [[Sáu mươi tư quẻ]] (tức là [[Quẻ kép]]) được ghi chép lại trong kinh [[Liên Sơn]] (連山 ''Lián Shān'') được gọi là [[Liên sơn dịch]]. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng [[quẻ]] [[Thuần Cấn]] (艮 ''gèn'') (núi), với '''nội quái''' và '''ngoại quái''' đều là ''Cấn'' (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là [[Tiên thiên Bát quái]]. * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] pwvxhjf2ozmvg0evzdrxhe64tc8qznu 542221 542220 2026-04-29T14:58:45Z ~2026-26230-55 19578 542221 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/8 Quẻ dịch/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] === Hà đồ=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} ===Lạc thư=== Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ===Tam dịch=== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền ==8 quẻ kinh dịch Phục hy== Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau Lưỡng nghi, Tứ tượng và Bát quẻ ==64 quẻ kinh dịch vua Ha Vũ== Dưới triều [[hạ Vũ|vua Vũ]] (禹 ''Yǔ'') [[nhà Hạ]], vua [[Hạ vũ]] đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, thành ra sáu mươi tư cái sáu vạch, gọi là [[Sáu mươi tư quẻ]] (tức là [[Quẻ kép]]) được ghi chép lại trong kinh [[Liên Sơn]] (連山 ''Lián Shān'') được gọi là [[Liên sơn dịch]]. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng [[quẻ]] [[Thuần Cấn]] (艮 ''gèn'') (núi), với '''nội quái''' và '''ngoại quái''' đều là ''Cấn'' (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là [[Tiên thiên Bát quái]]. * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] 2bibstl1lvxrb3ca2vlu1liiwroh7h3 542223 542221 2026-04-29T15:01:50Z ~2026-26230-55 19578 Thay cả nội dung bằng “[[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]]…” 542223 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng Tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/8 Quẻ dịch/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] ==Xem them== * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] i7fqaudje5n7z12g0m9ba08uxjswb74 542224 542223 2026-04-29T15:02:15Z ~2026-26230-55 19578 542224 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/8 Quẻ dịch/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] ==Xem them== * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] rqcnifya0jc1jivfivhjf6ehh9e0k14 542235 542224 2026-04-29T15:16:15Z ~2026-26230-55 19578 542235 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/8 Quẻ dịch/]] [[/8 Quẻ dịch Phục hy/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] ==Xem them== * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] 4bb1fw8dh9e67wfwrc6jvenxje1fcch 542246 542235 2026-04-29T15:25:39Z ~2026-26230-55 19578 542246 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/8 Quẻ dịch/]] [[/8 Quẻ dịch Phục hy/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] [[/64 Quẻ Dịch Văn Vương/]] ==Xem them== * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] 7xdaj1yirned6a0wj7p0hj5y4ljrwyq 542248 542246 2026-04-29T15:26:45Z ~2026-26230-55 19578 542248 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/8 Quẻ dịch/]] [[/8 Quẻ dịch Phục hy/]] * [[/64 Quẻ Dịch/]] [[/64 Quẻ Dịch Văn Vương/]] ==Xem them== * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] iw21u5w3ax3ak00n0zlmeqvem3amjoy 542261 542248 2026-04-29T15:39:37Z ~2026-26230-55 19578 542261 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Kinh Dịch [https://www.huyenhocvadoisong.com/kinh-dich/ I Jing, Yi Ching, Yi King] được soạn thảo bởi [[Khổng tử]] là bộ sách cổ điển của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại bao gồm các học thuyết về vũ trụ và con người được phát triển trong thời đại [[Tam hoàng ngũ đế]] , [[Xuân thu]] [[Chiến quốc]] bởi nhiều tác giả * [[/Hình thành và phát triển Kinh dịch/]] * [[/Hà đồ/]] * [[/Lạc thư/]] * [[/Tam dịch/]] * [[/8 Quẻ dịch/]] [[/8 Quẻ dịch Phục hy/]] * [[/64 Quẻ Dịch Văn Vương/]] ==Xem them== * [http://cohoc.net/64-que-dich.html 64 quẻ kinh dịch] * [https://vi.wikisource.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch Kinh dịch] dzexdc650atyp2y8ks1vatusn7n1at3 Sách Đông y/Lịch sử hình thành và phát triển Đông y 0 106939 542279 530989 2026-04-29T15:59:32Z ~2026-26230-55 19578 542279 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Đông y]] ==Thời cổ đại ở Trung quốc== Đông y được phát triển rất sớm từ thời cổ đại ở Trung quốc nhằm vào việc lý giải Bệnh và cách chửa trị bệnh . * Vào thời nhà Thương (1783 – 1122 B.C trước Tây lịch), người Trung Hoa đã biết dùng những dụng cụ bén nhọn bằng đá, để châm chích vào các huyệt đạo trên cơ thể, nhằm gây ảnh hưởng đến sự dẫn truyền nguồn khí lực trong việc trị bệnh cho con người. * Theo y như Hoàng Đế Nội Kinh (2697 – 2597 B.C. trước Tây Lịch), và sách Dịch Kinh (2400 B.C. trước Tây lịch), nền tảng Đông Y học được dựa trên lý thuyết nguồn khí lực, Âm Dương và Ngũ Hành để lý giải, điều trị bệnh tật và tăng cường sức khỏe con người. ==Thời Xuân Thu và Chiến Quốc== Sử liệu Trung Hoa cũng cho thấy rằng các phương pháp luyện khí đã có nhiều tiến bộ, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770 – 221 B.C. trước Tây lịch). Sau đó, trong thời nhà Tần đến nhà Hán (221 B.C. trước Tây lịch đến 220 A.C. sau Tây lịch), *[[Biển Thước]] là một thầy thuốc trứ danh thời [[Chiến Quốc]] được xem là một trong những danh y đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc người khai sinh ra phương pháp [[bắt mạch]] (quan sát, định bệnh), là người đặt tiền đề chẩn đoán bệnh quan trọng cho [[Đông y]] . *Nguyên lý về khí lực đã được minh chứng hiệu quả bởi y sư [[Hoa Đà]], qua việc áp dụng kỹ thuật châm cứu, để gây nên tình trạng tê mê cho bệnh nhân, trong lúc giải phẫu. Cũng như, ông đã sáng chế những động tác tập luyện khí [[Ngũ Cầm Hí]], dựa theo tính chất và động tác của 5 loại thú rừng như: Cọp, Nai, Khỉ, Gấu và Chim. Một số sách dạy luyện khí công đã được biên soạn bởi nhiều vì y sư, thiền sư và đạo sĩ. Các phương pháp truyền dạy tuy có khác nhau, nhưng vẫn có chung những nguyên lý vận hành khí lực trong cơ thể *[[Lão Tử]] tác giả viết Đạo Đức Kinh, một nhà hiền triết Trung Hoa, đã đề cập đến vai trò hơi thở trong kỹ thuật luyện khí để giúp con người kéo dài tuổi thọ. *Tổ sư [[Bồ Đề Đạt Ma]], người Ấn Độ tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, tỉnh Hồ Nam đã soạn ra sách [[Dịch Cân Kinh]], dạy các môn đồ phát triển nguồn khí lực để tăng cường sức khỏe và gia tăng sức mạnh để có một thân thể cường tráng khỏe mạnh không bị bệnh tật . Về sau, dựa vào nguyên lý khí lực này, các đệ tử Thiếu Lâm đã sáng chế thêm những bài tập khí công như: [[Bát Đoạn Cẩm]], [[Thiết Tuyến Nội Công Quyền]], [[Nội Công Ngũ Hình Quyền]]… *Theo truyền thuyết, vào triều đại nhà Tống (950 – 1279 sau T.L.), tại núi Võ Đang, đạo sĩ Trương Tam Phong sáng chế bài nội công luyện khí [[Thái Cực Quyền]], gồm những động tác giúp người tập luyện cường kiện sức khỏe thân tâm. Về sau, có rất nhiều bài tập khí công được sáng chế bởi nhiều võ phái khác nhau. Dần dần, các võ phái nhỏ, ít người biết đến, đều bị mai một, cùng với những phương pháp truyền dạy bị lãng quên trong quá khứ. Đến nay, một số ít các bài võ luyện khí công còn được ghi nhận qua một số tài liệu hạn hẹp của Trung Hoa như: Dịch Cân Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công Ngũ Hình Quyền, Thái Cực Quyền thuộc ba hệ phái của Trần Gia, Dương Gia và Vũ Gia, Bát Quái Quyền, Hình Ý Quyền, Lục Hợp Bát Pháp Quyền… 7fojn49v2wvsa729m7lscjwtjsaechj Sách Đông y/Học thuyết bệnh 0 106941 542283 516690 2026-04-29T16:04:54Z ~2026-26230-55 19578 542283 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Đông y]] Theo Đông y, bệnh xảy ra khi cơ thể con người bị mất cân bằng âm dương hay bị ô nhiểm hay khi có những triệu chứng khác thường . Thí dụ như Mập / Ốm , Buồn ngủ / Tỉnh táo , nổi hột khoanh màu , xuất nước , máu, đàm ... ==Chẩn bệnh== Để biết cơ thể có bệnh hay không chẩn đoán Đông y dùng 4 phương pháp sau # [[Vọng chẩn]] (Nhìn) - Quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh) # [[Văn chẩn]] ( Nghe) - Lắng nghe tâm sự của bệnh nhân về triệu chứng bệnh # [[Vấn chẩn]] ( Hỏi) - Hỏi bệnh nhân về chi tiết bệnh trạng # [[Thiết chẩn]] ( Khám) - Xem xét, thăm dò dùng tay và công cụ để xác định bệnh trạng. ==Chửa bệnh== Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là '''Cân bằng chỉnh thể ''' - Lập lại trạng thái cân bằng trong cơ thể con người . Đông y dùng các phương pháp sau để chửa bệnh cho bệnh nhân #[[Châm cứu]], # [[Cạo gió]] , # [[Chích lể]] , # [[Xoa bóp]] # [[Giác hơi]] # [[Dùng thuốc trị bệnh]] Cùng với 8 biện pháp cơ bản #"hãn" (làm ra mồ hôi), # "thổ" (gây nôn), # "hạ" (thông đại tiện), # "hòa" (hòa giải), # "ôn" (làm ấm), # "thanh" (làm mát), # "tiêu" (tiêu thức ăn tích trệ), # "bổ" (bồi bổ) để khôi phục cân bằng chỉnh thể, để hóa giải mâu thuẫn giữa "chính khí" (sức chống bệnh) và "tà khí" (tác nhân gây bệnh). Trong 8 phép đó, không có biện pháp nào mang tính đối kháng, tấn công trực diện vào "bệnh tà" như trong Tây y. mxa8sqnb4k88kn952ifx9xd8fp1c7s6 542284 542283 2026-04-29T16:05:20Z ~2026-26230-55 19578 542284 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Đông y]] ==Bệnh== Theo Đông y, bệnh xảy ra khi cơ thể con người bị mất cân bằng âm dương hay bị ô nhiểm hay khi có những triệu chứng khác thường . Thí dụ như Mập / Ốm , Buồn ngủ / Tỉnh táo , nổi hột khoanh màu , xuất nước , máu, đàm ... ==Chẩn bệnh== Để biết cơ thể có bệnh hay không chẩn đoán Đông y dùng 4 phương pháp sau # [[Vọng chẩn]] (Nhìn) - Quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh) # [[Văn chẩn]] ( Nghe) - Lắng nghe tâm sự của bệnh nhân về triệu chứng bệnh # [[Vấn chẩn]] ( Hỏi) - Hỏi bệnh nhân về chi tiết bệnh trạng # [[Thiết chẩn]] ( Khám) - Xem xét, thăm dò dùng tay và công cụ để xác định bệnh trạng. ==Chửa bệnh== Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là '''Cân bằng chỉnh thể ''' - Lập lại trạng thái cân bằng trong cơ thể con người . Đông y dùng các phương pháp sau để chửa bệnh cho bệnh nhân #[[Châm cứu]], # [[Cạo gió]] , # [[Chích lể]] , # [[Xoa bóp]] # [[Giác hơi]] # [[Dùng thuốc trị bệnh]] Cùng với 8 biện pháp cơ bản #"hãn" (làm ra mồ hôi), # "thổ" (gây nôn), # "hạ" (thông đại tiện), # "hòa" (hòa giải), # "ôn" (làm ấm), # "thanh" (làm mát), # "tiêu" (tiêu thức ăn tích trệ), # "bổ" (bồi bổ) để khôi phục cân bằng chỉnh thể, để hóa giải mâu thuẫn giữa "chính khí" (sức chống bệnh) và "tà khí" (tác nhân gây bệnh). Trong 8 phép đó, không có biện pháp nào mang tính đối kháng, tấn công trực diện vào "bệnh tà" như trong Tây y. ===Bệnh trạng=== * Nhiểm - Mới mắc bệnh * Truyền - Bệnh phát triển * Hủy - Hủy hoại chức năng * Ung thư - Không có thuốc trị ===Bệnh trứng=== Nhừng dấu hiệu mắc bệnh thường thấy được * Ra nước - Sổ mủi * Ra máu - Chảy máu mủi (máu cam) , * Ra đồ bẩn - Cứt , Đàm * Đổi màu da - Vàng sang đỏ , đen , trắng * Buồn nôn - Khạc đàm , Ói mửa * Nhức mỏi - Đau nhức tay, chân, đầu, mình , răng * Nổi hột - Mụn , Bệch, Lát Nhừng dấu hiệu đo được , khám được khi mắc bệnh * Thân nhiệt - Nóng , lạnh , ấm , mát ===Loại bệnh=== * [[Bệnh Âm Dương]] : Ăn uống . Thiếu dư dinh dưỡng sẻ sinh ốm yếu hay mập phì : Nghỉ ngơi . Thiếu dư ngủ sẻ sinh bần thần hay sáng suốt * [[Bệnh tiêu hóa]] . Các chứng bệnh sinh ra từ Ruột . Thídu. như, Ỉa - Tiêu chải , Táo bón * [[Bệnh Hô hấp]] . Các chứng bệnh sinh ra từ Phổi . Thí dụ như, Hơi thở - Khó thở , Nghẹt thở , Ngừng thở ouzrxvrp0tb2ys4kjlxd1tihaymhi0i 542285 542284 2026-04-29T16:05:35Z ~2026-26230-55 19578 /* Bệnh trứng */ 542285 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Đông y]] ==Bệnh== Theo Đông y, bệnh xảy ra khi cơ thể con người bị mất cân bằng âm dương hay bị ô nhiểm hay khi có những triệu chứng khác thường . Thí dụ như Mập / Ốm , Buồn ngủ / Tỉnh táo , nổi hột khoanh màu , xuất nước , máu, đàm ... ==Chẩn bệnh== Để biết cơ thể có bệnh hay không chẩn đoán Đông y dùng 4 phương pháp sau # [[Vọng chẩn]] (Nhìn) - Quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh) # [[Văn chẩn]] ( Nghe) - Lắng nghe tâm sự của bệnh nhân về triệu chứng bệnh # [[Vấn chẩn]] ( Hỏi) - Hỏi bệnh nhân về chi tiết bệnh trạng # [[Thiết chẩn]] ( Khám) - Xem xét, thăm dò dùng tay và công cụ để xác định bệnh trạng. ==Chửa bệnh== Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là '''Cân bằng chỉnh thể ''' - Lập lại trạng thái cân bằng trong cơ thể con người . Đông y dùng các phương pháp sau để chửa bệnh cho bệnh nhân #[[Châm cứu]], # [[Cạo gió]] , # [[Chích lể]] , # [[Xoa bóp]] # [[Giác hơi]] # [[Dùng thuốc trị bệnh]] Cùng với 8 biện pháp cơ bản #"hãn" (làm ra mồ hôi), # "thổ" (gây nôn), # "hạ" (thông đại tiện), # "hòa" (hòa giải), # "ôn" (làm ấm), # "thanh" (làm mát), # "tiêu" (tiêu thức ăn tích trệ), # "bổ" (bồi bổ) để khôi phục cân bằng chỉnh thể, để hóa giải mâu thuẫn giữa "chính khí" (sức chống bệnh) và "tà khí" (tác nhân gây bệnh). Trong 8 phép đó, không có biện pháp nào mang tính đối kháng, tấn công trực diện vào "bệnh tà" như trong Tây y. ===Bệnh trạng=== * Nhiểm - Mới mắc bệnh * Truyền - Bệnh phát triển * Hủy - Hủy hoại chức năng * Ung thư - Không có thuốc trị ===Bệnh chứng=== Nhừng dấu hiệu mắc bệnh thường thấy được * Ra nước - Sổ mủi * Ra máu - Chảy máu mủi (máu cam) , * Ra đồ bẩn - Cứt , Đàm * Đổi màu da - Vàng sang đỏ , đen , trắng * Buồn nôn - Khạc đàm , Ói mửa * Nhức mỏi - Đau nhức tay, chân, đầu, mình , răng * Nổi hột - Mụn , Bệch, Lát Nhừng dấu hiệu đo được , khám được khi mắc bệnh * Thân nhiệt - Nóng , lạnh , ấm , mát ===Loại bệnh=== * [[Bệnh Âm Dương]] : Ăn uống . Thiếu dư dinh dưỡng sẻ sinh ốm yếu hay mập phì : Nghỉ ngơi . Thiếu dư ngủ sẻ sinh bần thần hay sáng suốt * [[Bệnh tiêu hóa]] . Các chứng bệnh sinh ra từ Ruột . Thídu. như, Ỉa - Tiêu chải , Táo bón * [[Bệnh Hô hấp]] . Các chứng bệnh sinh ra từ Phổi . Thí dụ như, Hơi thở - Khó thở , Nghẹt thở , Ngừng thở r4gxywkel2l04asrtir38qthywybkdq 542286 542285 2026-04-29T16:06:09Z ~2026-26230-55 19578 542286 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Đông y]] ==Bệnh== Theo Đông y, bệnh xảy ra khi cơ thể con người bị mất cân bằng âm dương hay bị ô nhiểm hay khi có những triệu chứng khác thường . Thí dụ như Mập / Ốm , Buồn ngủ / Tỉnh táo , nổi hột khoanh màu , xuất nước , máu, đàm ... ===Bệnh trạng=== * Nhiểm - Mới mắc bệnh * Truyền - Bệnh phát triển * Hủy - Hủy hoại chức năng * Ung thư - Không có thuốc trị ===Bệnh chứng=== Nhừng dấu hiệu mắc bệnh thường thấy được * Ra nước - Sổ mủi * Ra máu - Chảy máu mủi (máu cam) , * Ra đồ bẩn - Cứt , Đàm * Đổi màu da - Vàng sang đỏ , đen , trắng * Buồn nôn - Khạc đàm , Ói mửa * Nhức mỏi - Đau nhức tay, chân, đầu, mình , răng * Nổi hột - Mụn , Bệch, Lát Nhừng dấu hiệu đo được , khám được khi mắc bệnh * Thân nhiệt - Nóng , lạnh , ấm , mát ===Loại bệnh=== * [[Bệnh Âm Dương]] : Ăn uống . Thiếu dư dinh dưỡng sẻ sinh ốm yếu hay mập phì : Nghỉ ngơi . Thiếu dư ngủ sẻ sinh bần thần hay sáng suốt * [[Bệnh tiêu hóa]] . Các chứng bệnh sinh ra từ Ruột . Thídu. như, Ỉa - Tiêu chải , Táo bón * [[Bệnh Hô hấp]] . Các chứng bệnh sinh ra từ Phổi . Thí dụ như, Hơi thở - Khó thở , Nghẹt thở , Ngừng thở ==Chẩn bệnh== Để biết cơ thể có bệnh hay không chẩn đoán Đông y dùng 4 phương pháp sau # [[Vọng chẩn]] (Nhìn) - Quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh) # [[Văn chẩn]] ( Nghe) - Lắng nghe tâm sự của bệnh nhân về triệu chứng bệnh # [[Vấn chẩn]] ( Hỏi) - Hỏi bệnh nhân về chi tiết bệnh trạng # [[Thiết chẩn]] ( Khám) - Xem xét, thăm dò dùng tay và công cụ để xác định bệnh trạng. ==Chửa bệnh== Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là '''Cân bằng chỉnh thể ''' - Lập lại trạng thái cân bằng trong cơ thể con người . Đông y dùng các phương pháp sau để chửa bệnh cho bệnh nhân #[[Châm cứu]], # [[Cạo gió]] , # [[Chích lể]] , # [[Xoa bóp]] # [[Giác hơi]] # [[Dùng thuốc trị bệnh]] Cùng với 8 biện pháp cơ bản #"hãn" (làm ra mồ hôi), # "thổ" (gây nôn), # "hạ" (thông đại tiện), # "hòa" (hòa giải), # "ôn" (làm ấm), # "thanh" (làm mát), # "tiêu" (tiêu thức ăn tích trệ), # "bổ" (bồi bổ) để khôi phục cân bằng chỉnh thể, để hóa giải mâu thuẫn giữa "chính khí" (sức chống bệnh) và "tà khí" (tác nhân gây bệnh). Trong 8 phép đó, không có biện pháp nào mang tính đối kháng, tấn công trực diện vào "bệnh tà" như trong Tây y. gq358glfqexk5ykjp8ghu1woclqaska 542287 542286 2026-04-29T16:06:32Z ~2026-26230-55 19578 542287 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Đông y]] ==Bệnh== Theo Đông y, bệnh xảy ra khi cơ thể con người bị mất cân bằng âm dương hay bị ô nhiểm hay khi có những triệu chứng khác thường . Thí dụ như Mập / Ốm , Buồn ngủ / Tỉnh táo , nổi hột khoanh màu , xuất nước , máu, đàm ... ===Loại bệnh=== * [[Bệnh Âm Dương]] : Ăn uống . Thiếu dư dinh dưỡng sẻ sinh ốm yếu hay mập phì : Nghỉ ngơi . Thiếu dư ngủ sẻ sinh bần thần hay sáng suốt * [[Bệnh tiêu hóa]] . Các chứng bệnh sinh ra từ Ruột . Thídu. như, Ỉa - Tiêu chải , Táo bón * [[Bệnh Hô hấp]] . Các chứng bệnh sinh ra từ Phổi . Thí dụ như, Hơi thở - Khó thở , Nghẹt thở , Ngừng thở ===Bệnh trạng=== * Nhiểm - Mới mắc bệnh * Truyền - Bệnh phát triển * Hủy - Hủy hoại chức năng * Ung thư - Không có thuốc trị ===Bệnh chứng=== Nhừng dấu hiệu mắc bệnh thường thấy được * Ra nước - Sổ mủi * Ra máu - Chảy máu mủi (máu cam) , * Ra đồ bẩn - Cứt , Đàm * Đổi màu da - Vàng sang đỏ , đen , trắng * Buồn nôn - Khạc đàm , Ói mửa * Nhức mỏi - Đau nhức tay, chân, đầu, mình , răng * Nổi hột - Mụn , Bệch, Lát Nhừng dấu hiệu đo được , khám được khi mắc bệnh * Thân nhiệt - Nóng , lạnh , ấm , mát ==Chẩn bệnh== Để biết cơ thể có bệnh hay không chẩn đoán Đông y dùng 4 phương pháp sau # [[Vọng chẩn]] (Nhìn) - Quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh) # [[Văn chẩn]] ( Nghe) - Lắng nghe tâm sự của bệnh nhân về triệu chứng bệnh # [[Vấn chẩn]] ( Hỏi) - Hỏi bệnh nhân về chi tiết bệnh trạng # [[Thiết chẩn]] ( Khám) - Xem xét, thăm dò dùng tay và công cụ để xác định bệnh trạng. ==Chửa bệnh== Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là '''Cân bằng chỉnh thể ''' - Lập lại trạng thái cân bằng trong cơ thể con người . Đông y dùng các phương pháp sau để chửa bệnh cho bệnh nhân #[[Châm cứu]], # [[Cạo gió]] , # [[Chích lể]] , # [[Xoa bóp]] # [[Giác hơi]] # [[Dùng thuốc trị bệnh]] Cùng với 8 biện pháp cơ bản #"hãn" (làm ra mồ hôi), # "thổ" (gây nôn), # "hạ" (thông đại tiện), # "hòa" (hòa giải), # "ôn" (làm ấm), # "thanh" (làm mát), # "tiêu" (tiêu thức ăn tích trệ), # "bổ" (bồi bổ) để khôi phục cân bằng chỉnh thể, để hóa giải mâu thuẫn giữa "chính khí" (sức chống bệnh) và "tà khí" (tác nhân gây bệnh). Trong 8 phép đó, không có biện pháp nào mang tính đối kháng, tấn công trực diện vào "bệnh tà" như trong Tây y. 5wp7tc677e70crb13soe67xhs0s6ljr Sách Đông y/Cơ sở lý luận Đông y 0 107703 542280 530992 2026-04-29T16:01:21Z ~2026-26230-55 19578 542280 wikitext text/x-wiki [[Category:Sách Đông y]] Đông y là nhân thuật, nên đối tượng chính của Đông y không phải là "bệnh" mà là "con người". Trong Đông y , con người cùng với môi trường, vũ trụ hợp thành một chỉnh thể thống nhất, người xưa gọi đó là [[Thiên nhân hợp nhất]] . Bản thân con người cũng là một chỉnh thể thống nhất, nên tinh thần và thể xác hợp nhất với nhau, người xưa gọi đó là [[Hình thần hợp nhất]] ==Bệnh== Lý luận Đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa: Âm Dương, Ngũ Hành . Âm Dương, Ngũ Hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh . Âm Dương, Ngũ Hành mất cân bằng thì cơ thể sẻ bị bệnh ==Chẩn bệnh== Chẩn đoán Đông y dùng các phương pháp # [[vọng chẩn]] (quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh), # [[văn chẩn]] (lắng nghe âm thanh từ thể trạng và tâm sự của bệnh nhân), # [[vấn chẩn]] (hỏi bệnh nhân và người nhà những điều liên quan), # [[thiết chẩn]] (khám bằng tay và dụng cụ) để xác định bệnh trạng. ==Chửa bệnh== Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là : [[Cân bằng chỉnh thể]] - lập lại trạng thái cân bằng âm dương trong cơ thể con người Phương châm cơ bản của Đông y trong chữa bệnh là : [[lưu nhân trị bênh]] - trước hết phải giữ lấy mạng sống của con người, sau đó mới nghĩ tới vấn đề khống chế, tiêu trừ ổ bệnh. Để thực hiện việc trị bệnh có hiệu quả nhất, Đông y chủ trương : [[Trị vị bênh ]] - Chữa bệnh từ khi bệnh chưa hình thành Do chủ trương [[Trị vị bệnh]] nên Đông y rất coi trọng : [[Dưỡng sinh]] - nâng cao "chính khí" . Chính khí đầy đủ thì bệnh tật không thể xâm phạm (Chính khí tồn nội, tà bất khả can). Do đó trong quá trình chữa bệnh, Đông y coi trọng khả năng tự khôi phục và tái tạo của cơ thể con người, lấy việc huy động tiềm năng của con người làm phương châm chính. Vì vậy, bệnh nhân được coi là chủ thể, "nhân vi bản bệnh vi tiêu" - nghĩa là người là gốc, là chủ thể, bệnh chỉ là ngọn. ==Điều trị== Điều trị Đông y gồm có phương pháp sau * [[Cạo gió]] * [[Châm cứu]] * [[Chích lể]] * [[Xoa bóp]] * [[Giác hơi]] * [[Uống thuốc]] 123ikir2b7s7s3zj0129dklpfdj8mi2 542281 542280 2026-04-29T16:01:57Z ~2026-26230-55 19578 542281 wikitext text/x-wiki [[Category:Sách Đông y]] Đông y là nhân thuật, nên đối tượng chính của Đông y không phải là "bệnh" mà là "con người". Trong Đông y , con người cùng với môi trường, vũ trụ hợp thành một chỉnh thể thống nhất, người xưa gọi đó là [[Thiên nhân hợp nhất]] . Bản thân con người cũng là một chỉnh thể thống nhất, nên tinh thần và thể xác hợp nhất với nhau, người xưa gọi đó là [[Hình thần hợp nhất]] ==Bệnh== Lý luận Đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa: [[Âm Dương Ngũ Hành]] . ''Âm Dương, Ngũ Hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh '' . Âm Dương, Ngũ Hành mất cân bằng thì cơ thể sẻ bị bệnh ==Chẩn bệnh== Chẩn đoán Đông y dùng các phương pháp # [[vọng chẩn]] (quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh), # [[văn chẩn]] (lắng nghe âm thanh từ thể trạng và tâm sự của bệnh nhân), # [[vấn chẩn]] (hỏi bệnh nhân và người nhà những điều liên quan), # [[thiết chẩn]] (khám bằng tay và dụng cụ) để xác định bệnh trạng. ==Chửa bệnh== Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là : [[Cân bằng chỉnh thể]] - lập lại trạng thái cân bằng âm dương trong cơ thể con người Phương châm cơ bản của Đông y trong chữa bệnh là : [[lưu nhân trị bênh]] - trước hết phải giữ lấy mạng sống của con người, sau đó mới nghĩ tới vấn đề khống chế, tiêu trừ ổ bệnh. Để thực hiện việc trị bệnh có hiệu quả nhất, Đông y chủ trương : [[Trị vị bênh ]] - Chữa bệnh từ khi bệnh chưa hình thành Do chủ trương [[Trị vị bệnh]] nên Đông y rất coi trọng : [[Dưỡng sinh]] - nâng cao "chính khí" . Chính khí đầy đủ thì bệnh tật không thể xâm phạm (Chính khí tồn nội, tà bất khả can). Do đó trong quá trình chữa bệnh, Đông y coi trọng khả năng tự khôi phục và tái tạo của cơ thể con người, lấy việc huy động tiềm năng của con người làm phương châm chính. Vì vậy, bệnh nhân được coi là chủ thể, "nhân vi bản bệnh vi tiêu" - nghĩa là người là gốc, là chủ thể, bệnh chỉ là ngọn. ==Điều trị== Điều trị Đông y gồm có phương pháp sau * [[Cạo gió]] * [[Châm cứu]] * [[Chích lể]] * [[Xoa bóp]] * [[Giác hơi]] * [[Uống thuốc]] 1o9v0zkcru5et3ondnv4mzc5hv94uo1 542282 542281 2026-04-29T16:03:40Z ~2026-26230-55 19578 /* Điều trị */ 542282 wikitext text/x-wiki [[Category:Sách Đông y]] Đông y là nhân thuật, nên đối tượng chính của Đông y không phải là "bệnh" mà là "con người". Trong Đông y , con người cùng với môi trường, vũ trụ hợp thành một chỉnh thể thống nhất, người xưa gọi đó là [[Thiên nhân hợp nhất]] . Bản thân con người cũng là một chỉnh thể thống nhất, nên tinh thần và thể xác hợp nhất với nhau, người xưa gọi đó là [[Hình thần hợp nhất]] ==Bệnh== Lý luận Đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa: [[Âm Dương Ngũ Hành]] . ''Âm Dương, Ngũ Hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh '' . Âm Dương, Ngũ Hành mất cân bằng thì cơ thể sẻ bị bệnh ==Chẩn bệnh== Chẩn đoán Đông y dùng các phương pháp # [[vọng chẩn]] (quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh), # [[văn chẩn]] (lắng nghe âm thanh từ thể trạng và tâm sự của bệnh nhân), # [[vấn chẩn]] (hỏi bệnh nhân và người nhà những điều liên quan), # [[thiết chẩn]] (khám bằng tay và dụng cụ) để xác định bệnh trạng. ==Chửa bệnh== Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là : [[Cân bằng chỉnh thể]] - lập lại trạng thái cân bằng âm dương trong cơ thể con người Phương châm cơ bản của Đông y trong chữa bệnh là : [[lưu nhân trị bênh]] - trước hết phải giữ lấy mạng sống của con người, sau đó mới nghĩ tới vấn đề khống chế, tiêu trừ ổ bệnh. Để thực hiện việc trị bệnh có hiệu quả nhất, Đông y chủ trương : [[Trị vị bênh ]] - Chữa bệnh từ khi bệnh chưa hình thành Do chủ trương [[Trị vị bệnh]] nên Đông y rất coi trọng : [[Dưỡng sinh]] - nâng cao "chính khí" . Chính khí đầy đủ thì bệnh tật không thể xâm phạm (Chính khí tồn nội, tà bất khả can). Do đó trong quá trình chữa bệnh, Đông y coi trọng khả năng tự khôi phục và tái tạo của cơ thể con người, lấy việc huy động tiềm năng của con người làm phương châm chính. Vì vậy, bệnh nhân được coi là chủ thể, "nhân vi bản bệnh vi tiêu" - nghĩa là người là gốc, là chủ thể, bệnh chỉ là ngọn. Các phương pháp điều trị Đông y bao gồm * [[Cạo gió]] * [[Châm cứu]] * [[Chích lể]] * [[Xoa bóp]] * [[Giác hơi]] * [[Uống thuốc]] 1ohcoa2y3mpe3qyb3c1mi0n2tt1rv1b Sách Vật lý/Vật 0 107735 542323 519671 2026-04-29T17:34:06Z ~2026-26125-13 19579 /* 4 trạng thái vật chất */ 542323 wikitext text/x-wiki '''Vật''' đại diện cho một đại lượng vật lý quan sát được và đo được. Thí dụ như trái banh, cục đá, [[nguyên tử]], [[lượng tử]]. ==Tính chất vật lý== ===Vật lượng=== Mọi vật đều có một khối lượng vật chất đo được của một chất lượng vật liệu bên trong một thể tích thể hình :<math>m=\rho V</math> Với ::m - [[Khối lượng]] cho biết số lượng vật đo bằng đơn vị Kí lô gram '''Kg''' ::V - [[Thể tích]] cho biết số thể hình vật đo bằng đơn vị mét khối '''m<sup>3</sup>''' ::<math>\rho</math> - [[Chất lượng]] cho biết số lượng vật đo bằng đơn vị Kilogram '''Kg/m<sup>3</sup>''' ===Chất lượng=== Tỉ lệ số lượng vật chất trên thể tích vật chat cho biết dung lượng vật chất . :<math>\rho=\frac{m}{V}</math> ===Thể tích=== Thể tích vật chất :<math>V=\frac{m}{\rho}</math> ==Tính chất hóa học== ===4 trạng thái vật chất=== Mọi [[/Hóa chất/]] được tìmm thấy ở 4 trạng thái # [[/Chất rắn/]] . Cứng, khó uốn , khó bẻ gảy # [[/Chất lỏng/]]. Mềm, dễ uốn, dề nắn # [[/Khí/]] . Lỏng, dề chảy, # [[/Chất đặc/]] . Đặc, khó chảy ===Thân nhiệt=== # [[/Chất rắn/]] có thân nhiệt 0<sup>o</sup> # [[/Chất lỏng/]] có thân nhiệt 25<sup>o</sup> # [[/Chất khí/]] có thân nhiệt 75<sup>o</sup> # [[/Chất đặc/]] có thân nhiệt 100<sup>o</sup> pb6afvfdt84cimqro2wgpz1kx287xr6 542324 542323 2026-04-29T17:34:39Z ~2026-26125-13 19579 /* 4 trạng thái vật chất */ 542324 wikitext text/x-wiki '''Vật''' đại diện cho một đại lượng vật lý quan sát được và đo được. Thí dụ như trái banh, cục đá, [[nguyên tử]], [[lượng tử]]. ==Tính chất vật lý== ===Vật lượng=== Mọi vật đều có một khối lượng vật chất đo được của một chất lượng vật liệu bên trong một thể tích thể hình :<math>m=\rho V</math> Với ::m - [[Khối lượng]] cho biết số lượng vật đo bằng đơn vị Kí lô gram '''Kg''' ::V - [[Thể tích]] cho biết số thể hình vật đo bằng đơn vị mét khối '''m<sup>3</sup>''' ::<math>\rho</math> - [[Chất lượng]] cho biết số lượng vật đo bằng đơn vị Kilogram '''Kg/m<sup>3</sup>''' ===Chất lượng=== Tỉ lệ số lượng vật chất trên thể tích vật chat cho biết dung lượng vật chất . :<math>\rho=\frac{m}{V}</math> ===Thể tích=== Thể tích vật chất :<math>V=\frac{m}{\rho}</math> ==Tính chất hóa học== ===4 trạng thái vật chất=== Mọi [[/Hóa chất/]] được tìmm thấy ở 4 trạng thái # [[/Rắn/]] . Cứng, khó uốn , khó bẻ gảy # [[/Lỏng/]]. Mềm, dễ uốn, dề nắn # [[/Khí/]] . Lỏng, dề chảy, # [[/Đặc/]] . Đặc, khó chảy ===Thân nhiệt=== # [[/Chất rắn/]] có thân nhiệt 0<sup>o</sup> # [[/Chất lỏng/]] có thân nhiệt 25<sup>o</sup> # [[/Chất khí/]] có thân nhiệt 75<sup>o</sup> # [[/Chất đặc/]] có thân nhiệt 100<sup>o</sup> ic9fmqbmtlal3srt2i53197j661956r 542325 542324 2026-04-29T17:36:03Z ~2026-26125-13 19579 542325 wikitext text/x-wiki [[Thể loại::Sách Vật lý]] '''Vật''' đại diện cho một đại lượng vật lý quan sát được và đo được. Thí dụ như trái banh, cục đá, [[nguyên tử]], [[lượng tử]]. ==Tính chất vật lý== ===Vật lượng=== Mọi vật đều có một khối lượng vật chất đo được của một chất lượng vật liệu bên trong một thể tích thể hình :<math>m=\rho V</math> Với ::m - [[Khối lượng]] cho biết số lượng vật đo bằng đơn vị Kí lô gram '''Kg''' ::V - [[Thể tích]] cho biết số thể hình vật đo bằng đơn vị mét khối '''m<sup>3</sup>''' ::<math>\rho</math> - [[Chất lượng]] cho biết số lượng vật đo bằng đơn vị Kilogram '''Kg/m<sup>3</sup>''' ===Chất lượng=== Tỉ lệ số lượng vật chất trên thể tích vật chat cho biết dung lượng vật chất . :<math>\rho=\frac{m}{V}</math> ===Thể tích=== Thể tích vật chất :<math>V=\frac{m}{\rho}</math> ==Tính chất hóa học== ===4 trạng thái vật chất=== Mọi [[/Hóa chất/]] được tìmm thấy ở 4 trạng thái # [[/Rắn/]] . Cứng, khó uốn , khó bẻ gảy # [[/Lỏng/]]. Mềm, dễ uốn, dề nắn # [[/Khí/]] . Lỏng, dề chảy, # [[/Đặc/]] . Đặc, khó chảy ===Thân nhiệt=== # [[/Chất rắn/]] có thân nhiệt 0<sup>o</sup> # [[/Chất lỏng/]] có thân nhiệt 25<sup>o</sup> # [[/Chất khí/]] có thân nhiệt 75<sup>o</sup> # [[/Chất đặc/]] có thân nhiệt 100<sup>o</sup> 1tstecmn4ftqzl7tkjp29hll7z6h34s 542326 542325 2026-04-29T17:36:15Z ~2026-26125-13 19579 542326 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Vật lý]] '''Vật''' đại diện cho một đại lượng vật lý quan sát được và đo được. Thí dụ như trái banh, cục đá, [[nguyên tử]], [[lượng tử]]. ==Tính chất vật lý== ===Vật lượng=== Mọi vật đều có một khối lượng vật chất đo được của một chất lượng vật liệu bên trong một thể tích thể hình :<math>m=\rho V</math> Với ::m - [[Khối lượng]] cho biết số lượng vật đo bằng đơn vị Kí lô gram '''Kg''' ::V - [[Thể tích]] cho biết số thể hình vật đo bằng đơn vị mét khối '''m<sup>3</sup>''' ::<math>\rho</math> - [[Chất lượng]] cho biết số lượng vật đo bằng đơn vị Kilogram '''Kg/m<sup>3</sup>''' ===Chất lượng=== Tỉ lệ số lượng vật chất trên thể tích vật chat cho biết dung lượng vật chất . :<math>\rho=\frac{m}{V}</math> ===Thể tích=== Thể tích vật chất :<math>V=\frac{m}{\rho}</math> ==Tính chất hóa học== ===4 trạng thái vật chất=== Mọi [[/Hóa chất/]] được tìmm thấy ở 4 trạng thái # [[/Rắn/]] . Cứng, khó uốn , khó bẻ gảy # [[/Lỏng/]]. Mềm, dễ uốn, dề nắn # [[/Khí/]] . Lỏng, dề chảy, # [[/Đặc/]] . Đặc, khó chảy ===Thân nhiệt=== # [[/Chất rắn/]] có thân nhiệt 0<sup>o</sup> # [[/Chất lỏng/]] có thân nhiệt 25<sup>o</sup> # [[/Chất khí/]] có thân nhiệt 75<sup>o</sup> # [[/Chất đặc/]] có thân nhiệt 100<sup>o</sup> 8ur9vvyem31hj7heqq7x44w6xxlv1wd Điện 0 107801 542288 541582 2026-04-29T16:10:00Z ~2026-26230-55 19578 542288 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Vật lý]][[Thể loại: Khoa học kỹ thuật]] [[File:Lightning3.jpg|200px|right]] Từ thời cổ đại người ta đã biết đến và nghiên cứu các hiện tượng điện, mặc dù lý thuyết về điện mới thực sự phát triển từ thế kỷ 17 và 18. Tuy thế, những ứng dụng của điện trong giai đoạn này vẫn còn ít cho đến cuối thế kỷ 19 với sự bùng nổ của ngành kỹ thuật điện đưa nó vào ứng dụng trong công nghiệp và sinh hoạt hàng ngày. Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ điện đã làm thay đổi nền công nghiệp chạy bằng hơi nước trước đó cũng như thay đổi xã hội loài người. Tính linh hoạt của điện cho phép con người có thể ứng dụng nó vào vô số lĩnh vực như giao thông, ứng dụng nhiệt, chiếu sáng, viễn thông, và máy tính điện tử. Năng lượng điện ngày nay trở thành xương sống trong mọi công nghệ hiện đại. Điện là tập hợp các hiện tượng vật lý đi kèm với sự có mặt và dịch chuyển của dòng điện tích. Trong các hiện tượng điện, các điện tích tạo ra trường điện từ mà trường này lại tác động đến các điện tích khác. * [[Điện tử]] * [[Điện tích]] * [[Điện thế]] * [[Dòng điện]] * [[Điện trường]] * [[Từ trường]] * [[Điện loại]] * [[Điện và vật]] * [[Ứng dụng điện]] ==Biên soạn== * [[/Quách trung thành/]] . Kỹ sư điện . Cử nhân đại học . Đại học Manitoba . Winnipeg. Manitoba . Canada bgqv29ribpwxpl1536evnn3y91q8ldx 542289 542288 2026-04-29T16:11:28Z ~2026-26230-55 19578 542289 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Vật lý]][[Thể loại: Khoa học kỹ thuật]] [[File:Lightning3.jpg|200px|right]] Từ thời cổ đại người ta đã biết đến và nghiên cứu các hiện tượng điện, mặc dù lý thuyết về điện mới thực sự phát triển từ thế kỷ 17 và 18. Tuy thế, những ứng dụng của điện trong giai đoạn này vẫn còn ít cho đến cuối thế kỷ 19 với sự bùng nổ của ngành kỹ thuật điện đưa nó vào ứng dụng trong công nghiệp và sinh hoạt hàng ngày. Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ điện đã làm thay đổi nền công nghiệp chạy bằng hơi nước trước đó cũng như thay đổi xã hội loài người. Tính linh hoạt của điện cho phép con người có thể ứng dụng nó vào vô số lĩnh vực như giao thông, ứng dụng nhiệt, chiếu sáng, viễn thông, và máy tính điện tử. Năng lượng điện ngày nay trở thành xương sống trong mọi công nghệ hiện đại. Điện là tập hợp các hiện tượng vật lý đi kèm với sự có mặt và dịch chuyển của dòng điện tích. Trong các hiện tượng điện, các điện tích tạo ra trường điện từ mà trường này lại tác động đến các điện tích khác. * [[Điện tử]] * [[Điện tích]] * [[Điện thế]] * [[Dòng điện]] * [[Điện trường]] * [[Từ trường]] * [[Điện Từ trường]] * [[Điện loại]] * [[Điện và vật]] * [[Ứng dụng điện]] ==Biên soạn== * [[/Quách trung thành/]] . Kỹ sư điện . Cử nhân đại học . Đại học Manitoba . Winnipeg. Manitoba . Canada 83jtrc2rnwpxg1qgjkuyh9d4u7qvpxu Tứ thư, Ngũ kinh 0 108053 542275 531878 2026-04-29T15:55:37Z ~2026-26230-55 19578 /* Ngũ kinh */ 542275 wikitext text/x-wiki Các kinh sách nho giáo được Khổng Tử và các môn đồ Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử , soạn thảo . Các kinh sách này được dùng làm nền tảng giáo dục của Nho giáo bao gồm Ngũ kinh và Tứ thư . ===Ngũ kinh === Ngũ kinh là 5 quyển kinh cổ do Khổng tử biên soạn bao gồm * [[Kinh dịch]] * [[Kinh Lễ]] * [[Kinh Thi]] * [[Kinh Thư]] * [[Kinh Xuân thu]] ===Tứ thư=== Tứ thư là 4 quyển sách cổ do môn đồ của Khổng tử biên soạn bao gồm * [[Sách Đại học]] * [[Sách Trung dung]] * [[Sách Luận ngữ]] * [[Sách Mạnh Tử]] [[Category:Sách Khổng giáo]] 4l1pqth31ar8chjgqcn433aa7qio24r 542276 542275 2026-04-29T15:55:46Z ~2026-26230-55 19578 /* Ngũ kinh */ 542276 wikitext text/x-wiki Các kinh sách nho giáo được Khổng Tử và các môn đồ Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử , soạn thảo . Các kinh sách này được dùng làm nền tảng giáo dục của Nho giáo bao gồm Ngũ kinh và Tứ thư . ===Ngũ kinh === Ngũ kinh là 5 quyển kinh cổ do Khổng tử biên soạn bao gồm * [[Kinh dịch]] * [[Kinh lễ]] * [[Kinh Thi]] * [[Kinh Thư]] * [[Kinh Xuân thu]] ===Tứ thư=== Tứ thư là 4 quyển sách cổ do môn đồ của Khổng tử biên soạn bao gồm * [[Sách Đại học]] * [[Sách Trung dung]] * [[Sách Luận ngữ]] * [[Sách Mạnh Tử]] [[Category:Sách Khổng giáo]] aty3x1oqygr3p7rcppqkiyyys177trs Lịch 0 108189 542320 541747 2026-04-29T17:25:58Z ~2026-26125-13 19579 542320 wikitext text/x-wiki Lịch dùng để cho biết thời gian như Năm, Tháng, Ngày . Lịch pháp là phương pháp tính toán thời gian được xây dựng dựa trên hiện tượng thiên văn chu kỳ trái đất quay quanh mặt trời , mặt trăng :[[Tập_tin:Calendar (PSF).png|200p]] * [[Hình thành và phát triển Lịch] * [[Loại Lịch]] * [[Can Chi]] * [[28 vì sao]] * [[12 con giáp]] [[Thể loại: Âm Dương Ngũ Hành]] d9ra1n8jy0ezxawmq7vt45bi7w7grde 542321 542320 2026-04-29T17:26:07Z ~2026-26125-13 19579 542321 wikitext text/x-wiki Lịch dùng để cho biết thời gian như Năm, Tháng, Ngày . Lịch pháp là phương pháp tính toán thời gian được xây dựng dựa trên hiện tượng thiên văn chu kỳ trái đất quay quanh mặt trời , mặt trăng :[[Tập_tin:Calendar (PSF).png|200p]] * [[Hình thành và phát triển Lịch]] * [[Loại Lịch]] * [[Can Chi]] * [[28 vì sao]] * [[12 con giáp]] [[Thể loại: Âm Dương Ngũ Hành]] 0k5pwvnc8ug9zqme42rb8fv0vtssn3i Cổ học đông phương 0 108375 542310 541359 2026-04-29T17:14:28Z ~2026-26125-13 19579 542310 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Cổ học]] ** [[Lịch]] ** [[Y tế]] ** [[Chiêm tinh Bói toán]] ** [[Tướng số]] ** [[Phong thủy]] ** [[Võ công]] ** [[Khí công]] ** [[Thuật luyện kim]] == Tôn giáo== ===[[Ấn độ giáo]]=== * [[Hỏa giáo]] ** [[Âm Dương]] ** [[Thiện Ác]] ** [[Học thuyết khởi thế]] ** [[Học thuyết mạt thế]] * [[Vệ đà giáo]] ** [[Thần linh]] ** [[Cúng tế]] * [[Hin đu giáo]] ** [[Thượng đế (Brahma)]] ** [[Thần hủy diệt (Shiva)]] ** [[Thân bảo vệ (Vishnu)]] * [[Bà la môn giáo]] ** [[Học thuyết Thiên nhân hợp nhứt]] ** [[Học thuyết Hình thần hợp nhứt]] ** [[Duyên]] ** [[Nghiệp]] ** [[Luân hồi]] ** [[Giác ngộ và Giải thoát]] * [[Kỳ na giáo]] ** [[Vô thần]] ** [[Linh hồn]] ** [[Công đức]] * [[Phật giáo]] ** [[Từ bi]] ** [[Trí tuệ]] ** [[Khổ]] ** [[Nhân Quả]] ** [[Giác ngộ và Giải thoát]] * [[Sikh giáo]] ===[[Trung quốc giáo]]=== * [[Đạo giáo]] ** [[Vận Dịch]] ** [[Âm Dương]] ** [[Ngũ hành]] ** [[Tứ tượng]] ** [[Bát quái]] ** [[12 con giáp]] ** [[Can Chi]] ** [[Nhị thập bát tú]] ** [[Quẻ Dịch]] ** [[Trường sinh bất tử]] * [[Lão giáo]] ** [[Đạo Đức]] ** [[Vô vi]] * [[Khổng giáo]] ** [[3 cương lĩnh, 8 điều mục Khổng giáo]] ** [[Đạo Đức Khổng giáo]] ==Kinh sách tôn giáo== ===Kinh sách Phật giáo=== * [[Kinh sách Phật giáo]] ** [[Dịch cân kinh]] [[Bồ đề đạt ma]] ** [[Tẩy tủy kinh]] [[Bồ đề đạt ma]] ** [[Thiền]] ** [[Khí công]] ** [[Võ công]] ===Kinh sách Đạo giáo=== * [[Kinh sách Đạo giáo]] ** [[Đạo Đức kinh]] . [[Lão tử]] ** [[Nam Hoa chân kinh]] . [[Trang tử]] ** [[Thần Nông bản thảo kinh]] ** [[Hoàng đế nội kinh]] ** [[Thương hàn luận]] ===Kinh sách Khổng giáo=== * [[Kinh sách Khổng giáo]] - [[Sách tứ thư ngũ kinh]] ** [[Sách Đại học]] ** [[Sách Trung dung]] ** [[Sách Luận ngữ]] ** [[Sách Mạnh Tử]] ** [[Kinh Dịch]] ** [[Kinh Lễ]] ** [[Kinh Thi]] **[[Kinh Thư]] ** [[Kinh Xuân thu]] ===Binh pháp binh gia=== * [[Binh pháp binh gia]] ** [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) ** [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); ** [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); ** [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); ** [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); ** [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); ** [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); ** [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); ** [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); ** [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); ** [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] ** [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * Mưu kế binh gia ** [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] ** [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] ** [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== 9fhkyty6xa87g1aaqtuly9ut50fhzv1 542311 542310 2026-04-29T17:18:14Z ~2026-26125-13 19579 542311 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Cổ học]] ** [[Lịch]] ** [[Y tế]] ** [[Chiêm tinh Bói toán]] ** [[Tướng số]] ** [[Phong thủy]] ** [[Võ công]] ** [[Khí công]] ** [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== ===Ấn độ giáo=== * [[Hỏa giáo]] * [[Vệ đà giáo]] * [[Hin đu giáo]] * [[Bà la môn giáo]] * [[Kỳ na giáo]] * [[Phật giáo]] * [[Sikh giáo]] ===Trung quốc giáo=== * [[Đạo giáo]] * [[Lão giáo]] * [[Khổng giáo]] ===Kinh sách Phật giáo=== * [[Kinh sách Phật giáo]] * [[Kinh sách Đạo giáo]] * [[Kinh sách Khổng giáo]] ===Binh pháp binh gia=== * [[Binh pháp binh gia]] ** [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) ** [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); ** [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); ** [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); ** [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); ** [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); ** [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); ** [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); ** [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); ** [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); ** [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] ** [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * Mưu kế binh gia ** [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] ** [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] ** [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== gqsunb9uk0dmqgrz1oeiggdz0lgnw66 542312 542311 2026-04-29T17:19:05Z ~2026-26125-13 19579 /* Kinh sách Phật giáo */ 542312 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Cổ học]] ** [[Lịch]] ** [[Y tế]] ** [[Chiêm tinh Bói toán]] ** [[Tướng số]] ** [[Phong thủy]] ** [[Võ công]] ** [[Khí công]] ** [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== ===Ấn độ giáo=== * [[Hỏa giáo]] * [[Vệ đà giáo]] * [[Hin đu giáo]] * [[Bà la môn giáo]] * [[Kỳ na giáo]] * [[Phật giáo]] * [[Sikh giáo]] ===Trung quốc giáo=== * [[Đạo giáo]] * [[Lão giáo]] * [[Khổng giáo]] ===Kinh sách tôn giáo=== * [[Kinh sách Phật giáo]] * [[Kinh sách Đạo giáo]] * [[Kinh sách Khổng giáo]] ===Binh pháp binh gia=== * [[Binh pháp binh gia]] ** [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) ** [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); ** [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); ** [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); ** [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); ** [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); ** [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); ** [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); ** [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); ** [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); ** [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] ** [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * Mưu kế binh gia ** [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] ** [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] ** [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== hgqpp8muekiuev053z4mxkpp7idkqxu 542313 542312 2026-04-29T17:21:33Z ~2026-26125-13 19579 542313 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Cổ học]] ** [[Lịch]] ** [[Y tế]] ** [[Chiêm tinh Bói toán]] ** [[Tướng số]] ** [[Phong thủy]] ** [[Võ công]] ** [[Khí công]] ** [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== * [[Ba tư giáo]] ** [[Hỏa giáo]] * [[Ấn độ giáo]] ** [[Vệ đà giáo]] ** [[Hin đu giáo]] ** [[Bà la môn giáo]] ** [[Kỳ na giáo]] ** [[Phật giáo]] ** [[Sikh giáo]] * [[Trung quốc giáo]] ** [[ Lão giáo]], ** [[ Đạo giáo]] ** [[ Khổng giáo]] * [[Thiên chúa giáo]] ** [[Do Thái giáo]] ** [[Hồi giáo]] ** [[Hy lạp giáo]] ** [[La mã giáo]] ** [[Ki tô giáo]] hay [[Cơ đốc giáo ]] ===Ấn độ giáo=== * [[Hỏa giáo]] * [[Vệ đà giáo]] * [[Hin đu giáo]] * [[Bà la môn giáo]] * [[Kỳ na giáo]] * [[Phật giáo]] * [[Sikh giáo]] ===Trung quốc giáo=== * [[Đạo giáo]] * [[Lão giáo]] * [[Khổng giáo]] ===Kinh sách tôn giáo=== * [[Kinh sách Phật giáo]] * [[Kinh sách Đạo giáo]] * [[Kinh sách Khổng giáo]] ===Binh pháp binh gia=== * [[Binh pháp binh gia]] ** [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) ** [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); ** [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); ** [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); ** [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); ** [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); ** [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); ** [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); ** [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); ** [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); ** [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] ** [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * Mưu kế binh gia ** [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] ** [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] ** [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== 8uyu7ke7j8b38mtugxqulmjfpcfqhul 542314 542313 2026-04-29T17:22:25Z ~2026-26125-13 19579 542314 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Lịch]] * [[Y tế]] * [[Chiêm tinh Bói toán]] * [[Tướng số]] * [[Phong thủy]] * [[Võ công]] * [[Khí công]] * [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== * [[Ba tư giáo]] ** [[Hỏa giáo]] * [[Ấn độ giáo]] ** [[Vệ đà giáo]] ** [[Hin đu giáo]] ** [[Bà la môn giáo]] ** [[Kỳ na giáo]] ** [[Phật giáo]] ** [[Sikh giáo]] * [[Trung quốc giáo]] ** [[ Lão giáo]], ** [[ Đạo giáo]] ** [[ Khổng giáo]] * [[Thiên chúa giáo]] ** [[Do Thái giáo]] ** [[Hồi giáo]] ** [[Hy lạp giáo]] ** [[La mã giáo]] ** [[Ki tô giáo]] hay [[Cơ đốc giáo ]] ===Ấn độ giáo=== * [[Hỏa giáo]] * [[Vệ đà giáo]] * [[Hin đu giáo]] * [[Bà la môn giáo]] * [[Kỳ na giáo]] * [[Phật giáo]] * [[Sikh giáo]] ===Trung quốc giáo=== * [[Đạo giáo]] * [[Lão giáo]] * [[Khổng giáo]] ===Kinh sách tôn giáo=== * [[Kinh sách Phật giáo]] * [[Kinh sách Đạo giáo]] * [[Kinh sách Khổng giáo]] ===Binh pháp binh gia=== * [[Binh pháp binh gia]] ** [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) ** [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); ** [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); ** [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); ** [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); ** [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); ** [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); ** [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); ** [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); ** [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); ** [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] ** [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * Mưu kế binh gia ** [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] ** [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] ** [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== s9n4gt8rr2uuf2gsbadjo28j4le5x14 542315 542314 2026-04-29T17:23:03Z ~2026-26125-13 19579 /* Tôn giáo */ 542315 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Lịch]] * [[Y tế]] * [[Chiêm tinh Bói toán]] * [[Tướng số]] * [[Phong thủy]] * [[Võ công]] * [[Khí công]] * [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== * [[Ba tư giáo]] ** [[Hỏa giáo]] * [[Ấn độ giáo]] ** [[Vệ đà giáo]] ** [[Hin đu giáo]] ** [[Bà la môn giáo]] ** [[Kỳ na giáo]] ** [[Phật giáo]] ** [[Sikh giáo]] * [[Trung quốc giáo]] ** [[ Lão giáo]], ** [[ Đạo giáo]] ** [[ Khổng giáo]] * [[Thiên chúa giáo]] ** [[Do Thái giáo]] ** [[Hồi giáo]] ** [[Hy lạp giáo]] ** [[La mã giáo]] ** [[Ki tô giáo]] hay [[Cơ đốc giáo ]] ===Binh pháp binh gia=== * [[Binh pháp binh gia]] ** [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) ** [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); ** [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); ** [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); ** [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); ** [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); ** [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); ** [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); ** [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); ** [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); ** [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] ** [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * Mưu kế binh gia ** [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] ** [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] ** [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== a64ou6t4ts5j3eqas9zk1wmrxi3adyk 542316 542315 2026-04-29T17:23:45Z ~2026-26125-13 19579 /* Binh pháp binh gia */ 542316 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Lịch]] * [[Y tế]] * [[Chiêm tinh Bói toán]] * [[Tướng số]] * [[Phong thủy]] * [[Võ công]] * [[Khí công]] * [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== * [[Ba tư giáo]] ** [[Hỏa giáo]] * [[Ấn độ giáo]] ** [[Vệ đà giáo]] ** [[Hin đu giáo]] ** [[Bà la môn giáo]] ** [[Kỳ na giáo]] ** [[Phật giáo]] ** [[Sikh giáo]] * [[Trung quốc giáo]] ** [[ Lão giáo]], ** [[ Đạo giáo]] ** [[ Khổng giáo]] * [[Thiên chúa giáo]] ** [[Do Thái giáo]] ** [[Hồi giáo]] ** [[Hy lạp giáo]] ** [[La mã giáo]] ** [[Ki tô giáo]] hay [[Cơ đốc giáo ]] ==Binh pháp binh gia== * [[Binh pháp binh gia]] * [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) * [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); * [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); * [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); * [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); * [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); * [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); ** [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); * [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); * [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] * [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] * [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] * [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== 6c9ac6242z51nplbw7qfm33oj8wo74s 542317 542316 2026-04-29T17:23:56Z ~2026-26125-13 19579 /* Binh pháp binh gia */ 542317 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Lịch]] * [[Y tế]] * [[Chiêm tinh Bói toán]] * [[Tướng số]] * [[Phong thủy]] * [[Võ công]] * [[Khí công]] * [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== * [[Ba tư giáo]] ** [[Hỏa giáo]] * [[Ấn độ giáo]] ** [[Vệ đà giáo]] ** [[Hin đu giáo]] ** [[Bà la môn giáo]] ** [[Kỳ na giáo]] ** [[Phật giáo]] ** [[Sikh giáo]] * [[Trung quốc giáo]] ** [[ Lão giáo]], ** [[ Đạo giáo]] ** [[ Khổng giáo]] * [[Thiên chúa giáo]] ** [[Do Thái giáo]] ** [[Hồi giáo]] ** [[Hy lạp giáo]] ** [[La mã giáo]] ** [[Ki tô giáo]] hay [[Cơ đốc giáo ]] ==Binh pháp binh gia== * [[Binh pháp binh gia]] * [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) * [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); * [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); * [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); * [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); * [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); * [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); * [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); ** [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); * [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); * [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] * [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] * [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] * [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== 8usxkp093mssod8uryzo83xj57k93hq 542318 542317 2026-04-29T17:24:08Z ~2026-26125-13 19579 /* Binh pháp binh gia */ 542318 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Lịch]] * [[Y tế]] * [[Chiêm tinh Bói toán]] * [[Tướng số]] * [[Phong thủy]] * [[Võ công]] * [[Khí công]] * [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== * [[Ba tư giáo]] ** [[Hỏa giáo]] * [[Ấn độ giáo]] ** [[Vệ đà giáo]] ** [[Hin đu giáo]] ** [[Bà la môn giáo]] ** [[Kỳ na giáo]] ** [[Phật giáo]] ** [[Sikh giáo]] * [[Trung quốc giáo]] ** [[ Lão giáo]], ** [[ Đạo giáo]] ** [[ Khổng giáo]] * [[Thiên chúa giáo]] ** [[Do Thái giáo]] ** [[Hồi giáo]] ** [[Hy lạp giáo]] ** [[La mã giáo]] ** [[Ki tô giáo]] hay [[Cơ đốc giáo ]] ==Binh pháp binh gia== * [[Binh pháp binh gia]] * [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) * [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); * [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); * [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); * [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); * [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); * [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); * [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); * [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); * [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); * [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] * [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] * [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] * [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== acajhqfevzapr7nsdt318y1e7tomkut 542319 542318 2026-04-29T17:25:08Z ~2026-26125-13 19579 /* Tôn giáo */ 542319 wikitext text/x-wiki [[Category:Cổ học]] * [[Lịch]] * [[Y tế]] * [[Chiêm tinh Bói toán]] * [[Tướng số]] * [[Phong thủy]] * [[Võ công]] * [[Khí công]] * [[Thuật luyện kim]] ==Tôn giáo== ===Ba tư giáo=== * [[Hỏa giáo]] ===Ấn độ giáo=== * [[Vệ đà giáo]] * [[Hin đu giáo]] * [[Bà la môn giáo]] * [[Kỳ na giáo]] * [[Phật giáo]] * [[Sikh giáo]] ===Trung quốc giáo=== * [[ Lão giáo]], * [[ Đạo giáo]] * [[ Khổng giáo]] ===Thiên chúa giáo=== * [[Do Thái giáo]] * [[Hồi giáo]] * [[Hy lạp giáo]] * [[La mã giáo]] * [[Ki tô giáo]] hay [[Cơ đốc giáo ]] ==Binh pháp binh gia== * [[Binh pháp binh gia]] * [[Lục thao binh pháp]] (Thái Công Khương Tử Nha) * [[Tam lược]] (Thái Công Khương Tử Nha); * [[Tư Mã binh pháp]] (Tư Mã Điền Nhương Tư); * [[Tôn Tử binh pháp]] (Tôn Vũ Tử); * [[Ngô Tử binh pháp]] (Ngô Khởi); * [[Uất Liễu Tử binh pháp]] (Uất Liễu); * [[Khổng Minh binh pháp ]] (Võ Hầu Gia Cát Lượng); * [[Tố thư]] (Hoàng Thạch Công); * [[Đường Thái Tông – Lý Vệ Công vấn đối]] (Vệ Công Lý Tĩnh); * [[Binh thư yếu lược]] (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn); * [[Binh thư yếu lược (tu chỉnh)]] * [[Hổ trướng khu cơ]] (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ). * [[Quỷ Cốc Tử mưu lược toàn thư]] * [[Tôn tử 36 kế ]] * [[Hàn phi tử]] * [[Sách Hàn Phi Tử | Hàn phi tử]] ==Cổ học== b0lzxg0yncn4ifjfidphmkaq09wez8w Đại học 0 108381 542262 531344 2026-04-29T15:40:54Z ~2026-26230-55 19578 542262 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Đại học được Tăng Sâm hay Tăng Tử biên soạn là một trong 4 sách của Khổng giáo gọi là Tứ thư . Đại học có nghỉa là Đạo học lớn (Học cao) được nhà nho giải thích là Đại nhân chi học, hiểu theo 2 nghĩa, là Cái học của bậc đại nhân và là cái học để trở thành bậc đại nhân. Sách Đại học dạy người ta cách tu thân và cai trị thiên hạ theo chủ trương ''hành xử theo Đạo đức'' (vi chính dĩ đức ) của Khổng giáo . ==Nội dung== Đại học có 11 chương. Chương đầu tiên là Thánh Kinh là ý của Khổng Tử do Tăng Tử truyền lại bằng miệng. Còn 10 chương sau giải thích chương đầu tiên do học trò Tăng Tử ghi chép lại gồm: *[[/Khang cáo/]] *Bàn Minh *Bang Kì *Thính Tụng *Tri Bản *Thành Ý *Chính Tâm Tu Nhân *Tề Gia *Trị Quốc *Hiệt Tử ==Tư tưởng== Tư tưởng xuyên suốt Đại học là tư tưởng "Trị quốc bình thiên hạ". Được Nho gia đề ra với cương lĩnh Tam cương, Bát mục. *'''Tam cương:''' :Minh Minh Đức :Tân Dân :Chỉ Ư Chí Thiện *'''Bát mục:''' :Cách Vật :Trí Tri :Thành Ý :Chính Tâm :Tu Thân :Tề Gia :Trị Quốc :Bình Thiên Hạ. * [[3 Cương lĩnh và 8 điều mục]] * [[Sách đại học]] 8kxxybbg1bmvhbbnhc3ifxttcdc095y 542263 542262 2026-04-29T15:42:35Z ~2026-26230-55 19578 542263 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Đại học được [[Tăng Sâm]] hay [[Tăng Tử]] biên soạn là một trong 4 sách của [[Khổng giáo]] gọi là [[Tứ thư]] . Đại học có nghỉa là Đạo học lớn (Học cao) được nhà nho giải thích là Đại nhân chi học, hiểu theo 2 nghĩa, là Cái học của bậc đại nhân và là cái học để trở thành bậc đại nhân. Sách Đại học dạy người ta cách tu thân và cai trị thiên hạ theo chủ trương ''hành xử theo Đạo đức'' (vi chính dĩ đức ) của Khổng giáo . ==Nội dung== Đại học có 11 chương. Chương đầu tiên là Thánh Kinh là ý của Khổng Tử do Tăng Tử truyền lại bằng miệng. Còn 10 chương sau giải thích chương đầu tiên do học trò Tăng Tử ghi chép lại gồm: *[[/Khang cáo/]] *[[/Bàn Minh/]] *[[/Bang Kì/]] *[[/Thính Tụng/]] *[[/Tri Bản/]] *[[/Thành Ý/]] *[[/Chính Tâm Tu Nhân/]] *[[/Tề Gia/]] *[[/Trị Quốc/]] *[[/Hiệt Tử/]] ==Tư tưởng== Tư tưởng xuyên suốt Đại học là tư tưởng "Trị quốc bình thiên hạ". Được Nho gia đề ra với cương lĩnh Tam cương, Bát mục. *'''Tam cương:''' :Minh Minh Đức :Tân Dân :Chỉ Ư Chí Thiện *'''Bát mục:''' :Cách Vật :Trí Tri :Thành Ý :Chính Tâm :Tu Thân :Tề Gia :Trị Quốc :Bình Thiên Hạ. * [[3 Cương lĩnh và 8 điều mục]] * [[Sách đại học]] 3obn6uiexm6s4hqe8zmpwbz4e7yfd5u 542264 542263 2026-04-29T15:44:33Z ~2026-26230-55 19578 542264 wikitext text/x-wiki [[Category:Tứ thư Ngũ kinh]] Đại học được [[Tăng Sâm]] hay [[Tăng Tử]] biên soạn là một trong 4 sách của [[Khổng giáo]] gọi là [[Tứ thư]] . Đại học có nghỉa là Đạo học lớn (Học cao) được nhà nho giải thích là Đại nhân chi học, hiểu theo 2 nghĩa, là Cái học của bậc đại nhân và là cái học để trở thành bậc đại nhân. Sách Đại học dạy người ta cách tu thân và cai trị thiên hạ theo chủ trương ''hành xử theo Đạo đức'' (vi chính dĩ đức ) của Khổng giáo . Tư tưởng xuyên suốt Đại học là tư tưởng "Trị quốc bình thiên hạ". Được Nho gia đề ra với cương lĩnh Tam cương, Bát mục. *'''Tam cương:''' - Minh Minh Đức , Tân Dân , Chỉ Ư Chí Thiện *'''Bát mục:''' - Cách Vật , Trí Tri , Thành Ý , Chính Tâm , Tu Thân , Tề Gia , Trị Quốc , Bình Thiên Hạ. ==Nội dung== Đại học có 11 chương. Chương đầu tiên là Thánh Kinh là ý của Khổng Tử do Tăng Tử truyền lại bằng miệng. Còn 10 chương sau giải thích chương đầu tiên do học trò Tăng Tử ghi chép lại gồm: *[[/Khang cáo/]] *[[/Bàn Minh/]] *[[/Bang Kì/]] *[[/Thính Tụng/]] *[[/Tri Bản/]] *[[/Thành Ý/]] *[[/Chính Tâm Tu Nhân/]] *[[/Tề Gia/]] *[[/Trị Quốc/]] *[[/Hiệt Tử/]] qyd2ny9njtn257tjgo822ueqrrx8xls Trung dung 0 108382 542265 534449 2026-04-29T15:46:10Z ~2026-26230-55 19578 542265 wikitext text/x-wiki Sách Trung dung (中庸 Zhōng Yóng) do [[Tử tư]] làm ra là một trong bốn kinh sách của bộ [[Tứ Thư]] của [[Nho giáo]] hay [[Khổng giáo]]. Sách Trung dung dạy về lý lẽ của Trung dung nói về lề lối cư xử ứng xử ôn hoà không lệch lạc . Trung là tiếng Hán việt , Trung có nghỉa là ở giửa không thiên vị , không lệch lạc . Dung có nghỉa là Hòa hợp không chia rẻ , không khác biệt :''Vũ trụ và vạn vật luôn luôn biến hóa theo lẽ điều hòa và tương đối, lưu hành mãi mãi không lúc nào ngừng nghỉ. Thiên đạo đã không cố định thì việc đời có gì là cố định? Vậy ta cứ tùy thời mà hành động, miễn sao giữ được sự điều hòa và trung chính. Làm việc gì cũng phải lấy Trung Dung làm căn bản, tức là không thái quá, cũng không bất cập, luôn luôn thích hợp với Đạo Trung hòa của Trời Đất '' Cả hai quyển sách Đại học và Trung dung trước đây là những thiên trong Kinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư. * [[/Chương 1/]] * [[/Chương 2/]] * [[/Chương 3/]] * [[/Chương 4/]] * [[/Chương 5/]] ==Tham khảo== * [https://nigioikhatsi.net/kinhsach-pdf/TrungDung.pdf Trung Dung] [[Thể loại:Tứ thư Ngũ kinh]] g62v7xfbpucneplrjwbu6vu4xy8efkp 542266 542265 2026-04-29T15:46:50Z ~2026-26230-55 19578 542266 wikitext text/x-wiki Sách Trung dung (中庸 Zhōng Yóng) do [[Tử tư]] làm ra là một trong bốn kinh sách của bộ [[Tứ Thư]] của [[Nho giáo]] hay [[Khổng giáo]]. Sách Trung dung dạy về lý lẽ của Trung dung nói về lề lối cư xử ứng xử ôn hoà không lệch lạc . Trung là tiếng Hán việt , Trung có nghỉa là ở giửa không thiên vị , không lệch lạc . Dung có nghỉa là Hòa hợp không chia rẻ , không khác biệt :''Vũ trụ và vạn vật luôn luôn biến hóa theo lẽ điều hòa và tương đối, lưu hành mãi mãi không lúc nào ngừng nghỉ. Thiên đạo đã không cố định thì việc đời có gì là cố định? Vậy ta cứ tùy thời mà hành động, miễn sao giữ được sự điều hòa và trung chính. Làm việc gì cũng phải lấy Trung Dung làm căn bản, tức là không thái quá, cũng không bất cập, luôn luôn thích hợp với Đạo Trung hòa của Trời Đất '' Cả hai quyển sách Đại học và Trung dung trước đây là những thiên trong Kinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư. ==Noi dung== * [[/Chương 1/]] * [[/Chương 2/]] * [[/Chương 3/]] * [[/Chương 4/]] * [[/Chương 5/]] ==Tham khảo== * [https://nigioikhatsi.net/kinhsach-pdf/TrungDung.pdf Trung Dung] [[Thể loại:Tứ thư Ngũ kinh]] qvm7ew6vlgo31uhks5ua2gjmm534fsy Kinh dịch tổng quan 0 108429 542209 536628 2026-04-29T14:49:34Z ~2026-26230-55 19578 /* Kinh Dịch */ 542209 wikitext text/x-wiki *[https://kabala.vn/64-que-kinh-dich/64 Quẻ Kinh Dịch] [[Category:Kinh dịch]] ==Kinh Dịch== [[Kinh Dịch]] (giản thể: 易经; phồn thể: 易經, bính âm: Yì Jīng; IPA Quảng Đông: jɪk gɪŋ; Việt bính Quảng Đông: jik ging; các kiểu Latinh hóa khác: I Jing, Yi Ching, Yi King) là bộ sách kinh điển của Trung Hoa. Nó là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại. Tư tưởng triết học cơ bản dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua đối kháng và thay đổi (chuyển dịch). Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển dần lên bởi các nhà triết học Trung Hoa. Cho tới nay, Kinh Dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Á Đông và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung Hoa. Nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, nhân mệnh… ==Hình thành và phát triển== Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy (伏羲 Fú Xī). Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong Tam Hoàng của Trung Hoa thời thượng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của ba hào. Dưới triều vua Vũ (禹 Yǔ) nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi tư quẻ (六十四卦 lìu shí­ sì gùa), được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn (連山 Lián Shān) còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là “các dãy núi liên tiếp” trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quái và ngoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên Thiên Bát Quái. Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương thay thế, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng; còn gọi là Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn (坤 kūn) trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn (乾 qián) (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ (卦辭 guà cí) và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu Thiên Bát Quái ra đời. Kinh Dịch được hình thành vào khoảng thời Xuân Thu (771-476 TCN), tuy nhiên nội dung của nó có thể còn lâu đời hơn.Kinh Dịch gồm 64 quẻ, mỗi quẻ gồm 6 vạch liền hoặc đứt, tượng trưng cho âm và dương. Các quẻ kết hợp với nhau tạo thành 64 trường hợp khác nhau, mô tả các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư tưởng con người. Kinh Dịch được sử dụng để bói toán, dự đoán vận mệnh, hướng dẫn hành động và ra quyết định. Người xưa tin rằng Kinh Dịch tiết lộ được ý trời, đạo lý muôn vật.Kinh Dịch có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, tư tưởng Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản.Nói tóm lại, Kinh Dịch là một di sản văn hóa quan trọng của Trung Quốc cổ đại, có giá trị trong việc nghiên cứu văn hóa, triết học Đông Á. ==NỀN TẢNG CỦA 64 QUẺ DỊCH== Kinh Dịch là một hệ thống triết học và dự đoán phong phú, bắt nguồn từ những nguyên lý cơ bản của vũ trụ và sự tương tác của chúng. Các khái niệm Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, và 64 quẻ Kinh Dịch cùng nhau tạo thành một cấu trúc logic và hài hòa. Dưới đây là mô tả chi tiết về mối quan hệ và sự tương tác giữa các khái niệm này: ===Thái Cực Sinh Ra Lưỡng Nghi (太極生兩儀)=== Thái Cực (太極) là khởi điểm của mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ. Thái Cực biểu thị sự toàn vẹn, sự hợp nhất và tiềm năng vô tận, từ đó mọi thứ được sinh ra. Từ trạng thái nguyên thủy và toàn vẹn của Thái Cực, vũ trụ bắt đầu phân chia thành hai lực đối lập nhưng bổ sung cho nhau, được gọi là Lưỡng Nghi (兩儀). # Âm (陰): Đại diện cho yếu tố nữ tính, tĩnh, lạnh, tối và tiêu cực. # Dương (陽): Đại diện cho yếu tố nam tính, động, nóng, sáng và tích cực. Lưỡng Nghi là nguyên lý cơ bản của sự tồn tại và sự biến đổi trong vũ trụ. Âm và Dương không tồn tại độc lập mà luôn tương tác và biến đổi lẫn nhau, tạo nên sự cân bằng và hài hòa. ===Lưỡng Nghi Biến Hóa Thành Tứ Tượng (兩儀生四象)=== Từ sự tương tác của Âm và Dương, vũ trụ phát triển thêm và hình thành nên Tứ Tượng (四象). Tứ Tượng là bốn trạng thái phát triển tiếp theo của Lưỡng Nghi: #Thái Âm (太陰): Âm lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính âm. #hái Dương (太陽): Dương lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính dương. #Thiếu Âm (少陰): Âm nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính âm. #Thiếu Dương (少陽): Dương nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính dương. Tứ Tượng biểu thị sự phân chia tinh tế hơn của Âm và Dương, tạo ra những trạng thái khác nhau trong sự biến đổi liên tục của vũ trụ. ===Tứ Tượng Phát Triển Thành Bát Quái (四象生八卦)=== Từ Tứ Tượng, sự phân chia tiếp tục và phức tạp hóa hơn, tạo thành Bát Quái (八卦). Bát Quái là tám quẻ đơn, mỗi quẻ gồm ba hào (nét), mỗi hào có thể là hào dương (nét liền) hoặc hào âm (nét đứt). Tám quẻ đơn này là: # Càn (☰): Trời, dương, sáng tạo. # Đoài (☱): Hồ, âm dương giao hòa, vui vẻ. # Ly (☲): Lửa, dương, sáng rõ. # Chấn (☳): Sấm, dương, khởi đầu. # Tốn (☴): Gió, âm, linh hoạt. # Khảm (☵): Nước, âm, sâu lắng. # Khôn (☷): Đất, âm, nuôi dưỡng. # Cấn (☶): Núi, âm, tĩnh lặng. Bát Quái là biểu tượng của các yếu tố cơ bản trong vũ trụ và sự tương tác của chúng. Mỗi quẻ đơn biểu thị một khía cạnh của vũ trụ và sự biến đổi của nó. ===Bát Quái Kết Hợp Lại Tạo Thành 64 Quẻ Kinh Dịch (八卦生成六十四卦)=== Khi hai quẻ đơn trong Bát Quái kết hợp với nhau, chúng tạo thành 64 quẻ kép (quẻ Kinh Dịch). Mỗi quẻ kép gồm sáu hào, tạo nên một hệ thống phong phú và chi tiết để mô tả các trạng thái và tình huống khác nhau trong vũ trụ. Mỗi quẻ kép có một tên và một ý nghĩa riêng, phản ánh một khía cạnh cụ thể của sự biến đổi và tương tác trong vũ trụ. Ví dụ, quẻ Khôn (☷) trên Càn (☰) tạo thành quẻ Thái (泰), biểu thị sự hòa hợp và thuận lợi. Trong khi đó, quẻ Khảm (☵) trên Ly (☲) tạo thành quẻ Ký Tế (既濟), biểu thị sự hoàn thành và đạt được mục tiêu. ===Mối Quan Hệ và Sự Tương Tác trong Kinh Dịch=== Mối quan hệ và sự tương tác giữa Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái và 64 quẻ Kinh Dịch tạo thành một hệ thống logic và hài hòa, giúp giải thích và dự đoán các hiện tượng trong vũ trụ và cuộc sống. Hệ thống này không chỉ phản ánh sự phức tạp và đa dạng của vũ trụ mà còn cung cấp một phương pháp luận để hiểu và dự đoán sự biến đổi không ngừng của vạn vật. ==64 Quẻ Dịch== Từ [[Lý – Đức – Tính – Thần – Thời – Khí – Tình – Thanh – Sắc – Chất – Thể – Hình]] của Tám Tượng Đơn được phối hợp lẫn nhau theo từng góc nhìn riêng của mỗi tượng mà Tiền Nhân đã định ra danh lý và nghĩa của 64 quẻ kép Giống mà hơi khác nhau. Là bộ mặt của Tạo Hóa. Được mệnh danh là KINH VÔ TỰ THIÊN THƯ (Sách trời không có chữ, mà chỉ có gạch đứt, gạch liền) 64 quẻ Kinh Dịch được viết nhằm giúp người đọc có thêm thông tin, nghiên cứu sâu hơn về cách chơi, cũng như giải nghĩa chi tiết hơn từng quẻ Kinh Dịch. Nội dung giải nghĩa quẻ đi vào các tình huống, các vấn đề thường gặp trong cuộc sống, và đưa ra lời bình chung về quẻ, chứ không đi sâu vào các lý luận học thuật. Từ Can Chi trong Bát Tự quy đổi thành số ÂM và số DƯƠNG dựa trên mã số Hà Đồ và Lạc Thư . Rồi dựa vào đó tìm được Quẻ Dịch Nhân Mệnh cho mỗi người. Quẻ Dịch Nhân Mệnh chỉ cho mỗi người thấy hành lang của cuộc đời mình, từ đó tiến đến sự minh triết trong nhân sinh quan, vũ trụ quan của mỗi người – nhằm đạt được tính ưu sinh, theo lành tránh dữ… Trên mỗi Quẻ Dịch đó chúng ta thấy rõ cát hung, phú quý, sang hèn, thọ yểu… cho mỗi cá nhân. Đoán mệnh theo phương pháp [[Hà Lạc Lý Số]] giản dị nhưng khúc chiết, dễ hiểu và dễ thực hành. Bảng dưới đây hiển thị các quẻ theo thứ tự Văn Vương. {| class="center" style="background: transparent; width: 100%; table-layout: fixed" |- style="vertical-align: top" | 1<br>[[File:Iching-hexagram-01.svg|link=Thuần Càn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Càn|Càn (乾)]]}} | 2<br>[[File:Iching-hexagram-02.svg|link=Thuần Khôn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khôn|坤 (Khôn)]]}} | 3<br>[[File:Iching-hexagram-03.svg|link=Thủy Lôi Truân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Lôi Truân|屯 (Truân)]]}} | 4<br>[[File:Iching-hexagram-04.svg|link=Sơn Thủy Mông|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thủy Mông|蒙 (Mông)]]}} | 5<br>[[File:Iching-hexagram-05.svg|link=Thủy Thiên Nh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Thiên Nhu|需 (Nhu)]]}} | 6<br>[[File:Iching-hexagram-06.svg|link=Thiên Thủy Tụng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Thủy Tụng|訟 (Tụng)]]}} | 7<br>[[File:Iching-hexagram-07.svg|link=Địa Thủy Sư|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thủy Sư|師 (Sư)]]}} | 8<br>[[File:Iching-hexagram-08.svg|link=Thủy Địa Tỷ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Địa Tỷ|比 (Tỷ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 9<br>[[File:Iching-hexagram-09.svg|link=Phong Thiên Tiểu Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thiên Tiểu Súc|小畜 (Tiểu Súc)]]}} | 10<br>[[File:Iching-hexagram-10.svg|link=Thiên Trạch Lý|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Trạch Lý|履 (Lý)]]}} | 11<br>[[File:Iching-hexagram-11.svg|link=Địa Thiên Thái|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thiên Thái|泰 (Thái)]]}} | 12<br>[[File:Iching-hexagram-12.svg|link=Thiên Địa Bĩ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Địa Bĩ|否 (Bĩ)]]}} | 13<br>[[File:Iching-hexagram-13.svg|linkThiên Hỏa Đồng Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Hỏa Đồng Nhân|同人 (Đồng Nhân)]]}} | 14<br>[[File:Iching-hexagram-14.svg|link=Hỏa Thiên Đại Hữu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thiên Đại Hữu|大有 (Đại Hữu)]]}} | 15<br>[[File:Iching-hexagram-15.svg|link=Địa Sơn Khiêm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Sơn Khiêm|謙 (Khiêm)]]}} | 16<br>[[File:Iching-hexagram-16.svg|link=Lôi Địa Dự|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Địa Dự|豫 (Dự)]]}} |- style="vertical-align: top" | 17<br>[[File:Iching-hexagram-17.svg|link=Trạch Lôi Tùy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Lôi Tùy|隨 (Tùy)]]}} | 18<br>[[File:Iching-hexagram-18.svg|link=Sơn Phong Cổ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Phong Cổ|蠱 (Cổ)]]}} | 19<br>[[File:Iching-hexagram-19.svg|link=Địa Trạch Lâm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Trạch Lâm|臨 (Lâm)]]}} | 20<br>[[File:Iching-hexagram-20.svg|link=Phong Địa Quan|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Địa Quan|觀 (Quan)]]}} | 21<br>[[File:Iching-hexagram-21.svg|link=Hỏa Lôi Phệ Hạp|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Lôi Phệ Hạp|噬嗑 (Phệ Hạp)]]}} | 22<br>[[File:Iching-hexagram-22.svg|link=Sơn Hỏa Bí|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Hỏa Bí|賁 (Bí)]]}} | 23<br>[[File:Iching-hexagram-23.svg|link=Sơn Địa Bác|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Địa Bác|剝 (Bác)]]}} | 24<br>[[File:Iching-hexagram-24.svg|link=Địa Lôi Phục|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Lôi Phục|復 (Phục)]]}} |- style="vertical-align: top" | 25<br>[[File:Iching-hexagram-25.svg|link=Thiên Lôi Vô Vọng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Lôi Vô Vọng|無妄 (Vô Vọng)]]}} | 26<br>[[File:Iching-hexagram-26.svg|link=Sơn Thiên Đại Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thiên Đại Súc|大畜 (Đại Súc)]]}} | 27<br>[[File:Iching-hexagram-27.svg|link=Sơn Lôi Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Lôi Di|頤 (Di)]]}} | 28<br>[[File:Iching-hexagram-28.svg|link=Trạch Phong Đại Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Phong Đại Quá|大過 (Đại Quá)]]}} | 29<br>[[File:Iching-hexagram-29.svg|link=Thuần Khảm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khảm|坎 (Khảm)]]}} | 30<br>[[File:Iching-hexagram-30.svg|link=Thuần Ly|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Ly|離 (Ly)]]}} | 31<br>[[File:Iching-hexagram-31.svg|link=Trạch Sơn Hàm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Sơn Hàm|咸 (Hàm)]]}} | 32<br>[[File:Iching-hexagram-32.svg|link=Lôi Phong Hằng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Phong Hằng|恆 (Hằng)]]}} |- style="vertical-align: top" | 33<br>[[File:Iching-hexagram-33.svg|link=Thiên Sơn Độn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Sơn Độn|遯 (Độn)]]}} | 34<br>[[File:Iching-hexagram-34.svg|link=Lôi Thiên Đại Tráng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thiên Đại Tráng|大壯 (Đại Tráng)]]}} | 35<br>[[File:Iching-hexagram-35.svg|link=Hỏa Địa Tấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Địa Tấn|晉 (Tấn)]]}} | 36<br>[[File:Iching-hexagram-36.svg|link=Địa Hỏa Minh Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Hỏa Minh Di|明夷 (Minh Di)]]}} | 37<br>[[File:Iching-hexagram-37.svg|link=Phong Hỏa Gia Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Hỏa Gia Nhân|家人 (Gia Nhân)]]}} | 38<br>[[File:Iching-hexagram-38.svg|link=Hỏa Trạch Khuê|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Trạch Khuê|睽 (Khuê)]]}} | 39<br>[[File:Iching-hexagram-39.svg|link=Thủy Sơn Kiển|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Sơn Kiển|蹇 (Kiển)]]}} | 40<br>[[File:Iching-hexagram-40.svg|link=Lôi Thủy Giải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thủy Giải|解 (Giải)]]}} |- style="vertical-align: top" | 41<br>[[File:Iching-hexagram-41.svg|link=Sơn Trạch Tổn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Trạch Tổn|損 (Tổn)]]}} | 42<br>[[File:Iching-hexagram-42.svg|link=Phong Lôi Ích|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Lôi Ích|益 (Ích)]]}} | 43<br>[[File:Iching-hexagram-43.svg|link=Trạch Thiên Quải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thiên Quải|夬 (Quải)]]}} | 44<br>[[File:Iching-hexagram-44.svg|link=Thiên Phong Cấu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Phong Cấu|姤 (Cấu)]]}} | 45<br>[[File:Iching-hexagram-45.svg|link=Trạch Địa Tụy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Địa Tụy|萃 (Tụy)]]}} | 46<br>[[File:Iching-hexagram-46.svg|link=Địa Phong Thăng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Phong Thăng|升 (Thăng)]]}} | 47<br>[[File:Iching-hexagram-47.svg|link=Trạch Thủy Khốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thủy Khốn|困 (Khốn)]]}} | 48<br>[[File:Iching-hexagram-48.svg|link=Thủy Phong Tỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Phong Tỉnh|井 (Tỉnh)]]}} |- style="vertical-align: top" | 49<br>[[File:Iching-hexagram-49.svg|link=Trạch Hỏa Cách|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Hỏa Cách|革 (Cách)]]}} | 50<br>[[File:Iching-hexagram-50.svg|link=Hỏa Phong Đỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Phong Đỉnh|鼎 (Đỉnh)]]}} | 51<br>[[File:Iching-hexagram-51.svg|link=Thuần Chấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Chấn|震 (Chấn)]]}} | 52<br>[[File:Iching-hexagram-52.svg|link=Thuần Cấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Cấn|艮 (Cấn)]]}} | 53<br>[[File:Iching-hexagram-53.svg|link=Phong Sơn Tiệm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Sơn Tiệm|漸 (Tiệm)]]}} | 54<br>[[File:Iching-hexagram-54.svg|link=Lôi Trạch Quy Muội|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Trạch Quy Muội|歸妹 (Quy Muội)]]}} | 55<br>[[File:Iching-hexagram-55.svg|link=Lôi Hỏa Phong|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Hỏa Phong|豐 (Phong)]]}} | 56<br>[[File:Iching-hexagram-56.svg|link=Hỏa Sơn Lữ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Sơn Lữ|旅 (Lữ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 57<br>[[File:Iching-hexagram-57.svg|link=Thuần Tốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Tốn|巽 (Tốn)]]}} | 58<br>[[File:Iching-hexagram-58.svg|link=Thuần Đoài|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Đoài|兌 (Đoài)]]}} | 59<br>[[File:Iching-hexagram-59.svg|link=Phong Thủy Hoán|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thủy Hoán|渙 (Hoán)]]}} | 60<br>[[File:Iching-hexagram-60.svg|link=Thủy Trạch Tiết|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Trạch Tiết|節 (Tiết)]]}} | 61<br>[[File:Iching-hexagram-61.svg|link=Phong Trạch Trung Phu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Trạch Trung Phu|中孚 (Trung Phu)]]}} | 62<br>[[File:Iching-hexagram-62.svg|link=Lôi Sơn Tiểu Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Sơn Tiểu Quá|小過 (Tiểu Quá)]]}} | 63<br>[[File:Iching-hexagram-63.svg|link=Thủy Hỏa Ký Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Hỏa Ký Tế|既濟 (Ký Tế)]]}} | 64<br>[[File:Iching-hexagram-64.svg|link=Hỏa Thủy Vị Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thủy Vị Tế|未濟 (Vị Tế)]]}} |} ==Ý nghĩa 64 quẻ Dịch== * [https://amtradichly.vn/y-nghia-64-que-dich Ý nghĩa 64 quẻ dịch] ==Ứng dụng của Kinh Dịch== Kinh Dịch thường được người Á Đông ứng dụng trong các lĩnh vực sau: * [[Bói toán]] : Sử dụng các quẻ Kinh Dịch để bói xem vận mệnh, hướng đi của cuộc đời, hoặc các sự việc sắp xảy ra. * [[Xem tướng]] : Dựa vào lý thuyết âm dương ngũ hành trong Kinh Dịch để phân tích tướng mạo, tính cách con người. * [[Định hướng chiến lược]] : Các nhà lãnh đạo, chính trị gia tham khảo Kinh Dịch để định hướng chiến lược, khởi sự việc lớn. * [[Y học cổ truyền]] : Tham khảo lý thuyết âm dương ngũ hành trong Kinh Dịch để chẩn đoán và điều trị bệnh. * [[Triết học]] : Nghiên cứu tư tưởng triết học tiềm ẩn bên trong Kinh Dịch về vũ trụ quan, nhân sinh quan. * [[Văn hóa, nghệ thuật]] : Kinh Dịch có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc Á Đông. Nhìn chung, Kinh Dịch đã ăn sâu vào tiềm thức văn hóa của người Á Đông và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. ==Tác phẩm kinh điển== Một số tác phẩm kinh điển về Kinh Dịch bao gồm: * Kinh Dịch (Trung Quốc) – Bộ sách gốc, tập hợp 64 quẻ và lời giải thích các quẻ. * Hệ Từ Thượng (Trung Quốc) – Sách giải thích ý nghĩa mỗi quẻ Kinh Dịch của Đổng Trọng Thư. * Hệ Từ Hạ (Trung Quốc) – Sách giải thích mối liên hệ giữa các quẻ của Vương Bật. * Tuệ Kinh Lục (Việt Nam) – Sách giải nghĩa Kinh Dịch bằng chữ Nôm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. * Dịch Kinh Khải Mông (Việt Nam) – Sách giải thích ý nghĩa Kinh Dịch bằng văn xuôi của Lê Hoằng Trác. * Dịch Lý Tục Biên (Việt Nam) – Tổng hợp các lý thuyết về Kinh Dịch của nhiều tác giả Việt Nam. * Tì Dịch Bá Lãm (Trung Quốc) – Từ điển giải nghĩa các thuật ngữ trong Kinh Dịch. * Zhouyi Quanshu (Trung Quốc) – Bộ sách đồ sộ về Kinh Dịch thời nhà Thanh. Những tác phẩm này đã khái quát nội dung và giúp làm sáng tỏ ý nghĩa sâu xa của Kinh Dịch đối với văn hóa Á Đông. ==Một số công cụ về Kinh dịch== * Mai Hoa Dịch Số (https://maihoa.kabala.vn): Mai Hoa Dịch số (chữ Hán: 梅花易數) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành, bát quái kết hợp thuyết vận khí, bát quái kết hợp ngũ hành… bằng cách lập quẻ chính, hào động và quẻ biến; căn cứ vào sự vật, hiện tượng quan sát hay nghe được, đo đếm được hoặc giờ, ngày, tháng, năm xảy ra (theo âm lịch). * Bát Tự Hà Lạc (https://halac.kabala.vn): Bát tự Hà Lạc (có sách ghi là Tám chữ Hà Lạc) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý của Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành,… bằng cách lập quẻ Tiên thiên với hào nguyên đường và quẻ Hậu thiên; căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch. * Kinh Dịch – Đạo Người Quân Tử (https://dich.kabala.vn/dao-quan-tu) * Xem Số Đẹp Bằng Kinh Dịch (https://tuvi.kabala.vn/sodep.html) * Tài Liệu – Ebook Kinh Dịch (https://go.kabala.vn/ebook-kinhdich) ovngpgycq5ajqs171dtueehrkpefwqm 542210 542209 2026-04-29T14:49:55Z ~2026-26230-55 19578 /* Kinh Dịch */ 542210 wikitext text/x-wiki *[https://kabala.vn/64-que-kinh-dich/64 Quẻ Kinh Dịch] [[Category:Kinh dịch]] ==Kinh Dịch== [Kinh dịch]] (giản thể: 易经; phồn thể: 易經, bính âm: Yì Jīng; IPA Quảng Đông: jɪk gɪŋ; Việt bính Quảng Đông: jik ging; các kiểu Latinh hóa khác: I Jing, Yi Ching, Yi King) là bộ sách kinh điển của Trung Hoa. Nó là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại. Tư tưởng triết học cơ bản dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua đối kháng và thay đổi (chuyển dịch). Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển dần lên bởi các nhà triết học Trung Hoa. Cho tới nay, Kinh Dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Á Đông và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung Hoa. Nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, nhân mệnh… ==Hình thành và phát triển== Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy (伏羲 Fú Xī). Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong Tam Hoàng của Trung Hoa thời thượng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của ba hào. Dưới triều vua Vũ (禹 Yǔ) nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi tư quẻ (六十四卦 lìu shí­ sì gùa), được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn (連山 Lián Shān) còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là “các dãy núi liên tiếp” trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quái và ngoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên Thiên Bát Quái. Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương thay thế, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng; còn gọi là Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn (坤 kūn) trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn (乾 qián) (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ (卦辭 guà cí) và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu Thiên Bát Quái ra đời. Kinh Dịch được hình thành vào khoảng thời Xuân Thu (771-476 TCN), tuy nhiên nội dung của nó có thể còn lâu đời hơn.Kinh Dịch gồm 64 quẻ, mỗi quẻ gồm 6 vạch liền hoặc đứt, tượng trưng cho âm và dương. Các quẻ kết hợp với nhau tạo thành 64 trường hợp khác nhau, mô tả các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư tưởng con người. Kinh Dịch được sử dụng để bói toán, dự đoán vận mệnh, hướng dẫn hành động và ra quyết định. Người xưa tin rằng Kinh Dịch tiết lộ được ý trời, đạo lý muôn vật.Kinh Dịch có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, tư tưởng Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản.Nói tóm lại, Kinh Dịch là một di sản văn hóa quan trọng của Trung Quốc cổ đại, có giá trị trong việc nghiên cứu văn hóa, triết học Đông Á. ==NỀN TẢNG CỦA 64 QUẺ DỊCH== Kinh Dịch là một hệ thống triết học và dự đoán phong phú, bắt nguồn từ những nguyên lý cơ bản của vũ trụ và sự tương tác của chúng. Các khái niệm Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, và 64 quẻ Kinh Dịch cùng nhau tạo thành một cấu trúc logic và hài hòa. Dưới đây là mô tả chi tiết về mối quan hệ và sự tương tác giữa các khái niệm này: ===Thái Cực Sinh Ra Lưỡng Nghi (太極生兩儀)=== Thái Cực (太極) là khởi điểm của mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ. Thái Cực biểu thị sự toàn vẹn, sự hợp nhất và tiềm năng vô tận, từ đó mọi thứ được sinh ra. Từ trạng thái nguyên thủy và toàn vẹn của Thái Cực, vũ trụ bắt đầu phân chia thành hai lực đối lập nhưng bổ sung cho nhau, được gọi là Lưỡng Nghi (兩儀). # Âm (陰): Đại diện cho yếu tố nữ tính, tĩnh, lạnh, tối và tiêu cực. # Dương (陽): Đại diện cho yếu tố nam tính, động, nóng, sáng và tích cực. Lưỡng Nghi là nguyên lý cơ bản của sự tồn tại và sự biến đổi trong vũ trụ. Âm và Dương không tồn tại độc lập mà luôn tương tác và biến đổi lẫn nhau, tạo nên sự cân bằng và hài hòa. ===Lưỡng Nghi Biến Hóa Thành Tứ Tượng (兩儀生四象)=== Từ sự tương tác của Âm và Dương, vũ trụ phát triển thêm và hình thành nên Tứ Tượng (四象). Tứ Tượng là bốn trạng thái phát triển tiếp theo của Lưỡng Nghi: #Thái Âm (太陰): Âm lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính âm. #hái Dương (太陽): Dương lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính dương. #Thiếu Âm (少陰): Âm nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính âm. #Thiếu Dương (少陽): Dương nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính dương. Tứ Tượng biểu thị sự phân chia tinh tế hơn của Âm và Dương, tạo ra những trạng thái khác nhau trong sự biến đổi liên tục của vũ trụ. ===Tứ Tượng Phát Triển Thành Bát Quái (四象生八卦)=== Từ Tứ Tượng, sự phân chia tiếp tục và phức tạp hóa hơn, tạo thành Bát Quái (八卦). Bát Quái là tám quẻ đơn, mỗi quẻ gồm ba hào (nét), mỗi hào có thể là hào dương (nét liền) hoặc hào âm (nét đứt). Tám quẻ đơn này là: # Càn (☰): Trời, dương, sáng tạo. # Đoài (☱): Hồ, âm dương giao hòa, vui vẻ. # Ly (☲): Lửa, dương, sáng rõ. # Chấn (☳): Sấm, dương, khởi đầu. # Tốn (☴): Gió, âm, linh hoạt. # Khảm (☵): Nước, âm, sâu lắng. # Khôn (☷): Đất, âm, nuôi dưỡng. # Cấn (☶): Núi, âm, tĩnh lặng. Bát Quái là biểu tượng của các yếu tố cơ bản trong vũ trụ và sự tương tác của chúng. Mỗi quẻ đơn biểu thị một khía cạnh của vũ trụ và sự biến đổi của nó. ===Bát Quái Kết Hợp Lại Tạo Thành 64 Quẻ Kinh Dịch (八卦生成六十四卦)=== Khi hai quẻ đơn trong Bát Quái kết hợp với nhau, chúng tạo thành 64 quẻ kép (quẻ Kinh Dịch). Mỗi quẻ kép gồm sáu hào, tạo nên một hệ thống phong phú và chi tiết để mô tả các trạng thái và tình huống khác nhau trong vũ trụ. Mỗi quẻ kép có một tên và một ý nghĩa riêng, phản ánh một khía cạnh cụ thể của sự biến đổi và tương tác trong vũ trụ. Ví dụ, quẻ Khôn (☷) trên Càn (☰) tạo thành quẻ Thái (泰), biểu thị sự hòa hợp và thuận lợi. Trong khi đó, quẻ Khảm (☵) trên Ly (☲) tạo thành quẻ Ký Tế (既濟), biểu thị sự hoàn thành và đạt được mục tiêu. ===Mối Quan Hệ và Sự Tương Tác trong Kinh Dịch=== Mối quan hệ và sự tương tác giữa Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái và 64 quẻ Kinh Dịch tạo thành một hệ thống logic và hài hòa, giúp giải thích và dự đoán các hiện tượng trong vũ trụ và cuộc sống. Hệ thống này không chỉ phản ánh sự phức tạp và đa dạng của vũ trụ mà còn cung cấp một phương pháp luận để hiểu và dự đoán sự biến đổi không ngừng của vạn vật. ==64 Quẻ Dịch== Từ [[Lý – Đức – Tính – Thần – Thời – Khí – Tình – Thanh – Sắc – Chất – Thể – Hình]] của Tám Tượng Đơn được phối hợp lẫn nhau theo từng góc nhìn riêng của mỗi tượng mà Tiền Nhân đã định ra danh lý và nghĩa của 64 quẻ kép Giống mà hơi khác nhau. Là bộ mặt của Tạo Hóa. Được mệnh danh là KINH VÔ TỰ THIÊN THƯ (Sách trời không có chữ, mà chỉ có gạch đứt, gạch liền) 64 quẻ Kinh Dịch được viết nhằm giúp người đọc có thêm thông tin, nghiên cứu sâu hơn về cách chơi, cũng như giải nghĩa chi tiết hơn từng quẻ Kinh Dịch. Nội dung giải nghĩa quẻ đi vào các tình huống, các vấn đề thường gặp trong cuộc sống, và đưa ra lời bình chung về quẻ, chứ không đi sâu vào các lý luận học thuật. Từ Can Chi trong Bát Tự quy đổi thành số ÂM và số DƯƠNG dựa trên mã số Hà Đồ và Lạc Thư . Rồi dựa vào đó tìm được Quẻ Dịch Nhân Mệnh cho mỗi người. Quẻ Dịch Nhân Mệnh chỉ cho mỗi người thấy hành lang của cuộc đời mình, từ đó tiến đến sự minh triết trong nhân sinh quan, vũ trụ quan của mỗi người – nhằm đạt được tính ưu sinh, theo lành tránh dữ… Trên mỗi Quẻ Dịch đó chúng ta thấy rõ cát hung, phú quý, sang hèn, thọ yểu… cho mỗi cá nhân. Đoán mệnh theo phương pháp [[Hà Lạc Lý Số]] giản dị nhưng khúc chiết, dễ hiểu và dễ thực hành. Bảng dưới đây hiển thị các quẻ theo thứ tự Văn Vương. {| class="center" style="background: transparent; width: 100%; table-layout: fixed" |- style="vertical-align: top" | 1<br>[[File:Iching-hexagram-01.svg|link=Thuần Càn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Càn|Càn (乾)]]}} | 2<br>[[File:Iching-hexagram-02.svg|link=Thuần Khôn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khôn|坤 (Khôn)]]}} | 3<br>[[File:Iching-hexagram-03.svg|link=Thủy Lôi Truân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Lôi Truân|屯 (Truân)]]}} | 4<br>[[File:Iching-hexagram-04.svg|link=Sơn Thủy Mông|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thủy Mông|蒙 (Mông)]]}} | 5<br>[[File:Iching-hexagram-05.svg|link=Thủy Thiên Nh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Thiên Nhu|需 (Nhu)]]}} | 6<br>[[File:Iching-hexagram-06.svg|link=Thiên Thủy Tụng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Thủy Tụng|訟 (Tụng)]]}} | 7<br>[[File:Iching-hexagram-07.svg|link=Địa Thủy Sư|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thủy Sư|師 (Sư)]]}} | 8<br>[[File:Iching-hexagram-08.svg|link=Thủy Địa Tỷ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Địa Tỷ|比 (Tỷ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 9<br>[[File:Iching-hexagram-09.svg|link=Phong Thiên Tiểu Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thiên Tiểu Súc|小畜 (Tiểu Súc)]]}} | 10<br>[[File:Iching-hexagram-10.svg|link=Thiên Trạch Lý|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Trạch Lý|履 (Lý)]]}} | 11<br>[[File:Iching-hexagram-11.svg|link=Địa Thiên Thái|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thiên Thái|泰 (Thái)]]}} | 12<br>[[File:Iching-hexagram-12.svg|link=Thiên Địa Bĩ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Địa Bĩ|否 (Bĩ)]]}} | 13<br>[[File:Iching-hexagram-13.svg|linkThiên Hỏa Đồng Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Hỏa Đồng Nhân|同人 (Đồng Nhân)]]}} | 14<br>[[File:Iching-hexagram-14.svg|link=Hỏa Thiên Đại Hữu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thiên Đại Hữu|大有 (Đại Hữu)]]}} | 15<br>[[File:Iching-hexagram-15.svg|link=Địa Sơn Khiêm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Sơn Khiêm|謙 (Khiêm)]]}} | 16<br>[[File:Iching-hexagram-16.svg|link=Lôi Địa Dự|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Địa Dự|豫 (Dự)]]}} |- style="vertical-align: top" | 17<br>[[File:Iching-hexagram-17.svg|link=Trạch Lôi Tùy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Lôi Tùy|隨 (Tùy)]]}} | 18<br>[[File:Iching-hexagram-18.svg|link=Sơn Phong Cổ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Phong Cổ|蠱 (Cổ)]]}} | 19<br>[[File:Iching-hexagram-19.svg|link=Địa Trạch Lâm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Trạch Lâm|臨 (Lâm)]]}} | 20<br>[[File:Iching-hexagram-20.svg|link=Phong Địa Quan|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Địa Quan|觀 (Quan)]]}} | 21<br>[[File:Iching-hexagram-21.svg|link=Hỏa Lôi Phệ Hạp|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Lôi Phệ Hạp|噬嗑 (Phệ Hạp)]]}} | 22<br>[[File:Iching-hexagram-22.svg|link=Sơn Hỏa Bí|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Hỏa Bí|賁 (Bí)]]}} | 23<br>[[File:Iching-hexagram-23.svg|link=Sơn Địa Bác|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Địa Bác|剝 (Bác)]]}} | 24<br>[[File:Iching-hexagram-24.svg|link=Địa Lôi Phục|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Lôi Phục|復 (Phục)]]}} |- style="vertical-align: top" | 25<br>[[File:Iching-hexagram-25.svg|link=Thiên Lôi Vô Vọng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Lôi Vô Vọng|無妄 (Vô Vọng)]]}} | 26<br>[[File:Iching-hexagram-26.svg|link=Sơn Thiên Đại Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thiên Đại Súc|大畜 (Đại Súc)]]}} | 27<br>[[File:Iching-hexagram-27.svg|link=Sơn Lôi Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Lôi Di|頤 (Di)]]}} | 28<br>[[File:Iching-hexagram-28.svg|link=Trạch Phong Đại Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Phong Đại Quá|大過 (Đại Quá)]]}} | 29<br>[[File:Iching-hexagram-29.svg|link=Thuần Khảm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khảm|坎 (Khảm)]]}} | 30<br>[[File:Iching-hexagram-30.svg|link=Thuần Ly|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Ly|離 (Ly)]]}} | 31<br>[[File:Iching-hexagram-31.svg|link=Trạch Sơn Hàm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Sơn Hàm|咸 (Hàm)]]}} | 32<br>[[File:Iching-hexagram-32.svg|link=Lôi Phong Hằng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Phong Hằng|恆 (Hằng)]]}} |- style="vertical-align: top" | 33<br>[[File:Iching-hexagram-33.svg|link=Thiên Sơn Độn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Sơn Độn|遯 (Độn)]]}} | 34<br>[[File:Iching-hexagram-34.svg|link=Lôi Thiên Đại Tráng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thiên Đại Tráng|大壯 (Đại Tráng)]]}} | 35<br>[[File:Iching-hexagram-35.svg|link=Hỏa Địa Tấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Địa Tấn|晉 (Tấn)]]}} | 36<br>[[File:Iching-hexagram-36.svg|link=Địa Hỏa Minh Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Hỏa Minh Di|明夷 (Minh Di)]]}} | 37<br>[[File:Iching-hexagram-37.svg|link=Phong Hỏa Gia Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Hỏa Gia Nhân|家人 (Gia Nhân)]]}} | 38<br>[[File:Iching-hexagram-38.svg|link=Hỏa Trạch Khuê|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Trạch Khuê|睽 (Khuê)]]}} | 39<br>[[File:Iching-hexagram-39.svg|link=Thủy Sơn Kiển|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Sơn Kiển|蹇 (Kiển)]]}} | 40<br>[[File:Iching-hexagram-40.svg|link=Lôi Thủy Giải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thủy Giải|解 (Giải)]]}} |- style="vertical-align: top" | 41<br>[[File:Iching-hexagram-41.svg|link=Sơn Trạch Tổn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Trạch Tổn|損 (Tổn)]]}} | 42<br>[[File:Iching-hexagram-42.svg|link=Phong Lôi Ích|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Lôi Ích|益 (Ích)]]}} | 43<br>[[File:Iching-hexagram-43.svg|link=Trạch Thiên Quải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thiên Quải|夬 (Quải)]]}} | 44<br>[[File:Iching-hexagram-44.svg|link=Thiên Phong Cấu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Phong Cấu|姤 (Cấu)]]}} | 45<br>[[File:Iching-hexagram-45.svg|link=Trạch Địa Tụy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Địa Tụy|萃 (Tụy)]]}} | 46<br>[[File:Iching-hexagram-46.svg|link=Địa Phong Thăng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Phong Thăng|升 (Thăng)]]}} | 47<br>[[File:Iching-hexagram-47.svg|link=Trạch Thủy Khốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thủy Khốn|困 (Khốn)]]}} | 48<br>[[File:Iching-hexagram-48.svg|link=Thủy Phong Tỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Phong Tỉnh|井 (Tỉnh)]]}} |- style="vertical-align: top" | 49<br>[[File:Iching-hexagram-49.svg|link=Trạch Hỏa Cách|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Hỏa Cách|革 (Cách)]]}} | 50<br>[[File:Iching-hexagram-50.svg|link=Hỏa Phong Đỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Phong Đỉnh|鼎 (Đỉnh)]]}} | 51<br>[[File:Iching-hexagram-51.svg|link=Thuần Chấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Chấn|震 (Chấn)]]}} | 52<br>[[File:Iching-hexagram-52.svg|link=Thuần Cấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Cấn|艮 (Cấn)]]}} | 53<br>[[File:Iching-hexagram-53.svg|link=Phong Sơn Tiệm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Sơn Tiệm|漸 (Tiệm)]]}} | 54<br>[[File:Iching-hexagram-54.svg|link=Lôi Trạch Quy Muội|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Trạch Quy Muội|歸妹 (Quy Muội)]]}} | 55<br>[[File:Iching-hexagram-55.svg|link=Lôi Hỏa Phong|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Hỏa Phong|豐 (Phong)]]}} | 56<br>[[File:Iching-hexagram-56.svg|link=Hỏa Sơn Lữ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Sơn Lữ|旅 (Lữ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 57<br>[[File:Iching-hexagram-57.svg|link=Thuần Tốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Tốn|巽 (Tốn)]]}} | 58<br>[[File:Iching-hexagram-58.svg|link=Thuần Đoài|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Đoài|兌 (Đoài)]]}} | 59<br>[[File:Iching-hexagram-59.svg|link=Phong Thủy Hoán|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thủy Hoán|渙 (Hoán)]]}} | 60<br>[[File:Iching-hexagram-60.svg|link=Thủy Trạch Tiết|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Trạch Tiết|節 (Tiết)]]}} | 61<br>[[File:Iching-hexagram-61.svg|link=Phong Trạch Trung Phu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Trạch Trung Phu|中孚 (Trung Phu)]]}} | 62<br>[[File:Iching-hexagram-62.svg|link=Lôi Sơn Tiểu Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Sơn Tiểu Quá|小過 (Tiểu Quá)]]}} | 63<br>[[File:Iching-hexagram-63.svg|link=Thủy Hỏa Ký Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Hỏa Ký Tế|既濟 (Ký Tế)]]}} | 64<br>[[File:Iching-hexagram-64.svg|link=Hỏa Thủy Vị Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thủy Vị Tế|未濟 (Vị Tế)]]}} |} ==Ý nghĩa 64 quẻ Dịch== * [https://amtradichly.vn/y-nghia-64-que-dich Ý nghĩa 64 quẻ dịch] ==Ứng dụng của Kinh Dịch== Kinh Dịch thường được người Á Đông ứng dụng trong các lĩnh vực sau: * [[Bói toán]] : Sử dụng các quẻ Kinh Dịch để bói xem vận mệnh, hướng đi của cuộc đời, hoặc các sự việc sắp xảy ra. * [[Xem tướng]] : Dựa vào lý thuyết âm dương ngũ hành trong Kinh Dịch để phân tích tướng mạo, tính cách con người. * [[Định hướng chiến lược]] : Các nhà lãnh đạo, chính trị gia tham khảo Kinh Dịch để định hướng chiến lược, khởi sự việc lớn. * [[Y học cổ truyền]] : Tham khảo lý thuyết âm dương ngũ hành trong Kinh Dịch để chẩn đoán và điều trị bệnh. * [[Triết học]] : Nghiên cứu tư tưởng triết học tiềm ẩn bên trong Kinh Dịch về vũ trụ quan, nhân sinh quan. * [[Văn hóa, nghệ thuật]] : Kinh Dịch có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc Á Đông. Nhìn chung, Kinh Dịch đã ăn sâu vào tiềm thức văn hóa của người Á Đông và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. ==Tác phẩm kinh điển== Một số tác phẩm kinh điển về Kinh Dịch bao gồm: * Kinh Dịch (Trung Quốc) – Bộ sách gốc, tập hợp 64 quẻ và lời giải thích các quẻ. * Hệ Từ Thượng (Trung Quốc) – Sách giải thích ý nghĩa mỗi quẻ Kinh Dịch của Đổng Trọng Thư. * Hệ Từ Hạ (Trung Quốc) – Sách giải thích mối liên hệ giữa các quẻ của Vương Bật. * Tuệ Kinh Lục (Việt Nam) – Sách giải nghĩa Kinh Dịch bằng chữ Nôm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. * Dịch Kinh Khải Mông (Việt Nam) – Sách giải thích ý nghĩa Kinh Dịch bằng văn xuôi của Lê Hoằng Trác. * Dịch Lý Tục Biên (Việt Nam) – Tổng hợp các lý thuyết về Kinh Dịch của nhiều tác giả Việt Nam. * Tì Dịch Bá Lãm (Trung Quốc) – Từ điển giải nghĩa các thuật ngữ trong Kinh Dịch. * Zhouyi Quanshu (Trung Quốc) – Bộ sách đồ sộ về Kinh Dịch thời nhà Thanh. Những tác phẩm này đã khái quát nội dung và giúp làm sáng tỏ ý nghĩa sâu xa của Kinh Dịch đối với văn hóa Á Đông. ==Một số công cụ về Kinh dịch== * Mai Hoa Dịch Số (https://maihoa.kabala.vn): Mai Hoa Dịch số (chữ Hán: 梅花易數) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành, bát quái kết hợp thuyết vận khí, bát quái kết hợp ngũ hành… bằng cách lập quẻ chính, hào động và quẻ biến; căn cứ vào sự vật, hiện tượng quan sát hay nghe được, đo đếm được hoặc giờ, ngày, tháng, năm xảy ra (theo âm lịch). * Bát Tự Hà Lạc (https://halac.kabala.vn): Bát tự Hà Lạc (có sách ghi là Tám chữ Hà Lạc) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý của Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành,… bằng cách lập quẻ Tiên thiên với hào nguyên đường và quẻ Hậu thiên; căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch. * Kinh Dịch – Đạo Người Quân Tử (https://dich.kabala.vn/dao-quan-tu) * Xem Số Đẹp Bằng Kinh Dịch (https://tuvi.kabala.vn/sodep.html) * Tài Liệu – Ebook Kinh Dịch (https://go.kabala.vn/ebook-kinhdich) t3yvay9g1t0pkq11pynnkaae94s88hj 542211 542210 2026-04-29T14:50:04Z ~2026-26230-55 19578 /* Kinh Dịch */ 542211 wikitext text/x-wiki *[https://kabala.vn/64-que-kinh-dich/64 Quẻ Kinh Dịch] [[Category:Kinh dịch]] ==Kinh Dịch== [[Kinh dịch]] (giản thể: 易经; phồn thể: 易經, bính âm: Yì Jīng; IPA Quảng Đông: jɪk gɪŋ; Việt bính Quảng Đông: jik ging; các kiểu Latinh hóa khác: I Jing, Yi Ching, Yi King) là bộ sách kinh điển của Trung Hoa. Nó là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại. Tư tưởng triết học cơ bản dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua đối kháng và thay đổi (chuyển dịch). Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển dần lên bởi các nhà triết học Trung Hoa. Cho tới nay, Kinh Dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Á Đông và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung Hoa. Nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, nhân mệnh… ==Hình thành và phát triển== Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy (伏羲 Fú Xī). Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong Tam Hoàng của Trung Hoa thời thượng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của ba hào. Dưới triều vua Vũ (禹 Yǔ) nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi tư quẻ (六十四卦 lìu shí­ sì gùa), được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn (連山 Lián Shān) còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là “các dãy núi liên tiếp” trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quái và ngoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên Thiên Bát Quái. Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương thay thế, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng; còn gọi là Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn (坤 kūn) trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn (乾 qián) (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ (卦辭 guà cí) và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu Thiên Bát Quái ra đời. Kinh Dịch được hình thành vào khoảng thời Xuân Thu (771-476 TCN), tuy nhiên nội dung của nó có thể còn lâu đời hơn.Kinh Dịch gồm 64 quẻ, mỗi quẻ gồm 6 vạch liền hoặc đứt, tượng trưng cho âm và dương. Các quẻ kết hợp với nhau tạo thành 64 trường hợp khác nhau, mô tả các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư tưởng con người. Kinh Dịch được sử dụng để bói toán, dự đoán vận mệnh, hướng dẫn hành động và ra quyết định. Người xưa tin rằng Kinh Dịch tiết lộ được ý trời, đạo lý muôn vật.Kinh Dịch có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, tư tưởng Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản.Nói tóm lại, Kinh Dịch là một di sản văn hóa quan trọng của Trung Quốc cổ đại, có giá trị trong việc nghiên cứu văn hóa, triết học Đông Á. ==NỀN TẢNG CỦA 64 QUẺ DỊCH== Kinh Dịch là một hệ thống triết học và dự đoán phong phú, bắt nguồn từ những nguyên lý cơ bản của vũ trụ và sự tương tác của chúng. Các khái niệm Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, và 64 quẻ Kinh Dịch cùng nhau tạo thành một cấu trúc logic và hài hòa. Dưới đây là mô tả chi tiết về mối quan hệ và sự tương tác giữa các khái niệm này: ===Thái Cực Sinh Ra Lưỡng Nghi (太極生兩儀)=== Thái Cực (太極) là khởi điểm của mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ. Thái Cực biểu thị sự toàn vẹn, sự hợp nhất và tiềm năng vô tận, từ đó mọi thứ được sinh ra. Từ trạng thái nguyên thủy và toàn vẹn của Thái Cực, vũ trụ bắt đầu phân chia thành hai lực đối lập nhưng bổ sung cho nhau, được gọi là Lưỡng Nghi (兩儀). # Âm (陰): Đại diện cho yếu tố nữ tính, tĩnh, lạnh, tối và tiêu cực. # Dương (陽): Đại diện cho yếu tố nam tính, động, nóng, sáng và tích cực. Lưỡng Nghi là nguyên lý cơ bản của sự tồn tại và sự biến đổi trong vũ trụ. Âm và Dương không tồn tại độc lập mà luôn tương tác và biến đổi lẫn nhau, tạo nên sự cân bằng và hài hòa. ===Lưỡng Nghi Biến Hóa Thành Tứ Tượng (兩儀生四象)=== Từ sự tương tác của Âm và Dương, vũ trụ phát triển thêm và hình thành nên Tứ Tượng (四象). Tứ Tượng là bốn trạng thái phát triển tiếp theo của Lưỡng Nghi: #Thái Âm (太陰): Âm lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính âm. #hái Dương (太陽): Dương lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính dương. #Thiếu Âm (少陰): Âm nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính âm. #Thiếu Dương (少陽): Dương nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính dương. Tứ Tượng biểu thị sự phân chia tinh tế hơn của Âm và Dương, tạo ra những trạng thái khác nhau trong sự biến đổi liên tục của vũ trụ. ===Tứ Tượng Phát Triển Thành Bát Quái (四象生八卦)=== Từ Tứ Tượng, sự phân chia tiếp tục và phức tạp hóa hơn, tạo thành Bát Quái (八卦). Bát Quái là tám quẻ đơn, mỗi quẻ gồm ba hào (nét), mỗi hào có thể là hào dương (nét liền) hoặc hào âm (nét đứt). Tám quẻ đơn này là: # Càn (☰): Trời, dương, sáng tạo. # Đoài (☱): Hồ, âm dương giao hòa, vui vẻ. # Ly (☲): Lửa, dương, sáng rõ. # Chấn (☳): Sấm, dương, khởi đầu. # Tốn (☴): Gió, âm, linh hoạt. # Khảm (☵): Nước, âm, sâu lắng. # Khôn (☷): Đất, âm, nuôi dưỡng. # Cấn (☶): Núi, âm, tĩnh lặng. Bát Quái là biểu tượng của các yếu tố cơ bản trong vũ trụ và sự tương tác của chúng. Mỗi quẻ đơn biểu thị một khía cạnh của vũ trụ và sự biến đổi của nó. ===Bát Quái Kết Hợp Lại Tạo Thành 64 Quẻ Kinh Dịch (八卦生成六十四卦)=== Khi hai quẻ đơn trong Bát Quái kết hợp với nhau, chúng tạo thành 64 quẻ kép (quẻ Kinh Dịch). Mỗi quẻ kép gồm sáu hào, tạo nên một hệ thống phong phú và chi tiết để mô tả các trạng thái và tình huống khác nhau trong vũ trụ. Mỗi quẻ kép có một tên và một ý nghĩa riêng, phản ánh một khía cạnh cụ thể của sự biến đổi và tương tác trong vũ trụ. Ví dụ, quẻ Khôn (☷) trên Càn (☰) tạo thành quẻ Thái (泰), biểu thị sự hòa hợp và thuận lợi. Trong khi đó, quẻ Khảm (☵) trên Ly (☲) tạo thành quẻ Ký Tế (既濟), biểu thị sự hoàn thành và đạt được mục tiêu. ===Mối Quan Hệ và Sự Tương Tác trong Kinh Dịch=== Mối quan hệ và sự tương tác giữa Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái và 64 quẻ Kinh Dịch tạo thành một hệ thống logic và hài hòa, giúp giải thích và dự đoán các hiện tượng trong vũ trụ và cuộc sống. Hệ thống này không chỉ phản ánh sự phức tạp và đa dạng của vũ trụ mà còn cung cấp một phương pháp luận để hiểu và dự đoán sự biến đổi không ngừng của vạn vật. ==64 Quẻ Dịch== Từ [[Lý – Đức – Tính – Thần – Thời – Khí – Tình – Thanh – Sắc – Chất – Thể – Hình]] của Tám Tượng Đơn được phối hợp lẫn nhau theo từng góc nhìn riêng của mỗi tượng mà Tiền Nhân đã định ra danh lý và nghĩa của 64 quẻ kép Giống mà hơi khác nhau. Là bộ mặt của Tạo Hóa. Được mệnh danh là KINH VÔ TỰ THIÊN THƯ (Sách trời không có chữ, mà chỉ có gạch đứt, gạch liền) 64 quẻ Kinh Dịch được viết nhằm giúp người đọc có thêm thông tin, nghiên cứu sâu hơn về cách chơi, cũng như giải nghĩa chi tiết hơn từng quẻ Kinh Dịch. Nội dung giải nghĩa quẻ đi vào các tình huống, các vấn đề thường gặp trong cuộc sống, và đưa ra lời bình chung về quẻ, chứ không đi sâu vào các lý luận học thuật. Từ Can Chi trong Bát Tự quy đổi thành số ÂM và số DƯƠNG dựa trên mã số Hà Đồ và Lạc Thư . Rồi dựa vào đó tìm được Quẻ Dịch Nhân Mệnh cho mỗi người. Quẻ Dịch Nhân Mệnh chỉ cho mỗi người thấy hành lang của cuộc đời mình, từ đó tiến đến sự minh triết trong nhân sinh quan, vũ trụ quan của mỗi người – nhằm đạt được tính ưu sinh, theo lành tránh dữ… Trên mỗi Quẻ Dịch đó chúng ta thấy rõ cát hung, phú quý, sang hèn, thọ yểu… cho mỗi cá nhân. Đoán mệnh theo phương pháp [[Hà Lạc Lý Số]] giản dị nhưng khúc chiết, dễ hiểu và dễ thực hành. Bảng dưới đây hiển thị các quẻ theo thứ tự Văn Vương. {| class="center" style="background: transparent; width: 100%; table-layout: fixed" |- style="vertical-align: top" | 1<br>[[File:Iching-hexagram-01.svg|link=Thuần Càn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Càn|Càn (乾)]]}} | 2<br>[[File:Iching-hexagram-02.svg|link=Thuần Khôn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khôn|坤 (Khôn)]]}} | 3<br>[[File:Iching-hexagram-03.svg|link=Thủy Lôi Truân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Lôi Truân|屯 (Truân)]]}} | 4<br>[[File:Iching-hexagram-04.svg|link=Sơn Thủy Mông|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thủy Mông|蒙 (Mông)]]}} | 5<br>[[File:Iching-hexagram-05.svg|link=Thủy Thiên Nh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Thiên Nhu|需 (Nhu)]]}} | 6<br>[[File:Iching-hexagram-06.svg|link=Thiên Thủy Tụng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Thủy Tụng|訟 (Tụng)]]}} | 7<br>[[File:Iching-hexagram-07.svg|link=Địa Thủy Sư|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thủy Sư|師 (Sư)]]}} | 8<br>[[File:Iching-hexagram-08.svg|link=Thủy Địa Tỷ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Địa Tỷ|比 (Tỷ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 9<br>[[File:Iching-hexagram-09.svg|link=Phong Thiên Tiểu Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thiên Tiểu Súc|小畜 (Tiểu Súc)]]}} | 10<br>[[File:Iching-hexagram-10.svg|link=Thiên Trạch Lý|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Trạch Lý|履 (Lý)]]}} | 11<br>[[File:Iching-hexagram-11.svg|link=Địa Thiên Thái|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thiên Thái|泰 (Thái)]]}} | 12<br>[[File:Iching-hexagram-12.svg|link=Thiên Địa Bĩ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Địa Bĩ|否 (Bĩ)]]}} | 13<br>[[File:Iching-hexagram-13.svg|linkThiên Hỏa Đồng Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Hỏa Đồng Nhân|同人 (Đồng Nhân)]]}} | 14<br>[[File:Iching-hexagram-14.svg|link=Hỏa Thiên Đại Hữu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thiên Đại Hữu|大有 (Đại Hữu)]]}} | 15<br>[[File:Iching-hexagram-15.svg|link=Địa Sơn Khiêm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Sơn Khiêm|謙 (Khiêm)]]}} | 16<br>[[File:Iching-hexagram-16.svg|link=Lôi Địa Dự|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Địa Dự|豫 (Dự)]]}} |- style="vertical-align: top" | 17<br>[[File:Iching-hexagram-17.svg|link=Trạch Lôi Tùy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Lôi Tùy|隨 (Tùy)]]}} | 18<br>[[File:Iching-hexagram-18.svg|link=Sơn Phong Cổ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Phong Cổ|蠱 (Cổ)]]}} | 19<br>[[File:Iching-hexagram-19.svg|link=Địa Trạch Lâm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Trạch Lâm|臨 (Lâm)]]}} | 20<br>[[File:Iching-hexagram-20.svg|link=Phong Địa Quan|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Địa Quan|觀 (Quan)]]}} | 21<br>[[File:Iching-hexagram-21.svg|link=Hỏa Lôi Phệ Hạp|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Lôi Phệ Hạp|噬嗑 (Phệ Hạp)]]}} | 22<br>[[File:Iching-hexagram-22.svg|link=Sơn Hỏa Bí|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Hỏa Bí|賁 (Bí)]]}} | 23<br>[[File:Iching-hexagram-23.svg|link=Sơn Địa Bác|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Địa Bác|剝 (Bác)]]}} | 24<br>[[File:Iching-hexagram-24.svg|link=Địa Lôi Phục|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Lôi Phục|復 (Phục)]]}} |- style="vertical-align: top" | 25<br>[[File:Iching-hexagram-25.svg|link=Thiên Lôi Vô Vọng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Lôi Vô Vọng|無妄 (Vô Vọng)]]}} | 26<br>[[File:Iching-hexagram-26.svg|link=Sơn Thiên Đại Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thiên Đại Súc|大畜 (Đại Súc)]]}} | 27<br>[[File:Iching-hexagram-27.svg|link=Sơn Lôi Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Lôi Di|頤 (Di)]]}} | 28<br>[[File:Iching-hexagram-28.svg|link=Trạch Phong Đại Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Phong Đại Quá|大過 (Đại Quá)]]}} | 29<br>[[File:Iching-hexagram-29.svg|link=Thuần Khảm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khảm|坎 (Khảm)]]}} | 30<br>[[File:Iching-hexagram-30.svg|link=Thuần Ly|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Ly|離 (Ly)]]}} | 31<br>[[File:Iching-hexagram-31.svg|link=Trạch Sơn Hàm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Sơn Hàm|咸 (Hàm)]]}} | 32<br>[[File:Iching-hexagram-32.svg|link=Lôi Phong Hằng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Phong Hằng|恆 (Hằng)]]}} |- style="vertical-align: top" | 33<br>[[File:Iching-hexagram-33.svg|link=Thiên Sơn Độn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Sơn Độn|遯 (Độn)]]}} | 34<br>[[File:Iching-hexagram-34.svg|link=Lôi Thiên Đại Tráng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thiên Đại Tráng|大壯 (Đại Tráng)]]}} | 35<br>[[File:Iching-hexagram-35.svg|link=Hỏa Địa Tấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Địa Tấn|晉 (Tấn)]]}} | 36<br>[[File:Iching-hexagram-36.svg|link=Địa Hỏa Minh Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Hỏa Minh Di|明夷 (Minh Di)]]}} | 37<br>[[File:Iching-hexagram-37.svg|link=Phong Hỏa Gia Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Hỏa Gia Nhân|家人 (Gia Nhân)]]}} | 38<br>[[File:Iching-hexagram-38.svg|link=Hỏa Trạch Khuê|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Trạch Khuê|睽 (Khuê)]]}} | 39<br>[[File:Iching-hexagram-39.svg|link=Thủy Sơn Kiển|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Sơn Kiển|蹇 (Kiển)]]}} | 40<br>[[File:Iching-hexagram-40.svg|link=Lôi Thủy Giải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thủy Giải|解 (Giải)]]}} |- style="vertical-align: top" | 41<br>[[File:Iching-hexagram-41.svg|link=Sơn Trạch Tổn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Trạch Tổn|損 (Tổn)]]}} | 42<br>[[File:Iching-hexagram-42.svg|link=Phong Lôi Ích|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Lôi Ích|益 (Ích)]]}} | 43<br>[[File:Iching-hexagram-43.svg|link=Trạch Thiên Quải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thiên Quải|夬 (Quải)]]}} | 44<br>[[File:Iching-hexagram-44.svg|link=Thiên Phong Cấu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Phong Cấu|姤 (Cấu)]]}} | 45<br>[[File:Iching-hexagram-45.svg|link=Trạch Địa Tụy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Địa Tụy|萃 (Tụy)]]}} | 46<br>[[File:Iching-hexagram-46.svg|link=Địa Phong Thăng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Phong Thăng|升 (Thăng)]]}} | 47<br>[[File:Iching-hexagram-47.svg|link=Trạch Thủy Khốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thủy Khốn|困 (Khốn)]]}} | 48<br>[[File:Iching-hexagram-48.svg|link=Thủy Phong Tỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Phong Tỉnh|井 (Tỉnh)]]}} |- style="vertical-align: top" | 49<br>[[File:Iching-hexagram-49.svg|link=Trạch Hỏa Cách|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Hỏa Cách|革 (Cách)]]}} | 50<br>[[File:Iching-hexagram-50.svg|link=Hỏa Phong Đỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Phong Đỉnh|鼎 (Đỉnh)]]}} | 51<br>[[File:Iching-hexagram-51.svg|link=Thuần Chấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Chấn|震 (Chấn)]]}} | 52<br>[[File:Iching-hexagram-52.svg|link=Thuần Cấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Cấn|艮 (Cấn)]]}} | 53<br>[[File:Iching-hexagram-53.svg|link=Phong Sơn Tiệm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Sơn Tiệm|漸 (Tiệm)]]}} | 54<br>[[File:Iching-hexagram-54.svg|link=Lôi Trạch Quy Muội|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Trạch Quy Muội|歸妹 (Quy Muội)]]}} | 55<br>[[File:Iching-hexagram-55.svg|link=Lôi Hỏa Phong|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Hỏa Phong|豐 (Phong)]]}} | 56<br>[[File:Iching-hexagram-56.svg|link=Hỏa Sơn Lữ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Sơn Lữ|旅 (Lữ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 57<br>[[File:Iching-hexagram-57.svg|link=Thuần Tốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Tốn|巽 (Tốn)]]}} | 58<br>[[File:Iching-hexagram-58.svg|link=Thuần Đoài|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Đoài|兌 (Đoài)]]}} | 59<br>[[File:Iching-hexagram-59.svg|link=Phong Thủy Hoán|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thủy Hoán|渙 (Hoán)]]}} | 60<br>[[File:Iching-hexagram-60.svg|link=Thủy Trạch Tiết|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Trạch Tiết|節 (Tiết)]]}} | 61<br>[[File:Iching-hexagram-61.svg|link=Phong Trạch Trung Phu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Trạch Trung Phu|中孚 (Trung Phu)]]}} | 62<br>[[File:Iching-hexagram-62.svg|link=Lôi Sơn Tiểu Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Sơn Tiểu Quá|小過 (Tiểu Quá)]]}} | 63<br>[[File:Iching-hexagram-63.svg|link=Thủy Hỏa Ký Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Hỏa Ký Tế|既濟 (Ký Tế)]]}} | 64<br>[[File:Iching-hexagram-64.svg|link=Hỏa Thủy Vị Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thủy Vị Tế|未濟 (Vị Tế)]]}} |} ==Ý nghĩa 64 quẻ Dịch== * [https://amtradichly.vn/y-nghia-64-que-dich Ý nghĩa 64 quẻ dịch] ==Ứng dụng của Kinh Dịch== Kinh Dịch thường được người Á Đông ứng dụng trong các lĩnh vực sau: * [[Bói toán]] : Sử dụng các quẻ Kinh Dịch để bói xem vận mệnh, hướng đi của cuộc đời, hoặc các sự việc sắp xảy ra. * [[Xem tướng]] : Dựa vào lý thuyết âm dương ngũ hành trong Kinh Dịch để phân tích tướng mạo, tính cách con người. * [[Định hướng chiến lược]] : Các nhà lãnh đạo, chính trị gia tham khảo Kinh Dịch để định hướng chiến lược, khởi sự việc lớn. * [[Y học cổ truyền]] : Tham khảo lý thuyết âm dương ngũ hành trong Kinh Dịch để chẩn đoán và điều trị bệnh. * [[Triết học]] : Nghiên cứu tư tưởng triết học tiềm ẩn bên trong Kinh Dịch về vũ trụ quan, nhân sinh quan. * [[Văn hóa, nghệ thuật]] : Kinh Dịch có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc Á Đông. Nhìn chung, Kinh Dịch đã ăn sâu vào tiềm thức văn hóa của người Á Đông và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. ==Tác phẩm kinh điển== Một số tác phẩm kinh điển về Kinh Dịch bao gồm: * Kinh Dịch (Trung Quốc) – Bộ sách gốc, tập hợp 64 quẻ và lời giải thích các quẻ. * Hệ Từ Thượng (Trung Quốc) – Sách giải thích ý nghĩa mỗi quẻ Kinh Dịch của Đổng Trọng Thư. * Hệ Từ Hạ (Trung Quốc) – Sách giải thích mối liên hệ giữa các quẻ của Vương Bật. * Tuệ Kinh Lục (Việt Nam) – Sách giải nghĩa Kinh Dịch bằng chữ Nôm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. * Dịch Kinh Khải Mông (Việt Nam) – Sách giải thích ý nghĩa Kinh Dịch bằng văn xuôi của Lê Hoằng Trác. * Dịch Lý Tục Biên (Việt Nam) – Tổng hợp các lý thuyết về Kinh Dịch của nhiều tác giả Việt Nam. * Tì Dịch Bá Lãm (Trung Quốc) – Từ điển giải nghĩa các thuật ngữ trong Kinh Dịch. * Zhouyi Quanshu (Trung Quốc) – Bộ sách đồ sộ về Kinh Dịch thời nhà Thanh. Những tác phẩm này đã khái quát nội dung và giúp làm sáng tỏ ý nghĩa sâu xa của Kinh Dịch đối với văn hóa Á Đông. ==Một số công cụ về Kinh dịch== * Mai Hoa Dịch Số (https://maihoa.kabala.vn): Mai Hoa Dịch số (chữ Hán: 梅花易數) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành, bát quái kết hợp thuyết vận khí, bát quái kết hợp ngũ hành… bằng cách lập quẻ chính, hào động và quẻ biến; căn cứ vào sự vật, hiện tượng quan sát hay nghe được, đo đếm được hoặc giờ, ngày, tháng, năm xảy ra (theo âm lịch). * Bát Tự Hà Lạc (https://halac.kabala.vn): Bát tự Hà Lạc (có sách ghi là Tám chữ Hà Lạc) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý của Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành,… bằng cách lập quẻ Tiên thiên với hào nguyên đường và quẻ Hậu thiên; căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch. * Kinh Dịch – Đạo Người Quân Tử (https://dich.kabala.vn/dao-quan-tu) * Xem Số Đẹp Bằng Kinh Dịch (https://tuvi.kabala.vn/sodep.html) * Tài Liệu – Ebook Kinh Dịch (https://go.kabala.vn/ebook-kinhdich) 5b1ecbky19amxned8hacoilt6f2wfjw Âm Dương 0 108460 542205 542005 2026-04-29T14:42:50Z ~2026-26230-55 19578 542205 wikitext text/x-wiki Âm dương đại diện cho 2 nguyên tố có tánh đối nghịch tạo nên mọi thực thể cân bằng đôc lập do Zoaster người sáng lập ra [[Hỏa giáo]] nước [[Ba tư]] đề xướng . ==Thí dụ== Trong tự nhiên và trong cuộc sống con người Lưỡng tánh Âm Dương được liệt kê trong bảng dưới đây :{|width=50% |- | '''Dương ''' || '''Âm ''' |- | Chánh || Tà |- | Chân || Giả |- | Thiện || Ác |- | Ngay || Gian |- | Sinh || Diệt |- | Thịnh || Suy |- | Thắng || Thua |- | Thành || Bại |- | Được || Mất |- | Có || Không |- | Tốt || Xấu |- | Hiền || Dữ |- | Giàu || Nghèo |- | Sang || Hèn |- |} ==Quy luật Dịch Vận Âm Dương== Tất cả các quy luật Âm dương được thể hiện cho biết bản chất và sự chuyển hóa của âm và dương. Thí dụ như Ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, nóng và lạnh,... luôn chuyển hóa cho nhau. Lá cây thay đổi màu sắc theo 4 mùa như sau màu xanh ở mùa xuân, màu vàng ở mùa hạ , màu đỏ ở mùa thu , màu đen ở mùa đông . Quy luật Âm dương bao gồm Dịch (biến hóa) và Vận (vận hành) âm dương ===Tam dịch âm dương=== Dịch có nghỉa là biến hóa . Tam dịch âm dương có nghỉa là 3 biến hóa âm dương bao gồm :{|width=100% |- | '''Dịch âm dương ''' || ''' Ý nghỉa''' |- | [[Bất dịch]] || Không biến hóa || Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm |- | [[Dịch]] || Biến hóa || Âm Dương khác biệt , Âm dương thịnh suy |- | [[Biến dịch]] || Biến đổi || Âm Dương cực đại , Âm dương độc lập . |- |} ===Tứ vận âm dương=== Vận có nghỉa là vận hành , vận động. Tứ vận âm dương có nghỉa là 4 vận động âm dương :{|width=100% |- | '''Vận âm dương ''' || '''Ý nghỉa ''' |- | [[Sinh]] || Sinh thành || Sinh ra chào đời |- | [[Thịnh]] || Cực thịnh || Phát triển đến cực thịnh |- | [[Suy]] || Suy tàn || Suy tàn yếu nhược |- | [[Diệt]] || Diệt vong || |- |} ==Biểu đồ âm dương== Có 2 loại biểu đồ dùng để biểu thị âm dương gồm [[Hào vạch Phục hy]] và [[Thái cực đồ Chu Đôn Di ]] ===Hào vạch Phục hy=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua Phục hy đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là Hà đồ. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành Tiên Thiên Bát Quái . :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|200px]] [[Phục hy]] dùng Hào vạch để biểu thị Âm dương như sau * Hào dương được biểu thị bằng một vạch liền '''__''' * Hào âm được biểu thị bằng một vạch đứt '''_ _''' ===Vòng tròn Thái cực đồ Chu Đôn Di === :[[File:ThaiCucDo.svg|liên_kết=https://vi.wikibooks.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:ThaiCucDo.svg|200px|Thái Cực đồ]] Thái cực đồ được dùng để biểu thị âm dương trong một vòng tròn gồm hai nửa đối xứng ôm trọn lấy nhau Âm (màu đen) và Dương (màu đỏ). Trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn màu đối lập nằm trong đó. Màu sắc của Thái Cực đồ có thể thay đổi, cũng như độ xoắn vào nhau của hai hình đối xứng.Thái Cực đồ thể hiện ý nghĩa của triết học Phương Đông, cụ thể là thuyết Âm Dương rất rõ ràng . Trong mỗi một tổng thể (hình tròn) luôn tồn tại hai mặt đối lập Âm và Dương . Hai mặt đó tương hỗ với nhau, bù đắp nhau thành một thể hoàn thiện. : '' Không một tổng thể, cá thể nào có thể tách biệt hoàn toàn hai mặt đó. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, cũng như trong phần màu đỏ có chấm màu đen, và ngược lại. Âm thịnh Dương suy ngược chiều kim đồng hồ thì Dương thịnh, Âm suy thuận chiều kim đồng hồ. Khi phần màu đen lớn dần thì phần màu đỏ nhỏ dần và ngược lại. Cực thịnh thì suy . Khi đạt đến độ cực đại thì xuất hiện yếu tố đối lập ngay trong lòng, và phần đó sẽ phát triển dần Triết gia đời Tống Chu Đôn Di (1017-1073 CE) tạo ra thái cực đồ dựa trên nền tảng :''[[Vô cực]] tạo ra [[Thái cực]]. Thái cực hoạt động tạo ra dương. Khi chuyển động đến giới hạn, nó trở nên tĩnh. Trong tĩnh, nó tạo ra âm, tới cực đại, nó lại hoạt động. Động và tĩnh chuyển hóa, cái này là nền của cái kia. Khi âm và dương đã phân hóa, hai trạng thái xuất hiện. Sự chuyển hóa và kết hợp của âm và dương tạo ra kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ hành . Ngũ hành đơn giản là âm và dương, âm và dương chẳng qua chính là thái cực, thái cực có nền tảng từ vô cực. Do vậy, trong quá trình tạo ra ngũ hành, mỗi hành đều chứa đựng bản chất riêng của nó . Các thời kỳ biến đổi của khí được sắp xếp hài hòa, qua đó bốn mùa được tiếp diễn. . (tr. Adler 1999:673-4)'' [[Thái cực]] được hiểu là trật tự cao nhất có thể nhận thức được, với nó, sự tồn tại lưu chuyển. Nó rất gần nghĩa với khái niệm Đạo giáo: "sự đảo ngược chính là sự dịch chuyển của đạo". "Thái cực" tạo ra âm dương: động tạo ra dương, khi dương lên đến cực đại, nó chuyển hóa thành tĩnh. Trên nền tĩnh tại, thái cực tạo ra âm. Khi âm cực đại, lại chuyển hóa thành động. Động và tĩnh, trong vòng tuần hoàn đó, là nguồn gốc của nhau. Sự phân hóa giữa âm và dương được xác định và hai trạng thái âm dương được bộc lộ. Từ sự chuyển hóa của dương và sự kết hợp của âm, "ngũ hành"- kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ra đời. Khi ngũ hành phân hóa, chúng tạo ra sự hài hòa. Khi đã có sự hài hòa, 4 mùa xuất hiện. Âm và dương tạo ra vạn vật, và vạn vật lại tiếp tục tạo ra nhiều thứ khác; quá trình này không bao giờ dứt. (Wu, 1986) ==Ứng dụng Âm Dương== : {|width=100% |- | '''Loại ''' ||''' Âm '''|| '''Dương''' |- | [[Vạch Âm Dương]] || -- || __ |- | [[Lưỡng nghi]] || Nghi Âm || nghi Dương |- | [[Tứ tượng]] || Thái Âm, Thiêu Âm || Thái Dương, Thiêu Dương |- | [[Bát quái]] || Đoài, Ly, Tốn, Khôn || Kiền, Chấn, Khảm, Cấn |- | [[Khí]] || Âm Khí(lạnh) || Dương Khí (nóng) |- | [[Ngũ hành]] || Khắc <br> Thổ khắc Hỏa khắc Mộc khắc Thủy khắc Kim || Sinh <br> Kim sinh Thủy sinh Mộc sinh Hỏa sinh Thổ |- | [[Thiên Can]] || Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý || Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý |- | [[Địa Chi]] || Sựu, Mảo, Tị, Mùi, Dậu, Hợi || Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất |- | [[Tứ trụ]] || Trăng, Nước || Trời , Đất |- | [[Đông Y]] || Bệnh Âm || Bệnh Dương |- | [[Quẻ dịch]] || Nghi Âm || Nghi Dương |- | [[Lịch]] || Âm lịch || Dương lịch |- |} Âm dương được dùng trong việc tạo ra [[Quẻ dịch]] . Phục hy vạch thành [[8 Quẻ Dịch]] và Van vương bổ sung thành [[64 Quẻ Dịch]] * [[8 Quẻ Dịch Phục hy]] * [[64 Quẻ Dịch Văn vương]] [[Thể loại:Âm Dương Ngũ Hành]] es6z8n3ybx9i8v30rc37vrkxm6pxgkm 542206 542205 2026-04-29T14:46:07Z ~2026-26230-55 19578 /* Ứng dụng Âm Dương */ 542206 wikitext text/x-wiki Âm dương đại diện cho 2 nguyên tố có tánh đối nghịch tạo nên mọi thực thể cân bằng đôc lập do Zoaster người sáng lập ra [[Hỏa giáo]] nước [[Ba tư]] đề xướng . ==Thí dụ== Trong tự nhiên và trong cuộc sống con người Lưỡng tánh Âm Dương được liệt kê trong bảng dưới đây :{|width=50% |- | '''Dương ''' || '''Âm ''' |- | Chánh || Tà |- | Chân || Giả |- | Thiện || Ác |- | Ngay || Gian |- | Sinh || Diệt |- | Thịnh || Suy |- | Thắng || Thua |- | Thành || Bại |- | Được || Mất |- | Có || Không |- | Tốt || Xấu |- | Hiền || Dữ |- | Giàu || Nghèo |- | Sang || Hèn |- |} ==Quy luật Dịch Vận Âm Dương== Tất cả các quy luật Âm dương được thể hiện cho biết bản chất và sự chuyển hóa của âm và dương. Thí dụ như Ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, nóng và lạnh,... luôn chuyển hóa cho nhau. Lá cây thay đổi màu sắc theo 4 mùa như sau màu xanh ở mùa xuân, màu vàng ở mùa hạ , màu đỏ ở mùa thu , màu đen ở mùa đông . Quy luật Âm dương bao gồm Dịch (biến hóa) và Vận (vận hành) âm dương ===Tam dịch âm dương=== Dịch có nghỉa là biến hóa . Tam dịch âm dương có nghỉa là 3 biến hóa âm dương bao gồm :{|width=100% |- | '''Dịch âm dương ''' || ''' Ý nghỉa''' |- | [[Bất dịch]] || Không biến hóa || Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm |- | [[Dịch]] || Biến hóa || Âm Dương khác biệt , Âm dương thịnh suy |- | [[Biến dịch]] || Biến đổi || Âm Dương cực đại , Âm dương độc lập . |- |} ===Tứ vận âm dương=== Vận có nghỉa là vận hành , vận động. Tứ vận âm dương có nghỉa là 4 vận động âm dương :{|width=100% |- | '''Vận âm dương ''' || '''Ý nghỉa ''' |- | [[Sinh]] || Sinh thành || Sinh ra chào đời |- | [[Thịnh]] || Cực thịnh || Phát triển đến cực thịnh |- | [[Suy]] || Suy tàn || Suy tàn yếu nhược |- | [[Diệt]] || Diệt vong || |- |} ==Biểu đồ âm dương== Có 2 loại biểu đồ dùng để biểu thị âm dương gồm [[Hào vạch Phục hy]] và [[Thái cực đồ Chu Đôn Di ]] ===Hào vạch Phục hy=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua Phục hy đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là Hà đồ. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành Tiên Thiên Bát Quái . :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|200px]] [[Phục hy]] dùng Hào vạch để biểu thị Âm dương như sau * Hào dương được biểu thị bằng một vạch liền '''__''' * Hào âm được biểu thị bằng một vạch đứt '''_ _''' ===Vòng tròn Thái cực đồ Chu Đôn Di === :[[File:ThaiCucDo.svg|liên_kết=https://vi.wikibooks.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:ThaiCucDo.svg|200px|Thái Cực đồ]] Thái cực đồ được dùng để biểu thị âm dương trong một vòng tròn gồm hai nửa đối xứng ôm trọn lấy nhau Âm (màu đen) và Dương (màu đỏ). Trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn màu đối lập nằm trong đó. Màu sắc của Thái Cực đồ có thể thay đổi, cũng như độ xoắn vào nhau của hai hình đối xứng.Thái Cực đồ thể hiện ý nghĩa của triết học Phương Đông, cụ thể là thuyết Âm Dương rất rõ ràng . Trong mỗi một tổng thể (hình tròn) luôn tồn tại hai mặt đối lập Âm và Dương . Hai mặt đó tương hỗ với nhau, bù đắp nhau thành một thể hoàn thiện. : '' Không một tổng thể, cá thể nào có thể tách biệt hoàn toàn hai mặt đó. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, cũng như trong phần màu đỏ có chấm màu đen, và ngược lại. Âm thịnh Dương suy ngược chiều kim đồng hồ thì Dương thịnh, Âm suy thuận chiều kim đồng hồ. Khi phần màu đen lớn dần thì phần màu đỏ nhỏ dần và ngược lại. Cực thịnh thì suy . Khi đạt đến độ cực đại thì xuất hiện yếu tố đối lập ngay trong lòng, và phần đó sẽ phát triển dần Triết gia đời Tống Chu Đôn Di (1017-1073 CE) tạo ra thái cực đồ dựa trên nền tảng :''[[Vô cực]] tạo ra [[Thái cực]]. Thái cực hoạt động tạo ra dương. Khi chuyển động đến giới hạn, nó trở nên tĩnh. Trong tĩnh, nó tạo ra âm, tới cực đại, nó lại hoạt động. Động và tĩnh chuyển hóa, cái này là nền của cái kia. Khi âm và dương đã phân hóa, hai trạng thái xuất hiện. Sự chuyển hóa và kết hợp của âm và dương tạo ra kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ hành . Ngũ hành đơn giản là âm và dương, âm và dương chẳng qua chính là thái cực, thái cực có nền tảng từ vô cực. Do vậy, trong quá trình tạo ra ngũ hành, mỗi hành đều chứa đựng bản chất riêng của nó . Các thời kỳ biến đổi của khí được sắp xếp hài hòa, qua đó bốn mùa được tiếp diễn. . (tr. Adler 1999:673-4)'' [[Thái cực]] được hiểu là trật tự cao nhất có thể nhận thức được, với nó, sự tồn tại lưu chuyển. Nó rất gần nghĩa với khái niệm Đạo giáo: "sự đảo ngược chính là sự dịch chuyển của đạo". "Thái cực" tạo ra âm dương: động tạo ra dương, khi dương lên đến cực đại, nó chuyển hóa thành tĩnh. Trên nền tĩnh tại, thái cực tạo ra âm. Khi âm cực đại, lại chuyển hóa thành động. Động và tĩnh, trong vòng tuần hoàn đó, là nguồn gốc của nhau. Sự phân hóa giữa âm và dương được xác định và hai trạng thái âm dương được bộc lộ. Từ sự chuyển hóa của dương và sự kết hợp của âm, "ngũ hành"- kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ra đời. Khi ngũ hành phân hóa, chúng tạo ra sự hài hòa. Khi đã có sự hài hòa, 4 mùa xuất hiện. Âm và dương tạo ra vạn vật, và vạn vật lại tiếp tục tạo ra nhiều thứ khác; quá trình này không bao giờ dứt. (Wu, 1986) ==Ứng dụng Âm Dương== : {|width=100% |- | '''Loại ''' ||''' Âm '''|| '''Dương''' |- | [[Vạch Âm Dương]] || -- || __ |- | [[Lưỡng nghi]] || Nghi Âm || nghi Dương |- | [[Tứ tượng]] || Thái Âm, Thiêu Âm || Thái Dương, Thiêu Dương |- | [[Bát quái]] || Đoài, Ly, Tốn, Khôn || Kiền, Chấn, Khảm, Cấn |- | [[Khí]] || Âm Khí(lạnh) || Dương Khí (nóng) |- | [[Ngũ hành]] || Khắc <br> Thổ khắc Hỏa khắc Mộc khắc Thủy khắc Kim || Sinh <br> Kim sinh Thủy sinh Mộc sinh Hỏa sinh Thổ |- | [[Thiên Can]] || Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý || Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý |- | [[Địa Chi]] || Sựu, Mảo, Tị, Mùi, Dậu, Hợi || Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất |- | [[Tứ trụ]] || Trăng, Nước || Trời , Đất |- | [[Đông Y]] || Bệnh Âm || Bệnh Dương |- | [[Quẻ dịch]] || Nghi Âm || Nghi Dương |- | [[Lịch]] || Âm lịch || Dương lịch |- |} Âm dương được dùng trong việc tạo ra [[Quẻ Dịch]] . Phục hy vạch thành [[8 Quẻ Dịch]] và Van vương bổ sung thành [[64 Quẻ Dịch]] * [[8 Quẻ Dịch Phục hy]] * [[64 Quẻ Dịch Văn vương]] [[Thể loại:Âm Dương Ngũ Hành]] 8kssnkqs12myawrf346c2wswwzywkfl 542208 542206 2026-04-29T14:46:32Z ~2026-26230-55 19578 /* Ứng dụng Âm Dương */ 542208 wikitext text/x-wiki Âm dương đại diện cho 2 nguyên tố có tánh đối nghịch tạo nên mọi thực thể cân bằng đôc lập do Zoaster người sáng lập ra [[Hỏa giáo]] nước [[Ba tư]] đề xướng . ==Thí dụ== Trong tự nhiên và trong cuộc sống con người Lưỡng tánh Âm Dương được liệt kê trong bảng dưới đây :{|width=50% |- | '''Dương ''' || '''Âm ''' |- | Chánh || Tà |- | Chân || Giả |- | Thiện || Ác |- | Ngay || Gian |- | Sinh || Diệt |- | Thịnh || Suy |- | Thắng || Thua |- | Thành || Bại |- | Được || Mất |- | Có || Không |- | Tốt || Xấu |- | Hiền || Dữ |- | Giàu || Nghèo |- | Sang || Hèn |- |} ==Quy luật Dịch Vận Âm Dương== Tất cả các quy luật Âm dương được thể hiện cho biết bản chất và sự chuyển hóa của âm và dương. Thí dụ như Ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, nóng và lạnh,... luôn chuyển hóa cho nhau. Lá cây thay đổi màu sắc theo 4 mùa như sau màu xanh ở mùa xuân, màu vàng ở mùa hạ , màu đỏ ở mùa thu , màu đen ở mùa đông . Quy luật Âm dương bao gồm Dịch (biến hóa) và Vận (vận hành) âm dương ===Tam dịch âm dương=== Dịch có nghỉa là biến hóa . Tam dịch âm dương có nghỉa là 3 biến hóa âm dương bao gồm :{|width=100% |- | '''Dịch âm dương ''' || ''' Ý nghỉa''' |- | [[Bất dịch]] || Không biến hóa || Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm |- | [[Dịch]] || Biến hóa || Âm Dương khác biệt , Âm dương thịnh suy |- | [[Biến dịch]] || Biến đổi || Âm Dương cực đại , Âm dương độc lập . |- |} ===Tứ vận âm dương=== Vận có nghỉa là vận hành , vận động. Tứ vận âm dương có nghỉa là 4 vận động âm dương :{|width=100% |- | '''Vận âm dương ''' || '''Ý nghỉa ''' |- | [[Sinh]] || Sinh thành || Sinh ra chào đời |- | [[Thịnh]] || Cực thịnh || Phát triển đến cực thịnh |- | [[Suy]] || Suy tàn || Suy tàn yếu nhược |- | [[Diệt]] || Diệt vong || |- |} ==Biểu đồ âm dương== Có 2 loại biểu đồ dùng để biểu thị âm dương gồm [[Hào vạch Phục hy]] và [[Thái cực đồ Chu Đôn Di ]] ===Hào vạch Phục hy=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua Phục hy đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là Hà đồ. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành Tiên Thiên Bát Quái . :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|200px]] [[Phục hy]] dùng Hào vạch để biểu thị Âm dương như sau * Hào dương được biểu thị bằng một vạch liền '''__''' * Hào âm được biểu thị bằng một vạch đứt '''_ _''' ===Vòng tròn Thái cực đồ Chu Đôn Di === :[[File:ThaiCucDo.svg|liên_kết=https://vi.wikibooks.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:ThaiCucDo.svg|200px|Thái Cực đồ]] Thái cực đồ được dùng để biểu thị âm dương trong một vòng tròn gồm hai nửa đối xứng ôm trọn lấy nhau Âm (màu đen) và Dương (màu đỏ). Trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn màu đối lập nằm trong đó. Màu sắc của Thái Cực đồ có thể thay đổi, cũng như độ xoắn vào nhau của hai hình đối xứng.Thái Cực đồ thể hiện ý nghĩa của triết học Phương Đông, cụ thể là thuyết Âm Dương rất rõ ràng . Trong mỗi một tổng thể (hình tròn) luôn tồn tại hai mặt đối lập Âm và Dương . Hai mặt đó tương hỗ với nhau, bù đắp nhau thành một thể hoàn thiện. : '' Không một tổng thể, cá thể nào có thể tách biệt hoàn toàn hai mặt đó. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, cũng như trong phần màu đỏ có chấm màu đen, và ngược lại. Âm thịnh Dương suy ngược chiều kim đồng hồ thì Dương thịnh, Âm suy thuận chiều kim đồng hồ. Khi phần màu đen lớn dần thì phần màu đỏ nhỏ dần và ngược lại. Cực thịnh thì suy . Khi đạt đến độ cực đại thì xuất hiện yếu tố đối lập ngay trong lòng, và phần đó sẽ phát triển dần Triết gia đời Tống Chu Đôn Di (1017-1073 CE) tạo ra thái cực đồ dựa trên nền tảng :''[[Vô cực]] tạo ra [[Thái cực]]. Thái cực hoạt động tạo ra dương. Khi chuyển động đến giới hạn, nó trở nên tĩnh. Trong tĩnh, nó tạo ra âm, tới cực đại, nó lại hoạt động. Động và tĩnh chuyển hóa, cái này là nền của cái kia. Khi âm và dương đã phân hóa, hai trạng thái xuất hiện. Sự chuyển hóa và kết hợp của âm và dương tạo ra kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ hành . Ngũ hành đơn giản là âm và dương, âm và dương chẳng qua chính là thái cực, thái cực có nền tảng từ vô cực. Do vậy, trong quá trình tạo ra ngũ hành, mỗi hành đều chứa đựng bản chất riêng của nó . Các thời kỳ biến đổi của khí được sắp xếp hài hòa, qua đó bốn mùa được tiếp diễn. . (tr. Adler 1999:673-4)'' [[Thái cực]] được hiểu là trật tự cao nhất có thể nhận thức được, với nó, sự tồn tại lưu chuyển. Nó rất gần nghĩa với khái niệm Đạo giáo: "sự đảo ngược chính là sự dịch chuyển của đạo". "Thái cực" tạo ra âm dương: động tạo ra dương, khi dương lên đến cực đại, nó chuyển hóa thành tĩnh. Trên nền tĩnh tại, thái cực tạo ra âm. Khi âm cực đại, lại chuyển hóa thành động. Động và tĩnh, trong vòng tuần hoàn đó, là nguồn gốc của nhau. Sự phân hóa giữa âm và dương được xác định và hai trạng thái âm dương được bộc lộ. Từ sự chuyển hóa của dương và sự kết hợp của âm, "ngũ hành"- kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ra đời. Khi ngũ hành phân hóa, chúng tạo ra sự hài hòa. Khi đã có sự hài hòa, 4 mùa xuất hiện. Âm và dương tạo ra vạn vật, và vạn vật lại tiếp tục tạo ra nhiều thứ khác; quá trình này không bao giờ dứt. (Wu, 1986) ==Ứng dụng Âm Dương== : {|width=100% |- | '''Loại ''' ||''' Âm '''|| '''Dương''' |- | [[Vạch Âm Dương]] || -- || __ |- | [[Lưỡng nghi]] || Nghi Âm || nghi Dương |- | [[Tứ tượng]] || Thái Âm, Thiêu Âm || Thái Dương, Thiêu Dương |- | [[Bát quái]] || Đoài, Ly, Tốn, Khôn || Kiền, Chấn, Khảm, Cấn |- | [[Khí]] || Âm Khí(lạnh) || Dương Khí (nóng) |- | [[Ngũ hành]] || Khắc <br> Thổ khắc Hỏa khắc Mộc khắc Thủy khắc Kim || Sinh <br> Kim sinh Thủy sinh Mộc sinh Hỏa sinh Thổ |- | [[Thiên Can]] || Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý || Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý |- | [[Địa Chi]] || Sựu, Mảo, Tị, Mùi, Dậu, Hợi || Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất |- | [[Tứ trụ]] || Trăng, Nước || Trời , Đất |- | [[Đông Y]] || Bệnh Âm || Bệnh Dương |- | [[Quẻ Dịch]] || Nghi Âm || Nghi Dương |- | [[Lịch]] || Âm lịch || Dương lịch |- |} [[Thể loại:Âm Dương Ngũ Hành]] jnbcdldg9jclrad4rkcmc3pbov771qw Khổng tử 0 108662 542249 525086 2026-04-29T15:28:12Z ~2026-26230-55 19578 542249 wikitext text/x-wiki [[Category:Danh nhân Trung quốc]] [[Tập_tin:孔子聖蹟圖.png|200px|right]] Khổng Tử[3] (tiếng Trung: 孔夫子; hoặc Khổng Tử (tiếng Trung: 孔子) là danh hiệu tôn kính của hậu thế cho Khổng Khâu (sinh ngày 28 tháng 9, 551 TCN - chết ngày 11 tháng 4, 479 TCN) tự Trọng Ni (chữ Hán: 仲尼)) là nhà khai sáng [[Nho giáo]] . đồng thời là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông thời đại nhà Tần ở Trung quốc. Khổng Tử cùng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (624 - 544 TCN) và Lão Tử được coi là 3 nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất tới Văn hóa Á Đông, và có một sự trùng hợp là cả 3 người đã sống trong cùng một thời kỳ lịch sử. Khổng tử sinh trưởng tại ấp Trâu, thôn Xương Bình, nước Lỗ[12] (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Hoa) cuối thời Xuân Thu. Ông là con của một gia đình nghèo, nhưng cụ tổ ba đời vốn cũng thuộc dòng quý tộc đã sa sút từ khi nước Tống di cư đến nước Lỗ. Cha ông là Khổng Hột (Thúc Lương Hột) lấy bà Nhan Chinh Tại mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha. Bà Nhan Chinh Tại lúc đó mới 20 tuổi không sợ khó khăn vất vả đã đưa Khổng Tử đến sống ở Khúc Phụ, thủ phủ nước Lỗ, mong ông được sống và lớn lên trong một điều kiện tốt hơn. Khi lớn lên, ông phải làm lụng vất vả để giúp đỡ mẹ, nhưng rất ham học. Năm ông 16 tuổi thì mẹ qua đời, Khổng Tử từ đó sống một cuộc sống thanh bạch, hàng ngày vẫn chăm chỉ học hành, mong muốn thực hiện được ước vọng của mẹ. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cùng là cân đo và gặt lúa. Sau đó, qua làm chức Tư Chức Lại, coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự.Năm 22 tuổi, ông lập trường giảng học và thường được các môn đồ gọi bằng phu tử. Năm 29 tuổi, ông học đàn với Sư Tương ở nước Lỗ. Năm 30 tuổi, Khổng Tử muốn đến Lạc Dương, kinh đô nhà Chu, để nghiên cứu về nghi lễ, chế độ miếu đường, nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền lộ phí, đành than thở mà thôi. Học trò là Nam Cung Quát nghe vậy, liền về tâu với Lỗ Chiêu Công. Vua liền ban cho ông một cỗ xe song mã vài quân hầu cận để đưa Khổng Tử và Nam Cung Quát đi Lạc Dương. Đến nơi, Khổng Tử quan sát nhà Tôn miếu, nhà Minh đường, khảo cứu luật lệ và thư tịch đời cổ, đi xem Giao đàn là nơi nhà vua tế Thiên Địa và Tinh tú, rồi đến Xã đàn là nơi vua tế Thần Nông và Thần Hậu Thổ. Nơi nào có quan hệ đến việc tế lễ thì ông đến quan sát và hỏi han cho tường tận. Khổng Tử ở Lạc Dương khảo sát các việc xong thì trở về nước Lỗ. Từ đó, sự học của ông càng rộng hơn nhiều nên học trò xin theo học càng lúc càng đông. Nhưng vua Lỗ vẫn chưa dùng ông vào việc nước. Được mấy năm, trong nước Lỗ, Quý Bình Tử khởi loạn. Ông theo Lỗ Chiêu Công tạm lánh sang nước Tề. Tề Cảnh Công mời ông tới để hỏi việc chính trị và rất khâm phục, muốn đem đất Ni Khê phong cho ông, nhưng quan Tướng quốc nước Tề là Yến Anh ngăn cản không cho. Năm sau, ông trở về nước Lỗ lo việc dạy học, và nghiên cứu cho tường tận Đạo học của Thánh hiền. Lúc đó ông được 36 tuổi. Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách . Năm 69 tuổi, ông bắt tay vào việc hiệu đính các cổ thư bị tản nát, nhiều chỗ không rõ ràng, dễ bị thất truyền hoặc khiến người đời sau nhầm lẫn. Do vậy, Khổng Tử thực hiện san định lại các kinh sách của Thánh hiền đời trước, lập thành 6 cuốn sách: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu. Mùa Xuân năm Lỗ Ai công thứ 14 (481 TCN), tương truyền người nước Lỗ đi săn bắt được một con kỳ lân què chân trái phía trước. Đức Khổng Tử đến xem rồi bưng mặt khóc, ông than rằng: "Ngô đạo cùng hĩ!" (Đạo của ta đến lúc cùng). Sách Xuân Thu chép đến đây thì hết, nên đời sau còn gọi sách Xuân Thu là Lân kinh. Năm Nhâm Tuất đời Lỗ Ai Công thứ 17 (479 TCN), một hôm Khổng Tử chống gậy đi tản bộ trước nhà, vừa đi vừa hát: "Thái sơn kỳ đồi hồ! Lương mộc kỳ hoại hồ! Triết nhân kỳ nuy hồ! (Núi Thái sơn đổ ư! Cây gỗ tốt hư hoại ư! Triết nhân mòn mỏi ư!)" Học trò của ông là Tử Cống liền đến hỏi thăm, ông nói: "Ta biết mình sắp chết". Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất (tháng 4 năm 479 TCN) Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi. Trước khi mất Khổng Tử cảm thán "Chim phượng hoàng không bay đến, sông Hoàng Hà không xuất hiện đồ thư, một đời ta thế là hết.[27]". Mộ của ông ở bên bờ sông Tứ Thủy, cực Bắc nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông. 5s4a6j932xskm1fvfbwtagw1v15pe21 542250 542249 2026-04-29T15:29:01Z ~2026-26230-55 19578 542250 wikitext text/x-wiki [[Category:Danh nhân Trung quốc]] [[Tập_tin:孔子聖蹟圖.png|200px|right]] Khổng Tử[3] (tiếng Trung: 孔夫子; hoặc Khổng Tử (tiếng Trung: 孔子) là danh hiệu tôn kính của hậu thế cho Khổng Khâu (sinh ngày 28 tháng 9, 551 TCN - chết ngày 11 tháng 4, 479 TCN) tự Trọng Ni (chữ Hán: 仲尼)) là nhà khai sáng [[Nho giáo]] là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông thời đại nhà Tần ở Trung quốc. Khổng Tử cùng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (624 - 544 TCN) và Lão Tử được coi là 3 nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất tới Văn hóa Á Đông, và có một sự trùng hợp là cả 3 người đã sống trong cùng một thời kỳ lịch sử. ==Sinh ra == Khổng tử sinh trưởng tại ấp Trâu, thôn Xương Bình, nước Lỗ[12] (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Hoa) cuối thời Xuân Thu. Ông là con của một gia đình nghèo, nhưng cụ tổ ba đời vốn cũng thuộc dòng quý tộc đã sa sút từ khi nước Tống di cư đến nước Lỗ. Cha ông là Khổng Hột (Thúc Lương Hột) lấy bà Nhan Chinh Tại mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha. Bà Nhan Chinh Tại lúc đó mới 20 tuổi không sợ khó khăn vất vả đã đưa Khổng Tử đến sống ở Khúc Phụ, thủ phủ nước Lỗ, mong ông được sống và lớn lên trong một điều kiện tốt hơn. Khi lớn lên, ông phải làm lụng vất vả để giúp đỡ mẹ, nhưng rất ham học. Năm ông 16 tuổi thì mẹ qua đời, Khổng Tử từ đó sống một cuộc sống thanh bạch, hàng ngày vẫn chăm chỉ học hành, mong muốn thực hiện được ước vọng của mẹ. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cùng là cân đo và gặt lúa. Sau đó, qua làm chức Tư Chức Lại, coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự.Năm 22 tuổi, ông lập trường giảng học và thường được các môn đồ gọi bằng phu tử. Năm 29 tuổi, ông học đàn với Sư Tương ở nước Lỗ. Năm 30 tuổi, Khổng Tử muốn đến Lạc Dương, kinh đô nhà Chu, để nghiên cứu về nghi lễ, chế độ miếu đường, nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền lộ phí, đành than thở mà thôi. Học trò là Nam Cung Quát nghe vậy, liền về tâu với Lỗ Chiêu Công. Vua liền ban cho ông một cỗ xe song mã vài quân hầu cận để đưa Khổng Tử và Nam Cung Quát đi Lạc Dương. Đến nơi, Khổng Tử quan sát nhà Tôn miếu, nhà Minh đường, khảo cứu luật lệ và thư tịch đời cổ, đi xem Giao đàn là nơi nhà vua tế Thiên Địa và Tinh tú, rồi đến Xã đàn là nơi vua tế Thần Nông và Thần Hậu Thổ. Nơi nào có quan hệ đến việc tế lễ thì ông đến quan sát và hỏi han cho tường tận. Khổng Tử ở Lạc Dương khảo sát các việc xong thì trở về nước Lỗ. Từ đó, sự học của ông càng rộng hơn nhiều nên học trò xin theo học càng lúc càng đông. Nhưng vua Lỗ vẫn chưa dùng ông vào việc nước. Được mấy năm, trong nước Lỗ, Quý Bình Tử khởi loạn. Ông theo Lỗ Chiêu Công tạm lánh sang nước Tề. Tề Cảnh Công mời ông tới để hỏi việc chính trị và rất khâm phục, muốn đem đất Ni Khê phong cho ông, nhưng quan Tướng quốc nước Tề là Yến Anh ngăn cản không cho. Năm sau, ông trở về nước Lỗ lo việc dạy học, và nghiên cứu cho tường tận Đạo học của Thánh hiền. Lúc đó ông được 36 tuổi. Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách . Năm 69 tuổi, ông bắt tay vào việc hiệu đính các cổ thư bị tản nát, nhiều chỗ không rõ ràng, dễ bị thất truyền hoặc khiến người đời sau nhầm lẫn. Do vậy, Khổng Tử thực hiện san định lại các kinh sách của Thánh hiền đời trước, lập thành 6 cuốn sách: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu. Mùa Xuân năm Lỗ Ai công thứ 14 (481 TCN), tương truyền người nước Lỗ đi săn bắt được một con kỳ lân què chân trái phía trước. Đức Khổng Tử đến xem rồi bưng mặt khóc, ông than rằng: "Ngô đạo cùng hĩ!" (Đạo của ta đến lúc cùng). Sách Xuân Thu chép đến đây thì hết, nên đời sau còn gọi sách Xuân Thu là Lân kinh. Năm Nhâm Tuất đời Lỗ Ai Công thứ 17 (479 TCN), một hôm Khổng Tử chống gậy đi tản bộ trước nhà, vừa đi vừa hát: "Thái sơn kỳ đồi hồ! Lương mộc kỳ hoại hồ! Triết nhân kỳ nuy hồ! (Núi Thái sơn đổ ư! Cây gỗ tốt hư hoại ư! Triết nhân mòn mỏi ư!)" Học trò của ông là Tử Cống liền đến hỏi thăm, ông nói: "Ta biết mình sắp chết". Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất (tháng 4 năm 479 TCN) Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi. Trước khi mất Khổng Tử cảm thán "Chim phượng hoàng không bay đến, sông Hoàng Hà không xuất hiện đồ thư, một đời ta thế là hết.[27]". Mộ của ông ở bên bờ sông Tứ Thủy, cực Bắc nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông. q2bpfeh5yget036hla2a5qxwna950p7 542251 542250 2026-04-29T15:31:27Z ~2026-26230-55 19578 542251 wikitext text/x-wiki [[Category:Danh nhân Trung quốc]] [[Tập_tin:孔子聖蹟圖.png|200px|right]] Khổng Tử[3] (tiếng Trung: 孔夫子; hoặc Khổng Tử (tiếng Trung: 孔子) là danh hiệu tôn kính của hậu thế cho Khổng Khâu (sinh ngày 28 tháng 9, 551 TCN - chết ngày 11 tháng 4, 479 TCN) tự Trọng Ni (chữ Hán: 仲尼)) là nhà khai sáng [[Nho giáo]] là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông thời đại nhà Tần ở Trung quốc. Khổng Tử cùng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (624 - 544 TCN) và Lão Tử được coi là 3 nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất tới Văn hóa Á Đông, và có một sự trùng hợp là cả 3 người đã sống trong cùng một thời kỳ lịch sử. ==Sinh ra == Khổng tử sinh trưởng tại ấp Trâu, thôn Xương Bình, nước Lỗ[12] (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Hoa) cuối thời Xuân Thu. Ông là con của một gia đình nghèo, nhưng cụ tổ ba đời vốn cũng thuộc dòng quý tộc đã sa sút từ khi nước Tống di cư đến nước Lỗ. Cha ông là Khổng Hột (Thúc Lương Hột) lấy bà Nhan Chinh Tại mà sinh ra ông. ==Su nghiep == Năm lên ba, Khâu mồ côi cha. Bà Nhan Chinh Tại lúc đó mới 20 tuổi không sợ khó khăn vất vả đã đưa Khổng Tử đến sống ở Khúc Phụ, thủ phủ nước Lỗ, mong ông được sống và lớn lên trong một điều kiện tốt hơn. Khi lớn lên, ông phải làm lụng vất vả để giúp đỡ mẹ, nhưng rất ham học. Năm ông 16 tuổi thì mẹ qua đời, Khổng Tử từ đó sống một cuộc sống thanh bạch, hàng ngày vẫn chăm chỉ học hành, mong muốn thực hiện được ước vọng của mẹ. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cùng là cân đo và gặt lúa. Sau đó, qua làm chức Tư Chức Lại, coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự.Năm 22 tuổi, ông lập trường giảng học và thường được các môn đồ gọi bằng phu tử. Năm 29 tuổi, ông học đàn với Sư Tương ở nước Lỗ. Năm 30 tuổi, Khổng Tử muốn đến Lạc Dương, kinh đô nhà Chu, để nghiên cứu về nghi lễ, chế độ miếu đường, nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền lộ phí, đành than thở mà thôi. Học trò là Nam Cung Quát nghe vậy, liền về tâu với Lỗ Chiêu Công. Vua liền ban cho ông một cỗ xe song mã vài quân hầu cận để đưa Khổng Tử và Nam Cung Quát đi Lạc Dương. Đến nơi, Khổng Tử quan sát nhà Tôn miếu, nhà Minh đường, khảo cứu luật lệ và thư tịch đời cổ, đi xem Giao đàn là nơi nhà vua tế Thiên Địa và Tinh tú, rồi đến Xã đàn là nơi vua tế Thần Nông và Thần Hậu Thổ. Nơi nào có quan hệ đến việc tế lễ thì ông đến quan sát và hỏi han cho tường tận. Khổng Tử ở Lạc Dương khảo sát các việc xong thì trở về nước Lỗ. Từ đó, sự học của ông càng rộng hơn nhiều nên học trò xin theo học càng lúc càng đông. Nhưng vua Lỗ vẫn chưa dùng ông vào việc nước. Được mấy năm, trong nước Lỗ, Quý Bình Tử khởi loạn. Ông theo Lỗ Chiêu Công tạm lánh sang nước Tề. Tề Cảnh Công mời ông tới để hỏi việc chính trị và rất khâm phục, muốn đem đất Ni Khê phong cho ông, nhưng quan Tướng quốc nước Tề là Yến Anh ngăn cản không cho. Năm sau, ông trở về nước Lỗ lo việc dạy học, và nghiên cứu cho tường tận Đạo học của Thánh hiền. Lúc đó ông được 36 tuổi. Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách . Năm 69 tuổi, ông bắt tay vào việc hiệu đính các cổ thư bị tản nát, nhiều chỗ không rõ ràng, dễ bị thất truyền hoặc khiến người đời sau nhầm lẫn. Do vậy, Khổng Tử thực hiện san định lại các kinh sách của Thánh hiền đời trước, lập thành 6 cuốn sách: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu. ==Tu vong == Mùa Xuân năm Lỗ Ai công thứ 14 (481 TCN), tương truyền người nước Lỗ đi săn bắt được một con kỳ lân què chân trái phía trước. Đức Khổng Tử đến xem rồi bưng mặt khóc, ông than rằng: "Ngô đạo cùng hĩ!" (Đạo của ta đến lúc cùng). Sách Xuân Thu chép đến đây thì hết, nên đời sau còn gọi sách Xuân Thu là Lân kinh. Năm Nhâm Tuất đời Lỗ Ai Công thứ 17 (479 TCN), một hôm Khổng Tử chống gậy đi tản bộ trước nhà, vừa đi vừa hát: "Thái sơn kỳ đồi hồ! Lương mộc kỳ hoại hồ! Triết nhân kỳ nuy hồ! (Núi Thái sơn đổ ư! Cây gỗ tốt hư hoại ư! Triết nhân mòn mỏi ư!)" Học trò của ông là Tử Cống liền đến hỏi thăm, ông nói: "Ta biết mình sắp chết". Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất (tháng 4 năm 479 TCN) Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi. Trước khi mất Khổng Tử cảm thán "Chim phượng hoàng không bay đến, sông Hoàng Hà không xuất hiện đồ thư, một đời ta thế là hết.[27]". Mộ của ông ở bên bờ sông Tứ Thủy, cực Bắc nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông. 9nqbfufc3lzxbfpe7n7cno5y7ulyjvp Quẻ Dịch 0 110361 542207 2026-04-29T14:46:15Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “Âm dương được dùng trong việc tạo ra [[Quẻ Dịch]] . Phục hy vạch thành [[8 Quẻ Dịch]] và Van vương bổ sung thành [[64 Quẻ Dịch]] * [[8 Quẻ Dịch Phục hy]] * [[64 Quẻ Dịch Văn vương]]” 542207 wikitext text/x-wiki Âm dương được dùng trong việc tạo ra [[Quẻ Dịch]] . Phục hy vạch thành [[8 Quẻ Dịch]] và Van vương bổ sung thành [[64 Quẻ Dịch]] * [[8 Quẻ Dịch Phục hy]] * [[64 Quẻ Dịch Văn vương]] r0org3ozfm4uc2hejbr5de7ccnjegdq Kinh dịch/Hình thành và phát triển Kinh dịch 0 110362 542214 2026-04-29T14:52:17Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “==Hình thành và phát triển Kinh dịch== Hà Đồ sinh ra Tiên Thiên Bát Quái, đi theo chiều thuận với chiều kim đồng hồ, Âm Dương không bao giờ chống đối lẫn nhau. Lạc Thư sinh ra Hậu Thiên Bát Quái, đi theo chiều nghịch chiều kim đồng hồ, lấy mâu thuẫn, ghen ghét kiềm chế nhau làm cơ bản. Hà đồ là thể, còn lạc thư là dụng, hà đồ chủ thường, lạc thư chủ biến. Hà đồ t…” 542214 wikitext text/x-wiki ==Hình thành và phát triển Kinh dịch== Hà Đồ sinh ra Tiên Thiên Bát Quái, đi theo chiều thuận với chiều kim đồng hồ, Âm Dương không bao giờ chống đối lẫn nhau. Lạc Thư sinh ra Hậu Thiên Bát Quái, đi theo chiều nghịch chiều kim đồng hồ, lấy mâu thuẫn, ghen ghét kiềm chế nhau làm cơ bản. Hà đồ là thể, còn lạc thư là dụng, hà đồ chủ thường, lạc thư chủ biến. Hà đồ trọng họp, Lạc thư trọng phân, vuông tròn che chở nhau. Âm Dương ôm ấp nhau, sử dụng tương hỗ lẫn nhau, không thể chia cắt. === Hà đồ=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} ===Lạc thư=== Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ===Tam dịch=== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền p3s5s6f3t4p84k5c0owpf21dsg08ri1 542222 542214 2026-04-29T15:00:07Z ~2026-26230-55 19578 542222 wikitext text/x-wiki Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc ==Tam dịch== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền t10kul3v8m5n294hvvmk5mjc1qub7mx 542225 542222 2026-04-29T15:03:35Z ~2026-26230-55 19578 542225 wikitext text/x-wiki Trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc ==Tam dịch== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền 9jj099ws0c9xj0hmndrjdu888hofx15 542226 542225 2026-04-29T15:05:22Z ~2026-26230-55 19578 542226 wikitext text/x-wiki Trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền 2slgqvnzxnm3xz5cms69vy73yczlln9 542227 542226 2026-04-29T15:08:34Z ~2026-26230-55 19578 542227 wikitext text/x-wiki Trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng'' ne đuoc gọi là [[Quy tàng dịch]], voi quẻ [[Thuần Khôn (Dat)]] (坤 ''kūn'') la quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') voi quẻ Thuần Càn la quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương . Em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền buleamp4bsgntnn3c9caabetna3992m 542228 542227 2026-04-29T15:09:18Z ~2026-26230-55 19578 542228 wikitext text/x-wiki [[The loai:Kinh dịch]] Trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng'' ne đuoc gọi là [[Quy tàng dịch]], voi quẻ [[Thuần Khôn (Dat)]] (坤 ''kūn'') la quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') voi quẻ Thuần Càn la quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương . Em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền lhfahmjbsvdpsy1m30c4um65xno8tq5 542229 542228 2026-04-29T15:10:18Z ~2026-26230-55 19578 542229 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Kinh dịch]] Trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời [[nhà Hán]] ở [[Mã Vương Đôi]] (馬王堆) gần [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]], tỉnh [[Hồ Nam]]. Một trong các ngôi mộ chứa bản [[Kinh dịch]] gần như còn hoàn hảo vào khoảng [[thế kỷ II TCN]], [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]] và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể. Tuy đa phần các văn bản và học giả xưa này đều cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn hóa Hoa Hạ tại Trung Quốc Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng'' ne đuoc gọi là [[Quy tàng dịch]], voi quẻ [[Thuần Khôn (Dat)]] (坤 ''kūn'') la quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') voi quẻ Thuần Càn la quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương . Em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền cb1e0936lc9o273k1mbypju2lzc0qng Kinh dịch/Hà đồ 0 110363 542216 2026-04-29T14:53:25Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “=== Hà đồ=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các…” 542216 wikitext text/x-wiki === Hà đồ=== Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} qzqa1ks4mln2rse017wwz9zeg1d0d7r 542217 542216 2026-04-29T14:53:39Z ~2026-26230-55 19578 542217 wikitext text/x-wiki Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} 24b2we8s2dzqx82qufusx57ug3taij0 542230 542217 2026-04-29T15:10:45Z ~2026-26230-55 19578 542230 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} 0lz03myrczve78qg8kpay74e371rmk6 542232 542230 2026-04-29T15:12:32Z ~2026-26230-55 19578 542232 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] ==Nguyên lý của hà đồ== Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} c6k95zbilaexaxyye4esw18frht8336 542233 542232 2026-04-29T15:14:21Z ~2026-26230-55 19578 542233 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Theo như trong truyền thuyết, khoảng 5 nghìn năm trước vua [[Phục hy]] đi tuần thú ở phương nam. Khi đi qua con sông hoàng hà, có con long mã hiện lên, với 55 dấu chấm đen trắng trên lưng. Sau đó ông về vẽ lại, rồi đặt tên cho bức vẽ này là [[Hà đồ]]. Đến sau này, cũng từ bức vẽ này, phục hy vẽ thành [[Tiên Thiên Bát Quái]] ==Nguyên lý của hà đồ== Nguyên lý của hà đồ, là dùng các chấm từ 1 chấm đến 10 chấm để biểu thị tổ hợp thành 1) 5 với 10 ở trung cung. 2) Các số lẻ là dương, màu trắng, đại diện cho Thiên số (sinh số). 3) Các số chẵn là Âm, màu đen, đại diện Địa số (thành số). :{|width=100% |- | '''Âm dương '''|| '''Số Hà đồ ''' || '''Màu số ''' || '''Thiên Địa số ''' |- | Dương || Các số lẻ 1,3,5,7,9 || màu trắng || Thiên số |- | Âm || Các số chẳn 2 4,6,8,10 || màu đen || Địa số |- |} == Ha do == Hà đồ lấy 10 số này tạo hợp thành tượng Thiên Địa , 5 phương hướng , Âm Dương, ngũ hành . Lấy vòng trắng làm Dương, là Trời, là số lẻ , còn chấm đen là Âm, là Đất, là số chẵn. Theo đó là lấy Trời Đất hợp 5 phương, lấy Âm Dương hợp ngũ hành. :{|width=100% |- | '''Phương hướng ''' || '''Chấm Hà Đồ ''' || '''Tứ tượng ''' || '''Ngũ hành ''' |- | Ở phương bắc || Là 1 chấm trắng bên trong, 6 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Huyền Vũ]], ||ngũ hành thủy (tượng trưng cho nước). |- | Ở phương đông|| Là 3 chấm trắng bên trong, 8 chấm đen bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Thanh Long]], ||ngũ hành là mộc (tượng trưng cho cây, gỗ). |- | Ở phương nam|| 2 chấm đen bên trong, 7 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Chu Tước]], ||ngũ hành là hỏa (tượng trưng cho lửa). |- | Ở phương tây|| 4 chấm đen bên trong, 9 chấm trắng bên ngoài. ||Tương ứng với Sao [[Bạch Hổ]], ||ngũ hành là kim (tượng trưng cho kim loại, vàng). |- | Ở giữa (trung ương)|| 5 chấm trắng bên trong, 10 chấm đen bên ngoài|| ||ngũ hành là thổ (tượng trưng cho đất). |- |} :{| class="wikitable" |- | || || 7 || || |- | || || 2 || || |- | 8 || 3 || 5,10 || 4 || 9 |- | || || 1 || || |- | || || 6 || || |} 7umxe5xccifwoogtx3sjhgry6li56en Kinh dịch/Lạc thư 0 110364 542218 2026-04-29T14:54:18Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “===Lạc thư=== Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc…” 542218 wikitext text/x-wiki ===Lạc thư=== Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. lrnrw2vo0qzcid88fpfb6tocwd771x6 542231 542218 2026-04-29T15:10:58Z ~2026-26230-55 19578 542231 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ta2nm92vjihuiya19gxwl7rx8b4ubpe 542252 542231 2026-04-29T15:33:07Z ~2026-26230-55 19578 542252 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. i0kee64irj0u5b29xz2whakns0r8nvm 542253 542252 2026-04-29T15:33:55Z ~2026-26230-55 19578 542253 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. ==Nguyen ly Lạc thư== Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. 8m6k21a9jg8t6dzyhrcscatd7gkze33 542254 542253 2026-04-29T15:35:27Z ~2026-26230-55 19578 /* Nguyen ly Lạc thư */ 542254 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. ==Nguyen ly Lạc thư== Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ejw9fqce5xf2jcg6bz0lg9jhb0u2ull 542255 542254 2026-04-29T15:36:16Z ~2026-26230-55 19578 542255 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. ==Nguyen ly Lạc thư== Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ==Lac thu== Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. andexu178j3rl0qhl1sycne5yqxrvut 542256 542255 2026-04-29T15:36:31Z ~2026-26230-55 19578 /* Nguyen ly Lạc thư */ 542256 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. ==Nguyen ly Lạc thư== Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ==Lac thu== Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. qfqr2pcqijl3ok9cqjpd9jdiqiku6hg 542257 542256 2026-04-29T15:36:38Z ~2026-26230-55 19578 /* Nguyen ly Lạc thư */ 542257 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. ==Nguyen ly Lạc thư== Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ==Lac thu== Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. j9gw4pve0pl1tf5hdgm0d4x8kpivgvu 542258 542257 2026-04-29T15:36:53Z ~2026-26230-55 19578 /* Lac thu */ 542258 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. ==Nguyen ly Lạc thư== Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. ==Lac thu== Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} rozxxo5v9x69muktg0ybtlgfiluslvw 542259 542258 2026-04-29T15:38:21Z ~2026-26230-55 19578 /* Lac thu */ 542259 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. ==Nguyen ly Lạc thư== Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. rq60o8qigg0okvnmi8ww6iwfm4bod3l 542260 542259 2026-04-29T15:39:17Z ~2026-26230-55 19578 542260 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Kinh dịch]] Thời vua đại vũ trị thuỷ. Trên sông Lạc, thuộc 1 nhánh của sông hoàng hà . Có con rùa thần nỗi lên, với trên lưng có nhiều dấu chấm kỳ lạ. Vua vũ về nhà vẽ lại bức hình, và đặt tên là [[Lạc thư]]. ==Nguyen ly Lạc thư== Cách lấy số của Lạc thư để luận dịch, về lý âm dương, số chẵn lẻ, nơi phương vị. Lạc thư vẽ thành Hậu Thiên Bát Quái, với các quái như: 1 khảm, 2 khôn, 3 chấn, 4 tốn, 5 trung cung, 6 càn, 7 đoài, 8 cấn, 9 ly. Sự sắp xếp này, được ứng dụng trong phong thủy, xem tử vi, và được gọi là Lạc thư quỹ tích. :{|width=100% |- | ''' Số Lạc thư ''' || '''Phương hướng ''' || '''Sao tương ứng ''' || '''Màu ''' || '''Ngũ hành ''' || '''Tính cách ''' |- | Số 1 || ở phương bắc|| ứng với sao Nhất Bạch || màu trắng || hành thủy || được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. |- | Số 2 ||ở tây nam || ứng với sao Nhị Hắc || màu đen || hành thổ || gây bệnh tật. |- | Số 3 || ở phương đông || ứng với sao Tam Bích || màu xanh da trời || hành mộc || gây cãi cọ. |- | Số 4 || ở đông nam || ứng với sao Tứ Lục|| màu xanh lá cây|| hành mộc|| mang đến vận may về học vấn, tình yêu. |- | Số 5 || ở chính giữa được gọi là ngũ trung || ứng với sao Ngũ Hoàng|| màu vàng|| hành thổ|| gây tai họa. |- | Số 6 || ở tây bắc || ứng với sao Lục Bạch|| màu trắng|| hành kim|| mang lại thiên vận (vận may của trời). |- | Số 7 || ở phương tây || ứng với sao Thất Xích|| màu đỏ|| hành kim|| gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. |- | Số 8 || ở đông bắc || ứng với sao Bát Bạch|| màu trắng|| hành thổ|| mang lại may mắn, tài lộc. |- | Số 9 || ở phương nam || ứng với sao Cửu Tử|| màu tím|| mệnh hỏa|| mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác. |- |} ==Lac thu== Đối với lạc thư thì bao gồm 9 cung từ 1 đến 9 bao gồm ngang, dọc, chéo có tổng của 3 số đều là 15. Ở trong toán học, nó thuộc về ma trận kỳ ảo bậc 3. :{|width=20% |- | 4 || 9 || 2 |- | 3 || 5 || 7 |- | 8 || 1 || 6 |- |} Sách xưa đã tổng kết thành khẩu quyết: đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2, 4 là vai, 6, 8 là chân, số 5 ở giữa. :Số 1 tương ứng thái dương , còn số 9 là số thái dương . do đó 1 và 9 đối nhau. :Số 2 tương ứng thiếu âm , còn số 8 là số thiếu âm . Do đó 2 và 8 đối nhau. : Số 3 tương ứng thiếu dương , còn số 7 là số thiếu dương . Do đó số 3 và 7 đối nhau. : Số 4 tương ứng thái âm, còn số 6 là số thái âm> Do đó số 4 và 6 đối nhau. :{| class="wikitable" |- | Tốn<br>Đông nam<br>4 || Ly<br>Nam<br>9 || Khôn<br>Tây nam<br>2 |- | Chấn<br>Đông<br>3 || 5 || Đoài<br>Tây<br>7 |- | Cấn<br>Đông bắc<br>8 || Khảm<br>Bắc<br>1 || Càn<br>Tây bắc<br>6 |- |} ==Bát quái Ngù hành Số Lạc thu== Dựa vào hậu thiên bát quái, hay theo phân tích ở Lạc Thư, và theo ngũ hành tương sinh. Thì chúng ta có thể đưa ra kết luận, về cung mệnh của các con số như sau: :{|width=100% |- | '''Bát quái Ngù hành''' || '''Số Lạc thư ''' || '''Hợp số ''' |- | Những người quái Càn và Đoài (thuộc mệnh Kim) || Thuộc số 6,7 || Hợp với các con số như 0, 2, 5, 8 (hành Thổ sinh Kim). |- | Những người quái Khảm (thuộc mệnh Thuỷ)|| Thuộc số 1. || Hợp với các con số như 6, 7 (hành Kim sinh Thủy). |- | Những người quái Chấn, Tốn (thuộc mệnh Mộc)|| Thuộc số 3,4 || Hợp với các con số như 1 (hành Thủy sinh Mộc). |- | Những người quái Cấn, Khôn (thuộc mệnh Thổ)|| Thuộc số 2,5,8 || Hợp với các con số như 9 (hành Hỏa sinh Thổ). |- | Những người quái Ly (thuộc mệnh Hoả)|| Thuộc số 9 || Hợp với các con số như 3, 4 (hành Mộc sinh Hỏa). |- |} + Lưu ý: Đối với các con số, tương ứng với các hành, sẽ có sự tương hoà nhau. Ví dụ chúng ta tra ở phần lạc thư, thì hành thổ ứng với con số 5 và 8. Nên những người thuộc cung cấn, cung khôn, thuộc mệnh số, sẽ tương hoà với các số 5 và 8. 7xlxjclz2smb4gy0b1nfq5aw51jvdc8 Kinh dịch/Tam dịch 0 110365 542219 2026-04-29T14:54:47Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “===Tam dịch=== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wik…” 542219 wikitext text/x-wiki ===Tam dịch=== Sau khi nhà Hạ bị [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng Nhà Thương] thay thế, Vua [[Thành thang]] suy diễn các [[Quẻ sáu hào]] để tạo thành [[Quy Tàng]] (歸藏 ''Gūi Cáng''; còn gọi là [[Quy tàng dịch]], và quẻ [[Thuần Khôn]] (坤 ''kūn'') trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. [[Văn vương]] [https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu Nhà Chu] soạn [[Chu dịch]] từ [[Kinh dịch]] và [[Dịch truyện]] . Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua [[Cơ Xương|Văn Vương]] [[nhà Chu]] diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ [[Thuần Càn]] (乾 ''qián'') (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong [[Thoán Từ]] (卦辭 ''guà cí'') và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. [[Hậu Thiên Bát Quái]] ra đời. Khi vua [[Chu Vũ vương|Chu Vũ Vương]] (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là [[Chu Công Đán]] tạo ra [[Hào Từ]] (爻辭 ''yáo cí''), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời [[nhà Chu]] (khoảng [[1122 TCN|1122]]-[[256 TCN]]). Muộn hơn, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] (khoảng [[722 TCN|722]]-[[481 TCN]]), [[Khổng Tử]] đã viết [[Thập dực]] (十翼 ''shí yì''), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "''Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.''" . Vào thời [[Hán Vũ Đế]] (漢武帝 ''Hàn Wǔ Dì'') của [[nhà Hán|nhà Tây Hán]] (khoảng [[200 TCN]]), [[Thập dực]] được gọi là [[Dịch truyện]] (易傳 ''yì zhùan''), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành [[Chu Dịch]] (周易 ''zhōu yì''). Ba sách [[Liên sơn dịch]], [[Quy tàng dịch]] và [[Chu dịch]] được gọi là [[Tam dịch]] . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền g7byuhfyhcn84o7al6j5apgsn7zx5w3 Kinh dịch/8 Quẻ dịch 0 110366 542234 2026-04-29T15:14:57Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dư…” 542234 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} 6r1f082043ctfehq45a414urkrli1mg Kinh dịch/8 Quẻ dịch Phục hy 0 110367 542236 2026-04-29T15:16:30Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dư…” 542236 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} 6r1f082043ctfehq45a414urkrli1mg 542237 542236 2026-04-29T15:17:22Z ~2026-26230-55 19578 542237 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} [[Thể loại: Kinh dịch]] 28kifnuikmdenja4b1feykj1kz5libn 542238 542237 2026-04-29T15:18:16Z ~2026-26230-55 19578 542238 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px|right]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} [[Thể loại: Kinh dịch]] nby27k4uc68eoqpqt3kldnsclbkzvd7 542239 542238 2026-04-29T15:19:04Z ~2026-26230-55 19578 542239 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px|right]] Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) ==Lưỡng nghi== : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm ==Tứ tượng== Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} [[Thể loại: Kinh dịch]] qmm6qq4x6kfuiz6xd0p5obyx0q14isl 542240 542239 2026-04-29T15:19:26Z ~2026-26230-55 19578 542240 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px|right]] :Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) ==Lưỡng nghi== : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm ==Tứ tượng== Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} [[Thể loại: Kinh dịch]] gysd3xw7tsncc3whi1toasye9tdvjso 542241 542240 2026-04-29T15:20:09Z ~2026-26230-55 19578 542241 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px|right]] :Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) : Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) : Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào ==Lưỡng nghi== : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm ==Tứ tượng== : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} [[Thể loại: Kinh dịch]] of5b3pvpxhw1o6g5j9ptzjpvga4dl3r 542242 542241 2026-04-29T15:20:34Z ~2026-26230-55 19578 542242 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px|right]] *Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) * Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) * Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào ==Lưỡng nghi== : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm ==Tứ tượng== : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} [[Thể loại: Kinh dịch]] rkh34g5ihhl8enffs0ngaclf0o9r62y 542243 542242 2026-04-29T15:21:03Z ~2026-26230-55 19578 542243 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px|right]] *Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) * Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) * Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào ==Lưỡng nghi== : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm ==Tứ tượng== : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] ==Bát Quái== :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} Ý nghỉa của Bát quái Phục hy :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} [[Thể loại: Kinh dịch]] hmwbuxwlyc4ifyymfnfqtg1kc61oiw7 542244 542243 2026-04-29T15:21:22Z ~2026-26230-55 19578 542244 wikitext text/x-wiki Biến hóa của vũ trụ âm dương được Phục hy đem lẽ đó vạch ra thành nét như sau :[[File:Guo_Xu_album_dated_1503_(1).jpg|300px|right]] *Đầu tiên vạch một nét liền (tức là vạch lẻ), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Dương . Một nét đứt (tức là vạch chẵn), để làm phù hiệu (tượng trưng) cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là [[Lưỡng nghi]] (2 nghi) * Trên mỗi nghi thêm một nét nữa, thành ra [[bốn cái hai vạch]], gọi là [[Tứ tượng]] (4 tượng) * Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra [[tám cái ba vạch]] tạo thành Bát quái (8 quẻ) . Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào ==Lưỡng nghi== : '''___''' tượng trưng cho khí Dương : ''' _ _''' tượng trưng cho khí Âm ==Tứ tượng== : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] ==Bát Quái== :{| class="" style="text-align:center;margin-bottom:2em;" |+八卦 Bát Quái !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|乾 Càn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2630">☰</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|兌 Đoài<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2631">☱</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|離 Ly<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2632">☲</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|震 Chấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2633">☳</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|巽 Tốn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2634">☴</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坎 Khảm<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2635">☵</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|艮 Cấn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2636">☶</span> !style="width:5.5em;background-color:#CCCCCC"|坤 Khôn<br /><span style="font-size:180%;" title="U+2637">☷</span> |- |'''Thiên/Trời''' ||'''Trạch/Đầm/Hồ''' ||'''Hỏa/Lửa''' ||'''Lôi/Sấm''' ||'''Phong/Gió''' ||'''Thủy/Nước''' ||'''Sơn/Núi''' ||'''Địa/Đất''' |- |<span title="Tian1">天 Tiān</span> ||<span title="Ze2">澤(泽) Zé</span> ||<span title="Huo3">火 Huǒ</span> ||<span title="Lei2">雷 Léi</span> ||<span title="Feng1">風(风) Fēng</span> ||<span title="Shui3">水 Shuǐ</span> ||<span title="Shan1">山 Shān</span> ||<span title="Di4">地 Dì</span> |} ==Ý nghỉa của Bát quái Phục hy== :{| border="1" cellpadding="6" class="wikitable" style="text-align:center;" |- ! ! Hình bát quái ! Giá trị nhị phân ! Tên ! Ý nghĩa: ''Wilhelm'' ! Hình ảnh trong tự nhiên <small>(pp.l-li)</small> ! Phương hướng<small>(p.&nbsp;269)</small> ! Mối quan hệ gia đình <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Bộ phận cơ thể <small>(p.&nbsp;274)</small> ! Tính chất <small>(p.&nbsp;273)</small> ! Giai đoạn/Trạng thái <small>(pp.l-li)</small> ! Linh vật <small>(p.&nbsp;273)</small> |- | 1 || ☰ || 111 || 乾<br />Càn || ''sáng tạo''|| thiên (trời)<br />天 | tây bắc || cha || đầu || cứng, mạnh, khỏe || sáng tạo || 馬<br />mã (ngựa) |- | 2 || ☱ || 110 || 兌<br />Đoài || ''vui sướng''|| trạch (đầm, hồ)<br />澤 | tây|| con gái út || miệng || dễ chịu || thanh bình || 羊<br />dương (con dê) |- | 3 || ☲ || 101 || 離<br />Ly || ''bám lấy''|| hỏa (lửa)<br />火 | nam|| con gái thứ || mắt || soi sáng, sự phụ thuộc || bám lấy, sự rõ ràng, thích nghi || 雉<br />trĩ (con chim trĩ) |- | 4 || ☳ || 100 || 震<br />Chấn || ''khơi dậy''|| lôi (sấm sét)<br />雷 | đông|| con trai trưởng || chân|| dịch chuyển có tác động || khởi đầu|| 龍<br />Long (rồng) |- | 5 || ☴ || 011 || 巽<br />Tốn || ''dịu dàng''|| phong (gió)<br />風 | đông nam|| con gái trưởng || bắp đùi|| thông suốt (hiểu rõ) || sự len vào một cách dễ chịu || 雞<br />kê (con gà) |- | 6 || ☵ || 010 || 坎<br />Khảm || ''không đáy'' || thủy (nước)<br />水 | bắc|| con trai thứ || tai|| nguy hiểm|| đang chuyển động || 豕<br />thỉ (con heo) |- | 7 || ☶ || 001 || 艮<br />Cấn || ''vững chắc''|| sơn (núi)<br />山 || đông bắc || con trai út || tay || thư giãn, đứng vững || hoàn thành || 狗<br />cẩu (con chó) |- | 8 || ☷ || 000 || 坤<br />Khôn || ''tiếp thu''|| địa (đất)<br />地 | tây nam|| mẹ|| bụng|| hết lòng (tận tụy), dễ tính || dễ tiếp thu|| 牛<br />ngưu (con trâu) |} [[Thể loại: Kinh dịch]] mzazedjkbxx5hy196t8sdwgnp5w72th Kinh dịch/64 Quẻ Dịch 0 110368 542245 2026-04-29T15:22:37Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “[[Thể loại: Quẻ dịch]] Quẻ Dịch là một hệ thống triết học về dự đoán phong phú, bắt nguồn từ những nguyên lý cơ bản của vũ trụ và sự tương tác của chúng. Các khái niệm Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, và 64 Quẻ Dịch cùng nhau tạo thành một cấu trúc logic và hài hòa. ==Nguyên lý == ===Thái Cực Sinh Ra Lưỡng Nghi (太極生兩儀)=== Thái Cực (太極) là khởi…” 542245 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Quẻ dịch]] Quẻ Dịch là một hệ thống triết học về dự đoán phong phú, bắt nguồn từ những nguyên lý cơ bản của vũ trụ và sự tương tác của chúng. Các khái niệm Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, và 64 Quẻ Dịch cùng nhau tạo thành một cấu trúc logic và hài hòa. ==Nguyên lý == ===Thái Cực Sinh Ra Lưỡng Nghi (太極生兩儀)=== Thái Cực (太極) là khởi điểm của mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ. Thái Cực biểu thị sự toàn vẹn, sự hợp nhất và tiềm năng vô tận, từ đó mọi thứ được sinh ra. Từ trạng thái nguyên thủy và toàn vẹn của Thái Cực, vũ trụ bắt đầu phân chia thành hai lực đối lập nhưng bổ sung cho nhau, được gọi là Lưỡng Nghi (兩儀). # [[Âm]] (- -) . Vạch đứt . Đại diện cho yếu tố nữ tính - tĩnh, lạnh, tối và tiêu cực. # [[Dương]] (--) . Vạch liền . Đại diện cho yếu tố nam tính - động, nóng, sáng và tích cực. Lưỡng Nghi là nguyên lý cơ bản của sự tồn tại và sự biến đổi trong vũ trụ. Âm và Dương không tồn tại độc lập mà luôn tương tác và biến đổi lẫn nhau, tạo nên sự cân bằng và hài hòa. ===Lưỡng Nghi Biến Hóa Thành Tứ Tượng (兩儀生四象)=== Từ sự tương tác của Âm và Dương, vũ trụ phát triển thêm và hình thành nên Tứ Tượng (四象). Tứ Tượng là bốn trạng thái phát triển tiếp theo của Lưỡng Nghi: #[[Thái Âm]] (太陰): Âm lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính âm. #[[Thái Dương]] (太陽): Dương lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính dương. #[[Thiếu Âm ]] (少陰): Âm nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính âm. #[[Thiếu Dương]] (少陽): Dương nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính dương. : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Tứ Tượng biểu thị sự phân chia tinh tế hơn của Âm và Dương, tạo ra những trạng thái khác nhau trong sự biến đổi liên tục của vũ trụ. ===Tứ Tượng Phát Triển Thành Bát Quái (四象生八卦)=== Từ Tứ Tượng, sự phân chia tiếp tục và phức tạp hóa hơn, tạo thành [[Bát quái]] (八卦). Bát Quái là tám quẻ đơn, mỗi quẻ gồm ba hào (nét), mỗi hào có thể là hào dương (nét liền) hoặc hào âm (nét đứt). Tám quẻ đơn này là: # [[Càn]] (☰): Trời, dương, sáng tạo. # [[Đoài]] (☱): Hồ, âm dương giao hòa, vui vẻ. # [[Ly]] (☲): Lửa, dương, sáng rõ. # [[Chấn]] (☳): Sấm, dương, khởi đầu. # [[Tốn]] (☴): Gió, âm, linh hoạt. # [[Khảm]] (☵): Nước, âm, sâu lắng. # [[Khôn]] (☷): Đất, âm, nuôi dưỡng. # [[Cấn]] (☶): Núi, âm, tĩnh lặng. Bát Quái là biểu tượng của các yếu tố cơ bản trong vũ trụ và sự tương tác của chúng. Mỗi quẻ đơn biểu thị một khía cạnh của vũ trụ và sự biến đổi của nó. ===Bát Quái Kết Hợp Lại Tạo Thành 64 Quẻ Kinh Dịch (八卦生成六十四卦)=== Khi hai quẻ đơn trong Bát Quái kết hợp với nhau, chúng tạo thành 64 quẻ kép (quẻ Kinh Dịch). Mỗi quẻ kép gồm sáu hào, tạo nên một hệ thống phong phú và chi tiết để mô tả các trạng thái và tình huống khác nhau trong vũ trụ. Mỗi quẻ kép có một tên và một ý nghĩa riêng, phản ánh một khía cạnh cụ thể của sự biến đổi và tương tác trong vũ trụ. Ví dụ, quẻ Khôn (☷) trên Càn (☰) tạo thành quẻ Thái (泰), biểu thị sự hòa hợp và thuận lợi. Trong khi đó, quẻ Khảm (☵) trên Ly (☲) tạo thành quẻ Ký Tế (既濟), biểu thị sự hoàn thành và đạt được mục tiêu. Bảng dưới đây hiển thị 64 Quẻ Dịch theo thứ tự Văn Vương. {| class="center" style="background: transparent; width: 100%; table-layout: fixed" |- style="vertical-align: top" | 1<br>[[File:Iching-hexagram-01.svg|link=Thuần Càn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Càn|Càn (乾)]]}} | 2<br>[[File:Iching-hexagram-02.svg|link=Thuần Khôn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khôn|坤 (Khôn)]]}} | 3<br>[[File:Iching-hexagram-03.svg|link=Thủy Lôi Truân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Lôi Truân|屯 (Truân)]]}} | 4<br>[[File:Iching-hexagram-04.svg|link=Sơn Thủy Mông|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thủy Mông|蒙 (Mông)]]}} | 5<br>[[File:Iching-hexagram-05.svg|link=Thủy Thiên Nh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Thiên Nhu|需 (Nhu)]]}} | 6<br>[[File:Iching-hexagram-06.svg|link=Thiên Thủy Tụng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Thủy Tụng|訟 (Tụng)]]}} | 7<br>[[File:Iching-hexagram-07.svg|link=Địa Thủy Sư|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thủy Sư|師 (Sư)]]}} | 8<br>[[File:Iching-hexagram-08.svg|link=Thủy Địa Tỷ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Địa Tỷ|比 (Tỷ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 9<br>[[File:Iching-hexagram-09.svg|link=Phong Thiên Tiểu Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thiên Tiểu Súc|小畜 (Tiểu Súc)]]}} | 10<br>[[File:Iching-hexagram-10.svg|link=Thiên Trạch Lý|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Trạch Lý|履 (Lý)]]}} | 11<br>[[File:Iching-hexagram-11.svg|link=Địa Thiên Thái|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thiên Thái|泰 (Thái)]]}} | 12<br>[[File:Iching-hexagram-12.svg|link=Thiên Địa Bĩ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Địa Bĩ|否 (Bĩ)]]}} | 13<br>[[File:Iching-hexagram-13.svg|linkThiên Hỏa Đồng Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Hỏa Đồng Nhân|同人 (Đồng Nhân)]]}} | 14<br>[[File:Iching-hexagram-14.svg|link=Hỏa Thiên Đại Hữu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thiên Đại Hữu|大有 (Đại Hữu)]]}} | 15<br>[[File:Iching-hexagram-15.svg|link=Địa Sơn Khiêm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Sơn Khiêm|謙 (Khiêm)]]}} | 16<br>[[File:Iching-hexagram-16.svg|link=Lôi Địa Dự|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Địa Dự|豫 (Dự)]]}} |- style="vertical-align: top" | 17<br>[[File:Iching-hexagram-17.svg|link=Trạch Lôi Tùy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Lôi Tùy|隨 (Tùy)]]}} | 18<br>[[File:Iching-hexagram-18.svg|link=Sơn Phong Cổ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Phong Cổ|蠱 (Cổ)]]}} | 19<br>[[File:Iching-hexagram-19.svg|link=Địa Trạch Lâm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Trạch Lâm|臨 (Lâm)]]}} | 20<br>[[File:Iching-hexagram-20.svg|link=Phong Địa Quan|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Địa Quan|觀 (Quan)]]}} | 21<br>[[File:Iching-hexagram-21.svg|link=Hỏa Lôi Phệ Hạp|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Lôi Phệ Hạp|噬嗑 (Phệ Hạp)]]}} | 22<br>[[File:Iching-hexagram-22.svg|link=Sơn Hỏa Bí|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Hỏa Bí|賁 (Bí)]]}} | 23<br>[[File:Iching-hexagram-23.svg|link=Sơn Địa Bác|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Địa Bác|剝 (Bác)]]}} | 24<br>[[File:Iching-hexagram-24.svg|link=Địa Lôi Phục|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Lôi Phục|復 (Phục)]]}} |- style="vertical-align: top" | 25<br>[[File:Iching-hexagram-25.svg|link=Thiên Lôi Vô Vọng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Lôi Vô Vọng|無妄 (Vô Vọng)]]}} | 26<br>[[File:Iching-hexagram-26.svg|link=Sơn Thiên Đại Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thiên Đại Súc|大畜 (Đại Súc)]]}} | 27<br>[[File:Iching-hexagram-27.svg|link=Sơn Lôi Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Lôi Di|頤 (Di)]]}} | 28<br>[[File:Iching-hexagram-28.svg|link=Trạch Phong Đại Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Phong Đại Quá|大過 (Đại Quá)]]}} | 29<br>[[File:Iching-hexagram-29.svg|link=Thuần Khảm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khảm|坎 (Khảm)]]}} | 30<br>[[File:Iching-hexagram-30.svg|link=Thuần Ly|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Ly|離 (Ly)]]}} | 31<br>[[File:Iching-hexagram-31.svg|link=Trạch Sơn Hàm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Sơn Hàm|咸 (Hàm)]]}} | 32<br>[[File:Iching-hexagram-32.svg|link=Lôi Phong Hằng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Phong Hằng|恆 (Hằng)]]}} |- style="vertical-align: top" | 33<br>[[File:Iching-hexagram-33.svg|link=Thiên Sơn Độn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Sơn Độn|遯 (Độn)]]}} | 34<br>[[File:Iching-hexagram-34.svg|link=Lôi Thiên Đại Tráng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thiên Đại Tráng|大壯 (Đại Tráng)]]}} | 35<br>[[File:Iching-hexagram-35.svg|link=Hỏa Địa Tấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Địa Tấn|晉 (Tấn)]]}} | 36<br>[[File:Iching-hexagram-36.svg|link=Địa Hỏa Minh Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Hỏa Minh Di|明夷 (Minh Di)]]}} | 37<br>[[File:Iching-hexagram-37.svg|link=Phong Hỏa Gia Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Hỏa Gia Nhân|家人 (Gia Nhân)]]}} | 38<br>[[File:Iching-hexagram-38.svg|link=Hỏa Trạch Khuê|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Trạch Khuê|睽 (Khuê)]]}} | 39<br>[[File:Iching-hexagram-39.svg|link=Thủy Sơn Kiển|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Sơn Kiển|蹇 (Kiển)]]}} | 40<br>[[File:Iching-hexagram-40.svg|link=Lôi Thủy Giải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thủy Giải|解 (Giải)]]}} |- style="vertical-align: top" | 41<br>[[File:Iching-hexagram-41.svg|link=Sơn Trạch Tổn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Trạch Tổn|損 (Tổn)]]}} | 42<br>[[File:Iching-hexagram-42.svg|link=Phong Lôi Ích|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Lôi Ích|益 (Ích)]]}} | 43<br>[[File:Iching-hexagram-43.svg|link=Trạch Thiên Quải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thiên Quải|夬 (Quải)]]}} | 44<br>[[File:Iching-hexagram-44.svg|link=Thiên Phong Cấu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Phong Cấu|姤 (Cấu)]]}} | 45<br>[[File:Iching-hexagram-45.svg|link=Trạch Địa Tụy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Địa Tụy|萃 (Tụy)]]}} | 46<br>[[File:Iching-hexagram-46.svg|link=Địa Phong Thăng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Phong Thăng|升 (Thăng)]]}} | 47<br>[[File:Iching-hexagram-47.svg|link=Trạch Thủy Khốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thủy Khốn|困 (Khốn)]]}} | 48<br>[[File:Iching-hexagram-48.svg|link=Thủy Phong Tỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Phong Tỉnh|井 (Tỉnh)]]}} |- style="vertical-align: top" | 49<br>[[File:Iching-hexagram-49.svg|link=Trạch Hỏa Cách|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Hỏa Cách|革 (Cách)]]}} | 50<br>[[File:Iching-hexagram-50.svg|link=Hỏa Phong Đỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Phong Đỉnh|鼎 (Đỉnh)]]}} | 51<br>[[File:Iching-hexagram-51.svg|link=Thuần Chấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Chấn|震 (Chấn)]]}} | 52<br>[[File:Iching-hexagram-52.svg|link=Thuần Cấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Cấn|艮 (Cấn)]]}} | 53<br>[[File:Iching-hexagram-53.svg|link=Phong Sơn Tiệm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Sơn Tiệm|漸 (Tiệm)]]}} | 54<br>[[File:Iching-hexagram-54.svg|link=Lôi Trạch Quy Muội|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Trạch Quy Muội|歸妹 (Quy Muội)]]}} | 55<br>[[File:Iching-hexagram-55.svg|link=Lôi Hỏa Phong|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Hỏa Phong|豐 (Phong)]]}} | 56<br>[[File:Iching-hexagram-56.svg|link=Hỏa Sơn Lữ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Sơn Lữ|旅 (Lữ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 57<br>[[File:Iching-hexagram-57.svg|link=Thuần Tốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Tốn|巽 (Tốn)]]}} | 58<br>[[File:Iching-hexagram-58.svg|link=Thuần Đoài|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Đoài|兌 (Đoài)]]}} | 59<br>[[File:Iching-hexagram-59.svg|link=Phong Thủy Hoán|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thủy Hoán|渙 (Hoán)]]}} | 60<br>[[File:Iching-hexagram-60.svg|link=Thủy Trạch Tiết|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Trạch Tiết|節 (Tiết)]]}} | 61<br>[[File:Iching-hexagram-61.svg|link=Phong Trạch Trung Phu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Trạch Trung Phu|中孚 (Trung Phu)]]}} | 62<br>[[File:Iching-hexagram-62.svg|link=Lôi Sơn Tiểu Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Sơn Tiểu Quá|小過 (Tiểu Quá)]]}} | 63<br>[[File:Iching-hexagram-63.svg|link=Thủy Hỏa Ký Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Hỏa Ký Tế|既濟 (Ký Tế)]]}} | 64<br>[[File:Iching-hexagram-64.svg|link=Hỏa Thủy Vị Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thủy Vị Tế|未濟 (Vị Tế)]]}} |} ==Ứng dụng== Mối quan hệ và sự tương tác giữa Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái và 64 quẻ Kinh Dịch tạo thành một hệ thống logic và hài hòa, giúp giải thích và dự đoán các hiện tượng trong vũ trụ và cuộc sống. Hệ thống này không chỉ phản ánh sự phức tạp và đa dạng của vũ trụ mà còn cung cấp một phương pháp luận để hiểu và dự đoán sự biến đổi không ngừng của vạn vật. h1lo1zexk9xrlibr7qalu535nu5inxr Kinh dịch/64 Quẻ Dịch Văn Vương 0 110369 542247 2026-04-29T15:25:51Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “[[Thể loại: Quẻ dịch]] Quẻ Dịch là một hệ thống triết học về dự đoán phong phú, bắt nguồn từ những nguyên lý cơ bản của vũ trụ và sự tương tác của chúng. Các khái niệm Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, và 64 Quẻ Dịch cùng nhau tạo thành một cấu trúc logic và hài hòa. ==Nguyên lý == ===Thái Cực Sinh Ra Lưỡng Nghi (太極生兩儀)=== Thái Cực (太極) là khởi…” 542247 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Quẻ dịch]] Quẻ Dịch là một hệ thống triết học về dự đoán phong phú, bắt nguồn từ những nguyên lý cơ bản của vũ trụ và sự tương tác của chúng. Các khái niệm Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, và 64 Quẻ Dịch cùng nhau tạo thành một cấu trúc logic và hài hòa. ==Nguyên lý == ===Thái Cực Sinh Ra Lưỡng Nghi (太極生兩儀)=== Thái Cực (太極) là khởi điểm của mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ. Thái Cực biểu thị sự toàn vẹn, sự hợp nhất và tiềm năng vô tận, từ đó mọi thứ được sinh ra. Từ trạng thái nguyên thủy và toàn vẹn của Thái Cực, vũ trụ bắt đầu phân chia thành hai lực đối lập nhưng bổ sung cho nhau, được gọi là Lưỡng Nghi (兩儀). # [[Âm]] (- -) . Vạch đứt . Đại diện cho yếu tố nữ tính - tĩnh, lạnh, tối và tiêu cực. # [[Dương]] (--) . Vạch liền . Đại diện cho yếu tố nam tính - động, nóng, sáng và tích cực. Lưỡng Nghi là nguyên lý cơ bản của sự tồn tại và sự biến đổi trong vũ trụ. Âm và Dương không tồn tại độc lập mà luôn tương tác và biến đổi lẫn nhau, tạo nên sự cân bằng và hài hòa. ===Lưỡng Nghi Biến Hóa Thành Tứ Tượng (兩儀生四象)=== Từ sự tương tác của Âm và Dương, vũ trụ phát triển thêm và hình thành nên Tứ Tượng (四象). Tứ Tượng là bốn trạng thái phát triển tiếp theo của Lưỡng Nghi: #[[Thái Âm]] (太陰): Âm lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính âm. #[[Thái Dương]] (太陽): Dương lớn, đại diện cho đỉnh điểm của tính dương. #[[Thiếu Âm ]] (少陰): Âm nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính âm. #[[Thiếu Dương]] (少陽): Dương nhỏ, giai đoạn khởi đầu của tính dương. : [[File:Tutuong2.jpg|Tứ tượng]] Tứ Tượng biểu thị sự phân chia tinh tế hơn của Âm và Dương, tạo ra những trạng thái khác nhau trong sự biến đổi liên tục của vũ trụ. ===Tứ Tượng Phát Triển Thành Bát Quái (四象生八卦)=== Từ Tứ Tượng, sự phân chia tiếp tục và phức tạp hóa hơn, tạo thành [[Bát quái]] (八卦). Bát Quái là tám quẻ đơn, mỗi quẻ gồm ba hào (nét), mỗi hào có thể là hào dương (nét liền) hoặc hào âm (nét đứt). Tám quẻ đơn này là: # [[Càn]] (☰): Trời, dương, sáng tạo. # [[Đoài]] (☱): Hồ, âm dương giao hòa, vui vẻ. # [[Ly]] (☲): Lửa, dương, sáng rõ. # [[Chấn]] (☳): Sấm, dương, khởi đầu. # [[Tốn]] (☴): Gió, âm, linh hoạt. # [[Khảm]] (☵): Nước, âm, sâu lắng. # [[Khôn]] (☷): Đất, âm, nuôi dưỡng. # [[Cấn]] (☶): Núi, âm, tĩnh lặng. Bát Quái là biểu tượng của các yếu tố cơ bản trong vũ trụ và sự tương tác của chúng. Mỗi quẻ đơn biểu thị một khía cạnh của vũ trụ và sự biến đổi của nó. ===Bát Quái Kết Hợp Lại Tạo Thành 64 Quẻ Kinh Dịch (八卦生成六十四卦)=== Khi hai quẻ đơn trong Bát Quái kết hợp với nhau, chúng tạo thành 64 quẻ kép (quẻ Kinh Dịch). Mỗi quẻ kép gồm sáu hào, tạo nên một hệ thống phong phú và chi tiết để mô tả các trạng thái và tình huống khác nhau trong vũ trụ. Mỗi quẻ kép có một tên và một ý nghĩa riêng, phản ánh một khía cạnh cụ thể của sự biến đổi và tương tác trong vũ trụ. Ví dụ, quẻ Khôn (☷) trên Càn (☰) tạo thành quẻ Thái (泰), biểu thị sự hòa hợp và thuận lợi. Trong khi đó, quẻ Khảm (☵) trên Ly (☲) tạo thành quẻ Ký Tế (既濟), biểu thị sự hoàn thành và đạt được mục tiêu. Bảng dưới đây hiển thị 64 Quẻ Dịch theo thứ tự Văn Vương. {| class="center" style="background: transparent; width: 100%; table-layout: fixed" |- style="vertical-align: top" | 1<br>[[File:Iching-hexagram-01.svg|link=Thuần Càn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Càn|Càn (乾)]]}} | 2<br>[[File:Iching-hexagram-02.svg|link=Thuần Khôn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khôn|坤 (Khôn)]]}} | 3<br>[[File:Iching-hexagram-03.svg|link=Thủy Lôi Truân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Lôi Truân|屯 (Truân)]]}} | 4<br>[[File:Iching-hexagram-04.svg|link=Sơn Thủy Mông|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thủy Mông|蒙 (Mông)]]}} | 5<br>[[File:Iching-hexagram-05.svg|link=Thủy Thiên Nh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Thiên Nhu|需 (Nhu)]]}} | 6<br>[[File:Iching-hexagram-06.svg|link=Thiên Thủy Tụng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Thủy Tụng|訟 (Tụng)]]}} | 7<br>[[File:Iching-hexagram-07.svg|link=Địa Thủy Sư|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thủy Sư|師 (Sư)]]}} | 8<br>[[File:Iching-hexagram-08.svg|link=Thủy Địa Tỷ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Địa Tỷ|比 (Tỷ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 9<br>[[File:Iching-hexagram-09.svg|link=Phong Thiên Tiểu Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thiên Tiểu Súc|小畜 (Tiểu Súc)]]}} | 10<br>[[File:Iching-hexagram-10.svg|link=Thiên Trạch Lý|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Trạch Lý|履 (Lý)]]}} | 11<br>[[File:Iching-hexagram-11.svg|link=Địa Thiên Thái|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Thiên Thái|泰 (Thái)]]}} | 12<br>[[File:Iching-hexagram-12.svg|link=Thiên Địa Bĩ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Địa Bĩ|否 (Bĩ)]]}} | 13<br>[[File:Iching-hexagram-13.svg|linkThiên Hỏa Đồng Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Hỏa Đồng Nhân|同人 (Đồng Nhân)]]}} | 14<br>[[File:Iching-hexagram-14.svg|link=Hỏa Thiên Đại Hữu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thiên Đại Hữu|大有 (Đại Hữu)]]}} | 15<br>[[File:Iching-hexagram-15.svg|link=Địa Sơn Khiêm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Sơn Khiêm|謙 (Khiêm)]]}} | 16<br>[[File:Iching-hexagram-16.svg|link=Lôi Địa Dự|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Địa Dự|豫 (Dự)]]}} |- style="vertical-align: top" | 17<br>[[File:Iching-hexagram-17.svg|link=Trạch Lôi Tùy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Lôi Tùy|隨 (Tùy)]]}} | 18<br>[[File:Iching-hexagram-18.svg|link=Sơn Phong Cổ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Phong Cổ|蠱 (Cổ)]]}} | 19<br>[[File:Iching-hexagram-19.svg|link=Địa Trạch Lâm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Trạch Lâm|臨 (Lâm)]]}} | 20<br>[[File:Iching-hexagram-20.svg|link=Phong Địa Quan|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Địa Quan|觀 (Quan)]]}} | 21<br>[[File:Iching-hexagram-21.svg|link=Hỏa Lôi Phệ Hạp|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Lôi Phệ Hạp|噬嗑 (Phệ Hạp)]]}} | 22<br>[[File:Iching-hexagram-22.svg|link=Sơn Hỏa Bí|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Hỏa Bí|賁 (Bí)]]}} | 23<br>[[File:Iching-hexagram-23.svg|link=Sơn Địa Bác|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Địa Bác|剝 (Bác)]]}} | 24<br>[[File:Iching-hexagram-24.svg|link=Địa Lôi Phục|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Lôi Phục|復 (Phục)]]}} |- style="vertical-align: top" | 25<br>[[File:Iching-hexagram-25.svg|link=Thiên Lôi Vô Vọng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Lôi Vô Vọng|無妄 (Vô Vọng)]]}} | 26<br>[[File:Iching-hexagram-26.svg|link=Sơn Thiên Đại Súc|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Thiên Đại Súc|大畜 (Đại Súc)]]}} | 27<br>[[File:Iching-hexagram-27.svg|link=Sơn Lôi Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Lôi Di|頤 (Di)]]}} | 28<br>[[File:Iching-hexagram-28.svg|link=Trạch Phong Đại Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Phong Đại Quá|大過 (Đại Quá)]]}} | 29<br>[[File:Iching-hexagram-29.svg|link=Thuần Khảm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Khảm|坎 (Khảm)]]}} | 30<br>[[File:Iching-hexagram-30.svg|link=Thuần Ly|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Ly|離 (Ly)]]}} | 31<br>[[File:Iching-hexagram-31.svg|link=Trạch Sơn Hàm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Sơn Hàm|咸 (Hàm)]]}} | 32<br>[[File:Iching-hexagram-32.svg|link=Lôi Phong Hằng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Phong Hằng|恆 (Hằng)]]}} |- style="vertical-align: top" | 33<br>[[File:Iching-hexagram-33.svg|link=Thiên Sơn Độn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Sơn Độn|遯 (Độn)]]}} | 34<br>[[File:Iching-hexagram-34.svg|link=Lôi Thiên Đại Tráng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thiên Đại Tráng|大壯 (Đại Tráng)]]}} | 35<br>[[File:Iching-hexagram-35.svg|link=Hỏa Địa Tấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Địa Tấn|晉 (Tấn)]]}} | 36<br>[[File:Iching-hexagram-36.svg|link=Địa Hỏa Minh Di|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Hỏa Minh Di|明夷 (Minh Di)]]}} | 37<br>[[File:Iching-hexagram-37.svg|link=Phong Hỏa Gia Nhân|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Hỏa Gia Nhân|家人 (Gia Nhân)]]}} | 38<br>[[File:Iching-hexagram-38.svg|link=Hỏa Trạch Khuê|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Trạch Khuê|睽 (Khuê)]]}} | 39<br>[[File:Iching-hexagram-39.svg|link=Thủy Sơn Kiển|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Sơn Kiển|蹇 (Kiển)]]}} | 40<br>[[File:Iching-hexagram-40.svg|link=Lôi Thủy Giải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Thủy Giải|解 (Giải)]]}} |- style="vertical-align: top" | 41<br>[[File:Iching-hexagram-41.svg|link=Sơn Trạch Tổn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Sơn Trạch Tổn|損 (Tổn)]]}} | 42<br>[[File:Iching-hexagram-42.svg|link=Phong Lôi Ích|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Lôi Ích|益 (Ích)]]}} | 43<br>[[File:Iching-hexagram-43.svg|link=Trạch Thiên Quải|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thiên Quải|夬 (Quải)]]}} | 44<br>[[File:Iching-hexagram-44.svg|link=Thiên Phong Cấu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thiên Phong Cấu|姤 (Cấu)]]}} | 45<br>[[File:Iching-hexagram-45.svg|link=Trạch Địa Tụy|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Địa Tụy|萃 (Tụy)]]}} | 46<br>[[File:Iching-hexagram-46.svg|link=Địa Phong Thăng|35px]]<br>{{lang|zh|[[Địa Phong Thăng|升 (Thăng)]]}} | 47<br>[[File:Iching-hexagram-47.svg|link=Trạch Thủy Khốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Thủy Khốn|困 (Khốn)]]}} | 48<br>[[File:Iching-hexagram-48.svg|link=Thủy Phong Tỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Phong Tỉnh|井 (Tỉnh)]]}} |- style="vertical-align: top" | 49<br>[[File:Iching-hexagram-49.svg|link=Trạch Hỏa Cách|35px]]<br>{{lang|zh|[[Trạch Hỏa Cách|革 (Cách)]]}} | 50<br>[[File:Iching-hexagram-50.svg|link=Hỏa Phong Đỉnh|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Phong Đỉnh|鼎 (Đỉnh)]]}} | 51<br>[[File:Iching-hexagram-51.svg|link=Thuần Chấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Chấn|震 (Chấn)]]}} | 52<br>[[File:Iching-hexagram-52.svg|link=Thuần Cấn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Cấn|艮 (Cấn)]]}} | 53<br>[[File:Iching-hexagram-53.svg|link=Phong Sơn Tiệm|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Sơn Tiệm|漸 (Tiệm)]]}} | 54<br>[[File:Iching-hexagram-54.svg|link=Lôi Trạch Quy Muội|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Trạch Quy Muội|歸妹 (Quy Muội)]]}} | 55<br>[[File:Iching-hexagram-55.svg|link=Lôi Hỏa Phong|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Hỏa Phong|豐 (Phong)]]}} | 56<br>[[File:Iching-hexagram-56.svg|link=Hỏa Sơn Lữ|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Sơn Lữ|旅 (Lữ)]]}} |- style="vertical-align: top" | 57<br>[[File:Iching-hexagram-57.svg|link=Thuần Tốn|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Tốn|巽 (Tốn)]]}} | 58<br>[[File:Iching-hexagram-58.svg|link=Thuần Đoài|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thuần Đoài|兌 (Đoài)]]}} | 59<br>[[File:Iching-hexagram-59.svg|link=Phong Thủy Hoán|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Thủy Hoán|渙 (Hoán)]]}} | 60<br>[[File:Iching-hexagram-60.svg|link=Thủy Trạch Tiết|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Trạch Tiết|節 (Tiết)]]}} | 61<br>[[File:Iching-hexagram-61.svg|link=Phong Trạch Trung Phu|35px]]<br>{{lang|zh|[[Phong Trạch Trung Phu|中孚 (Trung Phu)]]}} | 62<br>[[File:Iching-hexagram-62.svg|link=Lôi Sơn Tiểu Quá|35px]]<br>{{lang|zh|[[Lôi Sơn Tiểu Quá|小過 (Tiểu Quá)]]}} | 63<br>[[File:Iching-hexagram-63.svg|link=Thủy Hỏa Ký Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Thủy Hỏa Ký Tế|既濟 (Ký Tế)]]}} | 64<br>[[File:Iching-hexagram-64.svg|link=Hỏa Thủy Vị Tế|35px]]<br>{{lang|zh|[[Hỏa Thủy Vị Tế|未濟 (Vị Tế)]]}} |} ==Ứng dụng== Mối quan hệ và sự tương tác giữa Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái và 64 quẻ Kinh Dịch tạo thành một hệ thống logic và hài hòa, giúp giải thích và dự đoán các hiện tượng trong vũ trụ và cuộc sống. Hệ thống này không chỉ phản ánh sự phức tạp và đa dạng của vũ trụ mà còn cung cấp một phương pháp luận để hiểu và dự đoán sự biến đổi không ngừng của vạn vật. h1lo1zexk9xrlibr7qalu535nu5inxr Sách Đạo giáo/Hình thành và phát triển Đạo giáo 0 110370 542268 2026-04-29T15:48:29Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “[[Thể loại:Sách Lão Giáo]] Lão giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá Trung Quốc . Lão giáo được hình thành từ Lão tử ==Hình thành và phát triển Lão giáo== Lão giáo được hình thành từ Lão tử th…” 542268 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Sách Lão Giáo]] Lão giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá Trung Quốc . Lão giáo được hình thành từ Lão tử ==Hình thành và phát triển Lão giáo== Lão giáo được hình thành từ Lão tử thời [[Bách gia chư tử]] , thời [[Chiến Quốc]] cùng thời với Khổng tử. Lão Tử được coi là người viết [[ Đạo đức kinh]] (道德經) nhưng không được được người đời chú ý đến. Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 – 286 tr.CN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý. ==Phục hưng== Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 – 286 tr.CN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý. Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tới mức cực đoan thành một thứ tương đối luận. Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thành cách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không chỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biếm họ là bọn đại đạo (kẻ trộm lớn). Nhưng Trang Tử đẩy phép vô vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ yếm thoát thế tục, trở về xã hội nguyên thủy :''Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền, muôn vật sống chung, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú '' ==Đạo giáo== Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỷ thứ 2), tư tưởng của Lão Tử cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa đạo gia thành Đạo giáo. Chủ trương vô vi cùng với thái độ phản ứng của Lão – Trang đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáo rất thích hợp để dùng vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa. Đạo giáo đầu tiên xuất hiện trong thế kỉ thứ hai sau CN, khi Trương Đạo Lăng) khởi xướng phong trào Thiên sư đạo tại tỉnh Tứ Xuyên năm 142. Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo và thâu nhiếp các thành phần của Hỏa giáo (zh. en. Zoroastrianism). Thời điểm đầu tiên được xác nhận của Đạo giáo như một tôn giáo là năm 215, khi Tào Tháo chính thức công nhận trào lưu Thiên sư đạo như một tổ chức tôn giáo.Nhiều trường phái Đạo giáo tìm cách tu tập đạt trường sinh bất tử. Chúng có lẽ xuất phát từ các phép tu thuộc Tát-mãn giáo và sự sùng bái trường sinh bất tử và được hoà nhập với nhánh Đạo giáo triết học sau này. Tất cả các trường phái Đạo giáo đều nỗ lực tu tập để trở về nguồn. Đạo giáo thờ "Đạo" và tôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là "Thái Thượng Lão Quân", coi ông là hóa thân của "Đạo" giáng sinh xuống cõi trần. Nếu mục đích của việc tu theo Phật giáo là thoát khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo là sống lâu. Đạo giáo có hai phái . Đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh, chủ yếu giúp cho dân thường khỏe mạnh . Đạo giáo thần tiên dạy tu luyện, luyện đan, dành cho các quý tộc cầu trường sinh bất tử. d9z7l8rzmc8yi0qmkipgdpdqyyc2p94 542273 542268 2026-04-29T15:51:32Z ~2026-26230-55 19578 542273 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Đạo giáo]] Lão giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá Trung Quốc . Lão giáo được hình thành từ Lão tử ==Hình thành và phát triển Lão giáo== Lão giáo được hình thành từ Lão tử thời [[Bách gia chư tử]] , thời [[Chiến Quốc]] cùng thời với Khổng tử. Lão Tử được coi là người viết [[ Đạo đức kinh]] (道德經) nhưng không được được người đời chú ý đến. Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 – 286 tr.CN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý. ==Phục hưng== Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 – 286 tr.CN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý. Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tới mức cực đoan thành một thứ tương đối luận. Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thành cách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không chỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biếm họ là bọn đại đạo (kẻ trộm lớn). Nhưng Trang Tử đẩy phép vô vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ yếm thoát thế tục, trở về xã hội nguyên thủy :''Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền, muôn vật sống chung, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú '' ==Đạo giáo== Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỷ thứ 2), tư tưởng của Lão Tử cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa đạo gia thành Đạo giáo. Chủ trương vô vi cùng với thái độ phản ứng của Lão – Trang đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáo rất thích hợp để dùng vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa. Đạo giáo đầu tiên xuất hiện trong thế kỉ thứ hai sau CN, khi Trương Đạo Lăng) khởi xướng phong trào Thiên sư đạo tại tỉnh Tứ Xuyên năm 142. Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo và thâu nhiếp các thành phần của Hỏa giáo (zh. en. Zoroastrianism). Thời điểm đầu tiên được xác nhận của Đạo giáo như một tôn giáo là năm 215, khi Tào Tháo chính thức công nhận trào lưu Thiên sư đạo như một tổ chức tôn giáo.Nhiều trường phái Đạo giáo tìm cách tu tập đạt trường sinh bất tử. Chúng có lẽ xuất phát từ các phép tu thuộc Tát-mãn giáo và sự sùng bái trường sinh bất tử và được hoà nhập với nhánh Đạo giáo triết học sau này. Tất cả các trường phái Đạo giáo đều nỗ lực tu tập để trở về nguồn. Đạo giáo thờ "Đạo" và tôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là "Thái Thượng Lão Quân", coi ông là hóa thân của "Đạo" giáng sinh xuống cõi trần. Nếu mục đích của việc tu theo Phật giáo là thoát khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo là sống lâu. Đạo giáo có hai phái . Đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh, chủ yếu giúp cho dân thường khỏe mạnh . Đạo giáo thần tiên dạy tu luyện, luyện đan, dành cho các quý tộc cầu trường sinh bất tử. ixt2bthdp4xdxbky683mz7kj0scyyzg Sách Đạo giáo/Trương Đạo Lăng 0 110371 542270 2026-04-29T15:50:04Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “==Thân thế== [[Tập tin:Zhang Daoling.jpg|nhỏ|phải|200px|[[Trương Đạo Lăng]]]] [[Trương Lăng|Trương thiên sư]] tên thật là họ Trương tên Lăng, người đất Phong (nay là huyện Phong, tỉnh [[Giang Tô]]), một hậu duệ của [[Trương Lương]]. Trương Lăng từ nhỏ đã nghiền [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]], [[thiên văn học|thiên văn]], [[địa lý]], [[Hà Đồ]], [[Lạc Thư]], thông đạt Ng…” 542270 wikitext text/x-wiki ==Thân thế== [[Tập tin:Zhang Daoling.jpg|nhỏ|phải|200px|[[Trương Đạo Lăng]]]] [[Trương Lăng|Trương thiên sư]] tên thật là họ Trương tên Lăng, người đất Phong (nay là huyện Phong, tỉnh [[Giang Tô]]), một hậu duệ của [[Trương Lương]]. Trương Lăng từ nhỏ đã nghiền [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]], [[thiên văn học|thiên văn]], [[địa lý]], [[Hà Đồ]], [[Lạc Thư]], thông đạt [[Ngũ kinh|Ngũ Kinh]]; khi trưởng thành từng làm quan huyện lệnh ở Giang Châu, thuộc Ba Quận (nay là Trùng Khánh, [[Tứ Xuyên]]), thời [[Hán Minh Đế]]. Về sau, ông từ quan, ẩn cư trong núi [[Bắc Mang Sơn]] học đạo [[trường sinh]]. ==Tu đạo== Thời [[Hán Thuận Đế]] (khoảng 115 TCN - 20 SCN đến 144 SCN) Trương Lăng vào [[Ba Thục]], tu đạo ở núi Hạc Minh Sơn (cũng gọi Cốc Minh Sơn), xưng là [[Tam Thiên Pháp Sư Chính Nhất Chân Nhân]]. Về sau khi truyền đạo trong dân gian, nói rằng mình được [[Thái Thượng Lão Quân]] truyền đạo Chính Nhất Minh Uy, phong làm [[Thiên Sư]]. Vì vậy, dân gian gọi đạo của ông là [[Thiên Sư Đạo]]. ==Trị bệnh== Trước tiên ông trị bệnh để thu hút quần chúng và sau đó là truyền đạo. Khi quy tụ được đông đảo quần chúng, Trương Lăng (bấy giờ bắt đầu gọi là Trương Đạo Lăng hay Trương Thiên Sư) tổ chức 24 điểm truyền đạo gọi là 24 Trị, trong đó ba trung tâm lớn là Dương Bình Trị, Lộc Đường Trị, và Hạc Minh Trị. Do người nhập đạo phải nộp 5 đấu gạo, do đó đạo này gọi tên là Ngũ Đấu Mễ Đạo (đạo 5 đấu gạo), cũng gọi là ''Mễ Vu'' (米巫) bởi vì đạo này chịu ảnh hưởng nặng nề của [[Vu giáo]] (巫教) của dân tộc thiểu số tại [[Tứ Xuyên|Ba Thục]]. Một cách giải thích khác là ''Ngũ Đấu Mễ'' đọc gần âm với ''Ngũ Đẩu Mẫu'' (五斗姆), tức là [[Bắc Đẩu Mẫu]] trong [[Ngũ Phương Tinh Đẩu]], đứng đầu trong các sao. Hai cách giải thích này đều thông hành; có thể lúc lập giáo, Trương Lăng đã có chủ ý như vậy. Và cho phù hợp với ''Nhị Thập Bát Tú'' (28 sao), sau này 24 Trị phát triển thành 28 Trị. ==Qua đời== Khi Trương Lăng mất, con là [[Trương Hành (Đạo giáo)|Trương Hành]] kế thừa việc truyền đạo. Khi Trương Hành qua đời, con của Trương Hành là [[Trương Lỗ]] kế vị. Cả ba đời ông cháu được người đời gọi là '''Tam Trương''', nhưng trong nội bộ phải gọi là '''Tam Sư''': [[Trương Lăng]] là Thiên Sư, [[Trương Hành (Đạo giáo)|Trương Hành]] là Tự Sư, và [[Trương Lỗ]] là Hệ Sư. fkc0ivy7krfiqenxekyi362ho69895i 542272 542270 2026-04-29T15:51:13Z ~2026-26230-55 19578 542272 wikitext text/x-wiki [[Thể loại: Đạo giáo]] ==Thân thế== [[Tập tin:Zhang Daoling.jpg|nhỏ|phải|200px|[[Trương Đạo Lăng]]]] [[Trương Lăng|Trương thiên sư]] tên thật là họ Trương tên Lăng, người đất Phong (nay là huyện Phong, tỉnh [[Giang Tô]]), một hậu duệ của [[Trương Lương]]. Trương Lăng từ nhỏ đã nghiền [[Đạo đức kinh|Đạo Đức Kinh]], [[thiên văn học|thiên văn]], [[địa lý]], [[Hà Đồ]], [[Lạc Thư]], thông đạt [[Ngũ kinh|Ngũ Kinh]]; khi trưởng thành từng làm quan huyện lệnh ở Giang Châu, thuộc Ba Quận (nay là Trùng Khánh, [[Tứ Xuyên]]), thời [[Hán Minh Đế]]. Về sau, ông từ quan, ẩn cư trong núi [[Bắc Mang Sơn]] học đạo [[trường sinh]]. ==Tu đạo== Thời [[Hán Thuận Đế]] (khoảng 115 TCN - 20 SCN đến 144 SCN) Trương Lăng vào [[Ba Thục]], tu đạo ở núi Hạc Minh Sơn (cũng gọi Cốc Minh Sơn), xưng là [[Tam Thiên Pháp Sư Chính Nhất Chân Nhân]]. Về sau khi truyền đạo trong dân gian, nói rằng mình được [[Thái Thượng Lão Quân]] truyền đạo Chính Nhất Minh Uy, phong làm [[Thiên Sư]]. Vì vậy, dân gian gọi đạo của ông là [[Thiên Sư Đạo]]. ==Trị bệnh== Trước tiên ông trị bệnh để thu hút quần chúng và sau đó là truyền đạo. Khi quy tụ được đông đảo quần chúng, Trương Lăng (bấy giờ bắt đầu gọi là Trương Đạo Lăng hay Trương Thiên Sư) tổ chức 24 điểm truyền đạo gọi là 24 Trị, trong đó ba trung tâm lớn là Dương Bình Trị, Lộc Đường Trị, và Hạc Minh Trị. Do người nhập đạo phải nộp 5 đấu gạo, do đó đạo này gọi tên là Ngũ Đấu Mễ Đạo (đạo 5 đấu gạo), cũng gọi là ''Mễ Vu'' (米巫) bởi vì đạo này chịu ảnh hưởng nặng nề của [[Vu giáo]] (巫教) của dân tộc thiểu số tại [[Tứ Xuyên|Ba Thục]]. Một cách giải thích khác là ''Ngũ Đấu Mễ'' đọc gần âm với ''Ngũ Đẩu Mẫu'' (五斗姆), tức là [[Bắc Đẩu Mẫu]] trong [[Ngũ Phương Tinh Đẩu]], đứng đầu trong các sao. Hai cách giải thích này đều thông hành; có thể lúc lập giáo, Trương Lăng đã có chủ ý như vậy. Và cho phù hợp với ''Nhị Thập Bát Tú'' (28 sao), sau này 24 Trị phát triển thành 28 Trị. ==Qua đời== Khi Trương Lăng mất, con là [[Trương Hành (Đạo giáo)|Trương Hành]] kế thừa việc truyền đạo. Khi Trương Hành qua đời, con của Trương Hành là [[Trương Lỗ]] kế vị. Cả ba đời ông cháu được người đời gọi là '''Tam Trương''', nhưng trong nội bộ phải gọi là '''Tam Sư''': [[Trương Lăng]] là Thiên Sư, [[Trương Hành (Đạo giáo)|Trương Hành]] là Tự Sư, và [[Trương Lỗ]] là Hệ Sư. ef9z0sdy90s2zacg5ktgy2au9zin0an Sách Đạo giáo/Kinh sách Đạo giáo 0 110372 542271 2026-04-29T15:50:49Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “Kinh điển của Đạo giáo gọi là [[Đạo tạng kinh]]. Ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, Đạo tạng còn bao gồm cả các sách thuốc, dưỡng sinh bói toán, tướng số, coi đất, thơ văn, bút ký... tổng cộng lên đến trên 50 vạn quyển Kinh điển của Đạo giáo gọi là [[/Đạo tạng kinh/]] tổng cộng lên đến trên 50 vạn quyển. Ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, thơ văn, bút ký… Đạo t…” 542271 wikitext text/x-wiki Kinh điển của Đạo giáo gọi là [[Đạo tạng kinh]]. Ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, Đạo tạng còn bao gồm cả các sách thuốc, dưỡng sinh bói toán, tướng số, coi đất, thơ văn, bút ký... tổng cộng lên đến trên 50 vạn quyển Kinh điển của Đạo giáo gọi là [[/Đạo tạng kinh/]] tổng cộng lên đến trên 50 vạn quyển. Ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, thơ văn, bút ký… Đạo tạng còn bao gồm cả các sách về ==Kinh sách Đạo giáo== Kinh điển của Đạo giáo gọi là [[/Đạo tạng kinh/]] tổng cộng lên đến trên 50 vạn quyển. Ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, thơ văn, bút ký… Đạo tạng còn bao gồm cả các sách về * [[Âm dương]] * [[Ngũ hành]] * [[Tứ tượng]] * [[Bát quái]] * [[12 con giáp]] * [[Đạo Đức kinh]] * [[Nam Hoa chân kinh]] * [[Thiền]] Nhập định * [[Dịch cân kinh]] * [[Tẩy tủy kinh]] * [[Võ công]] * [[Khí công]] * [[Đông y]] * [[Thần Nông bản thảo kinh]] * [[Hoàng đế nội kinh]] * [[Thương hàn luận]] * [[Bói toán]] * [[Tướng số]] * [[Phong thủy]] * [[Sách lịch | Lịch]] *[[Trường sinh bất tử]] * [[Thuật luyện kim]] [[Category:Đạo giáo]] lp3e2zqbvcv6qomb3pq7pzf4v4j48ea Triết lý Lão giáo 0 110373 542274 2026-04-29T15:54:02Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “==Đạo == Lão tử cho rằng :''Đạo là nguồn gốc của vạn vật. Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng vật '' . Vạn vật có đạo mà hình thành : ''Trời có đạo mà xanh, đất có đạo mà yên, thần có đạo mà linh, biển nhờ có đạo mà đầy, vạn vật có đạo mà thành, đế vương có đạo mà được thiên ha. '' Đạo trong sự trình bày của Lão Tử (609 trước CN) l…” 542274 wikitext text/x-wiki ==Đạo == Lão tử cho rằng :''Đạo là nguồn gốc của vạn vật. Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng vật '' . Vạn vật có đạo mà hình thành : ''Trời có đạo mà xanh, đất có đạo mà yên, thần có đạo mà linh, biển nhờ có đạo mà đầy, vạn vật có đạo mà thành, đế vương có đạo mà được thiên ha. '' Đạo trong sự trình bày của Lão Tử (609 trước CN) là một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên . Từ đây, Lão Tử suy ra triết lý sống tối ưu là muốn làm việc gì cũng phải theo lẽ tự nhiên . Làm gì cũng phải hòa nhập với tự nhiên, theo tự nhiên mà tiến hóa : ''Người thuận Đất, Đất thuận Trời, Trời thuận Đạo, Đạo thuận Tự nhiên''. ==Đức== Đạo sinh ra vạn vật, nhưng làm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức. Nếu Đạo là cái Tĩnh vô hình thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ . ==Lý Vô Vi == ===Vô vi=== Vô vi có nghĩa là không làm gì trái với tự nhiên . Làm việc gì cũng thuận theo tự nhiên , phải cùng tự nhiên mà tiến hóa : ''Người thuận Đất, Đất thuận Trời, Trời thuận Đạo, Đạo thuận Tự nhiên '' Triết lý vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân là :''Chỉ vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với minh'' . Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn thì cai trị một nước phải giống như kho một nồi cá nhỏ :''Cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho không quấy đảo – cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát '' ===Lý Vô vi=== bao gồm: Vô cầu, Vô tranh, Vô đoạt, Vô chấp. * Vô cầu, giúp ta vô vọng, : xa lìa vọng tưởng điên đảo. * Vô tranh, giúp ta vô đại, : xa lìa ý tưởng hơn thua, cao thấp. * Vô đoạt, giúp ta vô thủ, : xa lìa ý tưởng có, không, còn, mất. * Vô chấp, giúp ta vô ngại, : xa lìa ý tưởng trược thanh. Lão giáo với triết lý Vô Vi khi áp dụng vào chính trị có nhiều điểm tương đồng với [[chủ nghĩa vô chính phủ]] và [[chủ nghĩa tự do]] vì nó cho rằng xã hội sẽ tốt đẹp hơn nếu không bị tầng lớp cai trị áp đặt những ý muốn chủ quan của mình lên xã hội . Lý Vô vi ít nhiều có sự tương đồng với [[Tánh Không]]. ===Thí dụ=== :{|width=100% |- | Đại trí nhược ngu || Trí lớn giả ngu || Người khôn có chí lớn thường giả ngu để tránh dòm ngó của người đời |- | Dĩ tỉnh chế động || Lấy tỉnh thắng động || Người khôn lấy tỉnh thắng động . Giử cho tâm tư bình tỉnh để quan sát sự việc, <br>đánh giá mọi biến hoá của sự việc để khỏi gánh lấy thất bại |- | Dĩ nhu chế cượng || Lấy mềm thắng cứng || Răng cứng thì chóng gãy, lưỡi mềm thì bền lâu |- |} [[Thể loại:Sách Lão giáo]] pi979o0vq201y6cmigosfm0rf5xaun3 Điện Từ trường 0 110374 542290 2026-04-29T16:11:34Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “=== Điện từ trường=== ====Định luật Gauss==== Định luật Gauss cho biết cách tính mật độ trường điện từ tron diện tích bề mặt Ψ<sub>E</sub> = EA = <math> \oint_S \mathbf{E} \cdot d\mathbf{A} = {1 \over \epsilon_o} \int_V \rho\ dV = \frac{Q_A}{\epsilon_o}</math> Ψ<sub>E</sub> = BA = <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} </math> Với : <math>\Phi</math> là [[thông lượng điện]], : <m…” 542290 wikitext text/x-wiki === Điện từ trường=== ====Định luật Gauss==== Định luật Gauss cho biết cách tính mật độ trường điện từ tron diện tích bề mặt Ψ<sub>E</sub> = EA = <math> \oint_S \mathbf{E} \cdot d\mathbf{A} = {1 \over \epsilon_o} \int_V \rho\ dV = \frac{Q_A}{\epsilon_o}</math> Ψ<sub>E</sub> = BA = <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} </math> Với : <math>\Phi</math> là [[thông lượng điện]], : <math>\mathbf{E}</math> là [[điện trường]], : <math>d\mathbf{A}</math> là diện tích của một hình vuông vi phân trên mặt đóng ''S'', : <math>Q_\mathrm{A}</math> là điện tích được bao bởi mặt đó, : <math>\rho</math> là mật độ điện tích tại một điểm trong : <math>V</math>, <math>\epsilon_o</math> là [[hằng số điện môi|hằng số điện]] của không gian tự do và <math>\oint_S</math> là tích phân trên mặt ''S'' bao phủ thể tích ''V''. Từ trên :<math>Q = \epsilon E A = D A</math> :<math>D = \frac{Q}{A} = \epsilon E</math> :<math>E = \frac{D}{\epsilon} = \frac{Q}{\epsilon A}</math> :<math>\epsilon = \frac{D}{E} = \frac{Q}{E}</math> :<math>I = \frac{BA}{\mu} = H A</math> :<math>H = \frac{I}{A} = \frac{B}{\mu} </math> :<math>B = \frac{\mu I}{A} = LI</math> :<math>\mu = \frac{BA}{I} = \frac{B}{H}</math> :<math>D = H</math> :<math>\epsilon E = \frac{B}{\mu}</math> :<math>\sqrt{\frac{1}{\mu \epsilon}} = \sqrt{\frac{E}{B}}</math> :<math>C^2 = \frac{E}{B}</math> :<math>E = C^2 B</math> :<math>B = \frac{1}{C^2} E</math> ==== Định luật Ampere ==== Định luật Ampere cho biết cách tính cường độ từ cảm của dẩn điện <math>B = \frac{\mu}{A} i = Li</math> Cho biết cách tính cường độ từ cảm của từ vật <math>H = \frac{B}{\mu}</math> ====Định luật Lentz==== Định luật Lentz cho biết cách tính cường độ từ cảm ứng của dẩn điện <math>\phi_B = B = Li</math> <math>-\phi_B = -NB = - NLi</math> ====Định luật Faraday==== Định luật Faraday= cho biết cách tính cường độ điện từ cảm ứng của dẩn điện <math>-\epsilon = - \int E dl = - \frac{d \phi_B}{ dt} </math> ====Định luật Maxwell-Ampere ==== <math>\oint_C \mathbf{H} \cdot \mathrm{d}\mathbf{l} = \iint_S \mathbf{J} \cdot \mathrm{d} \mathbf{A} + {\mathrm{d} \over \mathrm{d}t} \iint_S \mathbf{D} \cdot \mathrm{d} \mathbf{A}</math> <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} + \frac{d \mathbf{\Phi_E}}{dt}</math> ====Phương trình Điện từ nhiểm Maxwell==== Các '''phương trình Maxwell''' bao gồm bốn [[phương trình]], đề ra bởi [[James Clerk Maxwell]], dùng để mô tả [[trường điện từ]] cũng như những [[lực|tương tác]] của chúng đối với vật chất. Bốn phương trình Maxwell mô tả lần lượt: * [[Điện tích]] tạo ra [[điện trường]] như thế nào ([[định luật Gauss]]). * Sự không tồn tại của vật chất [[đơn cực từ|từ tích]]. * [[Dòng điện]] tạo ra [[từ trường]] như thế nào ([[định luật Ampere]]). * Và [[từ trường]] tạo ra [[điện trường]] như thế nào ([[định luật cảm ứng Faraday]]) : {| border="0" cellpadding="8" cellspacing="0" |- style="background-color: #bbeecc;" ! Tên ! [[Phương trình vi phân riêng phần|Dạng phương trình vi phân]] ! Dạng [[tích phân]] |- | [[Định luật Gauss]]: | <math>\nabla \cdot \mathbf{D} = \rho </math> | <math>\oint_S \mathbf{D} \cdot d\mathbf{A} = \int_V \rho dV</math> |- | Đinh luật Gauss cho từ trường <br /> (sự không tồn tại của [[đơn cực từ|từ tích]]): | <math> \nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> | <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{A} = 0</math> |- | [[Định luật cảm ứng Faraday|Định luật Faraday]] cho [[từ trường]]: | <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{\partial \mathbf{B}} {\partial t}</math> | <math>\oint_C \mathbf{E} \cdot d\mathbf{l} = - \ { d \over dt } \int_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{A}</math> |- | [[Định luật Ampere]]<br /> (với sự bổ sung của [[James Clerk Maxwell|Maxwell]]): | <math>\nabla \times \mathbf{H} = \mathbf{J} + \frac{\partial \mathbf{D}} {\partial t}</math> | <math>\oint_C \mathbf{H} \cdot d\mathbf{l} = \int_S \mathbf{J} \cdot d \mathbf{A} + {d \over dt} \int_S \mathbf{D} \cdot d \mathbf{A}</math> |} ====Phương trình và hàm số sóng vector điện từ Laplace==== =====Vector trường điện từ trong chân không , H=0===== <math>\nabla \cdot \mathbf{E} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{1}{T_o} \mathbf{E}</math> <math>\nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{B} = -\frac{1}{T_o} \mathbf{E}</math> <math>T_o = \mu_o \epsilon_o</math> =====Vector trường điện từ trong môi trường vật chất , H ≠ 0===== <math>\nabla \cdot \mathbf{E} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{1}{T} \mathbf{E}</math> <math>\nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{B} = -\frac{1}{T} \mathbf{E}</math> <math>T = \mu \epsilon</math> : [[File:VFPt_Solenoid_correct2.svg|200px]][[File:Onde_electromagnetique.svg|300px]] Phương trình hàm số Sóng Điện từ : <math>\nabla^2 \mathbf{E} = -\beta \mathbf{E}</math> : <math>\nabla^2 \mathbf{B} = -\beta \mathbf{B}</math> : <math>\beta = \frac{1}{T}</math> : <math>T = \mu \epsilon</math> Hàm số Sóng Điện từ : <math>E = A sin \omega t</math> : <math>B = A sin \omega t</math> : <math>\omega = \sqrt{\beta} = \sqrt{\frac{1}{T}} = \sqrt{\frac{1}{\mu \epsilon}} = C = \lambda f</math> Từ trên, sóng điện từ có khả năng di chuyển ở vân tốc bằng vận tốc ánh sáng thấy được lvtiwqwc8je5wc2k926orpjj1x18mn3 542291 542290 2026-04-29T16:11:56Z ~2026-26230-55 19578 542291 wikitext text/x-wiki ==Định luật Gauss== Định luật Gauss cho biết cách tính mật độ trường điện từ tron diện tích bề mặt Ψ<sub>E</sub> = EA = <math> \oint_S \mathbf{E} \cdot d\mathbf{A} = {1 \over \epsilon_o} \int_V \rho\ dV = \frac{Q_A}{\epsilon_o}</math> Ψ<sub>E</sub> = BA = <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} </math> Với : <math>\Phi</math> là [[thông lượng điện]], : <math>\mathbf{E}</math> là [[điện trường]], : <math>d\mathbf{A}</math> là diện tích của một hình vuông vi phân trên mặt đóng ''S'', : <math>Q_\mathrm{A}</math> là điện tích được bao bởi mặt đó, : <math>\rho</math> là mật độ điện tích tại một điểm trong : <math>V</math>, <math>\epsilon_o</math> là [[hằng số điện môi|hằng số điện]] của không gian tự do và <math>\oint_S</math> là tích phân trên mặt ''S'' bao phủ thể tích ''V''. Từ trên :<math>Q = \epsilon E A = D A</math> :<math>D = \frac{Q}{A} = \epsilon E</math> :<math>E = \frac{D}{\epsilon} = \frac{Q}{\epsilon A}</math> :<math>\epsilon = \frac{D}{E} = \frac{Q}{E}</math> :<math>I = \frac{BA}{\mu} = H A</math> :<math>H = \frac{I}{A} = \frac{B}{\mu} </math> :<math>B = \frac{\mu I}{A} = LI</math> :<math>\mu = \frac{BA}{I} = \frac{B}{H}</math> :<math>D = H</math> :<math>\epsilon E = \frac{B}{\mu}</math> :<math>\sqrt{\frac{1}{\mu \epsilon}} = \sqrt{\frac{E}{B}}</math> :<math>C^2 = \frac{E}{B}</math> :<math>E = C^2 B</math> :<math>B = \frac{1}{C^2} E</math> ==== Định luật Ampere ==== Định luật Ampere cho biết cách tính cường độ từ cảm của dẩn điện <math>B = \frac{\mu}{A} i = Li</math> Cho biết cách tính cường độ từ cảm của từ vật <math>H = \frac{B}{\mu}</math> ====Định luật Lentz==== Định luật Lentz cho biết cách tính cường độ từ cảm ứng của dẩn điện <math>\phi_B = B = Li</math> <math>-\phi_B = -NB = - NLi</math> ====Định luật Faraday==== Định luật Faraday= cho biết cách tính cường độ điện từ cảm ứng của dẩn điện <math>-\epsilon = - \int E dl = - \frac{d \phi_B}{ dt} </math> ====Định luật Maxwell-Ampere ==== <math>\oint_C \mathbf{H} \cdot \mathrm{d}\mathbf{l} = \iint_S \mathbf{J} \cdot \mathrm{d} \mathbf{A} + {\mathrm{d} \over \mathrm{d}t} \iint_S \mathbf{D} \cdot \mathrm{d} \mathbf{A}</math> <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} + \frac{d \mathbf{\Phi_E}}{dt}</math> ====Phương trình Điện từ nhiểm Maxwell==== Các '''phương trình Maxwell''' bao gồm bốn [[phương trình]], đề ra bởi [[James Clerk Maxwell]], dùng để mô tả [[trường điện từ]] cũng như những [[lực|tương tác]] của chúng đối với vật chất. Bốn phương trình Maxwell mô tả lần lượt: * [[Điện tích]] tạo ra [[điện trường]] như thế nào ([[định luật Gauss]]). * Sự không tồn tại của vật chất [[đơn cực từ|từ tích]]. * [[Dòng điện]] tạo ra [[từ trường]] như thế nào ([[định luật Ampere]]). * Và [[từ trường]] tạo ra [[điện trường]] như thế nào ([[định luật cảm ứng Faraday]]) : {| border="0" cellpadding="8" cellspacing="0" |- style="background-color: #bbeecc;" ! Tên ! [[Phương trình vi phân riêng phần|Dạng phương trình vi phân]] ! Dạng [[tích phân]] |- | [[Định luật Gauss]]: | <math>\nabla \cdot \mathbf{D} = \rho </math> | <math>\oint_S \mathbf{D} \cdot d\mathbf{A} = \int_V \rho dV</math> |- | Đinh luật Gauss cho từ trường <br /> (sự không tồn tại của [[đơn cực từ|từ tích]]): | <math> \nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> | <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{A} = 0</math> |- | [[Định luật cảm ứng Faraday|Định luật Faraday]] cho [[từ trường]]: | <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{\partial \mathbf{B}} {\partial t}</math> | <math>\oint_C \mathbf{E} \cdot d\mathbf{l} = - \ { d \over dt } \int_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{A}</math> |- | [[Định luật Ampere]]<br /> (với sự bổ sung của [[James Clerk Maxwell|Maxwell]]): | <math>\nabla \times \mathbf{H} = \mathbf{J} + \frac{\partial \mathbf{D}} {\partial t}</math> | <math>\oint_C \mathbf{H} \cdot d\mathbf{l} = \int_S \mathbf{J} \cdot d \mathbf{A} + {d \over dt} \int_S \mathbf{D} \cdot d \mathbf{A}</math> |} ====Phương trình và hàm số sóng vector điện từ Laplace==== =====Vector trường điện từ trong chân không , H=0===== <math>\nabla \cdot \mathbf{E} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{1}{T_o} \mathbf{E}</math> <math>\nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{B} = -\frac{1}{T_o} \mathbf{E}</math> <math>T_o = \mu_o \epsilon_o</math> =====Vector trường điện từ trong môi trường vật chất , H ≠ 0===== <math>\nabla \cdot \mathbf{E} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{1}{T} \mathbf{E}</math> <math>\nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{B} = -\frac{1}{T} \mathbf{E}</math> <math>T = \mu \epsilon</math> : [[File:VFPt_Solenoid_correct2.svg|200px]][[File:Onde_electromagnetique.svg|300px]] Phương trình hàm số Sóng Điện từ : <math>\nabla^2 \mathbf{E} = -\beta \mathbf{E}</math> : <math>\nabla^2 \mathbf{B} = -\beta \mathbf{B}</math> : <math>\beta = \frac{1}{T}</math> : <math>T = \mu \epsilon</math> Hàm số Sóng Điện từ : <math>E = A sin \omega t</math> : <math>B = A sin \omega t</math> : <math>\omega = \sqrt{\beta} = \sqrt{\frac{1}{T}} = \sqrt{\frac{1}{\mu \epsilon}} = C = \lambda f</math> Từ trên, sóng điện từ có khả năng di chuyển ở vân tốc bằng vận tốc ánh sáng thấy được dfyywfrinqjb2xxsw7osuw9kwicnbwc 542292 542291 2026-04-29T16:12:53Z ~2026-26230-55 19578 542292 wikitext text/x-wiki ==Định luật Điện Từ trường== ====Định luật Gauss==== Định luật Gauss cho biết cách tính mật độ trường điện từ tron diện tích bề mặt Ψ<sub>E</sub> = EA = <math> \oint_S \mathbf{E} \cdot d\mathbf{A} = {1 \over \epsilon_o} \int_V \rho\ dV = \frac{Q_A}{\epsilon_o}</math> Ψ<sub>E</sub> = BA = <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} </math> Với : <math>\Phi</math> là [[thông lượng điện]], : <math>\mathbf{E}</math> là [[điện trường]], : <math>d\mathbf{A}</math> là diện tích của một hình vuông vi phân trên mặt đóng ''S'', : <math>Q_\mathrm{A}</math> là điện tích được bao bởi mặt đó, : <math>\rho</math> là mật độ điện tích tại một điểm trong : <math>V</math>, <math>\epsilon_o</math> là [[hằng số điện môi|hằng số điện]] của không gian tự do và <math>\oint_S</math> là tích phân trên mặt ''S'' bao phủ thể tích ''V''. Từ trên :<math>Q = \epsilon E A = D A</math> :<math>D = \frac{Q}{A} = \epsilon E</math> :<math>E = \frac{D}{\epsilon} = \frac{Q}{\epsilon A}</math> :<math>\epsilon = \frac{D}{E} = \frac{Q}{E}</math> :<math>I = \frac{BA}{\mu} = H A</math> :<math>H = \frac{I}{A} = \frac{B}{\mu} </math> :<math>B = \frac{\mu I}{A} = LI</math> :<math>\mu = \frac{BA}{I} = \frac{B}{H}</math> :<math>D = H</math> :<math>\epsilon E = \frac{B}{\mu}</math> :<math>\sqrt{\frac{1}{\mu \epsilon}} = \sqrt{\frac{E}{B}}</math> :<math>C^2 = \frac{E}{B}</math> :<math>E = C^2 B</math> :<math>B = \frac{1}{C^2} E</math> ==== Định luật Ampere ==== Định luật Ampere cho biết cách tính cường độ từ cảm của dẩn điện <math>B = \frac{\mu}{A} i = Li</math> Cho biết cách tính cường độ từ cảm của từ vật <math>H = \frac{B}{\mu}</math> ====Định luật Lentz==== Định luật Lentz cho biết cách tính cường độ từ cảm ứng của dẩn điện <math>\phi_B = B = Li</math> <math>-\phi_B = -NB = - NLi</math> ====Định luật Faraday==== Định luật Faraday= cho biết cách tính cường độ điện từ cảm ứng của dẩn điện <math>-\epsilon = - \int E dl = - \frac{d \phi_B}{ dt} </math> ====Định luật Maxwell-Ampere ==== <math>\oint_C \mathbf{H} \cdot \mathrm{d}\mathbf{l} = \iint_S \mathbf{J} \cdot \mathrm{d} \mathbf{A} + {\mathrm{d} \over \mathrm{d}t} \iint_S \mathbf{D} \cdot \mathrm{d} \mathbf{A}</math> <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} + \frac{d \mathbf{\Phi_E}}{dt}</math> ====Phương trình Điện từ nhiểm Maxwell==== Các '''phương trình Maxwell''' bao gồm bốn [[phương trình]], đề ra bởi [[James Clerk Maxwell]], dùng để mô tả [[trường điện từ]] cũng như những [[lực|tương tác]] của chúng đối với vật chất. Bốn phương trình Maxwell mô tả lần lượt: * [[Điện tích]] tạo ra [[điện trường]] như thế nào ([[định luật Gauss]]). * Sự không tồn tại của vật chất [[đơn cực từ|từ tích]]. * [[Dòng điện]] tạo ra [[từ trường]] như thế nào ([[định luật Ampere]]). * Và [[từ trường]] tạo ra [[điện trường]] như thế nào ([[định luật cảm ứng Faraday]]) : {| border="0" cellpadding="8" cellspacing="0" |- style="background-color: #bbeecc;" ! Tên ! [[Phương trình vi phân riêng phần|Dạng phương trình vi phân]] ! Dạng [[tích phân]] |- | [[Định luật Gauss]]: | <math>\nabla \cdot \mathbf{D} = \rho </math> | <math>\oint_S \mathbf{D} \cdot d\mathbf{A} = \int_V \rho dV</math> |- | Đinh luật Gauss cho từ trường <br /> (sự không tồn tại của [[đơn cực từ|từ tích]]): | <math> \nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> | <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{A} = 0</math> |- | [[Định luật cảm ứng Faraday|Định luật Faraday]] cho [[từ trường]]: | <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{\partial \mathbf{B}} {\partial t}</math> | <math>\oint_C \mathbf{E} \cdot d\mathbf{l} = - \ { d \over dt } \int_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{A}</math> |- | [[Định luật Ampere]]<br /> (với sự bổ sung của [[James Clerk Maxwell|Maxwell]]): | <math>\nabla \times \mathbf{H} = \mathbf{J} + \frac{\partial \mathbf{D}} {\partial t}</math> | <math>\oint_C \mathbf{H} \cdot d\mathbf{l} = \int_S \mathbf{J} \cdot d \mathbf{A} + {d \over dt} \int_S \mathbf{D} \cdot d \mathbf{A}</math> |} ====Phương trình và hàm số sóng vector điện từ Laplace==== =====Vector trường điện từ trong chân không , H=0===== <math>\nabla \cdot \mathbf{E} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{1}{T_o} \mathbf{E}</math> <math>\nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{B} = -\frac{1}{T_o} \mathbf{E}</math> <math>T_o = \mu_o \epsilon_o</math> =====Vector trường điện từ trong môi trường vật chất , H ≠ 0===== <math>\nabla \cdot \mathbf{E} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{1}{T} \mathbf{E}</math> <math>\nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{B} = -\frac{1}{T} \mathbf{E}</math> <math>T = \mu \epsilon</math> : [[File:VFPt_Solenoid_correct2.svg|200px]][[File:Onde_electromagnetique.svg|300px]] Phương trình hàm số Sóng Điện từ : <math>\nabla^2 \mathbf{E} = -\beta \mathbf{E}</math> : <math>\nabla^2 \mathbf{B} = -\beta \mathbf{B}</math> : <math>\beta = \frac{1}{T}</math> : <math>T = \mu \epsilon</math> Hàm số Sóng Điện từ : <math>E = A sin \omega t</math> : <math>B = A sin \omega t</math> : <math>\omega = \sqrt{\beta} = \sqrt{\frac{1}{T}} = \sqrt{\frac{1}{\mu \epsilon}} = C = \lambda f</math> Từ trên, sóng điện từ có khả năng di chuyển ở vân tốc bằng vận tốc ánh sáng thấy được idjpozy3dqweyvzr12q4xu5930goctl 542293 542292 2026-04-29T16:13:28Z ~2026-26230-55 19578 /* Phương trình Điện từ nhiểm Maxwell */ 542293 wikitext text/x-wiki ==Định luật Điện Từ trường== ====Định luật Gauss==== Định luật Gauss cho biết cách tính mật độ trường điện từ tron diện tích bề mặt Ψ<sub>E</sub> = EA = <math> \oint_S \mathbf{E} \cdot d\mathbf{A} = {1 \over \epsilon_o} \int_V \rho\ dV = \frac{Q_A}{\epsilon_o}</math> Ψ<sub>E</sub> = BA = <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} </math> Với : <math>\Phi</math> là [[thông lượng điện]], : <math>\mathbf{E}</math> là [[điện trường]], : <math>d\mathbf{A}</math> là diện tích của một hình vuông vi phân trên mặt đóng ''S'', : <math>Q_\mathrm{A}</math> là điện tích được bao bởi mặt đó, : <math>\rho</math> là mật độ điện tích tại một điểm trong : <math>V</math>, <math>\epsilon_o</math> là [[hằng số điện môi|hằng số điện]] của không gian tự do và <math>\oint_S</math> là tích phân trên mặt ''S'' bao phủ thể tích ''V''. Từ trên :<math>Q = \epsilon E A = D A</math> :<math>D = \frac{Q}{A} = \epsilon E</math> :<math>E = \frac{D}{\epsilon} = \frac{Q}{\epsilon A}</math> :<math>\epsilon = \frac{D}{E} = \frac{Q}{E}</math> :<math>I = \frac{BA}{\mu} = H A</math> :<math>H = \frac{I}{A} = \frac{B}{\mu} </math> :<math>B = \frac{\mu I}{A} = LI</math> :<math>\mu = \frac{BA}{I} = \frac{B}{H}</math> :<math>D = H</math> :<math>\epsilon E = \frac{B}{\mu}</math> :<math>\sqrt{\frac{1}{\mu \epsilon}} = \sqrt{\frac{E}{B}}</math> :<math>C^2 = \frac{E}{B}</math> :<math>E = C^2 B</math> :<math>B = \frac{1}{C^2} E</math> ==== Định luật Ampere ==== Định luật Ampere cho biết cách tính cường độ từ cảm của dẩn điện <math>B = \frac{\mu}{A} i = Li</math> Cho biết cách tính cường độ từ cảm của từ vật <math>H = \frac{B}{\mu}</math> ====Định luật Lentz==== Định luật Lentz cho biết cách tính cường độ từ cảm ứng của dẩn điện <math>\phi_B = B = Li</math> <math>-\phi_B = -NB = - NLi</math> ====Định luật Faraday==== Định luật Faraday= cho biết cách tính cường độ điện từ cảm ứng của dẩn điện <math>-\epsilon = - \int E dl = - \frac{d \phi_B}{ dt} </math> ====Định luật Maxwell-Ampere ==== <math>\oint_C \mathbf{H} \cdot \mathrm{d}\mathbf{l} = \iint_S \mathbf{J} \cdot \mathrm{d} \mathbf{A} + {\mathrm{d} \over \mathrm{d}t} \iint_S \mathbf{D} \cdot \mathrm{d} \mathbf{A}</math> <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{s} = \mu_0 I_{\mathrm{enc}} + \frac{d \mathbf{\Phi_E}}{dt}</math> ==Phương trình Điện từ== ====Phương trình Điện từ nhiểm Maxwell==== Các '''phương trình Maxwell''' bao gồm bốn [[phương trình]], đề ra bởi [[James Clerk Maxwell]], dùng để mô tả [[trường điện từ]] cũng như những [[lực|tương tác]] của chúng đối với vật chất. Bốn phương trình Maxwell mô tả lần lượt: * [[Điện tích]] tạo ra [[điện trường]] như thế nào ([[định luật Gauss]]). * Sự không tồn tại của vật chất [[đơn cực từ|từ tích]]. * [[Dòng điện]] tạo ra [[từ trường]] như thế nào ([[định luật Ampere]]). * Và [[từ trường]] tạo ra [[điện trường]] như thế nào ([[định luật cảm ứng Faraday]]) : {| border="0" cellpadding="8" cellspacing="0" |- style="background-color: #bbeecc;" ! Tên ! [[Phương trình vi phân riêng phần|Dạng phương trình vi phân]] ! Dạng [[tích phân]] |- | [[Định luật Gauss]]: | <math>\nabla \cdot \mathbf{D} = \rho </math> | <math>\oint_S \mathbf{D} \cdot d\mathbf{A} = \int_V \rho dV</math> |- | Đinh luật Gauss cho từ trường <br /> (sự không tồn tại của [[đơn cực từ|từ tích]]): | <math> \nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> | <math>\oint_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{A} = 0</math> |- | [[Định luật cảm ứng Faraday|Định luật Faraday]] cho [[từ trường]]: | <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{\partial \mathbf{B}} {\partial t}</math> | <math>\oint_C \mathbf{E} \cdot d\mathbf{l} = - \ { d \over dt } \int_S \mathbf{B} \cdot d\mathbf{A}</math> |- | [[Định luật Ampere]]<br /> (với sự bổ sung của [[James Clerk Maxwell|Maxwell]]): | <math>\nabla \times \mathbf{H} = \mathbf{J} + \frac{\partial \mathbf{D}} {\partial t}</math> | <math>\oint_C \mathbf{H} \cdot d\mathbf{l} = \int_S \mathbf{J} \cdot d \mathbf{A} + {d \over dt} \int_S \mathbf{D} \cdot d \mathbf{A}</math> |} ====Phương trình và hàm số sóng vector điện từ Laplace==== =====Vector trường điện từ trong chân không , H=0===== <math>\nabla \cdot \mathbf{E} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{1}{T_o} \mathbf{E}</math> <math>\nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{B} = -\frac{1}{T_o} \mathbf{E}</math> <math>T_o = \mu_o \epsilon_o</math> =====Vector trường điện từ trong môi trường vật chất , H ≠ 0===== <math>\nabla \cdot \mathbf{E} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{E} = -\frac{1}{T} \mathbf{E}</math> <math>\nabla \cdot \mathbf{B} = 0</math> <math>\nabla \times \mathbf{B} = -\frac{1}{T} \mathbf{E}</math> <math>T = \mu \epsilon</math> : [[File:VFPt_Solenoid_correct2.svg|200px]][[File:Onde_electromagnetique.svg|300px]] Phương trình hàm số Sóng Điện từ : <math>\nabla^2 \mathbf{E} = -\beta \mathbf{E}</math> : <math>\nabla^2 \mathbf{B} = -\beta \mathbf{B}</math> : <math>\beta = \frac{1}{T}</math> : <math>T = \mu \epsilon</math> Hàm số Sóng Điện từ : <math>E = A sin \omega t</math> : <math>B = A sin \omega t</math> : <math>\omega = \sqrt{\beta} = \sqrt{\frac{1}{T}} = \sqrt{\frac{1}{\mu \epsilon}} = C = \lambda f</math> Từ trên, sóng điện từ có khả năng di chuyển ở vân tốc bằng vận tốc ánh sáng thấy được 7h83ppnh039xiljrdkzevgw7jjbl0qe Điện loại 0 110375 542294 2026-04-29T16:14:47Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “ Điện có 2 loại Điện DC và Điện AC . ==Điện DC == Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . : Ký hiệu [[File:Voltage_Source.svg|100px]] và Công t…” 542294 wikitext text/x-wiki Điện có 2 loại Điện DC và Điện AC . ==Điện DC == Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . : Ký hiệu [[File:Voltage_Source.svg|100px]] và Công thức toán <math>v(t)=V</math> :{|width=100% |- | '''Nguồn điện '''|| '''Hình ''' || '''Công thức ''' || '''Ứng dụng ''' |- | [[Điện giải]] || [[Tập tin:ElectrochemCell.png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Bình ắc quy]] |- | [[Điện cực]] || [[Tập tin:Dry cell (PSF).png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin cục]] |- | [[Quang tuyến nhiệt điện]] || [[Hình:Photoelectric effect in a solid - diagram.svg|200px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin mặt trời]] |- | <br>[[Biến điện AC ra điện DC]] || [[File:Simple_dc_power_supply_schematic.png|500px]] || <br><math>v(t) = V </math> |- |} ==Điện AC== Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . : Ký hiệu [[File:Voltage_Source_(AC).svg|100px]] và co^ng thức toán <math>v(t) = V \sin (\omega t + \theta)</math> Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có [[Điện thế]] 120V - 60 Hz . Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có cấu tạo sau : [[Tập tin:Elementary generator.svg|200px]][[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|400px]] Điện thế thường dùng trong tính toán điện : [[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|500px]] :{|width=100% |- | Điện thế đỉnh || <math> V_p = V</math> |- | Điện thế giửa 2 đỉnh || <math>V_{p2p} = 2 V</math> |- | Điện thế trung bình || <math>V_{avg} = \frac{V}{2}</math> |- | Điện thế hửu hiệu || <math>V_{rms} = \sqrt{2} V</math> |- |} 790aa7o65an6doz5gmr7vs6pse0sdiy 542295 542294 2026-04-29T16:15:29Z ~2026-26230-55 19578 542295 wikitext text/x-wiki Điện có 2 loại Điện DC và Điện AC . Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . ==Điện DC == Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . : Ký hiệu [[File:Voltage_Source.svg|100px]] và Công thức toán <math>v(t)=V</math> :{|width=100% |- | '''Nguồn điện '''|| '''Hình ''' || '''Công thức ''' || '''Ứng dụng ''' |- | [[Điện giải]] || [[Tập tin:ElectrochemCell.png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Bình ắc quy]] |- | [[Điện cực]] || [[Tập tin:Dry cell (PSF).png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin cục]] |- | [[Quang tuyến nhiệt điện]] || [[Hình:Photoelectric effect in a solid - diagram.svg|200px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin mặt trời]] |- | <br>[[Biến điện AC ra điện DC]] || [[File:Simple_dc_power_supply_schematic.png|500px]] || <br><math>v(t) = V </math> |- |} ==Điện AC== Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . : Ký hiệu [[File:Voltage_Source_(AC).svg|100px]] và co^ng thức toán <math>v(t) = V \sin (\omega t + \theta)</math> Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có [[Điện thế]] 120V - 60 Hz . Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có cấu tạo sau : [[Tập tin:Elementary generator.svg|200px]][[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|400px]] Điện thế thường dùng trong tính toán điện : [[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|500px]] :{|width=100% |- | Điện thế đỉnh || <math> V_p = V</math> |- | Điện thế giửa 2 đỉnh || <math>V_{p2p} = 2 V</math> |- | Điện thế trung bình || <math>V_{avg} = \frac{V}{2}</math> |- | Điện thế hửu hiệu || <math>V_{rms} = \sqrt{2} V</math> |- |} 75x21583pf2miwz1kwa1gvai7pvb2k6 542296 542295 2026-04-29T16:16:00Z ~2026-26230-55 19578 542296 wikitext text/x-wiki Điện có 2 loại Điện DC và Điện AC . Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . ==Điện DC == Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . === Ký hiệu === :[[File:Voltage_Source.svg|100px]] ===Công thức toán === :<math>v(t)=V</math> :{|width=100% |- | '''Nguồn điện '''|| '''Hình ''' || '''Công thức ''' || '''Ứng dụng ''' |- | [[Điện giải]] || [[Tập tin:ElectrochemCell.png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Bình ắc quy]] |- | [[Điện cực]] || [[Tập tin:Dry cell (PSF).png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin cục]] |- | [[Quang tuyến nhiệt điện]] || [[Hình:Photoelectric effect in a solid - diagram.svg|200px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin mặt trời]] |- | <br>[[Biến điện AC ra điện DC]] || [[File:Simple_dc_power_supply_schematic.png|500px]] || <br><math>v(t) = V </math> |- |} ==Điện AC== Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . : Ký hiệu [[File:Voltage_Source_(AC).svg|100px]] và co^ng thức toán <math>v(t) = V \sin (\omega t + \theta)</math> Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có [[Điện thế]] 120V - 60 Hz . Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có cấu tạo sau : [[Tập tin:Elementary generator.svg|200px]][[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|400px]] Điện thế thường dùng trong tính toán điện : [[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|500px]] :{|width=100% |- | Điện thế đỉnh || <math> V_p = V</math> |- | Điện thế giửa 2 đỉnh || <math>V_{p2p} = 2 V</math> |- | Điện thế trung bình || <math>V_{avg} = \frac{V}{2}</math> |- | Điện thế hửu hiệu || <math>V_{rms} = \sqrt{2} V</math> |- |} p6h2i3ua6o431bsr7cq53ukc1viu7i7 542297 542296 2026-04-29T16:16:34Z ~2026-26230-55 19578 542297 wikitext text/x-wiki Điện có 2 loại Điện DC và Điện AC . Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . ==Điện DC == Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . === Ký hiệu === :[[File:Voltage_Source.svg|100px]] ===Công thức toán === :<math>v(t)=V</math> === Điện nguồn=== :{|width=100% |- | '''Nguồn điện '''|| '''Hình ''' || '''Công thức ''' || '''Ứng dụng ''' |- | [[Điện giải]] || [[Tập tin:ElectrochemCell.png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Bình ắc quy]] |- | [[Điện cực]] || [[Tập tin:Dry cell (PSF).png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin cục]] |- | [[Quang tuyến nhiệt điện]] || [[Hình:Photoelectric effect in a solid - diagram.svg|200px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin mặt trời]] |- | <br>[[Biến điện AC ra điện DC]] || [[File:Simple_dc_power_supply_schematic.png|500px]] || <br><math>v(t) = V </math> |- |} ==Điện AC== Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . : Ký hiệu [[File:Voltage_Source_(AC).svg|100px]] và co^ng thức toán <math>v(t) = V \sin (\omega t + \theta)</math> Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có [[Điện thế]] 120V - 60 Hz . Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có cấu tạo sau : [[Tập tin:Elementary generator.svg|200px]][[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|400px]] Điện thế thường dùng trong tính toán điện : [[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|500px]] :{|width=100% |- | Điện thế đỉnh || <math> V_p = V</math> |- | Điện thế giửa 2 đỉnh || <math>V_{p2p} = 2 V</math> |- | Điện thế trung bình || <math>V_{avg} = \frac{V}{2}</math> |- | Điện thế hửu hiệu || <math>V_{rms} = \sqrt{2} V</math> |- |} oakbuigu13qmup21neua60k67r90007 542298 542297 2026-04-29T16:17:23Z ~2026-26230-55 19578 /* Điện AC */ 542298 wikitext text/x-wiki Điện có 2 loại Điện DC và Điện AC . Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . ==Điện DC == Điện DC có điện thế không đổi theo thời gian được tạo ra từ nhiều nguồn phát điện như Điện giải , Điện cực , Quang tuyến nhiệt điện và Biến điện AC ra điện DC . Điện DC thông thường được tìm thấy ở Pin, Ắc quy, Pin mặt trời có Điện thế khoảng 1.5 V đến 12 V . === Ký hiệu === :[[File:Voltage_Source.svg|100px]] ===Công thức toán === :<math>v(t)=V</math> === Điện nguồn=== :{|width=100% |- | '''Nguồn điện '''|| '''Hình ''' || '''Công thức ''' || '''Ứng dụng ''' |- | [[Điện giải]] || [[Tập tin:ElectrochemCell.png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Bình ắc quy]] |- | [[Điện cực]] || [[Tập tin:Dry cell (PSF).png|100px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin cục]] |- | [[Quang tuyến nhiệt điện]] || [[Hình:Photoelectric effect in a solid - diagram.svg|200px]] || <math>v(t) = V</math> || [[Pin mặt trời]] |- | <br>[[Biến điện AC ra điện DC]] || [[File:Simple_dc_power_supply_schematic.png|500px]] || <br><math>v(t) = V </math> |- |} ==Điện AC== Điện AC hay [[Điện hai chiều]] có điện thế thay đổi theo thời gian của một sóng sin đều . === Ký hiệu === :[[File:Voltage_Source_(AC).svg|100px]] ===Công thức toán === : <math>v(t) = V \sin (\omega t + \theta)</math> Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có [[Điện thế]] 120V - 60 Hz . Điện AC được tạo ra từ máy phát điện AC có cấu tạo sau : [[Tập tin:Elementary generator.svg|200px]][[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|400px]] ===Điện thế thường dùng trong tính toán điện === : [[Image:Sinus_amplitude_en.svg|Left|500px]] :{|width=100% |- | Điện thế đỉnh || <math> V_p = V</math> |- | Điện thế giửa 2 đỉnh || <math>V_{p2p} = 2 V</math> |- | Điện thế trung bình || <math>V_{avg} = \frac{V}{2}</math> |- | Điện thế hửu hiệu || <math>V_{rms} = \sqrt{2} V</math> |- |} jgtietegngll3juoln4uo4np2ga9pls Điện và vật 0 110376 542299 2026-04-29T16:18:38Z ~2026-26230-55 19578 Trang mới: “==Vật dẩn điện== Mọi vật dẫn điện được chia thành 3 loại vật tùy theo khả năng dẫn điện của vật # [[/Dẫn điện/]] , Mọi vật dể dẫn điện được tìm thấy từ các [[Kim loại]] như Đồng (Cu), Sắt (Fe) # [[/Bán dẫn điện/]] , Mọi vật khó dẩn điện tìm thấy từ các [[Á Kim]] như Silicon (Si), Germanium (Ge) # [[/Cách điện/]] Mọi vật không dẫn điện được tìm thấy từ…” 542299 wikitext text/x-wiki ==Vật dẩn điện== Mọi vật dẫn điện được chia thành 3 loại vật tùy theo khả năng dẫn điện của vật # [[/Dẫn điện/]] , Mọi vật dể dẫn điện được tìm thấy từ các [[Kim loại]] như Đồng (Cu), Sắt (Fe) # [[/Bán dẫn điện/]] , Mọi vật khó dẩn điện tìm thấy từ các [[Á Kim]] như Silicon (Si), Germanium (Ge) # [[/Cách điện/]] Mọi vật không dẫn điện được tìm thấy từ các [[Phi Kim]] . Sành, Sứ ... Từ Dẩn điện các công cụ điện được tạo ra bao gồm [[Điện trở]] , [[Tụ điện]] , [[Cuộn từ]] . Từ Bán dẩn điện Các công cụ điện được tạo ra bao gồm [[Điot]] , [[Trăng si tơ]] , [[FET]] ==Vật dẩn điện và điện == ===Vật dẩn điện và điện DC=== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện DC đều có một điện kháng và một điện dẩn được tính theo luật Ohm như sau :{|width=100% |- | Điện trở kháng || <math>R = \frac{V}{I}</math> || R - Điện trở kháng <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- | <br>Điện dẩn || <br><math>G = \frac{1}{R} = \frac{I}{V}</math> || <br>G - Điện dẩn <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- |} ===Vật dẩn điện và điện AC=== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện AC đều có một điện kháng được tính theo luật Ohm như sau : <math>Z = \frac{v}{i} = R \pm j X</math> Với : Z - Điện kháng : X - Điện ứng : R - Điện trở kháng : v - Điện thế (v) : i - Dòng điện (A) ==Điện nhiệt== Mọi vật dẩn điện khi dẩn điện đều tạo ra nhiệt tỏa vào môi trường xung quanh :{|width=100% |- | Điện trở || [[Tập_tin:Resistor.gif|100px]] || <math>W = i^2 R(T)</math> |- | Tụ điện|| [[Tập_tin:Capacitor.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} C v^2</math> |- | Cuộn từ || [[Tập_tin:Coil.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} L i^2</math><br><math>W = \frac{1}{2} L i^2 + i^2 R(T)</math> |- |} ==Dao động sóng điện RLC nối tiếp== Dao động sóng điện được tìm thấy trong mạch điện RLC nối tiếp ===Với R ≠ 0=== :[[File:RLC_series_circuit.png|100px]] Ở Trạng Thái Cân Bằng :<math>v_L+v_C+v_R=0</math> : <math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int V dt + iR = 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{R}{L} \frac{di}{dt} + \frac{1}{LC} i= 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} = - 2 \alpha \frac{di}{dt} - \beta i </math> : <math>\beta = \frac{1}{T} = \frac{1}{LC} </math> : <math>\alpha = \beta \gamma = \frac{R}{2L} </math> : <math>T=LC</math> : <math>\gamma=RC</math> Phương trìnhh trên có nghiệm như sau * Một nghiệm thực . <math>\alpha = \beta </math> . <math>i = Ae^{-\alpha t} </math> * Hai nghiệm thực . <math>\alpha > \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm \lambda)t} = A(\alpha)e^{\lambda t} + A(\alpha)e^{-\lambda t}</math> * Hai nghiệm phức . <math>\alpha < \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm j \omega)t} = A(\alpha) \sin \omega t</math> Voi :: <math>A(\alpha)=Ae^{-\alpha t}</math> :: <math>\omega = \sqrt{\beta-\alpha}</math> :: <math>\lambda = \sqrt{\alpha-\beta}</math> ::<math>\beta=\frac{1}{T}=\frac{1}{LC}</math> ::<math>\alpha=\gamma \beta</math> ::<math>\gamma=RC</math> ::<math>T=LC</math> Ở Trạng Thái Đồng Bộ :<math>Z_C+Z_L=0</math> :<math>Z_t=Z_C + Z_L + Z_R=R</math> Tu tren. :<math>Z_C = -Z_L</math> ::<math>\omega_o=\pm j \sqrt{\frac{1}{T}}</math> ::<math>T=LC</math> :<math>i(\omega=0)=0</math> :<math>i(\omega=\omega_o)=\frac{v}{R}</math> :<math>i(\omega=00)=0</math> ===Với R = 0=== :[[File:Lc circuit.svg|100px]] :<math>v_L+v_C=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int v dt = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{1}{T} = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} = - \frac{1}{T} </math> :<math>i(t) = e^{\sqrt{-\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \sqrt{\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \omega t} = A \sin \omega t</math> :<math>\omega = \sqrt{\frac{1}{T}}</math> :<math>T = LC</math> :[[File:Wave.png|100px]] Phân tích mạch điện LC nối tiếp ở trạng thái đồng bộ , khi điện kháng va dien the của L và C triệt tiêu :<math>Z_L - Z_C = 0</math> : <math>V_C = - V_L </math> Từ trên : <math>Z_C = - Z_L</math> :: <math> \frac{1}{j \omega_o C} = -j \omega_o L</math> :: <math>\omega_o = \pm j \sqrt{\frac{1}{T}} </math> ::<math>T=LC</math> : <math>V_C = - V_L</math> :: <math>V(\theta) = A \sin(\omega_o t + 2 \pi) - A \sin(\omega_o t - 2 \pi) </math> Mạch điện có khả năng tạo ra Dao động Sóng Dừng của 2 điện thế <math>V_C = -V_L </math> giửa 2 góc 0 - 2π ===Với L = 0=== :<math>v_C + v_R=0</math> :<math>C\frac{dv}{dt} + \frac{V}{R} = 0</math> :<math>\frac{dv}{dt} = - \frac{V}{RC} </math> :<math>v = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = RC</math> ===Với C = 0=== :<math>v_L + v_R=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + i R = 0</math> :<math>\frac{di}{dt} = - i \frac{R}{L} </math> :<math>i = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = \frac{L}{R}</math> [[Thể loại:Sách Vật lý]] rlvydq7nqmteglnle3nj6s4si5e2bai 542300 542299 2026-04-29T16:19:42Z ~2026-26230-55 19578 542300 wikitext text/x-wiki ==Vật dẩn điện== Mọi vật dẫn điện được chia thành 3 loại vật tùy theo khả năng dẫn điện của vật # [[/Dẫn điện/]] , Mọi vật dể dẫn điện được tìm thấy từ các [[Kim loại]] như Đồng (Cu), Sắt (Fe) # [[/Bán dẫn điện/]] , Mọi vật khó dẩn điện tìm thấy từ các [[Á Kim]] như Silicon (Si), Germanium (Ge) # [[/Cách điện/]] Mọi vật không dẫn điện được tìm thấy từ các [[Phi Kim]] . Sành, Sứ ... ==Công cụ điện== Từ Dẩn điện các công cụ điện được tạo ra bao gồm [[Điện trở]] , [[Tụ điện]] , [[Cuộn từ]] . Từ Bán dẩn điện Các công cụ điện được tạo ra bao gồm [[Điot]] , [[Trăng si tơ]] , [[FET]] ==Vật dẩn điện và điện == ===Vật dẩn điện và điện DC=== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện DC đều có một điện kháng và một điện dẩn được tính theo luật Ohm như sau :{|width=100% |- | Điện trở kháng || <math>R = \frac{V}{I}</math> || R - Điện trở kháng <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- | <br>Điện dẩn || <br><math>G = \frac{1}{R} = \frac{I}{V}</math> || <br>G - Điện dẩn <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- |} ===Vật dẩn điện và điện AC=== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện AC đều có một điện kháng được tính theo luật Ohm như sau : <math>Z = \frac{v}{i} = R \pm j X</math> Với : Z - Điện kháng : X - Điện ứng : R - Điện trở kháng : v - Điện thế (v) : i - Dòng điện (A) ==Điện nhiệt== Mọi vật dẩn điện khi dẩn điện đều tạo ra nhiệt tỏa vào môi trường xung quanh :{|width=100% |- | Điện trở || [[Tập_tin:Resistor.gif|100px]] || <math>W = i^2 R(T)</math> |- | Tụ điện|| [[Tập_tin:Capacitor.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} C v^2</math> |- | Cuộn từ || [[Tập_tin:Coil.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} L i^2</math><br><math>W = \frac{1}{2} L i^2 + i^2 R(T)</math> |- |} ==Dao động sóng điện RLC nối tiếp== Dao động sóng điện được tìm thấy trong mạch điện RLC nối tiếp ===Với R ≠ 0=== :[[File:RLC_series_circuit.png|100px]] Ở Trạng Thái Cân Bằng :<math>v_L+v_C+v_R=0</math> : <math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int V dt + iR = 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{R}{L} \frac{di}{dt} + \frac{1}{LC} i= 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} = - 2 \alpha \frac{di}{dt} - \beta i </math> : <math>\beta = \frac{1}{T} = \frac{1}{LC} </math> : <math>\alpha = \beta \gamma = \frac{R}{2L} </math> : <math>T=LC</math> : <math>\gamma=RC</math> Phương trìnhh trên có nghiệm như sau * Một nghiệm thực . <math>\alpha = \beta </math> . <math>i = Ae^{-\alpha t} </math> * Hai nghiệm thực . <math>\alpha > \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm \lambda)t} = A(\alpha)e^{\lambda t} + A(\alpha)e^{-\lambda t}</math> * Hai nghiệm phức . <math>\alpha < \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm j \omega)t} = A(\alpha) \sin \omega t</math> Voi :: <math>A(\alpha)=Ae^{-\alpha t}</math> :: <math>\omega = \sqrt{\beta-\alpha}</math> :: <math>\lambda = \sqrt{\alpha-\beta}</math> ::<math>\beta=\frac{1}{T}=\frac{1}{LC}</math> ::<math>\alpha=\gamma \beta</math> ::<math>\gamma=RC</math> ::<math>T=LC</math> Ở Trạng Thái Đồng Bộ :<math>Z_C+Z_L=0</math> :<math>Z_t=Z_C + Z_L + Z_R=R</math> Tu tren. :<math>Z_C = -Z_L</math> ::<math>\omega_o=\pm j \sqrt{\frac{1}{T}}</math> ::<math>T=LC</math> :<math>i(\omega=0)=0</math> :<math>i(\omega=\omega_o)=\frac{v}{R}</math> :<math>i(\omega=00)=0</math> ===Với R = 0=== :[[File:Lc circuit.svg|100px]] :<math>v_L+v_C=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int v dt = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{1}{T} = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} = - \frac{1}{T} </math> :<math>i(t) = e^{\sqrt{-\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \sqrt{\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \omega t} = A \sin \omega t</math> :<math>\omega = \sqrt{\frac{1}{T}}</math> :<math>T = LC</math> :[[File:Wave.png|100px]] Phân tích mạch điện LC nối tiếp ở trạng thái đồng bộ , khi điện kháng va dien the của L và C triệt tiêu :<math>Z_L - Z_C = 0</math> : <math>V_C = - V_L </math> Từ trên : <math>Z_C = - Z_L</math> :: <math> \frac{1}{j \omega_o C} = -j \omega_o L</math> :: <math>\omega_o = \pm j \sqrt{\frac{1}{T}} </math> ::<math>T=LC</math> : <math>V_C = - V_L</math> :: <math>V(\theta) = A \sin(\omega_o t + 2 \pi) - A \sin(\omega_o t - 2 \pi) </math> Mạch điện có khả năng tạo ra Dao động Sóng Dừng của 2 điện thế <math>V_C = -V_L </math> giửa 2 góc 0 - 2π ===Với L = 0=== :<math>v_C + v_R=0</math> :<math>C\frac{dv}{dt} + \frac{V}{R} = 0</math> :<math>\frac{dv}{dt} = - \frac{V}{RC} </math> :<math>v = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = RC</math> ===Với C = 0=== :<math>v_L + v_R=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + i R = 0</math> :<math>\frac{di}{dt} = - i \frac{R}{L} </math> :<math>i = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = \frac{L}{R}</math> [[Thể loại:Sách Vật lý]] 68c247jglm45v4hgirh0dxtjx0mir3g 542301 542300 2026-04-29T16:19:58Z ~2026-26230-55 19578 542301 wikitext text/x-wiki ==Vật dẩn điện== Mọi vật dẫn điện được chia thành 3 loại vật tùy theo khả năng dẫn điện của vật # [[/Dẫn điện/]] , Mọi vật dể dẫn điện được tìm thấy từ các [[Kim loại]] như Đồng (Cu), Sắt (Fe) # [[/Bán dẫn điện/]] , Mọi vật khó dẩn điện tìm thấy từ các [[Á Kim]] như Silicon (Si), Germanium (Ge) # [[/Cách điện/]] Mọi vật không dẫn điện được tìm thấy từ các [[Phi Kim]] . Sành, Sứ ... ==Công cụ điện== Từ Dẩn điện các công cụ điện được tạo ra bao gồm :[[Điện trở]] , [[Tụ điện]] , [[Cuộn từ]] . Từ Bán dẩn điện Các công cụ điện được tạo ra bao gồm :[[Điot]] , [[Trăng si tơ]] , [[FET]] ==Vật dẩn điện và điện == ===Vật dẩn điện và điện DC=== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện DC đều có một điện kháng và một điện dẩn được tính theo luật Ohm như sau :{|width=100% |- | Điện trở kháng || <math>R = \frac{V}{I}</math> || R - Điện trở kháng <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- | <br>Điện dẩn || <br><math>G = \frac{1}{R} = \frac{I}{V}</math> || <br>G - Điện dẩn <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- |} ===Vật dẩn điện và điện AC=== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện AC đều có một điện kháng được tính theo luật Ohm như sau : <math>Z = \frac{v}{i} = R \pm j X</math> Với : Z - Điện kháng : X - Điện ứng : R - Điện trở kháng : v - Điện thế (v) : i - Dòng điện (A) ==Điện nhiệt== Mọi vật dẩn điện khi dẩn điện đều tạo ra nhiệt tỏa vào môi trường xung quanh :{|width=100% |- | Điện trở || [[Tập_tin:Resistor.gif|100px]] || <math>W = i^2 R(T)</math> |- | Tụ điện|| [[Tập_tin:Capacitor.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} C v^2</math> |- | Cuộn từ || [[Tập_tin:Coil.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} L i^2</math><br><math>W = \frac{1}{2} L i^2 + i^2 R(T)</math> |- |} ==Dao động sóng điện RLC nối tiếp== Dao động sóng điện được tìm thấy trong mạch điện RLC nối tiếp ===Với R ≠ 0=== :[[File:RLC_series_circuit.png|100px]] Ở Trạng Thái Cân Bằng :<math>v_L+v_C+v_R=0</math> : <math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int V dt + iR = 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{R}{L} \frac{di}{dt} + \frac{1}{LC} i= 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} = - 2 \alpha \frac{di}{dt} - \beta i </math> : <math>\beta = \frac{1}{T} = \frac{1}{LC} </math> : <math>\alpha = \beta \gamma = \frac{R}{2L} </math> : <math>T=LC</math> : <math>\gamma=RC</math> Phương trìnhh trên có nghiệm như sau * Một nghiệm thực . <math>\alpha = \beta </math> . <math>i = Ae^{-\alpha t} </math> * Hai nghiệm thực . <math>\alpha > \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm \lambda)t} = A(\alpha)e^{\lambda t} + A(\alpha)e^{-\lambda t}</math> * Hai nghiệm phức . <math>\alpha < \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm j \omega)t} = A(\alpha) \sin \omega t</math> Voi :: <math>A(\alpha)=Ae^{-\alpha t}</math> :: <math>\omega = \sqrt{\beta-\alpha}</math> :: <math>\lambda = \sqrt{\alpha-\beta}</math> ::<math>\beta=\frac{1}{T}=\frac{1}{LC}</math> ::<math>\alpha=\gamma \beta</math> ::<math>\gamma=RC</math> ::<math>T=LC</math> Ở Trạng Thái Đồng Bộ :<math>Z_C+Z_L=0</math> :<math>Z_t=Z_C + Z_L + Z_R=R</math> Tu tren. :<math>Z_C = -Z_L</math> ::<math>\omega_o=\pm j \sqrt{\frac{1}{T}}</math> ::<math>T=LC</math> :<math>i(\omega=0)=0</math> :<math>i(\omega=\omega_o)=\frac{v}{R}</math> :<math>i(\omega=00)=0</math> ===Với R = 0=== :[[File:Lc circuit.svg|100px]] :<math>v_L+v_C=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int v dt = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{1}{T} = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} = - \frac{1}{T} </math> :<math>i(t) = e^{\sqrt{-\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \sqrt{\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \omega t} = A \sin \omega t</math> :<math>\omega = \sqrt{\frac{1}{T}}</math> :<math>T = LC</math> :[[File:Wave.png|100px]] Phân tích mạch điện LC nối tiếp ở trạng thái đồng bộ , khi điện kháng va dien the của L và C triệt tiêu :<math>Z_L - Z_C = 0</math> : <math>V_C = - V_L </math> Từ trên : <math>Z_C = - Z_L</math> :: <math> \frac{1}{j \omega_o C} = -j \omega_o L</math> :: <math>\omega_o = \pm j \sqrt{\frac{1}{T}} </math> ::<math>T=LC</math> : <math>V_C = - V_L</math> :: <math>V(\theta) = A \sin(\omega_o t + 2 \pi) - A \sin(\omega_o t - 2 \pi) </math> Mạch điện có khả năng tạo ra Dao động Sóng Dừng của 2 điện thế <math>V_C = -V_L </math> giửa 2 góc 0 - 2π ===Với L = 0=== :<math>v_C + v_R=0</math> :<math>C\frac{dv}{dt} + \frac{V}{R} = 0</math> :<math>\frac{dv}{dt} = - \frac{V}{RC} </math> :<math>v = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = RC</math> ===Với C = 0=== :<math>v_L + v_R=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + i R = 0</math> :<math>\frac{di}{dt} = - i \frac{R}{L} </math> :<math>i = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = \frac{L}{R}</math> [[Thể loại:Sách Vật lý]] b9fsxrzphe7iuxk8if44awgd6vx0x07 542302 542301 2026-04-29T16:20:32Z ~2026-26230-55 19578 542302 wikitext text/x-wiki ==Vật dẩn điện== Mọi vật dẫn điện được chia thành 3 loại vật tùy theo khả năng dẫn điện của vật # [[/Dẫn điện/]] , Mọi vật dể dẫn điện được tìm thấy từ các [[Kim loại]] như Đồng (Cu), Sắt (Fe) # [[/Bán dẫn điện/]] , Mọi vật khó dẩn điện tìm thấy từ các [[Á Kim]] như Silicon (Si), Germanium (Ge) # [[/Cách điện/]] Mọi vật không dẫn điện được tìm thấy từ các [[Phi Kim]] . Sành, Sứ ... ==Công cụ điện== Từ Dẩn điện các công cụ điện được tạo ra bao gồm :[[Điện trở]] , [[Tụ điện]] , [[Cuộn từ]] . Từ Bán dẩn điện Các công cụ điện được tạo ra bao gồm :[[Điot]] , [[Trăng si tơ]] , [[FET]] ==Vật dẩn điện và điện DC== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện DC đều có một điện kháng và một điện dẩn được tính theo luật Ohm như sau :{|width=100% |- | Điện trở kháng || <math>R = \frac{V}{I}</math> || R - Điện trở kháng <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- | <br>Điện dẩn || <br><math>G = \frac{1}{R} = \frac{I}{V}</math> || <br>G - Điện dẩn <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- |} ==Vật dẩn điện và điện AC== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện AC đều có một điện kháng được tính theo luật Ohm như sau : <math>Z = \frac{v}{i} = R \pm j X</math> Với : Z - Điện kháng : X - Điện ứng : R - Điện trở kháng : v - Điện thế (v) : i - Dòng điện (A) ==Điện nhiệt== Mọi vật dẩn điện khi dẩn điện đều tạo ra nhiệt tỏa vào môi trường xung quanh :{|width=100% |- | Điện trở || [[Tập_tin:Resistor.gif|100px]] || <math>W = i^2 R(T)</math> |- | Tụ điện|| [[Tập_tin:Capacitor.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} C v^2</math> |- | Cuộn từ || [[Tập_tin:Coil.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} L i^2</math><br><math>W = \frac{1}{2} L i^2 + i^2 R(T)</math> |- |} ==Dao động sóng điện RLC nối tiếp== Dao động sóng điện được tìm thấy trong mạch điện RLC nối tiếp ===Với R ≠ 0=== :[[File:RLC_series_circuit.png|100px]] Ở Trạng Thái Cân Bằng :<math>v_L+v_C+v_R=0</math> : <math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int V dt + iR = 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{R}{L} \frac{di}{dt} + \frac{1}{LC} i= 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} = - 2 \alpha \frac{di}{dt} - \beta i </math> : <math>\beta = \frac{1}{T} = \frac{1}{LC} </math> : <math>\alpha = \beta \gamma = \frac{R}{2L} </math> : <math>T=LC</math> : <math>\gamma=RC</math> Phương trìnhh trên có nghiệm như sau * Một nghiệm thực . <math>\alpha = \beta </math> . <math>i = Ae^{-\alpha t} </math> * Hai nghiệm thực . <math>\alpha > \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm \lambda)t} = A(\alpha)e^{\lambda t} + A(\alpha)e^{-\lambda t}</math> * Hai nghiệm phức . <math>\alpha < \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm j \omega)t} = A(\alpha) \sin \omega t</math> Voi :: <math>A(\alpha)=Ae^{-\alpha t}</math> :: <math>\omega = \sqrt{\beta-\alpha}</math> :: <math>\lambda = \sqrt{\alpha-\beta}</math> ::<math>\beta=\frac{1}{T}=\frac{1}{LC}</math> ::<math>\alpha=\gamma \beta</math> ::<math>\gamma=RC</math> ::<math>T=LC</math> Ở Trạng Thái Đồng Bộ :<math>Z_C+Z_L=0</math> :<math>Z_t=Z_C + Z_L + Z_R=R</math> Tu tren. :<math>Z_C = -Z_L</math> ::<math>\omega_o=\pm j \sqrt{\frac{1}{T}}</math> ::<math>T=LC</math> :<math>i(\omega=0)=0</math> :<math>i(\omega=\omega_o)=\frac{v}{R}</math> :<math>i(\omega=00)=0</math> ===Với R = 0=== :[[File:Lc circuit.svg|100px]] :<math>v_L+v_C=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int v dt = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{1}{T} = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} = - \frac{1}{T} </math> :<math>i(t) = e^{\sqrt{-\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \sqrt{\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \omega t} = A \sin \omega t</math> :<math>\omega = \sqrt{\frac{1}{T}}</math> :<math>T = LC</math> :[[File:Wave.png|100px]] Phân tích mạch điện LC nối tiếp ở trạng thái đồng bộ , khi điện kháng va dien the của L và C triệt tiêu :<math>Z_L - Z_C = 0</math> : <math>V_C = - V_L </math> Từ trên : <math>Z_C = - Z_L</math> :: <math> \frac{1}{j \omega_o C} = -j \omega_o L</math> :: <math>\omega_o = \pm j \sqrt{\frac{1}{T}} </math> ::<math>T=LC</math> : <math>V_C = - V_L</math> :: <math>V(\theta) = A \sin(\omega_o t + 2 \pi) - A \sin(\omega_o t - 2 \pi) </math> Mạch điện có khả năng tạo ra Dao động Sóng Dừng của 2 điện thế <math>V_C = -V_L </math> giửa 2 góc 0 - 2π ===Với L = 0=== :<math>v_C + v_R=0</math> :<math>C\frac{dv}{dt} + \frac{V}{R} = 0</math> :<math>\frac{dv}{dt} = - \frac{V}{RC} </math> :<math>v = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = RC</math> ===Với C = 0=== :<math>v_L + v_R=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + i R = 0</math> :<math>\frac{di}{dt} = - i \frac{R}{L} </math> :<math>i = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = \frac{L}{R}</math> [[Thể loại:Sách Vật lý]] nd4koyemmezot6uvzjkq7or0k1rum1o 542303 542302 2026-04-29T16:21:34Z ~2026-26230-55 19578 /* Vật dẩn điện và điện AC */ 542303 wikitext text/x-wiki ==Vật dẩn điện== Mọi vật dẫn điện được chia thành 3 loại vật tùy theo khả năng dẫn điện của vật # [[/Dẫn điện/]] , Mọi vật dể dẫn điện được tìm thấy từ các [[Kim loại]] như Đồng (Cu), Sắt (Fe) # [[/Bán dẫn điện/]] , Mọi vật khó dẩn điện tìm thấy từ các [[Á Kim]] như Silicon (Si), Germanium (Ge) # [[/Cách điện/]] Mọi vật không dẫn điện được tìm thấy từ các [[Phi Kim]] . Sành, Sứ ... ==Công cụ điện== Từ Dẩn điện các công cụ điện được tạo ra bao gồm :[[Điện trở]] , [[Tụ điện]] , [[Cuộn từ]] . Từ Bán dẩn điện Các công cụ điện được tạo ra bao gồm :[[Điot]] , [[Trăng si tơ]] , [[FET]] ==Vật dẩn điện và điện DC== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện DC đều có một điện kháng và một điện dẩn được tính theo luật Ohm như sau :{|width=100% |- | Điện trở kháng || <math>R = \frac{V}{I}</math> || R - Điện trở kháng <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- | <br>Điện dẩn || <br><math>G = \frac{1}{R} = \frac{I}{V}</math> || <br>G - Điện dẩn <br> V - Điện thế (v)<br> I - Dòng điện (A) |- |} ==Vật dẩn điện và điện AC== ===Điện kháng=== Mọi vật dẩn điện khi mắc với điện AC đều có một điện kháng được tính theo luật Ohm như sau : <math>Z = \frac{v}{i} = R \pm j X</math> Với : Z - Điện kháng : X - Điện ứng : R - Điện trở kháng : v - Điện thế (v) : i - Dòng điện (A) ===Điện từ trường=== ===Điện từ nhiệt=== ==Điện nhiệt== Mọi vật dẩn điện khi dẩn điện đều tạo ra nhiệt tỏa vào môi trường xung quanh :{|width=100% |- | Điện trở || [[Tập_tin:Resistor.gif|100px]] || <math>W = i^2 R(T)</math> |- | Tụ điện|| [[Tập_tin:Capacitor.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} C v^2</math> |- | Cuộn từ || [[Tập_tin:Coil.gif|100px]] || <math>W = \frac{1}{2} L i^2</math><br><math>W = \frac{1}{2} L i^2 + i^2 R(T)</math> |- |} ==Dao động sóng điện RLC nối tiếp== Dao động sóng điện được tìm thấy trong mạch điện RLC nối tiếp ===Với R ≠ 0=== :[[File:RLC_series_circuit.png|100px]] Ở Trạng Thái Cân Bằng :<math>v_L+v_C+v_R=0</math> : <math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int V dt + iR = 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{R}{L} \frac{di}{dt} + \frac{1}{LC} i= 0</math> : <math>\frac{d^2i}{dt} = - 2 \alpha \frac{di}{dt} - \beta i </math> : <math>\beta = \frac{1}{T} = \frac{1}{LC} </math> : <math>\alpha = \beta \gamma = \frac{R}{2L} </math> : <math>T=LC</math> : <math>\gamma=RC</math> Phương trìnhh trên có nghiệm như sau * Một nghiệm thực . <math>\alpha = \beta </math> . <math>i = Ae^{-\alpha t} </math> * Hai nghiệm thực . <math>\alpha > \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm \lambda)t} = A(\alpha)e^{\lambda t} + A(\alpha)e^{-\lambda t}</math> * Hai nghiệm phức . <math>\alpha < \beta </math> . <math>i = Ae^{(-\alpha \pm j \omega)t} = A(\alpha) \sin \omega t</math> Voi :: <math>A(\alpha)=Ae^{-\alpha t}</math> :: <math>\omega = \sqrt{\beta-\alpha}</math> :: <math>\lambda = \sqrt{\alpha-\beta}</math> ::<math>\beta=\frac{1}{T}=\frac{1}{LC}</math> ::<math>\alpha=\gamma \beta</math> ::<math>\gamma=RC</math> ::<math>T=LC</math> Ở Trạng Thái Đồng Bộ :<math>Z_C+Z_L=0</math> :<math>Z_t=Z_C + Z_L + Z_R=R</math> Tu tren. :<math>Z_C = -Z_L</math> ::<math>\omega_o=\pm j \sqrt{\frac{1}{T}}</math> ::<math>T=LC</math> :<math>i(\omega=0)=0</math> :<math>i(\omega=\omega_o)=\frac{v}{R}</math> :<math>i(\omega=00)=0</math> ===Với R = 0=== :[[File:Lc circuit.svg|100px]] :<math>v_L+v_C=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + \frac{1}{C} \int v dt = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} + \frac{1}{T} = 0</math> :<math>\frac{d^2i}{dt} = - \frac{1}{T} </math> :<math>i(t) = e^{\sqrt{-\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \sqrt{\frac{1}{T}} t} = e^{\pm j \omega t} = A \sin \omega t</math> :<math>\omega = \sqrt{\frac{1}{T}}</math> :<math>T = LC</math> :[[File:Wave.png|100px]] Phân tích mạch điện LC nối tiếp ở trạng thái đồng bộ , khi điện kháng va dien the của L và C triệt tiêu :<math>Z_L - Z_C = 0</math> : <math>V_C = - V_L </math> Từ trên : <math>Z_C = - Z_L</math> :: <math> \frac{1}{j \omega_o C} = -j \omega_o L</math> :: <math>\omega_o = \pm j \sqrt{\frac{1}{T}} </math> ::<math>T=LC</math> : <math>V_C = - V_L</math> :: <math>V(\theta) = A \sin(\omega_o t + 2 \pi) - A \sin(\omega_o t - 2 \pi) </math> Mạch điện có khả năng tạo ra Dao động Sóng Dừng của 2 điện thế <math>V_C = -V_L </math> giửa 2 góc 0 - 2π ===Với L = 0=== :<math>v_C + v_R=0</math> :<math>C\frac{dv}{dt} + \frac{V}{R} = 0</math> :<math>\frac{dv}{dt} = - \frac{V}{RC} </math> :<math>v = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = RC</math> ===Với C = 0=== :<math>v_L + v_R=0</math> :<math>L\frac{di}{dt} + i R = 0</math> :<math>\frac{di}{dt} = - i \frac{R}{L} </math> :<math>i = A e^{-\frac{t}{T}}</math> :<math>T = \frac{L}{R}</math> [[Thể loại:Sách Vật lý]] 4kf8fxlrshbqvbqs9ktkkv4ojn7o72f Vệ đà giáo 0 110377 542304 2026-04-29T17:09:35Z ~2026-26125-13 19579 Trang mới: “ [[Tập_tin:Om_symbol.svg|200px|right]] Vệ đà giáo (Vedas) là một tôn giáo cổ xưa ở Ấn độ thuộc hệ đa thần với cơ sở nghi lễ tôn giáo là việc cúng tế thần linh cùng với thánh điển còn lưu lại ==Lịch sử hình thành và phát triển Vệ đà giáo== Theo sách sử, bộ tộc bán [[du mục]], du nhập Ấn Độ từ miền Tây và Tây bắc trong khoảng thời gian 1700-1200 trước CN qua nhiều đ…” 542304 wikitext text/x-wiki [[Tập_tin:Om_symbol.svg|200px|right]] Vệ đà giáo (Vedas) là một tôn giáo cổ xưa ở Ấn độ thuộc hệ đa thần với cơ sở nghi lễ tôn giáo là việc cúng tế thần linh cùng với thánh điển còn lưu lại ==Lịch sử hình thành và phát triển Vệ đà giáo== Theo sách sử, bộ tộc bán [[du mục]], du nhập Ấn Độ từ miền Tây và Tây bắc trong khoảng thời gian 1700-1200 trước CN qua nhiều đợt. Họ tự gọi là [[Nhã-lợi-an]] (zh. 雅利安, sa. ''ārya'', de. ''arier'', en. ''aryan'') lập ra Vệ đà giáo. Tôn giáo này có nhiều điểm rất giống tôn giáo Cổ Iran . Qua tên của các vị thần, người ta có thể thấy được mối quan hệ với tôn giáo La Mã, Hy Lạp và Điều Đốn (en. ''teuton'', người Đức thời xưa). Trong một văn bản hợp đồng của Mitanni (một đế quốc Ấn-Ba Tư miền bắc khu vực [[Lưỡng Hà]]), người ta tìm thấy tên của các vị thần Phệ-đà như Mật-đa-la (密多羅, sa. ''mitra''), Phạt-lâu-na (zh. 伐樓那, sa. ''varuṇa''), Nhân-đà-la (zh. 因陀羅, sa. ''indra'') và các Mã Đồng (zh. 馬童, sa. ''aśvin''). ==Quy định Vệ đà giáo== ===Quy định cầu nguyện=== # nghiên cứu kinh điển, giữ đúng lễ nghi tế tự, # tế tự thần thánh và tổ tiên và # nuôi dưỡng con trai để có thể giữ truyền thống cúng tế lâu dài. ===Nguyện ước=== Người Ấn Độ thời Phệ-đà cầu mong các thần thánh ban cho # Nhiều con, # Sức khoẻ, # Phồn vinh, # Thắng kẻ thù, # Một cuộc sống trăm năm cũng như sự thứ lỗi cho những lần vi phạm quy luật vũ trụ hoặc "chân lý" (sa. ), ==Giáo lý Vệ đà giáo== ===Thần linh=== Giáo lý cơ bản của Vệ-Đà giáo cho rằng, : ''Con người có mối quan hệ với Thần linh và có sự hòa đồng với vũ trụ '' Tin tưởng vào sự hiện hửu của thần linh . Tin tưởng vào thần linh để được cứu con người thoát khổi đau khổ trong cuộc sống hàng ngày trên trần gian . ===Cúng tế=== Chỉ có cúng tế, cầu đảo thì con người mới được Thần linh phù hộ trong mọi công việc. Cúng tế thần linh để được phù hộ để đạt được ước nguyện thành công trong công việc hàng ngày . Song hành với các buổi cầu nguyện là những cuộc hiến tế lớn. Những đồ hiến tế như: Thịt, bơ, sữa, rượu, được dâng lên Thần linh bằng cách đốt trên giàn hỏa. Việc cúng tế Thần linh rất quan trọng, nên dần dần đội ngũ các thầy cúng tế trở nên quan trọng, có uy tín và quyền lực nhất trong xã hội Ấn Độ, hình thành đẳng cấp Tăng lữ Bà-La-Môn sau này. ==Kinh sách Vệ đà giáo== [[Kinh Vệ Đà (Veda)]] hay Phệ-đà (tiếng Phạn: वेद; tiếng Anh: Veda) được xem là Kinh thánh của Ấn độ giáo là cội nguồn của Bà La Môn giáo và là suối nguồn của nền văn minh Ấn Độ. Vệ đà có nghĩa là [[Tri thức]] . Trong kinh có những bản tụng ca để ca ngợi các vị thần, như thần lửa, thần núi, thần sông... Phần lớn ca tụng những vẻ đẹp huy hoàng, tưng bừng và mầu nhiệm của cuộc sống trong vũ trụ. Toàn thể bộ kinh được hợp lại từ nhiều phần gọi là sambitâ, gồm bốn tạng:Rig Véda , Sâma Véda , Yayur Véda và Atharva Véda ===Rig Véda - Thi tụng=== Thi tụng bao gồm gần mười quyển, với 1028 tụng ca mà bài cổ nhất có từ thế kỷ 15 trước Công nguyên và những bài gần nhất cũng khoảng thế kỷ thứ 10 trước Công nguyên. Những vị thần được ca tụng nhiều nhất là Indra, Varuna và Agni. Trong phần Rig Véda, người ta nhắc đến những con người tự coi là "vượt lên trên cõi trần" yogin, du-già sư). Khi uống một thứ nước gây say là soma, họ khổ luyện và tự thôi miên và gây nên trạng thái xuất thần và lên đồng. Khi đó, họ tự coi là những người thần thánh nhập vào họ và họ tin rằng mình được ban cho những quyền lực thiên nhiên. ===Sâma Véda - Ca vịnh thần chú=== Ca vịnh thần chú, gồm 585 khổ thơ, tương ứng với các giai điệu được dùng trong những tụng ca hiến tế (hymmes des sacrifices). ===Yayur Véda - Nghi lễ=== Các nghi lễ khác nhau (nghi lễ dâng trăng tròn, trăng mới, nghi lễ dâng các vong nhân, dâng thần lửa, dâng bốn mùa..) ===Atharva Véda - Thuyết giáo=== Triển khai ý nghĩa ba bộ kinh trên - gồm các bài thuyết giáo, có nội dung thiết thực và triết học. Các bài thuyết giáo chứa đựng thông điệp tâm linh căn bản của Ấn Độ giáo . Atharva Véda được lấy tên từ các vị tư tế xưa chuyên lo việc cúng thần lửa, gọi là các Atharvan, gồm những câu phù chú ma thuật và những phù chú trừ ma yểm quỷ. Tư tưởng chủ yếu của Vệ Đà được biến đổi từ Đa thần qua Nhất thần, từ Nhất thần sang lãnh vực Triết học ngang qua ba thời đại: Vệ Đà Thiên Thư (Veda), Phạm Thiên (Brahmana) và Áo nghĩa thư . [[Thể loại:Sách tôn giáo Ấn độ]] ipa4lwvevjuesekgot507nimitff01h Hin đu giáo 0 110378 542305 2026-04-29T17:10:11Z ~2026-26125-13 19579 Trang mới: “Hin đu giáo là một tôn giáo Ấn độ được hình thành ở giữa năm 2300 trước Công nguyên và 1500 TCN ở Thung lũng Indus gần Pakistan là một tôn giáo đa thần [[Category:Sách Sikh giáo]] ==Bối cảnh lịch sử== Dưới [[Vương triều Hồi giáo Delhi|Vương quốc Hồi giáo Delhi]] (1206-1526), Ấn Độ thường xuyên bị phân liệt về lãnh thổ và chính trị bởi các thủ lĩnh Hồi giáo chia nhau cầ…” 542305 wikitext text/x-wiki Hin đu giáo là một tôn giáo Ấn độ được hình thành ở giữa năm 2300 trước Công nguyên và 1500 TCN ở Thung lũng Indus gần Pakistan là một tôn giáo đa thần [[Category:Sách Sikh giáo]] ==Bối cảnh lịch sử== Dưới [[Vương triều Hồi giáo Delhi|Vương quốc Hồi giáo Delhi]] (1206-1526), Ấn Độ thường xuyên bị phân liệt về lãnh thổ và chính trị bởi các thủ lĩnh Hồi giáo chia nhau cầm quyền ở các địa phương và nhiều lần bị quân [[đế quốc Mông Cổ|Mông Cổ]] tấn công xâm lược, nhất là ở vùng Tây Bắc rộng lớn. Bên cạnh đó, người [[Hồi giáo]] cai trị lại thực hiện chính sách phân biệt tôn giáo. Họ dành nhiều ưu ái, quyền lợi về chính trị, kinh tế cho tín đồ Hồi giáo cũng tức là hạn chế quyền lợi của các tôn giáo khác, trong đó có đông đảo tín đồ Ấn giáo. Cùng với những lý do khác về kinh tế, xã hội đã dẫn đến phong trào đấu tranh của các giáo phái ở Ấn Độ. Những nhà tư tưởng của các phong trào này đều phủ nhận sự phân chia đẳng cấp, đòi bình đẳng của mọi người trước thần linh và chủ trương không phân biệt biệt địa vị xã hội và tôn giáo, tín ngưỡng . == Lịch sử hình thành và phát triển == ===Guru Nanak=== Guru Nanak đã sáng lập ra đạo Sikh vào đầu [[thế kỷ 16]] tại [[Punjab (Ấn Độ)|bang Punjab]] thuộc miền [[Bắc Ấn Độ]]. Đạo Sikh được xem như một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận tư tưởng, giáo luật, lễ nghi của các tôn giáo đã có ở Ấn Độ như [[Ấn Độ giáo]], [[Hồi giáo]], [[Phật giáo]]. Guru Nanak sinh năm 1469 trong một gia đình thuộc đẳng cấp thứ hai, Ksatriya (bao gồm vua chúa, quý tộc, tướng lĩnh) thuộc bộ tộc Bedi tại làng Talwandi gần [[Lahore]]. Từ nhỏ, ông được giáo dục là một người theo Ấn giáo. Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ người cha, người đã từng làm việc cho ông chủ làng là người Hồi giáo (Muslim), Nanak sớm tiếp nhận và tinh thông cả Ấn giáo (Hindu) lẫn Hồi giáo (Muslim). Lúc nhỏ, ông là một đứa trẻ rất thông minh, sùng đạo và đầy triển vọng, có thể tranh luận cùng với các đạo sư của các giáo phái nhằm giải đáp mọi thắc mắc về tín ngưỡng tôn giáo nói chung. Ở tuổi 16, Nanak trở thành một quan chức chính phủ và được làm quen với thế giới Hồi giáo rộng lớn, gặp gỡ nhiều nhân vật uyên bác và huyền học nhưng vẫn không có được câu trả lời thích đáng cho vấn đề tín ngưỡng, vì thế ông vẫn tiếp tục theo đuổi tìm kiếm đạo lý riêng cho chính mình. Năm 19 tuổi, mặc dù đã tận tâm với đời sống cầu nguyện và thiền định, nhưng ông vẫn cưới vợ và có được hai người con trai. Sau khi lập gia đình, ông đã chuyển đến Sutanpur sống cùng với người anh rể một thời gian. Tại đây, ông và một nhóm người nữa, đã cùng nhau tụ họp vào mỗi buổi sáng và buổi chiều để đọc kinh cầu nguyện và thiền định, dần dần số người đi theo này càng đông tạo thành một cộng đồng lớn để rồi chính thức trở thành một cộng đồng Sikh giáo, có hệ thống tổ chức được công nhận vào năm 1521 . Chính ở tại Sutalpur, Guru Nanak đã trải qua sự "thực nghiệm tâm linh", chứng đạt được một vài sự huyền bí, và một trong những chứng nghiệm đó đã được Gủru Nanak lấy làm nguyên tắc chỉ đạo cho đạo Sikh, khi đó ông nói: ''"Không có Hindu cũng không có Islam, vì thế tôi sẽ theo con đường của ai? Tôi sẽ theo con đường của Thiên Chúa, Chúa trời không phải Hindu giáo cũng chẳng phải Islam giáo, và con đường tôi theo là con đường của Chúa"'' Ông cho rằng mình là người được Chúa Trời chọn mặc khải để cứu giúp nhân loại, Nanak đã từ quan và trở thành nhà truyền giáo đi thuyết giảng khắp Ấn Độ, Hy Mã Lạp Sơn ([[Hymalaya]]), [[Tây Tạng]] (Tibet), Ceylon ([[Sri Lanka]]) cho tận đến thánh địa Hồi giáo [[Mecca]] tại [[Ả Rập Xê Út]]. Ông đã thăm viếng nhiều trung tâm của Hồi giáo, Ấn giáo và Phật giáo, thuyết giảng về một tôn giáo không chuộng hình thức, và cho rằng ''giá trị của con người quan trọng hơn địa vị hoặc giai cấp, hay nói đúng ra là tinh thần (tâm linh) bên trong quan trọng hơn nghi thức bên ngoài''. Trong tư tưởng giáo huấn của Nanak, ông luôn khuyên con người hãy'' ''tìm chân lý ở chính bên trong bản thân mình'', (bên trong cái tâm đã được đồng nhất với Thiên Chúa, Chân Sư (Sat Guru). Đây là tư tưởng cốt lõi của đạo Sikh, là trạng thái tôn giáo tại tâm của con người. Tôn chỉ của đạo Sikh là ‘Nhất thần giáo’ chỉ thờ duy nhất một vị thần là Chúa Trời ; người đã tạo ra vũ trụ và con người, và là đấng tối cao trong tất cả các tôn giáo. Chỗ thờ tự của đạo Sikh gọi là Gurdwara, theo tiếng Punjab nghĩa là ‘Nhà của Đức Chúa Trời’ cũng là ‘cổng vào Guru’. Sách kinh thường cầu nguyện của đạo Sikh gọi là [[Adi Granth]], còn gọi là [[Guru Granth Sahib]]; chữ viết trong kinh gọi là [[Gurmukhi]]; và lời của kinh gọi là [[Gurbani]]. Đạo Sikh không có các chức sắc nhưng lại có những con người với các trách nhiệm khác nhau gọi là [[Granthi]] và [[Giani]]. Gianthi là những người trông coi việc đạo trong các đền thờ Gurdwaras, có bổn phận đọc kinh Guru Granth Sahib và hướng dẫn các buổi cầu kinh hằng ngày. Trong khi đó, Giani là học giả và là người rất thông thạo ngôn ngữ và văn học Punjab. Họ có trách nhiệm giảng giải cho các tín đồ hiểu được nội dung và ý nghĩa trong sách kinh, tuy nhiên, tất cả họ không phải là chức sắc tôn giáo. Nghi thức cầu nguyện trong cộng đồng những người theo đạo Sikh là ngày hai lần (sáng và tối), chủ yếu bao gồm sự thiền định và những bài hát ca tụng của các Gurus. Trong đó, Sodar và Arati được tụng vào buổi chiều và Japti thì được tụng vào buổi sáng sớm dưới sự hướng dẫn của các Granthi. Trong thời gian trị vì (1556-1605) của [[Akbar Đại đế]] giàu lòng khoan dung tôn giáo, đạo Sikh nhận được sự khích lệ đáng kể vì tư tưởng tôn giáo của nhà vua tương đồng với tư tưởng Sikh giáo nhằm thực hiện sự ''hòa đồng tôn giáo hay đoàn kết tôn giáo''. Nhiều công trình kiến trúc, nghệ thuật văn hoá của Sikh giáo đã được xây dựng. Guru Ram Das (1534 – 1581) tận dụng sở đất mà hoàng đế Akbar ban tặng, đã xây thành một hồ nước hình vuông rộng lớn gọi là "Amristar" (Hồ rượu tiên hay là hồ mật hoa); chính giữa mặt hồ có một ngôi đền được làm bằng vàng do chính con trai của Guru Ram Das, Guru Arjan xây dựng. Và thế rồi một đô thị lớn, tên gọi [[Punjab]] được hình thành, nơi đây được coi là thánh địa của Sikh giáo. Bên cạnh đó, Guru Arjan cũng được biết đến là nhà biên soạn bộ thánh kinh đầu tiên ‘Adi Granth’ và đã thiết lập một hệ thống thu nhập thuế từ những tín đồ Sikh giáo cho những công việc từ thiện. Đạo Sikh thời bấy giờ ngày càng có nhiều ưu thế mãi cho đến đời Guru Teg Bahadur (1621-1675), người đã bị hoàng đế Aurangzeb hành hình mà không rõ lý do. Hành động này đã làm cho những người theo đạo Sikh từ một đạo giá cải cách vốn bình lặng trở thành một giáo phái kiêu hùng gồm những con người sẵn sàng quyết chiến, "tử vì đạo" (đây là một đặc điểm của tôn giáo nói chung mà S. Freud, V.I. Lênin... đã chỉ ra) dưới sự lãnh đạo của Guru Govind Singh, người luôn sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ đạo giáo (con trai của Guru Teg Bahadur). ===Guru Govind Singh=== Guru Govind Singh tuân thủ với những gì Guru Nanak đã dạy. Ngoài ra, ông còn củng cố giáo đồ của mình bằng cách lập ra kiểu rửa tội khai tâm bằng thanh kiếm và đặt ra một số quy lệ phù hợp cho một đạo quân. Ông chịu trách nhiệm dạy dỗ và un đúc lòng dũng cảm chiến đấu cho tín đồ đạo Sikh, nhằm bảo đảm tính sống còn cho đạo giáo này. Ông kêu gọi những người Sikh cùng chí hướng là [[Khalsa]] ([[tiếng Ả Rập]] là Khalas ; nghĩa là tinh khiết, thuần tuý; và chỉ dẫn họ gắn thêm thành tố Singh (có nghĩa là sư tử) vào cuối họ tên nhằm để nhấn mạnh bản tính quân đội trong họ . Các Khalsa phải tuân theo '''giới luật''' riêng ví dụ như '''không được hút thuốc lá, ngoại tình và ăn thịt các con vật được đem hiến tế'''. Dù chỉ là một nhóm thiểu số nhưng Khalsa có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ cộng đồng Sikh giáo. Người Sikh thường mang trên mình 5 dấu hiệu tôn giáo để chứng tỏ sự trung thành với giáo lý của đạo Sikh. Cả năm dấu hiệu đều được bắt đầu bằng chữ cái K nên được gọi là [[Ngũ Ks]] #(1) kesh (không cắt tóc và râu) #(2) kanga (lược gỗ), #(3) kachs (quần mặc trong), #(4) kara (vòng kim loại), và #(5) kirpan (cây kiếm nhỏ). Biểu tượng của Sikh giáo là lá cờ hình tam giác màu vàng cam, gồm có 3 biểu vật phối hợp với nhau: #(1) Khanda – con dao găm hai lưỡi tượng trưng cho sự tự do và công lý, #(2) Chakar – hình tròn, cho thấy sự cân bằng giữa 2 lưỡi gươm, thể hiện tính đơn nhất, chỉ có một thần và #(3) kirpans – gồm hai lưỡi gươm cong, một đại diện cho tôn giáo, là quyền năng của Chúa (Chân Sư), và cái kia đại diện cho thế sự cũng là năng lực của Chúa, người thống lãnh tín đồ đạo Sikh. Và Ek Onkar là thánh ngữ của đạo Sikh có nghĩa là "Duy nhất một Chúa" được viết bằng tiếng Punjab xuất hiện ở bên ngoài của các ngôi đền Sikh giáo. Đạo Sikh là một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận giáo lý, giáo luật... của các tôn giáo ở Ấn Độ như Ấn giáo, Hồi giáo..., nên tư tưởng của nó có nhiều điểm tương đồng với các tôn giáo kể trên nhưng vẫn có cái riêng, cái đã tạo nên bản sắc không thể trộn lẫn của đạo Sikh với các tôn giáo khác. [[Thể loại:Sách tôn giáo Ấn độ]] o7o9lp6o89h765of3dpc41ri150jck5 Bà la môn giáo 0 110379 542306 2026-04-29T17:11:12Z ~2026-26125-13 19579 Trang mới: “[[Thể loại:Tôn giáo trên thế giới]] Bàlamôn giáo là sự tiếp tục Vệ đà giáo (Veda) vào khoảng 800 năm trước Tây lịch . Tín đồ của Bàlamôn giáo chủ yếu là những người gốc Aryan sống bán du mục ở phía Bắc du nhập nhiều đợt vào miền Tây và Tây bắc Ấn Độ trong khoảng thời gian dài 1700 - 1200 TCN và trở thành kẻ thống trị vùng văn hóa này. Đạo Bà-La-Môn thờ Đấ…” 542306 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Tôn giáo trên thế giới]] Bàlamôn giáo là sự tiếp tục Vệ đà giáo (Veda) vào khoảng 800 năm trước Tây lịch . Tín đồ của Bàlamôn giáo chủ yếu là những người gốc Aryan sống bán du mục ở phía Bắc du nhập nhiều đợt vào miền Tây và Tây bắc Ấn Độ trong khoảng thời gian dài 1700 - 1200 TCN và trở thành kẻ thống trị vùng văn hóa này. Đạo Bà-La-Môn thờ Đấng Brahma là Đấng tối cao tối linh, là linh hồn của vũ trụ.Đạo Bà-La-Môn đưa ra những kinh sách giải thích và bình luận Kinh Véda như: Kinh Brahmana, Kinh Upanishad, Giải thích về Maya (tức là Thế giới ảo ảnh) và về Niết bàn. ==Lịch sử hình thành và phát triển Bà-la-môn giáo== Trong tay của các Bà-la-môn, bộ môn tế lễ không cần thần thánh nữa . Trong thời đoạn người ta không cần thần thánh nữa và Phệ-đà giáo cũng được gọi là Bà-la-môn giáo. Trong thời gian này, người ta tìm thấy những gì ban đầu chỉ được nhắc đến sơ qua trong Phạm thư, và không lâu sau đó được các Áo nghĩa thư trình bày rõ ràng qua Khái niệm về Nghiệp và Tái sinh . Giáo lí mới này cho rằng, những hành động tốt cũng như xấu trong đời này sẽ mang kết quả trong đời sau . Một cuộc sống trên thiên đường giờ đây không còn là sự việc cứu cánh vì nơi đó vẫn chịu quy luật tái sinh tái tử cũng như nghiệp quả. Như vậy thì chỗ giải thoát không thể có được nơi chư thiên và cũng không thể đạt được qua việc cúng tế. Giải thoát chỉ có thể được thực hiện qua trí huệ và mục đích của nhận thức này là trạng thái bất tử (sa. amṛtatva), cơ sở của tất cả những hiện hữu: brahman, hoàn toàn tương đồng với ātman, cái tiểu ngã. Với khái niệm này, tôn giáo Phệ-đà đã vượt qua cái bóng của chính nó. ==Quy định Bà-la-môn giáo== ===Phân chia giai cấp xã hội=== Đạo Bà-La-Môn phân chia xã hội Ấn Độ làm 5 giai cấp. Ai sinh ra trong giai cấp nào thì phải ở mãi trong giai cấp đó suốt đời. 1. Giai cấp [[Tăng lữ Bà-La-Môn]] tự cho rằng họ được sinh ra từ miệng của Đấng Phạm Thiên (Brahma), nên họ được quyền giữ địa vị tối cao trong xã hội, độc quyền cúng tế Thượng Đế và các Thần linh. 2. Giai cấp [[Sát-Đế-Lỵ]] được sinh ra từ vai của Đấng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các bậc vua chúa, quí tộc, trưởng giả, công hầu khanh tướng. Họ nắm quyền cai trị và thưởng phạt dân chúng. 3. Giai cấp [[Phệ-Xá]] được sinh ra từ hông của Đấng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các nhà thương mại, các trại chủ giàu có. Họ nắm kinh tế, chuyên môn mua bán làm ăn với các từng lớp dân chúng trong xã hội. 4. Giai cấp [[Thủ-Đà-La]] được sinh ra từ chân của Đấng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các nông dân và công nhân nghèo khổ. 5. Giai cấp [[Chiên-Đà-La]] . Giai cấp thấp kém nhất trong xã hội Ấn Độ, gồm các người làm các nghề hèn hạ như: Ở đợ, làm mướn, chèo ghe, giết súc vật, vv … ===Giáo chức=== Giới Tăng lữ Bà-La-Môn được chia làm 3 bậc: Sơ khởi, Trung và Thượng. 1. Sơ khởi là những vị [[Sư cúng lễ]] thường và những vị phục sự nơi đền chùa. Họ tụng 3 Bộ Kinh Véda đầu, gồm: Rig Véda, Yayur Véda, Sama Véda. Họ hành lễ, chứng lễ các cuộc cúng tế, nên thường trực tiếp với dân chúng. 2. Bậc trung là những vị [[Sư bói toán]], tiên tri, thỉnh Quỉ Thần, thỉnh thoảng họ làm vài phép linh cho dân chúng phục. Hạng này đọc và giảng giải Bộ Kinh Véda thứ tư là Atharva Véda. Bộ Kinh thứ tư này có nội dung cao hơn 3 Bộ Kinh trước và có những câu Thần chú. 3. Bậc thượng là những vị [[Sư nghiên cứu]], gồm các vị sư không còn trực tiếp với dân chúng. Hạng này chuyên nghiên cứu các lực vô hình trong vũ trụ. Hạng Bà-La-Môn sơ khởi phải tu học 20 năm mới lên hạng trung. Hạng trung tu học 20 năm mới lên hạng thượng.Trên hết là một vị sư chưởng quản tôn giáo làm Giáo Chủ. Vị Giáo Chủ này có 70 vị sư phụ tá. ===10 Giơi răn=== Giáo lý Bàlamôn được cụ thể hóa thành 10 giới răn (chuẩn mực đạo đức) # Không sát sinh (ahimsa) # Không nói dối (satya) # Không trộm cắp (asteya) # Không tham lam (aparigraha) # Sạch sẽ, tinh khiết (saucha) # Biết bằng lòng (santosha) # Kỷ luật với bản thân (tapas) # Kiềm chế dục vọng và ham muốn (brahmacharya) # Phải học tập (svadhyaya) # Vâng phục mệnh trời (ishvara pranidhana). ===Mục đích sống đời người=== Đời người có 4 mục đích sống * [[Dharma]] - :hoàn thành các nghĩa vụ luân lý, luật pháp và tôn giáo * [[Artha]] - : Mưu sinh và thành đạt trong xã hội * [[Kama]] - : Thỏa mãn các ham muốn nhưng biết tiết chế và điều độ * [[Moksa]] - : Giải thoát khỏi vòng luân hồi bằng cách giải trừ hết các nghiệp (karma) vì khi chết mà vẫn còn nghiệp thì phải chịu tái sinh vào kiếp sau ở thế gian, tức là luân hồi (samsara). ===Lối sống đời người=== Đời người phải trải qua 4 giai đoạn # Học tập - Brahmacharga # Lập gia đình, tạo sự nghiệp - Grhastha # Hướng về tâm linh - Vanaprastha # Thoát ly xã hội để tu hành - Sanrgasu ===Tiêu chuẩn đạo đức=== Bàlamôn giáo cũng góp phần hoàn thiện một số chuẩn mực đạo đức và nhân phẩm như ==== Ghi nhớ 3 trọng ân ==== # Ơn đấng Phạm Thiên, # Ơn thầy, # Ơn tổ tiên ==== Cân bằng 3 phương diện ==== # sùng tín (bhaktimarga) # phụng sự (karmamarga) # trí tuệ/minh triết (jnanamarga) ==Giáo lý== Các giáo lý của Bà la môn bao gồm *[[Linh hồn (Brahman)]] và [[Thể xác (Atman)]] *[[Nghiệp (Karma)]] . : Hành vi thiện ác của con người trong cuộc sống hàng ngày quyết định việc luân hồi chuyển kiếp của linh hồn người ấy sau khi chết. * [[Giác ngộ]] : nhận ra chân lý đằng sau cái nghiệp * [[Giải thoát]] : Thoát ra khỏi ràng buột, vướng mắc . Con đường giải thoát là Thiền định, nhưng con đường tu nầy quá khổ hạnh, ít người theo được, nên đa số tín đồ theo việc thờ cúng Thần linh, tự kềm chế dục vọng của mình và làm việc từ thiện. *[[Luân hồi () ]] . : Tái sinh chuyển kiếp do ở nhiệp thiện ác của con người . Nếu người nào làm điều thiện, linh hồn sẽ được chuyển kiếp thành người ở giai cấp cao hơn, và có thể thành một vị Thần, nhập vào Thiên Đạo. Nếu người ấy làm nhiều điều ác thì linh hồn sẽ chuyển kiếp đầu thai vào những giai cấp thấp kém khổ sở, và có thể bị trừng phạt đọa đày. ==Thuyê't lý== ===Thuyết Thiên nhân hợp nhứt === : ''Tu luyện là để đạt được sự giải thoát của linh hồn khỏi các khổ não ràng buộc nơi cõi trần để đem Atman trở về hiệp nhứt với Brahman '' ==Nghi lễ== Về nghi lễ tôn giáo, kế thừa từ Veda giáo, Bàlamôn giáo cũng tiếp tục nhiều thánh lễ, mà sau đó Hindu giáo cũng tiếp tục duy trì đến nay. Một số thánh lễ chính như *[[Lễ Mahashivarati]] . Giữa tháng 2 tôn thờ thần Shiva * [[Lễ Holi (trong mùa xuân)]] . Lễ hội màu sắc * [[Lễ Ramnavami (cuối tháng 3)]] - Kỷ niệm ngày sinh của thần Ram * [[Loạt lễ Navaratri, Dussehra, và Durga Puja]] - 10 ngày liên tục trong đầu tháng 11 vừa tôn vinh nữ thần Navaratri, vừa kỷ niệm chúa Rama chiến thắng quỷ Ravana, đồng thời kỷ niệm chiến thắng của nữ thần Durga đối với trâu quỷ Mahishasura * [[Lễ Diwali (giữa tháng 11)]] - Lễ ánh sáng với nến đèn, đốt pháo trong 3 giờ liền để kỷ niệm thời khắc chúa Ram đưa vợ là nàng Sita trở về. Đến nay, nhiều nghi lễ này vẫn được Hindu giáo duy trì với tư cách là bản sắc văn hóa, tôn giáo của người Hindu. ==Kinh thánh== Kinh thánh của Bà-la-môn giáo được iết bằng tiếng Sanskrit bao gồm * [[Kinh Phệ đà]] - [[Vedas]] * [[Kinh Áo nghĩa thư]] - [[Upanishads]] * [[Kinh Chí tôn ca]] - [[Bhagavad]] Về mặt kinh điển, tuy vẫn đặt Kinh Veda lên trên hết (như đã nói ở trên), song giai đoạn Bàlamôn giáo phát triển nhiều hơn về thần học và triết học. Tín đồ Hindu giáo tin rằng thánh điển Veda không phải do con người sáng tác ra mà được khải thị cho các bậc hiền triết Bàlamôn rồi được truyền miệng qua các đời cho đến ngày nay. Các kinh điển được hoàn thiện trong thời kỳ này như: ===Kinh Phạm Thư (Brahmana)=== Kinh Phạm Thư (Brahmana) được viết bằng văn xuôi, khi hệ thống 4 giai cấp trong xã hội Ấn Độ đã định hình và giai cấp Bàlamôn cũng đã khẳng định được vị trí tối cao trong xã hội. Kinh Phạm Thư mang tính thần học cao, chủ yếu giải thích ý nghĩa sự linh thiêng trong các nghi lễ khác nhau, sắp xếp các chức năng cúng tế khác nhau cho các tầng lớp tăng lữ, quy định những nghi lễ và những hệ thống biểu tượng tâm linh. Đây là giai đoạn phát triển cao của Bàlamôn giáo nên Kinh này (cũng như trong luật Manu) khẳng định rõ tăng lữ Bàlamôn có đặc quyền làm tế tự. ===Kinh Sân Lâm thư (Aryanka)=== Kinh Sân Lâm thư (Aryanka) được phát triển tiếp tục từ kinh Phạm Thư, song đặc biệt chỉ dành cho những vị đạo sĩ Bàlamôn tu kín trong rừng sâu. Thay thế cho các kỹ thuật tế lễ, nội dung của Sân Lâm Thư chú trọng các kỹ thuật tập trung thiền định vào những biểu tượng tâm linh siêu việt. Các nghi thức tế lễ rườm rà dần được thay thế bởi các vấn đề suy nghiệm và tư duy triết học. Có lẽ Sâm Lâm thư là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời Áo nghĩa thư (Upanishads) với nội dung tập trung vào triết học Hindu giáo nói riêng và của Ấn Độ nói chung ===Kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad) === Kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad) thực chất là tập hợp những bộ luận do giáo sĩ Bàlamôn triển khai các tư tưởng có trong kinh Veda trên phương diện thần học và mang tính triết học cao, như là phần cuối của Veda. Upanishad được thực hiện trong một thời gian rất dài, bởi nhiều tác giả và đều không còn rõ danh tính. Upanishad là sự phát triển tiếp tục Veda, nó là phần kết của Veda và được coi là nền tảng cơ bản cho trường phái Vedanta. Tổng số có hơn 200 Upanishads, nhưng theo truyền thống người Ấn Độ nói là có 108 Upanishads. Trong đó có 10 cho đến 13 Upanishads cơ bản như: Isa, Kena, Katha, Prasna, Mundaka, Mandukya, Taittiriya, Aitareya, Chandogya và Brhadaranyaka15. Đây là những tác phẩm có nội dung thần học và triết học uyên thâm, thể hiện xu hướng nhất nguyên chỉ thờ một thần của Bàlamôn giáo. Sự chuyển đổi ở các kinh đã phản ánh sự chuyển biến về tôn giáo và triết học từ giai đoạn Veda giáo sang Bàlamôn giáo. Kinh Veda chú trọng về nghi thức thờ phụng, nhưng sang giai đoạn Bàlamôn giáo, kinh Upanishad đi sâu hơn vào những vấn đề về Tự ngã (Atman hay gọi là Tiểu ngã, Linh hồn bất diệt) và mối liên hệ của chúng với bản thể Tuyệt đối (Brahma, còn gọi là đấng Phạm Thiên hay Đại Ngã) của vũ trụ vạn vật từ góc độ thần học và có xu hướng thiên về nhất thần luận. Ngay trong Upanishad cũng phần nào phản ánh điều nay, những Upanishad cổ nhất, có lẽ được biên soạn vào khoảng thế kỷ 18 - 17 TCN16, cũng khác các Upanishad muộn hơn. Upanishad cho rằng con người, cũng như mọi chúng sinh đều có một Tự ngã (Atman) bất sinh, bất diệt, thường tịnh. Nó đồng về chất với bản thể tuyệt đối (Brahman). Khi Tự ngã của chúng sinh chưa hòa nhập với bản thể tuyệt đối, thì con người vẫn còn phải luân hồi trong vòng sinh tử. Giải thoát là một trạng thái Atman đạt được sự hòa đồng với bản thể tuyệt đối (Brahman) hằng hữu vĩnh cửu. Kinh điển Bàlamôn giáo còn là hệ thống lý luận đầu tiên chứng minh cho sự hợp lý của tình trạng bất bình đẳng giai cấp bằng mô hình xã hội thần quyền, mà trong đó giới Bàlamôn được coi là đẳng cấp thần thánh, có vị trí cao nhất trong xã hội. Đó là công cụ tinh thần bảo vệ chế độ đẳng cấp của giai cấp thống trị Bàlamôn lúc đó. fbah78vh2rirlj2o3knc2p1s329762d Kỳ na giáo 0 110380 542307 2026-04-29T17:11:44Z ~2026-26125-13 19579 Trang mới: “[[Tập tin:In-jain.svg|200px|right|Đạo kỳ của Kì-na giáo]] [[Tập tin:Jain Prateek Chihna.svg|right|200px|right|Biểu tượng của Kì-na giáo.]] '''Kỳ Na giáo''', '''Kì-na giáo''' (chữ Hán: 耆那教) hay là '''Jaina giáo''' (tiếng Anh: ''Jainism''), là một [[tôn giáo]] của [[Ấn Độ]], một tôn giáo có hệ tư tưởng dựa vào hệ thống thánh điển [[Veda]] . Kì-na giáo là một trong những tôn giáo lâu đời…” 542307 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:In-jain.svg|200px|right|Đạo kỳ của Kì-na giáo]] [[Tập tin:Jain Prateek Chihna.svg|right|200px|right|Biểu tượng của Kì-na giáo.]] '''Kỳ Na giáo''', '''Kì-na giáo''' (chữ Hán: 耆那教) hay là '''Jaina giáo''' (tiếng Anh: ''Jainism''), là một [[tôn giáo]] của [[Ấn Độ]], một tôn giáo có hệ tư tưởng dựa vào hệ thống thánh điển [[Veda]] . Kì-na giáo là một trong những tôn giáo lâu đời trên thế giới do [[Vardhamana Mahavira]] (540 TCN - 468 TCN) sáng lập ra tại bắc Ấn Độ gần như là cùng thời với Phật giáo. Triết lý và phương thức thực hành của đạo dựa vào nỗ lực bản thân để đến cõi Niết Bàn. == Vardhamana Mahavira == '''Mahavira''' ([[Tiếng Phạn|chữ Phạn]]: महावीर; [[Tiếng Kannada|chữ Kannada]]: ಮಹಾವೀರ; [[Tiếng Tamil|chữ Tamil]]: அருகன் ("Arugan")) có nghĩa là "Đại anh hùng" hay "Anh hùng vĩ đại", 599—527 TCN) còn được gọi là '''Vardhamana''' hoặc '''Kevala''' là ''[[Tirthankara]]'' thứ 24 của [[Kỳ Na giáo]]. Ông là người kế thừa tinh thần của Tirthankara [[Parshvanatha]] thứ 23.Trong lịch sử, Mahavira, người đã giảng đạo Kỳ Na giáo ở Ấn Độ cổ đại, là người cùng thời với [[Tất-đạt-đa Cồ-đàm|Phật Gautama]]. Các học giả xác định niên đại của ông từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 5 TCN và nơi sinh của ông cũng là một điểm còn tranh cãi. ===Ra đời === Mahavira sinh vào đầu thế kỷ 6 trước Công nguyên trong một gia đình hoàng gia [[Kshatriya]] Jain ở [[Bihar]], [[Ấn Độ]]. Tên mẹ của ông là [[Trishala]] và tên của cha là [[Siddhartha của Kundagrama|Siddhartha]]. Họ là những tín đồ của Parshvanatha. Mahavira tên thật là Vardhamana, xuất thân là hoàng tử của bộ lạc Lichavi, vương quốc [[Kosala]]. Thuộc đẳng cấp Kshastriya. Năm 19 tuổi, ông lập gia đình và có một con gái. Tới năm 30 tuổi, Vardhamana rời gia đình, từ bỏ vợ con, dấn thân vào cuộc sống khổ hạnh và khỏa thân. Mahavira từ bỏ mọi tài sản thế gian ở tuổi khoảng 30 và rời nhà để theo đuổi sự thức tỉnh tâm linh, trở thành một [[Khổ tu|nhà khổ hạnh]]. Mahavira thực hành thiền định cường độ cao và khổ hạnh nghiêm khắc trong 12 năm rưỡi, sau đó ông đạt được ''[[Kevala Gyan]]'' (toàn giác). Con đường tầm đạo của ông kéo dài 12 năm trời mới thành đạo. Trong thời gian ấy, có thời ông hiệp đoàn với [[Gosaka]], người về sau sáng lập [[Ajivikas]], một hệ phái [[Ấn Độ giáo|Ấn giáo]] phi chính thống khác. Tới năm 42 tuổi, Vardhamana, thành tựu toàn tri — thuật ngữ Jaina giáo dùng để gọi sự thức ngộ, giác ngộ, vì thế được gọi là một Jina: người chinh phục. Các tín đồ của tôn giáo này được gọi là Jaina — thường viết tắt là Jain — nghĩa là những kẻ đi theo người chinh phục. Danh hiệu Mahavira có nghĩa là Đại Anh hùng, một biệt danh dùng để tôn vinh cá biệt vị tổ sư này.Ông đã thuyết giảng trong 30 năm và đạt được [[Moksha (Kỳ Na giáo)|Moksha]] (sự cứu rỗi) vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, chi tiết cụ thể vào các năm khác nhau tùy theo [[Trường học và chi nhánh Jain|giáo phái]]. === Qua đời=== Kết thúc 30 năm rao giảng, xây dựng và phát triển [[Jaina giáo]], Mahavira từ trần sau một cuộc tuyệt thực cho tới chết tại [[Para]], nơi gần [[Patna]] ngày nay. Và nơi ấy từ đó trở thành thánh địa hành hương của mọi tín đồ Jaina giáo. Cho tới thời điểm nhập diệt, Đức Mahavira có rất đông đảo đệ tử gồm hai dạng: thứ nhất nam nữ tu sĩ (nữ đông hơn nam); và thứ hai các tín đồ tại gia ([[cư sĩ]]), luôn luôn giúp đỡ mọi mặt, đặc biệt về vật chất, cho giới tu sĩ. Trong [[Trung bộ kinh|Trung Bộ kinh]], phẩm 56 Upaly Sutra của [[Phật giáo]] có kể lại cuộc tranh luận giữa Đức Phật [[Sakyamuni]] ([[Tất-đạt-đa Cồ-đàm|Thích Ca Mâu Ni]]) và [[Nigantha Dighatapassi]] (Trường Khổ Hạnh Giả), một cao đồ của Mahavira, cuối cùng Nigantha chịu thua và [[quy y]] theo đạo Phật. Sau đó, [[Tất-đạt-đa Cồ-đàm|Phật Thích Ca]] còn thu phục được Gia chủ [[Upaly]], một cao đồ cư sĩ của Mahavira. Kinh còn ghi lại cuộc tường thuật của hai cao đồ ấy cho Mahavira. ==Lịch sử hình thành và phát triển kỳ na giáo== Từ cuối thế kỷ thứ sáu trước CN, người [[Kỳ Na giáo]] tuyên bố rằng truyền thống của họ đã có một lịch sử rất lâu đời, kéo dài liên tục qua 24 thế hệ tổ sư được gọi là các [[Tirthankara]], có nghỉa là ''những người lội qua chỗ cạn'', hay ''người mở đường ''. Sở dĩ có danh xưng ấy vì họ đã giúp cho các đệ tử, những người đi theo họ, băng ngang sông suối thế gian để đạt toàn tri (giác ngộ) — tới bờ bến an toàn và cứu rỗi. Trong số những vị mở đường ấy có Rsabha, Agitanàtha và Aritanemi; cả ba đều ở thời cổ đại và được đề cập tới trong [[Kinh Yagur-Veda]] (Vệ đà - Tế tự minh luận) của Ấn giáo. Vị tổ thứ 24, Mahavira , người sáng lập ra Kỳ na giáo , người sống cùng thời đại với Đức Phật vào cuối thế kỷ 6 tới đầu thế kỷ 5 trước CN. Tuy nhiên, trong thế kỷ thứ 6 trước CN, xuất hiện một số lượng đáng kể các lối tiếp cận có tính triết học và tôn giáo, thách đố niềm tin vào bốn cơ sở vừa kể của Ấn giáo, cách riêng tại miền bắc nước Ấn. Thí dụ triết học Lokoyata, còn được gọi theo danh xưng của triết gia chủ xướng có tên truyền thuyết là [[Carvaka]]. Triết thuyết này cho rằng ''toàn bộ tri thức đặt cơ sở tối hậu trên các giác quan, do đó, chỉ những gì con người có thể tri giác theo cách ấy mới được xem là thật ''. Vì thế, Carvaka quả quyết rằng không thể nào có linh hồn và cũng chẳng có cái gì còn sống sau khi ta chết. Từ lập trường ấy, truyền thống Lokoyata rút ra kết luận thuận lý rằng ''cuộc theo đuổi duy nhất có giá trị là mưu tìm hạnh phúc trần thế ngay trong cuộc đời này'', và như thế, Carvaka đưa ra một lập trường mang tính chủ nghĩa khoái lạc đơn thuần và chủ nghĩa duy vật phi luân lý. Thế nhưng có một số người khác lại đi tới một cực đoan hoàn toàn trái ngược với Lokoyata. Vẫn nhấn mạnh bản tính hằng cửu của linh hồn, nhưng họ thách đố thẩm quyền của các lễ tế Bà la môn, và họ dấn mình vào lối tu tập khổ hạnh như một phương thế nhằm sở đắc giải thoát (moksa). Họ được gọi là [[Shramana]]: các đạo sư lang thang và những tu sĩ khổ hạnh tự do. Hoàn toàn không thuộc một triết hệ Ấn giáo chính thống nào, họ sống lưu động rày đây mai đó, thu thập tín đồ từ Ấn giáo cải đạo hoặc của các môn phái phi chính thống khác và họ hoạt động bên ngoài kiểu thức chính thống của các nghi lễ Ấn giáo cùng hệ thống đẳng cấp của xã hội Ấn. Vào thế kỷ thứ 6, từ bên trong các nhóm Shramana ấy phát sinh hai triết thuyết và trở thành hai tôn giáo: [[Kỳ Na giáo]] và [[Phật giáo]]. ===Tổ sư 23 - Parsva === [[Tập_tin:Buddha_meditating.jpg|200px|right]] Trong ‘Nghi Quỹ Kinh’ còn gọi là ‘Kiếp Ba Kinh’ của Kỳ Na giáo, có ghi chép về vị tổ sư thứ 23, sống vào khoảng thế kỷ 9 trước CN, trước Mahavira khoảng 250 năm. Danh xưng của ông là [[Parsva]] và cũng quả thật là một nhân vật lịch sử. Thân phụ của Parsva là quốc vương xứ Benares. Thuở trẻ, Parsva từng là dũng sĩ, tham gia nhiều chiến trận. Sau ba chục năm sống tại gia, ông trở thành tu sĩ khổ hạnh lang thang suốt bảy chục năm. Ông hệ thống hoá lý thuyết trước đó của [[Kỳ Na giáo]] và đề ra năm điều cấm. Đó là ''không sát sinh, không lừa đảo, không trộm cướp, không tà dâm và không chiếm làm của riêng ''. Vị tổ đời thứ 23 này dùng màu xanh lam làm sắc hiệu, với biểu tượng là bảy con rắn quấn quanh đầu và ông ngồi trên mình rắn. Sách thánh của Kỳ Na giáo mô tả Parsva là ‘Vị Đệ nhất’, ‘Đấng Giác ngộ’, ‘Đấng Toàn tri’, đồng thời quả quyết rằng trong các cuộc hành cước của ông từ Bihar tới Tay Bengal, có rất đông đảo tín đồ đi theo. Đặc biệt, nơi Parsva nhập Niết Bàn và tịch tại núi Sammeta, trở thành thánh địa hành hương của giáo chúng xưa nay. ===Tổ sư 24 - Vardhamana=== Là một tu sĩ khổ hạnh khỏa thân, [[Vardhamana Mahavira]], vị tổ sư Kỳ Na giáo thứ 24, sống và giảng dạy tại một khu vực của Ấn, ngày nay là Bihar và Uttar Pradesh. Ông chào đời có lẽ trước Đức Phật khoảng vài chục năm. Các tín đồ Kỳ Na giáo đưa ra thời điểm của Mahavira là từ năn 599 tới 527 trước CN, dù thực tế, có thể ông sống trong khoảng thời gian sau đó, từ năm 540 tới năm 468 trước CN; so với thời điểm của Đức Phật là khoảng năm 566 tới 486 trước CN. Người tập đại thành cho [[Kỳ Na giáo]] là [[Vardhamana]], vị [[tổ sư thứ 24]] . Xuất thân từ một dòng họ nổi tiếng, thuộc đẳng cấp chiến sĩ, ở vùng hạ lưu sông Hằng, ông lập gia đình và có một con gái. Tới năm 30 tuổi, Vardhamana rời gia đình, từ bỏ vợ con, dấn thân vào cuộc sống khổ hạnh và khỏa thân. Con đường tầm đạo của ông kéo dài 12 năm trời mới thành đạo. Trong thời gian ấy, có thời ông hiệp đoàn với Gosaka, người về sau sáng lập Ajivikas, một hệ phái Ấn giáo phi chính thống khác. Tới năm 42 tuổi, Vardhamana, thành tựu toàn tri — thuật ngữ Kỳ Na giáo dùng để gọi sự thức ngộ, giác ngộ, vì thế được gọi là một Jina: người chinh phục. Các tín đồ của tôn giáo này được gọi là Jaina — thường viết tắt là Jain — nghĩa là những kẻ đi theo người chinh phục. Danh hiệu [[Mahavira]] có nghĩa là Đại Anh hùng, một biệt danh dùng để tôn vinh cá biệt vị tổ sư này. Kết thúc 30 năm rao giảng, xây dựng và phát triển Kỳ Na giáo, Mahavira từ trần sau một cuộc tuyệt thực cho tới chết tại [[Para]], nơi gần Patna ngày nay. Và nơi ấy từ đó trở thành linh địa hành hương của mọi tín đồ Kỳ Na giáo. Cho tới thời điểm nhập diệt, Đức Mahavira có rất đông đảo đệ tử gồm hai dạng: thứ nhất nam nữ tu sĩ (nữ đông hơn nam); và thứ hai các tín đồ tại gia (cư sĩ), luôn luôn giúp đỡ mọi mặt, đặc biệt về vật chất, cho giới tu sĩ. Xét theo khía cạnh triết học, lý thuyết của Kỳ Na giáo bao gồm ít nhất bốn lãnh vực căn bản: ''vũ trụ luận, tri thức luận, luận lý học và đạo đức học ''. Tuy các lời giảng của Mahavira được chính ông và các tín đồ quả quyết có giá trị vĩnh cửu, ta cũng nên đặt chúng vào bối cảnh đương thời vốn đối nghịch với chúng để có thể đánh giá chúng một cách xứng đáng. Từ cuối thế kỷ thứ sáu trước CN, người [[Kỳ Na giáo]] tuyên bố rằng truyền thống của họ đã có một lịch sử rất lâu đời, kéo dài liên tục qua 24 thế hệ tổ sư được gọi là các [[Tirthankara]], có nghỉa là ''những người lội qua chỗ cạn'', hay ''người mở đường ''. Sở dĩ có danh xưng ấy vì họ đã giúp cho các đệ tử, những người đi theo họ, băng ngang sông suối thế gian để đạt toàn tri (giác ngộ) — tới bờ bến an toàn và cứu rỗi. Trong số những vị mở đường ấy có Rsabha, Agitanàtha và Aritanemi; cả ba đều ở thời cổ đại và được đề cập tới trong [[Kinh Yagur-Veda]] (Vệ đà - Tế tự minh luận) của Ấn giáo. Vị tổ thứ 24, Mahavira , người sáng lập ra Kỳ na giáo , người sống cùng thời đại với Đức Phật vào cuối thế kỷ 6 tới đầu thế kỷ 5 trước CN. ==Quan niệm Kỳ na giáo== * Kì-na giáo mang tính Vô thần chủ nghĩa , không công nhận thần linh * Kỳ-na giáo không chấp nhận hệ thống giai cấp * Bác bỏ các nghi lễ Bà la môn như là phương thế để thành tựu giải thoát, từ việc cử hành chính xác các nghi lễ. * Thế giới không có khởi đầu nhưng được xem là đang chuyển động qua các thời kỳ tiến hóa và thoái hóạ * Kỳ-na giáo rất gần gũi với Sinh mệnh phái (Ajivikism), có cùng chủ trương bất hại, hoà bình . Kỳ Na giáo là một triết học và là một tôn giáo, lấy nguyên tắc Không sát sanh (ahimsa) làm tâm điểm tuyệt đối trên cả hai phương diện lý thuyết và thực hành. Kỳ-na giáo xem bất hại là trọng tâm giáo lý của Chính mình (Chính bản thân mình) “ahimsa paramo dharmah” . Chế ngự bản thân, phải có phương pháp tự kiềm chế các loại Khổ như ham muốn và dục vọng . Suy tưởng để phát triển các phương thức giúp cho con người khắc phục khổ não vốn cố hữu trong cuộc sống nhân sinh . Kỳ Na giáo tìm cách thành tựu công cuộc cứu độ ấy bằng việc chinh phục các giới hạn trần tục, và Jina — từ ngữ xuất phát của Kỳ Na giáo — có nghĩa là ‘người chinh phục’, hiểu theo khía cạnh tâm linh là ‘người chiến thắng’, thế nên Kỳ Na giáo còn được hiểu là ‘tôn giáo của những người chiến thắng’. * Kỳ Na giáo không có những cái tuyệt đối, không có sự hiệp nhất sau cùng của Tiểu ngã Atman vào Ðại ngã Brahman hằng cửụ . Thay vào đó, Kỳ Na giáo cho rằng giải thoát sau cùng là sự thừa nhận rằng tinh thần của ta mới là một thực tại tối hậụ * Kỳ-na chủ trương rằng nghiệp là những vật chất vi tế (subtle material objects) gắn liền với linh hồn . Chính nghiệp báo lèo lái vũ trụ, chứ chẳng phải một thần linh nào cả. * Phủ định sự hiện hữu của cảnh giới thiêng liêng vĩnh cửu và tin rằng linh hồn của con người bị mắc kẹt trong thế giới vật chất, cần được giải thoát nhằm đạt đến thành tựu hoàn thiện nhứt . Khi linh hồn được giải thoát, ở đó chỉ còn lại niềm tin, tri thức, đức hạnh và mọi trạng thái chân chính hoàn hảọ . Khi hết thảy các nghiệp báo ràng buộc đều bị loại bỏ, linh hồn vút bay lên tới bến bờ không gian vũ trụ. ==Giáo lý Kỳ na giáo== 4 nguyên lý đưa đến tuệ giác: # Công đức của tôn giáo (dharma) - Thực hành việc công đức # Thịnh vượng (artha) - Phát triển cực thịnh # An lạc (kāma) - An bình trong bản thân # Giải thoát (moksha) - Thoát khỏi khổ luân hồi 3 nguyên tắc đạo đức # Niềm tin không thay đổi. # Tri thức phải hiểu biết sâu sắc. # Ðức hạnh phải rạng ngời. 7 phép tu luyện # Mạng # phi mạng (linh hồn và phi linh hồn) # Lậu nhập (nghiệp vào linh hồn của con người) # Lậu hoặc (trói buộc ngăn không cho con người giải thoát) # Chế ngự. # Tĩnh tâm # giải thoát ==Kinh sách Kỳ na giáo== Mahavira dạy rằng việc tuân thủ các lời thề ''[[Ahimsa trong Kỳ Na giáo|ahimsa]]'' (bất bạo động), ''[[satya]]'' (chân lý), ''[[asteya]]'' (không trộm cắp), ''[[brahmacharya]]'' (trinh tiết), và ''[[aparigraha]]'' (không dính mắc) là cần thiết để giải thoát tâm linh. Ngài dạy các nguyên tắc của ''[[Anekantavada]]'' (thực tại nhiều mặt): ''[[Anekantavada|syadvada]]'' và ''[[Anekantavada|nayavada]]''. Ba điểm căn bản trong các lời giảng của Đức Đại Anh hùng là: *Bác bỏ các nghi lễ [[Bà-la-môn|Bà la môn]] như là phương thế để thành tựu giải thoát, ông tái thông giải khái niệm về nghiệp báo mà truyền thống [[Ấn Độ giáo|Ấn giáo]] chính thống ưu tiên áp dụng nó như là hậu quả tuôn trào từ việc cử hành chính xác các [[nghi lễ]]. *Phủ định sự hiện hữu của cảnh giới thiêng liêng vĩnh cửu, ông tin rằng linh hồn của con người bị mắc kẹt trong thế giới vật chất, cần được giải thoát nhằm thành tựu sự toàn mãn. *Biến giới luật bất tổn sinh ([[bất bạo động]] - ahimsa) thành tâm điểm tuyệt đối của [[triết học]] và [[luân lý học|đạo đức học]] thực hành của mình. Tuy thế, những lời giảng của Mahavira không được ghi thành văn cho tới thế kỷ thứ 2 sau CN. Mãi tới thế kỷ thứ 5, cũng vẫn chưa có bản san định tổng thể các sách thánh chính của [[Jaina giáo]]. Để am hiểu triết học của mình, mọi hệ phái Jaina giáo đều chấp nhận thẩm quyền và đặt cơ sở [[xiển dương]] trên cuốn kinh [[Tattvartha Sutra]] (Kinh về những phạm trù nhận thức) do tu sĩ triết gia [[Umasvarti]] ghi lại vào khoảng đầu thế kỷ thứ 2 sau CN. Giáo lý của Mahavira được [[Indrabhuti Gautama]] (đệ tử chính của ông) biên soạn thành [[Jain Agamas]]. Các kinh sách này, được các nhà sư Jaina [[Truyền thống truyền miệng|truyền miệng]], được cho là đã bị thất lạc phần lớn vào khoảng thế kỷ 1 CN (khi phần còn lại được viết ra lần đầu tiên theo truyền thống Svetambara). Các phiên bản còn sót lại của Agamas do Mahavira giảng dạy là một số văn bản nền tảng của nhánh [[Svetambara]] của Kỳ Na giáo, nhưng tính xác thực của chúng bị tranh chấp với Kỳ Na giáo [[Digambara]]. Gặp trường hợp có những hệ phái khác nhau của một tôn giáo, các học giả khó có thể thẩm định trong những lời tuyên bố không hoàn toàn giống nhau và đang ganh đua nhau ấy cái nào là tiếng nói xác thực của người sáng lập. Nhưng đối với [[Jaina giáo]] không có vấn đề đó, vì cả hai hệ phái chính — [[Svetambara]] và [[Digambara]] — chỉ bất đồng về vài điểm thực hành, đặc biệt ở chỗ tu sĩ nên [[khỏa thân]] hay mặc quần áo, chứ không có những thông giải triết học khác nhau về tôn giáo của mình. Do đó, chúng ta có thể khá tự tin khi cho rằng các khái niệm hiện lưu hành trong [[Jaina giáo]] thật sự phản ánh trung thực lời giảng dạy nguyên thủy của Mahavira 25 thế kỷ trước. 3di6xa6mox2k0tygf5ixlzaosmklokw Phật giáo 0 110381 542308 2026-04-29T17:12:56Z ~2026-26125-13 19579 Trang mới: “Phật giáo (chữ Hán: 佛教 - chữ Phạn: बुद्ध धर्म) hay đạo Phật là một tôn giáo đồng thời cũng là một hệ thống triết học bao gồm một loạt các giáo lý, tư tưởng triết học cũng như tư tưởng cùng tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích hiện tượng tự nhiên, tâm linh, xã hội, bản chất sự vật và sự việc; các phương pháp thực hành,…” 542308 wikitext text/x-wiki Phật giáo (chữ Hán: 佛教 - chữ Phạn: बुद्ध धर्म) hay đạo Phật là một tôn giáo đồng thời cũng là một hệ thống triết học bao gồm một loạt các giáo lý, tư tưởng triết học cũng như tư tưởng cùng tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích hiện tượng tự nhiên, tâm linh, xã hội, bản chất sự vật và sự việc; các phương pháp thực hành, tu tập dựa trên lời dạy của một nhân vật lịch sử có thật là [[/Tất-đạt-đa Cồ-đàm/]] (悉達多瞿曇, सिद्धार्थ गौतम, Siddhārtha Gautama) cùng với các truyền thống, tín ngưỡng được hình thành trong quá trình truyền bá, phát triển Phật giáo sau thời của Tất-đạt-đa Cồ-đàm. [https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch-ca_M%C3%A2u-ni Tất-đạt-đa Cồ-đàm] thường được gọi là Bụt hay Phật hoặc người giác ngộ, người tỉnh thức. Theo kinh điển của Phật giáo, cũng như các tài liệu khoa học khảo cổ chứng minh rằng, Tất-đạt-đa Cồ-đàm đã sống và thuyết giảng ở vùng đông bắc bán đảo Ấn Độ xưa (nay thuộc Ấn Độ, Nepal, Bhutan) từ khoảng thế kỉ thứ 6 TCN đến thế kỉ thứ 4 TCN. ==Phật giáo== ===Hình thành=== Khoảng 3000 năm TCN, người Dravidian bản địa xây dựng nên nền văn minh cổ xưa nhất ở Ấn Độ ven bờ sông Ấn và sông Hằng. Sau đó, người Aryan du mục đã dần mở mang và xâm chiếm các vùng lãnh thổ Ấn Độ và lan rộng ra hầu hết bán đảo Ấn Độ khoảng 1000 năm TCN. Nền văn hóa triết học chính ngự trị thời bấy giờ là văn hóa Vệ-đà (Vedas). Văn hoá Vệ-đà nghiêng về sùng bái nhiều thần thánh cũng như có các quan điểm thần bí, tâm linh về thế giới, vũ trụ. Những sự phát triển về sau đã biến văn hóa Vệ-đà thành Đạo Bà-la-môn (Đạo Brāhmaṇa) và phân hoá xã hội thành bốn giai cấp chính trong đó đẳng cấp Bà-la-môn (tầng lớp tăng lữ) là giai cấp thống trị. Tư tưởng luân hồi cho rằng sinh vật có các vòng sinh tử thoát thai từ đạo Bà-la-môn (hay sớm hơn từ văn hóa Vệ-đà). Đạo Bà-la-môn còn cho rằng tồn tại một bản chất chung của vạn vật, đó là Đại ngã (Brahman). * '''Phật giáo hình thành '''. Phật giáo được Tất-đạt-đa Cồ-đàm, người sáng lập Phật giáo, thuyết giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ 6 TCN. Được truyền bá trong khoảng thời gian 45 năm theo Phật giáo Nam tông (hoặc 49 năm theo Phật giáo Bắc tông) khi Đức Phật còn tại thế ra đến nhiều nơi, nhiều dân tộc nên lịch sử phát triển của Phật giáo khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức, nghi lễ hay phương pháp thực tập, tu học. Ngay từ buổi đầu, Đức Phật đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Tại Ấn Độ . * '''Phật giáo suy sụp '''. Phật giáo có thể đã bắt đầu suy tàn từ thế kỉ thứ 7 và đạo Phật thật sự biến mất trên đất Ấn Độ vào thế kỉ thứ 14 do sự đàn áp của các chính quyền Hồi giáo. * '''Phật giáo chấn hưng '''. Mãi cho đến thế kỉ thứ 21 thì phong trào chấn hưng Phật giáo tại Ấn mới bắt đầu lại. Tuy nhiên, Phật giáo lại phát triển mạnh ở những nước lân cận. Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ sang Tây Tạng, Trung Quốc, Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Nhờ vào tính chất khai sáng cùng sự uyển chuyển, linh hoạt của triết lý, Phật giáo được nhiều người tiếp nhận và có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều tầng lớp giai cấp, nhiều phong tục tập quán ở các thời kỳ, đất nước khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ, Canada, Úc và châu Âu. Triết lý Phật giáo phù hợp với tinh thần khai sáng của châu Âu nên nhiều nhà triết học ở đây chú ý nghiên cứu Phật giáo và truyền bá nó. Sau khi Đức Phật qua đời thì Tôn giả Ma-ha-ca-diếp (Maha Kassapa) thay phần lãnh đạo giáo hội và Phật giáo bắt đầu phân hóa ra thành nhiều nhánh và nhiều hệ tư tưởng, với nhiều sự khác biệt . ===Giáo phái === * [https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o_Nguy%C3%AAn_th%E1%BB%A7y Phật giáo Nguyên thủy], còn gọi là Phật giáo Nam Tông, Phật giáo Thượng tọa, Phật giáo Tiểu thừa, Thanh-văn thừa. Đây là nhánh Phật giáo có hệ thống kinh điển được coi là gần nhất với giáo lý nguyên thủy của đạo Phật . Phát triển mạnh ở Sri Lanka và Đông Nam Á (Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar). * [https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_th%E1%BB%ABa Phật giáo Đại thừa], còn gọi là Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Đại chúng, Phật giáo Phát triển . phát triển ở Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam) cùng các Tông phái nhỏ hơn bao gồm Tịnh độ tông, Thiền tông, Thiên thai tông. * [https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_c%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%ABa Phật giáo Chân ngôn], còn gọi là Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Mật tông, Phật giáo Kim cương thừa, phát triển ở Tây Tạng, Mông Cổ và Bhutan. ===Quan niệm Phật giáo=== * Đạo Phật không công nhận một đấng thần linh tối thượng * Trong Đạo Phật thì chỉ coi một trình độ nhận thức được gọi là Giác ngộ có khả năng Giải thoát ra khỏi bể Khổ nghiệp luân hồi của kiếp sống mọi sinh vật * Phật là danh từ chung để gọi một người đã giác ngộ, đạt tới cảnh giới giải thoát ra khỏi luân hồi, * Đạo Phật có giáo hội nhưng không đặt ra người đứng đầu, các tín đồ đều bình đẳng * Đạo Phật không ép buộc hay khuyến khích thờ cúng của bất kỳ ai. * Sự cúng dàng và bái lạy, hầu cận Phật là một sự ngưỡng mộ tôn kín * Đức Phật cũng nói về thần thánh, nhưng ngài nói rằng các vị thần cũng chỉ là một dạng sinh vật trong các thế giới. * Đạo Phật cho rằng mọi sự vật, hiện tượng (trừ cõi Niết Bàn) đều là vô thường, không thể tồn tại vĩnh hằng, có sinh thì phải có diệt. Duyên khởi thì sinh, duyên tận thì diệt. * Đạo Phật thì cho rằng trong muôn vàn các thế giới cùng tồn tại, mỗi thế giới có những đặc điểm khác nhau * Trong Đạo Phật, loài người cũng chỉ là một kiếp sống như các loài vật khác cũng đều là sinh vật chịu theo quy Luật Nhân quả Có nhân thì có quả . Quả nào cũng có nguyên nhân tạo ra no . Thí dụ như làm thiện gặp thiện, làm ác gặp ác * Không sinh vật nào là vĩnh cửu mà đều phải có lúc chết, lúc chết thì sẽ luân hồi sang kiếp sống khác, kiếp sau như thế nào thì phải tùy vào việc làm nhiều thiện nghiệp hay ác nghiệp ===Giáo quy=== Gia nhập Phật giáo cần phải tuân theo các quy định sau : Ăn chay , Cạo trọc , Tu niệm , Thờ cúng . : Không được vi phạm 5 giới cấm sau 1.Không sát sanh , 2. Không trộm cướp , 3. Không tà dâm , 4. Không gian dối , 5. Không uống rượu . : Phải chịu trừng trị khi vi phạm giới cấm như sau Phạt nộp tiền , Giam , Đày , Chém , Giết ===Giáo chức=== : Tổ, Tôn, Tử - Phật , Pháp, Tăng - Sư , Ni , Tục ===Lễ hội Phật giáo=== :{|width=100% |- | || [[File:Pilgrims_following_the_Dharma_wheel.jpg|300px]] || [[file:Buddhism_Mass_in_Ghost_Festival.JPG|250px]] ||[[File:7th_Month_Hungry_Ghost_Festival_Offerings_in_Singapore.jpg|300px]] |- |} * [https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%85_Ph%E1%BA%ADt_%C4%90%E1%BA%A3n Lễ Phật đản] :Phật Đản (chữ Nho 佛誕 - nghĩa là ngày sinh của đức Phật) hay là Vesak (tiếng Phạn: Vaiśākha, Devanagari: वैशाख, Sinhala: වෙසක් පෝය) là ngày kỷ niệm Phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm sinh ra tại vườn Lâm-tì-ni năm 624 TCN, diễn ra vào ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm. * [https://vi.wikipedia.org/wiki/Vu-lan Lễ Vu lan] : Vu lan (chữ Hán: 盂蘭, bính âm: Zhōngyuán Jié; sa. ullambana), còn được hiểu là lễ báo hiếu, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo (Đại thừa Bắc tông) và phong tục Trung Hoa. Lễ này trùng với Tết Trung nguyên của người Hán, và cũng trùng hợp với ngày Rằm tháng 7 Xá tội vong nhân của phong tục Á Đông. Theo tín ngưỡng dân gian, là ngày mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng cô hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nhà cửa không nơi nương tựa, không có thân nhân trên Dương thế để thờ cúng, và là ngày mọi tù nhân ở địa ngục có cơ hội được xá tội, được thoát sanh về cảnh giới an lành. Vào "tháng cô hồn" (tháng 7 âm lịch), * [https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%BAng_c%C3%B4_h%E1%BB%93n Lễ cô hồn] : Cúng cô hồn, cúng vong linh là một hoạt động tâm linh tương đối phổ biến tại Trung Quốc, Việt Nam với việc thực hiện các nghi thức cúng tế cho các cô hồn, thường là vào tháng Bảy âm lịch, trong dịp lễ Tết Trung Nguyên (Vu-lan).[1] * [[Lễ Thanh minh]] : Cúng mộ tổ tiên . Nói đến Tết Thanh minh thì bao giờ người ta cũng nghĩ đến lễ tảo mộ và hội đạp thanh. Tại Việt Nam các tỉnh Bắc bộ và cộng đồng người gốc Hoa thì ăn tết này theo ngày tiết Thanh minh như Trung Quốc, từ các tỉnh Thanh Hóa trở vào Trung bộ vẫn ăn tết Thanh Minh theo truyền thống vào ngày 3 tháng 3 âm lịch. Xem thêm [https://beta.wikiversity.org/wiki/L%E1%BB%85_h%E1%BB%99i_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o Lễ hội Phật giáo] ==Giáo lý cốt lõi== ===Con người=== Lề lối cư xử hành xử của con người trong cuộc sống hằng ngày *[[/Thiện/]], [[/Ác/]], [[/Tội/]] , [[/Hình/]] , [[/Khổ/]] , [[/Giải thoát/]] , [[/Đạo/]] , [[/Đức/]] Ngoài ra, sức khỏe con người cũng rất quan trọng để có thể sống lâu. Vì vậy con người cần phải chăm sóc , đều dưởng , tập luyện để có sức khỏe lành mạnh không bệnh tật * [[/Bệnh và Chửa bệnh/]] , [[/Võ công/]] , [[/Khí công/]] ===Vũ trụ=== Đức Phật giải thích cho rằng Vũ trụ là vĩnh hằng bất biến không cần phải biết lý do tại sao . Thay vì vậy, Đức phật luận thuộc tánh , biến hóa (Dịch), vận hành (Vận) của vũ trụ theo như * [[/Âm dương/]] , [[/Ngũ hành/]] , [[/Tứ tượng/]] , [[/Bát quái/]] , [[/Lịch/]] theo [[/Thuộc tánh/]] , [[/Dịch/]] , [[/Vận/]] , [[/Luân hồi/]], ===Thuyết=== * [[/Tứ thánh đế/]], [[/Bát chính đạo/]] , [[/Nhân quả và luân hồi/]] , [[/Siêu hình học/]] , [[/Thế giới quan/]] hn222p44f2lz7z3fv914bps4t51wkif Sikh giáo 0 110382 542309 2026-04-29T17:13:42Z ~2026-26125-13 19579 Trang mới: “[[Thể loại:Tôn giáo trên thế giới]] [[Tập tin:SikhismSymbol.PNG|200px|Biểu tượng của Sikh giáo|right]] '''Sikh giáo''' hay '''Tích-khắc giáo''' hay '''Sích giáo''' theo phiên âm Hán Việt, cũng gọi là '''đạo Sikh''', '''đạo Sích''' do [[/Guru Nanak/]] sáng lập vào [[thế kỷ 15]] tại [[Punjab (vùng)|vùng Punjab]] . Tôn giáo lớn thứ năm trên [[thế giới]], với khoảng 30 triệu tín đồ đươc. Tron…” 542309 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Tôn giáo trên thế giới]] [[Tập tin:SikhismSymbol.PNG|200px|Biểu tượng của Sikh giáo|right]] '''Sikh giáo''' hay '''Tích-khắc giáo''' hay '''Sích giáo''' theo phiên âm Hán Việt, cũng gọi là '''đạo Sikh''', '''đạo Sích''' do [[/Guru Nanak/]] sáng lập vào [[thế kỷ 15]] tại [[Punjab (vùng)|vùng Punjab]] . Tôn giáo lớn thứ năm trên [[thế giới]], với khoảng 30 triệu tín đồ đươc. Trong [[tiếng Punjab]], "Sikh" có nghĩa là "học trò", hoặc "môn đệ", còn những người Sikh là "học trò của các Guru". Sikh giáo truyền dạy những giáo lý của Guru Nanak (người lập đạo và cũng là guru đầu tiên) và 10 vị guru khác truyền lại (người cuối cùng thành thánh trong [[Guru Granth Sahib]]).Đạo Sikh không có các giáo chức, nhưng trong các gurdwaras (đền thờ của đạo Sikh) thường có những người có khả năng đọc được Sách kinh, gọi là Granthi, đứng ra trông coi việc đạo. Tuy nhiên, họ không phải là chức sắc tôn giáo. ==Lịch sử hình thành và phát triển == ===Thống trị Hồi giáo === Dưới [[Vương triều Hồi giáo Delhi|Vương quốc Hồi giáo Delhi]] (1206-1526), Ấn Độ thường xuyên bị phân liệt về lãnh thổ và chính trị bởi các thủ lĩnh Hồi giáo chia nhau cầm quyền ở các địa phương và nhiều lần bị quân [[đế quốc Mông Cổ|Mông Cổ]] tấn công xâm lược, nhất là ở vùng Tây Bắc rộng lớn. Bên cạnh đó, người [[Hồi giáo]] cai trị lại thực hiện chính sách phân biệt tôn giáo. Họ dành nhiều ưu ái, quyền lợi về chính trị, kinh tế cho tín đồ Hồi giáo cũng tức là hạn chế quyền lợi của các tôn giáo khác, trong đó có đông đảo tín đồ Ấn giáo. Cùng với những lý do khác về kinh tế, xã hội đã dẫn đến phong trào đấu tranh của các giáo phái ở Ấn Độ. Những nhà tư tưởng của các phong trào này đều phủ nhận sự phân chia đẳng cấp, đòi bình đẳng của mọi người trước thần linh và chủ trương không phân biệt biệt địa vị xã hội và tôn giáo, tín ngưỡng. ===Hình thành và phát triển === Trong bối cảnh lịch sử đó, [[Guru Nanak]] đã sáng lập ra đạo Sikh vào đầu [[thế kỷ 16]] tại [[Punjab (Ấn Độ)|bang Punjab]] thuộc miền [[Bắc Ấn Độ]] cùng chung sống hòa bình với các tôn giáo khác đã có ở Ấn Độ như [[Ấn Độ giáo]], [[Đạo Jaina|Jaina giáo]] (Kỳ Na giáo), Phật giáo, [[Hồi giáo]], [[Thiên Chúa giáo]], [[Do Thái giáo]]. Đạo Sikh được xem như một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận tư tưởng, giáo luật, lễ nghi của các tôn giáo đã có ở Ấn Độ như [[Ấn Độ giáo]], [[Hồi giáo]], [[Phật giáo]]. ==Quan niệm== * Đạo Sikh là ‘Nhất thần giáo’ chỉ thờ duy nhất một vị thần là Chúa Trời – người đã tạo ra vũ trụ và con người, và là đấng tối cao trong tất cả các tôn giáo. Chỗ thờ tự của đạo Sikh gọi là Gurdwara, theo tiếng Punjab nghĩa là ‘Nhà của Đức Chúa Trời’ cũng là ‘cổng vào Guru’. * Tín đồ đạo Sikh cấm không được tôn thờ nhiều thần (Sikh giáo là một giáo phái độc thần) . Không sùng bái, không hành hương đến các điện thờ lớn của Hindu . Không thực hành các nghi lễ mù quáng. * Đối với các tín đồ đạo Sikh, thiên đường chính là thế giới hiện thực! . Thiện nghiệp có thể được tái sinh làm lại thân con người . Ác nghiệp sẻ tái sinh làm súc sinh . Việc giải thoát hay không được giải thoát trong cuộc đời này là do mình . Họ cho rằng , : ''Mỗi một con người cần phải tu thân ngay trong cuộc sống hiện tại, và vượt lên những vất vả khó khăn trong cuộc sống hằng ngày bằng cách khắc phục 5 tật xấu luôn tiềm tàng trong chính mỗi con người Dâm dục, sân hận, tham lam, cố chấp (chấp thủ) và tự kiêu (ngã mạn) * Đạo Sikh nhấn mạnh sự bình đẳng về xã hội và giới tính .Giá trị của con người quan trọng hơn địa vị hoặc giai cấp . Tinh thần (tâm linh) bên trong quan trọng hơn nghi thức bên ngoài . Con người nên tìm chân lý ở chính bên trong bản thân mình . Không chấp nhận phương thức sống thụ động, thoát tục, trở thành tu sĩ hoặc chọn lối sống ẩn dật để trốn tránh đời sống thực tại. Khổ tu không phải là cách đạt được đạo * Đạo Sikh cho rằng, mục đích trong cuộc sống của con người là thoát ly sinh tử và hợp nhất với Chúa trời * Người phụ nữ rất được coi trọng và đồng tình với quan niệm đa thê ==Giáo lý của Sikh giáo== Một cộng đồng lớn đã cải cách trong Ấn Độ giáo, giáo lý của đạo Sikh ít nhiều có những điểm gần giống với tư tưởng Ấn giáo, chẳng hạn như những khái niệm về luân hồi (samsara) và nghiệp báo (karma). Đạo Sikh cho rằng, mục đích trong cuộc sống của con người là thoát ly sinh, tử và hợp nhất với Chúa trời, và theo họ, mục đích này có thể đạt được bằng cách nghe theo lời dạy của bậc đạo sư (Sat Guru – True guru), suy ngẫm về thánh lý và làm tất cả các công việc thiện và phục vụ mọi người. Đối với các tín đồ đạo Sikh, thiên đường chính là thế giới này! Thiện nghiệp có nghĩa là sự tái sinh làm lại thân con người; còn tái sinh làm súc sanh thì giống như ở trong địa ngục, đó là kết quả do ác nghiệp mà ra. Tuy nhiên, trung thành với tôn chỉ, chỉ tin và tôn thờ duy nhất một vị thần, tín đồ đạo Sikh cấm không được tôn thờ nhiều thần, không sùng bái, không hành hương đến các điện thờ lớn của Hindu và thực hành các nghi lễ mù quáng. Họ không chấp nhận phương thức sống thụ động, thoát tục, trở thành tu sĩ hoặc chọn lối sống ẩn dật để trốn tránh đời sống thực tại. Trong tư duy của những người theo đạo Sikh, việc giải thoát hay không được giải thoát trong cuộc đời này là do mình. Họ cho rằng, mỗi một con người cần phải tu thân ngay trong cuộc sống hiện tại, và vượt lên những vất vả khó khăn trong cuộc sống hằng ngày bằng cách khắc phục năm tật xấu luôn tiềm tàng trong chính mỗi con người; đó là dâm dục, sân hận, tham lam, cố chấp (chấp thủ) và tự kiêu (ngã mạn). Trong đạo Sikh, người phụ nữ rất được coi trọng, và quan niệm của họ về người phụ nữ có phần nào đồng tình với quan niệm đa thê của Hồi giáo : ''Chúng ta được sinh ra từ người phụ nữ, Người phụ nữ đã mang thai chúng ta, chúng ta đính hôn và kết hôn với phụ nữ. Chúng ta làm bạn với người phụ nữ, và nhờ người phụ nữ nòi giống mới được nối dõi. Khi một người phụ nữ chết, chúng ta lại kết hôn với người khác, chúng ta ràng buộc với thế giới qua người phụ nữ. Vậy tại sao chúng ta lại nói điều không tốt về người phụ nữ, những người đã sinh ra các vị Vua chúa? Người phụ nữ do chính người phụ nữ sinh ra, chẳng có một ai được sinh ra mà không có người phụ nữ. Duy nhất Chúa trời là không phải do người phụ nữ sinh ra'' (Guru Nanak, Var Asa). Đạo Sikh nhấn mạnh sự bình đẳng về xã hội và giới tính, cho rằng nam và nữ đều được coi trọng như nhau, phản đối tục giết bé gái sơ sinh hoặc tục thiêu sống người vợ cùng với người chồng đã chết, trái lại cho phép người góa phụ tái hôn. Các tín đồ đạo Sikh tin rằng, muốn đạt tới cuộc sống tốt đẹp thì cần phải luôn giữ đức tin trong trái tim, khối óc, phải làm việc chăm chỉ và trung thực, phải có lòng hảo tâm bố thí cho tất cả mọi người. Sống biết chia sẻ với mọi người cũng là một trách nhiệm xã hội mà những người theo đạo Sikh cần phải biết, mỗi một cá nhân cần nên giúp đỡ những người có nhu cầu thông qua công việc từ thiện. ==Kinh sách== [[/Adi Granth (First Book)/]] và [[/Dasam Granth (Book of Tenth King)/]] là thánh kinh của những người theo đạo Sikh. ===Adi Granth=== Adi Granth do Guru thứ năm Arjan biên soạn dựa trên những tài liệu đã được cha của ông biên soạn và sưu tập. Adi Granth được viết bằng chữ Gurmukhi (chữ này có những nét gần giống với mẫu tự của tiếng Phạn và chia làm 6 phần: # [[Japji]]: gồm có những bài kinh của Guru Nanak, được dùng trong lễ cầu nguyện sáng sau khi tắm. # [[So Daru]]: những bài kinh được dùng trong lễ cầu nguyện buổi chiều. # [[So Purkhu]]. # [[Sohila]]: là bài kinh cầu nguyện trước khi ngủ. # [[Rāg]]: phần này có cả thảy 31 phân đoạn tạo thành phần chính yếu của quyển kinh. # [[Bhog]]: có 13 chương được tụng vào những buổi lễ khác nhau. Adi Granth cũng gọi là "Granth Sahib," hoặc "Darbar Sahib," là quyển kinh chính yếu được hầu hết mọi người tôn kính luôn được giữ gìn trân trọng trong đền thờ lớn [[Amristar]]. Adi Granth trình bày những giáo điều mà Guru Nanak và 9 vị Guru Thế tổ khác truyền lại, mở đầu bằng Mool mantar là những lời mà Guru Nanak dùng để mô tả về Chúa trời, và cũng là khái niệm cơ bản của đạo Sikh về Chúa trời nói chung. Nội dung chủ yếu thể hiện sự thống nhất của Chúa trời, mà cốt lõi của Chúa trời là sự thật (SAT NAAM), và là cái nội tại của mọi biểu hiện sáng tạo. Đạo Sikh, do đó, là một đơn thần giáo, nghĩa là chỉ tin và tôn thờ duy nhất một vị thần đó là Chúa trời (IKONKAAR). Chúa trời tạo ra vũ trụ, sự tồn tại của vũ trụ phụ thuộc vào ý chí của Chúa trời (KARTA PURKH). Chúa trời vượt ra ngoài phạm vi sinh, tử (AJOONI), không có hình thù, không có giới tính, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ mang hình dáng con người trên Trái Đất. Chúa trời không có lòng hận thù (NIR VAIR) hay sợ hãi (NIR BHAU) mà luôn tràn ngập sự yêu thương. Người đã, đang và sẽ tồn tại mãi mãi. Chúa trời đến với nhân loại trên toàn thế gian thông qua lời nói được phát ra bởi các Guru được thể hiện dưới hình thức các shabads. Và Chúa luôn ngự ở trong lòng của mỗi chúng ta, mỗi một người nam hay nữ đều phải tìm Chúa trong chính bản thân mình. ===Dasam Granth=== Riêng Dasam Granth là tập sách bổ sung cho bổn kinh Adi Granth do Guru thứ mười cũng là vị Guru cuối cùng Govind Singh biên soạn. Nó được viết bằng [[tiếng Hindi]], giới thiệu những luật lệ quy định do chính Guru Govind Singh đặt ra ==Giáo lý== Trong số những trụ cột chính của đạo Sikh được các Guru đạo Sikh thành lập là việc * Thực hành [[Naam Jaap]] (chiêm nghiệm & ''Thiền định về những lời nói của [[Guru Granth Sahib]]'' như là một phương tiện thiết yếu để khai thác tính tôn giáo và hợp nhất với Đấng sáng tạo) * ''Bình đẳng cho tất cả mọi người'' không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng, màu da, giới tính của họ * Tham gia vào các ''Hoạt động từ thiện phục vụ nhân loại'' (Sewa) và cầu nguyện hàng ngày cho sự thịnh vượng của tất cả mọi người ([[Sarbat da bhala]]) * Sống một đời sống chân thật và trung thực. * ''Đức tin và sự thờ phượng của Đấng Toàn Năng Thượng đế'' (là người tối cao, ở mọi nơi, mạnh mẽ và trung thực tuyệt đối, vô sắc (Nirankar), không sợ hãi (Nirvair), không thù hận (Nirbhau), duy nhất, tự tồn tại, không thể hiểu trọn vẹn, và là Đấng Tạo Hóa của tất cả mọi thứ (Karta Purakh), và Satnam, sự thật vĩnh cửu tuyệt đối) d2b5rxil12hywhjgjmyes2vewfpks6p Hỏa giáo 0 110383 542322 2026-04-29T17:27:29Z ~2026-26125-13 19579 Trang mới: “[[Category:Ba tư giáo]] [[Tập_tin:Faravahar.svg|300px|right]] Hỏa giáo là tôn giáo ở Trung đông phát triển mạnh ở từ thế kỷ 7 TCN, sau đó, phát triển sang nhiều nước khác ở Trung Đông, Ấn Độ và Trung Hoa do nhà tiên tri Zoroaster (Zarathushtra) sáng lập tại miền Đông Đế quốc [[Ba Tư]] cổ đại. ==Zarathushtra== Từ họ Spitama của ông có thể nhận thấy ông xuất thân trong 1 gia đình…” 542322 wikitext text/x-wiki [[Category:Ba tư giáo]] [[Tập_tin:Faravahar.svg|300px|right]] Hỏa giáo là tôn giáo ở Trung đông phát triển mạnh ở từ thế kỷ 7 TCN, sau đó, phát triển sang nhiều nước khác ở Trung Đông, Ấn Độ và Trung Hoa do nhà tiên tri Zoroaster (Zarathushtra) sáng lập tại miền Đông Đế quốc [[Ba Tư]] cổ đại. ==Zarathushtra== Từ họ Spitama của ông có thể nhận thấy ông xuất thân trong 1 gia đình kỵ sĩ quý tộc Anxi . Theo truyền thuyết của Hỏa giáo thì ông sinh vào 628TCN, mất 551TCN Năm 20 tuổi Zarathustra bỏ nhà sống ẩn dật, năm 30 tuổi nhận được “thần khải” nên đã tiến hành cải cách đối với Đạo Đa thần truyền thống của Ba Tư, sáng lập ra Bái Hỏa giáo. Sau đó, ông lưu lạc ở nhiều vùng Ba Tư, bị đại biểu thần quyền quan lại Ba Tư bức hại, rất ít người tin theo ông. Năm 558TCN, ông được quốc vương Vishtaspa của Batricia tiếp đón, quan tể tướng nước này lấy con gái ông làm vợ nê được nhiều quan đại thần và quý tộc tin theo.Từ đó, Bái Hỏa giáo có địa vị vững chắc, từ miền Đông Ba Tư phát triển tới miền Tây và các vùng lân cận. Năm 551 TCN, trong cuộc chiến giữa Vishtaspa và Axeospai của tộc Tolonia, Zarathustra bị sát hại ở miếu thần. ==Hình thành và phát triển Hỏa giáo== Với nguồn gốc có thể có niên đại từ thiên niên kỷ thứ hai TCN, sự xuất hiện Hỏa giáo trong lịch sử được ghi lại trong thế kỷ 5 TCN, kết hợp với thần Mithraic của người Median và Zurvanist của triều đại Sassanid, Hỏa giáo đã trở thành quốc giáo của đế quốc Ba Tư trong khoảng thời gian từ năm 600 TCN tới năm 650 trong các triều đại [[Nhà Achaemenes|Achaemenid]], [[Đế quốc Parthia|Arsacid]] và [[Nhà Sassanid|Sassanid]].Trong giai đoạn này Hỏa giáo cũng lan truyền nhanh chóng sang [[Ấn Độ]] và [[Tên gọi Trung Quốc|Trung Hoa]]. ===Hỏa giáo va Do thái giáo === Nhiều giáo lý quan trọng của Hỏa Giáo Ba Tư như: chỉ tôn thờ một Thiên Chúa, tin có Thiên Thần và Ma Quỉ, Thiên Đàng và Hỏa Ngục, Ngày tận thế, mọi người chết sẽ sống lại để hiện diện trong ngày Phán Xét Cuối Cùng... Tất cả đều đã hòa nhập vào cốt tủy của đạo Do Thái. Rồi từ đạo Do Thái, các đạo hậu sinh như Ki Tô Giáo (Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, Chính Thống) và Hồi Giáo đã sao chép lại những giáo lý đó mà họ tưởng là của các tiên tri Do Thái, nhưng họ không hề biết rằng tác giả của những giáo lý đó là một người Ba Tư tên là Zoroaster. Các tiên tri Do Thái chỉ là những đứa học trò đã học những bài học giáo lý của Zoroaster trong những thế kỷ Do Thái bị Ba Tư đô hộ, từ thế kỷ 6 đến 4 trước Công Nguyên. Những giáo lý của Hỏa Giáo Ba Tư đã tạo nên những yếu tố đồng nhất tiêu biểu cho tất cả các đạo thờ Chúa hiện nay. Nói cách khác, Hỏa Giáo Ba Tư vẫn hiện diện và mãi mãi tồn tại trong linh hồn của các đạo thờ Chúa. ===Chiến tranh Hồi giáo và Hỏa giáo=== Vào cuối thế kỷ 7, Hồi Giáo Ả Rập chiếm Ba Tư và mọi người dân xứ này bị buộc phải bỏ đạo Hỏa Giáo để theo Hồi Giáo. Nhiều tín đồ Hỏa Giáo phải giữ đạo trong bí mật. Đến thế kỷ 9 và 10, chính quyền Hồi Giáo truy nã gắt gao những người Hỏa Giáo còn sót lại khiến cho các tín đồ Hỏa Giáo trung kiên phải bỏ chạy ra nước ngoài. ===Hỏa giáo ở Trung quốc , Ấn độ=== Nhiều người thuộc giáo phái Manichaeanism của Hỏa Giáo trốn sang Trung Quốc và gây nhiều ảnh hưởng quan trọng tại nước này. Từ thế kỷ 9 người Trung Quốc đã biết đến tôn giáo của Ba Tư và gọi tôn giáo này là Hỏa Giáo hoặc Thánh Hỏa Giáo. Một số người Ba Tư thuộc giáo phái Mithraism trốn sang Âu Châu, còn lại số đông chạy sang Ấn Độ. Mặc dầu bị Hồi Giáo đàn áp qua nhiều thế kỷ, hiện nay tại Ba Tư (tức Iran) vẫn còn khoảng 200.000 tín đồ Hỏa Giáo. Con cháu của những người Ba Tư tỵ nạn tôn giáo cách đây hơn một ngàn năm vẫn còn tồn tại ở Ấn Độ khoảng 150.000 người. Người Ấn Độ gọi họ là người Parsi do đọc trại tên nước Persia (Ba Tư) mà ra. Hỏa Giáo Ba Tư coi như đã bị xóa tên khỏi danh sách các tôn giáo trên thế giới hiện nay nhưng rất ==Quan niệm Hỏa giáo== Các đặc điểm nổi bật của Hỏa giáo bao gồm lòng tin vào một đấng cứu rỗi sẽ tới cứu giúp nhân loại, đền thờ thứ hai, thuyết ngộ đạo, thiên đàng và địa ngục và tự do ý chí được cho rằng đã ảnh hưởng đến các hệ thống tôn giáo sau đó như Do thái giáo , Kitô giáo và Hồi giáo ===Thiên thần=== Ảnh hưởng rõ rệt nhất của Hỏa Giáo Ba Tư đối với các đạo thờ Chúa (Do Thái, Ki Tô, Hồi) là ý niệm về Thiên Thần. Tất cả các tên thiên thần quen thuộc như Mi-ca-e (Michel, Micheal) Gabriel, Raphael và ý niệm về các thiên thần hộ mạng (guardian angels) đều là những sản phẩm của Hỏa Giáo Ba Tư. Những ý niệm về thiên thần xuất hiện lần đầu tiên tại Ba Tư (nay là Iran) vào khoảng năm 1000 TCN, khi nước này phát triển một tôn giáo gọi là Zoroastrianism. Tôn giáo này mang tên của vị sáng lập là Zarathrusta, phiên âm sang tiếng Hy Lạp là Zoroaster. Các học giả tôn giáo hiện nay tin rằng Zoroaster là một người có thật, sinh khoảng năm 1000 TCN hoặc sớm hơn và có thể cùng thời với Moses tức khoảng 1250 TCN. ===Thiện Ác=== Hỏa giáo cho rằng thế giới gồm hai bản nguyên đối lập đấu tranh với nhau đó là :[[Thiện nguyên]] là hóa thân của thần quang minh (Ánh Sáng) [[Ahura Mazda]] (Ahura Mazdā) hoặc [[Oocmut]] (Ormuzd) . :[[Ác nguyên]] là hóa thân của thần hắc ám (Bóng Tối) [[Angra Mainyu]] (Angra Mainyu). Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, con người có thể có ý chí lựa chọn tự do, cũng có quyền quyết định vận mệnh của mình. ===Thiên đàng, Địa ngục=== Tôn giáo này tin rằng, con người sau khi chết linh hồn phải chịu sự phán xét cuối cùng của Thần quang minh Ahura Mazđa. Thần quang minh căn cứ vào lời nói và việc làm trên trần gian của con người và cho họ lên thiên đường hay vào địa ngục. Do đó, trong lúc còn sống, mọi người phải làm điều thiện, tránh điều ác, bỏ đen tối đi vào chỗ sáng. ===Tôn chỉ đạo đức=== Tôn chỉ đạo đức của Hỏa giáo là : ''Nghĩ điều thiện, nói điều thiện, làm điều thiện '' ===Thánh hỏa - Lửa=== Hỏa giáo cho lửa là đại biểu của quang minh và điều thiện, là tượng trưng cho Ahura Mazđa, do đó có nghi lễ thờ lửa. Trong đền thờ của Hỏa giáo thường xuyên có một ngọn lửa để thờ, gọi là ngọn lửa vĩnh cửu vì được giữ không bao giờ tắt. Ngọn lửa trong ngôi đền Ateshkadeh, ngôi đền chính của Hỏa giáo có từ năm 470 sau Công Nguyên, truyền qua nhiều nơi trước khi được lấy về đền này vào đầu thế kỷ 20. Ngọn lửa hiện đang cháy trong một cái lò bằng đồng, đặt trong căn phòng có những lớp tường kính bao quanh. Mọi người chụp ảnh ngọn lửa qua bức tường kính ấy. ===Tục chôn cất=== Tục cấm [[chôn cất]] người chết mà để xác cho loài chim thú ăn thịt gọi là Thiên táng. Hỏa giáo tôn thờ sự sạch sẽ của đất, nước, lửa và không khí... vì vậy người ta không hỏa táng để làm ô uế lửa và không khí, không thủy táng để làm ô uế nước, không địa táng để làm ô uế đất. Nhưng tục thiên táng không phù hợp với quan niệm của thời đại mới, nên từ những năm 1960 tín đồ Hỏa giáo đã phải bỏ tháp thiên táng và chấp nhận tục mai táng trong nghĩa trang ở dưới chân núi. Người ta mai táng tử thi trong những ngôi mộ bêtông, hạn chế việc làm "tổn hại" cho đất. ==Nghi lễ Hỏa giáo== ===Lửa thánh=== Hỏa giáo cho rằng lửa là con trai của Thần Thiện, có sức mạnh cao nhất, thanh tịnh sáng láng và mạnh mẽ. Do vậy, lửa là con mắt của chính nghĩa. Thời cổ đại Ba Tư, lửa thánh còn được phân chia theo đẳng cấp như tế tư, võ sĩ, nông dân. ===Lễ tân sinh=== Nam nữ lên 7 (Ấn Độ) hoặc 10 (Ba Tư) đều phải cử hành nghi thức nhập môn do các tư tế ban cho áo thánh và dây lưng thánh để làm dấu hiệu của giáo đồ chân chính. Áo thánh dùng vải thô màu trắng may thành, hai mặt trước sau tượng trưng cho quá khứ và tương lai. Dây lưng thánh tượng trưng cho phương hướng đúng đắn, được dệt bằng 72 sợi lông cừu, vòng quanh bụng 3 lượt. ===Nghi thức thanh tịnh=== Chia làm 3 phần # Tiểu tịnh . Vệ sinh thân thể sạch sẽ trước khi đọc kinh văn # Đại tịnh . Tắm gội trước khi làm lễ tân sinh hoặc kết hôn dưới sự chủ trì của một vị tư tế # Đặc tịnh . Chủ yếu cư hành đối với những người chuẩn bị đảm nhận thần cức hoặc vận chuyển thi thể người chết, cần phải có hai tư tế chủ trì. Những người tham gia loại nghi lễ này dưới sự canh giữ của một con chó; dùng nước, cát và nước đái bò để rửa sach ô uế ở trên thân thể đồng thời trừ bỏ ác tâm, và làm lễ trong vòng 9 ngày ==Học thuyết Hỏa giáo== ===Thuyết Khởi thế=== Thời kỳ thứ nhất Thần Thiện sáng tạo ra thế giới tinh thần tĩnh lặng và bất động. Thời kỳ thứ hai, thế giới vật chất được tạo ra mà trước hết là “lửa - ánh sáng vô hạn”, có màu sắc trắng dạng hình tròn. Đồng thời thần đã dùng đất nặn thành Gayomat (người vượn) có 4 chi cao vót, ánh sáng giống mặt trời, nhưng về sau khi bị các liêu thần của Thần Ác công kích, đã bị tiêu diệt. Hạt giống của giống loài này được bảo tồn, sau 40 năm, đã nảy sinh một đôi vợ chồng đầu tiên của nhân loại. Đôi vợ chồng này giống như cây đại hoàng cuốn chặt lấy nhau, họ xem như là thủy tổ của loài người. Thời kỳ thứ ba, hai vị thần này đã tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai bên và Thần Thiện chiến thắng. Thời kỳ thứ tư là thời kỳ Bái Hỏa giáo thống trị thế giới, quét sạch ma chúng, dẫn dắt nhân loại bước vào vương quốc của “quang minh, công bằng và chân lý” ===Thuyết Mạt thế=== Nhiều học giả chuyên nghiên cứu tôn giáo cho rằng Zoroaster là người đầu tiên đưa ra thuyết Mạt Thế (Eschatology). Theo Zoroaster, mọi vật trong vũ trụ cuối cùng sẽ bị hủy diệt. Thế gian và loài người sẽ có ngày tận cùng gọi là Ngày Tận Thế (The Doomsday). Trong ngày tận thế, Thiên Chúa sẽ xét xử công tội của tất cả mọi người, do đó ngày Tận Thế còn được gọi là Ngày Phán Xét Cuối Cùng (The Last Judgement). Để có thể tham dự Phiên Xử Cuối Cùng của Chúa thì mọi người chết đều được sống lại. Zoroaster cho rằng khi chết thì thân xác con nguời bị phân hủy thành tro bụi nhưng linh hồn chìm đắm trong cõi vô thức như trong lúc ngủ. Đến Ngày Phán Xét Cuối Cùng, Thiên Chúa sẽ sai thiên thần thổi kèn (clarion) đánh thức linh hồn và xác kẻ chết sống lại hết. Tất cả mọi người đều tập trung ở một nơi để nghe Chúa phán xử. Sau khi được xét xử, kẻ thiện lành được lên Thiên Đàng và kẻ ác bị đày xuống Hỏa Ngục. Chính Thuyết Mạt Thế đã đưa đến niềm tin vào Thiên Đàng và Hỏa Ngục. ===Thuyết Âm dương=== Âm dương 2 trạng thái có tính chất đối lập với nhau . Thí dụ như * Sáng Tối * Thiện Ác ==Kinh thánh Hỏa giáo== [[/Kinh Avesta/]] là Cổ kinh Ba Tư hay Kinh thánh của Hỏa giáo . “Avetsta” có nghĩa là “tri thức”, “du lệnh” hoặc “kinh điển”, thường được gọi là Kinh cổ Ba Tư, nhưng đã bị đốt hết khi Alexandre chinh phạt vùng đất này, hiện chỉ con 1 quyển. Quyển kinh này chia ra làm 6 phần: #Yasna: sách cúng tế với các bài tán ca #Visprat: sách chúng thần #Vidèvadat: sách đuổi ma #Yashts: sách tán dương thần linh và thiên sứ #Khurda: sách cầu nguyện #Một quyển sách nhỏ ghi lại các bài tụng ca rời rạc. duex63v236hf3n9luycojkj9so0oy5s