Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.46.0-wmf.22
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Biên dịch:Bản thảo cương mục
114
71881
204499
204490
2026-04-01T04:46:39Z
Mrfly911
2215
204499
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目
| năm= [[w:1596|1596]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= Bản thảo cương mục (giản thể: 本草纲目; phồn thể: 本草綱目) là một từ điển bách khoa của Trung Quốc về dược vật học được thầy thuốc Lý Thời Trân biên soạn vào thế kỷ 16 đầu thời nhà Minh. Bản thảo đầu tiên được hoàn thành vào năm 1578 và được in tại Nam Kinh vào năm 1596. Bộ sách liệt kê các dược liệu của y học cổ truyền Trung Hoa được biết đến vào thời điểm đó, bao gồm các loài thực vật, động vật và khoáng chất được tin là có đặc tính chữa bệnh. Đây được coi là tác phẩm y học hoàn chỉnh và chi tiết nhất trong lịch sử Đông y. {{Wikipediaref}}
}}
{{tìm kiếm}}
== Mục lục ==
* [[/Lời tựa|Lời tựa]]
* [[/Phàm lệ|Phàm lệ]]
# [[/Tự lệ thượng|Tự lệ thượng]]
# [[/Tự lệ hạ|Tự lệ hạ]]
# [[/Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển thượng|Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển thượng]] (Các chứng phong, kinh phong, cứng gáy, điên giản, tốt quyết, thương hàn nhiệt bệnh, ôn dịch, thử, thấp, hỏa nhiệt, các chứng khí, đàm ẩm, tỳ vị, nuốt chua táo tạp, nghẹn tắc, phản vị, nôn mửa, nấc cụt, hoắc loạn, tiết tả, lỵ, sốt rét, tâm hạ bĩ mãn, chướng mãn, hoàng đản, cước khí, nuy, chuyển cân, suyễn nghịch, ho, phế nuy phế ung, hư tổn, truyền thi cốt chưng, tà túy, hàn nhiệt, thổ huyết nục huyết, chảy máu chân răng, huyết hãn, khạc ra máu, các chứng ra mồ hôi, chinh xung, kiện vong, kinh quý, phiền hoặc, cuồng táo, mất ngủ, ngủ nhiều, tiêu khát, di tinh mộng tiết, xích bạch trọc, lâm bệnh, tiểu nhiều di niệu, tiểu ra máu, âm nuy, cường trung, ngứa bìu, đại tiện táo kết, thoát giang, trĩ lậu, hạ huyết, ứ huyết, tích tụ trưng hà, các loại giun sán, sôi bụng, đau tâm phúc, đau hông sườn, đau thắt lưng, sán khí)
# [[/Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển hạ|Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển hạ]] (Thống phong, đau đầu, huyễn vựng, mắt, tai, mặt, mũi, môi, miệng lưỡi, hầu họng, âm thanh, răng, râu tóc, hôi nách, đan độc, phong táo chẩn rôm, lác đồng tiền lang ben, anh lựu bướu thịt nốt ruồi, loa lịch, cửu lậu, ung thư, các loại nhọt độc, ngoại thương các loại nhọt, vết thương do kim khí tre gỗ, té ngã gãy xương, ngũ tuyệt, các loại trùng cắn, thú cắn, các loại độc, độc sâu bọ, hóc dị vật, phụ nữ kinh nguyệt, đới hạ, băng lậu, thai tiền, sản nan, hậu sản, bệnh phần âm, các bệnh sơ sinh ở trẻ nhỏ, kinh giản, các chứng cam, đậu chẩn)
# [[/Thủy bộ|Thủy bộ (Nước)]]
# [[/Hỏa bộ|Hỏa bộ (Lửa)]]
# [[/Thổ bộ|Thổ bộ (Đất)]]
# [[/Kim thạch 1|Kim thạch 1]] (Vàng, bạc, tích lận chi, bạc cao, chu sa ngân, đồng tự nhiên, đồng quặng, đồng xanh, chì, duyên sương, bột chì, chì đỏ, mật đà tăng, thiếc, gương cổ, tiền cổ, nỏ đồng, các khí cụ đồng, sắt, thép, sắt vụn, sắt tinh, bột hoa sắt, rỉ sắt, sắt nung, nước sắt, các khí cụ sắt)
# [[/Kim thạch 2|Kim thạch 2]] (Ngọc, bạch ngọc tủy, thanh ngọc, thanh lang can, san hô, mã não, bảo thạch, pha lê, thủy tinh, lưu ly, vân mẫu, bạch thạch anh, tử thạch anh, bồ tát thạch)
# [[/Kim thạch 3|Kim thạch 3]] (Đan sa, thủy ngân, phấn thủy ngân, phấn sương, ngân chu, linh sa, hùng hoàng, thư hoàng, thạch cao, lý thạch, trường thạch, phương giải thạch, hoạt thạch, bất hôi mộc, ngũ sắc thạch chi, đào hoa thạch, lô cam thạch, tỉnh tuyền thạch, vô danh dị, mật lật tử, thạch chung nhũ, khổng công nghiệt, ân nghiệt, thổ ân nghiệt, thạch não, thạch tủy, dầu thạch não, than đá, vôi, thạch diện, phù thạch, thạch chi)
# [[/Kim thạch 4|Kim thạch 4]]
# [[/Kim thạch 5|Kim thạch 5]]
# [[/Thảo 1|Thảo 1]] (Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất)
# [[/Thảo 2|Thảo 2]] (Hoàng liên, hồ hoàng liên, hoàng cầm, tần giao, sài hồ, tiền hồ, phòng phong, độc hoạt, thổ đương quy, đô quản thảo, thăng ma, khổ sâm, bạch tiễn, diên hồ sách, bối mẫu, sơn từ cô, thạch toán, thủy tiên, bạch mao, địa cân, mang, long đởm, tế tân, đỗ hành, cập kỷ, quỷ đốc bưu, từ trường khanh, bạch vi, bạch tiền, thảo tê, sai tử cổ, cát lợi thảo, chu sa căn, tích hủy lôi, cẩm địa la, tử kim ngưu, quyền sâm, thiết tuyến thảo, kim ty thảo)
# [[/Thảo 3|Thảo 3]] (Đương quy, xuyên khung, mễ vu, xà sàng, cao bản, trư tru hương, bạch chỉ, bạch thược, mẫu đơn, mộc hương, cam tùng hương, sơn nại, liêm khương, đỗ nhược, sơn khương, cao lương khương, đậu khấu, bạch đậu khấu, súc sa mật, ích trí tử, tất bát, tương, nhục đậu khấu, bổ cốt chỉ, khương hoàng, uất kim, bồng nga truật, kinh tam lăng, toa thảo, hương phụ tử, thụy hương, mạt lị, uất kim hương, mạo hương, bạch mạo hương, bài thảo hương, mê điệt hương, xa hương, ngải nạp hương, câu nạp hương, tuyến hương, hoắc hương, linh lăng hương, huân thảo, lan thảo, trạch lan, mã lan, ích nãi thảo, hương nhu, thạch hương, tước sàng, giả tô, bạc hà, tích tuyết thảo, tô, thủy tô, tề)
# [[/Thảo 4|Thảo 4]] (Cúc, dã cúc, am lư, thi, ngải, thiên niên ngải, nhân trần hào, thanh hào, hoàng hoa hào, bạch hào, giác hào, lậu hào, mã tiên hào, âm địa quyết, mẫu hào, cửu ngưu thảo, sung úy, tạc thái, vi hàm, hạ khô thảo, lưu ký nô thảo, tiết thảo, lệ xuân thảo, tuyền phúc hoa, thanh tương, nhạn lai hồng, thiên linh thảo, tư tử, kê quan, hồng lam hoa, phiên hồng hoa, yên chỉ, đại kế, tiểu kế, tục đoạn, khổ nạp, lậu lư, phi liêm, trữ ma, khoảnh ma, đại thanh, tiểu thanh, hồ lô ba, lệ thực, ác thực, tỷ nhĩ, thiên danh tinh, hạc sắt, hy thiêm, nhược, lô, cam tiếu, nhượng hà, ma hoàng, mộc tặc, thạch long sô, long thường thảo, đăng tâm thảo, đăng hoa tẫn)
# [[/Thảo 5|Thảo 5]] (Địa hoàng, can địa hoàng, sinh địa hoàng, thục địa hoàng, ngưu tất, tử uyển, nữ uyển, mạch môn đông, tuyên thảo, chùy hồ căn, đạm trúc diệp, áp chích thảo, quỳ, thục quỳ, thỏ quỳ, thục quỳ, long quỳ, long châu, toan tương, thục dương tuyền, lộc đề thảo, bại tương, nghênh xuân hoa, khoản đông hoa, thử khúc thảo, quyết minh, địa phu, cù mạch, vương bất lưu hành, tiễn xuân la, kim tiễn thảo, đình lịch, xa tiền, cẩu thiệt thảo, mã tiên thảo, xà hàm, nữ thanh, thử vĩ thảo, lang bả thảo, cẩu vĩ thảo, lệ tràng, liên kiều, lục anh, sóc điêu, thủy anh, lam, mã lam, lam điền, thanh đại, cam lam, liệu, hồng thảo, thiên liệu, mao liệu, hải căn, hỏa thán mẫu thảo, tam bạch thảo, tàm võng thảo, xà võng thảo, hổ trượng, bưu, súc, tấn thảo, tật lê, bạch tật lê, cốc tinh thảo, hải kim sa, địa dương mai, thủy dương mai, địa ngô công thảo, bán biên liên, tử hoa địa đinh, quỷ châm thảo, độc dụng tướng quân, kiến thũng tiêu, phan đảo tăng, thủy cam thảo)
# [[/Thảo 6|Thảo 6]] (Đại hoàng, thương lục, lang độc, phòng khuê, lang nha, lư như, đại kích, trạch tất, cam toại, tục tùy tử, lang đãng, vân thực, bì ma, thường sơn thục tất, lê lô, mộc lê lô, phụ tử, thiên hùng, trắc tử, lậu lam tử, ô đầu, bạch phụ tử, hổ chưởng thiên nam tinh, do bạt, củ nhược, bán hạ, tảo hưu, quỷ cửu, xạ can, diên vĩ, ngọc trâm, phượng tiên, tọa nã thảo, mạn đà la hoa, dương trị trục, dương bất khiết thảo, nguyên hoa, nhiêu hoa, túy ngư thảo, mãng thảo, nhân dự, thạch long nhuế, mao cấn, ngưu biến, tầm ma, cách chú thảo, hải dụ, câu vẫn)
# [[/Thảo 7|Thảo 7]] (Thỏ ty tử, ngũ vị tử, bồng luy, phúc bồn tử, huyền câu tử, xà mễ, sử quân tử, mộc tiết tử, phiên mộc tiết, mã đầu linh, đằng tử, dự tri tử, khiên ngưu tử, toàn hoa, tử uy, doanh thực, tường vi, nguyệt quý hoa, quát lâu, vương qua, cát, hoàng hoàn, thiên môn đông, bách bộ, hà thủ ô, tì giải, bạt khế, thổ phục linh, bạch liễm, nữ nuy, chử khôi, nga bào, phục kê tử căn, thiên kim đằng, cửu tiên tử, sơn đậu căn, hoàng dược tử, giải độc tử, bạch dược tử, hội châu bạch dược, trùng động căn, uy linh tiên, thiến thảo, tiễn thảo, phòng kỷ, thông thảo, thông thoát mộc, câu đằng, hoàng đằng, bạch thỏ hoắc, bạch hoa đằng, bạch anh, lôi, xích địa lợi, tử cát, ô liễm mai, luật thảo, dương đào, lạc thạch, mộc liên, phù phương đằng, thường xuân đằng, thiên tuế, nhẫn đông, cam đằng, điềm đằng, hàm thủy đằng, thiên tiên đằng, tử kim đằng, nam đằng, thanh phong đằng, bách lăng đằng, tỉnh đằng, tử đằng, lạc nhạn mộc, phong diên mẫu, đằng hoàng)
# [[/Thảo 8|Thảo 8]] (Trạch tả, hộc thảo, dương đề, toan mô, long thiệt thảo, xương bồ, bạch xương, hương bồ, bồ hoàng, cô, khổ thảo, thủy bình, tần, bình bồng thảo, hạnh thái, thuần, thủy tảo, hải tảo, hải uẩn, hải đái, côn bố, việt vương dư, thạch phàm, thủy tùng)
# [[/Thảo 9|Thảo 9]] (Thạch hộc, cốt toái bổ, thạch vi, kim tinh thảo, thạch trường sinh, thạch hiện, cảnh thiên, phật giáp thảo, hổ nhĩ thảo, thạch hồ tuy, loa yến thảo, tác tương thảo, địa cẩm, ly cách thảo, tiên nhân thảo, tiên nhân chưởng thảo, nhai tông, tử bối kim bàn thảo, bạch long tu)
# [[/Thảo 10|Thảo 10]] (Địa y, viên y, ốc du, tạ diệp hà thảo, ô cửu, thổ mã tông, quyển bá, ngọc bá, trắc ly, can đài, tỉnh trung đài, thuyền để đài, thạch nhụy, thạch tùng, tang hoa, mã bột)
#[[Thảo 11|Thảo 11]] (Tạp thảo), [[/Danh y biệt lục]|Danh y biệt lục]]
# [[/Cốc 1|Cốc 1]] (Hồ ma, bạch du ma, dầu hồ ma, á ma, đại ma, tiểu mạch, mạch miêu, đại mạch, khôi mạch, tước mạch, kiều mạch, khổ kiều mạch, đạo, đạo nhương, canh, tiên)
# [[/Cốc 2|Cốc 2]] (Tắc, thử, đan thử mễ, thục thử, ngọc thục thử, lương, hoàng lương mễ, bạch lương mễ, thanh lương mễ, túc, túc mễ, thục, tham tử, bại, dã lang vĩ thảo, đông, cô mễ, bồng thảo tử, thảo, ý dĩ nhân, anh tử túc, a phù dung)
# [[/Cốc 3|Cốc 3]] (Đại đậu, đại đậu hoàng quyển, hoàng đại đậu, xích tiểu đậu, hủ bị, lục đậu, bạch đậu, lũ đậu, đậu hà lan, tằm đậu, đậu đũa, biển đậu, đao đậu, lê đậu)
# [[/Cốc 4|Cốc 4]] (Đại đậu thị, đậu hoàng, đậu phụ, trần lẫm mễ, phạn, thanh tinh can thạch bính phạn, chúc, xí, cao, tống, hàn cụ, chưng bính, nữ khúc, hoàng chưng, khúc, thần khúc, hồng khúc, niết mễ (túc nha, cốc nha, mạch nha), di đường, tương, du nhân tương, vô di tương, giấm, rượu, rượu chưng, rượu nho, tào, mễ bỉ, thong chử đầu tế khương)
# [[/Thái 1|Thái 1]] (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
# [[/Thái 2|Thái 2]] (Ba lăng, rau muống, thái, đông phong thái, tề, tích, phồn lâu, kê tràng thảo, mục túc, dền, mã xỉ hiện, khổ thái, bạch cự, oa cự, thủy khổ, phiên bạch thảo, tiên nhân trượng thảo, bồ công anh, hoàng qua thái, sinh qua thái, lạc quỳ, dấp cá, quyết, thủy quyết, vi, kiều dao, lộc hoắc, hôi, lê, tần địch lê, đề hồ thái, dụ, thổ dụ, thạch dự, linh dư tử, cam thử, bách hợp, sơn đan, thảo thạch tằm, măng tre)
# [[/Thái 3|Thái 3]] (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua)(Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái)(Thanh chi - Long chi, Xích chi - Đan chi, Hoàng chi - Kim chi, Bạch chi - Ngọc chi, Tố chi, Hắc chi - Huyền chi, Tử chi - Mộc chi, Mộc nhĩ, tùng khuẩn, táo giáp tẩm, hương tẩm, cát hoa thái, thiên hoa tẩm, ma cô tẩm, kê, đà thái, thổ khuẩn, địa cầm, trúc nhục, khuẩn, địa nhĩ, thạch nhĩ)
# [[/Quả 1|Quả 1]] (Lý (Mận), Hạnh, Ba đán hạnh, Mai, Lang mai, Đào, Lật (Dẻ), Thiên sư lật, Táo, Trọng tư táo, Khổ táo)
# [[/Quả 2|Quả 2]] (Lê, Lộc lê, Đường lê, Hải hồng, Mộc qua, Tra tử, Minh tra, Ôn bột, Sơn tra, Xích trảo mộc, Am la quả, Nại, Lâm cầm, Thị, Ty thị, Quân thiên tử, An thạch lựu, Quất, Cam, Trừng, Bưởi, Câu duyên, Kim quất, Tì bà, Dương mai, Anh đào, Sơn anh đào, Ngân hạnh, Hồ đào, Trăn, A nguyệt hồn tử, Trử tử, Câu lật, Tượng thực, Hộc thực)
# [[/Quả 3|Quả 3]] (Lệ chi (Vải), Long nhãn, Long lệ, Cảm lãm (Trám), Mộc uy tử, Am ma lặc, Tì lê lặc, Ngũ liễm tử, Ngũ tử thực, Phỉ thực, Hải tùng tử, Tân lang (Cau), Đại phúc tử, Da tử (Dừa), Vô lậu tử, Quang lang tử, Toa mộc diện, Ba la mật (Mít), Vô hoa quả, A lặc bột, Sa đường quả, Thiêm tử, Kỷ mục, Đô giác tử, Đô niệm tử, Đô hàm tử, Ma trù tử, Thiều tử (Chôm chôm), Mã tân lang, Chỉ cụ)
# [[/Quả 4|Quả 4]] (Tần tiêu, Thục tiêu, Nhai tiêu, Mạn tiêu, Địa tiêu, Hồ tiêu, Tất trừng già, Ngô thù du, Thực thù du, Diêm phu tử, Thố lâm tử, Minh (Trà), Cao lư)
# [[/Quả 5|Quả 5]] (Điềm qua (Dưa hấu), Tây qua, Bồ đào (Nho), Anh úc, Di hầu đào (Kiwi), Cam giá (Mía), Sa đường, Thạch mật, Thứ mật)
# [[/Quả 6|Quả 6]] (Liên ngẫu (Sen), Hồng bạch liên hoa, Kị thực, Khiếm thực, Ô dụ, Từ cô, Phụ lục chư quả, Chư quả hữu độc)
# [[/Mộc 1|Mộc 1]] (Bách, Tùng, Sam, Quế, Quế tâm, Khuẩn quế, Thiên trúc quế, Nguyệt quế, Mộc lan, Tân di, Trầm hương, Mật hương, Đinh hương, Đàn hương, Giáng chân hương, Nam, Chương, Điều chương, Ô dược, Hồi hương, Tất lật hương,楓 hương chi, Huân lục hương, Một dược, Kỳ kiệt, Chất hãn, An tức hương, Tô hợp hương, Chiêm đường hương, Đốc nục hương, Long não hương, Long não, A ngụy, Lô hội, Hồ đồng lệ, Phản hồn hương)
# [[/Mộc 2|Mộc 2]] (Bách mộc, Đàn hoàn, Tiểu bách, Hoàng lư, Nồng phác, Đỗ trọng, Xuân xu, Tất (Sơn), Tử, Thu, Tùng, Ngô đồng, Anh tử đồng, Hải đồng, Luyện, Hòe, Đàn, Giáp, Tần bì, Hợp hoan, Táo giáp, Phì táo giáp, Vô hoạn tử, Loan hoa, Vô thực tử, Ha lê lặc, Bà la đắc, Cử, Liễu, Sênh liễu, Thủy dương, Bạch dương, Đệ dương, Tùng dương, Du, Lãng du, Vô di, Tô phương mộc, Ô mộc, Hoa mộc, Mộc, Lư mộc, Tông lư, Lận mộc, Kha thụ, Ô mộc, Ba đậu, Đại phong tử, Hải hồng đậu, Tương tư tử, Trư yêu tử, Thạch qua)
# [[/Mộc 3|Mộc 3]] (Tang (Dâu), Trá, Chử, Chỉ, Câu quất, Chi tử, Toan táo, Bạch kích, Nhuế hạch, Sơn thù du, Hồ đồi tử, Kim anh tử, Uất lý, Thử lý, Nữ trinh, Đông thanh, Câu cốt, Vệ mâu, Sơn phàn, Mộc, Nam chúc, Ngũ gia, Câu kỷ địa cốt bì, Sưu sơ, Dương lư, Thạch nam, Mẫu kinh, Mạn kinh, Loan kinh, Thạch kinh, Tử kinh, Mộc cẩn, Phù tang, Mộc phù dung, Sơn trà, Lạp mai, Phục ngưu hoa, Mật mông hoa, Mộc miên, Tác mộc, Hoàng dương mộc, Bất điêu mộc, Mại tử mộc, Mộc thiên liệu, Phóng trượng mộc, Tiếp cốt mộc, Linh thọ mộc, Mộc, Mộc ma, Đại không)
# [[/Mộc 4|Mộc 4]] (Phục linh, Hổ phách, Y,, Trư linh, Lôi hoàn, Tang thượng ký sinh, Tùng la, Phong liễu, Đào ký sinh, Liễu ký sinh, Chiêm tư, Thạch thứ mộc)
# [[/Mộc 5|Mộc 5]] (Trúc, Trúc hoàng, Tiên nhân trượng, Quỷ xỉ)
# [[/Mộc 6|Mộc 6]] (Hoài mộc, Thành đông hủ mộc, Đông gia kê thê mộc, Cổ xí mộc, Cổ sấn bản, Chấn thiêu mộc, Hà biên mộc)
# [[/Phục khí bộ|Phục khí bộ (Đồ dùng)]]
# [[/Trùng 1|Trùng 1]] (Loại trứng sinh - thượng, 23 loại) (Mật ong, mật lạp, mật ong, thổ phong, đại hoàng phong, lộ phong phòng, trúc phong, xích sí phong, độc cước phong, tác ông, trùng bạch lạp, tử nữu, ngũ bội tử, bọ ngựa, tang phiêu tiêu, tước úng, tằm, ô lạn tử tàm, tằm kiền (gồm tàm thối, tàm liên), nguyên tàm, thạch tàm, cửu hương trùng, hải tàm, tuyết tàm, câu kỷ trùng, hương trùng)
# [[/Trùng 2|Trùng 2]] (Loại trứng sinh - hạ, 22 loại) (Thanh phu, bướm, chuồn chuồn, sừ kê, táo miêu, ban miêu, nguyên thanh, cát thượng đình trưởng, địa đảm, nhện, thảo tru tru, bích tiền, trì đương, bọ cạp, đỉa, kiến, độc cước kiến, thanh yêu trùng, dòi, ruồi, cẩu蝇, ngưu sắt, nhân sắt)
# [[/Trùng 3|Trùng 3]] (Loại hóa sinh, 31 loại) (Tề tào, nhũ trùng, mộc duùng trùng, tang duùng trùng, liễu duùng trùng, đào duùng trùng, quế duùng trùng, trá duùng trùng, táo duùng trùng, trúc duùng trùng, lô duùng trùng, thương nhĩ duùng trùng, thanh hào duùng trùng, táo giáp duùng trùng, trà chú trùng, sạ thiền, xác ve, thiền hoa, khương lang, thiên ngưu, lâu cô, đom đóm, y ngư, thử phụ, bọ hung, gián, hành dạ, táo mã, chung, tiễn khỏa trùng, mộc mòng, phỉ mòng, trúc sắt)
# [[/Trùng 4|Trùng 4]]
# [[/Lân 1|Lân 1]] (Rồng, điếu, giao long, đà long (cá sấu), lăng lý (tê tê), thạch long tử, thủ cung (thạch sùng), tắc kè, diêm long)
# [[/Lân 2|Lân 2]]
# [[/Lân 3|Lân 3]]
# [[/Lân 14|Lân 4]]
# [[/Giới 1|Giới 1]] (Rùa nước, tần quy, tê quy, đồi mồi, lục mao quy, ngược quy, ngạc quy, nhiếp quy, bôn quy, ba ba, nạp tiết, năng tiết, chu tiết, châu tiết, nguyên, cua, cá hố)
# [[/Giới 2|Giới 2]] (Mẫu lệ (Hàu), Trai, Mã đao, Tiệp dư, Hiện, Trân châu, Thạch quyết minh, Hải cáp, Văn cáp, Cáp lị, Sênh, Đảm la, Xa ngao, Khôi cáp, Xa cừ, Bối tử, Tử bối, Kha, Thạch, Đạm thái, Hải loa, Giáp tiễn, Điền loa (Ốc nhồi), Oa loa, Liệu loa, Ký cư trùng, Hải nguyệt, Hải yến, Lang quân tử)
# [[/Cầm 1|Cầm 1]]
# [[/Cầm 2|Cầm 2]]
# [[/Cầm 3|Cầm 3]]
# [[/Cầm 4|Cầm 4]]
# [[/Thú 1|Thú 1]] (Heo, chó, cừu, dê con, dê vàng, bò, ngựa, lừa, la, lạc đà, lạc, tô, đề hồ, nhũ hủ, a giao, hoàng minh giao, ngưu hoàng, tạ đáp, cẩu bảo, để dã ca, các loại máu, các loại xương mục, chấn nhục, bại cổ bì, chiên, lục súc mao đề giáp, lục súc tâm, các loại thịt hữu độc, giải độc các loại thịt)
# [[/Thú 2|Thú 2]] (Sư tử, hổ, báo, mạc, voi, tê giác, ly ngưu, mao ngưu, dã mã, lợn rừng, gấu, linh dương, sơn dương, hươu, nai, hươu hai đầu, kỷ, chương, xạ hương, linh miêu, mèo, mèo rừng, phong ly, cáo, hạc, đoàn, hoan, mộc cẩu, sài, sói, thỏ, bại bút, sơn thán, thủy thán, hải thán, cốt nột thú, hoạt)
# [[/Thú 3|Thú 3]]
# [[/Thú 4|Thú 4]]
# [[/Nhân bộ|Nhân bộ (Con người)]] (Tóc giả, tóc rối, gàu, ráy tai, ghét đầu gối, móng tay móng chân, răng, phân người, phân su, nước tiểu người, cặn nước tiểu, thu thạch, lâm thạch, phách thạch, sữa mẹ, kinh nguyệt, tinh dịch, nước bọt, cao răng, mồ hôi, nước mắt, nhân khí, nhân phách, râu, lông mu, xương người, tử thi, nhau thai, nước nhau, dây rốn, dương vật người, mật người, thịt người, xác ướp, phương dân, nhân khôi)
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://ctext.org/wiki.pl?if=en&res=8&remap=gb 本草綱目 trên Chinese Text Project]
* [https://www.shidianguji.com/ens/book/7435216307680706598/chapter/1ki6xzt4tnpyf?page_from=profile&mode=book¶graphId=7437331526687146038&lineId=2&sentenceId=7494554245262508066 本草綱目 trên shidianguji.com]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
rbcb1h8z08zquwf9pximpqxe80r9a1q
204511
204499
2026-04-01T10:41:47Z
Mrfly911
2215
204511
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目
| năm= [[w:1596|1596]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= Bản thảo cương mục (giản thể: 本草纲目; phồn thể: 本草綱目) là một từ điển bách khoa của Trung Quốc về dược vật học được thầy thuốc Lý Thời Trân biên soạn vào thế kỷ 16 đầu thời nhà Minh. Bản thảo đầu tiên được hoàn thành vào năm 1578 và được in tại Nam Kinh vào năm 1596. Bộ sách liệt kê các dược liệu của y học cổ truyền Trung Hoa được biết đến vào thời điểm đó, bao gồm các loài thực vật, động vật và khoáng chất được tin là có đặc tính chữa bệnh. Đây được coi là tác phẩm y học hoàn chỉnh và chi tiết nhất trong lịch sử Đông y. {{Wikipediaref}}
}}
{{tìm kiếm}}
== Mục lục ==
* [[/Lời tựa|Lời tựa]]
* [[/Phàm lệ|Phàm lệ]]
# [[/Tự lệ thượng|Tự lệ thượng]]
# [[/Tự lệ hạ|Tự lệ hạ]]
# [[/Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển thượng|Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển thượng]] (Các chứng phong, kinh phong, cứng gáy, điên giản, tốt quyết, thương hàn nhiệt bệnh, ôn dịch, thử, thấp, hỏa nhiệt, các chứng khí, đàm ẩm, tỳ vị, nuốt chua táo tạp, nghẹn tắc, phản vị, nôn mửa, nấc cụt, hoắc loạn, tiết tả, lỵ, sốt rét, tâm hạ bĩ mãn, chướng mãn, hoàng đản, cước khí, nuy, chuyển cân, suyễn nghịch, ho, phế nuy phế ung, hư tổn, truyền thi cốt chưng, tà túy, hàn nhiệt, thổ huyết nục huyết, chảy máu chân răng, huyết hãn, khạc ra máu, các chứng ra mồ hôi, chinh xung, kiện vong, kinh quý, phiền hoặc, cuồng táo, mất ngủ, ngủ nhiều, tiêu khát, di tinh mộng tiết, xích bạch trọc, lâm bệnh, tiểu nhiều di niệu, tiểu ra máu, âm nuy, cường trung, ngứa bìu, đại tiện táo kết, thoát giang, trĩ lậu, hạ huyết, ứ huyết, tích tụ trưng hà, các loại giun sán, sôi bụng, đau tâm phúc, đau hông sườn, đau thắt lưng, sán khí)
# [[/Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển hạ|Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển hạ]] (Thống phong, đau đầu, huyễn vựng, mắt, tai, mặt, mũi, môi, miệng lưỡi, hầu họng, âm thanh, răng, râu tóc, hôi nách, đan độc, phong táo chẩn rôm, lác đồng tiền lang ben, anh lựu bướu thịt nốt ruồi, loa lịch, cửu lậu, ung thư, các loại nhọt độc, ngoại thương các loại nhọt, vết thương do kim khí tre gỗ, té ngã gãy xương, ngũ tuyệt, các loại trùng cắn, thú cắn, các loại độc, độc sâu bọ, hóc dị vật, phụ nữ kinh nguyệt, đới hạ, băng lậu, thai tiền, sản nan, hậu sản, bệnh phần âm, các bệnh sơ sinh ở trẻ nhỏ, kinh giản, các chứng cam, đậu chẩn)
# [[/Thủy bộ|Thủy bộ (Nước)]]
# [[/Hỏa bộ|Hỏa bộ (Lửa)]]
# [[/Thổ bộ|Thổ bộ (Đất)]]
# [[/Kim thạch 1|Kim thạch 1]] (Vàng, bạc, tích lận chi, bạc cao, chu sa ngân, đồng tự nhiên, đồng quặng, đồng xanh, chì, duyên sương, bột chì, chì đỏ, mật đà tăng, thiếc, gương cổ, tiền cổ, nỏ đồng, các khí cụ đồng, sắt, thép, sắt vụn, sắt tinh, bột hoa sắt, rỉ sắt, sắt nung, nước sắt, các khí cụ sắt)
# [[/Kim thạch 2|Kim thạch 2]] (Ngọc, bạch ngọc tủy, thanh ngọc, thanh lang can, san hô, mã não, bảo thạch, pha lê, thủy tinh, lưu ly, vân mẫu, bạch thạch anh, tử thạch anh, bồ tát thạch)
# [[/Kim thạch 3|Kim thạch 3]] (Đan sa, thủy ngân, phấn thủy ngân, phấn sương, ngân chu, linh sa, hùng hoàng, thư hoàng, thạch cao, lý thạch, trường thạch, phương giải thạch, hoạt thạch, bất hôi mộc, ngũ sắc thạch chi, đào hoa thạch, lô cam thạch, tỉnh tuyền thạch, vô danh dị, mật lật tử, thạch chung nhũ, khổng công nghiệt, ân nghiệt, thổ ân nghiệt, thạch não, thạch tủy, dầu thạch não, than đá, vôi, thạch diện, phù thạch, thạch chi)
# [[/Kim thạch 4|Kim thạch 4]]
# [[/Kim thạch 5|Kim thạch 5]]
# [[/Thảo 1|Thảo 1]] (Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất)
# [[/Thảo 2|Thảo 2]] (Hoàng liên, hồ hoàng liên, hoàng cầm, tần giao, sài hồ, tiền hồ, phòng phong, độc hoạt, thổ đương quy, đô quản thảo, thăng ma, khổ sâm, bạch tiễn, diên hồ sách, bối mẫu, sơn từ cô, thạch toán, thủy tiên, bạch mao, địa cân, mang, long đởm, tế tân, đỗ hành, cập kỷ, quỷ đốc bưu, từ trường khanh, bạch vi, bạch tiền, thảo tê, sai tử cổ, cát lợi thảo, chu sa căn, tích hủy lôi, cẩm địa la, tử kim ngưu, quyền sâm, thiết tuyến thảo, kim ty thảo)
# [[/Thảo 3|Thảo 3]] (Đương quy, xuyên khung, mễ vu, xà sàng, cao bản, trư tru hương, bạch chỉ, bạch thược, mẫu đơn, mộc hương, cam tùng hương, sơn nại, liêm khương, đỗ nhược, sơn khương, cao lương khương, đậu khấu, bạch đậu khấu, súc sa mật, ích trí tử, tất bát, tương, nhục đậu khấu, bổ cốt chỉ, khương hoàng, uất kim, bồng nga truật, kinh tam lăng, toa thảo, hương phụ tử, thụy hương, mạt lị, uất kim hương, mạo hương, bạch mạo hương, bài thảo hương, mê điệt hương, xa hương, ngải nạp hương, câu nạp hương, tuyến hương, hoắc hương, linh lăng hương, huân thảo, lan thảo, trạch lan, mã lan, ích nãi thảo, hương nhu, thạch hương, tước sàng, giả tô, bạc hà, tích tuyết thảo, tô, thủy tô, tề)
# [[/Thảo 4|Thảo 4]] (Cúc, dã cúc, am lư, thi, ngải, thiên niên ngải, nhân trần hào, thanh hào, hoàng hoa hào, bạch hào, giác hào, lậu hào, mã tiên hào, âm địa quyết, mẫu hào, cửu ngưu thảo, sung úy, tạc thái, vi hàm, hạ khô thảo, lưu ký nô thảo, tiết thảo, lệ xuân thảo, tuyền phúc hoa, thanh tương, nhạn lai hồng, thiên linh thảo, tư tử, kê quan, hồng lam hoa, phiên hồng hoa, yên chỉ, đại kế, tiểu kế, tục đoạn, khổ nạp, lậu lư, phi liêm, trữ ma, khoảnh ma, đại thanh, tiểu thanh, hồ lô ba, lệ thực, ác thực, tỷ nhĩ, thiên danh tinh, hạc sắt, hy thiêm, nhược, lô, cam tiếu, nhượng hà, ma hoàng, mộc tặc, thạch long sô, long thường thảo, đăng tâm thảo, đăng hoa tẫn)
# [[/Thảo 5|Thảo 5]] (Địa hoàng, can địa hoàng, sinh địa hoàng, thục địa hoàng, ngưu tất, tử uyển, nữ uyển, mạch môn đông, tuyên thảo, chùy hồ căn, đạm trúc diệp, áp chích thảo, quỳ, thục quỳ, thỏ quỳ, thục quỳ, long quỳ, long châu, toan tương, thục dương tuyền, lộc đề thảo, bại tương, nghênh xuân hoa, khoản đông hoa, thử khúc thảo, quyết minh, địa phu, cù mạch, vương bất lưu hành, tiễn xuân la, kim tiễn thảo, đình lịch, xa tiền, cẩu thiệt thảo, mã tiên thảo, xà hàm, nữ thanh, thử vĩ thảo, lang bả thảo, cẩu vĩ thảo, lệ tràng, liên kiều, lục anh, sóc điêu, thủy anh, lam, mã lam, lam điền, thanh đại, cam lam, liệu, hồng thảo, thiên liệu, mao liệu, hải căn, hỏa thán mẫu thảo, tam bạch thảo, tàm võng thảo, xà võng thảo, hổ trượng, bưu, súc, tấn thảo, tật lê, bạch tật lê, cốc tinh thảo, hải kim sa, địa dương mai, thủy dương mai, địa ngô công thảo, bán biên liên, tử hoa địa đinh, quỷ châm thảo, độc dụng tướng quân, kiến thũng tiêu, phan đảo tăng, thủy cam thảo)
# [[/Thảo 6|Thảo 6]] (Đại hoàng, thương lục, lang độc, phòng khuê, lang nha, lư như, đại kích, trạch tất, cam toại, tục tùy tử, lang đãng, vân thực, bì ma, thường sơn thục tất, lê lô, mộc lê lô, phụ tử, thiên hùng, trắc tử, lậu lam tử, ô đầu, bạch phụ tử, hổ chưởng thiên nam tinh, do bạt, củ nhược, bán hạ, tảo hưu, quỷ cửu, xạ can, diên vĩ, ngọc trâm, phượng tiên, tọa nã thảo, mạn đà la hoa, dương trị trục, dương bất khiết thảo, nguyên hoa, nhiêu hoa, túy ngư thảo, mãng thảo, nhân dự, thạch long nhuế, mao cấn, ngưu biến, tầm ma, cách chú thảo, hải dụ, câu vẫn)
# [[/Thảo 7|Thảo 7]] (Thỏ ty tử, ngũ vị tử, bồng luy, phúc bồn tử, huyền câu tử, xà mễ, sử quân tử, mộc tiết tử, phiên mộc tiết, mã đầu linh, đằng tử, dự tri tử, khiên ngưu tử, toàn hoa, tử uy, doanh thực, tường vi, nguyệt quý hoa, quát lâu, vương qua, cát, hoàng hoàn, thiên môn đông, bách bộ, hà thủ ô, tì giải, bạt khế, thổ phục linh, bạch liễm, nữ nuy, chử khôi, nga bào, phục kê tử căn, thiên kim đằng, cửu tiên tử, sơn đậu căn, hoàng dược tử, giải độc tử, bạch dược tử, hội châu bạch dược, trùng động căn, uy linh tiên, thiến thảo, tiễn thảo, phòng kỷ, thông thảo, thông thoát mộc, câu đằng, hoàng đằng, bạch thỏ hoắc, bạch hoa đằng, bạch anh, lôi, xích địa lợi, tử cát, ô liễm mai, luật thảo, dương đào, lạc thạch, mộc liên, phù phương đằng, thường xuân đằng, thiên tuế, nhẫn đông, cam đằng, điềm đằng, hàm thủy đằng, thiên tiên đằng, tử kim đằng, nam đằng, thanh phong đằng, bách lăng đằng, tỉnh đằng, tử đằng, lạc nhạn mộc, phong diên mẫu, đằng hoàng)
# [[/Thảo 8|Thảo 8]] (Trạch tả, hộc thảo, dương đề, toan mô, long thiệt thảo, xương bồ, bạch xương, hương bồ, bồ hoàng, cô, khổ thảo, thủy bình, tần, bình bồng thảo, hạnh thái, thuần, thủy tảo, hải tảo, hải uẩn, hải đái, côn bố, việt vương dư, thạch phàm, thủy tùng)
# [[/Thảo 9|Thảo 9]] (Thạch hộc, cốt toái bổ, thạch vi, kim tinh thảo, thạch trường sinh, thạch hiện, cảnh thiên, phật giáp thảo, hổ nhĩ thảo, thạch hồ tuy, loa yến thảo, tác tương thảo, địa cẩm, ly cách thảo, tiên nhân thảo, tiên nhân chưởng thảo, nhai tông, tử bối kim bàn thảo, bạch long tu)
# [[/Thảo 10|Thảo 10]] (Địa y, viên y, ốc du, tạ diệp hà thảo, ô cửu, thổ mã tông, quyển bá, ngọc bá, trắc ly, can đài, tỉnh trung đài, thuyền để đài, thạch nhụy, thạch tùng, tang hoa, mã bột)
#[[Thảo 11|Thảo 11]] (Tạp thảo)
# [[/Danh y biệt lục]|Danh y biệt lục]]
# [[/Cốc 1|Cốc 1]] (Hồ ma, bạch du ma, dầu hồ ma, á ma, đại ma, tiểu mạch, mạch miêu, đại mạch, khôi mạch, tước mạch, kiều mạch, khổ kiều mạch, đạo, đạo nhương, canh, tiên)
# [[/Cốc 2|Cốc 2]] (Tắc, thử, đan thử mễ, thục thử, ngọc thục thử, lương, hoàng lương mễ, bạch lương mễ, thanh lương mễ, túc, túc mễ, thục, tham tử, bại, dã lang vĩ thảo, đông, cô mễ, bồng thảo tử, thảo, ý dĩ nhân, anh tử túc, a phù dung)
# [[/Cốc 3|Cốc 3]] (Đại đậu, đại đậu hoàng quyển, hoàng đại đậu, xích tiểu đậu, hủ bị, lục đậu, bạch đậu, lũ đậu, đậu hà lan, tằm đậu, đậu đũa, biển đậu, đao đậu, lê đậu)
# [[/Cốc 4|Cốc 4]] (Đại đậu thị, đậu hoàng, đậu phụ, trần lẫm mễ, phạn, thanh tinh can thạch bính phạn, chúc, xí, cao, tống, hàn cụ, chưng bính, nữ khúc, hoàng chưng, khúc, thần khúc, hồng khúc, niết mễ (túc nha, cốc nha, mạch nha), di đường, tương, du nhân tương, vô di tương, giấm, rượu, rượu chưng, rượu nho, tào, mễ bỉ, thong chử đầu tế khương)
# [[/Thái 1|Thái 1]] (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
# [[/Thái 2|Thái 2]] (Ba lăng, rau muống, thái, đông phong thái, tề, tích, phồn lâu, kê tràng thảo, mục túc, dền, mã xỉ hiện, khổ thái, bạch cự, oa cự, thủy khổ, phiên bạch thảo, tiên nhân trượng thảo, bồ công anh, hoàng qua thái, sinh qua thái, lạc quỳ, dấp cá, quyết, thủy quyết, vi, kiều dao, lộc hoắc, hôi, lê, tần địch lê, đề hồ thái, dụ, thổ dụ, thạch dự, linh dư tử, cam thử, bách hợp, sơn đan, thảo thạch tằm, măng tre)
# [[/Thái 3|Thái 3]] (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua)(Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái)(Thanh chi - Long chi, Xích chi - Đan chi, Hoàng chi - Kim chi, Bạch chi - Ngọc chi, Tố chi, Hắc chi - Huyền chi, Tử chi - Mộc chi, Mộc nhĩ, tùng khuẩn, táo giáp tẩm, hương tẩm, cát hoa thái, thiên hoa tẩm, ma cô tẩm, kê, đà thái, thổ khuẩn, địa cầm, trúc nhục, khuẩn, địa nhĩ, thạch nhĩ)
# [[/Quả 1|Quả 1]] (Lý (Mận), Hạnh, Ba đán hạnh, Mai, Lang mai, Đào, Lật (Dẻ), Thiên sư lật, Táo, Trọng tư táo, Khổ táo)
# [[/Quả 2|Quả 2]] (Lê, Lộc lê, Đường lê, Hải hồng, Mộc qua, Tra tử, Minh tra, Ôn bột, Sơn tra, Xích trảo mộc, Am la quả, Nại, Lâm cầm, Thị, Ty thị, Quân thiên tử, An thạch lựu, Quất, Cam, Trừng, Bưởi, Câu duyên, Kim quất, Tì bà, Dương mai, Anh đào, Sơn anh đào, Ngân hạnh, Hồ đào, Trăn, A nguyệt hồn tử, Trử tử, Câu lật, Tượng thực, Hộc thực)
# [[/Quả 3|Quả 3]] (Lệ chi (Vải), Long nhãn, Long lệ, Cảm lãm (Trám), Mộc uy tử, Am ma lặc, Tì lê lặc, Ngũ liễm tử, Ngũ tử thực, Phỉ thực, Hải tùng tử, Tân lang (Cau), Đại phúc tử, Da tử (Dừa), Vô lậu tử, Quang lang tử, Toa mộc diện, Ba la mật (Mít), Vô hoa quả, A lặc bột, Sa đường quả, Thiêm tử, Kỷ mục, Đô giác tử, Đô niệm tử, Đô hàm tử, Ma trù tử, Thiều tử (Chôm chôm), Mã tân lang, Chỉ cụ)
# [[/Quả 4|Quả 4]] (Tần tiêu, Thục tiêu, Nhai tiêu, Mạn tiêu, Địa tiêu, Hồ tiêu, Tất trừng già, Ngô thù du, Thực thù du, Diêm phu tử, Thố lâm tử, Minh (Trà), Cao lư)
# [[/Quả 5|Quả 5]] (Điềm qua (Dưa hấu), Tây qua, Bồ đào (Nho), Anh úc, Di hầu đào (Kiwi), Cam giá (Mía), Sa đường, Thạch mật, Thứ mật)
# [[/Quả 6|Quả 6]] (Liên ngẫu (Sen), Hồng bạch liên hoa, Kị thực, Khiếm thực, Ô dụ, Từ cô, Phụ lục chư quả, Chư quả hữu độc)
# [[/Mộc 1|Mộc 1]] (Bách, Tùng, Sam, Quế, Quế tâm, Khuẩn quế, Thiên trúc quế, Nguyệt quế, Mộc lan, Tân di, Trầm hương, Mật hương, Đinh hương, Đàn hương, Giáng chân hương, Nam, Chương, Điều chương, Ô dược, Hồi hương, Tất lật hương,楓 hương chi, Huân lục hương, Một dược, Kỳ kiệt, Chất hãn, An tức hương, Tô hợp hương, Chiêm đường hương, Đốc nục hương, Long não hương, Long não, A ngụy, Lô hội, Hồ đồng lệ, Phản hồn hương)
# [[/Mộc 2|Mộc 2]] (Bách mộc, Đàn hoàn, Tiểu bách, Hoàng lư, Nồng phác, Đỗ trọng, Xuân xu, Tất (Sơn), Tử, Thu, Tùng, Ngô đồng, Anh tử đồng, Hải đồng, Luyện, Hòe, Đàn, Giáp, Tần bì, Hợp hoan, Táo giáp, Phì táo giáp, Vô hoạn tử, Loan hoa, Vô thực tử, Ha lê lặc, Bà la đắc, Cử, Liễu, Sênh liễu, Thủy dương, Bạch dương, Đệ dương, Tùng dương, Du, Lãng du, Vô di, Tô phương mộc, Ô mộc, Hoa mộc, Mộc, Lư mộc, Tông lư, Lận mộc, Kha thụ, Ô mộc, Ba đậu, Đại phong tử, Hải hồng đậu, Tương tư tử, Trư yêu tử, Thạch qua)
# [[/Mộc 3|Mộc 3]] (Tang (Dâu), Trá, Chử, Chỉ, Câu quất, Chi tử, Toan táo, Bạch kích, Nhuế hạch, Sơn thù du, Hồ đồi tử, Kim anh tử, Uất lý, Thử lý, Nữ trinh, Đông thanh, Câu cốt, Vệ mâu, Sơn phàn, Mộc, Nam chúc, Ngũ gia, Câu kỷ địa cốt bì, Sưu sơ, Dương lư, Thạch nam, Mẫu kinh, Mạn kinh, Loan kinh, Thạch kinh, Tử kinh, Mộc cẩn, Phù tang, Mộc phù dung, Sơn trà, Lạp mai, Phục ngưu hoa, Mật mông hoa, Mộc miên, Tác mộc, Hoàng dương mộc, Bất điêu mộc, Mại tử mộc, Mộc thiên liệu, Phóng trượng mộc, Tiếp cốt mộc, Linh thọ mộc, Mộc, Mộc ma, Đại không)
# [[/Mộc 4|Mộc 4]] (Phục linh, Hổ phách, Y,, Trư linh, Lôi hoàn, Tang thượng ký sinh, Tùng la, Phong liễu, Đào ký sinh, Liễu ký sinh, Chiêm tư, Thạch thứ mộc)
# [[/Mộc 5|Mộc 5]] (Trúc, Trúc hoàng, Tiên nhân trượng, Quỷ xỉ)
# [[/Mộc 6|Mộc 6]] (Hoài mộc, Thành đông hủ mộc, Đông gia kê thê mộc, Cổ xí mộc, Cổ sấn bản, Chấn thiêu mộc, Hà biên mộc)
# [[/Phục khí bộ|Phục khí bộ (Đồ dùng)]]
# [[/Trùng 1|Trùng 1]] (Loại trứng sinh - thượng, 23 loại) (Mật ong, mật lạp, mật ong, thổ phong, đại hoàng phong, lộ phong phòng, trúc phong, xích sí phong, độc cước phong, tác ông, trùng bạch lạp, tử nữu, ngũ bội tử, bọ ngựa, tang phiêu tiêu, tước úng, tằm, ô lạn tử tàm, tằm kiền (gồm tàm thối, tàm liên), nguyên tàm, thạch tàm, cửu hương trùng, hải tàm, tuyết tàm, câu kỷ trùng, hương trùng)
# [[/Trùng 2|Trùng 2]] (Loại trứng sinh - hạ, 22 loại) (Thanh phu, bướm, chuồn chuồn, sừ kê, táo miêu, ban miêu, nguyên thanh, cát thượng đình trưởng, địa đảm, nhện, thảo tru tru, bích tiền, trì đương, bọ cạp, đỉa, kiến, độc cước kiến, thanh yêu trùng, dòi, ruồi, cẩu蝇, ngưu sắt, nhân sắt)
# [[/Trùng 3|Trùng 3]] (Loại hóa sinh, 31 loại) (Tề tào, nhũ trùng, mộc duùng trùng, tang duùng trùng, liễu duùng trùng, đào duùng trùng, quế duùng trùng, trá duùng trùng, táo duùng trùng, trúc duùng trùng, lô duùng trùng, thương nhĩ duùng trùng, thanh hào duùng trùng, táo giáp duùng trùng, trà chú trùng, sạ thiền, xác ve, thiền hoa, khương lang, thiên ngưu, lâu cô, đom đóm, y ngư, thử phụ, bọ hung, gián, hành dạ, táo mã, chung, tiễn khỏa trùng, mộc mòng, phỉ mòng, trúc sắt)
# [[/Trùng 4|Trùng 4]]
# [[/Lân 1|Lân 1]] (Rồng, điếu, giao long, đà long (cá sấu), lăng lý (tê tê), thạch long tử, thủ cung (thạch sùng), tắc kè, diêm long)
# [[/Lân 2|Lân 2]]
# [[/Lân 3|Lân 3]]
# [[/Lân 14|Lân 4]]
# [[/Giới 1|Giới 1]] (Rùa nước, tần quy, tê quy, đồi mồi, lục mao quy, ngược quy, ngạc quy, nhiếp quy, bôn quy, ba ba, nạp tiết, năng tiết, chu tiết, châu tiết, nguyên, cua, cá hố)
# [[/Giới 2|Giới 2]] (Mẫu lệ (Hàu), Trai, Mã đao, Tiệp dư, Hiện, Trân châu, Thạch quyết minh, Hải cáp, Văn cáp, Cáp lị, Sênh, Đảm la, Xa ngao, Khôi cáp, Xa cừ, Bối tử, Tử bối, Kha, Thạch, Đạm thái, Hải loa, Giáp tiễn, Điền loa (Ốc nhồi), Oa loa, Liệu loa, Ký cư trùng, Hải nguyệt, Hải yến, Lang quân tử)
# [[/Cầm 1|Cầm 1]]
# [[/Cầm 2|Cầm 2]]
# [[/Cầm 3|Cầm 3]]
# [[/Cầm 4|Cầm 4]]
# [[/Thú 1|Thú 1]] (Heo, chó, cừu, dê con, dê vàng, bò, ngựa, lừa, la, lạc đà, lạc, tô, đề hồ, nhũ hủ, a giao, hoàng minh giao, ngưu hoàng, tạ đáp, cẩu bảo, để dã ca, các loại máu, các loại xương mục, chấn nhục, bại cổ bì, chiên, lục súc mao đề giáp, lục súc tâm, các loại thịt hữu độc, giải độc các loại thịt)
# [[/Thú 2|Thú 2]] (Sư tử, hổ, báo, mạc, voi, tê giác, ly ngưu, mao ngưu, dã mã, lợn rừng, gấu, linh dương, sơn dương, hươu, nai, hươu hai đầu, kỷ, chương, xạ hương, linh miêu, mèo, mèo rừng, phong ly, cáo, hạc, đoàn, hoan, mộc cẩu, sài, sói, thỏ, bại bút, sơn thán, thủy thán, hải thán, cốt nột thú, hoạt)
# [[/Thú 3|Thú 3]]
# [[/Thú 4|Thú 4]]
# [[/Nhân bộ|Nhân bộ (Con người)]] (Tóc giả, tóc rối, gàu, ráy tai, ghét đầu gối, móng tay móng chân, răng, phân người, phân su, nước tiểu người, cặn nước tiểu, thu thạch, lâm thạch, phách thạch, sữa mẹ, kinh nguyệt, tinh dịch, nước bọt, cao răng, mồ hôi, nước mắt, nhân khí, nhân phách, râu, lông mu, xương người, tử thi, nhau thai, nước nhau, dây rốn, dương vật người, mật người, thịt người, xác ướp, phương dân, nhân khôi)
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://ctext.org/wiki.pl?if=en&res=8&remap=gb 本草綱目 trên Chinese Text Project]
* [https://www.shidianguji.com/ens/book/7435216307680706598/chapter/1ki6xzt4tnpyf?page_from=profile&mode=book¶graphId=7437331526687146038&lineId=2&sentenceId=7494554245262508066 本草綱目 trên shidianguji.com]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
7soxtpzq5a59d2ukrrjrslqii9nrgmr
204512
204511
2026-04-01T10:48:17Z
Mrfly911
2215
204512
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目
| năm= [[w:1596|1596]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= Bản thảo cương mục (giản thể: 本草纲目; phồn thể: 本草綱目) là một từ điển bách khoa của Trung Quốc về dược vật học được thầy thuốc Lý Thời Trân biên soạn vào thế kỷ 16 đầu thời nhà Minh. Bản thảo đầu tiên được hoàn thành vào năm 1578 và được in tại Nam Kinh vào năm 1596. Bộ sách liệt kê các dược liệu của y học cổ truyền Trung Hoa được biết đến vào thời điểm đó, bao gồm các loài thực vật, động vật và khoáng chất được tin là có đặc tính chữa bệnh. Đây được coi là tác phẩm y học hoàn chỉnh và chi tiết nhất trong lịch sử Đông y. {{Wikipediaref}}
}}
{{tìm kiếm}}
== Mục lục ==
* [[/Lời tựa|Lời tựa]]
* [[/Phàm lệ|Phàm lệ]]
# [[/Tự lệ thượng|Tự lệ thượng]]
# [[/Tự lệ hạ|Tự lệ hạ]]
# [[/Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển thượng|Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển thượng]] (Các chứng phong, kinh phong, cứng gáy, điên giản, tốt quyết, thương hàn nhiệt bệnh, ôn dịch, thử, thấp, hỏa nhiệt, các chứng khí, đàm ẩm, tỳ vị, nuốt chua táo tạp, nghẹn tắc, phản vị, nôn mửa, nấc cụt, hoắc loạn, tiết tả, lỵ, sốt rét, tâm hạ bĩ mãn, chướng mãn, hoàng đản, cước khí, nuy, chuyển cân, suyễn nghịch, ho, phế nuy phế ung, hư tổn, truyền thi cốt chưng, tà túy, hàn nhiệt, thổ huyết nục huyết, chảy máu chân răng, huyết hãn, khạc ra máu, các chứng ra mồ hôi, chinh xung, kiện vong, kinh quý, phiền hoặc, cuồng táo, mất ngủ, ngủ nhiều, tiêu khát, di tinh mộng tiết, xích bạch trọc, lâm bệnh, tiểu nhiều di niệu, tiểu ra máu, âm nuy, cường trung, ngứa bìu, đại tiện táo kết, thoát giang, trĩ lậu, hạ huyết, ứ huyết, tích tụ trưng hà, các loại giun sán, sôi bụng, đau tâm phúc, đau hông sườn, đau thắt lưng, sán khí)
# [[/Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển hạ|Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển hạ]] (Thống phong, đau đầu, huyễn vựng, mắt, tai, mặt, mũi, môi, miệng lưỡi, hầu họng, âm thanh, răng, râu tóc, hôi nách, đan độc, phong táo chẩn rôm, lác đồng tiền lang ben, anh lựu bướu thịt nốt ruồi, loa lịch, cửu lậu, ung thư, các loại nhọt độc, ngoại thương các loại nhọt, vết thương do kim khí tre gỗ, té ngã gãy xương, ngũ tuyệt, các loại trùng cắn, thú cắn, các loại độc, độc sâu bọ, hóc dị vật, phụ nữ kinh nguyệt, đới hạ, băng lậu, thai tiền, sản nan, hậu sản, bệnh phần âm, các bệnh sơ sinh ở trẻ nhỏ, kinh giản, các chứng cam, đậu chẩn)
# [[/Thủy bộ|Thủy bộ (Nước)]]
# [[/Hỏa bộ|Hỏa bộ (Lửa)]]
# [[/Thổ bộ|Thổ bộ (Đất)]]
# [[/Kim thạch 1|Kim thạch 1]] (Vàng, bạc, tích lận chi, bạc cao, chu sa ngân, đồng tự nhiên, đồng quặng, đồng xanh, chì, duyên sương, bột chì, chì đỏ, mật đà tăng, thiếc, gương cổ, tiền cổ, nỏ đồng, các khí cụ đồng, sắt, thép, sắt vụn, sắt tinh, bột hoa sắt, rỉ sắt, sắt nung, nước sắt, các khí cụ sắt)
# [[/Kim thạch 2|Kim thạch 2]] (Ngọc, bạch ngọc tủy, thanh ngọc, thanh lang can, san hô, mã não, bảo thạch, pha lê, thủy tinh, lưu ly, vân mẫu, bạch thạch anh, tử thạch anh, bồ tát thạch)
# [[/Kim thạch 3|Kim thạch 3]] (Đan sa, thủy ngân, phấn thủy ngân, phấn sương, ngân chu, linh sa, hùng hoàng, thư hoàng, thạch cao, lý thạch, trường thạch, phương giải thạch, hoạt thạch, bất hôi mộc, ngũ sắc thạch chi, đào hoa thạch, lô cam thạch, tỉnh tuyền thạch, vô danh dị, mật lật tử, thạch chung nhũ, khổng công nghiệt, ân nghiệt, thổ ân nghiệt, thạch não, thạch tủy, dầu thạch não, than đá, vôi, thạch diện, phù thạch, thạch chi)
# [[/Kim thạch 4|Kim thạch 4]]
# [[/Kim thạch 5|Kim thạch 5]]
# [[/Thảo 1|Thảo 1]] (Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất)
# [[/Thảo 2|Thảo 2]] (Hoàng liên, hồ hoàng liên, hoàng cầm, tần giao, sài hồ, tiền hồ, phòng phong, độc hoạt, thổ đương quy, đô quản thảo, thăng ma, khổ sâm, bạch tiễn, diên hồ sách, bối mẫu, sơn từ cô, thạch toán, thủy tiên, bạch mao, địa cân, mang, long đởm, tế tân, đỗ hành, cập kỷ, quỷ đốc bưu, từ trường khanh, bạch vi, bạch tiền, thảo tê, sai tử cổ, cát lợi thảo, chu sa căn, tích hủy lôi, cẩm địa la, tử kim ngưu, quyền sâm, thiết tuyến thảo, kim ty thảo)
# [[/Thảo 3|Thảo 3]] (Đương quy, xuyên khung, mễ vu, xà sàng, cao bản, trư tru hương, bạch chỉ, bạch thược, mẫu đơn, mộc hương, cam tùng hương, sơn nại, liêm khương, đỗ nhược, sơn khương, cao lương khương, đậu khấu, bạch đậu khấu, súc sa mật, ích trí tử, tất bát, tương, nhục đậu khấu, bổ cốt chỉ, khương hoàng, uất kim, bồng nga truật, kinh tam lăng, toa thảo, hương phụ tử, thụy hương, mạt lị, uất kim hương, mạo hương, bạch mạo hương, bài thảo hương, mê điệt hương, xa hương, ngải nạp hương, câu nạp hương, tuyến hương, hoắc hương, linh lăng hương, huân thảo, lan thảo, trạch lan, mã lan, ích nãi thảo, hương nhu, thạch hương, tước sàng, giả tô, bạc hà, tích tuyết thảo, tô, thủy tô, tề)
# [[/Thảo 4|Thảo 4]] (Cúc, dã cúc, am lư, thi, ngải, thiên niên ngải, nhân trần hào, thanh hào, hoàng hoa hào, bạch hào, giác hào, lậu hào, mã tiên hào, âm địa quyết, mẫu hào, cửu ngưu thảo, sung úy, tạc thái, vi hàm, hạ khô thảo, lưu ký nô thảo, tiết thảo, lệ xuân thảo, tuyền phúc hoa, thanh tương, nhạn lai hồng, thiên linh thảo, tư tử, kê quan, hồng lam hoa, phiên hồng hoa, yên chỉ, đại kế, tiểu kế, tục đoạn, khổ nạp, lậu lư, phi liêm, trữ ma, khoảnh ma, đại thanh, tiểu thanh, hồ lô ba, lệ thực, ác thực, tỷ nhĩ, thiên danh tinh, hạc sắt, hy thiêm, nhược, lô, cam tiếu, nhượng hà, ma hoàng, mộc tặc, thạch long sô, long thường thảo, đăng tâm thảo, đăng hoa tẫn)
# [[/Thảo 5|Thảo 5]] (Địa hoàng, can địa hoàng, sinh địa hoàng, thục địa hoàng, ngưu tất, tử uyển, nữ uyển, mạch môn đông, tuyên thảo, chùy hồ căn, đạm trúc diệp, áp chích thảo, quỳ, thục quỳ, thỏ quỳ, thục quỳ, long quỳ, long châu, toan tương, thục dương tuyền, lộc đề thảo, bại tương, nghênh xuân hoa, khoản đông hoa, thử khúc thảo, quyết minh, địa phu, cù mạch, vương bất lưu hành, tiễn xuân la, kim tiễn thảo, đình lịch, xa tiền, cẩu thiệt thảo, mã tiên thảo, xà hàm, nữ thanh, thử vĩ thảo, lang bả thảo, cẩu vĩ thảo, lệ tràng, liên kiều, lục anh, sóc điêu, thủy anh, lam, mã lam, lam điền, thanh đại, cam lam, liệu, hồng thảo, thiên liệu, mao liệu, hải căn, hỏa thán mẫu thảo, tam bạch thảo, tàm võng thảo, xà võng thảo, hổ trượng, bưu, súc, tấn thảo, tật lê, bạch tật lê, cốc tinh thảo, hải kim sa, địa dương mai, thủy dương mai, địa ngô công thảo, bán biên liên, tử hoa địa đinh, quỷ châm thảo, độc dụng tướng quân, kiến thũng tiêu, phan đảo tăng, thủy cam thảo)
# [[/Thảo 6|Thảo 6]] (Đại hoàng, thương lục, lang độc, phòng khuê, lang nha, lư như, đại kích, trạch tất, cam toại, tục tùy tử, lang đãng, vân thực, bì ma, thường sơn thục tất, lê lô, mộc lê lô, phụ tử, thiên hùng, trắc tử, lậu lam tử, ô đầu, bạch phụ tử, hổ chưởng thiên nam tinh, do bạt, củ nhược, bán hạ, tảo hưu, quỷ cửu, xạ can, diên vĩ, ngọc trâm, phượng tiên, tọa nã thảo, mạn đà la hoa, dương trị trục, dương bất khiết thảo, nguyên hoa, nhiêu hoa, túy ngư thảo, mãng thảo, nhân dự, thạch long nhuế, mao cấn, ngưu biến, tầm ma, cách chú thảo, hải dụ, câu vẫn)
# [[/Thảo 7|Thảo 7]] (Thỏ ty tử, ngũ vị tử, bồng luy, phúc bồn tử, huyền câu tử, xà mễ, sử quân tử, mộc tiết tử, phiên mộc tiết, mã đầu linh, đằng tử, dự tri tử, khiên ngưu tử, toàn hoa, tử uy, doanh thực, tường vi, nguyệt quý hoa, quát lâu, vương qua, cát, hoàng hoàn, thiên môn đông, bách bộ, hà thủ ô, tì giải, bạt khế, thổ phục linh, bạch liễm, nữ nuy, chử khôi, nga bào, phục kê tử căn, thiên kim đằng, cửu tiên tử, sơn đậu căn, hoàng dược tử, giải độc tử, bạch dược tử, hội châu bạch dược, trùng động căn, uy linh tiên, thiến thảo, tiễn thảo, phòng kỷ, thông thảo, thông thoát mộc, câu đằng, hoàng đằng, bạch thỏ hoắc, bạch hoa đằng, bạch anh, lôi, xích địa lợi, tử cát, ô liễm mai, luật thảo, dương đào, lạc thạch, mộc liên, phù phương đằng, thường xuân đằng, thiên tuế, nhẫn đông, cam đằng, điềm đằng, hàm thủy đằng, thiên tiên đằng, tử kim đằng, nam đằng, thanh phong đằng, bách lăng đằng, tỉnh đằng, tử đằng, lạc nhạn mộc, phong diên mẫu, đằng hoàng)
# [[/Thảo 8|Thảo 8]] (Trạch tả, hộc thảo, dương đề, toan mô, long thiệt thảo, xương bồ, bạch xương, hương bồ, bồ hoàng, cô, khổ thảo, thủy bình, tần, bình bồng thảo, hạnh thái, thuần, thủy tảo, hải tảo, hải uẩn, hải đái, côn bố, việt vương dư, thạch phàm, thủy tùng)
# [[/Thảo 9|Thảo 9]] (Thạch hộc, cốt toái bổ, thạch vi, kim tinh thảo, thạch trường sinh, thạch hiện, cảnh thiên, phật giáp thảo, hổ nhĩ thảo, thạch hồ tuy, loa yến thảo, tác tương thảo, địa cẩm, ly cách thảo, tiên nhân thảo, tiên nhân chưởng thảo, nhai tông, tử bối kim bàn thảo, bạch long tu)
# [[/Thảo 10|Thảo 10]] (Địa y, viên y, ốc du, tạ diệp hà thảo, ô cửu, thổ mã tông, quyển bá, ngọc bá, trắc ly, can đài, tỉnh trung đài, thuyền để đài, thạch nhụy, thạch tùng, tang hoa, mã bột)
#[[/Thảo 11|Thảo 11]] (Tạp thảo)
# [[/Danh y biệt lục|Danh y biệt lục]]
# [[/Cốc 1|Cốc 1]] (Hồ ma, bạch du ma, dầu hồ ma, á ma, đại ma, tiểu mạch, mạch miêu, đại mạch, khôi mạch, tước mạch, kiều mạch, khổ kiều mạch, đạo, đạo nhương, canh, tiên)
# [[/Cốc 2|Cốc 2]] (Tắc, thử, đan thử mễ, thục thử, ngọc thục thử, lương, hoàng lương mễ, bạch lương mễ, thanh lương mễ, túc, túc mễ, thục, tham tử, bại, dã lang vĩ thảo, đông, cô mễ, bồng thảo tử, thảo, ý dĩ nhân, anh tử túc, a phù dung)
# [[/Cốc 3|Cốc 3]] (Đại đậu, đại đậu hoàng quyển, hoàng đại đậu, xích tiểu đậu, hủ bị, lục đậu, bạch đậu, lũ đậu, đậu hà lan, tằm đậu, đậu đũa, biển đậu, đao đậu, lê đậu)
# [[/Cốc 4|Cốc 4]] (Đại đậu thị, đậu hoàng, đậu phụ, trần lẫm mễ, phạn, thanh tinh can thạch bính phạn, chúc, xí, cao, tống, hàn cụ, chưng bính, nữ khúc, hoàng chưng, khúc, thần khúc, hồng khúc, niết mễ (túc nha, cốc nha, mạch nha), di đường, tương, du nhân tương, vô di tương, giấm, rượu, rượu chưng, rượu nho, tào, mễ bỉ, thong chử đầu tế khương)
# [[/Thái 1|Thái 1]] (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
# [[/Thái 2|Thái 2]] (Ba lăng, rau muống, thái, đông phong thái, tề, tích, phồn lâu, kê tràng thảo, mục túc, dền, mã xỉ hiện, khổ thái, bạch cự, oa cự, thủy khổ, phiên bạch thảo, tiên nhân trượng thảo, bồ công anh, hoàng qua thái, sinh qua thái, lạc quỳ, dấp cá, quyết, thủy quyết, vi, kiều dao, lộc hoắc, hôi, lê, tần địch lê, đề hồ thái, dụ, thổ dụ, thạch dự, linh dư tử, cam thử, bách hợp, sơn đan, thảo thạch tằm, măng tre)
# [[/Thái 3|Thái 3]] (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua)(Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái)(Thanh chi - Long chi, Xích chi - Đan chi, Hoàng chi - Kim chi, Bạch chi - Ngọc chi, Tố chi, Hắc chi - Huyền chi, Tử chi - Mộc chi, Mộc nhĩ, tùng khuẩn, táo giáp tẩm, hương tẩm, cát hoa thái, thiên hoa tẩm, ma cô tẩm, kê, đà thái, thổ khuẩn, địa cầm, trúc nhục, khuẩn, địa nhĩ, thạch nhĩ)
# [[/Quả 1|Quả 1]] (Lý (Mận), Hạnh, Ba đán hạnh, Mai, Lang mai, Đào, Lật (Dẻ), Thiên sư lật, Táo, Trọng tư táo, Khổ táo)
# [[/Quả 2|Quả 2]] (Lê, Lộc lê, Đường lê, Hải hồng, Mộc qua, Tra tử, Minh tra, Ôn bột, Sơn tra, Xích trảo mộc, Am la quả, Nại, Lâm cầm, Thị, Ty thị, Quân thiên tử, An thạch lựu, Quất, Cam, Trừng, Bưởi, Câu duyên, Kim quất, Tì bà, Dương mai, Anh đào, Sơn anh đào, Ngân hạnh, Hồ đào, Trăn, A nguyệt hồn tử, Trử tử, Câu lật, Tượng thực, Hộc thực)
# [[/Quả 3|Quả 3]] (Lệ chi (Vải), Long nhãn, Long lệ, Cảm lãm (Trám), Mộc uy tử, Am ma lặc, Tì lê lặc, Ngũ liễm tử, Ngũ tử thực, Phỉ thực, Hải tùng tử, Tân lang (Cau), Đại phúc tử, Da tử (Dừa), Vô lậu tử, Quang lang tử, Toa mộc diện, Ba la mật (Mít), Vô hoa quả, A lặc bột, Sa đường quả, Thiêm tử, Kỷ mục, Đô giác tử, Đô niệm tử, Đô hàm tử, Ma trù tử, Thiều tử (Chôm chôm), Mã tân lang, Chỉ cụ)
# [[/Quả 4|Quả 4]] (Tần tiêu, Thục tiêu, Nhai tiêu, Mạn tiêu, Địa tiêu, Hồ tiêu, Tất trừng già, Ngô thù du, Thực thù du, Diêm phu tử, Thố lâm tử, Minh (Trà), Cao lư)
# [[/Quả 5|Quả 5]] (Điềm qua (Dưa hấu), Tây qua, Bồ đào (Nho), Anh úc, Di hầu đào (Kiwi), Cam giá (Mía), Sa đường, Thạch mật, Thứ mật)
# [[/Quả 6|Quả 6]] (Liên ngẫu (Sen), Hồng bạch liên hoa, Kị thực, Khiếm thực, Ô dụ, Từ cô, Phụ lục chư quả, Chư quả hữu độc)
# [[/Mộc 1|Mộc 1]] (Bách, Tùng, Sam, Quế, Quế tâm, Khuẩn quế, Thiên trúc quế, Nguyệt quế, Mộc lan, Tân di, Trầm hương, Mật hương, Đinh hương, Đàn hương, Giáng chân hương, Nam, Chương, Điều chương, Ô dược, Hồi hương, Tất lật hương,楓 hương chi, Huân lục hương, Một dược, Kỳ kiệt, Chất hãn, An tức hương, Tô hợp hương, Chiêm đường hương, Đốc nục hương, Long não hương, Long não, A ngụy, Lô hội, Hồ đồng lệ, Phản hồn hương)
# [[/Mộc 2|Mộc 2]] (Bách mộc, Đàn hoàn, Tiểu bách, Hoàng lư, Nồng phác, Đỗ trọng, Xuân xu, Tất (Sơn), Tử, Thu, Tùng, Ngô đồng, Anh tử đồng, Hải đồng, Luyện, Hòe, Đàn, Giáp, Tần bì, Hợp hoan, Táo giáp, Phì táo giáp, Vô hoạn tử, Loan hoa, Vô thực tử, Ha lê lặc, Bà la đắc, Cử, Liễu, Sênh liễu, Thủy dương, Bạch dương, Đệ dương, Tùng dương, Du, Lãng du, Vô di, Tô phương mộc, Ô mộc, Hoa mộc, Mộc, Lư mộc, Tông lư, Lận mộc, Kha thụ, Ô mộc, Ba đậu, Đại phong tử, Hải hồng đậu, Tương tư tử, Trư yêu tử, Thạch qua)
# [[/Mộc 3|Mộc 3]] (Tang (Dâu), Trá, Chử, Chỉ, Câu quất, Chi tử, Toan táo, Bạch kích, Nhuế hạch, Sơn thù du, Hồ đồi tử, Kim anh tử, Uất lý, Thử lý, Nữ trinh, Đông thanh, Câu cốt, Vệ mâu, Sơn phàn, Mộc, Nam chúc, Ngũ gia, Câu kỷ địa cốt bì, Sưu sơ, Dương lư, Thạch nam, Mẫu kinh, Mạn kinh, Loan kinh, Thạch kinh, Tử kinh, Mộc cẩn, Phù tang, Mộc phù dung, Sơn trà, Lạp mai, Phục ngưu hoa, Mật mông hoa, Mộc miên, Tác mộc, Hoàng dương mộc, Bất điêu mộc, Mại tử mộc, Mộc thiên liệu, Phóng trượng mộc, Tiếp cốt mộc, Linh thọ mộc, Mộc, Mộc ma, Đại không)
# [[/Mộc 4|Mộc 4]] (Phục linh, Hổ phách, Y,, Trư linh, Lôi hoàn, Tang thượng ký sinh, Tùng la, Phong liễu, Đào ký sinh, Liễu ký sinh, Chiêm tư, Thạch thứ mộc)
# [[/Mộc 5|Mộc 5]] (Trúc, Trúc hoàng, Tiên nhân trượng, Quỷ xỉ)
# [[/Mộc 6|Mộc 6]] (Hoài mộc, Thành đông hủ mộc, Đông gia kê thê mộc, Cổ xí mộc, Cổ sấn bản, Chấn thiêu mộc, Hà biên mộc)
# [[/Phục khí bộ|Phục khí bộ (Đồ dùng)]]
# [[/Trùng 1|Trùng 1]] (Loại trứng sinh - thượng, 23 loại) (Mật ong, mật lạp, mật ong, thổ phong, đại hoàng phong, lộ phong phòng, trúc phong, xích sí phong, độc cước phong, tác ông, trùng bạch lạp, tử nữu, ngũ bội tử, bọ ngựa, tang phiêu tiêu, tước úng, tằm, ô lạn tử tàm, tằm kiền (gồm tàm thối, tàm liên), nguyên tàm, thạch tàm, cửu hương trùng, hải tàm, tuyết tàm, câu kỷ trùng, hương trùng)
# [[/Trùng 2|Trùng 2]] (Loại trứng sinh - hạ, 22 loại) (Thanh phu, bướm, chuồn chuồn, sừ kê, táo miêu, ban miêu, nguyên thanh, cát thượng đình trưởng, địa đảm, nhện, thảo tru tru, bích tiền, trì đương, bọ cạp, đỉa, kiến, độc cước kiến, thanh yêu trùng, dòi, ruồi, cẩu蝇, ngưu sắt, nhân sắt)
# [[/Trùng 3|Trùng 3]] (Loại hóa sinh, 31 loại) (Tề tào, nhũ trùng, mộc duùng trùng, tang duùng trùng, liễu duùng trùng, đào duùng trùng, quế duùng trùng, trá duùng trùng, táo duùng trùng, trúc duùng trùng, lô duùng trùng, thương nhĩ duùng trùng, thanh hào duùng trùng, táo giáp duùng trùng, trà chú trùng, sạ thiền, xác ve, thiền hoa, khương lang, thiên ngưu, lâu cô, đom đóm, y ngư, thử phụ, bọ hung, gián, hành dạ, táo mã, chung, tiễn khỏa trùng, mộc mòng, phỉ mòng, trúc sắt)
# [[/Trùng 4|Trùng 4]]
# [[/Lân 1|Lân 1]] (Rồng, điếu, giao long, đà long (cá sấu), lăng lý (tê tê), thạch long tử, thủ cung (thạch sùng), tắc kè, diêm long)
# [[/Lân 2|Lân 2]]
# [[/Lân 3|Lân 3]]
# [[/Lân 14|Lân 4]]
# [[/Giới 1|Giới 1]] (Rùa nước, tần quy, tê quy, đồi mồi, lục mao quy, ngược quy, ngạc quy, nhiếp quy, bôn quy, ba ba, nạp tiết, năng tiết, chu tiết, châu tiết, nguyên, cua, cá hố)
# [[/Giới 2|Giới 2]] (Mẫu lệ (Hàu), Trai, Mã đao, Tiệp dư, Hiện, Trân châu, Thạch quyết minh, Hải cáp, Văn cáp, Cáp lị, Sênh, Đảm la, Xa ngao, Khôi cáp, Xa cừ, Bối tử, Tử bối, Kha, Thạch, Đạm thái, Hải loa, Giáp tiễn, Điền loa (Ốc nhồi), Oa loa, Liệu loa, Ký cư trùng, Hải nguyệt, Hải yến, Lang quân tử)
# [[/Cầm 1|Cầm 1]]
# [[/Cầm 2|Cầm 2]]
# [[/Cầm 3|Cầm 3]]
# [[/Cầm 4|Cầm 4]]
# [[/Thú 1|Thú 1]] (Heo, chó, cừu, dê con, dê vàng, bò, ngựa, lừa, la, lạc đà, lạc, tô, đề hồ, nhũ hủ, a giao, hoàng minh giao, ngưu hoàng, tạ đáp, cẩu bảo, để dã ca, các loại máu, các loại xương mục, chấn nhục, bại cổ bì, chiên, lục súc mao đề giáp, lục súc tâm, các loại thịt hữu độc, giải độc các loại thịt)
# [[/Thú 2|Thú 2]] (Sư tử, hổ, báo, mạc, voi, tê giác, ly ngưu, mao ngưu, dã mã, lợn rừng, gấu, linh dương, sơn dương, hươu, nai, hươu hai đầu, kỷ, chương, xạ hương, linh miêu, mèo, mèo rừng, phong ly, cáo, hạc, đoàn, hoan, mộc cẩu, sài, sói, thỏ, bại bút, sơn thán, thủy thán, hải thán, cốt nột thú, hoạt)
# [[/Thú 3|Thú 3]]
# [[/Thú 4|Thú 4]]
# [[/Nhân bộ|Nhân bộ (Con người)]] (Tóc giả, tóc rối, gàu, ráy tai, ghét đầu gối, móng tay móng chân, răng, phân người, phân su, nước tiểu người, cặn nước tiểu, thu thạch, lâm thạch, phách thạch, sữa mẹ, kinh nguyệt, tinh dịch, nước bọt, cao răng, mồ hôi, nước mắt, nhân khí, nhân phách, râu, lông mu, xương người, tử thi, nhau thai, nước nhau, dây rốn, dương vật người, mật người, thịt người, xác ướp, phương dân, nhân khôi)
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://ctext.org/wiki.pl?if=en&res=8&remap=gb 本草綱目 trên Chinese Text Project]
* [https://www.shidianguji.com/ens/book/7435216307680706598/chapter/1ki6xzt4tnpyf?page_from=profile&mode=book¶graphId=7437331526687146038&lineId=2&sentenceId=7494554245262508066 本草綱目 trên shidianguji.com]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
mn897isfuhdxk8yeazgmr3tlpw20moa
Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thái 1
114
71897
204496
204495
2026-03-31T12:33:36Z
Mrfly911
2215
/* TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng= */
204496
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[/Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[/Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - *Allium tuberosum*), Giới (Kiệu - *Allium chinense*), Quỳ (Rau quỳ - *Malva verticillata*), Thông (Hành - *Allium fistulosum*), Hoắc (Lá đậu - *Glycine max*) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn *Cứu hoang bản thảo*, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo *Chửu hậu phương*).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (*Thiên Kim*).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - *Allium victorialis*). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (*Allium ascalonicum* - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (*Bản kinh*). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. * '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (*Biệt lục*). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách *Thiên kim thực tính* của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (*Thánh huệ phương*).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. *Nông thư* của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - *Allium nipponicum*), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong *Nhĩ Nhã*.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (*Bản kinh*).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (*Biệt lục*).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Kiển mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong *Nông thư* gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (*Biệt lục*). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách *Nhĩ Nhã* gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Kiển đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (*Biệt lục*).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (*Nhật hoa*).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát*).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (*Đường Bản Thảo*). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (*Khai Bảo*). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (*Nhật hoa*). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách *Tì Nhã*, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ*).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (*Biệt lục*).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách *Lĩnh Nam dị vật chí* chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (*Biệt lục*). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. *Biệt lục* nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
2. '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
3. '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
4. '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (*Biệt lục*). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (*Nhật hoa*).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài *Bạch giới hoàn* (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài *Hắc giới hoàn* (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (*Biệt lục*). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (*Biệt lục*). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách *Bác tế phương* gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (*Đường Bản thảo*). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách *Thuyết văn* gọi là *Khương* (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là *Khương* (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (*Bản kinh*). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (*Biệt lục*). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách *Đồ kinh*).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (*Bản kinh*).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (*Biệt lục*).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong *Thiên Kim Phương* mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (*Thực y tâm kính*).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Tuy* (荽) trong *Thuyết văn giải tự* chép là *Tùy* (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiền đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ *Nguyên* (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là *Tiên* (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (*Gia Hựu*). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Cần* (斳) sau này giản lược thành *Cần* (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách *Lã Thị Xuân Thu* khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (*Bản kinh*). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (*Đường bản*). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (*Đường bản*). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài *Tỉnh tỳ tán* trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (*Đường bản*). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (*Nhật Hoa*). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau *Tân* ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO ĐẬU XỊ (草豉)===
*(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')*
*(Trích: Bản Thảo Thập Di)*
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Brazil (Tây Dương). Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
gqd2ld1lm52nv2o2551qg8xvjlfm9hm
204497
204496
2026-03-31T12:35:39Z
Mrfly911
2215
/* GIỚI - CẢI BẸ (芥) */
204497
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[/Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[/Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - *Allium tuberosum*), Giới (Kiệu - *Allium chinense*), Quỳ (Rau quỳ - *Malva verticillata*), Thông (Hành - *Allium fistulosum*), Hoắc (Lá đậu - *Glycine max*) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn *Cứu hoang bản thảo*, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo *Chửu hậu phương*).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (*Thiên Kim*).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - *Allium victorialis*). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (*Allium ascalonicum* - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (*Bản kinh*). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. * '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (*Biệt lục*). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách *Thiên kim thực tính* của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (*Thánh huệ phương*).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. *Nông thư* của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - *Allium nipponicum*), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong *Nhĩ Nhã*.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (*Bản kinh*).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (*Biệt lục*).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Kiển mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong *Nông thư* gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (*Biệt lục*). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách *Nhĩ Nhã* gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Kiển đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (*Biệt lục*).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (*Nhật hoa*).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát*).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (*Đường Bản Thảo*). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (*Khai Bảo*). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (*Nhật hoa*). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách *Tì Nhã*, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ*).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (*Biệt lục*).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách *Lĩnh Nam dị vật chí* chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (*Biệt lục*). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. *Biệt lục* nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
* '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
* '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
* '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (*Biệt lục*). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (*Nhật hoa*).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài *Bạch giới hoàn* (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài *Hắc giới hoàn* (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (*Biệt lục*). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (*Biệt lục*). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách *Bác tế phương* gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (*Đường Bản thảo*). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách *Thuyết văn* gọi là *Khương* (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là *Khương* (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (*Bản kinh*). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (*Biệt lục*). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách *Đồ kinh*).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (*Bản kinh*).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (*Biệt lục*).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong *Thiên Kim Phương* mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (*Thực y tâm kính*).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Tuy* (荽) trong *Thuyết văn giải tự* chép là *Tùy* (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiền đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ *Nguyên* (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là *Tiên* (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (*Gia Hựu*). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Cần* (斳) sau này giản lược thành *Cần* (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách *Lã Thị Xuân Thu* khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (*Bản kinh*). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (*Đường bản*). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (*Đường bản*). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài *Tỉnh tỳ tán* trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (*Đường bản*). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (*Nhật Hoa*). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau *Tân* ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO ĐẬU XỊ (草豉)===
*(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')*
*(Trích: Bản Thảo Thập Di)*
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Brazil (Tây Dương). Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
0bn7ittxyomlivdybx5k3ejmf0honyk
204500
204497
2026-04-01T10:07:24Z
Mrfly911
2215
/* HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽) */
204500
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[/Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[/Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - *Allium tuberosum*), Giới (Kiệu - *Allium chinense*), Quỳ (Rau quỳ - *Malva verticillata*), Thông (Hành - *Allium fistulosum*), Hoắc (Lá đậu - *Glycine max*) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn *Cứu hoang bản thảo*, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo *Chửu hậu phương*).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (*Thiên Kim*).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - *Allium victorialis*). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (*Allium ascalonicum* - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (*Bản kinh*). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. * '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (*Biệt lục*). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách *Thiên kim thực tính* của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (*Thánh huệ phương*).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. *Nông thư* của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - *Allium nipponicum*), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong *Nhĩ Nhã*.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (*Bản kinh*).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (*Biệt lục*).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Kiển mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong *Nông thư* gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (*Biệt lục*). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách *Nhĩ Nhã* gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Kiển đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (*Biệt lục*).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (*Nhật hoa*).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát*).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (*Đường Bản Thảo*). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (*Khai Bảo*). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (*Nhật hoa*). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách *Tì Nhã*, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ*).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (*Biệt lục*).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách *Lĩnh Nam dị vật chí* chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (*Biệt lục*). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. *Biệt lục* nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
* '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
* '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
* '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (*Biệt lục*). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (*Nhật hoa*).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài *Bạch giới hoàn* (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài *Hắc giới hoàn* (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (*Biệt lục*). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (*Biệt lục*). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách *Bác tế phương* gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (*Đường Bản thảo*). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách *Thuyết văn* gọi là *Khương* (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là *Khương* (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (*Bản kinh*). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (*Biệt lục*). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách *Đồ kinh*).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (*Bản kinh*).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (*Biệt lục*).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong *Thiên Kim Phương* mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (*Thực y tâm kính*).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Tuy* (荽) trong *Thuyết văn giải tự* chép là *Tùy* (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ *Nguyên* (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là *Tiên* (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (*Gia Hựu*). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Cần* (斳) sau này giản lược thành *Cần* (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách *Lã Thị Xuân Thu* khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (*Bản kinh*). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (*Đường bản*). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (*Đường bản*). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài *Tỉnh tỳ tán* trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (*Đường bản*). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (*Nhật Hoa*). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau *Tân* ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO ĐẬU XỊ (草豉)===
*(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')*
*(Trích: Bản Thảo Thập Di)*
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Brazil (Tây Dương). Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
4vqnf7gmbsr65chd7q9ks6qqsciqxmd
204501
204500
2026-04-01T10:07:51Z
Mrfly911
2215
/* TOÁN - TỎI NHỎ (蒜) */
204501
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[/Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[/Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - *Allium tuberosum*), Giới (Kiệu - *Allium chinense*), Quỳ (Rau quỳ - *Malva verticillata*), Thông (Hành - *Allium fistulosum*), Hoắc (Lá đậu - *Glycine max*) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn *Cứu hoang bản thảo*, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo *Chửu hậu phương*).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (*Thiên Kim*).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - *Allium victorialis*). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (*Allium ascalonicum* - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (*Bản kinh*). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. * '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (*Biệt lục*). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách *Thiên kim thực tính* của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (*Thánh huệ phương*).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. *Nông thư* của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - *Allium nipponicum*), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong *Nhĩ Nhã*.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (*Bản kinh*).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (*Biệt lục*).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Khiên mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong *Nông thư* gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (*Biệt lục*). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách *Nhĩ Nhã* gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Kiển đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (*Biệt lục*).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (*Nhật hoa*).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát*).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (*Đường Bản Thảo*). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (*Khai Bảo*). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (*Nhật hoa*). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách *Tì Nhã*, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ*).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (*Biệt lục*).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách *Lĩnh Nam dị vật chí* chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (*Biệt lục*). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. *Biệt lục* nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
* '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
* '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
* '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (*Biệt lục*). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (*Nhật hoa*).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài *Bạch giới hoàn* (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài *Hắc giới hoàn* (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (*Biệt lục*). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (*Biệt lục*). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách *Bác tế phương* gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (*Đường Bản thảo*). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách *Thuyết văn* gọi là *Khương* (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là *Khương* (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (*Bản kinh*). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (*Biệt lục*). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách *Đồ kinh*).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (*Bản kinh*).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (*Biệt lục*).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong *Thiên Kim Phương* mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (*Thực y tâm kính*).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Tuy* (荽) trong *Thuyết văn giải tự* chép là *Tùy* (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ *Nguyên* (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là *Tiên* (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (*Gia Hựu*). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Cần* (斳) sau này giản lược thành *Cần* (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách *Lã Thị Xuân Thu* khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (*Bản kinh*). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (*Đường bản*). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (*Đường bản*). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài *Tỉnh tỳ tán* trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (*Đường bản*). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (*Nhật Hoa*). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau *Tân* ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO ĐẬU XỊ (草豉)===
*(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')*
*(Trích: Bản Thảo Thập Di)*
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Brazil (Tây Dương). Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
5d2brsxq07v19o8vh6na4i7pe66z10o
204502
204501
2026-04-01T10:08:16Z
Mrfly911
2215
/* HỒ - TỎI LỚN (葫) */
204502
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[/Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[/Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - *Allium tuberosum*), Giới (Kiệu - *Allium chinense*), Quỳ (Rau quỳ - *Malva verticillata*), Thông (Hành - *Allium fistulosum*), Hoắc (Lá đậu - *Glycine max*) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn *Cứu hoang bản thảo*, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo *Chửu hậu phương*).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (*Thiên Kim*).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - *Allium victorialis*). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (*Allium ascalonicum* - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (*Bản kinh*). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. * '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (*Biệt lục*). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách *Thiên kim thực tính* của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (*Thánh huệ phương*).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. *Nông thư* của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - *Allium nipponicum*), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong *Nhĩ Nhã*.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (*Bản kinh*).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (*Biệt lục*).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Khiên mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong *Nông thư* gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (*Biệt lục*). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách *Nhĩ Nhã* gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Khiên đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (*Biệt lục*).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (*Nhật hoa*).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát*).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (*Đường Bản Thảo*). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (*Khai Bảo*). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (*Nhật hoa*). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách *Tì Nhã*, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ*).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (*Biệt lục*).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách *Lĩnh Nam dị vật chí* chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (*Biệt lục*). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. *Biệt lục* nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
* '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
* '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
* '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (*Biệt lục*). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (*Nhật hoa*).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài *Bạch giới hoàn* (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài *Hắc giới hoàn* (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (*Biệt lục*). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (*Biệt lục*). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách *Bác tế phương* gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (*Đường Bản thảo*). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách *Thuyết văn* gọi là *Khương* (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là *Khương* (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (*Bản kinh*). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (*Biệt lục*). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách *Đồ kinh*).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (*Bản kinh*).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (*Biệt lục*).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong *Thiên Kim Phương* mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (*Thực y tâm kính*).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Tuy* (荽) trong *Thuyết văn giải tự* chép là *Tùy* (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ *Nguyên* (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là *Tiên* (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (*Gia Hựu*). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Cần* (斳) sau này giản lược thành *Cần* (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách *Lã Thị Xuân Thu* khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (*Bản kinh*). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (*Đường bản*). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (*Đường bản*). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài *Tỉnh tỳ tán* trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (*Đường bản*). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (*Nhật Hoa*). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau *Tân* ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO ĐẬU XỊ (草豉)===
*(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')*
*(Trích: Bản Thảo Thập Di)*
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Brazil (Tây Dương). Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
ijbftk6vpel9y1g3dmp0p2iq1xi1k9m
204510
204502
2026-04-01T10:31:06Z
Mrfly911
2215
/* THẢO ĐẬU XỊ (草豉) */
204510
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[/Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[/Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - *Allium tuberosum*), Giới (Kiệu - *Allium chinense*), Quỳ (Rau quỳ - *Malva verticillata*), Thông (Hành - *Allium fistulosum*), Hoắc (Lá đậu - *Glycine max*) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn *Cứu hoang bản thảo*, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo *Chửu hậu phương*).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (*Thiên Kim*).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - *Allium victorialis*). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (*Allium ascalonicum* - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (*Bản kinh*). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. * '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (*Biệt lục*). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách *Thiên kim thực tính* của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (*Thánh huệ phương*).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. *Nông thư* của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - *Allium nipponicum*), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong *Nhĩ Nhã*.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (*Bản kinh*).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (*Biệt lục*).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Khiên mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong *Nông thư* gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (*Biệt lục*). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách *Nhĩ Nhã* gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Khiên đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (*Biệt lục*).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (*Nhật hoa*).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát*).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (*Đường Bản Thảo*). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (*Khai Bảo*). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (*Nhật hoa*). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách *Tì Nhã*, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ*).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (*Biệt lục*).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách *Lĩnh Nam dị vật chí* chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (*Biệt lục*). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. *Biệt lục* nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
* '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
* '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
* '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (*Biệt lục*). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (*Nhật hoa*).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài *Bạch giới hoàn* (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài *Hắc giới hoàn* (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (*Biệt lục*). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (*Biệt lục*). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách *Bác tế phương* gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (*Đường Bản thảo*). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách *Thuyết văn* gọi là *Khương* (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là *Khương* (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (*Bản kinh*). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (*Biệt lục*). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách *Đồ kinh*).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (*Bản kinh*).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (*Biệt lục*).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong *Thiên Kim Phương* mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (*Thực y tâm kính*).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Tuy* (荽) trong *Thuyết văn giải tự* chép là *Tùy* (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ *Nguyên* (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là *Tiên* (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (*Gia Hựu*). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Cần* (斳) sau này giản lược thành *Cần* (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách *Lã Thị Xuân Thu* khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (*Bản kinh*). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (*Đường bản*). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (*Đường bản*). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài *Tỉnh tỳ tán* trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (*Đường bản*). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (*Nhật Hoa*). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau *Tân* ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO THỊ - RAU ĐẬU XỊ (草豉)===
(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')
(Trích: Bản Thảo Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Ba Thục, Tây Vực. Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
t8kkdl2d7037n4vrdyv27sgefzs6pmw
Bản mẫu:Tìm kiếm
10
71898
204498
2026-04-01T04:45:53Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{#tag:inputbox | type=search prefix={{{work|{{FULLPAGENAME}}}}} width=50 searchbuttonlabel=Tìm {{{1|trong trang này}}} searchfilter={{{searchfilter|}}} placeholder={{{placeholder|}}} {{#ifeq:{{{break|}}}|no|break=no}} }}<noinclude>{{Documentation}}</noinclude>”
204498
wikitext
text/x-wiki
{{#tag:inputbox |
type=search
prefix={{{work|{{FULLPAGENAME}}}}}
width=50
searchbuttonlabel=Tìm {{{1|trong trang này}}}
searchfilter={{{searchfilter|}}}
placeholder={{{placeholder|}}}
{{#ifeq:{{{break|}}}|no|break=no}}
}}<noinclude>{{Documentation}}</noinclude>
ihk9qehdd6hq53wmxwnpybffn7shtb6
Trang:Tien bac bac tien.pdf/21
104
71899
204503
2026-04-01T10:10:48Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
204503
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 19 —|}}</noinclude>đến bác ở nhà đây, thì đáng làm cho anh buồn lắm. Nhưng mà tôi xin anh nghĩ tình tôi, quên hết mấy lời ấy đi, đừng có phiền má tôi. Ý của tôi không phải như ý của má tôi đó đâu. Tôi thương anh, anh biết bụng tôi thì đủ rồi. Tuy anh buồn, song tôi còn buồn nhiều hơn anh nữa. Tối nay tôi làm đơn đặng sáng mai tôi gởi xin ra Hà-Nội mà học. Dầu ba với má tôi có rầy la thì tôi chịu, bề nào tôi cũng đi, chớ không thế ở nhà được. Vậy anh em mình trước sao sau vậy, dầu xa xuôi cách biệt, xin chớ phụ tình nhau. »
Hiếu-Liêm gặt đầu lặng thinh, vì cảm động quá, nên không nói được một tiếng.
Từ ấy về sau, mỗi tuần Bá-Kỳ đều có vô thăm Hiếu-Liêm, khi ở nhà nói chuyện, khi dắc nhau đi chơi, mà nói chuyện, chẳng hề Bá-Kỳ nói tới việc Thanh-Kiều, còn đi chơi, cũng chẳng hề Hiếu-Liêm chịu ghé nhà Bá-Vạn.
Cách vài tháng có giấy quan trên cấp bằng cho Hiếu-Liêm làm giáo sư, và bổ đi dạy trường Chợ-Đũi. Hiếu-Liêm không cho mẹ gói nem mà bán nữa, và mướn phố dọn đồ về ở gần trường, đặng đi dạy cho tiện.
Bá-Kỳ cũng được giấy quan trên cho học trường Pháp-chánh. Cha mẹ thương con, muốn<noinclude></noinclude>
pjv4kgozmpdqz7v3gh6tgdnna9kemit
Trang:Tien bac bac tien.pdf/22
104
71900
204504
2026-04-01T10:10:51Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
204504
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 20 —|}}</noinclude>cho nó làm thơ-ký đặng gần gũi, chớ không muốn cho đi học xa, nên ngăn cản dức bẫn hoài, mà con không nghe, túng thế phải sắm hành-lý cho con đi.
Trước khi xuống tàu, Bá-Kỳ có đến nhà từ giã Cao-thị và Hiếu-Liêm. Hai anh em tỏ tình gian-díu nhau, kẻ chúc ở nhà bình an, người khuyên đi học tấn phát. Hiếu-Liêm sợ xuống tàu mà đưa Bá-Kỳ, ắt gặp vợ chồng Bá-Vạn với Thanh-Kiều, nên nói dối rằng mắc việc nhà và xin từ trước. Bá-Kỳ hiểu ý, nên cũng khuyên Hiếu-Liêm đừng đưa xuống tàu.
Bá-Kỳ đi rồi, Hiếu-Liêm nghĩ thầm, từ nầy nhà Bá-Vạn với mình chẳng còn tình nghĩa chi nữa hết, nên thắt-thẻo trong lòng, hễ nhớ tới thì buồn, song không hiểu tại sao mà buồn như vậy.
{{vạch tùy chỉnh|Fancy4|50}}<section end="I"/>
<section begin="II"/>{{g|{{lớn|'''II'''}}}}
Trần-bá-Vạn lúc còn trai thì làm thầy giáo dạy trường tổng tại Ba-kè, thuộc trong tĩnh Vĩnh-long, mồ-côi cha mẹ, có một người chị tên là {{sic|Trân|Trần}}-thị-Lành, lấy Tây sắm vòng chuyền nhổn-nhan, áo quần lòa-loẹt, song chẳng hề giúp đỡ cho em một đồng nào. Bá-Vạn<noinclude></noinclude>
ouxy3tiuck3bx88yque6yw3fxplxir6
Trang:Tien bac bac tien.pdf/23
104
71901
204505
2026-04-01T10:10:53Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
204505
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 21 —|}}</noinclude>học ít lại nhà nghèo, làm thầy giáo tổng chẳng thấy có cái chi hơn mấy thầy giáo khác. Chẳng hiểu vì cớ nào mà ông Huyện hàm Đỗ-thanh-Nhàn là người sang trọng giàu có, lại kêu mà gả con. Lúc ấy kẻ thì nói ông Huyện hàm thấy Bá-Vạn tánh nết mềm mỏng ông thương, người thì đồn tại Đỗ-thị-Đào mất tiết hư danh rồi, nên ông Huyện hàm mới kêu Bá-Vạn mà gả, bởi vậy không biết lời nào phải mà tin. Có một đều nầy ai cũng biết rõ, là Bá-Vạn cưới vợ rồi liền xin thôi làm thầy giáo tổng và dắc vợ lên Saigon kiếm việc trong hãng buôn mà làm.
Bá-Vạn tánh cần kiệm, mà chí lại bền bỉ, nên chắt lót vài năm trong nhà có dư được chút đỉnh, rồi cho vay đặt nợ, góp gió làm bão, lần lần hóa ra một số bạc lớn. Khi ông Huyện hàm Nhàn chết, tưởng là lãnh được gia tài sẽ làm giàu to, chẳng dè ông Huyện hàm nhắm mắt rồi, thì chủ nợ ó lên kiện mà tịch hết sự nghiệp, vợ chồng Bá-Vạn khỏi trả nợ ấy là may, chớ không hưởng được đồng nào hết.
Vợ chồng Bá-Vạn hụt ăn thì phiền lắm, song phiền thì vợ chồng nói với nhau trong nhà mà thôi, chớ không thổ lộ cho người<noinclude></noinclude>
c3da7jadwex300zhi3hsdlpo5pk0a8j
Trang:Tien bac bac tien.pdf/24
104
71902
204506
2026-04-01T10:10:56Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
204506
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 22 —|}}</noinclude>ngoài biết, vì sợ thiên hạ thấy bụng tham của mình, rồi họ chê cười. Vợ chồng mới quyết chí làm ăn nữa, cho vay ăn lời quá độ, thấy ai làm lợi cho mình được mới chịu làm quen.
Đến lúc khởi đầu thuật truyện này, thì Bá-Vạn đã có một miếng đất với một cái nhà lầu, ở tại Tân-định, giá đáng tám ngàn đồng, xe-hơi, bàn ghế trong nhà, và hột xoàn của vợ con đeo, giá đáng chừng sáu ngàn, lại có gần một muôn đồng bạc mặt để làm vốn cho vay nữa.
Người đời hễ giàu rồi thường hay muốn sang. Đỗ-thị nghĩ mình đã có tiền rồi, nếu không có chức phận chút đỉnh với người ta thì họ khi dể, nên hằng ngày thỏ thẻ khuyên chồng hoặc xuất tiền mua chức Huyện hàm, hoặc ra tranh cử Hội-đồng Quản-hạt, đặng đi ra thiên-hạ kính nhường bẩm dạ.
Thiệt Bá-Vạn bổn tánh không chịu se-sua, thường nói đời này hễ có tiền nhiều thì mạnh, làm ông lớn mà hụt tiền, đến vay của dân thường cũng phải sợ nó nữa. Tuy ý như vậy, mà vì bà vợ có máu háo danh, cứ theo nói hoài, lâu ngày chầy tháng, rồi Bá-Vạn cũng nhiễm theo ý kiến của vợ, nên mới quyết kỳ tuyển cử gần tới đây sẽ ra tranh cử Hội-đồng Quản-hạt.
{{nop}}<noinclude></noinclude>
1jd8j5yjelkexcb3c8uleuy8pomffh9
Trang:Tien bac bac tien.pdf/25
104
71903
204507
2026-04-01T10:10:58Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
204507
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 23 —|}}</noinclude>Bá-Kỳ đi học Hà-Nội rồi, thì vợ chồng Bá-Vạn lo kết vi kiến, đặng chừng tranh cử Hội-đồng có đông người tâm phúc mà cậy họ lo giùm. Nay mời ông nầy đến nhà ăn cơm, mai đi viếng thăm ông nọ; hễ có dịp làm phước, thì không nệ tốn kém, xuất tiền cho nhiều hơn thiên-hạ, đặng các nhựt-báo bia danh mà ngợi khen; nghe có đám xác nào lớn, dầu không thân-thiết cho lắm cũng đi đưa, đặng gặp người tử-tế mà làm quen; gặp việc chi bất bình thì viết bài, rồi mướn nhựt-báo ấn hành, đặng cho công-chúng biết mình là người ham lo việc công ích.
Trước kia đã nói Bá-Vạn có một người chị tên là Trần-thị-Lành. Tưởng cũng nên nhắc sơ chuyện người ấy ra đây luôn thể. Thị-Lành lúc mới 17, 18 tuổi, tuy nhan sắc tầm thường chớ không phải mình hạt xương mai, mày tằm mắt phụng chi đó, song tánh tình gian dối, văn nói khôn lanh, ban đầu ở trong xóm thì làm lừng-lẫy tiếng gái hư, rồi sau mới ra chợ mà lấy tây cho sung-sướng. Trước kết bạn với ông Cò tàu, ông Dây-thép, sau sánh đối với quan Kinh-lý, quan Trường-tiền, vài ba năm thì thấy thay chồng một lần, mà mỗi lần thay chồng, thì cô có vàng bạc thêm một mớ, chớ cô không thiệt hại chút nào.
{{nop}}<noinclude></noinclude>
b1o8xmnew5h70yezggvlnl1n2owxxy2
Tiền bạc, bạc tiền
0
71904
204508
2026-04-01T10:11:01Z
Lcsnes
11706
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = Tiền bạc, bạc tiền | tác giả = Hồ Biểu Chánh | dịch giả = | năm = 1926 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = }} <pages index="Tien bac bac tien.pdf" include=1 /> {{ngắt trang|nhãn=}} {{mục lục bổ trợ|tiêu đề=Chương| *[[/I|I]] *[[/II|II]] *[[/III|III]] *[[/IV|IV]] *[[/V|V]] *[[/VI|VI]] *[[/VII|VII]] *[[/VIII|VIII]] }} {{Pd/US|1958}}…”
204508
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Tiền bạc, bạc tiền
| tác giả = Hồ Biểu Chánh
| dịch giả =
| năm = 1926
| phần =
| trước =
| sau =
| ghi chú =
}}
<pages index="Tien bac bac tien.pdf" include=1 />
{{ngắt trang|nhãn=}}
{{mục lục bổ trợ|tiêu đề=Chương|
*[[/I|I]]
*[[/II|II]]
*[[/III|III]]
*[[/IV|IV]]
*[[/V|V]]
*[[/VI|VI]]
*[[/VII|VII]]
*[[/VIII|VIII]]
}}
{{Pd/US|1958}}
[[Thể loại:Tiểu thuyết]]
ojbpqf1s8lktorzd9rc7z0m4qe107fi
Tiền bạc, bạc tiền/I
0
71905
204509
2026-04-01T10:11:12Z
Lcsnes
11706
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = [[../]] | tác giả = Hồ Biểu Chánh | ghi đè tác giả = | dịch giả = | phần = I | trước = | sau = [[../II|II]] | ghi chú = }} <pages index="Tien bac bac tien.pdf" from=3 to=22 tosection="I" />”
204509
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = [[../]]
| tác giả = Hồ Biểu Chánh
| ghi đè tác giả =
| dịch giả =
| phần = I
| trước =
| sau = [[../II|II]]
| ghi chú =
}}
<pages index="Tien bac bac tien.pdf" from=3 to=22 tosection="I" />
snuk9m3i95ixflyhoqsnwkzdy185lc0