Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.46.0-wmf.22 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Đề tài Thành viên:Mrfly911 2 68467 204524 204515 2026-04-03T04:15:17Z Mrfly911 2215 /* Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn */ 204524 wikitext text/x-wiki == Các tài liệu đóng góp và tham khảo == {{Nhị thập tứ sử}} {{Kinh điển Phật giáo}} ===Xuân Thu (770 - 481 TCN)=== * [[Đạo Đức kinh]] === Chiến Quốc (476–221 TCN)=== Chủ đề Y dược. * [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]] * [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]] * [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]] * [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]] ** [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]] ** [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]] * [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]] * [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]] * [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]] * Nam dược thần hiệu (南藥神效) * Hồng Nghĩa giác tư y thư * Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領) * [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]] * [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]] * [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]] * [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]] * [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]] * [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]] ---- === Hán (206 TCN - 9)=== * [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]] ** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]] ** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]] * [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]] ** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾) * [[Tác gia:Tư Mã Thiên]] ** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]] *** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] ** [[:zh:素王妙論]] ** [[:zh:悲士不遇賦]] ** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944) ** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch) ** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]]) * [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]] ** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]] * [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]] ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện ===Đông Hán (25–220)=== * [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]] ** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]] *[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]] ---- * [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]] ** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]] === Tào Ngụy === * [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360) === Đông Ngô === * [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]] * [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]] ** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]] ** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]] === Tấn === * [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]] ---- * [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]] ** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]] * [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]] ** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] ===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)=== * [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]] ** KINH (經) *** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển ***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển *** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng) *** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển) *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển ** LUẬT (律) *** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển ** LUẬN (論) & PHÁP (法) *** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển *** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển *** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển *** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển *** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp) ** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP *** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển ---- * [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]] ** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]] **:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng. ** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]] ---- * [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442) ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] ===Nam–Bắc triều (420–589)=== ==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ==== * [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]] === Đường 618–907)=== * [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]] * [[Lữ ngụ An Nam]] * [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]] * [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]] * [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]] * [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]] ** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]] ** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]] ---- * [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]] * [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713) ** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]] ** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762) ** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]] * [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]] ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]]) ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]]) ===Ngũ đại Thập quốc (907–979)=== * [[Tân Ngũ Đại sử]] ===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)=== * [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178) * [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186) * [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]] * [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]] * [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]] * [[Tục tư trị thông giám]] * [[Tư trị thông giám trường biên]] === Trần # Nguyên (1260–1368)=== * [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]] * [[:zh:安南志畧]] ** [[Biên dịch:An Nam chí lược]] * [[Biên dịch:Nguyên sử]] ** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]] *[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]] **Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]] * [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]] === Trần - Lê # Minh (1368–1644)=== * [[:zh:越史略|越史略]] ** [[Biên dịch:Việt sử lược]] * [[Biên dịch:Minh thực lục]] ** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]] *** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]] * [[Biên dịch:Minh sử]] ** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]] * [[Bình An Nam chiếu]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]] * [[:zh:殊域周咨錄]] ** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]] * [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]] * [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]] * [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội] === Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)=== * [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]] * [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]] **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]] ***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]] *** ... **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]] * [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]] ** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]] *[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) **[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) *[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]] **[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]] *[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) *[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) * [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]] * [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]] * [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]] * [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]] ==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu== <pre> <inputbox> type=search width=30 placeholder=Tìm trong trang này searchbuttonlabel=Tìm fulltext=false prefix={{FULLPAGENAME}} </inputbox> </pre> ==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn== ===Dịch lịch sử=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ. ===Dịch kinh Phật=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt theo các yêu cầu sau: Nếu là các đoạn văn xuôi: dịch đơn giản, thuần Việt, không giải thích, không lược bỏ. Giữ đúng bố cục, thứ tự. Nếu là các bài kệ: dịch theo thể kinh kệ ra tiếng Việt, đơn giản, dễ hiểu. Kèm theo một bài diễn thơ thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ luật chặt chẽ, âm hưởng trang trọng. ===Dịch y học=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, không lược bỏ. 3xz29xji22kcxiunl10oerz46o713jc 204531 204524 2026-04-03T09:28:49Z Mrfly911 2215 /* Dịch y học */ 204531 wikitext text/x-wiki == Các tài liệu đóng góp và tham khảo == {{Nhị thập tứ sử}} {{Kinh điển Phật giáo}} ===Xuân Thu (770 - 481 TCN)=== * [[Đạo Đức kinh]] === Chiến Quốc (476–221 TCN)=== Chủ đề Y dược. * [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]] * [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]] * [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]] * [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]] ** [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]] ** [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]] * [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]] * [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]] * [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]] * Nam dược thần hiệu (南藥神效) * Hồng Nghĩa giác tư y thư * Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領) * [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]] * [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]] * [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]] * [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]] * [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]] * [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]] ---- === Hán (206 TCN - 9)=== * [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]] ** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]] ** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]] * [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]] ** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾) * [[Tác gia:Tư Mã Thiên]] ** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]] *** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] ** [[:zh:素王妙論]] ** [[:zh:悲士不遇賦]] ** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944) ** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch) ** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]]) * [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]] ** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]] * [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]] ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện ===Đông Hán (25–220)=== * [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]] ** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]] *[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]] ---- * [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]] ** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]] === Tào Ngụy === * [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360) === Đông Ngô === * [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]] * [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]] ** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]] ** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]] === Tấn === * [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]] ---- * [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]] ** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]] * [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]] ** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] ===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)=== * [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]] ** KINH (經) *** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển ***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển *** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng) *** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển) *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển ** LUẬT (律) *** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển ** LUẬN (論) & PHÁP (法) *** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển *** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển *** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển *** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển *** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp) ** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP *** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển ---- * [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]] ** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]] **:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng. ** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]] ---- * [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442) ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] ===Nam–Bắc triều (420–589)=== ==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ==== * [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]] === Đường 618–907)=== * [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]] * [[Lữ ngụ An Nam]] * [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]] * [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]] * [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]] * [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]] ** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]] ** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]] ---- * [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]] * [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713) ** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]] ** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762) ** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]] * [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]] ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]]) ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]]) ===Ngũ đại Thập quốc (907–979)=== * [[Tân Ngũ Đại sử]] ===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)=== * [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178) * [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186) * [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]] * [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]] * [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]] * [[Tục tư trị thông giám]] * [[Tư trị thông giám trường biên]] === Trần # Nguyên (1260–1368)=== * [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]] * [[:zh:安南志畧]] ** [[Biên dịch:An Nam chí lược]] * [[Biên dịch:Nguyên sử]] ** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]] *[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]] **Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]] * [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]] === Trần - Lê # Minh (1368–1644)=== * [[:zh:越史略|越史略]] ** [[Biên dịch:Việt sử lược]] * [[Biên dịch:Minh thực lục]] ** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]] *** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]] * [[Biên dịch:Minh sử]] ** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]] * [[Bình An Nam chiếu]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]] * [[:zh:殊域周咨錄]] ** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]] * [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]] * [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]] * [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội] === Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)=== * [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]] * [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]] **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]] ***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]] *** ... **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]] * [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]] ** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]] *[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) **[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) *[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]] **[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]] *[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) *[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) * [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]] * [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]] * [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]] * [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]] ==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu== <pre> <inputbox> type=search width=30 placeholder=Tìm trong trang này searchbuttonlabel=Tìm fulltext=false prefix={{FULLPAGENAME}} </inputbox> </pre> ==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn== ===Dịch lịch sử=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ. ===Dịch kinh Phật=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt theo các yêu cầu sau: Nếu là các đoạn văn xuôi: dịch đơn giản, thuần Việt, không giải thích, không lược bỏ. Giữ đúng bố cục, thứ tự. Nếu là các bài kệ: dịch theo thể kinh kệ ra tiếng Việt, đơn giản, dễ hiểu. Kèm theo một bài diễn thơ thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ luật chặt chẽ, âm hưởng trang trọng. ===Dịch y học=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ. 46sxozi0s0lvh4mdrc9xwb3ba58xpdx Biên dịch:Bản thảo cương mục/Tự lệ thượng 114 71887 204522 204465 2026-04-03T04:12:19Z Mrfly911 2215 204522 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/序例上 | năm= 1596 | phần = Tự lệ thượng | trước= [[../Phàm lệ|Phàm lệ]] | sau= [[../Tự lệ hạ|Tự lệ hạ]] | ghi chú= }} == Lịch đại chư gia Bản thảo == ===Thần Nông Bản thảo kinh=== Chưởng Vũ Tích nói: Thuyết cũ bảo 《Bản thảo kinh》 có 3 quyển, do Thần Nông làm ra, nhưng không thấy ghi trong kinh tịch, 《Hán thư - Nghệ văn chí》 cũng không lục chép. Tuy nhiên, phần "Hán Bình Đế kỷ" có ghi: Năm Nguyên Thủy thứ năm, triệu tập những người thông hiểu phương thuật bản thảo trong thiên hạ về kinh sư. Phần "Lâu Hộ truyện" chép: Hộ thuở nhỏ tụng y kinh, bản thảo, phương thuật đến mấy mươi vạn lời; danh xưng "Bản thảo" có lẽ thấy từ đây. Nhóm Lý Tích đời Đường dựa vào 《Thất lục》 đời Lương có chép 《Thần Nông Bản thảo》 3 quyển mà suy tôn làm khởi đầu. Lại có thuyết nghi rằng trong sách chép tên quận huyện thuộc địa danh hậu Hán, giống như do nhóm Trương Cơ (Trọng Cảnh), Hoa Đà làm ra, nhưng thực không phải vậy. Xét 《Hoài Nam Tử》 nói: Thần Nông nếm mùi vị của trăm cỏ, một ngày gặp bảy mươi độc, từ đó y phương hưng khởi. Thuở thượng cổ chưa có văn tự, thầy trò truyền khẩu cho nhau, gọi là Bản thảo. Từ hai triều Hán trở đi, danh y ngày càng nhiều, bọn Trương, Hoa mới dựa vào học vấn xưa mà phụ thêm thuyết mới, biên soạn thông suốt, từ đó Bản thảo mới thấy ghi trong kinh lục. Khấu Tông Thức nói: 《Hán thư》 tuy nhắc đến Bản thảo nhưng không quyết định được làm ra từ đời nào. 《Thế bản》, 《Hoài Nam Tử》 tuy nói Thần Nông nếm trăm cỏ để hòa thuốc, cũng không có danh xưng Bản thảo. Chỉ có 《Đế vương thế kỷ》 nói: Hoàng Đế sai Kỳ Bá nếm vị cỏ cây, định ra 《Bản thảo kinh》, chế y phương để chữa bệnh cho dân. Mới biết danh xưng Bản thảo bắt đầu từ Hoàng Đế. Các bậc thánh hiền thượng cổ có trí tuệ sinh nhi tri chi, nên biện được tính vị của phẩm vật thiên hạ, hợp với bệnh tật của người đời. Đời sau các bậc hiền trí theo đó mà hòa hợp, lại tăng thêm các phẩm loại. Hàn Bảo Thăng nói: Thuốc có ngọc thạch, cỏ, cây, sâu, thú, mà gọi là Bản thảo là vì trong các loại thuốc thì loài cỏ (thảo) là nhiều nhất. ===Danh y biệt lục=== Lý Thời Trân nói: 《Thần Nông Bản thảo》 chia thuốc làm ba phẩm, tính được 365 loại, ứng với số ngày trong một năm chu thiên. Đời Lương, Đào Hoằng Cảnh lại tăng thêm 365 loại thuốc do các danh y từ thời Hán, Ngụy trở xuống sử dụng, gọi là 《Danh y biệt lục》. Phàm có 7 quyển: đầu tiên thuật lại nguồn gốc dược tính, luận về chẩn đoán tên bệnh; kế đến chia ra Ngọc thạch 1 phẩm, Cỏ 1 phẩm, Cây 1 phẩm, Sâu thú 1 phẩm, Quả rau 1 phẩm, Gạo thức ăn 1 phẩm, và Danh mục thuốc có tên nhưng chưa dùng 3 phẩm. Dùng chữ đỏ (chu thư) chép lời Thần Nông, chữ đen (mặc thư) chép lời Biệt lục, dâng lên Lương Vũ Đế. Hoằng Cảnh tự Thông Minh, cuối đời Tống làm Thị độc cho các vương, sau về ẩn cư núi Câu Khúc, hiệu Hoa Dương ẩn cư, Vũ Đế thường đến hỏi han, thọ 85 tuổi mất, thụy là Trinh Bạch tiên sinh. Sách của ông có nhiều chỗ bổ khuyết giúp ích, nhưng cũng không ít sai lầm. Hoằng Cảnh tự tự rằng: Ẩn cư tiên sinh ở trên núi Mao Sơn, lúc rảnh rỗi hít thở khí trời thì dạo ý nơi phương kỹ, xem xét dược tính bản thảo, cho là đã thấu hiểu lòng thánh nhân, nên soạn thành lời luận. Xưa gọi là 《Thần Nông bản kinh》, ta cho là đúng vậy. Xưa Thần Nông thị làm vua thiên hạ, vẽ tám quẻ để thông tình quỷ thần, chế việc canh tác để bớt điều sát sinh, tuyên giảng thuốc thang để cứu mạng người. Ba đạo ấy trải qua các thánh mà càng rạng rỡ. Văn Vương, Khổng Tử với Thoán tượng, Hào từ u tán trời đất. Hậu Tắc, Y Doãn gieo trồng trăm ngũ cốc, ban huệ cho quần sinh. Kỳ, Hoàng, Bành, Biển chấn hưng bổ trợ, ơn lưu khắp chúng sinh. Trải hơn ba ngàn năm, dân đến nay vẫn cậy nhờ. Nhưng trước thời Hiên Viên, văn tự chưa truyền. Dược tính chủ trị phải do hiểu biết truyền nhau, nếu không sao được nghe thấy. Đến như Đồng Quân, Lôi Công mới chép vào thẻ tre. Sách này ứng cùng loại với 《Tố Vấn》, chỉ là người sau tu sửa thêm nhiều. Khi Tần Thủy Hoàng đốt sách, y phương và bói toán không bị hủy, nên còn giữ được toàn vẹn. Nhưng gặp lúc Hán Hiến Đế dời đô, Tấn Hoài Đế chạy loạn, văn tịch cháy sạch, mười phần chẳng còn một. Nay thứ còn sót lại là 3 quyển này. Tên quận huyện trong đó thuộc chế độ hậu Hán, nghi là do Trọng Cảnh, Nguyên Hóa ghi lại. Lại có 《Đồng Quân thái dược lục》 nói về hình sắc hoa lá. 《Dược đối》 4 quyển luận về tá sứ tương tu. Từ Ngụy, Tấn trở lại, Ngô Phổ, Lý Đương Chi lại thêm bớt. Hoặc 595 loại, hoặc 441, hoặc 319. Hoặc ba phẩm lẫn lộn, nóng lạnh sai lệch, cỏ đá không phân, sâu thú chẳng biện. Lại nữa việc chủ trị có chỗ được chỗ mất. Nhà y không thể thấy hết, trí thức có nông sâu. Nay ta gom hết các kinh, nghiên cứu lược bỏ chỗ rườm rà. Lấy 3 phẩm 365 loại của 《Thần Nông bản kinh》 làm chính, lại tiến dâng các phẩm của danh y cũng 365 loại, tổng cộng 730 loại. Tinh thô đều lấy, không bỏ sót gì, phân định khoa điều, khu biệt vật loại, kiêm chú nơi sản xuất và công dụng thời nay, cùng những thứ đạo gia tiên kinh cần dùng, hợp với thứ tự này thành 7 quyển. Tuy chưa đủ gót chân tiền nhân, nhưng cũng là soạn thuật của một nhà, sau khi ta qua đời có thể để lại cho người tri âm vậy. ===Đồng Quân thái dược lục=== Thời Trân nói: Đồng Quân là bề tôi thời Hoàng Đế. Sách phàm 2 quyển, ghi hình sắc hoa lá, nay đã không truyền. Người sau lại có các sách 《Tứ thời thái dược》, 《Thái thường thái dược thời nguyệt》... ===Lôi Công dược đối=== Vũ Tích nói: Do Từ Chi Tài đời Bắc Tề soạn. Lấy danh phẩm, quân thần, tính độc, tương phản và bệnh chủ trị của các vị thuốc mà phân loại ghi chép, phàm 2 quyển. Thời Trân nói: Trước thời Đào thị đã có sách này, 《Ô thị Bản thảo》 có dẫn lời Lôi Công chính là nó. Vốn là Lôi Công thời Hoàng Đế viết, Chi Tài tăng sức thêm thôi. Chi Tài người Đan Dương, học rộng giỏi y, trải việc các vua Bắc Tề được sủng ái, làm đến Thượng thư Tả bộc xạ, 80 tuổi mất. Truy tặng Tư đồ, phong Tây Dương quận vương, thụy Y Quán Văn Vật. 《Bắc sử》 có truyện. ===Lý thị dược lục=== Bảo Thăng nói: Ngụy Lý Đương Chi, học trò Hoa Đà. Sửa 《Thần Nông Bản thảo》 3 quyển, nhưng đời ít lưu hành. Thời Trân nói: Sách ấy thấy rải rác trong bản thảo của họ Ngô, họ Đào, có nhiều phát minh. ===Ngô thị Bản thảo=== Bảo Thăng nói: Ngụy Ngô Phổ, người Quảng Lăng, học trò Hoa Đà. Phàm 1 quyển. Thời Trân nói: Sách ấy ghi riêng lời của Thần Nông, Hoàng Đế, Kỳ Bá, Đồng Quân, Lôi Công, Biển Thước, Hoa Đà, Lý thị, nói về tính vị rất tường tận, nay thấy trong cuốn 《Chứng loại Bản thảo》. ===Lôi Công bào chích luận=== Thời Trân nói: Do Lôi Hiệu đời Lưu Tống soạn, không phải Lôi Công thời Hoàng Đế. Tự xưng là Nội Cứu Thủ Quốc An Chính Công, hoặc là tên quan vậy. Hồ Hiáp cư sĩ trọng đính thuật lại. Thuốc phàm 300 loại, chia làm thượng, trung, hạ 3 quyển. Phép tính vị, bào chích, sao nấu, tu sự phần lớn cổ áo, văn tự cổ chất, riêng một nhà, phần lớn dựa vào Càn Ninh Yến tiên sinh. Bài tựa đầu luận về vật lý cũng rất u huyền, lục chép ở sau. Càn Ninh tiên sinh tên Yến Phong, viết 《Chế phục thảo thạch luận》 6 quyển, vốn là sách của nhà luyện đan. ===Đường Bản thảo=== Thời Trân nói: Đường Cao Tông mệnh Tư không Anh quốc công Lý Tích cùng những người khác sửa lại bản chú của Đào Ẩn Cư về 《Thần Nông Bản thảo kinh》, tăng thêm thành 7 quyển. Đời gọi là 《Anh Công Đường Bản thảo》, có nhiều tăng ích. Năm Hiển Khánh, Hữu giám môn Trường sử Tô Cung trọng đính chú lại, dâng biểu xin sửa định. Vua lại mệnh Thái úy Triệu quốc công Trưởng Tôn Vô Kỵ cùng 22 người, cùng Tô Cung tường định, tăng thêm 114 loại thuốc, chia làm 11 bộ: Ngọc thạch, Cỏ, Cây, Người, Thú, Chim, Sâu cá, Quả, Gạo ngũ cốc, Rau, Có tên nhưng chưa dùng. Phàm 20 quyển, danh mục 1 quyển, riêng có Dược đồ 25 quyển, Đồ kinh 7 quyển, cộng 53 quyển. Đời gọi là 《Đường tân Bản thảo》. Tô Cung giải thích tuy rõ nhưng cũng nhiều bác tạp sai lầm. Lễ bộ Lang trung Khổng Chí Ước tự rằng: Đức lớn của trời đất gọi là Sinh, vận âm dương để gieo rắc muôn vật; cái bảo vệ của linh tính gọi là Mệnh, nhờ nuôi dưỡng để hưởng trọn tuổi trời... Nay chiếu theo thần quy thượng giới, hỏi han ý kiến quần chúng, ban bố thiên hạ, tìm cầu dược vật. Lông cánh vảy vỏ, nơi xa xôi không đâu không tới; rễ thân hoa quả, có tên đều tụ hội về. Bèn tìm tòi bí yếu, tập hợp phương thuật. 《Bản kinh》 tuy thiếu, hễ có nghiệm tất chép; 《Biệt lục》 tuy còn, không bằng cớ tất sửa. Khảo chỗ đồng dị, chọn chỗ bỏ lấy. Ngòi bút sáng rõ, định cái được mất của quần ngôn; màu sắc rực rỡ, đủ cái hình trạng của thứ vật. Soạn Bản thảo cùng Đồ kinh danh mục, phàm thành 54 quyển. Mong rằng bao quát xưa nay, mở mang tai mắt. Tận cùng cái diệu cực của y phương, cứu lấy tính mệnh của sinh linh. Truyền vạn đời không mờ mịt, treo trăm vương không nát tan. ===Dược tổng quyết=== Vũ Tích nói: Đời Lương, Đào Ẩn Cư soạn, phàm 2 quyển, luận về tính năm vị nóng lạnh của dược phẩm, chủ trị bệnh tật và phép hái trữ theo tháng ngày. Một bản đề tên 《Dược tượng khẩu quyết》, không ghi người soạn. ===Dược tính Bản thảo=== Vũ Tích nói: 《Dược tính luận》 phàm 4 quyển, không ghi tên người soạn, chia tính vị dược phẩm, quân thần tá sứ và hiệu nghiệm chủ trị. Một bản nói Đào Ẩn Cư soạn. Nhưng công năng dược tính có chỗ trái với Bản thảo, nghi không phải sách của Ẩn Cư. Thời Trân nói: 《Dược tính luận》 chính là 《Dược tính Bản thảo》, do Chân Quyền đời Đường soạn. Quyền người Phù Câu, đời Tùy làm Bí tỉnh Chính tự. Đời Đường Thái Tông, thọ 120 tuổi, vua ngự đến nhà hỏi về dược tính, bèn dâng sách này, thụ chức Triều tán Đại phu, sách luận chủ trị rất tường. Lại viết 《Mạch kinh》... ===Thiên kim thực trị=== Thời Trân nói: Đường Tôn Tư Mạo soạn 《Thiên kim bị cấp phương》 30 quyển, thu thập các thuyết bổ dưỡng của Tố Vấn, Biển Thước, Hoa Đà, Từ Chi Tài... và những phần Bản thảo liên quan đến ăn uống, chia Gạo ngũ cốc, Quả, Rau, Chim thú, Sâu cá làm phần Thực trị phụ vào, cũng rất rõ ràng. Tư Mạo ẩn ở núi Thái Bạch, triều Tùy Đường mời làm quan đều không nhậm, thọ hơn 100 tuổi mất. Tác phẩm có 《Thiên kim dực phương》, 《Chẩm trung tố thư》... ===Thực liệu Bản thảo=== Vũ Tích nói: Đường Đồng Châu Thứ sử Mạnh Thận soạn. Trương Đỉnh lại bổ sung chỗ thiếu 89 loại, cùng với cũ thành 227 điều, phàm 3 quyển. Thời Trân nói: Thận người Nhữ Châu. Đời Võ Hậu đỗ Tiến sĩ, thăng dần đến Phượng các Xá nhân, ra làm Đài Châu Tư mã, dời làm Đồng Châu Thứ sử. Duệ Tông triệu dùng nhưng từ chối. Mất năm 90 tuổi. Dựa theo ý nghĩa Thực y trong 《Chu Lễ》 mà viết sách này, có nhiều tăng ích. Lại soạn 《Tất hiệu phương》 10 quyển, 《Bổ dưỡng phương》 3 quyển. 《Đường sử》 có truyện. ===Bản thảo thập di=== Vũ Tích nói: Năm Khai Nguyên đời Đường, Tam Nguyên huyện úy Trần Tạng Khí soạn. Cho rằng 《Thần Nông bản kinh》 tuy có thuyết bổ tập của Đào, Tô, nhưng vẫn còn sót nhiều, nên riêng làm Tự lệ 1 quyển, Thập di 6 quyển, Giải phân 3 quyển, tổng gọi là 《Bản thảo thập di》. Thời Trân nói: Tạng Khí người Tứ Minh. Trước thuật của ông rộng khắp quần thư, tinh核 vật loại, đính chính sai lầm, tìm tòi chỗ u ẩn, từ khi có 《Bản thảo》 đến nay chỉ một mình ông mà thôi. Kẻ học nông cạn không xét kỹ chỗ bao quát của ông, chỉ chê chỗ hẻo lánh quái dị. Người đời Tống cũng lược bỏ nhiều. Há biết phẩm vật trời đất vô cùng, xưa nay ẩn hiển khác biệt, dùng bỏ có lúc, danh xưng có khi thay đổi, sao có thể lấy cái nhìn một góc mà vội chê bậc đa văn. Như Tích hủy lôi, Hải mã, Hồ đậu... đều ẩn thời xưa mà dùng thời nay; Ngưỡng thiên bì, Đăng hoa, Bại phiến... đều là thứ vạn nhà dùng đến. Nếu không có sách này thu chép, lấy gì khảo cứu. Sách Bản thảo chính vì thế mà không ngại tường tận vậy. ===Hải dược Bản thảo=== Vũ Tích nói: 《Nam hải dược phổ》 2 quyển, không ghi tên người soạn, chép tạp dược vật phương nam sản xuất ở các quận huyện và công hiệu trị bệnh, khá không có thứ tự. Thời Trân nói: Đây chính là 《Hải dược Bản thảo》, phàm 6 quyển, do Lý Tuần đời Đường soạn. Tuần có lẽ là người thời Túc Tông, Đại Tông. ===Tứ thanh Bản thảo=== Vũ Tích nói: Đường Lan Lăng xử sĩ Tiêu Bỉnh soạn. Lấy chữ đầu của tên thuốc trong Bản thảo, theo bốn thanh Bình, Thượng, Khứ, Nhập mà sắp xếp để tiện tra cứu, không có phát minh mới. Phàm 5 quyển, Vương Thu đỗ Tiến sĩ viết tựa. ===Sạn phiền Bản thảo=== Vũ Tích nói: Đường Nhuận Châu Y bác sĩ kiêm Tiết độ tùy quân Dương Tổn Chi soạn. Lược bỏ những thứ không cấp thiết và loại có tên nhưng chưa dùng trong Bản thảo, thành 5 quyển. Là người sau đời Khai Nguyên, không có phát minh mới. ===Bản thảo âm nghĩa=== Thời Trân nói: Phàm 2 quyển, Đường Lý Hàm Quang soạn. Lại có Chân Lập Ngôn, Ân Tử Nghiêm đều có sách Âm nghĩa, nay không truyền. ===Bản thảo tính sự loại=== Vũ Tích nói: Kinh Triệu y công Đỗ Thiện Phương soạn, không rõ đời nào. Phàm 1 quyển, lấy tên thuốc trong bản thảo theo loại mà giải thích, phụ thêm việc chế sứ, sợ ghét, tương phản, tương nghi, giải độc của các thuốc. ===Thực tính Bản thảo=== Vũ Tích nói: Nam Đường Bồi nhung Phó úy, Kiếm Châu Y học Trợ giáo Trần Sĩ Lương soạn. Lấy thuốc của các nhà Thần Nông, Đào Ẩn Cư, Tô Cung, Mạnh Thận, Trần Tạng Khí liên quan đến ăn uống mà phân loại, phụ thêm các phương thực y, và phép điều dưỡng tạng phủ năm mùa. Thời Trân nói: Sách phàm 10 quyển, tập hợp thuyết cũ, không có nghĩa mới mấy. Xưa có Hoài Nam Vương 《Thực kinh》 120 quyển, 《Thôi Hạo thực kinh》 9 quyển... đều là tổ theo ý Thực y vậy. ===Thục Bản thảo=== Thời Trân nói: Thục chủ Mạnh Sưởng mệnh Hàn lâm Học sĩ Hàn Bảo Thăng cùng các y sĩ lấy 《Đường Bản thảo》 tham khảo tăng bổ chú thích, riêng làm 《Đồ kinh》 phàm 20 quyển, Sưởng tự viết tựa, đời gọi là 《Thục Bản thảo》. Phần hình trạng dược vật của nó tường tận hơn họ Đào, họ Tô. ===Khai Bảo Bản thảo=== Thời Trân nói: Năm Khai Bảo thứ 6 đời Tống Thái Tổ, mệnh Thượng dược Phụng ngự Lưu Hàn, đạo sĩ Mã Chí cùng 9 người lấy bản thảo đời Đường, đời Thục khảo kỹ, lại tham khảo 《Thập di》 của Trần Tạng Khí, đính chính biệt danh, tăng thêm 133 loại thuốc. Mã Chí làm chú giải, Hàn lâm Học sĩ Lư Đa Tốn đính chính. Năm thứ 7 lại chiếu cho Mã Chí định lại. Phàm lời Thần Nông viết chữ trắng, danh y truyền lại viết chữ đen để biệt. Cộng danh mục là 21 quyển. Bài tựa nói: ...Nay lấy thuốc mới cũ hợp 983 loại, cùng danh mục 21 quyển, ban bố thiên hạ lưu hành. ===Gia Hựu bổ chú Bản thảo=== Thời Trân nói: Năm Gia Hựu thứ 2 đời Tống Nhân Tông, chiếu cho Chưởng Vũ Tích, Lâm Ức cùng các y quan trùng tu Bản thảo. Bổ sung mới 82 loại, định mới 17 loại, thông tính 1082 điều, gọi là 《Gia Hựu bổ chú Bản thảo》, cộng 20 quyển... Phàm tên Bản thảo không chỉ một nhà, nay lấy bản định lại đời Khai Bảo làm chính. ===Đồ kinh Bản thảo=== Thời Trân nói: Tống Nhân Tông sau khi mệnh Chưởng Vũ Tích biên soạn Bản thảo, lại chiếu cho các quận huyện thiên hạ vẽ hình dược vật sản xuất tại địa phương dâng lên, chuyên mệnh Thái thường Bác sĩ Tô Tụng soạn thuật thành sách này, phàm 21 quyển. Khảo chứng tường minh, có nhiều phát minh. Tô Tụng tự Tử Dung, đời Triết Tông làm đến Tể tướng, phong Ngụy quốc công. ===Chứng loại Bản thảo=== Thời Trân nói: Năm Đại Quan thứ 2 đời Tống Huy Tông, Thục y Đường Thận Vi lấy 《Gia Hựu bổ chú Bản thảo》 và 《Đồ kinh Bản thảo》 hợp làm một sách, lại nhặt những thứ còn sót trong bản cũ của Đường, Trần, Mạnh... được hơn 500 loại phụ vào các bộ, tăng thêm 5 loại. Lại hái lượm cổ kim đơn phương cùng kinh, sử, bách gia có liên quan đến dược vật phụ vào. Cộng 31 quyển, tên là 《Chứng loại Bản thảo》. Dâng lên triều đình, đổi tên là 《Đại Quan bản thảo》. Thận Vi diện mạo xấu xí nhưng học vấn bao quát, khiến bản thảo các nhà và đơn phương các thuốc truyền đến ngàn thu không bị chìm lấp, đều là công của ông vậy. Đời Chính Hòa lại mệnh Tào Hiếu Trung hiệu chính, nên lại gọi là 《Chính Hòa bản thảo》. ===Bản thảo biệt thuyết=== Thời Trân nói: Đời Tống Triết Tông, Lãng Trung y sĩ Trần Thừa hợp 《Bản thảo》 và 《Đồ kinh》 làm một, xen kẽ vài lời, gọi là Biệt thuyết. Cuối đời Thiệu Hưng triều Cao Tông, mệnh Vương Kế Tiên hiệu chính bản thảo, cũng có phụ thêm. Đều nông cạn, không có cao luận. ===Nhật Hoa chư gia Bản thảo=== Vũ Tích nói: Đầu triều Tống đời Khai Bảo, người Tứ Minh soạn. Không ghi họ tên, chỉ gọi Nhật Hoa Tử, Đại Minh. Sắp xếp dược vật các nhà thường dùng gần đây theo loại Hàn, Ôn, Tính, Vị, Hoa, Thực, Sâu, Thú, lời bàn công dụng rất tận tường, phàm 20 quyển. Thời Trân nói: Nhật Hoa Tử có lẽ họ Đại tên Minh. Có thuyết nói họ Điền, chưa rõ thực hư. ===Bản thảo diễn nghĩa=== Thời Trân nói: Đời Tống Chính Hòa, y quan Khấu Tông Thức soạn. Lấy hai sách 《Bổ chú》 và 《Đồ kinh》 tham khảo sự thực, xét rõ tình lý, dẫn chứng biện giải, phát minh rất nhiều, bọn Đông Viên, Đan Khê đều tôn tin theo. Sách và Tự lệ phàm 20 quyển. ===Khiết Cổ Trân châu nang=== Thời Trân nói: Sách phàm 1 quyển, do danh y Trương Nguyên Tố đời Kim soạn. Nguyên Tố tự Khiết Cổ, học y sâu sắc, hiểu thấu bí ẩn Hiên, Kỳ, ngộ được thiên nhân u vi. Biện dược tính khí vị âm dương, thăng giáng phù trầm, bổ tả sáu khí mười hai kinh, gọi là 《Trân châu nang》, làm rạng rỡ y lý, dưới linh tố chỉ có một mình ông. ===Dụng dược pháp tượng=== Thời Trân nói: Sách phàm 1 quyển, do danh y Lý Tiết đời Nguyên soạn. Tiết tự Minh Chi, hiệu Đông Viên. Thụ nghiệp nơi Khiết Cổ, người đời gọi là thần y. Tổ thuật 《Trân châu nang》, tăng thêm phàm lệ dùng thuốc, dẫn đạo các kinh, viết thành sách này. ===Thang dịch Bản thảo=== Thời Trân nói: Sách phàm 2 quyển, do Vương Hảo Cổ đời Nguyên soạn. Hảo Cổ tự Tiến Chi, hiệu Hải Tàng, là cao đệ của Đông Viên. Lấy sách của Bản thảo và các nhà Trương Trọng Cảnh, Thành Vô Kỷ... xen kẽ ý mình tập hợp thành. ===Nhật dụng Bản thảo=== Thời Trân nói: Sách phàm 8 quyển. Ngô Thụy đời Nguyên lấy những thứ thiết yếu trong ăn uống từ Bản thảo mà chia làm 8 môn, tăng thêm vài phẩm. Thụy tự Thụy Khanh, người thời Văn Tông đời Nguyên. ===Bản thảo ca quát=== Thời Trân nói: Hồ Sĩ Khả đời Nguyên lấy dược tính bản thảo vẽ hình làm thơ ca để trẻ nhỏ dễ học. Đời Minh ta bọn Lưu Thuần, Hùng Tông Lập... đều có ca quát và phú dược tính cho người mới học ghi nhớ. ===Bản thảo diễn nghĩa bổ di=== Thời Trân nói: Cuối đời Nguyên do Chu Chấn Hanh soạn. Chấn Hanh tự Ngạn Tu, đời gọi là Đan Khê tiên sinh. Sách này dựa theo ý nghĩa cuốn 《Diễn nghĩa》 của họ Khấu mà suy rộng ra gần 200 loại, có nhiều phát minh. ===Bản thảo phát huy=== Thời Trân nói: Sách phàm 3 quyển, do học trò Đan Khê là Từ Ngạn Thuần tập hợp thời Hồng Vũ. Lấy thuyết của các nhà Trương Khiết Cổ, Lý Đông Viên... hợp thành một sách, không tăng thêm gì. ===Cứu hoang Bản thảo=== Thời Trân nói: Đầu thời Hồng Vũ, Chu Định Vương vì thương dân đói kém nên hỏi thăm lão nông, được 440 loại cỏ cây hoa quả rễ củ có thể dùng cứu đói, vẽ hình trạng, chép nơi sản xuất, tính vị, cách ăn. Phàm 4 quyển, rất tường minh. Vương hiệu Thành Trai, soạn 《Phổ tế phương》 168 quyển. ===Canh Tân ngọc sách=== Thời Trân nói: Thời Tuyên Đức, Ninh Hiến Vương lấy sách của Thôi Phảng, Độc Cô Thao... những thứ cỏ cây kim thạch có thể dùng cho lò đan mà thành sách này. Phàm 2 quyển, 541 phẩm. Vương hiệu Quác Tiên, thông suốt bách gia. ===Bản thảo tập yếu=== Thời Trân nói: Đời Hoằng Trị, Vương Luân lấy các dược phẩm thường dùng và lời bàn của Khiết Cổ, Đông Viên, Đan Khê lược tiết thành 8 quyển, không tăng thêm gì. Luân tự Nhữ Ngôn, hiệu Tiết Trai. ===Thực vật Bản thảo=== Thời Trân nói: Thời Chính Đức, Uông Dĩnh soạn. Lư Hòa từng lấy những thứ hệ tại thực phẩm trong Bản thảo biên thứ sách này. Dĩnh được bản thảo đó, chia làm 2 quyển, gồm 8 loại: Nước, Ngũ cốc, Rau, Quả, Chim, Thú, Cá, Vị. ===Thực giám Bản thảo=== Thời Trân nói: Thời Gia Tĩnh, Ninh Nguyên biên soạn. Lấy vật có thể ăn, lược ghi vài lời, không có phát minh mới. ===Bản thảo hội biên=== Thời Trân nói: Thời Gia Tĩnh, y sĩ Uông Cơ biên soạn. Cơ tự Tỉnh Chi. Sách này tóm lược có vẻ giản tiện nhưng hỗn đồng lại khó tra cứu. ===Bản thảo mông thuyên=== Thời Trân nói: Sách phàm 12 quyển, Trần Gia Mô soạn. Mô tự Đình Thải. Cuối thời Gia Tĩnh, dựa theo cuốn 《Tập yếu》 của họ Vương mà tập thành, mỗi phẩm đủ khí vị, sản thái, trị liệu, phương pháp, sáng tác thành lời đối để dễ ghi nhớ. Tiện cho người mới học nên gọi là 《Mông thuyên》. ===Bản thảo cương mục=== Do Lý Thời Trân Đông Bích, người Kỳ Châu, làm Phụng từ ở Sở phủ, được sắc phong Văn lâm lang, Tri huyện Bồng Khê triều Minh soạn. Thu thập từ bách gia, hái lượm khắp bốn phương. Bắt đầu từ năm Nhâm Tý thời Gia Tĩnh, hoàn thành năm Mậu Dần thời Vạn Lịch, bản thảo ba lần sửa đổi. Chia làm 52 quyển, liệt vào 16 bộ, mỗi bộ phân loại, tổng cộng 60 loại. Lấy danh làm Cương, liệt việc làm Mục. Tăng thêm 374 loại thuốc, 8160 phương thuốc. == Dẫn cứ Cổ kim Y gia Thư mục == Lý Thời Trân nói: Từ Đào Hoằng Cảnh trở xuống, các bản thảo đời Đường, Tống có dẫn dụng y thư phàm 84 nhà, trong đó Đường Thận Vi là dẫn nhiều nhất. Những sách mà tôi (Thời Trân) dẫn dụng nay, trừ các bản cũ ra, phàm có 277 nhà. ===84 nhà hệ bản cũ dẫn dụng (Tiêu biểu)=== * Hoàng Đế: 《Tố Vấn》 (Vương Băng chú) * Đường Huyền Tông: 《Khai Nguyên Quảng Tế phương》 * Trương Trọng Cảnh: 《Kim Quỹ Ngọc Hàm phương》, 《Thương hàn luận》 (Thành Vô Kỷ chú) * Hoa Đà: 《Hoa Đà phương》 (10 quyển), 《Trung Tạng kinh》 * Tôn Chân Nhân (Tôn Tư Mạo): 《Thiên kim Bị cấp phương》, 《Thiên kim Dực phương》, 《Thực kỵ》, 《Chẩm trung ký》 * Cát Hồng: 《Trữu hậu Bách nhất phương》 (Khuỷu tay sau trăm một phương) * Vương Đào: 《Ngoại đài Bí yếu phương》 * Mạnh Thận: 《Tất hiệu phương》 * Lưu Vũ Tích: 《Truyền tín phương》 ===277 nhà do Lý Thời Trân dẫn dụng thêm (Tiêu biểu)=== * Kinh điển: 《Linh Khu kinh》, 《Nan kinh》 (Tần Việt Nhân/Biển Thước), 《Giáp Ất kinh》 (Hoàng Phủ Mật), 《Mạch kinh》 (Vương Thúc Hòa). * Lý luận & Học thuyết: 《Nguyên bệnh thức》 (Lưu Hà Gian), 《Y học Khởi nguyên》 (Trương Khiết Cổ), 《Tỳ vị luận》 (Lý Đông Viên). * Đan hệ & Chế hóa: 《Tạo hóa Chỉ nam》 (Thổ Túc Chân Quân), 《Luyện đan dược Bí quyết》 (Hồ Diễn Thăng). * Chuyên khoa: ** Phụ khoa: 《Phụ nhân Lương phương》 (Trần Tự Minh). ** Nhi khoa: 《Tiểu nhi Trực quyết》 (Tiền Ất), 《Ấu ấu Tân thư》 (Lưu Phưởng), 《Đậu chẩn Chứng trị》 (Lý Ngôn Văn). ** Ngoại khoa: 《Ngoại khoa Tinh yếu》, 《Ngoại khoa Phát huy》 (Tiết Kỷ). ** Nhãn khoa: 《Nhãn khoa Long mộc luận》, 《Nguyên cơ Khải vi tập》 (Nghê Duy Đức). * Các bản ghi chép riêng: 《Tần Giang Thiết yếu》 (Trương thị), 《Quái chứng Kỳ phương》 (Lý Lâu), 《Thập dược Thần thư》 (Cát Khả Cửu). == Dẫn cứ Cổ kim Kinh sử Bách gia Thư mục == Lý Thời Trân nói: Từ Đào Hoằng Cảnh, Đường, Tống trở xuống dẫn dụng phàm 151 nhà. Nay tôi (Lý Thời Trân) dẫn dụng thêm, trừ bản cũ ra, phàm 440 nhà. ===151 nhà hệ bản cũ dẫn dụng (Tiêu biểu)=== * Kinh điển: 《Dịch kinh》, 《Thi kinh》, 《Lễ ký》, 《Chu lễ》, 《Nhĩ Nhã》. * Sử tịch: 《Sử ký》 (Tư Mã Thiên), 《Hán thư》 (Ban Cố), 《Hậu Hán thư》, 《Tam quốc chí》, 《Đường thư》. * Chư tử: 《Lão Tử》, 《Trang Tử》, 《Liệt Tử》, 《Hoài Nam Tử》, 《Lã thị Xuân Thu》, 《Bào Phác Tử》. * Địa chí & Dị vật: 《Sơn Hải kinh》, 《Bác vật chí》 (Trương Hoa), 《Kinh Sở Tuế thời ký》. * Nông nghiệp: 《Tề dân Yếu thuật》 (Giả Tư Hiệp). ===440 nhà do Lý Thời Trân dẫn dụng thêm (Tiêu biểu)=== * Ngôn ngữ & Từ điển: 《Thuyết văn Giải tự》 (Hứa Thận), 《Quảng Nhã》, 《Phương ngôn》 (Dương Hùng), 《Thích danh》 (Lưu Hy). * Chuyên khảo về vật loại: ** Động vật: 《Cầm kinh》 (Sư Khoáng), 《Bối kinh》, 《Hải báo phổ》. ** Thực vật: 《Cúc phổ》 (Phạm Thành Đại), 《Lệ chi phổ》 (Thái Tương), 《Quất phổ》 (Hàn Ngạn Trực), 《Khuẩn phổ》 (Trần Nhân Ngọc). ** Trà & Hương: 《Trà kinh》 (Lục Vũ), 《Hương phổ》 (Hồng Câu Phụ). * Văn chương & Tập kỷ: 《Văn tuyển》 (Lý Thiện chú), 《Sở Từ》, tập thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị, Hàn Dũ... * Bách khoa & Tạp ký: 《Mộng Khê bút đàm》 (Thẩm Quát), 《Thuyết phu》 (Đào Cửu Thành), 《Văn hiến Thông khảo》 (Mã Đoan Lâm), 《Vật loại Tương cảm chí》 (Tán Ninh). * Địa lý & Du ký: 《Đại Minh Nhất thống chí》, 《Thủy kinh chú》 (Lệ Đạo Nguyên), 《Chân Lạp phong thổ ký》 (Chu Đạt Quan). == Tổng số dược phẩm thu thập từ các sách Bản thảo của các nhà == * 《[[Thần Nông Bản thảo kinh]]》 347 loại (trừ 18 loại đã nhập chung, gồm: Thảo bộ 164 loại, Cốc bộ 7 loại, Thái bộ 13 loại, Quả bộ 11 loại, Mộc bộ 44 loại, Thổ bộ 2 loại, Kim thạch bộ 41 loại, Trùng bộ 29 loại, Giới bộ 8 loại, Lân bộ 7 loại, Cầm bộ 5 loại, Thú bộ 15 loại, Nhân bộ 1 loại). * Đào Hoằng Cảnh 《Danh y biệt lục》 307 loại (trừ 59 loại đã nhập chung, gồm: Thảo bộ 130 loại, Cốc bộ 19 loại, Thái bộ 17 loại, Quả bộ 17 loại, Mộc bộ 23 loại, Phục khí bộ 4 loại, Thủy bộ 2 loại, Thổ bộ 3 loại, Kim thạch bộ 32 loại, Trùng bộ 17 loại, Giới bộ 5 loại, Lân bộ 10 loại, Cầm bộ 11 loại, Thú bộ 12 loại, Nhân bộ 5 loại). * 《[[Lý Đương Chi dược lục]]》 1 loại (Thảo bộ). * 《[[Ngô Phổ bản thảo]]》 1 loại (Thảo bộ). * Lôi Hiệu 《Lôi Công bào chích luận》 1 loại (Thú bộ). * Tô Cung 《[[Đường bản thảo]]》 111 loại (Thảo bộ 34 loại, Cốc bộ 2 loại, Thái bộ 7 loại, Mộc bộ 22 loại, Phục khí bộ 3 loại, Thổ bộ 3 loại, Kim thạch bộ 14 loại, Trùng bộ 1 loại, Giới bộ 2 loại, Lân bộ 1 loại, Cầm bộ 2 loại, Thú bộ 8 loại, Nhân bộ 1 loại). * Chân Quyền 《[[Dược tính bản thảo]]》 4 loại (Thảo bộ 1 loại, Cốc bộ 1 loại, Phục khí bộ 1 loại, Kim thạch bộ 1 loại). * Tôn Tư Mạo 《Thiên kim thực trị》 2 loại (Thái bộ). * Mạnh Thận 《[[Thực liệu bản thảo]]》 17 loại (Thảo bộ 2 loại, Cốc bộ 3 loại, Thái bộ 3 loại, Quả bộ 1 loại, Lân bộ 6 loại, Cầm bộ 2 loại). * Trần Tạng Khí 《[[Bản thảo thập di]]》 368 loại (Thảo bộ 68 loại, Cốc bộ 11 loại, Thái bộ 13 loại, Quả bộ 20 loại, Mộc bộ 39 loại, Phục khí bộ 34 loại, Hỏa bộ 1 loại, Thủy bộ 26 loại, Thổ bộ 28 loại, Kim thạch bộ 17 loại, Trùng bộ 24 loại, Giới bộ 10 loại, Lân bộ 28 loại, Cầm bộ 26 loại, Thú bộ 15 loại, Nhân bộ 8 loại). * Lý Tuần 《Hải dược bản thảo》 14 loại (Thảo bộ 4 loại, Cốc bộ 1 loại, Quả bộ 1 loại, Mộc bộ 5 loại, Trùng bộ 1 loại, Giới bộ 2 loại). * Tiêu Bỉnh 《[[Tứ thanh bản thảo]]》 3 loại (Thảo bộ 1 loại, Phục khí bộ 1 loại, Thổ bộ 1 loại). * Trần Sĩ Lương 《[[Thực tính bản thảo]]》 2 loại (Thái bộ 1 loại, Quả bộ 1 loại). * Hàn Bảo Thăng 《[[Thục bản thảo]]》 5 loại (Thái bộ 2 loại, Mộc bộ 1 loại, Giới bộ 1 loại, Thú bộ 1 loại). * Mã Chí 《[[Khai Bảo bản thảo]]》 111 loại (Thảo bộ 37 loại, Cốc bộ 2 loại, Thái bộ 6 loại, Quả bộ 19 loại, Mộc bộ 15 loại, Phục khí bộ 1 loại, Thổ bộ 1 loại, Kim thạch bộ 9 loại, Trùng bộ 2 loại, Giới bộ 2 loại, Lân bộ 11 loại, Cầm bộ 1 loại, Thú bộ 4 loại, Nhân bộ 1 loại). * Chưởng Vũ Tích 《[[Gia Hựu bản thảo]]》 78 loại (Thảo bộ 17 loại, Cốc bộ 3 loại, Thái bộ 10 loại, Quả bộ 2 loại, Mộc bộ 6 loại, Phục khí bộ 1 loại, Thủy bộ 4 loại, Kim thạch bộ 8 loại, Lân bộ 1 loại, Giới bộ 8 loại, Cầm bộ 13 loại, Thú bộ 1 loại, Nhân bộ 4 loại). * Tô Tụng 《[[Đồ kinh bản thảo]]》 74 loại (Thảo bộ 54 loại, Cốc bộ 2 loại, Thái bộ 4 loại, Quả bộ 5 loại, Mộc bộ 1 loại, Kim thạch bộ 3 loại, Trùng bộ 2 loại, Giới bộ 1 loại, Cầm bộ 1 loại, Thú bộ 1 loại). * Đại Minh 《Nhật Hoa bản thảo》 25 loại (Thảo bộ 7 loại, Thái bộ 2 loại, Quả bộ 2 loại, Mộc bộ 1 loại, Kim thạch bộ 8 loại, Trùng bộ 1 loại, Lân bộ 1 loại, Cầm bộ 1 loại, Nhân bộ 2 loại). * Đường Thận Vi 《[[Chứng loại bản thảo]]》 8 loại (Thái bộ 1 loại, Mộc bộ 1 loại, Thổ bộ 1 loại, Kim thạch bộ 1 loại, Trùng bộ 2 loại, Thú bộ 1 loại, Nhân bộ 1 loại). * Khấu Tông Thức 《[[Bản thảo diễn nghĩa]]》 1 loại (Thú bộ). * Lý Tiết 《[[Dụng dược pháp tượng]]》 1 loại (Thảo bộ). * Chu Chấn Hanh 《[[Bản thảo bổ di]]》 4 loại (Thảo bộ 1 loại, Cốc bộ 1 loại, Mộc bộ 1 loại, Thổ bộ 1 loại). * Ngô Thụy 《[[Nhật dụng bản thảo]]》 7 loại (Cốc bộ 1 loại, Thái bộ 3 loại, Quả bộ 2 loại, Thú bộ 1 loại). * Chu Định Vương 《[[Cứu hoang bản thảo]]》 3 loại (Thảo bộ 1 loại, Cốc bộ 1 loại, Thái bộ 1 loại). * Uông Dĩnh 《[[Thực vật bản thảo]]》 17 loại (Cốc bộ 3 loại, Thái bộ 2 loại, Quả bộ 1 loại, Cầm bộ 10 loại, Thú bộ 1 loại). * Ninh Nguyên 《[[Thực giám bản thảo]]》 4 loại (Cốc bộ 1 loại, Thái bộ 1 loại, Lân bộ 1 loại, Thú bộ 1 loại). * Uông Cơ 《[[Bản thảo hội biên]]》 3 loại (Thảo bộ 1 loại, Quả bộ 1 loại, Trùng bộ 1 loại). * Trần Gia Mô 《[[Bản thảo mông thuyên]]》 2 loại (Giới bộ 1 loại, Nhân bộ 1 loại). * Lý Thời Trân 《Bản thảo cương mục》 374 loại (Thảo bộ 86 loại, Cốc bộ 15 loại, Thái bộ 17 loại, Quả bộ 34 loại, Mộc bộ 21 loại, Phục khí bộ 35 loại, Hỏa bộ 10 loại, Thủy bộ 11 loại, Thổ bộ 21 loại, Kim thạch bộ 26 loại, Trùng bộ 26 loại, Giới bộ 5 loại, Lân bộ 28 loại, Cầm bộ 5 loại, Thú bộ 23 loại, Nhân bộ 11 loại). == Danh lệ trong 《Thần Nông Bản Kinh》 == 120 loại '''Thượng dược''' làm '''Quân''' (Vua), chủ về nuôi dưỡng mệnh để ứng với Trời (Thiên), không độc, uống nhiều hoặc uống lâu không hại người. Muốn nhẹ mình, ích khí, trẻ mãi không già, kéo dài tuổi thọ thì dựa vào Thượng kinh. 120 loại '''Trung dược''' làm '''Thần''' (Tôi), chủ về dưỡng tính để ứng với Người (Nhân), loại không độc hoặc có độc, cần cân nhắc sử dụng cho nghi thích hợp. Muốn ngăn chặn bệnh tật, bồi bổ hư yếu thì dựa vào Trung kinh. 125 loại '''Hạ dược''' làm '''Tá, Sứ''' (Phụ tá, sai phái), chủ về trị bệnh để ứng với Đất (Địa), nhiều độc tính, không thể uống lâu. Muốn trừ tà khí hàn nhiệt, phá tích tụ, chữa khỏi bệnh tật thì dựa vào Hạ kinh. Ba phẩm hợp lại thành 365 loại, phỏng theo 365 độ của trời, mỗi độ ứng với một ngày để thành một năm. Gấp đôi số đó là 730 tên dược vị. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay xét tính chất của Thượng phẩm, cũng có thể đuổi được bệnh, nhưng thế lực hòa hoãn, không có hiệu quả tức thì. Nếu uống thường xuyên hàng tháng hàng năm, ắt thu được lợi ích lớn. Bệnh đã khỏi mà mệnh cũng được kéo dài; đạo trời nhân từ nuôi dưỡng muôn vật nên gọi là ứng với Trời. 120 loại này ứng với các tháng Dần, Mão, Thìn, Tỵ, phỏng theo lúc vạn vật sinh sôi tươi tốt. Trung phẩm dược tính, lời lẽ trị bệnh dần sâu hơn, thuyết nhẹ mình bớt đi, trừ bệnh thì nhanh nhưng kéo dài tuổi thọ thì chậm. Con người mang nặng tính tình nên gọi là ứng với Người. 120 loại này ứng với các tháng Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, phỏng theo lúc vạn vật thành thục. Hạ phẩm dược tính chuyên chủ về công kích, khí độc mãnh liệt, làm tổn hại sự trung hòa, không thể uống thường xuyên, bệnh khỏi là phải dừng ngay. Thể của Đất là thu sát nên gọi là ứng với Đất. 125 loại này ứng với các tháng Tuất, Hợi, Tý, Sửu, phỏng theo lúc vạn vật héo tàn ẩn nấp, cộng thêm số dư của tháng nhuận. Dù dùng đơn lẻ hay phối hợp đều tùy vào bệnh trạng của người, cần tham khảo mà thực hiện, không nên cố chấp một phía. '''Chưởng Vũ Tích nói:''' Lệ của Đào thị Bản thảo là: Lời của Thần Nông viết bằng chữ đỏ, lời trong 《Biệt lục》 viết bằng chữ đen. Thuốc trong 《Bản kinh》 dừng ở số 365 loại, nay nói gấp đôi số đó thành 730 tên là bao gồm cả các phụ phẩm trong 《Biệt lục》. Đoạn này vốn là văn bản của 《Biệt lục》, do sao chép lâu ngày mà sinh ra sai loạn. Khiến đời sau dựa vào đó mà cho rằng đây không phải sách của Thần Nông, đều là do nguyên cớ này. '''Lý Thời Trân nói:''' 《Thần Nông Bản thảo》 chia thuốc làm ba phẩm. Đến 《Biệt lục》 của Đào thị mới tăng gấp đôi dược phẩm và bắt đầu phân chia bộ loại. Các nhà đời Đường, Tống bổ sung thêm nhiều, đôi khi lại lược bớt. Tuy có sự phân biệt chữ đỏ chữ đen và tên gọi ba phẩm nhưng thực tế đã rối loạn. Có khi một loại thuốc chia làm nhiều mục, có khi hai vật lại để cùng một chỗ; cây gỗ nằm ở bộ cỏ, sâu bọ lọt vào bộ gỗ; nước đất ở chung, trùng cá lẫn lộn; nước sông Tư sông Mẫn không phân, ngọc quý đá thường chẳng biệt; tên đã khó tìm thì thực chất sao kiếm được. Nay tôi hợp nhất thuốc của các nhà cổ kim, chia thành 16 bộ. Loại nào cần phân thì phân, cần gộp thì gộp, cần dời thì dời, cần tăng thì tăng. Không chia ba phẩm mà chỉ theo từng bộ, vật họp theo loài, đề mục đi theo cương lĩnh. Mỗi vị thuốc đặt một tên chung để làm rõ '''Đại cương'''; viết lớn về khí vị, chủ trị để làm rõ '''Tiểu cương'''; chia chú thích về tên gọi (Thích danh), tập hợp các giải thích (Tập giải), phát minh (Phát minh) để làm rõ '''Mục''' (chi tiết); còn các phần biện nghi (biện giải nghi ngờ), chính ngộ (sửa sai), phụ lục được kèm vào để làm rõ '''Thể''' (cấu trúc); đơn phương (bài thuốc lẻ) phụ thêm ở cuối để làm rõ '''Dụng''' (cách dùng). Dưới Đại cương ghi rõ xuất xứ Bản thảo và phẩm cấp để tìm về '''Nguồn gốc'''; dưới Tiểu cương ghi rõ tên các nhà để '''Xác thực'''; phần chú thích chia rõ tên người của từng sách, một là để xuất xứ cổ kim không bị mai một, hai là để cái đúng cái sai của các nhà có nơi quy về. Tuy chương cũ có vẻ bị xẻ nhỏ nhưng chi mạch lại càng thêm rõ ràng. Chẳng dám tiếc công lấn lướt, thực chỉ để thuận tiện cho việc tìm kiếm mà thôi. ---- Thuốc có '''Quân, Thần, Tá, Sứ''' để hỗ trợ và kiềm chế lẫn nhau. Phối hợp nên dùng: 1 Quân, 2 Thần, 3 Tá, 5 Sứ; hoặc 1 Quân, 3 Thần, 9 Tá Sứ. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Dùng thuốc như chế độ lập người (trị quốc), nếu nhiều Quân ít Thần, nhiều Thần ít Tá thì khí lực không chu toàn. Tuy nhiên xét các phương thuốc trong Tiên kinh và thế tục cũng không nhất thiết đều như vậy. Đại để thuốc dưỡng mệnh nhiều Quân, thuốc dưỡng tính nhiều Thần, thuốc trị bệnh nhiều Tá, vẫn dựa vào bản tính của thuốc mà cân nhắc. Trong Thượng phẩm Quân cũng có quý tiện; trong Thần, Tá cũng lại như vậy. Cho nên Môn đông, Viễn chí đều có quân thần riêng; Cam thảo là Quốc lão, Đại hoàng là Tướng quân, để chỉ rõ sự ưu liệt, đều không cùng phẩm trật vậy. '''Kỳ Bá nói:''' Phương chế có Quân Thần là nói về chủ trị bệnh thì gọi là Quân, hỗ trợ Quân gọi là Thần, ứng với Thần gọi là Sứ, chứ không phải nói về ba phẩm Thượng, Trung, Hạ. Đó là để làm rõ sự khác biệt giữa thiện và ác (tác dụng mạnh hay yếu). '''Trương Nguyên Tố nói:''' Vị làm Quân chiếm lượng nhiều nhất, Thần ít hơn, Tá lại ít hơn nữa. Nếu các vị thuốc cùng chủ trị một chứng bệnh thì chia lượng bằng nhau. Có thuyết nói vị nào lực lớn nhất thì làm Quân. '''Lý Tiết nói:''' Phàm thuốc sử dụng đều lấy '''Khí''' và '''Vị''' làm chủ. Bổ hay tả nằm ở Vị, thay đổi theo thời gian nằm ở Khí. Chủ trị bệnh là Quân, giả như trị phong thì Phòng phong làm Quân; trị hàn thì Phụ tử làm Quân; trị thấp thì Phòng kỷ làm Quân; trị nhiệt ở Thượng tiêu thì Hoàng cầm làm Quân; nhiệt ở Trung tiêu thì Hoàng liên làm Quân. Tùy theo kiêm chứng gì mà dùng thuốc Tá Sứ để phân chia điều trị, đây là yếu chỉ của việc lập phương. Thuyết Thượng phẩm trong Bản thảo làm Quân là để tùy nghi sử dụng vậy. ---- Thuốc có sự phối hợp '''Âm Dương''', '''Tử Mẫu''' (Mẹ con), '''Huynh Đệ''' (Anh em). '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Phàm muôn vật trong trời đất đều có âm dương, lớn nhỏ, sắc thái loài giống riêng biệt và có pháp tượng (hình tượng). Do đó loài lông vũ sinh ở Dương nhưng thuộc về Âm; loài vảy vỏ sinh ở Âm nhưng thuộc về Dương. Cho nên Không thanh phỏng theo Mộc nên sắc xanh và chủ về Gan; Đan sa phỏng theo Hỏa nên sắc đỏ và chủ về Tim; Vân mẫu phỏng theo Kim nên sắc trắng và chủ về Phổi; Thư hoàng phỏng theo Thổ nên sắc vàng và chủ về Tỳ; Từ thạch phỏng theo Thủy nên sắc đen và chủ về Thận. Các thứ khác đều theo lệ đó mà suy ra. Tử mẫu huynh đệ như vỏ cây Du làm Mẹ, Hậu phác làm Con, loại đó là vậy. ---- '''Rễ, thân, hoa, quả; mầm, vỏ, xương, thịt.''' '''Trương Nguyên Tố nói:''' Phàm rễ thuốc ở trong đất: Từ nửa phần trở lên khí mạch đi lên, dùng phần sinh mầm làm '''Rễ'''; từ nửa phần trở xuống khí mạch đi xuống, dùng phần đâm sâu vào đất làm '''Ngọn''' (Sao). Bệnh ở Trung tiêu và Thượng tiêu thì dùng Rễ; bệnh ở Hạ tiêu thì dùng Ngọn. Rễ thăng (lên), Ngọn giáng (xuống). Từ nửa thân người trở lên là Dương của Trời, dùng phần '''Đầu''' dược liệu; Trung tiêu dùng phần '''Thân''' dược liệu; từ nửa thân người trở xuống là Âm của Đất, dùng phần '''Ngọn'''. Đó là phương pháp thuật loại theo hình tượng vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Có loại thảo mộc chỉ dùng một bộ phận: Như rễ Khương hoạt, thân Mộc thông, hoa Khoản đông, hạt Đình lịch, mầm Bại tương, lá Đại thanh, vỏ Đại phúc, nhân Uất lý, vỏ cây Bách, đốt Trầm hương, thớ thịt Tô mộc, nhựa Hồ đồng, cao Long não. Có loại dùng kiêm: như Viễn chí, Tiểu thảo; Thục tất, Thường sơn. Có loại dùng toàn bộ: như Câu kỷ, Cam cúc. Có loại một vật hai cách dùng: như đầu và đuôi Đương quy, rễ và đốt Ma hoàng, Phục linh xích và bạch, Ngưu tất xuân hạ dùng mầm - thu đông dùng rễ. Các loài lông vũ, vảy vỏ, ngọc đá, nước lửa cũng thường như vậy, không thể luận bàn theo một lối nhất định. ---- Có loại '''Đơn hành''' (dùng một mình), '''Tương tu''' (hỗ trợ nhau), '''Tương sứ''' (sai khiến nhau), '''Tương úy''' (sợ nhau), '''Tương ố''' (ghét nhau), '''Tương phản''' (ngược nhau), '''Tương sát''' (diệt nhau). Bảy tính chất này ('''Thất tình'''), khi phối hợp phải xem xét kỹ. Nên dùng loại Tương tu, Tương sứ là tốt; đừng dùng loại Tương ố, Tương phản. Nếu thuốc có độc cần chế ngự thì có thể dùng loại Tương úy, Tương sát; bằng không thì chớ hợp dụng. '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Trong 365 loại của 《Bản kinh》: Đơn hành có 71 loại; Tương tu có 12 loại; Tương sứ có 90 loại; Tương úy có 78 loại; Tương ố có 60 loại; Tương phản có 18 loại; Tương sát có 36 loại. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Xét các phương cũ dùng thuốc, cũng có loại Tương ố, Tương phản. Như bài Cam thảo hoàn trong Tiên phương có Phòng kỷ, Tế tân; bài Ngọc thạch tán của tục phương dùng Quát lâu, Can khương, uống vào mà không gây hại. Đó là có sự kiềm chế lẫn nhau, ví như Khấu Tuân, Giả Phục giúp nhà Hán, Trình Phổ, Chu Du phò nhà Ngô, đại thể đã chính thì không thể lấy tình riêng mà gây hại. Dù vậy, tốt nhất vẫn là không dùng thì hơn. Bán hạ có độc, phải dùng Sinh khương là lấy cái Tương úy, Tương chế vậy. Lại nói: Tương phản gây hại sâu hơn Tương ố. Vì bên kia dù ghét ta nhưng ta không có lòng căm giận, ví như Ngưu hoàng ghét Long cốt, mà Long cốt có Ngưu hoàng lại càng tốt hơn, đó là có sự chế phục vậy. Còn Tương phản là đôi bên coi nhau như thù nghịch, tất không thể hòa hợp. Nay thợ vẽ dùng Thư hoàng và Hồ phấn để gần nhau thì tự khắc bị sạm đen, đó là minh chứng vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Thuốc có thất tình. '''Đơn hành''' là đơn phương không dùng thuốc hỗ trợ. '''Tương tu''' là cùng loại không thể rời nhau, như Nhân sâm - Cam thảo, Hoàng bá - Tri mẫu. '''Tương sứ''' là vị này làm tá sứ cho vị kia. '''Tương ố''' là cướp mất năng lực của nhau. '''Tương úy''' là chịu sự kiềm chế của bên kia. '''Tương phản''' là hai bên không hợp nhau. '''Tương sát''' là tiêu diệt độc tính của bên kia. Phương cổ đa số có dùng loại Tương ố, Tương phản. Dùng Tương tu, Tương sứ là '''Đế đạo''' (đạo của vua); dùng Tương úy, Tương sát là '''Vương đạo''' (đạo nhân nghĩa); dùng Tương ố, Tương phản là '''Bá đạo''' (đạo dùng quyền lực). Có cái thường (kinh), có cái biến (quyền), đều ở sự giác ngộ của người dùng vậy. ---- Thuốc có năm vị '''Chua, Mặn, Ngọt, Đắng, Cay'''; lại có bốn khí '''Hàn, Nhiệt, Ôn, Lương'''. '''Khấu Tông Thức nói:''' Phàm gọi là '''Khí''' là nói về mùi thơm mùi thối. Còn Hàn, Nhiệt, Ôn, Lương là '''Tánh''' của thuốc. Như mỡ ngỗng trắng tính lạnh, không thể gọi là khí lạnh được. '''Tứ khí''' (bốn khí) đúng ra là: Thơm (Hương), Thối (Xú), Tanh (Tinh), Khét (Tao). Như Tỏi, A ngụy, Cá khô, Tất hôi là khí Thối; Gà, Cá, Vịt, Rắn là khí Tanh; Cáo, dương vật ngựa trắng, Nhân trung bạch (cặn nước tiểu) là khí Khét; Trầm hương, Đàn hương, Long diên hương, Xạ hương là khí Thơm. Vậy chữ Khí nên đổi thành chữ Tánh thì nghĩa mới thỏa đáng. '''Lý Thời Trân nói:''' Khấu thị nói Hàn Nhiệt Ôn Lương là Tánh, Thơm Thối Tanh Khét là Khí, thuyết đó hợp với văn của 《Lễ Ký》. Nhưng từ sau cuốn 《Tố Vấn》 trở đi chỉ gọi là Khí Vị, đột ngột khó thay đổi được, nên tạm theo lệ cũ vậy. '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Vị có 5, Khí có 4. Trong năm vị đều có đủ bốn khí. Như vị Cay có cái Hàn của Thạch cao, cái Nhiệt của Quế - Phụ, cái Ôn của Bán hạ, cái Lương của Bạc hà. '''Khí''' thuộc về Trời (Dương), '''Vị''' thuộc về Đất (Âm). Ôn, Nhiệt là Dương của Trời; Hàn, Lương là Âm của Trời; Cay, Ngọt là Dương của Đất; Mặn, Đắng là Âm của Đất. Bản thảo nói về ngũ vị không nhắc đến vị '''Nhạt''' (Đạm), tứ khí không nhắc đến chữ '''Lương''' (mát); chỉ nói Ôn, Đại ôn, Nhiệt, Đại nhiệt, Hàn, Đại hàn, Vi hàn, Bình, Tiểu độc, Đại độc, Hữu độc, Vô độc, tại sao vậy? Nhạt phụ vào Ngọt, Vi hàn chính là Lương vậy. ---- '''Có độc và không độc.''' '''Kỳ Bá nói:''' Bệnh có cũ mới, phương có lớn nhỏ, có độc hay không độc, vốn nên có phép tắc thường dùng. Dùng thuốc có '''Đại độc''' trị bệnh, bệnh lui được 6 phần thì ngừng; thuốc có '''Thường độc''' bệnh lui 7 phần thì ngừng; thuốc có '''Tiểu độc''' bệnh lui 8 phần thì ngừng; thuốc '''Vô độc''' bệnh lui 9 phần thì ngừng. Sau đó dùng ngũ cốc, thịt, quả, rau để nuôi dưỡng cho hết bệnh, chớ để quá liều mà làm thương tổn chính khí. Lại nói: Người chịu được độc thì dùng thuốc nồng; người không chịu được độc thì dùng thuốc loãng. '''Vương Băng nói:''' Khí của thuốc có sự thiên thắng thì khí của tạng phủ ắt có sự thiên tuyệt, cho nên lui bệnh đến 6, 7, 8, 9 phần là phải dừng vậy. ---- '''Phơi âm can (trong bóng râm), phơi bạo can (ngoài nắng), tháng ngày thu hái, sống hay chín.''' '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các tháng hái thuốc đều bắt đầu từ tháng Dần đầu năm, đó là ghi chép từ sau thời Thái Sơ nhà Hán. Các loại rễ đa số hái vào tháng Hai và tháng Tám, vì đầu xuân nhựa sống mới nảy mầm, chưa dồn vào cành lá nên thế lực thuần hậu nồng đậm; đến mùa thu cành lá khô héo, nhựa sống lại dồn chảy xuống dưới. Đại để mùa xuân thà sớm, mùa thu thà muộn. Hoa, quả, thân, lá thì tùy lúc thành thục. Năm tháng cũng có lúc sớm muộn, không nhất thiết đều theo đúng văn bản. Cái gọi là '''Âm can''' là làm khô trong bóng tối của Lục giáp. Lại theo phép Độn giáp, trong tuần Giáp Tý bóng tối ở hướng Quý Dậu, nên đặt thuốc ở phương Dậu vậy. Thực chất không hẳn như thế, chỉ cần để khô ở nơi có bóng râm không có nắng soi là được. Nếu dùng được cả hai cách (phơi nắng và bóng râm) thì càng tốt. '''Tôn Tư Mạo nói:''' Thầy thuốc xưa tự biết cách hái, âm can hay bạo can đều đúng pháp, dùng thuốc ắt dựa vào đất đai (thổ sản), nên trị bệnh 10 phần khỏi 8, 9. Thầy thuốc nay không biết tiết khí hái thuốc, cho đến đất đai sản sinh, mới cũ, hư thực đều chẳng tường, nên trị bệnh 10 phần không được 5. '''Mã Chí nói:''' Nay xét pháp âm can, thuốc đa phần bị hỏng. Như Lộc nhung âm can đều thối nát, hơ lửa làm khô mới tốt. Các loại rễ mầm cỏ cây, hái trước tháng Chín đều nên phơi nắng; sau tháng Mười hái thì âm can mới tốt. '''Lý Thời Trân nói:''' Sản sinh có Nam Bắc, tiết khí có sớm muộn, rễ mầm thu hái khác nhau, chế biến pháp độ khác nhau. Cho nên ngoài chợ dùng Địa hoàng đem nấu chín; Đại hoàng dùng lửa sấy khô; lấy Tùng hoàng trộn Bồ hoàng, lấy Long não tạp với Trường não, đều là những kẻ làm giả mất đi chân tính dược liệu. '''Khổng Chí Ước''' nói: Động thực vật hình thù sinh trưởng tùy đất mà sai biệt tính chất; xuân thu tiết khí thay đổi, cảm khí mà công dụng khác nhau. Rời khỏi bản thổ thì chất đồng mà hiệu dị; sai lúc thu hái thì vật đúng mà thời sai. Danh thực đã hư, hàn ôn sai lệch, đem dùng cho vua cho cha, tội nghịch không gì lớn bằng. '''Trần Gia Mô nói:''' Việc mua bán y dược đa phần ở các nhà buôn ngoài chợ. Tục ngữ có câu: "Kẻ bán thuốc có hai mắt; người dùng thuốc có một mắt; kẻ uống thuốc không có mắt". Nào là lấy tro mộ cổ làm Long cốt chết, rễ cỏ Linh lăng làm Thổ hoàng kỳ, giã hạt vải trộn Hoắc hương làm Xạ hương, hái lá cà tím luộc chung với Bán hạ làm Huyền hồ sách, lấy ngọn tùng muối làm Nhục thung dung, dùng thảo nhân thay Thảo đậu khấu, dùng Tây đại thay Nam mộc hương, nấu keo Quảng với bột mạch làm A giao, luộc trứng gà và xương cá làm Hổ phách, lấy nhị Tì bà thay Khoản đông, lấy xương ống chân lừa làm xương Hổ, lấy nhựa thông trộn Kỳ lân kiệt, lấy Phèn chua trộn Long não hương. Trăm phương nghìn kế xảo trá, cam chịu sự nhục nhã đó, thậm chí giết người rồi đổ lỗi cho dùng thuốc, thật là quan hệ trọng đại, chẳng phải chuyện tầm thường, không thể không cẩn trọng. ---- '''Nơi đất đai sản sinh, thật giả, cũ mới, đều có pháp độ.''' '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các thuốc sinh ra đều có cương vực nhất định. Trước thời Tần Hán gọi theo tên nước, tên quận huyện nay là do người đời sau thêm vào. Từ khi dời về Giang Đông, các vị thuốc nhỏ lẻ đa số ra ở các vùng lân cận, khí lực tính lý không bằng bản bang. Giả như vùng Kinh, Ích không thông thương, mà dùng toàn Đương quy ở Lịch Dương, Tam kiến ở Tiền Đường thì làm sao mà giống được. Cho nên trị bệnh không bằng người xưa cũng là do nguyên do này. Lại nữa, thầy thuốc không biết mặt thuốc, chỉ nghe lời người chợ; người chợ lại chẳng biện biệt nghiên cứu, đều giao cho nhà thu hái. Nhà thu hái truyền nhau cách chế tạo, thật giả tốt xấu đều chẳng thể đo lường. Cho nên Chung nhũ dùng giấm nấu cho trắng, Tế tân ngâm nước cho thẳng, Hoàng kỳ chưng mật cho ngọt, Đương quy vẩy rượu cho nhuận, Ngô công (rết) bôi chu sa cho đỏ, Tang phiêu tiêu dán vào cành dâu, lấy Xà sàng làm Mĩ vu, lấy Tề ni loạn vào Nhân sâm. Những thứ này đã không đúng sự thật, khi hợp thuốc lại không biết bóc tách bỏ đi phần thừa. Như Viễn chí, Mẫu đơn, phần bỏ đi chiếm gần một nửa; Địa hoàng, Môn đông tiêu hao mất một phần ba. Phàm những loại bỏ vỏ, bỏ lõi, trọng lượng không đủ mà không biết bù cho đủ. Ngày các bậc vương công quý tộc hợp thuốc, kẻ dưới lén tráo thuốc tốt mà cuối cùng chẳng hay biết. Dùng cách này trị bệnh, thật khó đòi hỏi hiệu quả. '''Khấu Tông Thức nói:''' Phàm dùng thuốc phải chọn nơi đất đai thích hợp thì dược lực mới đủ, dùng mới có căn cứ. Như Nhân sâm ở Thượng Đảng, Đương quy ở Xuyên Tây, Bán hạ ở Tề Châu, Tế tân ở Hoa Châu. Cho đến đất vách phía Đông, tro tháng Chạp, nước sông Bán Thiên, nước nóng, nước cháo... những vật đó dù cực nhỏ nhưng dùng cực rộng, vì có đạo lý trong đó. Nếu không suy cứu đến cùng đạo lý ấy, trị bệnh chỉ tốn công vô ích. '''Lý Tiết nói:''' 《Bản thảo》 của Đào Ẩn Cư nói Lang độc, Chỉ thực, Trần bì (vỏ quýt), Bán hạ, Ma hoàng, Ngô thù du đều cần để lâu (trần cựu) mới tốt, còn lại đều cần tinh sạch và mới. Tuy nhiên Đại hoàng, Mộc tặc, Kinh giới, Nguyên hoa, Hoài hoa cũng nên để lâu, không chỉ riêng "Lục trần" (6 loại cần để lâu). Phàm vị thuốc cần phải chuyên tinh. Năm Chí Nguyên Canh Thìn tháng Sáu, Hứa Bá Vi 54 tuổi, trung khí vốn yếu, mắc thương hàn 8, 9 ngày, nhiệt thịnh. Thầy thuốc dùng thuốc mát để hạ, lại ăn lê làm lạnh thương Tỳ vị, tứ chi lạnh giá, lúc hôn mê, tim đập nhanh (quý động), nấc cụt không ngừng, mặt sắc xanh vàng, mắt không muốn mở. Mạch đập có lúc dừng, lúc lại tự hồi, đó là mạch Kết. Dùng bài Phục mạch thang của Trọng Cảnh thêm Nhân sâm, Nhục quế để cấp cứu chính khí; Sinh địa hoàng giảm nửa vì sợ hại Dương khí. Uống hai thang bệnh không lui. Khám lại thấy mạch chứng tương ứng, bèn nghĩ hay là do thuốc thiếu chuyên tinh, cũ nát chăng? Bèn đi mua thuốc mới về uống, chứng bệnh giảm nửa, uống tiếp thì bình an. Phàm các loại thảo mộc, côn trùng, sinh ra có nơi; rễ lá hoa quả, hái có lúc. Mất đi mảnh đất thì tính vị hơi khác; mất đi thời gian thì khí vị không toàn. Huống hồ mới cũ khác nhau, tinh thô chẳng đều. Nếu không chọn lọc mà dùng thì cái sự không hiệu quả đó là do lỗi thuốc vậy. ---- '''Dược tính có loại nghi làm viên (Hoàn), nghi làm bột (Tán), nghi nấu nước (Thang), nghi ngâm rượu, nghi nấu cao; cũng có vật kiêm nghi nhiều cách, cũng có vật không thể vào nước vào rượu, đều tùy dược tính, không được làm trái.''' '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Lại xét bệnh có loại nghi uống Hoàn, uống Tán, uống Thang, uống Rượu, uống Cao, cũng cần tham khảo sử dụng, xét nguồn gốc của bệnh mà đặt ra chế độ. '''Hoa Đà nói:''' Bệnh có loại nghi dùng Thang, dùng Hoàn, dùng Tán, nghi dùng phép Hạ (tẩy), phép Thổ (nôn), phép Hãn (mồ hôi). '''Thang''' có thể gột rửa tạng phủ, khai thông kinh lạc, điều hòa âm dương. '''Hoàn''' có thể trục phong lãnh, phá kiên tích (khối cứng), tăng ăn uống. '''Tán''' có thể khử tà khí phong hàn thử thấp, tán sự kết tụ của ngũ tạng, khai tràng lợi vị. Đáng hạ mà không hạ làm người ta bụng đầy phiền loạn. Đáng hãn mà không hãn làm lỗ chân lông bít kín, ngột ngạt mà chết. Đáng thổ mà không thổ làm kết hung (tức ngực), suyễn thở, nước cơm không vào được mà chết. '''Lý Tiết nói:''' '''Thang''' là tẩy đãng, dùng cho bệnh lớn. '''Tán''' là phân tán, dùng cho bệnh cấp. '''Hoàn''' là hoãn, dùng để trị bệnh một cách thư thả. '''Tạ phụ''' (咀) là chế độ cổ, xưa không có dao sắt nên dùng miệng cắn vụn. Phàm trị bệnh ở nơi cao nhất (đầu, mặt) thì thêm rượu để sắc; khử thấp dùng Sinh khương; bổ nguyên khí dùng Đại táo; phát tán phong hàn dùng Hành trắng; khử đờm trên cơ hoành dùng Mật ong. '''Bột mịn''' (tế mạt) không đi theo kinh lạc, chỉ khử tích tụ trong dạ dày và tạng phủ. Khí vị nồng thì điều với nước sôi; khí vị mỏng thì sắc lên uống cả bã. Khử bệnh ở hạ bộ thì viên cực lớn, bóng và tròn; trị trung tiêu thì viên vừa; trị thượng tiêu thì viên cực nhỏ. Dùng hồ bột mì đặc để chậm tan, đi thẳng xuống hạ tiêu; dùng rượu hoặc giấm là lấy ý thu tán; gặp Bán hạ, Nam tinh muốn khử thấp thì viên bằng hồ loãng nước gừng để dễ tan; bánh nướng ngâm nước lại càng dễ tan; viên bằng nước nhỏ giọt lại càng dễ tan hơn; viên mật luyện để chậm tan mà khí đi theo kinh lạc; viên sáp (láp hoàn) để cực khó tan mà hiệu quả từ từ, hoặc để thuốc độc không hại tỳ vị. '''Trương Nguyên Tố nói:''' Bệnh ở đầu mặt và da dẻ, thuốc cần sao với rượu; ở dưới hầu trên rốn thì rửa với rượu; ở dưới thì dùng sống. Thuốc hàn cần ngâm rượu phơi khô vì sợ thương tổn dạ dày. Đương quy ngâm rượu để trợ giúp công dụng phát tán. '''Trần Gia Mô nói:''' Chế thuốc quý ở chỗ vừa vặn, không tới thì khó tìm công hiệu, quá mức thì khí vị lại mất đi. Chế bằng lửa có 4: Nướng (đoán), Bào, Chích (đốt), Sao. Chế bằng nước có 3: Tẩm, Ngâm, Rửa. Nước lửa cùng chế có 2: Chưng, Nấu. Pháp chế dù nhiều không rời khỏi những thứ này. Chế với rượu để thăng đề (đưa lên), chế với gừng để phát tán. Vào muối để chạy vào thận và làm mềm chỗ cứng, dùng giấm vào gan để giảm đau. Chế bằng nước tiểu trẻ em (đồng tiện) để trừ tính hung liệt và đưa thuốc xuống dưới; chế bằng nước vo gạo (mễ cam) để khử tính táo và hòa trung. Chế bằng sữa để nhuận chỗ khô sinh máu, chế bằng mật để ngọt dịu ích nguyên khí. Chế bằng đất vách cũ để mượn chân khí bồi bổ nhanh trung tiêu; chế bằng cám mạch để ức chế tính khắc nghiệt không làm thương tổn thượng cách. Ngâm phơi nước đậu đen, nước cam thảo đều để giải độc khiến cho bình hòa; bôi bơ dê, mỡ lợn để nướng đều khiến thuốc thấm vào xương dễ giòn gãy. ---- '''Muốn liệu trị bệnh, trước hết phải xét nguồn gốc, chờ đợi bệnh cơ. Ngũ tạng chưa hư, lục phủ chưa kiệt, huyết mạch chưa loạn, tinh thần chưa tán, uống thuốc tất sống. Nếu bệnh đã thành, có thể khỏi được một nửa. Thế bệnh đã qua thì mạng khó toàn.''' '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nếu không phải minh y nghe tiếng, xem sắc, chẩn mạch, ai có thể biết cái bệnh lúc chưa thành bệnh? Hơn nữa người chưa bệnh cũng không mấy ai chịu tự chữa. Cho nên Tề Hầu lơ là cái bệnh nhẹ ở da dẻ, đến nỗi bệnh ngấm vào cốt tủy không chữa được, không chỉ là cái biết cái ngộ khó khăn, mà cái sự tin nhận cũng chẳng dễ dàng. Thương Công có nói: "Tin thầy cúng không tin thầy thuốc, hạng đó chết không chữa được". '''Lý Thời Trân nói:''' 《Tố Vấn》 vân: Đời thượng cổ làm thang dịch (nước thuốc) nhưng làm ra mà không dùng. Đời trung cổ đạo đức hơi suy, tà khí đôi khi đến, uống vào là vạn phần bảo toàn. Đời nay ắt phải dùng thuốc độc công bên trong, dùng đá châm cứu trị bên ngoài. Lại nói: Đời trung cổ trị bệnh, bệnh đến là trị, thang dịch 10 ngày không khỏi thì phải dùng đạo dẫn. Đời nay bệnh đã thành mới cho là có thể cứu, nên bệnh cũ chưa xong bệnh mới lại khởi. '''Thuần Vu Ý nói:''' Bệnh có 6 hạng không trị: Kiêu căng không luận lý lẽ là một; coi nhẹ thân mình coi trọng tiền bạc là hai; ăn mặc không thích hợp là ba; âm dương tạng khí không định là bốn; hình hài gầy yếu không thể uống thuốc là năm; tin thầy cúng không tin thầy thuốc là sáu. Có một trong sáu điều đó thì khó trị vậy. '''Khấu Tông Thức nói:''' Bệnh có 6 lỗi: Lỗi do không xét kỹ, lỗi do không tin, lỗi do quá thời gian, lỗi do không chọn thầy, lỗi do không biết bệnh, lỗi do không hiểu thuốc. Có một trong sáu lỗi ấy là khó trị. Lại có 8 điểm yếu yếu: Một là Hư, hai là Thực, ba là Lãnh, bốn là Nhiệt, năm là Tà, sáu là Chính, bảy là Nội, tám là Ngoại. 《Tố Vấn》 nói: Phàm trị bệnh, xét hình khí sắc trạch, quan sát người dũng hay khiếp, xương thịt da dẻ, hiểu được tình trạng đó mới làm phép chẩn. Nếu mạch và bệnh không tương ứng, đã không được xem hình sắc, thầy thuốc chỉ dựa vào mạch mà bốc thuốc thì có được chăng? Nay các nhà giàu sang, phụ nữ ngồi trong màn trướng, lại lấy lụa che cánh tay. Đã không có cái Thần của việc nhìn sắc, cái Thánh của việc nghe tiếng, lại không thể tận dụng cái Xảo của việc bắt mạch, khó tránh khỏi phải hỏi han tường tận. Người bệnh ghét sự phiền phức, cho rằng kỹ thuật kém, thường thường lấy thuốc về mà không uống. Thế là bốn phép chẩn (Vọng Văn Vấn Thiết) không được lấy một, thật có thể gọi là khó thay! ---- '''Than ôi! Nếu dùng thuốc độc trị bệnh, trước hết khởi liều như hạt kê; bệnh đi thì dừng; không đi thì gấp đôi; vẫn không đi thì gấp mười, lấy sự hết bệnh làm chuẩn.''' '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay trong thuốc nếu dùng đơn lẻ một hai loại có độc, như Ba đậu, Cam toại, Đại hoàng (Tướng quân), không thể dùng hết cả liều ngay. Như 《Kinh》 nói: Một vật có một độc, uống một viên như hạt vừng; hai vật có một độc, uống hai viên như hạt gai; ba vật có một độc, uống ba viên như hạt đậu đen; bốn vật có một độc, uống bốn viên như hạt đậu nhỏ; năm vật có một độc, uống năm viên như hạt đậu nành; sáu vật có một độc, uống sáu viên như hạt ngô đồng; từ đó đến mười đều lấy hạt ngô đồng làm chuẩn. Trong đó lại có nặng nhẹ, như Lang độc, Câu vẫn, há có thể so với Phụ tử, Nguyên hoa ư? Loại này đều phải lượng sức mà dùng. '''Khấu Tông Thức nói:''' Tuy có lệ này nhưng còn phải luận người già trẻ hư thực, bệnh mới hay lâu, thuốc nhiều độc hay ít độc mà cân nhắc, không thể cố chấp làm định pháp. ---- '''Liệu trị hàn dùng thuốc nhiệt; liệu trị nhiệt dùng thuốc hàn; ăn uống không tiêu dùng thuốc thổ hạ; quỷ chú cổ độc dùng thuốc độc; ung thũng sang lựu dùng thuốc sang; phong thấp dùng thuốc phong thấp, đều tùy theo sự thích hợp.''' '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Dược tính một vật kiêm chủ trị mười mấy bệnh, lấy cái sở trường của nó làm gốc, lại quan sát người hư thực bổ tả, nam nữ già trẻ, khổ lạc vinh tụy (vui khổ sang hèn), phong tục địa phương đều khác nhau. '''Chử Trừng''' trị bệnh cho góa phụ, ni cô khác với vợ con nhà người ta, đó là đạt đến cái thấu hiểu tâm tính con người vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Khí vị có nồng mỏng, tính dùng có nóng nảy hay tĩnh lặng, thể trị có nhiều ít, lực hóa có nông sâu. Chính trị cho chứng chính, phản trị cho chứng phản. Dùng thuốc nhiệt tránh nơi nhiệt, dùng thuốc hàn tránh nơi hàn, dùng thuốc lương tránh nơi lương, dùng thuốc ôn tránh nơi ôn. Phát biểu thì không ngại nhiệt, công lý thì không ngại hàn; không tránh nhiệt thì bệnh nhiệt đến, không tránh hàn thì bệnh hàn tới. Trị nhiệt dùng hàn nhưng phải uống lúc ấm; trị hàn dùng nhiệt nhưng phải uống lúc nguội; trị ôn dùng thanh (mát) nhưng phải uống lúc lạnh; trị thanh dùng ôn nhưng phải uống lúc nhiệt. Mộc uất thì dùng phép đạt (thông), Hỏa uất dùng phép phát (phát tán), Thổ uất dùng phép đoạt (tháo hạ), Kim uất dùng phép tiết (thông tiết), Thủy uất dùng phép chiết (ngăn chặn). Khí thắng thì nhẹ thì thuận theo, nặng thì chế ngự; khí phục thì hòa thì làm cho bình, bạo thì đoạt lấy. Cao thì ức chế, thấp thì nâng lên, dư thì cắt bớt, thiếu thì bồi bổ, cứng thì gọt đi, khách (tà) thì trừ đi, lao (mệt) thì làm ấm, kết thì tán ra, lưu thì làm cho đi, táo thì làm cho nhuận, cấp thì làm cho hoãn, tán thì thu lại, tổn thì ích vào, dật (thừa) thì thông đi, kinh thì làm cho bình; dùng phép Thổ, Hãn, Hạ, Bổ, Tả, lâu hay mới đều dùng chung phép đó. Lại nói: Nghịch thì Chính trị, Thuận thì Phản trị. Phản trị là: nóng nhưng dùng thuốc lạnh, lạnh dùng thuốc nóng, tắc dùng thuốc làm tắc (tắc nhân tắc dụng), thông dùng thuốc làm thông (thông nhân thông dụng). Ắt phải phục cái chủ tễ mà đi trước cái nguyên nhân. Bắt đầu thì giống, kết thúc thì khác. Có thể khiến phá tích, có thể khiến tan cứng, có thể khiến khí hòa, có thể khiến ắt khỏi. Lại nói: Các chứng dùng lạnh mà vẫn nhiệt thì lấy ở Âm (bổ âm), dùng nóng mà vẫn lạnh thì lấy ở Dương (bổ dương), đó gọi là "tìm về chủng tộc để làm suy nó vậy". Đây đều là tóm lược lời tinh túy từ cuốn 《Tố Vấn》. ---- '''Bệnh ở hung cách (ngực) trở lên thì ăn trước rồi uống thuốc; bệnh ở tâm phúc (tim rốn) trở xuống thì uống thuốc rồi mới ăn. Bệnh ở tứ chi huyết mạch thì nên uống lúc bụng không vào sáng sớm; bệnh ở cốt tủy thì nên uống lúc bụng no vào ban đêm.''' '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các thầy thuốc nay dùng trước bữa ăn sau bữa ăn đều là ý này vậy. ---- '''Lại có loại cần uống với rượu, uống với nước cháo, uống lạnh, uống nóng. Uống thang thì có loại uống cách quãng, uống liên tục; nấu thang thì có loại nấu sống (nấu nhanh), nấu chín (nấu kỹ). Đều có pháp dùng, đều nên xét kỹ.''' '''Lý Tiết nói:''' Cách dùng thuốc linh hoạt của người xưa: Bệnh ở trên không ngại uống nhiều lần nhưng lượng ít; bệnh ở dưới không ngại uống một lần nhưng lượng nhiều. Uống ít thì thấm nhuần ở trên; uống nhiều thì bồi bổ mạnh ở dưới. Phàm nói chia uống lại, uống ba lần là muốn để thế lực thuốc nối tiếp nhau, đồng thời quan sát sức chịu đựng của người bệnh. ---- '''Phàm chủ trị các đại bệnh: có Trúng phong, Thương hàn, Hàn nhiệt Ôn ngược, Trúng ác Hoắc loạn, Đại phúc thủy thũng, Tràng tịch Hạ lị, Đại tiểu tiện không thông, Bôn thốn thượng khí, Khái nghịch ẩu thổ, Hoàng đảm Tiêu khát, Lưu ẩm phách thực, Kiên tích trưng hà, Kinh tà điên giản, Quỷ chú, Hầu tí xỉ thống (đau răng), Tai điếc mắt mù, Kim sang chiết (gãy xương), Ung thũng ác sang, Trĩ lậu anh lựu; Nam giới ngũ lao thất thương, hư phạp gầy yếu; Nữ giới đới hạ băng trung, huyết bế âm thực; bị trùng rắn cổ độc làm thương. Đây là sơ lược các tông triệu, sự biến động chi tiết trong đó đều nên dựa vào đầu mối mà lấy.''' '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Chủ trị của thuốc chỉ nói tên một loại bệnh, giả như Trúng phong có đến mấy chục loại, Thương hàn chứng hậu cũng có hơn 20 điều, cần phải tìm kiếm lệ loại trong đó, quy về thủy chung, lấy bản tính thuốc làm căn tông, sau đó phối chứng để hợp thuốc vậy. Biến trạng của bệnh không thể nói hết một lượt. Cho nên y phương nghìn quyển vẫn chưa thấu hết đạo lý. Trước thời Xuân Thu, sách của Hòa, Hoãn không nghe thấy, mà 《Đạo Kinh》 có chép lược vài phép của Biển Thước, cách dùng thuốc vẫn là ý của nhà Bản thảo. Đến phương của Thuần Vu Ý và Hoa Đà đời Hán, nay còn tồn tại cũng đều điều lý dược tính. Chỉ có một bộ của '''Trương Trọng Cảnh''' là tổ của các phương, lại hoàn toàn dựa vào Bản thảo, nhưng ông giỏi chẩn mạch, hiểu khí hậu để theo ý mà gia giảm vậy. Còn như các phép mổ bụng khoét ruột, nạo xương nối gân là sở đắc của thuật khác, không phải chuyện nhà Thần Nông. Từ đời Tấn đến nay có Trương Miêu, Cung Thái, Lưu Đức, Sử Thoát, Cận Thiệu, Triệu Tuyền, Lý Tử Dự... là danh y một thời. Các bậc quý tộc như Nguyễn Đức Như, Trương Mậu tiên bối, ẩn sĩ Hoàng Phủ Sĩ An, cùng các danh sĩ Giang Tả như Cát Hồng, Thái Mô, Ân Trọng Kham đều nghiên cứu tinh thông dược thuật. Đời Tống có Dương Hân, Nguyên Huy, Hồ洽, Tần Thừa Tổ; đời Tề có Thượng thư Chử Trừng, Từ Văn Bá, Tự Bá quần tòng huynh đệ, trị bệnh cũng 10 phần khỏi 8, 9. Phàm những người này đều có soạn dùng phương thuốc riêng, xét ý tứ của họ, chẳng ai không dựa vào Bản thảo. Hoặc đôi khi dùng thuốc khác cũng tuân theo tính độ của nó, không hề lấn lướt. 《Phạm Uông phương》 hơn trăm quyển và 《Trữu hậu》 của Cát Hồng, trong đó có những vị thuốc đơn lẻ vụn vặt thường dùng, hoặc phép thử nghiệm nơi thôn dã, hoặc thuật nhận biết ở vùng xa lạ. Như vỏ củ sen tán huyết khởi nguồn từ người làm bếp; Khiên ngưu trục thủy (đuổi nước) mới ra từ ông lão làm ruộng. Tỏi nghiền ở cửa hàng bánh lại là thuốc hạ rắn; rau địa tùng bên đường lại là bí thuật cho vết thương kim khí. Đây đều là vật trong trời đất, không gì không dùng được cho việc trời đất, chạm gặp thì hợp, chẳng phải chủ đối vốn có vậy. '''Nhan Quang Lộc''' cũng nói: Đạo kinh tiên phương, uống thuốc nhịn ăn (đoạn cốc), kéo dài tuổi thọ, cho đến phép phi đan luyện thạch kỳ lạ, cưỡi mây hóa lông vũ nhiệm mầu, không gì không lấy dược đạo làm đầu. Đạo lý dùng thuốc giống hệt Bản thảo, nhưng đường lối chế ngự hơi khác thế pháp. Dùng không nhiều, xa đến hơn 20 vật, hoặc đơn hành vài loại. Năm tháng tích lũy sâu dày ắt mang lại lợi ích lớn, chính là hiệu quả "uống lâu" mà Bản thảo nói, không giống người phàm thấy hơi đỡ là thôi. Thầy thuốc tầm thường nay đều xấu hổ khi nhìn sách Bản thảo, hoặc dựa dẫm phương cũ, hoặc nghe người ta truyền miệng liền cầm bút chép lại để khoe cái kỳ lạ. Sự sợ ghét (tương úy tương ố) và tương phản vốn tự mình mù mờ, mà loại thuốc trái ngược, phân lượng chênh lệch cũng chẳng lấy làm nghi ngờ. Tình cờ gặp may mà khỏi bệnh thì tự tin phương thuốc nghiệm; hằng tháng không thuyên giảm thì bảo nguồn bệnh sâu dày, chẳng hề tự xét lại mình, hư cấu danh tiếng, tự chuốc lấy khiển trách vậy. Các sách Ngũ kinh Tứ bộ, lễ phục quân quốc có chút sai lệch cũng chỉ là sự việc không hợp nghi. Còn như thang thuốc, một vật có sai lầm là mạng người theo đó mà mất, há chẳng răn đe sao! '''Khấu Tông Thức nói:''' Người có quý tiện trẻ già, bệnh nên bàn riêng; bệnh có mới lâu hư thực, lý nên dùng thuốc khác. Vì lòng người như mặt người, mỗi người mỗi khác, vì lòng không đồng nên tạng phủ cũng dị. Muốn lấy một thứ thuốc thông trị bệnh của mọi người, há có được chăng? '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Có đất đai cao thấp không đồng, vật tính cương nhu ăn ở cũng dị. Cho nên Hoàng Đế dấy lên câu hỏi bốn phương, Kỳ Bá nêu lên khả năng của bốn cách trị. Hơn nữa như nhà quyền quý, hình hài vui sướng mà ý chí khổ sở. Ăn mặc đủ thì hình vui mà bên ngoài thực, suy nghĩ nhiều thì chí khổ mà bên trong hư. Cho nên bệnh sinh ở mạch, khác với kẻ nghèo hèn, phải dựa vào người mà trị. Thầy thuốc đời sau bỏ mặc điều này không làm, mất mát lớn lắm thay! Lại phàm người trẻ, trưởng, già, khí huyết có ba mức: Thịnh, Tráng, Suy. Nên Kỳ Bá nói: Khí của thiếu hỏa thì tráng, khí của tráng hỏa thì suy. Vì thiếu hỏa sinh khí, tráng hỏa tán khí, huống chi là suy hỏa. Cho nên trị pháp cũng phải chia ba mức. Thuốc uống lúc trẻ thì đến lúc tráng, già đều phải kê đơn khác, quyết không thể xem thường. Lại vân: Người lấy khí huyết làm gốc. Thế gian có trẻ trai thiếu nữ, tích tụ suy nghĩ trong lòng, lo nghĩ quá độ dẫn đến lao tổn. Nam thì thần sắc tán trước, nữ thì kinh thủy bế trước. Vì u sầu lo nghĩ thì thương tâm, tâm thương thì huyết nghịch kiệt, nên thần sắc tán trước kinh thủy bế trước vậy. Hỏa đã thụ bệnh thì không thể nuôi dưỡng con nó (Thổ), nên không thích ăn. Tỳ đã hư thì Kim khí khuyết, nên phát ho khan. Khò khè đã tác phát, Thủy khí tuyệt nên tứ chi khô héo. Mộc khí không đủ nên hay giận, tóc mai cháy sém, gân héo. Đợi đến khi ngũ tạng truyền khắp ắt không chết ngay nhưng cuối cùng cũng chết. Loại này trong các chứng lao là khó trị nhất. Hoặc có thể thay đổi tâm chí, dùng thuốc nâng đỡ, may ra được chín chết một sống mà thôi. Có người bệnh ho lâu ngày, phổi hư sinh hàn nhiệt. Dùng hoa Khoản đông đốt ba liều, đợi khói ra lấy ống bút hút khói đó, đầy miệng thì nuốt xuống, đến khi mỏi thì thôi. Ngày làm 5-7 lần, liền khỏi. Có người bệnh ngược (sốt rét) hơn một tháng, lại dùng thuốc nôn hạ làm khí suy yếu. Xem mạch bệnh là mùa hè thương thử, mùa thu lại thương phong. Bèn cho một thang Sài hồ thang thì yên. Sau lại ăn uống không tiết độ, hàn nhiệt tái phát, nôn ngược không ăn được, dưới sườn đau cấp, đó gọi là Đàm ngược. Dùng một liều Thập táo thang, hạ đàm thủy mấy lít; uống 2 tiền Lý trung tán, liền khỏi. Có phụ nữ bệnh nôn ngược, đại tiểu tiện không thông, phiền loạn, tứ chi lạnh, mạch dần mất, phàm một ngày rưỡi. Cho hai liều Đại thừa khí thang, đến nửa đêm đại tiện dần thông, mạch dần sinh, ngày hôm sau bình an. Đây là bệnh Quan cách, cực khó trị. 《Kinh》 viết: Quan thì nôn ngược, Cách thì không tiểu được, cũng có người không đại tiện được. Có người khổ vì phong đàm đầu thống, run rẩy nôn ngược, ăn uống giảm. Thầy thuốc cho là thương đồ lạnh, dùng phép ôn không khỏi, lại dùng hoàn hạ làm cho quyết (lạnh cứng). Lại cho Kim dịch đan, sau đó nói nhảm nôn ngược, run rẩy, không biết gì, cuồng như thấy quỷ, quờ quạng giường chiếu, tay chân lạnh, mạch phục. Đây là trong dạ dày có kết nhiệt, nên hôn mê không biết gì. Vì Dương khí không thể rải ra ngoài, Âm khí không giữ được bên trong nên run rẩy mà quyết. Bèn cho Đại thừa khí thang, đến một liều thì khỏi. Có phụ nữ bệnh ôn đã 12 ngày. Chẩn mạch 6-7 chí mà sáp, thốn hơi lớn, xích hơi nhỏ. Phát hàn nhiệt, má đỏ miệng khô, lờ đờ, tai điếc. Hỏi ra thì sau khi bệnh mấy ngày kinh thủy mới hành. Đây thuộc về Thiếu dương nhiệt nhập huyết thất, trị không đúng bệnh ắt chết. Bèn cho Tiểu sài hồ thang. Hai ngày sau lại thêm Quế chi Can khương thang, một ngày hàn nhiệt dừng. Nhưng nói: "Dưới rốn tôi đau cấp". Cho Để đương hoàn, lợi nhẹ, đau dừng người mát, vẫn còn lờ đờ, lại cho Tiểu sài hồ thang. Ngày hôm sau nói: "Trong ngực tôi nóng táo, miệng mũi khô". Lại cho ít Điều vị thừa khí thang, không lợi, cho nửa liều Đại hãm hung hoàn, lợi ba lần. Ngày hôm sau hư phiền không yên, quờ quạng thấy bậy, nói cuồng. Biết có phân táo (táo thốn), vì cực hư nên không dám công mạnh. Cho Trúc diệp thang để khử phiền nhiệt, đại tiện tự thông, trong có mấy hòn phân táo, cuồng phiền đều hết. Duy chỉ còn ho khạc đờm dãi, đó là Phế hư, không trị sợ thừa hư tác Phế nuy. Lấy Tiểu sài hồ bỏ Nhân sâm, Gừng, Táo, thêm Can khương, Ngũ vị tử thang, một ngày ho giảm, hai ngày khỏi hẳn. Có người 60 tuổi, chân sưng sinh sang, hốt nhiên ăn thịt lợn thấy bất an. Thầy thuốc dùng thuốc hạ cho, hơi thuyên giảm. Lúc ra ngoài trúng phong, ra mồ hôi, đầu mặt sưng bạo, nổi màu tím đen, ngủ nhiều, trên vành tai có mụn nhỏ bọt nước, nước vàng chảy ra. Bèn cho Tiểu tục mệnh thang, tăng gấp đôi Khương hoạt uống vào liền khỏi. Có người 54 tuổi, vốn gầy yếu, hay trúng hàn, lúc trẻ thường uống mấy cân Lưu hoàng sống, gần đây uống Thỏ ty có hiệu quả. Mạch hai bộ trên tay trái, hai bộ dưới tay phải huyền khẩn có lực. 5-7 năm nay bệnh tay chân gân cấp co quắp, ngôn ngữ hơi chậm. Bèn cho Tiểu tục mệnh thang của Trọng Cảnh, thêm Ý dĩ nhân 1 lạng để trị gân cấp; giảm Hoàng cầm, Nhân sâm, Bạch thược mỗi thứ một nửa để tránh trúng hàn; Hạnh nhân chỉ dùng 105 hạt. Sau nói: "Vẫn thấy cực lạnh", bèn bỏ hẳn Nhân sâm, Cầm, Thược, thêm Đương quy 1 lạng rưỡi, liền bình an. Tiểu tục mệnh thang người nay dùng nhiều, không thể tùy chứng gia giảm, dẫn đến nguy kịch, nên nêu ra để làm lệ vậy. == Đào Ẩn Cừ trong 《Danh y biệt lục》: Pháp tắc phân liều hợp dược == '''Về cân lượng:''' Phép cân cổ vốn chỉ có Chu (銖) và Lạng (兩) chứ không có danh từ Phân (分). Nay quy định: 10 hạt lúa nếp (thử) là 1 Chu; 6 Chu là 1 Phân; 4 Phân thành 1 Lạng; 16 Lạng thành 1 Cân. Tuy có chế độ tính theo hạt ngũ cốc, nhưng từ xưa đến nay đã dùng đồng nhất từ lâu, cứ theo đó mà dùng. '''Tô Cung nói:''' Cân cổ đều tính gấp đôi, tức là loại cân Nam ngày nay. Từ đời Hậu Hán trở đi, chia 1 cân thành 2 cân, 1 lạng thành 2 lạng. Các phương cổ chỉ có Trương Trọng Cảnh là đã chạm đến cách cân ngày nay; nếu dùng theo cân cổ thì lượng nước sẽ cực kỳ ít. '''Lý Tiết nói:''' 6 Chu là 1 Phân, tức là 2 tiền rưỡi ngày nay. 24 Chu là 1 Lạng. 3 lạng thời cổ tức là 1 lạng ngày nay; 2 lạng thời cổ tức là 6 tiền rưỡi ngày nay. '''Lý Thời Trân nói:''' * Tằm mới nhả tơ gọi là '''Hốt'''; 10 Hốt là 1 '''Ti'''; 10 Ti là 1 '''Ly'''; 10 Ly là 1 '''Phân'''. * 4 Ly là 1 '''Lũy'''; 4 Lũy là 1 '''Tự''' (bằng 2 phân rưỡi); 10 Lũy là 1 '''Chu''' (4 phân). * 4 Tự là 1 '''Tiền''' (10 phân). * 6 Chu là 1 '''Phân''' (đọc thanh khứ), tức 2 tiền rưỡi. * 4 Phân là 1 '''Lạng''' (tức 24 Chu). * 8 Lạng là 1 '''Ti'''; 2 Ti là 1 '''Cân'''. * 24 Lạng là 1 '''Dật''' (1 cân rưỡi), chuẩn theo cân quan là 12 lạng. * 30 Cân là 1 '''Quân'''; 4 Quân là 1 '''Thạch''' (120 cân). * Trong phương nói "thiểu hứa" tức là một chút xíu. Chế độ xưa và nay khác biệt, 1 lạng thời cổ nay dùng 1 tiền là được. Nay các nhà làm thuốc gọi "đẳng phân" không phải là "Phân" trong phân lạng, mà là chỉ số lượng lạng cân của các vị thuốc đều bằng nhau, đa phần dùng trong thuốc hoàn, tán. '''Về dụng cụ đong đo:''' Phàm thuốc bột (tán) gọi là '''Đao khuê''' (刀圭) thì bằng 1/10 của '''Phương thốn tử''' (方寸匕 - thìa vuông một tấc), ước chừng bằng hạt ngô đồng. "Phương thốn tử" là cái thìa vuông vức mỗi cạnh một tấc, xúc bột thuốc đầy mà không rơi là chuẩn. '''Tiền ngũ tử''' (錢五匕) là dùng đồng tiền Ngũ Chu thời nay, xúc lên phần chữ "Ngũ" bên cạnh tiền, không rơi là chuẩn. Một '''Toát''' (撮) bằng 4 Đao khuê (Tử tức là cái thìa). Thuốc tính theo '''Thăng, Hợp, Phân''' là vì thuốc có loại rỗng, đặc, nhẹ, nặng, không thể dùng cân lạng thì dùng Thăng để đong cho bằng. 10 Toát là 1 '''Thược''', 10 Thược là 1 '''Hợp''', 10 Hợp là 1 '''Thăng'''. Cái Thăng vuông được làm với miệng trên rộng 1 tấc, đáy rộng 6 phân, sâu 8 phân. Khi đổ thuốc bột vào chớ ấn xuống. '''Lý Thời Trân nói:''' 1 Thăng thời cổ bằng 2 hợp rưỡi ngày nay. Đơn vị đo lường bắt đầu từ '''Khuê''', 4 Khuê là 1 '''Toát''', 10 Toát là 1 '''Thược''', 10 Thược là 1 '''Hợp''', 10 Hợp là 1 '''Thăng''', 10 Thăng là 1 '''Đẩu''', 5 Đẩu là 1 '''Hộc''', 2 Hộc là 1 '''Thạch'''. ---- '''Về cách chế biến hình thức thuốc:''' Phàm các loại Thang, Tửu, Cảo, Dược gọi là '''Tạ phụ''' (咀), nghĩa là sau khi cân xong thì giã vụn như hạt đậu xanh, thổi sạch bột mịn; thuốc có loại dễ nát khó nát, nhiều bột ít bột, nay đều thái nhỏ như cách làm Tạ phụ vậy. '''Tô Cung nói:''' Tạ phụ nghĩa là thương lượng, châm chước. '''Khấu Tông Thức nói:''' Tạ phụ có ý là ngậm và nhai, như người dùng răng nhai, tuy nát mà không thành bụi cám. Phương cổ hay nói vậy. '''Lý Tiết nói:''' Tạ phụ là chế độ cổ. Xưa không có dao sắt nên dùng miệng cắn nhỏ cho như hạt vừng, hạt đậu để sắc. Nay người ta dùng dao thái nhỏ thôi. '''Phép ước lượng kích thước viên thuốc (Hoàn):''' * Như '''Tế ma''' (hạt vừng nhỏ): tức là hồ ma, không cần phải bẹt, hơi tương xứng là được. Hạt kê (thử, túc) cũng vậy. * Như '''Đại ma tử''' (hạt gai lớn): bằng 3 hạt Tế ma. * Như '''Hồ đậu''' (đậu ván xanh): bằng 2 hạt Đại ma. * Như '''Tiểu đậu''' (đậu đỏ): bằng 3 hạt Đại ma. * Như '''Đại đậu''' (đậu nành): bằng 2 hạt Tiểu đậu. * Như '''Ngô tử''' (hạt ngô đồng): bằng 2 hạt Đại đậu. * Như '''Đạn hoàn''' và '''Lòng đỏ trứng gà''': bằng 40 hạt Ngô tử. '''Khấu Tông Thức nói:''' Nay người ta dùng phương cổ thường không hiệu nghiệm là vì sao? Vì không hiểu ý người xưa. Như Trọng Cảnh trị chứng Hung bì, tâm hạ bĩ kiên, khí nghịch xông lên tim, dùng bài Trị trung thang (Nhân sâm, Truật, Can khương, Cam thảo) tổng cộng 12 lạng, nước 8 thăng sắc còn 3 thăng, mỗi lần uống 1 thăng, ngày 3 lần; hoặc làm hoàn phải to như lòng đỏ trứng gà mới có kỳ hiệu. Nay người ta làm viên như quả dương mai mà uống, bệnh không khỏi lại bảo thuốc không linh. Đó không phải lỗi tại thuốc, mà là lỗi tại người dùng thuốc vậy. ---- '''Quy đổi số lượng (Mẫu) sang cân nặng:''' * '''Ba đậu''': hạt có lớn nhỏ, phải bỏ lõi và vỏ rồi mới cân, 1 Phân chuẩn bằng 16 hạt. * '''Phụ tử, Ô đầu''': bỏ vỏ xong, nửa Lạng chuẩn bằng 1 củ (mai). * '''Chỉ thực''': bỏ ruột xong, 1 Phân chuẩn bằng 2 quả. * '''Trần bì''': 1 Phân chuẩn bằng 3 quả. * '''Táo''': 3 quả loại vừa chuẩn bằng 1 Lạng. * '''Can khương''': 1 nhánh (lũy) lấy 1 Lạng làm chuẩn. '''Quy đổi Thể tích sang Khối lượng:''' Phàm phương nói: * '''Bán hạ 1 thăng''': rửa xong cân 5 Lạng làm chuẩn. * '''Thục tiêu 1 thăng''': 3 Lạng làm chuẩn. * '''Ngô thù du 1 thăng''': 5 Lạng làm chuẩn. * '''Thỏ ty tử 1 thăng''': 9 Lạng làm chuẩn. * '''Yêm tử (hạt rau tư) 1 thăng''': 4 Lạng làm chuẩn. * '''Xà sàng tử 1 thăng''': 3 Lạng rưỡi làm chuẩn. * '''Địa phu tử 1 thăng''': 4 Lạng làm chuẩn. Các loại hạt có độ rỗng đặc nhẹ nặng khác nhau không thể cân chuẩn thì lấy mức "bằng miệng thăng" (bình thăng) làm chuẩn. '''Quy đổi chiều dài/bó:''' * '''Quế 1 thước''': gọt bỏ vỏ, nặng nửa Lạng làm chuẩn. * '''Cam thảo 1 thước''': nặng 2 Lạng làm chuẩn. * '''Một thúc''' (bó): 3 Lạng làm chuẩn. * '''Một bả''' (nắm): 2 Lạng làm chuẩn. '''Chất lỏng:''' * '''Mật 1 cân''': có 7 Hợp. * '''Mỡ lợn 1 cân''': có 1 Thăng 2 Hợp. ---- '''Pháp chế biến thuốc Hoàn, Tán:''' Phải thái nhỏ, phơi khô rồi mới giã. Có loại giã riêng, có loại giã chung tùy phương. Thuốc nhuận ướt như Thiên môn đông, Địa hoàng phải tăng thêm phân lạng rồi thái phơi, giã nát riêng rồi lại phơi tiếp. Nếu gặp mưa thì dùng lửa nhỏ sấy khô, khi đã khô thì để nguội mới giã. '''Lý Thời Trân nói:''' Các loại thuốc thảo mộc và thuốc bồi bổ đều kỵ đồ sắt (Kim khắc Mộc làm hại khí sinh phát, tổn thương Gan Thận). Chỉ nên dùng dao đồng, dao tre để tu trị. Cũng có loại kỵ đồ đồng, đều phải làm đúng pháp. Thuốc hoàn tán phải dùng thạch nghiền, thạch ma, thối đá bằng đá xanh. Khi rây thuốc hoàn tán dùng lụa dày và mịn, rây xong từng loại thì gộp vào cối giã thêm vài trăm chày cho màu sắc và vân thuốc hòa đồng mới tốt. Các loại thuốc có dầu mỡ như Ba đậu, Hạnh nhân, Hồ ma phải sao vàng, giã như cao, ngón tay vê thấy mịn mượt thì mới cho dần vào trong bột thuốc, cùng nghiền giã cho đều, dùng lụa thưa rây qua rồi lại giã cho đều. ---- '''Pháp nấu thuốc Thang:''' Nên dùng lửa nhỏ (vi hỏa) cho sôi lăn tăn. Nước theo phương, đại lược 20 lạng thuốc thì dùng 1 đẩu nước, sắc lấy 4 thăng làm chuẩn. Thuốc tẩy (lợi thang) muốn tính sống thì dùng ít nước lấy nhiều nước cốt; thuốc bổ muốn tính chín thì dùng nhiều nước lấy ít nước cốt. Không được để nước quá nhiều hay quá ít. Dùng vải mới hai người lấy thanh gỗ thước mà vắt lấy nước, lắng bỏ cặn đục, lấy giấy đậy kín. Ấm sắc thuốc không dùng đồ sắt. Khi uống thuốc thà sôi lăn tăn, nóng thì dễ xuống, nguội thì dễ nôn ngược. '''Chi Tài''' nói: Trong thang dùng rượu thì khi sắp chín mới cho vào. '''Lý Thời Trân nói:''' Những điều Đào thị nói là cổ pháp. Nay các thang tễ nhỏ, mỗi 1 lạng thuốc dùng 2 bát nước làm chuẩn, nhiều thì thêm, ít thì bớt. Nếu thuốc nhiều nước ít thì vị thuốc không ra hết; thuốc ít nước nhiều thì sắc sẽ làm hao tổn dược lực. Phàm sắc thuốc kỵ đồ đồng sắt, nên dùng đồ bạc hoặc siêu đất, rửa sạch bịt kín, để người cẩn thận trông coi, phải biết hỏa hầu, không được thái quá hay bất cập. Lửa dùng than gỗ hoặc cỏ lau là tốt nhất. Nước phải dùng nước mới múc vị ngọt, nước chảy, nước giếng, nước sôi... tùy phương. Nếu là thuốc phát hãn (ra mồ hôi) phải dùng lửa mạnh (khẩn hỏa), uống nóng. Thuốc công hạ cũng dùng lửa mạnh nấu chín, cho Tiêu, Hoàng vào sắc thêm rồi uống ấm. Thuốc bổ trung nên dùng lửa chậm (mạn hỏa), uống ấm. Bệnh âm hàn cấp bách cũng nên dùng lửa mạnh sắc gấp mà uống. Có loại âm hàn phiền táo hoặc tháng hạ nóng nực nhưng bên trong có phục âm thì nên ngâm nước cho thật nguội mới uống. ---- '''Pháp ngâm rượu thuốc:''' Đều phải thái nhỏ, dùng túi lụa sống đựng, cho vào rượu bịt kín, tùy thời tiết nóng lạnh mà sau số ngày mới lọc ra. Bã có thể phơi khô, giã nhẹ rồi ngâm tiếp hoặc làm thuốc tán mà uống. '''Lý Thời Trân nói:''' Có cách luyện rượu khác như dùng nước sắc thuốc hòa với cơm rượu, hoặc đặt túi thuốc trong rượu, hoặc nấu vật hòa với cơm cùng ủ, đều tùy phương pháp. Lại có cách nấu rượu thuốc: dùng túi lụa đựng thuốc cho vào hũ bịt kín, đặt trong nồi lớn nấu nước một ngày, chôn dưới đất bảy ngày để khử hỏa độc rồi mới uống. Phàm các thang bổ như Kiến trung, Thận lịch, gộp bã của hai liều thêm nước nấu cạn mà uống cũng bằng một liều mới, đều phải phơi khô bã trước. '''Trần Tạng Khí nói:''' Trong thang dùng Xạ hương, Ngưu hoàng, Tê giác, Linh dương giác, Bồ hoàng, Đan sa, Mang tiêu, A giao... thì phải tán bột mịn như phấn, đợi khi uống mới cho vào nước thuốc hòa đều. ---- '''Pháp nấu Cao:''' Đầu tiên dùng giấm (khổ tửu) ngâm cho thấm đều, không cần nhiều nước, đậy kín không để hở. Nói "Chu thời" (周時) là trọn một ngày đêm. Cũng có loại chỉ ngâm một đêm. Nấu cao phải "ba lần nhấc lên ba lần đặt xuống" để tỏa bớt hỏa thế, khiến vị thuốc ra hết. Nhấc lên cho sôi đều rồi đặt xuống cho hết sôi, hồi lâu mới dừng. Nếu trong đó có Củ kiệu (hải bạch) thì lấy mức hai đầu hơi cháy vàng làm chuẩn. Có Bạch chỉ, Phụ tử thì lấy mức hơi vàng làm độ. Dùng vải mới vắt bỏ bã, bã cũng có thể nấu rượu uống. Bã cao xoa bóp có thể đắp lên chỗ bệnh. Trong cao có Hùng hoàng, Chu sa, Xạ hương... thì đều giã riêng như bột phấn, chờ cao sắp nguội mới cho vào khuấy đều bằng thanh gỗ liễu. '''Lý Thời Trân nói:''' Phàm nấu cao dán ung thư, phong thấp... trước hết ngâm thuốc trong dầu ba ngày rồi mới nấu, nấu đến khi dược liệu khô héo thì dùng lụa lọc sạch, đun nóng rồi cho Hoàng đan hoặc Hồ phấn hoặc Mật đà tăng vào, "ba lần nhấc lên ba lần đặt xuống", nấu đến khi nhỏ nước thành hạt không tan là được, đổ vào chậu nước ngâm ba ngày để khử hỏa độc mới dùng. Nếu dùng Nhựa thông (tùng chỉ) thì nấu đến khi thành sợi, đổ vào nước kéo vuốt vài trăm lần mới thôi. Tất cả đều phải giữ đúng hỏa hầu. Các loại Xạ hương, Long não, Huyết kiệt... thì chờ cao thành mới cho vào. Hoàng đan, Hồ phấn, Mật đà tăng đều phải thủy phi và sao qua. Nhựa thông phải luyện vài lần mới tốt. ---- '''Cách dùng Sáp, Mật:''' Phàm trong thuốc hoàn dùng Sáp (láp) thì đều đun chảy cho vào một ít mật khuấy đều để hòa thuốc. '''Lý Tiết nói:''' Thuốc hoàn dùng sáp là lấy ý bảo vệ khí vị và thế lực của thuốc để đi qua thực quản vào dạ dày mới phát huy hiệu quả. Nếu cho mật vào thì xuống họng dễ tan rã, làm sao đến được trong tạng. Nếu là thuốc độc thì lại phản tác dụng gây hại, đó không phải bản ý của việc dùng sáp. Phàm dùng Mật phải đun qua lửa, vớt bỏ bọt, để màu hơi vàng thì thuốc hoàn để lâu không hỏng. '''Lôi Hiệu nói:''' Luyện mật thì mỗi 1 cân chỉ lấy được 12 lạng rưỡi là đúng số, lửa thiếu hay quá đều không dùng được. Tu hợp thuốc hoàn, dùng mật chỉ dùng mật, dùng kẹo mạch nha (di) chỉ dùng mạch nha, dùng đường chỉ dùng đường, chớ dùng lẫn lộn ắt sẽ gây tiêu chảy cho người. == Thái dược phân Lục khí Tuế vật == (Hái thuốc chia theo sáu khí và vật báu của năm) '''Kỳ Bá nói:''' * '''Quyết âm''' tư thiên thì hóa Phong, tại tuyền thì hóa Toan (chua), các loại thanh độc không sinh ra. * '''Thiếu âm''' tư thiên thì hóa Nhiệt, tại tuyền thì hóa Khổ (đắng), các loại hàn độc không sinh ra. * '''Thái âm''' tư thiên thì hóa Thấp, tại tuyền thì hóa Cam (ngọt), các loại táo độc không sinh ra. * '''Thiếu dương''' tư thiên thì hóa Hỏa, tại tuyền thì hóa Khổ (đắng), các loại hàn độc không sinh ra. * '''Dương minh''' tư thiên thì hóa Táo, tại tuyền thì hóa Tân (cay), các loại thấp độc không sinh ra. * '''Thái dương''' tư thiên thì hóa Hàn, tại tuyền thì hóa Hàm (mặn), các loại nhiệt độc không sinh ra. Người trị bệnh phải hiểu rõ sáu hóa phân trị, năm vị năm màu sinh ra thế nào, năm tạng thích nghi cái gì, thì mới có thể bàn đến đầu mối của sự thịnh suy và phát sinh bệnh tật. Gốc ở trời là Khí của trời; gốc ở đất là Khí của đất. Cẩn thận theo dõi sự thích nghi của khí, chớ để mất cơ hội trị bệnh. Theo sát năm (tuế) mà chuẩn bị dược vật thì sẽ không bỏ sót chủ trị. "Tuế vật" là tinh hoa chuyên biệt của trời đất. Nếu không đúng vật của năm đó thì khí sẽ tán, tuy hình chất giống nhau nhưng đẳng cấp lại khác biệt. Khí vị có nồng mỏng, tính dùng có nóng nảy hay tĩnh lặng, hiệu quả bảo vệ có nhiều ít, sức hóa có nông sâu. Khí trên (tư thiên) lấn át bên dưới thì dùng cái "sở thắng" mà bình định; khí dưới (tại tuyền) lấn át bên trong thì dùng cái "sở thắng" mà trị liệu. '''Vương Băng nói:''' Hóa ở trời là thiên khí, hóa ở đất là địa khí. Năm loại độc đều do khí của ngũ hành tạo ra, cho nên cái gì bị khắc (sở thắng) thì không sinh ra được, chỉ có những gì do tư thiên và tại tuyền sinh ra thì vị mới chính. Vì vậy người làm thuốc chuyên tâm vào tuế khí, thu hái dược vật đúng kỳ thì chủ trị sẽ không sai sót. Năm vận có dư thì khí chuyên tinh, dược vật béo tốt nồng hậu, sử dụng sẽ đúng chính khí vị. Năm vận bất túc thì dược vật không chuyên tinh mà khí tán, vật không thuần, hình chất tuy giống nhưng lực dụng lại khác. ---- '''Về cách lập phương (Thất phương):''' '''Kỳ Bá nói:''' Khí có nhiều ít, hình có thịnh suy, trị có hoãn cấp, phương có lớn nhỏ. Bệnh có xa gần, chứng có trong ngoài, trị có nhẹ nặng. Gần thì dùng phương '''Cực''' (số lẻ), xa thì dùng phương '''Ngẫu''' (số chẵn). Phát hãn không dùng số lẻ, công hạ không dùng số chẵn. Bổ trên trị trên thì chế phương '''Hoãn''' (chậm); bổ dưới trị dưới thì chế phương '''Cấp''' (nhanh). Bệnh gần mà dùng phương ngẫu/kỳ thì chế liều lượng nhỏ; bệnh xa mà dùng phương kỳ/ngẫu thì chế liều lượng lớn. Lớn thì số lần uống ít, nhỏ thì số lần uống nhiều. Nhiều thì dùng số 9, ít thì dùng số 2. Dùng phương Kỳ không khỏi thì dùng phương Ngẫu, phương Ngẫu không khỏi thì dùng phép '''Phản tá''' (đánh lừa) để trị, tức là dùng hàn - nhiệt - ôn - lương ngược lại để theo đuổi bệnh. '''Vương Băng giải thích:''' Tạng vị có cao thấp, phủ khí có xa gần. Đơn phương là Kỳ, phức phương là Ngẫu. Tâm Phế là gần, Gan Thận là xa, Tỳ Vị ở giữa. Phương Kỳ nhưng phân lạng là Ngẫu, phương Ngẫu nhưng phân lạng là Kỳ. Tiêu chuẩn thường dùng: Phế uống 9 lần, Tâm 7, Tỳ 5, Gan 3, Thận 1. Thà dùng thuốc nhẹ còn hơn nặng, thà dùng thuốc lành còn hơn thuốc độc, thà dùng phương nhỏ còn hơn phương lớn. Nếu nhiệt nhỏ thì dùng hàn để dập; lạnh nhỏ thì dùng nhiệt để tiêu. Nhưng nếu đại hàn đại nhiệt thì thuốc sẽ bị đẩy ra (cự cách), khi đó phải dùng phép phản tá (trong thuốc hàn cho thêm thuốc nhiệt làm tá) để thuốc qua được cổ họng, sau đó dược tính mới phát huy. '''Lý Thời Trân nói:''' "Nghịch giả chính trị, tòng giả phản trị". Phản tá chính là "tòng trị". ---- '''Chi tiết về Bảy Phương (Thất Phương):''' 1. Đại phương (Phương lớn) * '''Cấu trúc:''' 1 Quân, 2 Thần, 9 Tá (loại lớn nhất); hoặc 1 Quân, 3 Thần, 5 Tá (loại vừa). * '''Ứng dụng:''' Trị bệnh có nhiều kiêm chứng, tà khí không chỉ có một. Hoặc dùng phân lạng lớn để uống hết một lần (đốn phục) cho các bệnh ở Gan, Thận hoặc hạ bộ (đường xa). 2. Tiểu phương (Phương nhỏ) * '''Cấu trúc:''' 1 Quân, 2 Thần. * '''Ứng dụng:''' Bệnh không kiêm chứng, tà khí chuyên nhất. Hoặc dùng phân lạng ít nhưng uống nhiều lần (nhấp dần) cho các bệnh ở Tâm, Phế và thượng bộ. Thuốc nhỏ giúp tán nhanh và đi lên trên. 3. Hoãn phương (Phương chậm) * '''Đặc điểm:''' Khí vị mỏng, tác dụng thong thả. * '''Các loại:''' ** Dùng vị ngọt (Cam) để hoãn: Cam thảo, đường, mật (giúp thuốc lưu lại ở ngực hoành). ** Dùng thuốc Hoàn (viên): Đi chậm hơn thuốc thang, thuốc bột. ** Dùng nhiều vị thuốc: Các vị thuốc kiềm chế lẫn nhau, không cho tính năng phát tác quá nhanh. ** Dùng thuốc không độc: Tính thuần hậu, công năng chậm. ** Khí vị đều mỏng: Chuyên bổ trên trị trên, xuống đến dưới thì lực đã suy. 4. Cấp phương (Phương nhanh) * '''Đặc điểm:''' Khí vị đều nồng hậu, tác dụng mãnh liệt. * '''Ứng dụng:''' ** Cấp bệnh cấp công: Trúng phong, quan cách. ** Dùng thuốc Thang, Tán: Dễ tan và hành nhanh. ** Dùng thuốc có độc: Để gây nôn hoặc tẩy xổ mạnh nhằm đoạt lại thế bệnh. ** Khí vị nồng hậu: Đi thẳng xuống dưới mà lực không suy. 5. Kỳ phương (Phương lẻ) * '''Định nghĩa:''' Là đơn phương (một vị) hoặc số vị thuốc hợp với số dương (1, 3, 5, 7, 9). * '''Ứng dụng:''' Thích hợp để công hạ, không nên dùng để phát hãn. Ví dụ: Tiểu Thừa Khí thang là kỳ phương nhỏ, Đại Thừa Khí thang là kỳ phương lớn. 6. Ngẫu phương (Phương chẵn) * '''Định nghĩa:''' Hai vị phối hợp, hoặc hai phương hợp lại (gọi là phục phương), hoặc số vị thuốc hợp với số âm (2, 4, 6, 8, 10). * '''Ứng dụng:''' Thích hợp để phát hãn, không nên dùng để công hạ. Ví dụ: Quế Chi, Ma Hoàng là ngẫu phương nhỏ. 7. Phục phương (Phương lặp lại/chồng lên) * '''Định nghĩa:''' Kỳ không khỏi thì dùng Ngẫu, đó gọi là Trọng phương (phương chồng). * '''Các loại:''' ** Hợp hai, ba hoặc nhiều phương lại: Như Quế chi nhị Việt tỳ nhất thang, Ngũ tích tán. ** Bản phương gia thêm vị khác: Như Điều vị thừa khí gia Liên kiều, Bạc hà... thành Lương cách tán. ** Các vị thuốc có phân lạng bằng nhau (đẳng phân). == Thập Tế (Mười loại phương tễ) == '''Từ Chi Tài nói:''' Thuốc có mười loại: '''Tuyên, Thông, Bổ, Tiết, Khinh, Trọng, Sáp, Hoạt, Táo, Thấp'''. Đây là đại thể của dùng thuốc mà sách Bản Kinh không nói đến, người sau chưa thuật lại. Người dùng thuốc nếu xét kỹ mười loại này thì sẽ không sai sót. ===1. Tuyên tễ (Thuốc khai thông, tuyên tán)=== * '''Công dụng:''' Tuyên có thể loại bỏ sự ủng tắc (ứ đọng). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Sinh khương (gừng tươi), Trần bì (vỏ quýt). * '''Lý luận:''' ''' '''Lý Tiết:''' Khi ngoại cảm sáu thứ tà khí muốn truyền vào trong, nếu tỳ vị thực mà không nhận, tà khí nghịch ở trong ngực gây nghẹt thở, nấc, nôn mửa, đó gọi là "ủng". Cần dùng thuốc phá khí như Gừng, Quýt, Hoắc hương, Bán hạ để thông suốt. ''' '''Trương Tòng Chính:''' Nhiều người nhầm Tuyên là Tả hoặc Thông. Thực chất, Tuyên chính là '''Dũng tễ''' (thuốc gây nôn). Bệnh ở cao (phía trên) thì dùng phép vượt ra (thổ pháp). Các chứng phong giản, đàm ẩm, nhiệt uất ở ngực không xuống được đều cần Tuyên tễ. ''' '''Lý Thời Trân:''' Tuyên là tuyên bố, phát tán. Bệnh uất tắc không thăng không giáng thì dùng thuốc để phát tán ra. Không chỉ là gây nôn, mà khí uất dùng Hương phụ, Hỏa uất dùng Sơn chi, Thấp uất dùng Thương truật, Huyết uất dùng Đào nhân... đều là ý nghĩa của Tuyên. ===2. Thông tễ (Thuốc lưu thông)=== * '''Công dụng:''' Thông có thể loại bỏ sự đình trệ (trệ). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Thông thảo, Phòng kỷ. * '''Lý luận:''' ''' '''Lưu Hoàn Tố:''' Thuốc đọng lại không đi thì phải thông cho hành, như bệnh thủy thũng, đàm ẩm. Dùng Mộc thông, Phòng kỷ, Phục linh, Đại kích... để dẫn ra. ''' '''Lý Thời Trân:''' "Trệ" là lưu trệ. Thấp nhiệt ở phần Khí gây đau tê, bí tiểu thì dùng vị nhạt (đạm) như Mộc thông, Trư linh để thông tiểu. Thấp nhiệt ở phần Huyết gây sưng đau, đại tiểu tiện không thông thì dùng vị đắng lạnh (khổ hàn) như Phòng kỷ để dẫn xuống. Sách Kinh nói: "Vị mỏng thì thông", nên các vị nhạt được gọi là Thông tễ. ===3. Bổ tễ (Thuốc bồi bổ)=== * '''Công dụng:''' Bổ có thể loại bỏ sự suy yếu (nhược). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Nhân sâm, Thịt dê (Dương nhục). * '''Lý luận:''' ''' '''Lý Tiết:''' Nhân sâm vị ngọt ấm bổ Khí hư; Thịt dê vị ngọt nóng bổ Huyết hư. Thịt dê bổ hình, Nhân sâm bổ khí. ''' '''Lý Thời Trân:''' Không chỉ có Nhân sâm, thịt dê. Ngũ vị bổ ngũ tạng: Cay bổ Gan, Mặn bổ Tâm, Ngọt bổ Tỳ, Chua bổ Phổi, Đắng bổ Thận. Các cặp bổ Khí - Huyết theo tạng như: Hoàng kỳ - A giao (Phổi), Nhân sâm - Bạch thược (Tỳ), Đỗ trọng - Thục địa (Thận)... đều là Bổ tễ. ===4. Tiết tễ (Thuốc tả hạ, tháo bỏ)=== * '''Công dụng:''' Tiết có thể loại bỏ sự đóng kín (bế/thực). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Đình lịch tử, Đại hoàng. * '''Lý luận:''' ''' '''Lý Tiết:''' Đình lịch tử đắng lạnh, khí vị nồng hậu, tiết cái "bế" ở Phổi và lợi tiểu. Đại hoàng tính chạy mà không ở yên, tiết huyết bế và cặn bã trong ruột, lợi đại tiện. ''' '''Lý Thời Trân:''' "Khứ bế" nên hiểu là "Khứ thực". Năm tạng đều có phép tả bằng ngũ vị: Gan thực tả bằng Thược dược (chua), Tâm thực tả bằng Cam thảo (ngọt), Tỳ thực tả bằng Hoàng liên (đắng), Phổi thực tả bằng Thạch cao (cay), Thận thực tả bằng Trạch tả (mặn). ===5. Khinh tễ (Thuốc thanh nhẹ, phát tán)=== * '''Công dụng:''' Khinh có thể loại bỏ thực tà ở biểu (khứ thực/khứ bế). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Ma hoàng, Cát căn. * '''Lý luận:''' ''' '''Trương Tòng Chính:''' Phong hàn mới xâm nhập da lông, đau đầu phát sốt, dùng thuốc nhẹ nhàng phát tán ra, gọi là "khinh nhi dương chi" (nhẹ mà đưa lên). ''' '''Lý Thời Trân:''' Dùng cho các chứng "bế": Biểu bế (phong hàn) dùng thuốc phát hãn; Lý bế (hỏa uất trong da) dùng thuốc giải cơ; Thượng bế (đau họng hoặc đầy chướng ngực) dùng thuốc thanh lương tán hỏa; Hạ bế (mót rặn không đi được hoặc bí tiểu do phổi nóng) dùng thuốc thăng đề để thông hạ. ===6. Trọng tễ (Thuốc nặng, trấn tĩnh)=== * '''Công dụng:''' Trọng có thể loại bỏ sự khiếp sợ, bất an (khiếp). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Từ thạch (nam châm), Thiết phấn (bột sắt). * '''Lý luận:''' ''' '''Trương Tòng Chính:''' "Trọng" là trấn áp xuống. Khi khí phù vượt, kinh sợ hồi hộp, dùng Chu sa, Trầm hương, Hàn thủy thạch để trấn giữ. ''' '''Lý Thời Trân:''' Trọng tễ dùng trong 4 trường hợp: Kinh (khí loạn) dùng Thiết phấn; Nộ (khí nghịch) dùng Hùng hoàng; Thần bất thủ xá (mê loạn) dùng Chu sa; Khủng (khí hạ) dùng Từ thạch. Nói chung thuốc nặng để ép hỏa phù và hạ đờm dãi. ===7. Hoạt tễ (Thuốc trơn nhuận)=== * '''Công dụng:''' Hoạt có thể loại bỏ sự kết dính, đình tụ (trứ). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Đông quỳ tử, Đại du bì (vỏ cây đại du). * '''Lý luận:''' ''' '''Lý Thời Trân:''' "Trứ" là tà khí có hình đọng lại trong kinh lạc tạng phủ (như đục đới, đờm dãi, thai khó, ung thũng). Thuốc Hoạt khác thuốc Thông ở chỗ: Thông (Mộc thông) dùng vị nhạt đẩy tà khí vô hình (thấp nhiệt); Hoạt (Quỳ tử) dùng vị ngọt trơn đẩy vật hữu hình. Bán hạ, Nam tinh vị cay mà chất dãi trơn cũng thuộc loại này (giúp thông đại tiện, hóa dịch). ===8. Sáp tễ (Thuốc thu liễm)=== * '''Công dụng:''' Sáp có thể loại bỏ sự thoát ra (thoát). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Mẫu lệ, Long cốt. * '''Lý luận:''' ''' '''Lý Thời Trân:''' "Thoát" gồm Khí thoát (mồ hôi trộm, di tinh, tiêu chảy, ho lâu), Huyết thoát (băng lậu, đi ngoài ra máu). Dùng các vị chua chát như Ô mai, Ngũ vị tử, Kha tử, Anh túc xác... để thu liễm lại. Lưu ý: Thần thoát (điên cuồng, mù lòa) thì thuốc Sáp không trị được. ===9. Táo tễ (Thuốc làm khô thấp)=== * '''Công dụng:''' Táo có thể loại bỏ thấp khí (thấp). * '''Vị thuốc tiêu biểu:''' Tang bạch bì, Xích tiểu đậu. * '''Lý luận:''' ''' '''Trương Tòng Chính:''' Hàn thấp lâu ngày dùng Gừng, Phụ tử để làm khô. Thấp nhiệt thì dùng vị đắng như Hoàng liên, Hoàng bá vì đắng thuộc Hỏa, có thể táo thấp. ''' '''Lý Thời Trân:''' Thấp có ngoại cảm (mưa sương) và nội thương (ăn uống, tỳ yếu). Tùy loại mà dùng thuốc phong để thắng thấp, thuốc nhạt để thấm thấp, thuốc tả để trục thấp. Thấp có nhiệt dùng khổ hàn, thấp có hàn dùng tân nhiệt. ===10. Thấp tễ (潤 tễ - Thuốc nhuận/ướt) === '''Từ Chi Tài nói:''' Thấp có thể loại bỏ sự khô giòn (khứ khô), các loại như Bạch thạch anh, Tử thạch anh là thuộc loại này. '''Trương Tòng Chính nói:''' Thấp nghĩa là nhuận ướt. Tuy cùng loại với thuốc Hoạt nhưng có chút khác biệt. Kinh văn dạy: "Dùng vị cay để nhuận", vì vị cay có thể hành khí, hóa dịch vậy. Muối và Tiêu (muối tiêu) tuy vị mặn nhưng thuộc về nước Chân Âm, thực là vị thuốc hàng đầu để tư nhuận sự khô héo. Người mắc bệnh da dẻ khô nẻ, bong tróc không chỉ do hành Kim hóa, mà còn do hỏa lấn lướt, nên không có thuốc Thấp thì không thể khỏi. '''Lưu Hoàn Tố nói:''' Tân dịch hao tán thì sinh khô. Năm tạng suy yếu, vinh vệ cạn kiệt thì phải dùng thuốc Thấp để nhuận. '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Có loại do giảm Khí mà khô, có loại do giảm Huyết mà khô. '''Lý Thời Trân nói:''' Thấp tễ nên gọi là Nhuận tễ. Khô chính là Táo, thuộc sự biến hóa của Dương minh Táo kim, là khí lệnh mùa thu. Khi phong nhiệt uất kết quá mức làm huyết dịch cạn kiệt sẽ sinh bệnh táo. Trên táo thì khát, dưới táo thì kết, gân táo thì co cứng, da táo thì bong tróc, thịt táo thì nứt nẻ, xương táo thì khô giòn, phổi táo thì héo (vê), thận táo thì tiêu khát. Phàm các loại Ma nhân, A giao là thuốc Nhuận. Dưỡng huyết thì dùng Đương quy, Địa hoàng; sinh tân thì dùng Mạch môn đông, Thiên hoa phấn; ích tinh thì dùng Nhục thung dung, Câu kỷ tử. Nếu chỉ coi Thạch anh là thuốc Nhuận thì thật phiến diện, đó là do người xưa hay dùng khoáng thạch làm thuốc tư bổ vậy. '''Lưu Hoàn Tố nói:''' Chế phương muốn thành cái dụng của Thất phương và Thập tế thì phải dựa vào Khí và Vị. Hàn, Nhiệt, Ôn, Lương (Tứ khí) sinh ở trời; Toan, Khổ, Tân, Hàm, Cam, Đạm (Lục vị) thành ở đất. Có hình là Vị, không hình là Khí. Khí là Dương, Vị là Âm. Dương khí ra ở thượng khiếu, Âm vị ra ở hạ khiếu. Khí hóa thì sinh Tinh, Vị hóa thì dưỡng Hình. Do đó vật của đất để dưỡng Hình, hình thiếu thì ôn bằng Khí; vật của trời để dưỡng Tinh, tinh thiếu thì bổ bằng Vị. Tân Cam phát tán là Dương, Toan Khổ dũng tiết là Âm; vị Hàm dũng tiết là Âm, vị Đạm thấm tiết là Dương. Tân tán, Toan thu, Cam hoãn, Khổ kiên, Hàm nhuyễn, mỗi loại tùy theo bệnh của ngũ tạng mà chế ra phẩm vị của dược tính. Cho nên phương có 7, tễ có 10. Phương không đủ 7 thì không thấu hết sự biến hóa của phương; tễ không đủ 10 thì không thấu hết cái dụng của tễ. Phương không đối chứng thì không phải phương; tễ không trừ bệnh thì không phải tễ. Đây là bậc thầy thái cổ đặt ra khuôn thước (dây mực) để lấy sự cong thẳng; thầy thuốc đời sau mới theo quy củ đó mà tạo ra vuông tròn. Phàm vật mỗi loại có tính riêng, chế biến để dùng, biến hóa để thông, áp dụng vào phương tễ thì công năng sao có hạn lượng được. Như thế, có loại dựa vào tính tự nhiên mà dùng, có loại dựa vào sự khắc chế (sở thắng) mà chế biến, có loại cùng khí thì tìm đến nhau, có loại khí khắc nhau thì chế ngự nhau, có loại khí có thừa để bù chỗ thiếu, có loại khí cảm ứng nhau thì dùng theo ý nghĩa. Có loại cùng chất mà khác tính, có loại tên khác mà thực chất giống nhau. Cho nên tính của Rắn hay trườn bò đi lên nên dẫn thuốc đi nhanh; tính của Ve sầu hay thoát xác nên dùng để thoái màng mộng; Đỉa (Mạnh) hút máu nên dùng trị huyết ứ; Chuột giỏi đào hang nên dùng trị lở loét (lậu) — đây là dựa vào tính tự nhiên mà dùng vậy. Lẫy nỏ (Nỗ nha) giúp đẻ mau vì tính phát động nhanh; cám gạo (Chử khương) trị nghẹn vì cối giã gạo có tính nén xuống — đây là dựa vào công dụng mà dùng vậy. Bèo (Phù bình) không chìm có thể thắng rượu; Độc hoạt không rung trước gió có thể trị phong — đây là dựa vào sự khắc chế mà chế biến vậy. Ma (vừng) là ngũ cốc hành Mộc nên trị phong; Đậu là ngũ cốc hành Thủy nên trị thủy — đây là cùng khí tìm đến nhau vậy. Bò thuộc thổ, sữa bò có thể trị chứng tiêu khát; Lợn thuộc thủy, tim lợn có thể trấn an tâm thần — đây là khí khắc nhau để chế ngự nhau vậy. Thịt gấu trị suy nhược, gan thỏ làm sáng mắt — đây là khí có thừa bù chỗ thiếu vậy. Cá chép trị thủy, cá diếc lợi thủy — đây là khí cảm ứng nhau dùng theo ý nghĩa vậy. Mật thành từ ong, mật ấm mà ong lạnh; dầu sinh từ vừng, vừng ấm mà dầu lạnh — đây là cùng chất mà khác tính vậy. Mĩ vu sinh từ Xuyên khung, Bồng ngao sinh từ Phúc bồn tử — đây là tên khác mà thực chất giống nhau vậy. Các loại như thế không thể kể xiết. Cho nên trời đất phú hình không rời âm dương, hình sắc tự nhiên đều có pháp tượng. Loài lông vũ sinh ở Dương thuộc về Âm; loài vảy sừng sinh ở Âm thuộc về Dương. Không thanh tượng trưng cho Mộc, sắc xanh chủ về Gan; Đan sa tượng trưng cho Hỏa, sắc đỏ chủ về Tim; Vân mẫu tượng trưng cho Kim, sắc trắng chủ về Phổi; Từ thạch tượng trưng cho Thủy, sắc đen chủ về Thận; Hoàng thạch chi tượng trưng cho Thổ, sắc vàng chủ về Tỳ. Suy rộng ra muôn loài thì không gì không có cái lý tự nhiên vậy. Muốn làm thầy y thì trên biết thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu nhân sự, cả ba đều minh bạch mới có thể bàn luận về bệnh tật của người; nếu không thì như người mù đi đêm, không chân leo núi, hễ động là vấp ngã, muốn chữa khỏi bệnh là điều chưa từng có. '''Lời tựa 《Pháo chế luận》 của Lôi Hiệu nói:''' Người đời dùng thuốc, sao biết được bản thân thuốc đã có Quân Thần; đã phân Quân Thần, sao chưa hiểu sự tương chế. Như cỏ Diêm mao (nay là diêm thảo) hễ dính nước tiểu lập tức tiêu được độc sưng đau; mật voi đánh tan chất dính, mới biết thuốc có tình chất khác biệt. Cá chép cắm vào cây thì cây khô ngay, nhưng lấy mật chó tưới vào thì cây lại xanh tốt như cũ. Vô danh dị hình giống ngọc mà mặt lại như than đá, vị khác biệt, có thể cầm đau, cắt ngón tay mà cảm giác như cắt móng tóc. Thánh thạch chữa mù, làm sáng mắt như mây rời mặt trời. Đương quy đầu chỉ huyết, đuôi phá huyết, công hiệu khác nhau. Hạt nhuy tử chín thì gây ngủ, sống thì làm thức, hiệu nghiệm lập tức. Chõ gỗ cũ làm nhạt nước muối; như rượu dính vào cành Giao (Mật chỉ giao chi). Sắt gặp Thần sa thì nhũn như bùn; đá gặp phân hạc thì tan thành bụi. Chì gặp Quất hoa thì nhão như tủy. Đứt dây gãy kiếm gặp máu chim Loan thì liền như cũ; biển cạn sông khô bỏ chim Yến (Du ba) xuống thì nước lại đầy. Muốn chì chịu lửa phải nhờ Bổ thiên thạch; muốn hình chất bền chắc sao quên được Tử bối thiên quỳ. Giữ thạch tín trong lò luyện hoàn toàn cậy vào tông tâm thảo (Thạch trúc); Hùng hoàng gặp hoa cần lập tức thành khối lớn. Thủy ngân gặp Xích tu thảo (Hổ tu thảo) lập tức sinh hỏa; giữ vàng trong đỉnh nước. Trong nước sinh hỏa, không có tủy con Hoạt (thú biển) thì không làm được (tủy con Hoạt cho vào dầu, dầu dính nước sinh hỏa không cứu được, dùng rượu phun vào mới tắt). Răng rụng muốn mọc lại cậy vào bột xương chuột đực. Lông mày rụng dùng nhựa củ Bán hạ bôi vào lập tức mọc lại. Mắt lệch miệng méo dùng Ngũ gia bì tự nhiên ngay lại. Chân đau có thịt dư dùng rễ Cà độc dược (Lang đãng) buộc vào sẽ hết đau. Tiểu đêm nhiều sắc tì giải uống sẽ hết. Người lạnh bụng to cậy vào chim Cốc (Lô tư); kinh nguyệt quá nhiều dùng bột nhân hạt Dưa hấu. Ho nấc liên tục dùng Thiên hùng đã bào sắc rượu uống; khắp mình phát ban phong dùng Trắc tử (phụ tử mọc cạnh) tán bột uống với rượu lạnh sẽ khỏi. Ruột hư tiêu chảy phải dùng Ngũ bội tử tán bột chiêu nước sôi; khát lâu tâm phiền nên dùng Trúc lịch. Trừ chứng hà phá khối u hoàn toàn nhờ bột Tiêu thạch và Nhục sa; muốn ăn ngon uống khỏe nên sắc rễ Lau (Lô căn) và Hậu phác. Mạnh gân cốt phải dùng Nhục thung dung và cá Chình; giữ nhan sắc trường thọ dùng Hoàng tinh đồ với Thần cẩm (hơi nước bám vào chõ gỗ liễu) chưng 7 ngày rồi viên với mật cây mà uống, nhan sắc như thiếu nữ. Muốn biết vết thương ở đâu, chấm một ít Âm giao (cặn chõ đồ) vào miệng sẽ biết đau từ tạng phủ nào. Sản hậu thũng trướng dùng vỏ Cam sắc rượu uống. Miệng lở lưỡi nứt bôi bột rễ Hoàng liên nướng bơ. Đầu đau như muốn chết thổi bột Tiêu thạch vào mũi; đau tim muốn chết nhanh chóng tìm Diên hồ sách sắc uống. Trăm loại như thế đều là công năng của thuốc. Tôi gặp thời sáng suốt, lạm bàn y lý; tuy tìm theo phép thánh nhưng khó thấu hết chỗ vi diệu. Sơ lược trình bày công năng của dược vật, đâu dám giấu giếm yếu thuật của tiên nhân. Việc chế thuốc pháo, sao, nấu, nướng không nhớ hết năm tháng, muốn xét nguồn gốc phải xem Hải Tập. Tôi chẳng quản kiến thức hẹp hòi, ghi chép việc pháo chế, liệt kê dược vật chế phương thành ba quyển Thượng, Trung, Hạ gồm 300 vị trình bày ở sau. == Khí vị Âm Dương == 《Âm dương ứng tượng luận》 chép: Tích Dương hợp thành Trời, tích Âm hợp thành Đất. Âm tĩnh Dương táo, Dương sinh Âm trưởng, Dương sát Âm tàng. Dương hóa Khí, Âm thành Hình. Dương là Khí, Âm là Vị. Vị quy về Hình, Hình quy về Khí, Khí quy về Tinh, Tinh quy về Hóa. Tinh ăn Khí, Hình ăn Vị; Hóa sinh Tinh, Khí sinh Hình. Vị làm thương Hình, Khí làm thương Tinh; Tinh hóa thành Khí, Khí bị thương bởi Vị. Âm vị ra ở hạ khiếu, Dương khí ra ở thượng khiếu. Thanh Dương phát ra tấu lý, Trọc Âm đi vào ngũ tạng; Thanh Dương làm thực tứ chi, Trọc Âm quy về lục phủ. Vị nồng là Âm, mỏng là Dương trong Âm; Khí nồng là Dương, mỏng là Âm trong Dương. Vị nồng thì tiết, mỏng thì thông; Khí mỏng thì phát tiết, nồng thì phát nhiệt. Tân Cam phát tán là Dương, Toan Khổ dũng tiết là Âm; vị Hàm dũng tiết là Âm, vị Đạm thấm tiết là Dương. Sáu thứ đó hoặc thu hoặc tán, hoặc hoãn hoặc cấp, hoặc nhuận hoặc táo, hoặc nhuyễn hoặc kiên, tùy theo chỗ lợi mà vận hành, điều hòa khí đó để đạt mức quân bình. '''Trương Nguyên Tố nói:''' Cái "Thanh của Thanh" phát ra tấu lý; cái "Trọc của Thanh" làm thực tứ chi. Cái "Trọc của Trọc" quy về lục phủ; cái "Thanh của Trọc" đi vào ngũ tạng. Phụ tử khí nồng, là Dương trong Dương; Đại hoàng vị nồng, là Âm trong Âm. Phục linh khí mỏng, là Âm trong Dương, nên lợi tiểu tiện, đi vào thủ Thái dương, không rời khỏi thể của Dương; Ma hoàng vị mỏng, là Dương trong Âm, nên phát hãn, đi vào thủ Thái âm, không rời khỏi thể của Âm. Phàm vật cùng Khí tất có nhiều Vị, vật cùng Vị tất có nhiều Khí. Khí vị mỗi loại có nồng mỏng khác nhau, nên tính năng và công dụng không giống nhau. '''Lý Tiết nói:''' Vị mỏng thì thông, gồm Toan, Khổ, Hàm, Bình là vậy. Vị nồng thì tiết, gồm Hàm, Khổ, Toan, Hàn là vậy. Khí nồng phát nhiệt, gồm Tân, Cam, Ôn, Nhiệt là vậy. Khí mỏng thấm tiết, gồm Cam, Đạm, Bình, Lương là vậy. Thấm nghĩa là ra mồ hôi nhẹ (tiểu hãn), tiết nghĩa là lợi tiểu tiện. '''Khấu Tông Thức nói:''' Trời Đất đã phân định, sinh ra vạn vật chính là Ngũ khí. Ngũ khí định vị thì Ngũ vị sinh ra. Cho nên nói: cái sinh ra vật là Khí, cái thành hình cho vật là Vị. Sinh bởi số lẻ thì thành bởi số chẵn, sinh bởi số chẵn thì thành bởi số lẻ. Hàn khí kiên, nên vị của nó có thể dùng để làm mềm (nhuyễn); Nhiệt khí nhuyễn, nên vị của nó có thể dùng để làm cứng (kiên); Phong khí tán, nên vị của nó có thể dùng để thu liễm; Táo khí thu, nên vị của nó có thể dùng để phát tán. Thổ là do Xung khí sinh ra, Xung khí không gì không hòa hợp, nên vị của nó có thể dùng để làm hoãn. Khí kiên thì tráng, nên vị Khổ có thể dưỡng Khí. Mạch nhuyễn thì hòa, nên vị Hàm có thể dưỡng Mạch. Xương thu thì mạnh, nên vị Toan có thể dưỡng Xương. Gân tán thì không co rút, nên vị Tân có thể dưỡng Gân. Thịt hoãn thì không ủng tắc, nên vị Cam có thể dưỡng Thịt. Làm kiên sau đó mới có thể làm nhuyễn; làm thu sau đó mới có thể làm tán. Muốn hoãn thì dùng vị Cam, không muốn thì chớ dùng, dùng không được quá mức, quá mức tất sinh bệnh. Người dưỡng sinh trị bệnh thời xưa tất phải thông suốt lẽ này, bằng không kẻ có thể lấy đi bệnh của người chỉ là số ít vậy. '''Lý Tiết nói:''' Thuốc có khí Ôn, Lương, Hàn, Nhiệt; có vị Tân, Cam, Đạm, Toan, Khổ, Hàm. Sự tương hỗ của thăng, giáng, phù, trầm; sự khác biệt của nồng, mỏng, âm, dương. Trong một vật, khí vị cùng có; trong một thuốc, lý tính đủ đầy. Hoặc Khí là một mà Vị lại khác, hoặc Vị giống nhau mà Khí lại dị biệt. Khí tượng trưng cho Trời: Ôn Nhiệt là Dương của trời, Lương Hàn là Âm của trời. Trời có Âm Dương, Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa, là Tam Âm Tam Dương ở trên ban xuống. Vị tượng trưng cho Đất: Tân, Cam, Đạm là Dương của đất, Toan, Khổ, Hàm là Âm của đất. Đất có Âm Dương, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, là Sinh, Trưởng, Hóa, Thu, Tàng ở dưới ứng theo. Khí vị mỏng thì nhẹ trong thành tượng, gốc ở trời thì gần phía trên. Khí vị nồng thì nặng đục thành hình, gốc ở đất thì gần phía dưới. '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Vị của Bản thảo có 5, khí có 4. Tuy nhiên trong một vị lại có 4 khí, như vị Tân thì Thạch cao hàn, Quế Phụ nhiệt, Bán hạ ôn, Bạc hà lương là vậy. Khí là Trời, Ôn Nhiệt là Dương của trời, Hàn Lương là Âm của trời; Dương thì thăng, Âm thì giáng. Vị là Đất, Tân, Cam, Đạm là Dương của đất, Toan, Khổ, Hàm là Âm của đất; Dương thì phù (nổi), Âm thì trầm (chìm). Có loại dùng Khí, có loại dùng Vị, có loại khí vị cùng dùng; có loại dùng Khí trước sau mới dùng Vị, có loại dùng Vị trước sau mới dùng Khí. Có vật một vị, có vật ba vị; có vật một khí, có vật hai khí. Hoặc sống chín khác khí vị, hoặc rễ mầm khác khí vị. Hoặc nhiều ấm thành nhiệt, hoặc nhiều mát thành hàn, hoặc hàn nhiệt mỗi thứ một nửa thành ôn. Hoặc nóng nhiều lạnh ít thì cái lạnh không làm thành lạnh; hoặc lạnh nhiều nóng ít thì cái nóng không làm thành nóng, không thể chỉ lấy một đường. Hoặc hàn nhiệt mỗi nửa, ngày uống thì theo loại nhiệt mà thăng, đêm uống thì theo loại hàn mà giáng; hoặc nắng thì theo nhiệt, râm thì theo hàn, biến hóa không nhất định như vậy. Huống hồ bốn mùa sáu vị khác nhau, Ngũ vận Lục khí mỗi cái dị biệt, sao có thể dùng thuốc khinh suất cho được. 《Lục tiết tạng tượng luận》 nói: Trời nuôi người bằng ngũ khí, Đất nuôi người bằng ngũ vị. Ngũ khí vào mũi, tàng ở Tâm Phế, khiến năm màu tươi sáng, âm thanh vang rõ. Ngũ vị vào miệng, tàng ở Trường Vị; vị có chỗ tàng để nuôi ngũ khí, khí hòa mà sinh ra, tân dịch cùng tạo thành, thần từ đó tự sinh. Lại nói: Hình không đủ thì ôn bằng Khí; Tinh không đủ thì bổ bằng Vị. '''Vương Băng nói:''' Ngũ khí gồm: khí Tao (hôi nồng) thấu đến Gan, khí Tiêu (khét) thấu đến Tim, khí Hương (thơm) thấu đến Tỳ, khí Tanh thấu đến Phổi, khí Hủ (thối) thấu đến Thận. Tâm tươi nhuận ra màu sắc, Phổi chủ về âm thanh, nên khí tàng ở Tâm Phế mà làm sáng màu sắc rõ âm thanh. Khí là mẹ của Nước, nên Vị tàng ở Trường Vị mà nuôi ngũ khí. '''Tôn Tư Mạo nói:''' Tinh nhờ ăn Khí, Khí nuôi Tinh để làm tươi màu sắc; Hình nhờ ăn Vị, Vị nuôi Hình để sinh sức lực. Tinh thuận theo ngũ khí để trở nên linh diệu, Hình nhận lấy ngũ vị để được thành tựu. Nếu ăn khí tương phản tất tổn thương Tinh, ăn vị không điều hòa tất tổn hại Hình. Thế nên bậc thánh nhân trước dùng thức ăn kiêng kỵ để bảo tồn sự sống, sau mới chế dược vật để phòng giữ tính mệnh, khí vị ôn bổ để bảo tồn tinh hình. == Ngũ vị Nghi Kỵ == '''Kỳ Bá nói:''' Mộc sinh chua, Hỏa sinh đắng, Thổ sinh ngọt, Kim sinh cay, Thủy sinh mặn. Cay thì tán, chua thì thu, ngọt thì hoãn, đắng thì kiên (làm cho chắc), mặn thì nhuyễn (làm cho mềm). Thuốc độc để công tà, ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ quả để trợ giúp, ngũ súc để làm ích, ngũ thái để làm đầy; khí vị hòa hợp mà uống vào để bổ tinh ích khí. Năm vị này mỗi thứ có chỗ lợi riêng, bốn mùa năm tạng, tùy bệnh mà chọn cái thích nghi. Lại nói: Cái sinh ra Âm vốn ở ngũ vị; năm cung của Âm bị thương cũng tại ngũ vị. Xương thẳng gân mềm, khí huyết lưu thông, tấu lý kín khít, cốt khí tinh thuần, thì thọ mệnh dài lâu. Lại nói: Bậc thánh nhân xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm, ấy là theo cái gốc đó mà hai khí thường tồn (xuân ăn đồ mát, hạ ăn đồ lạnh để dưỡng dương; thu ăn đồ ấm, đông ăn đồ nóng để dưỡng âm). '''Ngũ dục:''' Gan muốn vị chua, tim muốn vị đắng, tỳ muốn vị ngọt, phổi muốn vị cay, thận muốn vị mặn; đây là năm vị hợp với khí của năm tạng. '''Ngũ nghi:''' Sắc xanh nghi vị chua, bệnh gan nghi ăn vừng, thịt chó, quả mận, rau hẹ. Sắc đỏ nghi vị đắng, bệnh tim nghi ăn lúa mạch, thịt dê, quả mơ, củ kiệu. Sắc vàng nghi vị ngọt, bệnh tỳ nghi ăn gạo tẻ, thịt bò, quả táo, rau quỳ. Sắc trắng nghi vị cay, bệnh phổi nghi ăn kê vàng, thịt gà, quả đào, hành. Sắc đen nghi vị mặn, bệnh thận nghi ăn giá đậu nành, thịt lợn, quả hạt dẻ, rau hoắc. '''Ngũ cấm:''' Bệnh gan cấm vị cay, nghi ăn vị ngọt: gạo tẻ, thịt bò, táo, rau quỳ. Bệnh tim cấm vị mặn, nghi ăn vị chua: vừng, thịt chó, mận, hẹ. Bệnh tỳ cấm vị chua, nghi ăn vị mặn: đậu nành, thịt lợn, hạt dẻ, rau hoắc. Bệnh phổi cấm vị đắng, nghi ăn vị đắng (chỗ này bản gốc ghi "nghi thực khổ", có thuyết cho rằng là "nghi thực khổ" để kiên phổi, hoặc nhầm với vị khác): lúa mạch, thịt dê, mơ, kiệu. Bệnh thận cấm vị ngọt, nghi ăn vị cay: kê vàng, thịt gà, đào, hành. '''Tôn Tư Mạo nói:''' Mùa xuân nên bớt chua tăng ngọt để dưỡng tỳ. Mùa hạ nên bớt đắng tăng cay để dưỡng phổi. Mùa thu nên bớt cay tăng chua để dưỡng gan. Mùa đông nên bớt mặn tăng đắng để dưỡng tim. Tháng cuối bốn mùa nên bớt ngọt tăng mặn để dưỡng thận. '''Lý Thời Trân nói:''' "Ngũ dục" là khi ngũ vị vào vị, chúng tìm về bản tạng của mình; bệnh có dư (thực chứng) thì dùng bản vị mà thông suốt. "Ngũ cấm" là dùng cho bệnh của năm tạng khi bị bất túc. '''Ngũ tẩu:''' Vị chua đi vào gân, bệnh về gân chớ ăn nhiều chua, ăn nhiều khiến người ta bị bí tiểu (lông). Khí chua sáp thu, bàng quang gặp chua thì co cuốn lại, nên đường thủy đạo không thông. Vị đắng đi vào xương, bệnh về xương chớ ăn nhiều đắng, ăn nhiều khiến người ta bị nôn. Đắng vào hạ quản làm tam tiêu đều đóng kín nên gây nôn. Vị ngọt đi vào thịt, bệnh về thịt chớ ăn nhiều ngọt, ăn nhiều khiến người ta bị xót ruột (phiền tâm). Khí ngọt nhu nhuận, dạ dày nhu nhuận thì buông lỏng, buông lỏng thì giun động nên gây xót ruột. Vị cay đi vào khí, bệnh về khí chớ ăn nhiều cay, ăn nhiều khiến người ta bị nóng rát trong lòng (động tâm). Cay đi vào thượng tiêu, cùng vận hành với khí, lưu lại lâu dưới tim nên gây nóng rát. Vị mặn đi vào huyết, bệnh về huyết chớ ăn nhiều mặn, ăn nhiều khiến người ta khát. Huyết gặp mặn thì ngưng kết, ngưng kết thì dịch vị đổ dồn vào đó, nên cuống họng khô cháy mà gốc lưỡi khô. '''Ngũ thương:''' Chua hại gân, cay thắng chua. Đắng hại khí, mặn thắng đắng. Ngọt hại thịt, chua thắng ngọt. Cay hại da lông, đắng thắng cay. Mặn hại huyết, ngọt thắng mặn. '''Ngũ quá:''' Vị quá chua làm khí gan bị tràn ra, khí tỳ bị tuyệt, thịt chai dày và môi bong tróc. Vị quá đắng làm khí tỳ không nhuận, khí vị trở nên nồng hậu, da khô ráo mà lông rụng. Vị quá ngọt làm khí tim suyễn đầy, sắc mặt đen, khí thận không bằng phẳng, xương đau mà tóc rụng. Vị quá cay làm gân mạch bại tuyệt, tinh thần hao tổn, gân co gấp mà móng tay khô. Vị quá mặn làm khí của xương lớn (đại cốt) mệt nhọc, thịt bị teo ngắn, khí tim bị ức chế, mạch ngưng trệ mà biến sắc. '''Lý Thời Trân nói:''' "Ngũ tẩu", "Ngũ thương" là vị của bản tạng tự gây thương tổn, tức là "năm cung của Âm bị thương ở ngũ vị". "Ngũ quá" là vị của bản tạng đi đánh phạt cái mà nó thắng (tương khắc), tức là tạng khí bị thiên thắng. == Ngũ vị Thiên thắng == '''Kỳ Bá nói:''' Ngũ vị vào dạ dày, mỗi thứ đều tìm về tạng mình ưa thích. Vị chua vào gan trước, vị đắng vào tim trước, vị ngọt vào tỳ trước, vị cay vào phổi trước, vị mặn vào thận trước. Dùng lâu ngày sẽ làm tăng khí của tạng đó, ấy là lẽ thường của sự hóa vật; nhưng nếu khí tăng thịnh quá lâu, chính là nguyên nhân gây chết non (yểu). '''Vương Băng nói:''' Vào gan thì hóa Ôn, vào tim thì hóa Nhiệt, vào phổi thì hóa Thanh (mát), vào thận thì hóa Hàn, vào tỳ thì là Chí âm mà kiêm cả bốn khí; tất cả đều làm tăng cái vị và ích cho cái khí của tạng đó. Thế nên mỗi thứ đều theo khí của bản tạng, lâu dần sẽ biến hóa theo đó. Vì vậy, uống lâu ngày Hoàng liên, Khổ sâm thì trái lại sẽ sinh nhiệt, ấy là do biến hóa theo vị đắng vậy. Các vị khác cũng tương tự. Khí tăng mãi không thôi thì tạng khí sẽ thiên thắng (vượt trội một phía), ắt sẽ có tạng khác bị thiên tuyệt (suy kiệt một phía); tạng đã có sự thiên tuyệt thì tất sẽ có cái chết bất ngờ. Cho nên, thuốc nếu không đủ ngũ vị, không bị đủ tứ khí mà uống lâu ngày, tuy tạm thời có hiệu quả nhưng về lâu dài chắc chắn dẫn đến yểu mệnh. Ngay cả người tuyệt cốc (nhịn ăn) chỉ dùng thuốc luyện (phục nhị) mà không bị chết đột ngột là vì không bị ngũ vị làm thiên lệch sự trợ giúp vậy. '''Lý Tiết nói:''' Một âm một dương gọi là Đạo, thiên âm thiên dương gọi là Bệnh. Dương tễ (thuốc tính dương) cương thắng, tích tụ lại như lửa cháy đồng, gây ra các chứng tiêu khát, điên cuồng, ung thư, làm cho thiên quý kiệt và vinh huyết khô cạn. Âm tễ (thuốc tính âm) nhu thắng, tích tụ lại như nước đóng băng, gây ra các chứng tiết tả, hàn trung, làm cho chân hỏa suy vi và vệ khí tan tán. Cho nên, các thuốc đại hàn, đại nhiệt chỉ nên dùng trong lúc quyền biến, khi khí đã bình thì phải dừng. Nếu có sự trợ giúp thiên lệch, khiến tạng khí không bình hòa, ấy là căn nguyên của sự yểu vong. == Tiêu Bản Âm Dương == '''Lý Tiết nói:''' Phàm người trị bệnh phải biết Tiêu và Bản. Luận về thân thể: bên ngoài là Tiêu (ngọn), bên trong là Bản (gốc); Dương là Tiêu, Âm là Bản. Do đó sáu phủ thuộc Dương là Tiêu, năm tạng thuộc Âm là Bản; tạng phủ ở trong là Bản, mười hai kinh lạc ở ngoài là Tiêu. Mà bản thân tạng phủ, âm dương, khí huyết, kinh lạc cũng đều lại có Tiêu Bản riêng. Luận về bệnh tật: bệnh mắc trước là Bản, bệnh truyền sau là Tiêu. Thế nên trăm bệnh tất phải trị cái Bản trước, sau mới trị cái Tiêu. Nếu không, tà khí sẽ càng thịnh, bệnh càng tích tụ thêm. Dù cho bệnh nhẹ sinh trước, bệnh nặng sinh sau, cũng phải trị cái nhẹ trước rồi mới trị cái nặng, thì tà khí mới bị khuất phục. Duy có chứng trung mãn (đầy bụng giữa) và bệnh đại tiểu tiện không thông, thì không kể trước sau tiêu bản, tất phải trị chứng đầy và đại tiểu tiện trước, vì đó là việc cấp bách. Cho nên nói: "Bệnh hoãn thì trị cái Bản, bệnh cấp thì trị cái Tiêu". Lại nữa, tà từ phía trước đến gọi là Thực tà; từ phía sau đến gọi là Hư tà. Thực thì tả con, Hư thì bổ mẹ. Giả sử Gan chịu hỏa của Tim (từ phía trước đến) là Thực tà, nên châm huyệt Vinh trên kinh Gan để tả hỏa của Tim, ấy là trị cái Bản trước; sau đó châm huyệt Vinh trên kinh Tim để tả hỏa của Tim, ấy là trị cái Tiêu sau. Dùng thuốc thì lấy thuốc vào kinh Gan làm dẫn, dùng thuốc tả tâm hỏa làm Quân. Kinh văn nói: "Bản mà Tiêu nó, trị Bản trước, trị Tiêu sau" chính là ý này. Lại như Gan nhận nước của Thận là Hư tà, nên châm huyệt Tỉnh trên kinh Thận để bổ mộc của Gan, ấy là trị cái Tiêu trước; sau đó châm huyệt Hợp trên kinh Gan để tả nước của Thận, ấy là trị cái Bản sau. Dùng thuốc thì lấy thuốc vào kinh Thận làm dẫn, dùng thuốc bổ gan làm Quân. Kinh văn nói: "Tiêu mà Bản nó, trị Tiêu trước, trị Bản sau" chính là ý này. == Thăng giáng Phù trầm == '''Lý Tiết nói:''' Thuốc có các tính Thăng, Giáng, Phù, Trầm, Hóa; tương ứng với Sinh, Trưởng, Thu, Tàng, Thành để phối hợp với bốn mùa. Xuân thăng, Hạ phù, Thu thu, Đông tàng, Thổ ở giữa chủ về Hóa. Thế nên: * Vị mỏng thì Thăng và Sinh. * Khí mỏng thì Giáng và Thu. * Khí nồng thì Phù và Trưởng. * Vị nồng thì Trầm và Tàng. * Khí vị bình hòa thì Hóa và Thành. Hễ nói bổ bằng vị Tân, Cam, tính Ôn, Nhiệt và những loại khí vị mỏng, chính là trợ giúp cái thăng phù của Xuân Hạ, cũng là thuốc tả cái thu tàng của Thu Đông. Ở thân người, ấy là tạng Can và Tâm. Hễ nói bổ bằng vị Toan, Khổ, Hàm, tính Hàn và những loại khí vị nồng, chính là trợ giúp cái giáng trầm của Thu Đông, cũng là thuốc tả cái sinh trưởng của Xuân Hạ. Ở thân người, ấy là tạng Phế và Thận. Thuốc vị Đạm (nhạt), thấm (thấm lơi) thì là Thăng, tiết (tháo xuống) thì là Giáng, dùng để làm tá sứ cho các vị thuốc khác. Người dùng thuốc thuận theo lẽ này thì sống, nghịch lại thì chết; dù không chết cũng lâm vào cảnh nguy khốn. '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Muốn thuốc thăng mà chuyển sang giáng, phải biết phép "ức" (đè xuống); muốn thuốc trầm mà chuyển sang phù, phải biết phép "tải" (chở lên). Vị Tân thì tán mà đi ngang; vị Cam thì phát mà đi lên; vị Khổ thì tiết mà đi xuống; vị Toan thì thu mà tính co rút; vị Hàm thì nhuyễn mà tính thư giãn. Sự khác biệt là như vậy. Vỗ tay thành tiếng, dội nước vào lửa thành sôi, hai vật hợp lại thì tượng nằm ở trong đó. Ngũ vị tương chế, Tứ khí tương hòa, sự biến hóa đó sao có thể dùng khinh suất. Bản thảo không bàn đến vị Đạm, khí Lương cũng là sự thiếu sót của văn tự vậy. * '''Vị mỏng thì Thăng:''' Các thuốc Cam bình, Tân bình, Tân vi ôn, Vi khổ bình. * '''Khí mỏng thì Giáng:''' Các thuốc Cam hàn, Cam lương, Cam đạm hàn lương, Toan ôn, Toan bình, Hàm bình. * '''Khí nồng thì Phù:''' Các thuốc Cam nhiệt, Tân nhiệt. * '''Vị nồng thì Trầm:''' Các thuốc Khổ hàn, Hàm hàn. * '''Khí vị bình hòa:''' Kiêm cả tứ khí tứ vị, gồm các thuốc Cam bình, Cam ôn, Cam lương, Cam tân bình, Cam vi khổ bình. '''Lý Thời Trân nói:''' Toan và Hàm thì không thăng, Cam và Tân thì không giáng, Hàn thì không phù, Nhiệt thì không trầm, đó là bản tính tự nhiên. Nhưng muốn thuốc thăng dẫn đi xuống thì dùng vị Hàm Hàn, thuốc sẽ trầm mà đạt thẳng đến hạ tiêu; muốn thuốc trầm dẫn đi lên thì dùng rượu, thuốc sẽ phù mà lên tận đỉnh đầu. Nếu không thấu hiểu sự huyền bí của trời đất, đạt đến quyền biến của tạo hóa thì không thể làm được điều này. Trong cùng một vật, rễ thì thăng mà ngọn thì giáng, sống thì thăng mà chín thì giáng; ấy là cái thăng giáng nằm ở vật mà cũng ở nơi người vậy. == Lệ dùng thuốc theo Bốn mùa == '''Lý Thời Trân nói:''' Kinh văn dạy: "Tất phải xem khí của năm, chớ có đánh phạt thiên hòa". Lại nói: "Thăng giáng phù trầm thì thuận theo, hàn nhiệt ôn lương thì nghịch lại". * Tháng mùa Xuân nên thêm thuốc Tân ôn như Bạc hà, Kinh giới để thuận theo khí thăng của mùa xuân. * Tháng mùa Hạ nên thêm thuốc Tân nhiệt như Hương nhu, Sinh khương để thuận theo khí phù của mùa hạ. * Tháng Trường hạ nên thêm thuốc Cam khổ tân ôn như Nhân sâm, Bạch truật, Thương truật, Hoàng bá để thuận theo khí hóa thành. * Tháng mùa Thu nên thêm thuốc Toan ôn như Bạch thược, Ô mai để thuận theo khí giáng của mùa thu. * Tháng mùa Đông nên thêm thuốc Khổ hàn như Hoàng cầm, Tri mẫu để thuận theo khí trầm của mùa đông. Ấy gọi là thuận theo thời khí mà nuôi dưỡng thiên hòa. Kinh văn lại nói: "Xuân bớt chua tăng ngọt để dưỡng tỳ khí; Hạ bớt đắng tăng cay để dưỡng phế khí; Trường hạ bớt ngọt tăng mặn để dưỡng thận khí; Thu bớt cay tăng chua để dưỡng can khí; Đông bớt mặn tăng đắng để dưỡng tâm khí". Đây là vừa không đánh phạt thiên hòa, vừa phòng sự thái quá, chính là thể hiện đức lớn của trời đất. Kẻ u mê bỏ bản theo tiêu, xuân dùng tân lương để phạt mộc, hạ dùng hàm hàn để ức hỏa, thu dùng khổ ôn để tiết kim, đông dùng tân nhiệt để làm cạn thủy, gọi đó là "thuốc theo mùa". Thật là trái nghịch lý thuận nghịch của Tố Vấn. Cứ suy từ lẽ mùa hạ âm phục bên trong, mùa đông dương phục bên trong thì sẽ hiểu. Tuy vậy, trong tháng có bốn mùa, trong ngày có bốn mùa; hoặc xuân mắc bệnh mùa thu, hạ mắc bệnh mùa đông; phải thần thông minh mẫn, tùy cơ ứng biến, không thể câu nệ một phía. '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Bốn mùa đều lấy Bạch thược làm thuốc của Tỳ, Thương truật làm thuốc của Vị, Sài hồ làm thuốc theo thời (thời tễ); mười một tạng đều quyết định ở Thiếu dương, vì đó là khởi đầu của sự phát sinh vậy. Phàm dùng thuốc thuần hàn, thuần nhiệt hoặc hàn nhiệt lẫn lộn, đều nên dùng Cam thảo để điều hòa, duy chứng trung mãn là cấm dùng vị ngọt. == Phác đồ dùng thuốc theo Ngũ vận Lục dâm == * '''Quyết âm tư thiên (Năm Tỵ, Hợi):''' Phong dâm thắng thế. Bình bằng Tân Lương, tá bằng Khổ Cam; dùng vị Cam để làm hoãn, vị Toan để tả. (Nếu khí Thanh phản thắng, trị bằng Toan Ôn, tá bằng Cam Khổ). * '''Thiếu âm tư thiên (Năm Tý, Ngọ):''' Nhiệt dâm thắng thế. Bình bằng Hàm Hàn, tá bằng Khổ Cam; dùng vị Toan để thu liễm. (Nếu khí Hàn phản thắng, trị bằng Cam Ôn, tá bằng Khổ Tân). * '''Thái âm tư thiên (Năm Sửu, Mùi):''' Thấp dâm thắng thế. Bình bằng Khổ Nhiệt, tá bằng Toan Tân; dùng vị Khổ để táo thấp, vị Đạm để tiết thấp. (Thấp thịnh ở trên mà sinh nhiệt, trị bằng Khổ Ôn, tá bằng Cam Tân, lấy việc ra mồ hôi làm trọng). (Nếu khí Nhiệt phản thắng, trị bằng Khổ Hàn, tá bằng Khổ Toan). * '''Thiếu dương tư thiên (Năm Dần, Thân):''' Hỏa dâm thắng thế. Bình bằng Toan Lạnh (lãnh), tá bằng Khổ Cam; dùng vị Toan để thu, vị Khổ để phát, vị Toan để phục. (Nếu khí Hàn phản thắng, trị bằng Cam Nhiệt, tá bằng Khổ Tân). * '''Dương minh tư thiên (Năm Mão, Dậu):''' Táo dâm thắng thế. Bình bằng Khổ Ôn, tá bằng Toan Tân; dùng vị Khổ để hạ xuống. (Chế táo dùng Khổ Ôn. Muốn hạ tất dùng Khổ, muốn bổ tất dùng Toan, muốn tả tất dùng Tân). (Nếu khí Nhiệt phản thắng, trị bằng Bình Hàn, tá bằng Khổ Cam). * '''Thái dương tư thiên (Năm Thìn, Tuất):''' Hàn dâm thắng thế. Bình bằng Tân Nhiệt, tá bằng Khổ Cam; dùng vị Hàm để tả. (Nếu khí Nhiệt phản thắng, trị bằng Hàm Lạnh, tá bằng Khổ Tân). *(Phần tiếp theo về "Tại tuyền" cũng tương tự quy luật đối ứng khí vị để chế ngự tà khí ngoại dâm). '''Lý Thời Trân nói:''' Tư thiên chủ nửa năm đầu, tại tuyền chủ nửa năm sau. Sáu khí thắng phục, chủ khách, chứng trị và bệnh cơ được ghi rất chi tiết trong Tố Vấn - Chí chân yếu đại luận, văn tự quá nhiều nên không chép hết. == Khí vị Bổ Tả của Lục phủ Lục tạng == * '''Can, Đởm:''' Ôn là bổ, Lương là tả; Tân là bổ, Toan là tả. * '''Tâm, Tiểu trường:''' Nhiệt là bổ, Hàn là tả; Hàm là bổ, Cam là tả. * '''Phế, Đại trường:''' Lương là bổ, Ôn là tả; Toan là bổ, Tân là tả. * '''Thận, Bàng quang:''' Hàn là bổ, Nhiệt là tả; Khổ là bổ, Hàm là tả. * '''Tỳ, Vị:''' Ôn nhiệt là bổ, Hàn lương là tả (tùy nghi); Cam là bổ, Khổ là tả. * '''Tam tiêu, Mệnh môn:''' Giống như Tâm. == Bổ Tả Ngũ tạng theo Ngũ vị == * '''Can:''' Khổ vì cấp bách (khổ cấp), gấp ăn vị Cam để hoãn (Cam thảo); dùng vị Toan để tả (Xích thược); thực thì tả con (Cam thảo). Muốn tán, gấp ăn vị Tân để tán (Xuyên khung); dùng vị Tân để bổ (Tế tân); hư thì bổ mẹ. * '''Tâm:''' Khổ vì hoãn (khổ hoãn), gấp ăn vị Toan để thu (Ngũ vị tử); dùng vị Cam để tả (Cam thảo, Nhân sâm, Hoàng kỳ); thực thì tả con (Cam thảo). Muốn mềm (nhuận), gấp ăn vị Hàm để nhuận. * '''Tỳ:''' Khổ vì thấp (khổ thấp), gấp ăn vị Khổ để táo (Bạch truật); dùng vị Khổ để tả (Hoàng liên); thực thì tả con (Tang bạch bì). Muốn hoãn, gấp ăn vị Cam để hoãn (Chích cam thảo); dùng vị Cam để bổ (Nhân sâm); hư thì bổ mẹ. * '''Phế:''' Khổ vì khí nghịch lên, gấp ăn vị Khổ để tiết (Kha tử); dùng vị Tân để tả (Tang bạch bì); thực thì tả con (Trạch tả). Muốn thu, gấp ăn vị Toan để thu (Bạch thược); dùng vị Toan để bổ (Ngũ vị tử); hư thì bổ mẹ. * '''Thận:''' Khổ vì táo (khổ táo), gấp ăn vị Tân để nhuận (Hoàng bá, Tri mẫu); dùng vị Hàm để tả (Trạch tả); thực thì tả con (Bạch thược). Muốn kiên (chắc), gấp ăn vị Khổ để kiên. '''Trương Nguyên Tố nói:''' Phàm ngũ vị của thuốc, tùy theo tạng vào mà làm bổ tả, cũng không ngoài việc thuận theo tính chất để điều hòa. Tân chủ tán, Toan chủ thu, Cam chủ hoãn, Khổ chủ kiên, Hàm chủ nhuyễn. Tân năng tán kết nhuận táo, dẫn tân dịch, thông khí; Toan năng thu hoãn liễm tán; Cam năng hoãn cấp điều trung; Khổ năng táo thấp kiên nhuyễn; Hàm năng nhuyễn kiên; Đạm năng lợi khiếu. '''Lý Thời Trân nói:''' Cam hoãn, Toan thu, Khổ táo, Tân tán, Hàm nhuyễn, Đạm thấm là bản tính của ngũ vị, nhất định không đổi. Việc bổ hay tả là do ngũ tạng bốn mùa mà thay đổi áp dụng. Ôn, Lương, Hàn, Nhiệt là bản tính của tứ khí; đối với bổ tả ngũ tạng cũng thay đổi áp dụng như vậy. Đây là Trương Khiết Cổ dựa theo nghĩa bổ tả ăn uống trong Tố Vấn mà nêu vài vị thuốc làm ví dụ, người học nên theo ý đó mà suy rộng ra. == Phác đồ dùng thuốc theo Hư thực Tiêu bản của Tạng Phủ == === CAN (Gan)=== '''Tạng hồn, thuộc Mộc. Đởm hỏa ký ngụ bên trong. Chủ huyết, chủ mắt, chủ gân, chủ tiếng kêu hô, chủ giận dữ.''' * '''Bản bệnh:''' Các chứng phong huyễn vựng (chóng mặt), cứng đờ ngã gục, kinh giản, hai hông sưng đau, ngực sườn đầy đau, nôn ra máu, tiểu phúc sán thống (đau sa ruột bụng dưới), trưng hà, bệnh kinh nguyệt phụ nữ. * '''Tiêu bệnh:''' Sốt rét hàn nhiệt, đầu đau nôn ra dãi, mắt đỏ mặt xanh, hay giận, tai điếc má sưng, co rút gân và tinh hoàn, nam giới bị sán khí, nữ giới thiếu phúc (bụng dưới) sưng đau, âm bệnh. '''Hữu dư thì tả (Tả con):''' * '''Hành khí:''' Cam thảo (tả tử), Hương phụ, Xuyên khung, Cù mạch, Khiên ngưu, Thanh bì. * '''Hành huyết:''' Hồng hoa, Biệt giáp, Đào nhân, Nga truật, Tam lăng, Xuyên sơn giáp, Đại hoàng, Thủy phiệt, Mành trùng, Tô mộc, Mẫu đơn bì. * '''Trấn kinh:''' Hùng hoàng, Kim bạc, Thiết lạc, Chân châu, Đại giả thạch, Dạ minh sa, Hồ phấn, Ngân bạc, Diên đan, Long cốt, Thạch quyết minh. * '''Sưu phong (Tìm đuổi phong):''' Khương hoạt, Kinh giới, Bạc hà, Hòe tử, Mạn kinh tử, Bạch hoa xà, Độc hoạt, Phòng phong, Tạo giáp, Ô đầu, Bạch phụ tử, Tàm tạm, Thiền tuế. '''Bất túc thì bổ:''' * '''Bổ mẹ:''' Cẩu kỷ, Đỗ trọng, Cẩu tích, Thục địa hoàng, Khổ sâm, Tỳ giải, A giao, Thỏ ty tử. * '''Bổ huyết:''' Đương quy, Ngưu tất, Tục đoạn, Bạch thược dược, Huyết kiệt, Một dược, Xuyên khung. * '''Bổ khí:''' Thiên ma, Bá tử nhân, Bạch truật, Cúc hoa, Tế tân, Mật mông hoa, Quyết minh tử, Cốc tinh thảo, Sinh khương. '''Bản nhiệt thì hàn (làm mát):''' * '''Tả Mộc:''' Thược dược, Ô mai, Trạch tả. * '''Tả Hỏa:''' Hoàng liên, Long đởm thảo, Hoàng cầm, Khổ trà, Mật lợn. * '''Công lý:''' Đại hoàng. '''Tiêu nhiệt thì phát (tán ra):''' * '''Hòa giải:''' Sài hồ, Bán hạ. * '''Giải cơ:''' Quế chi, Ma hoàng. === TÂM (Tim)=== '''Tạng thần, là Quân hỏa. Tâm bào lạc là Tướng hỏa, thay Quân hành lệnh. Chủ huyết, chủ lời nói, chủ mồ hôi, chủ cười.''' * '''Bản bệnh:''' Các chứng nhiệt gây hôn mê co quắp (mạo quyết), kinh sợ mê sảng, cười khóc chửi mắng, chinh xung kiện vọng (hồi hộp hay quên), tự hãn (mồ hôi tự ra), các chứng đau ngứa sang dương. * '''Tiêu bệnh:''' Cơ nhục nóng mà sợ lạnh run rẩy, lưỡi không nói được, mặt đỏ mắt vàng, lòng bàn tay nóng, ngực sườn đầy đau, đau dẫn lan sang thắt lưng, lưng, bả vai, khuỷu tay và cánh tay. '''Hỏa thực thì tả:''' * '''Tả con:''' Hoàng liên, Đại hoàng. * '''Về khí:''' Cam thảo, Nhân sâm, Xích phục linh, Mộc thông, Hoàng bá. * '''Về huyết:''' Đan sâm, Mẫu đơn bì, Sinh địa hoàng, Huyền sâm. * '''Trấn kinh:''' Chu sa, Ngưu hoàng, Tử thạch anh. '''Thần hư thì bổ:''' * '''Bổ mẹ:''' Tế tân, Ô mai, Toan táo nhân, Sinh khương, Trần bì. * '''Về khí:''' Quế tâm, Trạch tả, Bạch phục linh, Phục thần, Viễn chí, Thạch xương bồ. * '''Về huyết:''' Đương quy, Nhũ hương, Thục địa hoàng, Một dược. '''Bản nhiệt thì hàn:''' * '''Tả hỏa:''' Hoàng cầm, Trúc diệp, Mạch môn đông, Mang tiêu, Muối sao. * '''Lương huyết:''' Địa hoàng, Chi tử, Thiên trúc hoàng. '''Tiêu nhiệt thì phát:''' * '''Tán hỏa:''' Cam thảo, Độc hoạt, Ma hoàng, Sài hồ, Long não. === TỲ (Lá lách)=== '''Tạng ý, thuộc Thổ, là mẹ của vạn vật. Chủ vinh vệ, chủ vị giác, chủ cơ nhục, chủ tứ chi.''' * '''Bản bệnh:''' Các chứng thấp thũng trướng, bĩ mãn ợ hơi, đại tiểu tiện bí, hoàng đản đàm ẩm, thổ tả hoắc loạn, tâm phúc thống, ăn uống không tiêu. * '''Tiêu bệnh:''' Thân thể phù thũng, nặng nề thèm ngủ, tứ chi không cử động được, gốc lưỡi cứng đau, ngón chân cái không dùng được, cửu khiếu không thông, các chứng kinh cứng cổ gáy. '''Thổ thực thì tả:''' * '''Tả con:''' Kha tử, Phòng phong, Tang bạch bì, Đình lịch tử. * '''Gây nôn (Thổ pháp):''' Đậu xị, Chi tử, La bạc tử, Thường sơn, Qua đế, Uất kim, Nước dưa muối, Lê lô, Khổ sâm, Xích tiểu đậu, Nước muối, Khổ trà. * '''Trục hạ:''' Đại hoàng, Mang tiêu, Thanh mông thạch, Đại kích, Cam toại, Tục tùy tử, Nguyên hoa. '''Thổ hư thì bổ:''' * '''Bổ mẹ:''' Quế tâm, Phục linh. * '''Về khí:''' Nhân sâm, Hoàng kỳ, Thăng ma, Cát căn, Cam thảo, Trần quất bì, Hoắc hương, Vi ruy (Ngọc trúc), Sa nhân, Mộc hương, Bạch biển đậu. * '''Về huyết:''' Bạch truật, Thương truật, Bạch thược dược, Cao mạch nha (Kiều di), Đại táo, Can khương, Mộc qua, Ô mai, Mật ong. '''Bản thấp thì trừ:''' * '''Táo trung cung:''' Bạch truật, Thương truật, Quất bì, Bán hạ, Ngô thù du, Nam tinh, Thảo đậu khấu, Bạch giới tử. * '''Khiết tịnh phủ (Làm sạch Bàng quang):''' Mộc thông, Xích phục linh, Trư linh, Hoắc hương. '''Tiêu thấp thì thấm (lơi ra):''' * '''Khai quỷ môn (Ra mồ hôi):''' Cát căn, Thương truật, Ma hoàng, Độc hoạt. ===PHẾ (Phổi)=== '''Tạng phách, thuộc Kim, tổng quản nguyên khí toàn thân. Chủ khứu giác (văn), chủ khóc, chủ da lông.''' * '''Bản bệnh:''' Các chứng khí uất, các chứng héo (vê) suyễn nôn, khí đoản (thở ngắn), ho nghịch lên, ho khạc mủ máu, không nằm được, tiểu tiện không tự chủ. * '''Tiêu bệnh:''' Rét run hàn nhiệt, thương phong tự hãn, vai lưng đau lạnh, đau mặt trước cánh tay và khuỷu tay. '''Khí thực thì tả:''' * '''Tả con:''' Trạch tả, Đình lịch tử, Tang bạch bì, Địa cốt bì. * '''Trừ thấp:''' Bán hạ, Bạch phàn, Bạch phục linh, Ý dĩ nhân, Mộc qua, Quất bì. * '''Tả hỏa:''' Gạo tẻ (Canh mễ), Thạch cao, Hàn thủy thạch, Tri mẫu, Kha tử. * '''Thông trệ:''' Chỉ xác, Bạc hà, Can sinh khương, Mộc hương, Hậu phác, Hạnh nhân, Tạo giáp, Cát cánh, Tử tô tử. '''Khí hư thì bổ:''' * '''Bổ mẹ:''' Cam thảo, Nhân sâm, Thăng ma, Hoàng kỳ, Sơn dược. * '''Nhuận táo:''' Cáp giới, A giao, Mạch môn đông, Bối mẫu, Bách hợp, Thiên hoa phấn, Thiên môn đông. * '''Liễm phế:''' Ô mai, Túc xác (vỏ anh túc), Ngũ vị tử, Thược dược, Ngũ bội tử. '''Bản nhiệt thì thanh:''' * '''Thanh kim:''' Hoàng cầm, Tri mẫu, Mạch môn đông, Chi tử, Sa sâm, Tử uyển, Thiên môn đông. '''Bản hàn thì ôn:''' * '''Ôn phế:''' Đinh hương, Hoắc hương, Khoản đông hoa, Đàn hương, Bạch đậu khấu, Ích trí nhân, Sa nhân, Gạo nếp, Bách bộ. '''Tiêu hàn thì tán:''' * '''Giải biểu:''' Ma hoàng, Thông bạch (đầu hành), Tử tô. ===THẬN (Cật)=== '''Tạng chí, thuộc Thủy, là nguồn của Thiên Nhất. Chủ thính giác, chủ xương, chủ nhị âm (đường đại tiểu tiện).''' * '''Bản bệnh:''' Các chứng hàn quyết nghịch (lạnh tay chân), cốt vê (yếu xương) lưng đau, thắt lưng lạnh như băng, chân phù lạnh, bụng dưới đầy gấp sán hà, đại tiện bí hoặc tiết tả, nôn hoặc lỵ ra chất tanh hôi. * '''Tiêu bệnh:''' Phát nhiệt mà không sợ nóng (nhiệt âm hư), đầu váng đau đầu, họng đau lưỡi khô, đau dọc mặt sau cột sống và đùi. '''Thủy mạnh thì tả:''' * '''Tả con:''' Đại kích, Khiên ngưu. * '''Tả phủ:''' Trạch tả, Trư linh, Xa tiền tử, Phòng kỷ, Phục linh. '''Thủy yếu thì bổ:''' * '''Bổ mẹ:''' Nhân sâm, Sơn dược. * '''Về khí:''' Tri mẫu, Huyền sâm, Bổ cốt chỉ, Sa nhân, Khổ sâm. * '''Về huyết:''' Hoàng bá, Cẩu kỷ, Thục địa hoàng, Tỏa dương, Nhục thung dung, Sơn thù du, A giao, Ngũ vị tử. '''Bản nhiệt thì công:''' * '''Hạ pháp:''' Thương hàn Thiếu âm chứng, miệng ráo họng khô dùng Đại thừa khí thang. '''Bản hàn thì ôn:''' * '''Ôn lý:''' Phụ tử, Can khương, Quan quế, Thục tiêu, Bạch truật. '''Tiêu hàn thì giải:''' * '''Giải biểu:''' Ma hoàng, Tế tân, Độc hoạt, Quế chi. '''Tiêu nhiệt thì lương (làm mát):''' * '''Thanh nhiệt:''' Huyền sâm, Liên kiều, Cam thảo, Trư khương (da lợn). ===MỆNH MÔN=== '''Là nguồn của Tướng hỏa, khởi đầu của trời đất. Tàng tinh sinh huyết, giáng xuống là rò rỉ (lậu), thăng lên là chì (diên - ẩn dụ luyện đan), chủ nguyên khí của Tam tiêu.''' * '''Bản bệnh:''' Đại tiểu tiện lung bế (bí tắc), khí nghịch lý cấp, sán thống bôn đồn, tiêu khát cao lâm, tinh lậu tinh hàn, xích bạch trọc, niệu huyết, băng trung đới lậu. '''Hỏa mạnh thì tả:''' * '''Tả tướng hỏa:''' Hoàng bá, Tri mẫu, Mẫu đơn bì, Địa cốt bì, Sinh địa hoàng, Phục linh, Huyền sâm, Hàn thủy thạch. '''Hỏa yếu thì bổ:''' * '''Ích dương:''' Phụ tử, Nhục quế, Ích trí tử, Phá cố chỉ, Trầm hương, Xuyên ô đầu, Lưu hoàng, Thiên hùng, Ô dược, Dương khởi thạch, Bạc hồi hương, Hồ đào, Ba kích thiên, Đan sa, Đương quy, Cáp giới, Phúc bồn tử. '''Tinh thoát thì cố (giữ lại):''' * '''Sáp hoạt (Chống trơn tuột):''' Mẫu lệ, Khiếm thực, Kim anh tử, Ngũ vị tử, Viễn chí, Sơn thù du, Cáp phấn. ===TAM TIÊU=== '''Là cái dụng của Tướng hỏa, phân bố nguyên khí của Mệnh môn, chủ thăng giáng xuất nhập, chu du giữa trời đất. Tổng lĩnh khí ngũ tạng lục phủ, vinh vệ kinh lạc, trong ngoài trên dưới phải trái, gọi là Phủ Trung Thanh. Thượng tiêu chủ nạp, Trung tiêu chủ hóa, Hạ tiêu chủ xuất.''' * '''Bản bệnh:''' Các chứng nhiệt mạo quyết, bệnh chết hoặc câm đột ngột,躁擾 cuồng loạn, nói nhảm kinh hãi, các chứng huyết tràn hoặc lỵ máu, khí nghịch xông lên, sang dương đậu chẩn, u hạch. ** '''Thượng nhiệt:''' Suyễn đầy, nôn mửa nấc chua, bĩ ngực hông đau, ăn không tiêu, mồ hôi đầu. ** '''Trung nhiệt:''' Mau đói mà gầy, rã rời trung mãn, bụng trướng to, bụng gõ kêu như trống, trên dưới quan cách không thông, hoắc loạn thổ tả. ** '''Hạ nhiệt:''' Tiêu chảy tháo xuống đột ngột (bạo chú), nước tiểu đục, hạ bộ sưng đầy, tiểu tiện lâm ly hoặc không thông, đại tiện bí kết hạ lỵ. ** '''Thượng hàn:''' Nôn ra thức ăn đàm thủy, ngực bĩ, đau dẫn ra trước sau, ăn xong lại nôn ra ngay. ** '''Trung hàn:''' Ăn không tiêu, hàn trướng, phản vị nôn ra nước, thấp tả không khát. ** '''Hạ hàn:''' Đại tiểu tiện không tự chủ, rốn bụng lạnh, đau sán khí. * '''Tiêu bệnh:''' Sợ lạnh run rẩy như mất thần, tai ù tai điếc, họng sưng nghẹn (hầu bĩ), các chứng phù thũng, ngón áp út không dùng được. '''Thực hỏa thì tả:''' * '''Hãn pháp:''' Ma hoàng, Sài hồ, Cát căn, Kinh giới, Thăng ma, Bạc hà, Khương hoạt, Thạch cao. * '''Thổ pháp:''' Qua đế, Thương diêm (muối sống), Nước dưa muối. * '''Hạ pháp:''' Đại hoàng, Mang tiêu. '''Phần thuốc bổ cho Hư hỏa và Thanh nhiệt cho Bản nhiệt (phân theo Thượng - Trung - Hạ) đã được liệt kê cụ thể tương ứng với các vị như Nhân sâm, Phụ tử, Hoàng cầm, Hoàng liên, Hoàng bá.''' === ĐỞM (Mật)=== '''Thuộc Mộc, là Thiếu dương tướng hỏa, phát sinh vạn vật, là quan quyết đoán, chủ của 11 tạng (Chủ bệnh giống Can).''' * '''Bản bệnh:''' Miệng đắng, nôn ra nước đắng, hay thở dài, bồn chồn như người sắp bị bắt, mắt mờ không ngủ được. * '''Tiêu bệnh:''' Hàn nhiệt vãng lai (lúc nóng lúc lạnh), sốt rét, đau ngực sườn, đau đỉnh trán, tai đau ù điếc, lao hạch (loa lệ). '''Thực hỏa thì tả:''' Long đởm thảo, Ngưu tất, Mật lợn, Nhụy nhân sống, Toan táo nhân sống, Hoàng liên, Khổ trà. '''Hư hỏa thì bổ (Ôn đởm):''' Nhân sâm, Tế tân, Bán hạ, Nhụy nhân sao, Toan táo nhân sao, Đương quy, Địa hoàng. ===VỊ (Dạ dày)=== '''Thuộc Thổ, chủ thu nạp, là bể chứa nước ngũ cốc (Chủ bệnh giống Tỳ).''' * '''Bản bệnh:''' Nghẹn nghẹn (ế cách) phản vị, trung mãn thũng trướng, nôn mửa tả lỵ, hoắc loạn bụng đau, tiêu trung mau đói, ăn không tiêu, đau vùng thượng vị dẫn ra hai hông. * '''Tiêu bệnh:''' Sốt hầm hập (chưng chưng), mặt trước thân nóng hoặc lạnh, phát cuồng nói nhảm, họng nghẹn, răng trên đau, miệng mắt méo lệch, đau mũi, chảy máu cam. ===ĐẠI TRÀNG (Ruột già)=== '''Thuộc Kim, chủ biến hóa, là quan truyền tống.''' * '''Thực tả:''' Đại hoàng, Mang tiêu, Đào hoa, Khiên ngưu, Ba đậu, Uất lý nhân, Thạch cao. * '''Hư bổ (Nhuận táo):''' Đào nhân, Ma nhân, Hạnh nhân, Địa hoàng, Nhũ hương, Tùng tử, Đương quy, Nhục thung dung. ''(Phần Tiểu tràng và Bàng quang theo cùng quy luật phân chia Thực tả/Hư bổ).'' ===DẪN KINH BÁO SỨ (Theo Trân Châu Nang)=== * '''Thủ Thiếu âm Tâm:''' Hoàng liên, Tế tân. * '''Thủ Thái dương Tiểu tràng:''' Bản cao, Hoàng bá. * '''Túc Thiếu âm Thận:''' Độc hoạt, Quế, Tri mẫu, Tế tân. * '''Túc Thái dương Bàng quang:''' Khương hoạt. * '''Thủ Thái âm Phế:''' Cát cánh, Thăng ma, Thông bạch, Bạch chỉ. * '''Thủ Dương minh Đại tràng:''' Bạch chỉ, Thăng ma, Thạch cao. * '''Túc Thái âm Tỳ:''' Thăng ma, Thương truật, Cát căn, Bạch thược. * '''Túc Dương minh Vị:''' Bạch chỉ, Thăng ma, Thạch cao, Cát căn. * '''Thủ Quyết âm Tâm bào:''' Sài hồ, Mẫu đơn bì. * '''Thủ Thiếu dương Tam tiêu:''' Liên kiều, Sài hồ. (Thượng: Địa cốt bì; Trung: Thanh bì; Hạ: Phụ tử). * '''Túc Quyết âm Can:''' Thanh bì, Ngô thù du, Xuyên khung, Sài hồ. * '''Túc Thiếu dương Đởm:''' Sài hồ, Thanh bì. {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] njfflx7ehcqj3o7uu9h5efjp4w0mzft Biên dịch:Bản thảo cương mục/Tự lệ hạ 114 71888 204523 204463 2026-04-03T04:13:01Z Mrfly911 2215 204523 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/序例下 | năm= 1596 | phần = Tự lệ hạ | trước= [[../Tự lệ thượng|Tự lệ thượng]] | sau= [[/Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển thượng|Các vị thuốc chủ trị bách bệnh - Quyển thượng]] | ghi chú= }} ==Dược Danh Đồng Dị (Tên giống nhưng vật khác)== Trong y học cổ truyền, một cái tên có thể chỉ nhiều loại cây khác nhau, hoặc một cây có nhiều tên gọi. Việc phân biệt này giúp thầy thuốc không dùng nhầm vị. ===Nhóm 5 vật cùng tên (Ngũ vật đồng danh)=== * '''Độc dao thảo:''' Có thể là Khương hoạt, Quỷ cửu, Quỷ đốc bưu, Thiên ma hoặc Vi hàm. ===Nhóm 4 vật cùng tên (Tứ vật đồng danh)=== * '''Khổ thái:''' Có thể là Bối mẫu, Long quy, Khổ cự (xà lách đắng) hoặc Bại tương thảo. * '''Hồng đậu:''' Có thể là Xích tiểu đậu, Hồng đậu khấu, Tương tư tử (hạt đậu tương tư - có độc) hoặc Hải hồng đậu. ===Nhóm 2 vật cùng tên (Nhị vật đồng danh) - Một số loại tiêu biểu:=== * '''Tri mẫu:''' Còn gọi là Đông đằng. * '''Thần thảo:''' Tên chung của Nhân sâm và Xích tiễn (Thiên ma). * '''Hạ khô thảo:''' Có thể là Nãi đông thảo hoặc Ích mẫu (Chung úy). * '''Tử hà xa:''' Có thể là Tảo hưu (Thất diệp nhất chi hoa) hoặc Nhân bào y (Nhau thai người). ==Dược Đối (Phối ngũ và Cấm kỵ)== Dựa trên nguyên tắc của Từ Chi Tài và Thần Nông Bản Thảo Kinh, việc phối hợp thuốc phải tuân theo các mối quan hệ: * '''Tương tu:''' Hai vị thuốc cùng tính chất hỗ trợ nhau (như Đại hoàng - Mang tiêu). * '''Tương sứ:''' Vị này hỗ trợ vị kia tăng hiệu quả. * '''Tương úy:''' Vị này làm giảm độc tính/tác dụng phụ của vị kia. * '''Tương ác:''' Vị này làm mất tác dụng của vị kia. * '''Tương phản:''' Dùng chung sinh ra độc tính hoặc tác hại nguy hiểm. ===Một số dược đối và cấm kỵ tiêu biểu=== {| class="wikitable sortable" style="width:100%;" |+ Bảng dược đối và cấm kỵ thực phẩm tiêu biểu |- style="background:#efefef;" ! scope="col" style="width:15%;" | Vị thuốc ! scope="col" style="width:25%;" | Vị thuốc hỗ trợ (Sứ/Tu) ! scope="col" style="width:30%;" | Vị thuốc kỵ/ghét (Ác/Úy) ! scope="col" | Cấm kỵ thức ăn |- | '''Cam thảo''' | Truật, Khổ sâm | Ghét Viễn chí | Kỵ thịt lợn |- | '''Nhân sâm''' | Phục linh, Mã lận | Ghét mặn, Sưu sơ. Sợ Ngũ linh chi | |- | '''Bạch truật''' | Phòng phong, Địa du | | Kỵ đào, mận, thịt chim, rau cải, cá xanh |- | '''Địa hoàng''' | Rượu, Mạch môn, Gừng | Ghét Bối mẫu. Sợ Vu di | Kỵ hành, tỏi, củ cải, huyết các loại |- | '''Hoàng liên''' | Hoàng cầm, Long cốt | Ghét nước lạnh, Cúc hoa, Huyền sâm | Kỵ thịt lợn |- | '''Bán hạ''' | Xạ can, Sài hồ | Ghét Tạo giáp. Sợ Sinh khương | Kỵ hải tảo, kẹo mạch nha, huyết cừu |- | '''Phụ tử''' | Địa đởm, Muối, Tiêu | Ghét Rết (Ngô công). Sợ Phòng phong, Đậu đen, Cam thảo | |} == Chư Dược Tương Phản (36 loại tương phản - Thập bát phản)== Đây là quy tắc tối thượng trong kê đơn để tránh gây độc (thường tóm gọn trong bài ca "Thập bát phản"): # '''Cam thảo''' phản: Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo. # '''Ô đầu/Phụ tử''' phản: Bối mẫu, Qua lâu, Bán hạ, Bạch liễm, Bạch cập. # '''Lê lô''' phản: Nhân sâm, Sa sâm, Đan sâm, Huyền sâm, Khổ sâm, Tế tân, Thược dược. '''Cấm kỵ khác:''' * '''Mật ong''' phản Hành sống. * '''Quả hồng''' phản Cua. * '''Cá nóc (Hà đồn)''' phản Than củi, Kinh giới, Phòng phong, Cúc hoa, Cam thảo... == PHỤC DƯỢC THỰC KỴ (Kiêng kỵ khi đang uống thuốc)== Khi dùng các vị thuốc sau, cần tránh các thực phẩm tương ứng để không làm mất tác dụng hoặc gây phản ứng phụ: * '''Cam thảo:''' Kỵ thịt lợn, rau cải (tùng thái), rong biển (hải thái). * '''Hoàng liên, Hồ hoàng liên:''' Kỵ thịt lợn, nước lạnh. * '''Thương nhĩ (Ké đầu ngựa):''' Kỵ thịt lợn, thịt ngựa, nước vo gạo. * '''Tiên mao:''' Kỵ thịt bò, sữa bò. * '''Bán hạ, Xương bồ:''' Kỵ thịt cừu, huyết cừu, kẹo mạch nha. * '''Ngưu tất:''' Kỵ thịt bò. * '''Địa hoàng, Hà thủ ô:''' Kỵ các loại huyết, hành, tỏi, củ cải. * '''Bổ cốt chỉ:''' Kỵ huyết lợn, rau cải dầu (vân đài). * '''Tế tân, Lê lô:''' Kỵ thịt mèo, rau sống. * '''Kinh giới:''' Kỵ thịt lừa. '''Phản:''' cá nóc, các loại cá không vảy, cua. * '''Bạc hà:''' Kỵ thịt ba ba. * '''Mạch môn đông:''' Kỵ cá diếc. * '''Thường sơn:''' Kỵ hành sống, rau sống. * '''Phụ tử, Ô đầu, Thiên hùng:''' Kỵ nước đậu xị, cơm gạo tắc (tắc mễ). * '''Mẫu đơn bì:''' Kỵ tỏi, rau mùi (ngò rí). * '''Hậu phác, Thầu dầu (Bản ma):''' Kỵ đậu rang. * '''Biệt giáp (Mai ba ba):''' Kỵ rau dền. * '''Uy linh tiên, Thổ phục linh:''' Kỵ nước cháo vắt (miến thang), trà. * '''Đương quy:''' Kỵ mì sợi ướt (thấp diện). * '''Đan sâm, Phục linh:''' Kỵ giấm và các đồ chua. '''Lưu ý chung:''' Khi uống thuốc không được ăn tạp các loại thịt lợn béo, thịt chó, canh dầu mỡ, đồ tanh tao hôi thối. Không ăn nhiều tỏi sống, hành sống, rau mùi, các loại quả và các thứ gây trệ máy. Không nên đi thăm đám ma, phụ nữ mới đẻ hoặc những nơi ô uế. ==NHÂM THẦN CẤM KỴ (Các vị thuốc cấm dùng cho phụ nữ có thai)== Đây là danh mục các vị thuốc có tính độc, trục thai hoặc hành huyết cực mạnh: * '''Nhóm độc & Tả hạ:''' Ô đầu, Phụ tử, Thiên hùng, Ba đậu, Đại kích, Nguyên hoa, Lê lô, Địa đởm, Ban miêu, Thủy ngân, Thạch tín (Phê thạch), Lưu hoàng. * '''Nhóm Hoạt huyết & Thông kinh:''' Ngưu tất, Đào nhân, Hồng hoa, Tô mộc, Tam lăng, Nga truật, Can tất (Sơn khô), Mẫu đơn bì, Thiền thoái, Thủy phiệt (Đỉa), Mành trùng. * '''Nhóm khác:''' Ý dĩ nhân, Tạo giáp, Hậu phác, Thường sơn, Xạ hương, Cua (Giải trảo giáp). == ĂN UỐNG KỴ NHAU (Thực phẩm tương khắc)== * '''Thịt lợn kỵ:''' Gừng sống, kiều mạch, rau mùi, mơ, thịt bò, thịt ba ba, chim cút. * '''Thịt chó kỵ:''' Củ ấu, tỏi, lòng bò, cá chép, lươn. * '''Thịt bò kỵ:''' Hạt dẻ. '''Sữa bò kỵ:''' Cá tươi, đồ chua. * '''Thịt gà kỵ:''' Tỏi ta, mù tạt, hành sống, gạo nếp, quả mận, thịt chó, thịt thỏ, ba ba. * '''Ba ba (Biệt nhục) kỵ:''' Rau dền, bạc hà, mù tạt, quả đào, trứng gà, thịt thỏ. * '''Cua kỵ:''' Kinh giới, quả hồng, quả quýt. * '''Gừng sống kỵ:''' Thịt lợn, thịt bò, thịt ngựa, thịt thỏ. * '''Mật ong kỵ:''' Hành sống. ==PHÀM LỆ DÙNG THUỐC THEO CHỨNG CỦA LÝ ĐÔNG VIÊN== Lý Đông Viên (ông tổ phái Bổ Thổ) đưa ra quy tắc phối ngũ theo từng chứng bệnh cụ thể: * '''Đau đầu lục kinh:''' Phải dùng '''Xuyên khung'''. Thêm vị dẫn kinh: Thái dương (Mạn kinh tử), Dương minh (Bạch chỉ), Thái âm (Bán hạ), Thiếu âm (Tế tân), Quyết âm (Ngô thù du), Đỉnh đầu (Bản cao). * '''Đau họng sưng hàm:''' Hoàng cầm, Ngưu bàng tử, Cam thảo, Cát cánh. * '''Đau răng do Phong nhiệt (thích lạnh sợ nóng):''' Sinh địa, Đương quy, Thăng ma, Hoàng liên, Mẫu đơn bì, Phòng phong. * '''Ho (Cửu khái):''' '''Ngũ vị tử''' làm quân. Đàm dùng Bán hạ; Suyễn thêm A giao; Có nhiệt thêm chút Hoàng cầm. * '''Thấp nhiệt các tiêu:''' Thượng tiêu (Hoàng cầm tả phế hỏa), Trung tiêu (Hoàng liên tả tâm hỏa), Hạ tiêu (Hoàng bá, Tri mẫu). * '''Bụng trướng đầy:''' Phải dùng Hậu phác (chế gừng), Mộc hương. * '''Khát tâm phiền:''' Can khương, Phục linh, Thiên hoa phấn, Ô mai. '''Cấm dùng:''' Bán hạ, Cát căn. * '''Tiểu tiện đau buốt (trong niệu đạo):''' Dùng Ngọn cam thảo sống (Cam thảo tiêu). * '''An thai:''' Dùng '''Hoàng cầm, Bạch truật'''. ==PHÀM LỆ DÙNG THUỐC CÁC CHỨNG HƯ CỦA TRẦN TÀNG KHÍ== Trần Tàng Khí nhấn mạnh việc gia giảm theo tình trạng hư lao: * '''Hư mà muốn nôn/Hư mà không yên:''' gia thêm '''Nhân sâm'''. * '''Hư mà hay nằm mơ: ''' gia thêm '''Long cốt'''. * '''Hư mà hay quên:''' gia thêm '''Phục thần, Viễn chí'''. * '''Hư mà miệng khô:''' gia thêm '''Mạch môn, Tri mẫu'''. * '''Hư mà kinh sợ hồi hộp:''' gia thêm '''Long xỉ, Sa sâm, Tử thạch anh'''. * '''Hư mà lạnh (Hàn):''' gia thêm '''Quế tâm, Ngô thù du, Phụ tử'''. * '''Bổ các tạng:''' ** '''Tủy kiệt:''' gia thêm Sinh địa, Đương quy. ** '''Khí bất túc:''' gia thêm Thiên ma, Xuyên khung. ** '''Tỳ khí hư:''' gia thêm Bạch truật, Bạch thược, Ích trí nhân. ** '''Thận khí hư:''' gia thêm Thục địa, Viễn chí, Mẫu đơn bì. ** '''Đởm khí hư:''' gia thêm Tế tân, Toan táo nhân, Địa du. ** '''Tâm thần suy giảm:''' gia Chu sa, hạt cỏ thi và nấm phục linh. == QUAN ĐIỂM VỀ TAM PHÁP CỦA TRƯƠNG TỬ HÒA== Thân thể con người không ngoài Biểu và Lý, khí huyết không ngoài Hư và Thực. Người thầy thuốc giỏi trị cái '''Thực''' trước, sau mới trị cái '''Hư'''. Kẻ vụng về chỉ biết bổ hư mà không dám trị thực. Bệnh tật vốn là tà khí từ ngoài vào hoặc từ trong sinh ra. Tà khí trung người thì phải khử đi, lẽ nào lại giữ lại? Nếu không đuổi tà mà đã lo dùng thuốc bổ, chẳng khác nào giặc còn trong nhà đã lo sửa sang cửa vách, tà khí sẽ càng lộng hành. Thuốc chỉ để trị bệnh, bệnh đi rồi thì ngũ cốc, hoa quả, rau thịt đều là vật bổ. Dùng thuốc bổ quá đà, dù là Cam thảo hay Khổ sâm cũng gây ra sự lệch lạc mà đoản thọ. Vì vậy: '''Ba phép (Hãn - Thổ - Hạ) như hình phạt để trị loạn; Lương nhục (thức ăn ngon) như đức trị để dưỡng bình.''' ===THỔ PHÁP (Phép gây nôn)=== '''Phạm vi:''' Các bệnh nằm ở lồng ngực (trung quản trở lên) đều nên dùng phép nôn. * '''Các loại thuốc nôn:''' ** '''Khổ hàn:''' Qua đế, Chi tử, Trà mạt, Đậu xị, Hoàng liên, Khổ sâm. ** '''Tân hàn:''' Đạm phàn, Thạch lục. ** '''Cam ôn:''' Thịt bò (dùng liều lớn gây nôn). ** '''Tân nhiệt:''' Thạch tín (Phê thạch - Độc mạnh). * '''Cách dùng:''' Ban đầu uống ít, nếu chưa nôn thì tăng dần, dùng lông gà ngoáy họng. Nôn xong nếu thấy chóng mặt (minh huyễn) thì đừng sợ, uống nước đá hoặc nước mới múc là hết. * '''Kiêng kỵ sau nôn:''' Không ăn no, không ăn đồ chua, mặn, cứng, khô, dầu mỡ. Đặc biệt kiêng phòng dục và bi thương. * '''8 trường hợp KHÔNG ĐƯỢC nôn:''' # Người tính tình hung bạo, hay giận, thích dâm dục. # Người già yếu, khí suy, bệnh đã nguy kịch. # Người đang tự nôn không dứt. # Người dương bại, huyết hư. # Người đang xuất huyết (ho ra máu, chảy máu cam, băng huyết, tiểu ra máu). # Người biết lờ mờ về y thư, không phân biệt chính tà (hay thắc mắc). # Người không có chính kiến, hay thay đổi. # Người xung quanh hay bàn tán ra vào gây nhiễu. ===HÃN PHÁP (Phép ra mồ hôi)=== '''Phạm vi:''' Tà khí phong, hàn, thử, thấp mới xâm nhập vào da lông, chưa vào sâu. Phát hãn là để mở "Huyền phủ" (lỗ chân lông) đuổi tà. * '''Các loại thuốc phát hãn:''' ** '''Tân ôn:''' Kinh giới, Bạc hà, Bạch chỉ, Trần bì, Bán hạ, Tế tân, Thương truật, Thiên ma, Sinh khương, Hành trắng. ** '''Tân nhiệt:''' Thục tiêu, Hồ tiêu, Thù du, Tỏi. ** '''Khổ hàn:''' Hoàng cầm, Tri mẫu, Chỉ thực, Khổ sâm, Địa cốt bì, Sài hồ, Tiền hồ. ** '''Cam ôn:''' Ma hoàng, Nhân sâm, Đại táo. * '''Lưu ý:''' Thầy thuốc giỏi phải biết chọn thuốc nóng trị hàn, thuốc mát trị nhiệt. Khi mồ hôi ra đủ để đuổi bệnh thì dừng, không nhất thiết phải uống hết thang thuốc. Các chứng: phá thương phong, kinh phong trẻ em, tiêu chảy không dứt (tốn tiết), bệnh do rượu, bệnh do hỏa... đều có thể dùng phép hãn. ===HẠ PHÁP (Phép tẩy xổ)=== '''Phạm vi:''' Các chứng tích tụ, đình trệ lâu ngày, nóng lạnh kết tụ bên trong. Tẩy xổ để làm sạch ruột dạ dày, thông kinh lạc, đó chính là cách "bổ" chân chính. * '''Các loại thuốc hạ:''' ** '''Đại hàn:''' Mang tiêu, Đại hoàng, Khiên ngưu, Qua đế, Khổ hồ, Cam toại, Đại kích. ** '''Ôn hạ:''' Binh lang, Nguyên hoa, Mật (Thạch mật), Tạo giác. ** '''Nhiệt hạ:''' Ba đậu (Chỉ dùng khi có hàn tích cực nặng, không được dùng bừa bãi làm khô tân dịch). * '''4 trường hợp KHÔNG ĐƯỢC hạ:''' # Đi lỵ xối xả do hàn lạnh bên trong (động tiết). # Cả biểu và lý đều hư. # Quyết nghịch, môi xanh, tay chân lạnh ngắt. # Trẻ em sau khi bệnh bị mạn kinh phong. '''(Nếu hạ lầm trong các trường hợp này sẽ dẫn đến tử vong).''' ==BỆNH HỮU BÁT YẾU, LỤC THẤT, LỤC BẤT TRỊ== (Tám điều cốt yếu, sáu sai lầm và sáu chứng không trị được) Phần này nhấn mạnh vào tư duy chiến lược của người thầy thuốc trước khi đặt bút kê đơn: * '''Bát yếu (8 điều cốt yếu):''' Bao gồm Âm, Dương, Biểu, Lý, Hàn, Nhiệt, Hư, Thực. Đây là cương lĩnh để biện chứng luận trị. * '''Lục thất (6 sai lầm của thầy thuốc):''' Thường chỉ việc chẩn đoán sai, dùng thuốc không đúng liều lượng, không hiểu gốc bệnh, hoặc quá tự phụ mà bỏ lỡ thời cơ vàng. * '''Lục bất trị (6 trường hợp không trị được):''' Theo Biển Thước, bao gồm: # Kiêu ngạo, coi thường bệnh tật. # Coi nhẹ thân mình, coi trọng tiền bạc. # Ăn mặc, ăn uống không điều độ. # Âm dương lộn xộn, tạng phủ kiệt quệ. # Hình hài gầy yếu không thể uống thuốc. # Tin vào thầy cúng, không tin thầy thuốc. == DƯỢC ĐỐI - TUẾ VẬT DƯỢC PHẨM== (Vị thuốc chủ chốt theo mùa tiết) ''Đây là một quan điểm cổ xưa rất sâu sắc, cho rằng dược tính của cây cỏ mạnh nhất vào thời điểm chúng sinh trưởng theo tiết khí:'' * '''Ngày Lập đông:''' Cúc hoa, Quyền bá sinh trưởng mạnh nhất. Là "sứ" của Dương khởi thạch, Tang phiêu tiêu. Chủ trị các bệnh liên quan đến 200 loại thảo mộc và các khớp xương. * '''Ngày Lập xuân:''' Mộc lan, Xạ can sinh trưởng. Là "sứ" của Sài hồ, Bán hạ. Chủ trị đầu đau và 45 đốt xương. * '''Ngày Lập hạ:''' Phỉ liêm sinh trưởng. Là "sứ" của Nhân sâm, Phục linh. Chủ trị 7 đốt trong bụng, giúp bảo thần, giữ trung khí. * '''Ngày Hạ chí:''' Thạch thủ (Trư thủ), Thù du sinh trưởng. Là "sứ" của Mẫu lệ, Ô đầu. Chủ trị 32 đốt ở tứ chi. * '''Ngày Lập thu:''' Bạch chỉ, Phòng phong sinh trưởng. Là "sứ" của Tế tân, Thục tất. Chủ trị 24 đốt ở ngực và lưng. '''Lời bình của Lý Thời Trân:''' Đây là ý niệm về "Tuế vật" (vật theo năm/tiết) xuất phát từ cổ học. Nó cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa vũ trụ, thời gian và sự vận động của dược tính trong cây cỏ. ==DANH MỤC THẦN NÔNG BẢN THẢO KINH == ''Lý Thời Trân đã bảo tồn danh mục này để người đời sau khảo cứu về nguồn gốc của 365 vị thuốc nguyên thủy:'' ===Thượng phẩm (Vị thuốc bổ dưỡng, không độc, dùng lâu không hại)=== * '''Khoáng vật:''' Đan sa, Vân mẫu, Ngọc tuyền, Thạch chung nhũ, Phèn phi (Phàn thạch), Tiêu thạch, Mang tiêu (Phác tiêu), Hoạt thạch, Không thanh, Tăng thanh, Vũ dư lương... * '''Thảo mộc:''' Nhân sâm, Thiên môn đông, Cam thảo, Địa hoàng, Bạch truật, Thỏ ty tử, Ngưu tất, Ích mẫu (Chung úy), Mạch môn đông, Độc hoạt, Xa tiền tử, Mộc hương, Hoài sơn (Thanh dự), Ý dĩ, Trạch tả, Viễn chí, Long đởm thảo, Tế tân, Thạch hộc, Ba kích thiên, Hoàng liên, Tần giao, Hoàng kỳ, Ngũ vị tử, Sài hồ... * '''Động vật & Khác:''' Long cốt (xương hóa thạch), Xạ hương, Gấu (Hùng mỡ), A giao, Mật ong, Mẫu lệ (vỏ hàu), Quy bản (mai rùa), Tang phiêu tiêu. ===Trung phẩm (Vị thuốc trị bệnh, có độc hoặc không độc, cần cân nhắc liều lượng)=== * '''Khoáng vật:''' Hùng hoàng, Thư hoàng, Lưu hoàng, Thủy ngân, Thạch cao, Từ thạch. * '''Thảo mộc:''' Cát căn, Qua lâu, Khổ sâm, Sài hồ, Xuyên khung, Đương quy, Ma hoàng, Thông thảo, Bạch thược, Cát cánh, Huyền sâm, Tần giao, Bách bộ, Tri mẫu, Bối mẫu, Bạch chỉ, Dâm dương hoắc, Hoàng cầm, Tử uyển, Tử thảo, Đan sâm, Khoản đông hoa, Thạch vi, Tích tuyết thảo, Sài hồ, Tiền hồ... * '''Gỗ & Quả:''' Chỉ thực, Hậu phác, Tần bì, Sơn thù du, Ngũ gia bì, Nhãn, Đào nhân, Hạnh nhân... * '''Động vật:''' Lộc nhung, Ngưu hoàng, Bì giáp (vỏ ba ba), Ô tặc cốt (mai mực), Hải cáp, Lộ phong phòng (tổ ong). ===Hạ phẩm dược (125 vị - thuốc công phạt)=== ''Khác với Thượng phẩm (bổ) và Trung phẩm (trị), các vị trong Hạ phẩm đa số có độc tính mạnh, tính chất công tà, trục ứ, chỉ dùng khi bệnh tình cấp bách hoặc tích tụ lâu ngày, không được dùng kéo dài.'' * '''Khoáng vật:''' Thiết tinh (tinh sắt), Thiết lạc (vảy sắt), Bột chì (Phấn tích), Đại giả thạch, Nhung diêm (muối nhung), Thạch hôi (vôi)... * '''Thảo mộc (Độc dược tiêu biểu):''' ** '''Nhóm cực độc:''' Phụ tử, Ô đầu, Thiên hùng, Lệ lô, Câu vẫn (lá ngón), Mã tiền (Nha tử), Dương trịch độc. ** '''Nhóm trục thủy, tẩy xổ:''' Đại hoàng, Cam toại, Đại kích, Trạch tất, Thương lục, Ba đậu. ** '''Nhóm khác:''' Bán hạ, Yết cánh, Xạ can, Thường sơn, Bạch cập, Quán chúng, Liên kiều, Hạ khô thảo. * '''Động vật & Côn trùng:''' Yến tử (phân én), Thiên thử tử (phân dơi), Xà thoái (xác rắn), Ngô công (rết), Thủy nhiết (đỉa), Quy bản, Manh trùng (ruồi trâu), Phỉ liêm (gián). ==CỰU MỤC LỤC BẢN THẢO THỜI TỐNG== Lý Thời Trân ghi lại danh mục này không phải để áp dụng hoàn toàn mà để "tồn cổ tích", giúp chúng ta thấy được sự tiến hóa của dược học qua các thời kỳ. ===Tổng số: 1082 loại dược liệu=== Sự phân chia dựa trên nguồn gốc văn bản: * '''360 loại:''' Từ Thần Nông Bản Kinh gốc (văn bản chữ trắng). * '''182 loại:''' Từ Danh Y Biệt Lục (văn bản chữ đen). * '''114 loại:''' Từ Đường Bản Thảo. * '''133 loại:''' Bổ sung thời Khai Bảo. * '''Các loại khác:''' Từ Hải Dược, Thực Liệu, Đồ Kinh và của Trần Tàng Khí. ===Phân loại theo Bộ (Thời Đường Thắng Vi):=== {| class="wikitable sortable" style="width:100%;" |+ Phân loại dược liệu theo Bộ (Bản thảo thời Tống) |- style="background:#efefef;" ! scope="col" style="width:25%;" | Bộ ! scope="col" | Phân loại chi tiết |- | '''Ngọc Thạch''' | 3 phẩm (Thượng, Trung, Hạ) gồm 253 loại. |- | '''Thảo (Cỏ)''' | Chia thành 6 nhóm (Thượng-Trung-Hạ, mỗi nhóm chia 2 cấp) tổng 447 loại. |- | '''Mộc (Gỗ)''' | 3 phẩm gồm 263 loại. |- | '''Nhân (Người)''' | 25 loại (các bộ phận/sản phẩm từ người dùng làm thuốc). |- | '''Thú & Cầm''' | Thú (58 loại), Chim (56 loại). |- | '''Trùng Ngư''' | 3 phẩm gồm 187 loại. |- | '''Quả & Rau''' | Quả (53 loại), Rau (65 loại). |- | '''Gạo thóc''' | 48 loại. |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] s9tmnaxi6hicgiwy45lyzth5ojlkqlq Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thái 1 114 71897 204517 204510 2026-04-02T12:09:42Z Mrfly911 2215 204517 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之一 | năm= 1596 | phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị) | trước= [[../Cốc 4|Cốc 4]] | sau= [[../Thái 2|Thái 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==Mở đầu== '''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - *Allium tuberosum*), Giới (Kiệu - *Allium chinense*), Quỳ (Rau quỳ - *Malva verticillata*), Thông (Hành - *Allium fistulosum*), Hoắc (Lá đậu - *Glycine max*) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái'''). Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn *Cứu hoang bản thảo*, ý chỉ thật sâu sắc thay. Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ. Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''. Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại. ===Danh mục trích dẫn nguồn gốc=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú) * '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú) * '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung) * '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc) * '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí) * '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh) * '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương) * '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng) * '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh) * '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí) * '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích) * '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng) * '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi) * '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy) * '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh) * '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên) * '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương) * '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân) ===Phụ chú=== * Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy); * Ngô Phổ bản thảo; * Bào chích (Lôi Hiệu - Tống) * Dược đối (Từ Chi Tài - Tề) * Dược tính (Chân Quyền - Đường) * Tứ thanh (Tiêu Bỉnh) * Hải dược (Lý Tuân - Đường) * San phồn (Dương Tổn Chi) * Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống) * Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim) * Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên) * Thang dịch (Vương Hiếu Cổ) * Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên) * Hội biên (Uông Cơ - Minh) * Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh). ==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY) (32 LOẠI)== ===HẸ (Cửu - 韭)=== * (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''') * (Biệt lục: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương). * '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất). '''【Tập giải - Thu hái và bào chế】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất. * '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm). '''【Khí vị】''' * Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt. * '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu. * '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò. '''【Chủ trị】''' * Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày. * '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc. * '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn. * '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng. '''【Phát minh - Lý luận y học】''' * '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ. * '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên. * '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương. * '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) # '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống. # '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi. # '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống. # '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối). # '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào. # '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng. # '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi. # '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo *Chửu hậu phương*). # '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu. ====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)==== '''【Tu trị - Bào chế】''' * Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng. '''【Khí vị】''' * Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương. * 【Chủ trị】 * Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ. '''【Phát minh】''' * '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu. * '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh). '''【Phụ phương】''' # '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu. # '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống. # '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu. ===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)=== (Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''') (Trích: Thiên Kim) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này. * '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều. '''【Khí vị】''' * Mặn, lạnh, chát, không độc. '''【Chủ trị】''' * Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (*Thiên Kim*). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích. '''【Phụ lục】''' * '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng. * '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn. ===THÔNG - HÀNH (蔥)=== (Tên khoa học: '''Allium fistulosum''') (Biệt lục: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai. * '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - *Allium victorialis*). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất. * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (*Allium ascalonicum* - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc. * '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng. * '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng. ===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)=== '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc. * '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh. * '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê. * '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi. * '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người. * '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu. * '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành. '''【Chủ trị】''' * Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (*Bản kinh*). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. * '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (*Biệt lục*). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt. '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng) # '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi. # '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống. # '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống. # '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn. # '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào. # '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới. # '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa. ====THÔNG DIỆP (Lá hành)==== * '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản. * '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau. ====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)==== * '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc. * '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu. * '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương). ====THÔNG TU (Rễ hành)==== * '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục. * '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng. ====THÔNG HOA (Hoa hành)==== * '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm. ====THÔNG THỰC (Hạt hành)==== * '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi. * '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày. ===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI=== (Tên khoa học: '''Allium victorialis''') (Trích: Thiên Kim) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc. * '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách *Thiên kim thực tính* của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính hơi ấm, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi). '''【Chủ trị】''' * Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung). '''HẠT (Tử)''' * '''Khí vị:''' Như hành. * '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc). ===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)=== (Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''') (Khai Bảo Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông. * '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6. * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm. '''【Tu trị - Bào chế】''' * '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm. * '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng. * '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ. '''【Chủ trị】''' * Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng). '''【Phụ phương】''' * '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (*Thánh huệ phương*). '''HẠT (Tử)''' * '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên). ===KIỆU (薤 - Giới)=== (Tên khoa học: '''Allium chinense''') (Biệt lục: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội. * '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị. * '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. *Nông thư* của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - *Allium nipponicum*), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong *Nhĩ Nhã*. ====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)==== '''【Khí vị】''' * Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh. * '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng. * '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà). '''【Chủ trị】''' * Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (*Bản kinh*). * Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (*Biệt lục*). * Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên). * Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân). * '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân. * '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) # '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống. # '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi. # '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống. # '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày. # '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống. # '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu. # '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi. # '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt. # '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra. # '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài. '''【Phụ lục】''' * '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang. ===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)=== (Tên khoa học: '''Allium grayi''') (Biệt lục: Hạ phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng). * '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Khiên mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt. * '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5. * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi). * '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong *Nông thư* gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác. '''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người. * '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn. '''【Chủ trị】''' * Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (*Biệt lục*). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt. '''LÁ (Diệp)''' * '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em. '''【Phát minh】''' * '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu. * '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay. * '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống. * '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi. * '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm. * '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng). * '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông. * '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa. * '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương. * '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai. ===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG=== (Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''') (Trích: Thập Di) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi. * '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách *Nhĩ Nhã* gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam. * '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' * '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng). * '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí). ===HỒ - TỎI LỚN (葫)=== (Tên khoa học: '''Allium sativum''') (Biệt lục: Hạ phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng). * '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự. * '''Lý Thời Trân:''' Trương Khiên đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất. * '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng. * '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt. * '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao. * '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng. * '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi. '''【Chủ trị】''' * Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (*Biệt lục*). * Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (*Nhật hoa*). * Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân). '''【Phát minh - Lý luận y học】''' * '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh). * '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương. * '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên. * '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn. * '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn. * '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân. * '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông. * '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại. * '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm. * '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại). * '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống. * '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ. * '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi. * '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi. * '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau. * '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống. * '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi. * '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa. ===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay=== (Trích: Thập Di) '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt. '''【Chủ trị】''' * Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí). ===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)=== (Tên khoa học: '''Brassica napus''') (Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu). * '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè. '''THÂN VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát*). * '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối. * '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ. '''【Chủ trị】''' * Trị đan độc, sưng vú (*Đường Bản Thảo*). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (*Khai Bảo*). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (*Nhật hoa*). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng. '''【Phát minh】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn. * '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi. * '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống. * '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa. '''HẠT (Tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' * Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ". '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu. * '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống. * '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi. * '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi. * '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp. * '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên. * '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương. ===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng=== (Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''') (Biệt lục: Thượng phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Bạch thái. * '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách *Tì Nhã*, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất. * '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp). * '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng. '''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】''' * '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng. '''THÂN VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, tính ấm, không độc. (*Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ*). * '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi. * '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp. '''【Chủ trị】''' * Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (*Biệt lục*). * Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện. '''【Phụ phương】''' * '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên. * '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào. * '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay. '''HẠT (Tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh). '''【Phụ phương】''' * '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống. ===GIỚI - CẢI BẸ (芥)=== (Tên khoa học: '''Brassica juncea''') (Biệt lục: Thượng phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối. * '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây. * '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy. * '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách *Lĩnh Nam dị vật chí* chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà. '''THÂN VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng). '''【Chủ trị】''' * Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (*Biệt lục*). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. *Biệt lục* nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài. '''【Phụ phương】''' * '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên. * '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ. * '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa. * '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên. '''HẠT (Giới tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh. '''【Chủ trị】''' * Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài. * '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi. * '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má. * '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng. * '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai. * '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn. * '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi. * '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn. * '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp. * '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn. * '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn. ===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)=== (Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''') (Trích: Khai Bảo Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới. * '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon. * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều. * '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử). '''THÂN VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng. '''【Chủ trị】''' * Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa). '''HẠT (Bạch giới tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' * Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (*Biệt lục*). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (*Nhật hoa*). * Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó. * '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác. * '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu. * '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài *Bạch giới hoàn* (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa). * '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài *Hắc giới hoàn* (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm). * '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng. * '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi. * '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới. * '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi. * '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm. ===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại=== (Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''') (Biệt lục: Thượng phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát). * '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội. * '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon. * '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn. * '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ. * '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá. '''RỄ VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí. '''【Chủ trị】''' * Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (*Biệt lục*). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm. * '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống. * '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh. * '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào. * '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay. * '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên. * '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt. '''HẠT (Vụ tinh tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị đắng, cay, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Sáng mắt (*Biệt lục*). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây. '''【Phát minh】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày. * '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu. * '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống. * '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi. * '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói. * '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm. '''HOA''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm. ===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)=== (Tên khoa học: '''Raphanus sativus''') (Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách *Bác tế phương* gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm. * '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết. * '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt. '''RỄ (Căn)''' '''【Khí vị】''' * Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc. * '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ). * '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này. '''【Chủ trị】''' * Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (*Đường Bản thảo*). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu. * '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) 1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống. 2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn. 3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên. 4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi. 5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm. 6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn. 7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống. 8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại). 9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên. '''HẠT (La bặc tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, ngọt; tính bình; không độc. '''【Chủ trị】''' * Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách". * '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống. * '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi. * '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ. * '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi. * '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi. '''HOA''' * Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt. ===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)=== (Tên khoa học: '''Zingiber officinale''') (Biệt lục: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Sách *Thuyết văn* gọi là *Khương* (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là *Khương* (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9. * '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính hơi ấm, không độc. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ. * '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh. * '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán). '''【Chủ trị】''' * Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (*Bản kinh*). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (*Biệt lục*). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân). '''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)''' * Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế. '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột. * '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống. * '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh. * '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn. * '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã. * '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống. * '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay. * '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng. * '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại. * '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc. * '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào. * '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống. '''VỎ GỪNG (Khương bì)''' * Vị cay, tính mát, không độc. * '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt. * '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách *Đồ kinh*). '''LÁ GỪNG (Khương diệp)''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh. ===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)=== (Tên khoa học: '''Zingiber officinale''') (Bản kinh: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương. * '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng). '''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành. * '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc. * '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai. '''【Chủ trị】''' * Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (*Bản kinh*). * Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (*Biệt lục*). * Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền). * Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày. '''【Phát minh】''' * '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị. * '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán). * '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm. * '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống. * '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn. * '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi. * '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo. * '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm. * '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm. * '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ. * '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi. * '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền). * '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào. * '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn. * '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương. '''【Phụ lục】''' * '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương. ===ĐỒNG HAO (茼蒿)=== (Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''') (Trích: Gia Hựu Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Bồng hao. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết. * '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong *Thiên Kim Phương* mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo. '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng. '''【Chủ trị】''' * An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc). ===TÀ HAO (邪蒿)=== (Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''') (Trích: Gia Hựu Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn. * '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn. '''【Khí vị】''' * Vị cay; tính ấm, bình; không độc. * '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi. '''【Chủ trị】''' * Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên). * Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (*Thực y tâm kính*). ===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)=== (Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''') (Trích: Gia Hựu Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽). * '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Tuy* (荽) trong *Thuyết văn giải tự* chép là *Tùy* (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ *Nguyên* (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là *Tiên* (芫) trong hoa tiên là sai. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay. '''RỄ VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. * '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn. '''【Chủ trị】''' * Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (*Gia Hựu*). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ. * '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt). * '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày. * '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống. * '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống. * '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông. * '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống. * '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp. '''HẠT (Hồ tuy tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng. '''【Chủ trị】''' * Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm. * '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói. * '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ. * '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng. ===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)=== (Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''') (Trích: Bản Thảo Cương Mục) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị. * '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được. * '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng. '''RỄ (Căn)''' '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc. '''【Chủ trị】''' * Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân). '''HẠT (Tử)''' '''【Chủ trị】''' * Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân). ===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)=== (Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''') (Bản kinh: Hạ phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ. * '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ *Cần* (斳) sau này giản lược thành *Cần* (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách *Lã Thị Xuân Thu* khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải. * '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ. '''THÂN (Thân)''' '''【Khí vị】''' * Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát). * '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn. '''【Chủ trị】''' * Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (*Bản kinh*). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên). * Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh). '''【Phát minh】''' * '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống. * '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống. * '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp. '''HOA (Hoa)''' '''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc. '''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung). ===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)=== (Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''') (Trích: Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn). * '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím. * '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn. * '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ. '''RAU (Thái)''' '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc. '''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (*Đường bản*). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên). '''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu. '''【Phụ phương】''' 1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần. 2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng. 3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi. ===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)=== (Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''') (Trích: Đồ Kinh Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái. * '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái. * '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều. '''MẦM (Miêu)''' '''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ. '''HOA (Hoa)''' '''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng). '''【Phụ phương】''' * '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh. ===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI=== (Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''') (Trích: Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại). * '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được. '''MẦM (Miêu)''' * '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc. * '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân). '''HẠT (Tử)''' * '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc. * '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (*Đường bản*). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân). * '''Phụ phương:''' Bài *Tỉnh tỳ tán* trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng. ===HỒI HƯƠNG (茴香)=== (Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi) (Trích: Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu. * '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh. * '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng. '''HẠT (Tử)''' * '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang. * '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (*Đường bản*). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống. * '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống. * '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống. * '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn. * '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối. * '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau. * '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm. * '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối. '''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)''' * '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp. * '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh". ===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)=== (Tên khoa học: '''Anethum graveolens''') (Trích: Khai Bảo Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay. * '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu. '''MẦM (Miêu)''' * '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân). '''HẠT (Tử)''' * '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (*Nhật Hoa*). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân). '''【Phụ phương】''' * '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu. * '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu. '''【Phụ lục】''' * '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam). * '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy. * '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực. ===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)=== (Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''') (Trích: Gia Hựu Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt). * '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt. * '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí. '''【Chủ trị】''' * Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc. '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh. '''【Phụ phương】''' * '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần. * '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói. '''HẠT (Tử)''' * '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong. * '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ. '''【Phụ phương】''' * '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả. * '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng. ===BẠCH HOA THÁI (白花菜)=== (Tên khoa học: '''Cleome gynandra''') (Trích: Thực Vật Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn. * '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng. '''【Khí vị】''' * Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ. '''【Chủ trị】''' * Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân). ===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)=== (Tên khoa học: '''Rorippa indica''') (Trích: Bản Thảo Cương Mục) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay). * '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau *Tân* ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt. '''【Chủ trị】''' * Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân). ===THẢO THỊ - RAU ĐẬU XỊ (草豉)=== (Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''') (Trích: Bản Thảo Thập Di) '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Ba Thục, Tây Vực. Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] r8d5vr50tnm7rk478xs78la61iuidcc 204521 204517 2026-04-03T04:11:18Z Mrfly911 2215 204521 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之一 | năm= 1596 | phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị) | trước= [[../Cốc 4|Cốc 4]] | sau= [[../Thái 2|Thái 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==Mở đầu== '''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - Allium tuberosum), Giới (Kiệu - Allium chinense), Quỳ (Rau quỳ - Malva verticillata), Thông (Hành - Allium fistulosum), Hoắc (Lá đậu - Glycine max) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái'''). Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn Cứu hoang bản thảo, ý chỉ thật sâu sắc thay. Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ. Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''. Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại. ===Danh mục trích dẫn nguồn gốc=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú) * '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú) * '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung) * '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc) * '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí) * '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh) * '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương) * '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng) * '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh) * '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí) * '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích) * '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng) * '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi) * '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy) * '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh) * '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên) * '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương) * '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân) ===Phụ chú=== * Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy); * Ngô Phổ bản thảo; * Bào chích (Lôi Hiệu - Tống) * Dược đối (Từ Chi Tài - Tề) * Dược tính (Chân Quyền - Đường) * Tứ thanh (Tiêu Bỉnh) * Hải dược (Lý Tuân - Đường) * San phồn (Dương Tổn Chi) * Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống) * Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim) * Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên) * Thang dịch (Vương Hiếu Cổ) * Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên) * Hội biên (Uông Cơ - Minh) * Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh). ==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY) (32 LOẠI)== ===HẸ (Cửu - 韭)=== * (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''') * (Biệt lục: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương). * '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất). '''【Tập giải - Thu hái và bào chế】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất. * '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm). '''【Khí vị】''' * Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt. * '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu. * '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò. '''【Chủ trị】''' * Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày. * '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc. * '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn. * '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng. '''【Phát minh - Lý luận y học】''' * '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ. * '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên. * '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương. * '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) # '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống. # '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi. # '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống. # '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối). # '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào. # '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng. # '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi. # '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo Chửu hậu phương). # '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu. ====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)==== '''【Tu trị - Bào chế】''' * Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng. '''【Khí vị】''' * Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương. * 【Chủ trị】 * Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ. '''【Phát minh】''' * '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu. * '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh). '''【Phụ phương】''' # '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu. # '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống. # '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu. ===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)=== (Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''') (Trích: Thiên Kim) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này. * '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều. '''【Khí vị】''' * Mặn, lạnh, chát, không độc. '''【Chủ trị】''' * Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (Thiên Kim). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích. '''【Phụ lục】''' * '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng. * '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn. ===THÔNG - HÀNH (蔥)=== (Tên khoa học: '''Allium fistulosum''') (Biệt lục: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai. * '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - Allium victorialis). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất. * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (Allium ascalonicum - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc. * '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng. * '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng. ===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)=== '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc. * '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh. * '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê. * '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi. * '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người. * '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu. * '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành. '''【Chủ trị】''' * Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (Bản kinh). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (Biệt lục). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt. '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng) # '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi. # '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống. # '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống. # '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn. # '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào. # '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới. # '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa. ====THÔNG DIỆP (Lá hành)==== * '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản. * '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau. ====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)==== * '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc. * '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu. * '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương). ====THÔNG TU (Rễ hành)==== * '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục. * '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng. ====THÔNG HOA (Hoa hành)==== * '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm. ====THÔNG THỰC (Hạt hành)==== * '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi. * '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày. ===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI=== (Tên khoa học: '''Allium victorialis''') (Trích: Thiên Kim) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc. * '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách Thiên kim thực tính của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính hơi ấm, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi). '''【Chủ trị】''' * Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung). '''HẠT (Tử)''' * '''Khí vị:''' Như hành. * '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc). ===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)=== (Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''') (Khai Bảo Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông. * '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6. * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm. '''【Tu trị - Bào chế】''' * '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm. * '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng. * '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ. '''【Chủ trị】''' * Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng). '''【Phụ phương】''' * '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (Thánh huệ phương). '''HẠT (Tử)''' * '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên). ===KIỆU (薤 - Giới)=== (Tên khoa học: '''Allium chinense''') (Biệt lục: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội. * '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị. * '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. Nông thư của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - Allium nipponicum), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong Nhĩ Nhã. ====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)==== '''【Khí vị】''' * Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh. * '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng. * '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà). '''【Chủ trị】''' * Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (Bản kinh). * Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (Biệt lục). * Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên). * Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân). * '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân. * '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) # '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống. # '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi. # '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống. # '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày. # '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống. # '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu. # '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi. # '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt. # '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra. # '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài. '''【Phụ lục】''' * '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang. ===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)=== (Tên khoa học: '''Allium grayi''') (Biệt lục: Hạ phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng). * '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Khiên mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt. * '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5. * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi). * '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong Nông thư gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác. '''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người. * '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn. '''【Chủ trị】''' * Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (Biệt lục). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt. '''LÁ (Diệp)''' * '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em. '''【Phát minh】''' * '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu. * '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay. * '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống. * '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi. * '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm. * '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng). * '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông. * '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa. * '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương. * '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai. ===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG=== (Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''') (Trích: Thập Di) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi. * '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách Nhĩ Nhã gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam. * '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' * '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng). * '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí). ===HỒ - TỎI LỚN (葫)=== (Tên khoa học: '''Allium sativum''') (Biệt lục: Hạ phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng). * '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự. * '''Lý Thời Trân:''' Trương Khiên đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất. * '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng. * '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt. * '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao. * '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng. * '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi. '''【Chủ trị】''' * Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (Biệt lục). * Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (Nhật hoa). * Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân). '''【Phát minh - Lý luận y học】''' * '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh). * '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương. * '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên. * '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn. * '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn. * '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân. * '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông. * '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại. * '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm. * '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại). * '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống. * '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ. * '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi. * '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi. * '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau. * '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống. * '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi. * '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa. ===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay=== (Trích: Thập Di) '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt. '''【Chủ trị】''' * Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí). ===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)=== (Tên khoa học: '''Brassica napus''') (Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu). * '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè. '''THÂN VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. (Đại Minh nói tính mát). * '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối. * '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ. '''【Chủ trị】''' * Trị đan độc, sưng vú (Đường Bản Thảo). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (Khai Bảo). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (Nhật hoa). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng. '''【Phát minh】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn. * '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi. * '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống. * '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa. '''HẠT (Tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' * Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ". '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu. * '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống. * '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi. * '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi. * '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp. * '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên. * '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương. ===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng=== (Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''') (Biệt lục: Thượng phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Bạch thái. * '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách Tì Nhã, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất. * '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp). * '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng. '''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】''' * '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng. '''THÂN VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, tính ấm, không độc. (Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ). * '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi. * '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp. '''【Chủ trị】''' * Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (Biệt lục). * Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện. '''【Phụ phương】''' * '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên. * '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào. * '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay. '''HẠT (Tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh). '''【Phụ phương】''' * '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống. ===GIỚI - CẢI BẸ (芥)=== (Tên khoa học: '''Brassica juncea''') (Biệt lục: Thượng phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối. * '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây. * '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy. * '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách Lĩnh Nam dị vật chí chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà. '''THÂN VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng). '''【Chủ trị】''' * Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (Biệt lục). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. Biệt lục nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài. '''【Phụ phương】''' * '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên. * '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ. * '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa. * '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên. '''HẠT (Giới tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh. '''【Chủ trị】''' * Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài. * '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi. * '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má. * '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng. * '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai. * '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn. * '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi. * '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn. * '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp. * '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn. * '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn. ===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)=== (Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''') (Trích: Khai Bảo Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới. * '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon. * '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều. * '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử). '''THÂN VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng. '''【Chủ trị】''' * Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa). '''HẠT (Bạch giới tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' * Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (Biệt lục). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (Nhật hoa). * Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó. * '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác. * '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu. * '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài Bạch giới hoàn (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa). * '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài Hắc giới hoàn (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm). * '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng. * '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi. * '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới. * '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi. * '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm. ===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại=== (Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''') (Biệt lục: Thượng phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát). * '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội. * '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon. * '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn. * '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ. * '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá. '''RỄ VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí. '''【Chủ trị】''' * Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (Biệt lục). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm. * '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống. * '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh. * '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào. * '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay. * '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên. * '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt. '''HẠT (Vụ tinh tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị đắng, cay, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Sáng mắt (Biệt lục). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây. '''【Phát minh】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính) * '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày. * '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu. * '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống. * '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi. * '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói. * '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm. '''HOA''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm. ===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)=== (Tên khoa học: '''Raphanus sativus''') (Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách Bác tế phương gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm. * '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết. * '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt. '''RỄ (Căn)''' '''【Khí vị】''' * Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc. * '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ). * '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này. '''【Chủ trị】''' * Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (Đường Bản thảo). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu. * '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) 1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống. 2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn. 3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên. 4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi. 5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm. 6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn. 7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống. 8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại). 9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên. '''HẠT (La bặc tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, ngọt; tính bình; không độc. '''【Chủ trị】''' * Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách". * '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống. * '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi. * '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ. * '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi. * '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi. '''HOA''' * Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt. ===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)=== (Tên khoa học: '''Zingiber officinale''') (Biệt lục: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Sách Thuyết văn gọi là Khương (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là Khương (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9. * '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính hơi ấm, không độc. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ. * '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh. * '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán). '''【Chủ trị】''' * Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (Bản kinh). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (Biệt lục). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân). '''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)''' * Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế. '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột. * '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống. * '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh. * '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn. * '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã. * '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống. * '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay. * '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng. * '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại. * '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc. * '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào. * '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống. '''VỎ GỪNG (Khương bì)''' * Vị cay, tính mát, không độc. * '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt. * '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách Đồ kinh). '''LÁ GỪNG (Khương diệp)''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh. ===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)=== (Tên khoa học: '''Zingiber officinale''') (Bản kinh: Trung phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương. * '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng). '''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】''' * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành. * '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc. * '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai. '''【Chủ trị】''' * Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (Bản kinh). * Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (Biệt lục). * Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền). * Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày. '''【Phát minh】''' * '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị. * '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán). * '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm. * '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống. * '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn. * '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi. * '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo. * '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm. * '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm. * '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ. * '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi. * '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền). * '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào. * '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn. * '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương. '''【Phụ lục】''' * '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương. ===ĐỒNG HAO (茼蒿)=== (Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''') (Trích: Gia Hựu Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Bồng hao. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết. * '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong Thiên Kim Phương mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo. '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng. '''【Chủ trị】''' * An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc). ===TÀ HAO (邪蒿)=== (Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''') (Trích: Gia Hựu Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn. * '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn. '''【Khí vị】''' * Vị cay; tính ấm, bình; không độc. * '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi. '''【Chủ trị】''' * Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên). * Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (Thực y tâm kính). ===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)=== (Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''') (Trích: Gia Hựu Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽). * '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Tuy (荽) trong Thuyết văn giải tự chép là Tùy (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ Nguyên (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là Tiên (芫) trong hoa tiên là sai. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay. '''RỄ VÀ LÁ''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. * '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn. '''【Chủ trị】''' * Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (Gia Hựu). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ. * '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt). * '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày. * '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống. * '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống. * '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông. * '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống. * '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp. '''HẠT (Hồ tuy tử)''' '''【Khí vị】''' * Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng. '''【Chủ trị】''' * Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm. * '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói. * '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ. * '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng. ===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)=== (Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''') (Trích: Bản Thảo Cương Mục) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị. * '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được. * '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng. '''RỄ (Căn)''' '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc. '''【Chủ trị】''' * Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân). '''HẠT (Tử)''' '''【Chủ trị】''' * Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân). ===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)=== (Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''') (Bản kinh: Hạ phẩm) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ. * '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Cần (斳) sau này giản lược thành Cần (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách Lã Thị Xuân Thu khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải. * '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ. '''THÂN (Thân)''' '''【Khí vị】''' * Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát). * '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn. '''【Chủ trị】''' * Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (Bản kinh). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên). * Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh). '''【Phát minh】''' * '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống. * '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống. * '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp. '''HOA (Hoa)''' '''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc. '''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung). ===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)=== (Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''') (Trích: Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn). * '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím. * '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn. * '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ. '''RAU (Thái)''' '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc. '''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (Đường bản). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên). '''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu. '''【Phụ phương】''' 1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần. 2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng. 3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi. ===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)=== (Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''') (Trích: Đồ Kinh Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái. * '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái. * '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều. '''MẦM (Miêu)''' '''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ. '''HOA (Hoa)''' '''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng). '''【Phụ phương】''' * '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh. ===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI=== (Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''') (Trích: Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại). * '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được. '''MẦM (Miêu)''' * '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc. * '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân). '''HẠT (Tử)''' * '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc. * '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (Đường bản). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân). * '''Phụ phương:''' Bài Tỉnh tỳ tán trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng. ===HỒI HƯƠNG (茴香)=== (Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi) (Trích: Đường Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu. * '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh. * '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng. '''HẠT (Tử)''' * '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang. * '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (Đường bản). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên). '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính) * '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống. * '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống. * '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống. * '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn. * '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối. * '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau. * '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm. * '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối. '''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)''' * '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp. * '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh". ===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)=== (Tên khoa học: '''Anethum graveolens''') (Trích: Khai Bảo Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay. * '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm. * '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu. '''MẦM (Miêu)''' * '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân). '''HẠT (Tử)''' * '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (Nhật Hoa). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân). '''【Phụ phương】''' * '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu. * '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu. '''【Phụ lục】''' * '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam). * '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy. * '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực. ===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)=== (Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''') (Trích: Gia Hựu Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt). * '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt. * '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí. '''【Chủ trị】''' * Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc. '''【Phát minh】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh. '''【Phụ phương】''' * '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần. * '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói. '''HẠT (Tử)''' * '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong. * '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ. '''【Phụ phương】''' * '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả. * '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng. ===BẠCH HOA THÁI (白花菜)=== (Tên khoa học: '''Cleome gynandra''') (Trích: Thực Vật Bản Thảo) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê). '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn. * '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng. '''【Khí vị】''' * Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ. '''【Chủ trị】''' * Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân). ===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)=== (Tên khoa học: '''Rorippa indica''') (Trích: Bản Thảo Cương Mục) '''【Thích danh - Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay). * '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau Tân ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm. '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính ấm, không độc. * '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt. '''【Chủ trị】''' * Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân). ===THẢO THỊ - RAU ĐẬU XỊ (草豉)=== (Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''') (Trích: Bản Thảo Thập Di) '''【Tập giải - Thu hái và tập tính】''' * '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Ba Thục, Tây Vực. Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn. '''【Khí vị】''' * Vị cay, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] ex1hyga35ojvg2fkhdlx9d5h56zdky3 Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thái 2 114 71906 204516 2026-04-02T12:09:11Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之二 | năm= 1596 | phần = Thái - các loại '''rau''' phần 2 (Ba lăng, rau muống, thái, đông phong thái, tề, tích, phồn lâu, kê tràng thảo, mục túc, dền, mã xỉ hiện, khổ thái, bạch cự, oa cự, thủy khổ, phiên bạch thảo, tiên nhân trượng thảo, bồ…” 204516 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之二 | năm= 1596 | phần = Thái - các loại '''rau''' phần 2 (Ba lăng, rau muống, thái, đông phong thái, tề, tích, phồn lâu, kê tràng thảo, mục túc, dền, mã xỉ hiện, khổ thái, bạch cự, oa cự, thủy khổ, phiên bạch thảo, tiên nhân trượng thảo, bồ công anh, hoàng qua thái, sinh qua thái, lạc quỳ, dấp cá, quyết, thủy quyết, vi, kiều dao, lộc hoắc, hôi, lê, tần địch lê, đề hồ thái, dụ, thổ dụ, thạch dự, linh dư tử, cam thử, bách hợp, sơn đan, thảo thạch tằm, măng tre) | trước= [[../Thái 1|Thái 1]] | sau= [[../Thái 3|Thái 3]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==41 loại rau mềm== ===BA LĂNG (菠薐)=== (Ghi chép từ sách "Gia Hựu" thời Tống) Tên khoa học:''' Spinacia oleracea L. (cây cải bó xôi (rau chân vịt)) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Ba thái (菠菜 - *Bản thảo Cương mục*), Ba tư thảo (波斯草 - *Bản thảo Cương mục*), Xích căn thái (赤根菜 - Rau rễ đỏ). * '''Thận Vi nói:''' Xét theo *Gia thoại lục* của Lưu Vũ Tích: Giống Báo lăng vốn từ nước ngoài đưa tới. Có vị tăng mang hạt giống đến, nói rằng đó là giống từ nước Phả Lăng (頗陵), do đọc chệch đi mà thành Ba lăng (波棱). (Rau Ba lăng vốn từ Tây Vực, có vị tăng mang hạt từ đó đến, giống như cỏ Mục túc và Bồ đào do Trương Khiên đưa về. Lý Tuần nói: "Há chẳng phải từ nước Phả Lăng mang đến mà đọc chệch thành Ba lăng sao?"). * '''Thời Trân nói:''' Xét theo *Đường hội yếu*: Thời Đường Thái Tông, nước Ni Ba Duy (Nepal) dâng rau Ba lăng, lá giống cây hồng hoa, quả giống quả tật lê, nấu chín ăn rất ngon. Chính là loại này vậy. Các phương sĩ (thầy thuốc/đạo sĩ) ẩn danh gọi nó là Ba tư thảo (Cỏ Ba Tư). '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Ba lăng gieo vào tháng 8, tháng 9 thì dùng làm thức ăn cho mùa đông; gieo vào tháng Giêng, tháng 2 thì làm rau ăn mùa xuân. Thân cây mềm giòn, bên trong rỗng. Lá xanh bóng, mềm và dày, đầu lá có một mũi nhọn chính và hai mũi nhọn bên, hình dáng giống lá hoa đậu xị nhưng dài và lớn hơn. Rễ dài vài tấc, to như rễ Cát cánh (*Platycodon grandiflorus*) và có màu đỏ, vị rất ngọt. Tháng 4 cây mọc ngồng cao khoảng một thước. Có cây đực và cây cái. Hoa mọc từ thân, nhỏ li ti màu đỏ nhạt, mọc thành cụm không rõ rệt. Cây cái kết quả, quả có gai, hình dáng giống hạt Tật lê (*Tribulus terrestris*). Khi gieo hạt cần nghiền nhẹ cho lớp vỏ nứt ra thì hạt mới dễ hút nước mà nảy mầm. Hạt phải qua một kỳ trăng (một tháng) mới mọc, cũng là một đặc điểm kỳ lạ. ======RAU VÀ RỄ (Của rau chân vịt - Spinacia oleracea L.)====== '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, tính lạnh, trơn (hoạt), không độc. * '''Sĩ Lương nói:''' Hơi độc. Ăn nhiều khiến chân yếu, đau lưng, phát lạnh. Người vốn bị lạnh bụng (phúc lãnh) ăn vào tất bị tiêu chảy. Không ăn cùng lươn (*Monopterus albus*) vì gây hoắc loạn. Nước cốt luyện thành sương có thể chế phục thạch tín, thủy ngân, thư hoàng, lưu huỳnh. '''【Chủ trị】''' * Lợi ngũ tạng, thông nhiệt tràng vị, giải độc rượu. Người đang uống đan thạch (thuốc khoáng vật) ăn vào rất tốt (Mạnh Tiễn). * Thông huyết mạch, khai lồng ngực, hạ khí điều trung, chỉ khát nhuận táo. Phần rễ càng tốt (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Mạnh Tiễn nói:''' Người phương Bắc ăn nhiều thịt và bột mì, ăn rau này vào thì quân bình; người phương Nam ăn nhiều cá, ba ba, gạo nước, ăn vào dễ bị lạnh. Do đó ăn nhiều sẽ làm lạnh đại tiểu tràng. * '''Thời Trân nói:''' Theo *Nho môn sự thân* của Trương Tòng Chính: Người bệnh lâu ngày, đại tiện táo kết không thông hoặc người bị trĩ lậu, nên thường xuyên ăn rau chân vịt, rau quỳ. Tính trơn của chúng nuôi dưỡng các khiếu, giúp thông lợi tự nhiên. '''【Phụ phương】''' * Trị tiêu khát (tiểu đường) uống nước liên tục: Rễ rau chân vịt, Kê nội kim (màng mề gà) lượng bằng nhau, tán bột. Uống 1 tiền (3-4g) với nước cơm, ngày 3 lần. ===RAU MUỐNG (Úng thái - 蕹菜)=== '''Tên khoa học:''' Ipomoea aquatica Forsk. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Thời Trân nói:''' Úng (蕹) cũng giống như ủng (壅 - vun bồi). Loại rau này chỉ nhờ vun bồi mà thành nên gọi là Úng. '''【Tập giải】''' * '''Tàng Khí nói:''' Rau muống trồng ở vùng Lĩnh Nam. Thân bò, hoa trắng, ăn được. * '''Thời Trân nói:''' Nay người ở Kim Lăng và Giang Hạ trồng rất nhiều. Tính ưa đất ẩm, sợ sương tuyết. Tháng 9 đem cất vào hầm đất, tháng 3-4 lấy ra, vun bồi bằng phân đất thì mỗi đốt đều nảy mầm, một gốc có thể mọc đầy một luống. Thân mềm, rỗng giữa; lá giống lá rau chân vịt hoặc hình mũi đục. Vị nhạt, nên nấu cùng thịt lợn, khi thịt chuyển màu tím thì mới ngon. *Bắc hộ lục* nói lá giống lá liễu là sai. Theo *Thảo mộc trạng*: Lá rau muống giống rau mồng tơi (*Basella alba*) nhưng nhỏ hơn. Người phương Nam tết sậy làm bè, đục lỗ nhỏ thả trên mặt nước. Gieo hạt xuống nước, rễ nổi trên mặt nước như bèo. Khi lớn, cành lá đều mọc ra từ lỗ bè sậy, trôi nổi theo nước. Đây là loại rau lạ của phương Nam. Như vậy rau này thủy sinh hay lục sinh đều được. '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Giải độc cỏ Hồ man (độc Diệp cát - lá ngón *Gelsemium elegans*): Sắc ăn hoặc giã sống lấy nước uống (Tàng Khí). * Giã nước cốt hòa với rượu uống để trị đẻ khó (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Tàng Khí nói:''' Người phương Nam ăn rau muống trước, ăn Dã cát (lá ngón) sau, hai thứ khắc chế nhau nên không bị hại. Lấy nước rau muống nhỏ vào mầm lá ngón, mầm đó lập tức héo chết, sức tiêu diệt nhau mạnh như vậy. *Bác vật chí* của Trương Hoa nói Ngụy Vũ Đế ăn lá ngón đến một thước mà không sao, chắc là nhờ ăn rau này trước vậy. ===ĐIỀM THÁI (菾菜)=== '''Tên khoa học:''' Beta vulgaris var. cicla L. (Rau cải cầu vồng/Cải Thụy Sĩ) '''【Hiệu chính】''' * Gộp cả mục rau "Thiềm" (Thiềm thái) trong sách *Gia Hựu*. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Điềm thái''' (Rau ngọt), '''Thiềm thái'''. * '''Thời Trân nói:''' Điềm thái chính là Thiềm thái. Chữ "Thiềm" thông với chữ "Điềm" (ngọt), đặt theo vị của rau. Nghĩa của chữ "Thiềm" hiện chưa rõ. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Điềm thái là loại rau nay dùng để làm món hấp (ôi chưng). * '''Tô Cung nói:''' Lá giống mầm Thăng ma (*Shengma*), người phương Nam hấp hoặc nướng ăn, rất thơm ngon. * '''Bảo Thăng nói:''' Cây cao 3-4 thước, thân như cây Sóc địch (*Sambucus javanica*), có khía cạnh nhỏ, mùa hè tươi tốt, mùa đông khô héo. Đốt thân lấy tro luyện nước giặt áo quần sẽ trắng như ngọc. * '''Sĩ Lương nói:''' Lá giống cúc tím nhưng lớn hơn, hoa trắng. * '''Thời Trân nói:''' Gieo hạt vào tháng Giêng, tháng 2, rễ cũ cũng tự mọc lại. Lá màu xanh trắng, giống lá cải bắp trắng nhưng ngắn hơn, thân cũng tương tự nhưng nhỏ hơn một chút. Ăn sống hay chín đều được, hơi có mùi đất. Tháng 4 nở hoa trắng nhỏ. Kết quả hình dáng như quả Thù du, nhẹ và xốp, màu vàng đất, bên trong có hạt nhỏ. Rễ màu trắng. '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, đắng, tính rất lạnh (đại hàn), trơn (hoạt), không độc. * '''Vũ Tích nói:''' Tính bình, hơi độc. Người bị khí lạnh không nên ăn nhiều vì động khí. Người vốn bị lạnh bụng ăn vào tất bị tiêu chảy. '''【Chủ trị】''' * Trị bệnh thời hành sốt cao, giải độc phong nhiệt, giã nước uống sẽ khỏi (*Biệt lục*). * Mùa hè nấu cháo rau này ăn giúp giải nhiệt, trị lỵ do nhiệt độc. Giã nát đắp vết bỏng (ngải cứu), giúp giảm đau, mau lành (Tô Cung). * Giã nước uống chủ trị lỵ nóng lạnh. Lại giúp cầm máu, sinh cơ (mọc da non), trị các vết thương do thú vật cắn, đắp vào lập tức khỏi (Tàng Khí). Sắc nước uống giúp khai vị, thông tâm cách, hợp với phụ nữ (Đại Minh). Bổ trung hạ khí, điều lý tì khí, trị đầu phong, lợi ngũ tạng (*Gia Hựu*). '''RỄ (Điềm thái căn)''' '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' Thông kinh mạch, hạ khí, mở rộng vùng ngực bụng (*Chính yếu*). '''HẠT (Điềm thái tử)''' '''【Chủ trị】''' Nấu chín tái, giã lấy nước uống trị chứng nóng ở trẻ em (Mạnh Tiễn). Ngâm giấm xát mặt giúp tẩy sạch bã nhờn, da dẻ mịn màng, sáng bóng (Tàng Khí). '''【Phụ phương】''' * '''Trị trĩ lậu đi ngoài ra máu:''' Hạt Điềm thái, hạt Vân đài (cải dầu), hạt Kinh giới, hạt Rau mùi, hạt Xà lách, hạt Mạn kinh, hạt Củ cải, hạt Hành lượng bằng nhau. Lấy một con cá diếc lớn bỏ vảy và ruột, nhồi thuốc vào trong, khâu lại. Cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa luyện chín cả trên lẫn dưới, để nguội tán bột. Mỗi lần uống 2 tiền (8g) với nước cơm, ngày 2 lần. ===ĐÔNG PHONG THÁI (東風菜)=== '''Tên khoa học:''' *Doellingeria scabra* (Thunb.) Nees (tên cũ: *Aster scaber*) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Đông phong''' (Gió đông), '''Đông phong''' (Gió mùa đông). * '''Mã Chí nói:''' Rau này mọc trước mùa xuân nên gọi là Đông phong (Gió đông). Có chỗ viết là Đông phong (Gió mùa đông) ý nói nhận được khí của mùa đông. '''【Tập giải】''' * '''Mã Chí nói:''' Rau Đông phong mọc ở vùng đầm lầy Lĩnh Nam. Cao 2-3 thước, lá giống lá mơ nhưng dài, cực kỳ dày và mềm, trên có lông mịn, nấu ăn rất ngon. * '''Thời Trân nói:''' Theo *Quảng Châu ký* của Bùi Uyên: Rau Đông phong hoa và lá giống cây Lạc nhâm, thân màu tím. Nên nấu canh với thịt mỡ, mùi thơm như Mã lan (*Aster indicus*), vị như nhũ lạc (váng sữa). '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Phong độc ủng nhiệt, đau đầu chóng mặt, gan nhiệt mắt đỏ, dùng nấu canh hoặc làm món ăn rất tốt (*Khai bảo*). ===TỀ (薺) - RAU TỀ=== '''Tên khoa học:''' *Capsella bursa-pastoris* (L.) Medic. (Rau tề/Đào y) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Hộ sinh thảo'''. * '''Thời Trân nói:''' Rau tề mọc nơi đầm lầy (tế trạch) nên gọi là Tề. Nhà Phật lấy thân cây làm gậy khêu đèn để đuổi kiến, bướm đêm nên gọi là Hộ sinh thảo (cỏ bảo vệ chúng sinh). '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Tề có nhiều loại, đây là loại người nay thường ăn. Làm dưa muối hay nấu canh đều ngon. Kinh Thi có câu: "Ai bảo rau đồ đắng, nó ngọt như rau tề", chính là nói về loại này. * '''Thời Trân nói:''' Tề có loại lớn và nhỏ. Loại nhỏ lá hoa thân dẹt, vị ngon (gọi là Sa tề). Loại lớn thân lá đều to nhưng vị không bằng. Loại thân cứng có lông gọi là Tích minh, vị không ngon lắm. Cây mọc sau tiết Đông chí, tháng 2-3 mọc ngồng cao 5-6 thốn. Hoa trắng nhỏ mọc đều. Quả nang hình tam giác như bèo cám. Hạt bên trong như hạt Đình lịch, gọi là Thoa (菔), thu hoạch vào tháng 4. Sư Khoáng nói: "Năm nào muốn có vị ngọt thì Cam thảo mọc trước, rau Tề theo sau". Tích minh và Đình lịch đều thuộc loại rau Tề. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Lợi gan hòa trung (*Biệt lục*). Lợi ngũ tạng. Rễ: Trị đau mắt (Đại Minh). Sáng mắt bổ dạ dày (Thời Trân). Thân, lá: Đốt thành tro trị kiết lỵ ra máu trắng cực hiệu nghiệm (Diễn Quyền). '''【Phụ phương】''' * '''Mắt đỏ cấp tính, đau sưng nhức cộm:''' Rễ rau tề giã lấy nước nhỏ mắt (*Thánh huệ*). * '''Mắt có màng mộng (ế màng):''' Rau tề cả rễ, thân, lá rửa sạch, sấy khô tán bột mịn. Trước khi ngủ rửa sạch mắt, lấy một lượng bằng hạt gạo chấm vào hai khóe mắt. Tuy đau nhức nhưng cố nhịn, dùng lâu màng tự rụng (*Thánh tế tổng lục*). * '''Bụng sưng trướng to, tứ chi gầy khô, tiểu rắt:''' Đình lịch (sao), rễ rau tề lượng bằng nhau, tán bột, luyện mật làm viên bằng quả đạn. Mỗi lần uống 1 viên với nước trần bì. Uống 2-3 viên tiểu sẽ trong; hơn 10 viên bụng sẽ trở lại bình thường (*Tam nhân*). '''【Hạt (Tề thực)】''' * '''Chu Vương nói:''' Năm đói thu hạt, hòa nước thành khối, nấu cháo hoặc làm bánh rất dẻo. * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. Người bị bệnh khí ăn vào sẽ động khí lạnh. Không ăn cùng bột mì vì gây tức lưng. Người đang uống đan thạch không được ăn. * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, trị đau mắt, bổ ngũ tạng hư tổn, trị bụng trướng, giải nhiệt độc. Dùng lâu nhìn vật rõ ràng. '''【Hoa】''' Trải dưới chiếu để đuổi côn trùng, muỗi, bướm. Tán bột uống với nước táo trị lỵ lâu ngày. ===TÍCH MINH (菥蓂)=== '''Tên khoa học:''' Thlaspi arvense L. (Cải dại) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Đại tề''' (Tề lớn), '''Đại túc''', '''Mã tân'''. * '''Thời Trân nói:''' Các tên này không rõ nghĩa. *Ô Phổ bản thảo* gọi là Tích mục, Vinh mục, Mã câu. '''【Tập giải】''' * '''Cung nói:''' *Nhĩ Nhã* gọi Tích minh là Đại tề. Chú giải: Giống rau tề, dân gian gọi là Lão tề, vị ngọt không cay. * '''Tàng Khí nói:''' Đại tề là Đình lịch, không phải Tích minh. Quả Tích minh lớn và dẹt, quả Đình lịch nhỏ và tròn, hai thứ khác hẳn nhau. * '''Tụng nói:''' Đình lịch gọi là Điển (蕇), hạt và lá giống hạt cải, còn gọi là Cẩu tề. Tích minh là Đại tề. Cả hai đều thuộc loại rau tề nên người ta hay nhầm lẫn. * '''Thời Trân nói:''' Tề và Tích minh cùng một loại nhưng chia ra lớn nhỏ. Nhỏ là Tề, lớn là Tích minh (có lông). Công dụng hạt giống nhau. Tích minh vị ngọt hoa trắng, Đình lịch vị đắng hoa vàng. '''【Mầm (Tích minh miêu)】''' * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Hòa trung ích khí, lợi gan sáng mắt (Thời Trân). '''【Hạt (Tích minh tử)】''' * '''Khí vị:''' Vị cay, tính hơi ấm, không độc. (Tô Cung nói vị ngọt không cay). * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, trị đau mắt chảy nước mắt, trừ tê bại (biểu), bổ ngũ tạng, ích tinh quang. Dùng lâu nhẹ người trẻ mãi không già (*Bản kinh*). Trị đau thắt lưng bụng (*Biệt lục*). Trị tích tụ ở gan, mắt sưng đỏ (Diễn Quyền). '''【Phụ phương】''' * '''Mắt nóng đau, chảy nước mắt không ngừng:''' Hạt Tích minh tán bột. Khi ngủ dùng trâm đồng điểm một ít vào mắt, để nước mắt nóng và chất bẩn chảy ra là tốt. * '''Trong mắt mọc thịt thừa:''' Dùng phương như trên, điểm mắt mỗi đêm (*Hải thượng phương*). ===PHỒN LÂU (蘩縷)=== '''Tên khoa học:''' *Stellaria media* (L.) Vill. (Cỏ đại bi, Cầm bàng, Cỏ lòng máng) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Sản lâu, Tư thảo, Nga tràng thái''' (Rau ruột ngỗng). * '''Thời Trân nói:''' Cỏ này thân bò rất rậm rạp (phồn), giữa thân có một sợi tơ (lâu) nên gọi là Phồn lâu. Dân gian gọi là rau Ruột ngỗng vì hình dáng giống. Nó dễ sinh trưởng nên gọi là Tư thảo. '''【Tập giải】''' * '''Tô Cung nói:''' Đây chính là Kê tràng (ruột gà). Thường mọc nơi đất ẩm, cạnh mương rãnh. Người bình dân gọi là Kê tràng, bậc nhã sĩ gọi là Phồn lâu. * '''Thời Trân nói:''' Phồn lâu là Nga tràng (ruột ngỗng), không phải Kê tràng (ruột gà). Mọc rất nhiều nơi đất thấp ẩm. Tháng Giêng mọc mầm, lá to bằng đầu ngón tay. Thân nhỏ kéo dài, ngắt ra thấy bên trong rỗng, có một sợi trắng như tơ. Làm rau ăn rất ngọt giòn. Sau tháng 3 thì già. Hoa trắng cánh nhỏ. Quả nhỏ như hạt kê, bên trong có hạt mịn như hạt Đình lịch. Nga tràng vị ngọt, thân rỗng có tơ, hoa trắng; còn Kê tràng vị hơi đắng, nhai có dịch nhờn, thân không tơ, màu hơi tím, hoa cũng tím. '''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, không độc. (Thời Trân nói: vị ngọt, hơi mặn). Ăn cùng lươn sẽ gây tiêu khát và hay quên. '''【Chủ trị】''' Các loại mụn nhọt ác tính lâu năm, trĩ không khỏi. Phá huyết, thông sữa, phụ nữ sau sinh nên ăn. Trị đau bụng có khối sau sinh (huyết hòn): sao với rượu lấy nước ấm uống. Hoặc tán bột, làm viên với hồ giấm, uống 50 viên lúc đói để tống ác huyết ra ngoài (Tàng Khí). '''【Phụ phương】''' * '''Làm đen râu tóc:''' Ăn Phồn lâu làm rau trong thời gian dài. * '''Tiểu rắt cấp tính:''' Lấy hai nắm cỏ Phồn lâu sắc nước uống thường xuyên. * '''Mụn nhọt bộ phận sinh dục nam giới:''' Phồn lâu đốt tồn tính 5 phần, phân giun đất mới đùn 2 phần, hòa ít nước đắp vào. ===KÊ TRÀNG (雞腸)=== '''Tên khoa học:''' *Stellaria neglecta* Weihe hoặc *Stellaria aquatica* (L.) Scop. (Cỏ đường tàu) '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Kê tràng mọc nơi ẩm thấp. Tháng 2 mọc mầm, lá giống Nga tràng nhưng màu đậm hơn. Thân mang sắc tím, đặc ruột, không có tơ. Tháng 4 nở hoa tím nhỏ 5 cánh. Làm rau không ngon bằng Nga tràng. Nhai sống thấy có dịch nhờn (nên có thể dùng dính ve sầu). '''【Khí vị】''' Vị hơi cay, đắng, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' Độc sưng, cầm tiểu tiện quá nhiều. Trị lở loét do nước tiểu sâu róm. Trị đái dầm, tay chân nứt nẻ do nước lạnh. Đốt thành tro hòa muối trị mụn nhọt, phong chẩn ngứa ngáy toàn thân. Giã nước hòa mật ong trị lỵ đỏ trắng ở trẻ em rất tốt. Tán bột hoặc đốt tro xát răng trị sâu răng, hở lợi. ===MỤC TÚC (苜蓿)=== '''Tên khoa học:''' *Medicago sativa* L. (Cỏ ba lá/Lục lăng/Cỏ Alfalfa) (Cỏ ba lá/Lăng tiêu) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Mộc túc, Hoài phong thảo, Quang phong thảo, Liên chi thảo.''' * '''Thời Trân nói:''' Vì rễ cũ tự mọc lại qua mùa đông (túc) để chăn nuôi (mục) trâu ngựa nên gọi là Mục túc. Sách *Tây Kinh tạp ký* nói: Gió thổi qua cỏ này nghe xào xạc, ánh nắng chiếu vào hoa có hào quang nên gọi là Quang phong. '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Nguyên gốc từ nước Đại Uyển, Trương Khiển mang về Trung Quốc. Nay mọc hoang khắp nơi. Một năm có thể cắt 3 lần làm rau. Lá gồm 3 lá chét, xanh biếc. Hạ thu nở hoa vàng nhỏ. Quả đậu tròn dẹt, xoắn lại có gai, khi già màu đen. Hạt bên trong có thể nấu cơm hoặc nấu rượu. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, chát, không độc. Ăn nhiều gây lạnh gân cốt, khiến người gầy. Ăn cùng mật ong gây tiêu chảy. '''【Chủ trị】''' An trung, lợi người, có thể ăn lâu dài. Lợi ngũ tạng, nhẹ người, khỏe mạnh, tẩy sạch nhiệt tà ở tì vị, thông nhiệt độc ở tiểu trường. Ăn khô bổ dưỡng. '''【Rễ (Mục túc căn)】''' * '''Khí vị:''' Tính hàn, không độc. * '''Chủ trị:''' Phiền đầy do nhiệt bệnh, vàng mắt, đỏ mắt, tiểu vàng, vàng da do rượu (tửu đản). Giã lấy 1 lít nước cốt uống, gây nôn hoặc tiêu chảy là khỏi. Giã lấy nước sắc uống trị đau do sỏi đường tiết niệu (sa thạch lâm). ===RAU DỀN (Hiện 莧 - Amaranthus)=== *(Sách "Bản kinh" xếp loại Thượng phẩm)* '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Thời Trân nói:''' Thân lá đều cao lớn, dễ nhìn thấy (kiến), nên chữ Dền/Hiện (莧) có chữ Kiến (見). '''【Tập giải】''' * '''Biệt lục:''' Hạt dền (Amanrath thực) còn gọi là Mạc thực. Mọc ở Hoài Dương và trên đồng ruộng. Lá như lá chàm. Thu hái vào tháng 11. * '''Hoằng Cảnh:''' Hạt dền nên lấy từ Dền trắng. Dền gai (Khang dền/Tế dền) ăn ngon hơn nhưng tính lạnh, nhuận tràng. Lại có loại Dền đỏ thân tím không ăn được. Rau Sam (Mã xỉ dền) là loại khác, mọc bò mặt đất, không phải hạt dền này. * '''Bảo Thăng:''' Dền có 6 loại: Đỏ, Trắng, Dền cơm (Nhân dền), Tía, Ngũ sắc và Rau sam. Chỉ có Dền cơm và Dền trắng là lấy hạt làm thuốc. * '''Tụng:''' Dền cơm và Dền trắng tính rất lạnh. Dền tía không độc, không lạnh. Dền đỏ vị cay. Dền gai mọc hoang, lợn rất thích ăn nên gọi là Trư dền (Dền lợn). * '''Thời Trân:''' Dền gieo tháng 3, sau tháng 6 không nên ăn. Khi già thân cao bằng người, nở hoa kết bông. Hạt đen bóng, dẹt, thu hoạch tháng 9. '''RAU DỀN (菜)''' * '''Tên khoa học:''' *Amaranthus tricolor* L. (Dền đỏ/tía), *Amaranthus viridis* L. (Dền xanh/cơm). * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính lạnh, nhuận tràng, không độc. Dền đỏ: vị cay, tính hàn. * '''Lưu ý:''' Không ăn cùng thịt ba ba vì sinh chứng tích bụng (trứng ba ba). * '''Chủ trị:''' ** '''Dền trắng:''' Bổ khí, trừ nhiệt, thông chín khiếu. ** '''Dền đỏ:''' Trị lỵ ra máu, giải độc sâu độc, cát sâm. ** '''Dền tía:''' Sát trùng độc, trị lỵ do khí. ** '''Chung các loại:''' Lợi đại tiểu trường, trị lỵ mới phát, làm trơn thai (dễ đẻ). * '''Phụ phương:''' Trị sản hậu kiết lỵ (nấu cháo dền tía); trị lở môi ở trẻ em; trị vết cắn của rết, ong, rắn; giải độc sâu róm. '''HẠT DỀN (莧實 - Amaranthi Semen)''' * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''Chủ trị:''' Trị mù màu (thanh manh), sáng mắt, trừ tà khí, lợi đại tiểu tiện, trừ hàn nhiệt. Dùng lâu ích khí lực, nhẹ người. Trị màng mộng trắng, giết giun đũa. Trị gan phong khách nhiệt làm mắt có hoa đen. '''RỄ DỀN(根)''' * '''Chủ trị:''' Trị đau lạnh vùng kín dẫn đến sưng bụng (giã đắp). Đốt tồn tính tán bột xát trị đau răng. ===MÃ XỈ DỀN (馬齒莧 - Rau sam)=== *(Sách "Thục bản thảo")* '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Mã dền, Ngũ hành thảo, Ngũ phương thảo, Trường mệnh thái (Rau trường thọ), Cửu đầu sư tử thảo. * '''Thời Trân nói:''' Lá xếp đối nhau như răng ngựa (mã xỉ), tính trơn lợi như rau dền nên có tên này. Cây rất bền bỉ, khó héo khô nên gọi là Trường mệnh (sống lâu). * '''Tụng:''' Gọi là Ngũ hành thảo vì lá xanh, thân đỏ, hoa vàng, rễ trắng, hạt đen. '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân:''' Rau sam mọc khắp nơi. Thân mềm bò đất, lá nhỏ đối sinh. Tháng 6-7 nở hoa vàng nhỏ, quả nhọn chứa hạt như hạt Đình lịch. Người ta thường hái nấu chín rồi phơi khô làm rau dự trữ. Các phương sĩ dùng nó để chế phục thạch tín, thủy ngân, lưu huỳnh trong luyện đan. '''RAU SAM(菜)''' * '''Tên khoa học:''' *Portulaca oleracea* L. * '''Khí vị:''' Vị chua, tính hàn, không độc. (Tô Cung nói: vị cay, tính ấm). Tính hàn và trơn. * '''Chủ trị:''' ** Giã đắp trị các loại sưng phù, mụn cóc. Phá tích tụ, chỉ tiêu khát. ** Nhuận tràng, trị xích bạch đới ở phụ nữ. ** Uống nước cốt trị nôn mửa, tiểu rắt, vết thương chảy máu, trị lở môi và mặt ở trẻ em. Giải độc mồ hôi ngựa, sâu độc. ** Nấu cháo trị kiết lỵ, đau bụng, sát giun. Dùng lâu tóc không bạc. Tán huyết tiêu thũng, trơn thai dễ đẻ, trị sản hậu hư hãn (mồ hôi trộm). * '''Phát minh:''' Tướng quốc Võ Nguyên Hành bị ghẻ lở ở chân lâu ngày không khỏi, dùng rau sam giã nát đắp 2-3 lần là sạch. '''【Phụ phương】''' (Tóm tắt các phương tiêu biểu) * '''Phong nhiệt đau răng:''' Nhai rau sam ngậm lấy nước cốt. * '''Kiết lỵ ra máu ở trẻ em:''' Nước cốt rau sam hòa mật ong uống. * '''Trĩ mới phát:''' Ăn rau sam nấu chín, kết hợp xông rửa bằng nước sắc. * '''Giun đũa:''' Sắc rau sam với muối, giấm uống lúc đói. * '''Hôi nách:''' Rau sam giã với mật, bọc bùn nướng khô, tán bột hòa mật đắp vào nách. * '''Mụn nhọt, đinh độc:''' Giã rau sam tươi đắp hoặc đốt tro hòa giấm đắp. * '''Rết, ong, sâu róm đốt:''' Giã nát đắp vào vết thương. * '''Lang ben, nấm da:''' Nấu rau sam thành cao bôi hoặc đốt tro trộn mỡ lợn bôi. '''HẠT (馬齒莧子 - Portulacae Semen)''' * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, ích thọ. Trị mù màu, màng mộng, trừ tà khí, lợi đại tiểu trường. Tán bột nấu cháo hoặc làm canh ăn. Trị mắt hay chảy nước mắt hoặc chảy mủ (dùng cùng hạt dền cơm). ===KHỔ THÁI (苦菜)=== (Sách "Bản kinh" xếp loại Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' *Sonchus oleraceus* L. (Rau cúc đắng/Rau cải trời) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Đồ (荼), Khổ cự (苦苣), Khổ nặc (苦蕒), Du đông (游冬), Thiên hương thái.''' * '''Thời Trân nói:''' Gọi là "Khổ", "Đồ" vì vị đắng. Vì trải qua mùa đông và mùa xuân mà không chết nên gọi là "Du đông". '''【Tập giải】''' * '''Biệt lục:''' Mọc ở thung lũng, núi đồi, ven đường. Qua mùa đông không chết. Thu hái vào ngày 3 tháng 3, phơi khô trong bóng râm. * '''Thời Trân nói:''' Khổ thái chính là Khổ nặc. Loại trồng trong vườn gọi là Khổ cự, thực chất là cùng một loại. Đầu xuân mọc mầm, thân rỗng và giòn, bấm vào có nhựa trắng. Lá xẻ thùy như lá củ cải nhưng sắc xanh biếc. Hoa vàng như hoa cúc dại. Quả có lông trắng mềm, bay theo gió, rơi đâu mọc đó. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hàn, không độc. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn. Không ăn cùng mật ong vì gây trĩ nội. '''【Chủ trị】''' Trị tà khí ngũ tạng, dạ dày tê bí. Dùng lâu giúp an thần, ích khí, thông minh, ít ngủ, nhẹ người, trẻ lâu. Đắp trị đinh nhọt, sưng tấy, tẩy mụn cơm, trị rắn cắn. Nấu nước xông rửa trị trĩ lâu ngày (cực hiệu nghiệm). '''【Phụ phương】''' * '''Huyết lâm, tiểu ra máu:''' Một nắm Khổ nặc, sắc với nửa rượu nửa nước mà uống. * '''Họng sưng đau:''' Nước cốt Khổ nặc dại hòa với nước cốt bấc đèn (Đăng tâm thảo) uống. * '''Độc sâu rát (Sa sáp):''' Dùng nước cốt Khổ thái bôi lên vết đỏ trên da sẽ khỏi. '''【Rễ, Hoa, Hạt】''' * '''Rễ:''' Trị lỵ đỏ trắng, cốt chưng, lợi tiểu tiện. * '''Hoa, Hạt:''' Vị ngọt, tính bình. Trị nhiệt trong, an thần, trị vàng da (hoàng đản). ===BẠCH CỰ (白苣 - Xà lách trắng)=== '''Tên khoa học:''' *Lactuca sativa* L. var. *capitata* '''【Giải thích tên gọi】''' Thạch cự, Sinh thái (Rau sống). '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Giống Oa cự nhưng lá màu trắng hơn, bấm vào có nhựa trắng. Thường dùng ăn sống với muối và giấm nên gọi là Sinh thái. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hàn. Phụ nữ sau sinh không nên ăn vì gây lạnh bụng, đau tiểu trường. Không ăn cùng sữa/phô mai vì sinh ký sinh trùng. '''【Chủ trị】''' Bổ gân cốt, lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, làm trắng răng, giúp thông minh ít ngủ. Giải độc rượu, độc nhiệt. Trị mụn "mắt cá" (ngư tề sang) đau nhức. ===OA CỰ (萵苣 - Diếp thơm/Xà lách)=== '''Tên khoa học:''' *Lactuca sativa* L. var. *angustana* Irish '''【Giải thích tên gọi】''' Oa thái, Thiên kim thái. Tên gọi xuất phát từ việc giống này đến từ nước Oa (vùng Trung Á). '''【Tập giải】''' Gieo vào tháng Giêng, tháng 2. Lá dài nhọn, màu xanh, có nhựa trắng dính tay. Tháng 4 mọc ngồng cao 3-4 thước. Lột vỏ ăn sống vị như dưa chuột, hoặc muối dưa, gọi là Oa tử (Ngồng cải). '''【Rau (Thái)】''' * '''Khí vị:''' Vị đắng, tính lạnh, hơi độc. Ăn nhiều làm mờ mắt. * '''Chủ trị:''' Lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, làm răng trắng, hơi thở thơm tho. Thông sữa, lợi tiểu, sát trùng và nọc rắn. * '''Phụ phương:''' Trị nhũ dịch không thông (sắc với rượu); trị bí tiểu hoặc tiểu ra máu (giã đắp rốn); trị sâu tai (nhỏ nước cốt). '''【Hạt (Oa cự tử)】''' (Dùng trong thuốc thường sao qua) * '''Chủ trị:''' Thông sữa, lợi tiểu, trị âm nang sưng thũng, trĩ lậu ra máu, đau do chấn thương. * '''Phụ phương:''' ** '''Sữa không xuống:''' Hạt Oa cự mài thành mụn, uống với rượu hoặc nấu cháo với gạo nếp, Cam thảo. ** '''Thắt lưng đau do bong gân:''' Hạt Oa cự trắng (sao) 3 lạng, gạo nếp (sao), Nhũ hương, Một dược, Ô mai tán bột làm viên bằng quả đạn, uống với rượu nóng. ** '''Tóc/Râu không mọc chỗ sẹo:''' Cạo nhẹ da bằng dao tre, dùng hạt Oa cự giã cùng gừng khô (Hồ tôn khương) xát thường xuyên. ===THỦY KHỔ NẶC (水苦蕒)=== '''Tên khoa học:''' Veronica undulata Wall. (Sâm bàng chày/Bèo vảy ốc) * '''【Giải thích tên gọi】''' Rau Tạ Bà, Bán biên sơn. * '''【Tập giải】''' Tụng nói: Mọc bên khe suối. Lá giống Khổ nặc nhưng dày và bóng. Rễ giống Bạch truật nhưng mềm. Tháng 2, 8, 9 hái rễ ăn. * '''【Rễ - Khí vị】''' Vị hơi đắng, cay, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】''' Phong nhiệt thượng ủng, họng sưng đau và bướu cổ (phong lựu), mài với rượu uống. ===PHIÊN BẠCH THẢO (翻白草)=== '''Tên khoa học:''' *Potentilla discolor* Bunge (Cỏ lá bạc/Ủy lăng thái) * '''【Giải thích tên gọi】''' Cây Chân gà (Kê thối căn), Thiên ngẫu (Ngó sen trời). * '''【Tập giải】''' Thân cao 7-8 thốn. Lá cứng, răng cưa, mặt dưới trắng (nên gọi là Phiên bạch). Hoa vàng. Rễ to bằng ngón tay, vỏ đỏ thịt trắng, vị như thịt gà, có bột. Năm đói dân đào rễ ăn thay cơm. * '''【Rễ - Khí vị】''' Vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Thổ huyết, hạ huyết, băng lậu, sốt rét, ung nhọt. * '''【Phụ phương】''' Trị băng huyết (sắc rễ với rượu); thổ huyết không ngừng; sốt rét; nhọt độc không tên; ghẻ lở toàn thân (sắc nước tắm vào tiết Đoan ngọ). ===TIÊN NHÂN TRƯỢNG THẢO (仙人杖草)=== '''Tên khoa học:''' *Lepidium apetalum* Willd. (Hạt cải trời/Cỏ gậy tiên) * '''【Tập giải】''' Tàng Khí nói: Mọc ở vùng Kiếm Nam. Lá giống Khổ cự, mọc thành cụm. Tụng nói: Có 3 vật cùng tên này (một loại rau, một loại măng tre khô đen, và một tên khác của Câu kỷ). Đây là loại dùng làm rau ăn. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi ấm, không độc. * '''【Chủ trị】''' Làm rau ăn giúp trừ đờm tích, trừ phong lạnh. Dùng lâu khỏe gân cốt, trẻ mãi không già. ===BỒ CÔNG ANH (蒲公英)=== '''Tên khoa học:''' *Taraxacum mongolicum* Hand.-Mazz. * '''【Giải thích tên gọi】''' Cấu nặc thảo, Kim châm thảo, Hoàng hoa địa đinh. * '''【Tập giải】''' Mọc nơi bình nguyên, đồng ruộng. Thân lá giống Khổ cự, bấm có nhựa trắng. Hoa vàng như cúc đại đóa. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Sản phụ bị áp-xe vú (nhũ ung), sắc uống hoặc đắp tại chỗ. Giải độc thức ăn, tán khí trệ, hóa nhiệt độc, tiêu u bướu, đinh nhọt. Nhựa trắng bôi trị vết đâm độc. * '''【Phát minh】''' Chấn Hanh nói: Cây này thuộc hành Thổ, hoa vàng vị ngọt, vào kinh Dương minh và Thái âm, có kỳ công tiêu sưng tán kết. Thời Trân nói: Dùng đánh răng giúp bền răng, đen râu tóc (bài thuốc Hoàn thiếu đan). ===HOÀNG QUA THÁI (黃瓜菜)=== '''Tên khoa học:''' *Paraixeris denticulata* (Houtt.) Nakai (Rau cải trời hoa vàng) * '''【Giải thích tên gọi】''' Rau hoa vàng. Hoa vàng, mùi như dưa chuột (hoàng qua) nên tên vậy. * '''【Tập giải】''' Mọc hoang ngoài đồng. Hình như cải dầu nhưng vị hơi đắng. Nấu canh rất thơm ngon. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn. * '''【Chủ trị】''' Thông khí kết, lợi đường ruột. ===SINH QUA THÁI (生瓜菜)=== '''Tên khoa học:''' *Asperuga procumbens* L. (Rau mùi dưa) * '''【Giải thích tên gọi】''' Vị có mùi dưa sống. * '''【Tập giải】''' Mọc nơi ruộng phẳng ẩm ướt. Lá xanh tròn như Bạch dền. Hoa tím trắng. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi hàn. * '''【Chủ trị】''' Trị phong chạy khắp đầu mặt chân tay, thương hàn dương độc, sốt cao đau đầu, phiền táo. Giã nước uống hoặc đắp vết sưng. ===LẠC QUY (落葵)=== '''Tên khoa học:''' *Basella alba* L. (Mồng tơi) * '''【Giải thích tên gọi】''' Đằng quy, Thiên quy, Yên chi thái (Rau mồng tơi/Rau mồng tơi nhuộm da). * '''【Tập giải】''' Dây leo, lá tròn dày, mềm mướt. Quả khi chín màu tím đen, vò ra nước đỏ như phấn hồng (yên chi), phụ nữ dùng tô điểm mặt môi hoặc nhuộm vải. * '''【Lá - Khí vị】''' Vị chua (hoặc ngọt), tính hàn, trơn mướt. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn. * '''【Chủ trị】''' Hoạt trung, tán nhiệt, lợi đại tiểu trường. * '''【Quả】''' Giúp da mặt tươi nhuận, làm phấn sáp bôi mặt. ===TỨP THÁI (蕺菜 - Ngư tinh thảo)=== '''Tên khoa học:''' *Houttuynia cordata* Thunb. (Diếp cá) * '''【Giải thích tên gọi】''' Rau vựa (Tả thái), Cỏ tanh cá (Ngư tinh thảo). * '''【Tập giải】''' Mọc nơi ẩm ướt, bóng râm. Lá giống tam giác, một mặt xanh một mặt tím đỏ, mùi tanh như cá. * '''【Lá - Khí vị】''' Vị cay, tính hơi ấm, có độc nhẹ. Ăn nhiều gây suy yếu dương khí, tiêu tinh tủy, không lợi cho chân (người bị cước khí ăn vào không khỏi). * '''【Chủ trị】''' Trị lở loét do nước tiểu sâu róm, ung nhọt, trĩ, thoát vị đái chậu, giải độc độc. * '''【Phụ phương】''' Trị nhọt lưng; trĩ sưng đau; đinh nhọt; trẻ em thoát vị hậu môn; sâu răng (nhét tai); rắn rết cắn. ===QUYẾT (蕨)=== '''Tên khoa học:''' *Pteridium aquilinum* (L.) Kuhn (Rau dớn/Rau dương xỉ) * '''【Giải thích tên gọi】''' Biểu (鳖). Đầu mầm cuộn lại như tay trẻ con hoặc chân rùa nên tên vậy. * '''【Tập giải】''' Mọc vùng núi. Mầm non cuộn tròn, khi già xòe như đuôi phượng. Lấy mầm non luộc nước tro khử nhớt rồi làm rau. Rễ màu tím, bên trong có bột trắng, dùng làm bánh hoặc miến ăn rất ngon. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, trơn mướt, không độc. Ăn nhiều gây mờ mắt, ngạt mũi, rụng tóc, yếu chân. * '''【Chủ trị】''' Khử bạo nhiệt, lợi thủy đạo, giúp ngủ ngon. Bổ ngũ tạng hư tổn. Tro rễ trộn dầu đắp vết rắn cắn. * '''【Phát minh】''' Thời Trân nói: Rau này tính lạnh trơn, tiết dương khí, hạ mà không thăng, tiêu hao chân nguyên nên không nên ăn quá nhiều. ===THỦY QUYẾT (水蕨)=== '''Tên khoa học:''' *Ceratopteris thalictroides* (L.) Brongn. (Ráng đại chiến/Rau cần nước) * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Thủy quyết giống rau Dương xỉ (Quyết) nhưng mọc dưới nước. Sách *Lã Thị Xuân Thu* khen đây là loại rau ngon vùng Vân Mộng. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, đắng, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】''' Trị tích tụ trong bụng (bĩ tích). Luộc ăn nhạt trong 1-2 ngày sẽ tống khứ vật ác ra ngoài. Kiêng ăn tạp trong một tháng là tốt nhất. ===VI (薇)=== '''Tên khoa học:''' *Vicia sepium* L. (Vĩ diệp thố nhi đơn/Dã vạn đậu) * '''【Giải thích tên gọi】''' Thùy thủy, Dã vạn đậu, Đại sào thái. * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Vi mọc trong ruộng mạch hoặc ngoài đồng. Chính là loại Đậu vạn dại hiện nay, người Thục gọi là rau Sào (Sào thái). Cây dạng dây leo, thân lá mùi vị đều giống Đậu Hà Lan, dùng làm rau hay nấu canh đều tốt. Loại lớn là Vi, loại nhỏ là rau Nguyên Tu (Nguyên Tu thái). * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】''' Ăn lâu không đói, điều hòa trung tiêu, lợi đại tiểu trường, tiêu phù thũng, nhuận tràng. ===KIỀU YÊU (翹搖)=== '''Tên khoa học:''' *Astragalus sinicus* L. (Tử vân anh/Hoa vân anh) * '''【Giải thích tên gọi】''' Diêu xa, Dã tằm đậu (Đậu tằm dại), Tiểu sào thái. * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Cây có thân lá mềm mại, đung đưa (phiêu diêu) nên có tên vậy. Người Thục gieo vào mùa thu, hái vào mùa xuân. Khi cây già thì cày lật xuống làm phân bón ruộng. Lá giống lá hòe non, hoa màu tím trắng. * '''【Khí vị】''' Vị cay, tính bình, không độc. Ăn sống gây nôn ra nước. * '''【Chủ trị】''' Phá huyết, cầm máu, sinh cơ. Giã nước uống trị các chứng vàng da (hoàng bệnh). Lợi ngũ tạng, sáng mắt thính tai, trị sốt rét do nhiệt, hoạt huyết bình vị. ===LỘC HOẮC (鹿藿)=== '''Tên khoa học:''' *Rhynchosia volubilis* Lour. (Đậu cúc/Đậu rùa) * '''【Giải thích tên gọi】''' Lộc đậu, Lao đậu, Dã lục đậu (Đậu xanh dại). Vì hươu (lộc) thích ăn lá (hoắc) của nó nên tên vậy. * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Mọc nhiều nơi ruộng mạch và đồng hoang. Thân lá giống đậu xanh nhưng nhỏ hơn, dạng dây leo. Quả chín có hạt đen như hạt tiêu, có thể nấu ăn hoặc xay bột làm bánh. * '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Giải độc cổ, trị phụ nữ đau lưng bụng, trị nhọt ruột (tràng ung), tràng nhạc (loa lịch), các chứng ghẻ lở khí huyết. ===HÔI ĐIÊU (灰藋)=== '''Tên khoa học:''' *Chenopodium album* L. (Rau muối/Cỏ chân vịt) * '''【Giải thích tên gọi】''' Rau Hôi điều, Kim tỏa yểu. Vì thân lá có lớp phấn mịn như tro (hôi) nên tên vậy. * '''【Tập giải】''' Mọc nơi đất thuần thục. Thân có khía đỏ tím, mặt lá xanh, lưng lá có phấn trắng. Tháng 7-8 kết hạt từng chùm như hạt cầu, có thể đồ chín lấy nhân nấu cơm hoặc xay bột ăn. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Trị ác sang, côn trùng, nhện cắn (giã đắp với dầu). Nấu nước tắm trị ghẻ lở, ngứa ngáy. Tro hạt dùng sát trùng răng sâu, tẩy thịt thừa, trị bạch biến, tàn nhang. Nhân hạt ăn giúp diệt ký sinh trùng (tam trùng). ===LÊ (藜)=== '''Tên khoa học:''' *Chenopodium giganteum* D. Don (Rau muối đỏ/Hồng tâm thái) * '''【Giải thích tên gọi】''' Lai, Hồng tâm hôi điều, Hạc đỉnh thảo, Yên chi thái. * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Chính là loại Rau muối có tâm đỏ. Người phương Bắc gọi là Lạc lê, người phương Nam gọi là rau Yên chi. Khi già thân cứng có thể làm gậy chống. * '''【Lá - Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, hơi độc. * '''【Chủ trị】''' Diệt trùng. Sắc canh rửa mụn nhọt, súc miệng trị sâu răng. Giã đắp vết trùng cắn, trị lang ben. Thân đốt thành tro dùng tẩy mụn cóc, nốt ruồi đen và thịt thừa. ===TẦN ĐỊCH LÊ (秦荻藜)=== '''Tên khoa học:''' *Chenopodium ficifolium* Sm. (Rau muối lá hình lá vả) * '''【Giải thích tên gọi】''' Thời Trân nói: Sách *Sơn Hải Kinh* chép tại núi Tần có loại cỏ như cây địch (cỏ lau), gọi là Lê, có thể làm dưa muối. * '''【Khí vị】''' Vị cay, tính ấm, không độc. Là loại ngon nhất trong các loại rau sống. * '''【Chủ trị】''' Trị đau bụng lạnh trướng, hạ khí tiêu thực. Tán bột uống với rượu trị đau tim đột ngột, khí uất nghẹn. Hạt giã nát hòa giấm đắp trị sưng độc. ===ĐỀ HỒ THÁI (醍醐菜)=== '''Tên khoa học:''' *Cynanchum corymbosum* Wight. (Dây da bò/Sâm sữa) * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: *Chứng loại Bản thảo* có chép nhưng hình trạng chưa khảo cứu được. Duy có Lôi Hiệu nói: Hình giống dây da bò, bấm vào có nhựa trắng, mùi thơm ngọt. Hái về dùng dao tre cắt nhỏ, nghiền nát như cao, dùng lụa lọc lấy nước, uống ấm. Tuy nhiên không nói rõ trị bệnh gì. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc. * '''【Chủ trị】''' Kinh nguyệt không đều: giã lá lấy nước cốt, hòa rượu sắc uống (theo *Thiên Kim*). * '''【Phụ phương】''' Trị nội thương băng huyết: Đề hồ giã lấy nước, hòa rượu đun sôi, uống một bát lúc đói. ### '''【Phụ lục】''' * '''Mao cao thảo (茅膏菜 - *Drosera peltata*):''' Vị ngọt, bình, không độc. Sắc uống trị kiết lỵ đỏ trắng lâu ngày. Cây có nhựa dính như mỡ, quả dạng sừng. * '''Kê hầu thái (雞侯菜):''' Vị cay, ấm, không độc. Ăn lâu giúp ấm trung tiêu, ích khí. Hình giống cây Ngải, mọc ở Lĩnh Nam. * '''Mạnh nương thái (孟娘菜):''' Vị đắng, tính hơi ấm, không độc. Trị phụ nữ huyết kết gầy yếu, nam giới bìu dái thấp ngứa, cường dương, bổ hư, trị trĩ, tràng nhạc, bướu cổ. Lá giống Thăng ma, thân vuông. * '''Ưu điện (優殿):''' Vị cay, ấm, không độc. Ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực. Mọc ở An Nam (Việt Nam), người dân trồng làm rau ăn với tương đậu rất thơm ngon. ===DỤ (芋 - Khoai môn)=== '''Tên khoa học:''' *Colocasia esculenta* (L.) Schott * '''【Giải thích tên gọi】''' Thổ chi, Tuấn si (Chim cú ngồi). Thời Trân nói: Củ lớn lá to khiến người ta kinh ngạc (hú/dụ) nên gọi là Dụ. Hình dáng củ như chim cú đang ngồi nên gọi là Tuấn si. * '''【Tập giải】''' Hoằng Cảnh nói: Khoai tươi có độc, vị tê ngứa không ăn được. Có loại khoai dại (Dã dụ) hình lá rất giống khoai ăn nhưng rễ có độc chết người. ** Cung nói có 6 loại: Khoai xanh, khoai tím, khoai thật (chân dụ), khoai trắng, khoai liên thiền và khoai dại. Khoai xanh nhiều con, dài và độc nhiều, khi nấu phải dùng nước tro. Các loại khác độc ít, nấu ăn hoặc nấu canh với thịt rất tốt. ** Thời Trân nói: Có hai loại là khoai nước và khoai cạn. Khoai nước vị ngon hơn. Thân (dọc mùng) cũng ăn được. Khoai thường không hoa, nếu nở thì hoa màu vàng. Sách *Quảng chí* liệt kê 14 loài khác nhau tùy kích thước củ và vị. * '''【Củ (Dụ tử) - Khí vị】''' Vị cay, tính bình, trơn mướt, có độc nhẹ. Ăn nhiều khó tiêu, gây trệ khí tỳ vị. * '''【Chủ trị】''' Khoan khoái dạ dày, làm đầy đặn cơ bắp. Ăn lạnh trị phiền nhiệt, chỉ khát. Giúp người béo trắng, thông táo bón. Sản phụ ăn vào giúp phá huyết ứ, uống nước cốt giúp chỉ khát do mất máu. Trị tử nhục (thịt thừa), bổ hư. * '''【Phát minh】''' Khoai trắng không vị, khoai tím phá khí. Tháng 10 phơi khô thu giữ, ăn mùa đông không phát bệnh. Khi nấu nên nấu với gừng, thay nước mới rồi ăn. * '''【Phụ phương】''' Trị bĩ tích trong bụng; trị phong ngứa ngoài da; trị mụn nhọt sưng đau do phong tà (dùng khoai trắng đốt thành tro đắp); trị nhọt mềm trên đầu (giã khoai tươi đắp). '''LÁ VÀ THÂN KHOAI (Dụ diệp, ngạnh)''' * '''【Khí vị】''' Vị cay, tính lạnh, trơn mướt, không độc. * '''【Chủ trị】''' Trừ phiền, chỉ tả (cầm tiêu chảy), trị phụ nữ có thai tâm phiền mê muội, thai động bất an. Giã với muối đắp vết rắn rết, sâu bọ cắn và nhọt độc. Thân khoai (dọc mùng) sát vào chỗ ong đốt rất tốt. Nhựa bôi trị nhện cắn. * '''【Phát minh】''' Thẩm Quát chép: Thấy nhện bị ong đốt bụng sưng to sắp nứt, nhện bò vào ăn thân khoai rồi cọ vết thương vào đó, một lúc sau bụng xẹp lại như cũ. Từ đó dùng trị ong đốt rất nghiệm. '''【Phụ lục】''' * '''Dã dụ (野芋 - Khoai dại):''' Hình lá giống khoai ăn nhưng cực độc, ăn vào gây phiền muội muốn chết, cứu bằng nước đậu nành hoặc nước phân. Loại nhỏ là Dã dụ, loại lớn là Thiên hà (Hải dụ - *Alocasia macrorrhizos*). Rễ dã dụ vị cay lạnh, độc nặng, mài với giấm đắp ghẻ lở, sâu bọ cắn. ===THỔ DỤ (CỦ KHOAI ĐẤT)=== (Trích: Thập Di) '''Tên khoa học:''' Dioscorea bulbifera L. * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tên gọi khác:''' Thổ noãn (*Thập Di*), Hoàng độc (*Cương mục*), Thổ đậu. * '''Tập giải:''' * Tàng Khí nói: Thổ dụ thân leo, lá như lá đậu, rễ tròn như quả trứng. Ăn vào gây nôn mửa dữ dội, người không nên ăn. Lại nói: Thổ noãn thân leo, giống khoai môn, người ta luộc với nước tro để ăn. ** Cung nói: Thổ noãn giống khoai môn nhỏ, thịt trắng vỏ vàng. Người vùng Lương, Hán gọi là Hoàng độc, có thể hấp ăn. * '''Rễ:''' ** '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay, tính hàn, có độc nhỏ. ** '''Chủ trị:''' Giải độc các loại thuốc. Giã tươi hòa nước uống, nôn ra chất độc thì dừng. Nấu chín ăn vị ngọt mỹ, không đói, làm dày ruột gan, trị ho do nhiệt (Tàng Khí). ===THỰ DỰ (HOÀI SƠN/SƠN DƯỢC)=== *(Trích: Bản kinh - Thượng phẩm)* '''Tên khoa học:''' Dioscorea polystachya Turcz. (syn. Dioscorea opposita) * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tên gọi khác:''' Thự dự, Thổ thự, Sơn thự, Sơn dụ, Sơn dược, Ngọc diên, Nhi thảo, Tu thúy. ** *Lưu ý:* Đời Đường kỵ húy vua Đường Đại Tông (Lý Dự) đổi thành '''Sơn dược''', đời Tống kỵ húy vua Tống Anh Tông (Triệu Thự) nên tên gốc Thự Dự dần ít dùng. * '''Tập giải:''' * Mọc ở thung lũng núi Cao Tung. Thân đỏ, leo nhỏ, hoa trắng, quả xanh vàng. Rễ trong trắng ngoài vàng. ** Có hai loại: Loại trắng là thượng hạng, làm phấn ăn rất tốt và bổ; loại xanh đen vị kém không dùng. ** Người phương Nam có loại rễ nhỏ như ngón tay, chắc, nấu canh không tan, vị rất ngon, bổ hơn loại trồng trong vườn. Lại có loại ở Mân Trung rễ giống gừng, khoai, vỏ tím, to vài cân, tính lạnh hơn loại phương Bắc. ** Thời Trân nói: Dùng làm thuốc thì loại mọc hoang là tốt nhất; dùng làm thức ăn thì loại trồng là tốt. Tháng 5-6 nở hoa chùm màu hồng nhạt. Quả có ba cạnh, hạt kết bên cạnh trông như viên đạn (Linh dư), luộc ăn ngọt nhớt như rễ. * '''Tu trị (Bào chế):''' Gọt vỏ, ngâm nước có pha chút phèn chua để sạch nhớt, sấy khô. Làm thuốc quý ở chỗ phơi khô tự nhiên. Sinh dùng thì tính trơn, chín dùng thì trệ khí. Không dùng loại mọc ở ruộng phẳng, nên dùng loại mọc trong núi lâu năm. * '''Rễ:''' ** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính ấm, bình, không độc. Ghét Cam toại. ** '''Chủ trị:''' Bổ hư lao, gầy yếu, trừ hàn nhiệt tà khí, ích khí lực, dưỡng cơ bắp, cường âm. Dùng lâu làm sáng tai mắt, nhẹ người, không đói, kéo dài tuổi thọ. Trị phong trên mặt, chóng mặt, hạ khí, trị đau lưng, bổ ngũ tạng, trừ phiền nhiệt. Mạnh gân xương, trị di tinh, hay quên. Ích thận khí, kiện tì vị, cầm tiêu chảy, hóa đờm, nhuận da lông. Giã tươi đắp trị mụn nhọt sưng cứng. * '''Phát minh:''' * Dùng cho người cơ thể hư nhược rất tốt. Giúp nam giới trợ âm lực. ** Lý Cao nói: Sơn dược nhập thủ Thái âm Phế kinh, tính mát mà bổ. Trị da khô nhuận rất tốt. * '''Phụ phương:''' ** '''Bổ hư tổn, tiểu nhiều, gầy yếu:''' Sơn dược nghiền nhỏ, cho vào nồi với một thìa mỡ bò (tô) đun thơm, thêm rượu đun đều, uống lúc đói. ** '''Bụng đầy chướng, tay chân lạnh, nôn mửa:''' Sơn dược nửa sống nửa sao, tán bột. Uống 2 tiền với nước cơm. Kỵ đồ sắt. ** '''Tiểu nhiều:''' Sơn dược (nấu nước phèn), Bạch phục linh bằng nhau, tán bột. Uống 2 tiền. ** '''Lỵ cấm khẩu:''' Sơn dược nửa sống nửa sao, tán bột, uống với nước cơm. ** '''Đờm phong suyễn cấp:''' Sơn dược tươi giã nát nửa bát, trộn nửa bát nước mía, đun nóng uống ngay. ** '''Tì vị hư yếu, chán ăn:''' Sơn dụ, Bạch truật mỗi thứ 1 lạng, Nhân sâm 7 chỉ rưỡi, tán bột, làm viên bằng hạt đậu, uống 40-50 viên. ** '''Tiêu chảy do thấp nhiệt:''' Sơn dược, Thương truật bằng nhau, làm viên uống. ** '''Nhọt độc mới phát:''' Sơn dược tươi (còn dính đất), hạt Thầu dầu, Gạo nếp bằng nhau, ngâm nước nghiền nát, đắp lên. ** '''Lở loét vùng háng, lưng:''' Sơn dược và Đường đỏ cùng giã, bôi lên. ** '''Kết hạch sau cổ hoặc sưng đau:''' Sơn dược tươi gọt vỏ, 2 hạt Thầu dầu cùng nghiền, đắp vào rất thần hiệu. ** '''Bỏng lạnh tay chân:''' Một khúc Sơn dược, mài thành bùn đắp vào ===LINH DƯ TỬ (DÁI MAI/CỦ KHÔNG KHÍ)=== *(Trích: Thập Di)* '''Tên khoa học:''' *Dioscorea bulbifera* L. * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tập giải:''' * Tàng Khí nói: Linh dư tử to như trứng gà, nhỏ như viên đạn, mọc dưới nách lá. Phơi khô dùng công hiệu mạnh hơn Sơn dược. Đây là một loại trong các giống Thự dự. ** Thời Trân nói: Đây là quả kết trên dây leo của cây Sơn dược. Hình dáng dài tròn không đều, vỏ vàng thịt trắng. Luộc chín bỏ vỏ ăn ngon hơn Sơn dược và khoai môn. Thu hoạch sau mùa sương giáng. Hạt rơi xuống đất cũng dễ mọc rễ. * '''Khí vị:''' Ngọt, ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Bổ hư tổn, mạnh lưng chân, ích thận, ăn vào không đói (Tàng Khí). ===CAM THỰ (KHOAI LANG)=== *(Trích: Cương Mục)* '''Tên khoa học:''' *Ipomoea batatas* (L.) Lam. * '''Tập giải:''' * Thời Trân nói: Theo *Dị vật chí*, Cam thự xuất xứ từ vùng Giao Chỉ, Quảng Châu phương Nam. Dân trồng tháng 2, thu hoạch tháng 10. Rễ giống khoai môn, có củ rất lớn như trứng ngỗng, nhỏ như trứng gà vịt. Bóc vỏ tím thấy thịt trắng như mỡ. Người miền Nam dùng thay lương thực hoặc làm trái cây, hấp nướng đều thơm ngon. Mới đầu rất ngọt, để lâu gặp gió vị sẽ nhạt đi. ** Theo *Thảo mộc trạng*: Cam thự thuộc loại Thự dự hoặc khoai môn, lá rễ cũng tương tự. Củ to như nắm tay hoặc bát cơm, vị như Sơn dược, tính không quá lạnh. Người vùng Hải Đảo không làm ruộng chỉ trồng thứ này, cắt lát phơi khô làm lương thực gọi là Thự lương. Người vùng biển nhiều người thọ là do không ăn ngũ cốc mà chỉ ăn Cam thự. * '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Bổ hư phạp, ích khí lực, kiện tì vị, cường thận âm, công dụng giống Sơn dược (Thời Trân). ===BÁCH HỢP (HOA HUỆ TÂY/LOA KÈN)=== *(Trích: Bản kinh - Trung phẩm)* '''Tên khoa học:''' *Lilium brownii* var. *viridulum* Baker * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tên gọi khác:''' Phiên, Cường cù, Toán não thự (Khoai đầu tỏi), Ma la, Trọng tương. * '''Giải thích tên gọi:''' Rễ do nhiều cánh (vảy) hợp thành nên gọi là Bách hợp (trăm thứ hợp lại). Có thuyết nói do trị được bệnh "Bách hợp". Vì rễ giống củ tỏi, vị như khoai nên tục gọi là Toán não thự. * '''Tập giải:''' * Mọc ở lũng núi Kinh Châu. Tháng 2, tháng 8 đào rễ phơi khô. Rễ như củ tỏi lớn, hàng chục vảy chồng lên nhau. ** Có hai loại: Loại lá lớn thân dài, rễ thô hoa trắng dùng làm thuốc; loại lá nhỏ hoa đỏ (Sơn đan) không dùng. ** Cần phân biệt: *** '''Bách hợp (*Lilium brownii*):''' Thân đứng, lá ngắn rộng như lá trúc, hoa trắng lớn rủ xuống. *** '''Sơn đan (*Lilium pumilum*):''' Lá dài hẹp như lá liễu, hoa đỏ không rủ. *** '''Quyển đan (*Lilium lancifolium* - Loa kèn vảy rồng):''' Thân cao, hoa đỏ cam có đốm đen rủ xuống, nách lá có hạt đen (linh dư tử). Loại này Tô Tụng nói không dùng làm thuốc, nhưng Lý Thời Trân đính chính là có thể dùng. * '''Rễ (Thân hành):''' ** '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc. Quyền nói: Có độc nhỏ. ** '''Chủ trị:''' Trị tà khí gây đầy bụng, đau tim, lợi tiểu tiện, bổ trung ích khí. Trị phù thũng, trướng bụng, đầy trướng, sốt rét, đau nhức toàn thân, thông sữa, viêm họng, cầm nước mắt nước mũi. An thần, định phách, dưỡng ngũ tạng, trị điên cuồng, kinh sợ, huyết vận sau sinh. Chưng với mật ong trị đau tim do hoàng đản. Ôn phổi chỉ khái (trị ho). * '''Phát minh:''' Trương Trọng Cảnh có 4 phương trị bệnh Bách hợp (Bách hợp tri mẫu thang, Bách hợp hoạt thạch đại赭 thang, Bách hợp kê tử thang, Bách hợp địa hoàng thang). * '''Phụ phương (Tóm lược):''' ** '''Bệnh Bách hợp:''' Dùng Bách hợp sắc cùng Tri mẫu, hoặc lòng đỏ trứng gà, hoặc Đại赭 thạch/Hoạt thạch, hoặc Địa hoàng tùy chứng (theo *Kim quỹ yếu lược*). ** '''Tiêu khát/Nhiệt do bệnh Bách hợp:''' Sắc lấy nước tắm hoặc uống với Hoạt thạch. ** '''Ho do phổi nhiệt:''' Bách hợp tươi 4 lạng, chưng với mật cho mềm, ngậm nuốt nước. ** '''Thổ huyết:''' Giã Bách hợp tươi lấy nước uống. ** '''Bệnh tai:''' Khô Bách hợp tán bột uống. ** '''Trị tóc bạc:''' Giã nát Bách hợp ủ kín 100 ngày, nhổ tóc bạc đắp vào sẽ mọc tóc đen. ** '''Mụn nhọt, lở loét:''' Giã nát đắp (tươi hoặc phối hợp muối/dấm). ** '''Hóc xương cá:''' Bách hợp tán bột, hòa nước mật bôi quanh cổ. * '''Hoa:''' Trị mụn mủ trẻ em (phơi khô tán bột trộn dầu cải bôi). * '''Hạt:''' Sao rượu tán bột uống trị đại tiện ra máu. ===SƠN ĐAN (HOA LILY CHI MAI)=== *(Trích: Nhật Hoa)* '''Tên khoa học:''' *Lilium pumilum* DC. * '''Tên gọi khác:''' Hồng bách hợp (*Nhật Hoa*), Liên châu, Xuyên cường cù (*Thông chí*), Hồng hoa thái. * '''Tập giải:''' ** Thẩm nói: Loại Bách hợp hoa đỏ gọi là Sơn đan. Rễ của nó ăn không tốt bằng loại hoa trắng. ** Thời Trân nói: Rễ Sơn đan giống Bách hợp nhưng nhỏ và ít vảy hơn, thân cũng ngắn nhỏ. Lá hẹp, dài và nhọn, rất giống lá liễu, khác hẳn với Bách hợp. Tháng 4 nở hoa đỏ, hoa có 6 cánh không rủ xuống, cũng kết hạt nhỏ. Người vùng Yến, Tề hái đài hoa lúc chưa nở, phơi khô đem bán, gọi là Hồng hoa thái. ** Cây Quyển đan (*Lilium lancifolium*) tuy thân lá giống nhưng hơi dài và lớn hơn. Hoa có 6 cánh rủ xuống, lớn hơn Sơn đan. Tháng 4 kết hạt ở nách lá, đến mùa thu hoa mới nở ở đỉnh ngọn, thật là một sự lạ. Rễ có vảy giống Bách hợp nhưng không ăn được, là một loại riêng biệt. * '''Rễ:''' ** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính lương (mát), không độc. Quyển *Chính yếu* ghi: Tính bình. ** '''Chủ trị:''' Sang thũng (mụn nhọt sưng tấy), kinh tiệp (hoảng sợ, co giật) (*Đại Minh*). Dùng cho phụ nữ bị băng trung (băng huyết) (*Thời Trân*). * '''Hoa:''' ** '''Khí vị:''' Giống như rễ. ** '''Chủ trị:''' Hoạt huyết. Nhị hoa dùng đắp trị đinh sang, ác thũng (nhọt độc sưng dữ) (*Thời Trân*). ===THẢO THẠCH SÂM (CÂY CỎ SÂM/CAM LỘ TỬ)=== *(Trích: Thập Di)* '''Tên khoa học:''' *Stachys sieboldii* Miq. * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tên gọi khác:''' Địa tiềm (*Nhật dụng*), Thổ nhộng (*Dư đông lục*), Cam lộ tử (*Thực vật*), Tích lộ (*Cương mục*), Địa qua nhi. ** Thời Trân nói: Tên "Tiềm" (tằm), "Nhộng" đều dựa trên hình dáng của rễ mà đặt; "Cam lộ" (móc ngọt) dựa vào vị của rễ. Có thuyết nói trên lá có giọt sương nhỏ xuống (tích lộ) thì rễ sinh ra, nhưng tôi thường trồng thử thì thấy không có chuyện đó. Loại rễ to dài được sách *Cứu hoang bản thảo* gọi là Địa qua nhi. * '''Tập giải:''' ** Tàng Khí nói: Đào Hoằng Cảnh chú giải phần sâu bọ về "Thạch tiềm" có nói: Nay tục dùng rễ cỏ màu đen. Xét thấy Thảo thạch sâm mọc trên đá núi cao, rễ như cái trâm, trên có lông, đốt như con tằm, lá giống lá Quyển bá. Người miền núi hái về ăn. ** Tô Tụng nói: Rễ cỏ giống con tằm cũng gọi là Thạch sâm. Có ở vùng Phúc Châu và Tín Châu trên đá núi, bốn mùa đều có. Mầm màu xanh, cũng có đốt. Tháng 3 hái rễ dùng. ** Cơ nói: Thảo thạch sâm ở Huy Châu rất nhiều, dân địa phương gọi là Địa tiềm. Trắng béo và đốt ngắn, to như con tằm lứa thứ ba. Mọc ở vùng đất thấp ẩm và bãi cát. Mùa thu cày ruộng thấy khắp nơi. Thu hái về ngâm giấm làm dưa chua ăn. Mùa đông cũng đào lấy được. ** Dĩnh nói: Địa tiềm mọc ở ruộng mạch vùng ngoại ô. Lá như lá bạc hà nhưng hẹp và nhọn hơn, vân hơi nhăn, kém độ bóng. Rễ màu trắng, trạng như con tằm. Tháng 4 hái rễ, trụng nước sôi hòa muối làm rau ăn. ** Thời Trân nói: Thảo thạch sâm chính là cây Cam lộ tử ngày nay. Vùng Kinh Tương, Giang Hoài trở về nam trong hoang dã đều có, người ta cũng trồng. Tháng 2 mọc mầm, dài gần một thước, thân vuông, đối đốt, lá hẹp có răng cưa, đều giống cây Kê tô (*dân gian gọi là bạc hà dại*), nhưng lá nhăn và có lông. Tháng 4 nở hoa nhỏ thành bông (tuế), giống như bông hoa Tử tô. Hạt giống hạt Kinh giới. Rễ chuỗi lại như con tằm già. Tháng 5 đào rễ chưng hoặc luộc ăn, vị như Bách hợp. Hoặc dùng nước muối củ cải hoặc nước dưa muối để bảo quản thì rễ không bị đen. Cũng có thể ngâm tương hoặc tẩm mật. Vừa có thể làm rau, vừa có thể làm quả. Trần Tạng Khí nói lá Thạch sâm giống Quyển bá thì có lẽ là loại khác. * '''Rễ:''' ** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. ** Thời Trân nói: Không nên ăn sống hoặc ăn quá nhiều vì sinh sán (thốn bạch trùng). Ăn cùng các loại cá sẽ khiến người ta buồn nôn. ** '''Chủ trị:''' Ngâm rượu giúp trừ phong, phá huyết. Nấu ăn trị khê độc (độc nước suối) (*Tàng Khí*). Sao khô trị tẩu chú phong (phong chạy khắp người), tán huyết chỉ thống (giảm đau). Các đốt rễ cũng có thể giã bột uống với rượu (*Tô Tụng*). Hòa ngũ tạng, hạ khí, làm thanh thản tinh thần (*Chính yếu*). ===TRÚC DUẨN (MĂNG TRE)=== *(Trích: Thục Bản thảo)* '''Tên khoa học chung:''' *Bambusoideae* (Phân họ Tre) * '''Hiệu chính:''' Hợp nhất với phần "Đào trúc duẩn" trong *Thập di* ở bộ Mộc. * '''Tên gọi khác:''' Trúc manh (*Nhĩ nhã*), Trúc nha (*Duẩn phổ*), Trúc thai (*Thuyết văn*), Trúc tử (*Thần dị kinh*). * '''Giải thích tên gọi:''' Thời Trân nói: Chữ Duẩn (筍) gồm bộ Trúc (竹) và chữ Tuần (旬 - 10 ngày). Lục Điền nói: Trong vòng 10 ngày thì là Măng (Duẩn), ngoài 10 ngày thì thành Tre (Trúc). Người nay gọi tre là "cỏ đố kỵ mẹ", vì măng sinh ra 16 ngày đã cao bằng tre mẹ. Các tên gọi khác như Manh, Nhược, Truyết, Sơ hoàng đều mang nghĩa là mầm non mới nhú. * '''Tập giải:''' ** Hoằng Cảnh nói: Các loài tre rất nhiều. Măng của loại tre đặc ruột (Thực trung trúc) và tre Hoàng trúc là tốt nhất. Trong thuốc ít dùng. ** Tô Tụng nói: Các nhà đều cho rằng măng Khổ trúc (tre đắng) là quý nhất. Khổ trúc có 2 loại: Loại ở Giang Tây và Mân Trung củ rất to, vị cực đắng không ăn được; loại ở Giang Chiết thịt dày lá rộng, vị hơi đắng, tục gọi là măng đắng ngọt (tiềm khổ duẩn), dùng làm thực phẩm rất tốt, cũng không thấy dùng làm thuốc. ** Thời Trân nói: Đới Cải Chi (đời Tấn) và Tăng Tán Ninh (đời Tống) đều viết *Trúc phổ*, ghi hơn 60 loại. Nơi sản sinh và mùa mọc măng khác nhau. Măng có loại ăn được và không ăn được. Miền Bắc ít tre, miền Nam (Tần, Thục, Ngô, Sở) thì rất nhiều. Tre có đực cái, cứ xem cành đầu tiên ở gốc nếu mọc đôi thì là tre cái, tất sẽ có măng. Người địa phương đào lấy mầm non khi rễ tre (roi tre) đang bò gọi là '''Tiên duẩn''' (măng roi). Vùng Giang Nam, Hồ Nam đào dưới gốc tre lớn vào mùa đông khi măng chưa nhú khỏi mặt đất gọi là '''Đông duẩn''' (măng đông), dùng ăn tươi là trân phẩm. Các loại khác người phương Nam phơi khô gọi là Ngọc bản duẩn, Minh duẩn, Hỏa duẩn; muối chua gọi là Diêm duẩn, đều dùng làm rau ăn. ** Tăng Tán Ninh nói: Ăn măng như dùng thuốc, đúng phép thì lợi, sai phép thì hại. Hái măng nên tránh gió nắng (gặp gió thì gốc dai, gặp nước thì thịt cứng), để cả vỏ mà luộc thì giữ được vị, dùng dao cắt sống thì mất độ mềm. Phải nấu lâu, ăn sống hại người. Măng đắng phải nấu thật lâu. Hấp là ngon nhất, nướng cũng rất tốt. Loại có vị chát (ngứa) gây kích ứng họng thì nên luộc qua nước tro rồi mới nấu lại. Hoặc bỏ vài lá bạc hà vào nấu cùng để khử vị chát. ======CÁC LOẠI MĂNG TRE (NÓI CHUNG)====== * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. ** Tàng Khí nói: Các loại măng đều làm phát sinh khí và khí lạnh trong máu (lãnh huyết). ** Thụy nói: Măng ăn cùng gan cừu làm người ta bị mù mắt. * '''Chủ trị:''' Tiêu khát, lợi thủy đạo (thông tiểu), ích khí, có thể ăn lâu dài (*Biệt lục*). Thông cách hạ khí, hóa nhiệt tiêu đờm, làm mát dạ dày (Ninh Nguyên). ======KHỔ TRÚC DUẨN (MĂNG TRE ĐẮNG)====== '''Tên khoa học:''' *Pleioblastus amarus* (Keng) Keng f. * '''Khí vị:''' Vị đắng, ngọt, tính hàn. * '''Chủ trị:''' Trị mất ngủ, khử nhiệt vàng trên mặt, mắt và lưỡi, tiêu khát, làm sáng mắt, giải độc rượu, trừ nhiệt khí, làm người khỏe mạnh (*Tàng Khí*). Trị tâm phiền muộn, ích khí lực, lợi tiểu, hạ khí hóa đờm, trị phong nhiệt cước khí; dùng chưng hoặc luộc ăn (*Tâm kính*). Trị trúng phong mất tiếng khi ra mồ hôi. Loại khô đốt thành than trộn muối, xát vào trị cam răng (*Thời Trân*). ======TRÚC DUẨN (MĂNG TRE THƯỜNG)====== '''Tên khoa học:''' *Phyllostachys edulis* (măng sào/măng mạnh tông) * '''Chủ trị:''' Tiêu khát phong nhiệt, ích khí lực, tiêu đầy bụng; chưng, luộc, xào đều tốt. ======ĐẠM TRÚC DUẨN (MĂNG TRE NGỌT/TRE PHẤN)====== '''Tên khoa học:''' *Phyllostachys nigra* var. *henonis* * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn. * '''Chủ trị:''' Tiêu đờm, trừ nhiệt cuồng, sốt cao, đau đầu, phong đầu, phụ nữ chóng mặt, ngã kinh sợ, ôn dịch mê man, trẻ em kinh giản (co giật). ======ĐÔNG DUẨN & BIÊN DUẨN (MĂNG ĐÔNG & MĂNG ROI)====== * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn. * '''Chủ trị:''' Trẻ em đậu chẩn không mọc ra được, nấu cháo ăn để giải độc, giúp đậu chẩn phát ra. '''PHÁT MINH & KIÊNG KỴ''' * Lý Thời Trân dẫn lời Tăng Tán Ninh: Măng tuy ngon nhưng làm trơn đại tràng, không ích gì cho tì, tục gọi là "cái lược nạo ruột" (quát tràng bi). Chỉ có gừng sống và dầu mè mới giải được độc của măng. Các thầy thuốc tục thường cho trẻ uống canh măng để thúc đậu chẩn mọc, nhưng không biết rằng đậu chẩn kỵ đại tràng trơn nát, làm vậy là âm thầm hại người. Phải hết sức răn đe. * Tông Thích nói: Măng khó tiêu, không có lợi cho người bệnh tì. Từng có đứa trẻ ăn măng khô bị nghẹn ở họng, phát sốt thở gấp như kinh phong, uống thuốc không khỏi, sau nôn măng ra mới hết. ======ĐÀO TRÚC DUẨN (MĂNG TRE ĐÀO)====== *(Trích: Thập di)* '''Tên khoa học:''' *Sinocalamus affinis* (hoặc các loài tre nứa nhỏ) * '''Tên gọi khác:''' Hoàng duẩn (măng vàng). * '''Khí vị:''' Vị đắng, có độc nhỏ. Phải luộc bằng nước tro mới ăn được, nếu không sẽ gây ngứa họng. * '''Chủ trị:''' Trị dòi trong vết thương của gia súc: giã nát đắp vào, dòi sẽ chui ra hết. ======THỨ TRÚC DUẨN (MĂNG TRE GAI)====== '''Tên khoa học:''' *Bambusa stenostachya* Hack. * '''Đặc điểm:''' Thân có gai, người Di trồng làm thành lũy, gốc to như nan bánh xe. * '''Khí vị:''' Vị ngọt, đắng, có độc nhỏ. Ăn vào làm rụng tóc (*Trúc phổ*). ====TOAN DUẨN (MĂNG CHUA)==== *(Trích: Cương mục)* * '''Tập giải:''' Xuất xứ từ vùng 粵南 Việt (Quảng Đông) Nam. Măng to như cánh tay, nhúng nước sôi khử vị đắng, ngâm nước giếng lạnh 2-3 ngày rồi lấy ra xé sợi như dây thừng, nấu với giấm mà ăn. * '''Khí vị:''' Vị chua, tính mát, không độc. * '''Chủ trị:''' Nấu canh ăn giúp chỉ khát (hết khát), giải say rượu, lợi lồng ngực. {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] 1halewdnm2539558ojarvg7vsfoytlk 204520 204516 2026-04-03T04:10:32Z Mrfly911 2215 204520 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之二 | năm= 1596 | phần = Thái - các loại '''rau''' phần 2 (Ba lăng, rau muống, thái, đông phong thái, tề, tích, phồn lâu, kê tràng thảo, mục túc, dền, mã xỉ hiện, khổ thái, bạch cự, oa cự, thủy khổ, phiên bạch thảo, tiên nhân trượng thảo, bồ công anh, hoàng qua thái, sinh qua thái, lạc quỳ, dấp cá, quyết, thủy quyết, vi, kiều dao, lộc hoắc, hôi, lê, tần địch lê, đề hồ thái, dụ, thổ dụ, thạch dự, linh dư tử, cam thử, bách hợp, sơn đan, thảo thạch tằm, măng tre) | trước= [[../Thái 1|Thái 1]] | sau= [[../Thái 3|Thái 3]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==41 loại rau mềm== ===BA LĂNG (菠薐)=== (Ghi chép từ sách "Gia Hựu" thời Tống) Tên khoa học:''' Spinacia oleracea L. (cây cải bó xôi (rau chân vịt)) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Ba thái (菠菜 - Bản thảo Cương mục), Ba tư thảo (波斯草 - Bản thảo Cương mục), Xích căn thái (赤根菜 - Rau rễ đỏ). * '''Thận Vi nói:''' Xét theo Gia thoại lục của Lưu Vũ Tích: Giống Báo lăng vốn từ nước ngoài đưa tới. Có vị tăng mang hạt giống đến, nói rằng đó là giống từ nước Phả Lăng (頗陵), do đọc chệch đi mà thành Ba lăng (波棱). (Rau Ba lăng vốn từ Tây Vực, có vị tăng mang hạt từ đó đến, giống như cỏ Mục túc và Bồ đào do Trương Khiên đưa về. Lý Tuần nói: "Há chẳng phải từ nước Phả Lăng mang đến mà đọc chệch thành Ba lăng sao?"). * '''Thời Trân nói:''' Xét theo Đường hội yếu: Thời Đường Thái Tông, nước Ni Ba Duy (Nepal) dâng rau Ba lăng, lá giống cây hồng hoa, quả giống quả tật lê, nấu chín ăn rất ngon. Chính là loại này vậy. Các phương sĩ (thầy thuốc/đạo sĩ) ẩn danh gọi nó là Ba tư thảo (Cỏ Ba Tư). '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Ba lăng gieo vào tháng 8, tháng 9 thì dùng làm thức ăn cho mùa đông; gieo vào tháng Giêng, tháng 2 thì làm rau ăn mùa xuân. Thân cây mềm giòn, bên trong rỗng. Lá xanh bóng, mềm và dày, đầu lá có một mũi nhọn chính và hai mũi nhọn bên, hình dáng giống lá hoa đậu xị nhưng dài và lớn hơn. Rễ dài vài tấc, to như rễ Cát cánh (Platycodon grandiflorus) và có màu đỏ, vị rất ngọt. Tháng 4 cây mọc ngồng cao khoảng một thước. Có cây đực và cây cái. Hoa mọc từ thân, nhỏ li ti màu đỏ nhạt, mọc thành cụm không rõ rệt. Cây cái kết quả, quả có gai, hình dáng giống hạt Tật lê (Tribulus terrestris). Khi gieo hạt cần nghiền nhẹ cho lớp vỏ nứt ra thì hạt mới dễ hút nước mà nảy mầm. Hạt phải qua một kỳ trăng (một tháng) mới mọc, cũng là một đặc điểm kỳ lạ. ======RAU VÀ RỄ (Của rau chân vịt - Spinacia oleracea L.)====== '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, tính lạnh, trơn (hoạt), không độc. * '''Sĩ Lương nói:''' Hơi độc. Ăn nhiều khiến chân yếu, đau lưng, phát lạnh. Người vốn bị lạnh bụng (phúc lãnh) ăn vào tất bị tiêu chảy. Không ăn cùng lươn (Monopterus albus) vì gây hoắc loạn. Nước cốt luyện thành sương có thể chế phục thạch tín, thủy ngân, thư hoàng, lưu huỳnh. '''【Chủ trị】''' * Lợi ngũ tạng, thông nhiệt tràng vị, giải độc rượu. Người đang uống đan thạch (thuốc khoáng vật) ăn vào rất tốt (Mạnh Tiễn). * Thông huyết mạch, khai lồng ngực, hạ khí điều trung, chỉ khát nhuận táo. Phần rễ càng tốt (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Mạnh Tiễn nói:''' Người phương Bắc ăn nhiều thịt và bột mì, ăn rau này vào thì quân bình; người phương Nam ăn nhiều cá, ba ba, gạo nước, ăn vào dễ bị lạnh. Do đó ăn nhiều sẽ làm lạnh đại tiểu tràng. * '''Thời Trân nói:''' Theo Nho môn sự thân của Trương Tòng Chính: Người bệnh lâu ngày, đại tiện táo kết không thông hoặc người bị trĩ lậu, nên thường xuyên ăn rau chân vịt, rau quỳ. Tính trơn của chúng nuôi dưỡng các khiếu, giúp thông lợi tự nhiên. '''【Phụ phương】''' * Trị tiêu khát (tiểu đường) uống nước liên tục: Rễ rau chân vịt, Kê nội kim (màng mề gà) lượng bằng nhau, tán bột. Uống 1 tiền (3-4g) với nước cơm, ngày 3 lần. ===RAU MUỐNG (Úng thái - 蕹菜)=== '''Tên khoa học:''' Ipomoea aquatica Forsk. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Thời Trân nói:''' Úng (蕹) cũng giống như ủng (壅 - vun bồi). Loại rau này chỉ nhờ vun bồi mà thành nên gọi là Úng. '''【Tập giải】''' * '''Tàng Khí nói:''' Rau muống trồng ở vùng Lĩnh Nam. Thân bò, hoa trắng, ăn được. * '''Thời Trân nói:''' Nay người ở Kim Lăng và Giang Hạ trồng rất nhiều. Tính ưa đất ẩm, sợ sương tuyết. Tháng 9 đem cất vào hầm đất, tháng 3-4 lấy ra, vun bồi bằng phân đất thì mỗi đốt đều nảy mầm, một gốc có thể mọc đầy một luống. Thân mềm, rỗng giữa; lá giống lá rau chân vịt hoặc hình mũi đục. Vị nhạt, nên nấu cùng thịt lợn, khi thịt chuyển màu tím thì mới ngon. Bắc hộ lục nói lá giống lá liễu là sai. Theo Thảo mộc trạng: Lá rau muống giống rau mồng tơi (Basella alba) nhưng nhỏ hơn. Người phương Nam tết sậy làm bè, đục lỗ nhỏ thả trên mặt nước. Gieo hạt xuống nước, rễ nổi trên mặt nước như bèo. Khi lớn, cành lá đều mọc ra từ lỗ bè sậy, trôi nổi theo nước. Đây là loại rau lạ của phương Nam. Như vậy rau này thủy sinh hay lục sinh đều được. '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Giải độc cỏ Hồ man (độc Diệp cát - lá ngón Gelsemium elegans): Sắc ăn hoặc giã sống lấy nước uống (Tàng Khí). * Giã nước cốt hòa với rượu uống để trị đẻ khó (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Tàng Khí nói:''' Người phương Nam ăn rau muống trước, ăn Dã cát (lá ngón) sau, hai thứ khắc chế nhau nên không bị hại. Lấy nước rau muống nhỏ vào mầm lá ngón, mầm đó lập tức héo chết, sức tiêu diệt nhau mạnh như vậy. Bác vật chí của Trương Hoa nói Ngụy Vũ Đế ăn lá ngón đến một thước mà không sao, chắc là nhờ ăn rau này trước vậy. ===ĐIỀM THÁI (菾菜)=== '''Tên khoa học:''' Beta vulgaris var. cicla L. (Rau cải cầu vồng/Cải Thụy Sĩ) '''【Hiệu chính】''' * Gộp cả mục rau "Thiềm" (Thiềm thái) trong sách Gia Hựu. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Điềm thái''' (Rau ngọt), '''Thiềm thái'''. * '''Thời Trân nói:''' Điềm thái chính là Thiềm thái. Chữ "Thiềm" thông với chữ "Điềm" (ngọt), đặt theo vị của rau. Nghĩa của chữ "Thiềm" hiện chưa rõ. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Điềm thái là loại rau nay dùng để làm món hấp (ôi chưng). * '''Tô Cung nói:''' Lá giống mầm Thăng ma (Shengma), người phương Nam hấp hoặc nướng ăn, rất thơm ngon. * '''Bảo Thăng nói:''' Cây cao 3-4 thước, thân như cây Sóc địch (Sambucus javanica), có khía cạnh nhỏ, mùa hè tươi tốt, mùa đông khô héo. Đốt thân lấy tro luyện nước giặt áo quần sẽ trắng như ngọc. * '''Sĩ Lương nói:''' Lá giống cúc tím nhưng lớn hơn, hoa trắng. * '''Thời Trân nói:''' Gieo hạt vào tháng Giêng, tháng 2, rễ cũ cũng tự mọc lại. Lá màu xanh trắng, giống lá cải bắp trắng nhưng ngắn hơn, thân cũng tương tự nhưng nhỏ hơn một chút. Ăn sống hay chín đều được, hơi có mùi đất. Tháng 4 nở hoa trắng nhỏ. Kết quả hình dáng như quả Thù du, nhẹ và xốp, màu vàng đất, bên trong có hạt nhỏ. Rễ màu trắng. '''【Khí vị】''' * Vị ngọt, đắng, tính rất lạnh (đại hàn), trơn (hoạt), không độc. * '''Vũ Tích nói:''' Tính bình, hơi độc. Người bị khí lạnh không nên ăn nhiều vì động khí. Người vốn bị lạnh bụng ăn vào tất bị tiêu chảy. '''【Chủ trị】''' * Trị bệnh thời hành sốt cao, giải độc phong nhiệt, giã nước uống sẽ khỏi (Biệt lục). * Mùa hè nấu cháo rau này ăn giúp giải nhiệt, trị lỵ do nhiệt độc. Giã nát đắp vết bỏng (ngải cứu), giúp giảm đau, mau lành (Tô Cung). * Giã nước uống chủ trị lỵ nóng lạnh. Lại giúp cầm máu, sinh cơ (mọc da non), trị các vết thương do thú vật cắn, đắp vào lập tức khỏi (Tàng Khí). Sắc nước uống giúp khai vị, thông tâm cách, hợp với phụ nữ (Đại Minh). Bổ trung hạ khí, điều lý tì khí, trị đầu phong, lợi ngũ tạng (Gia Hựu). '''RỄ (Điềm thái căn)''' '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' Thông kinh mạch, hạ khí, mở rộng vùng ngực bụng (Chính yếu). '''HẠT (Điềm thái tử)''' '''【Chủ trị】''' Nấu chín tái, giã lấy nước uống trị chứng nóng ở trẻ em (Mạnh Tiễn). Ngâm giấm xát mặt giúp tẩy sạch bã nhờn, da dẻ mịn màng, sáng bóng (Tàng Khí). '''【Phụ phương】''' * '''Trị trĩ lậu đi ngoài ra máu:''' Hạt Điềm thái, hạt Vân đài (cải dầu), hạt Kinh giới, hạt Rau mùi, hạt Xà lách, hạt Mạn kinh, hạt Củ cải, hạt Hành lượng bằng nhau. Lấy một con cá diếc lớn bỏ vảy và ruột, nhồi thuốc vào trong, khâu lại. Cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa luyện chín cả trên lẫn dưới, để nguội tán bột. Mỗi lần uống 2 tiền (8g) với nước cơm, ngày 2 lần. ===ĐÔNG PHONG THÁI (東風菜)=== '''Tên khoa học:''' Doellingeria scabra (Thunb.) Nees (tên cũ: Aster scaber) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Đông phong''' (Gió đông), '''Đông phong''' (Gió mùa đông). * '''Mã Chí nói:''' Rau này mọc trước mùa xuân nên gọi là Đông phong (Gió đông). Có chỗ viết là Đông phong (Gió mùa đông) ý nói nhận được khí của mùa đông. '''【Tập giải】''' * '''Mã Chí nói:''' Rau Đông phong mọc ở vùng đầm lầy Lĩnh Nam. Cao 2-3 thước, lá giống lá mơ nhưng dài, cực kỳ dày và mềm, trên có lông mịn, nấu ăn rất ngon. * '''Thời Trân nói:''' Theo Quảng Châu ký của Bùi Uyên: Rau Đông phong hoa và lá giống cây Lạc nhâm, thân màu tím. Nên nấu canh với thịt mỡ, mùi thơm như Mã lan (Aster indicus), vị như nhũ lạc (váng sữa). '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Phong độc ủng nhiệt, đau đầu chóng mặt, gan nhiệt mắt đỏ, dùng nấu canh hoặc làm món ăn rất tốt (Khai bảo). ===TỀ (薺) - RAU TỀ=== '''Tên khoa học:''' Capsella bursa-pastoris (L.) Medic. (Rau tề/Đào y) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Hộ sinh thảo'''. * '''Thời Trân nói:''' Rau tề mọc nơi đầm lầy (tế trạch) nên gọi là Tề. Nhà Phật lấy thân cây làm gậy khêu đèn để đuổi kiến, bướm đêm nên gọi là Hộ sinh thảo (cỏ bảo vệ chúng sinh). '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Tề có nhiều loại, đây là loại người nay thường ăn. Làm dưa muối hay nấu canh đều ngon. Kinh Thi có câu: "Ai bảo rau đồ đắng, nó ngọt như rau tề", chính là nói về loại này. * '''Thời Trân nói:''' Tề có loại lớn và nhỏ. Loại nhỏ lá hoa thân dẹt, vị ngon (gọi là Sa tề). Loại lớn thân lá đều to nhưng vị không bằng. Loại thân cứng có lông gọi là Tích minh, vị không ngon lắm. Cây mọc sau tiết Đông chí, tháng 2-3 mọc ngồng cao 5-6 thốn. Hoa trắng nhỏ mọc đều. Quả nang hình tam giác như bèo cám. Hạt bên trong như hạt Đình lịch, gọi là Thoa (菔), thu hoạch vào tháng 4. Sư Khoáng nói: "Năm nào muốn có vị ngọt thì Cam thảo mọc trước, rau Tề theo sau". Tích minh và Đình lịch đều thuộc loại rau Tề. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Lợi gan hòa trung (Biệt lục). Lợi ngũ tạng. Rễ: Trị đau mắt (Đại Minh). Sáng mắt bổ dạ dày (Thời Trân). Thân, lá: Đốt thành tro trị kiết lỵ ra máu trắng cực hiệu nghiệm (Diễn Quyền). '''【Phụ phương】''' * '''Mắt đỏ cấp tính, đau sưng nhức cộm:''' Rễ rau tề giã lấy nước nhỏ mắt (Thánh huệ). * '''Mắt có màng mộng (ế màng):''' Rau tề cả rễ, thân, lá rửa sạch, sấy khô tán bột mịn. Trước khi ngủ rửa sạch mắt, lấy một lượng bằng hạt gạo chấm vào hai khóe mắt. Tuy đau nhức nhưng cố nhịn, dùng lâu màng tự rụng (Thánh tế tổng lục). * '''Bụng sưng trướng to, tứ chi gầy khô, tiểu rắt:''' Đình lịch (sao), rễ rau tề lượng bằng nhau, tán bột, luyện mật làm viên bằng quả đạn. Mỗi lần uống 1 viên với nước trần bì. Uống 2-3 viên tiểu sẽ trong; hơn 10 viên bụng sẽ trở lại bình thường (Tam nhân). '''【Hạt (Tề thực)】''' * '''Chu Vương nói:''' Năm đói thu hạt, hòa nước thành khối, nấu cháo hoặc làm bánh rất dẻo. * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. Người bị bệnh khí ăn vào sẽ động khí lạnh. Không ăn cùng bột mì vì gây tức lưng. Người đang uống đan thạch không được ăn. * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, trị đau mắt, bổ ngũ tạng hư tổn, trị bụng trướng, giải nhiệt độc. Dùng lâu nhìn vật rõ ràng. '''【Hoa】''' Trải dưới chiếu để đuổi côn trùng, muỗi, bướm. Tán bột uống với nước táo trị lỵ lâu ngày. ===TÍCH MINH (菥蓂)=== '''Tên khoa học:''' Thlaspi arvense L. (Cải dại) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Đại tề''' (Tề lớn), '''Đại túc''', '''Mã tân'''. * '''Thời Trân nói:''' Các tên này không rõ nghĩa. Ô Phổ bản thảo gọi là Tích mục, Vinh mục, Mã câu. '''【Tập giải】''' * '''Cung nói:''' Nhĩ Nhã gọi Tích minh là Đại tề. Chú giải: Giống rau tề, dân gian gọi là Lão tề, vị ngọt không cay. * '''Tàng Khí nói:''' Đại tề là Đình lịch, không phải Tích minh. Quả Tích minh lớn và dẹt, quả Đình lịch nhỏ và tròn, hai thứ khác hẳn nhau. * '''Tụng nói:''' Đình lịch gọi là Điển (蕇), hạt và lá giống hạt cải, còn gọi là Cẩu tề. Tích minh là Đại tề. Cả hai đều thuộc loại rau tề nên người ta hay nhầm lẫn. * '''Thời Trân nói:''' Tề và Tích minh cùng một loại nhưng chia ra lớn nhỏ. Nhỏ là Tề, lớn là Tích minh (có lông). Công dụng hạt giống nhau. Tích minh vị ngọt hoa trắng, Đình lịch vị đắng hoa vàng. '''【Mầm (Tích minh miêu)】''' * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Hòa trung ích khí, lợi gan sáng mắt (Thời Trân). '''【Hạt (Tích minh tử)】''' * '''Khí vị:''' Vị cay, tính hơi ấm, không độc. (Tô Cung nói vị ngọt không cay). * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, trị đau mắt chảy nước mắt, trừ tê bại (biểu), bổ ngũ tạng, ích tinh quang. Dùng lâu nhẹ người trẻ mãi không già (Bản kinh). Trị đau thắt lưng bụng (Biệt lục). Trị tích tụ ở gan, mắt sưng đỏ (Diễn Quyền). '''【Phụ phương】''' * '''Mắt nóng đau, chảy nước mắt không ngừng:''' Hạt Tích minh tán bột. Khi ngủ dùng trâm đồng điểm một ít vào mắt, để nước mắt nóng và chất bẩn chảy ra là tốt. * '''Trong mắt mọc thịt thừa:''' Dùng phương như trên, điểm mắt mỗi đêm (Hải thượng phương). ===PHỒN LÂU (蘩縷)=== '''Tên khoa học:''' Stellaria media (L.) Vill. (Cỏ đại bi, Cầm bàng, Cỏ lòng máng) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Sản lâu, Tư thảo, Nga tràng thái''' (Rau ruột ngỗng). * '''Thời Trân nói:''' Cỏ này thân bò rất rậm rạp (phồn), giữa thân có một sợi tơ (lâu) nên gọi là Phồn lâu. Dân gian gọi là rau Ruột ngỗng vì hình dáng giống. Nó dễ sinh trưởng nên gọi là Tư thảo. '''【Tập giải】''' * '''Tô Cung nói:''' Đây chính là Kê tràng (ruột gà). Thường mọc nơi đất ẩm, cạnh mương rãnh. Người bình dân gọi là Kê tràng, bậc nhã sĩ gọi là Phồn lâu. * '''Thời Trân nói:''' Phồn lâu là Nga tràng (ruột ngỗng), không phải Kê tràng (ruột gà). Mọc rất nhiều nơi đất thấp ẩm. Tháng Giêng mọc mầm, lá to bằng đầu ngón tay. Thân nhỏ kéo dài, ngắt ra thấy bên trong rỗng, có một sợi trắng như tơ. Làm rau ăn rất ngọt giòn. Sau tháng 3 thì già. Hoa trắng cánh nhỏ. Quả nhỏ như hạt kê, bên trong có hạt mịn như hạt Đình lịch. Nga tràng vị ngọt, thân rỗng có tơ, hoa trắng; còn Kê tràng vị hơi đắng, nhai có dịch nhờn, thân không tơ, màu hơi tím, hoa cũng tím. '''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, không độc. (Thời Trân nói: vị ngọt, hơi mặn). Ăn cùng lươn sẽ gây tiêu khát và hay quên. '''【Chủ trị】''' Các loại mụn nhọt ác tính lâu năm, trĩ không khỏi. Phá huyết, thông sữa, phụ nữ sau sinh nên ăn. Trị đau bụng có khối sau sinh (huyết hòn): sao với rượu lấy nước ấm uống. Hoặc tán bột, làm viên với hồ giấm, uống 50 viên lúc đói để tống ác huyết ra ngoài (Tàng Khí). '''【Phụ phương】''' * '''Làm đen râu tóc:''' Ăn Phồn lâu làm rau trong thời gian dài. * '''Tiểu rắt cấp tính:''' Lấy hai nắm cỏ Phồn lâu sắc nước uống thường xuyên. * '''Mụn nhọt bộ phận sinh dục nam giới:''' Phồn lâu đốt tồn tính 5 phần, phân giun đất mới đùn 2 phần, hòa ít nước đắp vào. ===KÊ TRÀNG (雞腸)=== '''Tên khoa học:''' Stellaria neglecta Weihe hoặc Stellaria aquatica (L.) Scop. (Cỏ đường tàu) '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Kê tràng mọc nơi ẩm thấp. Tháng 2 mọc mầm, lá giống Nga tràng nhưng màu đậm hơn. Thân mang sắc tím, đặc ruột, không có tơ. Tháng 4 nở hoa tím nhỏ 5 cánh. Làm rau không ngon bằng Nga tràng. Nhai sống thấy có dịch nhờn (nên có thể dùng dính ve sầu). '''【Khí vị】''' Vị hơi cay, đắng, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' Độc sưng, cầm tiểu tiện quá nhiều. Trị lở loét do nước tiểu sâu róm. Trị đái dầm, tay chân nứt nẻ do nước lạnh. Đốt thành tro hòa muối trị mụn nhọt, phong chẩn ngứa ngáy toàn thân. Giã nước hòa mật ong trị lỵ đỏ trắng ở trẻ em rất tốt. Tán bột hoặc đốt tro xát răng trị sâu răng, hở lợi. ===MỤC TÚC (苜蓿)=== '''Tên khoa học:''' Medicago sativa L. (Cỏ ba lá/Lục lăng/Cỏ Alfalfa) (Cỏ ba lá/Lăng tiêu) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Mộc túc, Hoài phong thảo, Quang phong thảo, Liên chi thảo.''' * '''Thời Trân nói:''' Vì rễ cũ tự mọc lại qua mùa đông (túc) để chăn nuôi (mục) trâu ngựa nên gọi là Mục túc. Sách Tây Kinh tạp ký nói: Gió thổi qua cỏ này nghe xào xạc, ánh nắng chiếu vào hoa có hào quang nên gọi là Quang phong. '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Nguyên gốc từ nước Đại Uyển, Trương Khiển mang về Trung Quốc. Nay mọc hoang khắp nơi. Một năm có thể cắt 3 lần làm rau. Lá gồm 3 lá chét, xanh biếc. Hạ thu nở hoa vàng nhỏ. Quả đậu tròn dẹt, xoắn lại có gai, khi già màu đen. Hạt bên trong có thể nấu cơm hoặc nấu rượu. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, chát, không độc. Ăn nhiều gây lạnh gân cốt, khiến người gầy. Ăn cùng mật ong gây tiêu chảy. '''【Chủ trị】''' An trung, lợi người, có thể ăn lâu dài. Lợi ngũ tạng, nhẹ người, khỏe mạnh, tẩy sạch nhiệt tà ở tì vị, thông nhiệt độc ở tiểu trường. Ăn khô bổ dưỡng. '''【Rễ (Mục túc căn)】''' * '''Khí vị:''' Tính hàn, không độc. * '''Chủ trị:''' Phiền đầy do nhiệt bệnh, vàng mắt, đỏ mắt, tiểu vàng, vàng da do rượu (tửu đản). Giã lấy 1 lít nước cốt uống, gây nôn hoặc tiêu chảy là khỏi. Giã lấy nước sắc uống trị đau do sỏi đường tiết niệu (sa thạch lâm). ===RAU DỀN (Hiện 莧 - Amaranthus)=== *(Sách "Bản kinh" xếp loại Thượng phẩm) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Thời Trân nói:''' Thân lá đều cao lớn, dễ nhìn thấy (kiến), nên chữ Dền/Hiện (莧) có chữ Kiến (見). '''【Tập giải】''' * '''Biệt lục:''' Hạt dền (Amanrath thực) còn gọi là Mạc thực. Mọc ở Hoài Dương và trên đồng ruộng. Lá như lá chàm. Thu hái vào tháng 11. * '''Hoằng Cảnh:''' Hạt dền nên lấy từ Dền trắng. Dền gai (Khang dền/Tế dền) ăn ngon hơn nhưng tính lạnh, nhuận tràng. Lại có loại Dền đỏ thân tím không ăn được. Rau Sam (Mã xỉ dền) là loại khác, mọc bò mặt đất, không phải hạt dền này. * '''Bảo Thăng:''' Dền có 6 loại: Đỏ, Trắng, Dền cơm (Nhân dền), Tía, Ngũ sắc và Rau sam. Chỉ có Dền cơm và Dền trắng là lấy hạt làm thuốc. * '''Tụng:''' Dền cơm và Dền trắng tính rất lạnh. Dền tía không độc, không lạnh. Dền đỏ vị cay. Dền gai mọc hoang, lợn rất thích ăn nên gọi là Trư dền (Dền lợn). * '''Thời Trân:''' Dền gieo tháng 3, sau tháng 6 không nên ăn. Khi già thân cao bằng người, nở hoa kết bông. Hạt đen bóng, dẹt, thu hoạch tháng 9. '''RAU DỀN (菜)''' * '''Tên khoa học:''' Amaranthus tricolor L. (Dền đỏ/tía), Amaranthus viridis L. (Dền xanh/cơm). * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính lạnh, nhuận tràng, không độc. Dền đỏ: vị cay, tính hàn. * '''Lưu ý:''' Không ăn cùng thịt ba ba vì sinh chứng tích bụng (trứng ba ba). * '''Chủ trị:''' ** '''Dền trắng:''' Bổ khí, trừ nhiệt, thông chín khiếu. ** '''Dền đỏ:''' Trị lỵ ra máu, giải độc sâu độc, cát sâm. ** '''Dền tía:''' Sát trùng độc, trị lỵ do khí. ** '''Chung các loại:''' Lợi đại tiểu trường, trị lỵ mới phát, làm trơn thai (dễ đẻ). * '''Phụ phương:''' Trị sản hậu kiết lỵ (nấu cháo dền tía); trị lở môi ở trẻ em; trị vết cắn của rết, ong, rắn; giải độc sâu róm. '''HẠT DỀN (莧實 - Amaranthi Semen)''' * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''Chủ trị:''' Trị mù màu (thanh manh), sáng mắt, trừ tà khí, lợi đại tiểu tiện, trừ hàn nhiệt. Dùng lâu ích khí lực, nhẹ người. Trị màng mộng trắng, giết giun đũa. Trị gan phong khách nhiệt làm mắt có hoa đen. '''RỄ DỀN(根)''' * '''Chủ trị:''' Trị đau lạnh vùng kín dẫn đến sưng bụng (giã đắp). Đốt tồn tính tán bột xát trị đau răng. ===MÃ XỈ DỀN (馬齒莧 - Rau sam)=== *(Sách "Thục bản thảo") '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Tên khác:''' Mã dền, Ngũ hành thảo, Ngũ phương thảo, Trường mệnh thái (Rau trường thọ), Cửu đầu sư tử thảo. * '''Thời Trân nói:''' Lá xếp đối nhau như răng ngựa (mã xỉ), tính trơn lợi như rau dền nên có tên này. Cây rất bền bỉ, khó héo khô nên gọi là Trường mệnh (sống lâu). * '''Tụng:''' Gọi là Ngũ hành thảo vì lá xanh, thân đỏ, hoa vàng, rễ trắng, hạt đen. '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân:''' Rau sam mọc khắp nơi. Thân mềm bò đất, lá nhỏ đối sinh. Tháng 6-7 nở hoa vàng nhỏ, quả nhọn chứa hạt như hạt Đình lịch. Người ta thường hái nấu chín rồi phơi khô làm rau dự trữ. Các phương sĩ dùng nó để chế phục thạch tín, thủy ngân, lưu huỳnh trong luyện đan. '''RAU SAM(菜)''' * '''Tên khoa học:''' Portulaca oleracea L. * '''Khí vị:''' Vị chua, tính hàn, không độc. (Tô Cung nói: vị cay, tính ấm). Tính hàn và trơn. * '''Chủ trị:''' ** Giã đắp trị các loại sưng phù, mụn cóc. Phá tích tụ, chỉ tiêu khát. ** Nhuận tràng, trị xích bạch đới ở phụ nữ. ** Uống nước cốt trị nôn mửa, tiểu rắt, vết thương chảy máu, trị lở môi và mặt ở trẻ em. Giải độc mồ hôi ngựa, sâu độc. ** Nấu cháo trị kiết lỵ, đau bụng, sát giun. Dùng lâu tóc không bạc. Tán huyết tiêu thũng, trơn thai dễ đẻ, trị sản hậu hư hãn (mồ hôi trộm). * '''Phát minh:''' Tướng quốc Võ Nguyên Hành bị ghẻ lở ở chân lâu ngày không khỏi, dùng rau sam giã nát đắp 2-3 lần là sạch. '''【Phụ phương】''' (Tóm tắt các phương tiêu biểu) * '''Phong nhiệt đau răng:''' Nhai rau sam ngậm lấy nước cốt. * '''Kiết lỵ ra máu ở trẻ em:''' Nước cốt rau sam hòa mật ong uống. * '''Trĩ mới phát:''' Ăn rau sam nấu chín, kết hợp xông rửa bằng nước sắc. * '''Giun đũa:''' Sắc rau sam với muối, giấm uống lúc đói. * '''Hôi nách:''' Rau sam giã với mật, bọc bùn nướng khô, tán bột hòa mật đắp vào nách. * '''Mụn nhọt, đinh độc:''' Giã rau sam tươi đắp hoặc đốt tro hòa giấm đắp. * '''Rết, ong, sâu róm đốt:''' Giã nát đắp vào vết thương. * '''Lang ben, nấm da:''' Nấu rau sam thành cao bôi hoặc đốt tro trộn mỡ lợn bôi. '''HẠT (馬齒莧子 - Portulacae Semen)''' * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, ích thọ. Trị mù màu, màng mộng, trừ tà khí, lợi đại tiểu trường. Tán bột nấu cháo hoặc làm canh ăn. Trị mắt hay chảy nước mắt hoặc chảy mủ (dùng cùng hạt dền cơm). ===KHỔ THÁI (苦菜)=== (Sách "Bản kinh" xếp loại Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Sonchus oleraceus L. (Rau cúc đắng/Rau cải trời) '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Đồ (荼), Khổ cự (苦苣), Khổ nặc (苦蕒), Du đông (游冬), Thiên hương thái.''' * '''Thời Trân nói:''' Gọi là "Khổ", "Đồ" vì vị đắng. Vì trải qua mùa đông và mùa xuân mà không chết nên gọi là "Du đông". '''【Tập giải】''' * '''Biệt lục:''' Mọc ở thung lũng, núi đồi, ven đường. Qua mùa đông không chết. Thu hái vào ngày 3 tháng 3, phơi khô trong bóng râm. * '''Thời Trân nói:''' Khổ thái chính là Khổ nặc. Loại trồng trong vườn gọi là Khổ cự, thực chất là cùng một loại. Đầu xuân mọc mầm, thân rỗng và giòn, bấm vào có nhựa trắng. Lá xẻ thùy như lá củ cải nhưng sắc xanh biếc. Hoa vàng như hoa cúc dại. Quả có lông trắng mềm, bay theo gió, rơi đâu mọc đó. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hàn, không độc. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn. Không ăn cùng mật ong vì gây trĩ nội. '''【Chủ trị】''' Trị tà khí ngũ tạng, dạ dày tê bí. Dùng lâu giúp an thần, ích khí, thông minh, ít ngủ, nhẹ người, trẻ lâu. Đắp trị đinh nhọt, sưng tấy, tẩy mụn cơm, trị rắn cắn. Nấu nước xông rửa trị trĩ lâu ngày (cực hiệu nghiệm). '''【Phụ phương】''' * '''Huyết lâm, tiểu ra máu:''' Một nắm Khổ nặc, sắc với nửa rượu nửa nước mà uống. * '''Họng sưng đau:''' Nước cốt Khổ nặc dại hòa với nước cốt bấc đèn (Đăng tâm thảo) uống. * '''Độc sâu rát (Sa sáp):''' Dùng nước cốt Khổ thái bôi lên vết đỏ trên da sẽ khỏi. '''【Rễ, Hoa, Hạt】''' * '''Rễ:''' Trị lỵ đỏ trắng, cốt chưng, lợi tiểu tiện. * '''Hoa, Hạt:''' Vị ngọt, tính bình. Trị nhiệt trong, an thần, trị vàng da (hoàng đản). ===BẠCH CỰ (白苣 - Xà lách trắng)=== '''Tên khoa học:''' Lactuca sativa L. var. capitata '''【Giải thích tên gọi】''' Thạch cự, Sinh thái (Rau sống). '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Giống Oa cự nhưng lá màu trắng hơn, bấm vào có nhựa trắng. Thường dùng ăn sống với muối và giấm nên gọi là Sinh thái. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hàn. Phụ nữ sau sinh không nên ăn vì gây lạnh bụng, đau tiểu trường. Không ăn cùng sữa/phô mai vì sinh ký sinh trùng. '''【Chủ trị】''' Bổ gân cốt, lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, làm trắng răng, giúp thông minh ít ngủ. Giải độc rượu, độc nhiệt. Trị mụn "mắt cá" (ngư tề sang) đau nhức. ===OA CỰ (萵苣 - Diếp thơm/Xà lách)=== '''Tên khoa học:''' Lactuca sativa L. var. angustana Irish '''【Giải thích tên gọi】''' Oa thái, Thiên kim thái. Tên gọi xuất phát từ việc giống này đến từ nước Oa (vùng Trung Á). '''【Tập giải】''' Gieo vào tháng Giêng, tháng 2. Lá dài nhọn, màu xanh, có nhựa trắng dính tay. Tháng 4 mọc ngồng cao 3-4 thước. Lột vỏ ăn sống vị như dưa chuột, hoặc muối dưa, gọi là Oa tử (Ngồng cải). '''【Rau (Thái)】''' * '''Khí vị:''' Vị đắng, tính lạnh, hơi độc. Ăn nhiều làm mờ mắt. * '''Chủ trị:''' Lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, làm răng trắng, hơi thở thơm tho. Thông sữa, lợi tiểu, sát trùng và nọc rắn. * '''Phụ phương:''' Trị nhũ dịch không thông (sắc với rượu); trị bí tiểu hoặc tiểu ra máu (giã đắp rốn); trị sâu tai (nhỏ nước cốt). '''【Hạt (Oa cự tử)】''' (Dùng trong thuốc thường sao qua) * '''Chủ trị:''' Thông sữa, lợi tiểu, trị âm nang sưng thũng, trĩ lậu ra máu, đau do chấn thương. * '''Phụ phương:''' ** '''Sữa không xuống:''' Hạt Oa cự mài thành mụn, uống với rượu hoặc nấu cháo với gạo nếp, Cam thảo. ** '''Thắt lưng đau do bong gân:''' Hạt Oa cự trắng (sao) 3 lạng, gạo nếp (sao), Nhũ hương, Một dược, Ô mai tán bột làm viên bằng quả đạn, uống với rượu nóng. ** '''Tóc/Râu không mọc chỗ sẹo:''' Cạo nhẹ da bằng dao tre, dùng hạt Oa cự giã cùng gừng khô (Hồ tôn khương) xát thường xuyên. ===THỦY KHỔ NẶC (水苦蕒)=== '''Tên khoa học:''' Veronica undulata Wall. (Sâm bàng chày/Bèo vảy ốc) * '''【Giải thích tên gọi】''' Rau Tạ Bà, Bán biên sơn. * '''【Tập giải】''' Tụng nói: Mọc bên khe suối. Lá giống Khổ nặc nhưng dày và bóng. Rễ giống Bạch truật nhưng mềm. Tháng 2, 8, 9 hái rễ ăn. * '''【Rễ - Khí vị】''' Vị hơi đắng, cay, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】''' Phong nhiệt thượng ủng, họng sưng đau và bướu cổ (phong lựu), mài với rượu uống. ===PHIÊN BẠCH THẢO (翻白草)=== '''Tên khoa học:''' Potentilla discolor Bunge (Cỏ lá bạc/Ủy lăng thái) * '''【Giải thích tên gọi】''' Cây Chân gà (Kê thối căn), Thiên ngẫu (Ngó sen trời). * '''【Tập giải】''' Thân cao 7-8 thốn. Lá cứng, răng cưa, mặt dưới trắng (nên gọi là Phiên bạch). Hoa vàng. Rễ to bằng ngón tay, vỏ đỏ thịt trắng, vị như thịt gà, có bột. Năm đói dân đào rễ ăn thay cơm. * '''【Rễ - Khí vị】''' Vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Thổ huyết, hạ huyết, băng lậu, sốt rét, ung nhọt. * '''【Phụ phương】''' Trị băng huyết (sắc rễ với rượu); thổ huyết không ngừng; sốt rét; nhọt độc không tên; ghẻ lở toàn thân (sắc nước tắm vào tiết Đoan ngọ). ===TIÊN NHÂN TRƯỢNG THẢO (仙人杖草)=== '''Tên khoa học:''' Lepidium apetalum Willd. (Hạt cải trời/Cỏ gậy tiên) * '''【Tập giải】''' Tàng Khí nói: Mọc ở vùng Kiếm Nam. Lá giống Khổ cự, mọc thành cụm. Tụng nói: Có 3 vật cùng tên này (một loại rau, một loại măng tre khô đen, và một tên khác của Câu kỷ). Đây là loại dùng làm rau ăn. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi ấm, không độc. * '''【Chủ trị】''' Làm rau ăn giúp trừ đờm tích, trừ phong lạnh. Dùng lâu khỏe gân cốt, trẻ mãi không già. ===BỒ CÔNG ANH (蒲公英)=== '''Tên khoa học:''' Taraxacum mongolicum Hand.-Mazz. * '''【Giải thích tên gọi】''' Cấu nặc thảo, Kim châm thảo, Hoàng hoa địa đinh. * '''【Tập giải】''' Mọc nơi bình nguyên, đồng ruộng. Thân lá giống Khổ cự, bấm có nhựa trắng. Hoa vàng như cúc đại đóa. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Sản phụ bị áp-xe vú (nhũ ung), sắc uống hoặc đắp tại chỗ. Giải độc thức ăn, tán khí trệ, hóa nhiệt độc, tiêu u bướu, đinh nhọt. Nhựa trắng bôi trị vết đâm độc. * '''【Phát minh】''' Chấn Hanh nói: Cây này thuộc hành Thổ, hoa vàng vị ngọt, vào kinh Dương minh và Thái âm, có kỳ công tiêu sưng tán kết. Thời Trân nói: Dùng đánh răng giúp bền răng, đen râu tóc (bài thuốc Hoàn thiếu đan). ===HOÀNG QUA THÁI (黃瓜菜)=== '''Tên khoa học:''' Paraixeris denticulata (Houtt.) Nakai (Rau cải trời hoa vàng) * '''【Giải thích tên gọi】''' Rau hoa vàng. Hoa vàng, mùi như dưa chuột (hoàng qua) nên tên vậy. * '''【Tập giải】''' Mọc hoang ngoài đồng. Hình như cải dầu nhưng vị hơi đắng. Nấu canh rất thơm ngon. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn. * '''【Chủ trị】''' Thông khí kết, lợi đường ruột. ===SINH QUA THÁI (生瓜菜)=== '''Tên khoa học:''' Asperuga procumbens L. (Rau mùi dưa) * '''【Giải thích tên gọi】''' Vị có mùi dưa sống. * '''【Tập giải】''' Mọc nơi ruộng phẳng ẩm ướt. Lá xanh tròn như Bạch dền. Hoa tím trắng. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi hàn. * '''【Chủ trị】''' Trị phong chạy khắp đầu mặt chân tay, thương hàn dương độc, sốt cao đau đầu, phiền táo. Giã nước uống hoặc đắp vết sưng. ===LẠC QUY (落葵)=== '''Tên khoa học:''' Basella alba L. (Mồng tơi) * '''【Giải thích tên gọi】''' Đằng quy, Thiên quy, Yên chi thái (Rau mồng tơi/Rau mồng tơi nhuộm da). * '''【Tập giải】''' Dây leo, lá tròn dày, mềm mướt. Quả khi chín màu tím đen, vò ra nước đỏ như phấn hồng (yên chi), phụ nữ dùng tô điểm mặt môi hoặc nhuộm vải. * '''【Lá - Khí vị】''' Vị chua (hoặc ngọt), tính hàn, trơn mướt. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn. * '''【Chủ trị】''' Hoạt trung, tán nhiệt, lợi đại tiểu trường. * '''【Quả】''' Giúp da mặt tươi nhuận, làm phấn sáp bôi mặt. ===TỨP THÁI (蕺菜 - Ngư tinh thảo)=== '''Tên khoa học:''' Houttuynia cordata Thunb. (Diếp cá) * '''【Giải thích tên gọi】''' Rau vựa (Tả thái), Cỏ tanh cá (Ngư tinh thảo). * '''【Tập giải】''' Mọc nơi ẩm ướt, bóng râm. Lá giống tam giác, một mặt xanh một mặt tím đỏ, mùi tanh như cá. * '''【Lá - Khí vị】''' Vị cay, tính hơi ấm, có độc nhẹ. Ăn nhiều gây suy yếu dương khí, tiêu tinh tủy, không lợi cho chân (người bị cước khí ăn vào không khỏi). * '''【Chủ trị】''' Trị lở loét do nước tiểu sâu róm, ung nhọt, trĩ, thoát vị đái chậu, giải độc độc. * '''【Phụ phương】''' Trị nhọt lưng; trĩ sưng đau; đinh nhọt; trẻ em thoát vị hậu môn; sâu răng (nhét tai); rắn rết cắn. ===QUYẾT (蕨)=== '''Tên khoa học:''' Pteridium aquilinum (L.) Kuhn (Rau dớn/Rau dương xỉ) * '''【Giải thích tên gọi】''' Biểu (鳖). Đầu mầm cuộn lại như tay trẻ con hoặc chân rùa nên tên vậy. * '''【Tập giải】''' Mọc vùng núi. Mầm non cuộn tròn, khi già xòe như đuôi phượng. Lấy mầm non luộc nước tro khử nhớt rồi làm rau. Rễ màu tím, bên trong có bột trắng, dùng làm bánh hoặc miến ăn rất ngon. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, trơn mướt, không độc. Ăn nhiều gây mờ mắt, ngạt mũi, rụng tóc, yếu chân. * '''【Chủ trị】''' Khử bạo nhiệt, lợi thủy đạo, giúp ngủ ngon. Bổ ngũ tạng hư tổn. Tro rễ trộn dầu đắp vết rắn cắn. * '''【Phát minh】''' Thời Trân nói: Rau này tính lạnh trơn, tiết dương khí, hạ mà không thăng, tiêu hao chân nguyên nên không nên ăn quá nhiều. ===THỦY QUYẾT (水蕨)=== '''Tên khoa học:''' Ceratopteris thalictroides (L.) Brongn. (Ráng đại chiến/Rau cần nước) * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Thủy quyết giống rau Dương xỉ (Quyết) nhưng mọc dưới nước. Sách Lã Thị Xuân Thu khen đây là loại rau ngon vùng Vân Mộng. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, đắng, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】''' Trị tích tụ trong bụng (bĩ tích). Luộc ăn nhạt trong 1-2 ngày sẽ tống khứ vật ác ra ngoài. Kiêng ăn tạp trong một tháng là tốt nhất. ===VI (薇)=== '''Tên khoa học:''' Vicia sepium L. (Vĩ diệp thố nhi đơn/Dã vạn đậu) * '''【Giải thích tên gọi】''' Thùy thủy, Dã vạn đậu, Đại sào thái. * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Vi mọc trong ruộng mạch hoặc ngoài đồng. Chính là loại Đậu vạn dại hiện nay, người Thục gọi là rau Sào (Sào thái). Cây dạng dây leo, thân lá mùi vị đều giống Đậu Hà Lan, dùng làm rau hay nấu canh đều tốt. Loại lớn là Vi, loại nhỏ là rau Nguyên Tu (Nguyên Tu thái). * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】''' Ăn lâu không đói, điều hòa trung tiêu, lợi đại tiểu trường, tiêu phù thũng, nhuận tràng. ===KIỀU YÊU (翹搖)=== '''Tên khoa học:''' Astragalus sinicus L. (Tử vân anh/Hoa vân anh) * '''【Giải thích tên gọi】''' Diêu xa, Dã tằm đậu (Đậu tằm dại), Tiểu sào thái. * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Cây có thân lá mềm mại, đung đưa (phiêu diêu) nên có tên vậy. Người Thục gieo vào mùa thu, hái vào mùa xuân. Khi cây già thì cày lật xuống làm phân bón ruộng. Lá giống lá hòe non, hoa màu tím trắng. * '''【Khí vị】''' Vị cay, tính bình, không độc. Ăn sống gây nôn ra nước. * '''【Chủ trị】''' Phá huyết, cầm máu, sinh cơ. Giã nước uống trị các chứng vàng da (hoàng bệnh). Lợi ngũ tạng, sáng mắt thính tai, trị sốt rét do nhiệt, hoạt huyết bình vị. ===LỘC HOẮC (鹿藿)=== '''Tên khoa học:''' Rhynchosia volubilis Lour. (Đậu cúc/Đậu rùa) * '''【Giải thích tên gọi】''' Lộc đậu, Lao đậu, Dã lục đậu (Đậu xanh dại). Vì hươu (lộc) thích ăn lá (hoắc) của nó nên tên vậy. * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Mọc nhiều nơi ruộng mạch và đồng hoang. Thân lá giống đậu xanh nhưng nhỏ hơn, dạng dây leo. Quả chín có hạt đen như hạt tiêu, có thể nấu ăn hoặc xay bột làm bánh. * '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Giải độc cổ, trị phụ nữ đau lưng bụng, trị nhọt ruột (tràng ung), tràng nhạc (loa lịch), các chứng ghẻ lở khí huyết. ===HÔI ĐIÊU (灰藋)=== '''Tên khoa học:''' Chenopodium album L. (Rau muối/Cỏ chân vịt) * '''【Giải thích tên gọi】''' Rau Hôi điều, Kim tỏa yểu. Vì thân lá có lớp phấn mịn như tro (hôi) nên tên vậy. * '''【Tập giải】''' Mọc nơi đất thuần thục. Thân có khía đỏ tím, mặt lá xanh, lưng lá có phấn trắng. Tháng 7-8 kết hạt từng chùm như hạt cầu, có thể đồ chín lấy nhân nấu cơm hoặc xay bột ăn. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Trị ác sang, côn trùng, nhện cắn (giã đắp với dầu). Nấu nước tắm trị ghẻ lở, ngứa ngáy. Tro hạt dùng sát trùng răng sâu, tẩy thịt thừa, trị bạch biến, tàn nhang. Nhân hạt ăn giúp diệt ký sinh trùng (tam trùng). ===LÊ (藜)=== '''Tên khoa học:''' Chenopodium giganteum D. Don (Rau muối đỏ/Hồng tâm thái) * '''【Giải thích tên gọi】''' Lai, Hồng tâm hôi điều, Hạc đỉnh thảo, Yên chi thái. * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Chính là loại Rau muối có tâm đỏ. Người phương Bắc gọi là Lạc lê, người phương Nam gọi là rau Yên chi. Khi già thân cứng có thể làm gậy chống. * '''【Lá - Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, hơi độc. * '''【Chủ trị】''' Diệt trùng. Sắc canh rửa mụn nhọt, súc miệng trị sâu răng. Giã đắp vết trùng cắn, trị lang ben. Thân đốt thành tro dùng tẩy mụn cóc, nốt ruồi đen và thịt thừa. ===TẦN ĐỊCH LÊ (秦荻藜)=== '''Tên khoa học:''' Chenopodium ficifolium Sm. (Rau muối lá hình lá vả) * '''【Giải thích tên gọi】''' Thời Trân nói: Sách Sơn Hải Kinh chép tại núi Tần có loại cỏ như cây địch (cỏ lau), gọi là Lê, có thể làm dưa muối. * '''【Khí vị】''' Vị cay, tính ấm, không độc. Là loại ngon nhất trong các loại rau sống. * '''【Chủ trị】''' Trị đau bụng lạnh trướng, hạ khí tiêu thực. Tán bột uống với rượu trị đau tim đột ngột, khí uất nghẹn. Hạt giã nát hòa giấm đắp trị sưng độc. ===ĐỀ HỒ THÁI (醍醐菜)=== '''Tên khoa học:''' Cynanchum corymbosum Wight. (Dây da bò/Sâm sữa) * '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Chứng loại Bản thảo có chép nhưng hình trạng chưa khảo cứu được. Duy có Lôi Hiệu nói: Hình giống dây da bò, bấm vào có nhựa trắng, mùi thơm ngọt. Hái về dùng dao tre cắt nhỏ, nghiền nát như cao, dùng lụa lọc lấy nước, uống ấm. Tuy nhiên không nói rõ trị bệnh gì. * '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc. * '''【Chủ trị】''' Kinh nguyệt không đều: giã lá lấy nước cốt, hòa rượu sắc uống (theo Thiên Kim). * '''【Phụ phương】''' Trị nội thương băng huyết: Đề hồ giã lấy nước, hòa rượu đun sôi, uống một bát lúc đói. ### '''【Phụ lục】''' * '''Mao cao thảo (茅膏菜 - Drosera peltata):''' Vị ngọt, bình, không độc. Sắc uống trị kiết lỵ đỏ trắng lâu ngày. Cây có nhựa dính như mỡ, quả dạng sừng. * '''Kê hầu thái (雞侯菜):''' Vị cay, ấm, không độc. Ăn lâu giúp ấm trung tiêu, ích khí. Hình giống cây Ngải, mọc ở Lĩnh Nam. * '''Mạnh nương thái (孟娘菜):''' Vị đắng, tính hơi ấm, không độc. Trị phụ nữ huyết kết gầy yếu, nam giới bìu dái thấp ngứa, cường dương, bổ hư, trị trĩ, tràng nhạc, bướu cổ. Lá giống Thăng ma, thân vuông. * '''Ưu điện (優殿):''' Vị cay, ấm, không độc. Ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực. Mọc ở An Nam (Việt Nam), người dân trồng làm rau ăn với tương đậu rất thơm ngon. ===DỤ (芋 - Khoai môn)=== '''Tên khoa học:''' Colocasia esculenta (L.) Schott * '''【Giải thích tên gọi】''' Thổ chi, Tuấn si (Chim cú ngồi). Thời Trân nói: Củ lớn lá to khiến người ta kinh ngạc (hú/dụ) nên gọi là Dụ. Hình dáng củ như chim cú đang ngồi nên gọi là Tuấn si. * '''【Tập giải】''' Hoằng Cảnh nói: Khoai tươi có độc, vị tê ngứa không ăn được. Có loại khoai dại (Dã dụ) hình lá rất giống khoai ăn nhưng rễ có độc chết người. ** Cung nói có 6 loại: Khoai xanh, khoai tím, khoai thật (chân dụ), khoai trắng, khoai liên thiền và khoai dại. Khoai xanh nhiều con, dài và độc nhiều, khi nấu phải dùng nước tro. Các loại khác độc ít, nấu ăn hoặc nấu canh với thịt rất tốt. ** Thời Trân nói: Có hai loại là khoai nước và khoai cạn. Khoai nước vị ngon hơn. Thân (dọc mùng) cũng ăn được. Khoai thường không hoa, nếu nở thì hoa màu vàng. Sách Quảng chí liệt kê 14 loài khác nhau tùy kích thước củ và vị. * '''【Củ (Dụ tử) - Khí vị】''' Vị cay, tính bình, trơn mướt, có độc nhẹ. Ăn nhiều khó tiêu, gây trệ khí tỳ vị. * '''【Chủ trị】''' Khoan khoái dạ dày, làm đầy đặn cơ bắp. Ăn lạnh trị phiền nhiệt, chỉ khát. Giúp người béo trắng, thông táo bón. Sản phụ ăn vào giúp phá huyết ứ, uống nước cốt giúp chỉ khát do mất máu. Trị tử nhục (thịt thừa), bổ hư. * '''【Phát minh】''' Khoai trắng không vị, khoai tím phá khí. Tháng 10 phơi khô thu giữ, ăn mùa đông không phát bệnh. Khi nấu nên nấu với gừng, thay nước mới rồi ăn. * '''【Phụ phương】''' Trị bĩ tích trong bụng; trị phong ngứa ngoài da; trị mụn nhọt sưng đau do phong tà (dùng khoai trắng đốt thành tro đắp); trị nhọt mềm trên đầu (giã khoai tươi đắp). '''LÁ VÀ THÂN KHOAI (Dụ diệp, ngạnh)''' * '''【Khí vị】''' Vị cay, tính lạnh, trơn mướt, không độc. * '''【Chủ trị】''' Trừ phiền, chỉ tả (cầm tiêu chảy), trị phụ nữ có thai tâm phiền mê muội, thai động bất an. Giã với muối đắp vết rắn rết, sâu bọ cắn và nhọt độc. Thân khoai (dọc mùng) sát vào chỗ ong đốt rất tốt. Nhựa bôi trị nhện cắn. * '''【Phát minh】''' Thẩm Quát chép: Thấy nhện bị ong đốt bụng sưng to sắp nứt, nhện bò vào ăn thân khoai rồi cọ vết thương vào đó, một lúc sau bụng xẹp lại như cũ. Từ đó dùng trị ong đốt rất nghiệm. '''【Phụ lục】''' * '''Dã dụ (野芋 - Khoai dại):''' Hình lá giống khoai ăn nhưng cực độc, ăn vào gây phiền muội muốn chết, cứu bằng nước đậu nành hoặc nước phân. Loại nhỏ là Dã dụ, loại lớn là Thiên hà (Hải dụ - Alocasia macrorrhizos). Rễ dã dụ vị cay lạnh, độc nặng, mài với giấm đắp ghẻ lở, sâu bọ cắn. ===THỔ DỤ (CỦ KHOAI ĐẤT)=== (Trích: Thập Di) '''Tên khoa học:''' Dioscorea bulbifera L. * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tên gọi khác:''' Thổ noãn (Thập Di), Hoàng độc (Cương mục), Thổ đậu. * '''Tập giải:''' Tàng Khí nói: Thổ dụ thân leo, lá như lá đậu, rễ tròn như quả trứng. Ăn vào gây nôn mửa dữ dội, người không nên ăn. Lại nói: Thổ noãn thân leo, giống khoai môn, người ta luộc với nước tro để ăn. ** Cung nói: Thổ noãn giống khoai môn nhỏ, thịt trắng vỏ vàng. Người vùng Lương, Hán gọi là Hoàng độc, có thể hấp ăn. * '''Rễ:''' ** '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay, tính hàn, có độc nhỏ. ** '''Chủ trị:''' Giải độc các loại thuốc. Giã tươi hòa nước uống, nôn ra chất độc thì dừng. Nấu chín ăn vị ngọt mỹ, không đói, làm dày ruột gan, trị ho do nhiệt (Tàng Khí). ===THỰ DỰ (HOÀI SƠN/SƠN DƯỢC)=== *(Trích: Bản kinh - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Dioscorea polystachya Turcz. (syn. Dioscorea opposita) * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tên gọi khác:''' Thự dự, Thổ thự, Sơn thự, Sơn dụ, Sơn dược, Ngọc diên, Nhi thảo, Tu thúy. ** Lưu ý: Đời Đường kỵ húy vua Đường Đại Tông (Lý Dự) đổi thành '''Sơn dược''', đời Tống kỵ húy vua Tống Anh Tông (Triệu Thự) nên tên gốc Thự Dự dần ít dùng. * '''Tập giải:''' Mọc ở thung lũng núi Cao Tung. Thân đỏ, leo nhỏ, hoa trắng, quả xanh vàng. Rễ trong trắng ngoài vàng. ** Có hai loại: Loại trắng là thượng hạng, làm phấn ăn rất tốt và bổ; loại xanh đen vị kém không dùng. ** Người phương Nam có loại rễ nhỏ như ngón tay, chắc, nấu canh không tan, vị rất ngon, bổ hơn loại trồng trong vườn. Lại có loại ở Mân Trung rễ giống gừng, khoai, vỏ tím, to vài cân, tính lạnh hơn loại phương Bắc. ** Thời Trân nói: Dùng làm thuốc thì loại mọc hoang là tốt nhất; dùng làm thức ăn thì loại trồng là tốt. Tháng 5-6 nở hoa chùm màu hồng nhạt. Quả có ba cạnh, hạt kết bên cạnh trông như viên đạn (Linh dư), luộc ăn ngọt nhớt như rễ. * '''Tu trị (Bào chế):''' Gọt vỏ, ngâm nước có pha chút phèn chua để sạch nhớt, sấy khô. Làm thuốc quý ở chỗ phơi khô tự nhiên. Sinh dùng thì tính trơn, chín dùng thì trệ khí. Không dùng loại mọc ở ruộng phẳng, nên dùng loại mọc trong núi lâu năm. * '''Rễ:''' ** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính ấm, bình, không độc. Ghét Cam toại. ** '''Chủ trị:''' Bổ hư lao, gầy yếu, trừ hàn nhiệt tà khí, ích khí lực, dưỡng cơ bắp, cường âm. Dùng lâu làm sáng tai mắt, nhẹ người, không đói, kéo dài tuổi thọ. Trị phong trên mặt, chóng mặt, hạ khí, trị đau lưng, bổ ngũ tạng, trừ phiền nhiệt. Mạnh gân xương, trị di tinh, hay quên. Ích thận khí, kiện tì vị, cầm tiêu chảy, hóa đờm, nhuận da lông. Giã tươi đắp trị mụn nhọt sưng cứng. * '''Phát minh:''' Dùng cho người cơ thể hư nhược rất tốt. Giúp nam giới trợ âm lực. ** Lý Cao nói: Sơn dược nhập thủ Thái âm Phế kinh, tính mát mà bổ. Trị da khô nhuận rất tốt. * '''Phụ phương:''' ** '''Bổ hư tổn, tiểu nhiều, gầy yếu:''' Sơn dược nghiền nhỏ, cho vào nồi với một thìa mỡ bò (tô) đun thơm, thêm rượu đun đều, uống lúc đói. ** '''Bụng đầy chướng, tay chân lạnh, nôn mửa:''' Sơn dược nửa sống nửa sao, tán bột. Uống 2 tiền với nước cơm. Kỵ đồ sắt. ** '''Tiểu nhiều:''' Sơn dược (nấu nước phèn), Bạch phục linh bằng nhau, tán bột. Uống 2 tiền. ** '''Lỵ cấm khẩu:''' Sơn dược nửa sống nửa sao, tán bột, uống với nước cơm. ** '''Đờm phong suyễn cấp:''' Sơn dược tươi giã nát nửa bát, trộn nửa bát nước mía, đun nóng uống ngay. ** '''Tì vị hư yếu, chán ăn:''' Sơn dụ, Bạch truật mỗi thứ 1 lạng, Nhân sâm 7 chỉ rưỡi, tán bột, làm viên bằng hạt đậu, uống 40-50 viên. ** '''Tiêu chảy do thấp nhiệt:''' Sơn dược, Thương truật bằng nhau, làm viên uống. ** '''Nhọt độc mới phát:''' Sơn dược tươi (còn dính đất), hạt Thầu dầu, Gạo nếp bằng nhau, ngâm nước nghiền nát, đắp lên. ** '''Lở loét vùng háng, lưng:''' Sơn dược và Đường đỏ cùng giã, bôi lên. ** '''Kết hạch sau cổ hoặc sưng đau:''' Sơn dược tươi gọt vỏ, 2 hạt Thầu dầu cùng nghiền, đắp vào rất thần hiệu. ** '''Bỏng lạnh tay chân:''' Một khúc Sơn dược, mài thành bùn đắp vào ===LINH DƯ TỬ (DÁI MAI/CỦ KHÔNG KHÍ)=== *(Trích: Thập Di) '''Tên khoa học:''' Dioscorea bulbifera L. * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tập giải:''' Tàng Khí nói: Linh dư tử to như trứng gà, nhỏ như viên đạn, mọc dưới nách lá. Phơi khô dùng công hiệu mạnh hơn Sơn dược. Đây là một loại trong các giống Thự dự. ** Thời Trân nói: Đây là quả kết trên dây leo của cây Sơn dược. Hình dáng dài tròn không đều, vỏ vàng thịt trắng. Luộc chín bỏ vỏ ăn ngon hơn Sơn dược và khoai môn. Thu hoạch sau mùa sương giáng. Hạt rơi xuống đất cũng dễ mọc rễ. * '''Khí vị:''' Ngọt, ấm, không độc. * '''Chủ trị:''' Bổ hư tổn, mạnh lưng chân, ích thận, ăn vào không đói (Tàng Khí). ===CAM THỰ (KHOAI LANG)=== *(Trích: Cương Mục) '''Tên khoa học:''' Ipomoea batatas (L.) Lam. * '''Tập giải:''' Thời Trân nói: Theo Dị vật chí, Cam thự xuất xứ từ vùng Giao Chỉ, Quảng Châu phương Nam. Dân trồng tháng 2, thu hoạch tháng 10. Rễ giống khoai môn, có củ rất lớn như trứng ngỗng, nhỏ như trứng gà vịt. Bóc vỏ tím thấy thịt trắng như mỡ. Người miền Nam dùng thay lương thực hoặc làm trái cây, hấp nướng đều thơm ngon. Mới đầu rất ngọt, để lâu gặp gió vị sẽ nhạt đi. ** Theo Thảo mộc trạng: Cam thự thuộc loại Thự dự hoặc khoai môn, lá rễ cũng tương tự. Củ to như nắm tay hoặc bát cơm, vị như Sơn dược, tính không quá lạnh. Người vùng Hải Đảo không làm ruộng chỉ trồng thứ này, cắt lát phơi khô làm lương thực gọi là Thự lương. Người vùng biển nhiều người thọ là do không ăn ngũ cốc mà chỉ ăn Cam thự. * '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Bổ hư phạp, ích khí lực, kiện tì vị, cường thận âm, công dụng giống Sơn dược (Thời Trân). ===BÁCH HỢP (HOA HUỆ TÂY/LOA KÈN)=== *(Trích: Bản kinh - Trung phẩm) '''Tên khoa học:''' Lilium brownii var. viridulum Baker * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tên gọi khác:''' Phiên, Cường cù, Toán não thự (Khoai đầu tỏi), Ma la, Trọng tương. * '''Giải thích tên gọi:''' Rễ do nhiều cánh (vảy) hợp thành nên gọi là Bách hợp (trăm thứ hợp lại). Có thuyết nói do trị được bệnh "Bách hợp". Vì rễ giống củ tỏi, vị như khoai nên tục gọi là Toán não thự. * '''Tập giải:''' Mọc ở lũng núi Kinh Châu. Tháng 2, tháng 8 đào rễ phơi khô. Rễ như củ tỏi lớn, hàng chục vảy chồng lên nhau. ** Có hai loại: Loại lá lớn thân dài, rễ thô hoa trắng dùng làm thuốc; loại lá nhỏ hoa đỏ (Sơn đan) không dùng. ** Cần phân biệt: *** '''Bách hợp (Lilium brownii):''' Thân đứng, lá ngắn rộng như lá trúc, hoa trắng lớn rủ xuống. *** '''Sơn đan (Lilium pumilum):''' Lá dài hẹp như lá liễu, hoa đỏ không rủ. *** '''Quyển đan (Lilium lancifolium - Loa kèn vảy rồng):''' Thân cao, hoa đỏ cam có đốm đen rủ xuống, nách lá có hạt đen (linh dư tử). Loại này Tô Tụng nói không dùng làm thuốc, nhưng Lý Thời Trân đính chính là có thể dùng. * '''Rễ (Thân hành):''' ** '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc. Quyền nói: Có độc nhỏ. ** '''Chủ trị:''' Trị tà khí gây đầy bụng, đau tim, lợi tiểu tiện, bổ trung ích khí. Trị phù thũng, trướng bụng, đầy trướng, sốt rét, đau nhức toàn thân, thông sữa, viêm họng, cầm nước mắt nước mũi. An thần, định phách, dưỡng ngũ tạng, trị điên cuồng, kinh sợ, huyết vận sau sinh. Chưng với mật ong trị đau tim do hoàng đản. Ôn phổi chỉ khái (trị ho). * '''Phát minh:''' Trương Trọng Cảnh có 4 phương trị bệnh Bách hợp (Bách hợp tri mẫu thang, Bách hợp hoạt thạch đại赭 thang, Bách hợp kê tử thang, Bách hợp địa hoàng thang). * '''Phụ phương (Tóm lược):''' ** '''Bệnh Bách hợp:''' Dùng Bách hợp sắc cùng Tri mẫu, hoặc lòng đỏ trứng gà, hoặc Đại赭 thạch/Hoạt thạch, hoặc Địa hoàng tùy chứng (theo Kim quỹ yếu lược). ** '''Tiêu khát/Nhiệt do bệnh Bách hợp:''' Sắc lấy nước tắm hoặc uống với Hoạt thạch. ** '''Ho do phổi nhiệt:''' Bách hợp tươi 4 lạng, chưng với mật cho mềm, ngậm nuốt nước. ** '''Thổ huyết:''' Giã Bách hợp tươi lấy nước uống. ** '''Bệnh tai:''' Khô Bách hợp tán bột uống. ** '''Trị tóc bạc:''' Giã nát Bách hợp ủ kín 100 ngày, nhổ tóc bạc đắp vào sẽ mọc tóc đen. ** '''Mụn nhọt, lở loét:''' Giã nát đắp (tươi hoặc phối hợp muối/dấm). ** '''Hóc xương cá:''' Bách hợp tán bột, hòa nước mật bôi quanh cổ. * '''Hoa:''' Trị mụn mủ trẻ em (phơi khô tán bột trộn dầu cải bôi). * '''Hạt:''' Sao rượu tán bột uống trị đại tiện ra máu. ===SƠN ĐAN (HOA LILY CHI MAI)=== *(Trích: Nhật Hoa) '''Tên khoa học:''' Lilium pumilum DC. * '''Tên gọi khác:''' Hồng bách hợp (Nhật Hoa), Liên châu, Xuyên cường cù (Thông chí), Hồng hoa thái. * '''Tập giải:''' ** Thẩm nói: Loại Bách hợp hoa đỏ gọi là Sơn đan. Rễ của nó ăn không tốt bằng loại hoa trắng. ** Thời Trân nói: Rễ Sơn đan giống Bách hợp nhưng nhỏ và ít vảy hơn, thân cũng ngắn nhỏ. Lá hẹp, dài và nhọn, rất giống lá liễu, khác hẳn với Bách hợp. Tháng 4 nở hoa đỏ, hoa có 6 cánh không rủ xuống, cũng kết hạt nhỏ. Người vùng Yến, Tề hái đài hoa lúc chưa nở, phơi khô đem bán, gọi là Hồng hoa thái. ** Cây Quyển đan (Lilium lancifolium) tuy thân lá giống nhưng hơi dài và lớn hơn. Hoa có 6 cánh rủ xuống, lớn hơn Sơn đan. Tháng 4 kết hạt ở nách lá, đến mùa thu hoa mới nở ở đỉnh ngọn, thật là một sự lạ. Rễ có vảy giống Bách hợp nhưng không ăn được, là một loại riêng biệt. * '''Rễ:''' ** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính lương (mát), không độc. Quyển Chính yếu ghi: Tính bình. ** '''Chủ trị:''' Sang thũng (mụn nhọt sưng tấy), kinh tiệp (hoảng sợ, co giật) (Đại Minh). Dùng cho phụ nữ bị băng trung (băng huyết) (Thời Trân). * '''Hoa:''' ** '''Khí vị:''' Giống như rễ. ** '''Chủ trị:''' Hoạt huyết. Nhị hoa dùng đắp trị đinh sang, ác thũng (nhọt độc sưng dữ) (Thời Trân). ===THẢO THẠCH SÂM (CÂY CỎ SÂM/CAM LỘ TỬ)=== *(Trích: Thập Di) '''Tên khoa học:''' Stachys sieboldii Miq. * '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này. * '''Tên gọi khác:''' Địa tiềm (Nhật dụng), Thổ nhộng (Dư đông lục), Cam lộ tử (Thực vật), Tích lộ (Cương mục), Địa qua nhi. ** Thời Trân nói: Tên "Tiềm" (tằm), "Nhộng" đều dựa trên hình dáng của rễ mà đặt; "Cam lộ" (móc ngọt) dựa vào vị của rễ. Có thuyết nói trên lá có giọt sương nhỏ xuống (tích lộ) thì rễ sinh ra, nhưng tôi thường trồng thử thì thấy không có chuyện đó. Loại rễ to dài được sách Cứu hoang bản thảo gọi là Địa qua nhi. * '''Tập giải:''' ** Tàng Khí nói: Đào Hoằng Cảnh chú giải phần sâu bọ về "Thạch tiềm" có nói: Nay tục dùng rễ cỏ màu đen. Xét thấy Thảo thạch sâm mọc trên đá núi cao, rễ như cái trâm, trên có lông, đốt như con tằm, lá giống lá Quyển bá. Người miền núi hái về ăn. ** Tô Tụng nói: Rễ cỏ giống con tằm cũng gọi là Thạch sâm. Có ở vùng Phúc Châu và Tín Châu trên đá núi, bốn mùa đều có. Mầm màu xanh, cũng có đốt. Tháng 3 hái rễ dùng. ** Cơ nói: Thảo thạch sâm ở Huy Châu rất nhiều, dân địa phương gọi là Địa tiềm. Trắng béo và đốt ngắn, to như con tằm lứa thứ ba. Mọc ở vùng đất thấp ẩm và bãi cát. Mùa thu cày ruộng thấy khắp nơi. Thu hái về ngâm giấm làm dưa chua ăn. Mùa đông cũng đào lấy được. ** Dĩnh nói: Địa tiềm mọc ở ruộng mạch vùng ngoại ô. Lá như lá bạc hà nhưng hẹp và nhọn hơn, vân hơi nhăn, kém độ bóng. Rễ màu trắng, trạng như con tằm. Tháng 4 hái rễ, trụng nước sôi hòa muối làm rau ăn. ** Thời Trân nói: Thảo thạch sâm chính là cây Cam lộ tử ngày nay. Vùng Kinh Tương, Giang Hoài trở về nam trong hoang dã đều có, người ta cũng trồng. Tháng 2 mọc mầm, dài gần một thước, thân vuông, đối đốt, lá hẹp có răng cưa, đều giống cây Kê tô (dân gian gọi là bạc hà dại), nhưng lá nhăn và có lông. Tháng 4 nở hoa nhỏ thành bông (tuế), giống như bông hoa Tử tô. Hạt giống hạt Kinh giới. Rễ chuỗi lại như con tằm già. Tháng 5 đào rễ chưng hoặc luộc ăn, vị như Bách hợp. Hoặc dùng nước muối củ cải hoặc nước dưa muối để bảo quản thì rễ không bị đen. Cũng có thể ngâm tương hoặc tẩm mật. Vừa có thể làm rau, vừa có thể làm quả. Trần Tạng Khí nói lá Thạch sâm giống Quyển bá thì có lẽ là loại khác. * '''Rễ:''' ** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. ** Thời Trân nói: Không nên ăn sống hoặc ăn quá nhiều vì sinh sán (thốn bạch trùng). Ăn cùng các loại cá sẽ khiến người ta buồn nôn. ** '''Chủ trị:''' Ngâm rượu giúp trừ phong, phá huyết. Nấu ăn trị khê độc (độc nước suối) (Tàng Khí). Sao khô trị tẩu chú phong (phong chạy khắp người), tán huyết chỉ thống (giảm đau). Các đốt rễ cũng có thể giã bột uống với rượu (Tô Tụng). Hòa ngũ tạng, hạ khí, làm thanh thản tinh thần (Chính yếu). ===TRÚC DUẨN (MĂNG TRE)=== *(Trích: Thục Bản thảo) '''Tên khoa học chung:''' Bambusoideae (Phân họ Tre) * '''Hiệu chính:''' Hợp nhất với phần "Đào trúc duẩn" trong Thập di ở bộ Mộc. * '''Tên gọi khác:''' Trúc manh (Nhĩ nhã), Trúc nha (Duẩn phổ), Trúc thai (Thuyết văn), Trúc tử (Thần dị kinh). * '''Giải thích tên gọi:''' Thời Trân nói: Chữ Duẩn (筍) gồm bộ Trúc (竹) và chữ Tuần (旬 - 10 ngày). Lục Điền nói: Trong vòng 10 ngày thì là Măng (Duẩn), ngoài 10 ngày thì thành Tre (Trúc). Người nay gọi tre là "cỏ đố kỵ mẹ", vì măng sinh ra 16 ngày đã cao bằng tre mẹ. Các tên gọi khác như Manh, Nhược, Truyết, Sơ hoàng đều mang nghĩa là mầm non mới nhú. * '''Tập giải:''' ** Hoằng Cảnh nói: Các loài tre rất nhiều. Măng của loại tre đặc ruột (Thực trung trúc) và tre Hoàng trúc là tốt nhất. Trong thuốc ít dùng. ** Tô Tụng nói: Các nhà đều cho rằng măng Khổ trúc (tre đắng) là quý nhất. Khổ trúc có 2 loại: Loại ở Giang Tây và Mân Trung củ rất to, vị cực đắng không ăn được; loại ở Giang Chiết thịt dày lá rộng, vị hơi đắng, tục gọi là măng đắng ngọt (tiềm khổ duẩn), dùng làm thực phẩm rất tốt, cũng không thấy dùng làm thuốc. ** Thời Trân nói: Đới Cải Chi (đời Tấn) và Tăng Tán Ninh (đời Tống) đều viết Trúc phổ, ghi hơn 60 loại. Nơi sản sinh và mùa mọc măng khác nhau. Măng có loại ăn được và không ăn được. Miền Bắc ít tre, miền Nam (Tần, Thục, Ngô, Sở) thì rất nhiều. Tre có đực cái, cứ xem cành đầu tiên ở gốc nếu mọc đôi thì là tre cái, tất sẽ có măng. Người địa phương đào lấy mầm non khi rễ tre (roi tre) đang bò gọi là '''Tiên duẩn''' (măng roi). Vùng Giang Nam, Hồ Nam đào dưới gốc tre lớn vào mùa đông khi măng chưa nhú khỏi mặt đất gọi là '''Đông duẩn''' (măng đông), dùng ăn tươi là trân phẩm. Các loại khác người phương Nam phơi khô gọi là Ngọc bản duẩn, Minh duẩn, Hỏa duẩn; muối chua gọi là Diêm duẩn, đều dùng làm rau ăn. ** Tăng Tán Ninh nói: Ăn măng như dùng thuốc, đúng phép thì lợi, sai phép thì hại. Hái măng nên tránh gió nắng (gặp gió thì gốc dai, gặp nước thì thịt cứng), để cả vỏ mà luộc thì giữ được vị, dùng dao cắt sống thì mất độ mềm. Phải nấu lâu, ăn sống hại người. Măng đắng phải nấu thật lâu. Hấp là ngon nhất, nướng cũng rất tốt. Loại có vị chát (ngứa) gây kích ứng họng thì nên luộc qua nước tro rồi mới nấu lại. Hoặc bỏ vài lá bạc hà vào nấu cùng để khử vị chát. ======CÁC LOẠI MĂNG TRE (NÓI CHUNG)====== * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. ** Tàng Khí nói: Các loại măng đều làm phát sinh khí và khí lạnh trong máu (lãnh huyết). ** Thụy nói: Măng ăn cùng gan cừu làm người ta bị mù mắt. * '''Chủ trị:''' Tiêu khát, lợi thủy đạo (thông tiểu), ích khí, có thể ăn lâu dài (Biệt lục). Thông cách hạ khí, hóa nhiệt tiêu đờm, làm mát dạ dày (Ninh Nguyên). ======KHỔ TRÚC DUẨN (MĂNG TRE ĐẮNG)====== '''Tên khoa học:''' Pleioblastus amarus (Keng) Keng f. * '''Khí vị:''' Vị đắng, ngọt, tính hàn. * '''Chủ trị:''' Trị mất ngủ, khử nhiệt vàng trên mặt, mắt và lưỡi, tiêu khát, làm sáng mắt, giải độc rượu, trừ nhiệt khí, làm người khỏe mạnh (Tàng Khí). Trị tâm phiền muộn, ích khí lực, lợi tiểu, hạ khí hóa đờm, trị phong nhiệt cước khí; dùng chưng hoặc luộc ăn (Tâm kính). Trị trúng phong mất tiếng khi ra mồ hôi. Loại khô đốt thành than trộn muối, xát vào trị cam răng (Thời Trân). ======TRÚC DUẨN (MĂNG TRE THƯỜNG)====== '''Tên khoa học:''' Phyllostachys edulis (măng sào/măng mạnh tông) * '''Chủ trị:''' Tiêu khát phong nhiệt, ích khí lực, tiêu đầy bụng; chưng, luộc, xào đều tốt. ======ĐẠM TRÚC DUẨN (MĂNG TRE NGỌT/TRE PHẤN)====== '''Tên khoa học:''' Phyllostachys nigra var. henonis * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn. * '''Chủ trị:''' Tiêu đờm, trừ nhiệt cuồng, sốt cao, đau đầu, phong đầu, phụ nữ chóng mặt, ngã kinh sợ, ôn dịch mê man, trẻ em kinh giản (co giật). ======ĐÔNG DUẨN & BIÊN DUẨN (MĂNG ĐÔNG & MĂNG ROI)====== * '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn. * '''Chủ trị:''' Trẻ em đậu chẩn không mọc ra được, nấu cháo ăn để giải độc, giúp đậu chẩn phát ra. '''PHÁT MINH & KIÊNG KỴ''' * Lý Thời Trân dẫn lời Tăng Tán Ninh: Măng tuy ngon nhưng làm trơn đại tràng, không ích gì cho tì, tục gọi là "cái lược nạo ruột" (quát tràng bi). Chỉ có gừng sống và dầu mè mới giải được độc của măng. Các thầy thuốc tục thường cho trẻ uống canh măng để thúc đậu chẩn mọc, nhưng không biết rằng đậu chẩn kỵ đại tràng trơn nát, làm vậy là âm thầm hại người. Phải hết sức răn đe. * Tông Thích nói: Măng khó tiêu, không có lợi cho người bệnh tì. Từng có đứa trẻ ăn măng khô bị nghẹn ở họng, phát sốt thở gấp như kinh phong, uống thuốc không khỏi, sau nôn măng ra mới hết. ======ĐÀO TRÚC DUẨN (MĂNG TRE ĐÀO)====== *(Trích: Thập di) '''Tên khoa học:''' Sinocalamus affinis (hoặc các loài tre nứa nhỏ) * '''Tên gọi khác:''' Hoàng duẩn (măng vàng). * '''Khí vị:''' Vị đắng, có độc nhỏ. Phải luộc bằng nước tro mới ăn được, nếu không sẽ gây ngứa họng. * '''Chủ trị:''' Trị dòi trong vết thương của gia súc: giã nát đắp vào, dòi sẽ chui ra hết. ======THỨ TRÚC DUẨN (MĂNG TRE GAI)====== '''Tên khoa học:''' Bambusa stenostachya Hack. * '''Đặc điểm:''' Thân có gai, người Di trồng làm thành lũy, gốc to như nan bánh xe. * '''Khí vị:''' Vị ngọt, đắng, có độc nhỏ. Ăn vào làm rụng tóc (Trúc phổ). ====TOAN DUẨN (MĂNG CHUA)==== *(Trích: Cương mục) * '''Tập giải:''' Xuất xứ từ vùng 粵南 Việt (Quảng Đông) Nam. Măng to như cánh tay, nhúng nước sôi khử vị đắng, ngâm nước giếng lạnh 2-3 ngày rồi lấy ra xé sợi như dây thừng, nấu với giấm mà ăn. * '''Khí vị:''' Vị chua, tính mát, không độc. * '''Chủ trị:''' Nấu canh ăn giúp chỉ khát (hết khát), giải say rượu, lợi lồng ngực. {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] hsvzqwm9hhktylroqp92lykd79y40vr Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thái 3 114 71907 204518 2026-04-02T13:05:12Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之三 | năm= 1596 | phần = Tổng hợp: * 21 loại '''rau''' (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua) * 7 loại '''rau nước''' (Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái) * 15 loạ…” 204518 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之三 | năm= 1596 | phần = Tổng hợp: * 21 loại '''rau''' (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua) * 7 loại '''rau nước''' (Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái) * 15 loại '''nấm''' (Thanh chi - Long chi, Xích chi - Đan chi, Hoàng chi - Kim chi, Bạch chi - Ngọc chi, Tố chi, Hắc chi - Huyền chi, Tử chi - Mộc chi, Mộc nhĩ, tùng khuẩn, táo giáp tẩm, hương tẩm, cát hoa thái, thiên hoa tẩm, ma cô tẩm, kê, đà thái, thổ khuẩn, địa cầm, trúc nhục, khuẩn, địa nhĩ, thạch nhĩ) | trước= [[../Thái 2|Thái 2]] | sau= [[../Quả 1|Quả 1]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==21 loại rau== ===CÀ (TỬ TÔ)=== *(Âm đọc là Gia. Trích từ "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)* '''Tên khoa học:''' *Solanum melongena* L. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Lạc tô''' (*Thập di*), '''Côn Lôn qua''' (*Ngự lãm*), '''Thảo biệt giáp'''. * '''Tô Tụng nói:''' Theo Đoạn Thành Thức, "Cà" vốn là tên gọi thân cây sen. Nay gọi là rau cà (thái), âm đọc là "Gia", không rõ nguồn gốc từ đâu. * '''Thời Trân nói:''' Trần Tạng Khí trong *Bản thảo* gọi là Lạc tô, nghĩa chưa rõ. Xét cuốn *Ngũ Đại Di Tử Lục* viết là "Lạc tô" (酪酥 - váng sữa), có lẽ vì vị nó béo như váng sữa, nghĩa này có vẻ thông suốt. Du Bảo trong *Thập di lục* nói Tùy Dạng Đế đổi tên cà thành '''Côn Lôn tử qua''' (Dưa tím Côn Lôn). Vương Ẩn Quân trong *Dưỡng sinh chủ luận* dùng cà khô trị sốt rét nên gọi chệch đi là '''Thảo biệt giáp''' (Mai rùa bằng cỏ), vì mai rùa trị được hàn nhiệt, mà cà cũng trị được hàn nhiệt vậy. '''【Tập giải】''' * '''Tô Tụng nói:''' Cà có ở khắp nơi, gồm vài loại: Cà tím, cà vàng có ở cả Nam lẫn Bắc; cà trắng, cà xanh nước có ở miền Bắc. Dùng làm thuốc đa số dùng cà vàng, các loại khác chỉ dùng làm rau. Ở Giang Nam có loại "Cà dây" (Đằng cà), mọc dạng leo, vỏ mỏng như bầu ngô, không thấy dùng làm thuốc. * '''Tông Thích nói:''' Nước Tân La có loại cà hình như quả trứng gà, màu tím nhạt sáng, cuống dài vị ngọt. Nay ở Trung Quốc đã có khắp nơi. * '''Thời Trân nói:''' Hạt cà nên thu hoạch vào tháng 9 khi quả chín vàng, rửa sạch phơi khô, đến tháng 2 thì gieo mầm di thực. Cây cao 2-3 thước, lá to bằng bàn tay. Từ hạ sang thu nở hoa tím, 5 cánh dính nhau, 5 khía như sợi chỉ, nhị vàng cuống xanh, cuống bọc lấy quả. Trong cà có thịt (nhân), trong thịt có hạt, hạt như hạt vừng. Quả có loại tròn như quả Qua lâu, có loại dài 4-5 thốn. Có cà xanh, cà tím, cà trắng. Cà trắng còn gọi là '''Ngân cà''', ăn ngon hơn cà xanh. Các loại cà khi già đều hóa vàng. Tô Tụng coi cà vàng là một loài riêng thì có lẽ chưa nghiên cứu kỹ. * '''Vương Trinh trong *Nông thư* viết:''' Có loại cà Bột Hải màu trắng chắc; cà Phiên màu trắng dẹt, ngọt giòn không chát, ăn sống hay chín đều được; cà tím cuống dài vị ngọt; cà nước (thủy cà) hình dài vị ngọt, có thể giải khát. *Hồng Dung Trai tùy bút* ghi: Ở Chiết Tây cà thường vỏ tím, loại trắng là cà nước; ở Giang Tây cà thường vỏ trắng, loại tím là cà nước. Thật là khác biệt. * '''Lưu Tuân trong *Lĩnh biểu lục dị* nói:''' Cây cà ở Giao Chỉ trải qua mùa đông không rụng lá, có cây 2-3 năm thành cây lớn, quả to như dưa. Hái lá cà rải trên đường rồi dùng tro vây quanh thì quả sẽ đậu rất nhiều, gọi là "gả chồng cho cà" (giá cà). '''QUẢ CÀ (TỬ TÔ)''' #'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''Đại Chí nói:''' Người thể tạng lạnh lâu ngày không nên ăn nhiều, sẽ gây hại người, động khí, phát mụn nhọt và các bệnh cũ (cố tật). * '''Lý Bằng Phi nói:''' Ăn cà sau mùa thu sẽ hại mắt. * '''Thời Trân nói:''' Theo *Sinh sinh biên*, tính cà hàn lợi (nhuận tràng), ăn nhiều tất đau bụng đi lỏng, phụ nữ ăn nhiều có thể hại đến tử cung. '''【Chủ trị】''' * Trị hàn nhiệt, ngũ tạng lao tổn (*Mạnh Tiễn*). Trị bệnh ôn dịch truyền thi (lao). Mài với giấm đắp trị sưng độc (*Đại Minh*). Quả già tự nứt thì đốt thành tro trị nứt vú (*Chấn Hanh*). Tán huyết chỉ thống, tiêu sưng, khoan tràng (nhuận tràng) (*Thời Trân*). '''【Phát minh】''' * '''Tông Thích nói:''' Trong vườn rau chỉ có thứ này là không có ích. *Khai bảo bản thảo* không ghi chủ trị, chỉ nói hại người. Người đời sau dù có phép trị bệnh nhưng vẫn không hợp chính văn. Người trồng vườn lại bón nhiều phân, thúc trong chỗ ấm để bán giá cao vào tiết Tiểu mãn. Ăn không đúng mùa thì hại càng nhiều. Không đúng mùa không ăn, chớ có coi thường. * '''Chấn Hanh nói:''' Cà thuộc Thổ nên vị ngọt và có tính giáng (hạ xuống), người đại tràng dễ động (đi ngoài) nên kiêng. Quả già trị nứt đầu vú, rễ nấu nước ngâm chỗ bỏng lạnh, cuống cà đốt tro trị nhiệt miệng, đều hiệu quả kỳ lạ, đó là ý dùng vị ngọt để làm dịu hỏa vậy. * '''Thời Trân nói:''' Đoạn Thành Thức nói cà làm "dày dạ dày" (nồng tràng vị), thực ra không biết tính cà trơn (hoạt), không có tác dụng làm dày dạ dày đâu. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các phương chính) * '''Phụ nữ huyết vàng:''' Cà vàng cắt bằng dao tre, phơi âm can, tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm. * '''Trường phong hạ huyết (đi ngoài ra máu):''' Cà kinh sương cả cuống, đốt tồn tính, tán bột. Uống 2 tiền lúc đói với rượu ấm. * '''Cổ chướng trong bụng:''' Cà muối lâu năm đốt tồn tính, thêm ít xạ hương, khinh phấn, hòa dầu đắp. * '''Trị sưng đau tinh hoàn (thiên trụy):''' Dùng cà đôi (hai quả dính cuống) treo trên cửa, đi ra vào nhìn vào đó. Cà héo thì bệnh héo, cà khô thì bệnh khỏi. * '''Bệnh phong hủi (đại phong), nhiệt đàm:''' Cà vàng già to, ủ trong đất một năm hóa thành nước, trộn bột Khổ sâm làm viên bằng hạt ngô. Uống 30 viên với rượu. * '''Va đập bầm tím:''' Cà vàng già cắt lát dày, sao trên ngói tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm trước khi ngủ, một đêm là tan vết bầm. * '''Nhiệt độc sưng tấy:''' Cà tươi khoét rỗng như cái hũ, úp lên chỗ sưng sẽ tiêu. * '''Đau răng:''' Cà muối lâu năm đốt tro xát vào răng. * '''Nứt vú:''' Cà mùa thu tự nứt, phơi khô đốt tồn tính, tán bột hòa nước bôi. '''CUỐNG CÀ (TI)''' * '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro uống 2 tiền trị đi ngoài ra máu không dứt và trĩ ra máu (*Ngô Thụy*). Đốt tro trị nhiệt miệng, loét miệng. Cắt tươi xát vào vết lang ben (*Thời Trân*). * '''【Phát minh】:''' Trị lang ben trắng dùng cuống cà trắng, lang ben tím dùng cuống cà tím, theo nguyên tắc đồng loại. * '''【Phụ phương】:''' Sâu răng đau: Đốt tro cuống cà xát vào, hoặc thêm bột Tế tân. '''HOA CÀ''' * '''【Chủ trị】:''' Vết thương do kim khí, đau răng (*Thời Trân*). * '''【Phụ phương】:''' Hoa cà mùa thu khô, đốt tán bột bôi chỗ đau răng, cầm đau ngay. '''RỄ VÀ THÂN LÁ KHÔ''' * '''【Chủ trị】:''' Bỏng lạnh nứt nẻ, nấu nước ngâm rất tốt (*Khai bảo*). Tán huyết tiêu sưng, trị đái ra máu, lỵ ra máu, sa tử cung, nấm miệng (*Thời Trân*). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Đái ra máu (Huyết lâm) đau đớn:''' Lá cà hun khô tán bột, uống 2 tiền với rượu ấm. ** '''Lỵ lâu ngày không dứt:''' Rễ cà đốt tro, vỏ lựu lượng bằng nhau, tán bột uống với nước đường. ** '''Sa tử cung:''' Rễ cà đốt tồn tính, tán bột, hòa dầu bôi lên giấy cuộn lại đặt vào trong. ** '''Trị rụng răng:''' Rễ cà ngâm nước tiểu ngựa 3 ngày, phơi khô sao tán bột. Chấm vào răng là răng rụng (phương thuốc của Bào thị). ===KHỔ CÀ (CÀ ĐẮNG)=== *(Trích từ "Thập di")* '''Tên khoa học:''' *Solanum indicum* L. (hoặc *Solanum viarum*) * '''【Tập giải】:''' Trần Tạng Khí nói: Cà đắng mọc hoang ở vùng Lĩnh Nam. Cây nhỏ có gai. * '''【Quả】:''' Mài với giấm bôi trị mụn nhọt sưng tấy. * '''【Rễ】:''' Nấu nước tắm. Trị khí chướng (chướng khí) vùng rừng núi. ===HỒ LÔ (QUẢ BẦU)=== *(Trích: Nhật Hoa)* '''Tên khoa học:''' *Lagenaria siceraria* (Molina) Standl. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Hồ lô''', '''Hồ qua''' (*Thuyết văn*), '''Bào qua''' (*Luận ngữ*). * '''Thời Trân nói:''' "Hồ" (壺) là bầu đựng rượu, "Lô" (盧) là chén uống nước. Vật này có hình dáng tương ứng, lại có thể dùng làm đồ đựng rượu cơm nên đặt tên như vậy. Tục viết là "Hồ lô" (葫蘆) với bộ Thảo là sai, vì "Hồ" (葫) là tên của tỏi, "Lô" (蘆) thuộc loại cây lau sậy. Loại hình tròn gọi là '''Bào''' (匏), cũng gọi là '''Phiêu''' (瓢 - gáo), vì nó có thể nổi trên mặt nước như bọt khí (bào) hay vật trôi nổi (phiêu). * Tất cả các loại này đều thuộc họ Dưa (qua) nên gọi là '''Hồ qua''', '''Bào qua'''. Người xưa gọi Hồ, Hú, Bào thông dụng như nhau, ban đầu không phân biệt. Tuy nhiên, đời sau phân chia: loại dài như dưa Việt gọi là '''Hú''' (瓠), loại một đầu có bụng và cán dài gọi là '''Huyền hú''' (懸瓠), loại không cán mà tròn to hình dẹt gọi là '''Bào''' (匏), loại Bào có cán ngắn bụng to gọi là '''Hồ''' (壺), loại Hồ có thắt eo nhỏ gọi là '''Bồ lô''' (蒲蘆). Qua xem xét kỹ, tuy hình dáng khác nhau nhưng tính vị của mầm, lá, vỏ, hạt là một nên không chia thành các mục riêng. ### '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Bầu và Bí đao cùng một loại khí vị. Có loại Hú lô vị ngon hơn bầu thường, đều lợi thủy đạo, ăn vào mùa hè rất tốt nhưng đại để không bằng Bí đao. * '''Cung nói:''' Bầu và Bí đao hoàn toàn không cùng loại. Ba thứ này mầm lá tương đồng nhưng hình dáng quả khác nhau. Bầu (Hú) dài hơn một thước, đầu đuôi như nhau, chín vào giữa hạ và khô vào cuối thu. Hú lô hình dạng to nhỏ không nhất định, chín vào giữa thu, dùng làm đồ đựng thì phải đợi qua mùa sương mới dùng được. * '''Thời Trân nói:''' Tuy tên gọi khác nhau nhưng thực chất là một loài. Xuống giống vào tháng 1-2, lá giống lá bí đao nhưng tròn hơn, có lông mềm, lúc non có thể ăn được. Tháng 5-6 nở hoa trắng, kết quả trắng. Hạt bên trong sắp xếp như răng gọi là "Hồ tê". Loại to có thể làm chum vại, loại nhỏ làm gáo rót rượu, có thể làm thuyền nổi trên nước, làm nhạc khí (sênh), vỏ ruột có thể nuôi lợn, hạt có thể làm nến, lợi ích vô cùng to lớn. ===HỒ HÚ (BẦU NGỌT)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, trơn (hoạt), không độc. * '''Cung nói:''' Vị ngọt lạnh, ăn nhiều gây nôn mửa, đi lỏng. * '''Biển Thước nói:''' Người bị cước khí hư chướng lạnh bụng mà ăn thứ này thì bệnh không bao giờ khỏi. '''【Chủ trị】''' Tiêu khát, ác sang (mụn nhọt độc), đau loét trong mũi miệng (*Tư Mạo*). Lợi thủy đạo (*Hoằng Cảnh*). Tiêu nhiệt, người đang phục dược đan thạch nên ăn (*Mạnh Tiễn*). Trừ phiền, trị tâm nhiệt, lợi tiểu trường, nhuận tâm phổi, trị thạch lâm (sỏi đường tiết niệu) (*Đại Minh*). '''【Phát minh】''' * '''Thời Trân nói:''' Theo *Danh y lục*, người vùng Chiết Giang ăn Bào qua hay bị thổ tả, gọi là "phát bạo", đó là do quả này bị ủng khí vào tháng nắng nóng. Chỉ khi ăn cùng với Hương nhu mới tránh được. '''【Phụ phương】''' * '''Bụng trướng vàng vọt (hoàng thũng):''' Dùng bầu thắt eo (Á yêu hồ lô) cả hạt đốt tồn tính, mỗi lần dùng 1 quả uống với rượu ấm trước bữa ăn. Không uống được rượu thì dùng nước trắng, 10 ngày sẽ thấy hiệu quả. '''LÁ BẦU''' * '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Làm rau ăn giúp nhịn đói (*Tư Mạo*). '''DÂY, TUA CUỐN, HOA''' * '''【Chủ trị】:''' Giải độc (*Thời Trân*). * '''【Phụ phương】:''' Giải thai độc, phòng đậu mùa: Cắt tua cuốn bầu khô sắc nước tắm cho trẻ vào đêm trừ tịch. '''HẠT BẦU''' * '''【Chủ trị】:''' Lợi răng sưng lộ, răng lung lay đau nhức: Dùng 8 lạng hạt bầu cùng 4 lạng Ngưu tất, mỗi lần dùng 5 tiền sắc nước ngậm súc miệng, ngày 3-4 lần. ===KHỔ HÚ (BẦU ĐẮNG)=== *(Trích: Bản kinh - Hạ phẩm)* '''Tên khoa học:''' *Lagenaria siceraria* var. *microcarpa* (Naudin) Hara (hoặc các biến thể đắng) '''【Giải thích tên gọi】''' * Khổ bào (*Quốc ngữ*), Khổ hồ lô. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại bầu tự nhiên có vị đắng như mật thì không ăn được, không phải loài riêng biệt. * '''Cung nói:''' *Bản kinh* bàn về Khổ hú lô, Đào Hoằng Cảnh nói bầu thường bị đắng là sai. Bầu đắng và bầu ngọt giống nguyên bản khác nhau, không phải do ngọt biến thành đắng. * '''Bảo Thăng nói:''' Có hai loại ngọt và đắng, loại ngọt quả to, loại đắng quả nhỏ. * '''Thời Trân nói:''' *Kinh Thi* có câu "Bào hữu khổ diệp" (Bầu có lá đắng). *Quốc ngữ* viết "Khổ bào bất tài" (Bầu đắng không dùng làm đồ ăn được). Tất cả đều chỉ quả bầu đắng. Phàm dùng Khổ hú phải chọn quả vân mịn, sạch bóng không tì vết mới tốt, nếu không sẽ có độc. Nếu uống quá liều gây nôn mửa đi lỏng không dứt, dùng nước tro rơm kê để giải độc. '''RUỘT VÀ HẠT BẦU ĐẮNG''' '''【Khí vị】''' * Vị đắng, tính hàn, có độc. '''【Chủ trị】''' * Trị đại thủy (phù thũng nặng), mặt mày tay chân phù nề, hạ thủy, gây nôn mửa (*Bản kinh*). Lợi thạch lâm, nôn đờm nghẽn trong cổ, trị trùng độc (trị chú), đàm ẩm. Nấu nước ngâm rửa cơ quan sinh dục trị tiểu tiện không thông (*Tô Cung*). Nhỏ nước sắc vào mũi trị tắc mũi do lạnh, vàng da (*Tàng Khí*). Thải giun đũa (*Đại Minh*). Trị ung thư ác sang, ghẻ lở, sâu răng. Có thể dùng để chế biến thủy ngân (*Thời Trân*). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính) * '''Bệnh hoàng đản (vàng da cấp):''' Khổ hú 1 quả, đục lỗ rót nước vào nấu, lấy nước đó nhỏ vào mũi để chảy nước vàng ra. * '''Phù thũng nặng, mặt mày sưng to:''' Dùng ruột trắng bầu đắng vo như hạt đậu, bọc màng bột mì nấu sôi, uống 7 hạt lúc đói. Đến trưa sẽ xuất nước ra, người gầy đi thì khỏi. Kiêng đồ mặn trong 2 năm. * '''Tiểu tiện không thông, trướng cấp:''' Hạt bầu đắng 30 hạt (sao), Sâu đất (Lâu cô) 3 con (nướng), tán bột, uống 1 tiền với nước lạnh. * '''Đau đầu do phong đàm:''' Nhỏ nước ép ruột bầu đắng vào mũi qua ống cỏ, đờm nhớt chảy ra là khỏi tận gốc. * '''Mắt mờ, màng mộng:''' Dùng ruột trắng bầu đắng ép lấy nước, phối hợp với giấm và tiền đồng cổ sắc lấy bọt nhỏ vào khóe mắt. * '''Sâu răng đau:''' Hạt bầu đắng sắc nước ngậm súc miệng. * '''Trĩ sưng đau:''' Bầu đắng, rau Đắng đắng sắc nước xông rửa, sau đó bôi thuốc bột (Hùng đởm, Mật đà tăng...). * '''Trúng độc trùng (cổ độc), nôn máu hoặc hạ huyết:''' Sắc 1 quả bầu đắng với 2 lít nước lấy 1 lít uống để nôn ra là khỏi. * '''Thai chết lưu không ra:''' Bầu đắng đốt tồn tính, tán bột. Uống 1 tiền với rượu nóng lúc đói. '''HOA BẦU ĐẮNG''' * '''【Chủ trị】:''' Trị tất cả các loại mụn nhọt, thu hái sau mùa sương phơi khô, tán bột đắp. '''DÂY BẦU ĐẮNG''' * '''【Chủ trị】:''' Trị sởi (ma sang), nấu nước tắm thì khỏi (*Thời Trân*). Trị chứng hói trắng ở trẻ em (Bạch thục). ===BẠI PHIÊU (GÁO BẦU CŨ)=== *(Trích: Cương mục)* '''Tên khoa học:''' *Lagenaria siceraria* (Molina) Standl. (Vỏ quả khô) '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Phiêu (gáo) là do quả Hồ lô hoặc quả Bào xẻ ra mà thành. Phương thuốc của các thầy thuốc gần đây cũng thường xuyên sử dụng. Nên dùng loại làm từ quả bầu đắng (Khổ hú) là tốt nhất, loại để lâu năm lại càng thần diệu. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Tiêu trướng, sát trùng. Trị trĩ lậu ra máu, băng trung (băng huyết), khí hư (đới hạ) đỏ trắng (*Thời Trân*). '''【Phụ phương】''' * (Mới có 6 phương)* ** '''Bụng trướng đầy (Trung mãn cổ trướng):''' Dùng một cái gáo bầu cũ đã để 3-5 năm. Dùng 1 đấu gạo nếp nấu thành rượu, đợi khi rượu chín, đem gáo hơ trên lửa than cho nóng rồi nhúng vào rượu. Làm như vậy 3-5 lần, sau đó đem gáo đốt tồn tính (đốt cháy vỏ ngoài nhưng bên trong vẫn giữ tính chất), nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 3 tiền với rượu, hiệu nghiệm như thần. (*Dư Cư Sĩ - Tuyển kỳ phương*). ** '''Đại tiện ra máu:''' Gáo bầu cũ (đốt tồn tính), Hoàng liên lượng bằng nhau. Nghiền thành bột. Mỗi lần uống 2 tiền với rượu ấm lúc đói. (*Giản tiện phương*). ** '''Băng huyết đỏ trắng (Xích bạch băng trung):''' Gáo bầu cũ (sao tồn tính), Gương sen (Liên phòng - đốt tồn tính) lượng bằng nhau. Nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 2 tiền, pha với nước nóng. Uống 3 liều, thấy ra mồ hôi là đạt, bệnh sẽ cầm ngay. Trường hợp nặng uống 5 liều là khỏi, rất thần diệu. Kiêng phòng sự, thức ăn gây phát chẩn, đồ sống lạnh. (*Hải thượng phương*). ** '''Não lậu chảy mủ (Viêm xoang mạn tính chảy mủ):''' Gáo vỡ, hoa Mào gà trắng, vỏ Ốc nhồi trắng (tất cả đều đốt tồn tính) lượng bằng nhau; Huyết kiệt, Xạ hương mỗi thứ 5 phân. Nghiền thành bột. Dùng rượu ngon vẩy ướt Ngải cứu chín, trộn với thuốc nặn thành bánh, đắp lên huyệt Đỉnh môn (thóp trước), dùng bàn là hơ nóng ủi lên trên, đến khi khỏi thì thôi. (*Tôn thị - Tập hiệu phương*). ** '''Bướu thịt dưới nách (Dịch hạ lưu anh):''' Dùng loại gáo bầu cán dài (Trà hồ lô) đốt tồn tính, nghiền bột bôi vào, đến khi u tan thì thôi. Có bà lão nọ dưới nách phải mọc một cái bướu, lớn dần đến hơn một thước, hình dáng như quả bầu dài, lâu ngày loét ra. Một phương sĩ dạy cho cách này, sau đó bướu chảy nước ra, tan hết mà khỏi. (*Tần Hồ tập giản phương*). ** '''Bỏng nước sôi, bỏng lửa:''' Gáo bầu cũ, đốt thành tro đắp vào. (*Tần Hồ tập giản phương*). ===ĐÔNG QUA (BÍ ĐAO)=== *(Trích: Bản kinh - Thượng phẩm)* '''Tên khoa học:''' *Benincasa hispida* (Thunb.) Cogn. '''【Hiệu chính】''' Nay hợp nhất cùng mục '''Bạch qua tử''' (Hạt bí trắng). '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Bạch qua''' (*Bản kinh*), '''Thủy chi''' (Sách đã dẫn), '''Địa chi''' (*Quảng nhã*). * '''Đại Chí nói:''' Bí đao sau khi trải qua sương giá, trên vỏ có lớp trắng như phấn phủ, hạt cũng màu trắng nên gọi là Bạch đông qua, còn hạt gọi là Bạch qua tử. * '''Thời Trân nói:''' Gọi là Đông qua vì nó chín vào mùa đông. Lại theo Giả Tư Hiệp, bí đao gieo hạt vào tháng 2, 3; nếu gieo vào tháng 10 thì quả kết lại béo tốt hơn gieo mùa xuân, tên gọi Đông qua có lẽ cũng vì lý do này. * '''Biệt lục nói:''' Đông qua nguyên nằm dưới mục "Qua tử" của *Bản kinh*. Đời Tống, sách *Khai bảo bản thảo* thêm mục Bạch qua tử, rồi lại chia riêng Bạch đông qua thành một loại trong *Biệt lục*. Điều này dẫn đến các chú giải tranh luận gây nhiễu, nay hợp lại làm một. '''【Tập giải】''' * '''Biệt lục nói:''' Bạch qua tử mọc ở đầm phẳng vùng Tung Cao, chính là hạt của quả bí đao. Thu hái vào tháng 8. * '''Tô Tụng nói:''' Nay vườn tược nơi nơi đều trồng. Quả mọc dưới dây leo, quả lớn như cái đấu và dài, vỏ dày có lông, lúc mới sinh màu xanh lục, qua sương thì có phấn trắng. Người ta thường tích trữ ăn quanh năm như rau quả. Dùng làm thuốc phải lấy quả sau mùa sương, để qua năm, đập lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi giã lấy nhân dùng. Nhân hạt cũng có thể dùng làm thuốc bồi bổ đơn lẻ. * '''Thời Trân nói:''' Tháng 3 mọc mầm leo dây, lá to tròn có mũi nhọn, thân lá đều có lông gai. Tháng 6, 7 nở hoa vàng. Quả lớn đường kính hơn 1 thước, dài 3-4 thước, khi non màu xanh có lông, khi già màu xanh xám có phấn, vỏ cứng dày, thịt trắng béo. Ruột quả gọi là '''Qua luyện''', trắng xốp như bông, có thể dùng để giặt tẩy quần áo. Hạt gọi là '''Qua tê''', xếp thành hàng trong ruột. Bí đao kỵ rượu, sơn, xạ hương và gạo nếp, chạm phải tất thối nát. ====BẠCH ĐÔNG QUA (QUẢ BÍ ĐAO)==== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Tính lạnh và lợi tiểu (lạnh lợi). '''【Chủ trị】''' Trị thủy trướng bụng dưới, lợi tiểu tiện, chỉ khát (*Biệt lục*). Giã lấy nước uống trị tiêu khát phiền muộn, giải độc (*Hoằng Cảnh*). Ích khí, chống lão hóa, trừ đầy tức ngực sườn, khử nhiệt ở vùng đầu mặt (*Mạnh Tiễn*). Tiêu nhiệt độc ung thũng. Thái lát xoa trị rôm sảy rất tốt (*Đại Minh*). Lợi đại tiểu tràng, ép độc của đan thạch (*Tô Tụng*). '''【Phát minh】''' * '''Mạnh Tiễn nói:''' Người bị nhiệt ăn vào rất tốt, người thể tạng lạnh ăn vào sẽ làm người gầy đi. Nấu ăn giúp luyện ngũ tạng vì nó có tác dụng hạ khí. Ai muốn cơ thể thon gọn nhẹ nhàng thì nên ăn lâu dài; nếu muốn béo thì đừng ăn. * '''Tông Thích nói:''' Phàm người bị phát bối (nhọt sau lưng) và các loại ung thư, gọt một miếng lớn đắp lên vết thương, nóng thì thay miếng khác, tán nhiệt độc rất tốt. * '''Chấn Hanh nói:''' Bí đao tính chạy và nhanh (tẩu nhi cấp). Khấu thị nói nó tán nhiệt độc cũng là lấy cái tính nhanh nhẹn đó. Người bệnh lâu ngày, người âm hư nên kiêng. Tôn Chân Nhân nói: Tháng 9 đừng ăn vì làm phản vị (nôn mửa). Phải ăn quả đã bị sương giáng mới tốt. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch) * '''Tiêu khát do tích nhiệt:''' Bí đao bỏ vỏ, mỗi bữa ăn 2-3 lạng. * '''Tiêu khát không dứt:''' Một quả bí đao gọt vỏ chôn dưới đất ẩm 1 tháng, lấy ra uống nước trong đó. Hoặc nướng chín ép lấy nước uống. * '''Tiêu khát cốt chưng:''' Bí đao lớn bỏ ruột, nhét đầy bột Hoàng liên, đợi bí tan hết thì nghiền làm viên. Uống với canh bí đao. * '''Phù thũng nguy cấp:''' Bí đao không kể nhiều ít, ăn tùy ý, hiệu nghiệm thần kỳ. * '''Phù thũng, suyễn mãn:''' Bí đao lớn nhét đầy đậu đỏ (xích tiểu đậu), đắp đất đem đốt (vùi trong trấu nếp cháy), sau đó nghiền làm viên. * '''Nhọt phát bối sắp chết:''' Cắt đầu quả bí đao úp lên vết nhọt, bí nát lại thay quả khác đến khi nhọt nhỏ lại. ====QUA LUYỆN (RUỘT BÍ ĐAO)==== * '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Ép lấy nước uống chỉ phiền táo nhiệt khát, lợi tiểu trường, trị ngũ lâm (sỏi, nhiễm trùng đường tiểu) (*Diễn Quyền*). Rửa mặt tắm thân giúp khử vết nám (tàn nhang), giúp da dẻ tươi nhuận trắng trẻo (*Thời Trân*). * '''【Phụ phương】:''' Tiêu khát phiền loạn: Ruột bí khô 1 lạng sắc uống. ====BẠCH QUA TỬ (HẠT BÍ ĐAO)==== (Còn gọi là Đông qua nhân) '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. *Biệt lục* nói: Tính hàn, dùng lâu làm lạnh tạng trung. '''【Chủ trị】''' Giúp da dẻ tươi nhuận, sắc mặt hồng hào, ích khí không đói. Dùng lâu nhẹ mình, chống già (*Bản kinh*). Trừ phiền mãn không vui. Có thể làm kem bôi mặt (*Biệt lục*). Khử phong ở da và vết sạm đen, nhuận da thịt (*Đại Minh*). Trị trường ung (viêm ruột dư/nhọt trong ruột) (*Thời Trân*). '''【Phụ phương】''' * '''Phép phục thực (ăn để dưỡng sinh):''' Hạt bí đao đồ nước sôi 3 lần, phơi khô, ngâm rượu một đêm, tán bột uống. Giúp người béo tốt, sáng mắt, kéo dài tuổi thọ. * '''Trắng da mặt:''' Hạt bí đao 5 lạng, hoa đào 4 lạng, vỏ cây bạch dương 2 lạng, tán bột uống. * '''Nam giới bạch trọc/Nữ giới bạch đới:''' Hạt bí đao lâu năm sao vàng tán bột, uống với nước cơm. ====QUA BÌ (VỎ BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Làm viên uống hoặc làm kem bôi mặt (*Tô Tụng*). Trị vết thương sưng đau do mồ hôi lừa ngựa vận vào. Trị đau nhức do chấn thương gãy xương (*Thời Trân*). * '''【Phụ phương】:''' Đau lưng do chấn thương: Vỏ bí đao đốt tồn tính tán bột, uống với rượu. ====DIỆP (LÁ BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Trị thũng độc, giết ong và trị ong đốt (*Đại Minh*). Trị tiêu khát, sốt rét hàn nhiệt. Sao vàng tán bột đắp các loại ác sang lâu năm (*Thời Trân*). ====ĐẰNG (DÂY BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro có thể tẩy vết xăm (thứ thanh). Sắc nước rửa vết nám đen và sang giới (ghẻ lở). Giã lấy nước uống giải độc mộc nhĩ. Sắc nước rửa thoát giang (*Thời Trân*). ===NAM QUA (BÍ NGÔ)=== *(Trích: Cương mục)* '''Tên khoa học:''' *Cucurbita moschata* Duchesne '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Giống Nam qua xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), chuyển vào vùng Mân (Phúc Kiến), Chiết (Chiết Giang), nay các vùng quanh Yên Kinh cũng đều có. Tháng 3 xuống giống, thích hợp đất cát màu mỡ. Tháng 4 mọc mầm, dây leo rất sum sê, một dây có thể dài hơn mười trượng, đốt nào cũng có rễ, chạm đất là bám. Thân rỗng giữa. Lá hình dạng như lá Thục quỳ nhưng to như lá sen. Tháng 8, 9 nở hoa vàng như hoa dưa hấu. Kết quả tròn trịa, to như dưa hấu, vỏ có khía như dưa thơm (甜瓜 - điềm qua). Một gốc có thể kết hàng chục quả, màu sắc hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ. Trải qua sương giá hái về để nơi ấm có thể giữ đến mùa xuân. Hạt giống như hạt bí đao. Thịt dày màu vàng, không thể ăn sống, chỉ có thể gọt vỏ bỏ ruột luộc ăn, vị như Sơn dược. Nấu cùng thịt lợn ăn càng tốt, cũng có thể tẩm mật làm mứt. Xét cuốn *Nông thư* của Vương Trinh có ghi: Vùng Chiết Giang có loại '''Âm qua''', nên trồng nơi đất râm mát. Mùa thu chín màu vàng như vàng ròng, vỏ hơi dày, có thể trữ đến mùa xuân ăn vẫn như mới. Nghi rằng đó chính là Nam qua vậy. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Ăn nhiều phát cước khí, hoàng đản (vàng da). Không được ăn cùng thịt cừu, làm người ta bị nghẽn khí (khí ủng). '''【Chủ trị】''' Bổ trung ích khí (*Thời Trân*). ===VIỆT QUA 越瓜 (DƯA GANG/DƯA GÀY)=== *(Trích: Khai Bảo Bản Thảo - đời Tống)* '''Tên khoa học:''' *Cucumis melo* var. *conomon* (Thunb.) Makino '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Sào qua''' 梢瓜 (*Thực vật*), '''Thái qua''' 菜瓜. * '''Thời Trân nói:''' Gọi là Việt qua vì lấy theo địa danh (vùng Việt cũ), tên tục là Sào qua 梢瓜, người phương Nam gọi là Thái qua (dưa rau) 菜瓜. '''【Tập giải】''' * '''Tàng Khí nói:''' Việt qua sinh ở vùng Việt. Loại to màu trắng tinh. Người vùng Việt dùng ăn như trái cây, cũng có thể muối bằng hèm rượu (tào tàng). * '''Thời Trân nói:''' Việt qua Nam Bắc đều có. Tháng 2, 3 xuống giống mọc mầm, bò lan trên đất, lá xanh hoa vàng, đều giống hoa lá bí đao nhưng nhỏ hơn. Khoảng mùa hạ, thu kết quả, có hai màu xanh và trắng, to như quả bầu (hồ tử). Có loại dài tới hơn 2 thước, tục gọi là '''Dương giác qua''' (dưa sừng dê). Hạt giống hạt dưa chuột, to như hạt mạch. Quả này ăn sống có thể thay trái cây hoặc rau xanh; dùng muối tương, muối đậu, ngâm đường, ngâm giấm đều hợp, cũng có thể làm dưa chua (trự). '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''Mạnh Tiễn nói:''' Ăn sống nhiều gây lạnh tạng trung, động khí, khiến người đau tim, kết khối dưới rốn (trưng kết), phát các loại mụn nhọt. Lại khiến người hư nhược không đi lại được, không tốt cho trẻ nhỏ. Người sau khi mắc bệnh truyền nhiễm (thiên hành bệnh) không được ăn. Lại không được ăn cùng sữa bò, váng sữa (lạc) và cá trê. * '''Thời Trân nói:''' Xét Tiêu Tử Chân nói: Thái qua làm tối tai mắt. Xem lừa ngựa ăn vào mắt liền bị loét thì đủ biết vậy. '''【Chủ trị】''' Lợi tràng vị, cầm phiền khát (*Khai Bảo*). Lợi tiểu tiện, khử phiền nhiệt, giải độc rượu, tuyên tiết nhiệt khí. Đốt thành tro đắp loét khóe miệng và nhiệt sang ở âm dương vật (*Tàng Khí*). Hòa với cơm làm dưa muối, ăn lâu ngày ích tràng vị (*Tâm Kính*). ===HỒ QUA 胡瓜 (DƯA CHUỘT/DƯA LEO)=== *(Trích: Gia Hữu Bản Thảo - đời Tống)* '''Tên khoa học:''' *Cucumis sativus* L. '''【Giải thích tên gọi】''' '''Hoàng qua''' 黃瓜. * '''Tàng Khí nói:''' Người phương Bắc tránh húy Thạch Lặc (vua nhà Hậu Triệu) nên đổi gọi là Hoàng qua, đến nay vẫn dùng theo. * '''Thời Trân nói:''' Trương Khiên đi sứ Tây Vực đem giống về nên gọi là Hồ qua. Xét cuốn *Thập di lục* của Du Bảo nói: Năm Đại Nghiệp thứ 4 nhà Tùy tránh húy nên đổi gọi Hồ qua là Hoàng qua. Thuyết này hơi khác với thuyết của họ Trần. Nay người đời lầm tưởng đây là cây "Vương qua" trong *Nguyệt lệnh*, thực ra Vương qua là Thổ qua (xem ở bộ Thảo). '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Hồ qua nơi nào cũng có. Tháng 1, 2 xuống giống, tháng 3 mọc mầm leo dây. Lá giống lá bí đao, cũng có lông. Tháng 4, 5 nở hoa vàng, kết quả chu vi 2-3 thốn, loại dài tới hơn 1 thước, màu xanh, trên vỏ có nốt như mụn cóc (vưu tử), khi già thì màu vàng đỏ. Hạt giống hạt Thái qua. Có loại trồng vào tháng 5, gặp sương kết quả màu trắng mà ngắn, đều có thể ăn sống hoặc chín, dùng làm rau xanh hoặc dưa muối, nhưng muối tương hoặc hèm rượu thì không ngon bằng Thái qua. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, có độc nhỏ. * '''Mạnh Tiễn nói:''' Không được ăn nhiều, làm động hàn nhiệt, sinh bệnh sốt rét, tích tụ ứ nhiệt, phát khí chú (trệ khí), khiến hư nhiệt bốc lên gây đoản hơi (thiếu khí), tổn thương âm huyết, phát mụn nhọt ghẻ lở, cước khí, phù thũng và bách bệnh. Sau bệnh truyền nhiễm không được ăn. Trẻ nhỏ cực kỳ kiêng kỵ vì làm trơn ruột sinh cam trùng. Không nên dùng nhiều với giấm. '''【Chủ trị】''' Thanh nhiệt giải khát, lợi thủy đạo (thông tiểu) (*Ninh Nguyên*). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch) * '''Trẻ em lỵ nhiệt:''' Dưa chuột non ăn cùng mật ong mười mấy quả. * '''Phù thũng, bụng trướng:''' Dưa chuột 1 quả bổ ra, để cả hạt, nửa nấu giấm nửa nấu nước đến nhừ, ăn hết lúc đói để thông tiểu. * '''Trẻ em ra mồ hôi trộm (Hương qua hoàn):''' Dùng 1 quả dưa chuột lớn màu vàng, bỏ đầu, nhét các vị thuốc (Hoàng liên, Đại hoàng, Bối mẫu...) vào trong vùi chín rồi làm viên. * '''Họng sưng đau:''' Dưa chuột già bỏ hạt, nhét đầy mang tiêu (natri sulfat), phơi khô tán bột thổi vào họng. * '''Vết đánh đập sưng tấy:''' Lấy dưa chuột ngâm nước trong bình sứ dùng bôi lên vết thương. * '''Mắt đỏ sưng đau (Hỏa nhãn):''' Dưa chuột già nhét đầy mang tiêu phơi trong râm, lấy nước thuốc chảy ra điểm mắt rất hiệu nghiệm. * '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Dưa chuột hái ngày mùng 5 tháng 5, bỏ bình kín treo dưới hiên, lấy nước đó bôi. '''LÁ''' * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính bình, có độc nhỏ. * '''【Chủ trị】:''' Chứng tích trệ ở trẻ em (thiểm bích), giã lấy nước uống để gây nôn hoặc hạ xuống. '''RỄ''' * '''【Chủ trị】:''' Giã đắp trị các nốt sưng độc do gai đâm hoặc côn trùng cắn. ===TI LẶC (MƯỚP)=== *(Trích: Cương mục)* '''Tên khoa học:''' *Luffa aegyptiaca* Mill. (hoặc *Luffa cylindrica*) ====【Giải thích tên gọi】==== * '''Thiên ti lặc''' (*Bản sự*), '''Thiên la''' (*Sự loại hợp bích*), '''Bố qua''' (Sách đã dẫn), '''Man qua''' (*Bản sự*), '''Ngư bì'''. * '''Thời Trân nói:''' Loại quả này khi già thì xơ gân đan xen như mạng lưới (ti la), nên có tên là Ti la. Người xưa gọi là Ngư bì, hoặc có nơi gọi là Ngu thứ. Ban đầu giống này từ phương Nam tới nên gọi là Man qua. ====【Tập giải】==== * '''Thời Trân nói:''' Mướp trước đời Đường, Tống không thấy ghi chép, nay Nam Bắc đều có, dùng làm rau ăn thường ngày. * Tháng 2 xuống giống, mọc mầm leo dây, bò lên cây tre hoặc làm giàn. Lá to hơn lá Thục quỳ, có nhiều thùy nhọn, có lông gai nhỏ, giã lấy nước có thể nhuộm màu xanh lục. Thân có khía lăng trụ. Tháng 6, 7 nở hoa vàng 5 cánh, hơi giống hoa dưa chuột, nhị và cánh đều vàng. Quả to chừng 1 thốn, dài 1-2 thước, có khi tới 3-4 thước, màu xanh đậm, có vết nhăn, đầu quả giống đầu rùa. Lúc non gọt vỏ có thể nấu canh hoặc phơi khô, dùng pha trà hay làm rau. Lúc già thì to như cái chày, xơ gân quấn quýt như dệt thành, gặp sương thì khô héo, chỉ dùng để lót giày, rửa nồi niu, nên dân làng gọi là '''Tẩy oa la qua''' (Mướp rửa nồi). Trong quả có vách ngăn, hạt nằm trong vách, hình dạng giống hạt Qua lâu, màu đen và dẹt. Hoa bao, lá non và tua cuốn đều có thể ăn được. ====QUẢ MƯỚP==== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. Dùng làm thuốc nên dùng quả già. '''【Chủ trị】''' * Trị đậu chẩn mọc không thuận (không mọc ra được), dùng quả khô đốt tồn tính, thêm Chu sa nghiền bột, hòa nước mật uống rất diệu (*Chấn Hanh*). Nấu ăn giúp trừ nhiệt, lợi tràng. Quả già đốt tồn tính uống giúp trừ phong hóa đàm, lương huyết giải độc, sát trùng, thông kinh lạc, hành huyết mạch, hạ sữa (lợi sữa). Trị đại tiểu tiện ra máu, trĩ lậu, băng huyết, hoàng tích (vàng da), sán khí (sa tinh hoàn) đau sưng, huyết khí gây đau, ung thư sang thũng (mụn nhọt độc), nấm răng (xỉ cam), độc thai kỳ của đậu chẩn (*Thời Trân*). Làm ấm dạ dày, bổ dương, cố khí và an thai (*Sinh sinh biên*). '''【Phát minh】''' * '''Vương Dĩnh nói:''' Mướp không thấy trong các sách bản thảo cũ, chỉ thấy trong các phương trị đậu chẩn và ung nhọt ở chân có dùng tro mướp, cũng là lấy tính hàn để giải độc vậy. * '''Thời Trân nói:''' Mướp già có xơ gân thông suốt, vách ngăn liên thuộc, nên có khả năng thông mạch lạc tạng phủ của người, giúp trừ phong giải độc, tiêu sưng hóa đàm, trị đau sát trùng và trị các chứng huyết bệnh. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính) * '''Đậu chẩn mọc không thuận:''' Mướp già (đoạn gần cuống 3 thốn) đốt tồn tính, tán bột, uống với nước đường. * '''Ung thư lâu ngày không khép miệng:''' Mướp giã lấy nước bôi thường xuyên. * '''Trĩ ra máu, thoát giang:''' Tro mướp, vôi lâu năm, Hùng hoàng mỗi thứ 5 tiền, trộn mật lợn, lòng trắng trứng và dầu thơm đắp vào. * '''Lợi sữa:''' Mướp cả hạt đốt tồn tính nghiền bột, uống 1-2 tiền với rượu, đắp chăn cho ra mồ hôi là thông. * '''Đau lưng không dứt:''' Nhân hạt mướp sao cháy, giã hòa rượu nóng uống, bã đắp chỗ đau. * '''Viêm họng sưng đau:''' Mướp tươi nghiền lấy nước đổ vào họng. * '''Nướu răng sưng đau (do phong trùng):''' Mướp khô trải sương đốt tồn tính xát vào răng. * '''Phù thũng ở trẻ em:''' Mướp, Cỏ bấc đèn, Hành trắng lượng bằng nhau sắc nước uống và tắm. * '''Cổ trướng (thủy cổ):''' Mướp già bỏ vỏ, sao cùng Ba đậu, bỏ đậu lấy mướp nghiền bột làm viên. Đây là phương của danh y Tống Hội Chi thời Nguyên. ====LÁ MƯỚP==== * '''【Chủ trị】:''' Trị hắc lào (tẩy sang), xát thường xuyên. Trị ung thư đinh thũng, sưng tinh hoàn (*Thời Trân*). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Lá mướp sao vàng tán bột, thêm 1 tiền Thần phấn, trộn mật bôi. Lá tươi giã đắp một ngày là khỏi. ** '''Đinh râu (Ngư tề đinh sang):''' Lá mướp, Hành cả rễ, Hẹ lượng bằng nhau giã nát lấy nước hòa rượu nóng uống, bã đắp nách (bệnh bên trái đắp nách trái...). ====RỄ VÀ DÂY MƯỚP==== * '''【Khí vị】:''' Giống lá. * '''【Chủ trị】:''' Trị nấm răng (xỉ cam), não lậu (viêm xoang mạn), sát trùng giải độc (*Thời Trân*). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Não lậu (xoang chảy mủ hôi):''' Dây mướp đoạn gần rễ 3-5 thước, đốt tồn tính. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm. ** '''Đau răng:''' Dây mướp khô đốt tồn tính xát vào. Hoặc dây mướp, Xuyên tiêu, Đăng tâm sắc nước đặc súc miệng. ** '''Hóc xương cá:''' Rễ mướp hái ngày mùng 7 tháng 7 phơi khô, đốt tồn tính. Uống 2 tiền với nước sắc của chính loại vật gây hóc. ====【Phụ lục】==== '''Thiên la lặc''' (*Thập di*). * '''Tàng Khí nói:''' Mọc ở đất bằng vùng Giang Nam. Trị độc nước suối (khê độc), giã nát đắp vào. * '''Thời Trân nói:''' Họ Trần chú giải không rõ. Vùng Giang Nam gọi Mướp là Thiên la, nghi là vật này, nhưng chưa có bằng chứng xác đáng, tạm phụ vào đây. ===KHỔ QUA (MƯỚP ĐẮNG)=== *(Trích: Cứu hoang bản thảo)* '''Tên khoa học:''' *Momordica charantia* L. ====【Giải thích tên gọi】==== * '''Cẩm lệ chi''' (*Cứu hoang*), '''Lại bồ đào'''. * '''Thời Trân nói:''' "Khổ" là gọi theo vị đắng. Các tên "Qua" (dưa), "Lệ chi" (vải), "Bồ đào" (nho) đều là dựa vào hình dáng quả, thân và lá có nét tương đồng mà đặt tên. ====【Tập giải】==== * '''Chu Định Vương nói:''' Cẩm lệ chi chính là Lại bồ đào (Nho ghẻ), mọc leo lên các loài cỏ cây. Thân dài bảy, tám thước, thân có lông nhám. Lá giống lá nho rừng, hoa nở màu vàng. Quả to như trứng gà, có nếp nhăn xù xề, trông giống quả vải. * '''Thời Trân nói:''' Khổ qua vốn xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), nay vùng Mân (Phúc Kiến), Quảng (Quảng Đông/Quảng Tây) đều trồng. Tháng 5 xuống giống, mọc mầm leo dây; thân, lá, tua cuốn đều giống cây nho nhưng nhỏ hơn. Tháng 7, 8 nở hoa nhỏ màu vàng, 5 cánh hình như cái bát. Kết quả loại dài khoảng bốn, năm thốn, loại ngắn khoảng hai, ba thốn, màu xanh. Trên vỏ quả có các nốt sần sùi như rôm sảy, trông giống như da người bị hủi (lại) hoặc như vỏ quả vải. Khi chín thì ngả màu vàng rồi tự nứt ra, bên trong có lớp thịt (nhàng) màu đỏ bao quanh hạt. Lớp thịt đỏ này vị ngọt có thể ăn được. Hạt hình dẹt như hạt dưa, trên hạt cũng có các nốt sần. Người phương Nam dùng quả xanh bỏ vỏ nấu với thịt hoặc muối dưa, muối tương làm rau ăn, vị đắng chát và có khí xanh. * Xét cuốn *Tinh tra thắng lãm* của Phí Tín có chép: Ở nước Tô Môn Đáp Lạt (Sumatra) có một loại dưa, vỏ như quả vải, khi chưa bổ ra thì mùi rất hôi như tỏi thối, bổ ra thì bên trong như cái túi, vị như váng sữa (tô), hương vị ngọt thơm vừa miệng. Nghi rằng đó chính là Khổ qua vậy. ====QUẢ KHỔ QUA==== * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Trừ tà nhiệt, giải lao nhọc mệt mỏi, làm thanh tâm và sáng mắt (*Thời Trân - Sinh sinh biên*). ====HẠT KHỔ QUA==== * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, ngọt, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Ích khí tráng dương (*Thời Trân*). {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] 4k3hr9a19y0wh2nxsw26nhmgbiiogn6 204519 204518 2026-04-03T04:03:28Z Mrfly911 2215 204519 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之三 | năm= 1596 | phần = Tổng hợp: * 21 loại '''rau''' (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua) * 7 loại '''rau nước''' (Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái) * 15 loại '''nấm''' (Thanh chi - Long chi, Xích chi - Đan chi, Hoàng chi - Kim chi, Bạch chi - Ngọc chi, Tố chi, Hắc chi - Huyền chi, Tử chi - Mộc chi, Mộc nhĩ, tùng khuẩn, táo giáp tẩm, hương tẩm, cát hoa thái, thiên hoa tẩm, ma cô tẩm, kê, đà thái, thổ khuẩn, địa cầm, trúc nhục, khuẩn, địa nhĩ, thạch nhĩ) | trước= [[../Thái 2|Thái 2]] | sau= [[../Quả 1|Quả 1]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==21 loại rau== ===CÀ (TỬ TÔ)=== *(Âm đọc là Gia. Trích từ "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống) '''Tên khoa học:''' Solanum melongena L. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Lạc tô''' (Thập di), '''Côn Lôn qua''' (Ngự lãm), '''Thảo biệt giáp'''. * '''Tô Tụng nói:''' Theo Đoạn Thành Thức, "Cà" vốn là tên gọi thân cây sen. Nay gọi là rau cà (thái), âm đọc là "Gia", không rõ nguồn gốc từ đâu. * '''Thời Trân nói:''' Trần Tạng Khí trong Bản thảo gọi là Lạc tô, nghĩa chưa rõ. Xét cuốn Ngũ Đại Di Tử Lục viết là "Lạc tô" (酪酥 - váng sữa), có lẽ vì vị nó béo như váng sữa, nghĩa này có vẻ thông suốt. Du Bảo trong Thập di lục nói Tùy Dạng Đế đổi tên cà thành '''Côn Lôn tử qua''' (Dưa tím Côn Lôn). Vương Ẩn Quân trong Dưỡng sinh chủ luận dùng cà khô trị sốt rét nên gọi chệch đi là '''Thảo biệt giáp''' (Mai rùa bằng cỏ), vì mai rùa trị được hàn nhiệt, mà cà cũng trị được hàn nhiệt vậy. '''【Tập giải】''' * '''Tô Tụng nói:''' Cà có ở khắp nơi, gồm vài loại: Cà tím, cà vàng có ở cả Nam lẫn Bắc; cà trắng, cà xanh nước có ở miền Bắc. Dùng làm thuốc đa số dùng cà vàng, các loại khác chỉ dùng làm rau. Ở Giang Nam có loại "Cà dây" (Đằng cà), mọc dạng leo, vỏ mỏng như bầu ngô, không thấy dùng làm thuốc. * '''Tông Thích nói:''' Nước Tân La có loại cà hình như quả trứng gà, màu tím nhạt sáng, cuống dài vị ngọt. Nay ở Trung Quốc đã có khắp nơi. * '''Thời Trân nói:''' Hạt cà nên thu hoạch vào tháng 9 khi quả chín vàng, rửa sạch phơi khô, đến tháng 2 thì gieo mầm di thực. Cây cao 2-3 thước, lá to bằng bàn tay. Từ hạ sang thu nở hoa tím, 5 cánh dính nhau, 5 khía như sợi chỉ, nhị vàng cuống xanh, cuống bọc lấy quả. Trong cà có thịt (nhân), trong thịt có hạt, hạt như hạt vừng. Quả có loại tròn như quả Qua lâu, có loại dài 4-5 thốn. Có cà xanh, cà tím, cà trắng. Cà trắng còn gọi là '''Ngân cà''', ăn ngon hơn cà xanh. Các loại cà khi già đều hóa vàng. Tô Tụng coi cà vàng là một loài riêng thì có lẽ chưa nghiên cứu kỹ. * '''Vương Trinh trong Nông thư viết:''' Có loại cà Bột Hải màu trắng chắc; cà Phiên màu trắng dẹt, ngọt giòn không chát, ăn sống hay chín đều được; cà tím cuống dài vị ngọt; cà nước (thủy cà) hình dài vị ngọt, có thể giải khát. Hồng Dung Trai tùy bút ghi: Ở Chiết Tây cà thường vỏ tím, loại trắng là cà nước; ở Giang Tây cà thường vỏ trắng, loại tím là cà nước. Thật là khác biệt. * '''Lưu Tuân trong Lĩnh biểu lục dị nói:''' Cây cà ở Giao Chỉ trải qua mùa đông không rụng lá, có cây 2-3 năm thành cây lớn, quả to như dưa. Hái lá cà rải trên đường rồi dùng tro vây quanh thì quả sẽ đậu rất nhiều, gọi là "gả chồng cho cà" (giá cà). '''QUẢ CÀ (TỬ TÔ)''' #'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''Đại Chí nói:''' Người thể tạng lạnh lâu ngày không nên ăn nhiều, sẽ gây hại người, động khí, phát mụn nhọt và các bệnh cũ (cố tật). * '''Lý Bằng Phi nói:''' Ăn cà sau mùa thu sẽ hại mắt. * '''Thời Trân nói:''' Theo Sinh sinh biên, tính cà hàn lợi (nhuận tràng), ăn nhiều tất đau bụng đi lỏng, phụ nữ ăn nhiều có thể hại đến tử cung. '''【Chủ trị】''' * Trị hàn nhiệt, ngũ tạng lao tổn (Mạnh Tiễn). Trị bệnh ôn dịch truyền thi (lao). Mài với giấm đắp trị sưng độc (Đại Minh). Quả già tự nứt thì đốt thành tro trị nứt vú (Chấn Hanh). Tán huyết chỉ thống, tiêu sưng, khoan tràng (nhuận tràng) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Tông Thích nói:''' Trong vườn rau chỉ có thứ này là không có ích. Khai bảo bản thảo không ghi chủ trị, chỉ nói hại người. Người đời sau dù có phép trị bệnh nhưng vẫn không hợp chính văn. Người trồng vườn lại bón nhiều phân, thúc trong chỗ ấm để bán giá cao vào tiết Tiểu mãn. Ăn không đúng mùa thì hại càng nhiều. Không đúng mùa không ăn, chớ có coi thường. * '''Chấn Hanh nói:''' Cà thuộc Thổ nên vị ngọt và có tính giáng (hạ xuống), người đại tràng dễ động (đi ngoài) nên kiêng. Quả già trị nứt đầu vú, rễ nấu nước ngâm chỗ bỏng lạnh, cuống cà đốt tro trị nhiệt miệng, đều hiệu quả kỳ lạ, đó là ý dùng vị ngọt để làm dịu hỏa vậy. * '''Thời Trân nói:''' Đoạn Thành Thức nói cà làm "dày dạ dày" (nồng tràng vị), thực ra không biết tính cà trơn (hoạt), không có tác dụng làm dày dạ dày đâu. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các phương chính) * '''Phụ nữ huyết vàng:''' Cà vàng cắt bằng dao tre, phơi âm can, tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm. * '''Trường phong hạ huyết (đi ngoài ra máu):''' Cà kinh sương cả cuống, đốt tồn tính, tán bột. Uống 2 tiền lúc đói với rượu ấm. * '''Cổ chướng trong bụng:''' Cà muối lâu năm đốt tồn tính, thêm ít xạ hương, khinh phấn, hòa dầu đắp. * '''Trị sưng đau tinh hoàn (thiên trụy):''' Dùng cà đôi (hai quả dính cuống) treo trên cửa, đi ra vào nhìn vào đó. Cà héo thì bệnh héo, cà khô thì bệnh khỏi. * '''Bệnh phong hủi (đại phong), nhiệt đàm:''' Cà vàng già to, ủ trong đất một năm hóa thành nước, trộn bột Khổ sâm làm viên bằng hạt ngô. Uống 30 viên với rượu. * '''Va đập bầm tím:''' Cà vàng già cắt lát dày, sao trên ngói tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm trước khi ngủ, một đêm là tan vết bầm. * '''Nhiệt độc sưng tấy:''' Cà tươi khoét rỗng như cái hũ, úp lên chỗ sưng sẽ tiêu. * '''Đau răng:''' Cà muối lâu năm đốt tro xát vào răng. * '''Nứt vú:''' Cà mùa thu tự nứt, phơi khô đốt tồn tính, tán bột hòa nước bôi. '''CUỐNG CÀ (TI)''' * '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro uống 2 tiền trị đi ngoài ra máu không dứt và trĩ ra máu (Ngô Thụy). Đốt tro trị nhiệt miệng, loét miệng. Cắt tươi xát vào vết lang ben (Thời Trân). * '''【Phát minh】:''' Trị lang ben trắng dùng cuống cà trắng, lang ben tím dùng cuống cà tím, theo nguyên tắc đồng loại. * '''【Phụ phương】:''' Sâu răng đau: Đốt tro cuống cà xát vào, hoặc thêm bột Tế tân. '''HOA CÀ''' * '''【Chủ trị】:''' Vết thương do kim khí, đau răng (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' Hoa cà mùa thu khô, đốt tán bột bôi chỗ đau răng, cầm đau ngay. '''RỄ VÀ THÂN LÁ KHÔ''' * '''【Chủ trị】:''' Bỏng lạnh nứt nẻ, nấu nước ngâm rất tốt (Khai bảo). Tán huyết tiêu sưng, trị đái ra máu, lỵ ra máu, sa tử cung, nấm miệng (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Đái ra máu (Huyết lâm) đau đớn:''' Lá cà hun khô tán bột, uống 2 tiền với rượu ấm. ** '''Lỵ lâu ngày không dứt:''' Rễ cà đốt tro, vỏ lựu lượng bằng nhau, tán bột uống với nước đường. ** '''Sa tử cung:''' Rễ cà đốt tồn tính, tán bột, hòa dầu bôi lên giấy cuộn lại đặt vào trong. ** '''Trị rụng răng:''' Rễ cà ngâm nước tiểu ngựa 3 ngày, phơi khô sao tán bột. Chấm vào răng là răng rụng (phương thuốc của Bào thị). ===KHỔ CÀ (CÀ ĐẮNG)=== *(Trích từ "Thập di") '''Tên khoa học:''' Solanum indicum L. (hoặc Solanum viarum) * '''【Tập giải】:''' Trần Tạng Khí nói: Cà đắng mọc hoang ở vùng Lĩnh Nam. Cây nhỏ có gai. * '''【Quả】:''' Mài với giấm bôi trị mụn nhọt sưng tấy. * '''【Rễ】:''' Nấu nước tắm. Trị khí chướng (chướng khí) vùng rừng núi. ===HỒ LÔ (QUẢ BẦU)=== *(Trích: Nhật Hoa) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria (Molina) Standl. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Hồ lô''', '''Hồ qua''' (Thuyết văn), '''Bào qua''' (Luận ngữ). * '''Thời Trân nói:''' "Hồ" (壺) là bầu đựng rượu, "Lô" (盧) là chén uống nước. Vật này có hình dáng tương ứng, lại có thể dùng làm đồ đựng rượu cơm nên đặt tên như vậy. Tục viết là "Hồ lô" (葫蘆) với bộ Thảo là sai, vì "Hồ" (葫) là tên của tỏi, "Lô" (蘆) thuộc loại cây lau sậy. Loại hình tròn gọi là '''Bào''' (匏), cũng gọi là '''Phiêu''' (瓢 - gáo), vì nó có thể nổi trên mặt nước như bọt khí (bào) hay vật trôi nổi (phiêu). * Tất cả các loại này đều thuộc họ Dưa (qua) nên gọi là '''Hồ qua''', '''Bào qua'''. Người xưa gọi Hồ, Hú, Bào thông dụng như nhau, ban đầu không phân biệt. Tuy nhiên, đời sau phân chia: loại dài như dưa Việt gọi là '''Hú''' (瓠), loại một đầu có bụng và cán dài gọi là '''Huyền hú''' (懸瓠), loại không cán mà tròn to hình dẹt gọi là '''Bào''' (匏), loại Bào có cán ngắn bụng to gọi là '''Hồ''' (壺), loại Hồ có thắt eo nhỏ gọi là '''Bồ lô''' (蒲蘆). Qua xem xét kỹ, tuy hình dáng khác nhau nhưng tính vị của mầm, lá, vỏ, hạt là một nên không chia thành các mục riêng. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Bầu và Bí đao cùng một loại khí vị. Có loại Hú lô vị ngon hơn bầu thường, đều lợi thủy đạo, ăn vào mùa hè rất tốt nhưng đại để không bằng Bí đao. * '''Cung nói:''' Bầu và Bí đao hoàn toàn không cùng loại. Ba thứ này mầm lá tương đồng nhưng hình dáng quả khác nhau. Bầu (Hú) dài hơn một thước, đầu đuôi như nhau, chín vào giữa hạ và khô vào cuối thu. Hú lô hình dạng to nhỏ không nhất định, chín vào giữa thu, dùng làm đồ đựng thì phải đợi qua mùa sương mới dùng được. * '''Thời Trân nói:''' Tuy tên gọi khác nhau nhưng thực chất là một loài. Xuống giống vào tháng 1-2, lá giống lá bí đao nhưng tròn hơn, có lông mềm, lúc non có thể ăn được. Tháng 5-6 nở hoa trắng, kết quả trắng. Hạt bên trong sắp xếp như răng gọi là "Hồ tê". Loại to có thể làm chum vại, loại nhỏ làm gáo rót rượu, có thể làm thuyền nổi trên nước, làm nhạc khí (sênh), vỏ ruột có thể nuôi lợn, hạt có thể làm nến, lợi ích vô cùng to lớn. ===HỒ HÚ (BẦU NGỌT)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, trơn (hoạt), không độc. * '''Cung nói:''' Vị ngọt lạnh, ăn nhiều gây nôn mửa, đi lỏng. * '''Biển Thước nói:''' Người bị cước khí hư chướng lạnh bụng mà ăn thứ này thì bệnh không bao giờ khỏi. '''【Chủ trị】''' Tiêu khát, ác sang (mụn nhọt độc), đau loét trong mũi miệng (Tư Mạo). Lợi thủy đạo (Hoằng Cảnh). Tiêu nhiệt, người đang phục dược đan thạch nên ăn (Mạnh Tiễn). Trừ phiền, trị tâm nhiệt, lợi tiểu trường, nhuận tâm phổi, trị thạch lâm (sỏi đường tiết niệu) (Đại Minh). '''【Phát minh】''' * '''Thời Trân nói:''' Theo Danh y lục, người vùng Chiết Giang ăn Bào qua hay bị thổ tả, gọi là "phát bạo", đó là do quả này bị ủng khí vào tháng nắng nóng. Chỉ khi ăn cùng với Hương nhu mới tránh được. '''【Phụ phương】''' * '''Bụng trướng vàng vọt (hoàng thũng):''' Dùng bầu thắt eo (Á yêu hồ lô) cả hạt đốt tồn tính, mỗi lần dùng 1 quả uống với rượu ấm trước bữa ăn. Không uống được rượu thì dùng nước trắng, 10 ngày sẽ thấy hiệu quả. '''LÁ BẦU''' * '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Làm rau ăn giúp nhịn đói (Tư Mạo). '''DÂY, TUA CUỐN, HOA''' * '''【Chủ trị】:''' Giải độc (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' Giải thai độc, phòng đậu mùa: Cắt tua cuốn bầu khô sắc nước tắm cho trẻ vào đêm trừ tịch. '''HẠT BẦU''' * '''【Chủ trị】:''' Lợi răng sưng lộ, răng lung lay đau nhức: Dùng 8 lạng hạt bầu cùng 4 lạng Ngưu tất, mỗi lần dùng 5 tiền sắc nước ngậm súc miệng, ngày 3-4 lần. ===KHỔ HÚ (BẦU ĐẮNG)=== *(Trích: Bản kinh - Hạ phẩm) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria var. microcarpa (Naudin) Hara (hoặc các biến thể đắng) '''【Giải thích tên gọi】''' * Khổ bào (Quốc ngữ), Khổ hồ lô. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại bầu tự nhiên có vị đắng như mật thì không ăn được, không phải loài riêng biệt. * '''Cung nói:''' Bản kinh bàn về Khổ hú lô, Đào Hoằng Cảnh nói bầu thường bị đắng là sai. Bầu đắng và bầu ngọt giống nguyên bản khác nhau, không phải do ngọt biến thành đắng. * '''Bảo Thăng nói:''' Có hai loại ngọt và đắng, loại ngọt quả to, loại đắng quả nhỏ. * '''Thời Trân nói:''' Kinh Thi có câu "Bào hữu khổ diệp" (Bầu có lá đắng). Quốc ngữ viết "Khổ bào bất tài" (Bầu đắng không dùng làm đồ ăn được). Tất cả đều chỉ quả bầu đắng. Phàm dùng Khổ hú phải chọn quả vân mịn, sạch bóng không tì vết mới tốt, nếu không sẽ có độc. Nếu uống quá liều gây nôn mửa đi lỏng không dứt, dùng nước tro rơm kê để giải độc. '''RUỘT VÀ HẠT BẦU ĐẮNG''' '''【Khí vị】''' * Vị đắng, tính hàn, có độc. '''【Chủ trị】''' * Trị đại thủy (phù thũng nặng), mặt mày tay chân phù nề, hạ thủy, gây nôn mửa (Bản kinh). Lợi thạch lâm, nôn đờm nghẽn trong cổ, trị trùng độc (trị chú), đàm ẩm. Nấu nước ngâm rửa cơ quan sinh dục trị tiểu tiện không thông (Tô Cung). Nhỏ nước sắc vào mũi trị tắc mũi do lạnh, vàng da (Tàng Khí). Thải giun đũa (Đại Minh). Trị ung thư ác sang, ghẻ lở, sâu răng. Có thể dùng để chế biến thủy ngân (Thời Trân). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính) * '''Bệnh hoàng đản (vàng da cấp):''' Khổ hú 1 quả, đục lỗ rót nước vào nấu, lấy nước đó nhỏ vào mũi để chảy nước vàng ra. * '''Phù thũng nặng, mặt mày sưng to:''' Dùng ruột trắng bầu đắng vo như hạt đậu, bọc màng bột mì nấu sôi, uống 7 hạt lúc đói. Đến trưa sẽ xuất nước ra, người gầy đi thì khỏi. Kiêng đồ mặn trong 2 năm. * '''Tiểu tiện không thông, trướng cấp:''' Hạt bầu đắng 30 hạt (sao), Sâu đất (Lâu cô) 3 con (nướng), tán bột, uống 1 tiền với nước lạnh. * '''Đau đầu do phong đàm:''' Nhỏ nước ép ruột bầu đắng vào mũi qua ống cỏ, đờm nhớt chảy ra là khỏi tận gốc. * '''Mắt mờ, màng mộng:''' Dùng ruột trắng bầu đắng ép lấy nước, phối hợp với giấm và tiền đồng cổ sắc lấy bọt nhỏ vào khóe mắt. * '''Sâu răng đau:''' Hạt bầu đắng sắc nước ngậm súc miệng. * '''Trĩ sưng đau:''' Bầu đắng, rau Đắng đắng sắc nước xông rửa, sau đó bôi thuốc bột (Hùng đởm, Mật đà tăng...). * '''Trúng độc trùng (cổ độc), nôn máu hoặc hạ huyết:''' Sắc 1 quả bầu đắng với 2 lít nước lấy 1 lít uống để nôn ra là khỏi. * '''Thai chết lưu không ra:''' Bầu đắng đốt tồn tính, tán bột. Uống 1 tiền với rượu nóng lúc đói. '''HOA BẦU ĐẮNG''' * '''【Chủ trị】:''' Trị tất cả các loại mụn nhọt, thu hái sau mùa sương phơi khô, tán bột đắp. '''DÂY BẦU ĐẮNG''' * '''【Chủ trị】:''' Trị sởi (ma sang), nấu nước tắm thì khỏi (Thời Trân). Trị chứng hói trắng ở trẻ em (Bạch thục). ===BẠI PHIÊU (GÁO BẦU CŨ)=== *(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria (Molina) Standl. (Vỏ quả khô) '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Phiêu (gáo) là do quả Hồ lô hoặc quả Bào xẻ ra mà thành. Phương thuốc của các thầy thuốc gần đây cũng thường xuyên sử dụng. Nên dùng loại làm từ quả bầu đắng (Khổ hú) là tốt nhất, loại để lâu năm lại càng thần diệu. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Tiêu trướng, sát trùng. Trị trĩ lậu ra máu, băng trung (băng huyết), khí hư (đới hạ) đỏ trắng (Thời Trân). '''【Phụ phương】''' * (Mới có 6 phương) ** '''Bụng trướng đầy (Trung mãn cổ trướng):''' Dùng một cái gáo bầu cũ đã để 3-5 năm. Dùng 1 đấu gạo nếp nấu thành rượu, đợi khi rượu chín, đem gáo hơ trên lửa than cho nóng rồi nhúng vào rượu. Làm như vậy 3-5 lần, sau đó đem gáo đốt tồn tính (đốt cháy vỏ ngoài nhưng bên trong vẫn giữ tính chất), nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 3 tiền với rượu, hiệu nghiệm như thần. (Dư Cư Sĩ - Tuyển kỳ phương). ** '''Đại tiện ra máu:''' Gáo bầu cũ (đốt tồn tính), Hoàng liên lượng bằng nhau. Nghiền thành bột. Mỗi lần uống 2 tiền với rượu ấm lúc đói. (Giản tiện phương). ** '''Băng huyết đỏ trắng (Xích bạch băng trung):''' Gáo bầu cũ (sao tồn tính), Gương sen (Liên phòng - đốt tồn tính) lượng bằng nhau. Nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 2 tiền, pha với nước nóng. Uống 3 liều, thấy ra mồ hôi là đạt, bệnh sẽ cầm ngay. Trường hợp nặng uống 5 liều là khỏi, rất thần diệu. Kiêng phòng sự, thức ăn gây phát chẩn, đồ sống lạnh. (Hải thượng phương). ** '''Não lậu chảy mủ (Viêm xoang mạn tính chảy mủ):''' Gáo vỡ, hoa Mào gà trắng, vỏ Ốc nhồi trắng (tất cả đều đốt tồn tính) lượng bằng nhau; Huyết kiệt, Xạ hương mỗi thứ 5 phân. Nghiền thành bột. Dùng rượu ngon vẩy ướt Ngải cứu chín, trộn với thuốc nặn thành bánh, đắp lên huyệt Đỉnh môn (thóp trước), dùng bàn là hơ nóng ủi lên trên, đến khi khỏi thì thôi. (Tôn thị - Tập hiệu phương). ** '''Bướu thịt dưới nách (Dịch hạ lưu anh):''' Dùng loại gáo bầu cán dài (Trà hồ lô) đốt tồn tính, nghiền bột bôi vào, đến khi u tan thì thôi. Có bà lão nọ dưới nách phải mọc một cái bướu, lớn dần đến hơn một thước, hình dáng như quả bầu dài, lâu ngày loét ra. Một phương sĩ dạy cho cách này, sau đó bướu chảy nước ra, tan hết mà khỏi. (Tần Hồ tập giản phương). ** '''Bỏng nước sôi, bỏng lửa:''' Gáo bầu cũ, đốt thành tro đắp vào. (Tần Hồ tập giản phương). ===ĐÔNG QUA (BÍ ĐAO)=== *(Trích: Bản kinh - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Benincasa hispida (Thunb.) Cogn. '''【Hiệu chính】''' Nay hợp nhất cùng mục '''Bạch qua tử''' (Hạt bí trắng). '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Bạch qua''' (Bản kinh), '''Thủy chi''' (Sách đã dẫn), '''Địa chi''' (Quảng nhã). * '''Đại Chí nói:''' Bí đao sau khi trải qua sương giá, trên vỏ có lớp trắng như phấn phủ, hạt cũng màu trắng nên gọi là Bạch đông qua, còn hạt gọi là Bạch qua tử. * '''Thời Trân nói:''' Gọi là Đông qua vì nó chín vào mùa đông. Lại theo Giả Tư Hiệp, bí đao gieo hạt vào tháng 2, 3; nếu gieo vào tháng 10 thì quả kết lại béo tốt hơn gieo mùa xuân, tên gọi Đông qua có lẽ cũng vì lý do này. * '''Biệt lục nói:''' Đông qua nguyên nằm dưới mục "Qua tử" của Bản kinh. Đời Tống, sách Khai bảo bản thảo thêm mục Bạch qua tử, rồi lại chia riêng Bạch đông qua thành một loại trong Biệt lục. Điều này dẫn đến các chú giải tranh luận gây nhiễu, nay hợp lại làm một. '''【Tập giải】''' * '''Biệt lục nói:''' Bạch qua tử mọc ở đầm phẳng vùng Tung Cao, chính là hạt của quả bí đao. Thu hái vào tháng 8. * '''Tô Tụng nói:''' Nay vườn tược nơi nơi đều trồng. Quả mọc dưới dây leo, quả lớn như cái đấu và dài, vỏ dày có lông, lúc mới sinh màu xanh lục, qua sương thì có phấn trắng. Người ta thường tích trữ ăn quanh năm như rau quả. Dùng làm thuốc phải lấy quả sau mùa sương, để qua năm, đập lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi giã lấy nhân dùng. Nhân hạt cũng có thể dùng làm thuốc bồi bổ đơn lẻ. * '''Thời Trân nói:''' Tháng 3 mọc mầm leo dây, lá to tròn có mũi nhọn, thân lá đều có lông gai. Tháng 6, 7 nở hoa vàng. Quả lớn đường kính hơn 1 thước, dài 3-4 thước, khi non màu xanh có lông, khi già màu xanh xám có phấn, vỏ cứng dày, thịt trắng béo. Ruột quả gọi là '''Qua luyện''', trắng xốp như bông, có thể dùng để giặt tẩy quần áo. Hạt gọi là '''Qua tê''', xếp thành hàng trong ruột. Bí đao kỵ rượu, sơn, xạ hương và gạo nếp, chạm phải tất thối nát. ====BẠCH ĐÔNG QUA (QUẢ BÍ ĐAO)==== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Tính lạnh và lợi tiểu (lạnh lợi). '''【Chủ trị】''' Trị thủy trướng bụng dưới, lợi tiểu tiện, chỉ khát (Biệt lục). Giã lấy nước uống trị tiêu khát phiền muộn, giải độc (Hoằng Cảnh). Ích khí, chống lão hóa, trừ đầy tức ngực sườn, khử nhiệt ở vùng đầu mặt (Mạnh Tiễn). Tiêu nhiệt độc ung thũng. Thái lát xoa trị rôm sảy rất tốt (Đại Minh). Lợi đại tiểu tràng, ép độc của đan thạch (Tô Tụng). '''【Phát minh】''' * '''Mạnh Tiễn nói:''' Người bị nhiệt ăn vào rất tốt, người thể tạng lạnh ăn vào sẽ làm người gầy đi. Nấu ăn giúp luyện ngũ tạng vì nó có tác dụng hạ khí. Ai muốn cơ thể thon gọn nhẹ nhàng thì nên ăn lâu dài; nếu muốn béo thì đừng ăn. * '''Tông Thích nói:''' Phàm người bị phát bối (nhọt sau lưng) và các loại ung thư, gọt một miếng lớn đắp lên vết thương, nóng thì thay miếng khác, tán nhiệt độc rất tốt. * '''Chấn Hanh nói:''' Bí đao tính chạy và nhanh (tẩu nhi cấp). Khấu thị nói nó tán nhiệt độc cũng là lấy cái tính nhanh nhẹn đó. Người bệnh lâu ngày, người âm hư nên kiêng. Tôn Chân Nhân nói: Tháng 9 đừng ăn vì làm phản vị (nôn mửa). Phải ăn quả đã bị sương giáng mới tốt. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch) * '''Tiêu khát do tích nhiệt:''' Bí đao bỏ vỏ, mỗi bữa ăn 2-3 lạng. * '''Tiêu khát không dứt:''' Một quả bí đao gọt vỏ chôn dưới đất ẩm 1 tháng, lấy ra uống nước trong đó. Hoặc nướng chín ép lấy nước uống. * '''Tiêu khát cốt chưng:''' Bí đao lớn bỏ ruột, nhét đầy bột Hoàng liên, đợi bí tan hết thì nghiền làm viên. Uống với canh bí đao. * '''Phù thũng nguy cấp:''' Bí đao không kể nhiều ít, ăn tùy ý, hiệu nghiệm thần kỳ. * '''Phù thũng, suyễn mãn:''' Bí đao lớn nhét đầy đậu đỏ (xích tiểu đậu), đắp đất đem đốt (vùi trong trấu nếp cháy), sau đó nghiền làm viên. * '''Nhọt phát bối sắp chết:''' Cắt đầu quả bí đao úp lên vết nhọt, bí nát lại thay quả khác đến khi nhọt nhỏ lại. ====QUA LUYỆN (RUỘT BÍ ĐAO)==== * '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Ép lấy nước uống chỉ phiền táo nhiệt khát, lợi tiểu trường, trị ngũ lâm (sỏi, nhiễm trùng đường tiểu) (Diễn Quyền). Rửa mặt tắm thân giúp khử vết nám (tàn nhang), giúp da dẻ tươi nhuận trắng trẻo (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' Tiêu khát phiền loạn: Ruột bí khô 1 lạng sắc uống. ====BẠCH QUA TỬ (HẠT BÍ ĐAO)==== (Còn gọi là Đông qua nhân) '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. Biệt lục nói: Tính hàn, dùng lâu làm lạnh tạng trung. '''【Chủ trị】''' Giúp da dẻ tươi nhuận, sắc mặt hồng hào, ích khí không đói. Dùng lâu nhẹ mình, chống già (Bản kinh). Trừ phiền mãn không vui. Có thể làm kem bôi mặt (Biệt lục). Khử phong ở da và vết sạm đen, nhuận da thịt (Đại Minh). Trị trường ung (viêm ruột dư/nhọt trong ruột) (Thời Trân). '''【Phụ phương】''' * '''Phép phục thực (ăn để dưỡng sinh):''' Hạt bí đao đồ nước sôi 3 lần, phơi khô, ngâm rượu một đêm, tán bột uống. Giúp người béo tốt, sáng mắt, kéo dài tuổi thọ. * '''Trắng da mặt:''' Hạt bí đao 5 lạng, hoa đào 4 lạng, vỏ cây bạch dương 2 lạng, tán bột uống. * '''Nam giới bạch trọc/Nữ giới bạch đới:''' Hạt bí đao lâu năm sao vàng tán bột, uống với nước cơm. ====QUA BÌ (VỎ BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Làm viên uống hoặc làm kem bôi mặt (Tô Tụng). Trị vết thương sưng đau do mồ hôi lừa ngựa vận vào. Trị đau nhức do chấn thương gãy xương (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' Đau lưng do chấn thương: Vỏ bí đao đốt tồn tính tán bột, uống với rượu. ====DIỆP (LÁ BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Trị thũng độc, giết ong và trị ong đốt (Đại Minh). Trị tiêu khát, sốt rét hàn nhiệt. Sao vàng tán bột đắp các loại ác sang lâu năm (Thời Trân). ====ĐẰNG (DÂY BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro có thể tẩy vết xăm (thứ thanh). Sắc nước rửa vết nám đen và sang giới (ghẻ lở). Giã lấy nước uống giải độc mộc nhĩ. Sắc nước rửa thoát giang (Thời Trân). ===NAM QUA (BÍ NGÔ)=== *(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Cucurbita moschata Duchesne '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Giống Nam qua xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), chuyển vào vùng Mân (Phúc Kiến), Chiết (Chiết Giang), nay các vùng quanh Yên Kinh cũng đều có. Tháng 3 xuống giống, thích hợp đất cát màu mỡ. Tháng 4 mọc mầm, dây leo rất sum sê, một dây có thể dài hơn mười trượng, đốt nào cũng có rễ, chạm đất là bám. Thân rỗng giữa. Lá hình dạng như lá Thục quỳ nhưng to như lá sen. Tháng 8, 9 nở hoa vàng như hoa dưa hấu. Kết quả tròn trịa, to như dưa hấu, vỏ có khía như dưa thơm (甜瓜 - điềm qua). Một gốc có thể kết hàng chục quả, màu sắc hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ. Trải qua sương giá hái về để nơi ấm có thể giữ đến mùa xuân. Hạt giống như hạt bí đao. Thịt dày màu vàng, không thể ăn sống, chỉ có thể gọt vỏ bỏ ruột luộc ăn, vị như Sơn dược. Nấu cùng thịt lợn ăn càng tốt, cũng có thể tẩm mật làm mứt. Xét cuốn Nông thư của Vương Trinh có ghi: Vùng Chiết Giang có loại '''Âm qua''', nên trồng nơi đất râm mát. Mùa thu chín màu vàng như vàng ròng, vỏ hơi dày, có thể trữ đến mùa xuân ăn vẫn như mới. Nghi rằng đó chính là Nam qua vậy. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Ăn nhiều phát cước khí, hoàng đản (vàng da). Không được ăn cùng thịt cừu, làm người ta bị nghẽn khí (khí ủng). '''【Chủ trị】''' Bổ trung ích khí (Thời Trân). ===VIỆT QUA 越瓜 (DƯA GANG/DƯA GÀY)=== *(Trích: Khai Bảo Bản Thảo - đời Tống) '''Tên khoa học:''' Cucumis melo var. conomon (Thunb.) Makino '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Sào qua''' 梢瓜 (Thực vật), '''Thái qua''' 菜瓜. * '''Thời Trân nói:''' Gọi là Việt qua vì lấy theo địa danh (vùng Việt cũ), tên tục là Sào qua 梢瓜, người phương Nam gọi là Thái qua (dưa rau) 菜瓜. '''【Tập giải】''' * '''Tàng Khí nói:''' Việt qua sinh ở vùng Việt. Loại to màu trắng tinh. Người vùng Việt dùng ăn như trái cây, cũng có thể muối bằng hèm rượu (tào tàng). * '''Thời Trân nói:''' Việt qua Nam Bắc đều có. Tháng 2, 3 xuống giống mọc mầm, bò lan trên đất, lá xanh hoa vàng, đều giống hoa lá bí đao nhưng nhỏ hơn. Khoảng mùa hạ, thu kết quả, có hai màu xanh và trắng, to như quả bầu (hồ tử). Có loại dài tới hơn 2 thước, tục gọi là '''Dương giác qua''' (dưa sừng dê). Hạt giống hạt dưa chuột, to như hạt mạch. Quả này ăn sống có thể thay trái cây hoặc rau xanh; dùng muối tương, muối đậu, ngâm đường, ngâm giấm đều hợp, cũng có thể làm dưa chua (trự). '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''Mạnh Tiễn nói:''' Ăn sống nhiều gây lạnh tạng trung, động khí, khiến người đau tim, kết khối dưới rốn (trưng kết), phát các loại mụn nhọt. Lại khiến người hư nhược không đi lại được, không tốt cho trẻ nhỏ. Người sau khi mắc bệnh truyền nhiễm (thiên hành bệnh) không được ăn. Lại không được ăn cùng sữa bò, váng sữa (lạc) và cá trê. * '''Thời Trân nói:''' Xét Tiêu Tử Chân nói: Thái qua làm tối tai mắt. Xem lừa ngựa ăn vào mắt liền bị loét thì đủ biết vậy. '''【Chủ trị】''' Lợi tràng vị, cầm phiền khát (Khai Bảo). Lợi tiểu tiện, khử phiền nhiệt, giải độc rượu, tuyên tiết nhiệt khí. Đốt thành tro đắp loét khóe miệng và nhiệt sang ở âm dương vật (Tàng Khí). Hòa với cơm làm dưa muối, ăn lâu ngày ích tràng vị (Tâm Kính). ===HỒ QUA 胡瓜 (DƯA CHUỘT/DƯA LEO)=== *(Trích: Gia Hữu Bản Thảo - đời Tống) '''Tên khoa học:''' Cucumis sativus L. '''【Giải thích tên gọi】''' '''Hoàng qua''' 黃瓜. * '''Tàng Khí nói:''' Người phương Bắc tránh húy Thạch Lặc (vua nhà Hậu Triệu) nên đổi gọi là Hoàng qua, đến nay vẫn dùng theo. * '''Thời Trân nói:''' Trương Khiên đi sứ Tây Vực đem giống về nên gọi là Hồ qua. Xét cuốn Thập di lục của Du Bảo nói: Năm Đại Nghiệp thứ 4 nhà Tùy tránh húy nên đổi gọi Hồ qua là Hoàng qua. Thuyết này hơi khác với thuyết của họ Trần. Nay người đời lầm tưởng đây là cây "Vương qua" trong Nguyệt lệnh, thực ra Vương qua là Thổ qua (xem ở bộ Thảo). '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Hồ qua nơi nào cũng có. Tháng 1, 2 xuống giống, tháng 3 mọc mầm leo dây. Lá giống lá bí đao, cũng có lông. Tháng 4, 5 nở hoa vàng, kết quả chu vi 2-3 thốn, loại dài tới hơn 1 thước, màu xanh, trên vỏ có nốt như mụn cóc (vưu tử), khi già thì màu vàng đỏ. Hạt giống hạt Thái qua. Có loại trồng vào tháng 5, gặp sương kết quả màu trắng mà ngắn, đều có thể ăn sống hoặc chín, dùng làm rau xanh hoặc dưa muối, nhưng muối tương hoặc hèm rượu thì không ngon bằng Thái qua. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, có độc nhỏ. * '''Mạnh Tiễn nói:''' Không được ăn nhiều, làm động hàn nhiệt, sinh bệnh sốt rét, tích tụ ứ nhiệt, phát khí chú (trệ khí), khiến hư nhiệt bốc lên gây đoản hơi (thiếu khí), tổn thương âm huyết, phát mụn nhọt ghẻ lở, cước khí, phù thũng và bách bệnh. Sau bệnh truyền nhiễm không được ăn. Trẻ nhỏ cực kỳ kiêng kỵ vì làm trơn ruột sinh cam trùng. Không nên dùng nhiều với giấm. '''【Chủ trị】''' Thanh nhiệt giải khát, lợi thủy đạo (thông tiểu) (Ninh Nguyên). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch) * '''Trẻ em lỵ nhiệt:''' Dưa chuột non ăn cùng mật ong mười mấy quả. * '''Phù thũng, bụng trướng:''' Dưa chuột 1 quả bổ ra, để cả hạt, nửa nấu giấm nửa nấu nước đến nhừ, ăn hết lúc đói để thông tiểu. * '''Trẻ em ra mồ hôi trộm (Hương qua hoàn):''' Dùng 1 quả dưa chuột lớn màu vàng, bỏ đầu, nhét các vị thuốc (Hoàng liên, Đại hoàng, Bối mẫu...) vào trong vùi chín rồi làm viên. * '''Họng sưng đau:''' Dưa chuột già bỏ hạt, nhét đầy mang tiêu (natri sulfat), phơi khô tán bột thổi vào họng. * '''Vết đánh đập sưng tấy:''' Lấy dưa chuột ngâm nước trong bình sứ dùng bôi lên vết thương. * '''Mắt đỏ sưng đau (Hỏa nhãn):''' Dưa chuột già nhét đầy mang tiêu phơi trong râm, lấy nước thuốc chảy ra điểm mắt rất hiệu nghiệm. * '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Dưa chuột hái ngày mùng 5 tháng 5, bỏ bình kín treo dưới hiên, lấy nước đó bôi. '''LÁ''' * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính bình, có độc nhỏ. * '''【Chủ trị】:''' Chứng tích trệ ở trẻ em (thiểm bích), giã lấy nước uống để gây nôn hoặc hạ xuống. '''RỄ''' * '''【Chủ trị】:''' Giã đắp trị các nốt sưng độc do gai đâm hoặc côn trùng cắn. ===TI LẶC (MƯỚP)=== *(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Luffa aegyptiaca Mill. (hoặc Luffa cylindrica) ====【Giải thích tên gọi】==== * '''Thiên ti lặc''' (Bản sự), '''Thiên la''' (Sự loại hợp bích), '''Bố qua''' (Sách đã dẫn), '''Man qua''' (Bản sự), '''Ngư bì'''. * '''Thời Trân nói:''' Loại quả này khi già thì xơ gân đan xen như mạng lưới (ti la), nên có tên là Ti la. Người xưa gọi là Ngư bì, hoặc có nơi gọi là Ngu thứ. Ban đầu giống này từ phương Nam tới nên gọi là Man qua. ====【Tập giải】==== * '''Thời Trân nói:''' Mướp trước đời Đường, Tống không thấy ghi chép, nay Nam Bắc đều có, dùng làm rau ăn thường ngày. * Tháng 2 xuống giống, mọc mầm leo dây, bò lên cây tre hoặc làm giàn. Lá to hơn lá Thục quỳ, có nhiều thùy nhọn, có lông gai nhỏ, giã lấy nước có thể nhuộm màu xanh lục. Thân có khía lăng trụ. Tháng 6, 7 nở hoa vàng 5 cánh, hơi giống hoa dưa chuột, nhị và cánh đều vàng. Quả to chừng 1 thốn, dài 1-2 thước, có khi tới 3-4 thước, màu xanh đậm, có vết nhăn, đầu quả giống đầu rùa. Lúc non gọt vỏ có thể nấu canh hoặc phơi khô, dùng pha trà hay làm rau. Lúc già thì to như cái chày, xơ gân quấn quýt như dệt thành, gặp sương thì khô héo, chỉ dùng để lót giày, rửa nồi niu, nên dân làng gọi là '''Tẩy oa la qua''' (Mướp rửa nồi). Trong quả có vách ngăn, hạt nằm trong vách, hình dạng giống hạt Qua lâu, màu đen và dẹt. Hoa bao, lá non và tua cuốn đều có thể ăn được. ====QUẢ MƯỚP==== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. Dùng làm thuốc nên dùng quả già. '''【Chủ trị】''' * Trị đậu chẩn mọc không thuận (không mọc ra được), dùng quả khô đốt tồn tính, thêm Chu sa nghiền bột, hòa nước mật uống rất diệu (Chấn Hanh). Nấu ăn giúp trừ nhiệt, lợi tràng. Quả già đốt tồn tính uống giúp trừ phong hóa đàm, lương huyết giải độc, sát trùng, thông kinh lạc, hành huyết mạch, hạ sữa (lợi sữa). Trị đại tiểu tiện ra máu, trĩ lậu, băng huyết, hoàng tích (vàng da), sán khí (sa tinh hoàn) đau sưng, huyết khí gây đau, ung thư sang thũng (mụn nhọt độc), nấm răng (xỉ cam), độc thai kỳ của đậu chẩn (Thời Trân). Làm ấm dạ dày, bổ dương, cố khí và an thai (Sinh sinh biên). '''【Phát minh】''' * '''Vương Dĩnh nói:''' Mướp không thấy trong các sách bản thảo cũ, chỉ thấy trong các phương trị đậu chẩn và ung nhọt ở chân có dùng tro mướp, cũng là lấy tính hàn để giải độc vậy. * '''Thời Trân nói:''' Mướp già có xơ gân thông suốt, vách ngăn liên thuộc, nên có khả năng thông mạch lạc tạng phủ của người, giúp trừ phong giải độc, tiêu sưng hóa đàm, trị đau sát trùng và trị các chứng huyết bệnh. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính) * '''Đậu chẩn mọc không thuận:''' Mướp già (đoạn gần cuống 3 thốn) đốt tồn tính, tán bột, uống với nước đường. * '''Ung thư lâu ngày không khép miệng:''' Mướp giã lấy nước bôi thường xuyên. * '''Trĩ ra máu, thoát giang:''' Tro mướp, vôi lâu năm, Hùng hoàng mỗi thứ 5 tiền, trộn mật lợn, lòng trắng trứng và dầu thơm đắp vào. * '''Lợi sữa:''' Mướp cả hạt đốt tồn tính nghiền bột, uống 1-2 tiền với rượu, đắp chăn cho ra mồ hôi là thông. * '''Đau lưng không dứt:''' Nhân hạt mướp sao cháy, giã hòa rượu nóng uống, bã đắp chỗ đau. * '''Viêm họng sưng đau:''' Mướp tươi nghiền lấy nước đổ vào họng. * '''Nướu răng sưng đau (do phong trùng):''' Mướp khô trải sương đốt tồn tính xát vào răng. * '''Phù thũng ở trẻ em:''' Mướp, Cỏ bấc đèn, Hành trắng lượng bằng nhau sắc nước uống và tắm. * '''Cổ trướng (thủy cổ):''' Mướp già bỏ vỏ, sao cùng Ba đậu, bỏ đậu lấy mướp nghiền bột làm viên. Đây là phương của danh y Tống Hội Chi thời Nguyên. ====LÁ MƯỚP==== * '''【Chủ trị】:''' Trị hắc lào (tẩy sang), xát thường xuyên. Trị ung thư đinh thũng, sưng tinh hoàn (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Lá mướp sao vàng tán bột, thêm 1 tiền Thần phấn, trộn mật bôi. Lá tươi giã đắp một ngày là khỏi. ** '''Đinh râu (Ngư tề đinh sang):''' Lá mướp, Hành cả rễ, Hẹ lượng bằng nhau giã nát lấy nước hòa rượu nóng uống, bã đắp nách (bệnh bên trái đắp nách trái...). ====RỄ VÀ DÂY MƯỚP==== * '''【Khí vị】:''' Giống lá. * '''【Chủ trị】:''' Trị nấm răng (xỉ cam), não lậu (viêm xoang mạn), sát trùng giải độc (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Não lậu (xoang chảy mủ hôi):''' Dây mướp đoạn gần rễ 3-5 thước, đốt tồn tính. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm. ** '''Đau răng:''' Dây mướp khô đốt tồn tính xát vào. Hoặc dây mướp, Xuyên tiêu, Đăng tâm sắc nước đặc súc miệng. ** '''Hóc xương cá:''' Rễ mướp hái ngày mùng 7 tháng 7 phơi khô, đốt tồn tính. Uống 2 tiền với nước sắc của chính loại vật gây hóc. ====【Phụ lục】==== '''Thiên la lặc''' (Thập di). * '''Tàng Khí nói:''' Mọc ở đất bằng vùng Giang Nam. Trị độc nước suối (khê độc), giã nát đắp vào. * '''Thời Trân nói:''' Họ Trần chú giải không rõ. Vùng Giang Nam gọi Mướp là Thiên la, nghi là vật này, nhưng chưa có bằng chứng xác đáng, tạm phụ vào đây. ===KHỔ QUA (MƯỚP ĐẮNG)=== *(Trích: Cứu hoang bản thảo) '''Tên khoa học:''' Momordica charantia L. ====【Giải thích tên gọi】==== * '''Cẩm lệ chi''' (Cứu hoang), '''Lại bồ đào'''. * '''Thời Trân nói:''' "Khổ" là gọi theo vị đắng. Các tên "Qua" (dưa), "Lệ chi" (vải), "Bồ đào" (nho) đều là dựa vào hình dáng quả, thân và lá có nét tương đồng mà đặt tên. ====【Tập giải】==== * '''Chu Định Vương nói:''' Cẩm lệ chi chính là Lại bồ đào (Nho ghẻ), mọc leo lên các loài cỏ cây. Thân dài bảy, tám thước, thân có lông nhám. Lá giống lá nho rừng, hoa nở màu vàng. Quả to như trứng gà, có nếp nhăn xù xề, trông giống quả vải. * '''Thời Trân nói:''' Khổ qua vốn xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), nay vùng Mân (Phúc Kiến), Quảng (Quảng Đông/Quảng Tây) đều trồng. Tháng 5 xuống giống, mọc mầm leo dây; thân, lá, tua cuốn đều giống cây nho nhưng nhỏ hơn. Tháng 7, 8 nở hoa nhỏ màu vàng, 5 cánh hình như cái bát. Kết quả loại dài khoảng bốn, năm thốn, loại ngắn khoảng hai, ba thốn, màu xanh. Trên vỏ quả có các nốt sần sùi như rôm sảy, trông giống như da người bị hủi (lại) hoặc như vỏ quả vải. Khi chín thì ngả màu vàng rồi tự nứt ra, bên trong có lớp thịt (nhàng) màu đỏ bao quanh hạt. Lớp thịt đỏ này vị ngọt có thể ăn được. Hạt hình dẹt như hạt dưa, trên hạt cũng có các nốt sần. Người phương Nam dùng quả xanh bỏ vỏ nấu với thịt hoặc muối dưa, muối tương làm rau ăn, vị đắng chát và có khí xanh. * Xét cuốn Tinh tra thắng lãm của Phí Tín có chép: Ở nước Tô Môn Đáp Lạt (Sumatra) có một loại dưa, vỏ như quả vải, khi chưa bổ ra thì mùi rất hôi như tỏi thối, bổ ra thì bên trong như cái túi, vị như váng sữa (tô), hương vị ngọt thơm vừa miệng. Nghi rằng đó chính là Khổ qua vậy. ====QUẢ KHỔ QUA==== * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Trừ tà nhiệt, giải lao nhọc mệt mỏi, làm thanh tâm và sáng mắt (Thời Trân - Sinh sinh biên). ====HẠT KHỔ QUA==== * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, ngọt, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Ích khí tráng dương (Thời Trân). {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] oe50prx59dgi9h40hon3ce9bf1nl5wz 204525 204519 2026-04-03T04:55:11Z Mrfly911 2215 204525 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/菜之三 | năm= 1596 | phần = Tổng hợp: * 21 loại '''rau''' (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua) * 6 loại '''rau dưới nước''' (Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái) * 15 loại '''nấm''' (Thanh chi - Long chi, Xích chi - Đan chi, Hoàng chi - Kim chi, Bạch chi - Ngọc chi, Tố chi, Hắc chi - Huyền chi, Tử chi - Mộc chi, Mộc nhĩ, tùng khuẩn, táo giáp tẩm, hương tẩm, cát hoa thái, thiên hoa tẩm, ma cô tẩm, kê, đà thái, thổ khuẩn, địa cầm, trúc nhục, khuẩn, địa nhĩ, thạch nhĩ) | trước= [[../Thái 2|Thái 2]] | sau= [[../Quả 1|Quả 1]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==21 loại rau== ===CÀ (TỬ TÔ)=== *(Âm đọc là Gia. Trích từ "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống) '''Tên khoa học:''' Solanum melongena L. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Lạc tô''' (Thập di), '''Côn Lôn qua''' (Ngự lãm), '''Thảo biệt giáp'''. * '''Tô Tụng nói:''' Theo Đoạn Thành Thức, "Cà" vốn là tên gọi thân cây sen. Nay gọi là rau cà (thái), âm đọc là "Gia", không rõ nguồn gốc từ đâu. * '''Thời Trân nói:''' Trần Tạng Khí trong Bản thảo gọi là Lạc tô, nghĩa chưa rõ. Xét cuốn Ngũ Đại Di Tử Lục viết là "Lạc tô" (酪酥 - váng sữa), có lẽ vì vị nó béo như váng sữa, nghĩa này có vẻ thông suốt. Du Bảo trong Thập di lục nói Tùy Dạng Đế đổi tên cà thành '''Côn Lôn tử qua''' (Dưa tím Côn Lôn). Vương Ẩn Quân trong Dưỡng sinh chủ luận dùng cà khô trị sốt rét nên gọi chệch đi là '''Thảo biệt giáp''' (Mai rùa bằng cỏ), vì mai rùa trị được hàn nhiệt, mà cà cũng trị được hàn nhiệt vậy. '''【Tập giải】''' * '''Tô Tụng nói:''' Cà có ở khắp nơi, gồm vài loại: Cà tím, cà vàng có ở cả Nam lẫn Bắc; cà trắng, cà xanh nước có ở miền Bắc. Dùng làm thuốc đa số dùng cà vàng, các loại khác chỉ dùng làm rau. Ở Giang Nam có loại "Cà dây" (Đằng cà), mọc dạng leo, vỏ mỏng như bầu ngô, không thấy dùng làm thuốc. * '''Tông Thích nói:''' Nước Tân La có loại cà hình như quả trứng gà, màu tím nhạt sáng, cuống dài vị ngọt. Nay ở Trung Quốc đã có khắp nơi. * '''Thời Trân nói:''' Hạt cà nên thu hoạch vào tháng 9 khi quả chín vàng, rửa sạch phơi khô, đến tháng 2 thì gieo mầm di thực. Cây cao 2-3 thước, lá to bằng bàn tay. Từ hạ sang thu nở hoa tím, 5 cánh dính nhau, 5 khía như sợi chỉ, nhị vàng cuống xanh, cuống bọc lấy quả. Trong cà có thịt (nhân), trong thịt có hạt, hạt như hạt vừng. Quả có loại tròn như quả Qua lâu, có loại dài 4-5 thốn. Có cà xanh, cà tím, cà trắng. Cà trắng còn gọi là '''Ngân cà''', ăn ngon hơn cà xanh. Các loại cà khi già đều hóa vàng. Tô Tụng coi cà vàng là một loài riêng thì có lẽ chưa nghiên cứu kỹ. * '''Vương Trinh trong Nông thư viết:''' Có loại cà Bột Hải màu trắng chắc; cà Phiên màu trắng dẹt, ngọt giòn không chát, ăn sống hay chín đều được; cà tím cuống dài vị ngọt; cà nước (thủy cà) hình dài vị ngọt, có thể giải khát. Hồng Dung Trai tùy bút ghi: Ở Chiết Tây cà thường vỏ tím, loại trắng là cà nước; ở Giang Tây cà thường vỏ trắng, loại tím là cà nước. Thật là khác biệt. * '''Lưu Tuân trong Lĩnh biểu lục dị nói:''' Cây cà ở Giao Chỉ trải qua mùa đông không rụng lá, có cây 2-3 năm thành cây lớn, quả to như dưa. Hái lá cà rải trên đường rồi dùng tro vây quanh thì quả sẽ đậu rất nhiều, gọi là "gả chồng cho cà" (giá cà). '''QUẢ CÀ (TỬ TÔ)''' #'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''Đại Chí nói:''' Người thể tạng lạnh lâu ngày không nên ăn nhiều, sẽ gây hại người, động khí, phát mụn nhọt và các bệnh cũ (cố tật). * '''Lý Bằng Phi nói:''' Ăn cà sau mùa thu sẽ hại mắt. * '''Thời Trân nói:''' Theo Sinh sinh biên, tính cà hàn lợi (nhuận tràng), ăn nhiều tất đau bụng đi lỏng, phụ nữ ăn nhiều có thể hại đến tử cung. '''【Chủ trị】''' * Trị hàn nhiệt, ngũ tạng lao tổn (Mạnh Tiễn). Trị bệnh ôn dịch truyền thi (lao). Mài với giấm đắp trị sưng độc (Đại Minh). Quả già tự nứt thì đốt thành tro trị nứt vú (Chấn Hanh). Tán huyết chỉ thống, tiêu sưng, khoan tràng (nhuận tràng) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Tông Thích nói:''' Trong vườn rau chỉ có thứ này là không có ích. Khai bảo bản thảo không ghi chủ trị, chỉ nói hại người. Người đời sau dù có phép trị bệnh nhưng vẫn không hợp chính văn. Người trồng vườn lại bón nhiều phân, thúc trong chỗ ấm để bán giá cao vào tiết Tiểu mãn. Ăn không đúng mùa thì hại càng nhiều. Không đúng mùa không ăn, chớ có coi thường. * '''Chấn Hanh nói:''' Cà thuộc Thổ nên vị ngọt và có tính giáng (hạ xuống), người đại tràng dễ động (đi ngoài) nên kiêng. Quả già trị nứt đầu vú, rễ nấu nước ngâm chỗ bỏng lạnh, cuống cà đốt tro trị nhiệt miệng, đều hiệu quả kỳ lạ, đó là ý dùng vị ngọt để làm dịu hỏa vậy. * '''Thời Trân nói:''' Đoạn Thành Thức nói cà làm "dày dạ dày" (nồng tràng vị), thực ra không biết tính cà trơn (hoạt), không có tác dụng làm dày dạ dày đâu. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch các phương chính) * '''Phụ nữ huyết vàng:''' Cà vàng cắt bằng dao tre, phơi âm can, tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm. * '''Trường phong hạ huyết (đi ngoài ra máu):''' Cà kinh sương cả cuống, đốt tồn tính, tán bột. Uống 2 tiền lúc đói với rượu ấm. * '''Cổ chướng trong bụng:''' Cà muối lâu năm đốt tồn tính, thêm ít xạ hương, khinh phấn, hòa dầu đắp. * '''Trị sưng đau tinh hoàn (thiên trụy):''' Dùng cà đôi (hai quả dính cuống) treo trên cửa, đi ra vào nhìn vào đó. Cà héo thì bệnh héo, cà khô thì bệnh khỏi. * '''Bệnh phong hủi (đại phong), nhiệt đàm:''' Cà vàng già to, ủ trong đất một năm hóa thành nước, trộn bột Khổ sâm làm viên bằng hạt ngô. Uống 30 viên với rượu. * '''Va đập bầm tím:''' Cà vàng già cắt lát dày, sao trên ngói tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm trước khi ngủ, một đêm là tan vết bầm. * '''Nhiệt độc sưng tấy:''' Cà tươi khoét rỗng như cái hũ, úp lên chỗ sưng sẽ tiêu. * '''Đau răng:''' Cà muối lâu năm đốt tro xát vào răng. * '''Nứt vú:''' Cà mùa thu tự nứt, phơi khô đốt tồn tính, tán bột hòa nước bôi. '''CUỐNG CÀ (TI)''' * '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro uống 2 tiền trị đi ngoài ra máu không dứt và trĩ ra máu (Ngô Thụy). Đốt tro trị nhiệt miệng, loét miệng. Cắt tươi xát vào vết lang ben (Thời Trân). * '''【Phát minh】:''' Trị lang ben trắng dùng cuống cà trắng, lang ben tím dùng cuống cà tím, theo nguyên tắc đồng loại. * '''【Phụ phương】:''' Sâu răng đau: Đốt tro cuống cà xát vào, hoặc thêm bột Tế tân. '''HOA CÀ''' * '''【Chủ trị】:''' Vết thương do kim khí, đau răng (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' Hoa cà mùa thu khô, đốt tán bột bôi chỗ đau răng, cầm đau ngay. '''RỄ VÀ THÂN LÁ KHÔ''' * '''【Chủ trị】:''' Bỏng lạnh nứt nẻ, nấu nước ngâm rất tốt (Khai bảo). Tán huyết tiêu sưng, trị đái ra máu, lỵ ra máu, sa tử cung, nấm miệng (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Đái ra máu (Huyết lâm) đau đớn:''' Lá cà hun khô tán bột, uống 2 tiền với rượu ấm. ** '''Lỵ lâu ngày không dứt:''' Rễ cà đốt tro, vỏ lựu lượng bằng nhau, tán bột uống với nước đường. ** '''Sa tử cung:''' Rễ cà đốt tồn tính, tán bột, hòa dầu bôi lên giấy cuộn lại đặt vào trong. ** '''Trị rụng răng:''' Rễ cà ngâm nước tiểu ngựa 3 ngày, phơi khô sao tán bột. Chấm vào răng là răng rụng (phương thuốc của Bào thị). ===KHỔ CÀ (CÀ ĐẮNG)=== *(Trích từ "Thập di") '''Tên khoa học:''' Solanum indicum L. (hoặc Solanum viarum) * '''【Tập giải】:''' Trần Tạng Khí nói: Cà đắng mọc hoang ở vùng Lĩnh Nam. Cây nhỏ có gai. * '''【Quả】:''' Mài với giấm bôi trị mụn nhọt sưng tấy. * '''【Rễ】:''' Nấu nước tắm. Trị khí chướng (chướng khí) vùng rừng núi. ===HỒ LÔ (QUẢ BẦU)=== *(Trích: Nhật Hoa) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria (Molina) Standl. '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Hồ lô''', '''Hồ qua''' (Thuyết văn), '''Bào qua''' (Luận ngữ). * '''Thời Trân nói:''' "Hồ" (壺) là bầu đựng rượu, "Lô" (盧) là chén uống nước. Vật này có hình dáng tương ứng, lại có thể dùng làm đồ đựng rượu cơm nên đặt tên như vậy. Tục viết là "Hồ lô" (葫蘆) với bộ Thảo là sai, vì "Hồ" (葫) là tên của tỏi, "Lô" (蘆) thuộc loại cây lau sậy. Loại hình tròn gọi là '''Bào''' (匏), cũng gọi là '''Phiêu''' (瓢 - gáo), vì nó có thể nổi trên mặt nước như bọt khí (bào) hay vật trôi nổi (phiêu). * Tất cả các loại này đều thuộc họ Dưa (qua) nên gọi là '''Hồ qua''', '''Bào qua'''. Người xưa gọi Hồ, Hú, Bào thông dụng như nhau, ban đầu không phân biệt. Tuy nhiên, đời sau phân chia: loại dài như dưa Việt gọi là '''Hú''' (瓠), loại một đầu có bụng và cán dài gọi là '''Huyền hú''' (懸瓠), loại không cán mà tròn to hình dẹt gọi là '''Bào''' (匏), loại Bào có cán ngắn bụng to gọi là '''Hồ''' (壺), loại Hồ có thắt eo nhỏ gọi là '''Bồ lô''' (蒲蘆). Qua xem xét kỹ, tuy hình dáng khác nhau nhưng tính vị của mầm, lá, vỏ, hạt là một nên không chia thành các mục riêng. #** '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Bầu và Bí đao cùng một loại khí vị. Có loại Hú lô vị ngon hơn bầu thường, đều lợi thủy đạo, ăn vào mùa hè rất tốt nhưng đại để không bằng Bí đao. * '''Cung nói:''' Bầu và Bí đao hoàn toàn không cùng loại. Ba thứ này mầm lá tương đồng nhưng hình dáng quả khác nhau. Bầu (Hú) dài hơn một thước, đầu đuôi như nhau, chín vào giữa hạ và khô vào cuối thu. Hú lô hình dạng to nhỏ không nhất định, chín vào giữa thu, dùng làm đồ đựng thì phải đợi qua mùa sương mới dùng được. * '''Thời Trân nói:''' Tuy tên gọi khác nhau nhưng thực chất là một loài. Xuống giống vào tháng 1-2, lá giống lá bí đao nhưng tròn hơn, có lông mềm, lúc non có thể ăn được. Tháng 5-6 nở hoa trắng, kết quả trắng. Hạt bên trong sắp xếp như răng gọi là "Hồ tê". Loại to có thể làm chum vại, loại nhỏ làm gáo rót rượu, có thể làm thuyền nổi trên nước, làm nhạc khí (sênh), vỏ ruột có thể nuôi lợn, hạt có thể làm nến, lợi ích vô cùng to lớn. ===HỒ HÚ (BẦU NGỌT)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, trơn (hoạt), không độc. * '''Cung nói:''' Vị ngọt lạnh, ăn nhiều gây nôn mửa, đi lỏng. * '''Biển Thước nói:''' Người bị cước khí hư chướng lạnh bụng mà ăn thứ này thì bệnh không bao giờ khỏi. '''【Chủ trị】''' Tiêu khát, ác sang (mụn nhọt độc), đau loét trong mũi miệng (Tư Mạo). Lợi thủy đạo (Hoằng Cảnh). Tiêu nhiệt, người đang phục dược đan thạch nên ăn (Mạnh Tiễn). Trừ phiền, trị tâm nhiệt, lợi tiểu trường, nhuận tâm phổi, trị thạch lâm (sỏi đường tiết niệu) (Đại Minh). '''【Phát minh】''' * '''Thời Trân nói:''' Theo Danh y lục, người vùng Chiết Giang ăn Bào qua hay bị thổ tả, gọi là "phát bạo", đó là do quả này bị ủng khí vào tháng nắng nóng. Chỉ khi ăn cùng với Hương nhu mới tránh được. '''【Phụ phương】''' * '''Bụng trướng vàng vọt (hoàng thũng):''' Dùng bầu thắt eo (Á yêu hồ lô) cả hạt đốt tồn tính, mỗi lần dùng 1 quả uống với rượu ấm trước bữa ăn. Không uống được rượu thì dùng nước trắng, 10 ngày sẽ thấy hiệu quả. '''LÁ BẦU''' * '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Làm rau ăn giúp nhịn đói (Tư Mạo). '''DÂY, TUA CUỐN, HOA''' * '''【Chủ trị】:''' Giải độc (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' Giải thai độc, phòng đậu mùa: Cắt tua cuốn bầu khô sắc nước tắm cho trẻ vào đêm trừ tịch. '''HẠT BẦU''' * '''【Chủ trị】:''' Lợi răng sưng lộ, răng lung lay đau nhức: Dùng 8 lạng hạt bầu cùng 4 lạng Ngưu tất, mỗi lần dùng 5 tiền sắc nước ngậm súc miệng, ngày 3-4 lần. ===KHỔ HÚ (BẦU ĐẮNG)=== *(Trích: Bản kinh - Hạ phẩm) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria var. microcarpa (Naudin) Hara (hoặc các biến thể đắng) '''【Giải thích tên gọi】''' * Khổ bào (Quốc ngữ), Khổ hồ lô. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại bầu tự nhiên có vị đắng như mật thì không ăn được, không phải loài riêng biệt. * '''Cung nói:''' Bản kinh bàn về Khổ hú lô, Đào Hoằng Cảnh nói bầu thường bị đắng là sai. Bầu đắng và bầu ngọt giống nguyên bản khác nhau, không phải do ngọt biến thành đắng. * '''Bảo Thăng nói:''' Có hai loại ngọt và đắng, loại ngọt quả to, loại đắng quả nhỏ. * '''Thời Trân nói:''' Kinh Thi có câu "Bào hữu khổ diệp" (Bầu có lá đắng). Quốc ngữ viết "Khổ bào bất tài" (Bầu đắng không dùng làm đồ ăn được). Tất cả đều chỉ quả bầu đắng. Phàm dùng Khổ hú phải chọn quả vân mịn, sạch bóng không tì vết mới tốt, nếu không sẽ có độc. Nếu uống quá liều gây nôn mửa đi lỏng không dứt, dùng nước tro rơm kê để giải độc. '''RUỘT VÀ HẠT BẦU ĐẮNG''' '''【Khí vị】''' * Vị đắng, tính hàn, có độc. '''【Chủ trị】''' * Trị đại thủy (phù thũng nặng), mặt mày tay chân phù nề, hạ thủy, gây nôn mửa (Bản kinh). Lợi thạch lâm, nôn đờm nghẽn trong cổ, trị trùng độc (trị chú), đàm ẩm. Nấu nước ngâm rửa cơ quan sinh dục trị tiểu tiện không thông (Tô Cung). Nhỏ nước sắc vào mũi trị tắc mũi do lạnh, vàng da (Tàng Khí). Thải giun đũa (Đại Minh). Trị ung thư ác sang, ghẻ lở, sâu răng. Có thể dùng để chế biến thủy ngân (Thời Trân). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính) * '''Bệnh hoàng đản (vàng da cấp):''' Khổ hú 1 quả, đục lỗ rót nước vào nấu, lấy nước đó nhỏ vào mũi để chảy nước vàng ra. * '''Phù thũng nặng, mặt mày sưng to:''' Dùng ruột trắng bầu đắng vo như hạt đậu, bọc màng bột mì nấu sôi, uống 7 hạt lúc đói. Đến trưa sẽ xuất nước ra, người gầy đi thì khỏi. Kiêng đồ mặn trong 2 năm. * '''Tiểu tiện không thông, trướng cấp:''' Hạt bầu đắng 30 hạt (sao), Sâu đất (Lâu cô) 3 con (nướng), tán bột, uống 1 tiền với nước lạnh. * '''Đau đầu do phong đàm:''' Nhỏ nước ép ruột bầu đắng vào mũi qua ống cỏ, đờm nhớt chảy ra là khỏi tận gốc. * '''Mắt mờ, màng mộng:''' Dùng ruột trắng bầu đắng ép lấy nước, phối hợp với giấm và tiền đồng cổ sắc lấy bọt nhỏ vào khóe mắt. * '''Sâu răng đau:''' Hạt bầu đắng sắc nước ngậm súc miệng. * '''Trĩ sưng đau:''' Bầu đắng, rau Đắng đắng sắc nước xông rửa, sau đó bôi thuốc bột (Hùng đởm, Mật đà tăng...). * '''Trúng độc trùng (cổ độc), nôn máu hoặc hạ huyết:''' Sắc 1 quả bầu đắng với 2 lít nước lấy 1 lít uống để nôn ra là khỏi. * '''Thai chết lưu không ra:''' Bầu đắng đốt tồn tính, tán bột. Uống 1 tiền với rượu nóng lúc đói. '''HOA BẦU ĐẮNG''' * '''【Chủ trị】:''' Trị tất cả các loại mụn nhọt, thu hái sau mùa sương phơi khô, tán bột đắp. '''DÂY BẦU ĐẮNG''' * '''【Chủ trị】:''' Trị sởi (ma sang), nấu nước tắm thì khỏi (Thời Trân). Trị chứng hói trắng ở trẻ em (Bạch thục). ===BẠI PHIÊU (GÁO BẦU CŨ)=== *(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria (Molina) Standl. (Vỏ quả khô) '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Phiêu (gáo) là do quả Hồ lô hoặc quả Bào xẻ ra mà thành. Phương thuốc của các thầy thuốc gần đây cũng thường xuyên sử dụng. Nên dùng loại làm từ quả bầu đắng (Khổ hú) là tốt nhất, loại để lâu năm lại càng thần diệu. '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, không độc. '''【Chủ trị】''' * Tiêu trướng, sát trùng. Trị trĩ lậu ra máu, băng trung (băng huyết), khí hư (đới hạ) đỏ trắng (Thời Trân). '''【Phụ phương】''' * (Mới có 6 phương) ** '''Bụng trướng đầy (Trung mãn cổ trướng):''' Dùng một cái gáo bầu cũ đã để 3-5 năm. Dùng 1 đấu gạo nếp nấu thành rượu, đợi khi rượu chín, đem gáo hơ trên lửa than cho nóng rồi nhúng vào rượu. Làm như vậy 3-5 lần, sau đó đem gáo đốt tồn tính (đốt cháy vỏ ngoài nhưng bên trong vẫn giữ tính chất), nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 3 tiền với rượu, hiệu nghiệm như thần. (Dư Cư Sĩ - Tuyển kỳ phương). ** '''Đại tiện ra máu:''' Gáo bầu cũ (đốt tồn tính), Hoàng liên lượng bằng nhau. Nghiền thành bột. Mỗi lần uống 2 tiền với rượu ấm lúc đói. (Giản tiện phương). ** '''Băng huyết đỏ trắng (Xích bạch băng trung):''' Gáo bầu cũ (sao tồn tính), Gương sen (Liên phòng - đốt tồn tính) lượng bằng nhau. Nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 2 tiền, pha với nước nóng. Uống 3 liều, thấy ra mồ hôi là đạt, bệnh sẽ cầm ngay. Trường hợp nặng uống 5 liều là khỏi, rất thần diệu. Kiêng phòng sự, thức ăn gây phát chẩn, đồ sống lạnh. (Hải thượng phương). ** '''Não lậu chảy mủ (Viêm xoang mạn tính chảy mủ):''' Gáo vỡ, hoa Mào gà trắng, vỏ Ốc nhồi trắng (tất cả đều đốt tồn tính) lượng bằng nhau; Huyết kiệt, Xạ hương mỗi thứ 5 phân. Nghiền thành bột. Dùng rượu ngon vẩy ướt Ngải cứu chín, trộn với thuốc nặn thành bánh, đắp lên huyệt Đỉnh môn (thóp trước), dùng bàn là hơ nóng ủi lên trên, đến khi khỏi thì thôi. (Tôn thị - Tập hiệu phương). ** '''Bướu thịt dưới nách (Dịch hạ lưu anh):''' Dùng loại gáo bầu cán dài (Trà hồ lô) đốt tồn tính, nghiền bột bôi vào, đến khi u tan thì thôi. Có bà lão nọ dưới nách phải mọc một cái bướu, lớn dần đến hơn một thước, hình dáng như quả bầu dài, lâu ngày loét ra. Một phương sĩ dạy cho cách này, sau đó bướu chảy nước ra, tan hết mà khỏi. (Tần Hồ tập giản phương). ** '''Bỏng nước sôi, bỏng lửa:''' Gáo bầu cũ, đốt thành tro đắp vào. (Tần Hồ tập giản phương). ===ĐÔNG QUA (BÍ ĐAO)=== *(Trích: Bản kinh - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Benincasa hispida (Thunb.) Cogn. '''【Hiệu chính】''' Nay hợp nhất cùng mục '''Bạch qua tử''' (Hạt bí trắng). '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Bạch qua''' (Bản kinh), '''Thủy chi''' (Sách đã dẫn), '''Địa chi''' (Quảng nhã). * '''Đại Chí nói:''' Bí đao sau khi trải qua sương giá, trên vỏ có lớp trắng như phấn phủ, hạt cũng màu trắng nên gọi là Bạch đông qua, còn hạt gọi là Bạch qua tử. * '''Thời Trân nói:''' Gọi là Đông qua vì nó chín vào mùa đông. Lại theo Giả Tư Hiệp, bí đao gieo hạt vào tháng 2, 3; nếu gieo vào tháng 10 thì quả kết lại béo tốt hơn gieo mùa xuân, tên gọi Đông qua có lẽ cũng vì lý do này. * '''Biệt lục nói:''' Đông qua nguyên nằm dưới mục "Qua tử" của Bản kinh. Đời Tống, sách Khai bảo bản thảo thêm mục Bạch qua tử, rồi lại chia riêng Bạch đông qua thành một loại trong Biệt lục. Điều này dẫn đến các chú giải tranh luận gây nhiễu, nay hợp lại làm một. '''【Tập giải】''' * '''Biệt lục nói:''' Bạch qua tử mọc ở đầm phẳng vùng Tung Cao, chính là hạt của quả bí đao. Thu hái vào tháng 8. * '''Tô Tụng nói:''' Nay vườn tược nơi nơi đều trồng. Quả mọc dưới dây leo, quả lớn như cái đấu và dài, vỏ dày có lông, lúc mới sinh màu xanh lục, qua sương thì có phấn trắng. Người ta thường tích trữ ăn quanh năm như rau quả. Dùng làm thuốc phải lấy quả sau mùa sương, để qua năm, đập lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi giã lấy nhân dùng. Nhân hạt cũng có thể dùng làm thuốc bồi bổ đơn lẻ. * '''Thời Trân nói:''' Tháng 3 mọc mầm leo dây, lá to tròn có mũi nhọn, thân lá đều có lông gai. Tháng 6, 7 nở hoa vàng. Quả lớn đường kính hơn 1 thước, dài 3-4 thước, khi non màu xanh có lông, khi già màu xanh xám có phấn, vỏ cứng dày, thịt trắng béo. Ruột quả gọi là '''Qua luyện''', trắng xốp như bông, có thể dùng để giặt tẩy quần áo. Hạt gọi là '''Qua tê''', xếp thành hàng trong ruột. Bí đao kỵ rượu, sơn, xạ hương và gạo nếp, chạm phải tất thối nát. ====BẠCH ĐÔNG QUA (QUẢ BÍ ĐAO)==== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Tính lạnh và lợi tiểu (lạnh lợi). '''【Chủ trị】''' Trị thủy trướng bụng dưới, lợi tiểu tiện, chỉ khát (Biệt lục). Giã lấy nước uống trị tiêu khát phiền muộn, giải độc (Hoằng Cảnh). Ích khí, chống lão hóa, trừ đầy tức ngực sườn, khử nhiệt ở vùng đầu mặt (Mạnh Tiễn). Tiêu nhiệt độc ung thũng. Thái lát xoa trị rôm sảy rất tốt (Đại Minh). Lợi đại tiểu tràng, ép độc của đan thạch (Tô Tụng). '''【Phát minh】''' * '''Mạnh Tiễn nói:''' Người bị nhiệt ăn vào rất tốt, người thể tạng lạnh ăn vào sẽ làm người gầy đi. Nấu ăn giúp luyện ngũ tạng vì nó có tác dụng hạ khí. Ai muốn cơ thể thon gọn nhẹ nhàng thì nên ăn lâu dài; nếu muốn béo thì đừng ăn. * '''Tông Thích nói:''' Phàm người bị phát bối (nhọt sau lưng) và các loại ung thư, gọt một miếng lớn đắp lên vết thương, nóng thì thay miếng khác, tán nhiệt độc rất tốt. * '''Chấn Hanh nói:''' Bí đao tính chạy và nhanh (tẩu nhi cấp). Khấu thị nói nó tán nhiệt độc cũng là lấy cái tính nhanh nhẹn đó. Người bệnh lâu ngày, người âm hư nên kiêng. Tôn Chân Nhân nói: Tháng 9 đừng ăn vì làm phản vị (nôn mửa). Phải ăn quả đã bị sương giáng mới tốt. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch) * '''Tiêu khát do tích nhiệt:''' Bí đao bỏ vỏ, mỗi bữa ăn 2-3 lạng. * '''Tiêu khát không dứt:''' Một quả bí đao gọt vỏ chôn dưới đất ẩm 1 tháng, lấy ra uống nước trong đó. Hoặc nướng chín ép lấy nước uống. * '''Tiêu khát cốt chưng:''' Bí đao lớn bỏ ruột, nhét đầy bột Hoàng liên, đợi bí tan hết thì nghiền làm viên. Uống với canh bí đao. * '''Phù thũng nguy cấp:''' Bí đao không kể nhiều ít, ăn tùy ý, hiệu nghiệm thần kỳ. * '''Phù thũng, suyễn mãn:''' Bí đao lớn nhét đầy đậu đỏ (xích tiểu đậu), đắp đất đem đốt (vùi trong trấu nếp cháy), sau đó nghiền làm viên. * '''Nhọt phát bối sắp chết:''' Cắt đầu quả bí đao úp lên vết nhọt, bí nát lại thay quả khác đến khi nhọt nhỏ lại. ====QUA LUYỆN (RUỘT BÍ ĐAO)==== * '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Ép lấy nước uống chỉ phiền táo nhiệt khát, lợi tiểu trường, trị ngũ lâm (sỏi, nhiễm trùng đường tiểu) (Diễn Quyền). Rửa mặt tắm thân giúp khử vết nám (tàn nhang), giúp da dẻ tươi nhuận trắng trẻo (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' Tiêu khát phiền loạn: Ruột bí khô 1 lạng sắc uống. ====BẠCH QUA TỬ (HẠT BÍ ĐAO)==== (Còn gọi là Đông qua nhân) '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. Biệt lục nói: Tính hàn, dùng lâu làm lạnh tạng trung. '''【Chủ trị】''' Giúp da dẻ tươi nhuận, sắc mặt hồng hào, ích khí không đói. Dùng lâu nhẹ mình, chống già (Bản kinh). Trừ phiền mãn không vui. Có thể làm kem bôi mặt (Biệt lục). Khử phong ở da và vết sạm đen, nhuận da thịt (Đại Minh). Trị trường ung (viêm ruột dư/nhọt trong ruột) (Thời Trân). '''【Phụ phương】''' * '''Phép phục thực (ăn để dưỡng sinh):''' Hạt bí đao đồ nước sôi 3 lần, phơi khô, ngâm rượu một đêm, tán bột uống. Giúp người béo tốt, sáng mắt, kéo dài tuổi thọ. * '''Trắng da mặt:''' Hạt bí đao 5 lạng, hoa đào 4 lạng, vỏ cây bạch dương 2 lạng, tán bột uống. * '''Nam giới bạch trọc/Nữ giới bạch đới:''' Hạt bí đao lâu năm sao vàng tán bột, uống với nước cơm. ====QUA BÌ (VỎ BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Làm viên uống hoặc làm kem bôi mặt (Tô Tụng). Trị vết thương sưng đau do mồ hôi lừa ngựa vận vào. Trị đau nhức do chấn thương gãy xương (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' Đau lưng do chấn thương: Vỏ bí đao đốt tồn tính tán bột, uống với rượu. ====DIỆP (LÁ BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Trị thũng độc, giết ong và trị ong đốt (Đại Minh). Trị tiêu khát, sốt rét hàn nhiệt. Sao vàng tán bột đắp các loại ác sang lâu năm (Thời Trân). ====ĐẰNG (DÂY BÍ ĐAO)==== * '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro có thể tẩy vết xăm (thứ thanh). Sắc nước rửa vết nám đen và sang giới (ghẻ lở). Giã lấy nước uống giải độc mộc nhĩ. Sắc nước rửa thoát giang (Thời Trân). ===NAM QUA (BÍ NGÔ)=== *(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Cucurbita moschata Duchesne '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Giống Nam qua xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), chuyển vào vùng Mân (Phúc Kiến), Chiết (Chiết Giang), nay các vùng quanh Yên Kinh cũng đều có. Tháng 3 xuống giống, thích hợp đất cát màu mỡ. Tháng 4 mọc mầm, dây leo rất sum sê, một dây có thể dài hơn mười trượng, đốt nào cũng có rễ, chạm đất là bám. Thân rỗng giữa. Lá hình dạng như lá Thục quỳ nhưng to như lá sen. Tháng 8, 9 nở hoa vàng như hoa dưa hấu. Kết quả tròn trịa, to như dưa hấu, vỏ có khía như dưa thơm (甜瓜 - điềm qua). Một gốc có thể kết hàng chục quả, màu sắc hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ. Trải qua sương giá hái về để nơi ấm có thể giữ đến mùa xuân. Hạt giống như hạt bí đao. Thịt dày màu vàng, không thể ăn sống, chỉ có thể gọt vỏ bỏ ruột luộc ăn, vị như Sơn dược. Nấu cùng thịt lợn ăn càng tốt, cũng có thể tẩm mật làm mứt. Xét cuốn Nông thư của Vương Trinh có ghi: Vùng Chiết Giang có loại '''Âm qua''', nên trồng nơi đất râm mát. Mùa thu chín màu vàng như vàng ròng, vỏ hơi dày, có thể trữ đến mùa xuân ăn vẫn như mới. Nghi rằng đó chính là Nam qua vậy. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc. * '''Thời Trân nói:''' Ăn nhiều phát cước khí, hoàng đản (vàng da). Không được ăn cùng thịt cừu, làm người ta bị nghẽn khí (khí ủng). '''【Chủ trị】''' Bổ trung ích khí (Thời Trân). ===VIỆT QUA 越瓜 (DƯA GANG/DƯA GÀY)=== *(Trích: Khai Bảo Bản Thảo - đời Tống) '''Tên khoa học:''' Cucumis melo var. conomon (Thunb.) Makino '''【Giải thích tên gọi】''' * '''Sào qua''' 梢瓜 (Thực vật), '''Thái qua''' 菜瓜. * '''Thời Trân nói:''' Gọi là Việt qua vì lấy theo địa danh (vùng Việt cũ), tên tục là Sào qua 梢瓜, người phương Nam gọi là Thái qua (dưa rau) 菜瓜. '''【Tập giải】''' * '''Tàng Khí nói:''' Việt qua sinh ở vùng Việt. Loại to màu trắng tinh. Người vùng Việt dùng ăn như trái cây, cũng có thể muối bằng hèm rượu (tào tàng). * '''Thời Trân nói:''' Việt qua Nam Bắc đều có. Tháng 2, 3 xuống giống mọc mầm, bò lan trên đất, lá xanh hoa vàng, đều giống hoa lá bí đao nhưng nhỏ hơn. Khoảng mùa hạ, thu kết quả, có hai màu xanh và trắng, to như quả bầu (hồ tử). Có loại dài tới hơn 2 thước, tục gọi là '''Dương giác qua''' (dưa sừng dê). Hạt giống hạt dưa chuột, to như hạt mạch. Quả này ăn sống có thể thay trái cây hoặc rau xanh; dùng muối tương, muối đậu, ngâm đường, ngâm giấm đều hợp, cũng có thể làm dưa chua (trự). '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. * '''Mạnh Tiễn nói:''' Ăn sống nhiều gây lạnh tạng trung, động khí, khiến người đau tim, kết khối dưới rốn (trưng kết), phát các loại mụn nhọt. Lại khiến người hư nhược không đi lại được, không tốt cho trẻ nhỏ. Người sau khi mắc bệnh truyền nhiễm (thiên hành bệnh) không được ăn. Lại không được ăn cùng sữa bò, váng sữa (lạc) và cá trê. * '''Thời Trân nói:''' Xét Tiêu Tử Chân nói: Thái qua làm tối tai mắt. Xem lừa ngựa ăn vào mắt liền bị loét thì đủ biết vậy. '''【Chủ trị】''' Lợi tràng vị, cầm phiền khát (Khai Bảo). Lợi tiểu tiện, khử phiền nhiệt, giải độc rượu, tuyên tiết nhiệt khí. Đốt thành tro đắp loét khóe miệng và nhiệt sang ở âm dương vật (Tàng Khí). Hòa với cơm làm dưa muối, ăn lâu ngày ích tràng vị (Tâm Kính). ===HỒ QUA 胡瓜 (DƯA CHUỘT/DƯA LEO)=== *(Trích: Gia Hữu Bản Thảo - đời Tống) '''Tên khoa học:''' Cucumis sativus L. '''【Giải thích tên gọi】''' '''Hoàng qua''' 黃瓜. * '''Tàng Khí nói:''' Người phương Bắc tránh húy Thạch Lặc (vua nhà Hậu Triệu) nên đổi gọi là Hoàng qua, đến nay vẫn dùng theo. * '''Thời Trân nói:''' Trương Khiên đi sứ Tây Vực đem giống về nên gọi là Hồ qua. Xét cuốn Thập di lục của Du Bảo nói: Năm Đại Nghiệp thứ 4 nhà Tùy tránh húy nên đổi gọi Hồ qua là Hoàng qua. Thuyết này hơi khác với thuyết của họ Trần. Nay người đời lầm tưởng đây là cây "Vương qua" trong Nguyệt lệnh, thực ra Vương qua là Thổ qua (xem ở bộ Thảo). '''【Tập giải】''' * '''Thời Trân nói:''' Hồ qua nơi nào cũng có. Tháng 1, 2 xuống giống, tháng 3 mọc mầm leo dây. Lá giống lá bí đao, cũng có lông. Tháng 4, 5 nở hoa vàng, kết quả chu vi 2-3 thốn, loại dài tới hơn 1 thước, màu xanh, trên vỏ có nốt như mụn cóc (vưu tử), khi già thì màu vàng đỏ. Hạt giống hạt Thái qua. Có loại trồng vào tháng 5, gặp sương kết quả màu trắng mà ngắn, đều có thể ăn sống hoặc chín, dùng làm rau xanh hoặc dưa muối, nhưng muối tương hoặc hèm rượu thì không ngon bằng Thái qua. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, có độc nhỏ. * '''Mạnh Tiễn nói:''' Không được ăn nhiều, làm động hàn nhiệt, sinh bệnh sốt rét, tích tụ ứ nhiệt, phát khí chú (trệ khí), khiến hư nhiệt bốc lên gây đoản hơi (thiếu khí), tổn thương âm huyết, phát mụn nhọt ghẻ lở, cước khí, phù thũng và bách bệnh. Sau bệnh truyền nhiễm không được ăn. Trẻ nhỏ cực kỳ kiêng kỵ vì làm trơn ruột sinh cam trùng. Không nên dùng nhiều với giấm. '''【Chủ trị】''' Thanh nhiệt giải khát, lợi thủy đạo (thông tiểu) (Ninh Nguyên). '''【Phụ phương】''' (Lược dịch) * '''Trẻ em lỵ nhiệt:''' Dưa chuột non ăn cùng mật ong mười mấy quả. * '''Phù thũng, bụng trướng:''' Dưa chuột 1 quả bổ ra, để cả hạt, nửa nấu giấm nửa nấu nước đến nhừ, ăn hết lúc đói để thông tiểu. * '''Trẻ em ra mồ hôi trộm (Hương qua hoàn):''' Dùng 1 quả dưa chuột lớn màu vàng, bỏ đầu, nhét các vị thuốc (Hoàng liên, Đại hoàng, Bối mẫu...) vào trong vùi chín rồi làm viên. * '''Họng sưng đau:''' Dưa chuột già bỏ hạt, nhét đầy mang tiêu (natri sulfat), phơi khô tán bột thổi vào họng. * '''Vết đánh đập sưng tấy:''' Lấy dưa chuột ngâm nước trong bình sứ dùng bôi lên vết thương. * '''Mắt đỏ sưng đau (Hỏa nhãn):''' Dưa chuột già nhét đầy mang tiêu phơi trong râm, lấy nước thuốc chảy ra điểm mắt rất hiệu nghiệm. * '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Dưa chuột hái ngày mùng 5 tháng 5, bỏ bình kín treo dưới hiên, lấy nước đó bôi. '''LÁ''' * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính bình, có độc nhỏ. * '''【Chủ trị】:''' Chứng tích trệ ở trẻ em (thiểm bích), giã lấy nước uống để gây nôn hoặc hạ xuống. '''RỄ''' * '''【Chủ trị】:''' Giã đắp trị các nốt sưng độc do gai đâm hoặc côn trùng cắn. ===TI LẶC (MƯỚP)=== *(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Luffa aegyptiaca Mill. (hoặc Luffa cylindrica) ====【Giải thích tên gọi】==== * '''Thiên ti lặc''' (Bản sự), '''Thiên la''' (Sự loại hợp bích), '''Bố qua''' (Sách đã dẫn), '''Man qua''' (Bản sự), '''Ngư bì'''. * '''Thời Trân nói:''' Loại quả này khi già thì xơ gân đan xen như mạng lưới (ti la), nên có tên là Ti la. Người xưa gọi là Ngư bì, hoặc có nơi gọi là Ngu thứ. Ban đầu giống này từ phương Nam tới nên gọi là Man qua. ====【Tập giải】==== * '''Thời Trân nói:''' Mướp trước đời Đường, Tống không thấy ghi chép, nay Nam Bắc đều có, dùng làm rau ăn thường ngày. * Tháng 2 xuống giống, mọc mầm leo dây, bò lên cây tre hoặc làm giàn. Lá to hơn lá Thục quỳ, có nhiều thùy nhọn, có lông gai nhỏ, giã lấy nước có thể nhuộm màu xanh lục. Thân có khía lăng trụ. Tháng 6, 7 nở hoa vàng 5 cánh, hơi giống hoa dưa chuột, nhị và cánh đều vàng. Quả to chừng 1 thốn, dài 1-2 thước, có khi tới 3-4 thước, màu xanh đậm, có vết nhăn, đầu quả giống đầu rùa. Lúc non gọt vỏ có thể nấu canh hoặc phơi khô, dùng pha trà hay làm rau. Lúc già thì to như cái chày, xơ gân quấn quýt như dệt thành, gặp sương thì khô héo, chỉ dùng để lót giày, rửa nồi niu, nên dân làng gọi là '''Tẩy oa la qua''' (Mướp rửa nồi). Trong quả có vách ngăn, hạt nằm trong vách, hình dạng giống hạt Qua lâu, màu đen và dẹt. Hoa bao, lá non và tua cuốn đều có thể ăn được. ====QUẢ MƯỚP==== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc. Dùng làm thuốc nên dùng quả già. '''【Chủ trị】''' * Trị đậu chẩn mọc không thuận (không mọc ra được), dùng quả khô đốt tồn tính, thêm Chu sa nghiền bột, hòa nước mật uống rất diệu (Chấn Hanh). Nấu ăn giúp trừ nhiệt, lợi tràng. Quả già đốt tồn tính uống giúp trừ phong hóa đàm, lương huyết giải độc, sát trùng, thông kinh lạc, hành huyết mạch, hạ sữa (lợi sữa). Trị đại tiểu tiện ra máu, trĩ lậu, băng huyết, hoàng tích (vàng da), sán khí (sa tinh hoàn) đau sưng, huyết khí gây đau, ung thư sang thũng (mụn nhọt độc), nấm răng (xỉ cam), độc thai kỳ của đậu chẩn (Thời Trân). Làm ấm dạ dày, bổ dương, cố khí và an thai (Sinh sinh biên). '''【Phát minh】''' * '''Vương Dĩnh nói:''' Mướp không thấy trong các sách bản thảo cũ, chỉ thấy trong các phương trị đậu chẩn và ung nhọt ở chân có dùng tro mướp, cũng là lấy tính hàn để giải độc vậy. * '''Thời Trân nói:''' Mướp già có xơ gân thông suốt, vách ngăn liên thuộc, nên có khả năng thông mạch lạc tạng phủ của người, giúp trừ phong giải độc, tiêu sưng hóa đàm, trị đau sát trùng và trị các chứng huyết bệnh. '''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính) * '''Đậu chẩn mọc không thuận:''' Mướp già (đoạn gần cuống 3 thốn) đốt tồn tính, tán bột, uống với nước đường. * '''Ung thư lâu ngày không khép miệng:''' Mướp giã lấy nước bôi thường xuyên. * '''Trĩ ra máu, thoát giang:''' Tro mướp, vôi lâu năm, Hùng hoàng mỗi thứ 5 tiền, trộn mật lợn, lòng trắng trứng và dầu thơm đắp vào. * '''Lợi sữa:''' Mướp cả hạt đốt tồn tính nghiền bột, uống 1-2 tiền với rượu, đắp chăn cho ra mồ hôi là thông. * '''Đau lưng không dứt:''' Nhân hạt mướp sao cháy, giã hòa rượu nóng uống, bã đắp chỗ đau. * '''Viêm họng sưng đau:''' Mướp tươi nghiền lấy nước đổ vào họng. * '''Nướu răng sưng đau (do phong trùng):''' Mướp khô trải sương đốt tồn tính xát vào răng. * '''Phù thũng ở trẻ em:''' Mướp, Cỏ bấc đèn, Hành trắng lượng bằng nhau sắc nước uống và tắm. * '''Cổ trướng (thủy cổ):''' Mướp già bỏ vỏ, sao cùng Ba đậu, bỏ đậu lấy mướp nghiền bột làm viên. Đây là phương của danh y Tống Hội Chi thời Nguyên. ====LÁ MƯỚP==== * '''【Chủ trị】:''' Trị hắc lào (tẩy sang), xát thường xuyên. Trị ung thư đinh thũng, sưng tinh hoàn (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Lá mướp sao vàng tán bột, thêm 1 tiền Thần phấn, trộn mật bôi. Lá tươi giã đắp một ngày là khỏi. ** '''Đinh râu (Ngư tề đinh sang):''' Lá mướp, Hành cả rễ, Hẹ lượng bằng nhau giã nát lấy nước hòa rượu nóng uống, bã đắp nách (bệnh bên trái đắp nách trái...). ====RỄ VÀ DÂY MƯỚP==== * '''【Khí vị】:''' Giống lá. * '''【Chủ trị】:''' Trị nấm răng (xỉ cam), não lậu (viêm xoang mạn), sát trùng giải độc (Thời Trân). * '''【Phụ phương】:''' ** '''Não lậu (xoang chảy mủ hôi):''' Dây mướp đoạn gần rễ 3-5 thước, đốt tồn tính. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm. ** '''Đau răng:''' Dây mướp khô đốt tồn tính xát vào. Hoặc dây mướp, Xuyên tiêu, Đăng tâm sắc nước đặc súc miệng. ** '''Hóc xương cá:''' Rễ mướp hái ngày mùng 7 tháng 7 phơi khô, đốt tồn tính. Uống 2 tiền với nước sắc của chính loại vật gây hóc. ====【Phụ lục】==== '''Thiên la lặc''' (Thập di). * '''Tàng Khí nói:''' Mọc ở đất bằng vùng Giang Nam. Trị độc nước suối (khê độc), giã nát đắp vào. * '''Thời Trân nói:''' Họ Trần chú giải không rõ. Vùng Giang Nam gọi Mướp là Thiên la, nghi là vật này, nhưng chưa có bằng chứng xác đáng, tạm phụ vào đây. ===KHỔ QUA (MƯỚP ĐẮNG)=== *(Trích: Cứu hoang bản thảo) '''Tên khoa học:''' Momordica charantia L. ====【Giải thích tên gọi】==== * '''Cẩm lệ chi''' (Cứu hoang), '''Lại bồ đào'''. * '''Thời Trân nói:''' "Khổ" là gọi theo vị đắng. Các tên "Qua" (dưa), "Lệ chi" (vải), "Bồ đào" (nho) đều là dựa vào hình dáng quả, thân và lá có nét tương đồng mà đặt tên. ====【Tập giải】==== * '''Chu Định Vương nói:''' Cẩm lệ chi chính là Lại bồ đào (Nho ghẻ), mọc leo lên các loài cỏ cây. Thân dài bảy, tám thước, thân có lông nhám. Lá giống lá nho rừng, hoa nở màu vàng. Quả to như trứng gà, có nếp nhăn xù xề, trông giống quả vải. * '''Thời Trân nói:''' Khổ qua vốn xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), nay vùng Mân (Phúc Kiến), Quảng (Quảng Đông/Quảng Tây) đều trồng. Tháng 5 xuống giống, mọc mầm leo dây; thân, lá, tua cuốn đều giống cây nho nhưng nhỏ hơn. Tháng 7, 8 nở hoa nhỏ màu vàng, 5 cánh hình như cái bát. Kết quả loại dài khoảng bốn, năm thốn, loại ngắn khoảng hai, ba thốn, màu xanh. Trên vỏ quả có các nốt sần sùi như rôm sảy, trông giống như da người bị hủi (lại) hoặc như vỏ quả vải. Khi chín thì ngả màu vàng rồi tự nứt ra, bên trong có lớp thịt (nhàng) màu đỏ bao quanh hạt. Lớp thịt đỏ này vị ngọt có thể ăn được. Hạt hình dẹt như hạt dưa, trên hạt cũng có các nốt sần. Người phương Nam dùng quả xanh bỏ vỏ nấu với thịt hoặc muối dưa, muối tương làm rau ăn, vị đắng chát và có khí xanh. * Xét cuốn Tinh tra thắng lãm của Phí Tín có chép: Ở nước Tô Môn Đáp Lạt (Sumatra) có một loại dưa, vỏ như quả vải, khi chưa bổ ra thì mùi rất hôi như tỏi thối, bổ ra thì bên trong như cái túi, vị như váng sữa (tô), hương vị ngọt thơm vừa miệng. Nghi rằng đó chính là Khổ qua vậy. ====QUẢ KHỔ QUA==== * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính hàn, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Trừ tà nhiệt, giải lao nhọc mệt mỏi, làm thanh tâm và sáng mắt (Thời Trân - Sinh sinh biên). ====HẠT KHỔ QUA==== * '''【Khí vị】:''' Vị đắng, ngọt, không độc. * '''【Chủ trị】:''' Ích khí tráng dương (Thời Trân). ==6 loại rau dưới nước== ===Tử Thái (Rong biển tím)=== *Tên khoa học: '''Pyropia''' (hoặc '''Porphyra''' spp.) * '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Tử Nhuyễn. * '''Tập hợp giải thích:''' Mạnh Thẩn nói: Tử thái sinh ra ở biển Nam Hải, bám vào đá. Màu gốc là xanh lục, hái về phơi khô thì chuyển sang màu tím. ** Lý Thời Trân nói: Vùng ven biển Phúc Kiến, Quảng Đông đều có. Lá lớn mà mỏng. Người dân ở đó kết thành dạng bánh, phơi khô đem bán, sắc tím thuần chính, cũng là một loại rêu đá (thạch y). * '''Khí vị:''' Ngọt, hàn, không độc. ** Trần Tàng Khí nói: Ăn nhiều khiến người ta đau bụng, phát khí, nôn ra bọt trắng. Uống một ít giấm nóng sẽ tan ngay. * '''Chủ trị:''' Nhiệt khí gây phiền muộn, tắc nghẹn cổ họng, sắc nước mà uống (Mạnh Thẩn). Người bị bướu cổ (anh lựu), bệnh phù chân (cước khí) nên ăn (Thời Trân). * '''Phát minh:''' Chu Đan Khê nói: Phàm các bệnh bướu cổ, u cục tích tụ, nên thường xuyên ăn tử thái, chính là theo nghĩa "vị mặn có thể làm mềm chỗ cứng" (hàm năng nhuyễn kiên). ===Thạch Thuần (Rêu đá)=== *Tên khoa học: '''Ulva lactuca''' (Xà lách biển) * '''Hiệu đính:''' Di dời từ phần Thảo bộ sang đây. * '''Tập hợp giải thích:''' Trần Tàng Khí nói: Thạch thuần sinh ở Nam Hải, bám vào đá mà sống. Trông giống tử thái nhưng màu xanh lục. * '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Hạ thủy, lợi tiểu tiện (Tàng Khí). Chủ trị phong bí không thông, ngũ cách khí (nghẹn), kết khí dưới rốn, sắc nước uống. Người Hồ dùng trị bệnh cam (Lý Tuần). ===Thạch Hoa Thái (Rau thạch hoa)=== *Tên khoa học: '''Gelidium amansii''' * '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Quỳnh Chi. Lý Thời Trân nói: Đều là dựa vào hình dáng mà đặt tên. * '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Thạch hoa thái sinh trong cát đá ở Nam Hải. Cao hai, ba tấc, trạng như san hô, có hai màu đỏ và trắng, trên cành có răng cưa nhỏ. Dùng nước sôi chần qua để loại bỏ cát bụi, trộn với gừng và giấm, ăn rất giòn. Rễ vùi trong cát, có thể mọc lại cành mới. Có một loại hơi thô trông giống chân gà, gọi là Kê Cước Thái, vị còn ngon hơn. Hai thứ này ngâm lâu đều hóa thành keo đông. Quách Phác trong bài Hải Phú có nói "vật dưới nước thì có ngọc diêu, hải nguyệt; vật dưới đất thì có thổ nhục, thạch hoa", chính là vật này. * '''Khí vị:''' Ngọt, mặn, đại hàn, trơn (hoạt), không độc. * '''Chủ trị:''' Loại bỏ hư nhiệt ở thượng tiêu, làm ấm (phát) phần hư hàn ở hạ bộ (Ninh Nguyên). ===Lộc Giác Thái (Rau gạc nai)=== *Tên khoa học: '''Chondrus ocellatus''' (hoặc '''Gigartina''' spp.) * '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Hầu Khuê. Lý Thời Trân nói: Theo Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn, Hầu khuê còn có tên là Lộc giác. Lộc giác là gọi theo hình dáng, Hầu khuê là vì tính chất trơn tuồn tuột của nó. * '''Tập hợp giải thích:''' Tiêu Sĩ Lương nói: Lộc giác thái sinh ở vùng biển Hải Châu, Đăng, Lai, Nghi, Mật. ** Lý Thời Trân nói: Lộc giác thái sinh trong các khe đá ở biển Đông Nam. Dài ba, bốn tấc, lớn như sợi dây thép, phân nhánh như gạc nai, màu tím vàng. Người dân địa phương hái về phơi khô, bán làm hải sản. Dùng nước rửa sạch trộn giấm thì nở ra như mới, vị cực kỳ trơn ngon. Nếu ngâm lâu sẽ tan ra như keo, phụ nữ dùng để chải tóc giúp tóc dính nếp mà không rối. * '''Khí vị:''' Ngọt, đại hàn, trơn, không độc. ** Mạnh Thẩn nói: Có độc nhẹ. Đàn ông không nên ăn lâu ngày, làm phát bệnh cũ, tổn hại thắt lưng, thận, kinh lạc và huyết khí, khiến chân lạnh tê, sắc mặt kém. * '''Chủ trị:''' Hạ nhiệt phong khí, trị chứng cốt chưng nhiệt lao ở trẻ em. Người đang uống đan thạch (thuốc tiên thuật) ăn vào có thể giải được độc tính của thạch (Sĩ Lương). Giải nhiệt ở mặt (Đại Minh). ===Long Tu Thái (Rau râu rồng)=== *Tên khoa học: '''Gracilaria lemaneiformis''' * '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Long tu thái sinh trên đá ven biển Đông Nam. Mọc thành bụi không cành, lá giống lá liễu, rễ dài hơn một thước, màu trắng. Dùng giấm ngâm để ăn, hoặc hấp chung với thịt cũng rất ngon. Cuốn Bác Vật Chí có nhắc đến một loại "Thạch phát" có vẻ là vật này, trùng tên với loại "Thạch phát" thuộc nhóm rêu đá. * '''Khí vị:''' Ngọt, hàn, không độc. * '''Chủ trị:''' Kết khối do bướu cổ, nhiệt khí, lợi tiểu tiện (Thời Trân). ===Thụy Thái (Rau ngủ)=== *Tên khoa học: '''Menyanthes trifoliata''' (Thủy thái/Rau bồn bồn) * '''Giải thích tên gọi:''' Minh thái, Xước thái, Túy thảo (cỏ say), Lãn phụ châm (Kim khâu của người vợ lười). * '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Theo Nam Phương Thảo Mộc Trạng của Kê Hàm, Xước thái mùa hè sinh ở ao hồ. Lá giống lá từ cô (rau mác), rễ giống ngó sen nhỏ. Người Nam Hải ăn vào thấy buồn ngủ, nên gọi là Minh thái (rau ngủ). ** Đoạn Công Lộ trong Bắc Hộ Lục nói: Thụy thái tháng 5, tháng 6 mọc trong ruộng đầm. Người địa phương hái rễ làm dưa muối, ăn vào ngủ ngon. ** Quách Hiến trong Động Minh Ký có nhắc đến "Khước thụy thảo" (cỏ đuổi ngủ), ăn vào không ngủ được, trái ngược hoàn toàn với loại này. Thời Trân xét thấy: Khổ thái (rau đắng), Long quỳ đều có thể làm người ta không ngủ được, "Khước thụy thảo" chắc là thuộc loại đó chăng? * '''Khí vị:''' Ngọt, hơi đắng, hàn, không độc. * '''Chủ trị:''' Tà nhiệt ở tâm và cách (hoành cách mô) gây mất ngủ (Thời Trân). ==15 loại nấm== ===Linh chi (芝)=== *(Nằm trong Thượng phẩm của Thần Nông Bản Thảo Kinh) '''【Hiệu đính】''' Hợp nhất sáu loại Linh chi từ Bản Kinh gồm: Thanh chi, Xích chi, Hoàng chi, Bạch chi, Hắc chi và Tử chi. '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là '''Tù (苬)'''. * '''Thời Trân nói:''' Chữ Chi (芝) vốn viết là 之, chữ triện tượng hình cỏ mọc trên đất. Người đời sau mượn chữ 之 làm trợ từ, nên thêm bộ Thảo (艹) vào trên để phân biệt. Sách Nhĩ Nhã gọi là Tù. Chú thích rằng: Đây là loại cỏ lành, một năm nở hoa ba lần. Có người nói mọc ở chỗ cứng gọi là Khuẩn (nấm), mọc ở chỗ mềm gọi là Chi. Xưa kia "Thương Sơn Tứ Hạo" hái chi mà ăn, các vị tiên cũng dùng, nên Chi cũng thuộc họ nấm có thể ăn được, vì thế được đưa vào phần Rau (菜部). '''【Tập hợp giải thích】''' * '''Biệt lục viết:''' Thanh chi mọc ở Thái Sơn, Xích chi mọc ở Hoắc Sơn, Hoàng chi mọc ở Tung Sơn, Bạch chi mọc ở Hoa Sơn, Hắc chi mọc ở Thường Sơn, Tử chi mọc ở thung lũng Cao Hạ. Sáu loại chi này đều hái vào tháng 6 và tháng 8. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Nam Nhạc vốn là Hành Sơn, Hán Vũ Đế mới lấy tiểu Hoắc Sơn thay thế, nên Xích chi này lẽ ra phải mọc ở Hành Sơn. Các quận huyện không có tên Cao Hạ, e rằng đó là tên núi. Sáu loại chi này đều là loài cỏ tiên, dân gian hiếm thấy, chủng loại rất nhiều, hình sắc khác biệt, đều được chép trong Chi Thảo Đồ. Tử chi mà dân gian dùng hiện nay mọc trên thân cây mục, hình dáng như cái mộc nhĩ gỗ, tên là Tử chi, chỉ để chữa trĩ, không nên phối hợp vào các loại thuốc bổ hoàn. Hễ hái được chi thảo thì cứ thế mà ăn, không có quy tắc phức tạp, nên không ghi phương pháp uống. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Sách Ngũ Chi Kinh viết: Năm màu chi sinh ra ở Ngũ Nhạc. Các nơi dâng lên, Bạch chi chưa chắc từ Hoa Sơn, Hắc chi lại không phải từ Thường Nhạc. Vả lại đa số là màu vàng và trắng, hiếm có màu đen và xanh. Tuy nhiên Tử chi là nhiều nhất, không thuộc loại Ngũ chi. Chi vốn khó tìm, dẫu có được một hai thì sao có thể uống lâu dài? * '''Vương Siêu viết:''' Vương Sung trong Luận Hành nói: Chi mọc từ đất. Khí của đất hòa hợp nên chi thảo sinh ra. Sách Thụy Mệnh Ký viết: Bậc quân chủ nhân từ thì chi thảo mọc. Chính là nó vậy. * '''Thời Trân nói:''' Loài chi rất nhiều, cũng có loại có hoa có quả. Bản Thảo chỉ lấy tên sáu loại chi làm tiêu biểu, nhưng chủng thuộc của chúng thì không thể không biết. ** Thần Nông Kinh viết: Tinh hoa của mây mưa núi sông, bốn mùa năm hành, âm dương ngày đêm sinh ra thần chi năm màu, là điềm lành cho bậc thánh vương. ** Thụy Ứng Đồ viết: Chi thảo thường sinh vào tháng 6, mùa xuân màu xanh, mùa hạ màu tím, mùa thu màu trắng, mùa đông màu đen. ** Cát Hồng trong Báo Phác Tử viết: Chi có Thạch chi (chi đá), Mộc chi (chi gỗ), Thảo chi (chi cỏ), Nhục chi (chi thịt), Khuẩn chi (chi nấm), phàm có hàng trăm loại. *** '''Thạch chi:''' Giống hình đá, sinh ở núi đá ven biển hoặc hải đảo. *** '''Nhục chi:''' Hình như miếng thịt, bám vào đá lớn, có đủ đầu đuôi, là sinh vật. Loại đỏ như san hô, trắng như mỡ cắt, đen như nhựa mủ, xanh như lông chim thúy, vàng như vàng tím, đều sáng suốt trong vắt như băng cứng. Con lớn mười mấy cân, con nhỏ ba bốn cân. ** Người tìm chi thảo vào núi danh tiếng tất phải chọn tháng 3, tháng 9 (là lúc núi mở cửa xuất thần dược). Phải chọn giờ Thiên Phụ, xuất từ cửa Tam Kỳ Cát Môn, đến núi vào ngày Lục Âm, giờ Minh Đường. Mang theo bùa Linh Bảo, dắt chó trắng, ôm gà trắng, mang một đấu muối trắng và bùa khai sơn đặt trên đá lớn. Tay cầm một nắm cỏ Ngô Đường vào núi, thần núi sẽ vui lòng, tất sẽ thấy chi. Phải dùng bước chân Vũ Bộ để tới hái. Chọn ngày Vương Tướng hòa hợp, chi can tương sinh, dùng dao bằng xương để cắt, phơi khô trong bóng râm rồi tán bột uống mới có công hiệu. Nếu người không tinh khiết ăn chay lâu ngày, đức mỏng hành uế, lại không hiểu thuật vào núi, dẫu có bản đồ thì quỷ thần cũng không cho thấy. ** '''Khuẩn chi:''' Mọc nơi núi sâu, dưới cây lớn, bên dòng suối. Hình dáng hoặc như cung điện, như rồng hổ, như xe ngựa, như chim bay, năm màu không định rõ. Có 120 loại, có hình vẽ riêng. ** '''Mộc chi (Chi gỗ):''' Gồm nhiều loại như Uy Hỉ Chi (nhựa thông hóa thành), Phi Tiết Chi (trên cây thông già 3000 năm), Mộc Cừ Chi (gửi thân trên cây lớn, hình hoa sen), Hoàng Bá Chi (dưới gốc cây hoàng bá nghìn năm), Kiến Mộc Chi, Tham Thành Chi, Phàn Đào Chi, Thiên Tuế Chi (mọc dưới cây khô, rễ như hình người ngồi, cắt ra có máu). ** '''Thảo chi (Chi cỏ):''' Gồm các loại như Độc Diêu Chi (không gió tự lay động), Ngưu Giác Chi, Long Tiên Chi, Tử Châu Chi, Bạch Phù Chi, Chu Thảo Chi, Ngũ Đức Chi. Có 120 loại, người hái được mà uống sẽ thành tiên. ** '''Ngọc mỡ chi (Ngọc chi):''' Mọc ở núi có ngọc, hình như chim thú, sắc màu rực rỡ như thủy tinh. ** '''Thất Minh Cửu Quang Chi:''' Mọc ở vách đá ven nước, hình như cái bát, loại có 7 lỗ gọi là Thất Minh, 9 lỗ gọi là Cửu Quang, ban đêm phát sáng. * '''Thời Trân xét rằng:''' Chi là do khí thừa của sự thối mục sinh ra, giống như con người bị u bướu. Cổ nhân coi là thụy thảo, lại bảo uống vào thành tiên, thực là viển vông. Gần đây đọc lời của Đoàn Thành Thức mới thấy tâm đắc. Lại nữa, các phương sĩ dùng thuốc đắp lên chỗ gỗ mục ẩm ướt cũng sinh ra chi năm màu để dâng vua. Đây là điều người xưa chưa nói đến, không thể không biết. ====Thanh Chi (Linh chi xanh)==== *Tên khoa học: '''Ganoderma virescens''' (hoặc loài tương đương thuộc chi Ganoderma) * '''Tên khác:''' Long chi. * '''Khí vị:''' Chua, bình, không độc. (Lý Thời Trân cho rằng vị của ngũ sắc chi được gán theo ngũ hành, chưa chắc thực tế đã như vậy). * '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ gan khí, an thần hồn, khiến người nhân từ. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh). Tăng trí nhớ (Đường Bản). ====Xích Chi (Linh chi đỏ)==== *Tên khoa học: '''Ganoderma lucidum''' * '''Tên khác:''' Đan chi. * '''Khí vị:''' Đắng, bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Trị kết tụ trong ngực, ích tâm khí, bổ trung, tăng trí tuệ, không quên. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh). ====Hoàng Chi (Linh chi vàng)==== *Tên khoa học: '''Ganoderma sinense''' (loại màu vàng) hoặc '''Laetiporus sulphureus''' * '''Tên khác:''' Kim chi. * '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Trị ngũ tà ở tâm phúc, ích tỳ khí, an thần, khiến người trung tín hòa lạc. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh). ====Bạch Chi (Linh chi trắng)==== *Tên khoa học: '''Ganoderma applanatum''' (loại có bào tử trắng) hoặc '''Laricifomes officinalis''' * '''Tên khác:''' Ngọc chi, Tố chi. * '''Khí vị:''' Cay, bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Trị ho nghịch thượng khí, ích phế khí, thông mũi miệng, làm mạnh ý chí, dũng cảm, an phách. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh). ====Hắc Chi (Linh chi đen)==== *Tên khoa học: '''Ganoderma atrum''' * '''Tên khác:''' Huyền chi. * '''Khí vị:''' Mặn, bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Trị chứng bí tiểu, lợi đường thủy, ích thận khí, thông chín khiếu, giúp thính tai mắt sáng. Uống lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh). ====Tử Chi (Linh chi tím)==== *Tên khoa học: '''Ganoderma sinense''' * '''Tên khác:''' Mộc chi. * '''Khí vị:''' Ngọt, ấm, không độc. (Chân Quyền nói: Bình). * '''Chủ trị:''' Trị điếc tai, lợi khớp xương, bảo vệ tinh thần, ích tinh khí, làm bền gân cốt, tươi nhuận da mặt. Uống lâu nhẹ mình không già (Bản Kinh). Trị hư lao, chữa trĩ (Thời Trân). '''【Phụ phương】''' * '''Tử Chi Hoàn:''' Trị hư lao đoản hơi, đau tức ngực sườn, tay chân lạnh ngắt, đôi khi phiền táo miệng khô, mắt mờ, bụng đau lâm râm, không muốn ăn uống. Thuốc này giúp an thần bảo tinh. ** Thành phần: Tử chi 1 lượng rưỡi; Sơn dược (sao), Thiên hùng (nướng bỏ vỏ), Bá tử nhân (sao), Ba kích thiên (bỏ lõi), Bạch phục linh (bỏ vỏ), Chỉ thực (sao) mỗi vị 3 tiền 5 phân; Sinh địa hoàng, Mạch môn đông, Ngũ vị tử (sao), Bán hạ (chế), Phụ tử (sao bỏ vỏ), Mẫu đơn bì, Nhân sâm mỗi vị 7 tiền 5 phân; Viễn chí (bỏ lõi), Liễu thực mỗi vị 2 tiền 5 phân; Qua tử nhân (sao), Trạch tả mỗi vị 5 tiền. ** Cách dùng: Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 15 hoàn, tăng dần đến 30 hoàn, uống với rượu ấm, ngày 3 lần (Thánh Tế Tổng Lục). ===Mộc nhĩ (Nấm mèo) và các loại nấm ký sinh trên thân gỗ=== *(Nằm trong Trung phẩm của Thần Nông Bản thảo kinh) ====Mộc nhĩ (Nấm mèo)==== '''【Hiệu đính】''' Tách ra từ mục Tang căn bạch bì (Vỏ trắng rễ dâu). '''【Giải thích tên gọi】''' '''Mộc nhuyễn''' (木𣚊), '''Mộc khuẩn''' (木菌), '''Mộc tòng''' (木㙡), '''Thụ kê''' (樹雞 - Gà cây), '''Mộc nga''' (木蛾 - Bướm gỗ). * '''Thời Trân nói:''' Mộc nhĩ sinh ra trên gỗ mục, không cành lá, vốn do dư khí của thấp nhiệt sinh ra. Gọi là "nhĩ" (tai), "nga" (bướm) là theo hình dáng. Gọi là "nhuyễn" (mềm) vì loại mềm ẩm thì tốt. Gọi là "kê" (gà), "tòng" là vì vị giống như thịt gà. Người vùng Nam Sở gọi gà là "tòng". Gọi là "khuẩn" (nấm) cũng là tượng hình. * Có thuyết nói: Mọc dưới đất gọi là Khuẩn, mọc trên cây gọi là Nga. Người phương Bắc gọi là Nga, người phương Nam gọi là Thâm (Nấm). '''【Tập hợp giải thích】''' * '''Biệt lục viết:''' Ngũ mộc nhĩ (Mộc nhĩ trên 5 loại cây) sinh ở thung lũng Kiền Vi. Hái vào tháng 6 lúc mưa nhiều, rồi đem phơi khô. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Đây nói là ngũ mộc nhĩ nhưng không nói rõ là cây gì. Chỉ có cây dâu già sinh ra Tang nhĩ, có các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Loại mềm ẩm người ta hái về làm dưa (trữ), không dùng làm thuốc nữa. * '''Tô Cung nói:''' Dâu, Hòe, Chữ (Dướng), Nhâm, Liễu là năm loại cây sinh mộc nhĩ. Loại mềm đều ăn được. Người ta thường ăn Chữ nhĩ (nấm cây dướng), còn Hòe nhĩ (nấm cây hòe) dùng trị trĩ. Đổ nước cháo lên các khúc gỗ rồi phủ cỏ lên, nấm sẽ mọc ra. * '''Thời Trân nói:''' Mộc nhĩ mọc trên mỗi loại cây khác nhau, tính tốt hay độc cũng tùy thuộc vào tính chất của gỗ đó, không thể không xem xét kỹ. Tuy nhiên mộc nhĩ bán hiện nay đa số là gỗ tạp, trong đó nấm từ cây Dâu, Liễu, Dướng, Nhâm là nhiều nhất. '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, có độc ít. * '''Chân Quyền nói:''' Mộc nhĩ mọc trên cây Hòe cổ thụ, cây Dâu là tốt nhất, cây Thạch (Tắc) xếp sau. Mộc nhĩ trên các cây khác đa số làm động phong khí, phát bệnh cũ, khiến người ta đau tức sườn, tổn thương kinh lạc và lưng vai, gây bứt rứt. * '''Trần Tàng Khí nói:''' Mộc nhĩ kỵ rắn, sâu bò qua dưới gốc vì sẽ nhiễm độc. Nấm mọc trên cây Phong khiến người ta cười không dứt. Loại hái về bị đổi màu là có độc, ban đêm phát sáng là có độc, loại sắp nát mà không sinh sâu mọt cũng có độc; đều dùng nước giã từ dây mướp đắng (đông qua mạn) để giải. * '''Thời Trân nói:''' Trương Trọng Cảnh vân: Mộc nhĩ sắc đỏ hoặc mọc ngửa lên đều không được ăn. '''【Chủ trị】''' Ích khí không đói, nhẹ mình mạnh chí (Bản kinh). Đoạn cốc (nhịn ăn) và trị trĩ (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Viên Dĩnh nói:''' Có người bị trĩ, dùng mọi thuốc không khỏi, ăn canh mộc nhĩ mà khỏi, cực kỳ linh nghiệm. * '''Thời Trân nói:''' Sách Sinh Sinh Biên viết: Liễu nga (nấm cây liễu) bổ vị, Mộc nhĩ suy tinh. Ý nói nấm trên cây liễu già bổ dạ dày lý khí; còn mộc nhĩ sinh từ gỗ mục, đắc khí của âm, nên có hại là làm suy giảm tinh và lạnh thận. '''【Phụ phương】''' (Gồm 6 phương mới) * '''Mắt chảy lệ lạnh:''' Mộc nhĩ 1 lượng (đốt tồn tính), Mộc tặc 1 lượng, tán bột. Mỗi lần dùng 2 tiền, sắc với nước vo gạo trong để uống. * '''Lở loét chân chảy máu (Huyết chú cước sang):''' Tang nhĩ, Chữ nhĩ, Ngưu tử cô (nấm phân bò) mỗi vị 5 tiền, tro tóc rối (nam dùng tóc nữ và ngược lại) 3 tiền. Tán bột, trộn dầu bôi hoặc bôi khô. * '''Băng lậu (xuất huyết tử cung):''' Mộc nhĩ nửa cân, sao đến khi bốc khói, tán bột. Mỗi lần dùng 2 tiền 1 phân phối với 3 phân tro tóc (tổng 2 tiền 4 phân để ứng với 24 tiết khí), dùng rượu ngon chiêu uống cho ra mồ hôi. * '''Tiêu chảy, lỵ mới hoặc lâu ngày:''' Mộc nhĩ khô 1 lượng (sao), Lộc giác giao 2 tiền rưỡi (sao), tán bột. Mỗi lần 3 tiền, chiêu với rượu ấm, ngày 2 lần. * '''Kiết lỵ ra máu:''' Mộc nhĩ 5 tiền (sao tán bột), uống với rượu là khỏi. Hoặc dùng nước giếng sáng sớm chiêu uống, hoặc nấu với muối và giấm để ăn. * '''Các chứng đau răng:''' Mộc nhĩ, Kinh giới phân lượng bằng nhau, sắc canh súc miệng thường xuyên. ====TANG NHĨ (Nấm cây dâu)==== *Tên khoa học: '''Phellinus linteus''' (thường gọi là Linh chi vàng hoặc Nấm Thượng Hoàng) * '''Giải thích tên gọi:''' '''Tang nhuyễn''' (桑 ), '''Tang nga''' (桑蛾), '''Tang kê''' (桑雞), '''Tang hoàng''' (桑黃), '''Tang thần''' (桑臣), '''Tang thượng ký sinh'''. * '''Khí vị:''' Ngọt, bình, có độc. (Mạnh Thẩn nói: Hàn, không độc; Đại Minh nói: Ấm, ít độc). * '''Chủ trị:''' Loại màu đen trị phụ nữ lậu hạ ra khí hư đỏ trắng, trưng hà tích tụ, đau âm hộ, âm dương hàn nhiệt, không con (Bản kinh). Trị kinh nguyệt không đều. Loại màu vàng chín trắng lâu ngày trị tiêu chảy kéo dài, ích khí không đói. Loại màu vàng kim trị tích tụ đờm ẩm (tích ẩm), đau bụng, vết thương kim khí (Biệt lục). Trị phụ nữ băng trung đới hạ, bế kinh, máu kết sau sinh, nam giới bị tích tụ bụng sườn (Chân Quyền). Cầm máu cam, lỵ ra máu, đau bụng ở phụ nữ (Đại Minh). Lợi ngũ tạng, thông khí đường ruột, bài độc, giải nhiệt cho người dùng đan thạch (Mạnh Thẩn). ====HOÈ NHĨ (Nấm cây hòe)==== *Tên khoa học: '''Perenniporia fraxinea''' * '''Giải thích tên gọi:''' '''Hoè nhuyễn''' (槐 ), '''Hoè khuẩn''' (槐菌), '''Hoè kê''' (槐雞), '''Xích kê''' (赤雞), '''Hoè nga'''. * '''Khí vị:''' Đắng, cay, bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Ngũ trĩ thoát giang, hạ huyết (đi ngoài ra máu), đau tim, phụ nữ đau lở âm hộ (Tô Cung). Trị phong phá huyết, tăng sức lực (Chân Quyền). * '''Phụ phương:''' Trị trĩ hạ huyết, băng huyết, đau máu sau sinh, giun đũa gây đau tim,臟 độc hạ huyết (đi ngoài ra máu do độc trong tạng). ====NHÂM NHĨ (Nấm cây nhâm/榆耳)==== *Tên khoa học: '''Pleurotus citrinopileatus''' * '''Thu hoạch:''' Hái vào tháng 8. * '''Chủ trị:''' Khiến người không đói (Thời Trân). ====LIỄU NHĨ (Nấm cây liễu/柳耳)==== *Tên khoa học: '''Phellinus igniarius''' * '''Chủ trị:''' Bổ vị lý khí (Thời Trân). Trị phản vị nôn đờm. ====THẠCH NHĨ (Nấm cây tắc/柘耳)==== *Tên khoa học: '''Phellinus gilletii''' (hoặc loài ký sinh trên cây Cudrania) * '''Tên khác:''' '''Thạch hoàng''' (柘黃). * '''Chủ trị:''' Phế ung ho khạc ra mủ máu hôi thối. Dùng 1 lượng tán bột, trộn với 2 tiền Bách thảo sương làm hoàn, uống với nước vo gạo rất nhanh khỏi. ====DƯƠNG LÔ NHĨ (Nấm cây dương lô/楊櫨耳)==== * '''Khí vị:''' Bình, không độc. * '''Chủ trị:''' Huyết cũ kết khối, phá huyết cầm máu, sắc uống. ===Sâm Khuẩn (Nấm cây sa mộc)=== *Tên khoa học: '''Cunninghamia lanceolata''' (nấm mọc trên cây này thường là một loại thuộc chi '''Phellinus''' hoặc '''Trametes''') * '''【Tập hợp giải thích】''' Tô Tụng nói: Sâm khuẩn xuất xứ từ Nghi Châu. Sinh ra trên gỗ cây Sa mộc (Cunninghamia) đã tích năm, hình trạng như nấm khuẩn. Thu hái không kể thời gian. * '''【Khí vị】''' Ngọt, cay, hơi ấm, không độc. * '''【Chủ trị】''' Đau khí ở tâm tỳ và các chứng đau tim cấp tính (Tô Tụng). ===Táo Giác Thẩm (Nấm cây bồ kết)=== *Tên khoa học: '''Phellinus''' spp. (thường là '''Phellinus robiniae''') * '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Đây là loại mộc nhĩ sinh trên cây Bồ kết (Gleditsia). '''Không thể ăn'''. Hái về bào khô để dự phòng dùng làm thuốc. * '''【Khí vị】''' Cay, có độc. * '''【Chủ trị】''' Tích tụ cặn bã gây đau đớn: pha nước sôi uống, có tác dụng nhuận tẩy nhẹ thì hiệu quả. Nếu chưa dứt thì uống tiếp. Lại trị sưng độc mới phát: mài với giấm mà bôi, rất tốt (Thời Trân). * '''【Phụ phương】''' (Mới có 1 phương) ** '''Trị tràng phong hạ huyết:''' Dùng nấm trên cây bồ kết, nướng trên ngói rồi tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm (Hứa Học Sĩ - Bản sự phương). ===Hương Thẩm (Nấm hương)=== *Tên khoa học: '''Lentinula edodes''' * '''【Giải thích tên gọi】''' Thời Trân nói: Chữ "Thẩm" (蕈) từ chữ "Đàm" (覃). Đàm nghĩa là kéo dài (diên). Vị của nấm hương đậm đà dư vị, có ý vị kéo dài nên gọi là Thẩm. * '''【Tập hợp giải thích】''' Ngô Thụy nói: Nấm mọc trên gỗ các cây Đồng, Liễu, Chỉ, Chù. Loại màu tím gọi là Hương thẩm, loại màu trắng gọi là Nhục thẩm, đều do thấp khí hun đúc mà thành. Loại mọc nơi núi sâu hẻo lánh thường có độc gây chết người. ** Viên Dĩnh nói: Hương thẩm sinh trên gỗ Phong mục trong núi sâu. Nhỏ hơn nấm khuẩn thường mà mỏng, màu vàng đen, vị rất thơm ngon, là loại phẩm cấp tốt nhất. ** Thời Trân nói: Các loại nấm rất nhiều. Trần Nhân Ngọc đời Tống đã soạn cuốn Khuẩn Phổ rất tường tận. Nay lục lại lược ý như sau: Chi và Khuẩn đều là tinh khí mọc ra. Từ xưa đã có chuyện hái linh chi ở Thương Sơn, nấm Thiên hoa ở Ngũ Đài cũng đứng đầu các loại. Huyện Tiên Cư nằm giữa Thiên Đài và Quát Thương, núi non trùng điệp, là nơi tiên linh hội tụ, nên sản sinh nhiều loại nấm lạ. Người ở rừng núi hái về ăn, đó là thứ cao lương mỹ vị của chốn rau dưa. Gần đây đã được đưa vào hàng yến tiệc cho hàng vương công. # '''Hợp Thẩm (Nấm hợp):''' Còn gọi là Đài thẩm, mọc ở núi Vi Khương vùng Đài Châu. Khi rét cực độ tuyết tan, khí xuân vừa động, đất tơi mầm sống, ấy là lúc nấm mọc. Chất bên ngoài màu nâu, thớ thịt trắng như ngọc, hương vị thơm ngát, khi vừa cho vào nồi nấu, hương bay xa trăm bước. Người miền núi phơi khô để bán, hương vị kém hơn nấm tươi. Núi khác tuy có sản sinh nhưng cuống cao và hương kém, không bằng được. # '''Trù Cao Thẩm:''' Sinh ở các núi Mạnh Khê. Giữa thu mưa móc thấm nhuần, hun đúc tinh túy của núi rừng mà nở hoa nấm. Mọc trên ngọn cây tuyệt đỉnh, ban đầu như hạt ngọc, tròn trịa như váng sữa rơi, màu vàng nhạt trắng, vị cực ngọt. Khi đã xòe ô to như lòng bàn tay thì vị hỏng ngay. Mùa xuân cũng mọc nhưng dịch cao ít hơn. Cách ăn là khi nước sôi thì thả vào, vớt ra trộn cùng các vị khác, đặc biệt hợp với rượu. Tuyệt đối không được khuấy động, nếu không sẽ sinh mùi tanh nhớt không ăn được. Cũng có thể hấp chín để mang đi xa. # '''Tùng Thẩm (Nấm tùng):''' Sinh dưới bóng thông (Tên khoa học: '''Tricholoma matsutake'''). Các vật sinh ra từ cây thông không thứ nào là không đáng quý. # '''Mạch Thẩm:''' Sinh trong bãi cát bên suối. Vị rất ngon, tuyệt đỉnh như nấm mỡ (Ma cô). # '''Ngọc Thẩm:''' Sinh lúc mới chớm lạnh, trắng sạch đáng yêu. Nấu canh hơi dai. Tục gọi là Hàn bồ thẩm. # '''Hoàng Thẩm:''' Mọc thành bụi trong núi, màu vàng. Tục gọi là Hoàng toản thẩm. # '''Tử Thẩm:''' Màu tím đỏ nâu, sản sinh trong núi, là hạng hạ phẩm. # '''Tứ Quý Thẩm:''' Sinh trong rừng cây, vị ngọt nhưng thớ thịt thô cứng. # '''Nga Cao Thẩm:''' Sinh ở núi cao, hình dạng như trứng ngỗng, lâu dần xòe ô. Vị ngọt trơn, không kém nấm Trù cao. Nhưng loại này dễ nhầm với Đỗ thẩm (loại nấm đất có độc), không thể không thận trọng. * '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Ích khí không đói, trị phong phá huyết (Ngô Thụy). Tùng thẩm: Trị chứng tiểu đục không nhịn được, ăn vào có hiệu quả (Khuẩn Phổ). ===Cát Hoa Cái (Nấm hoa cát)=== *Tên khoa học: Vì mọc ở vùng núi Thái Hòa và có mô tả giống loài ký sinh, có thể là một loại '''Cynomorium''' hoặc nấm thuộc họ '''Polyporaceae''' * '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Cát nhũ. * '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Các núi danh tiếng đều có, nhưng chỉ ở núi Thái Hòa (Võ Đang) mới hái được, nói là tinh hoa của cây Cát (Sắn dây). Khi sương thu đầy trời, nấm mọc vọt lên từ mặt đất như Linh chi, màu đỏ và giòn, vốn thuộc loài nấm. * '''【Khí vị】''' Đắng, ngọt, không độc. * '''【Chủ trị】''' Tỉnh táo tinh thần, trị tửu tích (ngộ độc rượu lâu ngày) (Thời Trân - Thái Hòa Sơn Chí). ===Thiên Hoa Thẩm=== *Tên khoa học: '''Agaricus''' spp. hoặc '''Russula''' spp. (Nấm tán trắng) * '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Thiên hoa thái. * '''【Tập hợp giải thích】''' Ngô Thụy nói: Thiên hoa thái xuất xứ từ núi Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây. Hình như hoa thông mà lớn, hương thơm như nấm, màu trắng, ăn rất ngon. ** Thời Trân nói: Núi Ngũ Đài có nhiều nấm rắn (xà thẩm), Thiên hoa thẩm cảm khí đó mà sinh ra, nên vị tuy ngon nhưng không có lợi ích gì, giá cả khá đắt. Cuốn Dậu Dương Tạp Trở có chép: Vùng Đại Bắc có loại "Thụ kê" như cái chén, tục gọi là "Hồ tôn nhãn" (mắt khỉ), có lẽ là loại này chăng? * '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc. (Thời Trân dẫn sách Chính Yếu nói là có độc). * '''【Chủ trị】''' Ích khí, sát trùng (Ngô Thụy). ===Ma Cô Thẩm (Nấm mỡ)=== *Tên khoa học: '''Agaricus bisporus''' * '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Nhục thẩm. * '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Ma cô xuất xứ từ vùng Sơn Đông, Hoài Bắc. Người ta vùi gỗ cây Dâu, cây Dướng xuống đất, tưới nước vo gạo vào, đợi nấm mọc thì hái. Nấm dài hai, ba tấc, gốc nhỏ ngọn to, màu trắng mềm mại, bên trong rỗng, hình dáng như hoa Ngọc trâm chưa nở. Tục gọi là Kê thối ma cô (nấm đùi gà), vì vị nó ngon như thịt gà vậy. Có một loại hình dáng như dạ dày cừu, có lỗ như tổ ong, gọi là '''Dương Lộ Thái''' (Nấm bụng dê - Tên khoa học: '''Morchella esculenta'''). * '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, không độc. (Sách Chính Yếu nói là có độc, làm động khí phát bệnh, không nên ăn nhiều). * '''【Chủ trị】''' Ích tràng vị, hóa đờm lý khí (Thời Trân - Sinh Sinh Biên). ===Kê Tòng (Nấm mối)=== *Tên khoa học: '''Termitomyces albuminosus''' * '''【Giải thích tên gọi】''' Kê khuẩn. Thời Trân nói: Người phương Nam gọi là Kê tòng vì vị của nó ngon như thịt gà. * '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Kê tòng xuất xứ từ Vân Nam, là loại nấm mọc trên đất cát. Chân cao, mũ nấm như cái ô. Người địa phương hái về sấy khô gửi đi xa làm đặc sản. Dùng pha trà hay nấu thịt đều hợp. Khí vị đều giống nấm hương (Hương thẩm) nhưng phong vị không bằng. Lại có vùng Hoành Châu ở Quảng Tây có loại "Lôi khuẩn" (Nấm sấm), hễ sấm đi qua là mọc, phải hái gấp, chậm một chút là thối hoặc già. Nấu canh cực ngon, cũng thuộc loại như Kê tòng. Các loại này giá đều rất đắt. * '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Ích dạ dày, làm thanh thản tinh thần, trị trĩ (Thời Trân). ===Đà Thái (Nấm bánh lái)=== *Tên khoa học: (Nấm mọc trên gỗ mục bị ngâm nước biển, thường là loài thuộc chi '''Crepidotus''' hoặc '''Schizophyllum''') * '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Đây là loại nấm mọc trên bánh lái (đà) của thuyền đi biển. Rất hiếm khi có được. * '''【Khí vị】''' Mặn, ngọt, hàn, không độc. * '''【Chủ trị】''' Khối u bướu (anh kết khí), đờm ẩm (Thời Trân). ===Thổ Khuẩn (Nấm đất)=== *Tên khoa học: Các loài nấm đất nói chung, tiêu biểu là nấm Ô than ('''Russula nigricans''') hoặc nấm Tán ('''Agaricus''' spp.) * '''【Hiệu đính】''' Chuyển từ phần Thảo bộ sang đây. * '''【Giải thích tên gọi】''' Đỗ thẩm, Địa thẩm, Cô tử, Địa kê, Chương đầu. * '''【Tập hợp giải thích】''' Trần Tàng Khí nói: Loại mọc dưới đất gọi là Khuẩn, mọc trên gỗ gọi là Nga. Người vùng Giang Đông gọi là Thẩm. ** Quách Phác nói: Địa thẩm giống như cái đinh có nắp, vùng Giang Đông gọi là Thổ khuẩn, ăn được. Phàm nấm mọc từ đất ra đều chủ trị lở loét (sang giới), loại nấm đen mọc trên phân bò là tốt nhất. Nếu đốt thành tro trên đất, sau khi trải qua mưa thu mọc ra loại nấm chồng tầng lên nhau gọi là "Tiên nhân mạo" (Mũ tiên), chủ trị các bệnh về máu. * '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, có độc. ** Mạnh Thẩn nói: Nấm có nhiều loại, loại mọc trên cây hòe là tốt. Loại mọc ngoài đồng nội có độc chết người, ăn vào sinh lạnh lẽo, bụng đau lâm râm, phát phong ngũ tạng, tắc nghẽn kinh mạch, động bệnh trĩ, khiến người hôn trầm thích ngủ, chân tay mỏi nhừ. ** Trần Tàng Khí nói: Nấm mùa đông và xuân không độc, mùa hạ và thu có độc (do rắn rết bò qua). Loại ban đêm phát sáng, loại sắp mục mà không có sâu, loại nấu không chín, loại nấu xong soi không thấy bóng người, loại trên có lông dưới không có vân, loại ngửa cuốn màu đỏ... đều có độc chết người. Trúng độc thì dùng nước đất (địa tương) hoặc nước phân để giải. * '''【Chủ trị】''' Đốt thành tro, đắp vết lở loét (Tàng Khí). * '''【Phụ phương】''' Trị mụn nhọt (đinh tử): Dùng phân bò tót trên đá, đợi mọc nấm, hái về bào khô, trộn với cỏ rác tán bột đắp vào. ===Quỷ Cái (Nấm mực)=== *Tên khoa học: '''Coprinus comatus''' hoặc '''Coprinopsis atramentaria''' * '''【Phụ lục】''' Vị ngọt, bình, không độc. Chủ trị trẻ em sốt rét, kinh giản. Mọc thành cụm dưới chân tường, màu đỏ, sáng mọc chiều chết. Còn gọi là Địa cái, Triều sinh, Quỷ tán, Quỷ ốc. * '''【Chủ trị】''' Đốt thành tro trị mụn nhọt, đinh độc. ===Quỷ Bút (Nấm bao đầu nấm)=== *Tên khoa học: '''Phallus impudicus''' * '''【Tập hợp giải thích】''' Mọc nơi phân uế. Đầu như ngọn bút, màu tím. Sáng mọc chiều chết. Trẻ em gọi là "Chó đái rêu". Chủ trị các loại mụn nhọt, lở loét, ung thũng. Phơi khô tán bột trộn dầu mà bôi. Loại này đỏ tím, xốp rỗng như hoa nên gọi là "hoa". Tán bột đắp hạ cam (vết loét bộ phận sinh dục). ===Trúc Nhục (Nấm tre)=== *Tên khoa học: '''Dictyophora indusiata''' (Nấm dị dạng trên tre) * '''【Giải thích tên gọi】''' Trúc nhục, Trúc cô, Trúc thẩm. * '''【Tập hợp giải thích】''' Mạnh Thẩn nói: Rừng tre từ tháng 6 gặp mưa, dịch tre nhỏ xuống đất sinh ra nấm này. Giống như gạc nai, màu trắng, ăn được. ** Trần Tàng Khí nói: Trúc nhục mọc trên cành tre đắng (khổ trúc). Hình như quả trứng gà, giống miếng thịt, có độc lớn. Phải dùng nước tro nấu ba lần mới ăn được như rau thường. Nếu nấu không kỹ sẽ gây nghẹn họng chảy máu, rụng móng tay chân. ** Thời Trân nói: Đây chính là Trúc cô. Mọc trên gốc tre mục. Trạng như mộc nhĩ, màu đỏ. Chỉ loại mọc trên tre đắng mới có độc. * '''【Khí vị】''' Ngọt, mặn, hàn, không độc. Loại trên tre đắng có độc lớn. * '''【Chủ trị】''' Các loại lỵ đỏ trắng, trộn với gừng và nước tương để ăn (Mạnh Thẩn). Trúc nhục tre đắng luyện qua nước tro giúp sát trùng, phá huyết ứ (Tàng Khí). ===Hoán Khuẩn (Nấm sậy)=== *Tên khoa học: '''Pholiota nameko''' (hoặc một loài nấm mọc trên gốc sậy) * '''【Hiệu đính】''' Chuyển từ phần Thảo bộ sang đây. * '''【Giải thích tên gọi】''' Hoán lư. Thời Trân nói: Hoán (雚) lẽ ra là Hoàn (萑), tức là loài lau sậy. Nấm này mọc dưới gốc sậy nên gọi tên như vậy. * '''【Tập hợp giải thích】''' Sắc trắng, nhẹ xốp, từ trong ra ngoài giống nhau. Mọc ở vùng đầm lầy sậy, đất nhiễm mặn. Phơi khô dùng là tốt nhất. * '''【Khí vị】''' Mặn, bình, có độc ít. (Biệt lục nói: Ngọt, hơi ấm; Chân Quyền nói: Đắng). Kỵ trứng gà. * '''【Chủ trị】''' Đau tim, ấm trung tiêu, trừ sán lãi (giun đũa), giun kim, lác đồng tiền (bạch tiển), rắn cắn, các chứng trùng tích bụng sườn. ===Địa Nhĩ (Địa y đất)=== *Tên khoa học: '''Nostoc commune''' * '''【Giải thích tên gọi】''' Địa đạp cô. * '''【Tập hợp giải thích】''' Địa nhĩ thuộc họ Thạch nhĩ (Lichen), nhưng mọc trên đất. Hình dạng như mộc nhĩ. Mọc trong mưa vào mùa xuân hè, sau mưa phải hái ngay, thấy ánh nắng là hỏng. Tục gọi là "Địa đạp cô" (Nấm đất đạp). * '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, không độc. * '''【Chủ trị】''' Sáng mắt ích khí, giúp dễ có con (Biệt lục). ===Thạch Nhĩ (Mộc nhĩ đá)=== *Tên khoa học: '''Umbilicaria esculenta''' * '''【Giải thích tên gọi】''' Linh chi. * '''【Tập hợp giải thích】''' Mọc trên vách đá các núi cao như Thiên Đài, Hoàng Sơn, Lư Sơn... Trông xa như khói. Hình dạng như Địa nhĩ. Rửa sạch cát bụi, nấu ăn ngon hơn mộc nhĩ, là loại cực phẩm. * '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc. * '''【Chủ trị】''' Ăn lâu giúp sắc mặt tươi nhuận, đến già không đổi, khiến người không đói, đại tiểu tiện ít (Ngô Thụy). Sáng mắt ích tinh (Thời Trân). Trị đi ngoài ra máu, thoát giang (Phối hợp với phèn phi). ===[Phụ khảo các loại rau khác]=== Hương nhu, Tử tô, Tử uyển, Tiệm thái, Ngưu tất miêu, Phòng phong miêu, Bạc hà, Nhâm tô (Tía tô dại), Mã lan, Lâu thảo, Trạch lan căn, Địa hoàng miêu, Chư khương (Các loại quỳ), Toan mô (Rau chua), Xương bồ, Ngưu bàng miêu, Thanh tương miêu, Long quy, Quyết minh, Cam lam (Bắp cải), La bặc (Củ cải), Hồng hoa miêu, Xa tiền miêu (Mã đề), Huyên thảo, Lô duẫn (Măng sậy), Giao duẫn (Niễng), Bình (Bèo), Hải đới thái (Rong biển), Độc chổi miêu, Dương đề, Bồ duẫn (Măng bồ thảo), Tề đầu thảo, Côn bố miêu, Côn bố, Địa tùng, Liệu nha, Hải tảo, Vương qua, Bách bộ, Ngó sen, Hà đầu (Gương sen), Cọng khiếm thực, Cọng củ ấu, Lá đậu, Giá đỗ, Vỏ đậu, Đậu phụ, Anh túc miêu, Chồi cây Xoan, Chồi cây Hòe, Vu di, Câu kỷ, Mầm Bồ kết, Mầm cây Nhâm, Măng cây Cọ, Ngũ gia bì... {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] eivaqyyn99n1mhjw352lxmsqh55og1v Biên dịch:Bản thảo cương mục/Danh y biệt lục 114 71908 204526 2026-04-03T07:33:06Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/名醫別錄 | năm= 1596 | phần = Danh y biệt lục | trước= [[../Thảo 11|Thảo 11]] | sau= [[../Cốc 1|Cốc 1]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc đ…” 204526 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/名醫別錄 | năm= 1596 | phần = Danh y biệt lục | trước= [[../Thảo 11|Thảo 11]] | sau= [[../Cốc 1|Cốc 1]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==DANH Y BIỆT LỤC - 78 VỊ THUỐC== ('''Lưu ý:''' Nhiều vị thuốc trong danh sách này là "cổ dược" đã thất truyền hoặc hình dạng không rõ ràng, ngay cả Lý Thời Trân đời Minh cũng ghi nhận điều này. Tên khoa học (Latin) được thêmn cho các vị có thể định danh chính xác.)''' '''1. Ly Lâu Thảo (离楼草)''' *Biệt lục viết: Vị mặn, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí lực, giúp sinh nhiều con (đa tử), nhẹ mình, tăng tuổi thọ. Mọc ở Thường Sơn, hái quả vào tháng 7, tháng 8. '''2. Thần Hộ Thảo (神护草)''' *Biệt lục viết: Mọc ở phía bắc Thường Sơn. Hái vào tháng 8. Có thể dùng để giữ nhà một mình, quát mắng người khác, khiến trộm cướp không dám vào cửa. *Thời Trân nói: Sách Vật loại chí gọi là Hộ môn thảo, tên khác là Linh thảo. Người phương ấy đặt trên cửa, áo người đi ngang qua quẹt vào, cỏ tất phát ra tiếng quát. Thơ Vương Quân có câu: "Sương bị thủ cung hòe, phong kinh hộ môn thảo" chính là nó vậy. Nhưng không mô tả hình dáng, thật đáng tiếc thay. '''3. Hoàng Hộ Thảo (黄护草)''' *Biệt lục viết: Không độc. Chủ trị chứng tê bại (tý), ích khí, giúp người ta thèm ăn. Mọc ở Lũng Tây. '''4. Tước Y Thảo (雀医草)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, rửa các vết loét chảy mủ, trị phong thủy. Tên khác là Bạch khí. Mùa xuân mọc, mùa thu hoa trắng, mùa đông quả đen. '''5. Mộc Cam Thảo (木甘草)''' *Biệt lục viết: Chủ trị ung thũng nhiệt thịnh, nấu nước để rửa. Mọc ở kẽ cây, tháng 3 nảy mầm, lá to như hình rắn, bốn lá mọc đối xứng. Chỉ cần bẻ cành trồng là sống. Tháng 5 hoa trắng, quả có hạt màu đỏ. Hái vào ngày 3 tháng 3. '''6. Ích Quyết Thảo (益决草)''' *Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị ho do tổn thương phổi. Mọc ở vùng núi ẩm (Sơn Âm). Rễ giống Tế tân (Asarum herb). '''7. Cửu Thục Thảo (九熟草)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị gây ra mồ hôi, cầm tiêu chảy, trị bứt rứt (muộn). Tên khác là Ô túc, Tước túc. Mọc trong sân nhà, lá như lá táo, một năm chín lần chín quả. Hái vào tháng 7. '''8. Đoái Thảo (兑草)''' *Biệt lục viết: Vị chua, tính bình, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, trường thọ. Mùa đông sinh trưởng, là loại dây leo trên cây gỗ, lá vàng có lông. '''9. Dị Thảo (异草)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị yếu liệt tê bại (ủy tý), hàn nhiệt, tẩy nốt ruồi đen. Mọc trên bờ rào, lá như lá quỳ, cạnh thân có sừng, nhựa trắng. '''10. Quán Thảo (灌草)''' *Biệt lục viết: Tên khác là Thử can (gan chuột). Lá trơn, màu xanh trắng. Chủ trị ung thũng. '''11. Kỷ Thảo (䒻草)''' *Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị vết thương do kim khí. Chữ 䒻 phát âm là "Kỷ" (qǐ). '''12. Sân Thảo (莘草)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị vết thương nặng, tê sưng. Mọc ở vùng núi đầm, giống Bồ hoàng (Pollen Typhae), lá giống rau cải. '''13. Anh Thảo Hoa (英草华)''' *Biệt lục viết: Vị cay, tính bình, không độc. Chủ trị khí tê (tý khí), cường âm, trị bệnh hoàng đản do lao lực tình dục (nữ lao đản), giải phiền, chắc gân xương. Trị phong đầu, có thể làm thuốc gội đầu. Mọc leo trên cây gỗ. Tên khác là Lộc anh. Hái vào tháng 9, phơi khô trong râm. '''14. Phong Hoa (封华)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Chủ trị ghẻ lở, nuôi dưỡng cơ thịt, tẩy thịt thối. Hái vào ngày Hạ chí. '''15. Điển Hoa (㥏华)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị nghịch khí (thượng khí), giải phiền, chắc gân xương. '''16. Tiết Hoa (节华)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị thương trung, yếu liệt tê bại, phù thũng. Vỏ chủ trị nhiệt khí xâm nhập trong tỳ. Tên khác là Sơn tiết, Đạt tiết, Thông tất. Hái vào tháng 10, phơi khô. '''17. Nhượng Thực (让实)''' *Biệt lục viết: Vị chua. Chủ trị hầu tý (đau họng), cầm tiêu chảy, lỵ. Hái vào tháng 10, phơi khô trong râm. '''18. Dương Thực (羊实)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh. Chủ trị hói đầu, vết loét xấu, ghẻ ngứa, vảy nến. Mọc ở Thục quận. '''19. Tang Kinh Thực (桑茎实)''' *Biệt lục viết: Vị chua, tính ấm, không độc. Chủ trị các bệnh hậu sản sau khi sinh và cho con bú. Nhẹ mình ích khí. Tên khác là Thảo vương. Lá như lá tía tô (nhậm). Thân vuông lá to. Mọc trong vườn. Hái vào tháng 10. '''20. Khả Tụ Thực (可聚实)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, sáng mắt. Tên khác là Trường thọ. Mọc trên đường núi rừng, bông như lúa mạch, lá như lá ngải cứu. Hái vào tháng 5. '''21. Bồ Âm Thực (蒲阴实)''' *Biệt lục viết: Vị chua, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí, trừ nhiệt, chỉ khát, lợi tiểu, nhẹ mình trường thọ. Mọc ở núi sâu và trong vườn, thân như rau cải, lá nhỏ, quả như quả anh đào. Chín vào tháng 7. Chân Quyền nói: Dây leo như dưa. '''22. Mã Điên (马颠)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Trị phù thũng. Không được ăn nhiều. '''23. Mã Phùng (马逢)''' *Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị nấm tổ đỉa, ký sinh trùng. '''24. Thỏ Tảo (兔枣)''' *Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí. Mọc ở vùng gò đống Đan Dương, cao khoảng một thước, quả như quả táo. '''25. Lộc Lương (鹿良)''' *Biệt lục viết: Vị mặn, mùi hôi. Chủ trị trẻ em kinh giản, khí nghịch (bôn đồn), co giật; người lớn bị uốn ván (kinh). Hái vào tháng 5. '''26. Kê Niết (鸡湼)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị sáng mắt, trúng phong hàn, các chứng hư tổn, thủy thũng, tà khí, bổ trung, cầm tiêu chảy lỵ, trị phụ nữ ra khí hư trắng (bạch ốc). Tên khác là Âm lạc. Mọc ở núi Kê Sơn. Hái không kể thời gian. '''27. Tây Lạc (犀洛)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị chứng bí tiểu (lôn tật). Tên khác là Tinh lạc, Nê lạc. '''28. Tước Mai (雀梅) - Sageretia theezans *Biệt lục viết: Vị chua, tính lạnh, có độc. Chủ trị vết loét ăn sâu (thực ác sang). Tên khác là Thiên tước. Mọc ở kẽ đá ven biển. *Hoàng Cảnh nói: Lá và quả đều giống Mạch lý (Prunus humilis). '''29. Yến Sỉ (燕齿)''' *Biệt lục viết: Chủ trị trẻ em kinh giản, nóng rét (hàn nhiệt). Hái vào ngày 5 tháng 5. '''30. Thổ Sỉ (土齿)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị nhẹ mình, ích khí trường thọ. Mọc ở vùng gò đống, hình trạng như răng ngựa. '''31. Kim Kinh (金茎)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị vết thương do kim khí gây rò bên trong. Tên khác là Diệp kim thảo. Mọc ở chỗ cao vùng đầm lầy. '''32. Bạch Bối (白背)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị nóng rét, rửa vết loét xấu, ghẻ lở. Mọc ở gò núi, rễ giống Tử uy (Campsis grandiflora), lá giống Yến lư. Hái không kể thời gian. '''33. Thanh Cái (青雌)''' *Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị vết loét xấu, hói đầu, vết bỏng, diệt ký sinh trùng (tam trùng). Tên khác là Trùng tổn, Mạnh thôi. Mọc ở thung lũng núi Phương Sơn. '''34. Bạch Tân (白辛)''' *Biệt lục viết: Vị cay, có độc. Chủ trị nóng rét. Tên khác là Thoát vĩ, Dương thảo. Mọc ở núi Sở Sơn. Hái vào tháng 3, rễ trắng và thơm. '''35. Xích Cử (赤举)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị đau bụng. Tên khác là Dương di, Lăng khát. Mọc ở núi ẩm, tháng 2 hoa nhọn mọc trên dây leo, tháng 5 quả đen có hạt. Hái lá vào ngày 3 tháng 3, phơi khô trong râm. '''36. Xích Niết (赤涅)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị chứng đổ máu cam, băng huyết, cầm máu ích khí. Mọc ở nơi ẩm ướt dưới bóng đá núi Thục quận. Hái không kể thời gian. '''37. Xích Hách (赤赫)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, có độc. Chủ trị ghẻ loét, vết thương hoại tử, trừ ký sinh trùng và tà khí. Mọc ở vùng sông núi Ích Châu. Hái vào tháng 2 và tháng 8. '''38. Hoàng Thục (黄秫)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị tâm phiền, cầm mồ hôi. Rễ mọc giống rễ cây Đồng (Paulownia). '''39. Hoàng Biện (黄辩)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị sán khí, tích tụ trong bụng (hàn hà), loét miệng, thương tổn vùng rốn. Tên khác là Kinh biện. '''40. Tử Cấp (紫给)''' *Biệt lục viết: Vị mặn. Chủ trị độc phong gây đau đầu, tiêu chảy tiết tả. Tên khác là Dã quỳ. Mọc ở vùng đất thấp dưới gò cao. Hái rễ vào ngày 3 tháng 3, rễ giống Ô đầu (Aconitum carmichaelii). '''41. Tử Lam (紫蓝)''' *Biệt lục viết: Vị mặn, không độc. Chủ trị ngộ độc do ăn thịt, có thể tiêu trừ được. '''42. Phân Lam (粪蓝)''' *Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị ngứa mình, mụn nhọt, hói trắng, lở sơn, dùng nấu nước rửa. Mọc ở Phòng Lăng. '''43. Ba Chu (巴朱)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị hàn khí nghịch lên, băng huyết đới hạ. Mọc ở Lạc Dương. '''44. Thất Tử (七紫)''' *Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị đau bụng dưới, lợi tiểu tiện, phá tích tụ, nuôi dưỡng cơ bắp, dùng lâu nhẹ mình trường thọ. Mọc ở Oan Cú. Hái vào tháng 2 và tháng 7. '''45. Văn Thạch (文石)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt. Chủ trị nóng rét, tâm phiền. Tên khác là Thử thạch. Mọc dưới nước vùng núi đầm Đông Quận, có năm màu, nhựa nhuận. '''46. Lộ Thạch (路石)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, chua, không độc. Chủ trị vùng tâm phúc, cầm mồ hôi, sinh cơ, trị vết sẹo do rượu (tửu gia), ích khí chịu lạnh, làm chắc xương tủy. Tên khác là Lăng thạch. Mọc trên đá cỏ, trời mưa thì khô, nắng lên thì ướt, hoa vàng thân đỏ đen, ba năm mới có quả một lần, đỏ như hạt mè. Hái thân lá vào tháng 5 và tháng 10, phơi khô trong râm. '''47. Khoáng Thạch (旷石)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí dưỡng thần, trừ nhiệt chỉ khát. Mọc ở Giang Nam, giống như Thạch thảo. '''48. Bại Thạch (败石)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị khát, tê bại. '''49. Thạch Kịch (石剧)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chỉ khát, trị tiêu khát (tiêu trung). '''50. Thạch Vân (石芸)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị đau mắt, chảy nước mắt, nóng rét, xuất huyết. Tên khác là Thích liệt, Cố trác. Hái thân lá vào tháng 3 và tháng 5, phơi khô trong râm. '''51. Trúc Phó (竹付)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Giảm đau, trừ huyết ứ. '''52. Bí Ác (秘恶)''' *Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị tà khí ở gan. Tên khác là Đỗ phùng. '''53. Lư Tinh (卢精)''' *Biệt lục viết: Tính bình. Trị trúng độc do sâu bọ. Mọc ở Ích Châu. '''54. Đường Di (唐夷)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị gãy xương, trật khớp. '''55. Tri Trượng (知杖)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Trị sán khí. '''56. Hà Tiễn (河煎)''' *Biệt lục viết: Vị chua. Chủ trị kết khí, ung nhọt ở vùng cổ họng. Mọc ở trong biển. Hái vào tháng 8 và tháng 9. '''57. Khu Dư (区余)''' *Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị nhiệt ở tâm phúc, bí tiểu (lôn). '''58. Vương Minh (王明)''' *Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị thân thể phát nhiệt do tà khí, trẻ em sốt dùng để tắm. Mọc ở thung lũng. Tên khác là Vương thảo. '''59. Sư Hệ (师系)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị ung thũng loét xấu, nấu nước rửa. Tên khác là Thần Nghiêu, Cự cốt, Quỷ ba. Mọc ở vùng bình nguyên đầm lầy. Hái vào tháng 8. '''60. Tịnh Khổ (并苦)''' *Biệt lục viết: Chủ trị ho nghịch khí lên, ích phổi khí, an ngũ tạng. Tên khác là Vực hương, Ngọc kinh. Hái vào tháng 3, phơi khô trong râm. Chữ 蜮 phát âm là "Vực" (huò). '''61. Tác Thiên (索千)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị bệnh ở tai. Tên khác là Mã nhĩ (Xanthium sibiricum - Ké đầu ngựa, tuy nhiên ở đây có thể là một loài khác cùng tên). '''62. Lương Đạt (良达)''' *Biệt lục viết: Chủ trị đau răng, chỉ khát nhẹ mình. Mọc ở núi ẩm, thân dây leo, lớn như lá quỳ, hạt trơn nhỏ. '''63. Dực Cộng (弋共)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị kinh sợ do tà khí, thương hàn, đau bụng, gầy yếu, có tà khí trong da, tay chân lạnh ngắt không có sắc máu. Mọc ở thung lũng Ích Châu. Ghét con gián (phỉ liêm). '''64. Thuyền Hồng (舩虹)''' *Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị hạ khí, cầm phiền mãn. Có thể làm nước tắm, thuốc có màu vàng. Mọc ở Thục quận. Thu hái vào ngày Lập thu. '''65. Cô Hoạt (姑活)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị tà khí đại phong, thấp tý hàn thống, uống lâu nhẹ mình ích khí, chống lão hóa. Tên khác là Đông quỳ tử (Semina Malvae). Mọc ở Hà Đông. *Hoằng Cảnh nói: Thuốc này không dùng đến, nhưng có bài Cố hoạt hoàn, chính là tên khác của Dã cát. Đông quỳ này cũng không phải là hạt rau Đông quỳ ăn được. *Cung nói: Bản khác gọi là Kê tinh. '''66. Bạch Nữ Tràng (白女肠)''' *Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị tiêu chảy, lỵ, đau tim, phá sán khí tích tụ. Mọc ở thung lũng núi sâu, lá như lá chàm, quả đỏ; loại Xích nữ tràng cũng có tác dụng tương tự. '''67. Bạch Phiến Căn (白扇根)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị sốt rét, da dẻ nóng rét, ra mồ hôi, giúp thay đổi sắc diện. '''68. Hoàng Bạch Chi (黄白支)''' *Biệt lục viết: Mọc ở gò núi. Hái rễ vào tháng 3, tháng 4, phơi khô. '''69. Phụ Bế Căn (父陛根)''' *Biệt lục viết: Vị cay, có độc. Dùng để chườm nóng (ủi) ung thũng, trướng ngoài da. Tên khác là Cao ngư, Tử tảo. '''70. Giới Phách Phúc (疥拍腹)''' *Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị nhẹ mình, trị tê bại. Hái vào tháng 5, phơi khô trong râm. '''71. Ngũ Mẫu Ma (五母麻)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, có độc. Chủ trị yếu liệt tê bại, đi đứng không tiện, hạ lỵ. Tên khác là Lộc ma, Quy trạch ma, Thiên ma, Nhược thảo. Mọc ở đồng ruộng. Hái vào tháng 5. *Thời Trân nói: Loại cây Sung úy (Leonurus japonicus) có hoa trắng cũng gọi là Thiên ma thảo. '''72. Ngũ Sắc Phù (五色符)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính hơi ấm. Chủ trị ho nghịch, tà khí ngũ tạng, điều trung ích khí, sáng mắt diệt trùng. Thanh phù, Bạch phù, Xích phù, Hắc phù, Hoàng phù tùy theo màu mà bổ vào tạng đó. Bạch phù tên khác là Nữ mộc, mọc ở thung lũng núi Ba Sơn. '''73. Cứu Xá Nhân Giả (救赦人者)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Chủ trị sán khí, tê bại, thông khí, các chứng hư tổn. Mọc ở nơi người ở, cung thất. Hái vào tháng 5 và tháng 10, phơi khô. '''74. Thường Lại Chi Sinh (常吏之生)''' *Biệt lục viết (Thục bản chép chữ "Lại" 吏 thành chữ "Canh" 更): Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị sáng mắt. Quả có gai, to như hạt lúa. '''75. Tái (载)''' *Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị các loại ác khí. '''76. Khánh (庆)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị ho. '''77. Hộ (腂)''' (Phát âm là Hộ - hù wǎ)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị ích khí kéo dài tuổi thọ. Mọc trong thung lũng. Màu trắng vân thẳng, hái vào tháng 10. '''78. Giới (芥)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị tiêu khát, cầm máu, trị đờm ở phụ nữ, trừ tê bại. Tên khác là Lê. Lá như cây Đại thanh (Isatis tinctoria). {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] 0jdj54rrmjnz4clwvow0k8as42uv86c 204527 204526 2026-04-03T07:48:47Z Mrfly911 2215 204527 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/名醫別錄 | năm= 1596 | phần = Danh y biệt lục | trước= [[../Thảo 11|Thảo 11]] | sau= [[../Cốc 1|Cốc 1]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==DANH Y BIỆT LỤC - 78 VỊ THUỐC== ('''Lưu ý:''' Nhiều vị thuốc trong danh sách này là "cổ dược" đã thất truyền hoặc hình dạng không rõ ràng, ngay cả Lý Thời Trân đời Minh cũng ghi nhận điều này. Tên khoa học (Latin) được thêmn cho các vị có thể định danh chính xác.)''' '''1. Ly Lâu Thảo (离楼草)''' *Biệt lục viết: Vị mặn, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí lực, giúp sinh nhiều con (đa tử), nhẹ mình, tăng tuổi thọ. Mọc ở Thường Sơn, hái quả vào tháng 7, tháng 8. '''2. Thần Hộ Thảo (神护草)''' *Biệt lục viết: Mọc ở phía bắc Thường Sơn. Hái vào tháng 8. Có thể dùng để giữ nhà một mình, quát mắng người khác, khiến trộm cướp không dám vào cửa. *Thời Trân nói: Sách Vật loại chí gọi là Hộ môn thảo, tên khác là Linh thảo. Người phương ấy đặt trên cửa, áo người đi ngang qua quẹt vào, cỏ tất phát ra tiếng quát. Thơ Vương Quân có câu: "Sương bị thủ cung hòe, phong kinh hộ môn thảo" chính là nó vậy. Nhưng không mô tả hình dáng, thật đáng tiếc thay. '''3. Hoàng Hộ Thảo (黄护草)''' *Biệt lục viết: Không độc. Chủ trị chứng tê bại (tý), ích khí, giúp người ta thèm ăn. Mọc ở Lũng Tây. '''4. Tước Y Thảo (雀医草)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, rửa các vết loét chảy mủ, trị phong thủy. Tên khác là Bạch khí. Mùa xuân mọc, mùa thu hoa trắng, mùa đông quả đen. '''5. Mộc Cam Thảo (木甘草)''' *Biệt lục viết: Chủ trị ung thũng nhiệt thịnh, nấu nước để rửa. Mọc ở kẽ cây, tháng 3 nảy mầm, lá to như hình rắn, bốn lá mọc đối xứng. Chỉ cần bẻ cành trồng là sống. Tháng 5 hoa trắng, quả có hạt màu đỏ. Hái vào ngày 3 tháng 3. '''6. Ích Quyết Thảo (益决草)''' *Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị ho do tổn thương phổi. Mọc ở vùng núi ẩm (Sơn Âm). Rễ giống Tế tân (Asarum herb). '''7. Cửu Thục Thảo (九熟草)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị gây ra mồ hôi, cầm tiêu chảy, trị bứt rứt (muộn). Tên khác là Ô túc, Tước túc. Mọc trong sân nhà, lá như lá táo, một năm chín lần chín quả. Hái vào tháng 7. '''8. Đoái Thảo (兑草)''' *Biệt lục viết: Vị chua, tính bình, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, trường thọ. Mùa đông sinh trưởng, là loại dây leo trên cây gỗ, lá vàng có lông. '''9. Dị Thảo (异草)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị yếu liệt tê bại (ủy tý), hàn nhiệt, tẩy nốt ruồi đen. Mọc trên bờ rào, lá như lá quỳ, cạnh thân có sừng, nhựa trắng. '''10. Quán Thảo (灌草)''' *Biệt lục viết: Tên khác là Thử can (gan chuột). Lá trơn, màu xanh trắng. Chủ trị ung thũng. '''11. Kỷ Thảo (䒻草)''' *Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị vết thương do kim khí. Chữ 䒻 phát âm là "Kỷ" (qǐ). '''12. Sân Thảo (莘草)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị vết thương nặng, tê sưng. Mọc ở vùng núi đầm, giống Bồ hoàng (Pollen Typhae), lá giống rau cải. '''13. Anh Thảo Hoa (英草华)''' *Biệt lục viết: Vị cay, tính bình, không độc. Chủ trị khí tê (tý khí), cường âm, trị bệnh hoàng đản do lao lực tình dục (nữ lao đản), giải phiền, chắc gân xương. Trị phong đầu, có thể làm thuốc gội đầu. Mọc leo trên cây gỗ. Tên khác là Lộc anh. Hái vào tháng 9, phơi khô trong râm. '''14. Phong Hoa (封华)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Chủ trị ghẻ lở, nuôi dưỡng cơ thịt, tẩy thịt thối. Hái vào ngày Hạ chí. '''15. Điển Hoa (㥏华)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị nghịch khí (thượng khí), giải phiền, chắc gân xương. '''16. Tiết Hoa (节华)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị thương trung, yếu liệt tê bại, phù thũng. Vỏ chủ trị nhiệt khí xâm nhập trong tỳ. Tên khác là Sơn tiết, Đạt tiết, Thông tất. Hái vào tháng 10, phơi khô. '''17. Nhượng Thực (让实)''' *Biệt lục viết: Vị chua. Chủ trị hầu tý (đau họng), cầm tiêu chảy, lỵ. Hái vào tháng 10, phơi khô trong râm. '''18. Dương Thực (羊实)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh. Chủ trị hói đầu, vết loét xấu, ghẻ ngứa, vảy nến. Mọc ở Thục quận. '''19. Tang Kinh Thực (桑茎实)''' *Biệt lục viết: Vị chua, tính ấm, không độc. Chủ trị các bệnh hậu sản sau khi sinh và cho con bú. Nhẹ mình ích khí. Tên khác là Thảo vương. Lá như lá tía tô (nhậm). Thân vuông lá to. Mọc trong vườn. Hái vào tháng 10. '''20. Khả Tụ Thực (可聚实)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, sáng mắt. Tên khác là Trường thọ. Mọc trên đường núi rừng, bông như lúa mạch, lá như lá ngải cứu. Hái vào tháng 5. '''21. Bồ Âm Thực (蒲阴实)''' *Biệt lục viết: Vị chua, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí, trừ nhiệt, chỉ khát, lợi tiểu, nhẹ mình trường thọ. Mọc ở núi sâu và trong vườn, thân như rau cải, lá nhỏ, quả như quả anh đào. Chín vào tháng 7. Chân Quyền nói: Dây leo như dưa. '''22. Mã Điên (马颠)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Trị phù thũng. Không được ăn nhiều. '''23. Mã Phùng (马逢)''' *Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị nấm tổ đỉa, ký sinh trùng. '''24. Thỏ Tảo (兔枣)''' *Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí. Mọc ở vùng gò đống Đan Dương, cao khoảng một thước, quả như quả táo. '''25. Lộc Lương (鹿良)''' *Biệt lục viết: Vị mặn, mùi hôi. Chủ trị trẻ em kinh giản, khí nghịch (bôn đồn), co giật; người lớn bị uốn ván (kinh). Hái vào tháng 5. '''26. Kê Niết (鸡湼)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị sáng mắt, trúng phong hàn, các chứng hư tổn, thủy thũng, tà khí, bổ trung, cầm tiêu chảy lỵ, trị phụ nữ ra khí hư trắng (bạch ốc). Tên khác là Âm lạc. Mọc ở núi Kê Sơn. Hái không kể thời gian. '''27. Tây Lạc (犀洛)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị chứng bí tiểu (lôn tật). Tên khác là Tinh lạc, Nê lạc. '''28. Tước Mai (雀梅) - Sageretia theezans *Biệt lục viết: Vị chua, tính lạnh, có độc. Chủ trị vết loét ăn sâu (thực ác sang). Tên khác là Thiên tước. Mọc ở kẽ đá ven biển. *Hoàng Cảnh nói: Lá và quả đều giống Mạch lý (Prunus humilis). '''29. Yến Sỉ (燕齿)''' *Biệt lục viết: Chủ trị trẻ em kinh giản, nóng rét (hàn nhiệt). Hái vào ngày 5 tháng 5. '''30. Thổ Sỉ (土齿)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị nhẹ mình, ích khí trường thọ. Mọc ở vùng gò đống, hình trạng như răng ngựa. '''31. Kim Kinh (金茎)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị vết thương do kim khí gây rò bên trong. Tên khác là Diệp kim thảo. Mọc ở chỗ cao vùng đầm lầy. '''32. Bạch Bối (白背)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị nóng rét, rửa vết loét xấu, ghẻ lở. Mọc ở gò núi, rễ giống Tử uy (Campsis grandiflora), lá giống Yến lư. Hái không kể thời gian. '''33. Thanh Cái (青雌)''' *Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị vết loét xấu, hói đầu, vết bỏng, diệt ký sinh trùng (tam trùng). Tên khác là Trùng tổn, Mạnh thôi. Mọc ở thung lũng núi Phương Sơn. '''34. Bạch Tân (白辛)''' *Biệt lục viết: Vị cay, có độc. Chủ trị nóng rét. Tên khác là Thoát vĩ, Dương thảo. Mọc ở núi Sở Sơn. Hái vào tháng 3, rễ trắng và thơm. '''35. Xích Cử (赤举)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị đau bụng. Tên khác là Dương di, Lăng khát. Mọc ở núi ẩm, tháng 2 hoa nhọn mọc trên dây leo, tháng 5 quả đen có hạt. Hái lá vào ngày 3 tháng 3, phơi khô trong râm. '''36. Xích Niết (赤涅)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị chứng đổ máu cam, băng huyết, cầm máu ích khí. Mọc ở nơi ẩm ướt dưới bóng đá núi Thục quận. Hái không kể thời gian. '''37. Xích Hách (赤赫)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, có độc. Chủ trị ghẻ loét, vết thương hoại tử, trừ ký sinh trùng và tà khí. Mọc ở vùng sông núi Ích Châu. Hái vào tháng 2 và tháng 8. '''38. Hoàng Thục (黄秫)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị tâm phiền, cầm mồ hôi. Rễ mọc giống rễ cây Đồng (Paulownia). '''39. Hoàng Biện (黄辩)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị sán khí, tích tụ trong bụng (hàn hà), loét miệng, thương tổn vùng rốn. Tên khác là Kinh biện. '''40. Tử Cấp (紫给)''' *Biệt lục viết: Vị mặn. Chủ trị độc phong gây đau đầu, tiêu chảy tiết tả. Tên khác là Dã quỳ. Mọc ở vùng đất thấp dưới gò cao. Hái rễ vào ngày 3 tháng 3, rễ giống Ô đầu (Aconitum carmichaelii). '''41. Tử Lam (紫蓝)''' *Biệt lục viết: Vị mặn, không độc. Chủ trị ngộ độc do ăn thịt, có thể tiêu trừ được. '''42. Phân Lam (粪蓝)''' *Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị ngứa mình, mụn nhọt, hói trắng, lở sơn, dùng nấu nước rửa. Mọc ở Phòng Lăng. '''43. Ba Chu (巴朱)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị hàn khí nghịch lên, băng huyết đới hạ. Mọc ở Lạc Dương. '''44. Thất Tử (七紫)''' *Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị đau bụng dưới, lợi tiểu tiện, phá tích tụ, nuôi dưỡng cơ bắp, dùng lâu nhẹ mình trường thọ. Mọc ở Oan Cú. Hái vào tháng 2 và tháng 7. '''45. Văn Thạch (文石)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt. Chủ trị nóng rét, tâm phiền. Tên khác là Thử thạch. Mọc dưới nước vùng núi đầm Đông Quận, có năm màu, nhựa nhuận. '''46. Lộ Thạch (路石)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, chua, không độc. Chủ trị vùng tâm phúc, cầm mồ hôi, sinh cơ, trị vết sẹo do rượu (tửu gia), ích khí chịu lạnh, làm chắc xương tủy. Tên khác là Lăng thạch. Mọc trên đá cỏ, trời mưa thì khô, nắng lên thì ướt, hoa vàng thân đỏ đen, ba năm mới có quả một lần, đỏ như hạt mè. Hái thân lá vào tháng 5 và tháng 10, phơi khô trong râm. '''47. Khoáng Thạch (旷石)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí dưỡng thần, trừ nhiệt chỉ khát. Mọc ở Giang Nam, giống như Thạch thảo. '''48. Bại Thạch (败石)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị khát, tê bại. '''49. Thạch Kịch (石剧)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chỉ khát, trị tiêu khát (tiêu trung). '''50. Thạch Vân (石芸)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị đau mắt, chảy nước mắt, nóng rét, xuất huyết. Tên khác là Thích liệt, Cố trác. Hái thân lá vào tháng 3 và tháng 5, phơi khô trong râm. '''51. Trúc Phó (竹付)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Giảm đau, trừ huyết ứ. '''52. Bí Ác (秘恶)''' *Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị tà khí ở gan. Tên khác là Đỗ phùng. '''53. Lư Tinh (卢精)''' *Biệt lục viết: Tính bình. Trị trúng độc do sâu bọ. Mọc ở Ích Châu. '''54. Đường Di (唐夷)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị gãy xương, trật khớp. '''55. Tri Trượng (知杖)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Trị sán khí. '''56. Hà Tiễn (河煎)''' *Biệt lục viết: Vị chua. Chủ trị kết khí, ung nhọt ở vùng cổ họng. Mọc ở trong biển. Hái vào tháng 8 và tháng 9. '''57. Khu Dư (区余)''' *Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị nhiệt ở tâm phúc, bí tiểu (lôn). '''58. Vương Minh (王明)''' *Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị thân thể phát nhiệt do tà khí, trẻ em sốt dùng để tắm. Mọc ở thung lũng. Tên khác là Vương thảo. '''59. Sư Hệ (师系)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị ung thũng loét xấu, nấu nước rửa. Tên khác là Thần Nghiêu, Cự cốt, Quỷ ba. Mọc ở vùng bình nguyên đầm lầy. Hái vào tháng 8. '''60. Tịnh Khổ (并苦)''' *Biệt lục viết: Chủ trị ho nghịch khí lên, ích phổi khí, an ngũ tạng. Tên khác là Vực hương, Ngọc kinh. Hái vào tháng 3, phơi khô trong râm. Chữ 蜮 phát âm là "Vực" (huò). '''61. Tác Thiên (索千)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị bệnh ở tai. Tên khác là Mã nhĩ (Xanthium sibiricum - Ké đầu ngựa, tuy nhiên ở đây có thể là một loài khác cùng tên). '''62. Lương Đạt (良达)''' *Biệt lục viết: Chủ trị đau răng, chỉ khát nhẹ mình. Mọc ở núi ẩm, thân dây leo, lớn như lá quỳ, hạt trơn nhỏ. '''63. Dực Cộng (弋共)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị kinh sợ do tà khí, thương hàn, đau bụng, gầy yếu, có tà khí trong da, tay chân lạnh ngắt không có sắc máu. Mọc ở thung lũng Ích Châu. Ghét con gián (phỉ liêm). '''64. Thuyền Hồng (舩虹)''' *Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị hạ khí, cầm phiền mãn. Có thể làm nước tắm, thuốc có màu vàng. Mọc ở Thục quận. Thu hái vào ngày Lập thu. '''65. Cô Hoạt (姑活)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị tà khí đại phong, thấp tý hàn thống, uống lâu nhẹ mình ích khí, chống lão hóa. Tên khác là Đông quỳ tử (Semina Malvae). Mọc ở Hà Đông. *Hoằng Cảnh nói: Thuốc này không dùng đến, nhưng có bài Cố hoạt hoàn, chính là tên khác của Dã cát. Đông quỳ này cũng không phải là hạt rau Đông quỳ ăn được. *Cung nói: Bản khác gọi là Kê tinh. '''66. Bạch Nữ Tràng (白女肠)''' *Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị tiêu chảy, lỵ, đau tim, phá sán khí tích tụ. Mọc ở thung lũng núi sâu, lá như lá chàm, quả đỏ; loại Xích nữ tràng cũng có tác dụng tương tự. '''67. Bạch Phiến Căn (白扇根)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị sốt rét, da dẻ nóng rét, ra mồ hôi, giúp thay đổi sắc diện. '''68. Hoàng Bạch Chi (黄白支)''' *Biệt lục viết: Mọc ở gò núi. Hái rễ vào tháng 3, tháng 4, phơi khô. '''69. Phụ Bế Căn (父陛根)''' *Biệt lục viết: Vị cay, có độc. Dùng để chườm nóng (ủi) ung thũng, trướng ngoài da. Tên khác là Cao ngư, Tử tảo. '''70. Giới Phách Phúc (疥拍腹)''' *Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị nhẹ mình, trị tê bại. Hái vào tháng 5, phơi khô trong râm. '''71. Ngũ Mẫu Ma (五母麻)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, có độc. Chủ trị yếu liệt tê bại, đi đứng không tiện, hạ lỵ. Tên khác là Lộc ma, Quy trạch ma, Thiên ma, Nhược thảo. Mọc ở đồng ruộng. Hái vào tháng 5. *Thời Trân nói: Loại cây Sung úy (Leonurus japonicus) có hoa trắng cũng gọi là Thiên ma thảo. '''72. Ngũ Sắc Phù (五色符)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính hơi ấm. Chủ trị ho nghịch, tà khí ngũ tạng, điều trung ích khí, sáng mắt diệt trùng. Thanh phù, Bạch phù, Xích phù, Hắc phù, Hoàng phù tùy theo màu mà bổ vào tạng đó. Bạch phù tên khác là Nữ mộc, mọc ở thung lũng núi Ba Sơn. '''73. Cứu Xá Nhân Giả (救赦人者)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Chủ trị sán khí, tê bại, thông khí, các chứng hư tổn. Mọc ở nơi người ở, cung thất. Hái vào tháng 5 và tháng 10, phơi khô. '''74. Thường Lại Chi Sinh (常吏之生)''' *Biệt lục viết (Thục bản chép chữ "Lại" 吏 thành chữ "Canh" 更): Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị sáng mắt. Quả có gai, to như hạt lúa. '''75. Tái (载)''' *Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị các loại ác khí. '''76. Khánh (庆)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị ho. '''77. Hộ (腂)''' (Phát âm là Hộ - hù wǎ)''' *Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị ích khí kéo dài tuổi thọ. Mọc trong thung lũng. Màu trắng vân thẳng, hái vào tháng 10. '''78. Giới (芥)''' *Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị tiêu khát, cầm máu, trị đờm ở phụ nữ, trừ tê bại. Tên khác là Lê. Lá như cây Đại thanh (Isatis tinctoria). ===BẢN THẢO THẬP DI (13 VỊ)=== ====1. Trấm Điểu Tương (鸩鸟浆)==== *Tàng Khí nói: Mọc dưới tán cây rừng vùng Giang Nam, cao 1-2 thước, mặt dưới lá màu tím, mùa đông không rụng, có quả đỏ như hạt châu. Vị ngọt, tính ấm, không độc. Có thể giải được các loại độc, nên có tên như vậy (Trấm là loài chim cực độc, "Tương" nghĩa là dịch chất/thuốc giải). Người miền núi ngâm rượu uống để trị phong huyết và cơ thể gầy yếu ở người già. *Tô Tụng nói: Trấm Điểu Uy mọc ở vùng sơn dã Tín Châu. Mùa xuân mọc lá xanh, tháng 9 có hoa như rau Bồng hào, hoa màu vàng nhạt, không kết quả. Trị ung thũng, mụn nhọt độc. Thu hái không kể thời gian. ====2. Thất Tiên Thảo (七仙草)==== *Tàng Khí nói: Mọc ở chân núi. Lá nhọn, nhỏ và dài. Chủ trị các vết thương do gậy gộc đánh (trượng sang), giã cành lá đắp lên. ====3. Cát Tường Thảo (吉祥草) - Reineckia carnea==== *Tàng Khí nói: Mọc ở nước Tây Thục, do người Hồ mang đến. Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị sáng mắt, tăng cường trí nhớ, bổ tâm lực. *Thời Trân nói: Người nay trồng một loại cỏ, lá như lan Chương Châu, bốn mùa xanh tươi, mùa hạ nở hoa tím thành bông, dễ sinh sôi, cũng gọi là Cát tường thảo. Nhưng đó không phải là vị Cát tường thảo này. ====4. Kê Cước Thảo (鸡脚草)==== *Tàng Khí nói: Mọc bên cạnh đầm lầy, thân đỏ, lá mọc đối, trông như mầm cây Bách hợp. Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị các chứng kiết lỵ đỏ trắng lâu ngày dẫn đến cam tích. ====5. Thố Can Thảo (兔肝草)==== *Tàng Khí nói: Lúc mới mọc lá nhỏ, mềm như gan thỏ. Tên khác là Kê can (gan gà). Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị vết thương do kim khí (kim sang), cầm máu, sinh cơ, giải nhiệt do uống các loại khoáng thạch (đan thạch). ====6. Đoạn Quán Thảo (断罐草)==== *Tàng Khí nói: Chủ trị mụn nhọt độc (đinh sang). Phối hợp với rau Bạch nha lệ (tức rễ cây Dương đề - Rumex japonicus), Bán hạ (Pinellia ternata), Địa cốt bì (Cortex Lycii), rêu xanh, tổ ong, tóc trẻ con, vải lụa đỏ, các vị lượng bằng nhau. Đốt thành tro vào ngày 5 tháng 5. Mỗi lần dùng nước ấm uống một tiền (khoảng 3-4g). Có thể nhổ được tận gốc mụn. Chữ "Lệ" (荲) âm là "Súc", tức là rễ cây Dương đề. ====7. Thiên Kim Cách Thảo (千金镉草)==== *Tàng Khí nói: Mọc ở Giang Nam, cao 2-3 thước. Chủ trị độc do rắn, bọ cạp và sâu bọ cắn. Giã đắp lên vết thương giúp sinh da thịt, giảm đau. ====8. Thổ Lạc Thảo (土落草)==== *Tàng Khí nói: Mọc ở thung lũng vùng Lĩnh Nam, lá nhỏ dài. Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị bụng lạnh đau (phúc lãnh khí thống), trưng hà tích tụ. Sắc với rượu uống, hoặc giã lấy nước cốt hâm nóng mà uống. ====9. Y Đãi Thảo (倚待草)==== *Tàng Khí nói: Mọc ở thung lũng núi Như An, Quế Châu. Lá tròn, cao 2-3 thước. Hái vào tháng 8. Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị huyết khí hư lao, lưng gối đau yếu, phong tê liệt (phong hoãn), gầy mòn, sắc mặt kém, tuyệt dương không có con, huyết cũ (lão huyết) ở phụ nữ. Ngâm rượu uống, đuổi bệnh cực nhanh, nên có tên là "Y Đãi" (nghĩa là chờ đợi dựa dẫm vào nó). ====10. Dược Vương Thảo (药王草)==== *Tàng Khí nói: Mầm và thân màu xanh, lá khi ngắt ra có nhựa trắng như sữa. Vị ngọt, tính bình, không độc. Giải được tất cả các loại độc, cầm máu cam, thổ huyết, trừ phiền táo. ====11. Cân Tử Căn (筋子根)==== *Tàng Khí nói: Mọc ở núi Tứ Minh, mầm cao hơn một thước, lá tròn dày và bóng láng, mùa đông không rụng, rễ to như ngón tay. Tên khác là Căn tử. Vị đắng, tính ấm, không độc. Chủ trị đau bụng (tâm phúc thống) bất kể nóng lạnh hay bệnh mới cũ, trị khí độc ác quỷ xâm nhập gây đau nhói, hoắc loạn, trúng độc cổ, đi ngoài ra máu đột ngột. Mài với rượu mà uống. *Tô Tụng nói: Căn tử mọc trong núi Uy Châu. Vị đắng, cay, tính ấm. Chủ trị các khối kết trong tim, khí tích tụ lâu ngày đánh xuống đau vùng dưới rốn. ====12. Ngáp Dược (廅药)==== *Tàng Khí nói: Mọc ở vùng đất người Hồ, giống cỏ Mao khô, màu vàng đỏ. Vị mặn, tính ấm, không độc. Chủ trị chấn thương gãy xương, tổn thương nội tạng gây ứ máu, giúp liền da, giảm đau, trị bệnh ngũ tạng, trừ tà khí, bổ hư tổn, các bệnh về máu sau sinh. Sắc nước uống hoặc giã đắp vết thương. *Thời Trân nói: Sách Ngoại đài bí yếu ghi: Trị ngã ngựa tổn thương bên trong, lấy một lạng bột Ngáp dược, một chén sữa bò, sắc uống. ====13. Vô Phong Độc Diêu Thảo (无风独摇草)==== *Biệt lục nói: Mọc ở nước Đại Tần và vùng Lĩnh Nam, hái vào ngày 5 tháng 5, ở các vùng sơn dã cũng thường có. Đầu như hạt đạn, đuôi như đuôi chim, hai phiến đóng mở, thấy người thì tự động, nên gọi là "Độc diêu" (tự rung rinh dù không có phong). Tính ấm, bình, không độc. Chủ trị phong chạy ngoài da vùng đầu mặt (du phong), ngứa khắp thân, nấu nước tắm rửa. *Tàng Khí nói: Mang theo bên mình khiến vợ chồng yêu thương nhau. *Thời Trân nói: Khương hoạt, Thiên ma, Quỷ cửu, Vi hàm bốn vị này đều có tên là Vô phong độc diêu thảo, nhưng vật chất khác nhau. Sách Dậu dương tạp trở của Đoạn Thành Thức nói: Nhã Châu có cây Vũ thảo (cỏ múa), một thân ba lá, lá giống Quyết minh, một lá ở đầu cành, hai lá đối nhau ở giữa thân. Người lại gần hát xướng hoặc vỗ tay thì lá động như múa. Xét thấy đây chính là cây Ngu mỹ nhân thảo (Papaver rhoeas), cũng thuộc loại không gió mà tự rung. Lại xét: Sơn hải kinh chép: Núi Cô Diêu, con gái Đế chết ở đó hóa thành cỏ Dao. Lá chồng lên nhau, hoa vàng, quả như Tơ hồng. Ăn vào khiến người ta yêu mến. Quách Phác chú giải: Tên khác là Hoang phu thảo. Thuyết này tương đồng với lời Trần Tàng Khí nói về việc mang theo sẽ yêu thương nhau, há chẳng phải cùng một vật sao? ===HẢI DƯỢC BẢN THẢO (ĐỜI ĐƯỜNG)=== ====Nghi Nam Thảo (宜南草)==== *Lý Tuân nói: Mọc ở thung lũng Quảng Nam. Có quả đậu dài khoảng 2 thước, bên trong có lớp màng mỏng như giấy, kích thước như cánh ve. Chủ trị tà khí. Trẻ nhỏ (nam và nữ) dùng túi lụa đỏ đựng rồi đeo trên cánh tay để trừ tà, ngăn kinh sợ. Cỏ này mọc ở phương Nam nên có tên như vậy (Nghi Nam). Khác với cây Nghi nam (tên khác của cây Hoa hiên/Tuyên thảo). ===TỐNG - KHAI BẢO BẢN THẢO (宋《開寶本草》)=== (1 vị) '''Đà Đắc Hoa (陀得花)''' *Chí viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị tất cả các chứng phong huyết, ngâm rượu uống. Mọc ở Tây Vực, người Hồ mang đến. Người Hồ hái hoa này để luyện rượu, gọi là Tam Lặc Tương (một loại rượu lên men từ dược liệu). ===TỐNG - ĐỒ KINH NGOẠI LOẠI (宋《圖經》外類)=== (20 vị) '''1. Kiến Thủy Thảo (建水草)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Phúc Châu. Cành lá giống cây Dâu tằm (Morus alba), bốn mùa thường xanh. Dân địa phương hái lá sấy khô tán bột, uống với rượu ấm, trị chứng phong chạy khắp người (tẩu chú phong). '''2. Bách Dược Tổ (百藥祖)''' *Tô Tụng viết: Mọc trong núi Thiên Thai, đông hè thường xanh. Dân địa phương hái lá vào mùa đông, trị phong rất hiệu quả. '''3. Thôi Phong Sứ (催風使)''' *Tô Tụng viết: Mọc trong núi Thiên Thai, đông hè thường xanh. Dân địa phương hái lá vào mùa thu, trị phong rất hiệu quả. *Thời Trân nói: Ngũ gia bì (Cortex Acanthopanacis) cũng có tên gọi khác là Thôi Phong Sứ. '''4. Thứ Hổ (刺虎) - Damnacanthus indicus Gaertn. f. *Tô Tụng viết: Mọc ở Mục Châu, mùa đông giá rét không rụng lá. Hái rễ, lá, cành làm thuốc. Vị ngọt. Chủ trị tất cả các chứng sưng đau và phong tật. Thái nhỏ sấy khô tán bột, uống 1 tiền với rượu. *Thời Trân nói: Sách Thọ vực phương trị chứng đan lưu (viêm da đỏ) dùng Hổ Thứ (tức Thọ tinh thảo), giã lấy nước bôi. Lại có cây Phục ngưu hoa, tên khác là Cách hổ thứ. '''5. Thạch Tiêu Diêu Thảo (石逍遙草)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Thường Châu, đông hè thường có, không hoa quả. Vị đắng, tính hơi hàn, không độc. Chủ trị các chứng bại liệt, trúng phong, tay chân không cử động được. Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với rượu, ngày 2 lần, trăm ngày thì khỏi. Uống lâu giúp ích khí nhẹ mình. Mới uống có cảm giác hơi ngứa. '''6. Hoàng Liêu Lang (黃寮郎)''' *Tô Tụng viết: Mọc trong núi Thiên Thai, đông hè thường xanh. Dân địa phương hái rễ trị phong rất hiệu quả. *Thời Trân nói: Theo Y học chính truyền, Hoàng Liêu Lang tên tục là Đảo trích thứ. Trị đau cổ họng, dùng rễ mài lấy nước, thêm chút rượu, nhỏ vào là khỏi. Lại theo Y học tập thành, người đau răng lấy Đảo trích thứ đốt trên dao, lấy muội đen thấm vào bông nhét vào chỗ đau sẽ cầm đau ngay. '''7. Hoàng Hoa Liễu (黃花了)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Tín Châu, mùa xuân mọc lá xanh, tháng 3 nở hoa giống hoa rau cải, màu vàng, giữa thu kết quả. Thu hái không kể thời gian, trị các bệnh hầu họng và răng miệng rất hiệu quả. '''8. Bách Lạng Kim (百兩金) - Ardisia crispata (Thunb.) A. DC. *Tô Tụng viết: Mọc ở Nhung Châu, Hà Trung Phủ, Vân An Quân. Mầm cao 2-3 thước, thân cứng như gỗ, mùa đông không rụng, lá giống lá Lệ chi (Vải), lúc mới mọc hai mặt đều xanh, sau mùa thu mặt dưới tím mặt trên xanh. Đầu thu nở hoa màu xanh biếc. Quả to bằng hạt đậu, lúc sống màu xanh, chín màu đỏ. Hái rễ không kể thời gian, bỏ lõi mà dùng. Vị đắng, tính bình, không độc. Trị ung nhiệt, cổ họng sưng đau, ngậm một đoạn rễ nuốt nước. Loại ở Hà Trung rễ đỏ như cây Mạn kinh, thân nhỏ màu xanh, tháng 4 nở hoa vàng vụn. Tháng 5 hái rễ dài khoảng 1 tấc, phơi khô dùng trị phong diên (đờm dãi do phong). '''9. Địa Cà Tử (地茄子) - Fragaria hayatae Makino (hoặc loài tương tự thuộc chi Fragaria)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Thương Châu, tháng 3 nở hoa kết hạt. Tháng 5, tháng 6 hái, phơi khô trong râm. Vị hơi cay, tính ấm, có độc nhỏ. Chủ trị trúng phong đờm dãi, tê bại, hạ nhiệt độc khí, phá tích tụ rắn chắc, lợi cách (thông lồng ngực), tiêu ung thũng nhọt độc, tán huyết, trục thai. '''10. Điền Mẫu Thảo (田母草)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Lâm Giang Quân, không hoa quả. Tháng 3 hái rễ. Tính mát. Chủ trị phiền nhiệt và phong nhiệt ở trẻ em, đặc biệt hiệu quả. '''11. Điền Ma (田麻) - Corchoropsis crenata Siebold & Zucc. *Tô Tụng viết: Mọc ở đồng ruộng và ven mương rãnh Tín Châu. Xuân hè mọc lá xanh, tháng 7 tháng 8 ra quả đậu nhỏ. Mùa đông (tháng 11) hái lá. Trị ung thũng. '''12. Giới Tâm Thảo (芥心草)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Tư Châu, dây leo màu trắng, rễ vàng. Tháng 4 hái mầm lá. Giã tán bột trị sang giới (ghẻ lở), rất hiệu quả. '''13. Khổ Giới Tử (苦芥子)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Tần Châu, mầm dài hơn 1 thước, thân xanh, lá như lá Liễu, nở hoa trắng giống hạt cây Du, hạt màu đen. Vị đắng, tính đại hàn, không độc. Làm sáng mắt, trị chứng huyết phong phiền táo. '''14. Bố Lý Thảo (布里草)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở cánh đồng Nam Ân Châu, thân cao 3-4 thước, lá giống lá Mận nhưng to hơn, đến mùa hè không hoa mà kết quả, ăn vào gây tiêu chảy. Hái vỏ rễ, sấy khô tán bột. Vị đắng, tính hàn, có độc nhỏ. Hòa với dầu bôi trị ghẻ lở, diệt côn trùng. '''15. Mão Chất Hãn (茆質汗)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Tín Châu, lá xanh hoa trắng. Tháng 7 hái rễ. Trị phong thũng và hành huyết rất hiệu quả. '''16. Hồ Cẩn Thảo (胡堇草)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở đồng ruộng núi Đông Vũ, Mật Châu. Lá giống rau Cẩn nhỏ, hoa màu tím giống hoa Kiều dao, một gốc bảy lá, hoa mọc ra từ 2-3 thân. Mùa xuân hái mầm. Vị cay, tính trơn (hoạt), không độc. Chủ trị ứ huyết trong dinh vệ ngũ tạng và cơ thịt da dẻ, chỉ thống tán huyết, giã lấy nước bôi vết thương kim khí. Phàm bị đánh đập tổn thương gân xương, ung nhọt sưng vỡ: dùng vị này cùng nhánh Tùng, Nhũ hương, tro tóc rối, than gỗ Dâu tằm cùng giã, viên bằng quả đạn. Mỗi lần uống 1 viên với rượu, cơn đau sẽ dứt ngay. '''17. Tiểu Nhi Quần (小兒群)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Thi Châu, mọc thành bụi cao khoảng 1 thước, xuân hè mọc mầm lá, không hoa, mùa đông héo. Rễ vị cay, tính mát, không độc. Dùng cùng Tả triền thảo (tức rễ cây Loa chuân - Convolvulus arvensis) sấy khô, lượng bằng nhau tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu. Trị chứng lâm (bí tiểu, tiểu buốt), không cần kiêng kỵ. '''18. Độc Cước Tiên (獨腳仙)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Phúc Châu, nơi suối âm vùng rừng núi rất nhiều. Mùa xuân mọc mầm, lá tròn, trên xanh dưới tím, cuống dài 3-4 tấc, thu đông lá rụng. Mùa hè hái cả rễ và lá, sấy khô tán bột. Sắc nửa tiền với rượu để uống. Trị chứng huyết khối ở phụ nữ. '''19. Toát Thạch Hợp Thảo (撮石合草)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở ruộng bằng Mi Châu, thân cao khoảng 2 thước, lá giống lá cây Cốc, tháng 12 nảy mầm, tháng 2 có hoa, không kết quả. Mầm vị ngọt, không độc. Tháng 2 hái, trị vết thương kim khí. '''20. Lộ Cân Thảo (露筋草)''' *Tô Tụng viết: Mọc ở Thi Châu, cây cao khoảng 3 thước, mùa xuân mọc mầm là nở hoa ngay, kết quả màu xanh biếc, bốn mùa không héo. Rễ vị cay, chát, tính mát, không độc. Chủ trị vết cắn của nhện và rết. Sấy khô nghiền bột, hòa với nước bạch phàn (phèn chua) đắp vào. ===BẢN THẢO CƯƠNG MỤC (《本草綱目》- 38 VỊ)=== '''1. Cửu Long Thảo (九龍草) - Sarcopyramis nepalensis Wall.''' * Thời Trân nói: Mọc ở bình nguyên đầm lầy, kết quả đỏ hình dáng như quả Thanh mai (Yangmei). Mầm cây giải được các loại độc, trị đau họng, giã lấy nước cốt đổ vào cổ họng. Người bị gãy xương, thương tổn gân thì giã đắp vào chỗ đau. Người bị rắn rết cắn thì giã lấy nước cốt, hòa thêm 2 tiền Hùng hoàng uống vào là hết đau ngay. * Lại có sách Ngoại khoa của Dương Thanh Sẩu chép: Chứng hầu phong trọng thiệt (sưng lưỡi), hàm răng cắn chặt, lấy Cửu Long Thảo (tên khác là Kim sai thảo), loại mọc đơn cành là tốt nhất, chỉ dùng rễ không dùng vỏ, đập nát, lấy bông bọc vào đầu đũa cọ vào hàm răng là mở ra ngay. Sau đó thọc sâu vào họng lấy đờm dãi ra. Lại đem thuốc hơ nóng, chấm thêm ít muối tra vào là khỏi. '''2. Lệ Chi Thảo (荔枝草) - Salvia plebeia R. Br.''' * Thời Trân nói: Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị rắn cắn, chó cắn và uốn ván. Lấy một nắm cỏ (khoảng 3 lạng), dùng 2 bát rượu sắc còn 1 bát uống, ra mồ hôi là hiệu quả. '''3. Thủy Ngân Thảo (水銀草)''' * Thời Trân nói: Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị mắt mờ. Mỗi lần dùng 3 tiền, thêm một ít Mộc tặc (Equisetum hyemale), 1 chén nước sắc còn 8 phần uống. '''4. Thấu Cốt Thảo (透骨草) - Phryma leptostachya L. (hoặc Impatiens balsamina L.)''' * Thời Trân nói: Trị tất cả các chứng phong thấp gân xương, đau đớn co quắp, phong chân do hàn thấp. Sách Tập hiệu phương của Tôn thị chép: Trị bệnh lệ phong (hủi), ghẻ lở khắp người. Dùng Thấu cốt thảo, Khổ sâm, Đại hoàng, Hùng hoàng mỗi vị 5 tiền. Nghiền bột sắc lấy nước, trong phòng kín dùng chiếu quây quanh, xông cho đến khi mồ hôi ra như mưa thì tắm rửa bằng nước ấy. Sách Phổ tế phương chép: Trị chứng phản vị nôn ra thức ăn. Thấu cốt thảo, Độc khoa Thương nhĩ, Mẫu lệ sống mỗi vị 1 tiền, Gừng 3 lát. Sắc uống. Sách Kinh nghiệm phương của Dương Thành chép: Trị tất cả các loại sưng độc mới phát. Dùng Thấu cốt thảo, Lậu lô, Phòng phong, Địa dư lượng bằng nhau. Sắc lấy nước, dùng bông thấm nước nóng lau rửa liên tục, 2-3 ngày là tiêu. '''5. Xà Nhãn Thảo (蛇眼草)''' * Thời Trân nói: Mọc ở giếng cổ hoặc nơi ẩm thấp lâu năm, hình dáng như lá Trúc nhạt, mặt sau lá có vòng tròn đỏ như mắt rắn. Sách Kinh nghiệm phương của Đường Dao chép: Trị rắn cắn, giã nát đắp vào chỗ đau. '''6. Nga Hạng Thảo (鵝項草)''' * Thời Trân nói: Sách Thọ vực phương chép: Trị hầu họng sinh mụn loét. Lấy hoa vị này cùng Bạch chỉ, vỏ rễ Tiêu nghiền bột thổi vào miệng mụn. '''7. Xà Ngư Thảo (蛇魚草)''' * Thời Trân nói: Đái Nguyên Lễ trong Chứng trị yếu quyết nói: Trị vết thương kim khí chảy máu không ngừng. Giã đắp vào. '''8. Cửu Lý Hương Thảo (九里香草) - Murraya exotica L.''' * Thời Trân nói: Phó Tư trong Y học tập thành chép: Trị nhọt trong bụng (độ ung). Giã nát, ngâm rượu uống. '''9. Bạch Diên Thảo (白筵草)''' * Thời Trân nói: Đây là loại cỏ thơm, sâu bọ rất sợ nó. Sách Thiên kim phương của Tôn Chân Nhân chép: Trị các loại ghẻ lở, hủi do sâu độc. Lấy rễ và lá sắc nước, cách một ngày rửa một lần. '''10. Hoàn Tràng Thảo (環腸草)''' * Thời Trân nói: Phương thuốc trong Nho môn sự thân của Trương Tử Hòa chép: Trị chứng cổ trướng (bụng to). Phơi khô sắc nước uống hàng ngày, lấy mức đi tiểu thông lợi làm độ. '''11. Trát Nhĩ Thảo (紮耳草)''' * Thời Trân nói: Vương Chấp Trung trong Tư sinh kinh dùng vị này trong phương trị chứng khí điếc. '''12. Đồng Cổ Thảo (銅鼓草)''' * Thời Trân nói: Phạm Thành Đại trong Quế hải ngu hành chí nói: Sản sinh ở Quảng Tây, quả như quả dưa, trị dương độc (loét độc). '''13. Tàm Tiễn Thảo (蠶繭草) - Polygonum japonicum Meisn.''' * Thời Trân nói: Sách Trích huyền phương chép: Trị sưng trướng. Dùng nửa cân vị này, cùng nửa cân vỏ Đông qua (bí đao), nửa cân rễ lá Tử tô, 3 lạng vỏ Gừng tươi. Sắc nước xông rửa, nằm ấm cho ra mồ hôi. Rửa 3 lần thấy nước tiểu trong và dài là chứng trướng tự lui. '''14. Dã Thược Thảo (野芕草)''' * Thời Trân nói: Sách Trích huyền phương chép: Trị chứng bĩ mãn (u cục, đầy trướng). Dùng 5 cân, lấy một nửa đặt trong chậu sành, đặt 10 quả trứng gà lên trên cỏ, lấy nửa cỏ còn lại đậy lên, đổ giấm gạo ngâm 2 đêm cho vỏ trứng mềm ra, sau đó đem hấp chín trên nồi cơm rồi ăn hết, các khối u cục sẽ dần tiêu tan. '''15. Tiêm Hà Thảo (纖霞草)''' * Thời Trân nói: Sách Kinh nghiệm phương của Trần Tốn chép: Chứng nguyên tạng hư lạnh, khí đánh vào vùng rốn bụng gây đau. Dùng Chu sa 1 lạng, Ô đầu sống (bỏ vỏ) 2 lạng, Tiêm hà thảo 2 lạng. Tán bột, cho vào hũ sành nhỏ gắn kín, dùng lửa nhỏ nung đỏ, sau đó trộn cỏ này vào trong, không đậy miệng hũ, dùng lửa mạnh (nặng 1 cân) nung. Đợi lò nguội lấy ra, cùng với bột Ô đầu, dùng bánh hấp làm viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 3 viên với nước giấm. '''16. Ngưu Chi Lặc (牛脂艻)''' * Thời Trân nói: Sách Kinh nghiệm lương phương chép: Trị thất khổng xuất huyết (chảy máu 7 lỗ trên mặt). Tán bột thô, mỗi lần dùng 1 muỗng sắc trong nồi đất uống. Dùng vải màn che đầu cổ, đồng thời buộc chặt gốc ngón tay út. '''17. Áp Cước Thanh (鴨腳青)''' * Thời Trân nói: Sách Phổ tế phương chép: Trị mụn đinh râu mọc như chuỗi hạt, dùng cùng Ngư tô nghiên nát, trộn nước đường mà quét lên. '''18. Thiên Tiên Liên (天仙蓮)''' * Thời Trân nói: Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị độc ác, mụn nhọt, giã lá đắp vào. '''19. Song Đầu Liên (雙頭蓮)''' * Thời Trân nói: Tên khác là Thôi sinh thảo. Chủ trị phụ nữ đẻ khó, tay trái cầm cỏ là đẻ ngay. Lại chủ trị sưng trướng, lợi tiểu tiện. Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị cam răng ở người lớn và trẻ nhỏ, giã nát đắp vào. '''20. Trư Lam Tử (豬藍子)''' * Thời Trân nói: Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị trong tai có mủ, gọi là thông nhĩ. Dùng hạt tán bột, thổi vào trong tai, không quá 2 lần là khỏi. '''21. Thiên Giới Thái (天芥菜) - Heliotropium indicum L.''' * Thời Trân nói: Mọc ở đồng nội. Lá nhỏ như rau cải. Vị đắng. Tên khác là Kê niêm. Chủ trị rắn cắn, dùng cùng Kim phí thảo (Inula Britannica), thêm muối giã đắp. Vương Tỉ trong Y lâm tập yếu chép: Trị sưng độc dưới nách, dùng muối và giấm cùng giã đắp. Tác dụng tán sưng chỉ thống, mủ đã hình thành cũng thấy yên. Cũng trị tất cả các loại sưng độc. '''22. Phật Chưởng Hoa (佛掌花)''' * Thời Trân nói: Sách Phổ tế phương chép: Trị mụn đinh râu như quả anh đào. Dùng rễ, cùng gừng tươi và mật ong, nghiền lấy nước uống. '''23. Quách Công Thứ (郭公刺)''' * Thời Trân nói: Tên khác là Quang cốt thứ, lấy lá giã nhỏ, hòa dầu bôi trị mụn thiên bào (phỏng nước). Ngu Đoàn trong Y học chính truyền chép: Trị hen suyễn, lấy rễ thái nhỏ sắc nước uống là dứt ngay. '''24. Biên Cơ Sài (籩箕柴)''' * Thời Trân nói: Mọc trong núi. Vương Vĩnh Phụ trong Huệ tế phương chép: Trị bệnh sài sang (lở ngứa), lấy vỏ sắc nước uống, lát sau ngứa không chịu nổi, dùng tay gãi rách da cho độc khí thoát ra là khỏi. '''25. Toái Mễ Sài (碎米柴)''' * Thời Trân nói: Chủ trị ung thư phát bối (nhọt độc sau lưng), lấy lá cho vào thuốc đắp. '''26. Dương Thỉ Sài (羊屎柴) - Viburnum utile Hemsl.''' * Thời Trân nói: Tên khác là Ngưu thỉ sài, mọc ở sơn dã, lá giống Hạc tất, tháng 4 nở hoa trắng, cũng có loại hoa đỏ, kết quả như phân dê, nên tên là Thiết thảo tử. Rễ có thể dùng làm thuốc độc cá. Mùa hè dùng mầm lá, mùa đông dùng rễ. Chủ trị ung thư phát bối, giã nát đắp vào, có thể làm liền miệng vết thương, tán mủ máu. Loại khô tán bột, hòa nước cháo đắp. Lại trị chứng hạ huyết (đi ngoài ra máu) như xối nước: lấy rễ tươi 1 cân, rượu trắng 2 đấu, nấu còn 1 đấu, uống lúc đói tùy lượng sức. '''27. Sơn Tỳ Bà Sài (山枇杷柴)''' * Thời Trân nói: Nguy Diệc Lâm trong Đắc hiệu phương chép: Trị bỏng nước sôi, lửa cháy. Lấy vỏ sấy khô nghiền bột, hòa mật đắp vào. '''28. Tam Giác Phong (三角風) - Hedera nepalensis var. sinensis (Ivy)''' * Thời Trân nói: Tên khác là Tam giác tiêm. Loại mọc trên đá là tốt nhất. Chủ trị phong thấp lưu chú đau đớn, và ung thư sưng độc. '''29. Diệp Hạ Hồng (葉下紅) - Emilia sonchifolia (L.) DC.''' * Thời Trân nói: Chủ trị vật lạ (như tơ sợi) bay vào mắt gây sưng đau. Dùng thuốc cùng ít muối, gói vào vải lụa nhỏ nước cốt vào mắt, đồng thời nhét vào mũi (đau mắt trái nhét mũi phải, đau mắt phải nhét mũi trái). '''30. Mãn Giang Hồng (滿江紅) - Azolla pinnata R. Br.''' * Thời Trân nói: Chủ trị ung thư, dùng cho vào thuốc cao. '''31. Cách Sơn Tiêu (隔山消) - Cynanchum wilfordii (Maxim.) Hemsl.''' * Thời Trân nói: Sản sinh ở núi Thái Hòa, màu trắng. Chủ trị bụng trướng, tích trệ. Sách Tập hiệu phương của Tôn Thiên Nhân chép: Trị chứng khí cách nghẹn thức ăn, ăn vào nôn ra. Dùng Cách sơn tiêu 2 lạng, màng mề gà 1 lạng, Ngưu đảm Nam tinh, Chu sa mỗi vị 1 lạng, Cấp tính tử (hạt bóng nước) 2 tiền. Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 1 tiền với nước gừng loãng. '''14. Thạch Kiến Xuyên (石見穿) - Salvia chinensis Benth.''' * Thời Trân nói: Chủ trị đau xương, bệnh đại phong (hủi), ung thũng. '''33. Tỉnh Túy Thảo (醒醉草)''' * Thời Trân nói: Sách Thiên bảo di sự chép: Đường Huyền Tông trồng vị này bên hồ Hưng Khánh. Mọc thành bụi, lá tím lòng đỏ thẫm, khách say rượu hái cỏ ngửi là tỉnh ngay, nên có tên như vậy (Cỏ tỉnh say). '''34. Mộ Đầu Hồi (墓頭回) - Patrinia heterophylla Bunge''' * Thời Trân nói: Đổng Bính trong Tập nghiệm phương chép: Trị băng huyết, xích bạch đới hạ. Dùng một nắm, rượu và nước mỗi thứ nửa chén, nước tiểu trẻ em (đồng niệu) nửa chén, một nhúm Hồng hoa tươi, sắc còn 7 phần, uống ấm lúc đi ngủ. Bệnh mới phát uống 1 liều, bệnh lâu 3 liều là khỏi, hiệu quả như thần. Một vị tăng từng dùng vị này trị khỏi cho Thái Đại nhân. '''35. Dương Mao (羊茅) - Festuca ovina L.''' * Thời Trân nói: Cừu (Dương) thích ăn nên có tên này. Sách Phổ tế phương chép: Trị hầu tý (viêm họng) sưng đau, giã lấy nước nuốt dần. '''36. A Chỉ Nhi (阿只兒)''' * Thời Trân nói: Lưu Úc trong Tây sứ ký nói: Xuất xứ từ Tây Vực, hình trạng như Khổ sâm. Chủ trị đòn đánh tổn thương, phụ nữ hỏng thai. Dùng một hạt bằng hạt đậu nuốt vào, máu độc sẽ tự ra hết. '''37. A Tức Nhi (阿息兒)''' * Thời Trân nói: Tây sứ ký nói: Xuất xứ từ Tây Vực, hình trạng như Địa cốt bì. Trị phụ nữ sau sinh rau thai không ra, lại trị vết thương kim khí mủ không thoát ra được. Nhai nát bôi vào là ra ngay. '''38. Nô Ca Tát Nhi (奴哥撒兒)''' * Thời Trân nói: Tây sứ ký nói: Xuất xứ từ Tây Vực, hình trạng như Cát cánh. Trị vết thương kim khí, hoặc đứt ruột, đứt gân. Nhai nát đắp vào, chúng sẽ tự liền lại. {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] mwv4jzjhr2sc28ivuz47q4ogms61v09 Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thảo 1 114 71909 204528 2026-04-03T08:04:26Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之一 | năm= 1596 | phần = Quyển 20 <center>'''Các loại cỏ núi''' phần 1 (31 loại): Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma,…” 204528 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之一 | năm= 1596 | phần = Quyển 20 <center>'''Các loại cỏ núi''' phần 1 (31 loại): Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất</center> | trước= [[../Kim thạch 5|Kim thạch 5]] | sau= [[../Thảo 2|Thảo 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==LỜI TỰA THẢO BỘ - LÝ THỜI TRÂN== '''Lý Thời Trân nói:''' Trời tạo Đất hóa mà cỏ cây sinh ra vậy. Cái Cương giao với cái Nhu mà thành rễ củ, cái Nhu giao với cái Cương mà thành cành thân. Lá và đài thuộc Dương, Hoa và Quả thuộc Âm. Do đó trong cỏ có tính mộc, trong mộc có tính thảo. Kẻ đắc được cái tinh túy của khí thì hiền lành (lương dược), kẻ đắc được cái bạo lệ của khí thì có độc (độc dược). Bởi vậy mà có: * '''Ngũ hình:''' Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. * '''Ngũ khí:''' Hương (thơm), Khứu (hôi), Tao (khét/tanh nồng), Tanh (tanh tao), San (mùi gây/mùi cừu). * '''Ngũ sắc:''' Xanh, Đỏ, Vàng, Trắng, Đen. * '''Ngũ vị:''' Toan (chua), Khổ (đắng), Cam (ngọt), Tân (cay), Hàm (mặn). * '''Ngũ tính:''' Hàn (lạnh), Nhiệt (nóng), Ôn (ấm), Lương (mát), Bình (trung tính). * '''Ngũ dụng:''' Thăng (đi lên), Giáng (đi xuống), Phù (nổi ra ngoài), Trầm (chìm vào trong), Trung (ở giữa). Viêm Đế Thần Nông đã nếm thử mà phân biệt, Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá thuật lại mà viết thành sách; các bậc hiền triết lương y đời Hán, Ngụy, Đường, Tống mỗi thời đại đều có thêm thắt, bổ sung. Tuy nhiên, dù "Ba phẩm" (Thượng, Trung, Hạ) vẫn còn đó, nhưng thật giả lẫn lộn như nước sông Tư sông Mễn, các điều mục trùng lặp, không phân rõ trắng đen như dòng sông Kinh sông Vị. Nếu không xét soi chỗ tinh vi, thẩm định điều thiện ác, thì dựa vào đâu mà cầm cân nảy mực "Bảy phương" (Thất phương), "Mười tễ" (Thập tễ) để phó thác chuyện sinh tử đây? Vì thế, tôi nay lược bỏ chỗ rườm rà, xóa đi phần trùng lặp, uốn nắn chỗ sai lầm, bổ sung phần còn thiếu, phân tích theo dòng họ, chia tách theo chủng loại, nêu cao cương lĩnh, phân rõ từng mục. Trừ phần Ngũ cốc và Rau (Thái) ra, phàm các loại thuộc Thảo có thể cung cấp cho y dược gồm '''611 loại''', chia làm 10 nhóm: # '''Sơn thảo''' (Cỏ mọc trên núi) # '''Phương thảo''' (Cỏ có mùi thơm) # '''Thấp thảo''' (Cỏ mọc nơi ẩm ướt) # '''Độc thảo''' (Cỏ có độc) # '''Man thảo''' (Cỏ dây leo) # '''Thủy thảo''' (Cỏ dưới nước) # '''Thạch thảo''' (Cỏ mọc trên đá) # '''Thai thảo''' (Các loại rêu) # '''Tạp thảo''' (Các loại cỏ khác) # '''Hữu danh vị dụng''' (Có tên nhưng chưa dùng đến) (Sách cũ chia Thảo bộ làm ba phẩm Thượng - Trung - Hạ, tổng cộng 447 loại. Nay gộp vào 31 loại, dời 23 loại sang bộ Rau, 3 loại sang bộ Ngũ cốc, 4 loại sang bộ Quả, 2 loại sang bộ Gỗ. Từ bộ Gỗ dời sang 14 loại, cỏ dây leo 29 loại, bộ Rau dời sang 13 loại, bộ Quả dời sang 4 loại. Nhóm Ngoại loại "Có tên nhưng chưa dùng" gồm 247 loại). ===CÁC NGUỒN TRÍCH DẪN VÀ SỐ LƯỢNG VỊ THUỐC=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh:''' 162 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú giải). * '''Danh Y Biệt Lục:''' 131 loại (Đào Hoằng Cảnh chú; trong đó 78 loại có tên nhưng chưa dùng). * '''Lý Thị Dược Lục:''' 1 loại (Ngụy - Lý Đương Chi). * '''Ngô Thị Bản Thảo:''' 1 loại (Ngụy - Ngô Phổ). * '''Đường Bản Thảo:''' 34 loại (Đường - Tô Cung). * '''Dược Tính Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Chân Quyền). * '''Bản Thảo Thập Di:''' 68 loại (Đường - Trần Tạng Khí). * '''Thực Liệu Bản Thảo:''' 2 loại (Đường - Mạnh Tiễn). * '''Hải Dược Bản Thảo:''' 6 loại (Đường - Lý Tuân). * '''Tứ Thanh Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Tiêu Bính). * '''Khai Bảo Bản Thảo:''' 37 loại (Tống - Mã Chí). * '''Gia Hựu Bản Thảo:''' 17 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích). * '''Đồ Kinh Bản Thảo:''' 54 loại (Tống - Tô Tụng). * '''Nhật Hoa Bản Thảo:''' 7 loại (Tống - Đại Minh). * '''Dụng Dược Pháp Tượng:''' 1 loại (Nguyên - Lý Cao). * '''Bản Thảo Bổ Di:''' 1 loại (Nguyên - Chu Chấn Hanh). * '''Bản Thảo Hội Biên:''' 1 loại (Minh - Uông Cơ). * '''Bản Thảo Cương Mục:''' 86 loại (Minh - Lý Thời Trân). ===PHẦN PHỤ CHÚ (CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC)=== * '''Lôi Hiệu (Tống):''' Bào Chế Luận * '''Từ Chi Tài (Bắc Tề):''' Dược Đối * '''Dương Tổn Chi (Đường):''' San Phiền * '''Tôn Tư Mạo (Đường):''' Thiên Kim * '''Hàn Bảo Thăng (Thục):''' Trọng Chú * '''Trần Sĩ Lương (Nam Đường):''' Thực Tánh * '''Khấu Tông Thức (Tống):''' Diễn Nghĩa * '''Đường Thận Vi (Tống):''' Chứng Loại * '''Trần Thừa (Tống):''' Biệt Thuyết * '''Trương Nguyên Tố (Kim):''' Trân Châu Nang * '''Vương Hiếu Cổ (Nguyên):''' Thang Dịch * '''Ngô Thụy (Nguyên):''' Nhật Dụng * '''Uông Dĩnh (Minh):''' Thực Vật * '''Vương Luân (Minh):''' Tập Yếu * '''Trần Gia Mô (Minh):''' Mông Thuyên * '''Định Vương (Chu Túc - Minh):''' Cứu Hoang * '''Ninh Nguyên (Minh):''' Thực Giám {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] 0hv87kseqn3fdr7gjt8hum6bxx0dgc0 204529 204528 2026-04-03T08:18:47Z Mrfly911 2215 204529 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之一 | năm= 1596 | phần = Quyển 20 <center>'''Các loại cỏ núi''' phần 1 (31 loại): Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất</center> | trước= [[../Kim thạch 5|Kim thạch 5]] | sau= [[../Thảo 2|Thảo 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==LỜI TỰA THẢO BỘ - LÝ THỜI TRÂN== '''Lý Thời Trân nói:''' Trời tạo Đất hóa mà cỏ cây sinh ra vậy. Cái Cương giao với cái Nhu mà thành rễ củ, cái Nhu giao với cái Cương mà thành cành thân. Lá và đài thuộc Dương, Hoa và Quả thuộc Âm. Do đó trong cỏ có tính mộc, trong mộc có tính thảo. Kẻ đắc được cái tinh túy của khí thì hiền lành (lương dược), kẻ đắc được cái bạo lệ của khí thì có độc (độc dược). Bởi vậy mà có: * '''Ngũ hình:''' Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. * '''Ngũ khí:''' Hương (thơm), Khứu (hôi), Tao (khét/tanh nồng), Tanh (tanh tao), San (mùi gây/mùi cừu). * '''Ngũ sắc:''' Xanh, Đỏ, Vàng, Trắng, Đen. * '''Ngũ vị:''' Toan (chua), Khổ (đắng), Cam (ngọt), Tân (cay), Hàm (mặn). * '''Ngũ tính:''' Hàn (lạnh), Nhiệt (nóng), Ôn (ấm), Lương (mát), Bình (trung tính). * '''Ngũ dụng:''' Thăng (đi lên), Giáng (đi xuống), Phù (nổi ra ngoài), Trầm (chìm vào trong), Trung (ở giữa). Viêm Đế Thần Nông đã nếm thử mà phân biệt, Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá thuật lại mà viết thành sách; các bậc hiền triết lương y đời Hán, Ngụy, Đường, Tống mỗi thời đại đều có thêm thắt, bổ sung. Tuy nhiên, dù "Ba phẩm" (Thượng, Trung, Hạ) vẫn còn đó, nhưng thật giả lẫn lộn như nước sông Tư sông Mễn, các điều mục trùng lặp, không phân rõ trắng đen như dòng sông Kinh sông Vị. Nếu không xét soi chỗ tinh vi, thẩm định điều thiện ác, thì dựa vào đâu mà cầm cân nảy mực "Bảy phương" (Thất phương), "Mười tễ" (Thập tễ) để phó thác chuyện sinh tử đây? Vì thế, tôi nay lược bỏ chỗ rườm rà, xóa đi phần trùng lặp, uốn nắn chỗ sai lầm, bổ sung phần còn thiếu, phân tích theo dòng họ, chia tách theo chủng loại, nêu cao cương lĩnh, phân rõ từng mục. Trừ phần Ngũ cốc và Rau (Thái) ra, phàm các loại thuộc Thảo có thể cung cấp cho y dược gồm '''611 loại''', chia làm 10 nhóm: # '''Sơn thảo''' (Cỏ mọc trên núi) # '''Phương thảo''' (Cỏ có mùi thơm) # '''Thấp thảo''' (Cỏ mọc nơi ẩm ướt) # '''Độc thảo''' (Cỏ có độc) # '''Man thảo''' (Cỏ dây leo) # '''Thủy thảo''' (Cỏ dưới nước) # '''Thạch thảo''' (Cỏ mọc trên đá) # '''Thai thảo''' (Các loại rêu) # '''Tạp thảo''' (Các loại cỏ khác) # '''Hữu danh vị dụng''' (Có tên nhưng chưa dùng đến) (Sách cũ chia Thảo bộ làm ba phẩm Thượng - Trung - Hạ, tổng cộng 447 loại. Nay gộp vào 31 loại, dời 23 loại sang bộ Rau, 3 loại sang bộ Ngũ cốc, 4 loại sang bộ Quả, 2 loại sang bộ Gỗ. Từ bộ Gỗ dời sang 14 loại, cỏ dây leo 29 loại, bộ Rau dời sang 13 loại, bộ Quả dời sang 4 loại. Nhóm Ngoại loại "Có tên nhưng chưa dùng" gồm 247 loại). ===CÁC NGUỒN TRÍCH DẪN VÀ SỐ LƯỢNG VỊ THUỐC=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh:''' 162 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú giải). * '''Danh Y Biệt Lục:''' 131 loại (Đào Hoằng Cảnh chú; trong đó 78 loại có tên nhưng chưa dùng). * '''Lý Thị Dược Lục:''' 1 loại (Ngụy - Lý Đương Chi). * '''Ngô Thị Bản Thảo:''' 1 loại (Ngụy - Ngô Phổ). * '''Đường Bản Thảo:''' 34 loại (Đường - Tô Cung). * '''Dược Tính Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Chân Quyền). * '''Bản Thảo Thập Di:''' 68 loại (Đường - Trần Tạng Khí). * '''Thực Liệu Bản Thảo:''' 2 loại (Đường - Mạnh Tiễn). * '''Hải Dược Bản Thảo:''' 6 loại (Đường - Lý Tuân). * '''Tứ Thanh Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Tiêu Bính). * '''Khai Bảo Bản Thảo:''' 37 loại (Tống - Mã Chí). * '''Gia Hựu Bản Thảo:''' 17 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích). * '''Đồ Kinh Bản Thảo:''' 54 loại (Tống - Tô Tụng). * '''Nhật Hoa Bản Thảo:''' 7 loại (Tống - Đại Minh). * '''Dụng Dược Pháp Tượng:''' 1 loại (Nguyên - Lý Cao). * '''Bản Thảo Bổ Di:''' 1 loại (Nguyên - Chu Chấn Hanh). * '''Bản Thảo Hội Biên:''' 1 loại (Minh - Uông Cơ). * '''Bản Thảo Cương Mục:''' 86 loại (Minh - Lý Thời Trân). ===PHẦN PHỤ CHÚ (CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC)=== * '''Lôi Hiệu (Tống):''' Bào Chế Luận * '''Từ Chi Tài (Bắc Tề):''' Dược Đối * '''Dương Tổn Chi (Đường):''' San Phiền * '''Tôn Tư Mạo (Đường):''' Thiên Kim * '''Hàn Bảo Thăng (Thục):''' Trọng Chú * '''Trần Sĩ Lương (Nam Đường):''' Thực Tánh * '''Khấu Tông Thức (Tống):''' Diễn Nghĩa * '''Đường Thận Vi (Tống):''' Chứng Loại * '''Trần Thừa (Tống):''' Biệt Thuyết * '''Trương Nguyên Tố (Kim):''' Trân Châu Nang * '''Vương Hiếu Cổ (Nguyên):''' Thang Dịch * '''Ngô Thụy (Nguyên):''' Nhật Dụng * '''Uông Dĩnh (Minh):''' Thực Vật * '''Vương Luân (Minh):''' Tập Yếu * '''Trần Gia Mô (Minh):''' Mông Thuyên * '''Định Vương (Chu Túc - Minh):''' Cứu Hoang * '''Ninh Nguyên (Minh):''' Thực Giám ==CAM THẢO (甘草)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Glycyrrhiza uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata Bat. hoặc Glycyrrhiza glabra L. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Mật cam (Biệt lục), Mật thảo (Biệt lục), Mỹ thảo (Biệt lục), Lộ thảo (Biệt lục), Linh thông (Ký sự châu), Quốc lão (Biệt lục). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị thảo này là bậc thầy của muôn thuốc, các phương thuốc kinh điển hiếm khi không dùng đến, giống như trong các loài hương liệu có Trầm hương vậy. "Quốc lão" là danh xưng của thầy dạy đế vương (Đế sư), tuy không phải là vua (Quân) nhưng được vua tôn kính, vì thế nó có khả năng an hòa các loại thảo mộc, đất đá và giải được mọi độc tố. * '''Chân Quyền nói:''' Trong các loại thuốc, Cam thảo đóng vai trò là "Quân", trị được 72 loại độc từ khoáng vật (nhũ thạch), giải được 1200 loại độc từ thảo mộc, có công điều hòa các vị thuốc nên được gọi là "Quốc lão". ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Cam thảo mọc ở các thung lũng sông vùng Hà Tây, núi Tích Sa và Thượng Quận. Thu hoạch rễ vào ngày Trừ (lịch âm) tháng 2 và tháng 8, phơi khô 10 ngày thì xong. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các vùng Hà Tây, Thượng Quận nay không còn thông thương. Nay thuốc chủ yếu đến từ các vùng thuộc Mân Sơn, Hán Trung vùng Thục. Loại vỏ đỏ, thớ thịt đứt đoạn, nhìn kiên thực là thảo vùng Bào Hạn (một địa danh vùng Tây Khương), đó là loại tốt nhất. Cũng có loại sấy khô bằng lửa, thớ thịt thường xốp rỗng. Có loại giống ruột cá chép, bị dao cắt hỏng thì không còn tốt. Vùng Thanh Châu cũng có nhưng không bằng. Lại có Tử Cam thảo (Cam thảo tím), nhỏ mà chắc, lúc thiếu có thể dùng tạm. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các quận huyện vùng Thiểm Tây, Hà Đông đều có. Mùa xuân mọc mầm xanh, cao 1-2 thước, lá giống lá Hòe. Tháng 7 nở hoa tím giống hoa Nại đông, kết quả thành vỏ như hạt đậu Tất. Rễ dài 3-4 thước, to nhỏ không đều, vỏ màu đỏ, trên có các đường vân ngang. Lúc hái bỏ đầu cuống (lư đầu) và lớp vỏ đỏ, phơi khô trong râm mà dùng. Nay Cam thảo có nhiều loại, loại nào chắc thịt, thớ đoạn là tốt. Loại nhẹ xốp, thớ dọc hoặc nhỏ dai thì không dùng được, chỉ dùng cho các nhà làm nước canh. ** Cẩn án: Sách Nhĩ Nhã gọi "Lẫm" là "Đại khổ". Quách Phác chú giải là giống Địa hoàng. Sách Thi Kinh có câu "Hái lăng hái lăng, trên đỉnh núi Thủ Dương" chính là nó. Chữ Lẫm (䖅) dùng thông với Lăng (苓). Núi Thủ Dương gần huyện Bồ Bản vùng Hà Đông, là nơi Cam thảo sinh trưởng, nhưng mô tả của các nhà nho xưa về lá mầm khác hẳn nay, há chẳng phải chủng loại khác nhau sao? * '''Lý Thời Trân nói:''' Xét theo Bút đàm của Thẩm Quát: Chú giải của Quách Phác về "Lẫm - Đại khổ" trong Nhĩ Nhã là Cam thảo là sai. Chú giải của Quách Phác thực chất là Hoàng dược (Dioscorea bulbifera), vị cực đắng nên gọi là Đại khổ, không phải Cam thảo. Cam thảo cành lá đều như lá Hòe, cao 5-6 thước, đầu lá hơi nhọn và nhám, như có lông trắng, quả giống quả Tương tư, chín thì vỏ nứt, hạt dẹt như đậu nhỏ, cực cứng, răng cắn không vỡ. Sách Diễn nghĩa của Khấu Thị cũng theo thuyết này. Theo lý mà xét, mô tả của Quách Phác không tương đồng, thuyết của Thẩm Quát gần thực tế hơn. Người nay chỉ chuộng loại đường kính 1 tấc, thịt chắc thớ đứt vân ngang, gọi là '''Phấn thảo'''; loại nhẹ xốp nhỏ bé đều không bằng. ===RỄ - TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Lôi Hiệu nói:''' Khi dùng phải bỏ đầu và đuôi nhọn, vì đầu đuôi gây nôn cho người. Mỗi lần cắt dài 3 tấc, chẻ làm 6-7 mảnh, cho vào bình sứ, dùng rượu tẩm rồi chưng từ giờ Tỵ đến giờ Ngọ, lấy ra phơi khô, thái nhỏ mà dùng. Cách khác: Mỗi cân dùng 7 lạng bơ (tô) phết lên rồi nướng (chích) cho đến khi bơ thấm hết. Cách khác: Đem nướng (bào) cho trong ngoài đỏ vàng thì dùng. * '''Thời Trân nói:''' Các sách phương tễ thường dùng nước chảy (trường lưu thủy) tẩm ướt Cam thảo rồi nướng chín, cạo bỏ vỏ đỏ; hoặc dùng nước gạo (tương thủy) chích chín, chưa thấy ai dùng bơ hay rượu để chưng. Đại để: '''Bổ trung thì nên nướng (chích); Tả hỏa thì nên dùng sống.''' ===KHÍ VỊ=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. * '''Khấu Tông Thức nói:''' Dùng sống thì hơi mát (vi lương), vị không ngon; nướng (chích) thì ấm (ôn). * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Khí mỏng vị dày, thăng mà phù, thuộc Dương. Vào kinh Túc Thái âm (Tỳ) và Túc Quyết âm (Can). * '''Thời Trân nói:''' Thông suốt vào 12 kinh thủ túc. * '''Từ Chi Tài nói:''' Lấy Truật, Khổ sâm, Can tất làm sứ. Ghét Viễn chí. Phản Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo. * '''Thời Trân nói:''' Cam thảo phản bốn vị Tảo, Kích, Toại, Nguyên, nhưng Hồ Tiếp Cư Sĩ trị đàm ẩm lại dùng Thập táo thang gia thêm Cam thảo và Đại hoàng, ấy là muốn đàm ở cách thượng thông tiết đi, nhổ tận gốc bệnh vậy. Lý Đông Viên trị kết hạch dưới cổ, tiêu sưng tán kết dùng Hải tảo gia thêm Cam thảo. Chu Đan Khê trị lao quặng dùng Liên tâm ẩm có Nguyên hoa và Cam thảo. Cả hai phương đều theo ý của Hồ cư sĩ. Vì thế Đào Hoằng Cảnh nói cổ phương cũng có loại tương ác tương phản cùng dùng mà không hại, nếu không đạt đến mức tinh vi thì không hiểu được lý này. ===CHỦ TRỊ=== Trị hàn nhiệt ở ngũ tạng lục phủ, tà khí, làm chắc gân xương, dài cơ nhục, tăng khí lực, trị kim sang (vết thương do kim loại), ung thũng, giải độc. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ (Bản kinh). Ôn trung, hạ khí, trị phiền mãn, ngắn hơi, tổn thương nội tạng, ho, chỉ khát, thông kinh mạch, lợi huyết khí, giải độc muôn loài thuốc. Là tinh hoa của đất (cửu thổ chi tinh), an hòa 72 loại khoáng vật và 1200 loại thảo mộc (Biệt lục). Trị đau bụng lạnh, trị kinh giản, trừ chướng mãn, bổ ích ngũ tạng, dưỡng thận khí, nội thương, làm cho nam giới không bị liệt dương, trị phụ nữ huyết lích (ra máu dai dẳng), đau lưng. Người hư mà nhiều nhiệt thì nên gia dùng vị này (Chân Quyền). An hồn định phách, bổ ngũ lao thất thương, mọi chứng hư tổn, kinh quý (hồi hộp), phiền muộn, hay quên, thông chín khiếu, lợi trăm mạch, ích tinh dưỡng khí (Đại Minh). Dùng sống thì tả hỏa nhiệt, dùng chín (nướng) thì tán biểu hàn, trị đau họng, trừ tà nhiệt, hoãn chính khí, dưỡng âm huyết, bổ tỳ vị, nhuận phế (Lý Cao). Trị mủ máu trong chứng phế nuy, tiêu các loại sang thư ác tính (Vương Hiếu Cổ). Giải thai độc, kinh giản ở trẻ nhỏ, giáng hỏa, chỉ thống (Thời Trân). ===CÁC PHẦN KHÁC CỦA CÂY=== ====Cam thảo sảo (Ngọn rễ - 甘草稍)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống trị tích nhiệt trong ngực, trị đau trong niệu đạo (vùng sinh dục), gia thêm rượu nấu với Huyền hồ sách, Khổ luyện tử thì càng hiệu quả (Lý Nguyên Tố). ====Cam thảo đầu (Đầu rễ - 甘草頭)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống có thể hành huyết ứ ô trọc ở hai kinh Túc Quyết âm và Dương minh, tiêu sưng dẫn độc (Chu Đan Khê). Chủ trị ung thũng, nên cho vào thuốc gây nôn (Lý Thời Trân). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Chu Đan Khê nói:''' Cam thảo vị ngọt, làm hoãn các loại hỏa (nhiệt), tính trung chính thông lý, là bậc quân tử có đức dày chở che muôn vật. Muốn thuốc đạt đến hạ tiêu (vùng dưới) thì phải dùng phần ngọn (Sảo). * '''Lý Cao nói:''' Cam thảo khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Dương không đủ thì bổ bằng vị ngọt (cam). Vị ngọt ấm có thể trừ đại nhiệt, nên dùng sống thì khí bình, bổ tỳ vị bất túc mà tả tâm hỏa mạnh; nướng thì khí ấm, bổ nguyên khí của Tam tiêu mà tán biểu hàn, trừ tà nhiệt, trị đau họng, dưỡng âm huyết. Phàm tâm hỏa khắc tỳ, bụng đau thắt, da bụng co rúm, nên dùng tăng liều Cam thảo. Tính nó có thể "hoãn cấp" (làm dịu sự cấp bách), điều hòa các vị thuốc không để chúng tranh chấp nhau. Thuốc nóng gặp nó thì bớt nóng; thuốc lạnh gặp nó thì bớt lạnh; thuốc hàn nhiệt lẫn lộn gặp nó thì đạt được sự thăng bằng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cam thảo ngoài đỏ trong vàng, màu sắc kiêm cả Khôn (Thổ) và Ly (Hỏa); vị dày khí mỏng, hội tụ đủ đức của đất. Điều hòa quần phẩm, có công lao của bậc nguyên lão; trị mọi tà ma, có hóa thân của vương đạo. Giúp sức cho đế vương mà người không biết, thu gom thần công mà mình không màng, thật xứng là vị "Lương tướng" trong các loài thuốc vậy. Tuy nhiên, người bị trướng bụng (trung mãn), nôn mửa, người nghiện rượu không thích vị ngọt của nó. ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Thương hàn tâm quý (tim đập nhanh, mạch kết đại):''' Cam thảo 2 lạng, nước 3 lít sắc còn một nửa, uống 7 hợp, ngày 1 lần. * '''Đau họng do thương hàn:''' Cam thảo 2 lạng (chích mật), nước 2 lít sắc còn 1,5 lít, uống 5 hợp, ngày 2 lần (Trương Trọng Cảnh). * '''Phế nhiệt đau họng có đàm:''' Cam thảo (sao) 2 lạng, Cát cánh 1 lạng. Mỗi lần dùng 5 tiền, nước 1,5 bát, thêm nửa miếng A giao sắc uống. * '''Trẻ sơ sinh giải độc:''' Lấy một đoạn Cam thảo dài bằng đốt ngón tay, nướng nát, sắc lấy nước cho trẻ nhấm nháp để nôn ra dịch bẩn trong ngực. Giúp trẻ thông minh, ít bệnh, đậu mọc thưa. * '''Mụn nhọt (phát bối ung thư):''' Cam thảo sống giã bột 3 lạng, bột lúa mạch 9 lạng trộn đều, thêm chút bơ (tô), nhào với nước sôi thành dạng bánh, đắp lên chỗ sưng. * '''Giải độc thuốc, độc rượu:''' Sắc đậm Cam thảo uống. Đặc biệt hiệu quả khi trúng độc Ô đầu, Ba đậu. * '''Trị bỏng lửa, nước sôi:''' Cam thảo nấu với mật ong rồi bôi lên vết thương. * '''Trị trẻ em đái dầm:''' Dùng đầu Cam thảo (Cam thảo đầu) sắc nước uống hàng đêm. {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] d4l6ye43tg4gsg5hf61ruul33am96e4 204530 204529 2026-04-03T09:07:09Z Mrfly911 2215 204530 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之一 | năm= 1596 | phần = Quyển 20 <center>'''Các loại cỏ núi''' phần 1 (31 loại): Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất</center> | trước= [[../Kim thạch 5|Kim thạch 5]] | sau= [[../Thảo 2|Thảo 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==LỜI TỰA THẢO BỘ - LÝ THỜI TRÂN== '''Lý Thời Trân nói:''' Trời tạo Đất hóa mà cỏ cây sinh ra vậy. Cái Cương giao với cái Nhu mà thành rễ củ, cái Nhu giao với cái Cương mà thành cành thân. Lá và đài thuộc Dương, Hoa và Quả thuộc Âm. Do đó trong cỏ có tính mộc, trong mộc có tính thảo. Kẻ đắc được cái tinh túy của khí thì hiền lành (lương dược), kẻ đắc được cái bạo lệ của khí thì có độc (độc dược). Bởi vậy mà có: * '''Ngũ hình:''' Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. * '''Ngũ khí:''' Hương (thơm), Khứu (hôi), Tao (khét/tanh nồng), Tanh (tanh tao), San (mùi gây/mùi cừu). * '''Ngũ sắc:''' Xanh, Đỏ, Vàng, Trắng, Đen. * '''Ngũ vị:''' Toan (chua), Khổ (đắng), Cam (ngọt), Tân (cay), Hàm (mặn). * '''Ngũ tính:''' Hàn (lạnh), Nhiệt (nóng), Ôn (ấm), Lương (mát), Bình (trung tính). * '''Ngũ dụng:''' Thăng (đi lên), Giáng (đi xuống), Phù (nổi ra ngoài), Trầm (chìm vào trong), Trung (ở giữa). Viêm Đế Thần Nông đã nếm thử mà phân biệt, Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá thuật lại mà viết thành sách; các bậc hiền triết lương y đời Hán, Ngụy, Đường, Tống mỗi thời đại đều có thêm thắt, bổ sung. Tuy nhiên, dù "Ba phẩm" (Thượng, Trung, Hạ) vẫn còn đó, nhưng thật giả lẫn lộn như nước sông Tư sông Mễn, các điều mục trùng lặp, không phân rõ trắng đen như dòng sông Kinh sông Vị. Nếu không xét soi chỗ tinh vi, thẩm định điều thiện ác, thì dựa vào đâu mà cầm cân nảy mực "Bảy phương" (Thất phương), "Mười tễ" (Thập tễ) để phó thác chuyện sinh tử đây? Vì thế, tôi nay lược bỏ chỗ rườm rà, xóa đi phần trùng lặp, uốn nắn chỗ sai lầm, bổ sung phần còn thiếu, phân tích theo dòng họ, chia tách theo chủng loại, nêu cao cương lĩnh, phân rõ từng mục. Trừ phần Ngũ cốc và Rau (Thái) ra, phàm các loại thuộc Thảo có thể cung cấp cho y dược gồm '''611 loại''', chia làm 10 nhóm: # '''Sơn thảo''' (Cỏ mọc trên núi) # '''Phương thảo''' (Cỏ có mùi thơm) # '''Thấp thảo''' (Cỏ mọc nơi ẩm ướt) # '''Độc thảo''' (Cỏ có độc) # '''Man thảo''' (Cỏ dây leo) # '''Thủy thảo''' (Cỏ dưới nước) # '''Thạch thảo''' (Cỏ mọc trên đá) # '''Thai thảo''' (Các loại rêu) # '''Tạp thảo''' (Các loại cỏ khác) # '''Hữu danh vị dụng''' (Có tên nhưng chưa dùng đến) (Sách cũ chia Thảo bộ làm ba phẩm Thượng - Trung - Hạ, tổng cộng 447 loại. Nay gộp vào 31 loại, dời 23 loại sang bộ Rau, 3 loại sang bộ Ngũ cốc, 4 loại sang bộ Quả, 2 loại sang bộ Gỗ. Từ bộ Gỗ dời sang 14 loại, cỏ dây leo 29 loại, bộ Rau dời sang 13 loại, bộ Quả dời sang 4 loại. Nhóm Ngoại loại "Có tên nhưng chưa dùng" gồm 247 loại). ===CÁC NGUỒN TRÍCH DẪN VÀ SỐ LƯỢNG VỊ THUỐC=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh:''' 162 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú giải). * '''Danh Y Biệt Lục:''' 131 loại (Đào Hoằng Cảnh chú; trong đó 78 loại có tên nhưng chưa dùng). * '''Lý Thị Dược Lục:''' 1 loại (Ngụy - Lý Đương Chi). * '''Ngô Thị Bản Thảo:''' 1 loại (Ngụy - Ngô Phổ). * '''Đường Bản Thảo:''' 34 loại (Đường - Tô Cung). * '''Dược Tính Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Chân Quyền). * '''Bản Thảo Thập Di:''' 68 loại (Đường - Trần Tạng Khí). * '''Thực Liệu Bản Thảo:''' 2 loại (Đường - Mạnh Tiễn). * '''Hải Dược Bản Thảo:''' 6 loại (Đường - Lý Tuân). * '''Tứ Thanh Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Tiêu Bính). * '''Khai Bảo Bản Thảo:''' 37 loại (Tống - Mã Chí). * '''Gia Hựu Bản Thảo:''' 17 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích). * '''Đồ Kinh Bản Thảo:''' 54 loại (Tống - Tô Tụng). * '''Nhật Hoa Bản Thảo:''' 7 loại (Tống - Đại Minh). * '''Dụng Dược Pháp Tượng:''' 1 loại (Nguyên - Lý Cao). * '''Bản Thảo Bổ Di:''' 1 loại (Nguyên - Chu Chấn Hanh). * '''Bản Thảo Hội Biên:''' 1 loại (Minh - Uông Cơ). * '''Bản Thảo Cương Mục:''' 86 loại (Minh - Lý Thời Trân). ===PHẦN PHỤ CHÚ (CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC)=== * '''Lôi Hiệu (Tống):''' Bào Chế Luận * '''Từ Chi Tài (Bắc Tề):''' Dược Đối * '''Dương Tổn Chi (Đường):''' San Phiền * '''Tôn Tư Mạo (Đường):''' Thiên Kim * '''Hàn Bảo Thăng (Thục):''' Trọng Chú * '''Trần Sĩ Lương (Nam Đường):''' Thực Tánh * '''Khấu Tông Thức (Tống):''' Diễn Nghĩa * '''Đường Thận Vi (Tống):''' Chứng Loại * '''Trần Thừa (Tống):''' Biệt Thuyết * '''Trương Nguyên Tố (Kim):''' Trân Châu Nang * '''Vương Hiếu Cổ (Nguyên):''' Thang Dịch * '''Ngô Thụy (Nguyên):''' Nhật Dụng * '''Uông Dĩnh (Minh):''' Thực Vật * '''Vương Luân (Minh):''' Tập Yếu * '''Trần Gia Mô (Minh):''' Mông Thuyên * '''Định Vương (Chu Túc - Minh):''' Cứu Hoang * '''Ninh Nguyên (Minh):''' Thực Giám ==CAM THẢO (甘草)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Glycyrrhiza uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata Bat. hoặc Glycyrrhiza glabra L. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Mật cam (Biệt lục), Mật thảo (Biệt lục), Mỹ thảo (Biệt lục), Lộ thảo (Biệt lục), Linh thông (Ký sự châu), Quốc lão (Biệt lục). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị thảo này là bậc thầy của muôn thuốc, các phương thuốc kinh điển hiếm khi không dùng đến, giống như trong các loài hương liệu có Trầm hương vậy. "Quốc lão" là danh xưng của thầy dạy đế vương (Đế sư), tuy không phải là vua (Quân) nhưng được vua tôn kính, vì thế nó có khả năng an hòa các loại thảo mộc, đất đá và giải được mọi độc tố. * '''Chân Quyền nói:''' Trong các loại thuốc, Cam thảo đóng vai trò là "Quân", trị được 72 loại độc từ khoáng vật (nhũ thạch), giải được 1200 loại độc từ thảo mộc, có công điều hòa các vị thuốc nên được gọi là "Quốc lão". ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Cam thảo mọc ở các thung lũng sông vùng Hà Tây, núi Tích Sa và Thượng Quận. Thu hoạch rễ vào ngày Trừ (lịch âm) tháng 2 và tháng 8, phơi khô 10 ngày thì xong. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các vùng Hà Tây, Thượng Quận nay không còn thông thương. Nay thuốc chủ yếu đến từ các vùng thuộc Mân Sơn, Hán Trung vùng Thục. Loại vỏ đỏ, thớ thịt đứt đoạn, nhìn kiên thực là thảo vùng Bào Hạn (một địa danh vùng Tây Khương), đó là loại tốt nhất. Cũng có loại sấy khô bằng lửa, thớ thịt thường xốp rỗng. Có loại giống ruột cá chép, bị dao cắt hỏng thì không còn tốt. Vùng Thanh Châu cũng có nhưng không bằng. Lại có Tử Cam thảo (Cam thảo tím), nhỏ mà chắc, lúc thiếu có thể dùng tạm. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các quận huyện vùng Thiểm Tây, Hà Đông đều có. Mùa xuân mọc mầm xanh, cao 1-2 thước, lá giống lá Hòe. Tháng 7 nở hoa tím giống hoa Nại đông, kết quả thành vỏ như hạt đậu Tất. Rễ dài 3-4 thước, to nhỏ không đều, vỏ màu đỏ, trên có các đường vân ngang. Lúc hái bỏ đầu cuống (lư đầu) và lớp vỏ đỏ, phơi khô trong râm mà dùng. Nay Cam thảo có nhiều loại, loại nào chắc thịt, thớ đoạn là tốt. Loại nhẹ xốp, thớ dọc hoặc nhỏ dai thì không dùng được, chỉ dùng cho các nhà làm nước canh. ** Cẩn án: Sách Nhĩ Nhã gọi "Lẫm" là "Đại khổ". Quách Phác chú giải là giống Địa hoàng. Sách Thi Kinh có câu "Hái lăng hái lăng, trên đỉnh núi Thủ Dương" chính là nó. Chữ Lẫm (䖅) dùng thông với Lăng (苓). Núi Thủ Dương gần huyện Bồ Bản vùng Hà Đông, là nơi Cam thảo sinh trưởng, nhưng mô tả của các nhà nho xưa về lá mầm khác hẳn nay, há chẳng phải chủng loại khác nhau sao? * '''Lý Thời Trân nói:''' Xét theo Bút đàm của Thẩm Quát: Chú giải của Quách Phác về "Lẫm - Đại khổ" trong Nhĩ Nhã là Cam thảo là sai. Chú giải của Quách Phác thực chất là Hoàng dược (Dioscorea bulbifera), vị cực đắng nên gọi là Đại khổ, không phải Cam thảo. Cam thảo cành lá đều như lá Hòe, cao 5-6 thước, đầu lá hơi nhọn và nhám, như có lông trắng, quả giống quả Tương tư, chín thì vỏ nứt, hạt dẹt như đậu nhỏ, cực cứng, răng cắn không vỡ. Sách Diễn nghĩa của Khấu Thị cũng theo thuyết này. Theo lý mà xét, mô tả của Quách Phác không tương đồng, thuyết của Thẩm Quát gần thực tế hơn. Người nay chỉ chuộng loại đường kính 1 tấc, thịt chắc thớ đứt vân ngang, gọi là '''Phấn thảo'''; loại nhẹ xốp nhỏ bé đều không bằng. ===RỄ - TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Lôi Hiệu nói:''' Khi dùng phải bỏ đầu và đuôi nhọn, vì đầu đuôi gây nôn cho người. Mỗi lần cắt dài 3 tấc, chẻ làm 6-7 mảnh, cho vào bình sứ, dùng rượu tẩm rồi chưng từ giờ Tỵ đến giờ Ngọ, lấy ra phơi khô, thái nhỏ mà dùng. Cách khác: Mỗi cân dùng 7 lạng bơ (tô) phết lên rồi nướng (chích) cho đến khi bơ thấm hết. Cách khác: Đem nướng (bào) cho trong ngoài đỏ vàng thì dùng. * '''Thời Trân nói:''' Các sách phương tễ thường dùng nước chảy (trường lưu thủy) tẩm ướt Cam thảo rồi nướng chín, cạo bỏ vỏ đỏ; hoặc dùng nước gạo (tương thủy) chích chín, chưa thấy ai dùng bơ hay rượu để chưng. Đại để: '''Bổ trung thì nên nướng (chích); Tả hỏa thì nên dùng sống.''' ===KHÍ VỊ=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. * '''Khấu Tông Thức nói:''' Dùng sống thì hơi mát (vi lương), vị không ngon; nướng (chích) thì ấm (ôn). * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Khí mỏng vị dày, thăng mà phù, thuộc Dương. Vào kinh Túc Thái âm (Tỳ) và Túc Quyết âm (Can). * '''Thời Trân nói:''' Thông suốt vào 12 kinh thủ túc. * '''Từ Chi Tài nói:''' Lấy Truật, Khổ sâm, Can tất làm sứ. Ghét Viễn chí. Phản Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo. * '''Thời Trân nói:''' Cam thảo phản bốn vị Tảo, Kích, Toại, Nguyên, nhưng Hồ Tiếp Cư Sĩ trị đàm ẩm lại dùng Thập táo thang gia thêm Cam thảo và Đại hoàng, ấy là muốn đàm ở cách thượng thông tiết đi, nhổ tận gốc bệnh vậy. Lý Đông Viên trị kết hạch dưới cổ, tiêu sưng tán kết dùng Hải tảo gia thêm Cam thảo. Chu Đan Khê trị lao quặng dùng Liên tâm ẩm có Nguyên hoa và Cam thảo. Cả hai phương đều theo ý của Hồ cư sĩ. Vì thế Đào Hoằng Cảnh nói cổ phương cũng có loại tương ác tương phản cùng dùng mà không hại, nếu không đạt đến mức tinh vi thì không hiểu được lý này. ===CHỦ TRỊ=== Trị hàn nhiệt ở ngũ tạng lục phủ, tà khí, làm chắc gân xương, dài cơ nhục, tăng khí lực, trị kim sang (vết thương do kim loại), ung thũng, giải độc. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ (Bản kinh). Ôn trung, hạ khí, trị phiền mãn, ngắn hơi, tổn thương nội tạng, ho, chỉ khát, thông kinh mạch, lợi huyết khí, giải độc muôn loài thuốc. Là tinh hoa của đất (cửu thổ chi tinh), an hòa 72 loại khoáng vật và 1200 loại thảo mộc (Biệt lục). Trị đau bụng lạnh, trị kinh giản, trừ chướng mãn, bổ ích ngũ tạng, dưỡng thận khí, nội thương, làm cho nam giới không bị liệt dương, trị phụ nữ huyết lích (ra máu dai dẳng), đau lưng. Người hư mà nhiều nhiệt thì nên gia dùng vị này (Chân Quyền). An hồn định phách, bổ ngũ lao thất thương, mọi chứng hư tổn, kinh quý (hồi hộp), phiền muộn, hay quên, thông chín khiếu, lợi trăm mạch, ích tinh dưỡng khí (Đại Minh). Dùng sống thì tả hỏa nhiệt, dùng chín (nướng) thì tán biểu hàn, trị đau họng, trừ tà nhiệt, hoãn chính khí, dưỡng âm huyết, bổ tỳ vị, nhuận phế (Lý Cao). Trị mủ máu trong chứng phế nuy, tiêu các loại sang thư ác tính (Vương Hiếu Cổ). Giải thai độc, kinh giản ở trẻ nhỏ, giáng hỏa, chỉ thống (Thời Trân). ===CÁC PHẦN KHÁC CỦA CÂY=== ====Cam thảo sảo (Ngọn rễ - 甘草稍)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống trị tích nhiệt trong ngực, trị đau trong niệu đạo (vùng sinh dục), gia thêm rượu nấu với Huyền hồ sách, Khổ luyện tử thì càng hiệu quả (Lý Nguyên Tố). ====Cam thảo đầu (Đầu rễ - 甘草頭)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống có thể hành huyết ứ ô trọc ở hai kinh Túc Quyết âm và Dương minh, tiêu sưng dẫn độc (Chu Đan Khê). Chủ trị ung thũng, nên cho vào thuốc gây nôn (Lý Thời Trân). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Chu Đan Khê nói:''' Cam thảo vị ngọt, làm hoãn các loại hỏa (nhiệt), tính trung chính thông lý, là bậc quân tử có đức dày chở che muôn vật. Muốn thuốc đạt đến hạ tiêu (vùng dưới) thì phải dùng phần ngọn (Sảo). * '''Lý Cao nói:''' Cam thảo khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Dương không đủ thì bổ bằng vị ngọt (cam). Vị ngọt ấm có thể trừ đại nhiệt, nên dùng sống thì khí bình, bổ tỳ vị bất túc mà tả tâm hỏa mạnh; nướng thì khí ấm, bổ nguyên khí của Tam tiêu mà tán biểu hàn, trừ tà nhiệt, trị đau họng, dưỡng âm huyết. Phàm tâm hỏa khắc tỳ, bụng đau thắt, da bụng co rúm, nên dùng tăng liều Cam thảo. Tính nó có thể "hoãn cấp" (làm dịu sự cấp bách), điều hòa các vị thuốc không để chúng tranh chấp nhau. Thuốc nóng gặp nó thì bớt nóng; thuốc lạnh gặp nó thì bớt lạnh; thuốc hàn nhiệt lẫn lộn gặp nó thì đạt được sự thăng bằng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cam thảo ngoài đỏ trong vàng, màu sắc kiêm cả Khôn (Thổ) và Ly (Hỏa); vị dày khí mỏng, hội tụ đủ đức của đất. Điều hòa quần phẩm, có công lao của bậc nguyên lão; trị mọi tà ma, có hóa thân của vương đạo. Giúp sức cho đế vương mà người không biết, thu gom thần công mà mình không màng, thật xứng là vị "Lương tướng" trong các loài thuốc vậy. Tuy nhiên, người bị trướng bụng (trung mãn), nôn mửa, người nghiện rượu không thích vị ngọt của nó. ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Thương hàn tâm quý (tim đập nhanh, mạch kết đại):''' Cam thảo 2 lạng, nước 3 lít sắc còn một nửa, uống 7 hợp, ngày 1 lần. * '''Đau họng do thương hàn:''' Cam thảo 2 lạng (chích mật), nước 2 lít sắc còn 1,5 lít, uống 5 hợp, ngày 2 lần (Trương Trọng Cảnh). * '''Phế nhiệt đau họng có đàm:''' Cam thảo (sao) 2 lạng, Cát cánh 1 lạng. Mỗi lần dùng 5 tiền, nước 1,5 bát, thêm nửa miếng A giao sắc uống. * '''Trẻ sơ sinh giải độc:''' Lấy một đoạn Cam thảo dài bằng đốt ngón tay, nướng nát, sắc lấy nước cho trẻ nhấm nháp để nôn ra dịch bẩn trong ngực. Giúp trẻ thông minh, ít bệnh, đậu mọc thưa. * '''Mụn nhọt (phát bối ung thư):''' Cam thảo sống giã bột 3 lạng, bột lúa mạch 9 lạng trộn đều, thêm chút bơ (tô), nhào với nước sôi thành dạng bánh, đắp lên chỗ sưng. * '''Giải độc thuốc, độc rượu:''' Sắc đậm Cam thảo uống. Đặc biệt hiệu quả khi trúng độc Ô đầu, Ba đậu. * '''Trị bỏng lửa, nước sôi:''' Cam thảo nấu với mật ong rồi bôi lên vết thương. * '''Trị trẻ em đái dầm:''' Dùng đầu Cam thảo (Cam thảo đầu) sắc nước uống hàng đêm. ==HOÀNG KỲ (黃耆)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Astragalus membranaceus (Fisch.) Bunge hoặc Astragalus membranaceus var. mongholicus (Bunge) Hsiao. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Hoàng kỳ (Cương mục), Đái sâm (Bản kinh), Đái thậm (Biệt lục, còn gọi là Độc thậm), Kỵ thảo (Biệt lục, còn gọi là Thục chỉ), Bách bản (Biệt lục), Vương tôn (Dược tính luận). * '''Thời Trân nói:''' "Kỳ" (耆) nghĩa là bậc trưởng thượng. Hoàng kỳ sắc vàng, đứng đầu (trưởng) trong các vị thuốc bồi bổ, nên có tên như vậy. Nay dân gian thường viết thông dụng là Hoàng kỳ (黃芪). Còn viết là "Thị" (蓍) như trong cỏ thị bói toán là sai âm. Vương tôn ở đây cùng tên nhưng khác vật với cây Mẫu mông. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Hoàng kỳ mọc ở thung lũng núi các quận Thục, Bạch Thủy, Hán Trung. Thu hái vào tháng 2 và tháng 10, phơi khô trong râm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại tốt nhất ra từ Thao Dương vùng Lũng Tây, sắc vàng trắng, vị ngọt thanh, nay rất khó kiếm. Thứ đến là loại ở Đương Thương thuộc Hắc Thủy, sắc trắng, thớ thịt thô, loại tươi có vị ngọt và tính ôn bổ. Lại có loại ở Bạch Thủy vùng Tàm Lăng, màu sắc và thớ thịt tốt hơn ở đất Thục nhưng tính lãnh bổ. Lại có loại sắc đỏ, có thể nấu cao dán mụn nhọt. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu quận ở Hà Đông, Thiểm Tây đều có. Rễ dài khoảng 2-3 thước. Thân đơn hoặc mọc thành bụi. Lá mọc thưa như hình răng cừu, giống lá Tật lê. Tháng 7 nở hoa màu vàng tím. Quả dạng vỏ đậu dài khoảng 1 tấc. Tháng 8 đào rễ dùng. Lớp vỏ khi bẻ ra có xơ như bông, nên gọi là '''Miên Hoàng kỳ'''. * '''Thời Trân nói:''' Lá Hoàng kỳ giống lá Hòe nhưng hơi nhọn nhỏ, lại giống lá Tật lê nhưng hơi rộng to, màu xanh trắng. Hoa vàng tím to như hoa Hòe. Quả nhỏ nhọn dài tấc dư. Rễ dài 2-3 thước, loại chắc chắn như cán tên là tốt nhất. Mầm non cũng có thể trụng chín làm rau ăn. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Thời Trân nói:''' Người nay thường đập dẹp rễ, tẩm nước mật rồi nướng (chích) nhiều lần cho đến khi chín hoàn toàn. Cũng có cách dùng nước muối thấm thấu, cho vào bình đặt trong nồi nước sôi chưng chín rồi thái lát dùng. ===RỄ (根)=== ====KHÍ VỊ==== Vị ngọt (cam), tính hơi ấm (vi ôn), không độc (Bản kinh). Loại ở Bạch Thủy tính mát (lãnh), có tác dụng bổ (Biệt lục). * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Vào phần khí của hai kinh Thủ, Túc Thái âm (Phế, Tỳ), đồng thời vào kinh Thủ Thiếu dương (Tam tiêu) và Túc Thiếu âm Mệnh môn (Thận). ====CHỦ TRỊ==== Trị các vết thương do ung thư lâu ngày không lành, bài nùng (trừ mủ), chỉ thống (giảm đau), trị bệnh phong hủi, ngũ trĩ, chuột rút (thử lậu), bồi bổ hư tổn, trị bách bệnh ở trẻ nhỏ (Bản kinh). Trị phong tà trong tử cung phụ nữ, trục huyết xấu trong ngũ tạng, bổ hư tổn ở nam giới, ngũ lao gầy yếu, chỉ khát (hết khát), đau bụng tiết lỵ, ích khí, lợi âm khí (Biệt lục). Trị hen suyễn do hư, thận suy tai ù, trị hàn nhiệt, trị phát bối (nhọt lưng) (Chân Quyền). Giúp khí tráng gân xương, sinh cơ (mọc thịt), bổ huyết, phá trưng hà (u cục), trị lao hạch (lỏa lịch), trĩ ra máu, băng huyết, đới hạ, lỵ đỏ trắng, các bệnh trước và sau khi sinh, kinh nguyệt không đều, ho có đàm, phong nhiệt vùng đầu, mắt đỏ độc (Nhật Hoa). Trị lao hư tự hãn (mồ hôi tự ra), bổ phế khí, tả phế hỏa và tâm hỏa, làm bền lông da (thực bì mao), ích vị khí, trừ cơ nhiệt và các cơn đau trong các kinh (Lý Nguyên Tố). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Hoàng kỳ cam ôn thuần Dương, có 5 công dụng chính: ** Bổ mọi chứng hư tổn bất túc. ** Ích nguyên khí. ** Làm mạnh tỳ vị. ** Trừ cơ nhiệt (nóng trong cơ bắp). ** Bài nùng chỉ thống, hoạt huyết sinh huyết, làm chỗ dựa bên trong để đẩy mụn nhọt ra (nội thác âm thư), là vị thuốc thánh của nhà ngoại khoa trị mụn nhọt. * '''Lý Đông Viên nói:''' Hoàng kỳ cùng với Nhân sâm và Cam thảo là ba vị thuốc thánh để trừ táo nhiệt và cơ nhiệt. Khi tỳ vị hư, phế khí tuyệt trước tiên, nhất định phải dùng Hoàng kỳ để làm ấm phần nhục, ích bì mao, làm kín lỗ chân lông (thực tấu lý) không cho mồ hôi ra quá mức, từ đó ích nguyên khí và bổ tam tiêu. * '''Chu Đan Khê nói:''' Hoàng kỳ bổ nguyên khí, người béo trắng mà nhiều mồ hôi dùng thì rất hợp; nếu người mặt đen, hình thể rắn rỏi và gầy mà dùng thì sẽ gây đầy ngực (hung mãn). ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Tiểu tiện không thông:''' Miên Hoàng kỳ 2 tiền, nước 2 bát sắc còn 1 bát uống ấm. Trẻ em dùng nửa liều. * '''Tửu đản (vàng da do rượu):''' Đau vùng tâm vị, chân sưng, tiểu vàng. Hoàng kỳ 2 lạng, Mộc lan 1 lạng, tán bột. Uống với rượu. * '''Khí hư bạch trọc:''' Hoàng kỳ (sao muối) nửa lạng, Phục linh 1 lạng. Tán bột, mỗi lần uống 1 tiền với nước ấm. * '''Hoàng kỳ Lục Nhất thang (Trị khát bổ hư, phòng mụn nhọt):''' Miên Hoàng kỳ 6 lạng (một nửa dùng sống, một nửa tẩm nước muối chưng cơm 3 lần rồi sấy), Phấn Cam thảo 1 lạng (nửa sống nửa chích). Tán bột uống 2 tiền mỗi lần. * '''Người già bí tiện:''' Hoàng kỳ, Trần bì mỗi thứ nửa lạng. Tán bột. Dùng hạt mè (đay) nghiền nát lọc lấy nước nấu sôi, thêm mật ong uống cùng bột thuốc lúc đói. Hiệu quả như thần. * '''Đi ngoài ra máu (Tràng phong tả huyết):''' Hoàng kỳ, Hoàng liên lượng bằng nhau. Tán bột, làm viên với hồ bằng hạt lục đậu. Mỗi lần 30 viên. * '''Tiểu ra máu, đau buốt (Sa lâm):''' Hoàng kỳ, Nhân sâm lượng bằng nhau. Tán bột. Lấy củ cải cắt lát tẩm mật nướng chín, chấm bột thuốc mà ăn, chiêu với nước muối. * '''Ho khạc mủ máu, cổ họng khô:''' Hoàng kỳ 4 lạng, Cam thảo 1 lạng. Tán bột, pha nước uống mỗi lần 2 tiền. * '''Phù thũng do phế ung:''' Hoàng kỳ 2 lạng tán bột. Uống 2 tiền mỗi lần, ngày 3-4 lần. * '''Thai động bất an (đau bụng ra nước vàng):''' Hoàng kỳ, Xuyên khung mỗi vị 1 lạng, gạo nếp 1 hợp. Sắc uống. ===CÀNH VÀ LÁ (莖葉)=== * '''Chủ trị:''' Trị khát và gân co quắp, ung thũng thư sang (Biệt lục). ==NHÂN SÂM (人參)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Panax ginseng C.A. Mey. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên gọi khác:''' Nhân sâm (人薓 - âm Sâm, hoặc viết giản lược là 蓡), Hoàng sâm (Ngô Phổ bản thảo), Huyết sâm (Biệt lục), Nhân hàm (Bản kinh), Quỷ cái (Bản kinh), Thần thảo (Biệt lục), Thổ tinh (Biệt lục), Địa tinh (Quảng nhã), Hải du, Chú diện hoàn đan (Quảng nhã). * '''Lý Thời Trân nói:''' Nhân sâm sống lâu năm, thấm nhuần khí tiết mà dần dần trưởng thành, rễ giống hình người, có linh tính (thần), nên gọi là Nhân sâm, Thần thảo. Chữ "Sâm" (薓) có bộ "Tẩm" (𣹰), cũng mang nghĩa là thấm dần. Về sau vì chữ viết rườm rà, người ta dùng chữ "Sâm" (參) trong sao Sâm để thay thế cho giản tiện. Tuy nhiên, sự nhầm lẫn này đã lâu ngày nên không thể đổi lại được, duy chỉ có Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận là còn dùng chữ "薓". Sách Biệt lục gọi là "Nhân vi" (人微), chữ "Vi" là do chữ "Sâm" viết nhầm mà thành. Sự sinh trưởng của nó có từng giai đoạn (như cấp bậc), nên gọi là Nhân hàm. Loại cỏ này lưng hướng về phía dương, mặt hướng về phía âm, nên gọi là Quỷ cái. Trong ngũ sâm, nó sắc vàng thuộc Thổ, bổ Tỳ Vị, sinh âm huyết nên có tên Hoàng sâm, Huyết sâm. Đắc được tinh hoa linh diệu của đất, nên có tên Thổ tinh, Địa tinh. * Sách Quảng ngũ hành ký chép: Thời Tùy Văn Đế, tại Thượng Đảng có người sau nhà mỗi đêm nghe tiếng người gọi, tìm mãi không thấy. Cách nhà chừng một dặm, thấy cây nhân sâm cành lá khác thường, đào sâu xuống đất năm thước, được củ nhân sâm giống hệt cơ thể người, tứ chi đầy đủ, tiếng gọi từ đó cũng dứt. Xem đây thì cái tên "Thổ tinh" càng có bằng chứng. Sách Lễ đẩu uy nghi nói: Dưới có nhân sâm, trên có khí tím. Sách Xuân thu vận đẩu khu nói: Sao Dao Quang tán ra hóa thành nhân sâm. Bậc quân vương nếu bỏ rơi cái lợi của núi sông thì sao Dao Quang không sáng, nhân sâm không mọc. Qua đó, tên gọi "Thần thảo" lại càng được minh chứng. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Nhân sâm mọc ở thung lũng núi Thượng Đảng và Liêu Đông. Thu hái rễ vào thượng tuần tháng 2, 4, 8. Dùng dao tre cạo sạch, phơi khô, không để tiếp xúc với gió. Rễ giống hình người là có linh tính (thần). * '''Ngô Phổ nói:''' Có loại mọc ở Hàm Đan. Tháng 3 ra lá nhỏ và nhọn, cành màu đen, thân có lông. Tháng 3 và tháng 9 hái rễ. Rễ có tay chân, mặt mũi giống người là loại linh diệu. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Thượng Đảng ở phía tây nam Ký Châu. Nay loại sâm đưa đến hình dài và vàng, trạng như Phòng phong, thịt nhuận chắc và vị ngọt. Dân gian lại quý loại của nước Bách Tế, hình nhỏ mà chắc trắng, khí vị nhạt hơn sâm Thượng Đảng. Thứ đến dùng loại của Cao Ly, đất này gần Liêu Đông, hình sâm lớn mà xốp mềm, không bằng sâm Bách Tế và sâm Thượng Đảng. Cây có một thân mọc thẳng, 4-5 lá mọc đối, hoa màu tím. Người Cao Ly có bài Nhân sâm tán rằng: "Ba chạc năm lá, lưng dương hướng âm. Muốn đến tìm ta, cây giả (cây mận rừng) tìm nhau". * '''Tô Cung nói:''' Nhân sâm nay dùng đa số là loại của Cao Ly, Bách Tế. Loại mọc ở núi Tử Đoàn vùng Thái Hành, Lộ Châu gọi là Tử Đoàn sâm. * '''Tân La chép:''' Sâm sản sinh ở nước Tân La có tay chân, hình dáng như người, dài hơn thước, dùng gỗ sam kẹp định hình, dùng chỉ đỏ quấn trang trí. Sâm Sa Châu thì ngắn nhỏ, không dùng được. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu vùng Hà Đông và núi Thái Sơn đều có. Có loại từ vùng biên mậu (khuế trường) phía bắc và từ Mân Trung đưa đến, gọi là Tân La nhân sâm, thảy đều không tốt bằng sâm Thượng Đảng. Mùa xuân mọc mầm, đa phần ở núi sâu bóng râm, nơi ẩm ướt gần gốc sơn, cây sơn. Lúc mới mọc nhỏ chừng 3-4 tấc, một chạc 5 lá. Sau 4-5 năm sinh 2 chạc 5 lá, chưa có cuống hoa. Đến sau 10 năm thì sinh 3 chạc; lâu năm nữa sinh 4 chạc, mỗi chạc 5 lá. Giữa mọc một thân, dân gian gọi là "Bách xích chử".<ref>'''Bách xích chử (百尺杵):''' Cái chày trăm thước (mô tả cuống hoa mọc thẳng).</ref> Tháng 3-4 nở hoa nhỏ như hạt kê, nhị như sợi tơ, màu trắng tím. Sau mùa thu kết quả, chừng 7-8 hạt như hạt đậu, lúc xanh lúc đỏ, tự rụng. Rễ giống hình người là linh diệu. Loại ở Thái Sơn lá xanh khô, rễ trắng, rất khác biệt. ** Thử sâm: Tương truyền muốn thử sâm Thượng Đảng, cho hai người cùng chạy, một người ngậm nhân sâm, một người để miệng không. Chạy chừng 3-5 dặm, người không ngậm sâm ắt thở hồng hộc, người ngậm sâm hơi thở tự nhiên, đó mới là sâm thật. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thượng Đảng nay là Lộ Châu. Dân coi nhân sâm là mối họa cho địa phương (do phu phen, cống nạp) nên không còn hái nữa. Nay dùng thảy đều là sâm Liêu (Liêu Đông). Ba nước Cao Ly, Bách Tế, Tân La nay đều thuộc Triều Tiên. Sâm của họ vẫn đem sang Trung Quốc giao thương. Cũng có thể thu hạt, gieo vào tháng 10 như cách trồng rau. ** Phân biệt: Sâm hái mùa thu đông thì kiên thực; hái mùa xuân hè thì hư nhuyễn (xốp mềm), đó là do thời điểm chứ không phải do đất đai. Sâm Liêu loại còn da thì vàng nhuận như Phòng phong; loại bỏ da thì trắng chắc như bột. Kẻ làm giả thường dùng rễ Sa sâm (Adenophora), Tề ni (Adenophora remota), Cát cánh (Platycodon grandiflorus) để đánh tráo. Sa sâm thể xốp không lõi vị nhạt; Tề ni thể xốp không lõi; Cát cánh thể chắc có lõi nhưng vị đắng. Nhân sâm thể chắc có lõi, vị ngọt hơi đắng, có dư vị riêng, dân gian gọi là "Kim tỉnh ngọc lan".<ref>'''Kim tỉnh ngọc lan (金井玉闌):''' Giếng vàng lan can ngọc (mô tả lát cắt có vòng vàng bên ngoài, tâm trắng bên trong).</ref> Loại giống hình người gọi là "Hài nhi sâm" đa phần là đồ giả. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nhân sâm dễ bị mọt, chỉ cần cho vào bình mới đậy kín, có thể để cả năm không hỏng. * '''Lý Ngôn Văn nói:''' Nhân sâm khi sống hướng về bóng râm nên không thích gặp gió và nắng. Hễ dùng sống thì nên thái lát (tu quệ);<ref>'''Tu quệ (咀):''' Cách thái dược liệu thành miếng nhỏ để sắc.</ref> dùng chín thì nên bọc giấy nướng cho ấm, hoặc dùng rượu ngon thấm thấu rồi thái lát nướng chín. '''Cấm dùng đồ sắt'''. ===RỄ (根)=== ====【Khí vị】==== Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. * '''Biệt lục viết:''' Hơi ấm (vi ôn). * '''Ngô Phổ dẫn lời Thần Nông:''' Tính hơi lạnh (tiểu hàn); '''Đồng Quân, Lôi Công:''' Vị đắng; '''Hoàng Đế, Kỳ Bá:''' Vị ngọt, không độc. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Tính ấm, vị ngọt, hơi đắng. Khí và vị đều mỏng, tính nổi và đi lên, là Dương trung chi Dương. Lại nói: Trong Dương có chút Âm. * '''Từ Chi Tài viết:''' Lấy Phục linh, Mã lận làm sứ. Ghét Sưu sơ, Lỗ kiềm. Phản Lê lô. Có thuyết nói: Sợ Ngũ linh chi, ghét Tạo giáp, Hắc đậu, làm động Tử thạch anh. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Nhân sâm được Thăng ma dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Thượng tiêu, tả hỏa trong Phế; được Phục linh dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Hạ tiêu, tả hỏa trong Thận. Được Mạch môn đông thì làm cho mạch sống lại (sinh mạch); được Can khương thì bổ khí. * '''Lý Đông Viên viết:''' Được Hoàng kỳ, Cam thảo thì vị ngọt tính ấm giúp trừ đại nhiệt, tả âm hỏa, bổ nguyên khí, lại là vị thuốc thánh của nhà trị mụn nhọt (sang gia). * '''Chu Đan Khê viết:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế). Phản với Lê lô, nếu uống một lạng sâm mà lẫn một tiền Lê lô thì công năng mất hết. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Lý Đông Viên dùng trị Tỳ Vị, tả âm hỏa; trong bài Giao thái hoàn dùng Nhân sâm với Tạo giáp là "ghét mà không ghét" (ác nhi bất ác). Phương thuốc cổ trị bế kinh dùng Tứ vật thang thêm Nhân sâm, Ngũ linh chi là "sợ mà không sợ". Lại trị đàm ở hung cách (ngực hoành), dùng Nhân sâm cùng Lê lô để gây nôn (dũng việt) là kích thích tính nộ (giận dữ) của thuốc. Đây đều là những điều tinh vi diệu ảo, người không đạt được mức độ quyền biến thì không thể biết. ====【Chủ trị】==== Bổ ngũ tạng, an tinh thần, định hồn phách, dừng kinh quý (hồi hộp lo sợ), trừ tà khí, sáng mắt, khai tâm, ích trí. Dùng lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ ('''Bản kinh'''). Trị tràng vị lạnh, bụng đau chướng, ngực sườn đầy tức, hoắc loạn thổ nghịch, điều hòa trung tiêu, dừng tiêu khát, thông huyết mạch, phá kiên tích (khối u tích tụ), giúp người ta không quên ('''Biệt lục'''). Chủ ngũ lao thất thương, hư tổn gầy yếu, dừng nôn mửa, bổ ngũ tạng lục phủ, bảo vệ trung tiêu, giữ gìn thần khí. Tiêu đàm trong ngực, trị phổi héo (phế nuy) và chứng kinh giản, khí lạnh ngược lên, thương hàn không ăn được, phàm người hư nhược mà ngủ mơ màng rối loạn thì thêm vào ('''Chân Quyền'''). Dừng phiền táo, biến đổi nước chua ('''Lý Tuần'''). Tiêu thực khai vị, điều trung trị khí, giết các chất độc từ thuốc kim thạch ('''Đại Minh'''). Trị dương khí ở Phế Vị không đủ, Phế khí hư súc (ngắn gấp), đoản khí thiếu khí, bổ trung hoãn trung, tả hỏa tà trong Tâm, Phế, Tỳ, Vị, dừng khát sinh tân dịch ('''Nguyên Tố'''). Trị tất cả các chứng hư của nam và nữ, phát nhiệt tự hãn (mồ hôi tự ra), váng đầu nhức đầu, phản vị (nôn thức ăn ra), sốt rét cách nhật (ngược tật), hoạt tiết lỵ lâu ngày, tiểu tiện nhiều lần hoặc nhỏ giọt (lâm ly), lao quyện nội thương, trúng phong trúng thử, tê bại (vê tý), thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, tiểu ra máu, băng huyết, các bệnh trước và sau khi sinh ('''Thời Trân'''). ====【Phát minh】==== * '''Đào Hoằng Cảnh viết:''' Nhân sâm là vị thuốc thiết yếu, công năng cùng với Cam thảo tương tự nhau. * '''Lý Đông Viên viết:''' Nhân sâm vị ngọt tính ấm, có thể bổ nguyên khí trong Phế, Phế khí vượng thì khí của bốn tạng kia đều vượng, tinh tự sinh mà hình vóc tự thịnh, ấy là vì Phế chủ các loại khí vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người bệnh sau khi ra mồ hôi mà mình nóng, mất máu, mạch trầm trì; hoặc hạ lỵ mà mình mát, mạch vi, huyết hư, đều phải thêm Nhân sâm. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Nhân sâm dùng sống thì khí mát (lương), dùng chín thì khí ấm (ôn); vị ngọt bổ Dương, hơi đắng bổ Âm. Khí chủ việc sinh ra muôn vật (thuộc Trời), vị chủ việc thành hình muôn vật (thuộc Đất). Khí vị tạo thành là cái đạo tạo hóa của Âm Dương vậy. ====【Chính ngộ (Sửa chữa sai lầm)】==== '''Lôi Hiệu nói:''' Mùa hè ít dùng Nhân sâm, phát sinh cái họa Tâm hạ kết (tích khí dưới tim). '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhân sâm ngọt ấm, bổ Dương của Phế, tiết Âm của Phế. Phế chịu hàn tà, nên dùng thứ này để bổ; Phế chịu hỏa tà, thì ngược lại làm thương Phế, nên lấy Sa sâm (Adenophora) thay thế. '''Vương Luân nói:''' Phàm tửu sắc quá độ, tổn thương chân âm của Phế và Thận, âm hư hỏa động, các chứng lao sấu thổ huyết, khái huyết, chớ dùng vị này. Bởi Nhân sâm vào kinh Thủ thái âm năng bổ hỏa, cho nên Phế chịu hỏa tà thì kiêng kỵ. Nếu lỡ uống các tễ cam ôn như Sâm, Kỳ, thì bệnh ngày càng tăng; uống quá nhiều thì chết không thể trị. Bởi lẽ cam ôn trợ khí, khí thuộc Dương, Dương vượng thì Âm càng tiêu; chỉ nghi dùng các thuốc đắng ngọt lạnh (khổ cam hàn) để sinh huyết giáng hỏa. Người đời không biết, thường thường uống Sâm, Kỳ để làm thuốc bổ, mà người chết nhiều vậy. '''Lý Ngôn Văn nói:''' Tôn Chân Nhân nói: Mùa hè uống Sinh mạch tán, Thận lịch thang ba liều thì bách bệnh không sinh. Lý Đông Viên cũng nói Sinh mạch tán, Thanh thử ích khí thang là thánh dược tả hỏa ích Kim trong kỳ Tam phục, mà Lôi Hiệu ngược lại nói phát sinh cái họa Tâm hạ kết là sai vậy. "Kết" (積) là khí tích ở cạnh rốn, không phải bệnh ở Tâm. Nhân sâm năng dưỡng chính khí phá kiên tích, há có lý phát sinh chứng kết khí? Xem Trương Trọng Cảnh trị bụng có hàn khí xông lên, có đầu có chân (u cục), trên dưới đau không thể chạm gần, nôn không thể ăn, dùng "Đại kiến trung thang" thì có thể biết vậy. Lại nữa, Vương Hiếu Cổ nói Nhân sâm bổ Dương tiết Âm, Phế hàn nghi dùng, Phế nhiệt không nghi dùng. Vương Luân (Tiết Trai) nhân đó mà họa theo, nói Sâm, Kỳ năng bổ Phế hỏa, các bệnh âm hư hỏa động thất huyết, uống nhiều tất chết. Thuyết của hai nhà này đều phiến diện vậy. Phàm Nhân sâm năng bổ nguyên dương, sinh âm huyết, mà tả âm hỏa, thuyết của Lý Đông Viên đã sáng tỏ vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người vong huyết, huyết hư đều thêm Nhân sâm; lại nói: Phế hàn thì bỏ Nhân sâm, thêm Can khương, không để khí bị ủng trệ. Chu Đan Khê cũng nói hư hỏa có thể bổ bằng nhóm Sâm, Kỳ; thực hỏa có thể tả bằng nhóm Cầm, Liên. Hai nhà này không xét đến cái tinh vi của ba vị đại sư (Trọng Cảnh, Đông Viên, Đan Khê) mà bảo Nhân sâm bổ hỏa, thật sai lầm thay! Phàm hỏa và nguyên khí không đội trời chung, nguyên khí thắng thì tà hỏa lui. Nhân sâm đã bổ nguyên khí mà lại còn bổ tà hỏa, ấy là kẻ "tiểu nhân lật lọng" sao, làm sao có thể cùng Cam thảo, Linh, Truật gọi là "Tứ quân tử" được? Tuy nhiên, lời của ba nhà kia (Lôi Hiệu, Hiếu Cổ, Vương Luân) không thể bỏ hết. Chỉ vì lời lẽ có chỗ ngưng trệ, cho nên kẻ giữ lời đó, nệ vào một phía mà cố chấp, đến mức nhìn Nhân sâm như xà hạch (rắn rết), ấy là không được vậy. * Phàm người mặt trắng, mặt vàng, mặt xanh xám gầy yếu, đều là khí của Tỳ, Phế, Thận bất túc, có thể dùng vậy; mặt đỏ, mặt đen là khí tráng thần cường, không thể dùng vậy. * Mạch mà Phù mà Khâu, Nhu, Hư, Đại, Trì hoãn vô lực, Trầm mà Trì, Sáp, Nhược, Tế, Kết, Đại vô lực, đều là hư mà bất túc, có thể dùng vậy; nếu Huyền, Trường, Khẩn, Thực, Hoạt, Sác có lực, đều là hỏa uất nội thực, không thể dùng vậy. * Khiết Cổ (Trương Nguyên Tố) bảo suyễn ho chớ dùng, là cái suyễn do đàm thực khí ủng vậy; nếu Thận hư khí ngắn thở gấp, tất phải dùng vậy. * Trọng Cảnh bảo Phế hàn mà ho chớ dùng, là cái ho do hàn bó nhiệt tà ủng trệ trong Phế vậy; nếu tự hãn ố hàn mà ho, tất phải dùng vậy. * Đông Viên bảo bệnh lâu ngày uất nhiệt ở Phế chớ dùng, là hỏa uất ở trong nghi phát tán không nghi bổ vậy; nếu Phế hư hỏa vượng, khí ngắn tự hãn, tất phải dùng vậy. * Đan Khê bảo các chứng đau (thống) không được dùng ngay, là tà khí đương lúc sắc bén, nghi tán không nghi bổ vậy; nếu lý hư thổ lợi (nôn lỵ) cùng bệnh lâu ngày vị yếu hư đau thích xoa nắn, tất phải dùng vậy. * Tiết Trai (Vương Luân) bảo âm hư hỏa vượng chớ dùng, là huyết hư hỏa kháng năng ăn được, mạch huyền mà sác, làm mát thì thương Vị, làm ấm thì thương Phế, không chịu được thuốc bổ vậy. Nếu tự hãn khí ngắn, chi hàn mạch hư, tất phải dùng vậy. Xét kỹ như thế, thì Nhân sâm lúc nào dùng được, lúc nào không dùng được, đã hiểu quá nửa rồi vậy. '''Lý Cơ nói:''' Thuyết của Vương Luân vốn dựa vào Vương Hiếu Cổ, nhưng Vương Luân lại quá mức cực đoan. Đan Khê nói hư hỏa có thể bổ, phải dùng Sâm Kỳ. Lại nói âm hư triều nhiệt, suyễn ho thổ huyết, đạo hãn (mồ hôi trộm) các chứng, dùng Tứ vật thang gia Nhân sâm, Hoàng bá, Tri mẫu. Lại nói người hiếu sắc, Phế Thận bị thương, ho mãi không khỏi, dùng Quỳnh ngọc cao chủ trị. Lại nói Phế Thận hư cực, dùng Độc sâm cao chủ trị. Ấy là biết chứng âm hư lao thái chưa từng không dùng Nhân sâm vậy. Tiết Trai (Vương Luân) là học trò của Đan Khê mà lại tương phản như thế. Lời này một khi thốt ra, đóng khung vào mắt người đời sau. Phàm gặp các chứng trên, không hỏi bệnh nghi dùng hay không, cứ lấy đó làm cửa miệng. Khiến cho bậc lương y bị bó tay (chế tửu), chỉ cầu thoát khỏi oán trách của nhà người bệnh. Nhà người bệnh cũng lấy thuyết này để ngang trong lòng, cam chịu thuốc khổ hàn, dù đến mức trên nôn dưới lỵ, cách cái chết không xa, cũng không tỉnh ngộ. Cổ kim trị lao không ai qua được Cát Khả Cửu, các bài Độc sâm thang, Bảo chân thang của ông ấy, há có bao giờ bỏ Nhân sâm không dùng? Thuyết của Tiết Trai, thực chưa suy nghĩ sâu xa vậy. '''Dương Khởi nói:''' Công lao Nhân sâm ghi trong Bản thảo, người người đều biết. Gần đây vì người bệnh tiếc tiền mà coi nhẹ thầy thuốc, thầy thuốc lại tính toán chi phí, không nỡ dùng sâm trị bệnh, dẫn đến nhẹ hóa nặng, nặng hóa nguy. Tuy nhiên có 4 chứng Phế hàn, Phế nhiệt, Trung mãn, Huyết hư, nói chỉ nghi tán hàn, tiêu nhiệt, tiêu trướng, bổ doanh mà không dùng Nhân sâm, thuyết đó nghe có vẻ đúng; nhưng chẳng biết rằng nếu gia thêm Nhân sâm ở trong, hộ trì nguyên khí, trợ lực cho quần dược, thì công hiệu càng nhanh. Nếu bảo khí không có phép bổ, thì lầm to. Phương cổ trị Phế hàn lấy Ôn phế thang, Phế nhiệt lấy Thanh phế thang, Trung mãn lấy Phân tiêu thang, Huyết hư lấy Dưỡng doanh thang, đều có Nhân sâm ở trong vậy. Cái gọi là "Tà khí xâm phạm được, khí ắt phải hư". Lại nói "Dưỡng chính thì tà tự trừ", Dương vượng thì sinh âm huyết, quý ở chỗ phối hợp đắc nghi mà thôi. Thầy thuốc tầm thường mỗi khi bảo Nhân sâm không thể nhẹ tay dùng, thật là tầm thường thay! Bậc quân vương hiếu sinh, không nên coi nhẹ tính mạng mà coi trọng thầy thuốc (tầm thường), thầy thuốc cũng không nên tính toán lợi lộc mà không dùng. Viết lời này để khuyên nhủ, xin chớ bảo là gàn dở (uẩn). ====【PHỤ PHƯƠNG】 (Cũ 7, Mới 60)==== * '''Nhân sâm cao:''' Dùng Nhân sâm 10 lạng thái nhỏ, lấy 20 chén nước hoạt thủy (nước chảy) ngâm thấu, cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa củi dâu chậm rãi sắc lấy 10 chén, lọc bỏ bã, lại dùng 10 chén nước sắc lấy 5 chén, hòa với nước cốt trước đó cô thành cao, thu vào bình, tùy bệnh mà làm thang dẫn. ** '''Đan Khê nói:''' Người ham muốn nhiều, thận khí suy yếu, ho không dứt, dùng Gừng sống, Trần bì sắc thang, hòa cao này mà uống. ** Ông Trịnh ở Phố Giang, tháng 5 bị lỵ, lại phạm phòng sự (quan hệ tình dục), bỗng phát hôn vựng, không biết gì, tay buông mắt tối, mồ hôi tự chảy như mưa, trong họng đàm kêu như kéo cưa, tiểu tiện mất tự chủ, mạch đại không chừng, đây là chứng âm hư dương tuyệt vậy. Tôi lệnh gấp sắc đại liệu Nhân sâm cao, lại châm cứu huyệt Khí hải 18 tráng, tay phải liền cử động được, thêm 3 tráng nữa, môi miệng khẽ động, bèn cho uống 1 chén cao, sau nửa đêm uống 3 chén, mắt đã có thể động, dùng hết 3 cân sâm thì mới có thể nói và đòi ăn cháo, hết 5 cân thì lỵ dứt, đến 10 cân thì hoàn toàn bình phục, nếu trị theo chứng trúng phong thì lầm to vậy. ** Một người bị nhọt độc ở lưng, đã uống thuốc Nội thác Thập tuyên quá nhiều, mủ ra gây nôn, phát nhiệt, lục mạch trầm sác có lực, đây là điều cấm kỵ của loét nhọt. Bèn cho dùng đại liệu Nhân sâm cao hòa Trúc lịch uống, sâm dùng hết 16 cân, tre chặt hơn trăm cây, mà yên. Sau hơn mười ngày, gặp gió lớn nhổ cây, nhọt lại nổi mủ, bên trong có một đường chỉ đỏ qua bả vai đến sườn phải. Tôi nói: Gấp làm sâm cao, lấy Khung, Quy, Trần bì làm thang, cho thêm Trúc lịch, nước cốt Gừng mà uống. Hết 3 cân thì nhọt vỡ mủ, điều lý mới yên. ** Nếu ung thư (nhọt độc) sau khi vỡ, khí huyết đều hư, nôn nghịch không ăn được, biến chứng không nhất định, dùng Sâm, Kỳ, Quy, Truật lượng bằng nhau sắc cao uống là hay nhất. * '''Trị trung thang:''' '''Tô Tụng nói:''' Trương Trọng Cảnh trị ngực tê (thống tý), trong tim bĩ cứng, khí lưu kết ở ngực, ngực đầy, dưới sườn khí nghịch xông lên tim, bài Trị trung thang chủ trị. Tức là bài Lý trung thang gồm: Nhân sâm, Bạch truật, Can khương, Cam thảo mỗi thứ 3 lạng. Bốn vị dùng 8 thăng nước, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 1 thăng, ngày 3 lần, tùy chứng gia giảm. Phương này từ đời Tấn, Tống về sau đến các danh y đời Đường, ai trị bệnh tâm phúc cũng không vị nào không dùng, hoặc làm thang, hoặc làm hoàn mật, hoặc làm tán, đều có kỳ hiệu. ** Cư sĩ Hồ Hiệp trị Hoắc loạn gọi là Ôn trung thang. ** Đào Ẩn Cư trong Bách nhất phương nói: Hoắc loạn mà thuốc khác khó tìm, nhưng Trị trung phương, Tứ thuận thang, Hậu phác thang không thể thiếu tạm thời, thường phải chuẩn bị sẵn mang theo mình. ** Vua Đường Thạch Tuyền công Vương Phương Khánh nói: Các phương này không chỉ trị Hoắc loạn, mà mọi bệnh đều chữa được. ** '''Tứ thuận thang:''' dùng Nhân sâm, Cam thảo, Can khương, Phụ tử (nướng) mỗi thứ 2 lạng, nước 6 thăng sắc lấy 2 thăng rưỡi, chia 4 lần uống. * '''Tứ quân tử thang:''' Trị tỳ vị khí hư, không muốn ăn uống, các bệnh khí hư, lấy bài này làm chủ. Nhân sâm 1 tiền, Bạch truật 2 tiền, Bạch phục linh 1 tiền, Cam thảo chích 5 phân, gừng 3 lát, táo 1 quả. Nước 2 chung, sắc lấy 1 chung, uống ấm trước bữa ăn. Tùy chứng gia giảm (Hòa tễ cục phương). * '''Khai vị hóa đàm:''' Chán ăn, không phân biệt người lớn trẻ nhỏ. Nhân sâm (sấy) 2 lạng, Bán hạ (ngâm nước gừng, sấy) 5 tiền. Tán bột, lấy bột mì tinh làm hồ, viên bằng hạt đậu xanh. Sau ăn dùng nước gừng uống 30-50 viên, ngày 3 lần. Thánh huệ phương thêm Trần bì 5 tiền (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Vị hàn khí đầy không thể vận hóa:''' Dễ đói nhưng không ăn được. Nhân sâm (bột) 2 tiền, Phụ tử sống (bột) nửa tiền, gừng sống 2 tiền. Nước 7 phần sắc lấy 2 phần, cho 1 lòng trắng trứng gà, khuấy đều uống lúc đói (Thánh tế tổng lục). * '''Tỳ vị hư nhược, không muốn ăn uống:''' Gừng sống nửa cân (lấy nước cốt), mật trắng 10 lạng, Nhân sâm (bột) 4 lạng. Nồi bạc cô thành cao. Mỗi lần dùng nước cơm hòa 1 thìa (Phổ tế phương). * '''Vị hư buồn nôn, hoặc nôn có đàm:''' Nhân sâm 1 lạng. Nước 2 chén sắc lấy 1 chén, cho 1 chén Trúc lịch, 3 thìa nước gừng, uống ấm cách xa bữa ăn, uống đến khi thấy hiệu quả thì thôi, người già càng nên dùng (Giản tiện phương). * '''Vị hàn nôn ác không thể tiêu hóa thủy cốc:''' Ăn vào là nôn. Nhân sâm, Đinh hương, Hoắc hương mỗi thứ 2 tiền rưỡi, Trần bì 5 tiền, gừng sống 3 lát, nước 2 chén sắc lấy 1 chén, uống ấm (Bạt tụy phương). * '''Phản vị nôn mửa:''' Thức ăn vào miệng là nôn ngay, mệt mỏi không còn sức, sắp chết. Nhân sâm Thượng Đảng 3 lạng lớn (đập vụn). Nước 1 thăng lớn, sắc lấy 4 phần, uống nóng, ngày 2 lần. Đồng thời dùng nước cốt nhân sâm cho vào gạo tẻ, lòng trắng trứng gà, hành trắng, nấu cháo mà ăn. Lý Trực Phương quan Tư huân bị bệnh này tại Hán Nam hơn 2 tháng, các phương không khỏi, dùng phương này liền định ngay. Mười ngày sau vào kinh sư. Lý Giáng mỗi khi luận bàn với danh y về vị thuốc này, đều khen khó có gì sánh bằng (Lý Giáng Binh bộ thủ tập phương). * '''Ăn vào là nôn (Nhân sâm bán hạ thang):''' Dùng Nhân sâm 1 lạng, Bán hạ 1 lạng 5 tiền, gừng sống 10 lát. Nước 1 đấu, dùng gáo múc lên rót xuống (dương) 240 lần, lấy 3 thăng, cho vào 3 hớp mật trắng, sắc lấy 1 thăng rưỡi, chia lần uống (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ phương). * '''Hoắc loạn nôn ác:''' Nhân sâm 2 lạng, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 1 chén, cho 1 lòng trắng trứng gà, sắc lại uống ấm. Có bài thêm Đinh hương (Vệ sinh gia bảo phương). * '''Hoắc loạn phiền muộn:''' Nhân sâm 5 tiền, Quế tâm nửa tiền. Nước 2 chén sắc uống (Thánh huệ phương). * '''Hoắc loạn nôn tả, phiền táo không dứt:''' Nhân sâm 2 lạng, Trần bì 3 lạng, gừng sống 1 lạng. Nước 6 thăng sắc lấy 3 thăng, chia 3 lần uống (Thánh tế tổng lục). * '''Có thai nôn nước, chua tim đau bụng, không ăn được:''' Nhân sâm, Can khương (nướng) lượng bằng nhau, tán bột, dùng nước cốt Sinh địa hòa viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Hòa tễ cục phương). * '''Dương hư khí suyễn:''' Tự hãn (mồ hôi tự ra), đạo hãn (mồ hôi trộm), ngắn hơi chóng mặt. Nhân sâm 5 tiền, Thục phụ tử 1 lạng. Chia 4 liều, mỗi liều dùng 10 lát gừng sống, 2 chén nước chảy sắc lấy 1 chén, uống ấm cách xa bữa ăn (Tế sinh phương). * '''Suyễn cấp sắp tuyệt, hơi thở khò khè:''' Nhân sâm tán bột, uống với nước ấm mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), ngày 5-6 lần rất hiệu quả (Chẩm hậu phương). * '''Sản hậu phát suyễn:''' Do máu vào phổi, là chứng nguy. Nhân sâm (bột) 1 lạng, Tô mộc 2 lạng. Nước 2 bát sắc lấy 1 bát nước Tô mộc, hòa bột sâm uống, thần hiệu (Thánh huệ phương). * '''Sản hậu huyết vựng (choáng váng do mất máu):''' Nhân sâm 1 lạng, Tử tô nửa lạng, dùng nước tiểu trẻ em (đồng niệu), rượu, nước mỗi thứ 3 phần hòa sắc uống (Y phương trích yếu). * '''Sản hậu không nói được:''' Nhân sâm, Thạch xương bồ, Thạch liên nhục lượng bằng nhau, mỗi lần 5 tiền sắc nước uống (Phụ nhân lương phương). * '''Sản hậu các chứng hư, phát nhiệt tự hãn:''' Nhân sâm, Đương quy lượng bằng nhau. Tán bột, dùng 1 cái cật lợn (trư yêu tử) bóc màng thái miếng nhỏ, dùng 3 thăng nước, nửa hớp gạo nếp, 2 cọng hành trắng, nấu gạo chín lấy 1 chén nước cốt, cho thuốc vào sắc còn 8 phần, uống ấm trước khi ăn (Vĩnh loại phương). * '''Sản hậu bí tắc chảy máu nhiều:''' Dùng Nhân sâm, Ma tử nhân, Chỉ xác (sao với cám). Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Tế sinh phương). * '''Sanh ngang sanh ngược (nghịch sản):''' Nhân sâm (bột), Nhũ hương (bột) mỗi thứ 1 tiền, Đan sa (bột) 5 phân. Nghiền đều, dùng 1 lòng trắng trứng gà, 3 thìa nước cốt gừng sống, khuấy đều uống nguội, mẹ con đều yên, thần hiệu. Đây là phương của Thi Hán Khanh (Phụ nhân lương phương). * '''Khai tâm ích trí:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, luyện với mỡ lợn (trư phì phưởng) đã rán 10 lạng. Dùng rượu ngon hòa đều. Mỗi lần uống 1 cốc, ngày 2 lần. Uống đến 100 ngày thì tai mắt thông minh, cốt tủy đầy đủ, da dẻ nhuận trẽo, một ngày nhớ nghìn lời, kiêm trị cả đàm bệnh do phong nhiệt (Thiên kim phương). * '''Nghe tiếng sấm liền hôn mê:''' Một đứa trẻ 7 tuổi hễ nghe tiếng sấm là ngất xỉu không biết gì, đây là do khí khiếp sợ. Dùng Nhân sâm, Đương quy, Mạch môn đông mỗi thứ 2 lạng, Ngũ vị tử 5 tiền. Nước 1 đấu sắc lấy 5 thăng nước cốt; lại dùng 5 thăng nước sắc bã lấy 2 thăng, hòa chung cô thành cao. Mỗi lần dùng 3 thìa hòa nước ấm uống. Dùng hết 1 cân, sau đó nghe sấm vẫn bình thường (Dương Khởi Giản tiện phương). * '''Bỗng nhiên thở gấp nghẹn tuyệt:''' Phương xem ở dưới mục Đại hoàng. * '''Ly hồn dị tật:''' Có người nằm xuống liền cảm thấy ngoài thân có một thân nữa, giống hệt không khác, nhưng không nói năng gì. Phàm người ngủ thì hồn về gan, đây do gan hư tà xâm nhập, hồn không về nhà, bệnh tên là Ly hồn. Dùng Nhân sâm, Long sỉ, Xích phục linh mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy nửa chén, hòa 1 tiền bột Chu sa đã thủy phi, uống lúc ngủ. Mỗi đêm 1 lần, sau 3 đêm, người thật thì khí sảng khoái, người giả (hình bóng) liền tan biến (Hạ Tử Ích Quái chứng kỳ tật phương). * '''Chính xung tự hãn (Tim đập mạnh, mồ hôi tự ra):''' Do tâm khí bất túc. Nhân sâm nửa lạng, Đương quy nửa lạng, dùng 2 quả cật lợn, dùng 2 bát nước sắc lấy 1 bát rưỡi, lấy cật lợn thái nhỏ, cho Sâm và Quy vào sắc chung còn 8 phần, lúc đói ăn cật lợn rồi lấy nước thuốc chiêu xuống. Bã thuốc sấy khô tán bột, dùng bột Hoài sơn làm hồ viên hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên, uống với nước táo cách xa bữa ăn, không quá 2 liều là khỏi. Đây là phương của thần tế đại sư ở Côn Sơn, có bài thêm 2 tiền Nhũ hương (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Dưới tâm kết khí:''' Phàm dưới tâm cứng, ấn vào thì không có, thường cảm thấy đầy trướng, ăn nhiều thì nôn, khí dẫn lên xuống, nấc cụt không dứt, do lo nghĩ quá nhiều, khí không vận hành theo thời mà kết trệ, gọi là kết khí. Nhân sâm 1 lạng, Trần bì (bỏ cùi trắng) 4 lạng. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 50-60 viên với nước cơm (Thánh huệ phương). * '''Mệt mỏi sau khi quan hệ (phòng hậu khốn quyện):''' Nhân sâm 7 tiền, Trần bì 1 tiền, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 8 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần, giá trị nghìn vàng không truyền (Phương của Triệu Vĩnh Am). * '''Hư lao phát nhiệt (Ngu lỗ thang):''' Dùng Nhân sâm Thượng Đảng, Sài hồ Ngân Châu mỗi thứ 3 tiền, Đại táo 1 quả, gừng sống 3 lát. Nước 1 chung rưỡi sắc lấy 7 phần, uống ấm cách xa bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng (Kỳ hiệu lương phương). * '''Phổi nhiệt khản tiếng:''' Nhân sâm 2 lạng, Kha tử 1 lạng, tán bột ngậm rồi nuốt dần (Đan Khê trích huyền). * '''Phổi hư ho lâu ngày:''' Nhân sâm (bột) 2 lạng, Lộc giác giao (nướng, nghiền) 1 lạng. Mỗi lần dùng 3 tiền, dùng nước sắc Bạc hà và Đậu xị 1 chén, thêm chút hành, cho vào nồi nhỏ đun 1-2 dạo, rót ra chén. Khi ho thì nhấp ấm 3-5 ngụm, rất tốt (Thực liệu bản thảo). * '''Dừng ho hóa đàm:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, Minh phàn 2 lạng. Dùng 2 thăng giấm tốt nấu Minh phàn thành cao, cho bột sâm và mật luyện vào hòa thu lại. Mỗi lần lấy 1 viên bằng hạt đậu hà lan đặt dưới lưỡi, cơn ho liền dứt, đàm tự tiêu (Giản tiện phương). * '''Trẻ nhỏ suyễn ho:''' Phát nhiệt tự hãn, nôn ra máu, mạch hư vô lực. Nhân sâm, Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Mỗi lần nửa tiền hòa nước mật uống, lấy khỏi làm chừng (Kinh tế phương). * '''Suyễn ho khạc huyết:''' Khí nghịch lên, suyễn gấp, ho ra máu thổ huyết, mạch vô lực. Bột nhân sâm mỗi lần 3 tiền, hòa lòng trắng trứng gà uống, lúc mờ sáng (5 canh đầu) uống xong nằm ngủ ngay, bỏ gối nằm ngửa, chỉ 1 liều là khỏi. Bệnh lâu năm thì uống thêm. Người khạc máu (lạc huyết) dùng hết 1 lạng rất tốt. Một phương dùng nước mài trứng gà đen nghìn lần, tự nhiên hóa thành nước hòa thuốc càng diệu. Kỵ giấm, mặn, tanh, mắm muối, mì chua, say no, nghỉ ngơi điều độ mới tốt (Thẩm Tồn Trung Linh uyển phương). * '''Ho khạc máu:''' Nhân sâm, Hoàng kỳ, bột mì tinh (phi la diện) mỗi thứ 1 lạng, Bách hợp 5 tiền. Tán bột, viên với nước bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước rễ cỏ tranh (mao căn) trước bữa ăn. ** Chu thị tập nghiệm phương: dùng Nhân sâm, Nhũ hương, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng thịt Ô mai hòa viên bằng hạt đạn (đầu ngón tay). Mỗi lần dùng nước trắng hòa tan 1 viên, ngày uống 1 lần. ** Hư lao thổ huyết nặng, trước tiên lấy Thập tro tán để cầm lại, người đó ắt khốn quyện, phép phải bổ dương sinh âm, dùng Độc sâm thang làm chủ. Nhân sâm tốt 1 lạng, Táo béo 5 quả. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung uống, ngủ một giấc say, bệnh giảm được 5-6 phần, sau đó uống thuốc điều lý (Cát Khả Cửu Thập dược thần thư). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Do thất tình cảm ứng, tửu sắc nội thương, khí huyết vận hành loạn xạ, máu trào ra cả miệng mũi, mạch Tâm Phế bị đứt, máu như suối phun, trong phút chốc không cứu kịp. Dùng Nhân sâm (sấy), lá Trắc bá (đồ, sấy), Kinh giới tuệ (đốt tồn tính) mỗi thứ 5 tiền. Tán bột. Dùng 2 tiền, thêm 2 tiền bột mì tinh, dùng nước mới múc hòa thành hồ loãng mà uống, một lát sau lại uống thêm ngụm nữa, một liều là cầm ngay (Hoa Đà Trung tạng kinh). * '''Chảy máu cam không dứt (nục huyết):''' Nhân sâm, cành Liễu (loại hái ngày Hàn thực) lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần 1 tiền, uống với nước chảy về hướng đông, ngày 3 lần. Không có cành liễu dùng Tâm sen (Thánh tế tổng lục). * '''Chảy máu kẽ răng:''' Nhân sâm, Xích phục linh, Mạch môn đông mỗi thứ 2 tiền. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần. Tô Đông Pha được phương này tự khen là thần kỳ. Kẻ hậu sinh nhiều người bị bệnh này, tôi đã thử nhiều lần, đều linh nghiệm như lời nói (Đàm Dã Ông thử nghiệm phương). * '''Âm hư niệu huyết (tiểu ra máu):''' Nhân sâm (sấy), Hoàng kỳ (chích nước muối) lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng 1 củ củ cải lớn vỏ đỏ, cắt làm 4 miếng, dùng 2 lạng mật, nhúng từng miếng củ cải vào mật rồi nướng, để khô lại nướng tiếp, đừng để cháy, nướng đến khi hết mật thì thôi. Mỗi lần dùng 1 miếng chấm bột thuốc mà ăn, dùng nước muối chiêu xuống, lấy khỏi làm chừng (Tam nhân phương). * '''Sa lâm thạch lâm (Sỏi thận, sỏi bàng quang):''' Phương như trên. * '''Tiêu khát khát uống:''' Nhân sâm tán bột, hòa lòng trắng trứng gà uống mỗi lần 1 tiền, ngày 3-4 lần. ** Tập nghiệm: dùng Nhân sâm, rễ Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Nghiền sống tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước Mạch môn đông trước bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng. Tên là Ngọc hồ hoàn. Kỵ rượu, mì, đồ nướng. ** Trịnh thị gia truyền Tiêu khát phương: Nhân sâm 1 lạng, Cam thảo phấn 2 lạng. Dùng nước mật lợn đực ngâm sấy, Băng phiến (não tử) nửa tiền. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt khiếm thực. Mỗi lần nhai 1 viên chiêu nước lạnh. ** Thánh tế tổng lục: dùng Nhân sâm 1 lạng, bột Cát căn 2 lạng. Tán bột. Lúc phát bệnh lấy 1 thăng nước luộc thịt lợn thiến, cho 3 tiền bột thuốc, 2 lạng mật, đun lửa nhỏ cô còn 3 chén, trạng như kẹo mạch nha đen, thu vào bình, mỗi đêm ngậm nuốt 1 thìa, không quá 3 liều là hiệu quả vậy. * '''Hư ngược hàn nhiệt (Sốt rét do hư):''' Nhân sâm 2 tiền 2 phân, Hùng hoàng 5 tiền. Tán bột, ngày Đoan ngọ dùng chóp lá bánh chưng giã làm viên hạt ngô. Sáng sớm ngày phát bệnh dùng nước giếng mới múc nuốt 7 viên, trước khi phát lại uống thêm. Kỵ các đồ nóng, hiệu quả ngay lập tức. Một phương: thêm Thần khúc lượng bằng nhau (Đan Khê toản yếu). * '''Lạnh lỵ quyết nghịch, lục mạch trầm tế:''' Nhân sâm, Đại phụ tử mỗi thứ 1 lạng rưỡi. Mỗi lần uống nửa lạng, gừng sống 10 lát, Đinh hương 15 hạt, gạo nếp 1 hớp. Nước 2 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm lúc đói (Kinh nghiệm phương). * '''Hạ lỵ cấm khẩu (Lỵ không ăn được):''' Nhân sâm, hạt Sen mỗi thứ 3 tiền. Dùng 2 chén nước giếng sắc lấy 1 chén, nhấp uống từ từ. Hoặc thêm Hoàng liên sao nước gừng 3 tiền (Kinh nghiệm lương phương). * '''Người già hư lỵ không dứt, không ăn được:''' Nhân sâm Thượng Đảng 1 lạng, Lộc giác (bỏ da, sao nghiền) 5 tiền. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông hòa nước cơm uống, ngày 3 lần (Thập tiện lương phương). * '''Thương hàn hoại chứng:''' Phàm thương hàn thời dịch, không hỏi âm dương, già trẻ phụ nữ có thai, lỡ uống nhầm thuốc dẫn đến nguy kịch sắp chết, mạch trầm phục, không biết gì, sau 7 ngày đều có thể uống, trăm người không hỏng một. Tên là Đoạt mệnh tán, lại tên Phục mạch thang. Nhân sâm 1 lạng, nước 2 chung, dùng lửa mạnh sắc còn 1 chung, dùng nước giếng ngâm lạnh rồi uống, một lát sau sống mũi có mồ hôi ra, mạch phục hồi ngay. Thị lang Tô Thao Quang nói: dùng phương này cứu được vài chục người. Tôi làm quan huyện Thanh Lưu, con dâu của quan huyện thân là Thân Đồ Hành Phụ bị thời dịch hơn 30 ngày, đã thành hoại bệnh, cho uống thuốc này liền yên (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Thương hàn quyết nghịch:''' Mình hơi nóng, phiền táo, lục mạch trầm tế vi nhược, đây là âm cực phát táo vậy. '''Vô ưu tán:''' dùng Nhân sâm nửa lạng. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, hòa 2 tiền bột Ngưu đằng nam tinh, uống nóng, tỉnh ngay (Tam nhân phương). * '''Kẹp âm thương hàn (Cáp âm thương hàn):''' Trước đó có phòng sự, sau đó cảm hàn tà, dương suy âm thịnh, lục mạch trầm phục, bụng dưới đau thắt, tứ chi lạnh ngược, nôn ra nước trong, không nhờ thuốc này thì không cách gì hồi dương. Nhân sâm, Can khương (nướng) mỗi thứ 1 lạng, Phụ tử sống 1 quả (phá làm 8 miếng). Nước 4 thăng rưỡi sắc còn 1 thăng, uống hết một lần. Mạch ra mình ấm là khỏi (Ngô Thụ Thương hàn uẩn yếu). * '''Gân cốt phong thống:''' Nhân sâm 4 lạng (ngâm rượu 3 ngày, phơi khô), Thổ phục linh 1 cân, Sơn từ cô 1 lạng. Tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước cơm trước khi ăn (Kinh nghiệm phương). * '''Trẻ nhỏ phong giản co giật:''' Dùng Nhân sâm, Cáp phấn, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng máu tim lợn thiến hòa viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên uống với nước vàng bạc, ngày 2 lần, đại có thần hiệu (Vệ sinh bảo giám). * '''Tỳ hư mạn kinh:''' Hoàng kỳ thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Đậu chẩn hiểm chứng:''' Bảo nguyên thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Sau kinh sợ đồng tử bị lệch (nhãn tà):''' Trẻ nhỏ sau khi kinh sợ đồng tử không chính. Nhân sâm, A giao (sao với gạo nếp thành hạt) mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm, ngày 2 lần. Khỏi thì dừng, hiệu quả (Trực chỉ phương). * '''Trẻ nhỏ tỳ phong hay buồn ngủ:''' Nhân sâm, nhân Bí đao mỗi thứ nửa lạng, Nam tinh 1 lạng. Luộc qua nước tương, tán bột. Mỗi lần dùng 1 tiền, nước nửa chén sắc còn 2-3 phần, uống ấm (Bản sự phương). * '''Tửu độc mù mắt:''' Một người hình vóc lực lưỡng, ham uống rượu nóng, bỗng bị mù mắt mà mạch sáp, đây do rượu nóng làm tổn thương, vị khí ô trọc, huyết chết ở bên trong mà ra. Lấy Tô mộc sắc thang hòa 1 tiền bột Nhân sâm uống. Ngày hôm sau mũi và hai lòng bàn tay đều tím đen, đây là huyết trệ đã hành vậy. Lại dùng Tứ vật thang thêm Tô mộc, Đào nhân, Hồng hoa, Trần bì hòa bột Nhân sâm uống, vài ngày là khỏi (Đan Khê toản yếu). * '''Tửu độc sinh thư (nhọt):''' Một phụ nữ nghiện rượu, ngực mọc một cái nhọt (thư), mạch khẩn mà sáp. Dùng Nhân sâm sao rượu, Đại hoàng sao rượu lượng bằng nhau tán bột, dùng nước gừng uống 1 tiền, ngủ được mồ hôi ra là khỏi. Hiệu quả (Đan Khê y án). * '''Chó cắn phong thương sưng đau:''' Nhân sâm đặt trên than củi dâu đốt tồn tính, lấy bát úp lại, một lát sau tán bột, rắc vào, khỏi ngay (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Rết cắn:''' Nhai nhân sâm bôi vào (Y học tập thành). * '''Ong châm kiến đốt:''' Bột nhân sâm đắp vào (Chứng trị yếu quyết). * '''Thủng hông lòi ruột:''' Gấp lấy dầu bôi vào rồi ấn ruột vào, sắc nước Nhân sâm, Câu kỷ rửa bên ngoài, bên trong ăn cháo Thận cừu, 10 ngày khỏi (Ngụy thị Đắc hiệu phương). * '''Khí bôn quái tật:''' Phương xem ở dưới mục Hổ trượng. ===LÔ (蘆 - Đầu rễ/Cổ rễ nhân sâm)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị đàm ẩm do hư lao ('''Thời Trân'''). '''【Phát minh】''' * '''Ngô Thụ nói:''' Người suy nhược thì dùng Sâm lô thay thế cho Qua đế (cuống quả dưa - Cucumis melo L. để gây nôn nhẹ hơn). * '''Chu Đan Khê nói:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế), bổ cái Âm trong Dương; còn Sâm lô thì ngược lại, có thể tả cái Dương của kinh Thái âm. Điều này cũng giống như cây Ma hoàng (Ephedra sinica Stapf), phần ngọn (miêu) thì năng phát hãn (gây ra mồ hôi), còn phần rễ thì lại chỉ hãn (cầm mồ hôi). Thóc gạo thuộc Kim mà tính của cám lại nóng, lúa mạch thuộc Dương mà tính của vỏ cám (phu) lại mát. Các bậc tiền nho vịnh rằng "mỗi vật đều mang trong mình một Thái cực", người học đạo chẳng lẽ không thể từ đó mà suy rộng ra sao? ** Có một người con gái tính tình nóng nảy, lại hay ăn vị đậm đà, tháng nóng vì tức giận mà mắc chứng nấc cụt (ách), mỗi lần phát bệnh thì cả thân mình nhảy động, hôn mê không biết gì. Hình vóc và khí thế của cô ấy đều thực, đó là do đàm bị uất lại bởi cơn giận, khiến khí không thể giáng xuống, nếu không dùng phép thổ (gây nôn) thì không thể khỏi. Bèn dùng nửa lạng Sâm lô, một chén rưỡi nước nghịch lưu (nước chảy ngược), sắc lấy một bát lớn cho uống. Cô ấy nôn ra mấy bát đàm đặc (ngoan đàm), ra đại hãn (mồ hôi đầm đìa) rồi ngủ say một ngày là yên. ** Lại có một người vì làm lụng vất vả mà phát bệnh sốt rét (ngược), uống thuốc trị sốt rét vào thì biến thành nhiệt bệnh, lưỡi ngắn, ho có đàm, lục mạch hồng sác mà hoạt. Đây là đàm tích tụ trong ngực, không dùng phép thổ thì không khỏi. Dùng Sâm lô sắc thang cho thêm Trúc lịch (nhựa tre) uống hai liều, nôn ra ba cục đàm keo đặc, sau đó cho dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ (Astragalus mongholicus), Đương quy (Angelica sinensis) sắc uống, nửa tháng thì bình phục. {{Chú thích cuối trang}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] sbp0j39lckg9k1dr15rtb6ilot6sfls 204532 204530 2026-04-03T09:39:10Z Mrfly911 2215 204532 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之一 | năm= 1596 | phần = Quyển 20 <center>'''Các loại cỏ mọc trên núi''' phần 1 (31 loại): Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất</center> | trước= [[../Kim thạch 5|Kim thạch 5]] | sau= [[../Thảo 2|Thảo 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==LỜI TỰA THẢO BỘ - LÝ THỜI TRÂN== '''Lý Thời Trân nói:''' Trời tạo Đất hóa mà cỏ cây sinh ra vậy. Cái Cương giao với cái Nhu mà thành rễ củ, cái Nhu giao với cái Cương mà thành cành thân. Lá và đài thuộc Dương, Hoa và Quả thuộc Âm. Do đó trong cỏ có tính mộc, trong mộc có tính thảo. Kẻ đắc được cái tinh túy của khí thì hiền lành (lương dược), kẻ đắc được cái bạo lệ của khí thì có độc (độc dược). Bởi vậy mà có: * '''Ngũ hình:''' Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. * '''Ngũ khí:''' Hương (thơm), Khứu (hôi), Tao (khét/tanh nồng), Tanh (tanh tao), San (mùi gây/mùi cừu). * '''Ngũ sắc:''' Xanh, Đỏ, Vàng, Trắng, Đen. * '''Ngũ vị:''' Toan (chua), Khổ (đắng), Cam (ngọt), Tân (cay), Hàm (mặn). * '''Ngũ tính:''' Hàn (lạnh), Nhiệt (nóng), Ôn (ấm), Lương (mát), Bình (trung tính). * '''Ngũ dụng:''' Thăng (đi lên), Giáng (đi xuống), Phù (nổi ra ngoài), Trầm (chìm vào trong), Trung (ở giữa). Viêm Đế Thần Nông đã nếm thử mà phân biệt, Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá thuật lại mà viết thành sách; các bậc hiền triết lương y đời Hán, Ngụy, Đường, Tống mỗi thời đại đều có thêm thắt, bổ sung. Tuy nhiên, dù "Ba phẩm" (Thượng, Trung, Hạ) vẫn còn đó, nhưng thật giả lẫn lộn như nước sông Tư sông Mễn, các điều mục trùng lặp, không phân rõ trắng đen như dòng sông Kinh sông Vị. Nếu không xét soi chỗ tinh vi, thẩm định điều thiện ác, thì dựa vào đâu mà cầm cân nảy mực "Bảy phương" (Thất phương), "Mười tễ" (Thập tễ) để phó thác chuyện sinh tử đây? Vì thế, tôi nay lược bỏ chỗ rườm rà, xóa đi phần trùng lặp, uốn nắn chỗ sai lầm, bổ sung phần còn thiếu, phân tích theo dòng họ, chia tách theo chủng loại, nêu cao cương lĩnh, phân rõ từng mục. Trừ phần Ngũ cốc và Rau (Thái) ra, phàm các loại thuộc Thảo có thể cung cấp cho y dược gồm '''611 loại''', chia làm 10 nhóm: # '''Sơn thảo''' (Cỏ mọc trên núi) # '''Phương thảo''' (Cỏ có mùi thơm) # '''Thấp thảo''' (Cỏ mọc nơi ẩm ướt) # '''Độc thảo''' (Cỏ có độc) # '''Man thảo''' (Cỏ dây leo) # '''Thủy thảo''' (Cỏ dưới nước) # '''Thạch thảo''' (Cỏ mọc trên đá) # '''Thai thảo''' (Các loại rêu) # '''Tạp thảo''' (Các loại cỏ khác) # '''Hữu danh vị dụng''' (Có tên nhưng chưa dùng đến) (Sách cũ chia Thảo bộ làm ba phẩm Thượng - Trung - Hạ, tổng cộng 447 loại. Nay gộp vào 31 loại, dời 23 loại sang bộ Rau, 3 loại sang bộ Ngũ cốc, 4 loại sang bộ Quả, 2 loại sang bộ Gỗ. Từ bộ Gỗ dời sang 14 loại, cỏ dây leo 29 loại, bộ Rau dời sang 13 loại, bộ Quả dời sang 4 loại. Nhóm Ngoại loại "Có tên nhưng chưa dùng" gồm 247 loại). ===CÁC NGUỒN TRÍCH DẪN VÀ SỐ LƯỢNG VỊ THUỐC=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh:''' 162 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú giải). * '''Danh Y Biệt Lục:''' 131 loại (Đào Hoằng Cảnh chú; trong đó 78 loại có tên nhưng chưa dùng). * '''Lý Thị Dược Lục:''' 1 loại (Ngụy - Lý Đương Chi). * '''Ngô Thị Bản Thảo:''' 1 loại (Ngụy - Ngô Phổ). * '''Đường Bản Thảo:''' 34 loại (Đường - Tô Cung). * '''Dược Tính Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Chân Quyền). * '''Bản Thảo Thập Di:''' 68 loại (Đường - Trần Tạng Khí). * '''Thực Liệu Bản Thảo:''' 2 loại (Đường - Mạnh Tiễn). * '''Hải Dược Bản Thảo:''' 6 loại (Đường - Lý Tuân). * '''Tứ Thanh Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Tiêu Bính). * '''Khai Bảo Bản Thảo:''' 37 loại (Tống - Mã Chí). * '''Gia Hựu Bản Thảo:''' 17 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích). * '''Đồ Kinh Bản Thảo:''' 54 loại (Tống - Tô Tụng). * '''Nhật Hoa Bản Thảo:''' 7 loại (Tống - Đại Minh). * '''Dụng Dược Pháp Tượng:''' 1 loại (Nguyên - Lý Cao). * '''Bản Thảo Bổ Di:''' 1 loại (Nguyên - Chu Chấn Hanh). * '''Bản Thảo Hội Biên:''' 1 loại (Minh - Uông Cơ). * '''Bản Thảo Cương Mục:''' 86 loại (Minh - Lý Thời Trân). ===PHẦN PHỤ CHÚ (CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC)=== * '''Lôi Hiệu (Tống):''' Bào Chế Luận * '''Từ Chi Tài (Bắc Tề):''' Dược Đối * '''Dương Tổn Chi (Đường):''' San Phiền * '''Tôn Tư Mạo (Đường):''' Thiên Kim * '''Hàn Bảo Thăng (Thục):''' Trọng Chú * '''Trần Sĩ Lương (Nam Đường):''' Thực Tánh * '''Khấu Tông Thức (Tống):''' Diễn Nghĩa * '''Đường Thận Vi (Tống):''' Chứng Loại * '''Trần Thừa (Tống):''' Biệt Thuyết * '''Trương Nguyên Tố (Kim):''' Trân Châu Nang * '''Vương Hiếu Cổ (Nguyên):''' Thang Dịch * '''Ngô Thụy (Nguyên):''' Nhật Dụng * '''Uông Dĩnh (Minh):''' Thực Vật * '''Vương Luân (Minh):''' Tập Yếu * '''Trần Gia Mô (Minh):''' Mông Thuyên * '''Định Vương (Chu Túc - Minh):''' Cứu Hoang * '''Ninh Nguyên (Minh):''' Thực Giám ==CAM THẢO (甘草)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Glycyrrhiza uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata Bat. hoặc Glycyrrhiza glabra L. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Mật cam (Biệt lục), Mật thảo (Biệt lục), Mỹ thảo (Biệt lục), Lộ thảo (Biệt lục), Linh thông (Ký sự châu), Quốc lão (Biệt lục). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị thảo này là bậc thầy của muôn thuốc, các phương thuốc kinh điển hiếm khi không dùng đến, giống như trong các loài hương liệu có Trầm hương vậy. "Quốc lão" là danh xưng của thầy dạy đế vương (Đế sư), tuy không phải là vua (Quân) nhưng được vua tôn kính, vì thế nó có khả năng an hòa các loại thảo mộc, đất đá và giải được mọi độc tố. * '''Chân Quyền nói:''' Trong các loại thuốc, Cam thảo đóng vai trò là "Quân", trị được 72 loại độc từ khoáng vật (nhũ thạch), giải được 1200 loại độc từ thảo mộc, có công điều hòa các vị thuốc nên được gọi là "Quốc lão". ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Cam thảo mọc ở các thung lũng sông vùng Hà Tây, núi Tích Sa và Thượng Quận. Thu hoạch rễ vào ngày Trừ (lịch âm) tháng 2 và tháng 8, phơi khô 10 ngày thì xong. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các vùng Hà Tây, Thượng Quận nay không còn thông thương. Nay thuốc chủ yếu đến từ các vùng thuộc Mân Sơn, Hán Trung vùng Thục. Loại vỏ đỏ, thớ thịt đứt đoạn, nhìn kiên thực là thảo vùng Bào Hạn (một địa danh vùng Tây Khương), đó là loại tốt nhất. Cũng có loại sấy khô bằng lửa, thớ thịt thường xốp rỗng. Có loại giống ruột cá chép, bị dao cắt hỏng thì không còn tốt. Vùng Thanh Châu cũng có nhưng không bằng. Lại có Tử Cam thảo (Cam thảo tím), nhỏ mà chắc, lúc thiếu có thể dùng tạm. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các quận huyện vùng Thiểm Tây, Hà Đông đều có. Mùa xuân mọc mầm xanh, cao 1-2 thước, lá giống lá Hòe. Tháng 7 nở hoa tím giống hoa Nại đông, kết quả thành vỏ như hạt đậu Tất. Rễ dài 3-4 thước, to nhỏ không đều, vỏ màu đỏ, trên có các đường vân ngang. Lúc hái bỏ đầu cuống (lư đầu) và lớp vỏ đỏ, phơi khô trong râm mà dùng. Nay Cam thảo có nhiều loại, loại nào chắc thịt, thớ đoạn là tốt. Loại nhẹ xốp, thớ dọc hoặc nhỏ dai thì không dùng được, chỉ dùng cho các nhà làm nước canh. ** Cẩn án: Sách Nhĩ Nhã gọi "Lẫm" là "Đại khổ". Quách Phác chú giải là giống Địa hoàng. Sách Thi Kinh có câu "Hái lăng hái lăng, trên đỉnh núi Thủ Dương" chính là nó. Chữ Lẫm (䖅) dùng thông với Lăng (苓). Núi Thủ Dương gần huyện Bồ Bản vùng Hà Đông, là nơi Cam thảo sinh trưởng, nhưng mô tả của các nhà nho xưa về lá mầm khác hẳn nay, há chẳng phải chủng loại khác nhau sao? * '''Lý Thời Trân nói:''' Xét theo Bút đàm của Thẩm Quát: Chú giải của Quách Phác về "Lẫm - Đại khổ" trong Nhĩ Nhã là Cam thảo là sai. Chú giải của Quách Phác thực chất là Hoàng dược (Dioscorea bulbifera), vị cực đắng nên gọi là Đại khổ, không phải Cam thảo. Cam thảo cành lá đều như lá Hòe, cao 5-6 thước, đầu lá hơi nhọn và nhám, như có lông trắng, quả giống quả Tương tư, chín thì vỏ nứt, hạt dẹt như đậu nhỏ, cực cứng, răng cắn không vỡ. Sách Diễn nghĩa của Khấu Thị cũng theo thuyết này. Theo lý mà xét, mô tả của Quách Phác không tương đồng, thuyết của Thẩm Quát gần thực tế hơn. Người nay chỉ chuộng loại đường kính 1 tấc, thịt chắc thớ đứt vân ngang, gọi là '''Phấn thảo'''; loại nhẹ xốp nhỏ bé đều không bằng. ===RỄ - TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Lôi Hiệu nói:''' Khi dùng phải bỏ đầu và đuôi nhọn, vì đầu đuôi gây nôn cho người. Mỗi lần cắt dài 3 tấc, chẻ làm 6-7 mảnh, cho vào bình sứ, dùng rượu tẩm rồi chưng từ giờ Tỵ đến giờ Ngọ, lấy ra phơi khô, thái nhỏ mà dùng. Cách khác: Mỗi cân dùng 7 lạng bơ (tô) phết lên rồi nướng (chích) cho đến khi bơ thấm hết. Cách khác: Đem nướng (bào) cho trong ngoài đỏ vàng thì dùng. * '''Thời Trân nói:''' Các sách phương tễ thường dùng nước chảy (trường lưu thủy) tẩm ướt Cam thảo rồi nướng chín, cạo bỏ vỏ đỏ; hoặc dùng nước gạo (tương thủy) chích chín, chưa thấy ai dùng bơ hay rượu để chưng. Đại để: '''Bổ trung thì nên nướng (chích); Tả hỏa thì nên dùng sống.''' ===KHÍ VỊ=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. * '''Khấu Tông Thức nói:''' Dùng sống thì hơi mát (vi lương), vị không ngon; nướng (chích) thì ấm (ôn). * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Khí mỏng vị dày, thăng mà phù, thuộc Dương. Vào kinh Túc Thái âm (Tỳ) và Túc Quyết âm (Can). * '''Thời Trân nói:''' Thông suốt vào 12 kinh thủ túc. * '''Từ Chi Tài nói:''' Lấy Truật, Khổ sâm, Can tất làm sứ. Ghét Viễn chí. Phản Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo. * '''Thời Trân nói:''' Cam thảo phản bốn vị Tảo, Kích, Toại, Nguyên, nhưng Hồ Tiếp Cư Sĩ trị đàm ẩm lại dùng Thập táo thang gia thêm Cam thảo và Đại hoàng, ấy là muốn đàm ở cách thượng thông tiết đi, nhổ tận gốc bệnh vậy. Lý Đông Viên trị kết hạch dưới cổ, tiêu sưng tán kết dùng Hải tảo gia thêm Cam thảo. Chu Đan Khê trị lao quặng dùng Liên tâm ẩm có Nguyên hoa và Cam thảo. Cả hai phương đều theo ý của Hồ cư sĩ. Vì thế Đào Hoằng Cảnh nói cổ phương cũng có loại tương ác tương phản cùng dùng mà không hại, nếu không đạt đến mức tinh vi thì không hiểu được lý này. ===CHỦ TRỊ=== Trị hàn nhiệt ở ngũ tạng lục phủ, tà khí, làm chắc gân xương, dài cơ nhục, tăng khí lực, trị kim sang (vết thương do kim loại), ung thũng, giải độc. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ (Bản kinh). Ôn trung, hạ khí, trị phiền mãn, ngắn hơi, tổn thương nội tạng, ho, chỉ khát, thông kinh mạch, lợi huyết khí, giải độc muôn loài thuốc. Là tinh hoa của đất (cửu thổ chi tinh), an hòa 72 loại khoáng vật và 1200 loại thảo mộc (Biệt lục). Trị đau bụng lạnh, trị kinh giản, trừ chướng mãn, bổ ích ngũ tạng, dưỡng thận khí, nội thương, làm cho nam giới không bị liệt dương, trị phụ nữ huyết lích (ra máu dai dẳng), đau lưng. Người hư mà nhiều nhiệt thì nên gia dùng vị này (Chân Quyền). An hồn định phách, bổ ngũ lao thất thương, mọi chứng hư tổn, kinh quý (hồi hộp), phiền muộn, hay quên, thông chín khiếu, lợi trăm mạch, ích tinh dưỡng khí (Đại Minh). Dùng sống thì tả hỏa nhiệt, dùng chín (nướng) thì tán biểu hàn, trị đau họng, trừ tà nhiệt, hoãn chính khí, dưỡng âm huyết, bổ tỳ vị, nhuận phế (Lý Cao). Trị mủ máu trong chứng phế nuy, tiêu các loại sang thư ác tính (Vương Hiếu Cổ). Giải thai độc, kinh giản ở trẻ nhỏ, giáng hỏa, chỉ thống (Thời Trân). ===CÁC PHẦN KHÁC CỦA CÂY=== ====Cam thảo sảo (Ngọn rễ - 甘草稍)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống trị tích nhiệt trong ngực, trị đau trong niệu đạo (vùng sinh dục), gia thêm rượu nấu với Huyền hồ sách, Khổ luyện tử thì càng hiệu quả (Lý Nguyên Tố). ====Cam thảo đầu (Đầu rễ - 甘草頭)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống có thể hành huyết ứ ô trọc ở hai kinh Túc Quyết âm và Dương minh, tiêu sưng dẫn độc (Chu Đan Khê). Chủ trị ung thũng, nên cho vào thuốc gây nôn (Lý Thời Trân). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Chu Đan Khê nói:''' Cam thảo vị ngọt, làm hoãn các loại hỏa (nhiệt), tính trung chính thông lý, là bậc quân tử có đức dày chở che muôn vật. Muốn thuốc đạt đến hạ tiêu (vùng dưới) thì phải dùng phần ngọn (Sảo). * '''Lý Cao nói:''' Cam thảo khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Dương không đủ thì bổ bằng vị ngọt (cam). Vị ngọt ấm có thể trừ đại nhiệt, nên dùng sống thì khí bình, bổ tỳ vị bất túc mà tả tâm hỏa mạnh; nướng thì khí ấm, bổ nguyên khí của Tam tiêu mà tán biểu hàn, trừ tà nhiệt, trị đau họng, dưỡng âm huyết. Phàm tâm hỏa khắc tỳ, bụng đau thắt, da bụng co rúm, nên dùng tăng liều Cam thảo. Tính nó có thể "hoãn cấp" (làm dịu sự cấp bách), điều hòa các vị thuốc không để chúng tranh chấp nhau. Thuốc nóng gặp nó thì bớt nóng; thuốc lạnh gặp nó thì bớt lạnh; thuốc hàn nhiệt lẫn lộn gặp nó thì đạt được sự thăng bằng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cam thảo ngoài đỏ trong vàng, màu sắc kiêm cả Khôn (Thổ) và Ly (Hỏa); vị dày khí mỏng, hội tụ đủ đức của đất. Điều hòa quần phẩm, có công lao của bậc nguyên lão; trị mọi tà ma, có hóa thân của vương đạo. Giúp sức cho đế vương mà người không biết, thu gom thần công mà mình không màng, thật xứng là vị "Lương tướng" trong các loài thuốc vậy. Tuy nhiên, người bị trướng bụng (trung mãn), nôn mửa, người nghiện rượu không thích vị ngọt của nó. ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Thương hàn tâm quý (tim đập nhanh, mạch kết đại):''' Cam thảo 2 lạng, nước 3 lít sắc còn một nửa, uống 7 hợp, ngày 1 lần. * '''Đau họng do thương hàn:''' Cam thảo 2 lạng (chích mật), nước 2 lít sắc còn 1,5 lít, uống 5 hợp, ngày 2 lần (Trương Trọng Cảnh). * '''Phế nhiệt đau họng có đàm:''' Cam thảo (sao) 2 lạng, Cát cánh 1 lạng. Mỗi lần dùng 5 tiền, nước 1,5 bát, thêm nửa miếng A giao sắc uống. * '''Trẻ sơ sinh giải độc:''' Lấy một đoạn Cam thảo dài bằng đốt ngón tay, nướng nát, sắc lấy nước cho trẻ nhấm nháp để nôn ra dịch bẩn trong ngực. Giúp trẻ thông minh, ít bệnh, đậu mọc thưa. * '''Mụn nhọt (phát bối ung thư):''' Cam thảo sống giã bột 3 lạng, bột lúa mạch 9 lạng trộn đều, thêm chút bơ (tô), nhào với nước sôi thành dạng bánh, đắp lên chỗ sưng. * '''Giải độc thuốc, độc rượu:''' Sắc đậm Cam thảo uống. Đặc biệt hiệu quả khi trúng độc Ô đầu, Ba đậu. * '''Trị bỏng lửa, nước sôi:''' Cam thảo nấu với mật ong rồi bôi lên vết thương. * '''Trị trẻ em đái dầm:''' Dùng đầu Cam thảo (Cam thảo đầu) sắc nước uống hàng đêm. ==HOÀNG KỲ (黃耆)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Astragalus membranaceus (Fisch.) Bunge hoặc Astragalus membranaceus var. mongholicus (Bunge) Hsiao. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Hoàng kỳ (Cương mục), Đái sâm (Bản kinh), Đái thậm (Biệt lục, còn gọi là Độc thậm), Kỵ thảo (Biệt lục, còn gọi là Thục chỉ), Bách bản (Biệt lục), Vương tôn (Dược tính luận). * '''Thời Trân nói:''' "Kỳ" (耆) nghĩa là bậc trưởng thượng. Hoàng kỳ sắc vàng, đứng đầu (trưởng) trong các vị thuốc bồi bổ, nên có tên như vậy. Nay dân gian thường viết thông dụng là Hoàng kỳ (黃芪). Còn viết là "Thị" (蓍) như trong cỏ thị bói toán là sai âm. Vương tôn ở đây cùng tên nhưng khác vật với cây Mẫu mông. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Hoàng kỳ mọc ở thung lũng núi các quận Thục, Bạch Thủy, Hán Trung. Thu hái vào tháng 2 và tháng 10, phơi khô trong râm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại tốt nhất ra từ Thao Dương vùng Lũng Tây, sắc vàng trắng, vị ngọt thanh, nay rất khó kiếm. Thứ đến là loại ở Đương Thương thuộc Hắc Thủy, sắc trắng, thớ thịt thô, loại tươi có vị ngọt và tính ôn bổ. Lại có loại ở Bạch Thủy vùng Tàm Lăng, màu sắc và thớ thịt tốt hơn ở đất Thục nhưng tính lãnh bổ. Lại có loại sắc đỏ, có thể nấu cao dán mụn nhọt. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu quận ở Hà Đông, Thiểm Tây đều có. Rễ dài khoảng 2-3 thước. Thân đơn hoặc mọc thành bụi. Lá mọc thưa như hình răng cừu, giống lá Tật lê. Tháng 7 nở hoa màu vàng tím. Quả dạng vỏ đậu dài khoảng 1 tấc. Tháng 8 đào rễ dùng. Lớp vỏ khi bẻ ra có xơ như bông, nên gọi là '''Miên Hoàng kỳ'''. * '''Thời Trân nói:''' Lá Hoàng kỳ giống lá Hòe nhưng hơi nhọn nhỏ, lại giống lá Tật lê nhưng hơi rộng to, màu xanh trắng. Hoa vàng tím to như hoa Hòe. Quả nhỏ nhọn dài tấc dư. Rễ dài 2-3 thước, loại chắc chắn như cán tên là tốt nhất. Mầm non cũng có thể trụng chín làm rau ăn. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Thời Trân nói:''' Người nay thường đập dẹp rễ, tẩm nước mật rồi nướng (chích) nhiều lần cho đến khi chín hoàn toàn. Cũng có cách dùng nước muối thấm thấu, cho vào bình đặt trong nồi nước sôi chưng chín rồi thái lát dùng. ===RỄ (根)=== ====KHÍ VỊ==== Vị ngọt (cam), tính hơi ấm (vi ôn), không độc (Bản kinh). Loại ở Bạch Thủy tính mát (lãnh), có tác dụng bổ (Biệt lục). * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Vào phần khí của hai kinh Thủ, Túc Thái âm (Phế, Tỳ), đồng thời vào kinh Thủ Thiếu dương (Tam tiêu) và Túc Thiếu âm Mệnh môn (Thận). ====CHỦ TRỊ==== Trị các vết thương do ung thư lâu ngày không lành, bài nùng (trừ mủ), chỉ thống (giảm đau), trị bệnh phong hủi, ngũ trĩ, chuột rút (thử lậu), bồi bổ hư tổn, trị bách bệnh ở trẻ nhỏ (Bản kinh). Trị phong tà trong tử cung phụ nữ, trục huyết xấu trong ngũ tạng, bổ hư tổn ở nam giới, ngũ lao gầy yếu, chỉ khát (hết khát), đau bụng tiết lỵ, ích khí, lợi âm khí (Biệt lục). Trị hen suyễn do hư, thận suy tai ù, trị hàn nhiệt, trị phát bối (nhọt lưng) (Chân Quyền). Giúp khí tráng gân xương, sinh cơ (mọc thịt), bổ huyết, phá trưng hà (u cục), trị lao hạch (lỏa lịch), trĩ ra máu, băng huyết, đới hạ, lỵ đỏ trắng, các bệnh trước và sau khi sinh, kinh nguyệt không đều, ho có đàm, phong nhiệt vùng đầu, mắt đỏ độc (Nhật Hoa). Trị lao hư tự hãn (mồ hôi tự ra), bổ phế khí, tả phế hỏa và tâm hỏa, làm bền lông da (thực bì mao), ích vị khí, trừ cơ nhiệt và các cơn đau trong các kinh (Lý Nguyên Tố). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Hoàng kỳ cam ôn thuần Dương, có 5 công dụng chính: ** Bổ mọi chứng hư tổn bất túc. ** Ích nguyên khí. ** Làm mạnh tỳ vị. ** Trừ cơ nhiệt (nóng trong cơ bắp). ** Bài nùng chỉ thống, hoạt huyết sinh huyết, làm chỗ dựa bên trong để đẩy mụn nhọt ra (nội thác âm thư), là vị thuốc thánh của nhà ngoại khoa trị mụn nhọt. * '''Lý Đông Viên nói:''' Hoàng kỳ cùng với Nhân sâm và Cam thảo là ba vị thuốc thánh để trừ táo nhiệt và cơ nhiệt. Khi tỳ vị hư, phế khí tuyệt trước tiên, nhất định phải dùng Hoàng kỳ để làm ấm phần nhục, ích bì mao, làm kín lỗ chân lông (thực tấu lý) không cho mồ hôi ra quá mức, từ đó ích nguyên khí và bổ tam tiêu. * '''Chu Đan Khê nói:''' Hoàng kỳ bổ nguyên khí, người béo trắng mà nhiều mồ hôi dùng thì rất hợp; nếu người mặt đen, hình thể rắn rỏi và gầy mà dùng thì sẽ gây đầy ngực (hung mãn). ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Tiểu tiện không thông:''' Miên Hoàng kỳ 2 tiền, nước 2 bát sắc còn 1 bát uống ấm. Trẻ em dùng nửa liều. * '''Tửu đản (vàng da do rượu):''' Đau vùng tâm vị, chân sưng, tiểu vàng. Hoàng kỳ 2 lạng, Mộc lan 1 lạng, tán bột. Uống với rượu. * '''Khí hư bạch trọc:''' Hoàng kỳ (sao muối) nửa lạng, Phục linh 1 lạng. Tán bột, mỗi lần uống 1 tiền với nước ấm. * '''Hoàng kỳ Lục Nhất thang (Trị khát bổ hư, phòng mụn nhọt):''' Miên Hoàng kỳ 6 lạng (một nửa dùng sống, một nửa tẩm nước muối chưng cơm 3 lần rồi sấy), Phấn Cam thảo 1 lạng (nửa sống nửa chích). Tán bột uống 2 tiền mỗi lần. * '''Người già bí tiện:''' Hoàng kỳ, Trần bì mỗi thứ nửa lạng. Tán bột. Dùng hạt mè (đay) nghiền nát lọc lấy nước nấu sôi, thêm mật ong uống cùng bột thuốc lúc đói. Hiệu quả như thần. * '''Đi ngoài ra máu (Tràng phong tả huyết):''' Hoàng kỳ, Hoàng liên lượng bằng nhau. Tán bột, làm viên với hồ bằng hạt lục đậu. Mỗi lần 30 viên. * '''Tiểu ra máu, đau buốt (Sa lâm):''' Hoàng kỳ, Nhân sâm lượng bằng nhau. Tán bột. Lấy củ cải cắt lát tẩm mật nướng chín, chấm bột thuốc mà ăn, chiêu với nước muối. * '''Ho khạc mủ máu, cổ họng khô:''' Hoàng kỳ 4 lạng, Cam thảo 1 lạng. Tán bột, pha nước uống mỗi lần 2 tiền. * '''Phù thũng do phế ung:''' Hoàng kỳ 2 lạng tán bột. Uống 2 tiền mỗi lần, ngày 3-4 lần. * '''Thai động bất an (đau bụng ra nước vàng):''' Hoàng kỳ, Xuyên khung mỗi vị 1 lạng, gạo nếp 1 hợp. Sắc uống. ===CÀNH VÀ LÁ (莖葉)=== * '''Chủ trị:''' Trị khát và gân co quắp, ung thũng thư sang (Biệt lục). ==NHÂN SÂM (人參)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Panax ginseng C.A. Mey. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên gọi khác:''' Nhân sâm (人薓 - âm Sâm, hoặc viết giản lược là 蓡), Hoàng sâm (Ngô Phổ bản thảo), Huyết sâm (Biệt lục), Nhân hàm (Bản kinh), Quỷ cái (Bản kinh), Thần thảo (Biệt lục), Thổ tinh (Biệt lục), Địa tinh (Quảng nhã), Hải du, Chú diện hoàn đan (Quảng nhã). * '''Lý Thời Trân nói:''' Nhân sâm sống lâu năm, thấm nhuần khí tiết mà dần dần trưởng thành, rễ giống hình người, có linh tính (thần), nên gọi là Nhân sâm, Thần thảo. Chữ "Sâm" (薓) có bộ "Tẩm" (𣹰), cũng mang nghĩa là thấm dần. Về sau vì chữ viết rườm rà, người ta dùng chữ "Sâm" (參) trong sao Sâm để thay thế cho giản tiện. Tuy nhiên, sự nhầm lẫn này đã lâu ngày nên không thể đổi lại được, duy chỉ có Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận là còn dùng chữ "薓". Sách Biệt lục gọi là "Nhân vi" (人微), chữ "Vi" là do chữ "Sâm" viết nhầm mà thành. Sự sinh trưởng của nó có từng giai đoạn (như cấp bậc), nên gọi là Nhân hàm. Loại cỏ này lưng hướng về phía dương, mặt hướng về phía âm, nên gọi là Quỷ cái. Trong ngũ sâm, nó sắc vàng thuộc Thổ, bổ Tỳ Vị, sinh âm huyết nên có tên Hoàng sâm, Huyết sâm. Đắc được tinh hoa linh diệu của đất, nên có tên Thổ tinh, Địa tinh. * Sách Quảng ngũ hành ký chép: Thời Tùy Văn Đế, tại Thượng Đảng có người sau nhà mỗi đêm nghe tiếng người gọi, tìm mãi không thấy. Cách nhà chừng một dặm, thấy cây nhân sâm cành lá khác thường, đào sâu xuống đất năm thước, được củ nhân sâm giống hệt cơ thể người, tứ chi đầy đủ, tiếng gọi từ đó cũng dứt. Xem đây thì cái tên "Thổ tinh" càng có bằng chứng. Sách Lễ đẩu uy nghi nói: Dưới có nhân sâm, trên có khí tím. Sách Xuân thu vận đẩu khu nói: Sao Dao Quang tán ra hóa thành nhân sâm. Bậc quân vương nếu bỏ rơi cái lợi của núi sông thì sao Dao Quang không sáng, nhân sâm không mọc. Qua đó, tên gọi "Thần thảo" lại càng được minh chứng. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Nhân sâm mọc ở thung lũng núi Thượng Đảng và Liêu Đông. Thu hái rễ vào thượng tuần tháng 2, 4, 8. Dùng dao tre cạo sạch, phơi khô, không để tiếp xúc với gió. Rễ giống hình người là có linh tính (thần). * '''Ngô Phổ nói:''' Có loại mọc ở Hàm Đan. Tháng 3 ra lá nhỏ và nhọn, cành màu đen, thân có lông. Tháng 3 và tháng 9 hái rễ. Rễ có tay chân, mặt mũi giống người là loại linh diệu. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Thượng Đảng ở phía tây nam Ký Châu. Nay loại sâm đưa đến hình dài và vàng, trạng như Phòng phong, thịt nhuận chắc và vị ngọt. Dân gian lại quý loại của nước Bách Tế, hình nhỏ mà chắc trắng, khí vị nhạt hơn sâm Thượng Đảng. Thứ đến dùng loại của Cao Ly, đất này gần Liêu Đông, hình sâm lớn mà xốp mềm, không bằng sâm Bách Tế và sâm Thượng Đảng. Cây có một thân mọc thẳng, 4-5 lá mọc đối, hoa màu tím. Người Cao Ly có bài Nhân sâm tán rằng: "Ba chạc năm lá, lưng dương hướng âm. Muốn đến tìm ta, cây giả (cây mận rừng) tìm nhau". * '''Tô Cung nói:''' Nhân sâm nay dùng đa số là loại của Cao Ly, Bách Tế. Loại mọc ở núi Tử Đoàn vùng Thái Hành, Lộ Châu gọi là Tử Đoàn sâm. * '''Tân La chép:''' Sâm sản sinh ở nước Tân La có tay chân, hình dáng như người, dài hơn thước, dùng gỗ sam kẹp định hình, dùng chỉ đỏ quấn trang trí. Sâm Sa Châu thì ngắn nhỏ, không dùng được. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu vùng Hà Đông và núi Thái Sơn đều có. Có loại từ vùng biên mậu (khuế trường) phía bắc và từ Mân Trung đưa đến, gọi là Tân La nhân sâm, thảy đều không tốt bằng sâm Thượng Đảng. Mùa xuân mọc mầm, đa phần ở núi sâu bóng râm, nơi ẩm ướt gần gốc sơn, cây sơn. Lúc mới mọc nhỏ chừng 3-4 tấc, một chạc 5 lá. Sau 4-5 năm sinh 2 chạc 5 lá, chưa có cuống hoa. Đến sau 10 năm thì sinh 3 chạc; lâu năm nữa sinh 4 chạc, mỗi chạc 5 lá. Giữa mọc một thân, dân gian gọi là "Bách xích chử".<ref>'''Bách xích chử (百尺杵):''' Cái chày trăm thước (mô tả cuống hoa mọc thẳng).</ref> Tháng 3-4 nở hoa nhỏ như hạt kê, nhị như sợi tơ, màu trắng tím. Sau mùa thu kết quả, chừng 7-8 hạt như hạt đậu, lúc xanh lúc đỏ, tự rụng. Rễ giống hình người là linh diệu. Loại ở Thái Sơn lá xanh khô, rễ trắng, rất khác biệt. ** Thử sâm: Tương truyền muốn thử sâm Thượng Đảng, cho hai người cùng chạy, một người ngậm nhân sâm, một người để miệng không. Chạy chừng 3-5 dặm, người không ngậm sâm ắt thở hồng hộc, người ngậm sâm hơi thở tự nhiên, đó mới là sâm thật. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thượng Đảng nay là Lộ Châu. Dân coi nhân sâm là mối họa cho địa phương (do phu phen, cống nạp) nên không còn hái nữa. Nay dùng thảy đều là sâm Liêu (Liêu Đông). Ba nước Cao Ly, Bách Tế, Tân La nay đều thuộc Triều Tiên. Sâm của họ vẫn đem sang Trung Quốc giao thương. Cũng có thể thu hạt, gieo vào tháng 10 như cách trồng rau. ** Phân biệt: Sâm hái mùa thu đông thì kiên thực; hái mùa xuân hè thì hư nhuyễn (xốp mềm), đó là do thời điểm chứ không phải do đất đai. Sâm Liêu loại còn da thì vàng nhuận như Phòng phong; loại bỏ da thì trắng chắc như bột. Kẻ làm giả thường dùng rễ Sa sâm (Adenophora), Tề ni (Adenophora remota), Cát cánh (Platycodon grandiflorus) để đánh tráo. Sa sâm thể xốp không lõi vị nhạt; Tề ni thể xốp không lõi; Cát cánh thể chắc có lõi nhưng vị đắng. Nhân sâm thể chắc có lõi, vị ngọt hơi đắng, có dư vị riêng, dân gian gọi là "Kim tỉnh ngọc lan".<ref>'''Kim tỉnh ngọc lan (金井玉闌):''' Giếng vàng lan can ngọc (mô tả lát cắt có vòng vàng bên ngoài, tâm trắng bên trong).</ref> Loại giống hình người gọi là "Hài nhi sâm" đa phần là đồ giả. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nhân sâm dễ bị mọt, chỉ cần cho vào bình mới đậy kín, có thể để cả năm không hỏng. * '''Lý Ngôn Văn nói:''' Nhân sâm khi sống hướng về bóng râm nên không thích gặp gió và nắng. Hễ dùng sống thì nên thái lát (tu quệ);<ref>'''Tu quệ (咀):''' Cách thái dược liệu thành miếng nhỏ để sắc.</ref> dùng chín thì nên bọc giấy nướng cho ấm, hoặc dùng rượu ngon thấm thấu rồi thái lát nướng chín. '''Cấm dùng đồ sắt'''. ===RỄ (根)=== ====【Khí vị】==== Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. * '''Biệt lục viết:''' Hơi ấm (vi ôn). * '''Ngô Phổ dẫn lời Thần Nông:''' Tính hơi lạnh (tiểu hàn); '''Đồng Quân, Lôi Công:''' Vị đắng; '''Hoàng Đế, Kỳ Bá:''' Vị ngọt, không độc. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Tính ấm, vị ngọt, hơi đắng. Khí và vị đều mỏng, tính nổi và đi lên, là Dương trung chi Dương. Lại nói: Trong Dương có chút Âm. * '''Từ Chi Tài viết:''' Lấy Phục linh, Mã lận làm sứ. Ghét Sưu sơ, Lỗ kiềm. Phản Lê lô. Có thuyết nói: Sợ Ngũ linh chi, ghét Tạo giáp, Hắc đậu, làm động Tử thạch anh. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Nhân sâm được Thăng ma dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Thượng tiêu, tả hỏa trong Phế; được Phục linh dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Hạ tiêu, tả hỏa trong Thận. Được Mạch môn đông thì làm cho mạch sống lại (sinh mạch); được Can khương thì bổ khí. * '''Lý Đông Viên viết:''' Được Hoàng kỳ, Cam thảo thì vị ngọt tính ấm giúp trừ đại nhiệt, tả âm hỏa, bổ nguyên khí, lại là vị thuốc thánh của nhà trị mụn nhọt (sang gia). * '''Chu Đan Khê viết:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế). Phản với Lê lô, nếu uống một lạng sâm mà lẫn một tiền Lê lô thì công năng mất hết. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Lý Đông Viên dùng trị Tỳ Vị, tả âm hỏa; trong bài Giao thái hoàn dùng Nhân sâm với Tạo giáp là "ghét mà không ghét" (ác nhi bất ác). Phương thuốc cổ trị bế kinh dùng Tứ vật thang thêm Nhân sâm, Ngũ linh chi là "sợ mà không sợ". Lại trị đàm ở hung cách (ngực hoành), dùng Nhân sâm cùng Lê lô để gây nôn (dũng việt) là kích thích tính nộ (giận dữ) của thuốc. Đây đều là những điều tinh vi diệu ảo, người không đạt được mức độ quyền biến thì không thể biết. ====【Chủ trị】==== Bổ ngũ tạng, an tinh thần, định hồn phách, dừng kinh quý (hồi hộp lo sợ), trừ tà khí, sáng mắt, khai tâm, ích trí. Dùng lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ ('''Bản kinh'''). Trị tràng vị lạnh, bụng đau chướng, ngực sườn đầy tức, hoắc loạn thổ nghịch, điều hòa trung tiêu, dừng tiêu khát, thông huyết mạch, phá kiên tích (khối u tích tụ), giúp người ta không quên ('''Biệt lục'''). Chủ ngũ lao thất thương, hư tổn gầy yếu, dừng nôn mửa, bổ ngũ tạng lục phủ, bảo vệ trung tiêu, giữ gìn thần khí. Tiêu đàm trong ngực, trị phổi héo (phế nuy) và chứng kinh giản, khí lạnh ngược lên, thương hàn không ăn được, phàm người hư nhược mà ngủ mơ màng rối loạn thì thêm vào ('''Chân Quyền'''). Dừng phiền táo, biến đổi nước chua ('''Lý Tuần'''). Tiêu thực khai vị, điều trung trị khí, giết các chất độc từ thuốc kim thạch ('''Đại Minh'''). Trị dương khí ở Phế Vị không đủ, Phế khí hư súc (ngắn gấp), đoản khí thiếu khí, bổ trung hoãn trung, tả hỏa tà trong Tâm, Phế, Tỳ, Vị, dừng khát sinh tân dịch ('''Nguyên Tố'''). Trị tất cả các chứng hư của nam và nữ, phát nhiệt tự hãn (mồ hôi tự ra), váng đầu nhức đầu, phản vị (nôn thức ăn ra), sốt rét cách nhật (ngược tật), hoạt tiết lỵ lâu ngày, tiểu tiện nhiều lần hoặc nhỏ giọt (lâm ly), lao quyện nội thương, trúng phong trúng thử, tê bại (vê tý), thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, tiểu ra máu, băng huyết, các bệnh trước và sau khi sinh ('''Thời Trân'''). ====【Phát minh】==== * '''Đào Hoằng Cảnh viết:''' Nhân sâm là vị thuốc thiết yếu, công năng cùng với Cam thảo tương tự nhau. * '''Lý Đông Viên viết:''' Nhân sâm vị ngọt tính ấm, có thể bổ nguyên khí trong Phế, Phế khí vượng thì khí của bốn tạng kia đều vượng, tinh tự sinh mà hình vóc tự thịnh, ấy là vì Phế chủ các loại khí vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người bệnh sau khi ra mồ hôi mà mình nóng, mất máu, mạch trầm trì; hoặc hạ lỵ mà mình mát, mạch vi, huyết hư, đều phải thêm Nhân sâm. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Nhân sâm dùng sống thì khí mát (lương), dùng chín thì khí ấm (ôn); vị ngọt bổ Dương, hơi đắng bổ Âm. Khí chủ việc sinh ra muôn vật (thuộc Trời), vị chủ việc thành hình muôn vật (thuộc Đất). Khí vị tạo thành là cái đạo tạo hóa của Âm Dương vậy. ====【Chính ngộ (Sửa chữa sai lầm)】==== '''Lôi Hiệu nói:''' Mùa hè ít dùng Nhân sâm, phát sinh cái họa Tâm hạ kết (tích khí dưới tim). '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhân sâm ngọt ấm, bổ Dương của Phế, tiết Âm của Phế. Phế chịu hàn tà, nên dùng thứ này để bổ; Phế chịu hỏa tà, thì ngược lại làm thương Phế, nên lấy Sa sâm (Adenophora) thay thế. '''Vương Luân nói:''' Phàm tửu sắc quá độ, tổn thương chân âm của Phế và Thận, âm hư hỏa động, các chứng lao sấu thổ huyết, khái huyết, chớ dùng vị này. Bởi Nhân sâm vào kinh Thủ thái âm năng bổ hỏa, cho nên Phế chịu hỏa tà thì kiêng kỵ. Nếu lỡ uống các tễ cam ôn như Sâm, Kỳ, thì bệnh ngày càng tăng; uống quá nhiều thì chết không thể trị. Bởi lẽ cam ôn trợ khí, khí thuộc Dương, Dương vượng thì Âm càng tiêu; chỉ nghi dùng các thuốc đắng ngọt lạnh (khổ cam hàn) để sinh huyết giáng hỏa. Người đời không biết, thường thường uống Sâm, Kỳ để làm thuốc bổ, mà người chết nhiều vậy. '''Lý Ngôn Văn nói:''' Tôn Chân Nhân nói: Mùa hè uống Sinh mạch tán, Thận lịch thang ba liều thì bách bệnh không sinh. Lý Đông Viên cũng nói Sinh mạch tán, Thanh thử ích khí thang là thánh dược tả hỏa ích Kim trong kỳ Tam phục, mà Lôi Hiệu ngược lại nói phát sinh cái họa Tâm hạ kết là sai vậy. "Kết" (積) là khí tích ở cạnh rốn, không phải bệnh ở Tâm. Nhân sâm năng dưỡng chính khí phá kiên tích, há có lý phát sinh chứng kết khí? Xem Trương Trọng Cảnh trị bụng có hàn khí xông lên, có đầu có chân (u cục), trên dưới đau không thể chạm gần, nôn không thể ăn, dùng "Đại kiến trung thang" thì có thể biết vậy. Lại nữa, Vương Hiếu Cổ nói Nhân sâm bổ Dương tiết Âm, Phế hàn nghi dùng, Phế nhiệt không nghi dùng. Vương Luân (Tiết Trai) nhân đó mà họa theo, nói Sâm, Kỳ năng bổ Phế hỏa, các bệnh âm hư hỏa động thất huyết, uống nhiều tất chết. Thuyết của hai nhà này đều phiến diện vậy. Phàm Nhân sâm năng bổ nguyên dương, sinh âm huyết, mà tả âm hỏa, thuyết của Lý Đông Viên đã sáng tỏ vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người vong huyết, huyết hư đều thêm Nhân sâm; lại nói: Phế hàn thì bỏ Nhân sâm, thêm Can khương, không để khí bị ủng trệ. Chu Đan Khê cũng nói hư hỏa có thể bổ bằng nhóm Sâm, Kỳ; thực hỏa có thể tả bằng nhóm Cầm, Liên. Hai nhà này không xét đến cái tinh vi của ba vị đại sư (Trọng Cảnh, Đông Viên, Đan Khê) mà bảo Nhân sâm bổ hỏa, thật sai lầm thay! Phàm hỏa và nguyên khí không đội trời chung, nguyên khí thắng thì tà hỏa lui. Nhân sâm đã bổ nguyên khí mà lại còn bổ tà hỏa, ấy là kẻ "tiểu nhân lật lọng" sao, làm sao có thể cùng Cam thảo, Linh, Truật gọi là "Tứ quân tử" được? Tuy nhiên, lời của ba nhà kia (Lôi Hiệu, Hiếu Cổ, Vương Luân) không thể bỏ hết. Chỉ vì lời lẽ có chỗ ngưng trệ, cho nên kẻ giữ lời đó, nệ vào một phía mà cố chấp, đến mức nhìn Nhân sâm như xà hạch (rắn rết), ấy là không được vậy. * Phàm người mặt trắng, mặt vàng, mặt xanh xám gầy yếu, đều là khí của Tỳ, Phế, Thận bất túc, có thể dùng vậy; mặt đỏ, mặt đen là khí tráng thần cường, không thể dùng vậy. * Mạch mà Phù mà Khâu, Nhu, Hư, Đại, Trì hoãn vô lực, Trầm mà Trì, Sáp, Nhược, Tế, Kết, Đại vô lực, đều là hư mà bất túc, có thể dùng vậy; nếu Huyền, Trường, Khẩn, Thực, Hoạt, Sác có lực, đều là hỏa uất nội thực, không thể dùng vậy. * Khiết Cổ (Trương Nguyên Tố) bảo suyễn ho chớ dùng, là cái suyễn do đàm thực khí ủng vậy; nếu Thận hư khí ngắn thở gấp, tất phải dùng vậy. * Trọng Cảnh bảo Phế hàn mà ho chớ dùng, là cái ho do hàn bó nhiệt tà ủng trệ trong Phế vậy; nếu tự hãn ố hàn mà ho, tất phải dùng vậy. * Đông Viên bảo bệnh lâu ngày uất nhiệt ở Phế chớ dùng, là hỏa uất ở trong nghi phát tán không nghi bổ vậy; nếu Phế hư hỏa vượng, khí ngắn tự hãn, tất phải dùng vậy. * Đan Khê bảo các chứng đau (thống) không được dùng ngay, là tà khí đương lúc sắc bén, nghi tán không nghi bổ vậy; nếu lý hư thổ lợi (nôn lỵ) cùng bệnh lâu ngày vị yếu hư đau thích xoa nắn, tất phải dùng vậy. * Tiết Trai (Vương Luân) bảo âm hư hỏa vượng chớ dùng, là huyết hư hỏa kháng năng ăn được, mạch huyền mà sác, làm mát thì thương Vị, làm ấm thì thương Phế, không chịu được thuốc bổ vậy. Nếu tự hãn khí ngắn, chi hàn mạch hư, tất phải dùng vậy. Xét kỹ như thế, thì Nhân sâm lúc nào dùng được, lúc nào không dùng được, đã hiểu quá nửa rồi vậy. '''Lý Cơ nói:''' Thuyết của Vương Luân vốn dựa vào Vương Hiếu Cổ, nhưng Vương Luân lại quá mức cực đoan. Đan Khê nói hư hỏa có thể bổ, phải dùng Sâm Kỳ. Lại nói âm hư triều nhiệt, suyễn ho thổ huyết, đạo hãn (mồ hôi trộm) các chứng, dùng Tứ vật thang gia Nhân sâm, Hoàng bá, Tri mẫu. Lại nói người hiếu sắc, Phế Thận bị thương, ho mãi không khỏi, dùng Quỳnh ngọc cao chủ trị. Lại nói Phế Thận hư cực, dùng Độc sâm cao chủ trị. Ấy là biết chứng âm hư lao thái chưa từng không dùng Nhân sâm vậy. Tiết Trai (Vương Luân) là học trò của Đan Khê mà lại tương phản như thế. Lời này một khi thốt ra, đóng khung vào mắt người đời sau. Phàm gặp các chứng trên, không hỏi bệnh nghi dùng hay không, cứ lấy đó làm cửa miệng. Khiến cho bậc lương y bị bó tay (chế tửu), chỉ cầu thoát khỏi oán trách của nhà người bệnh. Nhà người bệnh cũng lấy thuyết này để ngang trong lòng, cam chịu thuốc khổ hàn, dù đến mức trên nôn dưới lỵ, cách cái chết không xa, cũng không tỉnh ngộ. Cổ kim trị lao không ai qua được Cát Khả Cửu, các bài Độc sâm thang, Bảo chân thang của ông ấy, há có bao giờ bỏ Nhân sâm không dùng? Thuyết của Tiết Trai, thực chưa suy nghĩ sâu xa vậy. '''Dương Khởi nói:''' Công lao Nhân sâm ghi trong Bản thảo, người người đều biết. Gần đây vì người bệnh tiếc tiền mà coi nhẹ thầy thuốc, thầy thuốc lại tính toán chi phí, không nỡ dùng sâm trị bệnh, dẫn đến nhẹ hóa nặng, nặng hóa nguy. Tuy nhiên có 4 chứng Phế hàn, Phế nhiệt, Trung mãn, Huyết hư, nói chỉ nghi tán hàn, tiêu nhiệt, tiêu trướng, bổ doanh mà không dùng Nhân sâm, thuyết đó nghe có vẻ đúng; nhưng chẳng biết rằng nếu gia thêm Nhân sâm ở trong, hộ trì nguyên khí, trợ lực cho quần dược, thì công hiệu càng nhanh. Nếu bảo khí không có phép bổ, thì lầm to. Phương cổ trị Phế hàn lấy Ôn phế thang, Phế nhiệt lấy Thanh phế thang, Trung mãn lấy Phân tiêu thang, Huyết hư lấy Dưỡng doanh thang, đều có Nhân sâm ở trong vậy. Cái gọi là "Tà khí xâm phạm được, khí ắt phải hư". Lại nói "Dưỡng chính thì tà tự trừ", Dương vượng thì sinh âm huyết, quý ở chỗ phối hợp đắc nghi mà thôi. Thầy thuốc tầm thường mỗi khi bảo Nhân sâm không thể nhẹ tay dùng, thật là tầm thường thay! Bậc quân vương hiếu sinh, không nên coi nhẹ tính mạng mà coi trọng thầy thuốc (tầm thường), thầy thuốc cũng không nên tính toán lợi lộc mà không dùng. Viết lời này để khuyên nhủ, xin chớ bảo là gàn dở (uẩn). ====【PHỤ PHƯƠNG】 (Cũ 7, Mới 60)==== * '''Nhân sâm cao:''' Dùng Nhân sâm 10 lạng thái nhỏ, lấy 20 chén nước hoạt thủy (nước chảy) ngâm thấu, cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa củi dâu chậm rãi sắc lấy 10 chén, lọc bỏ bã, lại dùng 10 chén nước sắc lấy 5 chén, hòa với nước cốt trước đó cô thành cao, thu vào bình, tùy bệnh mà làm thang dẫn. ** '''Đan Khê nói:''' Người ham muốn nhiều, thận khí suy yếu, ho không dứt, dùng Gừng sống, Trần bì sắc thang, hòa cao này mà uống. ** Ông Trịnh ở Phố Giang, tháng 5 bị lỵ, lại phạm phòng sự (quan hệ tình dục), bỗng phát hôn vựng, không biết gì, tay buông mắt tối, mồ hôi tự chảy như mưa, trong họng đàm kêu như kéo cưa, tiểu tiện mất tự chủ, mạch đại không chừng, đây là chứng âm hư dương tuyệt vậy. Tôi lệnh gấp sắc đại liệu Nhân sâm cao, lại châm cứu huyệt Khí hải 18 tráng, tay phải liền cử động được, thêm 3 tráng nữa, môi miệng khẽ động, bèn cho uống 1 chén cao, sau nửa đêm uống 3 chén, mắt đã có thể động, dùng hết 3 cân sâm thì mới có thể nói và đòi ăn cháo, hết 5 cân thì lỵ dứt, đến 10 cân thì hoàn toàn bình phục, nếu trị theo chứng trúng phong thì lầm to vậy. ** Một người bị nhọt độc ở lưng, đã uống thuốc Nội thác Thập tuyên quá nhiều, mủ ra gây nôn, phát nhiệt, lục mạch trầm sác có lực, đây là điều cấm kỵ của loét nhọt. Bèn cho dùng đại liệu Nhân sâm cao hòa Trúc lịch uống, sâm dùng hết 16 cân, tre chặt hơn trăm cây, mà yên. Sau hơn mười ngày, gặp gió lớn nhổ cây, nhọt lại nổi mủ, bên trong có một đường chỉ đỏ qua bả vai đến sườn phải. Tôi nói: Gấp làm sâm cao, lấy Khung, Quy, Trần bì làm thang, cho thêm Trúc lịch, nước cốt Gừng mà uống. Hết 3 cân thì nhọt vỡ mủ, điều lý mới yên. ** Nếu ung thư (nhọt độc) sau khi vỡ, khí huyết đều hư, nôn nghịch không ăn được, biến chứng không nhất định, dùng Sâm, Kỳ, Quy, Truật lượng bằng nhau sắc cao uống là hay nhất. * '''Trị trung thang:''' '''Tô Tụng nói:''' Trương Trọng Cảnh trị ngực tê (thống tý), trong tim bĩ cứng, khí lưu kết ở ngực, ngực đầy, dưới sườn khí nghịch xông lên tim, bài Trị trung thang chủ trị. Tức là bài Lý trung thang gồm: Nhân sâm, Bạch truật, Can khương, Cam thảo mỗi thứ 3 lạng. Bốn vị dùng 8 thăng nước, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 1 thăng, ngày 3 lần, tùy chứng gia giảm. Phương này từ đời Tấn, Tống về sau đến các danh y đời Đường, ai trị bệnh tâm phúc cũng không vị nào không dùng, hoặc làm thang, hoặc làm hoàn mật, hoặc làm tán, đều có kỳ hiệu. ** Cư sĩ Hồ Hiệp trị Hoắc loạn gọi là Ôn trung thang. ** Đào Ẩn Cư trong Bách nhất phương nói: Hoắc loạn mà thuốc khác khó tìm, nhưng Trị trung phương, Tứ thuận thang, Hậu phác thang không thể thiếu tạm thời, thường phải chuẩn bị sẵn mang theo mình. ** Vua Đường Thạch Tuyền công Vương Phương Khánh nói: Các phương này không chỉ trị Hoắc loạn, mà mọi bệnh đều chữa được. ** '''Tứ thuận thang:''' dùng Nhân sâm, Cam thảo, Can khương, Phụ tử (nướng) mỗi thứ 2 lạng, nước 6 thăng sắc lấy 2 thăng rưỡi, chia 4 lần uống. * '''Tứ quân tử thang:''' Trị tỳ vị khí hư, không muốn ăn uống, các bệnh khí hư, lấy bài này làm chủ. Nhân sâm 1 tiền, Bạch truật 2 tiền, Bạch phục linh 1 tiền, Cam thảo chích 5 phân, gừng 3 lát, táo 1 quả. Nước 2 chung, sắc lấy 1 chung, uống ấm trước bữa ăn. Tùy chứng gia giảm (Hòa tễ cục phương). * '''Khai vị hóa đàm:''' Chán ăn, không phân biệt người lớn trẻ nhỏ. Nhân sâm (sấy) 2 lạng, Bán hạ (ngâm nước gừng, sấy) 5 tiền. Tán bột, lấy bột mì tinh làm hồ, viên bằng hạt đậu xanh. Sau ăn dùng nước gừng uống 30-50 viên, ngày 3 lần. Thánh huệ phương thêm Trần bì 5 tiền (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Vị hàn khí đầy không thể vận hóa:''' Dễ đói nhưng không ăn được. Nhân sâm (bột) 2 tiền, Phụ tử sống (bột) nửa tiền, gừng sống 2 tiền. Nước 7 phần sắc lấy 2 phần, cho 1 lòng trắng trứng gà, khuấy đều uống lúc đói (Thánh tế tổng lục). * '''Tỳ vị hư nhược, không muốn ăn uống:''' Gừng sống nửa cân (lấy nước cốt), mật trắng 10 lạng, Nhân sâm (bột) 4 lạng. Nồi bạc cô thành cao. Mỗi lần dùng nước cơm hòa 1 thìa (Phổ tế phương). * '''Vị hư buồn nôn, hoặc nôn có đàm:''' Nhân sâm 1 lạng. Nước 2 chén sắc lấy 1 chén, cho 1 chén Trúc lịch, 3 thìa nước gừng, uống ấm cách xa bữa ăn, uống đến khi thấy hiệu quả thì thôi, người già càng nên dùng (Giản tiện phương). * '''Vị hàn nôn ác không thể tiêu hóa thủy cốc:''' Ăn vào là nôn. Nhân sâm, Đinh hương, Hoắc hương mỗi thứ 2 tiền rưỡi, Trần bì 5 tiền, gừng sống 3 lát, nước 2 chén sắc lấy 1 chén, uống ấm (Bạt tụy phương). * '''Phản vị nôn mửa:''' Thức ăn vào miệng là nôn ngay, mệt mỏi không còn sức, sắp chết. Nhân sâm Thượng Đảng 3 lạng lớn (đập vụn). Nước 1 thăng lớn, sắc lấy 4 phần, uống nóng, ngày 2 lần. Đồng thời dùng nước cốt nhân sâm cho vào gạo tẻ, lòng trắng trứng gà, hành trắng, nấu cháo mà ăn. Lý Trực Phương quan Tư huân bị bệnh này tại Hán Nam hơn 2 tháng, các phương không khỏi, dùng phương này liền định ngay. Mười ngày sau vào kinh sư. Lý Giáng mỗi khi luận bàn với danh y về vị thuốc này, đều khen khó có gì sánh bằng (Lý Giáng Binh bộ thủ tập phương). * '''Ăn vào là nôn (Nhân sâm bán hạ thang):''' Dùng Nhân sâm 1 lạng, Bán hạ 1 lạng 5 tiền, gừng sống 10 lát. Nước 1 đấu, dùng gáo múc lên rót xuống (dương) 240 lần, lấy 3 thăng, cho vào 3 hớp mật trắng, sắc lấy 1 thăng rưỡi, chia lần uống (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ phương). * '''Hoắc loạn nôn ác:''' Nhân sâm 2 lạng, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 1 chén, cho 1 lòng trắng trứng gà, sắc lại uống ấm. Có bài thêm Đinh hương (Vệ sinh gia bảo phương). * '''Hoắc loạn phiền muộn:''' Nhân sâm 5 tiền, Quế tâm nửa tiền. Nước 2 chén sắc uống (Thánh huệ phương). * '''Hoắc loạn nôn tả, phiền táo không dứt:''' Nhân sâm 2 lạng, Trần bì 3 lạng, gừng sống 1 lạng. Nước 6 thăng sắc lấy 3 thăng, chia 3 lần uống (Thánh tế tổng lục). * '''Có thai nôn nước, chua tim đau bụng, không ăn được:''' Nhân sâm, Can khương (nướng) lượng bằng nhau, tán bột, dùng nước cốt Sinh địa hòa viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Hòa tễ cục phương). * '''Dương hư khí suyễn:''' Tự hãn (mồ hôi tự ra), đạo hãn (mồ hôi trộm), ngắn hơi chóng mặt. Nhân sâm 5 tiền, Thục phụ tử 1 lạng. Chia 4 liều, mỗi liều dùng 10 lát gừng sống, 2 chén nước chảy sắc lấy 1 chén, uống ấm cách xa bữa ăn (Tế sinh phương). * '''Suyễn cấp sắp tuyệt, hơi thở khò khè:''' Nhân sâm tán bột, uống với nước ấm mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), ngày 5-6 lần rất hiệu quả (Chẩm hậu phương). * '''Sản hậu phát suyễn:''' Do máu vào phổi, là chứng nguy. Nhân sâm (bột) 1 lạng, Tô mộc 2 lạng. Nước 2 bát sắc lấy 1 bát nước Tô mộc, hòa bột sâm uống, thần hiệu (Thánh huệ phương). * '''Sản hậu huyết vựng (choáng váng do mất máu):''' Nhân sâm 1 lạng, Tử tô nửa lạng, dùng nước tiểu trẻ em (đồng niệu), rượu, nước mỗi thứ 3 phần hòa sắc uống (Y phương trích yếu). * '''Sản hậu không nói được:''' Nhân sâm, Thạch xương bồ, Thạch liên nhục lượng bằng nhau, mỗi lần 5 tiền sắc nước uống (Phụ nhân lương phương). * '''Sản hậu các chứng hư, phát nhiệt tự hãn:''' Nhân sâm, Đương quy lượng bằng nhau. Tán bột, dùng 1 cái cật lợn (trư yêu tử) bóc màng thái miếng nhỏ, dùng 3 thăng nước, nửa hớp gạo nếp, 2 cọng hành trắng, nấu gạo chín lấy 1 chén nước cốt, cho thuốc vào sắc còn 8 phần, uống ấm trước khi ăn (Vĩnh loại phương). * '''Sản hậu bí tắc chảy máu nhiều:''' Dùng Nhân sâm, Ma tử nhân, Chỉ xác (sao với cám). Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Tế sinh phương). * '''Sanh ngang sanh ngược (nghịch sản):''' Nhân sâm (bột), Nhũ hương (bột) mỗi thứ 1 tiền, Đan sa (bột) 5 phân. Nghiền đều, dùng 1 lòng trắng trứng gà, 3 thìa nước cốt gừng sống, khuấy đều uống nguội, mẹ con đều yên, thần hiệu. Đây là phương của Thi Hán Khanh (Phụ nhân lương phương). * '''Khai tâm ích trí:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, luyện với mỡ lợn (trư phì phưởng) đã rán 10 lạng. Dùng rượu ngon hòa đều. Mỗi lần uống 1 cốc, ngày 2 lần. Uống đến 100 ngày thì tai mắt thông minh, cốt tủy đầy đủ, da dẻ nhuận trẽo, một ngày nhớ nghìn lời, kiêm trị cả đàm bệnh do phong nhiệt (Thiên kim phương). * '''Nghe tiếng sấm liền hôn mê:''' Một đứa trẻ 7 tuổi hễ nghe tiếng sấm là ngất xỉu không biết gì, đây là do khí khiếp sợ. Dùng Nhân sâm, Đương quy, Mạch môn đông mỗi thứ 2 lạng, Ngũ vị tử 5 tiền. Nước 1 đấu sắc lấy 5 thăng nước cốt; lại dùng 5 thăng nước sắc bã lấy 2 thăng, hòa chung cô thành cao. Mỗi lần dùng 3 thìa hòa nước ấm uống. Dùng hết 1 cân, sau đó nghe sấm vẫn bình thường (Dương Khởi Giản tiện phương). * '''Bỗng nhiên thở gấp nghẹn tuyệt:''' Phương xem ở dưới mục Đại hoàng. * '''Ly hồn dị tật:''' Có người nằm xuống liền cảm thấy ngoài thân có một thân nữa, giống hệt không khác, nhưng không nói năng gì. Phàm người ngủ thì hồn về gan, đây do gan hư tà xâm nhập, hồn không về nhà, bệnh tên là Ly hồn. Dùng Nhân sâm, Long sỉ, Xích phục linh mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy nửa chén, hòa 1 tiền bột Chu sa đã thủy phi, uống lúc ngủ. Mỗi đêm 1 lần, sau 3 đêm, người thật thì khí sảng khoái, người giả (hình bóng) liền tan biến (Hạ Tử Ích Quái chứng kỳ tật phương). * '''Chính xung tự hãn (Tim đập mạnh, mồ hôi tự ra):''' Do tâm khí bất túc. Nhân sâm nửa lạng, Đương quy nửa lạng, dùng 2 quả cật lợn, dùng 2 bát nước sắc lấy 1 bát rưỡi, lấy cật lợn thái nhỏ, cho Sâm và Quy vào sắc chung còn 8 phần, lúc đói ăn cật lợn rồi lấy nước thuốc chiêu xuống. Bã thuốc sấy khô tán bột, dùng bột Hoài sơn làm hồ viên hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên, uống với nước táo cách xa bữa ăn, không quá 2 liều là khỏi. Đây là phương của thần tế đại sư ở Côn Sơn, có bài thêm 2 tiền Nhũ hương (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Dưới tâm kết khí:''' Phàm dưới tâm cứng, ấn vào thì không có, thường cảm thấy đầy trướng, ăn nhiều thì nôn, khí dẫn lên xuống, nấc cụt không dứt, do lo nghĩ quá nhiều, khí không vận hành theo thời mà kết trệ, gọi là kết khí. Nhân sâm 1 lạng, Trần bì (bỏ cùi trắng) 4 lạng. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 50-60 viên với nước cơm (Thánh huệ phương). * '''Mệt mỏi sau khi quan hệ (phòng hậu khốn quyện):''' Nhân sâm 7 tiền, Trần bì 1 tiền, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 8 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần, giá trị nghìn vàng không truyền (Phương của Triệu Vĩnh Am). * '''Hư lao phát nhiệt (Ngu lỗ thang):''' Dùng Nhân sâm Thượng Đảng, Sài hồ Ngân Châu mỗi thứ 3 tiền, Đại táo 1 quả, gừng sống 3 lát. Nước 1 chung rưỡi sắc lấy 7 phần, uống ấm cách xa bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng (Kỳ hiệu lương phương). * '''Phổi nhiệt khản tiếng:''' Nhân sâm 2 lạng, Kha tử 1 lạng, tán bột ngậm rồi nuốt dần (Đan Khê trích huyền). * '''Phổi hư ho lâu ngày:''' Nhân sâm (bột) 2 lạng, Lộc giác giao (nướng, nghiền) 1 lạng. Mỗi lần dùng 3 tiền, dùng nước sắc Bạc hà và Đậu xị 1 chén, thêm chút hành, cho vào nồi nhỏ đun 1-2 dạo, rót ra chén. Khi ho thì nhấp ấm 3-5 ngụm, rất tốt (Thực liệu bản thảo). * '''Dừng ho hóa đàm:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, Minh phàn 2 lạng. Dùng 2 thăng giấm tốt nấu Minh phàn thành cao, cho bột sâm và mật luyện vào hòa thu lại. Mỗi lần lấy 1 viên bằng hạt đậu hà lan đặt dưới lưỡi, cơn ho liền dứt, đàm tự tiêu (Giản tiện phương). * '''Trẻ nhỏ suyễn ho:''' Phát nhiệt tự hãn, nôn ra máu, mạch hư vô lực. Nhân sâm, Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Mỗi lần nửa tiền hòa nước mật uống, lấy khỏi làm chừng (Kinh tế phương). * '''Suyễn ho khạc huyết:''' Khí nghịch lên, suyễn gấp, ho ra máu thổ huyết, mạch vô lực. Bột nhân sâm mỗi lần 3 tiền, hòa lòng trắng trứng gà uống, lúc mờ sáng (5 canh đầu) uống xong nằm ngủ ngay, bỏ gối nằm ngửa, chỉ 1 liều là khỏi. Bệnh lâu năm thì uống thêm. Người khạc máu (lạc huyết) dùng hết 1 lạng rất tốt. Một phương dùng nước mài trứng gà đen nghìn lần, tự nhiên hóa thành nước hòa thuốc càng diệu. Kỵ giấm, mặn, tanh, mắm muối, mì chua, say no, nghỉ ngơi điều độ mới tốt (Thẩm Tồn Trung Linh uyển phương). * '''Ho khạc máu:''' Nhân sâm, Hoàng kỳ, bột mì tinh (phi la diện) mỗi thứ 1 lạng, Bách hợp 5 tiền. Tán bột, viên với nước bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước rễ cỏ tranh (mao căn) trước bữa ăn. ** Chu thị tập nghiệm phương: dùng Nhân sâm, Nhũ hương, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng thịt Ô mai hòa viên bằng hạt đạn (đầu ngón tay). Mỗi lần dùng nước trắng hòa tan 1 viên, ngày uống 1 lần. ** Hư lao thổ huyết nặng, trước tiên lấy Thập tro tán để cầm lại, người đó ắt khốn quyện, phép phải bổ dương sinh âm, dùng Độc sâm thang làm chủ. Nhân sâm tốt 1 lạng, Táo béo 5 quả. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung uống, ngủ một giấc say, bệnh giảm được 5-6 phần, sau đó uống thuốc điều lý (Cát Khả Cửu Thập dược thần thư). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Do thất tình cảm ứng, tửu sắc nội thương, khí huyết vận hành loạn xạ, máu trào ra cả miệng mũi, mạch Tâm Phế bị đứt, máu như suối phun, trong phút chốc không cứu kịp. Dùng Nhân sâm (sấy), lá Trắc bá (đồ, sấy), Kinh giới tuệ (đốt tồn tính) mỗi thứ 5 tiền. Tán bột. Dùng 2 tiền, thêm 2 tiền bột mì tinh, dùng nước mới múc hòa thành hồ loãng mà uống, một lát sau lại uống thêm ngụm nữa, một liều là cầm ngay (Hoa Đà Trung tạng kinh). * '''Chảy máu cam không dứt (nục huyết):''' Nhân sâm, cành Liễu (loại hái ngày Hàn thực) lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần 1 tiền, uống với nước chảy về hướng đông, ngày 3 lần. Không có cành liễu dùng Tâm sen (Thánh tế tổng lục). * '''Chảy máu kẽ răng:''' Nhân sâm, Xích phục linh, Mạch môn đông mỗi thứ 2 tiền. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần. Tô Đông Pha được phương này tự khen là thần kỳ. Kẻ hậu sinh nhiều người bị bệnh này, tôi đã thử nhiều lần, đều linh nghiệm như lời nói (Đàm Dã Ông thử nghiệm phương). * '''Âm hư niệu huyết (tiểu ra máu):''' Nhân sâm (sấy), Hoàng kỳ (chích nước muối) lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng 1 củ củ cải lớn vỏ đỏ, cắt làm 4 miếng, dùng 2 lạng mật, nhúng từng miếng củ cải vào mật rồi nướng, để khô lại nướng tiếp, đừng để cháy, nướng đến khi hết mật thì thôi. Mỗi lần dùng 1 miếng chấm bột thuốc mà ăn, dùng nước muối chiêu xuống, lấy khỏi làm chừng (Tam nhân phương). * '''Sa lâm thạch lâm (Sỏi thận, sỏi bàng quang):''' Phương như trên. * '''Tiêu khát khát uống:''' Nhân sâm tán bột, hòa lòng trắng trứng gà uống mỗi lần 1 tiền, ngày 3-4 lần. ** Tập nghiệm: dùng Nhân sâm, rễ Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Nghiền sống tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước Mạch môn đông trước bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng. Tên là Ngọc hồ hoàn. Kỵ rượu, mì, đồ nướng. ** Trịnh thị gia truyền Tiêu khát phương: Nhân sâm 1 lạng, Cam thảo phấn 2 lạng. Dùng nước mật lợn đực ngâm sấy, Băng phiến (não tử) nửa tiền. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt khiếm thực. Mỗi lần nhai 1 viên chiêu nước lạnh. ** Thánh tế tổng lục: dùng Nhân sâm 1 lạng, bột Cát căn 2 lạng. Tán bột. Lúc phát bệnh lấy 1 thăng nước luộc thịt lợn thiến, cho 3 tiền bột thuốc, 2 lạng mật, đun lửa nhỏ cô còn 3 chén, trạng như kẹo mạch nha đen, thu vào bình, mỗi đêm ngậm nuốt 1 thìa, không quá 3 liều là hiệu quả vậy. * '''Hư ngược hàn nhiệt (Sốt rét do hư):''' Nhân sâm 2 tiền 2 phân, Hùng hoàng 5 tiền. Tán bột, ngày Đoan ngọ dùng chóp lá bánh chưng giã làm viên hạt ngô. Sáng sớm ngày phát bệnh dùng nước giếng mới múc nuốt 7 viên, trước khi phát lại uống thêm. Kỵ các đồ nóng, hiệu quả ngay lập tức. Một phương: thêm Thần khúc lượng bằng nhau (Đan Khê toản yếu). * '''Lạnh lỵ quyết nghịch, lục mạch trầm tế:''' Nhân sâm, Đại phụ tử mỗi thứ 1 lạng rưỡi. Mỗi lần uống nửa lạng, gừng sống 10 lát, Đinh hương 15 hạt, gạo nếp 1 hớp. Nước 2 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm lúc đói (Kinh nghiệm phương). * '''Hạ lỵ cấm khẩu (Lỵ không ăn được):''' Nhân sâm, hạt Sen mỗi thứ 3 tiền. Dùng 2 chén nước giếng sắc lấy 1 chén, nhấp uống từ từ. Hoặc thêm Hoàng liên sao nước gừng 3 tiền (Kinh nghiệm lương phương). * '''Người già hư lỵ không dứt, không ăn được:''' Nhân sâm Thượng Đảng 1 lạng, Lộc giác (bỏ da, sao nghiền) 5 tiền. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông hòa nước cơm uống, ngày 3 lần (Thập tiện lương phương). * '''Thương hàn hoại chứng:''' Phàm thương hàn thời dịch, không hỏi âm dương, già trẻ phụ nữ có thai, lỡ uống nhầm thuốc dẫn đến nguy kịch sắp chết, mạch trầm phục, không biết gì, sau 7 ngày đều có thể uống, trăm người không hỏng một. Tên là Đoạt mệnh tán, lại tên Phục mạch thang. Nhân sâm 1 lạng, nước 2 chung, dùng lửa mạnh sắc còn 1 chung, dùng nước giếng ngâm lạnh rồi uống, một lát sau sống mũi có mồ hôi ra, mạch phục hồi ngay. Thị lang Tô Thao Quang nói: dùng phương này cứu được vài chục người. Tôi làm quan huyện Thanh Lưu, con dâu của quan huyện thân là Thân Đồ Hành Phụ bị thời dịch hơn 30 ngày, đã thành hoại bệnh, cho uống thuốc này liền yên (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Thương hàn quyết nghịch:''' Mình hơi nóng, phiền táo, lục mạch trầm tế vi nhược, đây là âm cực phát táo vậy. '''Vô ưu tán:''' dùng Nhân sâm nửa lạng. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, hòa 2 tiền bột Ngưu đằng nam tinh, uống nóng, tỉnh ngay (Tam nhân phương). * '''Kẹp âm thương hàn (Cáp âm thương hàn):''' Trước đó có phòng sự, sau đó cảm hàn tà, dương suy âm thịnh, lục mạch trầm phục, bụng dưới đau thắt, tứ chi lạnh ngược, nôn ra nước trong, không nhờ thuốc này thì không cách gì hồi dương. Nhân sâm, Can khương (nướng) mỗi thứ 1 lạng, Phụ tử sống 1 quả (phá làm 8 miếng). Nước 4 thăng rưỡi sắc còn 1 thăng, uống hết một lần. Mạch ra mình ấm là khỏi (Ngô Thụ Thương hàn uẩn yếu). * '''Gân cốt phong thống:''' Nhân sâm 4 lạng (ngâm rượu 3 ngày, phơi khô), Thổ phục linh 1 cân, Sơn từ cô 1 lạng. Tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước cơm trước khi ăn (Kinh nghiệm phương). * '''Trẻ nhỏ phong giản co giật:''' Dùng Nhân sâm, Cáp phấn, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng máu tim lợn thiến hòa viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên uống với nước vàng bạc, ngày 2 lần, đại có thần hiệu (Vệ sinh bảo giám). * '''Tỳ hư mạn kinh:''' Hoàng kỳ thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Đậu chẩn hiểm chứng:''' Bảo nguyên thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Sau kinh sợ đồng tử bị lệch (nhãn tà):''' Trẻ nhỏ sau khi kinh sợ đồng tử không chính. Nhân sâm, A giao (sao với gạo nếp thành hạt) mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm, ngày 2 lần. Khỏi thì dừng, hiệu quả (Trực chỉ phương). * '''Trẻ nhỏ tỳ phong hay buồn ngủ:''' Nhân sâm, nhân Bí đao mỗi thứ nửa lạng, Nam tinh 1 lạng. Luộc qua nước tương, tán bột. Mỗi lần dùng 1 tiền, nước nửa chén sắc còn 2-3 phần, uống ấm (Bản sự phương). * '''Tửu độc mù mắt:''' Một người hình vóc lực lưỡng, ham uống rượu nóng, bỗng bị mù mắt mà mạch sáp, đây do rượu nóng làm tổn thương, vị khí ô trọc, huyết chết ở bên trong mà ra. Lấy Tô mộc sắc thang hòa 1 tiền bột Nhân sâm uống. Ngày hôm sau mũi và hai lòng bàn tay đều tím đen, đây là huyết trệ đã hành vậy. Lại dùng Tứ vật thang thêm Tô mộc, Đào nhân, Hồng hoa, Trần bì hòa bột Nhân sâm uống, vài ngày là khỏi (Đan Khê toản yếu). * '''Tửu độc sinh thư (nhọt):''' Một phụ nữ nghiện rượu, ngực mọc một cái nhọt (thư), mạch khẩn mà sáp. Dùng Nhân sâm sao rượu, Đại hoàng sao rượu lượng bằng nhau tán bột, dùng nước gừng uống 1 tiền, ngủ được mồ hôi ra là khỏi. Hiệu quả (Đan Khê y án). * '''Chó cắn phong thương sưng đau:''' Nhân sâm đặt trên than củi dâu đốt tồn tính, lấy bát úp lại, một lát sau tán bột, rắc vào, khỏi ngay (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Rết cắn:''' Nhai nhân sâm bôi vào (Y học tập thành). * '''Ong châm kiến đốt:''' Bột nhân sâm đắp vào (Chứng trị yếu quyết). * '''Thủng hông lòi ruột:''' Gấp lấy dầu bôi vào rồi ấn ruột vào, sắc nước Nhân sâm, Câu kỷ rửa bên ngoài, bên trong ăn cháo Thận cừu, 10 ngày khỏi (Ngụy thị Đắc hiệu phương). * '''Khí bôn quái tật:''' Phương xem ở dưới mục Hổ trượng. ===LÔ (蘆 - Đầu rễ/Cổ rễ nhân sâm)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị đàm ẩm do hư lao ('''Thời Trân'''). '''【Phát minh】''' * '''Ngô Thụ nói:''' Người suy nhược thì dùng Sâm lô thay thế cho Qua đế (cuống quả dưa - Cucumis melo L. để gây nôn nhẹ hơn). * '''Chu Đan Khê nói:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế), bổ cái Âm trong Dương; còn Sâm lô thì ngược lại, có thể tả cái Dương của kinh Thái âm. Điều này cũng giống như cây Ma hoàng (Ephedra sinica Stapf), phần ngọn (miêu) thì năng phát hãn (gây ra mồ hôi), còn phần rễ thì lại chỉ hãn (cầm mồ hôi). Thóc gạo thuộc Kim mà tính của cám lại nóng, lúa mạch thuộc Dương mà tính của vỏ cám (phu) lại mát. Các bậc tiền nho vịnh rằng "mỗi vật đều mang trong mình một Thái cực", người học đạo chẳng lẽ không thể từ đó mà suy rộng ra sao? ** Có một người con gái tính tình nóng nảy, lại hay ăn vị đậm đà, tháng nóng vì tức giận mà mắc chứng nấc cụt (ách), mỗi lần phát bệnh thì cả thân mình nhảy động, hôn mê không biết gì. Hình vóc và khí thế của cô ấy đều thực, đó là do đàm bị uất lại bởi cơn giận, khiến khí không thể giáng xuống, nếu không dùng phép thổ (gây nôn) thì không thể khỏi. Bèn dùng nửa lạng Sâm lô, một chén rưỡi nước nghịch lưu (nước chảy ngược), sắc lấy một bát lớn cho uống. Cô ấy nôn ra mấy bát đàm đặc (ngoan đàm), ra đại hãn (mồ hôi đầm đìa) rồi ngủ say một ngày là yên. ** Lại có một người vì làm lụng vất vả mà phát bệnh sốt rét (ngược), uống thuốc trị sốt rét vào thì biến thành nhiệt bệnh, lưỡi ngắn, ho có đàm, lục mạch hồng sác mà hoạt. Đây là đàm tích tụ trong ngực, không dùng phép thổ thì không khỏi. Dùng Sâm lô sắc thang cho thêm Trúc lịch (nhựa tre) uống hai liều, nôn ra ba cục đàm keo đặc, sau đó cho dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ (Astragalus mongholicus), Đương quy (Angelica sinensis) sắc uống, nửa tháng thì bình phục. ==SA SÂM (沙參)== (Adenophora elata Nannf. hoặc các loài tương cận thuộc chi Adenophora) (Sách Bổn kinh, hàng Thượng phẩm) '''【Hiệu chính】''' Gộp cả phần "Dương nhũ" (Sữa dê) thuộc mục "Hữu danh vị dụng" (Có tên nhưng chưa dùng) trong sách Biệt lục. '''【Thích danh】''' Bạch sâm (Ngô Phổ), Tri mẫu (Biệt lục), Dương nhũ (Biệt lục), Dương bà nãi (Cương mục), Linh nhi thảo (Biệt lục), Hổ tu (Biệt lục), Khổ tâm (Biệt lục, còn gọi là Văn hy, Thức mỹ, Chí thủ). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị này cùng với Nhân sâm, Huyền sâm, Đan sâm, Khổ sâm gọi là "Ngũ sâm". Hình dáng của chúng không hoàn toàn giống nhau nhưng chủ trị khá tương đồng, nên đều có tên là "Sâm". Ngoài ra còn có Tử sâm, tức là Mẫu mông. * '''Thời Trân nói:''' Sa sâm màu trắng, thích hợp với vùng đất cát (sa địa), nên có tên như vậy. Rễ của nó có nhiều nhựa trắng, người bình dân gọi là Dương bà nãi (vú dê cái). Mục "Dương nhũ" trong Biệt lục chính là vị này. Vật này không có lõi, vị nhạt, mà Biệt lục lại gọi là "Khổ tâm" (tâm đắng), lại trùng tên với Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge), thật không hiểu tại sao. Còn tên Linh nhi thảo (cỏ chuông nhỏ) là mô tả hình dáng hoa vậy. '''【Tập giải】''' * '''Sách Biệt lục nói:''' Sa sâm sinh ở thung lũng Hà Nội và các vùng Oan Cú, Bàn Dương, Tục Sơn. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. Tên khác là Dương nhũ, Địa hoàng; hái vào tháng 3, sau tiết Lập hạ thì cây mẹ chết. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Dương nhũ rễ giống Tề ni (Adenophora stricta Miq.) nhưng tròn, to nhỏ bằng nắm tay, trên có các đốt sừng, bẻ ra có nhựa trắng; người ta thường lấy rễ này thay cho Tề ni. Ngọn cây làm dạng dây leo, bẻ ra cũng có nhựa trắng. * '''Thời Trân nói:''' Sa sâm có ở khắp các núi rừng. Tháng 2 mọc mầm, lá như lá Quỳ nhỏ mới mọc, tròn dẹt và không bóng. Tháng 8, tháng 9 mọc thân, cao 1-2 thước. Lá trên thân thì nhọn dài như lá Câu kỷ (Lycium chinense Mill.) nhưng nhỏ và có răng cưa mịn. Mùa thu giữa các kẽ lá nở hoa tím nhỏ, dài 2-3 phân, hình như cái chuông (linh đạc), có 5 cánh, nhị trắng, cũng có loại hoa trắng. Kết quả to như quả Đông thanh, trong có hạt nhỏ. Sau tiết sương giáng thì mầm khô. Rễ mọc ở đất cát dài hơn một thước, to bằng một hổ khẩu (vòng tay); mọc ở đất vàng thì ngắn và nhỏ. Cả rễ và thân đều có nhựa trắng. Hái vào tháng 8, tháng 9 thì trắng và chắc; hái vào mùa xuân thì hơi vàng và xốp. Người ta cũng thường đem đồ lên rồi ép cho chắc để giả làm Nhân sâm, nhưng thể chất nhẹ xốp, vị nhạt và ngắn vậy. ===RỄ (根)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hơi hàn, không độc. Biệt lục nói: Dương nhũ tính ấm, không độc. * '''Ngô Phổ nói:''' Sa sâm theo Kỳ Bá vị mặn; Thần Nông, Hoàng Đế, Biển Thước bảo không độc. Lý Đương Chi bảo đại hàn. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Vị ngọt, hơi đắng. * '''Lý Chi Tài nói:''' Ghét Phòng kỷ (Stephania tetrandra), phản Lị lô (Veratrum nigrum). '''【Chủ trị】''' * Trị huyết tích kinh khí, trừ hàn nhiệt, bổ trung, ích Phế khí (Bổn kinh). * Trị vị tý, tâm phúc thống (đau bụng vùng tim), kết nhiệt tà khí gây đầu thống, tà nhiệt ngoài da, an ngũ tạng. Uống lâu có lợi cho người. Lại nói: Dương nhũ chủ trị đầu huyễn thống (đau chóng mặt), ích khí, trường cơ nhục (Biệt lục). Trị phù phong ngoài da thịt, sán khí sa xuống, trị chứng hay buồn ngủ, dưỡng Can khí, tuyên thông phong khí ngũ tạng (Chân Quyền). Bổ hư, cầm kinh phiền, ích Tâm Phế, trị mọi chứng ác sang giới tiễn (ghẻ lở) và ngứa ngáy khắp người, bài nùng (tống mủ), tiêu sưng độc (Đại Minh). Thanh Phế hỏa, trị ho lâu ngày, phế nuy (phổi héo) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Trương Nguyên Tố nói:''' Người bị Phế hàn thì dùng Nhân sâm; người Phế nhiệt thì dùng Sa sâm thay thế, vì lấy cái vị ngọt của nó vậy. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Sa sâm vị ngọt hơi đắng, là thuốc của bản kinh Quyết âm, lại là thuốc ở phần khí của kinh Tỳ. Vị hơi đắng thì bổ Âm, vị ngọt thì bổ Dương, cho nên Khiết Cổ lấy Sa sâm thay Nhân sâm. Bởi Nhân sâm tính ấm, bổ cái Dương của ngũ tạng; Sa sâm tính hàn, bổ cái Âm của ngũ tạng. Tuy nói bổ ngũ tạng, nhưng cũng cần dùng các thuốc bổ tạng tương ứng làm tá, để tùy theo sự dẫn dắt mà hỗ trợ lẫn nhau mới được. * '''Thời Trân nói:''' Nhân sâm ngọt đắng tính ấm, thể chất nặng chắc, chuyên bổ nguyên khí của Tỳ Vị, từ đó mà ích cho Phế và Thận, nên người bị nội thương nguyên khí thì nghi dùng. Sa sâm ngọt nhạt tính hàn, thể chất nhẹ xốp, chuyên bổ Phế khí, từ đó mà ích cho Tỳ và Thận, nên người bị Kim chịu Hỏa khắc (Phế bị nhiệt hỏa xâm phạm) thì nghi dùng. Một bên bổ Dương để sinh Âm, một bên bổ Âm để chế Dương, không thể không phân biệt vậy. '''【Phụ phương】''' (Cũ 1, mới 2) * '''Phế nhiệt ho:''' Sa sâm nửa lạng. Sắc nước uống (Vệ sinh dị giản phương). * '''Đột ngột phát sán khí:''' Bụng dưới và trong âm hộ đau thắt kéo nhau, mồ hôi tự ra, đau muốn chết. Sa sâm giã nhỏ rây lấy bột, uống với rượu mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), khỏi ngay (Chẩm hậu phương). * '''Phụ nữ bạch đới:''' Thường do thất tình nội thương hoặc hạ nguyên hư lạnh gây ra. Sa sâm tán bột, mỗi lần uống 2 tiền hòa với nước cơm (Chứng trị yếu quyết). ==TỀ NI (薺苨)== (Adenophora stricta Miq.) *(Âm là Tề Ni, đều thanh thượng. Sách Biệt lục, hàng Trung phẩm) '''【Hiệu chính】''' Gộp cả phần "Hạnh sâm" trong sách Đồ kinh. '''【Thích danh】''' Hạnh sâm (Đồ kinh), Hạnh diệp sa sâm (Cứu hoang), Trư bàng (豝, âm là Đề. Nhĩ nhã), Tiềm cát cánh (Cương mục), Bạch diện căn (Cứu hoang). * Mầm gọi là '''Ẩn nhẫn'''. * '''Thời Trân nói:''' Tề ni nhiều dịch, có trạng thái như lộ dày (tế nê), nên lấy đó làm tên. Tế nê (濟苨) nghĩa là móc đọng đặc vậy. Rễ nó như Sa sâm (Adenophora) mà lá như lá Hạnh (Prunus armeniaca L.), nên người Hà Nam gọi là Hạnh diệp sa sâm. Vị Hạnh sâm trong Đồ kinh của Tô Tụng chính là vị này. Tục gọi là Tiềm cát cánh (Cát cánh ngọt). Sách Nhĩ nhã vân: Bàng (豝) chính là Tề ni vậy. Quách Phác chú rằng: Chính là Tề ni. Về tên Ẩn nhẫn, thuyết xem ở đoạn dưới. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Rễ và thân Tề ni đều rất giống Nhân sâm (Panax ginseng C.A. Mey.), nhưng lá hơi khác, vị rễ ngọt lịm, năng sát độc. Hễ để chung với các loại thuốc độc, độc tính đều tự nhiên tiêu giảm, nhưng không chính thức đưa vào phương gia dụng. Lại nói: Ngụy Văn Đế bảo Tề ni làm loạn Nhân sâm (gây nhầm lẫn), chính là vị này vậy. Lá Tề ni rất giống Cát cánh (Platycodon grandiflorus), nhưng khác ở chỗ dưới lá sáng bóng nhẵn nhụi không lông, lại không mọc đối như Nhân sâm. * '''Trần Ty Cung nói:''' Mầm Nhân sâm giống Ngũ gia bì nhưng rộng và ngắn, thân tròn có 3-4 nhánh (nhã), đầu nhánh có 5 lá. Đào Hoằng Cảnh dẫn thuyết Tề ni làm loạn Nhân sâm là sai vậy. Vả lại Tề ni và Cát cánh có loại lá mọc cách, cũng có loại lá mọc 3-4 đôi, đều một thân mọc thẳng lên, lá đã dễ lẫn lộn, duy chỉ có thể phân biệt bằng việc rễ (Cát cánh) có lõi (tâm) mà thôi. * '''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Xuyên Thục, Giang Chiết đều có cả. Mùa xuân mọc mầm thân, đều giống Nhân sâm nhưng lá hơi khác, rễ giống Cát cánh nhưng khác ở chỗ không có lõi. Nhuận Châu, Thiểm Châu có rất nhiều, người ta thu hái làm quả, hoặc làm mứt (phu) mà ăn, vị rất cam mỹ, lại có thể gửi đi xa. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. * '''Lý Thừa nói:''' Người nay thường đem đồ chín rồi ép dẹt để làm loạn Nhân sâm, nhưng vị nhạt vậy. * '''Khấu Tông Đạm nói:''' Đào Hoằng Cảnh luận về rễ, nên bảo Tề ni làm loạn Nhân sâm; Tô Tụng luận về mầm, nên bảo Đào sai vậy. * '''Tiết Cơ nói:''' Mầm thân Tề ni tương tự Cát cánh, rễ của nó tương loạn với Nhân sâm. Nay nói mầm thân đều giống Nhân sâm là gần như sai lầm. Nên xem kỹ cả ba mục chú giải về Nhân sâm, Tề ni, Cát cánh thì tự rõ. * '''Thời Trân nói:''' Mầm Tề ni giống Cát cánh, rễ giống Sa sâm, nên gian thương thường dùng Sa sâm và Tề ni để trà trộn làm loạn Nhân sâm. Vị Hạnh sâm trong Đồ kinh của Tô Tụng và Hạnh diệp sa sâm trong Cứu hoang bản thảo của Chu Định Vương đều là Tề ni này vậy. Đồ kinh vân: Hạnh sâm sinh ở đồng nội vùng Tư Châu, rễ như rễ rau nhỏ. Người địa phương tháng 5 hái mầm lá trị ho thượng khí. Cứu hoang bản thảo vân: Hạnh diệp sa sâm, tên khác là Bạch diện căn. Mầm cao 1-2 thước, thân màu xanh trắng. Lá như lá Hạnh nhưng nhỏ, hơi nhọn và lưng lá trắng, mép có răng cưa. Đầu cành nở hoa trắng 5 cánh như cái bát nhỏ (oản tử hoa). Hình rễ như cà rốt dại (dã hồ la bặc), khá mập, vỏ màu xám đen, giữa màu trắng, vị ngọt tính hơi hàn. Cũng có loại nở hoa màu xanh biếc. Mầm non chần chín rửa sạch qua nước, trộn dầu muối mà ăn. Rễ thay nước luộc cũng có thể ăn được. Người ta dùng mật nấu để làm quả (mứt). Lại nữa, Đào Hoằng Cảnh chú về Cát cánh, nói lá nó tên là Ẩn nhẫn, có thể luộc ăn, trị cổ độc. Cẩn thận xét theo Nhĩ nhã vân: Bàng là Ẩn nhẫn vậy. Quách Phác chú vân: Giống cây Tô, có lông. Người Giang Đông muối làm dưa (trư), cũng có thể luộc ăn. Cát Hồng trong Chẩm hậu phương vân: Cỏ Ẩn nhẫn, mầm giống Cát cánh, người đều ăn được. Giã lấy nước uống trị cổ độc. Dựa vào đây thì Ẩn nhẫn không phải là Cát cánh, mà là mầm Tề ni vậy. Mầm Tề ni ngọt, ăn được; mầm Cát cánh đắng, không ăn được, đây là minh chứng rõ nhất. Sách Thần Nông bản thảo kinh không có Tề ni, chỉ có Cát cánh và một tên gọi khác là Tề ni, đến đời Biệt lục mới bắt đầu tách riêng Tề ni. Có lẽ Tề ni và Cát cánh cùng một loại, có hai giống ngọt và đắng, nên mầm của chúng đều có thể gọi là Ẩn nhẫn vậy. ===RỄ (根)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Giải độc của trăm loại thuốc (Biệt lục). * Sát cổ độc (độc bùa ngải), trị rắn rết côn trùng cắn, nhiệt cuồng ôn dịch, trúng tên độc (Đại Minh). Lợi Phế khí, hòa trung minh mục (sáng mắt) chỉ thống (giảm đau), đồ thái ra nấu canh cháo mà ăn, hoặc làm dưa (tê trư) ăn (Trạm Ân). Ăn vào ép được độc Đan thạch phát động (Mạnh Tiên). Chủ trị ho tiêu khát, cường trung, sang độc đinh thũng, lánh độc của sa sắt (mạt bụi) và đoản hồ (con bọ nước) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Thời Trân nói:''' Tề ni tính hàn mà lợi Phế, vị ngọt mà giải độc, thật là món tốt vậy, mà người đời không biết dùng, thật đáng tiếc thay. Xét Cát Hồng trong Chẩm hậu phương vân: Một thứ thuốc mà kiêm giải được mọi độc, chỉ có nước Tề ni sắc đặc uống 2 thăng, hoặc nấu mà nhai, cũng có thể làm dạng bột (tán) để uống. Vị thuốc này ở giữa các thuốc khác thì độc tính đều tự giải vậy. Lại nữa, Trương Độc trong Triều dã thiêm tái vân: Các y gia bảo hổ trúng tên độc thì ăn bùn trong (thanh nê) mà giải; lợn rừng trúng tên độc thì tìm Tề ni mà ăn. Vật còn biết giải độc, huống chi là người? Lại nữa, Tôn Tư Mạo trong Thiên kim phương trị chứng Cường trung (cương dương không dứt), dương vật cương cứng lâu không giao hợp mà tinh tự xuất, sau khi tiêu khát phát sinh ung thư, có các bài Tề ni hoàn, Trư thận tề ni thang, đây đều là những điều Bản thảo chưa chép tới. Nhưng cũng đều lấy công năng giải nhiệt giải độc của nó mà thôi, không có ý nghĩa khác. '''【Phụ phương】''' (Cũ 4, Mới 3) * '''Cường trung tiêu khát (Trư thận tề ni thang):''' Trị bệnh cường trung, dương vật cương cứng dài lâu, không giao hợp mà tinh dịch tự chảy, sau tiêu khát là phát ung thư. Đều do buông thả sắc dục, hoặc uống kim thạch (thuốc khoáng vật) gây ra, nên dùng bài này để chế cái nhiệt trong Thận vậy. Dùng Cật lợn (trư thận) 1 đôi, Tề ni, Thạch thạch cao mỗi thứ 3 lạng, Nhân sâm, Phục linh, Từ thạch, Tri mẫu, Cát căn, Hoàng cầm, Qua lâu căn, Cam thảo mỗi thứ 2 lạng, Đỗ đen (hắc đại đậu) 1 thăng, nước 1 đấu rưỡi. Trước tiên luộc cật lợn và đỗ đen lấy 1 đấu nước cốt, bỏ bã rồi cho thuốc vào, sắc lại lấy 3 thăng, chia 3 lần uống. Người đời sau gọi là Thạch tử tề ni thang. * Lại có '''Tề ni hoàn:''' dùng Tề ni, Đỗ đen, Phục thần, Từ thạch, Qua lâu căn, Thục địa hoàng, Địa cốt bì, Huyền sâm, Thạch hộc, Lộc nhung mỗi thứ 1 lạng, Nhân sâm, Trầm hương mỗi thứ nửa lạng. Tán bột, lấy bao tử lợn (trư đỗ) làm sạch nấu nhừ, giã nát hòa thuốc viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 70 viên với nước muối lúc đói (Đều trong Thiên kim phương). * '''Đinh sang thũng độc:''' Rễ Tề ni tươi giã lấy nước cốt, uống 1 hớp (hợp), lấy bã đắp lên, không quá 3 lần (Thiên kim dực). * '''Vết nám trên mặt (Diện thượng sạm):''' Tề ni, Nhục quế lượng bằng nhau. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông uống với nước hèm (tạc tương), ngày 1 lần. Lại có thể tẩy vết sẹo, nốt ruồi (Thánh tế tổng lục). * '''Giải mọi loại cổ độc:''' Rễ Tề ni giã lấy bột, uống 1 thìa vuông, khỏi ngay (Trần Diên Chi - Đoản kịch phương). * '''Giải độc Câu vẫn (Lá ngón):''' Lá Câu vẫn (Gelsemium elegans) và lá Rau cần tương tự nhau, lỡ ăn nhầm sẽ chết người. Duy lấy Tề ni 8 lạng, nước 6 thăng, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 5 hợp, ngày 5 lần (Trọng Cảnh Kim quỹ ngọc hàm). * '''Giải độc Ngũ thạch (5 loại khoáng vật độc):''' Tề ni tươi giã lấy nước, uống nhiều, khỏi ngay (Tô Tụng - Đồ kinh). ===ẨN NHẪN DIỆP (Lá cây Tề ni)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, đắng, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Cổ độc gây đau bụng, mặt mắt xanh vàng, gầy rộc (lâm lộ cốt lập), sắc nước 1-2 thăng mà uống (Thời Trân). Chủ trị phong ủng ở tạng bụng, ho thượng khí (Tô Tụng). ==CÁT CÁNH (桔梗)== (Platycodon grandiflorus (Jacq.) A. DC.) (Sách Bổn kinh, hàng Hạ phẩm) '''【Thích danh】''' Bạch dược (Biệt lục), Cánh thảo (Biệt lục), Tề ni (Bổn kinh). * '''Thời Trân nói:''' Rễ của loại cỏ này kết thực mà thân (cánh) mọc thẳng, nên có tên như vậy (Cát cánh). Sách Ngô Phổ bản thảo gọi là Lợi như, Phù hộ, Phòng đồ; các sách phương tễ đều không thấy dùng, có lẽ là tên lóng (sấu từ) mà thôi. Cát cánh và Tề ni (Adenophora) cùng một loại, có hai giống ngọt và đắng, nên Bổn kinh gọi Cát cánh là Tề ni, mà nay dân gian gọi Tề ni là Cát cánh ngọt vậy. Đến đời Biệt lục mới bắt đầu tách riêng điều mục Tề ni, chia làm hai vật, vì tính vị công dụng đều khác nhau, nên lấy theo Biệt lục là đúng. '''【Tập giải】''' * '''Sách Biệt lục nói:''' Cát cánh sinh ở thung lũng núi Tung Cao và vùng Oan Cú. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. * '''Ngô Phổ nói:''' Lá như Tề ni, thân như quản bút, màu tím đỏ, tháng 2 mọc mầm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vùng gần đường đâu đâu cũng có, tháng 2, tháng 3 mọc mầm, có thể luộc ăn. Cát cánh trị cổ độc rất linh nghiệm. Phương tễ dân gian dùng vị này gọi tên là Tề ni. Nay có loại Tề ni riêng, năng giải độc thuốc, thường làm loạn (trà trộn) với Nhân sâm, lá rất giống nhau. Nhưng lá Tề ni mặt dưới sáng bóng nhẵn nhụi không lông là điểm khác biệt, cách mọc lá cũng không đối nhau như Nhân sâm. * '''Trần Ty Cung nói:''' Tề ni và Cát cánh, lá có loại mọc cách, cũng có loại mọc 3-4 đôi đối nhau, đều một thân mọc thẳng lên, lá đã dễ lẫn lộn, duy chỉ có thể phân biệt bằng việc rễ (Cát cánh) có lõi (tâm) mà thôi. * '''Tô Tụng nói:''' Nay nơi nơi đều có. Rễ to như ngón tay út, màu vàng trắng. Mùa xuân mọc mầm, thân cao hơn một thước. Lá như lá Hạnh (Prunus armeniaca L.) nhưng dài dẹt, 4 lá mọc đối, lúc non có thể luộc ăn. Mùa hạ nở hoa nhỏ màu tím biếc, khá giống hoa Thiên ngưu (hoa muống - Ipomoea nil), sau mùa thu kết hạt. Tháng 8 hái rễ, rễ có lõi, loại nào không lõi là Tề ni. Cát cánh vùng Quan Trung rễ vỏ vàng, giống rễ Thục quỳ (Althaea rosea). Thân nhỏ màu xanh. Lá nhỏ màu xanh, giống lá Cúc (Chrysanthemum). ===RỄ (根)=== '''【Tu trị】''' * '''Lôi Hiệu nói:''' Phàm dùng chớ dùng loại Mộc cánh (thân gỗ), trông rất giống Cát cánh, nhưng nhai thấy vị tanh chát không dùng được. Phàm dùng Cát cánh, phải bỏ phần đầu nhọn cứng chừng 2-3 phân, cùng các cành phụ hai bên. Trên thớt gỗ dâu (khuê châm) thái nhỏ, dùng Bách hợp (Lilium brownii) tươi giã thành cao, cho vào nước ngâm một ngày đêm (nhất phục thời) rồi lọc ra, dùng lửa nhẹ sao cho khô thì dùng. Cứ 4 lạng Cát cánh thì dùng 2 lạng 5 tiền Bách hợp. * '''Thời Trân nói:''' Nay chỉ cần cạo bỏ lớp vỏ nổi bên ngoài, ngâm nước vo gạo một đêm, thái phiến sao nhẹ mà dùng. '''【Khí vị】''' Vị cay, tính hơi ấm (vi ôn), có độc nhỏ. * '''Ngô Phổ nói:''' Thần Nông, Y Hòa bảo vị đắng, không độc; Hoàng Đế, Biển Thước bảo vị cay mặn; Kỳ Bá, Lôi Công bảo vị ngọt, không độc. Lý Đương Chi bảo đại hàn. * '''Chân Quyền nói:''' Vị đắng, cay. * '''Thời Trân nói:''' Nên lấy vị đắng, cay, tính bình làm đúng. * '''Lý Chi Tài nói:''' Tiết bì (vỏ đốt) làm sứ. Sợ Bạch cập (Bletilla striata), Long nhãn (Dimocarpus longan), Long đảm thảo (Gentiana scabra). Kỵ thịt lợn. Được Mẫu lệ, Viễn chí thì trị được chứng giận dữ (huế nộ); được Tiêu thạch, Thạch cao thì trị được thương hàn. Cháo trắng giải được độc của thuốc. * '''Thời Trân nói:''' Phục được Thạch tín (Phục thạch). Tiết bì mà Từ Chi Tài nói, không biết là vật gì vậy. '''【Chủ trị】''' Đau ngực sườn như dao châm, bụng đầy trướng, ruột kêu u u (tràng minh), kinh khủng quý khí (tim đập nhanh do sợ hãi) (Bổn kinh). Lợi ngũ tạng tràng vị, bổ huyết khí, trừ hàn nhiệt phong tý, ôn trung tiêu cốc, trị đau cổ họng, hạ cổ độc (Biệt lục). Trị hạ lỵ, phá huyết khứ tích khí, tiêu tích tụ đàm diên (đờm dãi), trừ phế nhiệt gây khí xúc sấu nghịch (thở gấp ho ngược), trừ đau lạnh trong bụng, chủ trị trúng ác và trẻ nhỏ kinh giản (Chân Quyền). Hạ tất cả các loại khí, cầm hoắc loạn chuyển cân (chuột rút), tim bụng trướng đau, bổ ngũ lao, dưỡng khí, trừ tà lánh ôn (dịch), phá trưng hà phế ung, dưỡng huyết bài nùng (tống mủ), bổ nội lậu và hầu tý (Đại Minh). Lợi các khiếu, trừ phong nhiệt ở bộ phận Phế, thanh lợi đầu mắt hầu họng, trị khí trệ và đau ở hung cách (ngực), trừ nghẹt mũi (Trương Nguyên Tố). Trị nôn do hàn (Lý Đông Viên). Chủ trị miệng lưỡi sinh hỏa (loét), mắt đỏ sưng đau (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Cát cánh khí hơi ấm, vị đắng cay, vị đậm mà khí nhẹ, là phần Âm trong Dương, tính thăng (đi lên). Đi vào khí phận kinh Thủ thái âm Phế và kinh Túc thiếu âm Thận. * '''Trương Nguyên Tố nói:''' Cát cánh thanh phế khí, lợi hầu họng, sắc trắng nên làm thuốc dẫn kinh vào bộ phận Phế. Dùng chung với Cam thảo làm thuốc "Châu tiếp" (thuyền chèo). Như các thuốc vị đắng tính tiết hạ mạnh như Đại hoàng, muốn dẫn đến tận vùng ngực là nơi cao nhất để lập công, tất phải dùng vị cay ngọt này để nâng lên. Ví như sắt đá rơi xuống sông, không có thuyền chèo (châu tiếp) thì không chở được. Vì vậy các thuốc hễ có vị này thì không bị chìm xuống dưới vậy. * '''Thời Trân nói:''' Chu Quăng trong Hoạt nhân thư trị trong ngực bĩ mãn không đau, dùng Cát cánh, Chỉ xác, lấy nghĩa thông phế lợi cách hạ khí vậy. Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận trị hàn thực kết hung, dùng Cát cánh, Bối mẫu, Ba đậu, lấy nghĩa ôn trung tiêu cốc phá tích vậy. Lại trị phế ung khạc mủ (thoa nùng), dùng Cát cánh, Cam thảo, lấy nghĩa khổ tân thanh phế (đắng cay thanh phổi), cam ôn tả hỏa (ngọt ấm hạ hỏa), lại năng bài nùng huyết, bổ nội lậu vậy. Trị chứng Thiếu âm 2-3 ngày hầu họng đau, cũng dùng Cát cánh, Cam thảo, lấy nghĩa khổ tân tán hàn (đắng cay tán lạnh), cam bình trừ nhiệt (ngọt bình trừ nóng), hợp dùng năng điều hòa hàn nhiệt vậy. Người đời sau đổi tên là '''Cam Cát thang''', thông trị mọi bệnh hầu họng miệng lưỡi. Tống Nhân Tông gia thêm Kinh giới, Phòng phong, Liên kiều, gọi là '''Như thánh thang''', cực khen sự linh nghiệm của nó vậy. * '''Xét:''' Vương Hiếu Cổ trong Y lũy nguyên nhung chép khá tường tận, vân: Mất tiếng (thất âm), gia Kha tử; tiếng không ra, gia Bán hạ; thượng khí, gia Trần bì; đàm ho (diên sấu), gia Tri mẫu, Bối mẫu; ho khát, gia Ngũ vị tử; độc rượu, gia Cát căn; thiếu khí, gia Nhân sâm; nôn, gia Bán hạ, Gừng sống; khạc mủ máu, gia Tử uyển; phế nuy, gia A giao; hung cách không lợi, gia Chỉ xác; tâm hung bĩ mãn, gia Chỉ thực; mắt đỏ, gia Chi tử, Đại hoàng; mặt sưng, gia Phục linh; đau ngoài da (phu thống), gia Hoàng kỳ; phát ban, gia Phòng phong, Kinh giới; độc dịch (dịch độc), gia Ngưu bàng tử, Đại hoàng; không ngủ được, gia Chi tử. * '''Chu Đan Khê nói:''' Ho khan, là tà hỏa đàm uất ở trong phổi, nghi dùng Khổ cánh để khai thông; lỵ gây đau bụng, là khí của Phế kim uất ở Đại trường, cũng nghi dùng Khổ cánh khai thông trước, sau đó dùng thuốc trị lỵ. Vị thuốc này năng khai đề (mở mang và nâng lên) khí huyết, nên trong thuốc về khí nghi dùng vậy. '''【Phụ phương】''' (Cũ 10, mới 8) * '''Ngực đầy không đau:''' Cát cánh, Chỉ xác lượng bằng nhau. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung, uống ấm (Nam Dương Hoạt nhân thư). * '''Thương hàn bụng trướng:''' Do âm dương không hòa, Cát cánh Bán hạ thang chủ trị. Cát cánh, Bán hạ, Trần bì mỗi thứ 3 tiền, gừng 5 lát. Nước 2 chung sắc 1 chung uống (Nam Dương Hoạt nhân thư). * '''Đàm ho suyễn cấp:''' Cát cánh 1 lạng rưỡi. Tán bột. Dùng nước tiểu trẻ em (đồng tiện) nửa thăng, sắc lấy 4 phần, bỏ bã uống ấm (Giản yếu tế chúng phương). * '''Phế ung ho:''' Ngực đầy run lạnh, mạch sác họng khô, không khát, thường khạc nước bọt đục hôi tanh, lâu ngày nôn mủ như cháo gạo nếp, Cát cánh thang chủ trị. Cát cánh 1 lạng, Cam thảo 2 lạng. Nước 3 thăng sắc lấy 1 thăng, chia lần uống ấm. Sáng tối nôn mủ máu thì khỏi (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ ngọc hàm phương). * '''Hầu tý độc khí:''' Cát cánh 2 lạng. Nước 3 thăng sắc lấy 1 thăng, uống hết một lần (Thiên kim phương). * '''Thiếu âm hầu thống:''' Chứng Thiếu âm 2-3 ngày họng đau, có thể cho Cam thảo thang; không khỏi thì cho Cát cánh thang chủ trị. Cát cánh 1 lạng, Cam thảo 2 lạng. Nước 3 thăng sắc 1 thăng, chia uống (Trương Trọng Cảnh Thương hàn luận). * '''Miệng lưỡi sinh sang (loét):''' Phương như trên. * '''Sưng đau chân răng (Xỉ nục):''' Cát cánh, Ý dĩ nhân lượng bằng nhau. Tán bột uống (Vĩnh loại phương). * '''Cốt tào phong thống, chân răng sưng đau:''' Cát cánh tán bột, hòa nhân Táo làm viên to bằng hạt bồ kết (tạo tử). Dùng bông bọc lại mà nhai. Lại lấy nước sắc Kinh giới súc miệng (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Nha cam hôi thối thối loét:''' Cát cánh, Tiểu hồi hương lượng bằng nhau. Đốt tồn tính tán bột, đắp vào (Vệ sinh dị giản phương). * '''Can phong mắt tối:''' Tròng mắt đau, do can phong thịnh, Cát cánh hoàn chủ trị. Cát cánh 1 cân, Hắc khiên ngưu (đầu mạt) 3 lạng, tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 40 viên uống với nước ấm, ngày 2 lần (Bảo mệnh tập). * '''Mũi chảy máu cam (Nục huyết):''' Cát cánh tán bột, uống với nước mỗi lần 1 thìa vuông, ngày 4 lần. Có bài gia thêm vụn sừng tê giác tươi (Phổ tế phương). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Phương như trên. * '''Bị đánh ứ huyết trong ruột:''' Lâu ngày không tan, thỉnh thoảng phát đau. Cát cánh tán bột, uống với nước cơm 1 thìa (đao khuê) (Chẩm hậu yếu phương). * '''Trúng cổ độc hạ huyết như gan gà:''' Ngày đêm ra máu hơn 1 thạch, tứ tạng đều tổn thương, duy chỉ có Tâm chưa hỏng, hoặc mũi rách sắp chết. Khổ cát cánh tán bột, uống với rượu mỗi lần 1 thìa vuông, ngày 3 lần. Không uống được thì dùng vật nạy miệng đổ vào. Trong lòng sẽ thấy phiền táo, một lát tự định, 7 ngày thì dừng. Nên ăn gan lợn nướng (chích trư can) để bồi bổ. Rất tốt. Một phương gia thêm Sừng tê giác lượng bằng nhau (Cổ kim lục nghiệm). * '''Có thai trúng ác, tâm phúc đau đớn:''' Cát cánh 1 lạng (thái nhỏ). Nước 1 chung, gừng sống 3 lát, sắc lấy 6 phần, uống ấm (Thánh huệ phương). * '''Trẻ nhỏ khách ngỗ (trúng tà), chết ngất không nói được:''' Cát cánh (đốt tồn tính tán bột) 3 tiền, uống với nước cơm. Lại nuốt thêm chút Xạ hương (Trương Văn Trọng Bị cấp phương). ===LÔ ĐẦU (蘆頭 - Đầu rễ)=== '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị phong nhiệt đàm thực ở thượng cách (vùng ngực trên), dùng bột sống hòa nước ấm uống 1-2 tiền để gây nôn (Thời Trân). {{Chú thích cuối trang}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] opsnq99zgmhl30axag9kgqhdlh88nxr 204533 204532 2026-04-03T09:56:22Z Mrfly911 2215 204533 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之一 | năm= 1596 | phần = Quyển 20 <center>'''Các loại cỏ mọc trên núi''' phần 1 (31 loại): Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất</center> | trước= [[../Kim thạch 5|Kim thạch 5]] | sau= [[../Thảo 2|Thảo 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==LỜI TỰA THẢO BỘ - LÝ THỜI TRÂN== '''Lý Thời Trân nói:''' Trời tạo Đất hóa mà cỏ cây sinh ra vậy. Cái Cương giao với cái Nhu mà thành rễ củ, cái Nhu giao với cái Cương mà thành cành thân. Lá và đài thuộc Dương, Hoa và Quả thuộc Âm. Do đó trong cỏ có tính mộc, trong mộc có tính thảo. Kẻ đắc được cái tinh túy của khí thì hiền lành (lương dược), kẻ đắc được cái bạo lệ của khí thì có độc (độc dược). Bởi vậy mà có: * '''Ngũ hình:''' Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. * '''Ngũ khí:''' Hương (thơm), Khứu (hôi), Tao (khét/tanh nồng), Tanh (tanh tao), San (mùi gây/mùi cừu). * '''Ngũ sắc:''' Xanh, Đỏ, Vàng, Trắng, Đen. * '''Ngũ vị:''' Toan (chua), Khổ (đắng), Cam (ngọt), Tân (cay), Hàm (mặn). * '''Ngũ tính:''' Hàn (lạnh), Nhiệt (nóng), Ôn (ấm), Lương (mát), Bình (trung tính). * '''Ngũ dụng:''' Thăng (đi lên), Giáng (đi xuống), Phù (nổi ra ngoài), Trầm (chìm vào trong), Trung (ở giữa). Viêm Đế Thần Nông đã nếm thử mà phân biệt, Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá thuật lại mà viết thành sách; các bậc hiền triết lương y đời Hán, Ngụy, Đường, Tống mỗi thời đại đều có thêm thắt, bổ sung. Tuy nhiên, dù "Ba phẩm" (Thượng, Trung, Hạ) vẫn còn đó, nhưng thật giả lẫn lộn như nước sông Tư sông Mễn, các điều mục trùng lặp, không phân rõ trắng đen như dòng sông Kinh sông Vị. Nếu không xét soi chỗ tinh vi, thẩm định điều thiện ác, thì dựa vào đâu mà cầm cân nảy mực "Bảy phương" (Thất phương), "Mười tễ" (Thập tễ) để phó thác chuyện sinh tử đây? Vì thế, tôi nay lược bỏ chỗ rườm rà, xóa đi phần trùng lặp, uốn nắn chỗ sai lầm, bổ sung phần còn thiếu, phân tích theo dòng họ, chia tách theo chủng loại, nêu cao cương lĩnh, phân rõ từng mục. Trừ phần Ngũ cốc và Rau (Thái) ra, phàm các loại thuộc Thảo có thể cung cấp cho y dược gồm '''611 loại''', chia làm 10 nhóm: # '''Sơn thảo''' (Cỏ mọc trên núi) # '''Phương thảo''' (Cỏ có mùi thơm) # '''Thấp thảo''' (Cỏ mọc nơi ẩm ướt) # '''Độc thảo''' (Cỏ có độc) # '''Man thảo''' (Cỏ dây leo) # '''Thủy thảo''' (Cỏ dưới nước) # '''Thạch thảo''' (Cỏ mọc trên đá) # '''Thai thảo''' (Các loại rêu) # '''Tạp thảo''' (Các loại cỏ khác) # '''Hữu danh vị dụng''' (Có tên nhưng chưa dùng đến) (Sách cũ chia Thảo bộ làm ba phẩm Thượng - Trung - Hạ, tổng cộng 447 loại. Nay gộp vào 31 loại, dời 23 loại sang bộ Rau, 3 loại sang bộ Ngũ cốc, 4 loại sang bộ Quả, 2 loại sang bộ Gỗ. Từ bộ Gỗ dời sang 14 loại, cỏ dây leo 29 loại, bộ Rau dời sang 13 loại, bộ Quả dời sang 4 loại. Nhóm Ngoại loại "Có tên nhưng chưa dùng" gồm 247 loại). ===CÁC NGUỒN TRÍCH DẪN VÀ SỐ LƯỢNG VỊ THUỐC=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh:''' 162 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú giải). * '''Danh Y Biệt Lục:''' 131 loại (Đào Hoằng Cảnh chú; trong đó 78 loại có tên nhưng chưa dùng). * '''Lý Thị Dược Lục:''' 1 loại (Ngụy - Lý Đương Chi). * '''Ngô Thị Bản Thảo:''' 1 loại (Ngụy - Ngô Phổ). * '''Đường Bản Thảo:''' 34 loại (Đường - Tô Cung). * '''Dược Tính Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Chân Quyền). * '''Bản Thảo Thập Di:''' 68 loại (Đường - Trần Tạng Khí). * '''Thực Liệu Bản Thảo:''' 2 loại (Đường - Mạnh Tiễn). * '''Hải Dược Bản Thảo:''' 6 loại (Đường - Lý Tuân). * '''Tứ Thanh Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Tiêu Bính). * '''Khai Bảo Bản Thảo:''' 37 loại (Tống - Mã Chí). * '''Gia Hựu Bản Thảo:''' 17 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích). * '''Đồ Kinh Bản Thảo:''' 54 loại (Tống - Tô Tụng). * '''Nhật Hoa Bản Thảo:''' 7 loại (Tống - Đại Minh). * '''Dụng Dược Pháp Tượng:''' 1 loại (Nguyên - Lý Cao). * '''Bản Thảo Bổ Di:''' 1 loại (Nguyên - Chu Chấn Hanh). * '''Bản Thảo Hội Biên:''' 1 loại (Minh - Uông Cơ). * '''Bản Thảo Cương Mục:''' 86 loại (Minh - Lý Thời Trân). ===PHẦN PHỤ CHÚ (CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC)=== * '''Lôi Hiệu (Tống):''' Bào Chế Luận * '''Từ Chi Tài (Bắc Tề):''' Dược Đối * '''Dương Tổn Chi (Đường):''' San Phiền * '''Tôn Tư Mạo (Đường):''' Thiên Kim * '''Hàn Bảo Thăng (Thục):''' Trọng Chú * '''Trần Sĩ Lương (Nam Đường):''' Thực Tánh * '''Khấu Tông Thức (Tống):''' Diễn Nghĩa * '''Đường Thận Vi (Tống):''' Chứng Loại * '''Trần Thừa (Tống):''' Biệt Thuyết * '''Trương Nguyên Tố (Kim):''' Trân Châu Nang * '''Vương Hiếu Cổ (Nguyên):''' Thang Dịch * '''Ngô Thụy (Nguyên):''' Nhật Dụng * '''Uông Dĩnh (Minh):''' Thực Vật * '''Vương Luân (Minh):''' Tập Yếu * '''Trần Gia Mô (Minh):''' Mông Thuyên * '''Định Vương (Chu Túc - Minh):''' Cứu Hoang * '''Ninh Nguyên (Minh):''' Thực Giám ==CAM THẢO (甘草)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Glycyrrhiza uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata Bat. hoặc Glycyrrhiza glabra L. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Mật cam (Biệt lục), Mật thảo (Biệt lục), Mỹ thảo (Biệt lục), Lộ thảo (Biệt lục), Linh thông (Ký sự châu), Quốc lão (Biệt lục). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị thảo này là bậc thầy của muôn thuốc, các phương thuốc kinh điển hiếm khi không dùng đến, giống như trong các loài hương liệu có Trầm hương vậy. "Quốc lão" là danh xưng của thầy dạy đế vương (Đế sư), tuy không phải là vua (Quân) nhưng được vua tôn kính, vì thế nó có khả năng an hòa các loại thảo mộc, đất đá và giải được mọi độc tố. * '''Chân Quyền nói:''' Trong các loại thuốc, Cam thảo đóng vai trò là "Quân", trị được 72 loại độc từ khoáng vật (nhũ thạch), giải được 1200 loại độc từ thảo mộc, có công điều hòa các vị thuốc nên được gọi là "Quốc lão". ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Cam thảo mọc ở các thung lũng sông vùng Hà Tây, núi Tích Sa và Thượng Quận. Thu hoạch rễ vào ngày Trừ (lịch âm) tháng 2 và tháng 8, phơi khô 10 ngày thì xong. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các vùng Hà Tây, Thượng Quận nay không còn thông thương. Nay thuốc chủ yếu đến từ các vùng thuộc Mân Sơn, Hán Trung vùng Thục. Loại vỏ đỏ, thớ thịt đứt đoạn, nhìn kiên thực là thảo vùng Bào Hạn (một địa danh vùng Tây Khương), đó là loại tốt nhất. Cũng có loại sấy khô bằng lửa, thớ thịt thường xốp rỗng. Có loại giống ruột cá chép, bị dao cắt hỏng thì không còn tốt. Vùng Thanh Châu cũng có nhưng không bằng. Lại có Tử Cam thảo (Cam thảo tím), nhỏ mà chắc, lúc thiếu có thể dùng tạm. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các quận huyện vùng Thiểm Tây, Hà Đông đều có. Mùa xuân mọc mầm xanh, cao 1-2 thước, lá giống lá Hòe. Tháng 7 nở hoa tím giống hoa Nại đông, kết quả thành vỏ như hạt đậu Tất. Rễ dài 3-4 thước, to nhỏ không đều, vỏ màu đỏ, trên có các đường vân ngang. Lúc hái bỏ đầu cuống (lư đầu) và lớp vỏ đỏ, phơi khô trong râm mà dùng. Nay Cam thảo có nhiều loại, loại nào chắc thịt, thớ đoạn là tốt. Loại nhẹ xốp, thớ dọc hoặc nhỏ dai thì không dùng được, chỉ dùng cho các nhà làm nước canh. ** Cẩn án: Sách Nhĩ Nhã gọi "Lẫm" là "Đại khổ". Quách Phác chú giải là giống Địa hoàng. Sách Thi Kinh có câu "Hái lăng hái lăng, trên đỉnh núi Thủ Dương" chính là nó. Chữ Lẫm (䖅) dùng thông với Lăng (苓). Núi Thủ Dương gần huyện Bồ Bản vùng Hà Đông, là nơi Cam thảo sinh trưởng, nhưng mô tả của các nhà nho xưa về lá mầm khác hẳn nay, há chẳng phải chủng loại khác nhau sao? * '''Lý Thời Trân nói:''' Xét theo Bút đàm của Thẩm Quát: Chú giải của Quách Phác về "Lẫm - Đại khổ" trong Nhĩ Nhã là Cam thảo là sai. Chú giải của Quách Phác thực chất là Hoàng dược (Dioscorea bulbifera), vị cực đắng nên gọi là Đại khổ, không phải Cam thảo. Cam thảo cành lá đều như lá Hòe, cao 5-6 thước, đầu lá hơi nhọn và nhám, như có lông trắng, quả giống quả Tương tư, chín thì vỏ nứt, hạt dẹt như đậu nhỏ, cực cứng, răng cắn không vỡ. Sách Diễn nghĩa của Khấu Thị cũng theo thuyết này. Theo lý mà xét, mô tả của Quách Phác không tương đồng, thuyết của Thẩm Quát gần thực tế hơn. Người nay chỉ chuộng loại đường kính 1 tấc, thịt chắc thớ đứt vân ngang, gọi là '''Phấn thảo'''; loại nhẹ xốp nhỏ bé đều không bằng. ===RỄ - TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Lôi Hiệu nói:''' Khi dùng phải bỏ đầu và đuôi nhọn, vì đầu đuôi gây nôn cho người. Mỗi lần cắt dài 3 tấc, chẻ làm 6-7 mảnh, cho vào bình sứ, dùng rượu tẩm rồi chưng từ giờ Tỵ đến giờ Ngọ, lấy ra phơi khô, thái nhỏ mà dùng. Cách khác: Mỗi cân dùng 7 lạng bơ (tô) phết lên rồi nướng (chích) cho đến khi bơ thấm hết. Cách khác: Đem nướng (bào) cho trong ngoài đỏ vàng thì dùng. * '''Thời Trân nói:''' Các sách phương tễ thường dùng nước chảy (trường lưu thủy) tẩm ướt Cam thảo rồi nướng chín, cạo bỏ vỏ đỏ; hoặc dùng nước gạo (tương thủy) chích chín, chưa thấy ai dùng bơ hay rượu để chưng. Đại để: '''Bổ trung thì nên nướng (chích); Tả hỏa thì nên dùng sống.''' ===KHÍ VỊ=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. * '''Khấu Tông Thức nói:''' Dùng sống thì hơi mát (vi lương), vị không ngon; nướng (chích) thì ấm (ôn). * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Khí mỏng vị dày, thăng mà phù, thuộc Dương. Vào kinh Túc Thái âm (Tỳ) và Túc Quyết âm (Can). * '''Thời Trân nói:''' Thông suốt vào 12 kinh thủ túc. * '''Từ Chi Tài nói:''' Lấy Truật, Khổ sâm, Can tất làm sứ. Ghét Viễn chí. Phản Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo. * '''Thời Trân nói:''' Cam thảo phản bốn vị Tảo, Kích, Toại, Nguyên, nhưng Hồ Tiếp Cư Sĩ trị đàm ẩm lại dùng Thập táo thang gia thêm Cam thảo và Đại hoàng, ấy là muốn đàm ở cách thượng thông tiết đi, nhổ tận gốc bệnh vậy. Lý Đông Viên trị kết hạch dưới cổ, tiêu sưng tán kết dùng Hải tảo gia thêm Cam thảo. Chu Đan Khê trị lao quặng dùng Liên tâm ẩm có Nguyên hoa và Cam thảo. Cả hai phương đều theo ý của Hồ cư sĩ. Vì thế Đào Hoằng Cảnh nói cổ phương cũng có loại tương ác tương phản cùng dùng mà không hại, nếu không đạt đến mức tinh vi thì không hiểu được lý này. ===CHỦ TRỊ=== Trị hàn nhiệt ở ngũ tạng lục phủ, tà khí, làm chắc gân xương, dài cơ nhục, tăng khí lực, trị kim sang (vết thương do kim loại), ung thũng, giải độc. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ (Bản kinh). Ôn trung, hạ khí, trị phiền mãn, ngắn hơi, tổn thương nội tạng, ho, chỉ khát, thông kinh mạch, lợi huyết khí, giải độc muôn loài thuốc. Là tinh hoa của đất (cửu thổ chi tinh), an hòa 72 loại khoáng vật và 1200 loại thảo mộc (Biệt lục). Trị đau bụng lạnh, trị kinh giản, trừ chướng mãn, bổ ích ngũ tạng, dưỡng thận khí, nội thương, làm cho nam giới không bị liệt dương, trị phụ nữ huyết lích (ra máu dai dẳng), đau lưng. Người hư mà nhiều nhiệt thì nên gia dùng vị này (Chân Quyền). An hồn định phách, bổ ngũ lao thất thương, mọi chứng hư tổn, kinh quý (hồi hộp), phiền muộn, hay quên, thông chín khiếu, lợi trăm mạch, ích tinh dưỡng khí (Đại Minh). Dùng sống thì tả hỏa nhiệt, dùng chín (nướng) thì tán biểu hàn, trị đau họng, trừ tà nhiệt, hoãn chính khí, dưỡng âm huyết, bổ tỳ vị, nhuận phế (Lý Cao). Trị mủ máu trong chứng phế nuy, tiêu các loại sang thư ác tính (Vương Hiếu Cổ). Giải thai độc, kinh giản ở trẻ nhỏ, giáng hỏa, chỉ thống (Thời Trân). ===CÁC PHẦN KHÁC CỦA CÂY=== ====Cam thảo sảo (Ngọn rễ - 甘草稍)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống trị tích nhiệt trong ngực, trị đau trong niệu đạo (vùng sinh dục), gia thêm rượu nấu với Huyền hồ sách, Khổ luyện tử thì càng hiệu quả (Lý Nguyên Tố). ====Cam thảo đầu (Đầu rễ - 甘草頭)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống có thể hành huyết ứ ô trọc ở hai kinh Túc Quyết âm và Dương minh, tiêu sưng dẫn độc (Chu Đan Khê). Chủ trị ung thũng, nên cho vào thuốc gây nôn (Lý Thời Trân). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Chu Đan Khê nói:''' Cam thảo vị ngọt, làm hoãn các loại hỏa (nhiệt), tính trung chính thông lý, là bậc quân tử có đức dày chở che muôn vật. Muốn thuốc đạt đến hạ tiêu (vùng dưới) thì phải dùng phần ngọn (Sảo). * '''Lý Cao nói:''' Cam thảo khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Dương không đủ thì bổ bằng vị ngọt (cam). Vị ngọt ấm có thể trừ đại nhiệt, nên dùng sống thì khí bình, bổ tỳ vị bất túc mà tả tâm hỏa mạnh; nướng thì khí ấm, bổ nguyên khí của Tam tiêu mà tán biểu hàn, trừ tà nhiệt, trị đau họng, dưỡng âm huyết. Phàm tâm hỏa khắc tỳ, bụng đau thắt, da bụng co rúm, nên dùng tăng liều Cam thảo. Tính nó có thể "hoãn cấp" (làm dịu sự cấp bách), điều hòa các vị thuốc không để chúng tranh chấp nhau. Thuốc nóng gặp nó thì bớt nóng; thuốc lạnh gặp nó thì bớt lạnh; thuốc hàn nhiệt lẫn lộn gặp nó thì đạt được sự thăng bằng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cam thảo ngoài đỏ trong vàng, màu sắc kiêm cả Khôn (Thổ) và Ly (Hỏa); vị dày khí mỏng, hội tụ đủ đức của đất. Điều hòa quần phẩm, có công lao của bậc nguyên lão; trị mọi tà ma, có hóa thân của vương đạo. Giúp sức cho đế vương mà người không biết, thu gom thần công mà mình không màng, thật xứng là vị "Lương tướng" trong các loài thuốc vậy. Tuy nhiên, người bị trướng bụng (trung mãn), nôn mửa, người nghiện rượu không thích vị ngọt của nó. ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Thương hàn tâm quý (tim đập nhanh, mạch kết đại):''' Cam thảo 2 lạng, nước 3 lít sắc còn một nửa, uống 7 hợp, ngày 1 lần. * '''Đau họng do thương hàn:''' Cam thảo 2 lạng (chích mật), nước 2 lít sắc còn 1,5 lít, uống 5 hợp, ngày 2 lần (Trương Trọng Cảnh). * '''Phế nhiệt đau họng có đàm:''' Cam thảo (sao) 2 lạng, Cát cánh 1 lạng. Mỗi lần dùng 5 tiền, nước 1,5 bát, thêm nửa miếng A giao sắc uống. * '''Trẻ sơ sinh giải độc:''' Lấy một đoạn Cam thảo dài bằng đốt ngón tay, nướng nát, sắc lấy nước cho trẻ nhấm nháp để nôn ra dịch bẩn trong ngực. Giúp trẻ thông minh, ít bệnh, đậu mọc thưa. * '''Mụn nhọt (phát bối ung thư):''' Cam thảo sống giã bột 3 lạng, bột lúa mạch 9 lạng trộn đều, thêm chút bơ (tô), nhào với nước sôi thành dạng bánh, đắp lên chỗ sưng. * '''Giải độc thuốc, độc rượu:''' Sắc đậm Cam thảo uống. Đặc biệt hiệu quả khi trúng độc Ô đầu, Ba đậu. * '''Trị bỏng lửa, nước sôi:''' Cam thảo nấu với mật ong rồi bôi lên vết thương. * '''Trị trẻ em đái dầm:''' Dùng đầu Cam thảo (Cam thảo đầu) sắc nước uống hàng đêm. ==HOÀNG KỲ (黃耆)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Astragalus membranaceus (Fisch.) Bunge hoặc Astragalus membranaceus var. mongholicus (Bunge) Hsiao. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Hoàng kỳ (Cương mục), Đái sâm (Bản kinh), Đái thậm (Biệt lục, còn gọi là Độc thậm), Kỵ thảo (Biệt lục, còn gọi là Thục chỉ), Bách bản (Biệt lục), Vương tôn (Dược tính luận). * '''Thời Trân nói:''' "Kỳ" (耆) nghĩa là bậc trưởng thượng. Hoàng kỳ sắc vàng, đứng đầu (trưởng) trong các vị thuốc bồi bổ, nên có tên như vậy. Nay dân gian thường viết thông dụng là Hoàng kỳ (黃芪). Còn viết là "Thị" (蓍) như trong cỏ thị bói toán là sai âm. Vương tôn ở đây cùng tên nhưng khác vật với cây Mẫu mông. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Hoàng kỳ mọc ở thung lũng núi các quận Thục, Bạch Thủy, Hán Trung. Thu hái vào tháng 2 và tháng 10, phơi khô trong râm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại tốt nhất ra từ Thao Dương vùng Lũng Tây, sắc vàng trắng, vị ngọt thanh, nay rất khó kiếm. Thứ đến là loại ở Đương Thương thuộc Hắc Thủy, sắc trắng, thớ thịt thô, loại tươi có vị ngọt và tính ôn bổ. Lại có loại ở Bạch Thủy vùng Tàm Lăng, màu sắc và thớ thịt tốt hơn ở đất Thục nhưng tính lãnh bổ. Lại có loại sắc đỏ, có thể nấu cao dán mụn nhọt. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu quận ở Hà Đông, Thiểm Tây đều có. Rễ dài khoảng 2-3 thước. Thân đơn hoặc mọc thành bụi. Lá mọc thưa như hình răng cừu, giống lá Tật lê. Tháng 7 nở hoa màu vàng tím. Quả dạng vỏ đậu dài khoảng 1 tấc. Tháng 8 đào rễ dùng. Lớp vỏ khi bẻ ra có xơ như bông, nên gọi là '''Miên Hoàng kỳ'''. * '''Thời Trân nói:''' Lá Hoàng kỳ giống lá Hòe nhưng hơi nhọn nhỏ, lại giống lá Tật lê nhưng hơi rộng to, màu xanh trắng. Hoa vàng tím to như hoa Hòe. Quả nhỏ nhọn dài tấc dư. Rễ dài 2-3 thước, loại chắc chắn như cán tên là tốt nhất. Mầm non cũng có thể trụng chín làm rau ăn. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Thời Trân nói:''' Người nay thường đập dẹp rễ, tẩm nước mật rồi nướng (chích) nhiều lần cho đến khi chín hoàn toàn. Cũng có cách dùng nước muối thấm thấu, cho vào bình đặt trong nồi nước sôi chưng chín rồi thái lát dùng. ===RỄ (根)=== ====KHÍ VỊ==== Vị ngọt (cam), tính hơi ấm (vi ôn), không độc (Bản kinh). Loại ở Bạch Thủy tính mát (lãnh), có tác dụng bổ (Biệt lục). * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Vào phần khí của hai kinh Thủ, Túc Thái âm (Phế, Tỳ), đồng thời vào kinh Thủ Thiếu dương (Tam tiêu) và Túc Thiếu âm Mệnh môn (Thận). ====CHỦ TRỊ==== Trị các vết thương do ung thư lâu ngày không lành, bài nùng (trừ mủ), chỉ thống (giảm đau), trị bệnh phong hủi, ngũ trĩ, chuột rút (thử lậu), bồi bổ hư tổn, trị bách bệnh ở trẻ nhỏ (Bản kinh). Trị phong tà trong tử cung phụ nữ, trục huyết xấu trong ngũ tạng, bổ hư tổn ở nam giới, ngũ lao gầy yếu, chỉ khát (hết khát), đau bụng tiết lỵ, ích khí, lợi âm khí (Biệt lục). Trị hen suyễn do hư, thận suy tai ù, trị hàn nhiệt, trị phát bối (nhọt lưng) (Chân Quyền). Giúp khí tráng gân xương, sinh cơ (mọc thịt), bổ huyết, phá trưng hà (u cục), trị lao hạch (lỏa lịch), trĩ ra máu, băng huyết, đới hạ, lỵ đỏ trắng, các bệnh trước và sau khi sinh, kinh nguyệt không đều, ho có đàm, phong nhiệt vùng đầu, mắt đỏ độc (Nhật Hoa). Trị lao hư tự hãn (mồ hôi tự ra), bổ phế khí, tả phế hỏa và tâm hỏa, làm bền lông da (thực bì mao), ích vị khí, trừ cơ nhiệt và các cơn đau trong các kinh (Lý Nguyên Tố). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Hoàng kỳ cam ôn thuần Dương, có 5 công dụng chính: ** Bổ mọi chứng hư tổn bất túc. ** Ích nguyên khí. ** Làm mạnh tỳ vị. ** Trừ cơ nhiệt (nóng trong cơ bắp). ** Bài nùng chỉ thống, hoạt huyết sinh huyết, làm chỗ dựa bên trong để đẩy mụn nhọt ra (nội thác âm thư), là vị thuốc thánh của nhà ngoại khoa trị mụn nhọt. * '''Lý Đông Viên nói:''' Hoàng kỳ cùng với Nhân sâm và Cam thảo là ba vị thuốc thánh để trừ táo nhiệt và cơ nhiệt. Khi tỳ vị hư, phế khí tuyệt trước tiên, nhất định phải dùng Hoàng kỳ để làm ấm phần nhục, ích bì mao, làm kín lỗ chân lông (thực tấu lý) không cho mồ hôi ra quá mức, từ đó ích nguyên khí và bổ tam tiêu. * '''Chu Đan Khê nói:''' Hoàng kỳ bổ nguyên khí, người béo trắng mà nhiều mồ hôi dùng thì rất hợp; nếu người mặt đen, hình thể rắn rỏi và gầy mà dùng thì sẽ gây đầy ngực (hung mãn). ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Tiểu tiện không thông:''' Miên Hoàng kỳ 2 tiền, nước 2 bát sắc còn 1 bát uống ấm. Trẻ em dùng nửa liều. * '''Tửu đản (vàng da do rượu):''' Đau vùng tâm vị, chân sưng, tiểu vàng. Hoàng kỳ 2 lạng, Mộc lan 1 lạng, tán bột. Uống với rượu. * '''Khí hư bạch trọc:''' Hoàng kỳ (sao muối) nửa lạng, Phục linh 1 lạng. Tán bột, mỗi lần uống 1 tiền với nước ấm. * '''Hoàng kỳ Lục Nhất thang (Trị khát bổ hư, phòng mụn nhọt):''' Miên Hoàng kỳ 6 lạng (một nửa dùng sống, một nửa tẩm nước muối chưng cơm 3 lần rồi sấy), Phấn Cam thảo 1 lạng (nửa sống nửa chích). Tán bột uống 2 tiền mỗi lần. * '''Người già bí tiện:''' Hoàng kỳ, Trần bì mỗi thứ nửa lạng. Tán bột. Dùng hạt mè (đay) nghiền nát lọc lấy nước nấu sôi, thêm mật ong uống cùng bột thuốc lúc đói. Hiệu quả như thần. * '''Đi ngoài ra máu (Tràng phong tả huyết):''' Hoàng kỳ, Hoàng liên lượng bằng nhau. Tán bột, làm viên với hồ bằng hạt lục đậu. Mỗi lần 30 viên. * '''Tiểu ra máu, đau buốt (Sa lâm):''' Hoàng kỳ, Nhân sâm lượng bằng nhau. Tán bột. Lấy củ cải cắt lát tẩm mật nướng chín, chấm bột thuốc mà ăn, chiêu với nước muối. * '''Ho khạc mủ máu, cổ họng khô:''' Hoàng kỳ 4 lạng, Cam thảo 1 lạng. Tán bột, pha nước uống mỗi lần 2 tiền. * '''Phù thũng do phế ung:''' Hoàng kỳ 2 lạng tán bột. Uống 2 tiền mỗi lần, ngày 3-4 lần. * '''Thai động bất an (đau bụng ra nước vàng):''' Hoàng kỳ, Xuyên khung mỗi vị 1 lạng, gạo nếp 1 hợp. Sắc uống. ===CÀNH VÀ LÁ (莖葉)=== * '''Chủ trị:''' Trị khát và gân co quắp, ung thũng thư sang (Biệt lục). ==NHÂN SÂM (人參)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Panax ginseng C.A. Mey. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên gọi khác:''' Nhân sâm (人薓 - âm Sâm, hoặc viết giản lược là 蓡), Hoàng sâm (Ngô Phổ bản thảo), Huyết sâm (Biệt lục), Nhân hàm (Bản kinh), Quỷ cái (Bản kinh), Thần thảo (Biệt lục), Thổ tinh (Biệt lục), Địa tinh (Quảng nhã), Hải du, Chú diện hoàn đan (Quảng nhã). * '''Lý Thời Trân nói:''' Nhân sâm sống lâu năm, thấm nhuần khí tiết mà dần dần trưởng thành, rễ giống hình người, có linh tính (thần), nên gọi là Nhân sâm, Thần thảo. Chữ "Sâm" (薓) có bộ "Tẩm" (𣹰), cũng mang nghĩa là thấm dần. Về sau vì chữ viết rườm rà, người ta dùng chữ "Sâm" (參) trong sao Sâm để thay thế cho giản tiện. Tuy nhiên, sự nhầm lẫn này đã lâu ngày nên không thể đổi lại được, duy chỉ có Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận là còn dùng chữ "薓". Sách Biệt lục gọi là "Nhân vi" (人微), chữ "Vi" là do chữ "Sâm" viết nhầm mà thành. Sự sinh trưởng của nó có từng giai đoạn (như cấp bậc), nên gọi là Nhân hàm. Loại cỏ này lưng hướng về phía dương, mặt hướng về phía âm, nên gọi là Quỷ cái. Trong ngũ sâm, nó sắc vàng thuộc Thổ, bổ Tỳ Vị, sinh âm huyết nên có tên Hoàng sâm, Huyết sâm. Đắc được tinh hoa linh diệu của đất, nên có tên Thổ tinh, Địa tinh. * Sách Quảng ngũ hành ký chép: Thời Tùy Văn Đế, tại Thượng Đảng có người sau nhà mỗi đêm nghe tiếng người gọi, tìm mãi không thấy. Cách nhà chừng một dặm, thấy cây nhân sâm cành lá khác thường, đào sâu xuống đất năm thước, được củ nhân sâm giống hệt cơ thể người, tứ chi đầy đủ, tiếng gọi từ đó cũng dứt. Xem đây thì cái tên "Thổ tinh" càng có bằng chứng. Sách Lễ đẩu uy nghi nói: Dưới có nhân sâm, trên có khí tím. Sách Xuân thu vận đẩu khu nói: Sao Dao Quang tán ra hóa thành nhân sâm. Bậc quân vương nếu bỏ rơi cái lợi của núi sông thì sao Dao Quang không sáng, nhân sâm không mọc. Qua đó, tên gọi "Thần thảo" lại càng được minh chứng. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Nhân sâm mọc ở thung lũng núi Thượng Đảng và Liêu Đông. Thu hái rễ vào thượng tuần tháng 2, 4, 8. Dùng dao tre cạo sạch, phơi khô, không để tiếp xúc với gió. Rễ giống hình người là có linh tính (thần). * '''Ngô Phổ nói:''' Có loại mọc ở Hàm Đan. Tháng 3 ra lá nhỏ và nhọn, cành màu đen, thân có lông. Tháng 3 và tháng 9 hái rễ. Rễ có tay chân, mặt mũi giống người là loại linh diệu. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Thượng Đảng ở phía tây nam Ký Châu. Nay loại sâm đưa đến hình dài và vàng, trạng như Phòng phong, thịt nhuận chắc và vị ngọt. Dân gian lại quý loại của nước Bách Tế, hình nhỏ mà chắc trắng, khí vị nhạt hơn sâm Thượng Đảng. Thứ đến dùng loại của Cao Ly, đất này gần Liêu Đông, hình sâm lớn mà xốp mềm, không bằng sâm Bách Tế và sâm Thượng Đảng. Cây có một thân mọc thẳng, 4-5 lá mọc đối, hoa màu tím. Người Cao Ly có bài Nhân sâm tán rằng: "Ba chạc năm lá, lưng dương hướng âm. Muốn đến tìm ta, cây giả (cây mận rừng) tìm nhau". * '''Tô Cung nói:''' Nhân sâm nay dùng đa số là loại của Cao Ly, Bách Tế. Loại mọc ở núi Tử Đoàn vùng Thái Hành, Lộ Châu gọi là Tử Đoàn sâm. * '''Tân La chép:''' Sâm sản sinh ở nước Tân La có tay chân, hình dáng như người, dài hơn thước, dùng gỗ sam kẹp định hình, dùng chỉ đỏ quấn trang trí. Sâm Sa Châu thì ngắn nhỏ, không dùng được. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu vùng Hà Đông và núi Thái Sơn đều có. Có loại từ vùng biên mậu (khuế trường) phía bắc và từ Mân Trung đưa đến, gọi là Tân La nhân sâm, thảy đều không tốt bằng sâm Thượng Đảng. Mùa xuân mọc mầm, đa phần ở núi sâu bóng râm, nơi ẩm ướt gần gốc sơn, cây sơn. Lúc mới mọc nhỏ chừng 3-4 tấc, một chạc 5 lá. Sau 4-5 năm sinh 2 chạc 5 lá, chưa có cuống hoa. Đến sau 10 năm thì sinh 3 chạc; lâu năm nữa sinh 4 chạc, mỗi chạc 5 lá. Giữa mọc một thân, dân gian gọi là "Bách xích chử".<ref>'''Bách xích chử (百尺杵):''' Cái chày trăm thước (mô tả cuống hoa mọc thẳng).</ref> Tháng 3-4 nở hoa nhỏ như hạt kê, nhị như sợi tơ, màu trắng tím. Sau mùa thu kết quả, chừng 7-8 hạt như hạt đậu, lúc xanh lúc đỏ, tự rụng. Rễ giống hình người là linh diệu. Loại ở Thái Sơn lá xanh khô, rễ trắng, rất khác biệt. ** Thử sâm: Tương truyền muốn thử sâm Thượng Đảng, cho hai người cùng chạy, một người ngậm nhân sâm, một người để miệng không. Chạy chừng 3-5 dặm, người không ngậm sâm ắt thở hồng hộc, người ngậm sâm hơi thở tự nhiên, đó mới là sâm thật. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thượng Đảng nay là Lộ Châu. Dân coi nhân sâm là mối họa cho địa phương (do phu phen, cống nạp) nên không còn hái nữa. Nay dùng thảy đều là sâm Liêu (Liêu Đông). Ba nước Cao Ly, Bách Tế, Tân La nay đều thuộc Triều Tiên. Sâm của họ vẫn đem sang Trung Quốc giao thương. Cũng có thể thu hạt, gieo vào tháng 10 như cách trồng rau. ** Phân biệt: Sâm hái mùa thu đông thì kiên thực; hái mùa xuân hè thì hư nhuyễn (xốp mềm), đó là do thời điểm chứ không phải do đất đai. Sâm Liêu loại còn da thì vàng nhuận như Phòng phong; loại bỏ da thì trắng chắc như bột. Kẻ làm giả thường dùng rễ Sa sâm (Adenophora), Tề ni (Adenophora remota), Cát cánh (Platycodon grandiflorus) để đánh tráo. Sa sâm thể xốp không lõi vị nhạt; Tề ni thể xốp không lõi; Cát cánh thể chắc có lõi nhưng vị đắng. Nhân sâm thể chắc có lõi, vị ngọt hơi đắng, có dư vị riêng, dân gian gọi là "Kim tỉnh ngọc lan".<ref>'''Kim tỉnh ngọc lan (金井玉闌):''' Giếng vàng lan can ngọc (mô tả lát cắt có vòng vàng bên ngoài, tâm trắng bên trong).</ref> Loại giống hình người gọi là "Hài nhi sâm" đa phần là đồ giả. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nhân sâm dễ bị mọt, chỉ cần cho vào bình mới đậy kín, có thể để cả năm không hỏng. * '''Lý Ngôn Văn nói:''' Nhân sâm khi sống hướng về bóng râm nên không thích gặp gió và nắng. Hễ dùng sống thì nên thái lát (tu quệ);<ref>'''Tu quệ (咀):''' Cách thái dược liệu thành miếng nhỏ để sắc.</ref> dùng chín thì nên bọc giấy nướng cho ấm, hoặc dùng rượu ngon thấm thấu rồi thái lát nướng chín. '''Cấm dùng đồ sắt'''. ===RỄ (根)=== ====【Khí vị】==== Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. * '''Biệt lục viết:''' Hơi ấm (vi ôn). * '''Ngô Phổ dẫn lời Thần Nông:''' Tính hơi lạnh (tiểu hàn); '''Đồng Quân, Lôi Công:''' Vị đắng; '''Hoàng Đế, Kỳ Bá:''' Vị ngọt, không độc. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Tính ấm, vị ngọt, hơi đắng. Khí và vị đều mỏng, tính nổi và đi lên, là Dương trung chi Dương. Lại nói: Trong Dương có chút Âm. * '''Từ Chi Tài viết:''' Lấy Phục linh, Mã lận làm sứ. Ghét Sưu sơ, Lỗ kiềm. Phản Lê lô. Có thuyết nói: Sợ Ngũ linh chi, ghét Tạo giáp, Hắc đậu, làm động Tử thạch anh. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Nhân sâm được Thăng ma dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Thượng tiêu, tả hỏa trong Phế; được Phục linh dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Hạ tiêu, tả hỏa trong Thận. Được Mạch môn đông thì làm cho mạch sống lại (sinh mạch); được Can khương thì bổ khí. * '''Lý Đông Viên viết:''' Được Hoàng kỳ, Cam thảo thì vị ngọt tính ấm giúp trừ đại nhiệt, tả âm hỏa, bổ nguyên khí, lại là vị thuốc thánh của nhà trị mụn nhọt (sang gia). * '''Chu Đan Khê viết:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế). Phản với Lê lô, nếu uống một lạng sâm mà lẫn một tiền Lê lô thì công năng mất hết. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Lý Đông Viên dùng trị Tỳ Vị, tả âm hỏa; trong bài Giao thái hoàn dùng Nhân sâm với Tạo giáp là "ghét mà không ghét" (ác nhi bất ác). Phương thuốc cổ trị bế kinh dùng Tứ vật thang thêm Nhân sâm, Ngũ linh chi là "sợ mà không sợ". Lại trị đàm ở hung cách (ngực hoành), dùng Nhân sâm cùng Lê lô để gây nôn (dũng việt) là kích thích tính nộ (giận dữ) của thuốc. Đây đều là những điều tinh vi diệu ảo, người không đạt được mức độ quyền biến thì không thể biết. ====【Chủ trị】==== Bổ ngũ tạng, an tinh thần, định hồn phách, dừng kinh quý (hồi hộp lo sợ), trừ tà khí, sáng mắt, khai tâm, ích trí. Dùng lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ ('''Bản kinh'''). Trị tràng vị lạnh, bụng đau chướng, ngực sườn đầy tức, hoắc loạn thổ nghịch, điều hòa trung tiêu, dừng tiêu khát, thông huyết mạch, phá kiên tích (khối u tích tụ), giúp người ta không quên ('''Biệt lục'''). Chủ ngũ lao thất thương, hư tổn gầy yếu, dừng nôn mửa, bổ ngũ tạng lục phủ, bảo vệ trung tiêu, giữ gìn thần khí. Tiêu đàm trong ngực, trị phổi héo (phế nuy) và chứng kinh giản, khí lạnh ngược lên, thương hàn không ăn được, phàm người hư nhược mà ngủ mơ màng rối loạn thì thêm vào ('''Chân Quyền'''). Dừng phiền táo, biến đổi nước chua ('''Lý Tuần'''). Tiêu thực khai vị, điều trung trị khí, giết các chất độc từ thuốc kim thạch ('''Đại Minh'''). Trị dương khí ở Phế Vị không đủ, Phế khí hư súc (ngắn gấp), đoản khí thiếu khí, bổ trung hoãn trung, tả hỏa tà trong Tâm, Phế, Tỳ, Vị, dừng khát sinh tân dịch ('''Nguyên Tố'''). Trị tất cả các chứng hư của nam và nữ, phát nhiệt tự hãn (mồ hôi tự ra), váng đầu nhức đầu, phản vị (nôn thức ăn ra), sốt rét cách nhật (ngược tật), hoạt tiết lỵ lâu ngày, tiểu tiện nhiều lần hoặc nhỏ giọt (lâm ly), lao quyện nội thương, trúng phong trúng thử, tê bại (vê tý), thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, tiểu ra máu, băng huyết, các bệnh trước và sau khi sinh ('''Thời Trân'''). ====【Phát minh】==== * '''Đào Hoằng Cảnh viết:''' Nhân sâm là vị thuốc thiết yếu, công năng cùng với Cam thảo tương tự nhau. * '''Lý Đông Viên viết:''' Nhân sâm vị ngọt tính ấm, có thể bổ nguyên khí trong Phế, Phế khí vượng thì khí của bốn tạng kia đều vượng, tinh tự sinh mà hình vóc tự thịnh, ấy là vì Phế chủ các loại khí vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người bệnh sau khi ra mồ hôi mà mình nóng, mất máu, mạch trầm trì; hoặc hạ lỵ mà mình mát, mạch vi, huyết hư, đều phải thêm Nhân sâm. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Nhân sâm dùng sống thì khí mát (lương), dùng chín thì khí ấm (ôn); vị ngọt bổ Dương, hơi đắng bổ Âm. Khí chủ việc sinh ra muôn vật (thuộc Trời), vị chủ việc thành hình muôn vật (thuộc Đất). Khí vị tạo thành là cái đạo tạo hóa của Âm Dương vậy. ====【Chính ngộ (Sửa chữa sai lầm)】==== '''Lôi Hiệu nói:''' Mùa hè ít dùng Nhân sâm, phát sinh cái họa Tâm hạ kết (tích khí dưới tim). '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhân sâm ngọt ấm, bổ Dương của Phế, tiết Âm của Phế. Phế chịu hàn tà, nên dùng thứ này để bổ; Phế chịu hỏa tà, thì ngược lại làm thương Phế, nên lấy Sa sâm (Adenophora) thay thế. '''Vương Luân nói:''' Phàm tửu sắc quá độ, tổn thương chân âm của Phế và Thận, âm hư hỏa động, các chứng lao sấu thổ huyết, khái huyết, chớ dùng vị này. Bởi Nhân sâm vào kinh Thủ thái âm năng bổ hỏa, cho nên Phế chịu hỏa tà thì kiêng kỵ. Nếu lỡ uống các tễ cam ôn như Sâm, Kỳ, thì bệnh ngày càng tăng; uống quá nhiều thì chết không thể trị. Bởi lẽ cam ôn trợ khí, khí thuộc Dương, Dương vượng thì Âm càng tiêu; chỉ nghi dùng các thuốc đắng ngọt lạnh (khổ cam hàn) để sinh huyết giáng hỏa. Người đời không biết, thường thường uống Sâm, Kỳ để làm thuốc bổ, mà người chết nhiều vậy. '''Lý Ngôn Văn nói:''' Tôn Chân Nhân nói: Mùa hè uống Sinh mạch tán, Thận lịch thang ba liều thì bách bệnh không sinh. Lý Đông Viên cũng nói Sinh mạch tán, Thanh thử ích khí thang là thánh dược tả hỏa ích Kim trong kỳ Tam phục, mà Lôi Hiệu ngược lại nói phát sinh cái họa Tâm hạ kết là sai vậy. "Kết" (積) là khí tích ở cạnh rốn, không phải bệnh ở Tâm. Nhân sâm năng dưỡng chính khí phá kiên tích, há có lý phát sinh chứng kết khí? Xem Trương Trọng Cảnh trị bụng có hàn khí xông lên, có đầu có chân (u cục), trên dưới đau không thể chạm gần, nôn không thể ăn, dùng "Đại kiến trung thang" thì có thể biết vậy. Lại nữa, Vương Hiếu Cổ nói Nhân sâm bổ Dương tiết Âm, Phế hàn nghi dùng, Phế nhiệt không nghi dùng. Vương Luân (Tiết Trai) nhân đó mà họa theo, nói Sâm, Kỳ năng bổ Phế hỏa, các bệnh âm hư hỏa động thất huyết, uống nhiều tất chết. Thuyết của hai nhà này đều phiến diện vậy. Phàm Nhân sâm năng bổ nguyên dương, sinh âm huyết, mà tả âm hỏa, thuyết của Lý Đông Viên đã sáng tỏ vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người vong huyết, huyết hư đều thêm Nhân sâm; lại nói: Phế hàn thì bỏ Nhân sâm, thêm Can khương, không để khí bị ủng trệ. Chu Đan Khê cũng nói hư hỏa có thể bổ bằng nhóm Sâm, Kỳ; thực hỏa có thể tả bằng nhóm Cầm, Liên. Hai nhà này không xét đến cái tinh vi của ba vị đại sư (Trọng Cảnh, Đông Viên, Đan Khê) mà bảo Nhân sâm bổ hỏa, thật sai lầm thay! Phàm hỏa và nguyên khí không đội trời chung, nguyên khí thắng thì tà hỏa lui. Nhân sâm đã bổ nguyên khí mà lại còn bổ tà hỏa, ấy là kẻ "tiểu nhân lật lọng" sao, làm sao có thể cùng Cam thảo, Linh, Truật gọi là "Tứ quân tử" được? Tuy nhiên, lời của ba nhà kia (Lôi Hiệu, Hiếu Cổ, Vương Luân) không thể bỏ hết. Chỉ vì lời lẽ có chỗ ngưng trệ, cho nên kẻ giữ lời đó, nệ vào một phía mà cố chấp, đến mức nhìn Nhân sâm như xà hạch (rắn rết), ấy là không được vậy. * Phàm người mặt trắng, mặt vàng, mặt xanh xám gầy yếu, đều là khí của Tỳ, Phế, Thận bất túc, có thể dùng vậy; mặt đỏ, mặt đen là khí tráng thần cường, không thể dùng vậy. * Mạch mà Phù mà Khâu, Nhu, Hư, Đại, Trì hoãn vô lực, Trầm mà Trì, Sáp, Nhược, Tế, Kết, Đại vô lực, đều là hư mà bất túc, có thể dùng vậy; nếu Huyền, Trường, Khẩn, Thực, Hoạt, Sác có lực, đều là hỏa uất nội thực, không thể dùng vậy. * Khiết Cổ (Trương Nguyên Tố) bảo suyễn ho chớ dùng, là cái suyễn do đàm thực khí ủng vậy; nếu Thận hư khí ngắn thở gấp, tất phải dùng vậy. * Trọng Cảnh bảo Phế hàn mà ho chớ dùng, là cái ho do hàn bó nhiệt tà ủng trệ trong Phế vậy; nếu tự hãn ố hàn mà ho, tất phải dùng vậy. * Đông Viên bảo bệnh lâu ngày uất nhiệt ở Phế chớ dùng, là hỏa uất ở trong nghi phát tán không nghi bổ vậy; nếu Phế hư hỏa vượng, khí ngắn tự hãn, tất phải dùng vậy. * Đan Khê bảo các chứng đau (thống) không được dùng ngay, là tà khí đương lúc sắc bén, nghi tán không nghi bổ vậy; nếu lý hư thổ lợi (nôn lỵ) cùng bệnh lâu ngày vị yếu hư đau thích xoa nắn, tất phải dùng vậy. * Tiết Trai (Vương Luân) bảo âm hư hỏa vượng chớ dùng, là huyết hư hỏa kháng năng ăn được, mạch huyền mà sác, làm mát thì thương Vị, làm ấm thì thương Phế, không chịu được thuốc bổ vậy. Nếu tự hãn khí ngắn, chi hàn mạch hư, tất phải dùng vậy. Xét kỹ như thế, thì Nhân sâm lúc nào dùng được, lúc nào không dùng được, đã hiểu quá nửa rồi vậy. '''Lý Cơ nói:''' Thuyết của Vương Luân vốn dựa vào Vương Hiếu Cổ, nhưng Vương Luân lại quá mức cực đoan. Đan Khê nói hư hỏa có thể bổ, phải dùng Sâm Kỳ. Lại nói âm hư triều nhiệt, suyễn ho thổ huyết, đạo hãn (mồ hôi trộm) các chứng, dùng Tứ vật thang gia Nhân sâm, Hoàng bá, Tri mẫu. Lại nói người hiếu sắc, Phế Thận bị thương, ho mãi không khỏi, dùng Quỳnh ngọc cao chủ trị. Lại nói Phế Thận hư cực, dùng Độc sâm cao chủ trị. Ấy là biết chứng âm hư lao thái chưa từng không dùng Nhân sâm vậy. Tiết Trai (Vương Luân) là học trò của Đan Khê mà lại tương phản như thế. Lời này một khi thốt ra, đóng khung vào mắt người đời sau. Phàm gặp các chứng trên, không hỏi bệnh nghi dùng hay không, cứ lấy đó làm cửa miệng. Khiến cho bậc lương y bị bó tay (chế tửu), chỉ cầu thoát khỏi oán trách của nhà người bệnh. Nhà người bệnh cũng lấy thuyết này để ngang trong lòng, cam chịu thuốc khổ hàn, dù đến mức trên nôn dưới lỵ, cách cái chết không xa, cũng không tỉnh ngộ. Cổ kim trị lao không ai qua được Cát Khả Cửu, các bài Độc sâm thang, Bảo chân thang của ông ấy, há có bao giờ bỏ Nhân sâm không dùng? Thuyết của Tiết Trai, thực chưa suy nghĩ sâu xa vậy. '''Dương Khởi nói:''' Công lao Nhân sâm ghi trong Bản thảo, người người đều biết. Gần đây vì người bệnh tiếc tiền mà coi nhẹ thầy thuốc, thầy thuốc lại tính toán chi phí, không nỡ dùng sâm trị bệnh, dẫn đến nhẹ hóa nặng, nặng hóa nguy. Tuy nhiên có 4 chứng Phế hàn, Phế nhiệt, Trung mãn, Huyết hư, nói chỉ nghi tán hàn, tiêu nhiệt, tiêu trướng, bổ doanh mà không dùng Nhân sâm, thuyết đó nghe có vẻ đúng; nhưng chẳng biết rằng nếu gia thêm Nhân sâm ở trong, hộ trì nguyên khí, trợ lực cho quần dược, thì công hiệu càng nhanh. Nếu bảo khí không có phép bổ, thì lầm to. Phương cổ trị Phế hàn lấy Ôn phế thang, Phế nhiệt lấy Thanh phế thang, Trung mãn lấy Phân tiêu thang, Huyết hư lấy Dưỡng doanh thang, đều có Nhân sâm ở trong vậy. Cái gọi là "Tà khí xâm phạm được, khí ắt phải hư". Lại nói "Dưỡng chính thì tà tự trừ", Dương vượng thì sinh âm huyết, quý ở chỗ phối hợp đắc nghi mà thôi. Thầy thuốc tầm thường mỗi khi bảo Nhân sâm không thể nhẹ tay dùng, thật là tầm thường thay! Bậc quân vương hiếu sinh, không nên coi nhẹ tính mạng mà coi trọng thầy thuốc (tầm thường), thầy thuốc cũng không nên tính toán lợi lộc mà không dùng. Viết lời này để khuyên nhủ, xin chớ bảo là gàn dở (uẩn). ====【PHỤ PHƯƠNG】 (Cũ 7, Mới 60)==== * '''Nhân sâm cao:''' Dùng Nhân sâm 10 lạng thái nhỏ, lấy 20 chén nước hoạt thủy (nước chảy) ngâm thấu, cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa củi dâu chậm rãi sắc lấy 10 chén, lọc bỏ bã, lại dùng 10 chén nước sắc lấy 5 chén, hòa với nước cốt trước đó cô thành cao, thu vào bình, tùy bệnh mà làm thang dẫn. ** '''Đan Khê nói:''' Người ham muốn nhiều, thận khí suy yếu, ho không dứt, dùng Gừng sống, Trần bì sắc thang, hòa cao này mà uống. ** Ông Trịnh ở Phố Giang, tháng 5 bị lỵ, lại phạm phòng sự (quan hệ tình dục), bỗng phát hôn vựng, không biết gì, tay buông mắt tối, mồ hôi tự chảy như mưa, trong họng đàm kêu như kéo cưa, tiểu tiện mất tự chủ, mạch đại không chừng, đây là chứng âm hư dương tuyệt vậy. Tôi lệnh gấp sắc đại liệu Nhân sâm cao, lại châm cứu huyệt Khí hải 18 tráng, tay phải liền cử động được, thêm 3 tráng nữa, môi miệng khẽ động, bèn cho uống 1 chén cao, sau nửa đêm uống 3 chén, mắt đã có thể động, dùng hết 3 cân sâm thì mới có thể nói và đòi ăn cháo, hết 5 cân thì lỵ dứt, đến 10 cân thì hoàn toàn bình phục, nếu trị theo chứng trúng phong thì lầm to vậy. ** Một người bị nhọt độc ở lưng, đã uống thuốc Nội thác Thập tuyên quá nhiều, mủ ra gây nôn, phát nhiệt, lục mạch trầm sác có lực, đây là điều cấm kỵ của loét nhọt. Bèn cho dùng đại liệu Nhân sâm cao hòa Trúc lịch uống, sâm dùng hết 16 cân, tre chặt hơn trăm cây, mà yên. Sau hơn mười ngày, gặp gió lớn nhổ cây, nhọt lại nổi mủ, bên trong có một đường chỉ đỏ qua bả vai đến sườn phải. Tôi nói: Gấp làm sâm cao, lấy Khung, Quy, Trần bì làm thang, cho thêm Trúc lịch, nước cốt Gừng mà uống. Hết 3 cân thì nhọt vỡ mủ, điều lý mới yên. ** Nếu ung thư (nhọt độc) sau khi vỡ, khí huyết đều hư, nôn nghịch không ăn được, biến chứng không nhất định, dùng Sâm, Kỳ, Quy, Truật lượng bằng nhau sắc cao uống là hay nhất. * '''Trị trung thang:''' '''Tô Tụng nói:''' Trương Trọng Cảnh trị ngực tê (thống tý), trong tim bĩ cứng, khí lưu kết ở ngực, ngực đầy, dưới sườn khí nghịch xông lên tim, bài Trị trung thang chủ trị. Tức là bài Lý trung thang gồm: Nhân sâm, Bạch truật, Can khương, Cam thảo mỗi thứ 3 lạng. Bốn vị dùng 8 thăng nước, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 1 thăng, ngày 3 lần, tùy chứng gia giảm. Phương này từ đời Tấn, Tống về sau đến các danh y đời Đường, ai trị bệnh tâm phúc cũng không vị nào không dùng, hoặc làm thang, hoặc làm hoàn mật, hoặc làm tán, đều có kỳ hiệu. ** Cư sĩ Hồ Hiệp trị Hoắc loạn gọi là Ôn trung thang. ** Đào Ẩn Cư trong Bách nhất phương nói: Hoắc loạn mà thuốc khác khó tìm, nhưng Trị trung phương, Tứ thuận thang, Hậu phác thang không thể thiếu tạm thời, thường phải chuẩn bị sẵn mang theo mình. ** Vua Đường Thạch Tuyền công Vương Phương Khánh nói: Các phương này không chỉ trị Hoắc loạn, mà mọi bệnh đều chữa được. ** '''Tứ thuận thang:''' dùng Nhân sâm, Cam thảo, Can khương, Phụ tử (nướng) mỗi thứ 2 lạng, nước 6 thăng sắc lấy 2 thăng rưỡi, chia 4 lần uống. * '''Tứ quân tử thang:''' Trị tỳ vị khí hư, không muốn ăn uống, các bệnh khí hư, lấy bài này làm chủ. Nhân sâm 1 tiền, Bạch truật 2 tiền, Bạch phục linh 1 tiền, Cam thảo chích 5 phân, gừng 3 lát, táo 1 quả. Nước 2 chung, sắc lấy 1 chung, uống ấm trước bữa ăn. Tùy chứng gia giảm (Hòa tễ cục phương). * '''Khai vị hóa đàm:''' Chán ăn, không phân biệt người lớn trẻ nhỏ. Nhân sâm (sấy) 2 lạng, Bán hạ (ngâm nước gừng, sấy) 5 tiền. Tán bột, lấy bột mì tinh làm hồ, viên bằng hạt đậu xanh. Sau ăn dùng nước gừng uống 30-50 viên, ngày 3 lần. Thánh huệ phương thêm Trần bì 5 tiền (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Vị hàn khí đầy không thể vận hóa:''' Dễ đói nhưng không ăn được. Nhân sâm (bột) 2 tiền, Phụ tử sống (bột) nửa tiền, gừng sống 2 tiền. Nước 7 phần sắc lấy 2 phần, cho 1 lòng trắng trứng gà, khuấy đều uống lúc đói (Thánh tế tổng lục). * '''Tỳ vị hư nhược, không muốn ăn uống:''' Gừng sống nửa cân (lấy nước cốt), mật trắng 10 lạng, Nhân sâm (bột) 4 lạng. Nồi bạc cô thành cao. Mỗi lần dùng nước cơm hòa 1 thìa (Phổ tế phương). * '''Vị hư buồn nôn, hoặc nôn có đàm:''' Nhân sâm 1 lạng. Nước 2 chén sắc lấy 1 chén, cho 1 chén Trúc lịch, 3 thìa nước gừng, uống ấm cách xa bữa ăn, uống đến khi thấy hiệu quả thì thôi, người già càng nên dùng (Giản tiện phương). * '''Vị hàn nôn ác không thể tiêu hóa thủy cốc:''' Ăn vào là nôn. Nhân sâm, Đinh hương, Hoắc hương mỗi thứ 2 tiền rưỡi, Trần bì 5 tiền, gừng sống 3 lát, nước 2 chén sắc lấy 1 chén, uống ấm (Bạt tụy phương). * '''Phản vị nôn mửa:''' Thức ăn vào miệng là nôn ngay, mệt mỏi không còn sức, sắp chết. Nhân sâm Thượng Đảng 3 lạng lớn (đập vụn). Nước 1 thăng lớn, sắc lấy 4 phần, uống nóng, ngày 2 lần. Đồng thời dùng nước cốt nhân sâm cho vào gạo tẻ, lòng trắng trứng gà, hành trắng, nấu cháo mà ăn. Lý Trực Phương quan Tư huân bị bệnh này tại Hán Nam hơn 2 tháng, các phương không khỏi, dùng phương này liền định ngay. Mười ngày sau vào kinh sư. Lý Giáng mỗi khi luận bàn với danh y về vị thuốc này, đều khen khó có gì sánh bằng (Lý Giáng Binh bộ thủ tập phương). * '''Ăn vào là nôn (Nhân sâm bán hạ thang):''' Dùng Nhân sâm 1 lạng, Bán hạ 1 lạng 5 tiền, gừng sống 10 lát. Nước 1 đấu, dùng gáo múc lên rót xuống (dương) 240 lần, lấy 3 thăng, cho vào 3 hớp mật trắng, sắc lấy 1 thăng rưỡi, chia lần uống (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ phương). * '''Hoắc loạn nôn ác:''' Nhân sâm 2 lạng, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 1 chén, cho 1 lòng trắng trứng gà, sắc lại uống ấm. Có bài thêm Đinh hương (Vệ sinh gia bảo phương). * '''Hoắc loạn phiền muộn:''' Nhân sâm 5 tiền, Quế tâm nửa tiền. Nước 2 chén sắc uống (Thánh huệ phương). * '''Hoắc loạn nôn tả, phiền táo không dứt:''' Nhân sâm 2 lạng, Trần bì 3 lạng, gừng sống 1 lạng. Nước 6 thăng sắc lấy 3 thăng, chia 3 lần uống (Thánh tế tổng lục). * '''Có thai nôn nước, chua tim đau bụng, không ăn được:''' Nhân sâm, Can khương (nướng) lượng bằng nhau, tán bột, dùng nước cốt Sinh địa hòa viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Hòa tễ cục phương). * '''Dương hư khí suyễn:''' Tự hãn (mồ hôi tự ra), đạo hãn (mồ hôi trộm), ngắn hơi chóng mặt. Nhân sâm 5 tiền, Thục phụ tử 1 lạng. Chia 4 liều, mỗi liều dùng 10 lát gừng sống, 2 chén nước chảy sắc lấy 1 chén, uống ấm cách xa bữa ăn (Tế sinh phương). * '''Suyễn cấp sắp tuyệt, hơi thở khò khè:''' Nhân sâm tán bột, uống với nước ấm mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), ngày 5-6 lần rất hiệu quả (Chẩm hậu phương). * '''Sản hậu phát suyễn:''' Do máu vào phổi, là chứng nguy. Nhân sâm (bột) 1 lạng, Tô mộc 2 lạng. Nước 2 bát sắc lấy 1 bát nước Tô mộc, hòa bột sâm uống, thần hiệu (Thánh huệ phương). * '''Sản hậu huyết vựng (choáng váng do mất máu):''' Nhân sâm 1 lạng, Tử tô nửa lạng, dùng nước tiểu trẻ em (đồng niệu), rượu, nước mỗi thứ 3 phần hòa sắc uống (Y phương trích yếu). * '''Sản hậu không nói được:''' Nhân sâm, Thạch xương bồ, Thạch liên nhục lượng bằng nhau, mỗi lần 5 tiền sắc nước uống (Phụ nhân lương phương). * '''Sản hậu các chứng hư, phát nhiệt tự hãn:''' Nhân sâm, Đương quy lượng bằng nhau. Tán bột, dùng 1 cái cật lợn (trư yêu tử) bóc màng thái miếng nhỏ, dùng 3 thăng nước, nửa hớp gạo nếp, 2 cọng hành trắng, nấu gạo chín lấy 1 chén nước cốt, cho thuốc vào sắc còn 8 phần, uống ấm trước khi ăn (Vĩnh loại phương). * '''Sản hậu bí tắc chảy máu nhiều:''' Dùng Nhân sâm, Ma tử nhân, Chỉ xác (sao với cám). Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Tế sinh phương). * '''Sanh ngang sanh ngược (nghịch sản):''' Nhân sâm (bột), Nhũ hương (bột) mỗi thứ 1 tiền, Đan sa (bột) 5 phân. Nghiền đều, dùng 1 lòng trắng trứng gà, 3 thìa nước cốt gừng sống, khuấy đều uống nguội, mẹ con đều yên, thần hiệu. Đây là phương của Thi Hán Khanh (Phụ nhân lương phương). * '''Khai tâm ích trí:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, luyện với mỡ lợn (trư phì phưởng) đã rán 10 lạng. Dùng rượu ngon hòa đều. Mỗi lần uống 1 cốc, ngày 2 lần. Uống đến 100 ngày thì tai mắt thông minh, cốt tủy đầy đủ, da dẻ nhuận trẽo, một ngày nhớ nghìn lời, kiêm trị cả đàm bệnh do phong nhiệt (Thiên kim phương). * '''Nghe tiếng sấm liền hôn mê:''' Một đứa trẻ 7 tuổi hễ nghe tiếng sấm là ngất xỉu không biết gì, đây là do khí khiếp sợ. Dùng Nhân sâm, Đương quy, Mạch môn đông mỗi thứ 2 lạng, Ngũ vị tử 5 tiền. Nước 1 đấu sắc lấy 5 thăng nước cốt; lại dùng 5 thăng nước sắc bã lấy 2 thăng, hòa chung cô thành cao. Mỗi lần dùng 3 thìa hòa nước ấm uống. Dùng hết 1 cân, sau đó nghe sấm vẫn bình thường (Dương Khởi Giản tiện phương). * '''Bỗng nhiên thở gấp nghẹn tuyệt:''' Phương xem ở dưới mục Đại hoàng. * '''Ly hồn dị tật:''' Có người nằm xuống liền cảm thấy ngoài thân có một thân nữa, giống hệt không khác, nhưng không nói năng gì. Phàm người ngủ thì hồn về gan, đây do gan hư tà xâm nhập, hồn không về nhà, bệnh tên là Ly hồn. Dùng Nhân sâm, Long sỉ, Xích phục linh mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy nửa chén, hòa 1 tiền bột Chu sa đã thủy phi, uống lúc ngủ. Mỗi đêm 1 lần, sau 3 đêm, người thật thì khí sảng khoái, người giả (hình bóng) liền tan biến (Hạ Tử Ích Quái chứng kỳ tật phương). * '''Chính xung tự hãn (Tim đập mạnh, mồ hôi tự ra):''' Do tâm khí bất túc. Nhân sâm nửa lạng, Đương quy nửa lạng, dùng 2 quả cật lợn, dùng 2 bát nước sắc lấy 1 bát rưỡi, lấy cật lợn thái nhỏ, cho Sâm và Quy vào sắc chung còn 8 phần, lúc đói ăn cật lợn rồi lấy nước thuốc chiêu xuống. Bã thuốc sấy khô tán bột, dùng bột Hoài sơn làm hồ viên hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên, uống với nước táo cách xa bữa ăn, không quá 2 liều là khỏi. Đây là phương của thần tế đại sư ở Côn Sơn, có bài thêm 2 tiền Nhũ hương (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Dưới tâm kết khí:''' Phàm dưới tâm cứng, ấn vào thì không có, thường cảm thấy đầy trướng, ăn nhiều thì nôn, khí dẫn lên xuống, nấc cụt không dứt, do lo nghĩ quá nhiều, khí không vận hành theo thời mà kết trệ, gọi là kết khí. Nhân sâm 1 lạng, Trần bì (bỏ cùi trắng) 4 lạng. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 50-60 viên với nước cơm (Thánh huệ phương). * '''Mệt mỏi sau khi quan hệ (phòng hậu khốn quyện):''' Nhân sâm 7 tiền, Trần bì 1 tiền, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 8 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần, giá trị nghìn vàng không truyền (Phương của Triệu Vĩnh Am). * '''Hư lao phát nhiệt (Ngu lỗ thang):''' Dùng Nhân sâm Thượng Đảng, Sài hồ Ngân Châu mỗi thứ 3 tiền, Đại táo 1 quả, gừng sống 3 lát. Nước 1 chung rưỡi sắc lấy 7 phần, uống ấm cách xa bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng (Kỳ hiệu lương phương). * '''Phổi nhiệt khản tiếng:''' Nhân sâm 2 lạng, Kha tử 1 lạng, tán bột ngậm rồi nuốt dần (Đan Khê trích huyền). * '''Phổi hư ho lâu ngày:''' Nhân sâm (bột) 2 lạng, Lộc giác giao (nướng, nghiền) 1 lạng. Mỗi lần dùng 3 tiền, dùng nước sắc Bạc hà và Đậu xị 1 chén, thêm chút hành, cho vào nồi nhỏ đun 1-2 dạo, rót ra chén. Khi ho thì nhấp ấm 3-5 ngụm, rất tốt (Thực liệu bản thảo). * '''Dừng ho hóa đàm:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, Minh phàn 2 lạng. Dùng 2 thăng giấm tốt nấu Minh phàn thành cao, cho bột sâm và mật luyện vào hòa thu lại. Mỗi lần lấy 1 viên bằng hạt đậu hà lan đặt dưới lưỡi, cơn ho liền dứt, đàm tự tiêu (Giản tiện phương). * '''Trẻ nhỏ suyễn ho:''' Phát nhiệt tự hãn, nôn ra máu, mạch hư vô lực. Nhân sâm, Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Mỗi lần nửa tiền hòa nước mật uống, lấy khỏi làm chừng (Kinh tế phương). * '''Suyễn ho khạc huyết:''' Khí nghịch lên, suyễn gấp, ho ra máu thổ huyết, mạch vô lực. Bột nhân sâm mỗi lần 3 tiền, hòa lòng trắng trứng gà uống, lúc mờ sáng (5 canh đầu) uống xong nằm ngủ ngay, bỏ gối nằm ngửa, chỉ 1 liều là khỏi. Bệnh lâu năm thì uống thêm. Người khạc máu (lạc huyết) dùng hết 1 lạng rất tốt. Một phương dùng nước mài trứng gà đen nghìn lần, tự nhiên hóa thành nước hòa thuốc càng diệu. Kỵ giấm, mặn, tanh, mắm muối, mì chua, say no, nghỉ ngơi điều độ mới tốt (Thẩm Tồn Trung Linh uyển phương). * '''Ho khạc máu:''' Nhân sâm, Hoàng kỳ, bột mì tinh (phi la diện) mỗi thứ 1 lạng, Bách hợp 5 tiền. Tán bột, viên với nước bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước rễ cỏ tranh (mao căn) trước bữa ăn. ** Chu thị tập nghiệm phương: dùng Nhân sâm, Nhũ hương, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng thịt Ô mai hòa viên bằng hạt đạn (đầu ngón tay). Mỗi lần dùng nước trắng hòa tan 1 viên, ngày uống 1 lần. ** Hư lao thổ huyết nặng, trước tiên lấy Thập tro tán để cầm lại, người đó ắt khốn quyện, phép phải bổ dương sinh âm, dùng Độc sâm thang làm chủ. Nhân sâm tốt 1 lạng, Táo béo 5 quả. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung uống, ngủ một giấc say, bệnh giảm được 5-6 phần, sau đó uống thuốc điều lý (Cát Khả Cửu Thập dược thần thư). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Do thất tình cảm ứng, tửu sắc nội thương, khí huyết vận hành loạn xạ, máu trào ra cả miệng mũi, mạch Tâm Phế bị đứt, máu như suối phun, trong phút chốc không cứu kịp. Dùng Nhân sâm (sấy), lá Trắc bá (đồ, sấy), Kinh giới tuệ (đốt tồn tính) mỗi thứ 5 tiền. Tán bột. Dùng 2 tiền, thêm 2 tiền bột mì tinh, dùng nước mới múc hòa thành hồ loãng mà uống, một lát sau lại uống thêm ngụm nữa, một liều là cầm ngay (Hoa Đà Trung tạng kinh). * '''Chảy máu cam không dứt (nục huyết):''' Nhân sâm, cành Liễu (loại hái ngày Hàn thực) lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần 1 tiền, uống với nước chảy về hướng đông, ngày 3 lần. Không có cành liễu dùng Tâm sen (Thánh tế tổng lục). * '''Chảy máu kẽ răng:''' Nhân sâm, Xích phục linh, Mạch môn đông mỗi thứ 2 tiền. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần. Tô Đông Pha được phương này tự khen là thần kỳ. Kẻ hậu sinh nhiều người bị bệnh này, tôi đã thử nhiều lần, đều linh nghiệm như lời nói (Đàm Dã Ông thử nghiệm phương). * '''Âm hư niệu huyết (tiểu ra máu):''' Nhân sâm (sấy), Hoàng kỳ (chích nước muối) lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng 1 củ củ cải lớn vỏ đỏ, cắt làm 4 miếng, dùng 2 lạng mật, nhúng từng miếng củ cải vào mật rồi nướng, để khô lại nướng tiếp, đừng để cháy, nướng đến khi hết mật thì thôi. Mỗi lần dùng 1 miếng chấm bột thuốc mà ăn, dùng nước muối chiêu xuống, lấy khỏi làm chừng (Tam nhân phương). * '''Sa lâm thạch lâm (Sỏi thận, sỏi bàng quang):''' Phương như trên. * '''Tiêu khát khát uống:''' Nhân sâm tán bột, hòa lòng trắng trứng gà uống mỗi lần 1 tiền, ngày 3-4 lần. ** Tập nghiệm: dùng Nhân sâm, rễ Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Nghiền sống tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước Mạch môn đông trước bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng. Tên là Ngọc hồ hoàn. Kỵ rượu, mì, đồ nướng. ** Trịnh thị gia truyền Tiêu khát phương: Nhân sâm 1 lạng, Cam thảo phấn 2 lạng. Dùng nước mật lợn đực ngâm sấy, Băng phiến (não tử) nửa tiền. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt khiếm thực. Mỗi lần nhai 1 viên chiêu nước lạnh. ** Thánh tế tổng lục: dùng Nhân sâm 1 lạng, bột Cát căn 2 lạng. Tán bột. Lúc phát bệnh lấy 1 thăng nước luộc thịt lợn thiến, cho 3 tiền bột thuốc, 2 lạng mật, đun lửa nhỏ cô còn 3 chén, trạng như kẹo mạch nha đen, thu vào bình, mỗi đêm ngậm nuốt 1 thìa, không quá 3 liều là hiệu quả vậy. * '''Hư ngược hàn nhiệt (Sốt rét do hư):''' Nhân sâm 2 tiền 2 phân, Hùng hoàng 5 tiền. Tán bột, ngày Đoan ngọ dùng chóp lá bánh chưng giã làm viên hạt ngô. Sáng sớm ngày phát bệnh dùng nước giếng mới múc nuốt 7 viên, trước khi phát lại uống thêm. Kỵ các đồ nóng, hiệu quả ngay lập tức. Một phương: thêm Thần khúc lượng bằng nhau (Đan Khê toản yếu). * '''Lạnh lỵ quyết nghịch, lục mạch trầm tế:''' Nhân sâm, Đại phụ tử mỗi thứ 1 lạng rưỡi. Mỗi lần uống nửa lạng, gừng sống 10 lát, Đinh hương 15 hạt, gạo nếp 1 hớp. Nước 2 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm lúc đói (Kinh nghiệm phương). * '''Hạ lỵ cấm khẩu (Lỵ không ăn được):''' Nhân sâm, hạt Sen mỗi thứ 3 tiền. Dùng 2 chén nước giếng sắc lấy 1 chén, nhấp uống từ từ. Hoặc thêm Hoàng liên sao nước gừng 3 tiền (Kinh nghiệm lương phương). * '''Người già hư lỵ không dứt, không ăn được:''' Nhân sâm Thượng Đảng 1 lạng, Lộc giác (bỏ da, sao nghiền) 5 tiền. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông hòa nước cơm uống, ngày 3 lần (Thập tiện lương phương). * '''Thương hàn hoại chứng:''' Phàm thương hàn thời dịch, không hỏi âm dương, già trẻ phụ nữ có thai, lỡ uống nhầm thuốc dẫn đến nguy kịch sắp chết, mạch trầm phục, không biết gì, sau 7 ngày đều có thể uống, trăm người không hỏng một. Tên là Đoạt mệnh tán, lại tên Phục mạch thang. Nhân sâm 1 lạng, nước 2 chung, dùng lửa mạnh sắc còn 1 chung, dùng nước giếng ngâm lạnh rồi uống, một lát sau sống mũi có mồ hôi ra, mạch phục hồi ngay. Thị lang Tô Thao Quang nói: dùng phương này cứu được vài chục người. Tôi làm quan huyện Thanh Lưu, con dâu của quan huyện thân là Thân Đồ Hành Phụ bị thời dịch hơn 30 ngày, đã thành hoại bệnh, cho uống thuốc này liền yên (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Thương hàn quyết nghịch:''' Mình hơi nóng, phiền táo, lục mạch trầm tế vi nhược, đây là âm cực phát táo vậy. '''Vô ưu tán:''' dùng Nhân sâm nửa lạng. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, hòa 2 tiền bột Ngưu đằng nam tinh, uống nóng, tỉnh ngay (Tam nhân phương). * '''Kẹp âm thương hàn (Cáp âm thương hàn):''' Trước đó có phòng sự, sau đó cảm hàn tà, dương suy âm thịnh, lục mạch trầm phục, bụng dưới đau thắt, tứ chi lạnh ngược, nôn ra nước trong, không nhờ thuốc này thì không cách gì hồi dương. Nhân sâm, Can khương (nướng) mỗi thứ 1 lạng, Phụ tử sống 1 quả (phá làm 8 miếng). Nước 4 thăng rưỡi sắc còn 1 thăng, uống hết một lần. Mạch ra mình ấm là khỏi (Ngô Thụ Thương hàn uẩn yếu). * '''Gân cốt phong thống:''' Nhân sâm 4 lạng (ngâm rượu 3 ngày, phơi khô), Thổ phục linh 1 cân, Sơn từ cô 1 lạng. Tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước cơm trước khi ăn (Kinh nghiệm phương). * '''Trẻ nhỏ phong giản co giật:''' Dùng Nhân sâm, Cáp phấn, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng máu tim lợn thiến hòa viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên uống với nước vàng bạc, ngày 2 lần, đại có thần hiệu (Vệ sinh bảo giám). * '''Tỳ hư mạn kinh:''' Hoàng kỳ thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Đậu chẩn hiểm chứng:''' Bảo nguyên thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Sau kinh sợ đồng tử bị lệch (nhãn tà):''' Trẻ nhỏ sau khi kinh sợ đồng tử không chính. Nhân sâm, A giao (sao với gạo nếp thành hạt) mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm, ngày 2 lần. Khỏi thì dừng, hiệu quả (Trực chỉ phương). * '''Trẻ nhỏ tỳ phong hay buồn ngủ:''' Nhân sâm, nhân Bí đao mỗi thứ nửa lạng, Nam tinh 1 lạng. Luộc qua nước tương, tán bột. Mỗi lần dùng 1 tiền, nước nửa chén sắc còn 2-3 phần, uống ấm (Bản sự phương). * '''Tửu độc mù mắt:''' Một người hình vóc lực lưỡng, ham uống rượu nóng, bỗng bị mù mắt mà mạch sáp, đây do rượu nóng làm tổn thương, vị khí ô trọc, huyết chết ở bên trong mà ra. Lấy Tô mộc sắc thang hòa 1 tiền bột Nhân sâm uống. Ngày hôm sau mũi và hai lòng bàn tay đều tím đen, đây là huyết trệ đã hành vậy. Lại dùng Tứ vật thang thêm Tô mộc, Đào nhân, Hồng hoa, Trần bì hòa bột Nhân sâm uống, vài ngày là khỏi (Đan Khê toản yếu). * '''Tửu độc sinh thư (nhọt):''' Một phụ nữ nghiện rượu, ngực mọc một cái nhọt (thư), mạch khẩn mà sáp. Dùng Nhân sâm sao rượu, Đại hoàng sao rượu lượng bằng nhau tán bột, dùng nước gừng uống 1 tiền, ngủ được mồ hôi ra là khỏi. Hiệu quả (Đan Khê y án). * '''Chó cắn phong thương sưng đau:''' Nhân sâm đặt trên than củi dâu đốt tồn tính, lấy bát úp lại, một lát sau tán bột, rắc vào, khỏi ngay (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Rết cắn:''' Nhai nhân sâm bôi vào (Y học tập thành). * '''Ong châm kiến đốt:''' Bột nhân sâm đắp vào (Chứng trị yếu quyết). * '''Thủng hông lòi ruột:''' Gấp lấy dầu bôi vào rồi ấn ruột vào, sắc nước Nhân sâm, Câu kỷ rửa bên ngoài, bên trong ăn cháo Thận cừu, 10 ngày khỏi (Ngụy thị Đắc hiệu phương). * '''Khí bôn quái tật:''' Phương xem ở dưới mục Hổ trượng. ===LÔ (蘆 - Đầu rễ/Cổ rễ nhân sâm)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị đàm ẩm do hư lao ('''Thời Trân'''). '''【Phát minh】''' * '''Ngô Thụ nói:''' Người suy nhược thì dùng Sâm lô thay thế cho Qua đế (cuống quả dưa - Cucumis melo L. để gây nôn nhẹ hơn). * '''Chu Đan Khê nói:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế), bổ cái Âm trong Dương; còn Sâm lô thì ngược lại, có thể tả cái Dương của kinh Thái âm. Điều này cũng giống như cây Ma hoàng (Ephedra sinica Stapf), phần ngọn (miêu) thì năng phát hãn (gây ra mồ hôi), còn phần rễ thì lại chỉ hãn (cầm mồ hôi). Thóc gạo thuộc Kim mà tính của cám lại nóng, lúa mạch thuộc Dương mà tính của vỏ cám (phu) lại mát. Các bậc tiền nho vịnh rằng "mỗi vật đều mang trong mình một Thái cực", người học đạo chẳng lẽ không thể từ đó mà suy rộng ra sao? ** Có một người con gái tính tình nóng nảy, lại hay ăn vị đậm đà, tháng nóng vì tức giận mà mắc chứng nấc cụt (ách), mỗi lần phát bệnh thì cả thân mình nhảy động, hôn mê không biết gì. Hình vóc và khí thế của cô ấy đều thực, đó là do đàm bị uất lại bởi cơn giận, khiến khí không thể giáng xuống, nếu không dùng phép thổ (gây nôn) thì không thể khỏi. Bèn dùng nửa lạng Sâm lô, một chén rưỡi nước nghịch lưu (nước chảy ngược), sắc lấy một bát lớn cho uống. Cô ấy nôn ra mấy bát đàm đặc (ngoan đàm), ra đại hãn (mồ hôi đầm đìa) rồi ngủ say một ngày là yên. ** Lại có một người vì làm lụng vất vả mà phát bệnh sốt rét (ngược), uống thuốc trị sốt rét vào thì biến thành nhiệt bệnh, lưỡi ngắn, ho có đàm, lục mạch hồng sác mà hoạt. Đây là đàm tích tụ trong ngực, không dùng phép thổ thì không khỏi. Dùng Sâm lô sắc thang cho thêm Trúc lịch (nhựa tre) uống hai liều, nôn ra ba cục đàm keo đặc, sau đó cho dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ (Astragalus mongholicus), Đương quy (Angelica sinensis) sắc uống, nửa tháng thì bình phục. ==SA SÂM (沙參)== (Adenophora elata Nannf. hoặc các loài tương cận thuộc chi Adenophora) (Sách Bổn kinh, hàng Thượng phẩm) '''【Hiệu chính】''' Gộp cả phần "Dương nhũ" (Sữa dê) thuộc mục "Hữu danh vị dụng" (Có tên nhưng chưa dùng) trong sách Biệt lục. '''【Thích danh】''' Bạch sâm (Ngô Phổ), Tri mẫu (Biệt lục), Dương nhũ (Biệt lục), Dương bà nãi (Cương mục), Linh nhi thảo (Biệt lục), Hổ tu (Biệt lục), Khổ tâm (Biệt lục, còn gọi là Văn hy, Thức mỹ, Chí thủ). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị này cùng với Nhân sâm, Huyền sâm, Đan sâm, Khổ sâm gọi là "Ngũ sâm". Hình dáng của chúng không hoàn toàn giống nhau nhưng chủ trị khá tương đồng, nên đều có tên là "Sâm". Ngoài ra còn có Tử sâm, tức là Mẫu mông. * '''Thời Trân nói:''' Sa sâm màu trắng, thích hợp với vùng đất cát (sa địa), nên có tên như vậy. Rễ của nó có nhiều nhựa trắng, người bình dân gọi là Dương bà nãi (vú dê cái). Mục "Dương nhũ" trong Biệt lục chính là vị này. Vật này không có lõi, vị nhạt, mà Biệt lục lại gọi là "Khổ tâm" (tâm đắng), lại trùng tên với Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge), thật không hiểu tại sao. Còn tên Linh nhi thảo (cỏ chuông nhỏ) là mô tả hình dáng hoa vậy. '''【Tập giải】''' * '''Sách Biệt lục nói:''' Sa sâm sinh ở thung lũng Hà Nội và các vùng Oan Cú, Bàn Dương, Tục Sơn. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. Tên khác là Dương nhũ, Địa hoàng; hái vào tháng 3, sau tiết Lập hạ thì cây mẹ chết. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Dương nhũ rễ giống Tề ni (Adenophora stricta Miq.) nhưng tròn, to nhỏ bằng nắm tay, trên có các đốt sừng, bẻ ra có nhựa trắng; người ta thường lấy rễ này thay cho Tề ni. Ngọn cây làm dạng dây leo, bẻ ra cũng có nhựa trắng. * '''Thời Trân nói:''' Sa sâm có ở khắp các núi rừng. Tháng 2 mọc mầm, lá như lá Quỳ nhỏ mới mọc, tròn dẹt và không bóng. Tháng 8, tháng 9 mọc thân, cao 1-2 thước. Lá trên thân thì nhọn dài như lá Câu kỷ (Lycium chinense Mill.) nhưng nhỏ và có răng cưa mịn. Mùa thu giữa các kẽ lá nở hoa tím nhỏ, dài 2-3 phân, hình như cái chuông (linh đạc), có 5 cánh, nhị trắng, cũng có loại hoa trắng. Kết quả to như quả Đông thanh, trong có hạt nhỏ. Sau tiết sương giáng thì mầm khô. Rễ mọc ở đất cát dài hơn một thước, to bằng một hổ khẩu (vòng tay); mọc ở đất vàng thì ngắn và nhỏ. Cả rễ và thân đều có nhựa trắng. Hái vào tháng 8, tháng 9 thì trắng và chắc; hái vào mùa xuân thì hơi vàng và xốp. Người ta cũng thường đem đồ lên rồi ép cho chắc để giả làm Nhân sâm, nhưng thể chất nhẹ xốp, vị nhạt và ngắn vậy. ===RỄ (根)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hơi hàn, không độc. Biệt lục nói: Dương nhũ tính ấm, không độc. * '''Ngô Phổ nói:''' Sa sâm theo Kỳ Bá vị mặn; Thần Nông, Hoàng Đế, Biển Thước bảo không độc. Lý Đương Chi bảo đại hàn. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Vị ngọt, hơi đắng. * '''Lý Chi Tài nói:''' Ghét Phòng kỷ (Stephania tetrandra), phản Lị lô (Veratrum nigrum). '''【Chủ trị】''' * Trị huyết tích kinh khí, trừ hàn nhiệt, bổ trung, ích Phế khí (Bổn kinh). * Trị vị tý, tâm phúc thống (đau bụng vùng tim), kết nhiệt tà khí gây đầu thống, tà nhiệt ngoài da, an ngũ tạng. Uống lâu có lợi cho người. Lại nói: Dương nhũ chủ trị đầu huyễn thống (đau chóng mặt), ích khí, trường cơ nhục (Biệt lục). Trị phù phong ngoài da thịt, sán khí sa xuống, trị chứng hay buồn ngủ, dưỡng Can khí, tuyên thông phong khí ngũ tạng (Chân Quyền). Bổ hư, cầm kinh phiền, ích Tâm Phế, trị mọi chứng ác sang giới tiễn (ghẻ lở) và ngứa ngáy khắp người, bài nùng (tống mủ), tiêu sưng độc (Đại Minh). Thanh Phế hỏa, trị ho lâu ngày, phế nuy (phổi héo) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Trương Nguyên Tố nói:''' Người bị Phế hàn thì dùng Nhân sâm; người Phế nhiệt thì dùng Sa sâm thay thế, vì lấy cái vị ngọt của nó vậy. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Sa sâm vị ngọt hơi đắng, là thuốc của bản kinh Quyết âm, lại là thuốc ở phần khí của kinh Tỳ. Vị hơi đắng thì bổ Âm, vị ngọt thì bổ Dương, cho nên Khiết Cổ lấy Sa sâm thay Nhân sâm. Bởi Nhân sâm tính ấm, bổ cái Dương của ngũ tạng; Sa sâm tính hàn, bổ cái Âm của ngũ tạng. Tuy nói bổ ngũ tạng, nhưng cũng cần dùng các thuốc bổ tạng tương ứng làm tá, để tùy theo sự dẫn dắt mà hỗ trợ lẫn nhau mới được. * '''Thời Trân nói:''' Nhân sâm ngọt đắng tính ấm, thể chất nặng chắc, chuyên bổ nguyên khí của Tỳ Vị, từ đó mà ích cho Phế và Thận, nên người bị nội thương nguyên khí thì nghi dùng. Sa sâm ngọt nhạt tính hàn, thể chất nhẹ xốp, chuyên bổ Phế khí, từ đó mà ích cho Tỳ và Thận, nên người bị Kim chịu Hỏa khắc (Phế bị nhiệt hỏa xâm phạm) thì nghi dùng. Một bên bổ Dương để sinh Âm, một bên bổ Âm để chế Dương, không thể không phân biệt vậy. '''【Phụ phương】''' (Cũ 1, mới 2) * '''Phế nhiệt ho:''' Sa sâm nửa lạng. Sắc nước uống (Vệ sinh dị giản phương). * '''Đột ngột phát sán khí:''' Bụng dưới và trong âm hộ đau thắt kéo nhau, mồ hôi tự ra, đau muốn chết. Sa sâm giã nhỏ rây lấy bột, uống với rượu mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), khỏi ngay (Chẩm hậu phương). * '''Phụ nữ bạch đới:''' Thường do thất tình nội thương hoặc hạ nguyên hư lạnh gây ra. Sa sâm tán bột, mỗi lần uống 2 tiền hòa với nước cơm (Chứng trị yếu quyết). ==TỀ NI (薺苨)== (Adenophora stricta Miq.) *(Âm là Tề Ni, đều thanh thượng. Sách Biệt lục, hàng Trung phẩm) '''【Hiệu chính】''' Gộp cả phần "Hạnh sâm" trong sách Đồ kinh. '''【Thích danh】''' Hạnh sâm (Đồ kinh), Hạnh diệp sa sâm (Cứu hoang), Trư bàng (豝, âm là Đề. Nhĩ nhã), Tiềm cát cánh (Cương mục), Bạch diện căn (Cứu hoang). * Mầm gọi là '''Ẩn nhẫn'''. * '''Thời Trân nói:''' Tề ni nhiều dịch, có trạng thái như lộ dày (tế nê), nên lấy đó làm tên. Tế nê (濟苨) nghĩa là móc đọng đặc vậy. Rễ nó như Sa sâm (Adenophora) mà lá như lá Hạnh (Prunus armeniaca L.), nên người Hà Nam gọi là Hạnh diệp sa sâm. Vị Hạnh sâm trong Đồ kinh của Tô Tụng chính là vị này. Tục gọi là Tiềm cát cánh (Cát cánh ngọt). Sách Nhĩ nhã vân: Bàng (豝) chính là Tề ni vậy. Quách Phác chú rằng: Chính là Tề ni. Về tên Ẩn nhẫn, thuyết xem ở đoạn dưới. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Rễ và thân Tề ni đều rất giống Nhân sâm (Panax ginseng C.A. Mey.), nhưng lá hơi khác, vị rễ ngọt lịm, năng sát độc. Hễ để chung với các loại thuốc độc, độc tính đều tự nhiên tiêu giảm, nhưng không chính thức đưa vào phương gia dụng. Lại nói: Ngụy Văn Đế bảo Tề ni làm loạn Nhân sâm (gây nhầm lẫn), chính là vị này vậy. Lá Tề ni rất giống Cát cánh (Platycodon grandiflorus), nhưng khác ở chỗ dưới lá sáng bóng nhẵn nhụi không lông, lại không mọc đối như Nhân sâm. * '''Trần Ty Cung nói:''' Mầm Nhân sâm giống Ngũ gia bì nhưng rộng và ngắn, thân tròn có 3-4 nhánh (nhã), đầu nhánh có 5 lá. Đào Hoằng Cảnh dẫn thuyết Tề ni làm loạn Nhân sâm là sai vậy. Vả lại Tề ni và Cát cánh có loại lá mọc cách, cũng có loại lá mọc 3-4 đôi, đều một thân mọc thẳng lên, lá đã dễ lẫn lộn, duy chỉ có thể phân biệt bằng việc rễ (Cát cánh) có lõi (tâm) mà thôi. * '''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Xuyên Thục, Giang Chiết đều có cả. Mùa xuân mọc mầm thân, đều giống Nhân sâm nhưng lá hơi khác, rễ giống Cát cánh nhưng khác ở chỗ không có lõi. Nhuận Châu, Thiểm Châu có rất nhiều, người ta thu hái làm quả, hoặc làm mứt (phu) mà ăn, vị rất cam mỹ, lại có thể gửi đi xa. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. * '''Lý Thừa nói:''' Người nay thường đem đồ chín rồi ép dẹt để làm loạn Nhân sâm, nhưng vị nhạt vậy. * '''Khấu Tông Đạm nói:''' Đào Hoằng Cảnh luận về rễ, nên bảo Tề ni làm loạn Nhân sâm; Tô Tụng luận về mầm, nên bảo Đào sai vậy. * '''Tiết Cơ nói:''' Mầm thân Tề ni tương tự Cát cánh, rễ của nó tương loạn với Nhân sâm. Nay nói mầm thân đều giống Nhân sâm là gần như sai lầm. Nên xem kỹ cả ba mục chú giải về Nhân sâm, Tề ni, Cát cánh thì tự rõ. * '''Thời Trân nói:''' Mầm Tề ni giống Cát cánh, rễ giống Sa sâm, nên gian thương thường dùng Sa sâm và Tề ni để trà trộn làm loạn Nhân sâm. Vị Hạnh sâm trong Đồ kinh của Tô Tụng và Hạnh diệp sa sâm trong Cứu hoang bản thảo của Chu Định Vương đều là Tề ni này vậy. Đồ kinh vân: Hạnh sâm sinh ở đồng nội vùng Tư Châu, rễ như rễ rau nhỏ. Người địa phương tháng 5 hái mầm lá trị ho thượng khí. Cứu hoang bản thảo vân: Hạnh diệp sa sâm, tên khác là Bạch diện căn. Mầm cao 1-2 thước, thân màu xanh trắng. Lá như lá Hạnh nhưng nhỏ, hơi nhọn và lưng lá trắng, mép có răng cưa. Đầu cành nở hoa trắng 5 cánh như cái bát nhỏ (oản tử hoa). Hình rễ như cà rốt dại (dã hồ la bặc), khá mập, vỏ màu xám đen, giữa màu trắng, vị ngọt tính hơi hàn. Cũng có loại nở hoa màu xanh biếc. Mầm non chần chín rửa sạch qua nước, trộn dầu muối mà ăn. Rễ thay nước luộc cũng có thể ăn được. Người ta dùng mật nấu để làm quả (mứt). Lại nữa, Đào Hoằng Cảnh chú về Cát cánh, nói lá nó tên là Ẩn nhẫn, có thể luộc ăn, trị cổ độc. Cẩn thận xét theo Nhĩ nhã vân: Bàng là Ẩn nhẫn vậy. Quách Phác chú vân: Giống cây Tô, có lông. Người Giang Đông muối làm dưa (trư), cũng có thể luộc ăn. Cát Hồng trong Chẩm hậu phương vân: Cỏ Ẩn nhẫn, mầm giống Cát cánh, người đều ăn được. Giã lấy nước uống trị cổ độc. Dựa vào đây thì Ẩn nhẫn không phải là Cát cánh, mà là mầm Tề ni vậy. Mầm Tề ni ngọt, ăn được; mầm Cát cánh đắng, không ăn được, đây là minh chứng rõ nhất. Sách Thần Nông bản thảo kinh không có Tề ni, chỉ có Cát cánh và một tên gọi khác là Tề ni, đến đời Biệt lục mới bắt đầu tách riêng Tề ni. Có lẽ Tề ni và Cát cánh cùng một loại, có hai giống ngọt và đắng, nên mầm của chúng đều có thể gọi là Ẩn nhẫn vậy. ===RỄ (根)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Giải độc của trăm loại thuốc (Biệt lục). * Sát cổ độc (độc bùa ngải), trị rắn rết côn trùng cắn, nhiệt cuồng ôn dịch, trúng tên độc (Đại Minh). Lợi Phế khí, hòa trung minh mục (sáng mắt) chỉ thống (giảm đau), đồ thái ra nấu canh cháo mà ăn, hoặc làm dưa (tê trư) ăn (Trạm Ân). Ăn vào ép được độc Đan thạch phát động (Mạnh Tiên). Chủ trị ho tiêu khát, cường trung, sang độc đinh thũng, lánh độc của sa sắt (mạt bụi) và đoản hồ (con bọ nước) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Thời Trân nói:''' Tề ni tính hàn mà lợi Phế, vị ngọt mà giải độc, thật là món tốt vậy, mà người đời không biết dùng, thật đáng tiếc thay. Xét Cát Hồng trong Chẩm hậu phương vân: Một thứ thuốc mà kiêm giải được mọi độc, chỉ có nước Tề ni sắc đặc uống 2 thăng, hoặc nấu mà nhai, cũng có thể làm dạng bột (tán) để uống. Vị thuốc này ở giữa các thuốc khác thì độc tính đều tự giải vậy. Lại nữa, Trương Độc trong Triều dã thiêm tái vân: Các y gia bảo hổ trúng tên độc thì ăn bùn trong (thanh nê) mà giải; lợn rừng trúng tên độc thì tìm Tề ni mà ăn. Vật còn biết giải độc, huống chi là người? Lại nữa, Tôn Tư Mạo trong Thiên kim phương trị chứng Cường trung (cương dương không dứt), dương vật cương cứng lâu không giao hợp mà tinh tự xuất, sau khi tiêu khát phát sinh ung thư, có các bài Tề ni hoàn, Trư thận tề ni thang, đây đều là những điều Bản thảo chưa chép tới. Nhưng cũng đều lấy công năng giải nhiệt giải độc của nó mà thôi, không có ý nghĩa khác. '''【Phụ phương】''' (Cũ 4, Mới 3) * '''Cường trung tiêu khát (Trư thận tề ni thang):''' Trị bệnh cường trung, dương vật cương cứng dài lâu, không giao hợp mà tinh dịch tự chảy, sau tiêu khát là phát ung thư. Đều do buông thả sắc dục, hoặc uống kim thạch (thuốc khoáng vật) gây ra, nên dùng bài này để chế cái nhiệt trong Thận vậy. Dùng Cật lợn (trư thận) 1 đôi, Tề ni, Thạch thạch cao mỗi thứ 3 lạng, Nhân sâm, Phục linh, Từ thạch, Tri mẫu, Cát căn, Hoàng cầm, Qua lâu căn, Cam thảo mỗi thứ 2 lạng, Đỗ đen (hắc đại đậu) 1 thăng, nước 1 đấu rưỡi. Trước tiên luộc cật lợn và đỗ đen lấy 1 đấu nước cốt, bỏ bã rồi cho thuốc vào, sắc lại lấy 3 thăng, chia 3 lần uống. Người đời sau gọi là Thạch tử tề ni thang. * Lại có '''Tề ni hoàn:''' dùng Tề ni, Đỗ đen, Phục thần, Từ thạch, Qua lâu căn, Thục địa hoàng, Địa cốt bì, Huyền sâm, Thạch hộc, Lộc nhung mỗi thứ 1 lạng, Nhân sâm, Trầm hương mỗi thứ nửa lạng. Tán bột, lấy bao tử lợn (trư đỗ) làm sạch nấu nhừ, giã nát hòa thuốc viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 70 viên với nước muối lúc đói (Đều trong Thiên kim phương). * '''Đinh sang thũng độc:''' Rễ Tề ni tươi giã lấy nước cốt, uống 1 hớp (hợp), lấy bã đắp lên, không quá 3 lần (Thiên kim dực). * '''Vết nám trên mặt (Diện thượng sạm):''' Tề ni, Nhục quế lượng bằng nhau. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông uống với nước hèm (tạc tương), ngày 1 lần. Lại có thể tẩy vết sẹo, nốt ruồi (Thánh tế tổng lục). * '''Giải mọi loại cổ độc:''' Rễ Tề ni giã lấy bột, uống 1 thìa vuông, khỏi ngay (Trần Diên Chi - Đoản kịch phương). * '''Giải độc Câu vẫn (Lá ngón):''' Lá Câu vẫn (Gelsemium elegans) và lá Rau cần tương tự nhau, lỡ ăn nhầm sẽ chết người. Duy lấy Tề ni 8 lạng, nước 6 thăng, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 5 hợp, ngày 5 lần (Trọng Cảnh Kim quỹ ngọc hàm). * '''Giải độc Ngũ thạch (5 loại khoáng vật độc):''' Tề ni tươi giã lấy nước, uống nhiều, khỏi ngay (Tô Tụng - Đồ kinh). ===ẨN NHẪN DIỆP (Lá cây Tề ni)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, đắng, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Cổ độc gây đau bụng, mặt mắt xanh vàng, gầy rộc (lâm lộ cốt lập), sắc nước 1-2 thăng mà uống (Thời Trân). Chủ trị phong ủng ở tạng bụng, ho thượng khí (Tô Tụng). ==CÁT CÁNH (桔梗)== (Platycodon grandiflorus (Jacq.) A. DC.) (Sách Bổn kinh, hàng Hạ phẩm) '''【Thích danh】''' Bạch dược (Biệt lục), Cánh thảo (Biệt lục), Tề ni (Bổn kinh). * '''Thời Trân nói:''' Rễ của loại cỏ này kết thực mà thân (cánh) mọc thẳng, nên có tên như vậy (Cát cánh). Sách Ngô Phổ bản thảo gọi là Lợi như, Phù hộ, Phòng đồ; các sách phương tễ đều không thấy dùng, có lẽ là tên lóng (sấu từ) mà thôi. Cát cánh và Tề ni (Adenophora) cùng một loại, có hai giống ngọt và đắng, nên Bổn kinh gọi Cát cánh là Tề ni, mà nay dân gian gọi Tề ni là Cát cánh ngọt vậy. Đến đời Biệt lục mới bắt đầu tách riêng điều mục Tề ni, chia làm hai vật, vì tính vị công dụng đều khác nhau, nên lấy theo Biệt lục là đúng. '''【Tập giải】''' * '''Sách Biệt lục nói:''' Cát cánh sinh ở thung lũng núi Tung Cao và vùng Oan Cú. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. * '''Ngô Phổ nói:''' Lá như Tề ni, thân như quản bút, màu tím đỏ, tháng 2 mọc mầm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vùng gần đường đâu đâu cũng có, tháng 2, tháng 3 mọc mầm, có thể luộc ăn. Cát cánh trị cổ độc rất linh nghiệm. Phương tễ dân gian dùng vị này gọi tên là Tề ni. Nay có loại Tề ni riêng, năng giải độc thuốc, thường làm loạn (trà trộn) với Nhân sâm, lá rất giống nhau. Nhưng lá Tề ni mặt dưới sáng bóng nhẵn nhụi không lông là điểm khác biệt, cách mọc lá cũng không đối nhau như Nhân sâm. * '''Trần Ty Cung nói:''' Tề ni và Cát cánh, lá có loại mọc cách, cũng có loại mọc 3-4 đôi đối nhau, đều một thân mọc thẳng lên, lá đã dễ lẫn lộn, duy chỉ có thể phân biệt bằng việc rễ (Cát cánh) có lõi (tâm) mà thôi. * '''Tô Tụng nói:''' Nay nơi nơi đều có. Rễ to như ngón tay út, màu vàng trắng. Mùa xuân mọc mầm, thân cao hơn một thước. Lá như lá Hạnh (Prunus armeniaca L.) nhưng dài dẹt, 4 lá mọc đối, lúc non có thể luộc ăn. Mùa hạ nở hoa nhỏ màu tím biếc, khá giống hoa Thiên ngưu (hoa muống - Ipomoea nil), sau mùa thu kết hạt. Tháng 8 hái rễ, rễ có lõi, loại nào không lõi là Tề ni. Cát cánh vùng Quan Trung rễ vỏ vàng, giống rễ Thục quỳ (Althaea rosea). Thân nhỏ màu xanh. Lá nhỏ màu xanh, giống lá Cúc (Chrysanthemum). ===RỄ (根)=== '''【Tu trị】''' * '''Lôi Hiệu nói:''' Phàm dùng chớ dùng loại Mộc cánh (thân gỗ), trông rất giống Cát cánh, nhưng nhai thấy vị tanh chát không dùng được. Phàm dùng Cát cánh, phải bỏ phần đầu nhọn cứng chừng 2-3 phân, cùng các cành phụ hai bên. Trên thớt gỗ dâu (khuê châm) thái nhỏ, dùng Bách hợp (Lilium brownii) tươi giã thành cao, cho vào nước ngâm một ngày đêm (nhất phục thời) rồi lọc ra, dùng lửa nhẹ sao cho khô thì dùng. Cứ 4 lạng Cát cánh thì dùng 2 lạng 5 tiền Bách hợp. * '''Thời Trân nói:''' Nay chỉ cần cạo bỏ lớp vỏ nổi bên ngoài, ngâm nước vo gạo một đêm, thái phiến sao nhẹ mà dùng. '''【Khí vị】''' Vị cay, tính hơi ấm (vi ôn), có độc nhỏ. * '''Ngô Phổ nói:''' Thần Nông, Y Hòa bảo vị đắng, không độc; Hoàng Đế, Biển Thước bảo vị cay mặn; Kỳ Bá, Lôi Công bảo vị ngọt, không độc. Lý Đương Chi bảo đại hàn. * '''Chân Quyền nói:''' Vị đắng, cay. * '''Thời Trân nói:''' Nên lấy vị đắng, cay, tính bình làm đúng. * '''Lý Chi Tài nói:''' Tiết bì (vỏ đốt) làm sứ. Sợ Bạch cập (Bletilla striata), Long nhãn (Dimocarpus longan), Long đảm thảo (Gentiana scabra). Kỵ thịt lợn. Được Mẫu lệ, Viễn chí thì trị được chứng giận dữ (huế nộ); được Tiêu thạch, Thạch cao thì trị được thương hàn. Cháo trắng giải được độc của thuốc. * '''Thời Trân nói:''' Phục được Thạch tín (Phục thạch). Tiết bì mà Từ Chi Tài nói, không biết là vật gì vậy. '''【Chủ trị】''' Đau ngực sườn như dao châm, bụng đầy trướng, ruột kêu u u (tràng minh), kinh khủng quý khí (tim đập nhanh do sợ hãi) (Bổn kinh). Lợi ngũ tạng tràng vị, bổ huyết khí, trừ hàn nhiệt phong tý, ôn trung tiêu cốc, trị đau cổ họng, hạ cổ độc (Biệt lục). Trị hạ lỵ, phá huyết khứ tích khí, tiêu tích tụ đàm diên (đờm dãi), trừ phế nhiệt gây khí xúc sấu nghịch (thở gấp ho ngược), trừ đau lạnh trong bụng, chủ trị trúng ác và trẻ nhỏ kinh giản (Chân Quyền). Hạ tất cả các loại khí, cầm hoắc loạn chuyển cân (chuột rút), tim bụng trướng đau, bổ ngũ lao, dưỡng khí, trừ tà lánh ôn (dịch), phá trưng hà phế ung, dưỡng huyết bài nùng (tống mủ), bổ nội lậu và hầu tý (Đại Minh). Lợi các khiếu, trừ phong nhiệt ở bộ phận Phế, thanh lợi đầu mắt hầu họng, trị khí trệ và đau ở hung cách (ngực), trừ nghẹt mũi (Trương Nguyên Tố). Trị nôn do hàn (Lý Đông Viên). Chủ trị miệng lưỡi sinh hỏa (loét), mắt đỏ sưng đau (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Cát cánh khí hơi ấm, vị đắng cay, vị đậm mà khí nhẹ, là phần Âm trong Dương, tính thăng (đi lên). Đi vào khí phận kinh Thủ thái âm Phế và kinh Túc thiếu âm Thận. * '''Trương Nguyên Tố nói:''' Cát cánh thanh phế khí, lợi hầu họng, sắc trắng nên làm thuốc dẫn kinh vào bộ phận Phế. Dùng chung với Cam thảo làm thuốc "Châu tiếp" (thuyền chèo). Như các thuốc vị đắng tính tiết hạ mạnh như Đại hoàng, muốn dẫn đến tận vùng ngực là nơi cao nhất để lập công, tất phải dùng vị cay ngọt này để nâng lên. Ví như sắt đá rơi xuống sông, không có thuyền chèo (châu tiếp) thì không chở được. Vì vậy các thuốc hễ có vị này thì không bị chìm xuống dưới vậy. * '''Thời Trân nói:''' Chu Quăng trong Hoạt nhân thư trị trong ngực bĩ mãn không đau, dùng Cát cánh, Chỉ xác, lấy nghĩa thông phế lợi cách hạ khí vậy. Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận trị hàn thực kết hung, dùng Cát cánh, Bối mẫu, Ba đậu, lấy nghĩa ôn trung tiêu cốc phá tích vậy. Lại trị phế ung khạc mủ (thoa nùng), dùng Cát cánh, Cam thảo, lấy nghĩa khổ tân thanh phế (đắng cay thanh phổi), cam ôn tả hỏa (ngọt ấm hạ hỏa), lại năng bài nùng huyết, bổ nội lậu vậy. Trị chứng Thiếu âm 2-3 ngày hầu họng đau, cũng dùng Cát cánh, Cam thảo, lấy nghĩa khổ tân tán hàn (đắng cay tán lạnh), cam bình trừ nhiệt (ngọt bình trừ nóng), hợp dùng năng điều hòa hàn nhiệt vậy. Người đời sau đổi tên là '''Cam Cát thang''', thông trị mọi bệnh hầu họng miệng lưỡi. Tống Nhân Tông gia thêm Kinh giới, Phòng phong, Liên kiều, gọi là '''Như thánh thang''', cực khen sự linh nghiệm của nó vậy. * '''Xét:''' Vương Hiếu Cổ trong Y lũy nguyên nhung chép khá tường tận, vân: Mất tiếng (thất âm), gia Kha tử; tiếng không ra, gia Bán hạ; thượng khí, gia Trần bì; đàm ho (diên sấu), gia Tri mẫu, Bối mẫu; ho khát, gia Ngũ vị tử; độc rượu, gia Cát căn; thiếu khí, gia Nhân sâm; nôn, gia Bán hạ, Gừng sống; khạc mủ máu, gia Tử uyển; phế nuy, gia A giao; hung cách không lợi, gia Chỉ xác; tâm hung bĩ mãn, gia Chỉ thực; mắt đỏ, gia Chi tử, Đại hoàng; mặt sưng, gia Phục linh; đau ngoài da (phu thống), gia Hoàng kỳ; phát ban, gia Phòng phong, Kinh giới; độc dịch (dịch độc), gia Ngưu bàng tử, Đại hoàng; không ngủ được, gia Chi tử. * '''Chu Đan Khê nói:''' Ho khan, là tà hỏa đàm uất ở trong phổi, nghi dùng Khổ cánh để khai thông; lỵ gây đau bụng, là khí của Phế kim uất ở Đại trường, cũng nghi dùng Khổ cánh khai thông trước, sau đó dùng thuốc trị lỵ. Vị thuốc này năng khai đề (mở mang và nâng lên) khí huyết, nên trong thuốc về khí nghi dùng vậy. '''【Phụ phương】''' (Cũ 10, mới 8) * '''Ngực đầy không đau:''' Cát cánh, Chỉ xác lượng bằng nhau. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung, uống ấm (Nam Dương Hoạt nhân thư). * '''Thương hàn bụng trướng:''' Do âm dương không hòa, Cát cánh Bán hạ thang chủ trị. Cát cánh, Bán hạ, Trần bì mỗi thứ 3 tiền, gừng 5 lát. Nước 2 chung sắc 1 chung uống (Nam Dương Hoạt nhân thư). * '''Đàm ho suyễn cấp:''' Cát cánh 1 lạng rưỡi. Tán bột. Dùng nước tiểu trẻ em (đồng tiện) nửa thăng, sắc lấy 4 phần, bỏ bã uống ấm (Giản yếu tế chúng phương). * '''Phế ung ho:''' Ngực đầy run lạnh, mạch sác họng khô, không khát, thường khạc nước bọt đục hôi tanh, lâu ngày nôn mủ như cháo gạo nếp, Cát cánh thang chủ trị. Cát cánh 1 lạng, Cam thảo 2 lạng. Nước 3 thăng sắc lấy 1 thăng, chia lần uống ấm. Sáng tối nôn mủ máu thì khỏi (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ ngọc hàm phương). * '''Hầu tý độc khí:''' Cát cánh 2 lạng. Nước 3 thăng sắc lấy 1 thăng, uống hết một lần (Thiên kim phương). * '''Thiếu âm hầu thống:''' Chứng Thiếu âm 2-3 ngày họng đau, có thể cho Cam thảo thang; không khỏi thì cho Cát cánh thang chủ trị. Cát cánh 1 lạng, Cam thảo 2 lạng. Nước 3 thăng sắc 1 thăng, chia uống (Trương Trọng Cảnh Thương hàn luận). * '''Miệng lưỡi sinh sang (loét):''' Phương như trên. * '''Sưng đau chân răng (Xỉ nục):''' Cát cánh, Ý dĩ nhân lượng bằng nhau. Tán bột uống (Vĩnh loại phương). * '''Cốt tào phong thống, chân răng sưng đau:''' Cát cánh tán bột, hòa nhân Táo làm viên to bằng hạt bồ kết (tạo tử). Dùng bông bọc lại mà nhai. Lại lấy nước sắc Kinh giới súc miệng (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Nha cam hôi thối thối loét:''' Cát cánh, Tiểu hồi hương lượng bằng nhau. Đốt tồn tính tán bột, đắp vào (Vệ sinh dị giản phương). * '''Can phong mắt tối:''' Tròng mắt đau, do can phong thịnh, Cát cánh hoàn chủ trị. Cát cánh 1 cân, Hắc khiên ngưu (đầu mạt) 3 lạng, tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 40 viên uống với nước ấm, ngày 2 lần (Bảo mệnh tập). * '''Mũi chảy máu cam (Nục huyết):''' Cát cánh tán bột, uống với nước mỗi lần 1 thìa vuông, ngày 4 lần. Có bài gia thêm vụn sừng tê giác tươi (Phổ tế phương). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Phương như trên. * '''Bị đánh ứ huyết trong ruột:''' Lâu ngày không tan, thỉnh thoảng phát đau. Cát cánh tán bột, uống với nước cơm 1 thìa (đao khuê) (Chẩm hậu yếu phương). * '''Trúng cổ độc hạ huyết như gan gà:''' Ngày đêm ra máu hơn 1 thạch, tứ tạng đều tổn thương, duy chỉ có Tâm chưa hỏng, hoặc mũi rách sắp chết. Khổ cát cánh tán bột, uống với rượu mỗi lần 1 thìa vuông, ngày 3 lần. Không uống được thì dùng vật nạy miệng đổ vào. Trong lòng sẽ thấy phiền táo, một lát tự định, 7 ngày thì dừng. Nên ăn gan lợn nướng (chích trư can) để bồi bổ. Rất tốt. Một phương gia thêm Sừng tê giác lượng bằng nhau (Cổ kim lục nghiệm). * '''Có thai trúng ác, tâm phúc đau đớn:''' Cát cánh 1 lạng (thái nhỏ). Nước 1 chung, gừng sống 3 lát, sắc lấy 6 phần, uống ấm (Thánh huệ phương). * '''Trẻ nhỏ khách ngỗ (trúng tà), chết ngất không nói được:''' Cát cánh (đốt tồn tính tán bột) 3 tiền, uống với nước cơm. Lại nuốt thêm chút Xạ hương (Trương Văn Trọng Bị cấp phương). ===LÔ ĐẦU (蘆頭 - Đầu rễ)=== '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị phong nhiệt đàm thực ở thượng cách (vùng ngực trên), dùng bột sống hòa nước ấm uống 1-2 tiền để gây nôn (Thời Trân). ==TRƯỜNG TÙNG (长松)== (Trích từ sách "Bản thảo Thập di") '''Tên khoa học:''' Pachyloma nepalense (hoặc trong một số ngữ cảnh cổ là Inula helenium - Thổ mộc hương). Tuy nhiên, theo mô tả của Lý Thời Trân về loại mọc dưới gốc thông cổ thụ ở vùng Ngũ Đài Sơn, nó thường được giới thực vật học hiện đại định danh là '''Pachyloma nepalense'''. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Tiên mão (仙茆).''' '''Thời Trân nói:''' Lá của nó giống lá thông (tùng), uống vào thì trường thọ, công hiệu như nhựa thông (tùng chỉ) và Tiên mão, nên mới có hai tên này. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Tàng Khí nói:''' Trường tùng sinh ra ở các thung lũng vùng Quan Nội, lá giống lá thông, trên lá có nhựa, người trên núi thường hái về uống. '''Thời Trân nói:''' Trường tùng mọc dưới gốc cây thông cổ thụ, rễ sắc trắng như cây Tề (Capsella bursa-pastoris), dài từ ba đến năm tấc. Vị ngọt hơi đắng, hình dáng tương tự Nhân sâm, mùi hương thanh khiết dễ chịu. '''Xét theo:''' Trương Thiên Giác văn tập có chép: Tăng nhân Phổ Minh cư ngụ tại Ngũ Đài Sơn, mắc bệnh đại phong (bệnh hủi), lông mày và tóc đều rụng hết, đau khổ khôn cùng. Bỗng gặp được dị nhân chỉ cho cách uống Trường tùng và mô tả hình dáng cho. Phổ Minh hái về uống, hơn mười ngày sau lông tóc đều mọc lại, sắc mặt hồng hào như xưa. Nay người dân vùng Binh, Đại (thuộc Sơn Tây ngày nay) thường dùng Trường tùng trộn với Cam thảo, Sơn dược để sắc nước uống, vị rất ngon. Tuy nhiên, các sách Bản thảo và phương thư xưa đều không chép, duy nhất có hòa thượng Huệ Tường trong cuốn Thanh Lương truyện mới bắt đầu thuật lại chi tiết như vậy. Hàn Diễn trong cuốn Y thông nói rằng: Trường tùng sản sinh ở các vùng núi phía Tây Bắc Thái Hành, rễ giống Độc hoạt nhưng thơm hơn. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Khí vị:''' Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. '''Chủ trị:''' * Các chứng phong huyết, khí lạnh, bệnh cũ lâu ngày; làm ấm trung tiêu, trừ phong (theo Tàng Khí). * Trị bệnh đại phong ác tật, lông mày tóc rụng, xương cốt thối rữa. Mỗi lần dùng một lạng, thêm một ít Cam thảo, sắc với nước uống, trong mười ngày là khỏi. * Lại có thể giải độc của các loại sâu độc (trùng độc), bổ ích giúp tăng tuổi thọ (theo Thời Trân). ===【Phụ phương】=== Mới thêm vào một phương. * '''Trường tùng tửu (Rượu Trường tùng):''' Bồi bổ tất cả các chứng phong hư, do Hưu Hưu Tử ở Lư Sơn truyền lại. ** '''Thành phần:''' Trường tùng 1 lạng 5 tiền (hình dáng giống Độc hoạt mà thơm, là vị thuốc thánh trong rượu); Thục địa hoàng 8 tiền; Sinh địa hoàng, Hoàng kỳ (sao mật), Trần bì mỗi vị 7 tiền; Đương quy, Hậu phác, Hoàng bá mỗi vị 5 tiền; Bạch thược (nướng), Nhân sâm, Chỉ xác mỗi vị 4 tiền; Thương truật (chế nước vo gạo), Bán hạ (chế), Thiên môn đông, Mạch môn đông, Sa nhân, Hoàng liên mỗi vị 3 tiền; Mộc hương, Thục tiêu, Hồ đào nhân mỗi vị 2 tiền; Táo đỏ (bỏ hạt) 8 quả; gạo nếp cũ một nắm; Đăng tâm (dài 5 tấc) 120 sợi. ** '''Cách dùng:''' Một liều chia làm mười thang, dùng túi lụa đựng. Cứ dùng 5 thăng gạo nấu một bình rượu, hầm một túi thuốc vào, ủ lâu rồi mới uống. (Theo Hàn thị Y thông) ==HOÀNG TINH (黃精)== (Trích từ sách "Danh y Biệt lục" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Polygonatum sibiricum Redouté (hoặc các loài cùng chi như Polygonatum kingianum Coll. et Hemsl., Polygonatum cyrtonema Hua). ===【Hiệu chính - Chỉnh lý】=== Hợp nhất với phần "Cứu hoang thảo" trong Bản thảo Thập di. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Hoàng chi''' (黃芝 - theo Thụy thảo kinh), '''Mậu kỷ chi''' (戊己芝 - theo Ngũ phù kinh), '''Thỏ trúc''' (菟竹 - theo Biệt lục), '''Lộc trúc''' (鹿竹 - theo Biệt lục), '''Tiên nhân dư lương''' (仙人餘糧 - theo Đào Hoằng Cảnh), '''Cứu cùng thảo''' (救窮草 - theo Biệt lục), '''Mễ phô''' (米鋪 - theo Mông thuyên), '''Dã sinh khương''' (野生薑 - theo Mông thuyên), '''Trùng lâu''' (重樓 - theo Biệt lục), '''Kê cách''' (雞格 - theo Biệt lục), '''Long hàm''' (龍銜 - theo Quảng nhã), '''Thùy châu''' (垂珠). '''Tô Tụng nói:''' Pháp uống Hoàng tinh của Dương Công thời Tùy có chép: Hoàng tinh là tinh túy của cỏ chi, còn gọi là Uy duy, Bạch cập, Tiên nhân dư lương, Cẩu cách, Mã tiễn, Thùy châu, Thỏ trúc. '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh là vị thuốc trọng yếu để ăn uống luyện thân, nên sách Biệt lục xếp nó đứng đầu bộ Thảo. Các nhà tu tiên coi đây là loại cỏ chi, vì nó đắc được tinh túy thuần khiết của hành Thổ (Khôn Thổ), nên gọi là Hoàng tinh (tinh túy màu vàng). Sách Ngũ phù kinh viết: "Hoàng tinh được cái tinh thuần của trời đất, nên tên là Mậu kỷ chi", chính là nghĩa này. Các tên "Dư lương", "Cứu cùng" là gọi theo công dụng (lương thực dự phòng); "Lộc trúc", "Thỏ trúc" là do lá giống lá trúc mà hươu thỏ hay ăn; "Thùy châu" là dựa theo hình dáng hạt. Cây "Cứu hoang thảo" trong Thập di của Trần tàng Khí chính là cây này, nay hợp làm một. Đỗ Gia Mô nói: Rễ như gừng non, dân gian gọi là Dã sinh khương (gừng dại). Cửu chưng cửu sái (chín lần đồ, chín lần phơi) có thể thay lương thực, nên còn gọi là Mễ phô. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Hoàng tinh sinh ra ở thung lũng. Tháng Hai hái rễ, phơi trong bóng râm cho khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay đâu đâu cũng có. Tháng Hai bắt đầu mọc, một cành nhiều lá, lá giống lá trúc nhưng ngắn hơn. Rễ giống Uy duy. Rễ Uy duy giống rễ Địch (Phragmites) và Xương bồ, đốt thưa mà bằng phẳng, mọc thẳng; rễ Hoàng tinh giống rễ Quỷ cửu, Hoàng liên, đốt lớn và không phẳng. Tuy khô nhưng đều mềm mại, có chất dầu nhuận. Phương thuốc dân gian ít dùng, nhưng kinh sách nhà tiên rất quý trọng. Rễ, lá, hoa, quả đều có thể ăn được, nấu rượu hay tán bột tùy ý, đều ghi trong các phương phép đoạn cốc (nhịn cơm). Lá của nó rất giống lá cây Câu vẫn (Gelsemium elegans - lá ngón), chỉ khác là thân không tím, hoa không vàng, khiến người ta dễ lầm lẫn. Hai loại này khác hẳn nhau, ăn lầm dẫn đến cái chết, thật là chuyện lạ. '''Lôi Công nói:''' Câu vẫn thật giống Hoàng tinh, chỉ là đầu lá nhọn và có hai móc lông, nếu ăn nhầm sẽ hại người. Lá Hoàng tinh thì giống lá trúc. '''Tô Cung nói:''' Hoàng tinh mọc nơi đất tốt thì lớn như nắm tay, nơi đất xấu thì nhỏ như ngón tay cái. Rễ Uy duy béo tốt khá giống loại Hoàng tinh nhỏ, thớ thịt và hình sắc đại để tương tự. Nay lấy Quỷ cửu, Hoàng liên ra so sánh thì chẳng thấy giống chút nào. Lá Hoàng tinh giống lá Liễu, Long đởm, Từ trường khanh nhưng cứng hơn. Còn Câu vẫn là loại dây leo, lá như lá Hồng, không thể ví cùng loại được. '''Trần Tàng Khí nói:''' Hoàng tinh mà lá mọc lệch không đối nhau gọi là Thiên tinh, công dụng không bằng Chính tinh. Chính tinh thì lá mọc đối. Câu vẫn là tên khác của Dã cát, hai thứ không hề giống nhau, không biết Đào Công căn cứ vào đâu mà nói vậy? '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Câu vẫn còn gọi là Dã cát, thuyết của Đào Công nói lá giống Hoàng tinh chắc là đúng. Thuyết của Tô Cung nói lá giống lá Hồng chắc là một vật khác. '''Tô Tụng nói:''' Nam Bắc đều có Hoàng tinh, loại ở Tung Sơn, Mao Sơn là tốt nhất. Tháng Ba mọc mầm, cao chừng một, hai thước. Lá như lá trúc mà ngắn, mọc đối từng đôi. Thân cành mềm giòn, khá giống cành đào, gốc vàng ngọn đỏ. Tháng Tư nở hoa nhỏ màu trắng xanh, hình như hoa đậu nhỏ. Kết hạt trắng như hạt kê, cũng có loại không hạt. Rễ như gừng non mà màu vàng, tháng Hai hái rễ, đồ chín rồi phơi khô dùng. Nay thường hái vào tháng Tám, người trong núi chín đồ chín phơi làm thành quả đem bán, màu đen vàng mà vị rất ngọt ngon. Mầm lúc mới mọc người ta thường hái làm rau ăn, gọi là Bút thái, vị cực ngon. Người Giang Nam nói mầm và lá Hoàng tinh hơi giống Câu vẫn, nhưng đầu lá Câu vẫn cực nhọn và rễ nhỏ; còn Tô Cung nói Câu vẫn dây leo, e là do sản vật Nam Bắc khác nhau vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh mọc hoang trong núi, cũng có thể chặt rễ dài hai tấc đem trồng thưa, sau một năm sẽ mọc rất dày, hạt cũng có thể trồng được. Lá giống lá trúc nhưng không nhọn, hoặc hai lá, ba lá, bốn, năm lá đều mọc đối ở đốt. Rễ mọc ngang, hình trạng như Uy duy, dân gian hái mầm trụng chín, rửa sạch vị đắng để ăn, tên là rau Bút quản (Bút quản thái). Sách Bản thảo của Trần Tàng Khí nói Thanh niêm là Uy duy (xem phần Uy duy phát minh). Lại về thuyết Hoàng tinh và Câu vẫn, Đào Hoằng Cảnh, Lôi Công, Hàn Bảo Thăng đều nói hai thứ giống nhau. Tô Cung, Trần Tàng Khí lại nói không giống. Tô Tụng thì đưa ra thuyết nước đôi. Nay khảo cứu Thần Nông bản thảo, Ngô Phổ bản thảo đều nói Câu vẫn là Dã cát, dạng dây leo, thân như mũi tên, hợp với thuyết của Tô Cung. Trương Hoa trong Bác vật chí viết: "Xưa Hoàng Đế hỏi Thiên Lão rằng: Trong trời đất sinh ra, có thứ gì ăn vào khiến người ta không chết chăng? Thiên Lão đáp: Cỏ Thái Dương tên là Hoàng tinh, ăn vào có thể trường sinh; cỏ Thái Âm tên là Câu vẫn, không được ăn, vào miệng là chết ngay. Người ta tin Câu vẫn giết người, mà không tin Hoàng tinh giúp thọ lâu, chẳng phải mê muội sao?". Xét thấy: Đây chỉ là lấy Hoàng tinh và Câu vẫn đối lập nhau mà nói, không nói chúng giống nhau. Đào thị do đó mà cho rằng hai thứ giống nhau, không hợp với thuyết Câu vẫn của Thần Nông. E rằng nên lấy thuyết của Tô Cung làm đúng, còn thứ mà Đào, Lôi nói là một loại độc vật khác, không phải Câu vẫn. Bản thảo các đời chỉ có Trần Tàng Khí biện vật là tinh tường nhất, nên tin theo. Xem thêm ở mục Câu vẫn. ===【Tu trị - Chế biến】=== '''Lôi Công nói:''' Phàm hái được rễ, dùng nước suối rửa sạch, đồ từ giờ Tỵ đến giờ Tý (khoảng 14 tiếng), thái mỏng, phơi khô dùng. '''Tô Tụng nói:''' Pháp uống Hoàng tinh của Dương Công: Tháng Hai, tháng Ba hái rễ, loại sâu dưới đất tám, chín tấc là hạng thượng đẳng. Thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch năm đấu nước, nấu cho hết vị đắng, vớt ra, cho vào túi ép lấy nước cốt, lọc trong rồi nấu lại cho thành cao thì dừng. Dùng bột đậu nành rang đen trộn đều cho vừa, nặn thành bánh như đồng tiền. Mới đầu uống hai cái, mỗi ngày tăng dần. Cũng có thể sấy khô tán bột, uống với nước. '''Mạnh Tiễn nói:''' Pháp luyện Hoàng tinh: Lấy hũ bỏ đáy, đặt trong nồi cho khớp, cho Hoàng tinh vào đầy, đậy kín, đồ cho đến khi hơi bốc lên thì đem phơi. Cứ thế chín đồ chín phơi (cửu chưng cửu sái). Nếu dùng sống sẽ gây ngứa cổ họng. Nếu uống sống, lúc đầu chỉ nên dùng một tấc rưỡi, dần dần tăng lên, mười ngày không ăn cơm, uống tối đa ba thước năm thấc. Sau ba trăm ngày sẽ thấy được quỷ thần, lâu dần tất bay lên trời. Rễ, lá, hoa, quả đều ăn được. Nhưng loại lá mọc đối mới là chính tông, loại không đối gọi là Thiên tinh. ===【Khí vị】=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. Quyền nói: Tính hàn. '''Lý Thời Trân nói:''' Kỵ quả Mơ (Mai thực), hoa, lá, hạt đều vậy. ===【Chủ trị】=== Bổ trung ích khí, trừ phong thấp, an ngũ tạng. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ, không đói (Biệt lục). Bổ ngũ lao thất thương, giúp mạnh gân xương, chịu được nóng lạnh, ích tỳ vị, nhuận tâm phế. Dùng đơn độc loại chín đồ chín phơi để ăn, giúp giữ nhan sắc, nhịn được cơm (Đại Minh). Bổ các chứng hư tổn, cầm cơn hàn nhiệt, làm đầy tinh tủy, trừ sâu Tam thi (Thời Trân). ===【Phát minh】=== '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh nhận lấy khí thuần hậu của cung Mậu Kỷ (hành Thổ), nên là linh phẩm bổ ích cho Hoàng cung (Tỳ tạng). Thổ là mẹ của vạn vật, mẹ được nuôi dưỡng thì Thủy Hỏa được giao hòa, Mộc Kim được kết hợp, các tà khí tự đi, trăm bệnh không sinh. Sách Thần tiên chi thảo kinh nói: Hoàng tinh làm khoan khoái trung tiêu, ích khí, khiến ngũ tạng điều hòa, cơ bắp đầy đặn, xương tủy kiên cường, sức lực tăng bội, nhiều tuổi không già, sắc mặt tươi sáng, tóc bạc đen lại, răng rụng mọc mới. Lại có thể trừ sâu Tam thi trước: Thượng thi tên Bành Chất, ưa đồ quý báu, trăm ngày thì trừ được; Trung thi tên Bành Kiểu, ưa ngũ vị, sáu mươi ngày thì trừ được; Hạ thi tên Bành Cư, ưa ngũ sắc, ba mươi ngày thì trừ được, đều thối rữa mà ra ngoài. Rễ là tinh khí, hoa quả là phi anh, đều có thể dùng ăn. Lại xét: Lời tựa Bào chế luận của Lôi thị nói: Giữ nhan sắc kéo dài tuổi thọ, tinh chưng Thần cẩm. Chú giải rằng: Dùng nước cốt tự nhiên của Hoàng tinh trộn với Thần cẩm nghiền mịn, đồ trong chõ gỗ Liễu bảy ngày, dùng Mộc mật làm viên mà uống. Mộc mật là quả Chỉ cụ (Khế rừng/Kháo). Thần cẩm không biết là vật gì, có thuyết nói là Chu sa. '''Dương Tích nói:''' Xét sách Bào Phác Tử viết: "Hoàng tinh uống hoa tốt hơn quả, uống quả tốt hơn rễ". Nhưng hoa khó kiếm, hái được mười hộc hoa tươi, phơi khô chỉ được năm, sáu đấu thôi, không phải người có đại lực không làm nổi. Mỗi ngày uống ba hợp, uống mười năm mới được lợi ích. Về việc nhịn cơm thì không bằng Thương truật. Thương truật khiến người béo khỏe, có thể mang nặng đi xa; nhưng không bằng Hoàng tinh ngọt ngon dễ ăn, năm mất mùa có thể thay lương thực cho người già trẻ nhỏ, gọi là "mễ phô" (thịt gạo). '''Vương Thận Vi nói:''' Từ Huyền trong Kê thần lục chép: Nhà một kẻ sĩ ở Lâm Xuyên có một người tỳ nữ trốn vào núi sâu, lâu ngày thấy lá cỏ dại khả ái, bèn hái rễ ăn, lâu dần không thấy đói. Đêm nghỉ dưới cây lớn, nghe trong cỏ có tiếng động, tưởng là hổ vồ, bèn trèo lên cây lánh. Đến sáng xuống đất, thân hình nhẹ bẫng như lướt trên không, như chim bay vậy. Mấy năm sau người nhà đi hái củi trông thấy, bắt không được, bèn vây lưới dưới vách đá, phút chốc cô ta đã bay lên đỉnh núi. Có người nói tỳ nữ ấy đâu có tiên cốt, chẳng qua là ăn được linh dược thôi. Bèn đặt rượu và thức ăn trên đường qua lại, quả nhiên cô ta đến, ăn xong thì không chạy được nữa, bị bắt về kể lại sự tình. Chỉ loại cỏ đã ăn, chính là Hoàng tinh vậy. ===【Phụ phương】=== Cũ một, mới bốn. * '''Pháp uống thực:''' (Thánh huệ phương): Dùng rễ và thân Hoàng tinh không kể nhiều ít, thái nhỏ phơi khô tán bột. Mỗi ngày hòa nước uống, tùy ý nhiều ít. Trong một năm già hóa trẻ, lâu dần thành địa tiên. Sách Thần ẩn thư của Ninh Hiến Vương: Lấy Hoàng tinh thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch năm đấu nước nấu từ sáng đến tối, chờ nguội, dùng tay vò nát, cho vào túi vải ép lấy nước nấu cô lại. Bã phơi khô tán bột, cho vào nồi nấu cùng đến khi nặn được viên, viên như hạt súng. Mỗi lần uống một viên, ngày ba lần. Nhịn cơm nhẹ mình, trừ trăm bệnh. Khát thì uống nước. * '''Bổ gan sáng mắt:''' Hoàng tinh 2 cân, hạt Mạn kinh 1 cân (rửa sạch), trộn đều, cửu chưng cửu sái, tán bột. Lúc bụng đói uống 2 tiền với nước cơm, ngày hai lần, kéo dài tuổi thọ. (Thánh huệ phương) * '''Trị bệnh đại phong (hủi), lở loét:''' Do doanh khí không thanh, phong độc nhập vào kinh mạch lâu ngày thành bệnh lở loét, mũi hỏng, sắc mặt bại hoại, da dẻ ngứa nát. Dùng rễ Hoàng tinh (bỏ vỏ, rửa sạch) 2 cân, phơi nắng cho mềm, cho vào chõ đồ cùng cơm gạo nếp, đồ đến khi 2 đấu gạo chín, thường xuyên ăn. (Thánh tế tổng lục) * '''Bồi bổ tinh khí hư tổn:''' Hoàng tinh, Câu kỷ tử lượng bằng nhau. Giã nặn thành bánh, phơi khô tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước ấm. (Kỳ hiệu lương phương) ==UY DUY, UY NHUY (萎蕤)== (Phát âm là Uy. Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Polygonatum odoratum (Mill.) Druce (thường gọi là '''Ngọc trúc'''). ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Nữ uy''' (女萎 - theo Bản kinh), '''Uy duy''' (葳蕤 - theo Ngô Phổ), '''Uy di''' (萎 - âm là Uy Di), '''Ủy uy''' (委萎 - theo Nhĩ Nhã), '''Uy hương''' (萎香 - theo Cương mục), '''Huỳnh''' (熒 - theo Nhĩ Nhã, âm là Hành), '''Ngọc trúc''' (玉竹 - theo Biệt lục), '''Địa tiết''' (地節 - theo Biệt lục). '''Thời Trân nói:''' Xét theo cuốn Cổ kim vận hội của Hoàng Công Thiệu: "Uy duy" là dáng vẻ lá cây rủ xuống. Loại cỏ này rễ dài nhiều râu, như dải mũ (quan anh) rủ xuống mà có uy nghi, nên đặt tên như vậy. Phàm là dải anh lạc trên lọng lông hay cờ xí đều tượng hình Uy duy, chính là nó vậy. Cuốn Thụy ứng đồ của họ Trương chép: "Bậc vương giả lễ tiết vẹn toàn thì Uy duy sinh ra trước điện". Một tên nữa là Uy hương, nghĩa về "uy nghi" có thể thấy rõ ở đây. Sách Biệt lục viết là 葳蕤 (Uy duy) là cách viết giản lược. Thuyết văn viết là 萎 (Uy di) vì âm gần nhau. Nhĩ nhã viết là 委萎 (Ủy uy) vì chữ gần nhau. Lá của nó sáng bóng như lá trúc, rễ nhiều đốt, nên có các tên Huỳnh, Ngọc trúc, Địa tiết. Sách Ngô Phổ bản thảo còn có tên Ô nữ, Trùng thiền. Bản đời Tống có tên Mã huân, ấy là chép nhầm từ Ô uy mà ra. ===【Chỉnh lý sai sót】=== '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Sách Bản kinh có tên Nữ uy mà không có Uy duy, sách Biệt lục không có Nữ uy mà có Uy duy, mà công dụng lại giống hệt nhau, nghi rằng Nữ uy chính là Uy duy, chỉ khác tên mà thôi. '''Tô Cung nói:''' Công dụng và mầm lá của Nữ uy hoàn toàn khác biệt với Uy duy. Nay trong sách Bản kinh, phần chữ đỏ (chu thư) là công hiệu của Nữ uy, còn phần chữ đen (mặc thư) trong Biệt lục là công hiệu của Uy duy. '''Trần Tàng Khí nói:''' Bản thảo chép chung Nữ uy và Uy duy làm một. Họ Đào nói là một vật, họ Tô nói là hai vật khác nhau, rồi ở phần Trung phẩm lại tách riêng một mục Nữ uy. Tuy nhiên, việc chủ trị hoắc loạn, tiết lị, sôi bụng của nó lại chính hợp với Nữ uy ở Thượng phẩm, vậy thì càng rõ không phải là hai vật khác nhau. '''Tô Tụng nói:''' Quan sát các y văn cổ, Hồ Tráp trị thời khí đi tả dùng "Nữ uy hoàn"; trị thương hàn lạnh bụng kết tràng dùng Nữ uy; trị hư lao hạ lị trong rượu "Tiểu hoàng kỳ tửu" thêm Nữ uy. Xét các phương này, Nữ uy dường như thuộc loại ở Trung phẩm, vì tính ấm chủ trị hoắc loạn tiết lị. Lại như trị tặc phong tay chân tê dại, co quắp trong "Nhân dự tửu" dùng Nữ uy; sách Lục nghiệm trị thân thể lở loét, vết ban có "Nữ uy cao", loại này lại giống Nữ uy chữ đỏ ở Thượng phẩm, vì chủ trị trúng phong không cử động được và làm đẹp da. Lại trị thương hàn 7, 8 ngày không giải dùng "Tục mệnh Báp giáp thang"; trị chân yếu dùng "Báp giáp thang" đều dùng Uy duy; sách Diên niên phương trị phong nhiệt cứng đau cổ, xương thịt phiền nhiệt có "Uy duy ẩm"; chủ trị hư phong nhiệt phát là đầu nóng có "Uy duy hoàn", loại này lại giống Uy duy chữ đen ở Thượng phẩm, vì chủ trị hư nhiệt thấp độc đau lưng. Ba loại đã khác nhau như vậy thì rõ ràng không phải là một vật. Huống hồ Uy duy vị ngọt tính bình, Nữ uy vị cay tính ấm, sao có thể là một vật được? '''Lý Thời Trân nói:''' Nữ uy trong Bản kinh vốn là hai chữ Ủy uy trong Nhĩ Nhã, tức là Uy duy trong Biệt lục, do người xưa sao chép nhầm thành Nữ uy mà thôi. Các phương cổ trị thương hàn phong hư dùng Nữ uy chính là Uy duy, đều do kế thừa cái sai từ Bản thảo mà gọi theo. Các nhà không xét kỹ, vì ở Trung phẩm cũng có tên Nữ uy trùng lặp, nên mới dẫn đến việc tranh biện phí công như vậy. Nay đính chính sai lầm, chỉ dựa theo sách Biệt lục lấy Uy duy làm cương mục để tiện tra cứu. Còn vị Nữ uy trị tiết lị vốn là loại dây leo, xem ở mục riêng. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Uy duy sinh ở thung lũng và gò đồi núi Thái Sơn, hái sau tiết Lập xuân, phơi trong bóng râm cho khô. '''Ngô Phổ nói:''' Lá màu xanh vàng, mọc đối nhau như lá gừng, hái vào tháng Hai và tháng Bảy. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay đâu đâu cũng có. Rễ giống Hoàng tinh, khác biệt đôi chút. Các nhà tu tiên luyện thân cũng thường dùng. '''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Chử Châu, Thư Châu, Hán Trung, Quân Châu đều có. Thân cứng thẳng như cán tên trúc, có đốt. Lá hẹp và dài, mặt trên trắng mặt dưới xanh, cũng giống Hoàng tinh. Rễ vàng nhiều râu, to như ngón tay, dài một đến hai thước. Có thuyết nói ăn được. Tháng Ba nở hoa xanh, kết quả tròn. '''Lý Thời Trân nói:''' Trong núi đâu đâu cũng có. Rễ mọc ngang giống Hoàng tinh nhưng nhỏ hơn, màu vàng trắng, tính mềm nhiều râu, rất khó làm khô. Lá như lá trúc, mọc đối từng đôi. Có thể hái rễ về trồng, rất dễ sinh sôi. Lá non và rễ đều có thể luộc, rửa sạch để làm rau ăn. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Tu trị:''' '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng chớ nhầm với Hoàng tinh và Câu vẫn (lá ngón), hai vật này rất giống. Trên đốt Uy duy có râu lông, thân có đốm, đầu lá có điểm vàng nhỏ, ấy là điểm khác. Hái về dùng dao tre cạo sạch vỏ đốt, rửa sạch, ngâm nước mật một đêm, đồ xong phơi khô dùng. '''Khí vị:''' Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. '''Ngô Phổ dẫn Thần Nông:''' vị đắng; '''Đồng Quân, Lôi Công, Biển Thước:''' vị ngọt, không độc; '''Hoàng Đế:''' vị cay. '''Từ Chi Tài nói:''' Sợ (úy) chất mặn (lỗ kiềm). '''Chủ trị:''' * '''Nữ uy:''' Chủ trị trúng phong bộc nhiệt (nóng dữ dội), không thể cử động, gân xương đau nhức, các chứng hư tổn. Uống lâu trừ vết đen trên mặt, sắc mặt tươi nhuận, nhẹ mình không già (Bản kinh). * '''Uy duy:''' Chủ trị kết khí trong tâm phúc (bụng ngực), hư nhiệt thấp độc đau lưng, lạnh trong dương vật, mắt đau đỏ lở loét chảy nước mắt (Biệt lục). * Trị thời khí hàn nhiệt, bồi bổ bên trong chỗ thiếu hụt, trừ hư lao khách nhiệt. Đầu đau không yên, thêm vào dùng rất tốt (Chân Quyền). * Bổ trung ích khí (Tiêu Bính). * Trừ phiền muộn, cầm tiêu khát (khát nước), nhuận tâm phế, bổ ngũ lao thất thương hư tổn, đau nhức thắt lưng bàn chân. Trị nhiệt cuồng trong thiên hành (dịch bệnh), ăn uống không kỵ (Đại Minh). * Người uống các loại khoáng thạch mà cơ thể không điều hòa, sắc lấy nước mà uống (Đào Hoằng Cảnh). * Chủ trị phong ôn tự hãn (vã mồ hôi), nóng như thiêu, sốt rét do lao lực, tỳ vị hư yếu, nam giới tiểu tiện nhiều lần, di tinh, tất cả các chứng hư tổn (Thời Trân). ===【Phát minh】=== '''Lý Cảo nói:''' Uy duy có thể thăng có thể giáng, là phần Âm trong Dương. Công dụng có bốn: Chủ trị phong tà xâm nhập tứ chi, hai mắt lở loét chảy nước, nam giới thấp chú đau lưng, nữ giới mặt sinh vết đen. '''Lý Thời Trân nói:''' Uy duy tính bình vị ngọt, mềm nhuận có thể ăn được. Cho nên Chu Quặng trong sách Nam Dương hoạt nhân thư, trị phong ôn tự hãn, thân mình nặng nề, khó nói chuyện, đã dùng "Uy duy thang" lấy vị này làm quân dược. Tôi thường dùng trị hư lao hàn nhiệt, sốt rét lâu ngày và tất cả các chứng bất túc, dùng thay cho Nhân sâm, Hoàng kỳ, không hàn không táo, có công hiệu rất lớn, không chỉ dừng lại ở việc trừ phong nhiệt thấp độc mà thôi, đây là điều người xưa chưa làm rõ. '''Trần Tàng Khí nói:''' Trần Thọ trong Ngụy chí - Phàn A truyện chép: "Thanh niêm, một tên là Hoàng chi, một tên là Địa tiết". Đây chính là Uy duy, rất giống loại Thiên tinh. Ngoài công hiệu vốn có, nó chủ trị thông minh, điều hòa huyết khí, khiến người mạnh khỏe. Trộn với lá sơn (tất diệp) làm bột uống, giúp bổ ngũ tạng ích tinh, trừ tam trùng, nhẹ mình không già, tóc bạc hóa đen, nhuận da dẻ, ấm thắt lưng chân, duy chỉ có người đang sốt nóng thì không được uống. Đời Tấn có Kê Thiệu mắc chứng hàn tật trong ngực, mỗi khi sau khi uống rượu thường khổ sở vì khạc nhổ, uống vị này mà khỏi. Cỏ giống lá trúc, hái rễ hoa lá phơi khô dùng. Xưa Hoa Đà vào núi thấy tiên nhân uống vị này, bèn bảo Phàn A, A uống theo mà thọ trăm tuổi. '''Tô Tụng nói:''' Trần Tàng Khí cho rằng Thanh niêm chính là Uy duy. Thế gian không ai biết rõ, chưa dám tin là thật. '''Lý Thời Trân nói:''' Tô Tụng khi chú giải mục Hoàng tinh có nghi Thanh niêm là Hoàng tinh, khác với thuyết này. Nay khảo cứu thấy Hoàng tinh và Uy duy tính vị công dụng đại để gần giống nhau, nhưng công của Uy duy có phần vượt trội. Cho nên Thanh niêm, một tên là Hoàng chi (trùng tên với Hoàng tinh), một tên là Địa tiết (trùng tên với Uy duy), thì hai vật này dùng thay thế cho nhau cũng được. ===【Phụ phương】=== Cũ một, mới sáu. * '''Pháp uống thực:''' Tháng Hai, tháng Chín hái rễ Uy duy, thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch nước nấu từ sáng đến tối, dùng tay vò nát, lấy túi vải ép lấy nước cốt, nấu cho đặc lại. Bã phơi khô tán bột, trộn với cao nấu thành viên to như hạt súng. Mỗi lần uống một viên với nước ấm, ngày ba lần. Giúp thông khí mạch, mạnh gân cốt, trị trung phong thấp độc, trừ nếp nhăn da mặt, uống lâu kéo dài tuổi thọ. (Thần ẩn thư của Ninh Hiến Vương) * '''Mắt đỏ đau rát:''' Uy duy, Xích thược dược, Đương quy, Hoàng liên lượng bằng nhau. Sắc nước xông rửa. (Vệ sinh gia bảo phương) * '''Mắt hoa thấy đốm đen, đỏ đau mờ tối:''' "Cam lộ thang": Dùng Uy duy (sấy) 4 lạng. Mỗi lần dùng 2 tiền, một chén nước, thêm 2 lá Bạc hà, 1 lát Gừng sống, chút mật ong, sắc còn bảy phần, lúc đi ngủ uống ấm, ngày một lần. (Thánh tế tổng lục) * '''Tiểu tiện đột ngột bí dắt:''' Uy duy 1 lạng, rễ Chuối tây 4 lạng. Hai bát nước lớn sắc còn một bát rưỡi, thêm 2 tiền Hoạt thạch, chia làm ba lần uống. (Thánh huệ phương) * '''Phát sốt khô miệng, tiểu tiện khó:''' Dùng Uy duy 5 lạng, sắc lấy nước uống. (Ngoại đài bí yếu) * '''Nóng do uống khoáng thạch (nhũ thạch):''' Uy duy 3 lạng, Cam thảo (nướng) 2 lạng, Tê giác sống 1 lạng. Bốn thăng nước sắc còn một thăng rưỡi, chia ba lần uống. (Thánh huệ phương) * '''Phù thũng sau khi co giật:''' Trẻ em sau khi khỏi bệnh sài kinh, huyết khí thượng hư, nhiệt ở da, thân mình và mặt đều phù. Uy duy, Quỳ tử, Long đởm, Phục linh, Tiền hồ lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 tiền, sắc nước uống. (Thánh tế tổng lục) ===LỘC DƯỢC (鹿藥)=== (Trích từ sách "Khai Bảo") '''Mã Chí nói:''' Lộc dược vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị phong huyết, trừ các chứng lạnh, bồi bổ cho người già, tăng cường dương khí, ngâm rượu uống. Sinh ở phía Tây vùng Cô Tang, mầm và rễ đều giống Hoàng tinh, hươu rất thích ăn rễ nó. '''Lý Thời Trân nói:''' Cư sĩ Hồ Tráp nói: Hươu ăn chín loại cỏ giải độc, đây là một trong số đó. Có người nói đây chính là Uy duy, lý lẽ cũng gần đúng. Tạm phụ vào đây để chờ khảo cứu thêm. ===ỦY XÀ (委蛇)=== *(Phát âm là Uy Di) Sách Biệt lục chép: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị tiêu khát, thiếu khí, khiến người chịu được lạnh. Sinh trong vườn nhà người ta, cành lớn râu dài, nhiều lá mọc đối từng đôi, hạt như hạt cải. '''Lý Thời Trân nói:''' Vị này dường như cũng là Uy duy, đều chờ khảo cứu thêm. {{Chú thích cuối trang}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] fizrlagr5e7v4kootkz3geobqj9cctu 204534 204533 2026-04-03T10:58:18Z Mrfly911 2215 204534 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之一 | năm= 1596 | phần = Quyển 20 <center>'''Các loại cỏ mọc trên núi''' phần 1 (31 loại): Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất</center> | trước= [[../Kim thạch 5|Kim thạch 5]] | sau= [[../Thảo 2|Thảo 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==LỜI TỰA THẢO BỘ - LÝ THỜI TRÂN== '''Lý Thời Trân nói:''' Trời tạo Đất hóa mà cỏ cây sinh ra vậy. Cái Cương giao với cái Nhu mà thành rễ củ, cái Nhu giao với cái Cương mà thành cành thân. Lá và đài thuộc Dương, Hoa và Quả thuộc Âm. Do đó trong cỏ có tính mộc, trong mộc có tính thảo. Kẻ đắc được cái tinh túy của khí thì hiền lành (lương dược), kẻ đắc được cái bạo lệ của khí thì có độc (độc dược). Bởi vậy mà có: * '''Ngũ hình:''' Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. * '''Ngũ khí:''' Hương (thơm), Khứu (hôi), Tao (khét/tanh nồng), Tanh (tanh tao), San (mùi gây/mùi cừu). * '''Ngũ sắc:''' Xanh, Đỏ, Vàng, Trắng, Đen. * '''Ngũ vị:''' Toan (chua), Khổ (đắng), Cam (ngọt), Tân (cay), Hàm (mặn). * '''Ngũ tính:''' Hàn (lạnh), Nhiệt (nóng), Ôn (ấm), Lương (mát), Bình (trung tính). * '''Ngũ dụng:''' Thăng (đi lên), Giáng (đi xuống), Phù (nổi ra ngoài), Trầm (chìm vào trong), Trung (ở giữa). Viêm Đế Thần Nông đã nếm thử mà phân biệt, Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá thuật lại mà viết thành sách; các bậc hiền triết lương y đời Hán, Ngụy, Đường, Tống mỗi thời đại đều có thêm thắt, bổ sung. Tuy nhiên, dù "Ba phẩm" (Thượng, Trung, Hạ) vẫn còn đó, nhưng thật giả lẫn lộn như nước sông Tư sông Mễn, các điều mục trùng lặp, không phân rõ trắng đen như dòng sông Kinh sông Vị. Nếu không xét soi chỗ tinh vi, thẩm định điều thiện ác, thì dựa vào đâu mà cầm cân nảy mực "Bảy phương" (Thất phương), "Mười tễ" (Thập tễ) để phó thác chuyện sinh tử đây? Vì thế, tôi nay lược bỏ chỗ rườm rà, xóa đi phần trùng lặp, uốn nắn chỗ sai lầm, bổ sung phần còn thiếu, phân tích theo dòng họ, chia tách theo chủng loại, nêu cao cương lĩnh, phân rõ từng mục. Trừ phần Ngũ cốc và Rau (Thái) ra, phàm các loại thuộc Thảo có thể cung cấp cho y dược gồm '''611 loại''', chia làm 10 nhóm: # '''Sơn thảo''' (Cỏ mọc trên núi) # '''Phương thảo''' (Cỏ có mùi thơm) # '''Thấp thảo''' (Cỏ mọc nơi ẩm ướt) # '''Độc thảo''' (Cỏ có độc) # '''Man thảo''' (Cỏ dây leo) # '''Thủy thảo''' (Cỏ dưới nước) # '''Thạch thảo''' (Cỏ mọc trên đá) # '''Thai thảo''' (Các loại rêu) # '''Tạp thảo''' (Các loại cỏ khác) # '''Hữu danh vị dụng''' (Có tên nhưng chưa dùng đến) (Sách cũ chia Thảo bộ làm ba phẩm Thượng - Trung - Hạ, tổng cộng 447 loại. Nay gộp vào 31 loại, dời 23 loại sang bộ Rau, 3 loại sang bộ Ngũ cốc, 4 loại sang bộ Quả, 2 loại sang bộ Gỗ. Từ bộ Gỗ dời sang 14 loại, cỏ dây leo 29 loại, bộ Rau dời sang 13 loại, bộ Quả dời sang 4 loại. Nhóm Ngoại loại "Có tên nhưng chưa dùng" gồm 247 loại). ===CÁC NGUỒN TRÍCH DẪN VÀ SỐ LƯỢNG VỊ THUỐC=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh:''' 162 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú giải). * '''Danh Y Biệt Lục:''' 131 loại (Đào Hoằng Cảnh chú; trong đó 78 loại có tên nhưng chưa dùng). * '''Lý Thị Dược Lục:''' 1 loại (Ngụy - Lý Đương Chi). * '''Ngô Thị Bản Thảo:''' 1 loại (Ngụy - Ngô Phổ). * '''Đường Bản Thảo:''' 34 loại (Đường - Tô Cung). * '''Dược Tính Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Chân Quyền). * '''Bản Thảo Thập Di:''' 68 loại (Đường - Trần Tạng Khí). * '''Thực Liệu Bản Thảo:''' 2 loại (Đường - Mạnh Tiễn). * '''Hải Dược Bản Thảo:''' 6 loại (Đường - Lý Tuân). * '''Tứ Thanh Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Tiêu Bính). * '''Khai Bảo Bản Thảo:''' 37 loại (Tống - Mã Chí). * '''Gia Hựu Bản Thảo:''' 17 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích). * '''Đồ Kinh Bản Thảo:''' 54 loại (Tống - Tô Tụng). * '''Nhật Hoa Bản Thảo:''' 7 loại (Tống - Đại Minh). * '''Dụng Dược Pháp Tượng:''' 1 loại (Nguyên - Lý Cao). * '''Bản Thảo Bổ Di:''' 1 loại (Nguyên - Chu Chấn Hanh). * '''Bản Thảo Hội Biên:''' 1 loại (Minh - Uông Cơ). * '''Bản Thảo Cương Mục:''' 86 loại (Minh - Lý Thời Trân). ===PHẦN PHỤ CHÚ (CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC)=== * '''Lôi Hiệu (Tống):''' Bào Chế Luận * '''Từ Chi Tài (Bắc Tề):''' Dược Đối * '''Dương Tổn Chi (Đường):''' San Phiền * '''Tôn Tư Mạo (Đường):''' Thiên Kim * '''Hàn Bảo Thăng (Thục):''' Trọng Chú * '''Trần Sĩ Lương (Nam Đường):''' Thực Tánh * '''Khấu Tông Thức (Tống):''' Diễn Nghĩa * '''Đường Thận Vi (Tống):''' Chứng Loại * '''Trần Thừa (Tống):''' Biệt Thuyết * '''Trương Nguyên Tố (Kim):''' Trân Châu Nang * '''Vương Hiếu Cổ (Nguyên):''' Thang Dịch * '''Ngô Thụy (Nguyên):''' Nhật Dụng * '''Uông Dĩnh (Minh):''' Thực Vật * '''Vương Luân (Minh):''' Tập Yếu * '''Trần Gia Mô (Minh):''' Mông Thuyên * '''Định Vương (Chu Túc - Minh):''' Cứu Hoang * '''Ninh Nguyên (Minh):''' Thực Giám ==CAM THẢO (甘草)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Glycyrrhiza uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata Bat. hoặc Glycyrrhiza glabra L. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Mật cam (Biệt lục), Mật thảo (Biệt lục), Mỹ thảo (Biệt lục), Lộ thảo (Biệt lục), Linh thông (Ký sự châu), Quốc lão (Biệt lục). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị thảo này là bậc thầy của muôn thuốc, các phương thuốc kinh điển hiếm khi không dùng đến, giống như trong các loài hương liệu có Trầm hương vậy. "Quốc lão" là danh xưng của thầy dạy đế vương (Đế sư), tuy không phải là vua (Quân) nhưng được vua tôn kính, vì thế nó có khả năng an hòa các loại thảo mộc, đất đá và giải được mọi độc tố. * '''Chân Quyền nói:''' Trong các loại thuốc, Cam thảo đóng vai trò là "Quân", trị được 72 loại độc từ khoáng vật (nhũ thạch), giải được 1200 loại độc từ thảo mộc, có công điều hòa các vị thuốc nên được gọi là "Quốc lão". ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Cam thảo mọc ở các thung lũng sông vùng Hà Tây, núi Tích Sa và Thượng Quận. Thu hoạch rễ vào ngày Trừ (lịch âm) tháng 2 và tháng 8, phơi khô 10 ngày thì xong. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các vùng Hà Tây, Thượng Quận nay không còn thông thương. Nay thuốc chủ yếu đến từ các vùng thuộc Mân Sơn, Hán Trung vùng Thục. Loại vỏ đỏ, thớ thịt đứt đoạn, nhìn kiên thực là thảo vùng Bào Hạn (một địa danh vùng Tây Khương), đó là loại tốt nhất. Cũng có loại sấy khô bằng lửa, thớ thịt thường xốp rỗng. Có loại giống ruột cá chép, bị dao cắt hỏng thì không còn tốt. Vùng Thanh Châu cũng có nhưng không bằng. Lại có Tử Cam thảo (Cam thảo tím), nhỏ mà chắc, lúc thiếu có thể dùng tạm. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các quận huyện vùng Thiểm Tây, Hà Đông đều có. Mùa xuân mọc mầm xanh, cao 1-2 thước, lá giống lá Hòe. Tháng 7 nở hoa tím giống hoa Nại đông, kết quả thành vỏ như hạt đậu Tất. Rễ dài 3-4 thước, to nhỏ không đều, vỏ màu đỏ, trên có các đường vân ngang. Lúc hái bỏ đầu cuống (lư đầu) và lớp vỏ đỏ, phơi khô trong râm mà dùng. Nay Cam thảo có nhiều loại, loại nào chắc thịt, thớ đoạn là tốt. Loại nhẹ xốp, thớ dọc hoặc nhỏ dai thì không dùng được, chỉ dùng cho các nhà làm nước canh. ** Cẩn án: Sách Nhĩ Nhã gọi "Lẫm" là "Đại khổ". Quách Phác chú giải là giống Địa hoàng. Sách Thi Kinh có câu "Hái lăng hái lăng, trên đỉnh núi Thủ Dương" chính là nó. Chữ Lẫm (䖅) dùng thông với Lăng (苓). Núi Thủ Dương gần huyện Bồ Bản vùng Hà Đông, là nơi Cam thảo sinh trưởng, nhưng mô tả của các nhà nho xưa về lá mầm khác hẳn nay, há chẳng phải chủng loại khác nhau sao? * '''Lý Thời Trân nói:''' Xét theo Bút đàm của Thẩm Quát: Chú giải của Quách Phác về "Lẫm - Đại khổ" trong Nhĩ Nhã là Cam thảo là sai. Chú giải của Quách Phác thực chất là Hoàng dược (Dioscorea bulbifera), vị cực đắng nên gọi là Đại khổ, không phải Cam thảo. Cam thảo cành lá đều như lá Hòe, cao 5-6 thước, đầu lá hơi nhọn và nhám, như có lông trắng, quả giống quả Tương tư, chín thì vỏ nứt, hạt dẹt như đậu nhỏ, cực cứng, răng cắn không vỡ. Sách Diễn nghĩa của Khấu Thị cũng theo thuyết này. Theo lý mà xét, mô tả của Quách Phác không tương đồng, thuyết của Thẩm Quát gần thực tế hơn. Người nay chỉ chuộng loại đường kính 1 tấc, thịt chắc thớ đứt vân ngang, gọi là '''Phấn thảo'''; loại nhẹ xốp nhỏ bé đều không bằng. ===RỄ - TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Lôi Hiệu nói:''' Khi dùng phải bỏ đầu và đuôi nhọn, vì đầu đuôi gây nôn cho người. Mỗi lần cắt dài 3 tấc, chẻ làm 6-7 mảnh, cho vào bình sứ, dùng rượu tẩm rồi chưng từ giờ Tỵ đến giờ Ngọ, lấy ra phơi khô, thái nhỏ mà dùng. Cách khác: Mỗi cân dùng 7 lạng bơ (tô) phết lên rồi nướng (chích) cho đến khi bơ thấm hết. Cách khác: Đem nướng (bào) cho trong ngoài đỏ vàng thì dùng. * '''Thời Trân nói:''' Các sách phương tễ thường dùng nước chảy (trường lưu thủy) tẩm ướt Cam thảo rồi nướng chín, cạo bỏ vỏ đỏ; hoặc dùng nước gạo (tương thủy) chích chín, chưa thấy ai dùng bơ hay rượu để chưng. Đại để: '''Bổ trung thì nên nướng (chích); Tả hỏa thì nên dùng sống.''' ===KHÍ VỊ=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. * '''Khấu Tông Thức nói:''' Dùng sống thì hơi mát (vi lương), vị không ngon; nướng (chích) thì ấm (ôn). * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Khí mỏng vị dày, thăng mà phù, thuộc Dương. Vào kinh Túc Thái âm (Tỳ) và Túc Quyết âm (Can). * '''Thời Trân nói:''' Thông suốt vào 12 kinh thủ túc. * '''Từ Chi Tài nói:''' Lấy Truật, Khổ sâm, Can tất làm sứ. Ghét Viễn chí. Phản Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo. * '''Thời Trân nói:''' Cam thảo phản bốn vị Tảo, Kích, Toại, Nguyên, nhưng Hồ Tiếp Cư Sĩ trị đàm ẩm lại dùng Thập táo thang gia thêm Cam thảo và Đại hoàng, ấy là muốn đàm ở cách thượng thông tiết đi, nhổ tận gốc bệnh vậy. Lý Đông Viên trị kết hạch dưới cổ, tiêu sưng tán kết dùng Hải tảo gia thêm Cam thảo. Chu Đan Khê trị lao quặng dùng Liên tâm ẩm có Nguyên hoa và Cam thảo. Cả hai phương đều theo ý của Hồ cư sĩ. Vì thế Đào Hoằng Cảnh nói cổ phương cũng có loại tương ác tương phản cùng dùng mà không hại, nếu không đạt đến mức tinh vi thì không hiểu được lý này. ===CHỦ TRỊ=== Trị hàn nhiệt ở ngũ tạng lục phủ, tà khí, làm chắc gân xương, dài cơ nhục, tăng khí lực, trị kim sang (vết thương do kim loại), ung thũng, giải độc. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ (Bản kinh). Ôn trung, hạ khí, trị phiền mãn, ngắn hơi, tổn thương nội tạng, ho, chỉ khát, thông kinh mạch, lợi huyết khí, giải độc muôn loài thuốc. Là tinh hoa của đất (cửu thổ chi tinh), an hòa 72 loại khoáng vật và 1200 loại thảo mộc (Biệt lục). Trị đau bụng lạnh, trị kinh giản, trừ chướng mãn, bổ ích ngũ tạng, dưỡng thận khí, nội thương, làm cho nam giới không bị liệt dương, trị phụ nữ huyết lích (ra máu dai dẳng), đau lưng. Người hư mà nhiều nhiệt thì nên gia dùng vị này (Chân Quyền). An hồn định phách, bổ ngũ lao thất thương, mọi chứng hư tổn, kinh quý (hồi hộp), phiền muộn, hay quên, thông chín khiếu, lợi trăm mạch, ích tinh dưỡng khí (Đại Minh). Dùng sống thì tả hỏa nhiệt, dùng chín (nướng) thì tán biểu hàn, trị đau họng, trừ tà nhiệt, hoãn chính khí, dưỡng âm huyết, bổ tỳ vị, nhuận phế (Lý Cao). Trị mủ máu trong chứng phế nuy, tiêu các loại sang thư ác tính (Vương Hiếu Cổ). Giải thai độc, kinh giản ở trẻ nhỏ, giáng hỏa, chỉ thống (Thời Trân). ===CÁC PHẦN KHÁC CỦA CÂY=== ====Cam thảo sảo (Ngọn rễ - 甘草稍)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống trị tích nhiệt trong ngực, trị đau trong niệu đạo (vùng sinh dục), gia thêm rượu nấu với Huyền hồ sách, Khổ luyện tử thì càng hiệu quả (Lý Nguyên Tố). ====Cam thảo đầu (Đầu rễ - 甘草頭)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống có thể hành huyết ứ ô trọc ở hai kinh Túc Quyết âm và Dương minh, tiêu sưng dẫn độc (Chu Đan Khê). Chủ trị ung thũng, nên cho vào thuốc gây nôn (Lý Thời Trân). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Chu Đan Khê nói:''' Cam thảo vị ngọt, làm hoãn các loại hỏa (nhiệt), tính trung chính thông lý, là bậc quân tử có đức dày chở che muôn vật. Muốn thuốc đạt đến hạ tiêu (vùng dưới) thì phải dùng phần ngọn (Sảo). * '''Lý Cao nói:''' Cam thảo khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Dương không đủ thì bổ bằng vị ngọt (cam). Vị ngọt ấm có thể trừ đại nhiệt, nên dùng sống thì khí bình, bổ tỳ vị bất túc mà tả tâm hỏa mạnh; nướng thì khí ấm, bổ nguyên khí của Tam tiêu mà tán biểu hàn, trừ tà nhiệt, trị đau họng, dưỡng âm huyết. Phàm tâm hỏa khắc tỳ, bụng đau thắt, da bụng co rúm, nên dùng tăng liều Cam thảo. Tính nó có thể "hoãn cấp" (làm dịu sự cấp bách), điều hòa các vị thuốc không để chúng tranh chấp nhau. Thuốc nóng gặp nó thì bớt nóng; thuốc lạnh gặp nó thì bớt lạnh; thuốc hàn nhiệt lẫn lộn gặp nó thì đạt được sự thăng bằng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cam thảo ngoài đỏ trong vàng, màu sắc kiêm cả Khôn (Thổ) và Ly (Hỏa); vị dày khí mỏng, hội tụ đủ đức của đất. Điều hòa quần phẩm, có công lao của bậc nguyên lão; trị mọi tà ma, có hóa thân của vương đạo. Giúp sức cho đế vương mà người không biết, thu gom thần công mà mình không màng, thật xứng là vị "Lương tướng" trong các loài thuốc vậy. Tuy nhiên, người bị trướng bụng (trung mãn), nôn mửa, người nghiện rượu không thích vị ngọt của nó. ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Thương hàn tâm quý (tim đập nhanh, mạch kết đại):''' Cam thảo 2 lạng, nước 3 lít sắc còn một nửa, uống 7 hợp, ngày 1 lần. * '''Đau họng do thương hàn:''' Cam thảo 2 lạng (chích mật), nước 2 lít sắc còn 1,5 lít, uống 5 hợp, ngày 2 lần (Trương Trọng Cảnh). * '''Phế nhiệt đau họng có đàm:''' Cam thảo (sao) 2 lạng, Cát cánh 1 lạng. Mỗi lần dùng 5 tiền, nước 1,5 bát, thêm nửa miếng A giao sắc uống. * '''Trẻ sơ sinh giải độc:''' Lấy một đoạn Cam thảo dài bằng đốt ngón tay, nướng nát, sắc lấy nước cho trẻ nhấm nháp để nôn ra dịch bẩn trong ngực. Giúp trẻ thông minh, ít bệnh, đậu mọc thưa. * '''Mụn nhọt (phát bối ung thư):''' Cam thảo sống giã bột 3 lạng, bột lúa mạch 9 lạng trộn đều, thêm chút bơ (tô), nhào với nước sôi thành dạng bánh, đắp lên chỗ sưng. * '''Giải độc thuốc, độc rượu:''' Sắc đậm Cam thảo uống. Đặc biệt hiệu quả khi trúng độc Ô đầu, Ba đậu. * '''Trị bỏng lửa, nước sôi:''' Cam thảo nấu với mật ong rồi bôi lên vết thương. * '''Trị trẻ em đái dầm:''' Dùng đầu Cam thảo (Cam thảo đầu) sắc nước uống hàng đêm. ==HOÀNG KỲ (黃耆)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Astragalus membranaceus (Fisch.) Bunge hoặc Astragalus membranaceus var. mongholicus (Bunge) Hsiao. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Hoàng kỳ (Cương mục), Đái sâm (Bản kinh), Đái thậm (Biệt lục, còn gọi là Độc thậm), Kỵ thảo (Biệt lục, còn gọi là Thục chỉ), Bách bản (Biệt lục), Vương tôn (Dược tính luận). * '''Thời Trân nói:''' "Kỳ" (耆) nghĩa là bậc trưởng thượng. Hoàng kỳ sắc vàng, đứng đầu (trưởng) trong các vị thuốc bồi bổ, nên có tên như vậy. Nay dân gian thường viết thông dụng là Hoàng kỳ (黃芪). Còn viết là "Thị" (蓍) như trong cỏ thị bói toán là sai âm. Vương tôn ở đây cùng tên nhưng khác vật với cây Mẫu mông. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Hoàng kỳ mọc ở thung lũng núi các quận Thục, Bạch Thủy, Hán Trung. Thu hái vào tháng 2 và tháng 10, phơi khô trong râm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại tốt nhất ra từ Thao Dương vùng Lũng Tây, sắc vàng trắng, vị ngọt thanh, nay rất khó kiếm. Thứ đến là loại ở Đương Thương thuộc Hắc Thủy, sắc trắng, thớ thịt thô, loại tươi có vị ngọt và tính ôn bổ. Lại có loại ở Bạch Thủy vùng Tàm Lăng, màu sắc và thớ thịt tốt hơn ở đất Thục nhưng tính lãnh bổ. Lại có loại sắc đỏ, có thể nấu cao dán mụn nhọt. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu quận ở Hà Đông, Thiểm Tây đều có. Rễ dài khoảng 2-3 thước. Thân đơn hoặc mọc thành bụi. Lá mọc thưa như hình răng cừu, giống lá Tật lê. Tháng 7 nở hoa màu vàng tím. Quả dạng vỏ đậu dài khoảng 1 tấc. Tháng 8 đào rễ dùng. Lớp vỏ khi bẻ ra có xơ như bông, nên gọi là '''Miên Hoàng kỳ'''. * '''Thời Trân nói:''' Lá Hoàng kỳ giống lá Hòe nhưng hơi nhọn nhỏ, lại giống lá Tật lê nhưng hơi rộng to, màu xanh trắng. Hoa vàng tím to như hoa Hòe. Quả nhỏ nhọn dài tấc dư. Rễ dài 2-3 thước, loại chắc chắn như cán tên là tốt nhất. Mầm non cũng có thể trụng chín làm rau ăn. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Thời Trân nói:''' Người nay thường đập dẹp rễ, tẩm nước mật rồi nướng (chích) nhiều lần cho đến khi chín hoàn toàn. Cũng có cách dùng nước muối thấm thấu, cho vào bình đặt trong nồi nước sôi chưng chín rồi thái lát dùng. ===RỄ (根)=== ====KHÍ VỊ==== Vị ngọt (cam), tính hơi ấm (vi ôn), không độc (Bản kinh). Loại ở Bạch Thủy tính mát (lãnh), có tác dụng bổ (Biệt lục). * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Vào phần khí của hai kinh Thủ, Túc Thái âm (Phế, Tỳ), đồng thời vào kinh Thủ Thiếu dương (Tam tiêu) và Túc Thiếu âm Mệnh môn (Thận). ====CHỦ TRỊ==== Trị các vết thương do ung thư lâu ngày không lành, bài nùng (trừ mủ), chỉ thống (giảm đau), trị bệnh phong hủi, ngũ trĩ, chuột rút (thử lậu), bồi bổ hư tổn, trị bách bệnh ở trẻ nhỏ (Bản kinh). Trị phong tà trong tử cung phụ nữ, trục huyết xấu trong ngũ tạng, bổ hư tổn ở nam giới, ngũ lao gầy yếu, chỉ khát (hết khát), đau bụng tiết lỵ, ích khí, lợi âm khí (Biệt lục). Trị hen suyễn do hư, thận suy tai ù, trị hàn nhiệt, trị phát bối (nhọt lưng) (Chân Quyền). Giúp khí tráng gân xương, sinh cơ (mọc thịt), bổ huyết, phá trưng hà (u cục), trị lao hạch (lỏa lịch), trĩ ra máu, băng huyết, đới hạ, lỵ đỏ trắng, các bệnh trước và sau khi sinh, kinh nguyệt không đều, ho có đàm, phong nhiệt vùng đầu, mắt đỏ độc (Nhật Hoa). Trị lao hư tự hãn (mồ hôi tự ra), bổ phế khí, tả phế hỏa và tâm hỏa, làm bền lông da (thực bì mao), ích vị khí, trừ cơ nhiệt và các cơn đau trong các kinh (Lý Nguyên Tố). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Hoàng kỳ cam ôn thuần Dương, có 5 công dụng chính: ** Bổ mọi chứng hư tổn bất túc. ** Ích nguyên khí. ** Làm mạnh tỳ vị. ** Trừ cơ nhiệt (nóng trong cơ bắp). ** Bài nùng chỉ thống, hoạt huyết sinh huyết, làm chỗ dựa bên trong để đẩy mụn nhọt ra (nội thác âm thư), là vị thuốc thánh của nhà ngoại khoa trị mụn nhọt. * '''Lý Đông Viên nói:''' Hoàng kỳ cùng với Nhân sâm và Cam thảo là ba vị thuốc thánh để trừ táo nhiệt và cơ nhiệt. Khi tỳ vị hư, phế khí tuyệt trước tiên, nhất định phải dùng Hoàng kỳ để làm ấm phần nhục, ích bì mao, làm kín lỗ chân lông (thực tấu lý) không cho mồ hôi ra quá mức, từ đó ích nguyên khí và bổ tam tiêu. * '''Chu Đan Khê nói:''' Hoàng kỳ bổ nguyên khí, người béo trắng mà nhiều mồ hôi dùng thì rất hợp; nếu người mặt đen, hình thể rắn rỏi và gầy mà dùng thì sẽ gây đầy ngực (hung mãn). ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Tiểu tiện không thông:''' Miên Hoàng kỳ 2 tiền, nước 2 bát sắc còn 1 bát uống ấm. Trẻ em dùng nửa liều. * '''Tửu đản (vàng da do rượu):''' Đau vùng tâm vị, chân sưng, tiểu vàng. Hoàng kỳ 2 lạng, Mộc lan 1 lạng, tán bột. Uống với rượu. * '''Khí hư bạch trọc:''' Hoàng kỳ (sao muối) nửa lạng, Phục linh 1 lạng. Tán bột, mỗi lần uống 1 tiền với nước ấm. * '''Hoàng kỳ Lục Nhất thang (Trị khát bổ hư, phòng mụn nhọt):''' Miên Hoàng kỳ 6 lạng (một nửa dùng sống, một nửa tẩm nước muối chưng cơm 3 lần rồi sấy), Phấn Cam thảo 1 lạng (nửa sống nửa chích). Tán bột uống 2 tiền mỗi lần. * '''Người già bí tiện:''' Hoàng kỳ, Trần bì mỗi thứ nửa lạng. Tán bột. Dùng hạt mè (đay) nghiền nát lọc lấy nước nấu sôi, thêm mật ong uống cùng bột thuốc lúc đói. Hiệu quả như thần. * '''Đi ngoài ra máu (Tràng phong tả huyết):''' Hoàng kỳ, Hoàng liên lượng bằng nhau. Tán bột, làm viên với hồ bằng hạt lục đậu. Mỗi lần 30 viên. * '''Tiểu ra máu, đau buốt (Sa lâm):''' Hoàng kỳ, Nhân sâm lượng bằng nhau. Tán bột. Lấy củ cải cắt lát tẩm mật nướng chín, chấm bột thuốc mà ăn, chiêu với nước muối. * '''Ho khạc mủ máu, cổ họng khô:''' Hoàng kỳ 4 lạng, Cam thảo 1 lạng. Tán bột, pha nước uống mỗi lần 2 tiền. * '''Phù thũng do phế ung:''' Hoàng kỳ 2 lạng tán bột. Uống 2 tiền mỗi lần, ngày 3-4 lần. * '''Thai động bất an (đau bụng ra nước vàng):''' Hoàng kỳ, Xuyên khung mỗi vị 1 lạng, gạo nếp 1 hợp. Sắc uống. ===CÀNH VÀ LÁ (莖葉)=== * '''Chủ trị:''' Trị khát và gân co quắp, ung thũng thư sang (Biệt lục). ==NHÂN SÂM (人參)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Panax ginseng C.A. Mey. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên gọi khác:''' Nhân sâm (人薓 - âm Sâm, hoặc viết giản lược là 蓡), Hoàng sâm (Ngô Phổ bản thảo), Huyết sâm (Biệt lục), Nhân hàm (Bản kinh), Quỷ cái (Bản kinh), Thần thảo (Biệt lục), Thổ tinh (Biệt lục), Địa tinh (Quảng nhã), Hải du, Chú diện hoàn đan (Quảng nhã). * '''Lý Thời Trân nói:''' Nhân sâm sống lâu năm, thấm nhuần khí tiết mà dần dần trưởng thành, rễ giống hình người, có linh tính (thần), nên gọi là Nhân sâm, Thần thảo. Chữ "Sâm" (薓) có bộ "Tẩm" (𣹰), cũng mang nghĩa là thấm dần. Về sau vì chữ viết rườm rà, người ta dùng chữ "Sâm" (參) trong sao Sâm để thay thế cho giản tiện. Tuy nhiên, sự nhầm lẫn này đã lâu ngày nên không thể đổi lại được, duy chỉ có Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận là còn dùng chữ "薓". Sách Biệt lục gọi là "Nhân vi" (人微), chữ "Vi" là do chữ "Sâm" viết nhầm mà thành. Sự sinh trưởng của nó có từng giai đoạn (như cấp bậc), nên gọi là Nhân hàm. Loại cỏ này lưng hướng về phía dương, mặt hướng về phía âm, nên gọi là Quỷ cái. Trong ngũ sâm, nó sắc vàng thuộc Thổ, bổ Tỳ Vị, sinh âm huyết nên có tên Hoàng sâm, Huyết sâm. Đắc được tinh hoa linh diệu của đất, nên có tên Thổ tinh, Địa tinh. * Sách Quảng ngũ hành ký chép: Thời Tùy Văn Đế, tại Thượng Đảng có người sau nhà mỗi đêm nghe tiếng người gọi, tìm mãi không thấy. Cách nhà chừng một dặm, thấy cây nhân sâm cành lá khác thường, đào sâu xuống đất năm thước, được củ nhân sâm giống hệt cơ thể người, tứ chi đầy đủ, tiếng gọi từ đó cũng dứt. Xem đây thì cái tên "Thổ tinh" càng có bằng chứng. Sách Lễ đẩu uy nghi nói: Dưới có nhân sâm, trên có khí tím. Sách Xuân thu vận đẩu khu nói: Sao Dao Quang tán ra hóa thành nhân sâm. Bậc quân vương nếu bỏ rơi cái lợi của núi sông thì sao Dao Quang không sáng, nhân sâm không mọc. Qua đó, tên gọi "Thần thảo" lại càng được minh chứng. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Nhân sâm mọc ở thung lũng núi Thượng Đảng và Liêu Đông. Thu hái rễ vào thượng tuần tháng 2, 4, 8. Dùng dao tre cạo sạch, phơi khô, không để tiếp xúc với gió. Rễ giống hình người là có linh tính (thần). * '''Ngô Phổ nói:''' Có loại mọc ở Hàm Đan. Tháng 3 ra lá nhỏ và nhọn, cành màu đen, thân có lông. Tháng 3 và tháng 9 hái rễ. Rễ có tay chân, mặt mũi giống người là loại linh diệu. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Thượng Đảng ở phía tây nam Ký Châu. Nay loại sâm đưa đến hình dài và vàng, trạng như Phòng phong, thịt nhuận chắc và vị ngọt. Dân gian lại quý loại của nước Bách Tế, hình nhỏ mà chắc trắng, khí vị nhạt hơn sâm Thượng Đảng. Thứ đến dùng loại của Cao Ly, đất này gần Liêu Đông, hình sâm lớn mà xốp mềm, không bằng sâm Bách Tế và sâm Thượng Đảng. Cây có một thân mọc thẳng, 4-5 lá mọc đối, hoa màu tím. Người Cao Ly có bài Nhân sâm tán rằng: "Ba chạc năm lá, lưng dương hướng âm. Muốn đến tìm ta, cây giả (cây mận rừng) tìm nhau". * '''Tô Cung nói:''' Nhân sâm nay dùng đa số là loại của Cao Ly, Bách Tế. Loại mọc ở núi Tử Đoàn vùng Thái Hành, Lộ Châu gọi là Tử Đoàn sâm. * '''Tân La chép:''' Sâm sản sinh ở nước Tân La có tay chân, hình dáng như người, dài hơn thước, dùng gỗ sam kẹp định hình, dùng chỉ đỏ quấn trang trí. Sâm Sa Châu thì ngắn nhỏ, không dùng được. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu vùng Hà Đông và núi Thái Sơn đều có. Có loại từ vùng biên mậu (khuế trường) phía bắc và từ Mân Trung đưa đến, gọi là Tân La nhân sâm, thảy đều không tốt bằng sâm Thượng Đảng. Mùa xuân mọc mầm, đa phần ở núi sâu bóng râm, nơi ẩm ướt gần gốc sơn, cây sơn. Lúc mới mọc nhỏ chừng 3-4 tấc, một chạc 5 lá. Sau 4-5 năm sinh 2 chạc 5 lá, chưa có cuống hoa. Đến sau 10 năm thì sinh 3 chạc; lâu năm nữa sinh 4 chạc, mỗi chạc 5 lá. Giữa mọc một thân, dân gian gọi là "Bách xích chử".<ref>'''Bách xích chử (百尺杵):''' Cái chày trăm thước (mô tả cuống hoa mọc thẳng).</ref> Tháng 3-4 nở hoa nhỏ như hạt kê, nhị như sợi tơ, màu trắng tím. Sau mùa thu kết quả, chừng 7-8 hạt như hạt đậu, lúc xanh lúc đỏ, tự rụng. Rễ giống hình người là linh diệu. Loại ở Thái Sơn lá xanh khô, rễ trắng, rất khác biệt. ** Thử sâm: Tương truyền muốn thử sâm Thượng Đảng, cho hai người cùng chạy, một người ngậm nhân sâm, một người để miệng không. Chạy chừng 3-5 dặm, người không ngậm sâm ắt thở hồng hộc, người ngậm sâm hơi thở tự nhiên, đó mới là sâm thật. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thượng Đảng nay là Lộ Châu. Dân coi nhân sâm là mối họa cho địa phương (do phu phen, cống nạp) nên không còn hái nữa. Nay dùng thảy đều là sâm Liêu (Liêu Đông). Ba nước Cao Ly, Bách Tế, Tân La nay đều thuộc Triều Tiên. Sâm của họ vẫn đem sang Trung Quốc giao thương. Cũng có thể thu hạt, gieo vào tháng 10 như cách trồng rau. ** Phân biệt: Sâm hái mùa thu đông thì kiên thực; hái mùa xuân hè thì hư nhuyễn (xốp mềm), đó là do thời điểm chứ không phải do đất đai. Sâm Liêu loại còn da thì vàng nhuận như Phòng phong; loại bỏ da thì trắng chắc như bột. Kẻ làm giả thường dùng rễ Sa sâm (Adenophora), Tề ni (Adenophora remota), Cát cánh (Platycodon grandiflorus) để đánh tráo. Sa sâm thể xốp không lõi vị nhạt; Tề ni thể xốp không lõi; Cát cánh thể chắc có lõi nhưng vị đắng. Nhân sâm thể chắc có lõi, vị ngọt hơi đắng, có dư vị riêng, dân gian gọi là "Kim tỉnh ngọc lan".<ref>'''Kim tỉnh ngọc lan (金井玉闌):''' Giếng vàng lan can ngọc (mô tả lát cắt có vòng vàng bên ngoài, tâm trắng bên trong).</ref> Loại giống hình người gọi là "Hài nhi sâm" đa phần là đồ giả. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nhân sâm dễ bị mọt, chỉ cần cho vào bình mới đậy kín, có thể để cả năm không hỏng. * '''Lý Ngôn Văn nói:''' Nhân sâm khi sống hướng về bóng râm nên không thích gặp gió và nắng. Hễ dùng sống thì nên thái lát (tu quệ);<ref>'''Tu quệ (咀):''' Cách thái dược liệu thành miếng nhỏ để sắc.</ref> dùng chín thì nên bọc giấy nướng cho ấm, hoặc dùng rượu ngon thấm thấu rồi thái lát nướng chín. '''Cấm dùng đồ sắt'''. ===RỄ (根)=== ====【Khí vị】==== Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. * '''Biệt lục viết:''' Hơi ấm (vi ôn). * '''Ngô Phổ dẫn lời Thần Nông:''' Tính hơi lạnh (tiểu hàn); '''Đồng Quân, Lôi Công:''' Vị đắng; '''Hoàng Đế, Kỳ Bá:''' Vị ngọt, không độc. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Tính ấm, vị ngọt, hơi đắng. Khí và vị đều mỏng, tính nổi và đi lên, là Dương trung chi Dương. Lại nói: Trong Dương có chút Âm. * '''Từ Chi Tài viết:''' Lấy Phục linh, Mã lận làm sứ. Ghét Sưu sơ, Lỗ kiềm. Phản Lê lô. Có thuyết nói: Sợ Ngũ linh chi, ghét Tạo giáp, Hắc đậu, làm động Tử thạch anh. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Nhân sâm được Thăng ma dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Thượng tiêu, tả hỏa trong Phế; được Phục linh dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Hạ tiêu, tả hỏa trong Thận. Được Mạch môn đông thì làm cho mạch sống lại (sinh mạch); được Can khương thì bổ khí. * '''Lý Đông Viên viết:''' Được Hoàng kỳ, Cam thảo thì vị ngọt tính ấm giúp trừ đại nhiệt, tả âm hỏa, bổ nguyên khí, lại là vị thuốc thánh của nhà trị mụn nhọt (sang gia). * '''Chu Đan Khê viết:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế). Phản với Lê lô, nếu uống một lạng sâm mà lẫn một tiền Lê lô thì công năng mất hết. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Lý Đông Viên dùng trị Tỳ Vị, tả âm hỏa; trong bài Giao thái hoàn dùng Nhân sâm với Tạo giáp là "ghét mà không ghét" (ác nhi bất ác). Phương thuốc cổ trị bế kinh dùng Tứ vật thang thêm Nhân sâm, Ngũ linh chi là "sợ mà không sợ". Lại trị đàm ở hung cách (ngực hoành), dùng Nhân sâm cùng Lê lô để gây nôn (dũng việt) là kích thích tính nộ (giận dữ) của thuốc. Đây đều là những điều tinh vi diệu ảo, người không đạt được mức độ quyền biến thì không thể biết. ====【Chủ trị】==== Bổ ngũ tạng, an tinh thần, định hồn phách, dừng kinh quý (hồi hộp lo sợ), trừ tà khí, sáng mắt, khai tâm, ích trí. Dùng lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ ('''Bản kinh'''). Trị tràng vị lạnh, bụng đau chướng, ngực sườn đầy tức, hoắc loạn thổ nghịch, điều hòa trung tiêu, dừng tiêu khát, thông huyết mạch, phá kiên tích (khối u tích tụ), giúp người ta không quên ('''Biệt lục'''). Chủ ngũ lao thất thương, hư tổn gầy yếu, dừng nôn mửa, bổ ngũ tạng lục phủ, bảo vệ trung tiêu, giữ gìn thần khí. Tiêu đàm trong ngực, trị phổi héo (phế nuy) và chứng kinh giản, khí lạnh ngược lên, thương hàn không ăn được, phàm người hư nhược mà ngủ mơ màng rối loạn thì thêm vào ('''Chân Quyền'''). Dừng phiền táo, biến đổi nước chua ('''Lý Tuần'''). Tiêu thực khai vị, điều trung trị khí, giết các chất độc từ thuốc kim thạch ('''Đại Minh'''). Trị dương khí ở Phế Vị không đủ, Phế khí hư súc (ngắn gấp), đoản khí thiếu khí, bổ trung hoãn trung, tả hỏa tà trong Tâm, Phế, Tỳ, Vị, dừng khát sinh tân dịch ('''Nguyên Tố'''). Trị tất cả các chứng hư của nam và nữ, phát nhiệt tự hãn (mồ hôi tự ra), váng đầu nhức đầu, phản vị (nôn thức ăn ra), sốt rét cách nhật (ngược tật), hoạt tiết lỵ lâu ngày, tiểu tiện nhiều lần hoặc nhỏ giọt (lâm ly), lao quyện nội thương, trúng phong trúng thử, tê bại (vê tý), thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, tiểu ra máu, băng huyết, các bệnh trước và sau khi sinh ('''Thời Trân'''). ====【Phát minh】==== * '''Đào Hoằng Cảnh viết:''' Nhân sâm là vị thuốc thiết yếu, công năng cùng với Cam thảo tương tự nhau. * '''Lý Đông Viên viết:''' Nhân sâm vị ngọt tính ấm, có thể bổ nguyên khí trong Phế, Phế khí vượng thì khí của bốn tạng kia đều vượng, tinh tự sinh mà hình vóc tự thịnh, ấy là vì Phế chủ các loại khí vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người bệnh sau khi ra mồ hôi mà mình nóng, mất máu, mạch trầm trì; hoặc hạ lỵ mà mình mát, mạch vi, huyết hư, đều phải thêm Nhân sâm. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Nhân sâm dùng sống thì khí mát (lương), dùng chín thì khí ấm (ôn); vị ngọt bổ Dương, hơi đắng bổ Âm. Khí chủ việc sinh ra muôn vật (thuộc Trời), vị chủ việc thành hình muôn vật (thuộc Đất). Khí vị tạo thành là cái đạo tạo hóa của Âm Dương vậy. ====【Chính ngộ (Sửa chữa sai lầm)】==== '''Lôi Hiệu nói:''' Mùa hè ít dùng Nhân sâm, phát sinh cái họa Tâm hạ kết (tích khí dưới tim). '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhân sâm ngọt ấm, bổ Dương của Phế, tiết Âm của Phế. Phế chịu hàn tà, nên dùng thứ này để bổ; Phế chịu hỏa tà, thì ngược lại làm thương Phế, nên lấy Sa sâm (Adenophora) thay thế. '''Vương Luân nói:''' Phàm tửu sắc quá độ, tổn thương chân âm của Phế và Thận, âm hư hỏa động, các chứng lao sấu thổ huyết, khái huyết, chớ dùng vị này. Bởi Nhân sâm vào kinh Thủ thái âm năng bổ hỏa, cho nên Phế chịu hỏa tà thì kiêng kỵ. Nếu lỡ uống các tễ cam ôn như Sâm, Kỳ, thì bệnh ngày càng tăng; uống quá nhiều thì chết không thể trị. Bởi lẽ cam ôn trợ khí, khí thuộc Dương, Dương vượng thì Âm càng tiêu; chỉ nghi dùng các thuốc đắng ngọt lạnh (khổ cam hàn) để sinh huyết giáng hỏa. Người đời không biết, thường thường uống Sâm, Kỳ để làm thuốc bổ, mà người chết nhiều vậy. '''Lý Ngôn Văn nói:''' Tôn Chân Nhân nói: Mùa hè uống Sinh mạch tán, Thận lịch thang ba liều thì bách bệnh không sinh. Lý Đông Viên cũng nói Sinh mạch tán, Thanh thử ích khí thang là thánh dược tả hỏa ích Kim trong kỳ Tam phục, mà Lôi Hiệu ngược lại nói phát sinh cái họa Tâm hạ kết là sai vậy. "Kết" (積) là khí tích ở cạnh rốn, không phải bệnh ở Tâm. Nhân sâm năng dưỡng chính khí phá kiên tích, há có lý phát sinh chứng kết khí? Xem Trương Trọng Cảnh trị bụng có hàn khí xông lên, có đầu có chân (u cục), trên dưới đau không thể chạm gần, nôn không thể ăn, dùng "Đại kiến trung thang" thì có thể biết vậy. Lại nữa, Vương Hiếu Cổ nói Nhân sâm bổ Dương tiết Âm, Phế hàn nghi dùng, Phế nhiệt không nghi dùng. Vương Luân (Tiết Trai) nhân đó mà họa theo, nói Sâm, Kỳ năng bổ Phế hỏa, các bệnh âm hư hỏa động thất huyết, uống nhiều tất chết. Thuyết của hai nhà này đều phiến diện vậy. Phàm Nhân sâm năng bổ nguyên dương, sinh âm huyết, mà tả âm hỏa, thuyết của Lý Đông Viên đã sáng tỏ vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người vong huyết, huyết hư đều thêm Nhân sâm; lại nói: Phế hàn thì bỏ Nhân sâm, thêm Can khương, không để khí bị ủng trệ. Chu Đan Khê cũng nói hư hỏa có thể bổ bằng nhóm Sâm, Kỳ; thực hỏa có thể tả bằng nhóm Cầm, Liên. Hai nhà này không xét đến cái tinh vi của ba vị đại sư (Trọng Cảnh, Đông Viên, Đan Khê) mà bảo Nhân sâm bổ hỏa, thật sai lầm thay! Phàm hỏa và nguyên khí không đội trời chung, nguyên khí thắng thì tà hỏa lui. Nhân sâm đã bổ nguyên khí mà lại còn bổ tà hỏa, ấy là kẻ "tiểu nhân lật lọng" sao, làm sao có thể cùng Cam thảo, Linh, Truật gọi là "Tứ quân tử" được? Tuy nhiên, lời của ba nhà kia (Lôi Hiệu, Hiếu Cổ, Vương Luân) không thể bỏ hết. Chỉ vì lời lẽ có chỗ ngưng trệ, cho nên kẻ giữ lời đó, nệ vào một phía mà cố chấp, đến mức nhìn Nhân sâm như xà hạch (rắn rết), ấy là không được vậy. * Phàm người mặt trắng, mặt vàng, mặt xanh xám gầy yếu, đều là khí của Tỳ, Phế, Thận bất túc, có thể dùng vậy; mặt đỏ, mặt đen là khí tráng thần cường, không thể dùng vậy. * Mạch mà Phù mà Khâu, Nhu, Hư, Đại, Trì hoãn vô lực, Trầm mà Trì, Sáp, Nhược, Tế, Kết, Đại vô lực, đều là hư mà bất túc, có thể dùng vậy; nếu Huyền, Trường, Khẩn, Thực, Hoạt, Sác có lực, đều là hỏa uất nội thực, không thể dùng vậy. * Khiết Cổ (Trương Nguyên Tố) bảo suyễn ho chớ dùng, là cái suyễn do đàm thực khí ủng vậy; nếu Thận hư khí ngắn thở gấp, tất phải dùng vậy. * Trọng Cảnh bảo Phế hàn mà ho chớ dùng, là cái ho do hàn bó nhiệt tà ủng trệ trong Phế vậy; nếu tự hãn ố hàn mà ho, tất phải dùng vậy. * Đông Viên bảo bệnh lâu ngày uất nhiệt ở Phế chớ dùng, là hỏa uất ở trong nghi phát tán không nghi bổ vậy; nếu Phế hư hỏa vượng, khí ngắn tự hãn, tất phải dùng vậy. * Đan Khê bảo các chứng đau (thống) không được dùng ngay, là tà khí đương lúc sắc bén, nghi tán không nghi bổ vậy; nếu lý hư thổ lợi (nôn lỵ) cùng bệnh lâu ngày vị yếu hư đau thích xoa nắn, tất phải dùng vậy. * Tiết Trai (Vương Luân) bảo âm hư hỏa vượng chớ dùng, là huyết hư hỏa kháng năng ăn được, mạch huyền mà sác, làm mát thì thương Vị, làm ấm thì thương Phế, không chịu được thuốc bổ vậy. Nếu tự hãn khí ngắn, chi hàn mạch hư, tất phải dùng vậy. Xét kỹ như thế, thì Nhân sâm lúc nào dùng được, lúc nào không dùng được, đã hiểu quá nửa rồi vậy. '''Lý Cơ nói:''' Thuyết của Vương Luân vốn dựa vào Vương Hiếu Cổ, nhưng Vương Luân lại quá mức cực đoan. Đan Khê nói hư hỏa có thể bổ, phải dùng Sâm Kỳ. Lại nói âm hư triều nhiệt, suyễn ho thổ huyết, đạo hãn (mồ hôi trộm) các chứng, dùng Tứ vật thang gia Nhân sâm, Hoàng bá, Tri mẫu. Lại nói người hiếu sắc, Phế Thận bị thương, ho mãi không khỏi, dùng Quỳnh ngọc cao chủ trị. Lại nói Phế Thận hư cực, dùng Độc sâm cao chủ trị. Ấy là biết chứng âm hư lao thái chưa từng không dùng Nhân sâm vậy. Tiết Trai (Vương Luân) là học trò của Đan Khê mà lại tương phản như thế. Lời này một khi thốt ra, đóng khung vào mắt người đời sau. Phàm gặp các chứng trên, không hỏi bệnh nghi dùng hay không, cứ lấy đó làm cửa miệng. Khiến cho bậc lương y bị bó tay (chế tửu), chỉ cầu thoát khỏi oán trách của nhà người bệnh. Nhà người bệnh cũng lấy thuyết này để ngang trong lòng, cam chịu thuốc khổ hàn, dù đến mức trên nôn dưới lỵ, cách cái chết không xa, cũng không tỉnh ngộ. Cổ kim trị lao không ai qua được Cát Khả Cửu, các bài Độc sâm thang, Bảo chân thang của ông ấy, há có bao giờ bỏ Nhân sâm không dùng? Thuyết của Tiết Trai, thực chưa suy nghĩ sâu xa vậy. '''Dương Khởi nói:''' Công lao Nhân sâm ghi trong Bản thảo, người người đều biết. Gần đây vì người bệnh tiếc tiền mà coi nhẹ thầy thuốc, thầy thuốc lại tính toán chi phí, không nỡ dùng sâm trị bệnh, dẫn đến nhẹ hóa nặng, nặng hóa nguy. Tuy nhiên có 4 chứng Phế hàn, Phế nhiệt, Trung mãn, Huyết hư, nói chỉ nghi tán hàn, tiêu nhiệt, tiêu trướng, bổ doanh mà không dùng Nhân sâm, thuyết đó nghe có vẻ đúng; nhưng chẳng biết rằng nếu gia thêm Nhân sâm ở trong, hộ trì nguyên khí, trợ lực cho quần dược, thì công hiệu càng nhanh. Nếu bảo khí không có phép bổ, thì lầm to. Phương cổ trị Phế hàn lấy Ôn phế thang, Phế nhiệt lấy Thanh phế thang, Trung mãn lấy Phân tiêu thang, Huyết hư lấy Dưỡng doanh thang, đều có Nhân sâm ở trong vậy. Cái gọi là "Tà khí xâm phạm được, khí ắt phải hư". Lại nói "Dưỡng chính thì tà tự trừ", Dương vượng thì sinh âm huyết, quý ở chỗ phối hợp đắc nghi mà thôi. Thầy thuốc tầm thường mỗi khi bảo Nhân sâm không thể nhẹ tay dùng, thật là tầm thường thay! Bậc quân vương hiếu sinh, không nên coi nhẹ tính mạng mà coi trọng thầy thuốc (tầm thường), thầy thuốc cũng không nên tính toán lợi lộc mà không dùng. Viết lời này để khuyên nhủ, xin chớ bảo là gàn dở (uẩn). ====【PHỤ PHƯƠNG】 (Cũ 7, Mới 60)==== * '''Nhân sâm cao:''' Dùng Nhân sâm 10 lạng thái nhỏ, lấy 20 chén nước hoạt thủy (nước chảy) ngâm thấu, cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa củi dâu chậm rãi sắc lấy 10 chén, lọc bỏ bã, lại dùng 10 chén nước sắc lấy 5 chén, hòa với nước cốt trước đó cô thành cao, thu vào bình, tùy bệnh mà làm thang dẫn. ** '''Đan Khê nói:''' Người ham muốn nhiều, thận khí suy yếu, ho không dứt, dùng Gừng sống, Trần bì sắc thang, hòa cao này mà uống. ** Ông Trịnh ở Phố Giang, tháng 5 bị lỵ, lại phạm phòng sự (quan hệ tình dục), bỗng phát hôn vựng, không biết gì, tay buông mắt tối, mồ hôi tự chảy như mưa, trong họng đàm kêu như kéo cưa, tiểu tiện mất tự chủ, mạch đại không chừng, đây là chứng âm hư dương tuyệt vậy. Tôi lệnh gấp sắc đại liệu Nhân sâm cao, lại châm cứu huyệt Khí hải 18 tráng, tay phải liền cử động được, thêm 3 tráng nữa, môi miệng khẽ động, bèn cho uống 1 chén cao, sau nửa đêm uống 3 chén, mắt đã có thể động, dùng hết 3 cân sâm thì mới có thể nói và đòi ăn cháo, hết 5 cân thì lỵ dứt, đến 10 cân thì hoàn toàn bình phục, nếu trị theo chứng trúng phong thì lầm to vậy. ** Một người bị nhọt độc ở lưng, đã uống thuốc Nội thác Thập tuyên quá nhiều, mủ ra gây nôn, phát nhiệt, lục mạch trầm sác có lực, đây là điều cấm kỵ của loét nhọt. Bèn cho dùng đại liệu Nhân sâm cao hòa Trúc lịch uống, sâm dùng hết 16 cân, tre chặt hơn trăm cây, mà yên. Sau hơn mười ngày, gặp gió lớn nhổ cây, nhọt lại nổi mủ, bên trong có một đường chỉ đỏ qua bả vai đến sườn phải. Tôi nói: Gấp làm sâm cao, lấy Khung, Quy, Trần bì làm thang, cho thêm Trúc lịch, nước cốt Gừng mà uống. Hết 3 cân thì nhọt vỡ mủ, điều lý mới yên. ** Nếu ung thư (nhọt độc) sau khi vỡ, khí huyết đều hư, nôn nghịch không ăn được, biến chứng không nhất định, dùng Sâm, Kỳ, Quy, Truật lượng bằng nhau sắc cao uống là hay nhất. * '''Trị trung thang:''' '''Tô Tụng nói:''' Trương Trọng Cảnh trị ngực tê (thống tý), trong tim bĩ cứng, khí lưu kết ở ngực, ngực đầy, dưới sườn khí nghịch xông lên tim, bài Trị trung thang chủ trị. Tức là bài Lý trung thang gồm: Nhân sâm, Bạch truật, Can khương, Cam thảo mỗi thứ 3 lạng. Bốn vị dùng 8 thăng nước, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 1 thăng, ngày 3 lần, tùy chứng gia giảm. Phương này từ đời Tấn, Tống về sau đến các danh y đời Đường, ai trị bệnh tâm phúc cũng không vị nào không dùng, hoặc làm thang, hoặc làm hoàn mật, hoặc làm tán, đều có kỳ hiệu. ** Cư sĩ Hồ Hiệp trị Hoắc loạn gọi là Ôn trung thang. ** Đào Ẩn Cư trong Bách nhất phương nói: Hoắc loạn mà thuốc khác khó tìm, nhưng Trị trung phương, Tứ thuận thang, Hậu phác thang không thể thiếu tạm thời, thường phải chuẩn bị sẵn mang theo mình. ** Vua Đường Thạch Tuyền công Vương Phương Khánh nói: Các phương này không chỉ trị Hoắc loạn, mà mọi bệnh đều chữa được. ** '''Tứ thuận thang:''' dùng Nhân sâm, Cam thảo, Can khương, Phụ tử (nướng) mỗi thứ 2 lạng, nước 6 thăng sắc lấy 2 thăng rưỡi, chia 4 lần uống. * '''Tứ quân tử thang:''' Trị tỳ vị khí hư, không muốn ăn uống, các bệnh khí hư, lấy bài này làm chủ. Nhân sâm 1 tiền, Bạch truật 2 tiền, Bạch phục linh 1 tiền, Cam thảo chích 5 phân, gừng 3 lát, táo 1 quả. Nước 2 chung, sắc lấy 1 chung, uống ấm trước bữa ăn. Tùy chứng gia giảm (Hòa tễ cục phương). * '''Khai vị hóa đàm:''' Chán ăn, không phân biệt người lớn trẻ nhỏ. Nhân sâm (sấy) 2 lạng, Bán hạ (ngâm nước gừng, sấy) 5 tiền. Tán bột, lấy bột mì tinh làm hồ, viên bằng hạt đậu xanh. Sau ăn dùng nước gừng uống 30-50 viên, ngày 3 lần. Thánh huệ phương thêm Trần bì 5 tiền (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Vị hàn khí đầy không thể vận hóa:''' Dễ đói nhưng không ăn được. Nhân sâm (bột) 2 tiền, Phụ tử sống (bột) nửa tiền, gừng sống 2 tiền. Nước 7 phần sắc lấy 2 phần, cho 1 lòng trắng trứng gà, khuấy đều uống lúc đói (Thánh tế tổng lục). * '''Tỳ vị hư nhược, không muốn ăn uống:''' Gừng sống nửa cân (lấy nước cốt), mật trắng 10 lạng, Nhân sâm (bột) 4 lạng. Nồi bạc cô thành cao. Mỗi lần dùng nước cơm hòa 1 thìa (Phổ tế phương). * '''Vị hư buồn nôn, hoặc nôn có đàm:''' Nhân sâm 1 lạng. Nước 2 chén sắc lấy 1 chén, cho 1 chén Trúc lịch, 3 thìa nước gừng, uống ấm cách xa bữa ăn, uống đến khi thấy hiệu quả thì thôi, người già càng nên dùng (Giản tiện phương). * '''Vị hàn nôn ác không thể tiêu hóa thủy cốc:''' Ăn vào là nôn. Nhân sâm, Đinh hương, Hoắc hương mỗi thứ 2 tiền rưỡi, Trần bì 5 tiền, gừng sống 3 lát, nước 2 chén sắc lấy 1 chén, uống ấm (Bạt tụy phương). * '''Phản vị nôn mửa:''' Thức ăn vào miệng là nôn ngay, mệt mỏi không còn sức, sắp chết. Nhân sâm Thượng Đảng 3 lạng lớn (đập vụn). Nước 1 thăng lớn, sắc lấy 4 phần, uống nóng, ngày 2 lần. Đồng thời dùng nước cốt nhân sâm cho vào gạo tẻ, lòng trắng trứng gà, hành trắng, nấu cháo mà ăn. Lý Trực Phương quan Tư huân bị bệnh này tại Hán Nam hơn 2 tháng, các phương không khỏi, dùng phương này liền định ngay. Mười ngày sau vào kinh sư. Lý Giáng mỗi khi luận bàn với danh y về vị thuốc này, đều khen khó có gì sánh bằng (Lý Giáng Binh bộ thủ tập phương). * '''Ăn vào là nôn (Nhân sâm bán hạ thang):''' Dùng Nhân sâm 1 lạng, Bán hạ 1 lạng 5 tiền, gừng sống 10 lát. Nước 1 đấu, dùng gáo múc lên rót xuống (dương) 240 lần, lấy 3 thăng, cho vào 3 hớp mật trắng, sắc lấy 1 thăng rưỡi, chia lần uống (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ phương). * '''Hoắc loạn nôn ác:''' Nhân sâm 2 lạng, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 1 chén, cho 1 lòng trắng trứng gà, sắc lại uống ấm. Có bài thêm Đinh hương (Vệ sinh gia bảo phương). * '''Hoắc loạn phiền muộn:''' Nhân sâm 5 tiền, Quế tâm nửa tiền. Nước 2 chén sắc uống (Thánh huệ phương). * '''Hoắc loạn nôn tả, phiền táo không dứt:''' Nhân sâm 2 lạng, Trần bì 3 lạng, gừng sống 1 lạng. Nước 6 thăng sắc lấy 3 thăng, chia 3 lần uống (Thánh tế tổng lục). * '''Có thai nôn nước, chua tim đau bụng, không ăn được:''' Nhân sâm, Can khương (nướng) lượng bằng nhau, tán bột, dùng nước cốt Sinh địa hòa viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Hòa tễ cục phương). * '''Dương hư khí suyễn:''' Tự hãn (mồ hôi tự ra), đạo hãn (mồ hôi trộm), ngắn hơi chóng mặt. Nhân sâm 5 tiền, Thục phụ tử 1 lạng. Chia 4 liều, mỗi liều dùng 10 lát gừng sống, 2 chén nước chảy sắc lấy 1 chén, uống ấm cách xa bữa ăn (Tế sinh phương). * '''Suyễn cấp sắp tuyệt, hơi thở khò khè:''' Nhân sâm tán bột, uống với nước ấm mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), ngày 5-6 lần rất hiệu quả (Chẩm hậu phương). * '''Sản hậu phát suyễn:''' Do máu vào phổi, là chứng nguy. Nhân sâm (bột) 1 lạng, Tô mộc 2 lạng. Nước 2 bát sắc lấy 1 bát nước Tô mộc, hòa bột sâm uống, thần hiệu (Thánh huệ phương). * '''Sản hậu huyết vựng (choáng váng do mất máu):''' Nhân sâm 1 lạng, Tử tô nửa lạng, dùng nước tiểu trẻ em (đồng niệu), rượu, nước mỗi thứ 3 phần hòa sắc uống (Y phương trích yếu). * '''Sản hậu không nói được:''' Nhân sâm, Thạch xương bồ, Thạch liên nhục lượng bằng nhau, mỗi lần 5 tiền sắc nước uống (Phụ nhân lương phương). * '''Sản hậu các chứng hư, phát nhiệt tự hãn:''' Nhân sâm, Đương quy lượng bằng nhau. Tán bột, dùng 1 cái cật lợn (trư yêu tử) bóc màng thái miếng nhỏ, dùng 3 thăng nước, nửa hớp gạo nếp, 2 cọng hành trắng, nấu gạo chín lấy 1 chén nước cốt, cho thuốc vào sắc còn 8 phần, uống ấm trước khi ăn (Vĩnh loại phương). * '''Sản hậu bí tắc chảy máu nhiều:''' Dùng Nhân sâm, Ma tử nhân, Chỉ xác (sao với cám). Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Tế sinh phương). * '''Sanh ngang sanh ngược (nghịch sản):''' Nhân sâm (bột), Nhũ hương (bột) mỗi thứ 1 tiền, Đan sa (bột) 5 phân. Nghiền đều, dùng 1 lòng trắng trứng gà, 3 thìa nước cốt gừng sống, khuấy đều uống nguội, mẹ con đều yên, thần hiệu. Đây là phương của Thi Hán Khanh (Phụ nhân lương phương). * '''Khai tâm ích trí:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, luyện với mỡ lợn (trư phì phưởng) đã rán 10 lạng. Dùng rượu ngon hòa đều. Mỗi lần uống 1 cốc, ngày 2 lần. Uống đến 100 ngày thì tai mắt thông minh, cốt tủy đầy đủ, da dẻ nhuận trẽo, một ngày nhớ nghìn lời, kiêm trị cả đàm bệnh do phong nhiệt (Thiên kim phương). * '''Nghe tiếng sấm liền hôn mê:''' Một đứa trẻ 7 tuổi hễ nghe tiếng sấm là ngất xỉu không biết gì, đây là do khí khiếp sợ. Dùng Nhân sâm, Đương quy, Mạch môn đông mỗi thứ 2 lạng, Ngũ vị tử 5 tiền. Nước 1 đấu sắc lấy 5 thăng nước cốt; lại dùng 5 thăng nước sắc bã lấy 2 thăng, hòa chung cô thành cao. Mỗi lần dùng 3 thìa hòa nước ấm uống. Dùng hết 1 cân, sau đó nghe sấm vẫn bình thường (Dương Khởi Giản tiện phương). * '''Bỗng nhiên thở gấp nghẹn tuyệt:''' Phương xem ở dưới mục Đại hoàng. * '''Ly hồn dị tật:''' Có người nằm xuống liền cảm thấy ngoài thân có một thân nữa, giống hệt không khác, nhưng không nói năng gì. Phàm người ngủ thì hồn về gan, đây do gan hư tà xâm nhập, hồn không về nhà, bệnh tên là Ly hồn. Dùng Nhân sâm, Long sỉ, Xích phục linh mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy nửa chén, hòa 1 tiền bột Chu sa đã thủy phi, uống lúc ngủ. Mỗi đêm 1 lần, sau 3 đêm, người thật thì khí sảng khoái, người giả (hình bóng) liền tan biến (Hạ Tử Ích Quái chứng kỳ tật phương). * '''Chính xung tự hãn (Tim đập mạnh, mồ hôi tự ra):''' Do tâm khí bất túc. Nhân sâm nửa lạng, Đương quy nửa lạng, dùng 2 quả cật lợn, dùng 2 bát nước sắc lấy 1 bát rưỡi, lấy cật lợn thái nhỏ, cho Sâm và Quy vào sắc chung còn 8 phần, lúc đói ăn cật lợn rồi lấy nước thuốc chiêu xuống. Bã thuốc sấy khô tán bột, dùng bột Hoài sơn làm hồ viên hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên, uống với nước táo cách xa bữa ăn, không quá 2 liều là khỏi. Đây là phương của thần tế đại sư ở Côn Sơn, có bài thêm 2 tiền Nhũ hương (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Dưới tâm kết khí:''' Phàm dưới tâm cứng, ấn vào thì không có, thường cảm thấy đầy trướng, ăn nhiều thì nôn, khí dẫn lên xuống, nấc cụt không dứt, do lo nghĩ quá nhiều, khí không vận hành theo thời mà kết trệ, gọi là kết khí. Nhân sâm 1 lạng, Trần bì (bỏ cùi trắng) 4 lạng. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 50-60 viên với nước cơm (Thánh huệ phương). * '''Mệt mỏi sau khi quan hệ (phòng hậu khốn quyện):''' Nhân sâm 7 tiền, Trần bì 1 tiền, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 8 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần, giá trị nghìn vàng không truyền (Phương của Triệu Vĩnh Am). * '''Hư lao phát nhiệt (Ngu lỗ thang):''' Dùng Nhân sâm Thượng Đảng, Sài hồ Ngân Châu mỗi thứ 3 tiền, Đại táo 1 quả, gừng sống 3 lát. Nước 1 chung rưỡi sắc lấy 7 phần, uống ấm cách xa bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng (Kỳ hiệu lương phương). * '''Phổi nhiệt khản tiếng:''' Nhân sâm 2 lạng, Kha tử 1 lạng, tán bột ngậm rồi nuốt dần (Đan Khê trích huyền). * '''Phổi hư ho lâu ngày:''' Nhân sâm (bột) 2 lạng, Lộc giác giao (nướng, nghiền) 1 lạng. Mỗi lần dùng 3 tiền, dùng nước sắc Bạc hà và Đậu xị 1 chén, thêm chút hành, cho vào nồi nhỏ đun 1-2 dạo, rót ra chén. Khi ho thì nhấp ấm 3-5 ngụm, rất tốt (Thực liệu bản thảo). * '''Dừng ho hóa đàm:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, Minh phàn 2 lạng. Dùng 2 thăng giấm tốt nấu Minh phàn thành cao, cho bột sâm và mật luyện vào hòa thu lại. Mỗi lần lấy 1 viên bằng hạt đậu hà lan đặt dưới lưỡi, cơn ho liền dứt, đàm tự tiêu (Giản tiện phương). * '''Trẻ nhỏ suyễn ho:''' Phát nhiệt tự hãn, nôn ra máu, mạch hư vô lực. Nhân sâm, Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Mỗi lần nửa tiền hòa nước mật uống, lấy khỏi làm chừng (Kinh tế phương). * '''Suyễn ho khạc huyết:''' Khí nghịch lên, suyễn gấp, ho ra máu thổ huyết, mạch vô lực. Bột nhân sâm mỗi lần 3 tiền, hòa lòng trắng trứng gà uống, lúc mờ sáng (5 canh đầu) uống xong nằm ngủ ngay, bỏ gối nằm ngửa, chỉ 1 liều là khỏi. Bệnh lâu năm thì uống thêm. Người khạc máu (lạc huyết) dùng hết 1 lạng rất tốt. Một phương dùng nước mài trứng gà đen nghìn lần, tự nhiên hóa thành nước hòa thuốc càng diệu. Kỵ giấm, mặn, tanh, mắm muối, mì chua, say no, nghỉ ngơi điều độ mới tốt (Thẩm Tồn Trung Linh uyển phương). * '''Ho khạc máu:''' Nhân sâm, Hoàng kỳ, bột mì tinh (phi la diện) mỗi thứ 1 lạng, Bách hợp 5 tiền. Tán bột, viên với nước bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước rễ cỏ tranh (mao căn) trước bữa ăn. ** Chu thị tập nghiệm phương: dùng Nhân sâm, Nhũ hương, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng thịt Ô mai hòa viên bằng hạt đạn (đầu ngón tay). Mỗi lần dùng nước trắng hòa tan 1 viên, ngày uống 1 lần. ** Hư lao thổ huyết nặng, trước tiên lấy Thập tro tán để cầm lại, người đó ắt khốn quyện, phép phải bổ dương sinh âm, dùng Độc sâm thang làm chủ. Nhân sâm tốt 1 lạng, Táo béo 5 quả. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung uống, ngủ một giấc say, bệnh giảm được 5-6 phần, sau đó uống thuốc điều lý (Cát Khả Cửu Thập dược thần thư). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Do thất tình cảm ứng, tửu sắc nội thương, khí huyết vận hành loạn xạ, máu trào ra cả miệng mũi, mạch Tâm Phế bị đứt, máu như suối phun, trong phút chốc không cứu kịp. Dùng Nhân sâm (sấy), lá Trắc bá (đồ, sấy), Kinh giới tuệ (đốt tồn tính) mỗi thứ 5 tiền. Tán bột. Dùng 2 tiền, thêm 2 tiền bột mì tinh, dùng nước mới múc hòa thành hồ loãng mà uống, một lát sau lại uống thêm ngụm nữa, một liều là cầm ngay (Hoa Đà Trung tạng kinh). * '''Chảy máu cam không dứt (nục huyết):''' Nhân sâm, cành Liễu (loại hái ngày Hàn thực) lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần 1 tiền, uống với nước chảy về hướng đông, ngày 3 lần. Không có cành liễu dùng Tâm sen (Thánh tế tổng lục). * '''Chảy máu kẽ răng:''' Nhân sâm, Xích phục linh, Mạch môn đông mỗi thứ 2 tiền. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần. Tô Đông Pha được phương này tự khen là thần kỳ. Kẻ hậu sinh nhiều người bị bệnh này, tôi đã thử nhiều lần, đều linh nghiệm như lời nói (Đàm Dã Ông thử nghiệm phương). * '''Âm hư niệu huyết (tiểu ra máu):''' Nhân sâm (sấy), Hoàng kỳ (chích nước muối) lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng 1 củ củ cải lớn vỏ đỏ, cắt làm 4 miếng, dùng 2 lạng mật, nhúng từng miếng củ cải vào mật rồi nướng, để khô lại nướng tiếp, đừng để cháy, nướng đến khi hết mật thì thôi. Mỗi lần dùng 1 miếng chấm bột thuốc mà ăn, dùng nước muối chiêu xuống, lấy khỏi làm chừng (Tam nhân phương). * '''Sa lâm thạch lâm (Sỏi thận, sỏi bàng quang):''' Phương như trên. * '''Tiêu khát khát uống:''' Nhân sâm tán bột, hòa lòng trắng trứng gà uống mỗi lần 1 tiền, ngày 3-4 lần. ** Tập nghiệm: dùng Nhân sâm, rễ Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Nghiền sống tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước Mạch môn đông trước bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng. Tên là Ngọc hồ hoàn. Kỵ rượu, mì, đồ nướng. ** Trịnh thị gia truyền Tiêu khát phương: Nhân sâm 1 lạng, Cam thảo phấn 2 lạng. Dùng nước mật lợn đực ngâm sấy, Băng phiến (não tử) nửa tiền. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt khiếm thực. Mỗi lần nhai 1 viên chiêu nước lạnh. ** Thánh tế tổng lục: dùng Nhân sâm 1 lạng, bột Cát căn 2 lạng. Tán bột. Lúc phát bệnh lấy 1 thăng nước luộc thịt lợn thiến, cho 3 tiền bột thuốc, 2 lạng mật, đun lửa nhỏ cô còn 3 chén, trạng như kẹo mạch nha đen, thu vào bình, mỗi đêm ngậm nuốt 1 thìa, không quá 3 liều là hiệu quả vậy. * '''Hư ngược hàn nhiệt (Sốt rét do hư):''' Nhân sâm 2 tiền 2 phân, Hùng hoàng 5 tiền. Tán bột, ngày Đoan ngọ dùng chóp lá bánh chưng giã làm viên hạt ngô. Sáng sớm ngày phát bệnh dùng nước giếng mới múc nuốt 7 viên, trước khi phát lại uống thêm. Kỵ các đồ nóng, hiệu quả ngay lập tức. Một phương: thêm Thần khúc lượng bằng nhau (Đan Khê toản yếu). * '''Lạnh lỵ quyết nghịch, lục mạch trầm tế:''' Nhân sâm, Đại phụ tử mỗi thứ 1 lạng rưỡi. Mỗi lần uống nửa lạng, gừng sống 10 lát, Đinh hương 15 hạt, gạo nếp 1 hớp. Nước 2 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm lúc đói (Kinh nghiệm phương). * '''Hạ lỵ cấm khẩu (Lỵ không ăn được):''' Nhân sâm, hạt Sen mỗi thứ 3 tiền. Dùng 2 chén nước giếng sắc lấy 1 chén, nhấp uống từ từ. Hoặc thêm Hoàng liên sao nước gừng 3 tiền (Kinh nghiệm lương phương). * '''Người già hư lỵ không dứt, không ăn được:''' Nhân sâm Thượng Đảng 1 lạng, Lộc giác (bỏ da, sao nghiền) 5 tiền. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông hòa nước cơm uống, ngày 3 lần (Thập tiện lương phương). * '''Thương hàn hoại chứng:''' Phàm thương hàn thời dịch, không hỏi âm dương, già trẻ phụ nữ có thai, lỡ uống nhầm thuốc dẫn đến nguy kịch sắp chết, mạch trầm phục, không biết gì, sau 7 ngày đều có thể uống, trăm người không hỏng một. Tên là Đoạt mệnh tán, lại tên Phục mạch thang. Nhân sâm 1 lạng, nước 2 chung, dùng lửa mạnh sắc còn 1 chung, dùng nước giếng ngâm lạnh rồi uống, một lát sau sống mũi có mồ hôi ra, mạch phục hồi ngay. Thị lang Tô Thao Quang nói: dùng phương này cứu được vài chục người. Tôi làm quan huyện Thanh Lưu, con dâu của quan huyện thân là Thân Đồ Hành Phụ bị thời dịch hơn 30 ngày, đã thành hoại bệnh, cho uống thuốc này liền yên (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Thương hàn quyết nghịch:''' Mình hơi nóng, phiền táo, lục mạch trầm tế vi nhược, đây là âm cực phát táo vậy. '''Vô ưu tán:''' dùng Nhân sâm nửa lạng. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, hòa 2 tiền bột Ngưu đằng nam tinh, uống nóng, tỉnh ngay (Tam nhân phương). * '''Kẹp âm thương hàn (Cáp âm thương hàn):''' Trước đó có phòng sự, sau đó cảm hàn tà, dương suy âm thịnh, lục mạch trầm phục, bụng dưới đau thắt, tứ chi lạnh ngược, nôn ra nước trong, không nhờ thuốc này thì không cách gì hồi dương. Nhân sâm, Can khương (nướng) mỗi thứ 1 lạng, Phụ tử sống 1 quả (phá làm 8 miếng). Nước 4 thăng rưỡi sắc còn 1 thăng, uống hết một lần. Mạch ra mình ấm là khỏi (Ngô Thụ Thương hàn uẩn yếu). * '''Gân cốt phong thống:''' Nhân sâm 4 lạng (ngâm rượu 3 ngày, phơi khô), Thổ phục linh 1 cân, Sơn từ cô 1 lạng. Tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước cơm trước khi ăn (Kinh nghiệm phương). * '''Trẻ nhỏ phong giản co giật:''' Dùng Nhân sâm, Cáp phấn, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng máu tim lợn thiến hòa viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên uống với nước vàng bạc, ngày 2 lần, đại có thần hiệu (Vệ sinh bảo giám). * '''Tỳ hư mạn kinh:''' Hoàng kỳ thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Đậu chẩn hiểm chứng:''' Bảo nguyên thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Sau kinh sợ đồng tử bị lệch (nhãn tà):''' Trẻ nhỏ sau khi kinh sợ đồng tử không chính. Nhân sâm, A giao (sao với gạo nếp thành hạt) mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm, ngày 2 lần. Khỏi thì dừng, hiệu quả (Trực chỉ phương). * '''Trẻ nhỏ tỳ phong hay buồn ngủ:''' Nhân sâm, nhân Bí đao mỗi thứ nửa lạng, Nam tinh 1 lạng. Luộc qua nước tương, tán bột. Mỗi lần dùng 1 tiền, nước nửa chén sắc còn 2-3 phần, uống ấm (Bản sự phương). * '''Tửu độc mù mắt:''' Một người hình vóc lực lưỡng, ham uống rượu nóng, bỗng bị mù mắt mà mạch sáp, đây do rượu nóng làm tổn thương, vị khí ô trọc, huyết chết ở bên trong mà ra. Lấy Tô mộc sắc thang hòa 1 tiền bột Nhân sâm uống. Ngày hôm sau mũi và hai lòng bàn tay đều tím đen, đây là huyết trệ đã hành vậy. Lại dùng Tứ vật thang thêm Tô mộc, Đào nhân, Hồng hoa, Trần bì hòa bột Nhân sâm uống, vài ngày là khỏi (Đan Khê toản yếu). * '''Tửu độc sinh thư (nhọt):''' Một phụ nữ nghiện rượu, ngực mọc một cái nhọt (thư), mạch khẩn mà sáp. Dùng Nhân sâm sao rượu, Đại hoàng sao rượu lượng bằng nhau tán bột, dùng nước gừng uống 1 tiền, ngủ được mồ hôi ra là khỏi. Hiệu quả (Đan Khê y án). * '''Chó cắn phong thương sưng đau:''' Nhân sâm đặt trên than củi dâu đốt tồn tính, lấy bát úp lại, một lát sau tán bột, rắc vào, khỏi ngay (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Rết cắn:''' Nhai nhân sâm bôi vào (Y học tập thành). * '''Ong châm kiến đốt:''' Bột nhân sâm đắp vào (Chứng trị yếu quyết). * '''Thủng hông lòi ruột:''' Gấp lấy dầu bôi vào rồi ấn ruột vào, sắc nước Nhân sâm, Câu kỷ rửa bên ngoài, bên trong ăn cháo Thận cừu, 10 ngày khỏi (Ngụy thị Đắc hiệu phương). * '''Khí bôn quái tật:''' Phương xem ở dưới mục Hổ trượng. ===LÔ (蘆 - Đầu rễ/Cổ rễ nhân sâm)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị đàm ẩm do hư lao ('''Thời Trân'''). '''【Phát minh】''' * '''Ngô Thụ nói:''' Người suy nhược thì dùng Sâm lô thay thế cho Qua đế (cuống quả dưa - Cucumis melo L. để gây nôn nhẹ hơn). * '''Chu Đan Khê nói:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế), bổ cái Âm trong Dương; còn Sâm lô thì ngược lại, có thể tả cái Dương của kinh Thái âm. Điều này cũng giống như cây Ma hoàng (Ephedra sinica Stapf), phần ngọn (miêu) thì năng phát hãn (gây ra mồ hôi), còn phần rễ thì lại chỉ hãn (cầm mồ hôi). Thóc gạo thuộc Kim mà tính của cám lại nóng, lúa mạch thuộc Dương mà tính của vỏ cám (phu) lại mát. Các bậc tiền nho vịnh rằng "mỗi vật đều mang trong mình một Thái cực", người học đạo chẳng lẽ không thể từ đó mà suy rộng ra sao? ** Có một người con gái tính tình nóng nảy, lại hay ăn vị đậm đà, tháng nóng vì tức giận mà mắc chứng nấc cụt (ách), mỗi lần phát bệnh thì cả thân mình nhảy động, hôn mê không biết gì. Hình vóc và khí thế của cô ấy đều thực, đó là do đàm bị uất lại bởi cơn giận, khiến khí không thể giáng xuống, nếu không dùng phép thổ (gây nôn) thì không thể khỏi. Bèn dùng nửa lạng Sâm lô, một chén rưỡi nước nghịch lưu (nước chảy ngược), sắc lấy một bát lớn cho uống. Cô ấy nôn ra mấy bát đàm đặc (ngoan đàm), ra đại hãn (mồ hôi đầm đìa) rồi ngủ say một ngày là yên. ** Lại có một người vì làm lụng vất vả mà phát bệnh sốt rét (ngược), uống thuốc trị sốt rét vào thì biến thành nhiệt bệnh, lưỡi ngắn, ho có đàm, lục mạch hồng sác mà hoạt. Đây là đàm tích tụ trong ngực, không dùng phép thổ thì không khỏi. Dùng Sâm lô sắc thang cho thêm Trúc lịch (nhựa tre) uống hai liều, nôn ra ba cục đàm keo đặc, sau đó cho dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ (Astragalus mongholicus), Đương quy (Angelica sinensis) sắc uống, nửa tháng thì bình phục. ==SA SÂM (沙參)== (Adenophora elata Nannf. hoặc các loài tương cận thuộc chi Adenophora) (Sách Bổn kinh, hàng Thượng phẩm) '''【Hiệu chính】''' Gộp cả phần "Dương nhũ" (Sữa dê) thuộc mục "Hữu danh vị dụng" (Có tên nhưng chưa dùng) trong sách Biệt lục. '''【Thích danh】''' Bạch sâm (Ngô Phổ), Tri mẫu (Biệt lục), Dương nhũ (Biệt lục), Dương bà nãi (Cương mục), Linh nhi thảo (Biệt lục), Hổ tu (Biệt lục), Khổ tâm (Biệt lục, còn gọi là Văn hy, Thức mỹ, Chí thủ). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị này cùng với Nhân sâm, Huyền sâm, Đan sâm, Khổ sâm gọi là "Ngũ sâm". Hình dáng của chúng không hoàn toàn giống nhau nhưng chủ trị khá tương đồng, nên đều có tên là "Sâm". Ngoài ra còn có Tử sâm, tức là Mẫu mông. * '''Thời Trân nói:''' Sa sâm màu trắng, thích hợp với vùng đất cát (sa địa), nên có tên như vậy. Rễ của nó có nhiều nhựa trắng, người bình dân gọi là Dương bà nãi (vú dê cái). Mục "Dương nhũ" trong Biệt lục chính là vị này. Vật này không có lõi, vị nhạt, mà Biệt lục lại gọi là "Khổ tâm" (tâm đắng), lại trùng tên với Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge), thật không hiểu tại sao. Còn tên Linh nhi thảo (cỏ chuông nhỏ) là mô tả hình dáng hoa vậy. '''【Tập giải】''' * '''Sách Biệt lục nói:''' Sa sâm sinh ở thung lũng Hà Nội và các vùng Oan Cú, Bàn Dương, Tục Sơn. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. Tên khác là Dương nhũ, Địa hoàng; hái vào tháng 3, sau tiết Lập hạ thì cây mẹ chết. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Dương nhũ rễ giống Tề ni (Adenophora stricta Miq.) nhưng tròn, to nhỏ bằng nắm tay, trên có các đốt sừng, bẻ ra có nhựa trắng; người ta thường lấy rễ này thay cho Tề ni. Ngọn cây làm dạng dây leo, bẻ ra cũng có nhựa trắng. * '''Thời Trân nói:''' Sa sâm có ở khắp các núi rừng. Tháng 2 mọc mầm, lá như lá Quỳ nhỏ mới mọc, tròn dẹt và không bóng. Tháng 8, tháng 9 mọc thân, cao 1-2 thước. Lá trên thân thì nhọn dài như lá Câu kỷ (Lycium chinense Mill.) nhưng nhỏ và có răng cưa mịn. Mùa thu giữa các kẽ lá nở hoa tím nhỏ, dài 2-3 phân, hình như cái chuông (linh đạc), có 5 cánh, nhị trắng, cũng có loại hoa trắng. Kết quả to như quả Đông thanh, trong có hạt nhỏ. Sau tiết sương giáng thì mầm khô. Rễ mọc ở đất cát dài hơn một thước, to bằng một hổ khẩu (vòng tay); mọc ở đất vàng thì ngắn và nhỏ. Cả rễ và thân đều có nhựa trắng. Hái vào tháng 8, tháng 9 thì trắng và chắc; hái vào mùa xuân thì hơi vàng và xốp. Người ta cũng thường đem đồ lên rồi ép cho chắc để giả làm Nhân sâm, nhưng thể chất nhẹ xốp, vị nhạt và ngắn vậy. ===RỄ (根)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hơi hàn, không độc. Biệt lục nói: Dương nhũ tính ấm, không độc. * '''Ngô Phổ nói:''' Sa sâm theo Kỳ Bá vị mặn; Thần Nông, Hoàng Đế, Biển Thước bảo không độc. Lý Đương Chi bảo đại hàn. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Vị ngọt, hơi đắng. * '''Lý Chi Tài nói:''' Ghét Phòng kỷ (Stephania tetrandra), phản Lị lô (Veratrum nigrum). '''【Chủ trị】''' * Trị huyết tích kinh khí, trừ hàn nhiệt, bổ trung, ích Phế khí (Bổn kinh). * Trị vị tý, tâm phúc thống (đau bụng vùng tim), kết nhiệt tà khí gây đầu thống, tà nhiệt ngoài da, an ngũ tạng. Uống lâu có lợi cho người. Lại nói: Dương nhũ chủ trị đầu huyễn thống (đau chóng mặt), ích khí, trường cơ nhục (Biệt lục). Trị phù phong ngoài da thịt, sán khí sa xuống, trị chứng hay buồn ngủ, dưỡng Can khí, tuyên thông phong khí ngũ tạng (Chân Quyền). Bổ hư, cầm kinh phiền, ích Tâm Phế, trị mọi chứng ác sang giới tiễn (ghẻ lở) và ngứa ngáy khắp người, bài nùng (tống mủ), tiêu sưng độc (Đại Minh). Thanh Phế hỏa, trị ho lâu ngày, phế nuy (phổi héo) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Trương Nguyên Tố nói:''' Người bị Phế hàn thì dùng Nhân sâm; người Phế nhiệt thì dùng Sa sâm thay thế, vì lấy cái vị ngọt của nó vậy. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Sa sâm vị ngọt hơi đắng, là thuốc của bản kinh Quyết âm, lại là thuốc ở phần khí của kinh Tỳ. Vị hơi đắng thì bổ Âm, vị ngọt thì bổ Dương, cho nên Khiết Cổ lấy Sa sâm thay Nhân sâm. Bởi Nhân sâm tính ấm, bổ cái Dương của ngũ tạng; Sa sâm tính hàn, bổ cái Âm của ngũ tạng. Tuy nói bổ ngũ tạng, nhưng cũng cần dùng các thuốc bổ tạng tương ứng làm tá, để tùy theo sự dẫn dắt mà hỗ trợ lẫn nhau mới được. * '''Thời Trân nói:''' Nhân sâm ngọt đắng tính ấm, thể chất nặng chắc, chuyên bổ nguyên khí của Tỳ Vị, từ đó mà ích cho Phế và Thận, nên người bị nội thương nguyên khí thì nghi dùng. Sa sâm ngọt nhạt tính hàn, thể chất nhẹ xốp, chuyên bổ Phế khí, từ đó mà ích cho Tỳ và Thận, nên người bị Kim chịu Hỏa khắc (Phế bị nhiệt hỏa xâm phạm) thì nghi dùng. Một bên bổ Dương để sinh Âm, một bên bổ Âm để chế Dương, không thể không phân biệt vậy. '''【Phụ phương】''' (Cũ 1, mới 2) * '''Phế nhiệt ho:''' Sa sâm nửa lạng. Sắc nước uống (Vệ sinh dị giản phương). * '''Đột ngột phát sán khí:''' Bụng dưới và trong âm hộ đau thắt kéo nhau, mồ hôi tự ra, đau muốn chết. Sa sâm giã nhỏ rây lấy bột, uống với rượu mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), khỏi ngay (Chẩm hậu phương). * '''Phụ nữ bạch đới:''' Thường do thất tình nội thương hoặc hạ nguyên hư lạnh gây ra. Sa sâm tán bột, mỗi lần uống 2 tiền hòa với nước cơm (Chứng trị yếu quyết). ==TỀ NI (薺苨)== (Adenophora stricta Miq.) *(Âm là Tề Ni, đều thanh thượng. Sách Biệt lục, hàng Trung phẩm) '''【Hiệu chính】''' Gộp cả phần "Hạnh sâm" trong sách Đồ kinh. '''【Thích danh】''' Hạnh sâm (Đồ kinh), Hạnh diệp sa sâm (Cứu hoang), Trư bàng (豝, âm là Đề. Nhĩ nhã), Tiềm cát cánh (Cương mục), Bạch diện căn (Cứu hoang). * Mầm gọi là '''Ẩn nhẫn'''. * '''Thời Trân nói:''' Tề ni nhiều dịch, có trạng thái như lộ dày (tế nê), nên lấy đó làm tên. Tế nê (濟苨) nghĩa là móc đọng đặc vậy. Rễ nó như Sa sâm (Adenophora) mà lá như lá Hạnh (Prunus armeniaca L.), nên người Hà Nam gọi là Hạnh diệp sa sâm. Vị Hạnh sâm trong Đồ kinh của Tô Tụng chính là vị này. Tục gọi là Tiềm cát cánh (Cát cánh ngọt). Sách Nhĩ nhã vân: Bàng (豝) chính là Tề ni vậy. Quách Phác chú rằng: Chính là Tề ni. Về tên Ẩn nhẫn, thuyết xem ở đoạn dưới. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Rễ và thân Tề ni đều rất giống Nhân sâm (Panax ginseng C.A. Mey.), nhưng lá hơi khác, vị rễ ngọt lịm, năng sát độc. Hễ để chung với các loại thuốc độc, độc tính đều tự nhiên tiêu giảm, nhưng không chính thức đưa vào phương gia dụng. Lại nói: Ngụy Văn Đế bảo Tề ni làm loạn Nhân sâm (gây nhầm lẫn), chính là vị này vậy. Lá Tề ni rất giống Cát cánh (Platycodon grandiflorus), nhưng khác ở chỗ dưới lá sáng bóng nhẵn nhụi không lông, lại không mọc đối như Nhân sâm. * '''Trần Ty Cung nói:''' Mầm Nhân sâm giống Ngũ gia bì nhưng rộng và ngắn, thân tròn có 3-4 nhánh (nhã), đầu nhánh có 5 lá. Đào Hoằng Cảnh dẫn thuyết Tề ni làm loạn Nhân sâm là sai vậy. Vả lại Tề ni và Cát cánh có loại lá mọc cách, cũng có loại lá mọc 3-4 đôi, đều một thân mọc thẳng lên, lá đã dễ lẫn lộn, duy chỉ có thể phân biệt bằng việc rễ (Cát cánh) có lõi (tâm) mà thôi. * '''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Xuyên Thục, Giang Chiết đều có cả. Mùa xuân mọc mầm thân, đều giống Nhân sâm nhưng lá hơi khác, rễ giống Cát cánh nhưng khác ở chỗ không có lõi. Nhuận Châu, Thiểm Châu có rất nhiều, người ta thu hái làm quả, hoặc làm mứt (phu) mà ăn, vị rất cam mỹ, lại có thể gửi đi xa. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. * '''Lý Thừa nói:''' Người nay thường đem đồ chín rồi ép dẹt để làm loạn Nhân sâm, nhưng vị nhạt vậy. * '''Khấu Tông Đạm nói:''' Đào Hoằng Cảnh luận về rễ, nên bảo Tề ni làm loạn Nhân sâm; Tô Tụng luận về mầm, nên bảo Đào sai vậy. * '''Tiết Cơ nói:''' Mầm thân Tề ni tương tự Cát cánh, rễ của nó tương loạn với Nhân sâm. Nay nói mầm thân đều giống Nhân sâm là gần như sai lầm. Nên xem kỹ cả ba mục chú giải về Nhân sâm, Tề ni, Cát cánh thì tự rõ. * '''Thời Trân nói:''' Mầm Tề ni giống Cát cánh, rễ giống Sa sâm, nên gian thương thường dùng Sa sâm và Tề ni để trà trộn làm loạn Nhân sâm. Vị Hạnh sâm trong Đồ kinh của Tô Tụng và Hạnh diệp sa sâm trong Cứu hoang bản thảo của Chu Định Vương đều là Tề ni này vậy. Đồ kinh vân: Hạnh sâm sinh ở đồng nội vùng Tư Châu, rễ như rễ rau nhỏ. Người địa phương tháng 5 hái mầm lá trị ho thượng khí. Cứu hoang bản thảo vân: Hạnh diệp sa sâm, tên khác là Bạch diện căn. Mầm cao 1-2 thước, thân màu xanh trắng. Lá như lá Hạnh nhưng nhỏ, hơi nhọn và lưng lá trắng, mép có răng cưa. Đầu cành nở hoa trắng 5 cánh như cái bát nhỏ (oản tử hoa). Hình rễ như cà rốt dại (dã hồ la bặc), khá mập, vỏ màu xám đen, giữa màu trắng, vị ngọt tính hơi hàn. Cũng có loại nở hoa màu xanh biếc. Mầm non chần chín rửa sạch qua nước, trộn dầu muối mà ăn. Rễ thay nước luộc cũng có thể ăn được. Người ta dùng mật nấu để làm quả (mứt). Lại nữa, Đào Hoằng Cảnh chú về Cát cánh, nói lá nó tên là Ẩn nhẫn, có thể luộc ăn, trị cổ độc. Cẩn thận xét theo Nhĩ nhã vân: Bàng là Ẩn nhẫn vậy. Quách Phác chú vân: Giống cây Tô, có lông. Người Giang Đông muối làm dưa (trư), cũng có thể luộc ăn. Cát Hồng trong Chẩm hậu phương vân: Cỏ Ẩn nhẫn, mầm giống Cát cánh, người đều ăn được. Giã lấy nước uống trị cổ độc. Dựa vào đây thì Ẩn nhẫn không phải là Cát cánh, mà là mầm Tề ni vậy. Mầm Tề ni ngọt, ăn được; mầm Cát cánh đắng, không ăn được, đây là minh chứng rõ nhất. Sách Thần Nông bản thảo kinh không có Tề ni, chỉ có Cát cánh và một tên gọi khác là Tề ni, đến đời Biệt lục mới bắt đầu tách riêng Tề ni. Có lẽ Tề ni và Cát cánh cùng một loại, có hai giống ngọt và đắng, nên mầm của chúng đều có thể gọi là Ẩn nhẫn vậy. ===RỄ (根)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Giải độc của trăm loại thuốc (Biệt lục). * Sát cổ độc (độc bùa ngải), trị rắn rết côn trùng cắn, nhiệt cuồng ôn dịch, trúng tên độc (Đại Minh). Lợi Phế khí, hòa trung minh mục (sáng mắt) chỉ thống (giảm đau), đồ thái ra nấu canh cháo mà ăn, hoặc làm dưa (tê trư) ăn (Trạm Ân). Ăn vào ép được độc Đan thạch phát động (Mạnh Tiên). Chủ trị ho tiêu khát, cường trung, sang độc đinh thũng, lánh độc của sa sắt (mạt bụi) và đoản hồ (con bọ nước) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Thời Trân nói:''' Tề ni tính hàn mà lợi Phế, vị ngọt mà giải độc, thật là món tốt vậy, mà người đời không biết dùng, thật đáng tiếc thay. Xét Cát Hồng trong Chẩm hậu phương vân: Một thứ thuốc mà kiêm giải được mọi độc, chỉ có nước Tề ni sắc đặc uống 2 thăng, hoặc nấu mà nhai, cũng có thể làm dạng bột (tán) để uống. Vị thuốc này ở giữa các thuốc khác thì độc tính đều tự giải vậy. Lại nữa, Trương Độc trong Triều dã thiêm tái vân: Các y gia bảo hổ trúng tên độc thì ăn bùn trong (thanh nê) mà giải; lợn rừng trúng tên độc thì tìm Tề ni mà ăn. Vật còn biết giải độc, huống chi là người? Lại nữa, Tôn Tư Mạo trong Thiên kim phương trị chứng Cường trung (cương dương không dứt), dương vật cương cứng lâu không giao hợp mà tinh tự xuất, sau khi tiêu khát phát sinh ung thư, có các bài Tề ni hoàn, Trư thận tề ni thang, đây đều là những điều Bản thảo chưa chép tới. Nhưng cũng đều lấy công năng giải nhiệt giải độc của nó mà thôi, không có ý nghĩa khác. '''【Phụ phương】''' (Cũ 4, Mới 3) * '''Cường trung tiêu khát (Trư thận tề ni thang):''' Trị bệnh cường trung, dương vật cương cứng dài lâu, không giao hợp mà tinh dịch tự chảy, sau tiêu khát là phát ung thư. Đều do buông thả sắc dục, hoặc uống kim thạch (thuốc khoáng vật) gây ra, nên dùng bài này để chế cái nhiệt trong Thận vậy. Dùng Cật lợn (trư thận) 1 đôi, Tề ni, Thạch thạch cao mỗi thứ 3 lạng, Nhân sâm, Phục linh, Từ thạch, Tri mẫu, Cát căn, Hoàng cầm, Qua lâu căn, Cam thảo mỗi thứ 2 lạng, Đỗ đen (hắc đại đậu) 1 thăng, nước 1 đấu rưỡi. Trước tiên luộc cật lợn và đỗ đen lấy 1 đấu nước cốt, bỏ bã rồi cho thuốc vào, sắc lại lấy 3 thăng, chia 3 lần uống. Người đời sau gọi là Thạch tử tề ni thang. * Lại có '''Tề ni hoàn:''' dùng Tề ni, Đỗ đen, Phục thần, Từ thạch, Qua lâu căn, Thục địa hoàng, Địa cốt bì, Huyền sâm, Thạch hộc, Lộc nhung mỗi thứ 1 lạng, Nhân sâm, Trầm hương mỗi thứ nửa lạng. Tán bột, lấy bao tử lợn (trư đỗ) làm sạch nấu nhừ, giã nát hòa thuốc viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 70 viên với nước muối lúc đói (Đều trong Thiên kim phương). * '''Đinh sang thũng độc:''' Rễ Tề ni tươi giã lấy nước cốt, uống 1 hớp (hợp), lấy bã đắp lên, không quá 3 lần (Thiên kim dực). * '''Vết nám trên mặt (Diện thượng sạm):''' Tề ni, Nhục quế lượng bằng nhau. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông uống với nước hèm (tạc tương), ngày 1 lần. Lại có thể tẩy vết sẹo, nốt ruồi (Thánh tế tổng lục). * '''Giải mọi loại cổ độc:''' Rễ Tề ni giã lấy bột, uống 1 thìa vuông, khỏi ngay (Trần Diên Chi - Đoản kịch phương). * '''Giải độc Câu vẫn (Lá ngón):''' Lá Câu vẫn (Gelsemium elegans) và lá Rau cần tương tự nhau, lỡ ăn nhầm sẽ chết người. Duy lấy Tề ni 8 lạng, nước 6 thăng, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 5 hợp, ngày 5 lần (Trọng Cảnh Kim quỹ ngọc hàm). * '''Giải độc Ngũ thạch (5 loại khoáng vật độc):''' Tề ni tươi giã lấy nước, uống nhiều, khỏi ngay (Tô Tụng - Đồ kinh). ===ẨN NHẪN DIỆP (Lá cây Tề ni)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, đắng, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Cổ độc gây đau bụng, mặt mắt xanh vàng, gầy rộc (lâm lộ cốt lập), sắc nước 1-2 thăng mà uống (Thời Trân). Chủ trị phong ủng ở tạng bụng, ho thượng khí (Tô Tụng). ==CÁT CÁNH (桔梗)== (Platycodon grandiflorus (Jacq.) A. DC.) (Sách Bổn kinh, hàng Hạ phẩm) '''【Thích danh】''' Bạch dược (Biệt lục), Cánh thảo (Biệt lục), Tề ni (Bổn kinh). * '''Thời Trân nói:''' Rễ của loại cỏ này kết thực mà thân (cánh) mọc thẳng, nên có tên như vậy (Cát cánh). Sách Ngô Phổ bản thảo gọi là Lợi như, Phù hộ, Phòng đồ; các sách phương tễ đều không thấy dùng, có lẽ là tên lóng (sấu từ) mà thôi. Cát cánh và Tề ni (Adenophora) cùng một loại, có hai giống ngọt và đắng, nên Bổn kinh gọi Cát cánh là Tề ni, mà nay dân gian gọi Tề ni là Cát cánh ngọt vậy. Đến đời Biệt lục mới bắt đầu tách riêng điều mục Tề ni, chia làm hai vật, vì tính vị công dụng đều khác nhau, nên lấy theo Biệt lục là đúng. '''【Tập giải】''' * '''Sách Biệt lục nói:''' Cát cánh sinh ở thung lũng núi Tung Cao và vùng Oan Cú. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. * '''Ngô Phổ nói:''' Lá như Tề ni, thân như quản bút, màu tím đỏ, tháng 2 mọc mầm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vùng gần đường đâu đâu cũng có, tháng 2, tháng 3 mọc mầm, có thể luộc ăn. Cát cánh trị cổ độc rất linh nghiệm. Phương tễ dân gian dùng vị này gọi tên là Tề ni. Nay có loại Tề ni riêng, năng giải độc thuốc, thường làm loạn (trà trộn) với Nhân sâm, lá rất giống nhau. Nhưng lá Tề ni mặt dưới sáng bóng nhẵn nhụi không lông là điểm khác biệt, cách mọc lá cũng không đối nhau như Nhân sâm. * '''Trần Ty Cung nói:''' Tề ni và Cát cánh, lá có loại mọc cách, cũng có loại mọc 3-4 đôi đối nhau, đều một thân mọc thẳng lên, lá đã dễ lẫn lộn, duy chỉ có thể phân biệt bằng việc rễ (Cát cánh) có lõi (tâm) mà thôi. * '''Tô Tụng nói:''' Nay nơi nơi đều có. Rễ to như ngón tay út, màu vàng trắng. Mùa xuân mọc mầm, thân cao hơn một thước. Lá như lá Hạnh (Prunus armeniaca L.) nhưng dài dẹt, 4 lá mọc đối, lúc non có thể luộc ăn. Mùa hạ nở hoa nhỏ màu tím biếc, khá giống hoa Thiên ngưu (hoa muống - Ipomoea nil), sau mùa thu kết hạt. Tháng 8 hái rễ, rễ có lõi, loại nào không lõi là Tề ni. Cát cánh vùng Quan Trung rễ vỏ vàng, giống rễ Thục quỳ (Althaea rosea). Thân nhỏ màu xanh. Lá nhỏ màu xanh, giống lá Cúc (Chrysanthemum). ===RỄ (根)=== '''【Tu trị】''' * '''Lôi Hiệu nói:''' Phàm dùng chớ dùng loại Mộc cánh (thân gỗ), trông rất giống Cát cánh, nhưng nhai thấy vị tanh chát không dùng được. Phàm dùng Cát cánh, phải bỏ phần đầu nhọn cứng chừng 2-3 phân, cùng các cành phụ hai bên. Trên thớt gỗ dâu (khuê châm) thái nhỏ, dùng Bách hợp (Lilium brownii) tươi giã thành cao, cho vào nước ngâm một ngày đêm (nhất phục thời) rồi lọc ra, dùng lửa nhẹ sao cho khô thì dùng. Cứ 4 lạng Cát cánh thì dùng 2 lạng 5 tiền Bách hợp. * '''Thời Trân nói:''' Nay chỉ cần cạo bỏ lớp vỏ nổi bên ngoài, ngâm nước vo gạo một đêm, thái phiến sao nhẹ mà dùng. '''【Khí vị】''' Vị cay, tính hơi ấm (vi ôn), có độc nhỏ. * '''Ngô Phổ nói:''' Thần Nông, Y Hòa bảo vị đắng, không độc; Hoàng Đế, Biển Thước bảo vị cay mặn; Kỳ Bá, Lôi Công bảo vị ngọt, không độc. Lý Đương Chi bảo đại hàn. * '''Chân Quyền nói:''' Vị đắng, cay. * '''Thời Trân nói:''' Nên lấy vị đắng, cay, tính bình làm đúng. * '''Lý Chi Tài nói:''' Tiết bì (vỏ đốt) làm sứ. Sợ Bạch cập (Bletilla striata), Long nhãn (Dimocarpus longan), Long đảm thảo (Gentiana scabra). Kỵ thịt lợn. Được Mẫu lệ, Viễn chí thì trị được chứng giận dữ (huế nộ); được Tiêu thạch, Thạch cao thì trị được thương hàn. Cháo trắng giải được độc của thuốc. * '''Thời Trân nói:''' Phục được Thạch tín (Phục thạch). Tiết bì mà Từ Chi Tài nói, không biết là vật gì vậy. '''【Chủ trị】''' Đau ngực sườn như dao châm, bụng đầy trướng, ruột kêu u u (tràng minh), kinh khủng quý khí (tim đập nhanh do sợ hãi) (Bổn kinh). Lợi ngũ tạng tràng vị, bổ huyết khí, trừ hàn nhiệt phong tý, ôn trung tiêu cốc, trị đau cổ họng, hạ cổ độc (Biệt lục). Trị hạ lỵ, phá huyết khứ tích khí, tiêu tích tụ đàm diên (đờm dãi), trừ phế nhiệt gây khí xúc sấu nghịch (thở gấp ho ngược), trừ đau lạnh trong bụng, chủ trị trúng ác và trẻ nhỏ kinh giản (Chân Quyền). Hạ tất cả các loại khí, cầm hoắc loạn chuyển cân (chuột rút), tim bụng trướng đau, bổ ngũ lao, dưỡng khí, trừ tà lánh ôn (dịch), phá trưng hà phế ung, dưỡng huyết bài nùng (tống mủ), bổ nội lậu và hầu tý (Đại Minh). Lợi các khiếu, trừ phong nhiệt ở bộ phận Phế, thanh lợi đầu mắt hầu họng, trị khí trệ và đau ở hung cách (ngực), trừ nghẹt mũi (Trương Nguyên Tố). Trị nôn do hàn (Lý Đông Viên). Chủ trị miệng lưỡi sinh hỏa (loét), mắt đỏ sưng đau (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Cát cánh khí hơi ấm, vị đắng cay, vị đậm mà khí nhẹ, là phần Âm trong Dương, tính thăng (đi lên). Đi vào khí phận kinh Thủ thái âm Phế và kinh Túc thiếu âm Thận. * '''Trương Nguyên Tố nói:''' Cát cánh thanh phế khí, lợi hầu họng, sắc trắng nên làm thuốc dẫn kinh vào bộ phận Phế. Dùng chung với Cam thảo làm thuốc "Châu tiếp" (thuyền chèo). Như các thuốc vị đắng tính tiết hạ mạnh như Đại hoàng, muốn dẫn đến tận vùng ngực là nơi cao nhất để lập công, tất phải dùng vị cay ngọt này để nâng lên. Ví như sắt đá rơi xuống sông, không có thuyền chèo (châu tiếp) thì không chở được. Vì vậy các thuốc hễ có vị này thì không bị chìm xuống dưới vậy. * '''Thời Trân nói:''' Chu Quăng trong Hoạt nhân thư trị trong ngực bĩ mãn không đau, dùng Cát cánh, Chỉ xác, lấy nghĩa thông phế lợi cách hạ khí vậy. Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận trị hàn thực kết hung, dùng Cát cánh, Bối mẫu, Ba đậu, lấy nghĩa ôn trung tiêu cốc phá tích vậy. Lại trị phế ung khạc mủ (thoa nùng), dùng Cát cánh, Cam thảo, lấy nghĩa khổ tân thanh phế (đắng cay thanh phổi), cam ôn tả hỏa (ngọt ấm hạ hỏa), lại năng bài nùng huyết, bổ nội lậu vậy. Trị chứng Thiếu âm 2-3 ngày hầu họng đau, cũng dùng Cát cánh, Cam thảo, lấy nghĩa khổ tân tán hàn (đắng cay tán lạnh), cam bình trừ nhiệt (ngọt bình trừ nóng), hợp dùng năng điều hòa hàn nhiệt vậy. Người đời sau đổi tên là '''Cam Cát thang''', thông trị mọi bệnh hầu họng miệng lưỡi. Tống Nhân Tông gia thêm Kinh giới, Phòng phong, Liên kiều, gọi là '''Như thánh thang''', cực khen sự linh nghiệm của nó vậy. * '''Xét:''' Vương Hiếu Cổ trong Y lũy nguyên nhung chép khá tường tận, vân: Mất tiếng (thất âm), gia Kha tử; tiếng không ra, gia Bán hạ; thượng khí, gia Trần bì; đàm ho (diên sấu), gia Tri mẫu, Bối mẫu; ho khát, gia Ngũ vị tử; độc rượu, gia Cát căn; thiếu khí, gia Nhân sâm; nôn, gia Bán hạ, Gừng sống; khạc mủ máu, gia Tử uyển; phế nuy, gia A giao; hung cách không lợi, gia Chỉ xác; tâm hung bĩ mãn, gia Chỉ thực; mắt đỏ, gia Chi tử, Đại hoàng; mặt sưng, gia Phục linh; đau ngoài da (phu thống), gia Hoàng kỳ; phát ban, gia Phòng phong, Kinh giới; độc dịch (dịch độc), gia Ngưu bàng tử, Đại hoàng; không ngủ được, gia Chi tử. * '''Chu Đan Khê nói:''' Ho khan, là tà hỏa đàm uất ở trong phổi, nghi dùng Khổ cánh để khai thông; lỵ gây đau bụng, là khí của Phế kim uất ở Đại trường, cũng nghi dùng Khổ cánh khai thông trước, sau đó dùng thuốc trị lỵ. Vị thuốc này năng khai đề (mở mang và nâng lên) khí huyết, nên trong thuốc về khí nghi dùng vậy. '''【Phụ phương】''' (Cũ 10, mới 8) * '''Ngực đầy không đau:''' Cát cánh, Chỉ xác lượng bằng nhau. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung, uống ấm (Nam Dương Hoạt nhân thư). * '''Thương hàn bụng trướng:''' Do âm dương không hòa, Cát cánh Bán hạ thang chủ trị. Cát cánh, Bán hạ, Trần bì mỗi thứ 3 tiền, gừng 5 lát. Nước 2 chung sắc 1 chung uống (Nam Dương Hoạt nhân thư). * '''Đàm ho suyễn cấp:''' Cát cánh 1 lạng rưỡi. Tán bột. Dùng nước tiểu trẻ em (đồng tiện) nửa thăng, sắc lấy 4 phần, bỏ bã uống ấm (Giản yếu tế chúng phương). * '''Phế ung ho:''' Ngực đầy run lạnh, mạch sác họng khô, không khát, thường khạc nước bọt đục hôi tanh, lâu ngày nôn mủ như cháo gạo nếp, Cát cánh thang chủ trị. Cát cánh 1 lạng, Cam thảo 2 lạng. Nước 3 thăng sắc lấy 1 thăng, chia lần uống ấm. Sáng tối nôn mủ máu thì khỏi (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ ngọc hàm phương). * '''Hầu tý độc khí:''' Cát cánh 2 lạng. Nước 3 thăng sắc lấy 1 thăng, uống hết một lần (Thiên kim phương). * '''Thiếu âm hầu thống:''' Chứng Thiếu âm 2-3 ngày họng đau, có thể cho Cam thảo thang; không khỏi thì cho Cát cánh thang chủ trị. Cát cánh 1 lạng, Cam thảo 2 lạng. Nước 3 thăng sắc 1 thăng, chia uống (Trương Trọng Cảnh Thương hàn luận). * '''Miệng lưỡi sinh sang (loét):''' Phương như trên. * '''Sưng đau chân răng (Xỉ nục):''' Cát cánh, Ý dĩ nhân lượng bằng nhau. Tán bột uống (Vĩnh loại phương). * '''Cốt tào phong thống, chân răng sưng đau:''' Cát cánh tán bột, hòa nhân Táo làm viên to bằng hạt bồ kết (tạo tử). Dùng bông bọc lại mà nhai. Lại lấy nước sắc Kinh giới súc miệng (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Nha cam hôi thối thối loét:''' Cát cánh, Tiểu hồi hương lượng bằng nhau. Đốt tồn tính tán bột, đắp vào (Vệ sinh dị giản phương). * '''Can phong mắt tối:''' Tròng mắt đau, do can phong thịnh, Cát cánh hoàn chủ trị. Cát cánh 1 cân, Hắc khiên ngưu (đầu mạt) 3 lạng, tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 40 viên uống với nước ấm, ngày 2 lần (Bảo mệnh tập). * '''Mũi chảy máu cam (Nục huyết):''' Cát cánh tán bột, uống với nước mỗi lần 1 thìa vuông, ngày 4 lần. Có bài gia thêm vụn sừng tê giác tươi (Phổ tế phương). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Phương như trên. * '''Bị đánh ứ huyết trong ruột:''' Lâu ngày không tan, thỉnh thoảng phát đau. Cát cánh tán bột, uống với nước cơm 1 thìa (đao khuê) (Chẩm hậu yếu phương). * '''Trúng cổ độc hạ huyết như gan gà:''' Ngày đêm ra máu hơn 1 thạch, tứ tạng đều tổn thương, duy chỉ có Tâm chưa hỏng, hoặc mũi rách sắp chết. Khổ cát cánh tán bột, uống với rượu mỗi lần 1 thìa vuông, ngày 3 lần. Không uống được thì dùng vật nạy miệng đổ vào. Trong lòng sẽ thấy phiền táo, một lát tự định, 7 ngày thì dừng. Nên ăn gan lợn nướng (chích trư can) để bồi bổ. Rất tốt. Một phương gia thêm Sừng tê giác lượng bằng nhau (Cổ kim lục nghiệm). * '''Có thai trúng ác, tâm phúc đau đớn:''' Cát cánh 1 lạng (thái nhỏ). Nước 1 chung, gừng sống 3 lát, sắc lấy 6 phần, uống ấm (Thánh huệ phương). * '''Trẻ nhỏ khách ngỗ (trúng tà), chết ngất không nói được:''' Cát cánh (đốt tồn tính tán bột) 3 tiền, uống với nước cơm. Lại nuốt thêm chút Xạ hương (Trương Văn Trọng Bị cấp phương). ===LÔ ĐẦU (蘆頭 - Đầu rễ)=== '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị phong nhiệt đàm thực ở thượng cách (vùng ngực trên), dùng bột sống hòa nước ấm uống 1-2 tiền để gây nôn (Thời Trân). ==TRƯỜNG TÙNG (长松)== (Trích từ sách "Bản thảo Thập di") '''Tên khoa học:''' Pachyloma nepalense (hoặc trong một số ngữ cảnh cổ là Inula helenium - Thổ mộc hương). Tuy nhiên, theo mô tả của Lý Thời Trân về loại mọc dưới gốc thông cổ thụ ở vùng Ngũ Đài Sơn, nó thường được giới thực vật học hiện đại định danh là '''Pachyloma nepalense'''. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Tiên mão (仙茆).''' '''Thời Trân nói:''' Lá của nó giống lá thông (tùng), uống vào thì trường thọ, công hiệu như nhựa thông (tùng chỉ) và Tiên mão, nên mới có hai tên này. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Tàng Khí nói:''' Trường tùng sinh ra ở các thung lũng vùng Quan Nội, lá giống lá thông, trên lá có nhựa, người trên núi thường hái về uống. '''Thời Trân nói:''' Trường tùng mọc dưới gốc cây thông cổ thụ, rễ sắc trắng như cây Tề (Capsella bursa-pastoris), dài từ ba đến năm tấc. Vị ngọt hơi đắng, hình dáng tương tự Nhân sâm, mùi hương thanh khiết dễ chịu. '''Xét theo:''' Trương Thiên Giác văn tập có chép: Tăng nhân Phổ Minh cư ngụ tại Ngũ Đài Sơn, mắc bệnh đại phong (bệnh hủi), lông mày và tóc đều rụng hết, đau khổ khôn cùng. Bỗng gặp được dị nhân chỉ cho cách uống Trường tùng và mô tả hình dáng cho. Phổ Minh hái về uống, hơn mười ngày sau lông tóc đều mọc lại, sắc mặt hồng hào như xưa. Nay người dân vùng Binh, Đại (thuộc Sơn Tây ngày nay) thường dùng Trường tùng trộn với Cam thảo, Sơn dược để sắc nước uống, vị rất ngon. Tuy nhiên, các sách Bản thảo và phương thư xưa đều không chép, duy nhất có hòa thượng Huệ Tường trong cuốn Thanh Lương truyện mới bắt đầu thuật lại chi tiết như vậy. Hàn Diễn trong cuốn Y thông nói rằng: Trường tùng sản sinh ở các vùng núi phía Tây Bắc Thái Hành, rễ giống Độc hoạt nhưng thơm hơn. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Khí vị:''' Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. '''Chủ trị:''' * Các chứng phong huyết, khí lạnh, bệnh cũ lâu ngày; làm ấm trung tiêu, trừ phong (theo Tàng Khí). * Trị bệnh đại phong ác tật, lông mày tóc rụng, xương cốt thối rữa. Mỗi lần dùng một lạng, thêm một ít Cam thảo, sắc với nước uống, trong mười ngày là khỏi. * Lại có thể giải độc của các loại sâu độc (trùng độc), bổ ích giúp tăng tuổi thọ (theo Thời Trân). ===【Phụ phương】=== Mới thêm vào một phương. * '''Trường tùng tửu (Rượu Trường tùng):''' Bồi bổ tất cả các chứng phong hư, do Hưu Hưu Tử ở Lư Sơn truyền lại. ** '''Thành phần:''' Trường tùng 1 lạng 5 tiền (hình dáng giống Độc hoạt mà thơm, là vị thuốc thánh trong rượu); Thục địa hoàng 8 tiền; Sinh địa hoàng, Hoàng kỳ (sao mật), Trần bì mỗi vị 7 tiền; Đương quy, Hậu phác, Hoàng bá mỗi vị 5 tiền; Bạch thược (nướng), Nhân sâm, Chỉ xác mỗi vị 4 tiền; Thương truật (chế nước vo gạo), Bán hạ (chế), Thiên môn đông, Mạch môn đông, Sa nhân, Hoàng liên mỗi vị 3 tiền; Mộc hương, Thục tiêu, Hồ đào nhân mỗi vị 2 tiền; Táo đỏ (bỏ hạt) 8 quả; gạo nếp cũ một nắm; Đăng tâm (dài 5 tấc) 120 sợi. ** '''Cách dùng:''' Một liều chia làm mười thang, dùng túi lụa đựng. Cứ dùng 5 thăng gạo nấu một bình rượu, hầm một túi thuốc vào, ủ lâu rồi mới uống. (Theo Hàn thị Y thông) ==HOÀNG TINH (黃精)== (Trích từ sách "Danh y Biệt lục" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Polygonatum sibiricum Redouté (hoặc các loài cùng chi như Polygonatum kingianum Coll. et Hemsl., Polygonatum cyrtonema Hua). ===【Hiệu chính - Chỉnh lý】=== Hợp nhất với phần "Cứu hoang thảo" trong Bản thảo Thập di. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Hoàng chi''' (黃芝 - theo Thụy thảo kinh), '''Mậu kỷ chi''' (戊己芝 - theo Ngũ phù kinh), '''Thỏ trúc''' (菟竹 - theo Biệt lục), '''Lộc trúc''' (鹿竹 - theo Biệt lục), '''Tiên nhân dư lương''' (仙人餘糧 - theo Đào Hoằng Cảnh), '''Cứu cùng thảo''' (救窮草 - theo Biệt lục), '''Mễ phô''' (米鋪 - theo Mông thuyên), '''Dã sinh khương''' (野生薑 - theo Mông thuyên), '''Trùng lâu''' (重樓 - theo Biệt lục), '''Kê cách''' (雞格 - theo Biệt lục), '''Long hàm''' (龍銜 - theo Quảng nhã), '''Thùy châu''' (垂珠). '''Tô Tụng nói:''' Pháp uống Hoàng tinh của Dương Công thời Tùy có chép: Hoàng tinh là tinh túy của cỏ chi, còn gọi là Uy duy, Bạch cập, Tiên nhân dư lương, Cẩu cách, Mã tiễn, Thùy châu, Thỏ trúc. '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh là vị thuốc trọng yếu để ăn uống luyện thân, nên sách Biệt lục xếp nó đứng đầu bộ Thảo. Các nhà tu tiên coi đây là loại cỏ chi, vì nó đắc được tinh túy thuần khiết của hành Thổ (Khôn Thổ), nên gọi là Hoàng tinh (tinh túy màu vàng). Sách Ngũ phù kinh viết: "Hoàng tinh được cái tinh thuần của trời đất, nên tên là Mậu kỷ chi", chính là nghĩa này. Các tên "Dư lương", "Cứu cùng" là gọi theo công dụng (lương thực dự phòng); "Lộc trúc", "Thỏ trúc" là do lá giống lá trúc mà hươu thỏ hay ăn; "Thùy châu" là dựa theo hình dáng hạt. Cây "Cứu hoang thảo" trong Thập di của Trần tàng Khí chính là cây này, nay hợp làm một. Đỗ Gia Mô nói: Rễ như gừng non, dân gian gọi là Dã sinh khương (gừng dại). Cửu chưng cửu sái (chín lần đồ, chín lần phơi) có thể thay lương thực, nên còn gọi là Mễ phô. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Hoàng tinh sinh ra ở thung lũng. Tháng Hai hái rễ, phơi trong bóng râm cho khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay đâu đâu cũng có. Tháng Hai bắt đầu mọc, một cành nhiều lá, lá giống lá trúc nhưng ngắn hơn. Rễ giống Uy duy. Rễ Uy duy giống rễ Địch (Phragmites) và Xương bồ, đốt thưa mà bằng phẳng, mọc thẳng; rễ Hoàng tinh giống rễ Quỷ cửu, Hoàng liên, đốt lớn và không phẳng. Tuy khô nhưng đều mềm mại, có chất dầu nhuận. Phương thuốc dân gian ít dùng, nhưng kinh sách nhà tiên rất quý trọng. Rễ, lá, hoa, quả đều có thể ăn được, nấu rượu hay tán bột tùy ý, đều ghi trong các phương phép đoạn cốc (nhịn cơm). Lá của nó rất giống lá cây Câu vẫn (Gelsemium elegans - lá ngón), chỉ khác là thân không tím, hoa không vàng, khiến người ta dễ lầm lẫn. Hai loại này khác hẳn nhau, ăn lầm dẫn đến cái chết, thật là chuyện lạ. '''Lôi Công nói:''' Câu vẫn thật giống Hoàng tinh, chỉ là đầu lá nhọn và có hai móc lông, nếu ăn nhầm sẽ hại người. Lá Hoàng tinh thì giống lá trúc. '''Tô Cung nói:''' Hoàng tinh mọc nơi đất tốt thì lớn như nắm tay, nơi đất xấu thì nhỏ như ngón tay cái. Rễ Uy duy béo tốt khá giống loại Hoàng tinh nhỏ, thớ thịt và hình sắc đại để tương tự. Nay lấy Quỷ cửu, Hoàng liên ra so sánh thì chẳng thấy giống chút nào. Lá Hoàng tinh giống lá Liễu, Long đởm, Từ trường khanh nhưng cứng hơn. Còn Câu vẫn là loại dây leo, lá như lá Hồng, không thể ví cùng loại được. '''Trần Tàng Khí nói:''' Hoàng tinh mà lá mọc lệch không đối nhau gọi là Thiên tinh, công dụng không bằng Chính tinh. Chính tinh thì lá mọc đối. Câu vẫn là tên khác của Dã cát, hai thứ không hề giống nhau, không biết Đào Công căn cứ vào đâu mà nói vậy? '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Câu vẫn còn gọi là Dã cát, thuyết của Đào Công nói lá giống Hoàng tinh chắc là đúng. Thuyết của Tô Cung nói lá giống lá Hồng chắc là một vật khác. '''Tô Tụng nói:''' Nam Bắc đều có Hoàng tinh, loại ở Tung Sơn, Mao Sơn là tốt nhất. Tháng Ba mọc mầm, cao chừng một, hai thước. Lá như lá trúc mà ngắn, mọc đối từng đôi. Thân cành mềm giòn, khá giống cành đào, gốc vàng ngọn đỏ. Tháng Tư nở hoa nhỏ màu trắng xanh, hình như hoa đậu nhỏ. Kết hạt trắng như hạt kê, cũng có loại không hạt. Rễ như gừng non mà màu vàng, tháng Hai hái rễ, đồ chín rồi phơi khô dùng. Nay thường hái vào tháng Tám, người trong núi chín đồ chín phơi làm thành quả đem bán, màu đen vàng mà vị rất ngọt ngon. Mầm lúc mới mọc người ta thường hái làm rau ăn, gọi là Bút thái, vị cực ngon. Người Giang Nam nói mầm và lá Hoàng tinh hơi giống Câu vẫn, nhưng đầu lá Câu vẫn cực nhọn và rễ nhỏ; còn Tô Cung nói Câu vẫn dây leo, e là do sản vật Nam Bắc khác nhau vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh mọc hoang trong núi, cũng có thể chặt rễ dài hai tấc đem trồng thưa, sau một năm sẽ mọc rất dày, hạt cũng có thể trồng được. Lá giống lá trúc nhưng không nhọn, hoặc hai lá, ba lá, bốn, năm lá đều mọc đối ở đốt. Rễ mọc ngang, hình trạng như Uy duy, dân gian hái mầm trụng chín, rửa sạch vị đắng để ăn, tên là rau Bút quản (Bút quản thái). Sách Bản thảo của Trần Tàng Khí nói Thanh niêm là Uy duy (xem phần Uy duy phát minh). Lại về thuyết Hoàng tinh và Câu vẫn, Đào Hoằng Cảnh, Lôi Công, Hàn Bảo Thăng đều nói hai thứ giống nhau. Tô Cung, Trần Tàng Khí lại nói không giống. Tô Tụng thì đưa ra thuyết nước đôi. Nay khảo cứu Thần Nông bản thảo, Ngô Phổ bản thảo đều nói Câu vẫn là Dã cát, dạng dây leo, thân như mũi tên, hợp với thuyết của Tô Cung. Trương Hoa trong Bác vật chí viết: "Xưa Hoàng Đế hỏi Thiên Lão rằng: Trong trời đất sinh ra, có thứ gì ăn vào khiến người ta không chết chăng? Thiên Lão đáp: Cỏ Thái Dương tên là Hoàng tinh, ăn vào có thể trường sinh; cỏ Thái Âm tên là Câu vẫn, không được ăn, vào miệng là chết ngay. Người ta tin Câu vẫn giết người, mà không tin Hoàng tinh giúp thọ lâu, chẳng phải mê muội sao?". Xét thấy: Đây chỉ là lấy Hoàng tinh và Câu vẫn đối lập nhau mà nói, không nói chúng giống nhau. Đào thị do đó mà cho rằng hai thứ giống nhau, không hợp với thuyết Câu vẫn của Thần Nông. E rằng nên lấy thuyết của Tô Cung làm đúng, còn thứ mà Đào, Lôi nói là một loại độc vật khác, không phải Câu vẫn. Bản thảo các đời chỉ có Trần Tàng Khí biện vật là tinh tường nhất, nên tin theo. Xem thêm ở mục Câu vẫn. ===【Tu trị - Chế biến】=== '''Lôi Công nói:''' Phàm hái được rễ, dùng nước suối rửa sạch, đồ từ giờ Tỵ đến giờ Tý (khoảng 14 tiếng), thái mỏng, phơi khô dùng. '''Tô Tụng nói:''' Pháp uống Hoàng tinh của Dương Công: Tháng Hai, tháng Ba hái rễ, loại sâu dưới đất tám, chín tấc là hạng thượng đẳng. Thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch năm đấu nước, nấu cho hết vị đắng, vớt ra, cho vào túi ép lấy nước cốt, lọc trong rồi nấu lại cho thành cao thì dừng. Dùng bột đậu nành rang đen trộn đều cho vừa, nặn thành bánh như đồng tiền. Mới đầu uống hai cái, mỗi ngày tăng dần. Cũng có thể sấy khô tán bột, uống với nước. '''Mạnh Tiễn nói:''' Pháp luyện Hoàng tinh: Lấy hũ bỏ đáy, đặt trong nồi cho khớp, cho Hoàng tinh vào đầy, đậy kín, đồ cho đến khi hơi bốc lên thì đem phơi. Cứ thế chín đồ chín phơi (cửu chưng cửu sái). Nếu dùng sống sẽ gây ngứa cổ họng. Nếu uống sống, lúc đầu chỉ nên dùng một tấc rưỡi, dần dần tăng lên, mười ngày không ăn cơm, uống tối đa ba thước năm thấc. Sau ba trăm ngày sẽ thấy được quỷ thần, lâu dần tất bay lên trời. Rễ, lá, hoa, quả đều ăn được. Nhưng loại lá mọc đối mới là chính tông, loại không đối gọi là Thiên tinh. ===【Khí vị】=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. Quyền nói: Tính hàn. '''Lý Thời Trân nói:''' Kỵ quả Mơ (Mai thực), hoa, lá, hạt đều vậy. ===【Chủ trị】=== Bổ trung ích khí, trừ phong thấp, an ngũ tạng. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ, không đói (Biệt lục). Bổ ngũ lao thất thương, giúp mạnh gân xương, chịu được nóng lạnh, ích tỳ vị, nhuận tâm phế. Dùng đơn độc loại chín đồ chín phơi để ăn, giúp giữ nhan sắc, nhịn được cơm (Đại Minh). Bổ các chứng hư tổn, cầm cơn hàn nhiệt, làm đầy tinh tủy, trừ sâu Tam thi (Thời Trân). ===【Phát minh】=== '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh nhận lấy khí thuần hậu của cung Mậu Kỷ (hành Thổ), nên là linh phẩm bổ ích cho Hoàng cung (Tỳ tạng). Thổ là mẹ của vạn vật, mẹ được nuôi dưỡng thì Thủy Hỏa được giao hòa, Mộc Kim được kết hợp, các tà khí tự đi, trăm bệnh không sinh. Sách Thần tiên chi thảo kinh nói: Hoàng tinh làm khoan khoái trung tiêu, ích khí, khiến ngũ tạng điều hòa, cơ bắp đầy đặn, xương tủy kiên cường, sức lực tăng bội, nhiều tuổi không già, sắc mặt tươi sáng, tóc bạc đen lại, răng rụng mọc mới. Lại có thể trừ sâu Tam thi trước: Thượng thi tên Bành Chất, ưa đồ quý báu, trăm ngày thì trừ được; Trung thi tên Bành Kiểu, ưa ngũ vị, sáu mươi ngày thì trừ được; Hạ thi tên Bành Cư, ưa ngũ sắc, ba mươi ngày thì trừ được, đều thối rữa mà ra ngoài. Rễ là tinh khí, hoa quả là phi anh, đều có thể dùng ăn. Lại xét: Lời tựa Bào chế luận của Lôi thị nói: Giữ nhan sắc kéo dài tuổi thọ, tinh chưng Thần cẩm. Chú giải rằng: Dùng nước cốt tự nhiên của Hoàng tinh trộn với Thần cẩm nghiền mịn, đồ trong chõ gỗ Liễu bảy ngày, dùng Mộc mật làm viên mà uống. Mộc mật là quả Chỉ cụ (Khế rừng/Kháo). Thần cẩm không biết là vật gì, có thuyết nói là Chu sa. '''Dương Tích nói:''' Xét sách Bào Phác Tử viết: "Hoàng tinh uống hoa tốt hơn quả, uống quả tốt hơn rễ". Nhưng hoa khó kiếm, hái được mười hộc hoa tươi, phơi khô chỉ được năm, sáu đấu thôi, không phải người có đại lực không làm nổi. Mỗi ngày uống ba hợp, uống mười năm mới được lợi ích. Về việc nhịn cơm thì không bằng Thương truật. Thương truật khiến người béo khỏe, có thể mang nặng đi xa; nhưng không bằng Hoàng tinh ngọt ngon dễ ăn, năm mất mùa có thể thay lương thực cho người già trẻ nhỏ, gọi là "mễ phô" (thịt gạo). '''Vương Thận Vi nói:''' Từ Huyền trong Kê thần lục chép: Nhà một kẻ sĩ ở Lâm Xuyên có một người tỳ nữ trốn vào núi sâu, lâu ngày thấy lá cỏ dại khả ái, bèn hái rễ ăn, lâu dần không thấy đói. Đêm nghỉ dưới cây lớn, nghe trong cỏ có tiếng động, tưởng là hổ vồ, bèn trèo lên cây lánh. Đến sáng xuống đất, thân hình nhẹ bẫng như lướt trên không, như chim bay vậy. Mấy năm sau người nhà đi hái củi trông thấy, bắt không được, bèn vây lưới dưới vách đá, phút chốc cô ta đã bay lên đỉnh núi. Có người nói tỳ nữ ấy đâu có tiên cốt, chẳng qua là ăn được linh dược thôi. Bèn đặt rượu và thức ăn trên đường qua lại, quả nhiên cô ta đến, ăn xong thì không chạy được nữa, bị bắt về kể lại sự tình. Chỉ loại cỏ đã ăn, chính là Hoàng tinh vậy. ===【Phụ phương】=== Cũ một, mới bốn. * '''Pháp uống thực:''' (Thánh huệ phương): Dùng rễ và thân Hoàng tinh không kể nhiều ít, thái nhỏ phơi khô tán bột. Mỗi ngày hòa nước uống, tùy ý nhiều ít. Trong một năm già hóa trẻ, lâu dần thành địa tiên. Sách Thần ẩn thư của Ninh Hiến Vương: Lấy Hoàng tinh thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch năm đấu nước nấu từ sáng đến tối, chờ nguội, dùng tay vò nát, cho vào túi vải ép lấy nước nấu cô lại. Bã phơi khô tán bột, cho vào nồi nấu cùng đến khi nặn được viên, viên như hạt súng. Mỗi lần uống một viên, ngày ba lần. Nhịn cơm nhẹ mình, trừ trăm bệnh. Khát thì uống nước. * '''Bổ gan sáng mắt:''' Hoàng tinh 2 cân, hạt Mạn kinh 1 cân (rửa sạch), trộn đều, cửu chưng cửu sái, tán bột. Lúc bụng đói uống 2 tiền với nước cơm, ngày hai lần, kéo dài tuổi thọ. (Thánh huệ phương) * '''Trị bệnh đại phong (hủi), lở loét:''' Do doanh khí không thanh, phong độc nhập vào kinh mạch lâu ngày thành bệnh lở loét, mũi hỏng, sắc mặt bại hoại, da dẻ ngứa nát. Dùng rễ Hoàng tinh (bỏ vỏ, rửa sạch) 2 cân, phơi nắng cho mềm, cho vào chõ đồ cùng cơm gạo nếp, đồ đến khi 2 đấu gạo chín, thường xuyên ăn. (Thánh tế tổng lục) * '''Bồi bổ tinh khí hư tổn:''' Hoàng tinh, Câu kỷ tử lượng bằng nhau. Giã nặn thành bánh, phơi khô tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước ấm. (Kỳ hiệu lương phương) ==UY DUY, UY NHUY (萎蕤)== (Phát âm là Uy. Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Polygonatum odoratum (Mill.) Druce (thường gọi là '''Ngọc trúc'''). ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Nữ uy''' (女萎 - theo Bản kinh), '''Uy duy''' (葳蕤 - theo Ngô Phổ), '''Uy di''' (萎 - âm là Uy Di), '''Ủy uy''' (委萎 - theo Nhĩ Nhã), '''Uy hương''' (萎香 - theo Cương mục), '''Huỳnh''' (熒 - theo Nhĩ Nhã, âm là Hành), '''Ngọc trúc''' (玉竹 - theo Biệt lục), '''Địa tiết''' (地節 - theo Biệt lục). '''Thời Trân nói:''' Xét theo cuốn Cổ kim vận hội của Hoàng Công Thiệu: "Uy duy" là dáng vẻ lá cây rủ xuống. Loại cỏ này rễ dài nhiều râu, như dải mũ (quan anh) rủ xuống mà có uy nghi, nên đặt tên như vậy. Phàm là dải anh lạc trên lọng lông hay cờ xí đều tượng hình Uy duy, chính là nó vậy. Cuốn Thụy ứng đồ của họ Trương chép: "Bậc vương giả lễ tiết vẹn toàn thì Uy duy sinh ra trước điện". Một tên nữa là Uy hương, nghĩa về "uy nghi" có thể thấy rõ ở đây. Sách Biệt lục viết là 葳蕤 (Uy duy) là cách viết giản lược. Thuyết văn viết là 萎 (Uy di) vì âm gần nhau. Nhĩ nhã viết là 委萎 (Ủy uy) vì chữ gần nhau. Lá của nó sáng bóng như lá trúc, rễ nhiều đốt, nên có các tên Huỳnh, Ngọc trúc, Địa tiết. Sách Ngô Phổ bản thảo còn có tên Ô nữ, Trùng thiền. Bản đời Tống có tên Mã huân, ấy là chép nhầm từ Ô uy mà ra. ===【Chỉnh lý sai sót】=== '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Sách Bản kinh có tên Nữ uy mà không có Uy duy, sách Biệt lục không có Nữ uy mà có Uy duy, mà công dụng lại giống hệt nhau, nghi rằng Nữ uy chính là Uy duy, chỉ khác tên mà thôi. '''Tô Cung nói:''' Công dụng và mầm lá của Nữ uy hoàn toàn khác biệt với Uy duy. Nay trong sách Bản kinh, phần chữ đỏ (chu thư) là công hiệu của Nữ uy, còn phần chữ đen (mặc thư) trong Biệt lục là công hiệu của Uy duy. '''Trần Tàng Khí nói:''' Bản thảo chép chung Nữ uy và Uy duy làm một. Họ Đào nói là một vật, họ Tô nói là hai vật khác nhau, rồi ở phần Trung phẩm lại tách riêng một mục Nữ uy. Tuy nhiên, việc chủ trị hoắc loạn, tiết lị, sôi bụng của nó lại chính hợp với Nữ uy ở Thượng phẩm, vậy thì càng rõ không phải là hai vật khác nhau. '''Tô Tụng nói:''' Quan sát các y văn cổ, Hồ Tráp trị thời khí đi tả dùng "Nữ uy hoàn"; trị thương hàn lạnh bụng kết tràng dùng Nữ uy; trị hư lao hạ lị trong rượu "Tiểu hoàng kỳ tửu" thêm Nữ uy. Xét các phương này, Nữ uy dường như thuộc loại ở Trung phẩm, vì tính ấm chủ trị hoắc loạn tiết lị. Lại như trị tặc phong tay chân tê dại, co quắp trong "Nhân dự tửu" dùng Nữ uy; sách Lục nghiệm trị thân thể lở loét, vết ban có "Nữ uy cao", loại này lại giống Nữ uy chữ đỏ ở Thượng phẩm, vì chủ trị trúng phong không cử động được và làm đẹp da. Lại trị thương hàn 7, 8 ngày không giải dùng "Tục mệnh Báp giáp thang"; trị chân yếu dùng "Báp giáp thang" đều dùng Uy duy; sách Diên niên phương trị phong nhiệt cứng đau cổ, xương thịt phiền nhiệt có "Uy duy ẩm"; chủ trị hư phong nhiệt phát là đầu nóng có "Uy duy hoàn", loại này lại giống Uy duy chữ đen ở Thượng phẩm, vì chủ trị hư nhiệt thấp độc đau lưng. Ba loại đã khác nhau như vậy thì rõ ràng không phải là một vật. Huống hồ Uy duy vị ngọt tính bình, Nữ uy vị cay tính ấm, sao có thể là một vật được? '''Lý Thời Trân nói:''' Nữ uy trong Bản kinh vốn là hai chữ Ủy uy trong Nhĩ Nhã, tức là Uy duy trong Biệt lục, do người xưa sao chép nhầm thành Nữ uy mà thôi. Các phương cổ trị thương hàn phong hư dùng Nữ uy chính là Uy duy, đều do kế thừa cái sai từ Bản thảo mà gọi theo. Các nhà không xét kỹ, vì ở Trung phẩm cũng có tên Nữ uy trùng lặp, nên mới dẫn đến việc tranh biện phí công như vậy. Nay đính chính sai lầm, chỉ dựa theo sách Biệt lục lấy Uy duy làm cương mục để tiện tra cứu. Còn vị Nữ uy trị tiết lị vốn là loại dây leo, xem ở mục riêng. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Uy duy sinh ở thung lũng và gò đồi núi Thái Sơn, hái sau tiết Lập xuân, phơi trong bóng râm cho khô. '''Ngô Phổ nói:''' Lá màu xanh vàng, mọc đối nhau như lá gừng, hái vào tháng Hai và tháng Bảy. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay đâu đâu cũng có. Rễ giống Hoàng tinh, khác biệt đôi chút. Các nhà tu tiên luyện thân cũng thường dùng. '''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Chử Châu, Thư Châu, Hán Trung, Quân Châu đều có. Thân cứng thẳng như cán tên trúc, có đốt. Lá hẹp và dài, mặt trên trắng mặt dưới xanh, cũng giống Hoàng tinh. Rễ vàng nhiều râu, to như ngón tay, dài một đến hai thước. Có thuyết nói ăn được. Tháng Ba nở hoa xanh, kết quả tròn. '''Lý Thời Trân nói:''' Trong núi đâu đâu cũng có. Rễ mọc ngang giống Hoàng tinh nhưng nhỏ hơn, màu vàng trắng, tính mềm nhiều râu, rất khó làm khô. Lá như lá trúc, mọc đối từng đôi. Có thể hái rễ về trồng, rất dễ sinh sôi. Lá non và rễ đều có thể luộc, rửa sạch để làm rau ăn. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Tu trị:''' '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng chớ nhầm với Hoàng tinh và Câu vẫn (lá ngón), hai vật này rất giống. Trên đốt Uy duy có râu lông, thân có đốm, đầu lá có điểm vàng nhỏ, ấy là điểm khác. Hái về dùng dao tre cạo sạch vỏ đốt, rửa sạch, ngâm nước mật một đêm, đồ xong phơi khô dùng. '''Khí vị:''' Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. '''Ngô Phổ dẫn Thần Nông:''' vị đắng; '''Đồng Quân, Lôi Công, Biển Thước:''' vị ngọt, không độc; '''Hoàng Đế:''' vị cay. '''Từ Chi Tài nói:''' Sợ (úy) chất mặn (lỗ kiềm). '''Chủ trị:''' * '''Nữ uy:''' Chủ trị trúng phong bộc nhiệt (nóng dữ dội), không thể cử động, gân xương đau nhức, các chứng hư tổn. Uống lâu trừ vết đen trên mặt, sắc mặt tươi nhuận, nhẹ mình không già (Bản kinh). * '''Uy duy:''' Chủ trị kết khí trong tâm phúc (bụng ngực), hư nhiệt thấp độc đau lưng, lạnh trong dương vật, mắt đau đỏ lở loét chảy nước mắt (Biệt lục). * Trị thời khí hàn nhiệt, bồi bổ bên trong chỗ thiếu hụt, trừ hư lao khách nhiệt. Đầu đau không yên, thêm vào dùng rất tốt (Chân Quyền). * Bổ trung ích khí (Tiêu Bính). * Trừ phiền muộn, cầm tiêu khát (khát nước), nhuận tâm phế, bổ ngũ lao thất thương hư tổn, đau nhức thắt lưng bàn chân. Trị nhiệt cuồng trong thiên hành (dịch bệnh), ăn uống không kỵ (Đại Minh). * Người uống các loại khoáng thạch mà cơ thể không điều hòa, sắc lấy nước mà uống (Đào Hoằng Cảnh). * Chủ trị phong ôn tự hãn (vã mồ hôi), nóng như thiêu, sốt rét do lao lực, tỳ vị hư yếu, nam giới tiểu tiện nhiều lần, di tinh, tất cả các chứng hư tổn (Thời Trân). ===【Phát minh】=== '''Lý Cảo nói:''' Uy duy có thể thăng có thể giáng, là phần Âm trong Dương. Công dụng có bốn: Chủ trị phong tà xâm nhập tứ chi, hai mắt lở loét chảy nước, nam giới thấp chú đau lưng, nữ giới mặt sinh vết đen. '''Lý Thời Trân nói:''' Uy duy tính bình vị ngọt, mềm nhuận có thể ăn được. Cho nên Chu Quặng trong sách Nam Dương hoạt nhân thư, trị phong ôn tự hãn, thân mình nặng nề, khó nói chuyện, đã dùng "Uy duy thang" lấy vị này làm quân dược. Tôi thường dùng trị hư lao hàn nhiệt, sốt rét lâu ngày và tất cả các chứng bất túc, dùng thay cho Nhân sâm, Hoàng kỳ, không hàn không táo, có công hiệu rất lớn, không chỉ dừng lại ở việc trừ phong nhiệt thấp độc mà thôi, đây là điều người xưa chưa làm rõ. '''Trần Tàng Khí nói:''' Trần Thọ trong Ngụy chí - Phàn A truyện chép: "Thanh niêm, một tên là Hoàng chi, một tên là Địa tiết". Đây chính là Uy duy, rất giống loại Thiên tinh. Ngoài công hiệu vốn có, nó chủ trị thông minh, điều hòa huyết khí, khiến người mạnh khỏe. Trộn với lá sơn (tất diệp) làm bột uống, giúp bổ ngũ tạng ích tinh, trừ tam trùng, nhẹ mình không già, tóc bạc hóa đen, nhuận da dẻ, ấm thắt lưng chân, duy chỉ có người đang sốt nóng thì không được uống. Đời Tấn có Kê Thiệu mắc chứng hàn tật trong ngực, mỗi khi sau khi uống rượu thường khổ sở vì khạc nhổ, uống vị này mà khỏi. Cỏ giống lá trúc, hái rễ hoa lá phơi khô dùng. Xưa Hoa Đà vào núi thấy tiên nhân uống vị này, bèn bảo Phàn A, A uống theo mà thọ trăm tuổi. '''Tô Tụng nói:''' Trần Tàng Khí cho rằng Thanh niêm chính là Uy duy. Thế gian không ai biết rõ, chưa dám tin là thật. '''Lý Thời Trân nói:''' Tô Tụng khi chú giải mục Hoàng tinh có nghi Thanh niêm là Hoàng tinh, khác với thuyết này. Nay khảo cứu thấy Hoàng tinh và Uy duy tính vị công dụng đại để gần giống nhau, nhưng công của Uy duy có phần vượt trội. Cho nên Thanh niêm, một tên là Hoàng chi (trùng tên với Hoàng tinh), một tên là Địa tiết (trùng tên với Uy duy), thì hai vật này dùng thay thế cho nhau cũng được. ===【Phụ phương】=== Cũ một, mới sáu. * '''Pháp uống thực:''' Tháng Hai, tháng Chín hái rễ Uy duy, thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch nước nấu từ sáng đến tối, dùng tay vò nát, lấy túi vải ép lấy nước cốt, nấu cho đặc lại. Bã phơi khô tán bột, trộn với cao nấu thành viên to như hạt súng. Mỗi lần uống một viên với nước ấm, ngày ba lần. Giúp thông khí mạch, mạnh gân cốt, trị trung phong thấp độc, trừ nếp nhăn da mặt, uống lâu kéo dài tuổi thọ. (Thần ẩn thư của Ninh Hiến Vương) * '''Mắt đỏ đau rát:''' Uy duy, Xích thược dược, Đương quy, Hoàng liên lượng bằng nhau. Sắc nước xông rửa. (Vệ sinh gia bảo phương) * '''Mắt hoa thấy đốm đen, đỏ đau mờ tối:''' "Cam lộ thang": Dùng Uy duy (sấy) 4 lạng. Mỗi lần dùng 2 tiền, một chén nước, thêm 2 lá Bạc hà, 1 lát Gừng sống, chút mật ong, sắc còn bảy phần, lúc đi ngủ uống ấm, ngày một lần. (Thánh tế tổng lục) * '''Tiểu tiện đột ngột bí dắt:''' Uy duy 1 lạng, rễ Chuối tây 4 lạng. Hai bát nước lớn sắc còn một bát rưỡi, thêm 2 tiền Hoạt thạch, chia làm ba lần uống. (Thánh huệ phương) * '''Phát sốt khô miệng, tiểu tiện khó:''' Dùng Uy duy 5 lạng, sắc lấy nước uống. (Ngoại đài bí yếu) * '''Nóng do uống khoáng thạch (nhũ thạch):''' Uy duy 3 lạng, Cam thảo (nướng) 2 lạng, Tê giác sống 1 lạng. Bốn thăng nước sắc còn một thăng rưỡi, chia ba lần uống. (Thánh huệ phương) * '''Phù thũng sau khi co giật:''' Trẻ em sau khi khỏi bệnh sài kinh, huyết khí thượng hư, nhiệt ở da, thân mình và mặt đều phù. Uy duy, Quỳ tử, Long đởm, Phục linh, Tiền hồ lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 tiền, sắc nước uống. (Thánh tế tổng lục) ===LỘC DƯỢC (鹿藥)=== (Trích từ sách "Khai Bảo") '''Mã Chí nói:''' Lộc dược vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị phong huyết, trừ các chứng lạnh, bồi bổ cho người già, tăng cường dương khí, ngâm rượu uống. Sinh ở phía Tây vùng Cô Tang, mầm và rễ đều giống Hoàng tinh, hươu rất thích ăn rễ nó. '''Lý Thời Trân nói:''' Cư sĩ Hồ Tráp nói: Hươu ăn chín loại cỏ giải độc, đây là một trong số đó. Có người nói đây chính là Uy duy, lý lẽ cũng gần đúng. Tạm phụ vào đây để chờ khảo cứu thêm. ===ỦY XÀ (委蛇)=== *(Phát âm là Uy Di) Sách Biệt lục chép: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị tiêu khát, thiếu khí, khiến người chịu được lạnh. Sinh trong vườn nhà người ta, cành lớn râu dài, nhiều lá mọc đối từng đôi, hạt như hạt cải. '''Lý Thời Trân nói:''' Vị này dường như cũng là Uy duy, đều chờ khảo cứu thêm. ==TRI MẪU (知母)== (Trích từ sách "Bản kinh" - Trung phẩm) '''Tên khoa học:''' Anemarrhena asphodeloides Bunge. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Ti mỗ''' ( 母 - Bản kinh âm là Trì, Thuyết văn viết là ), '''Liên mẫu''' (連母 - Bản kinh), '''Thì mẫu''' ( 母 - âm là Thì, lại âm là Đề, hoặc viết là ), '''Hóa mẫu''' (貨母 - Bản kinh), '''Địa sâm''' (地參 - Bản kinh), '''Thủy sâm''' (水參 - còn có tên Thủy tu, Thủy tuấn), '''Đàm''' ( - Nhĩ Nhã âm là Đàm), '''Trầm phiền''' ( 藩), '''Khổ tâm''' (苦心 - Biệt lục), '''Nhi thảo''' (兒草 - Biệt lục, còn có tên Nhi chủng thảo, Nữ lôi, Nữ lý, Lộc liệt, Phiếu phùng, Đông căn, Dã lựu, Xương chi). '''Thời Trân nói:''' Bên cạnh rễ cũ thường mọc ra rễ con, hình trạng như con mòng (mãnh), nên gọi là Mãnh mẫu ( 虻母), sau gọi chệch đi thành Tri mẫu, Ti mẫu. Các tên còn lại đa phần chưa rõ nghĩa. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Tri mẫu sinh ở thung lũng vùng Hà Nội. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ, phơi khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay xuất sản ở Bành Thành. Hình dáng giống Xương bồ nhưng mềm nhuận, lá rất khó héo chết, đào lên lại mọc tiếp, phải đợi đến khi khô quắt mới thôi. '''Dương Tích nói:''' Xét sách Phạm Tử chép: Đề mẫu xuất xứ vùng Tam Phối, loại màu vàng trắng là tốt. Quách Phác giải nghĩa sách Nhĩ Nhã rằng: Đàm chính là Tri mẫu, mọc trên núi, lá như lá hẹ. '''Tô Tụng nói:''' Nay các quận Hoài, Vệ, Chương, Đức ven sông và các vùng Giải Châu, Chử Châu cũng có. Tháng Tư nở hoa xanh như hoa hẹ, tháng Tám kết quả. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Tu trị:''' * '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng, trước hết đặt trên thớt gỗ hòe thái nhỏ, sấy khô, dùng chày gỗ giã trong cối gỗ, chớ để phạm vào đồ sắt. * '''Thời Trân nói:''' Phàm dùng, chọn loại béo nhuận, bên trong trắng, bỏ sạch lông, thái lát. Muốn dẫn thuốc đi lên (thượng hành) thì tẩm rượu sấy khô; dẫn xuống dưới (hạ hành) thì dùng nước muối tẩm rồi sấy. '''Khí vị:''' Vị đắng (khổ), tính hàn, không độc. '''Đại Minh nói:''' Vị đắng, ngọt. '''Chân Quyền nói:''' Tính bình. * '''Lý Đông Viên nói:''' Khí hàn, vị rất cay và đắng. Khí và vị đều đậm, tính chìm và giáng xuống, thuộc Âm. Lại nói: Trong Âm có chút Dương, là bản dược của kinh Thận, nhập vào phần khí của kinh Túc Dương minh và Thủ Thái âm. '''Thời Trân nói:''' Được Hoàng bá và Rượu thì tốt, có thể chế phục được Muối và Hàn lâm (Borax). '''Chủ trị:''' * Tiêu khát, nhiệt trung, trừ tà khí, chi thể phù thũng, thông thủy đạo, bổ bất túc, ích khí (Bản kinh). Trị thương hàn, sốt rét lâu ngày phiền nhiệt, tà khí dưới sườn, ác khí trong cách mô, và phong hãn nội đản (vàng da do nhiệt). Uống nhiều khiến người ta đi tiêu chảy (Biệt lục). Tâm phiền táo muộn, cốt nhiệt lao truyền (nóng trong xương), sản hậu nhục lao (suy nhược sau sinh), thận khí lao, ghét lạnh hư phiền (Chân Quyền). Nhiệt lao truyền thi (lao phổi), đau nhức do truyền nhiễm, thông tiểu trường, tiêu đờm cầm ho, nhuận tâm phế, an tâm, cầm kinh quý (hồi hộp) (Đại Minh). Làm mát tâm trừ nhiệt, trị hỏa nhiệt ở kinh Dương minh, tả hỏa ở kinh Bàng quang và Thận, trị đầu đau do nhiệt quyết, lỵ hạ đau lưng, trong họng có mùi tanh hôi (Lý Đông Viên). Tả phế hỏa, tư thận thủy, trị tướng hỏa ở Mệnh môn có dư (Vương Hiếu Cổ). An thai, trị tử phiền (thai động không yên), tránh độc xạ công (độc nước) và khê độc (Thời Trân). ===【Phát minh】=== '''Chân Quyền nói:''' Tri mẫu trị các chứng nhiệt lao, người bệnh hư yếu mà miệng khô, nên gia thêm vị này. '''Lý Cảo nói:''' Tri mẫu nhập kinh Túc Dương minh, Thủ Thái âm. Công dụng có bốn: Tả thận hỏa không có căn (vô căn thận hỏa), trị cốt chưng có mồ hôi, cầm cơn nóng của hư lao, tư dưỡng phần Âm của hóa nguyên. Trọng Cảnh dùng vị này vào "Bạch hổ thang" trị chứng không ngủ được, ấy là do phiền táo. Phiền xuất phát từ Phế, Táo xuất phát từ Thận. Lấy Thạch cao làm quân, lấy cái đắng hàn của Tri mẫu làm tá để thanh nguồn gốc ở Thận; dùng Cam thảo, Cảnh mễ để hoãn (làm chậm) tính thuốc khiến không bị hạ xuống quá nhanh. Lại phàm bệnh tiểu tiện bí tắc mà khát, ấy là nhiệt ở khí phận thượng tiêu, hỏa phục trong Phế không thể sinh ra nước, khiến Bàng quang tuyệt mất nguồn hóa sinh, nên dùng thuốc có khí mỏng, vị mỏng, đạm thấm để tả phế hỏa, thanh phế kim mà tư dưỡng nguồn hóa sinh của nước. Nếu nhiệt ở huyết phận hạ tiêu mà không khát, ấy là chân thủy bất túc, Bàng quang khô cạn, đó là không có Âm thì Dương không có gì để hóa, phép nên dùng Hoàng bá, Tri mẫu là những thuốc đại khổ đại hàn để bổ Thận và Bàng quang, khiến âm khí hành thì dương tự hóa, tiểu tiện tự thông. Phương pháp này chép chi tiết ở mục Hoàng bá bộ Mộc. '''Thời Trân nói:''' Thận khổ vì táo, nên ăn vị cay để nhuận. Phế khổ vì nghịch, nên ăn vị đắng để tả. Cái cay, đắng, hàn, lương của Tri mẫu, xuống thì nhuận thận táo mà tư âm, lên thì thanh phế kim mà tả hỏa, là thuốc ở phần khí của hai kinh vậy. Còn Hoàng bá là thuốc ở phần huyết kinh Thận. Cho nên hai vị này tất phải nương tựa nhau mà hành, người xưa ví như con tôm và con sứa, nhất định phải bám víu lấy nhau. Thuyết về bổ âm xem thêm ở điều Hoàng bá. ===【Phụ phương】=== Cũ hai, mới sáu. * '''Ho lâu ngày, đờm ho:''' Đờm tắc dưới cách mô gây đình ẩm, lan ra tạng phủ. Dùng Tri mẫu, Bối mẫu mỗi vị 1 lạng (tán bột), Ba đậu 30 hạt (ép bỏ dầu, nghiền đều). Mỗi lần dùng một ít (bằng chữ "nhất"), lấy 3 lát gừng chấm thuốc nhai kỹ nuốt đi, rồi ngủ ngay. Sáng hôm sau tất sẽ đi ngoài một lần, cơn ho lập tức dứt. Người khỏe mới nên dùng. Có một phương không dùng Ba đậu. (Y học tập thành) * '''Ho lâu ngày khí cấp (khó thở):''' Tri mẫu (bỏ lông, thái lát) 5 tiền (sao cách giấy), Hạnh nhân (ngâm nước gừng, bỏ vỏ và đầu nhọn, sấy) 5 tiền. Dùng một bát rưỡi nước sắc còn một bát, uống ấm lúc xa bữa ăn. Sau đó dùng hạt Củ cải, Hạnh nhân lượng bằng nhau, tán bột, làm viên với hồ gạo. Uống 50 viên với nước gừng để tiệt nọc bệnh. (Tạp hứng phương của Đặng Bút Phong) * '''Thai phụ tử phiền:''' Do uống thuốc khiến thai khí không yên, phiền táo không ngủ được. Tri mẫu 1 lạng (rửa sạch sấy khô), tán bột, dùng thịt táo làm viên bằng quả đạn. Mỗi lần uống một viên với nước sắc Nhân sâm. Thầy thuốc không biết bệnh này thường trị theo chứng hư phiền thông thường, trái lại làm tổn hại thai khí. Ông Trịnh Tông Văn đời Tống học được phương này trong sách Thập di của Trần Tàng Khí, dùng rất hiệu nghiệm. (Sản nhũ tập nghiệm phương) * '''Thai phụ đau bụng:''' Tháng chưa đủ mà trạng như muốn đẻ. Dùng Tri mẫu 2 lạng tán bột, làm viên với mật bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với nước cháo. (Thánh huệ phương) * '''Khê độc xạ công (Độc nước):''' Phàm trúng khê độc. Dùng Tri mẫu (cả rễ và lá) giã nặn thành tán mà uống, hoặc cho vào nước giã vắt lấy nước cốt uống một hai lít. Mùa hè đi xa nên mang theo bột Tri mẫu. Muốn xuống nước, trước hết lấy một ít rắc ở thượng lưu thì không sợ gì nữa. Vị này cũng trị được độc xạ công. Có thể nấu nước tắm cũng rất tốt. (Trử hậu lương phương) * '''Bệnh Tử điền phong (Lang ben tím):''' Dùng giấm mài Tri mẫu mà xát vào, ngày 3 lần. (Vệ sinh dị giản phương) * '''Chín mé chân (Khảm giáp) sưng đau:''' Tri mẫu (đốt tồn tính) nghiền mịn, rắc vào vết thương. (Đa năng phương) ==NHỤC THUNG DUNG (肉蓯蓉)== (Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Cistanche deserticola Y. C. Ma. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Nhục tùng dung''' (肉松容 - theo Ngô Phổ), '''Hắc tư mệnh''' (黑司命 - theo Ngô Phổ). '''Thời Trân nói:''' Vật này bồi bổ mà không mãnh liệt (tuấn), nên có tên là "Thung dung". Thung dung có nghĩa là hòa hoãn, thong dong. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Nhục thung dung sinh ở thung lũng vùng Hà Tây và các quận Đại Quận, Nhạn Môn. Hái vào ngày mồng 5 tháng Năm, phơi trong bóng râm cho khô. '''Ngô Phổ nói:''' Sinh ở vùng đất âm của núi Hà Tây, mọc thành khóm, hái từ tháng Hai đến tháng Tám. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đại Quận, Nhạn Môn thuộc Tịnh Châu, những nơi có nhiều ngựa thì có vị này, nói rằng đó là tinh dịch của ngựa hoang rơi xuống đất mà sinh ra. Khi mới sinh trông giống như thịt, dùng nấu canh thịt dê để bồi bổ hư lao, mệt mỏi cực tốt, cũng có thể ăn sống. Vùng Nhuế Nhuế, Hà Nam có rất nhiều. Nay loại tốt nhất xuất xứ từ Long Tây, hình dáng dẹt và rộng, mềm nhuận, nhiều hoa mà vị ngọt. Loại thứ hai ra ở Bắc Địa, hình ngắn và ít hoa. Vùng Ba Đông, Kiến Bình cũng có nhưng không tốt. '''Tô Cung nói:''' Đây là đang bàn về Cỏ thung dung (Thảo thung dung), họ Đào chưa từng thấy loại "Nhục" (bằng thịt) vậy. Người nay thường dùng Thảo thung dung cạo bỏ hoa để thay thế cho Nhục thung dung, công lực kém hơn một chút. '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Xuất sản trong cát ở huyện Phúc Lộc, Túc Châu. Tháng Ba, tháng Tư đào rễ, dài hơn một thước, cắt lấy phần tốt ở chính giữa chừng ba bốn tấc, dùng dây xỏ vào phơi trong bóng râm, đến tháng Tám mới tốt, vỏ có vảy như hạt thông. Còn loại Thảo thung dung hái vào trung tuần tháng Tư, dài từ năm, sáu tấc đến một thước, thân tròn màu tím. '''Đại Minh nói:''' Sinh dưới gốc cây Lạc, mọc trên lũy đất, đây vốn không phải là nơi ngựa giao phối, thuyết của họ Đào là sai vậy. Lại có Hoa thung dung, là loại mọc mầm vào cuối xuân, công lực hơi yếu. '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu quận vùng Thiểm Tây có rất nhiều, nhưng không bằng loại từ biên giới Tây Khương đưa tới, thịt dày mà công lực mạnh. Xưa nói là do tinh dịch ngựa hoang sinh ra, nay người miền Tây nói mọc nhiều giữa các cây lớn và trong bờ lũy đất, mới biết là tự có chủng loại riêng. Hoặc nghi ngờ ban đầu sinh ra từ tinh ngựa, sau đó mới sinh sôi nảy nở, giống như rễ cây Thiến sinh ra từ máu người vậy. Hái vào tháng Năm sợ già không dùng được, nên đa phần hái vào tháng Ba. '''Chu Đan Khê nói:''' Sau khi vùng Hà Tây quy về một mối (thời Nguyên), nay mới biết hình dạng thật của nó, làm gì có cái gọi là "vảy hạt thông"? Bởi vì Thung dung hiếm có, người ta đa phần dùng rễ Kim liên chế với muối trong chậu để làm giả, lại lấy Thảo thung dung sung vào, người dùng nên xem xét kỹ. '''Đỗ Gia Mô nói:''' Người nay lấy ngọn thông non tẩm muối cho nhuận để làm giả. ===【Tu trị - Chế biến】=== '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng, trước hết phải ngâm rượu ngon một đêm, đến sáng dùng bàn chải bằng xơ cọ chải sạch cát đất và lớp vảy nổi, chẻ dọc chính giữa, bỏ đi một lớp màng trắng trông giống như sợi tre. Nếu còn màng này sẽ khiến khí ở trước tim bị ngăn cách không tan, làm cho người ta bị nghịch khí hướng lên trên (thượng khí). Sau đó cho vào chõ đồ từ giờ Ngọ đến giờ Dậu (khoảng 11 giờ trưa đến 5 giờ chiều) lấy ra, rồi dùng mỡ dê (tô) nướng cho vừa khéo. ===【Khí vị】=== Vị ngọt (cam), tính hơi ấm (ôn), không độc. '''Sách "Biệt lục" viết:''' Vị chua, mặn. '''Ngô Phổ dẫn Thần Nông, Hoàng Đế:''' vị mặn; '''Lôi Công:''' vị chua; '''Lý Đương Chi:''' tính ấm ít (tiểu ôn). ===【Chủ trị】=== Năm chứng lao, bảy chứng thương, bổ trung, trừ đau do nóng lạnh trong dương vật. Nuôi dưỡng ngũ tạng, làm mạnh phần âm, ích tinh khí, giúp nhiều con, trị chứng trưng hà (khối u) ở phụ nữ. Uống lâu nhẹ mình (Bản kinh). Trừ tà khí ở bàng quang, đau thắt lưng, cầm đi lỵ (Biệt lục). Ích tủy, làm tươi nhuận sắc mặt, kéo dài tuổi thọ, đại bổ tráng dương, tăng cường khả năng phòng dục lên gấp bội, trị phụ nữ bị huyết băng (Chân Quyền). Trị nam giới tuyệt dương không hưng phấn được, nữ giới tuyệt âm không sinh đẻ được, nhuận ngũ tạng, làm dày cơ bắp, làm ấm thắt lưng đầu gối, nam giới tiết tinh, tiểu ra máu, tiểu rắt, phụ nữ đới hạ, đau âm hộ (Đại Minh). ===【Phát minh】=== '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Người mà tướng hỏa ở mệnh môn bất túc thì dùng vị này để bổ, đó là thuốc ở phần huyết của kinh Thận. Phàm uống Thung dung để trị Thận, tất sẽ làm hại Tâm (gây nôn nao hoặc ảnh hưởng khí ở tâm). '''Chu Đan Khê nói:''' Bổ mạnh tinh huyết, nhưng nếu dùng đột ngột trái lại sẽ làm đại tiện lỏng nát. '''Trần Tàng Khí nói:''' Làm mạnh gân kiện tủy, lấy Thung dung và Lươn (Thiện ngư) hai vị tán bột, dùng nước cốt Hoàng tinh làm viên mà uống, sức lực có thể tăng gấp mười lần. Thuyết này chép trong sách Càn Ninh ký. '''Tô Tụng nói:''' Người miền Tây hay dùng làm thức ăn. Chỉ cần cạo bỏ lớp vảy, ngâm rượu rửa sạch nước đen, thái mỏng, phối hợp với Sơn dược, thịt dê nấu canh, vị cực kỳ thơm ngon, bổ ích cho người, còn tốt hơn uống thuốc bổ. '''Lý Tiết Trai nói:''' Rửa sạch nước đen thì khí vị đều hết cả rồi. Tuy nhiên, loại non mới có thể nấu canh; loại già thì vị đắng. Cho vào thuốc nếu dùng ít thì không hiệu nghiệm. ===【Phụ phương】=== Cũ một, mới bốn. * '''Bồi bổ lao thương, tinh bại mặt đen:''' Dùng Thung dung 4 lạng, nấu nước cho nhừ, thái mỏng rồi nghiền nát với thịt dê tinh khiết, chia làm 4 lần, thêm ngũ vị hương, nấu với gạo thành cháo, ăn lúc bụng đói. (Dược tính luận) * '''Thận hư bạch trọc (tiểu đục):''' Nhục thung dung, Lộc nhung, Sơn dược, Bạch phục linh lượng bằng nhau, tán bột, dùng hồ gạo làm viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 30 viên với nước sắc táo tàu. (Thánh tế tổng lục) * '''Mồ hôi nhiều gây táo bón:''' Người già, người hư yếu đều dùng được. Nhục thung dung (ngâm rượu, sấy) 2 lạng, Trầm hương nghiền bột 1 lạng. Tán bột, dùng nước cốt hạt vừng (Ma tử nhân) đánh hồ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 70 viên với nước ấm. (Tế sinh phương) * '''Chứng tiêu trung (nhanh đói):''' Nhục thung dung, Sơn thù du, Ngũ vị tử tán bột. Luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với rượu muối. (Y học chỉ nam) * '''Bệnh uốn ván (phá thương phong), miệng mím chặt, thân mình co cứng:''' Nhục thung dung thái phiến phơi khô, dùng một cái chén nhỏ, đục lỗ dưới đáy, đốt lên lấy khói xông vào vết thương, rất hiệu nghiệm. (Vệ sinh tổng vi) ==LIỆT ĐƯƠNG (列當)== (Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống) '''Tên khoa học:''' Orobanche coerulescens Stephan. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Lật đương''' (栗當 - Khai Bảo), '''Thảo thung dung''' (草蓯蓉 - Khai Bảo), '''Hoa thung dung''' (花蓯蓉 - Nhật Hoa). ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Mã Chí nói:''' Liệt đương sinh trên các tảng đá ở vùng Sơn Nam, rễ như củ sen (ngẫu căn), lúc mới sinh thì đào lấy, phơi trong bóng râm cho khô. '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Các vùng Nguyên Châu, Tần Châu, Vị Châu, Linh Châu đều có. Cuối xuân mọc mầm, trung tuần tháng Tư hái lấy, dài từ năm, sáu tấc đến một thước trở lên, thân tròn màu tím, hái về ép dẹt, phơi nắng cho khô. '''Tô Tụng nói:''' Rễ Thảo thung dung cực kỳ giống với Nhục thung dung, người ta cạo bỏ hoa, ép dẹt để thay thế cho loại "Nhục" (Nhục thung dung), nhưng công lực kém hơn rất nhiều. Đó chính là Liệt đương vậy. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Khí vị:''' Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. '''Chủ trị:''' Nam giới mắc năm chứng lao, bảy chứng thương (ngũ lao thất thương), bổ thắt lưng và thận, giúp người ta có con, trừ phong huyết. Dùng sắc rượu hoặc ngâm rượu mà uống (Khai Bảo). ===【Phụ phương】=== Cũ một. '''Dương sự bất hưng (Liệt dương):''' Lật đương (loại tốt - tức Liệt đương) 2 cân. Giã nát rây bột xong, dùng 1 đấu rượu ngon ngâm qua đêm, tùy theo tửu lượng mà uống hàng ngày. (Thực y tâm kính của Tiệm Ân) ==TỎA DƯƠNG (瑣陽)== (Trích từ sách "Bản thảo Bổ di") '''Tên khoa học:''' Cynomorium songaricum Rupr. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏa dương xuất sản ở Túc Châu. Xét sách Chuyết canh lục của Đào Cửu Thành chép: Tỏa dương sinh ở vùng đất của người Đát Đát (Tartar), do tinh dịch của ngựa hoang hoặc giao long rơi xuống đất, lâu ngày mọc lên như măng, trên nảy nở dưới thon gọn, lớp vảy xếp hàng như răng lược, gân mạch liên lạc với nhau, hình dáng cực kỳ giống dương vật nam giới, là một loại thuộc họ Nhục thung dung. Có thuyết nói rằng những dâm phụ ở địa phương đến đó để giao hợp, nó đắc được âm khí thì bỗng chốc mọc dài ra. Người dân địa phương đào lấy, rửa sạch, bỏ vỏ, thái mỏng phơi khô để làm dược liệu, công lực gấp trăm lần Thung dung. Thời Trân tôi nghi rằng vị này tự có chủng loại riêng, cũng như Nhục thung dung và Liệt đương, chưa hẳn tất cả đều do tinh dịch sinh ra vậy. ===【Khí vị】=== Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. ===【Chủ trị】=== Đại bổ âm khí, ích tinh huyết, lợi đại tiện. Người hư yếu mà đại tiện táo kết, ăn vị này có thể thay thế cho Thung dung, nấu cháo ăn lại càng tốt. Người không bị táo kết thì chớ dùng (Chu Đan Khê). Nhuận táo nuôi dưỡng gân, trị các chứng nuy nhược (yếu liệt) (Thời Trân). ==XÍCH TIỄN THIÊN MA (赤箭天麻)== (Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống) '''Tên khoa học:''' Gastrodia elata Blume. ===【Hiệu chính】=== Thiên ma vốn được chép lặp lại trong bản đời Tống, nay hợp nhất làm một mục. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Xích tiễn chi''' (赤箭芝 - Dược tính), '''Độc dao chi''' (獨搖芝 - Bào Phác Tử), '''Định phong thảo''' (定風草 - Dược tính), '''Ly mẫu''' (離母 - Bản kinh), '''Hợp ly thảo''' (合離草 - Bào Phác Tử), '''Thần thảo''' (神草 - Ngô Phổ), '''Quỷ đốc bưu''' (鬼督郵 - Bản kinh). '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Xích tiễn cũng thuộc loại linh chi. Thân nó như cán tên, màu đỏ, lá mọc ở ngọn. Rễ như chân người, có thuyết nói như củ khoai (vực), có mười hai củ con bao quanh. Có gió không động, không gió tự lung lay (nhún nhảy). Loại như vậy cũng không phải thứ dân gian thường thấy. Mà cây Từ trường khanh cũng tên là Quỷ đốc bưu. Lại có cây Quỷ tiễn, thân có lông vũ (cánh), chủ trị đều tương tự nhưng khác biệt rất lớn, đều không phải là Xích tiễn này. '''Tô Tụng nói:''' Xét sách Bào Phác Tử viết: Phương tiên có cây Hợp ly thảo, một tên Độc dao chi, một tên Ly mẫu. Sở dĩ gọi là Hợp ly, Ly mẫu là vì rễ dưới của cỏ này như củ khoai lớn, có mười hai củ con vây quanh để phỏng theo mười hai giờ (thập nhị thần). Cách củ lớn vài thước đều có rễ nhỏ như tóc trắng, tuy nương tựa nhau nhưng thực tế không liền nhau, chỉ dùng khí mà thuộc về nhau thôi. Như cỏ Thỏ ty, dưới đất có rễ Phục thỏ, không có rễ này thì sợi tơ không leo lên được, cũng không liền nhau vậy. Như thế thì sự kỳ dị của Xích tiễn, Đào Ẩn Cư đã nói không phải thứ dân gian thường thấy, dưới Thỏ ty có Phục thỏ cũng chưa nghe ai thấy bao giờ, họa chăng trong chủng loại ấy thỉnh thoảng có thứ thần dị mới như vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Xích tiễn gọi theo hình trạng; Độc dao, Định phong gọi theo tính chất kỳ dị; Ly mẫu, Hợp ly gọi theo sự khác biệt của rễ; Thần thảo, Quỷ đốc bưu gọi theo công hiệu. Thiên ma chính là rễ của Xích tiễn, sách Khai Bảo Bản Thảo chép trùng một điều, chi tiết xem ở phần Tập giải dưới đây. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Xích tiễn sinh ở thung lũng Trần Thương, Ung Châu và các núi Thái Sơn, Thiếu Thất. Tháng Ba, tháng Tư, tháng Tám hái rễ, phơi khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Trần Thương nay thuộc quận Phù Phong, Ung Châu. '''Mã Chí nói:''' Thiên ma sinh ở các nơi Vận Châu, Lợi Châu, Thái Sơn, Lao Sơn. Tháng Năm hái rễ phơi khô. Lá như lá Thược dược nhưng nhỏ hơn, ở giữa mọc lên một thân, thẳng đứng như cán tên. Đầu ngọn kết quả, trạng như hạt Tục tùy tử. Đến khi lá héo thì hạt chín vàng. Rễ nó liền nhau mười đến hai mươi củ, như loại Thiên môn đông. Hình như dưa chuột, cũng như củ cải (lô bặc), lớn nhỏ không nhất định. Người phương đó thường ăn sống, hoặc đồ chín để ăn. Nay dùng loại ở Vận Châu là tốt nhất. '''Tô Cung nói:''' Xích tiễn thuộc loại linh chi. Thân như cán tên, màu đỏ. Ngọn có hoa, lá màu đỏ, nhìn xa như mũi tên có lông vũ. Tháng Tư nở hoa, kết quả giống hạt Khổ luyện tử (sầu đâu), hạt có năm sáu khía, trong có thịt như bột sắn, phơi nắng thì khô héo. Nhựa thịt ở rễ đại loại như Thiên môn đông, duy chỉ không có lõi (tâm mạch). Cách rễ năm sáu tấc có hơn mười củ con bao quanh như củ khoai, có thể ăn sống, không có phép dùng khô. '''Tô Tụng nói:''' Xích tiễn nay ở vùng Giang Hồ cũng có, nhưng không dùng làm thuốc được. Mầm nó như Tô Cung mô tả, nhưng Bản kinh nói tháng Ba, Tư, Tám hái rễ, không nói dùng mầm. Mà các nhà phương tễ nay lại hái mầm vào tháng Ba, Tư; hái rễ vào tháng Bảy, Tám, Chín, so với Bản kinh có chỗ sai lệch, khó lòng ghi cả hai, nên chỉ theo phép hiện nay. Lại nói: Thiên ma nay ở các châu quận vùng Biện Kinh (Đông Tây), Hồ Nam, Hoài Nam đều có. Mùa xuân mọc mầm, lúc mới ra như Thược dược, mọc độc nhất một thân thẳng đứng cao ba bốn thước, hình như cán tên, màu xanh đỏ nên tên là Xích tiễn chi. Thân giữa rỗng, từ giữa trở lên dính theo thân có lá nhỏ nhọn. Đầu ngọn kết bông, nở hoa kết quả to như hạt đậu. Hạt đến mùa hè không rụng mà chui qua thân rỗng xuống đất ngầm sinh trưởng. Rễ hình như dưa chuột, mọc liền mười đến hai mươi củ, loại lớn nặng tới nửa cân hoặc năm sáu lạng. Vỏ màu vàng trắng gọi là "Long bì" (da rồng). Thịt gọi là Thiên ma, hái vào tháng Hai, Ba, Năm, Tám. Lúc mới hái nhân lúc còn nhuận cạo bỏ vỏ, cho vào nước sôi đun qua rồi phơi khô cất giữ. Người núi Tung Sơn, Hành Sơn thường lấy loại tươi tẩm mật làm mứt ăn, rất quý trọng. '''Lý Tiết Trai nói:''' Xích tiễn là mầm của Thiên ma. Trị liệu giữa mầm và rễ khác nhau nên người sau chia làm hai mục. '''Mã Thừa nói:''' Các thầy thuốc nay dùng Thiên ma chính là rễ Xích tiễn. Khai Bảo Bản Thảo lại chép riêng một mục Thiên ma ở Trung phẩm, nói xuất xứ ở Vận Châu. Nay rễ và mầm Xích tiễn đều từ vùng Tề, Vận đưa đến là hạng thượng đẳng. Hình trạng Thiên ma mà Tô Tụng chép trong Đồ kinh chính là mầm Xích tiễn lúc chưa lớn vậy. Xích tiễn dùng mầm có công hiệu từ biểu vào lý; Thiên ma dùng rễ có lý lẽ từ trong đạt ra ngoài. Rễ thì mọc mầm thẳng tắp đi lên, mầm thì kết hạt chín rồi rụng, quay ngược theo thân đi xuống đất mà sinh trưởng, qua đó sơ bộ hiểu được cái lý chủ trị trong ngoài. Nay quan Hàn lâm Thẩm Quát vốn là người bác học, từng nói: Phương cổ dùng Thiên ma thì không dùng Xích tiễn, dùng Xích tiễn thì không dùng Thiên ma, vậy Thiên ma và Xích tiễn vốn là một vật đã rõ ràng. '''Tiết Cơ nói:''' Xích tiễn, Thiên ma là một vật, kinh điển chia làm hai vì chủ trị của rễ và mầm khác nhau. Sản sinh ở đất khác nhau thì mỗi loại có thế mạnh riêng. '''Lý Thời Trân nói:''' Bản kinh chỉ có Xích tiễn, người sau gọi là Thiên ma. Chân Quyền trong Dược tính luận nói: "Xích tiễn chi một tên là Thiên ma", vốn tự đã rõ ràng. Mã Chí đời Tống khi soạn lại Bản thảo lại chép trùng Thiên ma nên mới dẫn đến việc phân biện như thế. Thẩm Quát trong Bút đàm nói: "Thần Nông Bản Thảo ghi rõ hái rễ Xích tiễn, người sau thấy tên nó là Tiễn (mũi tên) nên nghi ngờ đáng lẽ phải dùng thân, thật là không phải. Ví như cây Diên vĩ, Ngưu tất, đều vì thân lá tương tự mà đặt tên nhưng vẫn dùng rễ, có gì đáng nghi đâu?". Ngoài năm loại linh chi ở Thượng phẩm, về thuốc bổ ích thì Xích tiễn là hàng đầu. Người đời nay mê muội vào thuyết Thiên ma nên chỉ dùng để trị phong, thật đáng tiếc thay. Thuyết này của Thẩm công tuy đúng, nhưng rễ và thân đều dùng được cả. Hạt Thiên ma từ trong thân rơi xuống, dân gian gọi là "Hoàn đồng tử". Rễ phơi khô, thịt cứng trắng, màu như sừng cừu thì gọi là "Dương giác Thiên ma"; loại đồ xong vàng nhăn như dưa khô thì gọi là "Tương qua Thiên ma", đều dùng được cả. Một loại hình nhọn mà rỗng, mỏng như Huyền sâm thì không dùng được. *Bào Phác Tử viết: Độc dao chi sinh ở nơi núi cao thung lũng sâu, xung quanh không có cỏ mọc. Thân to như ngón tay, đỏ như màu đơn tố. Lá như rau dền nhỏ. Rễ có củ lớn như cái đấu, củ nhỏ như trứng gà mười hai cái bao quanh. Người nào đắc được củ lớn, uống vào sẽ trường thọ. Xét thấy: Đây là một loại thần dị trong các loại Thiên ma, như Thần sâm trong các loại Nhân sâm vậy. '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng Thiên ma, chớ dùng Ngự phong thảo, hai vật này rất giống nhau, chỉ khác lá và thân. Thân Ngự phong thảo có đốm, mặt sau lá trắng có điểm xanh. Đã dùng Ngự phong thảo thì không dùng Thiên ma, nếu dùng chung sẽ khiến người ta mắc chứng trường kết (tắc ruột). ===【Chỉnh lý sai sót】=== '''Trần Tàng Khí nói:''' Thiên ma sinh ở bình nguyên đầm lầy, giống cây Mã tiên thảo (cỏ roi ngựa), mỗi đốt nở hoa tím. Trong hoa có hạt như hạt Thanh tương tử. Hạt tính hàn, nấu nước uống trừ nhiệt khí. Thân lá giã đắp nhọt sưng. '''Mã Thừa nói:''' Những điều Tàng Khí nói không liên quan đến Xích tiễn, là một vật khác vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Lời Trần thị nói là một loại "Thiên ma thảo", thuộc loại cây Ích mẫu. Sách Gia Hữu Bản Thảo lầm lẫn đưa vào mục Thiên ma này, nay xin đính chính. ===【Tu trị - Chế biến】=== '''Lôi Công nói:''' Lấy 10 lạng Thiên ma thái nhỏ cho vào bình. Dùng một dật hạt Tật lê rang cháy bằng lửa nhỏ, đậy lên trên Thiên ma, dùng ba lớp giấy phong kín, từ giờ Tỵ đến giờ Mùi lấy ra. Lại rang Tật lê và đậy kín như cũ, làm tất cả 7 lần. Dùng vải lau sạch hơi mồ hôi, dùng dao chẻ ra sấy khô, giã riêng mà dùng. Nếu dùng Ngự phong thảo cũng làm theo phép này. '''Lý Thời Trân nói:''' Đây là phép chế thuốc trị phong tý nên mới tu trị như vậy. Nếu trị phong hư ở kinh Can, chỉ cần rửa sạch, gói trong giấy ướt, vùi trong lửa trấu (vùi trấu) cho chín ngấu, lấy ra cắt lát, ngâm rượu một đêm, sấy khô dùng. ===RỄ THIÊN MA (赤箭)=== (Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc. '''Mã Chí nói:''' Vị cay, tính bình, không độc. '''Đại Minh nói:''' Vị ngọt, ấm. '''Chân Quyền nói:''' Xích tiễn chi một tên Thiên ma, vị ngọt, tính bình, không độc. '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Vị đắng, tính bình, là phần Dương trong Âm. '''Chủ trị:''' * Sát quỷ tinh vật, cổ độc ác khí. Uống lâu tăng khí lực, giúp phần âm dài ra, béo khỏe, nhẹ mình tăng tuổi thọ (Bản kinh). Tiêu ung thũng, hạ chứng chi mãn (đầy tức chi thể), hàn sán hạ huyết (Biệt lục). Làm mạnh gân lực. Uống lâu ích khí, nhẹ mình trường thọ (Khai Bảo). Trị lạnh khí tê bại (tý), liệt nửa người không đi được, nói năng hoảng hốt, hay giật mình mất trí (Chân Quyền). Trợ dương khí, bổ ngũ lao thất thương, quỷ chú (bệnh truyền nhiễm), thông huyết mạch, khai khiếu. Ăn uống không kiêng kỵ (Đại Minh). Trị phong hư huyễn vận (chóng mặt), đầu đau (Lý Đông Viên). ===【Phát minh】=== '''Lý Cảo nói:''' Người can hư bất túc nên dùng Thiên ma, Xuyên khung để bổ. Công dụng có bốn: Trị người lớn phong nhiệt đầu đau, trẻ em phong giản kinh quý (co giật), các chứng phong tê dại (ma tý bất nhân), phong nhiệt khiến ngôn ngữ không lưu loát. '''Lý Thời Trân nói:''' Thiên ma là thuốc ở phần khí của kinh Can. Sách Tố Vấn viết: "Các chứng run rẩy, co quắp, chóng mặt (điệu huyễn) đều thuộc về Can". Cho nên Thiên ma nhập vào kinh Quyết âm để trị các bệnh đó. Xét lời La Thiên Ích: "Mắt tối đầu xoay, phong hư bên trong phát ra, không có Thiên ma không trị được". Thiên ma là cỏ định phong (Định phong thảo), nên là vị thuốc thần để trị phong. Nay có người uống thuốc Thiên ma lâu ngày, khắp thân phát ra nốt đỏ (hồng đan), đó chính là nghiệm chứng của việc khu phong vậy. '''Lý Tiết Trai nói:''' Thiên ma cần các vị thuốc khác làm tá sứ, sau đó mới thấy công hiệu, vẫn cần tăng liều lượng mà dùng. Người ta có khi tẩm mật làm mứt, hoặc đồ chín để ăn, suy nghĩ sâu xa tất sẽ thấu hiểu cái hay của nó. ===【Phụ phương】=== Mới thêm hai phương. * '''Thiên ma hoàn:''' Tiêu phong hóa đờm, thanh lợi đầu mắt, khoan khoái lồng ngực. Trị tâm hồi hộp phiền muộn, đầu váng muốn ngã, cứng cổ, vai lưng co mỏi, tinh thần mê sảng. Dùng Thiên ma (đồ chín) nửa cân, Thiên nam tinh (bào chế) 2 lạng. Tán bột, luyện mật làm viên to bằng hạt súng. Mỗi lần sau bữa ăn nhai một viên, uống với trà hoặc rượu tùy ý. (Phổ tế phương) * '''Thắt lưng và bàn chân đau nhức:''' Thiên ma, Bán hạ, Tế tân mỗi vị 2 lạng. Dùng hai túi lụa, mỗi túi đựng thuốc đều nhau, đồ nóng, thay phiên nhau chườm vào chỗ đau. Ra mồ hôi thì khỏi. Vài ngày sau chườm lại. (Vệ sinh dị giản phương) ===HẠT THIÊN MA (還筒子 - Hoàn đồng tử)=== '''Chủ trị:''' Định phong bổ hư, công hiệu như Thiên ma (Thời Trân). ====【Phụ phương】==== Mới thêm một phương. '''Ích khí cố tinh:''' Bổ huyết, làm đen tóc, tăng tuổi thọ, có hiệu quả kỳ lạ. Hoàn đồng tử nửa lạng, Khiếm thực nửa lạng, Kim ngân hoa 2 lạng, Phá cố chỉ (ngâm rượu: mùa xuân 3 ngày, hạ 1 ngày, thu 2 ngày, đông 5 ngày; sấy khô, tán bột) 2 lạng. Các vị đều nghiền bột, dùng hồ mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước muối lúc bụng đói. ==TRUẬT (朮)== (Phát âm là Truật. Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Atractylodes macrocephala Koidz. (Bạch truật) và Atractylodes lancea (Thunb.) DC. (Cốt thương truật/Thương truật). ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Sơn kế''' (山薊 - Bản kinh), '''Dương phu''' (楊桴 - âm là Phu), '''Phu kế''' (桴薊 - Nhĩ Nhã), '''Mã kế''' (馬薊 - Cương mục), '''Sơn khương''' (山薑 - Biệt lục), '''Sơn liên''' (山連 - Biệt lục), '''Cật lực gia''' (吃力伽 - Nhật Hoa). '''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Lục thư bản nghĩa, chữ Truật (朮) viết theo lối triện văn, tượng hình cho cái gốc, thân, cành và lá của nó. Ngô Phổ bản thảo gọi là Sơn giới, Thiên kế. Ấy là vì lá nó giống cây Kế (thun), mà vị thì giống Gừng (Khương), Cải (Giới). Vùng Tây Vực gọi là Cật lực gia, nên trong Ngoại đài bí yếu có phương "Cật lực gia tán". Vùng Dương Châu trồng nhiều Bạch truật, hình trạng nó giống cái dùi trống (phu), nên có tên Dương phu và Phu kế, người nay gọi là Ngô truật vậy. "Phu" vốn là tên của dùi đánh trống. Các phương cổ dùng hai loại Truật thông dụng như nhau. Người đời sau mới bắt đầu phân chia thành Thương truật và Bạch truật, chi tiết xem ở phần dưới. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Truật sinh ở thung lũng Trịnh Sơn, Hán Trung, Nam Trịnh. Tháng Hai, Ba, Tám, Chín hái rễ, phơi nắng cho khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Trịnh Sơn chính là Nam Trịnh. Nay đâu đâu cũng có, loại ở Tưởng Sơn, Bạch Sơn, Mao Sơn là tốt nhất. Hái vào tháng Mười một, Mười hai là tốt, nhiều chất dầu (chi cao) mà vị ngọt. Mầm của nó có thể nấu nước uống, rất thơm ngon. Truật có hai loại: '''Bạch truật''', lá lớn có lông và có khía (ngã), rễ ngọt mà ít dầu, có thể làm viên hoặc tán bột mà dùng; '''Xích truật''' (tức Thương truật), lá nhỏ không khía, rễ nhỏ, vị đắng mà nhiều dầu, có thể nấu thành cao (tiễn) mà dùng. Truật ở vùng Đông cảnh tuy lớn nhưng khí không mạnh, không dùng được. Nay người bán ngoài chợ đều lấy bột gạo bôi lên cho trắng, không phải tự nhiên, khi dùng nên cạo bỏ đi. '''Tô Tụng nói:''' Truật nay đâu cũng có, loại ở Mao Sơn, Tung Sơn là tốt. Mùa xuân mọc mầm, màu xanh không khía. Thân như thân cây Ngải (Hào), màu xanh đỏ, dài khoảng hai ba thước. Mùa hạ nở hoa màu tím biếc, cũng giống hoa Thích kế, hoặc có loại hoa trắng vàng. Sau tiết Phục thì kết hạt, đến mùa thu thì mầm héo. Rễ như gừng mà bên cạnh có rễ nhỏ, vỏ đen, lõi vàng trắng, trong có chất dịch màu tím. Rễ dùng tươi hay khô đều được. Đào Ẩn Cư nói Truật có hai loại, thì sách Nhĩ Nhã gọi "Phu kế" chính là Bạch truật vậy. Nay Bạch truật sinh ở vùng núi cao các vùng Hàng, Việt, Thư, Tuyên Châu, lá mọc đối, trên có lông, thân vuông, đầu cành nở hoa, hoa có các màu tím nhạt, biếc, đỏ; rễ mọc theo lối phân nhánh (ngã sinh). Tháng Hai, Ba, Tám, Chín hái rễ, phơi khô dùng, loại khối lớn hoa tím là hạng tốt. Các phương cổ dùng chữ "Truật" đều là chỉ Bạch truật vậy. '''Lý Tiết Trai nói:''' '''Thương truật''' dài như ngón tay cái, béo chắc, vỏ màu nâu, khí vị cay nồng (tân liệt), cần dùng nước vo gạo ngâm rửa, bỏ vỏ mới dùng. '''Bạch truật''' hình dáng thô ngắn, màu hơi nâu, khí vị cũng hơi cay đắng mà không nồng. Các phương cổ và sách Bản kinh chỉ gọi là Truật, không phân hai loại Thương, Bạch, nên cần xem xét kỹ cả hai. '''Lý Thời Trân nói:''' '''Thương truật''' là Sơn kế, núi rừng đâu cũng có. Mầm cao hai ba thước, lá ôm lấy thân mà mọc, lá ở phần ngọn giống lá Đường lê, lá ở phần gốc có ba đến năm khía, đều có răng cưa nhỏ như gai. Rễ như gừng già, màu đen xám (thương hắc), thịt trắng có dầu. '''Bạch truật''' là Phu kế, vùng Ngô Việt có nhiều. Người ta thường lấy rễ đem trồng, một năm đã mọc dày. Mầm non có thể làm rau ăn, lá hơi lớn và có lông. Rễ to như ngón tay, trạng như dùi trống, cũng có cái to như nắm tay. Người vùng đó bổ đôi phơi khô, gọi là Tước thuật (Truật gọt vỏ), cũng gọi là Phiến thuật. Trần Tự Lương nói: Loại trắng mà béo là Chiết thuật (vùng Chiết Giang); loại gầy mà vàng là sản vật từ núi Mạc Phụ, công lực kém. Người xưa dùng Truật không phân biệt Xích, Bạch. Từ đời Tống trở về sau mới bắt đầu nói Thương truật vị đắng cay khí nồng, Bạch truật vị đắng ngọt khí hòa, mỗi thứ dùng riêng biệt, cũng rất có lý. Đều lấy loại hái vào mùa thu là tốt; hái mùa xuân thì bên trong rỗng mềm, dễ hư hỏng. Kê Hàm trong Nam phương thảo mộc trạng chép: Trong các vị thuốc có Cật lực gia, chính là Truật vậy. Sản vật vùng ven biển có cái một rễ nặng tới vài cân, hái ăn rất tốt. '''Đỗ Gia Mô nói:''' Chiết thuật dân gian gọi là '''Vân đầu thuật''', trồng ở vùng đồng bằng, khá béo lớn nhờ sức phân bón, dễ bị ra dầu. Hấp thuật (vùng Hấp Châu) dân gian gọi là '''Cẩu đầu thuật''', tuy gầy nhỏ nhưng được khí đất sung mãn, rất khô trắng, tốt hơn Chiết thuật. Loại ở Ninh Quốc, Xương Hóa, Trì Châu đều giống Hấp thuật vì giáp ranh nhau. ===BẠCH TRUẬT (白朮)=== '''Tên khoa học:''' Atractylodes macrocephala Koidz. ====【Khí vị】==== Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. * '''Sách "Biệt lục" viết:''' Vị ngọt. '''Chân Quyền nói:''' Vị ngọt, cay. * '''Lý Đông Viên nói:''' Vị đắng mà ngọt, tính ấm. Vị đậm khí mỏng, là phần Âm trong Dương, có thể thăng có thể giáng. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhập vào sáu kinh: Thủ Thái âm, Thiếu âm; Túc Thái âm, Dương minh, Thiếu âm, Quyết âm. * '''Từ Chi Tài nói:''' Phòng phong, Địa dư làm sứ cho nó. * '''Chân Quyền nói:''' Kỵ Đào, Lý (mận), Rau muống (tùng thái), thịt Sẻ, cá Thanh ngư. * '''Đỗ Gia Mô nói:''' Sau khi thái phiến, dùng sữa người (nhân nhũ) tẩm nhuận để chế bớt tính táo của nó. Trị bệnh về Tỳ thì dùng đất vách tường lâu năm (trần bích thổ) sao qua, để mượn thổ khí mà trợ giúp cho Tỳ vậy. ====【Chủ trị】==== Phong hàn, thấp tý, tử cơ (cơ nhục tê bại), kinh đản (co giật, vàng da), cầm mồ hôi, trừ nhiệt, tiêu hóa thức ăn. Chế thành thuốc sắc hoặc thuốc viên để ăn lâu ngày giúp nhẹ mình, tăng tuổi thọ, không thấy đói (Bản kinh). Chủ trị phong lớn (đại phong) ở thân và mặt, phong huyễn đầu đau, mắt chảy nước, tiêu đờm thủy, trục phong thủy kết thũng ở giữa da thịt, trừ tâm hạ cấp mãn (đầy tức dưới tim), hoắc loạn nôn mửa đi tả không ngừng, lợi máu ở vùng thắt lưng và rốn, ích tân dịch, làm ấm dạ dày, tiêu ngũ cốc, giúp ăn ngon (Biệt lục). Trị tâm phúc chướng mãn, trong bụng đau lạnh, vị hư đi lỵ, khí lỵ nhiều năm, trừ hàn nhiệt, cầm nôn nghịch (Chân Quyền). Cầm phản vị (nôn mửa sau ăn), lợi tiểu tiện, chủ trị ngũ lao thất thương, bổ thắt lưng đầu gối, làm dày cơ bắp, trị lạnh khí, chứng tích tụ khối u (hòn cục), chứng lãnh trưng hà ở phụ nữ (Đại Minh). Trừ thấp, ích khí, hòa trung, bổ dương, tiêu đờm, trục thủy, sinh tân, chỉ khát, cầm tả lỵ, tiêu phù thũng ở chân, trừ nhiệt trong dạ dày, nhiệt ở cơ nhục. Phối hợp với Chỉ thực giúp tiêu bĩ mãn ở phần khí; làm tá cho Hoàng cầm giúp an thai thanh nhiệt (Lý Đông Viên). Lý Vị ích Tỳ, bổ Can phong hư, chủ trị gốc lưỡi cứng, ăn vào là nôn, đau vị quản, thân mình nặng nề, dưới tim đau gấp, dưới tim có thủy bĩ (nước tích tụ gây đầy tức). Trị bệnh thuộc Xung mạch gây khí nghịch cấp bách bên trong, đau vùng rốn bụng (Vương Hiếu Cổ). ====【Phát minh】==== * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Bản thảo vốn không có tên riêng Thương truật, Bạch truật. Đời gần đây đa phần dùng Bạch truật để trị phong ở giữa da thịt, cầm mồ hôi, tiêu bĩ, bổ dạ dày và giúp phát hãn, có mồ hôi thì cầm lại, công hiệu ngang với Hoàng kỳ. * '''Lý Đông Viên nói:''' Bạch truật trừ thấp ích táo, hòa trung bổ khí. Công dụng có chín: Một là ôn trung; hai là khử thấp trong tỳ vị; ba là trừ nhiệt trong dạ dày; bốn là mạnh tỳ vị, giúp ăn uống ngon; năm là hòa vị sinh tân dịch; sáu là cầm cơ nhục tỏa nhiệt; bảy là trị tứ chi khốn đốn mệt mỏi, hay nằm, mắt không mở được, không muốn ăn uống; tám là chỉ khát; chín là an thai. Phàm trung tiêu không chịu được thấp thì không thể ngưng đi lỵ, bắt buộc phải dùng Bạch truật để trục thủy ích Tỳ. Không có Bạch truật không khử được thấp, không có Chỉ thực không tiêu được bĩ, cho nên bài "Chỉ Truật hoàn" lấy vị này làm quân. * '''Tiết Cơ nói:''' Tỳ ghét thấp, thấp thắng thì khí không thể vận hóa, tân dịch do đâu mà sinh? Cho nên nói: Bàng quang là túi chứa tân dịch, khí hóa thì nước mới thoát ra được. Dùng Bạch truật để trừ thấp thì khí được lưu thông khắp nơi mà tân dịch sinh ra vậy. ====【Phụ phương】==== Cũ 7, mới 24. * '''Chỉ Truật hoàn:''' Tiêu bĩ mạnh dạ dày, uống lâu khiến ăn uống tự vận hóa không ngừng. Bạch truật 1 lạng (dùng đất vách vàng sao qua, bỏ đất), Chỉ thực (sao cám, bỏ cám) 1 lạng. Tán bột, dùng lá sen gói cơm nướng chín, giã nát trộn làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước ấm. Nếu khí trệ thêm Trần bì 1 lạng; có hỏa thêm Hoàng liên 1 lạng; có đờm thêm Bán hạ 1 lạng; có hàn thêm Can khương 5 tiền, Mộc hương 3 tiền; có tích thực thêm Thần khúc, Mạch nha mỗi vị 5 tiền. (Khiết Cổ gia trân) * '''Chỉ Truật thang:''' Dưới tim cứng lớn như cái mâm, cạnh như cái chén úp, do thủy ẩm gây ra. Hàn khí bất túc thì tay chân quyết nghịch, bụng đầy, hông sườn kêu rộn ràng. Dương khí không thông thì thân mình lạnh, âm khí không thông thì xương cốt đau. Dương thông trước thì ghét lạnh, âm thông trước thì tê dại không biết đau. Âm dương hòa hợp thì khí mới hành; đại khí chuyển động một vòng thì tà khí mới tan. Thực thì đánh rắm (thất khí), hư thì di niệu (tè dầm). Gọi là bệnh ở khí phận, nên dùng phương này làm chủ. Bạch truật 1 lạng, Chỉ thực 7 quả. Nước 5 thăng, sắc còn 3 thăng, chia ba lần uống. Trong bụng mềm lại là tan. (Trọng Cảnh - Kim Quỹ Ngọc Hàm) * '''Bạch truật cao:''' Dùng ăn bồi bổ, trị tiêu lỵ lâu ngày. Bạch truật hảo hạng 10 cân, thái phiến, cho vào nồi đất, đổ nước ngập quá 2 thốn, đun lửa văn vũ cho đến khi còn một nửa, chắt nước ra bình, bã lại sắc tiếp, làm như vậy 3 lần. Sau đó lấy các nước sắc trước sau cùng nấu thành cao, để vào bình một đêm, gạn bỏ nước trong bên trên rồi cất dùng. Mỗi lần uống 2-3 thìa, pha với nước mật. (Thiên kim lương phương) * '''Tham Truật cao:''' Trị tất cả các chứng tỳ vị hư tổn, ích nguyên khí. Bạch truật 1 cân, Nhân sâm 4 lạng. Thái phiến, dùng 15 bát nước chảy (lưu thủy) ngâm một đêm, dùng lửa củi dâu văn vũ sắc lấy nước cốt, nấu thành cao, thêm mật luyện để cất dùng. Mỗi lần dùng nước ấm pha uống. (Tập giản phương) * '''Ngực bụng phiền muộn:''' Bột Bạch truật, uống với nước mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ). (Thiên kim phương) * '''Dưới tim có nước (thủy ẩm):''' Bạch truật 3 lạng, Trạch tả 5 lạng. Nước 3 thăng, sắc còn 1 thăng rưỡi, chia ba lần uống. (Mai Sư phương) * '''Ngũ ẩm tửu tích:''' 1. Lưu ẩm (nước dừng dưới tim); 2. Tích ẩm (nước ở hai bên sườn); 3. Đàm ẩm (nước trong dạ dày); 4. Dật ẩm (nước ở giữa ngũ tạng); 5. Lưu ẩm (nước trong ruột). Đều do ăn uống gặp lạnh hoặc uống quá nhiều trà gây ra. '''Bội Truật hoàn:''' Dùng Bạch truật 1 cân, Can khương (bào), Quế tâm mỗi vị nửa cân. Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20-30 viên với nước ấm. (Huệ dân hòa tễ cục phương) * '''Tứ chi sưng đầy:''' Bạch truật 3 lạng. Thái nhỏ. Mỗi lần dùng nửa lạng, nước 1 bát rưỡi, Đại táo 3 quả, sắc còn 9 phần, uống ấm, ngày 3-4 lần, không kể thời gian. (Bản sự phương) * '''Trúng phong miệng mím chặt, bất tỉnh nhân sự:''' Bạch truật 4 lạng. Rượu 3 thăng, sắc lấy 1 thăng, uống hết một lần. (Thiên kim phương) * '''Sản hậu trúng hàn, khắp người lạnh cứng, miệng mím, không biết người:''' Bạch truật 4 lạng, Trạch tả 1 lạng, Gừng sống 5 tiền. Nước 1 thăng, sắc uống. (Sản bảo) * '''Đầu bỗng nhiên váng đầu (huyễn vận), lâu ngày không khỏi, tứ chi gầy yếu, ăn uống không biết vị, hay thèm ăn đất vàng:''' Dùng Bạch truật 3 cân, Thần khúc 3 cân. Giã nát rây bột, trộn với rượu làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với nước, ngày 3 lần. Kỵ rau muống, Đào, Lý, cá Thanh ngư. (Ngoại đài bí yếu) * '''Thấp khí gây đau:''' Bạch truật thái lát, sắc lấy nước cốt nấu thành cao, pha nước ấm uống. (Tập giản phương) * '''Trúng thấp xương đau:''' Bạch truật 1 lạng, rượu 3 chén, sắc còn 1 chén, uống hết. Nếu không uống được rượu thì sắc với nước. (Tam nhân lương phương) * '''Phụ nữ cơ nhục tỏa nhiệt do huyết hư.''' '''Cật lực gia tán:''' Dùng Bạch truật, Bạch phục linh, Bạch thược dược mỗi vị 1 lạng, Cam thảo nửa lạng. Tán bột. Sắc với Gừng, Táo mà uống. (Vương Đảo - Ngoại đài bí yếu) * '''Phong ngứa, nổi mẩn (ẩn chẩn):''' Bạch truật tán bột, uống mỗi lần 1 thìa vuông với rượu, ngày 2 lần. (Thiên kim phương) * '''Mặt nhiều vết tàn nhang (tước noãn sắc):''' Dùng giấm tốt (khổ tửu) ngâm Bạch truật, hàng ngày lau lên mặt. Cực kỳ hiệu nghiệm. (Trử hậu phương) * '''Tự hãn (mồ hôi trộm) không ngừng:''' Bạch truật tán bột, uống mỗi lần 1 thìa vuông với nước, ngày 2 lần. (Thiên kim phương) * '''Tỳ hư đạo hãn:''' Bạch truật 4 lạng, thái phiến, chia làm 4 phần: 1 lạng sao với Hoàng kỳ, 1 lạng sao với Mẫu lệ, 1 lạng sao với Thạch hộc, 1 lạng sao với cám mạch (mạch phu). Sau đó chọn lấy Bạch truật tán bột. Mỗi lần uống 3 tiền với nước cơm lúc xa bữa ăn, ngày 3 lần. (Phương của Đan Khê) * '''Người già trẻ nhỏ hư hãn:''' Bạch truật 5 tiền, Tiểu mạch 1 nhúm. Nước sắc cho cạn, bỏ tiểu mạch, lấy Bạch truật tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với nước sắc Hoàng kỳ. (Toàn ấu tâm giám) * '''Sản hậu nôn nghịch, không có bệnh khác:''' Bạch truật 1 lạng 2 tiền, Gừng sống 1 lạng 5 tiền. Rượu và nước mỗi thứ 2 thăng, sắc còn 1 thăng, chia ba lần uống. (Phụ nhân lương phương) * '''Tỳ hư chướng mãn:''' Tỳ khí không hòa, lạnh khí xâm nhập vào trung tiêu gây ứ trệ không thông, sinh ra chướng mãn. '''Khoan trung hoàn:''' Dùng Bạch truật 2 lạng, Trần bì 4 lạng. Tán bột, luyện với rượu làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần trước khi ăn uống với nước sắc Mộc hương 30 viên, hiệu nghiệm. (Chỉ mê phương) * '''Tỳ hư tiết tả:''' Bạch truật 5 tiền, Bạch thược dược 1 lạng, mùa đông thêm Nhục đậu khấu (nướng). Tán bột, dùng cơm làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm, ngày 2 lần. (Đan Khê tâm pháp) * '''Thấp tả, thử tả:''' Bạch truật, Xa tiền tử lượng bằng nhau. Sao rồi tán bột, uống mỗi lần 2-3 tiền với nước ấm. (Giản tiện phương) * '''Tiêu chảy lâu ngày gây hoạt tràng:''' Bạch truật (sao), Phục linh mỗi vị 1 lạng, Gạo nếp (sao) 2 lạng. Tán bột, trộn với thịt táo mà ăn, hoặc làm viên uống. (Giản tiện phương) * '''Người già trẻ nhỏ bị hoạt tả:''' Bạch truật nửa cân (sao đất vàng), Sơn dược 4 lạng (sao). Tán bột, dùng cơm làm viên. Tùy tuổi lớn nhỏ mà uống với nước cơm. Hoặc thêm Nhân sâm 3 tiền. (Bần Hồ tập giản phương) * '''Người già thường xuyên tiêu chảy:''' Bạch truật 2 lạng (trộn đất vàng đồ rồi sấy khô bỏ đất), Thương truật 5 tiền (ngâm nước vo gạo rồi sao), Phục linh 1 lạng. Tán bột, hồ gạo làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 70-80 viên với nước cơm. (Giản tiện phương) * '''Tiểu nhi tiêu chảy lâu ngày:''' Tỳ hư, cơm nước không vận hóa được, không muốn ăn uống. '''Ôn bạch hoàn:''' Dùng Bạch truật (sao) 2 tiền rưỡi, Bán hạ khúc 2 tiền rưỡi, Đinh hương nửa tiền. Tán bột, dùng nước gừng và hồ mì làm viên bằng hạt kê. Tùy lớn nhỏ mà uống với nước cơm. (Toàn ấu tâm giám) * '''Tả huyết, sắc mặt vàng bợt (ủy hoàng):''' Trường phong trĩ lậu, sa trực tràng đi ngoài ra máu, sắc mặt vàng bợt, nhiều năm không khỏi. Bạch truật 1 cân (sao đất vàng, tán bột), Can địa hoàng nửa cân. Đồ trên nồi cơm cho chín, giã nát trộn đều, nếu khô thêm chút rượu, làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 15 viên với nước cơm, ngày 3 lần. (Phổ tế phương) * '''Thai phụ thúc thai (giúp dễ đẻ):''' Bạch truật, Chỉ xác (sao cám) lượng bằng nhau. Tán bột, cơm nướng làm viên bằng hạt ngô. Đến ngày mồng 1 của tháng đủ ngày đủ tháng, mỗi lần trước khi ăn uống 30 viên với nước ấm. Thai gầy đi thì dễ đẻ vậy. (Bảo mệnh tập) * '''Răng dài ra mỗi ngày, dần đến khó ăn, gọi là bệnh Tủy dật (Tủy tràn ra):''' Dùng Bạch truật sắc lấy nước, súc miệng và uống tất sẽ hiệu nghiệm, lập tức khỏi vậy. (Trương Nhuệ - Kê phong bị cấp phương) ===THƯƠNG TRUẬT (蒼朮)=== '''Tên khoa học:''' Atractylodes lancea (Thunb.) DC. ====【Thích danh - Giải thích tên gọi】==== '''Xích truật''' (赤朮 - Biệt lục), '''Sơn tinh''' (山精 - Bào Phác), '''Tiên truật''' (仙朮 - Cương mục), '''Sơn kế''' (山薊). '''Lý Thời Trân nói:''' Sách Dị Thuật chép: Truật là tinh hoa của núi rừng, uống vào giúp người ta trường sinh, nhịn ăn (tích cốc), trở thành thần tiên, nên mới có tên là Sơn tinh, Tiên truật. Thuật có hai loại Xích (đỏ) và Bạch (trắng), chủ trị tuy gần giống nhau nhưng tính vị và việc phát hãn hay chỉ hãn thì khác biệt. Bản thảo đời trước không phân biệt Thương, Bạch là chưa có căn cứ. Nay tôi đem công dụng theo thuyết của bốn nhà: Bản kinh, Biệt lục, Chân Quyền, Đại Minh ra tham khảo, phân loại riêng biệt, mỗi loại kèm theo phụ phương để người sử dụng có nơi nương tựa. ====【Tu trị - Chế biến】==== * '''Đại Minh nói:''' Dùng Thuật phải ngâm nước vo gạo (mễ cam) một đêm rồi mới cho vào thuốc. * '''Lý Tiết Trai nói:''' Thương truật tính cay nồng, phải dùng nước vo gạo ngâm rửa, thay nước ngâm tiếp hai ngày, cạo bỏ lớp vỏ thô bên ngoài mới dùng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thương truật tính táo, nên dùng nước vo gạo nếp ngâm để khử bớt chất dầu, thái phiến, sấy khô dùng. Cũng có người dùng vừng (chi ma) sao cùng để chế bớt tính táo. ====【Khí vị】==== Vị đắng (khổ), tính ấm (ôn), không độc. * '''Sách "Biệt lục" viết:''' Vị ngọt (cam). '''Chân Quyền nói:''' Vị ngọt, cay (tân). * '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch truật vị ngọt mà hơi đắng, tính ấm mà hòa hoãn; Xích truật (Thương truật) vị ngọt mà cay nồng, tính ấm mà táo, là phần Dương trong Âm, có thể thăng có thể giáng. Nhập vào các kinh: Túc Thái âm, Dương minh; Thủ Thái âm, Dương minh, Thái dương. Kiêng kỵ giống như Bạch truật. ====【Chủ trị】==== Phong hàn thấp tý, tử cơ (cơ nhục tê dại), kinh đản (co giật, vàng da). Làm thuốc viên hoặc thuốc sắc uống lâu ngày giúp nhẹ mình, tăng tuổi thọ, không thấy đói (Bản kinh). Chủ trị đầu đau, tiêu đờm thủy, trục phong thủy kết thũng ở giữa da thịt, trừ tâm hạ cấp mãn (đầy tức dưới tim) và hoắc loạn nôn mửa đi tả không ngừng, làm ấm dạ dày, tiêu ngũ cốc, giúp ăn ngon (Biệt lục). Trừ ác khí, đẩy lùi tai ương dịch bệnh (Đào Hoằng Cảnh). Chủ trị đại phong tê bại, tâm phúc chướng đau, thủy thũng chướng mãn, trừ hàn nhiệt, cầm nôn nghịch, tiêu chảy, lỵ lạnh (Chân Quyền). Trị gân xương mềm yếu, chứng tích tụ khối u (hòn cục), chứng lãnh khí trưng hà ở phụ nữ, chướng khí sơn lam, bệnh ôn dịch (Đại Minh). Làm sáng mắt, làm ấm thủy tạng (Thận) (Lưu Hoàn Tố). Trừ thấp phát hãn, kiện vị an tỳ, là thuốc trọng yếu trị chứng nuy (yếu liệt) (Lý Đông Viên). Tán phong ích khí, giải tất cả các chứng uất (Chu Đan Khê). Trị thấp đàm lưu ẩm, hoặc kèm ứ huyết kết thành ổ túi (khỏa nang), cũng như tỳ thấp chảy xuống dưới gây đục lậu, đới hạ, hoạt tả, trường phong hạ huyết (Lý Thời Trân). ====【Phát minh】==== * '''Lý Tiết Trai nói:''' Thương truật khí vị cay nồng; Bạch truật hơi đắng cay mà không nồng. Phương cổ và sách Bản kinh chỉ gọi là Thuật, chưa chia Thương, Bạch. Chỉ vì Đào Ẩn Cư nói Thuật có hai loại, từ đó người ta quý trọng Bạch truật mà thường bỏ mặc Thương truật không dùng. Như bài "Bình vị tán" của cổ phương, Thương truật là vị thuốc cốt yếu nhất, công hiệu cực nhanh. Thật không rõ là trong Bản kinh nguyên gốc không có tên Bạch truật. Kê Khang nói: Nghe lời người đạo hạnh để lại, ăn Thuật và Hoàng tinh giúp người ta sống thọ, cũng không có chữ "Bạch", dùng nên xem xét cả hai. * '''Lý Đông Viên nói:''' Bản thảo chỉ gọi là Thuật, không phân Thương, Bạch. Mà Thương truật riêng có khí hùng tráng đi lên, năng trừ thấp, phía dưới làm yên kinh Thái âm, khiến tà khí không truyền vào Tỳ vậy. Vì nó đã qua ngâm nước vo gạo, sao lửa nên có thể ra mồ hôi (phát hãn), đặc biệt khác với Bạch truật là cầm mồ hôi (chỉ hãn), người dùng không nên lấy vị này thay vị kia. Bởi lẽ chúng có sự khác biệt về "Chỉ" và "Phát", các chủ trị còn lại thì tương đồng. * '''Lý Đông Viên nói thêm:''' Thương truật và Bạch truật chủ trị giống nhau, nhưng so với Bạch truật thì khí nặng mà thể trầm. Nếu để trừ thấp ở thượng tiêu và phát hãn thì công năng lớn nhất; nếu để bổ trung tiêu, trừ thấp ở tỳ vị thì sức không bằng Bạch truật. Người nào trong bụng cảm thấy chật hẹp (đầy tức) thì nên dùng nó. * '''Chu Đan Khê nói:''' Thương truật trị thấp, thượng, trung, hạ tiêu đều có thể dùng. Lại có thể giải tổng quát các chứng uất. Sáu chứng uất: Đàm, Hỏa, Thấp, Thực, Khí, Huyết đều do sự truyền hóa mất thường, không thể thăng giáng. Bệnh ở trung tiêu nên thuốc nhất định phải kiêm cả thăng giáng. Muốn thăng nó tất phải giáng nó; muốn giáng nó tất phải thăng nó. Cho nên Thương truật là thuốc của kinh Túc Dương minh, khí vị cay nồng, làm mạnh vị mạnh tỳ, phát khởi cái khí của ngũ cốc, có thể đi thẳng vào các kinh, sơ tiết cái thấp của kinh Dương minh, làm thông chỗ thu liễm đình trệ. Hương phụ là thuốc khoái khí trong Âm, hạ khí nhanh nhất. Một vị thăng một vị giáng, do đó các uất được tán đi mà bình ổn. * '''Dương Sĩ Doanh nói:''' Tỳ tinh không giữ được, tiểu tiện rỉ đục, lâm râm không dứt, lưng vai đau mỏi, nên dùng Thương truật để thu liễm tỳ tinh, vì tinh sinh ra từ ngũ cốc vậy. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Bạch truật ít dầu, có thể làm hoàn tán; Xích truật nhiều dầu, có thể nấu thành cao. Xưa Lưu Quyên Tử lấy tinh hoa của nó làm viên, tên là "Thủ trung kim hoàn", có thể trường sinh. * '''Tô Tụng nói:''' Người dùng phép phục thực đa phần chỉ dùng độc vị Thuật, hoặc hợp với Bạch phục linh, hoặc hợp với Thạch xương bồ, đều giã bột. Sáng sớm uống với nước, tối lại uống tiếp, lâu ngày càng tốt. Hoặc lấy Thuật tươi, bỏ đất ngâm nước, sắc đi sắc lại như mạch nha, pha rượu uống càng hay. Nay "Thuật tiễn" chế ở Mao Sơn chính là theo phép này. Đào Ẩn Cư nói lấy tinh hoa của nó làm viên, nay lại là cao sắc, e không phải chân truyền. * '''Vương Thận Vi dẫn lời Dữu Kiên Ngô:''' Trong tờ biểu tạ ơn Đào Ẩn Cư về Thuật tiễn có viết: "Lá xanh đâm chồi, hoa tím khoe sắc. Trăm tà bên ngoài bị đẩy lùi, sáu phủ bên trong được sung túc. Sơn tinh thấy chép trong sách, Hoa thần ghi ở trong lục... Vị nặng hơn kim tương, thơm hơn cả ngọc dịch...". * '''Cát Hồng trong "Bào Phác Tử" chép:''' Nhà họ Văn ở Nam Dương cuối đời Hán lánh nạn vào núi Hồ Sơn, đói khát sắp chết. Có người dạy cho ăn Thuật, từ đó không đói nữa. Mấy chục năm sau về làng, sắc mặt trẻ lại, khí lực mạnh hơn. Cho nên Thuật còn có tên Sơn tinh, sách Thần Nông dược kinh nói: "Muốn trường sinh, thường phục Sơn tinh" chính là nó vậy. * '''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Thổ nạp kinh, bài tựa về Thuật của Tử Vi Phu Nhân nói: Ta quan sát các loài cỏ cây có sức vượt trội giúp ích cho mình, đều không bằng Thuật có nhiều linh nghiệm. Có thể trường sinh lâu dài, càng lâu càng linh. Bậc ẩn dật chốn sơn lâm uống được Thuật thì sánh ngang với năm ngọn núi cao (Ngũ nhạc). Lại sách Thần tiên truyền chép: Trần Tử Hoàng đắc được phương thuốc ăn Thuật, vợ là Khương thị bị bệnh suy nhược, uống vào tự khỏi, sắc mặt khí lực như lúc đôi mươi. Thời Trân tôi cẩn trọng xét rằng: Các thuyết trên đây đều giống như Thương truật, không chỉ riêng Bạch truật. Nay các nhà phục thực cũng gọi Thương truật là Tiên truật, nên tôi đều liệt kê sau mục Thương truật. * '''Lại nữa, Trương Trọng Cảnh''' để tránh tất cả ác khí, dùng Xích truật đốt cùng móng chân lợn để lấy khói. Đào Ẩn Cư cũng nói Thuật năng trừ ác khí, dập tắt tai ương. Cho nên nay khi có dịch bệnh hoặc sáng mồng Một Tết, nhà nhà thường đốt Thương truật để trừ tà khí. Sách Loại biên chép: Vợ người họ Cao ở Việt dân, bị bệnh hoảng hốt nói sảng, quỷ của người chồng đã chết nhập vào. Nhà đó đốt khói Thương truật, con quỷ lập tức xin đi. Sách Di kiên chí chép: Một kẻ sĩ ở Giang Tây bị nữ yêu ám. Con quỷ lúc từ biệt nói: "Ngài bị âm khí xâm nhiễm, tất sẽ bị tiêu chảy dữ dội, nên uống nhiều Bình vị tán là tốt. Trong đó có Thương truật có thể trừ tà vậy". * '''Hứa Thúc Vi trong "Bản sự phương" nói:''' Tôi bị bệnh ẩm tích (nước đọng) đã ba mươi năm. Ban đầu do thời trẻ đêm ngồi viết văn, nghiêng người sang trái tựa bàn, nên đồ ăn thức uống đa phần rơi xuống bên trái. Nửa đêm tất uống vài chén rượu rồi lại nằm nghiêng trái. Lúc trẻ không biết, ba năm năm sau thấy rượu xuống phía trái có tiếng kêu, mạn sườn đau, ăn kém, cồn cào, uống nửa chén rượu là ngưng. Mười mấy ngày tất nôn ra vài thăng nước chua. Mùa hè chỉ bên phải có mồ hôi, bên trái tuyệt không có. Tìm khắp danh y và các phương lạ, đôi khi trúng bệnh nhưng chỉ được hơn tháng lại tái phát. Các thuốc bổ như Thiên hùng, Phụ tử, Phàn thạch; các thuốc lợi như Khiên ngưu, Cam toại, Đại kích đều đã nếm đủ. Tự suy đoán tất có cái túi tích (phép nang), như nước đọng ở hố vũng, hố không đầy thì không chảy. Chỉ nước trong mới chảy đi, còn nước đục thì đình trệ, không có đường thoát, nên tích tụ 5, 7 ngày tất phải nôn ra mới hết. Tỳ thổ ghét thấp mà nước thì chảy về chỗ thấp, không gì bằng làm khô Tỳ (táo tỳ) để khử thấp, bồi đắp thổ để lấp hố vũng. Bèn bỏ hết các thuốc khác, chỉ dùng: Thương truật 1 cân (bỏ vỏ, thái phiến, tán bột), vừng sống (nửa lạng - giã với 2 chén nước lọc lấy nước cốt), Đại táo 50 quả (nấu, bỏ vỏ hạt). Giã trộn làm viên bằng hạt ngô. Mỗi ngày bụng đói uống 50 viên với nước ấm, tăng dần đến 100-200 viên. Kiêng đào, lý, thịt chim sẻ. Uống ba tháng thì bệnh dứt. Từ đó thường xuyên uống, không nôn không đau, ngực bụng khoan khoái, ăn uống như xưa, mùa hè mồ hôi ra khắp thân, dưới đèn có thể viết chữ nhỏ, đều là sức của Thuật vậy. Lúc mới uống tất cảm thấy hơi táo, dùng bột Sơn chi tử pha nước sôi uống để giải, uống lâu cũng tự hết táo. ====【Phụ phương】==== Cũ 2, mới 32. * '''Pháp phục Thuật (Cách ăn Thuật):''' Làm đen râu tóc, giữ sắc diện, mạnh gân xương, sáng tai mắt, trừ phong khí, nhuận da thịt, uống lâu khiến người nhẹ nhàng khỏe mạnh. Thương truật không kể nhiều ít, ngâm nước vo gạo ba ngày, mỗi ngày thay nước, lấy ra cạo bỏ vỏ đen, thái phiến phơi khô, hỏa chậm sao vàng, giã mịn thành bột. Cứ mỗi cân bột Thuật dùng nửa cân bột Bạch phục linh đã đồ chín, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Lúc đói hoặc sắp ngủ uống 15 viên với nước nóng. Lại dùng bột Thuật 6 lạng, bột Cam thảo 1 lạng trộn đều pha nước uống, dùng nước này chiêu thuốc viên càng diệu. Kiêng đào, lý, thịt sẻ, ngao sò, cùng "tam bạch" (muối, đường, gạo trắng) và các loại tiết. (Kinh nghiệm phương) * '''Thương truật cao:''' (Tạp hứng phương của Đặng Tài Bút Phong): Trừ phong thấp, kiện tỳ vị, làm tóc trắng hóa đen, giữ nhan sắc, bổ hư tổn, có công hiệu lớn. Thương truật loại mới, cạo vỏ, thái mỏng, ngâm nước vo gạo hai ngày, mỗi ngày thay một lần. Lấy ra, dùng nước giếng mới múc ngập quá hai thốn, mùa xuân thu ngâm 5 ngày, hạ 3 ngày, đông 7 ngày. Vớt ra, dùng túi lụa đựng, đặt vào một nửa lượng nước ngâm ban đầu, vò rửa cho ra hết nhựa dịch, vắt khô. Lấy bã giã nát, lại dùng túi lụa vò trong nửa lượng nước còn lại cho đến khi hết dịch thì thôi. Đem nước dịch cho vào nồi cát lớn, lửa chậm nấu thành cao. Cứ mỗi cân cao thêm 4 lạng mật trắng, nấu tiếp hai nén hương. Mỗi cân cao đã thành, thêm nửa cân bột Bạch phục linh đã lắng sạch, trộn đều cho vào bình. Mỗi lần uống 3 thìa, sáng sớm và lúc nằm mỗi lần một liều, chiêu bằng rượu ấm. Kiêng giấm và đồ chua, đào, lý, sẻ, ngao, rau muống, cá mè... ** Sách "Hoạt nhân tâm thống" của Ngô Cầu: Trị thấp khí ở kinh Tỳ, ăn ít, chân sưng không lực, thương thực, tửu sắc quá độ, lao dịch tổn thương, xương nóng. Dùng Thương truật trắng tươi 20 cân, ngâm cạo vỏ thô, phơi thái, ngâm nước vo gạo một đêm. Lấy ra, cùng một thạch nước suối, đun lửa chậm trong nồi cát còn một nửa, bỏ bã. Lại cho lá Thạch nam 3 cân (chải sạch lớp nhung đỏ), Chử thực tử 1 cân, Xuyên đương quy nửa cân, Cam thảo 4 lạng thái nhỏ, cùng sắc đến khi màu vàng, lọc bỏ bã, sắc tiếp thành cao, pha mật dùng. * '''Thương truật hoàn:''' (Thụy Trúc Đường phương của Tát Khiêm Trai): Thanh thượng thực hạ (làm mát phần trên, chắc phần dưới), kiêm trị các chứng nội ngoại chướng ở mắt. Thương truật Mao Sơn (rửa cạo sạch) 1 cân, chia làm 4 phần, ngâm rượu, giấm, nước vo gạo nếp, đồng tiện (nước tiểu trẻ em) mỗi thứ 3 ngày, mỗi ngày thay một lần. Lấy ra rửa sạch giã phơi sấy, sao thơm cùng hắc chi ma (vừng đen), cùng tán bột, dùng hồ rượu quấy bột mì làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần lúc đói uống 50 viên với nước trắng. ** Lý Trọng Nam "Vĩnh loại phương" - Bát chế Thương truật hoàn: Sơ phong thuận khí dưỡng thận, trị thấp khí tý thống ở lưng bàn chân. Thương truật 1 cân, chia làm 4 phần, ngâm rượu, giấm, nước vo gạo, nước muối mỗi thứ 3 ngày, phơi khô. Lại chia làm 4 phần, dùng Xuyên tiêu (bỏ hạt), Hồi hương, Bổ cốt chỉ, Hắc khiên ngưu mỗi thứ 1 lạng sao thơm cùng, sau đó bỏ các vị kia chỉ lấy Thuật tán bột, hồ giấm làm viên. Sau tuổi 50 thêm bột Trầm hương 1 lạng. * '''Thương truật tán:''' Trị phong thấp, thường uống mạnh gân xương, sáng mắt. Thương truật 1 cân, ngâm nước vo gạo nếp, dùng dao tre cạo vỏ. Nửa cân ngâm rượu không tro (vô hôi tửu), nửa cân ngâm đồng tiện, mùa xuân 5 ngày, hạ 3, thu 7, đông 10 ngày thì lấy ra. Trên đất sạch đào một cái hố, đốt than hoa cho đỏ rực, bỏ than đi, đem rượu và nước tiểu ngâm thuốc đổ vào hố, rồi đặt Thuật vào trong, lấy đồ gốm đậy kín, trát bùn một đêm, lấy ra tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền lúc đói với rượu ấm hoặc nước muối. ** Vạn Biểu "Tích thiện đường phương" - Lục chế Thương truật tán: Trị hạ nguyên hư tổn, thiên trụy (sa tinh hoàn), đau dương vật. Thương truật Mao Sơn 6 cân, chia 6 phần: 1 phần ngâm nước vo gạo 2 ngày rồi sao; 1 phần ngâm rượu 2 ngày rồi sao; 1 phần dùng muối xanh nửa cân sao vàng rồi bỏ muối; 1 phần dùng Tiểu hồi hương 4 lạng sao vàng rồi bỏ hồi; 1 phần dùng Đại hồi hương 4 lạng sao vàng rồi bỏ hồi; 1 phần dùng nước cốt quả Dâu (Tang thầm) ngâm 2 ngày rồi sao. Lấy Thuật tán bột, uống mỗi lần 3 tiền với rượu ấm. * '''Cố chân đan:''' (Thụy Trúc Đường phương): Táo thấp dưỡng tỳ, trợ vị cố chân. Thương truật Mao Sơn 1 cân, chia 4 phần: 1 lạng sao. Chọn lấy Thuật tán bột, hồ rượu quấy bột mì làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm lúc đói. * '''"Càn khôn sinh ý" Bình bổ cố chân đan:''' Trị nguyên tạng lâu ngày bị hư, di tinh bạch trọc, phụ nữ xích bạch đới hạ, băng lậu. Thương truật Kim Châu 1 cân, chia 4 phần: 1 phần sao với Xuyên tiêu 1 lạng; 1 phần sao với Phá cố chỉ 1 lạng; 1 phần sao với Hồi hương, Muối ăn mỗi thứ 1 lạng; 1 phần sao với thịt Xuyên luyện (Khổ luyện tử) 1 lạng. Lấy Thuật sạch tán bột, thêm bột Bạch phục linh 2 lạng, bột Đương quy rửa rượu 2 lạng, hồ rượu quấy bột mì làm viên. Mỗi lần uống 50 viên với rượu muối lúc đói. * '''Cố nguyên đan:''' Trị nguyên tạng lâu hư, di tinh bạch trọc ngũ lâm, cùng thoát vị (sán khí) tiểu trường bàng quang, phụ nữ đới hạ xích bạch, băng huyết, đại tiện ra máu... lấy việc tiểu tiện bớt số lần làm hiệu nghiệm. Thương truật tốt 1 cân, chia 4 phần: 1 phần sao cùng Tiểu hồi hương, Muối mỗi thứ 1 lạng; 1 phần sao cùng Xuyên tiêu, Bổ cốt chỉ mỗi thứ 1 lạng; 1 phần sao cùng Xuyên ô đầu, thịt Xuyên luyện tử mỗi thứ 1 lạng; 1 phần dùng giấm tốt, rượu già mỗi thứ nửa cân nấu cạn sấy khô. Tất cả tán bột, hồ rượu làm viên. (Bách nhất tuyển phương) * '''Thiếu dương đan:''' Thương truật (ngâm nước vo gạo nửa ngày, cạo vỏ, phơi khô tán bột) 1 cân, Địa cốt bì (rửa nước ấm, bỏ lõi phơi khô tán bột) 1 cân, Tang thầm (quả dâu) chín 20 cân (cho vào chậu sứ vò nát, túi lụa ép lấy nước). Hòa bột như hồ, đổ vào mâm, phơi nắng ban ngày hứng sương ban đêm, thu lấy tinh hoa nhật nguyệt, đợi khô tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt đậu đỏ. Mỗi lần uống 20 viên với rượu không tro, ngày 3 lần. Một năm tóc bạc hóa đen, ba năm mặt như trẻ con. (Bảo thọ đường phương) * '''Giao cảm đan:''' Bổ hư tổn, cố tinh khí, đen râu tóc. Phương của Thân tiên sinh ở thành Thiết Ngôn, uống lâu giúp có con. Thương truật Mao Sơn 1 cân (chia 4 phần ngâm rượu, giấm, nước vo gạo, nước muối mỗi thứ 7 ngày, phơi khô tán bột), Xuyên tiêu (bỏ hạt), Tiểu hồi hương mỗi thứ 4 lạng (sao tán bột), trộn đều luyện mật làm viên. * '''Giao gia hoàn:''' Thăng thủy giáng hỏa, trừ bách bệnh. Thương truật 1 cân (chia 4 phần: ngâm nước vo gạo sao; ngâm nước muối sao; sao với Xuyên tiêu; sao với Phá cố chỉ), Hoàng bá (cạo sạch) 1 cân (chia 4 phần: sao rượu; ngâm đồng tiện sao; sao với Tiểu hồi hương; dùng sống). Bỏ các vị kia, chỉ lấy Thuật và Bá tán bột, luyện mật làm viên. (Tạp hứng phương) * '''Khảm ly hoàn:''' Tư âm giáng hỏa, khai vị giúp ăn ngon, mạnh gân xương, khứ thấp nhiệt. Thương truật trắng 1 cân (chia 4 phần sao với Xuyên tiêu, Phá cố chỉ, Ngũ vị tử, Xuyên khung mỗi vị 1 lạng, chỉ lấy Thuật tán bột), Vỏ cây Hoàng bá 4 cân (chia 4 phần: tẩm mỡ dê nướng; tẩm sữa người nướng; tẩm đồng tiện nướng; tẩm nước vo gạo nướng; mỗi thứ làm 12 lần, tán bột). Trộn đều luyện mật làm viên. (Tích thiện đường phương) * '''Bất lão đan:''' Bổ tỳ ích thận, uống nó thì 70 tuổi cũng không có tóc bạc. Thương truật Mao Sơn 4 cân (chia 4 phần: 1 cân ngâm rượu sấy; 1 cân ngâm giấm sấy; 1 cân sao với 4 lạng muối; 1 cân sao với 4 lạng tiêu), Hà thủ ô đỏ và trắng mỗi thứ 2 cân (ngâm nước vo gạo, dao tre cạo vỏ, dùng đậu đen và hồng táo mỗi thứ 5 thăng đồ cùng cho đến khi đậu nhừ, phơi khô), Địa cốt bì (bỏ lõi) 1 cân. Tất cả lấy bột sạch, hòa nước cốt Tang thầm (quả dâu) thành khối, trải trong chậu, nước cốt ngập quá ba ngón tay, phơi nắng hứng sương, đợi khô giã bột, luyện mật làm viên. Mỗi lần uống 100 viên với rượu lúc đói. (Y lũy nguyên nhung) * '''Linh chi hoàn:''' Trị tỳ thận khí hư, bồi bổ tinh tủy, thông lợi tai mắt. Thương truật 1 cân, ngâm nước vo gạo, xuân hạ 5 ngày, thu đông 7 ngày, hàng ngày thay nước, dao tre cạo vỏ thái phơi, giã bột, thịt táo đồ nhừ trộn làm viên. Mỗi lần uống 30-50 viên với nước táo lúc đói. (Kỳ hiệu lương phương) * '''Tuyệt diệu tráng cốt hoàn:''' Bổ tỳ tư thận, sinh tinh mạnh xương, là phương thuốc tiên chân chính. Thương truật (bỏ vỏ) 5 cân (tán bột, lọc với nước vo gạo lấy phần lắng ở dưới), Vừng (chi ma) 2 thăng rưỡi (bỏ vỏ giã nát, túi lụa lọc bỏ bã). Lấy nước cốt vừng trộn với bột Thuật, phơi khô. Mỗi lần uống 3 tiền với nước cơm hoặc rượu lúc đói. (Tôn thị tập hiệu phương) * '''Mặt vàng ăn ít:''' Nam nữ mặt không sắc máu, ăn ít hay nằm. Thương truật 1 cân, Thục địa hoàng nửa cân, Can khương (bào) mùa đông 1 lạng (xuân thu 5 tiền, hạ 2 tiền). Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 30 viên với nước ấm. (Tế sinh phương) * '''Trẻ nhỏ có tích (pí tật):''' Thương truật 4 lạng, tán bột. Gan dê 1 bộ, dao tre lạng ra, rắc bột Thuật vào, dùng dây buộc lại, cho vào nồi đất nấu chín, giã làm viên uống. (Sinh sinh biên) * '''Chứng nghiện ăn gạo sống:''' Nam nữ do ăn đồ sống chín lưu trệ ở trường vị sinh ra giun sán, lâu ngày dẫn đến thèm ăn gạo sống, nếu không có thì suốt ngày không vui, đến mức tiều tụy vàng vọt, không muốn ăn uống. Dùng Thương truật ngâm nước vo gạo một đêm, thái sấy tán bột, dùng bánh bao (chưng bính) làm viên. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm trước khi ăn, ngày 3 lần. Xưa có kỹ nữ tên Hoa Thúy mắc bệnh này, quan Triệu Doãn dùng phương này trị trong hai tuần thì khỏi. Ấy là vì gạo sống lưu trệ, trường vị bị thấp thì ngũ cốc không tiêu mà thành bệnh, Thương truật năng khứ thấp ấm dạ dày tiêu ngũ cốc vậy. (Gia tạng kinh nghiệm phương) * '''Bụng hư lạnh, không thể ăn uống:''' Ăn vào là không tiêu, người gầy yếu sinh bệnh. Thuật 2 cân, Thần khúc 1 cân. Sao tán bột, luyện mật làm viên. Mỗi lần uống 30 viên với nước cơm, ngày 3 lần. Nếu quá lạnh thêm Can khương 3 lạng; đau bụng thêm Đương quy 3 lạng; quá gầy yếu thêm Cam thảo 2 lạng. (Trử hậu phương) * '''Tỳ thấp thủy tả (tiêu chảy dữ dội):''' Người mệt mỏi không lực, ngũ cốc không tiêu, đau bụng dữ dội. Thương truật 2 lạng, Bạch thược dược 1 lạng, Hoàng cầm nửa lạng, Đạm quế 2 tiền. Mỗi lần dùng 1 lạng, nước 1 bát rưỡi, sắc còn 1 bát, uống ấm. Nếu mạch huyền đầu hơi đau thì bỏ Thược dược, thêm Phòng phong 2 lạng. (Bảo mệnh tập) * '''Mùa hè tiêu chảy đột ngột (thử nguyệt bạo tả):''' Làm mạnh Tỳ ấm dạ dày và trị đồ ăn tổn thương. '''Khúc Thuật hoàn:''' Dùng Thần khúc (sao), Thương truật (ngâm nước vo gạo một đêm, sấy) lượng bằng nhau tán bột, hồ làm viên. Mỗi lần uống 30-50 viên với nước cơm. (Hòa tễ cục phương) * '''Thôn tả lâu ngày (tiêu chảy phân sống):''' '''Tiêu Thuật hoàn:''' Dùng Thương truật 2 lạng, Xuyên tiêu 1 lạng. Tán bột, hồ giấm làm viên. Mỗi lần uống 20 viên với nước ấm trước khi ăn. Nếu bị lỵ nặng lâu ngày thì thêm Quế. (Bảo mệnh tập) * '''Tỳ thấp hạ huyết:''' Thương truật 2 lạng, Địa dư 1 lạng. Chia làm 2 liều, nước 2 chén sắc còn 1 chén, uống ấm trước khi ăn. Nếu lỵ lâu ngày hư hoạt thì dùng phương này chiêu Đào hoa hoàn. (Bảo mệnh tập) * '''Trường phong hạ huyết:''' Thương truật không kể nhiều ít, dùng nước cốt đặc của Bồ kết (Tạo giác) ngâm một đêm, nấu cạn, sấy tán bột, hồ mì làm viên. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm lúc đói, ngày 3 lần. (Phụ nhân lương phương) * '''Thấp khí đau mình:''' Thương truật ngâm nước vo gạo thái lát, sắc lấy nước đặc nấu thành cao, pha nước ấm uống. (Giản tiện phương) * '''Bổ hư sáng mắt, mạnh xương hòa huyết:''' Thương truật (ngâm nước vo gạo) 4 lạng, Thục địa hoàng (sấy) 2 lạng. Tán bột, hồ rượu làm viên. Mỗi lần uống 30-50 viên với rượu ấm, ngày 3 lần. (Phổ tế phương) * '''Thanh manh tước mục (Quáng gà):''' (Thánh huệ phương): Dùng Thương truật 4 lạng, ngâm nước vo gạo một đêm, thái sấy tán bột. Mỗi lần dùng 3 tiền, Gan lợn 3 lạng rạch ra rắc thuốc vào trong, buộc chặt, cho thêm 1 hộc gạo lương (túc mễ), 1 bát nước, nấu trong nồi đất cho chín. Xông mắt, lúc sắp ngủ ăn gan uống nước, người lớn trẻ em đều trị được. ** Phương khác: Không kể bệnh lâu hay mới. Dùng Thương truật 2 lạng, ngâm nước vo gạo, sấy giã tán bột. Mỗi lần 1 tiền, lấy 1 cân gan dê tốt, dao tre cắt ra rắc thuốc vào, buộc bằng dây gai, dùng nước vo gạo nấu chín, đợi nguội thì ăn, lấy việc khỏi bệnh làm chừng. * '''Mắt mờ rít (hôn sáp):''' Thương truật nửa cân (ngâm nước vo gạo 7 ngày, cạo vỏ thái sấy), Mộc tặc mỗi thứ 2 lạng. Tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với trà hoặc rượu. (Thánh huệ phương) * '''Trẻ sơ sinh mắt rít không mở được hoặc chảy máu:''' Thương truật 2 tiền, cho vào mật lợn buộc lại nấu chín. Lấy hơi thuốc xông mắt, sau đó nhai lấy nước cho trẻ uống. Rất diệu. (Ấu ấu tân thư) * '''Phong nha sưng đau (đau răng):''' Thương truật ngâm nước muối, đốt tồn tính, tán bột xát răng. Trừ phong nhiệt. (Phổ tế phương) * '''Bệnh lạ sâu rốn (tề trùng):''' Trong bụng cứng như sắt đá, trong rốn chảy nước ra, xoay vần biến thành hình sâu bò quanh thân, ngứa không chịu nổi, quét không hết. Dùng Thương truật sắc nước đặc mà tắm. Lại lấy bột Thương truật uống với nước cơm. (Y văn ghi chép) ===MẦM THƯƠNG TRUẬT (苗)=== '''Chủ trị:''' Nấu nước uống rất thơm, khử thủy ẩm (Đào Hoằng Cảnh). Cũng có tác dụng cầm mồ hôi trộm (tự hãn). {{Chú thích cuối trang}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] ay7z8h117ib1up4rrkjnx6t2mg3ka3g 204535 204534 2026-04-03T11:34:17Z Mrfly911 2215 204535 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之一 | năm= 1596 | phần = Quyển 20 <center>'''Các loại cỏ mọc trên núi''' phần 1 (31 loại): Cam thảo, hoàng kỳ, nhân sâm, lô sâm, sa sâm, tề ni, ẩn nhẫn diệp, cát cánh, trường tùng, hoàng tinh, uy nhuy, tri mẫu, nhục thung dung, liệt đương, tỏa dương, thiên ma, xích tiễn, truật, cẩu tích, quán chúng, ba kích thiên, viễn chí, bách mạch căn, dâm dương hoắc, tiên mao, huyền sâm, địa du, đan sâm, tử sâm, vương tôn, tử thảo, bạch đầu ông, bạch cập, tam thất</center> | trước= [[../Kim thạch 5|Kim thạch 5]] | sau= [[../Thảo 2|Thảo 2]] | ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc. }} ==LỜI TỰA THẢO BỘ - LÝ THỜI TRÂN== '''Lý Thời Trân nói:''' Trời tạo Đất hóa mà cỏ cây sinh ra vậy. Cái Cương giao với cái Nhu mà thành rễ củ, cái Nhu giao với cái Cương mà thành cành thân. Lá và đài thuộc Dương, Hoa và Quả thuộc Âm. Do đó trong cỏ có tính mộc, trong mộc có tính thảo. Kẻ đắc được cái tinh túy của khí thì hiền lành (lương dược), kẻ đắc được cái bạo lệ của khí thì có độc (độc dược). Bởi vậy mà có: * '''Ngũ hình:''' Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. * '''Ngũ khí:''' Hương (thơm), Khứu (hôi), Tao (khét/tanh nồng), Tanh (tanh tao), San (mùi gây/mùi cừu). * '''Ngũ sắc:''' Xanh, Đỏ, Vàng, Trắng, Đen. * '''Ngũ vị:''' Toan (chua), Khổ (đắng), Cam (ngọt), Tân (cay), Hàm (mặn). * '''Ngũ tính:''' Hàn (lạnh), Nhiệt (nóng), Ôn (ấm), Lương (mát), Bình (trung tính). * '''Ngũ dụng:''' Thăng (đi lên), Giáng (đi xuống), Phù (nổi ra ngoài), Trầm (chìm vào trong), Trung (ở giữa). Viêm Đế Thần Nông đã nếm thử mà phân biệt, Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá thuật lại mà viết thành sách; các bậc hiền triết lương y đời Hán, Ngụy, Đường, Tống mỗi thời đại đều có thêm thắt, bổ sung. Tuy nhiên, dù "Ba phẩm" (Thượng, Trung, Hạ) vẫn còn đó, nhưng thật giả lẫn lộn như nước sông Tư sông Mễn, các điều mục trùng lặp, không phân rõ trắng đen như dòng sông Kinh sông Vị. Nếu không xét soi chỗ tinh vi, thẩm định điều thiện ác, thì dựa vào đâu mà cầm cân nảy mực "Bảy phương" (Thất phương), "Mười tễ" (Thập tễ) để phó thác chuyện sinh tử đây? Vì thế, tôi nay lược bỏ chỗ rườm rà, xóa đi phần trùng lặp, uốn nắn chỗ sai lầm, bổ sung phần còn thiếu, phân tích theo dòng họ, chia tách theo chủng loại, nêu cao cương lĩnh, phân rõ từng mục. Trừ phần Ngũ cốc và Rau (Thái) ra, phàm các loại thuộc Thảo có thể cung cấp cho y dược gồm '''611 loại''', chia làm 10 nhóm: # '''Sơn thảo''' (Cỏ mọc trên núi) # '''Phương thảo''' (Cỏ có mùi thơm) # '''Thấp thảo''' (Cỏ mọc nơi ẩm ướt) # '''Độc thảo''' (Cỏ có độc) # '''Man thảo''' (Cỏ dây leo) # '''Thủy thảo''' (Cỏ dưới nước) # '''Thạch thảo''' (Cỏ mọc trên đá) # '''Thai thảo''' (Các loại rêu) # '''Tạp thảo''' (Các loại cỏ khác) # '''Hữu danh vị dụng''' (Có tên nhưng chưa dùng đến) (Sách cũ chia Thảo bộ làm ba phẩm Thượng - Trung - Hạ, tổng cộng 447 loại. Nay gộp vào 31 loại, dời 23 loại sang bộ Rau, 3 loại sang bộ Ngũ cốc, 4 loại sang bộ Quả, 2 loại sang bộ Gỗ. Từ bộ Gỗ dời sang 14 loại, cỏ dây leo 29 loại, bộ Rau dời sang 13 loại, bộ Quả dời sang 4 loại. Nhóm Ngoại loại "Có tên nhưng chưa dùng" gồm 247 loại). ===CÁC NGUỒN TRÍCH DẪN VÀ SỐ LƯỢNG VỊ THUỐC=== * '''Thần Nông Bản Thảo Kinh:''' 162 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú giải). * '''Danh Y Biệt Lục:''' 131 loại (Đào Hoằng Cảnh chú; trong đó 78 loại có tên nhưng chưa dùng). * '''Lý Thị Dược Lục:''' 1 loại (Ngụy - Lý Đương Chi). * '''Ngô Thị Bản Thảo:''' 1 loại (Ngụy - Ngô Phổ). * '''Đường Bản Thảo:''' 34 loại (Đường - Tô Cung). * '''Dược Tính Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Chân Quyền). * '''Bản Thảo Thập Di:''' 68 loại (Đường - Trần Tạng Khí). * '''Thực Liệu Bản Thảo:''' 2 loại (Đường - Mạnh Tiễn). * '''Hải Dược Bản Thảo:''' 6 loại (Đường - Lý Tuân). * '''Tứ Thanh Bản Thảo:''' 1 loại (Đường - Tiêu Bính). * '''Khai Bảo Bản Thảo:''' 37 loại (Tống - Mã Chí). * '''Gia Hựu Bản Thảo:''' 17 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích). * '''Đồ Kinh Bản Thảo:''' 54 loại (Tống - Tô Tụng). * '''Nhật Hoa Bản Thảo:''' 7 loại (Tống - Đại Minh). * '''Dụng Dược Pháp Tượng:''' 1 loại (Nguyên - Lý Cao). * '''Bản Thảo Bổ Di:''' 1 loại (Nguyên - Chu Chấn Hanh). * '''Bản Thảo Hội Biên:''' 1 loại (Minh - Uông Cơ). * '''Bản Thảo Cương Mục:''' 86 loại (Minh - Lý Thời Trân). ===PHẦN PHỤ CHÚ (CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC)=== * '''Lôi Hiệu (Tống):''' Bào Chế Luận * '''Từ Chi Tài (Bắc Tề):''' Dược Đối * '''Dương Tổn Chi (Đường):''' San Phiền * '''Tôn Tư Mạo (Đường):''' Thiên Kim * '''Hàn Bảo Thăng (Thục):''' Trọng Chú * '''Trần Sĩ Lương (Nam Đường):''' Thực Tánh * '''Khấu Tông Thức (Tống):''' Diễn Nghĩa * '''Đường Thận Vi (Tống):''' Chứng Loại * '''Trần Thừa (Tống):''' Biệt Thuyết * '''Trương Nguyên Tố (Kim):''' Trân Châu Nang * '''Vương Hiếu Cổ (Nguyên):''' Thang Dịch * '''Ngô Thụy (Nguyên):''' Nhật Dụng * '''Uông Dĩnh (Minh):''' Thực Vật * '''Vương Luân (Minh):''' Tập Yếu * '''Trần Gia Mô (Minh):''' Mông Thuyên * '''Định Vương (Chu Túc - Minh):''' Cứu Hoang * '''Ninh Nguyên (Minh):''' Thực Giám ==CAM THẢO (甘草)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Glycyrrhiza uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata Bat. hoặc Glycyrrhiza glabra L. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Mật cam (Biệt lục), Mật thảo (Biệt lục), Mỹ thảo (Biệt lục), Lộ thảo (Biệt lục), Linh thông (Ký sự châu), Quốc lão (Biệt lục). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị thảo này là bậc thầy của muôn thuốc, các phương thuốc kinh điển hiếm khi không dùng đến, giống như trong các loài hương liệu có Trầm hương vậy. "Quốc lão" là danh xưng của thầy dạy đế vương (Đế sư), tuy không phải là vua (Quân) nhưng được vua tôn kính, vì thế nó có khả năng an hòa các loại thảo mộc, đất đá và giải được mọi độc tố. * '''Chân Quyền nói:''' Trong các loại thuốc, Cam thảo đóng vai trò là "Quân", trị được 72 loại độc từ khoáng vật (nhũ thạch), giải được 1200 loại độc từ thảo mộc, có công điều hòa các vị thuốc nên được gọi là "Quốc lão". ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Cam thảo mọc ở các thung lũng sông vùng Hà Tây, núi Tích Sa và Thượng Quận. Thu hoạch rễ vào ngày Trừ (lịch âm) tháng 2 và tháng 8, phơi khô 10 ngày thì xong. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các vùng Hà Tây, Thượng Quận nay không còn thông thương. Nay thuốc chủ yếu đến từ các vùng thuộc Mân Sơn, Hán Trung vùng Thục. Loại vỏ đỏ, thớ thịt đứt đoạn, nhìn kiên thực là thảo vùng Bào Hạn (một địa danh vùng Tây Khương), đó là loại tốt nhất. Cũng có loại sấy khô bằng lửa, thớ thịt thường xốp rỗng. Có loại giống ruột cá chép, bị dao cắt hỏng thì không còn tốt. Vùng Thanh Châu cũng có nhưng không bằng. Lại có Tử Cam thảo (Cam thảo tím), nhỏ mà chắc, lúc thiếu có thể dùng tạm. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các quận huyện vùng Thiểm Tây, Hà Đông đều có. Mùa xuân mọc mầm xanh, cao 1-2 thước, lá giống lá Hòe. Tháng 7 nở hoa tím giống hoa Nại đông, kết quả thành vỏ như hạt đậu Tất. Rễ dài 3-4 thước, to nhỏ không đều, vỏ màu đỏ, trên có các đường vân ngang. Lúc hái bỏ đầu cuống (lư đầu) và lớp vỏ đỏ, phơi khô trong râm mà dùng. Nay Cam thảo có nhiều loại, loại nào chắc thịt, thớ đoạn là tốt. Loại nhẹ xốp, thớ dọc hoặc nhỏ dai thì không dùng được, chỉ dùng cho các nhà làm nước canh. ** Cẩn án: Sách Nhĩ Nhã gọi "Lẫm" là "Đại khổ". Quách Phác chú giải là giống Địa hoàng. Sách Thi Kinh có câu "Hái lăng hái lăng, trên đỉnh núi Thủ Dương" chính là nó. Chữ Lẫm (䖅) dùng thông với Lăng (苓). Núi Thủ Dương gần huyện Bồ Bản vùng Hà Đông, là nơi Cam thảo sinh trưởng, nhưng mô tả của các nhà nho xưa về lá mầm khác hẳn nay, há chẳng phải chủng loại khác nhau sao? * '''Lý Thời Trân nói:''' Xét theo Bút đàm của Thẩm Quát: Chú giải của Quách Phác về "Lẫm - Đại khổ" trong Nhĩ Nhã là Cam thảo là sai. Chú giải của Quách Phác thực chất là Hoàng dược (Dioscorea bulbifera), vị cực đắng nên gọi là Đại khổ, không phải Cam thảo. Cam thảo cành lá đều như lá Hòe, cao 5-6 thước, đầu lá hơi nhọn và nhám, như có lông trắng, quả giống quả Tương tư, chín thì vỏ nứt, hạt dẹt như đậu nhỏ, cực cứng, răng cắn không vỡ. Sách Diễn nghĩa của Khấu Thị cũng theo thuyết này. Theo lý mà xét, mô tả của Quách Phác không tương đồng, thuyết của Thẩm Quát gần thực tế hơn. Người nay chỉ chuộng loại đường kính 1 tấc, thịt chắc thớ đứt vân ngang, gọi là '''Phấn thảo'''; loại nhẹ xốp nhỏ bé đều không bằng. ===RỄ - TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Lôi Hiệu nói:''' Khi dùng phải bỏ đầu và đuôi nhọn, vì đầu đuôi gây nôn cho người. Mỗi lần cắt dài 3 tấc, chẻ làm 6-7 mảnh, cho vào bình sứ, dùng rượu tẩm rồi chưng từ giờ Tỵ đến giờ Ngọ, lấy ra phơi khô, thái nhỏ mà dùng. Cách khác: Mỗi cân dùng 7 lạng bơ (tô) phết lên rồi nướng (chích) cho đến khi bơ thấm hết. Cách khác: Đem nướng (bào) cho trong ngoài đỏ vàng thì dùng. * '''Thời Trân nói:''' Các sách phương tễ thường dùng nước chảy (trường lưu thủy) tẩm ướt Cam thảo rồi nướng chín, cạo bỏ vỏ đỏ; hoặc dùng nước gạo (tương thủy) chích chín, chưa thấy ai dùng bơ hay rượu để chưng. Đại để: '''Bổ trung thì nên nướng (chích); Tả hỏa thì nên dùng sống.''' ===KHÍ VỊ=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. * '''Khấu Tông Thức nói:''' Dùng sống thì hơi mát (vi lương), vị không ngon; nướng (chích) thì ấm (ôn). * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Khí mỏng vị dày, thăng mà phù, thuộc Dương. Vào kinh Túc Thái âm (Tỳ) và Túc Quyết âm (Can). * '''Thời Trân nói:''' Thông suốt vào 12 kinh thủ túc. * '''Từ Chi Tài nói:''' Lấy Truật, Khổ sâm, Can tất làm sứ. Ghét Viễn chí. Phản Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo. * '''Thời Trân nói:''' Cam thảo phản bốn vị Tảo, Kích, Toại, Nguyên, nhưng Hồ Tiếp Cư Sĩ trị đàm ẩm lại dùng Thập táo thang gia thêm Cam thảo và Đại hoàng, ấy là muốn đàm ở cách thượng thông tiết đi, nhổ tận gốc bệnh vậy. Lý Đông Viên trị kết hạch dưới cổ, tiêu sưng tán kết dùng Hải tảo gia thêm Cam thảo. Chu Đan Khê trị lao quặng dùng Liên tâm ẩm có Nguyên hoa và Cam thảo. Cả hai phương đều theo ý của Hồ cư sĩ. Vì thế Đào Hoằng Cảnh nói cổ phương cũng có loại tương ác tương phản cùng dùng mà không hại, nếu không đạt đến mức tinh vi thì không hiểu được lý này. ===CHỦ TRỊ=== Trị hàn nhiệt ở ngũ tạng lục phủ, tà khí, làm chắc gân xương, dài cơ nhục, tăng khí lực, trị kim sang (vết thương do kim loại), ung thũng, giải độc. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ (Bản kinh). Ôn trung, hạ khí, trị phiền mãn, ngắn hơi, tổn thương nội tạng, ho, chỉ khát, thông kinh mạch, lợi huyết khí, giải độc muôn loài thuốc. Là tinh hoa của đất (cửu thổ chi tinh), an hòa 72 loại khoáng vật và 1200 loại thảo mộc (Biệt lục). Trị đau bụng lạnh, trị kinh giản, trừ chướng mãn, bổ ích ngũ tạng, dưỡng thận khí, nội thương, làm cho nam giới không bị liệt dương, trị phụ nữ huyết lích (ra máu dai dẳng), đau lưng. Người hư mà nhiều nhiệt thì nên gia dùng vị này (Chân Quyền). An hồn định phách, bổ ngũ lao thất thương, mọi chứng hư tổn, kinh quý (hồi hộp), phiền muộn, hay quên, thông chín khiếu, lợi trăm mạch, ích tinh dưỡng khí (Đại Minh). Dùng sống thì tả hỏa nhiệt, dùng chín (nướng) thì tán biểu hàn, trị đau họng, trừ tà nhiệt, hoãn chính khí, dưỡng âm huyết, bổ tỳ vị, nhuận phế (Lý Cao). Trị mủ máu trong chứng phế nuy, tiêu các loại sang thư ác tính (Vương Hiếu Cổ). Giải thai độc, kinh giản ở trẻ nhỏ, giáng hỏa, chỉ thống (Thời Trân). ===CÁC PHẦN KHÁC CỦA CÂY=== ====Cam thảo sảo (Ngọn rễ - 甘草稍)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống trị tích nhiệt trong ngực, trị đau trong niệu đạo (vùng sinh dục), gia thêm rượu nấu với Huyền hồ sách, Khổ luyện tử thì càng hiệu quả (Lý Nguyên Tố). ====Cam thảo đầu (Đầu rễ - 甘草頭)==== * '''Chủ trị:''' Dùng sống có thể hành huyết ứ ô trọc ở hai kinh Túc Quyết âm và Dương minh, tiêu sưng dẫn độc (Chu Đan Khê). Chủ trị ung thũng, nên cho vào thuốc gây nôn (Lý Thời Trân). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Chu Đan Khê nói:''' Cam thảo vị ngọt, làm hoãn các loại hỏa (nhiệt), tính trung chính thông lý, là bậc quân tử có đức dày chở che muôn vật. Muốn thuốc đạt đến hạ tiêu (vùng dưới) thì phải dùng phần ngọn (Sảo). * '''Lý Cao nói:''' Cam thảo khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Dương không đủ thì bổ bằng vị ngọt (cam). Vị ngọt ấm có thể trừ đại nhiệt, nên dùng sống thì khí bình, bổ tỳ vị bất túc mà tả tâm hỏa mạnh; nướng thì khí ấm, bổ nguyên khí của Tam tiêu mà tán biểu hàn, trừ tà nhiệt, trị đau họng, dưỡng âm huyết. Phàm tâm hỏa khắc tỳ, bụng đau thắt, da bụng co rúm, nên dùng tăng liều Cam thảo. Tính nó có thể "hoãn cấp" (làm dịu sự cấp bách), điều hòa các vị thuốc không để chúng tranh chấp nhau. Thuốc nóng gặp nó thì bớt nóng; thuốc lạnh gặp nó thì bớt lạnh; thuốc hàn nhiệt lẫn lộn gặp nó thì đạt được sự thăng bằng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Cam thảo ngoài đỏ trong vàng, màu sắc kiêm cả Khôn (Thổ) và Ly (Hỏa); vị dày khí mỏng, hội tụ đủ đức của đất. Điều hòa quần phẩm, có công lao của bậc nguyên lão; trị mọi tà ma, có hóa thân của vương đạo. Giúp sức cho đế vương mà người không biết, thu gom thần công mà mình không màng, thật xứng là vị "Lương tướng" trong các loài thuốc vậy. Tuy nhiên, người bị trướng bụng (trung mãn), nôn mửa, người nghiện rượu không thích vị ngọt của nó. ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Thương hàn tâm quý (tim đập nhanh, mạch kết đại):''' Cam thảo 2 lạng, nước 3 lít sắc còn một nửa, uống 7 hợp, ngày 1 lần. * '''Đau họng do thương hàn:''' Cam thảo 2 lạng (chích mật), nước 2 lít sắc còn 1,5 lít, uống 5 hợp, ngày 2 lần (Trương Trọng Cảnh). * '''Phế nhiệt đau họng có đàm:''' Cam thảo (sao) 2 lạng, Cát cánh 1 lạng. Mỗi lần dùng 5 tiền, nước 1,5 bát, thêm nửa miếng A giao sắc uống. * '''Trẻ sơ sinh giải độc:''' Lấy một đoạn Cam thảo dài bằng đốt ngón tay, nướng nát, sắc lấy nước cho trẻ nhấm nháp để nôn ra dịch bẩn trong ngực. Giúp trẻ thông minh, ít bệnh, đậu mọc thưa. * '''Mụn nhọt (phát bối ung thư):''' Cam thảo sống giã bột 3 lạng, bột lúa mạch 9 lạng trộn đều, thêm chút bơ (tô), nhào với nước sôi thành dạng bánh, đắp lên chỗ sưng. * '''Giải độc thuốc, độc rượu:''' Sắc đậm Cam thảo uống. Đặc biệt hiệu quả khi trúng độc Ô đầu, Ba đậu. * '''Trị bỏng lửa, nước sôi:''' Cam thảo nấu với mật ong rồi bôi lên vết thương. * '''Trị trẻ em đái dầm:''' Dùng đầu Cam thảo (Cam thảo đầu) sắc nước uống hàng đêm. ==HOÀNG KỲ (黃耆)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Astragalus membranaceus (Fisch.) Bunge hoặc Astragalus membranaceus var. mongholicus (Bunge) Hsiao. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên khác:''' Hoàng kỳ (Cương mục), Đái sâm (Bản kinh), Đái thậm (Biệt lục, còn gọi là Độc thậm), Kỵ thảo (Biệt lục, còn gọi là Thục chỉ), Bách bản (Biệt lục), Vương tôn (Dược tính luận). * '''Thời Trân nói:''' "Kỳ" (耆) nghĩa là bậc trưởng thượng. Hoàng kỳ sắc vàng, đứng đầu (trưởng) trong các vị thuốc bồi bổ, nên có tên như vậy. Nay dân gian thường viết thông dụng là Hoàng kỳ (黃芪). Còn viết là "Thị" (蓍) như trong cỏ thị bói toán là sai âm. Vương tôn ở đây cùng tên nhưng khác vật với cây Mẫu mông. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Hoàng kỳ mọc ở thung lũng núi các quận Thục, Bạch Thủy, Hán Trung. Thu hái vào tháng 2 và tháng 10, phơi khô trong râm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại tốt nhất ra từ Thao Dương vùng Lũng Tây, sắc vàng trắng, vị ngọt thanh, nay rất khó kiếm. Thứ đến là loại ở Đương Thương thuộc Hắc Thủy, sắc trắng, thớ thịt thô, loại tươi có vị ngọt và tính ôn bổ. Lại có loại ở Bạch Thủy vùng Tàm Lăng, màu sắc và thớ thịt tốt hơn ở đất Thục nhưng tính lãnh bổ. Lại có loại sắc đỏ, có thể nấu cao dán mụn nhọt. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu quận ở Hà Đông, Thiểm Tây đều có. Rễ dài khoảng 2-3 thước. Thân đơn hoặc mọc thành bụi. Lá mọc thưa như hình răng cừu, giống lá Tật lê. Tháng 7 nở hoa màu vàng tím. Quả dạng vỏ đậu dài khoảng 1 tấc. Tháng 8 đào rễ dùng. Lớp vỏ khi bẻ ra có xơ như bông, nên gọi là '''Miên Hoàng kỳ'''. * '''Thời Trân nói:''' Lá Hoàng kỳ giống lá Hòe nhưng hơi nhọn nhỏ, lại giống lá Tật lê nhưng hơi rộng to, màu xanh trắng. Hoa vàng tím to như hoa Hòe. Quả nhỏ nhọn dài tấc dư. Rễ dài 2-3 thước, loại chắc chắn như cán tên là tốt nhất. Mầm non cũng có thể trụng chín làm rau ăn. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Thời Trân nói:''' Người nay thường đập dẹp rễ, tẩm nước mật rồi nướng (chích) nhiều lần cho đến khi chín hoàn toàn. Cũng có cách dùng nước muối thấm thấu, cho vào bình đặt trong nồi nước sôi chưng chín rồi thái lát dùng. ===RỄ (根)=== ====KHÍ VỊ==== Vị ngọt (cam), tính hơi ấm (vi ôn), không độc (Bản kinh). Loại ở Bạch Thủy tính mát (lãnh), có tác dụng bổ (Biệt lục). * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Khí mỏng vị dày, có thể thăng có thể giáng, là Dương trong Âm. Vào phần khí của hai kinh Thủ, Túc Thái âm (Phế, Tỳ), đồng thời vào kinh Thủ Thiếu dương (Tam tiêu) và Túc Thiếu âm Mệnh môn (Thận). ====CHỦ TRỊ==== Trị các vết thương do ung thư lâu ngày không lành, bài nùng (trừ mủ), chỉ thống (giảm đau), trị bệnh phong hủi, ngũ trĩ, chuột rút (thử lậu), bồi bổ hư tổn, trị bách bệnh ở trẻ nhỏ (Bản kinh). Trị phong tà trong tử cung phụ nữ, trục huyết xấu trong ngũ tạng, bổ hư tổn ở nam giới, ngũ lao gầy yếu, chỉ khát (hết khát), đau bụng tiết lỵ, ích khí, lợi âm khí (Biệt lục). Trị hen suyễn do hư, thận suy tai ù, trị hàn nhiệt, trị phát bối (nhọt lưng) (Chân Quyền). Giúp khí tráng gân xương, sinh cơ (mọc thịt), bổ huyết, phá trưng hà (u cục), trị lao hạch (lỏa lịch), trĩ ra máu, băng huyết, đới hạ, lỵ đỏ trắng, các bệnh trước và sau khi sinh, kinh nguyệt không đều, ho có đàm, phong nhiệt vùng đầu, mắt đỏ độc (Nhật Hoa). Trị lao hư tự hãn (mồ hôi tự ra), bổ phế khí, tả phế hỏa và tâm hỏa, làm bền lông da (thực bì mao), ích vị khí, trừ cơ nhiệt và các cơn đau trong các kinh (Lý Nguyên Tố). ===PHÁT MINH (Luận giải chuyên sâu)=== * '''Lý Nguyên Tố nói:''' Hoàng kỳ cam ôn thuần Dương, có 5 công dụng chính: ** Bổ mọi chứng hư tổn bất túc. ** Ích nguyên khí. ** Làm mạnh tỳ vị. ** Trừ cơ nhiệt (nóng trong cơ bắp). ** Bài nùng chỉ thống, hoạt huyết sinh huyết, làm chỗ dựa bên trong để đẩy mụn nhọt ra (nội thác âm thư), là vị thuốc thánh của nhà ngoại khoa trị mụn nhọt. * '''Lý Đông Viên nói:''' Hoàng kỳ cùng với Nhân sâm và Cam thảo là ba vị thuốc thánh để trừ táo nhiệt và cơ nhiệt. Khi tỳ vị hư, phế khí tuyệt trước tiên, nhất định phải dùng Hoàng kỳ để làm ấm phần nhục, ích bì mao, làm kín lỗ chân lông (thực tấu lý) không cho mồ hôi ra quá mức, từ đó ích nguyên khí và bổ tam tiêu. * '''Chu Đan Khê nói:''' Hoàng kỳ bổ nguyên khí, người béo trắng mà nhiều mồ hôi dùng thì rất hợp; nếu người mặt đen, hình thể rắn rỏi và gầy mà dùng thì sẽ gây đầy ngực (hung mãn). ===PHỤ PHƯƠNG (Các bài thuốc kèm theo)=== * '''Tiểu tiện không thông:''' Miên Hoàng kỳ 2 tiền, nước 2 bát sắc còn 1 bát uống ấm. Trẻ em dùng nửa liều. * '''Tửu đản (vàng da do rượu):''' Đau vùng tâm vị, chân sưng, tiểu vàng. Hoàng kỳ 2 lạng, Mộc lan 1 lạng, tán bột. Uống với rượu. * '''Khí hư bạch trọc:''' Hoàng kỳ (sao muối) nửa lạng, Phục linh 1 lạng. Tán bột, mỗi lần uống 1 tiền với nước ấm. * '''Hoàng kỳ Lục Nhất thang (Trị khát bổ hư, phòng mụn nhọt):''' Miên Hoàng kỳ 6 lạng (một nửa dùng sống, một nửa tẩm nước muối chưng cơm 3 lần rồi sấy), Phấn Cam thảo 1 lạng (nửa sống nửa chích). Tán bột uống 2 tiền mỗi lần. * '''Người già bí tiện:''' Hoàng kỳ, Trần bì mỗi thứ nửa lạng. Tán bột. Dùng hạt mè (đay) nghiền nát lọc lấy nước nấu sôi, thêm mật ong uống cùng bột thuốc lúc đói. Hiệu quả như thần. * '''Đi ngoài ra máu (Tràng phong tả huyết):''' Hoàng kỳ, Hoàng liên lượng bằng nhau. Tán bột, làm viên với hồ bằng hạt lục đậu. Mỗi lần 30 viên. * '''Tiểu ra máu, đau buốt (Sa lâm):''' Hoàng kỳ, Nhân sâm lượng bằng nhau. Tán bột. Lấy củ cải cắt lát tẩm mật nướng chín, chấm bột thuốc mà ăn, chiêu với nước muối. * '''Ho khạc mủ máu, cổ họng khô:''' Hoàng kỳ 4 lạng, Cam thảo 1 lạng. Tán bột, pha nước uống mỗi lần 2 tiền. * '''Phù thũng do phế ung:''' Hoàng kỳ 2 lạng tán bột. Uống 2 tiền mỗi lần, ngày 3-4 lần. * '''Thai động bất an (đau bụng ra nước vàng):''' Hoàng kỳ, Xuyên khung mỗi vị 1 lạng, gạo nếp 1 hợp. Sắc uống. ===CÀNH VÀ LÁ (莖葉)=== * '''Chủ trị:''' Trị khát và gân co quắp, ung thũng thư sang (Biệt lục). ==NHÂN SÂM (人參)== (Sách Thần Nông Bản Kinh – Hàng Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Panax ginseng C.A. Mey. ===THÍCH DANH (Giải thích tên gọi)=== '''Tên gọi khác:''' Nhân sâm (人薓 - âm Sâm, hoặc viết giản lược là 蓡), Hoàng sâm (Ngô Phổ bản thảo), Huyết sâm (Biệt lục), Nhân hàm (Bản kinh), Quỷ cái (Bản kinh), Thần thảo (Biệt lục), Thổ tinh (Biệt lục), Địa tinh (Quảng nhã), Hải du, Chú diện hoàn đan (Quảng nhã). * '''Lý Thời Trân nói:''' Nhân sâm sống lâu năm, thấm nhuần khí tiết mà dần dần trưởng thành, rễ giống hình người, có linh tính (thần), nên gọi là Nhân sâm, Thần thảo. Chữ "Sâm" (薓) có bộ "Tẩm" (𣹰), cũng mang nghĩa là thấm dần. Về sau vì chữ viết rườm rà, người ta dùng chữ "Sâm" (參) trong sao Sâm để thay thế cho giản tiện. Tuy nhiên, sự nhầm lẫn này đã lâu ngày nên không thể đổi lại được, duy chỉ có Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận là còn dùng chữ "薓". Sách Biệt lục gọi là "Nhân vi" (人微), chữ "Vi" là do chữ "Sâm" viết nhầm mà thành. Sự sinh trưởng của nó có từng giai đoạn (như cấp bậc), nên gọi là Nhân hàm. Loại cỏ này lưng hướng về phía dương, mặt hướng về phía âm, nên gọi là Quỷ cái. Trong ngũ sâm, nó sắc vàng thuộc Thổ, bổ Tỳ Vị, sinh âm huyết nên có tên Hoàng sâm, Huyết sâm. Đắc được tinh hoa linh diệu của đất, nên có tên Thổ tinh, Địa tinh. * Sách Quảng ngũ hành ký chép: Thời Tùy Văn Đế, tại Thượng Đảng có người sau nhà mỗi đêm nghe tiếng người gọi, tìm mãi không thấy. Cách nhà chừng một dặm, thấy cây nhân sâm cành lá khác thường, đào sâu xuống đất năm thước, được củ nhân sâm giống hệt cơ thể người, tứ chi đầy đủ, tiếng gọi từ đó cũng dứt. Xem đây thì cái tên "Thổ tinh" càng có bằng chứng. Sách Lễ đẩu uy nghi nói: Dưới có nhân sâm, trên có khí tím. Sách Xuân thu vận đẩu khu nói: Sao Dao Quang tán ra hóa thành nhân sâm. Bậc quân vương nếu bỏ rơi cái lợi của núi sông thì sao Dao Quang không sáng, nhân sâm không mọc. Qua đó, tên gọi "Thần thảo" lại càng được minh chứng. ===TẬP GIẢI (Thu thập ghi chép)=== * '''Biệt lục viết:''' Nhân sâm mọc ở thung lũng núi Thượng Đảng và Liêu Đông. Thu hái rễ vào thượng tuần tháng 2, 4, 8. Dùng dao tre cạo sạch, phơi khô, không để tiếp xúc với gió. Rễ giống hình người là có linh tính (thần). * '''Ngô Phổ nói:''' Có loại mọc ở Hàm Đan. Tháng 3 ra lá nhỏ và nhọn, cành màu đen, thân có lông. Tháng 3 và tháng 9 hái rễ. Rễ có tay chân, mặt mũi giống người là loại linh diệu. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Thượng Đảng ở phía tây nam Ký Châu. Nay loại sâm đưa đến hình dài và vàng, trạng như Phòng phong, thịt nhuận chắc và vị ngọt. Dân gian lại quý loại của nước Bách Tế, hình nhỏ mà chắc trắng, khí vị nhạt hơn sâm Thượng Đảng. Thứ đến dùng loại của Cao Ly, đất này gần Liêu Đông, hình sâm lớn mà xốp mềm, không bằng sâm Bách Tế và sâm Thượng Đảng. Cây có một thân mọc thẳng, 4-5 lá mọc đối, hoa màu tím. Người Cao Ly có bài Nhân sâm tán rằng: "Ba chạc năm lá, lưng dương hướng âm. Muốn đến tìm ta, cây giả (cây mận rừng) tìm nhau". * '''Tô Cung nói:''' Nhân sâm nay dùng đa số là loại của Cao Ly, Bách Tế. Loại mọc ở núi Tử Đoàn vùng Thái Hành, Lộ Châu gọi là Tử Đoàn sâm. * '''Tân La chép:''' Sâm sản sinh ở nước Tân La có tay chân, hình dáng như người, dài hơn thước, dùng gỗ sam kẹp định hình, dùng chỉ đỏ quấn trang trí. Sâm Sa Châu thì ngắn nhỏ, không dùng được. * '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu vùng Hà Đông và núi Thái Sơn đều có. Có loại từ vùng biên mậu (khuế trường) phía bắc và từ Mân Trung đưa đến, gọi là Tân La nhân sâm, thảy đều không tốt bằng sâm Thượng Đảng. Mùa xuân mọc mầm, đa phần ở núi sâu bóng râm, nơi ẩm ướt gần gốc sơn, cây sơn. Lúc mới mọc nhỏ chừng 3-4 tấc, một chạc 5 lá. Sau 4-5 năm sinh 2 chạc 5 lá, chưa có cuống hoa. Đến sau 10 năm thì sinh 3 chạc; lâu năm nữa sinh 4 chạc, mỗi chạc 5 lá. Giữa mọc một thân, dân gian gọi là "Bách xích chử".<ref>'''Bách xích chử (百尺杵):''' Cái chày trăm thước (mô tả cuống hoa mọc thẳng).</ref> Tháng 3-4 nở hoa nhỏ như hạt kê, nhị như sợi tơ, màu trắng tím. Sau mùa thu kết quả, chừng 7-8 hạt như hạt đậu, lúc xanh lúc đỏ, tự rụng. Rễ giống hình người là linh diệu. Loại ở Thái Sơn lá xanh khô, rễ trắng, rất khác biệt. ** Thử sâm: Tương truyền muốn thử sâm Thượng Đảng, cho hai người cùng chạy, một người ngậm nhân sâm, một người để miệng không. Chạy chừng 3-5 dặm, người không ngậm sâm ắt thở hồng hộc, người ngậm sâm hơi thở tự nhiên, đó mới là sâm thật. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thượng Đảng nay là Lộ Châu. Dân coi nhân sâm là mối họa cho địa phương (do phu phen, cống nạp) nên không còn hái nữa. Nay dùng thảy đều là sâm Liêu (Liêu Đông). Ba nước Cao Ly, Bách Tế, Tân La nay đều thuộc Triều Tiên. Sâm của họ vẫn đem sang Trung Quốc giao thương. Cũng có thể thu hạt, gieo vào tháng 10 như cách trồng rau. ** Phân biệt: Sâm hái mùa thu đông thì kiên thực; hái mùa xuân hè thì hư nhuyễn (xốp mềm), đó là do thời điểm chứ không phải do đất đai. Sâm Liêu loại còn da thì vàng nhuận như Phòng phong; loại bỏ da thì trắng chắc như bột. Kẻ làm giả thường dùng rễ Sa sâm (Adenophora), Tề ni (Adenophora remota), Cát cánh (Platycodon grandiflorus) để đánh tráo. Sa sâm thể xốp không lõi vị nhạt; Tề ni thể xốp không lõi; Cát cánh thể chắc có lõi nhưng vị đắng. Nhân sâm thể chắc có lõi, vị ngọt hơi đắng, có dư vị riêng, dân gian gọi là "Kim tỉnh ngọc lan".<ref>'''Kim tỉnh ngọc lan (金井玉闌):''' Giếng vàng lan can ngọc (mô tả lát cắt có vòng vàng bên ngoài, tâm trắng bên trong).</ref> Loại giống hình người gọi là "Hài nhi sâm" đa phần là đồ giả. ===TU TRỊ (Chế biến)=== * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nhân sâm dễ bị mọt, chỉ cần cho vào bình mới đậy kín, có thể để cả năm không hỏng. * '''Lý Ngôn Văn nói:''' Nhân sâm khi sống hướng về bóng râm nên không thích gặp gió và nắng. Hễ dùng sống thì nên thái lát (tu quệ);<ref>'''Tu quệ (咀):''' Cách thái dược liệu thành miếng nhỏ để sắc.</ref> dùng chín thì nên bọc giấy nướng cho ấm, hoặc dùng rượu ngon thấm thấu rồi thái lát nướng chín. '''Cấm dùng đồ sắt'''. ===RỄ (根)=== ====【Khí vị】==== Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc. * '''Biệt lục viết:''' Hơi ấm (vi ôn). * '''Ngô Phổ dẫn lời Thần Nông:''' Tính hơi lạnh (tiểu hàn); '''Đồng Quân, Lôi Công:''' Vị đắng; '''Hoàng Đế, Kỳ Bá:''' Vị ngọt, không độc. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Tính ấm, vị ngọt, hơi đắng. Khí và vị đều mỏng, tính nổi và đi lên, là Dương trung chi Dương. Lại nói: Trong Dương có chút Âm. * '''Từ Chi Tài viết:''' Lấy Phục linh, Mã lận làm sứ. Ghét Sưu sơ, Lỗ kiềm. Phản Lê lô. Có thuyết nói: Sợ Ngũ linh chi, ghét Tạo giáp, Hắc đậu, làm động Tử thạch anh. * '''Lý Nguyên Tố viết:''' Nhân sâm được Thăng ma dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Thượng tiêu, tả hỏa trong Phế; được Phục linh dẫn dụng thì bổ nguyên khí ở Hạ tiêu, tả hỏa trong Thận. Được Mạch môn đông thì làm cho mạch sống lại (sinh mạch); được Can khương thì bổ khí. * '''Lý Đông Viên viết:''' Được Hoàng kỳ, Cam thảo thì vị ngọt tính ấm giúp trừ đại nhiệt, tả âm hỏa, bổ nguyên khí, lại là vị thuốc thánh của nhà trị mụn nhọt (sang gia). * '''Chu Đan Khê viết:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế). Phản với Lê lô, nếu uống một lạng sâm mà lẫn một tiền Lê lô thì công năng mất hết. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Lý Đông Viên dùng trị Tỳ Vị, tả âm hỏa; trong bài Giao thái hoàn dùng Nhân sâm với Tạo giáp là "ghét mà không ghét" (ác nhi bất ác). Phương thuốc cổ trị bế kinh dùng Tứ vật thang thêm Nhân sâm, Ngũ linh chi là "sợ mà không sợ". Lại trị đàm ở hung cách (ngực hoành), dùng Nhân sâm cùng Lê lô để gây nôn (dũng việt) là kích thích tính nộ (giận dữ) của thuốc. Đây đều là những điều tinh vi diệu ảo, người không đạt được mức độ quyền biến thì không thể biết. ====【Chủ trị】==== Bổ ngũ tạng, an tinh thần, định hồn phách, dừng kinh quý (hồi hộp lo sợ), trừ tà khí, sáng mắt, khai tâm, ích trí. Dùng lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ ('''Bản kinh'''). Trị tràng vị lạnh, bụng đau chướng, ngực sườn đầy tức, hoắc loạn thổ nghịch, điều hòa trung tiêu, dừng tiêu khát, thông huyết mạch, phá kiên tích (khối u tích tụ), giúp người ta không quên ('''Biệt lục'''). Chủ ngũ lao thất thương, hư tổn gầy yếu, dừng nôn mửa, bổ ngũ tạng lục phủ, bảo vệ trung tiêu, giữ gìn thần khí. Tiêu đàm trong ngực, trị phổi héo (phế nuy) và chứng kinh giản, khí lạnh ngược lên, thương hàn không ăn được, phàm người hư nhược mà ngủ mơ màng rối loạn thì thêm vào ('''Chân Quyền'''). Dừng phiền táo, biến đổi nước chua ('''Lý Tuần'''). Tiêu thực khai vị, điều trung trị khí, giết các chất độc từ thuốc kim thạch ('''Đại Minh'''). Trị dương khí ở Phế Vị không đủ, Phế khí hư súc (ngắn gấp), đoản khí thiếu khí, bổ trung hoãn trung, tả hỏa tà trong Tâm, Phế, Tỳ, Vị, dừng khát sinh tân dịch ('''Nguyên Tố'''). Trị tất cả các chứng hư của nam và nữ, phát nhiệt tự hãn (mồ hôi tự ra), váng đầu nhức đầu, phản vị (nôn thức ăn ra), sốt rét cách nhật (ngược tật), hoạt tiết lỵ lâu ngày, tiểu tiện nhiều lần hoặc nhỏ giọt (lâm ly), lao quyện nội thương, trúng phong trúng thử, tê bại (vê tý), thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, tiểu ra máu, băng huyết, các bệnh trước và sau khi sinh ('''Thời Trân'''). ====【Phát minh】==== * '''Đào Hoằng Cảnh viết:''' Nhân sâm là vị thuốc thiết yếu, công năng cùng với Cam thảo tương tự nhau. * '''Lý Đông Viên viết:''' Nhân sâm vị ngọt tính ấm, có thể bổ nguyên khí trong Phế, Phế khí vượng thì khí của bốn tạng kia đều vượng, tinh tự sinh mà hình vóc tự thịnh, ấy là vì Phế chủ các loại khí vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người bệnh sau khi ra mồ hôi mà mình nóng, mất máu, mạch trầm trì; hoặc hạ lỵ mà mình mát, mạch vi, huyết hư, đều phải thêm Nhân sâm. * '''Lý Ngôn Văn viết:''' Nhân sâm dùng sống thì khí mát (lương), dùng chín thì khí ấm (ôn); vị ngọt bổ Dương, hơi đắng bổ Âm. Khí chủ việc sinh ra muôn vật (thuộc Trời), vị chủ việc thành hình muôn vật (thuộc Đất). Khí vị tạo thành là cái đạo tạo hóa của Âm Dương vậy. ====【Chính ngộ (Sửa chữa sai lầm)】==== '''Lôi Hiệu nói:''' Mùa hè ít dùng Nhân sâm, phát sinh cái họa Tâm hạ kết (tích khí dưới tim). '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhân sâm ngọt ấm, bổ Dương của Phế, tiết Âm của Phế. Phế chịu hàn tà, nên dùng thứ này để bổ; Phế chịu hỏa tà, thì ngược lại làm thương Phế, nên lấy Sa sâm (Adenophora) thay thế. '''Vương Luân nói:''' Phàm tửu sắc quá độ, tổn thương chân âm của Phế và Thận, âm hư hỏa động, các chứng lao sấu thổ huyết, khái huyết, chớ dùng vị này. Bởi Nhân sâm vào kinh Thủ thái âm năng bổ hỏa, cho nên Phế chịu hỏa tà thì kiêng kỵ. Nếu lỡ uống các tễ cam ôn như Sâm, Kỳ, thì bệnh ngày càng tăng; uống quá nhiều thì chết không thể trị. Bởi lẽ cam ôn trợ khí, khí thuộc Dương, Dương vượng thì Âm càng tiêu; chỉ nghi dùng các thuốc đắng ngọt lạnh (khổ cam hàn) để sinh huyết giáng hỏa. Người đời không biết, thường thường uống Sâm, Kỳ để làm thuốc bổ, mà người chết nhiều vậy. '''Lý Ngôn Văn nói:''' Tôn Chân Nhân nói: Mùa hè uống Sinh mạch tán, Thận lịch thang ba liều thì bách bệnh không sinh. Lý Đông Viên cũng nói Sinh mạch tán, Thanh thử ích khí thang là thánh dược tả hỏa ích Kim trong kỳ Tam phục, mà Lôi Hiệu ngược lại nói phát sinh cái họa Tâm hạ kết là sai vậy. "Kết" (積) là khí tích ở cạnh rốn, không phải bệnh ở Tâm. Nhân sâm năng dưỡng chính khí phá kiên tích, há có lý phát sinh chứng kết khí? Xem Trương Trọng Cảnh trị bụng có hàn khí xông lên, có đầu có chân (u cục), trên dưới đau không thể chạm gần, nôn không thể ăn, dùng "Đại kiến trung thang" thì có thể biết vậy. Lại nữa, Vương Hiếu Cổ nói Nhân sâm bổ Dương tiết Âm, Phế hàn nghi dùng, Phế nhiệt không nghi dùng. Vương Luân (Tiết Trai) nhân đó mà họa theo, nói Sâm, Kỳ năng bổ Phế hỏa, các bệnh âm hư hỏa động thất huyết, uống nhiều tất chết. Thuyết của hai nhà này đều phiến diện vậy. Phàm Nhân sâm năng bổ nguyên dương, sinh âm huyết, mà tả âm hỏa, thuyết của Lý Đông Viên đã sáng tỏ vậy. Trương Trọng Cảnh nói: Người vong huyết, huyết hư đều thêm Nhân sâm; lại nói: Phế hàn thì bỏ Nhân sâm, thêm Can khương, không để khí bị ủng trệ. Chu Đan Khê cũng nói hư hỏa có thể bổ bằng nhóm Sâm, Kỳ; thực hỏa có thể tả bằng nhóm Cầm, Liên. Hai nhà này không xét đến cái tinh vi của ba vị đại sư (Trọng Cảnh, Đông Viên, Đan Khê) mà bảo Nhân sâm bổ hỏa, thật sai lầm thay! Phàm hỏa và nguyên khí không đội trời chung, nguyên khí thắng thì tà hỏa lui. Nhân sâm đã bổ nguyên khí mà lại còn bổ tà hỏa, ấy là kẻ "tiểu nhân lật lọng" sao, làm sao có thể cùng Cam thảo, Linh, Truật gọi là "Tứ quân tử" được? Tuy nhiên, lời của ba nhà kia (Lôi Hiệu, Hiếu Cổ, Vương Luân) không thể bỏ hết. Chỉ vì lời lẽ có chỗ ngưng trệ, cho nên kẻ giữ lời đó, nệ vào một phía mà cố chấp, đến mức nhìn Nhân sâm như xà hạch (rắn rết), ấy là không được vậy. * Phàm người mặt trắng, mặt vàng, mặt xanh xám gầy yếu, đều là khí của Tỳ, Phế, Thận bất túc, có thể dùng vậy; mặt đỏ, mặt đen là khí tráng thần cường, không thể dùng vậy. * Mạch mà Phù mà Khâu, Nhu, Hư, Đại, Trì hoãn vô lực, Trầm mà Trì, Sáp, Nhược, Tế, Kết, Đại vô lực, đều là hư mà bất túc, có thể dùng vậy; nếu Huyền, Trường, Khẩn, Thực, Hoạt, Sác có lực, đều là hỏa uất nội thực, không thể dùng vậy. * Khiết Cổ (Trương Nguyên Tố) bảo suyễn ho chớ dùng, là cái suyễn do đàm thực khí ủng vậy; nếu Thận hư khí ngắn thở gấp, tất phải dùng vậy. * Trọng Cảnh bảo Phế hàn mà ho chớ dùng, là cái ho do hàn bó nhiệt tà ủng trệ trong Phế vậy; nếu tự hãn ố hàn mà ho, tất phải dùng vậy. * Đông Viên bảo bệnh lâu ngày uất nhiệt ở Phế chớ dùng, là hỏa uất ở trong nghi phát tán không nghi bổ vậy; nếu Phế hư hỏa vượng, khí ngắn tự hãn, tất phải dùng vậy. * Đan Khê bảo các chứng đau (thống) không được dùng ngay, là tà khí đương lúc sắc bén, nghi tán không nghi bổ vậy; nếu lý hư thổ lợi (nôn lỵ) cùng bệnh lâu ngày vị yếu hư đau thích xoa nắn, tất phải dùng vậy. * Tiết Trai (Vương Luân) bảo âm hư hỏa vượng chớ dùng, là huyết hư hỏa kháng năng ăn được, mạch huyền mà sác, làm mát thì thương Vị, làm ấm thì thương Phế, không chịu được thuốc bổ vậy. Nếu tự hãn khí ngắn, chi hàn mạch hư, tất phải dùng vậy. Xét kỹ như thế, thì Nhân sâm lúc nào dùng được, lúc nào không dùng được, đã hiểu quá nửa rồi vậy. '''Lý Cơ nói:''' Thuyết của Vương Luân vốn dựa vào Vương Hiếu Cổ, nhưng Vương Luân lại quá mức cực đoan. Đan Khê nói hư hỏa có thể bổ, phải dùng Sâm Kỳ. Lại nói âm hư triều nhiệt, suyễn ho thổ huyết, đạo hãn (mồ hôi trộm) các chứng, dùng Tứ vật thang gia Nhân sâm, Hoàng bá, Tri mẫu. Lại nói người hiếu sắc, Phế Thận bị thương, ho mãi không khỏi, dùng Quỳnh ngọc cao chủ trị. Lại nói Phế Thận hư cực, dùng Độc sâm cao chủ trị. Ấy là biết chứng âm hư lao thái chưa từng không dùng Nhân sâm vậy. Tiết Trai (Vương Luân) là học trò của Đan Khê mà lại tương phản như thế. Lời này một khi thốt ra, đóng khung vào mắt người đời sau. Phàm gặp các chứng trên, không hỏi bệnh nghi dùng hay không, cứ lấy đó làm cửa miệng. Khiến cho bậc lương y bị bó tay (chế tửu), chỉ cầu thoát khỏi oán trách của nhà người bệnh. Nhà người bệnh cũng lấy thuyết này để ngang trong lòng, cam chịu thuốc khổ hàn, dù đến mức trên nôn dưới lỵ, cách cái chết không xa, cũng không tỉnh ngộ. Cổ kim trị lao không ai qua được Cát Khả Cửu, các bài Độc sâm thang, Bảo chân thang của ông ấy, há có bao giờ bỏ Nhân sâm không dùng? Thuyết của Tiết Trai, thực chưa suy nghĩ sâu xa vậy. '''Dương Khởi nói:''' Công lao Nhân sâm ghi trong Bản thảo, người người đều biết. Gần đây vì người bệnh tiếc tiền mà coi nhẹ thầy thuốc, thầy thuốc lại tính toán chi phí, không nỡ dùng sâm trị bệnh, dẫn đến nhẹ hóa nặng, nặng hóa nguy. Tuy nhiên có 4 chứng Phế hàn, Phế nhiệt, Trung mãn, Huyết hư, nói chỉ nghi tán hàn, tiêu nhiệt, tiêu trướng, bổ doanh mà không dùng Nhân sâm, thuyết đó nghe có vẻ đúng; nhưng chẳng biết rằng nếu gia thêm Nhân sâm ở trong, hộ trì nguyên khí, trợ lực cho quần dược, thì công hiệu càng nhanh. Nếu bảo khí không có phép bổ, thì lầm to. Phương cổ trị Phế hàn lấy Ôn phế thang, Phế nhiệt lấy Thanh phế thang, Trung mãn lấy Phân tiêu thang, Huyết hư lấy Dưỡng doanh thang, đều có Nhân sâm ở trong vậy. Cái gọi là "Tà khí xâm phạm được, khí ắt phải hư". Lại nói "Dưỡng chính thì tà tự trừ", Dương vượng thì sinh âm huyết, quý ở chỗ phối hợp đắc nghi mà thôi. Thầy thuốc tầm thường mỗi khi bảo Nhân sâm không thể nhẹ tay dùng, thật là tầm thường thay! Bậc quân vương hiếu sinh, không nên coi nhẹ tính mạng mà coi trọng thầy thuốc (tầm thường), thầy thuốc cũng không nên tính toán lợi lộc mà không dùng. Viết lời này để khuyên nhủ, xin chớ bảo là gàn dở (uẩn). ====【PHỤ PHƯƠNG】 (Cũ 7, Mới 60)==== * '''Nhân sâm cao:''' Dùng Nhân sâm 10 lạng thái nhỏ, lấy 20 chén nước hoạt thủy (nước chảy) ngâm thấu, cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa củi dâu chậm rãi sắc lấy 10 chén, lọc bỏ bã, lại dùng 10 chén nước sắc lấy 5 chén, hòa với nước cốt trước đó cô thành cao, thu vào bình, tùy bệnh mà làm thang dẫn. ** '''Đan Khê nói:''' Người ham muốn nhiều, thận khí suy yếu, ho không dứt, dùng Gừng sống, Trần bì sắc thang, hòa cao này mà uống. ** Ông Trịnh ở Phố Giang, tháng 5 bị lỵ, lại phạm phòng sự (quan hệ tình dục), bỗng phát hôn vựng, không biết gì, tay buông mắt tối, mồ hôi tự chảy như mưa, trong họng đàm kêu như kéo cưa, tiểu tiện mất tự chủ, mạch đại không chừng, đây là chứng âm hư dương tuyệt vậy. Tôi lệnh gấp sắc đại liệu Nhân sâm cao, lại châm cứu huyệt Khí hải 18 tráng, tay phải liền cử động được, thêm 3 tráng nữa, môi miệng khẽ động, bèn cho uống 1 chén cao, sau nửa đêm uống 3 chén, mắt đã có thể động, dùng hết 3 cân sâm thì mới có thể nói và đòi ăn cháo, hết 5 cân thì lỵ dứt, đến 10 cân thì hoàn toàn bình phục, nếu trị theo chứng trúng phong thì lầm to vậy. ** Một người bị nhọt độc ở lưng, đã uống thuốc Nội thác Thập tuyên quá nhiều, mủ ra gây nôn, phát nhiệt, lục mạch trầm sác có lực, đây là điều cấm kỵ của loét nhọt. Bèn cho dùng đại liệu Nhân sâm cao hòa Trúc lịch uống, sâm dùng hết 16 cân, tre chặt hơn trăm cây, mà yên. Sau hơn mười ngày, gặp gió lớn nhổ cây, nhọt lại nổi mủ, bên trong có một đường chỉ đỏ qua bả vai đến sườn phải. Tôi nói: Gấp làm sâm cao, lấy Khung, Quy, Trần bì làm thang, cho thêm Trúc lịch, nước cốt Gừng mà uống. Hết 3 cân thì nhọt vỡ mủ, điều lý mới yên. ** Nếu ung thư (nhọt độc) sau khi vỡ, khí huyết đều hư, nôn nghịch không ăn được, biến chứng không nhất định, dùng Sâm, Kỳ, Quy, Truật lượng bằng nhau sắc cao uống là hay nhất. * '''Trị trung thang:''' '''Tô Tụng nói:''' Trương Trọng Cảnh trị ngực tê (thống tý), trong tim bĩ cứng, khí lưu kết ở ngực, ngực đầy, dưới sườn khí nghịch xông lên tim, bài Trị trung thang chủ trị. Tức là bài Lý trung thang gồm: Nhân sâm, Bạch truật, Can khương, Cam thảo mỗi thứ 3 lạng. Bốn vị dùng 8 thăng nước, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 1 thăng, ngày 3 lần, tùy chứng gia giảm. Phương này từ đời Tấn, Tống về sau đến các danh y đời Đường, ai trị bệnh tâm phúc cũng không vị nào không dùng, hoặc làm thang, hoặc làm hoàn mật, hoặc làm tán, đều có kỳ hiệu. ** Cư sĩ Hồ Hiệp trị Hoắc loạn gọi là Ôn trung thang. ** Đào Ẩn Cư trong Bách nhất phương nói: Hoắc loạn mà thuốc khác khó tìm, nhưng Trị trung phương, Tứ thuận thang, Hậu phác thang không thể thiếu tạm thời, thường phải chuẩn bị sẵn mang theo mình. ** Vua Đường Thạch Tuyền công Vương Phương Khánh nói: Các phương này không chỉ trị Hoắc loạn, mà mọi bệnh đều chữa được. ** '''Tứ thuận thang:''' dùng Nhân sâm, Cam thảo, Can khương, Phụ tử (nướng) mỗi thứ 2 lạng, nước 6 thăng sắc lấy 2 thăng rưỡi, chia 4 lần uống. * '''Tứ quân tử thang:''' Trị tỳ vị khí hư, không muốn ăn uống, các bệnh khí hư, lấy bài này làm chủ. Nhân sâm 1 tiền, Bạch truật 2 tiền, Bạch phục linh 1 tiền, Cam thảo chích 5 phân, gừng 3 lát, táo 1 quả. Nước 2 chung, sắc lấy 1 chung, uống ấm trước bữa ăn. Tùy chứng gia giảm (Hòa tễ cục phương). * '''Khai vị hóa đàm:''' Chán ăn, không phân biệt người lớn trẻ nhỏ. Nhân sâm (sấy) 2 lạng, Bán hạ (ngâm nước gừng, sấy) 5 tiền. Tán bột, lấy bột mì tinh làm hồ, viên bằng hạt đậu xanh. Sau ăn dùng nước gừng uống 30-50 viên, ngày 3 lần. Thánh huệ phương thêm Trần bì 5 tiền (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Vị hàn khí đầy không thể vận hóa:''' Dễ đói nhưng không ăn được. Nhân sâm (bột) 2 tiền, Phụ tử sống (bột) nửa tiền, gừng sống 2 tiền. Nước 7 phần sắc lấy 2 phần, cho 1 lòng trắng trứng gà, khuấy đều uống lúc đói (Thánh tế tổng lục). * '''Tỳ vị hư nhược, không muốn ăn uống:''' Gừng sống nửa cân (lấy nước cốt), mật trắng 10 lạng, Nhân sâm (bột) 4 lạng. Nồi bạc cô thành cao. Mỗi lần dùng nước cơm hòa 1 thìa (Phổ tế phương). * '''Vị hư buồn nôn, hoặc nôn có đàm:''' Nhân sâm 1 lạng. Nước 2 chén sắc lấy 1 chén, cho 1 chén Trúc lịch, 3 thìa nước gừng, uống ấm cách xa bữa ăn, uống đến khi thấy hiệu quả thì thôi, người già càng nên dùng (Giản tiện phương). * '''Vị hàn nôn ác không thể tiêu hóa thủy cốc:''' Ăn vào là nôn. Nhân sâm, Đinh hương, Hoắc hương mỗi thứ 2 tiền rưỡi, Trần bì 5 tiền, gừng sống 3 lát, nước 2 chén sắc lấy 1 chén, uống ấm (Bạt tụy phương). * '''Phản vị nôn mửa:''' Thức ăn vào miệng là nôn ngay, mệt mỏi không còn sức, sắp chết. Nhân sâm Thượng Đảng 3 lạng lớn (đập vụn). Nước 1 thăng lớn, sắc lấy 4 phần, uống nóng, ngày 2 lần. Đồng thời dùng nước cốt nhân sâm cho vào gạo tẻ, lòng trắng trứng gà, hành trắng, nấu cháo mà ăn. Lý Trực Phương quan Tư huân bị bệnh này tại Hán Nam hơn 2 tháng, các phương không khỏi, dùng phương này liền định ngay. Mười ngày sau vào kinh sư. Lý Giáng mỗi khi luận bàn với danh y về vị thuốc này, đều khen khó có gì sánh bằng (Lý Giáng Binh bộ thủ tập phương). * '''Ăn vào là nôn (Nhân sâm bán hạ thang):''' Dùng Nhân sâm 1 lạng, Bán hạ 1 lạng 5 tiền, gừng sống 10 lát. Nước 1 đấu, dùng gáo múc lên rót xuống (dương) 240 lần, lấy 3 thăng, cho vào 3 hớp mật trắng, sắc lấy 1 thăng rưỡi, chia lần uống (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ phương). * '''Hoắc loạn nôn ác:''' Nhân sâm 2 lạng, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 1 chén, cho 1 lòng trắng trứng gà, sắc lại uống ấm. Có bài thêm Đinh hương (Vệ sinh gia bảo phương). * '''Hoắc loạn phiền muộn:''' Nhân sâm 5 tiền, Quế tâm nửa tiền. Nước 2 chén sắc uống (Thánh huệ phương). * '''Hoắc loạn nôn tả, phiền táo không dứt:''' Nhân sâm 2 lạng, Trần bì 3 lạng, gừng sống 1 lạng. Nước 6 thăng sắc lấy 3 thăng, chia 3 lần uống (Thánh tế tổng lục). * '''Có thai nôn nước, chua tim đau bụng, không ăn được:''' Nhân sâm, Can khương (nướng) lượng bằng nhau, tán bột, dùng nước cốt Sinh địa hòa viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Hòa tễ cục phương). * '''Dương hư khí suyễn:''' Tự hãn (mồ hôi tự ra), đạo hãn (mồ hôi trộm), ngắn hơi chóng mặt. Nhân sâm 5 tiền, Thục phụ tử 1 lạng. Chia 4 liều, mỗi liều dùng 10 lát gừng sống, 2 chén nước chảy sắc lấy 1 chén, uống ấm cách xa bữa ăn (Tế sinh phương). * '''Suyễn cấp sắp tuyệt, hơi thở khò khè:''' Nhân sâm tán bột, uống với nước ấm mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), ngày 5-6 lần rất hiệu quả (Chẩm hậu phương). * '''Sản hậu phát suyễn:''' Do máu vào phổi, là chứng nguy. Nhân sâm (bột) 1 lạng, Tô mộc 2 lạng. Nước 2 bát sắc lấy 1 bát nước Tô mộc, hòa bột sâm uống, thần hiệu (Thánh huệ phương). * '''Sản hậu huyết vựng (choáng váng do mất máu):''' Nhân sâm 1 lạng, Tử tô nửa lạng, dùng nước tiểu trẻ em (đồng niệu), rượu, nước mỗi thứ 3 phần hòa sắc uống (Y phương trích yếu). * '''Sản hậu không nói được:''' Nhân sâm, Thạch xương bồ, Thạch liên nhục lượng bằng nhau, mỗi lần 5 tiền sắc nước uống (Phụ nhân lương phương). * '''Sản hậu các chứng hư, phát nhiệt tự hãn:''' Nhân sâm, Đương quy lượng bằng nhau. Tán bột, dùng 1 cái cật lợn (trư yêu tử) bóc màng thái miếng nhỏ, dùng 3 thăng nước, nửa hớp gạo nếp, 2 cọng hành trắng, nấu gạo chín lấy 1 chén nước cốt, cho thuốc vào sắc còn 8 phần, uống ấm trước khi ăn (Vĩnh loại phương). * '''Sản hậu bí tắc chảy máu nhiều:''' Dùng Nhân sâm, Ma tử nhân, Chỉ xác (sao với cám). Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước cơm (Tế sinh phương). * '''Sanh ngang sanh ngược (nghịch sản):''' Nhân sâm (bột), Nhũ hương (bột) mỗi thứ 1 tiền, Đan sa (bột) 5 phân. Nghiền đều, dùng 1 lòng trắng trứng gà, 3 thìa nước cốt gừng sống, khuấy đều uống nguội, mẹ con đều yên, thần hiệu. Đây là phương của Thi Hán Khanh (Phụ nhân lương phương). * '''Khai tâm ích trí:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, luyện với mỡ lợn (trư phì phưởng) đã rán 10 lạng. Dùng rượu ngon hòa đều. Mỗi lần uống 1 cốc, ngày 2 lần. Uống đến 100 ngày thì tai mắt thông minh, cốt tủy đầy đủ, da dẻ nhuận trẽo, một ngày nhớ nghìn lời, kiêm trị cả đàm bệnh do phong nhiệt (Thiên kim phương). * '''Nghe tiếng sấm liền hôn mê:''' Một đứa trẻ 7 tuổi hễ nghe tiếng sấm là ngất xỉu không biết gì, đây là do khí khiếp sợ. Dùng Nhân sâm, Đương quy, Mạch môn đông mỗi thứ 2 lạng, Ngũ vị tử 5 tiền. Nước 1 đấu sắc lấy 5 thăng nước cốt; lại dùng 5 thăng nước sắc bã lấy 2 thăng, hòa chung cô thành cao. Mỗi lần dùng 3 thìa hòa nước ấm uống. Dùng hết 1 cân, sau đó nghe sấm vẫn bình thường (Dương Khởi Giản tiện phương). * '''Bỗng nhiên thở gấp nghẹn tuyệt:''' Phương xem ở dưới mục Đại hoàng. * '''Ly hồn dị tật:''' Có người nằm xuống liền cảm thấy ngoài thân có một thân nữa, giống hệt không khác, nhưng không nói năng gì. Phàm người ngủ thì hồn về gan, đây do gan hư tà xâm nhập, hồn không về nhà, bệnh tên là Ly hồn. Dùng Nhân sâm, Long sỉ, Xích phục linh mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy nửa chén, hòa 1 tiền bột Chu sa đã thủy phi, uống lúc ngủ. Mỗi đêm 1 lần, sau 3 đêm, người thật thì khí sảng khoái, người giả (hình bóng) liền tan biến (Hạ Tử Ích Quái chứng kỳ tật phương). * '''Chính xung tự hãn (Tim đập mạnh, mồ hôi tự ra):''' Do tâm khí bất túc. Nhân sâm nửa lạng, Đương quy nửa lạng, dùng 2 quả cật lợn, dùng 2 bát nước sắc lấy 1 bát rưỡi, lấy cật lợn thái nhỏ, cho Sâm và Quy vào sắc chung còn 8 phần, lúc đói ăn cật lợn rồi lấy nước thuốc chiêu xuống. Bã thuốc sấy khô tán bột, dùng bột Hoài sơn làm hồ viên hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên, uống với nước táo cách xa bữa ăn, không quá 2 liều là khỏi. Đây là phương của thần tế đại sư ở Côn Sơn, có bài thêm 2 tiền Nhũ hương (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Dưới tâm kết khí:''' Phàm dưới tâm cứng, ấn vào thì không có, thường cảm thấy đầy trướng, ăn nhiều thì nôn, khí dẫn lên xuống, nấc cụt không dứt, do lo nghĩ quá nhiều, khí không vận hành theo thời mà kết trệ, gọi là kết khí. Nhân sâm 1 lạng, Trần bì (bỏ cùi trắng) 4 lạng. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 50-60 viên với nước cơm (Thánh huệ phương). * '''Mệt mỏi sau khi quan hệ (phòng hậu khốn quyện):''' Nhân sâm 7 tiền, Trần bì 1 tiền, nước 1 chén rưỡi sắc lấy 8 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần, giá trị nghìn vàng không truyền (Phương của Triệu Vĩnh Am). * '''Hư lao phát nhiệt (Ngu lỗ thang):''' Dùng Nhân sâm Thượng Đảng, Sài hồ Ngân Châu mỗi thứ 3 tiền, Đại táo 1 quả, gừng sống 3 lát. Nước 1 chung rưỡi sắc lấy 7 phần, uống ấm cách xa bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng (Kỳ hiệu lương phương). * '''Phổi nhiệt khản tiếng:''' Nhân sâm 2 lạng, Kha tử 1 lạng, tán bột ngậm rồi nuốt dần (Đan Khê trích huyền). * '''Phổi hư ho lâu ngày:''' Nhân sâm (bột) 2 lạng, Lộc giác giao (nướng, nghiền) 1 lạng. Mỗi lần dùng 3 tiền, dùng nước sắc Bạc hà và Đậu xị 1 chén, thêm chút hành, cho vào nồi nhỏ đun 1-2 dạo, rót ra chén. Khi ho thì nhấp ấm 3-5 ngụm, rất tốt (Thực liệu bản thảo). * '''Dừng ho hóa đàm:''' Nhân sâm (bột) 1 lạng, Minh phàn 2 lạng. Dùng 2 thăng giấm tốt nấu Minh phàn thành cao, cho bột sâm và mật luyện vào hòa thu lại. Mỗi lần lấy 1 viên bằng hạt đậu hà lan đặt dưới lưỡi, cơn ho liền dứt, đàm tự tiêu (Giản tiện phương). * '''Trẻ nhỏ suyễn ho:''' Phát nhiệt tự hãn, nôn ra máu, mạch hư vô lực. Nhân sâm, Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Mỗi lần nửa tiền hòa nước mật uống, lấy khỏi làm chừng (Kinh tế phương). * '''Suyễn ho khạc huyết:''' Khí nghịch lên, suyễn gấp, ho ra máu thổ huyết, mạch vô lực. Bột nhân sâm mỗi lần 3 tiền, hòa lòng trắng trứng gà uống, lúc mờ sáng (5 canh đầu) uống xong nằm ngủ ngay, bỏ gối nằm ngửa, chỉ 1 liều là khỏi. Bệnh lâu năm thì uống thêm. Người khạc máu (lạc huyết) dùng hết 1 lạng rất tốt. Một phương dùng nước mài trứng gà đen nghìn lần, tự nhiên hóa thành nước hòa thuốc càng diệu. Kỵ giấm, mặn, tanh, mắm muối, mì chua, say no, nghỉ ngơi điều độ mới tốt (Thẩm Tồn Trung Linh uyển phương). * '''Ho khạc máu:''' Nhân sâm, Hoàng kỳ, bột mì tinh (phi la diện) mỗi thứ 1 lạng, Bách hợp 5 tiền. Tán bột, viên với nước bằng hạt ngô. Mỗi lần 50 viên, uống với nước rễ cỏ tranh (mao căn) trước bữa ăn. ** Chu thị tập nghiệm phương: dùng Nhân sâm, Nhũ hương, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng thịt Ô mai hòa viên bằng hạt đạn (đầu ngón tay). Mỗi lần dùng nước trắng hòa tan 1 viên, ngày uống 1 lần. ** Hư lao thổ huyết nặng, trước tiên lấy Thập tro tán để cầm lại, người đó ắt khốn quyện, phép phải bổ dương sinh âm, dùng Độc sâm thang làm chủ. Nhân sâm tốt 1 lạng, Táo béo 5 quả. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung uống, ngủ một giấc say, bệnh giảm được 5-6 phần, sau đó uống thuốc điều lý (Cát Khả Cửu Thập dược thần thư). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Do thất tình cảm ứng, tửu sắc nội thương, khí huyết vận hành loạn xạ, máu trào ra cả miệng mũi, mạch Tâm Phế bị đứt, máu như suối phun, trong phút chốc không cứu kịp. Dùng Nhân sâm (sấy), lá Trắc bá (đồ, sấy), Kinh giới tuệ (đốt tồn tính) mỗi thứ 5 tiền. Tán bột. Dùng 2 tiền, thêm 2 tiền bột mì tinh, dùng nước mới múc hòa thành hồ loãng mà uống, một lát sau lại uống thêm ngụm nữa, một liều là cầm ngay (Hoa Đà Trung tạng kinh). * '''Chảy máu cam không dứt (nục huyết):''' Nhân sâm, cành Liễu (loại hái ngày Hàn thực) lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần 1 tiền, uống với nước chảy về hướng đông, ngày 3 lần. Không có cành liễu dùng Tâm sen (Thánh tế tổng lục). * '''Chảy máu kẽ răng:''' Nhân sâm, Xích phục linh, Mạch môn đông mỗi thứ 2 tiền. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, uống ấm trước khi ăn, ngày 2 lần. Tô Đông Pha được phương này tự khen là thần kỳ. Kẻ hậu sinh nhiều người bị bệnh này, tôi đã thử nhiều lần, đều linh nghiệm như lời nói (Đàm Dã Ông thử nghiệm phương). * '''Âm hư niệu huyết (tiểu ra máu):''' Nhân sâm (sấy), Hoàng kỳ (chích nước muối) lượng bằng nhau. Tán bột. Dùng 1 củ củ cải lớn vỏ đỏ, cắt làm 4 miếng, dùng 2 lạng mật, nhúng từng miếng củ cải vào mật rồi nướng, để khô lại nướng tiếp, đừng để cháy, nướng đến khi hết mật thì thôi. Mỗi lần dùng 1 miếng chấm bột thuốc mà ăn, dùng nước muối chiêu xuống, lấy khỏi làm chừng (Tam nhân phương). * '''Sa lâm thạch lâm (Sỏi thận, sỏi bàng quang):''' Phương như trên. * '''Tiêu khát khát uống:''' Nhân sâm tán bột, hòa lòng trắng trứng gà uống mỗi lần 1 tiền, ngày 3-4 lần. ** Tập nghiệm: dùng Nhân sâm, rễ Thiên hoa phấn lượng bằng nhau. Nghiền sống tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước Mạch môn đông trước bữa ăn, ngày 2 lần, lấy khỏi làm chừng. Tên là Ngọc hồ hoàn. Kỵ rượu, mì, đồ nướng. ** Trịnh thị gia truyền Tiêu khát phương: Nhân sâm 1 lạng, Cam thảo phấn 2 lạng. Dùng nước mật lợn đực ngâm sấy, Băng phiến (não tử) nửa tiền. Tán bột, luyện mật viên bằng hạt khiếm thực. Mỗi lần nhai 1 viên chiêu nước lạnh. ** Thánh tế tổng lục: dùng Nhân sâm 1 lạng, bột Cát căn 2 lạng. Tán bột. Lúc phát bệnh lấy 1 thăng nước luộc thịt lợn thiến, cho 3 tiền bột thuốc, 2 lạng mật, đun lửa nhỏ cô còn 3 chén, trạng như kẹo mạch nha đen, thu vào bình, mỗi đêm ngậm nuốt 1 thìa, không quá 3 liều là hiệu quả vậy. * '''Hư ngược hàn nhiệt (Sốt rét do hư):''' Nhân sâm 2 tiền 2 phân, Hùng hoàng 5 tiền. Tán bột, ngày Đoan ngọ dùng chóp lá bánh chưng giã làm viên hạt ngô. Sáng sớm ngày phát bệnh dùng nước giếng mới múc nuốt 7 viên, trước khi phát lại uống thêm. Kỵ các đồ nóng, hiệu quả ngay lập tức. Một phương: thêm Thần khúc lượng bằng nhau (Đan Khê toản yếu). * '''Lạnh lỵ quyết nghịch, lục mạch trầm tế:''' Nhân sâm, Đại phụ tử mỗi thứ 1 lạng rưỡi. Mỗi lần uống nửa lạng, gừng sống 10 lát, Đinh hương 15 hạt, gạo nếp 1 hớp. Nước 2 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm lúc đói (Kinh nghiệm phương). * '''Hạ lỵ cấm khẩu (Lỵ không ăn được):''' Nhân sâm, hạt Sen mỗi thứ 3 tiền. Dùng 2 chén nước giếng sắc lấy 1 chén, nhấp uống từ từ. Hoặc thêm Hoàng liên sao nước gừng 3 tiền (Kinh nghiệm lương phương). * '''Người già hư lỵ không dứt, không ăn được:''' Nhân sâm Thượng Đảng 1 lạng, Lộc giác (bỏ da, sao nghiền) 5 tiền. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông hòa nước cơm uống, ngày 3 lần (Thập tiện lương phương). * '''Thương hàn hoại chứng:''' Phàm thương hàn thời dịch, không hỏi âm dương, già trẻ phụ nữ có thai, lỡ uống nhầm thuốc dẫn đến nguy kịch sắp chết, mạch trầm phục, không biết gì, sau 7 ngày đều có thể uống, trăm người không hỏng một. Tên là Đoạt mệnh tán, lại tên Phục mạch thang. Nhân sâm 1 lạng, nước 2 chung, dùng lửa mạnh sắc còn 1 chung, dùng nước giếng ngâm lạnh rồi uống, một lát sau sống mũi có mồ hôi ra, mạch phục hồi ngay. Thị lang Tô Thao Quang nói: dùng phương này cứu được vài chục người. Tôi làm quan huyện Thanh Lưu, con dâu của quan huyện thân là Thân Đồ Hành Phụ bị thời dịch hơn 30 ngày, đã thành hoại bệnh, cho uống thuốc này liền yên (Vương Cổ Bách nhất tuyển phương). * '''Thương hàn quyết nghịch:''' Mình hơi nóng, phiền táo, lục mạch trầm tế vi nhược, đây là âm cực phát táo vậy. '''Vô ưu tán:''' dùng Nhân sâm nửa lạng. Nước 1 chung sắc lấy 7 phần, hòa 2 tiền bột Ngưu đằng nam tinh, uống nóng, tỉnh ngay (Tam nhân phương). * '''Kẹp âm thương hàn (Cáp âm thương hàn):''' Trước đó có phòng sự, sau đó cảm hàn tà, dương suy âm thịnh, lục mạch trầm phục, bụng dưới đau thắt, tứ chi lạnh ngược, nôn ra nước trong, không nhờ thuốc này thì không cách gì hồi dương. Nhân sâm, Can khương (nướng) mỗi thứ 1 lạng, Phụ tử sống 1 quả (phá làm 8 miếng). Nước 4 thăng rưỡi sắc còn 1 thăng, uống hết một lần. Mạch ra mình ấm là khỏi (Ngô Thụ Thương hàn uẩn yếu). * '''Gân cốt phong thống:''' Nhân sâm 4 lạng (ngâm rượu 3 ngày, phơi khô), Thổ phục linh 1 cân, Sơn từ cô 1 lạng. Tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 100 viên uống với nước cơm trước khi ăn (Kinh nghiệm phương). * '''Trẻ nhỏ phong giản co giật:''' Dùng Nhân sâm, Cáp phấn, Thần sa lượng bằng nhau. Tán bột, dùng máu tim lợn thiến hòa viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần 50 viên uống với nước vàng bạc, ngày 2 lần, đại có thần hiệu (Vệ sinh bảo giám). * '''Tỳ hư mạn kinh:''' Hoàng kỳ thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Đậu chẩn hiểm chứng:''' Bảo nguyên thang, xem dưới mục Hoàng kỳ phát minh. * '''Sau kinh sợ đồng tử bị lệch (nhãn tà):''' Trẻ nhỏ sau khi kinh sợ đồng tử không chính. Nhân sâm, A giao (sao với gạo nếp thành hạt) mỗi thứ 1 tiền. Nước 1 chén sắc lấy 7 phần, uống ấm, ngày 2 lần. Khỏi thì dừng, hiệu quả (Trực chỉ phương). * '''Trẻ nhỏ tỳ phong hay buồn ngủ:''' Nhân sâm, nhân Bí đao mỗi thứ nửa lạng, Nam tinh 1 lạng. Luộc qua nước tương, tán bột. Mỗi lần dùng 1 tiền, nước nửa chén sắc còn 2-3 phần, uống ấm (Bản sự phương). * '''Tửu độc mù mắt:''' Một người hình vóc lực lưỡng, ham uống rượu nóng, bỗng bị mù mắt mà mạch sáp, đây do rượu nóng làm tổn thương, vị khí ô trọc, huyết chết ở bên trong mà ra. Lấy Tô mộc sắc thang hòa 1 tiền bột Nhân sâm uống. Ngày hôm sau mũi và hai lòng bàn tay đều tím đen, đây là huyết trệ đã hành vậy. Lại dùng Tứ vật thang thêm Tô mộc, Đào nhân, Hồng hoa, Trần bì hòa bột Nhân sâm uống, vài ngày là khỏi (Đan Khê toản yếu). * '''Tửu độc sinh thư (nhọt):''' Một phụ nữ nghiện rượu, ngực mọc một cái nhọt (thư), mạch khẩn mà sáp. Dùng Nhân sâm sao rượu, Đại hoàng sao rượu lượng bằng nhau tán bột, dùng nước gừng uống 1 tiền, ngủ được mồ hôi ra là khỏi. Hiệu quả (Đan Khê y án). * '''Chó cắn phong thương sưng đau:''' Nhân sâm đặt trên than củi dâu đốt tồn tính, lấy bát úp lại, một lát sau tán bột, rắc vào, khỏi ngay (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Rết cắn:''' Nhai nhân sâm bôi vào (Y học tập thành). * '''Ong châm kiến đốt:''' Bột nhân sâm đắp vào (Chứng trị yếu quyết). * '''Thủng hông lòi ruột:''' Gấp lấy dầu bôi vào rồi ấn ruột vào, sắc nước Nhân sâm, Câu kỷ rửa bên ngoài, bên trong ăn cháo Thận cừu, 10 ngày khỏi (Ngụy thị Đắc hiệu phương). * '''Khí bôn quái tật:''' Phương xem ở dưới mục Hổ trượng. ===LÔ (蘆 - Đầu rễ/Cổ rễ nhân sâm)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính ấm, không độc. '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị đàm ẩm do hư lao ('''Thời Trân'''). '''【Phát minh】''' * '''Ngô Thụ nói:''' Người suy nhược thì dùng Sâm lô thay thế cho Qua đế (cuống quả dưa - Cucumis melo L. để gây nôn nhẹ hơn). * '''Chu Đan Khê nói:''' Nhân sâm đi vào kinh Thủ thái âm (Phế), bổ cái Âm trong Dương; còn Sâm lô thì ngược lại, có thể tả cái Dương của kinh Thái âm. Điều này cũng giống như cây Ma hoàng (Ephedra sinica Stapf), phần ngọn (miêu) thì năng phát hãn (gây ra mồ hôi), còn phần rễ thì lại chỉ hãn (cầm mồ hôi). Thóc gạo thuộc Kim mà tính của cám lại nóng, lúa mạch thuộc Dương mà tính của vỏ cám (phu) lại mát. Các bậc tiền nho vịnh rằng "mỗi vật đều mang trong mình một Thái cực", người học đạo chẳng lẽ không thể từ đó mà suy rộng ra sao? ** Có một người con gái tính tình nóng nảy, lại hay ăn vị đậm đà, tháng nóng vì tức giận mà mắc chứng nấc cụt (ách), mỗi lần phát bệnh thì cả thân mình nhảy động, hôn mê không biết gì. Hình vóc và khí thế của cô ấy đều thực, đó là do đàm bị uất lại bởi cơn giận, khiến khí không thể giáng xuống, nếu không dùng phép thổ (gây nôn) thì không thể khỏi. Bèn dùng nửa lạng Sâm lô, một chén rưỡi nước nghịch lưu (nước chảy ngược), sắc lấy một bát lớn cho uống. Cô ấy nôn ra mấy bát đàm đặc (ngoan đàm), ra đại hãn (mồ hôi đầm đìa) rồi ngủ say một ngày là yên. ** Lại có một người vì làm lụng vất vả mà phát bệnh sốt rét (ngược), uống thuốc trị sốt rét vào thì biến thành nhiệt bệnh, lưỡi ngắn, ho có đàm, lục mạch hồng sác mà hoạt. Đây là đàm tích tụ trong ngực, không dùng phép thổ thì không khỏi. Dùng Sâm lô sắc thang cho thêm Trúc lịch (nhựa tre) uống hai liều, nôn ra ba cục đàm keo đặc, sau đó cho dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ (Astragalus mongholicus), Đương quy (Angelica sinensis) sắc uống, nửa tháng thì bình phục. ==SA SÂM (沙參)== (Adenophora elata Nannf. hoặc các loài tương cận thuộc chi Adenophora) (Sách Bổn kinh, hàng Thượng phẩm) '''【Hiệu chính】''' Gộp cả phần "Dương nhũ" (Sữa dê) thuộc mục "Hữu danh vị dụng" (Có tên nhưng chưa dùng) trong sách Biệt lục. '''【Thích danh】''' Bạch sâm (Ngô Phổ), Tri mẫu (Biệt lục), Dương nhũ (Biệt lục), Dương bà nãi (Cương mục), Linh nhi thảo (Biệt lục), Hổ tu (Biệt lục), Khổ tâm (Biệt lục, còn gọi là Văn hy, Thức mỹ, Chí thủ). * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vị này cùng với Nhân sâm, Huyền sâm, Đan sâm, Khổ sâm gọi là "Ngũ sâm". Hình dáng của chúng không hoàn toàn giống nhau nhưng chủ trị khá tương đồng, nên đều có tên là "Sâm". Ngoài ra còn có Tử sâm, tức là Mẫu mông. * '''Thời Trân nói:''' Sa sâm màu trắng, thích hợp với vùng đất cát (sa địa), nên có tên như vậy. Rễ của nó có nhiều nhựa trắng, người bình dân gọi là Dương bà nãi (vú dê cái). Mục "Dương nhũ" trong Biệt lục chính là vị này. Vật này không có lõi, vị nhạt, mà Biệt lục lại gọi là "Khổ tâm" (tâm đắng), lại trùng tên với Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge), thật không hiểu tại sao. Còn tên Linh nhi thảo (cỏ chuông nhỏ) là mô tả hình dáng hoa vậy. '''【Tập giải】''' * '''Sách Biệt lục nói:''' Sa sâm sinh ở thung lũng Hà Nội và các vùng Oan Cú, Bàn Dương, Tục Sơn. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. Tên khác là Dương nhũ, Địa hoàng; hái vào tháng 3, sau tiết Lập hạ thì cây mẹ chết. * '''Trần Tạng Khí nói:''' Dương nhũ rễ giống Tề ni (Adenophora stricta Miq.) nhưng tròn, to nhỏ bằng nắm tay, trên có các đốt sừng, bẻ ra có nhựa trắng; người ta thường lấy rễ này thay cho Tề ni. Ngọn cây làm dạng dây leo, bẻ ra cũng có nhựa trắng. * '''Thời Trân nói:''' Sa sâm có ở khắp các núi rừng. Tháng 2 mọc mầm, lá như lá Quỳ nhỏ mới mọc, tròn dẹt và không bóng. Tháng 8, tháng 9 mọc thân, cao 1-2 thước. Lá trên thân thì nhọn dài như lá Câu kỷ (Lycium chinense Mill.) nhưng nhỏ và có răng cưa mịn. Mùa thu giữa các kẽ lá nở hoa tím nhỏ, dài 2-3 phân, hình như cái chuông (linh đạc), có 5 cánh, nhị trắng, cũng có loại hoa trắng. Kết quả to như quả Đông thanh, trong có hạt nhỏ. Sau tiết sương giáng thì mầm khô. Rễ mọc ở đất cát dài hơn một thước, to bằng một hổ khẩu (vòng tay); mọc ở đất vàng thì ngắn và nhỏ. Cả rễ và thân đều có nhựa trắng. Hái vào tháng 8, tháng 9 thì trắng và chắc; hái vào mùa xuân thì hơi vàng và xốp. Người ta cũng thường đem đồ lên rồi ép cho chắc để giả làm Nhân sâm, nhưng thể chất nhẹ xốp, vị nhạt và ngắn vậy. ===RỄ (根)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hơi hàn, không độc. Biệt lục nói: Dương nhũ tính ấm, không độc. * '''Ngô Phổ nói:''' Sa sâm theo Kỳ Bá vị mặn; Thần Nông, Hoàng Đế, Biển Thước bảo không độc. Lý Đương Chi bảo đại hàn. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Vị ngọt, hơi đắng. * '''Lý Chi Tài nói:''' Ghét Phòng kỷ (Stephania tetrandra), phản Lị lô (Veratrum nigrum). '''【Chủ trị】''' * Trị huyết tích kinh khí, trừ hàn nhiệt, bổ trung, ích Phế khí (Bổn kinh). * Trị vị tý, tâm phúc thống (đau bụng vùng tim), kết nhiệt tà khí gây đầu thống, tà nhiệt ngoài da, an ngũ tạng. Uống lâu có lợi cho người. Lại nói: Dương nhũ chủ trị đầu huyễn thống (đau chóng mặt), ích khí, trường cơ nhục (Biệt lục). Trị phù phong ngoài da thịt, sán khí sa xuống, trị chứng hay buồn ngủ, dưỡng Can khí, tuyên thông phong khí ngũ tạng (Chân Quyền). Bổ hư, cầm kinh phiền, ích Tâm Phế, trị mọi chứng ác sang giới tiễn (ghẻ lở) và ngứa ngáy khắp người, bài nùng (tống mủ), tiêu sưng độc (Đại Minh). Thanh Phế hỏa, trị ho lâu ngày, phế nuy (phổi héo) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Trương Nguyên Tố nói:''' Người bị Phế hàn thì dùng Nhân sâm; người Phế nhiệt thì dùng Sa sâm thay thế, vì lấy cái vị ngọt của nó vậy. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Sa sâm vị ngọt hơi đắng, là thuốc của bản kinh Quyết âm, lại là thuốc ở phần khí của kinh Tỳ. Vị hơi đắng thì bổ Âm, vị ngọt thì bổ Dương, cho nên Khiết Cổ lấy Sa sâm thay Nhân sâm. Bởi Nhân sâm tính ấm, bổ cái Dương của ngũ tạng; Sa sâm tính hàn, bổ cái Âm của ngũ tạng. Tuy nói bổ ngũ tạng, nhưng cũng cần dùng các thuốc bổ tạng tương ứng làm tá, để tùy theo sự dẫn dắt mà hỗ trợ lẫn nhau mới được. * '''Thời Trân nói:''' Nhân sâm ngọt đắng tính ấm, thể chất nặng chắc, chuyên bổ nguyên khí của Tỳ Vị, từ đó mà ích cho Phế và Thận, nên người bị nội thương nguyên khí thì nghi dùng. Sa sâm ngọt nhạt tính hàn, thể chất nhẹ xốp, chuyên bổ Phế khí, từ đó mà ích cho Tỳ và Thận, nên người bị Kim chịu Hỏa khắc (Phế bị nhiệt hỏa xâm phạm) thì nghi dùng. Một bên bổ Dương để sinh Âm, một bên bổ Âm để chế Dương, không thể không phân biệt vậy. '''【Phụ phương】''' (Cũ 1, mới 2) * '''Phế nhiệt ho:''' Sa sâm nửa lạng. Sắc nước uống (Vệ sinh dị giản phương). * '''Đột ngột phát sán khí:''' Bụng dưới và trong âm hộ đau thắt kéo nhau, mồ hôi tự ra, đau muốn chết. Sa sâm giã nhỏ rây lấy bột, uống với rượu mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ), khỏi ngay (Chẩm hậu phương). * '''Phụ nữ bạch đới:''' Thường do thất tình nội thương hoặc hạ nguyên hư lạnh gây ra. Sa sâm tán bột, mỗi lần uống 2 tiền hòa với nước cơm (Chứng trị yếu quyết). ==TỀ NI (薺苨)== (Adenophora stricta Miq.) *(Âm là Tề Ni, đều thanh thượng. Sách Biệt lục, hàng Trung phẩm) '''【Hiệu chính】''' Gộp cả phần "Hạnh sâm" trong sách Đồ kinh. '''【Thích danh】''' Hạnh sâm (Đồ kinh), Hạnh diệp sa sâm (Cứu hoang), Trư bàng (豝, âm là Đề. Nhĩ nhã), Tiềm cát cánh (Cương mục), Bạch diện căn (Cứu hoang). * Mầm gọi là '''Ẩn nhẫn'''. * '''Thời Trân nói:''' Tề ni nhiều dịch, có trạng thái như lộ dày (tế nê), nên lấy đó làm tên. Tế nê (濟苨) nghĩa là móc đọng đặc vậy. Rễ nó như Sa sâm (Adenophora) mà lá như lá Hạnh (Prunus armeniaca L.), nên người Hà Nam gọi là Hạnh diệp sa sâm. Vị Hạnh sâm trong Đồ kinh của Tô Tụng chính là vị này. Tục gọi là Tiềm cát cánh (Cát cánh ngọt). Sách Nhĩ nhã vân: Bàng (豝) chính là Tề ni vậy. Quách Phác chú rằng: Chính là Tề ni. Về tên Ẩn nhẫn, thuyết xem ở đoạn dưới. '''【Tập giải】''' * '''Hoằng Cảnh nói:''' Rễ và thân Tề ni đều rất giống Nhân sâm (Panax ginseng C.A. Mey.), nhưng lá hơi khác, vị rễ ngọt lịm, năng sát độc. Hễ để chung với các loại thuốc độc, độc tính đều tự nhiên tiêu giảm, nhưng không chính thức đưa vào phương gia dụng. Lại nói: Ngụy Văn Đế bảo Tề ni làm loạn Nhân sâm (gây nhầm lẫn), chính là vị này vậy. Lá Tề ni rất giống Cát cánh (Platycodon grandiflorus), nhưng khác ở chỗ dưới lá sáng bóng nhẵn nhụi không lông, lại không mọc đối như Nhân sâm. * '''Trần Ty Cung nói:''' Mầm Nhân sâm giống Ngũ gia bì nhưng rộng và ngắn, thân tròn có 3-4 nhánh (nhã), đầu nhánh có 5 lá. Đào Hoằng Cảnh dẫn thuyết Tề ni làm loạn Nhân sâm là sai vậy. Vả lại Tề ni và Cát cánh có loại lá mọc cách, cũng có loại lá mọc 3-4 đôi, đều một thân mọc thẳng lên, lá đã dễ lẫn lộn, duy chỉ có thể phân biệt bằng việc rễ (Cát cánh) có lõi (tâm) mà thôi. * '''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Xuyên Thục, Giang Chiết đều có cả. Mùa xuân mọc mầm thân, đều giống Nhân sâm nhưng lá hơi khác, rễ giống Cát cánh nhưng khác ở chỗ không có lõi. Nhuận Châu, Thiểm Châu có rất nhiều, người ta thu hái làm quả, hoặc làm mứt (phu) mà ăn, vị rất cam mỹ, lại có thể gửi đi xa. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. * '''Lý Thừa nói:''' Người nay thường đem đồ chín rồi ép dẹt để làm loạn Nhân sâm, nhưng vị nhạt vậy. * '''Khấu Tông Đạm nói:''' Đào Hoằng Cảnh luận về rễ, nên bảo Tề ni làm loạn Nhân sâm; Tô Tụng luận về mầm, nên bảo Đào sai vậy. * '''Tiết Cơ nói:''' Mầm thân Tề ni tương tự Cát cánh, rễ của nó tương loạn với Nhân sâm. Nay nói mầm thân đều giống Nhân sâm là gần như sai lầm. Nên xem kỹ cả ba mục chú giải về Nhân sâm, Tề ni, Cát cánh thì tự rõ. * '''Thời Trân nói:''' Mầm Tề ni giống Cát cánh, rễ giống Sa sâm, nên gian thương thường dùng Sa sâm và Tề ni để trà trộn làm loạn Nhân sâm. Vị Hạnh sâm trong Đồ kinh của Tô Tụng và Hạnh diệp sa sâm trong Cứu hoang bản thảo của Chu Định Vương đều là Tề ni này vậy. Đồ kinh vân: Hạnh sâm sinh ở đồng nội vùng Tư Châu, rễ như rễ rau nhỏ. Người địa phương tháng 5 hái mầm lá trị ho thượng khí. Cứu hoang bản thảo vân: Hạnh diệp sa sâm, tên khác là Bạch diện căn. Mầm cao 1-2 thước, thân màu xanh trắng. Lá như lá Hạnh nhưng nhỏ, hơi nhọn và lưng lá trắng, mép có răng cưa. Đầu cành nở hoa trắng 5 cánh như cái bát nhỏ (oản tử hoa). Hình rễ như cà rốt dại (dã hồ la bặc), khá mập, vỏ màu xám đen, giữa màu trắng, vị ngọt tính hơi hàn. Cũng có loại nở hoa màu xanh biếc. Mầm non chần chín rửa sạch qua nước, trộn dầu muối mà ăn. Rễ thay nước luộc cũng có thể ăn được. Người ta dùng mật nấu để làm quả (mứt). Lại nữa, Đào Hoằng Cảnh chú về Cát cánh, nói lá nó tên là Ẩn nhẫn, có thể luộc ăn, trị cổ độc. Cẩn thận xét theo Nhĩ nhã vân: Bàng là Ẩn nhẫn vậy. Quách Phác chú vân: Giống cây Tô, có lông. Người Giang Đông muối làm dưa (trư), cũng có thể luộc ăn. Cát Hồng trong Chẩm hậu phương vân: Cỏ Ẩn nhẫn, mầm giống Cát cánh, người đều ăn được. Giã lấy nước uống trị cổ độc. Dựa vào đây thì Ẩn nhẫn không phải là Cát cánh, mà là mầm Tề ni vậy. Mầm Tề ni ngọt, ăn được; mầm Cát cánh đắng, không ăn được, đây là minh chứng rõ nhất. Sách Thần Nông bản thảo kinh không có Tề ni, chỉ có Cát cánh và một tên gọi khác là Tề ni, đến đời Biệt lục mới bắt đầu tách riêng Tề ni. Có lẽ Tề ni và Cát cánh cùng một loại, có hai giống ngọt và đắng, nên mầm của chúng đều có thể gọi là Ẩn nhẫn vậy. ===RỄ (根)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Giải độc của trăm loại thuốc (Biệt lục). * Sát cổ độc (độc bùa ngải), trị rắn rết côn trùng cắn, nhiệt cuồng ôn dịch, trúng tên độc (Đại Minh). Lợi Phế khí, hòa trung minh mục (sáng mắt) chỉ thống (giảm đau), đồ thái ra nấu canh cháo mà ăn, hoặc làm dưa (tê trư) ăn (Trạm Ân). Ăn vào ép được độc Đan thạch phát động (Mạnh Tiên). Chủ trị ho tiêu khát, cường trung, sang độc đinh thũng, lánh độc của sa sắt (mạt bụi) và đoản hồ (con bọ nước) (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Thời Trân nói:''' Tề ni tính hàn mà lợi Phế, vị ngọt mà giải độc, thật là món tốt vậy, mà người đời không biết dùng, thật đáng tiếc thay. Xét Cát Hồng trong Chẩm hậu phương vân: Một thứ thuốc mà kiêm giải được mọi độc, chỉ có nước Tề ni sắc đặc uống 2 thăng, hoặc nấu mà nhai, cũng có thể làm dạng bột (tán) để uống. Vị thuốc này ở giữa các thuốc khác thì độc tính đều tự giải vậy. Lại nữa, Trương Độc trong Triều dã thiêm tái vân: Các y gia bảo hổ trúng tên độc thì ăn bùn trong (thanh nê) mà giải; lợn rừng trúng tên độc thì tìm Tề ni mà ăn. Vật còn biết giải độc, huống chi là người? Lại nữa, Tôn Tư Mạo trong Thiên kim phương trị chứng Cường trung (cương dương không dứt), dương vật cương cứng lâu không giao hợp mà tinh tự xuất, sau khi tiêu khát phát sinh ung thư, có các bài Tề ni hoàn, Trư thận tề ni thang, đây đều là những điều Bản thảo chưa chép tới. Nhưng cũng đều lấy công năng giải nhiệt giải độc của nó mà thôi, không có ý nghĩa khác. '''【Phụ phương】''' (Cũ 4, Mới 3) * '''Cường trung tiêu khát (Trư thận tề ni thang):''' Trị bệnh cường trung, dương vật cương cứng dài lâu, không giao hợp mà tinh dịch tự chảy, sau tiêu khát là phát ung thư. Đều do buông thả sắc dục, hoặc uống kim thạch (thuốc khoáng vật) gây ra, nên dùng bài này để chế cái nhiệt trong Thận vậy. Dùng Cật lợn (trư thận) 1 đôi, Tề ni, Thạch thạch cao mỗi thứ 3 lạng, Nhân sâm, Phục linh, Từ thạch, Tri mẫu, Cát căn, Hoàng cầm, Qua lâu căn, Cam thảo mỗi thứ 2 lạng, Đỗ đen (hắc đại đậu) 1 thăng, nước 1 đấu rưỡi. Trước tiên luộc cật lợn và đỗ đen lấy 1 đấu nước cốt, bỏ bã rồi cho thuốc vào, sắc lại lấy 3 thăng, chia 3 lần uống. Người đời sau gọi là Thạch tử tề ni thang. * Lại có '''Tề ni hoàn:''' dùng Tề ni, Đỗ đen, Phục thần, Từ thạch, Qua lâu căn, Thục địa hoàng, Địa cốt bì, Huyền sâm, Thạch hộc, Lộc nhung mỗi thứ 1 lạng, Nhân sâm, Trầm hương mỗi thứ nửa lạng. Tán bột, lấy bao tử lợn (trư đỗ) làm sạch nấu nhừ, giã nát hòa thuốc viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 70 viên với nước muối lúc đói (Đều trong Thiên kim phương). * '''Đinh sang thũng độc:''' Rễ Tề ni tươi giã lấy nước cốt, uống 1 hớp (hợp), lấy bã đắp lên, không quá 3 lần (Thiên kim dực). * '''Vết nám trên mặt (Diện thượng sạm):''' Tề ni, Nhục quế lượng bằng nhau. Tán bột. Mỗi lần dùng 1 thìa vuông uống với nước hèm (tạc tương), ngày 1 lần. Lại có thể tẩy vết sẹo, nốt ruồi (Thánh tế tổng lục). * '''Giải mọi loại cổ độc:''' Rễ Tề ni giã lấy bột, uống 1 thìa vuông, khỏi ngay (Trần Diên Chi - Đoản kịch phương). * '''Giải độc Câu vẫn (Lá ngón):''' Lá Câu vẫn (Gelsemium elegans) và lá Rau cần tương tự nhau, lỡ ăn nhầm sẽ chết người. Duy lấy Tề ni 8 lạng, nước 6 thăng, sắc lấy 3 thăng, mỗi lần uống 5 hợp, ngày 5 lần (Trọng Cảnh Kim quỹ ngọc hàm). * '''Giải độc Ngũ thạch (5 loại khoáng vật độc):''' Tề ni tươi giã lấy nước, uống nhiều, khỏi ngay (Tô Tụng - Đồ kinh). ===ẨN NHẪN DIỆP (Lá cây Tề ni)=== '''【Khí vị】''' Vị ngọt, đắng, tính hàn, không độc. '''【Chủ trị】''' Cổ độc gây đau bụng, mặt mắt xanh vàng, gầy rộc (lâm lộ cốt lập), sắc nước 1-2 thăng mà uống (Thời Trân). Chủ trị phong ủng ở tạng bụng, ho thượng khí (Tô Tụng). ==CÁT CÁNH (桔梗)== (Platycodon grandiflorus (Jacq.) A. DC.) (Sách Bổn kinh, hàng Hạ phẩm) '''【Thích danh】''' Bạch dược (Biệt lục), Cánh thảo (Biệt lục), Tề ni (Bổn kinh). * '''Thời Trân nói:''' Rễ của loại cỏ này kết thực mà thân (cánh) mọc thẳng, nên có tên như vậy (Cát cánh). Sách Ngô Phổ bản thảo gọi là Lợi như, Phù hộ, Phòng đồ; các sách phương tễ đều không thấy dùng, có lẽ là tên lóng (sấu từ) mà thôi. Cát cánh và Tề ni (Adenophora) cùng một loại, có hai giống ngọt và đắng, nên Bổn kinh gọi Cát cánh là Tề ni, mà nay dân gian gọi Tề ni là Cát cánh ngọt vậy. Đến đời Biệt lục mới bắt đầu tách riêng điều mục Tề ni, chia làm hai vật, vì tính vị công dụng đều khác nhau, nên lấy theo Biệt lục là đúng. '''【Tập giải】''' * '''Sách Biệt lục nói:''' Cát cánh sinh ở thung lũng núi Tung Cao và vùng Oan Cú. Tháng 2, tháng 8 hái rễ, phơi khô. * '''Ngô Phổ nói:''' Lá như Tề ni, thân như quản bút, màu tím đỏ, tháng 2 mọc mầm. * '''Hoằng Cảnh nói:''' Vùng gần đường đâu đâu cũng có, tháng 2, tháng 3 mọc mầm, có thể luộc ăn. Cát cánh trị cổ độc rất linh nghiệm. Phương tễ dân gian dùng vị này gọi tên là Tề ni. Nay có loại Tề ni riêng, năng giải độc thuốc, thường làm loạn (trà trộn) với Nhân sâm, lá rất giống nhau. Nhưng lá Tề ni mặt dưới sáng bóng nhẵn nhụi không lông là điểm khác biệt, cách mọc lá cũng không đối nhau như Nhân sâm. * '''Trần Ty Cung nói:''' Tề ni và Cát cánh, lá có loại mọc cách, cũng có loại mọc 3-4 đôi đối nhau, đều một thân mọc thẳng lên, lá đã dễ lẫn lộn, duy chỉ có thể phân biệt bằng việc rễ (Cát cánh) có lõi (tâm) mà thôi. * '''Tô Tụng nói:''' Nay nơi nơi đều có. Rễ to như ngón tay út, màu vàng trắng. Mùa xuân mọc mầm, thân cao hơn một thước. Lá như lá Hạnh (Prunus armeniaca L.) nhưng dài dẹt, 4 lá mọc đối, lúc non có thể luộc ăn. Mùa hạ nở hoa nhỏ màu tím biếc, khá giống hoa Thiên ngưu (hoa muống - Ipomoea nil), sau mùa thu kết hạt. Tháng 8 hái rễ, rễ có lõi, loại nào không lõi là Tề ni. Cát cánh vùng Quan Trung rễ vỏ vàng, giống rễ Thục quỳ (Althaea rosea). Thân nhỏ màu xanh. Lá nhỏ màu xanh, giống lá Cúc (Chrysanthemum). ===RỄ (根)=== '''【Tu trị】''' * '''Lôi Hiệu nói:''' Phàm dùng chớ dùng loại Mộc cánh (thân gỗ), trông rất giống Cát cánh, nhưng nhai thấy vị tanh chát không dùng được. Phàm dùng Cát cánh, phải bỏ phần đầu nhọn cứng chừng 2-3 phân, cùng các cành phụ hai bên. Trên thớt gỗ dâu (khuê châm) thái nhỏ, dùng Bách hợp (Lilium brownii) tươi giã thành cao, cho vào nước ngâm một ngày đêm (nhất phục thời) rồi lọc ra, dùng lửa nhẹ sao cho khô thì dùng. Cứ 4 lạng Cát cánh thì dùng 2 lạng 5 tiền Bách hợp. * '''Thời Trân nói:''' Nay chỉ cần cạo bỏ lớp vỏ nổi bên ngoài, ngâm nước vo gạo một đêm, thái phiến sao nhẹ mà dùng. '''【Khí vị】''' Vị cay, tính hơi ấm (vi ôn), có độc nhỏ. * '''Ngô Phổ nói:''' Thần Nông, Y Hòa bảo vị đắng, không độc; Hoàng Đế, Biển Thước bảo vị cay mặn; Kỳ Bá, Lôi Công bảo vị ngọt, không độc. Lý Đương Chi bảo đại hàn. * '''Chân Quyền nói:''' Vị đắng, cay. * '''Thời Trân nói:''' Nên lấy vị đắng, cay, tính bình làm đúng. * '''Lý Chi Tài nói:''' Tiết bì (vỏ đốt) làm sứ. Sợ Bạch cập (Bletilla striata), Long nhãn (Dimocarpus longan), Long đảm thảo (Gentiana scabra). Kỵ thịt lợn. Được Mẫu lệ, Viễn chí thì trị được chứng giận dữ (huế nộ); được Tiêu thạch, Thạch cao thì trị được thương hàn. Cháo trắng giải được độc của thuốc. * '''Thời Trân nói:''' Phục được Thạch tín (Phục thạch). Tiết bì mà Từ Chi Tài nói, không biết là vật gì vậy. '''【Chủ trị】''' Đau ngực sườn như dao châm, bụng đầy trướng, ruột kêu u u (tràng minh), kinh khủng quý khí (tim đập nhanh do sợ hãi) (Bổn kinh). Lợi ngũ tạng tràng vị, bổ huyết khí, trừ hàn nhiệt phong tý, ôn trung tiêu cốc, trị đau cổ họng, hạ cổ độc (Biệt lục). Trị hạ lỵ, phá huyết khứ tích khí, tiêu tích tụ đàm diên (đờm dãi), trừ phế nhiệt gây khí xúc sấu nghịch (thở gấp ho ngược), trừ đau lạnh trong bụng, chủ trị trúng ác và trẻ nhỏ kinh giản (Chân Quyền). Hạ tất cả các loại khí, cầm hoắc loạn chuyển cân (chuột rút), tim bụng trướng đau, bổ ngũ lao, dưỡng khí, trừ tà lánh ôn (dịch), phá trưng hà phế ung, dưỡng huyết bài nùng (tống mủ), bổ nội lậu và hầu tý (Đại Minh). Lợi các khiếu, trừ phong nhiệt ở bộ phận Phế, thanh lợi đầu mắt hầu họng, trị khí trệ và đau ở hung cách (ngực), trừ nghẹt mũi (Trương Nguyên Tố). Trị nôn do hàn (Lý Đông Viên). Chủ trị miệng lưỡi sinh hỏa (loét), mắt đỏ sưng đau (Thời Trân). '''【Phát minh】''' * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Cát cánh khí hơi ấm, vị đắng cay, vị đậm mà khí nhẹ, là phần Âm trong Dương, tính thăng (đi lên). Đi vào khí phận kinh Thủ thái âm Phế và kinh Túc thiếu âm Thận. * '''Trương Nguyên Tố nói:''' Cát cánh thanh phế khí, lợi hầu họng, sắc trắng nên làm thuốc dẫn kinh vào bộ phận Phế. Dùng chung với Cam thảo làm thuốc "Châu tiếp" (thuyền chèo). Như các thuốc vị đắng tính tiết hạ mạnh như Đại hoàng, muốn dẫn đến tận vùng ngực là nơi cao nhất để lập công, tất phải dùng vị cay ngọt này để nâng lên. Ví như sắt đá rơi xuống sông, không có thuyền chèo (châu tiếp) thì không chở được. Vì vậy các thuốc hễ có vị này thì không bị chìm xuống dưới vậy. * '''Thời Trân nói:''' Chu Quăng trong Hoạt nhân thư trị trong ngực bĩ mãn không đau, dùng Cát cánh, Chỉ xác, lấy nghĩa thông phế lợi cách hạ khí vậy. Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận trị hàn thực kết hung, dùng Cát cánh, Bối mẫu, Ba đậu, lấy nghĩa ôn trung tiêu cốc phá tích vậy. Lại trị phế ung khạc mủ (thoa nùng), dùng Cát cánh, Cam thảo, lấy nghĩa khổ tân thanh phế (đắng cay thanh phổi), cam ôn tả hỏa (ngọt ấm hạ hỏa), lại năng bài nùng huyết, bổ nội lậu vậy. Trị chứng Thiếu âm 2-3 ngày hầu họng đau, cũng dùng Cát cánh, Cam thảo, lấy nghĩa khổ tân tán hàn (đắng cay tán lạnh), cam bình trừ nhiệt (ngọt bình trừ nóng), hợp dùng năng điều hòa hàn nhiệt vậy. Người đời sau đổi tên là '''Cam Cát thang''', thông trị mọi bệnh hầu họng miệng lưỡi. Tống Nhân Tông gia thêm Kinh giới, Phòng phong, Liên kiều, gọi là '''Như thánh thang''', cực khen sự linh nghiệm của nó vậy. * '''Xét:''' Vương Hiếu Cổ trong Y lũy nguyên nhung chép khá tường tận, vân: Mất tiếng (thất âm), gia Kha tử; tiếng không ra, gia Bán hạ; thượng khí, gia Trần bì; đàm ho (diên sấu), gia Tri mẫu, Bối mẫu; ho khát, gia Ngũ vị tử; độc rượu, gia Cát căn; thiếu khí, gia Nhân sâm; nôn, gia Bán hạ, Gừng sống; khạc mủ máu, gia Tử uyển; phế nuy, gia A giao; hung cách không lợi, gia Chỉ xác; tâm hung bĩ mãn, gia Chỉ thực; mắt đỏ, gia Chi tử, Đại hoàng; mặt sưng, gia Phục linh; đau ngoài da (phu thống), gia Hoàng kỳ; phát ban, gia Phòng phong, Kinh giới; độc dịch (dịch độc), gia Ngưu bàng tử, Đại hoàng; không ngủ được, gia Chi tử. * '''Chu Đan Khê nói:''' Ho khan, là tà hỏa đàm uất ở trong phổi, nghi dùng Khổ cánh để khai thông; lỵ gây đau bụng, là khí của Phế kim uất ở Đại trường, cũng nghi dùng Khổ cánh khai thông trước, sau đó dùng thuốc trị lỵ. Vị thuốc này năng khai đề (mở mang và nâng lên) khí huyết, nên trong thuốc về khí nghi dùng vậy. '''【Phụ phương】''' (Cũ 10, mới 8) * '''Ngực đầy không đau:''' Cát cánh, Chỉ xác lượng bằng nhau. Nước 2 chung sắc lấy 1 chung, uống ấm (Nam Dương Hoạt nhân thư). * '''Thương hàn bụng trướng:''' Do âm dương không hòa, Cát cánh Bán hạ thang chủ trị. Cát cánh, Bán hạ, Trần bì mỗi thứ 3 tiền, gừng 5 lát. Nước 2 chung sắc 1 chung uống (Nam Dương Hoạt nhân thư). * '''Đàm ho suyễn cấp:''' Cát cánh 1 lạng rưỡi. Tán bột. Dùng nước tiểu trẻ em (đồng tiện) nửa thăng, sắc lấy 4 phần, bỏ bã uống ấm (Giản yếu tế chúng phương). * '''Phế ung ho:''' Ngực đầy run lạnh, mạch sác họng khô, không khát, thường khạc nước bọt đục hôi tanh, lâu ngày nôn mủ như cháo gạo nếp, Cát cánh thang chủ trị. Cát cánh 1 lạng, Cam thảo 2 lạng. Nước 3 thăng sắc lấy 1 thăng, chia lần uống ấm. Sáng tối nôn mủ máu thì khỏi (Trương Trọng Cảnh Kim quỹ ngọc hàm phương). * '''Hầu tý độc khí:''' Cát cánh 2 lạng. Nước 3 thăng sắc lấy 1 thăng, uống hết một lần (Thiên kim phương). * '''Thiếu âm hầu thống:''' Chứng Thiếu âm 2-3 ngày họng đau, có thể cho Cam thảo thang; không khỏi thì cho Cát cánh thang chủ trị. Cát cánh 1 lạng, Cam thảo 2 lạng. Nước 3 thăng sắc 1 thăng, chia uống (Trương Trọng Cảnh Thương hàn luận). * '''Miệng lưỡi sinh sang (loét):''' Phương như trên. * '''Sưng đau chân răng (Xỉ nục):''' Cát cánh, Ý dĩ nhân lượng bằng nhau. Tán bột uống (Vĩnh loại phương). * '''Cốt tào phong thống, chân răng sưng đau:''' Cát cánh tán bột, hòa nhân Táo làm viên to bằng hạt bồ kết (tạo tử). Dùng bông bọc lại mà nhai. Lại lấy nước sắc Kinh giới súc miệng (Kinh nghiệm hậu phương). * '''Nha cam hôi thối thối loét:''' Cát cánh, Tiểu hồi hương lượng bằng nhau. Đốt tồn tính tán bột, đắp vào (Vệ sinh dị giản phương). * '''Can phong mắt tối:''' Tròng mắt đau, do can phong thịnh, Cát cánh hoàn chủ trị. Cát cánh 1 cân, Hắc khiên ngưu (đầu mạt) 3 lạng, tán bột, luyện mật viên hạt ngô. Mỗi lần 40 viên uống với nước ấm, ngày 2 lần (Bảo mệnh tập). * '''Mũi chảy máu cam (Nục huyết):''' Cát cánh tán bột, uống với nước mỗi lần 1 thìa vuông, ngày 4 lần. Có bài gia thêm vụn sừng tê giác tươi (Phổ tế phương). * '''Thổ huyết hạ huyết:''' Phương như trên. * '''Bị đánh ứ huyết trong ruột:''' Lâu ngày không tan, thỉnh thoảng phát đau. Cát cánh tán bột, uống với nước cơm 1 thìa (đao khuê) (Chẩm hậu yếu phương). * '''Trúng cổ độc hạ huyết như gan gà:''' Ngày đêm ra máu hơn 1 thạch, tứ tạng đều tổn thương, duy chỉ có Tâm chưa hỏng, hoặc mũi rách sắp chết. Khổ cát cánh tán bột, uống với rượu mỗi lần 1 thìa vuông, ngày 3 lần. Không uống được thì dùng vật nạy miệng đổ vào. Trong lòng sẽ thấy phiền táo, một lát tự định, 7 ngày thì dừng. Nên ăn gan lợn nướng (chích trư can) để bồi bổ. Rất tốt. Một phương gia thêm Sừng tê giác lượng bằng nhau (Cổ kim lục nghiệm). * '''Có thai trúng ác, tâm phúc đau đớn:''' Cát cánh 1 lạng (thái nhỏ). Nước 1 chung, gừng sống 3 lát, sắc lấy 6 phần, uống ấm (Thánh huệ phương). * '''Trẻ nhỏ khách ngỗ (trúng tà), chết ngất không nói được:''' Cát cánh (đốt tồn tính tán bột) 3 tiền, uống với nước cơm. Lại nuốt thêm chút Xạ hương (Trương Văn Trọng Bị cấp phương). ===LÔ ĐẦU (蘆頭 - Đầu rễ)=== '''【Chủ trị】''' Gây nôn (thổ) để trị phong nhiệt đàm thực ở thượng cách (vùng ngực trên), dùng bột sống hòa nước ấm uống 1-2 tiền để gây nôn (Thời Trân). ==TRƯỜNG TÙNG (长松)== (Trích từ sách "Bản thảo Thập di") '''Tên khoa học:''' Pachyloma nepalense (hoặc trong một số ngữ cảnh cổ là Inula helenium - Thổ mộc hương). Tuy nhiên, theo mô tả của Lý Thời Trân về loại mọc dưới gốc thông cổ thụ ở vùng Ngũ Đài Sơn, nó thường được giới thực vật học hiện đại định danh là '''Pachyloma nepalense'''. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Tiên mão (仙茆).''' '''Thời Trân nói:''' Lá của nó giống lá thông (tùng), uống vào thì trường thọ, công hiệu như nhựa thông (tùng chỉ) và Tiên mão, nên mới có hai tên này. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Tàng Khí nói:''' Trường tùng sinh ra ở các thung lũng vùng Quan Nội, lá giống lá thông, trên lá có nhựa, người trên núi thường hái về uống. '''Thời Trân nói:''' Trường tùng mọc dưới gốc cây thông cổ thụ, rễ sắc trắng như cây Tề (Capsella bursa-pastoris), dài từ ba đến năm tấc. Vị ngọt hơi đắng, hình dáng tương tự Nhân sâm, mùi hương thanh khiết dễ chịu. '''Xét theo:''' Trương Thiên Giác văn tập có chép: Tăng nhân Phổ Minh cư ngụ tại Ngũ Đài Sơn, mắc bệnh đại phong (bệnh hủi), lông mày và tóc đều rụng hết, đau khổ khôn cùng. Bỗng gặp được dị nhân chỉ cho cách uống Trường tùng và mô tả hình dáng cho. Phổ Minh hái về uống, hơn mười ngày sau lông tóc đều mọc lại, sắc mặt hồng hào như xưa. Nay người dân vùng Binh, Đại (thuộc Sơn Tây ngày nay) thường dùng Trường tùng trộn với Cam thảo, Sơn dược để sắc nước uống, vị rất ngon. Tuy nhiên, các sách Bản thảo và phương thư xưa đều không chép, duy nhất có hòa thượng Huệ Tường trong cuốn Thanh Lương truyện mới bắt đầu thuật lại chi tiết như vậy. Hàn Diễn trong cuốn Y thông nói rằng: Trường tùng sản sinh ở các vùng núi phía Tây Bắc Thái Hành, rễ giống Độc hoạt nhưng thơm hơn. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Khí vị:''' Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. '''Chủ trị:''' * Các chứng phong huyết, khí lạnh, bệnh cũ lâu ngày; làm ấm trung tiêu, trừ phong (theo Tàng Khí). * Trị bệnh đại phong ác tật, lông mày tóc rụng, xương cốt thối rữa. Mỗi lần dùng một lạng, thêm một ít Cam thảo, sắc với nước uống, trong mười ngày là khỏi. * Lại có thể giải độc của các loại sâu độc (trùng độc), bổ ích giúp tăng tuổi thọ (theo Thời Trân). ===【Phụ phương】=== Mới thêm vào một phương. * '''Trường tùng tửu (Rượu Trường tùng):''' Bồi bổ tất cả các chứng phong hư, do Hưu Hưu Tử ở Lư Sơn truyền lại. ** '''Thành phần:''' Trường tùng 1 lạng 5 tiền (hình dáng giống Độc hoạt mà thơm, là vị thuốc thánh trong rượu); Thục địa hoàng 8 tiền; Sinh địa hoàng, Hoàng kỳ (sao mật), Trần bì mỗi vị 7 tiền; Đương quy, Hậu phác, Hoàng bá mỗi vị 5 tiền; Bạch thược (nướng), Nhân sâm, Chỉ xác mỗi vị 4 tiền; Thương truật (chế nước vo gạo), Bán hạ (chế), Thiên môn đông, Mạch môn đông, Sa nhân, Hoàng liên mỗi vị 3 tiền; Mộc hương, Thục tiêu, Hồ đào nhân mỗi vị 2 tiền; Táo đỏ (bỏ hạt) 8 quả; gạo nếp cũ một nắm; Đăng tâm (dài 5 tấc) 120 sợi. ** '''Cách dùng:''' Một liều chia làm mười thang, dùng túi lụa đựng. Cứ dùng 5 thăng gạo nấu một bình rượu, hầm một túi thuốc vào, ủ lâu rồi mới uống. (Theo Hàn thị Y thông) ==HOÀNG TINH (黃精)== (Trích từ sách "Danh y Biệt lục" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Polygonatum sibiricum Redouté (hoặc các loài cùng chi như Polygonatum kingianum Coll. et Hemsl., Polygonatum cyrtonema Hua). ===【Hiệu chính - Chỉnh lý】=== Hợp nhất với phần "Cứu hoang thảo" trong Bản thảo Thập di. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Hoàng chi''' (黃芝 - theo Thụy thảo kinh), '''Mậu kỷ chi''' (戊己芝 - theo Ngũ phù kinh), '''Thỏ trúc''' (菟竹 - theo Biệt lục), '''Lộc trúc''' (鹿竹 - theo Biệt lục), '''Tiên nhân dư lương''' (仙人餘糧 - theo Đào Hoằng Cảnh), '''Cứu cùng thảo''' (救窮草 - theo Biệt lục), '''Mễ phô''' (米鋪 - theo Mông thuyên), '''Dã sinh khương''' (野生薑 - theo Mông thuyên), '''Trùng lâu''' (重樓 - theo Biệt lục), '''Kê cách''' (雞格 - theo Biệt lục), '''Long hàm''' (龍銜 - theo Quảng nhã), '''Thùy châu''' (垂珠). '''Tô Tụng nói:''' Pháp uống Hoàng tinh của Dương Công thời Tùy có chép: Hoàng tinh là tinh túy của cỏ chi, còn gọi là Uy duy, Bạch cập, Tiên nhân dư lương, Cẩu cách, Mã tiễn, Thùy châu, Thỏ trúc. '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh là vị thuốc trọng yếu để ăn uống luyện thân, nên sách Biệt lục xếp nó đứng đầu bộ Thảo. Các nhà tu tiên coi đây là loại cỏ chi, vì nó đắc được tinh túy thuần khiết của hành Thổ (Khôn Thổ), nên gọi là Hoàng tinh (tinh túy màu vàng). Sách Ngũ phù kinh viết: "Hoàng tinh được cái tinh thuần của trời đất, nên tên là Mậu kỷ chi", chính là nghĩa này. Các tên "Dư lương", "Cứu cùng" là gọi theo công dụng (lương thực dự phòng); "Lộc trúc", "Thỏ trúc" là do lá giống lá trúc mà hươu thỏ hay ăn; "Thùy châu" là dựa theo hình dáng hạt. Cây "Cứu hoang thảo" trong Thập di của Trần tàng Khí chính là cây này, nay hợp làm một. Đỗ Gia Mô nói: Rễ như gừng non, dân gian gọi là Dã sinh khương (gừng dại). Cửu chưng cửu sái (chín lần đồ, chín lần phơi) có thể thay lương thực, nên còn gọi là Mễ phô. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Hoàng tinh sinh ra ở thung lũng. Tháng Hai hái rễ, phơi trong bóng râm cho khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay đâu đâu cũng có. Tháng Hai bắt đầu mọc, một cành nhiều lá, lá giống lá trúc nhưng ngắn hơn. Rễ giống Uy duy. Rễ Uy duy giống rễ Địch (Phragmites) và Xương bồ, đốt thưa mà bằng phẳng, mọc thẳng; rễ Hoàng tinh giống rễ Quỷ cửu, Hoàng liên, đốt lớn và không phẳng. Tuy khô nhưng đều mềm mại, có chất dầu nhuận. Phương thuốc dân gian ít dùng, nhưng kinh sách nhà tiên rất quý trọng. Rễ, lá, hoa, quả đều có thể ăn được, nấu rượu hay tán bột tùy ý, đều ghi trong các phương phép đoạn cốc (nhịn cơm). Lá của nó rất giống lá cây Câu vẫn (Gelsemium elegans - lá ngón), chỉ khác là thân không tím, hoa không vàng, khiến người ta dễ lầm lẫn. Hai loại này khác hẳn nhau, ăn lầm dẫn đến cái chết, thật là chuyện lạ. '''Lôi Công nói:''' Câu vẫn thật giống Hoàng tinh, chỉ là đầu lá nhọn và có hai móc lông, nếu ăn nhầm sẽ hại người. Lá Hoàng tinh thì giống lá trúc. '''Tô Cung nói:''' Hoàng tinh mọc nơi đất tốt thì lớn như nắm tay, nơi đất xấu thì nhỏ như ngón tay cái. Rễ Uy duy béo tốt khá giống loại Hoàng tinh nhỏ, thớ thịt và hình sắc đại để tương tự. Nay lấy Quỷ cửu, Hoàng liên ra so sánh thì chẳng thấy giống chút nào. Lá Hoàng tinh giống lá Liễu, Long đởm, Từ trường khanh nhưng cứng hơn. Còn Câu vẫn là loại dây leo, lá như lá Hồng, không thể ví cùng loại được. '''Trần Tàng Khí nói:''' Hoàng tinh mà lá mọc lệch không đối nhau gọi là Thiên tinh, công dụng không bằng Chính tinh. Chính tinh thì lá mọc đối. Câu vẫn là tên khác của Dã cát, hai thứ không hề giống nhau, không biết Đào Công căn cứ vào đâu mà nói vậy? '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Câu vẫn còn gọi là Dã cát, thuyết của Đào Công nói lá giống Hoàng tinh chắc là đúng. Thuyết của Tô Cung nói lá giống lá Hồng chắc là một vật khác. '''Tô Tụng nói:''' Nam Bắc đều có Hoàng tinh, loại ở Tung Sơn, Mao Sơn là tốt nhất. Tháng Ba mọc mầm, cao chừng một, hai thước. Lá như lá trúc mà ngắn, mọc đối từng đôi. Thân cành mềm giòn, khá giống cành đào, gốc vàng ngọn đỏ. Tháng Tư nở hoa nhỏ màu trắng xanh, hình như hoa đậu nhỏ. Kết hạt trắng như hạt kê, cũng có loại không hạt. Rễ như gừng non mà màu vàng, tháng Hai hái rễ, đồ chín rồi phơi khô dùng. Nay thường hái vào tháng Tám, người trong núi chín đồ chín phơi làm thành quả đem bán, màu đen vàng mà vị rất ngọt ngon. Mầm lúc mới mọc người ta thường hái làm rau ăn, gọi là Bút thái, vị cực ngon. Người Giang Nam nói mầm và lá Hoàng tinh hơi giống Câu vẫn, nhưng đầu lá Câu vẫn cực nhọn và rễ nhỏ; còn Tô Cung nói Câu vẫn dây leo, e là do sản vật Nam Bắc khác nhau vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh mọc hoang trong núi, cũng có thể chặt rễ dài hai tấc đem trồng thưa, sau một năm sẽ mọc rất dày, hạt cũng có thể trồng được. Lá giống lá trúc nhưng không nhọn, hoặc hai lá, ba lá, bốn, năm lá đều mọc đối ở đốt. Rễ mọc ngang, hình trạng như Uy duy, dân gian hái mầm trụng chín, rửa sạch vị đắng để ăn, tên là rau Bút quản (Bút quản thái). Sách Bản thảo của Trần Tàng Khí nói Thanh niêm là Uy duy (xem phần Uy duy phát minh). Lại về thuyết Hoàng tinh và Câu vẫn, Đào Hoằng Cảnh, Lôi Công, Hàn Bảo Thăng đều nói hai thứ giống nhau. Tô Cung, Trần Tàng Khí lại nói không giống. Tô Tụng thì đưa ra thuyết nước đôi. Nay khảo cứu Thần Nông bản thảo, Ngô Phổ bản thảo đều nói Câu vẫn là Dã cát, dạng dây leo, thân như mũi tên, hợp với thuyết của Tô Cung. Trương Hoa trong Bác vật chí viết: "Xưa Hoàng Đế hỏi Thiên Lão rằng: Trong trời đất sinh ra, có thứ gì ăn vào khiến người ta không chết chăng? Thiên Lão đáp: Cỏ Thái Dương tên là Hoàng tinh, ăn vào có thể trường sinh; cỏ Thái Âm tên là Câu vẫn, không được ăn, vào miệng là chết ngay. Người ta tin Câu vẫn giết người, mà không tin Hoàng tinh giúp thọ lâu, chẳng phải mê muội sao?". Xét thấy: Đây chỉ là lấy Hoàng tinh và Câu vẫn đối lập nhau mà nói, không nói chúng giống nhau. Đào thị do đó mà cho rằng hai thứ giống nhau, không hợp với thuyết Câu vẫn của Thần Nông. E rằng nên lấy thuyết của Tô Cung làm đúng, còn thứ mà Đào, Lôi nói là một loại độc vật khác, không phải Câu vẫn. Bản thảo các đời chỉ có Trần Tàng Khí biện vật là tinh tường nhất, nên tin theo. Xem thêm ở mục Câu vẫn. ===【Tu trị - Chế biến】=== '''Lôi Công nói:''' Phàm hái được rễ, dùng nước suối rửa sạch, đồ từ giờ Tỵ đến giờ Tý (khoảng 14 tiếng), thái mỏng, phơi khô dùng. '''Tô Tụng nói:''' Pháp uống Hoàng tinh của Dương Công: Tháng Hai, tháng Ba hái rễ, loại sâu dưới đất tám, chín tấc là hạng thượng đẳng. Thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch năm đấu nước, nấu cho hết vị đắng, vớt ra, cho vào túi ép lấy nước cốt, lọc trong rồi nấu lại cho thành cao thì dừng. Dùng bột đậu nành rang đen trộn đều cho vừa, nặn thành bánh như đồng tiền. Mới đầu uống hai cái, mỗi ngày tăng dần. Cũng có thể sấy khô tán bột, uống với nước. '''Mạnh Tiễn nói:''' Pháp luyện Hoàng tinh: Lấy hũ bỏ đáy, đặt trong nồi cho khớp, cho Hoàng tinh vào đầy, đậy kín, đồ cho đến khi hơi bốc lên thì đem phơi. Cứ thế chín đồ chín phơi (cửu chưng cửu sái). Nếu dùng sống sẽ gây ngứa cổ họng. Nếu uống sống, lúc đầu chỉ nên dùng một tấc rưỡi, dần dần tăng lên, mười ngày không ăn cơm, uống tối đa ba thước năm thấc. Sau ba trăm ngày sẽ thấy được quỷ thần, lâu dần tất bay lên trời. Rễ, lá, hoa, quả đều ăn được. Nhưng loại lá mọc đối mới là chính tông, loại không đối gọi là Thiên tinh. ===【Khí vị】=== Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. Quyền nói: Tính hàn. '''Lý Thời Trân nói:''' Kỵ quả Mơ (Mai thực), hoa, lá, hạt đều vậy. ===【Chủ trị】=== Bổ trung ích khí, trừ phong thấp, an ngũ tạng. Uống lâu nhẹ mình, kéo dài tuổi thọ, không đói (Biệt lục). Bổ ngũ lao thất thương, giúp mạnh gân xương, chịu được nóng lạnh, ích tỳ vị, nhuận tâm phế. Dùng đơn độc loại chín đồ chín phơi để ăn, giúp giữ nhan sắc, nhịn được cơm (Đại Minh). Bổ các chứng hư tổn, cầm cơn hàn nhiệt, làm đầy tinh tủy, trừ sâu Tam thi (Thời Trân). ===【Phát minh】=== '''Lý Thời Trân nói:''' Hoàng tinh nhận lấy khí thuần hậu của cung Mậu Kỷ (hành Thổ), nên là linh phẩm bổ ích cho Hoàng cung (Tỳ tạng). Thổ là mẹ của vạn vật, mẹ được nuôi dưỡng thì Thủy Hỏa được giao hòa, Mộc Kim được kết hợp, các tà khí tự đi, trăm bệnh không sinh. Sách Thần tiên chi thảo kinh nói: Hoàng tinh làm khoan khoái trung tiêu, ích khí, khiến ngũ tạng điều hòa, cơ bắp đầy đặn, xương tủy kiên cường, sức lực tăng bội, nhiều tuổi không già, sắc mặt tươi sáng, tóc bạc đen lại, răng rụng mọc mới. Lại có thể trừ sâu Tam thi trước: Thượng thi tên Bành Chất, ưa đồ quý báu, trăm ngày thì trừ được; Trung thi tên Bành Kiểu, ưa ngũ vị, sáu mươi ngày thì trừ được; Hạ thi tên Bành Cư, ưa ngũ sắc, ba mươi ngày thì trừ được, đều thối rữa mà ra ngoài. Rễ là tinh khí, hoa quả là phi anh, đều có thể dùng ăn. Lại xét: Lời tựa Bào chế luận của Lôi thị nói: Giữ nhan sắc kéo dài tuổi thọ, tinh chưng Thần cẩm. Chú giải rằng: Dùng nước cốt tự nhiên của Hoàng tinh trộn với Thần cẩm nghiền mịn, đồ trong chõ gỗ Liễu bảy ngày, dùng Mộc mật làm viên mà uống. Mộc mật là quả Chỉ cụ (Khế rừng/Kháo). Thần cẩm không biết là vật gì, có thuyết nói là Chu sa. '''Dương Tích nói:''' Xét sách Bào Phác Tử viết: "Hoàng tinh uống hoa tốt hơn quả, uống quả tốt hơn rễ". Nhưng hoa khó kiếm, hái được mười hộc hoa tươi, phơi khô chỉ được năm, sáu đấu thôi, không phải người có đại lực không làm nổi. Mỗi ngày uống ba hợp, uống mười năm mới được lợi ích. Về việc nhịn cơm thì không bằng Thương truật. Thương truật khiến người béo khỏe, có thể mang nặng đi xa; nhưng không bằng Hoàng tinh ngọt ngon dễ ăn, năm mất mùa có thể thay lương thực cho người già trẻ nhỏ, gọi là "mễ phô" (thịt gạo). '''Vương Thận Vi nói:''' Từ Huyền trong Kê thần lục chép: Nhà một kẻ sĩ ở Lâm Xuyên có một người tỳ nữ trốn vào núi sâu, lâu ngày thấy lá cỏ dại khả ái, bèn hái rễ ăn, lâu dần không thấy đói. Đêm nghỉ dưới cây lớn, nghe trong cỏ có tiếng động, tưởng là hổ vồ, bèn trèo lên cây lánh. Đến sáng xuống đất, thân hình nhẹ bẫng như lướt trên không, như chim bay vậy. Mấy năm sau người nhà đi hái củi trông thấy, bắt không được, bèn vây lưới dưới vách đá, phút chốc cô ta đã bay lên đỉnh núi. Có người nói tỳ nữ ấy đâu có tiên cốt, chẳng qua là ăn được linh dược thôi. Bèn đặt rượu và thức ăn trên đường qua lại, quả nhiên cô ta đến, ăn xong thì không chạy được nữa, bị bắt về kể lại sự tình. Chỉ loại cỏ đã ăn, chính là Hoàng tinh vậy. ===【Phụ phương】=== Cũ một, mới bốn. * '''Pháp uống thực:''' (Thánh huệ phương): Dùng rễ và thân Hoàng tinh không kể nhiều ít, thái nhỏ phơi khô tán bột. Mỗi ngày hòa nước uống, tùy ý nhiều ít. Trong một năm già hóa trẻ, lâu dần thành địa tiên. Sách Thần ẩn thư của Ninh Hiến Vương: Lấy Hoàng tinh thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch năm đấu nước nấu từ sáng đến tối, chờ nguội, dùng tay vò nát, cho vào túi vải ép lấy nước nấu cô lại. Bã phơi khô tán bột, cho vào nồi nấu cùng đến khi nặn được viên, viên như hạt súng. Mỗi lần uống một viên, ngày ba lần. Nhịn cơm nhẹ mình, trừ trăm bệnh. Khát thì uống nước. * '''Bổ gan sáng mắt:''' Hoàng tinh 2 cân, hạt Mạn kinh 1 cân (rửa sạch), trộn đều, cửu chưng cửu sái, tán bột. Lúc bụng đói uống 2 tiền với nước cơm, ngày hai lần, kéo dài tuổi thọ. (Thánh huệ phương) * '''Trị bệnh đại phong (hủi), lở loét:''' Do doanh khí không thanh, phong độc nhập vào kinh mạch lâu ngày thành bệnh lở loét, mũi hỏng, sắc mặt bại hoại, da dẻ ngứa nát. Dùng rễ Hoàng tinh (bỏ vỏ, rửa sạch) 2 cân, phơi nắng cho mềm, cho vào chõ đồ cùng cơm gạo nếp, đồ đến khi 2 đấu gạo chín, thường xuyên ăn. (Thánh tế tổng lục) * '''Bồi bổ tinh khí hư tổn:''' Hoàng tinh, Câu kỷ tử lượng bằng nhau. Giã nặn thành bánh, phơi khô tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước ấm. (Kỳ hiệu lương phương) ==UY DUY, UY NHUY (萎蕤)== (Phát âm là Uy. Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Polygonatum odoratum (Mill.) Druce (thường gọi là '''Ngọc trúc'''). ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Nữ uy''' (女萎 - theo Bản kinh), '''Uy duy''' (葳蕤 - theo Ngô Phổ), '''Uy di''' (萎 - âm là Uy Di), '''Ủy uy''' (委萎 - theo Nhĩ Nhã), '''Uy hương''' (萎香 - theo Cương mục), '''Huỳnh''' (熒 - theo Nhĩ Nhã, âm là Hành), '''Ngọc trúc''' (玉竹 - theo Biệt lục), '''Địa tiết''' (地節 - theo Biệt lục). '''Thời Trân nói:''' Xét theo cuốn Cổ kim vận hội của Hoàng Công Thiệu: "Uy duy" là dáng vẻ lá cây rủ xuống. Loại cỏ này rễ dài nhiều râu, như dải mũ (quan anh) rủ xuống mà có uy nghi, nên đặt tên như vậy. Phàm là dải anh lạc trên lọng lông hay cờ xí đều tượng hình Uy duy, chính là nó vậy. Cuốn Thụy ứng đồ của họ Trương chép: "Bậc vương giả lễ tiết vẹn toàn thì Uy duy sinh ra trước điện". Một tên nữa là Uy hương, nghĩa về "uy nghi" có thể thấy rõ ở đây. Sách Biệt lục viết là 葳蕤 (Uy duy) là cách viết giản lược. Thuyết văn viết là 萎 (Uy di) vì âm gần nhau. Nhĩ nhã viết là 委萎 (Ủy uy) vì chữ gần nhau. Lá của nó sáng bóng như lá trúc, rễ nhiều đốt, nên có các tên Huỳnh, Ngọc trúc, Địa tiết. Sách Ngô Phổ bản thảo còn có tên Ô nữ, Trùng thiền. Bản đời Tống có tên Mã huân, ấy là chép nhầm từ Ô uy mà ra. ===【Chỉnh lý sai sót】=== '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Sách Bản kinh có tên Nữ uy mà không có Uy duy, sách Biệt lục không có Nữ uy mà có Uy duy, mà công dụng lại giống hệt nhau, nghi rằng Nữ uy chính là Uy duy, chỉ khác tên mà thôi. '''Tô Cung nói:''' Công dụng và mầm lá của Nữ uy hoàn toàn khác biệt với Uy duy. Nay trong sách Bản kinh, phần chữ đỏ (chu thư) là công hiệu của Nữ uy, còn phần chữ đen (mặc thư) trong Biệt lục là công hiệu của Uy duy. '''Trần Tàng Khí nói:''' Bản thảo chép chung Nữ uy và Uy duy làm một. Họ Đào nói là một vật, họ Tô nói là hai vật khác nhau, rồi ở phần Trung phẩm lại tách riêng một mục Nữ uy. Tuy nhiên, việc chủ trị hoắc loạn, tiết lị, sôi bụng của nó lại chính hợp với Nữ uy ở Thượng phẩm, vậy thì càng rõ không phải là hai vật khác nhau. '''Tô Tụng nói:''' Quan sát các y văn cổ, Hồ Tráp trị thời khí đi tả dùng "Nữ uy hoàn"; trị thương hàn lạnh bụng kết tràng dùng Nữ uy; trị hư lao hạ lị trong rượu "Tiểu hoàng kỳ tửu" thêm Nữ uy. Xét các phương này, Nữ uy dường như thuộc loại ở Trung phẩm, vì tính ấm chủ trị hoắc loạn tiết lị. Lại như trị tặc phong tay chân tê dại, co quắp trong "Nhân dự tửu" dùng Nữ uy; sách Lục nghiệm trị thân thể lở loét, vết ban có "Nữ uy cao", loại này lại giống Nữ uy chữ đỏ ở Thượng phẩm, vì chủ trị trúng phong không cử động được và làm đẹp da. Lại trị thương hàn 7, 8 ngày không giải dùng "Tục mệnh Báp giáp thang"; trị chân yếu dùng "Báp giáp thang" đều dùng Uy duy; sách Diên niên phương trị phong nhiệt cứng đau cổ, xương thịt phiền nhiệt có "Uy duy ẩm"; chủ trị hư phong nhiệt phát là đầu nóng có "Uy duy hoàn", loại này lại giống Uy duy chữ đen ở Thượng phẩm, vì chủ trị hư nhiệt thấp độc đau lưng. Ba loại đã khác nhau như vậy thì rõ ràng không phải là một vật. Huống hồ Uy duy vị ngọt tính bình, Nữ uy vị cay tính ấm, sao có thể là một vật được? '''Lý Thời Trân nói:''' Nữ uy trong Bản kinh vốn là hai chữ Ủy uy trong Nhĩ Nhã, tức là Uy duy trong Biệt lục, do người xưa sao chép nhầm thành Nữ uy mà thôi. Các phương cổ trị thương hàn phong hư dùng Nữ uy chính là Uy duy, đều do kế thừa cái sai từ Bản thảo mà gọi theo. Các nhà không xét kỹ, vì ở Trung phẩm cũng có tên Nữ uy trùng lặp, nên mới dẫn đến việc tranh biện phí công như vậy. Nay đính chính sai lầm, chỉ dựa theo sách Biệt lục lấy Uy duy làm cương mục để tiện tra cứu. Còn vị Nữ uy trị tiết lị vốn là loại dây leo, xem ở mục riêng. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Uy duy sinh ở thung lũng và gò đồi núi Thái Sơn, hái sau tiết Lập xuân, phơi trong bóng râm cho khô. '''Ngô Phổ nói:''' Lá màu xanh vàng, mọc đối nhau như lá gừng, hái vào tháng Hai và tháng Bảy. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay đâu đâu cũng có. Rễ giống Hoàng tinh, khác biệt đôi chút. Các nhà tu tiên luyện thân cũng thường dùng. '''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Chử Châu, Thư Châu, Hán Trung, Quân Châu đều có. Thân cứng thẳng như cán tên trúc, có đốt. Lá hẹp và dài, mặt trên trắng mặt dưới xanh, cũng giống Hoàng tinh. Rễ vàng nhiều râu, to như ngón tay, dài một đến hai thước. Có thuyết nói ăn được. Tháng Ba nở hoa xanh, kết quả tròn. '''Lý Thời Trân nói:''' Trong núi đâu đâu cũng có. Rễ mọc ngang giống Hoàng tinh nhưng nhỏ hơn, màu vàng trắng, tính mềm nhiều râu, rất khó làm khô. Lá như lá trúc, mọc đối từng đôi. Có thể hái rễ về trồng, rất dễ sinh sôi. Lá non và rễ đều có thể luộc, rửa sạch để làm rau ăn. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Tu trị:''' '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng chớ nhầm với Hoàng tinh và Câu vẫn (lá ngón), hai vật này rất giống. Trên đốt Uy duy có râu lông, thân có đốm, đầu lá có điểm vàng nhỏ, ấy là điểm khác. Hái về dùng dao tre cạo sạch vỏ đốt, rửa sạch, ngâm nước mật một đêm, đồ xong phơi khô dùng. '''Khí vị:''' Vị ngọt (cam), tính bình, không độc. '''Ngô Phổ dẫn Thần Nông:''' vị đắng; '''Đồng Quân, Lôi Công, Biển Thước:''' vị ngọt, không độc; '''Hoàng Đế:''' vị cay. '''Từ Chi Tài nói:''' Sợ (úy) chất mặn (lỗ kiềm). '''Chủ trị:''' * '''Nữ uy:''' Chủ trị trúng phong bộc nhiệt (nóng dữ dội), không thể cử động, gân xương đau nhức, các chứng hư tổn. Uống lâu trừ vết đen trên mặt, sắc mặt tươi nhuận, nhẹ mình không già (Bản kinh). * '''Uy duy:''' Chủ trị kết khí trong tâm phúc (bụng ngực), hư nhiệt thấp độc đau lưng, lạnh trong dương vật, mắt đau đỏ lở loét chảy nước mắt (Biệt lục). * Trị thời khí hàn nhiệt, bồi bổ bên trong chỗ thiếu hụt, trừ hư lao khách nhiệt. Đầu đau không yên, thêm vào dùng rất tốt (Chân Quyền). * Bổ trung ích khí (Tiêu Bính). * Trừ phiền muộn, cầm tiêu khát (khát nước), nhuận tâm phế, bổ ngũ lao thất thương hư tổn, đau nhức thắt lưng bàn chân. Trị nhiệt cuồng trong thiên hành (dịch bệnh), ăn uống không kỵ (Đại Minh). * Người uống các loại khoáng thạch mà cơ thể không điều hòa, sắc lấy nước mà uống (Đào Hoằng Cảnh). * Chủ trị phong ôn tự hãn (vã mồ hôi), nóng như thiêu, sốt rét do lao lực, tỳ vị hư yếu, nam giới tiểu tiện nhiều lần, di tinh, tất cả các chứng hư tổn (Thời Trân). ===【Phát minh】=== '''Lý Cảo nói:''' Uy duy có thể thăng có thể giáng, là phần Âm trong Dương. Công dụng có bốn: Chủ trị phong tà xâm nhập tứ chi, hai mắt lở loét chảy nước, nam giới thấp chú đau lưng, nữ giới mặt sinh vết đen. '''Lý Thời Trân nói:''' Uy duy tính bình vị ngọt, mềm nhuận có thể ăn được. Cho nên Chu Quặng trong sách Nam Dương hoạt nhân thư, trị phong ôn tự hãn, thân mình nặng nề, khó nói chuyện, đã dùng "Uy duy thang" lấy vị này làm quân dược. Tôi thường dùng trị hư lao hàn nhiệt, sốt rét lâu ngày và tất cả các chứng bất túc, dùng thay cho Nhân sâm, Hoàng kỳ, không hàn không táo, có công hiệu rất lớn, không chỉ dừng lại ở việc trừ phong nhiệt thấp độc mà thôi, đây là điều người xưa chưa làm rõ. '''Trần Tàng Khí nói:''' Trần Thọ trong Ngụy chí - Phàn A truyện chép: "Thanh niêm, một tên là Hoàng chi, một tên là Địa tiết". Đây chính là Uy duy, rất giống loại Thiên tinh. Ngoài công hiệu vốn có, nó chủ trị thông minh, điều hòa huyết khí, khiến người mạnh khỏe. Trộn với lá sơn (tất diệp) làm bột uống, giúp bổ ngũ tạng ích tinh, trừ tam trùng, nhẹ mình không già, tóc bạc hóa đen, nhuận da dẻ, ấm thắt lưng chân, duy chỉ có người đang sốt nóng thì không được uống. Đời Tấn có Kê Thiệu mắc chứng hàn tật trong ngực, mỗi khi sau khi uống rượu thường khổ sở vì khạc nhổ, uống vị này mà khỏi. Cỏ giống lá trúc, hái rễ hoa lá phơi khô dùng. Xưa Hoa Đà vào núi thấy tiên nhân uống vị này, bèn bảo Phàn A, A uống theo mà thọ trăm tuổi. '''Tô Tụng nói:''' Trần Tàng Khí cho rằng Thanh niêm chính là Uy duy. Thế gian không ai biết rõ, chưa dám tin là thật. '''Lý Thời Trân nói:''' Tô Tụng khi chú giải mục Hoàng tinh có nghi Thanh niêm là Hoàng tinh, khác với thuyết này. Nay khảo cứu thấy Hoàng tinh và Uy duy tính vị công dụng đại để gần giống nhau, nhưng công của Uy duy có phần vượt trội. Cho nên Thanh niêm, một tên là Hoàng chi (trùng tên với Hoàng tinh), một tên là Địa tiết (trùng tên với Uy duy), thì hai vật này dùng thay thế cho nhau cũng được. ===【Phụ phương】=== Cũ một, mới sáu. * '''Pháp uống thực:''' Tháng Hai, tháng Chín hái rễ Uy duy, thái nhỏ một thạch, dùng hai thạch nước nấu từ sáng đến tối, dùng tay vò nát, lấy túi vải ép lấy nước cốt, nấu cho đặc lại. Bã phơi khô tán bột, trộn với cao nấu thành viên to như hạt súng. Mỗi lần uống một viên với nước ấm, ngày ba lần. Giúp thông khí mạch, mạnh gân cốt, trị trung phong thấp độc, trừ nếp nhăn da mặt, uống lâu kéo dài tuổi thọ. (Thần ẩn thư của Ninh Hiến Vương) * '''Mắt đỏ đau rát:''' Uy duy, Xích thược dược, Đương quy, Hoàng liên lượng bằng nhau. Sắc nước xông rửa. (Vệ sinh gia bảo phương) * '''Mắt hoa thấy đốm đen, đỏ đau mờ tối:''' "Cam lộ thang": Dùng Uy duy (sấy) 4 lạng. Mỗi lần dùng 2 tiền, một chén nước, thêm 2 lá Bạc hà, 1 lát Gừng sống, chút mật ong, sắc còn bảy phần, lúc đi ngủ uống ấm, ngày một lần. (Thánh tế tổng lục) * '''Tiểu tiện đột ngột bí dắt:''' Uy duy 1 lạng, rễ Chuối tây 4 lạng. Hai bát nước lớn sắc còn một bát rưỡi, thêm 2 tiền Hoạt thạch, chia làm ba lần uống. (Thánh huệ phương) * '''Phát sốt khô miệng, tiểu tiện khó:''' Dùng Uy duy 5 lạng, sắc lấy nước uống. (Ngoại đài bí yếu) * '''Nóng do uống khoáng thạch (nhũ thạch):''' Uy duy 3 lạng, Cam thảo (nướng) 2 lạng, Tê giác sống 1 lạng. Bốn thăng nước sắc còn một thăng rưỡi, chia ba lần uống. (Thánh huệ phương) * '''Phù thũng sau khi co giật:''' Trẻ em sau khi khỏi bệnh sài kinh, huyết khí thượng hư, nhiệt ở da, thân mình và mặt đều phù. Uy duy, Quỳ tử, Long đởm, Phục linh, Tiền hồ lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 tiền, sắc nước uống. (Thánh tế tổng lục) ===LỘC DƯỢC (鹿藥)=== (Trích từ sách "Khai Bảo") '''Mã Chí nói:''' Lộc dược vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị phong huyết, trừ các chứng lạnh, bồi bổ cho người già, tăng cường dương khí, ngâm rượu uống. Sinh ở phía Tây vùng Cô Tang, mầm và rễ đều giống Hoàng tinh, hươu rất thích ăn rễ nó. '''Lý Thời Trân nói:''' Cư sĩ Hồ Tráp nói: Hươu ăn chín loại cỏ giải độc, đây là một trong số đó. Có người nói đây chính là Uy duy, lý lẽ cũng gần đúng. Tạm phụ vào đây để chờ khảo cứu thêm. ===ỦY XÀ (委蛇)=== *(Phát âm là Uy Di) Sách Biệt lục chép: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị tiêu khát, thiếu khí, khiến người chịu được lạnh. Sinh trong vườn nhà người ta, cành lớn râu dài, nhiều lá mọc đối từng đôi, hạt như hạt cải. '''Lý Thời Trân nói:''' Vị này dường như cũng là Uy duy, đều chờ khảo cứu thêm. ==TRI MẪU (知母)== (Trích từ sách "Bản kinh" - Trung phẩm) '''Tên khoa học:''' Anemarrhena asphodeloides Bunge. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Ti mỗ''' ( 母 - Bản kinh âm là Trì, Thuyết văn viết là ), '''Liên mẫu''' (連母 - Bản kinh), '''Thì mẫu''' ( 母 - âm là Thì, lại âm là Đề, hoặc viết là ), '''Hóa mẫu''' (貨母 - Bản kinh), '''Địa sâm''' (地參 - Bản kinh), '''Thủy sâm''' (水參 - còn có tên Thủy tu, Thủy tuấn), '''Đàm''' ( - Nhĩ Nhã âm là Đàm), '''Trầm phiền''' ( 藩), '''Khổ tâm''' (苦心 - Biệt lục), '''Nhi thảo''' (兒草 - Biệt lục, còn có tên Nhi chủng thảo, Nữ lôi, Nữ lý, Lộc liệt, Phiếu phùng, Đông căn, Dã lựu, Xương chi). '''Thời Trân nói:''' Bên cạnh rễ cũ thường mọc ra rễ con, hình trạng như con mòng (mãnh), nên gọi là Mãnh mẫu ( 虻母), sau gọi chệch đi thành Tri mẫu, Ti mẫu. Các tên còn lại đa phần chưa rõ nghĩa. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Tri mẫu sinh ở thung lũng vùng Hà Nội. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ, phơi khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay xuất sản ở Bành Thành. Hình dáng giống Xương bồ nhưng mềm nhuận, lá rất khó héo chết, đào lên lại mọc tiếp, phải đợi đến khi khô quắt mới thôi. '''Dương Tích nói:''' Xét sách Phạm Tử chép: Đề mẫu xuất xứ vùng Tam Phối, loại màu vàng trắng là tốt. Quách Phác giải nghĩa sách Nhĩ Nhã rằng: Đàm chính là Tri mẫu, mọc trên núi, lá như lá hẹ. '''Tô Tụng nói:''' Nay các quận Hoài, Vệ, Chương, Đức ven sông và các vùng Giải Châu, Chử Châu cũng có. Tháng Tư nở hoa xanh như hoa hẹ, tháng Tám kết quả. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Tu trị:''' * '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng, trước hết đặt trên thớt gỗ hòe thái nhỏ, sấy khô, dùng chày gỗ giã trong cối gỗ, chớ để phạm vào đồ sắt. * '''Thời Trân nói:''' Phàm dùng, chọn loại béo nhuận, bên trong trắng, bỏ sạch lông, thái lát. Muốn dẫn thuốc đi lên (thượng hành) thì tẩm rượu sấy khô; dẫn xuống dưới (hạ hành) thì dùng nước muối tẩm rồi sấy. '''Khí vị:''' Vị đắng (khổ), tính hàn, không độc. '''Đại Minh nói:''' Vị đắng, ngọt. '''Chân Quyền nói:''' Tính bình. * '''Lý Đông Viên nói:''' Khí hàn, vị rất cay và đắng. Khí và vị đều đậm, tính chìm và giáng xuống, thuộc Âm. Lại nói: Trong Âm có chút Dương, là bản dược của kinh Thận, nhập vào phần khí của kinh Túc Dương minh và Thủ Thái âm. '''Thời Trân nói:''' Được Hoàng bá và Rượu thì tốt, có thể chế phục được Muối và Hàn lâm (Borax). '''Chủ trị:''' * Tiêu khát, nhiệt trung, trừ tà khí, chi thể phù thũng, thông thủy đạo, bổ bất túc, ích khí (Bản kinh). Trị thương hàn, sốt rét lâu ngày phiền nhiệt, tà khí dưới sườn, ác khí trong cách mô, và phong hãn nội đản (vàng da do nhiệt). Uống nhiều khiến người ta đi tiêu chảy (Biệt lục). Tâm phiền táo muộn, cốt nhiệt lao truyền (nóng trong xương), sản hậu nhục lao (suy nhược sau sinh), thận khí lao, ghét lạnh hư phiền (Chân Quyền). Nhiệt lao truyền thi (lao phổi), đau nhức do truyền nhiễm, thông tiểu trường, tiêu đờm cầm ho, nhuận tâm phế, an tâm, cầm kinh quý (hồi hộp) (Đại Minh). Làm mát tâm trừ nhiệt, trị hỏa nhiệt ở kinh Dương minh, tả hỏa ở kinh Bàng quang và Thận, trị đầu đau do nhiệt quyết, lỵ hạ đau lưng, trong họng có mùi tanh hôi (Lý Đông Viên). Tả phế hỏa, tư thận thủy, trị tướng hỏa ở Mệnh môn có dư (Vương Hiếu Cổ). An thai, trị tử phiền (thai động không yên), tránh độc xạ công (độc nước) và khê độc (Thời Trân). ===【Phát minh】=== '''Chân Quyền nói:''' Tri mẫu trị các chứng nhiệt lao, người bệnh hư yếu mà miệng khô, nên gia thêm vị này. '''Lý Cảo nói:''' Tri mẫu nhập kinh Túc Dương minh, Thủ Thái âm. Công dụng có bốn: Tả thận hỏa không có căn (vô căn thận hỏa), trị cốt chưng có mồ hôi, cầm cơn nóng của hư lao, tư dưỡng phần Âm của hóa nguyên. Trọng Cảnh dùng vị này vào "Bạch hổ thang" trị chứng không ngủ được, ấy là do phiền táo. Phiền xuất phát từ Phế, Táo xuất phát từ Thận. Lấy Thạch cao làm quân, lấy cái đắng hàn của Tri mẫu làm tá để thanh nguồn gốc ở Thận; dùng Cam thảo, Cảnh mễ để hoãn (làm chậm) tính thuốc khiến không bị hạ xuống quá nhanh. Lại phàm bệnh tiểu tiện bí tắc mà khát, ấy là nhiệt ở khí phận thượng tiêu, hỏa phục trong Phế không thể sinh ra nước, khiến Bàng quang tuyệt mất nguồn hóa sinh, nên dùng thuốc có khí mỏng, vị mỏng, đạm thấm để tả phế hỏa, thanh phế kim mà tư dưỡng nguồn hóa sinh của nước. Nếu nhiệt ở huyết phận hạ tiêu mà không khát, ấy là chân thủy bất túc, Bàng quang khô cạn, đó là không có Âm thì Dương không có gì để hóa, phép nên dùng Hoàng bá, Tri mẫu là những thuốc đại khổ đại hàn để bổ Thận và Bàng quang, khiến âm khí hành thì dương tự hóa, tiểu tiện tự thông. Phương pháp này chép chi tiết ở mục Hoàng bá bộ Mộc. '''Thời Trân nói:''' Thận khổ vì táo, nên ăn vị cay để nhuận. Phế khổ vì nghịch, nên ăn vị đắng để tả. Cái cay, đắng, hàn, lương của Tri mẫu, xuống thì nhuận thận táo mà tư âm, lên thì thanh phế kim mà tả hỏa, là thuốc ở phần khí của hai kinh vậy. Còn Hoàng bá là thuốc ở phần huyết kinh Thận. Cho nên hai vị này tất phải nương tựa nhau mà hành, người xưa ví như con tôm và con sứa, nhất định phải bám víu lấy nhau. Thuyết về bổ âm xem thêm ở điều Hoàng bá. ===【Phụ phương】=== Cũ hai, mới sáu. * '''Ho lâu ngày, đờm ho:''' Đờm tắc dưới cách mô gây đình ẩm, lan ra tạng phủ. Dùng Tri mẫu, Bối mẫu mỗi vị 1 lạng (tán bột), Ba đậu 30 hạt (ép bỏ dầu, nghiền đều). Mỗi lần dùng một ít (bằng chữ "nhất"), lấy 3 lát gừng chấm thuốc nhai kỹ nuốt đi, rồi ngủ ngay. Sáng hôm sau tất sẽ đi ngoài một lần, cơn ho lập tức dứt. Người khỏe mới nên dùng. Có một phương không dùng Ba đậu. (Y học tập thành) * '''Ho lâu ngày khí cấp (khó thở):''' Tri mẫu (bỏ lông, thái lát) 5 tiền (sao cách giấy), Hạnh nhân (ngâm nước gừng, bỏ vỏ và đầu nhọn, sấy) 5 tiền. Dùng một bát rưỡi nước sắc còn một bát, uống ấm lúc xa bữa ăn. Sau đó dùng hạt Củ cải, Hạnh nhân lượng bằng nhau, tán bột, làm viên với hồ gạo. Uống 50 viên với nước gừng để tiệt nọc bệnh. (Tạp hứng phương của Đặng Bút Phong) * '''Thai phụ tử phiền:''' Do uống thuốc khiến thai khí không yên, phiền táo không ngủ được. Tri mẫu 1 lạng (rửa sạch sấy khô), tán bột, dùng thịt táo làm viên bằng quả đạn. Mỗi lần uống một viên với nước sắc Nhân sâm. Thầy thuốc không biết bệnh này thường trị theo chứng hư phiền thông thường, trái lại làm tổn hại thai khí. Ông Trịnh Tông Văn đời Tống học được phương này trong sách Thập di của Trần Tàng Khí, dùng rất hiệu nghiệm. (Sản nhũ tập nghiệm phương) * '''Thai phụ đau bụng:''' Tháng chưa đủ mà trạng như muốn đẻ. Dùng Tri mẫu 2 lạng tán bột, làm viên với mật bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với nước cháo. (Thánh huệ phương) * '''Khê độc xạ công (Độc nước):''' Phàm trúng khê độc. Dùng Tri mẫu (cả rễ và lá) giã nặn thành tán mà uống, hoặc cho vào nước giã vắt lấy nước cốt uống một hai lít. Mùa hè đi xa nên mang theo bột Tri mẫu. Muốn xuống nước, trước hết lấy một ít rắc ở thượng lưu thì không sợ gì nữa. Vị này cũng trị được độc xạ công. Có thể nấu nước tắm cũng rất tốt. (Trử hậu lương phương) * '''Bệnh Tử điền phong (Lang ben tím):''' Dùng giấm mài Tri mẫu mà xát vào, ngày 3 lần. (Vệ sinh dị giản phương) * '''Chín mé chân (Khảm giáp) sưng đau:''' Tri mẫu (đốt tồn tính) nghiền mịn, rắc vào vết thương. (Đa năng phương) ==NHỤC THUNG DUNG (肉蓯蓉)== (Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Cistanche deserticola Y. C. Ma. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Nhục tùng dung''' (肉松容 - theo Ngô Phổ), '''Hắc tư mệnh''' (黑司命 - theo Ngô Phổ). '''Thời Trân nói:''' Vật này bồi bổ mà không mãnh liệt (tuấn), nên có tên là "Thung dung". Thung dung có nghĩa là hòa hoãn, thong dong. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Nhục thung dung sinh ở thung lũng vùng Hà Tây và các quận Đại Quận, Nhạn Môn. Hái vào ngày mồng 5 tháng Năm, phơi trong bóng râm cho khô. '''Ngô Phổ nói:''' Sinh ở vùng đất âm của núi Hà Tây, mọc thành khóm, hái từ tháng Hai đến tháng Tám. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đại Quận, Nhạn Môn thuộc Tịnh Châu, những nơi có nhiều ngựa thì có vị này, nói rằng đó là tinh dịch của ngựa hoang rơi xuống đất mà sinh ra. Khi mới sinh trông giống như thịt, dùng nấu canh thịt dê để bồi bổ hư lao, mệt mỏi cực tốt, cũng có thể ăn sống. Vùng Nhuế Nhuế, Hà Nam có rất nhiều. Nay loại tốt nhất xuất xứ từ Long Tây, hình dáng dẹt và rộng, mềm nhuận, nhiều hoa mà vị ngọt. Loại thứ hai ra ở Bắc Địa, hình ngắn và ít hoa. Vùng Ba Đông, Kiến Bình cũng có nhưng không tốt. '''Tô Cung nói:''' Đây là đang bàn về Cỏ thung dung (Thảo thung dung), họ Đào chưa từng thấy loại "Nhục" (bằng thịt) vậy. Người nay thường dùng Thảo thung dung cạo bỏ hoa để thay thế cho Nhục thung dung, công lực kém hơn một chút. '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Xuất sản trong cát ở huyện Phúc Lộc, Túc Châu. Tháng Ba, tháng Tư đào rễ, dài hơn một thước, cắt lấy phần tốt ở chính giữa chừng ba bốn tấc, dùng dây xỏ vào phơi trong bóng râm, đến tháng Tám mới tốt, vỏ có vảy như hạt thông. Còn loại Thảo thung dung hái vào trung tuần tháng Tư, dài từ năm, sáu tấc đến một thước, thân tròn màu tím. '''Đại Minh nói:''' Sinh dưới gốc cây Lạc, mọc trên lũy đất, đây vốn không phải là nơi ngựa giao phối, thuyết của họ Đào là sai vậy. Lại có Hoa thung dung, là loại mọc mầm vào cuối xuân, công lực hơi yếu. '''Tô Tụng nói:''' Nay các châu quận vùng Thiểm Tây có rất nhiều, nhưng không bằng loại từ biên giới Tây Khương đưa tới, thịt dày mà công lực mạnh. Xưa nói là do tinh dịch ngựa hoang sinh ra, nay người miền Tây nói mọc nhiều giữa các cây lớn và trong bờ lũy đất, mới biết là tự có chủng loại riêng. Hoặc nghi ngờ ban đầu sinh ra từ tinh ngựa, sau đó mới sinh sôi nảy nở, giống như rễ cây Thiến sinh ra từ máu người vậy. Hái vào tháng Năm sợ già không dùng được, nên đa phần hái vào tháng Ba. '''Chu Đan Khê nói:''' Sau khi vùng Hà Tây quy về một mối (thời Nguyên), nay mới biết hình dạng thật của nó, làm gì có cái gọi là "vảy hạt thông"? Bởi vì Thung dung hiếm có, người ta đa phần dùng rễ Kim liên chế với muối trong chậu để làm giả, lại lấy Thảo thung dung sung vào, người dùng nên xem xét kỹ. '''Đỗ Gia Mô nói:''' Người nay lấy ngọn thông non tẩm muối cho nhuận để làm giả. ===【Tu trị - Chế biến】=== '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng, trước hết phải ngâm rượu ngon một đêm, đến sáng dùng bàn chải bằng xơ cọ chải sạch cát đất và lớp vảy nổi, chẻ dọc chính giữa, bỏ đi một lớp màng trắng trông giống như sợi tre. Nếu còn màng này sẽ khiến khí ở trước tim bị ngăn cách không tan, làm cho người ta bị nghịch khí hướng lên trên (thượng khí). Sau đó cho vào chõ đồ từ giờ Ngọ đến giờ Dậu (khoảng 11 giờ trưa đến 5 giờ chiều) lấy ra, rồi dùng mỡ dê (tô) nướng cho vừa khéo. ===【Khí vị】=== Vị ngọt (cam), tính hơi ấm (ôn), không độc. '''Sách "Biệt lục" viết:''' Vị chua, mặn. '''Ngô Phổ dẫn Thần Nông, Hoàng Đế:''' vị mặn; '''Lôi Công:''' vị chua; '''Lý Đương Chi:''' tính ấm ít (tiểu ôn). ===【Chủ trị】=== Năm chứng lao, bảy chứng thương, bổ trung, trừ đau do nóng lạnh trong dương vật. Nuôi dưỡng ngũ tạng, làm mạnh phần âm, ích tinh khí, giúp nhiều con, trị chứng trưng hà (khối u) ở phụ nữ. Uống lâu nhẹ mình (Bản kinh). Trừ tà khí ở bàng quang, đau thắt lưng, cầm đi lỵ (Biệt lục). Ích tủy, làm tươi nhuận sắc mặt, kéo dài tuổi thọ, đại bổ tráng dương, tăng cường khả năng phòng dục lên gấp bội, trị phụ nữ bị huyết băng (Chân Quyền). Trị nam giới tuyệt dương không hưng phấn được, nữ giới tuyệt âm không sinh đẻ được, nhuận ngũ tạng, làm dày cơ bắp, làm ấm thắt lưng đầu gối, nam giới tiết tinh, tiểu ra máu, tiểu rắt, phụ nữ đới hạ, đau âm hộ (Đại Minh). ===【Phát minh】=== '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Người mà tướng hỏa ở mệnh môn bất túc thì dùng vị này để bổ, đó là thuốc ở phần huyết của kinh Thận. Phàm uống Thung dung để trị Thận, tất sẽ làm hại Tâm (gây nôn nao hoặc ảnh hưởng khí ở tâm). '''Chu Đan Khê nói:''' Bổ mạnh tinh huyết, nhưng nếu dùng đột ngột trái lại sẽ làm đại tiện lỏng nát. '''Trần Tàng Khí nói:''' Làm mạnh gân kiện tủy, lấy Thung dung và Lươn (Thiện ngư) hai vị tán bột, dùng nước cốt Hoàng tinh làm viên mà uống, sức lực có thể tăng gấp mười lần. Thuyết này chép trong sách Càn Ninh ký. '''Tô Tụng nói:''' Người miền Tây hay dùng làm thức ăn. Chỉ cần cạo bỏ lớp vảy, ngâm rượu rửa sạch nước đen, thái mỏng, phối hợp với Sơn dược, thịt dê nấu canh, vị cực kỳ thơm ngon, bổ ích cho người, còn tốt hơn uống thuốc bổ. '''Lý Tiết Trai nói:''' Rửa sạch nước đen thì khí vị đều hết cả rồi. Tuy nhiên, loại non mới có thể nấu canh; loại già thì vị đắng. Cho vào thuốc nếu dùng ít thì không hiệu nghiệm. ===【Phụ phương】=== Cũ một, mới bốn. * '''Bồi bổ lao thương, tinh bại mặt đen:''' Dùng Thung dung 4 lạng, nấu nước cho nhừ, thái mỏng rồi nghiền nát với thịt dê tinh khiết, chia làm 4 lần, thêm ngũ vị hương, nấu với gạo thành cháo, ăn lúc bụng đói. (Dược tính luận) * '''Thận hư bạch trọc (tiểu đục):''' Nhục thung dung, Lộc nhung, Sơn dược, Bạch phục linh lượng bằng nhau, tán bột, dùng hồ gạo làm viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 30 viên với nước sắc táo tàu. (Thánh tế tổng lục) * '''Mồ hôi nhiều gây táo bón:''' Người già, người hư yếu đều dùng được. Nhục thung dung (ngâm rượu, sấy) 2 lạng, Trầm hương nghiền bột 1 lạng. Tán bột, dùng nước cốt hạt vừng (Ma tử nhân) đánh hồ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 70 viên với nước ấm. (Tế sinh phương) * '''Chứng tiêu trung (nhanh đói):''' Nhục thung dung, Sơn thù du, Ngũ vị tử tán bột. Luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với rượu muối. (Y học chỉ nam) * '''Bệnh uốn ván (phá thương phong), miệng mím chặt, thân mình co cứng:''' Nhục thung dung thái phiến phơi khô, dùng một cái chén nhỏ, đục lỗ dưới đáy, đốt lên lấy khói xông vào vết thương, rất hiệu nghiệm. (Vệ sinh tổng vi) ==LIỆT ĐƯƠNG (列當)== (Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống) '''Tên khoa học:''' Orobanche coerulescens Stephan. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Lật đương''' (栗當 - Khai Bảo), '''Thảo thung dung''' (草蓯蓉 - Khai Bảo), '''Hoa thung dung''' (花蓯蓉 - Nhật Hoa). ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Mã Chí nói:''' Liệt đương sinh trên các tảng đá ở vùng Sơn Nam, rễ như củ sen (ngẫu căn), lúc mới sinh thì đào lấy, phơi trong bóng râm cho khô. '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Các vùng Nguyên Châu, Tần Châu, Vị Châu, Linh Châu đều có. Cuối xuân mọc mầm, trung tuần tháng Tư hái lấy, dài từ năm, sáu tấc đến một thước trở lên, thân tròn màu tím, hái về ép dẹt, phơi nắng cho khô. '''Tô Tụng nói:''' Rễ Thảo thung dung cực kỳ giống với Nhục thung dung, người ta cạo bỏ hoa, ép dẹt để thay thế cho loại "Nhục" (Nhục thung dung), nhưng công lực kém hơn rất nhiều. Đó chính là Liệt đương vậy. ===【Rễ - Bộ phận dùng làm thuốc】=== '''Khí vị:''' Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. '''Chủ trị:''' Nam giới mắc năm chứng lao, bảy chứng thương (ngũ lao thất thương), bổ thắt lưng và thận, giúp người ta có con, trừ phong huyết. Dùng sắc rượu hoặc ngâm rượu mà uống (Khai Bảo). ===【Phụ phương】=== Cũ một. '''Dương sự bất hưng (Liệt dương):''' Lật đương (loại tốt - tức Liệt đương) 2 cân. Giã nát rây bột xong, dùng 1 đấu rượu ngon ngâm qua đêm, tùy theo tửu lượng mà uống hàng ngày. (Thực y tâm kính của Tiệm Ân) ==TỎA DƯƠNG (瑣陽)== (Trích từ sách "Bản thảo Bổ di") '''Tên khoa học:''' Cynomorium songaricum Rupr. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏa dương xuất sản ở Túc Châu. Xét sách Chuyết canh lục của Đào Cửu Thành chép: Tỏa dương sinh ở vùng đất của người Đát Đát (Tartar), do tinh dịch của ngựa hoang hoặc giao long rơi xuống đất, lâu ngày mọc lên như măng, trên nảy nở dưới thon gọn, lớp vảy xếp hàng như răng lược, gân mạch liên lạc với nhau, hình dáng cực kỳ giống dương vật nam giới, là một loại thuộc họ Nhục thung dung. Có thuyết nói rằng những dâm phụ ở địa phương đến đó để giao hợp, nó đắc được âm khí thì bỗng chốc mọc dài ra. Người dân địa phương đào lấy, rửa sạch, bỏ vỏ, thái mỏng phơi khô để làm dược liệu, công lực gấp trăm lần Thung dung. Thời Trân tôi nghi rằng vị này tự có chủng loại riêng, cũng như Nhục thung dung và Liệt đương, chưa hẳn tất cả đều do tinh dịch sinh ra vậy. ===【Khí vị】=== Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. ===【Chủ trị】=== Đại bổ âm khí, ích tinh huyết, lợi đại tiện. Người hư yếu mà đại tiện táo kết, ăn vị này có thể thay thế cho Thung dung, nấu cháo ăn lại càng tốt. Người không bị táo kết thì chớ dùng (Chu Đan Khê). Nhuận táo nuôi dưỡng gân, trị các chứng nuy nhược (yếu liệt) (Thời Trân). ==XÍCH TIỄN THIÊN MA (赤箭天麻)== (Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống) '''Tên khoa học:''' Gastrodia elata Blume. ===【Hiệu chính】=== Thiên ma vốn được chép lặp lại trong bản đời Tống, nay hợp nhất làm một mục. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Xích tiễn chi''' (赤箭芝 - Dược tính), '''Độc dao chi''' (獨搖芝 - Bào Phác Tử), '''Định phong thảo''' (定風草 - Dược tính), '''Ly mẫu''' (離母 - Bản kinh), '''Hợp ly thảo''' (合離草 - Bào Phác Tử), '''Thần thảo''' (神草 - Ngô Phổ), '''Quỷ đốc bưu''' (鬼督郵 - Bản kinh). '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Xích tiễn cũng thuộc loại linh chi. Thân nó như cán tên, màu đỏ, lá mọc ở ngọn. Rễ như chân người, có thuyết nói như củ khoai (vực), có mười hai củ con bao quanh. Có gió không động, không gió tự lung lay (nhún nhảy). Loại như vậy cũng không phải thứ dân gian thường thấy. Mà cây Từ trường khanh cũng tên là Quỷ đốc bưu. Lại có cây Quỷ tiễn, thân có lông vũ (cánh), chủ trị đều tương tự nhưng khác biệt rất lớn, đều không phải là Xích tiễn này. '''Tô Tụng nói:''' Xét sách Bào Phác Tử viết: Phương tiên có cây Hợp ly thảo, một tên Độc dao chi, một tên Ly mẫu. Sở dĩ gọi là Hợp ly, Ly mẫu là vì rễ dưới của cỏ này như củ khoai lớn, có mười hai củ con vây quanh để phỏng theo mười hai giờ (thập nhị thần). Cách củ lớn vài thước đều có rễ nhỏ như tóc trắng, tuy nương tựa nhau nhưng thực tế không liền nhau, chỉ dùng khí mà thuộc về nhau thôi. Như cỏ Thỏ ty, dưới đất có rễ Phục thỏ, không có rễ này thì sợi tơ không leo lên được, cũng không liền nhau vậy. Như thế thì sự kỳ dị của Xích tiễn, Đào Ẩn Cư đã nói không phải thứ dân gian thường thấy, dưới Thỏ ty có Phục thỏ cũng chưa nghe ai thấy bao giờ, họa chăng trong chủng loại ấy thỉnh thoảng có thứ thần dị mới như vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Xích tiễn gọi theo hình trạng; Độc dao, Định phong gọi theo tính chất kỳ dị; Ly mẫu, Hợp ly gọi theo sự khác biệt của rễ; Thần thảo, Quỷ đốc bưu gọi theo công hiệu. Thiên ma chính là rễ của Xích tiễn, sách Khai Bảo Bản Thảo chép trùng một điều, chi tiết xem ở phần Tập giải dưới đây. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Xích tiễn sinh ở thung lũng Trần Thương, Ung Châu và các núi Thái Sơn, Thiếu Thất. Tháng Ba, tháng Tư, tháng Tám hái rễ, phơi khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Trần Thương nay thuộc quận Phù Phong, Ung Châu. '''Mã Chí nói:''' Thiên ma sinh ở các nơi Vận Châu, Lợi Châu, Thái Sơn, Lao Sơn. Tháng Năm hái rễ phơi khô. Lá như lá Thược dược nhưng nhỏ hơn, ở giữa mọc lên một thân, thẳng đứng như cán tên. Đầu ngọn kết quả, trạng như hạt Tục tùy tử. Đến khi lá héo thì hạt chín vàng. Rễ nó liền nhau mười đến hai mươi củ, như loại Thiên môn đông. Hình như dưa chuột, cũng như củ cải (lô bặc), lớn nhỏ không nhất định. Người phương đó thường ăn sống, hoặc đồ chín để ăn. Nay dùng loại ở Vận Châu là tốt nhất. '''Tô Cung nói:''' Xích tiễn thuộc loại linh chi. Thân như cán tên, màu đỏ. Ngọn có hoa, lá màu đỏ, nhìn xa như mũi tên có lông vũ. Tháng Tư nở hoa, kết quả giống hạt Khổ luyện tử (sầu đâu), hạt có năm sáu khía, trong có thịt như bột sắn, phơi nắng thì khô héo. Nhựa thịt ở rễ đại loại như Thiên môn đông, duy chỉ không có lõi (tâm mạch). Cách rễ năm sáu tấc có hơn mười củ con bao quanh như củ khoai, có thể ăn sống, không có phép dùng khô. '''Tô Tụng nói:''' Xích tiễn nay ở vùng Giang Hồ cũng có, nhưng không dùng làm thuốc được. Mầm nó như Tô Cung mô tả, nhưng Bản kinh nói tháng Ba, Tư, Tám hái rễ, không nói dùng mầm. Mà các nhà phương tễ nay lại hái mầm vào tháng Ba, Tư; hái rễ vào tháng Bảy, Tám, Chín, so với Bản kinh có chỗ sai lệch, khó lòng ghi cả hai, nên chỉ theo phép hiện nay. Lại nói: Thiên ma nay ở các châu quận vùng Biện Kinh (Đông Tây), Hồ Nam, Hoài Nam đều có. Mùa xuân mọc mầm, lúc mới ra như Thược dược, mọc độc nhất một thân thẳng đứng cao ba bốn thước, hình như cán tên, màu xanh đỏ nên tên là Xích tiễn chi. Thân giữa rỗng, từ giữa trở lên dính theo thân có lá nhỏ nhọn. Đầu ngọn kết bông, nở hoa kết quả to như hạt đậu. Hạt đến mùa hè không rụng mà chui qua thân rỗng xuống đất ngầm sinh trưởng. Rễ hình như dưa chuột, mọc liền mười đến hai mươi củ, loại lớn nặng tới nửa cân hoặc năm sáu lạng. Vỏ màu vàng trắng gọi là "Long bì" (da rồng). Thịt gọi là Thiên ma, hái vào tháng Hai, Ba, Năm, Tám. Lúc mới hái nhân lúc còn nhuận cạo bỏ vỏ, cho vào nước sôi đun qua rồi phơi khô cất giữ. Người núi Tung Sơn, Hành Sơn thường lấy loại tươi tẩm mật làm mứt ăn, rất quý trọng. '''Lý Tiết Trai nói:''' Xích tiễn là mầm của Thiên ma. Trị liệu giữa mầm và rễ khác nhau nên người sau chia làm hai mục. '''Mã Thừa nói:''' Các thầy thuốc nay dùng Thiên ma chính là rễ Xích tiễn. Khai Bảo Bản Thảo lại chép riêng một mục Thiên ma ở Trung phẩm, nói xuất xứ ở Vận Châu. Nay rễ và mầm Xích tiễn đều từ vùng Tề, Vận đưa đến là hạng thượng đẳng. Hình trạng Thiên ma mà Tô Tụng chép trong Đồ kinh chính là mầm Xích tiễn lúc chưa lớn vậy. Xích tiễn dùng mầm có công hiệu từ biểu vào lý; Thiên ma dùng rễ có lý lẽ từ trong đạt ra ngoài. Rễ thì mọc mầm thẳng tắp đi lên, mầm thì kết hạt chín rồi rụng, quay ngược theo thân đi xuống đất mà sinh trưởng, qua đó sơ bộ hiểu được cái lý chủ trị trong ngoài. Nay quan Hàn lâm Thẩm Quát vốn là người bác học, từng nói: Phương cổ dùng Thiên ma thì không dùng Xích tiễn, dùng Xích tiễn thì không dùng Thiên ma, vậy Thiên ma và Xích tiễn vốn là một vật đã rõ ràng. '''Tiết Cơ nói:''' Xích tiễn, Thiên ma là một vật, kinh điển chia làm hai vì chủ trị của rễ và mầm khác nhau. Sản sinh ở đất khác nhau thì mỗi loại có thế mạnh riêng. '''Lý Thời Trân nói:''' Bản kinh chỉ có Xích tiễn, người sau gọi là Thiên ma. Chân Quyền trong Dược tính luận nói: "Xích tiễn chi một tên là Thiên ma", vốn tự đã rõ ràng. Mã Chí đời Tống khi soạn lại Bản thảo lại chép trùng Thiên ma nên mới dẫn đến việc phân biện như thế. Thẩm Quát trong Bút đàm nói: "Thần Nông Bản Thảo ghi rõ hái rễ Xích tiễn, người sau thấy tên nó là Tiễn (mũi tên) nên nghi ngờ đáng lẽ phải dùng thân, thật là không phải. Ví như cây Diên vĩ, Ngưu tất, đều vì thân lá tương tự mà đặt tên nhưng vẫn dùng rễ, có gì đáng nghi đâu?". Ngoài năm loại linh chi ở Thượng phẩm, về thuốc bổ ích thì Xích tiễn là hàng đầu. Người đời nay mê muội vào thuyết Thiên ma nên chỉ dùng để trị phong, thật đáng tiếc thay. Thuyết này của Thẩm công tuy đúng, nhưng rễ và thân đều dùng được cả. Hạt Thiên ma từ trong thân rơi xuống, dân gian gọi là "Hoàn đồng tử". Rễ phơi khô, thịt cứng trắng, màu như sừng cừu thì gọi là "Dương giác Thiên ma"; loại đồ xong vàng nhăn như dưa khô thì gọi là "Tương qua Thiên ma", đều dùng được cả. Một loại hình nhọn mà rỗng, mỏng như Huyền sâm thì không dùng được. *Bào Phác Tử viết: Độc dao chi sinh ở nơi núi cao thung lũng sâu, xung quanh không có cỏ mọc. Thân to như ngón tay, đỏ như màu đơn tố. Lá như rau dền nhỏ. Rễ có củ lớn như cái đấu, củ nhỏ như trứng gà mười hai cái bao quanh. Người nào đắc được củ lớn, uống vào sẽ trường thọ. Xét thấy: Đây là một loại thần dị trong các loại Thiên ma, như Thần sâm trong các loại Nhân sâm vậy. '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng Thiên ma, chớ dùng Ngự phong thảo, hai vật này rất giống nhau, chỉ khác lá và thân. Thân Ngự phong thảo có đốm, mặt sau lá trắng có điểm xanh. Đã dùng Ngự phong thảo thì không dùng Thiên ma, nếu dùng chung sẽ khiến người ta mắc chứng trường kết (tắc ruột). ===【Chỉnh lý sai sót】=== '''Trần Tàng Khí nói:''' Thiên ma sinh ở bình nguyên đầm lầy, giống cây Mã tiên thảo (cỏ roi ngựa), mỗi đốt nở hoa tím. Trong hoa có hạt như hạt Thanh tương tử. Hạt tính hàn, nấu nước uống trừ nhiệt khí. Thân lá giã đắp nhọt sưng. '''Mã Thừa nói:''' Những điều Tàng Khí nói không liên quan đến Xích tiễn, là một vật khác vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Lời Trần thị nói là một loại "Thiên ma thảo", thuộc loại cây Ích mẫu. Sách Gia Hữu Bản Thảo lầm lẫn đưa vào mục Thiên ma này, nay xin đính chính. ===【Tu trị - Chế biến】=== '''Lôi Công nói:''' Lấy 10 lạng Thiên ma thái nhỏ cho vào bình. Dùng một dật hạt Tật lê rang cháy bằng lửa nhỏ, đậy lên trên Thiên ma, dùng ba lớp giấy phong kín, từ giờ Tỵ đến giờ Mùi lấy ra. Lại rang Tật lê và đậy kín như cũ, làm tất cả 7 lần. Dùng vải lau sạch hơi mồ hôi, dùng dao chẻ ra sấy khô, giã riêng mà dùng. Nếu dùng Ngự phong thảo cũng làm theo phép này. '''Lý Thời Trân nói:''' Đây là phép chế thuốc trị phong tý nên mới tu trị như vậy. Nếu trị phong hư ở kinh Can, chỉ cần rửa sạch, gói trong giấy ướt, vùi trong lửa trấu (vùi trấu) cho chín ngấu, lấy ra cắt lát, ngâm rượu một đêm, sấy khô dùng. ===RỄ THIÊN MA (赤箭)=== (Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc. '''Mã Chí nói:''' Vị cay, tính bình, không độc. '''Đại Minh nói:''' Vị ngọt, ấm. '''Chân Quyền nói:''' Xích tiễn chi một tên Thiên ma, vị ngọt, tính bình, không độc. '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Vị đắng, tính bình, là phần Dương trong Âm. '''Chủ trị:''' * Sát quỷ tinh vật, cổ độc ác khí. Uống lâu tăng khí lực, giúp phần âm dài ra, béo khỏe, nhẹ mình tăng tuổi thọ (Bản kinh). Tiêu ung thũng, hạ chứng chi mãn (đầy tức chi thể), hàn sán hạ huyết (Biệt lục). Làm mạnh gân lực. Uống lâu ích khí, nhẹ mình trường thọ (Khai Bảo). Trị lạnh khí tê bại (tý), liệt nửa người không đi được, nói năng hoảng hốt, hay giật mình mất trí (Chân Quyền). Trợ dương khí, bổ ngũ lao thất thương, quỷ chú (bệnh truyền nhiễm), thông huyết mạch, khai khiếu. Ăn uống không kiêng kỵ (Đại Minh). Trị phong hư huyễn vận (chóng mặt), đầu đau (Lý Đông Viên). ===【Phát minh】=== '''Lý Cảo nói:''' Người can hư bất túc nên dùng Thiên ma, Xuyên khung để bổ. Công dụng có bốn: Trị người lớn phong nhiệt đầu đau, trẻ em phong giản kinh quý (co giật), các chứng phong tê dại (ma tý bất nhân), phong nhiệt khiến ngôn ngữ không lưu loát. '''Lý Thời Trân nói:''' Thiên ma là thuốc ở phần khí của kinh Can. Sách Tố Vấn viết: "Các chứng run rẩy, co quắp, chóng mặt (điệu huyễn) đều thuộc về Can". Cho nên Thiên ma nhập vào kinh Quyết âm để trị các bệnh đó. Xét lời La Thiên Ích: "Mắt tối đầu xoay, phong hư bên trong phát ra, không có Thiên ma không trị được". Thiên ma là cỏ định phong (Định phong thảo), nên là vị thuốc thần để trị phong. Nay có người uống thuốc Thiên ma lâu ngày, khắp thân phát ra nốt đỏ (hồng đan), đó chính là nghiệm chứng của việc khu phong vậy. '''Lý Tiết Trai nói:''' Thiên ma cần các vị thuốc khác làm tá sứ, sau đó mới thấy công hiệu, vẫn cần tăng liều lượng mà dùng. Người ta có khi tẩm mật làm mứt, hoặc đồ chín để ăn, suy nghĩ sâu xa tất sẽ thấu hiểu cái hay của nó. ===【Phụ phương】=== Mới thêm hai phương. * '''Thiên ma hoàn:''' Tiêu phong hóa đờm, thanh lợi đầu mắt, khoan khoái lồng ngực. Trị tâm hồi hộp phiền muộn, đầu váng muốn ngã, cứng cổ, vai lưng co mỏi, tinh thần mê sảng. Dùng Thiên ma (đồ chín) nửa cân, Thiên nam tinh (bào chế) 2 lạng. Tán bột, luyện mật làm viên to bằng hạt súng. Mỗi lần sau bữa ăn nhai một viên, uống với trà hoặc rượu tùy ý. (Phổ tế phương) * '''Thắt lưng và bàn chân đau nhức:''' Thiên ma, Bán hạ, Tế tân mỗi vị 2 lạng. Dùng hai túi lụa, mỗi túi đựng thuốc đều nhau, đồ nóng, thay phiên nhau chườm vào chỗ đau. Ra mồ hôi thì khỏi. Vài ngày sau chườm lại. (Vệ sinh dị giản phương) ===HẠT THIÊN MA (還筒子 - Hoàn đồng tử)=== '''Chủ trị:''' Định phong bổ hư, công hiệu như Thiên ma (Thời Trân). ====【Phụ phương】==== Mới thêm một phương. '''Ích khí cố tinh:''' Bổ huyết, làm đen tóc, tăng tuổi thọ, có hiệu quả kỳ lạ. Hoàn đồng tử nửa lạng, Khiếm thực nửa lạng, Kim ngân hoa 2 lạng, Phá cố chỉ (ngâm rượu: mùa xuân 3 ngày, hạ 1 ngày, thu 2 ngày, đông 5 ngày; sấy khô, tán bột) 2 lạng. Các vị đều nghiền bột, dùng hồ mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước muối lúc bụng đói. ==TRUẬT (朮)== (Phát âm là Truật. Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Atractylodes macrocephala Koidz. (Bạch truật) và Atractylodes lancea (Thunb.) DC. (Cốt thương truật/Thương truật). ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Sơn kế''' (山薊 - Bản kinh), '''Dương phu''' (楊桴 - âm là Phu), '''Phu kế''' (桴薊 - Nhĩ Nhã), '''Mã kế''' (馬薊 - Cương mục), '''Sơn khương''' (山薑 - Biệt lục), '''Sơn liên''' (山連 - Biệt lục), '''Cật lực gia''' (吃力伽 - Nhật Hoa). '''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Lục thư bản nghĩa, chữ Truật (朮) viết theo lối triện văn, tượng hình cho cái gốc, thân, cành và lá của nó. Ngô Phổ bản thảo gọi là Sơn giới, Thiên kế. Ấy là vì lá nó giống cây Kế (thun), mà vị thì giống Gừng (Khương), Cải (Giới). Vùng Tây Vực gọi là Cật lực gia, nên trong Ngoại đài bí yếu có phương "Cật lực gia tán". Vùng Dương Châu trồng nhiều Bạch truật, hình trạng nó giống cái dùi trống (phu), nên có tên Dương phu và Phu kế, người nay gọi là Ngô truật vậy. "Phu" vốn là tên của dùi đánh trống. Các phương cổ dùng hai loại Truật thông dụng như nhau. Người đời sau mới bắt đầu phân chia thành Thương truật và Bạch truật, chi tiết xem ở phần dưới. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Truật sinh ở thung lũng Trịnh Sơn, Hán Trung, Nam Trịnh. Tháng Hai, Ba, Tám, Chín hái rễ, phơi nắng cho khô. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Trịnh Sơn chính là Nam Trịnh. Nay đâu đâu cũng có, loại ở Tưởng Sơn, Bạch Sơn, Mao Sơn là tốt nhất. Hái vào tháng Mười một, Mười hai là tốt, nhiều chất dầu (chi cao) mà vị ngọt. Mầm của nó có thể nấu nước uống, rất thơm ngon. Truật có hai loại: '''Bạch truật''', lá lớn có lông và có khía (ngã), rễ ngọt mà ít dầu, có thể làm viên hoặc tán bột mà dùng; '''Xích truật''' (tức Thương truật), lá nhỏ không khía, rễ nhỏ, vị đắng mà nhiều dầu, có thể nấu thành cao (tiễn) mà dùng. Truật ở vùng Đông cảnh tuy lớn nhưng khí không mạnh, không dùng được. Nay người bán ngoài chợ đều lấy bột gạo bôi lên cho trắng, không phải tự nhiên, khi dùng nên cạo bỏ đi. '''Tô Tụng nói:''' Truật nay đâu cũng có, loại ở Mao Sơn, Tung Sơn là tốt. Mùa xuân mọc mầm, màu xanh không khía. Thân như thân cây Ngải (Hào), màu xanh đỏ, dài khoảng hai ba thước. Mùa hạ nở hoa màu tím biếc, cũng giống hoa Thích kế, hoặc có loại hoa trắng vàng. Sau tiết Phục thì kết hạt, đến mùa thu thì mầm héo. Rễ như gừng mà bên cạnh có rễ nhỏ, vỏ đen, lõi vàng trắng, trong có chất dịch màu tím. Rễ dùng tươi hay khô đều được. Đào Ẩn Cư nói Truật có hai loại, thì sách Nhĩ Nhã gọi "Phu kế" chính là Bạch truật vậy. Nay Bạch truật sinh ở vùng núi cao các vùng Hàng, Việt, Thư, Tuyên Châu, lá mọc đối, trên có lông, thân vuông, đầu cành nở hoa, hoa có các màu tím nhạt, biếc, đỏ; rễ mọc theo lối phân nhánh (ngã sinh). Tháng Hai, Ba, Tám, Chín hái rễ, phơi khô dùng, loại khối lớn hoa tím là hạng tốt. Các phương cổ dùng chữ "Truật" đều là chỉ Bạch truật vậy. '''Lý Tiết Trai nói:''' '''Thương truật''' dài như ngón tay cái, béo chắc, vỏ màu nâu, khí vị cay nồng (tân liệt), cần dùng nước vo gạo ngâm rửa, bỏ vỏ mới dùng. '''Bạch truật''' hình dáng thô ngắn, màu hơi nâu, khí vị cũng hơi cay đắng mà không nồng. Các phương cổ và sách Bản kinh chỉ gọi là Truật, không phân hai loại Thương, Bạch, nên cần xem xét kỹ cả hai. '''Lý Thời Trân nói:''' '''Thương truật''' là Sơn kế, núi rừng đâu cũng có. Mầm cao hai ba thước, lá ôm lấy thân mà mọc, lá ở phần ngọn giống lá Đường lê, lá ở phần gốc có ba đến năm khía, đều có răng cưa nhỏ như gai. Rễ như gừng già, màu đen xám (thương hắc), thịt trắng có dầu. '''Bạch truật''' là Phu kế, vùng Ngô Việt có nhiều. Người ta thường lấy rễ đem trồng, một năm đã mọc dày. Mầm non có thể làm rau ăn, lá hơi lớn và có lông. Rễ to như ngón tay, trạng như dùi trống, cũng có cái to như nắm tay. Người vùng đó bổ đôi phơi khô, gọi là Tước thuật (Truật gọt vỏ), cũng gọi là Phiến thuật. Trần Tự Lương nói: Loại trắng mà béo là Chiết thuật (vùng Chiết Giang); loại gầy mà vàng là sản vật từ núi Mạc Phụ, công lực kém. Người xưa dùng Truật không phân biệt Xích, Bạch. Từ đời Tống trở về sau mới bắt đầu nói Thương truật vị đắng cay khí nồng, Bạch truật vị đắng ngọt khí hòa, mỗi thứ dùng riêng biệt, cũng rất có lý. Đều lấy loại hái vào mùa thu là tốt; hái mùa xuân thì bên trong rỗng mềm, dễ hư hỏng. Kê Hàm trong Nam phương thảo mộc trạng chép: Trong các vị thuốc có Cật lực gia, chính là Truật vậy. Sản vật vùng ven biển có cái một rễ nặng tới vài cân, hái ăn rất tốt. '''Đỗ Gia Mô nói:''' Chiết thuật dân gian gọi là '''Vân đầu thuật''', trồng ở vùng đồng bằng, khá béo lớn nhờ sức phân bón, dễ bị ra dầu. Hấp thuật (vùng Hấp Châu) dân gian gọi là '''Cẩu đầu thuật''', tuy gầy nhỏ nhưng được khí đất sung mãn, rất khô trắng, tốt hơn Chiết thuật. Loại ở Ninh Quốc, Xương Hóa, Trì Châu đều giống Hấp thuật vì giáp ranh nhau. ===BẠCH TRUẬT (白朮)=== '''Tên khoa học:''' Atractylodes macrocephala Koidz. ====【Khí vị】==== Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. * '''Sách "Biệt lục" viết:''' Vị ngọt. '''Chân Quyền nói:''' Vị ngọt, cay. * '''Lý Đông Viên nói:''' Vị đắng mà ngọt, tính ấm. Vị đậm khí mỏng, là phần Âm trong Dương, có thể thăng có thể giáng. * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhập vào sáu kinh: Thủ Thái âm, Thiếu âm; Túc Thái âm, Dương minh, Thiếu âm, Quyết âm. * '''Từ Chi Tài nói:''' Phòng phong, Địa dư làm sứ cho nó. * '''Chân Quyền nói:''' Kỵ Đào, Lý (mận), Rau muống (tùng thái), thịt Sẻ, cá Thanh ngư. * '''Đỗ Gia Mô nói:''' Sau khi thái phiến, dùng sữa người (nhân nhũ) tẩm nhuận để chế bớt tính táo của nó. Trị bệnh về Tỳ thì dùng đất vách tường lâu năm (trần bích thổ) sao qua, để mượn thổ khí mà trợ giúp cho Tỳ vậy. ====【Chủ trị】==== Phong hàn, thấp tý, tử cơ (cơ nhục tê bại), kinh đản (co giật, vàng da), cầm mồ hôi, trừ nhiệt, tiêu hóa thức ăn. Chế thành thuốc sắc hoặc thuốc viên để ăn lâu ngày giúp nhẹ mình, tăng tuổi thọ, không thấy đói (Bản kinh). Chủ trị phong lớn (đại phong) ở thân và mặt, phong huyễn đầu đau, mắt chảy nước, tiêu đờm thủy, trục phong thủy kết thũng ở giữa da thịt, trừ tâm hạ cấp mãn (đầy tức dưới tim), hoắc loạn nôn mửa đi tả không ngừng, lợi máu ở vùng thắt lưng và rốn, ích tân dịch, làm ấm dạ dày, tiêu ngũ cốc, giúp ăn ngon (Biệt lục). Trị tâm phúc chướng mãn, trong bụng đau lạnh, vị hư đi lỵ, khí lỵ nhiều năm, trừ hàn nhiệt, cầm nôn nghịch (Chân Quyền). Cầm phản vị (nôn mửa sau ăn), lợi tiểu tiện, chủ trị ngũ lao thất thương, bổ thắt lưng đầu gối, làm dày cơ bắp, trị lạnh khí, chứng tích tụ khối u (hòn cục), chứng lãnh trưng hà ở phụ nữ (Đại Minh). Trừ thấp, ích khí, hòa trung, bổ dương, tiêu đờm, trục thủy, sinh tân, chỉ khát, cầm tả lỵ, tiêu phù thũng ở chân, trừ nhiệt trong dạ dày, nhiệt ở cơ nhục. Phối hợp với Chỉ thực giúp tiêu bĩ mãn ở phần khí; làm tá cho Hoàng cầm giúp an thai thanh nhiệt (Lý Đông Viên). Lý Vị ích Tỳ, bổ Can phong hư, chủ trị gốc lưỡi cứng, ăn vào là nôn, đau vị quản, thân mình nặng nề, dưới tim đau gấp, dưới tim có thủy bĩ (nước tích tụ gây đầy tức). Trị bệnh thuộc Xung mạch gây khí nghịch cấp bách bên trong, đau vùng rốn bụng (Vương Hiếu Cổ). ====【Phát minh】==== * '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Bản thảo vốn không có tên riêng Thương truật, Bạch truật. Đời gần đây đa phần dùng Bạch truật để trị phong ở giữa da thịt, cầm mồ hôi, tiêu bĩ, bổ dạ dày và giúp phát hãn, có mồ hôi thì cầm lại, công hiệu ngang với Hoàng kỳ. * '''Lý Đông Viên nói:''' Bạch truật trừ thấp ích táo, hòa trung bổ khí. Công dụng có chín: Một là ôn trung; hai là khử thấp trong tỳ vị; ba là trừ nhiệt trong dạ dày; bốn là mạnh tỳ vị, giúp ăn uống ngon; năm là hòa vị sinh tân dịch; sáu là cầm cơ nhục tỏa nhiệt; bảy là trị tứ chi khốn đốn mệt mỏi, hay nằm, mắt không mở được, không muốn ăn uống; tám là chỉ khát; chín là an thai. Phàm trung tiêu không chịu được thấp thì không thể ngưng đi lỵ, bắt buộc phải dùng Bạch truật để trục thủy ích Tỳ. Không có Bạch truật không khử được thấp, không có Chỉ thực không tiêu được bĩ, cho nên bài "Chỉ Truật hoàn" lấy vị này làm quân. * '''Tiết Cơ nói:''' Tỳ ghét thấp, thấp thắng thì khí không thể vận hóa, tân dịch do đâu mà sinh? Cho nên nói: Bàng quang là túi chứa tân dịch, khí hóa thì nước mới thoát ra được. Dùng Bạch truật để trừ thấp thì khí được lưu thông khắp nơi mà tân dịch sinh ra vậy. ====【Phụ phương】==== Cũ 7, mới 24. * '''Chỉ Truật hoàn:''' Tiêu bĩ mạnh dạ dày, uống lâu khiến ăn uống tự vận hóa không ngừng. Bạch truật 1 lạng (dùng đất vách vàng sao qua, bỏ đất), Chỉ thực (sao cám, bỏ cám) 1 lạng. Tán bột, dùng lá sen gói cơm nướng chín, giã nát trộn làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước ấm. Nếu khí trệ thêm Trần bì 1 lạng; có hỏa thêm Hoàng liên 1 lạng; có đờm thêm Bán hạ 1 lạng; có hàn thêm Can khương 5 tiền, Mộc hương 3 tiền; có tích thực thêm Thần khúc, Mạch nha mỗi vị 5 tiền. (Khiết Cổ gia trân) * '''Chỉ Truật thang:''' Dưới tim cứng lớn như cái mâm, cạnh như cái chén úp, do thủy ẩm gây ra. Hàn khí bất túc thì tay chân quyết nghịch, bụng đầy, hông sườn kêu rộn ràng. Dương khí không thông thì thân mình lạnh, âm khí không thông thì xương cốt đau. Dương thông trước thì ghét lạnh, âm thông trước thì tê dại không biết đau. Âm dương hòa hợp thì khí mới hành; đại khí chuyển động một vòng thì tà khí mới tan. Thực thì đánh rắm (thất khí), hư thì di niệu (tè dầm). Gọi là bệnh ở khí phận, nên dùng phương này làm chủ. Bạch truật 1 lạng, Chỉ thực 7 quả. Nước 5 thăng, sắc còn 3 thăng, chia ba lần uống. Trong bụng mềm lại là tan. (Trọng Cảnh - Kim Quỹ Ngọc Hàm) * '''Bạch truật cao:''' Dùng ăn bồi bổ, trị tiêu lỵ lâu ngày. Bạch truật hảo hạng 10 cân, thái phiến, cho vào nồi đất, đổ nước ngập quá 2 thốn, đun lửa văn vũ cho đến khi còn một nửa, chắt nước ra bình, bã lại sắc tiếp, làm như vậy 3 lần. Sau đó lấy các nước sắc trước sau cùng nấu thành cao, để vào bình một đêm, gạn bỏ nước trong bên trên rồi cất dùng. Mỗi lần uống 2-3 thìa, pha với nước mật. (Thiên kim lương phương) * '''Tham Truật cao:''' Trị tất cả các chứng tỳ vị hư tổn, ích nguyên khí. Bạch truật 1 cân, Nhân sâm 4 lạng. Thái phiến, dùng 15 bát nước chảy (lưu thủy) ngâm một đêm, dùng lửa củi dâu văn vũ sắc lấy nước cốt, nấu thành cao, thêm mật luyện để cất dùng. Mỗi lần dùng nước ấm pha uống. (Tập giản phương) * '''Ngực bụng phiền muộn:''' Bột Bạch truật, uống với nước mỗi lần 1 thìa vuông (phương thốn tỷ). (Thiên kim phương) * '''Dưới tim có nước (thủy ẩm):''' Bạch truật 3 lạng, Trạch tả 5 lạng. Nước 3 thăng, sắc còn 1 thăng rưỡi, chia ba lần uống. (Mai Sư phương) * '''Ngũ ẩm tửu tích:''' 1. Lưu ẩm (nước dừng dưới tim); 2. Tích ẩm (nước ở hai bên sườn); 3. Đàm ẩm (nước trong dạ dày); 4. Dật ẩm (nước ở giữa ngũ tạng); 5. Lưu ẩm (nước trong ruột). Đều do ăn uống gặp lạnh hoặc uống quá nhiều trà gây ra. '''Bội Truật hoàn:''' Dùng Bạch truật 1 cân, Can khương (bào), Quế tâm mỗi vị nửa cân. Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20-30 viên với nước ấm. (Huệ dân hòa tễ cục phương) * '''Tứ chi sưng đầy:''' Bạch truật 3 lạng. Thái nhỏ. Mỗi lần dùng nửa lạng, nước 1 bát rưỡi, Đại táo 3 quả, sắc còn 9 phần, uống ấm, ngày 3-4 lần, không kể thời gian. (Bản sự phương) * '''Trúng phong miệng mím chặt, bất tỉnh nhân sự:''' Bạch truật 4 lạng. Rượu 3 thăng, sắc lấy 1 thăng, uống hết một lần. (Thiên kim phương) * '''Sản hậu trúng hàn, khắp người lạnh cứng, miệng mím, không biết người:''' Bạch truật 4 lạng, Trạch tả 1 lạng, Gừng sống 5 tiền. Nước 1 thăng, sắc uống. (Sản bảo) * '''Đầu bỗng nhiên váng đầu (huyễn vận), lâu ngày không khỏi, tứ chi gầy yếu, ăn uống không biết vị, hay thèm ăn đất vàng:''' Dùng Bạch truật 3 cân, Thần khúc 3 cân. Giã nát rây bột, trộn với rượu làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với nước, ngày 3 lần. Kỵ rau muống, Đào, Lý, cá Thanh ngư. (Ngoại đài bí yếu) * '''Thấp khí gây đau:''' Bạch truật thái lát, sắc lấy nước cốt nấu thành cao, pha nước ấm uống. (Tập giản phương) * '''Trúng thấp xương đau:''' Bạch truật 1 lạng, rượu 3 chén, sắc còn 1 chén, uống hết. Nếu không uống được rượu thì sắc với nước. (Tam nhân lương phương) * '''Phụ nữ cơ nhục tỏa nhiệt do huyết hư.''' '''Cật lực gia tán:''' Dùng Bạch truật, Bạch phục linh, Bạch thược dược mỗi vị 1 lạng, Cam thảo nửa lạng. Tán bột. Sắc với Gừng, Táo mà uống. (Vương Đảo - Ngoại đài bí yếu) * '''Phong ngứa, nổi mẩn (ẩn chẩn):''' Bạch truật tán bột, uống mỗi lần 1 thìa vuông với rượu, ngày 2 lần. (Thiên kim phương) * '''Mặt nhiều vết tàn nhang (tước noãn sắc):''' Dùng giấm tốt (khổ tửu) ngâm Bạch truật, hàng ngày lau lên mặt. Cực kỳ hiệu nghiệm. (Trử hậu phương) * '''Tự hãn (mồ hôi trộm) không ngừng:''' Bạch truật tán bột, uống mỗi lần 1 thìa vuông với nước, ngày 2 lần. (Thiên kim phương) * '''Tỳ hư đạo hãn:''' Bạch truật 4 lạng, thái phiến, chia làm 4 phần: 1 lạng sao với Hoàng kỳ, 1 lạng sao với Mẫu lệ, 1 lạng sao với Thạch hộc, 1 lạng sao với cám mạch (mạch phu). Sau đó chọn lấy Bạch truật tán bột. Mỗi lần uống 3 tiền với nước cơm lúc xa bữa ăn, ngày 3 lần. (Phương của Đan Khê) * '''Người già trẻ nhỏ hư hãn:''' Bạch truật 5 tiền, Tiểu mạch 1 nhúm. Nước sắc cho cạn, bỏ tiểu mạch, lấy Bạch truật tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với nước sắc Hoàng kỳ. (Toàn ấu tâm giám) * '''Sản hậu nôn nghịch, không có bệnh khác:''' Bạch truật 1 lạng 2 tiền, Gừng sống 1 lạng 5 tiền. Rượu và nước mỗi thứ 2 thăng, sắc còn 1 thăng, chia ba lần uống. (Phụ nhân lương phương) * '''Tỳ hư chướng mãn:''' Tỳ khí không hòa, lạnh khí xâm nhập vào trung tiêu gây ứ trệ không thông, sinh ra chướng mãn. '''Khoan trung hoàn:''' Dùng Bạch truật 2 lạng, Trần bì 4 lạng. Tán bột, luyện với rượu làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần trước khi ăn uống với nước sắc Mộc hương 30 viên, hiệu nghiệm. (Chỉ mê phương) * '''Tỳ hư tiết tả:''' Bạch truật 5 tiền, Bạch thược dược 1 lạng, mùa đông thêm Nhục đậu khấu (nướng). Tán bột, dùng cơm làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm, ngày 2 lần. (Đan Khê tâm pháp) * '''Thấp tả, thử tả:''' Bạch truật, Xa tiền tử lượng bằng nhau. Sao rồi tán bột, uống mỗi lần 2-3 tiền với nước ấm. (Giản tiện phương) * '''Tiêu chảy lâu ngày gây hoạt tràng:''' Bạch truật (sao), Phục linh mỗi vị 1 lạng, Gạo nếp (sao) 2 lạng. Tán bột, trộn với thịt táo mà ăn, hoặc làm viên uống. (Giản tiện phương) * '''Người già trẻ nhỏ bị hoạt tả:''' Bạch truật nửa cân (sao đất vàng), Sơn dược 4 lạng (sao). Tán bột, dùng cơm làm viên. Tùy tuổi lớn nhỏ mà uống với nước cơm. Hoặc thêm Nhân sâm 3 tiền. (Bần Hồ tập giản phương) * '''Người già thường xuyên tiêu chảy:''' Bạch truật 2 lạng (trộn đất vàng đồ rồi sấy khô bỏ đất), Thương truật 5 tiền (ngâm nước vo gạo rồi sao), Phục linh 1 lạng. Tán bột, hồ gạo làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 70-80 viên với nước cơm. (Giản tiện phương) * '''Tiểu nhi tiêu chảy lâu ngày:''' Tỳ hư, cơm nước không vận hóa được, không muốn ăn uống. '''Ôn bạch hoàn:''' Dùng Bạch truật (sao) 2 tiền rưỡi, Bán hạ khúc 2 tiền rưỡi, Đinh hương nửa tiền. Tán bột, dùng nước gừng và hồ mì làm viên bằng hạt kê. Tùy lớn nhỏ mà uống với nước cơm. (Toàn ấu tâm giám) * '''Tả huyết, sắc mặt vàng bợt (ủy hoàng):''' Trường phong trĩ lậu, sa trực tràng đi ngoài ra máu, sắc mặt vàng bợt, nhiều năm không khỏi. Bạch truật 1 cân (sao đất vàng, tán bột), Can địa hoàng nửa cân. Đồ trên nồi cơm cho chín, giã nát trộn đều, nếu khô thêm chút rượu, làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 15 viên với nước cơm, ngày 3 lần. (Phổ tế phương) * '''Thai phụ thúc thai (giúp dễ đẻ):''' Bạch truật, Chỉ xác (sao cám) lượng bằng nhau. Tán bột, cơm nướng làm viên bằng hạt ngô. Đến ngày mồng 1 của tháng đủ ngày đủ tháng, mỗi lần trước khi ăn uống 30 viên với nước ấm. Thai gầy đi thì dễ đẻ vậy. (Bảo mệnh tập) * '''Răng dài ra mỗi ngày, dần đến khó ăn, gọi là bệnh Tủy dật (Tủy tràn ra):''' Dùng Bạch truật sắc lấy nước, súc miệng và uống tất sẽ hiệu nghiệm, lập tức khỏi vậy. (Trương Nhuệ - Kê phong bị cấp phương) ===THƯƠNG TRUẬT (蒼朮)=== '''Tên khoa học:''' Atractylodes lancea (Thunb.) DC. ====【Thích danh - Giải thích tên gọi】==== '''Xích truật''' (赤朮 - Biệt lục), '''Sơn tinh''' (山精 - Bào Phác), '''Tiên truật''' (仙朮 - Cương mục), '''Sơn kế''' (山薊). '''Lý Thời Trân nói:''' Sách Dị Thuật chép: Truật là tinh hoa của núi rừng, uống vào giúp người ta trường sinh, nhịn ăn (tích cốc), trở thành thần tiên, nên mới có tên là Sơn tinh, Tiên truật. Thuật có hai loại Xích (đỏ) và Bạch (trắng), chủ trị tuy gần giống nhau nhưng tính vị và việc phát hãn hay chỉ hãn thì khác biệt. Bản thảo đời trước không phân biệt Thương, Bạch là chưa có căn cứ. Nay tôi đem công dụng theo thuyết của bốn nhà: Bản kinh, Biệt lục, Chân Quyền, Đại Minh ra tham khảo, phân loại riêng biệt, mỗi loại kèm theo phụ phương để người sử dụng có nơi nương tựa. ====【Tu trị - Chế biến】==== * '''Đại Minh nói:''' Dùng Thuật phải ngâm nước vo gạo (mễ cam) một đêm rồi mới cho vào thuốc. * '''Lý Tiết Trai nói:''' Thương truật tính cay nồng, phải dùng nước vo gạo ngâm rửa, thay nước ngâm tiếp hai ngày, cạo bỏ lớp vỏ thô bên ngoài mới dùng. * '''Lý Thời Trân nói:''' Thương truật tính táo, nên dùng nước vo gạo nếp ngâm để khử bớt chất dầu, thái phiến, sấy khô dùng. Cũng có người dùng vừng (chi ma) sao cùng để chế bớt tính táo. ====【Khí vị】==== Vị đắng (khổ), tính ấm (ôn), không độc. * '''Sách "Biệt lục" viết:''' Vị ngọt (cam). '''Chân Quyền nói:''' Vị ngọt, cay (tân). * '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch truật vị ngọt mà hơi đắng, tính ấm mà hòa hoãn; Xích truật (Thương truật) vị ngọt mà cay nồng, tính ấm mà táo, là phần Dương trong Âm, có thể thăng có thể giáng. Nhập vào các kinh: Túc Thái âm, Dương minh; Thủ Thái âm, Dương minh, Thái dương. Kiêng kỵ giống như Bạch truật. ====【Chủ trị】==== Phong hàn thấp tý, tử cơ (cơ nhục tê dại), kinh đản (co giật, vàng da). Làm thuốc viên hoặc thuốc sắc uống lâu ngày giúp nhẹ mình, tăng tuổi thọ, không thấy đói (Bản kinh). Chủ trị đầu đau, tiêu đờm thủy, trục phong thủy kết thũng ở giữa da thịt, trừ tâm hạ cấp mãn (đầy tức dưới tim) và hoắc loạn nôn mửa đi tả không ngừng, làm ấm dạ dày, tiêu ngũ cốc, giúp ăn ngon (Biệt lục). Trừ ác khí, đẩy lùi tai ương dịch bệnh (Đào Hoằng Cảnh). Chủ trị đại phong tê bại, tâm phúc chướng đau, thủy thũng chướng mãn, trừ hàn nhiệt, cầm nôn nghịch, tiêu chảy, lỵ lạnh (Chân Quyền). Trị gân xương mềm yếu, chứng tích tụ khối u (hòn cục), chứng lãnh khí trưng hà ở phụ nữ, chướng khí sơn lam, bệnh ôn dịch (Đại Minh). Làm sáng mắt, làm ấm thủy tạng (Thận) (Lưu Hoàn Tố). Trừ thấp phát hãn, kiện vị an tỳ, là thuốc trọng yếu trị chứng nuy (yếu liệt) (Lý Đông Viên). Tán phong ích khí, giải tất cả các chứng uất (Chu Đan Khê). Trị thấp đàm lưu ẩm, hoặc kèm ứ huyết kết thành ổ túi (khỏa nang), cũng như tỳ thấp chảy xuống dưới gây đục lậu, đới hạ, hoạt tả, trường phong hạ huyết (Lý Thời Trân). ====【Phát minh】==== * '''Lý Tiết Trai nói:''' Thương truật khí vị cay nồng; Bạch truật hơi đắng cay mà không nồng. Phương cổ và sách Bản kinh chỉ gọi là Thuật, chưa chia Thương, Bạch. Chỉ vì Đào Ẩn Cư nói Thuật có hai loại, từ đó người ta quý trọng Bạch truật mà thường bỏ mặc Thương truật không dùng. Như bài "Bình vị tán" của cổ phương, Thương truật là vị thuốc cốt yếu nhất, công hiệu cực nhanh. Thật không rõ là trong Bản kinh nguyên gốc không có tên Bạch truật. Kê Khang nói: Nghe lời người đạo hạnh để lại, ăn Thuật và Hoàng tinh giúp người ta sống thọ, cũng không có chữ "Bạch", dùng nên xem xét cả hai. * '''Lý Đông Viên nói:''' Bản thảo chỉ gọi là Thuật, không phân Thương, Bạch. Mà Thương truật riêng có khí hùng tráng đi lên, năng trừ thấp, phía dưới làm yên kinh Thái âm, khiến tà khí không truyền vào Tỳ vậy. Vì nó đã qua ngâm nước vo gạo, sao lửa nên có thể ra mồ hôi (phát hãn), đặc biệt khác với Bạch truật là cầm mồ hôi (chỉ hãn), người dùng không nên lấy vị này thay vị kia. Bởi lẽ chúng có sự khác biệt về "Chỉ" và "Phát", các chủ trị còn lại thì tương đồng. * '''Lý Đông Viên nói thêm:''' Thương truật và Bạch truật chủ trị giống nhau, nhưng so với Bạch truật thì khí nặng mà thể trầm. Nếu để trừ thấp ở thượng tiêu và phát hãn thì công năng lớn nhất; nếu để bổ trung tiêu, trừ thấp ở tỳ vị thì sức không bằng Bạch truật. Người nào trong bụng cảm thấy chật hẹp (đầy tức) thì nên dùng nó. * '''Chu Đan Khê nói:''' Thương truật trị thấp, thượng, trung, hạ tiêu đều có thể dùng. Lại có thể giải tổng quát các chứng uất. Sáu chứng uất: Đàm, Hỏa, Thấp, Thực, Khí, Huyết đều do sự truyền hóa mất thường, không thể thăng giáng. Bệnh ở trung tiêu nên thuốc nhất định phải kiêm cả thăng giáng. Muốn thăng nó tất phải giáng nó; muốn giáng nó tất phải thăng nó. Cho nên Thương truật là thuốc của kinh Túc Dương minh, khí vị cay nồng, làm mạnh vị mạnh tỳ, phát khởi cái khí của ngũ cốc, có thể đi thẳng vào các kinh, sơ tiết cái thấp của kinh Dương minh, làm thông chỗ thu liễm đình trệ. Hương phụ là thuốc khoái khí trong Âm, hạ khí nhanh nhất. Một vị thăng một vị giáng, do đó các uất được tán đi mà bình ổn. * '''Dương Sĩ Doanh nói:''' Tỳ tinh không giữ được, tiểu tiện rỉ đục, lâm râm không dứt, lưng vai đau mỏi, nên dùng Thương truật để thu liễm tỳ tinh, vì tinh sinh ra từ ngũ cốc vậy. * '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Bạch truật ít dầu, có thể làm hoàn tán; Xích truật nhiều dầu, có thể nấu thành cao. Xưa Lưu Quyên Tử lấy tinh hoa của nó làm viên, tên là "Thủ trung kim hoàn", có thể trường sinh. * '''Tô Tụng nói:''' Người dùng phép phục thực đa phần chỉ dùng độc vị Thuật, hoặc hợp với Bạch phục linh, hoặc hợp với Thạch xương bồ, đều giã bột. Sáng sớm uống với nước, tối lại uống tiếp, lâu ngày càng tốt. Hoặc lấy Thuật tươi, bỏ đất ngâm nước, sắc đi sắc lại như mạch nha, pha rượu uống càng hay. Nay "Thuật tiễn" chế ở Mao Sơn chính là theo phép này. Đào Ẩn Cư nói lấy tinh hoa của nó làm viên, nay lại là cao sắc, e không phải chân truyền. * '''Vương Thận Vi dẫn lời Dữu Kiên Ngô:''' Trong tờ biểu tạ ơn Đào Ẩn Cư về Thuật tiễn có viết: "Lá xanh đâm chồi, hoa tím khoe sắc. Trăm tà bên ngoài bị đẩy lùi, sáu phủ bên trong được sung túc. Sơn tinh thấy chép trong sách, Hoa thần ghi ở trong lục... Vị nặng hơn kim tương, thơm hơn cả ngọc dịch...". * '''Cát Hồng trong "Bào Phác Tử" chép:''' Nhà họ Văn ở Nam Dương cuối đời Hán lánh nạn vào núi Hồ Sơn, đói khát sắp chết. Có người dạy cho ăn Thuật, từ đó không đói nữa. Mấy chục năm sau về làng, sắc mặt trẻ lại, khí lực mạnh hơn. Cho nên Thuật còn có tên Sơn tinh, sách Thần Nông dược kinh nói: "Muốn trường sinh, thường phục Sơn tinh" chính là nó vậy. * '''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Thổ nạp kinh, bài tựa về Thuật của Tử Vi Phu Nhân nói: Ta quan sát các loài cỏ cây có sức vượt trội giúp ích cho mình, đều không bằng Thuật có nhiều linh nghiệm. Có thể trường sinh lâu dài, càng lâu càng linh. Bậc ẩn dật chốn sơn lâm uống được Thuật thì sánh ngang với năm ngọn núi cao (Ngũ nhạc). Lại sách Thần tiên truyền chép: Trần Tử Hoàng đắc được phương thuốc ăn Thuật, vợ là Khương thị bị bệnh suy nhược, uống vào tự khỏi, sắc mặt khí lực như lúc đôi mươi. Thời Trân tôi cẩn trọng xét rằng: Các thuyết trên đây đều giống như Thương truật, không chỉ riêng Bạch truật. Nay các nhà phục thực cũng gọi Thương truật là Tiên truật, nên tôi đều liệt kê sau mục Thương truật. * '''Lại nữa, Trương Trọng Cảnh''' để tránh tất cả ác khí, dùng Xích truật đốt cùng móng chân lợn để lấy khói. Đào Ẩn Cư cũng nói Thuật năng trừ ác khí, dập tắt tai ương. Cho nên nay khi có dịch bệnh hoặc sáng mồng Một Tết, nhà nhà thường đốt Thương truật để trừ tà khí. Sách Loại biên chép: Vợ người họ Cao ở Việt dân, bị bệnh hoảng hốt nói sảng, quỷ của người chồng đã chết nhập vào. Nhà đó đốt khói Thương truật, con quỷ lập tức xin đi. Sách Di kiên chí chép: Một kẻ sĩ ở Giang Tây bị nữ yêu ám. Con quỷ lúc từ biệt nói: "Ngài bị âm khí xâm nhiễm, tất sẽ bị tiêu chảy dữ dội, nên uống nhiều Bình vị tán là tốt. Trong đó có Thương truật có thể trừ tà vậy". * '''Hứa Thúc Vi trong "Bản sự phương" nói:''' Tôi bị bệnh ẩm tích (nước đọng) đã ba mươi năm. Ban đầu do thời trẻ đêm ngồi viết văn, nghiêng người sang trái tựa bàn, nên đồ ăn thức uống đa phần rơi xuống bên trái. Nửa đêm tất uống vài chén rượu rồi lại nằm nghiêng trái. Lúc trẻ không biết, ba năm năm sau thấy rượu xuống phía trái có tiếng kêu, mạn sườn đau, ăn kém, cồn cào, uống nửa chén rượu là ngưng. Mười mấy ngày tất nôn ra vài thăng nước chua. Mùa hè chỉ bên phải có mồ hôi, bên trái tuyệt không có. Tìm khắp danh y và các phương lạ, đôi khi trúng bệnh nhưng chỉ được hơn tháng lại tái phát. Các thuốc bổ như Thiên hùng, Phụ tử, Phàn thạch; các thuốc lợi như Khiên ngưu, Cam toại, Đại kích đều đã nếm đủ. Tự suy đoán tất có cái túi tích (phép nang), như nước đọng ở hố vũng, hố không đầy thì không chảy. Chỉ nước trong mới chảy đi, còn nước đục thì đình trệ, không có đường thoát, nên tích tụ 5, 7 ngày tất phải nôn ra mới hết. Tỳ thổ ghét thấp mà nước thì chảy về chỗ thấp, không gì bằng làm khô Tỳ (táo tỳ) để khử thấp, bồi đắp thổ để lấp hố vũng. Bèn bỏ hết các thuốc khác, chỉ dùng: Thương truật 1 cân (bỏ vỏ, thái phiến, tán bột), vừng sống (nửa lạng - giã với 2 chén nước lọc lấy nước cốt), Đại táo 50 quả (nấu, bỏ vỏ hạt). Giã trộn làm viên bằng hạt ngô. Mỗi ngày bụng đói uống 50 viên với nước ấm, tăng dần đến 100-200 viên. Kiêng đào, lý, thịt chim sẻ. Uống ba tháng thì bệnh dứt. Từ đó thường xuyên uống, không nôn không đau, ngực bụng khoan khoái, ăn uống như xưa, mùa hè mồ hôi ra khắp thân, dưới đèn có thể viết chữ nhỏ, đều là sức của Thuật vậy. Lúc mới uống tất cảm thấy hơi táo, dùng bột Sơn chi tử pha nước sôi uống để giải, uống lâu cũng tự hết táo. ====【Phụ phương】==== Cũ 2, mới 32. * '''Pháp phục Thuật (Cách ăn Thuật):''' Làm đen râu tóc, giữ sắc diện, mạnh gân xương, sáng tai mắt, trừ phong khí, nhuận da thịt, uống lâu khiến người nhẹ nhàng khỏe mạnh. Thương truật không kể nhiều ít, ngâm nước vo gạo ba ngày, mỗi ngày thay nước, lấy ra cạo bỏ vỏ đen, thái phiến phơi khô, hỏa chậm sao vàng, giã mịn thành bột. Cứ mỗi cân bột Thuật dùng nửa cân bột Bạch phục linh đã đồ chín, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Lúc đói hoặc sắp ngủ uống 15 viên với nước nóng. Lại dùng bột Thuật 6 lạng, bột Cam thảo 1 lạng trộn đều pha nước uống, dùng nước này chiêu thuốc viên càng diệu. Kiêng đào, lý, thịt sẻ, ngao sò, cùng "tam bạch" (muối, đường, gạo trắng) và các loại tiết. (Kinh nghiệm phương) * '''Thương truật cao:''' (Tạp hứng phương của Đặng Tài Bút Phong): Trừ phong thấp, kiện tỳ vị, làm tóc trắng hóa đen, giữ nhan sắc, bổ hư tổn, có công hiệu lớn. Thương truật loại mới, cạo vỏ, thái mỏng, ngâm nước vo gạo hai ngày, mỗi ngày thay một lần. Lấy ra, dùng nước giếng mới múc ngập quá hai thốn, mùa xuân thu ngâm 5 ngày, hạ 3 ngày, đông 7 ngày. Vớt ra, dùng túi lụa đựng, đặt vào một nửa lượng nước ngâm ban đầu, vò rửa cho ra hết nhựa dịch, vắt khô. Lấy bã giã nát, lại dùng túi lụa vò trong nửa lượng nước còn lại cho đến khi hết dịch thì thôi. Đem nước dịch cho vào nồi cát lớn, lửa chậm nấu thành cao. Cứ mỗi cân cao thêm 4 lạng mật trắng, nấu tiếp hai nén hương. Mỗi cân cao đã thành, thêm nửa cân bột Bạch phục linh đã lắng sạch, trộn đều cho vào bình. Mỗi lần uống 3 thìa, sáng sớm và lúc nằm mỗi lần một liều, chiêu bằng rượu ấm. Kiêng giấm và đồ chua, đào, lý, sẻ, ngao, rau muống, cá mè... ** Sách "Hoạt nhân tâm thống" của Ngô Cầu: Trị thấp khí ở kinh Tỳ, ăn ít, chân sưng không lực, thương thực, tửu sắc quá độ, lao dịch tổn thương, xương nóng. Dùng Thương truật trắng tươi 20 cân, ngâm cạo vỏ thô, phơi thái, ngâm nước vo gạo một đêm. Lấy ra, cùng một thạch nước suối, đun lửa chậm trong nồi cát còn một nửa, bỏ bã. Lại cho lá Thạch nam 3 cân (chải sạch lớp nhung đỏ), Chử thực tử 1 cân, Xuyên đương quy nửa cân, Cam thảo 4 lạng thái nhỏ, cùng sắc đến khi màu vàng, lọc bỏ bã, sắc tiếp thành cao, pha mật dùng. * '''Thương truật hoàn:''' (Thụy Trúc Đường phương của Tát Khiêm Trai): Thanh thượng thực hạ (làm mát phần trên, chắc phần dưới), kiêm trị các chứng nội ngoại chướng ở mắt. Thương truật Mao Sơn (rửa cạo sạch) 1 cân, chia làm 4 phần, ngâm rượu, giấm, nước vo gạo nếp, đồng tiện (nước tiểu trẻ em) mỗi thứ 3 ngày, mỗi ngày thay một lần. Lấy ra rửa sạch giã phơi sấy, sao thơm cùng hắc chi ma (vừng đen), cùng tán bột, dùng hồ rượu quấy bột mì làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần lúc đói uống 50 viên với nước trắng. ** Lý Trọng Nam "Vĩnh loại phương" - Bát chế Thương truật hoàn: Sơ phong thuận khí dưỡng thận, trị thấp khí tý thống ở lưng bàn chân. Thương truật 1 cân, chia làm 4 phần, ngâm rượu, giấm, nước vo gạo, nước muối mỗi thứ 3 ngày, phơi khô. Lại chia làm 4 phần, dùng Xuyên tiêu (bỏ hạt), Hồi hương, Bổ cốt chỉ, Hắc khiên ngưu mỗi thứ 1 lạng sao thơm cùng, sau đó bỏ các vị kia chỉ lấy Thuật tán bột, hồ giấm làm viên. Sau tuổi 50 thêm bột Trầm hương 1 lạng. * '''Thương truật tán:''' Trị phong thấp, thường uống mạnh gân xương, sáng mắt. Thương truật 1 cân, ngâm nước vo gạo nếp, dùng dao tre cạo vỏ. Nửa cân ngâm rượu không tro (vô hôi tửu), nửa cân ngâm đồng tiện, mùa xuân 5 ngày, hạ 3, thu 7, đông 10 ngày thì lấy ra. Trên đất sạch đào một cái hố, đốt than hoa cho đỏ rực, bỏ than đi, đem rượu và nước tiểu ngâm thuốc đổ vào hố, rồi đặt Thuật vào trong, lấy đồ gốm đậy kín, trát bùn một đêm, lấy ra tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền lúc đói với rượu ấm hoặc nước muối. ** Vạn Biểu "Tích thiện đường phương" - Lục chế Thương truật tán: Trị hạ nguyên hư tổn, thiên trụy (sa tinh hoàn), đau dương vật. Thương truật Mao Sơn 6 cân, chia 6 phần: 1 phần ngâm nước vo gạo 2 ngày rồi sao; 1 phần ngâm rượu 2 ngày rồi sao; 1 phần dùng muối xanh nửa cân sao vàng rồi bỏ muối; 1 phần dùng Tiểu hồi hương 4 lạng sao vàng rồi bỏ hồi; 1 phần dùng Đại hồi hương 4 lạng sao vàng rồi bỏ hồi; 1 phần dùng nước cốt quả Dâu (Tang thầm) ngâm 2 ngày rồi sao. Lấy Thuật tán bột, uống mỗi lần 3 tiền với rượu ấm. * '''Cố chân đan:''' (Thụy Trúc Đường phương): Táo thấp dưỡng tỳ, trợ vị cố chân. Thương truật Mao Sơn 1 cân, chia 4 phần: 1 lạng sao. Chọn lấy Thuật tán bột, hồ rượu quấy bột mì làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm lúc đói. * '''"Càn khôn sinh ý" Bình bổ cố chân đan:''' Trị nguyên tạng lâu ngày bị hư, di tinh bạch trọc, phụ nữ xích bạch đới hạ, băng lậu. Thương truật Kim Châu 1 cân, chia 4 phần: 1 phần sao với Xuyên tiêu 1 lạng; 1 phần sao với Phá cố chỉ 1 lạng; 1 phần sao với Hồi hương, Muối ăn mỗi thứ 1 lạng; 1 phần sao với thịt Xuyên luyện (Khổ luyện tử) 1 lạng. Lấy Thuật sạch tán bột, thêm bột Bạch phục linh 2 lạng, bột Đương quy rửa rượu 2 lạng, hồ rượu quấy bột mì làm viên. Mỗi lần uống 50 viên với rượu muối lúc đói. * '''Cố nguyên đan:''' Trị nguyên tạng lâu hư, di tinh bạch trọc ngũ lâm, cùng thoát vị (sán khí) tiểu trường bàng quang, phụ nữ đới hạ xích bạch, băng huyết, đại tiện ra máu... lấy việc tiểu tiện bớt số lần làm hiệu nghiệm. Thương truật tốt 1 cân, chia 4 phần: 1 phần sao cùng Tiểu hồi hương, Muối mỗi thứ 1 lạng; 1 phần sao cùng Xuyên tiêu, Bổ cốt chỉ mỗi thứ 1 lạng; 1 phần sao cùng Xuyên ô đầu, thịt Xuyên luyện tử mỗi thứ 1 lạng; 1 phần dùng giấm tốt, rượu già mỗi thứ nửa cân nấu cạn sấy khô. Tất cả tán bột, hồ rượu làm viên. (Bách nhất tuyển phương) * '''Thiếu dương đan:''' Thương truật (ngâm nước vo gạo nửa ngày, cạo vỏ, phơi khô tán bột) 1 cân, Địa cốt bì (rửa nước ấm, bỏ lõi phơi khô tán bột) 1 cân, Tang thầm (quả dâu) chín 20 cân (cho vào chậu sứ vò nát, túi lụa ép lấy nước). Hòa bột như hồ, đổ vào mâm, phơi nắng ban ngày hứng sương ban đêm, thu lấy tinh hoa nhật nguyệt, đợi khô tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt đậu đỏ. Mỗi lần uống 20 viên với rượu không tro, ngày 3 lần. Một năm tóc bạc hóa đen, ba năm mặt như trẻ con. (Bảo thọ đường phương) * '''Giao cảm đan:''' Bổ hư tổn, cố tinh khí, đen râu tóc. Phương của Thân tiên sinh ở thành Thiết Ngôn, uống lâu giúp có con. Thương truật Mao Sơn 1 cân (chia 4 phần ngâm rượu, giấm, nước vo gạo, nước muối mỗi thứ 7 ngày, phơi khô tán bột), Xuyên tiêu (bỏ hạt), Tiểu hồi hương mỗi thứ 4 lạng (sao tán bột), trộn đều luyện mật làm viên. * '''Giao gia hoàn:''' Thăng thủy giáng hỏa, trừ bách bệnh. Thương truật 1 cân (chia 4 phần: ngâm nước vo gạo sao; ngâm nước muối sao; sao với Xuyên tiêu; sao với Phá cố chỉ), Hoàng bá (cạo sạch) 1 cân (chia 4 phần: sao rượu; ngâm đồng tiện sao; sao với Tiểu hồi hương; dùng sống). Bỏ các vị kia, chỉ lấy Thuật và Bá tán bột, luyện mật làm viên. (Tạp hứng phương) * '''Khảm ly hoàn:''' Tư âm giáng hỏa, khai vị giúp ăn ngon, mạnh gân xương, khứ thấp nhiệt. Thương truật trắng 1 cân (chia 4 phần sao với Xuyên tiêu, Phá cố chỉ, Ngũ vị tử, Xuyên khung mỗi vị 1 lạng, chỉ lấy Thuật tán bột), Vỏ cây Hoàng bá 4 cân (chia 4 phần: tẩm mỡ dê nướng; tẩm sữa người nướng; tẩm đồng tiện nướng; tẩm nước vo gạo nướng; mỗi thứ làm 12 lần, tán bột). Trộn đều luyện mật làm viên. (Tích thiện đường phương) * '''Bất lão đan:''' Bổ tỳ ích thận, uống nó thì 70 tuổi cũng không có tóc bạc. Thương truật Mao Sơn 4 cân (chia 4 phần: 1 cân ngâm rượu sấy; 1 cân ngâm giấm sấy; 1 cân sao với 4 lạng muối; 1 cân sao với 4 lạng tiêu), Hà thủ ô đỏ và trắng mỗi thứ 2 cân (ngâm nước vo gạo, dao tre cạo vỏ, dùng đậu đen và hồng táo mỗi thứ 5 thăng đồ cùng cho đến khi đậu nhừ, phơi khô), Địa cốt bì (bỏ lõi) 1 cân. Tất cả lấy bột sạch, hòa nước cốt Tang thầm (quả dâu) thành khối, trải trong chậu, nước cốt ngập quá ba ngón tay, phơi nắng hứng sương, đợi khô giã bột, luyện mật làm viên. Mỗi lần uống 100 viên với rượu lúc đói. (Y lũy nguyên nhung) * '''Linh chi hoàn:''' Trị tỳ thận khí hư, bồi bổ tinh tủy, thông lợi tai mắt. Thương truật 1 cân, ngâm nước vo gạo, xuân hạ 5 ngày, thu đông 7 ngày, hàng ngày thay nước, dao tre cạo vỏ thái phơi, giã bột, thịt táo đồ nhừ trộn làm viên. Mỗi lần uống 30-50 viên với nước táo lúc đói. (Kỳ hiệu lương phương) * '''Tuyệt diệu tráng cốt hoàn:''' Bổ tỳ tư thận, sinh tinh mạnh xương, là phương thuốc tiên chân chính. Thương truật (bỏ vỏ) 5 cân (tán bột, lọc với nước vo gạo lấy phần lắng ở dưới), Vừng (chi ma) 2 thăng rưỡi (bỏ vỏ giã nát, túi lụa lọc bỏ bã). Lấy nước cốt vừng trộn với bột Thuật, phơi khô. Mỗi lần uống 3 tiền với nước cơm hoặc rượu lúc đói. (Tôn thị tập hiệu phương) * '''Mặt vàng ăn ít:''' Nam nữ mặt không sắc máu, ăn ít hay nằm. Thương truật 1 cân, Thục địa hoàng nửa cân, Can khương (bào) mùa đông 1 lạng (xuân thu 5 tiền, hạ 2 tiền). Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 30 viên với nước ấm. (Tế sinh phương) * '''Trẻ nhỏ có tích (pí tật):''' Thương truật 4 lạng, tán bột. Gan dê 1 bộ, dao tre lạng ra, rắc bột Thuật vào, dùng dây buộc lại, cho vào nồi đất nấu chín, giã làm viên uống. (Sinh sinh biên) * '''Chứng nghiện ăn gạo sống:''' Nam nữ do ăn đồ sống chín lưu trệ ở trường vị sinh ra giun sán, lâu ngày dẫn đến thèm ăn gạo sống, nếu không có thì suốt ngày không vui, đến mức tiều tụy vàng vọt, không muốn ăn uống. Dùng Thương truật ngâm nước vo gạo một đêm, thái sấy tán bột, dùng bánh bao (chưng bính) làm viên. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm trước khi ăn, ngày 3 lần. Xưa có kỹ nữ tên Hoa Thúy mắc bệnh này, quan Triệu Doãn dùng phương này trị trong hai tuần thì khỏi. Ấy là vì gạo sống lưu trệ, trường vị bị thấp thì ngũ cốc không tiêu mà thành bệnh, Thương truật năng khứ thấp ấm dạ dày tiêu ngũ cốc vậy. (Gia tạng kinh nghiệm phương) * '''Bụng hư lạnh, không thể ăn uống:''' Ăn vào là không tiêu, người gầy yếu sinh bệnh. Thuật 2 cân, Thần khúc 1 cân. Sao tán bột, luyện mật làm viên. Mỗi lần uống 30 viên với nước cơm, ngày 3 lần. Nếu quá lạnh thêm Can khương 3 lạng; đau bụng thêm Đương quy 3 lạng; quá gầy yếu thêm Cam thảo 2 lạng. (Trử hậu phương) * '''Tỳ thấp thủy tả (tiêu chảy dữ dội):''' Người mệt mỏi không lực, ngũ cốc không tiêu, đau bụng dữ dội. Thương truật 2 lạng, Bạch thược dược 1 lạng, Hoàng cầm nửa lạng, Đạm quế 2 tiền. Mỗi lần dùng 1 lạng, nước 1 bát rưỡi, sắc còn 1 bát, uống ấm. Nếu mạch huyền đầu hơi đau thì bỏ Thược dược, thêm Phòng phong 2 lạng. (Bảo mệnh tập) * '''Mùa hè tiêu chảy đột ngột (thử nguyệt bạo tả):''' Làm mạnh Tỳ ấm dạ dày và trị đồ ăn tổn thương. '''Khúc Thuật hoàn:''' Dùng Thần khúc (sao), Thương truật (ngâm nước vo gạo một đêm, sấy) lượng bằng nhau tán bột, hồ làm viên. Mỗi lần uống 30-50 viên với nước cơm. (Hòa tễ cục phương) * '''Thôn tả lâu ngày (tiêu chảy phân sống):''' '''Tiêu Thuật hoàn:''' Dùng Thương truật 2 lạng, Xuyên tiêu 1 lạng. Tán bột, hồ giấm làm viên. Mỗi lần uống 20 viên với nước ấm trước khi ăn. Nếu bị lỵ nặng lâu ngày thì thêm Quế. (Bảo mệnh tập) * '''Tỳ thấp hạ huyết:''' Thương truật 2 lạng, Địa dư 1 lạng. Chia làm 2 liều, nước 2 chén sắc còn 1 chén, uống ấm trước khi ăn. Nếu lỵ lâu ngày hư hoạt thì dùng phương này chiêu Đào hoa hoàn. (Bảo mệnh tập) * '''Trường phong hạ huyết:''' Thương truật không kể nhiều ít, dùng nước cốt đặc của Bồ kết (Tạo giác) ngâm một đêm, nấu cạn, sấy tán bột, hồ mì làm viên. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm lúc đói, ngày 3 lần. (Phụ nhân lương phương) * '''Thấp khí đau mình:''' Thương truật ngâm nước vo gạo thái lát, sắc lấy nước đặc nấu thành cao, pha nước ấm uống. (Giản tiện phương) * '''Bổ hư sáng mắt, mạnh xương hòa huyết:''' Thương truật (ngâm nước vo gạo) 4 lạng, Thục địa hoàng (sấy) 2 lạng. Tán bột, hồ rượu làm viên. Mỗi lần uống 30-50 viên với rượu ấm, ngày 3 lần. (Phổ tế phương) * '''Thanh manh tước mục (Quáng gà):''' (Thánh huệ phương): Dùng Thương truật 4 lạng, ngâm nước vo gạo một đêm, thái sấy tán bột. Mỗi lần dùng 3 tiền, Gan lợn 3 lạng rạch ra rắc thuốc vào trong, buộc chặt, cho thêm 1 hộc gạo lương (túc mễ), 1 bát nước, nấu trong nồi đất cho chín. Xông mắt, lúc sắp ngủ ăn gan uống nước, người lớn trẻ em đều trị được. ** Phương khác: Không kể bệnh lâu hay mới. Dùng Thương truật 2 lạng, ngâm nước vo gạo, sấy giã tán bột. Mỗi lần 1 tiền, lấy 1 cân gan dê tốt, dao tre cắt ra rắc thuốc vào, buộc bằng dây gai, dùng nước vo gạo nấu chín, đợi nguội thì ăn, lấy việc khỏi bệnh làm chừng. * '''Mắt mờ rít (hôn sáp):''' Thương truật nửa cân (ngâm nước vo gạo 7 ngày, cạo vỏ thái sấy), Mộc tặc mỗi thứ 2 lạng. Tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với trà hoặc rượu. (Thánh huệ phương) * '''Trẻ sơ sinh mắt rít không mở được hoặc chảy máu:''' Thương truật 2 tiền, cho vào mật lợn buộc lại nấu chín. Lấy hơi thuốc xông mắt, sau đó nhai lấy nước cho trẻ uống. Rất diệu. (Ấu ấu tân thư) * '''Phong nha sưng đau (đau răng):''' Thương truật ngâm nước muối, đốt tồn tính, tán bột xát răng. Trừ phong nhiệt. (Phổ tế phương) * '''Bệnh lạ sâu rốn (tề trùng):''' Trong bụng cứng như sắt đá, trong rốn chảy nước ra, xoay vần biến thành hình sâu bò quanh thân, ngứa không chịu nổi, quét không hết. Dùng Thương truật sắc nước đặc mà tắm. Lại lấy bột Thương truật uống với nước cơm. (Y văn ghi chép) ===MẦM THƯƠNG TRUẬT (苗)=== '''Chủ trị:''' Nấu nước uống rất thơm, khử thủy ẩm (Đào Hoằng Cảnh). Cũng có tác dụng cầm mồ hôi trộm (tự hãn). ==CẨU TÍCH (狗脊)== (Trích từ sách "Bản kinh" - Trung phẩm) '''Tên khoa học:''' Cibotium barometz (L.) J. Sm. ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Cường lữ''' (強膂 - Biệt lục), '''Phù cân''' (扶筋 - Biệt lục), '''Bách chi''' (百枝 - Bản kinh), '''Cẩu thanh''' (狗青 - Ngô Phổ). '''Tô Cung nói:''' Vị thuốc này mầm giống Quán chúng, rễ dài và nhiều nhánh, hình trạng như xương sống của con chó (cẩu chi tích cốt), mà thịt rễ có màu xanh lục, nên lấy đó làm tên. '''Lý Thời Trân nói:''' Cường lữ, Phù cân là gọi tên theo công hiệu (làm mạnh xương sống, giúp gân cốt). Sách Biệt lục lại gọi là Phù cái (扶蓋), ấy là chữ Phù cân viết nhầm. Bản kinh chép Cẩu tích còn có tên là Bách chi, Biệt lục chép Tỳ giải còn có tên là Xích tiết; mà sách Ngô Phổ bản thảo lại bảo Bách chi là Tỳ giải, Xích tiết là Cẩu tích, xem ra đều lầm cả. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Cẩu tích sinh ở thung lũng Thường Sơn. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ, phơi khô. '''Ngô Phổ nói:''' Cẩu tích giống như Tỳ giải, thân có đốt như tre và có gai, lá tròn màu đỏ, rễ vàng trắng cũng như rễ tre, trên lông có gai. Kỳ Bá kinh nói: Thân không có đốt, đầu lá tròn màu xanh đỏ, vỏ trắng có gân đỏ. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay ở núi rừng đâu đâu cũng có, rất giống cây Bạt khế (Kim cang) nhưng hơi khác. Thân lá nhỏ và béo, các đốt thưa, thân to thẳng và có gai, lá tròn có gân đỏ, rễ lồi lõm khúc khuỷu như sừng dê, loại chắc mà nhỏ là đúng. '''Tô Tụng nói:''' Nay ở núi Thái Hành và các châu Tư, Ôn, Mi cũng có. Mầm nhọn nhỏ màu xanh, cao khoảng một thước trở lên, không có hoa. Thân lá giống Quán chúng nhưng nhỏ hơn. Rễ màu đen, dài ba bốn thốn, nhiều nhánh, giống như xương sống chó, to chừng hai ngón tay. Thịt rễ màu xanh lục. Mùa xuân, mùa thu hái rễ, phơi khô. Các phương thuốc nay cũng có dùng loại có lông vàng (Kim mao). Lời Đào thị nói (thân có gai) là loại Tỳ giải có gai, không phải Cẩu tích, nhưng dân gian vùng Giang Tả hiện nay vẫn dùng loại đó. '''Lôi Công nói:''' Phàm dùng Cẩu tích, chớ dùng rễ cây Thấu sơn đằng, hình trạng rất giống, chỉ có điều vị cực đắng, không thể ăn được. '''Lý Thời Trân nói:''' Cẩu tích có hai loại: Một loại rễ màu đen, như xương sống chó; một loại có lông vàng kim, hình như con chó, đều có thể nhập thuốc. Thân nó nhỏ, lá và hoa mọc đối từng cặp, chính là giống loại đại diệp quyết (quyết lá lớn), so với lá Quán chúng thì có răng cưa, mặt trước và mặt sau lá đều bóng. Rễ to như ngón tay cái, có các sợi rễ cứng màu đen mọc cụm lại. Những gì Ngô Phổ và Đào Hoằng Cảnh mô tả về rễ và mầm đều là cây Bạt khế; còn như Tô Cung, Tô Tụng nói mới chính là chân Cẩu tích vậy. Xét sách Quảng Nhã của Trương Ấp nói: Bạt khế là Cẩu tích. Sách Bác vật chí của Trương Hoa nói: Bạt khế hay bị lẫn với Tỳ giải, còn có tên là Cẩu tích. Xem đó thì thấy người xưa lầm lấy Bạt khế làm Cẩu tích, sự sai lệch nối tiếp nhau đã lâu vậy. Tuy nhiên, ba thứ Bạt khế, Tỳ giải, Cẩu tích hình trạng tuy khác nhưng công dụng cũng không cách xa nhau lắm. ===RỄ CẨU TÍCH (根)=== ===='''【Tu trị - Chế biến】'''==== '''Lôi Công nói:''' Phàm tu trị, dùng lửa đốt sạch lông tơ, thái nhỏ, ngâm rượu một đêm rồi đem đồ (chưng) từ giờ Tỵ đến giờ Thân, lấy ra phơi khô dùng. '''Lý Thời Trân nói:''' Người nay chỉ thái lát sao nóng, bỏ sạch lông tơ mà dùng. ===='''【Khí vị】'''==== Vị đắng (khổ), tính bình, không độc. * '''Sách "Biệt lục" viết:''' Vị ngọt (cam), tính hơi ấm (vi ôn). * '''Ngô Phổ dẫn lời Thần Nông:''' Vị đắng; '''Đồng Quân, Hoàng Đế, Kỳ Bá, Lôi Công, Biển Thước:''' Vị ngọt, không độc; '''Lý Đương Chi:''' Tính hơi ấm. * '''Chân Quyền nói:''' Vị đắng, cay, tính hơi nóng. * '''Từ Chi Tài nói:''' Tỳ giải làm sứ cho nó. Ghét (ố) Bại tương, Sa thảo (Cỏ cú). ===='''【Chủ trị】'''==== Trị thắt lưng và lưng cứng đờ, các khớp xương vận động khó khăn (quan cơ hoãn cấp), chứng chu tý do hàn thấp gây đau đầu gối, rất có lợi cho người già (Bản kinh). Chữa chứng đi tiểu không tự chủ, nam giới chân yếu đau lưng, phong tà lâm lộ (đái rắt), thiếu khí, mắt mờ, làm chắc xương sống giúp cúi ngửa dễ dàng, nữ giới thương trung (tổn thương bên trong) khớp xương nặng nề (Biệt lục). Trị nam nữ bị độc phong làm yếu chân, thận khí hư nhược, giúp nối liền gân cốt, bổ ích cho nam giới (Chân Quyền). Làm mạnh Can Thận, khỏe xương cốt, trị các chứng phong hư (Thời Trân). ===【Phụ phương】=== Mới thêm 4 phương. * '''Nam giới mắc các chứng phong:''' '''Tứ Bảo đan:''' Dùng Kim mao cẩu tích (dùng bùn muối bọc kín, nung đỏ rồi bỏ lông), Tô mộc, Tỳ giải, Xuyên ô đầu (dùng sống) lượng bằng nhau. Tán bột, dùng giấm gạo trộn làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với rượu ấm hoặc nước muối. (Phổ tế phương) * '''Thiếu nữ bị bạch đới, Xung Nhâm hư hàn:''' '''Lộc nhung hoàn:''' Dùng Kim mao cẩu tích (đốt bỏ lông), Bạch liễm mỗi vị 1 lạng, Lộc nhung (ngâm rượu đồ, sấy) 2 lạng. Tán bột, dùng nước sắc Ngải cứu pha giấm nấu hồ gạo nếp làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên lúc đói với rượu ấm. (Tế sinh phương) * '''Cố tinh mạnh xương:''' Kim mao cẩu tích, Viễn chí nhục, Bạch phục thần, Đương quy thân lượng bằng nhau. Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với rượu. (Tập giản phương) * '''Chân sưng sau khi bị bệnh:''' Chỉ cần tiết chế ăn uống để dưỡng vị khí. Bên ngoài dùng Cẩu tích sắc nước để ngâm rửa chân. (Ngô Thụ - Uẩn yếu) ==QUÁN CHÚNG (貫眾)== (Trích từ sách "Bản kinh" - Hạ phẩm) '''Tên khoa học:''' Dryopteris crassirhizoma Nakai (hoặc các loài Quyết họ Polypodiaceae như Cyrtomium fortunei J. Sm.). ===【Thích danh - Giải thích tên gọi】=== '''Quán tiết''' (貫節 - Bản kinh), '''Quán cừ''' (貫渠 - Bản kinh), '''Bách đầu''' (百頭 - Bản kinh, còn gọi là '''Hổ quyển''', '''Biến phù'''), '''Thảo si đầu''' (草鴟頭 - Biệt lục), '''Hắc cẩu tích''' (黑狗脊 - Cương mục), '''Phượng vĩ thảo''' (鳳尾草 - Đồ kinh). '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cỏ này lá và cuống như đuôi chim phượng, rễ của nó một gốc mà có nhiều nhánh xuyên qua, nên cỏ tên là Phượng vĩ, rễ tên là Quán chúng, Quán tiết, Quán cừ. Cừ nghĩa là Khôi (lớn). Sách Ngô Phổ bản thảo viết là Quán trung; dân gian gọi lầm là Quán trọng, Quản trọng đều là sai cả. Sách Nhĩ Nhã gọi là Chước (濼), chính là vị Quán chúng này vậy. Biệt lục gọi là Bá bình, Dược tảo, đều là do chữ viết sai lạc mà ra. Vị Kim tinh thảo cũng có tên là Phượng vĩ thảo, trùng tên với vị này, nên cần khảo cứu đối chiếu kỹ. '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Các vùng gần đường đi đâu cũng có. Lá như loài quyết lớn. Hình sắc và lông măng ở rễ hoàn toàn giống đầu chim diều hâu già (si đầu), nên gọi là Thảo si đầu. ===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】=== '''Sách "Biệt lục" viết:''' Quán chúng sinh ở thung lũng Huyền Sơn và núi Thiếu Thất vùng Oan Cú. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ, phơi trong râm (âm can). '''Ngô Phổ nói:''' Lá màu xanh vàng, mọc đối từng cặp, cuống có lông đen, mọc thành cụm, đông hè không chết. Tháng Tư nở hoa trắng, tháng Bảy kết quả đen, tụ lại liền cuộn mọc ở bên cạnh. Tháng Ba, tháng Tám hái rễ, tháng Năm hái lá. '''Trần Bảo Thăng nói:''' Mầm giống Cẩu tích, trạng như đuôi chim trĩ, rễ thẳng nhiều nhánh, vỏ đen thịt đỏ, loại cong queo gọi là Thảo si đầu, nơi thung lũng u ám thì có. '''Tô Tụng nói:''' Nay ở các châu quận Thiểm Tây, Hà Đông và vùng Kinh, Tương có nhiều, nhưng ít khi thấy hoa. Mùa xuân mọc mầm màu đỏ. Lá lớn như lá quyết. Cuống có ba cạnh. Lá màu xanh giống lông chim gà, nên còn gọi là Phượng vĩ thảo. Rễ màu đen tím, hình như móng chó, dưới có lông đen, lại giống chim diều hâu già. Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã nói: Lá tròn nhọn, cuống có lông đen, bò sát đất, mùa đông không chết; sách Quảng Nhã gọi là Quán tiết chính là nó vậy. '''Lý Thời Trân nói:''' Thường mọc ở nơi núi âm gần nước. Nhiều rễ mọc thành cụm, một rễ có vài cuống, cuống to như chiếc đũa, có chất nhớt bóng. Lá mọc đối từng cặp, giống lá Cẩu tích nhưng không có răng cưa, màu xanh vàng, mặt trên đậm mặt dưới nhạt. Rễ cong và có miệng nhọn, lông đen mọc túm tụm, cũng giống rễ Cẩu tích nhưng lớn hơn, trạng như chim diều hâu đang nằm (phục si). ===RỄ QUÁN CHÚNG (根)=== '''【Khí vị】''' Vị đắng (khổ), tính hơi lạnh (vi hàn), có độc. * '''Từ Chi Tài nói:''' Khuẩn (nấm), Xích tiểu đậu làm sứ cho nó. Phục được Thạch chung nhũ. '''【Chủ trị】''' Trị tà nhiệt khí trong bụng, các loại độc, sát tam trùng (giun sán) (Bản kinh). Khử sán xơ mít (thốn bạch), phá chứng trưng hà, trừ đầu phong (đau đầu do phong), cầm máu vết thương do kim khí (Biệt lục). Tán bột, uống 1 tiền với nước giúp cầm máu cam rất hiệu nghiệm (Tô Tụng). Trị đi ngoài ra máu, băng huyết, đới hạ, sản hậu huyết khí trướng đau, độc ban chẩn, độc sơn (sơn ăn), xương hóc. Giải được bệnh ở lợn (Thời Trân). '''【Phát minh】''' '''Lý Thời Trân nói:''' Quán chúng trị rất tốt chứng huyết khí của phụ nữ. Nước cốt của rễ có thể chế được Tam hoàng, hóa được Ngũ kim, phục được Chung nhũ, kết được Chu sa, chế được Thủy ngân; lại có thể giải độc, làm mềm chỗ cứng (nhuyễn kiên). Vương Hải Tạng dùng vị này trong bài "Khoái ban tán" để trị mùa hè đậu mọc không thoát. Nói rằng Quán chúng có độc nhưng lại giải được độc tà nhiệt trong bụng. Bệnh do nội cảm phát ra ngoài dùng vị này rất hiệu nghiệm, không nhất thiết phải phân kinh như pháp cổ. Lại nữa, trong Chử đậu thiếp của Hoàng Sơn Cốc nói: Năm mất mùa, dùng một thăng đậu đen rửa sạch, cho một cân Quán chúng thái như quân cờ vào, cùng nấu với nước, dùng lửa văn châm chước đến khi đậu chín, lấy đậu ra phơi khô cho thấm hết nước cốt dư, sảy bỏ Quán chúng. Mỗi ngày lúc đói ăn 5-7 hạt đậu, có thể ăn các loại cành lá cây cỏ đều thấy có vị và giúp no lòng. Lại sách Bách nhất tuyển phương của Vương H璽 chép: Có vị Tưởng giáo thụ ở Chừ Châu, vì ăn canh cá chép ngọc thiền mà bị hóc xương sườn cá, dùng các loại thuốc đều không khỏi. Có người bảo dùng Quán chúng sắc lấy nước cốt đậm một bát rưỡi, chia làm ba lần uống liên tiếp đến đêm, liền khạc xương ra. Cũng có thể tán bột uống 1 tiền với nước. Xem đó thì biết công năng nhuyễn kiên của nó không chỉ trị huyết, trị sang lở mà thôi vậy. ===【Phụ phương】=== Mới thêm 15 phương. * '''Chảy máu cam không ngừng:''' Bột rễ Quán chúng, uống 1 tiền với nước. (Phổ tế phương) * '''Các chứng hạ huyết:''' Trường phong tửu lỵ (lỵ do rượu), trĩ ra máu. Dùng Hắc cẩu tích (loại vàng không dùng, phải dùng loại thịt bên trong màu đỏ, tức là Quán chúng vậy). Bỏ vỏ lông, thái sấy tán bột. Mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm lúc đói. Hoặc hồ giấm làm viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 30-40 viên với nước cơm. Hoặc đốt tồn tính, khử hỏa độc rồi tán bột, thêm chút xạ hương, uống 2 tiền với nước cơm. (Phổ tế phương) * '''Phụ nữ băng huyết:''' Quán chúng nửa lạng, sắc với rượu mà uống, lập tức cầm. (Tập giản phương) * '''Sản hậu mất máu:''' Mất máu quá nhiều, tâm phúc đau nhói. Dùng một củ Quán chúng hình như con nhím (thích vĩ), dùng toàn bộ không thái, chỉ vò sạch lông và đài hoa, dùng cho chứng xích bạch đới hạ nhiều năm, các thuốc không chữa được, dùng phương này cũng nghiệm, tên gọi là "Độc thánh thang". Phương như trên. * '''Ho ra mủ máu lâu năm:''' Quán chúng, Tô phương mộc lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 3 tiền, nước 1 bát, gừng sống 3 lát, sắc uống ngày 2 lần. * '''Ho lâu dần thành lao sái:''' Phượng vĩ thảo tán bột, dùng thịt cá tẩm vào mà ăn. (Thánh huệ phương) * '''Đậu chẩn mọc không thuận:''' '''Khoái ban tán:''' Quán chúng, Xích thược dược mỗi vị 1 tiền, Thăng ma, Cam thảo mỗi vị 5 phân. Thêm 3 lá Trúc diệp, nước 1 bát rưỡi, sắc còn 7 phần, uống ấm. (Phương của Vương Hải Tạng) * '''Đầu lở chốc trắng:''' Quán chúng, Bạch chỉ tán bột, trộn dầu bôi. Phương khác: Quán chúng đốt thành tro tán bột, trộn dầu bôi. (Thánh huệ phương) * '''Sơn ăn (tất sang) gây ngứa:''' Trộn bột Quán chúng với dầu mà bôi. (Thiên kim phương) * '''Hóc xương gà cá:''' Quán chúng, Sa nhân, Cam thảo lượng bằng nhau. Tán bột thô, dùng vải màn gói một ít, ngậm nuốt nước, lâu ngày xương theo đờm tự ra. (Phổ tế phương) * '''Giải độc Khinh phấn:''' Kẽ răng chảy máu, thối sưng. Quán chúng, Hoàng liên mỗi vị nửa lạng. Sắc nước, thêm chút băng phiến, thường xuyên súc miệng. (Lục thị - Tích đức đường phương) * '''Huyết lỵ không ngừng:''' Rễ Phượng vĩ thảo (tức Quán chúng) 5 tiền, sắc với rượu mà uống. (Tập giản phương) * '''Biến độc sưng đau (hạch bẹn):''' Quán chúng, uống với rượu 2 tiền, rất tốt. (Đa năng bỉ sự) ===HOA QUÁN CHÚNG (花)=== '''【Chủ trị】''' Ác sang (lở loét ác tính), khiến người ta bị tiết tả (Biệt lục). {{Chú thích cuối trang}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Y học]] hpx9rmkauq8kzj0pmx8bvw3k2ukhel1