Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.46.0-wmf.22
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Trang:Đại Nam quấc âm tự vị 1.pdf/3
104
21636
204553
85025
2026-04-04T18:42:29Z
~2026-20919-93
20033
204553
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="1" user="LMQ2401" /><div class="classic">
{{Chạy đầu trang|giữa=— IV —}}</noinclude>Làm tự-vị này, sơ tâm ta muốn cho có tiếng Langsa. Hồi mới khởi công, có nhiều quan Tây giùm giúp, sau các ông ấy có việc phải thuyên đi Bắc-kỳ, bỏ có một mình ta, lúng túng, phải bỏ phần dịch tiếng Langsa. Nhưng vậy nhơn khi rổi rảnh, ta cứ việc làm theo tiếng ta, chữ ta, viết đi chép lại, ngày đêm khó nhọc, hơn bốn năm trời mới thành công việc, mà cũng áy náy vì còn thiếu tiếng Langsa. Năm nay có quan tham tán cho quan toàn quiền là ông Landes trở về Gia-định, người cũng có giúp ta năm trước cùng bày cách cuộc cho ta phải làm tự-vị thể nào, xem công việc ta làm thì người cho là công việc rất lớn, nếu có dịch ra tiếng Langsa thì lại thêm bề bộn ; vã trong sự dịch ấy cũng phải tìm người, mà lại phải dụng công cho tới năm ba năm nữa, người bàn với ta rằng: « Tự-vị nước nào làm theo nước ấy, chẳng phải dịch tiếng Langsa làm chi, vã xưa nay trong nước Anam chưa hề có Tự-vị tiếng riêng, cứ việc in tiếng ta, chữ ta như tự-vị Trung-quấc, thì cũng là đều rất có ích. »
Ta nghĩ hể có tiếng nói, ắt phải có tự-vị làm chuẩn thẳng. Chữ nho thì cứ [[w:Khang Hi tự điển|tự điển Khương-hi]], chữ nôm chọn trong các ca vãn hay đã nói trước, cả thảy đều dùng chính nôm chính chữ ; quấc ngữ Latin thì tùy theo thói quen, giữ cho thiệt tiếng thiệt vần.
Ta mượn 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ, sắp đặt theo thứ lớp cho dễ việc tra tìm, ta dụng dấu riêng như chữ ''c'' chỉ là chữ nho ; chữ ''n'' chỉ là chữ nôm ; chữ ''c'' chữ ''n'' để chung thì chỉ là chữ nho mà có dùng nôm, cả thảy đều làm ra phân biệt.
Nghe lời quan tham tán, ta bèn làm đơn xin quan lớn Thống đốc Nam kỳ là ông Fourès, cử một hội viên quan tra xét tự vị ta làm; nhơn dịp ta cũng xin dâng cho Nhà-nước chuẩn tiền in, còn phần ta thì ra công sửa bản.
Nhờ hội phái viên có ông Navelle là quan giám đốc làm chủ, cùng nhiều quan lớn khác rộng xét công việc ta làm, đều cho là công việc đáng in, mà phúc lại cho quan Thống đốc.
Nay quan lớn Thống-đốc rộng lượng, y theo lời hội phái viên, bàn cùng hội đồng Quản-hạt, chịu chuẩn tiền in tự vị ta, ta lấy làm mầng cùng cám ơn người, cám ơn các quan trọng hai hội nhìn đến công khó nhọc ta, ta mới được đem ra mà chung cọng với mọi người, chính là đều ta sở nguyện.
{{phải|''Quí-tị niên [[wikt:cúc ngoạt|cúc ngoạt]] [[wikt:cốc đán|cốc đán]].''}}
{{giữa|DẤU RIÊNG :}}
{|align="center"
|-
| ''c.'' || = || Chữ nho
|-
| ''n.'' || = || Chữ nôm
|-
| cn. || = || Chữ nho mà có dùng nôm.
|-
| <nowiki>|</nowiki>|| = || Thế vì chữ mình đang giải nghĩa.
|-
| — || = || Thế vì chữ nho id.
|-
| id || = || Như nhau, đồng nghĩa trước.
|-
| = || = || Bằng nhau.
|}
Lời dặn: mỗi chữ đầu đều có để chữ ta, muốn biết chữ gì thì cứ đó mà tra ; bằng muốn viết cho chắc dấu, chắc vần thì cũng cứ để chữ đầu.
{{vạch tùy chỉnh|tl|40|d|10|tr|40}}<noinclude><references/></noinclude>
ondgt1ho5pciyi64cei7eyndamnibxs
Trang:Dictionarium Anamitico-Latinum.pdf/396
104
71685
204550
203684
2026-04-04T13:50:21Z
Assassas77
8886
204550
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="1" user="Assassas77" /><div class="classic">
{{Chạy đầu trang|giữa=342}}</noinclude>{{VBL/chữ đầu|NGÓ||NGÔ}}
{{div col|rules=3px double black}}
{| style="border-collapse: collapse;"
{{NVDHTV/mục|—澄|— chừng|eminùs conspicere.}}
{{NVDHTV/mục|窞—|dòm —|rimari.}}
{{NVDHTV/mục|—琰|— dặm|eminùs conspicere.}}
{{NVDHTV/mục|𦬶|Ngó}}
{{NVDHTV/mục|矩—|củ —|tuber nymphææ.}}
{{NVDHTV/mục|𢯏—離𮈔|bẻ — lìa tơ|à se invicem divelli.}}
{{NVDHTV/mục|䓊|Ngò, coriandrum.}}
{{NVDHTV/mục|蔞—|rau —|id.}}
{{NVDHTV/mục|午|Ngỏ, dicoopertus, a, um.}}
{{NVDHTV/mục|—𲈫|— cữa|janua patens.}}
{{NVDHTV/mục|𲈫—|cữa —|id.}}
{{NVDHTV/mục|—霓|— nghê|discoopertus, a, um.}}
{{NVDHTV/mục|底—|để —|apertum relinquere.}}
{{NVDHTV/mục|吘|Ngõ, ut ; porta.}}
|}
{{NVDHTV/mục|—咍|— hay| notum sit ; ut scias, sciat, &c.}}
{{NVDHTV/mục|𦖑—|nghe —|audire et percipere.}}*
{{NVDHTV/mục|—坤|— khôn|prudens ; sapiens.}}
{{NVDHTV/mục|賢—|hiền —|id.}}
{{NVDHTV/mục|—持|— đặng|ut possim, possis, &c.}}
{{NVDHTV/mục|—体|— thấy|ut videam, as, at, &c.}}
{{NVDHTV/mục|—埋|— may|fortuna; fortunatè}}
{{NVDHTV/mục|—昂|— ngàng|prospicere alicui; perspicax ingenium.}}
{{NVDHTV/mục|𲈫—|cữa —|porta major.}}
{{NVDHTV/mục|庄—旦|chẳng — đến|negligere.}}
{{NVDHTV/mục|才—|tài —|industria.}}
{{NVDHTV/mục|—朱|— cho|ut.}}
|}
{{div col end}}<noinclude></div>
<references/></noinclude>
pdunyotdxuf04dch3idpxozxc6i4q00
204551
204550
2026-04-04T13:51:08Z
Assassas77
8886
204551
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="1" user="Assassas77" /><div class="classic">
{{Chạy đầu trang|giữa=342}}</noinclude>{{VBL/chữ đầu|NGÓ||NGÔ}}
{{div col|rules=3px double black}}
{| style="border-collapse: collapse;"
{{NVDHTV/mục|—澄|— chừng|eminùs conspicere.}}
{{NVDHTV/mục|窞—|dòm —|rimari.}}
{{NVDHTV/mục|—琰|— dặm|eminùs conspicere.}}
{{NVDHTV/mục|𦬶|Ngó}}
{{NVDHTV/mục|矩—|củ —|tuber nymphææ.}}
{{NVDHTV/mục|𢯏—離𮈔|bẻ — lìa tơ|à se invicem divelli.}}
{{NVDHTV/mục|䓊|Ngò, coriandrum.}}
{{NVDHTV/mục|蔞—|rau —|id.}}
{{NVDHTV/mục|午|Ngỏ, dicoopertus, a, um.}}
{{NVDHTV/mục|—𲈫|— cữa|janua patens.}}
{{NVDHTV/mục|𲈫—|cữa —|id.}}
{{NVDHTV/mục|—霓|— nghê|discoopertus, a, um.}}
{{NVDHTV/mục|底—|để —|apertum relinquere.}}
{{NVDHTV/mục|吘|Ngõ, ut ; porta.}}
{{NVDHTV/mục|—咍|— hay| notum sit ; ut scias, sciat, &c.}}
{{NVDHTV/mục|𦖑—|nghe —|audire et percipere.}}*
{{NVDHTV/mục|—坤|— khôn|prudens ; sapiens.}}
{{NVDHTV/mục|賢—|hiền —|id.}}
{{NVDHTV/mục|—持|— đặng|ut possim, possis, &c.}}
{{NVDHTV/mục|—体|— thấy|ut videam, as, at, &c.}}
{{NVDHTV/mục|—埋|— may|fortuna; fortunatè}}
{{NVDHTV/mục|—昂|— ngàng|prospicere alicui; perspicax ingenium.}}
{{NVDHTV/mục|𲈫—|cữa —|porta major.}}
{{NVDHTV/mục|庄—旦|chẳng — đến|negligere.}}
{{NVDHTV/mục|才—|tài —|industria.}}
{{NVDHTV/mục|—朱|— cho|ut.}}
|}
{{div col end}}<noinclude></div>
<references/></noinclude>
gx0oawbjh6b3tj1yyq51rqc6krvilnz
204552
204551
2026-04-04T14:42:19Z
Assassas77
8886
204552
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="1" user="Assassas77" /><div class="classic">
{{Chạy đầu trang|giữa=342}}</noinclude>{{VBL/chữ đầu|NGÓ||NGÔ}}
{{div col|rules=3px double black}}
{| style="border-collapse: collapse;"
{{NVDHTV/mục|—澄|— chừng|eminùs conspicere.}}
{{NVDHTV/mục|窞—|dòm —|rimari.}}
{{NVDHTV/mục|—琰|— dặm|eminùs conspicere.}}
{{NVDHTV/mục|𦬶|Ngó}}
{{NVDHTV/mục|矩—|củ —|tuber nymphææ.}}
{{NVDHTV/mục|𢯏—離𮈔|bẻ — lìa tơ|à se invicem divelli.}}
{{NVDHTV/mục|䓊|Ngò, coriandrum.}}
{{NVDHTV/mục|蔞—|rau —|id.}}
{{NVDHTV/mục|午|Ngỏ, discoopertus, a, um.}}
{{NVDHTV/mục|—𲈫|— cữa|janua patens.}}
{{NVDHTV/mục|𲈫—|cữa —|id.}}
{{NVDHTV/mục|—霓|— nghê|discoopertus, a, um.}}
{{NVDHTV/mục|底—|để —|apertum relinquere.}}
{{NVDHTV/mục|吘|Ngõ, ut; porta.}}
{{NVDHTV/mục|—咍|— hay| notum sit; ut scias, sciat, &c.}}
{{NVDHTV/mục|𦖑—|nghe —|audire et percipere.}}
{{NVDHTV/mục|—坤|— khôn|prudens; sapiens.}}
{{NVDHTV/mục|賢—|hiền —|id.}}
{{NVDHTV/mục|—持|— đặng|ut possim, possis, &c.}}
{{NVDHTV/mục|—体|— thấy|ut videam, as, at, &c.}}
{{NVDHTV/mục|—埋|— may|fortuna; fortunatè.}}
{{NVDHTV/mục|—昂|— ngàng|prospicere alicui; perspicax ingenium.}}
{{NVDHTV/mục|𲈫—|cữa —|porta major.}}
{{NVDHTV/mục|庄—旦|chẳng — đến|negligere.}}
{{NVDHTV/mục|才—|tài —|industria.}}
{{NVDHTV/mục|—朱|— cho|ut.}}
{{NVDHTV/mục|茣|Ngô.}}
{{NVDHTV/mục|秘—|bí —|cucurbita melopepo.}}
{{NVDHTV/mục|覩覩—|đủ đủ —|carica papaya.}}
{{NVDHTV/mục|—茱萸|— châu du|sambucus nigra.}}
{{NVDHTV/mục|吳|Ngô, regnum antiquum Sinarum.}}
{{NVDHTV/mục|尚—|thằng —|sic contemptu vocant Sinenses.}}
{{NVDHTV/mục|遇|Ngộ, occurrere.}}
{{NVDHTV/mục|會—|hội —|sibi invicem opportunè occurrere.}}
{{NVDHTV/mục|悟|Ngộ, perspicax; intelligere.}}
{{NVDHTV/mục|頴—|dĩnh —|id.}}
{{NVDHTV/mục|忤|Ngộ, (pronunciatur etiam Ngỗ.) contumax; protervus.}}
{{NVDHTV/mục|—逆|— nghịch|id; rebellare.}}
{{NVDHTV/mục|悞|Ngộ, stolidus.}}
{{NVDHTV/mục|尚—|thằng —|id.}}
{{NVDHTV/mục|𤹿|Ngơ.}}
{{NVDHTV/mục|監—|làm —|dissimulare.}}
{{NVDHTV/mục|𥄭—|ngó —|avertere oculos.}}
{{NVDHTV/mục|—奡|— ngáo|stolidus; ineptus.}}
{{NVDHTV/mục|䇄—|ngất —|inattentus.}}
{{NVDHTV/mục|—艮|— ngẩn|stolidus.}}
{{NVDHTV/mục|諸—|chơ —|derelictus; orbus.}}
{{NVDHTV/mục|疑|Ngờ, arbitrari; existimare; suspicari.}}
{{NVDHTV/mục|疑—|nghi —|dubitare.}}
{{NVDHTV/mục|—羅|— là|putare; reri.}}
{{NVDHTV/mục|—浪|— rẳng|id.}}
|}
{{div col end}}<noinclude></div>
<references/></noinclude>
eja8ivcbu9eflyjeg99c4b6za9a3bw1
Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thái 1
114
71897
204556
204521
2026-04-05T06:46:17Z
Mrfly911
2215
204556
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái - các loại '''rau''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[../Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[../Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - Allium tuberosum), Giới (Kiệu - Allium chinense), Quỳ (Rau quỳ - Malva verticillata), Thông (Hành - Allium fistulosum), Hoắc (Lá đậu - Glycine max) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn Cứu hoang bản thảo, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY NỒNG) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo Chửu hậu phương).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (Thiên Kim).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - Allium victorialis). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (Allium ascalonicum - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (Bản kinh). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (Biệt lục). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách Thiên kim thực tính của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (Thánh huệ phương).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. Nông thư của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - Allium nipponicum), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong Nhĩ Nhã.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (Bản kinh).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (Biệt lục).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Khiên mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong Nông thư gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (Biệt lục). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách Nhĩ Nhã gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Khiên đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (Biệt lục).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (Nhật hoa).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (Đại Minh nói tính mát).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (Đường Bản Thảo). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (Khai Bảo). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (Nhật hoa). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách Tì Nhã, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (Biệt lục).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách Lĩnh Nam dị vật chí chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (Biệt lục). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. Biệt lục nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
* '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
* '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
* '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (Biệt lục). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (Nhật hoa).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài Bạch giới hoàn (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài Hắc giới hoàn (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (Biệt lục). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (Biệt lục). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách Bác tế phương gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (Đường Bản thảo). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách Thuyết văn gọi là Khương (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là Khương (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (Bản kinh). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (Biệt lục). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách Đồ kinh).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (Bản kinh).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (Biệt lục).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong Thiên Kim Phương mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (Thực y tâm kính).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Tuy (荽) trong Thuyết văn giải tự chép là Tùy (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ Nguyên (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là Tiên (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (Gia Hựu). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Cần (斳) sau này giản lược thành Cần (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách Lã Thị Xuân Thu khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (Bản kinh). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (Đường bản). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (Đường bản). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài Tỉnh tỳ tán trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (Đường bản). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (Nhật Hoa). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau Tân ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO THỊ - RAU ĐẬU XỊ (草豉)===
(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')
(Trích: Bản Thảo Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Ba Thục, Tây Vực. Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
dia0wasmmewm4f1ecv9pi82369xln66
204557
204556
2026-04-05T06:46:51Z
Mrfly911
2215
204557
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái - các loại '''rau cay nồng''' phần 1 (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[../Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[../Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - Allium tuberosum), Giới (Kiệu - Allium chinense), Quỳ (Rau quỳ - Malva verticillata), Thông (Hành - Allium fistulosum), Hoắc (Lá đậu - Glycine max) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn Cứu hoang bản thảo, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY NỒNG) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo Chửu hậu phương).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (Thiên Kim).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - Allium victorialis). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (Allium ascalonicum - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (Bản kinh). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (Biệt lục). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách Thiên kim thực tính của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (Thánh huệ phương).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. Nông thư của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - Allium nipponicum), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong Nhĩ Nhã.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (Bản kinh).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (Biệt lục).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Khiên mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong Nông thư gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (Biệt lục). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách Nhĩ Nhã gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Khiên đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (Biệt lục).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (Nhật hoa).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (Đại Minh nói tính mát).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (Đường Bản Thảo). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (Khai Bảo). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (Nhật hoa). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách Tì Nhã, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (Biệt lục).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách Lĩnh Nam dị vật chí chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (Biệt lục). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. Biệt lục nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
* '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
* '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
* '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (Biệt lục). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (Nhật hoa).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài Bạch giới hoàn (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài Hắc giới hoàn (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (Biệt lục). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (Biệt lục). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách Bác tế phương gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (Đường Bản thảo). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách Thuyết văn gọi là Khương (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là Khương (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (Bản kinh). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (Biệt lục). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách Đồ kinh).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (Bản kinh).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (Biệt lục).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong Thiên Kim Phương mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (Thực y tâm kính).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Tuy (荽) trong Thuyết văn giải tự chép là Tùy (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ Nguyên (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là Tiên (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (Gia Hựu). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Cần (斳) sau này giản lược thành Cần (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách Lã Thị Xuân Thu khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (Bản kinh). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (Đường bản). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (Đường bản). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài Tỉnh tỳ tán trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (Đường bản). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (Nhật Hoa). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau Tân ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO THỊ - RAU ĐẬU XỊ (草豉)===
(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')
(Trích: Bản Thảo Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Ba Thục, Tây Vực. Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
472bgpuice57urkvx23oj4qfk7ffkkj
204561
204557
2026-04-05T06:50:51Z
Mrfly911
2215
204561
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之一
| năm= 1596
| phần = Thái phần 1- các loại '''rau cay nồng''' (huân tân) (Hẹ, sơn hẹ, thông, thông kinh bạch, hồ thông, kiệu, tỏi, sơn toán, hồ, ngũ tân thái, vân đài, tùng, giới, bạch giới, vô kinh, lai phục, sinh khương, can khương, đồng hào, tà hào, hồ tuy, cà rốt, thủy cần, cẩn, tử cẩn, mã kì, hồi hương, thì là, la lặc, bạch hoa thái, thái, thảo thị)
| trước= [[../Cốc 4|Cốc 4]]
| sau= [[../Thái 2|Thái 2]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==Mở đầu==
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm các loài thảo mộc có thể ăn được thì gọi là '''Thái''' (Rau). Cửu (Hẹ - Allium tuberosum), Giới (Kiệu - Allium chinense), Quỳ (Rau quỳ - Malva verticillata), Thông (Hành - Allium fistulosum), Hoắc (Lá đậu - Glycine max) là năm loại rau chính ('''Ngũ thái''').
Sách Tố Vấn viết: Ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ thái để làm đầy. Đó là để hỗ trợ cho cốc khí, khơi thông những chỗ ủng trệ. Thời xưa, tam nông trồng chín loại ngũ cốc, vườn tược trồng cỏ cây để dự phòng lúc đói kém, rau vốn dĩ không chỉ dừng lại ở con số năm. Đầu triều đại ta, Chu Định Vương đã vẽ hơn 400 loại thảo mộc có thể cứu giúp sinh kế, soạn thành cuốn Cứu hoang bản thảo, ý chỉ thật sâu sắc thay.
Phàm cái gốc của Âm sinh ra là ở ngũ vị; nhưng ngũ cung của Âm bị tổn thương cũng do ngũ vị. Cẩn trọng hòa hợp ngũ vị thì tạng phủ thông suốt, khí huyết lưu thông, xương thẳng gân mềm, thớ thịt (tấu lý) kín khẽ, có thể trường thọ. Vì vậy, trong nhà có lời huấn thị, thầy thuốc trị bệnh bằng ăn uống (Thực y) có phương pháp, rau đối với con người có công năng bổ trợ không hề nhỏ.
Nhưng "ngũ khí" của rau có lành có độc khác nhau, "ngũ vị" nhập vào cơ thể có sự thiên lệch, dân chúng dùng hàng ngày mà không biết. Nay tôi thu thập các loại cỏ ăn được, tổng cộng 105 loại lập thành '''Bộ Thái'''. Chia làm 5 loại: một là '''Huân tân''' (rau cay nồng), hai là '''Nhu hoạt''' (rau mềm nhớt), ba là '''Dưa''' (các loại dưa), bốn là '''Thủy''' (rau dưới nước), năm là '''Chi nấm'''.
Bản thảo cũ, Bộ Thái có 3 phẩm, gồm 65 loại. Nay gộp vào 5 loại, chuyển 13 loại sang Bộ Thảo, 6 loại sang Bộ Quả. Từ Bộ Thảo chuyển vào và gộp thêm 23 loại, từ Bộ Cốc chuyển vào 1 loại, Bộ Quả chuyển vào 1 loại, từ loại Ngoại loại hữu danh vị dụng chuyển vào 3 loại.
===Danh mục trích dẫn nguồn gốc===
* '''Thần Nông Bản Thảo Kinh''': 13 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Danh Y Biệt Lục''': 18 loại (Lương - Đào Hoằng Cảnh chú)
* '''Đường Bản Thảo''': 7 loại (Đường - Tô Cung)
* '''Thiên Kim Thực Trị''': 2 loại (Đường - Tôn Tư Mạc)
* '''Bản Thảo Thập Di''': 13 loại (Đường - Trần Tạng Khí)
* '''Thực Liệu Bản Thảo''': 3 loại (Đường - Mạnh Tiên, Trương Đỉnh)
* '''Thực Tánh Bản Thảo''': 1 loại (Nam Đường - Trần Sĩ Lương)
* '''Thục Bản Thảo''': 2 loại (Thục - Hàn Bảo Thăng)
* '''Nhật Hoa Bản Thảo''': 2 loại (Tống - Đại Minh)
* '''Khai Bảo Bản Thảo''': 6 loại (Tống - Mã Chí)
* '''Gia Hữu Bản Thảo''': 9 loại (Tống - Chưởng Vũ Tích)
* '''Đồ Kinh Bản Thảo''': 4 loại (Tống - Tô Tụng)
* '''Chứng Loại Bản Thảo''': 1 loại (Tống - Đường Thận Vi)
* '''Nhật Dụng Bản Thảo''': 3 loại (Nguyên - Ngô Thụy)
* '''Thực Vật Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Uông Dĩnh)
* '''Thực Giám Bản Thảo''': 1 loại (Minh - Ninh Nguyên)
* '''Cứu Hoang Bản Thảo''': 2 loại (Minh - Chu Vương)
* '''Bản Thảo Cương Mục''': 16 loại (Minh - Lý Thời Trân)
===Phụ chú===
* Dược lục (Lý Đương Chi - Ngụy);
* Ngô Phổ bản thảo;
* Bào chích (Lôi Hiệu - Tống)
* Dược đối (Từ Chi Tài - Tề)
* Dược tính (Chân Quyền - Đường)
* Tứ thanh (Tiêu Bỉnh)
* Hải dược (Lý Tuân - Đường)
* San phồn (Dương Tổn Chi)
* Diễn nghĩa (Khấu Tông Thức - Tống)
* Trân châu nang (Trương Nguyên Tố - Kim)
* Pháp tượng (Lý Cao - Nguyên)
* Thang dịch (Vương Hiếu Cổ)
* Bổ di (Chu Chấn Hanh - Nguyên)
* Hội biên (Uông Cơ - Minh)
* Mông thuyên (Trần Gia Mô - Minh).
==RAU (phần 1): CÁC LOẠI HUÂN THÁI 葷菜 (RAU VỊ CAY NỒNG) (32 LOẠI)==
===HẸ (Cửu - 韭)===
* (Tên khoa học: '''Allium tuberosum''')
* (Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Thảo chung nhũ (Cỏ chuông sữa), Khởi dương thảo (Cỏ trợ dương).
* '''Tô Tụng nói:''' Chữ "Cửu" (韭) tượng hình lá mọc trên đất. Một lần trồng mà sống lâu nên gọi là Cửu (Hẹ/Lâu). Một năm cắt 3-4 lần mà gốc không hỏng, mùa đông đắp thêm đất, đầu xuân lại mọc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Tục gọi lá hẹ là "Thảo chung nhũ" vì có tính ôn bổ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Cửu bạch, rễ là Cửu hoàng, hoa là Cửu thanh. Lễ Ký gọi là "Phong bản" vì cái ngon nằm ở rễ. Kiệu ngon ở phần trắng, hẹ ngon ở phần vàng (phần mầm chưa ra khỏi đất).
'''【Tập giải - Thu hái và bào chế】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hẹ mọc thành khóm, gốc lớn, lá xanh biếc. Có thể phân rễ hoặc gieo hạt. Tính hướng nội, lá cao 3 tấc thì cắt, kỵ cắt lúc giữa trưa. Một năm cắt không quá 5 lần. Tháng 8 nở hoa, muối làm thức ăn gọi là "Trường sinh cửu". Tháng 9 thu hạt đen và dẹt, phơi khô nơi có gió. Mùa đông người phương Bắc chuyển rễ vào hầm đất, ủ phân ngựa cho ấm để mọc lá vàng non gọi là "Cửu hoàng", rất quý. Hẹ ăn sống hay chín đều tốt, là loại rau có lợi nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Trịnh Huyền cho rằng đạo trị quốc tốt thì vật âm biến thành dương, nên hành (tính lạnh) biến thành hẹ (tính ấm).
'''【Khí vị】'''
* Cay, hơi chua, ấm, chát, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống vị cay chát; ăn chín vị ngọt chua. '''Đại Minh nói:''' Tính nhiệt.
* '''Khấu Tông Thức nói:''' Xuân ăn thì thơm, hạ ăn thì hôi. Ăn nhiều gây mờ mắt, kỵ ăn sau khi uống rượu.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Sau khi khỏi bệnh nhiệt 10 ngày không nên ăn. Tháng 5 ăn nhiều gây hao sức. Tháng 12 ăn nhiều động đờm ẩm, nôn ra nước. Không ăn cùng mật ong và thịt bò.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tâm, an ngũ tạng, trừ nhiệt trong dạ dày.
* '''Lá:''' Nấu với cá chép ăn trị lỵ đột ngột. '''Rễ:''' Dùng trong cao mọc tóc.
* '''Rễ và Lá:''' Nấu ăn giúp ấm trung tiêu, hạ khí, bổ hư ích dương, điều hòa tạng phủ, giúp ăn ngon, cầm máu mủ, trị đau bụng lạnh. Giã nước uống trị hung tý (đau thắt ngực), giải độc thuốc, trị chó dại cắn, bôi vết rắn, rết, bọ cạp cắn.
* '''Tác dụng khác:''' Trị trúng phong mất tiếng, tráng dương, trị di tinh, ấm đầu gối. Nước cốt hẹ tươi hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) giúp tan máu bầm trong dạ dày rất hiệu nghiệm. Xông sản phụ bị choáng váng sau sinh, rửa trĩ, thoát vị trực tràng.
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hẹ cay hôi, người dưỡng sinh thường kỵ.
* '''Tô Tụng:''' Hẹ ấm và ích cho người nhất, nên ăn thường xuyên.
* '''Thời Trân:''' Hẹ lá nóng rễ ấm. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt giúp bổ trung. Là loại rau của tạng Gan (túc quyết âm kinh). Tâm là con của Gan, Thận là mẹ của Gan, nên hẹ trị được bệnh ở cả ba tạng này. Đạo gia coi là một trong ngũ vị tân (ngũ quân) vì làm động hư dương.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Đau tim do huyết ứ hoặc giận dữ, dùng nước hẹ làm tan huyết trệ. Người bị phản vị (nôn mửa) dùng nước hẹ pha nước gừng và sữa bò rất tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực:''' Giã 5 cân hẹ lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (ngất):''' Đổ nước hẹ vào mũi.
# '''Đổ mồ hôi trộm:''' Sắc 49 rễ hẹ uống.
# '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Ăn hẹ xào hoặc canh hàng ngày (không cho muối).
# '''Lỵ:''' Ăn cháo hẹ hoặc hẹ xào.
# '''Trĩ đau:''' Xông và rửa bằng nước hẹ nóng.
# '''Sản phụ choáng váng:''' Cho hẹ thái nhỏ vào bình, đổ giấm nóng vào cho hơi bay lên mũi.
# '''Chó dại cắn:''' Uống nước hẹ định kỳ trong 49 ngày (theo Chửu hậu phương).
# '''Sâu răng:''' Dùng hạt hẹ nung trên ngói với dầu, lấy ống hút khói vào chỗ đau để ra sâu.
====HẠT HẸ (Cửu tử - 韭子)====
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* Đồ chín, phơi khô, bỏ vỏ đen, sao vàng.
'''【Khí vị】'''
* Cay, ngọt, ấm, không độc. Tính Dương.
* 【Chủ trị】
* Di mộng tinh, tiểu trắng, ấm thắt lưng và đầu gối, bổ Gan và Mệnh môn, trị tiểu đêm, khí hư (bạch đới) ở phụ nữ.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Hạt hẹ phối hợp Long cốt, Tang phiêu tiêu giúp trị lậu tinh, bổ trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Hạt hẹ vào kinh Túc quyết âm (Gan). Gan chủ sơ tiết, Thận chủ đóng giữ. Khi Gan thận hư suy dẫn đến di tinh, tiểu đêm, khí hư, hạt hẹ giúp bổ phần thiếu hụt ở hạ tiêu và Mệnh môn (nơi tàng tinh).
'''【Phụ phương】'''
# '''Di tinh, tiểu trắng:''' Nuốt sống 10-20 hạt hẹ với nước muối lúc đói. Hoặc sao hạt hẹ tán bột, uống với rượu.
# '''Cương dương không dứt (Cường trung):''' Hạt hẹ, Phá cố chỉ mỗi thứ 1 lạng, tán bột, sắc uống.
# '''Yếu chân tay:''' Hạt hẹ đồ chín, sao vàng tán bột, trộn với An tức hương làm viên bằng hạt ngô, uống với rượu.
===SƠN CỬU - HẸ NÚI (山韭)===
(Tên khoa học: '''Allium senescens''' hoặc '''Allium thunbergii''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dục (郁), Tiêm ( ) (chưa rõ chi tiết).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tiêm là Hẹ núi. Trong núi thường có nhưng ít người biết. Hình dáng và tính chất tương tự hẹ nhà, nhưng rễ trắng, lá như tim đèn. Sách Hàn Thi nói: "Tháng 6 ăn Dục và Tiêm" chính là loại này.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo Thuyết văn giải tự, Tiêm là hẹ núi. Sách Bắc chinh lục ghi ở biên thùy phía Bắc có nhiều Dã cửu (Hẹ hoang), Sa thông (Hành cát), dân thường hái ăn. Lại có loại Nghiêm ( ) là hẹ nước (Thủy cửu), mọc ven thủy biên, lá nhỏ dài, ăn được. Như vậy hẹ hoang có hai loại: sơn và thủy, khí vị không khác nhau nhiều.
'''【Khí vị】'''
* Mặn, lạnh, chát, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tốt cho Thận, chủ trị đi đại tiểu tiện nhiều lần, trừ phiền nhiệt, tốt cho tóc (Thiên Kim).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tiêm là rau của tạng Thận, bệnh thận nên ăn. Sách Phụng thân dưỡng lão có món canh rau Tiêm trị người già tỳ vị yếu, ăn kém: Dùng 4 lạng rau Tiêm, 5 lạng thịt cá chép nấu canh, nêm ngũ vị và chút bột mì. Ăn định kỳ rất bổ ích.
'''【Phụ lục】'''
* '''Hiếu Văn Cửu:''' Vị cay, ấm, không độc. Trị bụng lạnh chướng đầy, tả lỵ. Tương truyền do Ngụy Hiếu Văn Đế trồng.
* '''Gia Cát Cửu:''' Do Khổng Minh trồng, lá dài hơn, dân địa phương thường ăn.
===THÔNG - HÀNH (蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium fistulosum''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khấu (芤), Thái bá (Vua các loại rau), Hòa sự thảo (Cỏ hòa giải), Lộc thai.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Thông" (蔥) nghĩa là thông suốt, vì thân thẳng ngoài rỗng trong. "Khấu" (芤) nghĩa là trong cỏ có lỗ hổng (mạch Khấu lấy tượng hình từ đây). Mầm mới mọc gọi là Thông châm, lá gọi là Thông thanh, vỏ lụa gọi là Thông bào, thân trắng gọi là Thông bạch, nhựa trong lá gọi là Thông nhiễm. Vì hành hợp với mọi món ăn nên gọi là Thái bá hay Hòa sự thảo.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Có mấy loại hành: Hành núi gọi là Minh thông (Hành núi - Allium victorialis). Hành người dân ăn có hai loại: '''Đông thông''' (Hành đông) qua mùa đông không chết, trồng bằng nhánh, không hạt; '''Hán thông''' mùa đông lá héo. Dùng làm thuốc thì Đông thông tốt nhất.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hành có 4 loại: Đông thông (Hành đông/Hành đóng băng) mùa hè suy mùa đông thịnh, thân lá mềm ngon; Hán thông thân cứng vị nhạt, mùa đông héo; Hồ thông (Allium ascalonicum - Hành tím/Hành ta) thân ngắn rễ vàng; Minh thông mọc trong thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Làm thuốc dùng Sơn thông, Hồ thông; ăn uống dùng Đông thông, Hán thông. Lại có '''Lâu thông''' (Hành tầng/Hành rồng), vùng Giang Nam gọi là Long giác thông (Hành sừng rồng), vỏ đỏ, trên đầu thân mọc ra các nhánh như sừng.
* '''Ngô Thụy nói:''' Long giác chính là Dương giác thông (Hành sừng cừu), rễ mọc trên thân, có thể dời xuống đất trồng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đông thông còn gọi là Từ thông hay Thái quan thông (Hành cung đình), thân mềm thơm, bền bỉ qua mùa đông. Hán thông còn gọi là Mộc thông vì thân thô cứng. Đông thông không hạt. Hán thông cuối xuân nở hoa xanh trắng thành chùm, hạt vị cay sắc đen có nếp nhăn, hình 3 múi, thu hạt phơi khô để gieo trồng.
===THÔNG TIÊM BẠCH (Củ hành trắng)===
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình. Lá: tính ấm. Rễ: tính bình. Đều không độc.
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Hành có tính hàn nhiệt khác nhau; phần trắng tính lạnh, phần xanh tính nóng. Thuốc trị thương hàn không nên dùng phần xanh.
* '''Khấu Tông Thức:''' Hành chủ phát tán, ăn nhiều làm thần trí u mê.
* '''Mạnh Tiên:''' Nên ăn hành vào mùa đông. Không ăn quá nhiều vì hại tóc, gây hư khí xông lên, làm đóng kín ngũ tạng do tính năng khai thông cốt tiết để ra mồ hôi.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng Giêng ăn hành sống dễ làm mặt nổi phong ngứa. Hành sống ăn với mật gây tiêu chảy; hành nướng ăn với mật gây tắc khí chết người.
* '''Trương Trọng Cảnh:''' Ăn hành sống với táo gây bệnh; ăn với thịt chó, thịt chim trĩ gây bệnh về máu.
* '''Lý Thời Trân:''' Người đang uống Địa hoàng, Thường sơn phải kiêng hành.
'''【Chủ trị】'''
* Nấu nước trị thương hàn nóng lạnh, trúng phong phù mặt, giúp ra mồ hôi (Bản kinh). Trị đau nhức xương thịt do thương hàn, hầu tý (sưng họng), an thai, sáng mắt, trừ tà khí ở gan, lợi ngũ tạng, sát độc trăm loại thuốc. '''Rễ:''' Trị đau đầu do thương hàn (Biệt lục). Trị dịch bệnh theo mùa, phát cuồng vì nhiệt, hoắc loạn chuột rút, khí奔 thun, cước khí, đau bụng, chóng mặt (Đại Minh). Thông khớp, cầm máu cam, lợi đại tiểu tiện (Mạnh Tiên). Trị lỵ và đi ngoài ra máu (Lý Cảo). Trị phong thấp, đau mình tê dại, đau tim do giun sán, trị dương thoát ở người lớn, âm độc đau bụng, đau bụng ở trẻ nhỏ, sản phụ đái ra máu, thông sữa, tán nhọt vú, trị ù tai, bôi vết chó cắn, trị độc giun đất (Thời Trân). Sát độc cá thịt.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân:''' Hành là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Phật. Sống thì cay giúp tán huyết, chín thì ngọt ấm. Là rau của tạng Phổi (phế), người bệnh phổi nên ăn. Khí thông thì huyết hoạt. Vết thương do dao kéo, ngã gãy xương đau không dứt, dùng hành trắng và đường cát giã đắp sẽ cầm đau lập tức, không để lại sẹo. Ngoài ra, dùng ống hành thổi muối vào niệu đạo có thể trị bí tiểu cấp tính rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài quan trọng)
# '''Cảm mạo phong hàn:''' Hành trắng 1 nắm, đạm đậu xị nửa vốc, sắc uống cho ra mồ hôi.
# '''Đau đầu như búa bổ:''' Hành trắng liền rễ nửa cân, gừng tươi 2 lạng, sắc uống.
# '''Trúng ác khí đột tử:''' Đâm hành vào lỗ mũi (nam trái nữ phải) sâu 7-8 tấc, máu ra là sống.
# '''Đau bụng ở trẻ nhỏ:''' Dùng nước hành rửa bụng, giã hành sao nóng đắp rốn.
# '''Âm độc (người lạnh, mạch tuyệt):''' Hơ nóng hành đắp rốn, dùng bàn là ủi lên trên cho hơi ấm thấu vào.
# '''Bí tiểu:''' 3 cân hành thái nhỏ sao nóng, bọc vải chườm bụng dưới.
# '''Trĩ ra máu:''' Nấu 3 cân hành lấy nước xông rửa.
====THÔNG DIỆP (Lá hành)====
* '''Chủ trị:''' Nướng rồi tán bột đắp vết thương kim khí. Giã với muối đắp vết rắn, trùng cắn. Trị phù chân, lợi ngũ tạng, sáng mắt, trị hoàng đản.
* '''Phát minh:''' Lá hành nướng nóng (có nhựa bên trong) đắp vào chỗ sưng đau do đánh đập rất nhanh khỏi đau.
====THÔNG CHẤP (Nước cốt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, ấm, trơn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Uống trị đái ra máu. Giải độc vị thuốc Lê lô, Quế. Tán huyết ứ, cầm máu cam, trị điếc tai, tiêu trĩ lậu.
* '''Phát minh:''' Nước hành (nhựa hành) công năng như phần trắng. Nhỏ mũi trị máu cam rất tốt. Có thể tiêu Quế thành nước, hóa đá thành dịch (trong tiên phương).
====THÔNG TU (Rễ hành)====
* '''Chủ trị:''' Thông khí. Trị đại tiện ra máu, trĩ do ăn no rồi phòng dục.
* '''Phụ phương:''' Trị sưng họng tắc khí: Rễ hành khô tán bột, hòa với bột Đạm phàn thổi vào họng.
====THÔNG HOA (Hoa hành)====
* '''Chủ trị:''' Đau tâm tỳ như dùi đâm, bụng chướng. Sắc hoa hành cùng Ngô thù du uống rất hiệu nghiệm.
====THÔNG THỰC (Hạt hành)====
* '''Khí vị:''' Cay, rất ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ trung khí, ấm trung tiêu, ích tinh, tốt cho phổi.
* '''Phụ phương:''' Trị mắt kém, bổ trung: Nấu cháo hạt hành hoặc làm viên hoàn mật ong uống hàng ngày.
===CÁCH THÔNG - HÀNH RỪNG, HÀNH NÚI===
(Tên khoa học: '''Allium victorialis''')
(Trích: Thiên Kim)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Sơn thông (Hành núi).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Cách thông mọc ở thung lũng, không dùng làm thuốc.
* '''Tô Tụng nói:''' Sách Nhĩ Nhã gọi Cách là Sơn thông. Quách Phác chú giải: Cách thông mọc trong núi, thân nhỏ lá lớn, ăn thơm ngon hơn hành thường, nên dùng làm thuốc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cách thông là hành hoang, mọc ở cả vùng núi lẫn đồng bằng. Loại mọc ở đất cát gọi là '''Sa thông''' (Allium mongolicum), mọc ở đầm lầy gọi là '''Thủy thông''', người dân đều hái ăn. Hoa trắng, kết hạt như đầu hành nhỏ. Thế tục lầm tưởng Hồ thông là Hành hoang nên gọi Cách thông là Hồ thông (xem chi tiết ở phần Hồ thông). Sách Thiên kim thực tính của Tôn Tư Mạc có ghi công dụng của Cách thông nhưng các bản thảo khác bỏ sót, nay tôi thu thập bổ sung.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Nhà Phật coi Cách thông là một trong Ngũ vị tân (xem phần Tỏi).
'''【Chủ trị】'''
* Trừ chướng khí, ác độc. Ăn lâu giúp tăng cường ý chí, ích mật khí (Tôn Tư Mạc). Trị các loại ác sang, độc nước tiểu cáo, độc rận cát (sa thiết), xạ công (bọ nước) trong khe núi. Nấu nước ngâm hoặc giã đắp rất hiệu nghiệm. Nên phối hợp với Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Ngô thù du chứ không dùng đơn độc (Tô Cung).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Như hành.
* '''Chủ trị:''' Trị di tinh (Tôn Tư Mạc).
===HỒ THÔNG - HÀNH TÂY/HÀNH TÍM (胡蔥)===
(Tên khoa học: '''Allium ascalonicum''')
(Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Toán thông (Hành tỏi), Hồi hồi thông.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách của Tôn Tư Mạc gọi là Hồ thông (葫蔥) vì rễ giống củ tỏi (hồ toán). Tên Hồi hồi thông gợi ý nó đến từ vùng của người Hồ (Tây vực).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Mã Chí nói:''' Hồ thông mọc ở vùng núi Thục Quận. Hình dáng giống tỏi nhưng nhỏ hơn, củ tròn vỏ đỏ, đầu dài và nhọn. Thu hái vào tháng 5, tháng 6.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ thông thân lá thô ngắn, rễ giống hoa Kim đăng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hồ thông chính là '''Toán thông''' (Hành tỏi), không phải hành hoang (Cách thông). Hành hoang nhỏ hơn. Hồ thông do người trồng, tháng 8 tra hạt, tháng 5 thu hoạch; lá giống hành nhưng rễ giống tỏi, vị như kiệu, không quá hôi. Vùng Giang Tây có loại "Thủy tinh thông" cũng thuộc loại này. Người đời nay hay gọi nhầm hành hoang là Hồ thông là sai lầm.
'''【Tu trị - Bào chế】'''
* '''Lôi Hiệu nói:''' Hái về bóc theo thớ, dùng quả mơ xanh (lục mai) trộn cùng, đồ trong một ngày đêm, bỏ mơ đi, tán trong chậu cát thành cao, phơi khô trong bình gốm mà dùng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn sống tính cay bình, ăn chín tính ngọt ấm.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Đây là vật gây mùi (huân vật). Ăn lâu hại thần trí, gây hay quên, hại mắt, đứt huyết mạch, tái phát bệnh cũ. Người bị hôi nách (hồ xú), sâu răng ăn vào bệnh càng nặng.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tháng 4 không ăn Hồ thông vì gây hen suyễn, hay hoảng sợ.
'''【Chủ trị】'''
* Ấm trung tiêu, hạ khí, tiêu thức ăn giúp ăn ngon, giết ký sinh trùng, lợi ngũ tạng bị thiếu khí (Mạnh Tiên). Trị nhọt độc (Hàn Bảo Thăng).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các phương thuật nấu đá trắng thành lương thực hoặc nấu xương trâu, ngựa cho mềm đều dùng Hồ thông, chứng tỏ nó có khả năng làm mềm vật cứng. Đào Hoằng Cảnh nói hành có thể hóa đá, tiêu Quế thành nước, nên các loại hành đều có tính "nhuyễn kiên" (làm mềm khối cứng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phù thũng khắp người, bí tiểu, hen suyễn cấp:''' Hồ thông 10 thân, đậu đỏ 3 vốc, tiêu thạch (nitrat) 1 lạng. Sắc hành và đậu với 5 thăng nước cho đến khi cạn nước, cho tiêu thạch vào giã thành cao. Uống nửa thìa với rượu ấm lúc đói (Thánh huệ phương).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trúng độc các loại thịt, nôn máu không ngừng, sắc mặt vàng vọt héo úa. Dùng 1 thăng hạt sắc nước uống nửa thăng, uống cả ngày lẫn đêm cho đến khi cầm máu (Mạnh Tiên).
===KIỆU (薤 - Giới)===
(Tên khoa học: '''Allium chinense''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Kiệu tử (藠子), Diêu tử (莜子), Hỏa thông (Hành lửa), Thái chi (Cỏ chi trong hàng rau), Hồng hội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu thuộc họ hẹ. Vì gốc trắng nên gọi là Kiệu tử. Lá giống hành nhưng rễ (củ) giống tỏi. Khi thu hoạch hạt giống nên dùng khói lửa xông (để bảo quản) nên tục gọi là Hỏa thông. La Nguyện cho rằng vật không gì đẹp bằng nấm Chi, nên gọi kiệu là Thái chi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Kiệu lá giống hẹ nhưng rộng hơn, củ trắng. Có hai loại trắng và đỏ: loại trắng bổ và ngon, loại đỏ đắng và không vị.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Kiệu trồng vào tháng 8, phân nhánh vào tháng Giêng, ưa đất màu. Lá kiệu rỗng, giống lá hành nhỏ nhưng có góc cạnh. Tháng 2 nở hoa tím trắng. Củ như tỏi nhỏ, nhiều củ mọc cụm lại. Tháng 5 lá xanh thì đào lấy củ. Củ dùng nấu ăn, nhúng rượu, muối cám hay ngâm giấm đều tốt. Nông thư của Vương Trinh có nhắc đến '''Dã kiệu''' (Kiệu hoang - Allium nipponicum), vị cay hơn, chính là Sơn giới trong Nhĩ Nhã.
====KIỆU BẠCH (Củ kiệu trắng)====
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, đắng, tính ấm, trơn, không độc. Thuộc kinh Thủ Dương minh.
* '''Tô Tụng nói:''' Nên bỏ phần xanh dùng phần trắng, vì phần trắng tính lạnh còn xanh tính nóng.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người đang phát sốt không nên ăn. Tháng 3, tháng 4 không ăn sống. Kỵ ăn cùng thịt bò vì gây kết khối trong bụng (trưng hà).
'''【Chủ trị】'''
* Vết thương kim khí, nhọt lở. Giúp nhẹ người, chịu được đói, trẻ lâu (Bản kinh).
* Trừ hàn nhiệt, tán thủy khí, ấm trung tiêu, tán khí kết. Nấu canh ăn rất tốt cho người bệnh. Giã đắp trị sưng đau do phong hàn, thủy khí (Biệt lục).
* Trị lỵ, hạ trọng (mót rặn), thông khí trệ ở hạ tiêu. Trị đau thắt ngực (hung tý), hạ khí tán huyết, an thai (Thời Trân). Tốt cho sản phụ và người bệnh tim (Tôn Tư Mạc). Trị khí hư ở phụ nữ. Xương cá hóc trong họng ăn vào sẽ trôi (Mạnh Tiên).
* Củ trắng có tính bổ, củ đỏ trị vết thương và phong, giúp sinh cơ thịt (Tô Cung). Giã cùng mật ong bôi vết bỏng rất nhanh khỏi (Khấu Tông Thức). Trợ dương đạo (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Kiệu tính ấm bổ, người tu tiên và giới thực dưỡng rất cần, thường dùng trong các loại cao thuốc. Kỵ ăn sống vì mùi hăng (huân).
* '''Lý Thời Trân:''' Các gia nói kiệu ấm bổ, duy Tô Tụng nói "lạnh bổ" là sai. Đỗ Phủ có thơ khen kiệu ấm, giúp người già thông cách tắc, khớp với kinh văn. Đạo gia coi kiệu là một trong Ngũ vị tân.
* '''Khấu Tông Thức:''' Lá kiệu trơn bóng. Thiên Kim dùng trị suyễn cấp là lấy nghĩa "trơn để tiết" (hoạt tiết).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
# '''Đau thắt ngực (Hung tý):''' Dùng bài Quát lâu giới bạch thang của Trương Trọng Cảnh (Quát lâu, Kiệu bạch, rượu trắng). Hoặc giã rễ kiệu lấy nước uống.
# '''Trúng ác khí (Đột tử):''' Đổ nước cốt kiệu vào mũi.
# '''Hoắc loạn nôn mửa:''' Sắc một nắm kiệu với nước uống.
# '''Kiết lỵ:''' Nấu kiệu cùng Hoàng bá lấy nước uống. Hoặc nấu cháo kiệu ăn hàng ngày.
# '''Thai động, đau bụng lạnh:''' Kiệu bạch 1 thăng, Đương quy 4 lạng, sắc uống.
# '''Giải độc thịt ôi:''' Uống 2-3 thăng nước cốt kiệu.
# '''Bỏng lửa:''' Giã kiệu trắng với mật ong bôi.
# '''Rắn cắn, chó cắn:''' Giã kiệu đắp và uống nước cốt.
# '''Hóc xương cá:''' Nhai kiệu cho mềm, buộc dây vào giữa rồi nuốt đến chỗ hóc, kéo ra.
# '''Nuốt nhầm trâm, kim:''' Ăn một nắm lớn kiệu luộc để nguyên sợi (không thái), vật lạ sẽ theo ra ngoài.
'''【Phụ lục】'''
* '''Liệu Kiệu (蓼蕎):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị hoắc loạn, bụng lạnh chướng đầy, đau thắt ngực sau sinh. Là một loại kiệu hoang.
===TOÁN - TỎI NHỎ (蒜)===
(Tên khoa học: '''Allium grayi''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Tiểu toán (Tỏi nhỏ), Mão toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Toán (蒜) tượng hình rễ tỏi. Trung Quốc xưa chỉ có loại này, sau này Trương Khiên mang giống từ Tây Vực về (Hồ toán - Tỏi lớn) nên gọi loại bản địa là Tiểu toán để phân biệt.
* '''Ngũ huân:''' Tỏi là một trong năm loại rau hăng (Ngũ huân/Ngũ tân) vì mùi hăng nồng làm thần trí mê muội. Giới luyện hình, Đạo gia và Phật gia tuy định nghĩa Ngũ huân khác nhau nhưng đều kiêng các loại này (Hành, Hẹ, Kiệu, Tỏi, Hưng cừ...) vì ăn sống sinh nóng nảy, ăn chín phát dâm dục, tổn hại linh tính.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Tỏi nhỏ mọc hoang khắp nơi. Mầm, lá, rễ, hạt đều giống tỏi lớn nhưng nhỏ hơn nhiều lần. Sách Nhĩ Nhã gọi là Sơn toán (Tỏi núi).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tỏi nhà có hai loại: rễ thân đều nhỏ, ít tép, vị rất cay là Tiểu toán; rễ thân đều lớn, nhiều tép, vị cay kèm ngọt là Hồ toán (Đại toán). Vương Trinh trong Nông thư gọi là '''Trạch toán''' (Tỏi đầm lầy), người vùng Ngô thường dùng củ làm dưa, ngon hơn hành hẹ. Loại này vốn từ hoang dã đưa về trồng nên tính khí có thay đổi theo sức người canh tác.
'''TOÁN (Rễ tỏi nhỏ)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (nóng), có độc nhẹ. Không nên ăn lâu ngày vì hại người.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 3 không nên ăn nhiều vì tổn thương ý chí. Ăn cùng cá sống gây đoạt khí, đau tinh hoàn. Người bị cước khí, phong bệnh hoặc sau khi khỏi bệnh truyền nhiễm phải kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Quy kinh Tỳ, Thận. Trị hoắc loạn, bụng bất an, tiêu thức ăn, ấm dạ dày, trừ tà tý độc khí (Biệt lục). Trị độc khe suối (Khê độc). Hạ khí, trị cổ độc, bôi vết rắn, trùng, rận cát cắn. Trị đinh nhọt rất tốt.
'''LÁ (Diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Trị tâm phiền đau, giải các độc, trị phát ban (đan chẩn) ở trẻ em.
'''【Phát minh】'''
* '''Tô Tụng:''' Cổ phương dùng tỏi nhỏ nấu lấy nước uống trị hoắc loạn do lạnh trung tiêu.
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi nhỏ là vị thuốc trọng yếu để nôn ra các loại "Cổ độc" (trùng độc/vật lạ trong bụng). Sách Nam Sử kể chuyện Trử Trừng dùng 1 thăng tỏi nấu ăn giúp bệnh nhân nôn ra 12 con gà con (thực chất là vật lạ hình dạng giống vậy) mà khỏi bệnh. Hoa Đà cũng dùng tỏi nhỏ trộn giấm trị bệnh nghẹn (ế cách), nôn ra vật như con rắn. Tỏi là vị thuốc cứu người kỳ diệu nhưng đời sau ít ai biết dùng.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ôn bệnh mới phát (đau đầu, sốt cao):''' Giã 1 thăng tỏi nhỏ lấy nước cốt uống ngay.
* '''Khô hoắc loạn (muốn nôn, đại tiện mà không được):''' Sắc 1 thăng tỏi với 3 thăng nước uống.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi với muối đắp rốn, cứu 7 mồi.
* '''Đau tim lâu năm (5-10 năm):''' Dùng giấm đậm đặc nấu tỏi nhỏ ăn cho thật no (không cho muối), rất hiệu nghiệm.
* '''Thủy độc (trúng độc nước):''' Nấu 3 thăng tỏi nước hơi nóng để tắm (nóng quá mất tác dụng).
* '''Cắt cơn sốt rét:''' Tỏi nhỏ giã nát, trộn chút Hoàng đan làm viên bằng hạt súng. Uống 1 viên với nước múc hướng Đông.
* '''Sưng âm nang:''' Sắc tỏi nhỏ, rễ hẹ, rễ liễu với rượu, thừa lúc nóng xông rửa.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Uống nước cốt tỏi, bọc bã đắp vết thương.
* '''Sâu tai:''' Nhỏ nước cốt tỏi vào tai.
===SƠN TOÁN - TỎI NÚI (山蒜) TỎI HOANG, TỎI RỪNG===
(Tên khoa học: '''Allium macrostemon''' hoặc '''Allium nipponicum''')
(Trích: Thập Di)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lực ( ), Trạch toán (Tỏi đầm lầy).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Ở vùng Giang Nam có một loại Sơn toán, hình dáng giống Đại toán (Tỏi lớn) nhưng có mùi hôi.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Trạch toán rễ giống Tiểu toán (Tỏi nhỏ), lá giống hẹ. Loại mọc giữa kẽ đá gọi là '''Thạch toán''' (Tỏi đá), tính chất không khác gì tỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sơn toán, Trạch toán và Thạch toán thực chất là cùng một loại, chỉ khác nhau ở nơi mọc là núi, đầm lầy hay kẽ đá. Loại Tiểu toán người dân trồng hiện nay vốn được dời từ ba loại này về mà thành, nên vẫn còn tên gọi là Trạch toán. Sách Nhĩ Nhã gọi Lực ( ) là Sơn toán. Hiện nay ở Kinh Khẩu có núi Toán Sơn sản sinh ra loại tỏi này. Nó có ở khắp nơi chứ không riêng gì Giang Nam.
* '''Lại có:''' Sách Tự Lâm của Lữ Thầm ghi Thú ( ) là tỏi dưới nước (Thủy trung toán), cho thấy tỏi không chỉ mọc ở núi mà còn ở dưới nước. Ngoài ra còn có các loại như Sơn từ cô, Thủy tiên hoa, Lão nha toán, Thạch toán (loại khác)... rễ và lá đều giống tỏi nhưng không ăn được, hoa cũng khác, đã được ghi chép trong Bộ Thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* '''Sơn toán:''' Trị các khối tích tụ (tích khối) và chứng huyết hà ở phụ nữ; dùng giấm chua mài uống rất hiệu nghiệm (Tô Tụng).
* '''Trạch toán, Thạch toán:''' Đều giúp ôn bổ, hạ khí, làm trơn thông nguồn nước (lợi tiểu) (Trần Tạng Khí).
===HỒ - TỎI LỚN (葫)===
(Tên khoa học: '''Allium sativum''')
(Biệt lục: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Đại toán, Huân thái (Rau hăng).
* '''Đào Hoằng Cảnh:''' Nay gọi Hồ là Đại toán, Toán là Tiểu toán vì mùi vị tương tự.
* '''Lý Thời Trân:''' Trương Khiên đi Tây Vực mang về Đại toán và Rau mùi (Hồ tuy), nên có tên là "Hồ" (người Hồ). Cả hai loại tỏi đều thuộc Ngũ huân (năm loại rau hăng).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục:''' Thu hái vào mồng 5 tháng 5, loại một củ (Tỏi cô đơn) dùng làm thuốc tốt nhất.
* '''Tô Tụng:''' Nay trồng khắp nơi. Mỗi củ 6-7 tép. Năm đầu trồng một tép sẽ ra tỏi cô đơn, năm sau mới phân tép. Hoa có hạt nhỏ như tép tỏi, cũng có thể đem trồng.
* '''Lý Thời Trân:''' Cả hai loại tỏi đều trồng vào tháng 8. Xuân ăn mầm, đầu hạ ăn ngồng (tỏi thái), tháng 5 ăn củ. Người phương Bắc không thể thiếu món này hàng ngày.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc. Ăn lâu hại mắt.
* '''Lý Thời Trân:''' Ăn lâu hại gan tổn mắt. Người phương Bắc nghiện tỏi lại nằm giường sưởi (kháng) nên tỷ lệ mù lòa rất cao.
* '''Chu Chấn Hanh:''' Tỏi thuộc hỏa, tính nhiệt tán, giúp khoan khoái lồng ngực, tiêu thịt. Nhưng ăn nhiều hại khí, người dưỡng sinh nên kiêng.
* '''Tôn Tư Mạc:''' Tháng 4 và tháng 8 ăn tỏi hại thần trí, gây hen suyễn, hồi hộp. Ăn tỏi sống rồi hành phòng hại gan khí, mặt không sắc tươi. Kỵ ăn cùng cá thanh (gây sưng ruột, sán khí), kỵ mật ong (chết người). Uống thuốc bổ phải kiêng tỏi.
'''【Chủ trị】'''
* Quy vào ngũ tạng, tán ung thũng lở loét, trừ phong tà, sát độc khí (Biệt lục).
* Hạ khí, tiêu thức ăn, tiêu thịt. Trừ phong thấp, phá khối tích (trưng tích), thông ôn bổ, trị hắc lào, sát quỷ khí (Trần Tạng Khí). Kiện tỳ vị, trị thận khí, chỉ hoắc loạn chuột rút, giải ôn dịch, trị sốt rét, bôi vết rắn rết cắn (Nhật hoa).
* Giã nát uống với nước ấm trị trúng thử (say nắng). Đắp lòng bàn chân trị chảy máu cam. Nấu với cá diếc trị nghẹn (cách khí). Phối hợp Hoàng đan trị kiết lỵ, lỵ khi mang thai. Giã đắp rốn giúp thông tiểu tiện. Đắp hậu môn trị đại tiện không thông (Thời Trân).
'''【Phát minh - Lý luận y học】'''
* '''Khấu Tông Thức:''' Tỏi cực hăng, để vào thịt ôi có thể át mùi thối. Người trúng thử độc nhai 2-3 tép tỏi, uống với nước ấm là tỉnh ngay (kỵ nước lạnh).
* '''Lý Thời Trân:''' Tỏi vào kinh Thái âm và Dương minh. Khí nồng liệt nên thông được ngũ tạng, đạt đến các khiếu, trừ hàn thấp,tịch trừ tà ác. Tôi từng dùng tỏi đắp lòng bàn chân trị cho một phụ nữ chảy máu cam suốt ngày đêm không dứt, hiệu quả tức thì, thật là kỳ phương.
* '''Cứu bằng tỏi (Toán tiền cứu pháp):''' Trị mụn nhọt, ung thư rất tốt vì giúp phát tán độc khí. Dùng lát tỏi cô đơn thái dày như đồng tiền đắp lên đầu mụn rồi đặt mồi ngải lên cứu (đốt). Cứu đến khi thấy đau thì thôi (nếu vùng mụn đã hoại tử sẽ không cảm thấy đau, cứu đến khi thấy đau là đã chạm đến thịt lành). Lưu ý: Vùng đầu cổ không nên dùng phương pháp này vì sợ dẫn khí lên trên gây họa.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Ung nhọt sau lưng:''' Giã tỏi, đậu xị, nhũ hương đắp quanh mụn rồi cứu ngải lên trên.
* '''Đinh nhọt ác độc:''' Dùng tỏi hoặc ngồng tỏi tươi thấm tro bếp chà vào đầu mụn.
* '''Bí đại tiểu tiện (Quan cách):''' Tỏi cô đơn nướng chín, bọc vải nhét vào hậu môn.
* '''Hoắc loạn chuột rút:''' Giã tỏi xoa lòng bàn chân.
* '''Phù thũng:''' Tỏi, ốc nhồi, hạt mã đề lượng bằng nhau giã nát đắp rốn, nước tiểu sẽ thông.
* '''Sốt rét:''' Kẹp nửa hạt nhân đào vào huyệt Nội quan, đắp tỏi giã lên trên băng lại.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Tỏi giã nát trộn đạm đậu xị làm viên bằng hạt ngô, uống với nước cơm.
* '''Chảy máu cam:''' Máu ra lỗ mũi trái đắp tỏi vào lòng bàn chân trái (và ngược lại).
* '''Đau tim do huyết nghịch:''' Uống nước cốt tỏi sống.
* '''Trẻ em quấy khóc đêm (do bụng lạnh):''' Tỏi nướng giã nát trộn Nhũ hương làm viên nhỏ, uống với sữa mẹ.
* '''Họng sưng đau:''' Nhét tỏi vào tai hoặc mũi.
* '''Hóc xương cá:''' Nhét tỏi cô đơn vào mũi.
* '''Sâu răng:''' Tỏi nướng nóng cắt lát áp vào chỗ đau.
* '''Sản phụ trúng phong (miệng không nói được):''' Sắc 30 tép tỏi lấy nước uống.
* '''Vết thương kim khí trúng phong (uốn ván):''' Sắc tỏi với rượu thật nhừ, uống cả bã cho ra mồ hôi.
* '''Rắn, rết, bọ cạp cắn:''' Nhai tỏi đắp vết thương hoặc uống nước sắc tỏi với sữa.
===NGŨ TÂN THÁI (五辛菜) - Rau ngũ vị tân, Năm loại rau vị cay===
(Trích: Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau ngũ vị tân là món ăn vào ngày Tết Nguyên đán hoặc lập xuân, dùng các loại rau non có vị cay gồm: '''Hành, Tỏi, Hẹ, Nghệ tây (Lựu), Rau hao, Cải bẹ''' trộn lẫn để ăn, mang ý nghĩa đón chào cái mới. Đây chính là "Xuân bàn" (mâm cơm xuân) trong thơ Đỗ Phủ.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Ăn sau khi khỏi bệnh nhiệt sẽ làm hại mắt.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn vào ngày đầu năm giúp trợ phát khí của ngũ tạng. Ăn thường xuyên giúp ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực, hạ khí (Trần Tạng Khí).
===VÂN ĐÀI - CẢI DẦU (芸苔)===
(Tên khoa học: '''Brassica napus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hàn thái, Hồ thái, Đài thái, Đài giới, Du thái (Cải dầu).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Loại cải này dễ mọc ngồng (đài), hái ngồng ăn thì cây phân nhiều nhánh nên gọi là Vân đài. Hạt có thể ép dầu nên gọi là Du thái. Giống này từ nước Hồ mang về, chịu được sương tuyết mùa đông nên gọi là Hồ thái hay Hàn thái.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vân đài chính là cải dầu ngày nay. Gieo hạt vào tháng 9, 10. Mùa đông và mùa xuân hái lõi ngồng làm rau ăn. Hoa vàng nhỏ, bốn cánh. Hạt màu đỏ xám, ép lấy dầu màu vàng, dùng thắp đèn rất sáng nhưng ăn không ngon bằng dầu mè.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc. (Đại Minh nói tính mát).
* '''Biệt lục nói:''' Ăn vào mùa xuân dễ làm tái phát bệnh cũ ở đầu gối.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người có bệnh đau lưng mỏi chân không nên ăn nhiều vì sẽ nặng thêm. Làm tổn hại dương khí, phát mụn nhọt và bệnh răng miệng. Đạo gia liệt vào một trong Ngũ huân, đặc biệt kiêng kỵ.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đan độc, sưng vú (Đường Bản Thảo). Phá trưng hà (khối u) và huyết kết (Khai Bảo). Trị huyết phong và ứ huyết sau sinh (Nhật hoa). Nấu ăn trị tê thấp lưng chân. Giã lá đắp trị tắc tia sữa. Trị nhọt độc, tán huyết tiêu thũng.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vân đài phá huyết, nên sản phụ nên ăn.
* '''Tôn Tư Mạc kể:''' Năm Trinh Quán thứ 7, tôi bị sưng đau vùng mặt đến mức mắt không mở được, suýt chết. Nhớ trong Bản thảo nói Vân đài trị đan độc sưng tấy, tôi giã lá đắp vào, lập tức tiêu tan như thần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Đan độc, hỏa độc:''' Giã lá lấy nước cốt bôi.
* '''Lỵ ra máu, đau bụng:''' Nước cốt lá Vân đài 2 hợp, mật ong 1 hợp, hâm ấm uống.
* '''Mụn đậu mùa:''' Sắc lá lấy nước tắm rửa.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mộng tinh. Ép dầu bôi đầu giúp tóc dài và đen (Trần Tạng Khí). Hành huyết trệ, phá lạnh, tiêu sưng tán kết, trị khó đẻ và các bệnh tâm phúc sau sinh, đan độc, trĩ ra máu (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt và lá công năng tương tự. Vị cay ấm giúp tán kết hành huyết. Rất tốt cho phụ nữ sau sinh gặp các chứng đau huyết trệ. Bài ca về sản nạn có câu: "Hạt cải dầu nghiền nhỏ, uống 15 hạt với rượu là linh đơn cứu cấp khi khó đẻ".
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Vân đài tán (Trị ứ huyết sau sinh):''' Hạt cải dầu (sao), Đương quy, Quế tâm, Xích thược lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Huyết vựng sau sinh:''' Hạt cải dầu, Sinh địa lượng bằng nhau, tán bột, sắc với rượu, nước và nước tiểu trẻ em (đồng tiện) uống.
* '''Đau đầu do phong:''' Hạt cải dầu 1 phần, Đại hoàng 3 phần, tán bột, thổi vào mũi.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt cải dầu, Bạch giới tử (hạt cải bẹ), Giác hồi hương bằng nhau, tán bột thổi vào mũi.
* '''Nối xương khi chấn thương:''' Hạt cải dầu 1 lạng, gạo nếp hạt nhỏ (sao) 2 hợp, Long cốt một ít, tán bột, trộn giấm làm cao đắp.
* '''Bỏng lửa:''' Dầu cải trộn phân giun đất bôi lên.
* '''Rết cắn:''' Bôi dầu cải lên vết thương.
===TÙNG - CẢI TRẮNG (菘), Cải thìa/Cải bẹ trắng===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. chinensis''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Theo sách Tì Nhã, loại cải này chịu được mùa đông lạnh giá mà không héo, bốn mùa thường thấy, có khí tiết của cây Thông (Tùng), nên gọi là Tùng. Đời nay tục gọi là Bạch thái vì sắc rau xanh trắng rõ rệt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải trắng có nhiều loại nhưng cùng một dòng, là loại rau thường dùng bậc nhất.
* '''Tô Tụng nói:''' Ở Dương Châu có loại lá tròn, to, ăn không có xơ, vị cực ngon, nghi là loại "Ngưu đ肚 tùng" (Cải bao/Cải bắp).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải trắng (Bạch thái) có hai loại: một loại cuống tròn dầy hơi xanh, một loại cuống dẹt mỏng và trắng. Vùng Yên, Triệu, Dương Châu trồng được loại rất béo tốt, một cây có thể nặng hơn mười cân. Phương Bắc thường trữ cải trong hầm, dùng phân ngựa bồi bổ, không cho tiếp xúc ánh nắng thì mọc ra mầm lá màu vàng non, giòn ngọt không xơ, gọi là '''Hoàng nha thái''' (Cải mầm vàng), là món quý của giới quyền quý. Hạt cải màu xám đen, gieo sau tháng 8. Tháng 2 nở hoa vàng 4 cánh. Tháng 3 kết quả như cải bẹ. Làm dưa muối ăn rất tốt, không nên đồ (chưng) hay phơi nắng.
'''【Chỉnh lý sai lầm (Chính ngộ)】'''
* '''Lý Thời Trân chỉnh lý:''' Tô Cung cho rằng cải trắng giống Mạn kinh (củ cải tròn) là sai, vì rễ và lá đều khác hẳn. Ông cũng đính chính rằng trước đời Đường phương Bắc có thể không có cải trắng, nhưng nay cả phương Nam và Bắc đều có cả Bạch tùng (Cải trắng) và Tử tùng (tức La bặc - Củ cải). Các ý kiến của Tô Tụng hay Uông Cơ về việc cải trắng và mạn kinh là một loại đều là suy đoán thiếu căn cứ, nay xin đính chính lại rõ ràng.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính ấm, không độc. (Đại Minh nói tính mát, có độc nhẹ).
* '''Mạnh Tiên nói:''' Người tỳ vị hư hàn không nên ăn, người có nhiệt ăn vào không phát bệnh, nên biết tính nó vốn mát. Bản thảo nói tính ấm là chưa hiểu hết ý.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tính thông lợi, ăn nhiều hơi lạnh. Trương Trọng Cảnh dặn nếu trong thuốc có Cam thảo mà ăn cải trắng sẽ khiến bệnh không khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Người khí hư vị lạnh ăn nhiều sẽ buồn nôn, tiết nước bọt; người khí tráng thì ăn rất hợp.
'''【Chủ trị】'''
* Thông lợi đường ruột và dạ dày, trừ phiền nhiệt trong ngực, giải khát do rượu (Biệt lục).
* Tiêu thực hạ khí, trị chướng khí, trị ho do nhiệt. Nước cốt mùa đông là tốt nhất (Tiêu Bỉnh). Hòa trung, lợi đại tiểu tiện.
'''【Phụ phương】'''
* '''Trẻ em bị đơn độc (Xích du) chạy khắp người:''' Giã cải trắng đắp lên.
* '''Trúng độc sơn (sơn ăn):''' Cải trắng giã nát bôi vào.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Vò nát cải trắng, bọc trong khăn nhỏ, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt, bụi sẽ ra ngay.
'''HẠT (Tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Ép dầu bôi đầu giúp tóc mọc dài; bôi vào đao kiếm để không bị gỉ sét (Đào Hoằng Cảnh).
'''【Phụ phương】'''
* '''Say rượu không tỉnh:''' 2 hợp hạt cải trắng nghiền nhỏ, pha với một chén nước giếng múc lúc sáng sớm (Tỉnh hoa thủy), chia làm 2 lần uống.
===GIỚI - CẢI BẸ (芥)===
(Tên khoa học: '''Brassica juncea''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vương An Thạch cho rằng "Giới" (芥) nghĩa là "Giới" (界 - ranh giới), vì nó giúp phát hãn tán khí, phân định ranh giới cho cơ thể. Vương Trinh nói vị nó cay nồng, là loại rau có tính "cương giới" (cứng cỏi), nên chữ có bộ Giới.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cải bẹ giống cải trắng nhưng có lông, vị cay, dùng ăn sống hoặc làm dưa muối.
* '''Tô Cung nói:''' Có ba loại: Loại lá to hạt thô dùng ăn lá và làm thuốc; loại lá nhỏ hạt mịn chỉ dùng làm gia vị; loại '''Bạch giới tử''' hạt to màu trắng, vị rất cay ngon, đến từ phía Tây.
* '''Tô Tụng nói:''' Có Thanh giới (Cải xanh), Tử giới (Cải tím) cuống lá màu tím rất đẹp. Tương truyền vùng Lĩnh Nam không có Mạn kinh (củ cải tròn), mang giống tới trồng đều biến thành cải bẹ, do khí đất vậy.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Có nhiều loại như '''Thứ giới''' (Cải bẹ xanh), '''Đại giới''' (Cải bẹ dưa - lá nhăn, vị rất cay), '''Hoa giới''' (lá nhiều khía), '''Thạch giới''' (thấp nhỏ). Ngồng cải non gọi là '''Cải làn (Giới lan)''', luộc ăn giòn ngon. Hoa vàng nở tháng 3. Hạt nghiền bột làm mù tạt (Giới tương) ăn kèm thịt rất thơm. Sách Lĩnh Nam dị vật chí chép vùng Nam có loại cải cao 5-6 thước, hạt to như trứng gà.
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn chín động khí và phong; ăn sống phát nhiệt; loại lá to thì tốt, lá nhỏ có lông thì hại người. Người bị mụn nhọt, trĩ, đại tiện ra máu nên kiêng. Kỵ ăn cùng thịt thỏ (sinh bệnh) và cá diếc (sinh phù thũng).
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà khí kinh Thận, lợi chín khiếu, sáng tai mắt, an trung (Biệt lục). Trị ho ngược hạ khí, trừ phong vùng đầu mặt. Thông phổi tan đờm, lợi lồng ngực, khai vị (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cải bẹ vị cay nhiệt nên thông phổi khai vị, lợi khí tan đờm. Nhưng ăn lâu ngày tích nhiệt, tán khí thái quá làm hao tổn chân nguyên, hại gan, mờ mắt, phát mụn trĩ. Biệt lục nói sáng tai mắt là cái sướng nhất thời mà không biết cái hại lâu dài.
'''【Phụ phương】'''
* '''Lợi răng sưng nát, chảy nước hôi:''' Đốt cuống cải bẹ thành than, tán bột bôi thường xuyên.
* '''Bụi/Sợi tơ bay vào mắt:''' Nhỏ nước cốt rau cải bẹ.
* '''Sơn ăn sưng ngứa:''' Sắc rau cải lấy nước rửa.
* '''Trĩ sưng đau:''' Giã lá cải bẹ làm bánh ngồi lên thường xuyên.
'''HẠT (Giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính nhiệt, không độc. Ăn nhiều mờ mắt, động hỏa, tiết khí thương tinh.
'''【Chủ trị】'''
* Thông mũi, trừ tà ác chú khí, hầu tý (Đào Hoằng Cảnh). Trị trúng độc trùng nước (xạ công), phong độc sưng đau, tê liệt. Giã với gừng bôi trị đau lưng lạnh thận. Nghiền bột làm mù tạt thông lợi ngũ tạng. Hòa nước bôi đỉnh đầu dừng chảy máu cam. Trị vị hàn nôn mửa, phổi lạnh ho hen, sưng đau ứ huyết (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công dụng như rau nhưng tính cay tán mạnh hơn, thông kinh lạc, trị cứng hàm, tai điếc. Loại '''Bạch giới tử''' (Cải bẹ trắng) tính cay liệt hơn cả, trị bệnh càng tốt (xem mục riêng).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Cảm lạnh không ra mồ hôi:''' Đắp bột hạt cải hòa nước vào rốn, chườm nóng bên ngoài.
* '''Tê liệt chân tay:''' Bột hạt cải trộn giấm bôi.
* '''Trúng phong cứng hàm, lưỡi rụt:''' 1 thăng hạt cải nghiền nát, nấu với 2 thăng giấm, bôi dưới cằm và má.
* '''Họng sưng đau:''' Bột hạt cải hòa nước đắp dưới họng; hoặc pha giấm nhỏ vào họng.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Bột hạt cải hòa sữa người, bọc bông nhét vào tai.
* '''Chứng quáng gà:''' Hạt cải tím sao đen tán bột, trộn vào gan dê nấu chín ăn.
* '''Lông mày không mọc:''' Bột hạt cải và Bán hạ lượng bằng nhau, trộn nước gừng bôi.
* '''Hoắc loạn nôn tiêu:''' Giã hạt cải hòa nước đắp rốn.
* '''Đau nhức lưng cốt:''' Bột hạt cải hòa rượu đắp.
* '''Kinh nguyệt không thông (đến 1 năm):''' Mỗi lần uống 2 đồng cân bột hạt cải với rượu nóng trước bữa ăn.
* '''Thương hàn âm chứng (đau bụng chân tay lạnh):''' Bột hạt cải hòa nước đắp rốn.
===BẠCH GIỚI - CẢI BẸ TRẮNG (白芥)===
(Tên khoa học: '''Sinapis alba''' hoặc '''Brassica alba''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồ giới, Thục giới.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Giống này từ vùng Hồ Nhung mang đến và phát triển mạnh ở vùng Thục (Tứ Xuyên) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Hạt bạch giới thô đại, màu trắng như hạt lương mễ, vị rất cay ngon, từ vùng Nhung đưa tới.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch giới mọc ở Thái Nguyên, Hà Đông. Lá như cải bẹ nhưng trắng, dùng làm rau ăn rất ngon.
* '''Hàn Bảo Thăng nói:''' Hồ giới vùng gần đây cũng có, lá lớn hạt trắng và thô, dùng làm thuốc hay ăn đều tốt, nhưng dân gian chưa dùng nhiều.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới nơi nào cũng trồng được nhưng ít người biết. Gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông sinh trưởng có thể ăn được. Đến cuối xuân cao 2-3 thước, lá có khía sâu như lá hoa giới, màu xanh trắng. Thân dễ mọc cao nhưng rỗng, tính giòn, rất sợ gió mạnh và tuyết lớn nên cần che chắn kỹ. Tháng 3 nở hoa vàng rất thơm. Quả như quả cải bẹ, hạt to như hạt lương, màu vàng trắng. Có loại thân lớn lòng đặc còn cao hơn, hạt cũng to hơn. Loại này tuy thuộc họ cải nhưng là giống riêng biệt, dùng làm thuốc tốt hơn hạt cải bẹ thường (giới tử).
'''THÂN VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Thời Trân nói:''' "Trọng hậu phương" dặn người đang sốt (nhiệt bệnh) không được ăn vì tính nó ấm nóng.
'''【Chủ trị】'''
* Trị lạnh (lãnh khí) (Trần Tạng Khí). An ngũ tạng, công dụng như cải bẹ (Nhật Hoa).
'''HẠT (Bạch giới tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Phát hãn (ra mồ hôi), trị đờm lạnh ở ngực và hoành cách môn, khí nghịch lên, mặt mắt vàng đỏ. Mài với giấm bôi trị độc trùng nước (Biệt lục). Tránh ác khí, tà khí xâm nhập gây đau nhức tứ chi (Đào Hoằng Cảnh). Đốt xông khói hoặc uống để trừ tà ma (Nhật hoa).
* Trị ho, ngực sườn đầy tức, khạc nhiều đờm rãi: mỗi lần uống 7 hạt với rượu ấm (Tôn Tư Mạc). Lợi khí hóa đờm, trừ hàn ấm trung tiêu, tán sưng giảm đau; trị hen suyễn, nôn ngược, tê dại, cước khí, các chứng đau gân cốt và thắt lưng (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Đờm ở dưới sườn và dưới da ngoài màng phổi, nếu không có Bạch giới tử thì không thể tác động tới được. Cổ phương có bài "Khống diên đan" dùng vị này chính là vì nghĩa đó.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch giới tử vị cay vào phổi, tính ấm giúp phát tán, nên có công năng lợi khí hóa đờm, ấm trung tiêu khai vị, giảm đau tiêu sưng và trừ tà ác.
* '''Bài thuốc Tam tử dưỡng thân thang:''' Hàn Mậu đời Minh thường dùng bài này để trị cho người già bị đờm suyễn, ngực đầy, biếng ăn: '''Bạch giới tử''' (chủ về đờm, hạ khí khoan trung), '''Tử tô tử''' (chủ về khí, định suyễn chỉ khái), '''La bặc tử''' (chủ về tiêu thực, giáng khí). Mỗi thứ sao sơ, nghiền nát, cho vào túi lụa sắc lấy nước uống. Không nên sắc quá kỹ vì sẽ bị đắng cay.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Nôn ngược, khí nghịch:''' Bột bạch giới tử uống 1-2 đồng cân với rượu.
* '''Nhiệt đờm gây phiền muộn, chóng mặt:''' Bài Bạch giới hoàn (Bạch giới tử, Hắc giới tử, Đại kích, Cam toại, Mang tiêu, Chu sa).
* '''Lãnh đờm đầy tức:''' Bài Hắc giới hoàn (Hắc giới tử, Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại, Hồ tiêu, Quế tâm).
* '''Bụng lạnh khí trướng:''' Bột bạch giới tử sao sơ, làm viên với bánh chưng hấp, uống với nước gừng.
* '''Trẻ em bị tích tụ sữa (Nhũ bích):''' Bột bạch giới tử hòa nước đắp, khi thấy bằng phẳng thì thôi.
* '''Phòng đậu mùa mọc vào mắt:''' Bột bạch giới tử hòa nước bôi lòng bàn chân để dẫn độc xuống dưới.
* '''Ung độc mới phát:''' Bột bạch giới tử hòa giấm bôi.
* '''Đờm ẩm ở ngực sườn:''' Bạch giới tử 5 đồng cân, Bạch truật 1 lạng. Tán bột, trộn thịt táo làm viên, uống với nước ấm.
===VỤ TINH - CẢI THÌA/CẢI CỦ TRÒN (蕪菁) Củ cải tầng/Cải bắp dại===
(Tên khoa học: '''Brassica rapa subsp. rapa''')
(Biệt lục: Thượng phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mạn kinh (蔓荊), Cửu anh tùng, Chư Cát thái (Rau Gia Cát).
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Người phương Bắc gọi Vụ tinh là Mạn kinh. Vùng Tịnh Phân, Hà Sóc nướng rễ ăn gọi là Vụ căn. Loại mọc vùng biên ải tên là Cửu anh mạn kinh, lá lớn nhưng vị không ngon, thường dùng làm lương thực quân đội.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lưu Vũ Tích kể rằng Chư Cát Lượng đi đến đâu cũng lệnh cho binh sĩ trồng loại này vì có 6 cái lợi: 1. Mới mọc mầm có thể ăn sống; 2. Lá lớn có thể nấu chín; 3. Càng ở lâu cây càng phát triển; 4. Bỏ đi không tiếc; 5. Khi quay lại dễ tìm hái; 6. Mùa đông có rễ để ăn. Do đó người Thục gọi là '''Chư Cát thái'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vụ tinh rễ nhỏ hơn La bặc (Củ cải), lá giống cải trắng, ăn rất ngon.
* '''Tô Cung nói:''' Mạn kinh (Vụ tinh) hoàn toàn khác La bặc. Hạt Mạn kinh màu tím đỏ, tròn nhỏ; hạt La bặc màu vàng đỏ, to hơn và không tròn.
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc trồng rất nhiều để dự phòng năm đói kém. Đây là loại rau có lợi nhất: Xuân ăn mầm, hạ ăn ngồng (túi), thu ăn thân, đông ăn rễ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mạn kinh thuộc họ Cải (Giới), rễ dài trắng, vị cay đắng nhẹ; hoa vàng 4 cánh. La bặc (Củ cải) thuộc họ Cải trắng (Tùng), hoa tím nhạt, quả hình sâu có đuôi nhọn. Vụ tinh gieo vào đầu tháng 7 là tốt nhất cả rễ lẫn lá.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính ấm, không độc. (Lý Thời Trân nói thêm vị cay, ngọt). Ăn nhiều động khí.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, nhẹ người ích khí, có thể ăn lâu dài (Biệt lục). Thông trung tiêu, giúp người béo khỏe. Tiêu thực, hạ khí trị ho, chỉ tiêu khát, trị đau lạnh bụng và sưng độc phong nhiệt, nhọt vú.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Phòng dịch bệnh:''' Sau tiết Lập xuân, uống nước cốt Mạn kinh giúp tránh bệnh truyền nhiễm cả năm.
* '''Chảy máu cam:''' Giã nát rau Gia Cát lấy nước uống.
* '''Giải rượu:''' Nấu Mạn kinh với chút gạo, lọc lấy nước uống lạnh.
* '''Trị sưng độc:''' Giã rễ Mạn kinh tươi với chút muối đắp vào.
* '''Nhọt vú sưng đau:''' Rễ và lá Mạn kinh giã với muối đắp, nóng thì thay.
* '''Rụng tóc ở trẻ em:''' Đốt lá Vụ tinh thành tro, trộn mỡ bôi lên.
* '''Bụi bay vào mắt:''' Vò nát rau Mạn kinh, nhỏ 2-3 giọt nước cốt vào mắt.
'''HẠT (Vụ tinh tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Sáng mắt (Biệt lục). Trị vàng da, lợi tiểu tiện. Nấu nước uống trị chứng tích tụ (trưng hà), hoắc loạn đầy bụng. Nghiền bột uống trị mắt mờ. Ép dầu bôi mặt giúp da mịn màng, mờ nếp nhăn; bôi đầu làm đen tóc mây.
'''【Phát minh】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Tiên kinh bảo hạt Mạn kinh đồ chín phơi khô (cửu chưng cửu sái), tán bột uống lâu ngày có thể nhịn đói (bích cốc), trường sinh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt này có thể thăng, có thể giáng, giúp ra mồ hôi, gây nôn, nhuận tràng, lợi tiểu, sáng mắt, giải độc, công hiệu rất lớn mà ít người biết dùng. Dầu hạt Mạn kinh thắp đèn rất sáng nhưng khói làm hại mắt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các bài thuốc chính)
* '''Sáng mắt ích khí:''' Hạt Vụ tinh nấu nước 3 lần, phơi khô tán bột, uống với nước hàng ngày.
* '''Trị quáng gà (mắt không hỏng con ngươi):''' 6 thăng hạt Mạn kinh đồ chín, xối nước nóng 3 lần, phơi khô tán bột, uống với rượu.
* '''Bổ gan sáng mắt:''' 1 cân hạt Vụ tinh, 2 cân Hoàng tinh, đồ chín phơi khô 9 lần rồi tán bột uống.
* '''Trị vàng da (Hoàng đản):''' Giã hạt Mạn kinh lấy nước cốt uống cho đến khi hắt hơi, chảy nước vàng ra mũi là khỏi.
* '''Bí đại tiểu tiện, bụng trướng đầy:''' Uống 1 hợp dầu hạt Mạn kinh lúc đói.
* '''Mặt có nốt ruồi, tàn nhang:''' Nghiền hạt Mạn kinh trộn kem bôi mặt hàng đêm.
'''HOA'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mắt mờ do hư lao. Uống lâu ngày giúp trường sinh, có thể đọc sách trong đêm. Hái hoa vào mùng 3 tháng 3, phơi khô tán bột uống với nước giếng lúc sáng sớm.
===LA BẶC - CỦ CẢI (萊菔)===
(Tên khoa học: '''Raphanus sativus''')
(Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lô bặc, La bặc, Bào đột, Tử hoa tùng, Ôn tùng, Thổ tô.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thân gọi là Tùng (giống cây tùng bền bỉ qua mùa đông), rễ gọi là La bặc. Phương Bắc gọi là Thổ tô vì củ trắng sạch như váng sữa (tô). Sách Bác tế phương gọi củ cải khô là Tiên nhân cốt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây là loại Ôn tùng hiện nay, rễ ăn được, lá không ngon lắm.
* '''Tô Cung nói:''' Lá non ăn sống, lá lớn nấu chín đều được. Đào thị nói không ăn được là chưa hiểu hết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải nay có khắp thiên hạ. Gieo tháng 6, thu lá vào mùa thu, đào rễ vào mùa đông. Cuối xuân mọc ngồng cao, hoa màu tím nhạt. Đầu hạ kết quả, hạt to như hạt đại ma, màu vàng đỏ. Loại mọc ở đất cát thì giòn ngọt, đất cằn thì cứng cay. Củ cải là loại rau có lợi nhất trong các loại rau, có thể ăn sống, nấu chín, muối dưa, làm mắm, kho đường hay nấu cơm đều tốt.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Rễ vị cay, ngọt; lá vị cay, đắng; tính ấm, không độc.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Tính bình. Không nên ăn cùng Địa hoàng vì làm râu tóc bạc sớm (do làm rít tắc vinh vệ).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Ăn nhiều động khí, chỉ có Gừng sống mới chế được độc này.
'''【Chủ trị】'''
* Ăn chín giúp hạ khí mạnh, tiêu ngũ cốc, hòa trung, trừ đờm tích, giúp người béo khỏe. Giã sống uống nước cốt trị tiêu khát cực hiệu nghiệm (Đường Bản thảo). Lợi khớp, đẹp da, trừ ác khí ngũ tạng, trị trúng độc do ăn nhiều mì măng, tán huyết ứ, giải độc rượu. Nấu nước rửa trị cước khí. Nước cốt trị mất tiếng và trúng độc khói than. Giã đắp vết thương do đòn đánh hoặc bỏng lửa (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Củ cải sống thì thăng khí (gây ợ hơi), chín thì giáng khí (thông tiện). Ăn nhiều làm trắng râu tóc do thẩm thấu vào máu.
* '''Đặc tính:''' Giải độc mì (diệt trừ khí nóng của bột mì). Giải độc đậu phụ (nước củ cải đổ vào nồi đậu phụ sẽ làm đậu không đông được). Giải độc khói (người bị hun khói ngất xỉu, nhai củ cải nuốt nước sẽ tỉnh).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
1. '''Ợ chua:''' Nhai vài lát củ cải sống.
2. '''Tiêu khát (Tiểu đường):''' Củ cải thái phiến phơi khô, tán bột, uống với nước sắc thịt lợn.
3. '''Ho ra máu, phổi yếu:''' Nấu củ cải với thịt dê hoặc cá diếc ăn thường xuyên.
4. '''Chảy máu cam:''' Nước cốt củ cải trộn chút rượu uống nóng, hoặc nhỏ vào mũi.
5. '''Đại tiện ra máu:''' Vỏ củ cải (đốt tồn tính), lá sen (đốt tồn tính), bồ hoàng lượng bằng nhau, uống với nước cơm.
6. '''Thoát vị đĩa đệm/Sa trực tràng:''' Giã củ cải sống đắp rốn.
7. '''Tiểu đục:''' Củ cải khoét rỗng nhét đầy Ngô thù du, hấp chín, bỏ Thù du, lấy củ cải tán bột làm viên uống.
8. '''Đau đầu kinh niên:''' Nhỏ nước cốt củ cải vào mũi (bên trái đau nhỏ mũi phải và ngược lại).
9. '''Lở loét miệng:''' Dùng nước cốt củ cải súc miệng thường xuyên.
'''HẠT (La bặc tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, ngọt; tính bình; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giã lấy nước uống giúp nôn đờm phong. Hòa giấm bôi tiêu sưng độc. Hạ khí định suyễn, trị đờm, tiêu thực trừ trướng, lợi đại tiểu tiện, trị lỵ hậu trọng, phát ban sởi (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Hạt củ cải trị đờm có công năng mạnh như "xô đổ tường vách".
* '''Lý Thời Trân nói:''' Công năng hạt củ cải mạnh ở việc lợi khí. Sống thì thăng (gây nôn đờm), chín thì giáng (trị ho suyễn, tiêu đau bụng, lỵ).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Ho hen nhiều đờm:''' 1 hợp hạt củ cải nghiền nhỏ sắc uống.
* '''Nôn đờm phong:''' 3 đồng cân bột hạt củ cải hòa nước ấm uống, một lúc sẽ nôn ra đờm dãi.
* '''Trẻ em cảm phong hàn:''' 1 đồng cân bột hạt củ cải sống uống với rượu hành nóng cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Đau đầu lâu năm:''' Hạt củ cải, gừng sống giã lấy nước, thêm chút xạ hương nhỏ mũi.
* '''Đau răng:''' 14 hạt củ cải sống nghiền nát hòa sữa người, nhỏ vào lỗ mũi.
'''HOA'''
* Dùng muối dưa hoặc ngâm rượu ăn rất ngon, giúp sáng mắt.
===SINH KHƯƠNG - GỪNG TƯƠI (生薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Biệt lục: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Sách Thuyết văn gọi là Khương (䕬), nghĩa là loại rau chống ẩm ướt. Vương An Thạch nói Gừng có thể kháng lại trăm tà nên gọi là Khương (強 - cường/khương). Loại non mới mọc ngọn hơi tím gọi là '''Tử khương''' (Gừng tím) hay '''Tử khương''' (Gừng con); rễ cũ gọi là '''Mẫu khương''' (Gừng mẹ).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Gừng tươi và Gừng khô sinh ở thung lũng Kiền Vi, Kinh Châu, Dương Châu. Thu hái vào tháng 9.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng thích đất cát ven sông. Tháng 4 trồng gừng mẹ, tháng 5 mọc mầm như sậy non, lá đối xứng giống lá trúc, có mùi thơm cay. Trước sau tiết Thu xã mầm mới mọc dài như ngón tay, ăn không xơ gọi là '''Tử khương''' (Gừng non). Sau tiết Sương giáng thì gừng già. Gừng sợ nắng và đất quá ướt.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Muốn nóng thì bỏ vỏ, muốn mát thì để cả vỏ.
* '''Lý Thời Trân lưu ý:''' Ăn nhiều gừng lâu ngày gây tích nhiệt hại mắt (đã thử nghiệm nhiều lần đều đúng). Người bị trĩ hoặc mụn nhọt ăn nhiều gừng kèm rượu sẽ phát bệnh rất nhanh.
* '''Kiêng kỵ:''' Thu không ăn gừng (làm tiết khí phổi); đêm không ăn gừng (ngược đạo trời vì đêm khí cần thu liễm mà gừng lại làm phát tán).
'''【Chủ trị】'''
* Ăn lâu ngày trừ mùi hôi, thông thần minh (Bản kinh). Vào ngũ tạng, trừ phong tà hàn nhiệt, trị thương hàn đau đầu nghẹt mũi, ho ngược hạ khí, chỉ nôn mửa, tiêu đờm (Biệt lục). Trị thủy khí đầy trướng, ho hen dịch bệnh. Phối hợp với Bán hạ trị đau cấp dưới tim; phối với mật ong trị nôn nghén không ăn được. Giải độc thuốc, độc nấm, độc thịt chim rừng. Giã lấy nước hòa keo da trâu (Hoàng minh giao) nấu chảy đắp trị phong thấp đau nhức cực tốt (Thời Trân).
'''SINH KHƯƠNG KHÔ (Gừng tươi sấy khô)'''
* Trị ho, ấm trung tiêu, trị trướng đầy, hoắc loạn, đau bụng, lỵ lạnh, bế kinh. Là thuốc của phần khí kinh Phế.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Gừng cay mà không hôi, trừ tà lánh ác, ăn sống hay chín đều tốt. Đi rừng núi sớm nên ngậm một miếng để tránh sương mù, khí lạnh và chướng khí. Nước cốt gừng hòa nước tiểu trẻ em (đồng tiện) có thể giải các chứng trúng phong, trúng thử (nắng), trúng ác khí, hoắc loạn đột ngột.
* '''Trị lỵ:''' Gừng thái nhỏ pha trà uống. Lỵ nhiệt thì để vỏ, lỵ lạnh thì bỏ vỏ. Gừng trợ dương, trà trợ âm, điều hòa âm dương rất hiệu nghiệm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trúng phong đột ngột:''' Gừng tươi 2 lạng, Phụ tử sống 1 lạng, sắc uống.
* '''Ngăn sốt rét:''' Nước cốt gừng tươi 1 chén rượu, uống vào tờ mờ sáng ngày phát bệnh.
* '''Ho không dứt:''' Gừng tươi 5 lạng, kẹo mạch nha nửa thăng, nấu nhỏ lửa cho chín rồi ăn.
* '''Nôn mửa không dứt:''' Gừng tươi 1 lạng, nước hớt cơm chua (thanh tương) 7 hợp, sắc lấy 4 hợp uống cả bã.
* '''Hoắc loạn trướng bụng:''' Gừng tươi 1 cân, sắc với 7 thăng nước lấy 2 thăng uống.
* '''Bí đại tiện:''' Gừng tươi gọt nhọn như ngón tay nhỏ, dài 2 thốn, xoa muối nhét vào hậu môn, thông ngay.
* '''Đau răng:''' Gừng già nướng nóng, rắc bột phèn chua (khô phàn) rồi xoa vào răng.
* '''Vết thương dao búa:''' Nhai gừng tươi đắp lên, hôm sau thịt sẽ mọc lại.
* '''Hôi nách:''' Xoa nước cốt gừng thường xuyên sẽ hết gốc.
* '''Bỏng lửa/nước:''' Giã gừng sống đắp vào.
* '''Sản hậu huyết trệ:''' Gừng tươi 5 lạng, sắc với 8 thăng nước lấy 3 thăng uống.
'''VỎ GỪNG (Khương bì)'''
* Vị cay, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tiêu phù thũng, trướng bụng, đầy tức, hòa tỳ vị, trị màng mộng ở mắt.
* '''Mẹo đổi tóc bạc thành đen:''' Vỏ gừng già nấu thành cao trong nồi dầu mỡ lâu ngày, chấm vào lỗ chân lông sau khi nhổ tóc bạc, 3 ngày sau mọc tóc đen (Sách Đồ kinh).
'''LÁ GỪNG (Khương diệp)'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng trưng hà (khối u) do ăn thịt không tiêu; giã lá lấy nước uống sẽ tiêu. Trị ứ huyết do đòn đánh.
===CAN KHƯƠNG - GỪNG KHÔ (乾薑)===
(Tên khoa học: '''Zingiber officinale''')
(Bản kinh: Trung phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bạch khương (Gừng trắng), Quân khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương được làm từ gừng mẹ (mẫu khương). Loại trắng sạch, chắc chắn là tốt nhất nên gọi là Bạch khương. Khi dùng làm thuốc đều nên sao cháy (bào dụng).
'''【Tập giải - Thu hái và cách chế biến】'''
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Cách làm Can khương: Ngâm nước 3 ngày, gọt vỏ, để trong nước chảy 6 ngày, lại cạo vỏ, phơi khô, cho vào chum gốm ủ 3 ngày mới thành.
* '''Tô Tụng nói:''' Hái rễ, rửa sạch bằng nước chảy dài, phơi khô dưới nắng là thành Can khương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hiện nay vùng Giang Tây, Tương, Quân đều làm được.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm (Bản thảo cương mục ghi Đại nhiệt), không độc.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày làm mờ mắt. Phụ nữ có thai không nên ăn vì tính nóng cay tán làm tiêu thai.
'''【Chủ trị】'''
* Ngực đầy, ho ngược, khí nghịch, ấm trung tiêu, cầm máu, ra mồ hôi, đuổi phong thấp tý, lỵ ra máu mủ (Bản kinh).
* Trị bụng đau lạnh, trúng ác khí, hoắc loạn, trướng đầy, tà phong, các loại độc, kết khí ở da, cầm nôn ra máu (Biệt lục).
* Trị đau lạnh vùng thắt lưng thận, phá huyết, thông tứ chi khớp xương, khai mở ngũ tạng lục phủ, thông các lạc mạch, trị đi tiểu đêm nhiều (Diệc Quyền).
* Tiêu đờm hạ khí, trị chuột rút nôn tả, vị hàn nôn ngược, ứ huyết do đòn đánh, cầm máu cam, khai vị tiêu thức ăn cũ (Đại Minh). Trị hàn bĩ dưới tim, mắt đỏ lâu ngày.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Đông Viên nói:''' Can khương sống thì vị cay, sao (bào) thì vị đắng. Sống thì đuổi hàn tà mà phát biểu, sao thì trừ vị lạnh mà giữ trung tiêu (thủ trung). Dùng nhiều hao tán nguyên khí, cần dùng Cam thảo sống để hoãn lại. Phối ngũ vị tử để ấm phổi, phối Nhân sâm để ấm vị.
* '''Chu Chấn Hanh nói:''' Can khương vào phổi lợi phế khí, vào thận làm khô thấp ở dưới, vào kinh Can dẫn thuốc vào huyết phận sinh huyết mới. Trị thổ huyết, lỵ máu phải sao đen (thán).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Can khương dẫn thuốc vào khí phận và huyết phận, khứ ác sinh tân (tẩy cũ nuôi mới), có ý nghĩa "Dương sinh Âm trưởng". Với người thổ huyết, nục huyết (máu cam) mà thuộc chứng "có Âm không Dương" (hư hàn) thì dùng Can khương là phép "nhiệt nhân nhiệt dụng" (dùng thuốc nóng trị chứng giả nhiệt).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Tỳ vị hư lạnh, người gầy yếu:''' Can khương trắng nấu với nước gạo cho thấm, phơi khô tán bột, làm viên với cháo gạo lứt, uống với nước ấm.
* '''Đầu váng nôn ngược do vị lạnh sinh đờm:''' Can khương (sao) 2,5 đồng cân, Cam thảo (sao) 1,2 đồng cân, sắc uống.
* '''Đau lạnh tim tỳ:''' Can khương, Cao lương khương lượng bằng nhau, tán bột làm viên, uống với nước canh da lợn sau ăn.
* '''Chứng "Âm dương dịch" (sau thương hàn giao hợp sinh bệnh):''' Bột can khương uống với nước ấm cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy trúng hàn:''' Can khương sao tán bột, uống với nước cháo.
* '''Lỵ ra máu không dứt:''' Can khương đốt cháy đen (tồn tính), tán bột uống với nước cơm.
* '''Ho hen kèm trướng đầy:''' Bột can khương uống với rượu nóng hoặc làm viên với mạch nha ngậm.
* '''Mất ngủ do hư lao:''' Bột can khương uống với nước cho ra mồ hôi nhẹ.
* '''Chảy máu cam không dứt:''' Can khương gọt nhọn, nướng nóng, nhét vào mũi.
* '''Mắt đau đỏ, rít:''' Bột gừng trắng hòa nước dán vào lòng bàn chân (Dũng tuyền).
* '''Răng đau không dứt:''' Can khương (sao), Xuyên tiêu lượng bằng nhau tán bột bôi vào.
* '''Mụn nhọt mới phát:''' Can khương sao tím tán bột, trộn giấm đắp xung quanh, chừa đầu mụn.
* '''Vết thương hổ, chó cắn:''' Đắp bột can khương.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thiên Trúc Can Khương (Gừng khô Ấn Độ):''' Vị cay, ấm, không độc. Trị lạnh bụng, thức ăn không tiêu, trướng bụng, lỵ, đau lưng, khối u (tích tụ), máu xấu tích tụ. Còn gọi là Hồ can khương.
===ĐỒNG HAO (茼蒿)===
(Tên khoa học: '''Glebionis coronaria''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Bồng hao.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hình dáng và khí vị giống với cây bồng hao nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Uông Cơ nói:''' Bản thảo không ghi rõ hình dạng, người sau khó nhận biết.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đồng hao gieo hạt vào tháng 8, 9; mùa đông và mùa xuân thu hái thân lá béo tốt để ăn. Hoa và lá hơi giống Bạch hao, vị cay ngọt, có mùi thơm đặc trưng của họ Cúc (hao khí). Tháng 4 mọc ngồng cao hơn 2 thước, nở hoa màu vàng sẫm, hình dáng như hoa cúc đơn cánh. Mỗi hoa kết gần trăm hạt thành hình cầu. Loại rau này có từ xưa, Tôn Tư Mạc đã chép trong Thiên Kim Phương mục các loại rau, đến thời Tống mới bổ sung vào Bản thảo.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính bình; không độc. Ăn nhiều động phong khí, gây đầy trướng bụng.
'''【Chủ trị】'''
* An tâm khí, dưỡng tỳ vị, tiêu đờm ẩm. Lợi tràng vị (Tôn Tư Mạc).
===TÀ HAO (邪蒿)===
(Tên khoa học: '''Seseli libanotis''' hoặc '''Seseli mairei''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Lá cây này có vân đều mọc chéo (tà), nên gọi là Tà hao.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Rễ và thân Tà hao giống Thanh hao nhưng nhỏ và mềm hơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tháng 3, 4 mọc mầm, lá giống Thanh hao, màu nhạt và không có mùi hắc. Cả rễ và lá đều có thể dùng làm rau ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay; tính ấm, bình; không độc.
* '''Mạnh Tiên nói:''' Ăn sống hơi động phong, nấu canh ăn thì tốt. Không nên ăn cùng rau mùi (Hồ tuy) vì làm mồ hôi có mùi hôi.
'''【Chủ trị】'''
* Trị mùi hôi thối và tà khí trong lồng ngực, lợi tràng vị, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết thiếu hụt (Mạnh Tiên).
* Nấu chín ăn với tương, giấm: Trị ngũ tạng có tà khí gây chán ăn; trị tỳ vị trướng đau, chứng khát do nhiệt, các bệnh cấp tính và mụn nhọt ác tính (Thực y tâm kính).
===HỒ TUY - RAU MÙI (胡荽)===
(Tên khoa học: '''Coriandrum sativum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hương tuy, Hồ thái, Nguyên tuy (蒝荽).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Tuy (荽) trong Thuyết văn giải tự chép là Tùy (葰), thuộc loại như gừng, có thể làm thơm miệng. Thân mềm lá nhỏ, rễ nhiều lông, trông dáng lả lướt (tuy tuy). Trương Khiên đi sứ Tây Vực mang giống về nên gọi là '''Hồ tuy'''. Nay tục gọi là '''Nguyên tuy''', chữ Nguyên (蒝) mô tả dáng thân lá tỏa ra. Gọi là Tiên (芫) trong hoa tiên là sai.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thạch Lặc (vua nước Hậu Triệu) kỵ chữ "Hồ", nên người vùng Tịnh, Phân gọi là '''Hương tuy'''.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi trồng khắp nơi. Gieo hạt vào tháng 8 là tốt nhất. Lúc mới mọc thân mềm lá tròn, lá có khía, rễ mềm trắng. Mùa đông và xuân hái ăn rất thơm ngon, cũng có thể muối dưa. Đây là một trong "Ngũ vị tân" của nhà Đạo. Sau tiết Lập hạ nở hoa nhỏ kết chùm màu tím nhạt. Tháng 5 thu hạt, hạt to như hạt đại ma, có mùi thơm cay.
'''RỄ VÀ LÁ'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ.
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn lâu ngày gây hay quên, phát các bệnh cũ. Không ăn cùng Tà hao (làm mồ hôi hôi khó chữa). Hoa Đà nói: Người bị hôi nách, hôi miệng, sâu răng, cước khí, vết thương hở đều không nên ăn, bệnh sẽ nặng thêm. Người đang uống thuốc bổ hoặc thuốc có Bạch truật, Mẫu đơn bì thì kiêng ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu thực, trị ngũ tạng, bổ hư tổn, lợi đại tiểu tràng, thông khí bụng dưới, trị đau đầu, thúc sởi và đậu mùa mọc nhanh (dùng rượu phun). Thông tâm khiếu (Gia Hựu). Bổ gân mạch, giúp ăn ngon. Trị trường phong (đi ngoài ra máu) (Mạnh Tiên). Giải độc cá thịt, độc trùng (Ninh Nguyên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Rau mùi vị cay tính ấm, mùi thơm tán xa, trong thông tâm tỳ, ngoài đạt tứ chi, trừ được các khí bất chính. Do đó, nốt đậu mọc không thoát, dùng rau mùi giúp phát ra. Hương thơm làm khí huyết vận hành, mùi hôi thối làm khí huyết ứ trệ.
* '''Lưu ý:''' Dùng rượu rau mùi phun trị đậu sởi chỉ nên dùng khi trẻ suy nhược hoặc trời âm lạnh. Nếu trẻ khỏe mạnh, trời nắng ấm mà dùng rượu mạnh trợ nhiệt sẽ làm độc huyết tụ lại, biến thành nốt đậu đen hãm, cực kỳ nguy hiểm.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Sởi đậu mọc không đều:''' Rau mùi 2 lạng thái nhỏ, dùng 2 chén rượu lớn đun sôi rồi đổ vào, đậy kín. Để nguội bỏ bã, phun nhẹ từ lưng cổ đến chân (tránh vùng mặt).
* '''Nốt ruồi đen trên mặt:''' Nấu canh rau mùi rửa hàng ngày.
* '''Sản hậu không có sữa:''' Nấu nước rau mùi khô uống.
* '''Tiểu tiện không thông:''' Rau mùi 2 lạng, rễ Quỳ 1 nắm, sắc nước hòa 1 lạng bột Hoạt thạch uống.
* '''Sa trực tràng (Lòi dom):''' Rau mùi 1 thăng thái nhỏ, đốt lấy khói xông.
* '''Giải độc trúng cổ:''' Giã rễ rau mùi lấy nửa thăng nước cốt hòa rượu uống.
* '''Rắn rết cắn:''' Lá rau mùi, Tiêu (loại ngậm miệng) lượng bằng nhau giã đắp.
'''HẠT (Hồ tuy tử)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, chua; tính bình; không độc. Thường sao lên mới dùng.
'''【Chủ trị】'''
* Giúp ăn ngon tiêu hóa tốt. Trị trúng độc trùng, ngũ trĩ, độc thịt, thổ huyết, hạ huyết (nấu nước uống nguội). Ép dầu bôi trị chứng hói đầu ở trẻ em. Thúc đậu chẩn mọc, khử mùi tanh của cá.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Lỵ và đi ngoài ra máu:''' 1 hợp hạt rau mùi sao tán bột. Lỵ đỏ uống với nước đường; lỵ trắng uống với nước gừng; đi ngoài ra máu uống với nước ấm.
* '''Đau nhức do ngũ trĩ:''' Bột hạt rau mùi (sao) uống 2 đồng cân với rượu ấm lúc đói.
* '''Trĩ lậu, sa trực tràng:''' Hạt rau mùi, cám gạo mỗi thứ 1 thăng, thêm chút Nhũ hương, đốt khói xông vào bình nhỏ.
* '''Đau răng:''' 5 thăng hạt rau mùi, nấu với 5 thăng nước lấy 1 thăng, dùng ngậm súc miệng.
===HỒ LA BẶC - CÀ RỐT (胡蘿蔔)===
(Tên khoa học: '''Daucus carota subsp. sativus''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đời Nguyên bắt đầu từ vùng Hồ (Tây Vực) đưa tới, khí vị hơi giống củ cải (la bặc) nên có tên như vậy.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cà rốt nay trồng nhiều ở miền Bắc, Sơn Đông, vùng Hoài, Sở cũng có. Gieo hạt tháng 8, mầm mọc như cây Tà hao, thân béo có lông trắng, mùi hăng như cỏ hao không ăn được. Tháng chạp đào rễ, ăn sống hay chín đều tốt, dùng như trái cây hoặc rau. Rễ có hai loại vàng và đỏ, dài 5-6 thốn, củ lớn bằng nắm tay, dáng như củ Địa hoàng hay rễ Dương đề. Tháng 3, 4 mọc ngồng cao 2-3 thước, hoa nhỏ trắng kết chùm như cái ô, hạt giống hạt Xà sàng nhưng dài hơn và có lông, màu nâu, có thể làm gia vị.
* '''Cứu hoang bản thảo:''' Cà rốt dại có rễ nhỏ, vị ngọt, ăn sống hay hấp đều được.
* '''Bắc chinh lục:''' Có loại Sa la bặc (củ cải cát) rễ dài hơn 2 thước, vị cay hơi đắng.
'''RỄ (Căn)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, cay; tính hơi ấm; không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí bổ trung tiêu, lợi lồng ngực và tràng vị, an ngũ tạng, giúp ăn ngon khỏe mạnh, có ích không hại (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
'''【Chủ trị】'''
* Trị lỵ lâu ngày (Thời Trân).
===THỦY CẦN - RAU CẦN NƯỚC (水斳)===
(Tên khoa học: '''Oenanthe javanica''')
(Bản kinh: Hạ phẩm)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Cần thái, Thủy anh, Sở quỳ.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Cần (斳) sau này giản lược thành Cần (芹). Vì tính mát nhuận như cây Quỳ nên gọi là '''Sở quỳ'''. Sách Lã Thị Xuân Thu khen rau ở Vân Mộng (đất Sở) là ngon nhất.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Biệt lục nói:''' Mọc ở đầm ao vùng Nam Hải.
* '''Tô Cung nói:''' Rau cần có hai loại: Địch cần (cần trắng) lấy rễ, Xích cần (cần đỏ) lấy thân lá. Đều có thể muối dưa hoặc ăn sống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cần có loại dưới nước (thủy cần) và trên cạn (hạn cần). Rau cần nước mọc ven sông hồ; rau cần cạn mọc ở đồng bằng, có hai loại đỏ và trắng. Tháng 2 mọc mầm, thân có khía rỗng, mùi thơm. Tháng 5 nở hoa trắng nhỏ.
'''THÂN (Thân)'''
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt; tính bình; không độc. (Tôn Tư Mạc nói vị đắng, chua, lạnh, chát).
* '''Kiêng kỵ:''' Ăn với giấm hại răng. Người bị tích tụ khối u (bàn hạ) không nên ăn. Xích cần (cần đỏ) có hại, không nên ăn.
'''【Chủ trị】'''
* Trị phụ nữ băng huyết (xích ốc), chỉ huyết dưỡng tinh, bảo vệ huyết mạch, ích khí, giúp béo khỏe, thèm ăn (Bản kinh). Trừ phục nhiệt, giải độc đá khoáng (thạch dược), giã lấy nước uống (Mạnh Tiên).
* Nước cốt trị sốt cao đột ngột ở trẻ em, giải nhiệt sau khi uống rượu ở người lớn, trị nghẹt mũi, hạ phong nhiệt ở đầu, lợi răng miệng và đại tiểu trường (Trần Tạng Khí). Trị phiền khát, băng lậu đới hạ, 5 loại vàng da (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Trương Trọng Cảnh nói:''' Xuân thu hai mùa, giao long hay tiết tinh vào rau cần. Người ăn nhầm sẽ mặt xanh tay xanh, bụng đầy như có thai, đau không chịu nổi (gọi là bệnh Giao long). Cách trị: Uống siro đường (ngạnh đường) 2-3 lít, ngày 3 lần, nôn ra vật như con thằn lằn là khỏi.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thực chất là các loại thằn lằn, rắn rết giao phối tiết tinh vào rau cần lúc giao mùa xuân hạ, rắn rất thích ăn rau cần.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Trẻ em nôn tả:''' Rau cần băm nhỏ, nấu nước uống.
* '''Tiểu tiện buốt đau:''' Rau cần nước (loại rễ trắng) bỏ lá giã lấy nước, hòa nước giếng uống.
* '''Tiểu ra máu:''' Nước cốt rau cần nước, mỗi ngày uống 6-7 hợp.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị đắng, lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng mạch dật (máu tràn ra ngoài mạch) (Tô Cung).
===CẨN - RAU CẦN CẠN (堇)===
(Tên khoa học: '''Viola verecunda''' hoặc '''Viola philippica''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Khổ cẩn, Cẩn quỳ, Hạn cần (Rau cần cạn).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tính chất trơn nhớt như rau Quỳ nên có tên là Quỳ.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Cẩn thái mọc hoang, lá giống rau Diếp cá (Giấp cá), hoa màu tím.
* '''Lưu Vũ Tích dẫn thuyết văn:''' Rễ giống rau Tề, lá giống liễu nhỏ, hạt như hạt gạo, đồ chín ăn rất ngọt và trơn.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Đây chính là '''Hạn cần''' (Rau cần trên cạn). Lưu ý: Loại hoa vàng có độc giết người là Mao cần. Mầm cây Ô đầu cũng tên là Cẩn, có độc, cần phân biệt rõ.
'''RAU (Thái)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính lạnh, không độc.
'''【Chủ trị】''' Giã lấy nước rửa vết thương do ngựa cắn (mã độc sang) và uống. Đắp trị độc rắn rết, ung nhũng (Đường bản). Ăn lâu giúp trừ phiền nhiệt dưới tim, trị tràng nhạc (la lặc), mụn nhọt, kết hạch tụ khí, hạ huyết ứ, cầm hoắc loạn. Nước cốt sống uống nửa thăng giúp giải độc "quỷ độc", nôn ra là khỏi (Mạnh Tiên).
'''【Phát minh】''' Lá Cẩn cầm hoắc loạn, công dụng ngang với Hương nhu.
'''【Phụ phương】'''
1. '''Khí kết thành hạch:''' Cẩn thái phơi khô tán bột, rán với dầu thành cao, xoa ngày 3-5 lần.
2. '''Thấp nhiệt khí:''' Hạn cần khô tán bột, làm viên với hồ to bằng hạt ngô. Uống 40 viên với rượu ấm lúc đói. Giải được độc của bách trùng.
3. '''Rắn cắn:''' Giã Cẩn tươi lấy nước bôi.
===TỬ CẨN - CẦN TÍA (紫堇)===
(Tên khoa học: '''Corydalis edulis''' hoặc '''Corydalis bungeana''')
(Trích: Đồ Kinh Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Xích cần (Cần đỏ), Thục cần, Sở quỳ, Đài thái, Thủy bặc thái.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Các chữ Cẩn (堇), Kỳ (蘄), Cần (芹), Sở ( ) cùng chung một nghĩa.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Tử cẩn sinh ở quận Ngô Hưng, Giang Nam. Đất Hoài Nam gọi là Sở quỳ, Nghi Xuân gọi là Thục cần, Dự Chương gọi là Đài thái.
* '''Lý Thời Trân dẫn Bảo Tạng Luận:''' Xích cần chính là Tử cẩn, mọc ven nước. Lá như Xích thược dược, màu xanh dài chừng 3 thốn, trên lá có đốm vàng, vị đắng chát. Nước cốt dùng trong luyện kim (chế thủy ngân, phục chu sa). Người vùng Giang Hoài hái mầm vào tháng 3, 4 làm rau ăn. Phương Nam ít, vùng núi Thái Hành, Vương Ốc có rất nhiều.
'''MẦM (Miêu)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, có độc nhẹ.
'''HOA (Hoa)'''
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính hơi ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Trị chứng thoát giang (sa trực tràng) ở người lớn và trẻ em (Tô Tụng).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị thoát giang, lỵ lâu ngày không khỏi:''' Mùa xuân hái 2 cân hoa Tử cẩn phơi khô tán bột, trộn với 7 lạng bột Từ mao nghiền mịn. Bôi lên hậu môn rồi ấn vào, đồng thời phun nước lạnh vào mặt người bệnh để khí co rút vào trong. Mỗi ngày thực hiện một lần, sau 6-7 lần là khỏi. Hoặc uống bột này với rượu nóng lúc đói (người lớn uống 1-2 thìa phương thốn bỉ, trẻ em dưới 5 tuổi dùng lượng bằng nửa hạt hạnh nhân hòa rượu). Kiêng đồ sống lạnh.
===MÃ KỲ - CẦN NGỰA (馬蘄) CẦN DẠI===
(Tên khoa học: '''Libanotis seseloides''')
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ngưu kỳ, Hồ cần, Dã hồi hương (Hồi hương dại).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vật gì lớn thường lấy chữ "Mã" (ngựa) để đặt tên, cây này giống rau cần mà lớn hơn nên gọi là Mã kỳ. Tục gọi là Dã hồi hương vì khí vị và hình hạt hơi giống hạt hồi.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Cung nói:''' Mọc ven vực nước. Mầm non ăn được. Hoa màu trắng xanh. Hạt màu đen vàng, mùi thơm giống vỏ quýt nhưng không đắng.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Mã kỳ cùng loại với rau cần nhưng khác giống, mọc nơi thấp ẩm. Tháng 3, 4 mọc mầm, mọc thành cụm như cỏ hao, có lông trắng mịn, lúc non làm rau ăn rất tốt. Lá giống rau cần nước nhưng nhỏ hơn, màu đậm. Tháng 5, 6 nở hoa nhỏ màu trắng xanh. Hạt giống hạt thì là (thì la) nhưng màu đen và nặng hơn. Rễ trắng, dài khoảng 1 thước, thơm nhưng cứng, không ăn được.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Ích tỳ vị, lợi lồng ngực, trừ lạnh (lãnh khí), làm rau ăn (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay; tính ấm; không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị tâm bụng trướng đầy, khai vị hạ khí tiêu thực (Đường bản). Sao tán bột uống với giấm trị đau tim đột ngột, giúp ngủ ngon (Mạnh Tiên). Ấm trung tiêu, ấm tỳ, trị nôn ngược (Thời Trân).
* '''Phụ phương:''' Bài Tỉnh tỳ tán trị trẻ em tỳ hư kinh phong: Hạt mã kỳ, Đinh hương, Bạch cương tàm lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1 đồng cân uống với nước sắc vỏ quýt nướng.
===HỒI HƯƠNG (茴香)===
(Tên khoa học: '''Foeniculum vulgare''' - Tiểu hồi; '''Illicium verum''' - Đại hồi)
(Trích: Đường Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Hồi hương, Bát giác châu.
* '''Tôn Tư Mạc nói:''' Nấu thịt ôi thiu cho một ít vào sẽ hết mùi, tương thối cho bột này vào cũng thơm, nên gọi là '''Hồi hương''' (vị hương quay trở lại).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Phương Bắc gọi là '''Thổ hồi hương'''. Tháng 3 mọc lá như lá mùi già nhưng rất nhỏ và thưa. Tháng 7 nở hoa vàng như cái ô. Hạt như hạt lúa mạch nhưng nhỏ hơn, màu xanh.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Tục gọi hạt nhỏ là '''Tiểu hồi hương''' (loại ở Ninh Hạ là nhất). Loại từ nước ngoài về (番舶 - phiên bạc) quả lớn chia 8 cánh, mỗi cánh có một hạt như hạt đậu, màu nâu vàng, vị ngọt hơn, gọi là '''Bát giác hồi hương''' (Đại hồi). Hai loại hình dáng khác nhau nhưng khí vị tương đồng.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính bình (Tôn Tư Mạc nói hơi lạnh), không độc. Vào các kinh Quân, Tỳ, Thận, Bàng quang.
* '''Chủ trị:''' Trị các loại sưng đau (quyền), hoắc loạn và rắn cắn (Đường bản). Trị lạnh bụng, đau bụng dưới, dừng nôn mửa. Trị cước khí, thận lao, sưng đau tinh hoàn (án sán), khai vị tiêu thực. Bổ mệnh môn hỏa (Lý Đông Viên).
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' '''Tiểu hồi''' tính bình, lý khí khai vị, mùa hè dùng trừ ruồi và khử mùi hôi. '''Đại hồi''' tính nhiệt, ăn nhiều hại mắt, phát mụn nhọt, không nên dùng quá nhiều làm gia vị. Tiểu hồi đắc muối (diêm) sẽ dẫn thuốc vào kinh thận, trục xuất tà khí.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch bài thuốc chính)
* '''Khai vị, giúp ăn ngon:''' Tiểu hồi 2 lạng, Gừng tươi 4 lạng, giã chung, ủ một đêm rồi sao vàng tán bột, làm viên uống.
* '''Sốt rét chướng khí:''' Giã hạt hồi lấy nước cốt uống.
* '''Đại tiểu tiện bí, bụng trướng:''' 7 cánh Đại hồi, nửa lạng hạt Gai dầu (Ma nhân) tán bột, sắc với hành trắng uống.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Hạt hồi sao với ít muối, tán bột, chấm với bánh nếp nướng ăn.
* '''Thận hư đau lưng:''' Hạt hồi sao tán bột, cho vào quả thận lợn đã khía đôi, gói giấy ướt nướng chín, ăn lúc đói với rượu muối.
* '''Đau lưng như kim châm:''' Đại hồi sao tán bột, uống 2 đồng cân với nước muối trước khi ăn. Ngoài dùng gạo nếp sao nóng chườm chỗ đau.
* '''Sa bìu, đau tinh hoàn:''' Tiểu hồi sao chườm nóng. Hoặc dùng Đại hồi, hạt Vải (Lệ chi hạch) sao đen, lượng bằng nhau tán bột uống với rượu ấm.
* '''Đau nhói dưới sườn:''' Tiểu hồi 1 lạng (sao), Chỉ xác 5 đồng cân (sao cám), tán bột uống với rượu muối.
'''THÂN VÀ LÁ (Cánh diệp)'''
* '''Chủ trị:''' Nấu ăn trị buồn nôn, bụng dạ không yên. Giã nước cốt hòa rượu nóng uống trị đau nhói vùng thận xuyên sang sườn, đau như dao cắt, thở gấp.
* '''Phát minh:''' Nước cốt lá hồi (hoặc rễ vào mùa đông) trị các loại ung nhũng độc, sưng đau lan xuống vùng kín và đùi bụng rất thần nghiệm, có khả năng "cải tử hoàn sinh".
===THÌ LA - THÌ LÀ (蒔蘿)===
(Tên khoa học: '''Anethum graveolens''')
(Trích: Khai Bảo Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Từ mưu lặc, Tiểu hồi hương.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Thì la và Từ mưu lặc đều là tên gọi từ phương xa (phiên ngôn).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Thì la sinh ở nước Phật Thệ, hạt giống hạt Mã kỳ, thơm cay.
* '''Lý Tuân nói:''' Sinh ở nước Ba Tư. Hạt mã kỳ màu đen và nặng, hạt thì la màu nâu và nhẹ. Giúp tăng hương vị thức ăn, ăn nhiều không hại. Không nên ăn cùng với A ngụy vì sẽ làm mất mùi thơm.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hạt mọc thành chùm, hình dáng như hạt Xà sàng nhưng ngắn hơn, hơi đen, mùi thơm cay không bằng Hồi hương. Tục gọi là Thì la tiêu.
'''MẦM (Miêu)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ khí, lợi lồng ngực (Thời Trân).
'''HẠT (Tử)'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đầy hơi, hoắc loạn nôn ngược, bụng lạnh chán ăn, hai sườn đầy tức (Tạng Khí). Kiện tỳ, khai vị, ấm ruột, giải độc cá thịt, bổ thận (thủy tạng), trị thận khí, khỏe gân cốt (Nhật Hoa). Tiêu thực, tăng hương vị thức ăn (Lý Tuân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Đau lưng do sai khớp, chấn thương:''' Bột hạt thì la uống 2 đồng cân với rượu.
* '''Đau răng:''' Hạt thì la, hạt Cải dầu (Vân đài), hạt Cải trắng (Bạch giới) lượng bằng nhau, tán bột. Ngậm nước trong miệng, hít bột vào mũi (đau bên nào hít bên đối diện), rất thần hiệu.
'''【Phụ lục】'''
* '''Thục hồ lạn:''' Vị cay, tính bình. Trị lạnh bụng trướng đầy, bổ thận, trị huyết khí phụ nữ, hạ lỵ, giết sâu răng. Sinh ở An Nam (Việt Nam).
* '''Số đê:''' Vị ngọt, tính ấm. Trị phong lạnh, tiêu thức ăn cũ, trướng đầy.
* '''Trì đức lặc:''' Rễ vị cay, ấm. Phá lãnh khí, tiêu thực.
===LA LẶC - HÚNG QUẾ (羅勒)===
(Tên khoa học: '''Ocimum basilicum''')
(Trích: Gia Hựu Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Lan hương, Hương thái, Ế tử thảo (Cỏ trị màng mắt).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Do kỵ húy Thạch Lặc thời Hậu Triệu nên gọi là Lan hương hoặc Hương thái. Nay gọi là Ế tử thảo vì hạt dùng trị màng mộng ở mắt.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lưu Vũ Tích nói:''' Có ba loại: một loại lá như Tử tô; một loại lá lớn, đứng xa 20 bước đã ngửi thấy mùi thơm; một loại dùng làm rau sống. Hạt dùng để lấy bụi bẩn hoặc màng mộng trong mắt rất tốt.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Nên trồng vào tháng 3 khi lá táo mọc. Tưới bằng nước vo gạo, nước bùn rãnh thì thơm và tốt. Hạt nhỏ như con bọ chét, màu nâu không bóng.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, có độc nhẹ. Không nên ăn quá nhiều vì gây tắc nghẽn khớp xương, làm trì trệ vinh vệ, huyết mạch khó lưu thông, động phong phát cước khí.
'''【Chủ trị】'''
* Điều trung tiêu, tiêu thực, trừ ác khí, tiêu thủy khí, nên ăn sống. Trị loét chân răng (đốt thành tro bôi). Trị nôn mửa (uống nước cốt). Rễ đốt thành tro đắp mụn nhọt lở loét ở trẻ em. Trừ tà khí, cổ độc.
'''【Phát minh】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' La lặc vị cay tính ấm, hòa huyết nhuận táo. Dùng trong các bài thuốc trị đau răng hôi miệng để trừ ác khí. Ăn cùng các loại rau khác giúp khử mùi tanh.
'''【Phụ phương】'''
* '''Cam mũi, đỏ loét:''' Tro lá húng quế 2 đồng cân, Đồng thanh 5 phân, Khinh phấn 2 tự, tán bột bôi ngày 3 lần.
* '''Nôn ngược, nấc cụt:''' Gừng tươi 4 lạng giã nát, lá húng quế 1 lạng, bột hạt tiêu 1 đồng cân, ít muối trộn với 4 lạng bột mì, làm bánh nướng chín ăn lúc đói.
'''HẠT (Tử)'''
* '''Chủ trị:''' Trị màng mộng ở mắt (mục ế) và bụi bay vào mắt. Trị mắt đỏ sưng đau do phong.
* '''Phát minh:''' Hạt này gặp nước sẽ trương nở và có màng nhầy, giúp bám lấy màng mộng hoặc bụi trong mắt để kéo ra ngoài mà không gây đau đớn, là một điều kỳ lạ.
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt mờ có màng mộng:''' Mỗi lần dùng 7 hạt húng quế, sắc nước uống trước khi ngủ, dùng lâu sẽ hiệu quả.
* '''Sâu răng, loét lợi (Tẩu mã nha cam):''' Bột hạt húng quế, Khinh phấn mỗi thứ 1 đồng cân, Mật đà tăng (chế giấm) nửa lạng, trộn đều bôi vào chân răng.
===BẠCH HOA THÁI (白花菜)===
(Tên khoa học: '''Cleome gynandra''')
(Trích: Thực Vật Bản Thảo)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Dương giác thái (Rau sừng dê).
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Bạch hoa thái trồng vào tháng 3. Thân mềm leo bò, một cành có 5 lá, lá to bằng ngón tay cái. Mùa thu nở hoa nhỏ màu trắng, nhị dài. Kết quả dạng sừng nhỏ (quả nang), dài 2-3 thốn. Hạt màu đen nhỏ, hình dáng như phân tằm mới nở, không bóng. Rau có mùi hăng hắc (tạng xú), chỉ nên muối dưa ăn.
* '''Uông Dĩnh nói:''' Có loại hoa vàng gọi là Hoàng hoa thái, hình dáng tương tự nhưng hoa màu vàng.
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, cay; tính có độc nhẹ. Ăn nhiều động phong khí, đình trệ tạng phủ, làm bụng đầy chướng, hại tỳ.
'''【Chủ trị】'''
* Hạ khí (Uông Dĩnh). Sắc nước rửa trĩ, giã nát đắp trị phong thấp tý thống, giã hòa rượu uống trị sốt rét (Lý Thời Trân).
===HÃN THÁI - RAU CẢI TRỜI/CẢI RỢ (菜)===
(Tên khoa học: '''Rorippa indica''')
(Trích: Bản Thảo Cương Mục)
'''【Thích danh - Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Trạo thái, Lạt mỹ thái (Rau gạo cay).
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay nồng như lửa đốt (hãn), nên gọi là Hãn. Trần Tạng Khí có chép vị rau Tân ( ), thực chất là chữ Hãn bị viết nhầm.
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Lý Thời Trân nói:''' Hãn thái sinh ở phương Nam, là loại cỏ nhỏ nơi điền viên. Mùa đông mọc sát đất thành cụm, dài 2-3 thốn, cành mềm lá nhỏ. Tháng 3 nở hoa vàng li ti. Kết quả nhỏ dài 1-2 phân, trong quả có hạt mịn. Người dân nhổ cả rễ lá để ăn, vị rất cay nồng, gọi là rau Gạo cay. Sinh ở đất cát thì cây càng nhỏ bé. Chu Hy (Chu Văn Công) sau khi uống rượu thường dùng rau này làm món đưa cay. Người vùng Hu Giang, Kiến Dương rất thích ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính ấm, không độc.
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Thái nhỏ, rửa bằng mật ong sống hoặc chần qua mà ăn thì tỉnh táo, tiêu thực. Ăn nhiều phát bệnh cũ, sinh nhiệt.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ lãnh khí, bụng lạnh lâu ngày, thức ăn không tiêu, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí). Lợi lồng ngực, tiêu đờm lạnh, trị đau bụng (Lý Thời Trân).
===THẢO THỊ - RAU ĐẬU XỊ (草豉)===
(Tên khoa học: Đang cập nhật - Có thể thuộc chi '''Allium''' hoặc '''Phlomis''')
(Trích: Bản Thảo Thập Di)
'''【Tập giải - Thu hái và tập tính】'''
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở các nước vùng Ba Thục, Tây Vực. Cây giống như hẹ, phần giống hạt đậu xị (đậu đen lên men) mọc ra từ trong hoa, người bản địa dùng làm thức ăn.
'''【Khí vị】'''
* Vị cay, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trừ ác khí, điều hòa trung tiêu, ích ngũ tạng, khai vị, giúp ăn ngon (Trần Tạng Khí).
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
0s4rdpneu1ewxvt43dgqxxqfm0hxoxb
Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thái 2
114
71906
204558
204520
2026-04-05T06:48:42Z
Mrfly911
2215
204558
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之二
| năm= 1596
| phần = Thái phần 2 - các loại '''rau mềm nhớt''' (nhu hoạt) (Ba lăng, rau muống, thái, đông phong thái, tề, tích, phồn lâu, kê tràng thảo, mục túc, dền, mã xỉ hiện, khổ thái, bạch cự, oa cự, thủy khổ, phiên bạch thảo, tiên nhân trượng thảo, bồ công anh, hoàng qua thái, sinh qua thái, lạc quỳ, dấp cá, quyết, thủy quyết, vi, kiều dao, lộc hoắc, hôi, lê, tần địch lê, đề hồ thái, dụ, thổ dụ, thạch dự, linh dư tử, cam thử, bách hợp, sơn đan, thảo thạch tằm, măng tre)
| trước= [[../Thái 1|Thái 1]]
| sau= [[../Thái 3|Thái 3]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==41 loại rau mềm==
===BA LĂNG (菠薐)===
(Ghi chép từ sách "Gia Hựu" thời Tống)
Tên khoa học:''' Spinacia oleracea L.
(cây cải bó xôi (rau chân vịt))
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Ba thái (菠菜 - Bản thảo Cương mục), Ba tư thảo (波斯草 - Bản thảo Cương mục), Xích căn thái (赤根菜 - Rau rễ đỏ).
* '''Thận Vi nói:''' Xét theo Gia thoại lục của Lưu Vũ Tích: Giống Báo lăng vốn từ nước ngoài đưa tới. Có vị tăng mang hạt giống đến, nói rằng đó là giống từ nước Phả Lăng (頗陵), do đọc chệch đi mà thành Ba lăng (波棱). (Rau Ba lăng vốn từ Tây Vực, có vị tăng mang hạt từ đó đến, giống như cỏ Mục túc và Bồ đào do Trương Khiên đưa về. Lý Tuần nói: "Há chẳng phải từ nước Phả Lăng mang đến mà đọc chệch thành Ba lăng sao?").
* '''Thời Trân nói:''' Xét theo Đường hội yếu: Thời Đường Thái Tông, nước Ni Ba Duy (Nepal) dâng rau Ba lăng, lá giống cây hồng hoa, quả giống quả tật lê, nấu chín ăn rất ngon. Chính là loại này vậy. Các phương sĩ (thầy thuốc/đạo sĩ) ẩn danh gọi nó là Ba tư thảo (Cỏ Ba Tư).
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Ba lăng gieo vào tháng 8, tháng 9 thì dùng làm thức ăn cho mùa đông; gieo vào tháng Giêng, tháng 2 thì làm rau ăn mùa xuân. Thân cây mềm giòn, bên trong rỗng. Lá xanh bóng, mềm và dày, đầu lá có một mũi nhọn chính và hai mũi nhọn bên, hình dáng giống lá hoa đậu xị nhưng dài và lớn hơn. Rễ dài vài tấc, to như rễ Cát cánh (Platycodon grandiflorus) và có màu đỏ, vị rất ngọt. Tháng 4 cây mọc ngồng cao khoảng một thước. Có cây đực và cây cái. Hoa mọc từ thân, nhỏ li ti màu đỏ nhạt, mọc thành cụm không rõ rệt. Cây cái kết quả, quả có gai, hình dáng giống hạt Tật lê (Tribulus terrestris). Khi gieo hạt cần nghiền nhẹ cho lớp vỏ nứt ra thì hạt mới dễ hút nước mà nảy mầm. Hạt phải qua một kỳ trăng (một tháng) mới mọc, cũng là một đặc điểm kỳ lạ.
======RAU VÀ RỄ (Của rau chân vịt - Spinacia oleracea L.)======
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính lạnh, trơn (hoạt), không độc.
* '''Sĩ Lương nói:''' Hơi độc. Ăn nhiều khiến chân yếu, đau lưng, phát lạnh. Người vốn bị lạnh bụng (phúc lãnh) ăn vào tất bị tiêu chảy. Không ăn cùng lươn (Monopterus albus) vì gây hoắc loạn. Nước cốt luyện thành sương có thể chế phục thạch tín, thủy ngân, thư hoàng, lưu huỳnh.
'''【Chủ trị】'''
* Lợi ngũ tạng, thông nhiệt tràng vị, giải độc rượu. Người đang uống đan thạch (thuốc khoáng vật) ăn vào rất tốt (Mạnh Tiễn).
* Thông huyết mạch, khai lồng ngực, hạ khí điều trung, chỉ khát nhuận táo. Phần rễ càng tốt (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Mạnh Tiễn nói:''' Người phương Bắc ăn nhiều thịt và bột mì, ăn rau này vào thì quân bình; người phương Nam ăn nhiều cá, ba ba, gạo nước, ăn vào dễ bị lạnh. Do đó ăn nhiều sẽ làm lạnh đại tiểu tràng.
* '''Thời Trân nói:''' Theo Nho môn sự thân của Trương Tòng Chính: Người bệnh lâu ngày, đại tiện táo kết không thông hoặc người bị trĩ lậu, nên thường xuyên ăn rau chân vịt, rau quỳ. Tính trơn của chúng nuôi dưỡng các khiếu, giúp thông lợi tự nhiên.
'''【Phụ phương】'''
* Trị tiêu khát (tiểu đường) uống nước liên tục: Rễ rau chân vịt, Kê nội kim (màng mề gà) lượng bằng nhau, tán bột. Uống 1 tiền (3-4g) với nước cơm, ngày 3 lần.
===RAU MUỐNG (Úng thái - 蕹菜)===
'''Tên khoa học:''' Ipomoea aquatica Forsk.
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Thời Trân nói:''' Úng (蕹) cũng giống như ủng (壅 - vun bồi). Loại rau này chỉ nhờ vun bồi mà thành nên gọi là Úng.
'''【Tập giải】'''
* '''Tàng Khí nói:''' Rau muống trồng ở vùng Lĩnh Nam. Thân bò, hoa trắng, ăn được.
* '''Thời Trân nói:''' Nay người ở Kim Lăng và Giang Hạ trồng rất nhiều. Tính ưa đất ẩm, sợ sương tuyết. Tháng 9 đem cất vào hầm đất, tháng 3-4 lấy ra, vun bồi bằng phân đất thì mỗi đốt đều nảy mầm, một gốc có thể mọc đầy một luống. Thân mềm, rỗng giữa; lá giống lá rau chân vịt hoặc hình mũi đục. Vị nhạt, nên nấu cùng thịt lợn, khi thịt chuyển màu tím thì mới ngon. Bắc hộ lục nói lá giống lá liễu là sai. Theo Thảo mộc trạng: Lá rau muống giống rau mồng tơi (Basella alba) nhưng nhỏ hơn. Người phương Nam tết sậy làm bè, đục lỗ nhỏ thả trên mặt nước. Gieo hạt xuống nước, rễ nổi trên mặt nước như bèo. Khi lớn, cành lá đều mọc ra từ lỗ bè sậy, trôi nổi theo nước. Đây là loại rau lạ của phương Nam. Như vậy rau này thủy sinh hay lục sinh đều được.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Giải độc cỏ Hồ man (độc Diệp cát - lá ngón Gelsemium elegans): Sắc ăn hoặc giã sống lấy nước uống (Tàng Khí).
* Giã nước cốt hòa với rượu uống để trị đẻ khó (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Tàng Khí nói:''' Người phương Nam ăn rau muống trước, ăn Dã cát (lá ngón) sau, hai thứ khắc chế nhau nên không bị hại. Lấy nước rau muống nhỏ vào mầm lá ngón, mầm đó lập tức héo chết, sức tiêu diệt nhau mạnh như vậy. Bác vật chí của Trương Hoa nói Ngụy Vũ Đế ăn lá ngón đến một thước mà không sao, chắc là nhờ ăn rau này trước vậy.
===ĐIỀM THÁI (菾菜)===
'''Tên khoa học:''' Beta vulgaris var. cicla L. (Rau cải cầu vồng/Cải Thụy Sĩ)
'''【Hiệu chính】'''
* Gộp cả mục rau "Thiềm" (Thiềm thái) trong sách Gia Hựu.
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Điềm thái''' (Rau ngọt), '''Thiềm thái'''.
* '''Thời Trân nói:''' Điềm thái chính là Thiềm thái. Chữ "Thiềm" thông với chữ "Điềm" (ngọt), đặt theo vị của rau. Nghĩa của chữ "Thiềm" hiện chưa rõ.
'''【Tập giải】'''
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Điềm thái là loại rau nay dùng để làm món hấp (ôi chưng).
* '''Tô Cung nói:''' Lá giống mầm Thăng ma (Shengma), người phương Nam hấp hoặc nướng ăn, rất thơm ngon.
* '''Bảo Thăng nói:''' Cây cao 3-4 thước, thân như cây Sóc địch (Sambucus javanica), có khía cạnh nhỏ, mùa hè tươi tốt, mùa đông khô héo. Đốt thân lấy tro luyện nước giặt áo quần sẽ trắng như ngọc.
* '''Sĩ Lương nói:''' Lá giống cúc tím nhưng lớn hơn, hoa trắng.
* '''Thời Trân nói:''' Gieo hạt vào tháng Giêng, tháng 2, rễ cũ cũng tự mọc lại. Lá màu xanh trắng, giống lá cải bắp trắng nhưng ngắn hơn, thân cũng tương tự nhưng nhỏ hơn một chút. Ăn sống hay chín đều được, hơi có mùi đất. Tháng 4 nở hoa trắng nhỏ. Kết quả hình dáng như quả Thù du, nhẹ và xốp, màu vàng đất, bên trong có hạt nhỏ. Rễ màu trắng.
'''【Khí vị】'''
* Vị ngọt, đắng, tính rất lạnh (đại hàn), trơn (hoạt), không độc.
* '''Vũ Tích nói:''' Tính bình, hơi độc. Người bị khí lạnh không nên ăn nhiều vì động khí. Người vốn bị lạnh bụng ăn vào tất bị tiêu chảy.
'''【Chủ trị】'''
* Trị bệnh thời hành sốt cao, giải độc phong nhiệt, giã nước uống sẽ khỏi (Biệt lục).
* Mùa hè nấu cháo rau này ăn giúp giải nhiệt, trị lỵ do nhiệt độc. Giã nát đắp vết bỏng (ngải cứu), giúp giảm đau, mau lành (Tô Cung).
* Giã nước uống chủ trị lỵ nóng lạnh. Lại giúp cầm máu, sinh cơ (mọc da non), trị các vết thương do thú vật cắn, đắp vào lập tức khỏi (Tàng Khí). Sắc nước uống giúp khai vị, thông tâm cách, hợp với phụ nữ (Đại Minh). Bổ trung hạ khí, điều lý tì khí, trị đầu phong, lợi ngũ tạng (Gia Hựu).
'''RỄ (Điềm thái căn)'''
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】''' Thông kinh mạch, hạ khí, mở rộng vùng ngực bụng (Chính yếu).
'''HẠT (Điềm thái tử)'''
'''【Chủ trị】''' Nấu chín tái, giã lấy nước uống trị chứng nóng ở trẻ em (Mạnh Tiễn). Ngâm giấm xát mặt giúp tẩy sạch bã nhờn, da dẻ mịn màng, sáng bóng (Tàng Khí).
'''【Phụ phương】'''
* '''Trị trĩ lậu đi ngoài ra máu:''' Hạt Điềm thái, hạt Vân đài (cải dầu), hạt Kinh giới, hạt Rau mùi, hạt Xà lách, hạt Mạn kinh, hạt Củ cải, hạt Hành lượng bằng nhau. Lấy một con cá diếc lớn bỏ vảy và ruột, nhồi thuốc vào trong, khâu lại. Cho vào dụng cụ bằng bạc hoặc đá, dùng lửa luyện chín cả trên lẫn dưới, để nguội tán bột. Mỗi lần uống 2 tiền (8g) với nước cơm, ngày 2 lần.
===ĐÔNG PHONG THÁI (東風菜)===
'''Tên khoa học:''' Doellingeria scabra (Thunb.) Nees (tên cũ: Aster scaber)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Đông phong''' (Gió đông), '''Đông phong''' (Gió mùa đông).
* '''Mã Chí nói:''' Rau này mọc trước mùa xuân nên gọi là Đông phong (Gió đông). Có chỗ viết là Đông phong (Gió mùa đông) ý nói nhận được khí của mùa đông.
'''【Tập giải】'''
* '''Mã Chí nói:''' Rau Đông phong mọc ở vùng đầm lầy Lĩnh Nam. Cao 2-3 thước, lá giống lá mơ nhưng dài, cực kỳ dày và mềm, trên có lông mịn, nấu ăn rất ngon.
* '''Thời Trân nói:''' Theo Quảng Châu ký của Bùi Uyên: Rau Đông phong hoa và lá giống cây Lạc nhâm, thân màu tím. Nên nấu canh với thịt mỡ, mùi thơm như Mã lan (Aster indicus), vị như nhũ lạc (váng sữa).
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc.
'''【Chủ trị】''' Phong độc ủng nhiệt, đau đầu chóng mặt, gan nhiệt mắt đỏ, dùng nấu canh hoặc làm món ăn rất tốt (Khai bảo).
===TỀ (薺) - RAU TỀ===
'''Tên khoa học:''' Capsella bursa-pastoris (L.) Medic. (Rau tề/Đào y)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Hộ sinh thảo'''.
* '''Thời Trân nói:''' Rau tề mọc nơi đầm lầy (tế trạch) nên gọi là Tề. Nhà Phật lấy thân cây làm gậy khêu đèn để đuổi kiến, bướm đêm nên gọi là Hộ sinh thảo (cỏ bảo vệ chúng sinh).
'''【Tập giải】'''
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Tề có nhiều loại, đây là loại người nay thường ăn. Làm dưa muối hay nấu canh đều ngon. Kinh Thi có câu: "Ai bảo rau đồ đắng, nó ngọt như rau tề", chính là nói về loại này.
* '''Thời Trân nói:''' Tề có loại lớn và nhỏ. Loại nhỏ lá hoa thân dẹt, vị ngon (gọi là Sa tề). Loại lớn thân lá đều to nhưng vị không bằng. Loại thân cứng có lông gọi là Tích minh, vị không ngon lắm. Cây mọc sau tiết Đông chí, tháng 2-3 mọc ngồng cao 5-6 thốn. Hoa trắng nhỏ mọc đều. Quả nang hình tam giác như bèo cám. Hạt bên trong như hạt Đình lịch, gọi là Thoa (菔), thu hoạch vào tháng 4. Sư Khoáng nói: "Năm nào muốn có vị ngọt thì Cam thảo mọc trước, rau Tề theo sau". Tích minh và Đình lịch đều thuộc loại rau Tề.
'''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc.
'''【Chủ trị】''' Lợi gan hòa trung (Biệt lục). Lợi ngũ tạng. Rễ: Trị đau mắt (Đại Minh). Sáng mắt bổ dạ dày (Thời Trân). Thân, lá: Đốt thành tro trị kiết lỵ ra máu trắng cực hiệu nghiệm (Diễn Quyền).
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt đỏ cấp tính, đau sưng nhức cộm:''' Rễ rau tề giã lấy nước nhỏ mắt (Thánh huệ).
* '''Mắt có màng mộng (ế màng):''' Rau tề cả rễ, thân, lá rửa sạch, sấy khô tán bột mịn. Trước khi ngủ rửa sạch mắt, lấy một lượng bằng hạt gạo chấm vào hai khóe mắt. Tuy đau nhức nhưng cố nhịn, dùng lâu màng tự rụng (Thánh tế tổng lục).
* '''Bụng sưng trướng to, tứ chi gầy khô, tiểu rắt:''' Đình lịch (sao), rễ rau tề lượng bằng nhau, tán bột, luyện mật làm viên bằng quả đạn. Mỗi lần uống 1 viên với nước trần bì. Uống 2-3 viên tiểu sẽ trong; hơn 10 viên bụng sẽ trở lại bình thường (Tam nhân).
'''【Hạt (Tề thực)】'''
* '''Chu Vương nói:''' Năm đói thu hạt, hòa nước thành khối, nấu cháo hoặc làm bánh rất dẻo.
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc. Người bị bệnh khí ăn vào sẽ động khí lạnh. Không ăn cùng bột mì vì gây tức lưng. Người đang uống đan thạch không được ăn.
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, trị đau mắt, bổ ngũ tạng hư tổn, trị bụng trướng, giải nhiệt độc. Dùng lâu nhìn vật rõ ràng.
'''【Hoa】''' Trải dưới chiếu để đuổi côn trùng, muỗi, bướm. Tán bột uống với nước táo trị lỵ lâu ngày.
===TÍCH MINH (菥蓂)===
'''Tên khoa học:''' Thlaspi arvense L. (Cải dại)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Đại tề''' (Tề lớn), '''Đại túc''', '''Mã tân'''.
* '''Thời Trân nói:''' Các tên này không rõ nghĩa. Ô Phổ bản thảo gọi là Tích mục, Vinh mục, Mã câu.
'''【Tập giải】'''
* '''Cung nói:''' Nhĩ Nhã gọi Tích minh là Đại tề. Chú giải: Giống rau tề, dân gian gọi là Lão tề, vị ngọt không cay.
* '''Tàng Khí nói:''' Đại tề là Đình lịch, không phải Tích minh. Quả Tích minh lớn và dẹt, quả Đình lịch nhỏ và tròn, hai thứ khác hẳn nhau.
* '''Tụng nói:''' Đình lịch gọi là Điển (蕇), hạt và lá giống hạt cải, còn gọi là Cẩu tề. Tích minh là Đại tề. Cả hai đều thuộc loại rau tề nên người ta hay nhầm lẫn.
* '''Thời Trân nói:''' Tề và Tích minh cùng một loại nhưng chia ra lớn nhỏ. Nhỏ là Tề, lớn là Tích minh (có lông). Công dụng hạt giống nhau. Tích minh vị ngọt hoa trắng, Đình lịch vị đắng hoa vàng.
'''【Mầm (Tích minh miêu)】'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hòa trung ích khí, lợi gan sáng mắt (Thời Trân).
'''【Hạt (Tích minh tử)】'''
* '''Khí vị:''' Vị cay, tính hơi ấm, không độc. (Tô Cung nói vị ngọt không cay).
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, trị đau mắt chảy nước mắt, trừ tê bại (biểu), bổ ngũ tạng, ích tinh quang. Dùng lâu nhẹ người trẻ mãi không già (Bản kinh). Trị đau thắt lưng bụng (Biệt lục). Trị tích tụ ở gan, mắt sưng đỏ (Diễn Quyền).
'''【Phụ phương】'''
* '''Mắt nóng đau, chảy nước mắt không ngừng:''' Hạt Tích minh tán bột. Khi ngủ dùng trâm đồng điểm một ít vào mắt, để nước mắt nóng và chất bẩn chảy ra là tốt.
* '''Trong mắt mọc thịt thừa:''' Dùng phương như trên, điểm mắt mỗi đêm (Hải thượng phương).
===PHỒN LÂU (蘩縷)===
'''Tên khoa học:''' Stellaria media (L.) Vill. (Cỏ đại bi, Cầm bàng, Cỏ lòng máng)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Sản lâu, Tư thảo, Nga tràng thái''' (Rau ruột ngỗng).
* '''Thời Trân nói:''' Cỏ này thân bò rất rậm rạp (phồn), giữa thân có một sợi tơ (lâu) nên gọi là Phồn lâu. Dân gian gọi là rau Ruột ngỗng vì hình dáng giống. Nó dễ sinh trưởng nên gọi là Tư thảo.
'''【Tập giải】'''
* '''Tô Cung nói:''' Đây chính là Kê tràng (ruột gà). Thường mọc nơi đất ẩm, cạnh mương rãnh. Người bình dân gọi là Kê tràng, bậc nhã sĩ gọi là Phồn lâu.
* '''Thời Trân nói:''' Phồn lâu là Nga tràng (ruột ngỗng), không phải Kê tràng (ruột gà). Mọc rất nhiều nơi đất thấp ẩm. Tháng Giêng mọc mầm, lá to bằng đầu ngón tay. Thân nhỏ kéo dài, ngắt ra thấy bên trong rỗng, có một sợi trắng như tơ. Làm rau ăn rất ngọt giòn. Sau tháng 3 thì già. Hoa trắng cánh nhỏ. Quả nhỏ như hạt kê, bên trong có hạt mịn như hạt Đình lịch. Nga tràng vị ngọt, thân rỗng có tơ, hoa trắng; còn Kê tràng vị hơi đắng, nhai có dịch nhờn, thân không tơ, màu hơi tím, hoa cũng tím.
'''【Khí vị】''' Vị chua, tính bình, không độc. (Thời Trân nói: vị ngọt, hơi mặn). Ăn cùng lươn sẽ gây tiêu khát và hay quên.
'''【Chủ trị】''' Các loại mụn nhọt ác tính lâu năm, trĩ không khỏi. Phá huyết, thông sữa, phụ nữ sau sinh nên ăn. Trị đau bụng có khối sau sinh (huyết hòn): sao với rượu lấy nước ấm uống. Hoặc tán bột, làm viên với hồ giấm, uống 50 viên lúc đói để tống ác huyết ra ngoài (Tàng Khí).
'''【Phụ phương】'''
* '''Làm đen râu tóc:''' Ăn Phồn lâu làm rau trong thời gian dài.
* '''Tiểu rắt cấp tính:''' Lấy hai nắm cỏ Phồn lâu sắc nước uống thường xuyên.
* '''Mụn nhọt bộ phận sinh dục nam giới:''' Phồn lâu đốt tồn tính 5 phần, phân giun đất mới đùn 2 phần, hòa ít nước đắp vào.
===KÊ TRÀNG (雞腸)===
'''Tên khoa học:''' Stellaria neglecta Weihe hoặc Stellaria aquatica (L.) Scop.
(Cỏ đường tàu)
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Kê tràng mọc nơi ẩm thấp. Tháng 2 mọc mầm, lá giống Nga tràng nhưng màu đậm hơn. Thân mang sắc tím, đặc ruột, không có tơ. Tháng 4 nở hoa tím nhỏ 5 cánh. Làm rau không ngon bằng Nga tràng. Nhai sống thấy có dịch nhờn (nên có thể dùng dính ve sầu).
'''【Khí vị】''' Vị hơi cay, đắng, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】''' Độc sưng, cầm tiểu tiện quá nhiều. Trị lở loét do nước tiểu sâu róm. Trị đái dầm, tay chân nứt nẻ do nước lạnh. Đốt thành tro hòa muối trị mụn nhọt, phong chẩn ngứa ngáy toàn thân. Giã nước hòa mật ong trị lỵ đỏ trắng ở trẻ em rất tốt. Tán bột hoặc đốt tro xát răng trị sâu răng, hở lợi.
===MỤC TÚC (苜蓿)===
'''Tên khoa học:''' Medicago sativa L. (Cỏ ba lá/Lục lăng/Cỏ Alfalfa)
(Cỏ ba lá/Lăng tiêu)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Mộc túc, Hoài phong thảo, Quang phong thảo, Liên chi thảo.'''
* '''Thời Trân nói:''' Vì rễ cũ tự mọc lại qua mùa đông (túc) để chăn nuôi (mục) trâu ngựa nên gọi là Mục túc. Sách Tây Kinh tạp ký nói: Gió thổi qua cỏ này nghe xào xạc, ánh nắng chiếu vào hoa có hào quang nên gọi là Quang phong.
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Nguyên gốc từ nước Đại Uyển, Trương Khiển mang về Trung Quốc. Nay mọc hoang khắp nơi. Một năm có thể cắt 3 lần làm rau. Lá gồm 3 lá chét, xanh biếc. Hạ thu nở hoa vàng nhỏ. Quả đậu tròn dẹt, xoắn lại có gai, khi già màu đen. Hạt bên trong có thể nấu cơm hoặc nấu rượu.
'''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, chát, không độc. Ăn nhiều gây lạnh gân cốt, khiến người gầy. Ăn cùng mật ong gây tiêu chảy.
'''【Chủ trị】''' An trung, lợi người, có thể ăn lâu dài. Lợi ngũ tạng, nhẹ người, khỏe mạnh, tẩy sạch nhiệt tà ở tì vị, thông nhiệt độc ở tiểu trường. Ăn khô bổ dưỡng.
'''【Rễ (Mục túc căn)】'''
* '''Khí vị:''' Tính hàn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Phiền đầy do nhiệt bệnh, vàng mắt, đỏ mắt, tiểu vàng, vàng da do rượu (tửu đản). Giã lấy 1 lít nước cốt uống, gây nôn hoặc tiêu chảy là khỏi. Giã lấy nước sắc uống trị đau do sỏi đường tiết niệu (sa thạch lâm).
===RAU DỀN (Hiện 莧 - Amaranthus)===
*(Sách "Bản kinh" xếp loại Thượng phẩm)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Thời Trân nói:''' Thân lá đều cao lớn, dễ nhìn thấy (kiến), nên chữ Dền/Hiện (莧) có chữ Kiến (見).
'''【Tập giải】'''
* '''Biệt lục:''' Hạt dền (Amanrath thực) còn gọi là Mạc thực. Mọc ở Hoài Dương và trên đồng ruộng. Lá như lá chàm. Thu hái vào tháng 11.
* '''Hoằng Cảnh:''' Hạt dền nên lấy từ Dền trắng. Dền gai (Khang dền/Tế dền) ăn ngon hơn nhưng tính lạnh, nhuận tràng. Lại có loại Dền đỏ thân tím không ăn được. Rau Sam (Mã xỉ dền) là loại khác, mọc bò mặt đất, không phải hạt dền này.
* '''Bảo Thăng:''' Dền có 6 loại: Đỏ, Trắng, Dền cơm (Nhân dền), Tía, Ngũ sắc và Rau sam. Chỉ có Dền cơm và Dền trắng là lấy hạt làm thuốc.
* '''Tụng:''' Dền cơm và Dền trắng tính rất lạnh. Dền tía không độc, không lạnh. Dền đỏ vị cay. Dền gai mọc hoang, lợn rất thích ăn nên gọi là Trư dền (Dền lợn).
* '''Thời Trân:''' Dền gieo tháng 3, sau tháng 6 không nên ăn. Khi già thân cao bằng người, nở hoa kết bông. Hạt đen bóng, dẹt, thu hoạch tháng 9.
'''RAU DỀN (菜)'''
* '''Tên khoa học:''' Amaranthus tricolor L. (Dền đỏ/tía), Amaranthus viridis L. (Dền xanh/cơm).
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính lạnh, nhuận tràng, không độc. Dền đỏ: vị cay, tính hàn.
* '''Lưu ý:''' Không ăn cùng thịt ba ba vì sinh chứng tích bụng (trứng ba ba).
* '''Chủ trị:'''
** '''Dền trắng:''' Bổ khí, trừ nhiệt, thông chín khiếu.
** '''Dền đỏ:''' Trị lỵ ra máu, giải độc sâu độc, cát sâm.
** '''Dền tía:''' Sát trùng độc, trị lỵ do khí.
** '''Chung các loại:''' Lợi đại tiểu trường, trị lỵ mới phát, làm trơn thai (dễ đẻ).
* '''Phụ phương:''' Trị sản hậu kiết lỵ (nấu cháo dền tía); trị lở môi ở trẻ em; trị vết cắn của rết, ong, rắn; giải độc sâu róm.
'''HẠT DỀN (莧實 - Amaranthi Semen)'''
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị mù màu (thanh manh), sáng mắt, trừ tà khí, lợi đại tiểu tiện, trừ hàn nhiệt. Dùng lâu ích khí lực, nhẹ người. Trị màng mộng trắng, giết giun đũa. Trị gan phong khách nhiệt làm mắt có hoa đen.
'''RỄ DỀN(根)'''
* '''Chủ trị:''' Trị đau lạnh vùng kín dẫn đến sưng bụng (giã đắp). Đốt tồn tính tán bột xát trị đau răng.
===MÃ XỈ DỀN (馬齒莧 - Rau sam)===
*(Sách "Thục bản thảo")
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Tên khác:''' Mã dền, Ngũ hành thảo, Ngũ phương thảo, Trường mệnh thái (Rau trường thọ), Cửu đầu sư tử thảo.
* '''Thời Trân nói:''' Lá xếp đối nhau như răng ngựa (mã xỉ), tính trơn lợi như rau dền nên có tên này. Cây rất bền bỉ, khó héo khô nên gọi là Trường mệnh (sống lâu).
* '''Tụng:''' Gọi là Ngũ hành thảo vì lá xanh, thân đỏ, hoa vàng, rễ trắng, hạt đen.
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân:''' Rau sam mọc khắp nơi. Thân mềm bò đất, lá nhỏ đối sinh. Tháng 6-7 nở hoa vàng nhỏ, quả nhọn chứa hạt như hạt Đình lịch. Người ta thường hái nấu chín rồi phơi khô làm rau dự trữ. Các phương sĩ dùng nó để chế phục thạch tín, thủy ngân, lưu huỳnh trong luyện đan.
'''RAU SAM(菜)'''
* '''Tên khoa học:''' Portulaca oleracea L.
* '''Khí vị:''' Vị chua, tính hàn, không độc. (Tô Cung nói: vị cay, tính ấm). Tính hàn và trơn.
* '''Chủ trị:'''
** Giã đắp trị các loại sưng phù, mụn cóc. Phá tích tụ, chỉ tiêu khát.
** Nhuận tràng, trị xích bạch đới ở phụ nữ.
** Uống nước cốt trị nôn mửa, tiểu rắt, vết thương chảy máu, trị lở môi và mặt ở trẻ em. Giải độc mồ hôi ngựa, sâu độc.
** Nấu cháo trị kiết lỵ, đau bụng, sát giun. Dùng lâu tóc không bạc. Tán huyết tiêu thũng, trơn thai dễ đẻ, trị sản hậu hư hãn (mồ hôi trộm).
* '''Phát minh:''' Tướng quốc Võ Nguyên Hành bị ghẻ lở ở chân lâu ngày không khỏi, dùng rau sam giã nát đắp 2-3 lần là sạch.
'''【Phụ phương】''' (Tóm tắt các phương tiêu biểu)
* '''Phong nhiệt đau răng:''' Nhai rau sam ngậm lấy nước cốt.
* '''Kiết lỵ ra máu ở trẻ em:''' Nước cốt rau sam hòa mật ong uống.
* '''Trĩ mới phát:''' Ăn rau sam nấu chín, kết hợp xông rửa bằng nước sắc.
* '''Giun đũa:''' Sắc rau sam với muối, giấm uống lúc đói.
* '''Hôi nách:''' Rau sam giã với mật, bọc bùn nướng khô, tán bột hòa mật đắp vào nách.
* '''Mụn nhọt, đinh độc:''' Giã rau sam tươi đắp hoặc đốt tro hòa giấm đắp.
* '''Rết, ong, sâu róm đốt:''' Giã nát đắp vào vết thương.
* '''Lang ben, nấm da:''' Nấu rau sam thành cao bôi hoặc đốt tro trộn mỡ lợn bôi.
'''HẠT (馬齒莧子 - Portulacae Semen)'''
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, ích thọ. Trị mù màu, màng mộng, trừ tà khí, lợi đại tiểu trường. Tán bột nấu cháo hoặc làm canh ăn. Trị mắt hay chảy nước mắt hoặc chảy mủ (dùng cùng hạt dền cơm).
===KHỔ THÁI (苦菜)===
(Sách "Bản kinh" xếp loại Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Sonchus oleraceus L. (Rau cúc đắng/Rau cải trời)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Đồ (荼), Khổ cự (苦苣), Khổ nặc (苦蕒), Du đông (游冬), Thiên hương thái.'''
* '''Thời Trân nói:''' Gọi là "Khổ", "Đồ" vì vị đắng. Vì trải qua mùa đông và mùa xuân mà không chết nên gọi là "Du đông".
'''【Tập giải】'''
* '''Biệt lục:''' Mọc ở thung lũng, núi đồi, ven đường. Qua mùa đông không chết. Thu hái vào ngày 3 tháng 3, phơi khô trong bóng râm.
* '''Thời Trân nói:''' Khổ thái chính là Khổ nặc. Loại trồng trong vườn gọi là Khổ cự, thực chất là cùng một loại. Đầu xuân mọc mầm, thân rỗng và giòn, bấm vào có nhựa trắng. Lá xẻ thùy như lá củ cải nhưng sắc xanh biếc. Hoa vàng như hoa cúc dại. Quả có lông trắng mềm, bay theo gió, rơi đâu mọc đó.
'''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hàn, không độc. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn. Không ăn cùng mật ong vì gây trĩ nội.
'''【Chủ trị】''' Trị tà khí ngũ tạng, dạ dày tê bí. Dùng lâu giúp an thần, ích khí, thông minh, ít ngủ, nhẹ người, trẻ lâu. Đắp trị đinh nhọt, sưng tấy, tẩy mụn cơm, trị rắn cắn. Nấu nước xông rửa trị trĩ lâu ngày (cực hiệu nghiệm).
'''【Phụ phương】'''
* '''Huyết lâm, tiểu ra máu:''' Một nắm Khổ nặc, sắc với nửa rượu nửa nước mà uống.
* '''Họng sưng đau:''' Nước cốt Khổ nặc dại hòa với nước cốt bấc đèn (Đăng tâm thảo) uống.
* '''Độc sâu rát (Sa sáp):''' Dùng nước cốt Khổ thái bôi lên vết đỏ trên da sẽ khỏi.
'''【Rễ, Hoa, Hạt】'''
* '''Rễ:''' Trị lỵ đỏ trắng, cốt chưng, lợi tiểu tiện.
* '''Hoa, Hạt:''' Vị ngọt, tính bình. Trị nhiệt trong, an thần, trị vàng da (hoàng đản).
===BẠCH CỰ (白苣 - Xà lách trắng)===
'''Tên khoa học:''' Lactuca sativa L. var. capitata
'''【Giải thích tên gọi】''' Thạch cự, Sinh thái (Rau sống).
'''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Giống Oa cự nhưng lá màu trắng hơn, bấm vào có nhựa trắng. Thường dùng ăn sống với muối và giấm nên gọi là Sinh thái.
'''【Khí vị】''' Vị đắng, tính hàn. Phụ nữ sau sinh không nên ăn vì gây lạnh bụng, đau tiểu trường. Không ăn cùng sữa/phô mai vì sinh ký sinh trùng.
'''【Chủ trị】''' Bổ gân cốt, lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, làm trắng răng, giúp thông minh ít ngủ. Giải độc rượu, độc nhiệt. Trị mụn "mắt cá" (ngư tề sang) đau nhức.
===OA CỰ (萵苣 - Diếp thơm/Xà lách)===
'''Tên khoa học:''' Lactuca sativa L. var. angustana Irish
'''【Giải thích tên gọi】''' Oa thái, Thiên kim thái. Tên gọi xuất phát từ việc giống này đến từ nước Oa (vùng Trung Á).
'''【Tập giải】''' Gieo vào tháng Giêng, tháng 2. Lá dài nhọn, màu xanh, có nhựa trắng dính tay. Tháng 4 mọc ngồng cao 3-4 thước. Lột vỏ ăn sống vị như dưa chuột, hoặc muối dưa, gọi là Oa tử (Ngồng cải).
'''【Rau (Thái)】'''
* '''Khí vị:''' Vị đắng, tính lạnh, hơi độc. Ăn nhiều làm mờ mắt.
* '''Chủ trị:''' Lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, làm răng trắng, hơi thở thơm tho. Thông sữa, lợi tiểu, sát trùng và nọc rắn.
* '''Phụ phương:''' Trị nhũ dịch không thông (sắc với rượu); trị bí tiểu hoặc tiểu ra máu (giã đắp rốn); trị sâu tai (nhỏ nước cốt).
'''【Hạt (Oa cự tử)】''' (Dùng trong thuốc thường sao qua)
* '''Chủ trị:''' Thông sữa, lợi tiểu, trị âm nang sưng thũng, trĩ lậu ra máu, đau do chấn thương.
* '''Phụ phương:'''
** '''Sữa không xuống:''' Hạt Oa cự mài thành mụn, uống với rượu hoặc nấu cháo với gạo nếp, Cam thảo.
** '''Thắt lưng đau do bong gân:''' Hạt Oa cự trắng (sao) 3 lạng, gạo nếp (sao), Nhũ hương, Một dược, Ô mai tán bột làm viên bằng quả đạn, uống với rượu nóng.
** '''Tóc/Râu không mọc chỗ sẹo:''' Cạo nhẹ da bằng dao tre, dùng hạt Oa cự giã cùng gừng khô (Hồ tôn khương) xát thường xuyên.
===THỦY KHỔ NẶC (水苦蕒)===
'''Tên khoa học:''' Veronica undulata Wall. (Sâm bàng chày/Bèo vảy ốc)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Rau Tạ Bà, Bán biên sơn.
* '''【Tập giải】''' Tụng nói: Mọc bên khe suối. Lá giống Khổ nặc nhưng dày và bóng. Rễ giống Bạch truật nhưng mềm. Tháng 2, 8, 9 hái rễ ăn.
* '''【Rễ - Khí vị】''' Vị hơi đắng, cay, tính hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Phong nhiệt thượng ủng, họng sưng đau và bướu cổ (phong lựu), mài với rượu uống.
===PHIÊN BẠCH THẢO (翻白草)===
'''Tên khoa học:''' Potentilla discolor Bunge (Cỏ lá bạc/Ủy lăng thái)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Cây Chân gà (Kê thối căn), Thiên ngẫu (Ngó sen trời).
* '''【Tập giải】''' Thân cao 7-8 thốn. Lá cứng, răng cưa, mặt dưới trắng (nên gọi là Phiên bạch). Hoa vàng. Rễ to bằng ngón tay, vỏ đỏ thịt trắng, vị như thịt gà, có bột. Năm đói dân đào rễ ăn thay cơm.
* '''【Rễ - Khí vị】''' Vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Thổ huyết, hạ huyết, băng lậu, sốt rét, ung nhọt.
* '''【Phụ phương】''' Trị băng huyết (sắc rễ với rượu); thổ huyết không ngừng; sốt rét; nhọt độc không tên; ghẻ lở toàn thân (sắc nước tắm vào tiết Đoan ngọ).
===TIÊN NHÂN TRƯỢNG THẢO (仙人杖草)===
'''Tên khoa học:''' Lepidium apetalum Willd. (Hạt cải trời/Cỏ gậy tiên)
* '''【Tập giải】''' Tàng Khí nói: Mọc ở vùng Kiếm Nam. Lá giống Khổ cự, mọc thành cụm. Tụng nói: Có 3 vật cùng tên này (một loại rau, một loại măng tre khô đen, và một tên khác của Câu kỷ). Đây là loại dùng làm rau ăn.
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi ấm, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Làm rau ăn giúp trừ đờm tích, trừ phong lạnh. Dùng lâu khỏe gân cốt, trẻ mãi không già.
===BỒ CÔNG ANH (蒲公英)===
'''Tên khoa học:''' Taraxacum mongolicum Hand.-Mazz.
* '''【Giải thích tên gọi】''' Cấu nặc thảo, Kim châm thảo, Hoàng hoa địa đinh.
* '''【Tập giải】''' Mọc nơi bình nguyên, đồng ruộng. Thân lá giống Khổ cự, bấm có nhựa trắng. Hoa vàng như cúc đại đóa.
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Sản phụ bị áp-xe vú (nhũ ung), sắc uống hoặc đắp tại chỗ. Giải độc thức ăn, tán khí trệ, hóa nhiệt độc, tiêu u bướu, đinh nhọt. Nhựa trắng bôi trị vết đâm độc.
* '''【Phát minh】''' Chấn Hanh nói: Cây này thuộc hành Thổ, hoa vàng vị ngọt, vào kinh Dương minh và Thái âm, có kỳ công tiêu sưng tán kết. Thời Trân nói: Dùng đánh răng giúp bền răng, đen râu tóc (bài thuốc Hoàn thiếu đan).
===HOÀNG QUA THÁI (黃瓜菜)===
'''Tên khoa học:''' Paraixeris denticulata (Houtt.) Nakai (Rau cải trời hoa vàng)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Rau hoa vàng. Hoa vàng, mùi như dưa chuột (hoàng qua) nên tên vậy.
* '''【Tập giải】''' Mọc hoang ngoài đồng. Hình như cải dầu nhưng vị hơi đắng. Nấu canh rất thơm ngon.
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn.
* '''【Chủ trị】''' Thông khí kết, lợi đường ruột.
===SINH QUA THÁI (生瓜菜)===
'''Tên khoa học:''' Asperuga procumbens L. (Rau mùi dưa)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Vị có mùi dưa sống.
* '''【Tập giải】''' Mọc nơi ruộng phẳng ẩm ướt. Lá xanh tròn như Bạch dền. Hoa tím trắng.
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hơi hàn.
* '''【Chủ trị】''' Trị phong chạy khắp đầu mặt chân tay, thương hàn dương độc, sốt cao đau đầu, phiền táo. Giã nước uống hoặc đắp vết sưng.
===LẠC QUY (落葵)===
'''Tên khoa học:''' Basella alba L. (Mồng tơi)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Đằng quy, Thiên quy, Yên chi thái (Rau mồng tơi/Rau mồng tơi nhuộm da).
* '''【Tập giải】''' Dây leo, lá tròn dày, mềm mướt. Quả khi chín màu tím đen, vò ra nước đỏ như phấn hồng (yên chi), phụ nữ dùng tô điểm mặt môi hoặc nhuộm vải.
* '''【Lá - Khí vị】''' Vị chua (hoặc ngọt), tính hàn, trơn mướt. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn.
* '''【Chủ trị】''' Hoạt trung, tán nhiệt, lợi đại tiểu trường.
* '''【Quả】''' Giúp da mặt tươi nhuận, làm phấn sáp bôi mặt.
===TỨP THÁI (蕺菜 - Ngư tinh thảo)===
'''Tên khoa học:''' Houttuynia cordata Thunb. (Diếp cá)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Rau vựa (Tả thái), Cỏ tanh cá (Ngư tinh thảo).
* '''【Tập giải】''' Mọc nơi ẩm ướt, bóng râm. Lá giống tam giác, một mặt xanh một mặt tím đỏ, mùi tanh như cá.
* '''【Lá - Khí vị】''' Vị cay, tính hơi ấm, có độc nhẹ. Ăn nhiều gây suy yếu dương khí, tiêu tinh tủy, không lợi cho chân (người bị cước khí ăn vào không khỏi).
* '''【Chủ trị】''' Trị lở loét do nước tiểu sâu róm, ung nhọt, trĩ, thoát vị đái chậu, giải độc độc.
* '''【Phụ phương】''' Trị nhọt lưng; trĩ sưng đau; đinh nhọt; trẻ em thoát vị hậu môn; sâu răng (nhét tai); rắn rết cắn.
===QUYẾT (蕨)===
'''Tên khoa học:''' Pteridium aquilinum (L.) Kuhn (Rau dớn/Rau dương xỉ)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Biểu (鳖). Đầu mầm cuộn lại như tay trẻ con hoặc chân rùa nên tên vậy.
* '''【Tập giải】''' Mọc vùng núi. Mầm non cuộn tròn, khi già xòe như đuôi phượng. Lấy mầm non luộc nước tro khử nhớt rồi làm rau. Rễ màu tím, bên trong có bột trắng, dùng làm bánh hoặc miến ăn rất ngon.
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, trơn mướt, không độc. Ăn nhiều gây mờ mắt, ngạt mũi, rụng tóc, yếu chân.
* '''【Chủ trị】''' Khử bạo nhiệt, lợi thủy đạo, giúp ngủ ngon. Bổ ngũ tạng hư tổn. Tro rễ trộn dầu đắp vết rắn cắn.
* '''【Phát minh】''' Thời Trân nói: Rau này tính lạnh trơn, tiết dương khí, hạ mà không thăng, tiêu hao chân nguyên nên không nên ăn quá nhiều.
===THỦY QUYẾT (水蕨)===
'''Tên khoa học:''' Ceratopteris thalictroides (L.) Brongn. (Ráng đại chiến/Rau cần nước)
* '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Thủy quyết giống rau Dương xỉ (Quyết) nhưng mọc dưới nước. Sách Lã Thị Xuân Thu khen đây là loại rau ngon vùng Vân Mộng.
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, đắng, tính hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Trị tích tụ trong bụng (bĩ tích). Luộc ăn nhạt trong 1-2 ngày sẽ tống khứ vật ác ra ngoài. Kiêng ăn tạp trong một tháng là tốt nhất.
===VI (薇)===
'''Tên khoa học:''' Vicia sepium L. (Vĩ diệp thố nhi đơn/Dã vạn đậu)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Thùy thủy, Dã vạn đậu, Đại sào thái.
* '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Vi mọc trong ruộng mạch hoặc ngoài đồng. Chính là loại Đậu vạn dại hiện nay, người Thục gọi là rau Sào (Sào thái). Cây dạng dây leo, thân lá mùi vị đều giống Đậu Hà Lan, dùng làm rau hay nấu canh đều tốt. Loại lớn là Vi, loại nhỏ là rau Nguyên Tu (Nguyên Tu thái).
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Ăn lâu không đói, điều hòa trung tiêu, lợi đại tiểu trường, tiêu phù thũng, nhuận tràng.
===KIỀU YÊU (翹搖)===
'''Tên khoa học:''' Astragalus sinicus L. (Tử vân anh/Hoa vân anh)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Diêu xa, Dã tằm đậu (Đậu tằm dại), Tiểu sào thái.
* '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Cây có thân lá mềm mại, đung đưa (phiêu diêu) nên có tên vậy. Người Thục gieo vào mùa thu, hái vào mùa xuân. Khi cây già thì cày lật xuống làm phân bón ruộng. Lá giống lá hòe non, hoa màu tím trắng.
* '''【Khí vị】''' Vị cay, tính bình, không độc. Ăn sống gây nôn ra nước.
* '''【Chủ trị】''' Phá huyết, cầm máu, sinh cơ. Giã nước uống trị các chứng vàng da (hoàng bệnh). Lợi ngũ tạng, sáng mắt thính tai, trị sốt rét do nhiệt, hoạt huyết bình vị.
===LỘC HOẮC (鹿藿)===
'''Tên khoa học:''' Rhynchosia volubilis Lour. (Đậu cúc/Đậu rùa)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Lộc đậu, Lao đậu, Dã lục đậu (Đậu xanh dại). Vì hươu (lộc) thích ăn lá (hoắc) của nó nên tên vậy.
* '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Mọc nhiều nơi ruộng mạch và đồng hoang. Thân lá giống đậu xanh nhưng nhỏ hơn, dạng dây leo. Quả chín có hạt đen như hạt tiêu, có thể nấu ăn hoặc xay bột làm bánh.
* '''【Khí vị】''' Vị đắng, tính bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Giải độc cổ, trị phụ nữ đau lưng bụng, trị nhọt ruột (tràng ung), tràng nhạc (loa lịch), các chứng ghẻ lở khí huyết.
===HÔI ĐIÊU (灰藋)===
'''Tên khoa học:''' Chenopodium album L. (Rau muối/Cỏ chân vịt)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Rau Hôi điều, Kim tỏa yểu. Vì thân lá có lớp phấn mịn như tro (hôi) nên tên vậy.
* '''【Tập giải】''' Mọc nơi đất thuần thục. Thân có khía đỏ tím, mặt lá xanh, lưng lá có phấn trắng. Tháng 7-8 kết hạt từng chùm như hạt cầu, có thể đồ chín lấy nhân nấu cơm hoặc xay bột ăn.
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Trị ác sang, côn trùng, nhện cắn (giã đắp với dầu). Nấu nước tắm trị ghẻ lở, ngứa ngáy. Tro hạt dùng sát trùng răng sâu, tẩy thịt thừa, trị bạch biến, tàn nhang. Nhân hạt ăn giúp diệt ký sinh trùng (tam trùng).
===LÊ (藜)===
'''Tên khoa học:''' Chenopodium giganteum D. Don (Rau muối đỏ/Hồng tâm thái)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Lai, Hồng tâm hôi điều, Hạc đỉnh thảo, Yên chi thái.
* '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Chính là loại Rau muối có tâm đỏ. Người phương Bắc gọi là Lạc lê, người phương Nam gọi là rau Yên chi. Khi già thân cứng có thể làm gậy chống.
* '''【Lá - Khí vị】''' Vị ngọt, tính bình, hơi độc.
* '''【Chủ trị】''' Diệt trùng. Sắc canh rửa mụn nhọt, súc miệng trị sâu răng. Giã đắp vết trùng cắn, trị lang ben. Thân đốt thành tro dùng tẩy mụn cóc, nốt ruồi đen và thịt thừa.
===TẦN ĐỊCH LÊ (秦荻藜)===
'''Tên khoa học:''' Chenopodium ficifolium Sm. (Rau muối lá hình lá vả)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Thời Trân nói: Sách Sơn Hải Kinh chép tại núi Tần có loại cỏ như cây địch (cỏ lau), gọi là Lê, có thể làm dưa muối.
* '''【Khí vị】''' Vị cay, tính ấm, không độc. Là loại ngon nhất trong các loại rau sống.
* '''【Chủ trị】''' Trị đau bụng lạnh trướng, hạ khí tiêu thực. Tán bột uống với rượu trị đau tim đột ngột, khí uất nghẹn. Hạt giã nát hòa giấm đắp trị sưng độc.
===ĐỀ HỒ THÁI (醍醐菜)===
'''Tên khoa học:''' Cynanchum corymbosum Wight. (Dây da bò/Sâm sữa)
* '''【Tập giải】''' Thời Trân nói: Chứng loại Bản thảo có chép nhưng hình trạng chưa khảo cứu được. Duy có Lôi Hiệu nói: Hình giống dây da bò, bấm vào có nhựa trắng, mùi thơm ngọt. Hái về dùng dao tre cắt nhỏ, nghiền nát như cao, dùng lụa lọc lấy nước, uống ấm. Tuy nhiên không nói rõ trị bệnh gì.
* '''【Khí vị】''' Vị ngọt, tính ấm, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Kinh nguyệt không đều: giã lá lấy nước cốt, hòa rượu sắc uống (theo Thiên Kim).
* '''【Phụ phương】''' Trị nội thương băng huyết: Đề hồ giã lấy nước, hòa rượu đun sôi, uống một bát lúc đói.
### '''【Phụ lục】'''
* '''Mao cao thảo (茅膏菜 - Drosera peltata):''' Vị ngọt, bình, không độc. Sắc uống trị kiết lỵ đỏ trắng lâu ngày. Cây có nhựa dính như mỡ, quả dạng sừng.
* '''Kê hầu thái (雞侯菜):''' Vị cay, ấm, không độc. Ăn lâu giúp ấm trung tiêu, ích khí. Hình giống cây Ngải, mọc ở Lĩnh Nam.
* '''Mạnh nương thái (孟娘菜):''' Vị đắng, tính hơi ấm, không độc. Trị phụ nữ huyết kết gầy yếu, nam giới bìu dái thấp ngứa, cường dương, bổ hư, trị trĩ, tràng nhạc, bướu cổ. Lá giống Thăng ma, thân vuông.
* '''Ưu điện (優殿):''' Vị cay, ấm, không độc. Ấm trung tiêu, trừ ác khí, tiêu thực. Mọc ở An Nam (Việt Nam), người dân trồng làm rau ăn với tương đậu rất thơm ngon.
===DỤ (芋 - Khoai môn)===
'''Tên khoa học:''' Colocasia esculenta (L.) Schott
* '''【Giải thích tên gọi】''' Thổ chi, Tuấn si (Chim cú ngồi). Thời Trân nói: Củ lớn lá to khiến người ta kinh ngạc (hú/dụ) nên gọi là Dụ. Hình dáng củ như chim cú đang ngồi nên gọi là Tuấn si.
* '''【Tập giải】''' Hoằng Cảnh nói: Khoai tươi có độc, vị tê ngứa không ăn được. Có loại khoai dại (Dã dụ) hình lá rất giống khoai ăn nhưng rễ có độc chết người.
** Cung nói có 6 loại: Khoai xanh, khoai tím, khoai thật (chân dụ), khoai trắng, khoai liên thiền và khoai dại. Khoai xanh nhiều con, dài và độc nhiều, khi nấu phải dùng nước tro. Các loại khác độc ít, nấu ăn hoặc nấu canh với thịt rất tốt.
** Thời Trân nói: Có hai loại là khoai nước và khoai cạn. Khoai nước vị ngon hơn. Thân (dọc mùng) cũng ăn được. Khoai thường không hoa, nếu nở thì hoa màu vàng. Sách Quảng chí liệt kê 14 loài khác nhau tùy kích thước củ và vị.
* '''【Củ (Dụ tử) - Khí vị】''' Vị cay, tính bình, trơn mướt, có độc nhẹ. Ăn nhiều khó tiêu, gây trệ khí tỳ vị.
* '''【Chủ trị】''' Khoan khoái dạ dày, làm đầy đặn cơ bắp. Ăn lạnh trị phiền nhiệt, chỉ khát. Giúp người béo trắng, thông táo bón. Sản phụ ăn vào giúp phá huyết ứ, uống nước cốt giúp chỉ khát do mất máu. Trị tử nhục (thịt thừa), bổ hư.
* '''【Phát minh】''' Khoai trắng không vị, khoai tím phá khí. Tháng 10 phơi khô thu giữ, ăn mùa đông không phát bệnh. Khi nấu nên nấu với gừng, thay nước mới rồi ăn.
* '''【Phụ phương】''' Trị bĩ tích trong bụng; trị phong ngứa ngoài da; trị mụn nhọt sưng đau do phong tà (dùng khoai trắng đốt thành tro đắp); trị nhọt mềm trên đầu (giã khoai tươi đắp).
'''LÁ VÀ THÂN KHOAI (Dụ diệp, ngạnh)'''
* '''【Khí vị】''' Vị cay, tính lạnh, trơn mướt, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Trừ phiền, chỉ tả (cầm tiêu chảy), trị phụ nữ có thai tâm phiền mê muội, thai động bất an. Giã với muối đắp vết rắn rết, sâu bọ cắn và nhọt độc. Thân khoai (dọc mùng) sát vào chỗ ong đốt rất tốt. Nhựa bôi trị nhện cắn.
* '''【Phát minh】''' Thẩm Quát chép: Thấy nhện bị ong đốt bụng sưng to sắp nứt, nhện bò vào ăn thân khoai rồi cọ vết thương vào đó, một lúc sau bụng xẹp lại như cũ. Từ đó dùng trị ong đốt rất nghiệm.
'''【Phụ lục】'''
* '''Dã dụ (野芋 - Khoai dại):''' Hình lá giống khoai ăn nhưng cực độc, ăn vào gây phiền muội muốn chết, cứu bằng nước đậu nành hoặc nước phân. Loại nhỏ là Dã dụ, loại lớn là Thiên hà (Hải dụ - Alocasia macrorrhizos). Rễ dã dụ vị cay lạnh, độc nặng, mài với giấm đắp ghẻ lở, sâu bọ cắn.
===THỔ DỤ (CỦ KHOAI ĐẤT)===
(Trích: Thập Di) '''Tên khoa học:''' Dioscorea bulbifera L.
* '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
* '''Tên gọi khác:''' Thổ noãn (Thập Di), Hoàng độc (Cương mục), Thổ đậu.
* '''Tập giải:''' Tàng Khí nói: Thổ dụ thân leo, lá như lá đậu, rễ tròn như quả trứng. Ăn vào gây nôn mửa dữ dội, người không nên ăn. Lại nói: Thổ noãn thân leo, giống khoai môn, người ta luộc với nước tro để ăn.
** Cung nói: Thổ noãn giống khoai môn nhỏ, thịt trắng vỏ vàng. Người vùng Lương, Hán gọi là Hoàng độc, có thể hấp ăn.
* '''Rễ:'''
** '''Khí vị:''' Vị ngọt, cay, tính hàn, có độc nhỏ.
** '''Chủ trị:''' Giải độc các loại thuốc. Giã tươi hòa nước uống, nôn ra chất độc thì dừng. Nấu chín ăn vị ngọt mỹ, không đói, làm dày ruột gan, trị ho do nhiệt (Tàng Khí).
===THỰ DỰ (HOÀI SƠN/SƠN DƯỢC)===
*(Trích: Bản kinh - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Dioscorea polystachya Turcz. (syn. Dioscorea opposita)
* '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
* '''Tên gọi khác:''' Thự dự, Thổ thự, Sơn thự, Sơn dụ, Sơn dược, Ngọc diên, Nhi thảo, Tu thúy.
** Lưu ý: Đời Đường kỵ húy vua Đường Đại Tông (Lý Dự) đổi thành '''Sơn dược''', đời Tống kỵ húy vua Tống Anh Tông (Triệu Thự) nên tên gốc Thự Dự dần ít dùng.
* '''Tập giải:''' Mọc ở thung lũng núi Cao Tung. Thân đỏ, leo nhỏ, hoa trắng, quả xanh vàng. Rễ trong trắng ngoài vàng.
** Có hai loại: Loại trắng là thượng hạng, làm phấn ăn rất tốt và bổ; loại xanh đen vị kém không dùng.
** Người phương Nam có loại rễ nhỏ như ngón tay, chắc, nấu canh không tan, vị rất ngon, bổ hơn loại trồng trong vườn. Lại có loại ở Mân Trung rễ giống gừng, khoai, vỏ tím, to vài cân, tính lạnh hơn loại phương Bắc.
** Thời Trân nói: Dùng làm thuốc thì loại mọc hoang là tốt nhất; dùng làm thức ăn thì loại trồng là tốt. Tháng 5-6 nở hoa chùm màu hồng nhạt. Quả có ba cạnh, hạt kết bên cạnh trông như viên đạn (Linh dư), luộc ăn ngọt nhớt như rễ.
* '''Tu trị (Bào chế):''' Gọt vỏ, ngâm nước có pha chút phèn chua để sạch nhớt, sấy khô. Làm thuốc quý ở chỗ phơi khô tự nhiên. Sinh dùng thì tính trơn, chín dùng thì trệ khí. Không dùng loại mọc ở ruộng phẳng, nên dùng loại mọc trong núi lâu năm.
* '''Rễ:'''
** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính ấm, bình, không độc. Ghét Cam toại.
** '''Chủ trị:''' Bổ hư lao, gầy yếu, trừ hàn nhiệt tà khí, ích khí lực, dưỡng cơ bắp, cường âm. Dùng lâu làm sáng tai mắt, nhẹ người, không đói, kéo dài tuổi thọ. Trị phong trên mặt, chóng mặt, hạ khí, trị đau lưng, bổ ngũ tạng, trừ phiền nhiệt. Mạnh gân xương, trị di tinh, hay quên. Ích thận khí, kiện tì vị, cầm tiêu chảy, hóa đờm, nhuận da lông. Giã tươi đắp trị mụn nhọt sưng cứng.
* '''Phát minh:''' Dùng cho người cơ thể hư nhược rất tốt. Giúp nam giới trợ âm lực.
** Lý Cao nói: Sơn dược nhập thủ Thái âm Phế kinh, tính mát mà bổ. Trị da khô nhuận rất tốt.
* '''Phụ phương:'''
** '''Bổ hư tổn, tiểu nhiều, gầy yếu:''' Sơn dược nghiền nhỏ, cho vào nồi với một thìa mỡ bò (tô) đun thơm, thêm rượu đun đều, uống lúc đói.
** '''Bụng đầy chướng, tay chân lạnh, nôn mửa:''' Sơn dược nửa sống nửa sao, tán bột. Uống 2 tiền với nước cơm. Kỵ đồ sắt.
** '''Tiểu nhiều:''' Sơn dược (nấu nước phèn), Bạch phục linh bằng nhau, tán bột. Uống 2 tiền.
** '''Lỵ cấm khẩu:''' Sơn dược nửa sống nửa sao, tán bột, uống với nước cơm.
** '''Đờm phong suyễn cấp:''' Sơn dược tươi giã nát nửa bát, trộn nửa bát nước mía, đun nóng uống ngay.
** '''Tì vị hư yếu, chán ăn:''' Sơn dụ, Bạch truật mỗi thứ 1 lạng, Nhân sâm 7 chỉ rưỡi, tán bột, làm viên bằng hạt đậu, uống 40-50 viên.
** '''Tiêu chảy do thấp nhiệt:''' Sơn dược, Thương truật bằng nhau, làm viên uống.
** '''Nhọt độc mới phát:''' Sơn dược tươi (còn dính đất), hạt Thầu dầu, Gạo nếp bằng nhau, ngâm nước nghiền nát, đắp lên.
** '''Lở loét vùng háng, lưng:''' Sơn dược và Đường đỏ cùng giã, bôi lên.
** '''Kết hạch sau cổ hoặc sưng đau:''' Sơn dược tươi gọt vỏ, 2 hạt Thầu dầu cùng nghiền, đắp vào rất thần hiệu.
** '''Bỏng lạnh tay chân:''' Một khúc Sơn dược, mài thành bùn đắp vào
===LINH DƯ TỬ (DÁI MAI/CỦ KHÔNG KHÍ)===
*(Trích: Thập Di) '''Tên khoa học:''' Dioscorea bulbifera L.
* '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
* '''Tập giải:''' Tàng Khí nói: Linh dư tử to như trứng gà, nhỏ như viên đạn, mọc dưới nách lá. Phơi khô dùng công hiệu mạnh hơn Sơn dược. Đây là một loại trong các giống Thự dự.
** Thời Trân nói: Đây là quả kết trên dây leo của cây Sơn dược. Hình dáng dài tròn không đều, vỏ vàng thịt trắng. Luộc chín bỏ vỏ ăn ngon hơn Sơn dược và khoai môn. Thu hoạch sau mùa sương giáng. Hạt rơi xuống đất cũng dễ mọc rễ.
* '''Khí vị:''' Ngọt, ấm, không độc.
* '''Chủ trị:''' Bổ hư tổn, mạnh lưng chân, ích thận, ăn vào không đói (Tàng Khí).
===CAM THỰ (KHOAI LANG)===
*(Trích: Cương Mục) '''Tên khoa học:''' Ipomoea batatas (L.) Lam.
* '''Tập giải:''' Thời Trân nói: Theo Dị vật chí, Cam thự xuất xứ từ vùng Giao Chỉ, Quảng Châu phương Nam. Dân trồng tháng 2, thu hoạch tháng 10. Rễ giống khoai môn, có củ rất lớn như trứng ngỗng, nhỏ như trứng gà vịt. Bóc vỏ tím thấy thịt trắng như mỡ. Người miền Nam dùng thay lương thực hoặc làm trái cây, hấp nướng đều thơm ngon. Mới đầu rất ngọt, để lâu gặp gió vị sẽ nhạt đi.
** Theo Thảo mộc trạng: Cam thự thuộc loại Thự dự hoặc khoai môn, lá rễ cũng tương tự. Củ to như nắm tay hoặc bát cơm, vị như Sơn dược, tính không quá lạnh. Người vùng Hải Đảo không làm ruộng chỉ trồng thứ này, cắt lát phơi khô làm lương thực gọi là Thự lương. Người vùng biển nhiều người thọ là do không ăn ngũ cốc mà chỉ ăn Cam thự.
* '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Bổ hư phạp, ích khí lực, kiện tì vị, cường thận âm, công dụng giống Sơn dược (Thời Trân).
===BÁCH HỢP (HOA HUỆ TÂY/LOA KÈN)===
*(Trích: Bản kinh - Trung phẩm) '''Tên khoa học:''' Lilium brownii var. viridulum Baker
* '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
* '''Tên gọi khác:''' Phiên, Cường cù, Toán não thự (Khoai đầu tỏi), Ma la, Trọng tương.
* '''Giải thích tên gọi:''' Rễ do nhiều cánh (vảy) hợp thành nên gọi là Bách hợp (trăm thứ hợp lại). Có thuyết nói do trị được bệnh "Bách hợp". Vì rễ giống củ tỏi, vị như khoai nên tục gọi là Toán não thự.
* '''Tập giải:''' Mọc ở lũng núi Kinh Châu. Tháng 2, tháng 8 đào rễ phơi khô. Rễ như củ tỏi lớn, hàng chục vảy chồng lên nhau.
** Có hai loại: Loại lá lớn thân dài, rễ thô hoa trắng dùng làm thuốc; loại lá nhỏ hoa đỏ (Sơn đan) không dùng.
** Cần phân biệt:
*** '''Bách hợp (Lilium brownii):''' Thân đứng, lá ngắn rộng như lá trúc, hoa trắng lớn rủ xuống.
*** '''Sơn đan (Lilium pumilum):''' Lá dài hẹp như lá liễu, hoa đỏ không rủ.
*** '''Quyển đan (Lilium lancifolium - Loa kèn vảy rồng):''' Thân cao, hoa đỏ cam có đốm đen rủ xuống, nách lá có hạt đen (linh dư tử). Loại này Tô Tụng nói không dùng làm thuốc, nhưng Lý Thời Trân đính chính là có thể dùng.
* '''Rễ (Thân hành):'''
** '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc. Quyền nói: Có độc nhỏ.
** '''Chủ trị:''' Trị tà khí gây đầy bụng, đau tim, lợi tiểu tiện, bổ trung ích khí. Trị phù thũng, trướng bụng, đầy trướng, sốt rét, đau nhức toàn thân, thông sữa, viêm họng, cầm nước mắt nước mũi. An thần, định phách, dưỡng ngũ tạng, trị điên cuồng, kinh sợ, huyết vận sau sinh. Chưng với mật ong trị đau tim do hoàng đản. Ôn phổi chỉ khái (trị ho).
* '''Phát minh:''' Trương Trọng Cảnh có 4 phương trị bệnh Bách hợp (Bách hợp tri mẫu thang, Bách hợp hoạt thạch đại赭 thang, Bách hợp kê tử thang, Bách hợp địa hoàng thang).
* '''Phụ phương (Tóm lược):'''
** '''Bệnh Bách hợp:''' Dùng Bách hợp sắc cùng Tri mẫu, hoặc lòng đỏ trứng gà, hoặc Đại赭 thạch/Hoạt thạch, hoặc Địa hoàng tùy chứng (theo Kim quỹ yếu lược).
** '''Tiêu khát/Nhiệt do bệnh Bách hợp:''' Sắc lấy nước tắm hoặc uống với Hoạt thạch.
** '''Ho do phổi nhiệt:''' Bách hợp tươi 4 lạng, chưng với mật cho mềm, ngậm nuốt nước.
** '''Thổ huyết:''' Giã Bách hợp tươi lấy nước uống.
** '''Bệnh tai:''' Khô Bách hợp tán bột uống.
** '''Trị tóc bạc:''' Giã nát Bách hợp ủ kín 100 ngày, nhổ tóc bạc đắp vào sẽ mọc tóc đen.
** '''Mụn nhọt, lở loét:''' Giã nát đắp (tươi hoặc phối hợp muối/dấm).
** '''Hóc xương cá:''' Bách hợp tán bột, hòa nước mật bôi quanh cổ.
* '''Hoa:''' Trị mụn mủ trẻ em (phơi khô tán bột trộn dầu cải bôi).
* '''Hạt:''' Sao rượu tán bột uống trị đại tiện ra máu.
===SƠN ĐAN (HOA LILY CHI MAI)===
*(Trích: Nhật Hoa) '''Tên khoa học:''' Lilium pumilum DC.
* '''Tên gọi khác:''' Hồng bách hợp (Nhật Hoa), Liên châu, Xuyên cường cù (Thông chí), Hồng hoa thái.
* '''Tập giải:'''
** Thẩm nói: Loại Bách hợp hoa đỏ gọi là Sơn đan. Rễ của nó ăn không tốt bằng loại hoa trắng.
** Thời Trân nói: Rễ Sơn đan giống Bách hợp nhưng nhỏ và ít vảy hơn, thân cũng ngắn nhỏ. Lá hẹp, dài và nhọn, rất giống lá liễu, khác hẳn với Bách hợp. Tháng 4 nở hoa đỏ, hoa có 6 cánh không rủ xuống, cũng kết hạt nhỏ. Người vùng Yến, Tề hái đài hoa lúc chưa nở, phơi khô đem bán, gọi là Hồng hoa thái.
** Cây Quyển đan (Lilium lancifolium) tuy thân lá giống nhưng hơi dài và lớn hơn. Hoa có 6 cánh rủ xuống, lớn hơn Sơn đan. Tháng 4 kết hạt ở nách lá, đến mùa thu hoa mới nở ở đỉnh ngọn, thật là một sự lạ. Rễ có vảy giống Bách hợp nhưng không ăn được, là một loại riêng biệt.
* '''Rễ:'''
** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính lương (mát), không độc. Quyển Chính yếu ghi: Tính bình.
** '''Chủ trị:''' Sang thũng (mụn nhọt sưng tấy), kinh tiệp (hoảng sợ, co giật) (Đại Minh). Dùng cho phụ nữ bị băng trung (băng huyết) (Thời Trân).
* '''Hoa:'''
** '''Khí vị:''' Giống như rễ.
** '''Chủ trị:''' Hoạt huyết. Nhị hoa dùng đắp trị đinh sang, ác thũng (nhọt độc sưng dữ) (Thời Trân).
===THẢO THẠCH SÂM (CÂY CỎ SÂM/CAM LỘ TỬ)===
*(Trích: Thập Di) '''Tên khoa học:''' Stachys sieboldii Miq.
* '''Hiệu chính:''' Chuyển từ bộ Thảo sang bộ này.
* '''Tên gọi khác:''' Địa tiềm (Nhật dụng), Thổ nhộng (Dư đông lục), Cam lộ tử (Thực vật), Tích lộ (Cương mục), Địa qua nhi.
** Thời Trân nói: Tên "Tiềm" (tằm), "Nhộng" đều dựa trên hình dáng của rễ mà đặt; "Cam lộ" (móc ngọt) dựa vào vị của rễ. Có thuyết nói trên lá có giọt sương nhỏ xuống (tích lộ) thì rễ sinh ra, nhưng tôi thường trồng thử thì thấy không có chuyện đó. Loại rễ to dài được sách Cứu hoang bản thảo gọi là Địa qua nhi.
* '''Tập giải:'''
** Tàng Khí nói: Đào Hoằng Cảnh chú giải phần sâu bọ về "Thạch tiềm" có nói: Nay tục dùng rễ cỏ màu đen. Xét thấy Thảo thạch sâm mọc trên đá núi cao, rễ như cái trâm, trên có lông, đốt như con tằm, lá giống lá Quyển bá. Người miền núi hái về ăn.
** Tô Tụng nói: Rễ cỏ giống con tằm cũng gọi là Thạch sâm. Có ở vùng Phúc Châu và Tín Châu trên đá núi, bốn mùa đều có. Mầm màu xanh, cũng có đốt. Tháng 3 hái rễ dùng.
** Cơ nói: Thảo thạch sâm ở Huy Châu rất nhiều, dân địa phương gọi là Địa tiềm. Trắng béo và đốt ngắn, to như con tằm lứa thứ ba. Mọc ở vùng đất thấp ẩm và bãi cát. Mùa thu cày ruộng thấy khắp nơi. Thu hái về ngâm giấm làm dưa chua ăn. Mùa đông cũng đào lấy được.
** Dĩnh nói: Địa tiềm mọc ở ruộng mạch vùng ngoại ô. Lá như lá bạc hà nhưng hẹp và nhọn hơn, vân hơi nhăn, kém độ bóng. Rễ màu trắng, trạng như con tằm. Tháng 4 hái rễ, trụng nước sôi hòa muối làm rau ăn.
** Thời Trân nói: Thảo thạch sâm chính là cây Cam lộ tử ngày nay. Vùng Kinh Tương, Giang Hoài trở về nam trong hoang dã đều có, người ta cũng trồng. Tháng 2 mọc mầm, dài gần một thước, thân vuông, đối đốt, lá hẹp có răng cưa, đều giống cây Kê tô (dân gian gọi là bạc hà dại), nhưng lá nhăn và có lông. Tháng 4 nở hoa nhỏ thành bông (tuế), giống như bông hoa Tử tô. Hạt giống hạt Kinh giới. Rễ chuỗi lại như con tằm già. Tháng 5 đào rễ chưng hoặc luộc ăn, vị như Bách hợp. Hoặc dùng nước muối củ cải hoặc nước dưa muối để bảo quản thì rễ không bị đen. Cũng có thể ngâm tương hoặc tẩm mật. Vừa có thể làm rau, vừa có thể làm quả. Trần Tạng Khí nói lá Thạch sâm giống Quyển bá thì có lẽ là loại khác.
* '''Rễ:'''
** '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
** Thời Trân nói: Không nên ăn sống hoặc ăn quá nhiều vì sinh sán (thốn bạch trùng). Ăn cùng các loại cá sẽ khiến người ta buồn nôn.
** '''Chủ trị:''' Ngâm rượu giúp trừ phong, phá huyết. Nấu ăn trị khê độc (độc nước suối) (Tàng Khí). Sao khô trị tẩu chú phong (phong chạy khắp người), tán huyết chỉ thống (giảm đau). Các đốt rễ cũng có thể giã bột uống với rượu (Tô Tụng). Hòa ngũ tạng, hạ khí, làm thanh thản tinh thần (Chính yếu).
===TRÚC DUẨN (MĂNG TRE)===
*(Trích: Thục Bản thảo) '''Tên khoa học chung:''' Bambusoideae (Phân họ Tre)
* '''Hiệu chính:''' Hợp nhất với phần "Đào trúc duẩn" trong Thập di ở bộ Mộc.
* '''Tên gọi khác:''' Trúc manh (Nhĩ nhã), Trúc nha (Duẩn phổ), Trúc thai (Thuyết văn), Trúc tử (Thần dị kinh).
* '''Giải thích tên gọi:''' Thời Trân nói: Chữ Duẩn (筍) gồm bộ Trúc (竹) và chữ Tuần (旬 - 10 ngày). Lục Điền nói: Trong vòng 10 ngày thì là Măng (Duẩn), ngoài 10 ngày thì thành Tre (Trúc). Người nay gọi tre là "cỏ đố kỵ mẹ", vì măng sinh ra 16 ngày đã cao bằng tre mẹ. Các tên gọi khác như Manh, Nhược, Truyết, Sơ hoàng đều mang nghĩa là mầm non mới nhú.
* '''Tập giải:'''
** Hoằng Cảnh nói: Các loài tre rất nhiều. Măng của loại tre đặc ruột (Thực trung trúc) và tre Hoàng trúc là tốt nhất. Trong thuốc ít dùng.
** Tô Tụng nói: Các nhà đều cho rằng măng Khổ trúc (tre đắng) là quý nhất. Khổ trúc có 2 loại: Loại ở Giang Tây và Mân Trung củ rất to, vị cực đắng không ăn được; loại ở Giang Chiết thịt dày lá rộng, vị hơi đắng, tục gọi là măng đắng ngọt (tiềm khổ duẩn), dùng làm thực phẩm rất tốt, cũng không thấy dùng làm thuốc.
** Thời Trân nói: Đới Cải Chi (đời Tấn) và Tăng Tán Ninh (đời Tống) đều viết Trúc phổ, ghi hơn 60 loại. Nơi sản sinh và mùa mọc măng khác nhau. Măng có loại ăn được và không ăn được. Miền Bắc ít tre, miền Nam (Tần, Thục, Ngô, Sở) thì rất nhiều. Tre có đực cái, cứ xem cành đầu tiên ở gốc nếu mọc đôi thì là tre cái, tất sẽ có măng. Người địa phương đào lấy mầm non khi rễ tre (roi tre) đang bò gọi là '''Tiên duẩn''' (măng roi). Vùng Giang Nam, Hồ Nam đào dưới gốc tre lớn vào mùa đông khi măng chưa nhú khỏi mặt đất gọi là '''Đông duẩn''' (măng đông), dùng ăn tươi là trân phẩm. Các loại khác người phương Nam phơi khô gọi là Ngọc bản duẩn, Minh duẩn, Hỏa duẩn; muối chua gọi là Diêm duẩn, đều dùng làm rau ăn.
** Tăng Tán Ninh nói: Ăn măng như dùng thuốc, đúng phép thì lợi, sai phép thì hại. Hái măng nên tránh gió nắng (gặp gió thì gốc dai, gặp nước thì thịt cứng), để cả vỏ mà luộc thì giữ được vị, dùng dao cắt sống thì mất độ mềm. Phải nấu lâu, ăn sống hại người. Măng đắng phải nấu thật lâu. Hấp là ngon nhất, nướng cũng rất tốt. Loại có vị chát (ngứa) gây kích ứng họng thì nên luộc qua nước tro rồi mới nấu lại. Hoặc bỏ vài lá bạc hà vào nấu cùng để khử vị chát.
======CÁC LOẠI MĂNG TRE (NÓI CHUNG)======
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc.
** Tàng Khí nói: Các loại măng đều làm phát sinh khí và khí lạnh trong máu (lãnh huyết).
** Thụy nói: Măng ăn cùng gan cừu làm người ta bị mù mắt.
* '''Chủ trị:''' Tiêu khát, lợi thủy đạo (thông tiểu), ích khí, có thể ăn lâu dài (Biệt lục). Thông cách hạ khí, hóa nhiệt tiêu đờm, làm mát dạ dày (Ninh Nguyên).
======KHỔ TRÚC DUẨN (MĂNG TRE ĐẮNG)======
'''Tên khoa học:''' Pleioblastus amarus (Keng) Keng f.
* '''Khí vị:''' Vị đắng, ngọt, tính hàn.
* '''Chủ trị:''' Trị mất ngủ, khử nhiệt vàng trên mặt, mắt và lưỡi, tiêu khát, làm sáng mắt, giải độc rượu, trừ nhiệt khí, làm người khỏe mạnh (Tàng Khí). Trị tâm phiền muộn, ích khí lực, lợi tiểu, hạ khí hóa đờm, trị phong nhiệt cước khí; dùng chưng hoặc luộc ăn (Tâm kính). Trị trúng phong mất tiếng khi ra mồ hôi. Loại khô đốt thành than trộn muối, xát vào trị cam răng (Thời Trân).
======TRÚC DUẨN (MĂNG TRE THƯỜNG)======
'''Tên khoa học:''' Phyllostachys edulis (măng sào/măng mạnh tông)
* '''Chủ trị:''' Tiêu khát phong nhiệt, ích khí lực, tiêu đầy bụng; chưng, luộc, xào đều tốt.
======ĐẠM TRÚC DUẨN (MĂNG TRE NGỌT/TRE PHẤN)======
'''Tên khoa học:''' Phyllostachys nigra var. henonis
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn.
* '''Chủ trị:''' Tiêu đờm, trừ nhiệt cuồng, sốt cao, đau đầu, phong đầu, phụ nữ chóng mặt, ngã kinh sợ, ôn dịch mê man, trẻ em kinh giản (co giật).
======ĐÔNG DUẨN & BIÊN DUẨN (MĂNG ĐÔNG & MĂNG ROI)======
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, tính hàn.
* '''Chủ trị:''' Trẻ em đậu chẩn không mọc ra được, nấu cháo ăn để giải độc, giúp đậu chẩn phát ra.
'''PHÁT MINH & KIÊNG KỴ'''
* Lý Thời Trân dẫn lời Tăng Tán Ninh: Măng tuy ngon nhưng làm trơn đại tràng, không ích gì cho tì, tục gọi là "cái lược nạo ruột" (quát tràng bi). Chỉ có gừng sống và dầu mè mới giải được độc của măng. Các thầy thuốc tục thường cho trẻ uống canh măng để thúc đậu chẩn mọc, nhưng không biết rằng đậu chẩn kỵ đại tràng trơn nát, làm vậy là âm thầm hại người. Phải hết sức răn đe.
* Tông Thích nói: Măng khó tiêu, không có lợi cho người bệnh tì. Từng có đứa trẻ ăn măng khô bị nghẹn ở họng, phát sốt thở gấp như kinh phong, uống thuốc không khỏi, sau nôn măng ra mới hết.
======ĐÀO TRÚC DUẨN (MĂNG TRE ĐÀO)======
*(Trích: Thập di) '''Tên khoa học:''' Sinocalamus affinis (hoặc các loài tre nứa nhỏ)
* '''Tên gọi khác:''' Hoàng duẩn (măng vàng).
* '''Khí vị:''' Vị đắng, có độc nhỏ. Phải luộc bằng nước tro mới ăn được, nếu không sẽ gây ngứa họng.
* '''Chủ trị:''' Trị dòi trong vết thương của gia súc: giã nát đắp vào, dòi sẽ chui ra hết.
======THỨ TRÚC DUẨN (MĂNG TRE GAI)======
'''Tên khoa học:''' Bambusa stenostachya Hack.
* '''Đặc điểm:''' Thân có gai, người Di trồng làm thành lũy, gốc to như nan bánh xe.
* '''Khí vị:''' Vị ngọt, đắng, có độc nhỏ. Ăn vào làm rụng tóc (Trúc phổ).
====TOAN DUẨN (MĂNG CHUA)====
*(Trích: Cương mục)
* '''Tập giải:''' Xuất xứ từ vùng 粵南 Việt (Quảng Đông) Nam. Măng to như cánh tay, nhúng nước sôi khử vị đắng, ngâm nước giếng lạnh 2-3 ngày rồi lấy ra xé sợi như dây thừng, nấu với giấm mà ăn.
* '''Khí vị:''' Vị chua, tính mát, không độc.
* '''Chủ trị:''' Nấu canh ăn giúp chỉ khát (hết khát), giải say rượu, lợi lồng ngực.
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
dsgt41obnu30i124b6lnsswnypcqw7j
Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thái 3
114
71907
204559
204525
2026-04-05T06:49:25Z
Mrfly911
2215
204559
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之三
| năm= 1596
| phần = Tổng hợp:
* 21 loại '''dưa''' (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua)
* 6 loại '''rau dưới nước''' (Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái)
* 15 loại '''nấm''' (Thanh chi - Long chi, Xích chi - Đan chi, Hoàng chi - Kim chi, Bạch chi - Ngọc chi, Tố chi, Hắc chi - Huyền chi, Tử chi - Mộc chi, Mộc nhĩ, tùng khuẩn, táo giáp tẩm, hương tẩm, cát hoa thái, thiên hoa tẩm, ma cô tẩm, kê, đà thái, thổ khuẩn, địa cầm, trúc nhục, khuẩn, địa nhĩ, thạch nhĩ)
| trước= [[../Thái 2|Thái 2]]
| sau= [[../Quả 1|Quả 1]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==21 loại rau==
===CÀ (TỬ TÔ)===
*(Âm đọc là Gia. Trích từ "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống) '''Tên khoa học:''' Solanum melongena L.
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Lạc tô''' (Thập di), '''Côn Lôn qua''' (Ngự lãm), '''Thảo biệt giáp'''.
* '''Tô Tụng nói:''' Theo Đoạn Thành Thức, "Cà" vốn là tên gọi thân cây sen. Nay gọi là rau cà (thái), âm đọc là "Gia", không rõ nguồn gốc từ đâu.
* '''Thời Trân nói:''' Trần Tạng Khí trong Bản thảo gọi là Lạc tô, nghĩa chưa rõ. Xét cuốn Ngũ Đại Di Tử Lục viết là "Lạc tô" (酪酥 - váng sữa), có lẽ vì vị nó béo như váng sữa, nghĩa này có vẻ thông suốt. Du Bảo trong Thập di lục nói Tùy Dạng Đế đổi tên cà thành '''Côn Lôn tử qua''' (Dưa tím Côn Lôn). Vương Ẩn Quân trong Dưỡng sinh chủ luận dùng cà khô trị sốt rét nên gọi chệch đi là '''Thảo biệt giáp''' (Mai rùa bằng cỏ), vì mai rùa trị được hàn nhiệt, mà cà cũng trị được hàn nhiệt vậy.
'''【Tập giải】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Cà có ở khắp nơi, gồm vài loại: Cà tím, cà vàng có ở cả Nam lẫn Bắc; cà trắng, cà xanh nước có ở miền Bắc. Dùng làm thuốc đa số dùng cà vàng, các loại khác chỉ dùng làm rau. Ở Giang Nam có loại "Cà dây" (Đằng cà), mọc dạng leo, vỏ mỏng như bầu ngô, không thấy dùng làm thuốc.
* '''Tông Thích nói:''' Nước Tân La có loại cà hình như quả trứng gà, màu tím nhạt sáng, cuống dài vị ngọt. Nay ở Trung Quốc đã có khắp nơi.
* '''Thời Trân nói:''' Hạt cà nên thu hoạch vào tháng 9 khi quả chín vàng, rửa sạch phơi khô, đến tháng 2 thì gieo mầm di thực. Cây cao 2-3 thước, lá to bằng bàn tay. Từ hạ sang thu nở hoa tím, 5 cánh dính nhau, 5 khía như sợi chỉ, nhị vàng cuống xanh, cuống bọc lấy quả. Trong cà có thịt (nhân), trong thịt có hạt, hạt như hạt vừng. Quả có loại tròn như quả Qua lâu, có loại dài 4-5 thốn. Có cà xanh, cà tím, cà trắng. Cà trắng còn gọi là '''Ngân cà''', ăn ngon hơn cà xanh. Các loại cà khi già đều hóa vàng. Tô Tụng coi cà vàng là một loài riêng thì có lẽ chưa nghiên cứu kỹ.
* '''Vương Trinh trong Nông thư viết:''' Có loại cà Bột Hải màu trắng chắc; cà Phiên màu trắng dẹt, ngọt giòn không chát, ăn sống hay chín đều được; cà tím cuống dài vị ngọt; cà nước (thủy cà) hình dài vị ngọt, có thể giải khát. Hồng Dung Trai tùy bút ghi: Ở Chiết Tây cà thường vỏ tím, loại trắng là cà nước; ở Giang Tây cà thường vỏ trắng, loại tím là cà nước. Thật là khác biệt.
* '''Lưu Tuân trong Lĩnh biểu lục dị nói:''' Cây cà ở Giao Chỉ trải qua mùa đông không rụng lá, có cây 2-3 năm thành cây lớn, quả to như dưa. Hái lá cà rải trên đường rồi dùng tro vây quanh thì quả sẽ đậu rất nhiều, gọi là "gả chồng cho cà" (giá cà).
'''QUẢ CÀ (TỬ TÔ)'''
#'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính hàn, không độc.
* '''Đại Chí nói:''' Người thể tạng lạnh lâu ngày không nên ăn nhiều, sẽ gây hại người, động khí, phát mụn nhọt và các bệnh cũ (cố tật).
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Ăn cà sau mùa thu sẽ hại mắt.
* '''Thời Trân nói:''' Theo Sinh sinh biên, tính cà hàn lợi (nhuận tràng), ăn nhiều tất đau bụng đi lỏng, phụ nữ ăn nhiều có thể hại đến tử cung.
'''【Chủ trị】'''
* Trị hàn nhiệt, ngũ tạng lao tổn (Mạnh Tiễn). Trị bệnh ôn dịch truyền thi (lao). Mài với giấm đắp trị sưng độc (Đại Minh). Quả già tự nứt thì đốt thành tro trị nứt vú (Chấn Hanh). Tán huyết chỉ thống, tiêu sưng, khoan tràng (nhuận tràng) (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Tông Thích nói:''' Trong vườn rau chỉ có thứ này là không có ích. Khai bảo bản thảo không ghi chủ trị, chỉ nói hại người. Người đời sau dù có phép trị bệnh nhưng vẫn không hợp chính văn. Người trồng vườn lại bón nhiều phân, thúc trong chỗ ấm để bán giá cao vào tiết Tiểu mãn. Ăn không đúng mùa thì hại càng nhiều. Không đúng mùa không ăn, chớ có coi thường.
* '''Chấn Hanh nói:''' Cà thuộc Thổ nên vị ngọt và có tính giáng (hạ xuống), người đại tràng dễ động (đi ngoài) nên kiêng. Quả già trị nứt đầu vú, rễ nấu nước ngâm chỗ bỏng lạnh, cuống cà đốt tro trị nhiệt miệng, đều hiệu quả kỳ lạ, đó là ý dùng vị ngọt để làm dịu hỏa vậy.
* '''Thời Trân nói:''' Đoạn Thành Thức nói cà làm "dày dạ dày" (nồng tràng vị), thực ra không biết tính cà trơn (hoạt), không có tác dụng làm dày dạ dày đâu.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các phương chính)
* '''Phụ nữ huyết vàng:''' Cà vàng cắt bằng dao tre, phơi âm can, tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm.
* '''Trường phong hạ huyết (đi ngoài ra máu):''' Cà kinh sương cả cuống, đốt tồn tính, tán bột. Uống 2 tiền lúc đói với rượu ấm.
* '''Cổ chướng trong bụng:''' Cà muối lâu năm đốt tồn tính, thêm ít xạ hương, khinh phấn, hòa dầu đắp.
* '''Trị sưng đau tinh hoàn (thiên trụy):''' Dùng cà đôi (hai quả dính cuống) treo trên cửa, đi ra vào nhìn vào đó. Cà héo thì bệnh héo, cà khô thì bệnh khỏi.
* '''Bệnh phong hủi (đại phong), nhiệt đàm:''' Cà vàng già to, ủ trong đất một năm hóa thành nước, trộn bột Khổ sâm làm viên bằng hạt ngô. Uống 30 viên với rượu.
* '''Va đập bầm tím:''' Cà vàng già cắt lát dày, sao trên ngói tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm trước khi ngủ, một đêm là tan vết bầm.
* '''Nhiệt độc sưng tấy:''' Cà tươi khoét rỗng như cái hũ, úp lên chỗ sưng sẽ tiêu.
* '''Đau răng:''' Cà muối lâu năm đốt tro xát vào răng.
* '''Nứt vú:''' Cà mùa thu tự nứt, phơi khô đốt tồn tính, tán bột hòa nước bôi.
'''CUỐNG CÀ (TI)'''
* '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro uống 2 tiền trị đi ngoài ra máu không dứt và trĩ ra máu (Ngô Thụy). Đốt tro trị nhiệt miệng, loét miệng. Cắt tươi xát vào vết lang ben (Thời Trân).
* '''【Phát minh】:''' Trị lang ben trắng dùng cuống cà trắng, lang ben tím dùng cuống cà tím, theo nguyên tắc đồng loại.
* '''【Phụ phương】:''' Sâu răng đau: Đốt tro cuống cà xát vào, hoặc thêm bột Tế tân.
'''HOA CÀ'''
* '''【Chủ trị】:''' Vết thương do kim khí, đau răng (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:''' Hoa cà mùa thu khô, đốt tán bột bôi chỗ đau răng, cầm đau ngay.
'''RỄ VÀ THÂN LÁ KHÔ'''
* '''【Chủ trị】:''' Bỏng lạnh nứt nẻ, nấu nước ngâm rất tốt (Khai bảo). Tán huyết tiêu sưng, trị đái ra máu, lỵ ra máu, sa tử cung, nấm miệng (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:'''
** '''Đái ra máu (Huyết lâm) đau đớn:''' Lá cà hun khô tán bột, uống 2 tiền với rượu ấm.
** '''Lỵ lâu ngày không dứt:''' Rễ cà đốt tro, vỏ lựu lượng bằng nhau, tán bột uống với nước đường.
** '''Sa tử cung:''' Rễ cà đốt tồn tính, tán bột, hòa dầu bôi lên giấy cuộn lại đặt vào trong.
** '''Trị rụng răng:''' Rễ cà ngâm nước tiểu ngựa 3 ngày, phơi khô sao tán bột. Chấm vào răng là răng rụng (phương thuốc của Bào thị).
===KHỔ CÀ (CÀ ĐẮNG)===
*(Trích từ "Thập di") '''Tên khoa học:''' Solanum indicum L. (hoặc Solanum viarum)
* '''【Tập giải】:''' Trần Tạng Khí nói: Cà đắng mọc hoang ở vùng Lĩnh Nam. Cây nhỏ có gai.
* '''【Quả】:''' Mài với giấm bôi trị mụn nhọt sưng tấy.
* '''【Rễ】:''' Nấu nước tắm. Trị khí chướng (chướng khí) vùng rừng núi.
===HỒ LÔ (QUẢ BẦU)===
*(Trích: Nhật Hoa) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria (Molina) Standl.
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Hồ lô''', '''Hồ qua''' (Thuyết văn), '''Bào qua''' (Luận ngữ).
* '''Thời Trân nói:''' "Hồ" (壺) là bầu đựng rượu, "Lô" (盧) là chén uống nước. Vật này có hình dáng tương ứng, lại có thể dùng làm đồ đựng rượu cơm nên đặt tên như vậy. Tục viết là "Hồ lô" (葫蘆) với bộ Thảo là sai, vì "Hồ" (葫) là tên của tỏi, "Lô" (蘆) thuộc loại cây lau sậy. Loại hình tròn gọi là '''Bào''' (匏), cũng gọi là '''Phiêu''' (瓢 - gáo), vì nó có thể nổi trên mặt nước như bọt khí (bào) hay vật trôi nổi (phiêu).
* Tất cả các loại này đều thuộc họ Dưa (qua) nên gọi là '''Hồ qua''', '''Bào qua'''. Người xưa gọi Hồ, Hú, Bào thông dụng như nhau, ban đầu không phân biệt. Tuy nhiên, đời sau phân chia: loại dài như dưa Việt gọi là '''Hú''' (瓠), loại một đầu có bụng và cán dài gọi là '''Huyền hú''' (懸瓠), loại không cán mà tròn to hình dẹt gọi là '''Bào''' (匏), loại Bào có cán ngắn bụng to gọi là '''Hồ''' (壺), loại Hồ có thắt eo nhỏ gọi là '''Bồ lô''' (蒲蘆). Qua xem xét kỹ, tuy hình dáng khác nhau nhưng tính vị của mầm, lá, vỏ, hạt là một nên không chia thành các mục riêng.
#** '''【Tập giải】'''
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Bầu và Bí đao cùng một loại khí vị. Có loại Hú lô vị ngon hơn bầu thường, đều lợi thủy đạo, ăn vào mùa hè rất tốt nhưng đại để không bằng Bí đao.
* '''Cung nói:''' Bầu và Bí đao hoàn toàn không cùng loại. Ba thứ này mầm lá tương đồng nhưng hình dáng quả khác nhau. Bầu (Hú) dài hơn một thước, đầu đuôi như nhau, chín vào giữa hạ và khô vào cuối thu. Hú lô hình dạng to nhỏ không nhất định, chín vào giữa thu, dùng làm đồ đựng thì phải đợi qua mùa sương mới dùng được.
* '''Thời Trân nói:''' Tuy tên gọi khác nhau nhưng thực chất là một loài. Xuống giống vào tháng 1-2, lá giống lá bí đao nhưng tròn hơn, có lông mềm, lúc non có thể ăn được. Tháng 5-6 nở hoa trắng, kết quả trắng. Hạt bên trong sắp xếp như răng gọi là "Hồ tê". Loại to có thể làm chum vại, loại nhỏ làm gáo rót rượu, có thể làm thuyền nổi trên nước, làm nhạc khí (sênh), vỏ ruột có thể nuôi lợn, hạt có thể làm nến, lợi ích vô cùng to lớn.
===HỒ HÚ (BẦU NGỌT)===
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính bình, trơn (hoạt), không độc.
* '''Cung nói:''' Vị ngọt lạnh, ăn nhiều gây nôn mửa, đi lỏng.
* '''Biển Thước nói:''' Người bị cước khí hư chướng lạnh bụng mà ăn thứ này thì bệnh không bao giờ khỏi.
'''【Chủ trị】'''
Tiêu khát, ác sang (mụn nhọt độc), đau loét trong mũi miệng (Tư Mạo). Lợi thủy đạo (Hoằng Cảnh). Tiêu nhiệt, người đang phục dược đan thạch nên ăn (Mạnh Tiễn). Trừ phiền, trị tâm nhiệt, lợi tiểu trường, nhuận tâm phổi, trị thạch lâm (sỏi đường tiết niệu) (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Thời Trân nói:''' Theo Danh y lục, người vùng Chiết Giang ăn Bào qua hay bị thổ tả, gọi là "phát bạo", đó là do quả này bị ủng khí vào tháng nắng nóng. Chỉ khi ăn cùng với Hương nhu mới tránh được.
'''【Phụ phương】'''
* '''Bụng trướng vàng vọt (hoàng thũng):''' Dùng bầu thắt eo (Á yêu hồ lô) cả hạt đốt tồn tính, mỗi lần dùng 1 quả uống với rượu ấm trước bữa ăn. Không uống được rượu thì dùng nước trắng, 10 ngày sẽ thấy hiệu quả.
'''LÁ BẦU'''
* '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
* '''【Chủ trị】:''' Làm rau ăn giúp nhịn đói (Tư Mạo).
'''DÂY, TUA CUỐN, HOA'''
* '''【Chủ trị】:''' Giải độc (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:''' Giải thai độc, phòng đậu mùa: Cắt tua cuốn bầu khô sắc nước tắm cho trẻ vào đêm trừ tịch.
'''HẠT BẦU'''
* '''【Chủ trị】:''' Lợi răng sưng lộ, răng lung lay đau nhức: Dùng 8 lạng hạt bầu cùng 4 lạng Ngưu tất, mỗi lần dùng 5 tiền sắc nước ngậm súc miệng, ngày 3-4 lần.
===KHỔ HÚ (BẦU ĐẮNG)===
*(Trích: Bản kinh - Hạ phẩm) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria var. microcarpa (Naudin) Hara (hoặc các biến thể đắng)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* Khổ bào (Quốc ngữ), Khổ hồ lô.
'''【Tập giải】'''
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại bầu tự nhiên có vị đắng như mật thì không ăn được, không phải loài riêng biệt.
* '''Cung nói:''' Bản kinh bàn về Khổ hú lô, Đào Hoằng Cảnh nói bầu thường bị đắng là sai. Bầu đắng và bầu ngọt giống nguyên bản khác nhau, không phải do ngọt biến thành đắng.
* '''Bảo Thăng nói:''' Có hai loại ngọt và đắng, loại ngọt quả to, loại đắng quả nhỏ.
* '''Thời Trân nói:''' Kinh Thi có câu "Bào hữu khổ diệp" (Bầu có lá đắng). Quốc ngữ viết "Khổ bào bất tài" (Bầu đắng không dùng làm đồ ăn được). Tất cả đều chỉ quả bầu đắng. Phàm dùng Khổ hú phải chọn quả vân mịn, sạch bóng không tì vết mới tốt, nếu không sẽ có độc. Nếu uống quá liều gây nôn mửa đi lỏng không dứt, dùng nước tro rơm kê để giải độc.
'''RUỘT VÀ HẠT BẦU ĐẮNG'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính hàn, có độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đại thủy (phù thũng nặng), mặt mày tay chân phù nề, hạ thủy, gây nôn mửa (Bản kinh). Lợi thạch lâm, nôn đờm nghẽn trong cổ, trị trùng độc (trị chú), đàm ẩm. Nấu nước ngâm rửa cơ quan sinh dục trị tiểu tiện không thông (Tô Cung). Nhỏ nước sắc vào mũi trị tắc mũi do lạnh, vàng da (Tàng Khí). Thải giun đũa (Đại Minh). Trị ung thư ác sang, ghẻ lở, sâu răng. Có thể dùng để chế biến thủy ngân (Thời Trân).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính)
* '''Bệnh hoàng đản (vàng da cấp):''' Khổ hú 1 quả, đục lỗ rót nước vào nấu, lấy nước đó nhỏ vào mũi để chảy nước vàng ra.
* '''Phù thũng nặng, mặt mày sưng to:''' Dùng ruột trắng bầu đắng vo như hạt đậu, bọc màng bột mì nấu sôi, uống 7 hạt lúc đói. Đến trưa sẽ xuất nước ra, người gầy đi thì khỏi. Kiêng đồ mặn trong 2 năm.
* '''Tiểu tiện không thông, trướng cấp:''' Hạt bầu đắng 30 hạt (sao), Sâu đất (Lâu cô) 3 con (nướng), tán bột, uống 1 tiền với nước lạnh.
* '''Đau đầu do phong đàm:''' Nhỏ nước ép ruột bầu đắng vào mũi qua ống cỏ, đờm nhớt chảy ra là khỏi tận gốc.
* '''Mắt mờ, màng mộng:''' Dùng ruột trắng bầu đắng ép lấy nước, phối hợp với giấm và tiền đồng cổ sắc lấy bọt nhỏ vào khóe mắt.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt bầu đắng sắc nước ngậm súc miệng.
* '''Trĩ sưng đau:''' Bầu đắng, rau Đắng đắng sắc nước xông rửa, sau đó bôi thuốc bột (Hùng đởm, Mật đà tăng...).
* '''Trúng độc trùng (cổ độc), nôn máu hoặc hạ huyết:''' Sắc 1 quả bầu đắng với 2 lít nước lấy 1 lít uống để nôn ra là khỏi.
* '''Thai chết lưu không ra:''' Bầu đắng đốt tồn tính, tán bột. Uống 1 tiền với rượu nóng lúc đói.
'''HOA BẦU ĐẮNG'''
* '''【Chủ trị】:''' Trị tất cả các loại mụn nhọt, thu hái sau mùa sương phơi khô, tán bột đắp.
'''DÂY BẦU ĐẮNG'''
* '''【Chủ trị】:''' Trị sởi (ma sang), nấu nước tắm thì khỏi (Thời Trân). Trị chứng hói trắng ở trẻ em (Bạch thục).
===BẠI PHIÊU (GÁO BẦU CŨ)===
*(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria (Molina) Standl. (Vỏ quả khô)
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Phiêu (gáo) là do quả Hồ lô hoặc quả Bào xẻ ra mà thành. Phương thuốc của các thầy thuốc gần đây cũng thường xuyên sử dụng. Nên dùng loại làm từ quả bầu đắng (Khổ hú) là tốt nhất, loại để lâu năm lại càng thần diệu.
'''【Khí vị】'''
Vị đắng, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu trướng, sát trùng. Trị trĩ lậu ra máu, băng trung (băng huyết), khí hư (đới hạ) đỏ trắng (Thời Trân).
'''【Phụ phương】'''
* (Mới có 6 phương)
** '''Bụng trướng đầy (Trung mãn cổ trướng):''' Dùng một cái gáo bầu cũ đã để 3-5 năm. Dùng 1 đấu gạo nếp nấu thành rượu, đợi khi rượu chín, đem gáo hơ trên lửa than cho nóng rồi nhúng vào rượu. Làm như vậy 3-5 lần, sau đó đem gáo đốt tồn tính (đốt cháy vỏ ngoài nhưng bên trong vẫn giữ tính chất), nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 3 tiền với rượu, hiệu nghiệm như thần. (Dư Cư Sĩ - Tuyển kỳ phương).
** '''Đại tiện ra máu:''' Gáo bầu cũ (đốt tồn tính), Hoàng liên lượng bằng nhau. Nghiền thành bột. Mỗi lần uống 2 tiền với rượu ấm lúc đói. (Giản tiện phương).
** '''Băng huyết đỏ trắng (Xích bạch băng trung):''' Gáo bầu cũ (sao tồn tính), Gương sen (Liên phòng - đốt tồn tính) lượng bằng nhau. Nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 2 tiền, pha với nước nóng. Uống 3 liều, thấy ra mồ hôi là đạt, bệnh sẽ cầm ngay. Trường hợp nặng uống 5 liều là khỏi, rất thần diệu. Kiêng phòng sự, thức ăn gây phát chẩn, đồ sống lạnh. (Hải thượng phương).
** '''Não lậu chảy mủ (Viêm xoang mạn tính chảy mủ):''' Gáo vỡ, hoa Mào gà trắng, vỏ Ốc nhồi trắng (tất cả đều đốt tồn tính) lượng bằng nhau; Huyết kiệt, Xạ hương mỗi thứ 5 phân. Nghiền thành bột. Dùng rượu ngon vẩy ướt Ngải cứu chín, trộn với thuốc nặn thành bánh, đắp lên huyệt Đỉnh môn (thóp trước), dùng bàn là hơ nóng ủi lên trên, đến khi khỏi thì thôi. (Tôn thị - Tập hiệu phương).
** '''Bướu thịt dưới nách (Dịch hạ lưu anh):''' Dùng loại gáo bầu cán dài (Trà hồ lô) đốt tồn tính, nghiền bột bôi vào, đến khi u tan thì thôi. Có bà lão nọ dưới nách phải mọc một cái bướu, lớn dần đến hơn một thước, hình dáng như quả bầu dài, lâu ngày loét ra. Một phương sĩ dạy cho cách này, sau đó bướu chảy nước ra, tan hết mà khỏi. (Tần Hồ tập giản phương).
** '''Bỏng nước sôi, bỏng lửa:''' Gáo bầu cũ, đốt thành tro đắp vào. (Tần Hồ tập giản phương).
===ĐÔNG QUA (BÍ ĐAO)===
*(Trích: Bản kinh - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Benincasa hispida (Thunb.) Cogn.
'''【Hiệu chính】'''
Nay hợp nhất cùng mục '''Bạch qua tử''' (Hạt bí trắng).
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Bạch qua''' (Bản kinh), '''Thủy chi''' (Sách đã dẫn), '''Địa chi''' (Quảng nhã).
* '''Đại Chí nói:''' Bí đao sau khi trải qua sương giá, trên vỏ có lớp trắng như phấn phủ, hạt cũng màu trắng nên gọi là Bạch đông qua, còn hạt gọi là Bạch qua tử.
* '''Thời Trân nói:''' Gọi là Đông qua vì nó chín vào mùa đông. Lại theo Giả Tư Hiệp, bí đao gieo hạt vào tháng 2, 3; nếu gieo vào tháng 10 thì quả kết lại béo tốt hơn gieo mùa xuân, tên gọi Đông qua có lẽ cũng vì lý do này.
* '''Biệt lục nói:''' Đông qua nguyên nằm dưới mục "Qua tử" của Bản kinh. Đời Tống, sách Khai bảo bản thảo thêm mục Bạch qua tử, rồi lại chia riêng Bạch đông qua thành một loại trong Biệt lục. Điều này dẫn đến các chú giải tranh luận gây nhiễu, nay hợp lại làm một.
'''【Tập giải】'''
* '''Biệt lục nói:''' Bạch qua tử mọc ở đầm phẳng vùng Tung Cao, chính là hạt của quả bí đao. Thu hái vào tháng 8.
* '''Tô Tụng nói:''' Nay vườn tược nơi nơi đều trồng. Quả mọc dưới dây leo, quả lớn như cái đấu và dài, vỏ dày có lông, lúc mới sinh màu xanh lục, qua sương thì có phấn trắng. Người ta thường tích trữ ăn quanh năm như rau quả. Dùng làm thuốc phải lấy quả sau mùa sương, để qua năm, đập lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi giã lấy nhân dùng. Nhân hạt cũng có thể dùng làm thuốc bồi bổ đơn lẻ.
* '''Thời Trân nói:''' Tháng 3 mọc mầm leo dây, lá to tròn có mũi nhọn, thân lá đều có lông gai. Tháng 6, 7 nở hoa vàng. Quả lớn đường kính hơn 1 thước, dài 3-4 thước, khi non màu xanh có lông, khi già màu xanh xám có phấn, vỏ cứng dày, thịt trắng béo. Ruột quả gọi là '''Qua luyện''', trắng xốp như bông, có thể dùng để giặt tẩy quần áo. Hạt gọi là '''Qua tê''', xếp thành hàng trong ruột. Bí đao kỵ rượu, sơn, xạ hương và gạo nếp, chạm phải tất thối nát.
====BẠCH ĐÔNG QUA (QUẢ BÍ ĐAO)====
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc.
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Tính lạnh và lợi tiểu (lạnh lợi).
'''【Chủ trị】'''
Trị thủy trướng bụng dưới, lợi tiểu tiện, chỉ khát (Biệt lục). Giã lấy nước uống trị tiêu khát phiền muộn, giải độc (Hoằng Cảnh). Ích khí, chống lão hóa, trừ đầy tức ngực sườn, khử nhiệt ở vùng đầu mặt (Mạnh Tiễn). Tiêu nhiệt độc ung thũng. Thái lát xoa trị rôm sảy rất tốt (Đại Minh). Lợi đại tiểu tràng, ép độc của đan thạch (Tô Tụng).
'''【Phát minh】'''
* '''Mạnh Tiễn nói:''' Người bị nhiệt ăn vào rất tốt, người thể tạng lạnh ăn vào sẽ làm người gầy đi. Nấu ăn giúp luyện ngũ tạng vì nó có tác dụng hạ khí. Ai muốn cơ thể thon gọn nhẹ nhàng thì nên ăn lâu dài; nếu muốn béo thì đừng ăn.
* '''Tông Thích nói:''' Phàm người bị phát bối (nhọt sau lưng) và các loại ung thư, gọt một miếng lớn đắp lên vết thương, nóng thì thay miếng khác, tán nhiệt độc rất tốt.
* '''Chấn Hanh nói:''' Bí đao tính chạy và nhanh (tẩu nhi cấp). Khấu thị nói nó tán nhiệt độc cũng là lấy cái tính nhanh nhẹn đó. Người bệnh lâu ngày, người âm hư nên kiêng. Tôn Chân Nhân nói: Tháng 9 đừng ăn vì làm phản vị (nôn mửa). Phải ăn quả đã bị sương giáng mới tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch)
* '''Tiêu khát do tích nhiệt:''' Bí đao bỏ vỏ, mỗi bữa ăn 2-3 lạng.
* '''Tiêu khát không dứt:''' Một quả bí đao gọt vỏ chôn dưới đất ẩm 1 tháng, lấy ra uống nước trong đó. Hoặc nướng chín ép lấy nước uống.
* '''Tiêu khát cốt chưng:''' Bí đao lớn bỏ ruột, nhét đầy bột Hoàng liên, đợi bí tan hết thì nghiền làm viên. Uống với canh bí đao.
* '''Phù thũng nguy cấp:''' Bí đao không kể nhiều ít, ăn tùy ý, hiệu nghiệm thần kỳ.
* '''Phù thũng, suyễn mãn:''' Bí đao lớn nhét đầy đậu đỏ (xích tiểu đậu), đắp đất đem đốt (vùi trong trấu nếp cháy), sau đó nghiền làm viên.
* '''Nhọt phát bối sắp chết:''' Cắt đầu quả bí đao úp lên vết nhọt, bí nát lại thay quả khác đến khi nhọt nhỏ lại.
====QUA LUYỆN (RUỘT BÍ ĐAO)====
* '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
* '''【Chủ trị】:''' Ép lấy nước uống chỉ phiền táo nhiệt khát, lợi tiểu trường, trị ngũ lâm (sỏi, nhiễm trùng đường tiểu) (Diễn Quyền). Rửa mặt tắm thân giúp khử vết nám (tàn nhang), giúp da dẻ tươi nhuận trắng trẻo (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:''' Tiêu khát phiền loạn: Ruột bí khô 1 lạng sắc uống.
====BẠCH QUA TỬ (HẠT BÍ ĐAO)====
(Còn gọi là Đông qua nhân)
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính bình, không độc. Biệt lục nói: Tính hàn, dùng lâu làm lạnh tạng trung.
'''【Chủ trị】'''
Giúp da dẻ tươi nhuận, sắc mặt hồng hào, ích khí không đói. Dùng lâu nhẹ mình, chống già (Bản kinh). Trừ phiền mãn không vui. Có thể làm kem bôi mặt (Biệt lục). Khử phong ở da và vết sạm đen, nhuận da thịt (Đại Minh). Trị trường ung (viêm ruột dư/nhọt trong ruột) (Thời Trân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phép phục thực (ăn để dưỡng sinh):''' Hạt bí đao đồ nước sôi 3 lần, phơi khô, ngâm rượu một đêm, tán bột uống. Giúp người béo tốt, sáng mắt, kéo dài tuổi thọ.
* '''Trắng da mặt:''' Hạt bí đao 5 lạng, hoa đào 4 lạng, vỏ cây bạch dương 2 lạng, tán bột uống.
* '''Nam giới bạch trọc/Nữ giới bạch đới:''' Hạt bí đao lâu năm sao vàng tán bột, uống với nước cơm.
====QUA BÌ (VỎ BÍ ĐAO)====
* '''【Chủ trị】:''' Làm viên uống hoặc làm kem bôi mặt (Tô Tụng). Trị vết thương sưng đau do mồ hôi lừa ngựa vận vào. Trị đau nhức do chấn thương gãy xương (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:''' Đau lưng do chấn thương: Vỏ bí đao đốt tồn tính tán bột, uống với rượu.
====DIỆP (LÁ BÍ ĐAO)====
* '''【Chủ trị】:''' Trị thũng độc, giết ong và trị ong đốt (Đại Minh). Trị tiêu khát, sốt rét hàn nhiệt. Sao vàng tán bột đắp các loại ác sang lâu năm (Thời Trân).
====ĐẰNG (DÂY BÍ ĐAO)====
* '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro có thể tẩy vết xăm (thứ thanh). Sắc nước rửa vết nám đen và sang giới (ghẻ lở). Giã lấy nước uống giải độc mộc nhĩ. Sắc nước rửa thoát giang (Thời Trân).
===NAM QUA (BÍ NGÔ)===
*(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Cucurbita moschata Duchesne
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Giống Nam qua xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), chuyển vào vùng Mân (Phúc Kiến), Chiết (Chiết Giang), nay các vùng quanh Yên Kinh cũng đều có. Tháng 3 xuống giống, thích hợp đất cát màu mỡ. Tháng 4 mọc mầm, dây leo rất sum sê, một dây có thể dài hơn mười trượng, đốt nào cũng có rễ, chạm đất là bám. Thân rỗng giữa. Lá hình dạng như lá Thục quỳ nhưng to như lá sen. Tháng 8, 9 nở hoa vàng như hoa dưa hấu. Kết quả tròn trịa, to như dưa hấu, vỏ có khía như dưa thơm (甜瓜 - điềm qua). Một gốc có thể kết hàng chục quả, màu sắc hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ. Trải qua sương giá hái về để nơi ấm có thể giữ đến mùa xuân. Hạt giống như hạt bí đao. Thịt dày màu vàng, không thể ăn sống, chỉ có thể gọt vỏ bỏ ruột luộc ăn, vị như Sơn dược. Nấu cùng thịt lợn ăn càng tốt, cũng có thể tẩm mật làm mứt.
Xét cuốn Nông thư của Vương Trinh có ghi: Vùng Chiết Giang có loại '''Âm qua''', nên trồng nơi đất râm mát. Mùa thu chín màu vàng như vàng ròng, vỏ hơi dày, có thể trữ đến mùa xuân ăn vẫn như mới. Nghi rằng đó chính là Nam qua vậy.
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn nhiều phát cước khí, hoàng đản (vàng da). Không được ăn cùng thịt cừu, làm người ta bị nghẽn khí (khí ủng).
'''【Chủ trị】'''
Bổ trung ích khí (Thời Trân).
===VIỆT QUA 越瓜 (DƯA GANG/DƯA GÀY)===
*(Trích: Khai Bảo Bản Thảo - đời Tống) '''Tên khoa học:''' Cucumis melo var. conomon (Thunb.) Makino
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Sào qua''' 梢瓜 (Thực vật), '''Thái qua''' 菜瓜.
* '''Thời Trân nói:''' Gọi là Việt qua vì lấy theo địa danh (vùng Việt cũ), tên tục là Sào qua 梢瓜, người phương Nam gọi là Thái qua (dưa rau) 菜瓜.
'''【Tập giải】'''
* '''Tàng Khí nói:''' Việt qua sinh ở vùng Việt. Loại to màu trắng tinh. Người vùng Việt dùng ăn như trái cây, cũng có thể muối bằng hèm rượu (tào tàng).
* '''Thời Trân nói:''' Việt qua Nam Bắc đều có. Tháng 2, 3 xuống giống mọc mầm, bò lan trên đất, lá xanh hoa vàng, đều giống hoa lá bí đao nhưng nhỏ hơn. Khoảng mùa hạ, thu kết quả, có hai màu xanh và trắng, to như quả bầu (hồ tử). Có loại dài tới hơn 2 thước, tục gọi là '''Dương giác qua''' (dưa sừng dê). Hạt giống hạt dưa chuột, to như hạt mạch. Quả này ăn sống có thể thay trái cây hoặc rau xanh; dùng muối tương, muối đậu, ngâm đường, ngâm giấm đều hợp, cũng có thể làm dưa chua (trự).
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính hàn, không độc.
* '''Mạnh Tiễn nói:''' Ăn sống nhiều gây lạnh tạng trung, động khí, khiến người đau tim, kết khối dưới rốn (trưng kết), phát các loại mụn nhọt. Lại khiến người hư nhược không đi lại được, không tốt cho trẻ nhỏ. Người sau khi mắc bệnh truyền nhiễm (thiên hành bệnh) không được ăn. Lại không được ăn cùng sữa bò, váng sữa (lạc) và cá trê.
* '''Thời Trân nói:''' Xét Tiêu Tử Chân nói: Thái qua làm tối tai mắt. Xem lừa ngựa ăn vào mắt liền bị loét thì đủ biết vậy.
'''【Chủ trị】'''
Lợi tràng vị, cầm phiền khát (Khai Bảo). Lợi tiểu tiện, khử phiền nhiệt, giải độc rượu, tuyên tiết nhiệt khí. Đốt thành tro đắp loét khóe miệng và nhiệt sang ở âm dương vật (Tàng Khí). Hòa với cơm làm dưa muối, ăn lâu ngày ích tràng vị (Tâm Kính).
===HỒ QUA 胡瓜 (DƯA CHUỘT/DƯA LEO)===
*(Trích: Gia Hữu Bản Thảo - đời Tống) '''Tên khoa học:''' Cucumis sativus L.
'''【Giải thích tên gọi】'''
'''Hoàng qua''' 黃瓜.
* '''Tàng Khí nói:''' Người phương Bắc tránh húy Thạch Lặc (vua nhà Hậu Triệu) nên đổi gọi là Hoàng qua, đến nay vẫn dùng theo.
* '''Thời Trân nói:''' Trương Khiên đi sứ Tây Vực đem giống về nên gọi là Hồ qua. Xét cuốn Thập di lục của Du Bảo nói: Năm Đại Nghiệp thứ 4 nhà Tùy tránh húy nên đổi gọi Hồ qua là Hoàng qua. Thuyết này hơi khác với thuyết của họ Trần. Nay người đời lầm tưởng đây là cây "Vương qua" trong Nguyệt lệnh, thực ra Vương qua là Thổ qua (xem ở bộ Thảo).
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Hồ qua nơi nào cũng có. Tháng 1, 2 xuống giống, tháng 3 mọc mầm leo dây. Lá giống lá bí đao, cũng có lông. Tháng 4, 5 nở hoa vàng, kết quả chu vi 2-3 thốn, loại dài tới hơn 1 thước, màu xanh, trên vỏ có nốt như mụn cóc (vưu tử), khi già thì màu vàng đỏ. Hạt giống hạt Thái qua. Có loại trồng vào tháng 5, gặp sương kết quả màu trắng mà ngắn, đều có thể ăn sống hoặc chín, dùng làm rau xanh hoặc dưa muối, nhưng muối tương hoặc hèm rượu thì không ngon bằng Thái qua.
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính hàn, có độc nhỏ.
* '''Mạnh Tiễn nói:''' Không được ăn nhiều, làm động hàn nhiệt, sinh bệnh sốt rét, tích tụ ứ nhiệt, phát khí chú (trệ khí), khiến hư nhiệt bốc lên gây đoản hơi (thiếu khí), tổn thương âm huyết, phát mụn nhọt ghẻ lở, cước khí, phù thũng và bách bệnh. Sau bệnh truyền nhiễm không được ăn. Trẻ nhỏ cực kỳ kiêng kỵ vì làm trơn ruột sinh cam trùng. Không nên dùng nhiều với giấm.
'''【Chủ trị】'''
Thanh nhiệt giải khát, lợi thủy đạo (thông tiểu) (Ninh Nguyên).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch)
* '''Trẻ em lỵ nhiệt:''' Dưa chuột non ăn cùng mật ong mười mấy quả.
* '''Phù thũng, bụng trướng:''' Dưa chuột 1 quả bổ ra, để cả hạt, nửa nấu giấm nửa nấu nước đến nhừ, ăn hết lúc đói để thông tiểu.
* '''Trẻ em ra mồ hôi trộm (Hương qua hoàn):''' Dùng 1 quả dưa chuột lớn màu vàng, bỏ đầu, nhét các vị thuốc (Hoàng liên, Đại hoàng, Bối mẫu...) vào trong vùi chín rồi làm viên.
* '''Họng sưng đau:''' Dưa chuột già bỏ hạt, nhét đầy mang tiêu (natri sulfat), phơi khô tán bột thổi vào họng.
* '''Vết đánh đập sưng tấy:''' Lấy dưa chuột ngâm nước trong bình sứ dùng bôi lên vết thương.
* '''Mắt đỏ sưng đau (Hỏa nhãn):''' Dưa chuột già nhét đầy mang tiêu phơi trong râm, lấy nước thuốc chảy ra điểm mắt rất hiệu nghiệm.
* '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Dưa chuột hái ngày mùng 5 tháng 5, bỏ bình kín treo dưới hiên, lấy nước đó bôi.
'''LÁ'''
* '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính bình, có độc nhỏ.
* '''【Chủ trị】:''' Chứng tích trệ ở trẻ em (thiểm bích), giã lấy nước uống để gây nôn hoặc hạ xuống.
'''RỄ'''
* '''【Chủ trị】:''' Giã đắp trị các nốt sưng độc do gai đâm hoặc côn trùng cắn.
===TI LẶC (MƯỚP)===
*(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Luffa aegyptiaca Mill. (hoặc Luffa cylindrica)
====【Giải thích tên gọi】====
* '''Thiên ti lặc''' (Bản sự), '''Thiên la''' (Sự loại hợp bích), '''Bố qua''' (Sách đã dẫn), '''Man qua''' (Bản sự), '''Ngư bì'''.
* '''Thời Trân nói:''' Loại quả này khi già thì xơ gân đan xen như mạng lưới (ti la), nên có tên là Ti la. Người xưa gọi là Ngư bì, hoặc có nơi gọi là Ngu thứ. Ban đầu giống này từ phương Nam tới nên gọi là Man qua.
====【Tập giải】====
* '''Thời Trân nói:''' Mướp trước đời Đường, Tống không thấy ghi chép, nay Nam Bắc đều có, dùng làm rau ăn thường ngày.
* Tháng 2 xuống giống, mọc mầm leo dây, bò lên cây tre hoặc làm giàn. Lá to hơn lá Thục quỳ, có nhiều thùy nhọn, có lông gai nhỏ, giã lấy nước có thể nhuộm màu xanh lục. Thân có khía lăng trụ. Tháng 6, 7 nở hoa vàng 5 cánh, hơi giống hoa dưa chuột, nhị và cánh đều vàng. Quả to chừng 1 thốn, dài 1-2 thước, có khi tới 3-4 thước, màu xanh đậm, có vết nhăn, đầu quả giống đầu rùa. Lúc non gọt vỏ có thể nấu canh hoặc phơi khô, dùng pha trà hay làm rau. Lúc già thì to như cái chày, xơ gân quấn quýt như dệt thành, gặp sương thì khô héo, chỉ dùng để lót giày, rửa nồi niu, nên dân làng gọi là '''Tẩy oa la qua''' (Mướp rửa nồi). Trong quả có vách ngăn, hạt nằm trong vách, hình dạng giống hạt Qua lâu, màu đen và dẹt. Hoa bao, lá non và tua cuốn đều có thể ăn được.
====QUẢ MƯỚP====
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính bình, không độc. Dùng làm thuốc nên dùng quả già.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đậu chẩn mọc không thuận (không mọc ra được), dùng quả khô đốt tồn tính, thêm Chu sa nghiền bột, hòa nước mật uống rất diệu (Chấn Hanh). Nấu ăn giúp trừ nhiệt, lợi tràng. Quả già đốt tồn tính uống giúp trừ phong hóa đàm, lương huyết giải độc, sát trùng, thông kinh lạc, hành huyết mạch, hạ sữa (lợi sữa). Trị đại tiểu tiện ra máu, trĩ lậu, băng huyết, hoàng tích (vàng da), sán khí (sa tinh hoàn) đau sưng, huyết khí gây đau, ung thư sang thũng (mụn nhọt độc), nấm răng (xỉ cam), độc thai kỳ của đậu chẩn (Thời Trân). Làm ấm dạ dày, bổ dương, cố khí và an thai (Sinh sinh biên).
'''【Phát minh】'''
* '''Vương Dĩnh nói:''' Mướp không thấy trong các sách bản thảo cũ, chỉ thấy trong các phương trị đậu chẩn và ung nhọt ở chân có dùng tro mướp, cũng là lấy tính hàn để giải độc vậy.
* '''Thời Trân nói:''' Mướp già có xơ gân thông suốt, vách ngăn liên thuộc, nên có khả năng thông mạch lạc tạng phủ của người, giúp trừ phong giải độc, tiêu sưng hóa đàm, trị đau sát trùng và trị các chứng huyết bệnh.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính)
* '''Đậu chẩn mọc không thuận:''' Mướp già (đoạn gần cuống 3 thốn) đốt tồn tính, tán bột, uống với nước đường.
* '''Ung thư lâu ngày không khép miệng:''' Mướp giã lấy nước bôi thường xuyên.
* '''Trĩ ra máu, thoát giang:''' Tro mướp, vôi lâu năm, Hùng hoàng mỗi thứ 5 tiền, trộn mật lợn, lòng trắng trứng và dầu thơm đắp vào.
* '''Lợi sữa:''' Mướp cả hạt đốt tồn tính nghiền bột, uống 1-2 tiền với rượu, đắp chăn cho ra mồ hôi là thông.
* '''Đau lưng không dứt:''' Nhân hạt mướp sao cháy, giã hòa rượu nóng uống, bã đắp chỗ đau.
* '''Viêm họng sưng đau:''' Mướp tươi nghiền lấy nước đổ vào họng.
* '''Nướu răng sưng đau (do phong trùng):''' Mướp khô trải sương đốt tồn tính xát vào răng.
* '''Phù thũng ở trẻ em:''' Mướp, Cỏ bấc đèn, Hành trắng lượng bằng nhau sắc nước uống và tắm.
* '''Cổ trướng (thủy cổ):''' Mướp già bỏ vỏ, sao cùng Ba đậu, bỏ đậu lấy mướp nghiền bột làm viên. Đây là phương của danh y Tống Hội Chi thời Nguyên.
====LÁ MƯỚP====
* '''【Chủ trị】:''' Trị hắc lào (tẩy sang), xát thường xuyên. Trị ung thư đinh thũng, sưng tinh hoàn (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:'''
** '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Lá mướp sao vàng tán bột, thêm 1 tiền Thần phấn, trộn mật bôi. Lá tươi giã đắp một ngày là khỏi.
** '''Đinh râu (Ngư tề đinh sang):''' Lá mướp, Hành cả rễ, Hẹ lượng bằng nhau giã nát lấy nước hòa rượu nóng uống, bã đắp nách (bệnh bên trái đắp nách trái...).
====RỄ VÀ DÂY MƯỚP====
* '''【Khí vị】:''' Giống lá.
* '''【Chủ trị】:''' Trị nấm răng (xỉ cam), não lậu (viêm xoang mạn), sát trùng giải độc (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:'''
** '''Não lậu (xoang chảy mủ hôi):''' Dây mướp đoạn gần rễ 3-5 thước, đốt tồn tính. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm.
** '''Đau răng:''' Dây mướp khô đốt tồn tính xát vào. Hoặc dây mướp, Xuyên tiêu, Đăng tâm sắc nước đặc súc miệng.
** '''Hóc xương cá:''' Rễ mướp hái ngày mùng 7 tháng 7 phơi khô, đốt tồn tính. Uống 2 tiền với nước sắc của chính loại vật gây hóc.
====【Phụ lục】====
'''Thiên la lặc''' (Thập di).
* '''Tàng Khí nói:''' Mọc ở đất bằng vùng Giang Nam. Trị độc nước suối (khê độc), giã nát đắp vào.
* '''Thời Trân nói:''' Họ Trần chú giải không rõ. Vùng Giang Nam gọi Mướp là Thiên la, nghi là vật này, nhưng chưa có bằng chứng xác đáng, tạm phụ vào đây.
===KHỔ QUA (MƯỚP ĐẮNG)===
*(Trích: Cứu hoang bản thảo) '''Tên khoa học:''' Momordica charantia L.
====【Giải thích tên gọi】====
* '''Cẩm lệ chi''' (Cứu hoang), '''Lại bồ đào'''.
* '''Thời Trân nói:''' "Khổ" là gọi theo vị đắng. Các tên "Qua" (dưa), "Lệ chi" (vải), "Bồ đào" (nho) đều là dựa vào hình dáng quả, thân và lá có nét tương đồng mà đặt tên.
====【Tập giải】====
* '''Chu Định Vương nói:''' Cẩm lệ chi chính là Lại bồ đào (Nho ghẻ), mọc leo lên các loài cỏ cây. Thân dài bảy, tám thước, thân có lông nhám. Lá giống lá nho rừng, hoa nở màu vàng. Quả to như trứng gà, có nếp nhăn xù xề, trông giống quả vải.
* '''Thời Trân nói:''' Khổ qua vốn xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), nay vùng Mân (Phúc Kiến), Quảng (Quảng Đông/Quảng Tây) đều trồng. Tháng 5 xuống giống, mọc mầm leo dây; thân, lá, tua cuốn đều giống cây nho nhưng nhỏ hơn. Tháng 7, 8 nở hoa nhỏ màu vàng, 5 cánh hình như cái bát. Kết quả loại dài khoảng bốn, năm thốn, loại ngắn khoảng hai, ba thốn, màu xanh. Trên vỏ quả có các nốt sần sùi như rôm sảy, trông giống như da người bị hủi (lại) hoặc như vỏ quả vải. Khi chín thì ngả màu vàng rồi tự nứt ra, bên trong có lớp thịt (nhàng) màu đỏ bao quanh hạt. Lớp thịt đỏ này vị ngọt có thể ăn được. Hạt hình dẹt như hạt dưa, trên hạt cũng có các nốt sần. Người phương Nam dùng quả xanh bỏ vỏ nấu với thịt hoặc muối dưa, muối tương làm rau ăn, vị đắng chát và có khí xanh.
* Xét cuốn Tinh tra thắng lãm của Phí Tín có chép: Ở nước Tô Môn Đáp Lạt (Sumatra) có một loại dưa, vỏ như quả vải, khi chưa bổ ra thì mùi rất hôi như tỏi thối, bổ ra thì bên trong như cái túi, vị như váng sữa (tô), hương vị ngọt thơm vừa miệng. Nghi rằng đó chính là Khổ qua vậy.
====QUẢ KHỔ QUA====
* '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】:''' Trừ tà nhiệt, giải lao nhọc mệt mỏi, làm thanh tâm và sáng mắt (Thời Trân - Sinh sinh biên).
====HẠT KHỔ QUA====
* '''【Khí vị】:''' Vị đắng, ngọt, không độc.
* '''【Chủ trị】:''' Ích khí tráng dương (Thời Trân).
==6 loại rau dưới nước==
===Tử Thái (Rong biển tím)===
*Tên khoa học: '''Pyropia''' (hoặc '''Porphyra''' spp.)
* '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Tử Nhuyễn.
* '''Tập hợp giải thích:''' Mạnh Thẩn nói: Tử thái sinh ra ở biển Nam Hải, bám vào đá. Màu gốc là xanh lục, hái về phơi khô thì chuyển sang màu tím.
** Lý Thời Trân nói: Vùng ven biển Phúc Kiến, Quảng Đông đều có. Lá lớn mà mỏng. Người dân ở đó kết thành dạng bánh, phơi khô đem bán, sắc tím thuần chính, cũng là một loại rêu đá (thạch y).
* '''Khí vị:''' Ngọt, hàn, không độc.
** Trần Tàng Khí nói: Ăn nhiều khiến người ta đau bụng, phát khí, nôn ra bọt trắng. Uống một ít giấm nóng sẽ tan ngay.
* '''Chủ trị:''' Nhiệt khí gây phiền muộn, tắc nghẹn cổ họng, sắc nước mà uống (Mạnh Thẩn). Người bị bướu cổ (anh lựu), bệnh phù chân (cước khí) nên ăn (Thời Trân).
* '''Phát minh:''' Chu Đan Khê nói: Phàm các bệnh bướu cổ, u cục tích tụ, nên thường xuyên ăn tử thái, chính là theo nghĩa "vị mặn có thể làm mềm chỗ cứng" (hàm năng nhuyễn kiên).
===Thạch Thuần (Rêu đá)===
*Tên khoa học: '''Ulva lactuca''' (Xà lách biển)
* '''Hiệu đính:''' Di dời từ phần Thảo bộ sang đây.
* '''Tập hợp giải thích:''' Trần Tàng Khí nói: Thạch thuần sinh ở Nam Hải, bám vào đá mà sống. Trông giống tử thái nhưng màu xanh lục.
* '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ thủy, lợi tiểu tiện (Tàng Khí). Chủ trị phong bí không thông, ngũ cách khí (nghẹn), kết khí dưới rốn, sắc nước uống. Người Hồ dùng trị bệnh cam (Lý Tuần).
===Thạch Hoa Thái (Rau thạch hoa)===
*Tên khoa học: '''Gelidium amansii'''
* '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Quỳnh Chi. Lý Thời Trân nói: Đều là dựa vào hình dáng mà đặt tên.
* '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Thạch hoa thái sinh trong cát đá ở Nam Hải. Cao hai, ba tấc, trạng như san hô, có hai màu đỏ và trắng, trên cành có răng cưa nhỏ. Dùng nước sôi chần qua để loại bỏ cát bụi, trộn với gừng và giấm, ăn rất giòn. Rễ vùi trong cát, có thể mọc lại cành mới. Có một loại hơi thô trông giống chân gà, gọi là Kê Cước Thái, vị còn ngon hơn. Hai thứ này ngâm lâu đều hóa thành keo đông. Quách Phác trong bài Hải Phú có nói "vật dưới nước thì có ngọc diêu, hải nguyệt; vật dưới đất thì có thổ nhục, thạch hoa", chính là vật này.
* '''Khí vị:''' Ngọt, mặn, đại hàn, trơn (hoạt), không độc.
* '''Chủ trị:''' Loại bỏ hư nhiệt ở thượng tiêu, làm ấm (phát) phần hư hàn ở hạ bộ (Ninh Nguyên).
===Lộc Giác Thái (Rau gạc nai)===
*Tên khoa học: '''Chondrus ocellatus''' (hoặc '''Gigartina''' spp.)
* '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Hầu Khuê. Lý Thời Trân nói: Theo Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn, Hầu khuê còn có tên là Lộc giác. Lộc giác là gọi theo hình dáng, Hầu khuê là vì tính chất trơn tuồn tuột của nó.
* '''Tập hợp giải thích:''' Tiêu Sĩ Lương nói: Lộc giác thái sinh ở vùng biển Hải Châu, Đăng, Lai, Nghi, Mật.
** Lý Thời Trân nói: Lộc giác thái sinh trong các khe đá ở biển Đông Nam. Dài ba, bốn tấc, lớn như sợi dây thép, phân nhánh như gạc nai, màu tím vàng. Người dân địa phương hái về phơi khô, bán làm hải sản. Dùng nước rửa sạch trộn giấm thì nở ra như mới, vị cực kỳ trơn ngon. Nếu ngâm lâu sẽ tan ra như keo, phụ nữ dùng để chải tóc giúp tóc dính nếp mà không rối.
* '''Khí vị:''' Ngọt, đại hàn, trơn, không độc.
** Mạnh Thẩn nói: Có độc nhẹ. Đàn ông không nên ăn lâu ngày, làm phát bệnh cũ, tổn hại thắt lưng, thận, kinh lạc và huyết khí, khiến chân lạnh tê, sắc mặt kém.
* '''Chủ trị:''' Hạ nhiệt phong khí, trị chứng cốt chưng nhiệt lao ở trẻ em. Người đang uống đan thạch (thuốc tiên thuật) ăn vào có thể giải được độc tính của thạch (Sĩ Lương). Giải nhiệt ở mặt (Đại Minh).
===Long Tu Thái (Rau râu rồng)===
*Tên khoa học: '''Gracilaria lemaneiformis'''
* '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Long tu thái sinh trên đá ven biển Đông Nam. Mọc thành bụi không cành, lá giống lá liễu, rễ dài hơn một thước, màu trắng. Dùng giấm ngâm để ăn, hoặc hấp chung với thịt cũng rất ngon. Cuốn Bác Vật Chí có nhắc đến một loại "Thạch phát" có vẻ là vật này, trùng tên với loại "Thạch phát" thuộc nhóm rêu đá.
* '''Khí vị:''' Ngọt, hàn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Kết khối do bướu cổ, nhiệt khí, lợi tiểu tiện (Thời Trân).
===Thụy Thái (Rau ngủ)===
*Tên khoa học: '''Menyanthes trifoliata''' (Thủy thái/Rau bồn bồn)
* '''Giải thích tên gọi:''' Minh thái, Xước thái, Túy thảo (cỏ say), Lãn phụ châm (Kim khâu của người vợ lười).
* '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Theo Nam Phương Thảo Mộc Trạng của Kê Hàm, Xước thái mùa hè sinh ở ao hồ. Lá giống lá từ cô (rau mác), rễ giống ngó sen nhỏ. Người Nam Hải ăn vào thấy buồn ngủ, nên gọi là Minh thái (rau ngủ).
** Đoạn Công Lộ trong Bắc Hộ Lục nói: Thụy thái tháng 5, tháng 6 mọc trong ruộng đầm. Người địa phương hái rễ làm dưa muối, ăn vào ngủ ngon.
** Quách Hiến trong Động Minh Ký có nhắc đến "Khước thụy thảo" (cỏ đuổi ngủ), ăn vào không ngủ được, trái ngược hoàn toàn với loại này. Thời Trân xét thấy: Khổ thái (rau đắng), Long quỳ đều có thể làm người ta không ngủ được, "Khước thụy thảo" chắc là thuộc loại đó chăng?
* '''Khí vị:''' Ngọt, hơi đắng, hàn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tà nhiệt ở tâm và cách (hoành cách mô) gây mất ngủ (Thời Trân).
==15 loại nấm==
===Linh chi (芝)===
*(Nằm trong Thượng phẩm của Thần Nông Bản Thảo Kinh)
'''【Hiệu đính】'''
Hợp nhất sáu loại Linh chi từ Bản Kinh gồm: Thanh chi, Xích chi, Hoàng chi, Bạch chi, Hắc chi và Tử chi.
'''【Giải thích tên gọi】'''
Còn gọi là '''Tù (苬)'''.
* '''Thời Trân nói:''' Chữ Chi (芝) vốn viết là 之, chữ triện tượng hình cỏ mọc trên đất. Người đời sau mượn chữ 之 làm trợ từ, nên thêm bộ Thảo (艹) vào trên để phân biệt. Sách Nhĩ Nhã gọi là Tù. Chú thích rằng: Đây là loại cỏ lành, một năm nở hoa ba lần. Có người nói mọc ở chỗ cứng gọi là Khuẩn (nấm), mọc ở chỗ mềm gọi là Chi. Xưa kia "Thương Sơn Tứ Hạo" hái chi mà ăn, các vị tiên cũng dùng, nên Chi cũng thuộc họ nấm có thể ăn được, vì thế được đưa vào phần Rau (菜部).
'''【Tập hợp giải thích】'''
* '''Biệt lục viết:''' Thanh chi mọc ở Thái Sơn, Xích chi mọc ở Hoắc Sơn, Hoàng chi mọc ở Tung Sơn, Bạch chi mọc ở Hoa Sơn, Hắc chi mọc ở Thường Sơn, Tử chi mọc ở thung lũng Cao Hạ. Sáu loại chi này đều hái vào tháng 6 và tháng 8.
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Nam Nhạc vốn là Hành Sơn, Hán Vũ Đế mới lấy tiểu Hoắc Sơn thay thế, nên Xích chi này lẽ ra phải mọc ở Hành Sơn. Các quận huyện không có tên Cao Hạ, e rằng đó là tên núi. Sáu loại chi này đều là loài cỏ tiên, dân gian hiếm thấy, chủng loại rất nhiều, hình sắc khác biệt, đều được chép trong Chi Thảo Đồ. Tử chi mà dân gian dùng hiện nay mọc trên thân cây mục, hình dáng như cái mộc nhĩ gỗ, tên là Tử chi, chỉ để chữa trĩ, không nên phối hợp vào các loại thuốc bổ hoàn. Hễ hái được chi thảo thì cứ thế mà ăn, không có quy tắc phức tạp, nên không ghi phương pháp uống.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Sách Ngũ Chi Kinh viết: Năm màu chi sinh ra ở Ngũ Nhạc. Các nơi dâng lên, Bạch chi chưa chắc từ Hoa Sơn, Hắc chi lại không phải từ Thường Nhạc. Vả lại đa số là màu vàng và trắng, hiếm có màu đen và xanh. Tuy nhiên Tử chi là nhiều nhất, không thuộc loại Ngũ chi. Chi vốn khó tìm, dẫu có được một hai thì sao có thể uống lâu dài?
* '''Vương Siêu viết:''' Vương Sung trong Luận Hành nói: Chi mọc từ đất. Khí của đất hòa hợp nên chi thảo sinh ra. Sách Thụy Mệnh Ký viết: Bậc quân chủ nhân từ thì chi thảo mọc. Chính là nó vậy.
* '''Thời Trân nói:''' Loài chi rất nhiều, cũng có loại có hoa có quả. Bản Thảo chỉ lấy tên sáu loại chi làm tiêu biểu, nhưng chủng thuộc của chúng thì không thể không biết.
** Thần Nông Kinh viết: Tinh hoa của mây mưa núi sông, bốn mùa năm hành, âm dương ngày đêm sinh ra thần chi năm màu, là điềm lành cho bậc thánh vương.
** Thụy Ứng Đồ viết: Chi thảo thường sinh vào tháng 6, mùa xuân màu xanh, mùa hạ màu tím, mùa thu màu trắng, mùa đông màu đen.
** Cát Hồng trong Báo Phác Tử viết: Chi có Thạch chi (chi đá), Mộc chi (chi gỗ), Thảo chi (chi cỏ), Nhục chi (chi thịt), Khuẩn chi (chi nấm), phàm có hàng trăm loại.
*** '''Thạch chi:''' Giống hình đá, sinh ở núi đá ven biển hoặc hải đảo.
*** '''Nhục chi:''' Hình như miếng thịt, bám vào đá lớn, có đủ đầu đuôi, là sinh vật. Loại đỏ như san hô, trắng như mỡ cắt, đen như nhựa mủ, xanh như lông chim thúy, vàng như vàng tím, đều sáng suốt trong vắt như băng cứng. Con lớn mười mấy cân, con nhỏ ba bốn cân.
** Người tìm chi thảo vào núi danh tiếng tất phải chọn tháng 3, tháng 9 (là lúc núi mở cửa xuất thần dược). Phải chọn giờ Thiên Phụ, xuất từ cửa Tam Kỳ Cát Môn, đến núi vào ngày Lục Âm, giờ Minh Đường. Mang theo bùa Linh Bảo, dắt chó trắng, ôm gà trắng, mang một đấu muối trắng và bùa khai sơn đặt trên đá lớn. Tay cầm một nắm cỏ Ngô Đường vào núi, thần núi sẽ vui lòng, tất sẽ thấy chi. Phải dùng bước chân Vũ Bộ để tới hái. Chọn ngày Vương Tướng hòa hợp, chi can tương sinh, dùng dao bằng xương để cắt, phơi khô trong bóng râm rồi tán bột uống mới có công hiệu. Nếu người không tinh khiết ăn chay lâu ngày, đức mỏng hành uế, lại không hiểu thuật vào núi, dẫu có bản đồ thì quỷ thần cũng không cho thấy.
** '''Khuẩn chi:''' Mọc nơi núi sâu, dưới cây lớn, bên dòng suối. Hình dáng hoặc như cung điện, như rồng hổ, như xe ngựa, như chim bay, năm màu không định rõ. Có 120 loại, có hình vẽ riêng.
** '''Mộc chi (Chi gỗ):''' Gồm nhiều loại như Uy Hỉ Chi (nhựa thông hóa thành), Phi Tiết Chi (trên cây thông già 3000 năm), Mộc Cừ Chi (gửi thân trên cây lớn, hình hoa sen), Hoàng Bá Chi (dưới gốc cây hoàng bá nghìn năm), Kiến Mộc Chi, Tham Thành Chi, Phàn Đào Chi, Thiên Tuế Chi (mọc dưới cây khô, rễ như hình người ngồi, cắt ra có máu).
** '''Thảo chi (Chi cỏ):''' Gồm các loại như Độc Diêu Chi (không gió tự lay động), Ngưu Giác Chi, Long Tiên Chi, Tử Châu Chi, Bạch Phù Chi, Chu Thảo Chi, Ngũ Đức Chi. Có 120 loại, người hái được mà uống sẽ thành tiên.
** '''Ngọc mỡ chi (Ngọc chi):''' Mọc ở núi có ngọc, hình như chim thú, sắc màu rực rỡ như thủy tinh.
** '''Thất Minh Cửu Quang Chi:''' Mọc ở vách đá ven nước, hình như cái bát, loại có 7 lỗ gọi là Thất Minh, 9 lỗ gọi là Cửu Quang, ban đêm phát sáng.
* '''Thời Trân xét rằng:''' Chi là do khí thừa của sự thối mục sinh ra, giống như con người bị u bướu. Cổ nhân coi là thụy thảo, lại bảo uống vào thành tiên, thực là viển vông. Gần đây đọc lời của Đoàn Thành Thức mới thấy tâm đắc. Lại nữa, các phương sĩ dùng thuốc đắp lên chỗ gỗ mục ẩm ướt cũng sinh ra chi năm màu để dâng vua. Đây là điều người xưa chưa nói đến, không thể không biết.
====Thanh Chi (Linh chi xanh)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma virescens''' (hoặc loài tương đương thuộc chi Ganoderma)
* '''Tên khác:''' Long chi.
* '''Khí vị:''' Chua, bình, không độc. (Lý Thời Trân cho rằng vị của ngũ sắc chi được gán theo ngũ hành, chưa chắc thực tế đã như vậy).
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ gan khí, an thần hồn, khiến người nhân từ. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh). Tăng trí nhớ (Đường Bản).
====Xích Chi (Linh chi đỏ)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma lucidum'''
* '''Tên khác:''' Đan chi.
* '''Khí vị:''' Đắng, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị kết tụ trong ngực, ích tâm khí, bổ trung, tăng trí tuệ, không quên. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh).
====Hoàng Chi (Linh chi vàng)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma sinense''' (loại màu vàng) hoặc '''Laetiporus sulphureus'''
* '''Tên khác:''' Kim chi.
* '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị ngũ tà ở tâm phúc, ích tỳ khí, an thần, khiến người trung tín hòa lạc. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh).
====Bạch Chi (Linh chi trắng)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma applanatum''' (loại có bào tử trắng) hoặc '''Laricifomes officinalis'''
* '''Tên khác:''' Ngọc chi, Tố chi.
* '''Khí vị:''' Cay, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị ho nghịch thượng khí, ích phế khí, thông mũi miệng, làm mạnh ý chí, dũng cảm, an phách. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh).
====Hắc Chi (Linh chi đen)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma atrum'''
* '''Tên khác:''' Huyền chi.
* '''Khí vị:''' Mặn, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng bí tiểu, lợi đường thủy, ích thận khí, thông chín khiếu, giúp thính tai mắt sáng. Uống lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh).
====Tử Chi (Linh chi tím)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma sinense'''
* '''Tên khác:''' Mộc chi.
* '''Khí vị:''' Ngọt, ấm, không độc. (Chân Quyền nói: Bình).
* '''Chủ trị:''' Trị điếc tai, lợi khớp xương, bảo vệ tinh thần, ích tinh khí, làm bền gân cốt, tươi nhuận da mặt. Uống lâu nhẹ mình không già (Bản Kinh). Trị hư lao, chữa trĩ (Thời Trân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Tử Chi Hoàn:''' Trị hư lao đoản hơi, đau tức ngực sườn, tay chân lạnh ngắt, đôi khi phiền táo miệng khô, mắt mờ, bụng đau lâm râm, không muốn ăn uống. Thuốc này giúp an thần bảo tinh.
** Thành phần: Tử chi 1 lượng rưỡi; Sơn dược (sao), Thiên hùng (nướng bỏ vỏ), Bá tử nhân (sao), Ba kích thiên (bỏ lõi), Bạch phục linh (bỏ vỏ), Chỉ thực (sao) mỗi vị 3 tiền 5 phân; Sinh địa hoàng, Mạch môn đông, Ngũ vị tử (sao), Bán hạ (chế), Phụ tử (sao bỏ vỏ), Mẫu đơn bì, Nhân sâm mỗi vị 7 tiền 5 phân; Viễn chí (bỏ lõi), Liễu thực mỗi vị 2 tiền 5 phân; Qua tử nhân (sao), Trạch tả mỗi vị 5 tiền.
** Cách dùng: Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 15 hoàn, tăng dần đến 30 hoàn, uống với rượu ấm, ngày 3 lần (Thánh Tế Tổng Lục).
===Mộc nhĩ (Nấm mèo) và các loại nấm ký sinh trên thân gỗ===
*(Nằm trong Trung phẩm của Thần Nông Bản thảo kinh)
====Mộc nhĩ (Nấm mèo)====
'''【Hiệu đính】'''
Tách ra từ mục Tang căn bạch bì (Vỏ trắng rễ dâu).
'''【Giải thích tên gọi】'''
'''Mộc nhuyễn''' (木𣚊), '''Mộc khuẩn''' (木菌), '''Mộc tòng''' (木㙡), '''Thụ kê''' (樹雞 - Gà cây), '''Mộc nga''' (木蛾 - Bướm gỗ).
* '''Thời Trân nói:''' Mộc nhĩ sinh ra trên gỗ mục, không cành lá, vốn do dư khí của thấp nhiệt sinh ra. Gọi là "nhĩ" (tai), "nga" (bướm) là theo hình dáng. Gọi là "nhuyễn" (mềm) vì loại mềm ẩm thì tốt. Gọi là "kê" (gà), "tòng" là vì vị giống như thịt gà. Người vùng Nam Sở gọi gà là "tòng". Gọi là "khuẩn" (nấm) cũng là tượng hình.
* Có thuyết nói: Mọc dưới đất gọi là Khuẩn, mọc trên cây gọi là Nga. Người phương Bắc gọi là Nga, người phương Nam gọi là Thâm (Nấm).
'''【Tập hợp giải thích】'''
* '''Biệt lục viết:''' Ngũ mộc nhĩ (Mộc nhĩ trên 5 loại cây) sinh ở thung lũng Kiền Vi. Hái vào tháng 6 lúc mưa nhiều, rồi đem phơi khô.
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Đây nói là ngũ mộc nhĩ nhưng không nói rõ là cây gì. Chỉ có cây dâu già sinh ra Tang nhĩ, có các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Loại mềm ẩm người ta hái về làm dưa (trữ), không dùng làm thuốc nữa.
* '''Tô Cung nói:''' Dâu, Hòe, Chữ (Dướng), Nhâm, Liễu là năm loại cây sinh mộc nhĩ. Loại mềm đều ăn được. Người ta thường ăn Chữ nhĩ (nấm cây dướng), còn Hòe nhĩ (nấm cây hòe) dùng trị trĩ. Đổ nước cháo lên các khúc gỗ rồi phủ cỏ lên, nấm sẽ mọc ra.
* '''Thời Trân nói:''' Mộc nhĩ mọc trên mỗi loại cây khác nhau, tính tốt hay độc cũng tùy thuộc vào tính chất của gỗ đó, không thể không xem xét kỹ. Tuy nhiên mộc nhĩ bán hiện nay đa số là gỗ tạp, trong đó nấm từ cây Dâu, Liễu, Dướng, Nhâm là nhiều nhất.
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính bình, có độc ít.
* '''Chân Quyền nói:''' Mộc nhĩ mọc trên cây Hòe cổ thụ, cây Dâu là tốt nhất, cây Thạch (Tắc) xếp sau. Mộc nhĩ trên các cây khác đa số làm động phong khí, phát bệnh cũ, khiến người ta đau tức sườn, tổn thương kinh lạc và lưng vai, gây bứt rứt.
* '''Trần Tàng Khí nói:''' Mộc nhĩ kỵ rắn, sâu bò qua dưới gốc vì sẽ nhiễm độc. Nấm mọc trên cây Phong khiến người ta cười không dứt. Loại hái về bị đổi màu là có độc, ban đêm phát sáng là có độc, loại sắp nát mà không sinh sâu mọt cũng có độc; đều dùng nước giã từ dây mướp đắng (đông qua mạn) để giải.
* '''Thời Trân nói:''' Trương Trọng Cảnh vân: Mộc nhĩ sắc đỏ hoặc mọc ngửa lên đều không được ăn.
'''【Chủ trị】'''
Ích khí không đói, nhẹ mình mạnh chí (Bản kinh). Đoạn cốc (nhịn ăn) và trị trĩ (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Viên Dĩnh nói:''' Có người bị trĩ, dùng mọi thuốc không khỏi, ăn canh mộc nhĩ mà khỏi, cực kỳ linh nghiệm.
* '''Thời Trân nói:''' Sách Sinh Sinh Biên viết: Liễu nga (nấm cây liễu) bổ vị, Mộc nhĩ suy tinh. Ý nói nấm trên cây liễu già bổ dạ dày lý khí; còn mộc nhĩ sinh từ gỗ mục, đắc khí của âm, nên có hại là làm suy giảm tinh và lạnh thận.
'''【Phụ phương】'''
(Gồm 6 phương mới)
* '''Mắt chảy lệ lạnh:''' Mộc nhĩ 1 lượng (đốt tồn tính), Mộc tặc 1 lượng, tán bột. Mỗi lần dùng 2 tiền, sắc với nước vo gạo trong để uống.
* '''Lở loét chân chảy máu (Huyết chú cước sang):''' Tang nhĩ, Chữ nhĩ, Ngưu tử cô (nấm phân bò) mỗi vị 5 tiền, tro tóc rối (nam dùng tóc nữ và ngược lại) 3 tiền. Tán bột, trộn dầu bôi hoặc bôi khô.
* '''Băng lậu (xuất huyết tử cung):''' Mộc nhĩ nửa cân, sao đến khi bốc khói, tán bột. Mỗi lần dùng 2 tiền 1 phân phối với 3 phân tro tóc (tổng 2 tiền 4 phân để ứng với 24 tiết khí), dùng rượu ngon chiêu uống cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy, lỵ mới hoặc lâu ngày:''' Mộc nhĩ khô 1 lượng (sao), Lộc giác giao 2 tiền rưỡi (sao), tán bột. Mỗi lần 3 tiền, chiêu với rượu ấm, ngày 2 lần.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Mộc nhĩ 5 tiền (sao tán bột), uống với rượu là khỏi. Hoặc dùng nước giếng sáng sớm chiêu uống, hoặc nấu với muối và giấm để ăn.
* '''Các chứng đau răng:''' Mộc nhĩ, Kinh giới phân lượng bằng nhau, sắc canh súc miệng thường xuyên.
====TANG NHĨ (Nấm cây dâu)====
*Tên khoa học: '''Phellinus linteus''' (thường gọi là Linh chi vàng hoặc Nấm Thượng Hoàng)
* '''Giải thích tên gọi:''' '''Tang nhuyễn''' (桑 ), '''Tang nga''' (桑蛾), '''Tang kê''' (桑雞), '''Tang hoàng''' (桑黃), '''Tang thần''' (桑臣), '''Tang thượng ký sinh'''.
* '''Khí vị:''' Ngọt, bình, có độc. (Mạnh Thẩn nói: Hàn, không độc; Đại Minh nói: Ấm, ít độc).
* '''Chủ trị:''' Loại màu đen trị phụ nữ lậu hạ ra khí hư đỏ trắng, trưng hà tích tụ, đau âm hộ, âm dương hàn nhiệt, không con (Bản kinh). Trị kinh nguyệt không đều. Loại màu vàng chín trắng lâu ngày trị tiêu chảy kéo dài, ích khí không đói. Loại màu vàng kim trị tích tụ đờm ẩm (tích ẩm), đau bụng, vết thương kim khí (Biệt lục). Trị phụ nữ băng trung đới hạ, bế kinh, máu kết sau sinh, nam giới bị tích tụ bụng sườn (Chân Quyền). Cầm máu cam, lỵ ra máu, đau bụng ở phụ nữ (Đại Minh). Lợi ngũ tạng, thông khí đường ruột, bài độc, giải nhiệt cho người dùng đan thạch (Mạnh Thẩn).
====HOÈ NHĨ (Nấm cây hòe)====
*Tên khoa học: '''Perenniporia fraxinea'''
* '''Giải thích tên gọi:''' '''Hoè nhuyễn''' (槐 ), '''Hoè khuẩn''' (槐菌), '''Hoè kê''' (槐雞), '''Xích kê''' (赤雞), '''Hoè nga'''.
* '''Khí vị:''' Đắng, cay, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Ngũ trĩ thoát giang, hạ huyết (đi ngoài ra máu), đau tim, phụ nữ đau lở âm hộ (Tô Cung). Trị phong phá huyết, tăng sức lực (Chân Quyền).
* '''Phụ phương:''' Trị trĩ hạ huyết, băng huyết, đau máu sau sinh, giun đũa gây đau tim,臟 độc hạ huyết (đi ngoài ra máu do độc trong tạng).
====NHÂM NHĨ (Nấm cây nhâm/榆耳)====
*Tên khoa học: '''Pleurotus citrinopileatus'''
* '''Thu hoạch:''' Hái vào tháng 8.
* '''Chủ trị:''' Khiến người không đói (Thời Trân).
====LIỄU NHĨ (Nấm cây liễu/柳耳)====
*Tên khoa học: '''Phellinus igniarius'''
* '''Chủ trị:''' Bổ vị lý khí (Thời Trân). Trị phản vị nôn đờm.
====THẠCH NHĨ (Nấm cây tắc/柘耳)====
*Tên khoa học: '''Phellinus gilletii''' (hoặc loài ký sinh trên cây Cudrania)
* '''Tên khác:''' '''Thạch hoàng''' (柘黃).
* '''Chủ trị:''' Phế ung ho khạc ra mủ máu hôi thối. Dùng 1 lượng tán bột, trộn với 2 tiền Bách thảo sương làm hoàn, uống với nước vo gạo rất nhanh khỏi.
====DƯƠNG LÔ NHĨ (Nấm cây dương lô/楊櫨耳)====
* '''Khí vị:''' Bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Huyết cũ kết khối, phá huyết cầm máu, sắc uống.
===Sâm Khuẩn (Nấm cây sa mộc)===
*Tên khoa học: '''Cunninghamia lanceolata''' (nấm mọc trên cây này thường là một loại thuộc chi '''Phellinus''' hoặc '''Trametes''')
* '''【Tập hợp giải thích】''' Tô Tụng nói: Sâm khuẩn xuất xứ từ Nghi Châu. Sinh ra trên gỗ cây Sa mộc (Cunninghamia) đã tích năm, hình trạng như nấm khuẩn. Thu hái không kể thời gian.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, cay, hơi ấm, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Đau khí ở tâm tỳ và các chứng đau tim cấp tính (Tô Tụng).
===Táo Giác Thẩm (Nấm cây bồ kết)===
*Tên khoa học: '''Phellinus''' spp. (thường là '''Phellinus robiniae''')
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Đây là loại mộc nhĩ sinh trên cây Bồ kết (Gleditsia). '''Không thể ăn'''. Hái về bào khô để dự phòng dùng làm thuốc.
* '''【Khí vị】''' Cay, có độc.
* '''【Chủ trị】''' Tích tụ cặn bã gây đau đớn: pha nước sôi uống, có tác dụng nhuận tẩy nhẹ thì hiệu quả. Nếu chưa dứt thì uống tiếp. Lại trị sưng độc mới phát: mài với giấm mà bôi, rất tốt (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】''' (Mới có 1 phương)
** '''Trị tràng phong hạ huyết:''' Dùng nấm trên cây bồ kết, nướng trên ngói rồi tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm (Hứa Học Sĩ - Bản sự phương).
===Hương Thẩm (Nấm hương)===
*Tên khoa học: '''Lentinula edodes'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Thời Trân nói: Chữ "Thẩm" (蕈) từ chữ "Đàm" (覃). Đàm nghĩa là kéo dài (diên). Vị của nấm hương đậm đà dư vị, có ý vị kéo dài nên gọi là Thẩm.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Ngô Thụy nói: Nấm mọc trên gỗ các cây Đồng, Liễu, Chỉ, Chù. Loại màu tím gọi là Hương thẩm, loại màu trắng gọi là Nhục thẩm, đều do thấp khí hun đúc mà thành. Loại mọc nơi núi sâu hẻo lánh thường có độc gây chết người.
** Viên Dĩnh nói: Hương thẩm sinh trên gỗ Phong mục trong núi sâu. Nhỏ hơn nấm khuẩn thường mà mỏng, màu vàng đen, vị rất thơm ngon, là loại phẩm cấp tốt nhất.
** Thời Trân nói: Các loại nấm rất nhiều. Trần Nhân Ngọc đời Tống đã soạn cuốn Khuẩn Phổ rất tường tận. Nay lục lại lược ý như sau: Chi và Khuẩn đều là tinh khí mọc ra. Từ xưa đã có chuyện hái linh chi ở Thương Sơn, nấm Thiên hoa ở Ngũ Đài cũng đứng đầu các loại. Huyện Tiên Cư nằm giữa Thiên Đài và Quát Thương, núi non trùng điệp, là nơi tiên linh hội tụ, nên sản sinh nhiều loại nấm lạ. Người ở rừng núi hái về ăn, đó là thứ cao lương mỹ vị của chốn rau dưa. Gần đây đã được đưa vào hàng yến tiệc cho hàng vương công.
# '''Hợp Thẩm (Nấm hợp):''' Còn gọi là Đài thẩm, mọc ở núi Vi Khương vùng Đài Châu. Khi rét cực độ tuyết tan, khí xuân vừa động, đất tơi mầm sống, ấy là lúc nấm mọc. Chất bên ngoài màu nâu, thớ thịt trắng như ngọc, hương vị thơm ngát, khi vừa cho vào nồi nấu, hương bay xa trăm bước. Người miền núi phơi khô để bán, hương vị kém hơn nấm tươi. Núi khác tuy có sản sinh nhưng cuống cao và hương kém, không bằng được.
# '''Trù Cao Thẩm:''' Sinh ở các núi Mạnh Khê. Giữa thu mưa móc thấm nhuần, hun đúc tinh túy của núi rừng mà nở hoa nấm. Mọc trên ngọn cây tuyệt đỉnh, ban đầu như hạt ngọc, tròn trịa như váng sữa rơi, màu vàng nhạt trắng, vị cực ngọt. Khi đã xòe ô to như lòng bàn tay thì vị hỏng ngay. Mùa xuân cũng mọc nhưng dịch cao ít hơn. Cách ăn là khi nước sôi thì thả vào, vớt ra trộn cùng các vị khác, đặc biệt hợp với rượu. Tuyệt đối không được khuấy động, nếu không sẽ sinh mùi tanh nhớt không ăn được. Cũng có thể hấp chín để mang đi xa.
# '''Tùng Thẩm (Nấm tùng):''' Sinh dưới bóng thông (Tên khoa học: '''Tricholoma matsutake'''). Các vật sinh ra từ cây thông không thứ nào là không đáng quý.
# '''Mạch Thẩm:''' Sinh trong bãi cát bên suối. Vị rất ngon, tuyệt đỉnh như nấm mỡ (Ma cô).
# '''Ngọc Thẩm:''' Sinh lúc mới chớm lạnh, trắng sạch đáng yêu. Nấu canh hơi dai. Tục gọi là Hàn bồ thẩm.
# '''Hoàng Thẩm:''' Mọc thành bụi trong núi, màu vàng. Tục gọi là Hoàng toản thẩm.
# '''Tử Thẩm:''' Màu tím đỏ nâu, sản sinh trong núi, là hạng hạ phẩm.
# '''Tứ Quý Thẩm:''' Sinh trong rừng cây, vị ngọt nhưng thớ thịt thô cứng.
# '''Nga Cao Thẩm:''' Sinh ở núi cao, hình dạng như trứng ngỗng, lâu dần xòe ô. Vị ngọt trơn, không kém nấm Trù cao. Nhưng loại này dễ nhầm với Đỗ thẩm (loại nấm đất có độc), không thể không thận trọng.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Ích khí không đói, trị phong phá huyết (Ngô Thụy). Tùng thẩm: Trị chứng tiểu đục không nhịn được, ăn vào có hiệu quả (Khuẩn Phổ).
===Cát Hoa Cái (Nấm hoa cát)===
*Tên khoa học: Vì mọc ở vùng núi Thái Hòa và có mô tả giống loài ký sinh, có thể là một loại '''Cynomorium''' hoặc nấm thuộc họ '''Polyporaceae'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Cát nhũ.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Các núi danh tiếng đều có, nhưng chỉ ở núi Thái Hòa (Võ Đang) mới hái được, nói là tinh hoa của cây Cát (Sắn dây). Khi sương thu đầy trời, nấm mọc vọt lên từ mặt đất như Linh chi, màu đỏ và giòn, vốn thuộc loài nấm.
* '''【Khí vị】''' Đắng, ngọt, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Tỉnh táo tinh thần, trị tửu tích (ngộ độc rượu lâu ngày) (Thời Trân - Thái Hòa Sơn Chí).
===Thiên Hoa Thẩm===
*Tên khoa học: '''Agaricus''' spp. hoặc '''Russula''' spp. (Nấm tán trắng)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Thiên hoa thái.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Ngô Thụy nói: Thiên hoa thái xuất xứ từ núi Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây. Hình như hoa thông mà lớn, hương thơm như nấm, màu trắng, ăn rất ngon.
** Thời Trân nói: Núi Ngũ Đài có nhiều nấm rắn (xà thẩm), Thiên hoa thẩm cảm khí đó mà sinh ra, nên vị tuy ngon nhưng không có lợi ích gì, giá cả khá đắt. Cuốn Dậu Dương Tạp Trở có chép: Vùng Đại Bắc có loại "Thụ kê" như cái chén, tục gọi là "Hồ tôn nhãn" (mắt khỉ), có lẽ là loại này chăng?
* '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc. (Thời Trân dẫn sách Chính Yếu nói là có độc).
* '''【Chủ trị】''' Ích khí, sát trùng (Ngô Thụy).
===Ma Cô Thẩm (Nấm mỡ)===
*Tên khoa học: '''Agaricus bisporus'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Nhục thẩm.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Ma cô xuất xứ từ vùng Sơn Đông, Hoài Bắc. Người ta vùi gỗ cây Dâu, cây Dướng xuống đất, tưới nước vo gạo vào, đợi nấm mọc thì hái. Nấm dài hai, ba tấc, gốc nhỏ ngọn to, màu trắng mềm mại, bên trong rỗng, hình dáng như hoa Ngọc trâm chưa nở. Tục gọi là Kê thối ma cô (nấm đùi gà), vì vị nó ngon như thịt gà vậy. Có một loại hình dáng như dạ dày cừu, có lỗ như tổ ong, gọi là '''Dương Lộ Thái''' (Nấm bụng dê - Tên khoa học: '''Morchella esculenta''').
* '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, không độc. (Sách Chính Yếu nói là có độc, làm động khí phát bệnh, không nên ăn nhiều).
* '''【Chủ trị】''' Ích tràng vị, hóa đờm lý khí (Thời Trân - Sinh Sinh Biên).
===Kê Tòng (Nấm mối)===
*Tên khoa học: '''Termitomyces albuminosus'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Kê khuẩn. Thời Trân nói: Người phương Nam gọi là Kê tòng vì vị của nó ngon như thịt gà.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Kê tòng xuất xứ từ Vân Nam, là loại nấm mọc trên đất cát. Chân cao, mũ nấm như cái ô. Người địa phương hái về sấy khô gửi đi xa làm đặc sản. Dùng pha trà hay nấu thịt đều hợp. Khí vị đều giống nấm hương (Hương thẩm) nhưng phong vị không bằng. Lại có vùng Hoành Châu ở Quảng Tây có loại "Lôi khuẩn" (Nấm sấm), hễ sấm đi qua là mọc, phải hái gấp, chậm một chút là thối hoặc già. Nấu canh cực ngon, cũng thuộc loại như Kê tòng. Các loại này giá đều rất đắt.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Ích dạ dày, làm thanh thản tinh thần, trị trĩ (Thời Trân).
===Đà Thái (Nấm bánh lái)===
*Tên khoa học: (Nấm mọc trên gỗ mục bị ngâm nước biển, thường là loài thuộc chi '''Crepidotus''' hoặc '''Schizophyllum''')
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Đây là loại nấm mọc trên bánh lái (đà) của thuyền đi biển. Rất hiếm khi có được.
* '''【Khí vị】''' Mặn, ngọt, hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Khối u bướu (anh kết khí), đờm ẩm (Thời Trân).
===Thổ Khuẩn (Nấm đất)===
*Tên khoa học: Các loài nấm đất nói chung, tiêu biểu là nấm Ô than ('''Russula nigricans''') hoặc nấm Tán ('''Agaricus''' spp.)
* '''【Hiệu đính】''' Chuyển từ phần Thảo bộ sang đây.
* '''【Giải thích tên gọi】''' Đỗ thẩm, Địa thẩm, Cô tử, Địa kê, Chương đầu.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Trần Tàng Khí nói: Loại mọc dưới đất gọi là Khuẩn, mọc trên gỗ gọi là Nga. Người vùng Giang Đông gọi là Thẩm.
** Quách Phác nói: Địa thẩm giống như cái đinh có nắp, vùng Giang Đông gọi là Thổ khuẩn, ăn được. Phàm nấm mọc từ đất ra đều chủ trị lở loét (sang giới), loại nấm đen mọc trên phân bò là tốt nhất. Nếu đốt thành tro trên đất, sau khi trải qua mưa thu mọc ra loại nấm chồng tầng lên nhau gọi là "Tiên nhân mạo" (Mũ tiên), chủ trị các bệnh về máu.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, có độc.
** Mạnh Thẩn nói: Nấm có nhiều loại, loại mọc trên cây hòe là tốt. Loại mọc ngoài đồng nội có độc chết người, ăn vào sinh lạnh lẽo, bụng đau lâm râm, phát phong ngũ tạng, tắc nghẽn kinh mạch, động bệnh trĩ, khiến người hôn trầm thích ngủ, chân tay mỏi nhừ.
** Trần Tàng Khí nói: Nấm mùa đông và xuân không độc, mùa hạ và thu có độc (do rắn rết bò qua). Loại ban đêm phát sáng, loại sắp mục mà không có sâu, loại nấu không chín, loại nấu xong soi không thấy bóng người, loại trên có lông dưới không có vân, loại ngửa cuốn màu đỏ... đều có độc chết người. Trúng độc thì dùng nước đất (địa tương) hoặc nước phân để giải.
* '''【Chủ trị】''' Đốt thành tro, đắp vết lở loét (Tàng Khí).
* '''【Phụ phương】''' Trị mụn nhọt (đinh tử): Dùng phân bò tót trên đá, đợi mọc nấm, hái về bào khô, trộn với cỏ rác tán bột đắp vào.
===Quỷ Cái (Nấm mực)===
*Tên khoa học: '''Coprinus comatus''' hoặc '''Coprinopsis atramentaria'''
* '''【Phụ lục】''' Vị ngọt, bình, không độc. Chủ trị trẻ em sốt rét, kinh giản. Mọc thành cụm dưới chân tường, màu đỏ, sáng mọc chiều chết. Còn gọi là Địa cái, Triều sinh, Quỷ tán, Quỷ ốc.
* '''【Chủ trị】''' Đốt thành tro trị mụn nhọt, đinh độc.
===Quỷ Bút (Nấm bao đầu nấm)===
*Tên khoa học: '''Phallus impudicus'''
* '''【Tập hợp giải thích】''' Mọc nơi phân uế. Đầu như ngọn bút, màu tím. Sáng mọc chiều chết. Trẻ em gọi là "Chó đái rêu". Chủ trị các loại mụn nhọt, lở loét, ung thũng. Phơi khô tán bột trộn dầu mà bôi. Loại này đỏ tím, xốp rỗng như hoa nên gọi là "hoa". Tán bột đắp hạ cam (vết loét bộ phận sinh dục).
===Trúc Nhục (Nấm tre)===
*Tên khoa học: '''Dictyophora indusiata''' (Nấm dị dạng trên tre)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Trúc nhục, Trúc cô, Trúc thẩm.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Mạnh Thẩn nói: Rừng tre từ tháng 6 gặp mưa, dịch tre nhỏ xuống đất sinh ra nấm này. Giống như gạc nai, màu trắng, ăn được.
** Trần Tàng Khí nói: Trúc nhục mọc trên cành tre đắng (khổ trúc). Hình như quả trứng gà, giống miếng thịt, có độc lớn. Phải dùng nước tro nấu ba lần mới ăn được như rau thường. Nếu nấu không kỹ sẽ gây nghẹn họng chảy máu, rụng móng tay chân.
** Thời Trân nói: Đây chính là Trúc cô. Mọc trên gốc tre mục. Trạng như mộc nhĩ, màu đỏ. Chỉ loại mọc trên tre đắng mới có độc.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, mặn, hàn, không độc. Loại trên tre đắng có độc lớn.
* '''【Chủ trị】''' Các loại lỵ đỏ trắng, trộn với gừng và nước tương để ăn (Mạnh Thẩn). Trúc nhục tre đắng luyện qua nước tro giúp sát trùng, phá huyết ứ (Tàng Khí).
===Hoán Khuẩn (Nấm sậy)===
*Tên khoa học: '''Pholiota nameko''' (hoặc một loài nấm mọc trên gốc sậy)
* '''【Hiệu đính】''' Chuyển từ phần Thảo bộ sang đây.
* '''【Giải thích tên gọi】''' Hoán lư. Thời Trân nói: Hoán (雚) lẽ ra là Hoàn (萑), tức là loài lau sậy. Nấm này mọc dưới gốc sậy nên gọi tên như vậy.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Sắc trắng, nhẹ xốp, từ trong ra ngoài giống nhau. Mọc ở vùng đầm lầy sậy, đất nhiễm mặn. Phơi khô dùng là tốt nhất.
* '''【Khí vị】''' Mặn, bình, có độc ít. (Biệt lục nói: Ngọt, hơi ấm; Chân Quyền nói: Đắng). Kỵ trứng gà.
* '''【Chủ trị】''' Đau tim, ấm trung tiêu, trừ sán lãi (giun đũa), giun kim, lác đồng tiền (bạch tiển), rắn cắn, các chứng trùng tích bụng sườn.
===Địa Nhĩ (Địa y đất)===
*Tên khoa học: '''Nostoc commune'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Địa đạp cô.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Địa nhĩ thuộc họ Thạch nhĩ (Lichen), nhưng mọc trên đất. Hình dạng như mộc nhĩ. Mọc trong mưa vào mùa xuân hè, sau mưa phải hái ngay, thấy ánh nắng là hỏng. Tục gọi là "Địa đạp cô" (Nấm đất đạp).
* '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Sáng mắt ích khí, giúp dễ có con (Biệt lục).
===Thạch Nhĩ (Mộc nhĩ đá)===
*Tên khoa học: '''Umbilicaria esculenta'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Linh chi.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Mọc trên vách đá các núi cao như Thiên Đài, Hoàng Sơn, Lư Sơn... Trông xa như khói. Hình dạng như Địa nhĩ. Rửa sạch cát bụi, nấu ăn ngon hơn mộc nhĩ, là loại cực phẩm.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Ăn lâu giúp sắc mặt tươi nhuận, đến già không đổi, khiến người không đói, đại tiểu tiện ít (Ngô Thụy). Sáng mắt ích tinh (Thời Trân). Trị đi ngoài ra máu, thoát giang (Phối hợp với phèn phi).
===[Phụ khảo các loại rau khác]===
Hương nhu, Tử tô, Tử uyển, Tiệm thái, Ngưu tất miêu, Phòng phong miêu, Bạc hà, Nhâm tô (Tía tô dại), Mã lan, Lâu thảo, Trạch lan căn, Địa hoàng miêu, Chư khương (Các loại quỳ), Toan mô (Rau chua), Xương bồ, Ngưu bàng miêu, Thanh tương miêu, Long quy, Quyết minh, Cam lam (Bắp cải), La bặc (Củ cải), Hồng hoa miêu, Xa tiền miêu (Mã đề), Huyên thảo, Lô duẫn (Măng sậy), Giao duẫn (Niễng), Bình (Bèo), Hải đới thái (Rong biển), Độc chổi miêu, Dương đề, Bồ duẫn (Măng bồ thảo), Tề đầu thảo, Côn bố miêu, Côn bố, Địa tùng, Liệu nha, Hải tảo, Vương qua, Bách bộ, Ngó sen, Hà đầu (Gương sen), Cọng khiếm thực, Cọng củ ấu, Lá đậu, Giá đỗ, Vỏ đậu, Đậu phụ, Anh túc miêu, Chồi cây Xoan, Chồi cây Hòe, Vu di, Câu kỷ, Mầm Bồ kết, Mầm cây Nhâm, Măng cây Cọ, Ngũ gia bì...
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
k8bcvnsezt2bqg0hz5tahz3fog14mtd
204560
204559
2026-04-05T06:50:06Z
Mrfly911
2215
204560
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/菜之三
| năm= 1596
| phần = Tổng hợp:
* 21 loại '''dưa''' (Cà, khổ cà, hồ lô, khổ hồ, bại bào, đông qua, nam qua, việt qua, hồ qua, ti qua, khổ qua)
* 6 loại '''rau dưới nước''' (Tử thái, thạch, thạch hoa thái, lộc giác thái, long tu thái, thụy thái)
* 15 loại '''nấm''' (Thanh chi - Long chi, Xích chi - Đan chi, Hoàng chi - Kim chi, Bạch chi - Ngọc chi, Tố chi, Hắc chi - Huyền chi, Tử chi - Mộc chi, Mộc nhĩ, tùng khuẩn, táo giáp tẩm, hương tẩm, cát hoa thái, thiên hoa tẩm, ma cô tẩm, kê, đà thái, thổ khuẩn, địa cầm, trúc nhục, khuẩn, địa nhĩ, thạch nhĩ)
| trước= [[../Thái 2|Thái 2]]
| sau= [[../Quả 1|Quả 1]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==21 loại rau dưa==
===CÀ (TỬ TÔ)===
*(Âm đọc là Gia. Trích từ "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống) '''Tên khoa học:''' Solanum melongena L.
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Lạc tô''' (Thập di), '''Côn Lôn qua''' (Ngự lãm), '''Thảo biệt giáp'''.
* '''Tô Tụng nói:''' Theo Đoạn Thành Thức, "Cà" vốn là tên gọi thân cây sen. Nay gọi là rau cà (thái), âm đọc là "Gia", không rõ nguồn gốc từ đâu.
* '''Thời Trân nói:''' Trần Tạng Khí trong Bản thảo gọi là Lạc tô, nghĩa chưa rõ. Xét cuốn Ngũ Đại Di Tử Lục viết là "Lạc tô" (酪酥 - váng sữa), có lẽ vì vị nó béo như váng sữa, nghĩa này có vẻ thông suốt. Du Bảo trong Thập di lục nói Tùy Dạng Đế đổi tên cà thành '''Côn Lôn tử qua''' (Dưa tím Côn Lôn). Vương Ẩn Quân trong Dưỡng sinh chủ luận dùng cà khô trị sốt rét nên gọi chệch đi là '''Thảo biệt giáp''' (Mai rùa bằng cỏ), vì mai rùa trị được hàn nhiệt, mà cà cũng trị được hàn nhiệt vậy.
'''【Tập giải】'''
* '''Tô Tụng nói:''' Cà có ở khắp nơi, gồm vài loại: Cà tím, cà vàng có ở cả Nam lẫn Bắc; cà trắng, cà xanh nước có ở miền Bắc. Dùng làm thuốc đa số dùng cà vàng, các loại khác chỉ dùng làm rau. Ở Giang Nam có loại "Cà dây" (Đằng cà), mọc dạng leo, vỏ mỏng như bầu ngô, không thấy dùng làm thuốc.
* '''Tông Thích nói:''' Nước Tân La có loại cà hình như quả trứng gà, màu tím nhạt sáng, cuống dài vị ngọt. Nay ở Trung Quốc đã có khắp nơi.
* '''Thời Trân nói:''' Hạt cà nên thu hoạch vào tháng 9 khi quả chín vàng, rửa sạch phơi khô, đến tháng 2 thì gieo mầm di thực. Cây cao 2-3 thước, lá to bằng bàn tay. Từ hạ sang thu nở hoa tím, 5 cánh dính nhau, 5 khía như sợi chỉ, nhị vàng cuống xanh, cuống bọc lấy quả. Trong cà có thịt (nhân), trong thịt có hạt, hạt như hạt vừng. Quả có loại tròn như quả Qua lâu, có loại dài 4-5 thốn. Có cà xanh, cà tím, cà trắng. Cà trắng còn gọi là '''Ngân cà''', ăn ngon hơn cà xanh. Các loại cà khi già đều hóa vàng. Tô Tụng coi cà vàng là một loài riêng thì có lẽ chưa nghiên cứu kỹ.
* '''Vương Trinh trong Nông thư viết:''' Có loại cà Bột Hải màu trắng chắc; cà Phiên màu trắng dẹt, ngọt giòn không chát, ăn sống hay chín đều được; cà tím cuống dài vị ngọt; cà nước (thủy cà) hình dài vị ngọt, có thể giải khát. Hồng Dung Trai tùy bút ghi: Ở Chiết Tây cà thường vỏ tím, loại trắng là cà nước; ở Giang Tây cà thường vỏ trắng, loại tím là cà nước. Thật là khác biệt.
* '''Lưu Tuân trong Lĩnh biểu lục dị nói:''' Cây cà ở Giao Chỉ trải qua mùa đông không rụng lá, có cây 2-3 năm thành cây lớn, quả to như dưa. Hái lá cà rải trên đường rồi dùng tro vây quanh thì quả sẽ đậu rất nhiều, gọi là "gả chồng cho cà" (giá cà).
'''QUẢ CÀ (TỬ TÔ)'''
#'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính hàn, không độc.
* '''Đại Chí nói:''' Người thể tạng lạnh lâu ngày không nên ăn nhiều, sẽ gây hại người, động khí, phát mụn nhọt và các bệnh cũ (cố tật).
* '''Lý Bằng Phi nói:''' Ăn cà sau mùa thu sẽ hại mắt.
* '''Thời Trân nói:''' Theo Sinh sinh biên, tính cà hàn lợi (nhuận tràng), ăn nhiều tất đau bụng đi lỏng, phụ nữ ăn nhiều có thể hại đến tử cung.
'''【Chủ trị】'''
* Trị hàn nhiệt, ngũ tạng lao tổn (Mạnh Tiễn). Trị bệnh ôn dịch truyền thi (lao). Mài với giấm đắp trị sưng độc (Đại Minh). Quả già tự nứt thì đốt thành tro trị nứt vú (Chấn Hanh). Tán huyết chỉ thống, tiêu sưng, khoan tràng (nhuận tràng) (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Tông Thích nói:''' Trong vườn rau chỉ có thứ này là không có ích. Khai bảo bản thảo không ghi chủ trị, chỉ nói hại người. Người đời sau dù có phép trị bệnh nhưng vẫn không hợp chính văn. Người trồng vườn lại bón nhiều phân, thúc trong chỗ ấm để bán giá cao vào tiết Tiểu mãn. Ăn không đúng mùa thì hại càng nhiều. Không đúng mùa không ăn, chớ có coi thường.
* '''Chấn Hanh nói:''' Cà thuộc Thổ nên vị ngọt và có tính giáng (hạ xuống), người đại tràng dễ động (đi ngoài) nên kiêng. Quả già trị nứt đầu vú, rễ nấu nước ngâm chỗ bỏng lạnh, cuống cà đốt tro trị nhiệt miệng, đều hiệu quả kỳ lạ, đó là ý dùng vị ngọt để làm dịu hỏa vậy.
* '''Thời Trân nói:''' Đoạn Thành Thức nói cà làm "dày dạ dày" (nồng tràng vị), thực ra không biết tính cà trơn (hoạt), không có tác dụng làm dày dạ dày đâu.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch các phương chính)
* '''Phụ nữ huyết vàng:''' Cà vàng cắt bằng dao tre, phơi âm can, tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm.
* '''Trường phong hạ huyết (đi ngoài ra máu):''' Cà kinh sương cả cuống, đốt tồn tính, tán bột. Uống 2 tiền lúc đói với rượu ấm.
* '''Cổ chướng trong bụng:''' Cà muối lâu năm đốt tồn tính, thêm ít xạ hương, khinh phấn, hòa dầu đắp.
* '''Trị sưng đau tinh hoàn (thiên trụy):''' Dùng cà đôi (hai quả dính cuống) treo trên cửa, đi ra vào nhìn vào đó. Cà héo thì bệnh héo, cà khô thì bệnh khỏi.
* '''Bệnh phong hủi (đại phong), nhiệt đàm:''' Cà vàng già to, ủ trong đất một năm hóa thành nước, trộn bột Khổ sâm làm viên bằng hạt ngô. Uống 30 viên với rượu.
* '''Va đập bầm tím:''' Cà vàng già cắt lát dày, sao trên ngói tán bột. Uống 2 tiền với rượu ấm trước khi ngủ, một đêm là tan vết bầm.
* '''Nhiệt độc sưng tấy:''' Cà tươi khoét rỗng như cái hũ, úp lên chỗ sưng sẽ tiêu.
* '''Đau răng:''' Cà muối lâu năm đốt tro xát vào răng.
* '''Nứt vú:''' Cà mùa thu tự nứt, phơi khô đốt tồn tính, tán bột hòa nước bôi.
'''CUỐNG CÀ (TI)'''
* '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro uống 2 tiền trị đi ngoài ra máu không dứt và trĩ ra máu (Ngô Thụy). Đốt tro trị nhiệt miệng, loét miệng. Cắt tươi xát vào vết lang ben (Thời Trân).
* '''【Phát minh】:''' Trị lang ben trắng dùng cuống cà trắng, lang ben tím dùng cuống cà tím, theo nguyên tắc đồng loại.
* '''【Phụ phương】:''' Sâu răng đau: Đốt tro cuống cà xát vào, hoặc thêm bột Tế tân.
'''HOA CÀ'''
* '''【Chủ trị】:''' Vết thương do kim khí, đau răng (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:''' Hoa cà mùa thu khô, đốt tán bột bôi chỗ đau răng, cầm đau ngay.
'''RỄ VÀ THÂN LÁ KHÔ'''
* '''【Chủ trị】:''' Bỏng lạnh nứt nẻ, nấu nước ngâm rất tốt (Khai bảo). Tán huyết tiêu sưng, trị đái ra máu, lỵ ra máu, sa tử cung, nấm miệng (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:'''
** '''Đái ra máu (Huyết lâm) đau đớn:''' Lá cà hun khô tán bột, uống 2 tiền với rượu ấm.
** '''Lỵ lâu ngày không dứt:''' Rễ cà đốt tro, vỏ lựu lượng bằng nhau, tán bột uống với nước đường.
** '''Sa tử cung:''' Rễ cà đốt tồn tính, tán bột, hòa dầu bôi lên giấy cuộn lại đặt vào trong.
** '''Trị rụng răng:''' Rễ cà ngâm nước tiểu ngựa 3 ngày, phơi khô sao tán bột. Chấm vào răng là răng rụng (phương thuốc của Bào thị).
===KHỔ CÀ (CÀ ĐẮNG)===
*(Trích từ "Thập di") '''Tên khoa học:''' Solanum indicum L. (hoặc Solanum viarum)
* '''【Tập giải】:''' Trần Tạng Khí nói: Cà đắng mọc hoang ở vùng Lĩnh Nam. Cây nhỏ có gai.
* '''【Quả】:''' Mài với giấm bôi trị mụn nhọt sưng tấy.
* '''【Rễ】:''' Nấu nước tắm. Trị khí chướng (chướng khí) vùng rừng núi.
===HỒ LÔ (QUẢ BẦU)===
*(Trích: Nhật Hoa) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria (Molina) Standl.
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Hồ lô''', '''Hồ qua''' (Thuyết văn), '''Bào qua''' (Luận ngữ).
* '''Thời Trân nói:''' "Hồ" (壺) là bầu đựng rượu, "Lô" (盧) là chén uống nước. Vật này có hình dáng tương ứng, lại có thể dùng làm đồ đựng rượu cơm nên đặt tên như vậy. Tục viết là "Hồ lô" (葫蘆) với bộ Thảo là sai, vì "Hồ" (葫) là tên của tỏi, "Lô" (蘆) thuộc loại cây lau sậy. Loại hình tròn gọi là '''Bào''' (匏), cũng gọi là '''Phiêu''' (瓢 - gáo), vì nó có thể nổi trên mặt nước như bọt khí (bào) hay vật trôi nổi (phiêu).
* Tất cả các loại này đều thuộc họ Dưa (qua) nên gọi là '''Hồ qua''', '''Bào qua'''. Người xưa gọi Hồ, Hú, Bào thông dụng như nhau, ban đầu không phân biệt. Tuy nhiên, đời sau phân chia: loại dài như dưa Việt gọi là '''Hú''' (瓠), loại một đầu có bụng và cán dài gọi là '''Huyền hú''' (懸瓠), loại không cán mà tròn to hình dẹt gọi là '''Bào''' (匏), loại Bào có cán ngắn bụng to gọi là '''Hồ''' (壺), loại Hồ có thắt eo nhỏ gọi là '''Bồ lô''' (蒲蘆). Qua xem xét kỹ, tuy hình dáng khác nhau nhưng tính vị của mầm, lá, vỏ, hạt là một nên không chia thành các mục riêng.
#** '''【Tập giải】'''
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Bầu và Bí đao cùng một loại khí vị. Có loại Hú lô vị ngon hơn bầu thường, đều lợi thủy đạo, ăn vào mùa hè rất tốt nhưng đại để không bằng Bí đao.
* '''Cung nói:''' Bầu và Bí đao hoàn toàn không cùng loại. Ba thứ này mầm lá tương đồng nhưng hình dáng quả khác nhau. Bầu (Hú) dài hơn một thước, đầu đuôi như nhau, chín vào giữa hạ và khô vào cuối thu. Hú lô hình dạng to nhỏ không nhất định, chín vào giữa thu, dùng làm đồ đựng thì phải đợi qua mùa sương mới dùng được.
* '''Thời Trân nói:''' Tuy tên gọi khác nhau nhưng thực chất là một loài. Xuống giống vào tháng 1-2, lá giống lá bí đao nhưng tròn hơn, có lông mềm, lúc non có thể ăn được. Tháng 5-6 nở hoa trắng, kết quả trắng. Hạt bên trong sắp xếp như răng gọi là "Hồ tê". Loại to có thể làm chum vại, loại nhỏ làm gáo rót rượu, có thể làm thuyền nổi trên nước, làm nhạc khí (sênh), vỏ ruột có thể nuôi lợn, hạt có thể làm nến, lợi ích vô cùng to lớn.
===HỒ HÚ (BẦU NGỌT)===
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính bình, trơn (hoạt), không độc.
* '''Cung nói:''' Vị ngọt lạnh, ăn nhiều gây nôn mửa, đi lỏng.
* '''Biển Thước nói:''' Người bị cước khí hư chướng lạnh bụng mà ăn thứ này thì bệnh không bao giờ khỏi.
'''【Chủ trị】'''
Tiêu khát, ác sang (mụn nhọt độc), đau loét trong mũi miệng (Tư Mạo). Lợi thủy đạo (Hoằng Cảnh). Tiêu nhiệt, người đang phục dược đan thạch nên ăn (Mạnh Tiễn). Trừ phiền, trị tâm nhiệt, lợi tiểu trường, nhuận tâm phổi, trị thạch lâm (sỏi đường tiết niệu) (Đại Minh).
'''【Phát minh】'''
* '''Thời Trân nói:''' Theo Danh y lục, người vùng Chiết Giang ăn Bào qua hay bị thổ tả, gọi là "phát bạo", đó là do quả này bị ủng khí vào tháng nắng nóng. Chỉ khi ăn cùng với Hương nhu mới tránh được.
'''【Phụ phương】'''
* '''Bụng trướng vàng vọt (hoàng thũng):''' Dùng bầu thắt eo (Á yêu hồ lô) cả hạt đốt tồn tính, mỗi lần dùng 1 quả uống với rượu ấm trước bữa ăn. Không uống được rượu thì dùng nước trắng, 10 ngày sẽ thấy hiệu quả.
'''LÁ BẦU'''
* '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
* '''【Chủ trị】:''' Làm rau ăn giúp nhịn đói (Tư Mạo).
'''DÂY, TUA CUỐN, HOA'''
* '''【Chủ trị】:''' Giải độc (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:''' Giải thai độc, phòng đậu mùa: Cắt tua cuốn bầu khô sắc nước tắm cho trẻ vào đêm trừ tịch.
'''HẠT BẦU'''
* '''【Chủ trị】:''' Lợi răng sưng lộ, răng lung lay đau nhức: Dùng 8 lạng hạt bầu cùng 4 lạng Ngưu tất, mỗi lần dùng 5 tiền sắc nước ngậm súc miệng, ngày 3-4 lần.
===KHỔ HÚ (BẦU ĐẮNG)===
*(Trích: Bản kinh - Hạ phẩm) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria var. microcarpa (Naudin) Hara (hoặc các biến thể đắng)
'''【Giải thích tên gọi】'''
* Khổ bào (Quốc ngữ), Khổ hồ lô.
'''【Tập giải】'''
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Loại bầu tự nhiên có vị đắng như mật thì không ăn được, không phải loài riêng biệt.
* '''Cung nói:''' Bản kinh bàn về Khổ hú lô, Đào Hoằng Cảnh nói bầu thường bị đắng là sai. Bầu đắng và bầu ngọt giống nguyên bản khác nhau, không phải do ngọt biến thành đắng.
* '''Bảo Thăng nói:''' Có hai loại ngọt và đắng, loại ngọt quả to, loại đắng quả nhỏ.
* '''Thời Trân nói:''' Kinh Thi có câu "Bào hữu khổ diệp" (Bầu có lá đắng). Quốc ngữ viết "Khổ bào bất tài" (Bầu đắng không dùng làm đồ ăn được). Tất cả đều chỉ quả bầu đắng. Phàm dùng Khổ hú phải chọn quả vân mịn, sạch bóng không tì vết mới tốt, nếu không sẽ có độc. Nếu uống quá liều gây nôn mửa đi lỏng không dứt, dùng nước tro rơm kê để giải độc.
'''RUỘT VÀ HẠT BẦU ĐẮNG'''
'''【Khí vị】'''
* Vị đắng, tính hàn, có độc.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đại thủy (phù thũng nặng), mặt mày tay chân phù nề, hạ thủy, gây nôn mửa (Bản kinh). Lợi thạch lâm, nôn đờm nghẽn trong cổ, trị trùng độc (trị chú), đàm ẩm. Nấu nước ngâm rửa cơ quan sinh dục trị tiểu tiện không thông (Tô Cung). Nhỏ nước sắc vào mũi trị tắc mũi do lạnh, vàng da (Tàng Khí). Thải giun đũa (Đại Minh). Trị ung thư ác sang, ghẻ lở, sâu răng. Có thể dùng để chế biến thủy ngân (Thời Trân).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính)
* '''Bệnh hoàng đản (vàng da cấp):''' Khổ hú 1 quả, đục lỗ rót nước vào nấu, lấy nước đó nhỏ vào mũi để chảy nước vàng ra.
* '''Phù thũng nặng, mặt mày sưng to:''' Dùng ruột trắng bầu đắng vo như hạt đậu, bọc màng bột mì nấu sôi, uống 7 hạt lúc đói. Đến trưa sẽ xuất nước ra, người gầy đi thì khỏi. Kiêng đồ mặn trong 2 năm.
* '''Tiểu tiện không thông, trướng cấp:''' Hạt bầu đắng 30 hạt (sao), Sâu đất (Lâu cô) 3 con (nướng), tán bột, uống 1 tiền với nước lạnh.
* '''Đau đầu do phong đàm:''' Nhỏ nước ép ruột bầu đắng vào mũi qua ống cỏ, đờm nhớt chảy ra là khỏi tận gốc.
* '''Mắt mờ, màng mộng:''' Dùng ruột trắng bầu đắng ép lấy nước, phối hợp với giấm và tiền đồng cổ sắc lấy bọt nhỏ vào khóe mắt.
* '''Sâu răng đau:''' Hạt bầu đắng sắc nước ngậm súc miệng.
* '''Trĩ sưng đau:''' Bầu đắng, rau Đắng đắng sắc nước xông rửa, sau đó bôi thuốc bột (Hùng đởm, Mật đà tăng...).
* '''Trúng độc trùng (cổ độc), nôn máu hoặc hạ huyết:''' Sắc 1 quả bầu đắng với 2 lít nước lấy 1 lít uống để nôn ra là khỏi.
* '''Thai chết lưu không ra:''' Bầu đắng đốt tồn tính, tán bột. Uống 1 tiền với rượu nóng lúc đói.
'''HOA BẦU ĐẮNG'''
* '''【Chủ trị】:''' Trị tất cả các loại mụn nhọt, thu hái sau mùa sương phơi khô, tán bột đắp.
'''DÂY BẦU ĐẮNG'''
* '''【Chủ trị】:''' Trị sởi (ma sang), nấu nước tắm thì khỏi (Thời Trân). Trị chứng hói trắng ở trẻ em (Bạch thục).
===BẠI PHIÊU (GÁO BẦU CŨ)===
*(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Lagenaria siceraria (Molina) Standl. (Vỏ quả khô)
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Phiêu (gáo) là do quả Hồ lô hoặc quả Bào xẻ ra mà thành. Phương thuốc của các thầy thuốc gần đây cũng thường xuyên sử dụng. Nên dùng loại làm từ quả bầu đắng (Khổ hú) là tốt nhất, loại để lâu năm lại càng thần diệu.
'''【Khí vị】'''
Vị đắng, tính bình, không độc.
'''【Chủ trị】'''
* Tiêu trướng, sát trùng. Trị trĩ lậu ra máu, băng trung (băng huyết), khí hư (đới hạ) đỏ trắng (Thời Trân).
'''【Phụ phương】'''
* (Mới có 6 phương)
** '''Bụng trướng đầy (Trung mãn cổ trướng):''' Dùng một cái gáo bầu cũ đã để 3-5 năm. Dùng 1 đấu gạo nếp nấu thành rượu, đợi khi rượu chín, đem gáo hơ trên lửa than cho nóng rồi nhúng vào rượu. Làm như vậy 3-5 lần, sau đó đem gáo đốt tồn tính (đốt cháy vỏ ngoài nhưng bên trong vẫn giữ tính chất), nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 3 tiền với rượu, hiệu nghiệm như thần. (Dư Cư Sĩ - Tuyển kỳ phương).
** '''Đại tiện ra máu:''' Gáo bầu cũ (đốt tồn tính), Hoàng liên lượng bằng nhau. Nghiền thành bột. Mỗi lần uống 2 tiền với rượu ấm lúc đói. (Giản tiện phương).
** '''Băng huyết đỏ trắng (Xích bạch băng trung):''' Gáo bầu cũ (sao tồn tính), Gương sen (Liên phòng - đốt tồn tính) lượng bằng nhau. Nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 2 tiền, pha với nước nóng. Uống 3 liều, thấy ra mồ hôi là đạt, bệnh sẽ cầm ngay. Trường hợp nặng uống 5 liều là khỏi, rất thần diệu. Kiêng phòng sự, thức ăn gây phát chẩn, đồ sống lạnh. (Hải thượng phương).
** '''Não lậu chảy mủ (Viêm xoang mạn tính chảy mủ):''' Gáo vỡ, hoa Mào gà trắng, vỏ Ốc nhồi trắng (tất cả đều đốt tồn tính) lượng bằng nhau; Huyết kiệt, Xạ hương mỗi thứ 5 phân. Nghiền thành bột. Dùng rượu ngon vẩy ướt Ngải cứu chín, trộn với thuốc nặn thành bánh, đắp lên huyệt Đỉnh môn (thóp trước), dùng bàn là hơ nóng ủi lên trên, đến khi khỏi thì thôi. (Tôn thị - Tập hiệu phương).
** '''Bướu thịt dưới nách (Dịch hạ lưu anh):''' Dùng loại gáo bầu cán dài (Trà hồ lô) đốt tồn tính, nghiền bột bôi vào, đến khi u tan thì thôi. Có bà lão nọ dưới nách phải mọc một cái bướu, lớn dần đến hơn một thước, hình dáng như quả bầu dài, lâu ngày loét ra. Một phương sĩ dạy cho cách này, sau đó bướu chảy nước ra, tan hết mà khỏi. (Tần Hồ tập giản phương).
** '''Bỏng nước sôi, bỏng lửa:''' Gáo bầu cũ, đốt thành tro đắp vào. (Tần Hồ tập giản phương).
===ĐÔNG QUA (BÍ ĐAO)===
*(Trích: Bản kinh - Thượng phẩm) '''Tên khoa học:''' Benincasa hispida (Thunb.) Cogn.
'''【Hiệu chính】'''
Nay hợp nhất cùng mục '''Bạch qua tử''' (Hạt bí trắng).
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Bạch qua''' (Bản kinh), '''Thủy chi''' (Sách đã dẫn), '''Địa chi''' (Quảng nhã).
* '''Đại Chí nói:''' Bí đao sau khi trải qua sương giá, trên vỏ có lớp trắng như phấn phủ, hạt cũng màu trắng nên gọi là Bạch đông qua, còn hạt gọi là Bạch qua tử.
* '''Thời Trân nói:''' Gọi là Đông qua vì nó chín vào mùa đông. Lại theo Giả Tư Hiệp, bí đao gieo hạt vào tháng 2, 3; nếu gieo vào tháng 10 thì quả kết lại béo tốt hơn gieo mùa xuân, tên gọi Đông qua có lẽ cũng vì lý do này.
* '''Biệt lục nói:''' Đông qua nguyên nằm dưới mục "Qua tử" của Bản kinh. Đời Tống, sách Khai bảo bản thảo thêm mục Bạch qua tử, rồi lại chia riêng Bạch đông qua thành một loại trong Biệt lục. Điều này dẫn đến các chú giải tranh luận gây nhiễu, nay hợp lại làm một.
'''【Tập giải】'''
* '''Biệt lục nói:''' Bạch qua tử mọc ở đầm phẳng vùng Tung Cao, chính là hạt của quả bí đao. Thu hái vào tháng 8.
* '''Tô Tụng nói:''' Nay vườn tược nơi nơi đều trồng. Quả mọc dưới dây leo, quả lớn như cái đấu và dài, vỏ dày có lông, lúc mới sinh màu xanh lục, qua sương thì có phấn trắng. Người ta thường tích trữ ăn quanh năm như rau quả. Dùng làm thuốc phải lấy quả sau mùa sương, để qua năm, đập lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi giã lấy nhân dùng. Nhân hạt cũng có thể dùng làm thuốc bồi bổ đơn lẻ.
* '''Thời Trân nói:''' Tháng 3 mọc mầm leo dây, lá to tròn có mũi nhọn, thân lá đều có lông gai. Tháng 6, 7 nở hoa vàng. Quả lớn đường kính hơn 1 thước, dài 3-4 thước, khi non màu xanh có lông, khi già màu xanh xám có phấn, vỏ cứng dày, thịt trắng béo. Ruột quả gọi là '''Qua luyện''', trắng xốp như bông, có thể dùng để giặt tẩy quần áo. Hạt gọi là '''Qua tê''', xếp thành hàng trong ruột. Bí đao kỵ rượu, sơn, xạ hương và gạo nếp, chạm phải tất thối nát.
====BẠCH ĐÔNG QUA (QUẢ BÍ ĐAO)====
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính hơi hàn, không độc.
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Tính lạnh và lợi tiểu (lạnh lợi).
'''【Chủ trị】'''
Trị thủy trướng bụng dưới, lợi tiểu tiện, chỉ khát (Biệt lục). Giã lấy nước uống trị tiêu khát phiền muộn, giải độc (Hoằng Cảnh). Ích khí, chống lão hóa, trừ đầy tức ngực sườn, khử nhiệt ở vùng đầu mặt (Mạnh Tiễn). Tiêu nhiệt độc ung thũng. Thái lát xoa trị rôm sảy rất tốt (Đại Minh). Lợi đại tiểu tràng, ép độc của đan thạch (Tô Tụng).
'''【Phát minh】'''
* '''Mạnh Tiễn nói:''' Người bị nhiệt ăn vào rất tốt, người thể tạng lạnh ăn vào sẽ làm người gầy đi. Nấu ăn giúp luyện ngũ tạng vì nó có tác dụng hạ khí. Ai muốn cơ thể thon gọn nhẹ nhàng thì nên ăn lâu dài; nếu muốn béo thì đừng ăn.
* '''Tông Thích nói:''' Phàm người bị phát bối (nhọt sau lưng) và các loại ung thư, gọt một miếng lớn đắp lên vết thương, nóng thì thay miếng khác, tán nhiệt độc rất tốt.
* '''Chấn Hanh nói:''' Bí đao tính chạy và nhanh (tẩu nhi cấp). Khấu thị nói nó tán nhiệt độc cũng là lấy cái tính nhanh nhẹn đó. Người bệnh lâu ngày, người âm hư nên kiêng. Tôn Chân Nhân nói: Tháng 9 đừng ăn vì làm phản vị (nôn mửa). Phải ăn quả đã bị sương giáng mới tốt.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch)
* '''Tiêu khát do tích nhiệt:''' Bí đao bỏ vỏ, mỗi bữa ăn 2-3 lạng.
* '''Tiêu khát không dứt:''' Một quả bí đao gọt vỏ chôn dưới đất ẩm 1 tháng, lấy ra uống nước trong đó. Hoặc nướng chín ép lấy nước uống.
* '''Tiêu khát cốt chưng:''' Bí đao lớn bỏ ruột, nhét đầy bột Hoàng liên, đợi bí tan hết thì nghiền làm viên. Uống với canh bí đao.
* '''Phù thũng nguy cấp:''' Bí đao không kể nhiều ít, ăn tùy ý, hiệu nghiệm thần kỳ.
* '''Phù thũng, suyễn mãn:''' Bí đao lớn nhét đầy đậu đỏ (xích tiểu đậu), đắp đất đem đốt (vùi trong trấu nếp cháy), sau đó nghiền làm viên.
* '''Nhọt phát bối sắp chết:''' Cắt đầu quả bí đao úp lên vết nhọt, bí nát lại thay quả khác đến khi nhọt nhỏ lại.
====QUA LUYỆN (RUỘT BÍ ĐAO)====
* '''【Khí vị】:''' Vị ngọt, tính bình, không độc.
* '''【Chủ trị】:''' Ép lấy nước uống chỉ phiền táo nhiệt khát, lợi tiểu trường, trị ngũ lâm (sỏi, nhiễm trùng đường tiểu) (Diễn Quyền). Rửa mặt tắm thân giúp khử vết nám (tàn nhang), giúp da dẻ tươi nhuận trắng trẻo (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:''' Tiêu khát phiền loạn: Ruột bí khô 1 lạng sắc uống.
====BẠCH QUA TỬ (HẠT BÍ ĐAO)====
(Còn gọi là Đông qua nhân)
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính bình, không độc. Biệt lục nói: Tính hàn, dùng lâu làm lạnh tạng trung.
'''【Chủ trị】'''
Giúp da dẻ tươi nhuận, sắc mặt hồng hào, ích khí không đói. Dùng lâu nhẹ mình, chống già (Bản kinh). Trừ phiền mãn không vui. Có thể làm kem bôi mặt (Biệt lục). Khử phong ở da và vết sạm đen, nhuận da thịt (Đại Minh). Trị trường ung (viêm ruột dư/nhọt trong ruột) (Thời Trân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Phép phục thực (ăn để dưỡng sinh):''' Hạt bí đao đồ nước sôi 3 lần, phơi khô, ngâm rượu một đêm, tán bột uống. Giúp người béo tốt, sáng mắt, kéo dài tuổi thọ.
* '''Trắng da mặt:''' Hạt bí đao 5 lạng, hoa đào 4 lạng, vỏ cây bạch dương 2 lạng, tán bột uống.
* '''Nam giới bạch trọc/Nữ giới bạch đới:''' Hạt bí đao lâu năm sao vàng tán bột, uống với nước cơm.
====QUA BÌ (VỎ BÍ ĐAO)====
* '''【Chủ trị】:''' Làm viên uống hoặc làm kem bôi mặt (Tô Tụng). Trị vết thương sưng đau do mồ hôi lừa ngựa vận vào. Trị đau nhức do chấn thương gãy xương (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:''' Đau lưng do chấn thương: Vỏ bí đao đốt tồn tính tán bột, uống với rượu.
====DIỆP (LÁ BÍ ĐAO)====
* '''【Chủ trị】:''' Trị thũng độc, giết ong và trị ong đốt (Đại Minh). Trị tiêu khát, sốt rét hàn nhiệt. Sao vàng tán bột đắp các loại ác sang lâu năm (Thời Trân).
====ĐẰNG (DÂY BÍ ĐAO)====
* '''【Chủ trị】:''' Đốt thành tro có thể tẩy vết xăm (thứ thanh). Sắc nước rửa vết nám đen và sang giới (ghẻ lở). Giã lấy nước uống giải độc mộc nhĩ. Sắc nước rửa thoát giang (Thời Trân).
===NAM QUA (BÍ NGÔ)===
*(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Cucurbita moschata Duchesne
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Giống Nam qua xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), chuyển vào vùng Mân (Phúc Kiến), Chiết (Chiết Giang), nay các vùng quanh Yên Kinh cũng đều có. Tháng 3 xuống giống, thích hợp đất cát màu mỡ. Tháng 4 mọc mầm, dây leo rất sum sê, một dây có thể dài hơn mười trượng, đốt nào cũng có rễ, chạm đất là bám. Thân rỗng giữa. Lá hình dạng như lá Thục quỳ nhưng to như lá sen. Tháng 8, 9 nở hoa vàng như hoa dưa hấu. Kết quả tròn trịa, to như dưa hấu, vỏ có khía như dưa thơm (甜瓜 - điềm qua). Một gốc có thể kết hàng chục quả, màu sắc hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ. Trải qua sương giá hái về để nơi ấm có thể giữ đến mùa xuân. Hạt giống như hạt bí đao. Thịt dày màu vàng, không thể ăn sống, chỉ có thể gọt vỏ bỏ ruột luộc ăn, vị như Sơn dược. Nấu cùng thịt lợn ăn càng tốt, cũng có thể tẩm mật làm mứt.
Xét cuốn Nông thư của Vương Trinh có ghi: Vùng Chiết Giang có loại '''Âm qua''', nên trồng nơi đất râm mát. Mùa thu chín màu vàng như vàng ròng, vỏ hơi dày, có thể trữ đến mùa xuân ăn vẫn như mới. Nghi rằng đó chính là Nam qua vậy.
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính ấm, không độc.
* '''Thời Trân nói:''' Ăn nhiều phát cước khí, hoàng đản (vàng da). Không được ăn cùng thịt cừu, làm người ta bị nghẽn khí (khí ủng).
'''【Chủ trị】'''
Bổ trung ích khí (Thời Trân).
===VIỆT QUA 越瓜 (DƯA GANG/DƯA GÀY)===
*(Trích: Khai Bảo Bản Thảo - đời Tống) '''Tên khoa học:''' Cucumis melo var. conomon (Thunb.) Makino
'''【Giải thích tên gọi】'''
* '''Sào qua''' 梢瓜 (Thực vật), '''Thái qua''' 菜瓜.
* '''Thời Trân nói:''' Gọi là Việt qua vì lấy theo địa danh (vùng Việt cũ), tên tục là Sào qua 梢瓜, người phương Nam gọi là Thái qua (dưa rau) 菜瓜.
'''【Tập giải】'''
* '''Tàng Khí nói:''' Việt qua sinh ở vùng Việt. Loại to màu trắng tinh. Người vùng Việt dùng ăn như trái cây, cũng có thể muối bằng hèm rượu (tào tàng).
* '''Thời Trân nói:''' Việt qua Nam Bắc đều có. Tháng 2, 3 xuống giống mọc mầm, bò lan trên đất, lá xanh hoa vàng, đều giống hoa lá bí đao nhưng nhỏ hơn. Khoảng mùa hạ, thu kết quả, có hai màu xanh và trắng, to như quả bầu (hồ tử). Có loại dài tới hơn 2 thước, tục gọi là '''Dương giác qua''' (dưa sừng dê). Hạt giống hạt dưa chuột, to như hạt mạch. Quả này ăn sống có thể thay trái cây hoặc rau xanh; dùng muối tương, muối đậu, ngâm đường, ngâm giấm đều hợp, cũng có thể làm dưa chua (trự).
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính hàn, không độc.
* '''Mạnh Tiễn nói:''' Ăn sống nhiều gây lạnh tạng trung, động khí, khiến người đau tim, kết khối dưới rốn (trưng kết), phát các loại mụn nhọt. Lại khiến người hư nhược không đi lại được, không tốt cho trẻ nhỏ. Người sau khi mắc bệnh truyền nhiễm (thiên hành bệnh) không được ăn. Lại không được ăn cùng sữa bò, váng sữa (lạc) và cá trê.
* '''Thời Trân nói:''' Xét Tiêu Tử Chân nói: Thái qua làm tối tai mắt. Xem lừa ngựa ăn vào mắt liền bị loét thì đủ biết vậy.
'''【Chủ trị】'''
Lợi tràng vị, cầm phiền khát (Khai Bảo). Lợi tiểu tiện, khử phiền nhiệt, giải độc rượu, tuyên tiết nhiệt khí. Đốt thành tro đắp loét khóe miệng và nhiệt sang ở âm dương vật (Tàng Khí). Hòa với cơm làm dưa muối, ăn lâu ngày ích tràng vị (Tâm Kính).
===HỒ QUA 胡瓜 (DƯA CHUỘT/DƯA LEO)===
*(Trích: Gia Hữu Bản Thảo - đời Tống) '''Tên khoa học:''' Cucumis sativus L.
'''【Giải thích tên gọi】'''
'''Hoàng qua''' 黃瓜.
* '''Tàng Khí nói:''' Người phương Bắc tránh húy Thạch Lặc (vua nhà Hậu Triệu) nên đổi gọi là Hoàng qua, đến nay vẫn dùng theo.
* '''Thời Trân nói:''' Trương Khiên đi sứ Tây Vực đem giống về nên gọi là Hồ qua. Xét cuốn Thập di lục của Du Bảo nói: Năm Đại Nghiệp thứ 4 nhà Tùy tránh húy nên đổi gọi Hồ qua là Hoàng qua. Thuyết này hơi khác với thuyết của họ Trần. Nay người đời lầm tưởng đây là cây "Vương qua" trong Nguyệt lệnh, thực ra Vương qua là Thổ qua (xem ở bộ Thảo).
'''【Tập giải】'''
* '''Thời Trân nói:''' Hồ qua nơi nào cũng có. Tháng 1, 2 xuống giống, tháng 3 mọc mầm leo dây. Lá giống lá bí đao, cũng có lông. Tháng 4, 5 nở hoa vàng, kết quả chu vi 2-3 thốn, loại dài tới hơn 1 thước, màu xanh, trên vỏ có nốt như mụn cóc (vưu tử), khi già thì màu vàng đỏ. Hạt giống hạt Thái qua. Có loại trồng vào tháng 5, gặp sương kết quả màu trắng mà ngắn, đều có thể ăn sống hoặc chín, dùng làm rau xanh hoặc dưa muối, nhưng muối tương hoặc hèm rượu thì không ngon bằng Thái qua.
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính hàn, có độc nhỏ.
* '''Mạnh Tiễn nói:''' Không được ăn nhiều, làm động hàn nhiệt, sinh bệnh sốt rét, tích tụ ứ nhiệt, phát khí chú (trệ khí), khiến hư nhiệt bốc lên gây đoản hơi (thiếu khí), tổn thương âm huyết, phát mụn nhọt ghẻ lở, cước khí, phù thũng và bách bệnh. Sau bệnh truyền nhiễm không được ăn. Trẻ nhỏ cực kỳ kiêng kỵ vì làm trơn ruột sinh cam trùng. Không nên dùng nhiều với giấm.
'''【Chủ trị】'''
Thanh nhiệt giải khát, lợi thủy đạo (thông tiểu) (Ninh Nguyên).
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch)
* '''Trẻ em lỵ nhiệt:''' Dưa chuột non ăn cùng mật ong mười mấy quả.
* '''Phù thũng, bụng trướng:''' Dưa chuột 1 quả bổ ra, để cả hạt, nửa nấu giấm nửa nấu nước đến nhừ, ăn hết lúc đói để thông tiểu.
* '''Trẻ em ra mồ hôi trộm (Hương qua hoàn):''' Dùng 1 quả dưa chuột lớn màu vàng, bỏ đầu, nhét các vị thuốc (Hoàng liên, Đại hoàng, Bối mẫu...) vào trong vùi chín rồi làm viên.
* '''Họng sưng đau:''' Dưa chuột già bỏ hạt, nhét đầy mang tiêu (natri sulfat), phơi khô tán bột thổi vào họng.
* '''Vết đánh đập sưng tấy:''' Lấy dưa chuột ngâm nước trong bình sứ dùng bôi lên vết thương.
* '''Mắt đỏ sưng đau (Hỏa nhãn):''' Dưa chuột già nhét đầy mang tiêu phơi trong râm, lấy nước thuốc chảy ra điểm mắt rất hiệu nghiệm.
* '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Dưa chuột hái ngày mùng 5 tháng 5, bỏ bình kín treo dưới hiên, lấy nước đó bôi.
'''LÁ'''
* '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính bình, có độc nhỏ.
* '''【Chủ trị】:''' Chứng tích trệ ở trẻ em (thiểm bích), giã lấy nước uống để gây nôn hoặc hạ xuống.
'''RỄ'''
* '''【Chủ trị】:''' Giã đắp trị các nốt sưng độc do gai đâm hoặc côn trùng cắn.
===TI LẶC (MƯỚP)===
*(Trích: Cương mục) '''Tên khoa học:''' Luffa aegyptiaca Mill. (hoặc Luffa cylindrica)
====【Giải thích tên gọi】====
* '''Thiên ti lặc''' (Bản sự), '''Thiên la''' (Sự loại hợp bích), '''Bố qua''' (Sách đã dẫn), '''Man qua''' (Bản sự), '''Ngư bì'''.
* '''Thời Trân nói:''' Loại quả này khi già thì xơ gân đan xen như mạng lưới (ti la), nên có tên là Ti la. Người xưa gọi là Ngư bì, hoặc có nơi gọi là Ngu thứ. Ban đầu giống này từ phương Nam tới nên gọi là Man qua.
====【Tập giải】====
* '''Thời Trân nói:''' Mướp trước đời Đường, Tống không thấy ghi chép, nay Nam Bắc đều có, dùng làm rau ăn thường ngày.
* Tháng 2 xuống giống, mọc mầm leo dây, bò lên cây tre hoặc làm giàn. Lá to hơn lá Thục quỳ, có nhiều thùy nhọn, có lông gai nhỏ, giã lấy nước có thể nhuộm màu xanh lục. Thân có khía lăng trụ. Tháng 6, 7 nở hoa vàng 5 cánh, hơi giống hoa dưa chuột, nhị và cánh đều vàng. Quả to chừng 1 thốn, dài 1-2 thước, có khi tới 3-4 thước, màu xanh đậm, có vết nhăn, đầu quả giống đầu rùa. Lúc non gọt vỏ có thể nấu canh hoặc phơi khô, dùng pha trà hay làm rau. Lúc già thì to như cái chày, xơ gân quấn quýt như dệt thành, gặp sương thì khô héo, chỉ dùng để lót giày, rửa nồi niu, nên dân làng gọi là '''Tẩy oa la qua''' (Mướp rửa nồi). Trong quả có vách ngăn, hạt nằm trong vách, hình dạng giống hạt Qua lâu, màu đen và dẹt. Hoa bao, lá non và tua cuốn đều có thể ăn được.
====QUẢ MƯỚP====
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính bình, không độc. Dùng làm thuốc nên dùng quả già.
'''【Chủ trị】'''
* Trị đậu chẩn mọc không thuận (không mọc ra được), dùng quả khô đốt tồn tính, thêm Chu sa nghiền bột, hòa nước mật uống rất diệu (Chấn Hanh). Nấu ăn giúp trừ nhiệt, lợi tràng. Quả già đốt tồn tính uống giúp trừ phong hóa đàm, lương huyết giải độc, sát trùng, thông kinh lạc, hành huyết mạch, hạ sữa (lợi sữa). Trị đại tiểu tiện ra máu, trĩ lậu, băng huyết, hoàng tích (vàng da), sán khí (sa tinh hoàn) đau sưng, huyết khí gây đau, ung thư sang thũng (mụn nhọt độc), nấm răng (xỉ cam), độc thai kỳ của đậu chẩn (Thời Trân). Làm ấm dạ dày, bổ dương, cố khí và an thai (Sinh sinh biên).
'''【Phát minh】'''
* '''Vương Dĩnh nói:''' Mướp không thấy trong các sách bản thảo cũ, chỉ thấy trong các phương trị đậu chẩn và ung nhọt ở chân có dùng tro mướp, cũng là lấy tính hàn để giải độc vậy.
* '''Thời Trân nói:''' Mướp già có xơ gân thông suốt, vách ngăn liên thuộc, nên có khả năng thông mạch lạc tạng phủ của người, giúp trừ phong giải độc, tiêu sưng hóa đàm, trị đau sát trùng và trị các chứng huyết bệnh.
'''【Phụ phương】''' (Lược dịch một số phương chính)
* '''Đậu chẩn mọc không thuận:''' Mướp già (đoạn gần cuống 3 thốn) đốt tồn tính, tán bột, uống với nước đường.
* '''Ung thư lâu ngày không khép miệng:''' Mướp giã lấy nước bôi thường xuyên.
* '''Trĩ ra máu, thoát giang:''' Tro mướp, vôi lâu năm, Hùng hoàng mỗi thứ 5 tiền, trộn mật lợn, lòng trắng trứng và dầu thơm đắp vào.
* '''Lợi sữa:''' Mướp cả hạt đốt tồn tính nghiền bột, uống 1-2 tiền với rượu, đắp chăn cho ra mồ hôi là thông.
* '''Đau lưng không dứt:''' Nhân hạt mướp sao cháy, giã hòa rượu nóng uống, bã đắp chỗ đau.
* '''Viêm họng sưng đau:''' Mướp tươi nghiền lấy nước đổ vào họng.
* '''Nướu răng sưng đau (do phong trùng):''' Mướp khô trải sương đốt tồn tính xát vào răng.
* '''Phù thũng ở trẻ em:''' Mướp, Cỏ bấc đèn, Hành trắng lượng bằng nhau sắc nước uống và tắm.
* '''Cổ trướng (thủy cổ):''' Mướp già bỏ vỏ, sao cùng Ba đậu, bỏ đậu lấy mướp nghiền bột làm viên. Đây là phương của danh y Tống Hội Chi thời Nguyên.
====LÁ MƯỚP====
* '''【Chủ trị】:''' Trị hắc lào (tẩy sang), xát thường xuyên. Trị ung thư đinh thũng, sưng tinh hoàn (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:'''
** '''Bỏng lửa, bỏng nước:''' Lá mướp sao vàng tán bột, thêm 1 tiền Thần phấn, trộn mật bôi. Lá tươi giã đắp một ngày là khỏi.
** '''Đinh râu (Ngư tề đinh sang):''' Lá mướp, Hành cả rễ, Hẹ lượng bằng nhau giã nát lấy nước hòa rượu nóng uống, bã đắp nách (bệnh bên trái đắp nách trái...).
====RỄ VÀ DÂY MƯỚP====
* '''【Khí vị】:''' Giống lá.
* '''【Chủ trị】:''' Trị nấm răng (xỉ cam), não lậu (viêm xoang mạn), sát trùng giải độc (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】:'''
** '''Não lậu (xoang chảy mủ hôi):''' Dây mướp đoạn gần rễ 3-5 thước, đốt tồn tính. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm.
** '''Đau răng:''' Dây mướp khô đốt tồn tính xát vào. Hoặc dây mướp, Xuyên tiêu, Đăng tâm sắc nước đặc súc miệng.
** '''Hóc xương cá:''' Rễ mướp hái ngày mùng 7 tháng 7 phơi khô, đốt tồn tính. Uống 2 tiền với nước sắc của chính loại vật gây hóc.
====【Phụ lục】====
'''Thiên la lặc''' (Thập di).
* '''Tàng Khí nói:''' Mọc ở đất bằng vùng Giang Nam. Trị độc nước suối (khê độc), giã nát đắp vào.
* '''Thời Trân nói:''' Họ Trần chú giải không rõ. Vùng Giang Nam gọi Mướp là Thiên la, nghi là vật này, nhưng chưa có bằng chứng xác đáng, tạm phụ vào đây.
===KHỔ QUA (MƯỚP ĐẮNG)===
*(Trích: Cứu hoang bản thảo) '''Tên khoa học:''' Momordica charantia L.
====【Giải thích tên gọi】====
* '''Cẩm lệ chi''' (Cứu hoang), '''Lại bồ đào'''.
* '''Thời Trân nói:''' "Khổ" là gọi theo vị đắng. Các tên "Qua" (dưa), "Lệ chi" (vải), "Bồ đào" (nho) đều là dựa vào hình dáng quả, thân và lá có nét tương đồng mà đặt tên.
====【Tập giải】====
* '''Chu Định Vương nói:''' Cẩm lệ chi chính là Lại bồ đào (Nho ghẻ), mọc leo lên các loài cỏ cây. Thân dài bảy, tám thước, thân có lông nhám. Lá giống lá nho rừng, hoa nở màu vàng. Quả to như trứng gà, có nếp nhăn xù xề, trông giống quả vải.
* '''Thời Trân nói:''' Khổ qua vốn xuất xứ từ phương Nam (Nam Phiên), nay vùng Mân (Phúc Kiến), Quảng (Quảng Đông/Quảng Tây) đều trồng. Tháng 5 xuống giống, mọc mầm leo dây; thân, lá, tua cuốn đều giống cây nho nhưng nhỏ hơn. Tháng 7, 8 nở hoa nhỏ màu vàng, 5 cánh hình như cái bát. Kết quả loại dài khoảng bốn, năm thốn, loại ngắn khoảng hai, ba thốn, màu xanh. Trên vỏ quả có các nốt sần sùi như rôm sảy, trông giống như da người bị hủi (lại) hoặc như vỏ quả vải. Khi chín thì ngả màu vàng rồi tự nứt ra, bên trong có lớp thịt (nhàng) màu đỏ bao quanh hạt. Lớp thịt đỏ này vị ngọt có thể ăn được. Hạt hình dẹt như hạt dưa, trên hạt cũng có các nốt sần. Người phương Nam dùng quả xanh bỏ vỏ nấu với thịt hoặc muối dưa, muối tương làm rau ăn, vị đắng chát và có khí xanh.
* Xét cuốn Tinh tra thắng lãm của Phí Tín có chép: Ở nước Tô Môn Đáp Lạt (Sumatra) có một loại dưa, vỏ như quả vải, khi chưa bổ ra thì mùi rất hôi như tỏi thối, bổ ra thì bên trong như cái túi, vị như váng sữa (tô), hương vị ngọt thơm vừa miệng. Nghi rằng đó chính là Khổ qua vậy.
====QUẢ KHỔ QUA====
* '''【Khí vị】:''' Vị đắng, tính hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】:''' Trừ tà nhiệt, giải lao nhọc mệt mỏi, làm thanh tâm và sáng mắt (Thời Trân - Sinh sinh biên).
====HẠT KHỔ QUA====
* '''【Khí vị】:''' Vị đắng, ngọt, không độc.
* '''【Chủ trị】:''' Ích khí tráng dương (Thời Trân).
==6 loại rau dưới nước==
===Tử Thái (Rong biển tím)===
*Tên khoa học: '''Pyropia''' (hoặc '''Porphyra''' spp.)
* '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Tử Nhuyễn.
* '''Tập hợp giải thích:''' Mạnh Thẩn nói: Tử thái sinh ra ở biển Nam Hải, bám vào đá. Màu gốc là xanh lục, hái về phơi khô thì chuyển sang màu tím.
** Lý Thời Trân nói: Vùng ven biển Phúc Kiến, Quảng Đông đều có. Lá lớn mà mỏng. Người dân ở đó kết thành dạng bánh, phơi khô đem bán, sắc tím thuần chính, cũng là một loại rêu đá (thạch y).
* '''Khí vị:''' Ngọt, hàn, không độc.
** Trần Tàng Khí nói: Ăn nhiều khiến người ta đau bụng, phát khí, nôn ra bọt trắng. Uống một ít giấm nóng sẽ tan ngay.
* '''Chủ trị:''' Nhiệt khí gây phiền muộn, tắc nghẹn cổ họng, sắc nước mà uống (Mạnh Thẩn). Người bị bướu cổ (anh lựu), bệnh phù chân (cước khí) nên ăn (Thời Trân).
* '''Phát minh:''' Chu Đan Khê nói: Phàm các bệnh bướu cổ, u cục tích tụ, nên thường xuyên ăn tử thái, chính là theo nghĩa "vị mặn có thể làm mềm chỗ cứng" (hàm năng nhuyễn kiên).
===Thạch Thuần (Rêu đá)===
*Tên khoa học: '''Ulva lactuca''' (Xà lách biển)
* '''Hiệu đính:''' Di dời từ phần Thảo bộ sang đây.
* '''Tập hợp giải thích:''' Trần Tàng Khí nói: Thạch thuần sinh ở Nam Hải, bám vào đá mà sống. Trông giống tử thái nhưng màu xanh lục.
* '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Hạ thủy, lợi tiểu tiện (Tàng Khí). Chủ trị phong bí không thông, ngũ cách khí (nghẹn), kết khí dưới rốn, sắc nước uống. Người Hồ dùng trị bệnh cam (Lý Tuần).
===Thạch Hoa Thái (Rau thạch hoa)===
*Tên khoa học: '''Gelidium amansii'''
* '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Quỳnh Chi. Lý Thời Trân nói: Đều là dựa vào hình dáng mà đặt tên.
* '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Thạch hoa thái sinh trong cát đá ở Nam Hải. Cao hai, ba tấc, trạng như san hô, có hai màu đỏ và trắng, trên cành có răng cưa nhỏ. Dùng nước sôi chần qua để loại bỏ cát bụi, trộn với gừng và giấm, ăn rất giòn. Rễ vùi trong cát, có thể mọc lại cành mới. Có một loại hơi thô trông giống chân gà, gọi là Kê Cước Thái, vị còn ngon hơn. Hai thứ này ngâm lâu đều hóa thành keo đông. Quách Phác trong bài Hải Phú có nói "vật dưới nước thì có ngọc diêu, hải nguyệt; vật dưới đất thì có thổ nhục, thạch hoa", chính là vật này.
* '''Khí vị:''' Ngọt, mặn, đại hàn, trơn (hoạt), không độc.
* '''Chủ trị:''' Loại bỏ hư nhiệt ở thượng tiêu, làm ấm (phát) phần hư hàn ở hạ bộ (Ninh Nguyên).
===Lộc Giác Thái (Rau gạc nai)===
*Tên khoa học: '''Chondrus ocellatus''' (hoặc '''Gigartina''' spp.)
* '''Giải thích tên gọi:''' Còn gọi là Hầu Khuê. Lý Thời Trân nói: Theo Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn, Hầu khuê còn có tên là Lộc giác. Lộc giác là gọi theo hình dáng, Hầu khuê là vì tính chất trơn tuồn tuột của nó.
* '''Tập hợp giải thích:''' Tiêu Sĩ Lương nói: Lộc giác thái sinh ở vùng biển Hải Châu, Đăng, Lai, Nghi, Mật.
** Lý Thời Trân nói: Lộc giác thái sinh trong các khe đá ở biển Đông Nam. Dài ba, bốn tấc, lớn như sợi dây thép, phân nhánh như gạc nai, màu tím vàng. Người dân địa phương hái về phơi khô, bán làm hải sản. Dùng nước rửa sạch trộn giấm thì nở ra như mới, vị cực kỳ trơn ngon. Nếu ngâm lâu sẽ tan ra như keo, phụ nữ dùng để chải tóc giúp tóc dính nếp mà không rối.
* '''Khí vị:''' Ngọt, đại hàn, trơn, không độc.
** Mạnh Thẩn nói: Có độc nhẹ. Đàn ông không nên ăn lâu ngày, làm phát bệnh cũ, tổn hại thắt lưng, thận, kinh lạc và huyết khí, khiến chân lạnh tê, sắc mặt kém.
* '''Chủ trị:''' Hạ nhiệt phong khí, trị chứng cốt chưng nhiệt lao ở trẻ em. Người đang uống đan thạch (thuốc tiên thuật) ăn vào có thể giải được độc tính của thạch (Sĩ Lương). Giải nhiệt ở mặt (Đại Minh).
===Long Tu Thái (Rau râu rồng)===
*Tên khoa học: '''Gracilaria lemaneiformis'''
* '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Long tu thái sinh trên đá ven biển Đông Nam. Mọc thành bụi không cành, lá giống lá liễu, rễ dài hơn một thước, màu trắng. Dùng giấm ngâm để ăn, hoặc hấp chung với thịt cũng rất ngon. Cuốn Bác Vật Chí có nhắc đến một loại "Thạch phát" có vẻ là vật này, trùng tên với loại "Thạch phát" thuộc nhóm rêu đá.
* '''Khí vị:''' Ngọt, hàn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Kết khối do bướu cổ, nhiệt khí, lợi tiểu tiện (Thời Trân).
===Thụy Thái (Rau ngủ)===
*Tên khoa học: '''Menyanthes trifoliata''' (Thủy thái/Rau bồn bồn)
* '''Giải thích tên gọi:''' Minh thái, Xước thái, Túy thảo (cỏ say), Lãn phụ châm (Kim khâu của người vợ lười).
* '''Tập hợp giải thích:''' Lý Thời Trân nói: Theo Nam Phương Thảo Mộc Trạng của Kê Hàm, Xước thái mùa hè sinh ở ao hồ. Lá giống lá từ cô (rau mác), rễ giống ngó sen nhỏ. Người Nam Hải ăn vào thấy buồn ngủ, nên gọi là Minh thái (rau ngủ).
** Đoạn Công Lộ trong Bắc Hộ Lục nói: Thụy thái tháng 5, tháng 6 mọc trong ruộng đầm. Người địa phương hái rễ làm dưa muối, ăn vào ngủ ngon.
** Quách Hiến trong Động Minh Ký có nhắc đến "Khước thụy thảo" (cỏ đuổi ngủ), ăn vào không ngủ được, trái ngược hoàn toàn với loại này. Thời Trân xét thấy: Khổ thái (rau đắng), Long quỳ đều có thể làm người ta không ngủ được, "Khước thụy thảo" chắc là thuộc loại đó chăng?
* '''Khí vị:''' Ngọt, hơi đắng, hàn, không độc.
* '''Chủ trị:''' Tà nhiệt ở tâm và cách (hoành cách mô) gây mất ngủ (Thời Trân).
==15 loại nấm==
===Linh chi (芝)===
*(Nằm trong Thượng phẩm của Thần Nông Bản Thảo Kinh)
'''【Hiệu đính】'''
Hợp nhất sáu loại Linh chi từ Bản Kinh gồm: Thanh chi, Xích chi, Hoàng chi, Bạch chi, Hắc chi và Tử chi.
'''【Giải thích tên gọi】'''
Còn gọi là '''Tù (苬)'''.
* '''Thời Trân nói:''' Chữ Chi (芝) vốn viết là 之, chữ triện tượng hình cỏ mọc trên đất. Người đời sau mượn chữ 之 làm trợ từ, nên thêm bộ Thảo (艹) vào trên để phân biệt. Sách Nhĩ Nhã gọi là Tù. Chú thích rằng: Đây là loại cỏ lành, một năm nở hoa ba lần. Có người nói mọc ở chỗ cứng gọi là Khuẩn (nấm), mọc ở chỗ mềm gọi là Chi. Xưa kia "Thương Sơn Tứ Hạo" hái chi mà ăn, các vị tiên cũng dùng, nên Chi cũng thuộc họ nấm có thể ăn được, vì thế được đưa vào phần Rau (菜部).
'''【Tập hợp giải thích】'''
* '''Biệt lục viết:''' Thanh chi mọc ở Thái Sơn, Xích chi mọc ở Hoắc Sơn, Hoàng chi mọc ở Tung Sơn, Bạch chi mọc ở Hoa Sơn, Hắc chi mọc ở Thường Sơn, Tử chi mọc ở thung lũng Cao Hạ. Sáu loại chi này đều hái vào tháng 6 và tháng 8.
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Nam Nhạc vốn là Hành Sơn, Hán Vũ Đế mới lấy tiểu Hoắc Sơn thay thế, nên Xích chi này lẽ ra phải mọc ở Hành Sơn. Các quận huyện không có tên Cao Hạ, e rằng đó là tên núi. Sáu loại chi này đều là loài cỏ tiên, dân gian hiếm thấy, chủng loại rất nhiều, hình sắc khác biệt, đều được chép trong Chi Thảo Đồ. Tử chi mà dân gian dùng hiện nay mọc trên thân cây mục, hình dáng như cái mộc nhĩ gỗ, tên là Tử chi, chỉ để chữa trĩ, không nên phối hợp vào các loại thuốc bổ hoàn. Hễ hái được chi thảo thì cứ thế mà ăn, không có quy tắc phức tạp, nên không ghi phương pháp uống.
* '''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Sách Ngũ Chi Kinh viết: Năm màu chi sinh ra ở Ngũ Nhạc. Các nơi dâng lên, Bạch chi chưa chắc từ Hoa Sơn, Hắc chi lại không phải từ Thường Nhạc. Vả lại đa số là màu vàng và trắng, hiếm có màu đen và xanh. Tuy nhiên Tử chi là nhiều nhất, không thuộc loại Ngũ chi. Chi vốn khó tìm, dẫu có được một hai thì sao có thể uống lâu dài?
* '''Vương Siêu viết:''' Vương Sung trong Luận Hành nói: Chi mọc từ đất. Khí của đất hòa hợp nên chi thảo sinh ra. Sách Thụy Mệnh Ký viết: Bậc quân chủ nhân từ thì chi thảo mọc. Chính là nó vậy.
* '''Thời Trân nói:''' Loài chi rất nhiều, cũng có loại có hoa có quả. Bản Thảo chỉ lấy tên sáu loại chi làm tiêu biểu, nhưng chủng thuộc của chúng thì không thể không biết.
** Thần Nông Kinh viết: Tinh hoa của mây mưa núi sông, bốn mùa năm hành, âm dương ngày đêm sinh ra thần chi năm màu, là điềm lành cho bậc thánh vương.
** Thụy Ứng Đồ viết: Chi thảo thường sinh vào tháng 6, mùa xuân màu xanh, mùa hạ màu tím, mùa thu màu trắng, mùa đông màu đen.
** Cát Hồng trong Báo Phác Tử viết: Chi có Thạch chi (chi đá), Mộc chi (chi gỗ), Thảo chi (chi cỏ), Nhục chi (chi thịt), Khuẩn chi (chi nấm), phàm có hàng trăm loại.
*** '''Thạch chi:''' Giống hình đá, sinh ở núi đá ven biển hoặc hải đảo.
*** '''Nhục chi:''' Hình như miếng thịt, bám vào đá lớn, có đủ đầu đuôi, là sinh vật. Loại đỏ như san hô, trắng như mỡ cắt, đen như nhựa mủ, xanh như lông chim thúy, vàng như vàng tím, đều sáng suốt trong vắt như băng cứng. Con lớn mười mấy cân, con nhỏ ba bốn cân.
** Người tìm chi thảo vào núi danh tiếng tất phải chọn tháng 3, tháng 9 (là lúc núi mở cửa xuất thần dược). Phải chọn giờ Thiên Phụ, xuất từ cửa Tam Kỳ Cát Môn, đến núi vào ngày Lục Âm, giờ Minh Đường. Mang theo bùa Linh Bảo, dắt chó trắng, ôm gà trắng, mang một đấu muối trắng và bùa khai sơn đặt trên đá lớn. Tay cầm một nắm cỏ Ngô Đường vào núi, thần núi sẽ vui lòng, tất sẽ thấy chi. Phải dùng bước chân Vũ Bộ để tới hái. Chọn ngày Vương Tướng hòa hợp, chi can tương sinh, dùng dao bằng xương để cắt, phơi khô trong bóng râm rồi tán bột uống mới có công hiệu. Nếu người không tinh khiết ăn chay lâu ngày, đức mỏng hành uế, lại không hiểu thuật vào núi, dẫu có bản đồ thì quỷ thần cũng không cho thấy.
** '''Khuẩn chi:''' Mọc nơi núi sâu, dưới cây lớn, bên dòng suối. Hình dáng hoặc như cung điện, như rồng hổ, như xe ngựa, như chim bay, năm màu không định rõ. Có 120 loại, có hình vẽ riêng.
** '''Mộc chi (Chi gỗ):''' Gồm nhiều loại như Uy Hỉ Chi (nhựa thông hóa thành), Phi Tiết Chi (trên cây thông già 3000 năm), Mộc Cừ Chi (gửi thân trên cây lớn, hình hoa sen), Hoàng Bá Chi (dưới gốc cây hoàng bá nghìn năm), Kiến Mộc Chi, Tham Thành Chi, Phàn Đào Chi, Thiên Tuế Chi (mọc dưới cây khô, rễ như hình người ngồi, cắt ra có máu).
** '''Thảo chi (Chi cỏ):''' Gồm các loại như Độc Diêu Chi (không gió tự lay động), Ngưu Giác Chi, Long Tiên Chi, Tử Châu Chi, Bạch Phù Chi, Chu Thảo Chi, Ngũ Đức Chi. Có 120 loại, người hái được mà uống sẽ thành tiên.
** '''Ngọc mỡ chi (Ngọc chi):''' Mọc ở núi có ngọc, hình như chim thú, sắc màu rực rỡ như thủy tinh.
** '''Thất Minh Cửu Quang Chi:''' Mọc ở vách đá ven nước, hình như cái bát, loại có 7 lỗ gọi là Thất Minh, 9 lỗ gọi là Cửu Quang, ban đêm phát sáng.
* '''Thời Trân xét rằng:''' Chi là do khí thừa của sự thối mục sinh ra, giống như con người bị u bướu. Cổ nhân coi là thụy thảo, lại bảo uống vào thành tiên, thực là viển vông. Gần đây đọc lời của Đoàn Thành Thức mới thấy tâm đắc. Lại nữa, các phương sĩ dùng thuốc đắp lên chỗ gỗ mục ẩm ướt cũng sinh ra chi năm màu để dâng vua. Đây là điều người xưa chưa nói đến, không thể không biết.
====Thanh Chi (Linh chi xanh)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma virescens''' (hoặc loài tương đương thuộc chi Ganoderma)
* '''Tên khác:''' Long chi.
* '''Khí vị:''' Chua, bình, không độc. (Lý Thời Trân cho rằng vị của ngũ sắc chi được gán theo ngũ hành, chưa chắc thực tế đã như vậy).
* '''Chủ trị:''' Sáng mắt, bổ gan khí, an thần hồn, khiến người nhân từ. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh). Tăng trí nhớ (Đường Bản).
====Xích Chi (Linh chi đỏ)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma lucidum'''
* '''Tên khác:''' Đan chi.
* '''Khí vị:''' Đắng, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị kết tụ trong ngực, ích tâm khí, bổ trung, tăng trí tuệ, không quên. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh).
====Hoàng Chi (Linh chi vàng)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma sinense''' (loại màu vàng) hoặc '''Laetiporus sulphureus'''
* '''Tên khác:''' Kim chi.
* '''Khí vị:''' Ngọt, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị ngũ tà ở tâm phúc, ích tỳ khí, an thần, khiến người trung tín hòa lạc. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh).
====Bạch Chi (Linh chi trắng)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma applanatum''' (loại có bào tử trắng) hoặc '''Laricifomes officinalis'''
* '''Tên khác:''' Ngọc chi, Tố chi.
* '''Khí vị:''' Cay, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị ho nghịch thượng khí, ích phế khí, thông mũi miệng, làm mạnh ý chí, dũng cảm, an phách. Ăn lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh).
====Hắc Chi (Linh chi đen)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma atrum'''
* '''Tên khác:''' Huyền chi.
* '''Khí vị:''' Mặn, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Trị chứng bí tiểu, lợi đường thủy, ích thận khí, thông chín khiếu, giúp thính tai mắt sáng. Uống lâu nhẹ mình không già, kéo dài tuổi thọ thành tiên (Bản Kinh).
====Tử Chi (Linh chi tím)====
*Tên khoa học: '''Ganoderma sinense'''
* '''Tên khác:''' Mộc chi.
* '''Khí vị:''' Ngọt, ấm, không độc. (Chân Quyền nói: Bình).
* '''Chủ trị:''' Trị điếc tai, lợi khớp xương, bảo vệ tinh thần, ích tinh khí, làm bền gân cốt, tươi nhuận da mặt. Uống lâu nhẹ mình không già (Bản Kinh). Trị hư lao, chữa trĩ (Thời Trân).
'''【Phụ phương】'''
* '''Tử Chi Hoàn:''' Trị hư lao đoản hơi, đau tức ngực sườn, tay chân lạnh ngắt, đôi khi phiền táo miệng khô, mắt mờ, bụng đau lâm râm, không muốn ăn uống. Thuốc này giúp an thần bảo tinh.
** Thành phần: Tử chi 1 lượng rưỡi; Sơn dược (sao), Thiên hùng (nướng bỏ vỏ), Bá tử nhân (sao), Ba kích thiên (bỏ lõi), Bạch phục linh (bỏ vỏ), Chỉ thực (sao) mỗi vị 3 tiền 5 phân; Sinh địa hoàng, Mạch môn đông, Ngũ vị tử (sao), Bán hạ (chế), Phụ tử (sao bỏ vỏ), Mẫu đơn bì, Nhân sâm mỗi vị 7 tiền 5 phân; Viễn chí (bỏ lõi), Liễu thực mỗi vị 2 tiền 5 phân; Qua tử nhân (sao), Trạch tả mỗi vị 5 tiền.
** Cách dùng: Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 15 hoàn, tăng dần đến 30 hoàn, uống với rượu ấm, ngày 3 lần (Thánh Tế Tổng Lục).
===Mộc nhĩ (Nấm mèo) và các loại nấm ký sinh trên thân gỗ===
*(Nằm trong Trung phẩm của Thần Nông Bản thảo kinh)
====Mộc nhĩ (Nấm mèo)====
'''【Hiệu đính】'''
Tách ra từ mục Tang căn bạch bì (Vỏ trắng rễ dâu).
'''【Giải thích tên gọi】'''
'''Mộc nhuyễn''' (木𣚊), '''Mộc khuẩn''' (木菌), '''Mộc tòng''' (木㙡), '''Thụ kê''' (樹雞 - Gà cây), '''Mộc nga''' (木蛾 - Bướm gỗ).
* '''Thời Trân nói:''' Mộc nhĩ sinh ra trên gỗ mục, không cành lá, vốn do dư khí của thấp nhiệt sinh ra. Gọi là "nhĩ" (tai), "nga" (bướm) là theo hình dáng. Gọi là "nhuyễn" (mềm) vì loại mềm ẩm thì tốt. Gọi là "kê" (gà), "tòng" là vì vị giống như thịt gà. Người vùng Nam Sở gọi gà là "tòng". Gọi là "khuẩn" (nấm) cũng là tượng hình.
* Có thuyết nói: Mọc dưới đất gọi là Khuẩn, mọc trên cây gọi là Nga. Người phương Bắc gọi là Nga, người phương Nam gọi là Thâm (Nấm).
'''【Tập hợp giải thích】'''
* '''Biệt lục viết:''' Ngũ mộc nhĩ (Mộc nhĩ trên 5 loại cây) sinh ở thung lũng Kiền Vi. Hái vào tháng 6 lúc mưa nhiều, rồi đem phơi khô.
* '''Hoằng Cảnh nói:''' Đây nói là ngũ mộc nhĩ nhưng không nói rõ là cây gì. Chỉ có cây dâu già sinh ra Tang nhĩ, có các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Loại mềm ẩm người ta hái về làm dưa (trữ), không dùng làm thuốc nữa.
* '''Tô Cung nói:''' Dâu, Hòe, Chữ (Dướng), Nhâm, Liễu là năm loại cây sinh mộc nhĩ. Loại mềm đều ăn được. Người ta thường ăn Chữ nhĩ (nấm cây dướng), còn Hòe nhĩ (nấm cây hòe) dùng trị trĩ. Đổ nước cháo lên các khúc gỗ rồi phủ cỏ lên, nấm sẽ mọc ra.
* '''Thời Trân nói:''' Mộc nhĩ mọc trên mỗi loại cây khác nhau, tính tốt hay độc cũng tùy thuộc vào tính chất của gỗ đó, không thể không xem xét kỹ. Tuy nhiên mộc nhĩ bán hiện nay đa số là gỗ tạp, trong đó nấm từ cây Dâu, Liễu, Dướng, Nhâm là nhiều nhất.
'''【Khí vị】'''
Vị ngọt, tính bình, có độc ít.
* '''Chân Quyền nói:''' Mộc nhĩ mọc trên cây Hòe cổ thụ, cây Dâu là tốt nhất, cây Thạch (Tắc) xếp sau. Mộc nhĩ trên các cây khác đa số làm động phong khí, phát bệnh cũ, khiến người ta đau tức sườn, tổn thương kinh lạc và lưng vai, gây bứt rứt.
* '''Trần Tàng Khí nói:''' Mộc nhĩ kỵ rắn, sâu bò qua dưới gốc vì sẽ nhiễm độc. Nấm mọc trên cây Phong khiến người ta cười không dứt. Loại hái về bị đổi màu là có độc, ban đêm phát sáng là có độc, loại sắp nát mà không sinh sâu mọt cũng có độc; đều dùng nước giã từ dây mướp đắng (đông qua mạn) để giải.
* '''Thời Trân nói:''' Trương Trọng Cảnh vân: Mộc nhĩ sắc đỏ hoặc mọc ngửa lên đều không được ăn.
'''【Chủ trị】'''
Ích khí không đói, nhẹ mình mạnh chí (Bản kinh). Đoạn cốc (nhịn ăn) và trị trĩ (Thời Trân).
'''【Phát minh】'''
* '''Viên Dĩnh nói:''' Có người bị trĩ, dùng mọi thuốc không khỏi, ăn canh mộc nhĩ mà khỏi, cực kỳ linh nghiệm.
* '''Thời Trân nói:''' Sách Sinh Sinh Biên viết: Liễu nga (nấm cây liễu) bổ vị, Mộc nhĩ suy tinh. Ý nói nấm trên cây liễu già bổ dạ dày lý khí; còn mộc nhĩ sinh từ gỗ mục, đắc khí của âm, nên có hại là làm suy giảm tinh và lạnh thận.
'''【Phụ phương】'''
(Gồm 6 phương mới)
* '''Mắt chảy lệ lạnh:''' Mộc nhĩ 1 lượng (đốt tồn tính), Mộc tặc 1 lượng, tán bột. Mỗi lần dùng 2 tiền, sắc với nước vo gạo trong để uống.
* '''Lở loét chân chảy máu (Huyết chú cước sang):''' Tang nhĩ, Chữ nhĩ, Ngưu tử cô (nấm phân bò) mỗi vị 5 tiền, tro tóc rối (nam dùng tóc nữ và ngược lại) 3 tiền. Tán bột, trộn dầu bôi hoặc bôi khô.
* '''Băng lậu (xuất huyết tử cung):''' Mộc nhĩ nửa cân, sao đến khi bốc khói, tán bột. Mỗi lần dùng 2 tiền 1 phân phối với 3 phân tro tóc (tổng 2 tiền 4 phân để ứng với 24 tiết khí), dùng rượu ngon chiêu uống cho ra mồ hôi.
* '''Tiêu chảy, lỵ mới hoặc lâu ngày:''' Mộc nhĩ khô 1 lượng (sao), Lộc giác giao 2 tiền rưỡi (sao), tán bột. Mỗi lần 3 tiền, chiêu với rượu ấm, ngày 2 lần.
* '''Kiết lỵ ra máu:''' Mộc nhĩ 5 tiền (sao tán bột), uống với rượu là khỏi. Hoặc dùng nước giếng sáng sớm chiêu uống, hoặc nấu với muối và giấm để ăn.
* '''Các chứng đau răng:''' Mộc nhĩ, Kinh giới phân lượng bằng nhau, sắc canh súc miệng thường xuyên.
====TANG NHĨ (Nấm cây dâu)====
*Tên khoa học: '''Phellinus linteus''' (thường gọi là Linh chi vàng hoặc Nấm Thượng Hoàng)
* '''Giải thích tên gọi:''' '''Tang nhuyễn''' (桑 ), '''Tang nga''' (桑蛾), '''Tang kê''' (桑雞), '''Tang hoàng''' (桑黃), '''Tang thần''' (桑臣), '''Tang thượng ký sinh'''.
* '''Khí vị:''' Ngọt, bình, có độc. (Mạnh Thẩn nói: Hàn, không độc; Đại Minh nói: Ấm, ít độc).
* '''Chủ trị:''' Loại màu đen trị phụ nữ lậu hạ ra khí hư đỏ trắng, trưng hà tích tụ, đau âm hộ, âm dương hàn nhiệt, không con (Bản kinh). Trị kinh nguyệt không đều. Loại màu vàng chín trắng lâu ngày trị tiêu chảy kéo dài, ích khí không đói. Loại màu vàng kim trị tích tụ đờm ẩm (tích ẩm), đau bụng, vết thương kim khí (Biệt lục). Trị phụ nữ băng trung đới hạ, bế kinh, máu kết sau sinh, nam giới bị tích tụ bụng sườn (Chân Quyền). Cầm máu cam, lỵ ra máu, đau bụng ở phụ nữ (Đại Minh). Lợi ngũ tạng, thông khí đường ruột, bài độc, giải nhiệt cho người dùng đan thạch (Mạnh Thẩn).
====HOÈ NHĨ (Nấm cây hòe)====
*Tên khoa học: '''Perenniporia fraxinea'''
* '''Giải thích tên gọi:''' '''Hoè nhuyễn''' (槐 ), '''Hoè khuẩn''' (槐菌), '''Hoè kê''' (槐雞), '''Xích kê''' (赤雞), '''Hoè nga'''.
* '''Khí vị:''' Đắng, cay, bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Ngũ trĩ thoát giang, hạ huyết (đi ngoài ra máu), đau tim, phụ nữ đau lở âm hộ (Tô Cung). Trị phong phá huyết, tăng sức lực (Chân Quyền).
* '''Phụ phương:''' Trị trĩ hạ huyết, băng huyết, đau máu sau sinh, giun đũa gây đau tim,臟 độc hạ huyết (đi ngoài ra máu do độc trong tạng).
====NHÂM NHĨ (Nấm cây nhâm/榆耳)====
*Tên khoa học: '''Pleurotus citrinopileatus'''
* '''Thu hoạch:''' Hái vào tháng 8.
* '''Chủ trị:''' Khiến người không đói (Thời Trân).
====LIỄU NHĨ (Nấm cây liễu/柳耳)====
*Tên khoa học: '''Phellinus igniarius'''
* '''Chủ trị:''' Bổ vị lý khí (Thời Trân). Trị phản vị nôn đờm.
====THẠCH NHĨ (Nấm cây tắc/柘耳)====
*Tên khoa học: '''Phellinus gilletii''' (hoặc loài ký sinh trên cây Cudrania)
* '''Tên khác:''' '''Thạch hoàng''' (柘黃).
* '''Chủ trị:''' Phế ung ho khạc ra mủ máu hôi thối. Dùng 1 lượng tán bột, trộn với 2 tiền Bách thảo sương làm hoàn, uống với nước vo gạo rất nhanh khỏi.
====DƯƠNG LÔ NHĨ (Nấm cây dương lô/楊櫨耳)====
* '''Khí vị:''' Bình, không độc.
* '''Chủ trị:''' Huyết cũ kết khối, phá huyết cầm máu, sắc uống.
===Sâm Khuẩn (Nấm cây sa mộc)===
*Tên khoa học: '''Cunninghamia lanceolata''' (nấm mọc trên cây này thường là một loại thuộc chi '''Phellinus''' hoặc '''Trametes''')
* '''【Tập hợp giải thích】''' Tô Tụng nói: Sâm khuẩn xuất xứ từ Nghi Châu. Sinh ra trên gỗ cây Sa mộc (Cunninghamia) đã tích năm, hình trạng như nấm khuẩn. Thu hái không kể thời gian.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, cay, hơi ấm, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Đau khí ở tâm tỳ và các chứng đau tim cấp tính (Tô Tụng).
===Táo Giác Thẩm (Nấm cây bồ kết)===
*Tên khoa học: '''Phellinus''' spp. (thường là '''Phellinus robiniae''')
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Đây là loại mộc nhĩ sinh trên cây Bồ kết (Gleditsia). '''Không thể ăn'''. Hái về bào khô để dự phòng dùng làm thuốc.
* '''【Khí vị】''' Cay, có độc.
* '''【Chủ trị】''' Tích tụ cặn bã gây đau đớn: pha nước sôi uống, có tác dụng nhuận tẩy nhẹ thì hiệu quả. Nếu chưa dứt thì uống tiếp. Lại trị sưng độc mới phát: mài với giấm mà bôi, rất tốt (Thời Trân).
* '''【Phụ phương】''' (Mới có 1 phương)
** '''Trị tràng phong hạ huyết:''' Dùng nấm trên cây bồ kết, nướng trên ngói rồi tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm (Hứa Học Sĩ - Bản sự phương).
===Hương Thẩm (Nấm hương)===
*Tên khoa học: '''Lentinula edodes'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Thời Trân nói: Chữ "Thẩm" (蕈) từ chữ "Đàm" (覃). Đàm nghĩa là kéo dài (diên). Vị của nấm hương đậm đà dư vị, có ý vị kéo dài nên gọi là Thẩm.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Ngô Thụy nói: Nấm mọc trên gỗ các cây Đồng, Liễu, Chỉ, Chù. Loại màu tím gọi là Hương thẩm, loại màu trắng gọi là Nhục thẩm, đều do thấp khí hun đúc mà thành. Loại mọc nơi núi sâu hẻo lánh thường có độc gây chết người.
** Viên Dĩnh nói: Hương thẩm sinh trên gỗ Phong mục trong núi sâu. Nhỏ hơn nấm khuẩn thường mà mỏng, màu vàng đen, vị rất thơm ngon, là loại phẩm cấp tốt nhất.
** Thời Trân nói: Các loại nấm rất nhiều. Trần Nhân Ngọc đời Tống đã soạn cuốn Khuẩn Phổ rất tường tận. Nay lục lại lược ý như sau: Chi và Khuẩn đều là tinh khí mọc ra. Từ xưa đã có chuyện hái linh chi ở Thương Sơn, nấm Thiên hoa ở Ngũ Đài cũng đứng đầu các loại. Huyện Tiên Cư nằm giữa Thiên Đài và Quát Thương, núi non trùng điệp, là nơi tiên linh hội tụ, nên sản sinh nhiều loại nấm lạ. Người ở rừng núi hái về ăn, đó là thứ cao lương mỹ vị của chốn rau dưa. Gần đây đã được đưa vào hàng yến tiệc cho hàng vương công.
# '''Hợp Thẩm (Nấm hợp):''' Còn gọi là Đài thẩm, mọc ở núi Vi Khương vùng Đài Châu. Khi rét cực độ tuyết tan, khí xuân vừa động, đất tơi mầm sống, ấy là lúc nấm mọc. Chất bên ngoài màu nâu, thớ thịt trắng như ngọc, hương vị thơm ngát, khi vừa cho vào nồi nấu, hương bay xa trăm bước. Người miền núi phơi khô để bán, hương vị kém hơn nấm tươi. Núi khác tuy có sản sinh nhưng cuống cao và hương kém, không bằng được.
# '''Trù Cao Thẩm:''' Sinh ở các núi Mạnh Khê. Giữa thu mưa móc thấm nhuần, hun đúc tinh túy của núi rừng mà nở hoa nấm. Mọc trên ngọn cây tuyệt đỉnh, ban đầu như hạt ngọc, tròn trịa như váng sữa rơi, màu vàng nhạt trắng, vị cực ngọt. Khi đã xòe ô to như lòng bàn tay thì vị hỏng ngay. Mùa xuân cũng mọc nhưng dịch cao ít hơn. Cách ăn là khi nước sôi thì thả vào, vớt ra trộn cùng các vị khác, đặc biệt hợp với rượu. Tuyệt đối không được khuấy động, nếu không sẽ sinh mùi tanh nhớt không ăn được. Cũng có thể hấp chín để mang đi xa.
# '''Tùng Thẩm (Nấm tùng):''' Sinh dưới bóng thông (Tên khoa học: '''Tricholoma matsutake'''). Các vật sinh ra từ cây thông không thứ nào là không đáng quý.
# '''Mạch Thẩm:''' Sinh trong bãi cát bên suối. Vị rất ngon, tuyệt đỉnh như nấm mỡ (Ma cô).
# '''Ngọc Thẩm:''' Sinh lúc mới chớm lạnh, trắng sạch đáng yêu. Nấu canh hơi dai. Tục gọi là Hàn bồ thẩm.
# '''Hoàng Thẩm:''' Mọc thành bụi trong núi, màu vàng. Tục gọi là Hoàng toản thẩm.
# '''Tử Thẩm:''' Màu tím đỏ nâu, sản sinh trong núi, là hạng hạ phẩm.
# '''Tứ Quý Thẩm:''' Sinh trong rừng cây, vị ngọt nhưng thớ thịt thô cứng.
# '''Nga Cao Thẩm:''' Sinh ở núi cao, hình dạng như trứng ngỗng, lâu dần xòe ô. Vị ngọt trơn, không kém nấm Trù cao. Nhưng loại này dễ nhầm với Đỗ thẩm (loại nấm đất có độc), không thể không thận trọng.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Ích khí không đói, trị phong phá huyết (Ngô Thụy). Tùng thẩm: Trị chứng tiểu đục không nhịn được, ăn vào có hiệu quả (Khuẩn Phổ).
===Cát Hoa Cái (Nấm hoa cát)===
*Tên khoa học: Vì mọc ở vùng núi Thái Hòa và có mô tả giống loài ký sinh, có thể là một loại '''Cynomorium''' hoặc nấm thuộc họ '''Polyporaceae'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Cát nhũ.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Các núi danh tiếng đều có, nhưng chỉ ở núi Thái Hòa (Võ Đang) mới hái được, nói là tinh hoa của cây Cát (Sắn dây). Khi sương thu đầy trời, nấm mọc vọt lên từ mặt đất như Linh chi, màu đỏ và giòn, vốn thuộc loài nấm.
* '''【Khí vị】''' Đắng, ngọt, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Tỉnh táo tinh thần, trị tửu tích (ngộ độc rượu lâu ngày) (Thời Trân - Thái Hòa Sơn Chí).
===Thiên Hoa Thẩm===
*Tên khoa học: '''Agaricus''' spp. hoặc '''Russula''' spp. (Nấm tán trắng)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Thiên hoa thái.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Ngô Thụy nói: Thiên hoa thái xuất xứ từ núi Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây. Hình như hoa thông mà lớn, hương thơm như nấm, màu trắng, ăn rất ngon.
** Thời Trân nói: Núi Ngũ Đài có nhiều nấm rắn (xà thẩm), Thiên hoa thẩm cảm khí đó mà sinh ra, nên vị tuy ngon nhưng không có lợi ích gì, giá cả khá đắt. Cuốn Dậu Dương Tạp Trở có chép: Vùng Đại Bắc có loại "Thụ kê" như cái chén, tục gọi là "Hồ tôn nhãn" (mắt khỉ), có lẽ là loại này chăng?
* '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc. (Thời Trân dẫn sách Chính Yếu nói là có độc).
* '''【Chủ trị】''' Ích khí, sát trùng (Ngô Thụy).
===Ma Cô Thẩm (Nấm mỡ)===
*Tên khoa học: '''Agaricus bisporus'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Còn gọi là Nhục thẩm.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Ma cô xuất xứ từ vùng Sơn Đông, Hoài Bắc. Người ta vùi gỗ cây Dâu, cây Dướng xuống đất, tưới nước vo gạo vào, đợi nấm mọc thì hái. Nấm dài hai, ba tấc, gốc nhỏ ngọn to, màu trắng mềm mại, bên trong rỗng, hình dáng như hoa Ngọc trâm chưa nở. Tục gọi là Kê thối ma cô (nấm đùi gà), vì vị nó ngon như thịt gà vậy. Có một loại hình dáng như dạ dày cừu, có lỗ như tổ ong, gọi là '''Dương Lộ Thái''' (Nấm bụng dê - Tên khoa học: '''Morchella esculenta''').
* '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, không độc. (Sách Chính Yếu nói là có độc, làm động khí phát bệnh, không nên ăn nhiều).
* '''【Chủ trị】''' Ích tràng vị, hóa đờm lý khí (Thời Trân - Sinh Sinh Biên).
===Kê Tòng (Nấm mối)===
*Tên khoa học: '''Termitomyces albuminosus'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Kê khuẩn. Thời Trân nói: Người phương Nam gọi là Kê tòng vì vị của nó ngon như thịt gà.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Kê tòng xuất xứ từ Vân Nam, là loại nấm mọc trên đất cát. Chân cao, mũ nấm như cái ô. Người địa phương hái về sấy khô gửi đi xa làm đặc sản. Dùng pha trà hay nấu thịt đều hợp. Khí vị đều giống nấm hương (Hương thẩm) nhưng phong vị không bằng. Lại có vùng Hoành Châu ở Quảng Tây có loại "Lôi khuẩn" (Nấm sấm), hễ sấm đi qua là mọc, phải hái gấp, chậm một chút là thối hoặc già. Nấu canh cực ngon, cũng thuộc loại như Kê tòng. Các loại này giá đều rất đắt.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Ích dạ dày, làm thanh thản tinh thần, trị trĩ (Thời Trân).
===Đà Thái (Nấm bánh lái)===
*Tên khoa học: (Nấm mọc trên gỗ mục bị ngâm nước biển, thường là loài thuộc chi '''Crepidotus''' hoặc '''Schizophyllum''')
* '''【Tập hợp giải thích】''' Thời Trân nói: Đây là loại nấm mọc trên bánh lái (đà) của thuyền đi biển. Rất hiếm khi có được.
* '''【Khí vị】''' Mặn, ngọt, hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Khối u bướu (anh kết khí), đờm ẩm (Thời Trân).
===Thổ Khuẩn (Nấm đất)===
*Tên khoa học: Các loài nấm đất nói chung, tiêu biểu là nấm Ô than ('''Russula nigricans''') hoặc nấm Tán ('''Agaricus''' spp.)
* '''【Hiệu đính】''' Chuyển từ phần Thảo bộ sang đây.
* '''【Giải thích tên gọi】''' Đỗ thẩm, Địa thẩm, Cô tử, Địa kê, Chương đầu.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Trần Tàng Khí nói: Loại mọc dưới đất gọi là Khuẩn, mọc trên gỗ gọi là Nga. Người vùng Giang Đông gọi là Thẩm.
** Quách Phác nói: Địa thẩm giống như cái đinh có nắp, vùng Giang Đông gọi là Thổ khuẩn, ăn được. Phàm nấm mọc từ đất ra đều chủ trị lở loét (sang giới), loại nấm đen mọc trên phân bò là tốt nhất. Nếu đốt thành tro trên đất, sau khi trải qua mưa thu mọc ra loại nấm chồng tầng lên nhau gọi là "Tiên nhân mạo" (Mũ tiên), chủ trị các bệnh về máu.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, có độc.
** Mạnh Thẩn nói: Nấm có nhiều loại, loại mọc trên cây hòe là tốt. Loại mọc ngoài đồng nội có độc chết người, ăn vào sinh lạnh lẽo, bụng đau lâm râm, phát phong ngũ tạng, tắc nghẽn kinh mạch, động bệnh trĩ, khiến người hôn trầm thích ngủ, chân tay mỏi nhừ.
** Trần Tàng Khí nói: Nấm mùa đông và xuân không độc, mùa hạ và thu có độc (do rắn rết bò qua). Loại ban đêm phát sáng, loại sắp mục mà không có sâu, loại nấu không chín, loại nấu xong soi không thấy bóng người, loại trên có lông dưới không có vân, loại ngửa cuốn màu đỏ... đều có độc chết người. Trúng độc thì dùng nước đất (địa tương) hoặc nước phân để giải.
* '''【Chủ trị】''' Đốt thành tro, đắp vết lở loét (Tàng Khí).
* '''【Phụ phương】''' Trị mụn nhọt (đinh tử): Dùng phân bò tót trên đá, đợi mọc nấm, hái về bào khô, trộn với cỏ rác tán bột đắp vào.
===Quỷ Cái (Nấm mực)===
*Tên khoa học: '''Coprinus comatus''' hoặc '''Coprinopsis atramentaria'''
* '''【Phụ lục】''' Vị ngọt, bình, không độc. Chủ trị trẻ em sốt rét, kinh giản. Mọc thành cụm dưới chân tường, màu đỏ, sáng mọc chiều chết. Còn gọi là Địa cái, Triều sinh, Quỷ tán, Quỷ ốc.
* '''【Chủ trị】''' Đốt thành tro trị mụn nhọt, đinh độc.
===Quỷ Bút (Nấm bao đầu nấm)===
*Tên khoa học: '''Phallus impudicus'''
* '''【Tập hợp giải thích】''' Mọc nơi phân uế. Đầu như ngọn bút, màu tím. Sáng mọc chiều chết. Trẻ em gọi là "Chó đái rêu". Chủ trị các loại mụn nhọt, lở loét, ung thũng. Phơi khô tán bột trộn dầu mà bôi. Loại này đỏ tím, xốp rỗng như hoa nên gọi là "hoa". Tán bột đắp hạ cam (vết loét bộ phận sinh dục).
===Trúc Nhục (Nấm tre)===
*Tên khoa học: '''Dictyophora indusiata''' (Nấm dị dạng trên tre)
* '''【Giải thích tên gọi】''' Trúc nhục, Trúc cô, Trúc thẩm.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Mạnh Thẩn nói: Rừng tre từ tháng 6 gặp mưa, dịch tre nhỏ xuống đất sinh ra nấm này. Giống như gạc nai, màu trắng, ăn được.
** Trần Tàng Khí nói: Trúc nhục mọc trên cành tre đắng (khổ trúc). Hình như quả trứng gà, giống miếng thịt, có độc lớn. Phải dùng nước tro nấu ba lần mới ăn được như rau thường. Nếu nấu không kỹ sẽ gây nghẹn họng chảy máu, rụng móng tay chân.
** Thời Trân nói: Đây chính là Trúc cô. Mọc trên gốc tre mục. Trạng như mộc nhĩ, màu đỏ. Chỉ loại mọc trên tre đắng mới có độc.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, mặn, hàn, không độc. Loại trên tre đắng có độc lớn.
* '''【Chủ trị】''' Các loại lỵ đỏ trắng, trộn với gừng và nước tương để ăn (Mạnh Thẩn). Trúc nhục tre đắng luyện qua nước tro giúp sát trùng, phá huyết ứ (Tàng Khí).
===Hoán Khuẩn (Nấm sậy)===
*Tên khoa học: '''Pholiota nameko''' (hoặc một loài nấm mọc trên gốc sậy)
* '''【Hiệu đính】''' Chuyển từ phần Thảo bộ sang đây.
* '''【Giải thích tên gọi】''' Hoán lư. Thời Trân nói: Hoán (雚) lẽ ra là Hoàn (萑), tức là loài lau sậy. Nấm này mọc dưới gốc sậy nên gọi tên như vậy.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Sắc trắng, nhẹ xốp, từ trong ra ngoài giống nhau. Mọc ở vùng đầm lầy sậy, đất nhiễm mặn. Phơi khô dùng là tốt nhất.
* '''【Khí vị】''' Mặn, bình, có độc ít. (Biệt lục nói: Ngọt, hơi ấm; Chân Quyền nói: Đắng). Kỵ trứng gà.
* '''【Chủ trị】''' Đau tim, ấm trung tiêu, trừ sán lãi (giun đũa), giun kim, lác đồng tiền (bạch tiển), rắn cắn, các chứng trùng tích bụng sườn.
===Địa Nhĩ (Địa y đất)===
*Tên khoa học: '''Nostoc commune'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Địa đạp cô.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Địa nhĩ thuộc họ Thạch nhĩ (Lichen), nhưng mọc trên đất. Hình dạng như mộc nhĩ. Mọc trong mưa vào mùa xuân hè, sau mưa phải hái ngay, thấy ánh nắng là hỏng. Tục gọi là "Địa đạp cô" (Nấm đất đạp).
* '''【Khí vị】''' Ngọt, hàn, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Sáng mắt ích khí, giúp dễ có con (Biệt lục).
===Thạch Nhĩ (Mộc nhĩ đá)===
*Tên khoa học: '''Umbilicaria esculenta'''
* '''【Giải thích tên gọi】''' Linh chi.
* '''【Tập hợp giải thích】''' Mọc trên vách đá các núi cao như Thiên Đài, Hoàng Sơn, Lư Sơn... Trông xa như khói. Hình dạng như Địa nhĩ. Rửa sạch cát bụi, nấu ăn ngon hơn mộc nhĩ, là loại cực phẩm.
* '''【Khí vị】''' Ngọt, bình, không độc.
* '''【Chủ trị】''' Ăn lâu giúp sắc mặt tươi nhuận, đến già không đổi, khiến người không đói, đại tiểu tiện ít (Ngô Thụy). Sáng mắt ích tinh (Thời Trân). Trị đi ngoài ra máu, thoát giang (Phối hợp với phèn phi).
===[Phụ khảo các loại rau khác]===
Hương nhu, Tử tô, Tử uyển, Tiệm thái, Ngưu tất miêu, Phòng phong miêu, Bạc hà, Nhâm tô (Tía tô dại), Mã lan, Lâu thảo, Trạch lan căn, Địa hoàng miêu, Chư khương (Các loại quỳ), Toan mô (Rau chua), Xương bồ, Ngưu bàng miêu, Thanh tương miêu, Long quy, Quyết minh, Cam lam (Bắp cải), La bặc (Củ cải), Hồng hoa miêu, Xa tiền miêu (Mã đề), Huyên thảo, Lô duẫn (Măng sậy), Giao duẫn (Niễng), Bình (Bèo), Hải đới thái (Rong biển), Độc chổi miêu, Dương đề, Bồ duẫn (Măng bồ thảo), Tề đầu thảo, Côn bố miêu, Côn bố, Địa tùng, Liệu nha, Hải tảo, Vương qua, Bách bộ, Ngó sen, Hà đầu (Gương sen), Cọng khiếm thực, Cọng củ ấu, Lá đậu, Giá đỗ, Vỏ đậu, Đậu phụ, Anh túc miêu, Chồi cây Xoan, Chồi cây Hòe, Vu di, Câu kỷ, Mầm Bồ kết, Mầm cây Nhâm, Măng cây Cọ, Ngũ gia bì...
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
axm00j4v6fl0hwbqcxighdxhjuto4gp
Biên dịch:Bản thảo cương mục/Danh y biệt lục
114
71908
204555
204538
2026-04-05T06:39:57Z
Mrfly911
2215
204555
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/名醫別錄
| năm= 1596
| phần = Danh y biệt lục
| trước= [[../Thảo 11|Thảo 11]]
| sau= [[../Cốc 1|Cốc 1]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==DANH Y BIỆT LỤC - 78 VỊ THUỐC==
('''Lưu ý:''' Nhiều vị thuốc trong danh sách này là "cổ dược" đã thất truyền hoặc hình dạng không rõ ràng, ngay cả Lý Thời Trân đời Minh cũng ghi nhận điều này. Tên khoa học (Latin) được thêm cho các vị có thể định danh chính xác.)'''
'''1. Ly Lâu Thảo (离楼草)'''
*Biệt lục viết: Vị mặn, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí lực, giúp sinh nhiều con (đa tử), nhẹ mình, tăng tuổi thọ. Mọc ở Thường Sơn, hái quả vào tháng 7, tháng 8.
'''2. Thần Hộ Thảo (神护草)'''
*Biệt lục viết: Mọc ở phía bắc Thường Sơn. Hái vào tháng 8. Có thể dùng để giữ nhà một mình, quát mắng người khác, khiến trộm cướp không dám vào cửa.
*Thời Trân nói: Sách Vật loại chí gọi là Hộ môn thảo, tên khác là Linh thảo. Người phương ấy đặt trên cửa, áo người đi ngang qua quẹt vào, cỏ tất phát ra tiếng quát. Thơ Vương Quân có câu: "Sương bị thủ cung hòe, phong kinh hộ môn thảo" chính là nó vậy. Nhưng không mô tả hình dáng, thật đáng tiếc thay.
'''3. Hoàng Hộ Thảo (黄护草)'''
*Biệt lục viết: Không độc. Chủ trị chứng tê bại (tý), ích khí, giúp người ta thèm ăn. Mọc ở Lũng Tây.
'''4. Tước Y Thảo (雀医草)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, rửa các vết loét chảy mủ, trị phong thủy. Tên khác là Bạch khí. Mùa xuân mọc, mùa thu hoa trắng, mùa đông quả đen.
'''5. Mộc Cam Thảo (木甘草)'''
*Biệt lục viết: Chủ trị ung thũng nhiệt thịnh, nấu nước để rửa. Mọc ở kẽ cây, tháng 3 nảy mầm, lá to như hình rắn, bốn lá mọc đối xứng. Chỉ cần bẻ cành trồng là sống. Tháng 5 hoa trắng, quả có hạt màu đỏ. Hái vào ngày 3 tháng 3.
'''6. Ích Quyết Thảo (益决草)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị ho do tổn thương phổi. Mọc ở vùng núi ẩm (Sơn Âm). Rễ giống Tế tân (Asarum herb).
'''7. Cửu Thục Thảo (九熟草)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị gây ra mồ hôi, cầm tiêu chảy, trị bứt rứt (muộn). Tên khác là Ô túc, Tước túc. Mọc trong sân nhà, lá như lá táo, một năm chín lần chín quả. Hái vào tháng 7.
'''8. Đoái Thảo (兑草)'''
*Biệt lục viết: Vị chua, tính bình, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, trường thọ. Mùa đông sinh trưởng, là loại dây leo trên cây gỗ, lá vàng có lông.
'''9. Dị Thảo (异草)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị yếu liệt tê bại (ủy tý), hàn nhiệt, tẩy nốt ruồi đen. Mọc trên bờ rào, lá như lá quỳ, cạnh thân có sừng, nhựa trắng.
'''10. Quán Thảo (灌草)'''
*Biệt lục viết: Tên khác là Thử can (gan chuột). Lá trơn, màu xanh trắng. Chủ trị ung thũng.
'''11. Kỷ Thảo (䒻草)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị vết thương do kim khí. Chữ 䒻 phát âm là "Kỷ" (qǐ).
'''12. Sân Thảo (莘草)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị vết thương nặng, tê sưng. Mọc ở vùng núi đầm, giống Bồ hoàng (Pollen Typhae), lá giống rau cải.
'''13. Anh Thảo Hoa (英草华)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, tính bình, không độc. Chủ trị khí tê (tý khí), cường âm, trị bệnh hoàng đản do lao lực tình dục (nữ lao đản), giải phiền, chắc gân xương. Trị phong đầu, có thể làm thuốc gội đầu. Mọc leo trên cây gỗ. Tên khác là Lộc anh. Hái vào tháng 9, phơi khô trong râm.
'''14. Phong Hoa (封华)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Chủ trị ghẻ lở, nuôi dưỡng cơ thịt, tẩy thịt thối. Hái vào ngày Hạ chí.
'''15. Điển Hoa (㥏华)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị nghịch khí (thượng khí), giải phiền, chắc gân xương.
'''16. Tiết Hoa (节华)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị thương trung, yếu liệt tê bại, phù thũng. Vỏ chủ trị nhiệt khí xâm nhập trong tỳ. Tên khác là Sơn tiết, Đạt tiết, Thông tất. Hái vào tháng 10, phơi khô.
'''17. Nhượng Thực (让实)'''
*Biệt lục viết: Vị chua. Chủ trị hầu tý (đau họng), cầm tiêu chảy, lỵ. Hái vào tháng 10, phơi khô trong râm.
'''18. Dương Thực (羊实)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh. Chủ trị hói đầu, vết loét xấu, ghẻ ngứa, vảy nến. Mọc ở Thục quận.
'''19. Tang Kinh Thực (桑茎实)'''
*Biệt lục viết: Vị chua, tính ấm, không độc. Chủ trị các bệnh hậu sản sau khi sinh và cho con bú. Nhẹ mình ích khí. Tên khác là Thảo vương. Lá như lá tía tô (nhậm). Thân vuông lá to. Mọc trong vườn. Hái vào tháng 10.
'''20. Khả Tụ Thực (可聚实)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí, sáng mắt. Tên khác là Trường thọ. Mọc trên đường núi rừng, bông như lúa mạch, lá như lá ngải cứu. Hái vào tháng 5.
'''21. Bồ Âm Thực (蒲阴实)'''
*Biệt lục viết: Vị chua, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí, trừ nhiệt, chỉ khát, lợi tiểu, nhẹ mình trường thọ. Mọc ở núi sâu và trong vườn, thân như rau cải, lá nhỏ, quả như quả anh đào. Chín vào tháng 7. Chân Quyền nói: Dây leo như dưa.
'''22. Mã Điên (马颠)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Trị phù thũng. Không được ăn nhiều.
'''23. Mã Phùng (马逢)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị nấm tổ đỉa, ký sinh trùng.
'''24. Thỏ Tảo (兔枣)'''
*Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị nhẹ mình ích khí. Mọc ở vùng gò đống Đan Dương, cao khoảng một thước, quả như quả táo.
'''25. Lộc Lương (鹿良)'''
*Biệt lục viết: Vị mặn, mùi hôi. Chủ trị trẻ em kinh giản, khí nghịch (bôn đồn), co giật; người lớn bị uốn ván (kinh). Hái vào tháng 5.
'''26. Kê Niết (鸡湼)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị sáng mắt, trúng phong hàn, các chứng hư tổn, thủy thũng, tà khí, bổ trung, cầm tiêu chảy lỵ, trị phụ nữ ra khí hư trắng (bạch ốc). Tên khác là Âm lạc. Mọc ở núi Kê Sơn. Hái không kể thời gian.
'''27. Tây Lạc (犀洛)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị chứng bí tiểu (lôn tật). Tên khác là Tinh lạc, Nê lạc.
'''28. Tước Mai (雀梅) - Sageretia theezans
*Biệt lục viết: Vị chua, tính lạnh, có độc. Chủ trị vết loét ăn sâu (thực ác sang). Tên khác là Thiên tước. Mọc ở kẽ đá ven biển.
*Hoằng Cảnh nói: Lá và quả đều giống Mạch lý (Prunus humilis).
'''29. Yến Sỉ (燕齿)'''
*Biệt lục viết: Chủ trị trẻ em kinh giản, nóng rét (hàn nhiệt). Hái vào ngày 5 tháng 5.
'''30. Thổ Sỉ (土齿)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị nhẹ mình, ích khí trường thọ. Mọc ở vùng gò đống, hình trạng như răng ngựa.
'''31. Kim Kinh (金茎)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị vết thương do kim khí gây rò bên trong. Tên khác là Diệp kim thảo. Mọc ở chỗ cao vùng đầm lầy.
'''32. Bạch Bối (白背)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị nóng rét, rửa vết loét xấu, ghẻ lở. Mọc ở gò núi, rễ giống Tử uy (Campsis grandiflora), lá giống Yến lư. Hái không kể thời gian.
'''33. Thanh Cái (青雌)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị vết loét xấu, hói đầu, vết bỏng, diệt ký sinh trùng (tam trùng). Tên khác là Trùng tổn, Mạnh thôi. Mọc ở thung lũng núi Phương Sơn.
'''34. Bạch Tân (白辛)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, có độc. Chủ trị nóng rét. Tên khác là Thoát vĩ, Dương thảo. Mọc ở núi Sở Sơn. Hái vào tháng 3, rễ trắng và thơm.
'''35. Xích Cử (赤举)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị đau bụng. Tên khác là Dương di, Lăng khát. Mọc ở núi ẩm, tháng 2 hoa nhọn mọc trên dây leo, tháng 5 quả đen có hạt. Hái lá vào ngày 3 tháng 3, phơi khô trong râm.
'''36. Xích Niết (赤涅)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị chứng đổ máu cam, băng huyết, cầm máu ích khí. Mọc ở nơi ẩm ướt dưới bóng đá núi Thục quận. Hái không kể thời gian.
'''37. Xích Hách (赤赫)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, có độc. Chủ trị ghẻ loét, vết thương hoại tử, trừ ký sinh trùng và tà khí. Mọc ở vùng sông núi Ích Châu. Hái vào tháng 2 và tháng 8.
'''38. Hoàng Thục (黄秫)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị tâm phiền, cầm mồ hôi. Rễ mọc giống rễ cây Đồng (Paulownia).
'''39. Hoàng Biện (黄辩)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị sán khí, tích tụ trong bụng (hàn hà), loét miệng, thương tổn vùng rốn. Tên khác là Kinh biện.
'''40. Tử Cấp (紫给)'''
*Biệt lục viết: Vị mặn. Chủ trị độc phong gây đau đầu, tiêu chảy tiết tả. Tên khác là Dã quỳ. Mọc ở vùng đất thấp dưới gò cao. Hái rễ vào ngày 3 tháng 3, rễ giống Ô đầu (Aconitum carmichaelii).
'''41. Tử Lam (紫蓝)'''
*Biệt lục viết: Vị mặn, không độc. Chủ trị ngộ độc do ăn thịt, có thể tiêu trừ được.
'''42. Phân Lam (粪蓝)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị ngứa mình, mụn nhọt, hói trắng, lở sơn, dùng nấu nước rửa. Mọc ở Phòng Lăng.
'''43. Ba Chu (巴朱)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị hàn khí nghịch lên, băng huyết đới hạ. Mọc ở Lạc Dương.
'''44. Thất Tử (七紫)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị đau bụng dưới, lợi tiểu tiện, phá tích tụ, nuôi dưỡng cơ bắp, dùng lâu nhẹ mình trường thọ. Mọc ở Oan Cú. Hái vào tháng 2 và tháng 7.
'''45. Văn Thạch (文石)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt. Chủ trị nóng rét, tâm phiền. Tên khác là Thử thạch. Mọc dưới nước vùng núi đầm Đông Quận, có năm màu, nhựa nhuận.
'''46. Lộ Thạch (路石)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, chua, không độc. Chủ trị vùng tâm phúc, cầm mồ hôi, sinh cơ, trị vết sẹo do rượu (tửu gia), ích khí chịu lạnh, làm chắc xương tủy. Tên khác là Lăng thạch. Mọc trên đá cỏ, trời mưa thì khô, nắng lên thì ướt, hoa vàng thân đỏ đen, ba năm mới có quả một lần, đỏ như hạt mè. Hái thân lá vào tháng 5 và tháng 10, phơi khô trong râm.
'''47. Khoáng Thạch (旷石)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị ích khí dưỡng thần, trừ nhiệt chỉ khát. Mọc ở Giang Nam, giống như Thạch thảo.
'''48. Bại Thạch (败石)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị khát, tê bại.
'''49. Thạch Kịch (石剧)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chỉ khát, trị tiêu khát (tiêu trung).
'''50. Thạch Vân (石芸)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị đau mắt, chảy nước mắt, nóng rét, xuất huyết. Tên khác là Thích liệt, Cố trác. Hái thân lá vào tháng 3 và tháng 5, phơi khô trong râm.
'''51. Trúc Phó (竹付)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Giảm đau, trừ huyết ứ.
'''52. Bí Ác (秘恶)'''
*Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị tà khí ở gan. Tên khác là Đỗ phùng.
'''53. Lư Tinh (卢精)'''
*Biệt lục viết: Tính bình. Trị trúng độc do sâu bọ. Mọc ở Ích Châu.
'''54. Đường Di (唐夷)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị gãy xương, trật khớp.
'''55. Tri Trượng (知杖)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Trị sán khí.
'''56. Hà Tiễn (河煎)'''
*Biệt lục viết: Vị chua. Chủ trị kết khí, ung nhọt ở vùng cổ họng. Mọc ở trong biển. Hái vào tháng 8 và tháng 9.
'''57. Khu Dư (区余)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, không độc. Chủ trị nhiệt ở tâm phúc, bí tiểu (lôn).
'''58. Vương Minh (王明)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng. Chủ trị thân thể phát nhiệt do tà khí, trẻ em sốt dùng để tắm. Mọc ở thung lũng. Tên khác là Vương thảo.
'''59. Sư Hệ (师系)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị ung thũng loét xấu, nấu nước rửa. Tên khác là Thần Nghiêu, Cự cốt, Quỷ ba. Mọc ở vùng bình nguyên đầm lầy. Hái vào tháng 8.
'''60. Tịnh Khổ (并苦)'''
*Biệt lục viết: Chủ trị ho nghịch khí lên, ích phổi khí, an ngũ tạng. Tên khác là Vực hương, Ngọc kinh. Hái vào tháng 3, phơi khô trong râm. Chữ 蜮 phát âm là "Vực" (huò).
'''61. Tác Thiên (索千)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị bệnh ở tai. Tên khác là Mã nhĩ (Xanthium sibiricum - Ké đầu ngựa, tuy nhiên ở đây có thể là một loài khác cùng tên).
'''62. Lương Đạt (良达)'''
*Biệt lục viết: Chủ trị đau răng, chỉ khát nhẹ mình. Mọc ở núi ẩm, thân dây leo, lớn như lá quỳ, hạt trơn nhỏ.
'''63. Dực Cộng (弋共)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị kinh sợ do tà khí, thương hàn, đau bụng, gầy yếu, có tà khí trong da, tay chân lạnh ngắt không có sắc máu. Mọc ở thung lũng Ích Châu. Ghét con gián (phỉ liêm).
'''64. Thuyền Hồng (舩虹)'''
*Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị hạ khí, cầm phiền mãn. Có thể làm nước tắm, thuốc có màu vàng. Mọc ở Thục quận. Thu hái vào ngày Lập thu.
'''65. Cô Hoạt (姑活)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị tà khí đại phong, thấp tý hàn thống, uống lâu nhẹ mình ích khí, chống lão hóa. Tên khác là Đông quỳ tử (Semina Malvae). Mọc ở Hà Đông.
*Hoằng Cảnh nói: Thuốc này không dùng đến, nhưng có bài Cố hoạt hoàn, chính là tên khác của Dã cát. Đông quỳ này cũng không phải là hạt rau Đông quỳ ăn được.
*Cung nói: Bản khác gọi là Kê tinh.
'''66. Bạch Nữ Tràng (白女肠)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị tiêu chảy, lỵ, đau tim, phá sán khí tích tụ. Mọc ở thung lũng núi sâu, lá như lá chàm, quả đỏ; loại Xích nữ tràng cũng có tác dụng tương tự.
'''67. Bạch Phiến Căn (白扇根)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị sốt rét, da dẻ nóng rét, ra mồ hôi, giúp thay đổi sắc diện.
'''68. Hoàng Bạch Chi (黄白支)'''
*Biệt lục viết: Mọc ở gò núi. Hái rễ vào tháng 3, tháng 4, phơi khô.
'''69. Phụ Bế Căn (父陛根)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, có độc. Dùng để chườm nóng (ủi) ung thũng, trướng ngoài da. Tên khác là Cao ngư, Tử tảo.
'''70. Giới Phách Phúc (疥拍腹)'''
*Biệt lục viết: Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị nhẹ mình, trị tê bại. Hái vào tháng 5, phơi khô trong râm.
'''71. Ngũ Mẫu Ma (五母麻)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, có độc. Chủ trị yếu liệt tê bại, đi đứng không tiện, hạ lỵ. Tên khác là Lộc ma, Quy trạch ma, Thiên ma, Nhược thảo. Mọc ở đồng ruộng. Hái vào tháng 5.
*Thời Trân nói: Loại cây Sung úy (Leonurus japonicus) có hoa trắng cũng gọi là Thiên ma thảo.
'''72. Ngũ Sắc Phù (五色符)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, tính hơi ấm. Chủ trị ho nghịch, tà khí ngũ tạng, điều trung ích khí, sáng mắt diệt trùng. Thanh phù, Bạch phù, Xích phù, Hắc phù, Hoàng phù tùy theo màu mà bổ vào tạng đó. Bạch phù tên khác là Nữ mộc, mọc ở thung lũng núi Ba Sơn.
'''73. Cứu Xá Nhân Giả (救赦人者)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, có độc. Chủ trị sán khí, tê bại, thông khí, các chứng hư tổn. Mọc ở nơi người ở, cung thất. Hái vào tháng 5 và tháng 10, phơi khô.
'''74. Thường Lại Chi Sinh (常吏之生)'''
*Biệt lục viết (Thục bản chép chữ "Lại" 吏 thành chữ "Canh" 更): Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị sáng mắt. Quả có gai, to như hạt lúa.
'''75. Tái (载)'''
*Biệt lục viết: Vị chua, không độc. Chủ trị các loại ác khí.
'''76. Khánh (庆)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, không độc. Chủ trị ho.
'''77. Hộ (腂)'''
(Phát âm là Hộ - hù wǎ)'''
*Biệt lục viết: Vị ngọt, không độc. Chủ trị ích khí kéo dài tuổi thọ. Mọc trong thung lũng. Màu trắng vân thẳng, hái vào tháng 10.
'''78. Giới (芥)'''
*Biệt lục viết: Vị đắng, tính lạnh, không độc. Chủ trị tiêu khát, cầm máu, trị đờm ở phụ nữ, trừ tê bại. Tên khác là Lê. Lá như cây Đại thanh (Isatis tinctoria).
===BẢN THẢO THẬP DI (13 VỊ)===
====1. Trấm Điểu Tương (鸩鸟浆)====
*Tàng Khí nói: Mọc dưới tán cây rừng vùng Giang Nam, cao 1-2 thước, mặt dưới lá màu tím, mùa đông không rụng, có quả đỏ như hạt châu. Vị ngọt, tính ấm, không độc. Có thể giải được các loại độc, nên có tên như vậy (Trấm là loài chim cực độc, "Tương" nghĩa là dịch chất/thuốc giải). Người miền núi ngâm rượu uống để trị phong huyết và cơ thể gầy yếu ở người già.
*Tô Tụng nói: Trấm Điểu Uy mọc ở vùng sơn dã Tín Châu. Mùa xuân mọc lá xanh, tháng 9 có hoa như rau Bồng hào, hoa màu vàng nhạt, không kết quả. Trị ung thũng, mụn nhọt độc. Thu hái không kể thời gian.
====2. Thất Tiên Thảo (七仙草)====
*Tàng Khí nói: Mọc ở chân núi. Lá nhọn, nhỏ và dài. Chủ trị các vết thương do gậy gộc đánh (trượng sang), giã cành lá đắp lên.
====3. Cát Tường Thảo (吉祥草) - Reineckia carnea====
*Tàng Khí nói: Mọc ở nước Tây Thục, do người Hồ mang đến. Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị sáng mắt, tăng cường trí nhớ, bổ tâm lực.
*Thời Trân nói: Người nay trồng một loại cỏ, lá như lan Chương Châu, bốn mùa xanh tươi, mùa hạ nở hoa tím thành bông, dễ sinh sôi, cũng gọi là Cát tường thảo. Nhưng đó không phải là vị Cát tường thảo này.
====4. Kê Cước Thảo (鸡脚草)====
*Tàng Khí nói: Mọc bên cạnh đầm lầy, thân đỏ, lá mọc đối, trông như mầm cây Bách hợp. Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị các chứng kiết lỵ đỏ trắng lâu ngày dẫn đến cam tích.
====5. Thố Can Thảo (兔肝草)====
*Tàng Khí nói: Lúc mới mọc lá nhỏ, mềm như gan thỏ. Tên khác là Kê can (gan gà). Vị ngọt, tính bình, không độc. Chủ trị vết thương do kim khí (kim sang), cầm máu, sinh cơ, giải nhiệt do uống các loại khoáng thạch (đan thạch).
====6. Đoạn Quán Thảo (断罐草)====
*Tàng Khí nói: Chủ trị mụn nhọt độc (đinh sang). Phối hợp với rau Bạch nha lệ (tức rễ cây Dương đề - Rumex japonicus), Bán hạ (Pinellia ternata), Địa cốt bì (Cortex Lycii), rêu xanh, tổ ong, tóc trẻ con, vải lụa đỏ, các vị lượng bằng nhau. Đốt thành tro vào ngày 5 tháng 5. Mỗi lần dùng nước ấm uống một tiền (khoảng 3-4g). Có thể nhổ được tận gốc mụn. Chữ "Lệ" (荲) âm là "Súc", tức là rễ cây Dương đề.
====7. Thiên Kim Cách Thảo (千金镉草)====
*Tàng Khí nói: Mọc ở Giang Nam, cao 2-3 thước. Chủ trị độc do rắn, bọ cạp và sâu bọ cắn. Giã đắp lên vết thương giúp sinh da thịt, giảm đau.
====8. Thổ Lạc Thảo (土落草)====
*Tàng Khí nói: Mọc ở thung lũng vùng Lĩnh Nam, lá nhỏ dài. Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị bụng lạnh đau (phúc lãnh khí thống), trưng hà tích tụ. Sắc với rượu uống, hoặc giã lấy nước cốt hâm nóng mà uống.
====9. Y Đãi Thảo (倚待草)====
*Tàng Khí nói: Mọc ở thung lũng núi Như An, Quế Châu. Lá tròn, cao 2-3 thước. Hái vào tháng 8. Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị huyết khí hư lao, lưng gối đau yếu, phong tê liệt (phong hoãn), gầy mòn, sắc mặt kém, tuyệt dương không có con, huyết cũ (lão huyết) ở phụ nữ. Ngâm rượu uống, đuổi bệnh cực nhanh, nên có tên là "Y Đãi" (nghĩa là chờ đợi dựa dẫm vào nó).
====10. Dược Vương Thảo (药王草)====
*Tàng Khí nói: Mầm và thân màu xanh, lá khi ngắt ra có nhựa trắng như sữa. Vị ngọt, tính bình, không độc. Giải được tất cả các loại độc, cầm máu cam, thổ huyết, trừ phiền táo.
====11. Cân Tử Căn (筋子根)====
*Tàng Khí nói: Mọc ở núi Tứ Minh, mầm cao hơn một thước, lá tròn dày và bóng láng, mùa đông không rụng, rễ to như ngón tay. Tên khác là Căn tử. Vị đắng, tính ấm, không độc. Chủ trị đau bụng (tâm phúc thống) bất kể nóng lạnh hay bệnh mới cũ, trị khí độc ác quỷ xâm nhập gây đau nhói, hoắc loạn, trúng độc cổ, đi ngoài ra máu đột ngột. Mài với rượu mà uống.
*Tô Tụng nói: Căn tử mọc trong núi Uy Châu. Vị đắng, cay, tính ấm. Chủ trị các khối kết trong tim, khí tích tụ lâu ngày đánh xuống đau vùng dưới rốn.
====12. Ngáp Dược (廅药)====
*Tàng Khí nói: Mọc ở vùng đất người Hồ, giống cỏ Mao khô, màu vàng đỏ. Vị mặn, tính ấm, không độc. Chủ trị chấn thương gãy xương, tổn thương nội tạng gây ứ máu, giúp liền da, giảm đau, trị bệnh ngũ tạng, trừ tà khí, bổ hư tổn, các bệnh về máu sau sinh. Sắc nước uống hoặc giã đắp vết thương.
*Thời Trân nói: Sách Ngoại đài bí yếu ghi: Trị ngã ngựa tổn thương bên trong, lấy một lạng bột Ngáp dược, một chén sữa bò, sắc uống.
====13. Vô Phong Độc Diêu Thảo (无风独摇草)====
*Biệt lục nói: Mọc ở nước Đại Tần và vùng Lĩnh Nam, hái vào ngày 5 tháng 5, ở các vùng sơn dã cũng thường có. Đầu như hạt đạn, đuôi như đuôi chim, hai phiến đóng mở, thấy người thì tự động, nên gọi là "Độc diêu" (tự rung rinh dù không có phong). Tính ấm, bình, không độc. Chủ trị phong chạy ngoài da vùng đầu mặt (du phong), ngứa khắp thân, nấu nước tắm rửa.
*Tàng Khí nói: Mang theo bên mình khiến vợ chồng yêu thương nhau.
*Thời Trân nói: Khương hoạt, Thiên ma, Quỷ cửu, Vi hàm bốn vị này đều có tên là Vô phong độc diêu thảo, nhưng vật chất khác nhau. Sách Dậu dương tạp trở của Đoạn Thành Thức nói: Nhã Châu có cây Vũ thảo (cỏ múa), một thân ba lá, lá giống Quyết minh, một lá ở đầu cành, hai lá đối nhau ở giữa thân. Người lại gần hát xướng hoặc vỗ tay thì lá động như múa. Xét thấy đây chính là cây Ngu mỹ nhân thảo (Papaver rhoeas), cũng thuộc loại không gió mà tự rung. Lại xét: Sơn hải kinh chép: Núi Cô Diêu, con gái Đế chết ở đó hóa thành cỏ Dao. Lá chồng lên nhau, hoa vàng, quả như Tơ hồng. Ăn vào khiến người ta yêu mến. Quách Phác chú giải: Tên khác là Hoang phu thảo. Thuyết này tương đồng với lời Trần Tàng Khí nói về việc mang theo sẽ yêu thương nhau, há chẳng phải cùng một vật sao?
===HẢI DƯỢC BẢN THẢO (ĐỜI ĐƯỜNG)===
====Nghi Nam Thảo (宜南草)====
*Lý Tuân nói: Mọc ở thung lũng Quảng Nam. Có quả đậu dài khoảng 2 thước, bên trong có lớp màng mỏng như giấy, kích thước như cánh ve. Chủ trị tà khí. Trẻ nhỏ (nam và nữ) dùng túi lụa đỏ đựng rồi đeo trên cánh tay để trừ tà, ngăn kinh sợ. Cỏ này mọc ở phương Nam nên có tên như vậy (Nghi Nam). Khác với cây Nghi nam (tên khác của cây Hoa hiên/Tuyên thảo).
===TỐNG - KHAI BẢO BẢN THẢO (宋《開寶本草》)===
(1 vị)
'''Đà Đắc Hoa (陀得花)'''
*Chí viết: Vị ngọt, tính ấm, không độc. Chủ trị tất cả các chứng phong huyết, ngâm rượu uống. Mọc ở Tây Vực, người Hồ mang đến. Người Hồ hái hoa này để luyện rượu, gọi là Tam Lặc Tương (một loại rượu lên men từ dược liệu).
===TỐNG - ĐỒ KINH NGOẠI LOẠI (宋《圖經》外類)===
(20 vị)
'''1. Kiến Thủy Thảo (建水草)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Phúc Châu. Cành lá giống cây Dâu tằm (Morus alba), bốn mùa thường xanh. Dân địa phương hái lá sấy khô tán bột, uống với rượu ấm, trị chứng phong chạy khắp người (tẩu chú phong).
'''2. Bách Dược Tổ (百藥祖)'''
*Tô Tụng viết: Mọc trong núi Thiên Thai, đông hè thường xanh. Dân địa phương hái lá vào mùa đông, trị phong rất hiệu quả.
'''3. Thôi Phong Sứ (催風使)'''
*Tô Tụng viết: Mọc trong núi Thiên Thai, đông hè thường xanh. Dân địa phương hái lá vào mùa thu, trị phong rất hiệu quả.
*Thời Trân nói: Ngũ gia bì (Cortex Acanthopanacis) cũng có tên gọi khác là Thôi Phong Sứ.
'''4. Thứ Hổ (刺虎) - Damnacanthus indicus Gaertn. f.
*Tô Tụng viết: Mọc ở Mục Châu, mùa đông giá rét không rụng lá. Hái rễ, lá, cành làm thuốc. Vị ngọt. Chủ trị tất cả các chứng sưng đau và phong tật. Thái nhỏ sấy khô tán bột, uống 1 tiền với rượu.
*Thời Trân nói: Sách Thọ vực phương trị chứng đan lưu (viêm da đỏ) dùng Hổ Thứ (tức Thọ tinh thảo), giã lấy nước bôi. Lại có cây Phục ngưu hoa, tên khác là Cách hổ thứ.
'''5. Thạch Tiêu Diêu Thảo (石逍遙草)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Thường Châu, đông hè thường có, không hoa quả. Vị đắng, tính hơi hàn, không độc. Chủ trị các chứng bại liệt, trúng phong, tay chân không cử động được. Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 20 viên với rượu, ngày 2 lần, trăm ngày thì khỏi. Uống lâu giúp ích khí nhẹ mình. Mới uống có cảm giác hơi ngứa.
'''6. Hoàng Liêu Lang (黃寮郎)'''
*Tô Tụng viết: Mọc trong núi Thiên Thai, đông hè thường xanh. Dân địa phương hái rễ trị phong rất hiệu quả.
*Thời Trân nói: Theo Y học chính truyền, Hoàng Liêu Lang tên tục là Đảo trích thứ. Trị đau cổ họng, dùng rễ mài lấy nước, thêm chút rượu, nhỏ vào là khỏi. Lại theo Y học tập thành, người đau răng lấy Đảo trích thứ đốt trên dao, lấy muội đen thấm vào bông nhét vào chỗ đau sẽ cầm đau ngay.
'''7. Hoàng Hoa Liễu (黃花了)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Tín Châu, mùa xuân mọc lá xanh, tháng 3 nở hoa giống hoa rau cải, màu vàng, giữa thu kết quả. Thu hái không kể thời gian, trị các bệnh hầu họng và răng miệng rất hiệu quả.
'''8. Bách Lạng Kim (百兩金) - Ardisia crispata (Thunb.) A. DC.
*Tô Tụng viết: Mọc ở Nhung Châu, Hà Trung Phủ, Vân An Quân. Mầm cao 2-3 thước, thân cứng như gỗ, mùa đông không rụng, lá giống lá Lệ chi (Vải), lúc mới mọc hai mặt đều xanh, sau mùa thu mặt dưới tím mặt trên xanh. Đầu thu nở hoa màu xanh biếc. Quả to bằng hạt đậu, lúc sống màu xanh, chín màu đỏ. Hái rễ không kể thời gian, bỏ lõi mà dùng. Vị đắng, tính bình, không độc. Trị ung nhiệt, cổ họng sưng đau, ngậm một đoạn rễ nuốt nước. Loại ở Hà Trung rễ đỏ như cây Mạn kinh, thân nhỏ màu xanh, tháng 4 nở hoa vàng vụn. Tháng 5 hái rễ dài khoảng 1 tấc, phơi khô dùng trị phong diên (đờm dãi do phong).
'''9. Địa Cà Tử (地茄子) - Fragaria hayatae Makino (hoặc loài tương tự thuộc chi Fragaria)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Thương Châu, tháng 3 nở hoa kết hạt. Tháng 5, tháng 6 hái, phơi khô trong râm. Vị hơi cay, tính ấm, có độc nhỏ. Chủ trị trúng phong đờm dãi, tê bại, hạ nhiệt độc khí, phá tích tụ rắn chắc, lợi cách (thông lồng ngực), tiêu ung thũng nhọt độc, tán huyết, trục thai.
'''10. Điền Mẫu Thảo (田母草)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Lâm Giang Quân, không hoa quả. Tháng 3 hái rễ. Tính mát. Chủ trị phiền nhiệt và phong nhiệt ở trẻ em, đặc biệt hiệu quả.
'''11. Điền Ma (田麻) - Corchoropsis crenata Siebold & Zucc.
*Tô Tụng viết: Mọc ở đồng ruộng và ven mương rãnh Tín Châu. Xuân hè mọc lá xanh, tháng 7 tháng 8 ra quả đậu nhỏ. Mùa đông (tháng 11) hái lá. Trị ung thũng.
'''12. Giới Tâm Thảo (芥心草)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Tư Châu, dây leo màu trắng, rễ vàng. Tháng 4 hái mầm lá. Giã tán bột trị sang giới (ghẻ lở), rất hiệu quả.
'''13. Khổ Giới Tử (苦芥子)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Tần Châu, mầm dài hơn 1 thước, thân xanh, lá như lá Liễu, nở hoa trắng giống hạt cây Du, hạt màu đen. Vị đắng, tính đại hàn, không độc. Làm sáng mắt, trị chứng huyết phong phiền táo.
'''14. Bố Lý Thảo (布里草)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở cánh đồng Nam Ân Châu, thân cao 3-4 thước, lá giống lá Mận nhưng to hơn, đến mùa hè không hoa mà kết quả, ăn vào gây tiêu chảy. Hái vỏ rễ, sấy khô tán bột. Vị đắng, tính hàn, có độc nhỏ. Hòa với dầu bôi trị ghẻ lở, diệt côn trùng.
'''15. Mão Chất Hãn (茆質汗)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Tín Châu, lá xanh hoa trắng. Tháng 7 hái rễ. Trị phong thũng và hành huyết rất hiệu quả.
'''16. Hồ Cẩn Thảo (胡堇草)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở đồng ruộng núi Đông Vũ, Mật Châu. Lá giống rau Cẩn nhỏ, hoa màu tím giống hoa Kiều dao, một gốc bảy lá, hoa mọc ra từ 2-3 thân. Mùa xuân hái mầm. Vị cay, tính trơn (hoạt), không độc. Chủ trị ứ huyết trong dinh vệ ngũ tạng và cơ thịt da dẻ, chỉ thống tán huyết, giã lấy nước bôi vết thương kim khí. Phàm bị đánh đập tổn thương gân xương, ung nhọt sưng vỡ: dùng vị này cùng nhánh Tùng, Nhũ hương, tro tóc rối, than gỗ Dâu tằm cùng giã, viên bằng quả đạn. Mỗi lần uống 1 viên với rượu, cơn đau sẽ dứt ngay.
'''17. Tiểu Nhi Quần (小兒群)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Thi Châu, mọc thành bụi cao khoảng 1 thước, xuân hè mọc mầm lá, không hoa, mùa đông héo. Rễ vị cay, tính mát, không độc. Dùng cùng Tả triền thảo (tức rễ cây Loa chuân - Convolvulus arvensis) sấy khô, lượng bằng nhau tán bột. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu. Trị chứng lâm (bí tiểu, tiểu buốt), không cần kiêng kỵ.
'''18. Độc Cước Tiên (獨腳仙)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Phúc Châu, nơi suối âm vùng rừng núi rất nhiều. Mùa xuân mọc mầm, lá tròn, trên xanh dưới tím, cuống dài 3-4 tấc, thu đông lá rụng. Mùa hè hái cả rễ và lá, sấy khô tán bột. Sắc nửa tiền với rượu để uống. Trị chứng huyết khối ở phụ nữ.
'''19. Toát Thạch Hợp Thảo (撮石合草)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở ruộng bằng Mi Châu, thân cao khoảng 2 thước, lá giống lá cây Cốc, tháng 12 nảy mầm, tháng 2 có hoa, không kết quả. Mầm vị ngọt, không độc. Tháng 2 hái, trị vết thương kim khí.
'''20. Lộ Cân Thảo (露筋草)'''
*Tô Tụng viết: Mọc ở Thi Châu, cây cao khoảng 3 thước, mùa xuân mọc mầm là nở hoa ngay, kết quả màu xanh biếc, bốn mùa không héo. Rễ vị cay, chát, tính mát, không độc. Chủ trị vết cắn của nhện và rết. Sấy khô nghiền bột, hòa với nước bạch phàn (phèn chua) đắp vào.
===BẢN THẢO CƯƠNG MỤC (《本草綱目》- 38 VỊ)===
'''1. Cửu Long Thảo (九龍草) - Sarcopyramis nepalensis Wall.'''
* Thời Trân nói: Mọc ở bình nguyên đầm lầy, kết quả đỏ hình dáng như quả Thanh mai (Yangmei). Mầm cây giải được các loại độc, trị đau họng, giã lấy nước cốt đổ vào cổ họng. Người bị gãy xương, thương tổn gân thì giã đắp vào chỗ đau. Người bị rắn rết cắn thì giã lấy nước cốt, hòa thêm 2 tiền Hùng hoàng uống vào là hết đau ngay.
* Lại có sách Ngoại khoa của Dương Thanh Sẩu chép: Chứng hầu phong trọng thiệt (sưng lưỡi), hàm răng cắn chặt, lấy Cửu Long Thảo (tên khác là Kim sai thảo), loại mọc đơn cành là tốt nhất, chỉ dùng rễ không dùng vỏ, đập nát, lấy bông bọc vào đầu đũa cọ vào hàm răng là mở ra ngay. Sau đó thọc sâu vào họng lấy đờm dãi ra. Lại đem thuốc hơ nóng, chấm thêm ít muối tra vào là khỏi.
'''2. Lệ Chi Thảo (荔枝草) - Salvia plebeia R. Br.'''
* Thời Trân nói: Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị rắn cắn, chó cắn và uốn ván. Lấy một nắm cỏ (khoảng 3 lạng), dùng 2 bát rượu sắc còn 1 bát uống, ra mồ hôi là hiệu quả.
'''3. Thủy Ngân Thảo (水銀草)'''
* Thời Trân nói: Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị mắt mờ. Mỗi lần dùng 3 tiền, thêm một ít Mộc tặc (Equisetum hyemale), 1 chén nước sắc còn 8 phần uống.
'''4. Thấu Cốt Thảo (透骨草) - Phryma leptostachya L. (hoặc Impatiens balsamina L.)'''
* Thời Trân nói: Trị tất cả các chứng phong thấp gân xương, đau đớn co quắp, phong chân do hàn thấp.
Sách Tập hiệu phương của Tôn thị chép: Trị bệnh lệ phong (hủi), ghẻ lở khắp người. Dùng Thấu cốt thảo, Khổ sâm, Đại hoàng, Hùng hoàng mỗi vị 5 tiền. Nghiền bột sắc lấy nước, trong phòng kín dùng chiếu quây quanh, xông cho đến khi mồ hôi ra như mưa thì tắm rửa bằng nước ấy.
Sách Phổ tế phương chép: Trị chứng phản vị nôn ra thức ăn. Thấu cốt thảo, Độc khoa Thương nhĩ, Mẫu lệ sống mỗi vị 1 tiền, Gừng 3 lát. Sắc uống.
Sách Kinh nghiệm phương của Dương Thành chép: Trị tất cả các loại sưng độc mới phát. Dùng Thấu cốt thảo, Lậu lô, Phòng phong, Địa dư lượng bằng nhau. Sắc lấy nước, dùng bông thấm nước nóng lau rửa liên tục, 2-3 ngày là tiêu.
'''5. Xà Nhãn Thảo (蛇眼草)'''
* Thời Trân nói: Mọc ở giếng cổ hoặc nơi ẩm thấp lâu năm, hình dáng như lá Trúc nhạt, mặt sau lá có vòng tròn đỏ như mắt rắn. Sách Kinh nghiệm phương của Đường Dao chép: Trị rắn cắn, giã nát đắp vào chỗ đau.
'''6. Nga Hạng Thảo (鵝項草)'''
* Thời Trân nói: Sách Thọ vực phương chép: Trị hầu họng sinh mụn loét. Lấy hoa vị này cùng Bạch chỉ, vỏ rễ Tiêu nghiền bột thổi vào miệng mụn.
'''7. Xà Ngư Thảo (蛇魚草)'''
* Thời Trân nói: Đái Nguyên Lễ trong Chứng trị yếu quyết nói: Trị vết thương kim khí chảy máu không ngừng. Giã đắp vào.
'''8. Cửu Lý Hương Thảo (九里香草) - Murraya exotica L.'''
* Thời Trân nói: Phó Tư trong Y học tập thành chép: Trị nhọt trong bụng (độ ung). Giã nát, ngâm rượu uống.
'''9. Bạch Diên Thảo (白筵草)'''
* Thời Trân nói: Đây là loại cỏ thơm, sâu bọ rất sợ nó. Sách Thiên kim phương của Tôn Chân Nhân chép: Trị các loại ghẻ lở, hủi do sâu độc. Lấy rễ và lá sắc nước, cách một ngày rửa một lần.
'''10. Hoàn Tràng Thảo (環腸草)'''
* Thời Trân nói: Phương thuốc trong Nho môn sự thân của Trương Tử Hòa chép: Trị chứng cổ trướng (bụng to). Phơi khô sắc nước uống hàng ngày, lấy mức đi tiểu thông lợi làm độ.
'''11. Trát Nhĩ Thảo (紮耳草)'''
* Thời Trân nói: Vương Chấp Trung trong Tư sinh kinh dùng vị này trong phương trị chứng khí điếc.
'''12. Đồng Cổ Thảo (銅鼓草)'''
* Thời Trân nói: Phạm Thành Đại trong Quế hải ngu hành chí nói: Sản sinh ở Quảng Tây, quả như quả dưa, trị dương độc (loét độc).
'''13. Tàm Tiễn Thảo (蠶繭草) - Polygonum japonicum Meisn.'''
* Thời Trân nói: Sách Trích huyền phương chép: Trị sưng trướng. Dùng nửa cân vị này, cùng nửa cân vỏ Đông qua (bí đao), nửa cân rễ lá Tử tô, 3 lạng vỏ Gừng tươi. Sắc nước xông rửa, nằm ấm cho ra mồ hôi. Rửa 3 lần thấy nước tiểu trong và dài là chứng trướng tự lui.
'''14. Dã Thược Thảo (野芕草)'''
* Thời Trân nói: Sách Trích huyền phương chép: Trị chứng bĩ mãn (u cục, đầy trướng). Dùng 5 cân, lấy một nửa đặt trong chậu sành, đặt 10 quả trứng gà lên trên cỏ, lấy nửa cỏ còn lại đậy lên, đổ giấm gạo ngâm 2 đêm cho vỏ trứng mềm ra, sau đó đem hấp chín trên nồi cơm rồi ăn hết, các khối u cục sẽ dần tiêu tan.
'''15. Tiêm Hà Thảo (纖霞草)'''
* Thời Trân nói: Sách Kinh nghiệm phương của Trần Tốn chép: Chứng nguyên tạng hư lạnh, khí đánh vào vùng rốn bụng gây đau. Dùng Chu sa 1 lạng, Ô đầu sống (bỏ vỏ) 2 lạng, Tiêm hà thảo 2 lạng. Tán bột, cho vào hũ sành nhỏ gắn kín, dùng lửa nhỏ nung đỏ, sau đó trộn cỏ này vào trong, không đậy miệng hũ, dùng lửa mạnh (nặng 1 cân) nung. Đợi lò nguội lấy ra, cùng với bột Ô đầu, dùng bánh hấp làm viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 3 viên với nước giấm.
'''16. Ngưu Chi Lặc (牛脂艻)'''
* Thời Trân nói: Sách Kinh nghiệm lương phương chép: Trị thất khổng xuất huyết (chảy máu 7 lỗ trên mặt). Tán bột thô, mỗi lần dùng 1 muỗng sắc trong nồi đất uống. Dùng vải màn che đầu cổ, đồng thời buộc chặt gốc ngón tay út.
'''17. Áp Cước Thanh (鴨腳青)'''
* Thời Trân nói: Sách Phổ tế phương chép: Trị mụn đinh râu mọc như chuỗi hạt, dùng cùng Ngư tô nghiên nát, trộn nước đường mà quét lên.
'''18. Thiên Tiên Liên (天仙蓮)'''
* Thời Trân nói: Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị độc ác, mụn nhọt, giã lá đắp vào.
'''19. Song Đầu Liên (雙頭蓮)'''
* Thời Trân nói: Tên khác là Thôi sinh thảo. Chủ trị phụ nữ đẻ khó, tay trái cầm cỏ là đẻ ngay. Lại chủ trị sưng trướng, lợi tiểu tiện. Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị cam răng ở người lớn và trẻ nhỏ, giã nát đắp vào.
'''20. Trư Lam Tử (豬藍子)'''
* Thời Trân nói: Sách Vệ sinh dị giản phương chép: Trị trong tai có mủ, gọi là thông nhĩ. Dùng hạt tán bột, thổi vào trong tai, không quá 2 lần là khỏi.
'''21. Thiên Giới Thái (天芥菜) - Heliotropium indicum L.'''
* Thời Trân nói: Mọc ở đồng nội. Lá nhỏ như rau cải. Vị đắng. Tên khác là Kê niêm. Chủ trị rắn cắn, dùng cùng Kim phí thảo (Inula Britannica), thêm muối giã đắp. Vương Tỉ trong Y lâm tập yếu chép: Trị sưng độc dưới nách, dùng muối và giấm cùng giã đắp. Tác dụng tán sưng chỉ thống, mủ đã hình thành cũng thấy yên. Cũng trị tất cả các loại sưng độc.
'''22. Phật Chưởng Hoa (佛掌花)'''
* Thời Trân nói: Sách Phổ tế phương chép: Trị mụn đinh râu như quả anh đào. Dùng rễ, cùng gừng tươi và mật ong, nghiền lấy nước uống.
'''23. Quách Công Thứ (郭公刺)'''
* Thời Trân nói: Tên khác là Quang cốt thứ, lấy lá giã nhỏ, hòa dầu bôi trị mụn thiên bào (phỏng nước). Ngu Đoàn trong Y học chính truyền chép: Trị hen suyễn, lấy rễ thái nhỏ sắc nước uống là dứt ngay.
'''24. Biên Cơ Sài (籩箕柴)'''
* Thời Trân nói: Mọc trong núi. Vương Vĩnh Phụ trong Huệ tế phương chép: Trị bệnh sài sang (lở ngứa), lấy vỏ sắc nước uống, lát sau ngứa không chịu nổi, dùng tay gãi rách da cho độc khí thoát ra là khỏi.
'''25. Toái Mễ Sài (碎米柴)'''
* Thời Trân nói: Chủ trị ung thư phát bối (nhọt độc sau lưng), lấy lá cho vào thuốc đắp.
'''26. Dương Thỉ Sài (羊屎柴) - Viburnum utile Hemsl.'''
* Thời Trân nói: Tên khác là Ngưu thỉ sài, mọc ở sơn dã, lá giống Hạc tất, tháng 4 nở hoa trắng, cũng có loại hoa đỏ, kết quả như phân dê, nên tên là Thiết thảo tử. Rễ có thể dùng làm thuốc độc cá. Mùa hè dùng mầm lá, mùa đông dùng rễ. Chủ trị ung thư phát bối, giã nát đắp vào, có thể làm liền miệng vết thương, tán mủ máu. Loại khô tán bột, hòa nước cháo đắp. Lại trị chứng hạ huyết (đi ngoài ra máu) như xối nước: lấy rễ tươi 1 cân, rượu trắng 2 đấu, nấu còn 1 đấu, uống lúc đói tùy lượng sức.
'''27. Sơn Tỳ Bà Sài (山枇杷柴)'''
* Thời Trân nói: Nguy Diệc Lâm trong Đắc hiệu phương chép: Trị bỏng nước sôi, lửa cháy. Lấy vỏ sấy khô nghiền bột, hòa mật đắp vào.
'''28. Tam Giác Phong (三角風) - Hedera nepalensis var. sinensis (Ivy)'''
* Thời Trân nói: Tên khác là Tam giác tiêm. Loại mọc trên đá là tốt nhất. Chủ trị phong thấp lưu chú đau đớn, và ung thư sưng độc.
'''29. Diệp Hạ Hồng (葉下紅) - Emilia sonchifolia (L.) DC.'''
* Thời Trân nói: Chủ trị vật lạ (như tơ sợi) bay vào mắt gây sưng đau. Dùng thuốc cùng ít muối, gói vào vải lụa nhỏ nước cốt vào mắt, đồng thời nhét vào mũi (đau mắt trái nhét mũi phải, đau mắt phải nhét mũi trái).
'''30. Mãn Giang Hồng (滿江紅) - Azolla pinnata R. Br.'''
* Thời Trân nói: Chủ trị ung thư, dùng cho vào thuốc cao.
'''31. Cách Sơn Tiêu (隔山消) - Cynanchum wilfordii (Maxim.) Hemsl.'''
* Thời Trân nói: Sản sinh ở núi Thái Hòa, màu trắng. Chủ trị bụng trướng, tích trệ.
Sách Tập hiệu phương của Tôn Thiên Nhân chép: Trị chứng khí cách nghẹn thức ăn, ăn vào nôn ra. Dùng Cách sơn tiêu 2 lạng, màng mề gà 1 lạng, Ngưu đảm Nam tinh, Chu sa mỗi vị 1 lạng, Cấp tính tử (hạt bóng nước) 2 tiền. Tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 1 tiền với nước gừng loãng.
'''14. Thạch Kiến Xuyên (石見穿) - Salvia chinensis Benth.'''
* Thời Trân nói: Chủ trị đau xương, bệnh đại phong (hủi), ung thũng.
'''33. Tỉnh Túy Thảo (醒醉草)'''
* Thời Trân nói: Sách Thiên bảo di sự chép: Đường Huyền Tông trồng vị này bên hồ Hưng Khánh. Mọc thành bụi, lá tím lòng đỏ thẫm, khách say rượu hái cỏ ngửi là tỉnh ngay, nên có tên như vậy (Cỏ tỉnh say).
'''34. Mộ Đầu Hồi (墓頭回) - Patrinia heterophylla Bunge'''
* Thời Trân nói: Đổng Bính trong Tập nghiệm phương chép: Trị băng huyết, xích bạch đới hạ. Dùng một nắm, rượu và nước mỗi thứ nửa chén, nước tiểu trẻ em (đồng niệu) nửa chén, một nhúm Hồng hoa tươi, sắc còn 7 phần, uống ấm lúc đi ngủ. Bệnh mới phát uống 1 liều, bệnh lâu 3 liều là khỏi, hiệu quả như thần. Một vị tăng từng dùng vị này trị khỏi cho Thái Đại nhân.
'''35. Dương Mao (羊茅) - Festuca ovina L.'''
* Thời Trân nói: Cừu (Dương) thích ăn nên có tên này. Sách Phổ tế phương chép: Trị hầu tý (viêm họng) sưng đau, giã lấy nước nuốt dần.
'''36. A Chỉ Nhi (阿只兒)'''
* Thời Trân nói: Lưu Úc trong Tây sứ ký nói: Xuất xứ từ Tây Vực, hình trạng như Khổ sâm. Chủ trị đòn đánh tổn thương, phụ nữ hỏng thai. Dùng một hạt bằng hạt đậu nuốt vào, máu độc sẽ tự ra hết.
'''37. A Tức Nhi (阿息兒)'''
* Thời Trân nói: Tây sứ ký nói: Xuất xứ từ Tây Vực, hình trạng như Địa cốt bì. Trị phụ nữ sau sinh rau thai không ra, lại trị vết thương kim khí mủ không thoát ra được. Nhai nát bôi vào là ra ngay.
'''38. Nô Ca Tát Nhi (奴哥撒兒)'''
* Thời Trân nói: Tây sứ ký nói: Xuất xứ từ Tây Vực, hình trạng như Cát cánh. Trị vết thương kim khí, hoặc đứt ruột, đứt gân. Nhai nát đắp vào, chúng sẽ tự liền lại.
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
39jtzigl59ctu5zea45exhu1khpm1da
Biên dịch:Bản thảo cương mục/Thảo 3
114
71911
204554
2026-04-05T04:12:37Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Bản thảo cương mục | tác giả= Lý Thời Trân | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 本草綱目/草之三 | năm= 1596 | phần = Quyển 14 <center>'''Các loại cỏ có mùi thơm''' (56 loại): Đương quy, xuyên khung, mễ vu, xà sàng, cao bản, trư tru hương, bạch chỉ, bạch thược, mẫu đơn, mộc hương, cam tùng hương, sơn nại, liêm khương, đỗ nhược, sơn kh…”
204554
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Bản thảo cương mục
| tác giả= Lý Thời Trân
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 本草綱目/草之三
| năm= 1596
| phần = Quyển 14
<center>'''Các loại cỏ có mùi thơm''' (56 loại): Đương quy, xuyên khung, mễ vu, xà sàng, cao bản, trư tru hương, bạch chỉ, bạch thược, mẫu đơn, mộc hương, cam tùng hương, sơn nại, liêm khương, đỗ nhược, sơn khương, cao lương khương, đậu khấu, bạch đậu khấu, súc sa mật, ích trí tử, tất bát, tương, nhục đậu khấu, bổ cốt chỉ, khương hoàng, uất kim, bồng nga truật, kinh tam lăng, toa thảo, hương phụ tử, thụy hương, mạt lị, uất kim hương, mạo hương, bạch mạo hương, bài thảo hương, mê điệt hương, xa hương, ngải nạp hương, câu nạp hương, tuyến hương, hoắc hương, linh lăng hương, huân thảo, lan thảo, trạch lan, mã lan, ích nãi thảo, hương nhu, thạch hương, tước sàng, giả tô, bạc hà, tích tuyết thảo, tô, thủy tô, tề</center>
| trước= [[../Thảo 2|Thảo 2]]
| sau= [[../Thảo 4|Thảo 4]]
| ghi chú= '''Lưu ý''': Bản dịch mang tính tham khảo tư liệu cổ xưa. Nhiều vị thuốc (như bộ phận người, phân, thủy ngân, kim loại nặng, hoặc động vật hoang dã quý hiếm) không còn phù hợp hoặc bị cấm trong y tế hiện đại. Không tự ý áp dụng khi không có chỉ định của thầy thuốc.
}}
==ĐƯƠNG QUY (當歸)==
*(Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Angelica sinensis (Oliv.) Diels
===【Thích danh - Giải thích tên gọi】===
'''Can quy''' (乾歸 - Bản kinh), '''Sơn kỳ''' (山蘄 - Nhĩ Nhã), '''Bạch kỳ''' (白蘄 - Nhĩ Nhã), '''Văn vô''' (文無 - Cương mục).
'''Tô Tụng nói:''' Xét thấy rễ nó thô và lớn. Hứa Thận trong thuyết Thuyết văn nói: Loại sinh trong núi gọi là Bệ (薜), một tên là Sơn kỳ. Vậy thì Đương quy thuộc loại rau Cần (Cần loại). Loại ở đồng bằng gọi là Cần, loại sinh trong núi thô lớn gọi là Đương quy vậy.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Nay vùng Xuyên Thục đều trồng thành luống, đặc biệt to béo nhiều nhựa dầu, không còn phân biệt đồng bằng hay vùng núi là thượng hạng hay hạ đẳng nữa.
'''Lý Thời Trân nói:''' Đương quy vốn không phải loại rau Cần, chỉ vì hoa và lá giống rau Cần nên mới có tên là Kỳ (Cần). Người xưa cưới vợ là để nối dõi tông đường (tự tục), Đương quy điều huyết là thuốc yếu yếu của phụ nữ, có ý nghĩa "tư phu" (nhớ chồng), nên mới có tên là Đương quy (nên về). Điều này tương đồng với ý tứ trong thơ Đường: "Hồ ma hảo chủng vô nhân chủng, chính thị quy thời hựu bất quy" (Mè tốt khéo trồng không người trồng, chính lúc nên về lại chẳng về). Thôi Báo trong Cổ kim chú nói: Người xưa tặng nhau bằng Thược dược, chiêu mời nhau bằng Văn vô. Văn vô là một tên của Đương quy, Thược dược là một tên của Tương ly (sắp rời xa), chính là vì lẽ đó.
'''Tô Thừa nói:''' Đương quy trị phụ nữ mang thai hoặc sau sinh huyết xấu xông lên (ác huyết thượng xung), mang lại hiệu quả tức thì. Người khí huyết hôn loạn, uống vào là định ngay. Nó có thể khiến khí huyết đều có nơi để "về" (quy), e rằng tên gọi Đương quy nhất định từ đó mà ra.
===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Đương quy sinh ở thung lũng Lũng Tây, tháng Hai, tháng Tám hái rễ, phơi trong râm cho khô.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay loại Đương quy ở Tứ Dương, Hắc Thủy vùng Lũng Tây nhiều thịt ít nhánh, mùi thơm, gọi là '''Mã vĩ đương quy''' (Đương quy đuôi ngựa). Đương quy ở vùng phía Bắc Tây Xuyên nhiều rễ nhánh mà nhỏ. Loại xuất ở Lịch Dương sắc trắng mà khí vị mỏng, không tương đồng, gọi là '''Thảo đương quy''', khi thiếu thốn cũng dùng đến.
'''Tô Cung nói:''' Nay xuất ở Đương Châu, Đáng Châu, Dực Châu, Tùng Châu, loại ở Đáng Châu là tốt nhất. Có hai loại: Một loại giống lá lớn của Xuyên khung gọi là Mã vĩ đương quy, người nay dùng nhiều; một loại giống lá nhỏ của Xuyên khung gọi là '''Tằm đầu đương quy''' (Đương quy đầu tằm), chính là loại ở Lịch Dương mà Đào Hoằng Cảnh nhắc đến, không dùng được, thân lá đều thấp bé hơn Xuyên khung.
'''Tô Tụng nói:''' Nay các quận vùng Xuyên Thục, Thiểm Tây và phủ Giang Ninh, Chừ Châu đều có, loại ở Thục trung là tốt nhất. Mùa xuân mọc mầm, lá xanh có ba cánh. Tháng Bảy tháng Tám nở hoa giống hoa Thì là (Thì la), màu tím nhạt. Rễ màu vàng đen, loại thịt dày mà không khô héo là tốt nhất.
'''Lý Thời Trân nói:''' Nay người các vùng Thiểm, Thục, Tần Châu, Vấn Châu trồng rất nhiều để bán. Loại Đương quy ở Tần Châu đầu tròn đuôi nhiều, sắc tím, mùi thơm, béo nhuận, gọi là Mã vĩ quy, tốt hơn hẳn các nơi khác. Loại đầu lớn đuôi thô, sắc trắng, cứng và khô là Sảm đầu quy (tức Tằm đầu quy), chỉ nên cho vào thuốc phát tán mà thôi.
'''Hàn Yến nói:''' Loại sản xuất ở Xuyên (Tứ Xuyên) lực cương mãnh mà giỏi về "công" (tấn công/tẩy xổ), loại sản xuất ở Tần (Thiểm Tây) lực nhu hòa mà giỏi về "bổ". Nói như vậy là đúng.
===RỄ (根)===
===【Tu trị - Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng phải bỏ đầu cuống (lô đầu), dùng rượu ngâm một đêm rồi mới cho vào thuốc. Cầm máu hay phá huyết thì đầu và đuôi hiệu quả khác nhau. Nếu muốn phá huyết thì dùng đốt đầu cứng chắc; nếu muốn chỉ thống (giảm đau) và cầm máu thì dùng phần đuôi; nếu dùng chung cả thì uống vào vô hiệu, thà không dùng còn hơn, chỉ dùng riêng biệt là diệu nhất.
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Đầu - cầm máu; Đuôi - phá huyết; Thân - hòa huyết; Toàn bộ - vừa phá vừa cầm. Trước hết dùng nước rửa sạch đất. Trị bệnh ở thượng tiêu thì ngâm rượu; trị bệnh ở ngoài thì rửa qua rượu, hoặc sấy lửa, phơi khô rồi mới nhập dược.
'''Lý Cảo nói:''' Đầu - cầm máu mà đi lên trên; Thân - dưỡng huyết mà giữ ở giữa; Đuôi (sảo) - phá huyết mà chảy xuống dưới; Toàn bộ - hoạt huyết mà không chạy tán loạn.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hai thuyết của họ Lôi và họ Trương về công hiệu đầu đuôi khác biệt. Phàm rễ của vạn vật, từ nửa thân trở lên thì khí mạch đi lên, phỏng theo Thiên (Trời); từ nửa thân trở xuống thì khí mạch đi xuống, phỏng theo Địa (Đất). Thân người cũng phỏng theo Thiên Địa, nên trị thượng tiêu dùng đầu, trị trung tiêu dùng thân, trị hạ tiêu dùng đuôi, trị tổng quát thì dùng toàn bộ, đó là lẽ nhất định vậy. Nên lấy thuyết của họ Trương làm ưu tiên. Phàm phơi khô lúc còn nóng dùng giấy phong kín trong hũ mà cất giữ thì không bị mọt.
===【Khí vị】===
Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc.
* Biệt lục chép: Vị cay (tân), đại ôn.
* Họ Phổ chép: Thần Nông, Hoàng Đế, Đồng Quân, Biển Thước nói: Vị ngọt, không độc; Kỳ Bá, Lôi Công nói: Vị cay, không độc; Lý Đương Chi nói: Hơi ấm (tiểu ôn).
* Lý Cảo nói: Vị ngọt, cay, tính ấm, không độc. Khí đậm vị mỏng, có thể thăng có thể giáng, là phần "Âm trong Dương", nhập vào huyết phận của các kinh Thủ Thiếu âm (Tâm), Túc Thái âm (Tỳ) và Túc Quyết âm (Can).
* Từ Chi Tài nói: Ghét (ố) Lư như, bột mì ướt; sợ Xương bồ, Hải tảo, Mẫu mông, Gừng sống; chế được Hùng hoàng.
===【Chủ trị】===
Khái nghịch thượng khí (ho ngược khó thở), ôn ngược, hàn nhiệt rét run ở trong da thịt, phụ nữ lậu hạ tuyệt tử (chảy máu âm đạo gây vô sinh), các chứng ác sang dương (nhọt độc), kim sang (vết thương do khí giới), sắc lấy nước uống (Bản kinh).
Ôn trung chỉ thống, trừ huyết lạ (khách huyết) tắc bên trong, trúng phong co giật không ra mồ hôi (trúng phong chấn hãn bất xuất), thấp tý, trúng ác (tà khí), khách khí hư lãnh, bổ ngũ tạng, sinh cơ nhục (Biệt lục).
Chỉ ẩu nghịch (hết nôn), hư lao hàn nhiệt, hạ lỵ bụng đau, đau răng, phụ nữ rỉ máu đau lưng, băng trung (băng huyết), bổ các chứng bất túc (Chân Quyền).
Trị tất cả các chứng phong, tất cả các chứng huyết, bổ tất cả các chứng lao, phá ác huyết, dưỡng tân huyết, trị trưng hà tích tụ, trường vị lạnh (Đại Minh).
Trị đầu thống, các chứng đau ở tim bụng, nhuận trường vị, gân cốt, da thịt; trị ung thư, bài nùng (đẩy mủ) chỉ thống, hòa huyết bổ huyết (Lý Thời Trân).
Chủ trị nuy quyết thích nằm (chân yếu liệt), lòng bàn chân nóng mà đau. Mạch Xung bị bệnh gây khí nghịch lý cấp (co thắt bụng). Mạch Đới bị bệnh gây bụng đau, thắt lưng bủn rủn (dung dung) như ngồi trong nước (Vương Hiếu Cổ).
===【Phát minh】===
'''Chân Quyền nói:''' Người bị hư lạnh nên gia thêm mà dùng.
'''Tô Thừa nói:''' Người đời đa phần cho rằng nó chỉ có thể trị huyết, nhưng các phương trong Kim Quỹ, Ngoại Đài, Thiên Kim thảy đều coi đây là vị thuốc đại bổ các chứng bất túc, mang lại hiệu quả ngay lập tức. Phương cổ dùng trị phụ nữ sau sinh ác huyết xông lên, hiệu quả không gì nhanh bằng vị này. Phàm khí huyết hôn loạn, uống vào là định ngay. Có thể bổ hư, là vị thuốc thiết yếu dự phòng sau sinh.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Thuyết trong Dược tính luận nói nó bổ các chứng bất túc của phụ nữ đã tóm gọn hết công dụng của Đương quy rồi.
'''Thành Vô Kỷ nói:''' Mạch là phủ của huyết, các loại huyết đều thuộc về Tâm. Phàm muốn thông mạch, tất phải bổ Tâm ích huyết trước. Cho nên Trương Trọng Cảnh trị tay chân quyết lạnh, mạch nhỏ muốn tuyệt, đã dùng vị đắng ấm của Đương quy để trợ tâm huyết.
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Công dụng có ba: Một là thuốc bản kinh của kinh Tâm; hai là hòa huyết; ba là trị các bệnh nặng về đêm. Phàm huyết bị bệnh, nhất định phải dùng nó. Huyết ủng tắc không lưu thông thì đau, Đương quy vị ngọt ấm năng hòa huyết, vị cay ấm năng tán nội hàn, vị đắng ấm năng trợ Tâm tán hàn, khiến khí huyết đều có nơi để về.
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhập kinh Thủ Thiếu âm (Tâm) vì Tâm sinh huyết. Nhập kinh Túc Thái âm (Tỳ) vì Tỳ thống quản (khỏa) huyết. Nhập kinh Túc Quyết âm (Can) vì Can tàng huyết. Đầu - năng phá huyết; Thân - năng dưỡng huyết; Đuôi - năng hành huyết. Dùng toàn bộ cùng với Nhân sâm, Hoàng kỳ thì bổ khí mà sinh huyết; dùng cùng Khiên ngưu, Đại hoàng thì phá huyết mà thông tiện. Trị đầu thống, vì các chứng đau đều thuộc Mộc (Can), nên dùng thuốc về huyết làm chủ.
'''Tiết Cơ nói:''' Trị đầu thống, dùng rượu nấu lấy phần thanh mà uống, lấy cái tính "phù nhi thượng" (nổi mà đi lên) của nó. Trị tâm thống (đau vùng tim), dùng rượu hòa bột uống, lấy cái tính "trung hòa nửa chìm nửa nổi" của nó. Trị tiểu ra máu (niệu huyết), dùng rượu sắc uống, lấy cái tính "trầm nhập hạ cực" (chìm xuống chỗ thấp nhất) của nó. Việc phân chia cao thấp là tự nhiên như vậy. Vương Hải Tạng nói Đương quy là thuốc về huyết, tại sao lại trị được khái nghịch thượng khí ở trong ngực? Xét thấy Đương quy vị cay tán, là vị "thuốc khí trong huyết". Huống hồ khái nghịch thượng khí có loại do âm hư khiến dương không có nơi bám víu, nên dùng thuốc huyết bổ âm thì huyết hòa mà khí giáng vậy.
'''Hàn Yến nói:''' Đương quy chủ trị các bệnh ở huyết phận. Loại sản xuất ở Xuyên lực cương mãnh có thể "công", loại ở Tần lực nhu hòa thích hợp để "bổ". Phàm dùng, bệnh ở bản kinh nên dùng rượu chế, có đờm dùng gừng chế, ấy là lý "dẫn huyết quy nguyên". Huyết hư lấy Nhân sâm, Thạch chi làm tá; huyết nhiệt lấy Sinh địa hoàng, Điều cầm (Hoàng cầm) làm tá để không làm tuyệt nguồn sinh hóa. Huyết tích thì phối với Đại hoàng. Tóm lại, thuốc về huyết không thể bỏ Đương quy. Vì vậy phương cổ "Tứ vật thang" lấy Đương quy làm Quân, Thược dược làm Thần, Địa hoàng làm Tá, Xuyên khung làm Sứ vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 8, mới 19.
* '''Huyết hư phát nhiệt:''' Bài "Đương quy bổ huyết thang": Trị cơ nhục nóng, táo nhiệt, mắt đỏ mặt hồng, phiền khát muốn uống nước mãi không thôi, mạch hồng đại mà hư, ấn nặng tay thì hoàn toàn không có lực, đây là hậu của huyết hư. Do đói khát lao nhọc mà thành, triệu chứng giống bài Bạch hổ thang, chỉ khác là mạch không trường thực. Nếu uống nhầm Bạch hổ thang thì chết, nên dùng bài này làm chủ. Đương quy thân (rửa rượu) 2 tiền, Miên hoàng kỳ (chưng mật) 1 lạng. Làm một thang. Nước 2 bát, sắc còn 1 bát, uống ấm lúc đói, ngày 2 lần. (Lý Đông Viên - Lan thất bí tàng)
* '''Mất máu chóng mặt (thất huyết huyễn vận):''' Phàm thương thai mất máu, sau sinh mất máu, băng huyết, vết thương kim khí chảy máu, nhổ răng chảy máu, tất cả các chứng mất máu quá nhiều gây tâm phiền chóng mặt, ngất xỉu không biết gì. Đương quy 2 lạng, Xuyên khung 1 lạng. Mỗi lần dùng 5 tiền, nước 7 phần, rượu 3 phần, sắc còn 7 phần, uống nóng, ngày 2 lần. (Phụ nhân lương phương)
* '''Chảy máu cam không cầm (nục huyết):''' Đương quy (sấy) tán mạt, mỗi lần uống 1 tiền, chiêu với nước cơm. (Thánh tế lục)
* '''Tiểu ra máu (tiểu tiện xuất huyết):''' Đương quy 4 lạng (xắt nhỏ), rượu 3 thăng, sắc lấy 1 thăng, uống hết một lần. (Trửu hậu)
* '''Đau đầu như búa bổ:''' Đương quy 2 lạng, rượu 1 thăng, sắc lấy 6 hợp mà uống, ngày 2 lần. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Nội hư mắt tối (mục ám):''' Bổ khí dưỡng huyết. Dùng Đương quy (phơi sống) 6 lạng, Phụ tử (nướng) 1 lạng, tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với rượu ấm, tên là "Lục nhất hoàn". (Thánh tế tổng lục)
* '''Đau nhói dưới tim (tâm hạ thống thích):''' Đương quy tán mạt, uống một thìa canh với rượu. (Tất hiệu phương)
* '''Đau nhức cánh tay:''' Đương quy 3 lạng (thái), ngâm rượu 3 ngày, uống ấm. Uống hết lại dùng 3 lạng khác ngâm tiếp, lấy việc khỏi bệnh làm độ. (Sự lâm quảng ký)
* '''Ôn ngược không dứt:''' Đương quy 1 lạng. Sắc nước uống, ngày 1 lần. (Thánh tế tổng lục)
* '''Lỵ lâu ngày không dứt:''' Đương quy 2 lạng, Ngô thù du 1 lạng. Cùng sao thơm, bỏ Thù du không dùng, tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước cơm, tên là "Thắng kim hoàn". (Phổ tế phương)
* '''Đại tiện không thông:''' Đương quy, Bạch chỉ lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm. (Thánh tế tổng lục)
* '''Phụ nữ bách bệnh, các chứng hư bất túc:''' Đương quy 4 lạng, Địa hoàng 2 lạng, tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần trước bữa ăn uống 15 viên với nước cơm. (Chi Pháp Tồn phương)
* '''Kinh nguyệt đi ngược (vận kinh), ra từ miệng mũi:''' Trước tiên dùng mực tàu (Kinh mặc) mài nước uống để cầm lại. Sau đó dùng Đương quy vĩ, Hồng hoa mỗi vị 3 tiền. Nước 1 bát rưỡi, sắc còn 8 phần, uống ấm thì kinh sẽ thông. (Giản tiện phương)
* '''Thiếu nữ kinh bế:''' Đương quy vĩ, Một dược mỗi vị 1 tiền. Tán mạt, dùng Hồng hoa ngâm rượu, quay mặt về hướng Bắc mà uống, ngày 1 lần. (Phổ tế phương)
* '''Phụ nữ huyết khí:''' Dưới rốn trướng khí, kinh nguyệt không lợi, huyết khí xông lên muốn nôn, không ngủ được. Đương quy 4 tiền, Can tất (đốt tồn tính) 2 tiền, tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 15 viên với rượu ấm. (Vĩnh loại phương)
* '''Sẩy thai ra máu không cầm:''' Đương quy (sấy) 1 lạng, hành trắng một nắm. Mỗi lần dùng 5 tiền, rượu 1 bát rưỡi, sắc còn 8 phần, uống ấm. (Thánh tế tổng lục)
* '''Thai động khi mang thai, bài "Thần diệu Phật thủ tán":''' Trị phụ nữ mang thai bị thương động, hoặc con chết trong bụng, máu chảy đau đớn, miệng mím muốn chết. Uống bài này để thăm dò, nếu thai chưa hỏng thì đau sẽ dứt, nếu đã hỏng thì thai ra ngay, đây là phương thần nghiệm của Từ Vương. Đương quy 2 lạng, Xuyên khung 1 lạng. Tán mạt thô. Mỗi lần dùng 3 tiền, nước 1 bát, sắc cho đến khi gần cạn, đổ thêm 1 bát rượu, sắc sôi lại lần nữa, uống ấm, hoặc đổ vào miệng. Như người đi được 5 dặm thì uống tiếp. Không quá 3-5 lần là hiệu nghiệm. (Trương Văn Trọng - Bị cấp phương)
* '''Đẻ khó thai chết, thai nằm ngang nằm ngược (hoành sinh đảo sinh):''' Dùng Đương quy 3 lạng, Xuyên khung 1 lạng. Tán mạt, trước hết lấy đậu đen lớn sao cháy, cho vào 1 bát nước chảy (lưu thủy), 1 bát nước tiểu trẻ em (đồng tiện), sắc còn 1 bát, chia 2 lần uống. Chưa hiệu nghiệm lại uống tiếp. (Phụ nhân lương phương)
* '''Đẻ ngược con chết không ra:''' Đương quy tán mạt, uống một thìa canh với rượu. (Tử mẫu bí lục)
* '''Sau sinh huyết trướng, bụng đau kéo sang sườn:''' Đương quy 2 tiền, Can khương (nướng) 5 phân. Tán mạt. Mỗi lần dùng 3 tiền, nước 1 bát, sắc còn 8 phần, cho thêm ít muối và giấm, uống nóng. (Phụ nhân lương phương)
* '''Sau sinh bụng đau như cắt:''' Đương quy tán mạt 5 tiền, mật ong trắng 1 hợp, nước 1 bát, sắc còn 1 bát, chia 2 lần uống. Chưa hiệu nghiệm lại uống tiếp. (Phụ nhân lương phương)
* '''Sau sinh tự ra mồ hôi (tự hãn):''' Sốt mạnh, hụt hơi, lưng chân đau không xoay chuyển được. Đương quy 3 tiền, Hoàng kỳ, Bạch thược dược (sao rượu) mỗi vị 2 tiền, Gừng sống 5 lát. Nước 1 bát rưỡi, sắc còn 7 phần, uống ấm. (Hòa tễ cục phương)
* '''Sau sinh trúng phong:''' Không biết gì, miệng nôn dãi, tay chân co giật. Đương quy, Kinh giới tuệ lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần dùng 3 tiền, nước 1 bát, ít rượu, ít nước tiểu trẻ em, sắc còn 7 phần mà đổ vào miệng, trôi xuống họng là có hy vọng sống, thần hiệu. (Thánh huệ phương)
* '''Trẻ em thai hàn hay khóc:''' Ngày đêm không dứt, dẫn đến thành kinh giản. Đương quy tán mạt bằng hạt đậu nhỏ, hòa với sữa mẹ đổ vào miệng, ngày đêm 3-4 lần. (Trửu hậu phương)
* '''Trẻ em rốn ẩm (tề thấp):''' Không trị sớm thành rốn phong (uốn ván rốn). Hoặc sưng đỏ, hoặc chảy nước. Dùng bột Đương quy đắp vào. Một phương khác: thêm ít Xạ hương. Một phương khác: dùng bột Hồ phấn lượng bằng nhau. Thử qua rất nghiệm. Nếu khỏi rồi mà do nước tiểu thấm vào lại bị lại, đắp tiếp là khỏi. (Thánh huệ phương)
* '''Bỏng nước sôi, lửa cháy:''' Sưng đỏ loét nát, dùng bài này để sinh cơ, rút nhiệt chỉ thống. Đương quy, Sáp vàng mỗi vị 1 lạng, dầu mè 4 lạng. Dùng dầu rán Đương quy cho vàng cháy, bỏ bã, cho sáp vào quấy thành cao, để hết hỏa độc rồi phết đắp lên vết thương. (Hòa tễ cục phương)
* '''Chứng Bạch hoàng sắc khô:''' Lưỡi rụt, hốt hoảng như nói nhảm là chết. Đương quy, Bạch truật mỗi vị 2 lạng, sắc nước, hòa với nước cốt sinh phụ (sinh phu trấp) và mật ong mà uống. (Tam thập lục hoàng phương)
==XUYÊN KHUNG (芎藭)==
*(Âm đọc: Khung cùng - Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Ligusticum striatum DC. (đồng danh Ligusticum chuanxiong S.H. Qiu et al.)
===【Thích danh - Giải thích tên gọi】===
'''Hồ khung''' (胡藭 - Biệt lục), '''Xuyên khung''' (川芎 - Cương mục), '''Hương quả''' (香果 - Biệt lục), '''Sơn cúc cùng''' (山鞠窮 - Cương mục).
'''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Khung (芎) vốn viết là Khung (藭), nghĩa chưa rõ. Có thuyết nói: Đầu người khung lung (vòm cao) và cùng cao (tột cùng cao), là tượng của Trời. Vị thuốc này đi lên trên, chuyên trị các tật ở đầu não, nên có tên là Khung Cùng. Loại xuất từ vùng Hồ Nhung là tốt nhất nên gọi là Hồ khung. Người xưa thấy rễ và đốt của nó trạng như hàm thiếc ngựa nên gọi là '''Mã hàm khung'''. Đời sau thấy trạng nó như não chim sẻ nên gọi là '''Tước não khung'''. Loại xuất ở Quan Trung gọi là '''Kinh khung''', cũng gọi là '''Tây khung'''; xuất ở Thục trung gọi là '''Xuyên khung'''; xuất ở Thiên Thai gọi là '''Thai khung'''; xuất ở Giang Nam gọi là '''Phủ khung''', thảy đều theo địa danh mà đặt tên.
Sách Tả truyện viết: Người nước Sở bảo người nước Tiêu rằng: "Có mạch khúc (men lúa mạch) không? Có sơn cúc cùng không? Bệnh bụng do ăn cá sông thì làm thế nào?". Hai vật này đều dùng để ngự thấp (chống ẩm thấp), nên lấy đó làm ví dụ. Chu Đan Khê trị sáu chứng uất trong bài "Việt cúc hoàn" có dùng Việt đào và Cúc cùng, nên lấy đó đặt tên. Kinh Kim quang minh gọi vị này là '''Chi ma già'''.
===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Lá Khung Cùng tên là Mễ vu, sinh ở thung lũng Vũ Công, Tây Lĩnh thuộc Tà Cốc. Tháng Ba, tháng Tư hái rễ, phơi khô.
'''Ngô Phổ nói:''' Khung cùng sinh ở phía âm của núi Hồ Vô Đào, hoặc ở Thái Sơn. Lá nhỏ thơm, vân xanh đen, đỏ như Cao bản, đông hè mọc thành bụi. Tháng Năm hoa đỏ, tháng Bảy quả đen. Tháng Ba hái rễ, có đốt như hàm thiếc ngựa.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Vũ Công, Tây Lĩnh đều gần Trường An. Nay xuất ở Lịch Dương, nơi nơi đều có, nhà dân trồng rất nhiều. Lá giống Xà sàng mà thơm, đốt to thân nhỏ, trạng như hàm thiếc ngựa nên gọi là Mã hàm khung. Thục trung cũng có nhưng nhỏ hơn.
'''Tô Cung nói:''' Nay xuất ở Tần Châu, loại ở Lịch Dương không dùng nữa. Loại dân gian trồng hình khối to, nặng chắc và nhiều nhựa dầu. Loại hái trong núi thì gầy nhỏ, vị đắng cay. Hái vào tháng Chín, tháng Mười là tốt nhất; nếu hái vào tháng Ba, tháng Tư rễ rỗng xấu, không đúng mùa.
'''Tô Tụng nói:''' Vùng Quan Thiểm, Xuyên Thục, núi non Giang Đông đều có nhiều, nhưng loại ở Xuyên Thục là thắng (tốt nhất). Tháng Tư, tháng Năm mọc lá, giống các loại Thủy cần, Hồ tuy (rau mùi), Xà sàng, mọc thành bụi mà thân nhỏ. Lá nó rất thơm, người Giang Đông và người Thục hái lá làm đồ uống. Tháng Bảy, tháng Tám nở hoa trắng vụn như hoa Xà sàng tử. Rễ cứng gầy, màu vàng đen. Loại ở Quan Trung hình khối nặng chắc, trạng như não chim sẻ là Tước não khung, có lực nhất.
'''Lý Thời Trân nói:''' Đất Thục ít lạnh, người ta trồng nhiều, cuối thu thân lá cũng không héo. Sau tiết Thanh minh rễ cũ mọc mầm, phân nhánh chôn ngang thì đốt nào cũng sinh rễ. Đến tháng Tám dưới rễ mới kết củ Khung Cùng, bấy giờ mới đào lấy, đồ rồi phơi khô đem bán. Sách Cứu hoang bản thảo chép: Lá giống rau Cần mà hơi nhỏ hẹp, có răng cưa, lại giống lá Bạch chỉ nhưng nhỏ hơn, lại giống lá rau Mùi nhưng hơi cứng cáp, có một loại giống lá Xà sàng mà thô. Lá non có thể chần ăn được.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Phàm dùng, lấy loại khối lớn ở vùng Xuyên trung, trong sắc trắng, không bị dầu (ẩm nhựa), nhai thấy vị hơi cay ngọt là tốt. Các loại khác không nhập thuốc, chỉ có thể tán bột sắc nước tắm rửa mà thôi.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
* Ngô Phổ chép: Thần Nông, Hoàng Đế, Kỳ Bá, Lôi Công nói: Vị cay, không độc. Biển Thước nói: Vị chua (toan), không độc. Lý Đương Chi nói: Sống thì ấm, chín thì hàn.
* Trương Nguyên Tố nói: Tính ấm, vị cay đắng, khí đậm vị mỏng, nổi mà thăng lên, là Dương vậy. Là thuốc dẫn kinh của bản kinh Thiếu âm, nhập vào khí phận của các kinh Thủ, Túc Quyết âm (Tâm bào và Can).
* Từ Chi Tài nói: Bạch chỉ làm sứ cho nó; sợ Hoàng liên; phục được Thừa hoàng. Được Tế tân thì liệu kim sang chỉ thống; được Mẫu lệ thì liệu đầu phong nôn ngược.
===【Chủ trị】===
Trúng phong nhập não gây đau đầu, hàn tý gân cơ co rút hoặc yếu liệt, vết thương kim khí, phụ nữ huyết bế không con (Bản kinh). Trừ khí lạnh chuyển động trong não, phong chạy (du phong) trên mặt đi lại không định chỗ, mắt chảy lệ, nhiều nước mũi nước dãi, hốt hoảng như say, các loại hàn lạnh khí, tim bụng đau cứng, trúng ác đột ngột sưng đau, hiếp phong thống (đau sườn do phong), ôn trung nội hàn (Biệt lục). Lưng chân yếu nhão, bán thân bất toại, rau thai không xuống (甄權). Tất cả các chứng phong, các chứng khí, các chứng lao tổn, các chứng huyết. Bổ ngũ lao, tráng gân cốt, điều hòa mạch máu, phá trưng kết huyết cũ, dưỡng huyết mới, trị thổ huyết nục huyết niệu huyết, não ung phát bối, loa lịch ảnh chuy (bướu cổ, hạch), trĩ lậu sang giới, làm dài thịt bài nùng (đẩy mủ), tiêu huyết ứ (Đại Minh). Tìm tòi (sưu) can khí, bổ can huyết, nhuận can táo, bổ phong hư (Vương Hiếu Cổ). Táo thấp, chỉ tả lỵ, hành khí khai uất (Lý Thời Trân). Hòa với mật làm viên lớn, uống đêm trị phong đờm cực hiệu nghiệm (Tô Tụng). Chân răng chảy máu, ngậm nước sắc sẽ khỏi (Đào Hoằng Cảnh).
===【Phát minh】===
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Người nay dùng vị này nhiều nhất, đau phong ở đầu mặt không thể thiếu được, nhưng cần dùng các vị khác làm tá.
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Xuyên khung trên hành đầu mục (lên trên đầu mắt), dưới hành huyết hải (xuống dưới bể máu), nên các bài Thanh thần tán và Tứ vật thang đều dùng nó. Năng tán phong của kinh Can, là vị thuốc thánh trị đầu thống kinh Thiếu dương, Quyết âm và đầu thống do huyết hư. Công dụng có bốn: Dẫn kinh Thiếu dương là một; trị đau đầu các kinh là hai; trợ khí thanh dương là ba; khử thấp khí ở đầu là bốn.
'''Lý Cảo nói:''' Đau đầu tất dùng Xuyên khung. Nếu không khỏi, gia thêm thuốc dẫn kinh của từng kinh: Thái dương dùng Khương hoạt, Dương minh dùng Bạch chỉ, Thiếu dương dùng Sài hồ, Thái âm dùng Thương truật, Quyết âm dùng Ngô thù du, Thiếu âm dùng Tế tân, chính là như vậy.
'''Chu Đan Khê nói:''' Uất ở trung tiêu, phải dùng Phủ khung để khai đề khí ấy mà thăng lên, khí thăng thì uất tự giáng. Cho nên Phủ khung giải được tất cả các chứng uất, thông đạt đến Tam tiêu, là sứ giả thông suốt khí huyết âm dương.
'''Lý Thời Trân nói:''' Khung Cùng là thuốc về khí trong huyết (huyết trung khí dược). Can khổ cấp (Can sợ bị gò bó), dùng vị cay để bổ, nên người huyết hư rất thích hợp. Vị cay năng tán, nên người khí uất rất thích hợp. Sách Tả truyện nói: Mạch khúc và Cúc cùng ngự thấp, trị bệnh bụng cá sông (tiêu chảy). Tôi trị chứng thấp tả mỗi khi gia hai vị này thì hiệu ứng như tiếng vang (nhanh chóng). Lỵ ra máu đã thông mà đau không dứt, ấy là do âm khuy khí uất, trong thuốc gia thêm Xuyên khung làm tá, khí hành huyết điều thì bệnh lập tức dứt. Đây đều là diệu chỉ của y học, bậc trí giả hiểu linh hoạt mới có thể bàn luận vậy.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Thẩm Quát trong Bút đàm kể: Có đứa cháu trong họ vốn thường uống Khung Cùng, thầy y Trịnh Thúc Hùng thấy vậy bảo: "Khung Cùng không được uống lâu, thường làm người ta chết đột ngột". Sau đứa cháu ấy quả nhiên không bệnh mà mất. Lại có vợ của quan Trương Tử Thông bệnh não phong, uống Khung Cùng rất lâu, một sáng bỗng vong mạng. Thảy đều là mắt thấy tai nghe. Ấy là do uống đơn độc quá lâu thì làm tán mất chân khí. Nếu dùng các thuốc khác làm tá sứ, lại không uống lâu, khỏi bệnh thì thôi, thì sao dẫn đến mức đó được?
'''Ngu Bác nói:''' Chứng cốt chưng (nóng trong xương) ra mồ hôi nhiều và người khí yếu không được uống lâu. Tính nó cay tán, làm chân khí tiết ra ngoài mà âm càng thêm hư vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Năm vị vào dạ dày, mỗi vị về tạng bản kinh của nó. Uống lâu thì khí của vị đó tăng thịnh thiên lệch, tất có tạng khác bị tuyệt, nên mới có họa chết đột tử. Nếu thuốc có đủ ngũ vị, dự bị tứ khí, quân thần tá sứ phối hợp thích đáng, há lại có hại sao? Như Khung Cùng là thuốc của kinh Can. Nếu uống đơn độc quá lâu, vị cay ưa về Phế, Phế khí thiên thắng, Kim đến hại Mộc (Phế Kim khắc Can Mộc), Can tất chịu tà, lâu ngày thiên tuyệt, há chẳng chết sao? Cho nên người thầy thuốc quý ở chỗ nghiên cứu thấu đáo sự vật (cách vật) vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 7, mới 13.
* '''Sinh tê hoàn:''' Tống Chân Tông ban cho Cao tướng quốc, dùng để trừ đờm, sáng mắt, ăn uống ngon miệng. Dùng Xuyên khung 10 lạng (loại chắc nhỏ), ngâm nước vo gạo nếp 2 ngày (thay nước), thái phiến phơi khô tán mạt, chia làm hai phần. Mỗi phần cho thêm Xạ hương, Băng phiến (Não) mỗi vị 1 phân, Sinh tê nửa lạng (nấu cách thủy), hòa mật làm viên bằng quả đạn nhỏ. Nhai nuốt 1 viên với trà hoặc rượu. Nếu có đờm, gia Chu sa nửa lạng; nếu cơ hoành ủng tắc, gia Ngưu hoàng 1 phân, Thiết phấn thủy phi 1 phân. Nếu đầu mắt hôn váng, gia Tế tân 1 phân. Nếu miệng mắt méo xệch, gia Thiên nam tinh chế 1 phân. (Ngự dược viện phương)
* '''Khí hư đầu thống:''' Xuyên khung thật tán mạt, dùng trà lạp (trà pha cuối năm) điều uống 2 tiền, rất nhanh. Từng có phụ nữ sau sinh đau đầu, uống một lần là khỏi. (Tập giản phương)
* '''Khí quyết đầu thống:''' Phụ nữ khí thịnh đau đầu, và sau sinh đau đầu. Xuyên khung, Thiên đài Ô dược lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước trà hành. Phương của Ngự dược viện thì gia thêm Bạch truật, sắc nước uống.
* '''Phong nhiệt đầu thống:''' Xuyên khung 1 tiền, lá trà 2 tiền, nước 1 bát, sắc còn 5 phân, uống nóng trước bữa ăn. (Giản tiện phương)
* '''Đầu phong hóa đờm:''' Xuyên khung rửa sạch thái lát, phơi khô tán mạt, luyện mật làm viên bằng quả đạn nhỏ. Không kể thời gian, nhai 1 viên chiêu với nước trà thanh. (Kinh nghiệm hậu phương)
* '''Thiên đầu thống (đau nửa đầu):''' Kinh khung xắt nhỏ, ngâm rượu uống hàng ngày. (Đẩu môn phương)
* '''Phong nhiệt thượng xung:''' Đầu mắt chóng mặt, hoặc trong ngực khó chịu. Xuyên khung, Hoài tử mỗi vị 1 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 3 tiền với nước trà thanh. Nếu ngực khó chịu thì sắc nước uống. (Trương Khiết Cổ - Bảo mệnh tập)
* '''Thủ phong xoay váng:''' Và đau nửa đầu hoặc cả đầu, ra mồ hôi nhiều sợ gió, ngực cách có đờm ẩm. Xuyên khung 1 cân, Thiên ma 4 lạng, tán mạt, luyện mật làm viên bằng quả đạn. Mỗi lần nhai 1 viên chiêu nước trà thanh. (Lưu Hà Gian - Tuyên minh phương)
* '''Thất huyết huyễn vận (Chóng mặt do mất máu):''' Xem phương ở mục Đương quy.
* '''Tất cả các chứng tâm thống (đau vùng tim):''' Một củ Xuyên khung lớn, tán mạt, uống với rượu trắng. Một củ trị được 1 năm, hai củ trị được 2 năm. (Tôn thị - Tập hiệu phương)
* '''Kinh bế nghiệm thai:''' Kinh nguyệt ba tháng không hành. Cách thử thai: Xuyên khung sống tán mạt, lúc đói sắc nước lá Ngải uống một thìa. Trong bụng động nhẹ là có thai, không động là không phải. (Linh uyển phương)
* '''Tổn động thai khí:''' Do ngã vấp hoặc bê nặng, thai không yên, hoặc con chết trong bụng. Xuyên khung tán mạt, uống một thìa canh với rượu, trong chốc lát uống 1-2 lần là thai ra ngay. (Tiếp thập toàn phương)
* '''Băng trung hạ huyết:''' Chảy máu đêm ngày không dứt. Thiên kim phương dùng Xuyên khung 1 lạng, rượu thanh một bát lớn, sắc còn 5 phân, uống từ từ. Thánh huệ gia thêm nước cốt Sinh địa hoàng 2 hợp cùng sắc.
* '''Tửu bích hiếp trướng (đau sườn do uống rượu):''' Thường xuyên nôn mửa, trong bụng có tiếng nước óc ách. Xuyên khung, Tam lăng (nướng) mỗi vị 1 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước hành trắng. (Thánh tế tổng lục)
* '''Trẻ em não nhiệt thích nhắm mắt:''' Hoặc đau vùng thái dương, hoặc mắt đỏ sưng. Xuyên khung, Bạc hà, Phác tiêu mỗi vị 2 tiền, tán mạt, lấy một ít thổi vào trong mũi. (Toàn ấu tâm giám)
* '''Răng hư miệng hôi:''' Sắc Xuyên khung lấy nước ngậm. (Quảng tế phương)
* '''Răng đau:''' Một củ Xuyên khung lớn, cho vào hũ bã rượu cũ (cựu tao) ủ một tháng, lấy ra sấy khô, cho thêm Tế tân cùng tán mạt, xát vào răng. (Bản sự phương)
* '''Các chứng sang thũng (mụn nhọt) đau nhức:''' Phủ khung nghiền nhỏ, cho thêm Khinh phấn, điều với dầu mè mà bôi. (Phổ tế phương)
* '''Sản hậu nhũ huyền (vú thòng):''' Phụ nữ sau sinh, hai vú bỗng dài ra như đoạn ruột, thòng quá bụng dưới, đau không thể chịu nổi, nguy vong trong chốc lát, gọi là nhũ huyền. Dùng Xuyên khung, Đương quy mỗi vị 1 cân. Lấy nửa cân xắt nhỏ, cho vào nồi đất sắc nước thật đậm, không kể liều lượng, uống thường xuyên; lại lấy 1 cân rưỡi xắt khối, đốt lấy khói dưới gầm bàn người bệnh, bảo người bệnh ghé miệng mũi vào hít khói ấy. Dùng hết chưa khỏi thì làm thêm một liều nữa. Lại dùng một hạt Thầu dầu (Bí ma tử) dán vào đỉnh đầu. (Hạ Tử Ích - Kỳ tật phương)
==MỄ VU (蘼蕪)==
*(Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Lá của cây Xuyên khung (Ligusticum striatum DC.)
===【Thích danh - Giải thích tên gọi】===
'''Vi vu''' (薇蕪 - Bản kinh), '''Kỳ ly''' (蘄蘺).
'''Tô Tụng nói:''' Kỳ ly là chữ cổ của Cần (rau cần) và Chỉ (bạch chỉ).
'''Lý Thời Trân nói:''' Mễ vu (蘼蕪) còn được viết là Mễ vu (蘪蕪), vì thân lá của nó mềm mại (mị nhược) mà rậm rạp (phồn vu) nên mới đặt tên như vậy. Đương quy có tên là Kỳ, Bạch chỉ có tên là Ly. Lá của nó giống Đương quy, mùi thơm của nó giống Bạch chỉ, nên mới có tên là Kỳ ly, Giang ly. Vương Dật nói: Cỏ Ly sinh ở trong sông (giang), nên gọi là Giang ly, chính là nó vậy.
===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Lá của Khung cùng (Xuyên khung) gọi là Mễ vu. Lại nói: Mễ vu còn có tên là Giang ly, là mầm của Khung cùng. Sinh ở sông ngòi đầm lầy vùng Ung Châu và Oan Cú. Tháng Tư, tháng Năm hái lá phơi khô.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay xuất sản ở Lịch Dương, nơi nơi nhà dân đều trồng nhiều. Lá giống Xà sàng mà thơm, các tao nhân mặc khách thường mượn hình ảnh này để ví von, trong phương thuốc thì ít khi dùng đến.
'''Tô Cung nói:''' Loại này có hai loại: Một loại lá giống rau Cần, một loại lá giống Xà sàng. Mùi thơm tương tự nhau, công dụng cũng không khác biệt.
'''Lý Thời Trân nói:''' Sách Biệt lục nói Mễ vu một tên là Giang ly, là mầm của Khung cùng. Nhưng Tư Mã Tương Như trong bài Tử Hư phú nói: "Khung cùng Xương bồ, Giang ly Mễ vu". Bài Thượng Lâm phú nói: "Phủ bằng Giang ly, bện bằng Mễ vu". Dường như không phải cùng một vật, là tại làm sao? Đó là vì lúc mầm non chưa kết rễ thì gọi là Mễ vu; sau khi đã kết rễ thì gọi là Khung cùng. Loại lá lớn giống rau Cần là Giang ly, loại lá nhỏ giống Xà sàng là Mễ vu. Phân biệt như thế tự khắc sẽ rõ ràng. Sách Hoài Nam Tử nói: "Kẻ làm loạn lòng người, giống như Khung cùng với Cao bản, Xà sàng với Mễ vu", cũng là chỉ loại lá nhỏ vậy. Sách Quảng chí nói: Mễ vu là cỏ thơm, có thể cất trong túi áo. Sách Quản Tử nói: Đất ngũ ốc (đất màu mỡ) sinh ra Mễ vu. Quách Phác có lời tán rằng: "Mễ vu cỏ thơm, lẫn với Xà sàng. Không tổn cái chân thực, tự tỏa hương thơm nồng nàn".
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Trị khái nghịch (ho ngược), định kinh khí, tị tà ác, trừ cổ độc quỷ chú, tẩy sạch tam trùng. Uống lâu thông thần minh (Bản kinh). Chủ trị chứng lão phong (phong lâu ngày) trong thân mình, đầu bị trúng phong lâu ngày, phong huyễn (chóng mặt do phong) (Biệt lục). Nấu làm đồ uống giúp cầm tiêu chảy (Tô Tụng).
===HOA (花)===
===【Chủ trị】===
Cho vào làm mỡ bôi mặt (diện chỉ) (Lý Thời Trân).
==XÀ SÀNG (蛇牀)==
*(Trích từ sách "Bản kinh" - Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Cnidium monnieri (L.) Cusson
===【Thích danh - Giải thích tên gọi】===
'''Xà túc''' (蛇粟 - Bản kinh), '''Xà mễ''' (蛇米 - Bản kinh), '''Hủy sàng''' (虺牀 - Nhĩ Nhã), '''Mã sàng''' (馬牀 - Quảng Nhã), '''Tường mi''' (蘠蘼 - Biệt lục, còn có tên là Tư ích, Thằng độc, Táo kích).
'''Lý Thời Trân nói:''' Các loài rắn rết (xà hủy) thích nằm dưới gốc cây này và ăn hạt của nó, nên mới có các tên Xà sàng, Xà túc. Lá của nó giống Mễ vu, nên gọi là Tường mi. Sách Nhĩ Nhã nói: Hu (盱) chính là Hủy sàng vậy.
===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Xà sàng sinh ở thung lũng Lâm Ty và đồng nội. Tháng Năm hái quả phơi khô trong râm.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Ở đồng nội, làng xóm có rất nhiều, hoa lá chính là giống Mễ vu.
'''Mã Chí nói:''' Lá giống loại Khung cùng lá nhỏ, hoa trắng, hạt như hạt kê, màu vàng trắng. Sinh ở nơi đất thấp ẩm, nơi nào cũng có, loại ở Dương Châu, Tương Châu là tốt hơn cả.
'''Tô Tụng nói:''' Tháng Ba mọc mầm, cao hai ba thước, lá xanh vụn, mọc thành bụi như cành ngải cứu (hào chi). Mỗi cành có hơn trăm đầu hoa, kết lại thành một ổ, giống như các loại Mã cần. Tháng Tư tháng Năm thì nở hoa màu trắng, hình trạng như cái lọng (tán trạng). Hạt màu vàng nâu, như hạt kê, tính rất nhẹ và xốp.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hoa của nó như hạt gạo vụn kết chùm lại. Hạt do hai mảnh ghép thành, giống hạt Thì là (Thì la tử) nhưng nhỏ hơn, cũng có khía dọc nhỏ. Phàm các loại hoa quả giống Xà sàng gồm có: Đương quy, Khung cùng, Thủy cần, Cao bản, Hồ la bặc (Cà rốt).
===HẠT (子)===
===【Tu trị - Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng, phải lấy nước cốt đậm của cây Lam (chàm) và nước cốt tự nhiên của rễ Bách bộ, cùng ngâm trong một ngày đêm (nhất phục thời), vớt ra phơi khô. Sau đó lấy nước cốt Sinh địa hoàng trộn đều rồi đồ (chưng), từ giờ Tỵ đến giờ Hợi, lấy ra phơi khô dùng.
'''Đại Minh nói:''' Phàm dùng để uống thì phải vò bỏ lớp vỏ ngoài, lấy nhân sao sơ để sát độc, như vậy sẽ không bị cay nồng. Nếu nấu nước tắm rửa thì dùng sống.
===【Khí vị】===
Vị đắng (khổ), tính bình, không độc.
* Biệt lục nói: Vị cay, ngọt, không độc.
* Chân Quyền nói: Có độc nhỏ.
* Từ Chi Tài nói: Ghét (ố) Mẫu đơn, Bối mẫu, Ba đậu. Phục được Lưu hoàng.
===【Chủ trị】===
Phụ nữ trong âm hộ sưng đau, nam giới âm nuy (liệt dương), thấp ngứa; trừ khí tý, lợi khớp xương, điên giản, ác sang (nhọt độc). Uống lâu nhẹ mình (Bản kinh). Ôn trung hạ khí, làm ấm tử cung phụ nữ (tử tạng nhiệt), làm nam giới cường dương (âm cường). Uống lâu đẹp sắc mặt, giúp người ta dễ có con (Biệt lục). Trị nam nữ bị hư thấp tý, độc phong đau nhức, trị chứng đau lưng ở nam giới, dùng tắm rửa vùng kín nam giới giúp trừ phong lạnh, rất ích cho việc phòng trung (dương sự) (Chân Quyền). Làm ấm dương khí của trượng phu, trợ âm khí cho phụ nữ, trị thắt lưng và háng đau mỏi, bốn chi tê dại (ngoan tý), làm giảm đi tiểu nhiều, trị mồ hôi trộm vùng kín (âm hãn), thấp tiễn (lác đồng tiền ẩm ướt), đau răng, xích bạch đới hạ, trẻ em kinh giản, chấn thương ứ huyết. Sắc nước tắm trị bệnh đại phong (phong hủi) thân mình ngứa ngáy (Đại Minh).
===【Phát minh】===
'''Lôi Công nói:''' Vị thuốc này khiến cho dương khí hưng thịnh mạnh mẽ, nên được gọi là "Quỷ khảo".
'''Lý Thời Trân nói:''' Xà sàng là vị thuốc thuộc khí phận của hữu thận Mệnh môn và Thiếu dương Tam tiêu. Thần Nông liệt nó vào hàng Thượng phẩm, không chỉ phò trợ nam giới mà còn có ích cho phụ nữ. Người đời bỏ vị này mà tìm cầu thuốc bổ tận phương xa, há chẳng phải là "khinh gần trọng xa" (tiện mục quý nhĩ) sao?
===【Phụ phương】===
*Cũ 4, mới 12.
* '''Dương sự bất khởi (Liệt dương):''' Xà sàng tử, Ngũ vị tử, Thỏ ty tử lượng bằng nhau, tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với rượu ấm, ngày 3 lần. (Thiên kim phương)
* '''Xích bạch đới hạ, kinh nguyệt không đến:''' Dùng Xà sàng tử, Phèn phi (Khô bạch phàn) lượng bằng nhau, tán mạt, dùng hồ giấm trộn làm viên bằng quả đạn nhỏ, lấy phấn yên chi làm áo, bọc vải bông đặt vào âm đạo. Nếu thấy nóng quá thì thay viên khác, ngày 1 lần. (Nho môn sự thân phương)
* '''Tử cung hàn lạnh, làm thuốc đặt ấm âm hộ:''' Bài Xà sàng tử tán: Lấy nhân Xà sàng tử tán mạt, cho thêm một ít phấn (mỹ phẩm cổ), hòa đều làm viên như quả táo, bọc vải bông đặt vào, tự khắc sẽ ấm. (Kim quỹ ngọc hàm phương)
* '''Phụ nữ ngứa âm hộ:''' Xà sàng tử 1 lạng, Bạch phàn 2 tiền. Sắc nước rửa thường xuyên. (Tập giản phương)
* '''Sau sinh sa tử cung (âm thoát):''' Lấy vải lụa bọc Xà sàng tử, chưng nóng rồi chườm (uất) vào. Cách khác: Xà sàng tử 5 lạng, Ô mai 14 quả. Sắc nước, ngày rửa 5-6 lần. (Kinh nghiệm phương)
* '''Phụ nữ đau âm hộ:''' Phương giống như trên. (Kinh nghiệm phương)
* '''Đại trường thoát giang (Sa trực tràng):''' Xà sàng tử, Cam thảo mỗi vị 1 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 1 tiền với nước sôi, ngày 3 lần. Đồng thời dùng bột Xà sàng đắp vào. (Kinh nghiệm phương)
* '''Trẻ em bị tiễn sang (lác, hắc lào):''' Xà sàng tử giã mạt, trộn với mỡ lợn bôi vào. (Thiên kim phương)
* '''Trẻ em bị điềm sang (chốc lây):''' Trên mặt và quanh tai lở loét lan rộng, chảy nước rất ngứa, lâu ngày không khỏi. Xà sàng tử 1 lạng, Khinh phấn 3 tiền. Tán mạt mịn, điều với dầu mè bôi vào. (Phổ tế phương)
* '''Lở ngứa trong tai (nhĩ nội thấp sang):''' Xà sàng tử, Hoàng liên mỗi vị 1 tiền, Khinh phấn 1 tý (nhất tự). Tán mạt thổi vào tai. (Toàn ấu tâm giám)
* '''Đau răng do phong sâu (phong trùng nha thống):''' Dùng Xà sàng tử và bấc đèn (chúc tẫn) cùng nghiền rồi bôi vào. (Thiên kim phương). Hoặc dùng Xà sàng tử sắc nước, thừa lúc còn nóng súc miệng nhiều lần, lập tức dứt đau. (Tập giản phương)
* '''Mùa đông bị hầu tý sưng đau (viêm họng):''' Khi không thể nuốt thuốc, dùng Xà sàng tử đốt lấy khói trong bình, miệng ngậm vòi bình hít khói, đờm sẽ tự ra. (Thánh huệ phương)
==CAO BẢN (藁本)==
*(Trích từ sách "Bản kinh" - Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Ligusticum sinense Oliv. (hoặc Ligusticum jeholense Nakai et Kitag.)
===【Thích danh - Giải thích tên gọi】===
'''Kiểu bạt''' (茇 - Cương mục), '''Quỷ khanh''' (鬼卿 - Bản kinh).
'''Tô Cung nói:''' Phía trên rễ, phía dưới mầm giống như gốc rơm rạ (hòa thảo), nên có tên là Cao bản. Bản (本) nghĩa là rễ vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Người xưa dùng làm hương liệu, gọi là '''Cao bản hương'''. Sách Sơn hải kinh gọi là '''Kiểu bạt'''.
===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Cao bản sinh ở thung lũng vùng Sùng Sơn. Tháng Giêng, tháng Hai hái rễ phơi khô, ba mươi ngày thì thành thuốc.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Trong dân gian đều dùng rễ phụ của Xuyên khung (tên gọi Khung cùng căn tu), hình trạng và khí vị của chúng vốn tương loại. Nhưng sách Thống quân dược lục nói mầm Xuyên khung giống Cao bản, luận về hoa và quả thảy đều không giống, nơi sinh trưởng cũng khác biệt. Nay ở Đông Sơn riêng có vị Cao bản, hình trạng khí vị rất tương tự, duy chỉ to lớn hơn mà thôi.
'''Tô Cung nói:''' Thân, lá, rễ và vị của Cao bản có chút khác biệt nhỏ với Xuyên khung. Nay loại xuất ở Đáng Châu là tốt.
'''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Tây Xuyên, Hà Đông và các quận thuộc Duyện Châu, Hàng Châu đều có. Lá thơm giống Bạch chỉ, lại cũng giống Xuyên khung, nhưng Xuyên khung giống Thủy cần mà lớn, còn lá Cao bản thì nhỏ hơn. Tháng Năm nở hoa trắng, tháng Bảy, tháng Tám kết hạt. Rễ màu tím.
'''Lý Thời Trân nói:''' Trong núi sâu vùng Giang Nam đều có. Rễ giống Xuyên khung nhưng nhẹ và xốp, vị tê, không thể dùng làm đồ uống được.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
* Biệt lục chép: Tính hơi hàn.
* Chân Quyền nói: Tính hơi ấm.
* Trương Nguyên Tố nói: Khí ấm, vị đắng và rất cay (đại tân), không độc. Khí đậm vị mỏng, là thuốc thuộc phần thăng, phần Dương. Là thuốc của bản kinh Túc Thái dương (Bàng quang).
* Từ Chi Tài nói: Ghét (ố) Lư như; sợ Thanh tương tử.
===【Chủ trị】===
Phụ nữ sán hà (khối u bụng dưới), trong âm hộ lạnh sưng đau, trong bụng co thắt (cấp), trừ phong đầu thống (đau đầu do phong), làm dài cơ bắp (trường cơ nhục), tươi nhuận sắc mặt (Bản kinh). Tị sương mù sương muối (vụ lộ), nhuận trạch da dẻ, liệu phong tà sang duệ (vết thương co rút), vết thương kim khí, có thể làm thuốc tắm hoặc mỡ bôi mặt (Biệt lục). Trị 160 loại ác phong quỷ chú, khí lạnh chảy vào thắt lưng gây đau nhức, năng hóa tiểu tiện, thông huyết, khử đầu phong (甄權). Trị các vết tỳ vết trên da (tỳ tàn), tửu tàn (mũi đỏ), phấn trứng cá, bệnh giản (Đại Minh). Trị đầu thống kinh Thái dương, đau đỉnh đầu (điên đỉnh thống), khí đại hàn phạm vào não, đau liên tục đến răng và má (Trương Nguyên Tố). Phong thấp ở đầu mặt và da dẻ thân mình (Lý Cảo). Mạch Đốc bị bệnh gây cột sống cứng đờ mà quyết nghịch (Vương Hiếu Cổ). Trị ung thư, bài nùng (đẩy mủ) và làm đầy vết loét bên trong (Lý Thời Trân).
===【Phát minh】===
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Cao bản là vị thuốc trị phong của kinh Thái dương, khí của nó hùng tráng, là vị thuốc tất dùng khi hàn khí uất trệ tại bản kinh gây đau đầu. Chứng đau đỉnh đầu (điên đỉnh thống) nếu không có vị này thì không thể trừ được. Dùng chung với Mộc hương trị thanh tà của sương mù trúng vào thượng tiêu; dùng cùng Bạch chỉ làm mỡ bôi mặt. Vừa trị được phong, vừa trị được thấp, thảy đều theo tính chất tương loại của chúng vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Sách Thiệu thị văn kiến lục kể: Hạ Anh Công bị bệnh tiết tả (tiêu chảy), thái y dùng thuốc bổ hư nhưng không hiệu quả. Hoắc Ông nói: "Ấy là phong khách tại vị (dạ dày) vậy". Cho uống Cao bản thang thì khỏi ngay. Ấy là vì Cao bản năng trừ phong thấp vậy.
===【Phụ phương】===
*Mới 3.
* '''Đại thực tâm thống (Đau tim do thực tà):''' Đã dùng thuốc lợi hạ (tẩy xổ) mà chưa hết, dùng vị này để triệt nọc độc. Cao bản nửa lạng, Thương truật 1 lạng. Chia làm 2 lần uống. Nước 2 bát sắc còn 1 bát, uống ấm. (Hoạt pháp cơ yếu)
* '''Gàu bám tóc khô:''' Cao bản, Bạch chỉ lượng bằng nhau. Tán mạt, đêm xát vào tóc sáng sớm chải đi, cáu bẩn tự sạch vậy. (Tiện dân đồ soạn)
* '''Trẻ em giới tiễn (ghẻ lở):''' Cao bản sắc nước tắm, đồng thời dùng để giặt áo quần. (Bảo ấu đại toàn)
===HẠT (實)===
===【Chủ trị】===
Phong tà chảy vào bốn chi (Biệt lục).
===【Phụ lục】===
TỪ HOÀNG (徐黃)
*(Sách Biệt lục chép tên nhưng chưa dùng đến)
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính bình, không độc.
===【Chủ trị】===
Tâm phúc tích hà (khối u trong bụng). Thân cây chủ trị ác sang. Sinh ở trong đầm trạch, thân lớn lá nhỏ, hương thơm như Cao bản.
==TRƯ ĐẦU HƯƠNG (蜘蛛香)==
*(Trích từ sách "Cương mục")
'''Tên khoa học:''' Valeriana jatamansi Jones (hoặc loại tương đương thuộc chi Nữ lang).
===【Tập giải】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Trư đầu hương xuất sản ở vùng núi Tùng Phan thuộc Mậu Châu phía tây đất Thục, là rễ cỏ vậy. Màu đen, có rễ phụ thô, hình trạng như bụng con nhện (trư chu phúc), cũng giống Cao bản, Xuyên khung. Khí vị phương hương, người phương ấy rất trọng vị này. Có thuyết nói loài mèo rất thích ăn nó.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Tị ôn dịch (phòng dịch bệnh), trúng ác tà tinh, quỷ khí thi chú (Lý Thời Trân).
==BẠCH CHỈ (白芷)==
*(Trích từ sách "Bản kinh" - Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Angelica dahurica (Fisch. ex Hoffm.) Benth. et Hook. f.
===【Thích danh - Giải thích tên gọi】===
'''Bạch Chỉ''' (白芷 - âm là Chỉ), '''Hàng Chỉ''' (Hứa Kiêu thiết), '''Oán''' (âm là Quan). Lá tên là '''Lịch ma''' (âm là Lực), '''Phù dược'''.
'''Lý Thời Trân nói:''' Từ Hài vân: "Lúc mới sinh rễ và thân gọi là Chỉ (芷)", nghĩa của Bạch chỉ lấy từ đây vậy. Vương An Thạch trong Tự thuyết nói: "Hương có thể dưỡng mũi, lại có thể dưỡng thân thể, nên chữ Chỉ (芷) có bộ Thần (臣). Chữ Thần âm là Di, nghĩa là nuôi dưỡng (dưỡng)". Hứa Thận trong Thuyết văn nói: "Nước Tấn gọi là Hàng, nước Tề gọi là Chỉ, nước Sở gọi là Ly, lại gọi là Dược. Sinh ở nơi đầm thấp, khí thơm cùng đức với hoa Lan, nên tao nhân mặc khách thường dùng Lan, Chỉ để vịnh thơ, mà trong Bản thảo có tên là Phấn hương, Trạch phấn, người xưa gọi là Hương bạch chỉ vậy".
===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Bạch chỉ sinh ở thung lũng, đầm thấp vùng Hà Đông. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ phơi khô.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay nơi nào cũng có, vùng Đông Gian có rất nhiều. Lá có thể dùng để hợp hương.
'''Tô Tụng nói:''' Đâu đâu cũng có, đất Ngô (vùng Giang Tô, Chiết Giang) đặc biệt nhiều. Rễ dài hơn một thước, thô nhỏ không đều, màu trắng. Cành thân cách mặt đất từ năm tấc trở lên. Mùa xuân sinh lá, mọc đối xứng xum xuê (bà sa), màu tím, rộng chừng ba ngón tay. Hoa trắng hơi vàng. Sau tiết Tam phục thì kết hạt, sau Lập thu thì mầm héo. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ phơi khô. Loại nào vàng nhuận (hoàng trạch) là tốt nhất.
'''Lôi Công nói:''' Phàm hái đừng dùng loại bốn sợi rễ mọc cùng một chỗ, gọi là Tang công đằng. Lại cũng đừng dùng nhầm rễ cây Mã lan.
===RỄ (根)===
===【Tu trị - Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Hái về cạo sạch lớp vỏ đất, thái nhỏ, dùng lát Hoàng tinh lượng bằng nhau, cùng đồ (chưng) trong một ngày đêm (nhất phục thời), phơi khô bỏ Hoàng tinh đi mà dùng.
'''Lý Thời Trân nói:''' Người nay hái rễ về rửa sạch, cạo vỏ rồi cắt khúc từng tấc, dùng vôi bột (đoàn thạch) trộn đều, phơi khô cất giữ, ấy là để tránh bị mọt và muốn cho sắc trắng đẹp. Khi nhập thuốc thì sấy nhẹ.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
* '''Trương Nguyên Tố nói:''' Khí ấm, vị đắng và rất cay (đại tân). Khí và vị đều nhẹ, là Dương vậy. Là vị thuốc dẫn kinh của Thủ Dương minh (Đại trường), dùng cùng Thăng ma thì thông hành các kinh Thủ, Túc Dương minh, cũng nhập vào kinh Thủ Thái âm (Phế).
* '''Từ Chi Tài nói:''' Đương quy làm sứ cho nó; ghét (ố) Toàn phúc hoa; chế được Hùng hoàng, Lưu hoàng.
===【Chủ trị】===
Phụ nữ lậu hạ xích bạch (khí hư đỏ trắng), huyết bế âm thũng, hàn nhiệt, đầu phong xâm vào mắt gây chảy lệ, làm dài cơ bắp (trường cơ nhục), tươi nhuận sắc mặt, có thể làm mỡ bôi mặt (Bản kinh). Liệu phong tà, khát lâu ngày gây nôn mửa, hai bên hông (hiếp) đầy tức, phong thống, đầu huyễn mắt ngứa. Có thể làm cao dán (Biệt lục). Trị mắt đỏ mọc thịt dư (nuy nhục), tẩy vết tàn nhang vết nám trên mặt, bổ thai lậu hoạt lạc (động thai chảy máu), phá huyết cũ, bổ huyết mới, nhũ ung phát bối loa lịch, trường phong trĩ lậu, sang di giới tiễn (ghẻ lở), chỉ thống bài nùng (Đại Minh). Năng thực nùng (tiêu mủ), chỉ tâm phúc huyết thích thống (đau nhói do huyết ở tim bụng), phụ nữ rỉ máu đau lưng, huyết băng (Chân Quyền). Giải lợi đầu thống kinh Thủ Dương minh, trúng phong hàn nhiệt, và phong nhiệt kinh Phế, đầu mặt da dẻ phong tý táo ngứa (Trương Nguyên Tố). Trị tỵ uyên (viêm xoang), tỵ nục (chảy máu cam), đau răng, đau xương lông mày (mi lăng cốt thống), đại trường phong bí, tiểu ra máu, phụ nữ huyết phong huyễn vận, phản vị nôn mửa, giải độc thạch tín, rắn cắn, vết thương dao tên (Lý Thời Trân).
===【Phát minh】===
'''Lý Cảo nói:''' Bạch chỉ liệu phong là vị thuốc dùng chung, khí nó phương hương, năng thông cửu khiếu, phát biểu ra mồ hôi không thể thiếu vị này.
'''Lưu Hoàn Tố nói:''' Trị đau đầu chính kinh Dương minh, đau đầu do nhiệt quyết, nên gia thêm mà dùng.
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Dùng cùng Tân di, Tế tân để trị bệnh mũi; cho vào Nội thác tán để làm dài cơ bắp, thế mới biết nó vào kinh Dương minh vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Bạch chỉ sắc trắng vị cay, hành ở Thủ Dương minh Canh kim; tính ấm khí đậm, hành ở Túc Dương minh Mậu thổ; phương hương thăng lên trên, nhập vào kinh Thủ Thái âm Phế. Phế là em của Canh (Kim), là con của Mậu (Thổ). Cho nên bệnh nó chủ trị không rời ba kinh này. Như các bệnh đầu mắt chân răng, là phong nhiệt của ba kinh vậy; như các bệnh lậu đới ung thư, là thấp nhiệt của ba kinh vậy. Phong nhiệt thì dùng vị cay để tán, thấp nhiệt thì dùng tính ấm để trừ. Là vị thuốc chính của Dương minh, nên lại năng trị bệnh về huyết, bệnh về thai, mà bài nùng sinh cơ chỉ thống.
Xét sách Bách nhất tuyển phương của Vương Tiếp vân: "Vương Định Quốc bị bệnh phong đầu thống, đến Đô Lương tìm danh y Dương Giới trị liệu, liên tục uống ba viên, bệnh lập tức biến mất. Khẩn cầu phương thuốc, thì ra chỉ dùng một vị Hương bạch chỉ, rửa sạch phơi khô tán mạt, luyện mật làm viên bằng quả đạn. Mỗi lần nhai một viên, chiêu bằng nước trà thanh hoặc nước sắc Kinh giới. Bèn đặt tên là '''Đô Lương hoàn'''". Vị thuốc ấy trị đầu phong huyễn vận, phụ nữ trước và sau sinh bị thương phong đầu thống, huyết phong đầu thống đều hiệu nghiệm. Đái Nguyên Lễ trong Yếu quyết cũng vân: "Đầu thống kèm nhiệt, gáy mọc cục hạch (lỗi khối), uống vị này rất nghi". Lại sách Tiên thần ẩn thư nói: "Trồng Bạch chỉ năng tị rắn", thế mới thấy phương trị rắn hổ mang cắn chép trong Di kiên chí cũng là dựa trên sự chế ước kẻ mà nó sợ vậy, mà Bản thảo trước nay chưa từng nhắc tới.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Dược tính luận nói Bạch chỉ năng thực nùng (tiêu mủ). Người nay dùng trị khí hư (đới hạ), trong ruột có mủ hư bại, rỉ ra mãi không dứt, mùi tanh hôi nồng nặc, dẫn đến rốn bụng lạnh đau, thảy đều do mủ bại huyết xấu gây ra, tất phải dùng vị này để bài nùng. Dùng Bạch chỉ 1 lạng, rễ cây Hồng thục quỳ hoa đơn 2 lạng, Bạch thược dược, Bạch khô phàn mỗi vị nửa lạng. Tán mạt, lấy sáp nấu chảy làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 10 hoặc 15 viên với nước cơm lúc đói và trước bữa ăn. Đợi đến khi mủ hết thì mới dùng thuốc khác để bổ.
===【Phụ phương】===
*Cũ 1, mới 34.
* '''Tất cả các chứng thương hàn:''' Bài "Thần bạch tán", còn tên là "Thánh tăng tán": Trị thời hành tất cả các chứng thương hàn, không hỏi âm dương nặng nhẹ, già trẻ nam nữ phụ nữ có thai đều có thể uống. Dùng Bạch chỉ 1 lạng, Cam thảo sống nửa lạng, Gừng 3 lát, Hành trắng 3 tấc, Táo 1 quả, Đậu xị 50 hạt. Nước 2 bát sắc uống lấy mồ hôi. Không ra mồ hôi uống tiếp. Bệnh đến hơn mười ngày chưa ra mồ hôi đều có thể uống. Vị thuốc này có thể bói được bệnh lành hay dữ. Nếu sắc ra màu đen hoặc lỡ tay làm đổ thì khó khỏi; nếu sắc ra màu vàng thì không ai là không khỏi. Khi sắc thuốc phải chí thành, kỵ phụ nữ và chó gà nhìn thấy. (Vệ sinh gia bảo phương)
* '''Tất cả các chứng phong tà:''' Phương giống như trên.
* '''Phong hàn chảy nước mũi:''' Hương bạch chỉ 1 lạng, Kinh giới tuệ 1 tiền. Tán mạt, dùng trà lạp (trà cuối năm) điểm uống 2 tiền. (Bách nhất tuyển phương)
* '''Trẻ em chảy nước mũi do phong hàn:''' Bạch chỉ mạt, Hành trắng. Giã làm viên bằng hạt đậu nhỏ. Mỗi lần uống 20 viên với nước trà. Lại dùng bột Bạch chỉ hòa nước gừng bôi huyệt Thái dương, rồi ăn cháo hành nóng để lấy mồ hôi. (Thánh huệ phương)
* '''Trẻ em mình nóng:''' Bạch chỉ sắc nước tắm. Lấy mồ hôi rồi tránh gió. (Tử mẫu bí lục)
* '''Đầu mặt các chứng phong:''' Hương bạch chỉ thái lát, ngâm nước nước củ cải cho thấm, phơi khô tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước sôi. Hoặc dùng thổi vào mũi (húc tỵ). (Trực chỉ phương)
* '''Thiên chính đầu phong (đau nửa đầu hoặc cả đầu):''' Trăm thuốc không trị khỏi, uống một lần là được, là phương thuốc bậc nhất thiên hạ vậy. Hương bạch chỉ (sao) 2 lạng 5 tiền, Xuyên khung (sao), Cam thảo (sao), Xuyên ô đầu (nửa sống nửa chín) mỗi vị 1 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 1 tiền, dùng trà xanh đặc, nước sắc Bạc hà điều uống. (Đàm Dã Ông thí hiệu phương)
* '''Đầu phong huyễn vận:''' Xem bài Đô Lương hoàn ở mục Phát minh.
* '''Đau xương lông mày:''' Thuộc phong nhiệt và đờm. Bạch chỉ, Phiến cầm (Hoàng cầm lát sao rượu) lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước trà thanh. (Đan khê toản yếu)
* '''Phong nhiệt nha thống (đau răng):''' Hương bạch chỉ 1 tiền, Chu sa 5 phân. Tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt khiếm thực. Thường xuyên dùng xát vào răng. Đây là phương của một thôn phụ ở Hào Châu dùng chữa người, thầy y Quách vùng Lư Châu nói nó vượt xa các thuốc khác vậy. Hoặc dùng Bạch chỉ, Ngô thù du lượng bằng nhau ngâm nước súc miệng để nhả dãi. (Y lâm tập yếu)
* '''Tất cả các bệnh về mắt:''' Bạch chỉ, Hùng hoàng tán mạt, luyện mật làm viên bằng quả nhãn, lấy Chu sa làm áo. Mỗi lần uống 1 viên với trà sau bữa ăn, ngày 2 lần. Tên là "Hoàn tình hoàn". (Phổ tế phương)
* '''Miệng răng hôi:''' Sách Bách nhất tuyển phương dùng Hương bạch chỉ 7 tiền tán mạt, sau khi ăn uống 1 tiền với nước giếng. Sách Tế sinh phương dùng Bạch chỉ, Xuyên khung lượng bằng nhau tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt khiếm thực, ngậm hàng ngày.
* '''Đạo hãn không dứt (mồ hôi trộm):''' Thái bình bạch chỉ 1 lạng, Thần sa nửa lạng. Tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với rượu ấm, rất nghiệm. (Chu thị tập nghiệm phương)
* '''Huyết phong phản vị (nôn mửa):''' Hương bạch chỉ 1 lạng (thái phiến, sao vàng trên ngói). Tán mạt. Dùng 7 miếng tiết lợn, dùng nước sôi trần 7 lần, chấm bột ấy mà ăn, ngày 1 lần. (Phụ nhân lương phương)
* '''Cước khí sưng đau:''' Bạch chỉ, Hạt cải lượng bằng nhau tán mạt. Hòa nước gừng bôi vào rất hiệu nghiệm. (Y phương trích yếu)
* '''Phụ nữ bạch đới:''' Bạch chỉ 4 lạng, dùng vôi nửa cân ngâm ba đêm, bỏ vôi thái lát, sao tán mạt. Uống 2 tiền với rượu, ngày 2 lần. (Y học tập thành)
* '''Phụ nữ khó đẻ:''' Bạch chỉ 5 tiền sắc nước uống. (Kinh nghiệm của Đường Dao)
* '''Thai tiền sản hậu Ô kim tán:''' Trị trước và sau khi sinh bị hư tổn, kinh nguyệt không điều, băng lậu và đẻ ngang đẻ ngược. Dùng Bạch chỉ, Bách thảo sương (nhọ nồi) lượng bằng nhau tán mạt. Dùng nước sôi pha nước tiểu trẻ em (đồng tiện) cùng với giấm điều uống 2 tiền. Đan Khê gia thêm Hoạt thạch, dùng Khung Quy thang điều uống. (Phổ tế phương)
* '''Đại tiện phong bí (táo bón do phong):''' Hương bạch chỉ sao tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm thêm chút mật ong, uống liên tiếp hai liều. (Thập tiện lương phương)
* '''Tiểu tiện khí lâm (bí tiểu đau buốt):''' Bạch chỉ (ngâm giấm sấy khô) 2 lạng tán mạt. Sắc Mộc thông, Cam thảo, dùng rượu điều uống 1 tiền, uống liên tiếp hai liều. (Phổ tế phương)
* '''Tỵ nục bất chỉ (chảy máu cam):''' Lấy chính máu chảy ra điều với bột Bạch chỉ bôi vào vùng Sơn căn (giữa hai mắt), lập tức dứt. (Giản tiện phương)
* '''Tiểu tiện ra máu:''' Bạch chỉ, Đương quy lượng bằng nhau tán mạt, mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm. (Kinh nghiệm phương)
* '''Trường phong hạ huyết (đi ngoài ra máu):''' Hương bạch chỉ tán mạt, mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm, thần hiệu. (Tuyển kỳ phương của Dư cư sĩ)
* '''Trĩ lậu chảy máu:''' Phương giống như trên, đồng thời sắc nước xông rửa. (Trực chỉ phương)
* '''Trĩ sang sưng đau:''' Trước hết dùng khói bồ kết (Tạo giác) xông, sau dùng mật mật ngỗng điều bột Bạch chỉ bôi vào, lập tức tiêu thũng. (Y phương trích yếu)
* '''Thũng độc nhiệt thống:''' Dùng giấm điều bột Bạch chỉ đắp vào. (Vệ sinh dị giản phương)
* '''Nhũ ung mới phát (viêm vú):''' Bạch chỉ, Bối mẫu mỗi vị 2 tiền. Tán mạt uống với rượu ấm. (Bí truyền ngoại khoa phương)
* '''Đinh sang mới mọc:''' Bạch chỉ 1 tiền, Gừng sống 1 lạng. Giã nát hòa với một chén rượu, uống ấm lấy mồ hôi thì tan ngay. Đây là phương của Trần Chỉ Huy. (Tụ trân phương)
* '''Ung thư đỏ sưng:''' Bạch chỉ, Đại hoàng lượng bằng nhau. Tán mạt uống 2 tiền với nước cơm. (Kinh nghiệm phương)
* '''Trẻ em đan lựu (viêm da):''' Chạy vào bụng tất chết. Mới phát, cấp tốc dùng "Tiệt phong tán" để chặn lại. Bạch chỉ, Hàn thủy thạch tán mạt, điều với nước cốt hành sống mà bôi. (Toàn ấu tâm giám)
* '''Vết thương dao tên:''' Hương bạch chỉ nhai nát đắp vào. (Tập giản phương)
* '''Giải độc thạch tín:''' Bột Bạch chỉ uống 2 tiền với nước giếng. (Sự lâm quảng ký)
* '''Hóc xương các loại:''' Bạch chỉ, Bán hạ lượng bằng nhau. Tán mạt uống 1 tiền với nước, lập tức nôn ra. (Phổ tế phương)
* '''Rắn độc cắn:''' Có người ở Lâm Xuyên bị rắn hổ cắn, ngất lịm, một cánh tay sưng to như bắp đùi, lát sau khắp thân sưng phồng, màu vàng đen. Một đạo nhân dùng nước mới múc điều một cân bột Bạch chỉ cho uống. Cảm thấy trong rốn sôi lên (huỳnh nhiên), nước vàng từ miệng chảy ra, mùi tanh hôi nồng nặc, hồi lâu thì xẹp lại như cũ. Dùng nước sắc Mạch môn đông điều uống lại càng diệu, đồng thời lấy bột xát vào vết thương. Lại có vị tăng ở chùa trên núi bị rắn cắn, một bàn chân thối loét, trăm thuốc không khỏi. Một du tăng lấy nước mới rửa sạch chỗ thối cho đến khi thấy gân trắng, thấm khô, lấy bột Bạch chỉ thêm chút Đảm phàn, Xạ hương rắc vào, nước độc tuôn ra. Ngày ngày làm như vậy, một tháng thì bình phục. (Hồng Mai - Di kiên chí)
===LÁ (葉)===
===【Chủ trị】===
Nấu nước tắm để trừ thi trùng (Biệt lục). Tắm trị đan độc, mề đay (ẩn chẩn), phong ngứa (Lý Thời Trân).
===【Phụ phương】===
*Mới 1.
* '''Trẻ em mình nóng:''' Mầm Bạch chỉ, Khổ sâm lượng bằng nhau. Sắc nước tương (tương thủy), thêm chút muối mà tắm. (Vệ sinh tổng vi luận)
==THƯỢC DƯỢC (芍藥)==
*(Âm đọc: Chước dược - Trích từ sách "Bản kinh" - Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Paeonia lactiflora Pall. (Bạch thược) và Paeonia lactiflora Pall. hoặc Paeonia veitchii Lynch (Xích thược).
===【Thích danh - Giải thích tên gọi】===
'''Tương ly''' (將離 - Cương mục), '''Lê thực''' (犁食 - Biệt lục), '''Bạch truật''' (白朮 - Biệt lục), '''Dư dung''' (余容 - Biệt lục), '''Đĩnh''' (鋌 - Biệt lục). Loại trắng gọi là '''Kim thược dược''' (Đồ kinh), loại đỏ gọi là '''Mộc thược dược'''.
'''Lý Thời Trân nói:''' Thược dược (芍藥) cũng như chước ước (婥約). Chước ước là dáng vẻ tốt đẹp. Loại cỏ này hoa dung tốt đẹp (chước ước) nên lấy đó làm tên. La Nguyện trong Nhĩ Nhã Dực nói: Chế độc của thức ăn không gì tốt bằng Thược, nên có tên là Dược (thuốc), thuyết này cũng thông. Thơ Trịnh Phong có câu: "Y kỳ tương chước, tặng chi dĩ thược dược" (Vui đùa cùng nhau, tặng nhau nhành thược dược). Hàn thi ngoại truyện nói: Thược dược là cỏ ly biệt (ly thảo). Đổng Tử nói: Thược dược một tên là Tương ly, nên lúc sắp biệt ly thì tặng nhau. Dân gian gọi loại hoa có ngàn cánh là Tiểu Mẫu đơn; loại đỏ là Mộc thược dược, cùng tên với Mẫu đơn vậy.
===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Thược dược sinh ở thung lũng và gò đồi vùng Trung Nhạc. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ, phơi khô.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay xuất sản ở Bạch Sơn, Tưởng Sơn, Mao Sơn là tốt nhất, rễ trắng và dài chừng một thước. Các nơi khác cũng có nhưng phần nhiều là loại đỏ, loại đỏ tính hơi lợi (thông lợi).
'''Mã Chí nói:''' Vị này có hai loại đỏ và trắng, hoa của nó cũng có hai màu đỏ trắng.
'''Tô Tụng nói:''' Nay nơi nơi đều có, loại ở Hoài Nam là thắng (tốt nhất). Mùa xuân sinh mầm hồng mọc thành bụi, trên thân ba cành năm lá, giống lá Mẫu đơn nhưng hẹp và dài, cao một hai thước. Đầu hạ nở hoa, có các màu trắng, đỏ, tím, kết hạt giống hạt Mẫu đơn nhưng nhỏ hơn. Mùa thu hái rễ. Thôi Báo trong Cổ kim chú nói: Thược dược có hai loại: Thảo thược dược và Mộc thược dược. Loại mộc hoa to màu đậm, dân gian gọi là Mẫu đơn, là sai vậy. Sách An Kỳ Sinh phục luyện pháp chép: Thược dược có Kim thược dược, sắc trắng nhiều thịt nhựa; Mộc thược dược, sắc tím gầy nhiều xơ (mạch).
'''Kế Thừa nói:''' Bản kinh chép Thược dược sinh ở gò đồi. Đời nay đa phần dùng loại người ta trồng, vì muốn hoa lá béo tốt tất phải bón thêm phân đất. Mỗi năm vào tháng Tám, tháng Chín đào rễ phân chia ra, nhân đó thu lợi làm thuốc. Nay ở Chân Dương vùng Hoài Nam có rất nhiều, rễ tuy béo lớn nhưng hương vị không tốt, nhập thuốc ít hiệu quả.
'''Lý Thời Trân nói:''' Người xưa nói Mẫu đơn Lạc Dương, Thược dược Dương Châu là nhất thiên hạ. Nay trong thuốc dùng cũng đa phần lấy loại ở Dương Châu. Tháng Mười sinh mầm, đến mùa xuân mới mọc, tháng Ba nở hoa. Chủng loại có hơn ba mươi loài, có loại ngàn cánh (thiên diệp), một cánh (đơn diệp), lâu tử (hoa tầng) khác nhau. Nhập thuốc nên dùng rễ của loại một cánh, khí vị mới toàn vẹn và nồng đậm. Rễ đỏ hay trắng tùy thuộc vào màu của hoa vậy.
===RỄ (根)===
===【Tu trị - Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm hái được, dùng dao tre cạo bỏ lớp vỏ và đất ở đầu củ, thái nhỏ, dùng nước mật trộn đều rồi đồ (chưng) từ giờ Tỵ đến giờ Mùi, phơi khô dùng.
'''Lý Thời Trân nói:''' Người nay đa phần dùng sống, duy chỉ người sợ trúng hàn thì sao với rượu, cho vào thuốc huyết của phụ nữ thì sao với giấm.
===【Khí vị】===
Vị đắng (khổ), tính bình, không độc.
* Biệt lục nói: Vị chua (toan), hơi hàn, có độc nhỏ.
* Ngô Phổ chép: Thần Nông vị đắng; Đồng Quân vị ngọt, không độc; Kỳ Bá vị mặn; Lôi Công vị chua. Lý Đương Chi nói: Tính ít hàn (tiểu hàn).
* Trương Nguyên Tố nói: Tính hàn, vị chua, khí đậm vị mỏng, thăng mà hơi giáng, là phần Âm trong Dương vậy.
* Lý Cảo nói: Bạch thược dược vị chua, tính bình, có độc nhỏ, có thể thăng có thể giáng, là Âm vậy.
* Vương Hiếu Cổ nói: Vị chua mà đắng, khí mỏng vị đậm, là Âm, là giáng. Làm thuốc hành kinh của Thủ và Túc Thái âm, nhập vào phần huyết của Can và Tỳ.
* Từ Chi Tài nói: Tu hoàn (Lôi hoàn) làm sứ cho nó; ghét (ố) Thạch hộc, Mang tiêu; sợ Tiêu thạch, Mai rùa (B鱉 giáp), Tiểu kế; phản Lê lô.
* Lý Thời Trân nói: Cùng Bạch truật bổ Tỳ, cùng Xuyên khung tả Can, cùng Nhân sâm bổ Khí, cùng Đương quy bổ Huyết, sao rượu để bổ Âm, cùng Cam thảo trị đau bụng, cùng Hoàng liên trị tả lỵ, cùng Phòng phong phát đậu chẩn, cùng Gừng Táo để ôn kinh tán thấp.
===【Chủ trị】===
Tà khí đau bụng, trừ huyết tý (máu ngưng trệ), phá kiên tích (khối tích tụ cứng), hàn nhiệt sán hà, chỉ thống (cầm đau), lợi tiểu tiện, ích khí (Bản kinh). Thông thuận huyết mạch, hoãn trung (làm dịu trung tiêu), tán ác huyết (máu xấu), trục tặc huyết (máu ứ hại), khử thủy khí, lợi Bàng quang và Đại Tiểu trường, tiêu ung thũng, thời hành hàn nhiệt, trúng ác đau bụng đau lưng (Biệt lục). Trị tạng phủ ủng khí (khí tắc trệ), làm mạnh ngũ tạng, bổ thận khí, trị thời tật cốt nhiệt (nóng trong xương), phụ nữ huyết bế không thông, năng thực nùng (tiêu mủ) (Chân Quyền). Trị tất cả các bệnh của phụ nữ, các tật trước và sau khi sinh, trị phong bổ lao, thoái nhiệt trừ phiền, phát bối sang giới (Đại Minh). Tả can, an tỳ phế, thu vị khí, chỉ tả lỵ, làm bền chắc lỗ chân lông (cố thấu lý), hòa huyết mạch, thu âm khí, liễm nghịch khí (Trương Nguyên Tố). Lý trung khí, trị tỳ hư trung mãn, dưới tim đầy tức (bĩ), đau dưới sườn, hay nấc (y), phổi cấp trướng nghịch suyễn ho, Thái dương kinh chảy nước mũi máu và mắt khô nhức, can huyết bất túc, bệnh mạch Dương duy khổ vì hàn nhiệt, bệnh mạch Đái khổ vì bụng đau đầy, thắt lưng lạnh nhão như ngồi trong nước (Vương Hiếu Cổ). Chỉ hạ lỵ đau bụng hậu trọng (mót rặn) (Lý Thời Trân).
===【Phát minh】===
'''Mã Chí nói:''' Loại đỏ (Xích) lợi tiểu tiện hạ khí; loại trắng (Bạch) chỉ thống tán huyết.
'''Đại Minh nói:''' Đỏ bổ khí, trắng bổ huyết.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đỏ hơi có tính thông lợi, phương dân gian dùng chỉ thống không kém gì Đương quy. Trắng thì đạo gia cũng dùng để uống (phục thực) và để nấu đá (chử thạch).
'''Thành Vô Kỷ nói:''' Trắng bổ mà đỏ tả, trắng thu mà đỏ tán. Vị chua để thu liễm, vị ngọt để hoãn cấp, nên chua ngọt kết hợp thì dùng để bổ âm huyết. Thu nghịch khí mà trừ phế táo. Lại nói: Vị chua của Thược dược liễm tân dịch mà ích doanh huyết, thu âm khí mà tiết tà nhiệt.
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Trắng bổ đỏ tán, tả can bổ tỳ vị. Tẩm rượu để hành kinh, chỉ đau bụng vùng trung bộ; dùng cùng Gừng để ôn kinh tán thấp thông tắc, lợi đau trong bụng, vị khí không thông. Bạch thược nhập kinh Tỳ bổ trung tiêu, là vị thuốc tất dùng trị hạ lỵ. Vì tả lỵ đều là bệnh của Thái âm kinh, nên không thể thiếu vị này. Được Chích Cam thảo làm tá thì trị đau trong bụng; mùa hè gia thêm chút Hoàng cầm; nếu sợ lạnh gia Quế, đó là thần phương của Trọng Cảnh vậy. Công dụng có sáu: An tỳ kinh là một; trị bụng đau là hai; thu vị khí là ba; chỉ tả lỵ là bốn; hòa huyết mạch là năm; cố thấu lý là sáu.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Thược dược tất dùng loại một cánh hoa đỏ là tốt nhất, nhưng người huyết hư hàn thì cấm dùng. Người xưa nói: "Giảm Thược dược để tránh trúng hàn", thật không thể xem thường.
'''Chu Đan Khê nói:''' Thược dược tả tỳ hỏa, tính vị chua hàn, mùa đông tất phải sao rượu. Phàm bụng đau đa phần là huyết mạch ngưng trệ, cũng tất phải sao rượu mà dùng. Tuy nhiên chỉ trị được đau bụng do huyết hư, các loại khác không trị được, vì tính nó chua hàn thu liễm, không có công năng ôn tán vậy. Đau bụng hạ lỵ tất phải sao dùng, nếu hậu trọng (mót rặn) thì không sao. Sau khi sinh không được dùng là vì tính chua hàn của nó làm hại khí sinh phát vậy. Nếu bất đắc dĩ phải dùng thì cũng phải sao rượu.
'''Lý Thời Trân nói:''' Bạch thược dược ích Tỳ, năng tả Mộc trong Thổ (tả Can trong Tỳ). Xích thược dược tán tà, năng hành trệ trong huyết. Nhật Hoa Tử nói Xích bổ khí, Bạch trị huyết là chưa xét kỹ vậy. Sau khi sinh can huyết đã hư, không thể tả thêm, nên cấm dùng. Thuốc chua hàn rất nhiều, sao lại chỉ tránh mình Thược dược? Vì lẽ đó: Trương Trọng Cảnh trị thương hàn dùng nhiều Thược dược là vì nó chủ trị hàn nhiệt và lợi tiểu tiện vậy.
'''Lý Cảo nói:''' Có người nói người xưa lấy chua sáp làm thu liễm, tại sao Bản kinh lại nói lợi tiểu tiện? Đáp rằng: Thược dược năng ích âm tư thấp mà giữ tân dịch, nên tiểu tiện tự hành, không phải do tính thông lợi. Lại hỏi: Nói hoãn trung (làm dịu trung tiêu) là tại sao? Đáp rằng: Làm tổn thương Can thì sẽ hoãn được trung, chính là điều huyết vậy, nên bài Tứ vật thang dùng Thược dược. Đại để vị chua sáp là thuốc thu liễm giữ thấp, nên chủ về thể thu liễm của kinh Thủ Túc Thái âm, lại năng trị huyết hải mà đi xuống chín tầng đất (cực sâu), sau mới tới kinh Quyết âm. Loại trắng (Bạch) ứng với sắc phương Tây nên bổ; loại đỏ (Xích) ứng với sắc phương Nam nên tả.
===【Phụ phương】===
*Cũ 6, mới 10.
* '''Pháp phục thực (Cách uống bổ):''' Tô Tụng nói: Pháp phục luyện Thược dược của An Kỳ Sinh vân: Thược dược có hai loại: Cứu bệnh dùng Kim thược dược, sắc trắng nhiều thịt nhựa; loại Mộc thược dược sắc tím gầy nhiều xơ. Khi lấy phải xem kỹ, chớ để nhầm lẫn. Hái được rửa sạch bỏ vỏ, dùng nước chảy về phương Đông nấu trăm dạo (bách phi), phơi trong râm. Để qua ba ngày, lại cho vào chõ gỗ (mộc chõ) đồ lên, bên trên phủ đất vàng sạch, một ngày đêm thì chín, đem phơi râm rồi tán mạt. Dùng nước lúa mạch (mạch ẩm) hoặc rượu uống 3 tiền (muỗng), ngày 3 lần. Uống đủ ba trăm ngày, có thể leo núi tuyệt cốc (nhịn ăn) không đói. (Đồ kinh bản thảo)
* '''Bụng trung hư đau:''' Bạch thược dược 3 tiền, Chích cam thảo 1 tiền. Mùa hè gia Hoàng cầm 5 phân; sợ lạnh gia Nhục quế 1 tiền; mùa đông đại hàn gia thêm Quế 1 tiền. Nước 2 chén sắc còn một nửa, uống ấm. (Khiết Cổ dụng dược pháp tượng)
* '''Phong độc cốt thống (Đau trong tủy xương):''' Thược dược 2 phần, Hổ cốt 1 lạng (nướng), tán mạt, đựng trong túi lụa mỏng, dùng 3 lít rượu ngâm 5 ngày. Mỗi lần uống 3 hợp, ngày 3 lần. (Kinh nghiệm hậu phương)
* '''Cước khí sưng đau:''' Bạch thược dược 6 lạng, Cam thảo 1 lạng. Tán mạt, pha nước sôi uống. (Sự lâm quảng ký)
* '''Tiêu khát khát nhiều:''' Bạch thược dược, Cam thảo lượng bằng nhau. Tán mạt. Mỗi lần dùng 1 tiền, sắc nước uống, ngày 3 lần. Có người ở Ngạc Chữ bị bệnh này 9 năm, uống thuốc chỉ đỡ rồi lại tái phát. Tô Phác truyền phương này, uống 7 ngày khỏi hẳn. Phương thuốc của người xưa thật không thể thấu hiểu hết, không nên thấy bình dị mà xem thường vậy. (Trần Nhật Hoa - Kinh nghiệm phương)
* '''Tiểu tiện ngũ lâm (Các loại sỏi, bí tiểu):''' Xích thược dược 1 lạng, Binh lang 1 hạt (bọc bột nướng). Tán mạt. Mỗi lần uống 1 tiền, nước 1 chén sắc còn 7 phân, uống lúc đói. (Bác tế phương)
* '''Nục huyết bất chỉ (Chảy máu cam không dứt):''' Xích thược dược tán mạt, uống 2 tiền với nước. (Sự lâm quảng ký)
* '''Nục huyết, khạc ra máu:''' Bạch thược dược 1 lạng, Tê giác mạt 2 tiền rưỡi. Tán mạt. Dùng nước mới uống 1 tiền, lấy máu cầm làm hạn. (Cổ kim lục nghiệm)
* '''Băng trung hạ huyết, bụng dưới đau dữ dội:''' Thược dược 1 lạng (sao vàng), Lá trắc bách (Bách diệp) 6 lạng (sao nhẹ). Mỗi lần dùng 2 lạng, nước 1 lít sắc còn 6 hợp, cho vào 5 hợp rượu, lại sắc còn 7 hợp, chia hai lần uống lúc đói. Cũng có thể tán mạt uống 2 tiền với rượu. (Thánh huệ phương)
* '''Kinh thủy không dứt:''' Bạch thược dược, Hương phụ tử, Ngải diệp chín mỗi vị 1 tiền rưỡi. Sắc nước uống. (Hùng thị bổ di)
* '''Huyết băng đới hạ:''' Xích thược dược, Hương phụ tử lượng bằng nhau. Tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền, thêm một nhúm muối, nước 1 chén sắc còn 7 phân, uống ấm, ngày 2 lần. Mười liều thấy hiệu quả, tên là "Như thần tán". (Lương phương)
* '''Xích bạch đới hạ, lâu năm không khỏi:''' Lấy Bạch thược dược 3 lạng cùng Can khương nửa lạng. Thái nhỏ sao cho vàng, tán mạt. Lúc đói uống 2 tiền với nước cơm, ngày uống lại lần nữa. Sách Quảng tế phương chỉ dùng Thược dược sao đen, tán mạt uống với rượu. (Trinh nguyên quảng lợi phương)
* '''Kim sang huyết xuất (Vết thương chảy máu):''' Bạch thược dược 1 lạng. Sao vàng tán mạt. Uống 2 tiền với rượu hoặc nước cơm, tăng dần liều. Lại lấy bột rắc lên vết thương sẽ cầm ngay, rất nghiệm. (Quảng lợi phương)
* '''Đậu chẩn trướng đau:''' Bạch thược dược tán mạt, uống nửa tiền với rượu. (Đậu chẩn phương)
* '''Mộc thiệt thũng mãn (Lưỡi sưng to cứng đầy miệng):''' Loại này có thể gây chết người. Hồng thược dược, Cam thảo sắc nước ngậm nóng. (Thánh tế tổng lục)
* '''Hóc xương cá:''' Bạch thược dược nhai kỹ nuốt nước. (Sự lâm quảng ký)
==MẪU ĐƠN (牡丹)==
*(Trích từ sách "Bản kinh" - Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Paeonia suffruticosa Andrews
===【Thích danh - Giải thích tên gọi】===
'''Thử cô''' (鼠姑 - Bản kinh), '''Lộc cửu''' (鹿韭 - Bản kinh), '''Bách lưỡng kim''' (百兩金 - Đường bản), '''Mộc thược dược''' (木芍藥 - Cương mục), '''Hoa vương'''.
'''Lý Thời Trân nói:''' Mẫu đơn, lấy loại sắc đỏ (đan) làm thượng hạng, tuy kết hạt nhưng dưới rễ lại mọc ra mầm mới (nên gọi là Mẫu - mẹ), vì thế gọi là Mẫu đơn. Người đời Đường gọi là Mộc thược dược, vì hoa nó giống Thược dược mà thân già lại cứng như gỗ. Trong các phẩm hoa, Mẫu đơn đứng thứ nhất, Thược dược thứ hai, nên thế gian gọi Mẫu đơn là Hoa vương (vua hoa), Thược dược là Hoa tướng (tướng hoa). Âu Dương Tu trong Hoa phổ ghi chép có hơn ba mươi loại. Tên gọi hoặc theo địa danh, hoặc theo tên người, hoặc theo màu sắc, hoặc theo sự kỳ lạ, chi tiết xem ở bản thư.
===【Tập giải - Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Mẫu đơn sinh ở thung lũng vùng Ba Quận và Hán Trung. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ phơi trong râm.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay vùng Đông Gian cũng có, loại sắc đỏ là tốt.
'''Tô Cung nói:''' Sinh ở Hán Trung, Kiếm Nam. Mầm giống Dương đào, mùa hè nở hoa trắng, mùa thu quả tròn xanh, mùa đông quả sắc đỏ, trải qua mùa đông không héo tàn. Rễ giống Thược dược, thịt trắng vỏ đỏ. Người địa phương gọi là Bách lưỡng kim, vùng Trường An gọi là Ngô mẫu đơn, ấy là loại thật. Loại tục gian nay dùng khác với loại này, riêng có mùi hôi hám vậy.
'''Trần Tàng Khí nói:''' Nay loại xuất ở Hợp Châu là tốt nhất, loại ở Hòa Châu, Tuyên Châu đều tốt. Loại trắng có tính bổ, loại đỏ có tính thông lợi.
'''Đại Minh nói:''' Đây chính là rễ hoa Mẫu đơn vậy. Loại ở Ba, Thục, Du, Hợp Châu là hạng trên, loại ở Hải Lãm xếp sau.
'''Tô Tụng nói:''' Nay trong núi vùng Đan, Diên, Thanh, Việt, Chừ, Hòa Châu đều có, nhưng hoa có các màu vàng, tím, đỏ, trắng. Đây hẳn là Sơn mẫu đơn (Mẫu đơn rừng), cành thân khô ráo, màu đen trắng. Tháng Hai trên cành mọc mầm lá, tháng Ba nở hoa. Hoa và lá của nó tương tự loại người ta trồng, nhưng cánh hoa chỉ có năm sáu lá mà thôi. Tháng Năm kết hạt màu đen, to như hạt Kê đầu tử. Rễ màu vàng trắng, có thể dài năm bảy tấc, to như quản bút. Người đời nay đa phần quý trọng, muốn hoa được kỳ lạ dị hình, đều dời ghép vào mùa thu đông, bồi đắp bằng đất màu, đến mùa xuân nở rộ, trạng thái biến hóa trăm vẻ. Thế nên tính chất của rễ đã mất đi bản chân, trong thuốc không nên dùng loại này, tuyệt đối không có lực.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Hoa mẫu đơn cũng có loại màu đỏ sẫm, màu xanh biếc. Chỉ có loại Sơn mẫu đơn hoa một cánh màu đỏ thì vỏ rễ nhập thuốc mới tốt. Người ngoài chợ đôi khi lấy vỏ cành cây thay thế, thật là sai lầm.
'''Lý Thời Trân nói:''' Mẫu đơn, chỉ lấy loại hoa một cánh màu trắng hoặc đỏ nhập thuốc. Các loại hoa nhiều cánh (thiên diệp) kỳ lạ đều do con người khéo léo tạo ra, khí vị không thuần, không dùng được.
*Hoa phổ chép: Vùng từ Đan Châu, Diên Châu về phía Tây và trong đường Bào Tà có nhiều nhất, không khác gì gai góc, dân địa phương chặt làm củi, rễ nó nhập thuốc lại càng diệu. Phàm người trồng hoa, dưới rễ rắc bột Bạch liễm để tị sâu bọ, trong hốc điểm Lưu hoàng để diệt sâu đục, dùng xương mực (Ô tặc cốt) châm vào cây tất cây sẽ héo, đây là vật tính, cũng không thể không biết vậy.
===VỎ RỄ (根皮 - Mẫu đơn bì)===
===【Tu trị - Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm hái được rễ phơi khô, dùng dao đồng bửa ra bỏ lõi (cốt), thái nhỏ như hạt đậu xanh, dùng rượu thanh trộn đều rồi đồ (chưng) từ giờ Tỵ đến giờ Mùi, phơi khô dùng.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính hàn, không độc.
* Biệt lục nói: Vị đắng, hơi hàn.
* Ngô Phổ chép: Thần Nông, Kỳ Bá vị cay. Lôi Công, Đồng Quân vị đắng, không độc. Hoàng Đế vị đắng, có độc.
* Vương Hiếu Cổ nói: Khí hàn, vị đắng cay, là phần Dương trong Âm, nhập kinh Thủ Quyết âm (Tâm bào) và Túc Thiếu âm (Thận).
* Từ Chi Tài nói: Sợ (vị) Bối mẫu, Đại hoàng, Thỏ ty tử.
* Đại Minh nói: Kỵ Tỏi, Rau mùi (Hồ tuy), phục được Thạch tín (Phê).
===【Chủ trị】===
Hàn nhiệt, trúng phong, co quắp (khế túng), kinh giản, tà khí, trừ trưng kiên, ứ huyết lưu trú ở trường vị, an ngũ tạng, liệu ung sang (Bản kinh). Trừ thời khí đầu thống, khách nhiệt, ngũ lao, lao khí, đầu lưng đau, phong cấm (cứng hàm), bệnh lặc (lác hủi) (Biệt lục). Uống lâu nhẹ mình sống lâu (Ngô Phổ). Trị lãnh khí, tán các chứng đau, phụ nữ kinh mạch không thông, rỉ máu đau lưng (Chân Quyền). Thông quan thấu huyết mạch, bài nùng (đẩy mủ), tiêu ứ huyết do sang chấn, nối gân xương, trừ phong tý, làm trục thai hạ rau, các chứng huyết khí nóng lạnh sau sinh (Đại Minh). Trị thần chí bất túc, cốt chưng không ra mồ hôi, nục huyết thổ huyết (Trương Nguyên Tố). Hòa huyết, sinh huyết, lương huyết, trị lửa ẩn tàng trong máu (huyết trung phục hỏa), trừ phiền nhiệt (Lý Thời Trân).
===【Phát minh】===
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Mẫu đơn là tinh hoa của天地 (Thiên địa), đứng đầu các loài hoa. Lá là Dương, chủ về phát sinh; hoa là Âm, chủ về thành thực. Đan (đỏ) là sắc đỏ, thuộc Hỏa. Thế nên năng tả hỏa trong âm bào. Bài Tứ vật thang gia thêm vị này để trị chứng cốt chưng ở phụ nữ. Lại nói: Mẫu đơn bì nhập Thủ Quyết âm, Túc Thiếu âm, nên trị cốt chưng không ra mồ hôi; Địa cốt bì nhập Túc Thiếu âm, Thủ Thiếu dương, nên trị cốt chưng có ra mồ hôi. Thần bất túc thuộc Thủ Thiếu âm, Chí bất túc thuộc Túc Thiếu âm, nên trong bài Thận khí hoàn của Trọng Cảnh dùng nó để trị thần chí bất túc vậy. Lại năng trị tích huyết trong trường vị, cùng thổ huyết, nục huyết, là vị thuốc tất dùng, nên bài Tê giác địa hoàng thang dùng nó.
'''Lý Cảo nói:''' Tâm hư, trường vị tích nhiệt, tâm hỏa thịnh vượng, tâm khí bất túc, lấy Mẫu đơn bì làm Quân.
'''Lý Thời Trân nói:''' Mẫu đơn bì trị lửa ẩn tàng trong phần huyết của bốn kinh: Thủ, Túc Thiếu âm và Quyết âm. Phàm phục hỏa tức là âm hỏa vậy, âm hỏa tức là tướng hỏa vậy. Cổ phương chỉ dùng vị này để trị tướng hỏa, nên bài Thận khí hoàn của Trọng Cảnh dùng nó. Người đời sau lại chuyên dùng Hoàng bá để trị tướng hỏa mà không biết công năng của Mẫu đơn còn thắng hơn. Đây là bí mật ngàn năm, người đời không biết, nay tôi nêu ra. Loại hoa đỏ có tính thông lợi, hoa trắng có tính bổ, người đời cũng ít ngộ ra, nên phân biệt rõ.
===【Phụ phương】===
*Cũ 3, mới 3.
* '''Sán khí sa xuống:''' Khí trướng đau không cử động được. Mẫu đơn bì, Phòng phong lượng bằng nhau. Tán mạt, uống 2 tiền với rượu, rất hiệu nghiệm. (Thiên kim phương)
* '''Phụ nữ ác huyết:''' Công kích lên phía trên khiến hay giận dữ. Mẫu đơn bì nửa lạng, Khô tất (sơn khô - đốt hết khói) nửa lạng. Nước 2 chén sắc còn 1 chén uống. (Chư chứng biện nghi)
* '''Thương tổn ứ huyết:''' Mẫu đơn bì 2 lạng, Mãnh trùng (Mòng) 21 con (sao qua cùng giã mạt). Mỗi sáng sớm uống một thìa canh với rượu ấm, huyết sẽ hóa thành nước mà hạ xuống. (Trinh nguyên quảng lợi phương)
* '''Kim sang nội lậu (vết thương chảy máu bên trong):''' Máu không ra được. Mẫu đơn bì tán mạt, dùng ba đầu ngón tay nhúm một ít uống với nước, lập tức đi tiểu ra máu ngay. (Thiên kim phương)
* '''Giải trúng cổ độc:''' Rễ Mẫu đơn giã mạt, uống một thìa tiền, ngày 3 lần. (Ngoại đài bí yếu)
'''【Phụ lục】==='''
'''Thử cô (鼠姑)'''
Sách Biệt lục viết: Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ trị khái nghịch thượng khí, hàn nhiệt thử lậu (lao hạch), ác sang tà khí. Một tên gọi khác là ..., sinh ở Đan Thủy.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Người nay không biết, mà Mẫu đơn có một tên là Thử cô, con mọt gỗ (Thử phụ) cũng tên là Thử cô, chưa rõ cái nào là đúng?
==MỘC HƯƠNG (木香)==
*(Trích từ sách "Bản kinh" – Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Saussurea costus (Falc.) Lipsch. (tên đồng nghĩa: Saussurea lappa (Decne.) Sch. Bip.)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Mật hương''' (蜜香 - Biệt lục), '''Thanh mộc hương''' (青木香 - Hoằng Cảnh).
'''Lý Thời Trân nói:''' Mộc hương là loại cỏ. Tên gốc là Mật hương vì mùi thơm như mật. Do trong Trầm hương cũng có loại Mật hương nên người ta gọi nhầm vị này là Mộc hương. Người xưa gọi là Thanh mộc hương. Đời sau vì gọi rễ cây Mã đậu linh là Thanh mộc hương, nên mới gọi vị này là Nam mộc hương hoặc Quảng mộc hương để phân biệt. Ngày nay người ta lại gọi một loại hoa Hồng leo (Tường vi) là Mộc hương, càng làm lẫn lộn thật giả. Sách Tam động châu nang viết: Ngũ hương chính là Thanh mộc hương vậy. Một gốc năm rễ, một thân năm cành, một cành năm lá, giữa các lá có năm đốt, nên gọi là Ngũ hương; đốt lên thì mùi thơm thấu đến cửu thiên. Cổ phương trị ung thư có bài "Ngũ hương Liên kiều thang" bên trong dùng Thanh mộc hương. Bài Cổ nhạc phủ có câu: "Khu ngu ngũ mộc hương" đều là chỉ vị này vậy.
'''Tô Tụng nói:''' Sách Tu dưỡng viết: Ngày mùng 1 tháng Giêng lấy Ngũ mộc sắc nước tắm, giúp người ta đến già râu tóc vẫn đen. Từ Khải chú giải rằng: Đạo gia gọi Thanh mộc hương là Ngũ hương, cũng gọi là Ngũ mộc, thường dùng để tắm là đúng vậy.
Kinh Kim quang minh gọi là '''Củ tỳ đà hương''' (矩琵佗香).
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đây chính là Thanh mộc hương. Vùng Vĩnh Xương không còn tiến cống nữa, nay đa số đi theo tàu buôn nước ngoài đến, nói là xuất từ nước Đại Tần. Nay đều dùng để hợp hương, không đưa vào làm thuốc.
'''Tô Cung nói:''' Loại này có hai hạng, nên lấy loại từ Côn Lôn tới là tốt, loại từ Tây Hồ tới không tốt bằng. Lá giống lá cây Dương đề nhưng dài lớn, hoa như hoa Cúc, kết quả màu vàng đen, các nơi cũng đều có, công dụng cực nhiều. Đào Hoằng Cảnh nói không nhập thuốc là sai vậy.
'''Chân Quyền nói:''' Sách Nam châu dị vật chí viết: Thanh mộc hương xuất từ Thiên Trúc, là rễ cỏ, hình trạng giống Cam thảo.
'''Tô Tụng nói:''' Nay chỉ thấy tàu buôn từ Quảng Châu mang đến, nơi khác không có. Gốc rễ rất giống quả Cà, lá giống Dương đề mà dài lớn, cũng có loại lá giống Sơn dược (Hoài sơn) mà rễ lớn nở hoa tím. Không kể mùa màng, hái rễ mầm làm thuốc. Loại hình dáng như xương khô, vị đắng dính răng là tốt nhất. Vùng Giang Hoài cũng có loại này, gọi là Thổ thanh mộc hương, không thể dùng làm thuốc. Sách Thục bản thảo nói: Trong vườn của Mạnh Sưởng cũng từng trồng nó, mầm cao ba bốn thước, lá dài tám chín tấc, nhăn mềm và có lông, nở hoa vàng, e rằng cũng là loại Thổ mộc hương vậy.
'''Lôi Công nói:''' Hương ấy là đoạn rễ của loại dây leo, xoắn về bên trái. Hái được sau hai mươi chín ngày mới cứng lại như xương mục. Loại nào có đầu rễ (lô đầu) đinh cái tử màu xanh, ấy là Mộc hương thần vậy.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Thường đi từ Mân Châu ra ngoài biên ải thấy Thanh mộc hương mang về Tây Lạc. Lá như Ngưu bàng nhưng hẹp dài, thân cao hai ba thước, hoa vàng rực như đồng tiền, rễ của nó chính là hương vậy. Nhai sống vị cực kỳ cay thơm, rất hành khí.
'''Kế Thừa nói:''' Mộc hương nay đa số từ nước ngoài đến, thuyết của Đào Hoằng Cảnh là đúng. Sách Đồ kinh của Tô Tụng chép loại ở Quảng Châu là thuộc loài thân gỗ. Lại chép loại ở Chừ Châu, Hải Châu thực chất là rễ cây Mã đậu linh. Tính chất trị liệu nóng lạnh hoàn toàn không giống nhau, đều là vẽ sai hình vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Mộc hương các vùng phương Nam đều có. Sách Nhất thống chí viết: Lá loại Mướp khía (Ty qua), mùa đông lấy rễ phơi khô.
===RỄ (根)===
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm cho vào thuốc lý khí thì chỉ dùng sống, không để tiếp xúc với lửa. Nếu muốn làm chắc Đại trường (thực đại trường), nên bọc bột mì nướng chín (vi) mà dùng.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
* '''Trương Nguyên Tố nói:''' Khí nóng, vị cay đắng, khí và vị đều đậm, tính chìm và giáng xuống, thuộc Âm.
* '''Lý Cảo nói:''' Đắng, ngọt, cay, hơi ấm, tính giáng, thuộc Âm.
* '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Cay, đắng, nóng, vị đậm hơn khí, là phần Dương trong Âm.
===【Chủ trị】===
Trừ tà khí, tị độc dịch ôn quỷ, làm mạnh ý chí, chủ trị chứng lâm lộ (đái rắt, rỉ ra). Uống lâu không mộng mị, không bị bóng đè (Bản kinh). Sát độc, diệt quỷ tinh vật lạ, trị ôn ngược cổ độc, khí yếu không đủ, trong cơ nhục có chỗ lạnh, dẫn dắt tinh túy của các thuốc khác (Biệt lục). Trị tất cả các chứng khí ở tâm phúc, bàng quang lạnh đau, nôn nghịch phản vị, hoắc loạn tiết tả lỵ tật, kiện tỳ tiêu thực, an thai (Đại Minh). Chín loại đau tim (cửu chủng tâm thống), khí lạnh tích tụ lâu năm, chứng tích tụ khối u (trưng hà tích khối) trướng đau, ủng khí xông lên trên, phiền muộn gầy yếu, phụ nữ huyết khí đâm vào tim đau không chịu nổi, tán mạt uống với rượu (Chân Quyền). Tán khí trệ, điều hòa các loại khí, hòa vị khí, tiết phế khí (Trương Nguyên Tố). Hành khí kinh Gan. Nướng chín dùng làm chắc Đại trường (Chu Đan Khê). Trị bệnh mạch Xung, nghịch khí lý cấp, chủ trị bàng quang thấm tiểu tiện bí (Vương Hiếu Cổ).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Thanh mộc hương, người nước Đại Tần dùng để liệu độc thũng, tiêu ác khí rất nghiệm. Nay chỉ dùng để chế thuốc trị mọt (trú trùng hoàn). Thường sắc lấy nước tắm gội rất tốt.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Mộc hương chuyên tiết quyết các chứng trệ tắc, khí lạnh ở vùng ngực bụng, các thứ khác xếp sau. Được Trần bì, Nhục đậu khấu, Sinh khương làm tá sứ thì cực tốt, hiệu quả càng nhanh.
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Mộc hương trừ khí trệ trong Phổi. Nếu trị khí kết trệ ở trung tiêu và hạ tiêu và khí không vận chuyển được, phải dùng Binh lang làm sứ.
'''Chu Đan Khê nói:''' Điều khí dùng Mộc hương, vị nó cay, khí năng thăng lên, người bị khí uất không thông đạt nên dùng. Nếu là âm hỏa xông lên, dùng nó ngược lại sẽ trợ hỏa tà, khi đó nên dùng Hoàng bá, Tri mẫu làm chính mà dùng chút Mộc hương làm tá.
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Bản thảo viết: Chủ khí liệt, khí bất túc, ấy là '''bổ'''; thông ủng khí, dẫn đạo tất cả các khí, ấy là '''phá'''. An thai, kiện tỳ vị là '''bổ'''; trừ tích tụ khối u là '''phá'''. Khác biệt là như vậy. Trương Khiết Cổ nói: Dùng cùng thuốc bổ làm tá thì là bổ, dùng cùng thuốc tả làm quân thì là tả.
'''Lý Thời Trân nói:''' Mộc hương là vị thuốc thuộc khí phận của Tam tiêu, năng thăng giáng các loại khí. Các chứng khí uất đều thuộc về Phế, nên khí trệ ở thượng tiêu dùng nó là "Kim uất thì tiết đi". Trung khí không vận hành được đều thuộc về Tỳ, nên khí trệ ở trung tiêu dùng nó vì Tỳ vị ưa mùi thơm. Đại trường khí trệ thì gây hậu trọng (mót rặn), khí bàng quang không hóa thì gây lung lâm (bí tiểu), can khí uất thì gây đau, nên khí trệ ở hạ tiêu dùng nó là "tắc thì thông đi".
'''Chân Quyền nói:''' Sách Tùy thư chép: Phan Tử Cái làm thái thú Vũ Uy, xa giá vào vùng Thổ Cốc Hồn, Tử Cái thấy nơi ấy nhiều chướng khí, bèn dâng Thanh mộc hương để chống lại tà khí sương mù.
'''Tô Tụng nói:''' Sách Tục truyền tín phương ghi bài "Thanh mộc hương hoàn" của Trương Trọng Cảnh chủ trị dương suy các chứng bất túc. Dùng Thanh mộc hương Côn Lôn, Lục lộ Kha tử bì mỗi thứ 20 lạng. Giã sàng, trộn đường làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với rượu khi đói, ngày 2 lần, hiệu quả cực nhanh. Phò mã họ Trịnh bỏ đường dùng mật trắng, gia thêm Linh dương giác 12 lạng. Dùng thuốc không giống cổ phương mà lại gọi là của Trọng Cảnh, chẳng biết từ đâu mà có?
===【Phụ phương】===
*Cũ 2, mới 18.
* '''Trúng khí hôn mê:''' Nhắm mắt không nói, trạng như trúng phong. Dùng Nam mộc hương tán mạt, dùng nước sắc hạt Bí đao (Đông qua tử) chiêu xuống 3 tiền. Nếu đờm thịnh gia Trúc lịch, Gừng tươi. (Tế sinh phương)
* '''Khí trướng chán ăn:''' Tức bài Thanh mộc hương hoàn nêu ở mục Phát minh. Người nhiệt uống với sữa bò, người lạnh uống với rượu. (Thánh huệ phương)
* '''Tâm khí đâm đau:''' Thanh mộc hương 1 lạng, Bồ kết (Tạo giác - nướng) 1 lạng. Tán mạt, làm viên với hồ bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với canh, rất nghiệm. (Nhiếp sinh phương)
* '''Nội câu phúc thống (Đau bụng co thắt ở trẻ):''' Mộc hương, Nhũ hương, Một dược mỗi vị 5 phân. Sắc nước uống. (Nguyễn thị Tiểu nhi phương)
* '''Tiểu trường sán khí:''' Thanh mộc hương 4 lạng, rượu 3 cân. Nấu qua, mỗi ngày uống 3 lần. (Tập hiệu phương)
* '''Khí trệ đau lưng:''' Thanh mộc hương, Nhũ hương mỗi vị 2 tiền. Ngâm rượu, hấp trên nồi cơm, dùng rượu điều uống. (Thánh huệ phương)
* '''Tai điếc đột ngột:''' Thanh mộc hương Côn Lôn thật 1 lạng (thái lát). Ngâm giấm đắng một đêm, cho thêm 1 hợp dầu vừng (Hồ ma du), đun nhỏ lửa, nhấc lên đặt xuống ba lần (tam thượng tam hạ), dùng vải lụa lọc bỏ bã. Ngày nhỏ tai 3-4 lần, đến khi khỏi thì thôi. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Trong tai đau nhức:''' Mộc hương mạt, dùng hành lá (thanh hoàng) nhuộm mỡ ngỗng, chấm bột thuốc nhét sâu vào tai. (Thánh tế lục)
* '''Hoắc loạn chuyển gân đau bụng:''' Mộc hương mạt 1 tiền, nước cốt Mộc qua 1 chén. Cho vào rượu nóng điều uống. (Thánh tế tổng lục)
* '''Tất cả các chứng hạ lỵ:''' Không kể nam nữ trẻ nhỏ. Mộc hương 1 miếng (vuông tròn 1 tấc), Hoàng liên nửa lạng. Hai vị dùng nửa thăng nước sắc đến khi cạn, bỏ Hoàng liên, thái mỏng Mộc hương, sấy khô tán mạt. Chia làm 3 lần uống: Liều 1 chiêu bằng nước Trần bì, liều 2 chiêu bằng nước gạo cũ, liều 3 chiêu bằng nước Cam thảo. Đây là phương truyền từ Lý Cảnh Thuần. Có một phụ nữ lỵ lâu ngày sắp chết, mộng thấy Quan Âm ban cho phương này, uống vào thì khỏi. (Bí bảo phương)
* '''Hương liên hoàn:''' Phương xem ở mục Hoàng liên.
* '''Trường phong hạ huyết:''' Mộc hương, Hoàng liên lượng bằng nhau tán mạt, cho vào trong đại tràng lợn béo, buộc chặt hai đầu, nấu thật nhừ, bỏ thuốc ăn đại tràng. Hoặc giã cả thuốc làm viên uống. (Bảo thọ đường phương)
* '''Tiểu tiện đục như tinh khí:''' Mộc hương, Một dược, Đương quy lượng bằng nhau, tán mạt, dùng nước cốt của lõi cây Thích bành (刺棘) làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần trước khi ăn uống 30 viên với nước muối.
* '''Trẻ nhỏ sưng vùng kín (âm thũng):''' Do phong nhiệt và thấp khí ở kinh Dương minh tương bác, âm dương vô cớ sưng hoặc đau co rút, nên khoan giải kinh này tự khắc khỏi. Quảng mộc hương, Chỉ xác (sao cám) mỗi vị 2 tiền rưỡi, Chích cam thảo 2 tiền. Sắc nước uống. (Tiểu nhi phương)
* '''Trẻ nhỏ sốt cao đầu thống do thời hành:''' Mộc hương 6 phân, Bạch đàn hương 3 phân, tán mạt, uống với nước sạch. Lại dùng nước ấm điều thuốc bôi lên đỉnh đầu (thóp) sẽ khỏi. (Thánh huệ phương)
* '''Thời hành phát ban đỏ đen:''' Thanh mộc hương 2 lạng. Nước 2 thăng, sắc còn 1 thăng uống. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Tất cả các chứng ung thư:''' Nhọt lở, cam nuy (loét) ác sang, các chứng loét chảy nước không thu miệng, sau khi bị thương ngoại cảm phong hàn gây hôi thối. Mộc hương, Hoàng liên, Binh lang lượng bằng nhau, tán mạt hòa dầu bôi thường xuyên, rất hiệu nghiệm. (Hòa tễ cục phương)
* '''Rắn rết cắn:''' Thanh mộc hương không kể nhiều ít, sắc nước uống, hiệu quả không thể tả xiết. (Sưu trân phương)
* '''Hôi nách, vùng kín ẩm hôi:''' Phàm nách hoặc hạ bộ ẩm hôi hoặc lở loét. Dùng Thanh mộc hương ngâm giấm tốt, kẹp vào nách hoặc hạ bộ. Hoặc tán mạt đắp vào. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Răng đau nhức:''' Thanh mộc hương mạt, cho chút Xạ hương, xát vào răng, súc miệng bằng nước muối. (Thánh tế lục)
==CAM TÙNG HƯƠNG (甘松香)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Nardostachys jatamansi (D. Don) DC. (hoặc Nardostachys chinensis Batalin)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Khổ di đa''' (苦彌哆 - âm đọc là Xế).
'''Lý Thời Trân nói:''' Sản sinh ở vùng Tùng Châu phía tây đất Thục (Tứ Xuyên), vị của nó ngọt (cam), nên có tên là Cam Tùng. Kinh Kim Quang Minh gọi là Khổ di đa.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Mã Chí nói:''' Sách Quảng chí viết: Cam Tùng xuất từ các núi vùng Cô Tang, Lương Châu; lá nhỏ, mọc thành bụi theo lối dây leo, có thể dùng để hợp các loại hương và ướp áo quần.
'''Tô Tụng nói:''' Nay ở các quận thuộc vùng Kiềm, Thục và Liêu Châu cũng có. Mọc thành bụi nơi sơn dã, lá nhỏ như cỏ tranh (mao thảo), rễ cực kỳ rậm rạp, tháng Tám hái về, nấu nước tắm giúp thân thể thơm tho.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), không độc. '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Tính bình.
===【Chủ trị】===
Ác khí,猝 (thình lình) đau đầy tâm phúc, hạ khí (Khai Bảo). Trị da mặt đen nám (hắc bì tàn), phong cam xỉ nục (sâu răng chảy máu), dã kê trĩ (trĩ ngoại). Dùng chung với Bạch chỉ, Phụ tử rất tốt (Trần Tàng Khí). Lý nguyên khí, khử khí uất (Vương Hiếu Cổ). Cước khí đầu gối phù thũng, sắc nước xông rửa (Lý Thời Trân).
===【Phát minh】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Cam Tùng mùi phương hương năng khai tỳ uất, cho một ít vào trong các thuốc tỳ vị rất giúp tỉnh tỳ khí. Du Bảo trong sách Thập di lục viết: Thọ thiền sư y thuật diệu thông, chế ra "Ngũ hương ẩm", gia thêm các dược vị khác trị khát và bổ ích cực hay. Một là Trầm hương ẩm; hai là Đinh hương ẩm; ba là Đàn hương ẩm; bốn là Trạch lan ẩm; năm là Cam tùng ẩm vậy.
===【Phụ phương】===
*Mới 4.
* '''Pháp xông trị lao khái (Lao rái):''' Cam tùng 6 lạng, Huyền sâm 1 cân. Tán mạt. Hàng ngày đốt xông. (Kỳ hiệu phương)
* '''Phong cam sâu răng, ăn mòn thịt đến tận cùng:''' Cam tùng, Nị phấn mỗi thứ 2 tiền rưỡi, Lô hội nửa lạng, Cật lợn (Trư thận) 1 đôi (thái lát, nướng). Tán mạt. Ban đêm sau khi súc miệng thì đắp vào, có dãi thì nhổ ra. (Thánh tế tổng lục)
* '''Thận hư răng đau:''' Cam tùng, Lưu hoàng lượng bằng nhau. Tán mạt. Pha nước sôi súc miệng. Thần hiệu. (Kinh hiệu tế thế phương)
* '''Mặt bị phong sang (mụn mặt):''' Hương phụ tử, Cam tùng mỗi vị... (văn bản khuyết liều lượng).
==SƠN NẠI (山柰)==
*(Trích từ sách "Cương mục")
'''Tên khoa học:''' Kaempferia galanga L. (Địa liền)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Sơn lạt''' (山辣 - Cương mục), '''Tam nại''' (三柰).
'''Lý Thời Trân nói:''' Sơn nại tục gọi chệch là Tam nại, lại chệch thành Tam lại, đều là âm địa phương cả. Có thuyết nói: Tên gốc là Sơn lạt, người phương Nam âm lưỡi gọi Sơn là Tam, gọi Lạt là Lại, nên dẫn đến lầm lẫn. Thuyết ấy rất thông.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Sơn nại sinh ở vùng Quảng Trung (Quảng Đông), người dân trồng nó. Rễ lá đều như Gừng sống, có mùi thơm như gỗ Long não (Chương mộc). Người địa phương ăn rễ nó như ăn Gừng, thái lát phơi khô thì vỏ màu đỏ vàng, thịt trắng. Cái gọi là Liêm khương thời cổ e cũng là loài này. Đoạn Thành Thức trong Dậu dương tạp trở viết: "Nại chỉ xuất từ nước Phất Lâm, mầm dài 3-4 thước, rễ to như trứng vịt, lá giống tỏi, giữa mọc cọng rất dài, đầu ngọn có hoa 6 cánh màu hồng trắng, tâm hoa vàng đỏ, không kết hạt, cỏ ấy mùa đông sinh mùa hạ chết. Lấy hoa ép dầu bôi thân để khử phong khí". Xét thuyết này khá giống Sơn nại, nên phụ chép vào đây.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Ấm trung tiêu (noãn trung), tị chướng lệ ác khí, trị tâm phúc đau do lạnh (lãnh khí thống), hoắc loạn do hàn thấp, răng đau do phong sâu. Dùng phối hợp để hợp các loại hương (Lý Thời Trân).
===【Phụ phương】===
*Mới 6.
* '''Tất cả các chứng răng đau:''' Tam nại tử 1 tiền (bọc bột mì nướng chín), cho thêm 2 chữ Xạ hương (khoảng 2 phân). Tán mạt. Tùy bên đau trái hay phải mà thổi 1 chữ vào lỗ mũi, miệng ngậm nước ấm súc nhổ đi, thần hiệu. Tên là "Hải thượng nhất tự tán". (Phổ tế phương)
* '''Răng đau do phong sâu:''' Sách Nhân tồn phương dùng Sơn nại tán mạt, trải lên giấy cuốn thành ống, đốt đèn thổi tắt lấy khói, thừa lúc nóng cùng thuốc thổi vào mũi, đau sẽ dứt ngay. Sách Nhiếp sinh phương dùng một quả Bồ kết (bỏ hạt), nhét Sơn nại, Cam tùng mỗi thứ 3 phân, Hoa tiêu, Muối ăn không kể nhiều ít vào cho đầy, bọc bột mì nướng đỏ, lấy ra nghiền nhỏ, hàng ngày xát răng súc miệng.
* '''Tàn nhang trên mặt:''' Tam nại tử, Phân chim ưng (Ưng phẫn), Mật đà tăng, Hạt thầu dầu (Bí ma tử) lượng bằng nhau, nghiền đều, dùng sữa người điều vào, đêm bôi sáng rửa sạch.
* '''Tỉnh đầu khử gàu:''' Tam nại, Cam tùng hương, Linh lăng hương mỗi thứ 1 tiền, Chương não (Long não) 2 phân, Hoạt thạch nửa lạng. Tán mạt. Đêm xát vào đầu sáng dùng lược chải đi. (Thủy vân lục)
* '''Tâm phúc lạnh đau:''' Tam nại, Đinh hương, Đương quy, Cam thảo lượng bằng nhau tán mạt, hồ giấm làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với rượu. (Tập giản phương)
==LIÊM KHƯƠNG (廉薑)==
*(Trích từ sách "Bản thảo Thập di")
'''Tên khoa học:''' Alpinia chinensis (Retz.) Roscoe (Sơn khương)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Khương hối''' (薑匯 - Cương mục), '''Tốc tuy''' (蔟綏 - âm đọc là Tộc Tuy).
===【Tập giải】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Mầm cây Đỗ nhược giống như Liêm khương.
'''Trần Tàng Khí nói:''' Liêm khương giống Gừng, sinh ở Lĩnh Nam, Kiếm Nam, người ta ăn nhiều lắm.
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Dị vật chí viết: Sinh trong cát đá, giống Gừng, to như con ốc (loa), mùi mạnh gần như hôi. Người phương Nam dùng làm dưa muối (tê). Cách làm là gọt vỏ, ngâm trong nước ô mai đen và muối thì thành vậy. Lại Trịnh Tiêu nói: Liêm khương giống Sơn khương nhưng rễ to hơn.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính nóng (nhiệt), không độc.
===【Chủ trị】===
Trong dạ dày lạnh, nôn ra nước, không ăn xuống được (Trần Tàng Khí). Ôn trung hạ khí, tiêu thực ích trí (Lý Thời Trân).
==ĐỖ NHƯỢC (杜若)==
*(Trích từ sách "Bản kinh" – Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Pollia japonica Thunb.
===【Hiệu chính】===
Hợp nhất mục "Sơn khương" (loại ngoại lệ) từ sách Đồ kinh.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Đỗ hành''' (杜衡 - Bản kinh), '''Đỗ liên''' (杜蓮 - Biệt lục).
'''Trảo tử khương''' (子薑 - Chữ Trảo âm là Trảo, sách Dược tính luận).
'''Tô Tụng nói:''' Cỏ này một tên là Đỗ hành, nhưng trong phần Thảo bộ (Trung phẩm) vốn đã có mục Đỗ hành riêng, tức là thứ mà sách Nhĩ Nhã gọi là Thổ lỗ vậy. Còn Đỗ nhược chính là thứ mà sách Quảng Nhã gọi là Sở hành. Hai loài vốn khác biệt, nhưng người xưa thường dùng lẫn lộn. Cho nên bài Cửu Ca viết: "Hái Đỗ nhược ở bãi thơm (phương châu)". Bài Ly Tao viết: "Trộn Đỗ hành với Phương chỉ". Bọn Vương Dật đều không phân biệt rõ, chỉ gọi chung là cỏ thơm (hương thảo), khiến hai tên bị lẫn lộn. Cổ phương có khi dùng, nhưng người nay hiếm khi nhận biết được, nên ít người tường tận.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Đỗ nhược sinh ở đầm thung lũng vùng Vũ Lăng và Oan Cú. Tháng Hai, tháng Tám hái rễ, phơi khô.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay nơi nơi đều có. Lá giống lá Gừng nhưng có vân lý, rễ giống Cao lương khương nhưng nhỏ hơn, vị cay thơm. Lại cực kỳ giống rễ cây Toàn phúc (旋復根), dễ gây nhầm lẫn, lá hơi khác một chút. Bài Sở Từ viết: "Người trong núi có hoa Đỗ nhược thơm", chính là nó vậy.
'''Tô Cung nói:''' Nay vùng Giang Hồ có rất nhiều, sinh ở nơi đất âm, mầm giống Liêm khương, rễ giống Cao lương khương, hoàn toàn thiếu vị cay. Đào Hoằng Cảnh nói loại giống rễ Toàn phúc mới chính là Đỗ nhược thật.
'''Tiêu Bảo Thăng nói:''' Mầm giống Sơn khương, hoa vàng đỏ, hạt đỏ to như hạt táo rừng (tức tử), bên trong giống Đậu khấu. Nay loại ở Lĩnh Nam, Hiệp Châu là rất tốt. Sách Phạm Tử Kế Nhiên viết: Đỗ hành, Đỗ nhược xuất từ Nam Quận, Hán Trung, loại to là tốt.
'''Tô Tụng nói:''' Ở Vệ Châu có một loại Sơn khương, cành lá như Gừng, nở hoa tím, không kết hạt, tháng Tám hái rễ nhập thuốc.
'''Lý Thời Trân nói:''' Đỗ nhược nay không ai nhận biết, nhưng vùng đất Sở trong núi thường có. Người miền núi cũng gọi là Lương khương, rễ giống Gừng, vị cũng cay. Chân Quyền chú giải về Đậu khấu có nhắc đến Trảo tử khương, và Tô Tụng trong mục ngoại lệ của Đồ kinh nhắc đến Sơn khương, thảy đều là vật này cả. Hoặc có người lấy loại to làm Cao lương khương, loại nhỏ làm Đỗ nhược. Đời Đường vùng Hiệp Châu thường tiến cống loại này.
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng chớ nhầm với rễ cỏ Áp điệp (鴨喋草), hình dạng rất giống nhưng mùi vị và hiệu quả khác hẳn. Hái được rễ, dùng dao cạo bỏ lớp vỏ vàng đỏ, thái nhỏ, dùng túi lụa ba lớp bọc lại phơi trong râm. Khi dùng lấy mật ngâm một đêm, vớt ra mà dùng.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính hơi ấm (vi ôn), không độc.
* '''Từ Chi Tài nói:''' Được Tân di, Tế tân thì tốt; ghét (ố) Sài hồ, Tiền hồ.
* '''Tô Tụng nói:''' Sơn khương vị cay, tính bình, có độc nhỏ.
===【Chủ trị】===
Khí nghịch dưới ngực hông, ôn trung, phong nhập vào Não hộ (huyệt vùng gáy), đầu sưng đau, chảy nhiều nước mũi nước mắt. Uống lâu ích tinh, sáng mắt, nhẹ mình. Giúp người ta không quên (Bản kinh). Trị huyễn đảo (chóng mặt ngã), mắt hoa (mục huyễn), chỉ thống, trừ mùi hôi miệng (Biệt lục). Loại Sơn khương: Trừ phong nhiệt giữa lớp da, có thể làm gia vị nấu canh. Lại chủ trị chứng lạnh đột ngột (bạo lãnh), vị trung nghịch lãnh (lạnh dạ dày xông lên), hoắc loạn đau bụng.
===【Phát minh】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Đỗ nhược vốn là Thượng phẩm của Thần Nông, là vị thuốc trọng yếu trị các chứng của kinh Túc Thiếu âm (Thận) và kinh Thái dương, mà đời không biết dùng, thật đáng tiếc thay!
==SƠN KHƯƠNG (山薑)==
*(Trích từ sách "Bản thảo Thập di")
'''Tên khoa học:''' Alpinia japonica (Thunb.) Miq.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Mỹ thảo''' (美草).
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Người phương Đông gọi là Sơn khương, người phương Nam gọi là Mỹ thảo.
'''Lý Thời Trân nói:''' So với loại Sơn khương trong mục Đỗ nhược thì là cùng tên mà khác vật vậy.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tàng Khí nói:''' Rễ và mầm Sơn khương đều giống Gừng nhưng lớn hơn, có mùi gỗ Chương (Long não), người phương Nam thường ăn. Lại có loại Trảo tử khương (子薑), màu vàng mà chắc, cay nồng, khả năng phá huyết khí mạnh hơn hẳn loại Gừng này.
'''Tô Tụng nói:''' Sơn khương xuất từ Cửu Chân, Giao Chỉ, nay vùng Mân, Quảng đều có. Lưu Tuân trong Lĩnh biểu lục dị viết: Cành lá thảy đều là Gừng cả, nhưng rễ không ăn được. Nó cũng tương tự hoa Đậu khấu nhưng nhỏ hơn một chút. Hoa mọc giữa đám lá, kết bông như hạt lúa mạch, màu hồng nhạt. Người phương Nam hái lúc hoa chưa nở rộ, gọi là "Hàm thai hoa", lấy nước muối ngâm rồi cho vào hèm rượu ngọt (điềm tao), qua mùa đông có màu như hổ phách, cay thơm đáng yêu, dùng làm gia vị (齏 - tê) thì không gì hơn được. Lại dùng muối để khử nước rồi phơi khô, sắc canh uống cực tốt để trừ lạnh (lãnh khí).
'''Lý Thời Trân nói:''' Sơn khương sinh ở phương Nam, lá giống Gừng, hoa sắc đỏ rất cay, hạt giống Thảo đậu khấu, rễ như Đỗ nhược và Cao lương khương. Người nay lấy hạt của nó giả làm Thảo đậu khấu, nhưng khí vị của nó rất mạnh liệt.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính nóng (nhiệt), không độc.
===【Chủ trị】===
Trong bụng lạnh đau, sắc uống rất nghiệm. Làm viên hoặc tán uống có thể nhịn ăn không đói (Đào Hoằng Cảnh). Trừ ác khí, ôn trung, trúng ác hoắc loạn, tâm phúc lạnh đau, công dụng như Gừng (Trần Tàng Khí).
===HOA VÀ HẠT (花及子)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Điều trung hạ khí, phá lạnh (lãnh khí) gây đau, chỉ hoắc loạn, tiêu thực, giải độc rượu (Đại Minh).
==CAO LƯƠNG KHƯƠNG (高良薑)==
*(Trích từ sách "Biệt lục" – Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Alpinia officinarum Hance
===【Hiệu chính】===
Hợp nhất mục "Hồng đậu khấu" từ sách Khai Bảo Bản Thảo.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Man khương''' (蠻薑 - Cương mục). Hạt gọi là '''Hồng đậu khấu''' (紅豆蔻).
'''Lý Thời Trân nói:''' Đào Ẩn Cư (Đào Hoằng Cảnh) nói loại gừng này khởi nguyên từ quận Cao Lương nên có tên này. Xét Cao Lương nay là Cao Châu vậy. Đời Hán là huyện Cao Lương, đời Ngô đổi làm quận. Núi ở đó cao mà hơi lạnh (lương), nhân đó lấy làm tên, vậy Cao Lương đáng lẽ phải viết là Cao Lương (高涼 - cao và lạnh) mới đúng.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Xuất ở quận Cao Lương, tháng Hai, tháng Ba hái rễ. Hình dáng và khí vị tương tự Đỗ nhược, mà lá giống Sơn khương.
'''Tô Cung nói:''' Loại xuất từ Lĩnh Nam hình dáng lớn mà xốp mềm, loại sinh ở Giang Tả thì nhỏ chắc, cũng không quá cay, thực chất chúng là một loài. Người nay gọi loại nhỏ là Đỗ nhược, loại lớn là Cao lương khương, ấy là sai vậy.
'''Tô Tụng nói:''' Nay các châu vùng Lĩnh Nam cùng vùng Kiềm, Thục đều có, các quận nội địa tuy có nhưng không thể dùng làm thuốc. Mùa xuân mọc cành lá như mầm gừng nhưng lớn hơn, cao chừng một hai thước. Hoa màu hồng tím, như hoa Sơn khương.
'''Mã Chí nói:''' Hồng đậu khấu sinh ở các thung lũng Nam Hải, là hạt của Cao lương khương vậy. Mầm nó như cây sậy (lô), lá như gừng, hoa kết bông (tuế), lá non cuộn lại mà sinh ra, hơi mang sắc hồng. Loại non cho vào muối, kết lại từng đóa không rời rạc, phải dùng hoa Chu槿 (râm bụt) nhuộm cho sắc thêm đậm. Vị này giỏi tỉnh say, giải độc rượu, không có công dụng nào yếu lược hơn.
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Quế Hải chí của Phạm Thành Đại viết: Hoa Hồng đậu khấu mọc thành bụi, lá gầy như sậy biếc. Cuối xuân bắt đầu phát, lúc mới nở hoa đâm ra một cành, có bao bẹ (thác) lớn bọc lấy, bẹ nứt ra thì thấy hoa. Một bông có vài mươi nhị, màu hồng nhạt tươi tắn như sắc hoa đào hoa hạnh. Nhị nặng thì rủ xuống như chùm nho, lại như hình dạng vòng ngọc hỏa tề hay cành loan cắt bằng lụa màu. Mỗi nhị có hai tâm biện, người ta ví như "liên lý" (cành giao kết). Hạt của nó cũng giống Thảo đậu khấu.
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Cao lương khương, Hồng đậu khấu thảy đều nên sao qua mới nhập thuốc. Cũng có người dùng gừng cùng Ngô thù du, đất vách đông (đông bích thổ) sao qua rồi mới dùng.
===RỄ (根 - Cao lương khương)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính rất ấm (đại ôn), không độc.
* '''Mã Chí nói:''' Cay, đắng, rất nóng (đại nhiệt), không độc.
* '''Trương Nguyên Tố nói:''' Cay, nóng, thuần Dương, tính nổi (phù). Nhập kinh Túc Thái âm (Tỳ) và kinh Túc Dương minh (Vị).
===【Chủ trị】===
Bạo lãnh (lạnh đột ngột), trong dạ dày lạnh nghịch, hoắc loạn đau bụng (Biệt lục). Hạ khí, ích tiếng (tiếng nói trong), đẹp nhan sắc. Sắc nước uống trị lỵ (Trần Tàng Khí). Trị phong phá khí, bụng đau do lạnh lâu ngày, trừ phong lạnh tý nhược (Chân Quyền). Chuyển gân (chuột rút), tả lỵ, phản vị nôn ra thức ăn, giải độc rượu, tiêu thức ăn cũ (túc thực) (Đại Minh). Ngậm một miếng nuốt nước trị chứng bỗng nhiên buồn nôn, nôn ra nước trong, chốc lát là khỏi. Nếu hôi miệng thì cùng Thảo đậu khấu tán mạt, sắc uống (Tô Tụng). Kiện tỳ vị, khoan nghẹn (ế cách), phá lạnh tích lâu ngày (lãnh phích), trừ chướng ngược (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Dương Sĩ Doanh nói:''' Người bị nấc cụt (y nghịch) do dạ dày lạnh thì Cao lương khương là vị thuốc cốt yếu, dùng Nhân sâm, Phục linh làm tá, vì nó làm ấm dạ dày, giải tán phong tà trong dạ dày vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Sách Thập toàn phương viết: Tâm tỳ lạnh đau, dùng Cao lương khương thái nhỏ sao nhẹ tán mạt, uống 1 tiền với nước cơm là dứt ngay. Văn bia Chu Điên Tiên do Thái Tổ Cao Hoàng Đế ngự chế cũng chép sự nghiệm hiệu của nó. Lại có phương trị đau tim của Uế Tích Phật vân: Phàm nam nữ đau một điểm ở vùng tâm khẩu (thượng vị) là do vị quản có tích trệ hoặc có giun sán. Đa phần do giận dữ hoặc cảm hàn mà khởi phát, rồi theo đuổi cả đời. Tục gọi là "tâm khí thống" là sai vậy. Dùng Cao lương khương (rửa rượu 7 lần, sấy khô nghiền nhỏ), Hương phụ tử (rửa giấm 7 lần, sấy khô nghiền nhỏ), mỗi thứ để riêng. Nếu bệnh do hàn thì dùng 2 tiền bột Khương, 1 tiền bột Phụ; do nộ (giận) thì dùng 2 tiền bột Phụ, 1 tiền bột Khương; cả hàn lẫn nộ thì mỗi thứ 1 tiền rưỡi, dùng nước cơm thêm một thìa nước gừng tươi, một nhúm muối, uống vào là dứt ngay. Sách Y thông của Hàn Phi Hà cũng xưng tụng công lao của nó vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 3, mới 10.
* '''Hoắc loạn nôn tả:''' Nướng Cao lương khương trên lửa cho cháy thơm. Mỗi lần dùng 5 lạng, dùng 1 thăng rượu sắc vài dạo, uống hết một lần. Cũng trị đau bụng trúng ác. (Ngoại đài)
* '''Hoắc loạn đau bụng:''' Cao lương khương 1 lạng (thái nhỏ). Dùng 3 bát lớn nước sắc còn 2 bát rưỡi, bỏ bã, cho 1 hợp gạo tẻ nấu cháo ăn. Ăn xong là dứt. (Thánh huệ phương)
* '''Hoắc loạn nôn mửa dữ dội không dứt:''' Dùng Cao lương khương (thái sống) 2 tiền, Đại táo 1 quả. Sắc nước uống lạnh, lập tức định lại. Tên gọi là "Băng hồ thang". (Phổ tế phương)
* '''Cước khí muốn nôn:''' Tô Cung nói: Phàm người mắc cước khí, mỗi sáng nên ăn no, quá trưa ăn ít, chiều tối không ăn. Nếu đói có thể ăn cháo đậu xị. Nếu cảm thấy không tiêu, muốn dẫn đến hoắc loạn, tức dùng Cao lương khương 1 lạng, nước 3 thăng sắc còn 1 thăng, uống hết một lượt là tiêu. Nếu đột ngột không có thì dùng Mẫu khương (Gừng già) 1 lạng thay thế, sắc với rượu thanh mà uống. Tuy không bằng Cao lương khương nhưng cũng rất hiệu nghiệm.
* '''Tâm tỳ lạnh đau (Cao lương khương hoàn):''' Dùng Cao lương khương 4 lạng (thái lát, chia làm 4 phần: 1 lạng dùng nửa hợp gạo cũ sao vàng bỏ gạo; 1 lạng dùng nửa lạng đất vách cũ sao vàng bỏ đất; 1 lạng dùng 34 hạt Ba đậu sao vàng bỏ đậu; 1 lạng dùng 34 con Ban miêu sao vàng bỏ sâu), Ngô thù du 1 lạng (ngâm rượu một đêm, cùng gừng sao lại). Tán mạt, dùng rượu ngâm Thù du hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần khi đói uống 50 viên với nước gừng. Sách Vĩnh loại kiềm phương dùng Cao lương khương 3 tiền, Ngũ linh chi 6 tiền tán mạt, mỗi lần uống 3 tiền với giấm.
* '''Dưỡng tỳ ấm dạ dày:''' Trừ lạnh tiêu đờm, khoan hung hạ khí, trị đau tâm tỳ cùng các thương tổn do đồ lạnh. Dùng Cao lương khương, Can khương lượng bằng nhau. Sao nghiền mạt, hồ bột làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần sau khi ăn uống 15 viên với nước Trần bì. Phụ nữ có thai chớ uống. (Hòa tễ cục phương)
* '''Tỳ hư hàn ngược (Sốt rét lạnh nhiều nóng ít):''' Ăn uống không ngon. Dùng Cao lương khương (sao dầu mè), Can khương (sao) mỗi thứ 1 lạng. Tán mạt. Mỗi lần dùng 5 tiền, dùng mật lợn (trư đảm trạch) điều thành cao, lúc sắp lên cơn sốt thì điều với rượu nóng uống. Hoặc dùng mật lợn làm viên, mỗi lần uống 40 viên với rượu cũng tốt. Ngô Khai nội hàn đời Chính Hòa cư ngụ ở huyện Toàn Tiêu, năm ấy nạn sốt rét hoành hành, dùng phương này cứu người kể hàng trăm. Trương Đại Hanh mắc bệnh này định từ quan, uống vào cũng khỏi. Đại để tính hàn phát từ Đởm, dùng mật lợn dẫn "nhị khương" vào Đởm để khử hàn mà làm khô tỳ vị, một hàn một nhiệt, âm dương chế ước nhau nên có hiệu quả vậy. Một phương khác: Chỉ dùng "nhị khương" (nửa sống nửa sao) mỗi thứ nửa lạng, Xuyên sơn giáp (sao) 3 tiền. Tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với rượu nấu cật lợn. (Chu thị tập nghiệm phương)
* '''Thai phụ mắc sốt rét:''' Do thương hàn biến chứng. Dùng Cao lương khương 3 tiền (thái). Dùng mật lợn ngâm một đêm, đất vách đông sao đen bỏ đất, dùng 15 quả thịt táo béo cùng sấy khô tán mạt. Mỗi lần dùng 3 tiền, nước 1 bát sắc nóng, uống lúc sắp lên cơn. Thần diệu. (Vĩnh loại kiềm phương)
* '''Mắt đỏ đau cấp (Bạo xích nhãn thống):''' Dùng ống thổi bột Lương khương vào mũi để gây hắt hơi, hoặc chảy chút máu mũi là tan ngay. (Đàm Dã Ông thử nghiệm phương)
* '''Phong nha thũng thống (Đau sưng răng):''' Cao lương khương 2 tấc, Toàn yết (sao) 1 con. Tán mạt xát vào, nhổ nước dãi, súc miệng nước muối. Đây là phương truyền từ người hành khất ở Nhạc Thanh. Bào Quý Minh mắc bệnh này dùng quả nhiên hiệu quả. (Bách nhất tuyển phương)
* '''Đầu thống (Đau đầu):''' Cao lương khương sống nghiền nhỏ, thường xuyên hít vào mũi (xúc tỷ). (Phổ tế phương)
===HẠT (子 - Hồng đậu khấu)===
'''Tên khoa học:''' Alpinia galanga (L.) Willd. (Hạt cây Riềng nếp/Riềng tàu)
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
* '''Chân Quyền nói:''' Đắng, cay, ăn nhiều khiến lưỡi thô, không muốn ăn uống.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Cay nóng, thuộc Dương, tính nổi (phù), nhập kinh Thủ và Túc Thái âm. Sách Sinh sinh biên viết: Rất năng động hỏa làm hại mắt gây chảy máu cam, thực liệu không nên dùng nhiều.
===【Chủ trị】===
Trường hư thủy tả, tâm phúc đau thắt (giảo thống), hoắc loạn nôn mửa nước chua, giải độc rượu (Mã Chí). Lãnh khí phúc thống, tiêu chướng khí mù độc, khử túc thực, ấm bụng trường, nôn tả lỵ tật (Chân Quyền). Trị nghẹn (ế cách) phản vị, hư ngược hàn trướng, làm khô thấp tán hàn (Lý Thời Trân).
===【Phát minh】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Hồng đậu khấu là vị thuốc Lý Đông Viên thường dùng trong các bài thuốc tỳ vị, cũng là lấy cái vị cay nóng phương hương của nó, có công năng tỉnh tỳ ấm phổi, tán hàn táo thấp, tiêu thực vậy. Nếu người vốn có phục hỏa ở tỳ phổi thì tuyệt đối không nên dùng.
===【Phụ phương】===
*Mới 1.
* '''Phong hàn nha thống (Đau răng do phong hàn):''' Hồng đậu khấu tán mạt, tùy bên đau trái hay phải mà thổi một ít vào mũi, đồng thời xát vào răng để lấy nước dãi. Hoặc thêm Xạ hương. (Vệ sinh gia bảo phương)
==ĐẬU KHẤU (豆蔻)==
*(Trích từ sách "Biệt lục" – Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Alpinia katsumadai Hayata (Thảo đậu khấu)
===【Hiệu chính】===
Chuyển từ "Quả bộ" vào phần này.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Thảo đậu khấu''' (草豆蔻 - Khai Bảo), '''Lậu khấu''' (漏蔻 - Dị vật chí).
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Đậu khấu tức là Thảo đậu khấu vậy. Tên này đặt để đối sánh với Nhục đậu khấu. Nếu dùng như trái cây (quả) thì vị không hòa hợp. Người xưa xếp vào Quả bộ, không rõ có ý nghĩa gì? Hoa tính nóng, khi ướp mang đến kinh sư thì vị hơi đắng, không quá ngon, phơi khô thì màu tím nhạt. Vì có khả năng tiêu độc rượu nên mới được coi là quả vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Phương ngôn của Dương Hùng viết: Phàm vật gì thịnh nhiều thì gọi là Khấu. Tên Đậu khấu có lẽ lấy theo nghĩa này. Chữ Đậu (豆) là tượng hình vậy. Sách Nam phương dị vật chí chép là Lậu khấu, ấy là do người phương Nam không có chính âm cho chữ vậy. Nay tuy không chuyên dùng làm trái cây, nhưng vẫn được đưa vào làm trà và gia vị nấu ăn, vẫn còn được gọi là Thảo quả. Kinh Kim Quang Minh liệt vào ba mươi hai phẩm hương dược, gọi là '''Tô khất mê la''' (loại nhỏ).
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Đậu khấu sinh ở Nam Hải.
'''Tô Cung nói:''' Mầm giống Sơn khương, hoa vàng trắng, mầm rễ và hạt cũng giống Đỗ nhược.
'''Tô Tụng nói:''' Thảo đậu khấu nay ở Lĩnh Nam đều có. Mầm giống cây sậy (lô), lá giống Sơn khương, Đỗ nhược; rễ giống Cao lương khương. Tháng Hai nở hoa kết thành bông (tuế) mọc dưới thân, lá non cuộn lấy hoa mà sinh ra, lúc đầu như hoa Phù dung, màu hồng nhạt, đầu bông hoa màu đỏ đậm. Khi lá dần mở ra, hoa dần lộ ra thì màu sắc nhạt dần, cũng có loại màu vàng trắng. Người phương Nam thường hái hoa làm quả, đặc biệt quý loại non. Đem cả bông hoa ngâm với muối để chế biến, đóa hoa xếp lớp mà không tan rời. Lại dùng hoa Mộc cận ngâm cùng để sắc hoa được đỏ vậy. Quả của nó như hạt Long nhãn nhưng nhọn, vỏ không có vảy, hạt trong vỏ như múi lựu, mùa hè lúc chín thì hái về phơi khô. Rễ và mầm có mùi thơm nhẹ như gỗ Chương, cả rễ, thân, hạt đều cay thơm.
'''Lôi Công nói:''' Đậu khấu sinh ở Giao Chỉ. Rễ nó giống Ích trí, vỏ bọc hơi dày, nhân như hạt lựu mà cay thơm, lá giống Hoán lan mà nhỏ hơn. Tháng Ba hái lá, xé nhỏ phơi trong râm để dùng. Vị gần như đắng mà có vị ngọt.
'''Lý Thời Trân nói:''' Thảo đậu khấu và Thảo quả tuy cùng một loại, nhưng có chút khác biệt. Nay vùng Kiến Ninh sản xuất Đậu khấu to như Long nhãn mà hình hơi dài, vỏ vàng trắng, mỏng mà cạnh sắc, nhân to như nhân Súc sa (Sa nhân) mà cay thơm khí hòa. Vùng Vân Nam, Quảng Đông sản xuất Thảo quả dài lớn như hạt Kha tử, vỏ đen dày mà khía dày, hạt thô mà cay hôi, giống như mùi con Ban miêu. Người vùng đó đều dùng nấu trà hoặc làm gia vị thức ăn, là vật dụng thường ngày. Người Quảng Đông lấy Thảo khấu tươi cho vào nước mơ (mai tử), ngâm muối cho đỏ, phơi khô để nhắm rượu, gọi là Hồng muối Thảo quả. Loại mới kết quả còn nhỏ gọi là Anh ca thiệt (Lưỡi vẹt). Trong sách Ẩm thiện thời Nguyên, thảy đều lấy Thảo quả làm đồ thượng phẩm. Người phương Nam lại dùng một loại Hỏa dương mai để giả mạo Thảo đậu khấu, hình dáng tròn và thô, khí vị cay nồng mà không hòa hợp, người ta cũng dùng nhiều, có người nói đó là quả Sơn khương, không thể không phân biệt rõ.
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng phải bỏ cuống, lấy hạt bên trong và vỏ, dùng Ngô thù du cùng sao nhẹ trên lửa, đợi Ngô thù du hơi vàng đen thì bỏ Thù du đi, lấy vỏ và hạt Thảo đậu khấu giã nát mà dùng.
'''Lý Thời Trân nói:''' Người nay thường lấy bột mì bọc lại nướng chín (vi), bỏ vỏ lấy nhân dùng.
===NHÂN (仁)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), chát (sáp), không độc.
* '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Rất cay nóng (đại tân nhiệt), thuộc Dương, tính nổi (phù). Nhập kinh Túc Thái âm và Túc Dương minh.
===【Chủ trị】===
Ôn trung, tâm phúc thống (đau tim bụng), nôn mửa, trừ mùi hôi miệng (Biệt lục). Hạ khí, chỉ hoắc loạn, trị tất cả các chứng lãnh khí, tiêu độc rượu (Khai Bảo). Điều trung bổ vị, kiện tỳ tiêu thực, khử khách hàn (cảm lạnh bên ngoài), trị đau tim và dạ dày (Lý Cảo). Trị chướng lệ hàn ngược, thương thử nôn tả lỵ tật, nghẹn (ế cách) phản vị, bĩ mãn nôn chua, tích tụ đờm ẩm, chứng ố trở (ốm nghén) và đới hạ ở phụ nữ, trừ hàn táo thấp, khai uất phá khí, sát độc cá thịt. Chế Đan sa (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Đậu khấu cay liệt rất thơm, có thể ăn thường xuyên. Các vật trong ngũ hòa tản đều ích cho người, bao gồm: Đậu khấu, Liêm khương, Củ duyện (Chanh sần), Cam tiêu (Chuối), Kê mục.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Thảo đậu khấu khí vị cực cay, hơi thơm, tính ấm nên điều tán lãnh khí rất nhanh. Người hư nhược không ăn uống được, nên dùng vị này cùng Mộc qua, Ô mai, Súc sa, Ích trí, Khúc nghiệt, Cam thảo, Sinh khương.
'''Lý Cảo nói:''' Phong hàn khách tà ở trên miệng dạ dày, đau vùng tim thì nên nướng chín (vi) mà dùng.
'''Chu Đan Khê nói:''' Thảo đậu khấu tính ấm, năng tán khí trệ, tiêu đờm ở vùng cách (ngực). Nếu biết rõ thân bị cảm hàn tà, miệng ăn đồ lạnh khiến dạ dày đau thắt mới có thể dùng để ôn tán, hiệu quả như dùi gõ vào trống. Hoặc người bị thấp đờm uất kết thành bệnh cũng có hiệu quả. Nếu là nhiệt uất thì không được dùng, e rằng tích tụ tính ấm sẽ thành nhiệt, khi đó tất phải dùng bài có vị Chi tử.
'''Lý Thời Trân nói:''' Đậu khấu trị bệnh là lấy cái vị cay nóng nổi tán (phù tán), năng nhập kinh Thái âm và Dương minh, trừ hàn táo thấp, có lực khai uất hóa thực mà thôi. Phương Nam đất thấp, chướng khí núi rừng, ăn uống chua mặn nên tỳ vị thường mắc các bệnh hàn thấp uất trệ. Do đó gia vị thức ăn tất phải dùng, rất tương nghi. Tuy nhiên dùng quá nhiều cũng có thể trợ hỏa ở Tỳ, làm hại Phổi, tổn thương mắt. Có thuyết nói: Dùng chung với Tri mẫu để trị sốt rét chướng khí (chướng ngược) hàn nhiệt, là lấy ý một âm một dương để không bên nào quá thắng mà gây hại. Ấy là vì Thảo quả trị cái hàn độc thắng của Thái âm, còn Tri mẫu trị cái hỏa độc thắng của Dương minh vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 1, mới 9.
* '''Tâm phúc trướng mãn đoản khí (đầy bụng khó thở):''' Thảo đậu khấu 1 lạng, bỏ vỏ tán mạt, dùng nước sắc Mộc qua Sinh khương điều uống nửa tiền. (Thiên kim phương)
* '''Vị nhược nôn nghịch không ăn được:''' Nhân thảo đậu khấu 2 hạt, Cao lương khương nửa lạng, nước 1 bát sắc lấy nước, cho thêm nửa hợp nước gừng tươi, hòa với bột mì trắng làm sợi mì (bát đao), dùng nước luộc thịt dê nấu chín, ăn lúc đói. (Phổ tế phương)
* '''Hoắc loạn phiền khát:''' Thảo đậu khấu, Hoàng liên mỗi vị 1 tiền rưỡi, Đậu đen 50 hạt, Sinh khương 3 lát. Sắc nước uống. (Thánh tế tổng lục)
* '''Hư ngược tự hãn không dứt (Sốt rét hư nhược ra mồ hôi):''' Thảo quả 1 hạt (bọc bột mì nướng chín, nghiền cả bột), cho vào bài Bình vị tán 2 tiền. Sắc nước uống. (Kinh hiệu tế thế phương)
* '''Khí hư chướng ngược (Sốt rét chướng khí):''' Nóng ít lạnh nhiều, hoặc chỉ lạnh không nóng, hoặc hư nhiệt không lạnh. Dùng nhân Thảo quả, Thục phụ tử lượng bằng nhau, nước 1 bát, Gừng 7 lát, Táo 1 quả, sắc còn nửa bát uống. Tên là "Quả phụ thang". (Tế sinh phương)
* '''Tỳ hàn ngược tật (Sốt rét do tỳ hàn):''' Lạnh nhiều nóng ít, hoặc chỉ lạnh không nóng, hoặc đại tiện lỏng mà tiểu tiện nhiều, không ăn được. Dùng nhân Thảo quả, Thục phụ tử mỗi vị 2 tiền rưỡi, Sinh khương 7 lát, Đại táo 2 quả. Nước 3 bát sắc còn 1 bát, uống ấm. (Y phương đại thành)
* '''Tỳ thận bất túc:''' Nhân thảo quả 1 lạng (sao với Bác hồi hương 1 lạng cho thơm rồi bỏ Hồi không dùng), Ngô thù du (ngâm nước 7 lần, sao với Phá cố chỉ 1 lạng cho thơm rồi bỏ Cố chỉ không dùng), Hồ lô ba 1 lạng (sao với Sơn thù du 1 lạng cho thơm rồi bỏ Thù du không dùng). Ba vị trên tán mạt, dùng hồ rượu làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 60 viên với nước muối. (Bách nhất tuyển phương)
* '''Xích bạch đới hạ:''' Thảo quả cả vỏ 1 hạt, Nhũ hương một khối nhỏ. Bọc bột mì nướng cháy vàng, nghiền mịn cùng với bột mì. Mỗi lần dùng nước cơm uống 2 tiền, ngày 2 lần. (Vệ sinh dị giản phương)
* '''Hôi miệng (Hương khẩu bích xú):''' Đậu khấu, Tế tân tán mạt, ngậm trong miệng. (Chẩm hậu phương)
* '''Tỳ thống trướng mãn (Đau tỳ đầy trướng):''' Nhân thảo quả 2 hạt. Sắc rượu uống. (Trực chỉ phương)
===HOA (花)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính nóng (nhiệt), không độc.
===【Chủ trị】===
Hạ khí, chỉ nôn nghịch, trừ hoắc loạn, điều trung bổ vị khí, tiêu độc rượu (Đại Minh).
==BẠCH ĐẬU KHẤU (白豆蔻)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Amomum testaceum Ridl. (hoặc Amomum kravanh Pierre ex Gagnep.)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Đa cốt''' (多骨).
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Mã Chí nói:''' Bạch đậu khấu xuất từ nước Già Cổ La, gọi là Đa cốt. Hình dáng cỏ như cây chuối (bá tiêu), lá giống Đỗ nhược, dài tám chín thước mà nhẵn bóng, đông hạ không héo tàn, hoa màu vàng nhạt. Quả kết thành đóa như chùm nho, mới ra hơi xanh, chín thì biến thành trắng, tháng Bảy hái về.
'''Tô Tụng nói:''' Nay Quảng Châu, Nghi Châu cũng có, nhưng không tốt bằng loại từ tàu buôn nước ngoài (phiên bặc) mang đến.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hạt Bạch đậu khấu tròn lớn như hạt Bạch khiên ngưu, vỏ trắng dày, nhân như nhân Súc sa. Nhập thuốc thì bỏ vỏ sao dùng.
===NHÂN (仁)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính rất ấm (đại ôn), không độc.
* '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Rất cay nóng (đại tân nhiệt), vị mỏng khí đậm, tính nhẹ trong mà thăng lên, thuộc Dương, tính nổi (phù). Nhập kinh Thủ Thái âm (Phế).
===【Chủ trị】===
Tích tụ khí lạnh (tích lãnh khí), chỉ nôn nghịch phản vị, tiêu ngũ cốc hạ khí (Khai Bảo). Tán khí trệ trong Phổi, khoan hung cách giúp ăn ngon, trị màng mộng ở tròng trắng mắt (bạch nhãn ế mô) (Lý Cảo). Bổ phế khí, ích tỳ vị, lý nguyên khí, thu thoát khí (Vương Hiếu Cổ). Trị nghẹn (ế cách), trừ sốt rét hàn nhiệt, giải độc rượu (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Tô Tụng nói:''' Cổ phương trị dạ dày lạnh (vị lãnh), ăn vào là muốn nôn, cùng bài "Nôn mửa lục vật thang" đều dùng Bạch đậu khấu, đại để hễ chủ trị dạ dày lạnh thì rất tương nghi.
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Bạch đậu khấu khí và vị đều mỏng, công dụng có năm: Một là chuyên nhập Phế kinh làm bản dược; hai là tán khí trệ trong ngực; ba là trị đau bụng do cảm hàn; bốn là sưởi ấm tỳ vị; năm là trị mắt đỏ bạo phát, khử các gân máu đỏ lớn ở khóe mắt trong thuộc Thái dương kinh, dùng một ít là được.
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét Dương Sĩ Doanh vân: Bạch đậu khấu trị tỳ hư ngược tật, nôn mửa hàn nhiệt, năng tiêu năng mài, lưu hành Tam tiêu, khiến vinh vệ chuyển vận một vòng thì các chứng tự bình ổn.
===【Phụ phương】===
*Cũ 1, mới 4.
* '''Vị lãnh ác tâm (Dạ dày lạnh buồn nôn):''' Hễ ăn là muốn nôn. Dùng 3 hạt Bạch đậu khấu, giã nhỏ. Dùng 1 chén rượu ngon, uống ấm, uống vài liều là tốt. (Trương Văn Trọng - Bị cấp phương)
* '''Người bỗng nhiên buồn nôn:''' Nhai nhiều hạt Bạch đậu khấu là tốt nhất. (Chẩm hậu phương)
* '''Trẻ nhỏ nôn sữa do dạ dày hàn:''' Nhân bạch đậu khấu 14 hạt, nhân Súc sa 14 hạt, Cam thảo sống 2 tiền, Chích cam thảo 2 tiền. Tán mạt. Thường xuyên rắc vào trong miệng trẻ. (Nguy thị)
* '''Tỳ hư phản vị:''' Bạch đậu khấu, nhân Súc sa mỗi thứ 2 lạng, Đinh hương 1 lạng, gạo cũ (trần lẫm mễ) 1 thăng. Dùng hoàng thổ sao cháy, bỏ đất nghiền mịn, dùng nước gừng hòa làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 100 viên với nước gừng. Tên là "Thái thương hoàn". (Tế sinh phương)
* '''Nấc cụt sau sinh:''' Bạch đậu khấu, Đinh hương mỗi vị nửa lạng. Nghiền mịn, uống 1 tiền với nước sắc Đào nhân, chốc lát sau lại uống tiếp. (Càn khôn sinh ý)
==SÚC SA MẬT (縮砂蔤 - Sa nhân)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Amomum villosum Lour.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Nghĩa của tên chưa rõ. Dưới ngó sen có chất trắng gọi là "mật" (蔤), lấy ý nghĩa mật tàng. Vật này thực ra kết ở dưới rễ, nhân lại giấu trong vỏ, cũng có lẽ lấy theo ý đó chăng.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Lôi Công nói:''' Súc sa mật sinh ở Tây Hải và các địa phương Tây Nhung, các nước Ba Tư. Đa phần đi theo đường An Đông tới.
'''Mã Chí nói:''' Sinh ở phương Nam. Mầm lá giống cây Sậy (lô).
'''Tô Tụng nói:''' Nay chỉ có ở vùng núi khe Lĩnh Nam. Thân mầm giống Cao lương khương, cao ba bốn thước. Lá xanh, dài tám chín tấc, rộng chừng nửa tấc. Tháng Ba, tháng Tư nở hoa ở dưới gốc rễ; tháng Năm, tháng Sáu thành quả. Năm mươi đến bảy mươi quả kết thành một bông, hình trạng giống Ích trí mà tròn, vỏ chắc dày mà nhăn, có vân như hạt kê, bên ngoài có gai nhỏ, màu vàng đỏ. Trong vỏ là một khối hạt nhỏ, chia làm tám ngăn, khoảng hơn bốn mươi hạt, như hạt kê lớn, bên ngoài hơi đen, bên trong trắng và thơm, giống nhân Bạch đậu khấu. Tháng Bảy, tháng Tám hái về, vị cay thơm có thể điều hòa món ăn, dùng làm mứt mật (mật tiễn) hay kẹo (đường triền).
===NHÂN (仁)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), chát (sáp), không độc.
* '''Chân Quyền nói:''' Cay, đắng. '''Trần Tàng Khí nói:''' Chua.
* '''Lôi Công nói:''' Cay, mặn, tính bình. Được Kha tử, Đậu khấu, Bạch vô di, Tiền bản (Bấy giáp) thì tốt.
* '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Cay, ấm, thuộc Dương, tính nổi (phù). Nhập bảy kinh: Thủ Túc Thái âm, Dương minh, Thái dương và Túc Thiếu âm. Được Bạch đàn hương, Đậu khấu làm sứ thì nhập Phế; được Nhân sâm, Ích trí làm sứ thì nhập Tỳ; được Hoàng bá, Phục linh làm sứ thì nhập Thận; được Xích trắng Thạch chỉ làm sứ thì nhập Đại Tiểu trường vậy.
===【Chủ trị】===
Hư lao lạnh tả (lãnh tả), thức ăn cũ không tiêu (túc thực bất tiêu), xích bạch tiết lỵ, bụng đau hư lạnh, hạ khí (Khai Bảo). Chủ trị lạnh khí đau bụng, chỉ khí lỵ nghỉ ngơi lâu ngày, lao tổn, tiêu hóa thủy cốc, sưởi ấm tỳ vị (Chân Quyền). Thượng khí ho khan, bôn đồn quỷ chú, kinh giản tà khí (Trần Tàng Khí). Tất cả các chứng khí, hoắc loạn chuyển gân. Có khả năng làm dậy mùi thơm của rượu (Đại Minh). An thai (Trương Nguyên Tố). Bổ phế tỉnh tỳ, dưỡng vị ích thận, lý nguyên khí, thông khí trệ, tán hàn ẩm trướng bĩ, nghẹn nôn (ế cách ẩu thổ), chỉ băng trung ở phụ nữ, trừ đau cổ họng và đau răng (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Y thông của Hàn Phi Hà vân: Thận ghét táo, lấy vị cay để nhuận nó. Cái cay của Súc sa nhân là để nhuận cái táo của Thận. Lại nói: Súc sa thuộc Thổ, chủ về tỉnh Tỳ điều Vị, dẫn các thuốc quy túc về Đan điền. Mùi thơm mà năng xuyên thấu (toán), hòa hợp cái khí xung hòa của ngũ tạng, giống như trời đất lấy Thổ làm khí xung hòa. Cho nên thuốc bổ thận thường dùng vị này chưng cùng Địa hoàng hoàn, là lấy cái tôn chỉ đưa thuốc đạt xuống phần dưới vậy. Lại năng hóa xương (hóa cốt), các loại thuốc thảo mộc thực vật và phương sĩ luyện Tam hoàng đều dùng nó, chẳng rõ tính nó tại sao năng chế được các vật ấy?
===【Phụ phương】===
*Cũ 3, mới 13.
* '''Lãnh hoạt hạ lỵ (Tiêu chảy lạnh không dứt):''' Khiến người hư gầy. Dùng nhân Súc sa rang tán mạt, dùng gan cừu thái mỏng tẩm bột thuốc, nướng trên ngói cho khô rồi tán mạt, trộn thêm bột Can khương lượng bằng nhau, dùng cơm làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 40 viên với nước ấm, ngày 2 lần. Một phương khác: Nhân Súc sa, Phụ tử chế, Can khương, Hậu phác, Trần bì lượng bằng nhau. Tán mạt, viên với cơm, cách dùng như trên. (Dược tính luận)
* '''Đại tiện tả huyết:''' Truyền qua ba đời. Nhân Súc sa tán mạt, uống 2 tiền với nước cơm nóng, uống đến khi khỏi thì thôi. (Thập tiện lương phương)
* '''Trẻ nhỏ thoát giang (Sa trực tràng):''' Súc sa (bỏ vỏ) tán mạt. Dùng một miếng cật lợn bửa ra xát bột thuốc vào trong, buộc chặt, nấu chín cho trẻ ăn, sau đó uống Bạch phàn hoàn. Nếu khí nghịch sưng suyễn thì không trị được. (Bảo ấu đại toàn)
* '''Khắp mình sưng đầy, vùng kín cũng sưng:''' Dùng nhân Súc sa, Thổ cẩu (con dế lủi) 1 con, lượng bằng nhau, nghiền nát, hòa rượu lâu năm mà uống. (Trực chỉ phương)
* '''Đờm khí nghẹn trướng (Cách chướng):''' Sa nhân giã nát, dùng nước củ cải tẩm thấu, sấy khô tán mạt. Mỗi lần uống 1-2 tiền với nước sôi lúc xa bữa ăn. (Giản tiện phương)
* '''Thượng khí khái nghịch (Ho xộc khí):''' Sa nhân (rửa sạch, sao nghiền), Gừng sống (cả vỏ) lượng bằng nhau. Giã nát, pha rượu nóng uống lúc xa bữa ăn. (Giản tiện phương)
* '''Tử giản hôn mạo (Sản giật hôn mê):''' Súc sa (sao đen cả vỏ), chiêu với rượu nóng 2 tiền. Người không uống được rượu thì dùng nước cơm. Phương này an thai chỉ thống đều hiệu nghiệm, không thể kể hết. (Đào Ẩn Cư phương)
* '''Thai động khi mang thai:''' Do va chạm hoặc té ngã thương tổn dẫn đến thai không yên, đau không chịu nổi. Súc sa (sao chín trong bàn là, bỏ vỏ lấy nhân), giã nát. Mỗi lần uống 2 tiền, chiêu với rượu nóng. Chốc lát thấy trong bụng nơi thai động cực nóng, tức là thai đã yên vậy. Thần hiệu. (Phổ tế phương)
* '''Phụ nữ huyết băng:''' Nhân Súc sa mới, dùng ngói mới nướng sấy nghiền mạt. Uống 3 tiền với nước cơm. (Phụ nhân lương phương)
* '''Nhiệt ủng đau họng:''' Vỏ Súc sa (Súc sa xác) tán mạt, uống 1 tiền với nước. (Đới Nguyên Lễ phương)
* '''Răng đau nhức:''' Sa nhân thường xuyên nhai là tốt. (Trực chỉ phương)
* '''Lở miệng (Khẩu vẫn sinh thương):''' Vỏ Súc sa đốt tồn tính nghiền mịn, xát vào là khỏi. Đây là bí phương của Thái Y bác sĩ. (Lê cư sĩ Giản dị phương)
* '''Hóc xương cá:''' Súc sa, Cam thảo lượng bằng nhau. Tán mạt, dùng bông bọc lại ngậm nuốt nước, xương sẽ theo đờm mà ra. (Bách nhất tuyển phương)
* '''Nuốt nhầm các vật:''' Như vàng bạc tiền đồng không tiêu, sắc nước Súc sa thật đặc mà uống, vật sẽ hạ xuống. (Nguy thị Đắc hiệu phương)
* '''Tất cả các loại thực độc (Ngộ độc thức ăn):''' Nhân Súc sa tán mạt, uống 1-2 tiền với nước. (Sự lâm quảng ký)
==ÍCH TRÍ TỬ (益智子)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Alpinia oxyphylla Miq.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Tỳ chủ về trí tuệ (trí), vật này năng ích Tỳ vị nên có tên vậy, cùng nghĩa với tên Ích trí của Long nhãn. Xét ghi chép của Tô Thức vân: Vùng Hải Nam sản sinh Ích trí, hoa và quả đều kết bông dài, chia làm ba đốt. Quan sát các đốt trên, trung, dưới để dự báo mùa vụ lúa sớm, lúa chính và lúa muộn được mùa hay thất bát. Nếu đại phong thu thì các đốt đều kết hạt, nếu đại hung thì đều không có hạt, hiếm khi thấy cả ba đốt cùng chín. Thứ này làm thuốc chỉ để trị thủy (tiểu tiện), vốn không giúp ích gì cho trí tuệ, được tên này há chẳng phải vì nó "biết" (tri) trước năm tháng đó sao? Đây cũng là một thuyết, nhưng rốt cuộc vẫn gần với khiên cưỡng.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Ích trí xuất từ nước Côn Lôn và Giao Chỉ, nay các châu quận Lĩnh Nam thường có. Cố Vi trong sách Quảng Châu ký viết: Lá nó giống cây Tương hà (Gừng dại), dài hơn trượng. Trên rễ có cành nhỏ, cao tám chín tấc, không có hoa đài. Thân như mũi tên tre, quả mọc ra từ tâm. Một cành có mười quả mọc chùm, to như quả táo nhỏ. Trong hạt đen vỏ trắng, hạt nhỏ là hạng tốt, ngậm vào giúp cầm nước dãi uế tạp. Hoặc chẻ làm bốn bỏ hạt, lấy vỏ ngoài nấu mật làm bánh tông (tổng tử) mà ăn, vị cay. Đời Tấn, Lư Tuần tặng Lưu Dụ bánh tông Ích trí chính là thứ này.
'''Tô Cung nói:''' Ích trí tử giống quả Liên kiều lúc đầu chưa nở, mầm lá hoa rễ không khác gì Đậu khấu, duy có quả nhỏ hơn thôi.
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Nam phương thảo mộc trạng của Kê Hàm viết: Ích trí tháng Hai nở hoa, liền đó kết quả, tháng Năm tháng Sáu thì chín. Quả nó như đầu bút mà hai đầu nhọn, dài bảy tám phân, trộn trong ngũ vị để uống rượu rất thơm tho, cũng có thể ướp muối phơi khô hoặc làm bánh tông. Xem thế thì lời Cố Vi nói nó không có hoa là sai vậy. Ích trí tử ngày nay hình như hạt táo, mà vỏ và nhân thảy đều giống Thảo đậu khấu.
===NHÂN (仁)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Di tinh hư lậu, tiểu tiện dư lịch (rỉ ra không hết), ích khí an thần, bổ bất túc, an tam tiêu, điều hòa các loại khí. Người đêm đi tiểu nhiều, lấy 24 hạt giã nát, cho thêm muối cùng sắc uống, có hiệu nghiệm kỳ lạ (Khai Bảo). Trị khách hàn phạm vào dạ dày, hòa trung ích khí, và trị người hay chảy nước dãi (Lý Cảo). Ích tỳ vị, lý nguyên khí, bổ thận hư hoạt lịch (Vương Hiếu Cổ). Lãnh khí đau bụng, tâm khí bất túc, mộng tinh, xích trọc (nước tiểu đỏ đục), nhiệt làm thương tâm hệ, các chứng thổ huyết và băng huyết (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Lưu Hoàn Tố nói:''' Ích trí vị cay tính nhiệt, năng khai phát uất kết, làm cho khí được tuyên thông.
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Ích trí vốn là thuốc của Tỳ, chủ trị về Quân hỏa và Tướng hỏa. Trong bài "Tập hương hoàn" thì nhập vào Phế; trong "Tứ quân tử thang" thì nhập vào Tỳ; trong "Đại phượng tủy đan" thì nhập vào Thận. Ba tạng tương hỗ có nghĩa con mẹ liên quan. Nên dùng kèm trong các thuốc bổ, chớ uống quá nhiều.
'''Lý Thời Trân nói:''' Ích trí vị rất cay, là vị thuốc hành Dương thoái Âm vậy, người có khí của Tam tiêu và Mệnh môn suy nhược thì nên dùng. Xét sách Trực chỉ phương của Dương Sĩ Doanh vân: Tâm là mẹ của Tỳ, việc tiến thực (giúp ăn ngon) không chỉ dừng ở hòa Tỳ, hỏa năng sinh thổ, nên đưa thuốc của Tâm vào trong thuốc Tỳ vị thì mới tương đắc. Cho nên người xưa trong thuốc tiến thực thường dùng Ích trí, chính là "trong Thổ bồi thêm Hỏa" vậy. Lại xét sách Di kiên chí của Hồng Mai vân: Tiến sĩ Lục Nghênh vùng Tú Xuyên, hốt nhiên thổ huyết không dứt, khí quyết kinh chấn, cuồng táo trợn mắt, đến đêm khuya muốn lao ra khỏi cửa. Như thế hai đêm, dùng đủ phương thuốc không khỏi. Đêm mộng thấy Quan Âm ban cho một phương, bảo chỉ cần uống một liều là vĩnh trừ bệnh căn. Tỉnh mộng ghi lại, hốt thuốc trị liệu quả nhiên khỏi bệnh. Phương ấy: Dùng nhân Ích trí tử 1 lạng, Chu sa sống 2 tiền, Thanh bì 5 tiền, Xạ hương 1 tiền. Nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 1 tiền với nước sắc Đăng tâm lúc đói.
===【Phụ phương】===
*Mới 8.
* '''Tiểu tiện nhiều lần:''' Do phao khí (khí bàng quang) bất túc. Ích trí tử vùng Lôi Châu (sao muối, bỏ muối), Ô dược vùng Thiên Thai lượng bằng nhau, tán mạt. Dùng bột Sơn dược nấu với rượu làm hồ, viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 70 viên với nước muối lúc đói. Tên là "Súc tuyền hoàn". (Chu thị tập nghiệm phương)
* '''Tâm hư niệu hoạt (đái dầm) và xích bạch nhị trọc:''' Nhân ích trí tử, Bạch phục linh, Bạch truật lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần uống 3 tiền điều với nước sôi.
* '''Bạch trọc bụng đầy:''' Không kể nam nữ. Dùng nhân Ích trí (ngâm nước muối sao), Hậu phác (sao nước gừng) lượng bằng nhau, Gừng 3 lát, Táo 1 quả, sắc nước uống. (Vĩnh loại kiềm phương)
* '''Tiểu tiện xích trọc:''' Nhân ích trí tử, Phục thần mỗi thứ 2 lạng, Viễn chí, Cam thảo (nấu nước) mỗi thứ nửa cân, tán mạt, dùng hồ rượu làm viên bằng hạt ngô đồng, uống 50 viên với nước gừng lúc đói.
* '''Bụng trướng hốt nhiên tả lỵ:''' Ngày đêm không dứt, thuốc khác không hiệu quả, ấy là khí thoát vậy. Dùng nhân Ích trí tử 2 lạng, sắc thật đặc mà uống, lập tức khỏi. (Nguy thị Đắc hiệu phương)
* '''Phụ nữ băng trung:''' Ích trí tử sao nghiền mịn. Dùng nước cơm thêm muối, uống 1 tiền. (Sản bảo)
* '''Hôi miệng (Hương khẩu bích xú):''' Nhân ích trí tử 1 lạng, Cam thảo 2 tiền. Nghiền bột để ngậm. (Kinh nghiệm lương phương)
* '''Lậu thai hạ huyết:''' Nhân ích trí nửa lạng, nhân Súc sa 1 lạng. Tán mạt. Mỗi lần uống 3 tiền với nước sôi lúc đói, ngày 2 lần. (Hồ thị Tế âm phương)
==TẤT BÁT (蓽茇)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Piper longum L.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Tất bát''' (蓽撥).
'''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Tất bát (蓽撥) nên viết là Tất bát (蓽茇), xuất từ sách Nam phương thảo mộc trạng, vốn là tiếng Phạn (phiên ngữ). Bản thảo của Trần Tạng Khí chép là Tất bột (畢勃), Phù Nam truyện chép là Bức bát (逼撥), Đại Minh hội điển chép là Tất bát (畢茇). Lại sách Dậu dương tạp trở của Đoạn Thành Thức vân: Nước Ma Kiệt Đà gọi là Tất bát ly (蓽撥梨), nước Phất Lâm gọi là A lê ha đà (阿梨訶陀).
===【集解 – Tập giải】===
'''Tô Cung nói:''' Tất bát sinh ở nước Ba Tư. Mọc thành bụi, thân lá giống cây Tương tương (Lá lốt), quả nó kết chặt nhỏ, vị cay liệt hơn Tương tương. Người Hồ mang đến dùng làm gia vị thức ăn.
'''Trần Tàng Khí nói:''' Rễ nó tên là '''Tất bột một''' (畢勃沒), giống Sài hồ mà đen cứng.
'''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Lĩnh Nam cũng có, đa số mọc trong rừng trúc. Tháng Giêng nảy mầm mọc bụi, cao ba bốn thước, thân như chiếc đũa. Lá xanh tròn như lá cây Diếp cá (Tấp thái), rộng hai ba tấc như lá dâu, mặt bóng và dày. Tháng Ba nở hoa trắng ở bề mặt. Tháng Bảy kết quả to bằng ngón tay út, dài chừng hai tấc, màu xanh đen, hình như quả dâu tằm (thâm tử) mà dài. Tháng Chín hái về, dùng tro để khử rồi phơi khô. Người phương Nam ưa mùi cay thơm của nó, thường hái lá ăn sống. Lại có loại từ tàu buôn (bặc thượng) mang đến càng cay thơm hơn.
'''Lý Thời Trân nói:''' Đoạn Thành Thức nói hạt Phòng phong vùng Thanh Châu có thể lẫn lộn với Tất bát, thật ra không phải vậy. Tất bát khí vị chính như Hồ tiêu, hình dài một hai tấc, hạt Phòng phong tròn như hạt Rau mùi (Hồ tuy tử), kích thước hoàn toàn không giống nhau.
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng, bỏ cuống lấy đầu quả, ngâm giấm một đêm, sấy khô, dùng dao cạo sạch lớp vỏ hạt kê (tật tử) rồi mới dùng, để tránh làm tổn thương phổi, khiến người ta bị thượng khí.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính rất ấm (đại ôn), không độc.
'''Lý Thời Trân nói:''' Khí nóng vị cay, thuộc Dương, tính nổi (phù). Nhập kinh Thủ và Túc Dương minh. Tuy nhiên tính cay nóng hao tán, năng động hỏa ở Tỳ và Phế. Dùng nhiều làm mờ mắt, dùng làm gia vị thức ăn lại càng không nên dùng nhiều.
===【Chủ trị】===
Ôn trung hạ khí, bổ lưng chân, sát mùi tanh, tiêu thực, trừ dạ dày lạnh, âm sán trưng hà tích tụ (Trần Tạng Khí). Hoắc loạn lãnh khí, đau tim huyết khí (Đại Minh). Thủy tả hư lỵ, nôn nghịch ợ chua (toan tâm), tiết lỵ sau sinh, phối hợp cùng A ngụy rất tốt. Được Kha tử, Nhân sâm, Quế tâm, Can khương phối hợp trị tạng phủ hư lạnh, sôi bụng (trường minh) tiết lỵ, hiệu nghiệm thần kỳ (Lý Cảo). Trị đầu thống, viêm xoang (tị uyên), răng đau.
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Tất bát đi vào trường vị, người bị lãnh khí nôn mửa, tâm phúc trướng đau thì nên dùng. Uống nhiều làm tiêu tán chân khí, khiến người ta bị trường hư hạ trọng (mót rặn).
'''Tô Tụng nói:''' Xét Đường Thái Tông thực lục vân: Năm Trinh Quán, Thượng (Vua) bị khí lỵ lâu ngày chưa khỏi, uống thuốc của danh y không ứng, bèn xuống chiếu tìm phương thuốc. Có vệ sĩ dâng phương dùng sữa bò vàng sắc với Tất bát, vua dùng thấy hiệu quả. Lưu Vũ Tích cũng ghi lại việc này, sau đó thử nghiệm nhiều lần trên người bị hư lạnh thảy đều nghiệm.
'''Lý Thời Trân nói:''' Phương sắc sữa bò xem chi tiết ở mục Sữa bò phần Thú bộ. Tất bát là vị thuốc cốt yếu cho chứng đầu thống, tị uyên, nha thống, là lấy cái vị cay nóng của nó năng nhập kinh Dương minh để tán phù nhiệt vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 2, mới 8.
* '''Lãnh đờm ác tâm (Buồn nôn do đờm lạnh):''' Tất bát 1 lạng, tán mạt, trước khi ăn uống nửa tiền với nước cơm. (Thánh huệ phương)
* '''Bạo tả mình lạnh tự hãn (Tiêu chảy cấp mình lạnh mồ hôi tự ra):''' Thậm chí muốn nôn, tiểu tiện trong, mạch vi nhược, nên dùng bài "Kỷ hàn hoàn". Tất bát, Nhục quế mỗi vị 2 tiền rưỡi, Cao lương khương, Can khương mỗi vị 3 tiền rưỡi. Tán mạt, hồ làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước gừng. (Hòa tễ cục)
* '''Vị lạnh miệng chua chảy nước trong:''' Đau từ dưới tâm liên xuống rốn. Dùng Tất bát nửa lạng, Hậu phác (ngâm nước gừng nướng) 1 lạng. Tán mạt, lấy thịt cá diếc nóng hòa làm viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 20 viên với nước cơm, lập tức hiệu quả. (Dư cư sĩ Tuyển kỳ phương)
* '''Chướng khí thành khối:''' Ở trong bụng không tan. Dùng Tất bát 1 lạng, Đại hoàng 1 lạng, thảy đều dùng sống tán mạt, cho thêm chút Xạ hương, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30 viên với rượu lạnh. (Vĩnh loại kiềm phương)
* '''Phụ nữ huyết khí đau đớn:''' Và hạ huyết không kể lúc nào, kinh nguyệt không đều. Dùng Tất bát (sao muối), Bồ hoàng (sao) lượng bằng nhau tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với rượu ấm lúc đói, hai liều là dứt. Tên là "Nhị thần hoàn". (Trần thị phương)
* '''Thiên đầu thống (Đau nửa đầu):''' Tất bát tán mạt, bảo người bệnh ngậm nước ấm, tùy đau bên trái hay phải mà hít vào mũi bên tương ứng một lần, rất hiệu quả. (Kinh nghiệm hậu phương)
* '''Mũi chảy nước trong (Tị lưu thanh thế):''' Thổi bột Tất bát vào, hiệu quả. (Vệ sinh dị giản phương)
* '''Răng đau do phong sâu:''' Thoa bột Tất bát vào, sắc nước Thương nhĩ súc miệng để trừ nước dãi. Sách Bản thảo quyền độ dùng bột Tất bát, nhân Mộc tiết tử, nghiền thành cao hòa ra hít vào mũi.
===TẤT BỘT MỘT (蓽勃沒 - Rễ Tất bát)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Ngũ lao thất thương, lãnh khí nôn nghịch, tâm phúc trướng đầy, thức ăn không tiêu, âm hãn hàn sán hạch thũng (sưng hạch bẹn), phụ nữ nội lạnh không con, trị lưng thận lạnh, trừ huyết khí (Trần Tạng Khí).
==CỦ TƯƠNG (蒟醬 - Trầu không)==
*(Trích từ sách "Đường Bản Thảo")
'''Tên khoa học:''' Piper betle L.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Lâu tử''' (蔞子 - Quảng chí), '''Thổ Tất bát''' (土蓽茇 - Thực liệu).
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét Kê Hàm vân: Lâu tử có thể dùng điều hòa món ăn nên gọi là Tương (nước chấm), nó vốn cùng loại với Tất bát, nên Mạnh Tiễn trong sách Thực liệu gọi là Thổ Tất bát. Thân leo và lá của nó gọi là Phù lưu đằng (Dây trầu), có chỗ viết là Phù lôi, Phù lưu, chưa rõ nghĩa. Chữ Lâu (蔞) có lẽ do chữ Lưu (留) đọc chệch mà ra.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Tô Cung nói:''' Củ tương sinh ở vùng Ba Thục, bài Thục đô phú có nói vị nó lưu truyền đến vùng Phiên Ngưu (Quảng Đông). Thuộc loài dây leo, lá giống Vương qua (Dưa trời) nhưng dày lớn và bóng mượt, vị cay thơm, quả giống quả dâu tằm, vỏ đen thịt trắng. Vùng Tây Nhung cũng thường mang đến loại nhỏ nhưng vị cay liệt. Người dân vùng Giao Châu, Ái Châu (Việt Nam ngày nay) trồng rất nhiều, thân leo, quả dài lớn, mầm cây gọi là Phù lưu đằng. Hái lá ăn cùng miếng cau miếng trầu (tân lang), vị cay mà thơm vậy.
'''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Quỳ Xuyên, Lĩnh Nam đều có. Xưa Hán Vũ Đế sai Đường Mông đi hiểu dụ Nam Việt. Nam Việt Vương đãi Mông món Củ tương. Mông hỏi thì đáp: "Phía Tây Bắc có sông Tường Giang rộng vài dặm, chảy xuống chân thành Phiên Ngưu". Vũ Đế cảm động vì chuyện này (biết có đường thủy thông thương) mà mở mang vùng Tương, Việt vậy. Lưu Uyên Lâm chú giải bài Thục đô phú vân: Củ tương bám vào cây mà sinh trưởng. Quả như quả dâu tằm, lúc chín màu xanh chính sắc, dài hai ba tấc. Dùng mật và muối ngâm mà ăn, vị cay thơm. Lời này với Tô Cung nói đại đồng tiểu dị. Có lẽ lời Uyên Lâm nói về loại sản sinh ở đất Thục, còn Tô Cung nói về loại ở Hải Nam vậy. Nay người ta chỉ quý Tất bát mà không chuộng Củ tương, nên hiếm người dùng đến.
'''Lý Cảo nói:''' Sách Quảng Châu ký viết: Xuất từ nước Ba Tư, hình trạng quả như quả dâu tằm, loại màu nâu tím là hạng thượng phẩm, loại màu đen là già quá không dùng được. Tuy nhiên gần đây đa phần là màu đen, ít thấy màu nâu. Vùng Kiềm Trung cũng có, hình trạng và mùi vị như nhau.
'''Lý Thời Trân nói:''' Củ tương nay ở vùng Lưỡng Quảng, Điền Nam (Vân Nam) và Xuyên Nam, Du, Lộ... thảy đều có. Mầm lá gọi là Lâu diệp (Lá trầu), mọc leo bám vào cây, rễ to như chiếc đũa. Người vùng đó khi ăn Tân lang (Cau) thường lấy lá này cùng một ít vôi hàu (bạng hôi) nhai cùng, nói là để tị chướng lệ, trừ ác khí trong ngực. Nên có câu ngạn ngữ: "Tân lang Phù lưu, khả dĩ vong ưu" (Cau trầu có nhau, quên hết ưu sầu). Hoa và quả của nó chính là Lâu tử vậy. Xét sách Thảo mộc trạng của Kê Hàm nói Củ tương chính là Tất bát, loại sinh ở nước ngoài to và tím gọi là Tất bát; sinh ở Phiên Ngưu nhỏ và xanh gọi là Lâu tử. Bản thảo dùng chữ Củ (蒟) thay cho chữ Lâu (蔞) là sai. Lâu tử còn có tên là Phù lưu, hình dáng cây hoàn toàn không giống nhau. Thời Trân trộm nghĩ Lâu tử là dây leo, Tất bát là cỏ, tuy cùng loại nhưng không phải cùng một vật, nhưng hoa quả khí vị công dụng thì là một. Họ Kê coi hai vật là một, lại nói Lâu tử không phải Phù lưu, ấy là không biết Phù lưu không chỉ có một loại. Lưu Hân Kỳ trong Giao Châu ký vân: Phù lưu có ba loại: Một là Hoạch Phù lưu, rễ thơm ngon; hai là Phù lưu đằng, vị cũng cay; ba là Nam Phù lưu, lá xanh vị cay, chính là nó vậy.
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm sau khi hái về, dùng dao cạo bỏ vỏ thô, giã nhỏ. Cứ 5 lạng dùng 5 lạng nước cốt gừng tươi trộn đều, đồ (chưng) một ngày, phơi khô mà dùng.
===RỄ, LÁ, QUẢ (根、葉、子)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
'''Lý Thời Trân nói:''' Khí nóng vị cay, thuộc Dương, tính nổi (phù).
===【Chủ trị】===
Hạ khí ôn trung, phá đờm tích (Đường bản). Ho nghịch thượng khí, đau bụng do giun, vị yếu hư tả, hoắc loạn nôn nghịch, giải độc rượu và thức ăn (Lý Cảo). Tán kết khí, tâm phúc lãnh thống, tiêu hóa ngũ cốc (Mạnh Tiễn). Giải chướng lệ, khử tà ác khí trong ngực, làm ấm Tỳ táo thấp (Lý Thời Trân).
===【Phụ phương】===
*Mới 1.
* '''Nha thống (Đau răng):''' Củ tương, Tế tân mỗi vị nửa lạng, Đại bồ kết (Đại tạo giáp) 5 quả (bỏ hạt, mỗi lỗ nhét muối xanh vào rồi đốt tồn tính). Cùng nghiền bột mịn. Thường xuyên xát vào răng, nhổ nước dãi. (Ngự dược viện phương)
==NHỤC ĐẬU KHẤU (肉豆蔻)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Myristica fragrans Houtt.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Nhục quả''' (肉果 - Cương mục), '''Già câu lặc''' (迦拘勒).
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Nhục đậu khấu đặt tên đối xứng với Thảo đậu khấu, vì bỏ vỏ chỉ dùng phần thịt (nhục) bên trong. Loại thịt có màu dầu bóng là tốt, loại khô trắng gầy xốp là hạng kém.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hoa và quả thảy đều giống Đậu khấu nhưng không có hạt cứng bên trong nên gọi là Nhục (thịt).
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tàng Khí nói:''' Nhục đậu khấu sinh ở nước Hồ, tên Hồ là Già câu lặc. Theo tàu buôn mang đến thì có, Trung Quốc không sản sinh. Hình tròn nhỏ, vỏ tím chắc mỏng, thịt bên trong cay nồng.
'''Lôi Công nói:''' Sinh ở Côn Lôn và nước Đại Tần.
'''Tô Tụng nói:''' Nay người dân Lĩnh Nam cũng có trồng. Mùa xuân mọc mầm, mùa hạ đâm cành nở hoa, kết quả giống Đậu khấu, tháng Sáu tháng Bảy hái về.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hoa và quả Nhục đậu khấu tuy hình trạng giống Thảo đậu khấu, nhưng phần hạt và thịt thì khác. Bên ngoài hạt có vết nhăn, bên trong có vân đan xen như vân hạt cau (Tân lang). Rất dễ bị mọt, chỉ có cách sấy khô rồi niêm kín bằng mật thì mới giữ được lâu.
===QUẢ (實)===
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng, phải lấy bột gạo nếp hòa nước sôi bao bọc lấy đậu khấu, đem vùi trong tro nóng nướng chín (vi), bỏ lớp bột đi mà dùng. Chớ để phạm vào đồ sắt.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
* '''Chân Quyền nói:''' Đắng, cay.
* '''Vương Hiếu Cổ nói:''' Nhập kinh Thủ và Túc Dương minh.
===【Chủ trị】===
Ôn trung, tiêu thực chỉ tả, trị tích lạnh tâm phúc trướng đau, hoắc loạn trúng ác, quỷ khí lãnh chú (các chứng đau do lạnh tà), nôn ra nước dãi lạnh khí, trẻ nhỏ nhũ hoắc (nôn trớ sữa) (Khai Bảo). Điều trung hạ khí, khai vị, giải độc rượu, tiêu thức ăn cũ đờm ẩm, chỉ trẻ nhỏ nôn nghịch, không chịu bú sữa, bụng đau (Chân Quyền). Chủ tâm phúc đau do giun, tỳ vị hư lạnh, hư tiết xích bạch lỵ, nghiền bột nấu cháo uống (Lý Cảo). Sưởi ấm tỳ vị, làm chặt đại trường (cầm tiêu chảy).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Đại Minh nói:''' Nhục đậu khấu điều trung hạ khí, tiêu bì ngoại lạc hạ khí (khử khí trệ ở bì phu lạc mạch), hương vị quý trọng, lực lượng càng đặc thù.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Cũng rất giỏi hạ khí, dùng quá nhiều thì làm tiết khí, dùng vừa đủ thì làm hòa bình cái khí.
'''Chu Đan Khê nói:''' Thuộc Kim và Thổ, làm viên để ôn trung bổ Tỳ. Nhật Hoa Tử nói nó hạ khí là vì Tỳ được bổ mà giỏi vận hóa, khí tự hạ xuống vậy. Không giống cái hạ khí nhanh chóng (khoái tiết) của Trần bì, Hương phụ. Khấu thị không xét kỹ thực chất đó mà bảo là không nên uống nhiều (e tiết khí) là chưa thấu đáo.
'''Lý Cơ nói:''' Bệnh lỵ dùng vị này để sáp trường (làm chặt ruột), là vị thuốc trọng yếu trị tiêu chảy do thương nhũ (ăn sữa không tiêu).
'''Lý Thời Trân nói:''' Thổ (Tỳ vị) ưa ấm và thích phương hương, cho nên cái cay ấm của Nhục đậu khấu lý Tỳ vị mà trị nôn tả vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 1, mới 7.
* '''Ấm dạ dày trừ đờm, giúp ăn tiêu thực:''' Nhục đậu khấu 2 quả, Bán hạ (sao nước gừng) 5 tiền, Mộc hương 2 tiền rưỡi, tán mạt, dùng bánh chưng (chưng bính) làm viên bằng hạt cải, mỗi lần sau khi ăn dùng nước bọt nuốt 5-10 viên. (Phổ tế)
* '''Hoắc loạn nôn tả:''' Nhục đậu khấu tán mạt, uống 1 tiền với nước gừng. (Phổ tế phương)
* '''Lâu ngày tiêu chảy không dứt:''' Nhục đậu khấu (nướng vi) 1 lạng, Mộc hương 2 tiền rưỡi, tán mạt, dùng thịt táo làm viên, uống 40-50 viên với nước cơm. Một phương khác: Nhục đậu khấu (vi) 1 lạng, Thục phụ tử 7 tiền, tán mạt làm viên hồ, uống với nước cơm. Một phương nữa: Nhục đậu khấu (vi), Túc xác (vỏ anh túc - sao) lượng bằng nhau tán mạt, viên hồ giấm, uống 40-50 viên với nước cơm. (Bách nhất tuyển phương)
* '''Người già hư tả:''' Nhục đậu khấu 3 tiền (bọc bột mì nướng chín, bỏ bột nghiền nhỏ), Nhũ hương 1 lạng, tán mạt, dùng hồ gạo cũ làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50-70 viên với nước cơm. Đây là phương truyền từ Hầu giáo thụ vùng Thường Châu. (Thụy trúc đường phương)
* '''Trẻ nhỏ tiết tả:''' Nhục đậu khấu 5 tiền, Nhũ hương 2 tiền rưỡi, Sinh khương 5 lát. Cùng sao đến khi đen, bỏ gừng, nghiền thành cao cất dùng, sau đó viên bằng hạt đậu xanh. Tùy tuổi lớn nhỏ mà uống với nước cơm. (Toàn ấu tâm giám)
* '''Tỳ tiết khí lỵ:''' Đậu khấu 1 quả (bọc bột mì pha giấm, nướng cháy vàng, nghiền mạt cả bột), trộn thêm bột Lâu tử (sao nghiền mạt) 1 lạng. Lại lấy gạo cũ sao cháy tán mạt hòa đều. Mỗi lần lấy 2 tiền sắc làm nước uống, điều thêm 3 tiền hai vị bột trên, sáng tối mỗi buổi một lần là khỏi ngay. (Tục truyền tín phương)
* '''Lãnh lỵ bụng đau không ăn được:''' Nhục đậu khấu 1 lạng (bỏ vỏ). Dùng giấm hòa bột mì bọc lại nướng vi, giã mạt. Mỗi lần uống 1 tiền điều với cháo loãng. (Thánh huệ phương)
==BỔ CỐT CHỈ (補骨脂)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Psoralea corylifolia L. (hoặc Cullen corylifolium (L.) Medik.)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Phá cố chỉ''' (破故紙 - Khai Bảo), '''Bà cố chỉ''' (婆固脂 - Dược tính luận), '''Hồ hẹ tử''' (胡韭子).
'''Lý Thời Trân nói:''' Gọi là Bổ cốt chỉ là nói về công năng của nó (bổ vào xương tủy). Người Hồ gọi là Bà cố chỉ, người đời đọc chệch thành Phá cố chỉ vậy. Gọi là Hồ hẹ tử (Hạt hẹ rợ) là vì hình dạng hạt của nó tương tự hạt hẹ, chứ không phải là hạt hẹ ở đất người Hồ.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Mã Chí nói:''' Bổ cốt chỉ sinh ở các châu vùng Lĩnh Nam và nước Ba Tư.
'''Tô Tụng nói:''' Nay vùng núi khe ngoài Lĩnh Nam có rất nhiều, vùng Hợp Châu thuộc Tứ Xuyên cũng có, nhưng thảy đều không tốt bằng loại từ tàu buôn nước ngoài mang đến. Thân cao ba bốn thước, lá nhỏ giống lá Bạc hà, hoa màu hơi tím, quả như hạt mè, tròn dẹt mà đen, tháng Chín thu hái.
'''Đại Minh nói:''' Từ Biểu trong sách Nam Châu ký vân: Đó là hạt Hồ hẹ tử vậy. Loại từ Nam Phiên thì sắc đỏ, loại ở Quảng Nam thì sắc xanh, nhập thuốc phải sao nhẹ mà dùng.
===HẠT (子)===
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Thứ này tính táo có độc, phải dùng rượu ngâm một đêm, vớt ra, dùng nước dòng chảy hướng Đông ngâm ba ngày đêm, sau đó đồ (chưng) từ giờ Tỵ đến giờ Thân, phơi khô dùng. Một phương pháp khác: Sao chung với muối, phơi khô dùng.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính rất ấm (đại ôn), không độc.
* '''Chân Quyền nói:''' Đắng, cay.
* '''Lôi Công nói:''' Ghét Cam thảo.
'''Lý Thời Trân nói:''' Kỵ rau Vân đài (Cải dầu) và các loại huyết; được Hồ đào (Quả óc chó), Hồ ma (Mè) thì tốt.
===【Chủ trị】===
Ngũ lao thất thương, phong hư lãnh khí, cốt tủy thương bại, thận lạnh tinh lưu (di tinh), và huyết khí đọa thai ở phụ nữ (Khai Bảo). Nam giới đau lưng, đầu gối lạnh, bìu dái ẩm ướt, trục các chứng lãnh tý ngoan cố, cầm tiểu tiện, ích cho chứng lạnh trong bụng (Chân Quyền). Hưng phấn dương sự, làm sáng tai mắt (Đại Minh). Trị thận tiết (tiêu chảy do thận hư), thông mệnh môn, làm ấm đan điền, thu liễm tinh thần (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Tô Tụng nói:''' Phá cố chỉ nay người ta thường hợp với Hồ đào mà uống, phương pháp này xuất phát từ Trịnh Tướng quốc thời Đường. Tự thuật vân: "Tôi làm Tiết độ sứ ở Nam Hải, tuổi đã bảy mươi lăm. Đất Việt thấp ẩm, thương tổn nội ngoại, các bệnh cùng phát, dương khí suy tuyệt, uống các loại thuốc bổ nhũ thạch thảy đều không ứng nghiệm. Năm Nguyên Hòa thứ bảy, có thuyền trưởng nước Kha Lăng là Lý Ma Ha biết bệnh trạng của tôi, bèn truyền phương này cùng vị thuốc này. Lúc đầu tôi nghi ngại chưa uống, Ma Ha dập đầu khẩn cầu, tôi bèn uống thử. Qua bảy tám ngày thấy có ứng nghiệm. Từ đó thường xuyên uống, công hiệu thần kỳ. Tháng Hai năm thứ mười, bãi chức về kinh, ghi lại phương này truyền ra." Dùng Phá cố chỉ 10 lạng (lựa sạch vỏ, rửa qua phơi khô, giã rây thật mịn), nhân Hồ đào 20 lạng (ngâm nước sôi bỏ vỏ, nghiền mịn như bùn). Cho bột thuốc vào, dùng mật tốt hòa lại như mạch nha, đựng trong bình sứ. Sáng sớm dùng 2 hợp rượu ấm điều một thìa thuốc mà uống, rồi ăn cơm để đè thuốc xuống. Người không uống được rượu thì dùng nước chín ấm mà điều. Uống lâu ngày thì kéo dài tuổi thọ, ích khí, đẹp lòng sáng mắt, bổ thêm gân xương. Chỉ cấm rau Cải dầu và huyết cừu, ngoài ra không kỵ thứ gì. Vật này vốn từ ngoại bang theo tàu biển mà đến, không phải thứ có ở Trung Hoa. Người Tây phiên gọi là Bổ cốt chỉ, đọc chệch thành Phá cố chỉ vậy. Vương Thiệu Nhan trong sách Tục truyền tín phương chép sự việc này rất tường tận nên ghi lại đây.
'''Lý Thời Trân nói:''' Phương này cũng có thể làm thành viên, uống với rượu ấm. Xét sách Phương ngoại kỳ phương của Bạch Phi Hà vân: Phá cố chỉ thuộc Hỏa, thu liễm thần minh, năng thông hỏa của Tâm bào với hỏa của Mệnh môn. Cho nên nguyên dương kiên cố, cốt tủy đầy đủ, tính sáp dùng để trị chứng thoát (di tinh, tiêu chảy). Hồ đào thuộc Mộc, nhuận táo dưỡng huyết. Huyết thuộc Âm, ghét táo, nên lấy dầu (của hồ đào) để nhuận. Trợ cho Phá cố chỉ là cái diệu dụng Mộc Hỏa tương sinh. Nên tục ngữ có câu: "Phá cố chỉ không có Hồ đào như sứa không có tôm vậy". Lại nữa, Phá cố chỉ ghét Cam thảo, mà trong bài "Thanh nga hoàn" của sách Thụy trúc đường phương lại thêm vào, vì sao? Há chẳng phải Cam thảo năng điều hòa bách dược, tuy ghét mà hóa không ghét chăng? Lại Hứa Thúc Vi học sĩ trong Bản sự phương vân: Tôn chân nhân nói "Bổ Thận không bằng bổ Tỳ", tôi lại nói "Bổ Tỳ không bằng bổ Thận". Thận khí hư nhược thì dương khí suy liệt, không thể hâm hấp (huân chưng) tỳ vị. Tỳ vị khí lạnh khiến lồng ngực bĩ tắc, không ăn uống được, vận hóa chậm chạp, hoặc bụng sườn trướng đầy, hoặc nôn mửa đờm dãi, hoặc sôi bụng tiêu chảy. Ví như đồ vật trong nồi mà không có sức lửa, tuy cả ngày không chín, sao có thể tiêu hóa được? Bài "Nhị thần hoàn" trong sách Tế sinh trị tỳ vị hư hàn tiết tả, dùng Phá cố chỉ bổ Thận, Nhục đậu khấu bổ Tỳ. Hai thuốc tuy cùng bổ nhưng không có tính luân chuyển (oán toàn), nên thường gia thêm Mộc hương để thuận khí, giúp luân chuyển làm trống kho vựa (thương lẫm - dạ dày). Kho vựa có trống thì mới nhận được vật mới. Dùng nhiều lần thấy hiệu nghiệm, không thể không biết.
===【Phụ phương】===
*Cũ 2, mới 14.
* '''Bổ cốt chỉ hoàn:''' Trị hạ nguyên hư bại, chân tay nặng nề, đêm ra nhiều mồ hôi trộm, do túng dục gây ra. Thuốc này làm mạnh gân xương, ích nguyên khí. Bổ cốt chỉ 4 lạng (sao thơm), Thỏ ty tử 4 lạng (đồ rượu), nhân Hồ đào 1 lạng (bỏ vỏ), Nhũ hương, Một dược, Trầm hương mỗi vị nghiền nhỏ 2 tiền rưỡi, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 20-30 viên lúc đói với nước muối hoặc rượu ấm. Từ ngày Hạ chí uống đến Đông chí, mỗi ngày một lần. Đây là phương Thái úy Trương Thọ thời Đường Tuyên Tông làm quan ở Quảng Châu có được từ người Nam Phiên. (Hòa tễ phương)
* '''Nam nữ hư lao:''' Nam nữ ngũ lao thất thương, hạ nguyên lạnh lâu ngày, các bệnh phong, tứ chi đau đớn, giữ nhan sắc mạnh khí lực, làm đen râu tóc. Bổ cốt chỉ 1 cân, ngâm rượu một đêm, phơi khô, rồi dùng 1 thăng vừng đen (ô du ma) trộn cùng sao, đợi hạt mè hết tiếng nổ thì sảy bỏ mè, chỉ lấy Bổ cốt chỉ tán mạt, dùng hồ mì nấu giấm làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 20-30 viên lúc đói với rượu ấm hoặc nước muối. (Kinh nghiệm hậu phương)
* '''Thận hư yêu thống (Đau lưng do thận hư):''' Sách Kinh nghiệm hậu phương dùng Phá cố chỉ 1 lạng sao tán mạt, uống 3 tiền với rượu ấm, thần diệu. Hoặc gia thêm Mộc hương 1 tiền.
* '''Thanh nga hoàn:''' (Hòa tễ cục phương) Trị thận khí hư nhược, phong lạnh xâm nhập, hoặc huyết khí tương bác, đau lưng như gãy, cúi ngửa khó khăn, hoặc do lao dịch thương thận, thấp kém đau lưng, té ngã thương tổn, phong hàn khách bác, khí trệ không tan thảy đều gây đau lưng, hoặc lưng nặng như có vật đeo. Dùng Phá cố chỉ (ngâm rượu sao) 1 cân, Đỗ trọng (bỏ vỏ ngâm nước gừng sao) 1 cân, nhân Hồ đào (bỏ vỏ) 20 quả, tán mạt, dùng tỏi giã nát 1 lạng làm cao, hòa viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 20 viên với rượu ấm lúc đói. Phụ nữ uống với nước giấm loãng. Thường uống giúp mạnh gân xương, hoạt huyết mạch, đen râu tóc, đẹp nhan sắc.
* '''Nhâm thần yêu thống (Đau lưng khi mang thai):''' Thông khí tản: Dùng Phá cố chỉ 2 lạng, sao thơm tán mạt. Trước hết nhai nửa quả hồ đào, rồi dùng rượu ấm điều 2 tiền bột thuốc uống lúc đói. Thuốc này thần diệu. (Phụ nhân lương phương)
* '''Định tâm bổ thận:''' Dưỡng huyết phản tinh hoàn: Phá cố chỉ (sao) 2 lạng, Bạch phục linh 1 lạng (tán mạt), Một dược 5 tiền. Dùng rượu không tro ngập một đốt ngón tay, nấu tan rồi hòa bột làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước trắng. Xưa có người uống bài này đến già không suy. Vì Cố chỉ bổ Thận, Phục linh bổ Tâm, Một dược dưỡng Huyết, ba thứ vững mạnh thì thân tự an. (Chu thị tập nghiệm phương)
* '''Tinh khí không cố (Di mộng tinh):''' Phá cố chỉ, muối xanh lượng bằng nhau cùng sao tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm. (Tam nhân phương)
* '''Tiểu tiện vô độ:''' Do thận khí hư hàn. Phá cố chỉ 10 lạng (đồ rượu), Tiểu hồi hương 10 lạng (sao muối), tán mạt, hồ rượu làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 100 viên với rượu muối. Hoặc dùng bột này rắc vào cật lợn nướng ăn. (Phổ tế phương)
* '''Trẻ nhỏ di niệu (Đái dầm):''' Do bàng quang lạnh. Đêm thuộc Âm nên tiểu tiện không kìm được. Phá cố chỉ sao tán mạt, mỗi đêm uống 5 phân với nước nóng. (Anh đồng bách vấn)
* '''Dương vật không xìu (Ngọc quế bất nuy):''' Tinh chảy không dứt, lúc lúc như kim châm, bóp vào thì giòn đau, gọi là Thận lậu. Dùng Phá cố chỉ, Hạt hẹ (cửu tử) mỗi thứ 1 lạng tán mạt. Mỗi lần dùng 3 tiền, 2 bát nước sắc còn 6 phân uống, ngày 3 lần, khỏi thì thôi. (Hạ Tử Ích Kỳ phương)
* '''Tỳ thận hư tả:''' Nhị thần hoàn: Dùng Phá cố chỉ (sao) nửa cân, Nhục đậu khấu (dùng sống) 4 lạng, tán mạt, dùng thịt táo béo nghiền cao hòa viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50-70 viên với nước cơm lúc đói. Sách Bản sự phương gia thêm Mộc hương 2 lạng, gọi là Tam thần hoàn.
* '''Thủy tả lâu ngày:''' Phá cố chỉ (sao) 1 lạng, Túc xác (vỏ anh túc - sao) 4 lạng, tán mạt, luyện mật làm viên bằng quả trứng. Mỗi lần uống 1 viên, sắc cùng gừng và táo để uống. (Bách nhất tuyển phương)
* '''Nha thống (Đau răng):''' Do thận hư lâu ngày. Bổ cốt chỉ 2 lạng, muối xanh nửa lạng, sao nghiền xát vào răng. (Ngự dược viện phương)
* '''Phong trùng nha thống (Sâu răng):''' Đau lên tận đầu. Bổ cốt chỉ (sao) nửa lạng, Nhũ hương 2 tiền rưỡi. Tán mạt xát vào. Hoặc làm viên nhét vào lỗ sâu. Tự dùng rất hiệu quả. (Truyền tín thích dụng phương)
* '''Đau lưng do té ngã:''' Ứ huyết ngưng trệ. Phá cố chỉ (sao), Tiểu hồi hương (sao), Quế chi lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với rượu nóng. Cố chỉ chủ trị đau lưng hành huyết. (Trực chỉ phương)
==KHƯƠNG HOÀNG (薑黃 - Nghệ vàng)==
*(Trích từ sách "Đường Bản Thảo")
'''Tên khoa học:''' Curcuma longa L.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
*(Phần này văn bản gốc để trống)
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Tô Cung nói:''' Rễ và lá Khương hoàng đều giống Uất kim. Hoa mọc từ rễ vào mùa xuân, mọc cùng lúc với mầm cây, đến mùa hạ thì hoa tàn và không kết hạt. Rễ có ba màu: vàng, xanh, trắng. Cách chế biến cũng giống như Uất kim. Người Tây Nhung gọi là sinh khương (gừng sống) nhưng khác biệt mà thôi.
'''Trần Tạng Khí nói:''' Khương hoàng thực sự là loại gừng già (lão khương) đã trồng trên ba năm, năng khai hoa. Hoa mọc ở sát gốc rễ, giống hệt cây Tương hà. Đốt rễ cứng rắn, khí vị cay nồng. Nơi nào trồng gừng đều có thể có, nhưng rốt cuộc vẫn khó tìm được. Cũng có loại từ Tây Phiên mang đến, tương tự như Uất kim và Truật dược. Như lời Tô Cung nói, đó là Truật dược chứ không phải Khương hoàng. Lại nói Khương hoàng là Uất kim, Uất kim là Hồ nghệ. Nếu vậy thì ba vật không có gì khác biệt, tên gọi lẫn lộn, thảy đều gọi là Uất kim, thì công năng và hình trạng đáng lẽ không khác nhau. Nhưng nay Uất kim vị đắng hàn, sắc đỏ, chủ trị bệnh nhiệt ở ngựa; Khương hoàng vị cay ấm, sắc vàng; Truật dược vị đắng sắc xanh. Ba vật khác nhau, cách dùng cũng riêng biệt.
'''Đại Minh nói:''' Loại sinh ở Hải Nam chính là Bồng nga truật (Nghệ đen); loại sinh ở Giang Nam chính là Khương hoàng.
'''Tô Tụng nói:''' Khương hoàng nay ở các vùng Giang Nam, Quảng Nam, Xuyên Thục đều có nhiều. Lá màu xanh lục, dài chừng một hai thước, rộng ba bốn tấc, có vân chéo như lá Hồng tiêu nhưng nhỏ hơn. Hoa màu hồng trắng, đến tiết Trung thu thì dần héo tàn. Cuối xuân mới mọc, hoa nở trước, lá mọc sau, không kết quả. Rễ uốn khúc màu vàng, giống gừng sống nhưng tròn, có đốt. Tháng Tám đào lấy rễ, thái phiến phơi khô. Người đất Thục dùng để trị khí trướng và bại huyết công tâm ở phụ nữ sau sinh, rất hiệu nghiệm. Người man di ăn sống, nói là có thể trừ tà lánh ác. Xét thấy Uất kim, Khương hoàng, Truật dược ba vật này gần giống nhau, Tô Cung không phân biệt được nên coi như một vật. Trần Tạng Khí dựa vào sắc và vị để phân biệt ba thứ, lại nói Khương hoàng là gừng già ba năm sinh ra. Những năm gần đây vùng Biện Đô trồng nhiều gừng, thường có Khương hoàng tươi đem bán, đó chính là gừng già. Người trong chợ mua về ăn, nói là trị khí (trị khí trệ) tốt nhất. Các phương thuốc lớn (đại phương) cũng thường dùng đến. Lại có Liêm khương cũng cùng loại này, nhưng tự nó là một vật riêng.
'''Lý Thời Trân nói:''' Gần đây loại dẹt như hình gừng khô thì gọi là Phiến tử Khương hoàng (Nghệ miếng); loại tròn như bụng con ve thì gọi là Thiền đới Uất kim, thảy đều có thể ngâm nước để nhuộm màu. Hình trạng của Truật tuy giống Uất kim nhưng màu không vàng vậy.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), đắng (khổ), tính rất lạnh (đại hàn), không độc.
* '''Trần Tạng Khí nói:''' Vị cay ít đắng nhiều, tính nóng không lạnh. Nói "đại hàn" là sai vậy.
===【Chủ trị】===
Tâm phúc kết tích, chứng chú ngỗ (trúng tà), hạ khí phá huyết, trừ phong nhiệt, tiêu ung thũng, công lực mạnh liệt hơn Uất kim (Đường bản). Trị trưng hà huyết khối, thông kinh nguyệt, trị huyết ứ do vấp ngã thương tổn, chỉ bạo phong thống (đau do phong phát đột ngột) và lãnh khí, giúp ăn ngon (hạ thực) (Đại Minh). Khử tà lánh ác, trị khí trướng, bại huyết sau sinh công vào tâm (Tô Tụng). Trị phong tý đau cánh tay (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Khương hoàng, Uất kim, Truật dược ba vật này hình dáng công dụng đều gần giống nhau. Nhưng Uất kim nhập vào Tâm để trị huyết; Khương hoàng kiêm nhập vào Tỳ và kiêm trị về Khí; Truật dược thì nhập vào Can và kiêm trị cái "huyết trong khí", đó là điểm khác biệt vậy. Cổ phương "Ngũ tý thang" dùng Phiến tử Khương hoàng để trị cánh tay đau do phong hàn thấp khí. Đới Nguyên Lễ trong sách Yếu quyết vân: Phiến tử Khương hoàng năng nhập vào cánh tay để trị đau, qua đó có thể biết nó kiêm lý cái "khí trong huyết" vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 2, mới 2.
* '''Tâm thống nan nhẫn (Đau tim khó chịu nổi):''' Khương hoàng 1 lạng, Quế 3 lạng. Tán mạt. Uống 1 tiền với nước giấm. (Kinh nghiệm hậu phương)
* '''Thai hàn phúc thống (Trẻ nhỏ đau bụng do thai hàn):''' Khóc đêm, nôn sữa, đại tiện phân xanh, trạng như kinh giật, ra mồ hôi lạnh. Khương hoàng 1 tiền, Một dược, Mộc hương, Nhũ hương mỗi thứ 2 tiền. Tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt khiếm thực. Mỗi lần uống 1 viên, dùng nước sắc Câu đằng hòa tan mà uống. (Hòa tễ phương)
* '''Sản hậu huyết thống hữu khối (Phụ nữ sau sinh đau bụng có cục máu bầm):''' Dùng Khương hoàng, Quế tâm lượng bằng nhau, tán mạt, uống một thìa phương thốn với rượu. Máu xấu xuống hết là khỏi. (Sản bảo)
==UẤT KIM (鬱金 - Nghệ mười giờ / Củ nghệ rễ)==
*(Trích từ sách "Đường Bản Thảo")
'''Tên khoa học:''' Curcuma aromatica Salisb. (Hoặc Curcuma wenyujin Y.H. Chen & C. Ling)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Mã thuật''' (馬術).
'''Chu Đan Khê nói:''' Uất kim không có hương thơm nồng nhưng tính nhẹ nhàng bay bổng (khinh dương), có khả năng dẫn dắt tửu khí đạt đến nơi cao xa. Người xưa dùng để trị các chứng uất át không thăng lên được, e rằng tên gọi cũng từ đó mà ra.
'''Lý Thời Trân nói:''' Rượu hòa với Uất sưởng (loại rượu thơm tế lễ), người xưa nói đó là hương hoa Uất kim sản sinh từ nước Đại Tần, duy có Trịnh Tiều trong Thông chí nói chính là loại Uất kim này. Nước Đại Tần thời Tam đại chưa thông với Trung Quốc, làm sao có cỏ này? La Nguyện trong Nhĩ nhã dực cũng nói là rễ này, hòa vào rượu khiến rượu vàng như vàng, nên gọi là "hoàng lưu". Các thuyết này đều thông suốt. Rễ này hình trạng đều giống Nga truật.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Tô Cung nói:''' Uất kim sinh ở đất Thục và vùng Tây Nhung. Mầm giống Khương hoàng, hoa trắng chất đỏ, cuối thu đâm cành từ tâm nhưng không kết quả. Rễ nó màu vàng đỏ, lấy các củ con ở bốn quanh bỏ vỏ sấy khô, dùng làm thuốc cho ngựa, năng phá huyết mà bổ, người Hồ gọi là Mã thuật. Loại ở Lĩnh Nam có quả giống Tiểu đậu khấu, không ăn được.
'''Tô Tụng nói:''' Nay các châu quận ở Quảng Nam, Giang Tây cũng có, nhưng không tốt bằng loại ở đất Thục. Tháng Tư bắt đầu mọc mầm giống Khương hoàng, đúng như lời Tô Cung nói.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Uất kim không thơm. Người nay dùng để nhuộm quần áo phụ nữ sắc thái rất tươi sáng, nhưng không chịu được nắng gắt, hơi có khí vị của Uất kim.
'''Lý Thời Trân nói:''' Uất kim có hai loại: Uất kim hương là dùng hoa, xem ở mục riêng; loại này là dùng rễ. Mầm nó như gừng, rễ to nhỏ như ngón tay, loại dài chừng một tấc, thể tròn có lằn ngang như bụng con ve, ngoài vàng trong đỏ. Người ta dùng ngâm nước nhuộm màu, cũng hơi có mùi thơm.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), đắng (khổ), tính hàn, không độc.
* '''Trương Nguyên Tố nói:''' Khí và vị đều đậm, thuộc thuần Âm.
* '''Độc Cô Thao nói:''' Tro của nó có thể kết được hạt sa (trong luyện đan).
===【Chủ trị】===
Huyết tích hạ khí, sinh cơ chỉ huyết, phá ác huyết, huyết lâm niệu huyết, kim sang (vết thương do khí giới) (Đường bản). Dùng đơn độc trị phụ nữ túc huyết khí tâm thống (đau tim do máu cũ trệ), lãnh khí kết tụ, dùng giấm ấm mài uống. Cũng trị chứng ngựa bị chướng bụng (Chân Quyền). Làm mát Tâm (lương tâm) (Trương Nguyên Tố). Trị dương độc nhập vào dạ dày, đi ngoài ra máu đau đớn liên miên (Lý Cảo). Trị huyết khí đau bụng tâm phúc, sản hậu bại huyết xông lên tim muốn chết, mất tâm điên cuồng, cổ độc (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Chu Đan Khê nói:''' Uất kim thuộc Hỏa, thuộc Thổ và Thủy, tính nó nhẹ nhàng đi lên phía trên, trị thổ huyết, nục huyết (chảy máu cam), khạc ra máu tanh, và kinh mạch nghịch hành. Đều nên dùng bột Uất kim thêm nước cốt lá hẹ, nước cốt gừng, nước tiểu trẻ em (đồng niệu) cùng uống, máu sẽ tự thanh trở lại. Trong đờm có máu thì thêm nước tre (trúc lịch). Lại nếu chảy máu cam đi lên phía trên, dùng Uất kim, nước cốt hẹ thêm vào bài Tứ vật thang mà uống.
'''Lý Thời Trân nói:''' Uất kim nhập vào Tâm và Tâm bào lạc, trị các bệnh về máu. Sách Kinh nghiệm phương trị chứng thất tâm điên cuồng, dùng Uất kim thật 7 lạng, Minh phàn 3 lạng, tán mạt, dùng hồ mỏng làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 50 viên với nước trắng. Có người phụ nữ bị điên cuồng mười năm, gặp người truyền cho phương này. Ban đầu uống thấy trong tâm ngực như có vật gì thoát đi, thần khí nhẹ nhõm, uống tiếp thì tỉnh táo hẳn. Đó là do kinh sợ, lo âu, đờm huyết kết tụ ở tâm khiếu gây ra. Uất kim nhập vào Tâm để khử ác huyết, Minh phàn hóa đờm ngoan cố vậy.
Bàng An Thường trong Thương hàn luận vân: Đậu chẩn (mụn đậu) bắt đầu có nốt trắng, bỗng nhiên thụt vào trong bụng, dần chuyển màu tím đen, không có mủ, ngày đêm kêu gào loạn xạ. Dùng một củ Uất kim, Cam thảo 2 tiền rưỡi, nửa bát nước sắc đến cạn, bỏ cam thảo, thái phiến sấy khô nghiền bột, cho thêm nửa tiền Long não thật (sao). Mỗi lần dùng 1 tiền, lấy 5-7 giọt máu lợn sống hòa với nước múc dưới giếng (tân cấp thủy) mà uống. Không quá 2 liều, người bệnh nặng thì độc khí thoát ra từ lòng bàn tay bàn chân như hình dạng ung nhọt thì sẽ khỏi. Đây là lúc năm phần chết một phần sống vậy.
Lại sách Phạm Thạch Hồ văn tập vân: Vùng Lĩnh Nam có nạn "Thiêu sinh" (một loại cổ độc). Trong ăn uống thực hành phép yểm thắng, cá thịt có thể sống lại trong bụng người mà khiến người ta chết, rồi dùng âm binh sai khiến nhà đó. Mới đầu cảm thấy đau bụng ngực, ngày hôm sau đau như châm chích, mười ngày sau thì vật sống đã thành hình trong bụng. Hễ đau vùng ngực cách thì dùng Thăng ma hoặc Đạm phàn để nôn ra. Nếu đau dưới vùng cách, gấp dùng nước cơm điều 2 tiền bột Uất kim mà uống, sẽ tả ra vật ác. Hoặc hợp dùng Thăng ma, Uất kim mà uống, không nôn thì sẽ hạ ra. Thị lang Lý Tốn Nham khi làm Thôi quan ở Lôi Châu, xét án mà được phương này, cứu sống rất nhiều người vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 3, mới 10.
* '''Thất tâm điên cuồng:''' Phương xem ở phần Phát minh phía trên.
* '''Đậu độc nhập tâm:''' Phương xem ở phần Phát minh phía trên.
* '''Quyết tâm khí thống (Đau tim do khí quyết) không thể nhịn nổi:''' Uất kim, Phụ tử, Can khương lượng bằng nhau, tán mạt, dùng hồ giấm làm viên bằng hạt ngô đồng, lấy Chu sa làm áo. Mỗi lần uống 30 viên, nam giới dùng rượu, nữ giới dùng giấm mà uống. (Kỳ hiệu phương)
* '''Sản hậu tâm thống (Đau tim sau sinh):''' Huyết khí xông lên muốn chết. Uất kim (đốt tồn tính, tán mạt) 2 tiền, một ngụm giấm gạo, điều uống lập tức tỉnh. (Tụ trân phương)
* '''Tự hãn không dứt (Mồ hôi tự chảy):''' Bột Uất kim, lúc nằm điều thoa lên trên vú. (Tập giản phương)
* '''Nục huyết thổ huyết:''' Xuyên uất kim tán mạt, uống 2 tiền với nước giếng. Nặng thì uống thêm. (Lê cư sĩ Dị giản phương)
* '''Dương độc hạ huyết:''' Nhiệt khí nhập vào dạ dày, đau không thể nhịn. Uất kim 5 củ lớn, Ngưu hoàng to bằng hạt bồ kết. Tán mạt. Mỗi lần dùng 1 chén nước tương giấm (giấm tương thủy), cùng sắc ba dạo, uống ấm. (Xuân Dụng Hòa Bí bảo phương)
* '''Niệu huyết bất định (Đi tiểu ra máu không dứt):''' Bột Uất kim 1 lạng, Hành trắng 1 nắm, 1 bát nước sắc còn 3 phần, uống ấm, ngày 3 lần. (Kinh nghiệm phương)
* '''Phong đờm ủng trệ:''' Uất kim 1 phần, Lê lô 10 phần, tán mạt. Mỗi lần uống 1 tự (khoảng 1g), dùng nước tương ấm điều uống. Lại lấy một chén nước tương súc miệng, ăn cơm để đè thuốc xuống. (Kinh nghiệm hậu phương)
* '''Thiêu sinh cổ độc:''' Phương xem ở phần Phát minh phía trên.
* '''Trúng độc thạch tín (Phê sương):''' Bột Uất kim 2 tiền. Cho thêm chút mật ong, điều với nước lạnh uống. (Sự lâm quảng ký)
* '''Trĩ sang thũng thống (Trĩ sưng đau):''' Bột Uất kim, hòa nước thoa vào, lập tức tiêu sưng. (Y phương trích yếu)
* '''Tai trong đau nhức:''' Bột Uất kim 1 tiền, hòa nước, rót vào trong tai rồi lập tức đổ ra ngay. (Thánh tế tổng lục)
==BỒNG NGA TRUẬT (蓬莪朮 - Nghệ đen)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Curcuma zedoaria (Christm.) Roscoe
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Truật dược''' (朮藥).
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Mã Chí nói:''' Bồng nga truật sinh ở Tây Nhung và các châu vùng Quảng Nam. Lá giống lá cây Tương hà (Gừng dại), quả giống quả dâu tằm khô. Truật mọc ở dưới rễ, hạt mọc song hành một tốt một xấu, hạt xấu có độc. Người Tây Nhung khi hái thường thả cừu ra cho ăn, hạt nào cừu không ăn thì bỏ đi.
'''Trần Tạng Khí nói:''' Một tên là Bồng nga, màu đen; hai tên là Truật, màu vàng; ba tên là Ba sát, vị ngọt.
'''Đại Minh nói:''' Chính là rễ Khương hoàng ở phương Nam vậy. Loại sinh ở Hải Nam gọi là Bồng nga truật.
'''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Giang Chiết đôi khi có, tháng Ba mọc mầm ở ngoài đồng nội. Thân to bằng đồng tiền, cao hai ba thước. Lá màu xanh trắng, dài một hai thước, rộng chừng năm tấc, rất giống lá Tương hà. Tháng Năm nở hoa kết bông màu vàng, đầu hoa hơi tím. Rễ như gừng sống, mà Truật nằm ở dưới rễ, hình như trứng gà trứng vịt.
===RỄ (根)===
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng, ở trong chậu cát dùng giấm mài cho hết, sau đó đem hơ bên lửa cho khô mà dùng.
'''Tô Tụng nói:''' Vật này cực kỳ cứng rắn, khó giã nát, khi dùng nên vùi trong tro nóng nướng cho thấu, thừa lúc còn nóng mà giã thì sẽ vụn ra như bột.
'''Lý Thời Trân nói:''' Người nay đa phần dùng giấm sao hoặc nấu chín để nhập thuốc, là lấy ý dẫn thuốc vào huyết phận vậy.
===【Khí vị】===
Vị đắng (khổ), cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
'''Đại Minh nói:''' Được rượu, giấm thì tốt.
===【Chủ trị】===
Đau bụng tâm phúc, trúng ác chú ngỗ (trúng tà), hoắc loạn lãnh khí, nôn nước chua, giải độc, thức ăn không tiêu, mài với rượu mà uống. Lại liệu trị phụ nữ huyết khí kết tích, nam giới bôn đồn (Khai Bảo). Phá trưng tích lạnh khí, mài với rượu giấm mà uống (Chân Quyền). Trị tất cả các chứng về khí, khai vị tiêu thực, thông kinh nguyệt, tiêu ứ huyết, chỉ thống do vấp ngã thương tổn, hạ huyết và ác huyết nội tổn (Đại Minh). Thông vào kinh Gan chỗ tụ huyết (Vương Hiếu Cổ).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Tô Tụng nói:''' Bồng nga truật, cổ phương không thấy dùng. Nay các y gia trị tích tụ các loại khí, coi đây là vị thuốc trọng yếu nhất. Dùng chung với Kinh tam lăng rất tốt, trong thuốc phụ khoa cũng dùng nhiều.
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Bồng nga sắc đen, phá cái "huyết trong khí", nhập vào thuốc hành khí phát ra các mùi thơm. Tuy là thuốc tả (tống hạ), nhưng cũng năng ích khí, nên Tôn Thượng dược dùng trị chứng khí đoản (hụt hơi) không tiếp nối được, và các bài Đại tiểu thất hương hoàn, Tập hương hoàn thảy đều dùng vị này. Lại là thuốc thuộc huyết phận của kinh Can.
'''Lý Thời Trân nói:''' Uất kim nhập Tâm, chuyên trị bệnh ở huyết phận; Khương hoàng nhập Tỳ, kiêm trị cái "khí trong huyết"; Nga truật nhập Can, trị cái "huyết trong khí", đó là điểm khác biệt nhỏ. Xét sách Tư sinh kinh của Vương Chấp Trung vân: Chấp Trung lâu ngày bị đau tâm tỳ, uống thuốc tỉnh tỳ phản trướng. Dùng cách của Kỳ Vực chép: lấy Bồng nga truật bọc bột mì nướng chín nghiên mạt, dùng nước cùng rượu giấm sắc uống, lập tức khỏi. Ấy là vì thuốc này năng phá được cái huyết trong khí vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 2, mới 6.
* '''Tất cả lãnh khí, đau thắt tim:''' Phát bệnh thì muốn chết. Người đau tâm phúc lâu ngày hay tái phát, phương này có thể tiệt căn. Bồng nga truật 2 lạng (nấu giấm), Mộc hương 1 lạng (nướng). Tán mạt. Mỗi lần uống nửa tiền với nước giấm loãng. (Vệ sinh gia bảo phương)
* '''Tiểu trường tạng khí:''' Đau bất thình lình không nhịn nổi. Nga truật nghiền mạt, uống 1 tiền với rượu hành lúc đói. (Hộ mệnh phương)
* '''Phụ nữ huyết khí du tẩu tác thống (đau di chuyển):''' Và đau lưng. Nga truật, Can tất mỗi thứ 2 lạng, tán mạt, uống 2 tiền với rượu. Đau lưng thì uống với rượu hạt đào. (Phổ tế phương)
* '''Trẻ nhỏ đau bụng quặn (bàn trường nội câu thống):''' Nga truật nửa lạng, dùng A ngụy 1 tiền hòa nước ngâm một ngày đêm, sấy khô nghiền mạt. Mỗi lần uống 1 tự (khoảng 1g) với nước Tô diệp. (Bảo ấu đại toàn)
* '''Trẻ nhỏ khí thống:''' Bồng nga truật nướng chín tán mạt. Uống 1 tiền lớn với rượu nóng. (Thập toàn bác cứu phương)
* '''Thượng khí suyễn cấp:''' Bồng nga truật 5 tiền, rượu 1 chén rưỡi, sắc còn 8 phân uống. (Bảo sinh phương)
* '''Khí đoản bất tiếp (Hụt hơi):''' Bài Chính nguyên tán: Trị khí không tiếp nối được, kiêm trị hoạt tiết và tiểu nhiều. Vương Thừa tướng uống nghiệm. Dùng Bồng nga truật 1 lạng, Kim linh tử (bỏ hạt) 1 lạng, tán mạt, cho thêm Bồng sa 1 tiền (đã luyện qua nghiền mịn). Mỗi lần uống 2 tiền với rượu ấm hoặc nước muối lúc đói. (Bí bảo phương)
* '''Toàn thân nổi bỏng nước (liệu pháo):''' Phương xem ở mục Kinh tam lăng.
==KINH TAM LĂNG (荊三稜)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo")
'''Tên khoa học:''' Sparganium stoloniferum (Graebn.) Buch.-Ham. ex Juz. (Hắc tam lăng)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Kinh tam lăng''' (京三稜 - Khai Bảo), '''Thảo tam lăng''' (草三稜 - Khai Bảo), '''Kê trảo tam lăng''' (雞爪三稜 - Khai Bảo), '''Hắc tam lăng''' (黑三稜 - Đồ kinh), '''Thạch tam lăng'''.
'''Tô Tụng nói:''' Tam lăng là vì lá có ba cạnh (tam lăng). Sinh ở đất Kinh Sở nên gọi là Kinh tam lăng để ghi địa danh. Sách Khai Bảo bản thảo chép là Kinh (京 - kinh đô) là nhầm. Lại có mục Thảo tam lăng, nói chính là Kê trảo tam lăng, sinh ở đất Thục. Tháng Hai, tháng Tám thu hái. Thực ra chúng cùng một loại, tùy hình dáng mà đặt tên nên xếp chung vào đây.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Tam lăng tổng cộng có ba, bốn loại. Kinh tam lăng màu vàng thể nặng, trạng như cá giếc (tức ngư) mà nhỏ. Lại có Hắc tam lăng, trạng như quả ô mai mà hơi lớn, thể nhẹ có râu, liên kết chằng chịt, màu như sơn, người Thục dùng dệt đồ dùng, còn gọi là cây Châm ( ). Công dụng chữa bệnh như nhau.
'''Tô Tụng nói:''' Kinh tam lăng cũ không ghi nơi sản xuất, nay vùng Kinh Tương, Giang Hoài, Tế Nam, Hà Thiểm đều có. Đa số sinh ở ven nước nông và đầm lầy. Mùa xuân mọc mầm cao ba bốn thước, lá như cỏ Sa thảo rất dài, lại giống lá Giao bồ mà có ba cạnh. Tháng Năm tháng Sáu đâm cành cao bốn năm thước, to bằng ngón tay người, có ba cạnh như gọt thành. Đầu cành nở hoa, đại thể giống Sa thảo nhưng lớn hơn, màu vàng tím. Dưới mầm là khối củ (khôi), mới sinh kết thành khối như hạt Phụ tử, hoặc có loại dẹt. Bên cạnh có rễ đâm ngang, một rễ nối liền vài khối củ, trên củ lại mọc mầm. Khối củ đều dẹt dài như cá giếc nhỏ, thể nặng thì gọi là Tam lăng. Cuối rễ sắp hết một củ chưa mọc mầm, tròn nhỏ như ô mai thì gọi là Hắc tam lăng. Đầu rễ cong queo như móng vuốt thì gọi là Kê trảo tam lăng, thảy đều da đen thịt trắng và cực nhẹ. Có thuyết nói: loại không mọc mầm chỉ mọc rễ nhỏ gọi là Kê trảo tam lăng; loại không mọc rễ nhỏ gọi là Hắc tam lăng, lớn nhỏ không nhất định, sắc đen, bỏ vỏ thì trắng. Ba thứ vốn một loại, nhưng lực có cương nhu, tùy mục đích mà dùng. Do hình dáng mà đặt tên như Ô đầu, Ô uế... vốn không phải hai vật. Người nay hay lầm lấy củ Mã thầy (Phụ tử), Hương phụ tử làm nó.
Lại ở Hà Trung phủ có Thạch tam lăng, rễ vàng trắng, hình như thoa cài tóc, lá xanh như cỏ bồ, mầm cao một thước, trên lá cũng có ba cạnh, tháng Tư nở hoa trắng như hoa lạt liễu, tháng Năm hái rễ cũng tiêu tích khí. Nay người đời dùng Tam lăng thảy đều là rễ Hồng bồ vùng Hoài Nam, đất Thái Châu có nhiều nhất. Thể nó cực kỳ kiên cứng và nặng, gọt thành hình cá, lá dẹt thân tròn, không có ba cạnh, chẳng biết do duyên cớ gì mà đặt tên là Tam lăng? Dẫu là Thái y cũng không cho là sai. Thói quen đã lâu, người dùng rễ không biết mầm, kẻ hái thuốc không cứu xét công dụng, nên sai sót chồng chất. Nay Tam lăng đều mọc ngang hai rễ, không có rễ thẳng xuống, hình trạng đại thể đa phần như cá giếc.
'''Lý Thời Trân nói:''' Tam lăng sinh nhiều ở ao hồ bỏ hoang vùng đất ẩm. Mùa xuân mọc thành bụi, hạ thu đâm cành cao, đầu cành lại mọc vài lá, nở hoa sáu bảy nhánh, hoa nhỏ vụn kết bông màu vàng tím, trong có hạt nhỏ. Lá thân hoa quả đều có ba cạnh, cùng một dạng với mầm lá hoa quả của Hương phụ, nhưng to dài hơn. Thân nhẵn ba cạnh như cuống lá cọ. Trong thân có lõi trắng, mổ ra dệt đồ dai dẻo như mây. Lục Thầm trong sách Tự lâm vân: Cỏ Thảo sinh trong nước, rễ có thể đan đồ dùng, thực ra là thân cỏ này chứ không phải rễ. Bào Phác Tử nói rễ cây là cỏ Thảo, cũng là cỏ này. Rễ nó nhiều râu vàng đen, gọt bỏ râu vỏ đi thì như hình cá giếc, chứ không phải bản thân rễ giống cá giếc.
===RỄ (根)===
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Khi dùng phải nướng chín (pháo).
'''Lý Thời Trân nói:''' Muốn tiêu tích phải dùng giấm ngâm một ngày, sao hoặc nấu chín phơi khô, nhập thuốc mới tốt.
===【Khí vị】===
Vị đắng (khổ), tính bình, không độc.
* '''Mã Chí nói:''' Ngọt, bình, ấm.
* '''Đại Minh nói:''' Ngọt, sáp, mát (lương).
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Đắng, ngọt, không độc, là Âm trung chi Dương. Năng tả chân khí. Người chân khí hư chớ dùng.
===【Chủ trị】===
Tích bĩ lâu ngày, trưng hà tích tụ kết khối, ác huyết huyết kết sau sinh, thông nguyệt thủy (kinh nguyệt), đọa thai, chỉ thống lợi khí (Khai Bảo). Trị khí trướng, phá tích khí, tiêu ứ huyết do vấp ngã thương tổn, phụ nữ huyết mạch không điều hòa, đau tâm phúc, bụng đau và huyết vận sau sinh (Đại Minh). Đau vùng tâm cách, ăn uống không tiêu (Trương Nguyên Tố). Thông tích huyết ở kinh Can, trị nhọt sưng kiên cứng (Vương Hiếu Cổ).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Tam lăng sắc trắng thuộc Kim, phá cái "khí trong huyết", là thuốc thuộc huyết phận kinh Can. Tam lăng, Nga truật trị tích khối nhọt cứng, là lấy ý "vật cứng thì gọt đi" vậy.
'''Mã Chí nói:''' Tục truyền xưa có người mắc chứng trưng bĩ mà chết, trăng trối bảo mổ bụng ra xem. Thấy khối bệnh cứng khô như đá, vân ngũ sắc. Coi là vật lạ, gọt làm chuôi dao. Sau vì dùng dao đó cắt cỏ Tam lăng mà chuôi dao tan thành nước, mới biết thuốc này trị được chứng trưng bĩ.
'''Lý Thời Trân nói:''' Tam lăng năng phá khí tán kết, nên trị được các bệnh. Công năng gần như Hương phụ nhưng lực mạnh hơn (tuấn), nên khó lòng uống lâu. Xét Đới Nguyên Lễ trong Chứng trị yếu quyết vân: Có người bệnh trưng bĩ bụng trướng, dùng Tam lăng, Nga truật, lấy rượu nướng sắc uống, đi ngoài ra một vật đen như cá mà khỏi vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 3, mới 5.
* '''Trưng hà cổ trướng:''' Tam lăng tiễn: Dùng rễ Tam lăng (thái) 1 thạch. Nước 5 thạch, nấu còn 3 thạch, bỏ bã lại cô tiếp, lấy 3 đấu nước cốt cho vào nồi, đun cách thủy đến khi đặc như mạch nha, đựng trong bình kín. Mỗi sáng uống một thìa với rượu, ngày 2 lần. (Thiên kim dực phương)
* '''Khí khối tích bĩ:''' Thảo tam lăng, Kinh tam lăng, Thạch tam lăng, Thanh bì, Trần bì, Mộc hương mỗi thứ nửa lạng, Nhục đậu khấu, Bàng lăng mỗi thứ 1 lạng, Lô sa 2 tiền, tán mạt, hồ viên bằng hạt ngô đồng, uống 30 viên với nước gừng. (Kỳ hiệu phương)
* '''Bĩ tích không khỏi:''' Sườn dưới cứng như đá. Kinh tam lăng 1 lạng (pháo), Đại hoàng 1 lạng, tán mạt, nấu với giấm thành cao. Mỗi ngày lúc đói uống một thìa với nước gừng trần bì, lấy mức đi ngoài được làm độ. (Thánh huệ phương)
* '''Trẻ nhỏ khí bĩ:''' Tam lăng sắc lấy nước nấu canh hoặc cháo cho mẹ sữa ăn, hằng ngày cũng lấy một ít bằng quả táo cho trẻ ăn. Trẻ sơ sinh 100 ngày đến dưới 10 tuổi, bất kể kinh giản, nhiệt độc, trưng bĩ thảy đều lý được. Bí diệu không thể nói hết, hiệu nghiệm lớn. (Tử mẫu bí lục)
* '''Bĩ khí hung mãn:''' Miệng khô, cơ thể gầy yếu ăn kém, hoặc lúc sốt cao. Thạch tam lăng, Kinh tam lăng, Kê trảo tam lăng (đều pháo), Nga truật 3 quả, Binh lang 1 quả, Thanh bì 50 phiến (ngâm giấm bỏ cùi trắng), gạo cũ 1 hợp (ngâm giấm vo sạch), Ba đậu 50 hạt (bỏ vỏ, cùng thanh bì, gạo cũ sao khô, bỏ ba đậu đi). Tán mạt, hồ viên hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 3 viên với nước cơm, ngày 1 lần. (Thánh tế tổng lục)
* '''Phản vị ác tâm:''' Thuốc và thức ăn không xuống được. Kinh tam lăng (pháo) 1 lạng rưỡi, Đinh hương 3 phân, tán mạt. Mỗi lần dùng 1 tiền hãm nước sôi uống. (Thánh tế tổng lục)
* '''Tắc sữa (Nhũ trấp bất hạ):''' Kinh tam lăng 3 củ, nước 2 bát sắc còn 1 bát, rửa vú rồi nặn cho sữa ra là được, cực diệu. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Toàn thân nổi bỏng nước:''' Hình như quả lê đường, mỗi cái chảy nước ra có một miếng đá như móng tay, bỏng đó lại mọc lại, rút cạn cơ thịt thì không trị được nữa. Dùng Kinh tam lăng, Bồng nga truật mỗi thứ 5 lạng, tán mạt, chia 3 lần uống, điều với rượu liên tục thì khỏi. (Đắc hiệu phương)
==SA CĂN (莎根), HƯƠNG PHỤ TỬ (香附子)==
*(Trích từ sách "Biệt lục", Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Cyperus rotundus L.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Tước đầu hương''' (雀頭香 - Đường bản), '''Thảo phụ tử''' (草附子 - Đồ kinh), '''Thủy hương lăng''' (水香棱 - Đồ kinh), '''Thủy ba kích''' (水巴戟 - Đồ kinh), '''Thủy sa''' (水莎 - Đồ kinh), '''Hầu sa''' (侯莎 - Nhĩ nhã), '''Sa kết''' (莎結 - Đồ kinh), '''Phu tu''' (夫須 - Biệt lục), '''Tục căn thảo''' (續根草 - Đồ kinh), '''Địa ty''' (地 - Đồ kinh).
'''Lý Thời Trân nói:''' Sách Biệt lục chỉ gọi là Sa thảo, không nói dùng ngọn hay dùng rễ. Đời sau đều dùng rễ nó, gọi là Hương phụ tử, mà không biết tên Sa thảo vậy. Cỏ này có thể bện làm nón và áo tơi, thưa hở mà không dính nước, nên chữ Sa (莎) ghép từ bộ Thảo (cỏ) và chữ Sa (cát). Cũng viết là chữ Toa (蓑 - áo tơi), vì làm áo rủ xuống như hình trạng áo tang (suy y) của người con hiếu, nên lại ghép với bộ Thảo. Cỏ này cũng gọi là Phu tu (夫須), nghĩa là thứ mà người đàn ông hèn mọn cần dùng (làm nón áo). Rễ nó đính kèm nối tiếp nhau mà sinh ra, lại có thể hợp với các hương liệu, nên gọi là Hương phụ tử. Thượng cổ gọi là Tước đầu hương. Xét sách Giang biểu truyện vân: Ngụy Văn Đế sai sứ đến nước Ngô cầu Tước đầu hương, chính là vị này. Lá nó giống Tam lăng và Ba kích, lại mọc ở nơi đất thấp ẩm nên có tên Thủy tam lăng, Thủy ba kích. Dân gian gọi là Lôi công đầu. Kinh Kim quang minh gọi là Nguyệt tốt đa. Sách Ký sự châu gọi là Bão linh cư sĩ.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Sa thảo sinh ở ruộng đồng, hái vào tháng Hai và tháng Tám.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Phương thuốc không còn dùng đến, cổ nhân làm thơ dùng nhiều nhưng không ai nhận biết được. Lại có loại Thử toa (mè đất), tính chất trị bệnh khác hẳn loại này.
'''Tô Cung nói:''' Rễ cỏ này tên là Hương phụ tử, một tên là Tước đầu hương, đâu đâu cũng có. Thân lá đều giống Tam lăng, dùng để hợp với hương liệu.
'''Tô Tụng nói:''' Nay nơi nơi đều có. Mầm lá như lá Hẹ mà gầy, rễ to như đầu đũa. Cẩn thận xét theo Thiên Bảo đơn phương đồ của Đường Huyền Tông, chép về Thủy hương lăng có công năng và hình trạng tương tự vị này. Nói rằng Thủy hương lăng vốn sinh ở đầm ao quận Bác Bình, mầm tên Hương lăng, rễ tên Sa kết, cũng tên Thảo phụ tử. Vùng Hà Nam và Hoài Nam nơi đất thấp ẩm đều có, gọi là Thủy sa. Vùng Lũng Tây gọi là Địa ty căn. Quận Thục gọi là Tục căn thảo, cũng gọi Thủy ba kích. Nay vùng Phù Đô có nhiều nhất, tên là Tam lăng thảo. Dùng thân bện làm giày dép, đâu đâu cũng có. Hái mầm, hoa và rễ để trị bệnh.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Hương phụ tử nay người ta dùng nhiều. Tuy sinh từ rễ Sa thảo nhưng trên rễ có khi có, có khi không. Có lớp vỏ mỏng nhăn nheo màu tím đen, không nhiều lông. Cạo bỏ vỏ thì sắc trắng. Nếu bảo lấy rễ làm thuốc thì là lầm vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Lá Sa như lá hẹ già nhưng cứng, bóng mượt có gờ sắc như sống kiếm. Tháng Năm, tháng Sáu đâm một thân, thân ba cạnh giữa rỗng, đầu thân lại mọc ra vài lá. Nở hoa xanh kết bông như hạt kê, trong có hạt nhỏ. Rễ có râu, dưới râu kết một hai hạt tử, nối tiếp nhau mà sinh sôi. Trên hạt có lông đen mịn, hạt lớn như quả táo rừng (dương táo) mà hai đầu nhọn. Hái về đốt bỏ lông, phơi khô đem bán. Đây là vị thuốc trọng yếu dùng hằng ngày gần đây, mà họ Đào không biết, các sách chú giải cũng sơ lược, mới hay thuốc men cổ kim có sự hưng phế khác nhau. Như vậy các vị thuốc trong Bản thảo cũng không nên vì nay không biết mà bãi bỏ không thu thập, biết đâu sau này lại chẳng thành vị thuốc yếu dùng như Hương phụ sao?
===RỄ (根)===
===【Tu trị – Chế biến】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm hái được phải phơi trong râm, giã trong cối đá, kỵ dùng đồ sắt.
'''Lý Thời Trân nói:''' Phàm hái được cả mầm đem phơi khô, lấy lửa đốt bỏ mầm và lông. Khi dùng rửa sạch bằng nước, mài bỏ vỏ trên đá, dùng nước tiểu trẻ em (đồng tiện) tẩm cho thấu, rửa sạch phơi khô rồi giã dùng. Hoặc dùng sống, hoặc sao, hoặc tẩm rượu, giấm, nước muối, các phép đều tùy theo phương thuốc chính, xem chi tiết ở dưới. Lại dùng rơm rạ nấu cùng thì vị không đắng.
===【Khí vị】===
Vị ngọt, hơi hàn, không độc.
* '''Khấu Tông Thiết nói:''' Vị đắng.
* '''Tô Tụng nói:''' Thiên Bảo đơn phương vân: Vị cay, hơi hàn, không độc, tính sáp.
* '''Trương Nguyên Tố nói:''' Vị ngọt đắng, hơi hàn. Khí đậm hơn vị, là Dương trung chi Âm, là thuốc hành khí trong huyết phận.
* '''Lý Thời Trân nói:''' Vị cay, hơi đắng, ngọt, tính bình. Là thuốc của kinh Túc quyết âm (Can) và Thủ thiếu dương (Tam tiêu). Năng kiêm hành mười hai kinh, nhập vào phần khí của mạch. Được đồng tiện, giấm, Xuyên khung, Thương truật thì tốt.
===【Chủ trị】===
Trừ nhiệt trong ngực, làm đầy đặn da lông, uống lâu có lợi cho người, ích khí, làm dài râu lông mày (Biệt lục). Trị khách nhiệt trong lòng, khí bế tắc ở vùng bàng quang liên quan đến dưới sườn. Người thường ngày ưu sầu không vui, kèm tâm xung (tim đập nhanh) (Tô Tụng). Trị tất cả các chứng khí, hoắc loạn nôn tả đau bụng, lạnh khí ở thận và bàng quang (Lý Cảo). Tán thời khí hàn dịch, lợi tam tiêu, giải lục uất (sáu chứng uất), tiêu ăn uống tích tụ, đờm ẩm bĩ mãn, phù thũng bụng trướng, cước khí, chỉ các chứng đau ở tâm phúc, chi thể, đầu mắt, răng tai, trị ung thư sang dương, thổ huyết hạ huyết niệu huyết, phụ nữ băng lậu đới hạ, nguyệt kinh không điều, bách bệnh trước và sau khi sinh (Lý Thời Trân).
===MẦM VÀ HOA (苗及花)===
===【Chủ trị】===
Trị nam giới tâm phổi hư phong và khách nhiệt, khí bế tắc vùng bàng quang liên quan đến dưới sườn, da dẻ ngứa ngáy nổi sẩn (ẩn chẩn), ăn uống không nhiều, ngày càng gầy mòn, các chứng thường ưu sầu tâm xung thiếu khí. Thu hái mầm hoa hơn hai mươi cân thái nhỏ, dùng 2 thạch 5 đấu nước sắc còn 1 thạch 5 đấu, cho vào thùng tắm cho ra mồ hôi năm sáu lần, ngứa sẽ dứt. Thường dùng trong bốn mùa thì ẩn chẩn phong ngứa vĩnh viễn tiêu trừ (Thiên Bảo đơn phương đồ). Sắc uống để tán khí uất, lợi hung cách, giáng đờm nhiệt (Lý Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Hương phụ trị khí ở bàng quang và hai sườn bị bế tắc, tâm xung thiếu khí, đó là năng ích khí, là thuốc hành khí trong huyết vậy. Bản thảo không nói trị băng lậu, mà trong phương thuốc dùng trị băng lậu, ấy là năng ích khí mà chỉ huyết vậy. Lại năng trục khứ ứ huyết, ấy là "thôi trần" (đẩy cái cũ đi). Cũng giống như ý nghĩa Ba đậu trị đại tiện không thông mà lại chỉ được tiết tả. Lại vân: Hương phụ là Dương trung chi Âm, thuốc hành khí trong huyết, phàm khí uất huyết trệ tất phải dùng đến. Sao đen năng chỉ huyết trị băng lậu, đây là vị thuốc tiên của phụ nữ vậy. Uống nhiều quá cũng năng làm hao tán khí (tẩu khí).
'''Chu Đan Khê nói:''' Hương phụ phải dùng nước tiểu trẻ em tẩm qua, năng giải được tất cả các chứng uất, là vị thuốc tất yếu cho huyết khí, dẫn thuốc đến phần khí mà sinh ra huyết, đây chính là nghĩa "âm sinh dương trưởng". Bản thảo không nói bổ, mà các nhà làm phương nói có ích cho người già, ý tứ nằm ở đó. Ấy là trong lúc hành có tính bổ lý. Trời sở dĩ là Trời vì kiện vận mà có thường lệ. Kiện vận không ngừng nên sinh sôi vô cùng, chính là cái lý này vậy. Nay trong các loại hương cũng dùng đến nó.
'''Lý Thời Trân nói:''' Khí của Hương phụ bình mà không hàn, thơm mà năng thấu (thoát). Vị nó đa phần là cay nên năng tán, hơi đắng nên năng giáng, hơi ngọt nên năng hòa. Là chủ dược của phần khí kinh Túc quyết âm Can và Thủ thiếu dương Tam tiêu, mà kiêm thông phần khí của mười hai kinh. '''Dùng sống''' thì đi lên hung cách, thấu ra ngoài da; '''Dùng chín''' thì đi xuống Can Thận, thấu ra thắt lưng chân. '''Sao đen''' thì chỉ huyết; '''Tẩm đồng tiện sao''' thì nhập huyết phận mà bổ hư; '''Tẩm nước muối sao''' thì nhập huyết phận mà nhuận táo; '''Sao với muối xanh''' thì bổ thận khí; '''Tẩm rượu sao''' thì hành kinh lạc; '''Tẩm giấm sao''' thì tiêu tích tụ; '''Tẩm nước gừng sao''' thì hóa đờm ẩm.
Được Sâm, Truật thì bổ khí; được Quy, Thục thì bổ huyết; được Mộc hương thì sơ trệ hòa trung; được Đàn hương thì lý khí tỉnh tỳ; được Trầm hương thì thăng giáng các khí; được Xuyên khung, Thương truật thì tổng giải các uất; được Chi tử, Hoàng liên thì năng giáng hỏa nhiệt; được Phục thần thì giao tế tâm thận; được Hồi hương, Phá cố chỉ thì dẫn khí quy nguyên; được Hậu phác, Bán hạ thì quyết ủng tiêu trướng; được Tử tô, Hành trắng thì giải tán tà khí; được Tam lăng, Nga truật thì tiêu mài tích khối; được Ngải diệp thì trị huyết khí làm ấm tử cung. Thật là tổng quản của bệnh về khí, chủ soái của nữ khoa vậy.
Phi Hà tử Hàn Mâu vân: Hương phụ năng thôi trần trí tân (đẩy cũ xây mới), nên các sách đều nói ích khí. Mà người đời có thuyết hao khí, cho rằng nghi dùng cho phụ nữ không nghi dùng cho nam giới, ấy là sai vậy. Phụ nữ lấy huyết làm trọng, khí hành thì không bệnh. Người già tinh khô huyết bế, duy nhờ vào khí để hỗ trợ. Trẻ nhỏ khí ngày càng đầy thì hình thể ngày càng vững. Đại phàm bệnh thì khí trệ mà suy sụp, nên Hương phụ là quân dược ở phần khí, thế gian ít người biết. Lấy Sâm, Kỳ làm thần, lấy Cam thảo làm tá, trị chứng hư khiếp cực nhanh vậy.
Tôi khi du ngoạn phương ngoại, mang theo thuốc nhẹ tênh cứu đời, trị bách bệnh có bài Hoàng hạc đan, trị phụ nữ có Thanh nang hoàn, tùy nghi dùng dẫn thuốc, đều có hiệu quả nhỏ. Người ta xin không ngớt, người dùng nên suy xét cái ý ngoài pháp vậy. Hoàng hạc đan là phương thuốc do Chu Y ông truyền cho ở lầu Hoàng Hạc nên đặt tên vậy. Phương dùng: Hương phụ 1 cân, Hoàng liên nửa cân, rửa phơi tán mạt, làm viên hồ nước to bằng hạt ngô đồng. Giả như ngoại cảm, dùng nước gừng hành; nội thương dùng nước cơm; bệnh khí dùng nước Mộc hương; bệnh huyết dùng rượu; bệnh đờm dùng nước gừng; bệnh hỏa dùng nước trắng. Các thứ khác cứ thế suy ra. Thanh nang hoàn là do chân nhân Thiệu Ứng Tiết cầu cho bệnh của mẹ, cảm động phương sĩ truyền cho. Phương dùng: Hương phụ (sao sơ) 1 cân, Ô dược (pháo sơ) 5 lạng 3 tiền, tán mạt, dùng giấm nước nấu hồ mì làm viên. Tùy chứng dùng dẫn thuốc, như đau đầu dùng nước trà; đờm khí dùng nước gừng; đa phần dùng rượu là diệu nhất.
===【Phụ phương】===
*Cũ 1, mới 48.
* '''Pháp phục thực (Cách uống):''' Tô Tụng nói: Thiên Bảo đơn phương đồ vân: Rễ Thủy hương lăng tên Sa kết, cũng tên Thảo phụ tử, thuyết đã thấy ở trước. Lấy rễ đó 2 đại thăng, giã sao cho thơm, dùng túi lụa sống đựng, ngâm trong 3 đại đấu rượu thanh không tro. Xuân sang tháng Ba, ngâm một ngày là uống được; đông sang tháng Mười, ngâm bảy ngày, để gần chỗ ấm thì tốt. Mỗi khi bụng đói uống ấm một chén, ngày đêm ba bốn lần, thường giữ cho có tửu khí liên tục, lấy mức thấy hiệu nghiệm làm độ. Nếu không uống rượu, lấy rễ 10 lạng, thêm Quế tâm 5 lạng, Vu di 3 lạng. Cùng giã tán, luyện mật làm viên, giã một nghìn chày, viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 20 viên với nước gừng lúc đói.
* '''Giao cảm đan:''' Phàm người trung niên tinh hao thần suy. Ấy do tâm huyết thiếu, hỏa không xuống; thận khí mệt, thủy không lên. Khiến tâm thận cách tuyệt, dinh vệ không hòa. Trên thì hay kinh sợ; giữa thì bế tắc bĩ mãn, ăn uống không xuống; dưới thì hư lạnh di tinh. Thầy thuốc ngu dốt chỉ biết tuấn bổ hạ điền (thận), chẳng những không sinh được thủy tư âm mà ngược lại càng thấy suy sụp. Chỉ cần phục phương này nửa năm, gạt bỏ mọi loại thuốc ấm, tuyệt dục vọng, sau đó tập thuật bí cố súc lưu, hiệu quả không kể xiết. Du Thông Phụng năm 51 tuổi, gặp Thân tiên sinh ở thành Thiết Úng truyền cho bài này, uống vào già như trẻ, thọ đến 85 tuổi mới mất. Vì vậy phổ biến cho chúng sinh cùng hưởng thọ trường. Hương phụ tử 1 cân (ngâm nước sạch một đêm, mài bỏ lông trên đá, sao vàng), Phục thần (bỏ vỏ lõi) 4 lạng, tán mạt, luyện mật làm viên bằng quả trứng. Mỗi sáng sớm nhai kỹ 1 viên, uống với Giáng khí thang. Giáng khí thang dùng: Hương phụ tử (như pháp trên) nửa lạng, Phục thần 2 lạng, Cam thảo chích 1 lạng rưỡi, tán mạt, hãm nước sôi uống trước thuốc trên. (Thụy trúc đường kinh nghiệm phương)
* '''Nhất phẩm hoàn:''' Trị khí nhiệt công lên trên, đầu mắt hôn huyễn, và trị thiên chính đầu thống. Hương phụ tử lớn bỏ vỏ, nấu nước một lát, giã phơi sấy tán mạt, luyện mật làm viên bằng quả trứng. Mỗi lần uống 1 viên, 1 chén nước sắc còn 8 phân uống. Phụ nữ dùng nước giấm sắc. (Kỳ hiệu lương phương)
* '''Thăng giáng các khí:''' Trị tất cả các bệnh về khí, bĩ trướng suyễn nấc (ế), ợ chua phiền muộn, hư thống tẩu chú. Thường uống khai vị tiêu đờm, tán bế tắc giúp ăn ngon. Đi núi đi sớm càng nên uống để trừ tà tị chướng. Hương phụ tử (sao) 400 lạng, Trầm hương 18 lạng, Sa nhân 48 lạng, Cam thảo chích 120 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 1 tiền, cho thêm chút muối, hãm nước trắng uống. (Hòa tễ cục phương)
* '''Tất cả khí tật:''' Tâm phúc trướng mãn, hung cách nghẹn tắc, ợ hơi nuốt chua, đờm nghịch nôn ác, và rượu cũ không giải. Hương phụ tử 1 cân, Sa nhân 8 lạng, Cam thảo (chích) 4 lạng, tán mạt, mỗi lần dùng nước trắng thêm muối hãm uống. Làm mạt thô sắc uống cũng được. Tên là Khoái khí thang. (Hòa tễ cục phương)
* '''Điều trung khoái khí:''' Tâm phúc đâm đau. '''Tiểu ô trầm thang''': Hương phụ tử (mài sạch lông, sấy) 20 lạng, Ô dược 10 lạng, Cam thảo (sao) 1 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 1 tiền với nước muối. (Hòa tễ cục phương)
* '''Tâm tỳ khí thống:''' Bạch Phi Hà trong Phương ngoại kỳ phương vân: Phàm người đau một điểm ở chỗ mềm vùng lồng ngực, đa phần do khí và hàn gây ra, hoặc kéo dài cả đời, hoặc mẹ con truyền nhau. Tục gọi là tâm khí thống là sai, ấy là vị quản có tích trệ vậy. Duy có Độc bộ tán trị rất diệu. Hương phụ (ngâm giấm gạo, sao sơ tán mạt), Cao lương khương (rửa rượu 7 lần, sao sơ tán mạt). Cả hai vị đựng riêng. Vì hàn thì Khương 2 tiền, Phụ 1 tiền; vì khí thì Phụ 2 tiền, Khương 1 tiền; vì cả khí và hàn thì mỗi thứ bằng nhau, hòa đều. Dùng nước cơm nóng thêm 1 thìa nước gừng, một nhúm muối, điều uống lập tức chỉ đau. Không quá bảy tám lần là tiệt gốc. Vương 《Bách nhất phương》 vân: Phu nhân của Nội hán Ngô Khai, tâm thống muốn chết, uống phương này liền khỏi. Loại biên vân: Lương Hỗn đau tâm tỳ mấy năm không khỏi, thờ phụng Phật Uế Tích, mộng thấy truyền phương này, một liều là khỏi, nên tên là Thần thụ nhất tỷ tán (Một thìa thuốc thần truyền).
* '''Các bệnh tâm phúc:''' '''Ngải phụ hoàn''': Trị nam nữ tâm khí thống, phúc thống, thiếu phúc thống (đau bụng dưới), huyết khí thống không thể nhịn nổi. Hương phụ tử 2 lạng, Ngải diệp (Ngaì Ngải vùng Kỳ Châu) nửa lạng, tán mạt, dùng nước gừng và hồ mì làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với nước muối. (Nhân tồn phương)
* '''Đình đờm túc ẩm:''' Phong khí công lên trên, hung cách không lợi. Hương phụ (ngâm nước bồ kết), Bán hạ mỗi thứ 1 lạng, Bạch phàn mạt nửa lạng, dùng nước gừng và hồ mì làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30-40 viên, dùng nước gừng uống bất cứ lúc nào. (Nhân tồn phương)
* '''Nguyên tạng phúc lãnh (Lạnh bụng vùng nguyên khí):''' Và giúp khai vị. Hương phụ tử sao tán mạt, mỗi lần dùng 2 tiền, cùng gừng và muối sắc uống. (Phổ tế phương)
* '''Tửu thũng hư thũng (Phù do rượu hoặc phù hư):''' Hương phụ tử bỏ vỏ, dùng giấm gạo nấu cạn, sấy tán mạt, hồ giấm gạo làm viên uống. Lâu ngày nước xấu theo tiểu tiện ra hết, thần hiệu. (Kinh nghiệm lương phương)
* '''Khí hư phù thũng:''' Hương phụ tử 1 cân, nước tiểu trẻ em ngâm ba ngày, sấy tán mạt, làm viên hồ. Mỗi lần uống 40-50 viên với nước cơm, ngày 2 lần. (Đan khê tâm pháp)
* '''Già trẻ trưng bĩ (khối u):''' Đau qua đau lại. Hương phụ, Nam tinh lượng bằng nhau, tán mạt, hồ nước gừng làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30 viên với nước gừng. (Thánh huệ phương)
* '''Sán trướng thống (Đau thoát vị trướng đầy):''' Và tiểu trường khí. Bột Hương phụ 2 tiền, dùng Hải tảo 1 tiền sắc rượu, điều uống lúc đói, đồng thời ăn Hải tảo. (Bản thảo cương mục)
* '''Yêu thống sát nha (Đau lưng, xát răng):''' Hương phụ tử 5 lạng, Gừng tươi 2 lạng, lấy nước cốt ngâm một đêm, sao vàng tán mạt, cho thêm 2 tiền muối xanh, xát răng vài lần là khỏi. (Kinh nghiệm phương)
* '''Huyết khí đâm đau:''' Hương phụ tử (sao) 1 lạng, Lệ chi hạch (hạt vải - đốt tồn tính) 5 tiền, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền, điều với nước cơm. (Phụ nhân lương phương)
* '''Phụ nữ chư bệnh:''' Sách Thụy trúc đường phương: '''Tứ chế hương phụ hoàn''': Trị phụ nữ con gái kinh kỳ không đều, kèm các bệnh. Hương phụ tử lớn (mài sạch lông) 1 cân, chia làm bốn phần: 4 lạng ngâm rượu ngon, 4 lạng ngâm giấm ngon, 4 lạng ngâm nước muối, 4 lạng ngâm đồng tiện. Xuân 3, thu 5, hạ 1, đông 7 ngày. Vo sạch phơi khô giã nát, sấy sơ tán mạt, hồ giấm làm viên ngô đồng, mỗi lần uống 70 viên với rượu. Người gầy thêm Trạch lan, Xích phục linh mạt 2 lạng; khí hư thêm liệu Tứ quân tử; huyết hư thêm liệu Tứ vật. Sách Pháp sinh đường phương: '''Chế phụ tế âm hoàn''': Trị phụ nữ kinh nguyệt không đều, lâu ngày thành trưng tích, tất cả phong khí. Dùng Hương phụ tử 1 cân (chia bốn phần tẩm đồng tiện, nước muối, rượu, giấm mỗi thứ ba ngày), Ngải diệp 1 cân (ngâm nước hồ, hồ giấm hòa làm bánh phơi khô), Tằm sa (phân tằm) nửa cân (sao), Nga truật 4 lạng (ngâm rượu), Đương quy 4 lạng (ngâm rượu). Đều sấy tán mạt, hồ giấm làm viên ngô đồng. Mỗi lần uống 70 viên với nước cơm, ngày 2 lần. '''Thủ phụ hoàn''': Trị phụ nữ thiếu nữ tất cả kinh kỳ không đều, huyết khí đâm đau, bụng sườn trướng đầy, tâm chinh (tim đập loạn) mệt mỏi, da mặt vàng vọt, đầu váng nôn nao, băng lậu đới hạ, tiện huyết, trưng hà tích tụ, và phụ nữ hay đọa thai do khí không thăng giáng, uống vị này cực diệu. Hương phụ tử ngâm giấm nửa ngày, dùng nồi đất nấu cạn, giã sấy, dùng cối đá tán mạt, hồ giấm làm viên, uống với nước giấm. Sách Đạm liêu phương bài '''Ngải phụ hoàn''' trị như trên: Hương phụ tử 1 cân, Ngải chín 4 lạng (nấu giấm), Đương quy (ngâm rượu) 2 lạng, tán mạt, làm viên như trên uống. Phụ nữ khí thịnh huyết suy biến sinh các bệnh, đầu váng bụng đầy thảy đều dùng '''Ức khí tán''' chủ trị. Hương phụ tử 4 lạng (sao), Phục linh, Cam thảo (chích) mỗi thứ 1 lạng, Quất hồng 2 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước sôi. (Tế sinh phương)
* '''Hạ huyết băng lậu:''' Máu chảy như núi lở, hoặc lậu đới ngũ sắc, thảy đều nên thường xuyên uống, tư huyết điều khí, là vị thuốc tiên của phụ nữ. Hương phụ tử bỏ lông sao cháy tán mạt, uống 2 tiền với rượu cực nóng là khỏi ngay. Người hôn mê nặng dùng 3 tiền với nước cơm. Cũng có thể thêm tro xơ mướp (tông hôi). (Hứa học sĩ Bản sự phương)
* '''Xích bạch đới hạ:''' Và băng huyết không dứt. Hương phụ tử, Xích thược dược lượng bằng nhau, tán mạt, một nhúm muối, 2 bát nước sắc còn 1 bát, uống ấm trước khi ăn. (Bản thảo cương mục)
* '''An thai thuận khí:''' '''Thiết tráo tán''': Hương phụ tử sao tán mạt, sắc nước Tử tô đậm uống 1-2 tiền. Một bài khác có thêm Sa nhân. (Trung tạng kinh)
* '''Nhâm thần ác trở (Nôn nghén):''' Thai khí bất an, khí không thăng giáng, nôn mửa nước chua, đứng ngồi không yên, ăn uống không xuống. '''Nhị hương tán''': Dùng Hương phụ tử 1 lạng, Hoắc hương diệp, Cam thảo mỗi thứ 2 tiền, tán mạt. Mỗi lần dùng 2 tiền, nước sôi thêm muối điều uống. (Thánh huệ phương)
* '''Lâm sản thuận thai:''' Tháng Chín, tháng Mười uống vị này vĩnh viễn không kinh hãi sợ sệt. '''Phúc thai ẩm''': Dùng Hương phụ tử 4 lạng, Sa nhân (sao) 3 lạng, Cam thảo (chích) 1 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm. (Chu thị tập nghiệm phương)
* '''Sản hậu cuồng ngôn (Nói sảng sau sinh):''' Huyết vận (chóng mặt do mất máu), phiền khát không dứt. Hương phụ tử sống bỏ lông tán mạt, mỗi lần uống 2 tiền, sắc cùng gừng và táo uống. (Như trên)
* '''Khí uất thổ huyết:''' Đan Khê dùng đồng tiện điều 2 tiền bột Hương phụ uống. Sách Đạm liêu phương trị thổ huyết không dứt: Rễ Sa thảo 1 lạng, Bạch phục linh nửa lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước gạo kê cũ.
* '''Phế phá lạc huyết (Ho ra máu do tổn thương phổi):''' Bột Hương phụ 1 tiền, uống với nước cơm, ngày 2 lần. (Bách nhất tuyển phương)
* '''Tiểu tiện niệu huyết:''' Hương phụ tử, Địa du tươi lượng bằng nhau sắc nước riêng. Trước uống vài ngụm nước Hương phụ, sau uống hết nước Địa du. Chưa khỏi uống tiếp. (Chỉ mê phương)
* '''Tiểu tiện huyết lâm:''' Đau không nhịn nổi. Hương phụ tử, Trần bì, Xích phục linh lượng bằng nhau sắc nước uống. (Thập tiện lương phương)
* '''Các loại hạ huyết:''' Hương phụ ngâm đồng tiện một ngày, giã nát, trộn giấm gạo sao tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm. Sách Trực chỉ phương dùng Hương phụ nấu chín với giấm và rượu mỗi thứ một nửa, sấy tán mạt, hồ gạo nếp vàng làm viên ngô đồng. Mỗi lần uống 40 viên với nước cơm, ngày 2 lần. Đới Nguyên Lễ vân: Chỉ dùng bột Hương phụ 2 tiền, thêm Bách thảo sương (mồ hóng), Xạ hương mỗi thứ một ít cùng uống, hiệu quả càng nhanh vậy.
* '''Già trẻ thoát giang:''' Hương phụ tử, Kinh giới tuệ lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần dùng 3 thìa, một bát nước lớn sắc mười dạo rồi rửa. (Tam nhân phương)
* '''Thiên chính đầu phong (Đau nửa đầu hoặc cả đầu):''' Hương phụ tử (sao) 1 cân, Ô đầu (sao) 1 lạng, Cam thảo 2 lạng, tán mạt, luyện mật làm viên bằng quả trứng. Mỗi lần uống 1 viên, nhai với hành và trà. (Bản sự phương)
* '''Khí uất đầu thống:''' Sách Đạm liêu phương dùng Hương phụ tử (sao) 4 lạng, Xuyên khung 2 lạng. Tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước trà lạp tinh tế điều uống.
* '''Đầu phong nhãn thống (Đau đầu đau mắt):''' Phương giống bài Nhâm thần ác trở.
* '''Phụ nữ đầu thống:''' Bột Hương phụ uống với nước trà 3 tiền, ngày ba đến năm lần. (Kinh nghiệm lương phương)
* '''Can hư nhãn thống:''' Chảy nước mắt lạnh, sợ ánh sáng. '''Bổ can tán''': Dùng Hương phụ tử 1 lạng, Hạ khô thảo nửa lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 1 tiền với nước trà trong.
* '''Tai điếc đột ngột:''' Hương phụ tử sao trên ngói nghiền mạt, sắc nước hạt Củ cải uống, mỗi sáng tối 2 tiền. Kỵ đồ sắt. (Vệ sinh dị giản phương)
* '''Tai chảy mủ:''' Bột Hương phụ, dùng tăm bông đưa vào. Thái Bang Độ tri phủ thường dùng rất hiệu quả. (Kinh nghiệm lương phương)
* '''Các loại đau răng:''' Hương phụ, Ngải diệp sắc nước súc miệng, lại dùng bột Hương phụ xát vào để trừ dãi. (Phổ tế phương)
* '''Làm chặt răng trừ phong:''' Ích khí làm đen râu, trị đau răng và chảy máu chân răng, là phương diệu của Thiết Úng tiên sinh vậy. Hương phụ tử (đốt tồn tính) 3 lạng, muối xanh, gừng tươi mỗi thứ nửa lạng, tán mạt, xát hằng ngày. (Tế sinh phương)
* '''Tiêu khát (Tiểu đường) nhiều năm không khỏi:''' Rễ Sa thảo 1 lạng, Bạch phục linh nửa lạng, tán mạt. Mỗi lần dùng nước gạo kê cũ uống 3 tiền, ngày 2 lần.
* '''Ung thư sang dương (Mụn nhọt lở loét):''' Tăng Phù Tiên vân: Phàm ung thư sang dương đều do khí trệ huyết ngưng mà thành, nghi dùng các loại thuốc thơm để dẫn khí thông huyết. Thường Khí Chi vân: Phàm khí huyết nghe thấy mùi thơm thì hành, nghe mùi hôi thì nghịch. Sang dương đều do khí rít mà huyết tụ, kỵ nhất là mùi hôi uế không sạch, chạm vào độc sẽ lan rộng. Trần Chính Tiết công vân: Đại phàm bệnh thư (nhọt sâu) đa phần do giận dữ mà ra, chỉ cần uống thuốc Hương phụ tử để ăn ngon khoan khí, hiệu quả lớn vậy. '''Độc thắng tán''': Dùng Hương phụ tử bỏ lông, tẩm nước gừng tươi một đêm, sấy khô nghiền mạt mịn, uống 2 tiền với nước trắng bất cứ lúc nào. Nếu nhọt mới phát, dùng thay trà. Nhọt đã vỡ cũng nên uống. Hoặc chỉ dùng bài '''Tiểu ô trầm thang''' trong Cục phương, dùng ít Cam thảo, sau khi khỏi uống tiếp nửa năm càng diệu. (Trần Tự Minh - Ngoại khoa tinh yếu)
* '''Rết cắn:''' Nhai Hương phụ đắp vào, hiệu quả ngay. (Tụ trân phương)
==THỤY HƯƠNG (瑞香 - Hoa Thụy hương)==
*(Trích từ sách "Cương mục")
'''Tên khoa học:''' Daphne odora Thunb.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Trong núi các châu quận phương Nam đều có. Cành lá xum xuê, cành mềm lá dày, bốn mùa xanh tươi. Khoảng giao giữa mùa đông và mùa xuân thì nở hoa thành chùm, dài ba bốn phân, trạng như Đinh hương, có ba màu vàng, trắng, tím. Sách Cách cổ luận vân: Thụy hương cao ba bốn thước, có vài loại: loại lá Tỳ bà, lá Dương mai, lá Kha, loại hình cầu (cầu tử), loại cành uốn khúc (luyến chi). Duy có loại cành uốn khúc là hoa tím hương nồng liệt; loại lá Tỳ bà thì kết hạt. Nguyên gốc hoa này xuất phát từ Lư Sơn, thời Tống người dân đem về trồng mới bắt đầu nổi danh. Loại luyến chi thì các đốt uốn cong như hình trạng bị gãy gập vậy. Rễ nó mềm như bông mà thơm.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị ngọt (cam), mặn (hàm), không độc.
===【Chủ trị】===
Chứng cấp hầu phong (viêm họng cấp), dùng loại hoa trắng mài với nước mà đổ vào họng (Thời Trân – trích từ "Y học tập thành").
==MẠT LỊ (茉莉 - Hoa Nhài)==
*(Trích từ sách "Cương mục")
'''Tên khoa học:''' Jasminum sambac (L.) Ait.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Nại hoa''' (柰花).
'''Lý Thời Trân nói:''' Kê Hàm trong Thảo mộc trạng viết là Mạt lợi (末利), Lạc Dương danh viên ký viết là Mạt lệ (抹厲), Phật kinh viết là Mạt lợi (抹利), Vương Quy Linh tập viết là Một lợi (沒利), Hồng Mai tập viết là Mạt lệ (末麗). Bởi "Mạt lợi" vốn là tiếng Hồ (tiếng nước ngoài), không có chữ chính thức, tùy ý người ta hiểu mà viết ra thôi. Vi Quân gọi là Hạp khách, Trương Mẫn Thúc gọi là Viễn khách. Dương Thận trong Đan chì lục vân: Sách Tấn thư chép người trong kinh thành cài hoa Nại, chính là hoa Mạt lị ngày nay vậy.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Mạt lị vốn nguồn gốc từ Ba Tư, di thực về Nam Hải, nay người ở vùng Vân Nam, Quảng Đông thường trồng. Tính nó sợ lạnh, không hợp đất Trung thổ. Thân yếu cành nhiều, lá xanh tròn nhọn. Đầu hạ nở hoa nhỏ màu trắng, cánh kép không nhị, đến hết thu mới thôi, không kết quả. Có loại cánh rời (thiên diệp), loại màu đỏ, loại thân leo. Hoa thảy đều nở về đêm, hương thơm đáng yêu. Phụ nữ xâu hoa làm đồ trang sức trên đầu, hoặc hợp với mỡ xức mặt. Cũng có thể dùng ướp trà, hoặc chưng cất lấy dịch thay cho nước hoa Hồng (Tường vi thủy). Lại có loại giống Mạt lị nhưng cánh lớn, hương thanh khiết tuyệt vời, gọi là Cẩu nha (Răng chó), cũng tên Tuyết phiến, vùng Hải Nam có loại này. Tố hinh, Chỉ giáp đều cùng loại, đính kèm ở dưới.
===HOA (花)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính nhiệt, không độc.
===【Chủ trị】===
Chưng với dầu lấy dịch làm mỡ xức mặt hoặc dầu chải tóc, làm tóc mọc dài, nhuận chỗ khô táo, thơm da thịt; cũng cho vào nước trà uống (Thời Trân).
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Tính nhiệt, có độc.
===【Chủ trị】===
Mài với rượu một tấc mà uống thì hôn mê một ngày mới tỉnh; hai tấc hai ngày, ba tấc ba ngày. Phàm những người bị vấp ngã tổn thương xương khớp, trật khớp, khi cần nắn lại xương thì dùng vị này để không biết đau (Uông Cơ).
===【Phụ lục】===
TỐ HINH (素馨 - Hoa Lài trâu)
'''Tên khoa học:''' Jasminum officinale L. var. grandiflorum (L.) Kobuski
'''Lý Thời Trân nói:''' Tố hinh cũng di thực từ Tây Vực tới, gọi là hoa Da tất minh, chính là hoa Dã tất mật được chép trong Dậu dương tạp trở. Cành lá mảnh mai tha thướt, lá giống Mạt lị nhưng nhỏ hơn. Hoa nhỏ gầy có bốn cánh, có hai màu vàng và trắng. Hái hoa ép lấy dầu chải tóc, rất thơm và mượt vậy.
==UẤT KIM HƯƠNG (鬱金香 - Hoa Tulip/Nghệ tây)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Tulipa gesneriana L. (hoặc chỉ nhuỵ hoa Nghệ tây Crocus sativus L.)
===【Hiệu chính】===
'''Tô Vũ Tích nói:''' Trần thị bảo Uất là tinh anh của loài thảo, không nên phụ thuộc vào bộ Mộc. Nay chuyển vào đây.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Uất kim''' (郁金 - Ngự lãm), '''Hồng lam hoa''' (紅藍花 - Cương mục), '''Tử thuật hương''' (紫述香 - Cương mục), '''Thảo xạ hương''', '''Trà củ ma''' (Sách Phật).
'''Tô Tụng nói:''' Hứa Thận trong Thuyết văn giải tự vân: Uất là cỏ thơm vậy. Mười lá kết thành một quán, một trăm hai mươi quán đem giã rồi nấu lên. Uất sưởng là tinh hoa của bách thảo, hợp lại nấu rượu để giáng thần, là đồ cống phẩm của người Uất phương xa, nên gọi là Uất. Uất nay là quận Uất Lâm vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Quận Uất Lâm thời Hán nay chính là vùng đất thuộc các châu Quảng Tây, Quý Châu, Tầm, Liễu, Ung, Tân. Sách Nhất thống chí duy chỉ chép huyện La Thành thuộc Liễu Châu có ra Uất kim hương, chính là loại này. Kinh Kim quang minh gọi là hương Trà củ ma. Đây chính là hương của hoa Uất kim, cùng tên nhưng khác vật với củ Uất kim (rễ nghệ) thường dùng ngày nay. Sách Bản thảo của Đường Thận Vi thu vị này vào mục rễ kia là sai lầm. Xét Triệu Cổ Tắc trong Lục thư bản nghĩa: chữ Sưởng (鬯) tượng hình hạt gạo ở trong khí cụ, dùng muỗng (tỷ) để lấy ra. Chữ Uất (鬱) gồm bộ Cữu (臼), bưng bình rượu (phẫu) đặt trên ghế (kỷ), rượu Sưởng có đồ trang sức, ý nói đủ năm thể. Tục viết là 郁. Vậy Uất là ý nói lấy hoa giã nấu rượu, không phải chỉ địa danh, địa danh là vì có cỏ này mà đặt theo thôi.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Uất kim hương sinh ở nước Đại Tần, tháng Hai tháng Ba nở hoa, hình trạng như Hồng lam (hoa Rum), tháng Tư tháng Năm hái hoa, chính là hương vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét Trịnh Huyền vân: Cỏ Uất giống hoa Lan. Dương Phù trong Nam châu dị vật chí vân: Uất kim xuất phát từ nước Tân Tân, người trong nước trồng nó, trước để cúng Phật, vài ngày héo rồi mới lấy. Sắc vàng chính tông, giống như cánh hoa sen non bọc trong hoa Phù dung, có thể dùng ướp rượu cho thơm. Lại sách Đường thư vân: Thời Thái Tông, nước Già Tỳ dâng Uất kim hương, lá giống Mạch môn đông, tháng Chín nở hoa, hình trạng như hoa Phù dung, màu tím xanh, hương thơm bay xa vài mươi bước, có hoa mà không hạt, muốn trồng phải lấy rễ. Hai thuyết đều giống nhau, duy màu hoa khác nhau, có lẽ chủng loại không chỉ có một. Cổ nhạc phủ vân: "Trong có Uất kim Tô hợp hương" chính là loại Uất kim này. Tấn Tả Quý Tần có bài Uất kim tụng vân: "Kìa có cỏ lạ, tên gọi Uất kim. Đến từ cõi xa, vật quý tìm về. Hương thơm nồng liệt, đẹp mắt vui lòng. Đức sáng tỏa hương, người hiền kính trọng."
===【Khí vị】===
Vị đắng (khổ), tính ấm (ôn), không độc.
'''Trần Tạng Khí nói:''' Tính bình.
===【Chủ trị】===
Trị các loại độc của cổ dã, ác khí và quỷ chú giữa tâm phúc, khử tất cả mùi hôi như nách quạ hôi diều hâu. Dùng trộn vào các loại hương dược (Tạng Khí).
==MAO HƯƠNG (茅香 - Cỏ Hương bài / Cỏ Sả)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Hierochloe odorata (L.) Beauv. (hoặc Cymbopogon sp.)
===【Hiệu chính】===
Nhập chung với mục Hương ma trong sách Đồ kinh thời Tống.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Thi thi la''' ( 尸羅 - Kinh Phật), '''Hương ma'''.
'''Lý Thời Trân nói:''' Tô Tụng trong Đồ kinh lại đưa ra một mục Hương ma, nói là sản sinh ở Phúc Châu, nấu nước tắm trị phong rất tốt, đây chính là Hương mao vậy, do người đất Mân gọi Mao là Ma mà thôi. Nay hợp làm một.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Mã Chí nói:''' Mao hương sinh ở các châu vùng Kiếm Nam đạo, thân lá màu nâu đen, hoa màu trắng, không phải loại Bạch mao hương.
'''Tô Tụng nói:''' Nay vùng Thiểm Tây, Hà Đông, Biện Đông các quận châu cũng có, các châu Liêu, Trạch sung làm cống phẩm. Tháng Ba mọc mầm, giống đại mạch. Tháng Năm nở hoa trắng, cũng có loại hoa vàng. Có loại kết hạt, có loại không. Thảy đều hái rễ vào tháng Giêng, tháng Hai; hái hoa vào tháng Năm; hái mầm vào tháng Tám.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Rễ Mao hương giống cỏ tranh (Mao), nhưng trong sạch và dài hơn. Có thể làm nước tắm, dùng chung với Cảo bản càng tốt. Thường dùng trong ấn hương, hợp cùng Hương phụ tử mà dùng.
'''Lý Thời Trân nói:''' Mao hương phàm có hai loại: đây là một loại Hương mao; còn loại Bạch mao hương lại là một loại cỏ thơm khác của phương Nam. Sách Bản thảo của Đường Thận Vi không rõ nghĩa này nên đã lấy Bạch mao hương nhập vào mục Mao hương hoa, nay đã hiệu chính lại.
===HOA (花)===
===【Khí vị】===
Vị đắng (khổ), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Trị trúng ác khí, làm ấm dạ dày (ôn vị) chỉ nôn mửa, liệu trị tâm phúc đau lạnh (Khai Bảo).
===【Phụ phương】===
*Mới 1.
* '''Lãnh lao bệnh lâu:''' Hoa Mao hương, lá Ngải mỗi thứ 4 lạng, đốt tồn tính, tán mạt, dùng cơm gạo tẻ làm viên bằng hạt ngô đồng. Ban đầu uống 20-30 viên với nước sắc Xà sàng tử, nếu hơi nôn cũng không sao, sau đó uống bằng nước táo, lập tức hiệu nghiệm. (Thánh tế tổng lục)
===MẦM VÀ LÁ (苗、葉)===
===【Chủ trị】===
Làm nước tắm, trừ tà khí, khiến thân thể thơm tho (Khai Bảo).
==BẠCH MAO HƯƠNG (白茅香)==
*(Trích từ sách "Bản thảo Thập di")
'''Tên khoa học:''' Cymbopogon sp. (Một loại sả thơm vùng nhiệt đới)
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Bạch mao hương sinh ở An Nam (Việt Nam), rễ như rễ cỏ tranh (mao căn), nhà đạo đức (đạo gia) dùng làm nước tắm.
'''Lý Tuân nói:''' Sách Quảng chí vân: Sinh ở sơn cốc vùng Quảng Nam, hợp với các loại danh hương rất kỳ diệu, ưu thắng hơn hẳn loại từ tàu biển đưa tới (bạch thượng lai giả).
'''Lý Thời Trân nói:''' Đây là Bạch mao hương ở Nam Hải, cũng là loại bài hương ngày nay, không phải loại Bạch mao (cỏ tranh) ở gần vùng hay Mao hương hoa ở đất Bắc.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị ngọt (cam), tính bình, không độc.
===【Chủ trị】===
Khử ác khí, khiến thân thể thơm tho. Sắc nước uống trị đau lạnh trong bụng (Tạng Khí). Trẻ nhỏ khắp người mọc mụn lở (sang tiển), hợp với lá Đào sắc canh mà tắm (Lý Tuân).
==BÀI THẢO HƯƠNG (排草香 - Cỏ Bài)==
*(Trích từ sách "Cương mục")
'''Tên khoa học:''' Lysimachia foenum-graecum Hance
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Bài thảo hương xuất phát từ Giao Chỉ (Việt Nam), nay vùng Lĩnh Nam cũng có khi trồng. Là rễ cỏ, màu trắng, trạng như rễ liễu nhỏ, người ta hay dùng vật khác giả mạo pha tạp vào. Xét sách Quế Hải chí của Phạm Thành Đại vân: Bài thảo hương trạng như Bạch mao hương, mùi thơm nồng liệt như xạ hương. Người ta cũng dùng để hợp hương, các loại hương khác không sánh bằng. Lại có Xạ hương mộc, xuất từ Cổ Thành, là đốt lõi cây già mục, khí vị rất giống xạ hương.
===RỄ (根)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Tị xú (trừ mùi hôi), khứ tà ác khí (Thời Trân).
===【Phụ lục】===
BÌNH HƯƠNG (瓶香)
'''Lý Tuân nói:''' Xét Trần Tạng Khí vân: Sinh ở sơn cốc Nam Hải, hình trạng là loài cỏ. Vị nó hàn, không độc. Chủ trị quỷ mị tà tinh, thiên hành thời khí, thảy đều nên đốt lên. Sắc nước rửa chứng thủy thũng phù khí. Cùng gừng sống, hạt cải sắc canh tắm trị phong ngược (sốt rét do phong) rất hiệu quả.
===CANH HƯƠNG (耕香)===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Sinh ở nước Ô Hử, thân mọc lá nhỏ, vị cay ấm không độc, chủ trị quỷ khí, điều trung khứ xú (khử mùi hôi).
'''Lý Thời Trân nói:''' Hai loại hương này đều dạng cỏ, e cũng là loại Bài thảo, nên phụ lục vào đây.
==MÊ ĐIỆP HƯƠNG (迷迭香 - Hương thảo)==
*(Trích từ sách "Bản thảo Thập di")
'''Tên khoa học:''' Rosmarinus officinalis L.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Quảng chí vân: Xuất từ Tây Hải. Sách Ngụy lược vân: Xuất từ nước Đại Tần.
'''Lý Thời Trân nói:''' Thời Ngụy Văn Đế, từ Tây Vực di thực vào trong sân, Đế cùng Tào Thực đều có bài phú về nó. Đại ý cỏ này thân thẳng cành mềm, nhánh nhỏ rễ yếu. Hoa dày kết quả, sương giá không héo. Khi thu hái lấy cả cành lá, cho vào túi đeo bên mình, phương hương rất nồng. Cùng khí vị với Bài hương ngày nay.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Khử ác khí, khiến quần áo thơm, đốt lên trừ quỷ (Tạng Khí).
'''Lý Tuân nói:''' Tính bình không ấm. Hợp với Khương hoạt làm viên, đốt lên tị muỗi dận (muỗi mắt).
==HUỆ XA HƯƠNG (䔾車香)==
*(Trích từ sách "Bản thảo Thập di")
'''Tên khoa học:''' Selinum monnieri (L.) L. (Hoặc một loài thuộc họ Hoa tán)
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Quảng chí vân: Huệ xa hương sinh ở Từ Châu, cao vài thước, lá vàng hoa trắng. Sách Nhĩ nhã gọi là Huệ xa (䔾車), Khất dư (乞輿). Quách Phác vân: Là cỏ thơm vậy.
'''Lý Tuân nói:''' Sinh ở sơn cốc Nam Hải. Sách Tề dân yếu thuật vân: Phàm các loại cây cối bị sâu mọt, sắc hương này để nguội rồi dội vào thì mọt sẽ lánh đi.
'''Lý Thời Trân nói:''' Trong Sở từ có câu: "Khuê lưu di dữ huệ xa". Vậy là người xưa thường trồng nó, cùng loại với Lan hương (Húng quế), Linh lăng (Cỏ linh lăng) ngày nay vậy.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc. '''Lý Tuân nói:''' Hơi hàn.
===【Chủ trị】===
Quỷ khí, khử mùi hôi, và trị sâu mọt ăn cá, ăn quần áo (Tạng Khí). Trị hoắc loạn, tị ác khí, xông quần áo rất tốt (Lý Tuân).
==NGẢI NẠP HƯƠNG (艾納香 - Đại bi / Từ bi)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Blumea balsamifera (L.) DC.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Mã Chí nói:''' Sách Quảng chí vân: Ngải nạp xuất từ Tây quốc, giống cây ngải nhỏ. Lại có loại mọc xanh như áo trên vỏ cây thông (địa y), cũng tên Ngải nạp, có thể dùng hợp các loại hương, đốt lên năng tụ được khói, khói xanh trắng không tan, nhưng không giống loại này.
'''Tô Vũ Tích nói:''' Xét bài Cổ Nhạc phủ vân: "Người Hồ đi từ phương nào tới? Các nước mang thứ gì lại? Đem nệm thảm (Cù du) và Ngũ mộc hương, Mê điệp, Ngải nạp cùng Đô lương." Chính là nó vậy.
===【Khí vị】===
Vị ngọt (cam), tính ấm (ôn), bình, không độc.
===【Chủ trị】===
Khử ác khí, sát trùng, chủ trị bụng lạnh tiết lỵ (Mã Chí). Trị thương hàn ngũ tiết (năm loại tiêu chảy), tâm phúc chú khí, chỉ trường minh (sôi bụng), hạ thốn bạch (giun sán), đốt lên tị ôn dịch, hợp với tổ ong (phong sào) nấu nước tắm trị cước khí rất tốt (Lý Tuân). Trị lác đồng tiền (tếch), tị rắn (Tạng Khí).
==ĐẦU NẠP HƯƠNG (兜納香)==
*(Trích từ sách "Hải dược Bản thảo")
'''Tên khoa học:''' Chưa xác định rõ (Có thể là một loại nhựa cây hương liệu như Styrax sp. hoặc Boswellia sp.)
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Lý Tuân nói:''' Xét sách Quảng chí vân: Xuất từ nước Phiếu thuộc Tây Hải.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính bình, không độc. '''Trần Tạng Khí nói:''' Ngọt, ấm.
===【Chủ trị】===
Ôn trung, trừ bạo lãnh (lạnh đột ngột) (Tạng Khí). Ác sang thũng lậu, chỉ thống sinh cơ (giảm đau mọc thịt), thảy đều cho vào cao mà dùng. Đốt lên tị ác khí ở xa gần. Mang theo bên mình lúc đi đêm giúp tráng đảm (bớt sợ), an thần. Cùng Mao hương, cành Liễu sắc canh tắm cho trẻ nhỏ giúp mau lớn (Lý Tuân).
==TUYẾN HƯƠNG (線香 - Hương nén / Hương nhang)==
*(Trích từ sách "Cương mục")
'''Tên khoa học:''' (Thành phần hỗn hợp các dược liệu)
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Cách hợp hương của người nay rất nhiều, duy có Tuyến hương là có thể dùng trong ngoại khoa (sang khoa). Nguyên liệu gia giảm không nhất định, đại để đa phần dùng bột các vị: Bạch chỉ, Xuyên khung, Độc hoạt, Cam tùng, Tam nại, Đinh hương, Hoắc hương, Cảo bản, Cao lương khương, Giác hồi hương, Liên kiều, Đại hoàng, Hoàng cầm, Bách mộc, Đầu lâu hương... tán mạt, lấy bột vỏ cây du làm hồ hòa lại, dùng ống ép (tức tạc) thành sợi như sợi dây, nên gọi là Tuyến hương (hương sợi). Cũng có khi quấn thành hình các chữ hay vật tượng, dùng dây đồng dây sắt treo lên mà đốt, gọi là Long quái hương.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Xông các chứng sang tiển (ghẻ lở, hắc lào) (Thời Trân).
===【Phụ phương】===
*Mới 1.
* '''Dương mai độc sang (Giang mai):''' Long quái hương, Hài nhi trà, Hạt bồ kết mỗi thứ 1 tiền, Ngân chu 2 tiền, tán mạt, dùng giấy cuốn làm nến, đốt đèn đặt trong thùng, dùng mũi hít khói, ngày ba lần, ba ngày thì dừng. Trong uống thuốc giải độc, mụn nhọt sẽ khô ngay. (Tập giản phương)
==HOẮC HƯƠNG (藿香)==
*(Trích từ sách "Gia Hựu Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Agastache rugosa (Fisch. & C.A.Mey.) Kuntze
===【Hiệu chính】===
'''Khấu Thừa nói:''' Nghi nên xếp vào bộ Thảo (Cỏ).
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Đầu lâu bà hương''' (兜婁婆香).
'''Lý Thời Trân nói:''' Lá đậu gọi là Hoắc (藿), lá cây này giống lá đậu nên đặt tên vậy. Kinh Lăng Nghiêm vân: "Trước đàn dùng hương Đầu lâu bà sắc nước tắm rửa", chính là vị này. Kinh Pháp Hoa gọi là hương Đa ma la bạt, kinh Kim Quang Minh gọi là hương Bát đát la, đều là tiếng Phạn của hai chữ "Đầu lâu" vậy. Kinh Niết Bàn lại gọi là hương Già toán.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Tô Vũ Tích nói:''' Xét sách Nam Châu dị vật chí vân: Hoắc hương xuất phát từ các nước ven biển, hình dáng như Đô lương, lá giống Thủy tô, có thể bỏ vào trong quần áo. Hê Hàm trong Nam Phương thảo mộc trạng vân: Xuất tại các vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, Vũ Bình, Hưng Cổ, quan lại và dân chúng tự trồng lấy, mọc thành bụi, hái vào tháng Năm, tháng Sáu, phơi khô thì tỏa hương thơm.
'''Tô Tụng nói:''' Hoắc hương vùng Lĩnh Nam có rất nhiều, nhà dân cũng trồng nhiều. Tháng Hai mọc mầm, thân cành rất dày, mọc thành khóm, lá giống lá dâu nhưng nhỏ và mỏng, hái vào tháng Sáu, tháng Bảy, phải đợi sắc vàng mới có thể thu hái. Sách Kim Lâu Tử và Du Ích Kỳ thiếp đều vân: Người nước Phù Nam nói "Ngũ hương" (năm loại hương) vốn cùng một cây: rễ là Chiên đàn, mắt (đốt) là Trầm hương, hoa là Kê thiệt (Đinh hương), lá là Hoắc hương, nhựa là Huân lục. Vì vậy Bản thảo xếp "Ngũ hương" chung một mục, ý nghĩa cũng xuất phát từ đây. Nay Hoắc hương ở phương Nam vốn là loài thân thảo, chính là phù hợp với lời Hê Hàm đã nói. Phạm Diệp trong Hợp hương phương vân: "Linh, Hoắc hư táo". Cổ nhân lấy đó để hợp làm hương xông, còn như thuyết của nước Phù Nam kia dường như có phần dối trá.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hoắc hương thân vuông có đốt, giữa rỗng, lá hơi giống lá cà. Trương Khiết Cổ, Lý Đông Viên chỉ dùng lá, không dùng cành cuống. Người nay dùng cả cành cuống vì lá thường hay bị giả mạo vậy. Sách Đường sử vân: Nước Đốn Tốn có Hoắc hương, cắm cành là mọc, lá như Đô lương, chính là nó vậy. Lưu Hân Kỳ trong Giao Châu ký nói Hoắc hương giống Tô hợp hương là nói về khí vị tương tự, không phải nói về hình trạng.
===CÀNH VÀ LÁ (枝葉)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính hơi ấm (vi ôn), không độc.
* '''Trương Nguyên Tố nói:''' Vị cay, ngọt. Lại vân: Vị ngọt đắng, khí đậm vị mỏng, nổi mà thăng lên, thuộc Dương.
* '''Lý Cảo nói:''' Có thể thăng có thể giáng, thuộc Dương. Nhập vào kinh Thủ thái âm (Phổi) và Túc thái âm (Tỳ).
===【Chủ trị】===
Trị phong thủy độc thũng, khứ ác khí, chỉ hoắc loạn tâm phúc thống (Biệt lục). Là vị thuốc trọng yếu trị tỳ vị thổ nghịch (Tô Tụng). Trợ vị khí, khai vị khẩu, giúp ăn uống ngon miệng (Nguyên Tố). Ôn trung khoái khí, phế hư có hàn, thượng tiêu ủng nhiệt, uống rượu bị hôi miệng thì sắc nước súc miệng (Vương Hiếu Cổ).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Lý Cảo nói:''' Cái khí phương hương trợ giúp cho Tỳ Vị, nên Hoắc hương có thể cầm nôn nghịch, giúp ăn uống được.
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Là thuốc của kinh Thủ và Túc thái âm. Vì vậy khi cho vào bài Thuận khí Ô dược tán thì bổ Phế; cho vào bài Hoàng kỳ tứ quân tử thang thì bổ Tỳ vậy.
===【Phụ phương】===
*Mới 6.
* '''Thăng giáng các khí:''' Hoắc hương 1 lạng, Hương phụ (sao) 5 lạng, tán mạt, mỗi lần dùng nước nóng hãm 1 tiền mà uống. (Kinh hiệu tế thế phương)
* '''Hoắc loạn nôn tả sắp chết:''' Uống vào thì hồi sinh. Dùng lá Hoắc hương, Trần bì mỗi thứ nửa lạng, 2 bát nước sắc còn 1 bát, uống ấm. (Bách nhất tuyển phương)
* '''Mùa hè nôn tả:''' Hoạt thạch (sao) 2 lạng, Hoắc hương 2 tiền rưỡi, Đinh hương 5 phân, tán mạt. Mỗi lần uống 1-2 tiền với nước vo gạo. (Vũ giảng sư Kinh nghiệm phương)
* '''Thai khí bất an:''' Khí không thăng giáng, nôn mửa nước chua. Hương phụ, Hoắc hương, Cam thảo mỗi thứ 2 tiền, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền, thêm chút muối, hãm nước sôi điều uống. (Thánh huệ)
* '''Thơm miệng khử mùi:''' Hoắc hương rửa sạch, sắc nước, thường xuyên ngậm và súc miệng. (Trích huyền phương)
* '''Lãnh lộ sang lạn (Lở loét do sương lạnh):''' Lá Hoắc hương, Trà tẻ (tế trà) lượng bằng nhau, đốt thành tro, trộn với dầu bôi lên lá rồi dán vào vết thương. (Ứng nghiệm phương)
==LINH LĂNG HƯƠNG (零陵香 - Cỏ Linh lăng)==
*(Trích từ sách "Khai Bảo Bản Thảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Lysimachia foenum-graecum Hance (hoặc Melilotus officinalis)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Huệ thảo''' (蕙草 - Biệt lục), '''Hương thảo''' (香草 - Khai Bảo).
'''Lý Thời Trân nói:''' Người xưa đốt hương thảo để giáng thần, nên gọi là Huân (薰), gọi là Huệ (蕙). Huân là huân (xông), Huệ là hòa. Sách Hán thư vân: "Huân lấy hương tự đốt mình" chính là nó. Có thuyết nói cổ nhân làm lễ phất trừ (tẩy uế) thường lấy cỏ này xông, nên gọi là Huân, cũng thông. Phạm Thành Đại trong Quế Hải chí nói: Linh Lăng chính là Vĩnh Châu ngày nay, nơi đó không có loại hương này. Chỉ các châu vùng Dung, Nghi là có rất nhiều, thổ dân dùng để dệt chiếu đệm, tính ấm tốt cho người. Cẩn thận xét: Trị sở cũ của Linh Lăng là Toàn Châu ngày nay. Toàn Châu là nguồn của sông Tương, sinh nhiều loại hương này, người nay gọi là Quảng linh lăng hương, ấy mới chính là Huân thảo thật vậy. Còn như Vĩnh Châu, Đạo Châu, Vũ Cương Châu đều là đất thuộc Linh Lăng. Nay vùng Trấn Giang, Đan Dương đều trồng rồi cắt về, vẩy rượu chế biến mới đem bán, hương thơm càng nồng, gọi là Hương thảo, cùng danh xưng với Lan thảo. Sở từ vân: "Đã vun Lan chín mẫu, lại trồng Huệ trăm khoảnh", vậy cổ nhân thảy đều có trồng vậy. Trương Tập trong Quảng nhã vân: Khuẩn là Huân vậy, lá nó gọi là Huệ. Mà Hoàng Sơn Cốc nói loại một cành vài hoa là Huệ, ấy là do không nhận biết Lan thảo, Huệ thảo, nên gượng lấy hoa Lan để phân biệt vậy. Trịnh Tiều khi sửa Bản thảo, nói Lan tức là Huệ, Huệ tức là Linh lăng hương, ấy cũng là ý kiến chủ quan, rất thiếu phân minh. Thực ra Lan thảo và Huệ thảo là một loại nhưng hai giống khác nhau mà thôi.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Huân thảo, một tên là Huệ thảo, sinh ở nơi đất thấp ẩm, hái vào tháng Ba, phơi khô trong râm, loại rụng đốt là tốt. Lại vân: Huệ thực (hạt) sinh ở đồng bằng núi Lỗ Sơn.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Sách Đồng Quân dược lục viết: Lá Huân thảo như lá gai (ma), mọc đối xứng từng đôi. Sơn hải kinh vân: "Núi Phù Sơn có cỏ, lá gai mà thân vuông, hoa đỏ mà quả đen, khí như Mí vu, tên gọi Huân thảo, có thể trị được bệnh lệ (dịch bệnh)". Nay người đời đều gọi cây Yến thảo hình trạng như cỏ tranh mà thơm là Huân thảo, nhà người ta thường trồng, ấy là sai vậy. Các nhà thi thư dùng chữ Huệ nhiều mà rốt cuộc không biết là cỏ gì, chuộng cái tên mà lầm cái thực, đều là loại này cả.
'''Trần Tạng Khí nói:''' Huân thảo chính là Linh lăng hương, Huân chính là rễ của Huệ thảo.
'''Mã Chí nói:''' Linh lăng hương sinh ở sơn cốc vùng Linh Lăng, lá như lá La lặc (Húng quế). Sách Nam Việt chí vân: Thổ dân gọi là Yến thảo, lại tên Huân thảo, chính là Hương thảo vậy. Huân thảo trong Sơn hải kinh chính là nó.
'''Tô Tụng nói:''' Linh lăng hương nay vùng Hồ, Lĩnh các châu đều có, sinh nhiều ở nơi thấp ẩm, lá như lá gai, mọc đối xứng từng đôi, thân vuông, thường vào giữa tháng Bảy nở hoa rất thơm, cổ gọi là Huân thảo vậy. Người Lĩnh Nam đều làm lò sấy, dùng than lửa sấy khô, khiến ngả màu vàng mới là tốt. Vùng Giang Hoài cũng có loại mọc tự nhiên, cũng có thể làm hương, nhưng không bằng loại vùng Hồ Lĩnh, khi khô héo hương càng nồng vậy. Cổ phương chỉ dùng Huân thảo, không dùng Linh lăng hương. Nay các nhà hợp hương và các phép làm mỡ xức mặt, táo đậu (bột tắm) thảy đều dùng tới. Phố xá nơi kinh đô bán rất sẵn.
'''Lý Thời Trân nói:''' Nay duy chỉ có người đất Ngô (vùng Tô Châu) trồng và chế biến, bán ra cũng rất rộng rãi.
==HUÂN THẢO (薰草 - Cỏ Linh lăng)==
*(Trích từ sách "Biệt lục", Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Lysimachia foenum-graecum Hance
===【Khí vị】===
Vị ngọt (cam), tính bình, không độc.
* '''Quyền nói:''' Vị đắng (khổ), không độc.
* '''Lý Tuân nói:''' Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc. Không nên uống nhiều, khiến người bị khí suyễn (thở gấp).
===【Chủ trị】===
Làm sáng mắt, chỉ lệ (ngừng chảy nước mắt), liệu trị tiết tinh, khứ ác khí và mùi hôi, trị thương hàn đầu thống, thượng khí (khó thở), yêu thống (đau lưng) (Biệt lục). Dùng đơn độc trị thịt dư trong mũi (tức nhục), tị lục (chảy máu cam) (Chân Quyền).
'''Linh lăng hương:''' Chủ trị ác khí chú tâm, bụng đau trướng mãn, hạ khí, làm thân thể thơm tho, hòa với các loại hương làm nước tắm hoặc làm hoàn (viên), dùng với rượu thì tốt (Khai Bảo). Chủ trị phong tà xông vào tâm, hư lao cam nặc. Dùng cùng Thăng ma, Tế tân sắc uống trị răng lợi sưng đau rất tốt (Lý Tuân). Trị huyết khí bụng trướng, lấy thân lá sắc rượu uống (Đại Minh). Phụ nữ dùng tẩm dầu dưỡng tóc, thơm không gì bằng.
===【Phát minh】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Huân thảo phương khiết, khí của nó vị cay tán lên trên, nên các chứng tâm phúc ác khí, xỉ thống (đau răng), tị tắc (nghẹt mũi) thảy đều dùng tới. Tỳ vị vốn ưa phương hương, lấy hương thơm để dưỡng mũi là vậy. Uống nhiều gây suyễn là vì nó năng tiêu tán chân khí vậy.
===【Phụ phương】===
*Mới 10.
* '''Thương hàn hạ lỵ (Tiêu chảy do thương hàn):''' Huệ thảo thang: Dùng Huệ thảo, Đương quy mỗi thứ 2 lạng, Hoàng liên 4 lạng, 6 thăng nước sắc còn 2 thăng, ngày uống 3 lần. (Phạm Uông phương)
* '''Thương hàn hồ hoặc (Bệnh loét miệng và hậu môn):''' Huệ thảo, Hoàng liên mỗi thứ 4 lạng. Thái nhỏ, dùng 1 đấu nước tương chua trắng ngâm một đêm, sắc lấy 2 thăng, chia 3 lần uống. (Đoản kịch phương)
* '''Đầu phong huyền vận (Đau đầu chóng mặt):''' Đờm nghịch nôn nao, lười ăn. Linh lăng hương thật, lá Hoắc hương, rễ cỏ Gấu (Hương phụ - sao) lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước trà, ngày 3 lần. (Bản sự phương)
* '''Trẻ nhỏ nghẹt mũi đầu nóng:''' Dùng Huân thảo 1 lạng, tủy cừu 3 lạng. Cho vào nồi nhỏ (điêu) đun lửa nhỏ thành cao, bỏ bã, hằng ngày xoa lên lưng 3, 4 lần. (Thánh huệ phương)
* '''Đầu phong bạch tiết (Gàu da đầu):''' Linh lăng hương, Bạch chỉ lượng bằng nhau, sắc lấy nước, hòa lòng trắng trứng gà khuấy đều, thoa vài chục lần, cả đời không mọc lại. (Thánh huệ phương)
* '''Răng lợi đau nhức:''' Thân lá Linh lăng hương sắc nước, ngậm súc miệng. (Phổ tế phương)
* '''Phong nha cam nha (Sâu răng, cam răng):''' Linh lăng hương (rửa, sấy), Tất bát (sao) lượng bằng nhau, tán mạt xát vào. (Phổ tế phương)
* '''Mộng di thất tinh:''' Huân thảo thang: Dùng Huân thảo, Nhân sâm, Bạch truật, Bạch thược dược, Sinh địa hoàng mỗi thứ 2 lạng, Phục thần, Quế tâm, Cam thảo (chích) mỗi thứ 2 lạng, Đại táo 12 quả, 8 thăng nước sắc còn 3 thăng, chia 2 lần uống. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Phụ nữ đoạn sản (Triệt sản):''' Linh lăng hương tán mạt, uống 2 tiền với rượu. Mỗi lần uống đến 1 lạng thì một năm không thụ thai. Bởi huyết hễ gặp hương thơm là tán vậy. (Y lâm tập yếu)
* '''Ngũ sắc chư lỵ (Lỵ các loại):''' Phản hồn đan: Dùng cỏ Linh lăng hương bỏ rễ, ngâm rượu muối nửa tháng, sao khô. Mỗi lạng cho thêm 1 tiền rưỡi Mộc hương Quảng, tán mạt. Người mót rặn bụng đau dùng nước lạnh uống 1 tiền rưỡi, đi tiêu 3, 4 lần thì dùng nước cơm nóng uống 1 tiền rưỡi để cầm lỵ. Chỉ kỵ ăn lê sống. (Tập giản phương)
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính bình, không độc.
===【Chủ trị】===
Sáng mắt, bổ trung (Biệt lục).
'''DỊCH TRONG THÂN CÂY (根莖中涕)'''
===【Chủ trị】===
Thương hàn hàn nhiệt ra mồ hôi, trúng phong mặt sưng, tiêu khát nhiệt trung, trục thủy (Biệt lục). Chủ trị ngũ trĩ thoát giang có trùng (Thời Trân - trích từ "Thiên kim").
==LAN THẢO (蘭草 - Mần tưới)==
*(Trích từ sách "Bản kinh", Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Eupatorium fortunei Turcz.
===【Thích danh】===
Nhàn ( ), Thủy hương (Bản kinh), Hương thủy lan (Khai Bảo), Nữ lan (Cương mục), Hương thảo (Cương mục), Yến vĩ hương (Khai Bảo), Đại trạch lan (Pháo chích luận), Tiền trạch thảo (Hoằng Cảnh), Lan trạch thảo (Đường bản), Tỉnh đầu thảo (Cương mục), Đô lương hương (Lý Đương Chi), Hài nhi cúc (Cương mục), Thiên kim thảo.
'''Mã Chí nói:''' Lá như Mã lan nên gọi Lan thảo. Lá có xẻ thùy, tục gọi Yến vĩ hương (Hương đuôi én). Người thời đó nấu nước để tắm trị phong, nên lại có tên Hương thủy lan.
'''Trần Tạng Khí nói:''' Lan thảo sinh bên đầm, phụ nữ dùng hòa dầu dưỡng tóc (trạch đầu) nên gọi Lan trạch. Thịnh Hoằng Chi trong Kinh Châu ký vân: Đô Lương có núi, dưới núi có suối mọc loại cỏ này nên gọi Đô lương hương.
'''Lý Thời Trân nói:''' Đô Lương nay là Võ Cương Châu; huyện Hu Di quận Lâm Hoài cũng có núi Đô Lương sản sinh loại hương này. Lan là cỏ thơm, năng tị bất tường (đuổi điềm xấu). Lục Cơ trong Thi sớ nói: Theo tục người Trịnh, tháng Ba nam nữ cầm cỏ Lan bên bờ nước để tẩy uế (phất trừ). Lan là để ngăn chặn (lan chi), Nhàn là để ngăn giữ (nhàn chi), ý nghĩa là một. Hoài Nam Tử vân: "Đàn ông trồng Lan, tốt mà không thơm". Vậy Lan phải do phụ nữ trồng, cái tên Nữ lan có lẽ từ đó. Lá nó như lá Cúc, phụ nữ trẻ nhỏ thích đeo bên mình, tên Nữ lan, Hài cúc có lẽ cũng từ đó. Đường Dao kinh nghiệm phương nói: Nhà dân vùng Giang Nam trồng nó, mùa hạ hái đặt vào trong tóc để đầu không hôi, nên tên là Tỉnh đầu thảo (Cỏ tỉnh đầu). Thuyết ấy chính hợp với nghĩa "Tiền trạch" (nấu làm dầu bóng). Cổ nhân gọi Lan và Huệ đều là hương thảo, sau này gọi tắt là Hương thảo mà thôi. Đời gần đây chỉ biết hoa Lan (Lan hoa), không biết cỏ Lan (Lan thảo). Duy có Hư Cốc Phương Hồi khảo đính, khẳng định cỏ Lan xưa chính là Thiên kim thảo ngày nay, tục gọi Hài nhi cúc, thuyết ấy có căn cứ. Xem thêm phần Chính ngộ bên dưới.
===【Tập giải】===
*Biệt lục viết: Lan thảo sinh ở đầm ao vùng Thái Ngô, hái vào tháng Tư, tháng Năm.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Thầy thuốc và dân thường đều không biết dùng. Thái Ngô ứng là nơi ở của Ngô Quốc Thái Bá. Nay vùng Đông Gian có Tiền trạch thảo tên là Lan hương, có lẽ là nó vậy. Lý Đương Chi vân: Chính là loại Đô lương hương thảo người nay trồng. Trạch lan cũng tên Đô lương hương.
'''Tô Cung nói:''' Lan chính là Lan trạch hương thảo vậy. Thân tròn đài tím, tháng Tám hoa trắng. Tục gọi Lan hương, nấu nước tắm. Sinh bên khe suối, nhân gian trồng nhiều để trang trí sân ao. Loại Đào dẫn là Tiền trạch thảo, Đô lương hương chính là nó, nhưng không nhận biết rõ.
'''Tiêu Bảo Thăng nói:''' Sinh nơi thấp ẩm, lá như Trạch lan, nhọn dài có xẻ thùy, hoa hồng trắng mà thơm.
'''Trần Tạng Khí nói:''' Lan thảo và Trạch lan là hai vật cùng tên, Đào không biết, Tô cũng phân biệt đại khái. Lan thảo sinh bên đầm, lá bóng mượt, mặt dưới tím nhỏ, hái tháng Năm, tháng Sáu phơi trong râm, chính là Đô lương hương. Trạch lan lá nhọn hơi có lông, không bóng, thân vuông đốt tím, mới hái hơi cay, khô cũng cay. Tô nói tháng Tám hoa trắng là Trạch lan, lấy đó chú giải Lan thảo là rất sai lầm.
'''Lý Thời Trân nói:''' Lan thảo và Trạch lan là một loại hai giống vậy. Đều sinh nơi thấp ẩm gần nước. Tháng Hai rễ cũ mọc mầm thành khóm, thân tím cành trắng, đốt đỏ lá xanh, lá mọc đối xứng ở đốt, có răng cưa nhỏ. Nhưng loại thân tròn đốt dài, lá bóng có xẻ thùy là Lan thảo; loại thân hơi vuông, đốt ngắn lá có lông là Trạch lan. Lúc non đều có thể hái đeo bên mình, sau tháng Tám Chín dần già, cao ba bốn thước, nở hoa thành bông như hoa Kê tô, màu hồng trắng, trong có hạt nhỏ. Lôi Công gọi Lan thảo là Đại trạch lan, gọi Trạch lan là Tiểu trạch lan vậy. Các điển tích đeo Lan, tắm Lan hay dùng làm hương liệu đuổi mọt thảy đều chỉ hai loại Lan này.
===【Chính ngộ】===
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Thuyết về Lan thảo của các nhà có dị đồng, không nhận biết rõ nên không có định luận. Nay vùng núi Giang Lăng có nhiều, lá như Mạch môn đông mà rộng và dai, bốn mùa xanh tươi. Hoa vàng xanh, cánh có điểm tím nhỏ. Nở mùa xuân là Xuân lan, mùa thu là Thu lan. Khi nở thơm nức phòng.
'''Chu Chấn Hanh nói:''' Lá Lan bẩm thụ khí Kim Thủy mà như có Hỏa, người ta biết quý hương hoa mà không biết lá có phương thuốc. Lá nó năng tán khí tích uất rất có lực, chính là loại trồng đặt bên chỗ ngồi ngày nay.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hai vị trên nói là Lan hoa (hoa Lan) ngày nay, không phải Lan thảo (cỏ Lan) cổ. Lan có mấy loại: Lan thảo và Trạch lan sinh bên nước; Sơn lan là Lan thảo sinh trong núi. Lan hoa cũng sinh trong núi nhưng khác biệt hoàn toàn với ba loại kia. Lan hoa ở gần lá như Mạch môn đông hoa mùa xuân; ở Phúc Kiến lá như cỏ Gian mao hoa mùa thu. Hoàng Sơn Cốc gọi một cành một hoa là Lan, một cành vài hoa là Huệ là do không biết Lan thảo và Huệ thảo nên gượng phân biệt Lan hoa vậy. Lan thảo và Trạch lan cùng loại, lá rộng đốt dài. Lan hoa chỉ có lá không cành, chỉ để ngắm chứ không thể đeo, tắm hay đốt làm hương như Lan thảo được. Các học giả đời sau như Chu Tử, Phương Hư Cốc, Dương Thăng Am thảy đều biện bạch cực kỳ tường tận: Lan xưa là thuốc thượng phẩm trong Y kinh, có cành có thân, là loài thảo mộc trồng được. Nay gọi Lan là loại không cành không thân (hoa Lan).医经为实用,岂可误哉? (Y kinh vì thực dụng, há có thể lầm chăng?). Lan ngày nay quả có thể lợi thủy sát cổ trừ đờm bĩ không? Loại đó thịnh ở Mân (Phúc Kiến), Chu Tử người Mân lẽ nào không biết thổ sản mà lại biện析 như vậy? Người đời nay vẫn lấy phi Lan (không phải Lan) làm Lan, thật là khó giải cái hoặc (mê muội) này vậy. Quan sát các bậc Nho giả minh析 như vậy thì cái sai của Khấu, Chu hai thị đã rõ, và thầy thuốc dùng Lan thảo sẽ không còn nghi ngờ nữa.
===LÁ (葉)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính bình, không độc. '''Lý Cảo nói:''' Ngọt (cam), lạnh (hàn).
===【Chủ trị】===
Lợi thủy đạo (đường tiểu), sát cổ độc, tị bất tường (đuổi điềm gở). Uống lâu ích khí khinh thân bất lão, thông thần minh (Bản kinh). Trừ đờm bĩ trong ngực (Biệt lục). Sinh huyết, điều khí, dưỡng doanh (Lý Tuân). Khí thanh hương, sinh tân chỉ khát, nhuận cơ nhục, trị tiêu khát đạm đản (Lý Cảo). Sắc nước tắm trị phong bệnh (Mã Chí). Tiêu ung thũng, điều kinh nguyệt. Sắc nước giải trúng độc trâu ngựa (Thời Trân). Chủ trị ác khí, tẩm dầu làm cao bôi tóc (Tạng Khí).
===【Phát minh】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét Tố Vấn vân: "Ngũ vị nhập khẩu, tàng ở Tỳ Vị, để hành tinh khí của nó. Tân dịch ở Tỳ khiến người bị miệng ngọt (cam), ấy là do chất béo mỹ vị phát ra. Khí ấy tràn lên trên, chuyển thành tiêu khát. Trị bằng Lan, để trừ trần khí vậy." Vương Băng chú: "Vị cay năng phát tán vậy." Lý Đông Viên trị tiêu khát dùng lá Lan là gốc ở đây. Lại cỏ này tẩm dầu bôi tóc, khử phong cáu, khiến thơm mượt. Bài Tứ thời nguyệt lệnh của Thôi Thực có phép làm dầu Lan (Hương trạch pháp): Dùng dầu trong tẩm Lan hương, Hoắc hương, Kê thiệt hương, lá Mục túc bốn loại, dùng bông mới bọc, ngâm dầu mè (hồ ma du), hòa mỡ lợn cho vào nồi đồng, đun sôi, cho chút Thanh hào, dùng bông đậy miệng bình, rót ra dùng.
===【Phụ phương】===
*Mới 1.
* '''Ăn thịt trâu ngựa trúng độc chết người:''' Tỉnh đầu thảo (cả rễ lá), sắc nước uống là khỏi ngay. (Đường Dao kinh nghiệm phương)
==TRẠCH LAN (澤蘭 - Cỏ Nhọ nồi/Cỏ Lan nước)==
*(Trích từ sách "Bản kinh", Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Lycopus lucidus Turcz. var. hirtus Regel
===【Hiệu chính】===
Nhập chung với mục '''Địa duẩn''' (地筍) trong sách Gia Hựu.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Thủy hương''' (水香 - Ngô Phổ), '''Đô lương hương''' (都梁香 - Hoằng Cảnh), '''Hổ lan''' (虎蘭 - Bản kinh), '''Hổ bồ''' (虎蒲 - Biệt lục), '''Long táo''' (龍棗 - Bản kinh), '''Hài nhi cúc''' (孩兒菊 - Cương mục), '''Phong dược''' (風藥 - Cương mục). Rễ tên là '''Địa duẩn''' (地筍 - Gia Hựu).
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Sinh ở bên đầm (trạch), nên tên là Trạch lan, cũng tên là Đô lương hương.
'''Lý Thời Trân nói:''' Cỏ này cũng có thể làm dầu thơm dưỡng tóc (hương trạch), không chỉ vì nó sinh bên đầm mà đặt tên. Người vùng Tề An gọi là Phong dược. Sách Ngô Phổ bản thảo gọi là Thủy hương. Đào thị nói cũng tên Đô lương. Nay dân gian thông gọi là Hài nhi cúc, ấy chính là minh chứng nó cùng với Lan thảo (Mần tưới) là một vật hai giống vậy. Rễ nó ăn được, nên gọi là Địa duẩn (măng đất).
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Trạch lan sinh bên các đầm lớn vùng Nhữ Nam, hái vào ngày mồng 3 tháng Ba, phơi trong râm.
'''Ngô Phổ nói:''' Sinh bên nước nơi đất thấp, lá như lá Lan, tháng Hai mọc mầm, đốt đỏ, bốn lá mọc đối nhau giữa các cành và đốt.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nay nơi nơi đều có. Sinh nhiều ở nơi thấp ẩm. Lá hơi thơm, có thể ép lấy dầu hoặc làm nước tắm. Nhà dân trồng nhiều, nhưng lá hơi khác. Nay trong núi lại có một loại rất giống, thân vuông, lá nhỏ và cứng, không thơm lắm. Đã gọi là Trạch lan thì loại trong núi là không phải, vậy mà nhà thuốc vẫn hái dùng.
'''Tô Cung nói:''' Trạch lan thân vuông đốt tím, lá giống Lan thảo nhưng không thơm lắm, loại người ở kinh đô đang dùng chính là nó. Thuyết của Đào thị thực ra là Lan thảo (thân tròn, đài tím, hoa trắng), hoàn toàn không phải Trạch lan.
'''Tô Tụng nói:''' Nay các vùng Kinh, Từ, Tùy, Thọ, Thục, Ngô Châu, Hà Trung phủ đều có. Rễ màu tím đen như rễ cỏ tẻ. Tháng Hai mọc mầm cao hai ba thước. Thân cành màu xanh tím, có bốn cạnh (tứ lăng). Lá mọc đối xứng như lá Bạc hà, hơi thơm. Tháng Bảy nở hoa màu tím trắng, đài hoa cũng màu tím, giống hoa Bạc hà. Tháng Ba hái mầm phơi trong râm. Người vùng Kinh, Hồ, Lĩnh Nam trồng rất nhiều. Loại ở Thọ Châu không có hoa hạt. Loại này với Lan thảo đại để tương tự, nhưng Lan thảo sinh bên nước, lá bóng mượt, mặt dưới tím nhỏ, thịnh vào tháng Năm, Sáu; còn Trạch lan sinh trong đầm nước và nơi thấp ẩm, lá nhọn, hơi có lông, không bóng, thân vuông đốt tím, hái vào tháng Bảy, Tám thì vị hơi cay, đó là điểm khác biệt.
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng phải phân biệt đực cái (thư hùng). Đại trạch lan thân lá đều tròn, rễ xanh vàng, năng sinh huyết điều khí (là Lan thảo); khác hẳn với Tiểu trạch lan, lá có đốm, đầu rễ nhọn, năng phá huyết, thông tích tụ lâu ngày (là Trạch lan).
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Trạch lan vừa ra khỏi đất đã phân cành nhánh, lá đều như lá Cúc nhưng nhọn dài. Ngô Phổ nói lá giống Lan là sai. Nay lá Lan giống Mạch môn đông, hoàn toàn không tương tự.
'''Lý Thời Trân nói:''' Lời Ngô Phổ nói mới là chân Trạch lan. Lời Lôi Công nói: Đại trạch lan chính là Lan thảo; Tiểu trạch lan chính là Trạch lan này. Lời Khấu Tông Thiết nói về Trạch lan thì đúng, nhưng bác bỏ lời Ngô Phổ là sai, ấy là do lầm nhận hoa Lan (Lan hoa) là Lan thảo vậy. Xem chi tiết ở phần Chính ngộ của mục Lan thảo.
===LÁ (葉)===
===【Tu trị – Bào chế】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm dùng Đại, Tiểu trạch lan, thái nhỏ, dùng túi lụa đựng, treo ở góc phía Nam hiên nhà cho khô mà dùng.
===【Khí vị】===
Vị đắng (khổ), tính hơi ấm (vi ôn), không độc.
* '''Sách "Biệt lục" viết:''' Vị ngọt (cam).
* '''Ngô Phổ dẫn Thần Nông, Hoàng Đế, Kỳ Bá, Đồng Quân:''' Vị chua (toan), không độc.
* '''Lý Đương Chi:''' Hơi ấm (tiểu ôn).
* '''Chân Quyền:''' Đắng, cay (tân).
* '''Từ Chi Tài:''' Phòng kỷ làm sứ.
===【Chủ trị】===
Phụ nữ nuôi con bị huyết ứ bên trong (nội nục), trúng phong di chứng, bụng to thủy thũng, mặt thân bốn chi phù thũng, nước đọng trong cốt tiết, kim sang (vết thương do khí giới), ung thũng sang nùng (Bản kinh). Sản sau bị huyết ứ nghẹt bên trong (Biệt lục). Đau bụng sau sinh, đẻ dày khiến huyết khí suy lạnh dẫn đến lao gầy, phụ nữ huyết lậu đau lưng (Chân Quyền). Trị trăm bệnh trước và sau sinh, thông chín khiếu, lợi khớp xương, dưỡng huyết khí, phá huyết cũ (túc huyết), tiêu trưng hà, thông tiểu trường, làm mọc thịt, tiêu huyết ứ do vấp ngã, trị chảy máu cam, nôn ra máu, đầu phong mắt đau, phụ nữ lao gầy, đàn ông mặt vàng (Đại Minh).
===【Phát minh】===
'''Tô Tụng nói:''' Trạch lan là vị thuốc cấp dụng nhất trong các phương thuốc phụ khoa. Cổ nhân có rất nhiều bài Trạch lan hoàn trị bệnh phụ nữ.
'''Lý Thời Trân nói:''' Lan thảo và Trạch lan khí thơm mà ấm, vị cay mà tán, là âm trung chi dương (phần dương trong âm), là thuốc của kinh Túc thái âm (Tỳ) và Túc quyết âm (Gan). Tỳ ưa phương hương, Gan hợp tân tán. Tỳ khí thư thái thì tam tiêu thông lợi mà chính khí hòa; Gan uất tiêu tán thì vinh vệ lưu hành mà bệnh tà giải. Lan thảo đi vào phần Khí (khí đạo), nên năng lợi thủy đạo, trừ đờm bĩ, sát trùng tị ác, là vị thuốc tốt trị tiêu khát; Trạch lan đi vào phần Huyết (huyết phân), nên năng trị thủy thũng, đắp ung độc, phá huyết ứ, tiêu trưng hà, là vị thuốc yếu yếu của phụ nữ. Tuy cùng một loại nhưng công dụng hơi khác, giống như Phục linh xích trắng, Thược dược đỏ trắng, bổ tả đều không đồng vậy. Lôi Công nói: loại "cái" (thư) điều khí sinh huyết, loại "đực" (hùng) phá huyết thông tích, chính hợp với chủ trị của hai loại Lan. Đại trạch lan chính là Lan thảo (Mần tưới), điều này càng có căn cứ. Huyết sinh ra từ Khí, nên nói là "điều khí sinh huyết" vậy. Lại Tuân Tử vân: "Trạch chỉ dĩ dưỡng tị" (Trạch lan và Bạch chỉ dùng để dưỡng mũi), ý nói khí phương hương của hai vị này thông thấu tới Phổi vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 1, mới 4.
* '''Sản sau thủy thũng, huyết hư phù thũng:''' Trạch lan, Phòng kỷ lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước giấm. (Trương Văn Trọng "Bị cấp phương")
* '''Ung sang mới mọc:''' Trạch lan giã đắp, rất tốt. (Tập giản phương)
* '''Tổn thương ứ thũng:''' Phương như trên.
* '''Sản sau âm phiên:''' Sau khi sinh âm hộ nóng rát khô táo, rồi bị lộn ngược ra (phiên hoa). Trạch lan 4 lạng, sắc nước xông rửa 2, 3 lần, sau đó thêm Khô phèn vào sắc rửa là yên. (Tập giản phương)
==ĐỊA DUẨN (地筍 - Măng đất/Rễ trạch lan)==
*(Trích từ sách "Gia Hựu Bản Thảo" thời Tống)
===【Khí vị】===
Vị ngọt, cay, tính ấm, không độc.
===【Chủ trị】===
Lợi chín khiếu, thông huyết mạch, bài nùng trị huyết (Tạng Khí). Chỉ mũi chảy máu xối xả, nôn ra máu, sản sau tâm phúc thống. Sản phụ có thể dùng làm rau ăn, rất tốt (Đại Minh).
===TỬ (子 - Hạt trạch lan)===
===【Chủ trị】===
Phụ nữ ba mươi sáu bệnh (Dùng trong bài Thừa trạch hoàn của sách Thiên kim phương).
==MÃ LAN (馬蘭 - Cúc hoang/Mã lan)==
*(Trích từ sách "Nhật Hoa Bản Thảo")
'''Tên khoa học:''' Aster indicus L.
===【Thích danh】===
'''Tử cúc''' (紫菊).
'''Lý Thời Trân nói:''' Lá giống Lan mà lớn, hoa giống Cúc mà màu tím, nên gọi tên vậy. Tục thường gọi vật gì lớn là "Mã".
===【Tập giải】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Mã lan sinh bên đầm, giống Trạch lan mà khí hôi. Sở từ dùng cỏ xấu (ác thảo) để ví với người xấu. Người phương Bắc thấy hoa gọi là Tử cúc, vì nó giống hoa cúc cánh đơn màu tím. Lại có Sơn lan, sinh bên sườn núi, giống Lưu ký nô, lá không xẻ thùy, không mọc đối, tâm hoa hơi vàng đỏ, cũng năng đại phá huyết, đều có thể dùng.
'''Lý Thời Trân nói:''' Mã lan nơi đầm hồ thấp ẩm có rất nhiều. Tháng Hai mọc mầm, thân đỏ rễ trắng, lá dài có răng cưa, hình trạng giống Trạch lan nhưng không thơm. Người phương Nam thường hái về phơi khô làm rau hoặc làm nhân bánh mặn. Vào hạ cao hai ba thước, nở hoa tím, hoa tàn có hạt nhỏ. Sở từ không có tên Mã lan, Trần thị chỉ đó là cỏ xấu, dựa vào đâu?
===RỄ VÀ LÁ (根、葉)===
===【Khí vị】===
Vị cay, tính bình, không độc.
===【Chủ trị】===
Phá huyết cũ, dưỡng huyết mới, chỉ chảy máu cam, nôn ra máu, gắn vết thương (kim sang), cầm máu lỵ, giải tửu đản (vàng da do rượu) và các độc nấm, độc trùng. Giã sống đắp rắn cắn (Đại Minh). Chủ trị các chứng sốt rét (ngược) và đau bụng cấp, trĩ sang (Tạng Khí).
===【Phát minh】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Mã lan vị cay tính bình, năng nhập vào huyết phân của kinh Dương minh, nên trị huyết có công hiệu tương đồng với Trạch lan. Gần đây người ta dùng trị trĩ lậu nói là có hiệu quả. Xuân hạ lấy loại tươi, thu đông lấy loại khô, không dùng muối giấm, sắc với nước trắng mà ăn, uống cả nước. Hoặc dùng rượu nấu rồi sấy khô tán bột, làm viên với hồ, uống hằng ngày với nước cơm. Lại sắc nước thêm chút muối xông rửa hằng ngày. Sách Y học tập thành vân: Trị trĩ dùng rễ Mã lan giã đắp một lát, thấy thịt bằng lại thì bỏ đi, nếu chậm e rằng thịt lại lòi ra.
===【Phụ phương】===
*Mới 6.
* '''Các chứng sốt rét hàn nhiệt:''' Mã lan chân đỏ giã lấy nước, thêm chút nước lọc, uống vào sáng sớm ngày phát bệnh, hoặc thêm chút đường cũng được. (Thánh tế tổng lục)
* '''Sát thống (đau bụng cấp):''' Rễ lá Mã lan, nhai kỹ nuốt nước, lập tức yên. (Thọ vực thần phương)
* '''Đánh bị thương chảy máu:''' Trúc tiết thảo tức là Mã lan, cùng Cỏ mực (Hạn liên thảo), Tùng hương, lá Bồ kết (Hỏa tử diệp). Tán mạt, rắc vào vết đứt. (Trích huyền phương)
* '''Hầu tý khẩu khẩn (Viêm họng cứng hàm):''' Dùng Địa bạch căn tức rễ Mã lan, hoặc lá giã nước, thêm chút giấm gạo, nhỏ vào lỗ mũi hoặc đổ vào họng, lấy được đờm ra là tự mở miệng được. (Thử hiệu phương)
* '''Thủy thũng tiểu rít:''' Mã lan một nắm tay, đậu đen, lúa mì mỗi thứ một nhúm. Rượu và nước mỗi thứ một chén, sắc còn một chén, uống ấm trước khi ăn để lợi tiểu, bốn năm ngày là khỏi. (Giản tiện phương)
* '''Triền xà đan độc (Zona/Giời leo):''' Mã lan, Cam thảo giã với giấm mà bôi. (Tế cấp phương)
===【Phụ lục】===
* '''Ma bá (麻伯):''' Biệt lục gọi là danh hữu vị dụng. Vị chua, không độc. Chủ ích khí, ra mồ hôi. Một tên Quân củ, một tên Diễn thảo. Sinh ở Bình Lăng, giống Lan, lá đen dày trắng bọc thân, quả đỏ đen. Tháng Chín hái rễ.
* '''Tương ô (相烏):''' Vị đắng, chủ âm nuy (liệt dương). Một tên Ô khuê. Giống Lan hương, thân đỏ, sinh ở Sơn Dương, hái ngày rằm tháng Năm, phơi trong râm.
* '''Thiên hùng thảo (天雄草):''' Vị ngọt, ấm, không độc. Chủ ích khí âm nuy. Sinh trong đầm núi, trạng như Lan, quả như đậu nành, màu đỏ.
==ÍCH NÃI THẢO (益奶草)==
*(Trích từ sách "Bản thảo Thập di")
'''Tên khoa học:''' Lycopus lucidus Turcz. (Một dạng của Trạch lan/Cỏ chân vịt)
'''Trần Tạng Khí nói:''' Vị đắng (khổ), tính bình, không độc. Chủ trị ngũ trĩ, thoát giang, chỉ huyết (cầm máu). Nướng (chích) cho thơm, ngâm rượu uống. Sinh ở sơn cốc vùng Vĩnh Gia, lá như Trạch lan, thân đỏ, cao hai, ba thước.
==HƯƠNG NHU (香薷)==
*(Phát âm là "Nhu". Trích từ sách "Biệt lục", Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyl.
===【Hiệu chính】===
Từ bộ Rau (Thái bộ) chuyển vào đây.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Hương nhu''' (香柔 - Thực liệu), '''Hương nhung''' (香茸 - Thực liệu), '''Hương thái''' (香菜 - Thiên kim), '''Mật ong thảo''' (蜜蜂草 - Cương mục).
'''Lý Thời Trân nói:''' Chữ "Nhu" (薷) nguyên gốc viết là 葇. Sách Ngọc Thiên vân: 葇 là loại rau như cây Tô (tía tô), chính là nó vậy. Khí nó thơm (hương), lá nó mềm (nhu), nên đặt tên như thế. Cỏ mới mọc gọi là Nhung (茸), Mạnh Tiễn trong sách Thực liệu viết là Hương nhung (香戎) là sai. Tục gọi là Mật ong thảo (Cỏ mật ong) vì hoa của nó trông như tổ ong vậy.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nhà nhà đều có, làm rau ăn sống. Tháng Mười hái về phơi khô.
'''Tô Tụng nói:''' Nơi nào cũng trồng, nhưng đất Bắc thì ít hơn, giống cây Bạch tô (tía tô trắng) nhưng lá mịn hơn. Vùng Thọ Xuân và Tân An đều có. Ở đó lại có một loại Thạch hương (Hương nhu đá), mọc trên đá, thân lá nhỏ mịn hơn, màu vàng mà vị cay thơm cực nồng, dùng loại này càng tốt. Người đất Ngô dùng nó thay cho Nhân trần.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Hương nhu sinh nơi hoang dã, Kinh Nam, Kinh Bắc và hai vùng Xuyên đều có. Vùng Biện, Lạc thì trồng trong vườn, tháng nóng cũng làm rau ăn. Lá như Nhân trần, hoa nhung màu tím, mọc liền nhau thành bông, phàm bốn, năm mươi phòng hoa kết thành một bông, giống bông Kinh giới, có mùi thơm riêng biệt.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hương nhu có loại mọc hoang, có loại nhà trồng. Người miền Trung Châu tháng Ba gieo mầm, gọi là Hương thái để làm rau ăn. Chu Đan Khê duy chỉ lấy loại lá lớn là tốt, nhưng loại lá nhỏ thì hương thơm nồng liệt hơn, người nay dùng nhiều. Thân vuông, lá nhọn có răng cưa, khá giống lá Hoàng kinh (ngũ trảo) nhưng nhỏ hơn, tháng Chín nở hoa tím kết bông. Loại có hạt nhỏ lá nhỏ, chỉ cao vài tấc, lá như lá cây Chổi xuể (Lạc帚), chính là Thạch hương nhu vậy.
===【Tu trị – Bào chế】===
'''Lôi Công nói:''' Phàm hái về phải bỏ rễ giữ lá, thái nhỏ phơi khô, chớ để chạm lửa. Uống đủ mười lạng thì suốt đời không được ăn quả Sơn đào trắng.
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính hơi ấm (vi ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Hoắc loạn bụng đau nôn tả, tán thủy thũng (Biệt lục). Trừ nhiệt phong, trị người bị chuột rút (chuyển cân) đột ngột. Nấu nước hoặc tán mạt uống với nước, chỉ tị nục (cầm máu cam) (Mạnh Tiễn). Hạ khí, trừ phiền nhiệt, liệu trị nôn nghịch khí lạnh (Đại Minh). Mùa xuân nấu nước uống thay trà có thể tránh bệnh nhiệt, điều trung ôn vị. Ngậm nước sắc súc miệng trừ mùi hôi (Uông Dĩnh). Chủ trị cước khí lạnh...
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Chứng hoắc loạn nấu nước uống không ai không khỏi, làm cao (cao tiễn) trừ thủy thũng cực tốt.
'''Tô Tụng nói:''' Hoắc loạn chuột rút thì sắc riêng vị này mà uống. Nếu tứ chi phiền lạnh, ra mồ hôi và khát thì thêm hạt Rau răm (Lưu tử) cùng nấu uống.
'''Chu Chấn Hanh nói:''' Hương nhu thuộc Kim và Thủy, có công hiệu thấu suốt trên dưới. Giải thử (nắng), lợi tiểu tiện, lại trị thủy thũng rất nhanh, lấy loại lá lớn sắc đặc làm hoàn mà uống. Phổi (Phế) được vị này thì thanh hóa hành thông mà nhiệt tự hạ vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Thầy thuốc đời nay trị bệnh mùa hè thường lấy Hương nhu ẩm làm vị thuốc đầu bảng. Tuy nhiên, cái "Thử" (nắng nóng) có loại do hóng mát uống lạnh, khiến dương khí bị âm tà ngăn trở, dẫn đến đau đầu, phát sốt sợ lạnh, phiền táo miệng khát, hoặc nôn hoặc tả, hoặc hoắc loạn. Nên dùng thuốc này để phát việt dương khí, tán thủy hòa tỳ. Còn như người ăn uống không tiết độ, lao dịch quá sức, bị thương thử mà đại nhiệt đại khát, mồ hôi chảy như mưa, phiền táo suyễn thở, hoặc tả hoặc nôn, đó là chứng nội thương lao quyện, nhất định phải dùng các bài như Thanh thử ích khí thang của Đông Viên, Nhân sâm bạch hổ thang để tả hỏa ích nguyên mới được. Nếu dùng Hương nhu thì là làm hư thêm phần biểu, lại bồi thêm nhiệt vậy. Bởi Hương nhu là thuốc giải biểu mùa hè, giống như mùa đông dùng Ma hoàng, người khí hư càng không được uống nhiều. Người nay không biết nắng nóng làm thương nguyên khí, bất kể có bệnh hay không đều dùng thay trà để phòng nắng, thật là kẻ mê nói mộng. Vả lại tính nó ấm, không được uống nóng, trái lại sẽ gây nôn nghịch. Người uống chỉ nên uống nguội, thì không lo bị cự cách (khó chịu). Công hiệu trị thủy của nó quả có kỳ hiệu. Vợ một người sĩ phu từ thắt lưng trở xuống sưng phù, mặt và mắt cũng sưng, suyễn gấp sắp chết, không thể nằm xuống gối, đại tiện lỏng tả, tiểu tiện ít, uống thuốc không hiệu quả. Thời Trân chẩn mạch thấy trầm mà đại. Trầm chủ thủy, Đại chủ hư, ấy là do sau khi bệnh bị nhiễm gió, gọi là phong thủy. Dùng bài Thần bí thang trong sách Thiên kim gia thêm Ma hoàng, uống một liều suyễn định được năm phần. Lại dùng Vị linh thang nuốt kèm Nhu truật hoàn của Thâm sư, hai ngày tiểu tiện thông dài, thũng tiêu được bảy phần, điều lý vài ngày là yên hoàn toàn. Càng thấy phương thuốc của cổ nhân đều có chí lý, chỉ là ở người biết dùng linh hoạt hay không mà thôi.
===【Phụ phương】===
*Cũ 4, mới 6.
* '''Tất cả các chứng thương thử:''' Hòa tễ cục phương Hương nhu ẩm: Trị mùa hè nằm nơi ẩm thấp hóng gió, hoặc ăn đồ sống lạnh không tiết độ, khiến chân khí và tà khí xung đột, gây nôn tả, hoặc phát sốt đau đầu đau mình, hoặc tâm phúc thống, hoặc chuột rút, hoặc nôn khan, tứ chi lạnh toát, phiền muộn sắp chết, thảy đều chủ trị. Dùng Hương nhu 1 cân, Hậu phác (tẩm gừng nướng), Bạch biển đậu (sao hơi vàng) mỗi thứ nửa cân, thái nhỏ. Mỗi lần dùng 5 tiền, 2 chén nước, nửa chén rượu, sắc còn 1 chén, để vào nước cho nguội lạnh, uống liên tiếp 2 liều lập tức hiệu nghiệm.
* '''Bệnh thủy thũng sưng lớn:''' Hương nhu tiễn của Hồ Hiệp cư sĩ: Dùng Hương nhu khô 50 cân (thái nhỏ). Cho vào nồi, đổ nước ngập lên ba tấc, nấu cho đến khi hết lực, bỏ bã lấy nước trong, đun lửa nhỏ cô thành cao có thể làm viên, viên như hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, tăng dần, thấy tiểu tiện thông là khỏi. (Tô Tụng "Đồ kinh bản thảo")
* '''Thủy thũng khắp người:''' Nhu truật hoàn của Thâm sư: Trị bạo thủy, phong thủy, khí thủy, toàn thân đều sưng, uống đến khi tiểu tiện thông là có hiệu quả. Dùng lá Hương nhu 1 cân, nước 1 đấu, nấu thật nhừ bỏ bã, cô thành cao, thêm bột Bạch truật 7 lạng, làm viên như hạt ngô đồng. Mỗi lần 10 viên, uống với nước cơm, ngày uống 5 lần, đêm 1 lần. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Bốn mùa thương hàn, khí không chính:''' Dùng Hương nhu nước tán mạt, rượu nóng hòa 1, 2 tiền uống để lấy mồ hôi. (Vệ sinh dị giản phương)
* '''Tâm phiền hiếp thống (đau hông), liên miên đến ngực sắp chết:''' Hương nhu giã lấy dịch 1, 2 thăng uống. (Tráp hậu)
* '''Tị nục (chảy máu cam) không dứt:''' Hương nhu tán mạt, uống 1 tiền với nước. (Thánh tế tổng lục)
* '''Lưỡi chảy máu như dùi đâm:''' Hương nhu sắc nước uống 1 thăng, ngày 3 lần. (Tráp hậu phương)
* '''Mùi hôi trong miệng:''' Một nắm Hương nhu sắc lấy nước ngậm. (Thiên kim phương)
* '''Trẻ nhỏ chậm mọc tóc:''' Hương nhu lâu năm 2 lạng, 1 chén nước sắc lấy ba phần, cho thêm nửa lạng mỡ lợn hòa đều, bôi hằng ngày. (Vĩnh loại kiềm phương)
* '''Bạch thốc (hói đầu) đau đớn:''' Dùng phương trên thêm bột Hồ phấn (chì trắng) hòa mà bôi. (Tử mẫu bí lục)
==THẠCH HƯƠNG NHU (石香薷 - Hương nhu đá)==
*(Phụ lục sách "Khai Bảo" thời Tống)
'''Tên khoa học:''' Mosla chinensis Maxim.
===【Thích danh】===
'''Thạch tô''' (石蘇).
===【Tập giải】===
'''Mã Chí nói:''' Thạch hương nhu sinh ở các châu Lăng, Vinh, Tư, Giản thuộc Thục quận và các nơi vùng Nam Trung, sinh trong kẽ đá vách núi. Hái vào tháng Hai, tháng Tám, mầm thân hoa quả đều dùng được.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Nơi nào cũng có, hễ trong núi nơi gần nước dựa vách đá là có, không nhất định phải là kẽ đá vách núi. Tháng Chín, Mười vẫn còn hoa.
'''Lý Thời Trân nói:''' Hương nhu và Thạch hương nhu vốn là một vật, chỉ tùy nơi sinh mà đặt tên. Sinh ở bình địa thì lá lớn; sinh ở vách đá thì lá nhỏ, có thể dùng thông dụng.
===【Khí vị】===
Vị cay thơm, tính ấm, không độc.
===【Chủ trị】===
Điều trung ôn vị, chỉ hoắc loạn nôn tả, tâm phúc trướng mãn, đau quanh rốn sôi bụng (Khai Bảo). Công hiệu còn thắng hơn cả Hương nhu (Tiêu Bỉnh). Chế biến Lưu hoàng (Thời Trân).
==TƯỚC SÀNG (爵牀)==
*(Trích từ sách "Bản kinh", Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Justicia procumbens L.
===【Thích danh】===
'''Tước ma''' (爵麻 - Ngô Phổ), '''Hương tô''' (香蘇 - Biệt lục), '''Xích nhãn lão mẫu thảo''' (赤眼老母草 - Đường bản).
'''Lý Thời Trân nói:''' Chữ "Tước sàng" không giải nghĩa được. Xét sách của Ngô thị viết là Tước ma (爵麻) thì rất thông.
===【Tập giải】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Tước sàng sinh ở thung lũng Hán Trung và đồng ruộng.
'''Tô Cung nói:''' Cỏ này sinh ở ruộng thuần, bình trạch ven đường, giống Hương nhu, lá dài và lớn, hoặc như cây Nhậm (tía tô dại) mà mịn hơn, tục gọi là Xích nhãn lão mẫu thảo (Cỏ bà già mắt đỏ).
'''Lý Thời Trân nói:''' Đồng nội rất nhiều. Thân vuông đối đốt, giống y như Hương nhu lá lớn. Nhưng Hương nhu vò ra thì thơm, còn Tước sàng vò ra không thơm mà hơi hôi, lấy đó làm phân biệt.
===THÂN VÀ LÁ (莖葉)===
===【Khí vị】===
Vị mặn (hàm), tính hàn, không độc. '''Thời Trân nói:''' Hơi cay.
===【Chủ trị】===
Đau thắt lưng (yêu tích thống) không thể nằm giường, cúi ngửa khó khăn, trừ nhiệt, có thể làm nước tắm (Bản kinh). Liệu trị huyết trướng hạ khí. Trị thương do gậy đánh (trượng sang), giã lấy nước bôi vào lập tức khỏi (Tô Cung).
==XÍCH XA SỨ GIẢ (赤車使者)==
*(Trích từ sách "Đường Bản thảo")
'''Tên khoa học:''' Pellionia repens (Lour.) Merr. (hoặc loài thuộc họ Urticaceae)
===【Thích danh】===
'''Tiểu cẩm chi''' (小錦枝 - Pháo chích luận).
===【Tập giải】===
'''Tô Cung nói:''' Xích xa sứ giả, mầm giống Hương nhu, Lan hương, lá và thân đỏ, rễ màu tím đỏ, hái rễ vào tháng Tám, Chín, phơi khô.
'''Tiêu Bảo Thăng nói:''' Sinh ở Kinh Châu, Tương Châu, rễ tím như rễ Thiến thảo, hái vào tháng Hai, tháng Tám.
'''Lý Thời Trân nói:''' Loại này tương tự Tước sàng, chỉ lấy sắc rễ tím đỏ làm phân biệt mà thôi.
===RỄ (根)===
===【Tu trị – Bào chế】===
'''Lôi Công nói:''' Cỏ này tên gốc là Tiểu cẩm chi. Phàm dùng đều giã thô, lấy nước tiểu đồng tử bảy tuổi tẩm rồi đồ (chưng), phơi khô nhập dược.
===【Khí vị】===
Vị cay, đắng, tính ấm, có độc. ('''Chân Quyền nói:''' Có độc nhỏ.)
===【Chủ trị】===
Phong lãnh tà chú, cổ độc trưng hà, tích khí ngũ tạng (Tô Cung). Trị ác phong lãnh khí. Uống vào làm da dẻ tươi nhuận, sắc mặt đẹp (Chân Quyền).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Tô Tụng nói:''' Cổ phương trị đại phong phong tý có bài Xích xa sứ giả tửu. Nay người ta ít dùng, hiếm kẻ nhận biết được.
'''Lý Thời Trân nói:''' Thượng cổ để tị ôn dịch tà khí có bài Xích xa sứ giả hoàn. Thuốc này không phải kỳ quái, nếu chịu khó hỏi han tìm hái ắt sẽ được, nhưng tên gọi xưa nay có thể khác nhau mà thôi.
==GIẢ TÔ (假蘇 - Kinh giới)==
*(Trích từ sách "Bản kinh", Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Schizonepeta tenuifolia (Benth.) Briq.
===【Hiệu chính】===
Từ bộ Rau (Thái bộ) chuyển vào đây.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Khương giới''' (薑芥 - Biệt lục), '''Kinh giới''' (荊芥 - Ngô Phổ), '''Thử trĩ''' (鼠蔞 - Bản kinh).
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Giả tô trong phương thuốc không còn thấy dùng nữa.
'''Tô Cung nói:''' Đây chính là cây Kinh giới trong hàng rau, gọi "Khương giới" là do đọc chệch âm mà ra. Trước kia xếp ở bộ Thảo, nay lục vào bộ Rau.
'''Trần Sĩ Lương nói:''' Kinh giới trong Bản thảo gọi là Giả tô. Nhưng Giả tô lại là một vật khác riêng biệt. Lá nhọn tròn, mọc hoang nhiều, vì khí thơm giống cây Tô (tía tô) nên gọi là Giả tô.
'''Tô Tụng nói:''' Quan y Trần Tốn nói: Người vùng Giang Tả cho rằng Giả tô và Kinh giới thực chất là hai vật. Tô Cung dựa vào việc Bản thảo có tên Khương giới, cho rằng âm Kinh - Khương đọc chệch mà gọi là Kinh giới, ấy là sai vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét sách Ngô Phổ bản thảo vân: Giả tô còn tên là Kinh giới, lá giống lá cây Lạc lê (rau Muối) nhưng mịn hơn, người vùng Thục ăn sống. Ngô Phổ là người cuối thời Đông Hán, cách thời đại của sách Biệt lục không xa, lời ông nói chắc không lầm, nên người đời Đường là Tô Cung mới nối theo thuyết đó. Còn Trần Sĩ Lương, Tô Tụng lại khởi sự nghi ngờ đó là hai vật, cũng chỉ là thuyết chủ quan (ức thuyết) mà thôi. Gọi là Tô, là Khương, là Giới đều là vì khí vị cay thơm, giống như Tô, như Gừng (Khương), như Cải (Giới) vậy.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Giả tô sinh ở vùng sông nước (xuyên trạch) vùng Hán Trung.
'''Tô Tụng nói:''' Nay nơi nơi đều có, lá giống lá Lạc lê mà mịn, lúc mới mọc thơm cay có thể ăn được, người ta lấy làm rau sống. Cổ phương hiếm dùng, nhưng thầy thuốc đời gần đây coi là vị thuốc trọng yếu (yếu dược), đều lấy cả hoa và hạt kết thành bông (tuệ), phơi khô nhập dược. Lại có loại Hồ kinh giới, tục gọi Tân La kinh giới. Lại có Thạch kinh giới sinh ở kẽ đá trong núi. Thể tính tương cận, nhập dược cũng như nhau.
'''Lý Thời Trân nói:''' Kinh giới vốn là mọc hoang, nay vì thế gian dùng nhiều nên được trồng trọt nhiều. Tháng Hai rắc hạt sinh mầm, xào ăn cay thơm. Thân vuông lá mịn, giống lá cây Độc chổi (Thanh hao) nhưng hẹp nhỏ, màu xanh vàng nhạt. Tháng Tám nở hoa nhỏ, kết thành bông thành phòng, phòng hoa giống phòng hoa Tử tô, bên trong có hạt mịn như hạt Đình lịch, màu vàng đỏ, thu hái cả bông mà dùng.
===【Chính ngộ – Đính chính sai lầm】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Sách Thực liệu bản thảo của Trương Đỉnh nói Kinh giới một tên là Tích thái (菥蓂) là sai. Tích thái có mục riêng biệt trong bộ Thảo.
'''Lý Thời Trân nói:''' Sách Bản thảo hội biên của Uông Cơ nói Giả tô là Bạch tô cũng sai vậy. Bạch tô là cây Nhậm (荏). Xem phần sau.
===THÂN VÀ BÔNG (莖穗)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
'''Mạnh Tiễn nói:''' Làm rau ăn lâu ngày sẽ động đến bệnh khát (khát tật), huân hại thần khí ngũ tạng. Kỵ thịt lừa, cá không vảy, xem chi tiết ở phần Phát minh dưới đây.
===【Chủ trị】===
Hàn nhiệt thử trĩ (lao hạch), loa lịch sinh sang (mụn lở), phá kết tụ khí, hạ ứ huyết, trừ thấp tý (Bản kinh). Trừ tà, trị lao khát phong lạnh, làm ra mồ hôi, sắc lấy nước uống. Giã nát hòa giấm đắp trị đinh thũng và các độc sưng tấy (Tạng Khí). Dùng đơn độc trị ác phong tặc phong, miệng mắt méo xệch (khẩu nhãn oa tà), khắp người tê dại, tâm hư hay quên, ích lực thêm tinh, tị tà độc khí, thông lợi huyết mạch, truyền tống khí ngũ tạng bất túc, trợ Tỳ Vị (Chân Quyền). Chủ trị huyết lao, phong khí ủng mãn, lưng cột sống đau nhức, hư hãn (mồ hôi trộm), trị cước khí ở nam giới, gân xương đau mỏi, cùng các chứng thương hàn âm dương độc đau đầu, đầu váng mắt hoa, tay chân co quắp (Sĩ Lương). Lợi ngũ tạng, tiêu thực hạ khí, tỉnh rượu. Làm rau ăn sống hay chín đều được, cũng có thể pha trà uống. Sắc với nước cốt đậu xị uống trị bạo thương hàn, có năng lực phát hãn (Nhật Hoa). Trị phụ nữ huyết phong và sang giới (ghẻ lở), là vị thuốc trọng yếu (Tô Tụng). Sản hậu trúng phong thân mình cứng đờ, tán mạt uống với rượu (Mạnh Tiễn). Tán phong nhiệt, thanh đầu mục, lợi hầu họng, tiêu sang thũng, trị cổ gáy cứng đờ, trong mắt hiện hoa đen, trị sang âm nuy (lở loét bộ phận sinh dục), thổ huyết, nục huyết (chảy máu cam), hạ huyết, huyết lỵ, băng trung trĩ lậu (Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Kinh giới vị cay đắng, khí và vị đều mỏng, nổi mà thăng lên, thuộc Dương.
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Là thuốc vào phần khí của kinh Can. Năng sưu tầm (tìm đuổi) Can khí.
'''Lý Thời Trân nói:''' Kinh giới nhập vào phần khí của kinh Túc quyết âm (Can), công hiệu sở trường là khứ phong tà, tán ứ huyết, phá kết khí, tiêu sang độc. Bởi Quyết âm thuộc Phong Mộc, chủ về Huyết, mà tướng hỏa ký ngụ ở đó, nên Kinh giới là thuốc trọng yếu cho các bệnh về phong, về huyết, về mụn nhọt (sang). Trị phong thì Giả thừa tướng khen là "Tái sinh đan", Hứa học sĩ gọi là có "công hiệu thần thánh", Đái viện sử hứa là thuốc trọng yếu cho sản hậu, Tiêu Tồn Kính gọi là "Nhất niệp kim" (Một nhúm vàng), Trần Vô Trạch dùng ẩn ngữ gọi là bài "Cử cử khanh cổ bái tán", há chẳng phải tự nhiên mà được danh dự cao như vậy sao? Xét theo Đường Vận: chữ Kinh (荊) thiết là Cử khanh (舉卿), chữ Giới (芥) thiết là Cổ bái (古拜). Đó là lối nói ẩn ngữ bằng cách phản thiết tên thuốc để giữ bí mật phương thuốc vậy.
'''Lại nói:''' Thuyết Kinh giới phản với cá cua, cá nóc (hà đồn), trong các kinh văn bản thảo y phương không hề nhắc tới, nhưng trong các tiểu thuyết của các quan lại thường ghi chép. Xét sách Diên thọ thư của Lý Đình Phi vân: Phàm ăn tất cả các loại cá không vảy đều kỵ Kinh giới. Ăn cá hoàng tảng (cá chốt/cá ngạnh) xong mà ăn Kinh giới sẽ khiến người thổ huyết, chỉ có nước đất (địa tương) mới giải được. Ăn cùng cua sẽ động phong. Lại sách Thiết vi sơn tùng thoại của Thái Tào vân: Ta ở vùng Lĩnh Kiệu, thấy kẻ nào ăn cá hoàng tảng phạm phải Khương giới (Kinh giới) thì lập tức chết ngay, còn hơn cả thuốc độc Câu vẫn. Hồng Mai trong Di kiên chí vân: Ngụy Kỷ Đạo người đất Ngô, ăn canh cá hoàng tảng, sau đó hái Kinh giới hòa trà uống. Một lát sau chân ngứa, xông thẳng lên tâm phế, cuồng chạy, da chân như muốn nứt ra. Gấp dùng thuốc, hai ngày mới giải. Đào Cửu Thành trong Xuyết canh lục vân: Phàm ăn cá nóc, không được uống thuốc có Kinh giới, đại tương phản. Ta ở Giang Âm thấy một nhà nho vì thế mà mất mạng. Sách Vĩ hàng kỷ đàm vân: Phàm uống thuốc phong có Kinh giới thì kỵ ăn cá. Dương Thành Trai từng thấy một người chết ngay lập tức.
'''Thời Trân xét:''' Kinh giới là thuốc dùng hằng ngày, mà sự tương phản lại như thế, nên ghi chép kỹ để làm cảnh giới. Lại xét sách Vật loại tương cảm chí nói: Cá nóc dùng Kinh giới cùng nấu, thay nước ba năm lần thì không độc. Thuyết ấy khác với các sách kia, tại sao vậy? Đại để người dưỡng sinh, thà giữ theo thuyết trước để răn mình là hơn vậy.
===【Phụ phương】===
*Cũ 4, mới 27.
* '''Đầu gáy phong cứng:''' Sau tháng Tám, lấy bông Kinh giới làm gối, và trải dưới giường, ngày Lập xuân thì bỏ đi. (Thiên kim phương)
* '''Phong nhiệt đầu thống:''' Bông Kinh giới, Thạch cao lượng bằng nhau, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước trà. (Vĩnh loại kiềm phương)
* '''Phong nhiệt nha thống (đau răng):''' Rễ Kinh giới, rễ Ô ô (Ô dược), rễ Hành lượng bằng nhau sắc nước thường xuyên ngậm súc.
* '''Trẻ nhỏ kinh giản 120 loại:''' Dùng bông Kinh giới 2 lạng, Bạch phèn (nửa sống nửa chín) 1 lạng, tán mạt, làm viên với hồ to như hạt kê, lấy Chu sa làm áo. Mỗi lần uống 20 viên với nước gừng, ngày 2 lần. (Y học tập thành)
* '''Tất cả các chứng thiên phong, miệng mắt méo xệch:''' Dùng Kinh giới xanh 1 cân, Bạc hà xanh 1 cân, cùng cho vào chậu sành nghiền nát, dùng vải lụa vắt lấy nước cốt, cô thành cao trong đồ sứ, lọc bỏ bã 1/3, đem 2 phần phơi khô tán mạt, hòa với cao làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần 30 viên với nước nóng, sáng tối mỗi lần 1 liều. Kỵ đồ động phong. (Kinh nghiệm hậu phương)
* '''Trúng phong khẩu câm (khít hàm):''' Bông Kinh giới tán mạt, uống 2 tiền với rượu, lập tức khỏi, tên là Kinh giới tán. Giả Tự Đạo vân: Phương này xuất từ Tằng công đàm lục, trước sau dùng rất nghiệm. Con ông tên Thuận bị bệnh này đã nguy kịch, uống vào là định ngay, thật là "Tái sinh đan" vậy.
* '''Sản hậu trúng phong (Hóa Đà Dũ phong tán):''' Trị phụ nữ sau sinh trúng phong khít hàm, tay chân co quắp như đòn gánh (giác cung phản trương), hoặc sản hậu huyết vận, bất tỉnh nhân sự, tứ chi cứng đờ, hoặc mắt trợn ngược, nôn tả sắp chết. Dùng hạt bông Kinh giới, sao nhẹ tán mạt. Mỗi lần uống 3 tiền với rượu đậu đen (đậu lâm tửu) hoặc nước tiểu đồng tử. Nếu khít hàm thì cạy răng đổ vào, nếu lợi bám chặt thì đổ vào mũi, hiệu nghiệm như thần. Đại để sau sinh quá ấm khiến ra mồ hôi lỗ chân lông hở, dễ trúng phong vậy.
** '''Thời Trân nói:''' Phương này các sách khen ngợi hết lời. Tập nghiệm phương dùng rượu uống gọi là Như thánh tán. Trần thị gọi là Cử khanh cổ bái tán. Tiêu Tồn Kính dùng tiền cổ sắc nước uống gọi là Nhất niệp kim. Hứa Thúc Vi nói thuốc này có công hiệu thần thánh kỳ lạ. Một phụ nữ sản hậu ngủ lâu, tỉnh dậy thì hôn mê như say, dùng bài này xong thì ngủ, trong giấc ngủ ắt dùng tay trái gãi đầu, dùng thử quả nhiên như vậy. Đái Nguyên Lễ gọi là Độc hành tán. Giả Tự Đạo gọi là Tái sinh đan.
* '''Sản hậu mê muộn:''' Do giận dữ phát sốt mê muộn. Dùng Độc hành tán: Bông Kinh giới dùng ngói mới sao nửa sống nửa chín tán mạt. Uống 1-2 tiền với nước tiểu đồng tử. Nếu giác cung phản trương thì dùng rượu đậu đen uống. (Đái Nguyên Lễ)
* '''Sản hậu huyết vận:''' Mắt trợn ngược, phong rút sắp chết. Lấy bông Kinh giới khô tán mạt. Mỗi lần dùng 2 tiền, nước tiểu đồng tử 1 chén rượu, hòa đều uống nóng. Lập tức hiệu nghiệm. (Đồ kinh bản thảo)
* '''Sản hậu huyết huyễn phong hư:''' Tinh thần hôn mê. Bông Kinh giới 1 lạng 3 tiền, Đào nhân 5 tiền (bỏ vỏ đầu nhọn), sao tán mạt. Uống 3 tiền với nước. Nếu suyễn thêm Hạnh nhân, Cam thảo.
* '''Sản hậu hạ lỵ:''' 4-5 bông Kinh giới lớn (đốt tồn tính trong chén, không được chạm lửa dầu), thêm chút Xạ hương. Hòa với nước sôi uống. Thuốc tuy nhỏ nhưng trị được bệnh lớn, không thể coi thường. (Phạm Uông phương)
* '''Sản hậu tị nục (chảy máu cam):''' Kinh giới (sao) tán mạt. Uống 2 tiền với nước tiểu đồng tử. (Phụ nhân lương phương)
* '''Chín khiếu chảy máu:''' Kinh giới sắc rượu, uống ngập miệng. (Trực chỉ phương)
* '''Miệng mũi chảy máu như suối trào:''' Do tửu sắc quá độ. Kinh giới đốt tán mạt, uống 2 tiền với nước Trần bì, không quá 2 liều là khỏi.
* '''Nôn máu không dứt:''' Kinh giới (cả rễ, rửa sạch) giã lấy nước nửa chén uống. Bông khô tán mạt cũng được. Hoặc bông Kinh giới tán mạt hòa nước cốt Sinh địa uống 2 tiền.
* '''Tiểu tiện ra máu (niệu huyết):''' Kinh giới, Sa nhân lượng bằng nhau tán mạt. Uống 3 tiền với nước cơm nếp, ngày 3 lần. (Tập giản)
* '''Băng trung bất chỉ (Băng huyết):''' Bông Kinh giới (đốt cháy trên đèn dầu mè, tán mạt). Mỗi lần 2 tiền, uống với nước tiểu đồng tử. (Phụ nhân lương phương)
* '''Trĩ lậu thũng thống:''' Kinh giới sắc nước, hằng ngày rửa. (Giản dị phương)
* '''Đại tiện hạ huyết:''' Kinh giới (sao) tán mạt, mỗi lần uống 2 tiền với nước cơm; phụ nữ dùng rượu uống, hoặc trộn bột làm bánh hoành thánh mà ăn. Hoặc Kinh giới 2 lạng, Hoa hòe 1 lạng cùng sao tím tán mạt, uống 3 tiền với nước trà trong.
* '''Trẻ nhỏ thoát giang:''' Kinh giới, Sáp kết (Sáp tử) lượng bằng nhau sắc nước rửa, rồi bôi nước sắt (thiết tương) lên. Cũng trị được sa tử cung. (Kinh nghiệm phương)
* '''Âm nang thũng thống (Sưng đau bao tinh hoàn):''' Bông Kinh giới (sao trên ngói) tán mạt. Uống 2 tiền với rượu là tiêu ngay. (Thọ vực thần phương)
* '''Trẻ nhỏ thũng rốn:''' Kinh giới sắc nước rửa sạch, lấy Hành nướng áp mỏng cho ra hỏa độc, dán vào là tiêu ngay. (Hải thượng phương)
* '''Loa lịch loét nát:''' Mụn lở lan đến trước ngực hai nách, cục to như quả cà, hoặc lan lên hai vai, 4-5 năm không khỏi, hiệu nghiệm như thần. Lấy một đoạn gốc Kinh giới cắt vụn, sắc nước nóng ấm rửa thật lâu, thấy chỗ loét tím đen thì lấy kim châm cho ra máu, lại rửa 3, 4 lần là khỏi. Dùng Băng phiến (Chương não), Hùng hoàng lượng bằng nhau tán mạt, hòa dầu mè quét lên chỗ ra nước. (Hoạt pháp cơ yếu)
* '''Đinh thũng chư độc:''' Một nắm Kinh giới (thái). Dùng 5 thăng nước sắc còn 2 thăng, chia 2 lần uống lạnh. (Dược tính luận)
* '''Tất cả các chứng sang giới (ghẻ lở):''' Kinh giới mạt, dùng nước cốt Sinh địa cô thành cao hòa viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần 30-50 viên với trà hoặc rượu. (Phổ tế phương)
* '''Kẽ chân lở loét (Cước nha thấp lạn):''' Lá Kinh giới giã đắp. (Giản tiện phương)
* '''Quấn chân sinh sang (triền cước sang):''' Kinh giới đốt thành tro, hòa nước hành bôi, trước đó rửa bằng nước Cam thảo. (Trích huyền phương)
* '''Trẻ nhỏ phong hàn:''' Phiền nhiệt có đờm, bất tỉnh nhân sự. Bông Kinh giới nửa lạng (sao), Xạ hương, Phiến não mỗi thứ 1 tý (nhất tự), tán mạt. Mỗi lần nửa tiền uống với trà. Người lớn cũng trị được. (Phổ tế phương)
* '''Đầu mục chư tật:''' Tất cả các bệnh về mắt, huyết lao, phong khí đầu thống, đầu váng mắt hoa. Bông Kinh giới tán mạt, mỗi lần uống 3 tiền với rượu. (Long thụ luận)
* '''Lâm bế bất thông (Bí tiểu):''' Tiểu phúc (bụng dưới) đau gấp, bất kể mới hay cũ. Kinh giới, Đại hoàng (tán mạt) lượng bằng nhau, mỗi lần uống 3 tiền với nước ấm. Nếu tiểu tiện không thông thì bớt nửa phần Đại hoàng; nếu đại tiện không thông thì bớt nửa phần Kinh giới. Tên là Đảo hoán tán. (Phổ tế phương)
==BẠC HÀ (薄荷)==
*(Trích từ sách "Đường Bản thảo")
'''Tên khoa học:''' Mentha arvensis L. (hoặc Mentha canadensis L.)
===【Hiệu chính】===
Từ bộ Rau (Thái bộ) chuyển vào đây.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Bạt hoạt''' (菝 - âm là Bạt Hoạt), '''Phiên hà thái''' (蕃荷菜 - Phiên âm là Phô), '''Ngô bạt hoạt''' (吳菝 - Thực tính), '''Nam bạc hà''' (南薄荷 - Diễn nghĩa), '''Kim tiền bạc hà''' (金錢薄荷).
'''Lý Thời Trân nói:''' Bạc hà là tên gọi dân gian. Trần Sĩ Lương trong Thực tính bản thảo viết là Bạt hoạt (菝 ), Dương Hùng trong Cam tuyền phú viết là Bạt (茇 ), Lã Thẩm trong Tự lâm viết là Bạt (茇 ), qua đó biết "Bạc hà" là cách gọi chệch đi vậy. Tôn Tư Mạo trong Thiên kim phương viết là Phiên hà (蕃荷), cũng là âm phương ngôn đọc chệch. Nay người ta dùng làm thuốc, đa phần coi loại ở Tô Châu là tốt nhất, nên Trần Sĩ Lương gọi là Ngô bạt hoạt để phân biệt với Hồ bạt hoạt.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Thế gian gọi đây là Nam bạc hà, vì còn một loại là Long não bạc hà nên gọi vậy để phân biệt.
'''Uông Cơ nói:''' Phương thuốc trẻ em thường dùng Kim tiền bạc hà, vì lá nó nhỏ và tròn như đồng tiền, sách viết là Kim ngân là sai.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Tô Tụng nói:''' Bạc hà nơi nơi đều có. Thân lá giống cây Nhậm (tía tô dại) nhưng nhọn dài, qua mùa đông rễ không chết, mùa hạ mùa thu hái thân lá phơi khô. Cổ phương hiếm dùng, hoặc ăn cùng với củ Kiệu (Hạnh) làm món dưa muối (tế). Đời gần đây coi là vị thuốc trọng yếu trị phong hàn, nên nhà dân trồng rất nhiều. Lại có loại Hồ bạc hà, tương tự loại này nhưng vị hơi ngọt hơn. Sinh ở vùng Giang Chiết, người phương đó thường dùng pha trà uống, gọi là Tân La bạc hà. Gần vùng Biện Lạc, các chùa chiền thường trồng một hai gốc, chính là Liên tiền thảo mà sách Thiên bảo đơn phương đã nhắc tới. Lại có Thạch bạc hà, sinh ở kẽ đá vùng Giang Nam, lá hơi nhỏ, đến mùa đông sắc tím, không nghe nói có công dụng khác biệt nào.
'''Tô Cung nói:''' Bạc hà nhà dân trồng cũng có thể ăn sống. Một loại dạng dây leo (man sinh), công dụng tương tự.
'''Lý Thời Trân nói:''' Bạc hà người ta trồng nhiều. Tháng Hai rễ cũ mọc mầm, quanh tiết Thanh minh thì phân gốc ra trồng. Thân vuông sắc đỏ, lá mọc đối, lúc mới mọc hình dài đầu tròn, lúc trưởng thành thì nhọn. Người vùng Ngô, Việt, Xuyên, Hồ thường dùng thay trà. Loại trồng ở Tô Châu thân nhỏ mà khí thơm; loại ở Giang Tây hơi thô; loại ở Xuyên Thục càng thô hơn; nhập dược thì loại sản xuất tại Tô Châu là tốt nhất. Sách Vật loại tương cảm chí vân: Phàm thu hoạch Bạc hà, đêm trước phải tưới bằng nước phân, sau khi mưa mới được cắt hái, như thế tính mới mát (lương), bằng không thì không mát vậy. Loại mọc hoang thân lá khí vị đều tương tự.
===THÂN VÀ LÁ (莖葉)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
* '''Tôn Tư Mạo nói:''' Vị đắng, cay, tính bình.
* '''Trương Nguyên Tố nói:''' Vị cay, tính mát (lương).
* '''Lôi Công nói:''' Tính của thân thì táo (khô).
* '''Chân Quyền nói:''' Ăn cùng với Kiệu làm dưa muối thì rất hợp. Người mới khỏi bệnh (tân bệnh sái nhân) chớ ăn, sẽ khiến hư hãn (mồ hôi trộm) không dứt. Người gầy yếu ăn lâu ngày sẽ động đến bệnh tiêu khát.
===【Chủ trị】===
Tặc phong thương hàn phát hãn, ác khí tâm phúc trướng mãn, hoắc loạn, thức ăn cũ không tiêu, hạ khí, sắc lấy nước uống giúp phát hãn, giải đại lao nhọc, cũng có thể ăn sống (Đường bản). Làm rau ăn lâu ngày thì khước thận khí (giảm thận hỏa), tị tà độc, trừ lao khí, làm cho hơi thở thơm sạch. Sắc nước rửa vết lở sơn (Tôn Tư Mạo). Thông lợi khớp xương, phát độc hãn, khứ phẫn khí (khí uất giận), phá huyết chỉ lỵ (Chân Quyền). Liệu trị âm dương độc, thương hàn đầu thống, bốn mùa đều nên ăn (Sĩ Lương). Trị trúng phong mất tiếng, nôn đờm (Nhật Hoa). Chủ trị thương phong đầu não phong (đau đầu do gió), thông quan cách, và đờm dãi ở trẻ em, là vị thuốc trọng yếu (Tô Tụng). Giã lấy nước uống khứ tâm tạng phong nhiệt (Mạnh Tiễn). Thanh đầu mục, trừ phong nhiệt (Lý Cảo). Lợi hầu họng, các bệnh về miệng răng, trị loa lịch (lao hạch), sang giới (ghẻ lở), phong sào ẩn chẩn (mày đay ngứa ngáy). Giã nước ngậm súc miệng khứ rêu lưỡi, trị nói năng líu lưỡi. Lá tươi nhét mũi trị nục huyết (chảy máu cam). Giã đắp các loại trùng cắn độc (Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Trương Nguyên Tố nói:''' Bạc hà cay mát, cả khí và vị đều mỏng, nổi mà thăng lên, thuộc Dương vậy. Nên có thể khứ phong nhiệt ở vùng đỉnh đầu và ngoài da.
'''Trần Sĩ Lương nói:''' Bạc hà năng dẫn các thuốc vào Vinh, Vệ, nên năng phát tán phong hàn.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Trẻ nhỏ kinh cuồng sốt cao, phải dùng vị này dẫn thuốc. Lại trị cốt chưng nhiệt lao, dùng nước cốt của nó nấu với các vị thuốc khác thành cao. Mèo ăn bạc hà thì say, ấy là vật tương cảm vậy.
'''Vương Hiếu Cổ nói:''' Bạc hà là thuốc vào phần khí của hai kinh Thủ và Túc quyết âm (Tâm bào và Can). Năng sưu tầm (tìm đuổi) Can khí, lại chủ trị Phế thịnh hữu dư gây đau vai lưng, và trúng phong hàn ra mồ hôi.
'''Lý Thời Trân nói:''' Bạc hà nhập vào Thủ thái âm (Phế) và Túc quyết âm (Can). Cay năng phát tán, mát năng thanh lợi, chuyên tiêu phong tán nhiệt, nên là vị thuốc trọng yếu cho các chứng đau đầu, đầu phong, bệnh về mắt, hầu họng, miệng răng, trẻ em kinh nhiệt và loa lịch sang giới. Đái Nguyên Lễ trị mèo cắn lấy nước cốt bôi có hiệu quả, ấy là lấy sự tương chế giữa chúng.
'''Lục Nông Sư nói:''' Bạc hà là rượu của mèo. Chó là rượu của hổ. Tang thầm (quả dâu) là rượu của chim cưu. Cỏ Mộc túc là rượu của cá.
===【Phụ phương】===
*Cũ 2, mới 8.
* '''Thanh thượng hóa đờm:''' Lợi hầu họng, trị phong nhiệt. Dùng bột Bạc hà luyện mật làm viên to bằng hạt khiếm thực. Thường ngậm 1 viên. Hòa với đường trắng cũng được. (Giản tiện đơn phương)
* '''Phong khí sào ngứa:''' Dùng Bạc hà lớn, Xác ve (Thuyền tuế) lượng bằng nhau tán mạt. Mỗi lần uống 1 tiền với rượu ấm. (Vĩnh loại kiềm phương)
* '''Rêu lưỡi nói líu:''' Nước cốt Bạc hà hòa mật trắng, nước gừng chà vào lưỡi. (Y học tập thành)
* '''Mí mắt đỏ loét (nhãn huyền xích lạn):''' Bạc hà ngâm nước cốt gừng một đêm, phơi khô tán mạt. Mỗi lần dùng 1 tiền, pha nước sôi rửa mắt. (Minh mục kinh nghiệm phương)
* '''Loa lịch kết hạch (chưa vỡ hoặc đã vỡ):''' Dùng Bạc hà tươi 2 cân (lấy nước), Ô dược 1 thỏi (ngâm nước bỏ vỏ, giã lấy nước). Cùng nấu thành cao trong đồ bạc hoặc đồ đá. Cho thêm bột Liên kiều nửa lạng, Thanh bì, Trần bì, Hắc khiên ngưu (nửa sống nửa sao) mỗi thứ 1 lạng, nhân hạt Ô dược 1 lạng rưỡi, cùng giã hòa làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên với nước sắc Liên kiều. (Tế sinh phương)
* '''Nục huyết (chảy máu cam) không dứt:''' Nhỏ nước cốt Bạc hà vào mũi. Hoặc dùng loại khô sắc nước, dùng bông thấm nhét mũi. (Hứa học sĩ "Bản sự phương")
* '''Huyết lỵ không dứt:''' Sắc nước lá Bạc hà uống thường xuyên. (Phổ tế phương)
* '''Nước vào trong tai:''' Nhỏ nước cốt Bạc hà vào lập tức hiệu nghiệm. (Kinh nghiệm phương)
* '''Ong đốt, trùng cắn:''' Lá Bạc hà nhai đắp. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Hỏa độc sinh sang:''' Mùa đông ngồi sưởi hỏa khí nhập vào trong, hai đùi sinh mụn lở chảy nước. Dùng Bạc hà sắc nước bôi thường xuyên, lập tức khỏi. (Trương Cảo "Y thuyết")
==TÍCH TUYẾT THẢO (積雪草 - Rau má)==
*(Trích từ sách "Bản kinh", Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Centella asiatica (L.) Urb.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Hồ bạc hà''' (胡薄荷 - Thiên bảo phương), '''Địa tiền thảo''' (地錢草 - Đường bản), '''Liên tiền thảo''' (連錢草 - Dược đồ), '''Hải tô''' (海蘇).
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tích tuyết thảo phương thuốc không dùng tới, tưởng rằng cỏ này vì tính hàn lương nên mới có tên như vậy (Tích tuyết = tuyết đọng).
'''Tô Cung nói:''' Cỏ này lá tròn như đồng tiền, người vùng Kinh Sở gọi là Địa tiền thảo.
'''Tô Tụng nói:''' Nay nơi nơi đều có, tháng Tám Chín hái mầm lá, phơi trong râm mà dùng. Đoàn Thành Thức trong Dậu dương tạp trở vân: Địa tiền lá tròn thân mảnh, bò lan trên đất, một tên gọi Tích tuyết thảo, một tên Liên tiền thảo. Cẩn thận xét theo sách Thiên bảo đơn hành phương vân: Liên tiền thảo sinh ở nơi thấp ẩm vùng Hàm Dương, cũng sinh ở đầm ao quận Lâm Ty, Tế Dương, rất thơm. Dân gian thường nói lá tròn giống Bạc hà. Vùng Giang Đông, Ngô Việt, Đan Dương cực nhiều, người phương đó thường dùng làm rau sống ăn. Vùng Liễu Thành quận Hà Bắc thảy đều gọi là Hải tô, ưa sinh gần nước, qua đông không chết. Hoặc tên Hồ bạc hà. Chỉ dùng riêng vị này trị chứng đau bụng dưới ở phụ nữ.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Tích tuyết thảo phương Nam có nhiều, sinh nơi âm thấp, hình như rau Hạnh nước nhưng nhỏ hơn, mặt lá bóng sạch, hơi nhọn là điểm khác biệt. Mỗi lá mọc riêng lẻ. Nay người ta gọi là Liên tiền thảo (Cỏ chuỗi tiền) là lấy theo hình trạng vậy.
'''Lý Thời Trân nói:''' Xét chú thích của Tô Cung về Bạc hà nói: Có một loại dạng dây leo, công dụng tương tự. Tô Tụng trong Đồ kinh nói: Hồ bạc hà tương tự Bạc hà nhưng vị hơi ngọt, người vùng Giang Chiết thường dùng pha trà, tục gọi Tân La bạc hà, chính là Liên tiền thảo vậy. Căn cứ hai thuyết đó thì Tích tuyết thảo chính là Hồ bạc hà, tức là loại Bạc hà dạng bò lan vậy.
===THÂN VÀ LÁ (莖葉)===
===【Khí vị】===
Vị đắng (khổ), tính hàn, không độc.
* '''Đại Minh nói:''' Đắng, cay.
* '''Tô Tụng nói:''' Ngọt (cam), tính bình, không độc.
'''Lý Thời Trân nói:''' Lấy nước cốt có thể kết được Thảo sa (một loại khoáng vật), phục được Lưu hoàng.
===【Chủ trị】===
Đại nhiệt, ác sang ung thư (mụn nhọt độc), tẩm dâm xích nuy (lở loét chảy nước đỏ), da dẻ đỏ, thân nhiệt (Bản kinh). Giã đắp nhiệt thũng đan độc (Tô Cung). Chủ trị bạo nhiệt, trẻ em hàn nhiệt, nhiệt kết trong bụng, giã nước uống (Tạng Khí). Dùng đơn độc trị loa lịch thử lậu (lao hạch), hàn nhiệt lúc đến lúc đi (Chân Quyền). Giã với muối đắp thũng độc, cùng các chứng phong chẩn giới tiễn (ghẻ lở ngứa ngáy) (Nhật Hoa). '''Hồ bạt hoạt:''' Chủ trị phong khí ủng tắc công lên ngực hoành cách, sắc nước uống lập tức hiệu nghiệm (Sĩ Lương). Nghiền lấy nước nhỏ mắt trị bạo xích nhãn (đau mắt đỏ cấp) rất tốt (Thời Trân).
===【Phụ phương】===
*Cũ 2, mới 2.
* '''Nhiệt độc ung thũng:''' Sau mùa thu thu hái Liên tiền thảo. Phơi râm tán mạt. Hòa nước đắp. Giã sống cũng được. (Khấu thị "Diên nghĩa")
* '''Phụ nữ đau bụng dưới:''' Thiên bảo đơn hành phương vân: Phụ nữ bỗng nhiên đau bụng dưới, lúc kinh nguyệt mới đến thấy thắt lưng đau cắt liên miên đến cột sống, như dao đâm dùi đâm, đau không chịu nổi. Các thầy thuốc không biết, cho là Quỷ chú (ma ám), uống nhầm các thuốc khác rốt cuộc không ích gì, bệnh càng tăng. Xét triệu chứng như trên thì dùng thuốc này. Hái cây vào tháng Năm lúc đang ra hoa, phơi khô tán mạt. Mỗi lần uống 2 thìa vuông (phương thốn tỷ), hòa với 2 hớp giấm tốt, khuấy đều, uống lúc bụng đói vào sáng sớm. Mỗi sáng 1 liều, thấy đỡ thì thôi. Nếu phụ nữ bị âm lạnh (âm lãnh), lấy 5 lạng thuốc trên thêm 200 hạt Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn), sao rồi tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi sáng sớm bụng đói uống 30 viên với nước cơm hoặc rượu. Kỵ ăn hạt gai dầu, kiều mạch. (Đồ kinh bản thảo)
* '''Nam nữ huyết bệnh:''' Cửu tiên khu hồng tán: Trị nôn ra máu, đi ngoài ra máu và chứng băng trung ở phụ nữ cực kỳ thần hiệu. Dùng Tích tuyết thảo 5 tiền, Đương quy (rửa rượu), Chi tử nhân (sao rượu), Bồ hoàng (sao), Hoàng liên (sao), Điều hoàng cầm (sao rượu), Sinh địa hoàng (rửa rượu), Hoa hòe lâu năm (sao) mỗi thứ 1 tiền. Nếu bệnh ở phần trên cơ thể thì thêm Ngẫu tiết (ngó sen) 1 tiền 5 phân; phần dưới cơ thể thì thêm Địa du 1 tiền 5 phân. 2 bát nước sắc còn 1 bát uống. Phương này rất bí mật, công dụng khác với Bản thảo đã ghi, thật khó hiểu thay. (Đổng Bỉnh "Tập nghiệm phương")
* '''Nha thống (đau răng) nhét tai:''' Dùng Liên tiền thảo (tức Tích tuyết thảo), cùng bùn ô rãnh nước giã nát, đau bên nào thì nhét vào tai bên đó. (Trích huyền phương)
==TÔ (蘇 - Tử tô/Tía tô)==
*(Trích từ sách "Biệt lục", Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Perilla frutescens (L.) Britton var. crispa (Thunb.) W.Deane
===【Hiệu chính】===
Từ bộ Rau (Thái bộ) chuyển vào đây.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Tử tô''' (紫蘇 - Thực liệu), '''Xích tô''' (赤蘇 - Tráp hậu phương), '''Quế nhậm''' (桂荏).
'''Lý Thời Trân nói:''' Chữ Tô (蘇) bắt nguồn từ chữ Tô (酥 - bơ/mềm mại), phát âm là "Sơ", nghĩa là thư sướng. Tính chất của cây Tô là làm cho thư thái, hành khí hòa huyết, nên gọi là Tô. Gọi là Tử tô là để phân biệt với Bạch tô (tía tô trắng/cây nhậm). Tô thuộc loại Nhậm, nhưng vị cay nồng hơn như Quế, nên sách Nhĩ Nhã gọi là Quế nhậm.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Lá tô mặt dưới màu tím mà khí rất thơm. Loại nào không có màu tím, không thơm mà giống cây Nhậm thì gọi là Dã tô (tía tô dại), không dùng được.
'''Tô Tụng nói:''' Tô tức là Tử tô vậy. Nơi nơi đều có, loại nào cả mặt trước và mặt sau đều tím là tốt nhất. Mùa hạ hái thân lá, mùa thu hái hạt. Có vài loại như Thủy tô, Ngư tô, Sơn ngư tô đều thuộc loài Nhậm, mỗi thứ có mục riêng.
'''Lý Thời Trân nói:''' Tử tô và Bạch tô đều gieo hạt vào tháng Hai, tháng Ba, hoặc hạt cũ rụng xuống đất tự mọc. Thân vuông, lá tròn mà có đầu nhọn, xung quanh có răng cưa. Nơi đất màu mỡ thì cả mặt trước và sau đều tím; nơi đất bạc màu thì mặt xanh lưng tím; loại nào cả mặt trước và sau đều trắng thì là Bạch tô, tức cây Nhậm vậy. Lúc Tử tô còn non thì hái lá, trộn làm rau ăn, hoặc dùng muối và nước cốt mai (mai lỗ) làm dưa chua ăn rất thơm. Mùa hè nấu nước uống. Tháng Năm, tháng Sáu nhổ cả rễ mang về, dùng lửa thui rễ rồi phơi trong râm thì để lâu lá không rụng. Tháng Tám nở hoa tím nhỏ, kết thành bông thành phòng, giống như bông Kinh giới. Giữa tháng Chín lúc cây đã nửa khô thì thu hạt (tử), hạt nhỏ như hạt cải màu vàng đỏ, cũng có thể ép lấy dầu như dầu nhậm. Sách Vụ bản tân thư vân: Phàm ven đất gần đường có thể trồng Tô để ngăn gia súc. Thu hạt ép dầu thắp đèn rất sáng, hoặc dùng dầu đó để quét đồ vật. Sách Đan phòng kính nguyên vân: Dầu hạt tô có thể làm mềm ngũ kim bát thạch. Sách Sa Châu ký vân: Vùng đất của người Khất Phục không trồng ngũ cốc, chỉ ăn hạt tô. Cho nên Vương Trinh nói: Tô có công che chắn, lại có công dụng làm dầu thắp đèn, không thể thiếu được. Nay có một loại Hoa tử tô, lá răng cưa dày đặc và xoăn lại như bị kéo cắt, hương sắc thân hạt không khác gì loại thường, người ta gọi là Hồi hồi tô.
'''Lôi Công nói:''' Rễ và thân Bạc hà rất giống Tử tô, chỉ có lá là khác. Thân Bạc hà tính táo, thân Tử tô tính hòa. Nhập dược phải lấy dao cạo bỏ lớp vỏ mỏng xanh bên ngoài rồi mới thái nhỏ.
===THÂN VÀ LÁ (莖葉)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
'''Lý Đình Phi nói:''' Không được ăn cùng cá chép, sinh độc sang.
===【Chủ trị】===
Hạ khí, trừ hàn trung, hạt của nó lại càng tốt (Biệt lục). Trừ hàn nhiệt, trị tất cả các chứng lãnh khí, trị tâm phúc trướng mãn, chỉ hoắc loạn chuyển cân (ngừng nôn tả chuột rút), khai vị hạ thực, chỉ cước khí, thông đại tiểu trường (Nhật Hoa). Thông tâm kinh, ích tỳ vị, nấu nước uống lại càng tốt, rất hợp dùng cùng Trần bì (vỏ quýt) (Tô Tụng). Giải cơ phát biểu, tán phong hàn, hành khí khoan trung, tiêu đờm lợi phế, hòa huyết ôn trung chỉ thống (giảm đau), định suyễn an thai, giải độc cá cua, trị vết rắn cắn và chó cắn (Thời Trân). Lấy lá ăn sống hoặc nấu canh, giết được tất cả các độc từ cá thịt (Chân Quyền).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Tô Tụng nói:''' Nếu muốn tuyên thông phong độc thì dùng riêng phần thân (tô ngạnh), bỏ các đốt đi lại càng tốt.
'''Lý Thời Trân nói:''' Tử tô là vị thuốc trọng yếu của đời gần đây. Vị nó cay nên vào phần Khí; sắc nó tím nên vào phần Huyết. Cho nên dùng cùng Trần bì, Sa nhân thì hành khí an thai; dùng cùng Hoắc hương, Ô dược thì ôn trung chỉ thống; dùng cùng Hương phụ, Ma hoàng thì phát hãn giải cơ; dùng cùng Xuyên khung, Đương quy thì hòa huyết tán huyết; dùng cùng Mộc qua, Hậu phác thì tán thấp giải thử, trị hoắc loạn, cước khí; dùng cùng Cát cánh, Chỉ xác thì lợi cách khoan trường; dùng cùng Hạnh nhân, Lai phục tử thì tiêu đờm định suyễn vậy. Nhưng dùng lâu sẽ làm tiết chân khí của con người.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Tử tô khí thơm, vị hơi cay ngọt năng tán. Người nay sáng tối đều uống nước Tử tô, thật không ích gì. Thầy thuốc nói các loại cỏ thơm gây ra bệnh của hạng hào quý, chính là đây vậy. Nếu người tỳ vị hư hàn uống nhiều sẽ dẫn đến hoạt tiết (đi ngoài lỏng), thường là không tự biết.
===【Chính ngộ – Đính chính sai lầm】===
'''Tô Tụng nói:''' Tô chủ trị chứng Kê hà (bướu gà), sách Bản kinh không chép. Đời Nam Tề, Chử Trừng trị Lý Đạo Niệm ăn trứng gà luộc chưa chín kỹ thành bướu, cho uống nước sắc cây Tô mà mửa ra gà con rồi khỏi.
'''Lý Thời Trân xét:''' Theo sách Nam Tề thư, vị mà Chử Trừng dùng là Tỏi (Toán), không phải Tô. Có lẽ hai chữ này (蘇 - Tô và 蒜 - Toán) hình dạng tương cận, người sao chép lầm lẫn, Tô thị thiếu khảo cứu vậy. Xem chi tiết ở mục Tỏi.
===【Phụ phương】===
*Cũ 2, mới 13.
* '''Cảm hàn thượng khí (ho thở):''' Lá tô 3 lạng, Trần bì 4 lạng, rượu 4 thăng, sắc còn 1 thăng rưỡi, chia uống 2 lần. (Tráp hậu phương)
* '''Thương hàn khí suyễn không dứt:''' Dùng 1 nắm Xích tô, 3 thăng nước sắc còn 1 thăng, uống dần. (Tráp hậu)
* '''Lao phục, Thực phục sắp chết (tái phát bệnh do lao lực hoặc ăn uống sau khi mới khỏi):''' Sắc nước lá tô 2 thăng uống. Có thể thêm Gừng sống, Đậu xị cùng nấu uống. (Tráp hậu)
* '''Đột ngột nấc (ách) không dứt:''' Hương tô sắc đặc, uống liền 3 thăng, rất tốt. (Thiên kim)
* '''Hoắc loạn trướng mãn, chưa nôn tả được:''' Dùng lá tô tươi giã lấy nước uống. Tô khô sắc nước cũng được. (Tráp hậu phương)
* '''Các bệnh thất huyết (mất máu):''' Tử tô không kể nhiều ít, cho vào nồi lớn sắc nước cho khô thành cao, dùng bột đậu đỏ sao chín hòa viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30-50 viên với rượu, thường xuyên uống. (Đấu môn phương)
* '''Kim sang (vết thương do khí giới) máu chảy không dứt:''' Lá tô non và lá Dâu (Tang diệp) cùng giã đắp. (Vĩnh loại kiềm phương)
* '''Vấp ngã bị thương:''' Tử tô giã đắp, miệng vết thương tự khép. (Đàm Dã Ông nghiệm phương)
* '''Bị thương máu chảy không dứt:''' Lấy lá tô khô thấm máu chỗ vết thương, vò nát đắp vào. Máu không làm mủ, vả lại sau khi khỏi không để lại sẹo, rất diệu vậy. (Vĩnh loại kiềm phương)
* '''Chó dại cắn:''' Lá tô nhai đắp. (Thiên kim phương)
* '''Rắn rết cắn người:''' Lá tô giã lấy nước uống. (Thiên kim phương)
* '''Ăn cua trúng độc:''' Lá tô sắc nước uống 2 thăng. (Kim quỹ yếu lược)
* '''Tơ bay (phi ty) rơi vào mắt làm lưỡi nổi mụn:''' Dùng lá tô nhai nát, nuốt với nước nóng. (Nguy thị Đắc hiệu phương)
* '''Nhũ ung (áp xe vú) sưng đau:''' Tử tô sắc nước uống thường xuyên, kết hợp giã đắp. (Hải thượng tiên phương)
* '''Khái nghịch đoản khí:''' Thân lá tô 2 tiền, Nhân sâm 1 tiền. 1 chén nước sắc uống. (Phổ tế)
===HẠT (子 - Tô tử)===
===【Khí vị】===
Vị cay, tính ấm, không độc.
===【Chủ trị】===
Hạ khí, trừ hàn ôn trung (Biệt lục). Trị thượng khí khái nghịch (ho sặc), lãnh khí và thấp phong kết khí ở thắt lưng chân. Nghiền lấy nước nấu cháo ăn lâu ngày làm người béo trắng thân thể thơm tho (Chân Quyền). Điều trung, ích ngũ tạng, chỉ hoắc loạn nôn mửa phản vị, bổ hư lao, làm người béo khỏe, lợi đại tiểu tiện, phá trưng kết, tiêu ngũ cách, tiêu đờm chỉ khái (cầm ho), nhuận tâm phế (Nhật Hoa). Trị phế khí suyễn gấp (Khấu Tông Thiết). Trị phong thuận khí, lợi cách khoan trường, giải độc cá cua (Thời Trân).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Tô tử hạ khí, rất hợp dùng cùng Trần bì.
'''Lý Thời Trân nói:''' Tô tử cùng công hiệu với lá. Để phát tán phong khí nên dùng lá, để thanh lợi trên dưới (thông đại tiểu tiện, tiêu đờm) nên dùng hạt.
===【Phụ phương】===
*Cũ 3, mới 6.
* '''Thuận khí lợi trường:''' Tô tử, Ma tử nhân (hạt lanh) lượng bằng nhau, nghiền nát, lọc lấy nước, nấu cùng gạo làm cháo ăn. (Tế sinh phương)
* '''Trị phong thuận khí, lợi trường khoan trung:''' Dùng 1 thăng tô tử, sao nhẹ rồi giã, dùng túi lụa đựng, ngâm trong 3 đấu rượu trong suốt 3 đêm, uống dần từng ít một. (Thánh huệ)
* '''Tất cả các chứng lãnh khí:''' Tô tử, Cao lương khương, Trần bì lượng bằng nhau, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 10 viên với rượu lúc bụng đói. (Dược tính luận)
* '''Phong thấp cước khí:''' Phương như trên.
* '''Phong hàn thấp tý, tứ chi co quắp, chân sưng không thể dẫm xuống đất:''' Dùng 2 lạng tô tử, giã nát. Lấy 3 thăng nước nghiền lọc lấy nước, nấu cùng 2 hợp gạo tẻ làm cháo, cho thêm Hành, Tiêu, Gừng, Đậu xị mà ăn. (Thánh huệ phương)
* '''Tiêu khát biến thủy (Tiểu đường biến chứng phù thũng):''' Uống phương này làm nước thoát ra từ tiểu tiện. Dùng Tô tử (sao) 3 lạng, Lai phục tử (hạt củ cải - sao) 3 lạng, tán mạt. Mỗi lần uống 2 tiền với nước sắc Tang bạch bì, ngày 3 lần. (Thánh tế tổng lục)
* '''Trong mộng thất tinh (di tinh):''' Tô tử 1 thăng. Sao rồi giã nghiền tán mạt, mỗi lần uống 1 thìa vuông (phương thốn tỷ) với rượu, ngày uống 2 lần. (Ngoại đài bí yếu)
* '''Ăn cua trúng độc:''' Tô tử sắc nước uống. (Kim quỹ yếu lược)
* '''Thượng khí khái nghịch (ho suyễn):''' Tô tử cho vào nước nghiền lọc lấy nước, nấu cùng gạo tẻ làm cháo ăn. (Giản tiện phương)
==NHẪM (荏 - Tía tô trắng/Cây mè tía)==
*(Trích từ sách "Biệt lục", Thượng phẩm)
'''Tên khoa học:''' Perilla frutescens (L.) Britton
===【Hiệu chính】===
Từ bộ Rau (Thái bộ) chuyển vào đây.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Dư''' (荏 - âm đọc là Ngư).
'''Bạch tô''' (白蘇 - theo Đồ kinh và Đào Hoằng Cảnh).
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nhẫm hình trạng như cây Tô, người phương Đông gọi là "Dư" (荏), vì chữ này giống chữ Tô (蘇) nhưng bỏ đi bộ Hòa (禾) ở bên cạnh vậy.
'''Tô Tụng nói:''' Họ Tô có vài loại: Thủy tô, Bạch tô, Ngư tô, Sơn ngư tô, thảy đều thuộc loại Nhẫm cả.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Lá nhẫm hái vào tháng Chín, phơi trong râm.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Nhẫm trạng như cây Tô, cao lớn, màu trắng, không thơm lắm. Hạt của nó nghiền nát, trộn với gạo nấu cháo (mê) ăn rất béo sạch, có công dụng hạ khí bồi bổ. Ép hạt lấy dầu, đun nóng hằng ngày, chính là loại dầu dùng để quét vải (làm vải dầu) và pha sơn ngày nay; người tu tiên ăn kiêng ngũ cốc cũng dùng đến, gọi là "Trọng du" (dầu nặng).
'''Tô Cung nói:''' Lá nhẫm người ta thường ăn sống, hạt của nó vốn không tốt bằng hạt Tử tô.
'''Trần Tạng Khí nói:''' Vùng Giang Đông lấy hạt nhẫm làm dầu, đất Bắc lấy Đại ma (hạt lanh/cần sa) làm dầu, cả hai loại dầu này đều dùng để quét đồ vật được. Nếu để pha sơn thì dầu Nhẫm tốt hơn.
'''Tiêu Bỉnh nói:''' Lại có loại Đại nhẫm (Nhẫm lớn), hình dáng giống Nhẫm dại, cao lớn. Lá to gấp đôi loại Nhẫm nhỏ, không ăn được. Người ta thu hạt để làm vải lụa dầu, công dụng như hạt Đại ma. Loại Nhẫm nhỏ khi hạt sắp chín, người ta hái cả đài hoa (giác) mà ăn, rất thơm ngon. Lá Đại nhẫm không ăn được.
'''Tô Tụng nói:''' Bạch tô (Tía tô trắng) thân vuông lá tròn, không có màu tím, cũng rất thơm, hạt cũng nhập dược. Ngư tô (Tô cá) giống như Nhân trần, lá to mà thơm, người đất Ngô dùng để kho cá, một tên gọi là Ngư tì (鱼菑). Loại mọc trong kẽ đá núi gọi là Sơn ngư tô, chủ trị hưu tức lỵ (lỵ mạn tính), đại tiểu tiện nhiều lần. Tán bột khô, hòa với nước cơm mà uống, rất hiệu nghiệm.
'''Mạnh Tiễn nói:''' Có thể đồ (hấp) chín, phơi dưới nắng gắt, đợi khi hạt nứt ra thì giã lấy nhân mà ăn, cũng có thể dùng để nhịn ăn (hưu lương).
===LÁ (葉)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Điều trung, khứ xú khí (khử mùi hôi) (Biệt lục). Giã đắp vết trùng cắn và chứng âm thũng (sưng bộ phận sinh dục) ở nam giới (Tạng Khí). Điều khí, nhuận tâm phế, làm đầy đặn cơ bắp, đẹp da dẻ, tiêu thức ăn cũ, chỉ thượng khí khái thấu (cầm ho suyễn), khứ hồ xú (trị hôi nách), đắp vết trùng cắn (Nhật Hoa).
===【Phụ phương】===
*(Cũ 2)
* '''Nam nữ âm thũng:''' Nam giới: Lá nhẫm tươi giã nát, hòa với giấm đắp vào. Nữ giới: Dùng vải bông bọc lá nhẫm nhét vào trong, thay 3-4 lần. (Mạnh Tiễn "Thực liệu")
* '''Rắn rết cắn:''' Lấy lá nhẫm giã nát, hòa với mỡ lợn, đắp một lớp mỏng lên vết thương. (Mai sư phương)
===HẠT (子)===
===【Khí vị】===
Vị cay, tính ấm, không độc. ('''Mạnh Tiễn nói:''' Cũng có chút năng lực phá khí. Ăn nhiều gây phiền muộn ở tim.)
===【Chủ trị】===
Khái nghịch, hạ khí, ôn trung bổ thể (Biệt lục). Ăn sống chỉ khát nhuận phế. (Đồ chín phơi khô, giã lấy nhân ăn giúp bổ trung ích khí, thông huyết mạch, làm đầy tinh tủy) (Mạnh Tiễn). Chỉ thấu (cầm ho) (Nhật Hoa).
==THỦY TÔ (水蘇 - Bạc hà nước/Kinh giới dại)==
*(Trích từ sách "Bản kinh", Trung phẩm)
'''Tên khoa học:''' Stachys japonica Miq. (hoặc loài thuộc chi Stachys)
===【Hiệu chính】===
Từ bộ Rau (Thái bộ) chuyển vào đây.
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Kê tô''' (雞蘇 - Ngô Phổ), '''Hương tô''' (香蘇 - Tráp hậu), '''Long não bạc hà''' (龍腦薄荷 - Nhật dụng), '''Giới tổ''' (芥 - âm đọc là Tổ), '''Giới thư''' (芥苴 - theo Biệt lục).
'''Lý Thời Trân nói:''' Cỏ này giống cây Tô mà ưa sinh nơi bờ nước nên gọi là Thủy tô. Lá nó cay thơm, có thể dùng nấu thịt gà nên có các tên Long não, Hương tô, Kê tô. Giới tổ, Giới thư lẽ ra phải gọi là Giới tô (Kinh giới nước), ấy là do một tên mà ghi chép lầm lẫn thôi, cũng vì vị cay như Cải (Giới) nên gọi tên vậy. Sách Huệ dân Hòa tễ cục phương đời Tống có bài Long não bạc hà hoàn, chuyên trị các bệnh về máu. Sách Nhật dụng bản thảo của Ngô Thụy đời Nguyên nói đó chính là Thủy tô, chắc chắn có căn cứ vậy. Chu Định Vương trong Cứu hoang bản thảo nói Bạc hà chính là Kê tô, loại sinh ở gò Long Não vùng Đông Bình là tốt nhất nên mới có tên đó; Trần Gia Mô trong Bản thảo mông thuyên lại nói Bạc hà trồng ở đất tên Long Não thuộc phủ Tô Châu, các cách giải thích nguồn gốc tên gọi đều không đồng nhất, tại sao vậy?
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Sách "Biệt lục" viết:''' Thủy tô sinh ở vùng ao đầm Cửu Chân. Hái vào tháng Bảy.
'''Đào Hoằng Cảnh nói:''' Phương thuốc không dùng tới, không ai nhận biết được; vùng Cửu Chân xa xôi, cũng chẳng ai tới đó mà hỏi thăm.
'''Tô Cung nói:''' Loại Tô này sinh ở vùng đầm thấp cạnh nước, mầm giống cây Toàn phúc, hai lá mọc đối, hương rất nồng. Người vùng Thanh, Tề, Hà Gian gọi là Thủy tô, vùng Giang Tả gọi là Tế nuy (薺 ), vùng Ngô Hội gọi là Kê tô. Thế mà Đào thị lại tách riêng Kê tô ra bộ Rau, thật là sai lầm.
'''Tiêu Bảo Thăng nói:''' Lá giống Bạch vi, hai lá mọc đối, hoa mọc giữa các đốt, màu trắng tím, vị cay mà thơm. Tháng Sáu hái thân lá phơi khô.
'''Tô Tụng nói:''' Thủy tô nơi nơi đều có, đa phần sinh bờ nước. Người phương Nam thường dùng làm rau. Giang Bắc rất nhiều nhưng người ta không hái ăn. Lại nữa, người vùng Giang Tả nói Kê tô và Thủy tô là hai loại khác nhau. Trần Tạng Khí nói Tế nuy tự là một vật, không phải Thủy tô. Lá Thủy tô có răng cưa như răng chim nhạn (nhạn xỉ), khí thơm mà cay; lá Tế nuy có lông, hơi dài, khí hôi. Lại nữa, phần chú thích về Nhân trần nói: Loại Nhân trần vùng Giang Nam dùng, thân lá đều giống Nhân trần nhà nhưng lớn hơn, cao ba bốn thước, khí cực kỳ thơm tho, vị ngọt cay, tục danh là Long não bạc hà.
'''Khấu Tông Thiết nói:''' Khí vị Thủy tô khác với Tử tô. Cay mà không hòa, tuy nhiên hình trạng y hệt cây Tô, chỉ là mặt lá không tím và xung quanh khía răng cưa như răng nhạn vậy.
'''Ngô Thụy nói:''' Thủy tô chính là Kê tô, tục gọi là Long não bạc hà.
'''Lý Thời Trân nói:''' Thủy tô và Tế nuy là cùng một loại nhưng có hai hạng. Thủy tô khí thơm, Tế nuy khí hôi, đó là điểm khác biệt. Thủy tô tháng Ba mọc mầm, thân vuông lõm giữa, lá giống lá Tô nhưng hơi dài. Răng cưa dày, mặt lá nhăn sắc xanh, mọc đối đốt, khí rất cay nồng. Tháng Sáu, Bảy nở hoa kết bông như bông Tử tô, màu đỏ nước. Trong bông có hạt mịn, hình như hạt Kinh giới, gieo hạt dễ mọc, rễ cũ cũng tự sinh mầm. Nơi đất màu mỡ mầm cao bốn năm thước.
===THÂN VÀ LÁ (莖葉)===
===【Khí vị】===
Vị cay, tính hơi ấm, không độc.
===【Chủ trị】===
Hạ khí sát cốc (tiêu hóa ngũ cốc), trừ ăn uống (tiêu tích trệ). Lợi trừ hôi miệng, khứ tà độc, tị ác khí. Uống lâu thông thần minh, nhẹ mình, chịu được già (Bản kinh). Chủ trị thổ huyết, nục huyết (chảy máu cam), huyết băng (Biệt lục). Trị phế nuy, huyết lỵ, băng trung đới hạ (Nhật Hoa). Chủ trị các chứng bệnh về khí và chân sưng thũng (Tô Tụng). Nấu rượu, ngâm rượu hoặc sắc lấy nước uống thường xuyên trị đầu váng mắt hoa và sản hậu trúng phong. Ác huyết chảy không dứt, uống vị này lại càng diệu (Mạnh Tiễn). Làm rau sống ăn trừ được nước chua trong dạ dày (toan thủy) (Tạng Khí).
===【Phát minh – Luận giải】===
'''Lý Thời Trân nói:''' Công hiệu của Kê tô chuyên về lý huyết hạ khí, thanh phế tị ác (đuổi khí xấu) tiêu cốc, nên sách Thái bình Hòa tễ cục phương trị các chứng thổ huyết, nục huyết, tóa huyết (nhổ ra máu), khái huyết (ho ra máu), hạ huyết, huyết lâm, miệng hôi, miệng đắng, miệng ngọt, họng tanh, tà nhiệt chư bệnh, có bài Long não bạc hà hoàn, dược vị nhiều nên không lục ra đây. Dùng trị các bệnh về máu quả có hiệu nghiệm đặc biệt vậy.
===【Phụ phương】===
*(Cũ 6, mới 9)
* '''Lậu huyết sắp chết (ra máu không dứt):''' Kê tô sắc lấy nước 1 thăng mà uống. (Mai sư phương)
* '''Thổ huyết hạ huyết:''' Thân lá kê tô sắc lấy nước uống. (Mai sư phương)
* '''Thổ huyết khái thấu:''' Long não bạc hà sao tán mạt. Uống 1 tiền với nước cơm để lấy hiệu nghiệm.
* '''Nục huyết (chảy máu cam) không dứt:'''
** Cách 1: Dùng Kê tô 5 hợp, Hương đậu xị 2 hợp, cùng giã nát, vê thành viên như hạt táo, nhét vào lỗ mũi thì cầm ngay. (Mai sư phương)
** Cách 2: Dùng Long não bạc hà, Sinh địa hoàng lượng bằng nhau tán mạt, uống với nước lạnh.
* '''Não nhiệt tị uyên (viêm xoang chảy mủ), phế ủng nhiều nước mũi:''' Lá kê tô, Mạch môn đông, Xuyên khung, Tang bạch bì (sao), Hoàng kỳ (nướng), Cam thảo (nướng), Sinh địa hoàng (sao) lượng bằng nhau tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 40 viên với nước Nhân sâm. (Thánh tế tổng lục)
* '''Phong nhiệt đầu thống:''' Nhiệt kết thượng tiêu dẫn đến sinh phong khí, đàm quyết đầu thống. Dùng lá Thủy tô 5 lạng, Sáp kết (Sáp tử - nướng bỏ vỏ hạt) 3 lạng, Nguyên hoa (sao giấm cho cháy) 1 lạng, tán mạt, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần 20 viên, sau ăn uống với nước sắc Kinh giới. (Thánh huệ phương)
* '''Đột ngột điếc tai:''' Lá kê tô tươi giã nát, dùng vải bông bọc nhét vào tai. (Mạnh Tiễn "Thực liệu")
* '''Gội đầu cho thơm:''' Thủy tô sắc lấy nước, hoặc đốt lấy tro lấy nước gội đầu. (Thực liệu)
* '''Đầu sinh gàu trắng:''' Phương như trên.
* '''Mùa hè mắt hôn ám, nhiều dử mắt và nước mắt:''' Lá Long não bạc hà giã nát, dùng lụa vắt lấy nước nhỏ mắt. (Thánh tế tổng lục)
* '''Trúng các loại độc của cá:''' Hương tô sắc nước đặc mà uống, rất tốt. (Tráp hậu phương)
* '''Rắn rết cắn:''' Lá Long não bạc hà tán mạt, uống với rượu, đồng thời đắp bên ngoài. (Dị giản phương)
==TẾ NÂY (薺薴 - Kinh giới rừng)==
*(Trích từ sách "Thập di")
'''Tên khoa học:''' Mosla cavaleriei Levl. (hoặc Mosla chinensis Maxim.)
===【Thích danh – Giải thích tên gọi】===
'''Xú tô''' (臭蘇 - Nhật Hoa), '''Thanh bạch tô''' (青白蘇).
'''Lý Thời Trân nói:''' Nhật Hoa Tử giải thích về Thủy tô có viết: Một tên Xú tô, một tên Thanh bạch tô, chính là cỏ này vậy, chẳng qua lầm gọi thành Thủy tô đó thôi. Hình dáng nó giống Thủy tô mà hôi (xú), giống Bạch tô mà xanh (thanh), nên mới có hai tên gọi ấy.
===【Tập giải – Ghi chép về đặc điểm】===
'''Trần Tạng Khí nói:''' Xét lời Tô Cung nói: Vùng Giang Tả gọi Thủy tô là Tế nây. Nhưng xét kỹ thì lá Thủy tô có răng cưa như răng nhạn, khí thơm mà cay. Còn lá Tế nây hơi dài, trên mặt có lông, khí hôi, cũng có thể dùng làm rau sống.
'''Lý Thời Trân nói:''' Tế nây nơi nơi vùng bình địa đều có. Lá giống Dã tô (tía tô dại) nhưng hơi dài, có lông, khí hôi. Người miền núi thường ăn, nhưng lá không được tốt lắm.
===THÂN VÀ LÁ (莖葉)===
===【Khí vị】===
Vị cay (tân), tính ấm (ôn), không độc.
===【Chủ trị】===
Lãnh khí tiết lỵ (tiêu chảy do lạnh). Ăn sống trừ được nước chua (toan thủy) trong dạ dày.
===【Phụ lục】===
'''THẠCH TẾ NÂY (石薺薴)'''
'''Tên khoa học:''' Mosla scabra (Thunb.) C.Y.Wu et H.W.Li
'''Trần Tạng Khí nói:''' Vị cay, tính ấm, không độc. Chủ trị phong lãnh khí, sang giới tao dưỡng (ghẻ lở ngứa ngáy), trĩ rò hạ huyết (đi ngoài ra máu do trĩ), sắc lấy nước uống. Sinh ở kẽ đá trong núi, lá nhỏ hoa tím, cao một, hai thước, người miền núi thường dùng.
{{Chú thích cuối trang}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Y học]]
atjisda8d0uns37mk0ts3f15alnouvl