Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.46.0-wmf.23 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Đề tài Tam quốc diễn nghĩa (Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỷ hiệu đính)/Hồi 36 0 4221 204576 143055 2026-04-08T00:35:17Z ~2026-21480-37 20045 204576 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = [[../|Tam quốc diễn nghĩa]] | tác giả = La Quán Trung | dịch giả = Phan Kế Bính | người hiệu đính = Bùi Kỷ | phần = Hồi 36 | trước = [[../Hồi 35|Hồi 35]] | sau = [[../Hồi 37|Hồi 37]] | ghi chú = }} {{giữa| HỒI THỨ BA MƯƠI SÁU '''<poem> Huyền-đức dùng mẹo đánh úp Phàn-thành Nguyên-trực tế ngựa tiến cử Gia-cát </poem>''' }} Lại nói, Tào Nhân tức giận, dẫn binh mã cấp tốc vượt qua sông, định san phẳng Tân-dã. Đan Phúc thắng trận, về huyện bàn với Huyền-đức rằng: - Tào Nhân đóng quân ở Phàn-thành, nếu biết hai tướng bị giết, tất huy động đại quân đến báo thù. Huyền-đức hỏi: - Nên dùng kế gì bây giờ? Đan Phúc nói: - Nếu hắn đem hết quân sang đây, Phàn-thành bỏ ngỏ, ta có thể thừa cơ đánh úp. Huyền-đức hỏi kế. Phúc ghé vào tai Huyền-đức nói nhỏ mấy câu, Huyền-đức hớn hở, truyền lệnh chuẩn bị sẵn sàng. Chợt có thám mã báo Tào Nhân đã dẫn đại quân qua sông kéo đến nơi. Đan Phúc nói: - Tôi đoán không sai. Rồi mời Huyền-đức đem quân nghênh địch. Trận thế dàn xong, Triệu Vân ra ngựa, gọi tướng giặc nói chuyện. Tào Nhân sai Lý Điển ra giao chiến với Triệu Vân. Được độ vài chục hợp, Lý Điển biết sức không cự nổi, quay ngựa chạy về. Vân tế ngựa đuổi theo, nhưng quân Tào bắn chặn lại. Đôi bên cùng thu quân về trại. Lý Điển về gặp Tào Nhân nói: - Quân giặc tinh nhuệ lắm, không nên coi thường. Chi bằng hãy rút quân về Phàn-thành. Tào Nhân cả giận, nói: - Lúc chưa xuất quân, ngươi đã làm ngã lòng quân sĩ ta. Nay lại giả tảng thua, tội đáng chém. Đao phủ đâu, lôi ra chặt đầu nó đi. Các tướng xúm lại can mãi, Điển mới khỏi chết. Rồi Nhân tự dẫn binh đi tiền bộ, cho Lý Điển đi hậu quân. Hôm sau đánh trống tiến binh, bày thành thế trận, sai người hỏi Huyền-đức rằng: - Có biết thế trận của ta không? Đan Phúc trèo lên chỗ cao, ngắm một hồi, rồi xuống nói với Huyền-đức: - Đây là trận “Bát môn kim tỏa”. Có tám cửa là: hưu, sinh, thương, đỗ, cảnh, tử, kinh, khai. Nếu nhắm các cửa sinh, cửa cảnh, cửa khai mà đánh vào thì thắng; vào các cửa thương, kinh, hưu, thì bị thiệt hại; vào cửa đỗ, tử, thì chết hết. Tám cửa tuy bố trí chỉnh tề, nhưng chỉ thiếu lực lượng chủ trì ở giữa. Nếu ta tiến vào cửa sinh góc đông nam, rồi đánh sang cửa cảnh góc tây thì trận này phải tan vỡ. Huyền-đức truyền lệnh cho quân sĩ giữ vững lấy góc trận và sai Triệu Vân đem năm trăm quân từ mặt đông nam tiến vào, lướt qua cửa tây mà ra ngoài trận. Được lệnh, Vân lập tức vác giáo lên ngựa, đem quân thẳng đến góc đông nam, hò reo đánh vào giữa trận. Tào Nhân lui chạy về phía bắc. Vân không đuổi theo, đánh xộc ra cửa tây, rồi lại từ cửa tây đánh sang góc đông nam. Quân Tào đại loạn. Huyền-đức thúc quân đánh ùa vào; quân Tào Nhân thua to chạy trốn. Đan Phúc truyền lệnh không đuổi theo, thu quân về. Tào Nhân bị thua trận ấy mới tin lời Lý Điển, bèn cho mời Điển đến bảo rằng: - Trận mới rồi mà cũng phá được, trong quân Lưu Bị tất có người giỏi. Lý Điển nói: - Tôi tuy ở đây nhưng bụng vẫn còn lo Phàn-thành. Tào Nhân nói: - Đêm nay ta đến cướp trại; nếu thắng ta sẽ liệu kế khác; nhược bằng thua, bấy giờ ta sẽ rút về Phàn-thành. Lý Điển nói: - Không nên, Huyền-đức chắc có phòng bị. Nhân nói: - Đa nghi như vậy thì dùng binh thế nào được? Rồi Nhân không nghe lời Lý Điển, tự dẫn quân đi tiền đội, sai Lý Điển đi hậu ứng, canh hai đêm hôm ấy đến cướp trại Huyền-đức. Đan Phúc đang ngồi thương nghị với Huyền-đức ở trong trại, bỗng có cơn gió giật đùng đùng nổi lên. Phúc nói: - Đêm nay Tào Nhân tất đến cướp trại đây! Huyền-đức nói: - Ta lấy gì địch lại? Đan Phúc nói: - Tôi đã bố trí cả rồi. Bèn cắt đặt đâu vào đấy. Đến canh hai, Tào Nhân kéo đến gần trại, thấy bốn mặt lửa cháy ngùn ngụt. Nhân biết trong trại có phòng bị, vội vã rút lui. Triệu Vân đuổi theo. Nhân không kịp thu quân về trại, tất tả chạy về phía bắc sông Tương-giang. Đến bờ sông, đang hoang mang tìm đò, thì một toán quân kéo đến, tướng đi đầu là Trương Phi. Tào Nhân liều chết đánh nhau. Lý Điển bảo vệ Tào Nhân xuống được thuyền sang sông. Quân Tào chết đuối quá nửa. Tào Nhân sang khỏi sông, chạy ngay về Phàn-thành, sai người gọi cửa. Bỗng trên thành một hồi trống nổi, rồi một tướng xông ra, thét lớn: - Phàn-thành đã rơi vào tay ta từ lâu rồi. Quân Tào giật mình, nhìn ra thì là Vân-trường. Tào Nhân rụng rời, quất ngựa chạy. Vân-trường đuổi đánh. Tào Nhân lại thiệt một số quân nữa, vội vã chạy về Hứa-xương. Dọc đường, Nhân mới được tin Huyền-đức có Đan Phúc làm quân sư, bày mưu đặt kế. Đây nói Huyền-đức toàn thắng, kéo quân vào Phàn-thành. Quan huyện lệnh Lưu Bật ra đón, Huyền-đức vào thành, phủ dụ dân chúng xong, Lưu Bật rước về nhà mở tiệc khoản đãi. Bật cũng là tôn thân nhà Hán, quán ở Tràng-an. Trong tiệc Huyền-đức thấy một người đứng hầu, tư thế hiên ngang, liền hỏi Bật: - Người này là ai? Bật thưa: - Đó là Khấu Phong, con họ Khấu ở La-hầu, cháu gọi tôi bằng cậu, vì cha mẹ chết cả, nên đến ở với tôi. Huyền-đức tỏ vẻ yêu mến, muốn nhận làm con nuôi. Lưu Bật mừng rỡ nhận lời ngay và bảo Khấu Phong ra lạy Huyền-đức làm cha nuôi, đổi tên họ là Lưu Phong. Huyền-đức dẫn về, khiến lạy Vân-trường, Dực-đức làm chú. Vân-trường nói: - Anh đã có con rồi, hà tất phải nuôi con nuôi, sau này chắc sinh loạn! Huyền-đức nói: - Ta đãi nó như con, tất nó phải thờ ta như cha. Việc gì mà loạn? Vân-trường tỏ vẻ không bằng lòng. Huyền-đức bàn với Đan Phúc, sai Triệu Vân đem một nghìn quân giữ Phàn-thành, còn mình thì dẫn quân về Tân-dã. Lại nói Tào Nhân, Lý Điển về Hứa-đô, vào ra mắt Tào Tháo, khóc lạy xuống đất xin chịu tội và thuật đầu đuôi việc hao binh tổn tướng. Tháo nói: - Được thua là chuyện thường của nhà binh, nhưng không biết ai bày mưu cho Lưu Bị? Tào Nhân nói là mẹo của Đan Phúc. Tháo hỏi: - Đan Phúc là người thế nào? Trình Dục cười, nói: - Người ấy không phải là Đan Phúc. Thuở nhỏ hắn tập múa gươm. Cuối năm Trung-bình (đời vua Linh-đế) hắn giết người để báo thù cho người khác, rồi xõa tóc bôi nhọ mặt đi trốn. Bị nha lại tóm được, hắn không nói tên họ, liền bị trói bỏ lên xe, đem đi rong chợ, đánh trống gọi loa cho dân phố nhận mặt. Cũng có người biết, nhưng không ai dám nói. Sau các bè bạn đánh tháo, cứu thoát hắn ra. Hắn mới thay tên đổi họ, đi lánh nạn, gắng sức học hành, tìm kiếm danh sư khắp nơi. Hắn thường đi lại đàm luận với Tư-mã Huy. Hắn quê ở Dĩnh-châu, tên là Từ Thứ, tự là Nguyên-trực, Đan Phúc chỉ là họ tên giả của hắn thôi. [[Tập tin:XuShu.jpg|nhỏ|phải|Từ Thứ.]] Tháo lại hỏi: - Tài của Từ Thứ so với ngươi thế nào? Dục thưa: - Người ấy mười phần; Dục không được lấy một. Tháo nói: - Đáng tiếc hiền sĩ đều về với Lưu Bị cả; vây cánh y đã thành, biết làm thế nào? Dục đáp: - Từ Thứ tuy ở với Lưu Bị, nhưng nếu thừa tướng muốn dùng, gọi về cũng dễ. Tháo hỏi: - Làm thế nào dụ hắn về được? Dục thưa: - Từ Thứ là người chí hiếu. Bố mất sớm, chỉ còn mẹ già ở nhà. Hiện nay em là Từ Khang đã mất, mẹ già không ai phụng dưỡng, thừa tướng nên sai người lừa mẹ hắn đến Hứa-xương, rồi bắt mụ ấy viết thư gọi con về đây, chắc Từ Thứ thế nào cũng phải nghe theo. Tháo mừng lắm, sai người cấp tốc đi bắt mẹ Từ Thứ. Không mấy bữa, quân bắt được dẫn về, Tháo đối đãi rất tử tế. Rồi bảo Từ mẫu rằng: - Ta được biết Từ Nguyên-trực, con trai bà, là bậc kỳ tài trong thiên hạ. Nay y ở Tân-dã, giúp tên nghịch thần Lưu Bị, phản bội triều đình. Có khác nào viên ngọc quý rơi trong vũng bùn, thật đáng tiếc! Nay ta muốn nhờ bà viết thư gọi y về Hứa-đô, ta sẽ tâu lên thiên tử, nhất định y sẽ được trọng thưởng. Rồi sai tả hữu lấy nghiên bút, giấy mực lại, bảo Từ mẫu viết thư. Từ mẫu hỏi: - Lưu Bị là người thế nào? Tháo đáp: - Là một kẻ hèn mọn ở Bái-quận mạo xưng là “hoàng thúc”, vốn chẳng có tín nghĩa gì. Có thể nói ngoài vỏ là người quân tử, mà trong ruột là một đứa tiểu nhân. Từ mẫu đùng đùng nổi giận: - Ngươi xảo quyệt đến thế là cùng! Từ lâu ta đã biết Huyền-đức là con cháu Trung-sơn Tĩnh-vương, cháu chắt Hiếu-cảnh hoàng đế. Ông ấy khiêm tốn, quý trọng hiền sĩ, kính cẩn đãi người, tiếng nhân đức lừng lẫy khắp thiên hạ. Từ già đến trẻ, từ kẻ chăn trâu đến người kiếm củi, ai cũng biết ông là một bậc anh hùng đời nay. Con ta phò tá người ấy, thật là xứng đáng. Còn ngươi, tuy là tướng nhà Hán, nhưng thực là giặc nhà Hán, lại còn dám bảo Huyền-đức là nghịch thần? Ngươi định đẩy con ta bỏ chỗ sáng vào hang tối, há chẳng biết nhục lắm sao? Nói xong bà cầm ngay nghiên mực đá quẳng vào mặt Tào Tháo. Tháo giận lắm, thét võ sĩ lôi Từ mẫu ra chém. Trình Dục vội can rằng: - Từ mẫu nói xúc phạm đến thừa tướng, là cốt để tìm đường chết. Nếu thừa tướng giết đi, không những mang tiếng bất nghĩa, mà lại đề cao cái đức của Từ mẫu. Mẹ chết rồi, Từ Thứ tất đem hết tài trí ra giúp Lưu Bị để trả thù. Chi bằng không giết, khiến Từ Thứ thân ở một nơi, lòng nghĩ một nơi, dù có giúp Lưu Bị cũng không tận sức. Hơn nữa, để Từ mẫu sống, Dục sẽ có kế lừa Từ Thứ về đây giúp thừa tướng. Tháo nghe lời, tha chém Từ mẫu và đem nuôi nấng ở riêng một nhà. Trình Dục ngày ngày đến thăm hỏi, nói dối là anh em kết nghĩa với Từ Thứ, ân cần phụng dưỡng chẳng khác mẹ đẻ. Thường thường Dục đem biếu Từ mẫu thứ nọ thứ kia, lại kèm theo danh thiếp, Từ mẫu cũng gửi thiếp đáp lại. Dục bắt chước đúng được lối chữ của Từ mẫu, liền viết một bức thư giả, sai người tâm phúc đem sang Tân-dã, tìm đến hành dinh Đan Phúc. Quân sĩ dẫn vào gặp Từ Thứ. Thứ biết tin có thư của mẹ vội gọi vào hỏi. Người đó thưa: - Tôi là người hầu ở quán xá, vâng lời của lão phu nhân, mang trình ngài một phong thư. Thứ bóc thư ra xem. Thư rằng: ''“Gần đây, em con đã mất, mẹ thành tứ cố vô thân. Đang cơn sầu thảm, không ngờ Tào thừa tướng đánh lừa đưa đến Hứa-xương, nói rằng con theo phản ngụy, bắt mẹ giam cầm. May nhờ có bọn Trình Dục, mẹ mới được an toàn. Nếu con về hàng, mẹ sẽ thoát chết. Nhận được thư này, con hãy nhớ ơn đức cù lao, gấp rút tới đây cho toàn đạo hiếu. Rồi dần dà sẽ tính việc về quê cày cấy làm ăn, khỏi mắc tai vạ. Tính mạng mẹ lúc này chẳng khác nghìn cân treo sợi tóc, chỉ mong chờ cứu viện. Thư chẳng hết lời”.'' Từ Thứ xem xong, nước mắt chứa chan, đem thư vào yết kiến Huyền-đức, nói rằng: - Tôi vốn người Dĩnh-châu, tên là Từ Thứ, tự Nguyên-trực, vì lánh nạn phải đổi tên là Đan Phúc. Khi trước, nghe thấy Cảnh-thăng chiêu hiền nạp sĩ cũng đã đến gặp; nhưng khi bàn việc, mới biết hắn là đồ vô dụng, nên viết thư từ biệt. Đêm nọ, đến chơi nhà ông Thủy-kính, có kể lại chuyện ấy; Thủy-kính trách tôi là người không biết chủ, và nói có Lưu Dự-châu ở đây, sao không đi theo. Bởi thế, tôi mới đi hát rong ở chợ để động đến tai sứ quân, nay được sứ quân tin dùng. Không ngờ lão mẫu bị Tào Tháo bày mưu lừa đến Hứa-xương sắp đem sát hại. Mẹ tôi có viết thư lại gọi, tôi không thể không về. Không phải tôi không muốn đem tài khuyển mã để báo đáp sứ quân, nhưng vì thân mẫu bị bắt, không thể làm sao được. Nay xin từ biệt và mong có cơ hội gặp sứ quân sau. Huyền-đức nghe nói, khóc rống lên: - Tình nghĩa mẹ con là tính trời, Nguyên-trực đừng có nghĩ ngợi gì đến Bị nữa. Đợi sau khi gặp lão phu nhân rồi, có thể Bị lại được nghe lời chỉ bảo. Từ Thứ lạy tạ muốn đi ngay. Huyền-đức nói: - Xin hãy sum vầy một đêm, mai sẽ đi sớm. Tôn Càn mật bảo Huyền-đức: - Nguyên-trực là kỳ tài thiên hạ, lại ở Tân-dã đã lâu, tình hình quân ta thế nào đều biết rõ cả. Nay nếu hắn về với Tào Tháo tất nhiên được trọng dụng, nguy cho ta lắm. Chúa công phải cố lưu lại đừng cho đi. Tào Tháo thấy hắn không đến tất đem giết mẹ hắn. Hắn biết mẹ chết, chắc phải báo thù, sẽ cố sức đánh Tào Tháo. Huyền-đức nói: - Không được. Mượn tay người giết mẹ để ta dùng con là bất nhân; giữ lại không cho đi để cắt đứt cái đạo mẹ con là bất nghĩa. Ta thà chết chứ không khi nào làm những việc bất nhân bất nghĩa. Ai nấy đều thán phục. Huyền-đức mời Thứ uống rượu, Thứ nói: - Xin sứ quân chước cho. Nay mẹ tôi còn ở trong ngục, dù nước vàng rượu ngọc cũng không sao trôi vào cổ họng được. Huyền-đức nói: - Bị thấy ông sắp đi, như mất cả tay phải tay trái, dù gan rồng tỉ phượng, ăn cũng không ngon. Hai người ngồi nhìn nhau, nước mắt tầm tã, chờ sáng. Các tướng đã bày tiệc tiễn hành ở ngoài cõi. Huyền-đức, Từ Thứ cùng lên ngựa, hai ngựa sóng đôi ra ngoài thành. Đến cuối tràng đình, hai người xuống ngựa từ biệt nhau. Huyền-đức bưng một chén rượu bảo Từ Thứ rằng: - Bị nay phận mỏng duyên hèn, không được cùng tiên sinh tụ hội, chúc tiên sinh khéo thờ chủ mới để chóng nên công danh. Từ Thứ khóc, nói: - Tôi tài nhỏ trí mọn, đội ơn sứ quân trọng dụng, nay chẳng may nửa đường phải từ biệt, chỉ vì mẹ già mà thôi. Dù Tào Tháo có ép nài tôi cũng thề trọn đời không bày một mưu kế gì cho y cả. Huyền-đức đáp: - Tiên sinh đã đi, Bị này cũng sẽ liệu đường tránh ẩn vào nơi rừng rú. Thứ nói: - Tôi sở dĩ muốn cùng sứ quân mưu đồ nghiệp vương bá, là nhờ ở tấm lòng này. Nay vì việc mẹ già, lòng tôi bối rối, dù cố gắng ở lại, cũng vô ích. Sứ quân nên cầu người hiền khác cùng toan nghiệp lớn, việc gì mà đã vội ngã lòng. Huyền-đức thở dài nói: - Cao hiền trong thiên hạ, còn có ai hơn tiên sinh! Từ Thứ nói: - Tôi tài trí tầm thường, không dám nhận lời khen ấy. Lúc sắp đi, Từ Thứ ngoảnh lại nói với các tướng: - Xin các ông hết lòng thờ sứ quân để tên tuổi ghi vào tre lụa<ref>Đời xưa chưa có giấy, thường ghi tên tuổi những người có công đức vào mảnh tre hay vuông lụa.</ref>, sự nghiệp nêu trong sử xanh, đừng có như Thứ này là người hữu thủy vô chung. Các tướng ai cũng thương cảm. Huyền-đức không nỡ chia tay, tiễn hết cung đường này đến cung đường khác. Từ Thứ nói: - Không dám phiền sứ quân đi tiễn xa quá. Đến đây, Thứ xin cáo biệt. Huyền-đức ngồi trên ngựa, cầm tay Từ Thứ nói: - Tiên sinh chuyến này đi, mỗi người một phương trời, biết ngày nào lại được gặp nhau? Nói xong, nước mắt tuôn xuống như mưa. Thứ cũng khóc rồi cáo biệt. Huyền-đức dừng ngựa bên rừng, trông theo Từ Thứ và bọn tùy tùng vội vã kéo đi, khóc mà nói: - Nguyên-trực đi rồi, ta làm thế nào bây giờ? [[Tập tin:Romance of the Three Kingdoms at Long Corridor.jpg|nhỏ|giữa|500px|Từ Thứ từ biệt Lưu Bị.]] Huyền-đức gạt nước mắt trông theo, lại bị rặng cây trước mặt che khuất, bèn lấy roi trỏ vào rừng, nói: - Ta muốn chặt hết cây cối chỗ này đi! Các tướng hỏi vì cớ gì? Huyền-đức nói: - Cánh rừng này che khuất Nguyên-trực của ta. Huyền-đức đang trông theo, chợt thấy Từ Thứ cưỡi ngựa quay lại. Huyền-đức mừng rỡ, nghĩ thầm: “Nguyên-trực quay lại, có lẽ không muốn đi chăng?” Liền hớn hở tế ngựa lên trước đón hỏi: - Tiên sinh trở lại, tất có ý định gì đây? Thứ ghìm ngựa nói với Huyền-đức: - Lúc tôi ra đi, ruột rối bời bời, quên bẵng ngay một việc: trong vùng này có một bậc kỳ sĩ ở tại Long-trung, cách Tương-dương hai mươi dặm, sứ quân nên đến mà tìm. Huyền-đức nói: - Dám phiền Nguyên-trực mời giúp người đó ra cho Bị. Thứ nói: - Người đó không thể gọi ra được, sứ quân phải thân đến mà mời. Nếu được người đó, không khác gì nhà Chu được Lã Vọng<ref>''Lã Vọng'': tướng tài thời Tây Chu, giúp Chu Vũ vương diệt nhà Thương.</ref>, nhà Hán được Trương Lương<ref>''Trương Lương'': mưu sĩ nhà Hán.</ref>. Huyền-đức lại hỏi: - Tài đức người đó so với tiên sinh thế nào? Thứ đáp: - Tôi mà so với người đó, khác nào ngựa hèn sánh với kỳ lân, quạ đen sánh với phượng hoàng. Người đó thường ví mình với Quản Trọng<ref>''Quản Trọng'': nhà chính trị nước Tề, thời Xuân thu.</ref>, Nhạc Nghị<ref>''Nhạc Nghị'': thượng tướng quân nước Yên, thời Chiến quốc.</ref>. Cứ như ý tôi, Quản, Nhạc còn kém xa. Người đó có tài ngang trời dọc đất, thiên hạ chắc chỉ có một, không hai. Lưu Bị mừng, hỏi: - Xin cho biết tên họ người đó? Thứ đáp: - Người ấy quê ở Dương-đô, quận Lang-nha, họ Gia-cát tên Lượng, tự Khổng Minh; vốn là dòng dõi nhà quan Tư lệ hiệu úy Gia-cát Phong ngày xưa, cha tên là Khuê, tự là Tử-cống, nguyên làm quận thừa ở Thái-sơn, mất sớm. Lượng theo chú là Huyền, Huyền cùng với Lưu Biểu quen biết nhau, nên đến nương tựa, rồi dựng nhà ở Tương-dương. Đến khi Huyền mất, Lượng mới cùng em là Gia-cát Quân ra cày cấy làm ăn ở Nam-dương, thường hay ngâm bài “Lương phủ”. Chỗ ở có trái núi Ngọa-long cương, nhân thế tự gọi là Ngọa-long tiên sinh. Người đó là bậc kỳ tài đệ nhất đời nay. Sứ quân phải chịu hạ mình đến đó mà gặp. Nếu được người ấy giúp cho thì lo gì việc thiên hạ không định xong! Huyền-đức nói: - Ngày trước, Thủy-kính tiên sinh đã nói với Bị rằng: “Phục-long, Phụng-sồ, chỉ cần được một trong hai người cũng đủ định thiên hạ”. Nay theo lời ông có phải người ấy là Phục-long hay Phụng-sồ không? Thứ nói: - Phượng-sồ là Bàng Thống ở Tương-dương, còn Phục-long chính là Gia-cát Khổng Minh đó. Huyền-đức mừng quớ lên, nói: - Hôm nay mới hiểu được tiếng Phục-long, Phụng-sồ. Ngờ đâu đại hiền ở ngay trước mắt, nếu tiên sinh không nói thì Bị có mắt cũng như mù. Người đời sau có thơ khen Từ Thứ ruổi ngựa tiến Gia-cát. Thơ rằng: {{biên trái|2em| ''<poem> Rất tiếc cao hiền không tái ngộ, Trên đường từ biệt lệ tuôn đầy... Một lời như sấm mùa xuân dậy Thúc giục rồng nằm cất cánh bay. </poem>'' }} Từ Thứ tiến cử Khổng Minh, rồi từ biệt Huyền-đức, quay ngựa đi. Huyền-đức nghe Từ Thứ nói mới hiểu những lời của Tư-mã Đức-tháo, lúc ấy như tỉnh được giấc ngủ mê, giải được cơn say rượu. Về đến nhà vội vàng sắm lễ vật rất hậu, cùng Quan, Trương đến Nam-dương mời Khổng Minh. Lại nói Từ Thứ từ biệt Huyền-đức, cảm tình lưu luyến, lại sợ Khổng Minh không chịu ra giúp, nên đi thẳng đến Ngọa-long Cương, vào lều tranh gặp Khổng Minh. Khổng Minh hỏi đến làm gì. Thứ nói: - Thứ muốn hết lòng thờ Lưu Dự-châu, chẳng may, mẹ già bị Tào Tháo bắt giam, đưa thư đến gọi, nên phải bỏ mà đi. Lúc chia tay, tôi có tiến cử tiên sinh. Thế nào nay mai Huyền-đức cũng đến đây yết kiến, mong tiên sinh đừng từ chối, hãy trổ hết đại tài ra giúp Huyền-đức, Thứ cũng được cảm tạ muôn phần. Khổng Minh nghe vậy, ra vẻ giận, nói: - Thế ra ngươi coi ta như là vật dùng để cúng tế có phải không? Nói xong, rũ vạt áo đi vào. Từ Thứ bẽn lẽn đi ra, lên ngựa ruổi thẳng đến Hứa-xương gặp mẹ. {{biên trái|2em| ''<poem> Một lời dặn bạn, vì yêu chủ, Ngàn dặm thăm nhà, bởi nhớ thân. </poem>'' }} Chưa biết việc sau thế nào, xem đến hồi sau sẽ rõ. {{chú thích nhỏ|vạch=có}} 3443it0ak5rk8v6wpkq2yo70lsoam10 Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng 0 7530 204587 204331 2026-04-08T05:02:47Z Baokhang48812002 9768 204587 wikitext text/x-wiki {{Chất lượng vk|50%}}{{đầu đề | tựa đề = Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng | tác giả = không rõ | dịch giả = | năm = | phần = | trước = [[Chủ đề:Tôn giáo]] | sau = | ghi chú = }} <poem>''Xướng:'' Lạy Nữ Vương Thiên đàng hãy vui mừng. Alleluia. ''Đáp:'' Vì Đấng Mẹ đã đáng cưu mang trong lòng. Alleluia. ''Xướng:'' Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa. Alleluia. ''Đáp:'' Xin cầu cùng Chúa cho chúng con. Alleluia. ''Xướng:'' Lạy Đức Nữ Đồng Trinh Maria, hãy hỉ hoan khoái lạc. Alleluia. ''Đáp:'' Vì Chúa đã sống lại thật. Alleluia. '''Lời Nguyện:''' Lạy Chúa là Đấng đã làm cho thiên hạ được vui mừng quá bội, bởi Đức Chúa Giêsu Kitô là Con Chúa, cùng là Chúa chúng con, đã sống lại; xin vì Đức Nữ Đồng Trinh Maria là Thánh Mẫu Người, nguyện cầu cho chúng con được hưởng phúc vui vẻ hằng sống đời đời. Vì công nghiệp Chúa Kitô là Chúa chúng con. Amen. </poem> [[Thể loại:Kinh Kitô giáo]] h1dfxporhsaovrwud8cuc4jilhvapn1 Biên dịch:Món quà Giáng sinh 114 21322 204574 161982 2026-04-07T23:48:20Z ~2026-21666-68 20044 204574 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Món quà Giáng sinh | tác giả = O. Henry | ngôn ngữ = en | bản gốc = The Gift of the Magi | phần = | trước = | sau = | năm = 1905 | ghi chú = '''Món quà Giáng sinh''' (nguyên tác ''The Gift of the Magi'') của [[w:O. Henry|O. Henry]] được xem là một trong những truyện ngắn Giáng sinh cảm động nhất. Dẫn ý từ câu chuyện được chép trong [[Ma-thi-ơ/Chương 2|Phúc âm Ma-thi-ơ]] về những nhà thông thái từ phương đông xa xôi tìm đến dâng tặng Hài nhi [[w:Cuộc đời Chúa Giê-xu theo Tân Ước|Giê-xu]] những món quà quý, O. Henry kể câu chuyện về một đôi vợ chồng trẻ đang sống trong hoàn cảnh túng quẫn, tìm kiếm những món quà quý nhất và xứng đáng nhất để tặng nhau vào lễ Giáng sinh ... }} {{văn| Một đồng và tám mươi bảy xu. Chỉ còn chừng đó. Mà sáu mươi bảy xu là những đồng xu lẻ. Phải kỳ kèo tại hàng rau quả, hàng thực phẩm và hàng thịt, nằn nì đến đỏ mặt vì tự thấy mình bủn xỉn quá, mới tích cóp được những đồng xu này. Della đếm đi đếm lại đến lần thứ ba. Vẫn là một đồng tám mươi bảy xu, không hơn không kém. Mà ngày mai là đến lễ Giáng sinh rồi. Chẳng biết làm gì hơn là gieo mình xuống chiếc ''sofa'' xập xệ, và khóc rấm rức. Della ngồi đó sụt sùi ngẫm nghĩ về cuộc đời, một chuỗi những ngày ngậm ngùi than khóc xen lẫn với những nụ cười. Cười thì ít mà ngậm ngùi thì nhiều. Trong khi trạng thái cảm xúc của cô chủ đang giảm dần cao độ, chúng ta nên dành chút thời gian ngó qua gia cảnh của họ. Căn hộ có sẵn nội thất cho thuê với giá tám đồng một tuần. Vậy thì, không phải là quá đáng nếu nói rằng viễn cảnh của họ là khá cận kề với nếp sống hành khất. Ở tiền sảnh có đặt một hộp thư không hề có thư đến, và một nút chuông điện chẳng ai buồn chạm tay. Cũng có một tấm thẻ ghi: "Ông James Dillingham Young." Trước đây, cái tên "Dillingham" còn lóng lánh trong những ngày thư thái khi chủ nhân của nó nhận lương 30 đồng mỗi tuần. Nay thì, lương chỉ còn 20 đồng, chữ Dillingham cũng trở nên tối mờ như thể co rúm lại chỉ còn mỗi mẫu tự D khiêm tốn. Dù vậy, mỗi khi về đến nhà Ông James Dillingham Young đều được chào đón bằng một cái ôm thắm thiết và giọng nói thân thương gọi tên ông, "Jim", từ Bà James Dillingham Young, người được giới thiệu từ đầu câu chuyện với tên gọi Della. Mọi sự đều ổn. Della ngừng khóc, thoa chút phấn lên đôi má. Nàng đến bên cửa sổ, thẩn thờ nhìn chú mèo xám leo qua dãy hàng rào xám để vào cái sân sau cũng xám xịt. Ngày mai là lễ Giáng sinh mà trong túi chỉ vỏn vẹn một đồng tám mươi bảy xu để mua quà cho Jim. Suốt những tháng qua, nàng đã cố tiết kiệm từng xu một, vậy mà chỉ có được chừng ấy. Hai mươi đồng một tuần thì làm sao mà không thiếu trước hụt sau, dù nàng đã suy tính nát óc. Luôn luôn là như thế. Bây giờ chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua quà cho Jim. Ôi Jim của nàng. Nàng đã bỏ ra nhiều giờ đồng hồ, sung sướng suy nghĩ về món quà dành cho chàng. Một món quà đẹp, hiếm có, và thật giá trị - một món quà xứng hợp với sự trân trọng dành cho Jim. Có một tấm gương lớn chạm trổ cầu kỳ treo giữa hai cửa sổ của căn phòng. Có lẽ bạn cũng từng thấy một tấm gương như thế trong một căn hộ cho thuê giá tám đồng mỗi tuần. Một người mảnh mai, bằng cách quan sát hình ảnh trong khuông gương thon dài, sẽ nhận rõ nhân dạng chính xác của mình. Della, dáng thanh mảnh, biết mình đẹp dường nào mỗi khi nàng soi gương. Đột nhiên nàng rời khỏi khung cửa đến đứng trước gương. Mắt nàng sáng lên, nhưng chỉ trong hai mươi giây mặt nàng biến sắc, rồi nàng vội vã buông xõa mái tóc. Có hai món tài sản mà vợ chồng James Dillingham Young luôn hãnh diện về chúng. Chiếc đồng hồ vàng của Jim, đồ gia bảo truyền xuống từ đời ông nội. Món kia là mái tóc của Della. Nếu Nữ hoàng Sheba sống trong căn hộ bên kia đường, Della sẽ hong tóc nàng bên cửa sổ để nữ hoàng thấy rằng đồ trang sức ngọc ngà của bà chỉ là vô nghĩa. Nếu Vua Solomon là người gác dan canh giữ châu báu chất đầy dưới hầm, thì mỗi lần bước ngang qua chàng sẽ rút chiếc đồng hồ ra, chỉ để nhìn thấy nhà vua bực tức bức nhổ râu mình vì ghen tị. Bây giờ thì mái tóc kiều diễm của Della đang buông xõa, một dòng suối mơ dợn sóng lóng lánh ánh nâu vàng. Tóc dài chạm đến gối, trông giống như tấm áo choàng bao phủ thân hình Della. Nàng cuộn tóc lên, vội vàng và căng thẳng, rồi đứng lặng trong giây lát, những giọt nước mắt rơi trên chiếc thảm đỏ nhầu nhĩ. Nàng chụp lấy chiếc áo khoác nâu cũ kỹ, và chiếc mũ nâu cũng cũ không kém. Chiếc váy tung tẩy và ánh mắt lấp lánh, nàng lao ra cửa, xuống cầu thang, rảo bước ra phố. Nàng dừng trước một cửa hiệu với hàng chữ "Bà Sofronie. Có đủ kiểu tóc đẹp." Della đứng đó, cố trấn tĩnh mình. Người đàn bà to béo, da trắng bệch, mặt lạnh lùng, chẳng có nét nào giống thánh Sofronie. "Bà muốn mua tóc của tôi?" Della hỏi. "Tôi chuyên mua tóc," người đàn bà trả lời. "Lấy mũ ra để tôi xem tóc cô như thế nào." Dòng suối nâu óng ả buông xõa. "Hai mươi đồng." Người đàn bà vừa nói vừa nhanh nhẹn nâng mái tóc lên xem. "Trao tiền ngay cho tôi." Della nói. Hai giờ đồng hồ kế tiếp là những phút giây bay bổng đối với Della. Hãy quên đi những ẩn dụ linh tinh. Nàng đang háo hức sục sạo khắp các cửa hàng để tìm một món quà cho Jim. Cuối cùng thì nàng cũng tìm ra. Rõ là nó được chế tác để dành cho Jim, không phải cho ai khác. Không có cái nào trong bất cứ cửa hiệu nào giống như nó, bởi vì nàng đã lục tung hết rồi. Đó là chiếc dây đeo đồng hồ bỏ túi bằng bạch kim kiểu dáng thanh nhã. Nó đẹp hoàn hảo từ chất liệu đến thiết kế, chẳng dính dáng gì đến kiểu tô điểm màu mè – mọi thứ tốt đẹp đều hội tụ về đây. Thật xứng hiệp với chiếc Đồng hồ ấy. Vừa nhìn thấy nó nàng biết ngay rằng nó được dành cho Jim. Nó giống chàng. Giản dị mà phẩm giá – những đức tính này được tìm thấy ở cả hai. Hai mươi mốt đồng là số tiền nàng phải trả, rồi rảo bước về nhà với 87 xu trong túi. Tuyệt vời biết bao chiếc đồng hồ ấy, thế mà đôi khi Jim lặng lẽ nhìn ngắm nó đính với chiếc dây da sờn mòn thay vì sợi dây kim loại xinh xắn. Nhưng khi về đến nhà, sự phấn khích nhường chỗ cho sự thận trọng và lý trí. Nàng lấy những ống cuốn tóc bằng kim loại, bật bếp ga, rồi vội vàng sửa chữa những thiệt hại gây ra do tính hào phóng được tiếp sức bởi tình yêu. Bạn thân mến, đó là một công việc nhọc nhằn đòi hỏi nhiều công sức, luôn là như thế. Trong vòng bốn mươi phút, đầu nàng phủ đầy những lọn tóc nhỏ dính vào nhau khiến nàng trông giống như cậu học trò lêu lổng. Nàng chăm chú nhìn mình trong gương, rồi tự trách mình. "Nếu Jim không giết mình," nàng thầm nhủ, "trước khi nhìn mình lần thứ hai, chàng sẽ nói em trông giống một ca viên trong hội chợ. Nhưng mình làm được gì – ôi, mình làm được gì khi chỉ có một đồng và tám mươi bảy xu." Đúng bảy giờ, cà phê đã pha xong, chảo cũng đã bắc trên lò sẵn sàng cho món sườn rán. Jim chưa bao giờ về trễ. Della gấp đôi sợi xích nhỏ trong lòng bàn tay rồi đến ngồi ở góc bàn gần cửa ra vào. Nghe tiếng chân bước xuống cầu thang, mặt nàng tái nhợt trong giây lát. Nàng có thói quen thầm nguyện cho những điều giản dị nhất xảy ra hằng ngày, bây giờ nàng thì thầm: "Lạy Chúa, xin khiến chàng thấy con vẫn còn xinh đẹp." Jim bước vào rồi khép cửa lại. Trông chàng gầy và bồn chồn. Khổ thân Jim, chỉ mới hăm hai mà đã oằn vai gánh nặng gia đình! Chiếc áo khoác đã cũ mèm mà chàng không có nổi một đôi găng tay. Chàng dừng lại, đứng bất động như loài chó săn vừa đánh hơi được con mồi, chằm chằm nhìn Della. Không thể hiểu những biểu hiện trên mặt chàng, nó khiến nàng sợ hãi. Không phải là giận dữ, cũng không kinh ngạc, chẳng phải bất bình, lại càng không kinh hãi, không phải bất cứ loại cảm xúc nào nàng đang chờ đợi. Chỉ đơn giản là chàng nhìn nàng chòng chọc với nét mặt đầy bí ẩn. Della lách mình khỏi bàn ăn đến bên chàng. "Anh yêu, Jim," nàng bật khóc, "đừng nhìn em như thế nữa. Em đã cắt mái tóc và bán nó rồi, bởi vì em không thể sống nổi qua Giáng sinh mà không tặng anh một món quà. Tóc sẽ dài lại thôi – anh sẽ không bận tâm, phải không anh? Em buộc phải làm thế. Tóc em sẽ mọc dài rất nhanh. Này, Jim, chúc mừng Giáng sinh đi anh, chúng mình phải hạnh phúc. Anh biết không, có một món quà đẹp và xinh xắn biết bao dành cho anh." "Em đã cắt mái tóc?" Jim đau đớn hỏi lại, như thể không chịu đựng nổi một sự thật phũ phàng. "Em đã cắt và bán nó rồi," Della trả lời. "Anh không thích em như thế này sao? Em vẫn là em dù không còn mái tóc ấy, phải không anh?" Jim ngó quanh phòng tìm kiếm. "Em nói rằng mái tóc đã không còn?" Chàng hỏi lại, bộ tịch thật ngốc nghếch. "Đừng tìm nó nữa," Della nói. "Em đã bán nó, em bảo anh rồi - đã bán rồi, không còn nữa." "Bây giờ là đêm trước lễ Giáng sinh, anh ơi. Hãy dịu dàng với em, em bán nó vì anh. Có thể tóc trên đầu em đã được đếm cả rồi," nàng tiếp, giọng ấm áp thấm đẫm cảm xúc, "nhưng không ai có thể đếm được tình yêu em dành cho anh. Em dọn bữa nhé anh, Jim?" Chợt bừng tỉnh, chàng ôm chầm Della. Hãy để riêng mười giây để chúng ta xem xét vấn đề này theo một hướng khác. Tám đồng một tuần hoặc một triệu một năm - có khác biệt gì không? Một nhà toán học hoặc một người nhanh trí sẽ cho bạn lời giải sai. Những nhà thông thái đã mang đến những món quà quí giá, nhưng lời giải không nằm ở đó. Tình huống mơ hồ này sẽ được làm sáng tỏ sau. Jim rút một gói nhỏ từ trong túi áo khoác, đặt lên bàn. "Đừng hiểu lầm anh, Della." Chàng nói. "Dù em cắt tóc, cạo đầu, hay tẩy gội như thế nào đi nữa anh cũng không bớt yêu em. Nhưng nếu em mở gói này ra, em sẽ hiểu tại sao." Những ngón tay trắng ngần thăn thoắt tháo dây buộc và xé toạc giấy bọc. Một tiếng kêu thảng thốt đầy phấn khích và vui sướng. Rồi thì, than ôi! niềm háo hức đầy nữ tính ấy biến thành những giọt lệ đắng và tiếng khóc tỉ tê, thôi thúc chủ nhân căn hộ vội vàng an ủi nàng. Đằng kia là những chiếc lược – một bộ lược, sắp xếp ngăn nắp, bộ lược này từ lâu Della vẫn khao khát mà chỉ có thể đứng nhìn chúng trong tủ kính trên đường Broadway. Những chiếc lược đồi mồi xinh xắn, viền bằng đá quý - để làm gì khi mái tóc đẹp không còn. Nàng biết, chúng là những chiếc lược đắt tiền nàng vẫn mơ ước dù biết chẳng bao giờ có được. Giờ đây, chúng thuộc về nàng, mái tóc lẽ ra được tô điểm bằng những món trang sức quý giá ấy thì nay đã không còn. Nàng ôm chúng vào lòng, mắt nhòa lệ nàng ngước nhìn, mỉm cười nói khẽ: "Tóc em sẽ dài nhanh thôi, Jim ạ!" Như con mèo nhỏ bị thương, Della vụt đứng lên và khóc rấm rức. Jim vẫn chưa thấy món quà xinh xắn dành cho chàng. Sợi dây bằng kim loại quý trên tay nàng xem như lấp lánh hơn như cố phản chiếu niềm vui rực rỡ từ tấm lòng chân thành của cô gái. "Xem nó tuyệt không, Jim? Em đã sục sạo khắp thành phố để tìm ra nó. Chắc chắn anh sẽ phải nhìn ngắm nó cả trăm lần mỗi ngày. Đưa cho em chiếc đồng hồ của anh. Em muốn thấy nó đẹp biết chừng nào khi đính vào nó sợi dây xinh xắn này." Thay vì làm theo yêu cầu của Della, Jim buông mình xuống chiếc ''sofa'', hai tay ôm đầu, rồi mỉm cười. "Della," chàng bảo, "hãy quên những món quà Giáng sinh của chúng ta, và hãy bình tĩnh. Chúng quá đẹp để sử dụng ngay bây giờ. Anh đã bán chiếc đồng hồ để có tiền mua cho em bộ lược. Thôi, bây giờ em nên chuẩn bị món sườn rán." Những nhà thông thái, như bạn biết đó, họ khôn ngoan - là những bậc hiền nhân - họ mang theo những món quà quý để dâng tặng Hài nhi trong máng cỏ. Họ đã sáng tạo nghệ thuật tặng quà Giáng sinh. Là người thông thái, quà của họ cũng được chọn lựa cách khôn ngoan. Nhưng ở đây tôi đang kể cho bạn nghe một câu chuyện tầm thường về hai đứa trẻ ngu ngơ sống trong một căn hộ nhỏ. Họ đã ngốc nghếch hi sinh cho nhau bằng cách tặng nhau những món tài sản quí báu nhất mà họ có. Điều sau cùng tôi muốn nói với những bậc thông tuệ ngày nay, trong tất cả những người tặng quà họ là những người khôn ngoan nhất, trong tất cả những ai tặng và nhận quà hai người này là những người khôn ngoan nhất. Ở bất cứ nơi nào họ cũng là những người khôn ngoan nhất. Họ là những nhà thông thái. }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-3.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Truyện ngắn]] aqitrzn32su6gbca6qnp210kj9f7ibn 204575 204574 2026-04-07T23:49:33Z ~2026-21666-68 20044 204575 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Món quà Giáng sinh | tác giả = O. Henry | ngôn ngữ = en | bản gốc = The Gift of the Magi | phần = | trước = | sau = | năm = 1905 | ghi chú = '''Món quà Giáng sinh''' (nguyên tác ''The Gift of the Magi'') của [[w:O. Henry|O. Henry]] được xem là một trong những truyện ngắn Giáng sinh cảm động nhất. Dẫn ý từ câu chuyện được chép trong [[Ma-thi-ơ/Chương 2|Phúc âm Ma-thi-ơ]] về những nhà thông thái từ phương đông xa xôi tìm đến dâng tặng Hài nhi [[w:Cuộc đời Chúa Giê-xu theo Tân Ước|Giê-xu]] những món quà quý, O. Henry kể câu chuyện về một đôi vợ chồng trẻ đang sống trong hoàn cảnh túng quẫn, tìm kiếm những món quà quý nhất và xứng đáng nhất để tặng nhau vào lễ Giáng sinh ... }} {{văn| Một đồng và tám mươi bảy xu. Chỉ còn chừng đó. Mà tám mươi bảy xu là những đồng xu lẻ. Phải kỳ kèo tại hàng rau quả, hàng thực phẩm và hàng thịt, nằn nì đến đỏ mặt vì tự thấy mình bủn xỉn quá, mới tích cóp được những đồng xu này. Della đếm đi đếm lại đến lần thứ ba. Vẫn là một đồng tám mươi bảy xu, không hơn không kém. Mà ngày mai là đến lễ Giáng sinh rồi. Chẳng biết làm gì hơn là gieo mình xuống chiếc ''sofa'' xập xệ, và khóc rấm rức. Della ngồi đó sụt sùi ngẫm nghĩ về cuộc đời, một chuỗi những ngày ngậm ngùi than khóc xen lẫn với những nụ cười. Cười thì ít mà ngậm ngùi thì nhiều. Trong khi trạng thái cảm xúc của cô đang giảm dần cao độ, chúng ta nên dành chút thời gian ngó qua gia cảnh của họ. Căn hộ có sẵn nội thất cho thuê với giá tám đồng một tuần. Vậy thì, không phải là quá đáng nếu nói rằng viễn cảnh của họ là khá cận kề với nếp sống hành khất. Ở tiền sảnh có đặt một hộp thư không hề có thư đến, và một nút chuông điện chẳng ai buồn chạm tay. Cũng có một tấm thẻ ghi: "Ông James Dillingham Young." Trước đây, cái tên "Dillingham" còn lóng lánh trong những ngày thư thái khi chủ nhân của nó nhận lương 30 đồng mỗi tuần. Nay thì, lương chỉ còn 20 đồng, chữ Dillingham cũng trở nên tối mờ như thể co rúm lại chỉ còn mỗi mẫu tự D khiêm tốn. Dù vậy, mỗi khi về đến nhà Ông James Dillingham Young đều được chào đón bằng một cái ôm thắm thiết và giọng nói thân thương gọi tên ông, "Jim", từ Bà James Dillingham Young, người được giới thiệu từ đầu câu chuyện với tên gọi Della. Mọi sự đều ổn. Della ngừng khóc, thoa chút phấn lên đôi má. Nàng đến bên cửa sổ, thẩn thờ nhìn chú mèo xám leo qua dãy hàng rào xám để vào cái sân sau cũng xám xịt. Ngày mai là lễ Giáng sinh mà trong túi chỉ vỏn vẹn một đồng tám mươi bảy xu để mua quà cho Jim. Suốt những tháng qua, nàng đã cố tiết kiệm từng xu một, vậy mà chỉ có được chừng ấy. Hai mươi đồng một tuần thì làm sao mà không thiếu trước hụt sau, dù nàng đã suy tính nát óc. Luôn luôn là như thế. Bây giờ chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua quà cho Jim. Ôi Jim của nàng. Nàng đã bỏ ra nhiều giờ đồng hồ, sung sướng suy nghĩ về món quà dành cho chàng. Một món quà đẹp, hiếm có, và thật giá trị - một món quà xứng hợp với sự trân trọng dành cho Jim. Có một tấm gương lớn chạm trổ cầu kỳ treo giữa hai cửa sổ của căn phòng. Có lẽ bạn cũng từng thấy một tấm gương như thế trong một căn hộ cho thuê giá tám đồng mỗi tuần. Một người mảnh mai, bằng cách quan sát hình ảnh trong khuông gương thon dài, sẽ nhận rõ nhân dạng chính xác của mình. Della, dáng thanh mảnh, biết mình đẹp dường nào mỗi khi nàng soi gương. Đột nhiên nàng rời khỏi khung cửa đến đứng trước gương. Mắt nàng sáng lên, nhưng chỉ trong hai mươi giây mặt nàng biến sắc, rồi nàng vội vã buông xõa mái tóc. Có hai món tài sản mà vợ chồng James Dillingham Young luôn hãnh diện về chúng. Chiếc đồng hồ vàng của Jim, đồ gia bảo truyền xuống từ đời ông nội. Món kia là mái tóc của Della. Nếu Nữ hoàng Sheba sống trong căn hộ bên kia đường, Della sẽ hong tóc nàng bên cửa sổ để nữ hoàng thấy rằng đồ trang sức ngọc ngà của bà chỉ là vô nghĩa. Nếu Vua Solomon là người gác dan canh giữ châu báu chất đầy dưới hầm, thì mỗi lần bước ngang qua chàng sẽ rút chiếc đồng hồ ra, chỉ để nhìn thấy nhà vua bực tức bức nhổ râu mình vì ghen tị. Bây giờ thì mái tóc kiều diễm của Della đang buông xõa, một dòng suối mơ dợn sóng lóng lánh ánh nâu vàng. Tóc dài chạm đến gối, trông giống như tấm áo choàng bao phủ thân hình Della. Nàng cuộn tóc lên, vội vàng và căng thẳng, rồi đứng lặng trong giây lát, những giọt nước mắt rơi trên chiếc thảm đỏ nhầu nhĩ. Nàng chụp lấy chiếc áo khoác nâu cũ kỹ, và chiếc mũ nâu cũng cũ không kém. Chiếc váy tung tẩy và ánh mắt lấp lánh, nàng lao ra cửa, xuống cầu thang, rảo bước ra phố. Nàng dừng trước một cửa hiệu với hàng chữ "Bà Sofronie. Có đủ kiểu tóc đẹp." Della đứng đó, cố trấn tĩnh mình. Người đàn bà to béo, da trắng bệch, mặt lạnh lùng, chẳng có nét nào giống thánh Sofronie. "Bà muốn mua tóc của tôi?" Della hỏi. "Tôi chuyên mua tóc," người đàn bà trả lời. "Lấy mũ ra để tôi xem tóc cô như thế nào." Dòng suối nâu óng ả buông xõa. "Hai mươi đồng." Người đàn bà vừa nói vừa nhanh nhẹn nâng mái tóc lên xem. "Trao tiền ngay cho tôi." Della nói. Hai giờ đồng hồ kế tiếp là những phút giây bay bổng đối với Della. Hãy quên đi những ẩn dụ linh tinh. Nàng đang háo hức sục sạo khắp các cửa hàng để tìm một món quà cho Jim. Cuối cùng thì nàng cũng tìm ra. Rõ là nó được chế tác để dành cho Jim, không phải cho ai khác. Không có cái nào trong bất cứ cửa hiệu nào giống như nó, bởi vì nàng đã lục tung hết rồi. Đó là chiếc dây đeo đồng hồ bỏ túi bằng bạch kim kiểu dáng thanh nhã. Nó đẹp hoàn hảo từ chất liệu đến thiết kế, chẳng dính dáng gì đến kiểu tô điểm màu mè – mọi thứ tốt đẹp đều hội tụ về đây. Thật xứng hiệp với chiếc Đồng hồ ấy. Vừa nhìn thấy nó nàng biết ngay rằng nó được dành cho Jim. Nó giống chàng. Giản dị mà phẩm giá – những đức tính này được tìm thấy ở cả hai. Hai mươi mốt đồng là số tiền nàng phải trả, rồi rảo bước về nhà với 87 xu trong túi. Tuyệt vời biết bao chiếc đồng hồ ấy, thế mà đôi khi Jim lặng lẽ nhìn ngắm nó đính với chiếc dây da sờn mòn thay vì sợi dây kim loại xinh xắn. Nhưng khi về đến nhà, sự phấn khích nhường chỗ cho sự thận trọng và lý trí. Nàng lấy những ống cuốn tóc bằng kim loại, bật bếp ga, rồi vội vàng sửa chữa những thiệt hại gây ra do tính hào phóng được tiếp sức bởi tình yêu. Bạn thân mến, đó là một công việc nhọc nhằn đòi hỏi nhiều công sức, luôn là như thế. Trong vòng bốn mươi phút, đầu nàng phủ đầy những lọn tóc nhỏ dính vào nhau khiến nàng trông giống như cậu học trò lêu lổng. Nàng chăm chú nhìn mình trong gương, rồi tự trách mình. "Nếu Jim không giết mình," nàng thầm nhủ, "trước khi nhìn mình lần thứ hai, chàng sẽ nói em trông giống một ca viên trong hội chợ. Nhưng mình làm được gì – ôi, mình làm được gì khi chỉ có một đồng và tám mươi bảy xu." Đúng bảy giờ, cà phê đã pha xong, chảo cũng đã bắc trên lò sẵn sàng cho món sườn rán. Jim chưa bao giờ về trễ. Della gấp đôi sợi xích nhỏ trong lòng bàn tay rồi đến ngồi ở góc bàn gần cửa ra vào. Nghe tiếng chân bước xuống cầu thang, mặt nàng tái nhợt trong giây lát. Nàng có thói quen thầm nguyện cho những điều giản dị nhất xảy ra hằng ngày, bây giờ nàng thì thầm: "Lạy Chúa, xin khiến chàng thấy con vẫn còn xinh đẹp." Jim bước vào rồi khép cửa lại. Trông chàng gầy và bồn chồn. Khổ thân Jim, chỉ mới hăm hai mà đã oằn vai gánh nặng gia đình! Chiếc áo khoác đã cũ mèm mà chàng không có nổi một đôi găng tay. Chàng dừng lại, đứng bất động như loài chó săn vừa đánh hơi được con mồi, chằm chằm nhìn Della. Không thể hiểu những biểu hiện trên mặt chàng, nó khiến nàng sợ hãi. Không phải là giận dữ, cũng không kinh ngạc, chẳng phải bất bình, lại càng không kinh hãi, không phải bất cứ loại cảm xúc nào nàng đang chờ đợi. Chỉ đơn giản là chàng nhìn nàng chòng chọc với nét mặt đầy bí ẩn. Della lách mình khỏi bàn ăn đến bên chàng. "Anh yêu, Jim," nàng bật khóc, "đừng nhìn em như thế nữa. Em đã cắt mái tóc và bán nó rồi, bởi vì em không thể sống nổi qua Giáng sinh mà không tặng anh một món quà. Tóc sẽ dài lại thôi – anh sẽ không bận tâm, phải không anh? Em buộc phải làm thế. Tóc em sẽ mọc dài rất nhanh. Này, Jim, chúc mừng Giáng sinh đi anh, chúng mình phải hạnh phúc. Anh biết không, có một món quà đẹp và xinh xắn biết bao dành cho anh." "Em đã cắt mái tóc?" Jim đau đớn hỏi lại, như thể không chịu đựng nổi một sự thật phũ phàng. "Em đã cắt và bán nó rồi," Della trả lời. "Anh không thích em như thế này sao? Em vẫn là em dù không còn mái tóc ấy, phải không anh?" Jim ngó quanh phòng tìm kiếm. "Em nói rằng mái tóc đã không còn?" Chàng hỏi lại, bộ tịch thật ngốc nghếch. "Đừng tìm nó nữa," Della nói. "Em đã bán nó, em bảo anh rồi - đã bán rồi, không còn nữa." "Bây giờ là đêm trước lễ Giáng sinh, anh ơi. Hãy dịu dàng với em, em bán nó vì anh. Có thể tóc trên đầu em đã được đếm cả rồi," nàng tiếp, giọng ấm áp thấm đẫm cảm xúc, "nhưng không ai có thể đếm được tình yêu em dành cho anh. Em dọn bữa nhé anh, Jim?" Chợt bừng tỉnh, chàng ôm chầm Della. Hãy để riêng mười giây để chúng ta xem xét vấn đề này theo một hướng khác. Tám đồng một tuần hoặc một triệu một năm - có khác biệt gì không? Một nhà toán học hoặc một người nhanh trí sẽ cho bạn lời giải sai. Những nhà thông thái đã mang đến những món quà quí giá, nhưng lời giải không nằm ở đó. Tình huống mơ hồ này sẽ được làm sáng tỏ sau. Jim rút một gói nhỏ từ trong túi áo khoác, đặt lên bàn. "Đừng hiểu lầm anh, Della." Chàng nói. "Dù em cắt tóc, cạo đầu, hay tẩy gội như thế nào đi nữa anh cũng không bớt yêu em. Nhưng nếu em mở gói này ra, em sẽ hiểu tại sao." Những ngón tay trắng ngần thăn thoắt tháo dây buộc và xé toạc giấy bọc. Một tiếng kêu thảng thốt đầy phấn khích và vui sướng. Rồi thì, than ôi! niềm háo hức đầy nữ tính ấy biến thành những giọt lệ đắng và tiếng khóc tỉ tê, thôi thúc chủ nhân căn hộ vội vàng an ủi nàng. Đằng kia là những chiếc lược – một bộ lược, sắp xếp ngăn nắp, bộ lược này từ lâu Della vẫn khao khát mà chỉ có thể đứng nhìn chúng trong tủ kính trên đường Broadway. Những chiếc lược đồi mồi xinh xắn, viền bằng đá quý - để làm gì khi mái tóc đẹp không còn. Nàng biết, chúng là những chiếc lược đắt tiền nàng vẫn mơ ước dù biết chẳng bao giờ có được. Giờ đây, chúng thuộc về nàng, mái tóc lẽ ra được tô điểm bằng những món trang sức quý giá ấy thì nay đã không còn. Nàng ôm chúng vào lòng, mắt nhòa lệ nàng ngước nhìn, mỉm cười nói khẽ: "Tóc em sẽ dài nhanh thôi, Jim ạ!" Như con mèo nhỏ bị thương, Della vụt đứng lên và khóc rấm rức. Jim vẫn chưa thấy món quà xinh xắn dành cho chàng. Sợi dây bằng kim loại quý trên tay nàng xem như lấp lánh hơn như cố phản chiếu niềm vui rực rỡ từ tấm lòng chân thành của cô gái. "Xem nó tuyệt không, Jim? Em đã sục sạo khắp thành phố để tìm ra nó. Chắc chắn anh sẽ phải nhìn ngắm nó cả trăm lần mỗi ngày. Đưa cho em chiếc đồng hồ của anh. Em muốn thấy nó đẹp biết chừng nào khi đính vào nó sợi dây xinh xắn này." Thay vì làm theo yêu cầu của Della, Jim buông mình xuống chiếc ''sofa'', hai tay ôm đầu, rồi mỉm cười. "Della," chàng bảo, "hãy quên những món quà Giáng sinh của chúng ta, và hãy bình tĩnh. Chúng quá đẹp để sử dụng ngay bây giờ. Anh đã bán chiếc đồng hồ để có tiền mua cho em bộ lược. Thôi, bây giờ em nên chuẩn bị món sườn rán." Những nhà thông thái, như bạn biết đó, họ khôn ngoan - là những bậc hiền nhân - họ mang theo những món quà quý để dâng tặng Hài nhi trong máng cỏ. Họ đã sáng tạo nghệ thuật tặng quà Giáng sinh. Là người thông thái, quà của họ cũng được chọn lựa cách khôn ngoan. Nhưng ở đây tôi đang kể cho bạn nghe một câu chuyện tầm thường về hai đứa trẻ ngu ngơ sống trong một căn hộ nhỏ. Họ đã ngốc nghếch hi sinh cho nhau bằng cách tặng nhau những món tài sản quí báu nhất mà họ có. Điều sau cùng tôi muốn nói với những bậc thông tuệ ngày nay, trong tất cả những người tặng quà họ là những người khôn ngoan nhất, trong tất cả những ai tặng và nhận quà hai người này là những người khôn ngoan nhất. Ở bất cứ nơi nào họ cũng là những người khôn ngoan nhất. Họ là những nhà thông thái. }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-3.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Truyện ngắn]] t5xzuxr3ry0d4zoqugmn7uolzkd34x0 Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành 114 71912 204577 2026-04-08T03:24:19Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成 | năm= 1726 | phần = | trước= | sau= | ghi chú= Cổ kim đồ thư tập thành (phồn thể: 古今圖書集成; giản thể: 古今图书集成; bính âm: Gǔjīn Túshū Jíchéng; Wade–Giles: Ku-chin t'u-shu chi-ch'eng; nghĩa đen 'Bộ sưu tập đầy…” 204577 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成 | năm= 1726 | phần = | trước= | sau= | ghi chú= Cổ kim đồ thư tập thành (phồn thể: 古今圖書集成; giản thể: 古今图书集成; bính âm: Gǔjīn Túshū Jíchéng; Wade–Giles: Ku-chin t'u-shu chi-ch'eng; nghĩa đen 'Bộ sưu tập đầy đủ hình vẽ và sách lược từ thời cổ đại đến nay'), tên gốc là Cổ kim đồ thư hối biên (古今圖書匯編), còn gọi là Khâm định Cổ kim đồ thư tập thành (tiếng Trung: 欽定古今圖書集成) là bộ bách khoa toàn thư đồ sộ do học giả Trần Mộng Lôi (陳夢雷) biên soạn dưới thời Khang Hi và Ung Chính nhà Thanh. Công việc biên soạn được bắt đầu vào năm 1701 và hoàn thành vào năm 1726. Về sau, họa sĩ Tưởng Đình Tích cũng tham gia hỗ trợ hoàn tất các công đoạn cuối cùng của bộ sách này. {{Wikipediaref}} }} {{tìm kiếm}} == Mục lục == {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 20%;"| Vị biên ! style="width: 80%;"| Điển |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lịch tượng vị biên|Lịch tượng vị biên]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lịch tượng vị biên/Càn tượng điển|Càn tượng điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lịch tượng vị biên/Tuế công điển|Tuế công điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lịch tượng vị biên/Lịch pháp điển|Lịch pháp điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lịch tượng vị biên/Thứ trưng điển|Thứ trưng điển]] |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên|Phương dư vị biên]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Khôn dư điển|Khôn dư điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Chức phương điển|Chức phương điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Sơn xuyên điển|Sơn xuyên điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển|Biên duệ điển]] |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên|Minh luân vị biên]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên/Hoàng cực điển|Hoàng cực điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên/Cung vy điển|Cung vy điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên/Quan thường điển|Quan thường điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên/Gia phạm điển|Gia phạm điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên/Giao nghị điển|Giao nghị điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên/Thị tộc điển|Thị tộc điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên/Nhân sự điển|Nhân sự điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Minh luân vị biên/Khuê viện điển|Khuê viện điển]] |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên|Bác vật vị biên]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển|Nghệ thuật điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Thần dị điển|Thần dị điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Cầm trùng điển|Cầm trùng điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Thảo mộc điển|Thảo mộc điển]] |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lý học vị biên|Lý học vị biên]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lý học vị biên/Kinh tịch điển|Kinh tịch điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lý học vị biên/Học hành điển|Học hành điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lý học vị biên/Văn học điển|Văn học điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Lý học vị biên/Tự học điển|Tự học điển]] |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên|Kinh tế vị biên]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên/Tuyển cử điển|Tuyển cử điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên/Thuyên hành điển|Thuyên hành điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên/Thực hoá điển|Thực hoá điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên/Lễ nghi điển|Lễ nghi điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên/Nhạc luật điển|Nhạc luật điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên/Nhung chính điển|Nhung chính điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên/Tường hình điển|Tường hình điển]] - [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Kinh tế vị biên/Khảo công điển|Khảo công điển]] |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] dnu1metszugwor5jid2jivtyrqvpbqd 204579 204577 2026-04-08T03:55:49Z Mrfly911 2215 204579 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成 | năm= 1726 | phần = | trước= | sau= | ghi chú= '''Cổ kim đồ thư tập thành''' (phồn thể: 古今圖書集成; giản thể: 古今图书集成; bính âm: Gǔjīn Túshū Jíchéng; Wade–Giles: Ku-chin t'u-shu chi-ch'eng; nghĩa đen 'Bộ sưu tập đầy đủ hình vẽ và sách lược từ thời cổ đại đến nay'), tên gốc là Cổ kim đồ thư hối biên (古今圖書匯編), còn gọi là '''Khâm định Cổ kim đồ thư tập thành''' (tiếng Trung: 欽定古今圖書集成) là bộ bách khoa toàn thư đồ sộ do học giả Trần Mộng Lôi (陳夢雷) biên soạn dưới thời Khang Hi và Ung Chính nhà Thanh. Công việc biên soạn được bắt đầu vào năm 1701 và hoàn thành vào năm 1726. Về sau, họa sĩ Tưởng Đình Tích cũng tham gia hỗ trợ hoàn tất các công đoạn cuối cùng của bộ sách này. {{Wikipediaref}} }} {{tìm kiếm}} == Mục lục == {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 20%;"| Vị biên ! style="width: 80%;"| Điển |- ! [[/Lịch tượng vị biên|Lịch tượng vị biên]] | [[/Lịch tượng vị biên/Càn tượng điển|Càn tượng điển]] - [[/Lịch tượng vị biên/Tuế công điển|Tuế công điển]] - [[/Lịch tượng vị biên/Lịch pháp điển|Lịch pháp điển]] - [[/Lịch tượng vị biên/Thứ trưng điển|Thứ trưng điển]] |- ! [[/Phương dư vị biên|Phương dư vị biên]] | [[/Phương dư vị biên/Khôn dư điển|Khôn dư điển]] - [[/Phương dư vị biên/Chức phương điển|Chức phương điển]] - [[/Phương dư vị biên/Sơn xuyên điển|Sơn xuyên điển]] - [[/Phương dư vị biên/Biên duệ điển|Biên duệ điển]] |- ! [[/Minh luân vị biên|Minh luân vị biên]] | [[/Minh luân vị biên/Hoàng cực điển|Hoàng cực điển]] - [[/Minh luân vị biên/Cung vy điển|Cung vy điển]] - [[/Minh luân vị biên/Quan thường điển|Quan thường điển]] - [[/Minh luân vị biên/Gia phạm điển|Gia phạm điển]] - [[/Minh luân vị biên/Giao nghị điển|Giao nghị điển]] - [[/Minh luân vị biên/Thị tộc điển|Thị tộc điển]] - [[/Minh luân vị biên/Nhân sự điển|Nhân sự điển]] - [[/Minh luân vị biên/Khuê viện điển|Khuê viện điển]] |- ! [[/Bác vật vị biên|Bác vật vị biên]] | [[/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển|Nghệ thuật điển]] - [[/Bác vật vị biên/Thần dị điển|Thần dị điển]] - [[/Bác vật vị biên/Cầm trùng điển|Cầm trùng điển]] - [[/Bác vật vị biên/Thảo mộc điển|Thảo mộc điển]] |- ! [[/Lý học vị biên|Lý học vị biên]] | [[/Lý học vị biên/Kinh tịch điển|Kinh tịch điển]] - [[/Lý học vị biên/Học hành điển|Học hành điển]] - [[/Lý học vị biên/Văn học điển|Văn học điển]] - [[/Lý học vị biên/Tự học điển|Tự học điển]] |- ! [[/Kinh tế vị biên|Kinh tế vị biên]] | [[/Kinh tế vị biên/Tuyển cử điển|Tuyển cử điển]] - [[/Kinh tế vị biên/Thuyên hành điển|Thuyên hành điển]] - [[/Kinh tế vị biên/Thực hoá điển|Thực hoá điển]] - [[/Kinh tế vị biên/Lễ nghi điển|Lễ nghi điển]] - [[/Kinh tế vị biên/Nhạc luật điển|Nhạc luật điển]] - [[/Kinh tế vị biên/Nhung chính điển|Nhung chính điển]] - [[/Kinh tế vị biên/Tường hình điển|Tường hình điển]] - [[/Kinh tế vị biên/Khảo công điển|Khảo công điển]] |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] cqqqatylp9mbkt1rcnrjbddix87fwyf Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển 114 71913 204578 2026-04-08T03:49:38Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên<br>'''Biên duệ điển''' | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các n…” 204578 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên<br>'''Biên duệ điển''' | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} {{tìm kiếm}} {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 17%;"| Bộ ! style="width: 11%;"| Vị khảo ! style="width: 11%;"| Tổng luận ! style="width: 11%;"| Nghệ văn ! style="width: 11%;"| Tuyển cú ! style="width: 11%;"| Kỷ sự ! style="width: 11%;"| Tạp lục ! style="width: 11%;"| Ngoại biên |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Biên duệ tổng bộ|Biên duệ tổng bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 001 quyển|1]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 002 quyển|2]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 003 quyển|3]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 004 quyển|4]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 005 quyển|5]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 006 quyển|6]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 007 quyển|7]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 008 quyển|8]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 009 quyển|9]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 010 quyển|10]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 011 quyển|11]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 012 quyển|12]] || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 012 quyển|12]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 012 quyển|12]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 012 quyển|12]] |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ|An Nam bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 090 quyển|90]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 091 quyển|91]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 092 quyển|92]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 093 quyển|93]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 094 quyển|94]] || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 095 quyển|95]] || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 095 quyển|95]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 095 quyển|95]] || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ |Nam phương chư quốc tổng bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 089 quyển |89]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 089 quyển |89]] || || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 089 quyển |89]] || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Lâm Ấp bộ |Lâm Ấp bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 096 quyển |96]] || || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ |Phù Nam bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 097 quyển |97]] || || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ |Xiêm La bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 101 quyển |101]] || || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ |Chân Lạp bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 101 quyển |101]] || || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ |Chiêm Thành bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 103 quyển |103]] || || || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 103 quyển |103]] || || |- ! ... ||| || || || || || |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] j8o2bfmluz29wyw02u2q6ca5w0r6p15 204582 204578 2026-04-08T04:00:16Z Mrfly911 2215 Mrfly911 đã đổi [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]] thành [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]] 204578 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên<br>'''Biên duệ điển''' | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} {{tìm kiếm}} {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 17%;"| Bộ ! style="width: 11%;"| Vị khảo ! style="width: 11%;"| Tổng luận ! style="width: 11%;"| Nghệ văn ! style="width: 11%;"| Tuyển cú ! style="width: 11%;"| Kỷ sự ! style="width: 11%;"| Tạp lục ! style="width: 11%;"| Ngoại biên |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Biên duệ tổng bộ|Biên duệ tổng bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 001 quyển|1]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 002 quyển|2]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 003 quyển|3]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 004 quyển|4]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 005 quyển|5]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 006 quyển|6]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 007 quyển|7]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 008 quyển|8]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 009 quyển|9]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 010 quyển|10]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 011 quyển|11]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 012 quyển|12]] || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 012 quyển|12]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 012 quyển|12]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 012 quyển|12]] |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ|An Nam bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 090 quyển|90]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 091 quyển|91]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 092 quyển|92]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 093 quyển|93]] [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 094 quyển|94]] || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 095 quyển|95]] || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 095 quyển|95]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 095 quyển|95]] || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ |Nam phương chư quốc tổng bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 089 quyển |89]] || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 089 quyển |89]] || || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 089 quyển |89]] || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Lâm Ấp bộ |Lâm Ấp bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 096 quyển |96]] || || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ |Phù Nam bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 097 quyển |97]] || || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ |Xiêm La bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 101 quyển |101]] || || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ |Chân Lạp bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 101 quyển |101]] || || || || || || |- ! [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ |Chiêm Thành bộ]] | [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 103 quyển |103]] || || || || [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/đệ 103 quyển |103]] || || |- ! ... ||| || || || || || |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] j8o2bfmluz29wyw02u2q6ca5w0r6p15 204584 204582 2026-04-08T04:04:00Z Mrfly911 2215 204584 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên<br>'''Biên duệ điển''' | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} {{tìm kiếm}} {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 17%;"| Bộ ! style="width: 11%;"| Vị khảo ! style="width: 11%;"| Tổng luận ! style="width: 11%;"| Nghệ văn ! style="width: 11%;"| Tuyển cú ! style="width: 11%;"| Kỷ sự ! style="width: 11%;"| Tạp lục ! style="width: 11%;"| Ngoại biên |- ! [[/Biên duệ tổng bộ|Biên duệ tổng bộ]] | [[/đệ 001 quyển|1]] [[/đệ 002 quyển|2]] [[/đệ 003 quyển|3]] [[/đệ 004 quyển|4]] [[/đệ 005 quyển|5]] [[/đệ 006 quyển|6]] [[/đệ 007 quyển|7]] [[/đệ 008 quyển|8]] [[/đệ 009 quyển|9]] || [[/đệ 010 quyển|10]] [[/đệ 011 quyển|11]] || [[/đệ 012 quyển|12]] || || [[/đệ 012 quyển|12]] || [[/đệ 012 quyển|12]] || [[/đệ 012 quyển|12]] |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Nam phương chư quốc tổng bộ |Nam phương chư quốc tổng bộ]] | [[/đệ 089 quyển |89]] || [[/đệ 089 quyển |89]] || || || [[/đệ 089 quyển |89]] || || |- ! [[/An Nam bộ|An Nam bộ]] | [[/đệ 090 quyển|90]] [[/đệ 091 quyển|91]] [[/đệ 092 quyển|92]] [[/đệ 093 quyển|93]] [[/đệ 094 quyển|94]] || || [[/đệ 095 quyển|95]] || || [[/đệ 095 quyển|95]] || [[/đệ 095 quyển|95]] || |- ! ... ||| || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Lâm Ấp bộ |Lâm Ấp bộ]] | [[/đệ 096 quyển |96]] || || || || || || |- ! [[/Phù Nam bộ |Phù Nam bộ]] | [[/đệ 097 quyển |97]] || || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Xiêm La bộ |Xiêm La bộ]] | [[/đệ 101 quyển |101]] || || || || || || |- ! [[/Chân Lạp bộ |Chân Lạp bộ]] | [[/đệ 101 quyển |101]] || || || || || || |- ! [[/Chiêm Thành bộ |Chiêm Thành bộ]] | [[/đệ 103 quyển |103]] || || || || [[/đệ 103 quyển |103]] || || |- ! ... ||| || || || || || |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] jvtdruclu8vmp814rjcajqxzdpzdc9g 204591 204584 2026-04-08T08:30:18Z Mrfly911 2215 204591 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên<br>'''Biên duệ điển''' | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} {{tìm kiếm}} {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 17%;"| Bộ ! style="width: 11%;"| Vị khảo ! style="width: 11%;"| Tổng luận ! style="width: 11%;"| Nghệ văn ! style="width: 11%;"| Tuyển cú ! style="width: 11%;"| Kỷ sự ! style="width: 11%;"| Tạp lục ! style="width: 11%;"| Ngoại biên |- ! [[/Biên duệ tổng bộ|Biên duệ tổng bộ]] | [[/quyển 001|1]] [[/quyển 002|2]] [[/quyển 003|3]] [[/quyển 004|4]] [[/quyển 005|5]] [[/quyển 006|6]] [[/quyển 007|7]] [[/quyển 008|8]] [[/quyển 009|9]] || [[/quyển 010|10]] [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 012|12]] || || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Nam phương chư quốc tổng bộ |Nam phương chư quốc tổng bộ]] | [[/quyển 089 quyển |89]] || [[/quyển 089 quyển |89]] || || || [[/quyển 089 quyển |89]] || || |- ! [[/An Nam bộ|An Nam bộ]] | [[/quyển 090|90]] [[/quyển 091|91]] [[/quyển 092|92]] [[/quyển 093|93]] [[/quyển 094|94]] || || [[/quyển 095|95]] || || [[/quyển 095|95]] || [[/quyển 095|95]] || |- ! ... ||| || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Lâm Ấp bộ |Lâm Ấp bộ]] | [[/quyển 096 quyển |96]] || || || || || || |- ! [[/Phù Nam bộ |Phù Nam bộ]] | [[/quyển 097 quyển |97]] || || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Xiêm La bộ |Xiêm La bộ]] | [[/quyển 101 quyển |101]] || || || || || || |- ! [[/Chân Lạp bộ |Chân Lạp bộ]] | [[/quyển 101 quyển |101]] || || || || || || |- ! [[/Chiêm Thành bộ |Chiêm Thành bộ]] | [[/quyển 103 quyển |103]] || || || || [[/quyển 103 quyển |103]] || || |- ! ... ||| || || || || || |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] skfzq1usl7baamh4wmakfuznhm0nniy Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên 114 71914 204580 2026-04-08T03:58:41Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} * /Biên du…” 204580 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} * [[/Biên duệ điển]] qwsvnzp3k1oy3isj1uws8nf45ye3b6p 204581 204580 2026-04-08T03:59:14Z Mrfly911 2215 204581 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} * [[/Biên duệ điển|Biên duệ điển]] 8j4jvsmvlyccrhla3jji6fvnhyt5wd4 204589 204581 2026-04-08T07:34:40Z Mrfly911 2215 204589 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} * [[/Biên duệ điển|Biên duệ điển]] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] i23p8ifk5j14v37266en0rm9ozs1w0d Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển 0 71915 204583 2026-04-08T04:00:16Z Mrfly911 2215 Mrfly911 đã đổi [[Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]] thành [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]] 204583 wikitext text/x-wiki #đổi [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]] dhfn9d0yio7dfjgrpsk1ndwx3wy3bs6 Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ 114 71916 204585 2026-04-08T04:24:52Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''An Nam Bộ''' | trước= | sau= | ghi chú = }} ==Đệ Cửu Thập quyển 90== An Nam Bộ Vị Khảo Nhất 〈Giao Chỉ 〉 Thượng Cổ 〈Chuyên Húc…” 204585 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''An Nam Bộ''' | trước= | sau= | ghi chú = }} ==Đệ Cửu Thập quyển 90== An Nam Bộ Vị Khảo Nhất 〈Giao Chỉ 〉 Thượng Cổ 〈Chuyên Húc Cao Dương Thị Nhất Tắc 〉 Đào Đường Thị 〈Đế Nghiêu Nhất Tắc 〉 Hữu Ngu Thị 〈Đế Thuấn Nhất Tắc 〉 Chu 〈Thành Vương Nhị Tắc 〉 Tần 〈Thuỷ Hoàng Nhất Tắc 〉 Hán 〈Cao Tổ Nhị Tắc Võ Đế Nguyên Đỉnh Nhất Tắc Chiêu Đế Nguyên Thuỷ Nhất Tắc Nguyên Đế Sơ Nguyên Nhất Tắc Bình Đế Nguyên Thuỷ Nhất Tắc 〉 Hậu Hán 〈Thế Tổ Kiến Võ Thất Tắc Chương Đế Nguyên Hoà Nhất Tắc Hoà Đế Vĩnh Nguyên Nhị Tắc An Đế Vĩnh Sơ Nhất Tắc Nguyên Sơ Nhất Tắc Duyên Quang Tam Tắc Thuận Đế Vĩnh Kiến Nhất Tắc Vĩnh Hoà Tam Tắc Kiến Khang Nhất Tắc Hoàn Đế Vĩnh Thọ Nhất Tắc Duyên Hy Nhị Tắc Linh Đế Kiến Ninh Nhất Tắc Hy Bình Nhất Tắc Quang Hoà Tam Tắc Trung Bình Nhất Tắc Hiến Đế Kiến An Nhị Tắc Hậu Chủ Nhất Tắc 〉 Tam Quốc 〈Ngô Đại Đế Hoàng Võ Nhất Tắc Xích Ô Nhất Tắc Phế Đế Ngũ Phụng Nhất Tắc Cảnh Đế Vĩnh An Tam Tắc Mạt Đế Bảo Đỉnh Nhất Tắc Kiến Hành Nhị Tắc Phụng Hoàng Nhất Tắc Thiên Kỷ Nhất Tắc 〉 Tấn 〈Võ Đế Thái Thuỷ Tam Tắc Thái Khang Nhất Tắc 〉 Tống 〈Văn Đế Nguyên Gia Nhị Tắc 〉 Nam Tề 〈Cao Đế Kiến Nguyên Nhất Tắc Võ Đế Vĩnh Minh Nhị Tắc 〉 ==Đệ Cửu Thập Nhất quyển 91== An Nam Bộ Vị Khảo Nhị Đường 〈Cao Tổ Võ Đức Nhất Tắc Ý Tông Hàm Thông Ngũ Tắc 〉 Hậu Lương 〈Mạt Đế Trinh Minh Nhất Tắc 〉 Tống 〈Thái Tổ Càn Đức Nhất Tắc Khai Bảo Nhị Tắc Thái Tông Thái Bình Hưng Quốc Lục Tắc Ung Hy Nhị Tắc Đoan Củng Nhất Tắc Thuần Hoá Tứ Tắc Chí Đạo Tam Tắc Chân Tông Hàm Bình Nhị Tắc Cảnh Đức Tứ Tắc Đại Trung Tường Phù Lục Tắc Thiên Hy Nhị Tắc Càn Hưng Nhất Tắc Nhân Tông Thiên Thánh Ngũ Tắc Minh Đạo Nhất Tắc Cảnh Hữu Nhị Tắc Khang Định Nhất Tắc Khánh Lịch Tam Tắc Hoàng Hữu Nhất Tắc Chí Hoà Nhất Tắc Gia Hữu Ngũ Tắc Anh Tông Trị Bình Nhị Tắc Thần Tông Hy Ninh Bát Tắc Nguyên Phong Ngũ Tắc Triết Tông Nguyên Hữu Tứ Tắc Thiệu Thánh Nhất Tắc Nguyên Phù Nhất Tắc Huy Tông Đại Quan Nhất Tắc Chính Hoà Nhị Tắc Tuyên Hoà Nhất Tắc Cao Tông Kiến Viêm Nhị Tắc Thiệu Hưng Thập Nhị Tắc Hiếu Tông Long Hưng Nhất Tắc Càn Đạo Nhị Tắc Thuần Hy Bát Tắc Quang Tông Thiệu Hy Nhị Tắc Ninh Tông Khánh Nguyên Nhất Tắc Gia Định Nhất Tắc Lý Tông Đoan Bình Nhị Tắc Thuần Hữu Nhị Tắc Bảo Hữu Nhị Tắc Cảnh Định Tam Tắc Độ Tông Hàm Thuần Ngũ Tắc ==Đệ Cửu Thập Nhị quyển 92== An Nam Bộ Vị Khảo Tam Nguyên 〈Hiến Tông Nhị Tắc Thế Tổ Trung Thống Tứ Tắc Chí Nguyên Tam Thập Tắc Thành Tông Nguyên Trinh Nhị Tắc Đại Đức Bát Tắc Võ Tông Chí Đại Nhị Tắc Nhân Tông Hoàng Khánh Nhị Tắc Duyên Hữu Ngũ Tắc Anh Tông Chí Trị Nhị Tắc Thái Định Đế Thái Định Tứ Tắc Trí Hoà Nhất Tắc Văn Tông Thiên Lịch Nhất Tắc Chí Thuận Tam Tắc Thuận Đế Chí Nguyên Nhất Tắc 〉 ==Đệ Cửu Thập Tam quyển 93== An Nam Bộ Vị Khảo Tứ Minh Nhất 〈Thái Tổ Hồng Võ Thập Tứ Tắc Huệ Tông Kiến Văn Nhất Tắc Thành Tổ Vĩnh Nhạc Thập Bát Tắc 〉 ==Đệ Cửu Thập Tứ quyển 94== An Nam Bộ Vị Khảo Ngũ Minh Nhị 〈Nhân Tông Hồng Hy Nhất Tắc Tuyên Tông Tuyên Đức Lục Tắc Anh Tông Chính Thống Tam Tắc Đại Tông Cảnh Thái Tam Tắc Anh Tông Thiên Thuận Tứ Tắc Hiến Tông Thành Hoá Ngũ Tắc Hiếu Tông Hoằng Trị Tứ Tắc Võ Tông Chính Đức Tứ Tắc Thế Tông Gia Tĩnh Thập Tam Tắc Thần Tông Vạn Lịch Thất Tắc Hy Tông Thiên Khởi Nhất Tắc 〉 Hoàng Thanh 〈Thuận Trị Nhất Tắc Khang Hy Bát Tắc 〉 An Nam Bộ Vị Khảo Lục Bác Vật Chí 〈Ngoại Quốc 〉 Giao Châu Ký 〈Trúc Thử Kim Đệ Kịch Cổ Độ Thụ Đa Cảm Tử Da Tương Hợp Phố Sam Thổ Nhục Vy Hoắc Chích Hấu 〉 Thuỷ Kinh Chú 〈Cân Giang 〉 Nguyên Sử 〈An Nam Quận Huyện Phụ Lục 〉 Minh Nhất Thống Chí 〈An Nam Quốc Quận Huyện Khảo An Nam Quốc Sơn Xuyên Khảo An Nam Quốc Cổ Tích Khảo An Nam Quốc Thổ Sản Khảo 〉 Đồ 〈Nhất Tắc 〉 ==Đệ Cửu Thập Ngũ quyển 95== An Nam Bộ Nghệ Văn Nhất Giao Châu Mục Châm Hán Dương Hùng Tứ Xá Giao Châu Chiếu Lương Giang Yêm Bình An Nam Tụng Minh Lương Tiềm Giao Nam Phú Trạm Nhược Thuỷ Dụ An Nam Quốc Vương Trần Nhật Hỗn Thư Lã Nhượng Luận Chinh An Nam Sơ Trương Nhạc Luận An Nam Diệp Hướng Cao An Nam Chí Tự Khuyết Danh Luận An Nam Khuyết Danh An Nam Bộ Nghệ Văn Nhị 〈Thi 〉 Lữ Ngụ An Nam Đường Đỗ Thẩm Ngôn Độ An Hải Nhập Long Biên Trầm Toàn Kỳ Lý Vân Nam Chinh Man Thi 〈Tịnh Tự 〉Cao Thích Việt Thường Thao Hàn Dũ Việt Thường Hiến Bạch Địch Tôn Xương Dẫn Tống Lý Đại Phu Phó Quảng Châu Tiền Khởi Cung Phụng Định Pháp Sư Quy An Nam Dương Cự Nguyên Kinh Phục Ba Thần Từ Lưu Vũ Tích Tống Man Khách Trương Tịch Sơn Trung Tặng Nhật Nam Tăng Tiền Nhân Tống Trịnh Thượng Thư Phó Quảng Châu Tiền Nhân Man Trung Tiền Nhân Tống Vương Tú Tài Vãng An Nam Dương Hành Tống Mã Phán Quan Phó An Nam Hùng Nhụ Đăng Ký An Nam Mã Trung Thừa Tiền Nhân Tống Hoàng Tri Tân Quy An Nam Giả Đảo Phó An Nam Khước Ký Đài Ty Cao Biền An Nam Tống Tào Biệt Sắc Quy Triêu Tiền Nhân An Nam Ngụ Chỉ Hàn Ốc Tặng Hữu Nhân Bãi Cử Phó Giao Chỉ Tịch Mệnh Đỗ Tuân Hạc Hỷ Hữu Nhân Nhật Nam Hồi Trương Tân Tống Nhân Quy Nam Trung Tiền Nhân Quảng Châu Vương Viên Tự Phục Nhật Tức Sự Ký Bắc Trung Thân Hữu Vương Ngôn Sử Thí Việt Thường Cống Bạch Trĩ Vương Nhược Nham Thích An Nam Sự 〈Thì Hứa Tốt Nhị Thiên Một Vu Nam Hương 〉 Ý Tông Triêu Cử Tử An Nam Tức Sự Nguyên Trần Phu An Nam Hành 〈Tống Lý Cảnh Sơn Thị Lang Xuất Sử 〉Viên Giác Tặng Lưu Tông Đạo Sử An Nam Lý Nguyên Đạo Nhạc Dương Trung Thu Trị An Nam Cống Sử Nhân Hoài Cựu Du Phó Nhược Kim Tống An Nam Sử Hoàn Quốc Ưng Chế Minh Vương Di Tống Lưu Tú Y Án Giao Chỉ Giải Tấn Tống Vương Hy Dương Biên Tu Sử Giao Chỉ Tô Bá Hành Tống Hàn Lâm Vương Mạnh Dương Tam Tướng An Nam Vương Toại An Nam Bộ Kỷ Sự An Nam Bộ Tạp Lục nhdydlwksht6e5fo1bk22wpchxrb606 204586 204585 2026-04-08T04:34:02Z Mrfly911 2215 204586 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''An Nam Bộ''' | trước= | sau= | ghi chú = }} ==[[../quyển 090|Đệ Cửu Thập quyển 90]]== An Nam Bộ Vị Khảo Nhất 〈Giao Chỉ 〉 Thượng Cổ 〈Chuyên Húc Cao Dương Thị Nhất Tắc 〉 Đào Đường Thị 〈Đế Nghiêu Nhất Tắc 〉 Hữu Ngu Thị 〈Đế Thuấn Nhất Tắc 〉 Chu 〈Thành Vương Nhị Tắc 〉 Tần 〈Thuỷ Hoàng Nhất Tắc 〉 Hán 〈Cao Tổ Nhị Tắc Võ Đế Nguyên Đỉnh Nhất Tắc Chiêu Đế Nguyên Thuỷ Nhất Tắc Nguyên Đế Sơ Nguyên Nhất Tắc Bình Đế Nguyên Thuỷ Nhất Tắc 〉 Hậu Hán 〈Thế Tổ Kiến Võ Thất Tắc Chương Đế Nguyên Hoà Nhất Tắc Hoà Đế Vĩnh Nguyên Nhị Tắc An Đế Vĩnh Sơ Nhất Tắc Nguyên Sơ Nhất Tắc Duyên Quang Tam Tắc Thuận Đế Vĩnh Kiến Nhất Tắc Vĩnh Hoà Tam Tắc Kiến Khang Nhất Tắc Hoàn Đế Vĩnh Thọ Nhất Tắc Duyên Hy Nhị Tắc Linh Đế Kiến Ninh Nhất Tắc Hy Bình Nhất Tắc Quang Hoà Tam Tắc Trung Bình Nhất Tắc Hiến Đế Kiến An Nhị Tắc Hậu Chủ Nhất Tắc 〉 Tam Quốc 〈Ngô Đại Đế Hoàng Võ Nhất Tắc Xích Ô Nhất Tắc Phế Đế Ngũ Phụng Nhất Tắc Cảnh Đế Vĩnh An Tam Tắc Mạt Đế Bảo Đỉnh Nhất Tắc Kiến Hành Nhị Tắc Phụng Hoàng Nhất Tắc Thiên Kỷ Nhất Tắc 〉 Tấn 〈Võ Đế Thái Thuỷ Tam Tắc Thái Khang Nhất Tắc 〉 Tống 〈Văn Đế Nguyên Gia Nhị Tắc 〉 Nam Tề 〈Cao Đế Kiến Nguyên Nhất Tắc Võ Đế Vĩnh Minh Nhị Tắc 〉 ==[[../quyển 091|Đệ Cửu Thập Nhất quyển 91]]== An Nam Bộ Vị Khảo Nhị Đường 〈Cao Tổ Võ Đức Nhất Tắc Ý Tông Hàm Thông Ngũ Tắc 〉 Hậu Lương 〈Mạt Đế Trinh Minh Nhất Tắc 〉 Tống 〈Thái Tổ Càn Đức Nhất Tắc Khai Bảo Nhị Tắc Thái Tông Thái Bình Hưng Quốc Lục Tắc Ung Hy Nhị Tắc Đoan Củng Nhất Tắc Thuần Hoá Tứ Tắc Chí Đạo Tam Tắc Chân Tông Hàm Bình Nhị Tắc Cảnh Đức Tứ Tắc Đại Trung Tường Phù Lục Tắc Thiên Hy Nhị Tắc Càn Hưng Nhất Tắc Nhân Tông Thiên Thánh Ngũ Tắc Minh Đạo Nhất Tắc Cảnh Hữu Nhị Tắc Khang Định Nhất Tắc Khánh Lịch Tam Tắc Hoàng Hữu Nhất Tắc Chí Hoà Nhất Tắc Gia Hữu Ngũ Tắc Anh Tông Trị Bình Nhị Tắc Thần Tông Hy Ninh Bát Tắc Nguyên Phong Ngũ Tắc Triết Tông Nguyên Hữu Tứ Tắc Thiệu Thánh Nhất Tắc Nguyên Phù Nhất Tắc Huy Tông Đại Quan Nhất Tắc Chính Hoà Nhị Tắc Tuyên Hoà Nhất Tắc Cao Tông Kiến Viêm Nhị Tắc Thiệu Hưng Thập Nhị Tắc Hiếu Tông Long Hưng Nhất Tắc Càn Đạo Nhị Tắc Thuần Hy Bát Tắc Quang Tông Thiệu Hy Nhị Tắc Ninh Tông Khánh Nguyên Nhất Tắc Gia Định Nhất Tắc Lý Tông Đoan Bình Nhị Tắc Thuần Hữu Nhị Tắc Bảo Hữu Nhị Tắc Cảnh Định Tam Tắc Độ Tông Hàm Thuần Ngũ Tắc ==[[../quyển 092|Đệ Cửu Thập Nhị quyển 92]]== An Nam Bộ Vị Khảo Tam Nguyên 〈Hiến Tông Nhị Tắc Thế Tổ Trung Thống Tứ Tắc Chí Nguyên Tam Thập Tắc Thành Tông Nguyên Trinh Nhị Tắc Đại Đức Bát Tắc Võ Tông Chí Đại Nhị Tắc Nhân Tông Hoàng Khánh Nhị Tắc Duyên Hữu Ngũ Tắc Anh Tông Chí Trị Nhị Tắc Thái Định Đế Thái Định Tứ Tắc Trí Hoà Nhất Tắc Văn Tông Thiên Lịch Nhất Tắc Chí Thuận Tam Tắc Thuận Đế Chí Nguyên Nhất Tắc 〉 ==[[../quyển 093|Đệ Cửu Thập Tam quyển 93]]== An Nam Bộ Vị Khảo Tứ Minh Nhất 〈Thái Tổ Hồng Võ Thập Tứ Tắc Huệ Tông Kiến Văn Nhất Tắc Thành Tổ Vĩnh Nhạc Thập Bát Tắc 〉 ==[[../quyển 094|Đệ Cửu Thập Tứ quyển 94]]== An Nam Bộ Vị Khảo Ngũ Minh Nhị 〈Nhân Tông Hồng Hy Nhất Tắc Tuyên Tông Tuyên Đức Lục Tắc Anh Tông Chính Thống Tam Tắc Đại Tông Cảnh Thái Tam Tắc Anh Tông Thiên Thuận Tứ Tắc Hiến Tông Thành Hoá Ngũ Tắc Hiếu Tông Hoằng Trị Tứ Tắc Võ Tông Chính Đức Tứ Tắc Thế Tông Gia Tĩnh Thập Tam Tắc Thần Tông Vạn Lịch Thất Tắc Hy Tông Thiên Khởi Nhất Tắc 〉 Hoàng Thanh 〈Thuận Trị Nhất Tắc Khang Hy Bát Tắc 〉 An Nam Bộ Vị Khảo Lục Bác Vật Chí 〈Ngoại Quốc 〉 Giao Châu Ký 〈Trúc Thử Kim Đệ Kịch Cổ Độ Thụ Đa Cảm Tử Da Tương Hợp Phố Sam Thổ Nhục Vy Hoắc Chích Hấu 〉 Thuỷ Kinh Chú 〈Cân Giang 〉 Nguyên Sử 〈An Nam Quận Huyện Phụ Lục 〉 Minh Nhất Thống Chí 〈An Nam Quốc Quận Huyện Khảo An Nam Quốc Sơn Xuyên Khảo An Nam Quốc Cổ Tích Khảo An Nam Quốc Thổ Sản Khảo 〉 Đồ 〈Nhất Tắc 〉 ==[[../quyển 095|Đệ Cửu Thập Ngũ quyển 95]]== An Nam Bộ Nghệ Văn Nhất Giao Châu Mục Châm Hán Dương Hùng Tứ Xá Giao Châu Chiếu Lương Giang Yêm Bình An Nam Tụng Minh Lương Tiềm Giao Nam Phú Trạm Nhược Thuỷ Dụ An Nam Quốc Vương Trần Nhật Hỗn Thư Lã Nhượng Luận Chinh An Nam Sơ Trương Nhạc Luận An Nam Diệp Hướng Cao An Nam Chí Tự Khuyết Danh Luận An Nam Khuyết Danh An Nam Bộ Nghệ Văn Nhị 〈Thi 〉 Lữ Ngụ An Nam Đường Đỗ Thẩm Ngôn Độ An Hải Nhập Long Biên Trầm Toàn Kỳ Lý Vân Nam Chinh Man Thi 〈Tịnh Tự 〉Cao Thích Việt Thường Thao Hàn Dũ Việt Thường Hiến Bạch Địch Tôn Xương Dẫn Tống Lý Đại Phu Phó Quảng Châu Tiền Khởi Cung Phụng Định Pháp Sư Quy An Nam Dương Cự Nguyên Kinh Phục Ba Thần Từ Lưu Vũ Tích Tống Man Khách Trương Tịch Sơn Trung Tặng Nhật Nam Tăng Tiền Nhân Tống Trịnh Thượng Thư Phó Quảng Châu Tiền Nhân Man Trung Tiền Nhân Tống Vương Tú Tài Vãng An Nam Dương Hành Tống Mã Phán Quan Phó An Nam Hùng Nhụ Đăng Ký An Nam Mã Trung Thừa Tiền Nhân Tống Hoàng Tri Tân Quy An Nam Giả Đảo Phó An Nam Khước Ký Đài Ty Cao Biền An Nam Tống Tào Biệt Sắc Quy Triêu Tiền Nhân An Nam Ngụ Chỉ Hàn Ốc Tặng Hữu Nhân Bãi Cử Phó Giao Chỉ Tịch Mệnh Đỗ Tuân Hạc Hỷ Hữu Nhân Nhật Nam Hồi Trương Tân Tống Nhân Quy Nam Trung Tiền Nhân Quảng Châu Vương Viên Tự Phục Nhật Tức Sự Ký Bắc Trung Thân Hữu Vương Ngôn Sử Thí Việt Thường Cống Bạch Trĩ Vương Nhược Nham Thích An Nam Sự 〈Thì Hứa Tốt Nhị Thiên Một Vu Nam Hương 〉 Ý Tông Triêu Cử Tử An Nam Tức Sự Nguyên Trần Phu An Nam Hành 〈Tống Lý Cảnh Sơn Thị Lang Xuất Sử 〉Viên Giác Tặng Lưu Tông Đạo Sử An Nam Lý Nguyên Đạo Nhạc Dương Trung Thu Trị An Nam Cống Sử Nhân Hoài Cựu Du Phó Nhược Kim Tống An Nam Sử Hoàn Quốc Ưng Chế Minh Vương Di Tống Lưu Tú Y Án Giao Chỉ Giải Tấn Tống Vương Hy Dương Biên Tu Sử Giao Chỉ Tô Bá Hành Tống Hàn Lâm Vương Mạnh Dương Tam Tướng An Nam Vương Toại An Nam Bộ Kỷ Sự An Nam Bộ Tạp Lục 77pqmqnz24c5xgl0qtseur4m3x918wi 204588 204586 2026-04-08T07:34:11Z Mrfly911 2215 204588 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''An Nam Bộ''' | trước= | sau= | ghi chú = }} ==[[../quyển 090|Đệ Cửu Thập quyển 90]]== An Nam Bộ Vị Khảo Nhất 〈Giao Chỉ 〉 Thượng Cổ 〈Chuyên Húc Cao Dương Thị Nhất Tắc 〉 Đào Đường Thị 〈Đế Nghiêu Nhất Tắc 〉 Hữu Ngu Thị 〈Đế Thuấn Nhất Tắc 〉 Chu 〈Thành Vương Nhị Tắc 〉 Tần 〈Thuỷ Hoàng Nhất Tắc 〉 Hán 〈Cao Tổ Nhị Tắc Võ Đế Nguyên Đỉnh Nhất Tắc Chiêu Đế Nguyên Thuỷ Nhất Tắc Nguyên Đế Sơ Nguyên Nhất Tắc Bình Đế Nguyên Thuỷ Nhất Tắc 〉 Hậu Hán 〈Thế Tổ Kiến Võ Thất Tắc Chương Đế Nguyên Hoà Nhất Tắc Hoà Đế Vĩnh Nguyên Nhị Tắc An Đế Vĩnh Sơ Nhất Tắc Nguyên Sơ Nhất Tắc Duyên Quang Tam Tắc Thuận Đế Vĩnh Kiến Nhất Tắc Vĩnh Hoà Tam Tắc Kiến Khang Nhất Tắc Hoàn Đế Vĩnh Thọ Nhất Tắc Duyên Hy Nhị Tắc Linh Đế Kiến Ninh Nhất Tắc Hy Bình Nhất Tắc Quang Hoà Tam Tắc Trung Bình Nhất Tắc Hiến Đế Kiến An Nhị Tắc Hậu Chủ Nhất Tắc 〉 Tam Quốc 〈Ngô Đại Đế Hoàng Võ Nhất Tắc Xích Ô Nhất Tắc Phế Đế Ngũ Phụng Nhất Tắc Cảnh Đế Vĩnh An Tam Tắc Mạt Đế Bảo Đỉnh Nhất Tắc Kiến Hành Nhị Tắc Phụng Hoàng Nhất Tắc Thiên Kỷ Nhất Tắc 〉 Tấn 〈Võ Đế Thái Thuỷ Tam Tắc Thái Khang Nhất Tắc 〉 Tống 〈Văn Đế Nguyên Gia Nhị Tắc 〉 Nam Tề 〈Cao Đế Kiến Nguyên Nhất Tắc Võ Đế Vĩnh Minh Nhị Tắc 〉 ==[[../quyển 091|Đệ Cửu Thập Nhất quyển 91]]== An Nam Bộ Vị Khảo Nhị Đường 〈Cao Tổ Võ Đức Nhất Tắc Ý Tông Hàm Thông Ngũ Tắc 〉 Hậu Lương 〈Mạt Đế Trinh Minh Nhất Tắc 〉 Tống 〈Thái Tổ Càn Đức Nhất Tắc Khai Bảo Nhị Tắc Thái Tông Thái Bình Hưng Quốc Lục Tắc Ung Hy Nhị Tắc Đoan Củng Nhất Tắc Thuần Hoá Tứ Tắc Chí Đạo Tam Tắc Chân Tông Hàm Bình Nhị Tắc Cảnh Đức Tứ Tắc Đại Trung Tường Phù Lục Tắc Thiên Hy Nhị Tắc Càn Hưng Nhất Tắc Nhân Tông Thiên Thánh Ngũ Tắc Minh Đạo Nhất Tắc Cảnh Hữu Nhị Tắc Khang Định Nhất Tắc Khánh Lịch Tam Tắc Hoàng Hữu Nhất Tắc Chí Hoà Nhất Tắc Gia Hữu Ngũ Tắc Anh Tông Trị Bình Nhị Tắc Thần Tông Hy Ninh Bát Tắc Nguyên Phong Ngũ Tắc Triết Tông Nguyên Hữu Tứ Tắc Thiệu Thánh Nhất Tắc Nguyên Phù Nhất Tắc Huy Tông Đại Quan Nhất Tắc Chính Hoà Nhị Tắc Tuyên Hoà Nhất Tắc Cao Tông Kiến Viêm Nhị Tắc Thiệu Hưng Thập Nhị Tắc Hiếu Tông Long Hưng Nhất Tắc Càn Đạo Nhị Tắc Thuần Hy Bát Tắc Quang Tông Thiệu Hy Nhị Tắc Ninh Tông Khánh Nguyên Nhất Tắc Gia Định Nhất Tắc Lý Tông Đoan Bình Nhị Tắc Thuần Hữu Nhị Tắc Bảo Hữu Nhị Tắc Cảnh Định Tam Tắc Độ Tông Hàm Thuần Ngũ Tắc ==[[../quyển 092|Đệ Cửu Thập Nhị quyển 92]]== An Nam Bộ Vị Khảo Tam Nguyên 〈Hiến Tông Nhị Tắc Thế Tổ Trung Thống Tứ Tắc Chí Nguyên Tam Thập Tắc Thành Tông Nguyên Trinh Nhị Tắc Đại Đức Bát Tắc Võ Tông Chí Đại Nhị Tắc Nhân Tông Hoàng Khánh Nhị Tắc Duyên Hữu Ngũ Tắc Anh Tông Chí Trị Nhị Tắc Thái Định Đế Thái Định Tứ Tắc Trí Hoà Nhất Tắc Văn Tông Thiên Lịch Nhất Tắc Chí Thuận Tam Tắc Thuận Đế Chí Nguyên Nhất Tắc 〉 ==[[../quyển 093|Đệ Cửu Thập Tam quyển 93]]== An Nam Bộ Vị Khảo Tứ Minh Nhất 〈Thái Tổ Hồng Võ Thập Tứ Tắc Huệ Tông Kiến Văn Nhất Tắc Thành Tổ Vĩnh Nhạc Thập Bát Tắc 〉 ==[[../quyển 094|Đệ Cửu Thập Tứ quyển 94]]== An Nam Bộ Vị Khảo Ngũ Minh Nhị 〈Nhân Tông Hồng Hy Nhất Tắc Tuyên Tông Tuyên Đức Lục Tắc Anh Tông Chính Thống Tam Tắc Đại Tông Cảnh Thái Tam Tắc Anh Tông Thiên Thuận Tứ Tắc Hiến Tông Thành Hoá Ngũ Tắc Hiếu Tông Hoằng Trị Tứ Tắc Võ Tông Chính Đức Tứ Tắc Thế Tông Gia Tĩnh Thập Tam Tắc Thần Tông Vạn Lịch Thất Tắc Hy Tông Thiên Khởi Nhất Tắc 〉 Hoàng Thanh 〈Thuận Trị Nhất Tắc Khang Hy Bát Tắc 〉 An Nam Bộ Vị Khảo Lục Bác Vật Chí 〈Ngoại Quốc 〉 Giao Châu Ký 〈Trúc Thử Kim Đệ Kịch Cổ Độ Thụ Đa Cảm Tử Da Tương Hợp Phố Sam Thổ Nhục Vy Hoắc Chích Hấu 〉 Thuỷ Kinh Chú 〈Cân Giang 〉 Nguyên Sử 〈An Nam Quận Huyện Phụ Lục 〉 Minh Nhất Thống Chí 〈An Nam Quốc Quận Huyện Khảo An Nam Quốc Sơn Xuyên Khảo An Nam Quốc Cổ Tích Khảo An Nam Quốc Thổ Sản Khảo 〉 Đồ 〈Nhất Tắc 〉 ==[[../quyển 095|Đệ Cửu Thập Ngũ quyển 95]]== An Nam Bộ Nghệ Văn Nhất Giao Châu Mục Châm Hán Dương Hùng Tứ Xá Giao Châu Chiếu Lương Giang Yêm Bình An Nam Tụng Minh Lương Tiềm Giao Nam Phú Trạm Nhược Thuỷ Dụ An Nam Quốc Vương Trần Nhật Hỗn Thư Lã Nhượng Luận Chinh An Nam Sơ Trương Nhạc Luận An Nam Diệp Hướng Cao An Nam Chí Tự Khuyết Danh Luận An Nam Khuyết Danh An Nam Bộ Nghệ Văn Nhị 〈Thi 〉 Lữ Ngụ An Nam Đường Đỗ Thẩm Ngôn Độ An Hải Nhập Long Biên Trầm Toàn Kỳ Lý Vân Nam Chinh Man Thi 〈Tịnh Tự 〉Cao Thích Việt Thường Thao Hàn Dũ Việt Thường Hiến Bạch Địch Tôn Xương Dẫn Tống Lý Đại Phu Phó Quảng Châu Tiền Khởi Cung Phụng Định Pháp Sư Quy An Nam Dương Cự Nguyên Kinh Phục Ba Thần Từ Lưu Vũ Tích Tống Man Khách Trương Tịch Sơn Trung Tặng Nhật Nam Tăng Tiền Nhân Tống Trịnh Thượng Thư Phó Quảng Châu Tiền Nhân Man Trung Tiền Nhân Tống Vương Tú Tài Vãng An Nam Dương Hành Tống Mã Phán Quan Phó An Nam Hùng Nhụ Đăng Ký An Nam Mã Trung Thừa Tiền Nhân Tống Hoàng Tri Tân Quy An Nam Giả Đảo Phó An Nam Khước Ký Đài Ty Cao Biền An Nam Tống Tào Biệt Sắc Quy Triêu Tiền Nhân An Nam Ngụ Chỉ Hàn Ốc Tặng Hữu Nhân Bãi Cử Phó Giao Chỉ Tịch Mệnh Đỗ Tuân Hạc Hỷ Hữu Nhân Nhật Nam Hồi Trương Tân Tống Nhân Quy Nam Trung Tiền Nhân Quảng Châu Vương Viên Tự Phục Nhật Tức Sự Ký Bắc Trung Thân Hữu Vương Ngôn Sử Thí Việt Thường Cống Bạch Trĩ Vương Nhược Nham Thích An Nam Sự 〈Thì Hứa Tốt Nhị Thiên Một Vu Nam Hương 〉 Ý Tông Triêu Cử Tử An Nam Tức Sự Nguyên Trần Phu An Nam Hành 〈Tống Lý Cảnh Sơn Thị Lang Xuất Sử 〉Viên Giác Tặng Lưu Tông Đạo Sử An Nam Lý Nguyên Đạo Nhạc Dương Trung Thu Trị An Nam Cống Sử Nhân Hoài Cựu Du Phó Nhược Kim Tống An Nam Sử Hoàn Quốc Ưng Chế Minh Vương Di Tống Lưu Tú Y Án Giao Chỉ Giải Tấn Tống Vương Hy Dương Biên Tu Sử Giao Chỉ Tô Bá Hành Tống Hàn Lâm Vương Mạnh Dương Tam Tướng An Nam Vương Toại An Nam Bộ Kỷ Sự An Nam Bộ Tạp Lục {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] o6mj573r0ft64z6ejlhzoehkzjc7yqy Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 090 114 71917 204590 2026-04-08T08:26:30Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 90''' | trước= | sau= | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 1 〈Giao Chỉ (交趾)〉== ===Thượng Cổ=== '''Thời Chuyên Húc Cao Dương…” 204590 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 90''' | trước= | sau= | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 1 〈Giao Chỉ (交趾)〉== ===Thượng Cổ=== '''Thời Chuyên Húc Cao Dương Thị (顓頊高陽氏), Giao Chỉ (交趾) bắt đầu thông với Trung Quốc (中國).''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Ngũ Đế bản kỷ (五帝本紀)'': "Chuyên Húc Cao Dương Thị (顓頊高陽氏) phía Bắc đến U Lăng (幽陵), phía Nam đến Giao Chỉ (交趾), phía Tây đến Lưu Sa (流沙), phía Đông đến Phan Mộc (蟠木). Các loài động tĩnh, các vị thần lớn nhỏ, nơi nào nhật nguyệt soi đến, không đâu là không bình định và thần phục." * ''〈Chú thích〉'' Vương Túc (王肅) nói: "Chỉ (砥) nghĩa là bằng phẳng. Bốn phương xa xôi đều bình định, mà đến quy phục." ===Đào Đường Thị (陶唐氏)=== '''Đế Nghiêu (帝堯), lệnh cho Hi Thúc (羲叔) đến ở tại Nam Giao (南交).''' Xét theo ''Thư kinh (書經) – Nghiêu điển (堯典)'' đã dẫn. Xét theo ''Sử ký chú (史記注)'': Khổng An Quốc (孔安國) nói: "Mùa hạ giao với mùa xuân, đây là chức quan cai trị phương Nam vậy." * ''Sách Ẩn (索隱)'' nói: Chú giải của họ Khổng chưa đúng. Nếu vậy thì mùa đông giao với mùa thu, cớ sao bên dưới không có văn tự ấy? Hơn nữa, phía Đông có Ngu Di (嵎夷), phía Tây có Muội Cốc (昧谷), phía Bắc có U Đô (幽都), ba phương đều nói về địa danh, mà riêng mùa hạ (phương Nam) lại không nói địa danh, mà lại bảo là 'giao với mùa xuân', thật là không tương đồng (lệ) lắm vậy. Tuy nhiên, đất phương Nam có nơi tên là Giao Chỉ (交趾), hoặc giả văn tự cổ lược bớt đi 1 chữ, gọi địa danh là Nam Giao (南交), thì đó chính là Giao Chỉ (交趾) không nghi ngờ gì nữa. ===Hữu Ngu Thị (有虞氏)=== '''Đế Thuấn (帝舜), vỗ về phía Nam đến Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Thuấn bản kỷ (舜本紀)'' đã dẫn. === Chu === '''Năm Chu Thành Vương (周成王) thứ 6 (năm 1037 TCN), họ Việt Thường (越裳氏) đến triều cống.''' Xét theo ''Thông giám tiền biên (通鑑前編)'' đã dẫn. Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Phía Nam Giao Chỉ (交趾) có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính được 6 năm, chế định lễ nhạc, thiên hạ thái bình. Người Việt Thường (越裳) dùng 3 con voi, qua nhiều lần thông dịch (trọng dịch) mà hiến chim trĩ trắng, nói rằng: 'Đường xá xa xôi, núi sông hiểm trở, ngôn ngữ không thông, nên phải qua nhiều lần dịch mà đến triều kiến'. Thành Vương (成王) đem chim ấy dâng cho Chu Công (周公). Chu Công (周公) nói: 'Đức mà không ban đến thì quân tử không hưởng vật báu, chính sự không thi thố đến thì quân tử không coi người ta là thần dân. Ta dựa vào đâu mà nhận lễ vật này?'. Sứ giả thưa rằng: 'Chúng tôi nhận mệnh từ bậc lão trượng (hoàng cự - 黃耇) trong nước nói rằng: Đã lâu rồi trời không có gió dữ mưa lôi, ý chừng Trung Quốc (中國) có thánh nhân chăng? Nếu có thì sao không đi triều cống?'". Chu Công (周公) bèn dâng lên vua, xưng tụng linh thần của các vị tiên vương, đem hiến vào tông miếu. Khi đức nhà Chu (周) suy thì việc triều cống ấy dần chấm dứt. '''Năm Chu Thành Vương (周成王) thứ 10 (năm 1033 TCN), họ Việt Thường (越裳氏) đến triều cống.''' Xét theo ''Trúc thư kỷ niên (竹書紀年)'' đã dẫn. === Tần === '''Năm Tần Thủy Hoàng (秦始皇) thứ 33 (năm 214 TCN), phát động những người trốn tránh, rể ở rể (chuyết tế) và lái buôn đi đánh chiếm vùng đất Lục Lương (陸梁地), lập thành các quận Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡), Nam Hải (南海) để đày những người bị trị đi trấn giữ.''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Thủy Hoàng bản kỷ (始皇本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Về Quế Lâm (桂林), Vi Chiêu (韋昭) nói: "Nay là Uất Lâm (鬱林) vậy". Về Tượng Quận (象郡), Vi Chiêu (韋昭) nói: "Nay là Nhật Nam (日南)". ''Chính nghĩa (正義)'' nói: "Tức là huyện Nam Hải (南海縣) thuộc Quảng Châu (廣州)". === Hán === '''Năm Hán Cao Tổ (漢高祖) thứ 5 (năm 202 TCN), lấy 3 quận Lĩnh Nam (嶺南) cùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) phong cho Ngô Nhuế (吳芮).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀)'': "Năm thứ 5 (năm 202 TCN), tháng 2 ngày Giáp Ngọ, chiếu viết rằng: Cố Hành Sơn Vương Ngô Nhuế (吳芮) cùng 2 người con và 1 người cháu gọi bằng bác, đã đem quân Bách Việt (百粵) giúp chư hầu diệt nhà Tần (秦) tàn bạo, có công lớn, được chư hầu lập làm vương. Vùng đất bị Hạng Vũ (項羽) xâm chiếm gọi là Phiên Quân (番君). Nay lấy các vùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章), Tượng Quận (象郡), Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海) lập Phiên Quân Ngô Nhuế (吳芮) làm Trường Sa Vương (長沙王)." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': Giao Châu (交州) theo kinh ''Vũ Cống (禹貢)'' thuộc cương vực Dương Châu (揚州), ấy là đất Nam Việt (南越). Sau khi Tần Thủy Hoàng (秦始皇) đánh định vùng Dương Việt (揚越), đã sai 500.000 quân bị đày đi trấn giữ Ngũ Lĩnh (五嶺). Đi từ Bắc vào Nam, con đường qua vùng Bát Việt tất phải qua các dãy núi (lĩnh kiệu). Bấy giờ có 5 nơi, nên gọi là Ngũ Lĩnh. Sau sai Nhâm Hiêu (任囂), Triệu Đà (趙佗) đánh Việt, chiếm đất Lục Lương (陸梁地), rồi định vùng Nam Việt, chia làm 3 quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象), không nằm trong hạn định 36 quận (của nhà Tần), bèn đặt chức Nam Hải úy để cai quản, gọi là "Đông Nam nhất úy". Đầu thời Hán, lấy 3 quận Lĩnh Nam cùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) phong Ngô Nhuế (吳芮) làm Trường Sa Vương (長沙王). '''Năm Cao Tổ (高祖) thứ 11 (năm 196 TCN), cắt 3 quận để phong cho Nam Việt Vương (南越王).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀)'': "Năm thứ 11 (năm 196 TCN), tháng 5, chiếu rằng: Tục người Việt (粵) hay đánh giết lẫn nhau. Trước kia nhà Tần di chuyển dân các huyện miền trung đến 3 quận phương Nam, cho ở lẫn với người Bách Việt (百越). Gặp lúc thiên hạ diệt Tần, Nam Hải úy Triệu Đà (趙佗) ở phương Nam làm trưởng, cai trị rất có văn lý, dân các huyện miền trung nhờ đó không bị hao hụt, tục đánh giết nhau của người Việt cũng giảm bớt, thảy đều nhờ lực của ông ta. Nay lập Triệu Đà làm Nam Việt Vương (南粵王), sai Lục Giả (陸賈) đến trao ấn thụ, Triệu Đà dập đầu xưng thần." * ''〈Chú thích〉'' Như Thuần (如淳) nói: Tần Thủy Hoàng chiếm đất Lục Lương, lập làm các quận Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡), Nam Hải (南海), nên gọi là "3 quận". Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm thứ 11 (năm 196 TCN), lấy Nam Vũ Hầu Chức (織) làm Nam Hải Vương (南海王). Lục Giả (陸賈) đi sứ về, phong Triệu Đà (趙佗) làm Nam Việt Vương (南越王), cắt 3 quận phía Nam của Trường Sa để phong cho." '''Năm Vũ Đế (武帝) Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 TCN), bắt đầu đặt 9 quận như Giao Chỉ (交趾), giao cho Thứ sử thống lĩnh.''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Vũ Đế bản kỷ (武帝本紀)'': "Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), bình định đất Việt, lập thành các quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Châu Nhai (珠厓), Đạm Nhĩ (儋耳)." Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Tần đặt, khi nhà Tần mất, Úy Đà (尉佗) làm vương đất này. Vũ Đế (武帝) mở mang năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), thuộc Giao Châu (交州). Có 19.613 hộ, 94.253 khẩu. Có 6 huyện: Phiên Ngung (番禺 - nơi Úy Đà đóng đô, có quan quản muối), Bác La (博羅), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Xưa là quận Quế Lâm (桂林) của nhà Tần, thuộc quyền Úy Đà, năm Nguyên Đỉnh thứ 6 đổi tên. Có 12.415 hộ, 71.162 khẩu. Có 12 huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中留), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方), Ung Kê (雍雞). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 24.379 hộ, 146.160 khẩu. Có 10 huyện: Quảng Tín (廣信), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端溪), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phố (荔浦), Mãnh Lăng (猛陵). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6, thuộc Giao Châu (交州). Có 92.440 hộ, 746.237 khẩu. Có 10 huyện: Luy Lâu (贏𡝭 - trị sở, có quan quản đồ dâng cúng), An Định (安定), Cẩu Lậu (荀屚), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲昜), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西干), Long Biên (龍編), Chu Diên (朱䳒). * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 15.398 hộ, 78.880 khẩu. Có 5 huyện: Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Hợp Phố (合浦), Lâm Duẫn (臨允), Chu Lư (朱盧). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 35.743 hộ, 166.013 khẩu. Có 7 huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Đô Lung (都龐), Dư Phát (餘發), Hàm Hoan (咸驩), Vô Công (無功), Vô Biên (無編). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Xưa là Tượng Quận (象郡) nhà Tần, mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6 thì đổi tên. Thuộc Giao Châu (交州). Sư Cổ (師古) nói: Vì đất này ở phía Nam của mặt trời (Nhật Nam), nên mới gọi là mở cửa hướng Bắc để trông về mặt trời. Có 15.460 hộ, 69.485 khẩu. Có 5 huyện: Chu Ngô (朱吾), Tỷ Cảnh (比景 - bóng mặt trời ở dưới chân), Lô Dung (盧容), Tây Quyển (西捲), Tượng Lâm (象林). Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': Phía Nam Giao Chỉ (交趾) có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính năm thứ 6 (năm 1037 TCN), họ qua nhiều lần dịch mà đến triều cống. Khi đức nhà Chu suy thì dần chấm dứt. Đến khi Sở Tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Nhà Tần thôn tính thiên hạ, uy phục Man Di, bắt đầu mở mang vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡). Nhà Hán dấy lên, Úy Đà (尉佗) tự lập làm Nam Việt Vương (南越王), truyện quốc được 5 đời, đến năm Vũ Đế (武帝) Nguyên Đỉnh thứ 5 (năm 112 TCN) thì bị diệt, chia đặt thành 9 quận, do Giao Chỉ Thứ sử (交趾刺史) thống lĩnh. Hai quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) nằm trên đảo ngoài biển. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), các thủ lĩnh ở đó quý cái tai dài, đều xuyên tai mà đeo vật nặng cho xệ xuống vai 3 tấc. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': Nước An Nam (安南國) chính là Giao Chỉ (交趾) xưa. Người Di phương Nam ngón chân cái tách rộng ra, khi đứng hai chân song song thì ngón chân giao vào nhau nên gọi tên như thế. Nhà Hán Vũ Đế mở quận đày quân lính ra trấn giữ, thân thể của người vùng ấy không khác gì người Hoa Hạ (華). Lại nói Việt Thường (越裳) chính là Cửu Chân (九真) vậy. Nhà Tần cho Giao Chỉ lệ thuộc Tượng Quận (象郡). Đầu thời Hán thuộc Nam Việt. Vũ Đế bình định xong, đặt 3 quận Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), kiêm đặt Giao Chỉ Thứ sử trị sở tại Luy Lâu (贏𡝭). '''Năm Chiêu Đế (昭帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 5 (năm 82 TCN), tháng 6, bãi bỏ quận Đạm Nhĩ (儋耳郡).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Chiêu Đế bản kỷ (昭帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Chiêu Đế (昭帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 5 (năm 82 TCN), bãi bỏ quận Đạm Nhĩ (儋耳) nhập vào quận Châu Nhai (珠崖)." '''Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN), bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖郡).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Nguyên Đế bản kỷ (元帝 bản kỷ)'': "Năm thứ 3 (năm 46 TCN) mùa xuân, huyện Sơn Nam (山南縣) thuộc quận Châu Nhai (珠崖郡) làm phản, vua bàn mưu rộng rãi với quần thần. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) cho rằng nên từ bỏ Châu Nhai (珠崖) để cứu dân khỏi cảnh đói kém, bèn bãi bỏ Châu Nhai." Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Cuối thời Vũ Đế (武帝), Thái thú quận Châu Nhai (珠崖) là Tôn Hạnh (孫幸) người quận Hội Kê (會稽) điều động nộp vải khổ rộng để dâng nộp, người Man không chịu nổi sưu dịch, bèn đánh quận, giết chết Tôn Hạnh (孫幸). Con của Hạnh là Tôn Báo (孫豹) tập hợp những người lương thiện quay lại đánh phá được quân phản loạn, tự mình lĩnh việc quận, tiễu phạt dư đảng, liên tiếp nhiều năm mới bình định được. Tôn Báo (孫豹) sai sứ dâng trả ấn thụ, viết sớ trình bày sự việc. Vua ban chiếu lấy ngay Tôn Báo (孫豹) làm Thái thú Châu Nhai (珠崖), uy chính được thi hành rộng khắp, hằng năm đều đến cống hiến. Trung Quốc (中國) ham thích trân bảo của nơi đó, dần dần xâm phạm khinh rẻ, nên cứ cách vài năm lại có 1 lần phản loạn. Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN) cuối cùng đã bãi bỏ quận này. Tổng cộng từ khi lập quận được 65 năm." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN), lại bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖郡)." '''Năm Bình Đế (平帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 1 (năm 1), mùa xuân tháng Giêng, họ Việt Thường (越裳氏) qua nhiều lần dịch mà hiến 1 con chim trĩ trắng, 2 con chim trĩ đen.''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Bình Đế bản kỷ (平帝 bản kỷ)'' đã dẫn. ===Hậu Hán=== '''Năm Hậu Hán Thế Tổ (後漢世祖) Kiến Vũ (建武) thứ 5 (năm 29), mùa đông tháng 12, Giao Chỉ mục Đặng Nhượng (鄧讓) dẫn Thái thú 7 quận sai sứ dâng cống phẩm.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Quận Giao Chỉ (交趾郡), nay là huyện thuộc Giao Châu (交州). Phía Nam giáp biển lớn. ''Dư địa chí (輿地志)'' chép: "Người Di ở đó ngón chân cái tách rộng, hai chân đứng song song thì ngón chân giao nhau". Chữ Chỉ (阯) và Chỉ (趾) giống nhau, là chữ cổ thông dụng. Ứng Thiệu (應劭) trong ''Hán quan nghi (漢官儀)'' nói: "Bắt đầu mở mang phương Bắc, rồi giao với phương Nam, làm cơ chỉ (nền móng) cho con cháu". 7 quận gồm: Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đều thuộc Giao Châu (交州). Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'', kinh ''Lễ ký (禮記)'' gọi phương Nam là Man (蠻), tục vẽ mình, xăm trán (điêu đề) và chân giao nhau (giao chỉ). Tục lệ ở đó nam nữ tắm cùng một dòng sông, nên gọi là Giao Chỉ (交趾). Phía Tây có nước Ăn Thịt Người (Đạm Nhân quốc - 噉人國), sinh con đầu lòng thảy đều đem xẻ thịt mà ăn, gọi là "nghĩa đệ" (để tốt cho các em sau). Nếu thấy vị ngon thì đem dâng cho vua, vua mừng mà thưởng cho người cha. Lấy được vợ đẹp thì nhường cho anh, ấy là người Ô Hú (烏滸) ngày nay vậy. * ''〈Chú thích〉'' Vạn Chấn (萬震) trong ''Nam Châu dị vật chí (南州異物志)'' nói: "Ô Hú (烏滸) là tên đất, ở phía Nam Quảng Châu (廣州), phía Bắc Giao Châu (交州). Chúng thường ra giữa đường rình rập khách lữ hành rồi tấn công, cốt để lấy thịt người mà ăn, không tham tài vật, lấy thịt làm món nhắm. Lại lấy đầu lâu đập vỡ để làm chén uống rượu. Coi bàn tay, bàn chân người là vật quý lạ để dâng cho bậc lão trưởng ăn." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ [khuyết], đặt lại các quận Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Quang Vũ (光武) trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ (交趾), Nhậm Diên (任延) trấn thủ Cửu Chân (九真), bấy giờ mới dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày, bắt đầu đặt ra việc môi giới cưới hỏi, dân mới biết việc hôn nhân, lập ra trường học, dẫn dụ bằng lễ nghĩa." Xét theo ''Quận quốc chí (郡國志)'': "Bộ Giao Châu Thứ sử (交州刺史部) có 7 quận, 56 huyện." * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 7.100 dặm về phía Nam. Có 7 thành, 71.477 hộ, 250.282 khẩu. Các huyện: Phiên Ngung (番禺), Bác La (博羅 - có núi La Phù), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽), Tăng Thành (增城). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 6.410 dặm về phía Nam. Có 11 thành, 111.395 hộ, 466.975 khẩu. Các huyện: Quảng Tín (廣信 - nơi Thứ sử trị sự, cách Lạc Dương 9.000 dặm), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端溪), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phố (荔浦), Mãnh Lăng (猛陵), Chương Bình (鄣平 - đặt năm Vĩnh Bình thứ 14 tức năm 71), Vĩnh Bình (永平). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Xưa là quận Quế Lâm (桂林) nhà Tần, Vũ Đế đổi tên. Cách Lạc Dương (雒陽) 6.500 dặm. Có 11 thành. Các huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中溜), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方). * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 9.191 dặm. Có 5 thành, 23.121 hộ, 86.617 khẩu. Các huyện: Hợp Phố (合浦), Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Lâm Nguyên (臨元), Chu Nhai (朱厓). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt, tức là vương quốc của An Dương Vương (安陽王). Cách Lạc Dương (雒陽) 11.000 dặm. Có 12 thành. ** Các huyện: Long Biên (龍編), Luy Lâu (贏𡝭), Định An (定安), Cẩu Lậu (苟漏), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲陽), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西于), Chu Diên (朱䳒). ** Phong Khê (封谿): Đặt năm Kiến An (建安) thứ 19 (năm 214). ''Giao Châu ký (交州記)'' chép: Có đê phòng Long Môn, nước sâu 100 tầm, cá lớn vượt môn này hóa thành rồng, con nào không qua được thì phơi mang chạm trán, máu chảy khiến nước sông luôn đỏ như ao son. Có sông Tần Tiềm (秦潛江), chia làm 99 dòng, chảy hơn 300 dặm rồi cùng hội tụ tại 1 cửa. ** Vọng Hải (望海): Đặt năm Kiến Vũ (建武) thứ 19 (năm 43). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 11.580 dặm. Có 5 thành, 46.513 hộ, 209.894 khẩu. Các huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Hàm Hoan (咸懽), Vô Công (無功), Vô Biên (無編). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Xưa là quận Tượng (象郡) nhà Tần, Vũ Đế đổi tên. Cách Lạc Dương (雒陽) 13.400 dặm. Có 5 thành, 18.263 hộ, 100.676 khẩu. Các huyện: Tây Quyển (西卷), Chu Ngô (朱吾) (Sách ''Giao Châu Ký'' viết: "Người dân nơi đây sống dọc bờ biển, không ăn cơm, chỉ sống bằng cá."), Lô Dung (盧容) (Sách ''Gia Châu Ký'' cũng viết: "Có một khu khai thác vàng."), Tượng Lâm (象林) (nay là nước Lâm Ấp), Bắc Cảnh (北景) (sách Bác vật ký 《博物記》 viết: "Người con gái man dã ở phía nam, đi cùng nhau không thấy chồng, hình dáng của họ trắng bệch, trần truồng, không có quần áo." (Chú thích: Việc thành lập quận không có năm tháng để khảo cứu, và sách chí 《志》 đôi khi chỉ ghi ở một hoặc hai huyện, không tiện phân tích, nên bị thiếu).). '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 12 (năm 36), Man Di ngoài cõi quận Cửu Chân (九真) là Trương Du (張遊) dẫn bộ chủng nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': Trương Du (張遊) dẫn người vào quy thuận, được phong làm Quy Hán Lý quân (歸漢里君). '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 13 (năm 37), tháng 9, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) hiến chim trĩ trắng, thỏ trắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 16 (năm 40), mùa xuân tháng 2, người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) làm phản, chiếm các thành ấp.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 16 (năm 40), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) cùng em gái là Trưng Nhị (徵貳) làm phản đánh phá các quận. Trưng Trắc (徵側) là con gái Lạc tướng (雒將) huyện Mê Linh (麊泠), gả làm vợ Thi Sách (詩索) người Chu Diên (朱䳒), tính rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định (蘇定) dùng luật pháp trói buộc (chèn ép), Trắc phẫn nộ nên làm phản. Thế là Man Di các quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Hợp Phố (合浦) đều hưởng ứng. Tổng cộng chiếm hơn 65 thành, tự lập làm vương. Thứ sử Giao Chỉ và các Thái thú chỉ giữ được mình. Quang Vũ (光武) bèn hạ chiếu cho các vùng Trường Sa (長沙), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾) chuẩn bị xe thuyền, sửa đường bắc cầu, thông khe rạch, trữ lương thực." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 18 (năm 42), mùa hạ tháng 4, sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) dẫn Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志) cùng đi đánh giặc Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) và đồng bọn.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 18 (năm 42), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志), điều động 10.000 quân từ các vùng Trường Sa (長沙), Quế Dương (桂陽), Linh Lăng (零陵), Thương Ngô (蒼梧) đi chinh phạt." Xét theo ''Mã Viện bản truyện (馬援本傳)'': "Giặc chiếm hơn 60 thành ngoài cõi Lĩnh Nam, Trắc tự lập làm vương. Vua bèn trao ấn dụ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, lấy Phù Lạc hầu Lưu Long (劉隆) làm phó, đốc suất bọn Đoạn Chí (段志) nam chinh Giao Chỉ. Quân đến Hợp Phố (合浦) thì Đoạn Chí (段志) đổ bệnh chết. Vua chiếu cho Mã Viện lĩnh cả đạo quân đó, bèn men theo biển mà tiến, phạt núi mở đường hơn 1.000 dặm. Năm thứ 18 mùa xuân, quân đến Lãng Bạc (浪泊), đánh nhau với giặc, phá tan, chém đầu mấy ngàn cấp, hơn 10.000 người đầu hàng. Mã Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê (禁谿), đánh bại nhiều lần, giặc bèn tan chạy." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 19 (năm 43), mùa hạ tháng 4, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc (徵側) và đồng bọn, nhân đó đánh phá giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽) và bắt hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 19 (năm 43), mùa hạ tháng 4, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc (徵側), Trưng Nhị (徵貳), số còn lại đều tan hàng. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽), phá được và bắt hàng, dời 300 hộ thủ lĩnh đến Linh Lăng (零陵), từ đó cõi Lĩnh Biểu thảy đều bình định." Xét theo ''Mã Viện bản truyện (馬援本傳)'': "Năm thứ 19 (năm 43), tháng Giêng, chém Trưng Trắc (徵側), Trưng Nhị (徵貳), gửi đầu về Lạc Dương (洛陽), phong Mã Viện làm Tân Tức hầu (新息侯), thực ấp 3.000 hộ. Mã Viện đem hơn 2.000 chiếc thuyền lớn nhỏ, hơn 20.000 chiến sĩ đánh giặc Cửu Chân. Dư đảng của Trưng Trắc là Đô Dương (都陽) chạy từ Vô Công (無功) đến Cư Phong (居風), bị chém và bắt hơn 5.000 người, cõi Kiệu Nam thảy đều bình định. Mã Viện tâu rằng: Huyện Tây Vu (西于) có 32.000 hộ, cương giới xa xôi cách trị sở hơn 1.000 dặm, xin chia làm 2 huyện Phong Khê (封溪) và Vọng Hải (望海). Vua chấp thuận. Mã Viện đi qua nơi nào đều vì quận huyện đó mà sửa sang thành quách, đào kênh tưới tiêu để làm lợi cho dân. Ông điều trần hơn 10 việc về luật của người Việt sai khác với luật Hán, cùng người Việt làm sáng tỏ chế độ cũ để ước thúc họ. Từ đó về sau người Lạc Việt (駱越) đều phụng hành theo việc cũ của Mã tướng quân." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Mã Viện bình định bộ Giao, mới bắt đầu điều chỉnh lập thành quách, đặt xóm làng." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Năm Kiến Vũ (建武) thứ 16 (năm 40), người đàn bà Trưng Trắc (徵側) làm phản, Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong, lập cột đồng làm ranh giới." ((Theo Sử ký, cuộc nổi loạn diễn ra vào năm thứ mười sáu, việc dẹp loạn vào năm thứ mười tám, và cuộc thảo luận chung vào năm thứ mười chín.)) '''Năm Chương Đế (章帝) Nguyên Hòa (元和) thứ 1 (năm 84), mùa xuân tháng Giêng, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) hiến tê giác sống và chim trĩ trắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Chương Đế bản kỷ (章帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 1 (năm 84), Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) là bọn Cứu Bất Sự (究不事), hào trưởng trong ấp đã hiến tê giác sống và chim trĩ trắng." '''Năm Hòa Đế (和帝) Vĩnh Nguyên (永元) thứ 12 (năm 100), mùa hạ tháng 4, Man Di ở Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) làm phản, quân quận đánh dẹp bình định xong.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hòa Đế bản kỷ (和帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Nguyên (永元) thứ 12 (năm 100), mùa hạ tháng 4, hơn 2.000 người Man Di ở Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) cướp bóc trăm họ, đốt phá dinh thự triều đình. Quận huyện điều binh đánh trả, chém đầu thủ lĩnh của chúng, số còn lại đều hàng phục. Do đó mới đặt chức Tượng Lâm Tướng binh Trường sử (象林將兵長史) để phòng ngừa hậu họa." '''Năm Vĩnh Nguyên (永元) thứ 14 (năm 102), tháng 5 ngày Đinh Mùi, bắt đầu đặt chức quan Tượng Lâm Tướng binh Trường sử.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hòa Đế bản kỷ (和帝本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Hám Nhân (闞駰) trong ''Thập tam châu chí (十三州志)'' nói: "Tướng binh Trường sử đóng tại quận Nhật Nam (日南郡), lại có chức Tướng binh Tư mã (將兵司馬), cách Lạc Dương (雒陽) 9.630 dặm." '''Năm An Đế (安帝) Vĩnh Sơ (永初) thứ 1 (năm 107), tháng 5, Man Di vùng Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân (九真) đem đất đai nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 1 (năm 107), Man Di vùng Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân (九真) đem đất đai nội thuộc, mở rộng biên cảnh thêm 1.840 dặm." '''Năm Nguyên Sơ (元初) thứ 3 (năm 116), mùa xuân tháng Giêng, Man Di các vùng Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦) làm phản. Tháng 2, sai Thị ngự sử Nhậm Đạc (任逴) đốc suất quân châu quận đi đánh dẹp. Tháng 3, xá miễn cho lại dân các vùng Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Nam Hải (南海) bị giặc ép bức. Mùa đông tháng 11, Man Di các vùng Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố đầu hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Nguyên Sơ (元初) thứ 2 (năm 115), Man Di vùng Thương Ngô (蒼梧) làm phản. Năm sau (năm 116), chúng lôi kéo dụ dỗ hơn mấy ngàn người gồm cả người Man và người Hán ở Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦) đánh phá quận Thương Ngô (蒼梧郡). Đặng thái hậu (鄧太后) sai Thị ngự sử Nhậm Đạc (任逴) vâng chiếu xá tội cho chúng, giặc thảy đều hàng phục và tan đi." '''Năm Diên Quang (延光) thứ 1 (năm 122), mùa thu tháng 8 ngày Tân Mão, Cửu Chân (九真) tâu có rồng vàng (hoàng long) hiện ở huyện Vô Công (無功). Mùa đông tháng 12, Man Di ngoài cõi Cửu Chân (九真) cống hiến nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Diên Quang (延光) thứ 1 (năm 122), Man Di ngoài cõi Cửu Chân (九真) cống hiến nội thuộc." '''Năm Diên Quang (延光) thứ 2 (năm 123), mùa hạ tháng 6, Cửu Chân (九真) tâu có lúa chiêm tốt (gia hòa) sinh ra.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Diên Quang (延光) thứ 3 (năm 124), mùa hạ tháng 5, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) nội thuộc. Mùa thu tháng 7, hào soái Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) đến cửa khuyết dâng cống phẩm.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) lại đến nội thuộc." '''Năm Thuận Đế (順帝) Vĩnh Kiến (永建) thứ 6 (năm 131), mùa đông tháng 12, các nước Diệp Điều (葉調國) và Thiện Quốc (撣國) ngoài cõi Nhật Nam (日南) sai sứ đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Kiến (永建) thứ 6 (năm 131), vua nước Diệp Điều (葉調王) là Tiện (便) ngoài cõi Nhật Nam (日南) sai sứ đến cống hiến. Vua ban cho Điều Tiện (調便) ấn vàng và dải thao tím (kim ấn tử thụ)." Xét theo ''Đông Quan ký (東觀記)'': "Vua nước Diệp Điều (葉調國) sai sứ là Sư Hội (師會) đến cửa khuyết cống hiến, lấy Sư Hội (師會) làm Hán Quy Nghĩa Diệp Điều ấp quân (漢歸義葉調邑君), ban cho dải thao tím. Cùng lúc đó, vua nước Thiện (撣國) là Ung Điền (雍田) cũng được ban ấn vàng dải thao tím." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 1 (năm 136), mùa đông tháng 12, Man Di ở Tượng Lâm (象林) làm phản.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 2 (năm 137), mùa hạ tháng 5, Man Di Nhật Nam (日南) làm phản, đánh phá phủ quận. Mùa thu tháng 9, quân 2 quận Giao Chỉ (交趾) làm phản.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 2 (năm 137), hơn mấy ngàn người Man Di ngoài cõi Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) là bọn Khu Liên (區憐) tấn công huyện Tượng Lâm (象林), đốt thành quách dinh thự, giết trưởng lại. Thứ sử Giao Chỉ là Phan Diễn (樊演) điều động hơn 10.000 quân từ 2 quận Giao Chỉ (交趾) và Cửu Chân (九真) đi cứu viện. Binh sĩ sợ đi đánh xa, bèn phản lại mà đánh vào phủ. 2 quận tuy đánh tan được bọn phản binh, nhưng thế giặc (Khu Liên) chuyển sang cường thịnh. Gặp lúc Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) đang đi sứ tại Nhật Nam, bèn cùng châu quận hợp lực đánh dẹp, nhưng không có lợi, bị giặc vây hãm. Hơn 1 năm trời quân lương không tiếp tế được, nhà vua lấy làm lo lắng." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 138), mùa hạ tháng 6, Thái thú Cửu Chân là Chúc Lương (祝良), Thứ sử Giao Chỉ là Trương Kiều (張喬) vỗ về dụ dỗ khiến giặc Nhật Nam hàng phục.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': Giả Xương (賈昌) bị giặc vây, hơn 1 năm quân lương cạn kiệt. Năm thứ 3 (năm 138), vua triệu tập công khanh trăm quan cùng thuộc hạ 4 phủ để hỏi phương lược. Mọi người đều bàn nên sai đại tướng điều động 40.000 quân từ các châu Kinh (荊), Dương (揚), Diễn (兗), Dự (豫) tới. Đại tướng quân Trung lang tướng Lý Cố (李固) bác lại rằng: "Nếu Kinh, Dương vô sự thì điều động cũng được. Nay giặc cướp ở 2 châu này kết bè phái không tan, Man Di ở Vũ Lăng (武陵), Nam Quận (南郡) chưa yên, Trường Sa (長沙), Quế Dương (桂陽) mấy lần bị trưng binh. Nếu lại gây xáo động, tất sinh họa khác, ấy là cái không thể thứ 1. Lại nữa, người vùng Diễn, Dự bất chợt bị bắt đi xa vạn dặm không hẹn ngày về, chiếu thư hối thúc, tất sẽ dẫn tới bỏ trốn và làm phản, ấy là cái không thể thứ 2. Đất phương Nam nước độc khí nóng, lại có chướng khí, người chết tất đến 4 hoặc 5 phần trong 10 phần, ấy là cái không thể thứ 3. Đi xa vạn dặm, sĩ tốt mệt mỏi, tới được Lĩnh Nam thì không còn sức mà đánh, ấy là cái không thể thứ 4. Quân đi 30 dặm là một trình, mà cách Nhật Nam (日南) hơn 9.000 dặm, phải 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tiêu tốn 600.000 hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại và lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi đã tốn kém như thế, ấy là cái không thể thứ 5. Giả sử quân tới nơi, người chết tất nhiều, đã không đủ chống địch lại phải điều động thêm, ấy là cắt lòng dạ để bù tay chân, ấy là cái không thể thứ 6. Cửu Chân (九真) và Nhật Nam (日南) cách nhau 1.000 dặm, điều động lại dân nơi đó họ còn không chịu nổi, huống chi làm khổ binh sĩ 4 châu đi vạn dặm vào nơi gian khó? Ấy là cái không thể thứ 7." Lý Cố nói tiếp: "Trước đây Trung lang tướng Doãn Tựu (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu (益州), dân gian có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tựu bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều dựa vào tướng lại sở tại, chỉ trong mười ngày một tháng đã phá sạch quân khấu tặc. Đó là minh chứng cho việc cử tướng (từ trung ương) không có ích, mà châu quận có thể tin dùng được. Nên chọn người dũng lược, nhân huệ có tài tướng soái làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều cho cùng ở Giao Chỉ (交趾). Nay Nhật Nam (日南) binh đơn lương cạn, thủ không xong mà chiến không nổi, nên dời cả lại dân vào phía Bắc nương tựa Giao Chỉ. Sau khi sự việc yên tĩnh mới cho về bản quán. Lại dùng vàng bạc gấm vóc chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh lẫn nhau. Ai có thể dùng kế ly gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa phong hầu ban đất. Cựu Thứ sử Tinh Châu (并州) là Chúc Lương (祝良) người Trường Sa tính cương quyết, dũng cảm; lại có Trương Kiều (張喬) người Nam Dương trước ở Ích Châu có công phá giặc, đều có thể dùng được. Xưa Thái Tông phong Ngụy Thượng làm Thái thú Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú Thái Sơn, nên phong cho Lương và Kiều rồi lên đường nhận chức ngay." Bốn phủ đều theo lời bàn ấy. Bèn phong Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân (九真), Trương Kiều (張喬) làm Thứ sử Giao Chỉ (交州). Trương Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, giặc thảy đều hàng phục tan đi. Chúc Lương đến Cửu Chân, một xe đi thẳng vào trong lòng giặc, dùng phương lược chiếu tỏ uy tín, người hàng phục đến mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng dinh phủ, từ đó cõi Lĩnh Ngoại lại được thái bình. '''Năm Kiến Khang (建康) thứ 1 (năm 144), mùa đông tháng 10, Man Di ở Nhật Nam (日南) đánh phá, thiêu rụi thành ấp; Thứ sử Giao Chỉ (交趾) là Hạ Phương (夏方) chiêu dụ khiến chúng hàng phục.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Xung Đế bản kỷ (沖帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Kiến Khang (建康) thứ 1 (năm 144), hơn 1.000 người Man Di ở Nhật Nam (日南) lại đánh phá, thiêu rụi huyện ấp, sau đó cổ động vùng Cửu Chân (九真) cùng liên kết với nhau. Thứ sử Giao Chỉ (交趾) người Cửu Giang (九江) là Hạ Phương (夏方) mở lòng khoan ân chiêu dụ, giặc thảy đều hàng phục. Bấy giờ Lương Thái hậu (梁太后) lâm triều, khen ngợi công lao của Hạ Phương (夏方), thăng làm Thái thú Quế Dương (桂陽)." '''Năm Hoàn Đế (桓帝) Vĩnh Thọ (永壽) thứ 3 (năm 157), mùa hạ tháng 4, Man Di ở Cửu Chân (九真) làm phản, Thái thú Nghê Thức (兒式) đánh dẹp nhưng tử trận; sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá được, sau đó quân giặc rút về cố thủ tại Nhật Nam (日南).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Thọ (永壽) thứ 3 (năm 157), huyện lệnh Cư Phong (居風) tham lam bạo ngược vô độ, người trong huyện là Chu Đạt (朱達) cùng với quân Man Di tụ tập đánh giết huyện lệnh. Đám đông lên đến 4.000 hoặc 5.000 người, tiến đánh Cửu Chân (九真), Thái thú Cửu Chân là Nghê Thức (兒式) tử trận. Vua ban chiếu tặng 600.000 tiền, phong 2 người con làm Lang quan, sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá được giặc, chém đầu 2.000 cấp. Thủ lĩnh giặc vẫn còn đóng quân cố thủ tại Nhật Nam (日南), thế lực chuyển sang cường thịnh." '''Năm Diên Hy (延熹) thứ 3 (năm 160), mùa đông tháng 11, giặc Man ở Nhật Nam (日南) dẫn quân đến quận đầu hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Diên Hy (延熹) thứ 3 (năm 160), hạ chiếu lại phong Hạ Phương (夏方) làm Thứ sử Giao Chỉ (交趾). Hạ Phương vốn có uy đức lừng lẫy, quân giặc cũ ở Nhật Nam (日南) nghe danh, hơn 20.000 người đã dắt díu nhau đến chỗ Phương đầu hàng." '''Năm Diên Hy (延熹) thứ 5 (năm 162), mùa hạ tháng 4, giặc ở Trường Sa (長沙) nổi lên, đánh chiếm Quế Dương (桂陽), Thương Ngô (蒼梧). Tháng 5, giặc ở Trường Sa (長沙), Linh Lăng (零陵) nổi lên, đánh phá các vùng Quế Dương (桂陽), Thương Ngô (蒼梧), Nam Hải (南海), Giao Chỉ (交趾). Sai Ngự sử Trung thừa Thịnh Tu (盛修) đốc suất quân châu quận đi đánh dẹp nhưng không thắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Linh Đế (靈帝) Kiến Ninh (建寧) thứ 3 (năm 170), mùa thu tháng 9, dân Ô Hú (烏滸) ở Uất Lâm (鬱林) dắt díu nhau nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 (năm 170), Thái thú Uất Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) dùng ân tín chiêu hàng được hơn 100.000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều được ban mũ đai (phong quan tước), mở mang và đặt ra 7 huyện." '''Năm Hy Bình (熹平) thứ 2 (năm 173), mùa đông tháng 12, nước ngoài cõi Nhật Nam (日南) qua nhiều lần dịch mà đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 1 (năm 178), mùa xuân tháng Giêng, Man Ô Hú (烏滸) ở Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾) làm phản, chiêu dụ dân Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) đánh chiếm các quận huyện.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 4 (năm 181), mùa hạ tháng 4, Thứ sử Giao Chỉ là Chu Tuấn (朱㒞) đánh dẹp Man Ô Hú (烏滸) ở Giao Chỉ (交趾), Hợp Phố (合浦), phá tan được chúng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 6 (năm 183), mùa xuân tháng Giêng, nước ngoài cõi Nhật Nam (日南) qua nhiều lần dịch mà đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Trung Bình (中平) thứ 1 (năm 184), tháng 6, binh lính đóng đồn ở Giao Chỉ (交趾) bắt giữ Thứ sử và Thái thú Hợp Phố là Lai Đạt (來達), tự xưng là Trụ Thiên tướng quân (柱天將軍). Sai Thứ sử Giao Chỉ là Giả Tùng (賈琮) đánh dẹp bình định xong.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hiến Đế (獻帝) Kiến An (建安) thứ 8 (năm 203), Trương Tân (張津) làm Thứ sử, Sĩ Nhiếp (士燮) làm Thái thú Giao Chỉ (交趾), cùng dâng biểu xin lập làm Châu, bèn phong Trương Tân (張津) làm Giao Châu mục (交州牧).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hiến Đế bản kỷ (獻帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Kiến An (建安) thứ 15 (năm 210), Giao Châu (交州) dời trị sở đến Phiên Ngung (番禺). Ban chiếu cho châu biên thùy được sử dụng cờ tiết (sứ trì tiết) và quận được ban nhạc khí (cổ xúy) để tăng uy trọng cho trấn thành; gia phong lễ Cửu tích và điệu múa Lục dật.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hiến Đế bản kỷ (獻帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Hậu Chủ (後主) thứ [khuyết] (nhà Thục Hán), lấy Lý Khôi (李恢) làm quan từ xa lãnh đạo Giao Châu.''' Xét theo ''Thục chí (蜀志) – Hậu Chủ truyện (後主傳)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Nhà Thục (蜀) lấy Lý Khôi (李恢) làm Thái thú Kiến Ninh (建寧), từ xa kiêm lĩnh chức Giao Châu thứ sử (交州刺史)." ===Tam quốc=== '''Năm Ngô Đại Đế (吳大帝) Hoàng Vũ (黃武) thứ 5 (năm 226), chia Giao Châu (交州) để đặt Quảng Châu (廣州), nhưng sau đó ít lâu lại khôi phục như cũ.''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Ngô Vương Quyền truyện (吳王權傳)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Ngô Hoàng Vũ (黃武) thứ 5 (năm 226), cắt 3 quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林) lập thành Quảng Châu (廣州); 4 quận Giao Chỉ (交趾), Nhật Nam (日南), Cửu Chân (九真), Hợp Phố (合浦) làm Giao Châu (交州). Đới Lương (戴良) làm Thứ sử, gặp lúc loạn không vào được, Lữ Đại (呂岱) đánh dẹp bình định xong, lại hợp nhất vào bộ Giao (交部)." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Khoảng năm Kiến An (建安 - nhà Hán), đổi làm Giao Châu (交州). Ngô Tôn Quyền (孫權) chia Giao Châu làm Quảng Châu (廣州), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編)." '''Năm Xích Ô (赤烏) thứ 5 (năm 242), đặt lại quận Châu Nhai (珠崖郡).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Ngô Vương Quyền truyện (吳王權傳)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Phế Đế (廢帝) Ngũ Phụng (五鳳) thứ 1 (năm 254), cỏ dại (bại thảo) ở Giao Chỉ (交趾) hóa thành lúa (đạo).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Lượng truyện (孫亮傳)'' không chép. Xét theo chú giải trong ''Giang Biểu truyện (江表傳)'' đã dẫn. '''Năm Cảnh Đế (景帝) Vĩnh An (永安) thứ 5 (năm 262), sai Sát Chiến (察戰) đến Giao Chỉ (交趾) điều động chim công (khổng tước) và lợn lớn (đại trư).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'' đã dẫn. '''[Năm Ngụy Thiếu Đế (魏少帝) Cảnh Nguyên (景元) thứ 4; Ngô chủ Vĩnh An (永安) thứ 6 (năm 263)]''' '''Nhà Ngụy (魏) lấy Hoắc Dực (霍弋) từ xa kiêm lĩnh Giao Châu (交州). Quận lại Giao Châu của nhà Ngô là Lữ Hưng (呂興) giết Thái thú Tôn Hủ (孫諝) hàng Ngụy. Nhà Ngụy lấy Hưng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu quân sự. Mệnh chưa đến nơi, Hưng đã bị kẻ dưới tay giết chết.''' Xét theo ''Ngụy chí (魏志) – Thiếu Đế bản kỷ (少帝本紀)'': "Năm Hàm Hy (咸熙) thứ 1 (năm 264), tháng 9, Tôn Hưu (孫休) sai sứ là Đặng Cú (鄧句) ra lệnh cho Thái thú Giao Chỉ xiềng xích đưa dân sở tại đi làm binh. Tướng nhà Ngô là Lữ Hưng (呂興) nhân lòng dân phẫn nộ, lại nghe quân vương (nhà Ngụy) đã bình định Ba Thục (巴蜀), bèn hợp hào kiệt giết bọn Đặng Cú, đuổi Thái thú và trường lại, vỗ về lại dân chờ mệnh lệnh quốc gia. Các quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) nghe tin Hưng bỏ nghịch theo thuận, cũng đồng tâm hưởng ứng. Hưng gửi thư đến các châu quận ở Nhật Nam giải bày đại kế, đem quân đến Hợp Phố (合浦) báo rõ họa phúc, sai Đô úy Đường Phổ (唐譜) đến huyện Tiến Thừa (進乘), thông qua Nam Trung Đô đốc Hộ quân Hoắc Dực (霍弋) dâng biểu tự trình bày. Các tướng lại Giao Chỉ cũng dâng biểu nói: 'Lữ Hưng sáng tạo sự nghiệp, lớn nhỏ đều nghe mệnh. Trong quận có sơn tặc cấu kết các quận, sợ chúng có ý đồ khác gây chia rẽ. Nay theo kế tạm thời, lấy Hưng làm Đốc Giao Chỉ chư quân sự, Thượng Đại tướng quân, Định An huyện hầu, xin ban khen thưởng để an ủi nơi biên hoang'. Lòng thành thể hiện qua lời lẽ. Nay uy quốc gia vang xa, phủ dụ lục hợp, thu phục phương xa, thống nhất bốn cõi. Lữ Hưng đứng đầu hướng về vương hóa, đem chúng quy phục, vạn dặm theo nghĩa, xin lại cai trị, nên gia ân sủng, trọng đãi tước vị. Khiến bọn Hưng cảm mến trung nghĩa, người phương xa nghe thấy tất đua nhau học theo. Bèn lấy Hưng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, Nam Trung Đại tướng quân, phong Định An huyện hầu, được tùy nghi làm việc. Mệnh chưa đến nơi, Hưng đã bị kẻ dưới giết chết." Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'': "Năm Vĩnh An (永安) thứ 6 (năm 263), quận lại Giao Chỉ là Lữ Hưng (呂興) làm phản, giết Thái thú Tôn Hủ (孫諝)." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Nhà Tấn bình Thục, lấy Thái thú Kiến Ninh (建寧) nhà Thục là Hoắc Dực (霍弋) từ xa kiêm lĩnh Giao Châu (交州), được tùy nghi tuyển dùng trường lại." '''Năm Vĩnh An (永安) thứ 7 (năm 264), mùa thu tháng 7, lại chia Giao Châu để đặt Quảng Châu (廣州).''' Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'' đã dẫn. '''Năm Mạt Đế (末帝) Bảo Đỉnh (寶鼎) thứ 2 (năm 267), tháng 9, sai Thứ sử Giao Châu Lưu Tuấn (劉俊), Tiền bộ đốc Tu Tắc (修則) vào đánh Giao Chỉ (交趾), bị tướng nhà Tấn là Mao Cảnh (毛炅) đánh bại, đều tử trận, binh lính tan chạy về Hợp Phố (合浦).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Hành (建衡) thứ 1 (năm 269), tháng 11, sai Giám quân Ngu Tự (虞汜), Uy Nam tướng quân Tiết Hủ (薛珝), Thái thú Thương Ngô Đào Hoàng (陶璜) từ Kinh Châu (荊州); Giám quân Lý Húc (李勗), Đốc quân Từ Tồn (徐存) đi đường biển từ Kiến An (建安), thảy đều đến Hợp Phố (合浦) đánh Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Hành (建衡) thứ 3 (năm 271), Ngu Tự (虞汜) và Đào Hoàng (陶璜) phá Giao Chỉ, bắt giết các thủ tướng do nhà Tấn đặt ra. Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) thảy đều quay về thuộc Ngô. Chia Giao Chỉ để đặt quận Tân Xương (新昌郡). Các tướng phá vùng Phù Nghiêm (扶嚴), đặt quận Vũ Bình (武平郡).''' Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Tôn Hạo (孫皓) lại lập 3 quận Tân Xương (新昌), Vũ Bình (武平), Cửu Đức (九德)." '''Năm Phượng Hoàng (鳳皇) thứ 3 (năm 274), chia quận Uất Lâm (鬱林) đặt làm quận Quế Lâm (桂林郡).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Kỷ (天紀) thứ 3 (năm 279), Quách Mã (郭馬) làm phản, tự xưng là An Nam tướng quân, Đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự.''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'': "Năm thứ 3 (năm 279) mùa hạ, Quách Mã (郭馬) phản. Mã vốn là bộ khúc của Thái thú Hợp Phố là Tu Uẩn (修允), Uẩn chuyển làm Thái thú Quế Lâm (桂林), bị bệnh ở lại Quảng Châu (廣州). Trước sai Mã dẫn 500 binh đến quận, khi Uẩn chết, binh lính đáng lẽ phải chia nhỏ ra, nhưng bọn Mã là quân cũ nhiều đời, không muốn ly tán. Tôn Hạo (孫皓) bấy giờ lại kiểm kê hộ khẩu Quảng Châu, Mã cùng các tướng bộ khúc là Hà Điển (何典), Vương Tộc (王族), Ngô Thuật (吳述), Ân Hưng (殷興) nhân đó kích động binh dân, tập hợp quân chúng, giết Đốc Quảng Châu là Ngu Thụ (虞授). Mã tự xưng Đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự, An Nam tướng quân; Ân Hưng làm Thứ sử Quảng Châu, Ngô Thuật làm Thái thú Nam Hải, Hà Điển đánh Thương Ngô, Vương Tộc đánh Thủy Hưng. Tháng 8, lấy Quân sư Trương Đễ (張悌) làm Thừa tướng, Đô đốc Ngưu Chữ là Hà Thực (何植) làm Tư đồ, Chấp kim ngô Đằng Tuân (滕循) làm Tư không. Chưa kịp bái chức thì Tuân chuyển làm Trấn Nam tướng quân, giả tiết, lĩnh Quảng Châu mục, soái 10.000 người theo đường Đông đánh bọn Mã và Tộc. Gặp nhau tại Thủy Hưng (始興), chưa tiến lên được thì Mã giết Thái thú Nam Hải Lưu Lược (劉略), đuổi Thứ sử Quảng Châu Từ Kỳ (徐旗). Tôn Hạo lại sai Từ Lăng (徐陵) đốc Đào Tuấn (陶濬) dẫn 7.000 người theo đường Tây, lệnh cho Giao Châu mục Đào Hoàng (陶璜) tập hợp bộ ngũ cùng quân các quận Hợp Phố (合浦), Uất Lâm (鬱林), đồng loạt phối hợp với quân Đông - Tây đánh Mã." * ''〈Chú thích〉'' ''Hán Tấn Xuân Thu (漢晉春秋)'' chép: Trước đó, ở nước Ngô có kẻ thuyết sấm ngôn rằng: "Ngô bại, binh khởi từ Nam Di, kẻ diệt Ngô là Công Tôn vậy". Tôn Hạo nghe thế, phàm các chức văn võ cho đến binh lính ai họ Công Tôn (公孫) đều đày đi Quảng Châu, không cho ở ven sông (Giang biên). Đến khi nghe Quách Mã (郭馬) phản, đại hãi mà nói: "Ấy là trời diệt vậy". ===Tấn=== '''Năm Võ Đế (武帝) Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268), mùa đông tháng 10, tướng nhà Ngô (吳) là Cố Dung (顧容) đánh phá quận Uất Lâm (鬱林), Thái thú Mao Cảnh (毛炅) đại phá được, chém Thứ sử Giao Châu nhà Ngô là Lưu Tuấn (劉俊) và Tướng quân Tu Tắc (修則).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 5 (năm 269), tháng 5, đại xá cho những người chịu hình phạt 5 năm (ngũ tuế hình) ở các vùng Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 7 (năm 271), mùa thu tháng 7, tướng nhà Ngô (吳) là Đào Hoàng (陶璜) cùng đồng bọn vây đánh Giao Chỉ (交趾), Thái thú Dương Tắc (楊稷) cùng Thái thú Uất Lâm là Mao Cảnh (毛炅) và 3 quận Nhật Nam (日南) thảy đều đầu hàng nước Ngô.''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Khang (泰康) thứ [khuyết] (nhà Tấn), bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖) nhập vào quận Hợp Phố (合浦). Đặt các quận thuộc Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': "Sau khi bình định nước Ngô, bãi bỏ Châu Nhai (珠崖) nhập vào Hợp Phố (合浦). '''Giao Châu (交州)''' thống lĩnh 7 quận, 53 huyện, 25.600 hộ." * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: Hợp Phố (合浦), Nam Bình (南平), Đãng Xương (蕩昌), Từ Văn (徐聞), Độc Chất (毒質), Châu Quan (珠官). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 14 huyện, 12.000 hộ. Các huyện: Long Biên (龍編), Cẩu Lậu (苟漏), Vọng Hải (望海), Luy Lâu (贏𡝭), Tây Vu (西于), Võ Ninh (武寧), Chu Diên (朱鳶), Khúc Dương (曲昜), Giao Hưng (交興), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), An Định (安定), Nam Định (南定), Hải Bình (海平). * '''Quận Tân Xương (新昌郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 3.000 hộ. Các huyện: Mê Linh (麋泠 - nơi xưa kia bà Trưng Trắc (徵側) làm chủ, Mã Viện (馬援) đã bình định), Gia Ninh (嘉寧), Ngô Định (吳定), Phong Sơn (封山), Lâm Tây (臨西), Tây Đạo (西道). * '''Quận Võ Bình (武平郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 5.000 hộ. Các huyện: Võ Ninh (武寧), Võ Hưng (武興), Tiến Sơn (進山), Căn Ninh (根寧), An Võ (安武), Phù An (扶安), Phong Khê (封溪). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 3.000 hộ. Các huyện: Tư Phố (胥浦), Di Phong (移風), Trạm Ngô (湛梧), Kiến Sơ (建初), Thường Lạc (常樂), Phù Lạc (扶樂), Tùng Nguyên (松原). * '''Quận Cửu Đức (九德郡)''': Nhà Ngô đặt. Là vùng đất của họ Việt Thường (越裳氏) thời Chu. Thống lĩnh 8 huyện, không rõ số hộ. Các huyện: Cửu Đức (九德), Hàm Hoan (咸驩), Nam Lăng (南陵), Dương Toại (陽遂), Phù Linh (扶苓), Khúc Tư (曲胥), Phố Dương (浦陽), Đô Kiểu (都洨). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Nhà Tần đặt là Tượng Quận (象郡), Hán Võ Đế đổi tên. Thống lĩnh 5 huyện, 600 hộ. ** Các huyện: Tượng Lâm (象林 - từ đây về phía Nam có 4 nước, người ở đó đều tự nhận là con cháu người Hán. Nay có cột đồng (đồng trụ) cũng do nhà Hán dựng làm biên giới. Tại đây nộp vàng để đóng thuế), Lô Dung (盧容 - nơi đặt trị sở Tượng Quận), Chu Ngô (朱吾), Tây Quyển (西卷), Bắc Cảnh (北景). '''Quảng Châu (廣州)''': Hán Võ Đế lấy đất này làm quận Giao Chỉ. Đến năm Thái Khang (泰康), sau khi bình Ngô, bèn lấy 3 bộ Thủy An (始安), Thủy Hưng (始興), Lâm Hạ (臨賀) của Kinh Châu (荊州) cho thuộc về đây. Tổng cộng thống lĩnh 10 quận, 68 huyện, 43.120 hộ. * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Tần đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 9.500 hộ. Các huyện: Phiên Ngung (番禺), Tứ Hội (四會), Tăng Thành (增城), Bác La (博羅), Long Xuyên (龍川), Bình Di (平夷). * '''Quận Lâm Hạ (臨賀郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 2.500 hộ. Các huyện: Lâm Hạ (臨賀), Tạ Mộc (謝沐), Phùng Thừa (馮乘), Phong Dương (封陽), Hưng An (興安), Phú Xuyên (富川). * '''Quận Thủy An (始安郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 6.000 hộ. Các huyện: Thủy An (始安), Thủy Dương (始陽), Bình Lạc (平樂), Lệ Phố (荔浦), Thường An (常安), Hy Bình (熙平), Vĩnh Phong (永豐). * '''Quận Thủy Hưng (始興郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 5.000 hộ. Các huyện: Khúc Giang (曲江), Quế Dương (桂陽), Thủy Hưng (始興), Hàm Khoáng (含洭), Trinh Dương (湞陽), Trung Túc (中宿), Dương Sơn (陽山). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 12 huyện, 7.700 hộ. Các huyện: Quảng Tín (廣信), Đoan Khê (端溪), Cao Yếu (高要), Kiến Lăng (建陵), Tân Ninh (新寧), Mãnh Lăng (猛陵), Chương Bình (鄣平), Nông Thành (農城), Nguyên Khê (元谿), Lâm Duẫn (臨允), Đô La (都羅), Võ Thành (武城). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Nhà Tần đặt là quận Quế (桂郡), Hán Võ Đế đổi tên. Thống lĩnh 9 huyện, 6.000 hộ. Các huyện: Bố Sơn (布山), Kha Lâm (柯林), Tân Ấp (新邑), Tấn Bình (晉平), Thủy Kiến (始建), Uất Bình (鬱平), Lĩnh Phương (領方), Võ Hy (武熙), An Quảng (安廣). * '''Quận Quế Lâm (桂林郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 8 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: Đàm Trung (潭中), Võ Phong (武豐), Túc Bình (粟平), Dương Bình (羊平), Long Cương (龍剛), Giáp Dương (夾陽), Võ Thành (武城), Quân Đằng (軍騰). * '''Quận Cao Lương (高涼郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 3 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: An Ninh (安寧), Cao Lương (高涼), Tư Bình (思平). * '''Quận Cao Hưng (高興郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 5 huyện, 1.220 hộ. Các huyện: Quảng Hóa (廣化), Hải An (海安), Hóa Bình (化平), Hoàng Dương (黃陽), Tây Bình (西平). * '''Quận Ninh Phố (寧浦郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 5 huyện, 1.320 hộ. Các huyện: Ninh Phố (寧浦), Liên Đạo (連道), Ngô An (吳安), Xương Bình (昌平), Bình Sơn (平山). ===Lưu Tống=== '''Năm Tống Văn Đế (宋文帝) Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431), mùa xuân tháng Giêng, đặt lại quận Châu Nhai (珠崖郡) tại Giao Châu (交州).''' '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 11 (năm 434), tháng 2, lấy Thái thú Giao Chỉ (交趾) là Lý Đam Chi (李耽之) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét các điều trên theo ''Tống thư (宋書) – Văn Đế bản kỷ (文帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nam Tề Cao Đế (南齊高帝) Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479), vẫn lấy Lý Thúc Hiến (李叔獻) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Cao Đế bản kỷ (高帝本紀)'': "Năm Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479), mùa thu tháng 7 ngày Đinh Mùi, chiếu rằng: Giao Chỉ (交趾), Bắc Cảnh (北景), riêng cách biệt với chính朔 (chính sóc - lịch pháp) triều đình. Ấy là bởi vận trước (nhà Lưu Tống) lúc cuối, kẻ dựa nơi biển không đến triều cống, vì mê muội mà lầm đường, muốn quy thuận mà không có lối. Nay đặc xá cho 1 người trong bộ Giao Châu (交州) là Lý Thúc Hiến (李叔獻), cho vỗ về đất phương Nam, các quan văn võ chọn người có tài mà bổ dụng, đồng thời sai Đại sứ đến tuyên dương ân đức triều đình. Lấy Thử thủ Vũ Bình Thái thú (武平太守), Hành Giao Châu phủ sự (行交州府事) là Lý Thúc Hiến (李叔獻) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史)." Xét theo ''Phù Nam truyện (扶難傳)'': Giao Châu (交州) nằm tách biệt nơi hải đảo, khống chế các nước ngoại quốc, vốn cậy nơi hiểm trở mà nhiều lần không phục tùng. Đầu năm Thái Thủy (泰始 - nhà Lưu Tống, năm 465), Thứ sử Trương Mục (張牧) chết, người Giao Chỉ (交趾) là Lý Trường Nhân (李長仁) giết bộ khúc từ phương Bắc tới của Mục, chiếm cứ Giao Châu (交州) làm phản được mấy năm thì bệnh chết. Em họ là Lý Thúc Hiến (李叔獻) nối nghiệp, nhưng hiệu lệnh chưa được thi hành, bèn sai sứ cầu chức Thứ sử. Triều đình nhà Tống (宋朝) lấy Thái thú Nam Hải (南海) là Thẩm Hoán (沈煥) làm Thứ sử Giao Châu, lấy Thúc Hiến làm Ninh Viễn tư mã cho Hoán kiêm Thái thú 2 quận Vũ Bình (武平), Tân Xương (新昌). Thúc Hiến nhận được mệnh triều đình, nhân tình phục tùng, bèn điều binh giữ nơi hiểm yếu, không cho Thẩm Hoán vào. Hoán phải dừng lại ở Uất Lâm (鬱林) rồi bệnh chết. Năm Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479) thời Thái Tổ (太祖 - tức Cao Đế), triều đình vẫn lấy Thúc Hiến làm Thứ sử Giao Châu để an ủi ông ta. '''Năm Võ Đế (武帝) Vĩnh Minh (永明) thứ 3 (năm 485), mùa xuân tháng Giêng ngày Bính Thìn, lấy Đại ty nông Lưu Khải (劉楷) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Phù Nam truyện (扶難傳)'': "Thúc Hiến nhận mệnh, nhưng sau đó ngăn cách các nước ngoại quốc, đồ cống hiến ít ỏi, Thế Tổ (世祖 - tức Võ Đế) muốn thảo phạt. Năm Vĩnh Minh (永 Minh) thứ 1 (năm 483), lấy Ty nông Lưu Khải (劉楷) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史), điều động binh lính các quận Nam Khang (南康), Lư Lăng (廬陵), Thủy Hưng (始興) đi chinh phạt Giao Châu. Thúc Hiến nghe tin, sai sứ nguyện xin hoãn lại thêm vài năm. Hiến dâng 12 đội mũ trụ bằng bạc nguyên chất (thuần ngân đâu mâu) và lông chim công (khổng tước mạo), nhưng Thế Tổ không hứa cho. Thúc Hiến sợ bị Lưu Khải tập kích, bèn theo đường tắt từ Tương Xuyên (湘川) về triều." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 6 (năm 488), tháng 6 ngày Bính Tử, lấy Thái thú Thủy Hưng (始興太守) là Phòng Pháp Thừa (房法乘) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Võ Đế bản kỷ (武帝 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Phù Nam quốc truyện (扶難國傳)'': Năm thứ 6 (năm 488), lấy Thái thú Thủy Hưng (始興太守) là Phòng Pháp Thừa (房法乘) thay Lưu Khải. Pháp Thừa đến trấn, mắc bệnh nên không quản lý việc gì, chỉ chuyên tâm đọc sách. Trường sử Phục Đăng Chi (伏登之) nhân đó chuyên quyền, thay đổi tướng lại mà không cho Pháp Thừa biết. Lục sự Phòng Kế Văn (房季文) thưa chuyện đó, Pháp Thừa đại nộ, nhốt Đăng Chi vào ngục. Hơn 10 ngày, Đăng Chi lo lót hậu hĩnh cho em rể Pháp Thừa là Thôi Cảnh Thúc (崔景叔) mới được ra, bèn dẫn bộ khúc đánh úp châu thành, bắt giữ Pháp Thừa và bảo: 'Sứ quân đã có bệnh, không nên lao nhọc', rồi nhốt vào thất riêng. Pháp Thừa không có việc gì làm, lại gặp Đăng Chi xin sách để đọc, Đăng Chi nói: 'Sứ quân cần tĩnh dưỡng, chỉ e đọc sách làm bệnh động thêm, sao có thể xem sách được?'. Cuối cùng không cho, rồi dâng sớ lên triều đình nói rằng Pháp Thừa bị bệnh tim tái phát, không đảm đương được công việc. Thế Tổ (世祖) bèn lấy Đăng Chi làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史), Pháp Thừa quay về đến cõi Lĩnh thì chết. Pháp Thừa người Thanh Hà (清河), năm Thăng Minh (昇明 - nhà Lưu Tống) làm Phiêu kỵ trung binh cho Thái Tổ (太祖), sau thăng đến Tả trung lang tướng. Tính tình cương trực giản dị, thân cao 8 xích 3 thốn (khoảng 2m), đi đứng cao hơn người thường nên thường tự cúi mình xuống. Thứ sử Thanh Châu (青州) là Minh Khánh Phù (明慶符) cũng cao ngang Pháp Thừa, triều đình khi ấy chỉ có 2 người này (có vóc dáng như vậy). ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka96gc0t9i?page_from=profile&version=1 安南部彙考一(交趾)] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] s8qjr03vcghk7ax3umh8yd5vzztsg98 204592 204590 2026-04-08T08:33:51Z Mrfly911 2215 204592 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 90''' | trước= [[../quyển 089|quyển 89]] | sau= [[../quyển 091|quyển 91]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 1 〈Giao Chỉ (交趾)〉== ===Thượng Cổ=== '''Thời Chuyên Húc Cao Dương Thị (顓頊高陽氏), Giao Chỉ (交趾) bắt đầu thông với Trung Quốc (中國).''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Ngũ Đế bản kỷ (五帝本紀)'': "Chuyên Húc Cao Dương Thị (顓頊高陽氏) phía Bắc đến U Lăng (幽陵), phía Nam đến Giao Chỉ (交趾), phía Tây đến Lưu Sa (流沙), phía Đông đến Phan Mộc (蟠木). Các loài động tĩnh, các vị thần lớn nhỏ, nơi nào nhật nguyệt soi đến, không đâu là không bình định và thần phục." * ''〈Chú thích〉'' Vương Túc (王肅) nói: "Chỉ (砥) nghĩa là bằng phẳng. Bốn phương xa xôi đều bình định, mà đến quy phục." ===Đào Đường Thị (陶唐氏)=== '''Đế Nghiêu (帝堯), lệnh cho Hi Thúc (羲叔) đến ở tại Nam Giao (南交).''' Xét theo ''Thư kinh (書經) – Nghiêu điển (堯典)'' đã dẫn. Xét theo ''Sử ký chú (史記注)'': Khổng An Quốc (孔安國) nói: "Mùa hạ giao với mùa xuân, đây là chức quan cai trị phương Nam vậy." * ''Sách Ẩn (索隱)'' nói: Chú giải của họ Khổng chưa đúng. Nếu vậy thì mùa đông giao với mùa thu, cớ sao bên dưới không có văn tự ấy? Hơn nữa, phía Đông có Ngu Di (嵎夷), phía Tây có Muội Cốc (昧谷), phía Bắc có U Đô (幽都), ba phương đều nói về địa danh, mà riêng mùa hạ (phương Nam) lại không nói địa danh, mà lại bảo là 'giao với mùa xuân', thật là không tương đồng (lệ) lắm vậy. Tuy nhiên, đất phương Nam có nơi tên là Giao Chỉ (交趾), hoặc giả văn tự cổ lược bớt đi 1 chữ, gọi địa danh là Nam Giao (南交), thì đó chính là Giao Chỉ (交趾) không nghi ngờ gì nữa. ===Hữu Ngu Thị (有虞氏)=== '''Đế Thuấn (帝舜), vỗ về phía Nam đến Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Thuấn bản kỷ (舜本紀)'' đã dẫn. === Chu === '''Năm Chu Thành Vương (周成王) thứ 6 (năm 1037 TCN), họ Việt Thường (越裳氏) đến triều cống.''' Xét theo ''Thông giám tiền biên (通鑑前編)'' đã dẫn. Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Phía Nam Giao Chỉ (交趾) có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính được 6 năm, chế định lễ nhạc, thiên hạ thái bình. Người Việt Thường (越裳) dùng 3 con voi, qua nhiều lần thông dịch (trọng dịch) mà hiến chim trĩ trắng, nói rằng: 'Đường xá xa xôi, núi sông hiểm trở, ngôn ngữ không thông, nên phải qua nhiều lần dịch mà đến triều kiến'. Thành Vương (成王) đem chim ấy dâng cho Chu Công (周公). Chu Công (周公) nói: 'Đức mà không ban đến thì quân tử không hưởng vật báu, chính sự không thi thố đến thì quân tử không coi người ta là thần dân. Ta dựa vào đâu mà nhận lễ vật này?'. Sứ giả thưa rằng: 'Chúng tôi nhận mệnh từ bậc lão trượng (hoàng cự - 黃耇) trong nước nói rằng: Đã lâu rồi trời không có gió dữ mưa lôi, ý chừng Trung Quốc (中國) có thánh nhân chăng? Nếu có thì sao không đi triều cống?'". Chu Công (周公) bèn dâng lên vua, xưng tụng linh thần của các vị tiên vương, đem hiến vào tông miếu. Khi đức nhà Chu (周) suy thì việc triều cống ấy dần chấm dứt. '''Năm Chu Thành Vương (周成王) thứ 10 (năm 1033 TCN), họ Việt Thường (越裳氏) đến triều cống.''' Xét theo ''Trúc thư kỷ niên (竹書紀年)'' đã dẫn. === Tần === '''Năm Tần Thủy Hoàng (秦始皇) thứ 33 (năm 214 TCN), phát động những người trốn tránh, rể ở rể (chuyết tế) và lái buôn đi đánh chiếm vùng đất Lục Lương (陸梁地), lập thành các quận Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡), Nam Hải (南海) để đày những người bị trị đi trấn giữ.''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Thủy Hoàng bản kỷ (始皇本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Về Quế Lâm (桂林), Vi Chiêu (韋昭) nói: "Nay là Uất Lâm (鬱林) vậy". Về Tượng Quận (象郡), Vi Chiêu (韋昭) nói: "Nay là Nhật Nam (日南)". ''Chính nghĩa (正義)'' nói: "Tức là huyện Nam Hải (南海縣) thuộc Quảng Châu (廣州)". === Hán === '''Năm Hán Cao Tổ (漢高祖) thứ 5 (năm 202 TCN), lấy 3 quận Lĩnh Nam (嶺南) cùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) phong cho Ngô Nhuế (吳芮).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀)'': "Năm thứ 5 (năm 202 TCN), tháng 2 ngày Giáp Ngọ, chiếu viết rằng: Cố Hành Sơn Vương Ngô Nhuế (吳芮) cùng 2 người con và 1 người cháu gọi bằng bác, đã đem quân Bách Việt (百粵) giúp chư hầu diệt nhà Tần (秦) tàn bạo, có công lớn, được chư hầu lập làm vương. Vùng đất bị Hạng Vũ (項羽) xâm chiếm gọi là Phiên Quân (番君). Nay lấy các vùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章), Tượng Quận (象郡), Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海) lập Phiên Quân Ngô Nhuế (吳芮) làm Trường Sa Vương (長沙王)." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': Giao Châu (交州) theo kinh ''Vũ Cống (禹貢)'' thuộc cương vực Dương Châu (揚州), ấy là đất Nam Việt (南越). Sau khi Tần Thủy Hoàng (秦始皇) đánh định vùng Dương Việt (揚越), đã sai 500.000 quân bị đày đi trấn giữ Ngũ Lĩnh (五嶺). Đi từ Bắc vào Nam, con đường qua vùng Bát Việt tất phải qua các dãy núi (lĩnh kiệu). Bấy giờ có 5 nơi, nên gọi là Ngũ Lĩnh. Sau sai Nhâm Hiêu (任囂), Triệu Đà (趙佗) đánh Việt, chiếm đất Lục Lương (陸梁地), rồi định vùng Nam Việt, chia làm 3 quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象), không nằm trong hạn định 36 quận (của nhà Tần), bèn đặt chức Nam Hải úy để cai quản, gọi là "Đông Nam nhất úy". Đầu thời Hán, lấy 3 quận Lĩnh Nam cùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) phong Ngô Nhuế (吳芮) làm Trường Sa Vương (長沙王). '''Năm Cao Tổ (高祖) thứ 11 (năm 196 TCN), cắt 3 quận để phong cho Nam Việt Vương (南越王).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀)'': "Năm thứ 11 (năm 196 TCN), tháng 5, chiếu rằng: Tục người Việt (粵) hay đánh giết lẫn nhau. Trước kia nhà Tần di chuyển dân các huyện miền trung đến 3 quận phương Nam, cho ở lẫn với người Bách Việt (百越). Gặp lúc thiên hạ diệt Tần, Nam Hải úy Triệu Đà (趙佗) ở phương Nam làm trưởng, cai trị rất có văn lý, dân các huyện miền trung nhờ đó không bị hao hụt, tục đánh giết nhau của người Việt cũng giảm bớt, thảy đều nhờ lực của ông ta. Nay lập Triệu Đà làm Nam Việt Vương (南粵王), sai Lục Giả (陸賈) đến trao ấn thụ, Triệu Đà dập đầu xưng thần." * ''〈Chú thích〉'' Như Thuần (如淳) nói: Tần Thủy Hoàng chiếm đất Lục Lương, lập làm các quận Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡), Nam Hải (南海), nên gọi là "3 quận". Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm thứ 11 (năm 196 TCN), lấy Nam Vũ Hầu Chức (織) làm Nam Hải Vương (南海王). Lục Giả (陸賈) đi sứ về, phong Triệu Đà (趙佗) làm Nam Việt Vương (南越王), cắt 3 quận phía Nam của Trường Sa để phong cho." '''Năm Vũ Đế (武帝) Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 TCN), bắt đầu đặt 9 quận như Giao Chỉ (交趾), giao cho Thứ sử thống lĩnh.''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Vũ Đế bản kỷ (武帝本紀)'': "Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), bình định đất Việt, lập thành các quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Châu Nhai (珠厓), Đạm Nhĩ (儋耳)." Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Tần đặt, khi nhà Tần mất, Úy Đà (尉佗) làm vương đất này. Vũ Đế (武帝) mở mang năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), thuộc Giao Châu (交州). Có 19.613 hộ, 94.253 khẩu. Có 6 huyện: Phiên Ngung (番禺 - nơi Úy Đà đóng đô, có quan quản muối), Bác La (博羅), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Xưa là quận Quế Lâm (桂林) của nhà Tần, thuộc quyền Úy Đà, năm Nguyên Đỉnh thứ 6 đổi tên. Có 12.415 hộ, 71.162 khẩu. Có 12 huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中留), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方), Ung Kê (雍雞). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 24.379 hộ, 146.160 khẩu. Có 10 huyện: Quảng Tín (廣信), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端溪), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phố (荔浦), Mãnh Lăng (猛陵). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6, thuộc Giao Châu (交州). Có 92.440 hộ, 746.237 khẩu. Có 10 huyện: Luy Lâu (贏𡝭 - trị sở, có quan quản đồ dâng cúng), An Định (安定), Cẩu Lậu (荀屚), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲昜), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西干), Long Biên (龍編), Chu Diên (朱䳒). * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 15.398 hộ, 78.880 khẩu. Có 5 huyện: Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Hợp Phố (合浦), Lâm Duẫn (臨允), Chu Lư (朱盧). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 35.743 hộ, 166.013 khẩu. Có 7 huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Đô Lung (都龐), Dư Phát (餘發), Hàm Hoan (咸驩), Vô Công (無功), Vô Biên (無編). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Xưa là Tượng Quận (象郡) nhà Tần, mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6 thì đổi tên. Thuộc Giao Châu (交州). Sư Cổ (師古) nói: Vì đất này ở phía Nam của mặt trời (Nhật Nam), nên mới gọi là mở cửa hướng Bắc để trông về mặt trời. Có 15.460 hộ, 69.485 khẩu. Có 5 huyện: Chu Ngô (朱吾), Tỷ Cảnh (比景 - bóng mặt trời ở dưới chân), Lô Dung (盧容), Tây Quyển (西捲), Tượng Lâm (象林). Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': Phía Nam Giao Chỉ (交趾) có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính năm thứ 6 (năm 1037 TCN), họ qua nhiều lần dịch mà đến triều cống. Khi đức nhà Chu suy thì dần chấm dứt. Đến khi Sở Tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Nhà Tần thôn tính thiên hạ, uy phục Man Di, bắt đầu mở mang vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡). Nhà Hán dấy lên, Úy Đà (尉佗) tự lập làm Nam Việt Vương (南越王), truyện quốc được 5 đời, đến năm Vũ Đế (武帝) Nguyên Đỉnh thứ 5 (năm 112 TCN) thì bị diệt, chia đặt thành 9 quận, do Giao Chỉ Thứ sử (交趾刺史) thống lĩnh. Hai quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) nằm trên đảo ngoài biển. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), các thủ lĩnh ở đó quý cái tai dài, đều xuyên tai mà đeo vật nặng cho xệ xuống vai 3 tấc. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': Nước An Nam (安南國) chính là Giao Chỉ (交趾) xưa. Người Di phương Nam ngón chân cái tách rộng ra, khi đứng hai chân song song thì ngón chân giao vào nhau nên gọi tên như thế. Nhà Hán Vũ Đế mở quận đày quân lính ra trấn giữ, thân thể của người vùng ấy không khác gì người Hoa Hạ (華). Lại nói Việt Thường (越裳) chính là Cửu Chân (九真) vậy. Nhà Tần cho Giao Chỉ lệ thuộc Tượng Quận (象郡). Đầu thời Hán thuộc Nam Việt. Vũ Đế bình định xong, đặt 3 quận Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), kiêm đặt Giao Chỉ Thứ sử trị sở tại Luy Lâu (贏𡝭). '''Năm Chiêu Đế (昭帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 5 (năm 82 TCN), tháng 6, bãi bỏ quận Đạm Nhĩ (儋耳郡).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Chiêu Đế bản kỷ (昭帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Chiêu Đế (昭帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 5 (năm 82 TCN), bãi bỏ quận Đạm Nhĩ (儋耳) nhập vào quận Châu Nhai (珠崖)." '''Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN), bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖郡).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Nguyên Đế bản kỷ (元帝 bản kỷ)'': "Năm thứ 3 (năm 46 TCN) mùa xuân, huyện Sơn Nam (山南縣) thuộc quận Châu Nhai (珠崖郡) làm phản, vua bàn mưu rộng rãi với quần thần. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) cho rằng nên từ bỏ Châu Nhai (珠崖) để cứu dân khỏi cảnh đói kém, bèn bãi bỏ Châu Nhai." Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Cuối thời Vũ Đế (武帝), Thái thú quận Châu Nhai (珠崖) là Tôn Hạnh (孫幸) người quận Hội Kê (會稽) điều động nộp vải khổ rộng để dâng nộp, người Man không chịu nổi sưu dịch, bèn đánh quận, giết chết Tôn Hạnh (孫幸). Con của Hạnh là Tôn Báo (孫豹) tập hợp những người lương thiện quay lại đánh phá được quân phản loạn, tự mình lĩnh việc quận, tiễu phạt dư đảng, liên tiếp nhiều năm mới bình định được. Tôn Báo (孫豹) sai sứ dâng trả ấn thụ, viết sớ trình bày sự việc. Vua ban chiếu lấy ngay Tôn Báo (孫豹) làm Thái thú Châu Nhai (珠崖), uy chính được thi hành rộng khắp, hằng năm đều đến cống hiến. Trung Quốc (中國) ham thích trân bảo của nơi đó, dần dần xâm phạm khinh rẻ, nên cứ cách vài năm lại có 1 lần phản loạn. Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN) cuối cùng đã bãi bỏ quận này. Tổng cộng từ khi lập quận được 65 năm." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN), lại bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖郡)." '''Năm Bình Đế (平帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 1 (năm 1), mùa xuân tháng Giêng, họ Việt Thường (越裳氏) qua nhiều lần dịch mà hiến 1 con chim trĩ trắng, 2 con chim trĩ đen.''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Bình Đế bản kỷ (平帝 bản kỷ)'' đã dẫn. ===Hậu Hán=== '''Năm Hậu Hán Thế Tổ (後漢世祖) Kiến Vũ (建武) thứ 5 (năm 29), mùa đông tháng 12, Giao Chỉ mục Đặng Nhượng (鄧讓) dẫn Thái thú 7 quận sai sứ dâng cống phẩm.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Quận Giao Chỉ (交趾郡), nay là huyện thuộc Giao Châu (交州). Phía Nam giáp biển lớn. ''Dư địa chí (輿地志)'' chép: "Người Di ở đó ngón chân cái tách rộng, hai chân đứng song song thì ngón chân giao nhau". Chữ Chỉ (阯) và Chỉ (趾) giống nhau, là chữ cổ thông dụng. Ứng Thiệu (應劭) trong ''Hán quan nghi (漢官儀)'' nói: "Bắt đầu mở mang phương Bắc, rồi giao với phương Nam, làm cơ chỉ (nền móng) cho con cháu". 7 quận gồm: Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đều thuộc Giao Châu (交州). Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'', kinh ''Lễ ký (禮記)'' gọi phương Nam là Man (蠻), tục vẽ mình, xăm trán (điêu đề) và chân giao nhau (giao chỉ). Tục lệ ở đó nam nữ tắm cùng một dòng sông, nên gọi là Giao Chỉ (交趾). Phía Tây có nước Ăn Thịt Người (Đạm Nhân quốc - 噉人國), sinh con đầu lòng thảy đều đem xẻ thịt mà ăn, gọi là "nghĩa đệ" (để tốt cho các em sau). Nếu thấy vị ngon thì đem dâng cho vua, vua mừng mà thưởng cho người cha. Lấy được vợ đẹp thì nhường cho anh, ấy là người Ô Hú (烏滸) ngày nay vậy. * ''〈Chú thích〉'' Vạn Chấn (萬震) trong ''Nam Châu dị vật chí (南州異物志)'' nói: "Ô Hú (烏滸) là tên đất, ở phía Nam Quảng Châu (廣州), phía Bắc Giao Châu (交州). Chúng thường ra giữa đường rình rập khách lữ hành rồi tấn công, cốt để lấy thịt người mà ăn, không tham tài vật, lấy thịt làm món nhắm. Lại lấy đầu lâu đập vỡ để làm chén uống rượu. Coi bàn tay, bàn chân người là vật quý lạ để dâng cho bậc lão trưởng ăn." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ [khuyết], đặt lại các quận Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Quang Vũ (光武) trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ (交趾), Nhậm Diên (任延) trấn thủ Cửu Chân (九真), bấy giờ mới dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày, bắt đầu đặt ra việc môi giới cưới hỏi, dân mới biết việc hôn nhân, lập ra trường học, dẫn dụ bằng lễ nghĩa." Xét theo ''Quận quốc chí (郡國志)'': "Bộ Giao Châu Thứ sử (交州刺史部) có 7 quận, 56 huyện." * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 7.100 dặm về phía Nam. Có 7 thành, 71.477 hộ, 250.282 khẩu. Các huyện: Phiên Ngung (番禺), Bác La (博羅 - có núi La Phù), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽), Tăng Thành (增城). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 6.410 dặm về phía Nam. Có 11 thành, 111.395 hộ, 466.975 khẩu. Các huyện: Quảng Tín (廣信 - nơi Thứ sử trị sự, cách Lạc Dương 9.000 dặm), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端溪), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phố (荔浦), Mãnh Lăng (猛陵), Chương Bình (鄣平 - đặt năm Vĩnh Bình thứ 14 tức năm 71), Vĩnh Bình (永平). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Xưa là quận Quế Lâm (桂林) nhà Tần, Vũ Đế đổi tên. Cách Lạc Dương (雒陽) 6.500 dặm. Có 11 thành. Các huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中溜), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方). * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 9.191 dặm. Có 5 thành, 23.121 hộ, 86.617 khẩu. Các huyện: Hợp Phố (合浦), Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Lâm Nguyên (臨元), Chu Nhai (朱厓). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt, tức là vương quốc của An Dương Vương (安陽王). Cách Lạc Dương (雒陽) 11.000 dặm. Có 12 thành. ** Các huyện: Long Biên (龍編), Luy Lâu (贏𡝭), Định An (定安), Cẩu Lậu (苟漏), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲陽), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西于), Chu Diên (朱䳒). ** Phong Khê (封谿): Đặt năm Kiến An (建安) thứ 19 (năm 214). ''Giao Châu ký (交州記)'' chép: Có đê phòng Long Môn, nước sâu 100 tầm, cá lớn vượt môn này hóa thành rồng, con nào không qua được thì phơi mang chạm trán, máu chảy khiến nước sông luôn đỏ như ao son. Có sông Tần Tiềm (秦潛江), chia làm 99 dòng, chảy hơn 300 dặm rồi cùng hội tụ tại 1 cửa. ** Vọng Hải (望海): Đặt năm Kiến Vũ (建武) thứ 19 (năm 43). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 11.580 dặm. Có 5 thành, 46.513 hộ, 209.894 khẩu. Các huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Hàm Hoan (咸懽), Vô Công (無功), Vô Biên (無編). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Xưa là quận Tượng (象郡) nhà Tần, Vũ Đế đổi tên. Cách Lạc Dương (雒陽) 13.400 dặm. Có 5 thành, 18.263 hộ, 100.676 khẩu. Các huyện: Tây Quyển (西卷), Chu Ngô (朱吾) (Sách ''Giao Châu Ký'' viết: "Người dân nơi đây sống dọc bờ biển, không ăn cơm, chỉ sống bằng cá."), Lô Dung (盧容) (Sách ''Gia Châu Ký'' cũng viết: "Có một khu khai thác vàng."), Tượng Lâm (象林) (nay là nước Lâm Ấp), Bắc Cảnh (北景) (sách Bác vật ký 《博物記》 viết: "Người con gái man dã ở phía nam, đi cùng nhau không thấy chồng, hình dáng của họ trắng bệch, trần truồng, không có quần áo." (Chú thích: Việc thành lập quận không có năm tháng để khảo cứu, và sách chí 《志》 đôi khi chỉ ghi ở một hoặc hai huyện, không tiện phân tích, nên bị thiếu).). '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 12 (năm 36), Man Di ngoài cõi quận Cửu Chân (九真) là Trương Du (張遊) dẫn bộ chủng nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': Trương Du (張遊) dẫn người vào quy thuận, được phong làm Quy Hán Lý quân (歸漢里君). '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 13 (năm 37), tháng 9, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) hiến chim trĩ trắng, thỏ trắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 16 (năm 40), mùa xuân tháng 2, người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) làm phản, chiếm các thành ấp.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 16 (năm 40), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) cùng em gái là Trưng Nhị (徵貳) làm phản đánh phá các quận. Trưng Trắc (徵側) là con gái Lạc tướng (雒將) huyện Mê Linh (麊泠), gả làm vợ Thi Sách (詩索) người Chu Diên (朱䳒), tính rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định (蘇定) dùng luật pháp trói buộc (chèn ép), Trắc phẫn nộ nên làm phản. Thế là Man Di các quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Hợp Phố (合浦) đều hưởng ứng. Tổng cộng chiếm hơn 65 thành, tự lập làm vương. Thứ sử Giao Chỉ và các Thái thú chỉ giữ được mình. Quang Vũ (光武) bèn hạ chiếu cho các vùng Trường Sa (長沙), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾) chuẩn bị xe thuyền, sửa đường bắc cầu, thông khe rạch, trữ lương thực." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 18 (năm 42), mùa hạ tháng 4, sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) dẫn Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志) cùng đi đánh giặc Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) và đồng bọn.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 18 (năm 42), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志), điều động 10.000 quân từ các vùng Trường Sa (長沙), Quế Dương (桂陽), Linh Lăng (零陵), Thương Ngô (蒼梧) đi chinh phạt." Xét theo ''Mã Viện bản truyện (馬援本傳)'': "Giặc chiếm hơn 60 thành ngoài cõi Lĩnh Nam, Trắc tự lập làm vương. Vua bèn trao ấn dụ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, lấy Phù Lạc hầu Lưu Long (劉隆) làm phó, đốc suất bọn Đoạn Chí (段志) nam chinh Giao Chỉ. Quân đến Hợp Phố (合浦) thì Đoạn Chí (段志) đổ bệnh chết. Vua chiếu cho Mã Viện lĩnh cả đạo quân đó, bèn men theo biển mà tiến, phạt núi mở đường hơn 1.000 dặm. Năm thứ 18 mùa xuân, quân đến Lãng Bạc (浪泊), đánh nhau với giặc, phá tan, chém đầu mấy ngàn cấp, hơn 10.000 người đầu hàng. Mã Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê (禁谿), đánh bại nhiều lần, giặc bèn tan chạy." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 19 (năm 43), mùa hạ tháng 4, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc (徵側) và đồng bọn, nhân đó đánh phá giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽) và bắt hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 19 (năm 43), mùa hạ tháng 4, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc (徵側), Trưng Nhị (徵貳), số còn lại đều tan hàng. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽), phá được và bắt hàng, dời 300 hộ thủ lĩnh đến Linh Lăng (零陵), từ đó cõi Lĩnh Biểu thảy đều bình định." Xét theo ''Mã Viện bản truyện (馬援本傳)'': "Năm thứ 19 (năm 43), tháng Giêng, chém Trưng Trắc (徵側), Trưng Nhị (徵貳), gửi đầu về Lạc Dương (洛陽), phong Mã Viện làm Tân Tức hầu (新息侯), thực ấp 3.000 hộ. Mã Viện đem hơn 2.000 chiếc thuyền lớn nhỏ, hơn 20.000 chiến sĩ đánh giặc Cửu Chân. Dư đảng của Trưng Trắc là Đô Dương (都陽) chạy từ Vô Công (無功) đến Cư Phong (居風), bị chém và bắt hơn 5.000 người, cõi Kiệu Nam thảy đều bình định. Mã Viện tâu rằng: Huyện Tây Vu (西于) có 32.000 hộ, cương giới xa xôi cách trị sở hơn 1.000 dặm, xin chia làm 2 huyện Phong Khê (封溪) và Vọng Hải (望海). Vua chấp thuận. Mã Viện đi qua nơi nào đều vì quận huyện đó mà sửa sang thành quách, đào kênh tưới tiêu để làm lợi cho dân. Ông điều trần hơn 10 việc về luật của người Việt sai khác với luật Hán, cùng người Việt làm sáng tỏ chế độ cũ để ước thúc họ. Từ đó về sau người Lạc Việt (駱越) đều phụng hành theo việc cũ của Mã tướng quân." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Mã Viện bình định bộ Giao, mới bắt đầu điều chỉnh lập thành quách, đặt xóm làng." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Năm Kiến Vũ (建武) thứ 16 (năm 40), người đàn bà Trưng Trắc (徵側) làm phản, Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong, lập cột đồng làm ranh giới." ((Theo Sử ký, cuộc nổi loạn diễn ra vào năm thứ mười sáu, việc dẹp loạn vào năm thứ mười tám, và cuộc thảo luận chung vào năm thứ mười chín.)) '''Năm Chương Đế (章帝) Nguyên Hòa (元和) thứ 1 (năm 84), mùa xuân tháng Giêng, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) hiến tê giác sống và chim trĩ trắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Chương Đế bản kỷ (章帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 1 (năm 84), Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) là bọn Cứu Bất Sự (究不事), hào trưởng trong ấp đã hiến tê giác sống và chim trĩ trắng." '''Năm Hòa Đế (和帝) Vĩnh Nguyên (永元) thứ 12 (năm 100), mùa hạ tháng 4, Man Di ở Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) làm phản, quân quận đánh dẹp bình định xong.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hòa Đế bản kỷ (和帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Nguyên (永元) thứ 12 (năm 100), mùa hạ tháng 4, hơn 2.000 người Man Di ở Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) cướp bóc trăm họ, đốt phá dinh thự triều đình. Quận huyện điều binh đánh trả, chém đầu thủ lĩnh của chúng, số còn lại đều hàng phục. Do đó mới đặt chức Tượng Lâm Tướng binh Trường sử (象林將兵長史) để phòng ngừa hậu họa." '''Năm Vĩnh Nguyên (永元) thứ 14 (năm 102), tháng 5 ngày Đinh Mùi, bắt đầu đặt chức quan Tượng Lâm Tướng binh Trường sử.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hòa Đế bản kỷ (和帝本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Hám Nhân (闞駰) trong ''Thập tam châu chí (十三州志)'' nói: "Tướng binh Trường sử đóng tại quận Nhật Nam (日南郡), lại có chức Tướng binh Tư mã (將兵司馬), cách Lạc Dương (雒陽) 9.630 dặm." '''Năm An Đế (安帝) Vĩnh Sơ (永初) thứ 1 (năm 107), tháng 5, Man Di vùng Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân (九真) đem đất đai nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 1 (năm 107), Man Di vùng Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân (九真) đem đất đai nội thuộc, mở rộng biên cảnh thêm 1.840 dặm." '''Năm Nguyên Sơ (元初) thứ 3 (năm 116), mùa xuân tháng Giêng, Man Di các vùng Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦) làm phản. Tháng 2, sai Thị ngự sử Nhậm Đạc (任逴) đốc suất quân châu quận đi đánh dẹp. Tháng 3, xá miễn cho lại dân các vùng Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Nam Hải (南海) bị giặc ép bức. Mùa đông tháng 11, Man Di các vùng Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố đầu hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Nguyên Sơ (元初) thứ 2 (năm 115), Man Di vùng Thương Ngô (蒼梧) làm phản. Năm sau (năm 116), chúng lôi kéo dụ dỗ hơn mấy ngàn người gồm cả người Man và người Hán ở Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦) đánh phá quận Thương Ngô (蒼梧郡). Đặng thái hậu (鄧太后) sai Thị ngự sử Nhậm Đạc (任逴) vâng chiếu xá tội cho chúng, giặc thảy đều hàng phục và tan đi." '''Năm Diên Quang (延光) thứ 1 (năm 122), mùa thu tháng 8 ngày Tân Mão, Cửu Chân (九真) tâu có rồng vàng (hoàng long) hiện ở huyện Vô Công (無功). Mùa đông tháng 12, Man Di ngoài cõi Cửu Chân (九真) cống hiến nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Diên Quang (延光) thứ 1 (năm 122), Man Di ngoài cõi Cửu Chân (九真) cống hiến nội thuộc." '''Năm Diên Quang (延光) thứ 2 (năm 123), mùa hạ tháng 6, Cửu Chân (九真) tâu có lúa chiêm tốt (gia hòa) sinh ra.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Diên Quang (延光) thứ 3 (năm 124), mùa hạ tháng 5, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) nội thuộc. Mùa thu tháng 7, hào soái Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) đến cửa khuyết dâng cống phẩm.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) lại đến nội thuộc." '''Năm Thuận Đế (順帝) Vĩnh Kiến (永建) thứ 6 (năm 131), mùa đông tháng 12, các nước Diệp Điều (葉調國) và Thiện Quốc (撣國) ngoài cõi Nhật Nam (日南) sai sứ đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Kiến (永建) thứ 6 (năm 131), vua nước Diệp Điều (葉調王) là Tiện (便) ngoài cõi Nhật Nam (日南) sai sứ đến cống hiến. Vua ban cho Điều Tiện (調便) ấn vàng và dải thao tím (kim ấn tử thụ)." Xét theo ''Đông Quan ký (東觀記)'': "Vua nước Diệp Điều (葉調國) sai sứ là Sư Hội (師會) đến cửa khuyết cống hiến, lấy Sư Hội (師會) làm Hán Quy Nghĩa Diệp Điều ấp quân (漢歸義葉調邑君), ban cho dải thao tím. Cùng lúc đó, vua nước Thiện (撣國) là Ung Điền (雍田) cũng được ban ấn vàng dải thao tím." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 1 (năm 136), mùa đông tháng 12, Man Di ở Tượng Lâm (象林) làm phản.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 2 (năm 137), mùa hạ tháng 5, Man Di Nhật Nam (日南) làm phản, đánh phá phủ quận. Mùa thu tháng 9, quân 2 quận Giao Chỉ (交趾) làm phản.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 2 (năm 137), hơn mấy ngàn người Man Di ngoài cõi Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) là bọn Khu Liên (區憐) tấn công huyện Tượng Lâm (象林), đốt thành quách dinh thự, giết trưởng lại. Thứ sử Giao Chỉ là Phan Diễn (樊演) điều động hơn 10.000 quân từ 2 quận Giao Chỉ (交趾) và Cửu Chân (九真) đi cứu viện. Binh sĩ sợ đi đánh xa, bèn phản lại mà đánh vào phủ. 2 quận tuy đánh tan được bọn phản binh, nhưng thế giặc (Khu Liên) chuyển sang cường thịnh. Gặp lúc Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) đang đi sứ tại Nhật Nam, bèn cùng châu quận hợp lực đánh dẹp, nhưng không có lợi, bị giặc vây hãm. Hơn 1 năm trời quân lương không tiếp tế được, nhà vua lấy làm lo lắng." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 138), mùa hạ tháng 6, Thái thú Cửu Chân là Chúc Lương (祝良), Thứ sử Giao Chỉ là Trương Kiều (張喬) vỗ về dụ dỗ khiến giặc Nhật Nam hàng phục.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': Giả Xương (賈昌) bị giặc vây, hơn 1 năm quân lương cạn kiệt. Năm thứ 3 (năm 138), vua triệu tập công khanh trăm quan cùng thuộc hạ 4 phủ để hỏi phương lược. Mọi người đều bàn nên sai đại tướng điều động 40.000 quân từ các châu Kinh (荊), Dương (揚), Diễn (兗), Dự (豫) tới. Đại tướng quân Trung lang tướng Lý Cố (李固) bác lại rằng: "Nếu Kinh, Dương vô sự thì điều động cũng được. Nay giặc cướp ở 2 châu này kết bè phái không tan, Man Di ở Vũ Lăng (武陵), Nam Quận (南郡) chưa yên, Trường Sa (長沙), Quế Dương (桂陽) mấy lần bị trưng binh. Nếu lại gây xáo động, tất sinh họa khác, ấy là cái không thể thứ 1. Lại nữa, người vùng Diễn, Dự bất chợt bị bắt đi xa vạn dặm không hẹn ngày về, chiếu thư hối thúc, tất sẽ dẫn tới bỏ trốn và làm phản, ấy là cái không thể thứ 2. Đất phương Nam nước độc khí nóng, lại có chướng khí, người chết tất đến 4 hoặc 5 phần trong 10 phần, ấy là cái không thể thứ 3. Đi xa vạn dặm, sĩ tốt mệt mỏi, tới được Lĩnh Nam thì không còn sức mà đánh, ấy là cái không thể thứ 4. Quân đi 30 dặm là một trình, mà cách Nhật Nam (日南) hơn 9.000 dặm, phải 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tiêu tốn 600.000 hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại và lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi đã tốn kém như thế, ấy là cái không thể thứ 5. Giả sử quân tới nơi, người chết tất nhiều, đã không đủ chống địch lại phải điều động thêm, ấy là cắt lòng dạ để bù tay chân, ấy là cái không thể thứ 6. Cửu Chân (九真) và Nhật Nam (日南) cách nhau 1.000 dặm, điều động lại dân nơi đó họ còn không chịu nổi, huống chi làm khổ binh sĩ 4 châu đi vạn dặm vào nơi gian khó? Ấy là cái không thể thứ 7." Lý Cố nói tiếp: "Trước đây Trung lang tướng Doãn Tựu (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu (益州), dân gian có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tựu bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều dựa vào tướng lại sở tại, chỉ trong mười ngày một tháng đã phá sạch quân khấu tặc. Đó là minh chứng cho việc cử tướng (từ trung ương) không có ích, mà châu quận có thể tin dùng được. Nên chọn người dũng lược, nhân huệ có tài tướng soái làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều cho cùng ở Giao Chỉ (交趾). Nay Nhật Nam (日南) binh đơn lương cạn, thủ không xong mà chiến không nổi, nên dời cả lại dân vào phía Bắc nương tựa Giao Chỉ. Sau khi sự việc yên tĩnh mới cho về bản quán. Lại dùng vàng bạc gấm vóc chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh lẫn nhau. Ai có thể dùng kế ly gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa phong hầu ban đất. Cựu Thứ sử Tinh Châu (并州) là Chúc Lương (祝良) người Trường Sa tính cương quyết, dũng cảm; lại có Trương Kiều (張喬) người Nam Dương trước ở Ích Châu có công phá giặc, đều có thể dùng được. Xưa Thái Tông phong Ngụy Thượng làm Thái thú Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú Thái Sơn, nên phong cho Lương và Kiều rồi lên đường nhận chức ngay." Bốn phủ đều theo lời bàn ấy. Bèn phong Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân (九真), Trương Kiều (張喬) làm Thứ sử Giao Chỉ (交州). Trương Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, giặc thảy đều hàng phục tan đi. Chúc Lương đến Cửu Chân, một xe đi thẳng vào trong lòng giặc, dùng phương lược chiếu tỏ uy tín, người hàng phục đến mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng dinh phủ, từ đó cõi Lĩnh Ngoại lại được thái bình. '''Năm Kiến Khang (建康) thứ 1 (năm 144), mùa đông tháng 10, Man Di ở Nhật Nam (日南) đánh phá, thiêu rụi thành ấp; Thứ sử Giao Chỉ (交趾) là Hạ Phương (夏方) chiêu dụ khiến chúng hàng phục.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Xung Đế bản kỷ (沖帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Kiến Khang (建康) thứ 1 (năm 144), hơn 1.000 người Man Di ở Nhật Nam (日南) lại đánh phá, thiêu rụi huyện ấp, sau đó cổ động vùng Cửu Chân (九真) cùng liên kết với nhau. Thứ sử Giao Chỉ (交趾) người Cửu Giang (九江) là Hạ Phương (夏方) mở lòng khoan ân chiêu dụ, giặc thảy đều hàng phục. Bấy giờ Lương Thái hậu (梁太后) lâm triều, khen ngợi công lao của Hạ Phương (夏方), thăng làm Thái thú Quế Dương (桂陽)." '''Năm Hoàn Đế (桓帝) Vĩnh Thọ (永壽) thứ 3 (năm 157), mùa hạ tháng 4, Man Di ở Cửu Chân (九真) làm phản, Thái thú Nghê Thức (兒式) đánh dẹp nhưng tử trận; sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá được, sau đó quân giặc rút về cố thủ tại Nhật Nam (日南).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Thọ (永壽) thứ 3 (năm 157), huyện lệnh Cư Phong (居風) tham lam bạo ngược vô độ, người trong huyện là Chu Đạt (朱達) cùng với quân Man Di tụ tập đánh giết huyện lệnh. Đám đông lên đến 4.000 hoặc 5.000 người, tiến đánh Cửu Chân (九真), Thái thú Cửu Chân là Nghê Thức (兒式) tử trận. Vua ban chiếu tặng 600.000 tiền, phong 2 người con làm Lang quan, sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá được giặc, chém đầu 2.000 cấp. Thủ lĩnh giặc vẫn còn đóng quân cố thủ tại Nhật Nam (日南), thế lực chuyển sang cường thịnh." '''Năm Diên Hy (延熹) thứ 3 (năm 160), mùa đông tháng 11, giặc Man ở Nhật Nam (日南) dẫn quân đến quận đầu hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Diên Hy (延熹) thứ 3 (năm 160), hạ chiếu lại phong Hạ Phương (夏方) làm Thứ sử Giao Chỉ (交趾). Hạ Phương vốn có uy đức lừng lẫy, quân giặc cũ ở Nhật Nam (日南) nghe danh, hơn 20.000 người đã dắt díu nhau đến chỗ Phương đầu hàng." '''Năm Diên Hy (延熹) thứ 5 (năm 162), mùa hạ tháng 4, giặc ở Trường Sa (長沙) nổi lên, đánh chiếm Quế Dương (桂陽), Thương Ngô (蒼梧). Tháng 5, giặc ở Trường Sa (長沙), Linh Lăng (零陵) nổi lên, đánh phá các vùng Quế Dương (桂陽), Thương Ngô (蒼梧), Nam Hải (南海), Giao Chỉ (交趾). Sai Ngự sử Trung thừa Thịnh Tu (盛修) đốc suất quân châu quận đi đánh dẹp nhưng không thắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Linh Đế (靈帝) Kiến Ninh (建寧) thứ 3 (năm 170), mùa thu tháng 9, dân Ô Hú (烏滸) ở Uất Lâm (鬱林) dắt díu nhau nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 (năm 170), Thái thú Uất Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) dùng ân tín chiêu hàng được hơn 100.000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều được ban mũ đai (phong quan tước), mở mang và đặt ra 7 huyện." '''Năm Hy Bình (熹平) thứ 2 (năm 173), mùa đông tháng 12, nước ngoài cõi Nhật Nam (日南) qua nhiều lần dịch mà đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 1 (năm 178), mùa xuân tháng Giêng, Man Ô Hú (烏滸) ở Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾) làm phản, chiêu dụ dân Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) đánh chiếm các quận huyện.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 4 (năm 181), mùa hạ tháng 4, Thứ sử Giao Chỉ là Chu Tuấn (朱㒞) đánh dẹp Man Ô Hú (烏滸) ở Giao Chỉ (交趾), Hợp Phố (合浦), phá tan được chúng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 6 (năm 183), mùa xuân tháng Giêng, nước ngoài cõi Nhật Nam (日南) qua nhiều lần dịch mà đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Trung Bình (中平) thứ 1 (năm 184), tháng 6, binh lính đóng đồn ở Giao Chỉ (交趾) bắt giữ Thứ sử và Thái thú Hợp Phố là Lai Đạt (來達), tự xưng là Trụ Thiên tướng quân (柱天將軍). Sai Thứ sử Giao Chỉ là Giả Tùng (賈琮) đánh dẹp bình định xong.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hiến Đế (獻帝) Kiến An (建安) thứ 8 (năm 203), Trương Tân (張津) làm Thứ sử, Sĩ Nhiếp (士燮) làm Thái thú Giao Chỉ (交趾), cùng dâng biểu xin lập làm Châu, bèn phong Trương Tân (張津) làm Giao Châu mục (交州牧).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hiến Đế bản kỷ (獻帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Kiến An (建安) thứ 15 (năm 210), Giao Châu (交州) dời trị sở đến Phiên Ngung (番禺). Ban chiếu cho châu biên thùy được sử dụng cờ tiết (sứ trì tiết) và quận được ban nhạc khí (cổ xúy) để tăng uy trọng cho trấn thành; gia phong lễ Cửu tích và điệu múa Lục dật.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hiến Đế bản kỷ (獻帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Hậu Chủ (後主) thứ [khuyết] (nhà Thục Hán), lấy Lý Khôi (李恢) làm quan từ xa lãnh đạo Giao Châu.''' Xét theo ''Thục chí (蜀志) – Hậu Chủ truyện (後主傳)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Nhà Thục (蜀) lấy Lý Khôi (李恢) làm Thái thú Kiến Ninh (建寧), từ xa kiêm lĩnh chức Giao Châu thứ sử (交州刺史)." ===Tam quốc=== '''Năm Ngô Đại Đế (吳大帝) Hoàng Vũ (黃武) thứ 5 (năm 226), chia Giao Châu (交州) để đặt Quảng Châu (廣州), nhưng sau đó ít lâu lại khôi phục như cũ.''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Ngô Vương Quyền truyện (吳王權傳)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Ngô Hoàng Vũ (黃武) thứ 5 (năm 226), cắt 3 quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林) lập thành Quảng Châu (廣州); 4 quận Giao Chỉ (交趾), Nhật Nam (日南), Cửu Chân (九真), Hợp Phố (合浦) làm Giao Châu (交州). Đới Lương (戴良) làm Thứ sử, gặp lúc loạn không vào được, Lữ Đại (呂岱) đánh dẹp bình định xong, lại hợp nhất vào bộ Giao (交部)." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Khoảng năm Kiến An (建安 - nhà Hán), đổi làm Giao Châu (交州). Ngô Tôn Quyền (孫權) chia Giao Châu làm Quảng Châu (廣州), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編)." '''Năm Xích Ô (赤烏) thứ 5 (năm 242), đặt lại quận Châu Nhai (珠崖郡).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Ngô Vương Quyền truyện (吳王權傳)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Phế Đế (廢帝) Ngũ Phụng (五鳳) thứ 1 (năm 254), cỏ dại (bại thảo) ở Giao Chỉ (交趾) hóa thành lúa (đạo).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Lượng truyện (孫亮傳)'' không chép. Xét theo chú giải trong ''Giang Biểu truyện (江表傳)'' đã dẫn. '''Năm Cảnh Đế (景帝) Vĩnh An (永安) thứ 5 (năm 262), sai Sát Chiến (察戰) đến Giao Chỉ (交趾) điều động chim công (khổng tước) và lợn lớn (đại trư).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'' đã dẫn. '''[Năm Ngụy Thiếu Đế (魏少帝) Cảnh Nguyên (景元) thứ 4; Ngô chủ Vĩnh An (永安) thứ 6 (năm 263)]''' '''Nhà Ngụy (魏) lấy Hoắc Dực (霍弋) từ xa kiêm lĩnh Giao Châu (交州). Quận lại Giao Châu của nhà Ngô là Lữ Hưng (呂興) giết Thái thú Tôn Hủ (孫諝) hàng Ngụy. Nhà Ngụy lấy Hưng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu quân sự. Mệnh chưa đến nơi, Hưng đã bị kẻ dưới tay giết chết.''' Xét theo ''Ngụy chí (魏志) – Thiếu Đế bản kỷ (少帝本紀)'': "Năm Hàm Hy (咸熙) thứ 1 (năm 264), tháng 9, Tôn Hưu (孫休) sai sứ là Đặng Cú (鄧句) ra lệnh cho Thái thú Giao Chỉ xiềng xích đưa dân sở tại đi làm binh. Tướng nhà Ngô là Lữ Hưng (呂興) nhân lòng dân phẫn nộ, lại nghe quân vương (nhà Ngụy) đã bình định Ba Thục (巴蜀), bèn hợp hào kiệt giết bọn Đặng Cú, đuổi Thái thú và trường lại, vỗ về lại dân chờ mệnh lệnh quốc gia. Các quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) nghe tin Hưng bỏ nghịch theo thuận, cũng đồng tâm hưởng ứng. Hưng gửi thư đến các châu quận ở Nhật Nam giải bày đại kế, đem quân đến Hợp Phố (合浦) báo rõ họa phúc, sai Đô úy Đường Phổ (唐譜) đến huyện Tiến Thừa (進乘), thông qua Nam Trung Đô đốc Hộ quân Hoắc Dực (霍弋) dâng biểu tự trình bày. Các tướng lại Giao Chỉ cũng dâng biểu nói: 'Lữ Hưng sáng tạo sự nghiệp, lớn nhỏ đều nghe mệnh. Trong quận có sơn tặc cấu kết các quận, sợ chúng có ý đồ khác gây chia rẽ. Nay theo kế tạm thời, lấy Hưng làm Đốc Giao Chỉ chư quân sự, Thượng Đại tướng quân, Định An huyện hầu, xin ban khen thưởng để an ủi nơi biên hoang'. Lòng thành thể hiện qua lời lẽ. Nay uy quốc gia vang xa, phủ dụ lục hợp, thu phục phương xa, thống nhất bốn cõi. Lữ Hưng đứng đầu hướng về vương hóa, đem chúng quy phục, vạn dặm theo nghĩa, xin lại cai trị, nên gia ân sủng, trọng đãi tước vị. Khiến bọn Hưng cảm mến trung nghĩa, người phương xa nghe thấy tất đua nhau học theo. Bèn lấy Hưng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, Nam Trung Đại tướng quân, phong Định An huyện hầu, được tùy nghi làm việc. Mệnh chưa đến nơi, Hưng đã bị kẻ dưới giết chết." Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'': "Năm Vĩnh An (永安) thứ 6 (năm 263), quận lại Giao Chỉ là Lữ Hưng (呂興) làm phản, giết Thái thú Tôn Hủ (孫諝)." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Nhà Tấn bình Thục, lấy Thái thú Kiến Ninh (建寧) nhà Thục là Hoắc Dực (霍弋) từ xa kiêm lĩnh Giao Châu (交州), được tùy nghi tuyển dùng trường lại." '''Năm Vĩnh An (永安) thứ 7 (năm 264), mùa thu tháng 7, lại chia Giao Châu để đặt Quảng Châu (廣州).''' Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'' đã dẫn. '''Năm Mạt Đế (末帝) Bảo Đỉnh (寶鼎) thứ 2 (năm 267), tháng 9, sai Thứ sử Giao Châu Lưu Tuấn (劉俊), Tiền bộ đốc Tu Tắc (修則) vào đánh Giao Chỉ (交趾), bị tướng nhà Tấn là Mao Cảnh (毛炅) đánh bại, đều tử trận, binh lính tan chạy về Hợp Phố (合浦).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Hành (建衡) thứ 1 (năm 269), tháng 11, sai Giám quân Ngu Tự (虞汜), Uy Nam tướng quân Tiết Hủ (薛珝), Thái thú Thương Ngô Đào Hoàng (陶璜) từ Kinh Châu (荊州); Giám quân Lý Húc (李勗), Đốc quân Từ Tồn (徐存) đi đường biển từ Kiến An (建安), thảy đều đến Hợp Phố (合浦) đánh Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Hành (建衡) thứ 3 (năm 271), Ngu Tự (虞汜) và Đào Hoàng (陶璜) phá Giao Chỉ, bắt giết các thủ tướng do nhà Tấn đặt ra. Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) thảy đều quay về thuộc Ngô. Chia Giao Chỉ để đặt quận Tân Xương (新昌郡). Các tướng phá vùng Phù Nghiêm (扶嚴), đặt quận Vũ Bình (武平郡).''' Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Tôn Hạo (孫皓) lại lập 3 quận Tân Xương (新昌), Vũ Bình (武平), Cửu Đức (九德)." '''Năm Phượng Hoàng (鳳皇) thứ 3 (năm 274), chia quận Uất Lâm (鬱林) đặt làm quận Quế Lâm (桂林郡).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Kỷ (天紀) thứ 3 (năm 279), Quách Mã (郭馬) làm phản, tự xưng là An Nam tướng quân, Đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự.''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'': "Năm thứ 3 (năm 279) mùa hạ, Quách Mã (郭馬) phản. Mã vốn là bộ khúc của Thái thú Hợp Phố là Tu Uẩn (修允), Uẩn chuyển làm Thái thú Quế Lâm (桂林), bị bệnh ở lại Quảng Châu (廣州). Trước sai Mã dẫn 500 binh đến quận, khi Uẩn chết, binh lính đáng lẽ phải chia nhỏ ra, nhưng bọn Mã là quân cũ nhiều đời, không muốn ly tán. Tôn Hạo (孫皓) bấy giờ lại kiểm kê hộ khẩu Quảng Châu, Mã cùng các tướng bộ khúc là Hà Điển (何典), Vương Tộc (王族), Ngô Thuật (吳述), Ân Hưng (殷興) nhân đó kích động binh dân, tập hợp quân chúng, giết Đốc Quảng Châu là Ngu Thụ (虞授). Mã tự xưng Đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự, An Nam tướng quân; Ân Hưng làm Thứ sử Quảng Châu, Ngô Thuật làm Thái thú Nam Hải, Hà Điển đánh Thương Ngô, Vương Tộc đánh Thủy Hưng. Tháng 8, lấy Quân sư Trương Đễ (張悌) làm Thừa tướng, Đô đốc Ngưu Chữ là Hà Thực (何植) làm Tư đồ, Chấp kim ngô Đằng Tuân (滕循) làm Tư không. Chưa kịp bái chức thì Tuân chuyển làm Trấn Nam tướng quân, giả tiết, lĩnh Quảng Châu mục, soái 10.000 người theo đường Đông đánh bọn Mã và Tộc. Gặp nhau tại Thủy Hưng (始興), chưa tiến lên được thì Mã giết Thái thú Nam Hải Lưu Lược (劉略), đuổi Thứ sử Quảng Châu Từ Kỳ (徐旗). Tôn Hạo lại sai Từ Lăng (徐陵) đốc Đào Tuấn (陶濬) dẫn 7.000 người theo đường Tây, lệnh cho Giao Châu mục Đào Hoàng (陶璜) tập hợp bộ ngũ cùng quân các quận Hợp Phố (合浦), Uất Lâm (鬱林), đồng loạt phối hợp với quân Đông - Tây đánh Mã." * ''〈Chú thích〉'' ''Hán Tấn Xuân Thu (漢晉春秋)'' chép: Trước đó, ở nước Ngô có kẻ thuyết sấm ngôn rằng: "Ngô bại, binh khởi từ Nam Di, kẻ diệt Ngô là Công Tôn vậy". Tôn Hạo nghe thế, phàm các chức văn võ cho đến binh lính ai họ Công Tôn (公孫) đều đày đi Quảng Châu, không cho ở ven sông (Giang biên). Đến khi nghe Quách Mã (郭馬) phản, đại hãi mà nói: "Ấy là trời diệt vậy". ===Tấn=== '''Năm Võ Đế (武帝) Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268), mùa đông tháng 10, tướng nhà Ngô (吳) là Cố Dung (顧容) đánh phá quận Uất Lâm (鬱林), Thái thú Mao Cảnh (毛炅) đại phá được, chém Thứ sử Giao Châu nhà Ngô là Lưu Tuấn (劉俊) và Tướng quân Tu Tắc (修則).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 5 (năm 269), tháng 5, đại xá cho những người chịu hình phạt 5 năm (ngũ tuế hình) ở các vùng Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 7 (năm 271), mùa thu tháng 7, tướng nhà Ngô (吳) là Đào Hoàng (陶璜) cùng đồng bọn vây đánh Giao Chỉ (交趾), Thái thú Dương Tắc (楊稷) cùng Thái thú Uất Lâm là Mao Cảnh (毛炅) và 3 quận Nhật Nam (日南) thảy đều đầu hàng nước Ngô.''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Khang (泰康) thứ [khuyết] (nhà Tấn), bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖) nhập vào quận Hợp Phố (合浦). Đặt các quận thuộc Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': "Sau khi bình định nước Ngô, bãi bỏ Châu Nhai (珠崖) nhập vào Hợp Phố (合浦). '''Giao Châu (交州)''' thống lĩnh 7 quận, 53 huyện, 25.600 hộ." * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: Hợp Phố (合浦), Nam Bình (南平), Đãng Xương (蕩昌), Từ Văn (徐聞), Độc Chất (毒質), Châu Quan (珠官). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 14 huyện, 12.000 hộ. Các huyện: Long Biên (龍編), Cẩu Lậu (苟漏), Vọng Hải (望海), Luy Lâu (贏𡝭), Tây Vu (西于), Võ Ninh (武寧), Chu Diên (朱鳶), Khúc Dương (曲昜), Giao Hưng (交興), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), An Định (安定), Nam Định (南定), Hải Bình (海平). * '''Quận Tân Xương (新昌郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 3.000 hộ. Các huyện: Mê Linh (麋泠 - nơi xưa kia bà Trưng Trắc (徵側) làm chủ, Mã Viện (馬援) đã bình định), Gia Ninh (嘉寧), Ngô Định (吳定), Phong Sơn (封山), Lâm Tây (臨西), Tây Đạo (西道). * '''Quận Võ Bình (武平郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 5.000 hộ. Các huyện: Võ Ninh (武寧), Võ Hưng (武興), Tiến Sơn (進山), Căn Ninh (根寧), An Võ (安武), Phù An (扶安), Phong Khê (封溪). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 3.000 hộ. Các huyện: Tư Phố (胥浦), Di Phong (移風), Trạm Ngô (湛梧), Kiến Sơ (建初), Thường Lạc (常樂), Phù Lạc (扶樂), Tùng Nguyên (松原). * '''Quận Cửu Đức (九德郡)''': Nhà Ngô đặt. Là vùng đất của họ Việt Thường (越裳氏) thời Chu. Thống lĩnh 8 huyện, không rõ số hộ. Các huyện: Cửu Đức (九德), Hàm Hoan (咸驩), Nam Lăng (南陵), Dương Toại (陽遂), Phù Linh (扶苓), Khúc Tư (曲胥), Phố Dương (浦陽), Đô Kiểu (都洨). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Nhà Tần đặt là Tượng Quận (象郡), Hán Võ Đế đổi tên. Thống lĩnh 5 huyện, 600 hộ. ** Các huyện: Tượng Lâm (象林 - từ đây về phía Nam có 4 nước, người ở đó đều tự nhận là con cháu người Hán. Nay có cột đồng (đồng trụ) cũng do nhà Hán dựng làm biên giới. Tại đây nộp vàng để đóng thuế), Lô Dung (盧容 - nơi đặt trị sở Tượng Quận), Chu Ngô (朱吾), Tây Quyển (西卷), Bắc Cảnh (北景). '''Quảng Châu (廣州)''': Hán Võ Đế lấy đất này làm quận Giao Chỉ. Đến năm Thái Khang (泰康), sau khi bình Ngô, bèn lấy 3 bộ Thủy An (始安), Thủy Hưng (始興), Lâm Hạ (臨賀) của Kinh Châu (荊州) cho thuộc về đây. Tổng cộng thống lĩnh 10 quận, 68 huyện, 43.120 hộ. * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Tần đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 9.500 hộ. Các huyện: Phiên Ngung (番禺), Tứ Hội (四會), Tăng Thành (增城), Bác La (博羅), Long Xuyên (龍川), Bình Di (平夷). * '''Quận Lâm Hạ (臨賀郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 2.500 hộ. Các huyện: Lâm Hạ (臨賀), Tạ Mộc (謝沐), Phùng Thừa (馮乘), Phong Dương (封陽), Hưng An (興安), Phú Xuyên (富川). * '''Quận Thủy An (始安郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 6.000 hộ. Các huyện: Thủy An (始安), Thủy Dương (始陽), Bình Lạc (平樂), Lệ Phố (荔浦), Thường An (常安), Hy Bình (熙平), Vĩnh Phong (永豐). * '''Quận Thủy Hưng (始興郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 5.000 hộ. Các huyện: Khúc Giang (曲江), Quế Dương (桂陽), Thủy Hưng (始興), Hàm Khoáng (含洭), Trinh Dương (湞陽), Trung Túc (中宿), Dương Sơn (陽山). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 12 huyện, 7.700 hộ. Các huyện: Quảng Tín (廣信), Đoan Khê (端溪), Cao Yếu (高要), Kiến Lăng (建陵), Tân Ninh (新寧), Mãnh Lăng (猛陵), Chương Bình (鄣平), Nông Thành (農城), Nguyên Khê (元谿), Lâm Duẫn (臨允), Đô La (都羅), Võ Thành (武城). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Nhà Tần đặt là quận Quế (桂郡), Hán Võ Đế đổi tên. Thống lĩnh 9 huyện, 6.000 hộ. Các huyện: Bố Sơn (布山), Kha Lâm (柯林), Tân Ấp (新邑), Tấn Bình (晉平), Thủy Kiến (始建), Uất Bình (鬱平), Lĩnh Phương (領方), Võ Hy (武熙), An Quảng (安廣). * '''Quận Quế Lâm (桂林郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 8 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: Đàm Trung (潭中), Võ Phong (武豐), Túc Bình (粟平), Dương Bình (羊平), Long Cương (龍剛), Giáp Dương (夾陽), Võ Thành (武城), Quân Đằng (軍騰). * '''Quận Cao Lương (高涼郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 3 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: An Ninh (安寧), Cao Lương (高涼), Tư Bình (思平). * '''Quận Cao Hưng (高興郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 5 huyện, 1.220 hộ. Các huyện: Quảng Hóa (廣化), Hải An (海安), Hóa Bình (化平), Hoàng Dương (黃陽), Tây Bình (西平). * '''Quận Ninh Phố (寧浦郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 5 huyện, 1.320 hộ. Các huyện: Ninh Phố (寧浦), Liên Đạo (連道), Ngô An (吳安), Xương Bình (昌平), Bình Sơn (平山). ===Lưu Tống=== '''Năm Tống Văn Đế (宋文帝) Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431), mùa xuân tháng Giêng, đặt lại quận Châu Nhai (珠崖郡) tại Giao Châu (交州).''' '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 11 (năm 434), tháng 2, lấy Thái thú Giao Chỉ (交趾) là Lý Đam Chi (李耽之) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét các điều trên theo ''Tống thư (宋書) – Văn Đế bản kỷ (文帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nam Tề Cao Đế (南齊高帝) Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479), vẫn lấy Lý Thúc Hiến (李叔獻) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Cao Đế bản kỷ (高帝本紀)'': "Năm Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479), mùa thu tháng 7 ngày Đinh Mùi, chiếu rằng: Giao Chỉ (交趾), Bắc Cảnh (北景), riêng cách biệt với chính朔 (chính sóc - lịch pháp) triều đình. Ấy là bởi vận trước (nhà Lưu Tống) lúc cuối, kẻ dựa nơi biển không đến triều cống, vì mê muội mà lầm đường, muốn quy thuận mà không có lối. Nay đặc xá cho 1 người trong bộ Giao Châu (交州) là Lý Thúc Hiến (李叔獻), cho vỗ về đất phương Nam, các quan văn võ chọn người có tài mà bổ dụng, đồng thời sai Đại sứ đến tuyên dương ân đức triều đình. Lấy Thử thủ Vũ Bình Thái thú (武平太守), Hành Giao Châu phủ sự (行交州府事) là Lý Thúc Hiến (李叔獻) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史)." Xét theo ''Phù Nam truyện (扶難傳)'': Giao Châu (交州) nằm tách biệt nơi hải đảo, khống chế các nước ngoại quốc, vốn cậy nơi hiểm trở mà nhiều lần không phục tùng. Đầu năm Thái Thủy (泰始 - nhà Lưu Tống, năm 465), Thứ sử Trương Mục (張牧) chết, người Giao Chỉ (交趾) là Lý Trường Nhân (李長仁) giết bộ khúc từ phương Bắc tới của Mục, chiếm cứ Giao Châu (交州) làm phản được mấy năm thì bệnh chết. Em họ là Lý Thúc Hiến (李叔獻) nối nghiệp, nhưng hiệu lệnh chưa được thi hành, bèn sai sứ cầu chức Thứ sử. Triều đình nhà Tống (宋朝) lấy Thái thú Nam Hải (南海) là Thẩm Hoán (沈煥) làm Thứ sử Giao Châu, lấy Thúc Hiến làm Ninh Viễn tư mã cho Hoán kiêm Thái thú 2 quận Vũ Bình (武平), Tân Xương (新昌). Thúc Hiến nhận được mệnh triều đình, nhân tình phục tùng, bèn điều binh giữ nơi hiểm yếu, không cho Thẩm Hoán vào. Hoán phải dừng lại ở Uất Lâm (鬱林) rồi bệnh chết. Năm Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479) thời Thái Tổ (太祖 - tức Cao Đế), triều đình vẫn lấy Thúc Hiến làm Thứ sử Giao Châu để an ủi ông ta. '''Năm Võ Đế (武帝) Vĩnh Minh (永明) thứ 3 (năm 485), mùa xuân tháng Giêng ngày Bính Thìn, lấy Đại ty nông Lưu Khải (劉楷) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Phù Nam truyện (扶難傳)'': "Thúc Hiến nhận mệnh, nhưng sau đó ngăn cách các nước ngoại quốc, đồ cống hiến ít ỏi, Thế Tổ (世祖 - tức Võ Đế) muốn thảo phạt. Năm Vĩnh Minh (永 Minh) thứ 1 (năm 483), lấy Ty nông Lưu Khải (劉楷) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史), điều động binh lính các quận Nam Khang (南康), Lư Lăng (廬陵), Thủy Hưng (始興) đi chinh phạt Giao Châu. Thúc Hiến nghe tin, sai sứ nguyện xin hoãn lại thêm vài năm. Hiến dâng 12 đội mũ trụ bằng bạc nguyên chất (thuần ngân đâu mâu) và lông chim công (khổng tước mạo), nhưng Thế Tổ không hứa cho. Thúc Hiến sợ bị Lưu Khải tập kích, bèn theo đường tắt từ Tương Xuyên (湘川) về triều." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 6 (năm 488), tháng 6 ngày Bính Tử, lấy Thái thú Thủy Hưng (始興太守) là Phòng Pháp Thừa (房法乘) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Võ Đế bản kỷ (武帝 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Phù Nam quốc truyện (扶難國傳)'': Năm thứ 6 (năm 488), lấy Thái thú Thủy Hưng (始興太守) là Phòng Pháp Thừa (房法乘) thay Lưu Khải. Pháp Thừa đến trấn, mắc bệnh nên không quản lý việc gì, chỉ chuyên tâm đọc sách. Trường sử Phục Đăng Chi (伏登之) nhân đó chuyên quyền, thay đổi tướng lại mà không cho Pháp Thừa biết. Lục sự Phòng Kế Văn (房季文) thưa chuyện đó, Pháp Thừa đại nộ, nhốt Đăng Chi vào ngục. Hơn 10 ngày, Đăng Chi lo lót hậu hĩnh cho em rể Pháp Thừa là Thôi Cảnh Thúc (崔景叔) mới được ra, bèn dẫn bộ khúc đánh úp châu thành, bắt giữ Pháp Thừa và bảo: 'Sứ quân đã có bệnh, không nên lao nhọc', rồi nhốt vào thất riêng. Pháp Thừa không có việc gì làm, lại gặp Đăng Chi xin sách để đọc, Đăng Chi nói: 'Sứ quân cần tĩnh dưỡng, chỉ e đọc sách làm bệnh động thêm, sao có thể xem sách được?'. Cuối cùng không cho, rồi dâng sớ lên triều đình nói rằng Pháp Thừa bị bệnh tim tái phát, không đảm đương được công việc. Thế Tổ (世祖) bèn lấy Đăng Chi làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史), Pháp Thừa quay về đến cõi Lĩnh thì chết. Pháp Thừa người Thanh Hà (清河), năm Thăng Minh (昇明 - nhà Lưu Tống) làm Phiêu kỵ trung binh cho Thái Tổ (太祖), sau thăng đến Tả trung lang tướng. Tính tình cương trực giản dị, thân cao 8 xích 3 thốn (khoảng 2m), đi đứng cao hơn người thường nên thường tự cúi mình xuống. Thứ sử Thanh Châu (青州) là Minh Khánh Phù (明慶符) cũng cao ngang Pháp Thừa, triều đình khi ấy chỉ có 2 người này (có vóc dáng như vậy). ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka96gc0t9i?page_from=profile&version=1 安南部彙考一(交趾)] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 8exnq8ev432hr2m8ixvbrhu70stswkw 204593 204592 2026-04-08T08:36:43Z Mrfly911 2215 /* Lưu Tống */ 204593 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 90''' | trước= [[../quyển 089|quyển 89]] | sau= [[../quyển 091|quyển 91]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 1 〈Giao Chỉ (交趾)〉== ===Thượng Cổ=== '''Thời Chuyên Húc Cao Dương Thị (顓頊高陽氏), Giao Chỉ (交趾) bắt đầu thông với Trung Quốc (中國).''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Ngũ Đế bản kỷ (五帝本紀)'': "Chuyên Húc Cao Dương Thị (顓頊高陽氏) phía Bắc đến U Lăng (幽陵), phía Nam đến Giao Chỉ (交趾), phía Tây đến Lưu Sa (流沙), phía Đông đến Phan Mộc (蟠木). Các loài động tĩnh, các vị thần lớn nhỏ, nơi nào nhật nguyệt soi đến, không đâu là không bình định và thần phục." * ''〈Chú thích〉'' Vương Túc (王肅) nói: "Chỉ (砥) nghĩa là bằng phẳng. Bốn phương xa xôi đều bình định, mà đến quy phục." ===Đào Đường Thị (陶唐氏)=== '''Đế Nghiêu (帝堯), lệnh cho Hi Thúc (羲叔) đến ở tại Nam Giao (南交).''' Xét theo ''Thư kinh (書經) – Nghiêu điển (堯典)'' đã dẫn. Xét theo ''Sử ký chú (史記注)'': Khổng An Quốc (孔安國) nói: "Mùa hạ giao với mùa xuân, đây là chức quan cai trị phương Nam vậy." * ''Sách Ẩn (索隱)'' nói: Chú giải của họ Khổng chưa đúng. Nếu vậy thì mùa đông giao với mùa thu, cớ sao bên dưới không có văn tự ấy? Hơn nữa, phía Đông có Ngu Di (嵎夷), phía Tây có Muội Cốc (昧谷), phía Bắc có U Đô (幽都), ba phương đều nói về địa danh, mà riêng mùa hạ (phương Nam) lại không nói địa danh, mà lại bảo là 'giao với mùa xuân', thật là không tương đồng (lệ) lắm vậy. Tuy nhiên, đất phương Nam có nơi tên là Giao Chỉ (交趾), hoặc giả văn tự cổ lược bớt đi 1 chữ, gọi địa danh là Nam Giao (南交), thì đó chính là Giao Chỉ (交趾) không nghi ngờ gì nữa. ===Hữu Ngu Thị (有虞氏)=== '''Đế Thuấn (帝舜), vỗ về phía Nam đến Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Thuấn bản kỷ (舜本紀)'' đã dẫn. === Chu === '''Năm Chu Thành Vương (周成王) thứ 6 (năm 1037 TCN), họ Việt Thường (越裳氏) đến triều cống.''' Xét theo ''Thông giám tiền biên (通鑑前編)'' đã dẫn. Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Phía Nam Giao Chỉ (交趾) có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính được 6 năm, chế định lễ nhạc, thiên hạ thái bình. Người Việt Thường (越裳) dùng 3 con voi, qua nhiều lần thông dịch (trọng dịch) mà hiến chim trĩ trắng, nói rằng: 'Đường xá xa xôi, núi sông hiểm trở, ngôn ngữ không thông, nên phải qua nhiều lần dịch mà đến triều kiến'. Thành Vương (成王) đem chim ấy dâng cho Chu Công (周公). Chu Công (周公) nói: 'Đức mà không ban đến thì quân tử không hưởng vật báu, chính sự không thi thố đến thì quân tử không coi người ta là thần dân. Ta dựa vào đâu mà nhận lễ vật này?'. Sứ giả thưa rằng: 'Chúng tôi nhận mệnh từ bậc lão trượng (hoàng cự - 黃耇) trong nước nói rằng: Đã lâu rồi trời không có gió dữ mưa lôi, ý chừng Trung Quốc (中國) có thánh nhân chăng? Nếu có thì sao không đi triều cống?'". Chu Công (周公) bèn dâng lên vua, xưng tụng linh thần của các vị tiên vương, đem hiến vào tông miếu. Khi đức nhà Chu (周) suy thì việc triều cống ấy dần chấm dứt. '''Năm Chu Thành Vương (周成王) thứ 10 (năm 1033 TCN), họ Việt Thường (越裳氏) đến triều cống.''' Xét theo ''Trúc thư kỷ niên (竹書紀年)'' đã dẫn. === Tần === '''Năm Tần Thủy Hoàng (秦始皇) thứ 33 (năm 214 TCN), phát động những người trốn tránh, rể ở rể (chuyết tế) và lái buôn đi đánh chiếm vùng đất Lục Lương (陸梁地), lập thành các quận Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡), Nam Hải (南海) để đày những người bị trị đi trấn giữ.''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Thủy Hoàng bản kỷ (始皇本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Về Quế Lâm (桂林), Vi Chiêu (韋昭) nói: "Nay là Uất Lâm (鬱林) vậy". Về Tượng Quận (象郡), Vi Chiêu (韋昭) nói: "Nay là Nhật Nam (日南)". ''Chính nghĩa (正義)'' nói: "Tức là huyện Nam Hải (南海縣) thuộc Quảng Châu (廣州)". === Hán === '''Năm Hán Cao Tổ (漢高祖) thứ 5 (năm 202 TCN), lấy 3 quận Lĩnh Nam (嶺南) cùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) phong cho Ngô Nhuế (吳芮).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀)'': "Năm thứ 5 (năm 202 TCN), tháng 2 ngày Giáp Ngọ, chiếu viết rằng: Cố Hành Sơn Vương Ngô Nhuế (吳芮) cùng 2 người con và 1 người cháu gọi bằng bác, đã đem quân Bách Việt (百粵) giúp chư hầu diệt nhà Tần (秦) tàn bạo, có công lớn, được chư hầu lập làm vương. Vùng đất bị Hạng Vũ (項羽) xâm chiếm gọi là Phiên Quân (番君). Nay lấy các vùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章), Tượng Quận (象郡), Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海) lập Phiên Quân Ngô Nhuế (吳芮) làm Trường Sa Vương (長沙王)." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': Giao Châu (交州) theo kinh ''Vũ Cống (禹貢)'' thuộc cương vực Dương Châu (揚州), ấy là đất Nam Việt (南越). Sau khi Tần Thủy Hoàng (秦始皇) đánh định vùng Dương Việt (揚越), đã sai 500.000 quân bị đày đi trấn giữ Ngũ Lĩnh (五嶺). Đi từ Bắc vào Nam, con đường qua vùng Bát Việt tất phải qua các dãy núi (lĩnh kiệu). Bấy giờ có 5 nơi, nên gọi là Ngũ Lĩnh. Sau sai Nhâm Hiêu (任囂), Triệu Đà (趙佗) đánh Việt, chiếm đất Lục Lương (陸梁地), rồi định vùng Nam Việt, chia làm 3 quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象), không nằm trong hạn định 36 quận (của nhà Tần), bèn đặt chức Nam Hải úy để cai quản, gọi là "Đông Nam nhất úy". Đầu thời Hán, lấy 3 quận Lĩnh Nam cùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) phong Ngô Nhuế (吳芮) làm Trường Sa Vương (長沙王). '''Năm Cao Tổ (高祖) thứ 11 (năm 196 TCN), cắt 3 quận để phong cho Nam Việt Vương (南越王).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀)'': "Năm thứ 11 (năm 196 TCN), tháng 5, chiếu rằng: Tục người Việt (粵) hay đánh giết lẫn nhau. Trước kia nhà Tần di chuyển dân các huyện miền trung đến 3 quận phương Nam, cho ở lẫn với người Bách Việt (百越). Gặp lúc thiên hạ diệt Tần, Nam Hải úy Triệu Đà (趙佗) ở phương Nam làm trưởng, cai trị rất có văn lý, dân các huyện miền trung nhờ đó không bị hao hụt, tục đánh giết nhau của người Việt cũng giảm bớt, thảy đều nhờ lực của ông ta. Nay lập Triệu Đà làm Nam Việt Vương (南粵王), sai Lục Giả (陸賈) đến trao ấn thụ, Triệu Đà dập đầu xưng thần." * ''〈Chú thích〉'' Như Thuần (如淳) nói: Tần Thủy Hoàng chiếm đất Lục Lương, lập làm các quận Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡), Nam Hải (南海), nên gọi là "3 quận". Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm thứ 11 (năm 196 TCN), lấy Nam Vũ Hầu Chức (織) làm Nam Hải Vương (南海王). Lục Giả (陸賈) đi sứ về, phong Triệu Đà (趙佗) làm Nam Việt Vương (南越王), cắt 3 quận phía Nam của Trường Sa để phong cho." '''Năm Vũ Đế (武帝) Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 TCN), bắt đầu đặt 9 quận như Giao Chỉ (交趾), giao cho Thứ sử thống lĩnh.''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Vũ Đế bản kỷ (武帝本紀)'': "Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), bình định đất Việt, lập thành các quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Châu Nhai (珠厓), Đạm Nhĩ (儋耳)." Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Tần đặt, khi nhà Tần mất, Úy Đà (尉佗) làm vương đất này. Vũ Đế (武帝) mở mang năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), thuộc Giao Châu (交州). Có 19.613 hộ, 94.253 khẩu. Có 6 huyện: Phiên Ngung (番禺 - nơi Úy Đà đóng đô, có quan quản muối), Bác La (博羅), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Xưa là quận Quế Lâm (桂林) của nhà Tần, thuộc quyền Úy Đà, năm Nguyên Đỉnh thứ 6 đổi tên. Có 12.415 hộ, 71.162 khẩu. Có 12 huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中留), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方), Ung Kê (雍雞). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 24.379 hộ, 146.160 khẩu. Có 10 huyện: Quảng Tín (廣信), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端溪), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phố (荔浦), Mãnh Lăng (猛陵). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6, thuộc Giao Châu (交州). Có 92.440 hộ, 746.237 khẩu. Có 10 huyện: Luy Lâu (贏𡝭 - trị sở, có quan quản đồ dâng cúng), An Định (安定), Cẩu Lậu (荀屚), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲昜), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西干), Long Biên (龍編), Chu Diên (朱䳒). * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 15.398 hộ, 78.880 khẩu. Có 5 huyện: Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Hợp Phố (合浦), Lâm Duẫn (臨允), Chu Lư (朱盧). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 35.743 hộ, 166.013 khẩu. Có 7 huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Đô Lung (都龐), Dư Phát (餘發), Hàm Hoan (咸驩), Vô Công (無功), Vô Biên (無編). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Xưa là Tượng Quận (象郡) nhà Tần, mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6 thì đổi tên. Thuộc Giao Châu (交州). Sư Cổ (師古) nói: Vì đất này ở phía Nam của mặt trời (Nhật Nam), nên mới gọi là mở cửa hướng Bắc để trông về mặt trời. Có 15.460 hộ, 69.485 khẩu. Có 5 huyện: Chu Ngô (朱吾), Tỷ Cảnh (比景 - bóng mặt trời ở dưới chân), Lô Dung (盧容), Tây Quyển (西捲), Tượng Lâm (象林). Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': Phía Nam Giao Chỉ (交趾) có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính năm thứ 6 (năm 1037 TCN), họ qua nhiều lần dịch mà đến triều cống. Khi đức nhà Chu suy thì dần chấm dứt. Đến khi Sở Tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Nhà Tần thôn tính thiên hạ, uy phục Man Di, bắt đầu mở mang vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡). Nhà Hán dấy lên, Úy Đà (尉佗) tự lập làm Nam Việt Vương (南越王), truyện quốc được 5 đời, đến năm Vũ Đế (武帝) Nguyên Đỉnh thứ 5 (năm 112 TCN) thì bị diệt, chia đặt thành 9 quận, do Giao Chỉ Thứ sử (交趾刺史) thống lĩnh. Hai quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) nằm trên đảo ngoài biển. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), các thủ lĩnh ở đó quý cái tai dài, đều xuyên tai mà đeo vật nặng cho xệ xuống vai 3 tấc. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': Nước An Nam (安南國) chính là Giao Chỉ (交趾) xưa. Người Di phương Nam ngón chân cái tách rộng ra, khi đứng hai chân song song thì ngón chân giao vào nhau nên gọi tên như thế. Nhà Hán Vũ Đế mở quận đày quân lính ra trấn giữ, thân thể của người vùng ấy không khác gì người Hoa Hạ (華). Lại nói Việt Thường (越裳) chính là Cửu Chân (九真) vậy. Nhà Tần cho Giao Chỉ lệ thuộc Tượng Quận (象郡). Đầu thời Hán thuộc Nam Việt. Vũ Đế bình định xong, đặt 3 quận Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), kiêm đặt Giao Chỉ Thứ sử trị sở tại Luy Lâu (贏𡝭). '''Năm Chiêu Đế (昭帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 5 (năm 82 TCN), tháng 6, bãi bỏ quận Đạm Nhĩ (儋耳郡).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Chiêu Đế bản kỷ (昭帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Chiêu Đế (昭帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 5 (năm 82 TCN), bãi bỏ quận Đạm Nhĩ (儋耳) nhập vào quận Châu Nhai (珠崖)." '''Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN), bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖郡).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Nguyên Đế bản kỷ (元帝 bản kỷ)'': "Năm thứ 3 (năm 46 TCN) mùa xuân, huyện Sơn Nam (山南縣) thuộc quận Châu Nhai (珠崖郡) làm phản, vua bàn mưu rộng rãi với quần thần. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) cho rằng nên từ bỏ Châu Nhai (珠崖) để cứu dân khỏi cảnh đói kém, bèn bãi bỏ Châu Nhai." Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Cuối thời Vũ Đế (武帝), Thái thú quận Châu Nhai (珠崖) là Tôn Hạnh (孫幸) người quận Hội Kê (會稽) điều động nộp vải khổ rộng để dâng nộp, người Man không chịu nổi sưu dịch, bèn đánh quận, giết chết Tôn Hạnh (孫幸). Con của Hạnh là Tôn Báo (孫豹) tập hợp những người lương thiện quay lại đánh phá được quân phản loạn, tự mình lĩnh việc quận, tiễu phạt dư đảng, liên tiếp nhiều năm mới bình định được. Tôn Báo (孫豹) sai sứ dâng trả ấn thụ, viết sớ trình bày sự việc. Vua ban chiếu lấy ngay Tôn Báo (孫豹) làm Thái thú Châu Nhai (珠崖), uy chính được thi hành rộng khắp, hằng năm đều đến cống hiến. Trung Quốc (中國) ham thích trân bảo của nơi đó, dần dần xâm phạm khinh rẻ, nên cứ cách vài năm lại có 1 lần phản loạn. Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN) cuối cùng đã bãi bỏ quận này. Tổng cộng từ khi lập quận được 65 năm." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN), lại bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖郡)." '''Năm Bình Đế (平帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 1 (năm 1), mùa xuân tháng Giêng, họ Việt Thường (越裳氏) qua nhiều lần dịch mà hiến 1 con chim trĩ trắng, 2 con chim trĩ đen.''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Bình Đế bản kỷ (平帝 bản kỷ)'' đã dẫn. ===Hậu Hán=== '''Năm Hậu Hán Thế Tổ (後漢世祖) Kiến Vũ (建武) thứ 5 (năm 29), mùa đông tháng 12, Giao Chỉ mục Đặng Nhượng (鄧讓) dẫn Thái thú 7 quận sai sứ dâng cống phẩm.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Quận Giao Chỉ (交趾郡), nay là huyện thuộc Giao Châu (交州). Phía Nam giáp biển lớn. ''Dư địa chí (輿地志)'' chép: "Người Di ở đó ngón chân cái tách rộng, hai chân đứng song song thì ngón chân giao nhau". Chữ Chỉ (阯) và Chỉ (趾) giống nhau, là chữ cổ thông dụng. Ứng Thiệu (應劭) trong ''Hán quan nghi (漢官儀)'' nói: "Bắt đầu mở mang phương Bắc, rồi giao với phương Nam, làm cơ chỉ (nền móng) cho con cháu". 7 quận gồm: Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đều thuộc Giao Châu (交州). Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'', kinh ''Lễ ký (禮記)'' gọi phương Nam là Man (蠻), tục vẽ mình, xăm trán (điêu đề) và chân giao nhau (giao chỉ). Tục lệ ở đó nam nữ tắm cùng một dòng sông, nên gọi là Giao Chỉ (交趾). Phía Tây có nước Ăn Thịt Người (Đạm Nhân quốc - 噉人國), sinh con đầu lòng thảy đều đem xẻ thịt mà ăn, gọi là "nghĩa đệ" (để tốt cho các em sau). Nếu thấy vị ngon thì đem dâng cho vua, vua mừng mà thưởng cho người cha. Lấy được vợ đẹp thì nhường cho anh, ấy là người Ô Hú (烏滸) ngày nay vậy. * ''〈Chú thích〉'' Vạn Chấn (萬震) trong ''Nam Châu dị vật chí (南州異物志)'' nói: "Ô Hú (烏滸) là tên đất, ở phía Nam Quảng Châu (廣州), phía Bắc Giao Châu (交州). Chúng thường ra giữa đường rình rập khách lữ hành rồi tấn công, cốt để lấy thịt người mà ăn, không tham tài vật, lấy thịt làm món nhắm. Lại lấy đầu lâu đập vỡ để làm chén uống rượu. Coi bàn tay, bàn chân người là vật quý lạ để dâng cho bậc lão trưởng ăn." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ [khuyết], đặt lại các quận Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Quang Vũ (光武) trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ (交趾), Nhậm Diên (任延) trấn thủ Cửu Chân (九真), bấy giờ mới dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày, bắt đầu đặt ra việc môi giới cưới hỏi, dân mới biết việc hôn nhân, lập ra trường học, dẫn dụ bằng lễ nghĩa." Xét theo ''Quận quốc chí (郡國志)'': "Bộ Giao Châu Thứ sử (交州刺史部) có 7 quận, 56 huyện." * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 7.100 dặm về phía Nam. Có 7 thành, 71.477 hộ, 250.282 khẩu. Các huyện: Phiên Ngung (番禺), Bác La (博羅 - có núi La Phù), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽), Tăng Thành (增城). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 6.410 dặm về phía Nam. Có 11 thành, 111.395 hộ, 466.975 khẩu. Các huyện: Quảng Tín (廣信 - nơi Thứ sử trị sự, cách Lạc Dương 9.000 dặm), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端溪), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phố (荔浦), Mãnh Lăng (猛陵), Chương Bình (鄣平 - đặt năm Vĩnh Bình thứ 14 tức năm 71), Vĩnh Bình (永平). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Xưa là quận Quế Lâm (桂林) nhà Tần, Vũ Đế đổi tên. Cách Lạc Dương (雒陽) 6.500 dặm. Có 11 thành. Các huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中溜), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方). * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 9.191 dặm. Có 5 thành, 23.121 hộ, 86.617 khẩu. Các huyện: Hợp Phố (合浦), Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Lâm Nguyên (臨元), Chu Nhai (朱厓). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt, tức là vương quốc của An Dương Vương (安陽王). Cách Lạc Dương (雒陽) 11.000 dặm. Có 12 thành. ** Các huyện: Long Biên (龍編), Luy Lâu (贏𡝭), Định An (定安), Cẩu Lậu (苟漏), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲陽), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西于), Chu Diên (朱䳒). ** Phong Khê (封谿): Đặt năm Kiến An (建安) thứ 19 (năm 214). ''Giao Châu ký (交州記)'' chép: Có đê phòng Long Môn, nước sâu 100 tầm, cá lớn vượt môn này hóa thành rồng, con nào không qua được thì phơi mang chạm trán, máu chảy khiến nước sông luôn đỏ như ao son. Có sông Tần Tiềm (秦潛江), chia làm 99 dòng, chảy hơn 300 dặm rồi cùng hội tụ tại 1 cửa. ** Vọng Hải (望海): Đặt năm Kiến Vũ (建武) thứ 19 (năm 43). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 11.580 dặm. Có 5 thành, 46.513 hộ, 209.894 khẩu. Các huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Hàm Hoan (咸懽), Vô Công (無功), Vô Biên (無編). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Xưa là quận Tượng (象郡) nhà Tần, Vũ Đế đổi tên. Cách Lạc Dương (雒陽) 13.400 dặm. Có 5 thành, 18.263 hộ, 100.676 khẩu. Các huyện: Tây Quyển (西卷), Chu Ngô (朱吾) (Sách ''Giao Châu Ký'' viết: "Người dân nơi đây sống dọc bờ biển, không ăn cơm, chỉ sống bằng cá."), Lô Dung (盧容) (Sách ''Gia Châu Ký'' cũng viết: "Có một khu khai thác vàng."), Tượng Lâm (象林) (nay là nước Lâm Ấp), Bắc Cảnh (北景) (sách Bác vật ký 《博物記》 viết: "Người con gái man dã ở phía nam, đi cùng nhau không thấy chồng, hình dáng của họ trắng bệch, trần truồng, không có quần áo." (Chú thích: Việc thành lập quận không có năm tháng để khảo cứu, và sách chí 《志》 đôi khi chỉ ghi ở một hoặc hai huyện, không tiện phân tích, nên bị thiếu).). '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 12 (năm 36), Man Di ngoài cõi quận Cửu Chân (九真) là Trương Du (張遊) dẫn bộ chủng nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': Trương Du (張遊) dẫn người vào quy thuận, được phong làm Quy Hán Lý quân (歸漢里君). '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 13 (năm 37), tháng 9, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) hiến chim trĩ trắng, thỏ trắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 16 (năm 40), mùa xuân tháng 2, người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) làm phản, chiếm các thành ấp.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 16 (năm 40), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) cùng em gái là Trưng Nhị (徵貳) làm phản đánh phá các quận. Trưng Trắc (徵側) là con gái Lạc tướng (雒將) huyện Mê Linh (麊泠), gả làm vợ Thi Sách (詩索) người Chu Diên (朱䳒), tính rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định (蘇定) dùng luật pháp trói buộc (chèn ép), Trắc phẫn nộ nên làm phản. Thế là Man Di các quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Hợp Phố (合浦) đều hưởng ứng. Tổng cộng chiếm hơn 65 thành, tự lập làm vương. Thứ sử Giao Chỉ và các Thái thú chỉ giữ được mình. Quang Vũ (光武) bèn hạ chiếu cho các vùng Trường Sa (長沙), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾) chuẩn bị xe thuyền, sửa đường bắc cầu, thông khe rạch, trữ lương thực." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 18 (năm 42), mùa hạ tháng 4, sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) dẫn Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志) cùng đi đánh giặc Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) và đồng bọn.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 18 (năm 42), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志), điều động 10.000 quân từ các vùng Trường Sa (長沙), Quế Dương (桂陽), Linh Lăng (零陵), Thương Ngô (蒼梧) đi chinh phạt." Xét theo ''Mã Viện bản truyện (馬援本傳)'': "Giặc chiếm hơn 60 thành ngoài cõi Lĩnh Nam, Trắc tự lập làm vương. Vua bèn trao ấn dụ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, lấy Phù Lạc hầu Lưu Long (劉隆) làm phó, đốc suất bọn Đoạn Chí (段志) nam chinh Giao Chỉ. Quân đến Hợp Phố (合浦) thì Đoạn Chí (段志) đổ bệnh chết. Vua chiếu cho Mã Viện lĩnh cả đạo quân đó, bèn men theo biển mà tiến, phạt núi mở đường hơn 1.000 dặm. Năm thứ 18 mùa xuân, quân đến Lãng Bạc (浪泊), đánh nhau với giặc, phá tan, chém đầu mấy ngàn cấp, hơn 10.000 người đầu hàng. Mã Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê (禁谿), đánh bại nhiều lần, giặc bèn tan chạy." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 19 (năm 43), mùa hạ tháng 4, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc (徵側) và đồng bọn, nhân đó đánh phá giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽) và bắt hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 19 (năm 43), mùa hạ tháng 4, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc (徵側), Trưng Nhị (徵貳), số còn lại đều tan hàng. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽), phá được và bắt hàng, dời 300 hộ thủ lĩnh đến Linh Lăng (零陵), từ đó cõi Lĩnh Biểu thảy đều bình định." Xét theo ''Mã Viện bản truyện (馬援本傳)'': "Năm thứ 19 (năm 43), tháng Giêng, chém Trưng Trắc (徵側), Trưng Nhị (徵貳), gửi đầu về Lạc Dương (洛陽), phong Mã Viện làm Tân Tức hầu (新息侯), thực ấp 3.000 hộ. Mã Viện đem hơn 2.000 chiếc thuyền lớn nhỏ, hơn 20.000 chiến sĩ đánh giặc Cửu Chân. Dư đảng của Trưng Trắc là Đô Dương (都陽) chạy từ Vô Công (無功) đến Cư Phong (居風), bị chém và bắt hơn 5.000 người, cõi Kiệu Nam thảy đều bình định. Mã Viện tâu rằng: Huyện Tây Vu (西于) có 32.000 hộ, cương giới xa xôi cách trị sở hơn 1.000 dặm, xin chia làm 2 huyện Phong Khê (封溪) và Vọng Hải (望海). Vua chấp thuận. Mã Viện đi qua nơi nào đều vì quận huyện đó mà sửa sang thành quách, đào kênh tưới tiêu để làm lợi cho dân. Ông điều trần hơn 10 việc về luật của người Việt sai khác với luật Hán, cùng người Việt làm sáng tỏ chế độ cũ để ước thúc họ. Từ đó về sau người Lạc Việt (駱越) đều phụng hành theo việc cũ của Mã tướng quân." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Mã Viện bình định bộ Giao, mới bắt đầu điều chỉnh lập thành quách, đặt xóm làng." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Năm Kiến Vũ (建武) thứ 16 (năm 40), người đàn bà Trưng Trắc (徵側) làm phản, Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong, lập cột đồng làm ranh giới." ((Theo Sử ký, cuộc nổi loạn diễn ra vào năm thứ mười sáu, việc dẹp loạn vào năm thứ mười tám, và cuộc thảo luận chung vào năm thứ mười chín.)) '''Năm Chương Đế (章帝) Nguyên Hòa (元和) thứ 1 (năm 84), mùa xuân tháng Giêng, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) hiến tê giác sống và chim trĩ trắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Chương Đế bản kỷ (章帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 1 (năm 84), Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) là bọn Cứu Bất Sự (究不事), hào trưởng trong ấp đã hiến tê giác sống và chim trĩ trắng." '''Năm Hòa Đế (和帝) Vĩnh Nguyên (永元) thứ 12 (năm 100), mùa hạ tháng 4, Man Di ở Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) làm phản, quân quận đánh dẹp bình định xong.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hòa Đế bản kỷ (和帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Nguyên (永元) thứ 12 (năm 100), mùa hạ tháng 4, hơn 2.000 người Man Di ở Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) cướp bóc trăm họ, đốt phá dinh thự triều đình. Quận huyện điều binh đánh trả, chém đầu thủ lĩnh của chúng, số còn lại đều hàng phục. Do đó mới đặt chức Tượng Lâm Tướng binh Trường sử (象林將兵長史) để phòng ngừa hậu họa." '''Năm Vĩnh Nguyên (永元) thứ 14 (năm 102), tháng 5 ngày Đinh Mùi, bắt đầu đặt chức quan Tượng Lâm Tướng binh Trường sử.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hòa Đế bản kỷ (和帝本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Hám Nhân (闞駰) trong ''Thập tam châu chí (十三州志)'' nói: "Tướng binh Trường sử đóng tại quận Nhật Nam (日南郡), lại có chức Tướng binh Tư mã (將兵司馬), cách Lạc Dương (雒陽) 9.630 dặm." '''Năm An Đế (安帝) Vĩnh Sơ (永初) thứ 1 (năm 107), tháng 5, Man Di vùng Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân (九真) đem đất đai nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 1 (năm 107), Man Di vùng Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân (九真) đem đất đai nội thuộc, mở rộng biên cảnh thêm 1.840 dặm." '''Năm Nguyên Sơ (元初) thứ 3 (năm 116), mùa xuân tháng Giêng, Man Di các vùng Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦) làm phản. Tháng 2, sai Thị ngự sử Nhậm Đạc (任逴) đốc suất quân châu quận đi đánh dẹp. Tháng 3, xá miễn cho lại dân các vùng Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Nam Hải (南海) bị giặc ép bức. Mùa đông tháng 11, Man Di các vùng Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố đầu hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Nguyên Sơ (元初) thứ 2 (năm 115), Man Di vùng Thương Ngô (蒼梧) làm phản. Năm sau (năm 116), chúng lôi kéo dụ dỗ hơn mấy ngàn người gồm cả người Man và người Hán ở Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦) đánh phá quận Thương Ngô (蒼梧郡). Đặng thái hậu (鄧太后) sai Thị ngự sử Nhậm Đạc (任逴) vâng chiếu xá tội cho chúng, giặc thảy đều hàng phục và tan đi." '''Năm Diên Quang (延光) thứ 1 (năm 122), mùa thu tháng 8 ngày Tân Mão, Cửu Chân (九真) tâu có rồng vàng (hoàng long) hiện ở huyện Vô Công (無功). Mùa đông tháng 12, Man Di ngoài cõi Cửu Chân (九真) cống hiến nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Diên Quang (延光) thứ 1 (năm 122), Man Di ngoài cõi Cửu Chân (九真) cống hiến nội thuộc." '''Năm Diên Quang (延光) thứ 2 (năm 123), mùa hạ tháng 6, Cửu Chân (九真) tâu có lúa chiêm tốt (gia hòa) sinh ra.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Diên Quang (延光) thứ 3 (năm 124), mùa hạ tháng 5, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) nội thuộc. Mùa thu tháng 7, hào soái Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) đến cửa khuyết dâng cống phẩm.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) lại đến nội thuộc." '''Năm Thuận Đế (順帝) Vĩnh Kiến (永建) thứ 6 (năm 131), mùa đông tháng 12, các nước Diệp Điều (葉調國) và Thiện Quốc (撣國) ngoài cõi Nhật Nam (日南) sai sứ đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Kiến (永建) thứ 6 (năm 131), vua nước Diệp Điều (葉調王) là Tiện (便) ngoài cõi Nhật Nam (日南) sai sứ đến cống hiến. Vua ban cho Điều Tiện (調便) ấn vàng và dải thao tím (kim ấn tử thụ)." Xét theo ''Đông Quan ký (東觀記)'': "Vua nước Diệp Điều (葉調國) sai sứ là Sư Hội (師會) đến cửa khuyết cống hiến, lấy Sư Hội (師會) làm Hán Quy Nghĩa Diệp Điều ấp quân (漢歸義葉調邑君), ban cho dải thao tím. Cùng lúc đó, vua nước Thiện (撣國) là Ung Điền (雍田) cũng được ban ấn vàng dải thao tím." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 1 (năm 136), mùa đông tháng 12, Man Di ở Tượng Lâm (象林) làm phản.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 2 (năm 137), mùa hạ tháng 5, Man Di Nhật Nam (日南) làm phản, đánh phá phủ quận. Mùa thu tháng 9, quân 2 quận Giao Chỉ (交趾) làm phản.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 2 (năm 137), hơn mấy ngàn người Man Di ngoài cõi Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) là bọn Khu Liên (區憐) tấn công huyện Tượng Lâm (象林), đốt thành quách dinh thự, giết trưởng lại. Thứ sử Giao Chỉ là Phan Diễn (樊演) điều động hơn 10.000 quân từ 2 quận Giao Chỉ (交趾) và Cửu Chân (九真) đi cứu viện. Binh sĩ sợ đi đánh xa, bèn phản lại mà đánh vào phủ. 2 quận tuy đánh tan được bọn phản binh, nhưng thế giặc (Khu Liên) chuyển sang cường thịnh. Gặp lúc Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) đang đi sứ tại Nhật Nam, bèn cùng châu quận hợp lực đánh dẹp, nhưng không có lợi, bị giặc vây hãm. Hơn 1 năm trời quân lương không tiếp tế được, nhà vua lấy làm lo lắng." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 138), mùa hạ tháng 6, Thái thú Cửu Chân là Chúc Lương (祝良), Thứ sử Giao Chỉ là Trương Kiều (張喬) vỗ về dụ dỗ khiến giặc Nhật Nam hàng phục.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': Giả Xương (賈昌) bị giặc vây, hơn 1 năm quân lương cạn kiệt. Năm thứ 3 (năm 138), vua triệu tập công khanh trăm quan cùng thuộc hạ 4 phủ để hỏi phương lược. Mọi người đều bàn nên sai đại tướng điều động 40.000 quân từ các châu Kinh (荊), Dương (揚), Diễn (兗), Dự (豫) tới. Đại tướng quân Trung lang tướng Lý Cố (李固) bác lại rằng: "Nếu Kinh, Dương vô sự thì điều động cũng được. Nay giặc cướp ở 2 châu này kết bè phái không tan, Man Di ở Vũ Lăng (武陵), Nam Quận (南郡) chưa yên, Trường Sa (長沙), Quế Dương (桂陽) mấy lần bị trưng binh. Nếu lại gây xáo động, tất sinh họa khác, ấy là cái không thể thứ 1. Lại nữa, người vùng Diễn, Dự bất chợt bị bắt đi xa vạn dặm không hẹn ngày về, chiếu thư hối thúc, tất sẽ dẫn tới bỏ trốn và làm phản, ấy là cái không thể thứ 2. Đất phương Nam nước độc khí nóng, lại có chướng khí, người chết tất đến 4 hoặc 5 phần trong 10 phần, ấy là cái không thể thứ 3. Đi xa vạn dặm, sĩ tốt mệt mỏi, tới được Lĩnh Nam thì không còn sức mà đánh, ấy là cái không thể thứ 4. Quân đi 30 dặm là một trình, mà cách Nhật Nam (日南) hơn 9.000 dặm, phải 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tiêu tốn 600.000 hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại và lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi đã tốn kém như thế, ấy là cái không thể thứ 5. Giả sử quân tới nơi, người chết tất nhiều, đã không đủ chống địch lại phải điều động thêm, ấy là cắt lòng dạ để bù tay chân, ấy là cái không thể thứ 6. Cửu Chân (九真) và Nhật Nam (日南) cách nhau 1.000 dặm, điều động lại dân nơi đó họ còn không chịu nổi, huống chi làm khổ binh sĩ 4 châu đi vạn dặm vào nơi gian khó? Ấy là cái không thể thứ 7." Lý Cố nói tiếp: "Trước đây Trung lang tướng Doãn Tựu (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu (益州), dân gian có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tựu bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều dựa vào tướng lại sở tại, chỉ trong mười ngày một tháng đã phá sạch quân khấu tặc. Đó là minh chứng cho việc cử tướng (từ trung ương) không có ích, mà châu quận có thể tin dùng được. Nên chọn người dũng lược, nhân huệ có tài tướng soái làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều cho cùng ở Giao Chỉ (交趾). Nay Nhật Nam (日南) binh đơn lương cạn, thủ không xong mà chiến không nổi, nên dời cả lại dân vào phía Bắc nương tựa Giao Chỉ. Sau khi sự việc yên tĩnh mới cho về bản quán. Lại dùng vàng bạc gấm vóc chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh lẫn nhau. Ai có thể dùng kế ly gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa phong hầu ban đất. Cựu Thứ sử Tinh Châu (并州) là Chúc Lương (祝良) người Trường Sa tính cương quyết, dũng cảm; lại có Trương Kiều (張喬) người Nam Dương trước ở Ích Châu có công phá giặc, đều có thể dùng được. Xưa Thái Tông phong Ngụy Thượng làm Thái thú Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú Thái Sơn, nên phong cho Lương và Kiều rồi lên đường nhận chức ngay." Bốn phủ đều theo lời bàn ấy. Bèn phong Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân (九真), Trương Kiều (張喬) làm Thứ sử Giao Chỉ (交州). Trương Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, giặc thảy đều hàng phục tan đi. Chúc Lương đến Cửu Chân, một xe đi thẳng vào trong lòng giặc, dùng phương lược chiếu tỏ uy tín, người hàng phục đến mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng dinh phủ, từ đó cõi Lĩnh Ngoại lại được thái bình. '''Năm Kiến Khang (建康) thứ 1 (năm 144), mùa đông tháng 10, Man Di ở Nhật Nam (日南) đánh phá, thiêu rụi thành ấp; Thứ sử Giao Chỉ (交趾) là Hạ Phương (夏方) chiêu dụ khiến chúng hàng phục.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Xung Đế bản kỷ (沖帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Kiến Khang (建康) thứ 1 (năm 144), hơn 1.000 người Man Di ở Nhật Nam (日南) lại đánh phá, thiêu rụi huyện ấp, sau đó cổ động vùng Cửu Chân (九真) cùng liên kết với nhau. Thứ sử Giao Chỉ (交趾) người Cửu Giang (九江) là Hạ Phương (夏方) mở lòng khoan ân chiêu dụ, giặc thảy đều hàng phục. Bấy giờ Lương Thái hậu (梁太后) lâm triều, khen ngợi công lao của Hạ Phương (夏方), thăng làm Thái thú Quế Dương (桂陽)." '''Năm Hoàn Đế (桓帝) Vĩnh Thọ (永壽) thứ 3 (năm 157), mùa hạ tháng 4, Man Di ở Cửu Chân (九真) làm phản, Thái thú Nghê Thức (兒式) đánh dẹp nhưng tử trận; sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá được, sau đó quân giặc rút về cố thủ tại Nhật Nam (日南).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Thọ (永壽) thứ 3 (năm 157), huyện lệnh Cư Phong (居風) tham lam bạo ngược vô độ, người trong huyện là Chu Đạt (朱達) cùng với quân Man Di tụ tập đánh giết huyện lệnh. Đám đông lên đến 4.000 hoặc 5.000 người, tiến đánh Cửu Chân (九真), Thái thú Cửu Chân là Nghê Thức (兒式) tử trận. Vua ban chiếu tặng 600.000 tiền, phong 2 người con làm Lang quan, sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá được giặc, chém đầu 2.000 cấp. Thủ lĩnh giặc vẫn còn đóng quân cố thủ tại Nhật Nam (日南), thế lực chuyển sang cường thịnh." '''Năm Diên Hy (延熹) thứ 3 (năm 160), mùa đông tháng 11, giặc Man ở Nhật Nam (日南) dẫn quân đến quận đầu hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Diên Hy (延熹) thứ 3 (năm 160), hạ chiếu lại phong Hạ Phương (夏方) làm Thứ sử Giao Chỉ (交趾). Hạ Phương vốn có uy đức lừng lẫy, quân giặc cũ ở Nhật Nam (日南) nghe danh, hơn 20.000 người đã dắt díu nhau đến chỗ Phương đầu hàng." '''Năm Diên Hy (延熹) thứ 5 (năm 162), mùa hạ tháng 4, giặc ở Trường Sa (長沙) nổi lên, đánh chiếm Quế Dương (桂陽), Thương Ngô (蒼梧). Tháng 5, giặc ở Trường Sa (長沙), Linh Lăng (零陵) nổi lên, đánh phá các vùng Quế Dương (桂陽), Thương Ngô (蒼梧), Nam Hải (南海), Giao Chỉ (交趾). Sai Ngự sử Trung thừa Thịnh Tu (盛修) đốc suất quân châu quận đi đánh dẹp nhưng không thắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Linh Đế (靈帝) Kiến Ninh (建寧) thứ 3 (năm 170), mùa thu tháng 9, dân Ô Hú (烏滸) ở Uất Lâm (鬱林) dắt díu nhau nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 (năm 170), Thái thú Uất Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) dùng ân tín chiêu hàng được hơn 100.000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều được ban mũ đai (phong quan tước), mở mang và đặt ra 7 huyện." '''Năm Hy Bình (熹平) thứ 2 (năm 173), mùa đông tháng 12, nước ngoài cõi Nhật Nam (日南) qua nhiều lần dịch mà đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 1 (năm 178), mùa xuân tháng Giêng, Man Ô Hú (烏滸) ở Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾) làm phản, chiêu dụ dân Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) đánh chiếm các quận huyện.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 4 (năm 181), mùa hạ tháng 4, Thứ sử Giao Chỉ là Chu Tuấn (朱㒞) đánh dẹp Man Ô Hú (烏滸) ở Giao Chỉ (交趾), Hợp Phố (合浦), phá tan được chúng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 6 (năm 183), mùa xuân tháng Giêng, nước ngoài cõi Nhật Nam (日南) qua nhiều lần dịch mà đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Trung Bình (中平) thứ 1 (năm 184), tháng 6, binh lính đóng đồn ở Giao Chỉ (交趾) bắt giữ Thứ sử và Thái thú Hợp Phố là Lai Đạt (來達), tự xưng là Trụ Thiên tướng quân (柱天將軍). Sai Thứ sử Giao Chỉ là Giả Tùng (賈琮) đánh dẹp bình định xong.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hiến Đế (獻帝) Kiến An (建安) thứ 8 (năm 203), Trương Tân (張津) làm Thứ sử, Sĩ Nhiếp (士燮) làm Thái thú Giao Chỉ (交趾), cùng dâng biểu xin lập làm Châu, bèn phong Trương Tân (張津) làm Giao Châu mục (交州牧).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hiến Đế bản kỷ (獻帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Kiến An (建安) thứ 15 (năm 210), Giao Châu (交州) dời trị sở đến Phiên Ngung (番禺). Ban chiếu cho châu biên thùy được sử dụng cờ tiết (sứ trì tiết) và quận được ban nhạc khí (cổ xúy) để tăng uy trọng cho trấn thành; gia phong lễ Cửu tích và điệu múa Lục dật.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hiến Đế bản kỷ (獻帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Hậu Chủ (後主) thứ [khuyết] (nhà Thục Hán), lấy Lý Khôi (李恢) làm quan từ xa lãnh đạo Giao Châu.''' Xét theo ''Thục chí (蜀志) – Hậu Chủ truyện (後主傳)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Nhà Thục (蜀) lấy Lý Khôi (李恢) làm Thái thú Kiến Ninh (建寧), từ xa kiêm lĩnh chức Giao Châu thứ sử (交州刺史)." ===Tam quốc=== '''Năm Ngô Đại Đế (吳大帝) Hoàng Vũ (黃武) thứ 5 (năm 226), chia Giao Châu (交州) để đặt Quảng Châu (廣州), nhưng sau đó ít lâu lại khôi phục như cũ.''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Ngô Vương Quyền truyện (吳王權傳)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Ngô Hoàng Vũ (黃武) thứ 5 (năm 226), cắt 3 quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林) lập thành Quảng Châu (廣州); 4 quận Giao Chỉ (交趾), Nhật Nam (日南), Cửu Chân (九真), Hợp Phố (合浦) làm Giao Châu (交州). Đới Lương (戴良) làm Thứ sử, gặp lúc loạn không vào được, Lữ Đại (呂岱) đánh dẹp bình định xong, lại hợp nhất vào bộ Giao (交部)." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Khoảng năm Kiến An (建安 - nhà Hán), đổi làm Giao Châu (交州). Ngô Tôn Quyền (孫權) chia Giao Châu làm Quảng Châu (廣州), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編)." '''Năm Xích Ô (赤烏) thứ 5 (năm 242), đặt lại quận Châu Nhai (珠崖郡).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Ngô Vương Quyền truyện (吳王權傳)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Phế Đế (廢帝) Ngũ Phụng (五鳳) thứ 1 (năm 254), cỏ dại (bại thảo) ở Giao Chỉ (交趾) hóa thành lúa (đạo).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Lượng truyện (孫亮傳)'' không chép. Xét theo chú giải trong ''Giang Biểu truyện (江表傳)'' đã dẫn. '''Năm Cảnh Đế (景帝) Vĩnh An (永安) thứ 5 (năm 262), sai Sát Chiến (察戰) đến Giao Chỉ (交趾) điều động chim công (khổng tước) và lợn lớn (đại trư).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'' đã dẫn. '''[Năm Ngụy Thiếu Đế (魏少帝) Cảnh Nguyên (景元) thứ 4; Ngô chủ Vĩnh An (永安) thứ 6 (năm 263)]''' '''Nhà Ngụy (魏) lấy Hoắc Dực (霍弋) từ xa kiêm lĩnh Giao Châu (交州). Quận lại Giao Châu của nhà Ngô là Lữ Hưng (呂興) giết Thái thú Tôn Hủ (孫諝) hàng Ngụy. Nhà Ngụy lấy Hưng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu quân sự. Mệnh chưa đến nơi, Hưng đã bị kẻ dưới tay giết chết.''' Xét theo ''Ngụy chí (魏志) – Thiếu Đế bản kỷ (少帝本紀)'': "Năm Hàm Hy (咸熙) thứ 1 (năm 264), tháng 9, Tôn Hưu (孫休) sai sứ là Đặng Cú (鄧句) ra lệnh cho Thái thú Giao Chỉ xiềng xích đưa dân sở tại đi làm binh. Tướng nhà Ngô là Lữ Hưng (呂興) nhân lòng dân phẫn nộ, lại nghe quân vương (nhà Ngụy) đã bình định Ba Thục (巴蜀), bèn hợp hào kiệt giết bọn Đặng Cú, đuổi Thái thú và trường lại, vỗ về lại dân chờ mệnh lệnh quốc gia. Các quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) nghe tin Hưng bỏ nghịch theo thuận, cũng đồng tâm hưởng ứng. Hưng gửi thư đến các châu quận ở Nhật Nam giải bày đại kế, đem quân đến Hợp Phố (合浦) báo rõ họa phúc, sai Đô úy Đường Phổ (唐譜) đến huyện Tiến Thừa (進乘), thông qua Nam Trung Đô đốc Hộ quân Hoắc Dực (霍弋) dâng biểu tự trình bày. Các tướng lại Giao Chỉ cũng dâng biểu nói: 'Lữ Hưng sáng tạo sự nghiệp, lớn nhỏ đều nghe mệnh. Trong quận có sơn tặc cấu kết các quận, sợ chúng có ý đồ khác gây chia rẽ. Nay theo kế tạm thời, lấy Hưng làm Đốc Giao Chỉ chư quân sự, Thượng Đại tướng quân, Định An huyện hầu, xin ban khen thưởng để an ủi nơi biên hoang'. Lòng thành thể hiện qua lời lẽ. Nay uy quốc gia vang xa, phủ dụ lục hợp, thu phục phương xa, thống nhất bốn cõi. Lữ Hưng đứng đầu hướng về vương hóa, đem chúng quy phục, vạn dặm theo nghĩa, xin lại cai trị, nên gia ân sủng, trọng đãi tước vị. Khiến bọn Hưng cảm mến trung nghĩa, người phương xa nghe thấy tất đua nhau học theo. Bèn lấy Hưng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, Nam Trung Đại tướng quân, phong Định An huyện hầu, được tùy nghi làm việc. Mệnh chưa đến nơi, Hưng đã bị kẻ dưới giết chết." Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'': "Năm Vĩnh An (永安) thứ 6 (năm 263), quận lại Giao Chỉ là Lữ Hưng (呂興) làm phản, giết Thái thú Tôn Hủ (孫諝)." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Nhà Tấn bình Thục, lấy Thái thú Kiến Ninh (建寧) nhà Thục là Hoắc Dực (霍弋) từ xa kiêm lĩnh Giao Châu (交州), được tùy nghi tuyển dùng trường lại." '''Năm Vĩnh An (永安) thứ 7 (năm 264), mùa thu tháng 7, lại chia Giao Châu để đặt Quảng Châu (廣州).''' Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'' đã dẫn. '''Năm Mạt Đế (末帝) Bảo Đỉnh (寶鼎) thứ 2 (năm 267), tháng 9, sai Thứ sử Giao Châu Lưu Tuấn (劉俊), Tiền bộ đốc Tu Tắc (修則) vào đánh Giao Chỉ (交趾), bị tướng nhà Tấn là Mao Cảnh (毛炅) đánh bại, đều tử trận, binh lính tan chạy về Hợp Phố (合浦).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Hành (建衡) thứ 1 (năm 269), tháng 11, sai Giám quân Ngu Tự (虞汜), Uy Nam tướng quân Tiết Hủ (薛珝), Thái thú Thương Ngô Đào Hoàng (陶璜) từ Kinh Châu (荊州); Giám quân Lý Húc (李勗), Đốc quân Từ Tồn (徐存) đi đường biển từ Kiến An (建安), thảy đều đến Hợp Phố (合浦) đánh Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Hành (建衡) thứ 3 (năm 271), Ngu Tự (虞汜) và Đào Hoàng (陶璜) phá Giao Chỉ, bắt giết các thủ tướng do nhà Tấn đặt ra. Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) thảy đều quay về thuộc Ngô. Chia Giao Chỉ để đặt quận Tân Xương (新昌郡). Các tướng phá vùng Phù Nghiêm (扶嚴), đặt quận Vũ Bình (武平郡).''' Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Tôn Hạo (孫皓) lại lập 3 quận Tân Xương (新昌), Vũ Bình (武平), Cửu Đức (九德)." '''Năm Phượng Hoàng (鳳皇) thứ 3 (năm 274), chia quận Uất Lâm (鬱林) đặt làm quận Quế Lâm (桂林郡).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Kỷ (天紀) thứ 3 (năm 279), Quách Mã (郭馬) làm phản, tự xưng là An Nam tướng quân, Đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự.''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'': "Năm thứ 3 (năm 279) mùa hạ, Quách Mã (郭馬) phản. Mã vốn là bộ khúc của Thái thú Hợp Phố là Tu Uẩn (修允), Uẩn chuyển làm Thái thú Quế Lâm (桂林), bị bệnh ở lại Quảng Châu (廣州). Trước sai Mã dẫn 500 binh đến quận, khi Uẩn chết, binh lính đáng lẽ phải chia nhỏ ra, nhưng bọn Mã là quân cũ nhiều đời, không muốn ly tán. Tôn Hạo (孫皓) bấy giờ lại kiểm kê hộ khẩu Quảng Châu, Mã cùng các tướng bộ khúc là Hà Điển (何典), Vương Tộc (王族), Ngô Thuật (吳述), Ân Hưng (殷興) nhân đó kích động binh dân, tập hợp quân chúng, giết Đốc Quảng Châu là Ngu Thụ (虞授). Mã tự xưng Đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự, An Nam tướng quân; Ân Hưng làm Thứ sử Quảng Châu, Ngô Thuật làm Thái thú Nam Hải, Hà Điển đánh Thương Ngô, Vương Tộc đánh Thủy Hưng. Tháng 8, lấy Quân sư Trương Đễ (張悌) làm Thừa tướng, Đô đốc Ngưu Chữ là Hà Thực (何植) làm Tư đồ, Chấp kim ngô Đằng Tuân (滕循) làm Tư không. Chưa kịp bái chức thì Tuân chuyển làm Trấn Nam tướng quân, giả tiết, lĩnh Quảng Châu mục, soái 10.000 người theo đường Đông đánh bọn Mã và Tộc. Gặp nhau tại Thủy Hưng (始興), chưa tiến lên được thì Mã giết Thái thú Nam Hải Lưu Lược (劉略), đuổi Thứ sử Quảng Châu Từ Kỳ (徐旗). Tôn Hạo lại sai Từ Lăng (徐陵) đốc Đào Tuấn (陶濬) dẫn 7.000 người theo đường Tây, lệnh cho Giao Châu mục Đào Hoàng (陶璜) tập hợp bộ ngũ cùng quân các quận Hợp Phố (合浦), Uất Lâm (鬱林), đồng loạt phối hợp với quân Đông - Tây đánh Mã." * ''〈Chú thích〉'' ''Hán Tấn Xuân Thu (漢晉春秋)'' chép: Trước đó, ở nước Ngô có kẻ thuyết sấm ngôn rằng: "Ngô bại, binh khởi từ Nam Di, kẻ diệt Ngô là Công Tôn vậy". Tôn Hạo nghe thế, phàm các chức văn võ cho đến binh lính ai họ Công Tôn (公孫) đều đày đi Quảng Châu, không cho ở ven sông (Giang biên). Đến khi nghe Quách Mã (郭馬) phản, đại hãi mà nói: "Ấy là trời diệt vậy". ===Tấn=== '''Năm Võ Đế (武帝) Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268), mùa đông tháng 10, tướng nhà Ngô (吳) là Cố Dung (顧容) đánh phá quận Uất Lâm (鬱林), Thái thú Mao Cảnh (毛炅) đại phá được, chém Thứ sử Giao Châu nhà Ngô là Lưu Tuấn (劉俊) và Tướng quân Tu Tắc (修則).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 5 (năm 269), tháng 5, đại xá cho những người chịu hình phạt 5 năm (ngũ tuế hình) ở các vùng Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 7 (năm 271), mùa thu tháng 7, tướng nhà Ngô (吳) là Đào Hoàng (陶璜) cùng đồng bọn vây đánh Giao Chỉ (交趾), Thái thú Dương Tắc (楊稷) cùng Thái thú Uất Lâm là Mao Cảnh (毛炅) và 3 quận Nhật Nam (日南) thảy đều đầu hàng nước Ngô.''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Khang (泰康) thứ [khuyết] (nhà Tấn), bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖) nhập vào quận Hợp Phố (合浦). Đặt các quận thuộc Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': "Sau khi bình định nước Ngô, bãi bỏ Châu Nhai (珠崖) nhập vào Hợp Phố (合浦). '''Giao Châu (交州)''' thống lĩnh 7 quận, 53 huyện, 25.600 hộ." * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: Hợp Phố (合浦), Nam Bình (南平), Đãng Xương (蕩昌), Từ Văn (徐聞), Độc Chất (毒質), Châu Quan (珠官). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 14 huyện, 12.000 hộ. Các huyện: Long Biên (龍編), Cẩu Lậu (苟漏), Vọng Hải (望海), Luy Lâu (贏𡝭), Tây Vu (西于), Võ Ninh (武寧), Chu Diên (朱鳶), Khúc Dương (曲昜), Giao Hưng (交興), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), An Định (安定), Nam Định (南定), Hải Bình (海平). * '''Quận Tân Xương (新昌郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 3.000 hộ. Các huyện: Mê Linh (麋泠 - nơi xưa kia bà Trưng Trắc (徵側) làm chủ, Mã Viện (馬援) đã bình định), Gia Ninh (嘉寧), Ngô Định (吳定), Phong Sơn (封山), Lâm Tây (臨西), Tây Đạo (西道). * '''Quận Võ Bình (武平郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 5.000 hộ. Các huyện: Võ Ninh (武寧), Võ Hưng (武興), Tiến Sơn (進山), Căn Ninh (根寧), An Võ (安武), Phù An (扶安), Phong Khê (封溪). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 3.000 hộ. Các huyện: Tư Phố (胥浦), Di Phong (移風), Trạm Ngô (湛梧), Kiến Sơ (建初), Thường Lạc (常樂), Phù Lạc (扶樂), Tùng Nguyên (松原). * '''Quận Cửu Đức (九德郡)''': Nhà Ngô đặt. Là vùng đất của họ Việt Thường (越裳氏) thời Chu. Thống lĩnh 8 huyện, không rõ số hộ. Các huyện: Cửu Đức (九德), Hàm Hoan (咸驩), Nam Lăng (南陵), Dương Toại (陽遂), Phù Linh (扶苓), Khúc Tư (曲胥), Phố Dương (浦陽), Đô Kiểu (都洨). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Nhà Tần đặt là Tượng Quận (象郡), Hán Võ Đế đổi tên. Thống lĩnh 5 huyện, 600 hộ. ** Các huyện: Tượng Lâm (象林 - từ đây về phía Nam có 4 nước, người ở đó đều tự nhận là con cháu người Hán. Nay có cột đồng (đồng trụ) cũng do nhà Hán dựng làm biên giới. Tại đây nộp vàng để đóng thuế), Lô Dung (盧容 - nơi đặt trị sở Tượng Quận), Chu Ngô (朱吾), Tây Quyển (西卷), Bắc Cảnh (北景). '''Quảng Châu (廣州)''': Hán Võ Đế lấy đất này làm quận Giao Chỉ. Đến năm Thái Khang (泰康), sau khi bình Ngô, bèn lấy 3 bộ Thủy An (始安), Thủy Hưng (始興), Lâm Hạ (臨賀) của Kinh Châu (荊州) cho thuộc về đây. Tổng cộng thống lĩnh 10 quận, 68 huyện, 43.120 hộ. * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Tần đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 9.500 hộ. Các huyện: Phiên Ngung (番禺), Tứ Hội (四會), Tăng Thành (增城), Bác La (博羅), Long Xuyên (龍川), Bình Di (平夷). * '''Quận Lâm Hạ (臨賀郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 2.500 hộ. Các huyện: Lâm Hạ (臨賀), Tạ Mộc (謝沐), Phùng Thừa (馮乘), Phong Dương (封陽), Hưng An (興安), Phú Xuyên (富川). * '''Quận Thủy An (始安郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 6.000 hộ. Các huyện: Thủy An (始安), Thủy Dương (始陽), Bình Lạc (平樂), Lệ Phố (荔浦), Thường An (常安), Hy Bình (熙平), Vĩnh Phong (永豐). * '''Quận Thủy Hưng (始興郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 5.000 hộ. Các huyện: Khúc Giang (曲江), Quế Dương (桂陽), Thủy Hưng (始興), Hàm Khoáng (含洭), Trinh Dương (湞陽), Trung Túc (中宿), Dương Sơn (陽山). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 12 huyện, 7.700 hộ. Các huyện: Quảng Tín (廣信), Đoan Khê (端溪), Cao Yếu (高要), Kiến Lăng (建陵), Tân Ninh (新寧), Mãnh Lăng (猛陵), Chương Bình (鄣平), Nông Thành (農城), Nguyên Khê (元谿), Lâm Duẫn (臨允), Đô La (都羅), Võ Thành (武城). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Nhà Tần đặt là quận Quế (桂郡), Hán Võ Đế đổi tên. Thống lĩnh 9 huyện, 6.000 hộ. Các huyện: Bố Sơn (布山), Kha Lâm (柯林), Tân Ấp (新邑), Tấn Bình (晉平), Thủy Kiến (始建), Uất Bình (鬱平), Lĩnh Phương (領方), Võ Hy (武熙), An Quảng (安廣). * '''Quận Quế Lâm (桂林郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 8 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: Đàm Trung (潭中), Võ Phong (武豐), Túc Bình (粟平), Dương Bình (羊平), Long Cương (龍剛), Giáp Dương (夾陽), Võ Thành (武城), Quân Đằng (軍騰). * '''Quận Cao Lương (高涼郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 3 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: An Ninh (安寧), Cao Lương (高涼), Tư Bình (思平). * '''Quận Cao Hưng (高興郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 5 huyện, 1.220 hộ. Các huyện: Quảng Hóa (廣化), Hải An (海安), Hóa Bình (化平), Hoàng Dương (黃陽), Tây Bình (西平). * '''Quận Ninh Phố (寧浦郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 5 huyện, 1.320 hộ. Các huyện: Ninh Phố (寧浦), Liên Đạo (連道), Ngô An (吳安), Xương Bình (昌平), Bình Sơn (平山). ===Lưu Tống=== '''Năm Tống Văn Đế (宋文帝) Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431), mùa xuân tháng Giêng, đặt lại quận Châu Nhai (珠崖郡) tại Giao Châu (交州).''' '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 11 (năm 434), tháng 2, lấy Thái thú Giao Chỉ (交趾) là Lý Đam Chi (李耽之) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét các điều trên theo ''Tống thư (宋書) – Văn Đế bản kỷ (文帝本紀)'' đã dẫn. ===Nam Tề=== '''Năm Nam Tề Cao Đế (南齊高帝) Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479), vẫn lấy Lý Thúc Hiến (李叔獻) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Cao Đế bản kỷ (高帝本紀)'': "Năm Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479), mùa thu tháng 7 ngày Đinh Mùi, chiếu rằng: Giao Chỉ (交趾), Bắc Cảnh (北景), riêng cách biệt với chính朔 (chính sóc - lịch pháp) triều đình. Ấy là bởi vận trước (nhà Lưu Tống) lúc cuối, kẻ dựa nơi biển không đến triều cống, vì mê muội mà lầm đường, muốn quy thuận mà không có lối. Nay đặc xá cho 1 người trong bộ Giao Châu (交州) là Lý Thúc Hiến (李叔獻), cho vỗ về đất phương Nam, các quan văn võ chọn người có tài mà bổ dụng, đồng thời sai Đại sứ đến tuyên dương ân đức triều đình. Lấy Thử thủ Vũ Bình Thái thú (武平太守), Hành Giao Châu phủ sự (行交州府事) là Lý Thúc Hiến (李叔獻) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史)." Xét theo ''Phù Nam truyện (扶難傳)'': Giao Châu (交州) nằm tách biệt nơi hải đảo, khống chế các nước ngoại quốc, vốn cậy nơi hiểm trở mà nhiều lần không phục tùng. Đầu năm Thái Thủy (泰始 - nhà Lưu Tống, năm 465), Thứ sử Trương Mục (張牧) chết, người Giao Chỉ (交趾) là Lý Trường Nhân (李長仁) giết bộ khúc từ phương Bắc tới của Mục, chiếm cứ Giao Châu (交州) làm phản được mấy năm thì bệnh chết. Em họ là Lý Thúc Hiến (李叔獻) nối nghiệp, nhưng hiệu lệnh chưa được thi hành, bèn sai sứ cầu chức Thứ sử. Triều đình nhà Tống (宋朝) lấy Thái thú Nam Hải (南海) là Thẩm Hoán (沈煥) làm Thứ sử Giao Châu, lấy Thúc Hiến làm Ninh Viễn tư mã cho Hoán kiêm Thái thú 2 quận Vũ Bình (武平), Tân Xương (新昌). Thúc Hiến nhận được mệnh triều đình, nhân tình phục tùng, bèn điều binh giữ nơi hiểm yếu, không cho Thẩm Hoán vào. Hoán phải dừng lại ở Uất Lâm (鬱林) rồi bệnh chết. Năm Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479) thời Thái Tổ (太祖 - tức Cao Đế), triều đình vẫn lấy Thúc Hiến làm Thứ sử Giao Châu để an ủi ông ta. '''Năm Võ Đế (武帝) Vĩnh Minh (永明) thứ 3 (năm 485), mùa xuân tháng Giêng ngày Bính Thìn, lấy Đại ty nông Lưu Khải (劉楷) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Phù Nam truyện (扶難傳)'': "Thúc Hiến nhận mệnh, nhưng sau đó ngăn cách các nước ngoại quốc, đồ cống hiến ít ỏi, Thế Tổ (世祖 - tức Võ Đế) muốn thảo phạt. Năm Vĩnh Minh (永 Minh) thứ 1 (năm 483), lấy Ty nông Lưu Khải (劉楷) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史), điều động binh lính các quận Nam Khang (南康), Lư Lăng (廬陵), Thủy Hưng (始興) đi chinh phạt Giao Châu. Thúc Hiến nghe tin, sai sứ nguyện xin hoãn lại thêm vài năm. Hiến dâng 12 đội mũ trụ bằng bạc nguyên chất (thuần ngân đâu mâu) và lông chim công (khổng tước mạo), nhưng Thế Tổ không hứa cho. Thúc Hiến sợ bị Lưu Khải tập kích, bèn theo đường tắt từ Tương Xuyên (湘川) về triều." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 6 (năm 488), tháng 6 ngày Bính Tử, lấy Thái thú Thủy Hưng (始興太守) là Phòng Pháp Thừa (房法乘) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Võ Đế bản kỷ (武帝 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Phù Nam quốc truyện (扶難國傳)'': Năm thứ 6 (năm 488), lấy Thái thú Thủy Hưng (始興太守) là Phòng Pháp Thừa (房法乘) thay Lưu Khải. Pháp Thừa đến trấn, mắc bệnh nên không quản lý việc gì, chỉ chuyên tâm đọc sách. Trường sử Phục Đăng Chi (伏登之) nhân đó chuyên quyền, thay đổi tướng lại mà không cho Pháp Thừa biết. Lục sự Phòng Kế Văn (房季文) thưa chuyện đó, Pháp Thừa đại nộ, nhốt Đăng Chi vào ngục. Hơn 10 ngày, Đăng Chi lo lót hậu hĩnh cho em rể Pháp Thừa là Thôi Cảnh Thúc (崔景叔) mới được ra, bèn dẫn bộ khúc đánh úp châu thành, bắt giữ Pháp Thừa và bảo: 'Sứ quân đã có bệnh, không nên lao nhọc', rồi nhốt vào thất riêng. Pháp Thừa không có việc gì làm, lại gặp Đăng Chi xin sách để đọc, Đăng Chi nói: 'Sứ quân cần tĩnh dưỡng, chỉ e đọc sách làm bệnh động thêm, sao có thể xem sách được?'. Cuối cùng không cho, rồi dâng sớ lên triều đình nói rằng Pháp Thừa bị bệnh tim tái phát, không đảm đương được công việc. Thế Tổ (世祖) bèn lấy Đăng Chi làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史), Pháp Thừa quay về đến cõi Lĩnh thì chết. Pháp Thừa người Thanh Hà (清河), năm Thăng Minh (昇明 - nhà Lưu Tống) làm Phiêu kỵ trung binh cho Thái Tổ (太祖), sau thăng đến Tả trung lang tướng. Tính tình cương trực giản dị, thân cao 8 xích 3 thốn (khoảng 2m), đi đứng cao hơn người thường nên thường tự cúi mình xuống. Thứ sử Thanh Châu (青州) là Minh Khánh Phù (明慶符) cũng cao ngang Pháp Thừa, triều đình khi ấy chỉ có 2 người này (có vóc dáng như vậy). ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka96gc0t9i?page_from=profile&version=1 安南部彙考一(交趾)] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 4atonftu478q6wp4cjdzmag4u347b3b 204596 204593 2026-04-08T09:28:14Z Mrfly911 2215 204596 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 90''' | trước= [[../quyển 089|quyển 89]] | sau= [[../quyển 091|quyển 91]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 1 〈Giao Chỉ (交趾)〉== ===Thượng Cổ=== '''Thời Chuyên Húc Cao Dương Thị (顓頊高陽氏), Giao Chỉ (交趾) bắt đầu thông với Trung Quốc (中國).''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Ngũ Đế bản kỷ (五帝本紀)'': "Chuyên Húc Cao Dương Thị (顓頊高陽氏) phía Bắc đến U Lăng (幽陵), phía Nam đến Giao Chỉ (交趾), phía Tây đến Lưu Sa (流沙), phía Đông đến Phan Mộc (蟠木). Các loài động tĩnh, các vị thần lớn nhỏ, nơi nào nhật nguyệt soi đến, không đâu là không bình định và thần phục." * ''〈Chú thích〉'' Vương Túc (王肅) nói: "Chỉ (砥) nghĩa là bằng phẳng. Bốn phương xa xôi đều bình định, mà đến quy phục." ===Đào Đường Thị (陶唐氏)=== '''Đế Nghiêu (帝堯), lệnh cho Hi Thúc (羲叔) đến ở tại Nam Giao (南交).''' Xét theo ''Thư kinh (書經) – Nghiêu điển (堯典)'' đã dẫn. Xét theo ''Sử ký chú (史記注)'': Khổng An Quốc (孔安國) nói: "Mùa hạ giao với mùa xuân, đây là chức quan cai trị phương Nam vậy." * ''Sách Ẩn (索隱)'' nói: Chú giải của họ Khổng chưa đúng. Nếu vậy thì mùa đông giao với mùa thu, cớ sao bên dưới không có văn tự ấy? Hơn nữa, phía Đông có Ngu Di (嵎夷), phía Tây có Muội Cốc (昧谷), phía Bắc có U Đô (幽都), ba phương đều nói về địa danh, mà riêng mùa hạ (phương Nam) lại không nói địa danh, mà lại bảo là 'giao với mùa xuân', thật là không tương đồng (lệ) lắm vậy. Tuy nhiên, đất phương Nam có nơi tên là Giao Chỉ (交趾), hoặc giả văn tự cổ lược bớt đi 1 chữ, gọi địa danh là Nam Giao (南交), thì đó chính là Giao Chỉ (交趾) không nghi ngờ gì nữa. ===Hữu Ngu Thị (有虞氏)=== '''Đế Thuấn (帝舜), vỗ về phía Nam đến Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Thuấn bản kỷ (舜本紀)'' đã dẫn. === Chu === '''Năm Chu Thành Vương (周成王) thứ 6 (năm 1037 TCN), họ Việt Thường (越裳氏) đến triều cống.''' Xét theo ''Thông giám tiền biên (通鑑前編)'' đã dẫn. Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Phía Nam Giao Chỉ (交趾) có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính được 6 năm, chế định lễ nhạc, thiên hạ thái bình. Người Việt Thường (越裳) dùng 3 con voi, qua nhiều lần thông dịch (trọng dịch) mà hiến chim trĩ trắng, nói rằng: 'Đường xá xa xôi, núi sông hiểm trở, ngôn ngữ không thông, nên phải qua nhiều lần dịch mà đến triều kiến'. Thành Vương (成王) đem chim ấy dâng cho Chu Công (周公). Chu Công (周公) nói: 'Đức mà không ban đến thì quân tử không hưởng vật báu, chính sự không thi thố đến thì quân tử không coi người ta là thần dân. Ta dựa vào đâu mà nhận lễ vật này?'. Sứ giả thưa rằng: 'Chúng tôi nhận mệnh từ bậc lão trượng (hoàng cự - 黃耇) trong nước nói rằng: Đã lâu rồi trời không có gió dữ mưa lôi, ý chừng Trung Quốc (中國) có thánh nhân chăng? Nếu có thì sao không đi triều cống?'". Chu Công (周公) bèn dâng lên vua, xưng tụng linh thần của các vị tiên vương, đem hiến vào tông miếu. Khi đức nhà Chu (周) suy thì việc triều cống ấy dần chấm dứt. '''Năm Chu Thành Vương (周成王) thứ 10 (năm 1033 TCN), họ Việt Thường (越裳氏) đến triều cống.''' Xét theo ''Trúc thư kỷ niên (竹書紀年)'' đã dẫn. === Tần === '''Năm Tần Thủy Hoàng (秦始皇) thứ 33 (năm 214 TCN), phát động những người trốn tránh, rể ở rể (chuyết tế) và lái buôn đi đánh chiếm vùng đất Lục Lương (陸梁地), lập thành các quận Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡), Nam Hải (南海) để đày những người bị trị đi trấn giữ.''' Xét theo ''Sử ký (史記) – Thủy Hoàng bản kỷ (始皇本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Về Quế Lâm (桂林), Vi Chiêu (韋昭) nói: "Nay là Uất Lâm (鬱林) vậy". Về Tượng Quận (象郡), Vi Chiêu (韋昭) nói: "Nay là Nhật Nam (日南)". ''Chính nghĩa (正義)'' nói: "Tức là huyện Nam Hải (南海縣) thuộc Quảng Châu (廣州)". === Hán === '''Năm Hán Cao Tổ (漢高祖) thứ 5 (năm 202 TCN), lấy 3 quận Lĩnh Nam (嶺南) cùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) phong cho Ngô Nhuế (吳芮).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀)'': "Năm thứ 5 (năm 202 TCN), tháng 2 ngày Giáp Ngọ, chiếu viết rằng: Cố Hành Sơn Vương Ngô Nhuế (吳芮) cùng 2 người con và 1 người cháu gọi bằng bác, đã đem quân Bách Việt (百粵) giúp chư hầu diệt nhà Tần (秦) tàn bạo, có công lớn, được chư hầu lập làm vương. Vùng đất bị Hạng Vũ (項羽) xâm chiếm gọi là Phiên Quân (番君). Nay lấy các vùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章), Tượng Quận (象郡), Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海) lập Phiên Quân Ngô Nhuế (吳芮) làm Trường Sa Vương (長沙王)." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': Giao Châu (交州) theo kinh ''Vũ Cống (禹貢)'' thuộc cương vực Dương Châu (揚州), ấy là đất Nam Việt (南越). Sau khi Tần Thủy Hoàng (秦始皇) đánh định vùng Dương Việt (揚越), đã sai 500.000 quân bị đày đi trấn giữ Ngũ Lĩnh (五嶺). Đi từ Bắc vào Nam, con đường qua vùng Bát Việt tất phải qua các dãy núi (lĩnh kiệu). Bấy giờ có 5 nơi, nên gọi là Ngũ Lĩnh. Sau sai Nhâm Hiêu (任囂), Triệu Đà (趙佗) đánh Việt, chiếm đất Lục Lương (陸梁地), rồi định vùng Nam Việt, chia làm 3 quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象), không nằm trong hạn định 36 quận (của nhà Tần), bèn đặt chức Nam Hải úy để cai quản, gọi là "Đông Nam nhất úy". Đầu thời Hán, lấy 3 quận Lĩnh Nam cùng Trường Sa (長沙), Dự Chương (豫章) phong Ngô Nhuế (吳芮) làm Trường Sa Vương (長沙王). '''Năm Cao Tổ (高祖) thứ 11 (năm 196 TCN), cắt 3 quận để phong cho Nam Việt Vương (南越王).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Cao Tổ bản kỷ (高祖本紀)'': "Năm thứ 11 (năm 196 TCN), tháng 5, chiếu rằng: Tục người Việt (粵) hay đánh giết lẫn nhau. Trước kia nhà Tần di chuyển dân các huyện miền trung đến 3 quận phương Nam, cho ở lẫn với người Bách Việt (百越). Gặp lúc thiên hạ diệt Tần, Nam Hải úy Triệu Đà (趙佗) ở phương Nam làm trưởng, cai trị rất có văn lý, dân các huyện miền trung nhờ đó không bị hao hụt, tục đánh giết nhau của người Việt cũng giảm bớt, thảy đều nhờ lực của ông ta. Nay lập Triệu Đà làm Nam Việt Vương (南粵王), sai Lục Giả (陸賈) đến trao ấn thụ, Triệu Đà dập đầu xưng thần." * ''〈Chú thích〉'' Như Thuần (如淳) nói: Tần Thủy Hoàng chiếm đất Lục Lương, lập làm các quận Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡), Nam Hải (南海), nên gọi là "3 quận". Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm thứ 11 (năm 196 TCN), lấy Nam Vũ Hầu Chức (織) làm Nam Hải Vương (南海王). Lục Giả (陸賈) đi sứ về, phong Triệu Đà (趙佗) làm Nam Việt Vương (南越王), cắt 3 quận phía Nam của Trường Sa để phong cho." '''Năm Vũ Đế (武帝) Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 TCN), bắt đầu đặt 9 quận như Giao Chỉ (交趾), giao cho Thứ sử thống lĩnh.''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Vũ Đế bản kỷ (武帝本紀)'': "Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), bình định đất Việt, lập thành các quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Châu Nhai (珠厓), Đạm Nhĩ (儋耳)." Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Tần đặt, khi nhà Tần mất, Úy Đà (尉佗) làm vương đất này. Vũ Đế (武帝) mở mang năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), thuộc Giao Châu (交州). Có 19.613 hộ, 94.253 khẩu. Có 6 huyện: Phiên Ngung (番禺 - nơi Úy Đà đóng đô, có quan quản muối), Bác La (博羅), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Xưa là quận Quế Lâm (桂林) của nhà Tần, thuộc quyền Úy Đà, năm Nguyên Đỉnh thứ 6 đổi tên. Có 12.415 hộ, 71.162 khẩu. Có 12 huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中留), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方), Ung Kê (雍雞). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 24.379 hộ, 146.160 khẩu. Có 10 huyện: Quảng Tín (廣信), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端溪), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phố (荔浦), Mãnh Lăng (猛陵). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6, thuộc Giao Châu (交州). Có 92.440 hộ, 746.237 khẩu. Có 10 huyện: Luy Lâu (贏𡝭 - trị sở, có quan quản đồ dâng cúng), An Định (安定), Cẩu Lậu (荀屚), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲昜), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西干), Long Biên (龍編), Chu Diên (朱䳒). * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 15.398 hộ, 78.880 khẩu. Có 5 huyện: Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Hợp Phố (合浦), Lâm Duẫn (臨允), Chu Lư (朱盧). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Có 35.743 hộ, 166.013 khẩu. Có 7 huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Đô Lung (都龐), Dư Phát (餘發), Hàm Hoan (咸驩), Vô Công (無功), Vô Biên (無編). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Xưa là Tượng Quận (象郡) nhà Tần, mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6 thì đổi tên. Thuộc Giao Châu (交州). Sư Cổ (師古) nói: Vì đất này ở phía Nam của mặt trời (Nhật Nam), nên mới gọi là mở cửa hướng Bắc để trông về mặt trời. Có 15.460 hộ, 69.485 khẩu. Có 5 huyện: Chu Ngô (朱吾), Tỷ Cảnh (比景 - bóng mặt trời ở dưới chân), Lô Dung (盧容), Tây Quyển (西捲), Tượng Lâm (象林). Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': Phía Nam Giao Chỉ (交趾) có nước Việt Thường (越裳國). Chu Công (周公) nhiếp chính năm thứ 6 (năm 1037 TCN), họ qua nhiều lần dịch mà đến triều cống. Khi đức nhà Chu suy thì dần chấm dứt. Đến khi Sở Tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Nhà Tần thôn tính thiên hạ, uy phục Man Di, bắt đầu mở mang vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡). Nhà Hán dấy lên, Úy Đà (尉佗) tự lập làm Nam Việt Vương (南越王), truyền quốc được 5 đời, đến năm Vũ Đế (武帝) Nguyên Đỉnh thứ 5 (năm 112 TCN) thì bị diệt, chia đặt thành 9 quận, do Giao Chỉ Thứ sử (交趾刺史) thống lĩnh. Hai quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) nằm trên đảo ngoài biển. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 TCN), các thủ lĩnh ở đó quý cái tai dài, đều xuyên tai mà đeo vật nặng cho xệ xuống vai 3 tấc. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': Nước An Nam (安南國) chính là Giao Chỉ (交趾) xưa. Người Di phương Nam ngón chân cái tách rộng ra, khi đứng hai chân song song thì ngón chân giao vào nhau nên gọi tên như thế. Nhà Hán Vũ Đế mở quận đày quân lính ra trấn giữ, thân thể của người vùng ấy không khác gì người Hoa Hạ (華). Lại nói Việt Thường (越裳) chính là Cửu Chân (九真) vậy. Nhà Tần cho Giao Chỉ lệ thuộc Tượng Quận (象郡). Đầu thời Hán thuộc Nam Việt. Vũ Đế bình định xong, đặt 3 quận Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), kiêm đặt Giao Chỉ Thứ sử trị sở tại Luy Lâu (贏𡝭). '''Năm Chiêu Đế (昭帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 5 (năm 82 TCN), tháng 6, bãi bỏ quận Đạm Nhĩ (儋耳郡).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Chiêu Đế bản kỷ (昭帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Chiêu Đế (昭帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 5 (năm 82 TCN), bãi bỏ quận Đạm Nhĩ (儋耳) nhập vào quận Châu Nhai (珠崖)." '''Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN), bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖郡).''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Nguyên Đế bản kỷ (元帝 bản kỷ)'': "Năm thứ 3 (năm 46 TCN) mùa xuân, huyện Sơn Nam (山南縣) thuộc quận Châu Nhai (珠崖郡) làm phản, vua bàn mưu rộng rãi với quần thần. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) cho rằng nên từ bỏ Châu Nhai (珠崖) để cứu dân khỏi cảnh đói kém, bèn bãi bỏ Châu Nhai." Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Cuối thời Vũ Đế (武帝), Thái thú quận Châu Nhai (珠崖) là Tôn Hạnh (孫幸) người quận Hội Kê (會稽) điều động nộp vải khổ rộng để dâng nộp, người Man không chịu nổi sưu dịch, bèn đánh quận, giết chết Tôn Hạnh (孫幸). Con của Hạnh là Tôn Báo (孫豹) tập hợp những người lương thiện quay lại đánh phá được quân phản loạn, tự mình lĩnh việc quận, tiễu phạt dư đảng, liên tiếp nhiều năm mới bình định được. Tôn Báo (孫豹) sai sứ dâng trả ấn thụ, viết sớ trình bày sự việc. Vua ban chiếu lấy ngay Tôn Báo (孫豹) làm Thái thú Châu Nhai (珠崖), uy chính được thi hành rộng khắp, hằng năm đều đến cống hiến. Trung Quốc (中國) ham thích trân bảo của nơi đó, dần dần xâm phạm khinh rẻ, nên cứ cách vài năm lại có 1 lần phản loạn. Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN) cuối cùng đã bãi bỏ quận này. Tổng cộng từ khi lập quận được 65 năm." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Nguyên Đế (元帝) Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 TCN), lại bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖郡)." '''Năm Bình Đế (平帝) Nguyên Thủy (元始) thứ 1 (năm 1), mùa xuân tháng Giêng, họ Việt Thường (越裳氏) qua nhiều lần dịch mà hiến 1 con chim trĩ trắng, 2 con chim trĩ đen.''' Xét theo ''Hán thư (漢書) – Bình Đế bản kỷ (平帝 bản kỷ)'' đã dẫn. ===Hậu Hán=== '''Năm Hậu Hán Thế Tổ (後漢世祖) Kiến Vũ (建武) thứ 5 (năm 29), mùa đông tháng 12, Giao Chỉ mục Đặng Nhượng (鄧讓) dẫn Thái thú 7 quận sai sứ dâng cống phẩm.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Quận Giao Chỉ (交趾郡), nay là huyện thuộc Giao Châu (交州). Phía Nam giáp biển lớn. ''Dư địa chí (輿地志)'' chép: "Người Di ở đó ngón chân cái tách rộng, hai chân đứng song song thì ngón chân giao nhau". Chữ Chỉ (阯) và Chỉ (趾) giống nhau, là chữ cổ thông dụng. Ứng Thiệu (應劭) trong ''Hán quan nghi (漢官儀)'' nói: "Bắt đầu mở mang phương Bắc, rồi giao với phương Nam, làm cơ chỉ (nền móng) cho con cháu". 7 quận gồm: Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đều thuộc Giao Châu (交州). Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'', kinh ''Lễ ký (禮記)'' gọi phương Nam là Man (蠻), tục vẽ mình, xăm trán (điêu đề) và chân giao nhau (giao chỉ). Tục lệ ở đó nam nữ tắm cùng một dòng sông, nên gọi là Giao Chỉ (交趾). Phía Tây có nước Ăn Thịt Người (Đạm Nhân quốc - 噉人國), sinh con đầu lòng thảy đều đem xẻ thịt mà ăn, gọi là "nghĩa đệ" (để tốt cho các em sau). Nếu thấy vị ngon thì đem dâng cho vua, vua mừng mà thưởng cho người cha. Lấy được vợ đẹp thì nhường cho anh, ấy là người Ô Hú (烏滸) ngày nay vậy. * ''〈Chú thích〉'' Vạn Chấn (萬震) trong ''Nam Châu dị vật chí (南州異物志)'' nói: "Ô Hú (烏滸) là tên đất, ở phía Nam Quảng Châu (廣州), phía Bắc Giao Châu (交州). Chúng thường ra giữa đường rình rập khách lữ hành rồi tấn công, cốt để lấy thịt người mà ăn, không tham tài vật, lấy thịt làm món nhắm. Lại lấy đầu lâu đập vỡ để làm chén uống rượu. Coi bàn tay, bàn chân người là vật quý lạ để dâng cho bậc lão trưởng ăn." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ [khuyết], đặt lại các quận Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Quang Vũ (光武) trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ (交趾), Nhậm Diên (任延) trấn thủ Cửu Chân (九真), bấy giờ mới dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày, bắt đầu đặt ra việc môi giới cưới hỏi, dân mới biết việc hôn nhân, lập ra trường học, dẫn dụ bằng lễ nghĩa." Xét theo ''Quận quốc chí (郡國志)'': "Bộ Giao Châu Thứ sử (交州刺史部) có 7 quận, 56 huyện." * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 7.100 dặm về phía Nam. Có 7 thành, 71.477 hộ, 250.282 khẩu. Các huyện: Phiên Ngung (番禺), Bác La (博羅 - có núi La Phù), Trung Túc (中宿), Long Xuyên (龍川), Tứ Hội (四會), Yết Dương (揭陽), Tăng Thành (增城). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 6.410 dặm về phía Nam. Có 11 thành, 111.395 hộ, 466.975 khẩu. Các huyện: Quảng Tín (廣信 - nơi Thứ sử trị sự, cách Lạc Dương 9.000 dặm), Tạ Mộc (謝沐), Cao Yếu (高要), Phong Dương (封陽), Lâm Hạ (臨賀), Đoan Khê (端溪), Phùng Thừa (馮乘), Phú Xuyên (富川), Lệ Phố (荔浦), Mãnh Lăng (猛陵), Chương Bình (鄣平 - đặt năm Vĩnh Bình thứ 14 tức năm 71), Vĩnh Bình (永平). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Xưa là quận Quế Lâm (桂林) nhà Tần, Vũ Đế đổi tên. Cách Lạc Dương (雒陽) 6.500 dặm. Có 11 thành. Các huyện: Bố Sơn (布山), An Quảng (安廣), A Lâm (阿林), Quảng Uất (廣鬱), Trung Lưu (中溜), Quế Lâm (桂林), Đàm Trung (潭中), Lâm Trần (臨塵), Định Chu (定周), Tăng Thực (增食), Lĩnh Phương (領方). * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 9.191 dặm. Có 5 thành, 23.121 hộ, 86.617 khẩu. Các huyện: Hợp Phố (合浦), Từ Văn (徐聞), Cao Lương (高涼), Lâm Nguyên (臨元), Chu Nhai (朱厓). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt, tức là vương quốc của An Dương Vương (安陽王). Cách Lạc Dương (雒陽) 11.000 dặm. Có 12 thành. ** Các huyện: Long Biên (龍編), Luy Lâu (贏𡝭), Định An (定安), Cẩu Lậu (苟漏), Mê Linh (麊泠), Khúc Dương (曲陽), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), Tây Vu (西于), Chu Diên (朱䳒). ** Phong Khê (封谿): Đặt năm Kiến An (建安) thứ 19 (năm 214). ''Giao Châu ký (交州記)'' chép: Có đê phòng Long Môn, nước sâu 100 tầm, cá lớn vượt môn này hóa thành rồng, con nào không qua được thì phơi mang chạm trán, máu chảy khiến nước sông luôn đỏ như ao son. Có sông Tần Tiềm (秦潛江), chia làm 99 dòng, chảy hơn 300 dặm rồi cùng hội tụ tại 1 cửa. ** Vọng Hải (望海): Đặt năm Kiến Vũ (建武) thứ 19 (năm 43). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Nhà Vũ Đế (武帝) đặt. Cách Lạc Dương (雒陽) 11.580 dặm. Có 5 thành, 46.513 hộ, 209.894 khẩu. Các huyện: Tư Phố (胥浦), Cư Phong (居風), Hàm Hoan (咸懽), Vô Công (無功), Vô Biên (無編). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Xưa là quận Tượng (象郡) nhà Tần, Vũ Đế đổi tên. Cách Lạc Dương (雒陽) 13.400 dặm. Có 5 thành, 18.263 hộ, 100.676 khẩu. Các huyện: Tây Quyển (西卷), Chu Ngô (朱吾) (Sách ''Giao Châu Ký'' viết: "Người dân nơi đây sống dọc bờ biển, không ăn cơm, chỉ sống bằng cá."), Lô Dung (盧容) (Sách ''Gia Châu Ký'' cũng viết: "Có một khu khai thác vàng."), Tượng Lâm (象林) (nay là nước Lâm Ấp), Bắc Cảnh (北景) (sách Bác vật ký 《博物記》 viết: "Người con gái man dã ở phía nam, đi cùng nhau không thấy chồng, hình dáng của họ trắng bệch, trần truồng, không có quần áo." (Chú thích: Việc thành lập quận không có năm tháng để khảo cứu, và sách chí 《志》 đôi khi chỉ ghi ở một hoặc hai huyện, không tiện phân tích, nên bị thiếu).). '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 12 (năm 36), Man Di ngoài cõi quận Cửu Chân (九真) là Trương Du (張遊) dẫn bộ chủng nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': Trương Du (張遊) dẫn người vào quy thuận, được phong làm Quy Hán Lý quân (歸漢里君). '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 13 (năm 37), tháng 9, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) hiến chim trĩ trắng, thỏ trắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 16 (năm 40), mùa xuân tháng 2, người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) làm phản, chiếm các thành ấp.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 16 (năm 40), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) cùng em gái là Trưng Nhị (徵貳) làm phản đánh phá các quận. Trưng Trắc (徵側) là con gái Lạc tướng (雒將) huyện Mê Linh (麊泠), gả làm vợ Thi Sách (詩索) người Chu Diên (朱䳒), tính rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định (蘇定) dùng luật pháp trói buộc (chèn ép), Trắc phẫn nộ nên làm phản. Thế là Man Di các quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Hợp Phố (合浦) đều hưởng ứng. Tổng cộng chiếm hơn 65 thành, tự lập làm vương. Thứ sử Giao Chỉ và các Thái thú chỉ giữ được mình. Quang Vũ (光武) bèn hạ chiếu cho các vùng Trường Sa (長沙), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾) chuẩn bị xe thuyền, sửa đường bắc cầu, thông khe rạch, trữ lương thực." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 18 (năm 42), mùa hạ tháng 4, sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) dẫn Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志) cùng đi đánh giặc Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) và đồng bọn.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 18 (năm 42), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (段志), điều động 10.000 quân từ các vùng Trường Sa (長沙), Quế Dương (桂陽), Linh Lăng (零陵), Thương Ngô (蒼梧) đi chinh phạt." Xét theo ''Mã Viện bản truyện (馬援本傳)'': "Giặc chiếm hơn 60 thành ngoài cõi Lĩnh Nam, Trắc tự lập làm vương. Vua bèn trao ấn dụ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, lấy Phù Lạc hầu Lưu Long (劉隆) làm phó, đốc suất bọn Đoạn Chí (段志) nam chinh Giao Chỉ. Quân đến Hợp Phố (合浦) thì Đoạn Chí (段志) đổ bệnh chết. Vua chiếu cho Mã Viện lĩnh cả đạo quân đó, bèn men theo biển mà tiến, phạt núi mở đường hơn 1.000 dặm. Năm thứ 18 mùa xuân, quân đến Lãng Bạc (浪泊), đánh nhau với giặc, phá tan, chém đầu mấy ngàn cấp, hơn 10.000 người đầu hàng. Mã Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê (禁谿), đánh bại nhiều lần, giặc bèn tan chạy." '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 19 (năm 43), mùa hạ tháng 4, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc (徵側) và đồng bọn, nhân đó đánh phá giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽) và bắt hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm thứ 19 (năm 43), mùa hạ tháng 4, Mã Viện phá Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc (徵側), Trưng Nhị (徵貳), số còn lại đều tan hàng. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽), phá được và bắt hàng, dời 300 hộ thủ lĩnh đến Linh Lăng (零陵), từ đó cõi Lĩnh Biểu thảy đều bình định." Xét theo ''Mã Viện bản truyện (馬援本傳)'': "Năm thứ 19 (năm 43), tháng Giêng, chém Trưng Trắc (徵側), Trưng Nhị (徵貳), gửi đầu về Lạc Dương (洛陽), phong Mã Viện làm Tân Tức hầu (新息侯), thực ấp 3.000 hộ. Mã Viện đem hơn 2.000 chiếc thuyền lớn nhỏ, hơn 20.000 chiến sĩ đánh giặc Cửu Chân. Dư đảng của Trưng Trắc là Đô Dương (都陽) chạy từ Vô Công (無功) đến Cư Phong (居風), bị chém và bắt hơn 5.000 người, cõi Kiệu Nam thảy đều bình định. Mã Viện tâu rằng: Huyện Tây Vu (西于) có 32.000 hộ, cương giới xa xôi cách trị sở hơn 1.000 dặm, xin chia làm 2 huyện Phong Khê (封溪) và Vọng Hải (望海). Vua chấp thuận. Mã Viện đi qua nơi nào đều vì quận huyện đó mà sửa sang thành quách, đào kênh tưới tiêu để làm lợi cho dân. Ông điều trần hơn 10 việc về luật của người Việt sai khác với luật Hán, cùng người Việt làm sáng tỏ chế độ cũ để ước thúc họ. Từ đó về sau người Lạc Việt (駱越) đều phụng hành theo việc cũ của Mã tướng quân." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Mã Viện bình định bộ Giao, mới bắt đầu điều chỉnh lập thành quách, đặt xóm làng." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Năm Kiến Vũ (建武) thứ 16 (năm 40), người đàn bà Trưng Trắc (徵側) làm phản, Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong, lập cột đồng làm ranh giới." ((Theo Sử ký, cuộc nổi loạn diễn ra vào năm thứ mười sáu, việc dẹp loạn vào năm thứ mười tám, và cuộc thảo luận chung vào năm thứ mười chín.)) '''Năm Chương Đế (章帝) Nguyên Hòa (元和) thứ 1 (năm 84), mùa xuân tháng Giêng, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) hiến tê giác sống và chim trĩ trắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Chương Đế bản kỷ (章帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 1 (năm 84), Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) là bọn Cứu Bất Sự (究不事), hào trưởng trong ấp đã hiến tê giác sống và chim trĩ trắng." '''Năm Hòa Đế (和帝) Vĩnh Nguyên (永元) thứ 12 (năm 100), mùa hạ tháng 4, Man Di ở Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) làm phản, quân quận đánh dẹp bình định xong.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hòa Đế bản kỷ (和帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Nguyên (永元) thứ 12 (năm 100), mùa hạ tháng 4, hơn 2.000 người Man Di ở Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) cướp bóc trăm họ, đốt phá dinh thự triều đình. Quận huyện điều binh đánh trả, chém đầu thủ lĩnh của chúng, số còn lại đều hàng phục. Do đó mới đặt chức Tượng Lâm Tướng binh Trường sử (象林將兵長史) để phòng ngừa hậu họa." '''Năm Vĩnh Nguyên (永元) thứ 14 (năm 102), tháng 5 ngày Đinh Mùi, bắt đầu đặt chức quan Tượng Lâm Tướng binh Trường sử.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hòa Đế bản kỷ (和帝本紀)'' đã dẫn. * ''〈Chú thích〉'' Hám Nhân (闞駰) trong ''Thập tam châu chí (十三州志)'' nói: "Tướng binh Trường sử đóng tại quận Nhật Nam (日南郡), lại có chức Tướng binh Tư mã (將兵司馬), cách Lạc Dương (雒陽) 9.630 dặm." '''Năm An Đế (安帝) Vĩnh Sơ (永初) thứ 1 (năm 107), tháng 5, Man Di vùng Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân (九真) đem đất đai nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 1 (năm 107), Man Di vùng Dạ Lang (夜郎) ngoài cõi Cửu Chân (九真) đem đất đai nội thuộc, mở rộng biên cảnh thêm 1.840 dặm." '''Năm Nguyên Sơ (元初) thứ 3 (năm 116), mùa xuân tháng Giêng, Man Di các vùng Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦) làm phản. Tháng 2, sai Thị ngự sử Nhậm Đạc (任逴) đốc suất quân châu quận đi đánh dẹp. Tháng 3, xá miễn cho lại dân các vùng Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Nam Hải (南海) bị giặc ép bức. Mùa đông tháng 11, Man Di các vùng Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố đầu hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Nguyên Sơ (元初) thứ 2 (năm 115), Man Di vùng Thương Ngô (蒼梧) làm phản. Năm sau (năm 116), chúng lôi kéo dụ dỗ hơn mấy ngàn người gồm cả người Man và người Hán ở Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦) đánh phá quận Thương Ngô (蒼梧郡). Đặng thái hậu (鄧太后) sai Thị ngự sử Nhậm Đạc (任逴) vâng chiếu xá tội cho chúng, giặc thảy đều hàng phục và tan đi." '''Năm Diên Quang (延光) thứ 1 (năm 122), mùa thu tháng 8 ngày Tân Mão, Cửu Chân (九真) tâu có rồng vàng (hoàng long) hiện ở huyện Vô Công (無功). Mùa đông tháng 12, Man Di ngoài cõi Cửu Chân (九真) cống hiến nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Diên Quang (延光) thứ 1 (năm 122), Man Di ngoài cõi Cửu Chân (九真) cống hiến nội thuộc." '''Năm Diên Quang (延光) thứ 2 (năm 123), mùa hạ tháng 6, Cửu Chân (九真) tâu có lúa chiêm tốt (gia hòa) sinh ra.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Diên Quang (延光) thứ 3 (năm 124), mùa hạ tháng 5, Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) nội thuộc. Mùa thu tháng 7, hào soái Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) đến cửa khuyết dâng cống phẩm.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – An Đế bản kỷ (安帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Man Di ngoài cõi Nhật Nam (日南) lại đến nội thuộc." '''Năm Thuận Đế (順帝) Vĩnh Kiến (永建) thứ 6 (năm 131), mùa đông tháng 12, các nước Diệp Điều (葉調國) và Thiện Quốc (撣國) ngoài cõi Nhật Nam (日南) sai sứ đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Kiến (永建) thứ 6 (năm 131), vua nước Diệp Điều (葉調王) là Tiện (便) ngoài cõi Nhật Nam (日南) sai sứ đến cống hiến. Vua ban cho Điều Tiện (調便) ấn vàng và dải thao tím (kim ấn tử thụ)." Xét theo ''Đông Quan ký (東觀記)'': "Vua nước Diệp Điều (葉調國) sai sứ là Sư Hội (師會) đến cửa khuyết cống hiến, lấy Sư Hội (師會) làm Hán Quy Nghĩa Diệp Điều ấp quân (漢歸義葉調邑君), ban cho dải thao tím. Cùng lúc đó, vua nước Thiện (撣國) là Ung Điền (雍田) cũng được ban ấn vàng dải thao tím." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 1 (năm 136), mùa đông tháng 12, Man Di ở Tượng Lâm (象林) làm phản.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 2 (năm 137), mùa hạ tháng 5, Man Di Nhật Nam (日南) làm phản, đánh phá phủ quận. Mùa thu tháng 9, quân 2 quận Giao Chỉ (交趾) làm phản.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 2 (năm 137), hơn mấy ngàn người Man Di ngoài cõi Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam (日南) là bọn Khu Liên (區憐) tấn công huyện Tượng Lâm (象林), đốt thành quách dinh thự, giết trưởng lại. Thứ sử Giao Chỉ là Phan Diễn (樊演) điều động hơn 10.000 quân từ 2 quận Giao Chỉ (交趾) và Cửu Chân (九真) đi cứu viện. Binh sĩ sợ đi đánh xa, bèn phản lại mà đánh vào phủ. 2 quận tuy đánh tan được bọn phản binh, nhưng thế giặc (Khu Liên) chuyển sang cường thịnh. Gặp lúc Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) đang đi sứ tại Nhật Nam, bèn cùng châu quận hợp lực đánh dẹp, nhưng không có lợi, bị giặc vây hãm. Hơn 1 năm trời quân lương không tiếp tế được, nhà vua lấy làm lo lắng." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 138), mùa hạ tháng 6, Thái thú Cửu Chân là Chúc Lương (祝良), Thứ sử Giao Chỉ là Trương Kiều (張喬) vỗ về dụ dỗ khiến giặc Nhật Nam hàng phục.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': Giả Xương (賈昌) bị giặc vây, hơn 1 năm quân lương cạn kiệt. Năm thứ 3 (năm 138), vua triệu tập công khanh trăm quan cùng thuộc hạ 4 phủ để hỏi phương lược. Mọi người đều bàn nên sai đại tướng điều động 40.000 quân từ các châu Kinh (荊), Dương (揚), Diễn (兗), Dự (豫) tới. Đại tướng quân Trung lang tướng Lý Cố (李固) bác lại rằng: "Nếu Kinh, Dương vô sự thì điều động cũng được. Nay giặc cướp ở 2 châu này kết bè phái không tan, Man Di ở Vũ Lăng (武陵), Nam Quận (南郡) chưa yên, Trường Sa (長沙), Quế Dương (桂陽) mấy lần bị trưng binh. Nếu lại gây xáo động, tất sinh họa khác, ấy là cái không thể thứ 1. Lại nữa, người vùng Diễn, Dự bất chợt bị bắt đi xa vạn dặm không hẹn ngày về, chiếu thư hối thúc, tất sẽ dẫn tới bỏ trốn và làm phản, ấy là cái không thể thứ 2. Đất phương Nam nước độc khí nóng, lại có chướng khí, người chết tất đến 4 hoặc 5 phần trong 10 phần, ấy là cái không thể thứ 3. Đi xa vạn dặm, sĩ tốt mệt mỏi, tới được Lĩnh Nam thì không còn sức mà đánh, ấy là cái không thể thứ 4. Quân đi 30 dặm là một trình, mà cách Nhật Nam (日南) hơn 9.000 dặm, phải 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tiêu tốn 600.000 hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại và lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi đã tốn kém như thế, ấy là cái không thể thứ 5. Giả sử quân tới nơi, người chết tất nhiều, đã không đủ chống địch lại phải điều động thêm, ấy là cắt lòng dạ để bù tay chân, ấy là cái không thể thứ 6. Cửu Chân (九真) và Nhật Nam (日南) cách nhau 1.000 dặm, điều động lại dân nơi đó họ còn không chịu nổi, huống chi làm khổ binh sĩ 4 châu đi vạn dặm vào nơi gian khó? Ấy là cái không thể thứ 7." Lý Cố nói tiếp: "Trước đây Trung lang tướng Doãn Tựu (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu (益州), dân gian có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tựu bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều dựa vào tướng lại sở tại, chỉ trong mười ngày một tháng đã phá sạch quân khấu tặc. Đó là minh chứng cho việc cử tướng (từ trung ương) không có ích, mà châu quận có thể tin dùng được. Nên chọn người dũng lược, nhân huệ có tài tướng soái làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều cho cùng ở Giao Chỉ (交趾). Nay Nhật Nam (日南) binh đơn lương cạn, thủ không xong mà chiến không nổi, nên dời cả lại dân vào phía Bắc nương tựa Giao Chỉ. Sau khi sự việc yên tĩnh mới cho về bản quán. Lại dùng vàng bạc gấm vóc chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh lẫn nhau. Ai có thể dùng kế ly gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa phong hầu ban đất. Cựu Thứ sử Tinh Châu (并州) là Chúc Lương (祝良) người Trường Sa tính cương quyết, dũng cảm; lại có Trương Kiều (張喬) người Nam Dương trước ở Ích Châu có công phá giặc, đều có thể dùng được. Xưa Thái Tông phong Ngụy Thượng làm Thái thú Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú Thái Sơn, nên phong cho Lương và Kiều rồi lên đường nhận chức ngay." Bốn phủ đều theo lời bàn ấy. Bèn phong Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân (九真), Trương Kiều (張喬) làm Thứ sử Giao Chỉ (交州). Trương Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, giặc thảy đều hàng phục tan đi. Chúc Lương đến Cửu Chân, một xe đi thẳng vào trong lòng giặc, dùng phương lược chiếu tỏ uy tín, người hàng phục đến mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng dinh phủ, từ đó cõi Lĩnh Ngoại lại được thái bình. '''Năm Kiến Khang (建康) thứ 1 (năm 144), mùa đông tháng 10, Man Di ở Nhật Nam (日南) đánh phá, thiêu rụi thành ấp; Thứ sử Giao Chỉ (交趾) là Hạ Phương (夏方) chiêu dụ khiến chúng hàng phục.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Thuận Đế bản kỷ (順帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Xung Đế bản kỷ (沖帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Kiến Khang (建康) thứ 1 (năm 144), hơn 1.000 người Man Di ở Nhật Nam (日南) lại đánh phá, thiêu rụi huyện ấp, sau đó cổ động vùng Cửu Chân (九真) cùng liên kết với nhau. Thứ sử Giao Chỉ (交趾) người Cửu Giang (九江) là Hạ Phương (夏方) mở lòng khoan ân chiêu dụ, giặc thảy đều hàng phục. Bấy giờ Lương Thái hậu (梁太后) lâm triều, khen ngợi công lao của Hạ Phương (夏方), thăng làm Thái thú Quế Dương (桂陽)." '''Năm Hoàn Đế (桓帝) Vĩnh Thọ (永壽) thứ 3 (năm 157), mùa hạ tháng 4, Man Di ở Cửu Chân (九真) làm phản, Thái thú Nghê Thức (兒式) đánh dẹp nhưng tử trận; sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá được, sau đó quân giặc rút về cố thủ tại Nhật Nam (日南).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Vĩnh Thọ (永壽) thứ 3 (năm 157), huyện lệnh Cư Phong (居風) tham lam bạo ngược vô độ, người trong huyện là Chu Đạt (朱達) cùng với quân Man Di tụ tập đánh giết huyện lệnh. Đám đông lên đến 4.000 hoặc 5.000 người, tiến đánh Cửu Chân (九真), Thái thú Cửu Chân là Nghê Thức (兒式) tử trận. Vua ban chiếu tặng 600.000 tiền, phong 2 người con làm Lang quan, sai Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng (魏朗) đánh phá được giặc, chém đầu 2.000 cấp. Thủ lĩnh giặc vẫn còn đóng quân cố thủ tại Nhật Nam (日南), thế lực chuyển sang cường thịnh." '''Năm Diên Hy (延熹) thứ 3 (năm 160), mùa đông tháng 11, giặc Man ở Nhật Nam (日南) dẫn quân đến quận đầu hàng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Diên Hy (延熹) thứ 3 (năm 160), hạ chiếu lại phong Hạ Phương (夏方) làm Thứ sử Giao Chỉ (交趾). Hạ Phương vốn có uy đức lừng lẫy, quân giặc cũ ở Nhật Nam (日南) nghe danh, hơn 20.000 người đã dắt díu nhau đến chỗ Phương đầu hàng." '''Năm Diên Hy (延熹) thứ 5 (năm 162), mùa hạ tháng 4, giặc ở Trường Sa (長沙) nổi lên, đánh chiếm Quế Dương (桂陽), Thương Ngô (蒼梧). Tháng 5, giặc ở Trường Sa (長沙), Linh Lăng (零陵) nổi lên, đánh phá các vùng Quế Dương (桂陽), Thương Ngô (蒼梧), Nam Hải (南海), Giao Chỉ (交趾). Sai Ngự sử Trung thừa Thịnh Tu (盛修) đốc suất quân châu quận đi đánh dẹp nhưng không thắng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hoàn Đế bản kỷ (桓帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Linh Đế (靈帝) Kiến Ninh (建寧) thứ 3 (năm 170), mùa thu tháng 9, dân Ô Hú (烏滸) ở Uất Lâm (鬱林) dắt díu nhau nội thuộc.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Nam Man truyện (南蠻傳)'': "Năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 (năm 170), Thái thú Uất Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) dùng ân tín chiêu hàng được hơn 100.000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều được ban mũ đai (phong quan tước), mở mang và đặt ra 7 huyện." '''Năm Hy Bình (熹平) thứ 2 (năm 173), mùa đông tháng 12, nước ngoài cõi Nhật Nam (日南) qua nhiều lần dịch mà đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 1 (năm 178), mùa xuân tháng Giêng, Man Ô Hú (烏滸) ở Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾) làm phản, chiêu dụ dân Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) đánh chiếm các quận huyện.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 4 (năm 181), mùa hạ tháng 4, Thứ sử Giao Chỉ là Chu Tuấn (朱㒞) đánh dẹp Man Ô Hú (烏滸) ở Giao Chỉ (交趾), Hợp Phố (合浦), phá tan được chúng.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Quang Hòa (光和) thứ 6 (năm 183), mùa xuân tháng Giêng, nước ngoài cõi Nhật Nam (日南) qua nhiều lần dịch mà đến cống hiến.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' và ''Nam Man truyện (南蠻傳)'' đều chép như vậy. '''Năm Trung Bình (中平) thứ 1 (năm 184), tháng 6, binh lính đóng đồn ở Giao Chỉ (交趾) bắt giữ Thứ sử và Thái thú Hợp Phố là Lai Đạt (來達), tự xưng là Trụ Thiên tướng quân (柱天將軍). Sai Thứ sử Giao Chỉ là Giả Tùng (賈琮) đánh dẹp bình định xong.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Linh Đế bản kỷ (靈帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hiến Đế (獻帝) Kiến An (建安) thứ 8 (năm 203), Trương Tân (張津) làm Thứ sử, Sĩ Nhiếp (士燮) làm Thái thú Giao Chỉ (交趾), cùng dâng biểu xin lập làm Châu, bèn phong Trương Tân (張津) làm Giao Châu mục (交州牧).''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hiến Đế bản kỷ (獻帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Kiến An (建安) thứ 15 (năm 210), Giao Châu (交州) dời trị sở đến Phiên Ngung (番禺). Ban chiếu cho châu biên thùy được sử dụng cờ tiết (sứ trì tiết) và quận được ban nhạc khí (cổ xúy) để tăng uy trọng cho trấn thành; gia phong lễ Cửu tích và điệu múa Lục dật.''' Xét theo ''Hậu Hán thư (後漢書) – Hiến Đế bản kỷ (獻帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Hậu Chủ (後主) thứ [khuyết] (nhà Thục Hán), lấy Lý Khôi (李恢) làm quan từ xa lãnh đạo Giao Châu.''' Xét theo ''Thục chí (蜀志) – Hậu Chủ truyện (後主傳)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Nhà Thục (蜀) lấy Lý Khôi (李恢) làm Thái thú Kiến Ninh (建寧), từ xa kiêm lĩnh chức Giao Châu thứ sử (交州刺史)." ===Tam quốc=== '''Năm Ngô Đại Đế (吳大帝) Hoàng Vũ (黃武) thứ 5 (năm 226), chia Giao Châu (交州) để đặt Quảng Châu (廣州), nhưng sau đó ít lâu lại khôi phục như cũ.''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Ngô Vương Quyền truyện (吳王權傳)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Năm Ngô Hoàng Vũ (黃武) thứ 5 (năm 226), cắt 3 quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林) lập thành Quảng Châu (廣州); 4 quận Giao Chỉ (交趾), Nhật Nam (日南), Cửu Chân (九真), Hợp Phố (合浦) làm Giao Châu (交州). Đới Lương (戴良) làm Thứ sử, gặp lúc loạn không vào được, Lữ Đại (呂岱) đánh dẹp bình định xong, lại hợp nhất vào bộ Giao (交部)." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Khoảng năm Kiến An (建安 - nhà Hán), đổi làm Giao Châu (交州). Ngô Tôn Quyền (孫權) chia Giao Châu làm Quảng Châu (廣州), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編)." '''Năm Xích Ô (赤烏) thứ 5 (năm 242), đặt lại quận Châu Nhai (珠崖郡).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Ngô Vương Quyền truyện (吳王權傳)'' không chép. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'' đã dẫn. '''Năm Phế Đế (廢帝) Ngũ Phụng (五鳳) thứ 1 (năm 254), cỏ dại (bại thảo) ở Giao Chỉ (交趾) hóa thành lúa (đạo).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Lượng truyện (孫亮傳)'' không chép. Xét theo chú giải trong ''Giang Biểu truyện (江表傳)'' đã dẫn. '''Năm Cảnh Đế (景帝) Vĩnh An (永安) thứ 5 (năm 262), sai Sát Chiến (察戰) đến Giao Chỉ (交趾) điều động chim công (khổng tước) và lợn lớn (đại trư).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'' đã dẫn. '''[Năm Ngụy Thiếu Đế (魏少帝) Cảnh Nguyên (景元) thứ 4; Ngô chủ Vĩnh An (永安) thứ 6 (năm 263)]''' '''Nhà Ngụy (魏) lấy Hoắc Dực (霍弋) từ xa kiêm lĩnh Giao Châu (交州). Quận lại Giao Châu của nhà Ngô là Lữ Hưng (呂興) giết Thái thú Tôn Hủ (孫諝) hàng Ngụy. Nhà Ngụy lấy Hưng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu quân sự. Mệnh chưa đến nơi, Hưng đã bị kẻ dưới tay giết chết.''' Xét theo ''Ngụy chí (魏志) – Thiếu Đế bản kỷ (少帝本紀)'': "Năm Hàm Hy (咸熙) thứ 1 (năm 264), tháng 9, Tôn Hưu (孫休) sai sứ là Đặng Cú (鄧句) ra lệnh cho Thái thú Giao Chỉ xiềng xích đưa dân sở tại đi làm binh. Tướng nhà Ngô là Lữ Hưng (呂興) nhân lòng dân phẫn nộ, lại nghe quân vương (nhà Ngụy) đã bình định Ba Thục (巴蜀), bèn hợp hào kiệt giết bọn Đặng Cú, đuổi Thái thú và trường lại, vỗ về lại dân chờ mệnh lệnh quốc gia. Các quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) nghe tin Hưng bỏ nghịch theo thuận, cũng đồng tâm hưởng ứng. Hưng gửi thư đến các châu quận ở Nhật Nam giải bày đại kế, đem quân đến Hợp Phố (合浦) báo rõ họa phúc, sai Đô úy Đường Phổ (唐譜) đến huyện Tiến Thừa (進乘), thông qua Nam Trung Đô đốc Hộ quân Hoắc Dực (霍弋) dâng biểu tự trình bày. Các tướng lại Giao Chỉ cũng dâng biểu nói: 'Lữ Hưng sáng tạo sự nghiệp, lớn nhỏ đều nghe mệnh. Trong quận có sơn tặc cấu kết các quận, sợ chúng có ý đồ khác gây chia rẽ. Nay theo kế tạm thời, lấy Hưng làm Đốc Giao Chỉ chư quân sự, Thượng Đại tướng quân, Định An huyện hầu, xin ban khen thưởng để an ủi nơi biên hoang'. Lòng thành thể hiện qua lời lẽ. Nay uy quốc gia vang xa, phủ dụ lục hợp, thu phục phương xa, thống nhất bốn cõi. Lữ Hưng đứng đầu hướng về vương hóa, đem chúng quy phục, vạn dặm theo nghĩa, xin lại cai trị, nên gia ân sủng, trọng đãi tước vị. Khiến bọn Hưng cảm mến trung nghĩa, người phương xa nghe thấy tất đua nhau học theo. Bèn lấy Hưng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, Nam Trung Đại tướng quân, phong Định An huyện hầu, được tùy nghi làm việc. Mệnh chưa đến nơi, Hưng đã bị kẻ dưới giết chết." Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'': "Năm Vĩnh An (永安) thứ 6 (năm 263), quận lại Giao Chỉ là Lữ Hưng (呂興) làm phản, giết Thái thú Tôn Hủ (孫諝)." Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Nhà Tấn bình Thục, lấy Thái thú Kiến Ninh (建寧) nhà Thục là Hoắc Dực (霍弋) từ xa kiêm lĩnh Giao Châu (交州), được tùy nghi tuyển dùng trường lại." '''Năm Vĩnh An (永安) thứ 7 (năm 264), mùa thu tháng 7, lại chia Giao Châu để đặt Quảng Châu (廣州).''' Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hưu truyện (孫休傳)'' đã dẫn. '''Năm Mạt Đế (末帝) Bảo Đỉnh (寶鼎) thứ 2 (năm 267), tháng 9, sai Thứ sử Giao Châu Lưu Tuấn (劉俊), Tiền bộ đốc Tu Tắc (修則) vào đánh Giao Chỉ (交趾), bị tướng nhà Tấn là Mao Cảnh (毛炅) đánh bại, đều tử trận, binh lính tan chạy về Hợp Phố (合浦).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Hành (建衡) thứ 1 (năm 269), tháng 11, sai Giám quân Ngu Tự (虞汜), Uy Nam tướng quân Tiết Hủ (薛珝), Thái thú Thương Ngô Đào Hoàng (陶璜) từ Kinh Châu (荊州); Giám quân Lý Húc (李勗), Đốc quân Từ Tồn (徐存) đi đường biển từ Kiến An (建安), thảy đều đến Hợp Phố (合浦) đánh Giao Chỉ (交趾).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Kiến Hành (建衡) thứ 3 (năm 271), Ngu Tự (虞汜) và Đào Hoàng (陶璜) phá Giao Chỉ, bắt giết các thủ tướng do nhà Tấn đặt ra. Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) thảy đều quay về thuộc Ngô. Chia Giao Chỉ để đặt quận Tân Xương (新昌郡). Các tướng phá vùng Phù Nghiêm (扶嚴), đặt quận Vũ Bình (武平郡).''' Xét theo ''Ngô chí (吳 chí) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Địa lý chí (地理志)'': "Tôn Hạo (孫皓) lại lập 3 quận Tân Xương (新昌), Vũ Bình (武平), Cửu Đức (九德)." '''Năm Phượng Hoàng (鳳皇) thứ 3 (năm 274), chia quận Uất Lâm (鬱林) đặt làm quận Quế Lâm (桂林郡).''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Kỷ (天紀) thứ 3 (năm 279), Quách Mã (郭馬) làm phản, tự xưng là An Nam tướng quân, Đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự.''' Xét theo ''Tam Quốc Ngô chí (三國吳志) – Tôn Hạo truyện (孫皓傳)'': "Năm thứ 3 (năm 279) mùa hạ, Quách Mã (郭馬) phản. Mã vốn là bộ khúc của Thái thú Hợp Phố là Tu Uẩn (修允), Uẩn chuyển làm Thái thú Quế Lâm (桂林), bị bệnh ở lại Quảng Châu (廣州). Trước sai Mã dẫn 500 binh đến quận, khi Uẩn chết, binh lính đáng lẽ phải chia nhỏ ra, nhưng bọn Mã là quân cũ nhiều đời, không muốn ly tán. Tôn Hạo (孫皓) bấy giờ lại kiểm kê hộ khẩu Quảng Châu, Mã cùng các tướng bộ khúc là Hà Điển (何典), Vương Tộc (王族), Ngô Thuật (吳述), Ân Hưng (殷興) nhân đó kích động binh dân, tập hợp quân chúng, giết Đốc Quảng Châu là Ngu Thụ (虞授). Mã tự xưng Đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự, An Nam tướng quân; Ân Hưng làm Thứ sử Quảng Châu, Ngô Thuật làm Thái thú Nam Hải, Hà Điển đánh Thương Ngô, Vương Tộc đánh Thủy Hưng. Tháng 8, lấy Quân sư Trương Đễ (張悌) làm Thừa tướng, Đô đốc Ngưu Chữ là Hà Thực (何植) làm Tư đồ, Chấp kim ngô Đằng Tuân (滕循) làm Tư không. Chưa kịp bái chức thì Tuân chuyển làm Trấn Nam tướng quân, giả tiết, lĩnh Quảng Châu mục, soái 10.000 người theo đường Đông đánh bọn Mã và Tộc. Gặp nhau tại Thủy Hưng (始興), chưa tiến lên được thì Mã giết Thái thú Nam Hải Lưu Lược (劉略), đuổi Thứ sử Quảng Châu Từ Kỳ (徐旗). Tôn Hạo lại sai Từ Lăng (徐陵) đốc Đào Tuấn (陶濬) dẫn 7.000 người theo đường Tây, lệnh cho Giao Châu mục Đào Hoàng (陶璜) tập hợp bộ ngũ cùng quân các quận Hợp Phố (合浦), Uất Lâm (鬱林), đồng loạt phối hợp với quân Đông - Tây đánh Mã." * ''〈Chú thích〉'' ''Hán Tấn Xuân Thu (漢晉春秋)'' chép: Trước đó, ở nước Ngô có kẻ thuyết sấm ngôn rằng: "Ngô bại, binh khởi từ Nam Di, kẻ diệt Ngô là Công Tôn vậy". Tôn Hạo nghe thế, phàm các chức văn võ cho đến binh lính ai họ Công Tôn (公孫) đều đày đi Quảng Châu, không cho ở ven sông (Giang biên). Đến khi nghe Quách Mã (郭馬) phản, đại hãi mà nói: "Ấy là trời diệt vậy". ===Tấn=== '''Năm Võ Đế (武帝) Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268), mùa đông tháng 10, tướng nhà Ngô (吳) là Cố Dung (顧容) đánh phá quận Uất Lâm (鬱林), Thái thú Mao Cảnh (毛炅) đại phá được, chém Thứ sử Giao Châu nhà Ngô là Lưu Tuấn (劉俊) và Tướng quân Tu Tắc (修則).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 5 (năm 269), tháng 5, đại xá cho những người chịu hình phạt 5 năm (ngũ tuế hình) ở các vùng Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 7 (năm 271), mùa thu tháng 7, tướng nhà Ngô (吳) là Đào Hoàng (陶璜) cùng đồng bọn vây đánh Giao Chỉ (交趾), Thái thú Dương Tắc (楊稷) cùng Thái thú Uất Lâm là Mao Cảnh (毛炅) và 3 quận Nhật Nam (日南) thảy đều đầu hàng nước Ngô.''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thái Khang (泰康) thứ [khuyết] (nhà Tấn), bãi bỏ quận Châu Nhai (珠崖) nhập vào quận Hợp Phố (合浦). Đặt các quận thuộc Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州).''' Xét theo ''Tấn thư (晉書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' không chép. Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': "Sau khi bình định nước Ngô, bãi bỏ Châu Nhai (珠崖) nhập vào Hợp Phố (合浦). '''Giao Châu (交州)''' thống lĩnh 7 quận, 53 huyện, 25.600 hộ." * '''Quận Hợp Phố (合浦郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: Hợp Phố (合浦), Nam Bình (南平), Đãng Xương (蕩昌), Từ Văn (徐聞), Độc Chất (毒質), Châu Quan (珠官). * '''Quận Giao Chỉ (交趾郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 14 huyện, 12.000 hộ. Các huyện: Long Biên (龍編), Cẩu Lậu (苟漏), Vọng Hải (望海), Luy Lâu (贏𡝭), Tây Vu (西于), Võ Ninh (武寧), Chu Diên (朱鳶), Khúc Dương (曲昜), Giao Hưng (交興), Bắc Đái (北帶), Kê Từ (稽徐), An Định (安定), Nam Định (南定), Hải Bình (海平). * '''Quận Tân Xương (新昌郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 3.000 hộ. Các huyện: Mê Linh (麋泠 - nơi xưa kia bà Trưng Trắc (徵側) làm chủ, Mã Viện (馬援) đã bình định), Gia Ninh (嘉寧), Ngô Định (吳定), Phong Sơn (封山), Lâm Tây (臨西), Tây Đạo (西道). * '''Quận Võ Bình (武平郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 5.000 hộ. Các huyện: Võ Ninh (武寧), Võ Hưng (武興), Tiến Sơn (進山), Căn Ninh (根寧), An Võ (安武), Phù An (扶安), Phong Khê (封溪). * '''Quận Cửu Chân (九真郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 3.000 hộ. Các huyện: Tư Phố (胥浦), Di Phong (移風), Trạm Ngô (湛梧), Kiến Sơ (建初), Thường Lạc (常樂), Phù Lạc (扶樂), Tùng Nguyên (松原). * '''Quận Cửu Đức (九德郡)''': Nhà Ngô đặt. Là vùng đất của họ Việt Thường (越裳氏) thời Chu. Thống lĩnh 8 huyện, không rõ số hộ. Các huyện: Cửu Đức (九德), Hàm Hoan (咸驩), Nam Lăng (南陵), Dương Toại (陽遂), Phù Linh (扶苓), Khúc Tư (曲胥), Phố Dương (浦陽), Đô Kiểu (都洨). * '''Quận Nhật Nam (日南郡)''': Nhà Tần đặt là Tượng Quận (象郡), Hán Võ Đế đổi tên. Thống lĩnh 5 huyện, 600 hộ. ** Các huyện: Tượng Lâm (象林 - từ đây về phía Nam có 4 nước, người ở đó đều tự nhận là con cháu người Hán. Nay có cột đồng (đồng trụ) cũng do nhà Hán dựng làm biên giới. Tại đây nộp vàng để đóng thuế), Lô Dung (盧容 - nơi đặt trị sở Tượng Quận), Chu Ngô (朱吾), Tây Quyển (西卷), Bắc Cảnh (北景). '''Quảng Châu (廣州)''': Hán Võ Đế lấy đất này làm quận Giao Chỉ. Đến năm Thái Khang (泰康), sau khi bình Ngô, bèn lấy 3 bộ Thủy An (始安), Thủy Hưng (始興), Lâm Hạ (臨賀) của Kinh Châu (荊州) cho thuộc về đây. Tổng cộng thống lĩnh 10 quận, 68 huyện, 43.120 hộ. * '''Quận Nam Hải (南海郡)''': Nhà Tần đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 9.500 hộ. Các huyện: Phiên Ngung (番禺), Tứ Hội (四會), Tăng Thành (增城), Bác La (博羅), Long Xuyên (龍川), Bình Di (平夷). * '''Quận Lâm Hạ (臨賀郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 6 huyện, 2.500 hộ. Các huyện: Lâm Hạ (臨賀), Tạ Mộc (謝沐), Phùng Thừa (馮乘), Phong Dương (封陽), Hưng An (興安), Phú Xuyên (富川). * '''Quận Thủy An (始安郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 6.000 hộ. Các huyện: Thủy An (始安), Thủy Dương (始陽), Bình Lạc (平樂), Lệ Phố (荔浦), Thường An (常安), Hy Bình (熙平), Vĩnh Phong (永豐). * '''Quận Thủy Hưng (始興郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 7 huyện, 5.000 hộ. Các huyện: Khúc Giang (曲江), Quế Dương (桂陽), Thủy Hưng (始興), Hàm Khoáng (含洭), Trinh Dương (湞陽), Trung Túc (中宿), Dương Sơn (陽山). * '''Quận Thương Ngô (蒼梧郡)''': Nhà Hán đặt. Thống lĩnh 12 huyện, 7.700 hộ. Các huyện: Quảng Tín (廣信), Đoan Khê (端溪), Cao Yếu (高要), Kiến Lăng (建陵), Tân Ninh (新寧), Mãnh Lăng (猛陵), Chương Bình (鄣平), Nông Thành (農城), Nguyên Khê (元谿), Lâm Duẫn (臨允), Đô La (都羅), Võ Thành (武城). * '''Quận Uất Lâm (鬱林郡)''': Nhà Tần đặt là quận Quế (桂郡), Hán Võ Đế đổi tên. Thống lĩnh 9 huyện, 6.000 hộ. Các huyện: Bố Sơn (布山), Kha Lâm (柯林), Tân Ấp (新邑), Tấn Bình (晉平), Thủy Kiến (始建), Uất Bình (鬱平), Lĩnh Phương (領方), Võ Hy (武熙), An Quảng (安廣). * '''Quận Quế Lâm (桂林郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 8 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: Đàm Trung (潭中), Võ Phong (武豐), Túc Bình (粟平), Dương Bình (羊平), Long Cương (龍剛), Giáp Dương (夾陽), Võ Thành (武城), Quân Đằng (軍騰). * '''Quận Cao Lương (高涼郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 3 huyện, 2.000 hộ. Các huyện: An Ninh (安寧), Cao Lương (高涼), Tư Bình (思平). * '''Quận Cao Hưng (高興郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 5 huyện, 1.220 hộ. Các huyện: Quảng Hóa (廣化), Hải An (海安), Hóa Bình (化平), Hoàng Dương (黃陽), Tây Bình (西平). * '''Quận Ninh Phố (寧浦郡)''': Nhà Ngô đặt. Thống lĩnh 5 huyện, 1.320 hộ. Các huyện: Ninh Phố (寧浦), Liên Đạo (連道), Ngô An (吳安), Xương Bình (昌平), Bình Sơn (平山). ===Lưu Tống=== '''Năm Tống Văn Đế (宋文帝) Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431), mùa xuân tháng Giêng, đặt lại quận Châu Nhai (珠崖郡) tại Giao Châu (交州).''' '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 11 (năm 434), tháng 2, lấy Thái thú Giao Chỉ (交趾) là Lý Đam Chi (李耽之) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét các điều trên theo ''Tống thư (宋書) – Văn Đế bản kỷ (文帝本紀)'' đã dẫn. ===Nam Tề=== '''Năm Nam Tề Cao Đế (南齊高帝) Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479), vẫn lấy Lý Thúc Hiến (李叔獻) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Cao Đế bản kỷ (高帝本紀)'': "Năm Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479), mùa thu tháng 7 ngày Đinh Mùi, chiếu rằng: Giao Chỉ (交趾), Bắc Cảnh (北景), riêng cách biệt với chính朔 (chính sóc - lịch pháp) triều đình. Ấy là bởi vận trước (nhà Lưu Tống) lúc cuối, kẻ dựa nơi biển không đến triều cống, vì mê muội mà lầm đường, muốn quy thuận mà không có lối. Nay đặc xá cho 1 người trong bộ Giao Châu (交州) là Lý Thúc Hiến (李叔獻), cho vỗ về đất phương Nam, các quan văn võ chọn người có tài mà bổ dụng, đồng thời sai Đại sứ đến tuyên dương ân đức triều đình. Lấy Thử thủ Vũ Bình Thái thú (武平太守), Hành Giao Châu phủ sự (行交州府事) là Lý Thúc Hiến (李叔獻) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史)." Xét theo ''Phù Nam truyện (扶難傳)'': Giao Châu (交州) nằm tách biệt nơi hải đảo, khống chế các nước ngoại quốc, vốn cậy nơi hiểm trở mà nhiều lần không phục tùng. Đầu năm Thái Thủy (泰始 - nhà Lưu Tống, năm 465), Thứ sử Trương Mục (張牧) chết, người Giao Chỉ (交趾) là Lý Trường Nhân (李長仁) giết bộ khúc từ phương Bắc tới của Mục, chiếm cứ Giao Châu (交州) làm phản được mấy năm thì bệnh chết. Em họ là Lý Thúc Hiến (李叔獻) nối nghiệp, nhưng hiệu lệnh chưa được thi hành, bèn sai sứ cầu chức Thứ sử. Triều đình nhà Tống (宋朝) lấy Thái thú Nam Hải (南海) là Thẩm Hoán (沈煥) làm Thứ sử Giao Châu, lấy Thúc Hiến làm Ninh Viễn tư mã cho Hoán kiêm Thái thú 2 quận Vũ Bình (武平), Tân Xương (新昌). Thúc Hiến nhận được mệnh triều đình, nhân tình phục tùng, bèn điều binh giữ nơi hiểm yếu, không cho Thẩm Hoán vào. Hoán phải dừng lại ở Uất Lâm (鬱林) rồi bệnh chết. Năm Kiến Nguyên (建元) thứ 1 (năm 479) thời Thái Tổ (太祖 - tức Cao Đế), triều đình vẫn lấy Thúc Hiến làm Thứ sử Giao Châu để an ủi ông ta. '''Năm Võ Đế (武帝) Vĩnh Minh (永明) thứ 3 (năm 485), mùa xuân tháng Giêng ngày Bính Thìn, lấy Đại ty nông Lưu Khải (劉楷) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Võ Đế bản kỷ (武帝本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Phù Nam truyện (扶難傳)'': "Thúc Hiến nhận mệnh, nhưng sau đó ngăn cách các nước ngoại quốc, đồ cống hiến ít ỏi, Thế Tổ (世祖 - tức Võ Đế) muốn thảo phạt. Năm Vĩnh Minh (永 Minh) thứ 1 (năm 483), lấy Ty nông Lưu Khải (劉楷) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史), điều động binh lính các quận Nam Khang (南康), Lư Lăng (廬陵), Thủy Hưng (始興) đi chinh phạt Giao Châu. Thúc Hiến nghe tin, sai sứ nguyện xin hoãn lại thêm vài năm. Hiến dâng 12 đội mũ trụ bằng bạc nguyên chất (thuần ngân đâu mâu) và lông chim công (khổng tước mạo), nhưng Thế Tổ không hứa cho. Thúc Hiến sợ bị Lưu Khải tập kích, bèn theo đường tắt từ Tương Xuyên (湘川) về triều." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 6 (năm 488), tháng 6 ngày Bính Tử, lấy Thái thú Thủy Hưng (始興太守) là Phòng Pháp Thừa (房法乘) làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史).''' Xét theo ''Nam Tề thư (南齊書) – Võ Đế bản kỷ (武帝 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Phù Nam quốc truyện (扶難國傳)'': Năm thứ 6 (năm 488), lấy Thái thú Thủy Hưng (始興太守) là Phòng Pháp Thừa (房法乘) thay Lưu Khải. Pháp Thừa đến trấn, mắc bệnh nên không quản lý việc gì, chỉ chuyên tâm đọc sách. Trường sử Phục Đăng Chi (伏登之) nhân đó chuyên quyền, thay đổi tướng lại mà không cho Pháp Thừa biết. Lục sự Phòng Kế Văn (房季文) thưa chuyện đó, Pháp Thừa đại nộ, nhốt Đăng Chi vào ngục. Hơn 10 ngày, Đăng Chi lo lót hậu hĩnh cho em rể Pháp Thừa là Thôi Cảnh Thúc (崔景叔) mới được ra, bèn dẫn bộ khúc đánh úp châu thành, bắt giữ Pháp Thừa và bảo: 'Sứ quân đã có bệnh, không nên lao nhọc', rồi nhốt vào thất riêng. Pháp Thừa không có việc gì làm, lại gặp Đăng Chi xin sách để đọc, Đăng Chi nói: 'Sứ quân cần tĩnh dưỡng, chỉ e đọc sách làm bệnh động thêm, sao có thể xem sách được?'. Cuối cùng không cho, rồi dâng sớ lên triều đình nói rằng Pháp Thừa bị bệnh tim tái phát, không đảm đương được công việc. Thế Tổ (世祖) bèn lấy Đăng Chi làm Thứ sử Giao Châu (交州刺史), Pháp Thừa quay về đến cõi Lĩnh thì chết. Pháp Thừa người Thanh Hà (清河), năm Thăng Minh (昇明 - nhà Lưu Tống) làm Phiêu kỵ trung binh cho Thái Tổ (太祖), sau thăng đến Tả trung lang tướng. Tính tình cương trực giản dị, thân cao 8 xích 3 thốn (khoảng 2m), đi đứng cao hơn người thường nên thường tự cúi mình xuống. Thứ sử Thanh Châu (青州) là Minh Khánh Phù (明慶符) cũng cao ngang Pháp Thừa, triều đình khi ấy chỉ có 2 người này (có vóc dáng như vậy). ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka96gc0t9i?page_from=profile&version=1 安南部彙考一(交趾)] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 9ldgeq2ekzepx2vu7lmo88yoiuuc0w7 Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 091 114 71918 204594 2026-04-08T09:00:13Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 91''' | trước= [[../quyển 090|quyển 90]] | sau= [[../quyển 092|quyển 92]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 2== === Đường === '''Nă…” 204594 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 91''' | trước= [[../quyển 090|quyển 90]] | sau= [[../quyển 092|quyển 92]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 2== === Đường === '''Năm Đường Cao Tổ (唐高祖) Vũ Đức (武德) thứ 5 (năm 222), bắt đầu lấy phủ An Nam đô hộ (安南都護府) cho thuộc vào Lĩnh Nam đạo (嶺南道).''' Xét theo ''Đường thư (唐書) – Cao Tổ bản kỷ (高 Tổ bản kỷ)'' không chép. Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': "Phủ An Nam trung đô hộ (安南中都護府) vốn là quận Giao Chỉ (交趾郡). Năm Vũ Đức (武德) thứ 5 (năm 222) gọi là Giao Châu (交州), trị sở tại Giao Chỉ (交趾)." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Nước An Nam (安南國), xưa là Giao Chỉ (交趾). Khoảng năm Kiến An (建安) thời Hiến Đế (獻帝), đổi làm Giao Châu (交州). Nhà Ngô Tôn Quyền (孫權) chia Giao Châu để đặt Quảng Châu (廣州), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編). Các triều đại Tấn (晉), Tống (宋), Tề (齊), Lương (梁), Trần (陳), Tùy (隋) đều theo đó. Đầu thời Đường (唐) đổi làm phủ An Nam đô hộ (安南都護府), thuộc Lĩnh Nam đạo (嶺南道), tên gọi An Nam (安南) bắt đầu từ đây. Quận Giao Chỉ (交趾郡) làm Giao Châu (交州), chia ra các châu Vũ Nga (武峨州), Việt Châu (粵州), Chi Châu (芝州). Quận Cửu Chân (九真郡) làm Ái Châu (愛州). Chia ra các châu Phúc Lộc (福祿州), Trường Châu (長州). Quận Nhật Nam (日南郡) làm Hoan Châu (歡州). Chia ra các châu Phong Châu (峰州), Lục Châu (陸州), Thang Châu (湯州), lại có Ngu Châu (禺州), Nham Châu (巖州), tổng cộng là 12 châu." '''Năm Ý Tông (懿宗) Hàm Thông (咸通) thứ 1 (năm 860), tháng 12 ngày Mậu Thân, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) đánh phá An Nam (安南).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 3 (năm 862), tháng 11, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) đánh phá An Nam (安南).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 4 (năm 863), tháng Giêng, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) chiếm được An Nam (安南), Thái Tập (蔡襲) tử trận. Tháng 2, bái tế 16 lăng (十六陵). Lấy Kinh lược sứ Tần Châu (秦州) là Cao Biền (高駢) làm An Nam kinh lược chiêu thảo sứ (安南經略招討使).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 6 (năm 865), tháng 5, Cao Biền (高駢) cùng quân Man Vân Nam (雲南蠻) đánh nhau tại Ung Châu (邕州), phá tan được chúng.''' Xét các điều trên đều theo ''Đường thư (唐書) – Ý Tông bản kỷ (懿宗 bản kỷ)'' đã dẫn. '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 7 (năm 866), tháng 10, Cao Biền (高駢) thu phục được An Nam (安南).''' Xét theo ''Đường thư (唐書) – Ý Tông bản kỷ (懿宗 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Cao Biền truyện (高駢傳)'': "Khoảng năm Hàm Thông (咸通), vua muốn thu phục An Nam, bái Cao Biền (高駢) làm Đô hộ, triệu về kinh sư, bái kiến tại điện Linh Đài. Khi ấy Dung Quản kinh lược sứ (容管經略使) là Trương Nhân (張茵) không chịu đánh giặc, vua bèn đem binh của Nhân giao cho Biền. Biền qua sông, hẹn Giám quân Lý Duy Chu (李維周) cùng tiến quân, nhưng Duy Chu lại ôm quân đóng trại tại Hải Môn (海門). Biền dừng tại Phong Châu (峰州), đại phá quân Man Nam Chiếu (南詔蠻), thu lấy chiến lợi phẩm để nuôi quân. Duy Chu đố kỵ, giấu tin thắng trận không tâu lên, triều đình không có tin tức của Biền suốt hơn 100 ngày. Vua xuống chiếu hỏi tình hình, Duy Chu hặc tội Biền khinh địch không tiến, vua bèn sai Hữu võ vệ tướng quân Vương Yến Quyền (王晏權) sang thay Biền. Chẳng bao lâu Biền hạ được An Nam, chém soái quân Man là Đoạn Tù Thiên (段酋遷), thu phục các động hàng phụ lên đến số 20.000. Lúc Yến Quyền đang cùng Duy Chu xuất phát từ Hải Môn, phát hịch lệnh cho Biền về Bắc, thì Biền đã sai Vương Huệ Tán (王惠贊) đem đầu của Tù Thiên về kinh sư. Huệ Tán thấy đội thuyền rất thịnh của Yến Quyền, sợ chúng đoạt mất tờ sớ bèn giấu vào trong đảo, tìm cách về kinh sư. Thiên tử xem sớ, ngự tại điện Tuyên Chính, quần thần thảy đều chúc mừng, đại xá thiên hạ. Thăng Biền làm Kiểm hiệu Hình bộ thượng thư, tiếp tục trấn thủ An Nam. Đổi phủ Đô hộ làm Tĩnh Hải quân (靜海軍), trao cho Biền chức Tiết độ sứ kiêm Chiêu thảo sứ của hành doanh các đạo. Bắt đầu đắp thành An Nam. Từ An Nam đến Quảng Châu (廣州), đường thủy hiểm trở, nhiều đá lớn, Biền chiêu mộ thợ đục bỏ, từ đó thuyền bè đi lại yên ổn, lương thực dự trữ được cung ứng đầy đủ. Lại có sứ giả hằng năm đến, Biền bèn đục 5 con đường, đặt binh hộ tống. Đường đi qua núi Thanh Thạch (青石), có thuyết nói xưa Mã Viện (馬援) không đục nổi, đến khi Biền đánh vào, có sét đánh nát đá nên mới thông được, nhân đó đặt tên đường là Thiên Oai (天威)." ===Hậu Lương=== '''Năm Hậu Lương (後梁) Mạt Đế (末帝) Trinh Minh (貞明) thứ [khuyết] (giai đoạn năm 915–921), An Nam (安南) dâng thư quy thuận nhà Lương.''' Xét theo ''Ngũ Đại Sử (五代史) – Lương bản kỷ (梁本紀)'' không chép. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Khoảng năm Trinh Minh (貞明) thời nhà Lương thuộc thời Ngũ Quý (五季), vùng này bị thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chiếm giữ, dâng thư quy thuận nhà Lương, được phong chức Tiết độ sứ. Bấy giờ nhà Nam Hán (南漢) chuyên quyền tại Lĩnh Biểu, sai tướng Lý Tri Thuận (李知順) đi đánh Thừa Mỹ, bắt sống được ông ta, rồi bình định và chiếm hữu đất ấy. Chẳng bao lâu sau, vùng đất bị tướng Ái Châu (愛州) là Dương Diên Nghệ (楊延藝) chiếm giữ, sau đó tướng trong châu là Ngô Xương Cập (吳昌岌) đoạt lấy, rồi truyện cho em là Xương Văn (昌文)." ===Tống=== '''Năm Tống Thái Tổ (宋太祖) Càn Đức (乾德) thứ [khuyết] (giai đoạn năm 963–968), An Nam (安南) dâng biểu nội phụ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Đầu năm Càn Đức (乾德) nhà Tống, Xương Văn (昌文) chết, bọn Ngô Xứ Bình (吳處玶) tranh lập, trong cõi đại loạn. Có người tên Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) bình định được, tự xưng là Đại Thắng Vương (大勝王), riêng phong cho con là Đinh Liễn (丁璉) làm Tiết độ sứ. Nghe tin nhà Nam Hán (南漢) đã bị bình định, bèn dâng biểu xin nội phụ." '''Năm Khai Bảo (開寶) thứ 6 (năm 973), mùa hạ tháng 5 ngày Kỷ Tỵ, Đinh Liễn (丁璉) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến dâng phương vật.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Giao Chỉ (交阯) vốn là đất Nam Việt (南越) thời đầu nhà Hán. Hán Võ Đế bình định Nam Việt, chia đất đó thành 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交阯), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đặt chức Giao Chỉ thứ sử để cai quản. Hậu Hán đặt Giao Châu (交州), các nhà Tấn (晉), Tống (宋), Tề (齊), Lương (梁), Trần (陳) đều theo đó, lại gọi là quận Giao Chỉ (交阯郡). Nhà Tùy bình định nhà Trần, phế quận lập châu; đầu thời Dạng Đế lại phế châu lập quận. Năm Vũ Đức (武德) nhà Đường đổi làm Giao Châu tổng quản phủ, năm Chí Đức (至德) đổi làm An Nam đô hộ phủ (安南都護府). Năm Trinh Minh (貞明) nhà Lương, thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) độc chiếm đất ấy, dâng thư quy thuận Mạt Đế, nhân đó được trao tiết việt. Bấy giờ Lưu Ẩn (劉隱) chuyên quyền tại Lĩnh Biểu, sai tướng Lý Tri Thuận (李知順) đánh Thừa Mỹ, bắt sống được ông ta, bèn gồm thâu cả đất ấy. Sau có Dương Diên Nghệ (楊延藝), Kiều Thiệu Hồng (矯紹洪), đều nhận chức do Quảng Nam (nhà Nam Hán) bổ dụng, nối nhau làm Giao Chỉ tiết độ sứ. Thiệu Hồng chết, tướng trong châu là Ngô Xương Cập (吳昌岌) bèn chiếm vị trí đó. Xương Cập chết, em là Xương Văn (昌文) nối nghiệp. Đầu năm Càn Đức (乾德), Xương Văn chết, các tham mưu Ngô Xứ Bình (吳處玶), Thứ sử Phong Châu (峰州) Kiều Tri Hựu (矯知護), Thứ sử Vũ Ninh Châu (武寧州) Dương Huy (楊暉), Nha tướng Đỗ Cảnh Thạc (杜景碩) tranh nhau lập, 12 châu trong cõi đại loạn, dân chúng kêu gọi tụ tập nổi lên làm trộm cướp, tấn công Giao Châu. Trước đó, Dương Diên Nghệ (楊延藝) lấy nha tướng Đinh Công Trứ (丁公著) nhiếp chức Thứ sử Hoan Châu (歡州) kiêm Ngự phiên đô đốc, Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) chính là con của ông ta. Công Trứ chết, Bộ Lĩnh nối nghiệp. Đến đây Bộ Lĩnh cùng con là Đinh Liễn (丁璉) dẫn binh đánh bại bọn Xứ Bình, đảng tặc tan rã, trong cảnh yên ổn, dân Giao Chỉ nhớ đức ấy bèn tôn Bộ Lĩnh làm Giao Châu soái, hiệu là Đại Thắng Vương (大勝王), phong cho con là Đinh Liễn (丁璉) làm Tiết độ sứ. Qua 3 năm, nhường ngôi cho Liễn. Liễn lập được 7 năm, nghe tin vùng Lĩnh Biểu đã bình định, bèn sai sứ dâng phương vật, dâng biểu nội phụ. Vua xuống chế lấy Quyền Giao Châu tiết độ sứ Đinh Liễn (丁璉) làm Kiểm hiệu Thái sư, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ (靜海軍節度使), An Nam đô hộ (安南都護); lại xuống chiếu lấy Tiến phụng sứ Trịnh Tú (鄭琇), Vương Thiệu Tộ (王紹祚) đều làm Kiểm hiệu Tả tán kỵ thường thị kiêm Ngự sử đại phu." '''Năm Khai Bảo (開寶) thứ 8 (năm 975), tháng 5 ngày Giáp Ngọ, An Nam đô hộ Đinh Liễn (丁璉) sai sứ đến cống hiến.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 975) sai sứ cống tê giác, voi, hương liệu và thuốc. Triều đình bàn việc tôn sùng và ưu đãi Bộ Lĩnh, xuống chế rằng: 'Khắp cõi đến quy phục, phải lấy ân tín mà đối đãi; cả họ phụng sự quốc gia, nên được phong thưởng long trọng. Nghĩ đến vị thần nơi cực biên, thực hiện điển lễ hiển hách cho người thân. Ngươi là Bộ Lĩnh, đời là danh gia, giữ vững phương xa, sớm mộ phong hóa trung hoa, không quên nội phụ. Nay 9 châu đã hợp nhất, 5 rặng núi (Ngũ Lĩnh) đã dẹp yên, không ngại sóng lớn đại dương, vui vẻ dâng nộp sản vật quý. Khen cho con giỏi của ngươi, xứng đáng là phiên dậu của ta. Đặc ban ơn lớn để nêu gương nghĩa huấn. Chúc ngươi trường thọ, nhận chương phục phong tặng này. Khả phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu Thái sư, phong làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)'. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Năm thứ 8 (năm 975), xuống chiếu phong Bộ Lĩnh (部領) làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), Liễn (璉) làm Tiết độ An Nam đô hộ. An Nam (安南) từ đây bắt đầu trở thành phiên di vậy." '''Năm Thái Tông (太宗) Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ [khuyết] (giai đoạn 976–980), An Nam (安南) sang cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Thái Tông lên ngôi, Đinh Liễn (丁璉) lại sai sứ đem phương vật đến chúc mừng." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ [khuyết] (năm 979–980), đại tướng An Nam là Lê Hoàn (黎桓) chuyên quyền phế chủ, Thái Tông bàn định việc cử binh.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Sau khi Bộ Lĩnh (部領) và Liễn (璉) chết, em của Liễn là Toàn (璿) còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, xưng là Tiết độ Hành quân Tư mã, quyền lĩnh việc quân phủ. Đại tướng Lê Hoàn (黎桓) chuyên quyền dựng đảng, dần không thể chế ngự được, bèn dời Toàn (璿) sang dinh thự khác, giam cầm cả họ, rồi thay thế thống lĩnh đám đông. Thái Tông nghe tin thì nổi giận, bèn bàn việc cử binh." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Bộ Lĩnh (部領) và Liễn (璉) chết, em Liễn là Toàn (璿) lập lên, còn nhỏ tuổi, bị đại tướng Lê Hoàn (黎桓) chiếm ngôi. Họ Đinh (丁氏) truyện đời tổng cộng 11 năm." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 5 (năm 980), xuống chiếu thảo phạt Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'': "Năm thứ 5 (năm 980) mùa thu tháng 7 ngày Đinh Mùi, thảo phạt Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州). Mệnh cho Lan Châu đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng (孫全興), Bát tác sứ Trương Tuấn (張濬), Tả giám môn vệ tướng quân Thôi Lượng (崔亮), Ninh Châu刺 sử Lưu Trừng (劉澄), Quân khí khố phó sứ Giả Thực (賈湜), Cáp môn chi hậu Vương Soạn (王僎) đều làm Bộ thự. Toàn Hưng, Tuấn, Lượng đi từ Ung Châu (邕州); Trừng, Thực, Soạn đi từ Liêm Châu (廉州), mỗi người dẫn quân của mình đi đánh. Tháng 9 ngày Quý Mão, Lê Hoàn (黎桓) sai sứ nhân danh Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu xin tập vị. Mùa đông tháng 11 ngày Canh Tý mồng 1, An Nam Tĩnh Hải quân tiết độ hành quân tư mã quyền tri châu sự Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu xin tập vị, vua không trả lời. Tháng 12 ngày Ất Dậu, quân hành doanh Giao Châu đánh nhau với giặc, đại phá được chúng." Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 5 (năm 980) mùa thu, xuống chiếu lấy Lan Châu đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng (孫全興), Bát tác sứ Trương Toàn (張璿), Tả giám môn vệ tướng quân Thôi Lượng (崔亮) làm Lục lộ binh mã bộ thự, đi vào từ đường Ung Châu (邕州); Ninh Châu thứ sử Lưu Trừng (劉澄), Quân khí khố phó sứ Giả Thực (賈湜), Cung phụng quan Cáp môn chi hậu Vương Soạn (王僎) làm Thủy lộ binh mã bộ thự, đi vào từ đường Quảng Châu (廣州). Mùa đông năm ấy, Lê Hoàn (黎桓) sai nha hiệu Giang Cự Hoằng (江巨湟) đem phương vật sang cống, vẫn nhân danh Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu nói: 'Họ của thần vốn là thủ lĩnh Man di, ở nơi hẻo lánh ngoài biển, tuân thủ chức phận triều cống, mượn quyền tiết chế ở phương xa. Cha anh của thần nối đời nhận trọng trách ở biên cương, cẩn thận giữ gìn bờ cõi, không dám trễ nải. Đến khi qua đời, nhà cửa sắp sụp đổ, tướng lại và các bậc bô lão bèn giao cho thần, sai quyền quản việc quân lữ để làm yên lòng dân chúng thôn lạc. Phong tục địa phương hung hãn, khẩn cầu càng kiên định, nếu từ chối không nghe e sinh biến loạn. Thần đã nhiếp chức Tiết độ hành quân tư mã, quyền lĩnh việc quân phủ, nguyện xin ban cho quan tước thực thụ để đứng vào hàng ngũ các phiên dậu. Mạo muội tâu lên bệ hạ, cúi đầu run sợ'. Vua xét thấy hắn muốn hoãn binh, bèn giữ lại không trả lời. Quân vương sư tiến đánh, phá tan hơn 10.000 quân giặc, chém đầu hơn 2.000 cấp." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 6 (năm 981) tháng 3 ngày Nhâm Tuất, quân hành doanh Giao Châu (交州) phá giặc tại cửa sông Bạch Đằng (白藤江口), thu được 200 chiếc thuyền chiến, Tri Ung Châu hầu Nhân Quý (侯仁貴) tử trận. Gặp lúc khí độc nóng nực, quân sĩ chết nhiều, Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên (許仲宣) phi ngựa báo tin về, vua xuống chiếu bãi binh. Hạ lệnh chém Lưu Trừng (劉澄), Giả Thực (賈湜) ngay trong quân, triệu Tôn Toàn Hưng (孫全興) về tống giam.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 6 (năm 981) mùa xuân lại phá giặc tại cửa sông Bạch Đằng (白藤江口), chém đầu hơn 1.000 cấp, thu 200 chiến hạm, áo giáp đếm tới hàng vạn. Chuyển vận sứ Hầu Nhân Bảo (侯仁寶) [Bản kỷ chép là Quý] dẫn tiền quân tiến lên trước. Bọn Toàn Hưng dừng quân tại Hoa Bộ (花步) suốt 70 ngày để đợi Lưu Trừng, Nhân Bảo nhiều lần thúc giục nhưng không tiến. Đến khi Trừng tới, hợp quân đi đường thủy đến thôn Đa La (多羅村), không gặp giặc, lại tự ý quay về Hoa Bộ. Lê Hoàn (黎桓) giả vờ đầu hàng để dụ Nhân Bảo, rồi sát hại ông ta. Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên (許仲宣) phi sớ tâu việc đó, bèn bãi binh. Vua sai sứ đến hặc tội bọn Trừng, Thực, Soạn; Trừng sau đó bệnh chết, bêu đầu Thực và bọn còn lại tại chợ Ung Châu (邕州). Toàn Hưng về đến cửa khuyết cũng bị hạ ngục rồi giết, số còn lại bị tội nặng nhẹ khác nhau. Nhân Bảo được truy tặng Công bộ thị lang." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 7 (năm 982), mùa xuân tháng 3. Giao Châu (交州) vì quân vương sư đánh dẹp, sai sứ đến tạ tội.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Mùa xuân năm thứ 7 (năm 982), Lê Hoàn (黎桓) sợ triều đình cuối cùng sẽ tiêu diệt mình, bèn lấy danh nghĩa Đinh Toàn (丁璿) sai sứ dâng phương vật và dâng biểu tạ tội. '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 8 (năm 983) tháng 5 ngày Đinh Mão, Lê Hoàn (黎桓) tự xưng là Tam sứ Lưu hậu, sai sứ đến cống, đồng thời dâng biểu nhường ngôi của Đinh Toàn (丁璿). Vua xuống chiếu dụ Lê Hoàn (黎桓) đưa mẹ con Đinh Toàn (丁璿) về cửa khuyết, nhưng hắn không nghe.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 983), Lê Hoàn (黎桓) tự xưng Quyền Giao Châu Tam sứ Lưu hậu, sai sứ cống phương vật và đưa biểu của Toàn lên. Vua ban chiếu cho Hoàn rằng: 'Họ Đinh truyện nối 3 đời, giữ vững một phương. Khanh đã được tin cậy làm tâm phúc, thì phải tuân theo lời thỉnh cầu của người trong nước, chớ phụ lòng họ Đinh. Trẫm định để Toàn làm danh nghĩa thống soái, khanh giữ chức phó nhị, mọi việc cắt đặt chế trí thảy đều do khanh. Đợi Đinh Toàn (丁璿) trưởng thành, có thể tự lập, sự phò tá của khanh sẽ càng thêm sáng rõ, việc khen thưởng công lao trung thành, trẫm có tiếc gì. Nếu Đinh Toàn (丁璿) không có tài tướng, tâm tính trẻ con như cũ, nhưng vì đời đời kế tục đã lâu, một mai bỏ đi tiết việt, hạ xuống hàng sĩ ngũ thì lý không thuận, ở cũng không yên. Chiếu đến, khanh nên đưa mẹ con Đinh Toàn (丁璿) cùng thân thuộc cả nhà về triều, đợi khi vào chầu, sẽ chọn ngày xuống chế trao cho khanh tiết mao. Trong 2 con đường đó, khanh nên xét kỹ chọn 1. Đinh Toàn (丁璿) đến kinh đô, tất sẽ được ưu đãi. Nay sai Cung phụng quan Trương Tông Quyền (張宗權) đem chiếu dụ chỉ, hãy hiểu cho lòng trẫm'. Cũng ban chiếu cho Toàn đúng như vậy. Bấy giờ Lê Hoàn (黎桓) đã độc chiếm đất đai, không nghe mệnh. Tháng 5 năm ấy, dâng lời tâu rằng: Nước Chiêm Thành (占城國) đem số vạn voi, ngựa, quân thủy bộ đến xâm lấn, bèn suất quân đánh đuổi, bắt và chém hàng ngàn kẻ địch. '''Năm Ung Hy (雍熙) thứ 2 (năm 985) tháng 2 ngày Mậu Dần, Quyền Giao Châu lưu hậu Lê Hoàn (黎桓) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm Ung Hy (雍熙) thứ 2 (năm 985), sai nha hiệu Trương Thiệu Phùng (張紹馮), Nguyễn Bá Trâm (阮伯簪) dâng phương vật. Sau đó dâng biểu xin được chính thức lĩnh tiết trấn. '''Năm Ung Hy (雍熙) thứ 3 (năm 986) mùa đông tháng 10 ngày Canh Thân, xuống chiếu lấy Quyền Tĩnh Hải quân lưu hậu Lê Hoàn (黎桓) làm Bản quân tiết độ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 986) mùa thu lại sai sứ dâng phương vật. Châu Đạm (儋州) báo người nước Chiêm Thành (占城國) là Bồ La Át (蒲羅遏) dẫn theo bộ tộc hơn 100 người sang nội thuộc, nói là bị Giao Châu (交州) bức bách. Tháng 10 năm ấy, chế rằng: 'Bậc vương giả xây dựng hoàng cực, vỗ về các phiên dậu. Đặt phủ đệ tại kinh sư để làm thịnh lễ hội đồng; ban đất đai một phương để nêu rõ uy thế tiết chế. Huống chi nơi góc biển Giao Chỉ này, đã tuân thủ lễ nghi triều cống, đúng lúc thay đổi thống soái, bèn có lợi cho việc kiến hầu. Không quên sự cung kính xin mệnh, bèn thực hiện điển lễ đền đáp công lao'. Quyền tri Giao Châu Tam sứ lưu hậu Lê Hoàn (黎桓), có đủ nghĩa dũng, vốn bẩm tính trung thuần, được lòng người trong nước, giữ gìn lễ nghĩa phiên thần. Trước kia Đinh Toàn (丁璿) còn thơ ấu, chưa hiểu việc vỗ về; Hoàn là thân thích ruột thịt, chuyên trách việc quân lữ, hiệu lệnh tự mình đưa ra, uy và đức cùng hành xử. Toàn đã giải hết quyền Tam sứ để thuận theo ý muốn của mọi người, từ xa gửi lòng thành khẩn, xin lĩnh tiết mao. Sĩ Nhiếp (士燮) mạnh mẽ sáng suốt, hóa độ phong tục phương Việt khiến thảy đều yên bình; Úy Đà (尉佗) cung thuận, tuân theo chiếu nhà Hán mà không làm trái. Nên chính danh hiệu Nguyên nhung để xếp vào hàng quý tộc Thông hầu. Khống chế và vỗ về thôn lạc di tộc, để rạng rỡ thiên ân. Có thể thụ chức Kiểm hiệu Thái bảo, Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, An Nam đô hộ, sung làm Tĩnh Hải quân tiết độ (靜海軍節度), Giao Châu quản nội quan sát xử trí đẳng sứ, phong Kinh Triệu quận hầu (京兆郡侯), hưởng thực ấp 3.000 hộ, lại ban hiệu cho là Thôi thành Thuận hóa công thần, sai Tả bổ khuyết Lý Nhược Chuyết (李若拙), Quốc tử bác sĩ Lý Giác (李覺) làm sứ giả ban cho quan chức. Xét theo ''Lý Nhược Chuyết truyện (李若拙傳)'': Nhược Chuyết năm Ung Hy (雍熙) thứ 3 (năm 986) được tạm phong chức Bí thư giám, đi sứ Giao Châu (交州). Trước đó, Lê Hoàn (黎桓) dùng chế độ vượt lễ (duyệm tiệm), Nhược Chuyết vừa vào cảnh giới, liền sai tả hữu răn bảo về lễ tiết bầy tôi, từ đó Lê Hoàn (黎桓) nghe mệnh, bái nhận chiếu chỉ rất cung kính. Ngày yến tiệc, Hoàn bày hàng hóa quý và vật lạ ở trước mặt, Nhược Chuyết một mực không liếc mắt nhìn, xin lấy sứ giả bị hãm trước đó là Đặng Quân Biện (鄧君辨) mang về, ngoài lễ vật ra không nhận quà riêng. Khi sứ về, vua khen ông không làm nhục mệnh, thăng làm Khởi cư xá nhân. '''Năm Đoan Củng (端拱) thứ 1 (năm 988), mùa hạ tháng 4 ngày Kỷ Sửu, gia phong cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Lê Hoàn (黎桓) chức Kiểm hiệu Thái úy. Tháng 5 nhuận ngày Đinh Dậu, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Đoan Củng (端拱) thứ 1 (năm 988), gia phong cho Hoàn chức Kiểm hiệu Thái úy, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 500 hộ; sai Hộ bộ Lang trung Ngụy Sương (魏庠), Ưu bộ Viên ngoại lang Trực sử quán Lý Độ (李度) sang làm sứ giả." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990), mùa đông tháng 10 ngày Giáp Thìn, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': "Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990) mùa hạ, gia phong cho Hoàn chức Đặc tiến, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ; sai Tả chính ngôn Trực sử quán Tống Cảo (宋鎬), Hữu chính ngôn Trực sử quán Vương Thế Tắc (王世則) sang làm sứ giả." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991), Tống Cảo (宋鎬) đi sứ Giao Chỉ (交阯) về, vua hạ lệnh điều tra địa hình và sự tích vùng đó để tâu lên.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990), gia phong cho Hoàn chức Đặc tiến, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ; sai Tống Cảo (宋鎬) làm sứ giả. Năm sau về cửa khuyết, thượng lệnh cho liệt kê hình thế sơn văn và sự tích Lê Hoàn (黎桓) để tâu lên. Bọn Cảo dâng sớ tâu rằng: "Cuối thu năm ngoái đến biên giới Giao Châu (交州), Hoàn sai Nha nội Đô chỉ huy sứ Đinh Thừa Chính (丁承正) cùng 9 chiếc thuyền, 300 lính đến quân Thái Bình (太平軍) đón tiếp. Đi từ hải khẩu vào biển lớn, sóng gió hiểm nguy, trải nửa tháng mới đến Bạch Đằng (白藤), đi thẳng vào ngã rẽ biển, theo thủy triều mà đi. Phàm những nơi nghỉ trọ đều có 3 gian nhà cỏ mới dựng, gọi là quán dịch. Đến Trường Châu (長州), dần gần bản quốc, Hoàn khoe khoang phù phiếm, cố ý làm ra vẻ xa hoa, đưa hết chu sư chiến trào ra, gọi là 'quân'. Từ đó đi đêm, đến bờ biển, cách Giao Châu (交州) chỉ 15 dặm thì có đình cỏ 5 gian, đề tên 'Mao Kính Dịch' (茅徑驛). Cách thành 100 dặm, Hoàn xua dân bộ mang theo súc vật, mạo xưng là bò của quan, số lượng không đầy 1.000 nhưng rêu rao là 10 vạn. Lại bắt dân mặc đồ tạp sắc đứng lẫn trong binh lữ, chèo thuyền đánh trống náo động; trên núi gần thành thì cắm cờ trắng hư trương thanh thế làm tượng binh trận. Chẳng bao lâu Hoàn dẫn người hầu đến, thực hiện lễ nghênh tiếp ở ngoại ô. Hoàn ghì cương ngựa nghiêng mình hỏi thăm sức khỏe hoàng đế xong thì cùng đi. Lúc đó lấy trầu cau (tân lang) mời khách, vừa đi trên ngựa vừa ăn, ấy là phong tục hậu đãi tân khách. Trong thành không có cư dân, chỉ có vài chục đến trăm khu nhà bằng cỏ tre để làm quân doanh. Phủ thự chật hẹp, cửa đề chữ 'Minh Đức Môn' (明德門). Hoàn hình dung thô lậu, một mắt bị lòa (mục miểu), tự nói những năm gần đây chiến đấu với giặc Man bị ngã ngựa thương chân, nên nhận chiếu mà không quỳ lạy. Sau vài đêm trọ, bèn bày yến tiệc, lại ra ngã rẽ biển làm thú vui đãi khách. Hoàn chân trần cầm cần xuống nước đâm cá, mỗi lần trúng một con thì tả hữu đều hò reo nhảy múa. Phàm hội yến, những người cùng ngồi đều phải cởi đai, đội mũ. Hoàn mặc đồ thêu hoa hoặc đồ đỏ, mũ trang trí trân châu, tự hát khuyên rượu, lời lẽ không ai hiểu được. Lại sai vài chục người khiêng con rắn lớn dài vài trượng mang đến quán sứ và bảo: 'Nếu ăn được thứ này sẽ làm thịt thành món dâng lên'. Lại nhốt 2 con hổ mang đến cho xem, sứ giả thảy đều từ chối không nhận. Sĩ tốt chừng 3.000 người, đều xăm trên trán chữ 'Thiên Tử Quân' (天子軍). Lương ăn cấp hằng ngày bằng bông lúa, lệnh cho tự giã mà ăn. Binh khí chỉ có cung nỏ, mộc bài, giáo cán gỗ, giáo tre, yếu ớt không dùng được. Hoàn tính khinh suất tàn nhẫn, gần gũi tiểu nhân, bên cạnh có 5 hay 7 tên hoạn quan đứng hầu. Ưa nhậu nhẹt xằng bậy, lấy việc truyện lệnh bằng tay (thủ lệnh) làm vui. Phàm quan thuộc làm tốt việc thì thăng làm thân tín bên cạnh, có lỗi nhỏ cũng giết, hoặc quất roi vào lưng từ 100 đến 200 roi. Tân tá có điểm không vừa ý cũng bị đánh từ 30 đến 50 roi, đuổi xuống làm lính canh cửa, khi hết giận mới gọi về vị trí cũ. Có tòa tháp gỗ chế tác thô sơ, một ngày nọ Hoàn mời cùng leo lên tham quan. Đất này không có khí lạnh, tháng 11 vẫn mặc áo mỏng, vung quạt." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 4 (năm 993), tháng 2, phong Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Lê Hoàn (黎桓) làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 993), tiến phong Hoàn làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王). '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 5 (năm 994), tháng 3, Giao Chỉ quận vương Lê Hoàn (黎桓) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 994) sai Nha hiệu Phí Sùng Đức (費崇德) đến tu sửa chức phận triều cống. Tuy nhiên Hoàn tính vốn hung hãn, cậy hiểm núi biển, thường xuyên quấy nhiễu, dần đánh mất lễ tiết phiên thần. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 1 (năm 995), quân Giao Chỉ (交阯) vào đánh phá trấn Như Hồng (如洪鎮), lại đánh Ung Châu (邕州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Chí Đạo (至道) thứ 1 (năm 995) mùa xuân, Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận sứ Trương Quan (張觀), binh mã giám áp trấn Như Hồng (如洪鎮) ở Khâm Châu (欽州) là Vệ Chiêu Mỹ (衛昭美) đều tâu rằng: "Có hơn 100 chiếc thuyền chiến Giao Châu đánh phá trấn Như Hồng, bắt dân cư, cướp lương thực rồi đi." Mùa hạ năm ấy, châu Tô Mậu (蘇茂州) do Hoàn quản lý lại đem 5.000 hương binh đánh phá Ung Châu (邕州), đô tuần kiểm Dương Văn Kiệt (楊文傑) đánh đuổi được chúng. Thái Tông vốn có ý vỗ về nơi biên viễn, không muốn hỏi tội. Trương Quan lại tâu: "Nghe đồn Lê Hoàn (黎桓) bị họ Đinh (丁氏) xua đuổi, đem tàn đảng chạy ra vùng sơn hải mất nơi cứ trú, nên đi cướp bóc tự nuôi thân. Nay thì Hoàn đã chết." Quan bèn dâng biểu chúc mừng. Vua sai Thái thường thừa Trần Sĩ Long (陳士隆), võ quan Vũ Nguyên Cát (武元吉) đi sứ Lĩnh Nam để dò xét việc đó. Sĩ Long về tâu lời giống hệt Trương Quan. Thực ra Hoàn vẫn còn sống, ấy là lời đồn sai lệch mà bọn Quan không kiểm chứng kỹ. Không lâu sau, có lái buôn lớn từ Giao Chỉ trở về, nói rõ Hoàn vẫn làm soái như cũ, vua bèn hạ lệnh hặc tội bọn Quan. Gặp lúc Quan bệnh chết, bọn Chiêu Mỹ, Sĩ Long, Nguyên Cát bị khép tội. Trước đó, 3 trấn Như Hồng (如洪), Đốt Bộ (咄步), Như Tích (如昔) của Khâm Châu (欽州) đều sát biển. Dân vùng Triều Dương (潮陽) thuộc Giao Châu là Bốc Văn Dũng (卜文勇) giết người rồi đem cả nhà trốn sang trấn Như Tích, trấn tướng Hoàng Lệnh Đức (黃令德) che giấu cho chúng. Hoàn lệnh cho trấn tướng Triều Dương là Hoàng Thành Nhã (黃成雅) gửi công văn đến bắt, Lệnh Đức nhất quyết không giao người, vì lẽ đó mà hải tặc liên năm đánh cướp. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 2 (năm 996), sai sứ vỗ về Lê Hoàn (黎桓), ban cho đai ngọc mỹ quý, Hoàn trông về phương Bắc dập đầu tạ ơn.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 996), lấy Công bộ Viên ngoại lang Trực sử quán Trần Nghiêu Sưu (陳堯叟) làm Chuyển vận sứ, nhân đó ban chiếu cho Hoàn. Nghiêu Sưu mới đến, sai huyện úy Hải Khang (海康) là Lý Kiến Trung (李建中) mang chiếu đến an ủi Hoàn. Nghiêu Sưu đến Như Tích, tra rõ nguyên do giấu Bốc Văn Dũng, bắt hết già trẻ gái trai gồm 130 người giao trả cho lại dịch vùng Triều Dương, đồng thời răn bảo không được dùng cực hình. Thành Nhã nhận người xong bèn gửi tờ trình tạ ơn Nghiêu Sưu. Hoàn bèn dâng biểu cảm ơn, đồng thời bắt 25 tên hải tặc giao cho Nghiêu Sưu, lại nói đã ước thúc thủ lĩnh các khe động không được xao động. Tháng 7, Thái Tông sai Chủ khách Lang trung Trực Chiêu văn quán Lý Nhược Chuyết (李若拙) làm Quốc tín sứ mang chiếu thư và đai ngọc mỹ quý sang ban cho Hoàn. Nhược Chuyết đến, Hoàn ra ngoại ô đón, nhưng lời lẽ còn ngang ngược, bảo Nhược Chuyết: "Chuyện đánh cướp trấn Như Hồng trước đây là do giặc Man biên giới làm. Hoàng đế có biết đó không phải binh Giao Châu không? Nếu Giao Châu thực sự phản mệnh thì trước hết phải đánh Phiên Ngung (番禺), sau đánh Mân Việt (閩越), há chỉ dừng lại ở trấn Như Hồng!" Nhược Chuyết thong thả bảo Hoàn: "Thượng mới nghe tin cướp phá trấn Như Hồng, dù chưa biết rõ từ đâu, nhưng vì túc hạ được cất nhắc từ nha hiệu Giao Châu trao cho tiết chế, vốn nên tận trung báo đáp, há có ý khác! Đến khi thấy việc bắt nộp hải tặc mới rõ sự tình. Tuy nhiên các đại thần đều nghị bàn rằng, triều đình lập Tiết độ sứ là để làm yên vùng biển, nay giặc Man hoành hành, ấy là sức Giao Châu không tự chế ngự được. Xin điều động vài vạn kình binh phối hợp với binh Giao Châu để tiễu diệt, khiến Giao, Quảng không còn hậu họa." Hoàn nghe vậy sửng sốt rời chiếu bảo: "Hải tặc phạm biên là tội của thủ thần. Thánh quân khoan dung, ơn quá cha mẹ không gia hình trách phạt. Từ nay xin cẩn trọng giữ chức ước, bảo đảm biển khơi mãi yên bình." Bèn trông về phương Bắc dập đầu tạ ơn. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 3 (năm 997), tháng 3, Thái Tông băng hà, Hoàng thái tử theo di chiếu lên ngôi hoàng đế (Chân Tông). Tháng 4 ngày Ất Mão, gia phong cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương Lê Hoàn (黎桓) chức kiêm Thị trung, tiến phong Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Chân Tông lên ngôi, tiến phong Hoàn làm Nam Bình Vương kiêm Thị trung. Trước đó Hoàn sai Đô tri binh mã sứ Nguyễn Thiệu Cung (阮紹恭), Phó sứ Triệu Hoài Đức (趙懷德) cống một chiếc ghế giao ỷ khảm vàng bạc thất bảo, 10 chậu bạc, 50 chiếc sừng tê ngà voi, 10.000 xấp lụa là vải vóc. Vua hạ lệnh bày ở điện Vạn Tuế, cho phép bọn Thiệu Cung bái tế linh cữu Thái Tông. Khi về, ban cho Hoàn đai ngọc, ngựa giáp và chiếu thư khen ngợi. '''Năm Hàm Bình (咸平) thứ 4 (năm 1001), tháng 2 ngày Mậu Thân, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) dâng tê giác và voi thuần.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Hàm Bình (咸平) thứ 4 (năm 1001), lại sai Hành quân tư mã Lê Thiệu Lưu (黎紹留), Phó sứ Hà Khánh Thường (何慶常) dâng 1 con tê giác thuần, 2 con voi, 1 bình vàng khảm thất bảo. Năm ấy, Khâm Châu báo dân trường Hiệu Thành (效誠場) ở Giao Châu cùng thủ lĩnh 8 châu là bọn Hoàng Khánh Tập (黃慶集) gồm vài trăm người đến đầu hàng, vua xuống chiếu vỗ về, sai đưa về bản đạo. Quảng Nam Tây lộ tâu: "Lê Hoàn (黎桓) khi đón nhận sứ giả Hoàng Thành Nhã có gửi lời tâu, từ nay triều đình nếu gia ân xin sai sứ đến tận bản đạo để làm rạng rỡ phương xa." Trước đó, sứ giả đến Giao Châu, Hoàn thường lấy cớ cung phụng để nhân đó vơ vét tô thuế của dân. Thượng nghe vậy, bèn chỉ lệnh cho quan lại biên thùy triệu đến trao mệnh, không còn sai sứ riêng sang nữa. '''Năm Hàm Bình (咸平) thứ 6 (năm 1003), tháng 3 ngày Tân Mão mồng 1, Khâm Châu (欽州) báo bọn thủ lĩnh 8 châu Giao Châu là Hoàng Khánh Tập (黃慶集) lại đến quy phụ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 1 (năm 1004), năm này Giao Châu (交州) đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Cảnh Đức (景德) thứ 1 (năm 1004), lại sai con là Nhiếp Hoan Châu Thứ sử (攝驩州刺史) Lê Minh Đề (黎明提) đến cống. Khẩn khoản xin gia ân, sai sứ đến tận bản đạo để vỗ về phương xa. Vua hứa cho, vẫn lấy Minh Đề làm Thứ sử Hoan Châu (驩州)." '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 2 (năm 1005), tháng 2 ngày Ất Dậu, sai sứ đến an phủ Giao Châu (交州).''' Xét theo ''Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Tiết Thượng Nguyên năm thứ 2 (năm 1005), ban tiền cho Minh Đề (明提), lệnh cho cùng với sứ giả Chiêm Thành (占城), Đại Thực (大食) xem đèn dự yến tiệc. Nhân đó sai Công bộ Viên ngoại lang Thiệu Diệp (邵曄) làm Quốc tín sứ." '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 3 (năm 1006), tháng 6. Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) xin chinh phạt Giao Chỉ (交阯), vua không cho.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'': Tháng 6 năm Cảnh Đức (景德) thứ 3 (năm 1006), Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) xin phát binh định loạn Giao Chỉ. Đế vì Lê Hoàn (黎桓) vốn tu sửa chức phận triều cống, không muốn đánh lúc đang có tang, lệnh tuân theo chiếu cũ mà an phủ. Tháng 7, Thiệu Diệp (邵曄) dâng các bản đồ đường thủy bộ từ Ung Châu (邕州) đến Giao Chỉ (交阯) và núi sông khống chế Nghi Châu (宜州). Đế phán: "Tổ tông mở đất rộng lớn, duy nên cẩn thận giữ gìn, không cần tham đất vô dụng mà làm lao khổ binh lực." Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1006), Lê Hoàn (黎桓) chết, con thứ là Long Việt (龍鉞) lập lên. Anh của Long Việt là Long Toàn (龍全) cướp kho tàng rồi bỏ trốn, em là Long Đĩnh (龍廷) giết Long Việt tự lập. Anh của Long Đĩnh là Minh Hộ (明護) dẫn binh trại Phù Lan (扶蘭砦) đánh nhau. Minh Đề (明提) vì quốc loạn không thể về, đặc chiếu cho Quảng Châu ưu đãi cấp dưỡng. Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) tâu: "Các con của Hoàn tranh lập, lòng dân ly tán, bọn thủ lĩnh Hoàng Khánh Tập (黃慶集), Hoàng Tú Man (黃秀蠻) hơn 1.000 người vì không theo sự sai bảo, bị giết hại cả thân tộc nên đến đầu hàng Liêm Châu (廉州), xin phát 2.000 quân bản đạo để bình định, bọn Khánh Tập nguyện làm tiền phong." Thượng cho rằng Hoàn vốn trung thuận, nhiều lần triều cống, nay thừa lúc loạn mà đánh khi họ có tang là không nên. Bèn đổi Quốc tín sứ Thiệu Diệp (邵曄) làm Duyên hải An phủ sứ để hiểu dụ. Bọn Khánh Tập vẫn được ban ruộng và lương theo số khẩu. Diệp bèn gửi thư đến Giao Châu, dụ về uy đức của triều đình, rằng nếu cứ tự tương tàn, lâu không định vị, nếu thiên sư (quân triều đình) hỏi tội thì họ Lê sẽ diệt vong. Minh Hộ (明護) sợ, bèn tôn Long Đĩnh (龍廷) làm chủ quân sự. Long Đĩnh tự xưng là Tiết độ Khai Minh Vương (開明王), muốn tu sửa việc triều cống. Diệp tâu báo, Thượng phán: "Vùng xa xôi dị tục, không hiểu thể thống, có gì đáng trách đâu!", lệnh tước bỏ các quan tước tự phong trái phép (ngụy quan). Diệp lại tâu: Thủ lĩnh Hoàng Khánh Tập trước lánh loạn quy hóa, chủng tộc còn nhiều, nếu sai về sợ bị giết sạch. Bèn chiếu cho Khánh Tập lệ thuộc Tam ban cai quản việc ở Cầm Châu (郴州), rồi cho phép vào cống. Xét theo ''Thiệu Diệp truyện (邵曄傳)'': Khoảng năm Cảnh Đức (景德), tạm phong Quang lộc khanh, sung chức Giao Chỉ An phủ Quốc tín sứ. Gặp lúc Lê Hoàn chết, con là Long Việt nối ngôi, anh là Long Toàn dẫn binh cướp kho rồi đi, em là Long Đĩnh giết Việt tự lập. Anh của Long Đĩnh là Minh Hộ dẫn binh trại Phù Lan đánh nhau. Diệp dừng ở Lĩnh Biểu, tâu việc lên trên, được đổi làm Duyên hải An phủ sứ, cho tùy nghi đặt phương lược. Diệp gửi thư đến An Nam dụ uy đức triều đình, khiến mau định vị. Bọn Minh Hộ lập tức nghe mệnh, tôn Long Đĩnh chủ sự. Ban đầu, chiếu cho Diệp đợi việc yên thì dùng lễ vật cho Lê Hoàn để ban lại cho soái mới. Diệp tâu: "Vỗ về ngoại di nên tỏ lòng thành tín, chẳng thà đợi Long Đĩnh cống hiến, sẽ gia phong tước và ban thưởng riêng." Chân Tông rất khen ngợi. Khi về, thăng Binh bộ Viên ngoại lang, ban kim tử. Diệp từng dâng 4 bản đồ đường thủy bộ từ Ung Châu (邕州) đến Giao Châu và núi sông Nghi Châu (宜州), rất tường tận yếu điểm khống chế. '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 4 (năm 1007), tháng 7 ngày Ất Hợi, Giao Châu đến cống. Ban cho Lê Long Đĩnh (黎龍廷) sách "Cửu Kinh" và sách Phật giáo. Ngày Tân Tỵ, lấy Long Đĩnh làm Tĩnh Hải quân Tiết độ, Giao Chỉ quận vương, ban tên là Chí Trung (至忠). Tháng 9 ngày Kỷ Tỵ, ban ấn Giao Chỉ quận vương và tinh tiết An Nam.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1007), Long Đĩnh (龍廷) xưng là Quyền An Nam Tĩnh Hải quân lưu hậu, sai em là Thứ sử Phong Châu (峰州) Minh Sưởng (明昶), Phó sứ An Nam Chưởng thư ký Điện trung thừa Hoàng Thành Nhã (黃成雅) đến cống. Gặp lúc đại yến tại điện Hàm Quang, Thượng thấy Thành Nhã ngồi xa, muốn nâng vị trí lên, bèn hỏi Tể tướng Vương Đán (王旦). Đán thưa: "Xưa Tử Sản chầu Chu, Chu vương đãi bằng lễ Thượng khanh, Tử Sản từ chối, nhận lễ Hạ khanh mà về. Quốc gia vỗ về phương xa, ưu đãi khách sứ, vốn không ngại gì." Bèn thăng Thành Nhã lên hàng thứ của ngũ phẩm Thượng thư tỉnh. Chiếu phong Long Đĩnh làm Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), hưởng thực ấp 3.000 hộ, thực phong 1.000 hộ, ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần", ban tên là Chí Trung (至忠), cấp cho tinh tiết. Lại truy tặng Hoàn (桓) chức Trung thư lệnh, Nam Việt Vương (南越王). Các sứ giả Lê Minh Sưởng (黎明昶) đều được thăng chức. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 1 (năm 1008), tháng Giêng ngày Ất Dậu, xuống chế gia phong công thần thực ấp cho Giao Chỉ quận vương Lê Chí Trung (黎至忠). Tháng 12 ngày Tân Hợi, gia phong cho Lê Chí Trung chức Đồng bình chương sự.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 1 (năm 1008), thiên thư giáng hạ, gia hiệu Dực đái công thần, thực ấp 700 hộ, thực phong 300 hộ. Sau tế lễ Đông Phong, gia cho Chí Trung chức Đồng bình chương sự, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 2 (năm 1009), tháng 12, Lê Chí Trung (黎至忠) ở Giao Châu dâng tê giác thuần.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1009), Quảng Nam Tây lộ tâu, người Man cướp đản hộ ngoài hải khẩu, trại chủ Như Hồng (如洪) là Lý Văn Trước (李文著) dẫn khinh binh truy đuổi, trúng tên chết. Chiếu đốc thúc An Nam bắt giặc. Năm sau, bắt 13 người Địch Lão (狄獠) dâng nộp. Chí Trung lại sai Suy quan Nguyễn Thủ Cương (阮守疆) cống sừng tê, ngà voi, vàng bạc, gấm vóc và 1 con tê giác thuần. Thượng cho rằng tê giác trái tính đất (phương Bắc), không thể nuôi được, định không nhận; lại sợ trái ý Chí Trung, sau khi sứ giả đi bèn lệnh thả ra bãi biển. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 3 (năm 1010), mùa xuân tháng Giêng, Lê Chí Trung (黎至忠) ở Giao Châu chết, lấy Lưu hậu Lý Công Uẩn (李公蘊) làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, phong Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'': Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 (năm 1010), mùa xuân tháng 2 ngày Quý Tỵ, Lê Chí Trung chết, đại kiêu Lý Công Uẩn (李公蘊) tự xưng Lưu hậu. Tháng 3 ngày Nhâm Thìn, lấy Quyền Tĩnh Hải quân Tiết độ lưu hậu Lý Công Uẩn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), ban áo đai khí vật tiền lụa. Tháng 12 ngày Tân Mùi, lấy ngự thư của Thái Tông ban cho Lý Công Uẩn ở Giao Châu. Năm ấy Giao Châu đến cống. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1010) sai sứ đến chầu, dâng biểu cầu áo giáp trang bị cho ngựa (giáp trụ cụ trang), chiếu cho theo lời xin. Lại cầu mở chợ tương hỗ (hỗ thị) ở Ung Châu (邕州), Chuyển vận sứ bản đạo tâu việc. Thượng phán: "Dân ven biển nhiều lần khổ vì Giao Châu xâm nhiễu, nay vẫn chỉ cho phép mở chợ tại Liêm Châu (廉州) và trại Như Hồng (如洪), vì đó là nơi khống chế biên thùy; nay nếu cho vào thẳng nội địa, việc rất bất tiện." Chiếu lệnh bản đạo lấy chế độ cũ mà dụ. Chí Trung mới 26 tuổi, bạo ngược bất pháp, người trong nước không theo. Đại kiêu Lý Công Uẩn rất được Chí Trung tin dùng, từng lệnh lấy họ Lê làm họ mình. Năm đó bèn mưu đồ thay Chí Trung, đuổi đi, giết Minh Đề (明提), Minh Sưởng (明昶), tự xưng Lưu hậu, sai sứ cống hiến. Thượng phán: "Lê Hoàn (黎桓) bất nghĩa mà đắc thế, Công Uẩn lại bắt chước theo, rất đáng ghét. Nhưng vì đó là tục Man không đáng trách, bèn dùng cố sự của Hoàn." Xuống chế trao chức Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái phó, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), thực ấp 3.000 hộ, thực phong 1.000 hộ, ban hiệu Thôi thành Thuận hóa công thần. Công Uẩn lại dâng biểu cầu ngự thư của Thái Tông, chiếu ban cho 100 trục. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 4 (năm 1011), Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1011), tế lễ Phần Âm Hậu Thổ, Công Uẩn sai Tiết độ phán quan Lương Nhậm Văn (梁任文), Quan sát tuần quan Lê Tái Nghiêm (黎再嚴) đem phương vật đến cống. Lễ thành, gia Công Uẩn chức Đồng bình chương sự, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ, bọn Nhậm Văn đều được thăng chức. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 5 (năm 1012), Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1012) mùa hạ, lấy Tiến phụng sứ Lý Nhân Mỹ (李仁美) làm Thứ sử Thành Châu (誠州), Đào Khánh Văn (陶慶文) làm Thái thường thừa. Những người đi theo bị bệnh chết dọc đường thì đồ ban thưởng được gửi về nhà. Mùa đông năm ấy Thánh Tổ giáng hạ, gia Công Uẩn chức Khai phủ nghi đồng tam ty, thực ấp 700 hộ, thực phong 300 hộ, ban hiệu Dực đái công thần. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 7 (năm 1014), mùa thu tháng 7 ngày Tân Sửu, Lý Công Uẩn (李公蘊) ở Giao Châu đánh bại quân Man Hạc Thác (鶴拓蠻), dâng tin thắng trận.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 7 (năm 1014) mùa xuân lại gia hiệu Bảo tiết Thủ chính công thần, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Chiếu cho các nước Giao Chỉ vào cống thì nơi quán xá cung ứng lương thực phải chuẩn bị đầy đủ. Năm ấy sai Tri Đường Châu Thứ sử Đào Thạc (陶碩) đến cống. Chiếu lấy Thạc làm Thứ sử Thuận Châu (順州) sung chức An Nam Tĩnh Hải quân Hành quân tư mã, Phó sứ Ngô Hoài Phó (吳懷副) làm Thứ sử Trừng Châu (澄州) sung chức Tiết độ phó sứ. Trước đó, người Địch Lão Giao Châu là Trương Bà Khán (張婆看) lánh tội chạy đến, Tri Khâm Châu Mục Trọng Dĩnh (穆重穎) triệu đến, nửa đường lại cự tuyệt, Đô tuần kiểm Tang Tự (臧嗣) bèn lệnh cho trại Như Hồng (如洪) khao rượu thịt. Giao Châu dò biết việc đó, nhân bắt người Địch Lão mà đánh phá trại Như Hồng, cướp người súc vật rất nhiều. Chiếu Chuyển vận ty đốc thúc Công Uẩn truy tìm, đồng thời lệnh quan biên giới từ nay không được dụ dỗ Man Lão để tránh sinh sự. Công Uẩn hoặc cách năm, hoặc liên năm đều đem phương vật vào cống. '''Năm Thiên Hy (天禧) thứ 1 (năm 1017), tháng 2 ngày Canh Dần, tiến phong Lý Công Uẩn (李公蘊) làm Nam Bình Quận vương (南平郡王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Hy (天禧) thứ 1 (năm 1017), tiến phong Công Uẩn (公蘊) làm Nam Bình vương (南平王), gia tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ." '''Năm Thiên Hy (天禧) thứ 2 (năm 1018), gia phong Lý Công Uẩn (李公蘊) chức Kiểm hiệu Thái úy.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 2 (năm 1018), gia phong Kiểm hiệu Thái úy, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Mỗi khi gia ân đều sai sứ giả mang mệnh lệnh đến tận biên cảnh, vẫn ban cho khí vật, tiền lụa, áo mặc theo bộ (tập y), đai vàng, yên ngựa." '''Năm Càn Hưng (乾興) thứ 1 (năm 1022), tháng 2 ngày Mậu Ngọ, Chân Tông băng hà, di chiếu Thái tử lên ngôi Hoàng đế. Tháng 4 ngày Bính Dần, Giao Châu (交州) đến cống. Năm ấy Nam Bình vương Lý Công Uẩn (李公蘊) sai sứ tiến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Nhân Tông (仁宗) lên ngôi, gia phong Công Uẩn (公蘊) làm Kiểm hiệu Thái sư. Công Uẩn sai Thứ sử Trường Châu (長州) Lý Khoan Thái (李寬泰), Đô hộ phó sứ Nguyễn Thủ Cương (阮守疆) đến cống." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 5 (năm 1027), Nam Bình quốc vương Lý Công Uẩn (李公蘊) sai người đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 6 (năm 1028), tháng 5 ngày Ất Mùi mồng 1, Giao Chỉ (交阯) đánh phá biên giới.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 6 (năm 1028), sai Thứ sử Hoan Châu (歡州) Lý Công Hiển (李公顯) đến cống, phong làm Thứ sử Thứ Châu (敘州). Chẳng bao lâu sau, Công Uẩn lệnh cho con em và con rể là Thân Thừa Quý (申承貴) dẫn quân vào đánh phá biên giới (nội khấu). Xuống chiếu cho Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận ty điều động đinh tráng các khe động để thảo phạt và bắt giữ." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 7 (năm 1029), tháng 4 ngày Tân Mão, Nam Bình vương Lý Công Uẩn (李公蘊) chết, con là Đức Chính (德政) sai người đến báo tang, lấy làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Công Uẩn chết, thọ 44 tuổi. Con là Đức Chính (德政) tự xưng là Quyền tri lưu hậu sự, đến báo tang. Truy tặng Công Uẩn chức Thị trung, Nam Việt vương (南越王). Mệnh cho Chuyển vận sứ bản lộ Vương Duy Chính (王惟正) làm Tế điền sứ, lại làm sứ giả ban quan cáo. Phong Đức Chính chức Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ, Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 8 (năm 1030), tháng 12 ngày Tân Sửu, Giao Chỉ vương Lý Đức Chính (李德政) được gia ban hiệu công thần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 9 (năm 1031), năm này, Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) sai người đến tạ ơn gia phong.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 9 (năm 1031), sai Tri Phong Châu Thứ sử (知峰州刺史) Lý Ác Thuyên (李偓佺), Tri Ái Châu Thứ sử (知愛州刺史) Suất Nhật Tân (帥日新) đến tạ ơn. Lấy Ác Thuyên làm Thứ sử Hoan Châu (歡州), Nhật Tân làm Thứ sử Trân Châu (珍州)." '''Năm Minh Đạo (明道) thứ 1 (năm 1032), gia phong Lý Đức Chính (李德政) chức Đồng bình chương sự, sai sứ đến cung kính tạ ơn.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Minh Đạo (明道) thứ 1 (năm 1032), cung tạ việc gia phong chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự." Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Đầu năm Minh Đạo (明道), gia chức Đồng bình chương sự." '''Năm Cảnh Hựu (景祐) thứ 1 (năm 1034), tháng 6 ngày Nhâm Thìn, hơn 600 người dân Giao Châu (交州) sang nội phụ. Năm ấy Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) dâng 2 con voi thuần, chiếu lệnh trả lại.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Khoảng năm Cảnh Hựu (景祐), người trong quận là Trần Công Vĩnh (陳公永) cùng hơn 600 người sang nội phụ. Đức Chính sai hơn 1.000 quân đến biên giới bắt đuổi, vua xuống chiếu sai trả người về, đồng thời răn bảo Đức Chính không được tùy tiện giết chóc. Chẳng bao lâu, Đức Chính sai Tĩnh Hải quân Tiết độ phán quan Trần Ứng Cơ (陳應機), Chưởng thư ký Vương Duy Khánh (王惟慶) đến cống. Lấy Ứng Cơ làm Thái tử trung duẫn, Duy Khánh làm Đại lý tự thừa. Đức Chính được gia phong Kiểm hiệu Thái sư." '''Năm Cảnh Hựu (景祐) thứ 3 (năm 1036), năm này, Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 3 (năm 1036), quân các động Giáp Động (甲峒) cùng các châu Lạng Châu (諒州), Môn Châu (門州), Tô Mậu Châu (蘇茂州), Quảng Nguyên Châu (廣源州), động Đại Phát (大發峒), huyện Đan Ba (丹波縣) thuộc nước đó đại cử xâm lấn các châu Tư Lăng (思陵州), Tây Bình (西平州), Thạch Tây (石西州) và các động thuộc Ung Châu (邕州), bắt người ngựa bò, đốt phá nhà cửa rồi đi. Vua xuống chiếu trách hỏi, và lệnh phải bắt các thủ lĩnh chính phạm tội để báo lên." '''Năm Khang Định (康定) thứ 1 (năm 1040), Giao Chỉ (交阯) đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Khang Định (康定) thứ 1 (năm 1040), sai Tri Phong Châu Thứ sử (知峰州刺史) Suất Dụng Hòa (帥用和), Tiết độ phó sứ Đỗ Do Hưng (杜猶興) đến cống." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 3 (năm 1043), tháng 12 ngày Đinh Tỵ, Giao Chỉ (交阯) dâng 5 con voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 3 (năm 1043), lại sai Tiết độ phó sứ Đỗ Khánh An (杜慶安), Tam ban phụng chức Lương Tài (梁材) đến. Lấy Khánh An làm Thứ sử Thuận Châu (順州), Lương Tài làm Thái tử Tả giám môn suất phủ suất." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 6 (năm 1046), năm này, Giao Chỉ (交阯) dâng 10 con voi thuần.''' Xét theo ''Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 6 (năm 1046) lại sai Binh bộ viên ngoại lang Tô Nhân Tố (蘇仁祚), Đông đầu cung phụng quan Đào Duy [khuyết] (陶惟...) đến. Lấy Nhân Tố làm Công bộ lang trung, Duy làm Nội điện sùng ban." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 7 (năm 1047), Giao Chỉ (交阯) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 7 (năm 1047), lại sai Bí thư thừa Đỗ Văn Phủ (杜文府), Tả thị cấm Văn Xương (文昌) đến. Lấy Văn Phủ làm Tuần điền viên ngoại lang, Văn Xương làm Nội điện sùng ban. Trước đó, Đức Chính (德政) phát binh đánh Chiêm Thành (占城), triều đình nghi ngờ bên trong nuôi mưu gian trá, bèn tìm lại 16 con đường thông thương từ thời Đường đến nay, lệnh cho Chuyển vận sứ Đỗ Kỷ (杜杞) đo lường những nơi yếu hại mà đóng quân canh giữ. Tuy nhiên sau đó họ cũng chưa từng đánh phá biên giới, trước sau nhiều lần dâng voi thuần." '''Năm Hoàng Hựu (皇祐) thứ 2 (năm 1050), xuống chiếu trả hết bọn Vi Thiệu Tự (韋紹嗣) ở châu Tô Mậu (蘇茂州).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Hoàng Hựu (皇祐) thứ 2 (năm 1050), Ung Châu (邕州) dụ bọn Vi Thiệu Tự (韋紹嗣), Thiệu Khâm (紹欽) ở châu Tô Mậu (蘇茂州) cùng hơn 3.000 người vào cư trú ở vùng đất tỉnh thuộc. Đức Chính (德政) dâng biểu xin trả lại những người bị dụ đi, vua xuống chiếu trả hết, đồng thời lệnh cho Đức Chính ước thúc dân biên giới không được xâm phạm nhau. Sau đó người Man ở Quảng Nguyên Châu (廣源州) là Nùng Trí Cao (儂智高) phản loạn, Đức Chính suất 20.000 binh theo đường thủy muốn vào trợ giúp vương sư, triều đình ban thưởng hậu hĩnh nhưng từ chối quân tiếp viện." '''Năm Chí Hòa (至和) thứ 2 (năm 1055), tháng 11 ngày Ất Mão, Giao Chỉ (交阯) đến báo tang Lý Đức Chính (李德政) mất. Con là Nhật Tôn (日尊) dâng cống vật di chúc của Đức Chính và voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Chí Hòa (至和) thứ 2 (năm 1055), Đức Chính mất, con là Nhật Tôn (日尊) sai người báo tang. Mệnh cho Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận sứ, Thượng thư Tuần điền viên ngoại lang Tô An Thế (蘇安世) làm Điếu tặng sứ. Truy tặng Đức Chính chức Thị trung, Nam Việt vương (南越王), đồ phúng viếng rất hậu. Chẳng bao lâu sau, phong Nhật Tôn làm Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)." '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 3 (năm 1058), tháng 6 ngày Đinh Mão, Giao Chỉ (交阯) dâng thú lạ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交趾傳)'': Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 3 (năm 1058), "dâng 2 con thú lạ." '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 4 (năm 1059), tháng 2 ngày Canh Ngọ, vùng Quảng Nam báo quân Giao Chỉ (交阯) đánh phá Khâm Châu (欽州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm thứ 4 (năm 1059), đánh vào vùng Tư Bẩm (思稟管) thuộc Khâm Châu (欽州). '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 5 (năm 1060), mùa thu tháng 7 ngày Quý Tỵ, Ung Châu (邕州) báo quân Giao Chỉ (交阯) hợp binh với quân Man Giáp Động (甲峒蠻) đánh phá biên giới. Đô tuần kiểm Tống Sĩ Nghiêu (宋士堯) chống cự bị tử trận. Xuống chiếu điều động binh các châu thảo phạt.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1060), cùng giặc Giáp Động đánh phá Ung Châu. Chiếu lệnh Tri Quế Châu Tiêu Cố (蕭固) điều binh phối hợp với Chuyển vận sứ Tống Hàm (宋咸), Đề điểm hình ngục Lý Sư Trung (李師中) cùng bàn kế đánh úp. Lại chiếu cho An phủ sứ Dư Tĩnh (余靖) điều binh bắt giết. Tĩnh sai gián điệp dụ Chiêm Thành (占城) cùng với binh giáp Quảng Nam Tây lộ tiến thẳng tới Giao Chỉ. Nhật Tôn (日尊) kinh hãi dâng biểu tạ tội. Chiếu lệnh chưa được cử binh, nghe cho Nhật Tôn đến kinh sư cống hiến. Xét theo ''Tiêu Chú truyện (蕭注傳)'': Chú làm Tri Ung Châu được vài năm, ngầm lấy lợi lộc dụ dỗ quần Man ở Quảng Nguyên (廣源), mật thiết sửa sang binh giáp, rồi dâng sớ nói: "Giao Chỉ dù phụng triều cống nhưng thực có lòng họa tâm, thường xuyên xâm chiếm đất đai. Xưa năm Thiên Thánh (天聖), Trịnh Thiên Ích (鄭天益) làm Chuyển vận sứ từng trách chúng tự ý thu thuế ở động Vân Hà (雲河洞), nay Vân Hà đã lọt vào tay chúng vài trăm dặm, ấy là do năm tháng xâm lấn mà dần đến mức này. Thần đã nắm hết các điểm yếu và rõ mọi nơi lợi hại. Nay không đánh lấy, ngày sau tất là nỗi lo cho Trung Quốc. Xin được phi ngựa về kinh sư trình bày phương lược." Lời tâu chưa được trả lời thì Thân Thiệu Thái (申紹泰) ở Giáp Động xâm phạm Tây Bình (西平), 5 vị tướng bị hại. Quan gián nghị luận tội Chú làm trái phép khiến giặc đến, bãi chức làm Kinh Nam kiềm hạt. Đề điểm hình ngục Lý Sư Trung lại hặc tội Chú làm giảm uy thế, ham lợi, bắt người của Nùng Trí Cao hoạn làm nô tỳ, điều động dân động khai thác vàng, không có sổ sách kiểm tra. Trung sứ đến kiểm chứng thấy có thực, bèn biếm chức làm Thái Châu đoàn luyện phó sứ. Hoài Nam chuyển vận sứ lại nói: Chú mổ trâu giết chó, chiêu tập du sĩ, lập thành quân đội, dạy cưỡi ngựa bắn cung, xin dời đến châu lớn để kiềm chế. Chiếu đổi làm Trấn Nam quân tiết độ phó sứ. Có cận thần minh oan cho công lao của Chú ở Quảng Châu, bèn khởi dụng làm Hữu giám môn tướng quân, Tân Châu đô giám. '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 8 (năm 1063), mùa xuân tháng Giêng ngày Tân Hợi, Giao Chỉ (交阯) dâng 9 con voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm thứ 8 (năm 1063), sai Văn tư sứ Mai Cảnh Tiên (梅景先), Phó sứ Đại lý bình sự Lý Kế Tiên (李繼先) dâng voi thuần. '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 9 (năm 1064), lấy vật phẩm di lưu ban cho Nhật Tôn (日尊), gia phong chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.''' Xét theo ''Tống sử (宋史)'' – ''Nhân Tông bản kỷ'' và ''Anh Tông bản kỷ'' đều không chép. Xét theo ''Hình pháp chí (刑法志)'': Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 9 (năm 1064), Tri Quế Châu Thẩm Khởi (沈起) muốn kinh lược Giao Chỉ, chiếm lấy Từ Ân Châu (慈恩州) của chúng, người Giao bèn phá Khâm Châu, phạm vào Ung Quản (邕管). Chiếu rằng: Dân biên giới ngang nhiên bị giết chóc, trách nhiệm dẫn đến binh đao thảy đều do Thẩm Khởi, đặc cách tước bỏ quan tước, đày đi châu xa hẻo lánh. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1064), tháng 4 ngày Mậu Dần, lấy chiếu của Đại hành Hoàng đế (Nhân Tông) cùng vật phẩm di lưu ban cho Nhật Tôn (日尊), gia phong Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Ngày ấy, sứ Giao Chỉ cáo từ, vua mệnh cho Nội thị tỉnh áp ban Lý Kế Hòa (李繼和) hiểu dụ rằng: "Thân Thiệu Thái (申紹泰) đánh phá bản lộ, triều đình nhiều lần muốn thảo phạt, nhưng vì nghĩ Thiệu Thái chỉ là một kẻ cuồng loạn, lại thêm bản đạo đã sai sứ tạ tội, nên chưa muốn dấy binh." '''Năm Trị Bình (治平) thời Anh Tông (英宗) [khuyết năm], Giao Chỉ (交阯) đến xin trả con của Nùng Tông Đán (儂宗旦) là Nhật Tân (日新) và muốn lấy đất các động Ôn Muộn (溫悶洞).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Anh Tông bản kỷ (英宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Đầu năm Trị Bình (治平) (khoảng năm 1064), Tri Quế Châu Lục Thân (陸詵) tâu rằng, Giao Châu đến cầu xin cho con của Nùng Tông Đán (儂宗旦) là Nhật Tân (日新) về và muốn lấy đất các động Ôn Muộn (溫悶洞). Đế hỏi Giao Chỉ bắt đầu cắt cứ từ năm nào, phụ thần thưa rằng: "Từ năm Chí Đức (至德) thời Đường (năm 756–758) đổi làm An Nam đô hộ phủ. Năm Trinh Minh (貞明) thời Lương (năm 1015–1021), thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) độc chiếm đất này." Hàn Kỳ (韓琦) nói: "Trước kia vì Lê Hoàn (黎桓) phản mệnh, Thái Tông sai tướng thảo phạt nhưng không phục, sau sai sứ chiêu dụ mới bắt đầu thần phục. Giao Châu đường núi hiểm hóc hẻo lánh, nhiều sương mù ẩm thấp khí độc, dù có lấy được đất đó cũng e không giữ được." '''Năm Trị Bình (治平) thứ 4 (năm 1067), tháng 2 ngày Mậu Tý, tiến phong Giao Chỉ quận vương Lý Nhật Tôn (李日尊) làm Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Anh Tông bản kỷ (英宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Thần Tông lên ngôi, tiến phong Nhật Tôn làm Nam Bình Vương. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 1 (năm 1068) thời Thần Tông, gia phong Giao Chỉ quận vương chức Khai phủ nghi đồng tam ty.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 2 (năm 1069), tháng 9 ngày Giáp Tý mồng 1, Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1069) dâng biểu nói rằng: "Nước Chiêm Thành (占城國) đã lâu thiếu lễ triều cống, thần đích thân soái binh thảo phạt, bắt sống vua nước đó." Chiếu lấy sứ giả của họ là Quách Sĩ An (郭士安) làm Lục giá phó sứ, Đào Tông Nguyên (陶宗元) làm Nội điện sùng ban. Nhật Tôn (日尊) tự xưng đế ở nước mình, chiếm xưng hiệu "Pháp thiên ứng vận Sùng nhân Chí đạo Khánh thành Long tường Anh vũ Duệ văn Tôn đức Thánh thần Hoàng đế" (法天應運崇仁至道慶成龍祥英武睿文尊德聖神皇帝), tôn Công Uẩn (公蘊) làm Thái Tổ Thần Vũ Hoàng đế (太祖神武皇帝), quốc hiệu Đại Việt (大越), cải nguyên Bảo Tượng (寶象), lại đổi thành Thần Vũ (神武). '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 3 (năm 1070), năm này Giao Chỉ vào cống.''' Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 5 (năm 1072), tháng 3 ngày Giáp Ngọ, Nhật Tôn (日尊) chết, sai sứ đến điếu tặng.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1072) tháng 3, Nhật Tôn (日尊) mất. Mệnh cho Quảng Tây chuyển vận sứ Khang Vệ (康衛) làm Điếu tặng sứ, trả lại các châu huyện đã chiếm. Chiếu đáp rằng: "Khanh vỗ về vùng Nam Giao, đời đời nhận vương tước, thế mà lại bội đức trái mệnh, trộm đánh phá thành biên, bỏ mưu đồ trung thuận của tổ khảo, khiến triều đình phải dấy binh thảo phạt. Quân đi vào sâu, thế quẫn mới chịu quy hàng, xét tội trạng đó lẽ ra phải tước bỏ phong hào. Nay sai sứ tu sửa triều cống, dâng chương tỏ vẻ cung kính, xem kỹ lời lẽ thấy rõ sự hối cải. Trẫm vỗ về vạn quốc, không phân biệt xa gần, nhưng vì dân hai châu Ung, Khâm bị bắt sang nơi nóng nực, lâu ngày mất quê hương, đợi khi trả hết người về giới hạn tỉnh thì sẽ đem đất Quảng Nguyên (廣源) ban cho Giao Châu." Đầu năm Càn Đức (乾德) (năm 1077), giao ước trả lại quan lại 3 châu khoảng 1.000 người, nhưng lâu ngày chỉ trả được 221 người dân. Đàn ông từ 15 tuổi trở lên đều xăm lên trán chữ "Thiên tử binh" (天子兵), từ 20 tuổi trở lên xăm chữ "Đầu Nam triều" (投南朝), đàn bà xăm tay trái chữ "Quan khách" (官客). Dùng thuyền chở đi và trát bùn kín cửa sổ, bên trong thắp đèn nến, mỗi ngày chỉ đi khoảng 10 đến 20 dặm thì dừng, lại giả làm tiếng trống canh báo giờ, phàm trải vài tháng mới tới nơi, mục đích là để đánh lừa rằng đường biển rất xa xôi. Thuận Châu (順州) nằm sâu ở phía Nam, đặt lính đồn trú trấn giữ, bị nhiễm khí độc sương mù, nhiều người bệnh chết. Đào Bật (陶弼) cũng mất tại nhiệm sở, triều đình biết đất đó vô dụng, bèn đem toàn bộ 4 châu 1 huyện trả lại. Tuy nhiên Quảng Nguyên vốn thuộc quyền kiềm chế của Ung Quản (邕管), vốn không phải đất của Giao Chỉ. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm thứ 5 (năm 1072), Nhật Tôn (日尊) chết, con là Càn Đức (乾德) nối ngôi, đến báo tang. Chiếu sai sứ điếu tặng, trao cho Càn Đức tập phong như cũ." '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 6 (năm 1073), tháng 3 ngày Giáp Tý, Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Tiêu Chú truyện (蕭注傳)'': Đầu năm Hy Ninh (熙寧), dùng chức Lễ tân sứ Tri Ninh Châu. Trong thất bại của Lý Tín (李信) ở Hoàn Khánh, các thành đều đóng cửa cố thủ, duy Chú mở cửa đêm yến tiệc như thường. Khôi phục chức Cáp môn sứ, quản cán binh mã Lân Phủ, Chú từ chối rằng: "Thân vốn là thư sinh, giỏi việc vỗ về thu nạp, không thạo chiến đấu, sợ không hoàn thành việc." Bấy giờ có người nói người Giao bị thua ở Chiêm Thành, quân chưa đầy 1 vạn, có thể đánh lấy được. Bèn lấy Chú làm Tri Quế Châu. Khi vào chầu, Thần Tông hỏi kế công thủ, Chú thưa: "Xưa thần có nói thế, lúc đó binh các khe động một người đương được mười, khí giới sắc bén, người thân tín đều có thể chỉ huy. Nay hai điều đó không bằng xưa, người Giao đã tụ họp giáo huấn suốt 15 năm rồi, bảo là quân không đầy vạn là lời nói càn." Khi đến Quế Châu, các chủng tộc thủ lĩnh đều đến yết kiến, Chú niềm nở hỏi thăm đường sá núi sông, già trẻ bình an thế nào, đều được lòng họ, nên động tĩnh của Lý Càn Đức (李乾德) Chú đều biết hết. Tuy nhiên ai dâng kế chinh Nam, Chú thảy đều không nghe. Gặp lúc Thẩm Khởi (沈起) tự nhận việc bình Man, vua cho thay Chú. Xét theo ''Thẩm Khởi truyện (沈起傳)'': Năm thứ 6 (năm 1073) bái chức Thiên chương các đãi chế, Tri Quế Châu. Từ khi Vương An Thạch (王安石) nắm quyền, bắt đầu tìm kiếm biên công. Bấy giờ người nghị luận nói Giao Chỉ có thể lấy được, triều đình mệnh cho Tiêu Chú giữ Quế Châu kinh lược, Chú vốn là người bày mưu. Đến nay Chú lại cho là khó, Khởi nói: "Tiểu sửu phương Nam, không có lý gì không lấy được." Bèn lấy Khởi thay Chú. Khởi bèn nhất ý tấn công, mạo xưng mật chỉ, tự ý lệnh quan biên giới vào các khe động điểm tập thổ đinh làm bảo ngũ, trao cho trận đồ, bắt luyện tập theo mùa. Lại sai chỉ huy đốc thúc vận chuyển muối ra bờ biển, tập trung thủy quân mượn cớ dạy thủy chiến. Trước kia người Giao vẫn buôn bán với các châu huyện, nay thảy đều cấm đoán. Thế là Giao Chỉ càng thêm nghi ngại, tập hợp binh đinh mưu tính vào đánh phá. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 8 (năm 1075), tháng 11 ngày Mậu Dần, Giao Chỉ chiếm Khâm Châu (欽州). Ngày Giáp Thân, Giao Chỉ chiếm Liêm Châu (廉州). Tháng 12 ngày Tân Hợi, Thiên chương các đãi chế Triệu Tiết (趙卨) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ, Gia Châu phòng ngự sứ Lý Hiến (李憲) làm phó để thảo phạt Giao Chỉ.''' Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 9 (năm 1076), tháng Giêng, Giao Chỉ chiếm Ung Châu (邕州), Tri châu Tô Giam (蘇緘) tử tiết. Tháng 2, lấy Quách Quỳ (郭逵) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ. Tháng 12, đánh bại Giao Chỉ tại sông Phú Lương (富良江), Lý Càn Đức (李乾德) đầu hàng, bèn bãi binh về triều.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'': "Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 9 (năm 1076) mùa xuân tháng Giêng ngày Mậu Thìn, Giao Chỉ chiếm Ung Châu (邕州), Tri châu Tô Giam (蘇緘) tử tiết. Ngày Kỷ Mão, Hạ Khê Châu thứ sử Bành Sư Án (彭師晏) cùng Thiên Tứ Châu ra hàng. Ngày Canh Thìn, sai sứ tế Nam Nhạc, Nam Hải, cáo việc chinh phạt phương Nam. Ngày Tân Tỵ, truy tặng Tô Giam chức Phụng quốc quân tiết độ sứ, thụy là Trung Dũng, lấy con là Tử Nguyên làm Tây đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu. Tháng 2 ngày Mậu Tý, Tuyên huy Nam viện sứ Quách Quỳ (郭逵) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ, bãi chức Lý Hiến, lấy Triệu Tiết (趙卨) làm phó. Chiếu cho Chiêm Thành, Chân Lạp (真臘) hợp sức đánh Giao Chỉ. Tháng 4 ngày Giáp Thân, cấp cáo thân trống tên giao cho đạo An Nam để chiêu hàng thưởng công. Tháng 5 ngày Nhâm Thân, chiếu các quân An Nam qua lĩnh có người bệnh thì nơi đó phải hộ trì chữa trị. Tháng 6 ngày Đinh Hợi, chiếu các tướng lại An Nam xem quân sĩ có ai bệnh, mỗi tháng phải báo số lượng. Tháng 7, hành doanh An Nam đóng tại Quế Châu, Quách Quỳ sai Kiềm hạt Hòa Bân (和斌) đốc thúc thủy quân vượt biển từ Quảng Đông vào, các quân từ Quảng Nam vào. Tháng 11 ngày Ất Hợi, vì tướng sĩ hành doanh An Nam bệnh dịch, sai Đồng tri Thái thường lễ viện Vương Tồn (王存) cầu đảo ở Nam Nhạc, sai trung sứ lập đạo trường cầu phúc. Tháng 12 ngày Bính Tuất, Ngụy Quan sát sứ Giao Chỉ là Lưu Kỷ (劉紀) đầu hàng. Ngày Quý Mão, Quách Quỳ đánh bại Giao Chỉ tại sông Phú Lương (富良江), bắt được Ngụy Thái tử Hồng Chân (洪真). Lý Càn Đức (李乾德) sai người dâng biểu đến quân môn xin hàng, Quỳ bèn bãi binh về triều." Xét theo ''Thẩm Khởi truyện (沈起傳)'': "Tô Giam làm Tri Ung Châu, gửi thư cho Khởi xin dừng việc bảo giáp, bãi vận tải thủy, thông thương buôn bán. Khởi không nghe, hặc tội Giam ngăn trở bàn nghị. Khởi vì việc nghị bàn biên giới mà bị bãi chức, mệnh cho Lưu Di (劉彝) thay thế, Lưu Di trấn giữ Quảng Châu thường ngăn chặn biểu sớ của họ. Thế là người Giao nghi sợ, dẫn quân phạm cảnh, liên tiếp hạ 4 châu Liêm, Bạch, Khâm, Ung, số người chết đến hàng chục vạn. Sự việc tâu lên, biếm Khởi làm Đoàn luyện sứ, an trí tại Dĩnh Châu, sau dời sang Việt Châu, lại dời sang Tú Châu rồi mất." '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 10 (năm 1077), tháng 3, khôi phục các châu Quảng Nguyên (廣源), Tô (蘇), Mậu (茂), lấy việc Giao Chỉ đầu hàng mà ân xá Quảng Nam Đông lộ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'': Năm Hy Ninh thứ 10 (năm 1077) tháng 3 "ngày Bính Ngọ, vì khôi phục các châu Quảng Nguyên, Tô, Mậu, quần thần dâng biểu chúc mừng. Xá tội cho tù phạm ở Quảng Châu một bậc, tội đồ trở xuống đều tha. Ban tiền cho các quân hành doanh, gia đình dân chúng có người đi phục dịch được cứu tế. Đổi Quảng Nguyên Châu làm Thuận Châu (順州), xá tội cho Lý Càn Đức (李乾德), lấy Quách Quỳ phán Đàm Châu, Triệu Tiết tri Quế Châu. Ngày Kỷ Dậu, vì Giao Chỉ hàng, xá cho tù phạm bị giam ở Quảng Nam Đông lộ, Kinh Hồ Nam lộ, còn lại đều giảm một bậc, tội đồ trở xuống đều tha. Tháng 7 ngày Ất Hợi, Quách Quỳ vì thua trận ở An Nam, bị biếm làm Tả vệ tướng quân." '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 1 (năm 1078), tháng 2 ngày Mậu Thìn, xuống chiếu xá tội cho An Nam chiến trào Đô giám Dương Tòng Tiên (楊從先) và những người khác, vẫn luận công ban thưởng. Tháng 9 ngày Quý Dậu, Giao Chỉ (交阯) đến cống. Ngày Quý Mùi, Lý Càn Đức (李乾德) dâng biểu cầu xin trả lại các châu Quảng Nguyên (廣源), vua xuống chiếu không cho.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 2 (năm 1079), mùa đông tháng 10 ngày Mậu Thân, Giao Chỉ (交阯) trả lại những dân cư đã bắt, xuống chiếu lấy Thuận Châu (順州) ban cho nước đó.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 5 (năm 1082), tháng 6 ngày Nhâm Thân, Giao Chỉ (交阯) dâng 2 con tê giác thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 5 (năm 1082), "dâng 2 con voi thuần, 100 chiếc sừng tê ngà voi." (Ghi chú: Năm này việc dâng tê giác hay voi giữa Bản kỷ và Truyện có khác biệt, nay xin lưu lại cả hai). '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 7 (năm 1084), mùa đông tháng 10 ngày Mậu Tử, xuống chiếu phân định ranh giới Giao Chỉ (交阯), lấy 6 huyện 2 động ban cho nước đó.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 6 (năm 1083), lấy cớ truy bắt Nùng Trí Hội (儂智會) mà xâm phạm Quy Hóa Châu (歸化州), lại sai đại thần là Lê Văn Thịnh (黎文盛) đến Quảng Tây (廣西) biện lý ranh giới Thuận An (順安), Quy Hóa (歸化). Kinh lược sứ Hùng Bản (熊本) sai Tả Giang tuần kiểm Thành Trác (成卓) cùng bàn thảo, Văn Thịnh xưng là bồi thần, không dám tranh chấp gắt gao. Vua xuống chiếu khen Văn Thịnh có thể tuân theo ý định cung thuận của Càn Đức (乾德), ban cho bào đai cùng 500 xấp lụa, bèn lấy 6 huyện Bảo Lạc (保樂) cùng 2 động Túc Tang (宿桑) ở ngoài 8 ải ban cho Càn Đức. Xét theo ''Hùng Bản truyện (熊本傳)'': Bản làm Tri Quế Châu, thám tử báo người Giao năm sau sẽ vào đánh, sứ giả cũng khẳng định lời đó, vua xuống chiếu hỏi Bản, Bản thưa: "Sứ giả đang đi trên đường sao biết được việc này? Cứ cho là có mưu đồ, sao lại tự mình biết trước được?" Quả nhiên sau đó lời báo là sai. Lúc bấy giờ đã lấy Thuận Châu ban cho Lý Càn Đức (李乾德), nhưng ranh giới chưa chính thức định rõ, người Giao nhân đó thường xuyên quấy nhiễu đất Vật Dương (勿陽) và đuổi Nùng Trí Hội (儂智會). Trí Hội đến cầu cứu binh viện, Bản gửi hịch hỏi rõ sự tình, Càn Đức thu quân tạ lỗi, Bản nhân đó xin lấy đất hoang không có cỏ mọc ở 8 động Túc Tang (宿桑) ban cho, phương Nam từ đó yên ổn. Kẻ nghị luận cho rằng Bản bỏ 8 động là thất mưu, bèn bị tước 1 cấp quan. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 8 (năm 1085), tháng 3 ngày Mậu Tuất, Thần Tông băng hà, Thái tử lên ngôi Hoàng đế. Tháng 4 ngày Giáp Tuất, gia phong cho Lý Càn Đức (李乾德) chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Triết Tông (哲宗) lên ngôi, gia chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 1 (năm 1086) thời Triết Tông (哲宗), Giao Chỉ (交阯) dâng biểu cầu xin đất nhưng không cho.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Khoảng năm Nguyên Hữu (元祐), lại nhiều lần dâng biểu cầu xin đất ở các động Vật Ác (勿惡), Vật Dương (勿陽), vua xuống chiếu không cho. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 2 (năm 1087), mùa hạ tháng 4 ngày Bính Tuất, Giao Chỉ (交趾) vào cống. Mùa thu tháng 7, tiến phong Lý Càn Đức (李乾德) làm Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交趾本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1087) sai sứ vào cống, tiến phong Nam Bình Vương. Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 2 (năm 1087), Tri Dĩnh Xương phủ Hàn Chẩn (韓縝) tâu rằng: "Giao Chỉ là nước nhỏ, sứ giả của họ sắp đến cảnh giới, thần từng là cận thần chấp chính, khó lòng dùng lễ ngang hàng tiếp đón." Theo cố sự năm Nguyên Phong (元豐), dùng binh quan đón tiếp, sai Thông phán tiễn đưa, Sứ và Phó sứ đến phủ thì việc khao đãi do binh quan chủ trì, xin hãy theo lệ cũ đó. Lại xuống chiếu các quận đi qua, hễ là cựu Tể tướng hoặc quan Chấp chính làm Tri phán phủ cũng đều theo lệ này. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 6 (năm 1091), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 7 (năm 1092), tháng 8 ngày Ất Hợi, các tướng lại trước bị rơi vào Giao Chỉ là Tô Tá (蘇佐) cùng 17 người tự thoát thân trở về.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Thánh (紹聖) thứ 2 (năm 1095), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phù (元符) thứ 3 (năm 1100), tháng Giêng ngày Kỷ Mão, Triết Tông băng hà, Hoàng thái hậu triệu Đoan Vương vào nối ngôi Hoàng đế. Tháng 2 ngày Nhâm Dần, lấy Nam Bình Vương Lý Càn Đức (李乾德) làm Kiểm hiệu Thái sư.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Đại Quan (大觀) thời Huy Tông (徽宗) [khuyết năm], Giao Chỉ (交阯) đến cống, cầu xin được mua sách, vua cho phép.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Thời Huy Tông liên tiếp gia phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu Thái sư. Đầu năm Đại Quan (大觀), sứ giả triều cống đến kinh sư, cầu xin được mua các loại sách vở. Cơ quan hữu trách thưa rằng pháp luật không cho phép. Vua xuống chiếu khen ngợi lòng mộ nghĩa của họ, trừ các loại sách cấm như: bói toán (bốc phệ), âm dương lịch toán, thuật số, binh thư, sắc lệnh, thời vụ, biên cơ (việc biên phòng), địa lý ra, còn lại các sách khác đều cho phép mua. '''Năm Chính Hòa (政和) thứ 1 (năm 1111), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Chính Hòa (政和) [khuyết năm], nới lỏng lệnh cấm "hòa thị" (mua bán trao đổi).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Cuối năm Chính Hòa (政和), lại có chiếu rằng: "Vì người Giao từ thời Hy Ninh (熙寧) đến nay hoàn toàn không gây chuyện, đặc cách nới lỏng lệnh cấm hòa thị." '''Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 1 (năm 1119), gia phong cho Lý Càn Đức (李乾德) chức Thủ Ti vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127) thời Cao Tông (高宗), xuống chiếu không được thu nhận kẻ đào tẩu từ An Nam (安南).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127), "xuống chiếu cho Quảng Tây Kinh lược An phủ ty, nghiêm cấm dân biên giới không được thu nhận kẻ đào tẩu từ An Nam (安南), đó là theo lời thỉnh cầu của chủ nước ấy là Càn Đức (乾德)." Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127), Càn Đức (乾德) dâng biểu xin cấm binh lính biên thùy bản đạo trốn vào đất tỉnh thuộc. Chiếu lệnh cho Quảng Tây Kinh lược ty phải ước thúc." '''Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 4 (năm 1130), tháng 12 ngày Canh Ngọ, An Nam (安南) xin vào cống, vua khước từ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1130), An Nam (安南) vào cống, chiếu lệnh khước từ những phương vật xa hoa hào nhoáng, ban sắc thư và hậu đãi báo đáp để tỏ ý hoài nhu (vỗ về). Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm thứ 4 (năm 1130) vào cống, vì việc biên thùy chưa yên, nên miễn cho sứ giả đến cửa khuyết. Những phương vật tiến dâng, trừ thứ xa hoa không nhận, còn lại thì giao nhận tại biên giới, theo lệ cũ của Đề hình ty bản lộ mà tính giá ban thưởng trả về. Biểu sớ thì chuyển đệ về kinh, lệnh Học sĩ viện giáng sắc thư trả lời. Từ đó về sau, mỗi khi vào cống đều thực hiện theo cách này." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 2 (năm 1132), Lý Càn Đức (李乾德) chết, phong cho con là Dương Hoán (陽煥) làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 2 (năm 1132), Càn Đức (乾德) mất, truy tặng Thị trung, truy phong Nam Việt vương (南越王). Con là Dương Hoán (陽煥) nối ngôi, trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), ban hiệu Thôi thành Thuận hóa công thần." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 8 (năm 1138), Lý Dương Hoán (李陽煥) chết, phong con là Thiên Tộ (天祚) làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'': Năm thứ 8 (năm 1138), tháng 3 ngày Kỷ Hợi, lấy Lý Thiên Tộ (李天祚) làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1138), Dương Hoán (陽煥) mất, lấy Chuyển vận phó sứ Chu Phất (朱芾) làm Điếu tế sứ. Truy tặng Dương Hoán chức Khai phủ nghi đồng tam ty, truy phong Nam Bình vương (南平王). Con là Thiên Tộ (天祚) nối ngôi, được ban chức quan theo đúng chế độ sơ phong của cha." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 9 (năm 1139), xuống chiếu "không nhận đồ cống của Triệu Trí Chi (趙智之)".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 9 (năm 1139), xuống chiếu cho Quảng Tây Sư ty không được nhận đồ nhập cống của Triệu Trí Chi (趙智之). Thuở trước, Càn Đức (乾德) có người con của vợ lẽ trốn sang Đại Lý (大理), đổi họ tên thành Triệu Trí Chi (趙智之), tự xưng Bình vương. Nghe tin Dương Hoán (陽煥) chết, Đại Lý tiễn về để tranh ngôi với Thiên Tộ (天祚), xin vào nộp cống và muốn mượn binh để đưa về nước, vua không cho." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 14 (năm 1144), tháng 6 ngày Mậu Tý, nước An Nam (安南) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 16 (năm 1146), tháng 6, An Nam (安南) dâng voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 17 (năm 1147), ban cho Lý Thiên Tộ (李天祚) bộ yên ngựa.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 17 (năm 1147), "xuống chiếu cho Văn tư viện chế tạo bộ yên ngựa (an tiền) để ban cho Thiên Tộ (天祚)." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 21 (năm 1151), gia phong hiệu "công thần" cho Thiên Tộ (天祚).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 21 (năm 1151), "liên tiếp gia phong cho Thiên Tộ (天祚) các hiệu Sùng nghĩa Hoài trung Bảo tín Hương đức An viễn Thừa hòa công thần." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 25 (năm 1155), tháng 6, An Nam (安南) vào cống. Tháng 7 ngày Giáp Tuất, phong Lý Thiên Tộ (李天祚) làm Nam Bình vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 25 (năm 1155), "xuống chiếu tiếp đãi sứ giả An Nam (安南) tại dịch Hoài Viễn (懷遠驛), ban yến tiệc để tỏ rõ sự đãi ngộ đặc biệt. Tiến phong Thiên Tộ làm Nam Bình vương (南平王), ban bộ áo mặc (tập y), đai vàng và yên ngựa." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 26 (năm 1156), tháng 8 ngày Canh Dần, nước An Nam (安南) sai sứ vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 26 (năm 1156), "mệnh cho Hữu ty Lang trung Uông Ứng Thần (汪應辰) khoản đãi sứ giả An Nam tại vườn Ngọc Tân (玉津園). Tháng 8, Thiên Tộ sai bọn Lý Quốc (李國) đem vàng ngọc, trầm hương, lông chim trả (thúy vũ), ngựa tốt và voi thuần đến cống." Chiếu gia phong Thiên Tộ chức Kiểm hiệu Thái sư, tăng thêm thực ấp. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 27 (năm 1157), tháng 3 ngày Đinh Hợi, xuống chiếu "đốt lông chim trả (thúy vũ) của Giao Chỉ (交阯) dâng nộp ở nơi đường cái thông thoáng (thông cù)".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 31 (năm 1161), An Nam dâng voi thuần, xuống chiếu lệnh sau này đừng dâng nữa.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Tháng Giêng năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 31 (năm 1161), An Nam dâng voi thuần. Đế phán: "Man di cống phương vật là chức trách của họ, nhưng trẫm không muốn vì thú lạ mà làm lao nhọc người phương xa. Hãy lệnh cho quan Soái thần cáo dụ rằng, từ nay không cần dâng voi thuần làm đồ cống nữa." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 32 (năm 1162), mùa đông tháng 10 ngày Kỷ Sửu, An Nam đô hộ, Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) đều được tăng thêm thực ấp và thực phong.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Lễ chí (禮志)'': Năm thứ 32 (năm 1162), Hiếu Tông (孝宗) đăng cơ, xuống chiếu rằng: "Từ những năm gần đây liên tiếp có nước ngoài vào cống, Thái thượng Hoàng đế (Cao Tông) vì khiêm nhường nên không nhận. Huống hồ trẫm đức mỏng tài hèn sao gánh vác nổi. Từ nay nước nào muốn triều cống, lệnh cho châu quân nơi đó dùng lý lẽ dụ bảo họ trở về, không được tâu lên." '''Năm Long Hưng (隆興) thứ 2 (năm 1164) đời Hiếu Tông (孝宗), tháng 9 ngày Ất Mùi, Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Long Hưng (隆興) thứ 2 (năm 1164), Thiên Tộ (天祚) sai Doãn Tử Tư (尹子思), Đặng Thạc Nghiễm (鄧碩儼) dâng cống vàng bạc, ngà voi và các loại hương vật." '''Năm Càn Đạo (乾道) thứ 6 (năm 1170), gia phong hiệu công thần cho Thiên Tộ (天祚).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Càn Đạo (乾道) thứ 6 (năm 1170), liên tiếp gia phong cho Thiên Tộ (天祚) các hiệu "Quy nhân Hiệp cung Kế mỹ Tuân độ Lý chính Chương thiện công thần". Hoàng đế từ khi lên ngôi đã nhiều lần khước từ sứ giả triều cống của An Nam (安南). '''Năm Càn Đạo (乾道) thứ 9 (năm 1173), tháng 12 ngày Tân Mùi, Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1173), Thiên Tộ (天祚) lại sai Doãn Tử Tư (尹子思), Lý Bang Chính (李邦正) xin vào cống. Đế khen ngợi lòng thành nên cho phép, chiếu tiếp đãi tại dịch Hoài Viễn (懷遠驛). Quảng Nam Tây lộ Kinh lược An phủ sứ Phạm Thành Đại (范成大) tâu: "Bản ty kinh lược chư Man, An Nam (安南) nằm trong diện được vỗ về, bồi thần của họ sao có thể hành lễ ngang hàng với vương quan Trung Quốc. Khoảng năm Chính Hòa (政和), sứ giả vào cảnh giới đều phải làm lễ đình tham (hành lễ tại sân), quan ta không đáp lễ lại, nên tuân theo chế độ cũ thì về lễ mới là đúng." Triều đình theo lời thỉnh cầu đó. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), tháng Giêng ngày Bính Ngọ, nhân việc Giao Chỉ vào cống, xuống chiếu ban tên nước là An Nam (安南), phong Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) làm An Nam quốc vương (安南國王).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Tháng 2 năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), tiến phong Thiên Tộ (天祚) làm An Nam quốc vương (安南國王), gia hiệu "Thủ khiêm công thần". Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Tháng Giêng năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), dẫn kiến An Nam tiến phụng Phó sứ. Tháng 2, chiếu rằng việc An Nam vào cống có ý lễ đáng khen, lệnh hữu ty thảo luận điển cố ban tên nước để tâu lên. Thế là đặc ban tên nước là An Nam (安南), xuống chế cho Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) vẫn giữ nguyên các chức quan cũ, phong làm An Nam quốc vương (安南國王), vẫn gia thêm hiệu "Thủ khiêm công thần". Thượng vì Thiên Tộ đã tại vị 40 năm nên hậu đãi lễ phong làm nước An Nam vậy. Trước đây các chương tấu chuyển đệ chỉ gọi là "An Nam đạo" (安南道), sau khi gia phong, họ dần tự tôn đại, văn thư xưng là "Quốc" (Quốc gia), không thể sửa lại được nữa. Viên quan áp bạn (đi kèm) sứ An Nam là Lương Ngạn (梁衎) tâu: "An Nam vào cống, các châu huyện đi qua phải điều động phu dịch rất nhiều. Từ Tĩnh Giang (靜江) theo đường thủy có thể đến Dung Châu (容州), lại từ Bắc Lưu theo đường bộ 120 dặm đến Uất Lâm (鬱林), từ châu Uất Lâm theo đường thủy có thể đến Quảng Châu (廣州). Các chặng này đều có thuyền muối khứ hồi, xe bò vận muối có thể thuê được; từ Liêm Châu (廉州) đi đường biển 1 ngày là tới Giao Chỉ (交阯). Như vậy từ Tĩnh Giang đi về phía Nam hơn 2.000 dặm, có thể không cần dùng đến 1 người phu dịch nào mà vẫn xong việc." Chiếu lệnh cho quan Soái thần các lộ xét kỹ hành trình. Sau đó, bọn Doãn Tử Tư (尹子思) cho rằng vào hạ nước dâng cao, xin theo lệ cũ đi đường Khâm Châu (欽州) để về. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2 (năm 1175), tháng 8 ngày Giáp Tý, ban ấn "An Nam quốc vương".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'' đều chép như nhau. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 2 (năm 1175), nước An Nam xin ấn, lấy 6 chữ "An Nam quốc vương chi ấn" (安南國王之印) làm văn tự trên ấn mà ban cho. Ấn đó phỏng theo mẫu ấn của Khu mật viện và Thượng thư tỉnh, vuông 2 tấc, vẫn cấp kèm bài bài (thẻ bài), đều đúc bằng đồng, mạ vàng để trang trí. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 3 (năm 1176), tháng 5 ngày Quý Sửu, An Nam quốc vương Lý Thiên Tộ (李天祚) mất. Ngày Mậu Ngọ, sai sứ điếu tế.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1176), ban lịch năm mới cho nước An Nam. Thiên Tộ mất. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 3 (năm 1176), ban lịch cho nước An Nam. Hữu ty tâu rằng: "Thiên Tộ đã mất, con chưa có phong tước, muốn soạn 'Sắc thư ban cho嗣 tử (con nối dõi) nước An Nam là Long Cán (龍𣉙)'." Vua nghe theo. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 4 (năm 1177), tháng 3 ngày Nhâm Tử, xuống chiếu cho Lý Long Cán (李龍𣉙) tập phong làm An Nam quốc vương (安南國王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1176) ban lịch cho nước An Nam. Thiên Tộ mất. Năm sau (năm 1177), con là Long Cán (龍𣉙) nối ngôi. Trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Quan sát Xử trí đẳng sứ, Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc. Đặc phong An Nam quốc vương (安南國王), gia thêm thực ấp, vẫn ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần". Lời chế rằng: "Dựa vào nước vui để bắt đầu phong tước, đã theo lệ thế tập. Đạt đến bậc Chân vương mà ban mệnh, hà tất phải đợi thăng dần lên", ấy là để tỏ rõ lễ khác biệt vậy. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 4 (năm 1177) trao cho Long Cán (龍𣉙) chức tập tước. Theo lệ cũ, "vua nước đó mới lập thì phong Giao Chỉ quận vương, lâu sau mới tiến phong Nam Bình vương, khi chết thì truy tặng Thị trung, Nam Việt vương." '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 5 (năm 1178), dâng phương vật, dâng biểu tạ ơn.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 10 (năm 1083), tháng nhuận ngày Nhâm Dần, xuống chiếu khước từ việc An Nam dâng voi.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1182), xuống chiếu khước từ voi do An Nam cống, vì cho rằng vật ấy vô dụng mà làm phiền dân, các vật khác cũng chỉ nhận 1/10 (10%). '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 12 (năm 1185), mùa xuân tháng Giêng ngày Kỷ Sửu, cấm muối Giao Chỉ (交阯) nhập vào đất tỉnh thuộc.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 16 (năm 1189), liên tiếp gia phong cho Long Cán (龍𣉙) các hiệu "Thủ nghĩa Phụng quốc Lý thường Hoài đức công thần".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Thiệu Hy (紹熙) thứ 1 (năm 1190) thời Quang Tông (光宗), tháng 11 ngày Giáp Dần, An Nam vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Quang Tông (光宗) lên ngôi, họ dâng biểu vào cống để chúc mừng. '''Năm Thiệu Hy (紹熙) thứ 5 (năm 1194), tháng 6 ngày Mậu Tuất, Hiếu Tông băng hà. Quang Tông vì bệnh không thể ra ngoài. Tháng 7 ngày Tân Dậu, thỉnh ý Thái hoàng thái hậu, nhận ngự phê cho Hoàng tử Gia Vương Khuếch (嘉王擴) lên ngôi Hoàng đế. Tháng 8 ngày Ất Mão, gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) hiệu "Tư trung công thần". Tháng 11 ngày Giáp Ngọ, lại gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán hiệu "Tế mỹ công thần".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Ninh Tông bản kỷ (寧宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 (năm 1200) thời Ninh Tông (寧宗), mùa đông tháng 10 ngày Canh Tử, lại gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) hiệu "Bảo tiết công thần".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Triều Ninh Tông (寧宗) ban cho áo đai, khí vật, tiền lụa; liên tiếp gia phong các hiệu công thần "Cẩn độ Tư trung Tế mỹ Cần lễ Bảo tiết Quy nhân Sùng khiêm Hiệp cung" và tăng thực ấp vậy. '''Năm Gia Định (嘉定) thứ 5 (năm 1212), mùa hạ tháng 5 ngày Quý Dậu, An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) mất, lấy con là Hạo Sảm (昊旵) làm An Nam quốc vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Ninh Tông bản kỷ (寧宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Gia Định (嘉定) thứ 5 (năm 1212), Long Cán (龍𣉙) mất, xuống chiếu lấy Quảng Tây Vận phán Trần Khổng Thạc (陳孔碩) làm Điếu tế sứ, đặc biệt truy tặng chức Thị trung. Theo đúng chế độ của An Nam quốc vương trước đây, cho con là Hạo Sảm (昊旵) tập phong tước vị, đồ ban tặng giống như chế độ lúc Long Cán mới được phong, vẫn ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần". Về sau biểu tạ ơn không đến, bèn thôi không gia ân nữa. Hạo Sảm mất, không có con trai, lấy con gái là Chiêu Thánh (昭聖) nắm việc nước, rồi bị chồng là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) chiếm hữu. Nhà Lý làm chủ đất nước, từ Công Uẩn (公蘊) đến Hạo Sảm truyện được 8 đời, hơn 200 năm thì mất nước. '''Năm Đoan Bình (端平) thứ 2 (năm 1235) đời Lý Tông (理宗), tháng 11 ngày Mậu Tử, nước An Nam (安南) dâng phương vật.''' '''Năm Đoan Bình (端平) thứ 3 (năm 1236), tháng Giêng, ban tước phong, bộ áo mặc (tập y), đai vàng cho An Nam quốc vương. Tháng 10 ngày Bính Ngọ, nước An Nam dâng phương vật, xuống chiếu trao chức Kim tử Quang lộc đại phu, Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát đẳng sứ, ban bộ áo mặc, đai vàng bạc.''' Xét theo: Những điều trên đều ghi trong ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)''. '''Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 3 (năm 1243), mùa xuân tháng Giêng ngày Tân Sửu, xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), hiệu công thần cũ vốn được ban, nay đặc biệt tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 2 (năm 1242), xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), hiệu công thần vốn được ban là "Hiệu trung Thuận hóa Bảo tiết công thần", nay tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義). '''Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 11 (năm 1251), An Nam đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': "Năm thứ 11 (năm 1251) lại đến cống." '''Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 5 (năm 1257), tháng 11 ngày Ất Sửu, khen ngợi và phủ dụ nước An Nam, ban cho đồ vàng, tiền lụa và trà quý.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 6 (năm 1258), tháng 9 ngày Giáp Dần, xuống chiếu cho rằng tình trạng của An Nam khó lường, lệnh phải siết chặt phòng thủ biên giới.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 6 (năm 1258), xuống chiếu cho rằng tình hình An Nam khó dự đoán, lệnh phải tăng cường phòng bị biên cương. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 2 (năm 1261), tháng 11 ngày Giáp Tuất, nước An Nam dâng voi.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Cảnh Định (景定) thứ 2 (năm 1261), dâng 1 con voi. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 3 (năm 1262), tháng 6 ngày Canh Tuất, An Nam quốc vương Nhật Cảnh (日煚) dâng biểu xin cho thế tập. Xuống chiếu trao chức Kiểm hiệu Thái sư, An Nam quốc vương, tăng thực ấp. Con trai là Uy Hoảng (威晃) trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí sứ, Kiểm hiệu Thái úy kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương, Hiệu trung Thuận hóa công thần, vẫn ban đai vàng, khí vật, tiền lụa và yên ngựa.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1262), dâng biểu xin thế tập, chiếu cho Nhật Cảnh (日煚) thụ chức Kiểm hiệu Thái sư, An Nam quốc đại vương (安南國大王), tăng thực ấp. Con trai là Uy Hoảng (威晃) thụ chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Quan sát Xử trí sứ, Kiểm hiệu Thái úy kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương (安南國王), Hiệu trung Thuận hóa công thần, ban đai vàng, khí vật, tiền lụa và yên ngựa. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 5 (năm 1264), tháng 5 ngày Ất Mùi, nước An Nam dâng biểu tạ ơn, tiến dâng phương vật. Xuống chiếu khước từ, nhưng vẫn ban cho vàng lụa để khen ngợi lòng cung thuận.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 1 (năm 1265) đời Độ Tông (度宗), gia phong hiệu công thần cho vua An Nam, đồng thời ban đai vàng, yên ngựa và quần áo.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 1 (năm 1265), tháng 2, gia phong hiệu công thần cho An Nam quốc đại vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), tăng thêm 2 chữ "An thiện" (安善); gia phong hiệu công thần cho An Nam quốc vương Trần Uy Hoảng (陳威晃), tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義), đều ban cho đai vàng, yên ngựa và quần áo. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 2 (năm 1266), tháng 8 ngày Giáp Thân, nước An Nam sai sứ chúc mừng việc lên ngôi, dâng phương vật.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm thứ 2 (năm 1266) lại dâng biểu tiến cống lễ vật. Ban cho 500 lạng vàng, 100 xấp lụa, giáng chiếu khen ngợi. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 5 (năm 1269), tháng 12 ngày Mậu Tử, xuống chiếu cho cha của An Nam quốc vương là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) và Quốc vương Trần Uy Hoảng (陳威晃) đều được tăng thêm thực ấp 1.000 hộ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Độ Tông bản kỷ (度宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 5 (năm 1269), xuống chiếu cho Quốc vương phụ Nhật Cảnh (日煚) và Quốc vương Uy Hoảng (威晃) được tăng thực ấp. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 8 (năm 1272), tháng 11 ngày Kỷ Tỵ, xuống chiếu: "Lễ Minh Đường hoàn tất, An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚) và Trần Uy Hoảng (陳威晃) mỗi người đều tăng thêm thực ấp 1.000 hộ, ban tặng roi, yên ngựa và các vật khác."''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Độ Tông bản kỷ (度宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1272), lễ Minh Đường hoàn tất, Nhật Cảnh (日煚) và Uy Hoảng (威晃) đều được tăng thực ấp, ban yên ngựa và các vật khác. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 10 (năm 1274), tháng 11 ngày Đinh Dậu, gia phong cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚) hiệu "Ninh viễn công thần", con là Uy Hoảng (威晃) hiệu "Phụng chính công thần".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cung Tông bản kỷ (恭宗本紀)'' đã dẫn. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka99m8glc9?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] dvnkp92n82wgphdmzsja4r3ot812uvf 204595 204594 2026-04-08T09:26:43Z Mrfly911 2215 204595 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 91''' | trước= [[../quyển 090|quyển 90]] | sau= [[../quyển 092|quyển 92]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 2== === Đường === '''Năm Đường Cao Tổ (唐高祖) Vũ Đức (武德) thứ 5 (năm 222), bắt đầu lấy phủ An Nam đô hộ (安南都護府) cho thuộc vào Lĩnh Nam đạo (嶺南道).''' Xét theo ''Đường thư (唐書) – Cao Tổ bản kỷ (高 Tổ bản kỷ)'' không chép. Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': "Phủ An Nam trung đô hộ (安南中都護府) vốn là quận Giao Chỉ (交趾郡). Năm Vũ Đức (武德) thứ 5 (năm 222) gọi là Giao Châu (交州), trị sở tại Giao Chỉ (交趾)." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Nước An Nam (安南國), xưa là Giao Chỉ (交趾). Khoảng năm Kiến An (建安) thời Hiến Đế (獻帝), đổi làm Giao Châu (交州). Nhà Ngô Tôn Quyền (孫權) chia Giao Châu để đặt Quảng Châu (廣州), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編). Các triều đại Tấn (晉), Tống (宋), Tề (齊), Lương (梁), Trần (陳), Tùy (隋) đều theo đó. Đầu thời Đường (唐) đổi làm phủ An Nam đô hộ (安南都護府), thuộc Lĩnh Nam đạo (嶺南道), tên gọi An Nam (安南) bắt đầu từ đây. Quận Giao Chỉ (交趾郡) làm Giao Châu (交州), chia ra các châu Vũ Nga (武峨州), Việt Châu (粵州), Chi Châu (芝州). Quận Cửu Chân (九真郡) làm Ái Châu (愛州). Chia ra các châu Phúc Lộc (福祿州), Trường Châu (長州). Quận Nhật Nam (日南郡) làm Hoan Châu (歡州). Chia ra các châu Phong Châu (峰州), Lục Châu (陸州), Thang Châu (湯州), lại có Ngu Châu (禺州), Nham Châu (巖州), tổng cộng là 12 châu." '''Năm Ý Tông (懿宗) Hàm Thông (咸通) thứ 1 (năm 860), tháng 12 ngày Mậu Thân, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) đánh phá An Nam (安南).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 3 (năm 862), tháng 11, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) đánh phá An Nam (安南).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 4 (năm 863), tháng Giêng, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) chiếm được An Nam (安南), Thái Tập (蔡襲) tử trận. Tháng 2, bái tế 16 lăng (十六陵). Lấy Kinh lược sứ Tần Châu (秦州) là Cao Biền (高駢) làm An Nam kinh lược chiêu thảo sứ (安南經略招討使).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 6 (năm 865), tháng 5, Cao Biền (高駢) cùng quân Man Vân Nam (雲南蠻) đánh nhau tại Ung Châu (邕州), phá tan được chúng.''' Xét các điều trên đều theo ''Đường thư (唐書) – Ý Tông bản kỷ (懿宗 bản kỷ)'' đã dẫn. '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 7 (năm 866), tháng 10, Cao Biền (高駢) thu phục được An Nam (安南).''' Xét theo ''Đường thư (唐書) – Ý Tông bản kỷ (懿宗 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Cao Biền truyện (高駢傳)'': "Khoảng năm Hàm Thông (咸通), vua muốn thu phục An Nam, bái Cao Biền (高駢) làm Đô hộ, triệu về kinh sư, bái kiến tại điện Linh Đài. Khi ấy Dung Quản kinh lược sứ (容管經略使) là Trương Nhân (張茵) không chịu đánh giặc, vua bèn đem binh của Nhân giao cho Biền. Biền qua sông, hẹn Giám quân Lý Duy Chu (李維周) cùng tiến quân, nhưng Duy Chu lại ôm quân đóng trại tại Hải Môn (海門). Biền dừng tại Phong Châu (峰州), đại phá quân Man Nam Chiếu (南詔蠻), thu lấy chiến lợi phẩm để nuôi quân. Duy Chu đố kỵ, giấu tin thắng trận không tâu lên, triều đình không có tin tức của Biền suốt hơn 100 ngày. Vua xuống chiếu hỏi tình hình, Duy Chu hặc tội Biền khinh địch không tiến, vua bèn sai Hữu võ vệ tướng quân Vương Yến Quyền (王晏權) sang thay Biền. Chẳng bao lâu Biền hạ được An Nam, chém soái quân Man là Đoạn Tù Thiên (段酋遷), thu phục các động hàng phụ lên đến số 20.000. Lúc Yến Quyền đang cùng Duy Chu xuất phát từ Hải Môn, phát hịch lệnh cho Biền về Bắc, thì Biền đã sai Vương Huệ Tán (王惠贊) đem đầu của Tù Thiên về kinh sư. Huệ Tán thấy đội thuyền rất thịnh của Yến Quyền, sợ chúng đoạt mất tờ sớ bèn giấu vào trong đảo, tìm cách về kinh sư. Thiên tử xem sớ, ngự tại điện Tuyên Chính, quần thần thảy đều chúc mừng, đại xá thiên hạ. Thăng Biền làm Kiểm hiệu Hình bộ thượng thư, tiếp tục trấn thủ An Nam. Đổi phủ Đô hộ làm Tĩnh Hải quân (靜海軍), trao cho Biền chức Tiết độ sứ kiêm Chiêu thảo sứ của hành doanh các đạo. Bắt đầu đắp thành An Nam. Từ An Nam đến Quảng Châu (廣州), đường thủy hiểm trở, nhiều đá lớn, Biền chiêu mộ thợ đục bỏ, từ đó thuyền bè đi lại yên ổn, lương thực dự trữ được cung ứng đầy đủ. Lại có sứ giả hằng năm đến, Biền bèn đục 5 con đường, đặt binh hộ tống. Đường đi qua núi Thanh Thạch (青石), có thuyết nói xưa Mã Viện (馬援) không đục nổi, đến khi Biền đánh vào, có sét đánh nát đá nên mới thông được, nhân đó đặt tên đường là Thiên Oai (天威)." ===Hậu Lương=== '''Năm Hậu Lương (後梁) Mạt Đế (末帝) Trinh Minh (貞明) thứ [khuyết] (giai đoạn năm 915–921), An Nam (安南) dâng thư quy thuận nhà Lương.''' Xét theo ''Ngũ Đại Sử (五代史) – Lương bản kỷ (梁本紀)'' không chép. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Khoảng năm Trinh Minh (貞明) thời nhà Lương thuộc thời Ngũ Quý (五季), vùng này bị thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chiếm giữ, dâng thư quy thuận nhà Lương, được phong chức Tiết độ sứ. Bấy giờ nhà Nam Hán (南漢) chuyên quyền tại Lĩnh Biểu, sai tướng Lý Tri Thuận (李知順) đi đánh Thừa Mỹ, bắt sống được ông ta, rồi bình định và chiếm hữu đất ấy. Chẳng bao lâu sau, vùng đất bị tướng Ái Châu (愛州) là Dương Diên Nghệ (楊延藝) chiếm giữ, sau đó tướng trong châu là Ngô Xương Cập (吳昌岌) đoạt lấy, rồi truyền cho em là Xương Văn (昌文)." ===Tống=== '''Năm Tống Thái Tổ (宋太祖) Càn Đức (乾德) thứ [khuyết] (giai đoạn năm 963–968), An Nam (安南) dâng biểu nội phụ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Đầu năm Càn Đức (乾德) nhà Tống, Xương Văn (昌文) chết, bọn Ngô Xứ Bình (吳處玶) tranh lập, trong cõi đại loạn. Có người tên Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) bình định được, tự xưng là Đại Thắng Vương (大勝王), riêng phong cho con là Đinh Liễn (丁璉) làm Tiết độ sứ. Nghe tin nhà Nam Hán (南漢) đã bị bình định, bèn dâng biểu xin nội phụ." '''Năm Khai Bảo (開寶) thứ 6 (năm 973), mùa hạ tháng 5 ngày Kỷ Tỵ, Đinh Liễn (丁璉) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến dâng phương vật.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Giao Chỉ (交阯) vốn là đất Nam Việt (南越) thời đầu nhà Hán. Hán Võ Đế bình định Nam Việt, chia đất đó thành 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交阯), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đặt chức Giao Chỉ thứ sử để cai quản. Hậu Hán đặt Giao Châu (交州), các nhà Tấn (晉), Tống (宋), Tề (齊), Lương (梁), Trần (陳) đều theo đó, lại gọi là quận Giao Chỉ (交阯郡). Nhà Tùy bình định nhà Trần, phế quận lập châu; đầu thời Dạng Đế lại phế châu lập quận. Năm Vũ Đức (武德) nhà Đường đổi làm Giao Châu tổng quản phủ, năm Chí Đức (至德) đổi làm An Nam đô hộ phủ (安南都護府). Năm Trinh Minh (貞明) nhà Lương, thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) độc chiếm đất ấy, dâng thư quy thuận Mạt Đế, nhân đó được trao tiết việt. Bấy giờ Lưu Ẩn (劉隱) chuyên quyền tại Lĩnh Biểu, sai tướng Lý Tri Thuận (李知順) đánh Thừa Mỹ, bắt sống được ông ta, bèn gồm thâu cả đất ấy. Sau có Dương Diên Nghệ (楊延藝), Kiều Thiệu Hồng (矯紹洪), đều nhận chức do Quảng Nam (nhà Nam Hán) bổ dụng, nối nhau làm Giao Chỉ tiết độ sứ. Thiệu Hồng chết, tướng trong châu là Ngô Xương Cập (吳昌岌) bèn chiếm vị trí đó. Xương Cập chết, em là Xương Văn (昌文) nối nghiệp. Đầu năm Càn Đức (乾德), Xương Văn chết, các tham mưu Ngô Xứ Bình (吳處玶), Thứ sử Phong Châu (峰州) Kiều Tri Hựu (矯知護), Thứ sử Vũ Ninh Châu (武寧州) Dương Huy (楊暉), Nha tướng Đỗ Cảnh Thạc (杜景碩) tranh nhau lập, 12 châu trong cõi đại loạn, dân chúng kêu gọi tụ tập nổi lên làm trộm cướp, tấn công Giao Châu. Trước đó, Dương Diên Nghệ (楊延藝) lấy nha tướng Đinh Công Trứ (丁公著) nhiếp chức Thứ sử Hoan Châu (歡州) kiêm Ngự phiên đô đốc, Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) chính là con của ông ta. Công Trứ chết, Bộ Lĩnh nối nghiệp. Đến đây Bộ Lĩnh cùng con là Đinh Liễn (丁璉) dẫn binh đánh bại bọn Xứ Bình, đảng tặc tan rã, trong cảnh yên ổn, dân Giao Chỉ nhớ đức ấy bèn tôn Bộ Lĩnh làm Giao Châu soái, hiệu là Đại Thắng Vương (大勝王), phong cho con là Đinh Liễn (丁璉) làm Tiết độ sứ. Qua 3 năm, nhường ngôi cho Liễn. Liễn lập được 7 năm, nghe tin vùng Lĩnh Biểu đã bình định, bèn sai sứ dâng phương vật, dâng biểu nội phụ. Vua xuống chế lấy Quyền Giao Châu tiết độ sứ Đinh Liễn (丁璉) làm Kiểm hiệu Thái sư, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ (靜海軍節度使), An Nam đô hộ (安南都護); lại xuống chiếu lấy Tiến phụng sứ Trịnh Tú (鄭琇), Vương Thiệu Tộ (王紹祚) đều làm Kiểm hiệu Tả tán kỵ thường thị kiêm Ngự sử đại phu." '''Năm Khai Bảo (開寶) thứ 8 (năm 975), tháng 5 ngày Giáp Ngọ, An Nam đô hộ Đinh Liễn (丁璉) sai sứ đến cống hiến.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 975) sai sứ cống tê giác, voi, hương liệu và thuốc. Triều đình bàn việc tôn sùng và ưu đãi Bộ Lĩnh, xuống chế rằng: 'Khắp cõi đến quy phục, phải lấy ân tín mà đối đãi; cả họ phụng sự quốc gia, nên được phong thưởng long trọng. Nghĩ đến vị thần nơi cực biên, thực hiện điển lễ hiển hách cho người thân. Ngươi là Bộ Lĩnh, đời là danh gia, giữ vững phương xa, sớm mộ phong hóa trung hoa, không quên nội phụ. Nay 9 châu đã hợp nhất, 5 rặng núi (Ngũ Lĩnh) đã dẹp yên, không ngại sóng lớn đại dương, vui vẻ dâng nộp sản vật quý. Khen cho con giỏi của ngươi, xứng đáng là phiên dậu của ta. Đặc ban ơn lớn để nêu gương nghĩa huấn. Chúc ngươi trường thọ, nhận chương phục phong tặng này. Khả phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu Thái sư, phong làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)'. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Năm thứ 8 (năm 975), xuống chiếu phong Bộ Lĩnh (部領) làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), Liễn (璉) làm Tiết độ An Nam đô hộ. An Nam (安南) từ đây bắt đầu trở thành phiên di vậy." '''Năm Thái Tông (太宗) Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ [khuyết] (giai đoạn 976–980), An Nam (安南) sang cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Thái Tông lên ngôi, Đinh Liễn (丁璉) lại sai sứ đem phương vật đến chúc mừng." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ [khuyết] (năm 979–980), đại tướng An Nam là Lê Hoàn (黎桓) chuyên quyền phế chủ, Thái Tông bàn định việc cử binh.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Sau khi Bộ Lĩnh (部領) và Liễn (璉) chết, em của Liễn là Toàn (璿) còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, xưng là Tiết độ Hành quân Tư mã, quyền lĩnh việc quân phủ. Đại tướng Lê Hoàn (黎桓) chuyên quyền dựng đảng, dần không thể chế ngự được, bèn dời Toàn (璿) sang dinh thự khác, giam cầm cả họ, rồi thay thế thống lĩnh đám đông. Thái Tông nghe tin thì nổi giận, bèn bàn việc cử binh." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Bộ Lĩnh (部領) và Liễn (璉) chết, em Liễn là Toàn (璿) lập lên, còn nhỏ tuổi, bị đại tướng Lê Hoàn (黎桓) chiếm ngôi. Họ Đinh (丁氏) truyền đời tổng cộng 11 năm." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 5 (năm 980), xuống chiếu thảo phạt Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'': "Năm thứ 5 (năm 980) mùa thu tháng 7 ngày Đinh Mùi, thảo phạt Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州). Mệnh cho Lan Châu đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng (孫全興), Bát tác sứ Trương Tuấn (張濬), Tả giám môn vệ tướng quân Thôi Lượng (崔亮), Ninh Châu刺 sử Lưu Trừng (劉澄), Quân khí khố phó sứ Giả Thực (賈湜), Cáp môn chi hậu Vương Soạn (王僎) đều làm Bộ thự. Toàn Hưng, Tuấn, Lượng đi từ Ung Châu (邕州); Trừng, Thực, Soạn đi từ Liêm Châu (廉州), mỗi người dẫn quân của mình đi đánh. Tháng 9 ngày Quý Mão, Lê Hoàn (黎桓) sai sứ nhân danh Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu xin tập vị. Mùa đông tháng 11 ngày Canh Tý mồng 1, An Nam Tĩnh Hải quân tiết độ hành quân tư mã quyền tri châu sự Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu xin tập vị, vua không trả lời. Tháng 12 ngày Ất Dậu, quân hành doanh Giao Châu đánh nhau với giặc, đại phá được chúng." Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 5 (năm 980) mùa thu, xuống chiếu lấy Lan Châu đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng (孫全興), Bát tác sứ Trương Toàn (張璿), Tả giám môn vệ tướng quân Thôi Lượng (崔亮) làm Lục lộ binh mã bộ thự, đi vào từ đường Ung Châu (邕州); Ninh Châu thứ sử Lưu Trừng (劉澄), Quân khí khố phó sứ Giả Thực (賈湜), Cung phụng quan Cáp môn chi hậu Vương Soạn (王僎) làm Thủy lộ binh mã bộ thự, đi vào từ đường Quảng Châu (廣州). Mùa đông năm ấy, Lê Hoàn (黎桓) sai nha hiệu Giang Cự Hoằng (江巨湟) đem phương vật sang cống, vẫn nhân danh Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu nói: 'Họ của thần vốn là thủ lĩnh Man di, ở nơi hẻo lánh ngoài biển, tuân thủ chức phận triều cống, mượn quyền tiết chế ở phương xa. Cha anh của thần nối đời nhận trọng trách ở biên cương, cẩn thận giữ gìn bờ cõi, không dám trễ nải. Đến khi qua đời, nhà cửa sắp sụp đổ, tướng lại và các bậc bô lão bèn giao cho thần, sai quyền quản việc quân lữ để làm yên lòng dân chúng thôn lạc. Phong tục địa phương hung hãn, khẩn cầu càng kiên định, nếu từ chối không nghe e sinh biến loạn. Thần đã nhiếp chức Tiết độ hành quân tư mã, quyền lĩnh việc quân phủ, nguyện xin ban cho quan tước thực thụ để đứng vào hàng ngũ các phiên dậu. Mạo muội tâu lên bệ hạ, cúi đầu run sợ'. Vua xét thấy hắn muốn hoãn binh, bèn giữ lại không trả lời. Quân vương sư tiến đánh, phá tan hơn 10.000 quân giặc, chém đầu hơn 2.000 cấp." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 6 (năm 981) tháng 3 ngày Nhâm Tuất, quân hành doanh Giao Châu (交州) phá giặc tại cửa sông Bạch Đằng (白藤江口), thu được 200 chiếc thuyền chiến, Tri Ung Châu hầu Nhân Quý (侯仁貴) tử trận. Gặp lúc khí độc nóng nực, quân sĩ chết nhiều, Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên (許仲宣) phi ngựa báo tin về, vua xuống chiếu bãi binh. Hạ lệnh chém Lưu Trừng (劉澄), Giả Thực (賈湜) ngay trong quân, triệu Tôn Toàn Hưng (孫全興) về tống giam.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 6 (năm 981) mùa xuân lại phá giặc tại cửa sông Bạch Đằng (白藤江口), chém đầu hơn 1.000 cấp, thu 200 chiến hạm, áo giáp đếm tới hàng vạn. Chuyển vận sứ Hầu Nhân Bảo (侯仁寶) [Bản kỷ chép là Quý] dẫn tiền quân tiến lên trước. Bọn Toàn Hưng dừng quân tại Hoa Bộ (花步) suốt 70 ngày để đợi Lưu Trừng, Nhân Bảo nhiều lần thúc giục nhưng không tiến. Đến khi Trừng tới, hợp quân đi đường thủy đến thôn Đa La (多羅村), không gặp giặc, lại tự ý quay về Hoa Bộ. Lê Hoàn (黎桓) giả vờ đầu hàng để dụ Nhân Bảo, rồi sát hại ông ta. Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên (許仲宣) phi sớ tâu việc đó, bèn bãi binh. Vua sai sứ đến hặc tội bọn Trừng, Thực, Soạn; Trừng sau đó bệnh chết, bêu đầu Thực và bọn còn lại tại chợ Ung Châu (邕州). Toàn Hưng về đến cửa khuyết cũng bị hạ ngục rồi giết, số còn lại bị tội nặng nhẹ khác nhau. Nhân Bảo được truy tặng Công bộ thị lang." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 7 (năm 982), mùa xuân tháng 3. Giao Châu (交州) vì quân vương sư đánh dẹp, sai sứ đến tạ tội.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Mùa xuân năm thứ 7 (năm 982), Lê Hoàn (黎桓) sợ triều đình cuối cùng sẽ tiêu diệt mình, bèn lấy danh nghĩa Đinh Toàn (丁璿) sai sứ dâng phương vật và dâng biểu tạ tội. '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 8 (năm 983) tháng 5 ngày Đinh Mão, Lê Hoàn (黎桓) tự xưng là Tam sứ Lưu hậu, sai sứ đến cống, đồng thời dâng biểu nhường ngôi của Đinh Toàn (丁璿). Vua xuống chiếu dụ Lê Hoàn (黎桓) đưa mẹ con Đinh Toàn (丁璿) về cửa khuyết, nhưng hắn không nghe.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 983), Lê Hoàn (黎桓) tự xưng Quyền Giao Châu Tam sứ Lưu hậu, sai sứ cống phương vật và đưa biểu của Toàn lên. Vua ban chiếu cho Hoàn rằng: 'Họ Đinh truyền nối 3 đời, giữ vững một phương. Khanh đã được tin cậy làm tâm phúc, thì phải tuân theo lời thỉnh cầu của người trong nước, chớ phụ lòng họ Đinh. Trẫm định để Toàn làm danh nghĩa thống soái, khanh giữ chức phó nhị, mọi việc cắt đặt chế trí thảy đều do khanh. Đợi Đinh Toàn (丁璿) trưởng thành, có thể tự lập, sự phò tá của khanh sẽ càng thêm sáng rõ, việc khen thưởng công lao trung thành, trẫm có tiếc gì. Nếu Đinh Toàn (丁璿) không có tài tướng, tâm tính trẻ con như cũ, nhưng vì đời đời kế tục đã lâu, một mai bỏ đi tiết việt, hạ xuống hàng sĩ ngũ thì lý không thuận, ở cũng không yên. Chiếu đến, khanh nên đưa mẹ con Đinh Toàn (丁璿) cùng thân thuộc cả nhà về triều, đợi khi vào chầu, sẽ chọn ngày xuống chế trao cho khanh tiết mao. Trong 2 con đường đó, khanh nên xét kỹ chọn 1. Đinh Toàn (丁璿) đến kinh đô, tất sẽ được ưu đãi. Nay sai Cung phụng quan Trương Tông Quyền (張宗權) đem chiếu dụ chỉ, hãy hiểu cho lòng trẫm'. Cũng ban chiếu cho Toàn đúng như vậy. Bấy giờ Lê Hoàn (黎桓) đã độc chiếm đất đai, không nghe mệnh. Tháng 5 năm ấy, dâng lời tâu rằng: Nước Chiêm Thành (占城國) đem số vạn voi, ngựa, quân thủy bộ đến xâm lấn, bèn suất quân đánh đuổi, bắt và chém hàng ngàn kẻ địch. '''Năm Ung Hy (雍熙) thứ 2 (năm 985) tháng 2 ngày Mậu Dần, Quyền Giao Châu lưu hậu Lê Hoàn (黎桓) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm Ung Hy (雍熙) thứ 2 (năm 985), sai nha hiệu Trương Thiệu Phùng (張紹馮), Nguyễn Bá Trâm (阮伯簪) dâng phương vật. Sau đó dâng biểu xin được chính thức lĩnh tiết trấn. '''Năm Ung Hy (雍熙) thứ 3 (năm 986) mùa đông tháng 10 ngày Canh Thân, xuống chiếu lấy Quyền Tĩnh Hải quân lưu hậu Lê Hoàn (黎桓) làm Bản quân tiết độ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 986) mùa thu lại sai sứ dâng phương vật. Châu Đạm (儋州) báo người nước Chiêm Thành (占城國) là Bồ La Át (蒲羅遏) dẫn theo bộ tộc hơn 100 người sang nội thuộc, nói là bị Giao Châu (交州) bức bách. Tháng 10 năm ấy, chế rằng: 'Bậc vương giả xây dựng hoàng cực, vỗ về các phiên dậu. Đặt phủ đệ tại kinh sư để làm thịnh lễ hội đồng; ban đất đai một phương để nêu rõ uy thế tiết chế. Huống chi nơi góc biển Giao Chỉ này, đã tuân thủ lễ nghi triều cống, đúng lúc thay đổi thống soái, bèn có lợi cho việc kiến hầu. Không quên sự cung kính xin mệnh, bèn thực hiện điển lễ đền đáp công lao'. Quyền tri Giao Châu Tam sứ lưu hậu Lê Hoàn (黎桓), có đủ nghĩa dũng, vốn bẩm tính trung thuần, được lòng người trong nước, giữ gìn lễ nghĩa phiên thần. Trước kia Đinh Toàn (丁璿) còn thơ ấu, chưa hiểu việc vỗ về; Hoàn là thân thích ruột thịt, chuyên trách việc quân lữ, hiệu lệnh tự mình đưa ra, uy và đức cùng hành xử. Toàn đã giải hết quyền Tam sứ để thuận theo ý muốn của mọi người, từ xa gửi lòng thành khẩn, xin lĩnh tiết mao. Sĩ Nhiếp (士燮) mạnh mẽ sáng suốt, hóa độ phong tục phương Việt khiến thảy đều yên bình; Úy Đà (尉佗) cung thuận, tuân theo chiếu nhà Hán mà không làm trái. Nên chính danh hiệu Nguyên nhung để xếp vào hàng quý tộc Thông hầu. Khống chế và vỗ về thôn lạc di tộc, để rạng rỡ thiên ân. Có thể thụ chức Kiểm hiệu Thái bảo, Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, An Nam đô hộ, sung làm Tĩnh Hải quân tiết độ (靜海軍節度), Giao Châu quản nội quan sát xử trí đẳng sứ, phong Kinh Triệu quận hầu (京兆郡侯), hưởng thực ấp 3.000 hộ, lại ban hiệu cho là Thôi thành Thuận hóa công thần, sai Tả bổ khuyết Lý Nhược Chuyết (李若拙), Quốc tử bác sĩ Lý Giác (李覺) làm sứ giả ban cho quan chức. Xét theo ''Lý Nhược Chuyết truyện (李若拙傳)'': Nhược Chuyết năm Ung Hy (雍熙) thứ 3 (năm 986) được tạm phong chức Bí thư giám, đi sứ Giao Châu (交州). Trước đó, Lê Hoàn (黎桓) dùng chế độ vượt lễ (duyệm tiệm), Nhược Chuyết vừa vào cảnh giới, liền sai tả hữu răn bảo về lễ tiết bầy tôi, từ đó Lê Hoàn (黎桓) nghe mệnh, bái nhận chiếu chỉ rất cung kính. Ngày yến tiệc, Hoàn bày hàng hóa quý và vật lạ ở trước mặt, Nhược Chuyết một mực không liếc mắt nhìn, xin lấy sứ giả bị hãm trước đó là Đặng Quân Biện (鄧君辨) mang về, ngoài lễ vật ra không nhận quà riêng. Khi sứ về, vua khen ông không làm nhục mệnh, thăng làm Khởi cư xá nhân. '''Năm Đoan Củng (端拱) thứ 1 (năm 988), mùa hạ tháng 4 ngày Kỷ Sửu, gia phong cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Lê Hoàn (黎桓) chức Kiểm hiệu Thái úy. Tháng 5 nhuận ngày Đinh Dậu, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Đoan Củng (端拱) thứ 1 (năm 988), gia phong cho Hoàn chức Kiểm hiệu Thái úy, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 500 hộ; sai Hộ bộ Lang trung Ngụy Sương (魏庠), Ưu bộ Viên ngoại lang Trực sử quán Lý Độ (李度) sang làm sứ giả." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990), mùa đông tháng 10 ngày Giáp Thìn, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': "Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990) mùa hạ, gia phong cho Hoàn chức Đặc tiến, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ; sai Tả chính ngôn Trực sử quán Tống Cảo (宋鎬), Hữu chính ngôn Trực sử quán Vương Thế Tắc (王世則) sang làm sứ giả." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991), Tống Cảo (宋鎬) đi sứ Giao Chỉ (交阯) về, vua hạ lệnh điều tra địa hình và sự tích vùng đó để tâu lên.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990), gia phong cho Hoàn chức Đặc tiến, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ; sai Tống Cảo (宋鎬) làm sứ giả. Năm sau về cửa khuyết, thượng lệnh cho liệt kê hình thế sơn văn và sự tích Lê Hoàn (黎桓) để tâu lên. Bọn Cảo dâng sớ tâu rằng: "Cuối thu năm ngoái đến biên giới Giao Châu (交州), Hoàn sai Nha nội Đô chỉ huy sứ Đinh Thừa Chính (丁承正) cùng 9 chiếc thuyền, 300 lính đến quân Thái Bình (太平軍) đón tiếp. Đi từ hải khẩu vào biển lớn, sóng gió hiểm nguy, trải nửa tháng mới đến Bạch Đằng (白藤), đi thẳng vào ngã rẽ biển, theo thủy triều mà đi. Phàm những nơi nghỉ trọ đều có 3 gian nhà cỏ mới dựng, gọi là quán dịch. Đến Trường Châu (長州), dần gần bản quốc, Hoàn khoe khoang phù phiếm, cố ý làm ra vẻ xa hoa, đưa hết chu sư chiến trào ra, gọi là 'quân'. Từ đó đi đêm, đến bờ biển, cách Giao Châu (交州) chỉ 15 dặm thì có đình cỏ 5 gian, đề tên 'Mao Kính Dịch' (茅徑驛). Cách thành 100 dặm, Hoàn xua dân bộ mang theo súc vật, mạo xưng là bò của quan, số lượng không đầy 1.000 nhưng rêu rao là 10 vạn. Lại bắt dân mặc đồ tạp sắc đứng lẫn trong binh lữ, chèo thuyền đánh trống náo động; trên núi gần thành thì cắm cờ trắng hư trương thanh thế làm tượng binh trận. Chẳng bao lâu Hoàn dẫn người hầu đến, thực hiện lễ nghênh tiếp ở ngoại ô. Hoàn ghì cương ngựa nghiêng mình hỏi thăm sức khỏe hoàng đế xong thì cùng đi. Lúc đó lấy trầu cau (tân lang) mời khách, vừa đi trên ngựa vừa ăn, ấy là phong tục hậu đãi tân khách. Trong thành không có cư dân, chỉ có vài chục đến trăm khu nhà bằng cỏ tre để làm quân doanh. Phủ thự chật hẹp, cửa đề chữ 'Minh Đức Môn' (明德門). Hoàn hình dung thô lậu, một mắt bị lòa (mục miểu), tự nói những năm gần đây chiến đấu với giặc Man bị ngã ngựa thương chân, nên nhận chiếu mà không quỳ lạy. Sau vài đêm trọ, bèn bày yến tiệc, lại ra ngã rẽ biển làm thú vui đãi khách. Hoàn chân trần cầm cần xuống nước đâm cá, mỗi lần trúng một con thì tả hữu đều hò reo nhảy múa. Phàm hội yến, những người cùng ngồi đều phải cởi đai, đội mũ. Hoàn mặc đồ thêu hoa hoặc đồ đỏ, mũ trang trí trân châu, tự hát khuyên rượu, lời lẽ không ai hiểu được. Lại sai vài chục người khiêng con rắn lớn dài vài trượng mang đến quán sứ và bảo: 'Nếu ăn được thứ này sẽ làm thịt thành món dâng lên'. Lại nhốt 2 con hổ mang đến cho xem, sứ giả thảy đều từ chối không nhận. Sĩ tốt chừng 3.000 người, đều xăm trên trán chữ 'Thiên Tử Quân' (天子軍). Lương ăn cấp hằng ngày bằng bông lúa, lệnh cho tự giã mà ăn. Binh khí chỉ có cung nỏ, mộc bài, giáo cán gỗ, giáo tre, yếu ớt không dùng được. Hoàn tính khinh suất tàn nhẫn, gần gũi tiểu nhân, bên cạnh có 5 hay 7 tên hoạn quan đứng hầu. Ưa nhậu nhẹt xằng bậy, lấy việc truyền lệnh bằng tay (thủ lệnh) làm vui. Phàm quan thuộc làm tốt việc thì thăng làm thân tín bên cạnh, có lỗi nhỏ cũng giết, hoặc quất roi vào lưng từ 100 đến 200 roi. Tân tá có điểm không vừa ý cũng bị đánh từ 30 đến 50 roi, đuổi xuống làm lính canh cửa, khi hết giận mới gọi về vị trí cũ. Có tòa tháp gỗ chế tác thô sơ, một ngày nọ Hoàn mời cùng leo lên tham quan. Đất này không có khí lạnh, tháng 11 vẫn mặc áo mỏng, vung quạt." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 4 (năm 993), tháng 2, phong Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Lê Hoàn (黎桓) làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 993), tiến phong Hoàn làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王). '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 5 (năm 994), tháng 3, Giao Chỉ quận vương Lê Hoàn (黎桓) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 994) sai Nha hiệu Phí Sùng Đức (費崇德) đến tu sửa chức phận triều cống. Tuy nhiên Hoàn tính vốn hung hãn, cậy hiểm núi biển, thường xuyên quấy nhiễu, dần đánh mất lễ tiết phiên thần. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 1 (năm 995), quân Giao Chỉ (交阯) vào đánh phá trấn Như Hồng (如洪鎮), lại đánh Ung Châu (邕州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Chí Đạo (至道) thứ 1 (năm 995) mùa xuân, Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận sứ Trương Quan (張觀), binh mã giám áp trấn Như Hồng (如洪鎮) ở Khâm Châu (欽州) là Vệ Chiêu Mỹ (衛昭美) đều tâu rằng: "Có hơn 100 chiếc thuyền chiến Giao Châu đánh phá trấn Như Hồng, bắt dân cư, cướp lương thực rồi đi." Mùa hạ năm ấy, châu Tô Mậu (蘇茂州) do Hoàn quản lý lại đem 5.000 hương binh đánh phá Ung Châu (邕州), đô tuần kiểm Dương Văn Kiệt (楊文傑) đánh đuổi được chúng. Thái Tông vốn có ý vỗ về nơi biên viễn, không muốn hỏi tội. Trương Quan lại tâu: "Nghe đồn Lê Hoàn (黎桓) bị họ Đinh (丁氏) xua đuổi, đem tàn đảng chạy ra vùng sơn hải mất nơi cứ trú, nên đi cướp bóc tự nuôi thân. Nay thì Hoàn đã chết." Quan bèn dâng biểu chúc mừng. Vua sai Thái thường thừa Trần Sĩ Long (陳士隆), võ quan Vũ Nguyên Cát (武元吉) đi sứ Lĩnh Nam để dò xét việc đó. Sĩ Long về tâu lời giống hệt Trương Quan. Thực ra Hoàn vẫn còn sống, ấy là lời đồn sai lệch mà bọn Quan không kiểm chứng kỹ. Không lâu sau, có lái buôn lớn từ Giao Chỉ trở về, nói rõ Hoàn vẫn làm soái như cũ, vua bèn hạ lệnh hặc tội bọn Quan. Gặp lúc Quan bệnh chết, bọn Chiêu Mỹ, Sĩ Long, Nguyên Cát bị khép tội. Trước đó, 3 trấn Như Hồng (如洪), Đốt Bộ (咄步), Như Tích (如昔) của Khâm Châu (欽州) đều sát biển. Dân vùng Triều Dương (潮陽) thuộc Giao Châu là Bốc Văn Dũng (卜文勇) giết người rồi đem cả nhà trốn sang trấn Như Tích, trấn tướng Hoàng Lệnh Đức (黃令德) che giấu cho chúng. Hoàn lệnh cho trấn tướng Triều Dương là Hoàng Thành Nhã (黃成雅) gửi công văn đến bắt, Lệnh Đức nhất quyết không giao người, vì lẽ đó mà hải tặc liên năm đánh cướp. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 2 (năm 996), sai sứ vỗ về Lê Hoàn (黎桓), ban cho đai ngọc mỹ quý, Hoàn trông về phương Bắc dập đầu tạ ơn.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 996), lấy Công bộ Viên ngoại lang Trực sử quán Trần Nghiêu Sưu (陳堯叟) làm Chuyển vận sứ, nhân đó ban chiếu cho Hoàn. Nghiêu Sưu mới đến, sai huyện úy Hải Khang (海康) là Lý Kiến Trung (李建中) mang chiếu đến an ủi Hoàn. Nghiêu Sưu đến Như Tích, tra rõ nguyên do giấu Bốc Văn Dũng, bắt hết già trẻ gái trai gồm 130 người giao trả cho lại dịch vùng Triều Dương, đồng thời răn bảo không được dùng cực hình. Thành Nhã nhận người xong bèn gửi tờ trình tạ ơn Nghiêu Sưu. Hoàn bèn dâng biểu cảm ơn, đồng thời bắt 25 tên hải tặc giao cho Nghiêu Sưu, lại nói đã ước thúc thủ lĩnh các khe động không được xao động. Tháng 7, Thái Tông sai Chủ khách Lang trung Trực Chiêu văn quán Lý Nhược Chuyết (李若拙) làm Quốc tín sứ mang chiếu thư và đai ngọc mỹ quý sang ban cho Hoàn. Nhược Chuyết đến, Hoàn ra ngoại ô đón, nhưng lời lẽ còn ngang ngược, bảo Nhược Chuyết: "Chuyện đánh cướp trấn Như Hồng trước đây là do giặc Man biên giới làm. Hoàng đế có biết đó không phải binh Giao Châu không? Nếu Giao Châu thực sự phản mệnh thì trước hết phải đánh Phiên Ngung (番禺), sau đánh Mân Việt (閩越), há chỉ dừng lại ở trấn Như Hồng!" Nhược Chuyết thong thả bảo Hoàn: "Thượng mới nghe tin cướp phá trấn Như Hồng, dù chưa biết rõ từ đâu, nhưng vì túc hạ được cất nhắc từ nha hiệu Giao Châu trao cho tiết chế, vốn nên tận trung báo đáp, há có ý khác! Đến khi thấy việc bắt nộp hải tặc mới rõ sự tình. Tuy nhiên các đại thần đều nghị bàn rằng, triều đình lập Tiết độ sứ là để làm yên vùng biển, nay giặc Man hoành hành, ấy là sức Giao Châu không tự chế ngự được. Xin điều động vài vạn kình binh phối hợp với binh Giao Châu để tiễu diệt, khiến Giao, Quảng không còn hậu họa." Hoàn nghe vậy sửng sốt rời chiếu bảo: "Hải tặc phạm biên là tội của thủ thần. Thánh quân khoan dung, ơn quá cha mẹ không gia hình trách phạt. Từ nay xin cẩn trọng giữ chức ước, bảo đảm biển khơi mãi yên bình." Bèn trông về phương Bắc dập đầu tạ ơn. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 3 (năm 997), tháng 3, Thái Tông băng hà, Hoàng thái tử theo di chiếu lên ngôi hoàng đế (Chân Tông). Tháng 4 ngày Ất Mão, gia phong cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương Lê Hoàn (黎桓) chức kiêm Thị trung, tiến phong Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Chân Tông lên ngôi, tiến phong Hoàn làm Nam Bình Vương kiêm Thị trung. Trước đó Hoàn sai Đô tri binh mã sứ Nguyễn Thiệu Cung (阮紹恭), Phó sứ Triệu Hoài Đức (趙懷德) cống một chiếc ghế giao ỷ khảm vàng bạc thất bảo, 10 chậu bạc, 50 chiếc sừng tê ngà voi, 10.000 xấp lụa là vải vóc. Vua hạ lệnh bày ở điện Vạn Tuế, cho phép bọn Thiệu Cung bái tế linh cữu Thái Tông. Khi về, ban cho Hoàn đai ngọc, ngựa giáp và chiếu thư khen ngợi. '''Năm Hàm Bình (咸平) thứ 4 (năm 1001), tháng 2 ngày Mậu Thân, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) dâng tê giác và voi thuần.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Hàm Bình (咸平) thứ 4 (năm 1001), lại sai Hành quân tư mã Lê Thiệu Lưu (黎紹留), Phó sứ Hà Khánh Thường (何慶常) dâng 1 con tê giác thuần, 2 con voi, 1 bình vàng khảm thất bảo. Năm ấy, Khâm Châu báo dân trường Hiệu Thành (效誠場) ở Giao Châu cùng thủ lĩnh 8 châu là bọn Hoàng Khánh Tập (黃慶集) gồm vài trăm người đến đầu hàng, vua xuống chiếu vỗ về, sai đưa về bản đạo. Quảng Nam Tây lộ tâu: "Lê Hoàn (黎桓) khi đón nhận sứ giả Hoàng Thành Nhã có gửi lời tâu, từ nay triều đình nếu gia ân xin sai sứ đến tận bản đạo để làm rạng rỡ phương xa." Trước đó, sứ giả đến Giao Châu, Hoàn thường lấy cớ cung phụng để nhân đó vơ vét tô thuế của dân. Thượng nghe vậy, bèn chỉ lệnh cho quan lại biên thùy triệu đến trao mệnh, không còn sai sứ riêng sang nữa. '''Năm Hàm Bình (咸平) thứ 6 (năm 1003), tháng 3 ngày Tân Mão mồng 1, Khâm Châu (欽州) báo bọn thủ lĩnh 8 châu Giao Châu là Hoàng Khánh Tập (黃慶集) lại đến quy phụ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 1 (năm 1004), năm này Giao Châu (交州) đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Cảnh Đức (景德) thứ 1 (năm 1004), lại sai con là Nhiếp Hoan Châu Thứ sử (攝驩州刺史) Lê Minh Đề (黎明提) đến cống. Khẩn khoản xin gia ân, sai sứ đến tận bản đạo để vỗ về phương xa. Vua hứa cho, vẫn lấy Minh Đề làm Thứ sử Hoan Châu (驩州)." '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 2 (năm 1005), tháng 2 ngày Ất Dậu, sai sứ đến an phủ Giao Châu (交州).''' Xét theo ''Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Tiết Thượng Nguyên năm thứ 2 (năm 1005), ban tiền cho Minh Đề (明提), lệnh cho cùng với sứ giả Chiêm Thành (占城), Đại Thực (大食) xem đèn dự yến tiệc. Nhân đó sai Công bộ Viên ngoại lang Thiệu Diệp (邵曄) làm Quốc tín sứ." '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 3 (năm 1006), tháng 6. Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) xin chinh phạt Giao Chỉ (交阯), vua không cho.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'': Tháng 6 năm Cảnh Đức (景德) thứ 3 (năm 1006), Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) xin phát binh định loạn Giao Chỉ. Đế vì Lê Hoàn (黎桓) vốn tu sửa chức phận triều cống, không muốn đánh lúc đang có tang, lệnh tuân theo chiếu cũ mà an phủ. Tháng 7, Thiệu Diệp (邵曄) dâng các bản đồ đường thủy bộ từ Ung Châu (邕州) đến Giao Chỉ (交阯) và núi sông khống chế Nghi Châu (宜州). Đế phán: "Tổ tông mở đất rộng lớn, duy nên cẩn thận giữ gìn, không cần tham đất vô dụng mà làm lao khổ binh lực." Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1006), Lê Hoàn (黎桓) chết, con thứ là Long Việt (龍鉞) lập lên. Anh của Long Việt là Long Toàn (龍全) cướp kho tàng rồi bỏ trốn, em là Long Đĩnh (龍廷) giết Long Việt tự lập. Anh của Long Đĩnh là Minh Hộ (明護) dẫn binh trại Phù Lan (扶蘭砦) đánh nhau. Minh Đề (明提) vì quốc loạn không thể về, đặc chiếu cho Quảng Châu ưu đãi cấp dưỡng. Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) tâu: "Các con của Hoàn tranh lập, lòng dân ly tán, bọn thủ lĩnh Hoàng Khánh Tập (黃慶集), Hoàng Tú Man (黃秀蠻) hơn 1.000 người vì không theo sự sai bảo, bị giết hại cả thân tộc nên đến đầu hàng Liêm Châu (廉州), xin phát 2.000 quân bản đạo để bình định, bọn Khánh Tập nguyện làm tiền phong." Thượng cho rằng Hoàn vốn trung thuận, nhiều lần triều cống, nay thừa lúc loạn mà đánh khi họ có tang là không nên. Bèn đổi Quốc tín sứ Thiệu Diệp (邵曄) làm Duyên hải An phủ sứ để hiểu dụ. Bọn Khánh Tập vẫn được ban ruộng và lương theo số khẩu. Diệp bèn gửi thư đến Giao Châu, dụ về uy đức của triều đình, rằng nếu cứ tự tương tàn, lâu không định vị, nếu thiên sư (quân triều đình) hỏi tội thì họ Lê sẽ diệt vong. Minh Hộ (明護) sợ, bèn tôn Long Đĩnh (龍廷) làm chủ quân sự. Long Đĩnh tự xưng là Tiết độ Khai Minh Vương (開明王), muốn tu sửa việc triều cống. Diệp tâu báo, Thượng phán: "Vùng xa xôi dị tục, không hiểu thể thống, có gì đáng trách đâu!", lệnh tước bỏ các quan tước tự phong trái phép (ngụy quan). Diệp lại tâu: Thủ lĩnh Hoàng Khánh Tập trước lánh loạn quy hóa, chủng tộc còn nhiều, nếu sai về sợ bị giết sạch. Bèn chiếu cho Khánh Tập lệ thuộc Tam ban cai quản việc ở Cầm Châu (郴州), rồi cho phép vào cống. Xét theo ''Thiệu Diệp truyện (邵曄傳)'': Khoảng năm Cảnh Đức (景德), tạm phong Quang lộc khanh, sung chức Giao Chỉ An phủ Quốc tín sứ. Gặp lúc Lê Hoàn chết, con là Long Việt nối ngôi, anh là Long Toàn dẫn binh cướp kho rồi đi, em là Long Đĩnh giết Việt tự lập. Anh của Long Đĩnh là Minh Hộ dẫn binh trại Phù Lan đánh nhau. Diệp dừng ở Lĩnh Biểu, tâu việc lên trên, được đổi làm Duyên hải An phủ sứ, cho tùy nghi đặt phương lược. Diệp gửi thư đến An Nam dụ uy đức triều đình, khiến mau định vị. Bọn Minh Hộ lập tức nghe mệnh, tôn Long Đĩnh chủ sự. Ban đầu, chiếu cho Diệp đợi việc yên thì dùng lễ vật cho Lê Hoàn để ban lại cho soái mới. Diệp tâu: "Vỗ về ngoại di nên tỏ lòng thành tín, chẳng thà đợi Long Đĩnh cống hiến, sẽ gia phong tước và ban thưởng riêng." Chân Tông rất khen ngợi. Khi về, thăng Binh bộ Viên ngoại lang, ban kim tử. Diệp từng dâng 4 bản đồ đường thủy bộ từ Ung Châu (邕州) đến Giao Châu và núi sông Nghi Châu (宜州), rất tường tận yếu điểm khống chế. '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 4 (năm 1007), tháng 7 ngày Ất Hợi, Giao Châu đến cống. Ban cho Lê Long Đĩnh (黎龍廷) sách "Cửu Kinh" và sách Phật giáo. Ngày Tân Tỵ, lấy Long Đĩnh làm Tĩnh Hải quân Tiết độ, Giao Chỉ quận vương, ban tên là Chí Trung (至忠). Tháng 9 ngày Kỷ Tỵ, ban ấn Giao Chỉ quận vương và tinh tiết An Nam.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1007), Long Đĩnh (龍廷) xưng là Quyền An Nam Tĩnh Hải quân lưu hậu, sai em là Thứ sử Phong Châu (峰州) Minh Sưởng (明昶), Phó sứ An Nam Chưởng thư ký Điện trung thừa Hoàng Thành Nhã (黃成雅) đến cống. Gặp lúc đại yến tại điện Hàm Quang, Thượng thấy Thành Nhã ngồi xa, muốn nâng vị trí lên, bèn hỏi Tể tướng Vương Đán (王旦). Đán thưa: "Xưa Tử Sản chầu Chu, Chu vương đãi bằng lễ Thượng khanh, Tử Sản từ chối, nhận lễ Hạ khanh mà về. Quốc gia vỗ về phương xa, ưu đãi khách sứ, vốn không ngại gì." Bèn thăng Thành Nhã lên hàng thứ của ngũ phẩm Thượng thư tỉnh. Chiếu phong Long Đĩnh làm Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), hưởng thực ấp 3.000 hộ, thực phong 1.000 hộ, ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần", ban tên là Chí Trung (至忠), cấp cho tinh tiết. Lại truy tặng Hoàn (桓) chức Trung thư lệnh, Nam Việt Vương (南越王). Các sứ giả Lê Minh Sưởng (黎明昶) đều được thăng chức. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 1 (năm 1008), tháng Giêng ngày Ất Dậu, xuống chế gia phong công thần thực ấp cho Giao Chỉ quận vương Lê Chí Trung (黎至忠). Tháng 12 ngày Tân Hợi, gia phong cho Lê Chí Trung chức Đồng bình chương sự.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 1 (năm 1008), thiên thư giáng hạ, gia hiệu Dực đái công thần, thực ấp 700 hộ, thực phong 300 hộ. Sau tế lễ Đông Phong, gia cho Chí Trung chức Đồng bình chương sự, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 2 (năm 1009), tháng 12, Lê Chí Trung (黎至忠) ở Giao Châu dâng tê giác thuần.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1009), Quảng Nam Tây lộ tâu, người Man cướp đản hộ ngoài hải khẩu, trại chủ Như Hồng (如洪) là Lý Văn Trước (李文著) dẫn khinh binh truy đuổi, trúng tên chết. Chiếu đốc thúc An Nam bắt giặc. Năm sau, bắt 13 người Địch Lão (狄獠) dâng nộp. Chí Trung lại sai Suy quan Nguyễn Thủ Cương (阮守疆) cống sừng tê, ngà voi, vàng bạc, gấm vóc và 1 con tê giác thuần. Thượng cho rằng tê giác trái tính đất (phương Bắc), không thể nuôi được, định không nhận; lại sợ trái ý Chí Trung, sau khi sứ giả đi bèn lệnh thả ra bãi biển. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 3 (năm 1010), mùa xuân tháng Giêng, Lê Chí Trung (黎至忠) ở Giao Châu chết, lấy Lưu hậu Lý Công Uẩn (李公蘊) làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, phong Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'': Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 (năm 1010), mùa xuân tháng 2 ngày Quý Tỵ, Lê Chí Trung chết, đại kiêu Lý Công Uẩn (李公蘊) tự xưng Lưu hậu. Tháng 3 ngày Nhâm Thìn, lấy Quyền Tĩnh Hải quân Tiết độ lưu hậu Lý Công Uẩn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), ban áo đai khí vật tiền lụa. Tháng 12 ngày Tân Mùi, lấy ngự thư của Thái Tông ban cho Lý Công Uẩn ở Giao Châu. Năm ấy Giao Châu đến cống. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1010) sai sứ đến chầu, dâng biểu cầu áo giáp trang bị cho ngựa (giáp trụ cụ trang), chiếu cho theo lời xin. Lại cầu mở chợ tương hỗ (hỗ thị) ở Ung Châu (邕州), Chuyển vận sứ bản đạo tâu việc. Thượng phán: "Dân ven biển nhiều lần khổ vì Giao Châu xâm nhiễu, nay vẫn chỉ cho phép mở chợ tại Liêm Châu (廉州) và trại Như Hồng (如洪), vì đó là nơi khống chế biên thùy; nay nếu cho vào thẳng nội địa, việc rất bất tiện." Chiếu lệnh bản đạo lấy chế độ cũ mà dụ. Chí Trung mới 26 tuổi, bạo ngược bất pháp, người trong nước không theo. Đại kiêu Lý Công Uẩn rất được Chí Trung tin dùng, từng lệnh lấy họ Lê làm họ mình. Năm đó bèn mưu đồ thay Chí Trung, đuổi đi, giết Minh Đề (明提), Minh Sưởng (明昶), tự xưng Lưu hậu, sai sứ cống hiến. Thượng phán: "Lê Hoàn (黎桓) bất nghĩa mà đắc thế, Công Uẩn lại bắt chước theo, rất đáng ghét. Nhưng vì đó là tục Man không đáng trách, bèn dùng cố sự của Hoàn." Xuống chế trao chức Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái phó, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), thực ấp 3.000 hộ, thực phong 1.000 hộ, ban hiệu Thôi thành Thuận hóa công thần. Công Uẩn lại dâng biểu cầu ngự thư của Thái Tông, chiếu ban cho 100 trục. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 4 (năm 1011), Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1011), tế lễ Phần Âm Hậu Thổ, Công Uẩn sai Tiết độ phán quan Lương Nhậm Văn (梁任文), Quan sát tuần quan Lê Tái Nghiêm (黎再嚴) đem phương vật đến cống. Lễ thành, gia Công Uẩn chức Đồng bình chương sự, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ, bọn Nhậm Văn đều được thăng chức. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 5 (năm 1012), Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1012) mùa hạ, lấy Tiến phụng sứ Lý Nhân Mỹ (李仁美) làm Thứ sử Thành Châu (誠州), Đào Khánh Văn (陶慶文) làm Thái thường thừa. Những người đi theo bị bệnh chết dọc đường thì đồ ban thưởng được gửi về nhà. Mùa đông năm ấy Thánh Tổ giáng hạ, gia Công Uẩn chức Khai phủ nghi đồng tam ty, thực ấp 700 hộ, thực phong 300 hộ, ban hiệu Dực đái công thần. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 7 (năm 1014), mùa thu tháng 7 ngày Tân Sửu, Lý Công Uẩn (李公蘊) ở Giao Châu đánh bại quân Man Hạc Thác (鶴拓蠻), dâng tin thắng trận.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 7 (năm 1014) mùa xuân lại gia hiệu Bảo tiết Thủ chính công thần, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Chiếu cho các nước Giao Chỉ vào cống thì nơi quán xá cung ứng lương thực phải chuẩn bị đầy đủ. Năm ấy sai Tri Đường Châu Thứ sử Đào Thạc (陶碩) đến cống. Chiếu lấy Thạc làm Thứ sử Thuận Châu (順州) sung chức An Nam Tĩnh Hải quân Hành quân tư mã, Phó sứ Ngô Hoài Phó (吳懷副) làm Thứ sử Trừng Châu (澄州) sung chức Tiết độ phó sứ. Trước đó, người Địch Lão Giao Châu là Trương Bà Khán (張婆看) lánh tội chạy đến, Tri Khâm Châu Mục Trọng Dĩnh (穆重穎) triệu đến, nửa đường lại cự tuyệt, Đô tuần kiểm Tang Tự (臧嗣) bèn lệnh cho trại Như Hồng (如洪) khao rượu thịt. Giao Châu dò biết việc đó, nhân bắt người Địch Lão mà đánh phá trại Như Hồng, cướp người súc vật rất nhiều. Chiếu Chuyển vận ty đốc thúc Công Uẩn truy tìm, đồng thời lệnh quan biên giới từ nay không được dụ dỗ Man Lão để tránh sinh sự. Công Uẩn hoặc cách năm, hoặc liên năm đều đem phương vật vào cống. '''Năm Thiên Hy (天禧) thứ 1 (năm 1017), tháng 2 ngày Canh Dần, tiến phong Lý Công Uẩn (李公蘊) làm Nam Bình Quận vương (南平郡王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Hy (天禧) thứ 1 (năm 1017), tiến phong Công Uẩn (公蘊) làm Nam Bình vương (南平王), gia tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ." '''Năm Thiên Hy (天禧) thứ 2 (năm 1018), gia phong Lý Công Uẩn (李公蘊) chức Kiểm hiệu Thái úy.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 2 (năm 1018), gia phong Kiểm hiệu Thái úy, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Mỗi khi gia ân đều sai sứ giả mang mệnh lệnh đến tận biên cảnh, vẫn ban cho khí vật, tiền lụa, áo mặc theo bộ (tập y), đai vàng, yên ngựa." '''Năm Càn Hưng (乾興) thứ 1 (năm 1022), tháng 2 ngày Mậu Ngọ, Chân Tông băng hà, di chiếu Thái tử lên ngôi Hoàng đế. Tháng 4 ngày Bính Dần, Giao Châu (交州) đến cống. Năm ấy Nam Bình vương Lý Công Uẩn (李公蘊) sai sứ tiến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Nhân Tông (仁宗) lên ngôi, gia phong Công Uẩn (公蘊) làm Kiểm hiệu Thái sư. Công Uẩn sai Thứ sử Trường Châu (長州) Lý Khoan Thái (李寬泰), Đô hộ phó sứ Nguyễn Thủ Cương (阮守疆) đến cống." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 5 (năm 1027), Nam Bình quốc vương Lý Công Uẩn (李公蘊) sai người đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 6 (năm 1028), tháng 5 ngày Ất Mùi mồng 1, Giao Chỉ (交阯) đánh phá biên giới.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 6 (năm 1028), sai Thứ sử Hoan Châu (歡州) Lý Công Hiển (李公顯) đến cống, phong làm Thứ sử Thứ Châu (敘州). Chẳng bao lâu sau, Công Uẩn lệnh cho con em và con rể là Thân Thừa Quý (申承貴) dẫn quân vào đánh phá biên giới (nội khấu). Xuống chiếu cho Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận ty điều động đinh tráng các khe động để thảo phạt và bắt giữ." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 7 (năm 1029), tháng 4 ngày Tân Mão, Nam Bình vương Lý Công Uẩn (李公蘊) chết, con là Đức Chính (德政) sai người đến báo tang, lấy làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Công Uẩn chết, thọ 44 tuổi. Con là Đức Chính (德政) tự xưng là Quyền tri lưu hậu sự, đến báo tang. Truy tặng Công Uẩn chức Thị trung, Nam Việt vương (南越王). Mệnh cho Chuyển vận sứ bản lộ Vương Duy Chính (王惟正) làm Tế điền sứ, lại làm sứ giả ban quan cáo. Phong Đức Chính chức Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ, Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 8 (năm 1030), tháng 12 ngày Tân Sửu, Giao Chỉ vương Lý Đức Chính (李德政) được gia ban hiệu công thần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 9 (năm 1031), năm này, Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) sai người đến tạ ơn gia phong.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 9 (năm 1031), sai Tri Phong Châu Thứ sử (知峰州刺史) Lý Ác Thuyên (李偓佺), Tri Ái Châu Thứ sử (知愛州刺史) Suất Nhật Tân (帥日新) đến tạ ơn. Lấy Ác Thuyên làm Thứ sử Hoan Châu (歡州), Nhật Tân làm Thứ sử Trân Châu (珍州)." '''Năm Minh Đạo (明道) thứ 1 (năm 1032), gia phong Lý Đức Chính (李德政) chức Đồng bình chương sự, sai sứ đến cung kính tạ ơn.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Minh Đạo (明道) thứ 1 (năm 1032), cung tạ việc gia phong chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự." Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Đầu năm Minh Đạo (明道), gia chức Đồng bình chương sự." '''Năm Cảnh Hựu (景祐) thứ 1 (năm 1034), tháng 6 ngày Nhâm Thìn, hơn 600 người dân Giao Châu (交州) sang nội phụ. Năm ấy Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) dâng 2 con voi thuần, chiếu lệnh trả lại.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Khoảng năm Cảnh Hựu (景祐), người trong quận là Trần Công Vĩnh (陳公永) cùng hơn 600 người sang nội phụ. Đức Chính sai hơn 1.000 quân đến biên giới bắt đuổi, vua xuống chiếu sai trả người về, đồng thời răn bảo Đức Chính không được tùy tiện giết chóc. Chẳng bao lâu, Đức Chính sai Tĩnh Hải quân Tiết độ phán quan Trần Ứng Cơ (陳應機), Chưởng thư ký Vương Duy Khánh (王惟慶) đến cống. Lấy Ứng Cơ làm Thái tử trung duẫn, Duy Khánh làm Đại lý tự thừa. Đức Chính được gia phong Kiểm hiệu Thái sư." '''Năm Cảnh Hựu (景祐) thứ 3 (năm 1036), năm này, Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 3 (năm 1036), quân các động Giáp Động (甲峒) cùng các châu Lạng Châu (諒州), Môn Châu (門州), Tô Mậu Châu (蘇茂州), Quảng Nguyên Châu (廣源州), động Đại Phát (大發峒), huyện Đan Ba (丹波縣) thuộc nước đó đại cử xâm lấn các châu Tư Lăng (思陵州), Tây Bình (西平州), Thạch Tây (石西州) và các động thuộc Ung Châu (邕州), bắt người ngựa bò, đốt phá nhà cửa rồi đi. Vua xuống chiếu trách hỏi, và lệnh phải bắt các thủ lĩnh chính phạm tội để báo lên." '''Năm Khang Định (康定) thứ 1 (năm 1040), Giao Chỉ (交阯) đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Khang Định (康定) thứ 1 (năm 1040), sai Tri Phong Châu Thứ sử (知峰州刺史) Suất Dụng Hòa (帥用和), Tiết độ phó sứ Đỗ Do Hưng (杜猶興) đến cống." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 3 (năm 1043), tháng 12 ngày Đinh Tỵ, Giao Chỉ (交阯) dâng 5 con voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 3 (năm 1043), lại sai Tiết độ phó sứ Đỗ Khánh An (杜慶安), Tam ban phụng chức Lương Tài (梁材) đến. Lấy Khánh An làm Thứ sử Thuận Châu (順州), Lương Tài làm Thái tử Tả giám môn suất phủ suất." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 6 (năm 1046), năm này, Giao Chỉ (交阯) dâng 10 con voi thuần.''' Xét theo ''Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 6 (năm 1046) lại sai Binh bộ viên ngoại lang Tô Nhân Tố (蘇仁祚), Đông đầu cung phụng quan Đào Duy [khuyết] (陶惟...) đến. Lấy Nhân Tố làm Công bộ lang trung, Duy làm Nội điện sùng ban." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 7 (năm 1047), Giao Chỉ (交阯) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 7 (năm 1047), lại sai Bí thư thừa Đỗ Văn Phủ (杜文府), Tả thị cấm Văn Xương (文昌) đến. Lấy Văn Phủ làm Tuần điền viên ngoại lang, Văn Xương làm Nội điện sùng ban. Trước đó, Đức Chính (德政) phát binh đánh Chiêm Thành (占城), triều đình nghi ngờ bên trong nuôi mưu gian trá, bèn tìm lại 16 con đường thông thương từ thời Đường đến nay, lệnh cho Chuyển vận sứ Đỗ Kỷ (杜杞) đo lường những nơi yếu hại mà đóng quân canh giữ. Tuy nhiên sau đó họ cũng chưa từng đánh phá biên giới, trước sau nhiều lần dâng voi thuần." '''Năm Hoàng Hựu (皇祐) thứ 2 (năm 1050), xuống chiếu trả hết bọn Vi Thiệu Tự (韋紹嗣) ở châu Tô Mậu (蘇茂州).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Hoàng Hựu (皇祐) thứ 2 (năm 1050), Ung Châu (邕州) dụ bọn Vi Thiệu Tự (韋紹嗣), Thiệu Khâm (紹欽) ở châu Tô Mậu (蘇茂州) cùng hơn 3.000 người vào cư trú ở vùng đất tỉnh thuộc. Đức Chính (德政) dâng biểu xin trả lại những người bị dụ đi, vua xuống chiếu trả hết, đồng thời lệnh cho Đức Chính ước thúc dân biên giới không được xâm phạm nhau. Sau đó người Man ở Quảng Nguyên Châu (廣源州) là Nùng Trí Cao (儂智高) phản loạn, Đức Chính suất 20.000 binh theo đường thủy muốn vào trợ giúp vương sư, triều đình ban thưởng hậu hĩnh nhưng từ chối quân tiếp viện." '''Năm Chí Hòa (至和) thứ 2 (năm 1055), tháng 11 ngày Ất Mão, Giao Chỉ (交阯) đến báo tang Lý Đức Chính (李德政) mất. Con là Nhật Tôn (日尊) dâng cống vật di chúc của Đức Chính và voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Chí Hòa (至和) thứ 2 (năm 1055), Đức Chính mất, con là Nhật Tôn (日尊) sai người báo tang. Mệnh cho Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận sứ, Thượng thư Tuần điền viên ngoại lang Tô An Thế (蘇安世) làm Điếu tặng sứ. Truy tặng Đức Chính chức Thị trung, Nam Việt vương (南越王), đồ phúng viếng rất hậu. Chẳng bao lâu sau, phong Nhật Tôn làm Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)." '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 3 (năm 1058), tháng 6 ngày Đinh Mão, Giao Chỉ (交阯) dâng thú lạ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交趾傳)'': Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 3 (năm 1058), "dâng 2 con thú lạ." '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 4 (năm 1059), tháng 2 ngày Canh Ngọ, vùng Quảng Nam báo quân Giao Chỉ (交阯) đánh phá Khâm Châu (欽州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm thứ 4 (năm 1059), đánh vào vùng Tư Bẩm (思稟管) thuộc Khâm Châu (欽州). '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 5 (năm 1060), mùa thu tháng 7 ngày Quý Tỵ, Ung Châu (邕州) báo quân Giao Chỉ (交阯) hợp binh với quân Man Giáp Động (甲峒蠻) đánh phá biên giới. Đô tuần kiểm Tống Sĩ Nghiêu (宋士堯) chống cự bị tử trận. Xuống chiếu điều động binh các châu thảo phạt.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1060), cùng giặc Giáp Động đánh phá Ung Châu. Chiếu lệnh Tri Quế Châu Tiêu Cố (蕭固) điều binh phối hợp với Chuyển vận sứ Tống Hàm (宋咸), Đề điểm hình ngục Lý Sư Trung (李師中) cùng bàn kế đánh úp. Lại chiếu cho An phủ sứ Dư Tĩnh (余靖) điều binh bắt giết. Tĩnh sai gián điệp dụ Chiêm Thành (占城) cùng với binh giáp Quảng Nam Tây lộ tiến thẳng tới Giao Chỉ. Nhật Tôn (日尊) kinh hãi dâng biểu tạ tội. Chiếu lệnh chưa được cử binh, nghe cho Nhật Tôn đến kinh sư cống hiến. Xét theo ''Tiêu Chú truyện (蕭注傳)'': Chú làm Tri Ung Châu được vài năm, ngầm lấy lợi lộc dụ dỗ quần Man ở Quảng Nguyên (廣源), mật thiết sửa sang binh giáp, rồi dâng sớ nói: "Giao Chỉ dù phụng triều cống nhưng thực có lòng họa tâm, thường xuyên xâm chiếm đất đai. Xưa năm Thiên Thánh (天聖), Trịnh Thiên Ích (鄭天益) làm Chuyển vận sứ từng trách chúng tự ý thu thuế ở động Vân Hà (雲河洞), nay Vân Hà đã lọt vào tay chúng vài trăm dặm, ấy là do năm tháng xâm lấn mà dần đến mức này. Thần đã nắm hết các điểm yếu và rõ mọi nơi lợi hại. Nay không đánh lấy, ngày sau tất là nỗi lo cho Trung Quốc. Xin được phi ngựa về kinh sư trình bày phương lược." Lời tâu chưa được trả lời thì Thân Thiệu Thái (申紹泰) ở Giáp Động xâm phạm Tây Bình (西平), 5 vị tướng bị hại. Quan gián nghị luận tội Chú làm trái phép khiến giặc đến, bãi chức làm Kinh Nam kiềm hạt. Đề điểm hình ngục Lý Sư Trung lại hặc tội Chú làm giảm uy thế, ham lợi, bắt người của Nùng Trí Cao hoạn làm nô tỳ, điều động dân động khai thác vàng, không có sổ sách kiểm tra. Trung sứ đến kiểm chứng thấy có thực, bèn biếm chức làm Thái Châu đoàn luyện phó sứ. Hoài Nam chuyển vận sứ lại nói: Chú mổ trâu giết chó, chiêu tập du sĩ, lập thành quân đội, dạy cưỡi ngựa bắn cung, xin dời đến châu lớn để kiềm chế. Chiếu đổi làm Trấn Nam quân tiết độ phó sứ. Có cận thần minh oan cho công lao của Chú ở Quảng Châu, bèn khởi dụng làm Hữu giám môn tướng quân, Tân Châu đô giám. '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 8 (năm 1063), mùa xuân tháng Giêng ngày Tân Hợi, Giao Chỉ (交阯) dâng 9 con voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm thứ 8 (năm 1063), sai Văn tư sứ Mai Cảnh Tiên (梅景先), Phó sứ Đại lý bình sự Lý Kế Tiên (李繼先) dâng voi thuần. '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 9 (năm 1064), lấy vật phẩm di lưu ban cho Nhật Tôn (日尊), gia phong chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.''' Xét theo ''Tống sử (宋史)'' – ''Nhân Tông bản kỷ'' và ''Anh Tông bản kỷ'' đều không chép. Xét theo ''Hình pháp chí (刑法志)'': Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 9 (năm 1064), Tri Quế Châu Thẩm Khởi (沈起) muốn kinh lược Giao Chỉ, chiếm lấy Từ Ân Châu (慈恩州) của chúng, người Giao bèn phá Khâm Châu, phạm vào Ung Quản (邕管). Chiếu rằng: Dân biên giới ngang nhiên bị giết chóc, trách nhiệm dẫn đến binh đao thảy đều do Thẩm Khởi, đặc cách tước bỏ quan tước, đày đi châu xa hẻo lánh. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1064), tháng 4 ngày Mậu Dần, lấy chiếu của Đại hành Hoàng đế (Nhân Tông) cùng vật phẩm di lưu ban cho Nhật Tôn (日尊), gia phong Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Ngày ấy, sứ Giao Chỉ cáo từ, vua mệnh cho Nội thị tỉnh áp ban Lý Kế Hòa (李繼和) hiểu dụ rằng: "Thân Thiệu Thái (申紹泰) đánh phá bản lộ, triều đình nhiều lần muốn thảo phạt, nhưng vì nghĩ Thiệu Thái chỉ là một kẻ cuồng loạn, lại thêm bản đạo đã sai sứ tạ tội, nên chưa muốn dấy binh." '''Năm Trị Bình (治平) thời Anh Tông (英宗) [khuyết năm], Giao Chỉ (交阯) đến xin trả con của Nùng Tông Đán (儂宗旦) là Nhật Tân (日新) và muốn lấy đất các động Ôn Muộn (溫悶洞).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Anh Tông bản kỷ (英宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Đầu năm Trị Bình (治平) (khoảng năm 1064), Tri Quế Châu Lục Thân (陸詵) tâu rằng, Giao Châu đến cầu xin cho con của Nùng Tông Đán (儂宗旦) là Nhật Tân (日新) về và muốn lấy đất các động Ôn Muộn (溫悶洞). Đế hỏi Giao Chỉ bắt đầu cắt cứ từ năm nào, phụ thần thưa rằng: "Từ năm Chí Đức (至德) thời Đường (năm 756–758) đổi làm An Nam đô hộ phủ. Năm Trinh Minh (貞明) thời Lương (năm 1015–1021), thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) độc chiếm đất này." Hàn Kỳ (韓琦) nói: "Trước kia vì Lê Hoàn (黎桓) phản mệnh, Thái Tông sai tướng thảo phạt nhưng không phục, sau sai sứ chiêu dụ mới bắt đầu thần phục. Giao Châu đường núi hiểm hóc hẻo lánh, nhiều sương mù ẩm thấp khí độc, dù có lấy được đất đó cũng e không giữ được." '''Năm Trị Bình (治平) thứ 4 (năm 1067), tháng 2 ngày Mậu Tý, tiến phong Giao Chỉ quận vương Lý Nhật Tôn (李日尊) làm Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Anh Tông bản kỷ (英宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Thần Tông lên ngôi, tiến phong Nhật Tôn làm Nam Bình Vương. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 1 (năm 1068) thời Thần Tông, gia phong Giao Chỉ quận vương chức Khai phủ nghi đồng tam ty.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 2 (năm 1069), tháng 9 ngày Giáp Tý mồng 1, Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1069) dâng biểu nói rằng: "Nước Chiêm Thành (占城國) đã lâu thiếu lễ triều cống, thần đích thân soái binh thảo phạt, bắt sống vua nước đó." Chiếu lấy sứ giả của họ là Quách Sĩ An (郭士安) làm Lục giá phó sứ, Đào Tông Nguyên (陶宗元) làm Nội điện sùng ban. Nhật Tôn (日尊) tự xưng đế ở nước mình, chiếm xưng hiệu "Pháp thiên ứng vận Sùng nhân Chí đạo Khánh thành Long tường Anh vũ Duệ văn Tôn đức Thánh thần Hoàng đế" (法天應運崇仁至道慶成龍祥英武睿文尊德聖神皇帝), tôn Công Uẩn (公蘊) làm Thái Tổ Thần Vũ Hoàng đế (太祖神武皇帝), quốc hiệu Đại Việt (大越), cải nguyên Bảo Tượng (寶象), lại đổi thành Thần Vũ (神武). '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 3 (năm 1070), năm này Giao Chỉ vào cống.''' Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 5 (năm 1072), tháng 3 ngày Giáp Ngọ, Nhật Tôn (日尊) chết, sai sứ đến điếu tặng.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1072) tháng 3, Nhật Tôn (日尊) mất. Mệnh cho Quảng Tây chuyển vận sứ Khang Vệ (康衛) làm Điếu tặng sứ, trả lại các châu huyện đã chiếm. Chiếu đáp rằng: "Khanh vỗ về vùng Nam Giao, đời đời nhận vương tước, thế mà lại bội đức trái mệnh, trộm đánh phá thành biên, bỏ mưu đồ trung thuận của tổ khảo, khiến triều đình phải dấy binh thảo phạt. Quân đi vào sâu, thế quẫn mới chịu quy hàng, xét tội trạng đó lẽ ra phải tước bỏ phong hào. Nay sai sứ tu sửa triều cống, dâng chương tỏ vẻ cung kính, xem kỹ lời lẽ thấy rõ sự hối cải. Trẫm vỗ về vạn quốc, không phân biệt xa gần, nhưng vì dân hai châu Ung, Khâm bị bắt sang nơi nóng nực, lâu ngày mất quê hương, đợi khi trả hết người về giới hạn tỉnh thì sẽ đem đất Quảng Nguyên (廣源) ban cho Giao Châu." Đầu năm Càn Đức (乾德) (năm 1077), giao ước trả lại quan lại 3 châu khoảng 1.000 người, nhưng lâu ngày chỉ trả được 221 người dân. Đàn ông từ 15 tuổi trở lên đều xăm lên trán chữ "Thiên tử binh" (天子兵), từ 20 tuổi trở lên xăm chữ "Đầu Nam triều" (投南朝), đàn bà xăm tay trái chữ "Quan khách" (官客). Dùng thuyền chở đi và trát bùn kín cửa sổ, bên trong thắp đèn nến, mỗi ngày chỉ đi khoảng 10 đến 20 dặm thì dừng, lại giả làm tiếng trống canh báo giờ, phàm trải vài tháng mới tới nơi, mục đích là để đánh lừa rằng đường biển rất xa xôi. Thuận Châu (順州) nằm sâu ở phía Nam, đặt lính đồn trú trấn giữ, bị nhiễm khí độc sương mù, nhiều người bệnh chết. Đào Bật (陶弼) cũng mất tại nhiệm sở, triều đình biết đất đó vô dụng, bèn đem toàn bộ 4 châu 1 huyện trả lại. Tuy nhiên Quảng Nguyên vốn thuộc quyền kiềm chế của Ung Quản (邕管), vốn không phải đất của Giao Chỉ. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm thứ 5 (năm 1072), Nhật Tôn (日尊) chết, con là Càn Đức (乾德) nối ngôi, đến báo tang. Chiếu sai sứ điếu tặng, trao cho Càn Đức tập phong như cũ." '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 6 (năm 1073), tháng 3 ngày Giáp Tý, Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Tiêu Chú truyện (蕭注傳)'': Đầu năm Hy Ninh (熙寧), dùng chức Lễ tân sứ Tri Ninh Châu. Trong thất bại của Lý Tín (李信) ở Hoàn Khánh, các thành đều đóng cửa cố thủ, duy Chú mở cửa đêm yến tiệc như thường. Khôi phục chức Cáp môn sứ, quản cán binh mã Lân Phủ, Chú từ chối rằng: "Thân vốn là thư sinh, giỏi việc vỗ về thu nạp, không thạo chiến đấu, sợ không hoàn thành việc." Bấy giờ có người nói người Giao bị thua ở Chiêm Thành, quân chưa đầy 1 vạn, có thể đánh lấy được. Bèn lấy Chú làm Tri Quế Châu. Khi vào chầu, Thần Tông hỏi kế công thủ, Chú thưa: "Xưa thần có nói thế, lúc đó binh các khe động một người đương được mười, khí giới sắc bén, người thân tín đều có thể chỉ huy. Nay hai điều đó không bằng xưa, người Giao đã tụ họp giáo huấn suốt 15 năm rồi, bảo là quân không đầy vạn là lời nói càn." Khi đến Quế Châu, các chủng tộc thủ lĩnh đều đến yết kiến, Chú niềm nở hỏi thăm đường sá núi sông, già trẻ bình an thế nào, đều được lòng họ, nên động tĩnh của Lý Càn Đức (李乾德) Chú đều biết hết. Tuy nhiên ai dâng kế chinh Nam, Chú thảy đều không nghe. Gặp lúc Thẩm Khởi (沈起) tự nhận việc bình Man, vua cho thay Chú. Xét theo ''Thẩm Khởi truyện (沈起傳)'': Năm thứ 6 (năm 1073) bái chức Thiên chương các đãi chế, Tri Quế Châu. Từ khi Vương An Thạch (王安石) nắm quyền, bắt đầu tìm kiếm biên công. Bấy giờ người nghị luận nói Giao Chỉ có thể lấy được, triều đình mệnh cho Tiêu Chú giữ Quế Châu kinh lược, Chú vốn là người bày mưu. Đến nay Chú lại cho là khó, Khởi nói: "Tiểu sửu phương Nam, không có lý gì không lấy được." Bèn lấy Khởi thay Chú. Khởi bèn nhất ý tấn công, mạo xưng mật chỉ, tự ý lệnh quan biên giới vào các khe động điểm tập thổ đinh làm bảo ngũ, trao cho trận đồ, bắt luyện tập theo mùa. Lại sai chỉ huy đốc thúc vận chuyển muối ra bờ biển, tập trung thủy quân mượn cớ dạy thủy chiến. Trước kia người Giao vẫn buôn bán với các châu huyện, nay thảy đều cấm đoán. Thế là Giao Chỉ càng thêm nghi ngại, tập hợp binh đinh mưu tính vào đánh phá. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 8 (năm 1075), tháng 11 ngày Mậu Dần, Giao Chỉ chiếm Khâm Châu (欽州). Ngày Giáp Thân, Giao Chỉ chiếm Liêm Châu (廉州). Tháng 12 ngày Tân Hợi, Thiên chương các đãi chế Triệu Tiết (趙卨) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ, Gia Châu phòng ngự sứ Lý Hiến (李憲) làm phó để thảo phạt Giao Chỉ.''' Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 9 (năm 1076), tháng Giêng, Giao Chỉ chiếm Ung Châu (邕州), Tri châu Tô Giam (蘇緘) tử tiết. Tháng 2, lấy Quách Quỳ (郭逵) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ. Tháng 12, đánh bại Giao Chỉ tại sông Phú Lương (富良江), Lý Càn Đức (李乾德) đầu hàng, bèn bãi binh về triều.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'': "Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 9 (năm 1076) mùa xuân tháng Giêng ngày Mậu Thìn, Giao Chỉ chiếm Ung Châu (邕州), Tri châu Tô Giam (蘇緘) tử tiết. Ngày Kỷ Mão, Hạ Khê Châu thứ sử Bành Sư Án (彭師晏) cùng Thiên Tứ Châu ra hàng. Ngày Canh Thìn, sai sứ tế Nam Nhạc, Nam Hải, cáo việc chinh phạt phương Nam. Ngày Tân Tỵ, truy tặng Tô Giam chức Phụng quốc quân tiết độ sứ, thụy là Trung Dũng, lấy con là Tử Nguyên làm Tây đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu. Tháng 2 ngày Mậu Tý, Tuyên huy Nam viện sứ Quách Quỳ (郭逵) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ, bãi chức Lý Hiến, lấy Triệu Tiết (趙卨) làm phó. Chiếu cho Chiêm Thành, Chân Lạp (真臘) hợp sức đánh Giao Chỉ. Tháng 4 ngày Giáp Thân, cấp cáo thân trống tên giao cho đạo An Nam để chiêu hàng thưởng công. Tháng 5 ngày Nhâm Thân, chiếu các quân An Nam qua lĩnh có người bệnh thì nơi đó phải hộ trì chữa trị. Tháng 6 ngày Đinh Hợi, chiếu các tướng lại An Nam xem quân sĩ có ai bệnh, mỗi tháng phải báo số lượng. Tháng 7, hành doanh An Nam đóng tại Quế Châu, Quách Quỳ sai Kiềm hạt Hòa Bân (和斌) đốc thúc thủy quân vượt biển từ Quảng Đông vào, các quân từ Quảng Nam vào. Tháng 11 ngày Ất Hợi, vì tướng sĩ hành doanh An Nam bệnh dịch, sai Đồng tri Thái thường lễ viện Vương Tồn (王存) cầu đảo ở Nam Nhạc, sai trung sứ lập đạo trường cầu phúc. Tháng 12 ngày Bính Tuất, Ngụy Quan sát sứ Giao Chỉ là Lưu Kỷ (劉紀) đầu hàng. Ngày Quý Mão, Quách Quỳ đánh bại Giao Chỉ tại sông Phú Lương (富良江), bắt được Ngụy Thái tử Hồng Chân (洪真). Lý Càn Đức (李乾德) sai người dâng biểu đến quân môn xin hàng, Quỳ bèn bãi binh về triều." Xét theo ''Thẩm Khởi truyện (沈起傳)'': "Tô Giam làm Tri Ung Châu, gửi thư cho Khởi xin dừng việc bảo giáp, bãi vận tải thủy, thông thương buôn bán. Khởi không nghe, hặc tội Giam ngăn trở bàn nghị. Khởi vì việc nghị bàn biên giới mà bị bãi chức, mệnh cho Lưu Di (劉彝) thay thế, Lưu Di trấn giữ Quảng Châu thường ngăn chặn biểu sớ của họ. Thế là người Giao nghi sợ, dẫn quân phạm cảnh, liên tiếp hạ 4 châu Liêm, Bạch, Khâm, Ung, số người chết đến hàng chục vạn. Sự việc tâu lên, biếm Khởi làm Đoàn luyện sứ, an trí tại Dĩnh Châu, sau dời sang Việt Châu, lại dời sang Tú Châu rồi mất." '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 10 (năm 1077), tháng 3, khôi phục các châu Quảng Nguyên (廣源), Tô (蘇), Mậu (茂), lấy việc Giao Chỉ đầu hàng mà ân xá Quảng Nam Đông lộ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'': Năm Hy Ninh thứ 10 (năm 1077) tháng 3 "ngày Bính Ngọ, vì khôi phục các châu Quảng Nguyên, Tô, Mậu, quần thần dâng biểu chúc mừng. Xá tội cho tù phạm ở Quảng Châu một bậc, tội đồ trở xuống đều tha. Ban tiền cho các quân hành doanh, gia đình dân chúng có người đi phục dịch được cứu tế. Đổi Quảng Nguyên Châu làm Thuận Châu (順州), xá tội cho Lý Càn Đức (李乾德), lấy Quách Quỳ phán Đàm Châu, Triệu Tiết tri Quế Châu. Ngày Kỷ Dậu, vì Giao Chỉ hàng, xá cho tù phạm bị giam ở Quảng Nam Đông lộ, Kinh Hồ Nam lộ, còn lại đều giảm một bậc, tội đồ trở xuống đều tha. Tháng 7 ngày Ất Hợi, Quách Quỳ vì thua trận ở An Nam, bị biếm làm Tả vệ tướng quân." '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 1 (năm 1078), tháng 2 ngày Mậu Thìn, xuống chiếu xá tội cho An Nam chiến trào Đô giám Dương Tòng Tiên (楊從先) và những người khác, vẫn luận công ban thưởng. Tháng 9 ngày Quý Dậu, Giao Chỉ (交阯) đến cống. Ngày Quý Mùi, Lý Càn Đức (李乾德) dâng biểu cầu xin trả lại các châu Quảng Nguyên (廣源), vua xuống chiếu không cho.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 2 (năm 1079), mùa đông tháng 10 ngày Mậu Thân, Giao Chỉ (交阯) trả lại những dân cư đã bắt, xuống chiếu lấy Thuận Châu (順州) ban cho nước đó.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 5 (năm 1082), tháng 6 ngày Nhâm Thân, Giao Chỉ (交阯) dâng 2 con tê giác thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 5 (năm 1082), "dâng 2 con voi thuần, 100 chiếc sừng tê ngà voi." (Ghi chú: Năm này việc dâng tê giác hay voi giữa Bản kỷ và Truyện có khác biệt, nay xin lưu lại cả hai). '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 7 (năm 1084), mùa đông tháng 10 ngày Mậu Tử, xuống chiếu phân định ranh giới Giao Chỉ (交阯), lấy 6 huyện 2 động ban cho nước đó.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 6 (năm 1083), lấy cớ truy bắt Nùng Trí Hội (儂智會) mà xâm phạm Quy Hóa Châu (歸化州), lại sai đại thần là Lê Văn Thịnh (黎文盛) đến Quảng Tây (廣西) biện lý ranh giới Thuận An (順安), Quy Hóa (歸化). Kinh lược sứ Hùng Bản (熊本) sai Tả Giang tuần kiểm Thành Trác (成卓) cùng bàn thảo, Văn Thịnh xưng là bồi thần, không dám tranh chấp gắt gao. Vua xuống chiếu khen Văn Thịnh có thể tuân theo ý định cung thuận của Càn Đức (乾德), ban cho bào đai cùng 500 xấp lụa, bèn lấy 6 huyện Bảo Lạc (保樂) cùng 2 động Túc Tang (宿桑) ở ngoài 8 ải ban cho Càn Đức. Xét theo ''Hùng Bản truyện (熊本傳)'': Bản làm Tri Quế Châu, thám tử báo người Giao năm sau sẽ vào đánh, sứ giả cũng khẳng định lời đó, vua xuống chiếu hỏi Bản, Bản thưa: "Sứ giả đang đi trên đường sao biết được việc này? Cứ cho là có mưu đồ, sao lại tự mình biết trước được?" Quả nhiên sau đó lời báo là sai. Lúc bấy giờ đã lấy Thuận Châu ban cho Lý Càn Đức (李乾德), nhưng ranh giới chưa chính thức định rõ, người Giao nhân đó thường xuyên quấy nhiễu đất Vật Dương (勿陽) và đuổi Nùng Trí Hội (儂智會). Trí Hội đến cầu cứu binh viện, Bản gửi hịch hỏi rõ sự tình, Càn Đức thu quân tạ lỗi, Bản nhân đó xin lấy đất hoang không có cỏ mọc ở 8 động Túc Tang (宿桑) ban cho, phương Nam từ đó yên ổn. Kẻ nghị luận cho rằng Bản bỏ 8 động là thất mưu, bèn bị tước 1 cấp quan. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 8 (năm 1085), tháng 3 ngày Mậu Tuất, Thần Tông băng hà, Thái tử lên ngôi Hoàng đế. Tháng 4 ngày Giáp Tuất, gia phong cho Lý Càn Đức (李乾德) chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Triết Tông (哲宗) lên ngôi, gia chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 1 (năm 1086) thời Triết Tông (哲宗), Giao Chỉ (交阯) dâng biểu cầu xin đất nhưng không cho.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Khoảng năm Nguyên Hữu (元祐), lại nhiều lần dâng biểu cầu xin đất ở các động Vật Ác (勿惡), Vật Dương (勿陽), vua xuống chiếu không cho. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 2 (năm 1087), mùa hạ tháng 4 ngày Bính Tuất, Giao Chỉ (交趾) vào cống. Mùa thu tháng 7, tiến phong Lý Càn Đức (李乾德) làm Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交趾本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1087) sai sứ vào cống, tiến phong Nam Bình Vương. Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 2 (năm 1087), Tri Dĩnh Xương phủ Hàn Chẩn (韓縝) tâu rằng: "Giao Chỉ là nước nhỏ, sứ giả của họ sắp đến cảnh giới, thần từng là cận thần chấp chính, khó lòng dùng lễ ngang hàng tiếp đón." Theo cố sự năm Nguyên Phong (元豐), dùng binh quan đón tiếp, sai Thông phán tiễn đưa, Sứ và Phó sứ đến phủ thì việc khao đãi do binh quan chủ trì, xin hãy theo lệ cũ đó. Lại xuống chiếu các quận đi qua, hễ là cựu Tể tướng hoặc quan Chấp chính làm Tri phán phủ cũng đều theo lệ này. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 6 (năm 1091), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 7 (năm 1092), tháng 8 ngày Ất Hợi, các tướng lại trước bị rơi vào Giao Chỉ là Tô Tá (蘇佐) cùng 17 người tự thoát thân trở về.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Thánh (紹聖) thứ 2 (năm 1095), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phù (元符) thứ 3 (năm 1100), tháng Giêng ngày Kỷ Mão, Triết Tông băng hà, Hoàng thái hậu triệu Đoan Vương vào nối ngôi Hoàng đế. Tháng 2 ngày Nhâm Dần, lấy Nam Bình Vương Lý Càn Đức (李乾德) làm Kiểm hiệu Thái sư.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Đại Quan (大觀) thời Huy Tông (徽宗) [khuyết năm], Giao Chỉ (交阯) đến cống, cầu xin được mua sách, vua cho phép.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Thời Huy Tông liên tiếp gia phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu Thái sư. Đầu năm Đại Quan (大觀), sứ giả triều cống đến kinh sư, cầu xin được mua các loại sách vở. Cơ quan hữu trách thưa rằng pháp luật không cho phép. Vua xuống chiếu khen ngợi lòng mộ nghĩa của họ, trừ các loại sách cấm như: bói toán (bốc phệ), âm dương lịch toán, thuật số, binh thư, sắc lệnh, thời vụ, biên cơ (việc biên phòng), địa lý ra, còn lại các sách khác đều cho phép mua. '''Năm Chính Hòa (政和) thứ 1 (năm 1111), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Chính Hòa (政和) [khuyết năm], nới lỏng lệnh cấm "hòa thị" (mua bán trao đổi).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Cuối năm Chính Hòa (政和), lại có chiếu rằng: "Vì người Giao từ thời Hy Ninh (熙寧) đến nay hoàn toàn không gây chuyện, đặc cách nới lỏng lệnh cấm hòa thị." '''Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 1 (năm 1119), gia phong cho Lý Càn Đức (李乾德) chức Thủ Ti vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127) thời Cao Tông (高宗), xuống chiếu không được thu nhận kẻ đào tẩu từ An Nam (安南).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127), "xuống chiếu cho Quảng Tây Kinh lược An phủ ty, nghiêm cấm dân biên giới không được thu nhận kẻ đào tẩu từ An Nam (安南), đó là theo lời thỉnh cầu của chủ nước ấy là Càn Đức (乾德)." Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127), Càn Đức (乾德) dâng biểu xin cấm binh lính biên thùy bản đạo trốn vào đất tỉnh thuộc. Chiếu lệnh cho Quảng Tây Kinh lược ty phải ước thúc." '''Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 4 (năm 1130), tháng 12 ngày Canh Ngọ, An Nam (安南) xin vào cống, vua khước từ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1130), An Nam (安南) vào cống, chiếu lệnh khước từ những phương vật xa hoa hào nhoáng, ban sắc thư và hậu đãi báo đáp để tỏ ý hoài nhu (vỗ về). Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm thứ 4 (năm 1130) vào cống, vì việc biên thùy chưa yên, nên miễn cho sứ giả đến cửa khuyết. Những phương vật tiến dâng, trừ thứ xa hoa không nhận, còn lại thì giao nhận tại biên giới, theo lệ cũ của Đề hình ty bản lộ mà tính giá ban thưởng trả về. Biểu sớ thì chuyển đệ về kinh, lệnh Học sĩ viện giáng sắc thư trả lời. Từ đó về sau, mỗi khi vào cống đều thực hiện theo cách này." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 2 (năm 1132), Lý Càn Đức (李乾德) chết, phong cho con là Dương Hoán (陽煥) làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 2 (năm 1132), Càn Đức (乾德) mất, truy tặng Thị trung, truy phong Nam Việt vương (南越王). Con là Dương Hoán (陽煥) nối ngôi, trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), ban hiệu Thôi thành Thuận hóa công thần." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 8 (năm 1138), Lý Dương Hoán (李陽煥) chết, phong con là Thiên Tộ (天祚) làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'': Năm thứ 8 (năm 1138), tháng 3 ngày Kỷ Hợi, lấy Lý Thiên Tộ (李天祚) làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1138), Dương Hoán (陽煥) mất, lấy Chuyển vận phó sứ Chu Phất (朱芾) làm Điếu tế sứ. Truy tặng Dương Hoán chức Khai phủ nghi đồng tam ty, truy phong Nam Bình vương (南平王). Con là Thiên Tộ (天祚) nối ngôi, được ban chức quan theo đúng chế độ sơ phong của cha." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 9 (năm 1139), xuống chiếu "không nhận đồ cống của Triệu Trí Chi (趙智之)".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 9 (năm 1139), xuống chiếu cho Quảng Tây Sư ty không được nhận đồ nhập cống của Triệu Trí Chi (趙智之). Thuở trước, Càn Đức (乾德) có người con của vợ lẽ trốn sang Đại Lý (大理), đổi họ tên thành Triệu Trí Chi (趙智之), tự xưng Bình vương. Nghe tin Dương Hoán (陽煥) chết, Đại Lý tiễn về để tranh ngôi với Thiên Tộ (天祚), xin vào nộp cống và muốn mượn binh để đưa về nước, vua không cho." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 14 (năm 1144), tháng 6 ngày Mậu Tý, nước An Nam (安南) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 16 (năm 1146), tháng 6, An Nam (安南) dâng voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 17 (năm 1147), ban cho Lý Thiên Tộ (李天祚) bộ yên ngựa.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 17 (năm 1147), "xuống chiếu cho Văn tư viện chế tạo bộ yên ngựa (an tiền) để ban cho Thiên Tộ (天祚)." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 21 (năm 1151), gia phong hiệu "công thần" cho Thiên Tộ (天祚).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 21 (năm 1151), "liên tiếp gia phong cho Thiên Tộ (天祚) các hiệu Sùng nghĩa Hoài trung Bảo tín Hương đức An viễn Thừa hòa công thần." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 25 (năm 1155), tháng 6, An Nam (安南) vào cống. Tháng 7 ngày Giáp Tuất, phong Lý Thiên Tộ (李天祚) làm Nam Bình vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 25 (năm 1155), "xuống chiếu tiếp đãi sứ giả An Nam (安南) tại dịch Hoài Viễn (懷遠驛), ban yến tiệc để tỏ rõ sự đãi ngộ đặc biệt. Tiến phong Thiên Tộ làm Nam Bình vương (南平王), ban bộ áo mặc (tập y), đai vàng và yên ngựa." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 26 (năm 1156), tháng 8 ngày Canh Dần, nước An Nam (安南) sai sứ vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 26 (năm 1156), "mệnh cho Hữu ty Lang trung Uông Ứng Thần (汪應辰) khoản đãi sứ giả An Nam tại vườn Ngọc Tân (玉津園). Tháng 8, Thiên Tộ sai bọn Lý Quốc (李國) đem vàng ngọc, trầm hương, lông chim trả (thúy vũ), ngựa tốt và voi thuần đến cống." Chiếu gia phong Thiên Tộ chức Kiểm hiệu Thái sư, tăng thêm thực ấp. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 27 (năm 1157), tháng 3 ngày Đinh Hợi, xuống chiếu "đốt lông chim trả (thúy vũ) của Giao Chỉ (交阯) dâng nộp ở nơi đường cái thông thoáng (thông cù)".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 31 (năm 1161), An Nam dâng voi thuần, xuống chiếu lệnh sau này đừng dâng nữa.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Tháng Giêng năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 31 (năm 1161), An Nam dâng voi thuần. Đế phán: "Man di cống phương vật là chức trách của họ, nhưng trẫm không muốn vì thú lạ mà làm lao nhọc người phương xa. Hãy lệnh cho quan Soái thần cáo dụ rằng, từ nay không cần dâng voi thuần làm đồ cống nữa." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 32 (năm 1162), mùa đông tháng 10 ngày Kỷ Sửu, An Nam đô hộ, Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) đều được tăng thêm thực ấp và thực phong.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Lễ chí (禮志)'': Năm thứ 32 (năm 1162), Hiếu Tông (孝宗) đăng cơ, xuống chiếu rằng: "Từ những năm gần đây liên tiếp có nước ngoài vào cống, Thái thượng Hoàng đế (Cao Tông) vì khiêm nhường nên không nhận. Huống hồ trẫm đức mỏng tài hèn sao gánh vác nổi. Từ nay nước nào muốn triều cống, lệnh cho châu quân nơi đó dùng lý lẽ dụ bảo họ trở về, không được tâu lên." '''Năm Long Hưng (隆興) thứ 2 (năm 1164) đời Hiếu Tông (孝宗), tháng 9 ngày Ất Mùi, Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Long Hưng (隆興) thứ 2 (năm 1164), Thiên Tộ (天祚) sai Doãn Tử Tư (尹子思), Đặng Thạc Nghiễm (鄧碩儼) dâng cống vàng bạc, ngà voi và các loại hương vật." '''Năm Càn Đạo (乾道) thứ 6 (năm 1170), gia phong hiệu công thần cho Thiên Tộ (天祚).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Càn Đạo (乾道) thứ 6 (năm 1170), liên tiếp gia phong cho Thiên Tộ (天祚) các hiệu "Quy nhân Hiệp cung Kế mỹ Tuân độ Lý chính Chương thiện công thần". Hoàng đế từ khi lên ngôi đã nhiều lần khước từ sứ giả triều cống của An Nam (安南). '''Năm Càn Đạo (乾道) thứ 9 (năm 1173), tháng 12 ngày Tân Mùi, Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1173), Thiên Tộ (天祚) lại sai Doãn Tử Tư (尹子思), Lý Bang Chính (李邦正) xin vào cống. Đế khen ngợi lòng thành nên cho phép, chiếu tiếp đãi tại dịch Hoài Viễn (懷遠驛). Quảng Nam Tây lộ Kinh lược An phủ sứ Phạm Thành Đại (范成大) tâu: "Bản ty kinh lược chư Man, An Nam (安南) nằm trong diện được vỗ về, bồi thần của họ sao có thể hành lễ ngang hàng với vương quan Trung Quốc. Khoảng năm Chính Hòa (政和), sứ giả vào cảnh giới đều phải làm lễ đình tham (hành lễ tại sân), quan ta không đáp lễ lại, nên tuân theo chế độ cũ thì về lễ mới là đúng." Triều đình theo lời thỉnh cầu đó. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), tháng Giêng ngày Bính Ngọ, nhân việc Giao Chỉ vào cống, xuống chiếu ban tên nước là An Nam (安南), phong Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) làm An Nam quốc vương (安南國王).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Tháng 2 năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), tiến phong Thiên Tộ (天祚) làm An Nam quốc vương (安南國王), gia hiệu "Thủ khiêm công thần". Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Tháng Giêng năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), dẫn kiến An Nam tiến phụng Phó sứ. Tháng 2, chiếu rằng việc An Nam vào cống có ý lễ đáng khen, lệnh hữu ty thảo luận điển cố ban tên nước để tâu lên. Thế là đặc ban tên nước là An Nam (安南), xuống chế cho Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) vẫn giữ nguyên các chức quan cũ, phong làm An Nam quốc vương (安南國王), vẫn gia thêm hiệu "Thủ khiêm công thần". Thượng vì Thiên Tộ đã tại vị 40 năm nên hậu đãi lễ phong làm nước An Nam vậy. Trước đây các chương tấu chuyển đệ chỉ gọi là "An Nam đạo" (安南道), sau khi gia phong, họ dần tự tôn đại, văn thư xưng là "Quốc" (Quốc gia), không thể sửa lại được nữa. Viên quan áp bạn (đi kèm) sứ An Nam là Lương Ngạn (梁衎) tâu: "An Nam vào cống, các châu huyện đi qua phải điều động phu dịch rất nhiều. Từ Tĩnh Giang (靜江) theo đường thủy có thể đến Dung Châu (容州), lại từ Bắc Lưu theo đường bộ 120 dặm đến Uất Lâm (鬱林), từ châu Uất Lâm theo đường thủy có thể đến Quảng Châu (廣州). Các chặng này đều có thuyền muối khứ hồi, xe bò vận muối có thể thuê được; từ Liêm Châu (廉州) đi đường biển 1 ngày là tới Giao Chỉ (交阯). Như vậy từ Tĩnh Giang đi về phía Nam hơn 2.000 dặm, có thể không cần dùng đến 1 người phu dịch nào mà vẫn xong việc." Chiếu lệnh cho quan Soái thần các lộ xét kỹ hành trình. Sau đó, bọn Doãn Tử Tư (尹子思) cho rằng vào hạ nước dâng cao, xin theo lệ cũ đi đường Khâm Châu (欽州) để về. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2 (năm 1175), tháng 8 ngày Giáp Tý, ban ấn "An Nam quốc vương".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'' đều chép như nhau. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 2 (năm 1175), nước An Nam xin ấn, lấy 6 chữ "An Nam quốc vương chi ấn" (安南國王之印) làm văn tự trên ấn mà ban cho. Ấn đó phỏng theo mẫu ấn của Khu mật viện và Thượng thư tỉnh, vuông 2 tấc, vẫn cấp kèm bài bài (thẻ bài), đều đúc bằng đồng, mạ vàng để trang trí. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 3 (năm 1176), tháng 5 ngày Quý Sửu, An Nam quốc vương Lý Thiên Tộ (李天祚) mất. Ngày Mậu Ngọ, sai sứ điếu tế.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1176), ban lịch năm mới cho nước An Nam. Thiên Tộ mất. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 3 (năm 1176), ban lịch cho nước An Nam. Hữu ty tâu rằng: "Thiên Tộ đã mất, con chưa có phong tước, muốn soạn 'Sắc thư ban cho嗣 tử (con nối dõi) nước An Nam là Long Cán (龍𣉙)'." Vua nghe theo. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 4 (năm 1177), tháng 3 ngày Nhâm Tử, xuống chiếu cho Lý Long Cán (李龍𣉙) tập phong làm An Nam quốc vương (安南國王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1176) ban lịch cho nước An Nam. Thiên Tộ mất. Năm sau (năm 1177), con là Long Cán (龍𣉙) nối ngôi. Trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Quan sát Xử trí đẳng sứ, Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc. Đặc phong An Nam quốc vương (安南國王), gia thêm thực ấp, vẫn ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần". Lời chế rằng: "Dựa vào nước vui để bắt đầu phong tước, đã theo lệ thế tập. Đạt đến bậc Chân vương mà ban mệnh, hà tất phải đợi thăng dần lên", ấy là để tỏ rõ lễ khác biệt vậy. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 4 (năm 1177) trao cho Long Cán (龍𣉙) chức tập tước. Theo lệ cũ, "vua nước đó mới lập thì phong Giao Chỉ quận vương, lâu sau mới tiến phong Nam Bình vương, khi chết thì truy tặng Thị trung, Nam Việt vương." '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 5 (năm 1178), dâng phương vật, dâng biểu tạ ơn.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 10 (năm 1083), tháng nhuận ngày Nhâm Dần, xuống chiếu khước từ việc An Nam dâng voi.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1182), xuống chiếu khước từ voi do An Nam cống, vì cho rằng vật ấy vô dụng mà làm phiền dân, các vật khác cũng chỉ nhận 1/10 (10%). '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 12 (năm 1185), mùa xuân tháng Giêng ngày Kỷ Sửu, cấm muối Giao Chỉ (交阯) nhập vào đất tỉnh thuộc.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 16 (năm 1189), liên tiếp gia phong cho Long Cán (龍𣉙) các hiệu "Thủ nghĩa Phụng quốc Lý thường Hoài đức công thần".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Thiệu Hy (紹熙) thứ 1 (năm 1190) thời Quang Tông (光宗), tháng 11 ngày Giáp Dần, An Nam vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Quang Tông (光宗) lên ngôi, họ dâng biểu vào cống để chúc mừng. '''Năm Thiệu Hy (紹熙) thứ 5 (năm 1194), tháng 6 ngày Mậu Tuất, Hiếu Tông băng hà. Quang Tông vì bệnh không thể ra ngoài. Tháng 7 ngày Tân Dậu, thỉnh ý Thái hoàng thái hậu, nhận ngự phê cho Hoàng tử Gia Vương Khuếch (嘉王擴) lên ngôi Hoàng đế. Tháng 8 ngày Ất Mão, gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) hiệu "Tư trung công thần". Tháng 11 ngày Giáp Ngọ, lại gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán hiệu "Tế mỹ công thần".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Ninh Tông bản kỷ (寧宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 (năm 1200) thời Ninh Tông (寧宗), mùa đông tháng 10 ngày Canh Tử, lại gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) hiệu "Bảo tiết công thần".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Triều Ninh Tông (寧宗) ban cho áo đai, khí vật, tiền lụa; liên tiếp gia phong các hiệu công thần "Cẩn độ Tư trung Tế mỹ Cần lễ Bảo tiết Quy nhân Sùng khiêm Hiệp cung" và tăng thực ấp vậy. '''Năm Gia Định (嘉定) thứ 5 (năm 1212), mùa hạ tháng 5 ngày Quý Dậu, An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) mất, lấy con là Hạo Sảm (昊旵) làm An Nam quốc vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Ninh Tông bản kỷ (寧宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Gia Định (嘉定) thứ 5 (năm 1212), Long Cán (龍𣉙) mất, xuống chiếu lấy Quảng Tây Vận phán Trần Khổng Thạc (陳孔碩) làm Điếu tế sứ, đặc biệt truy tặng chức Thị trung. Theo đúng chế độ của An Nam quốc vương trước đây, cho con là Hạo Sảm (昊旵) tập phong tước vị, đồ ban tặng giống như chế độ lúc Long Cán mới được phong, vẫn ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần". Về sau biểu tạ ơn không đến, bèn thôi không gia ân nữa. Hạo Sảm mất, không có con trai, lấy con gái là Chiêu Thánh (昭聖) nắm việc nước, rồi bị chồng là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) chiếm hữu. Nhà Lý làm chủ đất nước, từ Công Uẩn (公蘊) đến Hạo Sảm truyền được 8 đời, hơn 200 năm thì mất nước. '''Năm Đoan Bình (端平) thứ 2 (năm 1235) đời Lý Tông (理宗), tháng 11 ngày Mậu Tử, nước An Nam (安南) dâng phương vật.''' '''Năm Đoan Bình (端平) thứ 3 (năm 1236), tháng Giêng, ban tước phong, bộ áo mặc (tập y), đai vàng cho An Nam quốc vương. Tháng 10 ngày Bính Ngọ, nước An Nam dâng phương vật, xuống chiếu trao chức Kim tử Quang lộc đại phu, Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát đẳng sứ, ban bộ áo mặc, đai vàng bạc.''' Xét theo: Những điều trên đều ghi trong ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)''. '''Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 3 (năm 1243), mùa xuân tháng Giêng ngày Tân Sửu, xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), hiệu công thần cũ vốn được ban, nay đặc biệt tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 2 (năm 1242), xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), hiệu công thần vốn được ban là "Hiệu trung Thuận hóa Bảo tiết công thần", nay tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義). '''Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 11 (năm 1251), An Nam đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': "Năm thứ 11 (năm 1251) lại đến cống." '''Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 5 (năm 1257), tháng 11 ngày Ất Sửu, khen ngợi và phủ dụ nước An Nam, ban cho đồ vàng, tiền lụa và trà quý.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 6 (năm 1258), tháng 9 ngày Giáp Dần, xuống chiếu cho rằng tình trạng của An Nam khó lường, lệnh phải siết chặt phòng thủ biên giới.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 6 (năm 1258), xuống chiếu cho rằng tình hình An Nam khó dự đoán, lệnh phải tăng cường phòng bị biên cương. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 2 (năm 1261), tháng 11 ngày Giáp Tuất, nước An Nam dâng voi.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Cảnh Định (景定) thứ 2 (năm 1261), dâng 1 con voi. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 3 (năm 1262), tháng 6 ngày Canh Tuất, An Nam quốc vương Nhật Cảnh (日煚) dâng biểu xin cho thế tập. Xuống chiếu trao chức Kiểm hiệu Thái sư, An Nam quốc vương, tăng thực ấp. Con trai là Uy Hoảng (威晃) trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí sứ, Kiểm hiệu Thái úy kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương, Hiệu trung Thuận hóa công thần, vẫn ban đai vàng, khí vật, tiền lụa và yên ngựa.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1262), dâng biểu xin thế tập, chiếu cho Nhật Cảnh (日煚) thụ chức Kiểm hiệu Thái sư, An Nam quốc đại vương (安南國大王), tăng thực ấp. Con trai là Uy Hoảng (威晃) thụ chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Quan sát Xử trí sứ, Kiểm hiệu Thái úy kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương (安南國王), Hiệu trung Thuận hóa công thần, ban đai vàng, khí vật, tiền lụa và yên ngựa. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 5 (năm 1264), tháng 5 ngày Ất Mùi, nước An Nam dâng biểu tạ ơn, tiến dâng phương vật. Xuống chiếu khước từ, nhưng vẫn ban cho vàng lụa để khen ngợi lòng cung thuận.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 1 (năm 1265) đời Độ Tông (度宗), gia phong hiệu công thần cho vua An Nam, đồng thời ban đai vàng, yên ngựa và quần áo.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 1 (năm 1265), tháng 2, gia phong hiệu công thần cho An Nam quốc đại vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), tăng thêm 2 chữ "An thiện" (安善); gia phong hiệu công thần cho An Nam quốc vương Trần Uy Hoảng (陳威晃), tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義), đều ban cho đai vàng, yên ngựa và quần áo. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 2 (năm 1266), tháng 8 ngày Giáp Thân, nước An Nam sai sứ chúc mừng việc lên ngôi, dâng phương vật.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm thứ 2 (năm 1266) lại dâng biểu tiến cống lễ vật. Ban cho 500 lạng vàng, 100 xấp lụa, giáng chiếu khen ngợi. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 5 (năm 1269), tháng 12 ngày Mậu Tử, xuống chiếu cho cha của An Nam quốc vương là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) và Quốc vương Trần Uy Hoảng (陳威晃) đều được tăng thêm thực ấp 1.000 hộ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Độ Tông bản kỷ (度宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 5 (năm 1269), xuống chiếu cho Quốc vương phụ Nhật Cảnh (日煚) và Quốc vương Uy Hoảng (威晃) được tăng thực ấp. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 8 (năm 1272), tháng 11 ngày Kỷ Tỵ, xuống chiếu: "Lễ Minh Đường hoàn tất, An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚) và Trần Uy Hoảng (陳威晃) mỗi người đều tăng thêm thực ấp 1.000 hộ, ban tặng roi, yên ngựa và các vật khác."''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Độ Tông bản kỷ (度宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1272), lễ Minh Đường hoàn tất, Nhật Cảnh (日煚) và Uy Hoảng (威晃) đều được tăng thực ấp, ban yên ngựa và các vật khác. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 10 (năm 1274), tháng 11 ngày Đinh Dậu, gia phong cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚) hiệu "Ninh viễn công thần", con là Uy Hoảng (威晃) hiệu "Phụng chính công thần".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cung Tông bản kỷ (恭宗本紀)'' đã dẫn. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka99m8glc9?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] rbbtzl9vpoed8l12yktg6s6deql7uxf 204607 204595 2026-04-08T10:22:43Z Mrfly911 2215 204607 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第091卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 91''' | trước= [[../quyển 090|quyển 90]] | sau= [[../quyển 092|quyển 92]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 2== === Đường === '''Năm Đường Cao Tổ (唐高祖) Vũ Đức (武德) thứ 5 (năm 222), bắt đầu lấy phủ An Nam đô hộ (安南都護府) cho thuộc vào Lĩnh Nam đạo (嶺南道).''' Xét theo ''Đường thư (唐書) – Cao Tổ bản kỷ (高 Tổ bản kỷ)'' không chép. Xét theo ''Địa lý chí (地理志)'': "Phủ An Nam trung đô hộ (安南中都護府) vốn là quận Giao Chỉ (交趾郡). Năm Vũ Đức (武德) thứ 5 (năm 222) gọi là Giao Châu (交州), trị sở tại Giao Chỉ (交趾)." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Nước An Nam (安南國), xưa là Giao Chỉ (交趾). Khoảng năm Kiến An (建安) thời Hiến Đế (獻帝), đổi làm Giao Châu (交州). Nhà Ngô Tôn Quyền (孫權) chia Giao Châu để đặt Quảng Châu (廣州), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編). Các triều đại Tấn (晉), Tống (宋), Tề (齊), Lương (梁), Trần (陳), Tùy (隋) đều theo đó. Đầu thời Đường (唐) đổi làm phủ An Nam đô hộ (安南都護府), thuộc Lĩnh Nam đạo (嶺南道), tên gọi An Nam (安南) bắt đầu từ đây. Quận Giao Chỉ (交趾郡) làm Giao Châu (交州), chia ra các châu Vũ Nga (武峨州), Việt Châu (粵州), Chi Châu (芝州). Quận Cửu Chân (九真郡) làm Ái Châu (愛州). Chia ra các châu Phúc Lộc (福祿州), Trường Châu (長州). Quận Nhật Nam (日南郡) làm Hoan Châu (歡州). Chia ra các châu Phong Châu (峰州), Lục Châu (陸州), Thang Châu (湯州), lại có Ngu Châu (禺州), Nham Châu (巖州), tổng cộng là 12 châu." '''Năm Ý Tông (懿宗) Hàm Thông (咸通) thứ 1 (năm 860), tháng 12 ngày Mậu Thân, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) đánh phá An Nam (安南).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 3 (năm 862), tháng 11, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) đánh phá An Nam (安南).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 4 (năm 863), tháng Giêng, quân Man ở Vân Nam (雲南蠻) chiếm được An Nam (安南), Thái Tập (蔡襲) tử trận. Tháng 2, bái tế 16 lăng (十六陵). Lấy Kinh lược sứ Tần Châu (秦州) là Cao Biền (高駢) làm An Nam kinh lược chiêu thảo sứ (安南經略招討使).''' '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 6 (năm 865), tháng 5, Cao Biền (高駢) cùng quân Man Vân Nam (雲南蠻) đánh nhau tại Ung Châu (邕州), phá tan được chúng.''' Xét các điều trên đều theo ''Đường thư (唐書) – Ý Tông bản kỷ (懿宗 bản kỷ)'' đã dẫn. '''Năm Hàm Thông (咸通) thứ 7 (năm 866), tháng 10, Cao Biền (高駢) thu phục được An Nam (安南).''' Xét theo ''Đường thư (唐書) – Ý Tông bản kỷ (懿宗 bản kỷ)'' đã dẫn. Xét theo ''Cao Biền truyện (高駢傳)'': "Khoảng năm Hàm Thông (咸通), vua muốn thu phục An Nam, bái Cao Biền (高駢) làm Đô hộ, triệu về kinh sư, bái kiến tại điện Linh Đài. Khi ấy Dung Quản kinh lược sứ (容管經略使) là Trương Nhân (張茵) không chịu đánh giặc, vua bèn đem binh của Nhân giao cho Biền. Biền qua sông, hẹn Giám quân Lý Duy Chu (李維周) cùng tiến quân, nhưng Duy Chu lại ôm quân đóng trại tại Hải Môn (海門). Biền dừng tại Phong Châu (峰州), đại phá quân Man Nam Chiếu (南詔蠻), thu lấy chiến lợi phẩm để nuôi quân. Duy Chu đố kỵ, giấu tin thắng trận không tâu lên, triều đình không có tin tức của Biền suốt hơn 100 ngày. Vua xuống chiếu hỏi tình hình, Duy Chu hặc tội Biền khinh địch không tiến, vua bèn sai Hữu võ vệ tướng quân Vương Yến Quyền (王晏權) sang thay Biền. Chẳng bao lâu Biền hạ được An Nam, chém soái quân Man là Đoạn Tù Thiên (段酋遷), thu phục các động hàng phụ lên đến số 20.000. Lúc Yến Quyền đang cùng Duy Chu xuất phát từ Hải Môn, phát hịch lệnh cho Biền về Bắc, thì Biền đã sai Vương Huệ Tán (王惠贊) đem đầu của Tù Thiên về kinh sư. Huệ Tán thấy đội thuyền rất thịnh của Yến Quyền, sợ chúng đoạt mất tờ sớ bèn giấu vào trong đảo, tìm cách về kinh sư. Thiên tử xem sớ, ngự tại điện Tuyên Chính, quần thần thảy đều chúc mừng, đại xá thiên hạ. Thăng Biền làm Kiểm hiệu Hình bộ thượng thư, tiếp tục trấn thủ An Nam. Đổi phủ Đô hộ làm Tĩnh Hải quân (靜海軍), trao cho Biền chức Tiết độ sứ kiêm Chiêu thảo sứ của hành doanh các đạo. Bắt đầu đắp thành An Nam. Từ An Nam đến Quảng Châu (廣州), đường thủy hiểm trở, nhiều đá lớn, Biền chiêu mộ thợ đục bỏ, từ đó thuyền bè đi lại yên ổn, lương thực dự trữ được cung ứng đầy đủ. Lại có sứ giả hằng năm đến, Biền bèn đục 5 con đường, đặt binh hộ tống. Đường đi qua núi Thanh Thạch (青石), có thuyết nói xưa Mã Viện (馬援) không đục nổi, đến khi Biền đánh vào, có sét đánh nát đá nên mới thông được, nhân đó đặt tên đường là Thiên Oai (天威)." ===Hậu Lương=== '''Năm Hậu Lương (後梁) Mạt Đế (末帝) Trinh Minh (貞明) thứ [khuyết] (giai đoạn năm 915–921), An Nam (安南) dâng thư quy thuận nhà Lương.''' Xét theo ''Ngũ Đại Sử (五代史) – Lương bản kỷ (梁本紀)'' không chép. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Khoảng năm Trinh Minh (貞明) thời nhà Lương thuộc thời Ngũ Quý (五季), vùng này bị thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chiếm giữ, dâng thư quy thuận nhà Lương, được phong chức Tiết độ sứ. Bấy giờ nhà Nam Hán (南漢) chuyên quyền tại Lĩnh Biểu, sai tướng Lý Tri Thuận (李知順) đi đánh Thừa Mỹ, bắt sống được ông ta, rồi bình định và chiếm hữu đất ấy. Chẳng bao lâu sau, vùng đất bị tướng Ái Châu (愛州) là Dương Diên Nghệ (楊延藝) chiếm giữ, sau đó tướng trong châu là Ngô Xương Cập (吳昌岌) đoạt lấy, rồi truyền cho em là Xương Văn (昌文)." ===Tống=== '''Năm Tống Thái Tổ (宋太祖) Càn Đức (乾德) thứ [khuyết] (giai đoạn năm 963–968), An Nam (安南) dâng biểu nội phụ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Đầu năm Càn Đức (乾德) nhà Tống, Xương Văn (昌文) chết, bọn Ngô Xứ Bình (吳處玶) tranh lập, trong cõi đại loạn. Có người tên Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) bình định được, tự xưng là Đại Thắng Vương (大勝王), riêng phong cho con là Đinh Liễn (丁璉) làm Tiết độ sứ. Nghe tin nhà Nam Hán (南漢) đã bị bình định, bèn dâng biểu xin nội phụ." '''Năm Khai Bảo (開寶) thứ 6 (năm 973), mùa hạ tháng 5 ngày Kỷ Tỵ, Đinh Liễn (丁璉) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến dâng phương vật.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Giao Chỉ (交阯) vốn là đất Nam Việt (南越) thời đầu nhà Hán. Hán Võ Đế bình định Nam Việt, chia đất đó thành 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交阯), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đặt chức Giao Chỉ thứ sử để cai quản. Hậu Hán đặt Giao Châu (交州), các nhà Tấn (晉), Tống (宋), Tề (齊), Lương (梁), Trần (陳) đều theo đó, lại gọi là quận Giao Chỉ (交阯郡). Nhà Tùy bình định nhà Trần, phế quận lập châu; đầu thời Dạng Đế lại phế châu lập quận. Năm Vũ Đức (武德) nhà Đường đổi làm Giao Châu tổng quản phủ, năm Chí Đức (至德) đổi làm An Nam đô hộ phủ (安南都護府). Năm Trinh Minh (貞明) nhà Lương, thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) độc chiếm đất ấy, dâng thư quy thuận Mạt Đế, nhân đó được trao tiết việt. Bấy giờ Lưu Ẩn (劉隱) chuyên quyền tại Lĩnh Biểu, sai tướng Lý Tri Thuận (李知順) đánh Thừa Mỹ, bắt sống được ông ta, bèn gồm thâu cả đất ấy. Sau có Dương Diên Nghệ (楊延藝), Kiều Thiệu Hồng (矯紹洪), đều nhận chức do Quảng Nam (nhà Nam Hán) bổ dụng, nối nhau làm Giao Chỉ tiết độ sứ. Thiệu Hồng chết, tướng trong châu là Ngô Xương Cập (吳昌岌) bèn chiếm vị trí đó. Xương Cập chết, em là Xương Văn (昌文) nối nghiệp. Đầu năm Càn Đức (乾德), Xương Văn chết, các tham mưu Ngô Xứ Bình (吳處玶), Thứ sử Phong Châu (峰州) Kiều Tri Hựu (矯知護), Thứ sử Vũ Ninh Châu (武寧州) Dương Huy (楊暉), Nha tướng Đỗ Cảnh Thạc (杜景碩) tranh nhau lập, 12 châu trong cõi đại loạn, dân chúng kêu gọi tụ tập nổi lên làm trộm cướp, tấn công Giao Châu. Trước đó, Dương Diên Nghệ (楊延藝) lấy nha tướng Đinh Công Trứ (丁公著) nhiếp chức Thứ sử Hoan Châu (歡州) kiêm Ngự phiên đô đốc, Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) chính là con của ông ta. Công Trứ chết, Bộ Lĩnh nối nghiệp. Đến đây Bộ Lĩnh cùng con là Đinh Liễn (丁璉) dẫn binh đánh bại bọn Xứ Bình, đảng tặc tan rã, trong cảnh yên ổn, dân Giao Chỉ nhớ đức ấy bèn tôn Bộ Lĩnh làm Giao Châu soái, hiệu là Đại Thắng Vương (大勝王), phong cho con là Đinh Liễn (丁璉) làm Tiết độ sứ. Qua 3 năm, nhường ngôi cho Liễn. Liễn lập được 7 năm, nghe tin vùng Lĩnh Biểu đã bình định, bèn sai sứ dâng phương vật, dâng biểu nội phụ. Vua xuống chế lấy Quyền Giao Châu tiết độ sứ Đinh Liễn (丁璉) làm Kiểm hiệu Thái sư, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ (靜海軍節度使), An Nam đô hộ (安南都護); lại xuống chiếu lấy Tiến phụng sứ Trịnh Tú (鄭琇), Vương Thiệu Tộ (王紹祚) đều làm Kiểm hiệu Tả tán kỵ thường thị kiêm Ngự sử đại phu." '''Năm Khai Bảo (開寶) thứ 8 (năm 975), tháng 5 ngày Giáp Ngọ, An Nam đô hộ Đinh Liễn (丁璉) sai sứ đến cống hiến.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tổ bản kỷ (太祖本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 975) sai sứ cống tê giác, voi, hương liệu và thuốc. Triều đình bàn việc tôn sùng và ưu đãi Bộ Lĩnh, xuống chế rằng: 'Khắp cõi đến quy phục, phải lấy ân tín mà đối đãi; cả họ phụng sự quốc gia, nên được phong thưởng long trọng. Nghĩ đến vị thần nơi cực biên, thực hiện điển lễ hiển hách cho người thân. Ngươi là Bộ Lĩnh, đời là danh gia, giữ vững phương xa, sớm mộ phong hóa trung hoa, không quên nội phụ. Nay 9 châu đã hợp nhất, 5 rặng núi (Ngũ Lĩnh) đã dẹp yên, không ngại sóng lớn đại dương, vui vẻ dâng nộp sản vật quý. Khen cho con giỏi của ngươi, xứng đáng là phiên dậu của ta. Đặc ban ơn lớn để nêu gương nghĩa huấn. Chúc ngươi trường thọ, nhận chương phục phong tặng này. Khả phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu Thái sư, phong làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)'. Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Năm thứ 8 (năm 975), xuống chiếu phong Bộ Lĩnh (部領) làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), Liễn (璉) làm Tiết độ An Nam đô hộ. An Nam (安南) từ đây bắt đầu trở thành phiên di vậy." '''Năm Thái Tông (太宗) Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ [khuyết] (giai đoạn 976–980), An Nam (安南) sang cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Thái Tông lên ngôi, Đinh Liễn (丁璉) lại sai sứ đem phương vật đến chúc mừng." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ [khuyết] (năm 979–980), đại tướng An Nam là Lê Hoàn (黎桓) chuyên quyền phế chủ, Thái Tông bàn định việc cử binh.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Sau khi Bộ Lĩnh (部領) và Liễn (璉) chết, em của Liễn là Toàn (璿) còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, xưng là Tiết độ Hành quân Tư mã, quyền lĩnh việc quân phủ. Đại tướng Lê Hoàn (黎桓) chuyên quyền dựng đảng, dần không thể chế ngự được, bèn dời Toàn (璿) sang dinh thự khác, giam cầm cả họ, rồi thay thế thống lĩnh đám đông. Thái Tông nghe tin thì nổi giận, bèn bàn việc cử binh." Xét theo ''Quảng Đông thông chí (廣東通志)'': "Bộ Lĩnh (部領) và Liễn (璉) chết, em Liễn là Toàn (璿) lập lên, còn nhỏ tuổi, bị đại tướng Lê Hoàn (黎桓) chiếm ngôi. Họ Đinh (丁氏) truyền đời tổng cộng 11 năm." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 5 (năm 980), xuống chiếu thảo phạt Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'': "Năm thứ 5 (năm 980) mùa thu tháng 7 ngày Đinh Mùi, thảo phạt Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州). Mệnh cho Lan Châu đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng (孫全興), Bát tác sứ Trương Tuấn (張濬), Tả giám môn vệ tướng quân Thôi Lượng (崔亮), Ninh Châu刺 sử Lưu Trừng (劉澄), Quân khí khố phó sứ Giả Thực (賈湜), Cáp môn chi hậu Vương Soạn (王僎) đều làm Bộ thự. Toàn Hưng, Tuấn, Lượng đi từ Ung Châu (邕州); Trừng, Thực, Soạn đi từ Liêm Châu (廉州), mỗi người dẫn quân của mình đi đánh. Tháng 9 ngày Quý Mão, Lê Hoàn (黎桓) sai sứ nhân danh Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu xin tập vị. Mùa đông tháng 11 ngày Canh Tý mồng 1, An Nam Tĩnh Hải quân tiết độ hành quân tư mã quyền tri châu sự Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu xin tập vị, vua không trả lời. Tháng 12 ngày Ất Dậu, quân hành doanh Giao Châu đánh nhau với giặc, đại phá được chúng." Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 5 (năm 980) mùa thu, xuống chiếu lấy Lan Châu đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng (孫全興), Bát tác sứ Trương Toàn (張璿), Tả giám môn vệ tướng quân Thôi Lượng (崔亮) làm Lục lộ binh mã bộ thự, đi vào từ đường Ung Châu (邕州); Ninh Châu thứ sử Lưu Trừng (劉澄), Quân khí khố phó sứ Giả Thực (賈湜), Cung phụng quan Cáp môn chi hậu Vương Soạn (王僎) làm Thủy lộ binh mã bộ thự, đi vào từ đường Quảng Châu (廣州). Mùa đông năm ấy, Lê Hoàn (黎桓) sai nha hiệu Giang Cự Hoằng (江巨湟) đem phương vật sang cống, vẫn nhân danh Đinh Toàn (丁璿) dâng biểu nói: 'Họ của thần vốn là thủ lĩnh Man di, ở nơi hẻo lánh ngoài biển, tuân thủ chức phận triều cống, mượn quyền tiết chế ở phương xa. Cha anh của thần nối đời nhận trọng trách ở biên cương, cẩn thận giữ gìn bờ cõi, không dám trễ nải. Đến khi qua đời, nhà cửa sắp sụp đổ, tướng lại và các bậc bô lão bèn giao cho thần, sai quyền quản việc quân lữ để làm yên lòng dân chúng thôn lạc. Phong tục địa phương hung hãn, khẩn cầu càng kiên định, nếu từ chối không nghe e sinh biến loạn. Thần đã nhiếp chức Tiết độ hành quân tư mã, quyền lĩnh việc quân phủ, nguyện xin ban cho quan tước thực thụ để đứng vào hàng ngũ các phiên dậu. Mạo muội tâu lên bệ hạ, cúi đầu run sợ'. Vua xét thấy hắn muốn hoãn binh, bèn giữ lại không trả lời. Quân vương sư tiến đánh, phá tan hơn 10.000 quân giặc, chém đầu hơn 2.000 cấp." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 6 (năm 981) tháng 3 ngày Nhâm Tuất, quân hành doanh Giao Châu (交州) phá giặc tại cửa sông Bạch Đằng (白藤江口), thu được 200 chiếc thuyền chiến, Tri Ung Châu hầu Nhân Quý (侯仁貴) tử trận. Gặp lúc khí độc nóng nực, quân sĩ chết nhiều, Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên (許仲宣) phi ngựa báo tin về, vua xuống chiếu bãi binh. Hạ lệnh chém Lưu Trừng (劉澄), Giả Thực (賈湜) ngay trong quân, triệu Tôn Toàn Hưng (孫全興) về tống giam.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 6 (năm 981) mùa xuân lại phá giặc tại cửa sông Bạch Đằng (白藤江口), chém đầu hơn 1.000 cấp, thu 200 chiến hạm, áo giáp đếm tới hàng vạn. Chuyển vận sứ Hầu Nhân Bảo (侯仁寶) [Bản kỷ chép là Quý] dẫn tiền quân tiến lên trước. Bọn Toàn Hưng dừng quân tại Hoa Bộ (花步) suốt 70 ngày để đợi Lưu Trừng, Nhân Bảo nhiều lần thúc giục nhưng không tiến. Đến khi Trừng tới, hợp quân đi đường thủy đến thôn Đa La (多羅村), không gặp giặc, lại tự ý quay về Hoa Bộ. Lê Hoàn (黎桓) giả vờ đầu hàng để dụ Nhân Bảo, rồi sát hại ông ta. Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên (許仲宣) phi sớ tâu việc đó, bèn bãi binh. Vua sai sứ đến hặc tội bọn Trừng, Thực, Soạn; Trừng sau đó bệnh chết, bêu đầu Thực và bọn còn lại tại chợ Ung Châu (邕州). Toàn Hưng về đến cửa khuyết cũng bị hạ ngục rồi giết, số còn lại bị tội nặng nhẹ khác nhau. Nhân Bảo được truy tặng Công bộ thị lang." '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 7 (năm 982), mùa xuân tháng 3. Giao Châu (交州) vì quân vương sư đánh dẹp, sai sứ đến tạ tội.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Mùa xuân năm thứ 7 (năm 982), Lê Hoàn (黎桓) sợ triều đình cuối cùng sẽ tiêu diệt mình, bèn lấy danh nghĩa Đinh Toàn (丁璿) sai sứ dâng phương vật và dâng biểu tạ tội. '''Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 8 (năm 983) tháng 5 ngày Đinh Mão, Lê Hoàn (黎桓) tự xưng là Tam sứ Lưu hậu, sai sứ đến cống, đồng thời dâng biểu nhường ngôi của Đinh Toàn (丁璿). Vua xuống chiếu dụ Lê Hoàn (黎桓) đưa mẹ con Đinh Toàn (丁璿) về cửa khuyết, nhưng hắn không nghe.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 983), Lê Hoàn (黎桓) tự xưng Quyền Giao Châu Tam sứ Lưu hậu, sai sứ cống phương vật và đưa biểu của Toàn lên. Vua ban chiếu cho Hoàn rằng: 'Họ Đinh truyền nối 3 đời, giữ vững một phương. Khanh đã được tin cậy làm tâm phúc, thì phải tuân theo lời thỉnh cầu của người trong nước, chớ phụ lòng họ Đinh. Trẫm định để Toàn làm danh nghĩa thống soái, khanh giữ chức phó nhị, mọi việc cắt đặt chế trí thảy đều do khanh. Đợi Đinh Toàn (丁璿) trưởng thành, có thể tự lập, sự phò tá của khanh sẽ càng thêm sáng rõ, việc khen thưởng công lao trung thành, trẫm có tiếc gì. Nếu Đinh Toàn (丁璿) không có tài tướng, tâm tính trẻ con như cũ, nhưng vì đời đời kế tục đã lâu, một mai bỏ đi tiết việt, hạ xuống hàng sĩ ngũ thì lý không thuận, ở cũng không yên. Chiếu đến, khanh nên đưa mẹ con Đinh Toàn (丁璿) cùng thân thuộc cả nhà về triều, đợi khi vào chầu, sẽ chọn ngày xuống chế trao cho khanh tiết mao. Trong 2 con đường đó, khanh nên xét kỹ chọn 1. Đinh Toàn (丁璿) đến kinh đô, tất sẽ được ưu đãi. Nay sai Cung phụng quan Trương Tông Quyền (張宗權) đem chiếu dụ chỉ, hãy hiểu cho lòng trẫm'. Cũng ban chiếu cho Toàn đúng như vậy. Bấy giờ Lê Hoàn (黎桓) đã độc chiếm đất đai, không nghe mệnh. Tháng 5 năm ấy, dâng lời tâu rằng: Nước Chiêm Thành (占城國) đem số vạn voi, ngựa, quân thủy bộ đến xâm lấn, bèn suất quân đánh đuổi, bắt và chém hàng ngàn kẻ địch. '''Năm Ung Hy (雍熙) thứ 2 (năm 985) tháng 2 ngày Mậu Dần, Quyền Giao Châu lưu hậu Lê Hoàn (黎桓) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm Ung Hy (雍熙) thứ 2 (năm 985), sai nha hiệu Trương Thiệu Phùng (張紹馮), Nguyễn Bá Trâm (阮伯簪) dâng phương vật. Sau đó dâng biểu xin được chính thức lĩnh tiết trấn. '''Năm Ung Hy (雍熙) thứ 3 (năm 986) mùa đông tháng 10 ngày Canh Thân, xuống chiếu lấy Quyền Tĩnh Hải quân lưu hậu Lê Hoàn (黎桓) làm Bản quân tiết độ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 986) mùa thu lại sai sứ dâng phương vật. Châu Đạm (儋州) báo người nước Chiêm Thành (占城國) là Bồ La Át (蒲羅遏) dẫn theo bộ tộc hơn 100 người sang nội thuộc, nói là bị Giao Châu (交州) bức bách. Tháng 10 năm ấy, chế rằng: 'Bậc vương giả xây dựng hoàng cực, vỗ về các phiên dậu. Đặt phủ đệ tại kinh sư để làm thịnh lễ hội đồng; ban đất đai một phương để nêu rõ uy thế tiết chế. Huống chi nơi góc biển Giao Chỉ này, đã tuân thủ lễ nghi triều cống, đúng lúc thay đổi thống soái, bèn có lợi cho việc kiến hầu. Không quên sự cung kính xin mệnh, bèn thực hiện điển lễ đền đáp công lao'. Quyền tri Giao Châu Tam sứ lưu hậu Lê Hoàn (黎桓), có đủ nghĩa dũng, vốn bẩm tính trung thuần, được lòng người trong nước, giữ gìn lễ nghĩa phiên thần. Trước kia Đinh Toàn (丁璿) còn thơ ấu, chưa hiểu việc vỗ về; Hoàn là thân thích ruột thịt, chuyên trách việc quân lữ, hiệu lệnh tự mình đưa ra, uy và đức cùng hành xử. Toàn đã giải hết quyền Tam sứ để thuận theo ý muốn của mọi người, từ xa gửi lòng thành khẩn, xin lĩnh tiết mao. Sĩ Nhiếp (士燮) mạnh mẽ sáng suốt, hóa độ phong tục phương Việt khiến thảy đều yên bình; Úy Đà (尉佗) cung thuận, tuân theo chiếu nhà Hán mà không làm trái. Nên chính danh hiệu Nguyên nhung để xếp vào hàng quý tộc Thông hầu. Khống chế và vỗ về thôn lạc di tộc, để rạng rỡ thiên ân. Có thể thụ chức Kiểm hiệu Thái bảo, Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, An Nam đô hộ, sung làm Tĩnh Hải quân tiết độ (靜海軍節度), Giao Châu quản nội quan sát xử trí đẳng sứ, phong Kinh Triệu quận hầu (京兆郡侯), hưởng thực ấp 3.000 hộ, lại ban hiệu cho là Thôi thành Thuận hóa công thần, sai Tả bổ khuyết Lý Nhược Chuyết (李若拙), Quốc tử bác sĩ Lý Giác (李覺) làm sứ giả ban cho quan chức. Xét theo ''Lý Nhược Chuyết truyện (李若拙傳)'': Nhược Chuyết năm Ung Hy (雍熙) thứ 3 (năm 986) được tạm phong chức Bí thư giám, đi sứ Giao Châu (交州). Trước đó, Lê Hoàn (黎桓) dùng chế độ vượt lễ (duyệm tiệm), Nhược Chuyết vừa vào cảnh giới, liền sai tả hữu răn bảo về lễ tiết bầy tôi, từ đó Lê Hoàn (黎桓) nghe mệnh, bái nhận chiếu chỉ rất cung kính. Ngày yến tiệc, Hoàn bày hàng hóa quý và vật lạ ở trước mặt, Nhược Chuyết một mực không liếc mắt nhìn, xin lấy sứ giả bị hãm trước đó là Đặng Quân Biện (鄧君辨) mang về, ngoài lễ vật ra không nhận quà riêng. Khi sứ về, vua khen ông không làm nhục mệnh, thăng làm Khởi cư xá nhân. '''Năm Đoan Củng (端拱) thứ 1 (năm 988), mùa hạ tháng 4 ngày Kỷ Sửu, gia phong cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Lê Hoàn (黎桓) chức Kiểm hiệu Thái úy. Tháng 5 nhuận ngày Đinh Dậu, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Đoan Củng (端拱) thứ 1 (năm 988), gia phong cho Hoàn chức Kiểm hiệu Thái úy, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 500 hộ; sai Hộ bộ Lang trung Ngụy Sương (魏庠), Ưu bộ Viên ngoại lang Trực sử quán Lý Độ (李度) sang làm sứ giả." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990), mùa đông tháng 10 ngày Giáp Thìn, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': "Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990) mùa hạ, gia phong cho Hoàn chức Đặc tiến, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ; sai Tả chính ngôn Trực sử quán Tống Cảo (宋鎬), Hữu chính ngôn Trực sử quán Vương Thế Tắc (王世則) sang làm sứ giả." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991), Tống Cảo (宋鎬) đi sứ Giao Chỉ (交阯) về, vua hạ lệnh điều tra địa hình và sự tích vùng đó để tâu lên.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1 (năm 990), gia phong cho Hoàn chức Đặc tiến, tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ; sai Tống Cảo (宋鎬) làm sứ giả. Năm sau về cửa khuyết, thượng lệnh cho liệt kê hình thế sơn văn và sự tích Lê Hoàn (黎桓) để tâu lên. Bọn Cảo dâng sớ tâu rằng: "Cuối thu năm ngoái đến biên giới Giao Châu (交州), Hoàn sai Nha nội Đô chỉ huy sứ Đinh Thừa Chính (丁承正) cùng 9 chiếc thuyền, 300 lính đến quân Thái Bình (太平軍) đón tiếp. Đi từ hải khẩu vào biển lớn, sóng gió hiểm nguy, trải nửa tháng mới đến Bạch Đằng (白藤), đi thẳng vào ngã rẽ biển, theo thủy triều mà đi. Phàm những nơi nghỉ trọ đều có 3 gian nhà cỏ mới dựng, gọi là quán dịch. Đến Trường Châu (長州), dần gần bản quốc, Hoàn khoe khoang phù phiếm, cố ý làm ra vẻ xa hoa, đưa hết chu sư chiến trào ra, gọi là 'quân'. Từ đó đi đêm, đến bờ biển, cách Giao Châu (交州) chỉ 15 dặm thì có đình cỏ 5 gian, đề tên 'Mao Kính Dịch' (茅徑驛). Cách thành 100 dặm, Hoàn xua dân bộ mang theo súc vật, mạo xưng là bò của quan, số lượng không đầy 1.000 nhưng rêu rao là 10 vạn. Lại bắt dân mặc đồ tạp sắc đứng lẫn trong binh lữ, chèo thuyền đánh trống náo động; trên núi gần thành thì cắm cờ trắng hư trương thanh thế làm tượng binh trận. Chẳng bao lâu Hoàn dẫn người hầu đến, thực hiện lễ nghênh tiếp ở ngoại ô. Hoàn ghì cương ngựa nghiêng mình hỏi thăm sức khỏe hoàng đế xong thì cùng đi. Lúc đó lấy trầu cau (tân lang) mời khách, vừa đi trên ngựa vừa ăn, ấy là phong tục hậu đãi tân khách. Trong thành không có cư dân, chỉ có vài chục đến trăm khu nhà bằng cỏ tre để làm quân doanh. Phủ thự chật hẹp, cửa đề chữ 'Minh Đức Môn' (明德門). Hoàn hình dung thô lậu, một mắt bị lòa (mục miểu), tự nói những năm gần đây chiến đấu với giặc Man bị ngã ngựa thương chân, nên nhận chiếu mà không quỳ lạy. Sau vài đêm trọ, bèn bày yến tiệc, lại ra ngã rẽ biển làm thú vui đãi khách. Hoàn chân trần cầm cần xuống nước đâm cá, mỗi lần trúng một con thì tả hữu đều hò reo nhảy múa. Phàm hội yến, những người cùng ngồi đều phải cởi đai, đội mũ. Hoàn mặc đồ thêu hoa hoặc đồ đỏ, mũ trang trí trân châu, tự hát khuyên rượu, lời lẽ không ai hiểu được. Lại sai vài chục người khiêng con rắn lớn dài vài trượng mang đến quán sứ và bảo: 'Nếu ăn được thứ này sẽ làm thịt thành món dâng lên'. Lại nhốt 2 con hổ mang đến cho xem, sứ giả thảy đều từ chối không nhận. Sĩ tốt chừng 3.000 người, đều xăm trên trán chữ 'Thiên Tử Quân' (天子軍). Lương ăn cấp hằng ngày bằng bông lúa, lệnh cho tự giã mà ăn. Binh khí chỉ có cung nỏ, mộc bài, giáo cán gỗ, giáo tre, yếu ớt không dùng được. Hoàn tính khinh suất tàn nhẫn, gần gũi tiểu nhân, bên cạnh có 5 hay 7 tên hoạn quan đứng hầu. Ưa nhậu nhẹt xằng bậy, lấy việc truyền lệnh bằng tay (thủ lệnh) làm vui. Phàm quan thuộc làm tốt việc thì thăng làm thân tín bên cạnh, có lỗi nhỏ cũng giết, hoặc quất roi vào lưng từ 100 đến 200 roi. Tân tá có điểm không vừa ý cũng bị đánh từ 30 đến 50 roi, đuổi xuống làm lính canh cửa, khi hết giận mới gọi về vị trí cũ. Có tòa tháp gỗ chế tác thô sơ, một ngày nọ Hoàn mời cùng leo lên tham quan. Đất này không có khí lạnh, tháng 11 vẫn mặc áo mỏng, vung quạt." '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 4 (năm 993), tháng 2, phong Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Lê Hoàn (黎桓) làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 993), tiến phong Hoàn làm Giao Chỉ quận vương (交阯郡王). '''Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 5 (năm 994), tháng 3, Giao Chỉ quận vương Lê Hoàn (黎桓) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 994) sai Nha hiệu Phí Sùng Đức (費崇德) đến tu sửa chức phận triều cống. Tuy nhiên Hoàn tính vốn hung hãn, cậy hiểm núi biển, thường xuyên quấy nhiễu, dần đánh mất lễ tiết phiên thần. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 1 (năm 995), quân Giao Chỉ (交阯) vào đánh phá trấn Như Hồng (如洪鎮), lại đánh Ung Châu (邕州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thái Tông bản kỷ (太宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Chí Đạo (至道) thứ 1 (năm 995) mùa xuân, Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận sứ Trương Quan (張觀), binh mã giám áp trấn Như Hồng (如洪鎮) ở Khâm Châu (欽州) là Vệ Chiêu Mỹ (衛昭美) đều tâu rằng: "Có hơn 100 chiếc thuyền chiến Giao Châu đánh phá trấn Như Hồng, bắt dân cư, cướp lương thực rồi đi." Mùa hạ năm ấy, châu Tô Mậu (蘇茂州) do Hoàn quản lý lại đem 5.000 hương binh đánh phá Ung Châu (邕州), đô tuần kiểm Dương Văn Kiệt (楊文傑) đánh đuổi được chúng. Thái Tông vốn có ý vỗ về nơi biên viễn, không muốn hỏi tội. Trương Quan lại tâu: "Nghe đồn Lê Hoàn (黎桓) bị họ Đinh (丁氏) xua đuổi, đem tàn đảng chạy ra vùng sơn hải mất nơi cứ trú, nên đi cướp bóc tự nuôi thân. Nay thì Hoàn đã chết." Quan bèn dâng biểu chúc mừng. Vua sai Thái thường thừa Trần Sĩ Long (陳士隆), võ quan Vũ Nguyên Cát (武元吉) đi sứ Lĩnh Nam để dò xét việc đó. Sĩ Long về tâu lời giống hệt Trương Quan. Thực ra Hoàn vẫn còn sống, ấy là lời đồn sai lệch mà bọn Quan không kiểm chứng kỹ. Không lâu sau, có lái buôn lớn từ Giao Chỉ trở về, nói rõ Hoàn vẫn làm soái như cũ, vua bèn hạ lệnh hặc tội bọn Quan. Gặp lúc Quan bệnh chết, bọn Chiêu Mỹ, Sĩ Long, Nguyên Cát bị khép tội. Trước đó, 3 trấn Như Hồng (如洪), Đốt Bộ (咄步), Như Tích (如昔) của Khâm Châu (欽州) đều sát biển. Dân vùng Triều Dương (潮陽) thuộc Giao Châu là Bốc Văn Dũng (卜文勇) giết người rồi đem cả nhà trốn sang trấn Như Tích, trấn tướng Hoàng Lệnh Đức (黃令德) che giấu cho chúng. Hoàn lệnh cho trấn tướng Triều Dương là Hoàng Thành Nhã (黃成雅) gửi công văn đến bắt, Lệnh Đức nhất quyết không giao người, vì lẽ đó mà hải tặc liên năm đánh cướp. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 2 (năm 996), sai sứ vỗ về Lê Hoàn (黎桓), ban cho đai ngọc mỹ quý, Hoàn trông về phương Bắc dập đầu tạ ơn.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 996), lấy Công bộ Viên ngoại lang Trực sử quán Trần Nghiêu Sưu (陳堯叟) làm Chuyển vận sứ, nhân đó ban chiếu cho Hoàn. Nghiêu Sưu mới đến, sai huyện úy Hải Khang (海康) là Lý Kiến Trung (李建中) mang chiếu đến an ủi Hoàn. Nghiêu Sưu đến Như Tích, tra rõ nguyên do giấu Bốc Văn Dũng, bắt hết già trẻ gái trai gồm 130 người giao trả cho lại dịch vùng Triều Dương, đồng thời răn bảo không được dùng cực hình. Thành Nhã nhận người xong bèn gửi tờ trình tạ ơn Nghiêu Sưu. Hoàn bèn dâng biểu cảm ơn, đồng thời bắt 25 tên hải tặc giao cho Nghiêu Sưu, lại nói đã ước thúc thủ lĩnh các khe động không được xao động. Tháng 7, Thái Tông sai Chủ khách Lang trung Trực Chiêu văn quán Lý Nhược Chuyết (李若拙) làm Quốc tín sứ mang chiếu thư và đai ngọc mỹ quý sang ban cho Hoàn. Nhược Chuyết đến, Hoàn ra ngoại ô đón, nhưng lời lẽ còn ngang ngược, bảo Nhược Chuyết: "Chuyện đánh cướp trấn Như Hồng trước đây là do giặc Man biên giới làm. Hoàng đế có biết đó không phải binh Giao Châu không? Nếu Giao Châu thực sự phản mệnh thì trước hết phải đánh Phiên Ngung (番禺), sau đánh Mân Việt (閩越), há chỉ dừng lại ở trấn Như Hồng!" Nhược Chuyết thong thả bảo Hoàn: "Thượng mới nghe tin cướp phá trấn Như Hồng, dù chưa biết rõ từ đâu, nhưng vì túc hạ được cất nhắc từ nha hiệu Giao Châu trao cho tiết chế, vốn nên tận trung báo đáp, há có ý khác! Đến khi thấy việc bắt nộp hải tặc mới rõ sự tình. Tuy nhiên các đại thần đều nghị bàn rằng, triều đình lập Tiết độ sứ là để làm yên vùng biển, nay giặc Man hoành hành, ấy là sức Giao Châu không tự chế ngự được. Xin điều động vài vạn kình binh phối hợp với binh Giao Châu để tiễu diệt, khiến Giao, Quảng không còn hậu họa." Hoàn nghe vậy sửng sốt rời chiếu bảo: "Hải tặc phạm biên là tội của thủ thần. Thánh quân khoan dung, ơn quá cha mẹ không gia hình trách phạt. Từ nay xin cẩn trọng giữ chức ước, bảo đảm biển khơi mãi yên bình." Bèn trông về phương Bắc dập đầu tạ ơn. '''Năm Chí Đạo (至道) thứ 3 (năm 997), tháng 3, Thái Tông băng hà, Hoàng thái tử theo di chiếu lên ngôi hoàng đế (Chân Tông). Tháng 4 ngày Ất Mão, gia phong cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương Lê Hoàn (黎桓) chức kiêm Thị trung, tiến phong Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Chân Tông lên ngôi, tiến phong Hoàn làm Nam Bình Vương kiêm Thị trung. Trước đó Hoàn sai Đô tri binh mã sứ Nguyễn Thiệu Cung (阮紹恭), Phó sứ Triệu Hoài Đức (趙懷德) cống một chiếc ghế giao ỷ khảm vàng bạc thất bảo, 10 chậu bạc, 50 chiếc sừng tê ngà voi, 10.000 xấp lụa là vải vóc. Vua hạ lệnh bày ở điện Vạn Tuế, cho phép bọn Thiệu Cung bái tế linh cữu Thái Tông. Khi về, ban cho Hoàn đai ngọc, ngựa giáp và chiếu thư khen ngợi. '''Năm Hàm Bình (咸平) thứ 4 (năm 1001), tháng 2 ngày Mậu Thân, Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) dâng tê giác và voi thuần.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Hàm Bình (咸平) thứ 4 (năm 1001), lại sai Hành quân tư mã Lê Thiệu Lưu (黎紹留), Phó sứ Hà Khánh Thường (何慶常) dâng 1 con tê giác thuần, 2 con voi, 1 bình vàng khảm thất bảo. Năm ấy, Khâm Châu báo dân trường Hiệu Thành (效誠場) ở Giao Châu cùng thủ lĩnh 8 châu là bọn Hoàng Khánh Tập (黃慶集) gồm vài trăm người đến đầu hàng, vua xuống chiếu vỗ về, sai đưa về bản đạo. Quảng Nam Tây lộ tâu: "Lê Hoàn (黎桓) khi đón nhận sứ giả Hoàng Thành Nhã có gửi lời tâu, từ nay triều đình nếu gia ân xin sai sứ đến tận bản đạo để làm rạng rỡ phương xa." Trước đó, sứ giả đến Giao Châu, Hoàn thường lấy cớ cung phụng để nhân đó vơ vét tô thuế của dân. Thượng nghe vậy, bèn chỉ lệnh cho quan lại biên thùy triệu đến trao mệnh, không còn sai sứ riêng sang nữa. '''Năm Hàm Bình (咸平) thứ 6 (năm 1003), tháng 3 ngày Tân Mão mồng 1, Khâm Châu (欽州) báo bọn thủ lĩnh 8 châu Giao Châu là Hoàng Khánh Tập (黃慶集) lại đến quy phụ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 1 (năm 1004), năm này Giao Châu (交州) đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Cảnh Đức (景德) thứ 1 (năm 1004), lại sai con là Nhiếp Hoan Châu Thứ sử (攝驩州刺史) Lê Minh Đề (黎明提) đến cống. Khẩn khoản xin gia ân, sai sứ đến tận bản đạo để vỗ về phương xa. Vua hứa cho, vẫn lấy Minh Đề làm Thứ sử Hoan Châu (驩州)." '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 2 (năm 1005), tháng 2 ngày Ất Dậu, sai sứ đến an phủ Giao Châu (交州).''' Xét theo ''Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Tiết Thượng Nguyên năm thứ 2 (năm 1005), ban tiền cho Minh Đề (明提), lệnh cho cùng với sứ giả Chiêm Thành (占城), Đại Thực (大食) xem đèn dự yến tiệc. Nhân đó sai Công bộ Viên ngoại lang Thiệu Diệp (邵曄) làm Quốc tín sứ." '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 3 (năm 1006), tháng 6. Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) xin chinh phạt Giao Chỉ (交阯), vua không cho.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'': Tháng 6 năm Cảnh Đức (景德) thứ 3 (năm 1006), Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) xin phát binh định loạn Giao Chỉ. Đế vì Lê Hoàn (黎桓) vốn tu sửa chức phận triều cống, không muốn đánh lúc đang có tang, lệnh tuân theo chiếu cũ mà an phủ. Tháng 7, Thiệu Diệp (邵曄) dâng các bản đồ đường thủy bộ từ Ung Châu (邕州) đến Giao Chỉ (交阯) và núi sông khống chế Nghi Châu (宜州). Đế phán: "Tổ tông mở đất rộng lớn, duy nên cẩn thận giữ gìn, không cần tham đất vô dụng mà làm lao khổ binh lực." Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1006), Lê Hoàn (黎桓) chết, con thứ là Long Việt (龍鉞) lập lên. Anh của Long Việt là Long Toàn (龍全) cướp kho tàng rồi bỏ trốn, em là Long Đĩnh (龍廷) giết Long Việt tự lập. Anh của Long Đĩnh là Minh Hộ (明護) dẫn binh trại Phù Lan (扶蘭砦) đánh nhau. Minh Đề (明提) vì quốc loạn không thể về, đặc chiếu cho Quảng Châu ưu đãi cấp dưỡng. Tri Quảng Châu Lăng Sách (淩策) tâu: "Các con của Hoàn tranh lập, lòng dân ly tán, bọn thủ lĩnh Hoàng Khánh Tập (黃慶集), Hoàng Tú Man (黃秀蠻) hơn 1.000 người vì không theo sự sai bảo, bị giết hại cả thân tộc nên đến đầu hàng Liêm Châu (廉州), xin phát 2.000 quân bản đạo để bình định, bọn Khánh Tập nguyện làm tiền phong." Thượng cho rằng Hoàn vốn trung thuận, nhiều lần triều cống, nay thừa lúc loạn mà đánh khi họ có tang là không nên. Bèn đổi Quốc tín sứ Thiệu Diệp (邵曄) làm Duyên hải An phủ sứ để hiểu dụ. Bọn Khánh Tập vẫn được ban ruộng và lương theo số khẩu. Diệp bèn gửi thư đến Giao Châu, dụ về uy đức của triều đình, rằng nếu cứ tự tương tàn, lâu không định vị, nếu thiên sư (quân triều đình) hỏi tội thì họ Lê sẽ diệt vong. Minh Hộ (明護) sợ, bèn tôn Long Đĩnh (龍廷) làm chủ quân sự. Long Đĩnh tự xưng là Tiết độ Khai Minh Vương (開明王), muốn tu sửa việc triều cống. Diệp tâu báo, Thượng phán: "Vùng xa xôi dị tục, không hiểu thể thống, có gì đáng trách đâu!", lệnh tước bỏ các quan tước tự phong trái phép (ngụy quan). Diệp lại tâu: Thủ lĩnh Hoàng Khánh Tập trước lánh loạn quy hóa, chủng tộc còn nhiều, nếu sai về sợ bị giết sạch. Bèn chiếu cho Khánh Tập lệ thuộc Tam ban cai quản việc ở Cầm Châu (郴州), rồi cho phép vào cống. Xét theo ''Thiệu Diệp truyện (邵曄傳)'': Khoảng năm Cảnh Đức (景德), tạm phong Quang lộc khanh, sung chức Giao Chỉ An phủ Quốc tín sứ. Gặp lúc Lê Hoàn chết, con là Long Việt nối ngôi, anh là Long Toàn dẫn binh cướp kho rồi đi, em là Long Đĩnh giết Việt tự lập. Anh của Long Đĩnh là Minh Hộ dẫn binh trại Phù Lan đánh nhau. Diệp dừng ở Lĩnh Biểu, tâu việc lên trên, được đổi làm Duyên hải An phủ sứ, cho tùy nghi đặt phương lược. Diệp gửi thư đến An Nam dụ uy đức triều đình, khiến mau định vị. Bọn Minh Hộ lập tức nghe mệnh, tôn Long Đĩnh chủ sự. Ban đầu, chiếu cho Diệp đợi việc yên thì dùng lễ vật cho Lê Hoàn để ban lại cho soái mới. Diệp tâu: "Vỗ về ngoại di nên tỏ lòng thành tín, chẳng thà đợi Long Đĩnh cống hiến, sẽ gia phong tước và ban thưởng riêng." Chân Tông rất khen ngợi. Khi về, thăng Binh bộ Viên ngoại lang, ban kim tử. Diệp từng dâng 4 bản đồ đường thủy bộ từ Ung Châu (邕州) đến Giao Châu và núi sông Nghi Châu (宜州), rất tường tận yếu điểm khống chế. '''Năm Cảnh Đức (景德) thứ 4 (năm 1007), tháng 7 ngày Ất Hợi, Giao Châu đến cống. Ban cho Lê Long Đĩnh (黎龍廷) sách "Cửu Kinh" và sách Phật giáo. Ngày Tân Tỵ, lấy Long Đĩnh làm Tĩnh Hải quân Tiết độ, Giao Chỉ quận vương, ban tên là Chí Trung (至忠). Tháng 9 ngày Kỷ Tỵ, ban ấn Giao Chỉ quận vương và tinh tiết An Nam.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1007), Long Đĩnh (龍廷) xưng là Quyền An Nam Tĩnh Hải quân lưu hậu, sai em là Thứ sử Phong Châu (峰州) Minh Sưởng (明昶), Phó sứ An Nam Chưởng thư ký Điện trung thừa Hoàng Thành Nhã (黃成雅) đến cống. Gặp lúc đại yến tại điện Hàm Quang, Thượng thấy Thành Nhã ngồi xa, muốn nâng vị trí lên, bèn hỏi Tể tướng Vương Đán (王旦). Đán thưa: "Xưa Tử Sản chầu Chu, Chu vương đãi bằng lễ Thượng khanh, Tử Sản từ chối, nhận lễ Hạ khanh mà về. Quốc gia vỗ về phương xa, ưu đãi khách sứ, vốn không ngại gì." Bèn thăng Thành Nhã lên hàng thứ của ngũ phẩm Thượng thư tỉnh. Chiếu phong Long Đĩnh làm Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), hưởng thực ấp 3.000 hộ, thực phong 1.000 hộ, ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần", ban tên là Chí Trung (至忠), cấp cho tinh tiết. Lại truy tặng Hoàn (桓) chức Trung thư lệnh, Nam Việt Vương (南越王). Các sứ giả Lê Minh Sưởng (黎明昶) đều được thăng chức. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 1 (năm 1008), tháng Giêng ngày Ất Dậu, xuống chế gia phong công thần thực ấp cho Giao Chỉ quận vương Lê Chí Trung (黎至忠). Tháng 12 ngày Tân Hợi, gia phong cho Lê Chí Trung chức Đồng bình chương sự.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 1 (năm 1008), thiên thư giáng hạ, gia hiệu Dực đái công thần, thực ấp 700 hộ, thực phong 300 hộ. Sau tế lễ Đông Phong, gia cho Chí Trung chức Đồng bình chương sự, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 2 (năm 1009), tháng 12, Lê Chí Trung (黎至忠) ở Giao Châu dâng tê giác thuần.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1009), Quảng Nam Tây lộ tâu, người Man cướp đản hộ ngoài hải khẩu, trại chủ Như Hồng (如洪) là Lý Văn Trước (李文著) dẫn khinh binh truy đuổi, trúng tên chết. Chiếu đốc thúc An Nam bắt giặc. Năm sau, bắt 13 người Địch Lão (狄獠) dâng nộp. Chí Trung lại sai Suy quan Nguyễn Thủ Cương (阮守疆) cống sừng tê, ngà voi, vàng bạc, gấm vóc và 1 con tê giác thuần. Thượng cho rằng tê giác trái tính đất (phương Bắc), không thể nuôi được, định không nhận; lại sợ trái ý Chí Trung, sau khi sứ giả đi bèn lệnh thả ra bãi biển. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 3 (năm 1010), mùa xuân tháng Giêng, Lê Chí Trung (黎至忠) ở Giao Châu chết, lấy Lưu hậu Lý Công Uẩn (李公蘊) làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, phong Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'': Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 (năm 1010), mùa xuân tháng 2 ngày Quý Tỵ, Lê Chí Trung chết, đại kiêu Lý Công Uẩn (李公蘊) tự xưng Lưu hậu. Tháng 3 ngày Nhâm Thìn, lấy Quyền Tĩnh Hải quân Tiết độ lưu hậu Lý Công Uẩn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), ban áo đai khí vật tiền lụa. Tháng 12 ngày Tân Mùi, lấy ngự thư của Thái Tông ban cho Lý Công Uẩn ở Giao Châu. Năm ấy Giao Châu đến cống. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1010) sai sứ đến chầu, dâng biểu cầu áo giáp trang bị cho ngựa (giáp trụ cụ trang), chiếu cho theo lời xin. Lại cầu mở chợ tương hỗ (hỗ thị) ở Ung Châu (邕州), Chuyển vận sứ bản đạo tâu việc. Thượng phán: "Dân ven biển nhiều lần khổ vì Giao Châu xâm nhiễu, nay vẫn chỉ cho phép mở chợ tại Liêm Châu (廉州) và trại Như Hồng (如洪), vì đó là nơi khống chế biên thùy; nay nếu cho vào thẳng nội địa, việc rất bất tiện." Chiếu lệnh bản đạo lấy chế độ cũ mà dụ. Chí Trung mới 26 tuổi, bạo ngược bất pháp, người trong nước không theo. Đại kiêu Lý Công Uẩn rất được Chí Trung tin dùng, từng lệnh lấy họ Lê làm họ mình. Năm đó bèn mưu đồ thay Chí Trung, đuổi đi, giết Minh Đề (明提), Minh Sưởng (明昶), tự xưng Lưu hậu, sai sứ cống hiến. Thượng phán: "Lê Hoàn (黎桓) bất nghĩa mà đắc thế, Công Uẩn lại bắt chước theo, rất đáng ghét. Nhưng vì đó là tục Man không đáng trách, bèn dùng cố sự của Hoàn." Xuống chế trao chức Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái phó, sung chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), thực ấp 3.000 hộ, thực phong 1.000 hộ, ban hiệu Thôi thành Thuận hóa công thần. Công Uẩn lại dâng biểu cầu ngự thư của Thái Tông, chiếu ban cho 100 trục. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 4 (năm 1011), Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1011), tế lễ Phần Âm Hậu Thổ, Công Uẩn sai Tiết độ phán quan Lương Nhậm Văn (梁任文), Quan sát tuần quan Lê Tái Nghiêm (黎再嚴) đem phương vật đến cống. Lễ thành, gia Công Uẩn chức Đồng bình chương sự, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ, bọn Nhậm Văn đều được thăng chức. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 5 (năm 1012), Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1012) mùa hạ, lấy Tiến phụng sứ Lý Nhân Mỹ (李仁美) làm Thứ sử Thành Châu (誠州), Đào Khánh Văn (陶慶文) làm Thái thường thừa. Những người đi theo bị bệnh chết dọc đường thì đồ ban thưởng được gửi về nhà. Mùa đông năm ấy Thánh Tổ giáng hạ, gia Công Uẩn chức Khai phủ nghi đồng tam ty, thực ấp 700 hộ, thực phong 300 hộ, ban hiệu Dực đái công thần. '''Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 7 (năm 1014), mùa thu tháng 7 ngày Tân Sửu, Lý Công Uẩn (李公蘊) ở Giao Châu đánh bại quân Man Hạc Thác (鶴拓蠻), dâng tin thắng trận.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 7 (năm 1014) mùa xuân lại gia hiệu Bảo tiết Thủ chính công thần, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Chiếu cho các nước Giao Chỉ vào cống thì nơi quán xá cung ứng lương thực phải chuẩn bị đầy đủ. Năm ấy sai Tri Đường Châu Thứ sử Đào Thạc (陶碩) đến cống. Chiếu lấy Thạc làm Thứ sử Thuận Châu (順州) sung chức An Nam Tĩnh Hải quân Hành quân tư mã, Phó sứ Ngô Hoài Phó (吳懷副) làm Thứ sử Trừng Châu (澄州) sung chức Tiết độ phó sứ. Trước đó, người Địch Lão Giao Châu là Trương Bà Khán (張婆看) lánh tội chạy đến, Tri Khâm Châu Mục Trọng Dĩnh (穆重穎) triệu đến, nửa đường lại cự tuyệt, Đô tuần kiểm Tang Tự (臧嗣) bèn lệnh cho trại Như Hồng (如洪) khao rượu thịt. Giao Châu dò biết việc đó, nhân bắt người Địch Lão mà đánh phá trại Như Hồng, cướp người súc vật rất nhiều. Chiếu Chuyển vận ty đốc thúc Công Uẩn truy tìm, đồng thời lệnh quan biên giới từ nay không được dụ dỗ Man Lão để tránh sinh sự. Công Uẩn hoặc cách năm, hoặc liên năm đều đem phương vật vào cống. '''Năm Thiên Hy (天禧) thứ 1 (năm 1017), tháng 2 ngày Canh Dần, tiến phong Lý Công Uẩn (李公蘊) làm Nam Bình Quận vương (南平郡王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Hy (天禧) thứ 1 (năm 1017), tiến phong Công Uẩn (公蘊) làm Nam Bình vương (南平王), gia tăng thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ." '''Năm Thiên Hy (天禧) thứ 2 (năm 1018), gia phong Lý Công Uẩn (李公蘊) chức Kiểm hiệu Thái úy.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Chân Tông bản kỷ (真宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 2 (năm 1018), gia phong Kiểm hiệu Thái úy, thực ấp 1.000 hộ, thực phong 400 hộ. Mỗi khi gia ân đều sai sứ giả mang mệnh lệnh đến tận biên cảnh, vẫn ban cho khí vật, tiền lụa, áo mặc theo bộ (tập y), đai vàng, yên ngựa." '''Năm Càn Hưng (乾興) thứ 1 (năm 1022), tháng 2 ngày Mậu Ngọ, Chân Tông băng hà, di chiếu Thái tử lên ngôi Hoàng đế. Tháng 4 ngày Bính Dần, Giao Châu (交州) đến cống. Năm ấy Nam Bình vương Lý Công Uẩn (李公蘊) sai sứ tiến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Nhân Tông (仁宗) lên ngôi, gia phong Công Uẩn (公蘊) làm Kiểm hiệu Thái sư. Công Uẩn sai Thứ sử Trường Châu (長州) Lý Khoan Thái (李寬泰), Đô hộ phó sứ Nguyễn Thủ Cương (阮守疆) đến cống." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 5 (năm 1027), Nam Bình quốc vương Lý Công Uẩn (李公蘊) sai người đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 6 (năm 1028), tháng 5 ngày Ất Mùi mồng 1, Giao Chỉ (交阯) đánh phá biên giới.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 6 (năm 1028), sai Thứ sử Hoan Châu (歡州) Lý Công Hiển (李公顯) đến cống, phong làm Thứ sử Thứ Châu (敘州). Chẳng bao lâu sau, Công Uẩn lệnh cho con em và con rể là Thân Thừa Quý (申承貴) dẫn quân vào đánh phá biên giới (nội khấu). Xuống chiếu cho Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận ty điều động đinh tráng các khe động để thảo phạt và bắt giữ." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 7 (năm 1029), tháng 4 ngày Tân Mão, Nam Bình vương Lý Công Uẩn (李公蘊) chết, con là Đức Chính (德政) sai người đến báo tang, lấy làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Công Uẩn chết, thọ 44 tuổi. Con là Đức Chính (德政) tự xưng là Quyền tri lưu hậu sự, đến báo tang. Truy tặng Công Uẩn chức Thị trung, Nam Việt vương (南越王). Mệnh cho Chuyển vận sứ bản lộ Vương Duy Chính (王惟正) làm Tế điền sứ, lại làm sứ giả ban quan cáo. Phong Đức Chính chức Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ, Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)." '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 8 (năm 1030), tháng 12 ngày Tân Sửu, Giao Chỉ vương Lý Đức Chính (李德政) được gia ban hiệu công thần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 9 (năm 1031), năm này, Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) sai người đến tạ ơn gia phong.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 9 (năm 1031), sai Tri Phong Châu Thứ sử (知峰州刺史) Lý Ác Thuyên (李偓佺), Tri Ái Châu Thứ sử (知愛州刺史) Suất Nhật Tân (帥日新) đến tạ ơn. Lấy Ác Thuyên làm Thứ sử Hoan Châu (歡州), Nhật Tân làm Thứ sử Trân Châu (珍州)." '''Năm Minh Đạo (明道) thứ 1 (năm 1032), gia phong Lý Đức Chính (李德政) chức Đồng bình chương sự, sai sứ đến cung kính tạ ơn.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Minh Đạo (明道) thứ 1 (năm 1032), cung tạ việc gia phong chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự." Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Đầu năm Minh Đạo (明道), gia chức Đồng bình chương sự." '''Năm Cảnh Hựu (景祐) thứ 1 (năm 1034), tháng 6 ngày Nhâm Thìn, hơn 600 người dân Giao Châu (交州) sang nội phụ. Năm ấy Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) dâng 2 con voi thuần, chiếu lệnh trả lại.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Khoảng năm Cảnh Hựu (景祐), người trong quận là Trần Công Vĩnh (陳公永) cùng hơn 600 người sang nội phụ. Đức Chính sai hơn 1.000 quân đến biên giới bắt đuổi, vua xuống chiếu sai trả người về, đồng thời răn bảo Đức Chính không được tùy tiện giết chóc. Chẳng bao lâu, Đức Chính sai Tĩnh Hải quân Tiết độ phán quan Trần Ứng Cơ (陳應機), Chưởng thư ký Vương Duy Khánh (王惟慶) đến cống. Lấy Ứng Cơ làm Thái tử trung duẫn, Duy Khánh làm Đại lý tự thừa. Đức Chính được gia phong Kiểm hiệu Thái sư." '''Năm Cảnh Hựu (景祐) thứ 3 (năm 1036), năm này, Nam Bình vương Lý Đức Chính (李德政) đến cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 3 (năm 1036), quân các động Giáp Động (甲峒) cùng các châu Lạng Châu (諒州), Môn Châu (門州), Tô Mậu Châu (蘇茂州), Quảng Nguyên Châu (廣源州), động Đại Phát (大發峒), huyện Đan Ba (丹波縣) thuộc nước đó đại cử xâm lấn các châu Tư Lăng (思陵州), Tây Bình (西平州), Thạch Tây (石西州) và các động thuộc Ung Châu (邕州), bắt người ngựa bò, đốt phá nhà cửa rồi đi. Vua xuống chiếu trách hỏi, và lệnh phải bắt các thủ lĩnh chính phạm tội để báo lên." '''Năm Khang Định (康定) thứ 1 (năm 1040), Giao Chỉ (交阯) đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Khang Định (康定) thứ 1 (năm 1040), sai Tri Phong Châu Thứ sử (知峰州刺史) Suất Dụng Hòa (帥用和), Tiết độ phó sứ Đỗ Do Hưng (杜猶興) đến cống." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 3 (năm 1043), tháng 12 ngày Đinh Tỵ, Giao Chỉ (交阯) dâng 5 con voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 3 (năm 1043), lại sai Tiết độ phó sứ Đỗ Khánh An (杜慶安), Tam ban phụng chức Lương Tài (梁材) đến. Lấy Khánh An làm Thứ sử Thuận Châu (順州), Lương Tài làm Thái tử Tả giám môn suất phủ suất." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 6 (năm 1046), năm này, Giao Chỉ (交阯) dâng 10 con voi thuần.''' Xét theo ''Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 6 (năm 1046) lại sai Binh bộ viên ngoại lang Tô Nhân Tố (蘇仁祚), Đông đầu cung phụng quan Đào Duy [khuyết] (陶惟...) đến. Lấy Nhân Tố làm Công bộ lang trung, Duy làm Nội điện sùng ban." '''Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 7 (năm 1047), Giao Chỉ (交阯) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 7 (năm 1047), lại sai Bí thư thừa Đỗ Văn Phủ (杜文府), Tả thị cấm Văn Xương (文昌) đến. Lấy Văn Phủ làm Tuần điền viên ngoại lang, Văn Xương làm Nội điện sùng ban. Trước đó, Đức Chính (德政) phát binh đánh Chiêm Thành (占城), triều đình nghi ngờ bên trong nuôi mưu gian trá, bèn tìm lại 16 con đường thông thương từ thời Đường đến nay, lệnh cho Chuyển vận sứ Đỗ Kỷ (杜杞) đo lường những nơi yếu hại mà đóng quân canh giữ. Tuy nhiên sau đó họ cũng chưa từng đánh phá biên giới, trước sau nhiều lần dâng voi thuần." '''Năm Hoàng Hựu (皇祐) thứ 2 (năm 1050), xuống chiếu trả hết bọn Vi Thiệu Tự (韋紹嗣) ở châu Tô Mậu (蘇茂州).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Hoàng Hựu (皇祐) thứ 2 (năm 1050), Ung Châu (邕州) dụ bọn Vi Thiệu Tự (韋紹嗣), Thiệu Khâm (紹欽) ở châu Tô Mậu (蘇茂州) cùng hơn 3.000 người vào cư trú ở vùng đất tỉnh thuộc. Đức Chính (德政) dâng biểu xin trả lại những người bị dụ đi, vua xuống chiếu trả hết, đồng thời lệnh cho Đức Chính ước thúc dân biên giới không được xâm phạm nhau. Sau đó người Man ở Quảng Nguyên Châu (廣源州) là Nùng Trí Cao (儂智高) phản loạn, Đức Chính suất 20.000 binh theo đường thủy muốn vào trợ giúp vương sư, triều đình ban thưởng hậu hĩnh nhưng từ chối quân tiếp viện." '''Năm Chí Hòa (至和) thứ 2 (năm 1055), tháng 11 ngày Ất Mão, Giao Chỉ (交阯) đến báo tang Lý Đức Chính (李德政) mất. Con là Nhật Tôn (日尊) dâng cống vật di chúc của Đức Chính và voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Chí Hòa (至和) thứ 2 (năm 1055), Đức Chính mất, con là Nhật Tôn (日尊) sai người báo tang. Mệnh cho Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận sứ, Thượng thư Tuần điền viên ngoại lang Tô An Thế (蘇安世) làm Điếu tặng sứ. Truy tặng Đức Chính chức Thị trung, Nam Việt vương (南越王), đồ phúng viếng rất hậu. Chẳng bao lâu sau, phong Nhật Tôn làm Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王)." '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 3 (năm 1058), tháng 6 ngày Đinh Mão, Giao Chỉ (交阯) dâng thú lạ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交趾傳)'': Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 3 (năm 1058), "dâng 2 con thú lạ." '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 4 (năm 1059), tháng 2 ngày Canh Ngọ, vùng Quảng Nam báo quân Giao Chỉ (交阯) đánh phá Khâm Châu (欽州).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm thứ 4 (năm 1059), đánh vào vùng Tư Bẩm (思稟管) thuộc Khâm Châu (欽州). '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 5 (năm 1060), mùa thu tháng 7 ngày Quý Tỵ, Ung Châu (邕州) báo quân Giao Chỉ (交阯) hợp binh với quân Man Giáp Động (甲峒蠻) đánh phá biên giới. Đô tuần kiểm Tống Sĩ Nghiêu (宋士堯) chống cự bị tử trận. Xuống chiếu điều động binh các châu thảo phạt.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1060), cùng giặc Giáp Động đánh phá Ung Châu. Chiếu lệnh Tri Quế Châu Tiêu Cố (蕭固) điều binh phối hợp với Chuyển vận sứ Tống Hàm (宋咸), Đề điểm hình ngục Lý Sư Trung (李師中) cùng bàn kế đánh úp. Lại chiếu cho An phủ sứ Dư Tĩnh (余靖) điều binh bắt giết. Tĩnh sai gián điệp dụ Chiêm Thành (占城) cùng với binh giáp Quảng Nam Tây lộ tiến thẳng tới Giao Chỉ. Nhật Tôn (日尊) kinh hãi dâng biểu tạ tội. Chiếu lệnh chưa được cử binh, nghe cho Nhật Tôn đến kinh sư cống hiến. Xét theo ''Tiêu Chú truyện (蕭注傳)'': Chú làm Tri Ung Châu được vài năm, ngầm lấy lợi lộc dụ dỗ quần Man ở Quảng Nguyên (廣源), mật thiết sửa sang binh giáp, rồi dâng sớ nói: "Giao Chỉ dù phụng triều cống nhưng thực có lòng họa tâm, thường xuyên xâm chiếm đất đai. Xưa năm Thiên Thánh (天聖), Trịnh Thiên Ích (鄭天益) làm Chuyển vận sứ từng trách chúng tự ý thu thuế ở động Vân Hà (雲河洞), nay Vân Hà đã lọt vào tay chúng vài trăm dặm, ấy là do năm tháng xâm lấn mà dần đến mức này. Thần đã nắm hết các điểm yếu và rõ mọi nơi lợi hại. Nay không đánh lấy, ngày sau tất là nỗi lo cho Trung Quốc. Xin được phi ngựa về kinh sư trình bày phương lược." Lời tâu chưa được trả lời thì Thân Thiệu Thái (申紹泰) ở Giáp Động xâm phạm Tây Bình (西平), 5 vị tướng bị hại. Quan gián nghị luận tội Chú làm trái phép khiến giặc đến, bãi chức làm Kinh Nam kiềm hạt. Đề điểm hình ngục Lý Sư Trung lại hặc tội Chú làm giảm uy thế, ham lợi, bắt người của Nùng Trí Cao hoạn làm nô tỳ, điều động dân động khai thác vàng, không có sổ sách kiểm tra. Trung sứ đến kiểm chứng thấy có thực, bèn biếm chức làm Thái Châu đoàn luyện phó sứ. Hoài Nam chuyển vận sứ lại nói: Chú mổ trâu giết chó, chiêu tập du sĩ, lập thành quân đội, dạy cưỡi ngựa bắn cung, xin dời đến châu lớn để kiềm chế. Chiếu đổi làm Trấn Nam quân tiết độ phó sứ. Có cận thần minh oan cho công lao của Chú ở Quảng Châu, bèn khởi dụng làm Hữu giám môn tướng quân, Tân Châu đô giám. '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 8 (năm 1063), mùa xuân tháng Giêng ngày Tân Hợi, Giao Chỉ (交阯) dâng 9 con voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Nhân Tông bản kỷ (仁宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm thứ 8 (năm 1063), sai Văn tư sứ Mai Cảnh Tiên (梅景先), Phó sứ Đại lý bình sự Lý Kế Tiên (李繼先) dâng voi thuần. '''Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 9 (năm 1064), lấy vật phẩm di lưu ban cho Nhật Tôn (日尊), gia phong chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.''' Xét theo ''Tống sử (宋史)'' – ''Nhân Tông bản kỷ'' và ''Anh Tông bản kỷ'' đều không chép. Xét theo ''Hình pháp chí (刑法志)'': Năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 9 (năm 1064), Tri Quế Châu Thẩm Khởi (沈起) muốn kinh lược Giao Chỉ, chiếm lấy Từ Ân Châu (慈恩州) của chúng, người Giao bèn phá Khâm Châu, phạm vào Ung Quản (邕管). Chiếu rằng: Dân biên giới ngang nhiên bị giết chóc, trách nhiệm dẫn đến binh đao thảy đều do Thẩm Khởi, đặc cách tước bỏ quan tước, đày đi châu xa hẻo lánh. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1064), tháng 4 ngày Mậu Dần, lấy chiếu của Đại hành Hoàng đế (Nhân Tông) cùng vật phẩm di lưu ban cho Nhật Tôn (日尊), gia phong Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Ngày ấy, sứ Giao Chỉ cáo từ, vua mệnh cho Nội thị tỉnh áp ban Lý Kế Hòa (李繼和) hiểu dụ rằng: "Thân Thiệu Thái (申紹泰) đánh phá bản lộ, triều đình nhiều lần muốn thảo phạt, nhưng vì nghĩ Thiệu Thái chỉ là một kẻ cuồng loạn, lại thêm bản đạo đã sai sứ tạ tội, nên chưa muốn dấy binh." '''Năm Trị Bình (治平) thời Anh Tông (英宗) [khuyết năm], Giao Chỉ (交阯) đến xin trả con của Nùng Tông Đán (儂宗旦) là Nhật Tân (日新) và muốn lấy đất các động Ôn Muộn (溫悶洞).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Anh Tông bản kỷ (英宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Đầu năm Trị Bình (治平) (khoảng năm 1064), Tri Quế Châu Lục Thân (陸詵) tâu rằng, Giao Châu đến cầu xin cho con của Nùng Tông Đán (儂宗旦) là Nhật Tân (日新) về và muốn lấy đất các động Ôn Muộn (溫悶洞). Đế hỏi Giao Chỉ bắt đầu cắt cứ từ năm nào, phụ thần thưa rằng: "Từ năm Chí Đức (至德) thời Đường (năm 756–758) đổi làm An Nam đô hộ phủ. Năm Trinh Minh (貞明) thời Lương (năm 1015–1021), thổ hào Khúc Thừa Mỹ (曲承美) độc chiếm đất này." Hàn Kỳ (韓琦) nói: "Trước kia vì Lê Hoàn (黎桓) phản mệnh, Thái Tông sai tướng thảo phạt nhưng không phục, sau sai sứ chiêu dụ mới bắt đầu thần phục. Giao Châu đường núi hiểm hóc hẻo lánh, nhiều sương mù ẩm thấp khí độc, dù có lấy được đất đó cũng e không giữ được." '''Năm Trị Bình (治平) thứ 4 (năm 1067), tháng 2 ngày Mậu Tý, tiến phong Giao Chỉ quận vương Lý Nhật Tôn (李日尊) làm Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Anh Tông bản kỷ (英宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Thần Tông lên ngôi, tiến phong Nhật Tôn làm Nam Bình Vương. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 1 (năm 1068) thời Thần Tông, gia phong Giao Chỉ quận vương chức Khai phủ nghi đồng tam ty.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 2 (năm 1069), tháng 9 ngày Giáp Tý mồng 1, Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1069) dâng biểu nói rằng: "Nước Chiêm Thành (占城國) đã lâu thiếu lễ triều cống, thần đích thân soái binh thảo phạt, bắt sống vua nước đó." Chiếu lấy sứ giả của họ là Quách Sĩ An (郭士安) làm Lục giá phó sứ, Đào Tông Nguyên (陶宗元) làm Nội điện sùng ban. Nhật Tôn (日尊) tự xưng đế ở nước mình, chiếm xưng hiệu "Pháp thiên ứng vận Sùng nhân Chí đạo Khánh thành Long tường Anh vũ Duệ văn Tôn đức Thánh thần Hoàng đế" (法天應運崇仁至道慶成龍祥英武睿文尊德聖神皇帝), tôn Công Uẩn (公蘊) làm Thái Tổ Thần Vũ Hoàng đế (太祖神武皇帝), quốc hiệu Đại Việt (大越), cải nguyên Bảo Tượng (寶象), lại đổi thành Thần Vũ (神武). '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 3 (năm 1070), năm này Giao Chỉ vào cống.''' Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 5 (năm 1072), tháng 3 ngày Giáp Ngọ, Nhật Tôn (日尊) chết, sai sứ đến điếu tặng.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 5 (năm 1072) tháng 3, Nhật Tôn (日尊) mất. Mệnh cho Quảng Tây chuyển vận sứ Khang Vệ (康衛) làm Điếu tặng sứ, trả lại các châu huyện đã chiếm. Chiếu đáp rằng: "Khanh vỗ về vùng Nam Giao, đời đời nhận vương tước, thế mà lại bội đức trái mệnh, trộm đánh phá thành biên, bỏ mưu đồ trung thuận của tổ khảo, khiến triều đình phải dấy binh thảo phạt. Quân đi vào sâu, thế quẫn mới chịu quy hàng, xét tội trạng đó lẽ ra phải tước bỏ phong hào. Nay sai sứ tu sửa triều cống, dâng chương tỏ vẻ cung kính, xem kỹ lời lẽ thấy rõ sự hối cải. Trẫm vỗ về vạn quốc, không phân biệt xa gần, nhưng vì dân hai châu Ung, Khâm bị bắt sang nơi nóng nực, lâu ngày mất quê hương, đợi khi trả hết người về giới hạn tỉnh thì sẽ đem đất Quảng Nguyên (廣源) ban cho Giao Châu." Đầu năm Càn Đức (乾德) (năm 1077), giao ước trả lại quan lại 3 châu khoảng 1.000 người, nhưng lâu ngày chỉ trả được 221 người dân. Đàn ông từ 15 tuổi trở lên đều xăm lên trán chữ "Thiên tử binh" (天子兵), từ 20 tuổi trở lên xăm chữ "Đầu Nam triều" (投南朝), đàn bà xăm tay trái chữ "Quan khách" (官客). Dùng thuyền chở đi và trát bùn kín cửa sổ, bên trong thắp đèn nến, mỗi ngày chỉ đi khoảng 10 đến 20 dặm thì dừng, lại giả làm tiếng trống canh báo giờ, phàm trải vài tháng mới tới nơi, mục đích là để đánh lừa rằng đường biển rất xa xôi. Thuận Châu (順州) nằm sâu ở phía Nam, đặt lính đồn trú trấn giữ, bị nhiễm khí độc sương mù, nhiều người bệnh chết. Đào Bật (陶弼) cũng mất tại nhiệm sở, triều đình biết đất đó vô dụng, bèn đem toàn bộ 4 châu 1 huyện trả lại. Tuy nhiên Quảng Nguyên vốn thuộc quyền kiềm chế của Ung Quản (邕管), vốn không phải đất của Giao Chỉ. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm thứ 5 (năm 1072), Nhật Tôn (日尊) chết, con là Càn Đức (乾德) nối ngôi, đến báo tang. Chiếu sai sứ điếu tặng, trao cho Càn Đức tập phong như cũ." '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 6 (năm 1073), tháng 3 ngày Giáp Tý, Giao Châu đến cống.''' Xét theo ''Tiêu Chú truyện (蕭注傳)'': Đầu năm Hy Ninh (熙寧), dùng chức Lễ tân sứ Tri Ninh Châu. Trong thất bại của Lý Tín (李信) ở Hoàn Khánh, các thành đều đóng cửa cố thủ, duy Chú mở cửa đêm yến tiệc như thường. Khôi phục chức Cáp môn sứ, quản cán binh mã Lân Phủ, Chú từ chối rằng: "Thân vốn là thư sinh, giỏi việc vỗ về thu nạp, không thạo chiến đấu, sợ không hoàn thành việc." Bấy giờ có người nói người Giao bị thua ở Chiêm Thành, quân chưa đầy 1 vạn, có thể đánh lấy được. Bèn lấy Chú làm Tri Quế Châu. Khi vào chầu, Thần Tông hỏi kế công thủ, Chú thưa: "Xưa thần có nói thế, lúc đó binh các khe động một người đương được mười, khí giới sắc bén, người thân tín đều có thể chỉ huy. Nay hai điều đó không bằng xưa, người Giao đã tụ họp giáo huấn suốt 15 năm rồi, bảo là quân không đầy vạn là lời nói càn." Khi đến Quế Châu, các chủng tộc thủ lĩnh đều đến yết kiến, Chú niềm nở hỏi thăm đường sá núi sông, già trẻ bình an thế nào, đều được lòng họ, nên động tĩnh của Lý Càn Đức (李乾德) Chú đều biết hết. Tuy nhiên ai dâng kế chinh Nam, Chú thảy đều không nghe. Gặp lúc Thẩm Khởi (沈起) tự nhận việc bình Man, vua cho thay Chú. Xét theo ''Thẩm Khởi truyện (沈起傳)'': Năm thứ 6 (năm 1073) bái chức Thiên chương các đãi chế, Tri Quế Châu. Từ khi Vương An Thạch (王安石) nắm quyền, bắt đầu tìm kiếm biên công. Bấy giờ người nghị luận nói Giao Chỉ có thể lấy được, triều đình mệnh cho Tiêu Chú giữ Quế Châu kinh lược, Chú vốn là người bày mưu. Đến nay Chú lại cho là khó, Khởi nói: "Tiểu sửu phương Nam, không có lý gì không lấy được." Bèn lấy Khởi thay Chú. Khởi bèn nhất ý tấn công, mạo xưng mật chỉ, tự ý lệnh quan biên giới vào các khe động điểm tập thổ đinh làm bảo ngũ, trao cho trận đồ, bắt luyện tập theo mùa. Lại sai chỉ huy đốc thúc vận chuyển muối ra bờ biển, tập trung thủy quân mượn cớ dạy thủy chiến. Trước kia người Giao vẫn buôn bán với các châu huyện, nay thảy đều cấm đoán. Thế là Giao Chỉ càng thêm nghi ngại, tập hợp binh đinh mưu tính vào đánh phá. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 8 (năm 1075), tháng 11 ngày Mậu Dần, Giao Chỉ chiếm Khâm Châu (欽州). Ngày Giáp Thân, Giao Chỉ chiếm Liêm Châu (廉州). Tháng 12 ngày Tân Hợi, Thiên chương các đãi chế Triệu Tiết (趙卨) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ, Gia Châu phòng ngự sứ Lý Hiến (李憲) làm phó để thảo phạt Giao Chỉ.''' Xét theo ''Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 9 (năm 1076), tháng Giêng, Giao Chỉ chiếm Ung Châu (邕州), Tri châu Tô Giam (蘇緘) tử tiết. Tháng 2, lấy Quách Quỳ (郭逵) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ. Tháng 12, đánh bại Giao Chỉ tại sông Phú Lương (富良江), Lý Càn Đức (李乾德) đầu hàng, bèn bãi binh về triều.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'': "Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 9 (năm 1076) mùa xuân tháng Giêng ngày Mậu Thìn, Giao Chỉ chiếm Ung Châu (邕州), Tri châu Tô Giam (蘇緘) tử tiết. Ngày Kỷ Mão, Hạ Khê Châu thứ sử Bành Sư Án (彭師晏) cùng Thiên Tứ Châu ra hàng. Ngày Canh Thìn, sai sứ tế Nam Nhạc, Nam Hải, cáo việc chinh phạt phương Nam. Ngày Tân Tỵ, truy tặng Tô Giam chức Phụng quốc quân tiết độ sứ, thụy là Trung Dũng, lấy con là Tử Nguyên làm Tây đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu. Tháng 2 ngày Mậu Tý, Tuyên huy Nam viện sứ Quách Quỳ (郭逵) làm An Nam đạo Chiêu thảo sứ, bãi chức Lý Hiến, lấy Triệu Tiết (趙卨) làm phó. Chiếu cho Chiêm Thành, Chân Lạp (真臘) hợp sức đánh Giao Chỉ. Tháng 4 ngày Giáp Thân, cấp cáo thân trống tên giao cho đạo An Nam để chiêu hàng thưởng công. Tháng 5 ngày Nhâm Thân, chiếu các quân An Nam qua lĩnh có người bệnh thì nơi đó phải hộ trì chữa trị. Tháng 6 ngày Đinh Hợi, chiếu các tướng lại An Nam xem quân sĩ có ai bệnh, mỗi tháng phải báo số lượng. Tháng 7, hành doanh An Nam đóng tại Quế Châu, Quách Quỳ sai Kiềm hạt Hòa Bân (和斌) đốc thúc thủy quân vượt biển từ Quảng Đông vào, các quân từ Quảng Nam vào. Tháng 11 ngày Ất Hợi, vì tướng sĩ hành doanh An Nam bệnh dịch, sai Đồng tri Thái thường lễ viện Vương Tồn (王存) cầu đảo ở Nam Nhạc, sai trung sứ lập đạo trường cầu phúc. Tháng 12 ngày Bính Tuất, Ngụy Quan sát sứ Giao Chỉ là Lưu Kỷ (劉紀) đầu hàng. Ngày Quý Mão, Quách Quỳ đánh bại Giao Chỉ tại sông Phú Lương (富良江), bắt được Ngụy Thái tử Hồng Chân (洪真). Lý Càn Đức (李乾德) sai người dâng biểu đến quân môn xin hàng, Quỳ bèn bãi binh về triều." Xét theo ''Thẩm Khởi truyện (沈起傳)'': "Tô Giam làm Tri Ung Châu, gửi thư cho Khởi xin dừng việc bảo giáp, bãi vận tải thủy, thông thương buôn bán. Khởi không nghe, hặc tội Giam ngăn trở bàn nghị. Khởi vì việc nghị bàn biên giới mà bị bãi chức, mệnh cho Lưu Di (劉彝) thay thế, Lưu Di trấn giữ Quảng Châu thường ngăn chặn biểu sớ của họ. Thế là người Giao nghi sợ, dẫn quân phạm cảnh, liên tiếp hạ 4 châu Liêm, Bạch, Khâm, Ung, số người chết đến hàng chục vạn. Sự việc tâu lên, biếm Khởi làm Đoàn luyện sứ, an trí tại Dĩnh Châu, sau dời sang Việt Châu, lại dời sang Tú Châu rồi mất." '''Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 10 (năm 1077), tháng 3, khôi phục các châu Quảng Nguyên (廣源), Tô (蘇), Mậu (茂), lấy việc Giao Chỉ đầu hàng mà ân xá Quảng Nam Đông lộ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'': Năm Hy Ninh thứ 10 (năm 1077) tháng 3 "ngày Bính Ngọ, vì khôi phục các châu Quảng Nguyên, Tô, Mậu, quần thần dâng biểu chúc mừng. Xá tội cho tù phạm ở Quảng Châu một bậc, tội đồ trở xuống đều tha. Ban tiền cho các quân hành doanh, gia đình dân chúng có người đi phục dịch được cứu tế. Đổi Quảng Nguyên Châu làm Thuận Châu (順州), xá tội cho Lý Càn Đức (李乾德), lấy Quách Quỳ phán Đàm Châu, Triệu Tiết tri Quế Châu. Ngày Kỷ Dậu, vì Giao Chỉ hàng, xá cho tù phạm bị giam ở Quảng Nam Đông lộ, Kinh Hồ Nam lộ, còn lại đều giảm một bậc, tội đồ trở xuống đều tha. Tháng 7 ngày Ất Hợi, Quách Quỳ vì thua trận ở An Nam, bị biếm làm Tả vệ tướng quân." '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 1 (năm 1078), tháng 2 ngày Mậu Thìn, xuống chiếu xá tội cho An Nam chiến trào Đô giám Dương Tòng Tiên (楊從先) và những người khác, vẫn luận công ban thưởng. Tháng 9 ngày Quý Dậu, Giao Chỉ (交阯) đến cống. Ngày Quý Mùi, Lý Càn Đức (李乾德) dâng biểu cầu xin trả lại các châu Quảng Nguyên (廣源), vua xuống chiếu không cho.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 2 (năm 1079), mùa đông tháng 10 ngày Mậu Thân, Giao Chỉ (交阯) trả lại những dân cư đã bắt, xuống chiếu lấy Thuận Châu (順州) ban cho nước đó.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 5 (năm 1082), tháng 6 ngày Nhâm Thân, Giao Chỉ (交阯) dâng 2 con tê giác thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 5 (năm 1082), "dâng 2 con voi thuần, 100 chiếc sừng tê ngà voi." (Ghi chú: Năm này việc dâng tê giác hay voi giữa Bản kỷ và Truyện có khác biệt, nay xin lưu lại cả hai). '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 7 (năm 1084), mùa đông tháng 10 ngày Mậu Tử, xuống chiếu phân định ranh giới Giao Chỉ (交阯), lấy 6 huyện 2 động ban cho nước đó.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Thần Tông bản kỷ (神宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 6 (năm 1083), lấy cớ truy bắt Nùng Trí Hội (儂智會) mà xâm phạm Quy Hóa Châu (歸化州), lại sai đại thần là Lê Văn Thịnh (黎文盛) đến Quảng Tây (廣西) biện lý ranh giới Thuận An (順安), Quy Hóa (歸化). Kinh lược sứ Hùng Bản (熊本) sai Tả Giang tuần kiểm Thành Trác (成卓) cùng bàn thảo, Văn Thịnh xưng là bồi thần, không dám tranh chấp gắt gao. Vua xuống chiếu khen Văn Thịnh có thể tuân theo ý định cung thuận của Càn Đức (乾德), ban cho bào đai cùng 500 xấp lụa, bèn lấy 6 huyện Bảo Lạc (保樂) cùng 2 động Túc Tang (宿桑) ở ngoài 8 ải ban cho Càn Đức. Xét theo ''Hùng Bản truyện (熊本傳)'': Bản làm Tri Quế Châu, thám tử báo người Giao năm sau sẽ vào đánh, sứ giả cũng khẳng định lời đó, vua xuống chiếu hỏi Bản, Bản thưa: "Sứ giả đang đi trên đường sao biết được việc này? Cứ cho là có mưu đồ, sao lại tự mình biết trước được?" Quả nhiên sau đó lời báo là sai. Lúc bấy giờ đã lấy Thuận Châu ban cho Lý Càn Đức (李乾德), nhưng ranh giới chưa chính thức định rõ, người Giao nhân đó thường xuyên quấy nhiễu đất Vật Dương (勿陽) và đuổi Nùng Trí Hội (儂智會). Trí Hội đến cầu cứu binh viện, Bản gửi hịch hỏi rõ sự tình, Càn Đức thu quân tạ lỗi, Bản nhân đó xin lấy đất hoang không có cỏ mọc ở 8 động Túc Tang (宿桑) ban cho, phương Nam từ đó yên ổn. Kẻ nghị luận cho rằng Bản bỏ 8 động là thất mưu, bèn bị tước 1 cấp quan. '''Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 8 (năm 1085), tháng 3 ngày Mậu Tuất, Thần Tông băng hà, Thái tử lên ngôi Hoàng đế. Tháng 4 ngày Giáp Tuất, gia phong cho Lý Càn Đức (李乾德) chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'': Triết Tông (哲宗) lên ngôi, gia chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 1 (năm 1086) thời Triết Tông (哲宗), Giao Chỉ (交阯) dâng biểu cầu xin đất nhưng không cho.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Khoảng năm Nguyên Hữu (元祐), lại nhiều lần dâng biểu cầu xin đất ở các động Vật Ác (勿惡), Vật Dương (勿陽), vua xuống chiếu không cho. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 2 (năm 1087), mùa hạ tháng 4 ngày Bính Tuất, Giao Chỉ (交趾) vào cống. Mùa thu tháng 7, tiến phong Lý Càn Đức (李乾德) làm Nam Bình Vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交趾本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1087) sai sứ vào cống, tiến phong Nam Bình Vương. Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 2 (năm 1087), Tri Dĩnh Xương phủ Hàn Chẩn (韓縝) tâu rằng: "Giao Chỉ là nước nhỏ, sứ giả của họ sắp đến cảnh giới, thần từng là cận thần chấp chính, khó lòng dùng lễ ngang hàng tiếp đón." Theo cố sự năm Nguyên Phong (元豐), dùng binh quan đón tiếp, sai Thông phán tiễn đưa, Sứ và Phó sứ đến phủ thì việc khao đãi do binh quan chủ trì, xin hãy theo lệ cũ đó. Lại xuống chiếu các quận đi qua, hễ là cựu Tể tướng hoặc quan Chấp chính làm Tri phán phủ cũng đều theo lệ này. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 6 (năm 1091), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Hữu (元祐) thứ 7 (năm 1092), tháng 8 ngày Ất Hợi, các tướng lại trước bị rơi vào Giao Chỉ là Tô Tá (蘇佐) cùng 17 người tự thoát thân trở về.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Thánh (紹聖) thứ 2 (năm 1095), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Triết Tông bản kỷ (哲宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Nguyên Phù (元符) thứ 3 (năm 1100), tháng Giêng ngày Kỷ Mão, Triết Tông băng hà, Hoàng thái hậu triệu Đoan Vương vào nối ngôi Hoàng đế. Tháng 2 ngày Nhâm Dần, lấy Nam Bình Vương Lý Càn Đức (李乾德) làm Kiểm hiệu Thái sư.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Đại Quan (大觀) thời Huy Tông (徽宗) [khuyết năm], Giao Chỉ (交阯) đến cống, cầu xin được mua sách, vua cho phép.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Thời Huy Tông liên tiếp gia phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu Thái sư. Đầu năm Đại Quan (大觀), sứ giả triều cống đến kinh sư, cầu xin được mua các loại sách vở. Cơ quan hữu trách thưa rằng pháp luật không cho phép. Vua xuống chiếu khen ngợi lòng mộ nghĩa của họ, trừ các loại sách cấm như: bói toán (bốc phệ), âm dương lịch toán, thuật số, binh thư, sắc lệnh, thời vụ, biên cơ (việc biên phòng), địa lý ra, còn lại các sách khác đều cho phép mua. '''Năm Chính Hòa (政和) thứ 1 (năm 1111), Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Chính Hòa (政和) [khuyết năm], nới lỏng lệnh cấm "hòa thị" (mua bán trao đổi).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Cuối năm Chính Hòa (政和), lại có chiếu rằng: "Vì người Giao từ thời Hy Ninh (熙寧) đến nay hoàn toàn không gây chuyện, đặc cách nới lỏng lệnh cấm hòa thị." '''Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 1 (năm 1119), gia phong cho Lý Càn Đức (李乾德) chức Thủ Ti vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Huy Tông bản kỷ (徽宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127) thời Cao Tông (高宗), xuống chiếu không được thu nhận kẻ đào tẩu từ An Nam (安南).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127), "xuống chiếu cho Quảng Tây Kinh lược An phủ ty, nghiêm cấm dân biên giới không được thu nhận kẻ đào tẩu từ An Nam (安南), đó là theo lời thỉnh cầu của chủ nước ấy là Càn Đức (乾德)." Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127), Càn Đức (乾德) dâng biểu xin cấm binh lính biên thùy bản đạo trốn vào đất tỉnh thuộc. Chiếu lệnh cho Quảng Tây Kinh lược ty phải ước thúc." '''Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 4 (năm 1130), tháng 12 ngày Canh Ngọ, An Nam (安南) xin vào cống, vua khước từ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1130), An Nam (安南) vào cống, chiếu lệnh khước từ những phương vật xa hoa hào nhoáng, ban sắc thư và hậu đãi báo đáp để tỏ ý hoài nhu (vỗ về). Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': "Năm thứ 4 (năm 1130) vào cống, vì việc biên thùy chưa yên, nên miễn cho sứ giả đến cửa khuyết. Những phương vật tiến dâng, trừ thứ xa hoa không nhận, còn lại thì giao nhận tại biên giới, theo lệ cũ của Đề hình ty bản lộ mà tính giá ban thưởng trả về. Biểu sớ thì chuyển đệ về kinh, lệnh Học sĩ viện giáng sắc thư trả lời. Từ đó về sau, mỗi khi vào cống đều thực hiện theo cách này." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 2 (năm 1132), Lý Càn Đức (李乾德) chết, phong cho con là Dương Hoán (陽煥) làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 2 (năm 1132), Càn Đức (乾德) mất, truy tặng Thị trung, truy phong Nam Việt vương (南越王). Con là Dương Hoán (陽煥) nối ngôi, trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), ban hiệu Thôi thành Thuận hóa công thần." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 8 (năm 1138), Lý Dương Hoán (李陽煥) chết, phong con là Thiên Tộ (天祚) làm Giao Chỉ quận vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'': Năm thứ 8 (năm 1138), tháng 3 ngày Kỷ Hợi, lấy Lý Thiên Tộ (李天祚) làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1138), Dương Hoán (陽煥) mất, lấy Chuyển vận phó sứ Chu Phất (朱芾) làm Điếu tế sứ. Truy tặng Dương Hoán chức Khai phủ nghi đồng tam ty, truy phong Nam Bình vương (南平王). Con là Thiên Tộ (天祚) nối ngôi, được ban chức quan theo đúng chế độ sơ phong của cha." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 9 (năm 1139), xuống chiếu "không nhận đồ cống của Triệu Trí Chi (趙智之)".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm thứ 9 (năm 1139), xuống chiếu cho Quảng Tây Sư ty không được nhận đồ nhập cống của Triệu Trí Chi (趙智之). Thuở trước, Càn Đức (乾德) có người con của vợ lẽ trốn sang Đại Lý (大理), đổi họ tên thành Triệu Trí Chi (趙智之), tự xưng Bình vương. Nghe tin Dương Hoán (陽煥) chết, Đại Lý tiễn về để tranh ngôi với Thiên Tộ (天祚), xin vào nộp cống và muốn mượn binh để đưa về nước, vua không cho." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 14 (năm 1144), tháng 6 ngày Mậu Tý, nước An Nam (安南) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 16 (năm 1146), tháng 6, An Nam (安南) dâng voi thuần.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 17 (năm 1147), ban cho Lý Thiên Tộ (李天祚) bộ yên ngựa.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 17 (năm 1147), "xuống chiếu cho Văn tư viện chế tạo bộ yên ngựa (an tiền) để ban cho Thiên Tộ (天祚)." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 21 (năm 1151), gia phong hiệu "công thần" cho Thiên Tộ (天祚).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 21 (năm 1151), "liên tiếp gia phong cho Thiên Tộ (天祚) các hiệu Sùng nghĩa Hoài trung Bảo tín Hương đức An viễn Thừa hòa công thần." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 25 (năm 1155), tháng 6, An Nam (安南) vào cống. Tháng 7 ngày Giáp Tuất, phong Lý Thiên Tộ (李天祚) làm Nam Bình vương (南平王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 25 (năm 1155), "xuống chiếu tiếp đãi sứ giả An Nam (安南) tại dịch Hoài Viễn (懷遠驛), ban yến tiệc để tỏ rõ sự đãi ngộ đặc biệt. Tiến phong Thiên Tộ làm Nam Bình vương (南平王), ban bộ áo mặc (tập y), đai vàng và yên ngựa." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 26 (năm 1156), tháng 8 ngày Canh Dần, nước An Nam (安南) sai sứ vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 26 (năm 1156), "mệnh cho Hữu ty Lang trung Uông Ứng Thần (汪應辰) khoản đãi sứ giả An Nam tại vườn Ngọc Tân (玉津園). Tháng 8, Thiên Tộ sai bọn Lý Quốc (李國) đem vàng ngọc, trầm hương, lông chim trả (thúy vũ), ngựa tốt và voi thuần đến cống." Chiếu gia phong Thiên Tộ chức Kiểm hiệu Thái sư, tăng thêm thực ấp. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 27 (năm 1157), tháng 3 ngày Đinh Hợi, xuống chiếu "đốt lông chim trả (thúy vũ) của Giao Chỉ (交阯) dâng nộp ở nơi đường cái thông thoáng (thông cù)".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cao Tông bản kỷ (高宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 31 (năm 1161), An Nam dâng voi thuần, xuống chiếu lệnh sau này đừng dâng nữa.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Tháng Giêng năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 31 (năm 1161), An Nam dâng voi thuần. Đế phán: "Man di cống phương vật là chức trách của họ, nhưng trẫm không muốn vì thú lạ mà làm lao nhọc người phương xa. Hãy lệnh cho quan Soái thần cáo dụ rằng, từ nay không cần dâng voi thuần làm đồ cống nữa." '''Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 32 (năm 1162), mùa đông tháng 10 ngày Kỷ Sửu, An Nam đô hộ, Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) đều được tăng thêm thực ấp và thực phong.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Lễ chí (禮志)'': Năm thứ 32 (năm 1162), Hiếu Tông (孝宗) đăng cơ, xuống chiếu rằng: "Từ những năm gần đây liên tiếp có nước ngoài vào cống, Thái thượng Hoàng đế (Cao Tông) vì khiêm nhường nên không nhận. Huống hồ trẫm đức mỏng tài hèn sao gánh vác nổi. Từ nay nước nào muốn triều cống, lệnh cho châu quân nơi đó dùng lý lẽ dụ bảo họ trở về, không được tâu lên." '''Năm Long Hưng (隆興) thứ 2 (năm 1164) đời Hiếu Tông (孝宗), tháng 9 ngày Ất Mùi, Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': "Năm Long Hưng (隆興) thứ 2 (năm 1164), Thiên Tộ (天祚) sai Doãn Tử Tư (尹子思), Đặng Thạc Nghiễm (鄧碩儼) dâng cống vàng bạc, ngà voi và các loại hương vật." '''Năm Càn Đạo (乾道) thứ 6 (năm 1170), gia phong hiệu công thần cho Thiên Tộ (天祚).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Càn Đạo (乾道) thứ 6 (năm 1170), liên tiếp gia phong cho Thiên Tộ (天祚) các hiệu "Quy nhân Hiệp cung Kế mỹ Tuân độ Lý chính Chương thiện công thần". Hoàng đế từ khi lên ngôi đã nhiều lần khước từ sứ giả triều cống của An Nam (安南). '''Năm Càn Đạo (乾道) thứ 9 (năm 1173), tháng 12 ngày Tân Mùi, Giao Chỉ (交阯) vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1173), Thiên Tộ (天祚) lại sai Doãn Tử Tư (尹子思), Lý Bang Chính (李邦正) xin vào cống. Đế khen ngợi lòng thành nên cho phép, chiếu tiếp đãi tại dịch Hoài Viễn (懷遠驛). Quảng Nam Tây lộ Kinh lược An phủ sứ Phạm Thành Đại (范成大) tâu: "Bản ty kinh lược chư Man, An Nam (安南) nằm trong diện được vỗ về, bồi thần của họ sao có thể hành lễ ngang hàng với vương quan Trung Quốc. Khoảng năm Chính Hòa (政和), sứ giả vào cảnh giới đều phải làm lễ đình tham (hành lễ tại sân), quan ta không đáp lễ lại, nên tuân theo chế độ cũ thì về lễ mới là đúng." Triều đình theo lời thỉnh cầu đó. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), tháng Giêng ngày Bính Ngọ, nhân việc Giao Chỉ vào cống, xuống chiếu ban tên nước là An Nam (安南), phong Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) làm An Nam quốc vương (安南國王).''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Tháng 2 năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), tiến phong Thiên Tộ (天祚) làm An Nam quốc vương (安南國王), gia hiệu "Thủ khiêm công thần". Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Tháng Giêng năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (năm 1174), dẫn kiến An Nam tiến phụng Phó sứ. Tháng 2, chiếu rằng việc An Nam vào cống có ý lễ đáng khen, lệnh hữu ty thảo luận điển cố ban tên nước để tâu lên. Thế là đặc ban tên nước là An Nam (安南), xuống chế cho Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (李天祚) vẫn giữ nguyên các chức quan cũ, phong làm An Nam quốc vương (安南國王), vẫn gia thêm hiệu "Thủ khiêm công thần". Thượng vì Thiên Tộ đã tại vị 40 năm nên hậu đãi lễ phong làm nước An Nam vậy. Trước đây các chương tấu chuyển đệ chỉ gọi là "An Nam đạo" (安南道), sau khi gia phong, họ dần tự tôn đại, văn thư xưng là "Quốc" (Quốc gia), không thể sửa lại được nữa. Viên quan áp bạn (đi kèm) sứ An Nam là Lương Ngạn (梁衎) tâu: "An Nam vào cống, các châu huyện đi qua phải điều động phu dịch rất nhiều. Từ Tĩnh Giang (靜江) theo đường thủy có thể đến Dung Châu (容州), lại từ Bắc Lưu theo đường bộ 120 dặm đến Uất Lâm (鬱林), từ châu Uất Lâm theo đường thủy có thể đến Quảng Châu (廣州). Các chặng này đều có thuyền muối khứ hồi, xe bò vận muối có thể thuê được; từ Liêm Châu (廉州) đi đường biển 1 ngày là tới Giao Chỉ (交阯). Như vậy từ Tĩnh Giang đi về phía Nam hơn 2.000 dặm, có thể không cần dùng đến 1 người phu dịch nào mà vẫn xong việc." Chiếu lệnh cho quan Soái thần các lộ xét kỹ hành trình. Sau đó, bọn Doãn Tử Tư (尹子思) cho rằng vào hạ nước dâng cao, xin theo lệ cũ đi đường Khâm Châu (欽州) để về. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2 (năm 1175), tháng 8 ngày Giáp Tý, ban ấn "An Nam quốc vương".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Giao Chỉ truyện (交阯傳)'' đều chép như nhau. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 2 (năm 1175), nước An Nam xin ấn, lấy 6 chữ "An Nam quốc vương chi ấn" (安南國王之印) làm văn tự trên ấn mà ban cho. Ấn đó phỏng theo mẫu ấn của Khu mật viện và Thượng thư tỉnh, vuông 2 tấc, vẫn cấp kèm bài bài (thẻ bài), đều đúc bằng đồng, mạ vàng để trang trí. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 3 (năm 1176), tháng 5 ngày Quý Sửu, An Nam quốc vương Lý Thiên Tộ (李天祚) mất. Ngày Mậu Ngọ, sai sứ điếu tế.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1176), ban lịch năm mới cho nước An Nam. Thiên Tộ mất. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 3 (năm 1176), ban lịch cho nước An Nam. Hữu ty tâu rằng: "Thiên Tộ đã mất, con chưa có phong tước, muốn soạn 'Sắc thư ban cho嗣 tử (con nối dõi) nước An Nam là Long Cán (龍𣉙)'." Vua nghe theo. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 4 (năm 1177), tháng 3 ngày Nhâm Tử, xuống chiếu cho Lý Long Cán (李龍𣉙) tập phong làm An Nam quốc vương (安南國王).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1176) ban lịch cho nước An Nam. Thiên Tộ mất. Năm sau (năm 1177), con là Long Cán (龍𣉙) nối ngôi. Trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Quan sát Xử trí đẳng sứ, Đặc tiến Kiểm hiệu Thái úy, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc. Đặc phong An Nam quốc vương (安南國王), gia thêm thực ấp, vẫn ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần". Lời chế rằng: "Dựa vào nước vui để bắt đầu phong tước, đã theo lệ thế tập. Đạt đến bậc Chân vương mà ban mệnh, hà tất phải đợi thăng dần lên", ấy là để tỏ rõ lễ khác biệt vậy. Xét theo ''Văn hiến thông khảo (文獻通考)'': Năm thứ 4 (năm 1177) trao cho Long Cán (龍𣉙) chức tập tước. Theo lệ cũ, "vua nước đó mới lập thì phong Giao Chỉ quận vương, lâu sau mới tiến phong Nam Bình vương, khi chết thì truy tặng Thị trung, Nam Việt vương." '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 5 (năm 1178), dâng phương vật, dâng biểu tạ ơn.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 10 (năm 1083), tháng nhuận ngày Nhâm Dần, xuống chiếu khước từ việc An Nam dâng voi.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 9 (năm 1182), xuống chiếu khước từ voi do An Nam cống, vì cho rằng vật ấy vô dụng mà làm phiền dân, các vật khác cũng chỉ nhận 1/10 (10%). '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 12 (năm 1185), mùa xuân tháng Giêng ngày Kỷ Sửu, cấm muối Giao Chỉ (交阯) nhập vào đất tỉnh thuộc.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Hiếu Tông bản kỷ (孝宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 16 (năm 1189), liên tiếp gia phong cho Long Cán (龍𣉙) các hiệu "Thủ nghĩa Phụng quốc Lý thường Hoài đức công thần".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'' có ghi như vậy. '''Năm Thiệu Hy (紹熙) thứ 1 (năm 1190) thời Quang Tông (光宗), tháng 11 ngày Giáp Dần, An Nam vào cống.''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Quang Tông (光宗) lên ngôi, họ dâng biểu vào cống để chúc mừng. '''Năm Thiệu Hy (紹熙) thứ 5 (năm 1194), tháng 6 ngày Mậu Tuất, Hiếu Tông băng hà. Quang Tông vì bệnh không thể ra ngoài. Tháng 7 ngày Tân Dậu, thỉnh ý Thái hoàng thái hậu, nhận ngự phê cho Hoàng tử Gia Vương Khuếch (嘉王擴) lên ngôi Hoàng đế. Tháng 8 ngày Ất Mão, gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) hiệu "Tư trung công thần". Tháng 11 ngày Giáp Ngọ, lại gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán hiệu "Tế mỹ công thần".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Ninh Tông bản kỷ (寧宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 (năm 1200) thời Ninh Tông (寧宗), mùa đông tháng 10 ngày Canh Tử, lại gia phong An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) hiệu "Bảo tiết công thần".''' Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Triều Ninh Tông (寧宗) ban cho áo đai, khí vật, tiền lụa; liên tiếp gia phong các hiệu công thần "Cẩn độ Tư trung Tế mỹ Cần lễ Bảo tiết Quy nhân Sùng khiêm Hiệp cung" và tăng thực ấp vậy. '''Năm Gia Định (嘉定) thứ 5 (năm 1212), mùa hạ tháng 5 ngày Quý Dậu, An Nam quốc vương Lý Long Cán (李龍𣉙) mất, lấy con là Hạo Sảm (昊旵) làm An Nam quốc vương.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Ninh Tông bản kỷ (寧宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Gia Định (嘉定) thứ 5 (năm 1212), Long Cán (龍𣉙) mất, xuống chiếu lấy Quảng Tây Vận phán Trần Khổng Thạc (陳孔碩) làm Điếu tế sứ, đặc biệt truy tặng chức Thị trung. Theo đúng chế độ của An Nam quốc vương trước đây, cho con là Hạo Sảm (昊旵) tập phong tước vị, đồ ban tặng giống như chế độ lúc Long Cán mới được phong, vẫn ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa công thần". Về sau biểu tạ ơn không đến, bèn thôi không gia ân nữa. Hạo Sảm mất, không có con trai, lấy con gái là Chiêu Thánh (昭聖) nắm việc nước, rồi bị chồng là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) chiếm hữu. Nhà Lý làm chủ đất nước, từ Công Uẩn (公蘊) đến Hạo Sảm truyền được 8 đời, hơn 200 năm thì mất nước. '''Năm Đoan Bình (端平) thứ 2 (năm 1235) đời Lý Tông (理宗), tháng 11 ngày Mậu Tử, nước An Nam (安南) dâng phương vật.''' '''Năm Đoan Bình (端平) thứ 3 (năm 1236), tháng Giêng, ban tước phong, bộ áo mặc (tập y), đai vàng cho An Nam quốc vương. Tháng 10 ngày Bính Ngọ, nước An Nam dâng phương vật, xuống chiếu trao chức Kim tử Quang lộc đại phu, Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát đẳng sứ, ban bộ áo mặc, đai vàng bạc.''' Xét theo: Những điều trên đều ghi trong ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)''. '''Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 3 (năm 1243), mùa xuân tháng Giêng ngày Tân Sửu, xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), hiệu công thần cũ vốn được ban, nay đặc biệt tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義).''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 2 (năm 1242), xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), hiệu công thần vốn được ban là "Hiệu trung Thuận hóa Bảo tiết công thần", nay tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義). '''Năm Thuần Hựu (淳祐) thứ 11 (năm 1251), An Nam đến cống.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' không chép. Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': "Năm thứ 11 (năm 1251) lại đến cống." '''Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 5 (năm 1257), tháng 11 ngày Ất Sửu, khen ngợi và phủ dụ nước An Nam, ban cho đồ vàng, tiền lụa và trà quý.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 6 (năm 1258), tháng 9 ngày Giáp Dần, xuống chiếu cho rằng tình trạng của An Nam khó lường, lệnh phải siết chặt phòng thủ biên giới.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Bảo Hựu (寶祐) thứ 6 (năm 1258), xuống chiếu cho rằng tình hình An Nam khó dự đoán, lệnh phải tăng cường phòng bị biên cương. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 2 (năm 1261), tháng 11 ngày Giáp Tuất, nước An Nam dâng voi.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Cảnh Định (景定) thứ 2 (năm 1261), dâng 1 con voi. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 3 (năm 1262), tháng 6 ngày Canh Tuất, An Nam quốc vương Nhật Cảnh (日煚) dâng biểu xin cho thế tập. Xuống chiếu trao chức Kiểm hiệu Thái sư, An Nam quốc vương, tăng thực ấp. Con trai là Uy Hoảng (威晃) trao chức Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí sứ, Kiểm hiệu Thái úy kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương, Hiệu trung Thuận hóa công thần, vẫn ban đai vàng, khí vật, tiền lụa và yên ngựa.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1262), dâng biểu xin thế tập, chiếu cho Nhật Cảnh (日煚) thụ chức Kiểm hiệu Thái sư, An Nam quốc đại vương (安南國大王), tăng thực ấp. Con trai là Uy Hoảng (威晃) thụ chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Quan sát Xử trí sứ, Kiểm hiệu Thái úy kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương (安南國王), Hiệu trung Thuận hóa công thần, ban đai vàng, khí vật, tiền lụa và yên ngựa. '''Năm Cảnh Định (景定) thứ 5 (năm 1264), tháng 5 ngày Ất Mùi, nước An Nam dâng biểu tạ ơn, tiến dâng phương vật. Xuống chiếu khước từ, nhưng vẫn ban cho vàng lụa để khen ngợi lòng cung thuận.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Lý Tông bản kỷ (理宗本紀)'' đã dẫn. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 1 (năm 1265) đời Độ Tông (度宗), gia phong hiệu công thần cho vua An Nam, đồng thời ban đai vàng, yên ngựa và quần áo.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 1 (năm 1265), tháng 2, gia phong hiệu công thần cho An Nam quốc đại vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚), tăng thêm 2 chữ "An thiện" (安善); gia phong hiệu công thần cho An Nam quốc vương Trần Uy Hoảng (陳威晃), tăng thêm 2 chữ "Thủ nghĩa" (守義), đều ban cho đai vàng, yên ngựa và quần áo. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 2 (năm 1266), tháng 8 ngày Giáp Thân, nước An Nam sai sứ chúc mừng việc lên ngôi, dâng phương vật.''' Xét theo ''Lễ chí (禮志)'': Năm thứ 2 (năm 1266) lại dâng biểu tiến cống lễ vật. Ban cho 500 lạng vàng, 100 xấp lụa, giáng chiếu khen ngợi. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 5 (năm 1269), tháng 12 ngày Mậu Tử, xuống chiếu cho cha của An Nam quốc vương là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) và Quốc vương Trần Uy Hoảng (陳威晃) đều được tăng thêm thực ấp 1.000 hộ.''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Độ Tông bản kỷ (度宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 5 (năm 1269), xuống chiếu cho Quốc vương phụ Nhật Cảnh (日煚) và Quốc vương Uy Hoảng (威晃) được tăng thực ấp. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 8 (năm 1272), tháng 11 ngày Kỷ Tỵ, xuống chiếu: "Lễ Minh Đường hoàn tất, An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚) và Trần Uy Hoảng (陳威晃) mỗi người đều tăng thêm thực ấp 1.000 hộ, ban tặng roi, yên ngựa và các vật khác."''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Độ Tông bản kỷ (度宗本紀)'' và ''Giao Chỉ bản truyện (交阯本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1272), lễ Minh Đường hoàn tất, Nhật Cảnh (日煚) và Uy Hoảng (威晃) đều được tăng thực ấp, ban yên ngựa và các vật khác. '''Năm Hàm Thuần (咸淳) thứ 10 (năm 1274), tháng 11 ngày Đinh Dậu, gia phong cho An Nam quốc vương Trần Nhật Cảnh (陳日煚) hiệu "Ninh viễn công thần", con là Uy Hoảng (威晃) hiệu "Phụng chính công thần".''' Xét theo ''Tống sử (宋史) – Cung Tông bản kỷ (恭宗本紀)'' đã dẫn. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka99m8glc9?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] pxh03gv0xh4dhiu1h4f5ycvnvnvyf5o Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 092 114 71919 204597 2026-04-08T10:14:34Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 92''' | trước= [[../quyển 091|quyển 91]] | sau= [[../quyển 093|quyển 93]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 3== ===Nguyên=== '''Năm Hi…” 204597 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 92''' | trước= [[../quyển 091|quyển 91]] | sau= [[../quyển 093|quyển 93]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 3== ===Nguyên=== '''Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 7 (năm 1257) nhà Nguyên, mùa đông tháng 11, Ngột Lương Hợp Thai (兀良合台) đánh Giao Chỉ (交趾), đánh bại được, vào trong nước đó. Chủ An Nam (安南) là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) chạy ra hải đảo, quân Nguyên bèn rút về.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Hiến Tông bản kỷ (憲宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Nước An Nam, xưa là Giao Chỉ (交趾). Nhà Tần gộp thiên hạ, đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng Quận (象郡). Nhà Tần mất, hiệu úy Nam Hải là Triệu Đà (趙佗) đánh chiếm lấy. Nhà Hán đặt 9 quận, Giao Chỉ là một trong số đó. Sau có người con gái là Trưng Trắc (徵側) làm phản, vua Hán sai Mã Viện (馬援) bình định, lập cột đồng làm biên giới nhà Hán. Nhà Đường bắt đầu chia Lĩnh Nam (嶺南) làm hai đạo Đông - Tây, đặt chức Tiết độ, lập 5 phủ Quản, An Nam thuộc về đó. Nhà Tống phong Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) làm Giao Chỉ quận vương (交趾郡王), con là Liễn (璉) cũng làm Vương, truyền được 3 đời thì bị Lý Công Uẩn (李公蘊) đoạt lấy, bèn phong Công Uẩn làm Chủ. Nhà Lý truyền 8 đời đến Hạo Sảm (昊旵). Trần Nhật Cảnh (陳日煚) là rể của Hạo Sảm, bèn có được nước ấy. Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 3 (năm 1253) năm Quý Sửu, Ngột Lương Hợp Thai (兀良合台) theo Thế Tổ (世祖) bình định Đại Lý (大理). Thế Tổ về, lưu Ngột Lương Hợp Thai lại để đánh các bộ tộc di chưa phụ thuộc. Năm thứ 7 (năm 1257) năm Đinh Tỵ tháng 11, binh của Ngột Lương Hợp Thai đóng ở phía Bắc Giao Chỉ, trước tiên sai 2 sứ giả đến dụ hàng nhưng không thấy về. Bèn sai Triệt Triệt Đô (徹徹都) cùng các tướng mỗi người dẫn 1.000 quân, chia đường tiến binh, đến phía Bắc sông Thao (洮江) thuộc kinh đô An Nam, lại sai con là A Truật (阿術) dẫn quân đi tiếp ứng và dò xét hư thực. Người Giao cũng bày binh vệ đông đảo. A Truật sai quân về báo, Ngột Lương Hợp Thai đi gấp đôi đường tiến tới, lệnh cho Triệt Triệt Đô làm tiền phong, A Truật ở sau làm đoạn hậu. Tháng 12, hai quân hợp lại, người Giao kinh hãi, A Truật thừa cơ đánh bại thủy quân người Giao, bắt chiến hạm mang về. Ngột Lương Hợp Thai cũng phá được bộ binh của họ, lại cùng A Truật hợp công, đại bại quân Giao, bèn vào trong nước ấy. Nhật Cảnh (日煚) chạy ra hải đảo. Quân Nguyên tìm thấy các sứ giả sai đi trước đó trong ngục, bị dùng thanh tre chẻ lạt bó chặt vào người đến tận da thịt, khi mở trói thì 1 sứ giả đã chết, quân Nguyên nhân đó tàn phá (đồ thành) kinh đô. Quân ở lại 9 ngày, vì khí hậu nóng nực ẩm thấp nên bèn rút quân. Lại sai 2 sứ giả đến chiêu dụ Nhật Cảnh về hàng. Nhật Cảnh trở về thấy quốc đô đã bị tàn phá, hết sức phẫn nộ, bèn trói 2 sứ giả sai người đưa trả lại. Xét theo ''Ngột Lương Hợp Thai bản truyện (兀良合台本傳)'': Năm thứ 7 (năm 1257) mùa thu tháng 9, sai sứ chiêu hàng Giao Chỉ, không thấy trả lời. Mùa đông tháng 10, tiến binh ép sát biên cảnh, chủ nước ấy là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) cách sông dàn tượng binh và bộ binh rất thịnh. Ngột Lương Hợp Thai chia quân làm 3 đội vượt sông, Triệt Triệt Đô từ hạ lưu vượt trước, đại quân ở giữa, Phò mã Hoài Đô (懷都) cùng A Truật (阿術) ở sau. Lúc đó trao phương lược cho Triệt Triệt Đô rằng: "Quân ngươi đã sang sông thì chớ vội đánh, chúng tất sẽ đến đón đánh ta, Phò mã sẽ cắt đứt phía sau chúng, ngươi đợi tiện nghi thì cướp lấy thuyền của chúng, nếu quân Man tan chạy, đến sông không có thuyền tất sẽ bị ta bắt hết." Khi quân đã lên bờ, Triệt Triệt Đô liền buông quân đánh. Triệt Triệt Đô trái lệnh, quân Man tuy đại bại nhưng vẫn kịp nhảy lên thuyền chạy thoát. Ngột Lương Hợp Thai giận nói: "Tiền phong trái tiết độ của ta, quân có thường hình!" Triệt Triệt Đô sợ hãi, uống thuốc độc chết. Ngột Lương Hợp Thai vào Giao Chỉ, định kế đóng lâu dài, quân lệnh nghiêm túc, mảy may không phạm. Qua 7 ngày, Nhật Cảnh xin nội phụ, bèn bày tiệc rượu khao lớn quân sĩ, rồi rút quân về thành Hạp Xích (柙赤城). '''Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 8 (năm 1258), tháng 2. Trần Nhật Cảnh (陳日煚) truyền ngôi cho con trưởng là Quang Bính (光昺). Quang Bính sai rể cùng người trong nước đem phương vật đến kiến diện. Ngột Lương Hợp Thai đưa sứ đoàn đến hành tại.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1258) năm Mậu Ngọ tháng 2. Nhật Cảnh (日煚) truyền ngôi cho con trưởng là Quang Bính (光昺), cải nguyên Thiệu Long (紹隆). Mùa hạ, Quang Bính sai rể cùng người trong nước mang phương vật đến kiến diện. Ngột Lương Hợp Thai đưa đến hành tại, lại riêng sai Nột Lạt Đinh (訥剌丁) đến dụ rằng: "Xưa ta sai sứ thông hảo, bọn ngươi bắt giữ không trả, ta vì thế mới có cuộc đem quân năm ngoái. Vì chủ nước ngươi chạy ra đồng nội, ta lại sai 2 sứ giả chiêu an về nước, ngươi lại trói trả sứ giả của ta. Nay đặc biệt sai sứ đến khai dụ, nếu bọn ngươi thật lòng nội phụ thì Quốc chủ phải thân hành tới. Nếu vẫn không hối cải thì phải báo rõ cho ta biết." Quang Bính nói: "Nước nhỏ thành tâm thờ nước lớn, thì nước lớn đối đãi thế nào?" Nột Lạt Đinh về báo. Lúc đó Chư vương Bất Hoa (不花) trấn thủ Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai tâu với Vương, lại sai Nột Lạt Đinh đến dụ, bảo sai sứ cùng đi. Quang Bính bèn nộp khoản, lại nói: "Đợi khi ban đức âm, sẽ lập tức cử con em sang làm con tin." Vương mệnh cho Nột Lạt Đinh cưỡi ngựa trạm vào tâu lên. '''Năm Thế Tổ (世祖) Trung Thống (中統) thứ 1 (năm 1260), tháng 12, lấy Lễ bộ Lang trung Mạnh Giáp (孟甲), Lễ bộ Viên ngoại lang Lý Văn Tuấn (李文俊) làm sứ giả đi An Nam, Đại Lý (大理).''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm Trung Thống (中統) thứ 1 (năm 1260) tháng 12, "lấy Mạnh Giáp làm Lễ bộ Lang trung sung chức Nam dụ sứ, Lý Văn Tuấn làm Lễ bộ Viên ngoại lang sung chức Phó sứ, cầm chiếu đến dụ. Đại lược rằng: 'Tổ tông dùng võ công sáng nghiệp, văn hóa chưa tu sửa, trẫm nối nghiệp lớn, đổi mới cái cũ, thu phục muôn phương. Vừa hay An phủ sứ trấn thủ nước Đại Lý là Nhiếp Chỉ Mạch Đinh cưỡi ngựa trạm tâu lên, nghe nước ngươi có lòng thành hướng phong mộ nghĩa, nghĩ khanh xưa ở tiền triều đã từng thần phục, dâng cống phương vật từ xa, nên ban chiếu chỉ này. Dụ quan lại sĩ thứ nước ngươi: Phàm điển lễ áo mũ, phong tục đều y theo chế độ cũ của bản quốc. Đã răn bảo biên tướng không được tự ý dấy binh xâm phạm biên cương, làm loạn nhân dân ngươi. Quan lại sĩ thứ nước khanh hãy cứ yên ổn trị lý như cũ'. Lại dụ bọn Mạnh Giáp rằng: Nếu Giao Chỉ cử con em vào chầu, nên đối đãi tử tế, chớ để nóng lạnh thất thường mà thêm phần khổ cực." '''Năm Trung Thống (中統) thứ 2 (năm 1261), mùa hạ tháng 7 ngày Nhâm Ngọ, sai Nạp Tốc Lạt Đinh (納速剌丁), Mạnh Giáp (孟甲) làm sứ giả đi An Nam.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1261), Mạnh Giáp cùng những người khác trở về, Quang Bính (光昺) sai người trong tộc là Thông thị Đại phu Trần Phụng Công (陳奉公), Viên ngoại lang Chư vệ ký ban Nguyễn Sâm (阮琛), Viên ngoại lang Nguyễn Diễn (阮演) đến cửa khuyết dâng thư, xin 3 năm nộp cống 1 lần. Đế nghe theo, bèn phong Quang Bính làm An Nam quốc vương (安南國王). '''Năm Trung Thống (中統) thứ 3 (năm 1262), tháng 9 ngày Kỷ Mùi, nước An Nam là Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng phương vật. Ngày Nhâm Thân, trao cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính và Đạt lỗ hoa xích (達魯花赤) Nạp Lạt Đinh (納剌丁) hổ phù.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1262) tháng 9, lấy 3 tấm gấm Tây, 6 tấm gấm thục ban cho. Lại giáng chiếu rằng: "Khanh đã nộp mình làm tôi, thì từ năm Trung Thống thứ 4 (năm 1263) làm đầu, cứ mỗi 3 năm cống 1 lần. Có thể chọn Nho sĩ, thầy thuốc, những người tinh thông âm dương bói toán và thợ lành nghề các loại mỗi hạng 3 người; cùng các vật như dầu tô hợp, quang hương, vàng bạc, chu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê, đồi mồi, trân châu, ngà voi, bông lụa, chén sứ trắng cùng đem đến. Vẫn lấy Nạp Lạt Đinh làm Đạt lỗ hoa xích, đeo hổ phù, qua lại trong nước An Nam." '''Năm Trung Thống (中統) thứ 4 (năm 1263), An Nam sai sứ dâng biểu vào tạ ơn.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1263) tháng 11, Nạp Lạt Đinh về, Quang Bính sai Dương An Dưỡng (楊安養) sung chức Viên ngoại lang, cùng Nội lệnh Vũ Phục Hoàn (武復桓), Thư xá Nguyễn Cầu (阮求), Trung dực lang Phạm Cử (范舉) dâng biểu vào tạ ơn. Đế ban cho sứ giả đai ngọc, gấm lụa, thuốc men, yên cương ngựa có thứ bậc khác nhau. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 2 (năm 1265), mùa thu tháng 7 ngày Quý Hợi, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng biểu vào cống. Ngày Giáp Tý, xuống chiếu ban lịch Chí Nguyên năm thứ 3 cho Quang Bính.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 7 năm Chí Nguyên (至元) thứ 2 (năm 1265), sứ giả trở về, vua lại có ưu chiếu đáp lại, vẫn ban lịch và ban bố chiếu thư cải nguyên. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 3 (năm 1266), An Nam sai sứ dâng 3 đạo biểu.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 12 năm thứ 3 (năm 1266), Quang Bính (光昺) sai Dương An Dưỡng (楊安養) dâng 3 đạo biểu. Một là tiến dâng phương vật; hai là xin miễn việc đòi hỏi nho sĩ (tú tài) và thợ thủ công; ba là nguyện xin cho Nạp Lạt Đinh (納剌丁) được làm Đạt lỗ hoa xích (達魯花赤) lâu dài tại bản quốc. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 4 (năm 1267), tháng 9 ngày Mậu Thân, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống, vua ban ưu chiếu đáp lại. Ngày Canh Tuất, sai Vân Nam vương Hốt Ca Xích (忽哥赤) trấn thủ các nơi Đại Lý (大理), Thiện Xiển (鄯闡), Trà Hạn Chương (茶罕章), Xích Thốc Ca Nhi (赤禿哥兒), Kim Sỉ (金齒), xuống chiếu vỗ về lại dân. Lại xuống chiếu dụ nước An Nam, bảo quân trưởng nước ấy phải sang triều kiến, cho con em sang làm con tin (nhập chất), biên lập số dân, nộp quân dịch, đóng thuế phú và đặt chức Đạt lỗ hoa xích để thống trị.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 9 năm thứ 4 (năm 1267), sứ giả trở về, vua có chiếu đáp lại cho phép. Vẫn ban cho Quang Bính đai ngọc, lụa vàng, thuốc men, yên cương ngựa. Chẳng bao lâu sau lại xuống chiếu dụ về 6 việc: Một là quân trưởng phải thân hành sang triều kiến; hai là con em vào làm con tin; ba là biên lập số dân; bốn là nộp quân dịch; năm là đóng thuế phú; sáu là vẫn đặt Đạt lỗ hoa xích thống trị. Tháng 11 lại xuống chiếu dụ Quang Bính, vì trong nước ấy có thương nhân người Hồi Hồi (回鶻), muốn hỏi han về việc Tây Vực, nên lệnh cho phát cử đưa đến. Tháng này, xuống chiếu phong Hoàng tử làm Vân Nam vương, đi trấn thủ các nước Đại Lý (大理), Thiện Xiển (鄯闡), Giao Chỉ (交趾). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 5 (năm 1268), ban cho nước An Nam gấm thêu và ban cho quần thần nước ấy có thứ bậc khác nhau. Lại xuống chiếu cho Vân Nam vương Hốt Ca Xích (忽哥赤) thống binh cùng An Nam chinh phạt hai nước Chiêm Thành (占城), Chân Lạp (真臘).''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng 9 năm Chí Nguyên thứ 5 (năm 1268) ngày Canh Thân, ban cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính gấm thêu, và ban cho các bề tôi có thứ bậc. Ngày Kỷ Sửu, xuống chiếu dụ An Nam, vì Trần Quang Bính tâu rằng có hai giặc Chiêm Thành, Chân Lạp xâm nhiễu, nay đã mệnh cho khanh điều động binh lực cùng với Bất Thiên (不千) hợp sức chinh thảo. Nay lại mệnh cho Vân Nam vương Hốt Ca Xích thống binh Nam hạ, khanh hãy tuân theo chiếu trước, hễ có quân phản loạn không chịu phục tùng gây họa biên cảnh thì phát binh cùng tiến đánh, kẻ nào hàng phục thì khéo vỗ về. Xét theo ''An Nam bản truyện (安 Nam 本傳)'': Tháng 9 năm thứ 5 (năm 1268), lấy Hốt Lung Hải Nha (忽籠海牙) thay Nạp Lạt Đinh làm Đạt lỗ hoa xích, Trương Đình Trân (張庭珍) làm phó. Lại hạ chiếu trưng tập các thương nhân người Hồi Hồi. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 6 (năm 1269), tháng 11 ngày Canh Ngọ, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 6 (năm 1269), Quang Bính dâng thư trần tình nói: "Thương nhân Hồi Hồi một người tên Y Ôn (伊溫) đã chết từ lâu, một người tên Bà Bà (婆婆) sau đó cũng bệnh chết. Lại cứ theo lời Hốt Lung Hải Nha nói với bệ hạ là cần đòi mấy thớt voi lớn, loài thú này thân hình rất lớn, đi đứng rất chậm, không bằng ngựa thượng quốc. Xin phục đợi sắc chỉ, đến kỳ hạn năm nộp cống sau sẽ tiến hiến." Lại dâng biểu nộp cống và dâng biểu riêng để tạ ơn. Ban cho gấm Tây, lụa là, dược vật. Xét theo ''Trương Đình Trân truyền (張庭珍傳)'': Năm Chí Nguyên thứ 6 (năm 1269), An Nam vào cống không đúng hạn, bèn lấy Đình Trân làm Triều liệt Đại phu, An Nam quốc Đạt lỗ hoa xích, đeo kim phù, đi từ Thổ Phồn (吐蕃), Đại Lý (大理) qua các bộ tộc Man đến An Nam. Thế tử Quang Bính (光昺) lập, nhận chiếu, Đình Trân trách rằng: "Hoàng đế không muốn lấy đất đai của ngươi làm quận huyện mà cho ngươi xưng phiên, sai sứ dụ chỉ, đức độ ấy rất hậu. Vương vẫn cùng nhà Tống làm môi hở răng lạnh, vọng tự tôn đại. Nay triệu quân vây Tương Dương (襄陽), hạ được chỉ trong sớm tối, khi quân quét sạch qua sông thì nhà Tống mất, Vương còn dựa vào đâu? Vả lại binh Vân Nam không đầy 2 tháng có thể đến cảnh giới ngươi, diệt tông miếu ngươi chẳng khó gì, hãy xét kỹ mưu đồ." Quang Bính hoàng sợ, sụp lạy nhận chiếu. Sau đó nói với Đình Trân: "Thánh Thiên tử thương ta, nhưng sứ giả đến nhiều kẻ vô lễ. Ngươi chức Triều liệt, ta là Vương vậy, cùng nhau hành lễ ngang hàng, xưa có vậy không?" Đình Trân nói: "Có chứ. Vương nhân (người của vua) tuy thấp kém nhưng vẫn được xếp trên chư hầu." Quang Bính nói: "Ngươi qua Ích Châu (益州), có lạy Vân Nam vương không?" Đình Trân nói: "Vân Nam vương là con Thiên tử. Ngươi là tiểu bang Man di, đặc cách ban cho tước Vương, sao có thể so với Vân Nam vương? Huống hồ Thiên tử mệnh ta làm trưởng ở An Nam, vị thứ ở trên ngươi sao?" Quang Bính nói: "Đã xưng là đại quốc, sao còn đòi tê giác, voi của ta?" Đình Trân nói: "Cống hiến phương vật là chức trách phiên thần." Quang Bính không đối lại được, càng thêm hổ thẹn phẫn nộ, sai vệ binh tuốt gươm vây quanh để uy hiếp Đình Trân. Đình Trân cởi cung đao đang đeo, nằm khểnh trong phòng, nói: "Mặc các ngươi muốn làm gì thì làm." Quang Bính và quần hạ đều khâm phục. Năm sau, sai sứ theo Đình Trân vào cống. Đình Trân bái kiến Đế, thuật lại lời đối đáp với Quang Bính. Đế đại duyệt (rất vui), mệnh cho Hàn lâm Thừa chỉ Vương Bàn (王磐) ghi chép lại. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 7 (năm 1270), tháng 11, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống, vua ban ưu chiếu đáp lại.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 7 (năm 1270), Trung thư tỉnh gửi điệp văn cho Quang Bính, nói việc nhận chiếu không lạy, đãi sứ giả không theo lễ đối với "vương nhân", bèn dẫn nghĩa sách ''Xuân Thu'' để trách cứ, và lệnh phải đưa số voi đã đòi cùng với tuế cống tới. Lại nói đồ dược vật cống trước kia phẩm vị không tốt, còn việc trưng tập người Hồi Hồi thì lấy cớ lừa dối. Từ nay về sau hãy xét kỹ việc đó. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 8 (năm 1271), An Nam vương Trần Quang Bính gửi thư biện bạch đối đáp.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 12 năm thứ 8 (năm 1271), Quang Bính gửi thư thưa rằng: "Bản quốc kính thờ Thiên triều, đã được phong vương tước, há chẳng phải là vương nhân sao? Sứ giả Thiên triều lại tự xưng là vương nhân, hành lễ ngang hàng, e rằng làm nhục triều đình. Huống hồ bản quốc trước đã phụng chiếu chỉ mệnh cho y theo tục cũ, hễ nhận chiếu lệnh thì đặt ở chính điện rồi lui về phòng riêng, đó là điển lễ cũ của bản quốc vậy." Về việc đòi voi, trước kia sợ trái ý nên nói lấp lửng chưa dám đối đáp thẳng. Thực ra là vì quản tượng (tượng nô) không nỡ rời xa nhà, khó bề điều phái. Lại dụ đòi nho sĩ, thầy thuốc, thợ thủ công, mà bồi thần Lê Trọng Đà (黎仲佗) khi bái kiến, ở sát bên uy quang của bệ hạ mà chẳng nghe thấy chiếu dụ. Huống hồ năm Trung Thống (中統) thứ 4 (năm 1263) đã được lượng thứ, nay lại nhắc đến, thật không xiết kinh ngạc, cúi xin các hạ nghĩ cho." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 9 (năm 1272), lấy Diệp Thức Niết (葉式捏) làm An Nam Đạt lỗ hoa xích, Lý Nguyên (李元) làm phó.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 10 (năm 1273), tháng Giêng, sứ giả An Nam trở về, nói "Trần Quang Bính nhận chiếu không lạy". Trung thư tỉnh gửi văn thư trách hỏi, Bính xưng là làm theo tục bản quốc. Tháng 12, An Nam quốc vương Trần Quang Bính sai sứ đến cống phương vật.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 10 (năm 1273), Diệp Thức Niết chết. Mệnh Lý Nguyên thay Thức Niết, lấy Hợp Tát Nhi Hải Nha (合撒兒海牙) làm phó. Trung thư tỉnh lại gửi điệp cho Quang Bính nói: "Mấy năm qua sứ giả trở về đều nói Vương mỗi khi nhận chiếu lệnh của Thiên tử chỉ chắp tay đứng chứ không lạy, khi gặp sứ giả hoặc dự yến tiệc, vị thứ lại đặt trên sứ giả. Nay xem thư tới, tự bảo đã nhận vương tước, há không phải vương nhân sao? Khảo trong sách ''Xuân Thu'', xếp 'vương nhân' ở trên chư hầu. Phần ''Thích lệ'' nói: 'Vương nhân là bậc hạ sĩ vậy'. Phàm 5 hạng quan tước (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam), quân trưởng một bang là bậc quý ở hàng ngoại thần; còn hạ sĩ là bậc thấp nhỏ ở hàng nội thần. Lấy kẻ thấp nhỏ mà đặt lên trên kẻ cao quý là vì trọng mệnh lệnh của Vua vậy. Đời sau liệt Vương làm tước vị cho hạng quý nhất trong chư hầu, há có ai lấy vương tước làm vương nhân không? Vương chẳng lẽ không biết mà lại nói lời ấy? Hay là bề tôi từ lệnh nói nhầm? Đến như chiếu của Thiên tử, bề tôi phải lạy nhận, đó là thông nghĩa cổ kim, không thể khác được. Thế mà lại nói 'trước phụng chiếu chỉ cho y theo tục cũ, hễ nhận chiếu lệnh thì đặt ở chính điện rồi lui về phòng riêng là điển lễ cũ'. Đọc đến đây thật lấy làm kinh ngạc! Vương nói lời ấy, lòng có thể tự yên chăng? Chiếu chỉ trước nói là vì trong trời đất không chỉ có vạn nước, mỗi nước có tục riêng; nếu đột ngột bắt thay đổi thì có chỗ bất tiện nên cho dùng tục bản quốc; đâu phải lấy việc không lạy chiếu Thiên tử làm lễ tục! Vả lại giáo lệnh của Vương thi hành trong nước, bề tôi có kẻ nào nhận mà không lạy, thì Vương nghĩ sao? Người quân tử quý ở chỗ sửa lỗi, mong Vương sáng suốt soi xét cho." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 11 (năm 1274), An Nam vào cống.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 11 (năm 1274), "Quang Bính sai Đồng tử Dã Lê Văn Ẩn (童子冶黎文隱) đến cống." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 12 (năm 1275), tháng Giêng, sứ giả nước An Nam trở về. Sắc lệnh dụ về các việc theo chế độ cũ: biên tịch hộ khẩu, đặt Đạt lỗ hoa xích, tuyển quân (tổng quân), lập trạm dịch, nộp tô thuế và tuế cống. Tháng 2, xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính, vẫn lấy 6 việc theo chế độ cũ để dụ, thúc giục ông ta sang triều kiến.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 12 (năm 1275), Quang Bính dâng biểu xin bãi bỏ chức Đạt lỗ hoa xích tại bản quốc. Lời văn đại lược: "Vi thần hẻo lánh nơi góc biển, được thấm nhuần thánh hóa, cùng muôn loài vui mừng khôn xiết. Cúi xin nghĩ cho thần từ khi hàng phục thượng quốc đến nay đã hơn 10 năm, tuy theo lệ 3 năm một cống, nhưng sứ thần đi lại liên tiếp, mệt mỏi vì đường sá, chưa từng một ngày nghỉ ngơi. Đến như Đạt lỗ hoa xích do Thiên triều sai đến, hạ cố đến cảnh giới thần, lẽ nào có thể để họ về tay không? Huống hồ những kẻ đi lại ấy động chút là cậy thế, lăng mạ nước nhỏ, tuy Thiên tử sáng như nhật nguyệt nhưng sao soi thấu được chậu úp. Vả lại Đạt lỗ hoa xích có thể thi hành với đám tiểu sửu Man di nơi biên viễn, lẽ nào thần đã nhận phong Vương làm phiên bình một phương, mà lại đặt Đạt lỗ hoa xích để giám lâm, há chẳng bị các nước chư hầu cười chê sao? Thà rằng vì lòng vui phục mà tu sửa triều cống, còn hơn là vì sợ kẻ giám lâm mà phải nộp cống vậy! Thần kính gặp Thiên triều lập Thái tử, lập Hoàng hậu, ân lớn dồi dào ban khắp bốn biển, nên đánh bạo kêu nài. Cúi mong thánh từ đặc biệt thương xót, từ nay về sau hễ phát cử cương cống làm 2 lần, một đến Thiện Xiển (鄯闡) để nộp, một đến Trung Nguyên để bái hiến. Phàm quan lại do Thiên triều sai đến, xin đổi thành Dẫn tiến sứ (引進使), để miễn cái tệ Đạt lỗ hoa xích, không chỉ là cái may của vi thần, mà thực là cái may của thương sinh cả nước vậy." Tháng 2, vua lại giáng chiếu, cho rằng những đồ vật cống nộp không bổ ích gì cho việc dùng, dụ về 6 việc: Lại cử Hợp Tát Nhi Hải Nha làm Đạt lỗ hoa xích, và vẫn lệnh cho con em vào hầu (làm con tin). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 13 (năm 1276), An Nam dâng biểu xin miễn 6 việc.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 2 năm thứ 13 (năm 1276), "Quang Bính sai Lê Khắc Phục (黎克復), Văn Túy (文粹) vào cống, vì việc tâu xin nộp vật cống ở Thiện Xiển là thuộc diện không cung kính, nên dâng biểu tạ tội, đồng thời xin miễn 6 việc." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 14 (năm 1277), An Nam sai sứ sang triều kiến.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 14 (năm 1277), Quang Bính mất, người trong nước lập Thế tử Nhật Huyên (日烜) lên ngôi, sai Trung thị Đại phu Chu Trọng Ngạn (周仲彥), Trung lượng Đại phu Ngô Đức Thiệu (吳德邵) sang triều kiến. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 15 (năm 1278), tháng 6 ngày Tân Tỵ, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng biểu vào cống. Tháng 8 ngày Nhâm Tý, sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿) làm sứ giả đi An Nam, xuống chiếu trách mắng nghiêm khắc, vẫn bắt ông ta phải sang triều kiến.''' *(Ghi chú: Quang Bính đã mất năm thứ 14, mà đây lại nói Quang Bính sai sứ, tất là chữ Nhật Huyên (日烜) bị chép nhầm, không nghi ngờ gì cả).'' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 8 năm thứ 15 (năm 1278), sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿), Hội đồng quán sứ Cáp Lạt Thoát Nhân (哈剌脫因), Công bộ Lang trung Lý Khắc Trung (李克忠), Công bộ Viên ngoại lang Đổng Đoan (董端) cùng Lê Khắc Phục (黎克復) mang chiếu đi dụ Nhật Huyên (日烜) vào triều nhận mệnh. Trước đây sứ giả qua lại chỉ đi đường Lê Hóa (黎化) thuộc Thiện Xiển (鄯闡). Đế lệnh cho Sài Thung đi từ Giang Lăng (江陵) thẳng đến Ung Châu (邕州) để sang Giao Chỉ (交趾). Tháng 11 nhuận, Sài Thung đến trại Vĩnh Bình (永平寨) thuộc Ung Châu. Nhật Huyên sai người đưa thư nói: "Nay nghe Quốc công hạ cố đến cảnh giới hèn mọn, dân biên thùy không ai không kinh hãi, chẳng hay nhân sứ nước nào mà đến đây, xin hãy quay về đường cũ mà đi." Thung đáp điệp rằng: "Quan Lễ bộ Thượng thư phụng mệnh Thượng cấp cùng Lê Khắc Phục từ Giang Lăng đến Ung Châu để vào An Nam, các quân binh dẫn hộ đều cưỡi ngựa trạm, nên đến đầu biên giới đón tiếp." Nhật Huyên sai Ngự sử Trung tán kiêm Tri Thẩm hình viện sự Đỗ Quốc Kế (杜國計) đến trước, rồi Thái úy dẫn bách quan đón ở bờ sông Phú Lương (富良江) đưa vào quán trọ. Ngày 2 tháng 12, Nhật Huyên đến quán gặp sứ giả. Ngày 4, Nhật Huyên bái đọc chiếu thư, Thung truyền chỉ rằng: "Nước ngươi nội phụ hơn 20 năm, 6 việc trước kia vẫn chưa theo, nếu ngươi không sang triều kiến thì hãy sửa thành quách, chỉnh đốn quân đội mà đợi đại sư của ta." Lại nói: "Cha ngươi nhận mệnh làm Vương, ngươi không xin mệnh mà tự lập, nay lại không triều kiến, mai sau triều đình gia tội, sẽ trốn tránh trách nhiệm sao được? Hãy suy nghĩ kỹ." Nhật Huyên theo lệ cũ bày yến ở hành lang, Thung không dự. Khi về quán, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự (范明字) đưa thư tạ tội, đổi tiệc yến sang điện Tập Hiền. Nhật Huyên nói: "Tiên quân qua đời, tôi mới nối ngôi, Thiên sứ đến truyền chiếu dụ làm tôi vừa mừng vừa sợ. Thiết nghĩ vua Tống nhỏ tuổi mà Thiên tử còn thương xót phong tước Công, đối với nước nhỏ tất cũng gia ân. Việc 6 điều trước đã được xá miễn, còn như lễ thân hành triều kiến, tôi sinh trưởng nơi thâm cung, không quen cưỡi ngựa, không hợp phong thổ, sợ chết dọc đường; con em từ Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Thiên sứ về, xin dâng biểu tỏ lòng thành và hiến vật lạ." Thung nói: "Vua Tống chưa đến 10 tuổi, cũng sinh ở thâm cung, sao cũng đến được Kinh sư? Ngoài chiếu chỉ ra, tôi không dám nghe lệnh khác. Vả lại 4 người chúng tôi đến đây cốt để gọi ngươi đi, chứ không phải lấy vật lạ." Khi Thung trở về, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự, Trịnh Quốc Toản (鄭國瓚), Trung tán Đỗ Quốc Kế dâng biểu trần tình, nói: "Thân cô thần khí huyết nhu nhược, đường sá gian nan, chỉ e phơi xương trắng làm bệ hạ đau lòng mà chẳng ích gì cho Thiên triều. Cúi mong bệ hạ thương nước nhỏ xa xôi, cho thần cùng kẻ góa bụa cô độc được bảo toàn tính mạng để phụng sự bệ hạ đến cùng." Đồng thời dâng phương vật và 2 con voi thuần. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 16 (năm 1279), mùa thu tháng 7 ngày Đinh Tỵ, nước Giao Chỉ sai sứ dâng voi thuần. Mùa đông tháng 11 ngày Nhâm Tý, sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿) cùng sứ An Nam là Đỗ Trung tán mang chiếu đến dụ Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên (陳日烜), trách việc không sang triều kiến. Tháng 12 ngày Canh Thìn, An Nam dâng dược tài.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 3 năm thứ 16 (năm 1279), Thung về đến Kinh sư, để Trịnh Quốc Toản đợi ở Ung Châu. Khu mật viện tâu: "Nhật Huyên không triều kiến, chỉ sai sứ báo mệnh, lời lẽ quanh co khất lần, dù khéo léo nhưng rốt cuộc trái chiếu chỉ, có thể tiến binh lên biên giới, sai quan hỏi tội." Đế không nghe, lệnh cho sứ giả vào chầu. Tháng 11, lưu sứ giả Trịnh Quốc Toản ở Hội đồng quán, lại sai Sài Thung cùng 4 người và Đỗ Quốc Kế mang chiếu lần nữa dụ Nhật Huyên sang triều kiến. "Nếu thực không thể thân hành đến chầu, thì đúc vàng thay thân, lấy 2 hạt châu thay mắt, kèm theo hiền sĩ, phương kỹ, con em, thợ giỏi mỗi hạng 2 người để thay cho dân chúng. Nếu không, hãy sửa thành trì mà đợi xét xử." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 17 (năm 1280), tháng 7 ngày Giáp Tý, sai Vương tử nước An Nam là Ni (倪) về nước. Tháng 10, sai sứ dụ nước Giao Chỉ, bắt đầu chế kiệu voi. Tháng 11 ngày Kỷ Hợi, Hàn lâm Học sĩ Thừa chỉ Hòa Lễ Hoắc Tôn (和禮霍孫) nói sứ An Nam dâng biểu xin trả lời, vua nghe theo, ban chức danh cho sứ Giao Chỉ cùng cung tên, yên cương. Ngày Canh Tuất, lệnh Hòa Lễ Hoắc Tôn lọc bỏ sứ giả Giao Chỉ, trừ người cần lưu lại, còn đều cho về. Tháng 12, An Nam dâng voi thuần.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 18 (năm 1281), đổi hổ phù chữ Uighur (畏吾) đã ban cho An Nam sang chữ Quốc tự (chữ Mông Cổ). Lập chú của Nhật Huyên là Di Ái (遺愛) làm An Nam quốc vương, phát quân hộ tống về.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Năm thứ 18 (năm 1281) tháng nhuận ngày Canh Thân, An Nam dâng phương vật. Tháng 10 ngày Kỷ Hợi, bàn việc phong hiệu Vương cho An Nam, đổi hổ phù chữ Uighur sang chữ Quốc tự. Giáng chiếu lập chú của Nhật Huyên là Di Ái (遺愛) làm An Nam quốc vương. Ngày Đinh Mùi, đặt Tuyên úy ty tại An Nam, lấy Bắc Kinh lộ Đạt lỗ hoa xích Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi (孛顏帖木兒) làm Tham tri Chính sự, Hành An Nam quốc Tuyên úy sứ, Đô nguyên sứ, đeo hổ phù; Sài Thung và Hốt Ca Nhi (忽哥兒) làm phó. Ngày Canh Tuất, đưa An Nam quốc vương Trần Di Ái vào An Nam, phát 1.000 quân Tân phụ hộ tống. Tháng 11, chiếu cho An Nam quốc vương cung cấp lương thực cho quân Hành tỉnh Chiêm Thành. Ngày Kỷ Dậu, ban tiền giấy (sao) cho quân mới đi chinh chiến An Nam. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 10 năm thứ 18 (năm 1281), lập An Nam Tuyên úy ty... Vì Quang Bính đã mất, con là Nhật Huyên tự lập không xin mệnh, sai sứ triệu không đến lấy cớ bệnh, chỉ cho chú là Di Ái vào chầu, nên lập Di Ái thay làm An Nam quốc vương. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 19 (năm 1282), tháng 9 ngày Đinh Mão, An Nam dâng tê giác, đồ vàng bạc, hương dược.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 20 (năm 1283), tháng 8 ngày Giáp Ngọ, An Nam sai sứ dâng phương vật.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 7 năm thứ 20 (năm 1283), Nhật Huyên gửi thư cho Bình chương A Lý Hải Nha (阿里海牙) xin trả lại sứ giả bị lưu giữ, Đế liền cho về. Bấy giờ A Lý Hải Nha là Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh Bình chương chính sự. Đế muốn Giao Chỉ giúp binh lương để đánh Chiêm Thành, lệnh dùng ý mình mà dụ. Hành tỉnh sai Ngạc Châu Đạt lỗ hoa xích Triệu Chử (趙翥) mang thư dụ Nhật Huyên. Tháng 10, triều đình sai Đào Bỉnh Trực (陶秉直) mang tỉ thư đến dụ. Tháng 11, Triệu Chử đến An Nam. Nhật Huyên bèn sai Trung lượng Đại phu Đinh Khắc Thiệu (丁克紹), Trung đại phu Nguyễn Đạo Học (阮道學) theo Chử vào chầu. Lại sai Trung phụng Đại phu Phạm Chí Thanh (范至清), Triều thỉnh lang Đỗ Bảo Trực (杜抱直) đến tỉnh bàn việc, gửi thư cho Bình chương nói về việc giúp quân và lương: "Chiêm Thành thờ nước nhỏ đã lâu, cha già tôi chỉ lấy đức mà vỗ về, đến thân cô tử này cũng nối chí cha. Từ khi cha già quy thuận Thiên triều đến nay đã 30 năm, không dùng đến can qua, binh tốt đổi làm dân đinh, một mặt để nộp cống Thiên triều, một mặt tỏ lòng không hai ý. May thay các hạ soi xét, giúp cho 1 việc lương thực. Đất nước nhỏ sát biển, ngũ cốc sản xuất không nhiều, từ khi đại quân đi khỏi, trăm họ lưu vong, lại gặp hạn hán, sáng no tối đói, ăn không đủ. Nhưng mệnh của các hạ không dám trái, định tại vùng đất Vĩnh An châu (永安州) biên giới Khâm Châu (欽州) chờ đợi nộp lương. Sau đó cô tử sẽ thân hành đến cửa khuyết nghe thánh huấn. Khi cha già còn sống, Thiên triều thương xót để ngoài mức thường, nay cha già đã mất, cô tử đang thọ tang, nhiễm bệnh đến nay chưa hồi phục. Huống hồ cô tử sinh trưởng nơi hẻo lánh, không chịu được nóng lạnh, không quen thủy thổ, đường sá gian nan chỉ e phơi xương trắng. Bồi thần nước nhỏ qua lại còn bị chướng khí xâm hại, chết đến 5, 6 phần hoặc quá nửa, các hạ vốn đã biết rõ. Duy mong hết lòng che chở, tâu lên Thiên triều, để biết ý định của tông tộc quan lại cô tử đều là phường sợ chết tham sống, không chỉ cô tử chịu ơn mà sinh linh cả nước cũng được an toàn." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 21 (năm 1284), tháng nhuận 5 ngày Giáp Thìn, Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khiêm Phủ (陳謙甫) dâng cống chén ngọc, bình vàng, dây đeo ngọc trai, cổ áo bằng vàng cùng vượn trắng, chim lục hưu, lụa là. Tháng 7 ngày Mậu Tý, xuống chiếu trả sứ An Nam Lê Anh (黎英) về nước, Nhật Huyên sai Nguyễn Đạo Học (阮道學) dâng phương vật. Tháng 12, quân Trấn Nam vương đến An Nam, giết binh canh giữ, chia 6 đạo tiến vào. Hưng Đạo vương (興道王) nhà An Nam dàn binh chống cự ở Vạn Kiếp (萬劫), quân Nguyên đánh bại, Vạn hộ Nghê Nhuận (倪閏) tử trận ở Lưu Thôn (劉邨).''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 3 năm thứ 21 (năm 1284), Đào Bỉnh Trực về, Nhật Huyên lại dâng biểu trần tình và gửi thư cho Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh, đại ý như thư trước. Lại vì Quỳnh Châu An phủ sứ Trần Trọng Đạt nghe lời Trịnh Thiên Hữu nói Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành sai 20.000 quân và 500 thuyền ứng viện, nên Nhật Huyên gửi thư cho Hành tỉnh nói: "Chiêm Thành vốn thuộc nước nhỏ, đại quân đến đánh, lẽ ra phải kêu cầu thương xót, nhưng chưa từng dám thốt ra một lời, ấy là thiên thời nhân sự nước nhỏ cũng đã biết vậy. Nay Chiêm Thành phản nghịch, u mê không tỉnh, ấy là kẻ không biết trời biết người. Đã biết trời biết người, mà lại đi cùng mưu với kẻ không biết trời biết người, thì đứa trẻ 3 tuổi cũng biết là không làm, huống hồ nước nhỏ? Mong quý tỉnh xét cho." Tháng 8, em Nhật Huyên là Chiêu Đức vương Trần Sạn (陳璨) gửi thư cho hành tỉnh xin quy hàng. Tháng 11, Hành tỉnh Hữu thừa Toa Đô (唆都) nói: "Giao Chỉ giáp với Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, có thể lập tỉnh ngay tại đất ấy, đóng quân trấn giữ tại 3 đạo Việt Lý (越里), Triều Châu (潮州), Tỳ Lan (毗蘭), lấy lương tại chỗ cấp cho sĩ tốt, đỡ lo vận tải đường biển." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 22 (năm 1285), Ô Mã Nhi (烏馬兒) đánh bại An Nam trên sông Phú Lương, Toa Đô (唆都) tử trận.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 22 (năm 1285) ngày Nhâm Ngọ, Ô Mã Nhi dẫn binh gặp Hưng Đạo vương An Nam, đánh bại họ, quân đóng ở bờ Bắc sông Phú Lương. Ngày Ất Dậu, Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên dẫn hơn 1.000 thuyền chiến chống cự. Ngày Bính Tuất, giao chiến đại phá quân An Nam, Nhật Huyên bỏ chạy, quân Nguyên vào thành, rồi quay về đóng ở phía Bắc sông Phú Lương. Toa Đô, Đường Cổ Đái (唐古帶) dẫn binh hội quân với Trấn Nam vương. Tháng 3 ngày Quý Mùi, Hành tỉnh Chiêm Thành xin thêm quân vì Nhật Huyên chạy ra Thiên Trường (天長), Trường Yên (長安) lại tập hợp binh lực, Hưng Đạo vương tụ hơn 1.000 thuyền ở Vạn Kiếp, Nguyễn Lộc (阮盝) ở Vĩnh Bình, mà quan binh đi xa đánh lâu, cô lập ở giữa, binh của Toa Đô lại không đến đúng hạn. Đế cho rằng đi đường thủy nguy hiểm, lệnh đi đường bộ. Tháng 5 ngày Mậu Tuất, Nhật Huyên chạy ra hải cảng, Lý Hằng (李恆) truy kích đánh bại. Gặp lúc nắng nóng mưa dầm sinh dịch bệnh, quân muốn rút về Tư Minh châu (思明州), lệnh Toa Đô về Ô Lý. An Nam truy kích, Toa Đô tử trận, Hằng chặn hậu bảo vệ Trấn Nam vương, bị trúng tên độc vào đầu gối trái, về đến Tư Minh thì độc phát mà chết. Tháng 7 ngày Canh Dần, Khu mật viện nói quân Giao Chỉ của Trấn Nam vương Thoát Hoan (脫歡) đánh lâu mệt mỏi, xin lấy trong số 30.000 quân của Áo Lỗ Xích (奧魯赤) ra 1.000 quân Mông Cổ, lấy 4.000 quân Hán và Tân phụ từ 3 hành viện Giang Hoài, Giang Tây, Kinh Hồ, chọn tướng giỏi dẫn đi, chịu sự tiết chế của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha để đánh Giao Chỉ. Vua nghe theo. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 22 (năm 1285) tháng 2, hành tỉnh nói Trấn Nam vương vâng chỉ đánh Chiêm Thành, sai Đường Cổ Đái hội quân với Toa Đô. Lại sai Khúc Liệt (曲烈), Tháp Hải Tát Lý (塔海撒里) cùng sứ An Nam Nguyễn Đạo Học mang công văn trách Nhật Huyên vận lương đến Chiêm Thành giúp quân. Khi quân đến huyện Hành Sơn, nghe anh họ Nhật Huyên là Hưng Đạo vương Trần Tuấn (陳峻) (tức Trần Quốc Tuấn) cầm quân ở biên giới. Sau đó Trần Đức Quân (陳德鈞), Trần Tự Tông (陳嗣宗) mang thư của Nhật Huyên đến nói đường thủy lục đến Chiêm Thành không tiện, xin tùy lực dâng quân lương. Khi quân đến Vĩnh Châu, Nhật Huyên gửi điệp đến Ung Châu nói kỳ hạn cống là tháng 10, xin dọc đường chuẩn bị đinh lực. Khi quân đến Ung Châu, Phạm Hải Nhai (范海崖) của An Nam đóng quân ở Khả Lan (可蘭). Đến Tư Minh châu, Trấn Nam vương lại gửi văn thư. Đến Lộc Châu, nghe Nhật Huyên điều binh giữ các ải Khâu Ôn (丘溫), Khâu Cấp (丘急), Hành tỉnh chia quân làm 2 đạo. Nhật Huyên lại sai Nguyễn Đức Dư (阮德輿), Nguyễn Văn Hán (阮文翰) gửi thư cho Trấn Nam vương nói không thể thân hành đón tiếp nhưng trong lòng mừng rỡ, vì trước có thánh chiếu nói "biệt sắc ngã quân bất nhập nhĩ cảnh" (có sắc riêng quân ta không vào cảnh giới ngươi). Nay thấy trạm trại cầu cống Ung Châu nối tiếp nhau nên rất kinh sợ, mong rủ lòng thương xót. Lại gửi thư cho Bình chương xin bảo vệ sinh linh. Trấn Nam vương sai A Lý (阿里) mang thư cùng Đức Dư đi dụ Nhật Huyên rằng việc hưng binh thực chất là vì Chiêm Thành, không phải vì An Nam. Đến huyện Cấp Bảo, Nguyễn Lộc (阮盝) của An Nam đóng binh ở Thất Nguyên châu (七源州), các nơi như Hựu Thôn, Lý Huyện, Đoản Vạn Kiếp đều có binh Hưng Đạo vương, A Lý không tiến được. Hành tỉnh sai Nghê Nhuận đi dò xét, dặn không được giết chóc dân. Chẳng bao lâu, quân Nguyên đến ải Khả Ly gặp quân Giao ngăn chặn, Tôn Hữu đánh bắt được Quản quân Phụng ngự Đỗ Vĩ (杜尾). Hữu mới biết Hưng Đạo vương thực sự dẫn quân nghênh địch. Quân vượt ải Khả Ly đến ải Động Bản lại gặp binh và đánh bại chúng, tướng giặc Tần Sâm (秦岑) bị thương chết. Nghe Hưng Đạo vương ở ải Nội Bàng, quân tiến đến thôn Biến Trụ, dụ họ mở đường đón tiếp nhưng không nghe. Đến ải Nội Bàng, chiêu hàng cũng không nghe. Quân Nguyên chia 6 đạo tấn công, bắt được tướng Đại liêu ban Đoạn Đài (段台), Hưng Đạo vương chạy thoát. Đuổi đến Vạn Kiếp, phá các ải. Hưng Đạo vương còn hơn 1.000 thuyền cách Vạn Kiếp 10 dặm. Quân Nguyên bèn tìm thuyền dọc sông và đóng thêm thuyền, chọn thủy quân giao Ô Mã Nhi chỉ huy, đánh bại quân Giao nhiều trận. Lấy được 2 tờ văn tự do Nhật Huyên gửi Trấn Nam vương và Bình chương, vẫn nhắc lại việc chiếu trước nói không vào cảnh giới An Nam, nay vì Chiêm Thành mà gây hại bách tính là lỗi của Thái tử, không phải lỗi bản quốc, xin rút quân về sẽ dâng cống vật lạ. Hành tỉnh đáp thư trách Thế tử trái mệnh, bắt Hưng Đạo vương nghênh địch làm hại sinh linh. Nay đánh Chiêm Thành là mệnh trên, Thế tử nên hiểu đức của Hoàng đế mà mở đường, ra đón Trấn Nam vương bàn việc, nếu không quân ta sẽ đặt phủ tại An Nam. Nhật Huyên điều quân Thánh Dực giúp Hưng Đạo vương, Trấn Nam vương đánh chiếm hơn 20 thuyền, Hưng Đạo vương bại tẩu. Quân Nguyên đóng bè làm cầu vượt sông Phú Lương. Nhật Huyên dàn thuyền lập rào gỗ bên sông, thấy quân đến thì phát pháo hò hét cầu chiến. Đến tối lại sai Nguyễn Phụng Ngự gửi thư xin quân Nguyên lùi lại một chút. Hành tỉnh trách mắng rồi tiến quân. Nhật Huyên bỏ thành chạy, sai Nguyễn Hiệu Nhuệ dâng phương vật xin rút quân. Hành tỉnh không nghe, tiến đóng dưới thành An Nam. Hôm sau Trấn Nam vương vào thành, cung điện trống không, chỉ còn lại các chiếu chỉ và điệp văn cũ đều bị gạch xóa hết. Ngoài ra có các văn thư của tướng biên thùy báo tin quân Nguyên. Nhật Huyên chiếm xưng là Đại Việt quốc chủ Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu Hoàng đế (大越國主憲天體道大明光孝皇帝). Trần Uy Hoảng (Trần Thánh Tông) nhường ngôi cho Hoàng thái tử, lập Thái tử phi làm Hoàng hậu, dâng biểu lên Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng thái hậu, dùng ấn Hạo Thiên Thành Mệnh Chi Bảo (昊天成命之寶). Nhật Huyên ở ngôi Thái thượng hoàng, lập An Nam quốc vương là con Nhật Huyên (Trần Nhân Tông), dùng niên hiệu Thiệu Bảo (紹寶). Cung điện ở có 5 cửa, đề chữ "Đại Hưng chi môn" (大興之門). Chính điện 9 gian đề chữ "Thiên An ngự điện" (天安御殿). Các nơi dán bảng: "Phàm trong nước nếu có giặc ngoài đến thì phải tử chiến, nếu sức không địch nổi thì cho phép trốn vào núi rừng, không được đầu hàng." Các nơi hiểm yếu đều có kho chứa binh khí. Nhật Huyên dẫn tông tộc quan lại tụ tập ở Thiên Trường, Trường Yên. Hưng Đạo vương và Phạm Điện tiền tụ thuyền ở cửa sông Vạn Kiếp. Nguyễn Lộc trú ở Tây lộ Vĩnh Bình. Đường Cổ Đái và Toa Đô từ Chiêm Thành đến hội quân. Từ khi vào cảnh giới, lớn nhỏ đánh 7 trận, chiếm đất hơn 2.000 dặm. Phá 4 vương cung, giết tướng giặc Chiêu Hiếu vương, Chiêu Minh vương trốn biệt. Tại An Diễn châu (安演州), Thanh Hóa (清化), Trường Yên (長安) bắt được rể của Trần Thượng thư nhà Tống là Lương Phụng Ngự cùng 400 người. Vạn hộ Lý Bang Hiến, Lưu Thế Anh mở đường từ Vĩnh Bình vào An Nam, cứ 30 dặm lập 1 trại, 60 dặm 1 trạm, mỗi nơi đóng 300 quân. Hữu thừa Khoan Triệt dẫn bộ binh, Lý Tả thừa dẫn thủy quân đánh bại thuyền Nhật Huyên, bắt được Kiến Đức hầu Trần Trọng (陳仲). Nhật Huyên chạy ra cửa Giao Hải. Các tông tộc như Văn Nghĩa hầu (cha là Vũ Đạo hầu) cùng con Minh Trí hầu, rể Trương Hoài hầu, Trương Hiến hầu, các quan nhà Tống cũ như Tăng Tham chính, Tô Bảo Chương (con Tô Thiếu bảo), Trần Đinh Tôn (con Trần Thượng thư) nối nhau đến hàng. Toa Đô dẫn quân đến Trường Yên tìm lương. Nhật Huyên bỏ thuyền chạy vào rừng ở cửa biển An Bang. Quân Nguyên thu 1 vạn chiếc thuyền, đốt bỏ số dư. Đuổi theo 3 ngày đêm, bắt được người nói Thượng hoàng và Thế tử chỉ còn 4 chiếc thuyền, Hưng Đạo vương 3 chiếc, Thái sư 80 chiếc chạy vào phủ Thanh Hóa. Ô Mã Nhi dẫn 1.300 quân, 60 thuyền giúp Toa Đô kích quân Thái sư. Sai Đường Cổ Đái đuổi Nhật Huyên dọc biển cũng không thấy tăm hơi. Em Nhật Huyên là Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) dẫn bản tông vợ con quan lại đến hàng. Sai đưa Chương Hiến hầu, Văn Nghĩa hầu, Minh Thành hầu, Nghĩa Quốc hầu (con Chiêu Quốc vương) vào triều. Văn Nghĩa hầu đi được đến phương Bắc, còn Chương Hiến hầu và Nghĩa Quốc hầu đều bị Hưng Đạo vương giết (Nghĩa Quốc hầu thoát được về quân doanh). Chư tướng bàn: người Giao chống cự, quân ta dù thắng nhiều trận nhưng giặc tăng quân càng đông, quân ta khốn đốn thương vong nhiều, mã quân Mông Cổ không thi triển được kỹ nghệ, bèn bỏ kinh thành, vượt sông sang bờ Bắc, quyết nghị rút quân về Tư Minh châu. Trấn Nam vương đồng ý. Ngày hôm đó Lưu Thế Anh chiến đấu kịch liệt với 20.000 quân của Hưng Đạo vương và Hưng Ninh vương. Quân đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu (懷文侯) đến đánh. Đến sông Sách (冊江), bắc cầu phao vượt sông, cánh quân của Đường Cổ Đái chưa kịp qua thì phục binh trong rừng nổi dậy, quân Nguyên chết đuối nhiều, tử chiến mãi mới ra được cảnh giới. Tháng 7, Khu mật viện xin điều binh tập hợp ở Đàm Châu (潭州) vào tháng 10 năm nay, nghe lệnh Thoát Hoan và A Lý Hải Nha thống lĩnh. Xét theo ''Lai A Bát Xích truyền (來阿八赤傳)'': Năm thứ 22 (năm 1285), thụ chức Chinh Đông Tuyên úy sứ Đô nguyên sứ. Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, Bát Xích thụ chức Hồ Quảng hành tỉnh Hữu thừa, được Thế Tổ cởi áo ban cho, cùng đai vàng ngọc, cung tên giáp trụ. Năm thứ 24 (năm 1287), chỉ huy 1.000 thân quân dẫn Hoàng tử đến Tư Minh châu. Giặc giữ ải Nữ Nhi (女兒關), quân Nguyên đánh chém vạn người, chiếm关. Khi tiến vào Giao Châu, Nhật Huyên bỏ thành chạy. Bát Xích nói: "Giặc bỏ sào huyệt ẩn vào núi biển là để đợi ta mệt mỏi mà thừa cơ. Tướng sĩ ta là người Bắc, mùa xuân hè chướng khí nổi lên, giặc không bị bắt thì ta không thể cầm cự lâu. Nay nên chia quân định đất, chiêu hàng, cấm quân cướp bóc, gấp bắt Nhật Huyên là thượng sách." Bấy giờ Nhật Huyên liên tục sai sứ xin hàng để hoãn binh, chư tướng tin lời, sửa thành để đợi. Lâu dần quân thiếu lương, Nhật Huyên không hàng mà chiếm Trúc Động (竹洞), cửa biển An Bang. Bát Xích đánh bại giặc nhiều trận, nhưng tướng sĩ dịch bệnh không tiến được, các bộ tộc Man lại phản, các cửa ải chiếm được đều mất. Bèn bàn việc rút quân, cho bộ kỵ đi trước, vừa đi vừa đánh ngày mấy chục trận. Giặc chiếm chỗ cao bắn tên độc, tướng sĩ băng bó vết thương mà đánh bảo vệ Hoàng tử ra khỏi cảnh giới. Bát Xích trúng 3 mũi tên độc ở đầu, cổ, đùi, sưng phù rồi chết. Xét theo ''Lý Hằng truyền (李恆傳)'': Theo Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, vượt biển chiếm Thiên Trường, đánh bại Thế tử thu 200 thuyền. Gặp giữa hè dịch bệnh, mưa lụt ngập trại. Có ý kiến nói Giao Chỉ sắp hàng, xin rút quân. Hằng không ngăn được, bèn về. Quân Man đuổi đánh hậu quân, Vương lệnh cho Hằng chặn hậu, vừa đánh vừa đi, tên độc đâm xuyên đầu gối Hằng, một người lính cõng Hằng chạy đến Tư Châu (思州) thì độc phát mà chết. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 23 (năm 1286), đại cử binh phạt An Nam. Phong Trần Ích Tắc (陳益稷) làm An Nam vương, xuống chiếu dụ quan dân An Nam. Vì Tuyên úy ty Hồ Nam dâng lời xin "hoãn binh", Hành tỉnh thần Hồ Quảng là Tuyến Ca (線哥) tán thành ý đó và tâu lên, Đế ngay ngày hôm đó xuống chiếu bãi binh.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 23 (năm 1286), ngày Tân Mão, mệnh cho A Lý Hải Nha (阿里海牙) bàn bạc các việc chinh phạt An Nam. Tháng 2, lấy A Lý Hải Nha vẫn làm Tả thừa tướng Hành trung thư tỉnh An Nam; Áo Lỗ Xích (奧魯赤) làm Bình chương chính sự; Đô nguyên soái Ô Mã Nhi (烏馬兒), Diệc Lý Mê Thất (亦里迷失), A Lý (阿里), Sầm Thuận (昝順), Phàn Tiệp (樊楫) cùng làm Tham tri chính sự. Sai sứ dụ Hoàng tử Dã Tiên Thiết Mộc Nhi (也先鐵木兒) điều 1.000 hoặc 2.000 đến 3.000 quân Hợp Lạt Chương (合剌章) giao cho A Lý Hải Nha đi đánh Giao Chỉ. Ngày Đinh Tỵ, mệnh Hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 chiến thuyền đi biển, hẹn tháng 8 hội tại Khâm Châu (欽州), Liêm Châu (廉州). Ngày Mậu Ngọ, phong Trần Ích Tắc (陳益稷) làm An Nam vương, Trần Tú (陳秀) làm Phụ Nghĩa công (輔義公), xuống chiếu dụ quan dân An Nam. Tháng 4, dụ Nạp Tốc Lạt Đinh (納速刺丁) phân 1.000 quân Mông Cổ vùng Hợp Lạt Chương, sai năng thần thống lĩnh đến Giao Chỉ trợ chiến cho Hoàng tử Thoát Hoan (脫歡). Tháng 5 ngày Tân Mão, An Nam sai sứ hiến phương vật. Tháng 6 ngày Quý Sửu, Tuyến Ca (線哥) ở Hành tỉnh Hồ Quảng tâu: "Nay dùng binh Giao Chỉ, điều 28.700 thú binh của tỉnh này, hẹn tháng 7 hội tại Tĩnh Giang (靜江). Nay đã phát tinh nhuệ khởi hành, 17.800 người còn lại đều gầy yếu bệnh tật, quân đồn điền không thể dùng được. Xin sắc cho năm nay tạm bãi binh." Tháng 11 ngày Kỷ Tỵ, lấy A Bát Xích (阿八赤) làm Hữu thừa Hành tỉnh chinh Giao Chỉ. Tháng 12 ngày Bính Thần, ban cho An Nam vương Trần Ích Tắc cừu mã và 100 đĩnh tiền giấy (sao). Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 23 (năm 1286), đại cử Nam phạt. Tháng 2, hạ chiếu kể tội Nhật Huyên (日烜) giết chú là Trần Di Ái (陳遺愛), không nhận Đạt lỗ hoa xích... Phong Trần Ích Tắc làm An Nam vương để sang bình định đất ấy. Tháng 6, Tuyên úy ty Hồ Nam dâng lời: "Nhiều năm chinh Nhật Bản, dùng binh Chiêm Thành, trăm họ mệt mỏi vận tải, phu dịch phiền trọng, sĩ tốt trúng chướng khí chết nhiều, dân chúng sầu than. Nay lại động đến 1.000.000 quân đánh Giao Chỉ, phí tốn nghìn vàng, không phải cách thương xót sĩ dân... Chi bằng khoan thư sức dân, chờ sang năm trời đất thuận lợi hãy đại cử." Tuyến Ca ở Hành tỉnh Hồ Quảng đồng ý, tâu rằng: "Trong tỉnh có hơn 70 sở trấn giữ, tinh nhuệ đã đi chinh chiến ngoài xa, số còn lại già yếu, mỗi thành không quá 200 người, e kẻ gian dòm ngó. Nay quan không có lương dự trữ, mua ép trong dân, bách tính không chịu nổi khốn cùng." Đế ngay ngày hôm đó xuống chiếu bãi binh, cho sĩ tốt về doanh. Ích Tắc theo quân trở về Ngạc (鄂). Xét theo ''Lưu Tuyên truyền (劉宣傳)'': Lưu Tuyên dâng lời: "An Nam là bang nhỏ, phụng sự nhiều năm, tuế cống chưa từng lỡ hẹn. Nay tháng 7 hội binh tại Tĩnh Giang, đến An Nam tất nhiều người bệnh chết. Giao Chỉ không có lương, thủy lộ khó thông, không có xe ngựa bò thồ, phải dùng vận tải bộ. 1 người gánh 5 đấu gạo, đi về tự ăn hết một nửa. Nếu cần 100.000 thạch lương, phải dùng 400.000 dân phu. Tổng cộng quân nhu, vận tải cần 500.000 đến 600.000 người, dân Quảng Tây, Hồ Quảng sẽ ly tán, không thể lo liệu được... Huống hồ Hồ Quảng gần các khe động, lắm trộm cướp, vạn nhất đại binh đi xa, kẻ gian thừa hư sinh biến, người ở lại già yếu khó mà ứng phó." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 24 (năm 1287), phát quân Tân phụ (新附軍) thảo phạt An Nam, lại phát quân 3 tỉnh cùng Vân Nam và quân Lê (黎兵) 4 châu hải ngoại, chia đường đánh tới, thảy đều chịu sự tiết chế của Trấn Nam vương. Trần Trọng Đạt (陳仲達) xuất thuyền chiến trợ chinh, thủy lục cùng tiến, sở hướng vô địch, đến dưới thành Giao Chỉ, Nhật Huyên trốn đi.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 24 (năm 1287), lệnh A Bát Xích dẫn quân Tân phụ đánh An Nam. Tháng 3, phát quân Mông - Hán 3 tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng cùng binh Vân Nam và quân Lê 4 châu hải ngoại. Mệnh Vạn hộ Hải đạo vận lương Trương Văn Hổ (張文虎) vận 170.000 thạch lương. Lập Hành thượng thư tỉnh chinh Giao Chỉ, do Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp thống lĩnh, đều chịu sự tiết chế của Trấn Nam vương. Tháng 9, Trần Trọng Đạt ở Quỳnh Châu, Tạ Hữu Khuê (謝有奎), Phù Tị Thành (符庇成) đem 120 chiếc thuyền riêng và 1.700 quân Lê trợ chiến. Tháng 11 ngày Nhâm Thần, Ái Lỗ (愛魯) ở Vân Nam đánh phá 40.000 quân của Chiêu Văn vương (昭文王) tại Mộc Ng兀 Môn (木兀門), bắt được tướng Lê Thạch (黎石), Hà Anh (何英). Ngày Kỷ Hợi, Trấn Nam vương đến Tư Minh (思明), chia đường cùng tiến. A Bát Xích dẫn 10.000 quân làm tiền phong. Ngày Tân Sửu, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp và Trình Bằng Phi (程鵬飛) tiến gấp tới Giao Chỉ, đánh đâu thắng đó. Ngày Bính Ngọ, Trấn Nam vương tới Giới Hà (界河), đánh phá quân chặn giữ của Giao Chỉ. Tháng 12 ngày Ất Dậu, Trấn Nam vương vượt sông Phú Lương (富良江), tới dưới thành Giao Chỉ, đánh bại thủ binh. Nhật Huyên cùng con bỏ thành chạy đến bảo Cảm Nam (敢喃堡). Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 24 (năm 1287), phát 70.000 quân Mông - Hán, 500 chiếc thuyền, 6.000 binh Vân Nam, 15.000 quân Lê hải ngoại. Vận tải 170.000 thạch lương. Tháng 11, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp đi đường biển qua Vương Sơn (王山), Song Môn (雙門), cửa An Bang (安邦口), gặp hơn 400 thuyền Giao Chỉ, chém hơn 4.000 cấp, bắt sống hơn 100 người, đoạt 100 thuyền. Trình Bằng Phi đi qua 3 cửa Lão Thử (老鼠), Hãm Sa (陷沙), Thạch Trúc (茨竹), đánh 17 trận đều thắng. Tháng 12, mệnh Trình Bằng Phi và A Lý dẫn 20.000 quân giữ Vạn Kiếp (萬劫). Ô Mã Nhi dẫn thủy binh, A Bát Xích dẫn bộ binh tiến thẳng thành Giao Chỉ. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 25 (năm 1288), Trần Nhật Huyên lại trốn ra biển, đuổi theo không kịp, quân Nguyên bèn quay về phá các trại, vì quân mệt lương hết nên rút quân. Trần Nhật Huyên sai sứ tạ tội, vua sai sứ dụ ông ta phải thân hành vào triều.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 25 (năm 1288), Nhật Huyên ra biển, Trấn Nam vương đuổi không kịp, rút về thành Giao Chỉ. Mệnh Ô Mã Nhi dẫn thủy binh đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Tháng 2, quân Nguyên rút về Vạn Kiếp. Thuyền lương Trương Văn Hổ không tới, chư tướng cho rằng lương hết quân mệt, nên toàn sư trở về. Trấn Nam vương nghe theo. Ngày Nhâm Ngọ, mệnh Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp dẫn thủy binh về trước. Tháng 3, Trấn Nam vương rút đại quân. Thuyền lương Trương Văn Hổ gặp 30 thuyền địch, đánh nhau kịch liệt nhưng vì gió bão và quân đông nên thiệt hại 220 sĩ tốt, 11 chiếc thuyền, mất hơn 14.300 thạch lương, chạy về Quỳnh Châu. Trấn Nam vương rút qua cửa Nội Bàng (內傍關), giặc tụ tập chặn đường về, vương phải theo đường tắt huyện Đan Kỷ (單己縣) ra Lộc Châu (盝州). Nhật Huyên sai sứ tiến người vàng (kim nhân) để thay mình tạ tội. Tháng 11, sai Lý Tư Diễn (李思衍) sang dụ Nhật Huyên vào triều, nếu không sẽ lại gia binh. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 25 (năm 1288), quân Nguyên phá các trại Ngụy (魏寨), chém hơn 10.000 cấp để tìm lương. Tháng 2, A Bát Xích đánh hạ 32 bảo, chém mấy vạn cấp, đoạt 200 thuyền, 113.000 thạch thóc. Ô Mã Nhi tại cửa An Bang không thấy thuyền Trương Văn Hổ, quay về Vạn Kiếp. Chư tướng bàn: "Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có kho tàng để ăn, thuyền lương không tới, tiết trời đã nóng, sợ lương hết quân mệt làm nhục triều đình, nên toàn sư trở về." Trấn Nam vương rút về cửa Nội Bàng, sai Vạn hộ Trương Quân (張均) dẫn 3.000 tinh nhuệ đoạn hậu, tử chiến thoát vây. Thám báo biết Nhật Huyên cùng Thế tử, Hưng Đạo vương (興道王) chia hơn 300.000 quân giữ cửa Nữ Nhi và núi Khâu Cấp (丘急嶺) dài hơn 100 dặm để chặn đường về. Vương đi đường tắt ra Tư Minh (思明). Xét theo ''Tích Đô Nhi truyền (昔都兒傳)'': Tháng Giêng chiến tại núi Tháp Nhi (塔兒山), cánh tay phải trúng tên độc, máu chảy đầy vốc nhưng vẫn hăng máu chiến đấu, bắn chết hơn 20 người Giao, tiến vào đô thành. Tháng 5 rút quân đến cửa Hãm Ni (陷泥關), đón Trấn Nam vương tại cửa Nữ Nhi, gặp 40.000 quân Giao chặn đường, Tích Đô Nhi xông xát đánh lui giặc hơn 20 dặm, toàn sư trở về. Xét theo ''Thiên Nam hành ký (天南行記)'' của Từ Minh Thiện: Tháng 4 năm Chí Nguyên thứ 25 (năm 1288), Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên dâng biểu đại ý: "Vi thần cùng cha quy thuận hơn 30 năm, tuế cống không thiếu. Năm thứ 23, A Lý Hải Nha tham công làm trái thánh chiếu, khiến sinh linh đồ thán. Năm thứ 24, đại quân lại đến đốt chùa chiền, quật mồ mả, bắt giết già trẻ, phá hoại sản nghiệp. Vi thần sợ chết nên trốn đi. Ô Mã Nhi tham chính rêu rao 'ngươi lên trời ta theo lên trời, ngươi vào đất ta theo vào đất', nhục mạ đủ điều. Nay Thái tử thương xót rút quân, nhưng Ô Mã Nhi lại đem thủy quân bắt giết dân ven biển, xẻ thịt phanh thây... Vi thần gửi trả Đại vương Tích Lệ Cơ (昔戾機) và 1.000 quân tàn lạc để biểu thị lòng thành, xin bệ hạ khoan dung." Ngày 12 tháng 11 năm thứ 25 (năm 1288), Lý Tư Diễn (李思衍) phụng chỉ đi sứ. Trong chiếu dụ Nhật Huyên có đoạn: "Ngươi danh nghĩa hướng hóa nhưng không tới triều, mệnh chú ngươi giữ nước thì ngươi giết đi. Trận đánh Chiêm Thành, ngươi không cho mượn đường lại còn chống cự... Nay ngươi hối lỗi, muốn gửi con tin, tiến mỹ nữ, hiến phương vật, nhưng nếu thực thành tâm sao không đích thân tới? Ngươi hãy nghĩ xem: trốn tránh nơi lĩnh hải, ngày đêm lo sợ binh đến, sao bằng về triều hưởng vinh hoa?... Nếu còn trì nghi, hãy cứ sửa thành quách, mài giáp binh, đợi trẫm cử binh lần này. Ngươi từng thờ nhà Tống đã mất, tự lượng sức mình ra sao, nên biết cơ mà tránh hối hận về sau." Ngày 26, sứ đoàn ra cửa Thuận Thành (順城門) khởi hành. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289), tháng 2 ngày Đinh Mão, Thành Đô Quản quân Vạn hộ Lưu Đức Lộc (劉德祿) tâu rằng: "Nguyện dùng 5.000 quân chiêu hàng Di man ở Bát Phiên (八番), nhân đó tiến đánh Giao Chỉ (交趾)." Khu mật viện xin lập Nguyên soái phủ, lấy Dược Thứ Kham (藥刺罕) và Đức Lộc cùng làm Đô nguyên soái, chia 10.000 quân Tứ Xuyên (四川) thuộc dưới quyền, Đế nghe theo. Tháng 4 ngày Mậu Thìn, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用) đến dâng phương vật. Tháng 10 ngày Đinh Hợi, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên lại sai sứ đến dâng phương vật.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 26 (năm 1289), tháng 2, thần hạ Trung thư tỉnh tâu rằng: "Đã bãi việc chinh phạt Giao Chỉ, nên thu hồi phù ấn Hành tỉnh." Tháng 4, Nhật Huyên sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng đến dâng phương vật. Xét theo ''Thiên Nam hành ký (天南行記)'' của Từ Minh Thiện (徐明善): "Ngày 12 tháng 11 năm Chí Nguyên (至元) thứ 25 (năm 1288), lấy Minh Thiện làm Phó sứ đi An Nam, ngày 26 ra khỏi cửa Thuận Thành (順城). Ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Sửu tức năm thứ 26 (năm 1289), đến cửa nước ấy. Em của Thế tử là Thái sư ra đón dâng hương trí kính, hỏi thăm sức khỏe Thánh cung vạn phúc, sứ giả đi đường bình an, rồi cùng lên ngựa đến sứ quán. Ngày 29, Thế tử và sứ giả gặp nhau, phía sau sứ quán có lầu cao, Thế tử từ cửa sau đến trước, mở cửa giữa mời sứ giả vào đứng vái, hỏi thăm Thánh cung vạn phúc, sứ giả đi đường bình an. Ngày 1 tháng 3, bày cờ xí, lọng vàng, trống thổi rước chiếu thư vào Vương thành, đến dưới cửa điện thì xuống ngựa, vào cửa thứ 2 gọi là điện Tập Hiền (集賢殿). Thế tử bái 2 lái dâng hương, lại bái 2 lái nghe tuyên chiếu thư, chỉ có thân thị tả hữu của Thế tử đứng cạnh. Lễ tất, mở tiệc yến đãi sứ giả. Ngày mùng 2, Thế tử sai Hàn lâm đến nói: 'Ô Mã Nhi (烏馬兒) tham chính định về Bắc, sang từ biệt em của Thế tử là Hưng Đạo (興道), đêm nằm trong thuyền bị gió sóng làm cho chết đuối', cùng ý nói sức già bệnh tật không kham nổi việc triều kiến. Ngày mùng 6, Thế tử mời sứ giả xem bản thảo tờ biểu. Ngày mùng 10, Thế tử mời sứ giả xem vạn Phật. Ngày 13, sứ giả áp tải phương vật là Đàm Minh (譚名) hiến thức ăn (hồ tôn). Ngày 15, sứ giả của Thái sư đến bờ sông. Ngày 8 tháng 7, về đến Kinh sư." '''Biểu văn của nước An Nam''': "An Nam quốc Thế tử vi thần Trần Nhật Huyên (陳日烜) hoàng khố muôn thác cúi đầu chịu tội, tâu lên Hoàng đế bệ hạ: Phương này ba xuân tươi đẹp, muôn vật xanh tươi, kính duy Thánh cung vạn phúc. Vi thần vào mùng 1 tháng 3 năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289) thấy Lưu Thiên sứ, Lý Thị lang, Lang trung cùng Đường Ngột Đái (唐兀歹), Cáp Tán (哈散), Ôn Cát Lạt Đái (瓮吉剌歹) mang chiếu thư đến, cùng đưa các tiểu sứ thần Nguyễn Nghĩa Toàn (阮義全) vài người trở về. Vi thần khôn xiết vui mừng, kính cẩn tại chính điện đốt hương bái đọc. Còn như việc bắt phải sửa soạn sang chầu ngay, vi thần thần hồn đều mất, tâm mật như tan, đúng là 'vui chưa cực thì buồn đã đến, hỉ chưa dứt thì sợ đã sang'. Vi thần ở nơi góc biển hẻo lánh, lâu nay vướng bệnh tật, đường sá xa xôi, thủy thổ khó khăn. Tuy mệnh do trời định, nhưng cái chết là điều nhân tình sợ nhất. Thêm vào đó đại quân nhiều lần thảo phạt, giết chóc quá nhiều, anh em không lành, gièm pha không ít. Trước kia chú quốc là Di Ái (遺愛), thực là kẻ chạy trốn ra ngoài, lại vu khống nói là bị giết chết. Sau đó em thứ là Ích Tắc (益稯), đem quân ra hàng trước để lấy công cho mình. Lại thêm người đến tâu thay thường nói sai sự thật, vi thần có 10 phần chết, không có lấy 1 phần sống. Bệ hạ đức quá Đường, Ngu, sáng ngang nhật nguyệt, thực giả không đâu không thấu, u vi không đâu không soi. Thế nên đại quân trước sau tàn sát, vi thần thường lấy hai chữ 'trung thuận' khắc ghi vào tâm can, cống phẩm hàng năm không hề thiếu sót, ấy là nhờ cậy Thánh nhân ở trên cao minh như trời vậy. Đại quân vừa đi, Thiên sứ chưa tới, vi thần đã sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用), Tòng nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông (阮孟聰) kính dâng vật mọn về triều tạ tội. Nếu được khoan dung soi xét, chắc bệ hạ cũng thấu cái ý sợ chết tham sống của vi thần. Ngoài ra không hề có việc bội nghịch nào khác. Năm ngoái người dân nước nhỏ đưa quân sĩ sót lại, vi thần thân hành hỏi han, chỉ tìm được 3 người là Đại vương Tích Lệ Cơ (昔戾機), Ô Mã Nhi (烏馬兒) tham chính, Phàn (樊) tham chính. Người dân đều vì cớ họ giết vợ con, đốt nhà cửa của mình mà muốn làm điều phi nghĩa. Duy vi thần hết sức che chở, hậu đãi ăn mặc, bảo toàn vợ thiếp, sắm sẵn hành trang, sai sứ thần Tòng nghĩa lang Nguyễn Thịnh (阮盛) đi theo Tích Lệ Cơ đại vương cùng Đường Ngột Đái về kinh. Trong đó 2 vị tham chính đi sau, là do đại quân vừa rút, sợ cơn giận của tham chính chưa nguôi tất sinh họa hại, nên phải chậm trễ đợi sắp xếp. Đâu ngờ vi thần không phúc, sự trái nguyện lòng. Phàn tham chính bỗng bị bệnh nhiệt, vi thần dùng hết thuốc men, mua chuộc thầy thuốc dưới trướng họ chữa trị không được, cuối cùng qua đời. Vi thần đã hỏa táng, làm công đức xong, cấp ngựa cho vợ thiếp họ chở xương cốt. Thiên hộ Mai Thế Anh (梅世英), Tiết Văn Chính (薛文正) hộ tống cùng về nhà. Khi Lưu Thiên sứ đến, đều nói là đã qua Ung Châu (邕州). Việc tiếp đãi có kính hay không, hỏi vợ thiếp họ sẽ rõ. Ô Mã Nhi tham chính hẹn đi sau, vì đường về qua Vạn Điền (萬佃), nên xin sang gặp Hưng Đạo (興道) trước để lo liệu phương tiện thủy thổ. Giữa đêm thuyền chạm phải đá bị rò nước, tham chính thân hình cao lớn khó cứu, nên bị chết đuối. Phu phen nước nhỏ cũng chết theo, còn vợ thiếp tiểu đồng nhờ người nhẹ nhỏ nên được cứu thoát. Việc vi thần cử lễ tang lớn, Thiên sứ Hải Nam và Lang trung đều tận mắt thấy. Nếu có điều không cung kính, vợ thiếp họ vẫn còn đó, khó mà che giấu. Số quân nhân trước đây vi thần thu thập được tổng cộng hơn 8.000 người, trong đó có đầu mục hay không đều không biết rõ. Nay mông chiếu dụ, tìm kiếm thêm được đầu mục bấy nhiêu người, quân nhân bấy nhiêu người đều đi theo Thiên sứ về. Sau này nếu còn người sót lại, vi thần cũng sẽ sai phái về hết, không dám lưu giữ một ai. Cúi mong bệ hạ bao dung như núi biển, khoan thứ mọi điều. Vi thần không chỉ bảo toàn tính mạng để phụng sự nước lớn, mà nguyện đời đời kiếp kiếp tan xương nát thịt để báo đáp ơn thánh vạn nhất. Kính tâu. Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289), An Nam quốc Thế tử vi thần Trần Nhật Huyên (陳日烜) thượng tấu." '''Danh sách phương vật (đính kèm biểu)''': Dâng lên bệ hạ (và Hoàng hậu) các món gồm: * 1 thau bạc mạ vàng, 1 con voi thuần, 1 bộ yên ngựa bằng vàng ròng, 1 bộ đệm ngồi. * Mũ mạ vàng mười lượng, 5 bộ cầu hoa mạ vàng nặng 14 lượng 6 tiền, 7 quả chuông đồng mạ vàng. * 1 chiếc án bằng sừng linh dương, 1 tấm chiếu gấm hoa, 4 sợi dây gấm đỏ, 1 tấm khăn quàng gấm thêu vàng, 1 cái mâm đá mạ vàng. * 2 bình lưu ly nắp vàng nặng 1 lượng 6 tiền, 1 đôi chân nến vàng nặng 14 lượng, 1 mâm ngà voi mạ vàng, 1 chén trầm hương nắp mạ vàng, 1 đĩa lá sen vàng nặng 5 lượng. * 1 đĩa hình quả dưa nặng 6 lượng 8 tiền, 1 gáo vàng nặng 10 lượng, 1 đĩa tê giác nắp vàng nặng 4 lượng, 1 chén tê giác nắp vàng nặng 5 tiền. * 1 đôi đũa vàng kèm khay nặng 6 lượng, 1 dao vàng 4 lượng, 1 đũa vàng 1 lượng 3 tiền, 1 xuyên nhục vàng 7 tiền. * 4 dải thắt lưng vàng ròng, 1 bộ bàn cờ tướng bằng gỗ quý khảm ngà, sợi chỉ vàng 3 lượng, 1 hộp khảm vàng nặng 25 lượng, 32 quân cờ ngà voi. * 3 sừng tê hoa, 5 sừng tê đen lớn, 5 mâm đồng lớn mạ vàng nặng 100 lượng, 10 mâm đồng thau nặng 300 lượng. * 2 bình bạc đựng dầu tô hợp nặng 163 lượng (bình nặng 79 lượng). * 3 xấp lụa lông vàng Tây Dương, 50 xấp lụa ngũ sắc, 100 xấp lăng ngũ sắc, 100 xấp gấm Man, 20 tấm vải trắng Đồ Bà (闍婆), 10 tấm vải màu Đồ Bà. * 100 con chim trả (thúy vũ), 10 cân 15 lượng bạch đàn hương, 70 cân mai đàn hương, 100 cân cam mai nhiên hương, 10 cân thảo quả, 20 chiếc ngà voi, 20 sừng tê giác. * 2 con chim ưng, 2 con chim trĩ, 1 con cầy bay (phong ly), 8 con cá sấu, 1 con chim sáo (bát ca). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 27 (năm 1290), mùa xuân tháng Giêng ngày Quý Sửu, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用) dâng phương vật.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': "Năm thứ 27 (năm 1290), Nhật Huyên mất, con là Nhật Tuân (日燇) sai sứ sang cống." Xét theo ''Trương Lập Đạo truyền (張立道傳)'': "Năm thứ 27 (năm 1290), An Nam Thế tử Trần Nhật Tuân (陳日燇) sai thần hạ là Nghiêm Trọng La (嚴仲羅), Trần Tử Lương (陳子良) đến Kinh sư cáo tang và xin nối tước. Trước đó quốc chủ nước ấy là Trần Nhật Huyên (陳日烜) nhiều lần được triệu mà không tới, chỉ sai chú là Di Ái (遺愛) vào cống, triều đình nhân đó phong Di Ái làm An Nam vương. Di Ái về nước, Nhật Huyên ngầm hại đi, Đế sai sứ hỏi tội nhưng Nhật Huyên cự tuyệt, bèn sai tướng đánh nhưng thất lợi trở về. Đế giận, định phát binh lần nữa. Thừa tướng Hoàn Trạch (完澤), Bình chương Bất Hốt Mộc (不忽木) nói: 'Bang nhỏ man di không đáng làm nhọc Trung Quốc. Trương Lập Đạo từng 2 lần đi sứ An Nam có công, nay sai đi lần nữa chắc sẽ vâng mệnh.' Đế gọi đến điện Hương, dụ rằng: 'Nước nhỏ bất cung, nay sai ngươi đi truyền ý trẫm, hãy tận tâm.' Lập Đạo thưa: 'Mệnh quân phụ dù vào nước lửa không dám từ, nhưng thần sợ không đủ tài gánh vác, xin phái 1 trọng thần đi cùng, thần làm phó.' Đế bảo: 'Khanh là tâm phúc, nếu để người khác trên khanh tất hỏng mưu.' Bèn thụ chức Lễ bộ Thượng thư, đeo hổ phù 3 châu, ban áo gấm, yên vàng, cung tên mà đi. Đến biên giới An Nam, Lập Đạo bảo kẻ ra đón: 'Bảo Thế tử các ngươi phải ra khỏi thành đón chiếu.' Nhật Tuân bèn dẫn thuộc hạ đốt hương phục lạy bên đường. Đến phủ, Nhật Tuân quỳ nghe chiếu đúng lễ. Lập Đạo truyền mệnh, kể tội và viết thư hiểu dụ; Nhật Tuân bảo: 'Ba đời nước tôi nhục cho Công, tôn Công là khanh nước lớn, là thầy nước nhỏ; nay Công dạy tôi thế nào?' Lập Đạo đáp: 'Xưa Trấn Nam vương đem quân thảo phạt, không phải các ngươi thắng được đâu, mà do quân ta không dùng người dẫn đường, tiến sâu vào chỗ không người, trì nghi mà về, chưa ra khỏi hiểm yếu thì mưa gió ập đến, cung tên hư hỏng, quân không đánh tự tan, Thiên tử đã biết rõ rồi. Các ngươi chỉ cậy vào núi cao biển sâu, chướng khí độc hại mà thôi. Vả người Vân Nam và Lĩnh Nam tập tục giống nhau, sức lực ngang nhau, nay đem họ phối hợp với kỵ binh phương Bắc, các ngươi chống sao nổi? Các ngươi đánh không lợi, chẳng qua trốn ra biển, nhưng giặc đảo sẽ thừa cơ cướp phá. Các ngươi thiếu ăn không trụ nổi, tất bị họ khuất phục. Làm thần tử của họ sao bằng làm thần tử Thiên tử? Nay các nước hải đảo cống nạp cho các ngươi cũng là vì sợ đại quốc ta vậy. Thánh Thiên tử có đức, đối đãi hậu hĩnh. Quân đội năm trước không phải ý trên, mà do tướng biên thùy gièm pha, ngươi không ngộ ra, không sai một sứ giả tạ tội xin mệnh, lại cầm binh kháng cự, đuổi sứ giả, làm giận sư đoàn đại quốc. Nay họa sắp đến rồi, Thế tử hãy tự tính lấy.' Nhật Tuân lạy và khóc rằng: 'Lời Công rất phải, những kẻ mưu tính cho tôi không ai nghĩ được thế này. Trận chiến trước kia chỉ là để cứu cái chết mà thôi, há chẳng sợ Thiên tử sao? Thiên tử sai Công đến tất là muốn cứu sống tôi.' Rồi quay về hướng Bắc bái tạ, thề chết không quên ơn Thiên tử. Bèn rước Lập Đạo vào, mang kỳ bảo ra biếu. Lập Đạo không nhận một thứ gì, chỉ yêu cầu Nhật Tuân nhập triều. Nhật Tuân nói: 'Tham sống sợ chết là tình thường. Nếu có chiếu tha tội chết, thần há dám từ?' Bèn sai thần hạ Nguyễn Đại Chi (阮代之), Hà Duy Nham (何惟巖) theo Lập Đạo dâng biểu tạ tội, tu sửa lễ tuế cống như cũ, bày tỏ ý nguyện vào triều. Đình thần có kẻ ghen công, cho rằng phải vào triều trước rồi mới xá tội. Nhật Tuân sợ, cuối cùng không dám đến, người bàn luận đều tiếc cho việc đó." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 28 (năm 1291), mùa thu tháng 7 ngày Kỷ Dậu, triệu em vua Giao Chỉ là Trần Ích Tắc (陳益稷), Hữu thừa Trần Nham (陳巖), Trịnh Đỉnh (鄭鼎), con của Na Hoài (那懷) cùng đến Kinh sư. Tháng 9 ngày Tân Hợi, An Nam vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai sứ dâng biểu, tiến phương vật và tạ tội không đi triều kiến. Mùa đông tháng 10 ngày Quý Tỵ, lấy Vũ Bình lộ Tổng quản Trương Lập Đạo (張立道) làm Lễ bộ Thượng thư, đi sứ Giao Chỉ.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 28 (năm 1291), Thái Vinh (蔡榮) ở Vạn hộ phủ Lưỡng Hoài trấn thủ Vĩnh Châu dâng thư bàn việc quân, cho rằng triều đình thưởng phạt không minh, quân sĩ không tận mệnh, tướng soái bất hòa, bỏ lỡ thời cơ... thư dâng lên không thấy hồi âm. *(Ghi chú: An Nam truyện chép năm thứ 27 Nhật Huyên mất, Nhật Tuân lập, mà Bản kỷ năm thứ 28 vẫn chép Nhật Huyên dâng biểu. Trương Lập Đạo truyền chép năm thứ 27 sai đi sứ, Bản kỷ chép năm thứ 28, nay chép cả để tham khảo).'' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 29 (năm 1292), tháng 3, lấy An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) dao thụ (trao chức từ xa) chức Bình chương chính sự Hành trung thư tỉnh Hồ Quảng (湖廣), đeo hổ phù, cư ngụ tại Ngạc Châu (鄂州). Tháng nhuận, Lễ bộ Thượng thư Trương Lập Đạo (張立道), Lang trung Oai Đầu (歪頭) đi sứ An Nam trở về, cùng với sứ thần nước ấy là Nguyễn Đại Chi (阮代之), Hà Duy Nham (何維巖) đến khuyết đình. Trần Nhật Tuân (陳日燇) bái biểu văn và thư sỉnh, tu sửa lễ tuế cống. Tháng 9 ngày Tân Dậu, xuống chiếu dụ nước An Nam: "Trần Nhật Tuân phải đích thân vào triều."''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 9 năm thứ 29 (năm 1292), sai Lại bộ Thượng thư Lương Tằng (梁曾), Lễ bộ Lang trung Trần Phu (陳孚) mang chiếu thư lần nữa dụ Nhật Tuân vào chầu. Chiếu viết: "Xem biểu đã rõ mọi việc. Năm ngoái Lễ bộ Thượng thư Trương Lập Đạo nói từng đến An Nam, biết rõ sự thể nơi đó, xin sang khai dụ để ngươi vào chầu, nên mới sai Lập Đạo đi. Nay tội lỗi nước ngươi đã tự trần tình, Trẫm còn nói gì nữa? Nếu bảo rằng 'đang trong kỳ tang chế và sợ chết dọc đường nên không dám vào chầu', thì hạng sinh linh trên đời có ai được an toàn mãi mãi chăng? Thiên hạ há có nơi nào là không chết chăng? Trẫm chưa hiểu rõ, ngươi nên tâu cho tường tận. Cứ dùng hư văn tuế tệ để khéo léo dối gạt, thì nghĩa khí để đâu?" Xét theo ''Lương Tằng truyền (梁曾傳)'': Năm thứ 29 (năm 1292), có chỉ lệnh cho Tằng lần nữa đi sứ An Nam, thụ chức Lại bộ Thượng thư, ban hổ phù vàng 3 châu, áo mặc, ngựa cưỡi, cung tên, đồ dùng và tiền tệ; lấy Lễ bộ Lang trung Trần Phu làm Phó sứ. Tháng 12, cải thụ chức Tổng quản lộ Hoài An (淮安路) rồi lên đường. Xét theo ''Trần Phu truyền (陳孚傳)'': Năm thứ 29 (năm 1292), Thế Tổ mệnh Lương Tằng làm Lại bộ Thượng thư sang sứ An Nam lần 2, chọn kẻ sĩ phương Nam làm trợ thủ. Triều thần tiến cử Phu là người "bác học có khí tiết". Điều động ông đang từ Biên tu quan ở Hàn lâm Quốc sử viện, nhiếp chức Lễ bộ Lang trung, làm Phó sứ cho Tằng. Khi từ biệt bệ hạ, được ban triều phục ngũ phẩm, đeo kim phù mà đi. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 30 (năm 1293), mùa thu tháng 7 ngày Kỷ Tỵ, mệnh Lưu Quốc Kiệt (劉國傑) theo chư vương Diệc Cát Lý (亦吉里) đốc thúc chư quân chinh phạt Giao Chỉ. Tháng 8 ngày Canh Dần, sứ giả đi An Nam là Lương Tằng, Trần Phu cùng sứ giả An Nam là Đào Tử Kỳ (陶子奇), Lương Văn Tảo (梁文藻) cùng đến. Mùa đông tháng 10, ban áo mùa đông cho 17 người bọn Đào Tử Kỳ của Giao Chỉ, an trí tại Kinh Nam (荊南). Tháng 12 ngày Ất Mùi, sai sứ đốc thúc 2 châu Tư, Bá cùng Trấn Viễn, Hoàng Bình; điều động 8.000 quân cũ của nhà Tống theo chinh phạt An Nam.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 30 (năm 1293), bọn Lương Tằng sứ về, Nhật Tuân sai bồi thần Đào Tử Kỳ sang cống. Đình thần cho rằng Nhật Tuân rốt cuộc không vào chầu, lại bàn chuyện chinh phạt, bèn giam giữ Tử Kỳ tại Giang Lăng (江陵), mệnh Lưu Quốc Kiệt cùng chư hầu vương Diệc Lý Cát Đãi (亦里吉䚟) đồng chinh An Nam. Sắc truyền đến Ngạc Châu để bàn bạc với Trần Ích Tắc. Tháng 8, Bình chương Bất Hốt Mộc (不忽木) tâu xin lập Hành tỉnh An Nam tại Hồ Quảng, cấp 2 ấn, mua 1.000 thuyền của dân chài loại chở được 100 hộc; dùng 56.570 quân, 350.000 thạch lương, 20.000 thạch cỏ ngựa, 210.000 cân muối. Cấp trước bổng lộc cho quân quan, phát cho quân nhân và thủy thủ mỗi người 2 đĩnh bảo sao, khí trượng tổng cộng hơn 700.000 món. Quốc Kiệt lập 11 mạc quan, chia đường thủy lục cùng tiến. Lại lấy Phó sứ Giang Tây Hành khu mật viện là Triệt Lý Man (徹里蠻) làm Hữu thừa theo chinh phạt. Trần Nham (陳巖), Triệu Tu Kỷ (趙修己), Vân Tùng Long (雲從龍), Trương Văn Hổ (張文虎), Sầm Hùng (岑雄) cũng lệnh cho cùng làm việc. Ích Tắc theo quân đến Trường Sa (長沙), gặp lúc đình chỉ việc binh nên dừng lại. ''(Ghi chú: Bản kỷ chép là Diệc Cát Lý, truyện chép là Diệc Lý Cát Đãi, tất có một bên nhầm, nay cứ theo nguyên bản mà chép cả).'' Xét theo ''Lương Tằng truyền (梁曾傳)'': Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293) đến An Nam, nước ấy có 3 cửa, giữa là Dương Minh (陽明), trái là Nhật Tân (日新), phải là Vân Hội (雲會). Bộ thần ra ngoại ô đón, định dẫn đi từ cửa Nhật Tân, Tằng cả giận nói: "Phụng chiếu mà không đi cửa chính, là ta làm nhục mệnh vua vậy." Bèn quay về quán trọ. Sau đó họ xin mở cửa Vân Hội, Tằng lại kiên quyết không chịu, mãi sau họ mới mở cửa Dương Minh rước chiếu vào. Lại trách Nhật Tuân không thân hành ra đón chiếu và giảng giải lễ nghi "thượng hữu" (chuộng bên phải) của tân triều. Thư từ qua lại 3 lần, tuyên bố uy đức Thiên tử để khuyên vua nước ấy vào chầu. Thế tử Trần Nhật Tuân rất cảm phục. Tháng 3, lệnh cho Quốc tướng Đào Tử Kỳ theo Tằng về khuyết đình thỉnh tội, dâng ''Vạn thọ tụng'', sách vàng, biểu chương, phương vật, lại lấy vàng ròng, đồ dùng, vật lạ tặng Tằng làm quà tiễn. Tằng không nhận, trả lại hết cho Đào Tử Kỳ. Tháng 8 về đến Kinh sư, vào kiến diện, dâng các thư từ nghị sự qua lại với Trần Nhật Tuân. Đế đại duyệt, cởi áo ban cho, lại lệnh cho ngồi xuống đất. Hữu thừa A Lý (阿里) tỏ ý không bằng lòng, Đế giận mắng: "Lương Tằng 2 lần đi sứ nước ngoài, dùng miệng lưỡi mà dập tắt binh đao, ngươi sao dám thế!" Hôm đó có thân vương từ Hòa Lâm (和林) đến, Đế mệnh rót rượu ban cho Tằng trước, bảo thân vương rằng: "Việc ngươi làm là việc của ngươi, việc Lương Tằng làm là việc của Ta và ngươi, ngươi đừng coi ông ta là kẻ xếp sau." Lại ban rượu thức ăn tại tiện điện, cho lưu trú trong cung, bàn việc An Nam đến canh 2 mới ra. Ngày hôm sau, Đào Tử Kỳ vào chầu, trình phương vật, voi và vẹt tại sân. Đế lệnh Tằng dẫn voi hiến tế, Tằng dùng tay áo dắt đi, voi theo Tằng quay vòng như thể đã thuần dưỡng từ lâu. Lại lệnh dắt con voi khác cũng thế. Đế khen Tằng là người có phúc, hỏi rằng: "Ngươi có sợ không?" Đáp rằng: "Dù sợ nhưng mệnh vua không dám trái." Đế khen tốt. Có kẻ gièm pha Tằng nhận hối lộ của An Nam, Đế đem hỏi, Tằng đáp: "An Nam đem vàng ròng vật lạ tặng thần, thần không nhận mà trả lại cho Đào Tử Kỳ rồi." Đế nói: "Dẫu có nhận thì có sao đâu." Liền ban 1 đĩnh bạch kim, 2 đồng tiền vàng, sắc cho Trung thư tỉnh trao hổ phù vàng 3 châu cho Tằng. Xét theo ''Bất Hốt Mộc truyền (不忽木傳)'': Vương sư chinh Giao Chỉ thất lợi, lại mưu đại cử. Bất Hốt Mộc nói: "Đảo di quỷ quyệt, uy trời giáng xuống sao không run sợ. Thú cùng tất cắn, thế khiến phải vậy. Nay con là Nhật Tuân nối ngôi, nếu sai một sứ giả sang dụ điều họa phúc, họ biết hối quá tự mới thì không phiền đến binh đao mà bình định được. Nếu không sửa đổi, gia binh cũng chưa muộn." Đế nghe theo. Thế là Giao Chỉ cảm sợ, sai ngụy Chiêu Minh vương (昭明王) đến khuyết đình tạ tội, dâng hết vật cống của 6 năm trước. Đế khen: "Đó là sức mạnh một lời nói của khanh vậy", liền đem một nửa ban cho. Bất Hốt Mộc từ chối: "Đó là nhờ đức thần vũ không giết chóc của Bệ hạ, thần có công lao gì? Chỉ xin nhận hòn giả sơn trầm hương, cái chặn giấy bằng ngà voi và cái gác bút bằng pha lê mà thôi." Xét theo ''Trần Phu truyền (陳孚傳)'': Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293) đến An Nam, Thế tử Trần Nhật Tuân vì có tang, không ra ngoại ô, sai bồi thần đến đón, lại không theo cửa chính Dương Minh. Tằng và Phu về quán trọ viết thư, chất vấn Nhật Tuân về tội bất đình, trách việc không ra đón chiếu và giảng lễ tân triều. Qua lại 3 bức thư, tuyên bố uy đức Thiên tử, lời lẽ chính trực khí thế hào hùng, đều là văn của Phu vậy. Những đồ quà tặng, Phu đều từ chối hết. Xét theo ''Cáp Lạt Cáp Tôn truyền (哈剌哈孫傳)'': Năm thứ 30 (năm 1293), Bình chương Lưu Quốc Kiệt dẫn binh chinh Giao Chỉ, Cáp Lạt Cáp Tôn răn dạy tướng lại không được nhiễu dân. Có kẻ cướp cá rau của dân, ông cho đánh trượng Thiên hộ ấy, trong quân nghiêm túc. Chợt có chỉ điều động 10.000 hộ dân giàu ở Hồ Tương đi đồn điền ở Quảng Tây để mưu đánh Giao Chỉ. Cáp Lạt Cáp Tôn mật sai sứ tâu: "Năm xưa viễn chinh không công, vết thương chưa lành, nay lại dời dân đến xứ chướng khí, tất sẽ oán loạn." Quan lại không biết ông đã tâu, ôm sổ sách xin ký, ông không đáp. Họ lại xin, ông bảo: "Cứ thong thả." Chẳng bao lâu sứ về báo bãi bỏ việc đó, dân chúng đều cảm duyệt. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 31 (năm 1294), mùa xuân tháng Giêng, Thế Tổ băng hà. Mùa hè tháng 4 ngày Giáp Ngọ, Hoàng thái tử lên ngôi Hoàng đế. Ngày Canh Tý, sai Lễ bộ Thị lang Lý Khản (李衎), Binh bộ Lang trung Tiêu Thái Đăng (蕭泰登) mang chiếu thư đi sứ An Nam.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Thành Tông bản kỷ (成宗本紀)'' chép như trên. Xét theo ''An Nam truyện (安南傳)'': Tháng 5 năm thứ 31 (năm 1294), Thành Tông lên ngôi, mệnh bãi việc chinh phạt An Nam, sai Đào Tử Kỳ về nước. Nhật Tuân sai sứ dâng biểu chia buồn quốc tang, hiến phương vật. Tháng 6 sai Lễ bộ Thị lang Lý Khản, Binh bộ Lang trung Tiêu Thái Đăng cầm chiếu sang vỗ về. Đại lược nói: "Tiên hoàng đế vừa bỏ thiên hạ, Trẫm nối giữ đại thống. Lúc mới lên ngôi, đại xá thiên hạ, không kể xa gần. Riêng An Nam ngươi cũng được khoan xá, đã sắc cho hữu ty bãi binh, cho bồi thần Đào Tử Kỳ về nước. Từ nay về sau, việc kính trời thờ nước lớn, hãy nên suy xét kỹ!" '''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ nhất (năm 1295) đời Thành Tông, tháng 3 ngày Ất Tỵ mùng 1, An Nam thế tử Trần Nhật Tuân sai sứ dâng biểu chia buồn quốc tang, lại dâng thư tạ ơn khoan xá và hiến phương vật. Tháng nhuận tháng 4, ban cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc 1.000 đĩnh tiền giấy. Tháng 10 ngày Mậu Thìn, cho sứ giả triều cống An Nam là Trần Lợi Dụng (陳利用) trở về nước, giáng chiếu dụ Trần Nhật Tuân.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thành Tông bản kỷ (成宗本紀)'' chép như trên. '''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 2 (năm 1296), tháng 5, nước An Nam (安南) sai người chiêu dụ phản tặc Hoàng Thắng Hứa (黃勝許). Tháng 6 ngày Bính Ngọ, phản tặc Hoàng Thắng Hứa trốn vào Giao Chỉ (交趾).''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" (元史·成宗本紀) chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 1 (năm 1297), tháng 5 ngày Mậu Thìn, nước An Nam (安南) sai sứ sang triều cống.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 2 (năm 1298), tháng 9, nước Giao Chỉ (交趾) cống phương vật. Tháng 11 ngày Canh Dần, nước An Nam (安南) cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 5 (năm 1301), vì sứ giả An Nam đến là Đặng Nhữ Lâm (鄧汝霖) cùng bọn tùy tùng làm việc phi pháp, nên sai sứ giả sang trách cứ bằng "Đại nghĩa".''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" không chép; theo "An Nam bản truyện" (安南本傳):'' Tháng 2 năm Đại Đức thứ 5 (năm 1301), Thái phó Hoàn Trạch (完澤) cùng các quan tâu rằng sứ An Nam là Đặng Nhữ Lâm đã lén vẽ bản đồ cung uyển, tự ý mua bản đồ địa lý và các sách cấm, lại sao chép văn thư về việc trần tình trưng thu Giao Chỉ, cùng tư chép tình hình quân sự biên giới phía Bắc và các việc sơn lăng; nên sai sứ mang chiếu thư trách cứ bằng đại nghĩa. Tháng 3, sai Lễ bộ Thượng thư Mã Hợp Mã (馬合馬), Lễ bộ Thị lang Kiều Tông Lượng (喬宗亮) mang chiếu dụ Nhật Tuân (日燇) về đại ý việc Nhữ Lâm làm điều phi pháp, lẽ ra phải trị tội đến cùng. Trẫm lấy thiên hạ làm lượng, sắc cho hữu ty thả về. Từ nay sứ giả phải được chọn lựa kỹ, có điều gì thỉnh cầu phải hết sức thành khẩn. Trước đây dùng hư văn dối trá, há có ích gì cho sự nghiệp! Đừng ngại thay đổi mưu đồ kẻo để lại hận sau. Trung thư tỉnh lại gửi văn bản đòi 2 người gồm Vạn hộ Trương Vinh Thực (張榮實), cho đi cùng sứ giả trở về. '''Năm Đại Đức (大德) thứ 6 (năm 1302), tháng 6 ngày Ất Hợi, nước An Nam (安南) đem 2 con voi thuần và chu sa đến hiến tặng.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 7 (năm 1303), tháng 2, vì Trần Ích Tắc (陳益稷) ở An Nam đã cư ngụ lâu tại Ngạc Châu (鄂州), nên ban cho 1.000 đĩnh tiền giấy.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 8 (năm 1304), mùa đông tháng 10 ngày Đinh Hợi, An Nam (安南) sai sứ nhập cống.''' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 9 (năm 1305), mùa đông tháng 10, ban cho An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) 500 khoảnh đất tại Hồ Quảng (湖廣).''' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 10 (năm 1306), mùa đông tháng 10 ngày Đinh Mão, nước An Nam (安南) sai Lê Kháng Tông (黎亢宗) đến cống phương vật.''' *Theo: Các mục trên đều từ "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ".'' '''Đời Vũ Tông (武宗), năm Chí Đại (至大) thứ 1 (năm 1308), tháng 7, xuống chiếu dụ An Nam (安南).''' *Theo "Nguyên sử – Vũ Tông bản kỷ":'' Tháng 7 năm Chí Đại thứ 1 (năm 1308), ngày Quý Dậu, xuống chiếu dụ nước An Nam rằng: "Nước ta dùng võ công định thiên hạ, dùng văn đức vỗ về người phương xa, luôn đoái hoài An Nam. Từ đời ông nội đến đời cha ngươi đời đời tu sửa phương cống, Trẫm rất khen ngợi. Gần đây Tiên hoàng đế băng hà, Trẫm đang phủ quân tại Sóc Phương, được tông thất chư vương, quý thích nguyên huân suy tôn, vì Trẫm là đích tôn của Thế Tổ (世祖), dòng chính của Dụ Hoàng (裕皇), tông phiên thuận tòng bên ngoài, thần dân mong đợi bên dưới, lòng người đồng thuận, ngôi báu có chủ. Trẫm thuận theo dư luận, vào ngày 21 tháng 5 năm Đại Đức thứ 11 (năm 1307), đã lên ngôi hoàng đế tại Thượng Đô (上都). Nay sai Thiếu trung đại phu Lễ bộ Thượng thư A Lý Hôi (阿里灰), Triều thỉnh đại phu Lại bộ Thị lang Lý Kinh (李京), Triều liệt đại phu Binh bộ Thị lang Cao Phục Lễ (高復禮) sang dụ chỉ: Hãy thể theo lòng nhân từ mà xem trọng, bền vững lòng thành sự lớn (thờ nước lớn). Giữ yên bờ cõi ngươi để xứng với ý Trẫm." *Theo "An Nam bản truyện":'' Vũ Tông lên ngôi, xuống chiếu dụ nước ấy, họ nhiều lần sai sứ đến cống. '''Năm Chí Đại (至 đại) thứ 4 (năm 1311), Thế tử An Nam là Nhật (日) dâng biểu triều cống. Chiếu cho phong tước, huân chương cho An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) và hưởng điền lộc như cũ.''' *Theo "Nguyên sử – Vũ Tông bản kỷ" không chép; theo "Nhân Tông bản kỷ" (仁宗本紀):'' Tháng 8 năm thứ 4 (năm 1311), ngày Bính Tuất, Thế tử An Nam là Trần Nhật (陳日) dâng biểu cùng phương vật sang cống. Tháng 9 ngày Bính Ngọ, Dao thụ Hồ Quảng Bình chương - An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) vào yết kiến, tâu rằng: "Thần từ triều Thế Tổ đã quy thuận, vợ con đều bị người trong nước hại, triều đình ban cho vương tước, lại ban 500 khoảnh ruộng tại Hán Dương (漢陽) để tự nuôi thân suốt đời. Nay thần tuổi gần 70, mà hữu ty lại thu hồi ruộng đất, khiến thần không có chỗ ăn." Đế bảo các quan rằng: An Nam vương mộ nghĩa quy thuận, nên hậu đãi để vỗ về người phương xa. Cho tước huân và ruộng đất như cũ. *Theo "An Nam truyện":'' Tháng 8 năm Chí Đại thứ 4 (năm 1311), Thế tử Trần Nhật sai sứ dâng biểu đến triều. '''Đời Nhân Tông (仁宗), năm Hoàng Khánh (皇慶) thứ 1 (năm 1312), tháng 8, An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) đến triều.''' *Theo: "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Hoàng Khánh (皇慶) thứ 2 (năm 1313), mùa hạ tháng 4, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống phương vật.''' *Theo "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" chép như vậy; theo "An Nam bản truyện":'' Tháng 1 năm Hoàng Khánh thứ 2 (năm 1313) đời Nhân Tông, quân Giao Chỉ khoảng hơn 30.000 người, cùng hơn 2.000 kỵ binh xâm phạm Vân Động (雲洞) thuộc trấn An Châu (安州), giết cướp cư dân, đốt cháy kho lẫm nhà cửa, lại chiếm đóng Lộc Động (祿洞), Tri Động (知洞), bắt người và gia súc cùng tài sản dân chúng mang về. Lại chia binh làm 3 đường phạm vào Quy Thuận Châu (歸順州), đóng quân chưa rút. Triều đình bàn việc để Hành tỉnh Hồ Quảng (湖廣) phát binh thảo phạt. Tháng 4 lại nhận báo báo, Thế tử Giao Chỉ thân hành dẫn binh đốt nhà quan, nhà dân tại Dưỡng Lợi Châu (養利州), giết cướp hơn 2.000 người, lại rêu rao rằng: "Xưa Quy Thuận Châu ở Hữu Giang 5 lần cướp phá Đại Nguyên Lộ (大源路) của ta, bắt hơn 5.000 người. Quan tri châu Dưỡng Lợi là Triệu Quyết (趙玨) bắt thương nhân Tư Lãng Châu (思浪州) của ta, lấy 1 nghiên vàng, lấn hơn 1.000 khoảnh ruộng, nên mới đến báo thù." Tháng 6, Trung thư tỉnh sai Binh bộ Viên ngoại lang A Lý Ôn Sa (阿里溫沙), Khu mật viện sai Thiên hộ Lưu Nguyên Hanh (劉元亨) cùng đến Hành tỉnh Hồ Quảng điều tra. Nguyên Hanh thân hành đến các làng Thượng, Trung, Hạ xem xét địa điểm, hỏi han dân chúng nông công, lại sai Tri châu Hạ Tư Minh là Hoàng Tùng Thọ (黃嵩壽) sang chất vấn, nói là nô tì của Thái sư của Thế tử Nguyễn Lục (阮盝), nhưng cũng chưa biết thực hư. Bèn gửi văn bản dụ nước An Nam, đại lược nói: "Xưa lưu trí 9 quận, nhà Đường lập 5 quản, An Nam thực là nơi thanh giáo vươn tới. Huống hồ hiến bản đồ dâng đồ cống, danh phận trên dưới vốn rõ ràng; đãi hậu thu bạc, ơn huệ vỗ về cũng chí tình. Thánh triều quả thực có lỗi gì với quý quốc? Nay cớ sao tự làm việc bất tĩnh, gây mầm tai họa. Tuy đất của các thôn làng vốn rất nhỏ, nhưng quan hệ đến dư đồ quốc gia rất lớn. Thêm nữa số người bị giết và bị bắt đều là dân có hộ tịch của triều đình, Tỉnh Viện chưa dám tâu lên, nhưng chưa rõ mưu đồ bất chính này thực sự do ai chủ xướng?" An Nam gửi văn bản trả lời rằng: "Bọn trộm cướp chuột nhắt chó vặt ở biên thùy tự làm loạn, bản quốc sao biết được?" Lại kèm theo lễ vật hối lộ. Nguyên Hanh lại gửi thư trách An Nam dùng lời lẽ xảo trá không thực, từ chối lễ vật, và nói: "Vàng phương Nam, ngà voi, quý quốc cho là bảo vật, nhưng sứ giả ta lấy 'không tham' làm bảo vật. Vật mang đến hãy giao trả cho sứ giả cầm về, xin hãy xét kỹ sự tình, nói rõ cho ta biết." Nhưng vì đường sá xa xôi, lời lẽ hư thực lộn xộn, cuối cùng không nắm được cốt yếu. Nguyên Hanh tìm nguyên do, cho rằng vì người Giao trước đây từng lấn chiếm biên cảnh Vĩnh Bình (永平), nay lại học theo thành thói. Lại nghe nói Thế tử Nguyễn Lục (阮盝) là kẻ bạt hổ ở Giao Chỉ. Kế sách bây giờ, không gì bằng sai sứ dụ An Nam trả lại đất đai ruộng vườn, trả lại nhân dân, lệnh cho người trong nước định chính ranh giới, truy cứu chủ mưu gây hấn mà giết ở biên cảnh. Cảnh cáo biên lại không được xâm lấn, lại ở Vĩnh Bình lập đồn mộ binh, đặt quan thống lĩnh, cấp ruộng đất trâu bò, lệnh tự canh tác, lập bộ ngũ, định rõ thưởng phạt, để lúc gấp gáp đầu đuôi ứng cứu nhau. Như thế biên cảnh mới yên tĩnh, mãi bảo đảm không lo sợ." Việc tâu lên, có chỉ chờ sứ An Nam đến sẽ lấy đó mà dụ. Từ những năm đầu Diên Hựu (延祐) đến cuối năm Chí Trị (至治), biên cương yên tĩnh, triều cống không dứt. '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 3 (năm 1316), tháng 2 ngày Mậu Dần, mệnh cho Hành tỉnh Hồ Quảng (湖廣行省) dụ An Nam (安南) trả lại quốc chủ nước Chiêm Thành (占城).''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 4 (năm 1317), tháng 6 ngày Đinh Tỵ, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống.''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 5 (năm 1318), tháng Giêng ngày Bính Tý, nước An Nam (安南) sai thần hạ là Doãn Thế Tài (尹世才) cùng bọn đem phương vật sang cống.''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 6 (năm 1319), tháng 5 ngày Bính Tý, gia phong cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) hàm Nghi đồng tam ty (儀同三司).''' *Theo: Các mục trên đều chép trong "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" (元史·仁宗本紀).'' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 7 (năm 1320), tháng Giêng ngày Tân Sửu, Nhân Tông (仁宗) băng hà. Tháng 3 ngày Canh Dần, Đế (Anh Tông) lên ngôi. Tháng 10, nước An Nam (安 Nam) sai thần hạ là Đặng Cung Kiệm (鄧恭儉) đến cống phương vật. Tháng 11 ngày Mậu Tuất, người man Giao Chỉ (交趾) là Nông Chí Đức (儂志德) đánh phá 6 động thuộc Thoát Linh (脫零), Na Khất (那乞), mệnh cho thủ tướng thảo phạt. Tháng 12, tộc Dao (猺) ở Thượng Tư Châu (上思州) kết liên với Giao Chỉ đánh phá Trung Châu (忠州).''' *Theo: "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" không chép; theo "Anh Tông bản kỷ" (英宗本紀) chép như vậy.'' '''Đời Anh Tông (英宗), năm Chí Trị (至治) thứ 1 (năm 1321), mùa hạ tháng 7 ngày Quý Tỵ, sai Lại bộ Thượng thư Giáo Hóa (教化), Lễ bộ Lang trung Văn Củ (文矩) đi sứ An Nam để ban chiếu đăng cực (lên ngôi).''' *Theo: "Nguyên sử – Anh Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Trị (至治) thứ 2 (năm 1322), mùa xuân tháng Giêng ngày Kỷ Tỵ mùng 1, An Nam sai sứ sang cống phương vật. Tháng 11, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống phương vật, ban thưởng lại 450 lượng vàng, 9 đồng tiền vàng và lụa là tương ứng.''' *Theo: "Nguyên sử – Anh Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Đời Thái Định Đế (泰定帝), năm Thái Định (泰定) thứ 1 (năm 1324), mùa thu tháng 7 ngày Bính Ngọ, lấy Phán quan Ti muối vận tải Sơn Đông là Mã Hợp Mô (馬合謨) làm Lại bộ Thượng thư đeo Hổ phù, Hàn lâm Tu soạn Dương Tông Thụy (楊宗瑞) làm Lễ bộ Lang trung đeo Kim phù, mang chiếu tức vị sang dụ An Nam. Mùa đông tháng 10 ngày Nhâm Thân, Thế tử nước An Nam là Trần Nhật Khoáng (陳日爌 - tức vua Trần Minh Tông) sai thần hạ là Mạc Tiết Phu (莫節夫) sang triều cống.''' *Theo "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy. Theo "An Nam bản truyện" (安南本傳):'' "Năm Thái Định thứ 1 (năm 1324), Thế tử Trần Nhật Khoáng sai bồi thần Mạc Tiết Phu sang cống. Ích Tắc (益稷) cư ngụ đã lâu ở Ngạc (鄂), dao thụ chức Bình chương chính sự Hành tỉnh Hồ Quảng." '''Năm Thái Định (泰定) thứ 2 (năm 1325), tháng 3 ngày Ất Hợi, Thế tử nước An Nam Trần Nhật Khoáng (陳日爌) sai sứ cống phương vật. Tháng 10 ngày Ất Tỵ, Tri châu Ninh Viễn (寧遠) là Thiêm Cắm (添插) tâu rằng: "Thổ quan nước An Nam là Áp Na (押那) công kích cướp bóc các trại Mộc Mạt (木末) của ta, xin được trị tội." Sắc cho Thế tử An Nam dụ Áp Na trả lại tù binh đã bắt.''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Thái Định (泰定) thứ 3 (năm 1326), tháng Giêng ngày Mậu Thần, Nguyễn Khấu (阮叩) nước An Nam đánh phá lộ Tư Minh (思明路), mệnh cho Hành tỉnh Hồ Quảng đốc thúc binh bị phòng giữ. Tháng 3, nước An Nam tâu rằng: "Bị Vạn hộ Long Châu là Triệu Hùng Phi (趙雄飛) xâm lấn, xin dụ cho trả lại những gì đã cướp."''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Thái Định (泰定) thứ 4 (năm 1327), tháng 10, An Nam sai sứ sang dâng phương vật. Tháng 12 ngày Quý Mão, An Nam sai sứ sang cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Hòa (致和) thứ 1 (năm 1328), nước An Nam sai sứ sang cống.''' *Theo "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ":'' Tháng 5 năm Chí Hòa thứ 1 (năm 1328) ngày Giáp Thân, nước An Nam sai sứ dâng phương vật. *Theo "Văn Tông bản kỷ":'' Tháng 9 năm Chí Hòa thứ 1 (năm 1328), nước An Nam đến cống phương vật. '''Đời Văn Tông (文宗), năm Thiên Lịch (天曆) thứ 2 (năm 1329), An Nam quốc vương (Trần) Ích Tắc (益稷) mất, chiếu ban tặng 5.000 mân tiền. Năm ấy Thế tử An Nam Trần Nhật Hạo (陳日㷆 - tức vua Trần Hiến Tông) nhập cống.''' *Theo "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" không chép; theo "An Nam bản truyện":'' Ích Tắc (益稷) cư ngụ đã lâu ở Ngạc (鄂), dao thụ chức Bình chương chính sự Hành tỉnh Hồ Quảng. Thời triều Thành Tông (成宗), được ban 200 khoảnh ruộng. Triều Vũ Tông (武宗), thăng Ngân thanh Vinh lộc đại phu, gia phong Kim tử Quang lộc đại phu, lại gia phong Nghi đồng tam ty (儀同三司). Mùa hạ năm Thiên Lịch thứ 2 (năm 1329) đời Văn Tông, Ích Tắc mất, thọ 76 tuổi, chiếu ban tặng 5.000 mân tiền. *Theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考):'' Năm Thiên Lịch thứ 2 đời Văn Tông, Thế tử Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai sứ sang cống. '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 1 (năm 1330), tháng nhuận tháng 7, gia tặng thụy hiệu cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) là Trung Ý (忠懿). Tháng 9, mệnh cho Vạn hộ phủ Long Châu (龍州) thắt chặt biên phòng.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Văn Tông bản kỷ (文宗本紀)'': Tháng nhuận tháng 7 năm Chí Thuận thứ 1 (năm 1330), tặng An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) hàm Nghi đồng tam ty (儀同三司), Bình chương chính sự Hành trung thư tỉnh Hồ Quảng (湖廣), vương tước như cũ, thụy hiệu Trung Ý (忠懿). Ích Tắc vào thời Thế Tổ (世祖) từ nước mình sang quy thuận, bèn thụ cho tước Quốc vương, định cư tại phủ Hán Dương (漢陽府), mất năm Thiên Lịch (天曆) thứ 2 (năm 1329), đến nay gia tặng thụy hiệu. Tháng 9, giặc ở Thành Đô (成都), Quảng Nguyên (廣源) là Phất Đạo Bế Phúc (弗道閉覆) đánh phá động La Hồi (羅回洞) thuộc Long Châu (龍州). Vạn hộ phủ Long Châu gửi văn thư chất vấn nước An Nam (安南), nước ấy trả lời rằng: "Bản quốc từ khi quy thuận Thiên triều, luôn giữ trọn chức trách thần tử, cõi kia biên này thảy đều về một mối thống nhất, há lại vì đất La Hồi vốn thuộc bản quốc mà gây ra tranh chấp sao? Đây hẳn là do quan lại biên giới gây hấn, mượn danh nghĩa Bế Phúc mà thôi, bản phủ nên tự điều tra trị tội." Hành tỉnh Hồ Quảng đem lời đó tâu lên, mệnh cho Vạn hộ phủ Long Châu thắt chặt biên phòng. Xét theo ''An Nam truyện (安南傳)'': Ích Tắc mất, năm Chí Thuận thứ 1 (năm 1330), thụy là Trung Ý Vương (忠懿王). '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 2 (năm 1331), tháng Giêng ngày Kỷ Hợi, sai Lại bộ Thượng thư Tát Lý Ngói (撒里瓦) đeo Hổ phù, Lễ bộ Lang trung Triệu Kỳ Di (趙期頤) đeo Kim phù, mang chiếu tức vị thông cáo nước An Nam (安南), lại ban cho lịch ''Thụ Thời'' (授時曆). Tháng 5 ngày Kỷ Mão, Thế tử An Nam Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai thần hạ là Đoàn Tử Trinh (段子貞) sang triều cống.''' *Theo: "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 3 (năm 1332), mùa hạ tháng 4 ngày Ất Sửu, Thế tử An Nam Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai thần hạ là Đặng Thế Diên (鄧世延) cùng 24 người đến cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Đời Thuận Đế (順帝), năm Chí Nguyên (至元) thứ 1 (năm 1335), tháng 3 ngày Ất Tỵ, phong Thế tử An Nam vương Trần Đoan Ngọ (陳端午 - tức vua Trần Hiến Tông) làm An Nam quốc vương. Tháng 5 ngày Bính Tuất, nước Chiêm Thành (占城) sai thần hạ là Thứ Thắc Nạp Ngói Nhi Tát (刺忒納瓦兒撒) đến dâng phương vật, lại nói Giao Chỉ (交趾) ngăn chặn đường triều cống, xuống chiếu sai sứ tuyên dụ Giao Chỉ.''' *Theo: "Nguyên sử – Thuận Đế bản kỷ" chép như vậy.'' ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9ec0tesy?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 4tr79658e1oxuqhx1dzjrrrigzvtzt9 204598 204597 2026-04-08T10:20:18Z Mrfly911 2215 204598 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第090卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 92''' | trước= [[../quyển 091|quyển 91]] | sau= [[../quyển 093|quyển 93]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 3== ===Nguyên=== '''Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 7 (năm 1257) nhà Nguyên, mùa đông tháng 11, Ngột Lương Hợp Thai (兀良合台) đánh Giao Chỉ (交趾), đánh bại được, vào trong nước đó. Chủ An Nam (安南) là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) chạy ra hải đảo, quân Nguyên bèn rút về.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Hiến Tông bản kỷ (憲宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Nước An Nam, xưa là Giao Chỉ (交趾). Nhà Tần gộp thiên hạ, đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng Quận (象郡). Nhà Tần mất, hiệu úy Nam Hải là Triệu Đà (趙佗) đánh chiếm lấy. Nhà Hán đặt 9 quận, Giao Chỉ là một trong số đó. Sau có người con gái là Trưng Trắc (徵側) làm phản, vua Hán sai Mã Viện (馬援) bình định, lập cột đồng làm biên giới nhà Hán. Nhà Đường bắt đầu chia Lĩnh Nam (嶺南) làm hai đạo Đông - Tây, đặt chức Tiết độ, lập 5 phủ Quản, An Nam thuộc về đó. Nhà Tống phong Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) làm Giao Chỉ quận vương (交趾郡王), con là Liễn (璉) cũng làm Vương, truyền được 3 đời thì bị Lý Công Uẩn (李公蘊) đoạt lấy, bèn phong Công Uẩn làm Chủ. Nhà Lý truyền 8 đời đến Hạo Sảm (昊旵). Trần Nhật Cảnh (陳日煚) là rể của Hạo Sảm, bèn có được nước ấy. Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 3 (năm 1253) năm Quý Sửu, Ngột Lương Hợp Thai (兀良合台) theo Thế Tổ (世祖) bình định Đại Lý (大理). Thế Tổ về, lưu Ngột Lương Hợp Thai lại để đánh các bộ tộc di chưa phụ thuộc. Năm thứ 7 (năm 1257) năm Đinh Tỵ tháng 11, binh của Ngột Lương Hợp Thai đóng ở phía Bắc Giao Chỉ, trước tiên sai 2 sứ giả đến dụ hàng nhưng không thấy về. Bèn sai Triệt Triệt Đô (徹徹都) cùng các tướng mỗi người dẫn 1.000 quân, chia đường tiến binh, đến phía Bắc sông Thao (洮江) thuộc kinh đô An Nam, lại sai con là A Truật (阿術) dẫn quân đi tiếp ứng và dò xét hư thực. Người Giao cũng bày binh vệ đông đảo. A Truật sai quân về báo, Ngột Lương Hợp Thai đi gấp đôi đường tiến tới, lệnh cho Triệt Triệt Đô làm tiền phong, A Truật ở sau làm đoạn hậu. Tháng 12, hai quân hợp lại, người Giao kinh hãi, A Truật thừa cơ đánh bại thủy quân người Giao, bắt chiến hạm mang về. Ngột Lương Hợp Thai cũng phá được bộ binh của họ, lại cùng A Truật hợp công, đại bại quân Giao, bèn vào trong nước ấy. Nhật Cảnh (日煚) chạy ra hải đảo. Quân Nguyên tìm thấy các sứ giả sai đi trước đó trong ngục, bị dùng thanh tre chẻ lạt bó chặt vào người đến tận da thịt, khi mở trói thì 1 sứ giả đã chết, quân Nguyên nhân đó tàn phá (đồ thành) kinh đô. Quân ở lại 9 ngày, vì khí hậu nóng nực ẩm thấp nên bèn rút quân. Lại sai 2 sứ giả đến chiêu dụ Nhật Cảnh về hàng. Nhật Cảnh trở về thấy quốc đô đã bị tàn phá, hết sức phẫn nộ, bèn trói 2 sứ giả sai người đưa trả lại. Xét theo ''Ngột Lương Hợp Thai bản truyện (兀良合台本傳)'': Năm thứ 7 (năm 1257) mùa thu tháng 9, sai sứ chiêu hàng Giao Chỉ, không thấy trả lời. Mùa đông tháng 10, tiến binh ép sát biên cảnh, chủ nước ấy là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) cách sông dàn tượng binh và bộ binh rất thịnh. Ngột Lương Hợp Thai chia quân làm 3 đội vượt sông, Triệt Triệt Đô từ hạ lưu vượt trước, đại quân ở giữa, Phò mã Hoài Đô (懷都) cùng A Truật (阿術) ở sau. Lúc đó trao phương lược cho Triệt Triệt Đô rằng: "Quân ngươi đã sang sông thì chớ vội đánh, chúng tất sẽ đến đón đánh ta, Phò mã sẽ cắt đứt phía sau chúng, ngươi đợi tiện nghi thì cướp lấy thuyền của chúng, nếu quân Man tan chạy, đến sông không có thuyền tất sẽ bị ta bắt hết." Khi quân đã lên bờ, Triệt Triệt Đô liền buông quân đánh. Triệt Triệt Đô trái lệnh, quân Man tuy đại bại nhưng vẫn kịp nhảy lên thuyền chạy thoát. Ngột Lương Hợp Thai giận nói: "Tiền phong trái tiết độ của ta, quân có thường hình!" Triệt Triệt Đô sợ hãi, uống thuốc độc chết. Ngột Lương Hợp Thai vào Giao Chỉ, định kế đóng lâu dài, quân lệnh nghiêm túc, mảy may không phạm. Qua 7 ngày, Nhật Cảnh xin nội phụ, bèn bày tiệc rượu khao lớn quân sĩ, rồi rút quân về thành Hạp Xích (柙赤城). '''Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 8 (năm 1258), tháng 2. Trần Nhật Cảnh (陳日煚) truyền ngôi cho con trưởng là Quang Bính (光昺). Quang Bính sai rể cùng người trong nước đem phương vật đến kiến diện. Ngột Lương Hợp Thai đưa sứ đoàn đến hành tại.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1258) năm Mậu Ngọ tháng 2. Nhật Cảnh (日煚) truyền ngôi cho con trưởng là Quang Bính (光昺), cải nguyên Thiệu Long (紹隆). Mùa hạ, Quang Bính sai rể cùng người trong nước mang phương vật đến kiến diện. Ngột Lương Hợp Thai đưa đến hành tại, lại riêng sai Nột Lạt Đinh (訥剌丁) đến dụ rằng: "Xưa ta sai sứ thông hảo, bọn ngươi bắt giữ không trả, ta vì thế mới có cuộc đem quân năm ngoái. Vì chủ nước ngươi chạy ra đồng nội, ta lại sai 2 sứ giả chiêu an về nước, ngươi lại trói trả sứ giả của ta. Nay đặc biệt sai sứ đến khai dụ, nếu bọn ngươi thật lòng nội phụ thì Quốc chủ phải thân hành tới. Nếu vẫn không hối cải thì phải báo rõ cho ta biết." Quang Bính nói: "Nước nhỏ thành tâm thờ nước lớn, thì nước lớn đối đãi thế nào?" Nột Lạt Đinh về báo. Lúc đó Chư vương Bất Hoa (不花) trấn thủ Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai tâu với Vương, lại sai Nột Lạt Đinh đến dụ, bảo sai sứ cùng đi. Quang Bính bèn nộp khoản, lại nói: "Đợi khi ban đức âm, sẽ lập tức cử con em sang làm con tin." Vương mệnh cho Nột Lạt Đinh cưỡi ngựa trạm vào tâu lên. '''Năm Thế Tổ (世祖) Trung Thống (中統) thứ 1 (năm 1260), tháng 12, lấy Lễ bộ Lang trung Mạnh Giáp (孟甲), Lễ bộ Viên ngoại lang Lý Văn Tuấn (李文俊) làm sứ giả đi An Nam, Đại Lý (大理).''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm Trung Thống (中統) thứ 1 (năm 1260) tháng 12, "lấy Mạnh Giáp làm Lễ bộ Lang trung sung chức Nam dụ sứ, Lý Văn Tuấn làm Lễ bộ Viên ngoại lang sung chức Phó sứ, cầm chiếu đến dụ. Đại lược rằng: 'Tổ tông dùng võ công sáng nghiệp, văn hóa chưa tu sửa, trẫm nối nghiệp lớn, đổi mới cái cũ, thu phục muôn phương. Vừa hay An phủ sứ trấn thủ nước Đại Lý là Nhiếp Chỉ Mạch Đinh cưỡi ngựa trạm tâu lên, nghe nước ngươi có lòng thành hướng phong mộ nghĩa, nghĩ khanh xưa ở tiền triều đã từng thần phục, dâng cống phương vật từ xa, nên ban chiếu chỉ này. Dụ quan lại sĩ thứ nước ngươi: Phàm điển lễ áo mũ, phong tục đều y theo chế độ cũ của bản quốc. Đã răn bảo biên tướng không được tự ý dấy binh xâm phạm biên cương, làm loạn nhân dân ngươi. Quan lại sĩ thứ nước khanh hãy cứ yên ổn trị lý như cũ'. Lại dụ bọn Mạnh Giáp rằng: Nếu Giao Chỉ cử con em vào chầu, nên đối đãi tử tế, chớ để nóng lạnh thất thường mà thêm phần khổ cực." '''Năm Trung Thống (中統) thứ 2 (năm 1261), mùa hạ tháng 7 ngày Nhâm Ngọ, sai Nạp Tốc Lạt Đinh (納速剌丁), Mạnh Giáp (孟甲) làm sứ giả đi An Nam.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1261), Mạnh Giáp cùng những người khác trở về, Quang Bính (光昺) sai người trong tộc là Thông thị Đại phu Trần Phụng Công (陳奉公), Viên ngoại lang Chư vệ ký ban Nguyễn Sâm (阮琛), Viên ngoại lang Nguyễn Diễn (阮演) đến cửa khuyết dâng thư, xin 3 năm nộp cống 1 lần. Đế nghe theo, bèn phong Quang Bính làm An Nam quốc vương (安南國王). '''Năm Trung Thống (中統) thứ 3 (năm 1262), tháng 9 ngày Kỷ Mùi, nước An Nam là Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng phương vật. Ngày Nhâm Thân, trao cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính và Đạt lỗ hoa xích (達魯花赤) Nạp Lạt Đinh (納剌丁) hổ phù.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1262) tháng 9, lấy 3 tấm gấm Tây, 6 tấm gấm thục ban cho. Lại giáng chiếu rằng: "Khanh đã nộp mình làm tôi, thì từ năm Trung Thống thứ 4 (năm 1263) làm đầu, cứ mỗi 3 năm cống 1 lần. Có thể chọn Nho sĩ, thầy thuốc, những người tinh thông âm dương bói toán và thợ lành nghề các loại mỗi hạng 3 người; cùng các vật như dầu tô hợp, quang hương, vàng bạc, chu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê, đồi mồi, trân châu, ngà voi, bông lụa, chén sứ trắng cùng đem đến. Vẫn lấy Nạp Lạt Đinh làm Đạt lỗ hoa xích, đeo hổ phù, qua lại trong nước An Nam." '''Năm Trung Thống (中統) thứ 4 (năm 1263), An Nam sai sứ dâng biểu vào tạ ơn.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1263) tháng 11, Nạp Lạt Đinh về, Quang Bính sai Dương An Dưỡng (楊安養) sung chức Viên ngoại lang, cùng Nội lệnh Vũ Phục Hoàn (武復桓), Thư xá Nguyễn Cầu (阮求), Trung dực lang Phạm Cử (范舉) dâng biểu vào tạ ơn. Đế ban cho sứ giả đai ngọc, gấm lụa, thuốc men, yên cương ngựa có thứ bậc khác nhau. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 2 (năm 1265), mùa thu tháng 7 ngày Quý Hợi, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng biểu vào cống. Ngày Giáp Tý, xuống chiếu ban lịch Chí Nguyên năm thứ 3 cho Quang Bính.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 7 năm Chí Nguyên (至元) thứ 2 (năm 1265), sứ giả trở về, vua lại có ưu chiếu đáp lại, vẫn ban lịch và ban bố chiếu thư cải nguyên. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 3 (năm 1266), An Nam sai sứ dâng 3 đạo biểu.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 12 năm thứ 3 (năm 1266), Quang Bính (光昺) sai Dương An Dưỡng (楊安養) dâng 3 đạo biểu. Một là tiến dâng phương vật; hai là xin miễn việc đòi hỏi nho sĩ (tú tài) và thợ thủ công; ba là nguyện xin cho Nạp Lạt Đinh (納剌丁) được làm Đạt lỗ hoa xích (達魯花赤) lâu dài tại bản quốc. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 4 (năm 1267), tháng 9 ngày Mậu Thân, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống, vua ban ưu chiếu đáp lại. Ngày Canh Tuất, sai Vân Nam vương Hốt Ca Xích (忽哥赤) trấn thủ các nơi Đại Lý (大理), Thiện Xiển (鄯闡), Trà Hạn Chương (茶罕章), Xích Thốc Ca Nhi (赤禿哥兒), Kim Sỉ (金齒), xuống chiếu vỗ về lại dân. Lại xuống chiếu dụ nước An Nam, bảo quân trưởng nước ấy phải sang triều kiến, cho con em sang làm con tin (nhập chất), biên lập số dân, nộp quân dịch, đóng thuế phú và đặt chức Đạt lỗ hoa xích để thống trị.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 9 năm thứ 4 (năm 1267), sứ giả trở về, vua có chiếu đáp lại cho phép. Vẫn ban cho Quang Bính đai ngọc, lụa vàng, thuốc men, yên cương ngựa. Chẳng bao lâu sau lại xuống chiếu dụ về 6 việc: Một là quân trưởng phải thân hành sang triều kiến; hai là con em vào làm con tin; ba là biên lập số dân; bốn là nộp quân dịch; năm là đóng thuế phú; sáu là vẫn đặt Đạt lỗ hoa xích thống trị. Tháng 11 lại xuống chiếu dụ Quang Bính, vì trong nước ấy có thương nhân người Hồi Hồi (回鶻), muốn hỏi han về việc Tây Vực, nên lệnh cho phát cử đưa đến. Tháng này, xuống chiếu phong Hoàng tử làm Vân Nam vương, đi trấn thủ các nước Đại Lý (大理), Thiện Xiển (鄯闡), Giao Chỉ (交趾). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 5 (năm 1268), ban cho nước An Nam gấm thêu và ban cho quần thần nước ấy có thứ bậc khác nhau. Lại xuống chiếu cho Vân Nam vương Hốt Ca Xích (忽哥赤) thống binh cùng An Nam chinh phạt hai nước Chiêm Thành (占城), Chân Lạp (真臘).''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng 9 năm Chí Nguyên thứ 5 (năm 1268) ngày Canh Thân, ban cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính gấm thêu, và ban cho các bề tôi có thứ bậc. Ngày Kỷ Sửu, xuống chiếu dụ An Nam, vì Trần Quang Bính tâu rằng có hai giặc Chiêm Thành, Chân Lạp xâm nhiễu, nay đã mệnh cho khanh điều động binh lực cùng với Bất Thiên (不千) hợp sức chinh thảo. Nay lại mệnh cho Vân Nam vương Hốt Ca Xích thống binh Nam hạ, khanh hãy tuân theo chiếu trước, hễ có quân phản loạn không chịu phục tùng gây họa biên cảnh thì phát binh cùng tiến đánh, kẻ nào hàng phục thì khéo vỗ về. Xét theo ''An Nam bản truyện (安 Nam 本傳)'': Tháng 9 năm thứ 5 (năm 1268), lấy Hốt Lung Hải Nha (忽籠海牙) thay Nạp Lạt Đinh làm Đạt lỗ hoa xích, Trương Đình Trân (張庭珍) làm phó. Lại hạ chiếu trưng tập các thương nhân người Hồi Hồi. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 6 (năm 1269), tháng 11 ngày Canh Ngọ, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 6 (năm 1269), Quang Bính dâng thư trần tình nói: "Thương nhân Hồi Hồi một người tên Y Ôn (伊溫) đã chết từ lâu, một người tên Bà Bà (婆婆) sau đó cũng bệnh chết. Lại cứ theo lời Hốt Lung Hải Nha nói với bệ hạ là cần đòi mấy thớt voi lớn, loài thú này thân hình rất lớn, đi đứng rất chậm, không bằng ngựa thượng quốc. Xin phục đợi sắc chỉ, đến kỳ hạn năm nộp cống sau sẽ tiến hiến." Lại dâng biểu nộp cống và dâng biểu riêng để tạ ơn. Ban cho gấm Tây, lụa là, dược vật. Xét theo ''Trương Đình Trân truyền (張庭珍傳)'': Năm Chí Nguyên thứ 6 (năm 1269), An Nam vào cống không đúng hạn, bèn lấy Đình Trân làm Triều liệt Đại phu, An Nam quốc Đạt lỗ hoa xích, đeo kim phù, đi từ Thổ Phồn (吐蕃), Đại Lý (大理) qua các bộ tộc Man đến An Nam. Thế tử Quang Bính (光昺) lập, nhận chiếu, Đình Trân trách rằng: "Hoàng đế không muốn lấy đất đai của ngươi làm quận huyện mà cho ngươi xưng phiên, sai sứ dụ chỉ, đức độ ấy rất hậu. Vương vẫn cùng nhà Tống làm môi hở răng lạnh, vọng tự tôn đại. Nay triệu quân vây Tương Dương (襄陽), hạ được chỉ trong sớm tối, khi quân quét sạch qua sông thì nhà Tống mất, Vương còn dựa vào đâu? Vả lại binh Vân Nam không đầy 2 tháng có thể đến cảnh giới ngươi, diệt tông miếu ngươi chẳng khó gì, hãy xét kỹ mưu đồ." Quang Bính hoàng sợ, sụp lạy nhận chiếu. Sau đó nói với Đình Trân: "Thánh Thiên tử thương ta, nhưng sứ giả đến nhiều kẻ vô lễ. Ngươi chức Triều liệt, ta là Vương vậy, cùng nhau hành lễ ngang hàng, xưa có vậy không?" Đình Trân nói: "Có chứ. Vương nhân (người của vua) tuy thấp kém nhưng vẫn được xếp trên chư hầu." Quang Bính nói: "Ngươi qua Ích Châu (益州), có lạy Vân Nam vương không?" Đình Trân nói: "Vân Nam vương là con Thiên tử. Ngươi là tiểu bang Man di, đặc cách ban cho tước Vương, sao có thể so với Vân Nam vương? Huống hồ Thiên tử mệnh ta làm trưởng ở An Nam, vị thứ ở trên ngươi sao?" Quang Bính nói: "Đã xưng là đại quốc, sao còn đòi tê giác, voi của ta?" Đình Trân nói: "Cống hiến phương vật là chức trách phiên thần." Quang Bính không đối lại được, càng thêm hổ thẹn phẫn nộ, sai vệ binh tuốt gươm vây quanh để uy hiếp Đình Trân. Đình Trân cởi cung đao đang đeo, nằm khểnh trong phòng, nói: "Mặc các ngươi muốn làm gì thì làm." Quang Bính và quần hạ đều khâm phục. Năm sau, sai sứ theo Đình Trân vào cống. Đình Trân bái kiến Đế, thuật lại lời đối đáp với Quang Bính. Đế đại duyệt (rất vui), mệnh cho Hàn lâm Thừa chỉ Vương Bàn (王磐) ghi chép lại. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 7 (năm 1270), tháng 11, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống, vua ban ưu chiếu đáp lại.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 7 (năm 1270), Trung thư tỉnh gửi điệp văn cho Quang Bính, nói việc nhận chiếu không lạy, đãi sứ giả không theo lễ đối với "vương nhân", bèn dẫn nghĩa sách ''Xuân Thu'' để trách cứ, và lệnh phải đưa số voi đã đòi cùng với tuế cống tới. Lại nói đồ dược vật cống trước kia phẩm vị không tốt, còn việc trưng tập người Hồi Hồi thì lấy cớ lừa dối. Từ nay về sau hãy xét kỹ việc đó. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 8 (năm 1271), An Nam vương Trần Quang Bính gửi thư biện bạch đối đáp.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 12 năm thứ 8 (năm 1271), Quang Bính gửi thư thưa rằng: "Bản quốc kính thờ Thiên triều, đã được phong vương tước, há chẳng phải là vương nhân sao? Sứ giả Thiên triều lại tự xưng là vương nhân, hành lễ ngang hàng, e rằng làm nhục triều đình. Huống hồ bản quốc trước đã phụng chiếu chỉ mệnh cho y theo tục cũ, hễ nhận chiếu lệnh thì đặt ở chính điện rồi lui về phòng riêng, đó là điển lễ cũ của bản quốc vậy." Về việc đòi voi, trước kia sợ trái ý nên nói lấp lửng chưa dám đối đáp thẳng. Thực ra là vì quản tượng (tượng nô) không nỡ rời xa nhà, khó bề điều phái. Lại dụ đòi nho sĩ, thầy thuốc, thợ thủ công, mà bồi thần Lê Trọng Đà (黎仲佗) khi bái kiến, ở sát bên uy quang của bệ hạ mà chẳng nghe thấy chiếu dụ. Huống hồ năm Trung Thống (中統) thứ 4 (năm 1263) đã được lượng thứ, nay lại nhắc đến, thật không xiết kinh ngạc, cúi xin các hạ nghĩ cho." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 9 (năm 1272), lấy Diệp Thức Niết (葉式捏) làm An Nam Đạt lỗ hoa xích, Lý Nguyên (李元) làm phó.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 10 (năm 1273), tháng Giêng, sứ giả An Nam trở về, nói "Trần Quang Bính nhận chiếu không lạy". Trung thư tỉnh gửi văn thư trách hỏi, Bính xưng là làm theo tục bản quốc. Tháng 12, An Nam quốc vương Trần Quang Bính sai sứ đến cống phương vật.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 10 (năm 1273), Diệp Thức Niết chết. Mệnh Lý Nguyên thay Thức Niết, lấy Hợp Tát Nhi Hải Nha (合撒兒海牙) làm phó. Trung thư tỉnh lại gửi điệp cho Quang Bính nói: "Mấy năm qua sứ giả trở về đều nói Vương mỗi khi nhận chiếu lệnh của Thiên tử chỉ chắp tay đứng chứ không lạy, khi gặp sứ giả hoặc dự yến tiệc, vị thứ lại đặt trên sứ giả. Nay xem thư tới, tự bảo đã nhận vương tước, há không phải vương nhân sao? Khảo trong sách ''Xuân Thu'', xếp 'vương nhân' ở trên chư hầu. Phần ''Thích lệ'' nói: 'Vương nhân là bậc hạ sĩ vậy'. Phàm 5 hạng quan tước (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam), quân trưởng một bang là bậc quý ở hàng ngoại thần; còn hạ sĩ là bậc thấp nhỏ ở hàng nội thần. Lấy kẻ thấp nhỏ mà đặt lên trên kẻ cao quý là vì trọng mệnh lệnh của Vua vậy. Đời sau liệt Vương làm tước vị cho hạng quý nhất trong chư hầu, há có ai lấy vương tước làm vương nhân không? Vương chẳng lẽ không biết mà lại nói lời ấy? Hay là bề tôi từ lệnh nói nhầm? Đến như chiếu của Thiên tử, bề tôi phải lạy nhận, đó là thông nghĩa cổ kim, không thể khác được. Thế mà lại nói 'trước phụng chiếu chỉ cho y theo tục cũ, hễ nhận chiếu lệnh thì đặt ở chính điện rồi lui về phòng riêng là điển lễ cũ'. Đọc đến đây thật lấy làm kinh ngạc! Vương nói lời ấy, lòng có thể tự yên chăng? Chiếu chỉ trước nói là vì trong trời đất không chỉ có vạn nước, mỗi nước có tục riêng; nếu đột ngột bắt thay đổi thì có chỗ bất tiện nên cho dùng tục bản quốc; đâu phải lấy việc không lạy chiếu Thiên tử làm lễ tục! Vả lại giáo lệnh của Vương thi hành trong nước, bề tôi có kẻ nào nhận mà không lạy, thì Vương nghĩ sao? Người quân tử quý ở chỗ sửa lỗi, mong Vương sáng suốt soi xét cho." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 11 (năm 1274), An Nam vào cống.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 11 (năm 1274), "Quang Bính sai Đồng tử Dã Lê Văn Ẩn (童子冶黎文隱) đến cống." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 12 (năm 1275), tháng Giêng, sứ giả nước An Nam trở về. Sắc lệnh dụ về các việc theo chế độ cũ: biên tịch hộ khẩu, đặt Đạt lỗ hoa xích, tuyển quân (tổng quân), lập trạm dịch, nộp tô thuế và tuế cống. Tháng 2, xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính, vẫn lấy 6 việc theo chế độ cũ để dụ, thúc giục ông ta sang triều kiến.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 12 (năm 1275), Quang Bính dâng biểu xin bãi bỏ chức Đạt lỗ hoa xích tại bản quốc. Lời văn đại lược: "Vi thần hẻo lánh nơi góc biển, được thấm nhuần thánh hóa, cùng muôn loài vui mừng khôn xiết. Cúi xin nghĩ cho thần từ khi hàng phục thượng quốc đến nay đã hơn 10 năm, tuy theo lệ 3 năm một cống, nhưng sứ thần đi lại liên tiếp, mệt mỏi vì đường sá, chưa từng một ngày nghỉ ngơi. Đến như Đạt lỗ hoa xích do Thiên triều sai đến, hạ cố đến cảnh giới thần, lẽ nào có thể để họ về tay không? Huống hồ những kẻ đi lại ấy động chút là cậy thế, lăng mạ nước nhỏ, tuy Thiên tử sáng như nhật nguyệt nhưng sao soi thấu được chậu úp. Vả lại Đạt lỗ hoa xích có thể thi hành với đám tiểu sửu Man di nơi biên viễn, lẽ nào thần đã nhận phong Vương làm phiên bình một phương, mà lại đặt Đạt lỗ hoa xích để giám lâm, há chẳng bị các nước chư hầu cười chê sao? Thà rằng vì lòng vui phục mà tu sửa triều cống, còn hơn là vì sợ kẻ giám lâm mà phải nộp cống vậy! Thần kính gặp Thiên triều lập Thái tử, lập Hoàng hậu, ân lớn dồi dào ban khắp bốn biển, nên đánh bạo kêu nài. Cúi mong thánh từ đặc biệt thương xót, từ nay về sau hễ phát cử cương cống làm 2 lần, một đến Thiện Xiển (鄯闡) để nộp, một đến Trung Nguyên để bái hiến. Phàm quan lại do Thiên triều sai đến, xin đổi thành Dẫn tiến sứ (引進使), để miễn cái tệ Đạt lỗ hoa xích, không chỉ là cái may của vi thần, mà thực là cái may của thương sinh cả nước vậy." Tháng 2, vua lại giáng chiếu, cho rằng những đồ vật cống nộp không bổ ích gì cho việc dùng, dụ về 6 việc: Lại cử Hợp Tát Nhi Hải Nha làm Đạt lỗ hoa xích, và vẫn lệnh cho con em vào hầu (làm con tin). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 13 (năm 1276), An Nam dâng biểu xin miễn 6 việc.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 2 năm thứ 13 (năm 1276), "Quang Bính sai Lê Khắc Phục (黎克復), Văn Túy (文粹) vào cống, vì việc tâu xin nộp vật cống ở Thiện Xiển là thuộc diện không cung kính, nên dâng biểu tạ tội, đồng thời xin miễn 6 việc." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 14 (năm 1277), An Nam sai sứ sang triều kiến.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 14 (năm 1277), Quang Bính mất, người trong nước lập Thế tử Nhật Huyên (日烜) lên ngôi, sai Trung thị Đại phu Chu Trọng Ngạn (周仲彥), Trung lượng Đại phu Ngô Đức Thiệu (吳德邵) sang triều kiến. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 15 (năm 1278), tháng 6 ngày Tân Tỵ, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng biểu vào cống. Tháng 8 ngày Nhâm Tý, sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿) làm sứ giả đi An Nam, xuống chiếu trách mắng nghiêm khắc, vẫn bắt ông ta phải sang triều kiến.''' *(Ghi chú: Quang Bính đã mất năm thứ 14, mà đây lại nói Quang Bính sai sứ, tất là chữ Nhật Huyên (日烜) bị chép nhầm, không nghi ngờ gì cả).'' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 8 năm thứ 15 (năm 1278), sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿), Hội đồng quán sứ Cáp Lạt Thoát Nhân (哈剌脫因), Công bộ Lang trung Lý Khắc Trung (李克忠), Công bộ Viên ngoại lang Đổng Đoan (董端) cùng Lê Khắc Phục (黎克復) mang chiếu đi dụ Nhật Huyên (日烜) vào triều nhận mệnh. Trước đây sứ giả qua lại chỉ đi đường Lê Hóa (黎化) thuộc Thiện Xiển (鄯闡). Đế lệnh cho Sài Thung đi từ Giang Lăng (江陵) thẳng đến Ung Châu (邕州) để sang Giao Chỉ (交趾). Tháng 11 nhuận, Sài Thung đến trại Vĩnh Bình (永平寨) thuộc Ung Châu. Nhật Huyên sai người đưa thư nói: "Nay nghe Quốc công hạ cố đến cảnh giới hèn mọn, dân biên thùy không ai không kinh hãi, chẳng hay nhân sứ nước nào mà đến đây, xin hãy quay về đường cũ mà đi." Thung đáp điệp rằng: "Quan Lễ bộ Thượng thư phụng mệnh Thượng cấp cùng Lê Khắc Phục từ Giang Lăng đến Ung Châu để vào An Nam, các quân binh dẫn hộ đều cưỡi ngựa trạm, nên đến đầu biên giới đón tiếp." Nhật Huyên sai Ngự sử Trung tán kiêm Tri Thẩm hình viện sự Đỗ Quốc Kế (杜國計) đến trước, rồi Thái úy dẫn bách quan đón ở bờ sông Phú Lương (富良江) đưa vào quán trọ. Ngày 2 tháng 12, Nhật Huyên đến quán gặp sứ giả. Ngày 4, Nhật Huyên bái đọc chiếu thư, Thung truyền chỉ rằng: "Nước ngươi nội phụ hơn 20 năm, 6 việc trước kia vẫn chưa theo, nếu ngươi không sang triều kiến thì hãy sửa thành quách, chỉnh đốn quân đội mà đợi đại sư của ta." Lại nói: "Cha ngươi nhận mệnh làm Vương, ngươi không xin mệnh mà tự lập, nay lại không triều kiến, mai sau triều đình gia tội, sẽ trốn tránh trách nhiệm sao được? Hãy suy nghĩ kỹ." Nhật Huyên theo lệ cũ bày yến ở hành lang, Thung không dự. Khi về quán, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự (范明字) đưa thư tạ tội, đổi tiệc yến sang điện Tập Hiền. Nhật Huyên nói: "Tiên quân qua đời, tôi mới nối ngôi, Thiên sứ đến truyền chiếu dụ làm tôi vừa mừng vừa sợ. Thiết nghĩ vua Tống nhỏ tuổi mà Thiên tử còn thương xót phong tước Công, đối với nước nhỏ tất cũng gia ân. Việc 6 điều trước đã được xá miễn, còn như lễ thân hành triều kiến, tôi sinh trưởng nơi thâm cung, không quen cưỡi ngựa, không hợp phong thổ, sợ chết dọc đường; con em từ Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Thiên sứ về, xin dâng biểu tỏ lòng thành và hiến vật lạ." Thung nói: "Vua Tống chưa đến 10 tuổi, cũng sinh ở thâm cung, sao cũng đến được Kinh sư? Ngoài chiếu chỉ ra, tôi không dám nghe lệnh khác. Vả lại 4 người chúng tôi đến đây cốt để gọi ngươi đi, chứ không phải lấy vật lạ." Khi Thung trở về, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự, Trịnh Quốc Toản (鄭國瓚), Trung tán Đỗ Quốc Kế dâng biểu trần tình, nói: "Thân cô thần khí huyết nhu nhược, đường sá gian nan, chỉ e phơi xương trắng làm bệ hạ đau lòng mà chẳng ích gì cho Thiên triều. Cúi mong bệ hạ thương nước nhỏ xa xôi, cho thần cùng kẻ góa bụa cô độc được bảo toàn tính mạng để phụng sự bệ hạ đến cùng." Đồng thời dâng phương vật và 2 con voi thuần. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 16 (năm 1279), mùa thu tháng 7 ngày Đinh Tỵ, nước Giao Chỉ sai sứ dâng voi thuần. Mùa đông tháng 11 ngày Nhâm Tý, sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿) cùng sứ An Nam là Đỗ Trung tán mang chiếu đến dụ Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên (陳日烜), trách việc không sang triều kiến. Tháng 12 ngày Canh Thìn, An Nam dâng dược tài.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 3 năm thứ 16 (năm 1279), Thung về đến Kinh sư, để Trịnh Quốc Toản đợi ở Ung Châu. Khu mật viện tâu: "Nhật Huyên không triều kiến, chỉ sai sứ báo mệnh, lời lẽ quanh co khất lần, dù khéo léo nhưng rốt cuộc trái chiếu chỉ, có thể tiến binh lên biên giới, sai quan hỏi tội." Đế không nghe, lệnh cho sứ giả vào chầu. Tháng 11, lưu sứ giả Trịnh Quốc Toản ở Hội đồng quán, lại sai Sài Thung cùng 4 người và Đỗ Quốc Kế mang chiếu lần nữa dụ Nhật Huyên sang triều kiến. "Nếu thực không thể thân hành đến chầu, thì đúc vàng thay thân, lấy 2 hạt châu thay mắt, kèm theo hiền sĩ, phương kỹ, con em, thợ giỏi mỗi hạng 2 người để thay cho dân chúng. Nếu không, hãy sửa thành trì mà đợi xét xử." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 17 (năm 1280), tháng 7 ngày Giáp Tý, sai Vương tử nước An Nam là Ni (倪) về nước. Tháng 10, sai sứ dụ nước Giao Chỉ, bắt đầu chế kiệu voi. Tháng 11 ngày Kỷ Hợi, Hàn lâm Học sĩ Thừa chỉ Hòa Lễ Hoắc Tôn (和禮霍孫) nói sứ An Nam dâng biểu xin trả lời, vua nghe theo, ban chức danh cho sứ Giao Chỉ cùng cung tên, yên cương. Ngày Canh Tuất, lệnh Hòa Lễ Hoắc Tôn lọc bỏ sứ giả Giao Chỉ, trừ người cần lưu lại, còn đều cho về. Tháng 12, An Nam dâng voi thuần.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 18 (năm 1281), đổi hổ phù chữ Uighur (畏吾) đã ban cho An Nam sang chữ Quốc tự (chữ Mông Cổ). Lập chú của Nhật Huyên là Di Ái (遺愛) làm An Nam quốc vương, phát quân hộ tống về.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Năm thứ 18 (năm 1281) tháng nhuận ngày Canh Thân, An Nam dâng phương vật. Tháng 10 ngày Kỷ Hợi, bàn việc phong hiệu Vương cho An Nam, đổi hổ phù chữ Uighur sang chữ Quốc tự. Giáng chiếu lập chú của Nhật Huyên là Di Ái (遺愛) làm An Nam quốc vương. Ngày Đinh Mùi, đặt Tuyên úy ty tại An Nam, lấy Bắc Kinh lộ Đạt lỗ hoa xích Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi (孛顏帖木兒) làm Tham tri Chính sự, Hành An Nam quốc Tuyên úy sứ, Đô nguyên sứ, đeo hổ phù; Sài Thung và Hốt Ca Nhi (忽哥兒) làm phó. Ngày Canh Tuất, đưa An Nam quốc vương Trần Di Ái vào An Nam, phát 1.000 quân Tân phụ hộ tống. Tháng 11, chiếu cho An Nam quốc vương cung cấp lương thực cho quân Hành tỉnh Chiêm Thành. Ngày Kỷ Dậu, ban tiền giấy (sao) cho quân mới đi chinh chiến An Nam. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 10 năm thứ 18 (năm 1281), lập An Nam Tuyên úy ty... Vì Quang Bính đã mất, con là Nhật Huyên tự lập không xin mệnh, sai sứ triệu không đến lấy cớ bệnh, chỉ cho chú là Di Ái vào chầu, nên lập Di Ái thay làm An Nam quốc vương. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 19 (năm 1282), tháng 9 ngày Đinh Mão, An Nam dâng tê giác, đồ vàng bạc, hương dược.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 20 (năm 1283), tháng 8 ngày Giáp Ngọ, An Nam sai sứ dâng phương vật.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 7 năm thứ 20 (năm 1283), Nhật Huyên gửi thư cho Bình chương A Lý Hải Nha (阿里海牙) xin trả lại sứ giả bị lưu giữ, Đế liền cho về. Bấy giờ A Lý Hải Nha là Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh Bình chương chính sự. Đế muốn Giao Chỉ giúp binh lương để đánh Chiêm Thành, lệnh dùng ý mình mà dụ. Hành tỉnh sai Ngạc Châu Đạt lỗ hoa xích Triệu Chử (趙翥) mang thư dụ Nhật Huyên. Tháng 10, triều đình sai Đào Bỉnh Trực (陶秉直) mang tỉ thư đến dụ. Tháng 11, Triệu Chử đến An Nam. Nhật Huyên bèn sai Trung lượng Đại phu Đinh Khắc Thiệu (丁克紹), Trung đại phu Nguyễn Đạo Học (阮道學) theo Chử vào chầu. Lại sai Trung phụng Đại phu Phạm Chí Thanh (范至清), Triều thỉnh lang Đỗ Bảo Trực (杜抱直) đến tỉnh bàn việc, gửi thư cho Bình chương nói về việc giúp quân và lương: "Chiêm Thành thờ nước nhỏ đã lâu, cha già tôi chỉ lấy đức mà vỗ về, đến thân cô tử này cũng nối chí cha. Từ khi cha già quy thuận Thiên triều đến nay đã 30 năm, không dùng đến can qua, binh tốt đổi làm dân đinh, một mặt để nộp cống Thiên triều, một mặt tỏ lòng không hai ý. May thay các hạ soi xét, giúp cho 1 việc lương thực. Đất nước nhỏ sát biển, ngũ cốc sản xuất không nhiều, từ khi đại quân đi khỏi, trăm họ lưu vong, lại gặp hạn hán, sáng no tối đói, ăn không đủ. Nhưng mệnh của các hạ không dám trái, định tại vùng đất Vĩnh An châu (永安州) biên giới Khâm Châu (欽州) chờ đợi nộp lương. Sau đó cô tử sẽ thân hành đến cửa khuyết nghe thánh huấn. Khi cha già còn sống, Thiên triều thương xót để ngoài mức thường, nay cha già đã mất, cô tử đang thọ tang, nhiễm bệnh đến nay chưa hồi phục. Huống hồ cô tử sinh trưởng nơi hẻo lánh, không chịu được nóng lạnh, không quen thủy thổ, đường sá gian nan chỉ e phơi xương trắng. Bồi thần nước nhỏ qua lại còn bị chướng khí xâm hại, chết đến 5, 6 phần hoặc quá nửa, các hạ vốn đã biết rõ. Duy mong hết lòng che chở, tâu lên Thiên triều, để biết ý định của tông tộc quan lại cô tử đều là phường sợ chết tham sống, không chỉ cô tử chịu ơn mà sinh linh cả nước cũng được an toàn." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 21 (năm 1284), tháng nhuận 5 ngày Giáp Thìn, Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khiêm Phủ (陳謙甫) dâng cống chén ngọc, bình vàng, dây đeo ngọc trai, cổ áo bằng vàng cùng vượn trắng, chim lục hưu, lụa là. Tháng 7 ngày Mậu Tý, xuống chiếu trả sứ An Nam Lê Anh (黎英) về nước, Nhật Huyên sai Nguyễn Đạo Học (阮道學) dâng phương vật. Tháng 12, quân Trấn Nam vương đến An Nam, giết binh canh giữ, chia 6 đạo tiến vào. Hưng Đạo vương (興道王) nhà An Nam dàn binh chống cự ở Vạn Kiếp (萬劫), quân Nguyên đánh bại, Vạn hộ Nghê Nhuận (倪閏) tử trận ở Lưu Thôn (劉邨).''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 3 năm thứ 21 (năm 1284), Đào Bỉnh Trực về, Nhật Huyên lại dâng biểu trần tình và gửi thư cho Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh, đại ý như thư trước. Lại vì Quỳnh Châu An phủ sứ Trần Trọng Đạt nghe lời Trịnh Thiên Hữu nói Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành sai 20.000 quân và 500 thuyền ứng viện, nên Nhật Huyên gửi thư cho Hành tỉnh nói: "Chiêm Thành vốn thuộc nước nhỏ, đại quân đến đánh, lẽ ra phải kêu cầu thương xót, nhưng chưa từng dám thốt ra một lời, ấy là thiên thời nhân sự nước nhỏ cũng đã biết vậy. Nay Chiêm Thành phản nghịch, u mê không tỉnh, ấy là kẻ không biết trời biết người. Đã biết trời biết người, mà lại đi cùng mưu với kẻ không biết trời biết người, thì đứa trẻ 3 tuổi cũng biết là không làm, huống hồ nước nhỏ? Mong quý tỉnh xét cho." Tháng 8, em Nhật Huyên là Chiêu Đức vương Trần Sạn (陳璨) gửi thư cho hành tỉnh xin quy hàng. Tháng 11, Hành tỉnh Hữu thừa Toa Đô (唆都) nói: "Giao Chỉ giáp với Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, có thể lập tỉnh ngay tại đất ấy, đóng quân trấn giữ tại 3 đạo Việt Lý (越里), Triều Châu (潮州), Tỳ Lan (毗蘭), lấy lương tại chỗ cấp cho sĩ tốt, đỡ lo vận tải đường biển." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 22 (năm 1285), Ô Mã Nhi (烏馬兒) đánh bại An Nam trên sông Phú Lương, Toa Đô (唆都) tử trận.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 22 (năm 1285) ngày Nhâm Ngọ, Ô Mã Nhi dẫn binh gặp Hưng Đạo vương An Nam, đánh bại họ, quân đóng ở bờ Bắc sông Phú Lương. Ngày Ất Dậu, Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên dẫn hơn 1.000 thuyền chiến chống cự. Ngày Bính Tuất, giao chiến đại phá quân An Nam, Nhật Huyên bỏ chạy, quân Nguyên vào thành, rồi quay về đóng ở phía Bắc sông Phú Lương. Toa Đô, Đường Cổ Đái (唐古帶) dẫn binh hội quân với Trấn Nam vương. Tháng 3 ngày Quý Mùi, Hành tỉnh Chiêm Thành xin thêm quân vì Nhật Huyên chạy ra Thiên Trường (天長), Trường Yên (長安) lại tập hợp binh lực, Hưng Đạo vương tụ hơn 1.000 thuyền ở Vạn Kiếp, Nguyễn Lộc (阮盝) ở Vĩnh Bình, mà quan binh đi xa đánh lâu, cô lập ở giữa, binh của Toa Đô lại không đến đúng hạn. Đế cho rằng đi đường thủy nguy hiểm, lệnh đi đường bộ. Tháng 5 ngày Mậu Tuất, Nhật Huyên chạy ra hải cảng, Lý Hằng (李恆) truy kích đánh bại. Gặp lúc nắng nóng mưa dầm sinh dịch bệnh, quân muốn rút về Tư Minh châu (思明州), lệnh Toa Đô về Ô Lý. An Nam truy kích, Toa Đô tử trận, Hằng chặn hậu bảo vệ Trấn Nam vương, bị trúng tên độc vào đầu gối trái, về đến Tư Minh thì độc phát mà chết. Tháng 7 ngày Canh Dần, Khu mật viện nói quân Giao Chỉ của Trấn Nam vương Thoát Hoan (脫歡) đánh lâu mệt mỏi, xin lấy trong số 30.000 quân của Áo Lỗ Xích (奧魯赤) ra 1.000 quân Mông Cổ, lấy 4.000 quân Hán và Tân phụ từ 3 hành viện Giang Hoài, Giang Tây, Kinh Hồ, chọn tướng giỏi dẫn đi, chịu sự tiết chế của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha để đánh Giao Chỉ. Vua nghe theo. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 22 (năm 1285) tháng 2, hành tỉnh nói Trấn Nam vương vâng chỉ đánh Chiêm Thành, sai Đường Cổ Đái hội quân với Toa Đô. Lại sai Khúc Liệt (曲烈), Tháp Hải Tát Lý (塔海撒里) cùng sứ An Nam Nguyễn Đạo Học mang công văn trách Nhật Huyên vận lương đến Chiêm Thành giúp quân. Khi quân đến huyện Hành Sơn, nghe anh họ Nhật Huyên là Hưng Đạo vương Trần Tuấn (陳峻) (tức Trần Quốc Tuấn) cầm quân ở biên giới. Sau đó Trần Đức Quân (陳德鈞), Trần Tự Tông (陳嗣宗) mang thư của Nhật Huyên đến nói đường thủy lục đến Chiêm Thành không tiện, xin tùy lực dâng quân lương. Khi quân đến Vĩnh Châu, Nhật Huyên gửi điệp đến Ung Châu nói kỳ hạn cống là tháng 10, xin dọc đường chuẩn bị đinh lực. Khi quân đến Ung Châu, Phạm Hải Nhai (范海崖) của An Nam đóng quân ở Khả Lan (可蘭). Đến Tư Minh châu, Trấn Nam vương lại gửi văn thư. Đến Lộc Châu, nghe Nhật Huyên điều binh giữ các ải Khâu Ôn (丘溫), Khâu Cấp (丘急), Hành tỉnh chia quân làm 2 đạo. Nhật Huyên lại sai Nguyễn Đức Dư (阮德輿), Nguyễn Văn Hán (阮文翰) gửi thư cho Trấn Nam vương nói không thể thân hành đón tiếp nhưng trong lòng mừng rỡ, vì trước có thánh chiếu nói "biệt sắc ngã quân bất nhập nhĩ cảnh" (có sắc riêng quân ta không vào cảnh giới ngươi). Nay thấy trạm trại cầu cống Ung Châu nối tiếp nhau nên rất kinh sợ, mong rủ lòng thương xót. Lại gửi thư cho Bình chương xin bảo vệ sinh linh. Trấn Nam vương sai A Lý (阿里) mang thư cùng Đức Dư đi dụ Nhật Huyên rằng việc hưng binh thực chất là vì Chiêm Thành, không phải vì An Nam. Đến huyện Cấp Bảo, Nguyễn Lộc (阮盝) của An Nam đóng binh ở Thất Nguyên châu (七源州), các nơi như Hựu Thôn, Lý Huyện, Đoản Vạn Kiếp đều có binh Hưng Đạo vương, A Lý không tiến được. Hành tỉnh sai Nghê Nhuận đi dò xét, dặn không được giết chóc dân. Chẳng bao lâu, quân Nguyên đến ải Khả Ly gặp quân Giao ngăn chặn, Tôn Hữu đánh bắt được Quản quân Phụng ngự Đỗ Vĩ (杜尾). Hữu mới biết Hưng Đạo vương thực sự dẫn quân nghênh địch. Quân vượt ải Khả Ly đến ải Động Bản lại gặp binh và đánh bại chúng, tướng giặc Tần Sâm (秦岑) bị thương chết. Nghe Hưng Đạo vương ở ải Nội Bàng, quân tiến đến thôn Biến Trụ, dụ họ mở đường đón tiếp nhưng không nghe. Đến ải Nội Bàng, chiêu hàng cũng không nghe. Quân Nguyên chia 6 đạo tấn công, bắt được tướng Đại liêu ban Đoạn Đài (段台), Hưng Đạo vương chạy thoát. Đuổi đến Vạn Kiếp, phá các ải. Hưng Đạo vương còn hơn 1.000 thuyền cách Vạn Kiếp 10 dặm. Quân Nguyên bèn tìm thuyền dọc sông và đóng thêm thuyền, chọn thủy quân giao Ô Mã Nhi chỉ huy, đánh bại quân Giao nhiều trận. Lấy được 2 tờ văn tự do Nhật Huyên gửi Trấn Nam vương và Bình chương, vẫn nhắc lại việc chiếu trước nói không vào cảnh giới An Nam, nay vì Chiêm Thành mà gây hại bách tính là lỗi của Thái tử, không phải lỗi bản quốc, xin rút quân về sẽ dâng cống vật lạ. Hành tỉnh đáp thư trách Thế tử trái mệnh, bắt Hưng Đạo vương nghênh địch làm hại sinh linh. Nay đánh Chiêm Thành là mệnh trên, Thế tử nên hiểu đức của Hoàng đế mà mở đường, ra đón Trấn Nam vương bàn việc, nếu không quân ta sẽ đặt phủ tại An Nam. Nhật Huyên điều quân Thánh Dực giúp Hưng Đạo vương, Trấn Nam vương đánh chiếm hơn 20 thuyền, Hưng Đạo vương bại tẩu. Quân Nguyên đóng bè làm cầu vượt sông Phú Lương. Nhật Huyên dàn thuyền lập rào gỗ bên sông, thấy quân đến thì phát pháo hò hét cầu chiến. Đến tối lại sai Nguyễn Phụng Ngự gửi thư xin quân Nguyên lùi lại một chút. Hành tỉnh trách mắng rồi tiến quân. Nhật Huyên bỏ thành chạy, sai Nguyễn Hiệu Nhuệ dâng phương vật xin rút quân. Hành tỉnh không nghe, tiến đóng dưới thành An Nam. Hôm sau Trấn Nam vương vào thành, cung điện trống không, chỉ còn lại các chiếu chỉ và điệp văn cũ đều bị gạch xóa hết. Ngoài ra có các văn thư của tướng biên thùy báo tin quân Nguyên. Nhật Huyên chiếm xưng là Đại Việt quốc chủ Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu Hoàng đế (大越國主憲天體道大明光孝皇帝). Trần Uy Hoảng (Trần Thánh Tông) nhường ngôi cho Hoàng thái tử, lập Thái tử phi làm Hoàng hậu, dâng biểu lên Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng thái hậu, dùng ấn Hạo Thiên Thành Mệnh Chi Bảo (昊天成命之寶). Nhật Huyên ở ngôi Thái thượng hoàng, lập An Nam quốc vương là con Nhật Huyên (Trần Nhân Tông), dùng niên hiệu Thiệu Bảo (紹寶). Cung điện ở có 5 cửa, đề chữ "Đại Hưng chi môn" (大興之門). Chính điện 9 gian đề chữ "Thiên An ngự điện" (天安御殿). Các nơi dán bảng: "Phàm trong nước nếu có giặc ngoài đến thì phải tử chiến, nếu sức không địch nổi thì cho phép trốn vào núi rừng, không được đầu hàng." Các nơi hiểm yếu đều có kho chứa binh khí. Nhật Huyên dẫn tông tộc quan lại tụ tập ở Thiên Trường, Trường Yên. Hưng Đạo vương và Phạm Điện tiền tụ thuyền ở cửa sông Vạn Kiếp. Nguyễn Lộc trú ở Tây lộ Vĩnh Bình. Đường Cổ Đái và Toa Đô từ Chiêm Thành đến hội quân. Từ khi vào cảnh giới, lớn nhỏ đánh 7 trận, chiếm đất hơn 2.000 dặm. Phá 4 vương cung, giết tướng giặc Chiêu Hiếu vương, Chiêu Minh vương trốn biệt. Tại An Diễn châu (安演州), Thanh Hóa (清化), Trường Yên (長安) bắt được rể của Trần Thượng thư nhà Tống là Lương Phụng Ngự cùng 400 người. Vạn hộ Lý Bang Hiến, Lưu Thế Anh mở đường từ Vĩnh Bình vào An Nam, cứ 30 dặm lập 1 trại, 60 dặm 1 trạm, mỗi nơi đóng 300 quân. Hữu thừa Khoan Triệt dẫn bộ binh, Lý Tả thừa dẫn thủy quân đánh bại thuyền Nhật Huyên, bắt được Kiến Đức hầu Trần Trọng (陳仲). Nhật Huyên chạy ra cửa Giao Hải. Các tông tộc như Văn Nghĩa hầu (cha là Vũ Đạo hầu) cùng con Minh Trí hầu, rể Trương Hoài hầu, Trương Hiến hầu, các quan nhà Tống cũ như Tăng Tham chính, Tô Bảo Chương (con Tô Thiếu bảo), Trần Đinh Tôn (con Trần Thượng thư) nối nhau đến hàng. Toa Đô dẫn quân đến Trường Yên tìm lương. Nhật Huyên bỏ thuyền chạy vào rừng ở cửa biển An Bang. Quân Nguyên thu 1 vạn chiếc thuyền, đốt bỏ số dư. Đuổi theo 3 ngày đêm, bắt được người nói Thượng hoàng và Thế tử chỉ còn 4 chiếc thuyền, Hưng Đạo vương 3 chiếc, Thái sư 80 chiếc chạy vào phủ Thanh Hóa. Ô Mã Nhi dẫn 1.300 quân, 60 thuyền giúp Toa Đô kích quân Thái sư. Sai Đường Cổ Đái đuổi Nhật Huyên dọc biển cũng không thấy tăm hơi. Em Nhật Huyên là Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) dẫn bản tông vợ con quan lại đến hàng. Sai đưa Chương Hiến hầu, Văn Nghĩa hầu, Minh Thành hầu, Nghĩa Quốc hầu (con Chiêu Quốc vương) vào triều. Văn Nghĩa hầu đi được đến phương Bắc, còn Chương Hiến hầu và Nghĩa Quốc hầu đều bị Hưng Đạo vương giết (Nghĩa Quốc hầu thoát được về quân doanh). Chư tướng bàn: người Giao chống cự, quân ta dù thắng nhiều trận nhưng giặc tăng quân càng đông, quân ta khốn đốn thương vong nhiều, mã quân Mông Cổ không thi triển được kỹ nghệ, bèn bỏ kinh thành, vượt sông sang bờ Bắc, quyết nghị rút quân về Tư Minh châu. Trấn Nam vương đồng ý. Ngày hôm đó Lưu Thế Anh chiến đấu kịch liệt với 20.000 quân của Hưng Đạo vương và Hưng Ninh vương. Quân đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu (懷文侯) đến đánh. Đến sông Sách (冊江), bắc cầu phao vượt sông, cánh quân của Đường Cổ Đái chưa kịp qua thì phục binh trong rừng nổi dậy, quân Nguyên chết đuối nhiều, tử chiến mãi mới ra được cảnh giới. Tháng 7, Khu mật viện xin điều binh tập hợp ở Đàm Châu (潭州) vào tháng 10 năm nay, nghe lệnh Thoát Hoan và A Lý Hải Nha thống lĩnh. Xét theo ''Lai A Bát Xích truyền (來阿八赤傳)'': Năm thứ 22 (năm 1285), thụ chức Chinh Đông Tuyên úy sứ Đô nguyên sứ. Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, Bát Xích thụ chức Hồ Quảng hành tỉnh Hữu thừa, được Thế Tổ cởi áo ban cho, cùng đai vàng ngọc, cung tên giáp trụ. Năm thứ 24 (năm 1287), chỉ huy 1.000 thân quân dẫn Hoàng tử đến Tư Minh châu. Giặc giữ ải Nữ Nhi (女兒關), quân Nguyên đánh chém vạn người, chiếm关. Khi tiến vào Giao Châu, Nhật Huyên bỏ thành chạy. Bát Xích nói: "Giặc bỏ sào huyệt ẩn vào núi biển là để đợi ta mệt mỏi mà thừa cơ. Tướng sĩ ta là người Bắc, mùa xuân hè chướng khí nổi lên, giặc không bị bắt thì ta không thể cầm cự lâu. Nay nên chia quân định đất, chiêu hàng, cấm quân cướp bóc, gấp bắt Nhật Huyên là thượng sách." Bấy giờ Nhật Huyên liên tục sai sứ xin hàng để hoãn binh, chư tướng tin lời, sửa thành để đợi. Lâu dần quân thiếu lương, Nhật Huyên không hàng mà chiếm Trúc Động (竹洞), cửa biển An Bang. Bát Xích đánh bại giặc nhiều trận, nhưng tướng sĩ dịch bệnh không tiến được, các bộ tộc Man lại phản, các cửa ải chiếm được đều mất. Bèn bàn việc rút quân, cho bộ kỵ đi trước, vừa đi vừa đánh ngày mấy chục trận. Giặc chiếm chỗ cao bắn tên độc, tướng sĩ băng bó vết thương mà đánh bảo vệ Hoàng tử ra khỏi cảnh giới. Bát Xích trúng 3 mũi tên độc ở đầu, cổ, đùi, sưng phù rồi chết. Xét theo ''Lý Hằng truyền (李恆傳)'': Theo Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, vượt biển chiếm Thiên Trường, đánh bại Thế tử thu 200 thuyền. Gặp giữa hè dịch bệnh, mưa lụt ngập trại. Có ý kiến nói Giao Chỉ sắp hàng, xin rút quân. Hằng không ngăn được, bèn về. Quân Man đuổi đánh hậu quân, Vương lệnh cho Hằng chặn hậu, vừa đánh vừa đi, tên độc đâm xuyên đầu gối Hằng, một người lính cõng Hằng chạy đến Tư Châu (思州) thì độc phát mà chết. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 23 (năm 1286), đại cử binh phạt An Nam. Phong Trần Ích Tắc (陳益稷) làm An Nam vương, xuống chiếu dụ quan dân An Nam. Vì Tuyên úy ty Hồ Nam dâng lời xin "hoãn binh", Hành tỉnh thần Hồ Quảng là Tuyến Ca (線哥) tán thành ý đó và tâu lên, Đế ngay ngày hôm đó xuống chiếu bãi binh.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 23 (năm 1286), ngày Tân Mão, mệnh cho A Lý Hải Nha (阿里海牙) bàn bạc các việc chinh phạt An Nam. Tháng 2, lấy A Lý Hải Nha vẫn làm Tả thừa tướng Hành trung thư tỉnh An Nam; Áo Lỗ Xích (奧魯赤) làm Bình chương chính sự; Đô nguyên soái Ô Mã Nhi (烏馬兒), Diệc Lý Mê Thất (亦里迷失), A Lý (阿里), Sầm Thuận (昝順), Phàn Tiệp (樊楫) cùng làm Tham tri chính sự. Sai sứ dụ Hoàng tử Dã Tiên Thiết Mộc Nhi (也先鐵木兒) điều 1.000 hoặc 2.000 đến 3.000 quân Hợp Lạt Chương (合剌章) giao cho A Lý Hải Nha đi đánh Giao Chỉ. Ngày Đinh Tỵ, mệnh Hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 chiến thuyền đi biển, hẹn tháng 8 hội tại Khâm Châu (欽州), Liêm Châu (廉州). Ngày Mậu Ngọ, phong Trần Ích Tắc (陳益稷) làm An Nam vương, Trần Tú (陳秀) làm Phụ Nghĩa công (輔義公), xuống chiếu dụ quan dân An Nam. Tháng 4, dụ Nạp Tốc Lạt Đinh (納速刺丁) phân 1.000 quân Mông Cổ vùng Hợp Lạt Chương, sai năng thần thống lĩnh đến Giao Chỉ trợ chiến cho Hoàng tử Thoát Hoan (脫歡). Tháng 5 ngày Tân Mão, An Nam sai sứ hiến phương vật. Tháng 6 ngày Quý Sửu, Tuyến Ca (線哥) ở Hành tỉnh Hồ Quảng tâu: "Nay dùng binh Giao Chỉ, điều 28.700 thú binh của tỉnh này, hẹn tháng 7 hội tại Tĩnh Giang (靜江). Nay đã phát tinh nhuệ khởi hành, 17.800 người còn lại đều gầy yếu bệnh tật, quân đồn điền không thể dùng được. Xin sắc cho năm nay tạm bãi binh." Tháng 11 ngày Kỷ Tỵ, lấy A Bát Xích (阿八赤) làm Hữu thừa Hành tỉnh chinh Giao Chỉ. Tháng 12 ngày Bính Thần, ban cho An Nam vương Trần Ích Tắc cừu mã và 100 đĩnh tiền giấy (sao). Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 23 (năm 1286), đại cử Nam phạt. Tháng 2, hạ chiếu kể tội Nhật Huyên (日烜) giết chú là Trần Di Ái (陳遺愛), không nhận Đạt lỗ hoa xích... Phong Trần Ích Tắc làm An Nam vương để sang bình định đất ấy. Tháng 6, Tuyên úy ty Hồ Nam dâng lời: "Nhiều năm chinh Nhật Bản, dùng binh Chiêm Thành, trăm họ mệt mỏi vận tải, phu dịch phiền trọng, sĩ tốt trúng chướng khí chết nhiều, dân chúng sầu than. Nay lại động đến 1.000.000 quân đánh Giao Chỉ, phí tốn nghìn vàng, không phải cách thương xót sĩ dân... Chi bằng khoan thư sức dân, chờ sang năm trời đất thuận lợi hãy đại cử." Tuyến Ca ở Hành tỉnh Hồ Quảng đồng ý, tâu rằng: "Trong tỉnh có hơn 70 sở trấn giữ, tinh nhuệ đã đi chinh chiến ngoài xa, số còn lại già yếu, mỗi thành không quá 200 người, e kẻ gian dòm ngó. Nay quan không có lương dự trữ, mua ép trong dân, bách tính không chịu nổi khốn cùng." Đế ngay ngày hôm đó xuống chiếu bãi binh, cho sĩ tốt về doanh. Ích Tắc theo quân trở về Ngạc (鄂). Xét theo ''Lưu Tuyên truyền (劉宣傳)'': Lưu Tuyên dâng lời: "An Nam là bang nhỏ, phụng sự nhiều năm, tuế cống chưa từng lỡ hẹn. Nay tháng 7 hội binh tại Tĩnh Giang, đến An Nam tất nhiều người bệnh chết. Giao Chỉ không có lương, thủy lộ khó thông, không có xe ngựa bò thồ, phải dùng vận tải bộ. 1 người gánh 5 đấu gạo, đi về tự ăn hết một nửa. Nếu cần 100.000 thạch lương, phải dùng 400.000 dân phu. Tổng cộng quân nhu, vận tải cần 500.000 đến 600.000 người, dân Quảng Tây, Hồ Quảng sẽ ly tán, không thể lo liệu được... Huống hồ Hồ Quảng gần các khe động, lắm trộm cướp, vạn nhất đại binh đi xa, kẻ gian thừa hư sinh biến, người ở lại già yếu khó mà ứng phó." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 24 (năm 1287), phát quân Tân phụ (新附軍) thảo phạt An Nam, lại phát quân 3 tỉnh cùng Vân Nam và quân Lê (黎兵) 4 châu hải ngoại, chia đường đánh tới, thảy đều chịu sự tiết chế của Trấn Nam vương. Trần Trọng Đạt (陳仲達) xuất thuyền chiến trợ chinh, thủy lục cùng tiến, sở hướng vô địch, đến dưới thành Giao Chỉ, Nhật Huyên trốn đi.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 24 (năm 1287), lệnh A Bát Xích dẫn quân Tân phụ đánh An Nam. Tháng 3, phát quân Mông - Hán 3 tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng cùng binh Vân Nam và quân Lê 4 châu hải ngoại. Mệnh Vạn hộ Hải đạo vận lương Trương Văn Hổ (張文虎) vận 170.000 thạch lương. Lập Hành thượng thư tỉnh chinh Giao Chỉ, do Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp thống lĩnh, đều chịu sự tiết chế của Trấn Nam vương. Tháng 9, Trần Trọng Đạt ở Quỳnh Châu, Tạ Hữu Khuê (謝有奎), Phù Tị Thành (符庇成) đem 120 chiếc thuyền riêng và 1.700 quân Lê trợ chiến. Tháng 11 ngày Nhâm Thần, Ái Lỗ (愛魯) ở Vân Nam đánh phá 40.000 quân của Chiêu Văn vương (昭文王) tại Mộc Ng兀 Môn (木兀門), bắt được tướng Lê Thạch (黎石), Hà Anh (何英). Ngày Kỷ Hợi, Trấn Nam vương đến Tư Minh (思明), chia đường cùng tiến. A Bát Xích dẫn 10.000 quân làm tiền phong. Ngày Tân Sửu, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp và Trình Bằng Phi (程鵬飛) tiến gấp tới Giao Chỉ, đánh đâu thắng đó. Ngày Bính Ngọ, Trấn Nam vương tới Giới Hà (界河), đánh phá quân chặn giữ của Giao Chỉ. Tháng 12 ngày Ất Dậu, Trấn Nam vương vượt sông Phú Lương (富良江), tới dưới thành Giao Chỉ, đánh bại thủ binh. Nhật Huyên cùng con bỏ thành chạy đến bảo Cảm Nam (敢喃堡). Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 24 (năm 1287), phát 70.000 quân Mông - Hán, 500 chiếc thuyền, 6.000 binh Vân Nam, 15.000 quân Lê hải ngoại. Vận tải 170.000 thạch lương. Tháng 11, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp đi đường biển qua Vương Sơn (王山), Song Môn (雙門), cửa An Bang (安邦口), gặp hơn 400 thuyền Giao Chỉ, chém hơn 4.000 cấp, bắt sống hơn 100 người, đoạt 100 thuyền. Trình Bằng Phi đi qua 3 cửa Lão Thử (老鼠), Hãm Sa (陷沙), Thạch Trúc (茨竹), đánh 17 trận đều thắng. Tháng 12, mệnh Trình Bằng Phi và A Lý dẫn 20.000 quân giữ Vạn Kiếp (萬劫). Ô Mã Nhi dẫn thủy binh, A Bát Xích dẫn bộ binh tiến thẳng thành Giao Chỉ. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 25 (năm 1288), Trần Nhật Huyên lại trốn ra biển, đuổi theo không kịp, quân Nguyên bèn quay về phá các trại, vì quân mệt lương hết nên rút quân. Trần Nhật Huyên sai sứ tạ tội, vua sai sứ dụ ông ta phải thân hành vào triều.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 25 (năm 1288), Nhật Huyên ra biển, Trấn Nam vương đuổi không kịp, rút về thành Giao Chỉ. Mệnh Ô Mã Nhi dẫn thủy binh đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Tháng 2, quân Nguyên rút về Vạn Kiếp. Thuyền lương Trương Văn Hổ không tới, chư tướng cho rằng lương hết quân mệt, nên toàn sư trở về. Trấn Nam vương nghe theo. Ngày Nhâm Ngọ, mệnh Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp dẫn thủy binh về trước. Tháng 3, Trấn Nam vương rút đại quân. Thuyền lương Trương Văn Hổ gặp 30 thuyền địch, đánh nhau kịch liệt nhưng vì gió bão và quân đông nên thiệt hại 220 sĩ tốt, 11 chiếc thuyền, mất hơn 14.300 thạch lương, chạy về Quỳnh Châu. Trấn Nam vương rút qua cửa Nội Bàng (內傍關), giặc tụ tập chặn đường về, vương phải theo đường tắt huyện Đan Kỷ (單己縣) ra Lộc Châu (盝州). Nhật Huyên sai sứ tiến người vàng (kim nhân) để thay mình tạ tội. Tháng 11, sai Lý Tư Diễn (李思衍) sang dụ Nhật Huyên vào triều, nếu không sẽ lại gia binh. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 25 (năm 1288), quân Nguyên phá các trại Ngụy (魏寨), chém hơn 10.000 cấp để tìm lương. Tháng 2, A Bát Xích đánh hạ 32 bảo, chém mấy vạn cấp, đoạt 200 thuyền, 113.000 thạch thóc. Ô Mã Nhi tại cửa An Bang không thấy thuyền Trương Văn Hổ, quay về Vạn Kiếp. Chư tướng bàn: "Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có kho tàng để ăn, thuyền lương không tới, tiết trời đã nóng, sợ lương hết quân mệt làm nhục triều đình, nên toàn sư trở về." Trấn Nam vương rút về cửa Nội Bàng, sai Vạn hộ Trương Quân (張均) dẫn 3.000 tinh nhuệ đoạn hậu, tử chiến thoát vây. Thám báo biết Nhật Huyên cùng Thế tử, Hưng Đạo vương (興道王) chia hơn 300.000 quân giữ cửa Nữ Nhi và núi Khâu Cấp (丘急嶺) dài hơn 100 dặm để chặn đường về. Vương đi đường tắt ra Tư Minh (思明). Xét theo ''Tích Đô Nhi truyền (昔都兒傳)'': Tháng Giêng chiến tại núi Tháp Nhi (塔兒山), cánh tay phải trúng tên độc, máu chảy đầy vốc nhưng vẫn hăng máu chiến đấu, bắn chết hơn 20 người Giao, tiến vào đô thành. Tháng 5 rút quân đến cửa Hãm Ni (陷泥關), đón Trấn Nam vương tại cửa Nữ Nhi, gặp 40.000 quân Giao chặn đường, Tích Đô Nhi xông xát đánh lui giặc hơn 20 dặm, toàn sư trở về. Xét theo ''Thiên Nam hành ký (天南行記)'' của Từ Minh Thiện: Tháng 4 năm Chí Nguyên thứ 25 (năm 1288), Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên dâng biểu đại ý: "Vi thần cùng cha quy thuận hơn 30 năm, tuế cống không thiếu. Năm thứ 23, A Lý Hải Nha tham công làm trái thánh chiếu, khiến sinh linh đồ thán. Năm thứ 24, đại quân lại đến đốt chùa chiền, quật mồ mả, bắt giết già trẻ, phá hoại sản nghiệp. Vi thần sợ chết nên trốn đi. Ô Mã Nhi tham chính rêu rao 'ngươi lên trời ta theo lên trời, ngươi vào đất ta theo vào đất', nhục mạ đủ điều. Nay Thái tử thương xót rút quân, nhưng Ô Mã Nhi lại đem thủy quân bắt giết dân ven biển, xẻ thịt phanh thây... Vi thần gửi trả Đại vương Tích Lệ Cơ (昔戾機) và 1.000 quân tàn lạc để biểu thị lòng thành, xin bệ hạ khoan dung." Ngày 12 tháng 11 năm thứ 25 (năm 1288), Lý Tư Diễn (李思衍) phụng chỉ đi sứ. Trong chiếu dụ Nhật Huyên có đoạn: "Ngươi danh nghĩa hướng hóa nhưng không tới triều, mệnh chú ngươi giữ nước thì ngươi giết đi. Trận đánh Chiêm Thành, ngươi không cho mượn đường lại còn chống cự... Nay ngươi hối lỗi, muốn gửi con tin, tiến mỹ nữ, hiến phương vật, nhưng nếu thực thành tâm sao không đích thân tới? Ngươi hãy nghĩ xem: trốn tránh nơi lĩnh hải, ngày đêm lo sợ binh đến, sao bằng về triều hưởng vinh hoa?... Nếu còn trì nghi, hãy cứ sửa thành quách, mài giáp binh, đợi trẫm cử binh lần này. Ngươi từng thờ nhà Tống đã mất, tự lượng sức mình ra sao, nên biết cơ mà tránh hối hận về sau." Ngày 26, sứ đoàn ra cửa Thuận Thành (順城門) khởi hành. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289), tháng 2 ngày Đinh Mão, Thành Đô Quản quân Vạn hộ Lưu Đức Lộc (劉德祿) tâu rằng: "Nguyện dùng 5.000 quân chiêu hàng Di man ở Bát Phiên (八番), nhân đó tiến đánh Giao Chỉ (交趾)." Khu mật viện xin lập Nguyên soái phủ, lấy Dược Thứ Kham (藥刺罕) và Đức Lộc cùng làm Đô nguyên soái, chia 10.000 quân Tứ Xuyên (四川) thuộc dưới quyền, Đế nghe theo. Tháng 4 ngày Mậu Thìn, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用) đến dâng phương vật. Tháng 10 ngày Đinh Hợi, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên lại sai sứ đến dâng phương vật.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 26 (năm 1289), tháng 2, thần hạ Trung thư tỉnh tâu rằng: "Đã bãi việc chinh phạt Giao Chỉ, nên thu hồi phù ấn Hành tỉnh." Tháng 4, Nhật Huyên sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng đến dâng phương vật. Xét theo ''Thiên Nam hành ký (天南行記)'' của Từ Minh Thiện (徐明善): "Ngày 12 tháng 11 năm Chí Nguyên (至元) thứ 25 (năm 1288), lấy Minh Thiện làm Phó sứ đi An Nam, ngày 26 ra khỏi cửa Thuận Thành (順城). Ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Sửu tức năm thứ 26 (năm 1289), đến cửa nước ấy. Em của Thế tử là Thái sư ra đón dâng hương trí kính, hỏi thăm sức khỏe Thánh cung vạn phúc, sứ giả đi đường bình an, rồi cùng lên ngựa đến sứ quán. Ngày 29, Thế tử và sứ giả gặp nhau, phía sau sứ quán có lầu cao, Thế tử từ cửa sau đến trước, mở cửa giữa mời sứ giả vào đứng vái, hỏi thăm Thánh cung vạn phúc, sứ giả đi đường bình an. Ngày 1 tháng 3, bày cờ xí, lọng vàng, trống thổi rước chiếu thư vào Vương thành, đến dưới cửa điện thì xuống ngựa, vào cửa thứ 2 gọi là điện Tập Hiền (集賢殿). Thế tử bái 2 lái dâng hương, lại bái 2 lái nghe tuyên chiếu thư, chỉ có thân thị tả hữu của Thế tử đứng cạnh. Lễ tất, mở tiệc yến đãi sứ giả. Ngày mùng 2, Thế tử sai Hàn lâm đến nói: 'Ô Mã Nhi (烏馬兒) tham chính định về Bắc, sang từ biệt em của Thế tử là Hưng Đạo (興道), đêm nằm trong thuyền bị gió sóng làm cho chết đuối', cùng ý nói sức già bệnh tật không kham nổi việc triều kiến. Ngày mùng 6, Thế tử mời sứ giả xem bản thảo tờ biểu. Ngày mùng 10, Thế tử mời sứ giả xem vạn Phật. Ngày 13, sứ giả áp tải phương vật là Đàm Minh (譚名) hiến thức ăn (hồ tôn). Ngày 15, sứ giả của Thái sư đến bờ sông. Ngày 8 tháng 7, về đến Kinh sư." '''Biểu văn của nước An Nam''': "An Nam quốc Thế tử vi thần Trần Nhật Huyên (陳日烜) hoàng khố muôn thác cúi đầu chịu tội, tâu lên Hoàng đế bệ hạ: Phương này ba xuân tươi đẹp, muôn vật xanh tươi, kính duy Thánh cung vạn phúc. Vi thần vào mùng 1 tháng 3 năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289) thấy Lưu Thiên sứ, Lý Thị lang, Lang trung cùng Đường Ngột Đái (唐兀歹), Cáp Tán (哈散), Ôn Cát Lạt Đái (瓮吉剌歹) mang chiếu thư đến, cùng đưa các tiểu sứ thần Nguyễn Nghĩa Toàn (阮義全) vài người trở về. Vi thần khôn xiết vui mừng, kính cẩn tại chính điện đốt hương bái đọc. Còn như việc bắt phải sửa soạn sang chầu ngay, vi thần thần hồn đều mất, tâm mật như tan, đúng là 'vui chưa cực thì buồn đã đến, hỉ chưa dứt thì sợ đã sang'. Vi thần ở nơi góc biển hẻo lánh, lâu nay vướng bệnh tật, đường sá xa xôi, thủy thổ khó khăn. Tuy mệnh do trời định, nhưng cái chết là điều nhân tình sợ nhất. Thêm vào đó đại quân nhiều lần thảo phạt, giết chóc quá nhiều, anh em không lành, gièm pha không ít. Trước kia chú quốc là Di Ái (遺愛), thực là kẻ chạy trốn ra ngoài, lại vu khống nói là bị giết chết. Sau đó em thứ là Ích Tắc (益稯), đem quân ra hàng trước để lấy công cho mình. Lại thêm người đến tâu thay thường nói sai sự thật, vi thần có 10 phần chết, không có lấy 1 phần sống. Bệ hạ đức quá Đường, Ngu, sáng ngang nhật nguyệt, thực giả không đâu không thấu, u vi không đâu không soi. Thế nên đại quân trước sau tàn sát, vi thần thường lấy hai chữ 'trung thuận' khắc ghi vào tâm can, cống phẩm hàng năm không hề thiếu sót, ấy là nhờ cậy Thánh nhân ở trên cao minh như trời vậy. Đại quân vừa đi, Thiên sứ chưa tới, vi thần đã sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用), Tòng nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông (阮孟聰) kính dâng vật mọn về triều tạ tội. Nếu được khoan dung soi xét, chắc bệ hạ cũng thấu cái ý sợ chết tham sống của vi thần. Ngoài ra không hề có việc bội nghịch nào khác. Năm ngoái người dân nước nhỏ đưa quân sĩ sót lại, vi thần thân hành hỏi han, chỉ tìm được 3 người là Đại vương Tích Lệ Cơ (昔戾機), Ô Mã Nhi (烏馬兒) tham chính, Phàn (樊) tham chính. Người dân đều vì cớ họ giết vợ con, đốt nhà cửa của mình mà muốn làm điều phi nghĩa. Duy vi thần hết sức che chở, hậu đãi ăn mặc, bảo toàn vợ thiếp, sắm sẵn hành trang, sai sứ thần Tòng nghĩa lang Nguyễn Thịnh (阮盛) đi theo Tích Lệ Cơ đại vương cùng Đường Ngột Đái về kinh. Trong đó 2 vị tham chính đi sau, là do đại quân vừa rút, sợ cơn giận của tham chính chưa nguôi tất sinh họa hại, nên phải chậm trễ đợi sắp xếp. Đâu ngờ vi thần không phúc, sự trái nguyện lòng. Phàn tham chính bỗng bị bệnh nhiệt, vi thần dùng hết thuốc men, mua chuộc thầy thuốc dưới trướng họ chữa trị không được, cuối cùng qua đời. Vi thần đã hỏa táng, làm công đức xong, cấp ngựa cho vợ thiếp họ chở xương cốt. Thiên hộ Mai Thế Anh (梅世英), Tiết Văn Chính (薛文正) hộ tống cùng về nhà. Khi Lưu Thiên sứ đến, đều nói là đã qua Ung Châu (邕州). Việc tiếp đãi có kính hay không, hỏi vợ thiếp họ sẽ rõ. Ô Mã Nhi tham chính hẹn đi sau, vì đường về qua Vạn Điền (萬佃), nên xin sang gặp Hưng Đạo (興道) trước để lo liệu phương tiện thủy thổ. Giữa đêm thuyền chạm phải đá bị rò nước, tham chính thân hình cao lớn khó cứu, nên bị chết đuối. Phu phen nước nhỏ cũng chết theo, còn vợ thiếp tiểu đồng nhờ người nhẹ nhỏ nên được cứu thoát. Việc vi thần cử lễ tang lớn, Thiên sứ Hải Nam và Lang trung đều tận mắt thấy. Nếu có điều không cung kính, vợ thiếp họ vẫn còn đó, khó mà che giấu. Số quân nhân trước đây vi thần thu thập được tổng cộng hơn 8.000 người, trong đó có đầu mục hay không đều không biết rõ. Nay mông chiếu dụ, tìm kiếm thêm được đầu mục bấy nhiêu người, quân nhân bấy nhiêu người đều đi theo Thiên sứ về. Sau này nếu còn người sót lại, vi thần cũng sẽ sai phái về hết, không dám lưu giữ một ai. Cúi mong bệ hạ bao dung như núi biển, khoan thứ mọi điều. Vi thần không chỉ bảo toàn tính mạng để phụng sự nước lớn, mà nguyện đời đời kiếp kiếp tan xương nát thịt để báo đáp ơn thánh vạn nhất. Kính tâu. Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289), An Nam quốc Thế tử vi thần Trần Nhật Huyên (陳日烜) thượng tấu." '''Danh sách phương vật (đính kèm biểu)''': Dâng lên bệ hạ (và Hoàng hậu) các món gồm: * 1 thau bạc mạ vàng, 1 con voi thuần, 1 bộ yên ngựa bằng vàng ròng, 1 bộ đệm ngồi. * Mũ mạ vàng mười lượng, 5 bộ cầu hoa mạ vàng nặng 14 lượng 6 tiền, 7 quả chuông đồng mạ vàng. * 1 chiếc án bằng sừng linh dương, 1 tấm chiếu gấm hoa, 4 sợi dây gấm đỏ, 1 tấm khăn quàng gấm thêu vàng, 1 cái mâm đá mạ vàng. * 2 bình lưu ly nắp vàng nặng 1 lượng 6 tiền, 1 đôi chân nến vàng nặng 14 lượng, 1 mâm ngà voi mạ vàng, 1 chén trầm hương nắp mạ vàng, 1 đĩa lá sen vàng nặng 5 lượng. * 1 đĩa hình quả dưa nặng 6 lượng 8 tiền, 1 gáo vàng nặng 10 lượng, 1 đĩa tê giác nắp vàng nặng 4 lượng, 1 chén tê giác nắp vàng nặng 5 tiền. * 1 đôi đũa vàng kèm khay nặng 6 lượng, 1 dao vàng 4 lượng, 1 đũa vàng 1 lượng 3 tiền, 1 xuyên nhục vàng 7 tiền. * 4 dải thắt lưng vàng ròng, 1 bộ bàn cờ tướng bằng gỗ quý khảm ngà, sợi chỉ vàng 3 lượng, 1 hộp khảm vàng nặng 25 lượng, 32 quân cờ ngà voi. * 3 sừng tê hoa, 5 sừng tê đen lớn, 5 mâm đồng lớn mạ vàng nặng 100 lượng, 10 mâm đồng thau nặng 300 lượng. * 2 bình bạc đựng dầu tô hợp nặng 163 lượng (bình nặng 79 lượng). * 3 xấp lụa lông vàng Tây Dương, 50 xấp lụa ngũ sắc, 100 xấp lăng ngũ sắc, 100 xấp gấm Man, 20 tấm vải trắng Đồ Bà (闍婆), 10 tấm vải màu Đồ Bà. * 100 con chim trả (thúy vũ), 10 cân 15 lượng bạch đàn hương, 70 cân mai đàn hương, 100 cân cam mai nhiên hương, 10 cân thảo quả, 20 chiếc ngà voi, 20 sừng tê giác. * 2 con chim ưng, 2 con chim trĩ, 1 con cầy bay (phong ly), 8 con cá sấu, 1 con chim sáo (bát ca). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 27 (năm 1290), mùa xuân tháng Giêng ngày Quý Sửu, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用) dâng phương vật.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': "Năm thứ 27 (năm 1290), Nhật Huyên mất, con là Nhật Tuân (日燇) sai sứ sang cống." Xét theo ''Trương Lập Đạo truyền (張立道傳)'': "Năm thứ 27 (năm 1290), An Nam Thế tử Trần Nhật Tuân (陳日燇) sai thần hạ là Nghiêm Trọng La (嚴仲羅), Trần Tử Lương (陳子良) đến Kinh sư cáo tang và xin nối tước. Trước đó quốc chủ nước ấy là Trần Nhật Huyên (陳日烜) nhiều lần được triệu mà không tới, chỉ sai chú là Di Ái (遺愛) vào cống, triều đình nhân đó phong Di Ái làm An Nam vương. Di Ái về nước, Nhật Huyên ngầm hại đi, Đế sai sứ hỏi tội nhưng Nhật Huyên cự tuyệt, bèn sai tướng đánh nhưng thất lợi trở về. Đế giận, định phát binh lần nữa. Thừa tướng Hoàn Trạch (完澤), Bình chương Bất Hốt Mộc (不忽木) nói: 'Bang nhỏ man di không đáng làm nhọc Trung Quốc. Trương Lập Đạo từng 2 lần đi sứ An Nam có công, nay sai đi lần nữa chắc sẽ vâng mệnh.' Đế gọi đến điện Hương, dụ rằng: 'Nước nhỏ bất cung, nay sai ngươi đi truyền ý trẫm, hãy tận tâm.' Lập Đạo thưa: 'Mệnh quân phụ dù vào nước lửa không dám từ, nhưng thần sợ không đủ tài gánh vác, xin phái 1 trọng thần đi cùng, thần làm phó.' Đế bảo: 'Khanh là tâm phúc, nếu để người khác trên khanh tất hỏng mưu.' Bèn thụ chức Lễ bộ Thượng thư, đeo hổ phù 3 châu, ban áo gấm, yên vàng, cung tên mà đi. Đến biên giới An Nam, Lập Đạo bảo kẻ ra đón: 'Bảo Thế tử các ngươi phải ra khỏi thành đón chiếu.' Nhật Tuân bèn dẫn thuộc hạ đốt hương phục lạy bên đường. Đến phủ, Nhật Tuân quỳ nghe chiếu đúng lễ. Lập Đạo truyền mệnh, kể tội và viết thư hiểu dụ; Nhật Tuân bảo: 'Ba đời nước tôi nhục cho Công, tôn Công là khanh nước lớn, là thầy nước nhỏ; nay Công dạy tôi thế nào?' Lập Đạo đáp: 'Xưa Trấn Nam vương đem quân thảo phạt, không phải các ngươi thắng được đâu, mà do quân ta không dùng người dẫn đường, tiến sâu vào chỗ không người, trì nghi mà về, chưa ra khỏi hiểm yếu thì mưa gió ập đến, cung tên hư hỏng, quân không đánh tự tan, Thiên tử đã biết rõ rồi. Các ngươi chỉ cậy vào núi cao biển sâu, chướng khí độc hại mà thôi. Vả người Vân Nam và Lĩnh Nam tập tục giống nhau, sức lực ngang nhau, nay đem họ phối hợp với kỵ binh phương Bắc, các ngươi chống sao nổi? Các ngươi đánh không lợi, chẳng qua trốn ra biển, nhưng giặc đảo sẽ thừa cơ cướp phá. Các ngươi thiếu ăn không trụ nổi, tất bị họ khuất phục. Làm thần tử của họ sao bằng làm thần tử Thiên tử? Nay các nước hải đảo cống nạp cho các ngươi cũng là vì sợ đại quốc ta vậy. Thánh Thiên tử có đức, đối đãi hậu hĩnh. Quân đội năm trước không phải ý trên, mà do tướng biên thùy gièm pha, ngươi không ngộ ra, không sai một sứ giả tạ tội xin mệnh, lại cầm binh kháng cự, đuổi sứ giả, làm giận sư đoàn đại quốc. Nay họa sắp đến rồi, Thế tử hãy tự tính lấy.' Nhật Tuân lạy và khóc rằng: 'Lời Công rất phải, những kẻ mưu tính cho tôi không ai nghĩ được thế này. Trận chiến trước kia chỉ là để cứu cái chết mà thôi, há chẳng sợ Thiên tử sao? Thiên tử sai Công đến tất là muốn cứu sống tôi.' Rồi quay về hướng Bắc bái tạ, thề chết không quên ơn Thiên tử. Bèn rước Lập Đạo vào, mang kỳ bảo ra biếu. Lập Đạo không nhận một thứ gì, chỉ yêu cầu Nhật Tuân nhập triều. Nhật Tuân nói: 'Tham sống sợ chết là tình thường. Nếu có chiếu tha tội chết, thần há dám từ?' Bèn sai thần hạ Nguyễn Đại Chi (阮代之), Hà Duy Nham (何惟巖) theo Lập Đạo dâng biểu tạ tội, tu sửa lễ tuế cống như cũ, bày tỏ ý nguyện vào triều. Đình thần có kẻ ghen công, cho rằng phải vào triều trước rồi mới xá tội. Nhật Tuân sợ, cuối cùng không dám đến, người bàn luận đều tiếc cho việc đó." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 28 (năm 1291), mùa thu tháng 7 ngày Kỷ Dậu, triệu em vua Giao Chỉ là Trần Ích Tắc (陳益稷), Hữu thừa Trần Nham (陳巖), Trịnh Đỉnh (鄭鼎), con của Na Hoài (那懷) cùng đến Kinh sư. Tháng 9 ngày Tân Hợi, An Nam vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai sứ dâng biểu, tiến phương vật và tạ tội không đi triều kiến. Mùa đông tháng 10 ngày Quý Tỵ, lấy Vũ Bình lộ Tổng quản Trương Lập Đạo (張立道) làm Lễ bộ Thượng thư, đi sứ Giao Chỉ.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 28 (năm 1291), Thái Vinh (蔡榮) ở Vạn hộ phủ Lưỡng Hoài trấn thủ Vĩnh Châu dâng thư bàn việc quân, cho rằng triều đình thưởng phạt không minh, quân sĩ không tận mệnh, tướng soái bất hòa, bỏ lỡ thời cơ... thư dâng lên không thấy hồi âm. *(Ghi chú: An Nam truyện chép năm thứ 27 Nhật Huyên mất, Nhật Tuân lập, mà Bản kỷ năm thứ 28 vẫn chép Nhật Huyên dâng biểu. Trương Lập Đạo truyền chép năm thứ 27 sai đi sứ, Bản kỷ chép năm thứ 28, nay chép cả để tham khảo).'' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 29 (năm 1292), tháng 3, lấy An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) dao thụ (trao chức từ xa) chức Bình chương chính sự Hành trung thư tỉnh Hồ Quảng (湖廣), đeo hổ phù, cư ngụ tại Ngạc Châu (鄂州). Tháng nhuận, Lễ bộ Thượng thư Trương Lập Đạo (張立道), Lang trung Oai Đầu (歪頭) đi sứ An Nam trở về, cùng với sứ thần nước ấy là Nguyễn Đại Chi (阮代之), Hà Duy Nham (何維巖) đến khuyết đình. Trần Nhật Tuân (陳日燇) bái biểu văn và thư sỉnh, tu sửa lễ tuế cống. Tháng 9 ngày Tân Dậu, xuống chiếu dụ nước An Nam: "Trần Nhật Tuân phải đích thân vào triều."''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 9 năm thứ 29 (năm 1292), sai Lại bộ Thượng thư Lương Tằng (梁曾), Lễ bộ Lang trung Trần Phu (陳孚) mang chiếu thư lần nữa dụ Nhật Tuân vào chầu. Chiếu viết: "Xem biểu đã rõ mọi việc. Năm ngoái Lễ bộ Thượng thư Trương Lập Đạo nói từng đến An Nam, biết rõ sự thể nơi đó, xin sang khai dụ để ngươi vào chầu, nên mới sai Lập Đạo đi. Nay tội lỗi nước ngươi đã tự trần tình, Trẫm còn nói gì nữa? Nếu bảo rằng 'đang trong kỳ tang chế và sợ chết dọc đường nên không dám vào chầu', thì hạng sinh linh trên đời có ai được an toàn mãi mãi chăng? Thiên hạ há có nơi nào là không chết chăng? Trẫm chưa hiểu rõ, ngươi nên tâu cho tường tận. Cứ dùng hư văn tuế tệ để khéo léo dối gạt, thì nghĩa khí để đâu?" Xét theo ''Lương Tằng truyền (梁曾傳)'': Năm thứ 29 (năm 1292), có chỉ lệnh cho Tằng lần nữa đi sứ An Nam, thụ chức Lại bộ Thượng thư, ban hổ phù vàng 3 châu, áo mặc, ngựa cưỡi, cung tên, đồ dùng và tiền tệ; lấy Lễ bộ Lang trung Trần Phu làm Phó sứ. Tháng 12, cải thụ chức Tổng quản lộ Hoài An (淮安路) rồi lên đường. Xét theo ''Trần Phu truyền (陳孚傳)'': Năm thứ 29 (năm 1292), Thế Tổ mệnh Lương Tằng làm Lại bộ Thượng thư sang sứ An Nam lần 2, chọn kẻ sĩ phương Nam làm trợ thủ. Triều thần tiến cử Phu là người "bác học có khí tiết". Điều động ông đang từ Biên tu quan ở Hàn lâm Quốc sử viện, nhiếp chức Lễ bộ Lang trung, làm Phó sứ cho Tằng. Khi từ biệt bệ hạ, được ban triều phục ngũ phẩm, đeo kim phù mà đi. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 30 (năm 1293), mùa thu tháng 7 ngày Kỷ Tỵ, mệnh Lưu Quốc Kiệt (劉國傑) theo chư vương Diệc Cát Lý (亦吉里) đốc thúc chư quân chinh phạt Giao Chỉ. Tháng 8 ngày Canh Dần, sứ giả đi An Nam là Lương Tằng, Trần Phu cùng sứ giả An Nam là Đào Tử Kỳ (陶子奇), Lương Văn Tảo (梁文藻) cùng đến. Mùa đông tháng 10, ban áo mùa đông cho 17 người bọn Đào Tử Kỳ của Giao Chỉ, an trí tại Kinh Nam (荊南). Tháng 12 ngày Ất Mùi, sai sứ đốc thúc 2 châu Tư, Bá cùng Trấn Viễn, Hoàng Bình; điều động 8.000 quân cũ của nhà Tống theo chinh phạt An Nam.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 30 (năm 1293), bọn Lương Tằng sứ về, Nhật Tuân sai bồi thần Đào Tử Kỳ sang cống. Đình thần cho rằng Nhật Tuân rốt cuộc không vào chầu, lại bàn chuyện chinh phạt, bèn giam giữ Tử Kỳ tại Giang Lăng (江陵), mệnh Lưu Quốc Kiệt cùng chư hầu vương Diệc Lý Cát Đãi (亦里吉䚟) đồng chinh An Nam. Sắc truyền đến Ngạc Châu để bàn bạc với Trần Ích Tắc. Tháng 8, Bình chương Bất Hốt Mộc (不忽木) tâu xin lập Hành tỉnh An Nam tại Hồ Quảng, cấp 2 ấn, mua 1.000 thuyền của dân chài loại chở được 100 hộc; dùng 56.570 quân, 350.000 thạch lương, 20.000 thạch cỏ ngựa, 210.000 cân muối. Cấp trước bổng lộc cho quân quan, phát cho quân nhân và thủy thủ mỗi người 2 đĩnh bảo sao, khí trượng tổng cộng hơn 700.000 món. Quốc Kiệt lập 11 mạc quan, chia đường thủy lục cùng tiến. Lại lấy Phó sứ Giang Tây Hành khu mật viện là Triệt Lý Man (徹里蠻) làm Hữu thừa theo chinh phạt. Trần Nham (陳巖), Triệu Tu Kỷ (趙修己), Vân Tùng Long (雲從龍), Trương Văn Hổ (張文虎), Sầm Hùng (岑雄) cũng lệnh cho cùng làm việc. Ích Tắc theo quân đến Trường Sa (長沙), gặp lúc đình chỉ việc binh nên dừng lại. ''(Ghi chú: Bản kỷ chép là Diệc Cát Lý, truyện chép là Diệc Lý Cát Đãi, tất có một bên nhầm, nay cứ theo nguyên bản mà chép cả).'' Xét theo ''Lương Tằng truyền (梁曾傳)'': Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293) đến An Nam, nước ấy có 3 cửa, giữa là Dương Minh (陽明), trái là Nhật Tân (日新), phải là Vân Hội (雲會). Bộ thần ra ngoại ô đón, định dẫn đi từ cửa Nhật Tân, Tằng cả giận nói: "Phụng chiếu mà không đi cửa chính, là ta làm nhục mệnh vua vậy." Bèn quay về quán trọ. Sau đó họ xin mở cửa Vân Hội, Tằng lại kiên quyết không chịu, mãi sau họ mới mở cửa Dương Minh rước chiếu vào. Lại trách Nhật Tuân không thân hành ra đón chiếu và giảng giải lễ nghi "thượng hữu" (chuộng bên phải) của tân triều. Thư từ qua lại 3 lần, tuyên bố uy đức Thiên tử để khuyên vua nước ấy vào chầu. Thế tử Trần Nhật Tuân rất cảm phục. Tháng 3, lệnh cho Quốc tướng Đào Tử Kỳ theo Tằng về khuyết đình thỉnh tội, dâng ''Vạn thọ tụng'', sách vàng, biểu chương, phương vật, lại lấy vàng ròng, đồ dùng, vật lạ tặng Tằng làm quà tiễn. Tằng không nhận, trả lại hết cho Đào Tử Kỳ. Tháng 8 về đến Kinh sư, vào kiến diện, dâng các thư từ nghị sự qua lại với Trần Nhật Tuân. Đế đại duyệt, cởi áo ban cho, lại lệnh cho ngồi xuống đất. Hữu thừa A Lý (阿里) tỏ ý không bằng lòng, Đế giận mắng: "Lương Tằng 2 lần đi sứ nước ngoài, dùng miệng lưỡi mà dập tắt binh đao, ngươi sao dám thế!" Hôm đó có thân vương từ Hòa Lâm (和林) đến, Đế mệnh rót rượu ban cho Tằng trước, bảo thân vương rằng: "Việc ngươi làm là việc của ngươi, việc Lương Tằng làm là việc của Ta và ngươi, ngươi đừng coi ông ta là kẻ xếp sau." Lại ban rượu thức ăn tại tiện điện, cho lưu trú trong cung, bàn việc An Nam đến canh 2 mới ra. Ngày hôm sau, Đào Tử Kỳ vào chầu, trình phương vật, voi và vẹt tại sân. Đế lệnh Tằng dẫn voi hiến tế, Tằng dùng tay áo dắt đi, voi theo Tằng quay vòng như thể đã thuần dưỡng từ lâu. Lại lệnh dắt con voi khác cũng thế. Đế khen Tằng là người có phúc, hỏi rằng: "Ngươi có sợ không?" Đáp rằng: "Dù sợ nhưng mệnh vua không dám trái." Đế khen tốt. Có kẻ gièm pha Tằng nhận hối lộ của An Nam, Đế đem hỏi, Tằng đáp: "An Nam đem vàng ròng vật lạ tặng thần, thần không nhận mà trả lại cho Đào Tử Kỳ rồi." Đế nói: "Dẫu có nhận thì có sao đâu." Liền ban 1 đĩnh bạch kim, 2 đồng tiền vàng, sắc cho Trung thư tỉnh trao hổ phù vàng 3 châu cho Tằng. Xét theo ''Bất Hốt Mộc truyền (不忽木傳)'': Vương sư chinh Giao Chỉ thất lợi, lại mưu đại cử. Bất Hốt Mộc nói: "Đảo di quỷ quyệt, uy trời giáng xuống sao không run sợ. Thú cùng tất cắn, thế khiến phải vậy. Nay con là Nhật Tuân nối ngôi, nếu sai một sứ giả sang dụ điều họa phúc, họ biết hối quá tự mới thì không phiền đến binh đao mà bình định được. Nếu không sửa đổi, gia binh cũng chưa muộn." Đế nghe theo. Thế là Giao Chỉ cảm sợ, sai ngụy Chiêu Minh vương (昭明王) đến khuyết đình tạ tội, dâng hết vật cống của 6 năm trước. Đế khen: "Đó là sức mạnh một lời nói của khanh vậy", liền đem một nửa ban cho. Bất Hốt Mộc từ chối: "Đó là nhờ đức thần vũ không giết chóc của Bệ hạ, thần có công lao gì? Chỉ xin nhận hòn giả sơn trầm hương, cái chặn giấy bằng ngà voi và cái gác bút bằng pha lê mà thôi." Xét theo ''Trần Phu truyền (陳孚傳)'': Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293) đến An Nam, Thế tử Trần Nhật Tuân vì có tang, không ra ngoại ô, sai bồi thần đến đón, lại không theo cửa chính Dương Minh. Tằng và Phu về quán trọ viết thư, chất vấn Nhật Tuân về tội bất đình, trách việc không ra đón chiếu và giảng lễ tân triều. Qua lại 3 bức thư, tuyên bố uy đức Thiên tử, lời lẽ chính trực khí thế hào hùng, đều là văn của Phu vậy. Những đồ quà tặng, Phu đều từ chối hết. Xét theo ''Cáp Lạt Cáp Tôn truyền (哈剌哈孫傳)'': Năm thứ 30 (năm 1293), Bình chương Lưu Quốc Kiệt dẫn binh chinh Giao Chỉ, Cáp Lạt Cáp Tôn răn dạy tướng lại không được nhiễu dân. Có kẻ cướp cá rau của dân, ông cho đánh trượng Thiên hộ ấy, trong quân nghiêm túc. Chợt có chỉ điều động 10.000 hộ dân giàu ở Hồ Tương đi đồn điền ở Quảng Tây để mưu đánh Giao Chỉ. Cáp Lạt Cáp Tôn mật sai sứ tâu: "Năm xưa viễn chinh không công, vết thương chưa lành, nay lại dời dân đến xứ chướng khí, tất sẽ oán loạn." Quan lại không biết ông đã tâu, ôm sổ sách xin ký, ông không đáp. Họ lại xin, ông bảo: "Cứ thong thả." Chẳng bao lâu sứ về báo bãi bỏ việc đó, dân chúng đều cảm duyệt. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 31 (năm 1294), mùa xuân tháng Giêng, Thế Tổ băng hà. Mùa hè tháng 4 ngày Giáp Ngọ, Hoàng thái tử lên ngôi Hoàng đế. Ngày Canh Tý, sai Lễ bộ Thị lang Lý Khản (李衎), Binh bộ Lang trung Tiêu Thái Đăng (蕭泰登) mang chiếu thư đi sứ An Nam.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Thành Tông bản kỷ (成宗本紀)'' chép như trên. Xét theo ''An Nam truyện (安南傳)'': Tháng 5 năm thứ 31 (năm 1294), Thành Tông lên ngôi, mệnh bãi việc chinh phạt An Nam, sai Đào Tử Kỳ về nước. Nhật Tuân sai sứ dâng biểu chia buồn quốc tang, hiến phương vật. Tháng 6 sai Lễ bộ Thị lang Lý Khản, Binh bộ Lang trung Tiêu Thái Đăng cầm chiếu sang vỗ về. Đại lược nói: "Tiên hoàng đế vừa bỏ thiên hạ, Trẫm nối giữ đại thống. Lúc mới lên ngôi, đại xá thiên hạ, không kể xa gần. Riêng An Nam ngươi cũng được khoan xá, đã sắc cho hữu ty bãi binh, cho bồi thần Đào Tử Kỳ về nước. Từ nay về sau, việc kính trời thờ nước lớn, hãy nên suy xét kỹ!" '''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ nhất (năm 1295) đời Thành Tông, tháng 3 ngày Ất Tỵ mùng 1, An Nam thế tử Trần Nhật Tuân sai sứ dâng biểu chia buồn quốc tang, lại dâng thư tạ ơn khoan xá và hiến phương vật. Tháng nhuận tháng 4, ban cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc 1.000 đĩnh tiền giấy. Tháng 10 ngày Mậu Thìn, cho sứ giả triều cống An Nam là Trần Lợi Dụng (陳利用) trở về nước, giáng chiếu dụ Trần Nhật Tuân.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thành Tông bản kỷ (成宗本紀)'' chép như trên. '''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 2 (năm 1296), tháng 5, nước An Nam (安南) sai người chiêu dụ phản tặc Hoàng Thắng Hứa (黃勝許). Tháng 6 ngày Bính Ngọ, phản tặc Hoàng Thắng Hứa trốn vào Giao Chỉ (交趾).''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" (元史·成宗本紀) chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 1 (năm 1297), tháng 5 ngày Mậu Thìn, nước An Nam (安南) sai sứ sang triều cống.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 2 (năm 1298), tháng 9, nước Giao Chỉ (交趾) cống phương vật. Tháng 11 ngày Canh Dần, nước An Nam (安南) cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 5 (năm 1301), vì sứ giả An Nam đến là Đặng Nhữ Lâm (鄧汝霖) cùng bọn tùy tùng làm việc phi pháp, nên sai sứ giả sang trách cứ bằng "Đại nghĩa".''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" không chép; theo "An Nam bản truyện" (安南本傳):'' Tháng 2 năm Đại Đức thứ 5 (năm 1301), Thái phó Hoàn Trạch (完澤) cùng các quan tâu rằng sứ An Nam là Đặng Nhữ Lâm đã lén vẽ bản đồ cung uyển, tự ý mua bản đồ địa lý và các sách cấm, lại sao chép văn thư về việc trần tình trưng thu Giao Chỉ, cùng tư chép tình hình quân sự biên giới phía Bắc và các việc sơn lăng; nên sai sứ mang chiếu thư trách cứ bằng đại nghĩa. Tháng 3, sai Lễ bộ Thượng thư Mã Hợp Mã (馬合馬), Lễ bộ Thị lang Kiều Tông Lượng (喬宗亮) mang chiếu dụ Nhật Tuân (日燇) về đại ý việc Nhữ Lâm làm điều phi pháp, lẽ ra phải trị tội đến cùng. Trẫm lấy thiên hạ làm lượng, sắc cho hữu ty thả về. Từ nay sứ giả phải được chọn lựa kỹ, có điều gì thỉnh cầu phải hết sức thành khẩn. Trước đây dùng hư văn dối trá, há có ích gì cho sự nghiệp! Đừng ngại thay đổi mưu đồ kẻo để lại hận sau. Trung thư tỉnh lại gửi văn bản đòi 2 người gồm Vạn hộ Trương Vinh Thực (張榮實), cho đi cùng sứ giả trở về. '''Năm Đại Đức (大德) thứ 6 (năm 1302), tháng 6 ngày Ất Hợi, nước An Nam (安南) đem 2 con voi thuần và chu sa đến hiến tặng.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 7 (năm 1303), tháng 2, vì Trần Ích Tắc (陳益稷) ở An Nam đã cư ngụ lâu tại Ngạc Châu (鄂州), nên ban cho 1.000 đĩnh tiền giấy.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 8 (năm 1304), mùa đông tháng 10 ngày Đinh Hợi, An Nam (安南) sai sứ nhập cống.''' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 9 (năm 1305), mùa đông tháng 10, ban cho An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) 500 khoảnh đất tại Hồ Quảng (湖廣).''' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 10 (năm 1306), mùa đông tháng 10 ngày Đinh Mão, nước An Nam (安南) sai Lê Kháng Tông (黎亢宗) đến cống phương vật.''' *Theo: Các mục trên đều từ "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ".'' '''Đời Vũ Tông (武宗), năm Chí Đại (至大) thứ 1 (năm 1308), tháng 7, xuống chiếu dụ An Nam (安南).''' *Theo "Nguyên sử – Vũ Tông bản kỷ":'' Tháng 7 năm Chí Đại thứ 1 (năm 1308), ngày Quý Dậu, xuống chiếu dụ nước An Nam rằng: "Nước ta dùng võ công định thiên hạ, dùng văn đức vỗ về người phương xa, luôn đoái hoài An Nam. Từ đời ông nội đến đời cha ngươi đời đời tu sửa phương cống, Trẫm rất khen ngợi. Gần đây Tiên hoàng đế băng hà, Trẫm đang phủ quân tại Sóc Phương, được tông thất chư vương, quý thích nguyên huân suy tôn, vì Trẫm là đích tôn của Thế Tổ (世祖), dòng chính của Dụ Hoàng (裕皇), tông phiên thuận tòng bên ngoài, thần dân mong đợi bên dưới, lòng người đồng thuận, ngôi báu có chủ. Trẫm thuận theo dư luận, vào ngày 21 tháng 5 năm Đại Đức thứ 11 (năm 1307), đã lên ngôi hoàng đế tại Thượng Đô (上都). Nay sai Thiếu trung đại phu Lễ bộ Thượng thư A Lý Hôi (阿里灰), Triều thỉnh đại phu Lại bộ Thị lang Lý Kinh (李京), Triều liệt đại phu Binh bộ Thị lang Cao Phục Lễ (高復禮) sang dụ chỉ: Hãy thể theo lòng nhân từ mà xem trọng, bền vững lòng thành sự lớn (thờ nước lớn). Giữ yên bờ cõi ngươi để xứng với ý Trẫm." *Theo "An Nam bản truyện":'' Vũ Tông lên ngôi, xuống chiếu dụ nước ấy, họ nhiều lần sai sứ đến cống. '''Năm Chí Đại (至 đại) thứ 4 (năm 1311), Thế tử An Nam là Nhật (日) dâng biểu triều cống. Chiếu cho phong tước, huân chương cho An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) và hưởng điền lộc như cũ.''' *Theo "Nguyên sử – Vũ Tông bản kỷ" không chép; theo "Nhân Tông bản kỷ" (仁宗本紀):'' Tháng 8 năm thứ 4 (năm 1311), ngày Bính Tuất, Thế tử An Nam là Trần Nhật (陳日) dâng biểu cùng phương vật sang cống. Tháng 9 ngày Bính Ngọ, Dao thụ Hồ Quảng Bình chương - An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) vào yết kiến, tâu rằng: "Thần từ triều Thế Tổ đã quy thuận, vợ con đều bị người trong nước hại, triều đình ban cho vương tước, lại ban 500 khoảnh ruộng tại Hán Dương (漢陽) để tự nuôi thân suốt đời. Nay thần tuổi gần 70, mà hữu ty lại thu hồi ruộng đất, khiến thần không có chỗ ăn." Đế bảo các quan rằng: An Nam vương mộ nghĩa quy thuận, nên hậu đãi để vỗ về người phương xa. Cho tước huân và ruộng đất như cũ. *Theo "An Nam truyện":'' Tháng 8 năm Chí Đại thứ 4 (năm 1311), Thế tử Trần Nhật sai sứ dâng biểu đến triều. '''Đời Nhân Tông (仁宗), năm Hoàng Khánh (皇慶) thứ 1 (năm 1312), tháng 8, An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) đến triều.''' *Theo: "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Hoàng Khánh (皇慶) thứ 2 (năm 1313), mùa hạ tháng 4, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống phương vật.''' *Theo "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" chép như vậy; theo "An Nam bản truyện":'' Tháng 1 năm Hoàng Khánh thứ 2 (năm 1313) đời Nhân Tông, quân Giao Chỉ khoảng hơn 30.000 người, cùng hơn 2.000 kỵ binh xâm phạm Vân Động (雲洞) thuộc trấn An Châu (安州), giết cướp cư dân, đốt cháy kho lẫm nhà cửa, lại chiếm đóng Lộc Động (祿洞), Tri Động (知洞), bắt người và gia súc cùng tài sản dân chúng mang về. Lại chia binh làm 3 đường phạm vào Quy Thuận Châu (歸順州), đóng quân chưa rút. Triều đình bàn việc để Hành tỉnh Hồ Quảng (湖廣) phát binh thảo phạt. Tháng 4 lại nhận báo báo, Thế tử Giao Chỉ thân hành dẫn binh đốt nhà quan, nhà dân tại Dưỡng Lợi Châu (養利州), giết cướp hơn 2.000 người, lại rêu rao rằng: "Xưa Quy Thuận Châu ở Hữu Giang 5 lần cướp phá Đại Nguyên Lộ (大源路) của ta, bắt hơn 5.000 người. Quan tri châu Dưỡng Lợi là Triệu Quyết (趙玨) bắt thương nhân Tư Lãng Châu (思浪州) của ta, lấy 1 nghiên vàng, lấn hơn 1.000 khoảnh ruộng, nên mới đến báo thù." Tháng 6, Trung thư tỉnh sai Binh bộ Viên ngoại lang A Lý Ôn Sa (阿里溫沙), Khu mật viện sai Thiên hộ Lưu Nguyên Hanh (劉元亨) cùng đến Hành tỉnh Hồ Quảng điều tra. Nguyên Hanh thân hành đến các làng Thượng, Trung, Hạ xem xét địa điểm, hỏi han dân chúng nông công, lại sai Tri châu Hạ Tư Minh là Hoàng Tùng Thọ (黃嵩壽) sang chất vấn, nói là nô tì của Thái sư của Thế tử Nguyễn Lục (阮盝), nhưng cũng chưa biết thực hư. Bèn gửi văn bản dụ nước An Nam, đại lược nói: "Xưa lưu trí 9 quận, nhà Đường lập 5 quản, An Nam thực là nơi thanh giáo vươn tới. Huống hồ hiến bản đồ dâng đồ cống, danh phận trên dưới vốn rõ ràng; đãi hậu thu bạc, ơn huệ vỗ về cũng chí tình. Thánh triều quả thực có lỗi gì với quý quốc? Nay cớ sao tự làm việc bất tĩnh, gây mầm tai họa. Tuy đất của các thôn làng vốn rất nhỏ, nhưng quan hệ đến dư đồ quốc gia rất lớn. Thêm nữa số người bị giết và bị bắt đều là dân có hộ tịch của triều đình, Tỉnh Viện chưa dám tâu lên, nhưng chưa rõ mưu đồ bất chính này thực sự do ai chủ xướng?" An Nam gửi văn bản trả lời rằng: "Bọn trộm cướp chuột nhắt chó vặt ở biên thùy tự làm loạn, bản quốc sao biết được?" Lại kèm theo lễ vật hối lộ. Nguyên Hanh lại gửi thư trách An Nam dùng lời lẽ xảo trá không thực, từ chối lễ vật, và nói: "Vàng phương Nam, ngà voi, quý quốc cho là bảo vật, nhưng sứ giả ta lấy 'không tham' làm bảo vật. Vật mang đến hãy giao trả cho sứ giả cầm về, xin hãy xét kỹ sự tình, nói rõ cho ta biết." Nhưng vì đường sá xa xôi, lời lẽ hư thực lộn xộn, cuối cùng không nắm được cốt yếu. Nguyên Hanh tìm nguyên do, cho rằng vì người Giao trước đây từng lấn chiếm biên cảnh Vĩnh Bình (永平), nay lại học theo thành thói. Lại nghe nói Thế tử Nguyễn Lục (阮盝) là kẻ bạt hổ ở Giao Chỉ. Kế sách bây giờ, không gì bằng sai sứ dụ An Nam trả lại đất đai ruộng vườn, trả lại nhân dân, lệnh cho người trong nước định chính ranh giới, truy cứu chủ mưu gây hấn mà giết ở biên cảnh. Cảnh cáo biên lại không được xâm lấn, lại ở Vĩnh Bình lập đồn mộ binh, đặt quan thống lĩnh, cấp ruộng đất trâu bò, lệnh tự canh tác, lập bộ ngũ, định rõ thưởng phạt, để lúc gấp gáp đầu đuôi ứng cứu nhau. Như thế biên cảnh mới yên tĩnh, mãi bảo đảm không lo sợ." Việc tâu lên, có chỉ chờ sứ An Nam đến sẽ lấy đó mà dụ. Từ những năm đầu Diên Hựu (延祐) đến cuối năm Chí Trị (至治), biên cương yên tĩnh, triều cống không dứt. '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 3 (năm 1316), tháng 2 ngày Mậu Dần, mệnh cho Hành tỉnh Hồ Quảng (湖廣行省) dụ An Nam (安南) trả lại quốc chủ nước Chiêm Thành (占城).''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 4 (năm 1317), tháng 6 ngày Đinh Tỵ, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống.''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 5 (năm 1318), tháng Giêng ngày Bính Tý, nước An Nam (安南) sai thần hạ là Doãn Thế Tài (尹世才) cùng bọn đem phương vật sang cống.''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 6 (năm 1319), tháng 5 ngày Bính Tý, gia phong cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) hàm Nghi đồng tam ty (儀同三司).''' *Theo: Các mục trên đều chép trong "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" (元史·仁宗本紀).'' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 7 (năm 1320), tháng Giêng ngày Tân Sửu, Nhân Tông (仁宗) băng hà. Tháng 3 ngày Canh Dần, Đế (Anh Tông) lên ngôi. Tháng 10, nước An Nam (安 Nam) sai thần hạ là Đặng Cung Kiệm (鄧恭儉) đến cống phương vật. Tháng 11 ngày Mậu Tuất, người man Giao Chỉ (交趾) là Nông Chí Đức (儂志德) đánh phá 6 động thuộc Thoát Linh (脫零), Na Khất (那乞), mệnh cho thủ tướng thảo phạt. Tháng 12, tộc Dao (猺) ở Thượng Tư Châu (上思州) kết liên với Giao Chỉ đánh phá Trung Châu (忠州).''' *Theo: "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" không chép; theo "Anh Tông bản kỷ" (英宗本紀) chép như vậy.'' '''Đời Anh Tông (英宗), năm Chí Trị (至治) thứ 1 (năm 1321), mùa hạ tháng 7 ngày Quý Tỵ, sai Lại bộ Thượng thư Giáo Hóa (教化), Lễ bộ Lang trung Văn Củ (文矩) đi sứ An Nam để ban chiếu đăng cực (lên ngôi).''' *Theo: "Nguyên sử – Anh Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Trị (至治) thứ 2 (năm 1322), mùa xuân tháng Giêng ngày Kỷ Tỵ mùng 1, An Nam sai sứ sang cống phương vật. Tháng 11, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống phương vật, ban thưởng lại 450 lượng vàng, 9 đồng tiền vàng và lụa là tương ứng.''' *Theo: "Nguyên sử – Anh Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Đời Thái Định Đế (泰定帝), năm Thái Định (泰定) thứ 1 (năm 1324), mùa thu tháng 7 ngày Bính Ngọ, lấy Phán quan Ti muối vận tải Sơn Đông là Mã Hợp Mô (馬合謨) làm Lại bộ Thượng thư đeo Hổ phù, Hàn lâm Tu soạn Dương Tông Thụy (楊宗瑞) làm Lễ bộ Lang trung đeo Kim phù, mang chiếu tức vị sang dụ An Nam. Mùa đông tháng 10 ngày Nhâm Thân, Thế tử nước An Nam là Trần Nhật Khoáng (陳日爌 - tức vua Trần Minh Tông) sai thần hạ là Mạc Tiết Phu (莫節夫) sang triều cống.''' *Theo "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy. Theo "An Nam bản truyện" (安南本傳):'' "Năm Thái Định thứ 1 (năm 1324), Thế tử Trần Nhật Khoáng sai bồi thần Mạc Tiết Phu sang cống. Ích Tắc (益稷) cư ngụ đã lâu ở Ngạc (鄂), dao thụ chức Bình chương chính sự Hành tỉnh Hồ Quảng." '''Năm Thái Định (泰定) thứ 2 (năm 1325), tháng 3 ngày Ất Hợi, Thế tử nước An Nam Trần Nhật Khoáng (陳日爌) sai sứ cống phương vật. Tháng 10 ngày Ất Tỵ, Tri châu Ninh Viễn (寧遠) là Thiêm Cắm (添插) tâu rằng: "Thổ quan nước An Nam là Áp Na (押那) công kích cướp bóc các trại Mộc Mạt (木末) của ta, xin được trị tội." Sắc cho Thế tử An Nam dụ Áp Na trả lại tù binh đã bắt.''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Thái Định (泰定) thứ 3 (năm 1326), tháng Giêng ngày Mậu Thần, Nguyễn Khấu (阮叩) nước An Nam đánh phá lộ Tư Minh (思明路), mệnh cho Hành tỉnh Hồ Quảng đốc thúc binh bị phòng giữ. Tháng 3, nước An Nam tâu rằng: "Bị Vạn hộ Long Châu là Triệu Hùng Phi (趙雄飛) xâm lấn, xin dụ cho trả lại những gì đã cướp."''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Thái Định (泰定) thứ 4 (năm 1327), tháng 10, An Nam sai sứ sang dâng phương vật. Tháng 12 ngày Quý Mão, An Nam sai sứ sang cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Hòa (致和) thứ 1 (năm 1328), nước An Nam sai sứ sang cống.''' *Theo "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ":'' Tháng 5 năm Chí Hòa thứ 1 (năm 1328) ngày Giáp Thân, nước An Nam sai sứ dâng phương vật. *Theo "Văn Tông bản kỷ":'' Tháng 9 năm Chí Hòa thứ 1 (năm 1328), nước An Nam đến cống phương vật. '''Đời Văn Tông (文宗), năm Thiên Lịch (天曆) thứ 2 (năm 1329), An Nam quốc vương (Trần) Ích Tắc (益稷) mất, chiếu ban tặng 5.000 mân tiền. Năm ấy Thế tử An Nam Trần Nhật Phụ (Hạo) (陳日㷆 - tức vua Trần Hiến Tông) nhập cống.''' *Theo "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" không chép; theo "An Nam bản truyện":'' Ích Tắc (益稷) cư ngụ đã lâu ở Ngạc (鄂), dao thụ chức Bình chương chính sự Hành tỉnh Hồ Quảng. Thời triều Thành Tông (成宗), được ban 200 khoảnh ruộng. Triều Vũ Tông (武宗), thăng Ngân thanh Vinh lộc đại phu, gia phong Kim tử Quang lộc đại phu, lại gia phong Nghi đồng tam ty (儀同三司). Mùa hạ năm Thiên Lịch thứ 2 (năm 1329) đời Văn Tông, Ích Tắc mất, thọ 76 tuổi, chiếu ban tặng 5.000 mân tiền. *Theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考):'' Năm Thiên Lịch thứ 2 đời Văn Tông, Thế tử Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai sứ sang cống. '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 1 (năm 1330), tháng nhuận tháng 7, gia tặng thụy hiệu cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) là Trung Ý (忠懿). Tháng 9, mệnh cho Vạn hộ phủ Long Châu (龍州) thắt chặt biên phòng.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Văn Tông bản kỷ (文宗本紀)'': Tháng nhuận tháng 7 năm Chí Thuận thứ 1 (năm 1330), tặng An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) hàm Nghi đồng tam ty (儀同三司), Bình chương chính sự Hành trung thư tỉnh Hồ Quảng (湖廣), vương tước như cũ, thụy hiệu Trung Ý (忠懿). Ích Tắc vào thời Thế Tổ (世祖) từ nước mình sang quy thuận, bèn thụ cho tước Quốc vương, định cư tại phủ Hán Dương (漢陽府), mất năm Thiên Lịch (天曆) thứ 2 (năm 1329), đến nay gia tặng thụy hiệu. Tháng 9, giặc ở Thành Đô (成都), Quảng Nguyên (廣源) là Phất Đạo Bế Phúc (弗道閉覆) đánh phá động La Hồi (羅回洞) thuộc Long Châu (龍州). Vạn hộ phủ Long Châu gửi văn thư chất vấn nước An Nam (安南), nước ấy trả lời rằng: "Bản quốc từ khi quy thuận Thiên triều, luôn giữ trọn chức trách thần tử, cõi kia biên này thảy đều về một mối thống nhất, há lại vì đất La Hồi vốn thuộc bản quốc mà gây ra tranh chấp sao? Đây hẳn là do quan lại biên giới gây hấn, mượn danh nghĩa Bế Phúc mà thôi, bản phủ nên tự điều tra trị tội." Hành tỉnh Hồ Quảng đem lời đó tâu lên, mệnh cho Vạn hộ phủ Long Châu thắt chặt biên phòng. Xét theo ''An Nam truyện (安南傳)'': Ích Tắc mất, năm Chí Thuận thứ 1 (năm 1330), thụy là Trung Ý Vương (忠懿王). '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 2 (năm 1331), tháng Giêng ngày Kỷ Hợi, sai Lại bộ Thượng thư Tát Lý Ngói (撒里瓦) đeo Hổ phù, Lễ bộ Lang trung Triệu Kỳ Di (趙期頤) đeo Kim phù, mang chiếu tức vị thông cáo nước An Nam (安南), lại ban cho lịch ''Thụ Thời'' (授時曆). Tháng 5 ngày Kỷ Mão, Thế tử An Nam Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai thần hạ là Đoàn Tử Trinh (段子貞) sang triều cống.''' *Theo: "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 3 (năm 1332), mùa hạ tháng 4 ngày Ất Sửu, Thế tử An Nam Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai thần hạ là Đặng Thế Diên (鄧世延) cùng 24 người đến cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Đời Thuận Đế (順帝), năm Chí Nguyên (至元) thứ 1 (năm 1335), tháng 3 ngày Ất Tỵ, phong Thế tử An Nam vương Trần Đoan Ngọ (陳端午 - tức vua Trần Hiến Tông) làm An Nam quốc vương. Tháng 5 ngày Bính Tuất, nước Chiêm Thành (占城) sai thần hạ là Thứ Thắc Nạp Ngói Nhi Tát (刺忒納瓦兒撒) đến dâng phương vật, lại nói Giao Chỉ (交趾) ngăn chặn đường triều cống, xuống chiếu sai sứ tuyên dụ Giao Chỉ.''' *Theo: "Nguyên sử – Thuận Đế bản kỷ" chép như vậy.'' ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9ec0tesy?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] szzzs4sb0h28bo0mf856vmrryta9c92 204603 204598 2026-04-08T10:22:22Z Mrfly911 2215 204603 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第092卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 92''' | trước= [[../quyển 091|quyển 91]] | sau= [[../quyển 093|quyển 93]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 3== ===Nguyên=== '''Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 7 (năm 1257) nhà Nguyên, mùa đông tháng 11, Ngột Lương Hợp Thai (兀良合台) đánh Giao Chỉ (交趾), đánh bại được, vào trong nước đó. Chủ An Nam (安南) là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) chạy ra hải đảo, quân Nguyên bèn rút về.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Hiến Tông bản kỷ (憲宗本紀)'' đã dẫn. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Nước An Nam, xưa là Giao Chỉ (交趾). Nhà Tần gộp thiên hạ, đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng Quận (象郡). Nhà Tần mất, hiệu úy Nam Hải là Triệu Đà (趙佗) đánh chiếm lấy. Nhà Hán đặt 9 quận, Giao Chỉ là một trong số đó. Sau có người con gái là Trưng Trắc (徵側) làm phản, vua Hán sai Mã Viện (馬援) bình định, lập cột đồng làm biên giới nhà Hán. Nhà Đường bắt đầu chia Lĩnh Nam (嶺南) làm hai đạo Đông - Tây, đặt chức Tiết độ, lập 5 phủ Quản, An Nam thuộc về đó. Nhà Tống phong Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) làm Giao Chỉ quận vương (交趾郡王), con là Liễn (璉) cũng làm Vương, truyền được 3 đời thì bị Lý Công Uẩn (李公蘊) đoạt lấy, bèn phong Công Uẩn làm Chủ. Nhà Lý truyền 8 đời đến Hạo Sảm (昊旵). Trần Nhật Cảnh (陳日煚) là rể của Hạo Sảm, bèn có được nước ấy. Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 3 (năm 1253) năm Quý Sửu, Ngột Lương Hợp Thai (兀良合台) theo Thế Tổ (世祖) bình định Đại Lý (大理). Thế Tổ về, lưu Ngột Lương Hợp Thai lại để đánh các bộ tộc di chưa phụ thuộc. Năm thứ 7 (năm 1257) năm Đinh Tỵ tháng 11, binh của Ngột Lương Hợp Thai đóng ở phía Bắc Giao Chỉ, trước tiên sai 2 sứ giả đến dụ hàng nhưng không thấy về. Bèn sai Triệt Triệt Đô (徹徹都) cùng các tướng mỗi người dẫn 1.000 quân, chia đường tiến binh, đến phía Bắc sông Thao (洮江) thuộc kinh đô An Nam, lại sai con là A Truật (阿術) dẫn quân đi tiếp ứng và dò xét hư thực. Người Giao cũng bày binh vệ đông đảo. A Truật sai quân về báo, Ngột Lương Hợp Thai đi gấp đôi đường tiến tới, lệnh cho Triệt Triệt Đô làm tiền phong, A Truật ở sau làm đoạn hậu. Tháng 12, hai quân hợp lại, người Giao kinh hãi, A Truật thừa cơ đánh bại thủy quân người Giao, bắt chiến hạm mang về. Ngột Lương Hợp Thai cũng phá được bộ binh của họ, lại cùng A Truật hợp công, đại bại quân Giao, bèn vào trong nước ấy. Nhật Cảnh (日煚) chạy ra hải đảo. Quân Nguyên tìm thấy các sứ giả sai đi trước đó trong ngục, bị dùng thanh tre chẻ lạt bó chặt vào người đến tận da thịt, khi mở trói thì 1 sứ giả đã chết, quân Nguyên nhân đó tàn phá (đồ thành) kinh đô. Quân ở lại 9 ngày, vì khí hậu nóng nực ẩm thấp nên bèn rút quân. Lại sai 2 sứ giả đến chiêu dụ Nhật Cảnh về hàng. Nhật Cảnh trở về thấy quốc đô đã bị tàn phá, hết sức phẫn nộ, bèn trói 2 sứ giả sai người đưa trả lại. Xét theo ''Ngột Lương Hợp Thai bản truyện (兀良合台本傳)'': Năm thứ 7 (năm 1257) mùa thu tháng 9, sai sứ chiêu hàng Giao Chỉ, không thấy trả lời. Mùa đông tháng 10, tiến binh ép sát biên cảnh, chủ nước ấy là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) cách sông dàn tượng binh và bộ binh rất thịnh. Ngột Lương Hợp Thai chia quân làm 3 đội vượt sông, Triệt Triệt Đô từ hạ lưu vượt trước, đại quân ở giữa, Phò mã Hoài Đô (懷都) cùng A Truật (阿術) ở sau. Lúc đó trao phương lược cho Triệt Triệt Đô rằng: "Quân ngươi đã sang sông thì chớ vội đánh, chúng tất sẽ đến đón đánh ta, Phò mã sẽ cắt đứt phía sau chúng, ngươi đợi tiện nghi thì cướp lấy thuyền của chúng, nếu quân Man tan chạy, đến sông không có thuyền tất sẽ bị ta bắt hết." Khi quân đã lên bờ, Triệt Triệt Đô liền buông quân đánh. Triệt Triệt Đô trái lệnh, quân Man tuy đại bại nhưng vẫn kịp nhảy lên thuyền chạy thoát. Ngột Lương Hợp Thai giận nói: "Tiền phong trái tiết độ của ta, quân có thường hình!" Triệt Triệt Đô sợ hãi, uống thuốc độc chết. Ngột Lương Hợp Thai vào Giao Chỉ, định kế đóng lâu dài, quân lệnh nghiêm túc, mảy may không phạm. Qua 7 ngày, Nhật Cảnh xin nội phụ, bèn bày tiệc rượu khao lớn quân sĩ, rồi rút quân về thành Hạp Xích (柙赤城). '''Năm Hiến Tông (憲宗) thứ 8 (năm 1258), tháng 2. Trần Nhật Cảnh (陳日煚) truyền ngôi cho con trưởng là Quang Bính (光昺). Quang Bính sai rể cùng người trong nước đem phương vật đến kiến diện. Ngột Lương Hợp Thai đưa sứ đoàn đến hành tại.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 8 (năm 1258) năm Mậu Ngọ tháng 2. Nhật Cảnh (日煚) truyền ngôi cho con trưởng là Quang Bính (光昺), cải nguyên Thiệu Long (紹隆). Mùa hạ, Quang Bính sai rể cùng người trong nước mang phương vật đến kiến diện. Ngột Lương Hợp Thai đưa đến hành tại, lại riêng sai Nột Lạt Đinh (訥剌丁) đến dụ rằng: "Xưa ta sai sứ thông hảo, bọn ngươi bắt giữ không trả, ta vì thế mới có cuộc đem quân năm ngoái. Vì chủ nước ngươi chạy ra đồng nội, ta lại sai 2 sứ giả chiêu an về nước, ngươi lại trói trả sứ giả của ta. Nay đặc biệt sai sứ đến khai dụ, nếu bọn ngươi thật lòng nội phụ thì Quốc chủ phải thân hành tới. Nếu vẫn không hối cải thì phải báo rõ cho ta biết." Quang Bính nói: "Nước nhỏ thành tâm thờ nước lớn, thì nước lớn đối đãi thế nào?" Nột Lạt Đinh về báo. Lúc đó Chư vương Bất Hoa (不花) trấn thủ Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai tâu với Vương, lại sai Nột Lạt Đinh đến dụ, bảo sai sứ cùng đi. Quang Bính bèn nộp khoản, lại nói: "Đợi khi ban đức âm, sẽ lập tức cử con em sang làm con tin." Vương mệnh cho Nột Lạt Đinh cưỡi ngựa trạm vào tâu lên. '''Năm Thế Tổ (世祖) Trung Thống (中統) thứ 1 (năm 1260), tháng 12, lấy Lễ bộ Lang trung Mạnh Giáp (孟甲), Lễ bộ Viên ngoại lang Lý Văn Tuấn (李文俊) làm sứ giả đi An Nam, Đại Lý (大理).''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm Trung Thống (中統) thứ 1 (năm 1260) tháng 12, "lấy Mạnh Giáp làm Lễ bộ Lang trung sung chức Nam dụ sứ, Lý Văn Tuấn làm Lễ bộ Viên ngoại lang sung chức Phó sứ, cầm chiếu đến dụ. Đại lược rằng: 'Tổ tông dùng võ công sáng nghiệp, văn hóa chưa tu sửa, trẫm nối nghiệp lớn, đổi mới cái cũ, thu phục muôn phương. Vừa hay An phủ sứ trấn thủ nước Đại Lý là Nhiếp Chỉ Mạch Đinh cưỡi ngựa trạm tâu lên, nghe nước ngươi có lòng thành hướng phong mộ nghĩa, nghĩ khanh xưa ở tiền triều đã từng thần phục, dâng cống phương vật từ xa, nên ban chiếu chỉ này. Dụ quan lại sĩ thứ nước ngươi: Phàm điển lễ áo mũ, phong tục đều y theo chế độ cũ của bản quốc. Đã răn bảo biên tướng không được tự ý dấy binh xâm phạm biên cương, làm loạn nhân dân ngươi. Quan lại sĩ thứ nước khanh hãy cứ yên ổn trị lý như cũ'. Lại dụ bọn Mạnh Giáp rằng: Nếu Giao Chỉ cử con em vào chầu, nên đối đãi tử tế, chớ để nóng lạnh thất thường mà thêm phần khổ cực." '''Năm Trung Thống (中統) thứ 2 (năm 1261), mùa hạ tháng 7 ngày Nhâm Ngọ, sai Nạp Tốc Lạt Đinh (納速剌丁), Mạnh Giáp (孟甲) làm sứ giả đi An Nam.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 2 (năm 1261), Mạnh Giáp cùng những người khác trở về, Quang Bính (光昺) sai người trong tộc là Thông thị Đại phu Trần Phụng Công (陳奉公), Viên ngoại lang Chư vệ ký ban Nguyễn Sâm (阮琛), Viên ngoại lang Nguyễn Diễn (阮演) đến cửa khuyết dâng thư, xin 3 năm nộp cống 1 lần. Đế nghe theo, bèn phong Quang Bính làm An Nam quốc vương (安南國王). '''Năm Trung Thống (中統) thứ 3 (năm 1262), tháng 9 ngày Kỷ Mùi, nước An Nam là Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng phương vật. Ngày Nhâm Thân, trao cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính và Đạt lỗ hoa xích (達魯花赤) Nạp Lạt Đinh (納剌丁) hổ phù.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 3 (năm 1262) tháng 9, lấy 3 tấm gấm Tây, 6 tấm gấm thục ban cho. Lại giáng chiếu rằng: "Khanh đã nộp mình làm tôi, thì từ năm Trung Thống thứ 4 (năm 1263) làm đầu, cứ mỗi 3 năm cống 1 lần. Có thể chọn Nho sĩ, thầy thuốc, những người tinh thông âm dương bói toán và thợ lành nghề các loại mỗi hạng 3 người; cùng các vật như dầu tô hợp, quang hương, vàng bạc, chu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê, đồi mồi, trân châu, ngà voi, bông lụa, chén sứ trắng cùng đem đến. Vẫn lấy Nạp Lạt Đinh làm Đạt lỗ hoa xích, đeo hổ phù, qua lại trong nước An Nam." '''Năm Trung Thống (中統) thứ 4 (năm 1263), An Nam sai sứ dâng biểu vào tạ ơn.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 4 (năm 1263) tháng 11, Nạp Lạt Đinh về, Quang Bính sai Dương An Dưỡng (楊安養) sung chức Viên ngoại lang, cùng Nội lệnh Vũ Phục Hoàn (武復桓), Thư xá Nguyễn Cầu (阮求), Trung dực lang Phạm Cử (范舉) dâng biểu vào tạ ơn. Đế ban cho sứ giả đai ngọc, gấm lụa, thuốc men, yên cương ngựa có thứ bậc khác nhau. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 2 (năm 1265), mùa thu tháng 7 ngày Quý Hợi, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng biểu vào cống. Ngày Giáp Tý, xuống chiếu ban lịch Chí Nguyên năm thứ 3 cho Quang Bính.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 7 năm Chí Nguyên (至元) thứ 2 (năm 1265), sứ giả trở về, vua lại có ưu chiếu đáp lại, vẫn ban lịch và ban bố chiếu thư cải nguyên. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 3 (năm 1266), An Nam sai sứ dâng 3 đạo biểu.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 12 năm thứ 3 (năm 1266), Quang Bính (光昺) sai Dương An Dưỡng (楊安養) dâng 3 đạo biểu. Một là tiến dâng phương vật; hai là xin miễn việc đòi hỏi nho sĩ (tú tài) và thợ thủ công; ba là nguyện xin cho Nạp Lạt Đinh (納剌丁) được làm Đạt lỗ hoa xích (達魯花赤) lâu dài tại bản quốc. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 4 (năm 1267), tháng 9 ngày Mậu Thân, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống, vua ban ưu chiếu đáp lại. Ngày Canh Tuất, sai Vân Nam vương Hốt Ca Xích (忽哥赤) trấn thủ các nơi Đại Lý (大理), Thiện Xiển (鄯闡), Trà Hạn Chương (茶罕章), Xích Thốc Ca Nhi (赤禿哥兒), Kim Sỉ (金齒), xuống chiếu vỗ về lại dân. Lại xuống chiếu dụ nước An Nam, bảo quân trưởng nước ấy phải sang triều kiến, cho con em sang làm con tin (nhập chất), biên lập số dân, nộp quân dịch, đóng thuế phú và đặt chức Đạt lỗ hoa xích để thống trị.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 9 năm thứ 4 (năm 1267), sứ giả trở về, vua có chiếu đáp lại cho phép. Vẫn ban cho Quang Bính đai ngọc, lụa vàng, thuốc men, yên cương ngựa. Chẳng bao lâu sau lại xuống chiếu dụ về 6 việc: Một là quân trưởng phải thân hành sang triều kiến; hai là con em vào làm con tin; ba là biên lập số dân; bốn là nộp quân dịch; năm là đóng thuế phú; sáu là vẫn đặt Đạt lỗ hoa xích thống trị. Tháng 11 lại xuống chiếu dụ Quang Bính, vì trong nước ấy có thương nhân người Hồi Hồi (回鶻), muốn hỏi han về việc Tây Vực, nên lệnh cho phát cử đưa đến. Tháng này, xuống chiếu phong Hoàng tử làm Vân Nam vương, đi trấn thủ các nước Đại Lý (大理), Thiện Xiển (鄯闡), Giao Chỉ (交趾). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 5 (năm 1268), ban cho nước An Nam gấm thêu và ban cho quần thần nước ấy có thứ bậc khác nhau. Lại xuống chiếu cho Vân Nam vương Hốt Ca Xích (忽哥赤) thống binh cùng An Nam chinh phạt hai nước Chiêm Thành (占城), Chân Lạp (真臘).''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng 9 năm Chí Nguyên thứ 5 (năm 1268) ngày Canh Thân, ban cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính gấm thêu, và ban cho các bề tôi có thứ bậc. Ngày Kỷ Sửu, xuống chiếu dụ An Nam, vì Trần Quang Bính tâu rằng có hai giặc Chiêm Thành, Chân Lạp xâm nhiễu, nay đã mệnh cho khanh điều động binh lực cùng với Bất Thiên (不千) hợp sức chinh thảo. Nay lại mệnh cho Vân Nam vương Hốt Ca Xích thống binh Nam hạ, khanh hãy tuân theo chiếu trước, hễ có quân phản loạn không chịu phục tùng gây họa biên cảnh thì phát binh cùng tiến đánh, kẻ nào hàng phục thì khéo vỗ về. Xét theo ''An Nam bản truyện (安 Nam 本傳)'': Tháng 9 năm thứ 5 (năm 1268), lấy Hốt Lung Hải Nha (忽籠海牙) thay Nạp Lạt Đinh làm Đạt lỗ hoa xích, Trương Đình Trân (張庭珍) làm phó. Lại hạ chiếu trưng tập các thương nhân người Hồi Hồi. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 6 (năm 1269), tháng 11 ngày Canh Ngọ, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 6 (năm 1269), Quang Bính dâng thư trần tình nói: "Thương nhân Hồi Hồi một người tên Y Ôn (伊溫) đã chết từ lâu, một người tên Bà Bà (婆婆) sau đó cũng bệnh chết. Lại cứ theo lời Hốt Lung Hải Nha nói với bệ hạ là cần đòi mấy thớt voi lớn, loài thú này thân hình rất lớn, đi đứng rất chậm, không bằng ngựa thượng quốc. Xin phục đợi sắc chỉ, đến kỳ hạn năm nộp cống sau sẽ tiến hiến." Lại dâng biểu nộp cống và dâng biểu riêng để tạ ơn. Ban cho gấm Tây, lụa là, dược vật. Xét theo ''Trương Đình Trân truyền (張庭珍傳)'': Năm Chí Nguyên thứ 6 (năm 1269), An Nam vào cống không đúng hạn, bèn lấy Đình Trân làm Triều liệt Đại phu, An Nam quốc Đạt lỗ hoa xích, đeo kim phù, đi từ Thổ Phồn (吐蕃), Đại Lý (大理) qua các bộ tộc Man đến An Nam. Thế tử Quang Bính (光昺) lập, nhận chiếu, Đình Trân trách rằng: "Hoàng đế không muốn lấy đất đai của ngươi làm quận huyện mà cho ngươi xưng phiên, sai sứ dụ chỉ, đức độ ấy rất hậu. Vương vẫn cùng nhà Tống làm môi hở răng lạnh, vọng tự tôn đại. Nay triệu quân vây Tương Dương (襄陽), hạ được chỉ trong sớm tối, khi quân quét sạch qua sông thì nhà Tống mất, Vương còn dựa vào đâu? Vả lại binh Vân Nam không đầy 2 tháng có thể đến cảnh giới ngươi, diệt tông miếu ngươi chẳng khó gì, hãy xét kỹ mưu đồ." Quang Bính hoàng sợ, sụp lạy nhận chiếu. Sau đó nói với Đình Trân: "Thánh Thiên tử thương ta, nhưng sứ giả đến nhiều kẻ vô lễ. Ngươi chức Triều liệt, ta là Vương vậy, cùng nhau hành lễ ngang hàng, xưa có vậy không?" Đình Trân nói: "Có chứ. Vương nhân (người của vua) tuy thấp kém nhưng vẫn được xếp trên chư hầu." Quang Bính nói: "Ngươi qua Ích Châu (益州), có lạy Vân Nam vương không?" Đình Trân nói: "Vân Nam vương là con Thiên tử. Ngươi là tiểu bang Man di, đặc cách ban cho tước Vương, sao có thể so với Vân Nam vương? Huống hồ Thiên tử mệnh ta làm trưởng ở An Nam, vị thứ ở trên ngươi sao?" Quang Bính nói: "Đã xưng là đại quốc, sao còn đòi tê giác, voi của ta?" Đình Trân nói: "Cống hiến phương vật là chức trách phiên thần." Quang Bính không đối lại được, càng thêm hổ thẹn phẫn nộ, sai vệ binh tuốt gươm vây quanh để uy hiếp Đình Trân. Đình Trân cởi cung đao đang đeo, nằm khểnh trong phòng, nói: "Mặc các ngươi muốn làm gì thì làm." Quang Bính và quần hạ đều khâm phục. Năm sau, sai sứ theo Đình Trân vào cống. Đình Trân bái kiến Đế, thuật lại lời đối đáp với Quang Bính. Đế đại duyệt (rất vui), mệnh cho Hàn lâm Thừa chỉ Vương Bàn (王磐) ghi chép lại. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 7 (năm 1270), tháng 11, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ đến cống, vua ban ưu chiếu đáp lại.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 7 (năm 1270), Trung thư tỉnh gửi điệp văn cho Quang Bính, nói việc nhận chiếu không lạy, đãi sứ giả không theo lễ đối với "vương nhân", bèn dẫn nghĩa sách ''Xuân Thu'' để trách cứ, và lệnh phải đưa số voi đã đòi cùng với tuế cống tới. Lại nói đồ dược vật cống trước kia phẩm vị không tốt, còn việc trưng tập người Hồi Hồi thì lấy cớ lừa dối. Từ nay về sau hãy xét kỹ việc đó. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 8 (năm 1271), An Nam vương Trần Quang Bính gửi thư biện bạch đối đáp.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 12 năm thứ 8 (năm 1271), Quang Bính gửi thư thưa rằng: "Bản quốc kính thờ Thiên triều, đã được phong vương tước, há chẳng phải là vương nhân sao? Sứ giả Thiên triều lại tự xưng là vương nhân, hành lễ ngang hàng, e rằng làm nhục triều đình. Huống hồ bản quốc trước đã phụng chiếu chỉ mệnh cho y theo tục cũ, hễ nhận chiếu lệnh thì đặt ở chính điện rồi lui về phòng riêng, đó là điển lễ cũ của bản quốc vậy." Về việc đòi voi, trước kia sợ trái ý nên nói lấp lửng chưa dám đối đáp thẳng. Thực ra là vì quản tượng (tượng nô) không nỡ rời xa nhà, khó bề điều phái. Lại dụ đòi nho sĩ, thầy thuốc, thợ thủ công, mà bồi thần Lê Trọng Đà (黎仲佗) khi bái kiến, ở sát bên uy quang của bệ hạ mà chẳng nghe thấy chiếu dụ. Huống hồ năm Trung Thống (中統) thứ 4 (năm 1263) đã được lượng thứ, nay lại nhắc đến, thật không xiết kinh ngạc, cúi xin các hạ nghĩ cho." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 9 (năm 1272), lấy Diệp Thức Niết (葉式捏) làm An Nam Đạt lỗ hoa xích, Lý Nguyên (李元) làm phó.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 10 (năm 1273), tháng Giêng, sứ giả An Nam trở về, nói "Trần Quang Bính nhận chiếu không lạy". Trung thư tỉnh gửi văn thư trách hỏi, Bính xưng là làm theo tục bản quốc. Tháng 12, An Nam quốc vương Trần Quang Bính sai sứ đến cống phương vật.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 10 (năm 1273), Diệp Thức Niết chết. Mệnh Lý Nguyên thay Thức Niết, lấy Hợp Tát Nhi Hải Nha (合撒兒海牙) làm phó. Trung thư tỉnh lại gửi điệp cho Quang Bính nói: "Mấy năm qua sứ giả trở về đều nói Vương mỗi khi nhận chiếu lệnh của Thiên tử chỉ chắp tay đứng chứ không lạy, khi gặp sứ giả hoặc dự yến tiệc, vị thứ lại đặt trên sứ giả. Nay xem thư tới, tự bảo đã nhận vương tước, há không phải vương nhân sao? Khảo trong sách ''Xuân Thu'', xếp 'vương nhân' ở trên chư hầu. Phần ''Thích lệ'' nói: 'Vương nhân là bậc hạ sĩ vậy'. Phàm 5 hạng quan tước (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam), quân trưởng một bang là bậc quý ở hàng ngoại thần; còn hạ sĩ là bậc thấp nhỏ ở hàng nội thần. Lấy kẻ thấp nhỏ mà đặt lên trên kẻ cao quý là vì trọng mệnh lệnh của Vua vậy. Đời sau liệt Vương làm tước vị cho hạng quý nhất trong chư hầu, há có ai lấy vương tước làm vương nhân không? Vương chẳng lẽ không biết mà lại nói lời ấy? Hay là bề tôi từ lệnh nói nhầm? Đến như chiếu của Thiên tử, bề tôi phải lạy nhận, đó là thông nghĩa cổ kim, không thể khác được. Thế mà lại nói 'trước phụng chiếu chỉ cho y theo tục cũ, hễ nhận chiếu lệnh thì đặt ở chính điện rồi lui về phòng riêng là điển lễ cũ'. Đọc đến đây thật lấy làm kinh ngạc! Vương nói lời ấy, lòng có thể tự yên chăng? Chiếu chỉ trước nói là vì trong trời đất không chỉ có vạn nước, mỗi nước có tục riêng; nếu đột ngột bắt thay đổi thì có chỗ bất tiện nên cho dùng tục bản quốc; đâu phải lấy việc không lạy chiếu Thiên tử làm lễ tục! Vả lại giáo lệnh của Vương thi hành trong nước, bề tôi có kẻ nào nhận mà không lạy, thì Vương nghĩ sao? Người quân tử quý ở chỗ sửa lỗi, mong Vương sáng suốt soi xét cho." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 11 (năm 1274), An Nam vào cống.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 11 (năm 1274), "Quang Bính sai Đồng tử Dã Lê Văn Ẩn (童子冶黎文隱) đến cống." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 12 (năm 1275), tháng Giêng, sứ giả nước An Nam trở về. Sắc lệnh dụ về các việc theo chế độ cũ: biên tịch hộ khẩu, đặt Đạt lỗ hoa xích, tuyển quân (tổng quân), lập trạm dịch, nộp tô thuế và tuế cống. Tháng 2, xuống chiếu cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính, vẫn lấy 6 việc theo chế độ cũ để dụ, thúc giục ông ta sang triều kiến.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 12 (năm 1275), Quang Bính dâng biểu xin bãi bỏ chức Đạt lỗ hoa xích tại bản quốc. Lời văn đại lược: "Vi thần hẻo lánh nơi góc biển, được thấm nhuần thánh hóa, cùng muôn loài vui mừng khôn xiết. Cúi xin nghĩ cho thần từ khi hàng phục thượng quốc đến nay đã hơn 10 năm, tuy theo lệ 3 năm một cống, nhưng sứ thần đi lại liên tiếp, mệt mỏi vì đường sá, chưa từng một ngày nghỉ ngơi. Đến như Đạt lỗ hoa xích do Thiên triều sai đến, hạ cố đến cảnh giới thần, lẽ nào có thể để họ về tay không? Huống hồ những kẻ đi lại ấy động chút là cậy thế, lăng mạ nước nhỏ, tuy Thiên tử sáng như nhật nguyệt nhưng sao soi thấu được chậu úp. Vả lại Đạt lỗ hoa xích có thể thi hành với đám tiểu sửu Man di nơi biên viễn, lẽ nào thần đã nhận phong Vương làm phiên bình một phương, mà lại đặt Đạt lỗ hoa xích để giám lâm, há chẳng bị các nước chư hầu cười chê sao? Thà rằng vì lòng vui phục mà tu sửa triều cống, còn hơn là vì sợ kẻ giám lâm mà phải nộp cống vậy! Thần kính gặp Thiên triều lập Thái tử, lập Hoàng hậu, ân lớn dồi dào ban khắp bốn biển, nên đánh bạo kêu nài. Cúi mong thánh từ đặc biệt thương xót, từ nay về sau hễ phát cử cương cống làm 2 lần, một đến Thiện Xiển (鄯闡) để nộp, một đến Trung Nguyên để bái hiến. Phàm quan lại do Thiên triều sai đến, xin đổi thành Dẫn tiến sứ (引進使), để miễn cái tệ Đạt lỗ hoa xích, không chỉ là cái may của vi thần, mà thực là cái may của thương sinh cả nước vậy." Tháng 2, vua lại giáng chiếu, cho rằng những đồ vật cống nộp không bổ ích gì cho việc dùng, dụ về 6 việc: Lại cử Hợp Tát Nhi Hải Nha làm Đạt lỗ hoa xích, và vẫn lệnh cho con em vào hầu (làm con tin). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 13 (năm 1276), An Nam dâng biểu xin miễn 6 việc.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 2 năm thứ 13 (năm 1276), "Quang Bính sai Lê Khắc Phục (黎克復), Văn Túy (文粹) vào cống, vì việc tâu xin nộp vật cống ở Thiện Xiển là thuộc diện không cung kính, nên dâng biểu tạ tội, đồng thời xin miễn 6 việc." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 14 (năm 1277), An Nam sai sứ sang triều kiến.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 14 (năm 1277), Quang Bính mất, người trong nước lập Thế tử Nhật Huyên (日烜) lên ngôi, sai Trung thị Đại phu Chu Trọng Ngạn (周仲彥), Trung lượng Đại phu Ngô Đức Thiệu (吳德邵) sang triều kiến. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 15 (năm 1278), tháng 6 ngày Tân Tỵ, An Nam quốc vương Trần Quang Bính (陳光昺) sai sứ dâng biểu vào cống. Tháng 8 ngày Nhâm Tý, sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿) làm sứ giả đi An Nam, xuống chiếu trách mắng nghiêm khắc, vẫn bắt ông ta phải sang triều kiến.''' *(Ghi chú: Quang Bính đã mất năm thứ 14, mà đây lại nói Quang Bính sai sứ, tất là chữ Nhật Huyên (日烜) bị chép nhầm, không nghi ngờ gì cả).'' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 8 năm thứ 15 (năm 1278), sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿), Hội đồng quán sứ Cáp Lạt Thoát Nhân (哈剌脫因), Công bộ Lang trung Lý Khắc Trung (李克忠), Công bộ Viên ngoại lang Đổng Đoan (董端) cùng Lê Khắc Phục (黎克復) mang chiếu đi dụ Nhật Huyên (日烜) vào triều nhận mệnh. Trước đây sứ giả qua lại chỉ đi đường Lê Hóa (黎化) thuộc Thiện Xiển (鄯闡). Đế lệnh cho Sài Thung đi từ Giang Lăng (江陵) thẳng đến Ung Châu (邕州) để sang Giao Chỉ (交趾). Tháng 11 nhuận, Sài Thung đến trại Vĩnh Bình (永平寨) thuộc Ung Châu. Nhật Huyên sai người đưa thư nói: "Nay nghe Quốc công hạ cố đến cảnh giới hèn mọn, dân biên thùy không ai không kinh hãi, chẳng hay nhân sứ nước nào mà đến đây, xin hãy quay về đường cũ mà đi." Thung đáp điệp rằng: "Quan Lễ bộ Thượng thư phụng mệnh Thượng cấp cùng Lê Khắc Phục từ Giang Lăng đến Ung Châu để vào An Nam, các quân binh dẫn hộ đều cưỡi ngựa trạm, nên đến đầu biên giới đón tiếp." Nhật Huyên sai Ngự sử Trung tán kiêm Tri Thẩm hình viện sự Đỗ Quốc Kế (杜國計) đến trước, rồi Thái úy dẫn bách quan đón ở bờ sông Phú Lương (富良江) đưa vào quán trọ. Ngày 2 tháng 12, Nhật Huyên đến quán gặp sứ giả. Ngày 4, Nhật Huyên bái đọc chiếu thư, Thung truyền chỉ rằng: "Nước ngươi nội phụ hơn 20 năm, 6 việc trước kia vẫn chưa theo, nếu ngươi không sang triều kiến thì hãy sửa thành quách, chỉnh đốn quân đội mà đợi đại sư của ta." Lại nói: "Cha ngươi nhận mệnh làm Vương, ngươi không xin mệnh mà tự lập, nay lại không triều kiến, mai sau triều đình gia tội, sẽ trốn tránh trách nhiệm sao được? Hãy suy nghĩ kỹ." Nhật Huyên theo lệ cũ bày yến ở hành lang, Thung không dự. Khi về quán, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự (范明字) đưa thư tạ tội, đổi tiệc yến sang điện Tập Hiền. Nhật Huyên nói: "Tiên quân qua đời, tôi mới nối ngôi, Thiên sứ đến truyền chiếu dụ làm tôi vừa mừng vừa sợ. Thiết nghĩ vua Tống nhỏ tuổi mà Thiên tử còn thương xót phong tước Công, đối với nước nhỏ tất cũng gia ân. Việc 6 điều trước đã được xá miễn, còn như lễ thân hành triều kiến, tôi sinh trưởng nơi thâm cung, không quen cưỡi ngựa, không hợp phong thổ, sợ chết dọc đường; con em từ Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Thiên sứ về, xin dâng biểu tỏ lòng thành và hiến vật lạ." Thung nói: "Vua Tống chưa đến 10 tuổi, cũng sinh ở thâm cung, sao cũng đến được Kinh sư? Ngoài chiếu chỉ ra, tôi không dám nghe lệnh khác. Vả lại 4 người chúng tôi đến đây cốt để gọi ngươi đi, chứ không phải lấy vật lạ." Khi Thung trở về, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự, Trịnh Quốc Toản (鄭國瓚), Trung tán Đỗ Quốc Kế dâng biểu trần tình, nói: "Thân cô thần khí huyết nhu nhược, đường sá gian nan, chỉ e phơi xương trắng làm bệ hạ đau lòng mà chẳng ích gì cho Thiên triều. Cúi mong bệ hạ thương nước nhỏ xa xôi, cho thần cùng kẻ góa bụa cô độc được bảo toàn tính mạng để phụng sự bệ hạ đến cùng." Đồng thời dâng phương vật và 2 con voi thuần. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 16 (năm 1279), mùa thu tháng 7 ngày Đinh Tỵ, nước Giao Chỉ sai sứ dâng voi thuần. Mùa đông tháng 11 ngày Nhâm Tý, sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung (柴椿) cùng sứ An Nam là Đỗ Trung tán mang chiếu đến dụ Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên (陳日烜), trách việc không sang triều kiến. Tháng 12 ngày Canh Thìn, An Nam dâng dược tài.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 3 năm thứ 16 (năm 1279), Thung về đến Kinh sư, để Trịnh Quốc Toản đợi ở Ung Châu. Khu mật viện tâu: "Nhật Huyên không triều kiến, chỉ sai sứ báo mệnh, lời lẽ quanh co khất lần, dù khéo léo nhưng rốt cuộc trái chiếu chỉ, có thể tiến binh lên biên giới, sai quan hỏi tội." Đế không nghe, lệnh cho sứ giả vào chầu. Tháng 11, lưu sứ giả Trịnh Quốc Toản ở Hội đồng quán, lại sai Sài Thung cùng 4 người và Đỗ Quốc Kế mang chiếu lần nữa dụ Nhật Huyên sang triều kiến. "Nếu thực không thể thân hành đến chầu, thì đúc vàng thay thân, lấy 2 hạt châu thay mắt, kèm theo hiền sĩ, phương kỹ, con em, thợ giỏi mỗi hạng 2 người để thay cho dân chúng. Nếu không, hãy sửa thành trì mà đợi xét xử." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 17 (năm 1280), tháng 7 ngày Giáp Tý, sai Vương tử nước An Nam là Ni (倪) về nước. Tháng 10, sai sứ dụ nước Giao Chỉ, bắt đầu chế kiệu voi. Tháng 11 ngày Kỷ Hợi, Hàn lâm Học sĩ Thừa chỉ Hòa Lễ Hoắc Tôn (和禮霍孫) nói sứ An Nam dâng biểu xin trả lời, vua nghe theo, ban chức danh cho sứ Giao Chỉ cùng cung tên, yên cương. Ngày Canh Tuất, lệnh Hòa Lễ Hoắc Tôn lọc bỏ sứ giả Giao Chỉ, trừ người cần lưu lại, còn đều cho về. Tháng 12, An Nam dâng voi thuần.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 18 (năm 1281), đổi hổ phù chữ Uighur (畏吾) đã ban cho An Nam sang chữ Quốc tự (chữ Mông Cổ). Lập chú của Nhật Huyên là Di Ái (遺愛) làm An Nam quốc vương, phát quân hộ tống về.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Năm thứ 18 (năm 1281) tháng nhuận ngày Canh Thân, An Nam dâng phương vật. Tháng 10 ngày Kỷ Hợi, bàn việc phong hiệu Vương cho An Nam, đổi hổ phù chữ Uighur sang chữ Quốc tự. Giáng chiếu lập chú của Nhật Huyên là Di Ái (遺愛) làm An Nam quốc vương. Ngày Đinh Mùi, đặt Tuyên úy ty tại An Nam, lấy Bắc Kinh lộ Đạt lỗ hoa xích Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi (孛顏帖木兒) làm Tham tri Chính sự, Hành An Nam quốc Tuyên úy sứ, Đô nguyên sứ, đeo hổ phù; Sài Thung và Hốt Ca Nhi (忽哥兒) làm phó. Ngày Canh Tuất, đưa An Nam quốc vương Trần Di Ái vào An Nam, phát 1.000 quân Tân phụ hộ tống. Tháng 11, chiếu cho An Nam quốc vương cung cấp lương thực cho quân Hành tỉnh Chiêm Thành. Ngày Kỷ Dậu, ban tiền giấy (sao) cho quân mới đi chinh chiến An Nam. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 10 năm thứ 18 (năm 1281), lập An Nam Tuyên úy ty... Vì Quang Bính đã mất, con là Nhật Huyên tự lập không xin mệnh, sai sứ triệu không đến lấy cớ bệnh, chỉ cho chú là Di Ái vào chầu, nên lập Di Ái thay làm An Nam quốc vương. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 19 (năm 1282), tháng 9 ngày Đinh Mão, An Nam dâng tê giác, đồ vàng bạc, hương dược.''' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 20 (năm 1283), tháng 8 ngày Giáp Ngọ, An Nam sai sứ dâng phương vật.''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 7 năm thứ 20 (năm 1283), Nhật Huyên gửi thư cho Bình chương A Lý Hải Nha (阿里海牙) xin trả lại sứ giả bị lưu giữ, Đế liền cho về. Bấy giờ A Lý Hải Nha là Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh Bình chương chính sự. Đế muốn Giao Chỉ giúp binh lương để đánh Chiêm Thành, lệnh dùng ý mình mà dụ. Hành tỉnh sai Ngạc Châu Đạt lỗ hoa xích Triệu Chử (趙翥) mang thư dụ Nhật Huyên. Tháng 10, triều đình sai Đào Bỉnh Trực (陶秉直) mang tỉ thư đến dụ. Tháng 11, Triệu Chử đến An Nam. Nhật Huyên bèn sai Trung lượng Đại phu Đinh Khắc Thiệu (丁克紹), Trung đại phu Nguyễn Đạo Học (阮道學) theo Chử vào chầu. Lại sai Trung phụng Đại phu Phạm Chí Thanh (范至清), Triều thỉnh lang Đỗ Bảo Trực (杜抱直) đến tỉnh bàn việc, gửi thư cho Bình chương nói về việc giúp quân và lương: "Chiêm Thành thờ nước nhỏ đã lâu, cha già tôi chỉ lấy đức mà vỗ về, đến thân cô tử này cũng nối chí cha. Từ khi cha già quy thuận Thiên triều đến nay đã 30 năm, không dùng đến can qua, binh tốt đổi làm dân đinh, một mặt để nộp cống Thiên triều, một mặt tỏ lòng không hai ý. May thay các hạ soi xét, giúp cho 1 việc lương thực. Đất nước nhỏ sát biển, ngũ cốc sản xuất không nhiều, từ khi đại quân đi khỏi, trăm họ lưu vong, lại gặp hạn hán, sáng no tối đói, ăn không đủ. Nhưng mệnh của các hạ không dám trái, định tại vùng đất Vĩnh An châu (永安州) biên giới Khâm Châu (欽州) chờ đợi nộp lương. Sau đó cô tử sẽ thân hành đến cửa khuyết nghe thánh huấn. Khi cha già còn sống, Thiên triều thương xót để ngoài mức thường, nay cha già đã mất, cô tử đang thọ tang, nhiễm bệnh đến nay chưa hồi phục. Huống hồ cô tử sinh trưởng nơi hẻo lánh, không chịu được nóng lạnh, không quen thủy thổ, đường sá gian nan chỉ e phơi xương trắng. Bồi thần nước nhỏ qua lại còn bị chướng khí xâm hại, chết đến 5, 6 phần hoặc quá nửa, các hạ vốn đã biết rõ. Duy mong hết lòng che chở, tâu lên Thiên triều, để biết ý định của tông tộc quan lại cô tử đều là phường sợ chết tham sống, không chỉ cô tử chịu ơn mà sinh linh cả nước cũng được an toàn." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 21 (năm 1284), tháng nhuận 5 ngày Giáp Thìn, Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khiêm Phủ (陳謙甫) dâng cống chén ngọc, bình vàng, dây đeo ngọc trai, cổ áo bằng vàng cùng vượn trắng, chim lục hưu, lụa là. Tháng 7 ngày Mậu Tý, xuống chiếu trả sứ An Nam Lê Anh (黎英) về nước, Nhật Huyên sai Nguyễn Đạo Học (阮道學) dâng phương vật. Tháng 12, quân Trấn Nam vương đến An Nam, giết binh canh giữ, chia 6 đạo tiến vào. Hưng Đạo vương (興道王) nhà An Nam dàn binh chống cự ở Vạn Kiếp (萬劫), quân Nguyên đánh bại, Vạn hộ Nghê Nhuận (倪閏) tử trận ở Lưu Thôn (劉邨).''' Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 3 năm thứ 21 (năm 1284), Đào Bỉnh Trực về, Nhật Huyên lại dâng biểu trần tình và gửi thư cho Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh, đại ý như thư trước. Lại vì Quỳnh Châu An phủ sứ Trần Trọng Đạt nghe lời Trịnh Thiên Hữu nói Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành sai 20.000 quân và 500 thuyền ứng viện, nên Nhật Huyên gửi thư cho Hành tỉnh nói: "Chiêm Thành vốn thuộc nước nhỏ, đại quân đến đánh, lẽ ra phải kêu cầu thương xót, nhưng chưa từng dám thốt ra một lời, ấy là thiên thời nhân sự nước nhỏ cũng đã biết vậy. Nay Chiêm Thành phản nghịch, u mê không tỉnh, ấy là kẻ không biết trời biết người. Đã biết trời biết người, mà lại đi cùng mưu với kẻ không biết trời biết người, thì đứa trẻ 3 tuổi cũng biết là không làm, huống hồ nước nhỏ? Mong quý tỉnh xét cho." Tháng 8, em Nhật Huyên là Chiêu Đức vương Trần Sạn (陳璨) gửi thư cho hành tỉnh xin quy hàng. Tháng 11, Hành tỉnh Hữu thừa Toa Đô (唆都) nói: "Giao Chỉ giáp với Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, có thể lập tỉnh ngay tại đất ấy, đóng quân trấn giữ tại 3 đạo Việt Lý (越里), Triều Châu (潮州), Tỳ Lan (毗蘭), lấy lương tại chỗ cấp cho sĩ tốt, đỡ lo vận tải đường biển." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 22 (năm 1285), Ô Mã Nhi (烏馬兒) đánh bại An Nam trên sông Phú Lương, Toa Đô (唆都) tử trận.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 22 (năm 1285) ngày Nhâm Ngọ, Ô Mã Nhi dẫn binh gặp Hưng Đạo vương An Nam, đánh bại họ, quân đóng ở bờ Bắc sông Phú Lương. Ngày Ất Dậu, Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên dẫn hơn 1.000 thuyền chiến chống cự. Ngày Bính Tuất, giao chiến đại phá quân An Nam, Nhật Huyên bỏ chạy, quân Nguyên vào thành, rồi quay về đóng ở phía Bắc sông Phú Lương. Toa Đô, Đường Cổ Đái (唐古帶) dẫn binh hội quân với Trấn Nam vương. Tháng 3 ngày Quý Mùi, Hành tỉnh Chiêm Thành xin thêm quân vì Nhật Huyên chạy ra Thiên Trường (天長), Trường Yên (長安) lại tập hợp binh lực, Hưng Đạo vương tụ hơn 1.000 thuyền ở Vạn Kiếp, Nguyễn Lộc (阮盝) ở Vĩnh Bình, mà quan binh đi xa đánh lâu, cô lập ở giữa, binh của Toa Đô lại không đến đúng hạn. Đế cho rằng đi đường thủy nguy hiểm, lệnh đi đường bộ. Tháng 5 ngày Mậu Tuất, Nhật Huyên chạy ra hải cảng, Lý Hằng (李恆) truy kích đánh bại. Gặp lúc nắng nóng mưa dầm sinh dịch bệnh, quân muốn rút về Tư Minh châu (思明州), lệnh Toa Đô về Ô Lý. An Nam truy kích, Toa Đô tử trận, Hằng chặn hậu bảo vệ Trấn Nam vương, bị trúng tên độc vào đầu gối trái, về đến Tư Minh thì độc phát mà chết. Tháng 7 ngày Canh Dần, Khu mật viện nói quân Giao Chỉ của Trấn Nam vương Thoát Hoan (脫歡) đánh lâu mệt mỏi, xin lấy trong số 30.000 quân của Áo Lỗ Xích (奧魯赤) ra 1.000 quân Mông Cổ, lấy 4.000 quân Hán và Tân phụ từ 3 hành viện Giang Hoài, Giang Tây, Kinh Hồ, chọn tướng giỏi dẫn đi, chịu sự tiết chế của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha để đánh Giao Chỉ. Vua nghe theo. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 22 (năm 1285) tháng 2, hành tỉnh nói Trấn Nam vương vâng chỉ đánh Chiêm Thành, sai Đường Cổ Đái hội quân với Toa Đô. Lại sai Khúc Liệt (曲烈), Tháp Hải Tát Lý (塔海撒里) cùng sứ An Nam Nguyễn Đạo Học mang công văn trách Nhật Huyên vận lương đến Chiêm Thành giúp quân. Khi quân đến huyện Hành Sơn, nghe anh họ Nhật Huyên là Hưng Đạo vương Trần Tuấn (陳峻) (tức Trần Quốc Tuấn) cầm quân ở biên giới. Sau đó Trần Đức Quân (陳德鈞), Trần Tự Tông (陳嗣宗) mang thư của Nhật Huyên đến nói đường thủy lục đến Chiêm Thành không tiện, xin tùy lực dâng quân lương. Khi quân đến Vĩnh Châu, Nhật Huyên gửi điệp đến Ung Châu nói kỳ hạn cống là tháng 10, xin dọc đường chuẩn bị đinh lực. Khi quân đến Ung Châu, Phạm Hải Nhai (范海崖) của An Nam đóng quân ở Khả Lan (可蘭). Đến Tư Minh châu, Trấn Nam vương lại gửi văn thư. Đến Lộc Châu, nghe Nhật Huyên điều binh giữ các ải Khâu Ôn (丘溫), Khâu Cấp (丘急), Hành tỉnh chia quân làm 2 đạo. Nhật Huyên lại sai Nguyễn Đức Dư (阮德輿), Nguyễn Văn Hán (阮文翰) gửi thư cho Trấn Nam vương nói không thể thân hành đón tiếp nhưng trong lòng mừng rỡ, vì trước có thánh chiếu nói "biệt sắc ngã quân bất nhập nhĩ cảnh" (có sắc riêng quân ta không vào cảnh giới ngươi). Nay thấy trạm trại cầu cống Ung Châu nối tiếp nhau nên rất kinh sợ, mong rủ lòng thương xót. Lại gửi thư cho Bình chương xin bảo vệ sinh linh. Trấn Nam vương sai A Lý (阿里) mang thư cùng Đức Dư đi dụ Nhật Huyên rằng việc hưng binh thực chất là vì Chiêm Thành, không phải vì An Nam. Đến huyện Cấp Bảo, Nguyễn Lộc (阮盝) của An Nam đóng binh ở Thất Nguyên châu (七源州), các nơi như Hựu Thôn, Lý Huyện, Đoản Vạn Kiếp đều có binh Hưng Đạo vương, A Lý không tiến được. Hành tỉnh sai Nghê Nhuận đi dò xét, dặn không được giết chóc dân. Chẳng bao lâu, quân Nguyên đến ải Khả Ly gặp quân Giao ngăn chặn, Tôn Hữu đánh bắt được Quản quân Phụng ngự Đỗ Vĩ (杜尾). Hữu mới biết Hưng Đạo vương thực sự dẫn quân nghênh địch. Quân vượt ải Khả Ly đến ải Động Bản lại gặp binh và đánh bại chúng, tướng giặc Tần Sâm (秦岑) bị thương chết. Nghe Hưng Đạo vương ở ải Nội Bàng, quân tiến đến thôn Biến Trụ, dụ họ mở đường đón tiếp nhưng không nghe. Đến ải Nội Bàng, chiêu hàng cũng không nghe. Quân Nguyên chia 6 đạo tấn công, bắt được tướng Đại liêu ban Đoạn Đài (段台), Hưng Đạo vương chạy thoát. Đuổi đến Vạn Kiếp, phá các ải. Hưng Đạo vương còn hơn 1.000 thuyền cách Vạn Kiếp 10 dặm. Quân Nguyên bèn tìm thuyền dọc sông và đóng thêm thuyền, chọn thủy quân giao Ô Mã Nhi chỉ huy, đánh bại quân Giao nhiều trận. Lấy được 2 tờ văn tự do Nhật Huyên gửi Trấn Nam vương và Bình chương, vẫn nhắc lại việc chiếu trước nói không vào cảnh giới An Nam, nay vì Chiêm Thành mà gây hại bách tính là lỗi của Thái tử, không phải lỗi bản quốc, xin rút quân về sẽ dâng cống vật lạ. Hành tỉnh đáp thư trách Thế tử trái mệnh, bắt Hưng Đạo vương nghênh địch làm hại sinh linh. Nay đánh Chiêm Thành là mệnh trên, Thế tử nên hiểu đức của Hoàng đế mà mở đường, ra đón Trấn Nam vương bàn việc, nếu không quân ta sẽ đặt phủ tại An Nam. Nhật Huyên điều quân Thánh Dực giúp Hưng Đạo vương, Trấn Nam vương đánh chiếm hơn 20 thuyền, Hưng Đạo vương bại tẩu. Quân Nguyên đóng bè làm cầu vượt sông Phú Lương. Nhật Huyên dàn thuyền lập rào gỗ bên sông, thấy quân đến thì phát pháo hò hét cầu chiến. Đến tối lại sai Nguyễn Phụng Ngự gửi thư xin quân Nguyên lùi lại một chút. Hành tỉnh trách mắng rồi tiến quân. Nhật Huyên bỏ thành chạy, sai Nguyễn Hiệu Nhuệ dâng phương vật xin rút quân. Hành tỉnh không nghe, tiến đóng dưới thành An Nam. Hôm sau Trấn Nam vương vào thành, cung điện trống không, chỉ còn lại các chiếu chỉ và điệp văn cũ đều bị gạch xóa hết. Ngoài ra có các văn thư của tướng biên thùy báo tin quân Nguyên. Nhật Huyên chiếm xưng là Đại Việt quốc chủ Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu Hoàng đế (大越國主憲天體道大明光孝皇帝). Trần Uy Hoảng (Trần Thánh Tông) nhường ngôi cho Hoàng thái tử, lập Thái tử phi làm Hoàng hậu, dâng biểu lên Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng thái hậu, dùng ấn Hạo Thiên Thành Mệnh Chi Bảo (昊天成命之寶). Nhật Huyên ở ngôi Thái thượng hoàng, lập An Nam quốc vương là con Nhật Huyên (Trần Nhân Tông), dùng niên hiệu Thiệu Bảo (紹寶). Cung điện ở có 5 cửa, đề chữ "Đại Hưng chi môn" (大興之門). Chính điện 9 gian đề chữ "Thiên An ngự điện" (天安御殿). Các nơi dán bảng: "Phàm trong nước nếu có giặc ngoài đến thì phải tử chiến, nếu sức không địch nổi thì cho phép trốn vào núi rừng, không được đầu hàng." Các nơi hiểm yếu đều có kho chứa binh khí. Nhật Huyên dẫn tông tộc quan lại tụ tập ở Thiên Trường, Trường Yên. Hưng Đạo vương và Phạm Điện tiền tụ thuyền ở cửa sông Vạn Kiếp. Nguyễn Lộc trú ở Tây lộ Vĩnh Bình. Đường Cổ Đái và Toa Đô từ Chiêm Thành đến hội quân. Từ khi vào cảnh giới, lớn nhỏ đánh 7 trận, chiếm đất hơn 2.000 dặm. Phá 4 vương cung, giết tướng giặc Chiêu Hiếu vương, Chiêu Minh vương trốn biệt. Tại An Diễn châu (安演州), Thanh Hóa (清化), Trường Yên (長安) bắt được rể của Trần Thượng thư nhà Tống là Lương Phụng Ngự cùng 400 người. Vạn hộ Lý Bang Hiến, Lưu Thế Anh mở đường từ Vĩnh Bình vào An Nam, cứ 30 dặm lập 1 trại, 60 dặm 1 trạm, mỗi nơi đóng 300 quân. Hữu thừa Khoan Triệt dẫn bộ binh, Lý Tả thừa dẫn thủy quân đánh bại thuyền Nhật Huyên, bắt được Kiến Đức hầu Trần Trọng (陳仲). Nhật Huyên chạy ra cửa Giao Hải. Các tông tộc như Văn Nghĩa hầu (cha là Vũ Đạo hầu) cùng con Minh Trí hầu, rể Trương Hoài hầu, Trương Hiến hầu, các quan nhà Tống cũ như Tăng Tham chính, Tô Bảo Chương (con Tô Thiếu bảo), Trần Đinh Tôn (con Trần Thượng thư) nối nhau đến hàng. Toa Đô dẫn quân đến Trường Yên tìm lương. Nhật Huyên bỏ thuyền chạy vào rừng ở cửa biển An Bang. Quân Nguyên thu 1 vạn chiếc thuyền, đốt bỏ số dư. Đuổi theo 3 ngày đêm, bắt được người nói Thượng hoàng và Thế tử chỉ còn 4 chiếc thuyền, Hưng Đạo vương 3 chiếc, Thái sư 80 chiếc chạy vào phủ Thanh Hóa. Ô Mã Nhi dẫn 1.300 quân, 60 thuyền giúp Toa Đô kích quân Thái sư. Sai Đường Cổ Đái đuổi Nhật Huyên dọc biển cũng không thấy tăm hơi. Em Nhật Huyên là Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) dẫn bản tông vợ con quan lại đến hàng. Sai đưa Chương Hiến hầu, Văn Nghĩa hầu, Minh Thành hầu, Nghĩa Quốc hầu (con Chiêu Quốc vương) vào triều. Văn Nghĩa hầu đi được đến phương Bắc, còn Chương Hiến hầu và Nghĩa Quốc hầu đều bị Hưng Đạo vương giết (Nghĩa Quốc hầu thoát được về quân doanh). Chư tướng bàn: người Giao chống cự, quân ta dù thắng nhiều trận nhưng giặc tăng quân càng đông, quân ta khốn đốn thương vong nhiều, mã quân Mông Cổ không thi triển được kỹ nghệ, bèn bỏ kinh thành, vượt sông sang bờ Bắc, quyết nghị rút quân về Tư Minh châu. Trấn Nam vương đồng ý. Ngày hôm đó Lưu Thế Anh chiến đấu kịch liệt với 20.000 quân của Hưng Đạo vương và Hưng Ninh vương. Quân đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu (懷文侯) đến đánh. Đến sông Sách (冊江), bắc cầu phao vượt sông, cánh quân của Đường Cổ Đái chưa kịp qua thì phục binh trong rừng nổi dậy, quân Nguyên chết đuối nhiều, tử chiến mãi mới ra được cảnh giới. Tháng 7, Khu mật viện xin điều binh tập hợp ở Đàm Châu (潭州) vào tháng 10 năm nay, nghe lệnh Thoát Hoan và A Lý Hải Nha thống lĩnh. Xét theo ''Lai A Bát Xích truyền (來阿八赤傳)'': Năm thứ 22 (năm 1285), thụ chức Chinh Đông Tuyên úy sứ Đô nguyên sứ. Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, Bát Xích thụ chức Hồ Quảng hành tỉnh Hữu thừa, được Thế Tổ cởi áo ban cho, cùng đai vàng ngọc, cung tên giáp trụ. Năm thứ 24 (năm 1287), chỉ huy 1.000 thân quân dẫn Hoàng tử đến Tư Minh châu. Giặc giữ ải Nữ Nhi (女兒關), quân Nguyên đánh chém vạn người, chiếm关. Khi tiến vào Giao Châu, Nhật Huyên bỏ thành chạy. Bát Xích nói: "Giặc bỏ sào huyệt ẩn vào núi biển là để đợi ta mệt mỏi mà thừa cơ. Tướng sĩ ta là người Bắc, mùa xuân hè chướng khí nổi lên, giặc không bị bắt thì ta không thể cầm cự lâu. Nay nên chia quân định đất, chiêu hàng, cấm quân cướp bóc, gấp bắt Nhật Huyên là thượng sách." Bấy giờ Nhật Huyên liên tục sai sứ xin hàng để hoãn binh, chư tướng tin lời, sửa thành để đợi. Lâu dần quân thiếu lương, Nhật Huyên không hàng mà chiếm Trúc Động (竹洞), cửa biển An Bang. Bát Xích đánh bại giặc nhiều trận, nhưng tướng sĩ dịch bệnh không tiến được, các bộ tộc Man lại phản, các cửa ải chiếm được đều mất. Bèn bàn việc rút quân, cho bộ kỵ đi trước, vừa đi vừa đánh ngày mấy chục trận. Giặc chiếm chỗ cao bắn tên độc, tướng sĩ băng bó vết thương mà đánh bảo vệ Hoàng tử ra khỏi cảnh giới. Bát Xích trúng 3 mũi tên độc ở đầu, cổ, đùi, sưng phù rồi chết. Xét theo ''Lý Hằng truyền (李恆傳)'': Theo Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, vượt biển chiếm Thiên Trường, đánh bại Thế tử thu 200 thuyền. Gặp giữa hè dịch bệnh, mưa lụt ngập trại. Có ý kiến nói Giao Chỉ sắp hàng, xin rút quân. Hằng không ngăn được, bèn về. Quân Man đuổi đánh hậu quân, Vương lệnh cho Hằng chặn hậu, vừa đánh vừa đi, tên độc đâm xuyên đầu gối Hằng, một người lính cõng Hằng chạy đến Tư Châu (思州) thì độc phát mà chết. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 23 (năm 1286), đại cử binh phạt An Nam. Phong Trần Ích Tắc (陳益稷) làm An Nam vương, xuống chiếu dụ quan dân An Nam. Vì Tuyên úy ty Hồ Nam dâng lời xin "hoãn binh", Hành tỉnh thần Hồ Quảng là Tuyến Ca (線哥) tán thành ý đó và tâu lên, Đế ngay ngày hôm đó xuống chiếu bãi binh.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 23 (năm 1286), ngày Tân Mão, mệnh cho A Lý Hải Nha (阿里海牙) bàn bạc các việc chinh phạt An Nam. Tháng 2, lấy A Lý Hải Nha vẫn làm Tả thừa tướng Hành trung thư tỉnh An Nam; Áo Lỗ Xích (奧魯赤) làm Bình chương chính sự; Đô nguyên soái Ô Mã Nhi (烏馬兒), Diệc Lý Mê Thất (亦里迷失), A Lý (阿里), Sầm Thuận (昝順), Phàn Tiệp (樊楫) cùng làm Tham tri chính sự. Sai sứ dụ Hoàng tử Dã Tiên Thiết Mộc Nhi (也先鐵木兒) điều 1.000 hoặc 2.000 đến 3.000 quân Hợp Lạt Chương (合剌章) giao cho A Lý Hải Nha đi đánh Giao Chỉ. Ngày Đinh Tỵ, mệnh Hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 chiến thuyền đi biển, hẹn tháng 8 hội tại Khâm Châu (欽州), Liêm Châu (廉州). Ngày Mậu Ngọ, phong Trần Ích Tắc (陳益稷) làm An Nam vương, Trần Tú (陳秀) làm Phụ Nghĩa công (輔義公), xuống chiếu dụ quan dân An Nam. Tháng 4, dụ Nạp Tốc Lạt Đinh (納速刺丁) phân 1.000 quân Mông Cổ vùng Hợp Lạt Chương, sai năng thần thống lĩnh đến Giao Chỉ trợ chiến cho Hoàng tử Thoát Hoan (脫歡). Tháng 5 ngày Tân Mão, An Nam sai sứ hiến phương vật. Tháng 6 ngày Quý Sửu, Tuyến Ca (線哥) ở Hành tỉnh Hồ Quảng tâu: "Nay dùng binh Giao Chỉ, điều 28.700 thú binh của tỉnh này, hẹn tháng 7 hội tại Tĩnh Giang (靜江). Nay đã phát tinh nhuệ khởi hành, 17.800 người còn lại đều gầy yếu bệnh tật, quân đồn điền không thể dùng được. Xin sắc cho năm nay tạm bãi binh." Tháng 11 ngày Kỷ Tỵ, lấy A Bát Xích (阿八赤) làm Hữu thừa Hành tỉnh chinh Giao Chỉ. Tháng 12 ngày Bính Thần, ban cho An Nam vương Trần Ích Tắc cừu mã và 100 đĩnh tiền giấy (sao). Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 23 (năm 1286), đại cử Nam phạt. Tháng 2, hạ chiếu kể tội Nhật Huyên (日烜) giết chú là Trần Di Ái (陳遺愛), không nhận Đạt lỗ hoa xích... Phong Trần Ích Tắc làm An Nam vương để sang bình định đất ấy. Tháng 6, Tuyên úy ty Hồ Nam dâng lời: "Nhiều năm chinh Nhật Bản, dùng binh Chiêm Thành, trăm họ mệt mỏi vận tải, phu dịch phiền trọng, sĩ tốt trúng chướng khí chết nhiều, dân chúng sầu than. Nay lại động đến 1.000.000 quân đánh Giao Chỉ, phí tốn nghìn vàng, không phải cách thương xót sĩ dân... Chi bằng khoan thư sức dân, chờ sang năm trời đất thuận lợi hãy đại cử." Tuyến Ca ở Hành tỉnh Hồ Quảng đồng ý, tâu rằng: "Trong tỉnh có hơn 70 sở trấn giữ, tinh nhuệ đã đi chinh chiến ngoài xa, số còn lại già yếu, mỗi thành không quá 200 người, e kẻ gian dòm ngó. Nay quan không có lương dự trữ, mua ép trong dân, bách tính không chịu nổi khốn cùng." Đế ngay ngày hôm đó xuống chiếu bãi binh, cho sĩ tốt về doanh. Ích Tắc theo quân trở về Ngạc (鄂). Xét theo ''Lưu Tuyên truyền (劉宣傳)'': Lưu Tuyên dâng lời: "An Nam là bang nhỏ, phụng sự nhiều năm, tuế cống chưa từng lỡ hẹn. Nay tháng 7 hội binh tại Tĩnh Giang, đến An Nam tất nhiều người bệnh chết. Giao Chỉ không có lương, thủy lộ khó thông, không có xe ngựa bò thồ, phải dùng vận tải bộ. 1 người gánh 5 đấu gạo, đi về tự ăn hết một nửa. Nếu cần 100.000 thạch lương, phải dùng 400.000 dân phu. Tổng cộng quân nhu, vận tải cần 500.000 đến 600.000 người, dân Quảng Tây, Hồ Quảng sẽ ly tán, không thể lo liệu được... Huống hồ Hồ Quảng gần các khe động, lắm trộm cướp, vạn nhất đại binh đi xa, kẻ gian thừa hư sinh biến, người ở lại già yếu khó mà ứng phó." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 24 (năm 1287), phát quân Tân phụ (新附軍) thảo phạt An Nam, lại phát quân 3 tỉnh cùng Vân Nam và quân Lê (黎兵) 4 châu hải ngoại, chia đường đánh tới, thảy đều chịu sự tiết chế của Trấn Nam vương. Trần Trọng Đạt (陳仲達) xuất thuyền chiến trợ chinh, thủy lục cùng tiến, sở hướng vô địch, đến dưới thành Giao Chỉ, Nhật Huyên trốn đi.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 24 (năm 1287), lệnh A Bát Xích dẫn quân Tân phụ đánh An Nam. Tháng 3, phát quân Mông - Hán 3 tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng cùng binh Vân Nam và quân Lê 4 châu hải ngoại. Mệnh Vạn hộ Hải đạo vận lương Trương Văn Hổ (張文虎) vận 170.000 thạch lương. Lập Hành thượng thư tỉnh chinh Giao Chỉ, do Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp thống lĩnh, đều chịu sự tiết chế của Trấn Nam vương. Tháng 9, Trần Trọng Đạt ở Quỳnh Châu, Tạ Hữu Khuê (謝有奎), Phù Tị Thành (符庇成) đem 120 chiếc thuyền riêng và 1.700 quân Lê trợ chiến. Tháng 11 ngày Nhâm Thần, Ái Lỗ (愛魯) ở Vân Nam đánh phá 40.000 quân của Chiêu Văn vương (昭文王) tại Mộc Ng兀 Môn (木兀門), bắt được tướng Lê Thạch (黎石), Hà Anh (何英). Ngày Kỷ Hợi, Trấn Nam vương đến Tư Minh (思明), chia đường cùng tiến. A Bát Xích dẫn 10.000 quân làm tiền phong. Ngày Tân Sửu, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp và Trình Bằng Phi (程鵬飛) tiến gấp tới Giao Chỉ, đánh đâu thắng đó. Ngày Bính Ngọ, Trấn Nam vương tới Giới Hà (界河), đánh phá quân chặn giữ của Giao Chỉ. Tháng 12 ngày Ất Dậu, Trấn Nam vương vượt sông Phú Lương (富良江), tới dưới thành Giao Chỉ, đánh bại thủ binh. Nhật Huyên cùng con bỏ thành chạy đến bảo Cảm Nam (敢喃堡). Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 24 (năm 1287), phát 70.000 quân Mông - Hán, 500 chiếc thuyền, 6.000 binh Vân Nam, 15.000 quân Lê hải ngoại. Vận tải 170.000 thạch lương. Tháng 11, Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp đi đường biển qua Vương Sơn (王山), Song Môn (雙門), cửa An Bang (安邦口), gặp hơn 400 thuyền Giao Chỉ, chém hơn 4.000 cấp, bắt sống hơn 100 người, đoạt 100 thuyền. Trình Bằng Phi đi qua 3 cửa Lão Thử (老鼠), Hãm Sa (陷沙), Thạch Trúc (茨竹), đánh 17 trận đều thắng. Tháng 12, mệnh Trình Bằng Phi và A Lý dẫn 20.000 quân giữ Vạn Kiếp (萬劫). Ô Mã Nhi dẫn thủy binh, A Bát Xích dẫn bộ binh tiến thẳng thành Giao Chỉ. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 25 (năm 1288), Trần Nhật Huyên lại trốn ra biển, đuổi theo không kịp, quân Nguyên bèn quay về phá các trại, vì quân mệt lương hết nên rút quân. Trần Nhật Huyên sai sứ tạ tội, vua sai sứ dụ ông ta phải thân hành vào triều.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'': Tháng Giêng năm thứ 25 (năm 1288), Nhật Huyên ra biển, Trấn Nam vương đuổi không kịp, rút về thành Giao Chỉ. Mệnh Ô Mã Nhi dẫn thủy binh đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Tháng 2, quân Nguyên rút về Vạn Kiếp. Thuyền lương Trương Văn Hổ không tới, chư tướng cho rằng lương hết quân mệt, nên toàn sư trở về. Trấn Nam vương nghe theo. Ngày Nhâm Ngọ, mệnh Ô Mã Nhi, Phàn Tiệp dẫn thủy binh về trước. Tháng 3, Trấn Nam vương rút đại quân. Thuyền lương Trương Văn Hổ gặp 30 thuyền địch, đánh nhau kịch liệt nhưng vì gió bão và quân đông nên thiệt hại 220 sĩ tốt, 11 chiếc thuyền, mất hơn 14.300 thạch lương, chạy về Quỳnh Châu. Trấn Nam vương rút qua cửa Nội Bàng (內傍關), giặc tụ tập chặn đường về, vương phải theo đường tắt huyện Đan Kỷ (單己縣) ra Lộc Châu (盝州). Nhật Huyên sai sứ tiến người vàng (kim nhân) để thay mình tạ tội. Tháng 11, sai Lý Tư Diễn (李思衍) sang dụ Nhật Huyên vào triều, nếu không sẽ lại gia binh. Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng Giêng năm thứ 25 (năm 1288), quân Nguyên phá các trại Ngụy (魏寨), chém hơn 10.000 cấp để tìm lương. Tháng 2, A Bát Xích đánh hạ 32 bảo, chém mấy vạn cấp, đoạt 200 thuyền, 113.000 thạch thóc. Ô Mã Nhi tại cửa An Bang không thấy thuyền Trương Văn Hổ, quay về Vạn Kiếp. Chư tướng bàn: "Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có kho tàng để ăn, thuyền lương không tới, tiết trời đã nóng, sợ lương hết quân mệt làm nhục triều đình, nên toàn sư trở về." Trấn Nam vương rút về cửa Nội Bàng, sai Vạn hộ Trương Quân (張均) dẫn 3.000 tinh nhuệ đoạn hậu, tử chiến thoát vây. Thám báo biết Nhật Huyên cùng Thế tử, Hưng Đạo vương (興道王) chia hơn 300.000 quân giữ cửa Nữ Nhi và núi Khâu Cấp (丘急嶺) dài hơn 100 dặm để chặn đường về. Vương đi đường tắt ra Tư Minh (思明). Xét theo ''Tích Đô Nhi truyền (昔都兒傳)'': Tháng Giêng chiến tại núi Tháp Nhi (塔兒山), cánh tay phải trúng tên độc, máu chảy đầy vốc nhưng vẫn hăng máu chiến đấu, bắn chết hơn 20 người Giao, tiến vào đô thành. Tháng 5 rút quân đến cửa Hãm Ni (陷泥關), đón Trấn Nam vương tại cửa Nữ Nhi, gặp 40.000 quân Giao chặn đường, Tích Đô Nhi xông xát đánh lui giặc hơn 20 dặm, toàn sư trở về. Xét theo ''Thiên Nam hành ký (天南行記)'' của Từ Minh Thiện: Tháng 4 năm Chí Nguyên thứ 25 (năm 1288), Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên dâng biểu đại ý: "Vi thần cùng cha quy thuận hơn 30 năm, tuế cống không thiếu. Năm thứ 23, A Lý Hải Nha tham công làm trái thánh chiếu, khiến sinh linh đồ thán. Năm thứ 24, đại quân lại đến đốt chùa chiền, quật mồ mả, bắt giết già trẻ, phá hoại sản nghiệp. Vi thần sợ chết nên trốn đi. Ô Mã Nhi tham chính rêu rao 'ngươi lên trời ta theo lên trời, ngươi vào đất ta theo vào đất', nhục mạ đủ điều. Nay Thái tử thương xót rút quân, nhưng Ô Mã Nhi lại đem thủy quân bắt giết dân ven biển, xẻ thịt phanh thây... Vi thần gửi trả Đại vương Tích Lệ Cơ (昔戾機) và 1.000 quân tàn lạc để biểu thị lòng thành, xin bệ hạ khoan dung." Ngày 12 tháng 11 năm thứ 25 (năm 1288), Lý Tư Diễn (李思衍) phụng chỉ đi sứ. Trong chiếu dụ Nhật Huyên có đoạn: "Ngươi danh nghĩa hướng hóa nhưng không tới triều, mệnh chú ngươi giữ nước thì ngươi giết đi. Trận đánh Chiêm Thành, ngươi không cho mượn đường lại còn chống cự... Nay ngươi hối lỗi, muốn gửi con tin, tiến mỹ nữ, hiến phương vật, nhưng nếu thực thành tâm sao không đích thân tới? Ngươi hãy nghĩ xem: trốn tránh nơi lĩnh hải, ngày đêm lo sợ binh đến, sao bằng về triều hưởng vinh hoa?... Nếu còn trì nghi, hãy cứ sửa thành quách, mài giáp binh, đợi trẫm cử binh lần này. Ngươi từng thờ nhà Tống đã mất, tự lượng sức mình ra sao, nên biết cơ mà tránh hối hận về sau." Ngày 26, sứ đoàn ra cửa Thuận Thành (順城門) khởi hành. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289), tháng 2 ngày Đinh Mão, Thành Đô Quản quân Vạn hộ Lưu Đức Lộc (劉德祿) tâu rằng: "Nguyện dùng 5.000 quân chiêu hàng Di man ở Bát Phiên (八番), nhân đó tiến đánh Giao Chỉ (交趾)." Khu mật viện xin lập Nguyên soái phủ, lấy Dược Thứ Kham (藥刺罕) và Đức Lộc cùng làm Đô nguyên soái, chia 10.000 quân Tứ Xuyên (四川) thuộc dưới quyền, Đế nghe theo. Tháng 4 ngày Mậu Thìn, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用) đến dâng phương vật. Tháng 10 ngày Đinh Hợi, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên lại sai sứ đến dâng phương vật.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 26 (năm 1289), tháng 2, thần hạ Trung thư tỉnh tâu rằng: "Đã bãi việc chinh phạt Giao Chỉ, nên thu hồi phù ấn Hành tỉnh." Tháng 4, Nhật Huyên sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng đến dâng phương vật. Xét theo ''Thiên Nam hành ký (天南行記)'' của Từ Minh Thiện (徐明善): "Ngày 12 tháng 11 năm Chí Nguyên (至元) thứ 25 (năm 1288), lấy Minh Thiện làm Phó sứ đi An Nam, ngày 26 ra khỏi cửa Thuận Thành (順城). Ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Sửu tức năm thứ 26 (năm 1289), đến cửa nước ấy. Em của Thế tử là Thái sư ra đón dâng hương trí kính, hỏi thăm sức khỏe Thánh cung vạn phúc, sứ giả đi đường bình an, rồi cùng lên ngựa đến sứ quán. Ngày 29, Thế tử và sứ giả gặp nhau, phía sau sứ quán có lầu cao, Thế tử từ cửa sau đến trước, mở cửa giữa mời sứ giả vào đứng vái, hỏi thăm Thánh cung vạn phúc, sứ giả đi đường bình an. Ngày 1 tháng 3, bày cờ xí, lọng vàng, trống thổi rước chiếu thư vào Vương thành, đến dưới cửa điện thì xuống ngựa, vào cửa thứ 2 gọi là điện Tập Hiền (集賢殿). Thế tử bái 2 lái dâng hương, lại bái 2 lái nghe tuyên chiếu thư, chỉ có thân thị tả hữu của Thế tử đứng cạnh. Lễ tất, mở tiệc yến đãi sứ giả. Ngày mùng 2, Thế tử sai Hàn lâm đến nói: 'Ô Mã Nhi (烏馬兒) tham chính định về Bắc, sang từ biệt em của Thế tử là Hưng Đạo (興道), đêm nằm trong thuyền bị gió sóng làm cho chết đuối', cùng ý nói sức già bệnh tật không kham nổi việc triều kiến. Ngày mùng 6, Thế tử mời sứ giả xem bản thảo tờ biểu. Ngày mùng 10, Thế tử mời sứ giả xem vạn Phật. Ngày 13, sứ giả áp tải phương vật là Đàm Minh (譚名) hiến thức ăn (hồ tôn). Ngày 15, sứ giả của Thái sư đến bờ sông. Ngày 8 tháng 7, về đến Kinh sư." '''Biểu văn của nước An Nam''': "An Nam quốc Thế tử vi thần Trần Nhật Huyên (陳日烜) hoàng khố muôn thác cúi đầu chịu tội, tâu lên Hoàng đế bệ hạ: Phương này ba xuân tươi đẹp, muôn vật xanh tươi, kính duy Thánh cung vạn phúc. Vi thần vào mùng 1 tháng 3 năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289) thấy Lưu Thiên sứ, Lý Thị lang, Lang trung cùng Đường Ngột Đái (唐兀歹), Cáp Tán (哈散), Ôn Cát Lạt Đái (瓮吉剌歹) mang chiếu thư đến, cùng đưa các tiểu sứ thần Nguyễn Nghĩa Toàn (阮義全) vài người trở về. Vi thần khôn xiết vui mừng, kính cẩn tại chính điện đốt hương bái đọc. Còn như việc bắt phải sửa soạn sang chầu ngay, vi thần thần hồn đều mất, tâm mật như tan, đúng là 'vui chưa cực thì buồn đã đến, hỉ chưa dứt thì sợ đã sang'. Vi thần ở nơi góc biển hẻo lánh, lâu nay vướng bệnh tật, đường sá xa xôi, thủy thổ khó khăn. Tuy mệnh do trời định, nhưng cái chết là điều nhân tình sợ nhất. Thêm vào đó đại quân nhiều lần thảo phạt, giết chóc quá nhiều, anh em không lành, gièm pha không ít. Trước kia chú quốc là Di Ái (遺愛), thực là kẻ chạy trốn ra ngoài, lại vu khống nói là bị giết chết. Sau đó em thứ là Ích Tắc (益稯), đem quân ra hàng trước để lấy công cho mình. Lại thêm người đến tâu thay thường nói sai sự thật, vi thần có 10 phần chết, không có lấy 1 phần sống. Bệ hạ đức quá Đường, Ngu, sáng ngang nhật nguyệt, thực giả không đâu không thấu, u vi không đâu không soi. Thế nên đại quân trước sau tàn sát, vi thần thường lấy hai chữ 'trung thuận' khắc ghi vào tâm can, cống phẩm hàng năm không hề thiếu sót, ấy là nhờ cậy Thánh nhân ở trên cao minh như trời vậy. Đại quân vừa đi, Thiên sứ chưa tới, vi thần đã sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用), Tòng nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông (阮孟聰) kính dâng vật mọn về triều tạ tội. Nếu được khoan dung soi xét, chắc bệ hạ cũng thấu cái ý sợ chết tham sống của vi thần. Ngoài ra không hề có việc bội nghịch nào khác. Năm ngoái người dân nước nhỏ đưa quân sĩ sót lại, vi thần thân hành hỏi han, chỉ tìm được 3 người là Đại vương Tích Lệ Cơ (昔戾機), Ô Mã Nhi (烏馬兒) tham chính, Phàn (樊) tham chính. Người dân đều vì cớ họ giết vợ con, đốt nhà cửa của mình mà muốn làm điều phi nghĩa. Duy vi thần hết sức che chở, hậu đãi ăn mặc, bảo toàn vợ thiếp, sắm sẵn hành trang, sai sứ thần Tòng nghĩa lang Nguyễn Thịnh (阮盛) đi theo Tích Lệ Cơ đại vương cùng Đường Ngột Đái về kinh. Trong đó 2 vị tham chính đi sau, là do đại quân vừa rút, sợ cơn giận của tham chính chưa nguôi tất sinh họa hại, nên phải chậm trễ đợi sắp xếp. Đâu ngờ vi thần không phúc, sự trái nguyện lòng. Phàn tham chính bỗng bị bệnh nhiệt, vi thần dùng hết thuốc men, mua chuộc thầy thuốc dưới trướng họ chữa trị không được, cuối cùng qua đời. Vi thần đã hỏa táng, làm công đức xong, cấp ngựa cho vợ thiếp họ chở xương cốt. Thiên hộ Mai Thế Anh (梅世英), Tiết Văn Chính (薛文正) hộ tống cùng về nhà. Khi Lưu Thiên sứ đến, đều nói là đã qua Ung Châu (邕州). Việc tiếp đãi có kính hay không, hỏi vợ thiếp họ sẽ rõ. Ô Mã Nhi tham chính hẹn đi sau, vì đường về qua Vạn Điền (萬佃), nên xin sang gặp Hưng Đạo (興道) trước để lo liệu phương tiện thủy thổ. Giữa đêm thuyền chạm phải đá bị rò nước, tham chính thân hình cao lớn khó cứu, nên bị chết đuối. Phu phen nước nhỏ cũng chết theo, còn vợ thiếp tiểu đồng nhờ người nhẹ nhỏ nên được cứu thoát. Việc vi thần cử lễ tang lớn, Thiên sứ Hải Nam và Lang trung đều tận mắt thấy. Nếu có điều không cung kính, vợ thiếp họ vẫn còn đó, khó mà che giấu. Số quân nhân trước đây vi thần thu thập được tổng cộng hơn 8.000 người, trong đó có đầu mục hay không đều không biết rõ. Nay mông chiếu dụ, tìm kiếm thêm được đầu mục bấy nhiêu người, quân nhân bấy nhiêu người đều đi theo Thiên sứ về. Sau này nếu còn người sót lại, vi thần cũng sẽ sai phái về hết, không dám lưu giữ một ai. Cúi mong bệ hạ bao dung như núi biển, khoan thứ mọi điều. Vi thần không chỉ bảo toàn tính mạng để phụng sự nước lớn, mà nguyện đời đời kiếp kiếp tan xương nát thịt để báo đáp ơn thánh vạn nhất. Kính tâu. Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên (至元) thứ 26 (năm 1289), An Nam quốc Thế tử vi thần Trần Nhật Huyên (陳日烜) thượng tấu." '''Danh sách phương vật (đính kèm biểu)''': Dâng lên bệ hạ (và Hoàng hậu) các món gồm: * 1 thau bạc mạ vàng, 1 con voi thuần, 1 bộ yên ngựa bằng vàng ròng, 1 bộ đệm ngồi. * Mũ mạ vàng mười lượng, 5 bộ cầu hoa mạ vàng nặng 14 lượng 6 tiền, 7 quả chuông đồng mạ vàng. * 1 chiếc án bằng sừng linh dương, 1 tấm chiếu gấm hoa, 4 sợi dây gấm đỏ, 1 tấm khăn quàng gấm thêu vàng, 1 cái mâm đá mạ vàng. * 2 bình lưu ly nắp vàng nặng 1 lượng 6 tiền, 1 đôi chân nến vàng nặng 14 lượng, 1 mâm ngà voi mạ vàng, 1 chén trầm hương nắp mạ vàng, 1 đĩa lá sen vàng nặng 5 lượng. * 1 đĩa hình quả dưa nặng 6 lượng 8 tiền, 1 gáo vàng nặng 10 lượng, 1 đĩa tê giác nắp vàng nặng 4 lượng, 1 chén tê giác nắp vàng nặng 5 tiền. * 1 đôi đũa vàng kèm khay nặng 6 lượng, 1 dao vàng 4 lượng, 1 đũa vàng 1 lượng 3 tiền, 1 xuyên nhục vàng 7 tiền. * 4 dải thắt lưng vàng ròng, 1 bộ bàn cờ tướng bằng gỗ quý khảm ngà, sợi chỉ vàng 3 lượng, 1 hộp khảm vàng nặng 25 lượng, 32 quân cờ ngà voi. * 3 sừng tê hoa, 5 sừng tê đen lớn, 5 mâm đồng lớn mạ vàng nặng 100 lượng, 10 mâm đồng thau nặng 300 lượng. * 2 bình bạc đựng dầu tô hợp nặng 163 lượng (bình nặng 79 lượng). * 3 xấp lụa lông vàng Tây Dương, 50 xấp lụa ngũ sắc, 100 xấp lăng ngũ sắc, 100 xấp gấm Man, 20 tấm vải trắng Đồ Bà (闍婆), 10 tấm vải màu Đồ Bà. * 100 con chim trả (thúy vũ), 10 cân 15 lượng bạch đàn hương, 70 cân mai đàn hương, 100 cân cam mai nhiên hương, 10 cân thảo quả, 20 chiếc ngà voi, 20 sừng tê giác. * 2 con chim ưng, 2 con chim trĩ, 1 con cầy bay (phong ly), 8 con cá sấu, 1 con chim sáo (bát ca). '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 27 (năm 1290), mùa xuân tháng Giêng ngày Quý Sửu, An Nam quốc vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai Trung đại phu Trần Khắc Dụng (陳克用) dâng phương vật.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': "Năm thứ 27 (năm 1290), Nhật Huyên mất, con là Nhật Tuân (日燇) sai sứ sang cống." Xét theo ''Trương Lập Đạo truyền (張立道傳)'': "Năm thứ 27 (năm 1290), An Nam Thế tử Trần Nhật Tuân (陳日燇) sai thần hạ là Nghiêm Trọng La (嚴仲羅), Trần Tử Lương (陳子良) đến Kinh sư cáo tang và xin nối tước. Trước đó quốc chủ nước ấy là Trần Nhật Huyên (陳日烜) nhiều lần được triệu mà không tới, chỉ sai chú là Di Ái (遺愛) vào cống, triều đình nhân đó phong Di Ái làm An Nam vương. Di Ái về nước, Nhật Huyên ngầm hại đi, Đế sai sứ hỏi tội nhưng Nhật Huyên cự tuyệt, bèn sai tướng đánh nhưng thất lợi trở về. Đế giận, định phát binh lần nữa. Thừa tướng Hoàn Trạch (完澤), Bình chương Bất Hốt Mộc (不忽木) nói: 'Bang nhỏ man di không đáng làm nhọc Trung Quốc. Trương Lập Đạo từng 2 lần đi sứ An Nam có công, nay sai đi lần nữa chắc sẽ vâng mệnh.' Đế gọi đến điện Hương, dụ rằng: 'Nước nhỏ bất cung, nay sai ngươi đi truyền ý trẫm, hãy tận tâm.' Lập Đạo thưa: 'Mệnh quân phụ dù vào nước lửa không dám từ, nhưng thần sợ không đủ tài gánh vác, xin phái 1 trọng thần đi cùng, thần làm phó.' Đế bảo: 'Khanh là tâm phúc, nếu để người khác trên khanh tất hỏng mưu.' Bèn thụ chức Lễ bộ Thượng thư, đeo hổ phù 3 châu, ban áo gấm, yên vàng, cung tên mà đi. Đến biên giới An Nam, Lập Đạo bảo kẻ ra đón: 'Bảo Thế tử các ngươi phải ra khỏi thành đón chiếu.' Nhật Tuân bèn dẫn thuộc hạ đốt hương phục lạy bên đường. Đến phủ, Nhật Tuân quỳ nghe chiếu đúng lễ. Lập Đạo truyền mệnh, kể tội và viết thư hiểu dụ; Nhật Tuân bảo: 'Ba đời nước tôi nhục cho Công, tôn Công là khanh nước lớn, là thầy nước nhỏ; nay Công dạy tôi thế nào?' Lập Đạo đáp: 'Xưa Trấn Nam vương đem quân thảo phạt, không phải các ngươi thắng được đâu, mà do quân ta không dùng người dẫn đường, tiến sâu vào chỗ không người, trì nghi mà về, chưa ra khỏi hiểm yếu thì mưa gió ập đến, cung tên hư hỏng, quân không đánh tự tan, Thiên tử đã biết rõ rồi. Các ngươi chỉ cậy vào núi cao biển sâu, chướng khí độc hại mà thôi. Vả người Vân Nam và Lĩnh Nam tập tục giống nhau, sức lực ngang nhau, nay đem họ phối hợp với kỵ binh phương Bắc, các ngươi chống sao nổi? Các ngươi đánh không lợi, chẳng qua trốn ra biển, nhưng giặc đảo sẽ thừa cơ cướp phá. Các ngươi thiếu ăn không trụ nổi, tất bị họ khuất phục. Làm thần tử của họ sao bằng làm thần tử Thiên tử? Nay các nước hải đảo cống nạp cho các ngươi cũng là vì sợ đại quốc ta vậy. Thánh Thiên tử có đức, đối đãi hậu hĩnh. Quân đội năm trước không phải ý trên, mà do tướng biên thùy gièm pha, ngươi không ngộ ra, không sai một sứ giả tạ tội xin mệnh, lại cầm binh kháng cự, đuổi sứ giả, làm giận sư đoàn đại quốc. Nay họa sắp đến rồi, Thế tử hãy tự tính lấy.' Nhật Tuân lạy và khóc rằng: 'Lời Công rất phải, những kẻ mưu tính cho tôi không ai nghĩ được thế này. Trận chiến trước kia chỉ là để cứu cái chết mà thôi, há chẳng sợ Thiên tử sao? Thiên tử sai Công đến tất là muốn cứu sống tôi.' Rồi quay về hướng Bắc bái tạ, thề chết không quên ơn Thiên tử. Bèn rước Lập Đạo vào, mang kỳ bảo ra biếu. Lập Đạo không nhận một thứ gì, chỉ yêu cầu Nhật Tuân nhập triều. Nhật Tuân nói: 'Tham sống sợ chết là tình thường. Nếu có chiếu tha tội chết, thần há dám từ?' Bèn sai thần hạ Nguyễn Đại Chi (阮代之), Hà Duy Nham (何惟巖) theo Lập Đạo dâng biểu tạ tội, tu sửa lễ tuế cống như cũ, bày tỏ ý nguyện vào triều. Đình thần có kẻ ghen công, cho rằng phải vào triều trước rồi mới xá tội. Nhật Tuân sợ, cuối cùng không dám đến, người bàn luận đều tiếc cho việc đó." '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 28 (năm 1291), mùa thu tháng 7 ngày Kỷ Dậu, triệu em vua Giao Chỉ là Trần Ích Tắc (陳益稷), Hữu thừa Trần Nham (陳巖), Trịnh Đỉnh (鄭鼎), con của Na Hoài (那懷) cùng đến Kinh sư. Tháng 9 ngày Tân Hợi, An Nam vương Trần Nhật Huyên (陳日烜) sai sứ dâng biểu, tiến phương vật và tạ tội không đi triều kiến. Mùa đông tháng 10 ngày Quý Tỵ, lấy Vũ Bình lộ Tổng quản Trương Lập Đạo (張立道) làm Lễ bộ Thượng thư, đi sứ Giao Chỉ.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 11 năm thứ 28 (năm 1291), Thái Vinh (蔡榮) ở Vạn hộ phủ Lưỡng Hoài trấn thủ Vĩnh Châu dâng thư bàn việc quân, cho rằng triều đình thưởng phạt không minh, quân sĩ không tận mệnh, tướng soái bất hòa, bỏ lỡ thời cơ... thư dâng lên không thấy hồi âm. *(Ghi chú: An Nam truyện chép năm thứ 27 Nhật Huyên mất, Nhật Tuân lập, mà Bản kỷ năm thứ 28 vẫn chép Nhật Huyên dâng biểu. Trương Lập Đạo truyền chép năm thứ 27 sai đi sứ, Bản kỷ chép năm thứ 28, nay chép cả để tham khảo).'' '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 29 (năm 1292), tháng 3, lấy An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) dao thụ (trao chức từ xa) chức Bình chương chính sự Hành trung thư tỉnh Hồ Quảng (湖廣), đeo hổ phù, cư ngụ tại Ngạc Châu (鄂州). Tháng nhuận, Lễ bộ Thượng thư Trương Lập Đạo (張立道), Lang trung Oai Đầu (歪頭) đi sứ An Nam trở về, cùng với sứ thần nước ấy là Nguyễn Đại Chi (阮代之), Hà Duy Nham (何維巖) đến khuyết đình. Trần Nhật Tuân (陳日燇) bái biểu văn và thư sỉnh, tu sửa lễ tuế cống. Tháng 9 ngày Tân Dậu, xuống chiếu dụ nước An Nam: "Trần Nhật Tuân phải đích thân vào triều."''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Tháng 9 năm thứ 29 (năm 1292), sai Lại bộ Thượng thư Lương Tằng (梁曾), Lễ bộ Lang trung Trần Phu (陳孚) mang chiếu thư lần nữa dụ Nhật Tuân vào chầu. Chiếu viết: "Xem biểu đã rõ mọi việc. Năm ngoái Lễ bộ Thượng thư Trương Lập Đạo nói từng đến An Nam, biết rõ sự thể nơi đó, xin sang khai dụ để ngươi vào chầu, nên mới sai Lập Đạo đi. Nay tội lỗi nước ngươi đã tự trần tình, Trẫm còn nói gì nữa? Nếu bảo rằng 'đang trong kỳ tang chế và sợ chết dọc đường nên không dám vào chầu', thì hạng sinh linh trên đời có ai được an toàn mãi mãi chăng? Thiên hạ há có nơi nào là không chết chăng? Trẫm chưa hiểu rõ, ngươi nên tâu cho tường tận. Cứ dùng hư văn tuế tệ để khéo léo dối gạt, thì nghĩa khí để đâu?" Xét theo ''Lương Tằng truyền (梁曾傳)'': Năm thứ 29 (năm 1292), có chỉ lệnh cho Tằng lần nữa đi sứ An Nam, thụ chức Lại bộ Thượng thư, ban hổ phù vàng 3 châu, áo mặc, ngựa cưỡi, cung tên, đồ dùng và tiền tệ; lấy Lễ bộ Lang trung Trần Phu làm Phó sứ. Tháng 12, cải thụ chức Tổng quản lộ Hoài An (淮安路) rồi lên đường. Xét theo ''Trần Phu truyền (陳孚傳)'': Năm thứ 29 (năm 1292), Thế Tổ mệnh Lương Tằng làm Lại bộ Thượng thư sang sứ An Nam lần 2, chọn kẻ sĩ phương Nam làm trợ thủ. Triều thần tiến cử Phu là người "bác học có khí tiết". Điều động ông đang từ Biên tu quan ở Hàn lâm Quốc sử viện, nhiếp chức Lễ bộ Lang trung, làm Phó sứ cho Tằng. Khi từ biệt bệ hạ, được ban triều phục ngũ phẩm, đeo kim phù mà đi. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 30 (năm 1293), mùa thu tháng 7 ngày Kỷ Tỵ, mệnh Lưu Quốc Kiệt (劉國傑) theo chư vương Diệc Cát Lý (亦吉里) đốc thúc chư quân chinh phạt Giao Chỉ. Tháng 8 ngày Canh Dần, sứ giả đi An Nam là Lương Tằng, Trần Phu cùng sứ giả An Nam là Đào Tử Kỳ (陶子奇), Lương Văn Tảo (梁文藻) cùng đến. Mùa đông tháng 10, ban áo mùa đông cho 17 người bọn Đào Tử Kỳ của Giao Chỉ, an trí tại Kinh Nam (荊南). Tháng 12 ngày Ất Mùi, sai sứ đốc thúc 2 châu Tư, Bá cùng Trấn Viễn, Hoàng Bình; điều động 8.000 quân cũ của nhà Tống theo chinh phạt An Nam.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)''... Xét theo ''An Nam bản truyện (安南本傳)'': Năm thứ 30 (năm 1293), bọn Lương Tằng sứ về, Nhật Tuân sai bồi thần Đào Tử Kỳ sang cống. Đình thần cho rằng Nhật Tuân rốt cuộc không vào chầu, lại bàn chuyện chinh phạt, bèn giam giữ Tử Kỳ tại Giang Lăng (江陵), mệnh Lưu Quốc Kiệt cùng chư hầu vương Diệc Lý Cát Đãi (亦里吉䚟) đồng chinh An Nam. Sắc truyền đến Ngạc Châu để bàn bạc với Trần Ích Tắc. Tháng 8, Bình chương Bất Hốt Mộc (不忽木) tâu xin lập Hành tỉnh An Nam tại Hồ Quảng, cấp 2 ấn, mua 1.000 thuyền của dân chài loại chở được 100 hộc; dùng 56.570 quân, 350.000 thạch lương, 20.000 thạch cỏ ngựa, 210.000 cân muối. Cấp trước bổng lộc cho quân quan, phát cho quân nhân và thủy thủ mỗi người 2 đĩnh bảo sao, khí trượng tổng cộng hơn 700.000 món. Quốc Kiệt lập 11 mạc quan, chia đường thủy lục cùng tiến. Lại lấy Phó sứ Giang Tây Hành khu mật viện là Triệt Lý Man (徹里蠻) làm Hữu thừa theo chinh phạt. Trần Nham (陳巖), Triệu Tu Kỷ (趙修己), Vân Tùng Long (雲從龍), Trương Văn Hổ (張文虎), Sầm Hùng (岑雄) cũng lệnh cho cùng làm việc. Ích Tắc theo quân đến Trường Sa (長沙), gặp lúc đình chỉ việc binh nên dừng lại. ''(Ghi chú: Bản kỷ chép là Diệc Cát Lý, truyện chép là Diệc Lý Cát Đãi, tất có một bên nhầm, nay cứ theo nguyên bản mà chép cả).'' Xét theo ''Lương Tằng truyền (梁曾傳)'': Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293) đến An Nam, nước ấy có 3 cửa, giữa là Dương Minh (陽明), trái là Nhật Tân (日新), phải là Vân Hội (雲會). Bộ thần ra ngoại ô đón, định dẫn đi từ cửa Nhật Tân, Tằng cả giận nói: "Phụng chiếu mà không đi cửa chính, là ta làm nhục mệnh vua vậy." Bèn quay về quán trọ. Sau đó họ xin mở cửa Vân Hội, Tằng lại kiên quyết không chịu, mãi sau họ mới mở cửa Dương Minh rước chiếu vào. Lại trách Nhật Tuân không thân hành ra đón chiếu và giảng giải lễ nghi "thượng hữu" (chuộng bên phải) của tân triều. Thư từ qua lại 3 lần, tuyên bố uy đức Thiên tử để khuyên vua nước ấy vào chầu. Thế tử Trần Nhật Tuân rất cảm phục. Tháng 3, lệnh cho Quốc tướng Đào Tử Kỳ theo Tằng về khuyết đình thỉnh tội, dâng ''Vạn thọ tụng'', sách vàng, biểu chương, phương vật, lại lấy vàng ròng, đồ dùng, vật lạ tặng Tằng làm quà tiễn. Tằng không nhận, trả lại hết cho Đào Tử Kỳ. Tháng 8 về đến Kinh sư, vào kiến diện, dâng các thư từ nghị sự qua lại với Trần Nhật Tuân. Đế đại duyệt, cởi áo ban cho, lại lệnh cho ngồi xuống đất. Hữu thừa A Lý (阿里) tỏ ý không bằng lòng, Đế giận mắng: "Lương Tằng 2 lần đi sứ nước ngoài, dùng miệng lưỡi mà dập tắt binh đao, ngươi sao dám thế!" Hôm đó có thân vương từ Hòa Lâm (和林) đến, Đế mệnh rót rượu ban cho Tằng trước, bảo thân vương rằng: "Việc ngươi làm là việc của ngươi, việc Lương Tằng làm là việc của Ta và ngươi, ngươi đừng coi ông ta là kẻ xếp sau." Lại ban rượu thức ăn tại tiện điện, cho lưu trú trong cung, bàn việc An Nam đến canh 2 mới ra. Ngày hôm sau, Đào Tử Kỳ vào chầu, trình phương vật, voi và vẹt tại sân. Đế lệnh Tằng dẫn voi hiến tế, Tằng dùng tay áo dắt đi, voi theo Tằng quay vòng như thể đã thuần dưỡng từ lâu. Lại lệnh dắt con voi khác cũng thế. Đế khen Tằng là người có phúc, hỏi rằng: "Ngươi có sợ không?" Đáp rằng: "Dù sợ nhưng mệnh vua không dám trái." Đế khen tốt. Có kẻ gièm pha Tằng nhận hối lộ của An Nam, Đế đem hỏi, Tằng đáp: "An Nam đem vàng ròng vật lạ tặng thần, thần không nhận mà trả lại cho Đào Tử Kỳ rồi." Đế nói: "Dẫu có nhận thì có sao đâu." Liền ban 1 đĩnh bạch kim, 2 đồng tiền vàng, sắc cho Trung thư tỉnh trao hổ phù vàng 3 châu cho Tằng. Xét theo ''Bất Hốt Mộc truyền (不忽木傳)'': Vương sư chinh Giao Chỉ thất lợi, lại mưu đại cử. Bất Hốt Mộc nói: "Đảo di quỷ quyệt, uy trời giáng xuống sao không run sợ. Thú cùng tất cắn, thế khiến phải vậy. Nay con là Nhật Tuân nối ngôi, nếu sai một sứ giả sang dụ điều họa phúc, họ biết hối quá tự mới thì không phiền đến binh đao mà bình định được. Nếu không sửa đổi, gia binh cũng chưa muộn." Đế nghe theo. Thế là Giao Chỉ cảm sợ, sai ngụy Chiêu Minh vương (昭明王) đến khuyết đình tạ tội, dâng hết vật cống của 6 năm trước. Đế khen: "Đó là sức mạnh một lời nói của khanh vậy", liền đem một nửa ban cho. Bất Hốt Mộc từ chối: "Đó là nhờ đức thần vũ không giết chóc của Bệ hạ, thần có công lao gì? Chỉ xin nhận hòn giả sơn trầm hương, cái chặn giấy bằng ngà voi và cái gác bút bằng pha lê mà thôi." Xét theo ''Trần Phu truyền (陳孚傳)'': Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293) đến An Nam, Thế tử Trần Nhật Tuân vì có tang, không ra ngoại ô, sai bồi thần đến đón, lại không theo cửa chính Dương Minh. Tằng và Phu về quán trọ viết thư, chất vấn Nhật Tuân về tội bất đình, trách việc không ra đón chiếu và giảng lễ tân triều. Qua lại 3 bức thư, tuyên bố uy đức Thiên tử, lời lẽ chính trực khí thế hào hùng, đều là văn của Phu vậy. Những đồ quà tặng, Phu đều từ chối hết. Xét theo ''Cáp Lạt Cáp Tôn truyền (哈剌哈孫傳)'': Năm thứ 30 (năm 1293), Bình chương Lưu Quốc Kiệt dẫn binh chinh Giao Chỉ, Cáp Lạt Cáp Tôn răn dạy tướng lại không được nhiễu dân. Có kẻ cướp cá rau của dân, ông cho đánh trượng Thiên hộ ấy, trong quân nghiêm túc. Chợt có chỉ điều động 10.000 hộ dân giàu ở Hồ Tương đi đồn điền ở Quảng Tây để mưu đánh Giao Chỉ. Cáp Lạt Cáp Tôn mật sai sứ tâu: "Năm xưa viễn chinh không công, vết thương chưa lành, nay lại dời dân đến xứ chướng khí, tất sẽ oán loạn." Quan lại không biết ông đã tâu, ôm sổ sách xin ký, ông không đáp. Họ lại xin, ông bảo: "Cứ thong thả." Chẳng bao lâu sứ về báo bãi bỏ việc đó, dân chúng đều cảm duyệt. '''Năm Chí Nguyên (至元) thứ 31 (năm 1294), mùa xuân tháng Giêng, Thế Tổ băng hà. Mùa hè tháng 4 ngày Giáp Ngọ, Hoàng thái tử lên ngôi Hoàng đế. Ngày Canh Tý, sai Lễ bộ Thị lang Lý Khản (李衎), Binh bộ Lang trung Tiêu Thái Đăng (蕭泰登) mang chiếu thư đi sứ An Nam.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thế Tổ bản kỷ (世祖本紀)'' không chép. Xét theo ''Thành Tông bản kỷ (成宗本紀)'' chép như trên. Xét theo ''An Nam truyện (安南傳)'': Tháng 5 năm thứ 31 (năm 1294), Thành Tông lên ngôi, mệnh bãi việc chinh phạt An Nam, sai Đào Tử Kỳ về nước. Nhật Tuân sai sứ dâng biểu chia buồn quốc tang, hiến phương vật. Tháng 6 sai Lễ bộ Thị lang Lý Khản, Binh bộ Lang trung Tiêu Thái Đăng cầm chiếu sang vỗ về. Đại lược nói: "Tiên hoàng đế vừa bỏ thiên hạ, Trẫm nối giữ đại thống. Lúc mới lên ngôi, đại xá thiên hạ, không kể xa gần. Riêng An Nam ngươi cũng được khoan xá, đã sắc cho hữu ty bãi binh, cho bồi thần Đào Tử Kỳ về nước. Từ nay về sau, việc kính trời thờ nước lớn, hãy nên suy xét kỹ!" '''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ nhất (năm 1295) đời Thành Tông, tháng 3 ngày Ất Tỵ mùng 1, An Nam thế tử Trần Nhật Tuân sai sứ dâng biểu chia buồn quốc tang, lại dâng thư tạ ơn khoan xá và hiến phương vật. Tháng nhuận tháng 4, ban cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc 1.000 đĩnh tiền giấy. Tháng 10 ngày Mậu Thìn, cho sứ giả triều cống An Nam là Trần Lợi Dụng (陳利用) trở về nước, giáng chiếu dụ Trần Nhật Tuân.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Thành Tông bản kỷ (成宗本紀)'' chép như trên. '''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 2 (năm 1296), tháng 5, nước An Nam (安南) sai người chiêu dụ phản tặc Hoàng Thắng Hứa (黃勝許). Tháng 6 ngày Bính Ngọ, phản tặc Hoàng Thắng Hứa trốn vào Giao Chỉ (交趾).''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" (元史·成宗本紀) chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 1 (năm 1297), tháng 5 ngày Mậu Thìn, nước An Nam (安南) sai sứ sang triều cống.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 2 (năm 1298), tháng 9, nước Giao Chỉ (交趾) cống phương vật. Tháng 11 ngày Canh Dần, nước An Nam (安南) cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 5 (năm 1301), vì sứ giả An Nam đến là Đặng Nhữ Lâm (鄧汝霖) cùng bọn tùy tùng làm việc phi pháp, nên sai sứ giả sang trách cứ bằng "Đại nghĩa".''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" không chép; theo "An Nam bản truyện" (安南本傳):'' Tháng 2 năm Đại Đức thứ 5 (năm 1301), Thái phó Hoàn Trạch (完澤) cùng các quan tâu rằng sứ An Nam là Đặng Nhữ Lâm đã lén vẽ bản đồ cung uyển, tự ý mua bản đồ địa lý và các sách cấm, lại sao chép văn thư về việc trần tình trưng thu Giao Chỉ, cùng tư chép tình hình quân sự biên giới phía Bắc và các việc sơn lăng; nên sai sứ mang chiếu thư trách cứ bằng đại nghĩa. Tháng 3, sai Lễ bộ Thượng thư Mã Hợp Mã (馬合馬), Lễ bộ Thị lang Kiều Tông Lượng (喬宗亮) mang chiếu dụ Nhật Tuân (日燇) về đại ý việc Nhữ Lâm làm điều phi pháp, lẽ ra phải trị tội đến cùng. Trẫm lấy thiên hạ làm lượng, sắc cho hữu ty thả về. Từ nay sứ giả phải được chọn lựa kỹ, có điều gì thỉnh cầu phải hết sức thành khẩn. Trước đây dùng hư văn dối trá, há có ích gì cho sự nghiệp! Đừng ngại thay đổi mưu đồ kẻo để lại hận sau. Trung thư tỉnh lại gửi văn bản đòi 2 người gồm Vạn hộ Trương Vinh Thực (張榮實), cho đi cùng sứ giả trở về. '''Năm Đại Đức (大德) thứ 6 (năm 1302), tháng 6 ngày Ất Hợi, nước An Nam (安南) đem 2 con voi thuần và chu sa đến hiến tặng.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 7 (năm 1303), tháng 2, vì Trần Ích Tắc (陳益稷) ở An Nam đã cư ngụ lâu tại Ngạc Châu (鄂州), nên ban cho 1.000 đĩnh tiền giấy.''' *Theo: "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 8 (năm 1304), mùa đông tháng 10 ngày Đinh Hợi, An Nam (安南) sai sứ nhập cống.''' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 9 (năm 1305), mùa đông tháng 10, ban cho An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) 500 khoảnh đất tại Hồ Quảng (湖廣).''' '''Năm Đại Đức (大德) thứ 10 (năm 1306), mùa đông tháng 10 ngày Đinh Mão, nước An Nam (安南) sai Lê Kháng Tông (黎亢宗) đến cống phương vật.''' *Theo: Các mục trên đều từ "Nguyên sử – Thành Tông bản kỷ".'' '''Đời Vũ Tông (武宗), năm Chí Đại (至大) thứ 1 (năm 1308), tháng 7, xuống chiếu dụ An Nam (安南).''' *Theo "Nguyên sử – Vũ Tông bản kỷ":'' Tháng 7 năm Chí Đại thứ 1 (năm 1308), ngày Quý Dậu, xuống chiếu dụ nước An Nam rằng: "Nước ta dùng võ công định thiên hạ, dùng văn đức vỗ về người phương xa, luôn đoái hoài An Nam. Từ đời ông nội đến đời cha ngươi đời đời tu sửa phương cống, Trẫm rất khen ngợi. Gần đây Tiên hoàng đế băng hà, Trẫm đang phủ quân tại Sóc Phương, được tông thất chư vương, quý thích nguyên huân suy tôn, vì Trẫm là đích tôn của Thế Tổ (世祖), dòng chính của Dụ Hoàng (裕皇), tông phiên thuận tòng bên ngoài, thần dân mong đợi bên dưới, lòng người đồng thuận, ngôi báu có chủ. Trẫm thuận theo dư luận, vào ngày 21 tháng 5 năm Đại Đức thứ 11 (năm 1307), đã lên ngôi hoàng đế tại Thượng Đô (上都). Nay sai Thiếu trung đại phu Lễ bộ Thượng thư A Lý Hôi (阿里灰), Triều thỉnh đại phu Lại bộ Thị lang Lý Kinh (李京), Triều liệt đại phu Binh bộ Thị lang Cao Phục Lễ (高復禮) sang dụ chỉ: Hãy thể theo lòng nhân từ mà xem trọng, bền vững lòng thành sự lớn (thờ nước lớn). Giữ yên bờ cõi ngươi để xứng với ý Trẫm." *Theo "An Nam bản truyện":'' Vũ Tông lên ngôi, xuống chiếu dụ nước ấy, họ nhiều lần sai sứ đến cống. '''Năm Chí Đại (至 đại) thứ 4 (năm 1311), Thế tử An Nam là Nhật (日) dâng biểu triều cống. Chiếu cho phong tước, huân chương cho An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) và hưởng điền lộc như cũ.''' *Theo "Nguyên sử – Vũ Tông bản kỷ" không chép; theo "Nhân Tông bản kỷ" (仁宗本紀):'' Tháng 8 năm thứ 4 (năm 1311), ngày Bính Tuất, Thế tử An Nam là Trần Nhật (陳日) dâng biểu cùng phương vật sang cống. Tháng 9 ngày Bính Ngọ, Dao thụ Hồ Quảng Bình chương - An Nam vương Trần Ích Tắc (陳益稷) vào yết kiến, tâu rằng: "Thần từ triều Thế Tổ đã quy thuận, vợ con đều bị người trong nước hại, triều đình ban cho vương tước, lại ban 500 khoảnh ruộng tại Hán Dương (漢陽) để tự nuôi thân suốt đời. Nay thần tuổi gần 70, mà hữu ty lại thu hồi ruộng đất, khiến thần không có chỗ ăn." Đế bảo các quan rằng: An Nam vương mộ nghĩa quy thuận, nên hậu đãi để vỗ về người phương xa. Cho tước huân và ruộng đất như cũ. *Theo "An Nam truyện":'' Tháng 8 năm Chí Đại thứ 4 (năm 1311), Thế tử Trần Nhật sai sứ dâng biểu đến triều. '''Đời Nhân Tông (仁宗), năm Hoàng Khánh (皇慶) thứ 1 (năm 1312), tháng 8, An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) đến triều.''' *Theo: "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Hoàng Khánh (皇慶) thứ 2 (năm 1313), mùa hạ tháng 4, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống phương vật.''' *Theo "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" chép như vậy; theo "An Nam bản truyện":'' Tháng 1 năm Hoàng Khánh thứ 2 (năm 1313) đời Nhân Tông, quân Giao Chỉ khoảng hơn 30.000 người, cùng hơn 2.000 kỵ binh xâm phạm Vân Động (雲洞) thuộc trấn An Châu (安州), giết cướp cư dân, đốt cháy kho lẫm nhà cửa, lại chiếm đóng Lộc Động (祿洞), Tri Động (知洞), bắt người và gia súc cùng tài sản dân chúng mang về. Lại chia binh làm 3 đường phạm vào Quy Thuận Châu (歸順州), đóng quân chưa rút. Triều đình bàn việc để Hành tỉnh Hồ Quảng (湖廣) phát binh thảo phạt. Tháng 4 lại nhận báo báo, Thế tử Giao Chỉ thân hành dẫn binh đốt nhà quan, nhà dân tại Dưỡng Lợi Châu (養利州), giết cướp hơn 2.000 người, lại rêu rao rằng: "Xưa Quy Thuận Châu ở Hữu Giang 5 lần cướp phá Đại Nguyên Lộ (大源路) của ta, bắt hơn 5.000 người. Quan tri châu Dưỡng Lợi là Triệu Quyết (趙玨) bắt thương nhân Tư Lãng Châu (思浪州) của ta, lấy 1 nghiên vàng, lấn hơn 1.000 khoảnh ruộng, nên mới đến báo thù." Tháng 6, Trung thư tỉnh sai Binh bộ Viên ngoại lang A Lý Ôn Sa (阿里溫沙), Khu mật viện sai Thiên hộ Lưu Nguyên Hanh (劉元亨) cùng đến Hành tỉnh Hồ Quảng điều tra. Nguyên Hanh thân hành đến các làng Thượng, Trung, Hạ xem xét địa điểm, hỏi han dân chúng nông công, lại sai Tri châu Hạ Tư Minh là Hoàng Tùng Thọ (黃嵩壽) sang chất vấn, nói là nô tì của Thái sư của Thế tử Nguyễn Lục (阮盝), nhưng cũng chưa biết thực hư. Bèn gửi văn bản dụ nước An Nam, đại lược nói: "Xưa lưu trí 9 quận, nhà Đường lập 5 quản, An Nam thực là nơi thanh giáo vươn tới. Huống hồ hiến bản đồ dâng đồ cống, danh phận trên dưới vốn rõ ràng; đãi hậu thu bạc, ơn huệ vỗ về cũng chí tình. Thánh triều quả thực có lỗi gì với quý quốc? Nay cớ sao tự làm việc bất tĩnh, gây mầm tai họa. Tuy đất của các thôn làng vốn rất nhỏ, nhưng quan hệ đến dư đồ quốc gia rất lớn. Thêm nữa số người bị giết và bị bắt đều là dân có hộ tịch của triều đình, Tỉnh Viện chưa dám tâu lên, nhưng chưa rõ mưu đồ bất chính này thực sự do ai chủ xướng?" An Nam gửi văn bản trả lời rằng: "Bọn trộm cướp chuột nhắt chó vặt ở biên thùy tự làm loạn, bản quốc sao biết được?" Lại kèm theo lễ vật hối lộ. Nguyên Hanh lại gửi thư trách An Nam dùng lời lẽ xảo trá không thực, từ chối lễ vật, và nói: "Vàng phương Nam, ngà voi, quý quốc cho là bảo vật, nhưng sứ giả ta lấy 'không tham' làm bảo vật. Vật mang đến hãy giao trả cho sứ giả cầm về, xin hãy xét kỹ sự tình, nói rõ cho ta biết." Nhưng vì đường sá xa xôi, lời lẽ hư thực lộn xộn, cuối cùng không nắm được cốt yếu. Nguyên Hanh tìm nguyên do, cho rằng vì người Giao trước đây từng lấn chiếm biên cảnh Vĩnh Bình (永平), nay lại học theo thành thói. Lại nghe nói Thế tử Nguyễn Lục (阮盝) là kẻ bạt hổ ở Giao Chỉ. Kế sách bây giờ, không gì bằng sai sứ dụ An Nam trả lại đất đai ruộng vườn, trả lại nhân dân, lệnh cho người trong nước định chính ranh giới, truy cứu chủ mưu gây hấn mà giết ở biên cảnh. Cảnh cáo biên lại không được xâm lấn, lại ở Vĩnh Bình lập đồn mộ binh, đặt quan thống lĩnh, cấp ruộng đất trâu bò, lệnh tự canh tác, lập bộ ngũ, định rõ thưởng phạt, để lúc gấp gáp đầu đuôi ứng cứu nhau. Như thế biên cảnh mới yên tĩnh, mãi bảo đảm không lo sợ." Việc tâu lên, có chỉ chờ sứ An Nam đến sẽ lấy đó mà dụ. Từ những năm đầu Diên Hựu (延祐) đến cuối năm Chí Trị (至治), biên cương yên tĩnh, triều cống không dứt. '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 3 (năm 1316), tháng 2 ngày Mậu Dần, mệnh cho Hành tỉnh Hồ Quảng (湖廣行省) dụ An Nam (安南) trả lại quốc chủ nước Chiêm Thành (占城).''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 4 (năm 1317), tháng 6 ngày Đinh Tỵ, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống.''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 5 (năm 1318), tháng Giêng ngày Bính Tý, nước An Nam (安南) sai thần hạ là Doãn Thế Tài (尹世才) cùng bọn đem phương vật sang cống.''' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 6 (năm 1319), tháng 5 ngày Bính Tý, gia phong cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) hàm Nghi đồng tam ty (儀同三司).''' *Theo: Các mục trên đều chép trong "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" (元史·仁宗本紀).'' '''Năm Diên Hựu (延祐) thứ 7 (năm 1320), tháng Giêng ngày Tân Sửu, Nhân Tông (仁宗) băng hà. Tháng 3 ngày Canh Dần, Đế (Anh Tông) lên ngôi. Tháng 10, nước An Nam (安 Nam) sai thần hạ là Đặng Cung Kiệm (鄧恭儉) đến cống phương vật. Tháng 11 ngày Mậu Tuất, người man Giao Chỉ (交趾) là Nông Chí Đức (儂志德) đánh phá 6 động thuộc Thoát Linh (脫零), Na Khất (那乞), mệnh cho thủ tướng thảo phạt. Tháng 12, tộc Dao (猺) ở Thượng Tư Châu (上思州) kết liên với Giao Chỉ đánh phá Trung Châu (忠州).''' *Theo: "Nguyên sử – Nhân Tông bản kỷ" không chép; theo "Anh Tông bản kỷ" (英宗本紀) chép như vậy.'' '''Đời Anh Tông (英宗), năm Chí Trị (至治) thứ 1 (năm 1321), mùa hạ tháng 7 ngày Quý Tỵ, sai Lại bộ Thượng thư Giáo Hóa (教化), Lễ bộ Lang trung Văn Củ (文矩) đi sứ An Nam để ban chiếu đăng cực (lên ngôi).''' *Theo: "Nguyên sử – Anh Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Trị (至治) thứ 2 (năm 1322), mùa xuân tháng Giêng ngày Kỷ Tỵ mùng 1, An Nam sai sứ sang cống phương vật. Tháng 11, nước An Nam (安南) sai sứ sang cống phương vật, ban thưởng lại 450 lượng vàng, 9 đồng tiền vàng và lụa là tương ứng.''' *Theo: "Nguyên sử – Anh Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Đời Thái Định Đế (泰定帝), năm Thái Định (泰定) thứ 1 (năm 1324), mùa thu tháng 7 ngày Bính Ngọ, lấy Phán quan Ti muối vận tải Sơn Đông là Mã Hợp Mô (馬合謨) làm Lại bộ Thượng thư đeo Hổ phù, Hàn lâm Tu soạn Dương Tông Thụy (楊宗瑞) làm Lễ bộ Lang trung đeo Kim phù, mang chiếu tức vị sang dụ An Nam. Mùa đông tháng 10 ngày Nhâm Thân, Thế tử nước An Nam là Trần Nhật Khoáng (陳日爌 - tức vua Trần Minh Tông) sai thần hạ là Mạc Tiết Phu (莫節夫) sang triều cống.''' *Theo "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy. Theo "An Nam bản truyện" (安南本傳):'' "Năm Thái Định thứ 1 (năm 1324), Thế tử Trần Nhật Khoáng sai bồi thần Mạc Tiết Phu sang cống. Ích Tắc (益稷) cư ngụ đã lâu ở Ngạc (鄂), dao thụ chức Bình chương chính sự Hành tỉnh Hồ Quảng." '''Năm Thái Định (泰定) thứ 2 (năm 1325), tháng 3 ngày Ất Hợi, Thế tử nước An Nam Trần Nhật Khoáng (陳日爌) sai sứ cống phương vật. Tháng 10 ngày Ất Tỵ, Tri châu Ninh Viễn (寧遠) là Thiêm Cắm (添插) tâu rằng: "Thổ quan nước An Nam là Áp Na (押那) công kích cướp bóc các trại Mộc Mạt (木末) của ta, xin được trị tội." Sắc cho Thế tử An Nam dụ Áp Na trả lại tù binh đã bắt.''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Thái Định (泰定) thứ 3 (năm 1326), tháng Giêng ngày Mậu Thần, Nguyễn Khấu (阮叩) nước An Nam đánh phá lộ Tư Minh (思明路), mệnh cho Hành tỉnh Hồ Quảng đốc thúc binh bị phòng giữ. Tháng 3, nước An Nam tâu rằng: "Bị Vạn hộ Long Châu là Triệu Hùng Phi (趙雄飛) xâm lấn, xin dụ cho trả lại những gì đã cướp."''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Thái Định (泰定) thứ 4 (năm 1327), tháng 10, An Nam sai sứ sang dâng phương vật. Tháng 12 ngày Quý Mão, An Nam sai sứ sang cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Hòa (致和) thứ 1 (năm 1328), nước An Nam sai sứ sang cống.''' *Theo "Nguyên sử – Thái Định Đế bản kỷ":'' Tháng 5 năm Chí Hòa thứ 1 (năm 1328) ngày Giáp Thân, nước An Nam sai sứ dâng phương vật. *Theo "Văn Tông bản kỷ":'' Tháng 9 năm Chí Hòa thứ 1 (năm 1328), nước An Nam đến cống phương vật. '''Đời Văn Tông (文宗), năm Thiên Lịch (天曆) thứ 2 (năm 1329), An Nam quốc vương (Trần) Ích Tắc (益稷) mất, chiếu ban tặng 5.000 mân tiền. Năm ấy Thế tử An Nam Trần Nhật Phụ (Hạo) (陳日㷆 - tức vua Trần Hiến Tông) nhập cống.''' *Theo "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" không chép; theo "An Nam bản truyện":'' Ích Tắc (益稷) cư ngụ đã lâu ở Ngạc (鄂), dao thụ chức Bình chương chính sự Hành tỉnh Hồ Quảng. Thời triều Thành Tông (成宗), được ban 200 khoảnh ruộng. Triều Vũ Tông (武宗), thăng Ngân thanh Vinh lộc đại phu, gia phong Kim tử Quang lộc đại phu, lại gia phong Nghi đồng tam ty (儀同三司). Mùa hạ năm Thiên Lịch thứ 2 (năm 1329) đời Văn Tông, Ích Tắc mất, thọ 76 tuổi, chiếu ban tặng 5.000 mân tiền. *Theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考):'' Năm Thiên Lịch thứ 2 đời Văn Tông, Thế tử Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai sứ sang cống. '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 1 (năm 1330), tháng nhuận tháng 7, gia tặng thụy hiệu cho An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) là Trung Ý (忠懿). Tháng 9, mệnh cho Vạn hộ phủ Long Châu (龍州) thắt chặt biên phòng.''' Xét theo ''Nguyên sử (元史) – Văn Tông bản kỷ (文宗本紀)'': Tháng nhuận tháng 7 năm Chí Thuận thứ 1 (năm 1330), tặng An Nam quốc vương Trần Ích Tắc (陳益稷) hàm Nghi đồng tam ty (儀同三司), Bình chương chính sự Hành trung thư tỉnh Hồ Quảng (湖廣), vương tước như cũ, thụy hiệu Trung Ý (忠懿). Ích Tắc vào thời Thế Tổ (世祖) từ nước mình sang quy thuận, bèn thụ cho tước Quốc vương, định cư tại phủ Hán Dương (漢陽府), mất năm Thiên Lịch (天曆) thứ 2 (năm 1329), đến nay gia tặng thụy hiệu. Tháng 9, giặc ở Thành Đô (成都), Quảng Nguyên (廣源) là Phất Đạo Bế Phúc (弗道閉覆) đánh phá động La Hồi (羅回洞) thuộc Long Châu (龍州). Vạn hộ phủ Long Châu gửi văn thư chất vấn nước An Nam (安南), nước ấy trả lời rằng: "Bản quốc từ khi quy thuận Thiên triều, luôn giữ trọn chức trách thần tử, cõi kia biên này thảy đều về một mối thống nhất, há lại vì đất La Hồi vốn thuộc bản quốc mà gây ra tranh chấp sao? Đây hẳn là do quan lại biên giới gây hấn, mượn danh nghĩa Bế Phúc mà thôi, bản phủ nên tự điều tra trị tội." Hành tỉnh Hồ Quảng đem lời đó tâu lên, mệnh cho Vạn hộ phủ Long Châu thắt chặt biên phòng. Xét theo ''An Nam truyện (安南傳)'': Ích Tắc mất, năm Chí Thuận thứ 1 (năm 1330), thụy là Trung Ý Vương (忠懿王). '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 2 (năm 1331), tháng Giêng ngày Kỷ Hợi, sai Lại bộ Thượng thư Tát Lý Ngói (撒里瓦) đeo Hổ phù, Lễ bộ Lang trung Triệu Kỳ Di (趙期頤) đeo Kim phù, mang chiếu tức vị thông cáo nước An Nam (安南), lại ban cho lịch ''Thụ Thời'' (授時曆). Tháng 5 ngày Kỷ Mão, Thế tử An Nam Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai thần hạ là Đoàn Tử Trinh (段子貞) sang triều cống.''' *Theo: "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Năm Chí Thuận (至順) thứ 3 (năm 1332), mùa hạ tháng 4 ngày Ất Sửu, Thế tử An Nam Trần Nhật Hạo (陳日㷆) sai thần hạ là Đặng Thế Diên (鄧世延) cùng 24 người đến cống phương vật.''' *Theo: "Nguyên sử – Văn Tông bản kỷ" chép như vậy.'' '''Đời Thuận Đế (順帝), năm Chí Nguyên (至元) thứ 1 (năm 1335), tháng 3 ngày Ất Tỵ, phong Thế tử An Nam vương Trần Đoan Ngọ (陳端午 - tức vua Trần Hiến Tông) làm An Nam quốc vương. Tháng 5 ngày Bính Tuất, nước Chiêm Thành (占城) sai thần hạ là Thứ Thắc Nạp Ngói Nhi Tát (刺忒納瓦兒撒) đến dâng phương vật, lại nói Giao Chỉ (交趾) ngăn chặn đường triều cống, xuống chiếu sai sứ tuyên dụ Giao Chỉ.''' *Theo: "Nguyên sử – Thuận Đế bản kỷ" chép như vậy.'' ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9ec0tesy?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] p022spw9pvy2s6tx3s3df4bnzj8fv0a Trang:Tien bac bac tien.pdf/26 104 71920 204599 2026-04-08T10:22:11Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204599 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 24 —|}}</noinclude>Người ta nói cục đá lăn hoài không thể đóng rong được, mà cô Lành lăn tròn từ 18 đến 32 tuổi, là lúc cô gặp quan Phủ Lê-khánh-Long ở Tràvinh, thì cô đã có sắm nữ-trang đủ hết chẳng thiếu vật gì, lại có vốn hơn hai ngàn đồng bạc nữa. Quan Phủ Khánh-Long nhờ có một nghề làm quan mà dựng nên sự nghiệp giá đáng mười muôn; ngài góa vợ, song có con đông, nên không tính thục huyền, vì sợ mẹ ghẻ con chồng hay sanh việc xích-mích. Chẳng hiểu cô Lành có cái thuật chi hay, mà quan Phủ Khánh-Long mới gặp cô một lần thì đã mê-man hồn-phách, lững-đững tinh-thần, theo năn-nỉ khuyên cô dứt quan Trường-Tiền rồi ngài rước đem về nhà giao các việc nhà cho cô điều đình, lại giao luôn tới chìa khóa tủ sắt nữa. Mấy đứa con thấy ngài yêu cô Lành thái quá thảy đều phiền muộn, nên cậy bà con cô bác lén dức bẩn ngài. Không rõ tại bà con nói hay là tại cô Lành làm thế nào, mà quan Phủ càng ngày càng yêu mến tin cậy thêm, đến nỗi kêu Chánh-lục-bộ đến nhà mà lập hôn thú hạng nhứt đủ phép. Từ đây người xa kẻ gần chẳng ai dám kêu « Cô hai Lành » nữa, thảy đều kêu là « Bà Phủ Khánh-Long », làm cho người lương thiện chơn chánh, ai cũng lắc đầu, ai<noinclude></noinclude> lbg9wx54o8wnja8yk8ykip7acnarvzu Trang:Tien bac bac tien.pdf/27 104 71921 204600 2026-04-08T10:22:14Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204600 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 25 —|}}</noinclude>cũng trách thói văn-minh tà mị dị thường, mới hôm qua còn bán phấn mua son, mà bữa nay lại làm bà Huyện bà Phủ. Cô hai Lành hóa ra là Phủ Khánh-Long thiệt là kỳ! Mà còn một đều nầy thêm dị kỳ hơn nữa, là quan Phủ cưới vợ rồi chưa đầy một năm, mà hai đứa con trai của ngài chết hết, chỉ còn có ba đứa con gái nhỏ mà thôi. Đã vậy mà cách có một năm nữa quan Phủ cũng chết theo hai đứa con trai, bà Phủ trình tờ chúc ngôn ra thì quan Phủ đã có định chia cho bà phân nửa gia tài, chia bạc tiền mà cũng chia ruộng đất nữa. Tờ chúc ngôn làm trước mặt No-Te đủ phép; bỡi vậy tuy bà con ai cũng nghi cho bà Phủ dùng thuốc độc mà giết cha con quan Phủ đặng đoạt gia tài, song biết thì ức trong lòng mà thôi, chớ không có bằng cớ chút nào, nên không kiện thưa chi được. Bà Phủ xin Tòa lên án sang tên cho bà đứng bộ gần một trăm mẫu ruộng thượng hạng tại Tràvinh, huê lợi mỗi năm góp hơn bốn ngàn giạ lúa, và bà lãnh phần bạc mặt là 15 ngàn đồng, nhập với số bạc của bà để riêng thành tới 45 ngàn, rồi bà lên Cholon mua một tòa nhà lầu ở dựa đường Bình-Hòa mà ở, sắm xe hơi để đi chơi, mướn người đấm bóp cho bà<noinclude></noinclude> jxck3rnk8nz93u5xpoi8jhpgzswe5gp 204608 204600 2026-04-08T10:26:32Z ~2026-20824-44 20038 204608 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 25 —|}}</noinclude>cũng trách thói văn-minh tà mị dị thường, mới hôm qua còn bán phấn mua son, mà bữa nay lại làm bà Huyện bà Phủ. Cô hai Lành hóa ra bà Phủ Khánh-Long thiệt là kỳ! Mà còn một đều nầy thêm dị kỳ hơn nữa, là quan Phủ cưới vợ rồi chưa đầy một năm, mà hai đứa con trai của ngài chết hết, chỉ còn có ba đứa con gái nhỏ mà thôi. Đã vậy mà cách có một năm nữa quan Phủ cũng chết theo hai đứa con trai, bà Phủ trình tờ chúc ngôn ra thì quan Phủ đã có định chia cho bà phân nửa gia tài, chia bạc tiền mà cũng chia ruộng đất nữa. Tờ chúc ngôn làm trước mặt No-Te đủ phép; bỡi vậy tuy bà con ai cũng nghi cho bà Phủ dùng thuốc độc mà giết cha con quan Phủ đặng đoạt gia tài, song biết thì ức trong lòng mà thôi, chớ không có bằng cớ chút nào, nên không kiện thưa chi được. Bà Phủ xin Tòa lên án sang tên cho bà đứng bộ gần một trăm mẫu ruộng thượng hạng tại Tràvinh, huê lợi mỗi năm góp hơn bốn ngàn giạ lúa, và bà lãnh phần bạc mặt là 15 ngàn đồng, nhập với số bạc của bà để riêng thành tới 45 ngàn, rồi bà lên Cholon mua một tòa nhà lầu ở dựa đường Bình-Hòa mà ở, sắm xe hơi để đi chơi, mướn người đấm bóp cho bà<noinclude></noinclude> sl2sc3llhphzx3d10tg5rk7iywpdfra Trang:Tien bac bac tien.pdf/28 104 71922 204601 2026-04-08T10:22:17Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204601 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 26 —|}}</noinclude>ngủ, an hưởng thanh nhàn phú quí, chê thiên hạ ngu si, cười thế-tình khờ dại, không thèm lấy chồng nữa, mà cũng không thèm buôn bán hoặc cho vay, cứ thâu huê lợi ruộng mà xài, dầu xài không hết thì để dành, chớ không bố thí cho kẻ nghèo như mấy tay nhà giàu lương thiện kia, mà cũng không lập miễu cúng chùa như các ỷ khắc bạc ăn-năn nọ. Bà Phủ với Bá-Vạn tuy là chị em ruột, song tánh ý không giống nhau, bà Phủ thường khinh khi Bá-Vạn là thằng ngu, còn Bá-Vạn thường ghét thầm bà Phủ lòng độc ác, bỡi vậy chị em ở gần mà ít hay tới lui. Trót mấy năm Đỗ-thị-Đào mỗi tháng thường dắc hai đứa con gái vô Chợlớn thăm bà Phủ một lần và lâu lâu hễ bà Phủ có dịp đi Saigon, thì bà cũng lên Tân-Định mà thăm lại. Trong ba đứa cháu, coi ý bà thương Thanh-Kiều nhiều hơn hết, song thương thì thương chớ chẳng hề thấy bà mua cho vật chi. Vợ chồng Bá-Vạn đương lo lắng về cuộc tranh cử Hội-đồng, bữa nọ có cô năm Liêu là người quen với Đỗ-thị thuở nay, dắc bà phán Quí ở Cầu-kho đến nhà thăm. Đỗ-thị ra tiếp khách, trầu nước hẳn hòi, chuyện vãn vui vẻ. {{nop}}<noinclude></noinclude> m71mpvksmrqxa0jn1hina0tcdh8ucls Trang:Tien bac bac tien.pdf/29 104 71923 204602 2026-04-08T10:22:20Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204602 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 27 —|}}</noinclude>Thanh-Kiều lăng-xăng sau lưng mẹ, bửa cau, cắt trầu, mở tủ lấy gối thêu cho khách nằm, sai trẻ chùi ống-nhổ cho sạch-sẽ. Bà phán Quí ngồi nói chuyện mà mắt liếc ngó Thanh-Kiều luôn-luôn, rồi bà lại hỏi thăm tuổi và kiếm chuyện nói với cô. Cách vài bửa cô năm Liêu tới nhà thăm Đỗ-thị nữa, mà chuyến này cô đi có một mình. Cô ngồi nói chuyện dông-dài một hồi, rồi cô tỏ thiệt với Đỗ-thị rằng bà phán Quí có một người con trai, 24 tuổi, tên là Hà-thái-Thường, học ngoài Hà-Nội thi đậu Thầy-thuốc quan trên mới bổ đi trị bịnh trong nhà-thương Chợ-Rẫy. Bà Phán góa chồng, có 3 người con mà thôi: con gái lớn có chồng làm việc tại hãng Nam-Van; con giữa là ông Thầy-thuốc đó; còn con trai út còn học trong trường Bổn-quốc. Bỡi hôm nọ bà Phán ghé chơi ngó thấy Thanh-Kiều đi đứng yểu-điệu, văn nói diệu-dàng bà đem lòng thương, nên muốn cậy mai đến nói mà cưới cho ông Thầy-thuốc, nếu vợ chồng Bá-Vạn sẵng lòng, thì bả sẽ dắc ông Thầy-thuốc đến nhà cho vợ chồng Bá-Vạn biết mặt và cho hai trẻ thấy nhau luôn thể. Đỗ-thị suy nghĩ một hồi, nếu có rể làm Thầy-thuốc thì đáng mừng, song không biết<noinclude></noinclude> aabj60fkz35pxvjcqtsuum1x2a6dysa Trang:Tien bac bac tien.pdf/30 104 71924 204604 2026-04-08T10:22:23Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204604 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 28 —|}}</noinclude>bà sui giàu hay là nghèo, nên nói phân hai rằng: « Con nhỏ tôi xưa rày họ đi nói hai ba chỗ rồi, mà cha nó lúc này mắc lo tranh cử Hội-đồng, lại thấy nó còn nhỏ quá, nên ổng chưa chịu gả chỗ nào hết. » Năm Liêu nói rằng bà phán Quí là người hiền đức, chồng chết để lại cho bà một cái nhà tốt với năm bảy ngàn đồng bạc. Bà có hột xoàn cũng nhiều, bà hứa nếu chịu gả thì bà đi hỏi một đôi bông xoàn năm trăm, rồi chừng cưới bà đi thêm một bộ dây chuyền nhận hột xoàn nữa. Đỗ-thị nghe nói bà phán Quí có vốn năm bảy ngàn và hứa đi hỏi và đi cưới đều cho hột xoàn, thì chẳng còn chi giục-giặc nữa, mới biểu năm Liêu chờ ít ngày đặng cô bàn tính với chồng và dọ ý con rồi sẽ cho hay. Vợ chồng Bá-Vạn bàn tính với nhau, rồi cho phép bà phán Quí dắc {{sic|Thấy|Thầy}}-thuốc Thái-Thường đến coi Thanh-Kiều. Khách đã tới rồi mà Thanh-Kiều không chịu thay áo gỡ đầu, cứ nằm trong phòng hoài. Đỗ-thị dạy con gái lớn là Thanh-Huê vào thúc. Thanh-Kiều vùng-vằng không chịu ra, Đỗ-thị phải vô mà thôi-thúc nữa. Thanh-Kiều không dám trái ý mẹ, nên cực chẳng đã bới đầu sơ-sài cho có chừng, thay áo<noinclude></noinclude> ep12jeczmmlhg6jt89iacwxgn6n8qeo Trang:Tien bac bac tien.pdf/31 104 71925 204605 2026-04-08T10:22:27Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204605 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 29 —|}}</noinclude>tiếm mà không chịu thay quần trắng, chơn đi giép chớ không chịu đi giày, ở trong bước ra chào khách mà cặp mắt ướt-rượt, đi không muốn bước, ngó không thấy người, chẳng khác nào tội-nhơn ra pháp trường mà thọ tử. Thanh-Kiều chào khách rồi, liền quày-quả trở vào phòng, nằm úp mặt trên gối mà khóc. Mẹ con bà Phán Quí ngồi chơi hơn một giờ đồng hồ, Đỗ-thị thì khoe tiền bạc, bà Phán thì khoe tài con, rồi bà Phán mới từ mà về. Vợ {{sic|chong|chồng}} Bá-Vạn đưa khách ra khỏi cữa rồi, thì biểu đem xe hơi ra và đi với Thanh-Huê vô Cholon mua thêm quần áo. Thanh-Kiều ở nhà một mình, chẳng hiểu trí cô nghĩ việc gì, mà cô nằm co, nước mắt cứ tuôn dầm-dề. Đến chiều cha mẹ với chị đã về rồi mà cô cũng còn nằm trong mùng không chịu bước ra. Đỗ-thị thấy gia-dịch dọn cơm mới kêu Thanh-Kiều ra ăn. Thanh-Kiều lau nước mắt tuy sạch rồi, nhưng vì khóc lâu quá nên mí con mắt có dạn sưng, bỡi vậy khi cô {{sic|ngoi|ngồi}} lại ăn cơm thì Thanh-Huê ngó cô rồi nói rằng: « Làm con gái chồng đi coi mà khóc nỗi gì! Mầy bây giờ được chồng làm Thầy-Thuốc sang trọng quá còn làm bộ nữa, vậy chớ tao đây tao đụng chồng làm Ký-lục, lãnh lương<noinclude></noinclude> 9r54tlco5xti6evogy6fh7yhhwxijtu Trang:Tien bac bac tien.pdf/32 104 71926 204606 2026-04-08T10:22:30Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204606 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 30 —|}}</noinclude>không đủ đi xe, thấy ai cũng sợ hết thảy, tao mang lỡ nó chẳng khác nào như mang cái gông đây sao. » Thanh-Huê nói như vậy, mà vợ chồng Bá-Vạn ngồi ăn tự nhiên, lại coi bộ đắc ý lắm. Đỗ-thị cứ theo khen ông Thầy-thuốc Thái-Thường hoài, khen ông mặt mày sáng-láng, đi đứng nghiêm-trang, khen ông cập mắt có tinh-thần, văn nói đủ lễ phép. Bá-Vạn tuy không khen, song hễ vợ nói thì ông gặt đầu và miệng chúm-chím cười hoài. Thanh-Kiều không cãi mà cũng không nói tiếng chi hết, ngồi rán ăn hết chén cơm rồi thì đi xuống nhà bếp đứng mà ngó mông ra vườn. Sáng bữa sau cô năm Liêu đến nhà dọ ý vợ chồng Bá-Vạn, tưởng là Đỗ-thị giục-giặc không chịu gả, chẳng dè cô chưa dám mở hơi mà Đỗ-thị đã khởi đầu khen ông Thầy-thuốc Thái-Thường và biểu cô vô Cầu-Kho nói cho bà Phán Quí hay rằng Bá-Vạn thấy mặt ông Thầy-thuốc thì thương quá, nên bà Phán muốn đi lễ hỏi ngày nào cũng được, song lễ cưới phải chờ tuyển cử Hội-đồng xong rồi sẽ định ngày. Cô năm Liêu vô Cầu-Kho thuật mấy lời ấy lại thì bà Phán với ông Thầy-thuốc đều vui mừng, mà nhứt là bà Phán nghe cô khoe Bá{{nct}}<noinclude></noinclude> eu4o4spafuy3sdfnzmy4w9voe890sax Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 093 114 71927 204609 2026-04-08T10:42:44Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第093卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 93''' | trước= [[../quyển 092|quyển 92]] | sau= [[../quyển 094|quyển 94]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 4== ===Minh (phần 1)=== '''…” 204609 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第093卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 93''' | trước= [[../quyển 092|quyển 92]] | sau= [[../quyển 094|quyển 94]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 4== ===Minh (phần 1)=== '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 1 (năm 1368) đời Minh Thái Tổ (明太祖), An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê (陳日煃 - tức vua Trần Dụ Tông) sai sứ sang triều cống.''' * ''Xét theo "Minh Thông kỷ" (明通紀) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh Hội điển" (明會典):'' Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), ban cho Quốc vương lịch "Đại Thống" (大統曆) cùng lụa màu và các vật phẩm. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考):'' Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368) khi lên ngôi, (Thái Tổ) xuống chiếu dụ khắp trong ngoài bốn biển, Nhật Khuê lấy làm lo sợ. Lại nghe tin Chinh Nam tướng quân Liêu Vĩnh Trung (廖永忠), Phó tướng quân Chu Lượng Tổ (朱亮祖) dẫn quân vượt núi Lĩnh, thu hàng Hà Chân (何真), định yên Quảng Đông và Quảng Tây. Nhật Khuê muốn tuân phục nhưng vì Lương vương (nhà Nguyên) vẫn còn ở Vân Nam (雲南) nên còn giữ thái độ lưỡng lự. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' An Nam vốn là đất Giao Chỉ (交趾) cổ, trước thời Đường đều thuộc Trung Hoa. Thời Ngũ đại, bắt đầu bị người bản địa là Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chiếm giữ. Đầu thời Tống, mới phong Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) làm Giao Chỉ quận vương, truyền được 3 đời thì bị đại thần Lê Hoàn (黎桓) cướp ngôi. Họ Lê cũng truyền được 3 đời thì bị đại thần Lý Công Uẩn (李公蘊) cướp ngôi. Họ Lý truyền 8 đời không có con trai, truyền cho con rể là Trần Nhật Cảnh (陳日炬 - tức Trần Thái Tông), thời Nguyên từng nhiều lần phá nước ấy. Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), vương là Nhật Khuê nghe tin Liêu Vĩnh Trung định yên lưỡng Quảng, định sai sứ nộp khoản, nhưng vì Lương vương ở Vân Nam nên chưa thành. Tháng 12, Thái Tổ mệnh cho Tri phủ Hán Dương (漢陽) là Dịch Tế (易濟) mang chiếu sang dụ. Nhật Khuê liền sai Thiếu trung đại phu Đồng Thời Mẫn (同時敏), Chính đại phu Đoạn Thế Đệ (段悌), Lê An Thế (黎安世) dâng biểu sang triều, cống phương vật. Tháng 6 năm sau đến Kinh sư. * ''(Ghi chú: Theo Thông khảo và Minh sử, năm này mới bắt đầu sai sứ sang cống nhưng chưa tới nơi; Hội điển chép ban lịch và lụa màu vào năm này, nghi là nên đưa vào năm thứ 2 thì đúng hơn).'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 2 (năm 1369), phong Trần Nhật Khuê làm An Nam quốc vương. Sứ giả chưa đến nơi thì Nhật Khuê mất. Cháu là Nhật Kiên (日熞 - tức vua Trần Hiến Từ) nối ngôi, sai sứ sang xin mệnh. Lúc bấy giờ An Nam và Chiêm Thành (占城) đang đánh nhau, (nhà Minh) sai sứ sang dụ, cả hai đều vâng mệnh.''' * ''Xét theo "Minh Nhất thống chí" (明一統志):'' Đất Nam Giao cổ, thời Tần thuộc Tượng Quận (象郡). Đầu thời Hán thuộc về Nam Việt, Vũ Đế bình Nam Việt, đặt 3 quận Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), kiêm đặt Giao Chỉ Thứ sử, trị sở tại Luy Lâu (羸). Đông Hán, quận thuộc Giao Châu (交州). Nhà Ngô đặt thêm 3 quận Cửu Đức (九德), Vũ Bình (武平), Tân Xương (新昌). Nhà Tống lại đặt thêm quận Tống Bình (宋平), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編). Nhà Lương, nhà Trần đặt Đô đốc phủ tại Giao Châu. Đầu thời Tùy, bãi bỏ quận, đổi Đô đốc phủ thành Tổng quản phủ. Đầu thời Đường, vẫn gọi là Giao Châu. Đầu năm Điều Lộ, đổi làm An Nam đô hộ phủ. Đầu năm Chí Đức, đổi làm Trấn Nam đô hộ phủ. Khoảng năm Đại Lịch, gọi lại là An Nam. Thời Lương của Ngũ Đại, hào trưởng bản địa Khúc Thừa Mỹ chiếm giữ đất này, sau bị Lưu Ẩn thôn tính. Sau Dương Diên Nghệ (楊延藝), (Kiều) Thiệu Hồng (紹洪) kế tiếp nhau làm Giao Chỉ Tiết độ sứ, rồi trong vùng đại loạn, suy tôn Đinh Bộ (丁部) làm Châu soái, con là (Đinh) Liễn kế vị. Nhà Tống bình định Lĩnh Biểu, Liễn nội phụ, phong Giao Chỉ quận vương. Em là Toàn (璿) nối ngôi, bị tướng là Lê Hoàn cướp ngôi. Sau đó Lý Công Uẩn cướp ngôi họ Lê, Trần Nhật Cảnh cướp ngôi họ Lý, nhưng thảy đều xưng thần với Trung Hoa, phong Giao Chỉ quận vương. Thời Nguyên Hiến Tông, sai tướng phá nước ấy, Nhật Cảnh chạy ra hải đảo. Sau quy phụ, phong con là Quang Bính (光昺 - tức Trần Thánh Tông) làm An Nam quốc vương. Quang Bính chết, con là Nhật Huyên (日烜) tự lập, Thế Tổ lại phát binh đánh phá. Nhật Huyên chết, con là Nhật Tuân (日燇) sai sứ nhập cống. Đầu thời Hồng Vũ của bản triều, Trần Nhật Khuê tiên phong quy phụ, vẫn ban cho ấn An Nam quốc vương. An Nam phía Đông đến biển 320 dặm, phía Tây đến ranh giới Lão Qua (老撾 - Lào) Tuyên úy ty thuộc Vân Nam 560 dặm, phía Nam đến biên giới Chiêm Thành 1.900 dặm, phía Bắc đến ranh giới huyện Bằng Tường thuộc phủ Tư Minh Quảng Tây 400 dặm. Từ nước ấy đến Nam Kinh 7.720 dặm, đến Kinh sư 11.165 dặm. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo":'' Năm thứ 2 (năm 1369), bắt đầu sai Thiếu trung đại phu Đồng Thời Mẫn, Chính đại phu Đoạn Thế Đệ, Lê An Thế sang triều cống xin phong. (Nhà Minh) sai Thị độc học sĩ Trương Dĩ Ninh (張以寧), Điển bạ Ngưu Lượng (牛諒) sang phong Nhật Khuê làm An Nam quốc vương, ban ấn bạc mạ vàng núm hình lạc đà. Bọn Dĩ Ninh đến biên giới An Nam thì Nhật Khuê đã mất, em là Nhật (日 - tức Trần Nghệ Tông) nối ngôi, sai Nguyễn Nhữ Lượng (阮汝亮) ra đón xin cáo ấn, Dĩ Ninh không nghe. Nhật sai Đỗ Thuấn Khâm (杜舜欽) sang triều đình xin mệnh. Dĩ Ninh đóng tại An Nam đợi mệnh, sau đó có chiếu phong Nhật làm Vương. Năm ấy, sai Hàn lâm Biên tu La Phục Nhân (羅復仁), Binh bộ Chủ sự Trương Phúc (張福) mang chiếu dụ vua An Nam và Chiêm Thành, thảy đều bãi binh cho dân nghỉ ngơi, cả hai nước đều nghe mệnh. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 12 năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), Nhật Khuê sai sứ dâng biểu triều cống phương vật. Tháng 6 năm sau đến Kinh sư. Vua mừng, ban yến, mệnh Thị độc học sĩ Trương Dĩ Ninh, Điển bạ Ngưu Lượng sang phong làm An Nam quốc vương, ban ấn bạc mạ vàng núm hình lạc đà. Chiếu viết: "Hỡi ngươi An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê, duy ông cha ngươi giữ cõi phương Nam, xưng phiên với Trung Hoa, cung kính chức trách thần tử để giữ mãi phong ấp đời đời. Trẫm nhờ linh khí trời đất, quét sạch Hoa Hạ, đưa thư báo tin, khanh liền dâng biểu xưng thần, sai sứ tới chúc mừng. Thật đúng phép tiền nhân, yên dân viễn xứ. Lòng cần thành ấy đáng được ngợi khen. Nay sai sứ mang ấn, phong ngươi làm An Nam quốc vương...". Ban cho Nhật Khuê lịch "Đại Thống", 40 xấp gấm thêu vàng, lụa, sa, la; bọn Đồng Thời Mẫn trở xuống thảy đều có thưởng. Bọn Dĩ Ninh đến nơi thì Nhật Khuê đã mất trước đó, cháu là Nhật Kiên (日熞 - tức vua Trần Hiến Từ) nối ngôi, sai thần hạ là Nguyễn Nhữ Lượng đến đón xin cáo ấn; Dĩ Ninh không cho. Nhật Kiên lại sai Đỗ Thuấn Khâm sang xin mệnh tại triều đình, Dĩ Ninh đóng lại An Nam đợi mệnh. Lúc đó An Nam và Chiêm Thành đang đánh nhau, vua mệnh La Phục Nhân, Trương Phúc dụ lệnh bãi binh, hai nước đều phụng chiếu. '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370), An Nam cáo tang xin mệnh, (nhà Minh) sai sứ sang điếu tế. Phong Nhật Kiên làm An Nam quốc vương. Nhật Kiên lại sai sứ sang tạ ơn, cống phương vật.''' * ''Xét theo "Minh Thông kỷ":'' Năm Hồng Vũ thứ 3 (năm 1370), sứ thần An Nam là Đỗ Thuấn Khâm vì chủ mình là Trần Nhật Khuê mất, sang cáo tang xin mệnh. Vua triệu kiến, tự soạn văn tế, mệnh Hàn lâm Biên tu Vương Liêm (王廉) sang tế, đặt linh vị Nhật Khuê riêng tại điện, Liêm đứng hướng Nam tuyên đọc, vua tôi nước ấy quỳ lạy lắng nghe, xong lễ thì về. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo":'' Năm thứ 3 (năm 1370) Nhật (日 - tức Nghệ Tông) mất, phong cho con là Nhật Kiên (日熞) nối ngôi Vương. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 4 năm thứ 3 (năm 1370), bọn Thuấn Khâm đến cáo tang, vua mặc tố phục ngự tại cửa Tây Hoa triệu kiến, sai Biên tu Vương Liêm sang tế, tặng 50 lượng bạc trắng, 50 xấp lụa. Lại sai Lại bộ Chủ sự Lâm Đường Thần (林唐臣) phong Nhật Kiên làm Vương, ban ấn vàng cùng 40 xấp gấm thêu lụa sa. Liêm đi rồi, vua thấy Mã Viện thời Hán lập cột đồng trấn giữ Nam Man công lao rất lớn, mệnh Liêm đến tế. Sau đó ban chiếu khoa cử cho nước ấy, lại vì việc định lại thần hiệu núi sông và quét sạch sa mạc mà 2 lần sai quan sang thông báo. Nhật Kiên sai Thượng đại phu Nguyễn Kiêm (阮兼), Trung đại phu Mạc Kế Long (莫季龍), Hạ đại phu Lê Nguyên Phổ (黎元普) sang tạ ơn và cống phương vật. Kiêm chết dọc đường, vua ban thưởng cho Vương và sứ thần, lại đưa linh cữu Kiêm về nước. Không lâu sau, bọn Phục Nhân về, nói là từ chối không nhận quà tiễn của nước ấy. Vua khen ngợi, ban thưởng thêm cho bọn Kế Long. * ''Xét theo "Danh sơn tàng – Vương hưởng ký":'' An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê nhập cống cầu phong, sai học sĩ Trương Dĩ Ninh mang chiếu phong làm An Nam vương. Đi đến biên giới thì Nhật Khuê đã mất, con của anh là Nhật Kiên nối ngôi, muốn đòi ấn vương ngay, Dĩ Ninh ôm lấy hòm ấn không cho, bắt phải xin tại triều rồi đứng đợi ở biên giới. Sau khi tấu lên, vua mệnh Dĩ Ninh trao ấn cho Nhật Kiên, lại sai sứ khác điếu tế Nhật Khuê. Dĩ Ninh lúc đó mới vào, Nhật Kiên ra ngoại ô đón. Vì Nhật Khuê chưa có linh vị, nên đặt vị hướng Bắc, sứ giả hướng Nam trao chiếu, Nhật Kiên phủ phục tạ ơn. Ngày hôm sau, quỳ dài dập đầu nhận ấn. Người Giao vốn xưa nay chỉ vái chào làm lễ, đến nay mới quỳ dài dập đầu. Dĩ Ninh về báo cáo, vua hài lòng nói: "Ấy mới là sứ giả của ta". Nhật Kiên ở nước mình say mê sắc tửu, từng dâng 2 con gái, dung mạo uyển chuyển diễm lệ, may vá khéo léo, lục cung không ai bì kịp. Cao Đế nhận lấy. Được vài năm, lại dâng thêm 2 con gái, Cao Đế không vui nói: "Hắn bảo Trẫm là kẻ ham mê sắc dục sao?" Bèn đem trả cả 2 người trước cùng 2 người sau về, bảo sứ giả rằng: "Về bảo Vương, gả họ cho người khác như con gái mình vậy." * ''(Ghi chú: Theo Thông khảo, năm thứ 2 Nhật Khuê mất em là Nhật nối ngôi; năm thứ 3 Nhật mất con là Nhật Kiên nối ngôi. "Danh sơn tàng" chép Nhật Khuê mất con của anh là Nhật Kiên nối ngôi. "Minh ngoại sử" chép Nhật Khuê mất cháu là Nhật Kiên nối ngôi. Thảy đều chép lại để tham khảo).'' '''Mùa xuân năm Hồng Vũ (洪武) thứ 4 (năm 1371), (An Nam) sai sứ dâng voi, chúc mừng việc bình định sa mạc. Lại sai sứ đi theo bọn Trương Dĩ Ninh (張以寧), Lâm Đường Thần (林唐臣), Vương Liêm (王廉) sang triều kiến. Mùa đông năm ấy, Nhật Kiên (日熞 - tức vua Trần Hiến Từ) bị bác là Thúc Minh (叔明 - tức Trần Nghệ Tông) bức tử.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Danh sơn tàng – Vương hưởng ký" (名山藏·王享記):'' "Nhật Kiên cuối cùng vì hoang hôn không lo chính sự, bị chú là Thúc Minh bức tử, Thúc Minh tự lập làm vua." * ''(Ghi chú: Bác và chú chép khác nhau, chưa biết bên nào đúng).'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 (năm 1372), Trần Thúc Minh (陳叔明) sai người sang triều cống, nhưng bị khước từ không nhận.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Mùa đông năm thứ 4 (năm 1371), Nhật Kiên bị Thúc Minh bức tử. Thúc Minh sợ tội, cống voi và phương vật, sang năm sau mới đến Kinh sư. Lễ quan thấy tên ký trên biểu không phải tên Nhật Kiên, gặng hỏi biết được sự thực, có chiếu khước từ." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 (năm 1373), An Nam lại sai người sang nộp cống tạ tội và xin phong.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Thúc Minh lại triều cống, tạ tội xin phong. Sứ giả nói thác rằng Nhật Kiên thực sự bệnh chết, Thúc Minh vốn nhường nhịn lánh ra ngoài nhưng được người trong nước suy tôn. Vua lệnh cho người trong nước để tang Nhật Kiên, còn Thúc Minh tạm dùng ấn của tiên vương để quản lý công việc." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 (năm 1374), xuống chiếu định kỳ hạn triều cống.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng 3 năm thứ 7 (năm 1374), Thúc Minh sai sứ tạ ơn, tự xưng tuổi đã già, xin mệnh cho em là Thuyên (煓 - tức vua Trần Duệ Tông) nhiếp chính, vua nghe theo. Thuyên sai sứ tạ ơn, nhân đó xin định kỳ hạn cống. Chiếu định 3 năm 1 lần cống. Tân vương thế kiến (vừa mới nối ngôi) nên lại sai sứ sang cống. Vua lệnh cho hữu ty dụ khước đi, lại định rõ sứ giả không quá 3 đến 4 người, cống vật không cần hậu." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 (năm 1377), Thuyên (煓) đánh Chiêm Thành (占城) rồi bại trận tử vong. Em là Vi (煒 - tức vua Trần Phế Đế) nối ngôi. Thiên tử cho rằng An Nam cậy thế cường hãn, nhiều lần xâm phạm Chiêm Thành, bèn ban sắc dụ Thúc Minh.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng Giêng năm thứ 10 (năm 1377), Thuyên đánh Chiêm Thành bại trận tử vong, em là Vi thay ngôi, sai sứ báo tang, mệnh cho Trung quan Trần Năng (陳能) sang tế. Lúc đó An Nam cậy mạnh, muốn diệt Chiêm Thành, ngược lại dẫn đến bại vong. Vua sai quan dụ cựu vương Thúc Minh chớ gây hấn để lại họa sau, vì Thúc Minh thực tế vẫn chủ trì việc nước. Thúc Minh cống phương vật tạ tội, bèn được ban yến thưởng theo chế độ. Thổ quan Tư Minh (思明) thuộc Quảng Tây tố cáo An Nam phạm cảnh, An Nam cũng tố Tư Minh nhiễu biên. Vua ghét họ dùng lời xảo trá, khi sứ cống đến bèn khước từ, gửi hịch kể tội gian cuống, sắc cho thủ thần không được đón tiếp sứ giả. Vi sợ hãi, sai sứ tạ ơn. Liên tiếp nhiều năm cống thái giám (hoạn quan), vàng bạc, mâm tử kim, bình rượu vàng, voi ngựa các loại. Vua mệnh Trợ giáo Dương Bàn (楊盤) sang sứ, lệnh cho tiếp tế quân lương Vân Nam, Vi liền nộp 5.000 thạch lương tại Lâm An (臨安)." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 (năm 1387), Vi (煒) sai sứ sang cống mừng thọ vua.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 (năm 1388), xuống chiếu An Nam vẫn giữ lệ 3 năm 1 lần cống. Năm ấy Quốc tướng Lê Quý Ly (黎季犛) phế Nhật Vi (日煒) rồi giết đi, lập con của Thúc Minh là Nhật Hỗn (日焜 - tức vua Trần Thuận Tông), vẫn mượn danh Vi để nhập cống.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Năm thứ 21 (năm 1388), vua lại mệnh Lễ bộ Lang trung Hình Văn Vĩ (邢文偉) mang sắc và tệ vật sang ban thưởng. Vi sai sứ tạ ơn, lại dâng voi. Vua cho rằng việc cống quá phiền hà, vật cống xa xỉ, mệnh giữ lệ 3 năm 1 lần cống, không cần dâng tê giác và voi. Đúng lúc đó, Quốc tướng Lê Quý Ly tiếm quyền, ôm mưu bất chính, tháng 12 phế chủ là Vi, rồi giết đi, lập con của Thúc Minh là Nhật Hỗn chủ trì việc nước, vẫn mượn danh Vi để vào cống. Triều đình không biết nên vẫn nhận. Qua vài năm sau mới nhận ra, mệnh cho thủ thần Quảng Tây tuyệt giao với sứ giả. Quý Ly sợ hãi." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 22 (năm 1389), Trần Nhật Hỗn (陳日焜) mượn danh "Vi" sai người sang cống.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' '''Tháng 5 năm Hồng Vũ (洪武) thứ 27 (năm 1394), An Nam sai sứ từ đường Quảng Đông vào cống. Vua giận, sai quan chất vấn trách cứ, khước từ vật cống. Quý Ly càng sợ hãi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 (năm 1395), An Nam lại vào cống, (nhà Minh) nhận lấy. Sai sứ dụ lệnh nộp gạo tiếp tế cho quân ở Long Châu (龍州).''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Năm thứ 28 (năm 1395) lại dùng lời quỷ quyệt vào cống. Vua tuy ghét tội giết vua cướp ngôi, nhưng không muốn nhọc quân viễn chinh, nên vẫn nhận. Đại quân đang phạt Long Châu, Triệu Tông Thọ (趙宗壽) mệnh cho Lễ bộ Thượng thư Nhậm Hanh Thái (任亨泰), Ngự sử Nghiêm Chấn Trực (嚴震直) dụ Nhật Hỗn chớ tự nghi ngờ. Quý Ly nghe tin ra quân thì rất sợ, nghe lời bọn Hanh Thái mới hơi yên tâm. Vua lại sai Hình bộ Thượng thư Dương Tĩnh (楊靖) dụ lệnh nộp 80.000 thạch gạo để nuôi quân Long Châu. Quý Ly nộp 10.000 thạch, dâng biếu 1.000 lượng vàng, 20.000 lượng bạc. Lại nói đường bộ Long Châu hiểm trở, xin vận chuyển đến động Bằng Tường (憑祥). Dương Tĩnh không chịu, lệnh nộp 20.000 thạch tại sông Đà Hải (沲海江). Sông này cách Long Châu chỉ nửa ngày đường. Dương Tĩnh nhân đó nói: 'Nhật Hỗn tuổi nhỏ, quốc sự đều do cha con Quý Ly quyết định. Họ nghe tin Tông Thọ đã được tha tội nên mới quan vọng như thế'. Lúc đó vua vì Tông Thọ đã hàng, dời binh chinh phạt các man ở Hướng Võ (向武), bèn dụ Dương Tĩnh lệnh nộp 20.000 thạch cấp cho quân, còn vàng bạc họ biếu thì miễn cho không nhận." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 29 (năm 1396), sai Hành nhân Trần Thành (陳誠), Lã Nhượng (呂讓) dụ lệnh trả lại 5 huyện thuộc Tư Minh (思明), (An Nam) không nghe theo.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng 2 năm thứ 29 (năm 1396), Quý Ly báo tang cựu vương Thúc Minh. Vua cho rằng Thúc Minh vốn là kẻ cướp ngôi giết chúa, nếu điếu tế là khuyến khích loạn tặc nên không thực hiện, chỉ gửi hịch báo cho biết. Thổ quan Tư Minh là Hoàng Quảng Thành (黃廣成) tâu rằng: 'Từ khi Nguyên đặt Tổng quản phủ Tư Minh, cai quản các châu huyện tả giang, phía Đông lấy Thượng Tư Châu (上思州), phía Nam lấy Đồng Trụ (銅柱) làm giới hạn. Khi Nguyên chinh Giao Chỉ, cách Đồng Trụ 100 dặm lập vạn hộ phủ Vĩnh Bình (永平), phái binh đóng giữ, lệnh cho người Giao tiếp tế quân nhu. Cuối thời Nguyên loạn lạc, người Giao đánh phá Vĩnh Bình, vượt qua Đồng Trụ hơn 200 dặm, xâm chiếm 5 huyện thuộc Tư Minh là Khâu Ôn (丘溫), Như Ngao (如嶅), Khánh Viễn (慶遠), Uyên Thoát (淵脫)... bức dân phụ thuộc theo. Gần đây lại báo Nhậm Thượng thư đặt trạm dịch tại đất Đăng địa thuộc động Tư Minh. Thần từng tâu lên, được phái Dương Thượng thư khám thực, xin sắc lệnh cho An Nam trả lại 5 huyện cho thần, vẫn vạch biên giới tại Đồng Trụ'. Vua mệnh Hành nhân Trần Thành, Lã Nhượng sang dụ, Quý Ly cố chấp không theo. Thành tự viết thư dụ Nhật Hỗn, Quý Ly gửi thư tranh biện, lại mượn danh Nhật Hỗn gửi thư cho Hộ bộ. Bọn Thành về báo mệnh, vua biết họ cuối cùng không chịu hoàn trả, bèn nói: 'Man di tranh nhau từ cổ đã có. Họ cậy sự bướng bỉnh tất chuốc họa, cứ tạm chờ đó thôi'." '''Năm Kiến Văn (建文) thứ 1 (năm 1399) đời Huệ Tông (惠宗), Lê Quý Ly (黎季犛) nước An Nam giết vua của mình mà tự lập, đổi tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元), sau lại truyền ngôi cho con là Đê (夷).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' "Năm Kiến Văn thứ 1 (năm 1399), Quý Ly giết Nhật Hỗn (日焜 - Trần Thuận Tông), lập con là Ngung (顒 - Trần Thiếu Đế). Chẳng bao lâu lại giết Ngung, lập em của Ngung." Khi đó người em còn đang trong tã lót, Quý Ly lại giết đi, giết sạch tông tộc họ Trần rồi tự lập, đổi họ tên thành Hồ Nhất Nguyên (胡一元), đặt tên con là Hán (蒼 - tức Hồ Hán Thương) là "Hồ Đê" (胡夷), tự nhận là dòng dõi Hồ Công - hậu duệ Đế Thuấn, sau đó tiếm hiệu quốc hiệu Đại Ngu (大虞), niên hiệu Nguyên Thánh (元聖). Chẳng bao lâu tự xưng Thái thượng hoàng, truyền ngôi cho Đê, triều đình (nhà Minh) không hề hay biết. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403) đời Thành Tổ (成祖), phong Hồ Đê làm An Nam quốc vương. Lúc đó Lão Qua (老撾 - Lào) đưa hậu duệ nhà Trần là Thiên Bình (天平) đến xin quân thảo phạt tội篡弒 (cướp ngôi giết vua) của Hồ Đê.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Sau khi Thành Tổ lên ngôi, sai quan mang chiếu tức vị thông cáo nước ấy. Tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 1 (năm 1403), Đê tự xưng quyền lý quốc sự An Nam, sai sứ dâng biểu triều cống, nói rằng: "Thời Cao Hoàng đế, An Nam vương Nhật Khuê tiên phong quy phụ, không may mất sớm, hậu duệ đã tuyệt. Thần là cháu ngoại họ Trần được chúng dân suy tôn quyền lý quốc sự đến nay đã 4 năm. Mong thiên ân ban phong tước, thần thề chết không hai lòng." Sự việc giao xuống Lễ bộ, bộ thần nghi ngờ, xin sai quan đi điều tra thực tế. Bèn mệnh Hành nhân Dương Bột (楊渤) mang sắc dụ bồi thần phụ lão nước ấy, phàm là việc họ Trần còn hay mất hậu duệ, việc Hồ Đê được suy tôn là thật hay giả, đều phải tâu thực. Sau đó, Đê lại sai sứ đi cùng bọn Bột về, dâng biểu của bồi thần phụ lão theo đúng lời dối trá của Đê để lừa gạt Thiên tử, xin sớm ban phong tước. Vua bèn mệnh Lễ bộ Lang trung Hạ Chỉ Thiện (夏止善) phong làm An Nam quốc vương. Đê sai sứ tạ ơn, nhưng trong nước vẫn tự xưng như cũ. Đê xâm chiếm các châu Lộc, Tây Bình và trại Vĩnh Bình thuộc Tư Minh, Thiên tử dụ lệnh trả lại nhưng Đê không nghe. Chiêm Thành tố cáo An Nam xâm lược, có chiếu lệnh tu hảo. Đê ngoài miệng nói phụng mệnh nhưng bên trong xâm lược như cũ, lại ban ấn chương, ép làm thuộc quốc, lại chặn cướp đồ ban tặng của Thiên triều. Thiên tử ghét lắm, đang lúc sai quan trách phạt thì cựu bồi thần Bùi Bá Kỳ (裴伯耆) đến cửa khuyết cáo nạn, nói rằng: "Ông cha thần đều là chức đại phu chấp chính, chết vì nước. Mẹ thần thuộc tộc gần của họ Trần, nên thần từ nhỏ hầu hạ Quốc vương chức ngũ phẩm, sau thuộc quyền Võ Tiết hầu Trần Khát Chân (陳渴真) làm tì tướng. Cuối thời Hồng Vũ, thay Khát Chân chống giặc ở Biển Đông, mà tặc thần Lê Quý Ly cha con giết chúa chiếm ngôi, tàn sát trung lương, diệt tộc đến hàng trăm mười người. Anh em vợ con thần cũng bị hại, chúng sai người bắt thần định giết. Thần bỏ quân trốn chạy, ẩn náu thung lũng, trằn trọc mấy năm mới đến được cửa khuyết nhìn thấy trời xanh. Trộm nghĩ Quý Ly là con của cố Kinh lược sứ Lê Quốc Mạo, đời thờ họ Trần, trộm lấy sủng vinh, đến con là Hán cũng được trọng dụng, một mai đắc chí bèn thành cướp đoạt, đổi họ thay tên, tiếm hiệu cải nguyên, không cung kính triều mệnh. Trung thần lương sĩ đau lòng nhức óc, nguyện dấy quân điếu phạt, dựng lại dòng họ đã tuyệt, tiễu trừ gian hung, lập lại hậu duệ họ Trần. Thần chết không hối tiếc..." Thiên tử nghe tấu cảm động, mệnh hữu ty chu cấp áo cơm. Vừa lúc Lão Qua đưa Trần Thiên Bình (陳天平) đến, Thiên Bình nói: "Thần là cháu của tiên vương Nhật Huyên (日烜), Nhật Khuê là em của ông nội thần. Giặc Lê diệt tận tộc Trần, thần trốn ở châu ngoài mới thoát. Bồi thần kích động bởi trung nghĩa, suy tôn thần làm chủ thảo tặc. Đang lúc bàn chiêu quân thì giặc đuổi tới, vội vã chạy trốn thung lũng, vạn phần chết một mới đến được Lão Qua. Nghe bệ hạ lên ngôi chính thống, thần có nơi nương tựa, bò lết vạn dặm tới kêu van. Hậu duệ họ Trần chỉ còn một mình thần. Thần với giặc này không đội trời chung, cúi xin thánh từ thương xót, mau phát 6 sư (quân đội) thực thi thiên thảo." Thiên tử càng cảm động, mệnh hữu ty sắp xếp quán xá. Đê sai sứ mừng tết Nguyên đán, vua đưa Thiên Bình ra cho xem, sứ giả đều ngơ ngác lạy xuống, có người bật khóc. Bá Kỳ trách mắng sứ giả bằng đại nghĩa, sứ giả sợ hãi không đáp được. Vua bảo thị thần: "Cha con Đê bội nghịch, quỷ thần không dung. Mà thần dân trong nước cùng nhau lừa dối, cả nước đều là tội nhân, Trẫm sao dung thứ được!" '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405), An Nam Hồ Đê giả vờ xin đón Trần Thiên Bình về làm chủ, sắc cho Quảng Tây tướng quân Hoàng Trung (黃中), Lã Nghị (呂毅) đem quân tiễn đưa.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405), mệnh Ngự sử Lý Kỳ (李琦), Hành nhân Vương Khu (王樞) mang sắc trách cứ Đê, lệnh tâu thực việc cướp ngôi. Châu Ninh Viễn ở Vân Nam lại tố Đê chiếm 7 trại, cướp phụ nữ. Đê sai thần là Nguyễn Cảnh Chân (阮景真) theo bọn Kỳ vào triều tạ tội, nói thác là chưa từng tiếm hiệu, xin đón Thiên Bình về làm chủ, trả lại đất Lộc Châu, Ninh Viễn. Vua không lường được sự dối trá, hứa cho, mệnh Hành nhân Nhiếp Thông (聶聰) mang sắc sang dụ, nói nếu đón Thiên Bình về thờ như vua, sẽ phong cho Đê chức Thượng công, cai quản quận lớn. Đê lại sai Cảnh Chân theo Thông về báo việc đón Thiên Bình. Thông hết sức nói lời Đê đáng tin, vua bèn cho Thiên Bình về nước, sắc cho Quảng Tây Tả hữu phó tướng quân Hoàng Trung, Lã Nghị dẫn 5.000 quân tiễn đi. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 (năm 1406), Lê Quý Ly nước An Nam phản bội, Thành quốc công Chu Năng (朱能), Tây Bình hầu Mộc Thạnh (沐晟) dẫn quân thảo phạt.''''''Năm thứ 5 (năm 1407), An Nam bình định, đổi thành quận huyện.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), Thiên Bình vào lạy từ biệt, vua ban thưởng hậu, sắc phong Đê làm Thuận Hóa quận công. Tháng 3, quân Minh hộ tống Thiên Bình vào cửa Kê Lăng, gần đến trạm Cần (芹站), Đê phục binh giết Thiên Bình, quân Minh bại về. Vua đại nộ, triệu Chu Năng bàn kế thảo phạt. Tháng 7, mệnh Năng đeo ấn Chinh Di tướng quân làm Tổng binh; Mộc Thạnh làm Tả phó tướng quân; Tân Thành hầu Trương Phụ (張輔) làm Hữu phó tướng quân; Phong Thành hầu Lý彬 (Lý Bân), Vân Dương bá Trần Húc làm Tả hữu Tham tướng, đốc sư nam chinh. Năng đến Long Châu thì bệnh chết. Phụ thay cầm quân tiến vào cửa Pha Lũy, truyền hịch kể 20 tội lớn của cha con Nhất Nguyên, dụ quốc dân về ý định lập con cháu họ Trần. Vượt cửa Kê Lăng đến trạm Cần, đánh tan phục binh, bắc cầu phao qua sông Xương Giang để tiến quân. Tiền phương tới huyện Gia Lâm bắc sông Phú Lương, Phụ từ trạm Cần đi đường phía Tây đến huyện Tân Phúc phủ Bắc Giang. Thám tử báo quân của Thạnh, Bân từ Vân Nam cũng đến Bạch Hạc, bèn sai Phiêu kỵ tướng quân Chu Vinh (朱榮) tới hội quân. Phụ phân đạo tiến quân, đi đến đâu thắng đó. Giặc men sông dựng rào gỗ, đắp thành đất tại ải Đa Bang. Thành lũy dài hơn 900 dặm, huy động hơn 2.000.000 dân giữ thành, các cửa biển đều đóng cọc gỗ, Đông Đô canh phòng nghiêm ngặt, quân thủy bộ xưng là 7.000.000 người, định đánh lâu dài cho quân Minh mệt mỏi. Phụ dời doanh đến cửa sông Cá Chiêu (箇招市江口) thuộc Tam Đới Châu đóng chiến thuyền. Thiên tử lo giặc kéo dài thời gian chờ chướng khí, sắc cho Phụ phải diệt giặc vào mùa xuân năm sau. Tháng 12, Thạnh đóng quân bờ bắc sông Thao, đối diện thành Đa Bang. Phụ sai Húc đánh Thao Châu, bắc cầu phao sang sông, cùng tới dưới thành đánh chiếm được. Giặc cậy vào thành này, thành mất thì mật vỡ. Đại quân xuôi sông Phú Lương đánh thẳng vào Đông Đô, giặc bỏ thành chạy, đại quân chiếm giữ, tiến sát Tây Đô, giặc đốt sạch cung thất, lên thuyền ra biển. Các quận huyện nối nhau quy thuận, kẻ kháng cự đều bị đánh tan. Sĩ dân dâng thư kể tội họ Lê mỗi ngày hàng trăm người. Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 5 (năm 1407), đại phá Quý Ly tại sông Mộc Hoàn, tuyên chiếu tìm hậu duệ họ Trần, hơn 1.120 kỳ lão đến quân môn nói: "Họ Trần bị giặc Lê giết sạch, không còn người nối dõi. An Nam vốn là đất Trung Hoa, xin nhập vào chức phương như quận nội địa." Phụ tâu lên, sau đó đại phá giặc tại sông Phú Lương, cha con Quý Ly dùng vài chiếc thuyền bỏ trốn. Chư quân thủy bộ cùng đuổi đến huyện Trà Lung, biết Quý Ly chạy vào Nghệ An, bèn theo sông Cử Khuyết đuổi đến cửa biển Kỳ La phủ Nhật Nam, mệnh Liễu Thăng (柳升) ra biển đuổi theo. Giặc thua nhiều trận không thành quân nữa. Tháng 5, bắt được Quý Ly và ngụy Thái tử Nhuế tại núi Cao Vọng, An Nam thảy đều bình định. Quần thần xin làm theo lời kỳ lão lập quận huyện. Ngày mùng 1 tháng 6, xuống chiếu cáo thiên hạ, đổi An Nam thành Giao Chỉ (交趾). Thiết lập Tam ty, lấy Đô đốc Thiêm sự Lã Nghị quản Đô ty, Hoàng Trung phó chi. Trương Hiển Tông làm Tả Bố chính sứ, Vương Bình làm Hữu Bố chính sứ, Nguyễn Hữu Chương làm Án sát sứ, Bùi Bá Kỳ làm Hữu Tham nghị. Lại mệnh Thượng thư Hoàng Phúc (黃福) kiêm quản hai ty Bố, Án. Thiết lập 15 phủ gồm: Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Kiến Bình, Tân An, Kiến Xương, Phụng Hóa, Thanh Hóa, Trấn Man, Lạng Sơn, Tân Bình, Diễn Châu, Nghệ An, Thuận Hóa, chia quản 36 châu, 181 huyện. Lại đặt 5 châu Thái Nguyên, Tuyên Hóa, Gia Hưng, Quy Hóa, Quảng Oai trực thuộc Bố chính ty, quản 29 huyện. Những nơi yếu hại đều đặt vệ sở khống chế. Sắc cho hữu ty: Các vương họ Trần bị giết đều được tặng thụy, lập đền thờ quản mộ, cấp cho 20 hộ lo quét tước. Tông tộc bị hại được tặng quan, quân dân chết lộ thiên thì chôn cất. Kẻ làm quan vẫn giữ chức cũ cùng tham gia trị lý. Các chính sách hà khắc của họ Lê thảy đều bãi bỏ, kẻ bị hình phạt được tha miễn. Đãi ngộ người cao tuổi đức độ, kẻ cô độc không nơi nương tựa thì đặt Dưỡng tế viện. Chiêu mộ nhân tài về kinh. Chẳng bao lâu lại có chiếu cầu tìm người ẩn dật, tinh thông kinh sách, hiền lương phương chính, hiếu đệ, liêm khiết, giỏi quân pháp, y học... thảy đều đưa về kinh lục dụng. Trương Phụ đã tâu cử hơn 9.000 người. Tháng 9, cha con Quý Ly, Hán bị áp giải về cửa khuyết, cùng các ngụy tướng Hồ Đỗ thảy đều giao cho ngục lại. Tha tội cho em của Hán là Vệ quốc đại vương Trừng (澄) và con là Nhuế, cho hữu ty chu cấp áo cơm. *Theo "Bình định Giao Nam lục" của Khâu Tuấn:'' Thời Thái Tông Văn Hoàng đế mới lên ngôi, An Nam vương Trần Nhật Hỗn bị thần hạ là Lê Quý Ly giết. Quý Ly giả họ tên là Hồ Nhất Nguyên, con là Hán (Cương), biểu xưng họ Trần tuyệt tự, Hán là cháu ngoại, xin quyền giữ việc nước. Vua không bắt lỗi sự gian trá, nghe theo. Chẳng bao lâu lại xin tập tước Vương, vua cho. Qua năm sau, cháu họ Trần là Thiên Bình mới từ Lão Qua trốn đến kinh sư tố cáo sự thực. Quý Ly nghe tin sợ hãi, sai sứ dâng biểu xin đón Thiên Bình về nước. Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), sai sứ dẫn 5.000 quân tiễn Thiên Bình về, đến biên giới, Quý Ly phục binh giết Thiên Bình và sứ giả. Vua nghe tin chấn nộ, bảo quần thần: "Trẫm là chủ muôn nước, lũ man di kia dám làm điều vô đạo, giết chủ đoạt nước, Trẫm không chính tội chúng thì sao hợp thiên đạo?" Sau đó Chiêm Thành cũng báo bị xâm lấn ranh giới, ép dùng ấn phục. Lại nghe chúng tiếm hiệu Đại Ngu, cải niên hiệu, Quý Ly xưng Thái thượng hoàng, hủy hoại Nho giáo Trung Hoa, gọi Mạnh Tử là đạo nho, Trình - Chu là kẻ剽竊 (ăn cắp ý tưởng). Bèn nghị hưng binh hỏi tội, quần thần đều tán thành. Sai đại thần cáo tại giao miếu, sai cận thị cáo tại danh sơn đại xuyên. Mùa thu tháng 7 ngày Quý Mùi, chế dụ Thái tử Thái phó Thành quốc công Chu Năng đeo ấn Chinh Man đại tướng quân làm Tổng binh; Mộc Thạnh làm Tả phó tướng quân; Trương Phụ làm Hữu phó tướng quân; Lý Bân làm Tả tham tướng; Trần Húc làm Hữu tham tướng. Sắc Đại tướng quân soái Hữu phó tướng quân, Hữu tham tướng cùng Thanh Viễn bá Chu Hữu, dẫn các tướng Chu Vinh, Lưu Trát Xuất... cùng 25 vị tướng quân khác, thống lĩnh quân từ hai Kinh kỳ, Kinh Hồ, Mân, Chiết, Lưỡng Quảng, tiến quân từ huyện Bằng Tường phủ Tư Minh Quảng Tây. Tả phó tướng quân thống lĩnh quân Ba Thục, Kiến Xương, Vân Quý, tiến quân từ huyện Mông Tự phủ Lâm An Vân Nam. Lấy Binh bộ Thượng thư Lưu Tuyển tham tán nhung cơ, Hình bộ Thượng thư Hoàng Phúc, Đại lý tự khanh Trần Hiệp, Cấp sự trung Phùng Quý đốc lương. Các nơi danh sơn đại xuyên đi qua đều tu tế sự. Ngày Ất Dậu xuất sư, vua thân hành đến Long Giang làm lễ tế mã, tướng soái bồi vị nhận nhục (thịt tế) hết sức kính cẩn. Xong việc, dừng giá tại bờ sông, thề với chúng quân: "Trẫm mệnh các ngươi thực thi thiên phạt, tội chỉ tại tên nguyên hung. Phải thể theo lòng Trẫm, đừng tham võ, đừng giết kẻ hàng, đừng bắt bớ già trẻ, đừng hủy hoại nhà cửa lăng mộ. Dù một ngọn cỏ nhánh cây cũng không được cắt bỏ bừa bãi. Kẻ vi mệnh, dù nhọc công cũng không tính thành tích, lại còn bị phạt." Bọn Năng dập đầu nhận mệnh, vạn dân cổ vũ, lên thuyền ra đi. Tháng 9 năm ấy, quân dừng tại Long Châu, Đại tướng quân lâm bệnh, giao quân cho Hữu phó tướng quân. Tháng 10 ngày Canh Tý, Đại tướng quân mất. Chúng nghị quân cơ trọng đại không thể chậm trễ, xin Hữu phó tướng quân đại tổng binh quyền. Tin khẩn báo về kinh, vua mệnh Phụ đeo ấn Chinh Man đại tướng quân thay Năng tổng binh, lại giáng sắc dụ: "Xưa Thái Tổ Hoàng đế mệnh Khai Bình vương Thường Ngộ Xuân làm Đại tướng quân, Kỳ Dương vương Lý Văn Trung làm Phiên tướng quân bắc chinh. Khai Bình vương mất tại sông Liễu Hà, Kỳ Dương vương soái chư tướng quét sạch tàn nghiệt, lập đại huân, ghi danh thanh sử. Ngươi nên học theo tiền nhân để xây công vạn thế." Đây là khởi đầu của việc Định Hưng Trung Liệt vương (Trương Phụ) nhận mệnh chuyên chinh. Trước đó, Vương cùng Đại tướng quân niêm yết 20 tội lớn của cha con giặc Lê để làm rõ ý Thiên thảo. Kể tội Quý Ly: 1. Giết hai chủ đoạt nước; 2. Giết sạch con cháu họ Trần; 3. Dùng hình tàn bạo, coi dân như thù; 4. Thuế nặng sưu cao dân không sống nổi; 5. Vốn họ Lê mà phản tổ đổi họ; 6. Cướp ngôi mà dối là quyền lý để lừa triều đình; 7. Biểu xin đón cháu họ Trần về rồi lại ngăn trở; 8. Giết cháu quốc chủ; 9. Chiếm 7 trại Ninh Viễn; 10. Giết thổ quan Mãnh Mạn, ngược đãi con gái họ, thu bạc của họ; 11. Uy hiếp thổ quan biên giới; 12. Chiếm đất Lộc Châu Quảng Tây; 13. Chiếm Tây Bình Châu giết thổ quan; 14. Đánh Chiêm Thành lúc tang gia, chiếm đất Cách Liệt; 15. Đánh chiếm các châu Bản Đạt Lang, Hắc, Bạch; 16. Cướp hơn 100 con voi Chiêm Thành; 17. Ép Chiêm Thành dùng ấn phục ngụy; 18. Ép vua Chiêm thờ mình như thờ Trung Hoa; 19. Cướp quân nhu của sứ triều đình tại cảng Côn Lăng; 20. Tự xưng quốc hiệu, niên hiệu ngụy Thánh Nguyên, Thiệu Thành, Khai Đại... không dùng chính sóc. Người Giao nghe thiên binh xuống, ban đầu không hiểu tại sao, sau nghe bảng văn thì biết lỗi tại họ Lê. Lại thấy cuối bảng ghi: "Đợi sau khi bắt được cha con giặc Lê sẽ tìm họ Trần lập lên", thảy đều kiễng chân chờ đợi vương sư. Vương đến huyện Bằng Tường vào ngày Đinh Mùi tháng 10, vào cảnh làm lễ tế, dụ chúng: "Hoàng đế không ham đất đai nhân dân An Nam, chỉ vì giặc Lê hại chúa ngược dân, nên thực hiện thiên thảo để nối dòng họ tuyệt, cứu dân khốn. Mệnh ta điếu dân phạt tội, dặn dò không được giết người bừa bãi, không lấy vật bừa bãi, không chiếm đoạt nữ tử, không đốt nhà, không xéo lúa. Kẻ vi mệnh sẽ theo quân pháp không tha!" Chúng quân hoan hô dùng mệnh. Ngày đó đại quân nhập cửa Pha Lũy, dán bảng dụ dân, chiêu lai kẻ hàng. Vương biết từ Pha Lũy về phía Nam, qua cửa Ải Lưu, Kê Lăng tới trạm Cần núi non hiểm trở, rừng rậm chằng chịt, sợ có phục binh, sai Lã Nghị đi thám thính, lệnh Hàn Quan Vinh sửa đường bắc cầu tại Pha Lũy. Ngày Mậu Thân đại quân dừng tại huyện Khâu Ôn. Ngày Kỷ Dậu thám tử đến Ải Lưu, giặc 20.000 người dựa núi kết trại, Nghị đánh chiếm được, chém 40 thủ cấp, bắt sống 60 người. Chu Vinh cũng phá cửa Kê Lăng, chém hơn 80 người. Giặc nghe tin hai cửa quan mất, quân phục đều tan chạy. Ngày Nhâm Tý đại quân dừng tại Kê Lăng, ngày Quý Sửu tới trạm Cần. Phương Chính, Vương Thứ tiến thẳng đến huyện Gia Lâm bờ bắc sông Phú Lương. Lúc này Mộc Thạnh cũng từ Mông Tự tiến quân qua vùng Dã Bồ Man nhập cảnh, đánh chiếm cửa Mãnh Liệt, phá rào Hoa Ải, tùy nơi đắp lũy造舟 (đóng thuyền). Đô chỉ huy Từ Nguyên, Khổng Bân đột kích cửa sông Tuyên Quang... Thủy quân giặc号称 (xưng là) 7.000.000 người, thực chất là xua cả già trẻ gái trai để trợ thanh thế. Vương viết thư dụ Quý Ly: "Ta phụng mệnh đến hỏi tội, nếu dám chiến thì dàn quân tại Gia Lâm mà đợi, nếu không thì đến quân môn nghe phân xử." Vương muốn khích giặc đánh gấp. Vừa lúc Hành nhân Chu Khuyên mang sắc đến dụ giặc họa phúc, cho nộp 50.000 lượng vàng, 100 con voi để chuộc tội. Khuyên đến nơi, Quý Ly không ra tiếp, nói lời quỷ quyệt: "Văn thư này không giống bản cũ, chắc không phải vua sai. Nếu binh lui thì sẽ cống, nếu không thì tự có chuẩn bị." Vương biết sắc này chỉ là để hoãn binh, giặc không có ý hối lỗi. Bèn dời quân đến Nhị Đới Châu, cửa sông Cá Chiêu, cùng Mộc Thạnh bàn việc đóng thuyền chế súng tiến công. Có thuyền chèo của giặc xuất hiện, Vương lệnh Lỗ Lân ban đêm chèo thuyền xuôi dòng cướp thuyền giặc, chém hơn 100 người. Từ đó giặc không dám ló mặt. Vương định vượt sông ở thượng lưu, sai Chu Vinh ở hạ lưu 80 dặm tại Gia Lâm bày thuyền bè như muốn vượt sông để nghi binh. Giặc quả nhiên chia thủy quân đến Gia Lâm, Vinh đánh phá tan tác. Tháng 12 ngày Kỷ Hợi, hai cánh quân hợp nhất. Vương bảo Thạnh: "Giặc dựng rào ven sông, thế hiểm đất hẹp khó dàn quân. Chỉ có ải Đa Bang bãi cát ngoài thành bằng phẳng rộng rãi đủ chứa quân. Tuy thành cao hào sâu, phòng thủ nghiêm ngặt, ngoài đặt hầm chông, nhưng người Man yếu ớt không chịu được khổ, không đáng lo. Nay thang vân, tiên nhân động... của ta đã sẵn, dễ chiếm thôi." Bèn bảo tướng sĩ: "Báo quốc thành công tại trận này. Phải奮力 (dốc sức) tranh tiên, kẻ lên thành trước sẽ được trọng thưởng." Đêm đó canh 4, Hoàng Trung dẫn quân bí mật vượt hào tới dưới thành, bắc thang vân leo lên. Thái Phúc cùng vài người lên trước dùng đao chém loạn, giặc kinh hãi kêu rú, trên thành lửa sáng rực, tướng sĩ như kiến bò lên. Giặc trong thành dàn trận, xua voi ra lao tới. Quân Minh tung ra "Sư tử phục" (hình sư tử giả) trùm lên ngựa, voi thấy hình sư tử thì kinh sợ run rẩy, lại bị súng tên bắn trúng bèn quay đầu chạy ngược giẫm đạp quân nhà. Đại quân thừa thắng tiến thẳng, hôm sau đuổi đến núi Tản Viên, hôm sau nữa xuôi sông Phú Lương đốt sạch rào gỗ ven sông, khói lửa ngất trời. Ngày Tân Hợi đánh thẳng vào Đông Đô, chiếm được. Vương cùng Thạnh đóng quân phía Đông Nam thành, dán bảng chiêu dụ, kẻ hàng mỗi ngày hàng vạn người. Vương bảo các kỳ lão về ý đồ điếu phạt, tiếng hoan hô động đất. Ngày Ất Mão, bàn việc sai Lý Bân, Trần Húc đánh Tây Đô. Giặc nghe tin Đa Bang mất, đã đốt kho tàng đưa vợ con trốn ra biển. Quân Minh tới chiếm thành. Dư đảng dựa vào núi Thiên Kiện, núi Khốn Mai đóng giữ thủy bộ. Sai Vương Hữu, Hoàng Trung, Liễu Tông chia quân tiễu trừ. Từ đông năm ấy đến xuân năm sau chém hơn 37.000 thủ cấp. Nghe tin Hồ Trừng tụ thuyền tại sông Hoàng, quân Minh tiến sát sông Mộc Hoàn hạ trại. Ngày Tân Tỵ thuyền giặc hơn 300 chiếc tới phạm, quân Minh thủy bộ kẹp đánh, chém hơn vạn người, chết đuối vô số. Tháng 2 ngày Ất Tỵ, nghe tin giặc chạy ra cửa Mộn Hải, đi cửa sông Lỗ gặp quân Thạnh tại huyện Giao Thủy. Giặc lại chạy ra cửa biển Đại An. Vương bảo Thạnh: "Giặc thấy ta không dám đánh, trốn nơi khác để xem động tĩnh. Nếu ta về Giao Châu, để quân ở cửa Hàm Thủy canh phòng, chúng tất ra cửa Mộn Hải tập kích. Ta đợi chúng ra sẽ đánh úp." Tháng 3 ngày Quý Dậu đại quân về Giao Châu. Ngày Giáp Ngọ giặc quả nhiên phạm cửa Hàm Thủy. Ngày Kỷ Dậu, Vương cùng Thạnh thủy bộ tiến gấp. Giặc dùng hải thuyền chặn ngang sông, hai bên bờ tiến quân. Lên bờ dựng rào. Vương thừa lúc rào chưa xong, thân đốc tinh nhuệ đánh, Liễu Thăng dẫn thủy quân tới tiếp ứng, giặc đại bại, nước sông Phú Lương nhuộm đỏ, xác chất vài mươi dặm. Trần Húc thừa thế tiến thẳng đến cửa Mộn Hải. Cha con giặc Lê chạy ra Linh Nguyên. Vương bảo tướng sĩ phải thừa thế chẻ tre mà diệt tận. Bèn về Giao Châu để Lý Bân trấn giữ sông Hoàng. Tháng 4 ngày Ất Hợi, Vương cùng Thạnh từ Thanh Hóa tiến gấp, điều Liễu Thăng, Lỗ Lân cùng thổ quan Mạc Thúy dẫn thuyền đuổi theo đường thủy. Ngày Mậu Dần tới sông Lỗi Giang Thanh Hóa, giặc tụ thuyền chống cự, Thăng đánh bại chém vạn người. Tháng 5 ngày Đinh Mão tới Diễn Châu, Liễu Thăng tới hội quân, kẻ hàng nối nhau. Biết cha con giặc Lê trốn tại sông Thâm phủ Nghệ An. Vương cùng Thạnh đi đường bộ, Liễu Thăng đi đường thủy đuổi giặc. Ngày Nhâm Thân tới huyện Thượng Dầu phủ Nghệ An, Vương đi đường đông sông Cử Khuyết, Thạnh đi đường tây, cùng hạ trại tại huyện Bàn Thạch. Ngày Giáp Tuất Liễu Thăng tới cửa biển Kỳ La đánh bại giặc, thu 300 thuyền. Ngày Ất Hợi, quân sĩ Vương Sài Hồ... 7 người bắt được ngụy Thượng hoàng Lê Quý Ly. Quân sĩ Lý Bảo Bảo... 10 người bắt được ngụy Vệ quốc đại vương Lê Trừng. Ngày Bính Tý, thổ nhân Vũ Như Khanh bắt được ngụy quốc chủ Lê Hán (Hồ Hán Thương) cùng ngụy Thái tử Nhuế tại núi Cao Vọng. Thân thuộc họ Lê bị bắt không sót một ai, đất An Nam bình định. Thu được 48 phủ châu, 166 huyện, 3.120.500 hộ, voi ngựa trâu dê lương thực không xuể. Sai Liễu Thăng áp giải tù binh về cửa khuyết. Sau khi bình định, Vương tìm hậu duệ họ Trần. Quan lại kỳ lão đều nói: "Giặc Lê năm Kỷ Mão giết Quang Thái vương (Trần Thuận Tông), lập con ông ta rồi lại giết đi mà chiếm nước. Giết hơn 50 người thuộc tộc gần, hơn 1.000 người tộc xa, máu mủ tuyệt tận, không ai nối dõi. Xin theo lệ Hán Đường lập quận huyện như nội địa." Vương tâu lên, vua nghe theo. Bèn lập Giao Chỉ承宣布政使司 (Thừa tuyên Bố chính sứ ty), Đô chỉ huy sứ ty, Án sát ty. Chia làm 17 phủ, 47 châu, 157 huyện. Đặt 11 vệ, 3 sở thủ ngự. Tại biên giới Giao - Quảng, đặt vệ Khâu Ôn cùng các sở Pha Lũy, Ải Lưu để khống chế. Năm ấy đại cáo thiên hạ việc phục cổ quận huyện An Nam, sắc cho hữu ty tặng thụy cho vua Trần, tông thân bị hại đều được tặng quan, xây đền dựng bia quét tước mộ phần. Bãi bỏ các sưu thuế hà khắc của giặc Lê. Dùng người hiền năng, ưu đãi kỳ lão, đổi phong tục theo Hoa phong. Khiến cho dải đất từ Tần Hán rơi vào tay man di suốt 446 năm, nay một mai trở lại bản đồ Trung Hoa. Văn võ quần thần thảy đều dâng biểu chúc mừng. *Theo "Minh Nhất thống chí":'' Đầu thời Hồng Vũ, Trần Nhật Khuê tiên phong quy phụ, ban ấn An Nam quốc vương. Truyền đến Nhật Hỗn, thần là Lê Quý Ly cướp ngôi tiếm hiệu. Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), sai Trương Phụ, Mộc Thạnh chia quân tiến đánh, bắt sống cha con Quý Ly. Tìm hậu duệ họ Trần không thấy, bèn quận huyện hóa đất ấy, đặt 17 phủ, 5 châu trực thuộc. Lại lập Giao Chỉ Bố chính ty, Đề hình Án sát ty cùng Đô chỉ huy sứ ty tại phủ Giao Châu. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 (năm 1408), An Nam bình định, ban sư (rút quân). Năm ấy, cựu quan An Nam là Giản Định (簡定) lại làm phản.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408), bọn (Trương) Phụ chấn chỉnh quân ngũ trở về kinh sư, dâng bản đồ Giao Chỉ (交阯), phía Đông sang phía Tây dài 1.760 dặm, phía Bắc xuống phía Nam dài 2.800 dặm, an phủ nhân dân hơn 3.120.500 người, bắt được người Man hơn 2.087.500 người, voi, ngựa, trâu hơn 235.900 con, thóc gạo hơn 13.600.000 thạch, thuyền hơn 8.670 chiếc. Khí giới quân dụng tính được 2.539.800 món. Do đó đại hành phong thưởng, Phụ tiến phong Anh quốc công (英國公), (Mộc) Thạnh phong Kiềm quốc công (黔國公), những người còn lại tùy theo thứ bậc mà ban thưởng. Lúc bấy giờ, các quan lại do triều đình phương Bắc đặt ra cốt lấy sự khoan hậu để thu phục vùng đất mới lập, nhưng người Man tự coi mình là loài khác, thường xuyên kinh động sợ hãi. Cựu quan họ Trần là Giản Định (簡定) trước đó đã hàng, sắp sửa được đưa về kinh sư, bèn cùng đồng đảng là Trần Hy Cát (陳希葛) trốn đi, mưu loạn với các ngụy quan Hóa Châu (化州) là Đặng Tất (鄧悉), Nguyễn Súy (阮帥)... Định bèn tiếm hiệu đại hiệu, đặt niên hiệu Hưng Khánh (興慶), quốc hiệu là Đại Việt (大越). Chúng ra vào trong núi ở Nghệ An (乂安), Hóa Châu (化州), rình lúc đại quân rút về liền ra đánh Phà Than (盤灘), bến Hàm Tử (鹹子關), chốt giữ con đường huyết mạch qua lại ở phủ Tam Giang (三江府), đánh phá vùng gần Giao Châu (交州). Các châu huyện Từ Liêm (慈廉), Uy Man (威蠻), Thượng Hồng (上洪), Thiên Đường (天堂), Ứng Bình (應平), Thạch Thất (石室) thảy đều hưởng ứng. Thủ tướng nhiều lần ra quân thảo phạt nhưng đều không có công. Tháng 8, sự việc báo về kinh, mệnh Mộc Thạnh làm Chinh Di tướng quân, thống lĩnh 40.000 quân từ Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên đi thảo phạt, đồng thời sai sứ mang sắc dụ hàng, hứa cho thế quan. Định không ứng chiếu, Thạnh đánh với giặc ở sông Sinh Quyết (生厥江), đại bại, Lã Nghị (呂毅) cùng Tham tán Thượng thư Lưu Tuấn (劉㒞) đều tử trận. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục" (平定交南錄):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408), ban sư về triều. Mùa thu tháng 7, xét công hành thưởng, tiến phong Anh quốc công, Tây Bình hầu phong làm Kiềm quốc công, Thanh Viễn bá Vương Hữu (王友) tiến phong tước Hầu, Đô đốc Liễu Thăng (柳升) thăng làm An Viễn bá (安遠伯), những người còn lại đều thăng quan tăng lộc tùy theo thứ bậc. Ban cho (Trương) Phụ cáo khoán, đai ngọc, vàng lụa, mệnh cho con cháu đời đời tập tước, tăng thêm 3.000 thạch lộc mễ. Sau khi đại yến, Hoàng thượng tự thân chế bài "Bình An Nam ca" để khen ngợi. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 (năm 1409), đảng phản loạn An Nam tôn Giản Định làm Thái thượng hoàng, lập riêng Trần Quý Khoách (陳季擴) làm vua, mệnh Anh quốc công Trương Phụ thảo phạt.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 7 (năm 1409), tin bại trận báo về, tăng phái 47.000 quân từ Nam Kỳ, Chiết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Quảng, Quảng Đông, Quảng Tây, theo Anh quốc công (Trương) Phụ đi chinh phạt. Phụ cho rằng giặc dựa vào sông biển, không lợi cho bộ binh, bèn đóng quân ở Tiên Du (仙游) thuộc Bắc Giang, đóng gấp chiến hạm, đồng thời chiêu an những người bị giặc đánh phá phải ly tán, liền liên tiếp phá các đồn trại ở Từ Liêm, Quảng Oai (廣威). Thám thính biết đồng đảng của giặc là Đặng Cảnh Dị (鄧景異) chốt giữ sông Lô ở phủ Nam Sách (南策州), vượt cầu Thái Bình, bèn tiến quân đến bến Hàm Tử (鹹子關). Ngụy Kim ngô tướng quân Nguyễn Thế Mỗi (阮世每) có 20.000 quân, lập trại rào ở bờ đối diện, dàn hơn 600 chiếc thuyền, dựng cọc ở phía Đông Nam để ngăn giữ. Lúc đó là tháng 8, gió Tây Bắc thổi gấp, Phụ đốc thúc Trần Húc, Chu Quảng, Du Nhượng, Phương Chính... đồng loạt cho thuyền tiến lên, pháo tên bắn ra như bão, chém 3.000 thủ cấp, bắt sống Ngụy Giám môn tướng quân Phan Đê (潘低) cùng hơn 200 người, thu hơn 400 chiếc thuyền. Liền tiến đánh Cảnh Dị, Cảnh Dị bỏ chạy trước, bèn bình định các phủ Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tân An, Kiến Xương, Trấn Man, đuổi phá Cảnh Dị ở cửa biển Thái Bình, bắt được đồng đảng là Phạm Tất Lật (范必栗). Lúc bấy giờ Nguyễn Súy và các tướng tôn Giản Định làm Thái thượng hoàng, lập riêng Trần Quý Khoách làm vua, đặt niên hiệu Trùng Quang (重光). Khoách sai sứ tự xưng là "cháu của vua An Nam trước", cầu xin phong tước, Phụ quát mắng rồi chém đi. Từ sông Hoàng Giang, sông A Giang, cửa biển Đại An đến sông Phúc Thành, chuyển vào cửa biển Thần Đầu (神投海口), nhổ sạch cọc rào giặc dựng. Hơn 10 ngày thì đến Thanh Hóa (清化), quân thủy bộ đều hội tụ. Định đã chạy sang Diễn Châu (演州), Quý Khoách chạy vào Nghệ An, bọn Súy, Cảnh Dị cũng tan tác bỏ trốn. Bèn đóng quân bắt dư đảng, Định chạy đến trại Cát Lợi huyện Mỹ Lương (美良縣), bọn Phụ đuổi gấp đến nơi, Định trốn vào núi, đại soát không được, bèn vây lại, cùng với ngụy tướng tướng của hắn là Trần Hy Cát, Nguyễn Nhữ Lệ (阮汝勵), Nguyễn Án (阮晏)... thảy đều bị bắt. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục":'' Dư nghiệt An Nam là Giản Định tác loạn, Định tự xưng họ Trần, vốn là quan cũ của họ Trần, trước đã hàng phục, sau lại trốn vào phủ Nghệ An, cùng đồng đảng Đặng Tất, Nguyễn Súy, Trần Hy Cát mưu phản, ngụy xưng là Nhật Nam vương. Sau đó tiếm hiệu Đại Việt, xưng niên hiệu Hưng Khánh. Triều đình mệnh Kiềm quốc công Mộc Thạnh làm tướng quân, từ Vân Nam sang chinh phạt, lâu ngày không ngăn tuyệt được, đình nghị cho rằng nếu không phải Vương (Trương Phụ) thì không xong. Tháng 1 năm thứ 7 (năm 1409), bèn mệnh Vương đeo ấn Chinh Man phó tướng quân, sang cùng tiễu trừ. Vương đến Nam Ninh hội quân vào tháng 4, tháng 5 nhập cảnh; Vương thân tự đốc chiến hạm, phá rào Khổng Mục, lại phá bến Hàm Tử, chém bắt vô số. Giặc lui về giữ Hoàng Giang, Vương thừa thắng đánh ở cửa biển Thái Bình, giặc chạy vào sông Trà Kế (茶偈江) ở Nghệ An. Mùa đông tháng 12, quân đến Thanh Hóa. Qua 4 ngày, bắt sống Giản Định ở núi thuộc trại Cát Lợi, cùng đồng đảng Trần Hy Cát..., đóng cũi giải về kinh sư. Tháng 2 năm sau, Vương về triều, Hoàng thượng khen ngợi lao khổ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 (năm 1410), Trần Quý Khoách xin hàng.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Trước đó, đảng giặc Nguyễn Sư Cối (阮師檜) tiếm tước Vương, cùng Ngụy Kim ngô Thượng tướng quân Đỗ Nguyên Thố (杜元措)... chiếm xã Nghi Dương huyện An Lão phủ Đông Triều (東潮州), có quân hơn 20.000 người. Tháng 1 năm thứ 8 (năm 1410), Phụ tiến đánh, chém hơn 4.500 thủ cấp, bắt bọn đồng đảng Phạm Chi (范支), Trần Nguyên Khanh (陳原卿), Nguyễn Nhân Trụ (阮人柱)... hơn 2.000 người, thảy đều chém đi, đắp kinh quán (gò xác). Tháng ấy, Phụ sắp ban sư, tâu rằng Quý Khoách cùng đồng đảng Nguyễn Súy, Hồ Cụ (胡具), Đặng Cảnh Dị... vẫn còn ở Diễn Châu, Nghệ An, ép sát Thanh Hóa, mà Đặng Dung (鄧鎔) chặn cửa sông Thần Đầu, Phúc Thành, chiếm cứ yếu lộ Thanh Hóa, ra vào các nơi ở Nghệ An. Nếu chư quân rút hết về, e rằng quân của Mộc Thạnh ít không địch nổi. Xin lưu Đô đốc Giang Hạo (江浩), Đô chỉ huy Du Nhượng (俞讓), Hoa Anh (花英), Sư Hữu (師祐)... ở lại giúp Thạnh thủ ngự. Vua nghe theo. Tháng 5, Thạnh đuổi Quý Khoách đến sông Ngu Giang (虞江), giặc bỏ rào trốn. Đuổi đến huyện Cổ Linh và cửa biển Hội Triều, Linh Trường, chém hơn 3.000 thủ cấp, bắt được ngụy tướng Lê Lộng (黎弄). Quý Khoách bị bách quá, dâng biểu xin hàng. Vua biết là dối trá nhưng tạm hứa cho. Chiếu thụ cho Giao Chỉ Bố chính sứ Nguyễn Súy, Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung đều làm Đô chỉ huy, Trần Nguyên Tôn làm Hữu tham chính, Phan Quý Hựu làm Án sát phó sứ. Chiếu xuống rồi mà giặc không có lòng hối cải. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Đặng Tông Tắc (鄧宗稷)... bị bắt, năm ấy truy sát gần hết.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 9 (năm 1411), lại mệnh Phụ đốc 24.000 quân, hợp với quân của Thạnh để thảo phạt. Giặc chiếm giữ sông Nguyệt Thường (月常江), dựng cọc gỗ cao hơn 40 trượng, hai bên bờ đặt rào dài 2-3 dặm, dàn hơn 300 chiếc thuyền, đặt phục binh ở bên phải núi. Mùa thu năm ấy, bọn Phụ, Thạnh thủy bộ cùng tiến, Nguyễn Súy, Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung... đến cự chiến. Phụ lệnh cho Chu Quảng kết thuyền nhổ cọc để tiến, tự mình dẫn bọn Phương Chính dùng bộ đội tiễu trừ phục binh. Thủy bộ kẹp đánh, giặc đại bại, bọn Súy đều tan chạy, bắt sống ngụy tướng Đặng Tông Tắc, Lê Đức Di (黎德彝), Nguyễn Trung (阮忠), Nguyễn Hiên (阮軒)... thu 120 chiếc thuyền. Phụ bèn đốc thủy quân tiễu trừ Quý Khoách, nghe tin Ngụy Long hổ tướng quân Lê Nhuế (黎蕊)... ở các châu huyện Thạch Thất, Phúc An chặt đứt cầu phao sông Duệ Giang (銳江), làm nghẽn đường sông Sinh Quyết và hậu vệ Giao Châu, liền đi chinh phạt. Nhuế cùng đồng đảng Phạm Khang (范慷) đến cự chiến, Nhuế trúng tên chết, chém ngụy tướng Nguyễn Đà (阮陁), bắt ngụy tướng Dương Nhữ Mai (楊汝梅), Phòng ngự sứ Phùng Hấp (馮翕), chém 1.500 thủ cấp, truy sát dư tặc gần hết, Khang cùng đồng đảng Đỗ Cá Đán (杜箇旦), Đặng Minh (鄧明), Nguyễn Tư Châm (阮思瑊)... cũng bị bắt. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 (năm 1412), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Trần Mẫn (陳敏)... nối nhau xin hàng.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Ngày mùng 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 10 (năm 1412), Phụ đốc bọn Phương Chính đánh thuyền giặc ở biển Thần Đầu (神投海), đại phá chúng, bắt ngụy tướng Trần Lỗi (陳磊), Đặng Nhữ H戲 (Đặng Nhữ Hí)... Nguyễn Súy chạy xa, đuổi không kịp. Quân Phụ đến Nghệ An, ngụy Thiếu bảo vùng Thượng Hoàng là Phan Quý Hựu (潘季祐)... đều bỏ trốn. Chẳng bao lâu Quý Hựu xin hàng, dẫn theo 17 ngụy quan đến yết kiến. Phụ thừa chế thụ cho Quý Hựu làm Án sát phó sứ, thự việc phủ Nghệ An. Thế là các ngụy tướng quân, quan sát, an phủ, chiêu thảo như Trần Mẫn (陳敏), Nguyễn Sĩ Cần (阮士勤), Trần Toàn Húc (陳全勗), Trần Toàn Mẫn (陳全敏)... nối nhau ra hàng. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 11 (năm 1413), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Đặng Dung (鄧鎔)... thảy đều hàng phục.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 11 (năm 1413), Phụ và Thạnh hợp quân đến Thuận Châu (順州), Nguyễn Súy đặt phục binh ở sông Ái Tử (愛子江), dựa vào thế hiểm núi Côn Truyền (昆傳山), dàn trận voi đón đánh. Chư quân đại phá được, bắt sống ngụy tướng Phan Kính (潘徑), Nguyễn Từ (阮徐)... 56 người. Đuổi đến sông Ái Mẫu (愛母江), giặc tan tác, em của Đặng Dung là Ngụy hầu Thiết (鐵) cùng tướng quân Phan Lỗ (潘魯), Phan Cần (潘勤)... thảy đều hàng phục. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414), Trần Quý Khoách (陳季擴) bị bắt, An Nam lại được bình định.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 12 (năm 1414), tiến quân đến Chính Hòa (政和), tướng giặc là Hồ Đồng (胡同) ra hàng, nói rằng Ngụy Đại tướng quân (鄧景異) dẫn đồng đảng là Lê Diệm (黎蟾) cùng 700 người trốn vào trại Côn Bồ (昆蒲柵) của dân Xiêm Man (暹蠻). Quân Minh bèn tiến vào La Giang (羅江), bỏ ngựa đi bộ, khi đến nơi thì giặc đã trốn, đuổi đến trại Sất Bồ Nạt (叱蒲捺柵) giặc lại trốn tiếp. Đêm tối đi hơn 20 dặm, nghe tiếng trống cầm canh, (Trương) Phụ dẫn bọn (Phương) Chính ngậm tăm đi gấp, mờ sáng đến trại Sất Bồ Cán (叱蒲幹柵). Giặc vẫn đóng trại ở bờ Nam sông Bắc Giang, quan quân qua sông vây đánh, tên bắn trúng Cảnh Dị rồi bắt sống được. (Đặng) Dung (鄧鎔) cùng em là Duẩn (鈗) chạy trốn cũng bị đuổi bắt, thu hết đồ chúng. Biệt tướng Chu Quảng (朱廣) đuổi theo Ngụy Đại tướng quân Nguyễn Súy (阮帥) tại Xiêm Man, lục soát khắp các núi vùng Xiêm Nhân Quan, bắt được vợ con Súy và Quý Khoách. Súy trốn sang Nam Linh Châu (南靈州) dựa vào Thổ quan Nguyễn Trà Hối (阮茶彙). Chỉ huy Tiết Tụ (薛聚) đuổi bắt được Súy, chém Trà Hối. Trước đó, khi Đặng Dung bị bắt, Quý Khoách trốn vào núi Trúc Bài (竹排山) ở Nghệ An. Phụ sai Đô chỉ huy Sư Hữu (師祐) tập kích, Khoách chạy sang Lão Qua (老撾 - Lào), Hữu đuổi theo sau. Lão Qua sợ quan quân giày xéo đất đai, xin tự trói giặc nộp. Phụ gửi hịch đòi người, đồng thời lệnh cho Hữu tiến sâu vào, hạ 3 cửa quan, đến Kim Lăng Cá (金陵箇). Đồng đảng của giặc tan chạy hết, bèn bắt được Quý Khoách. Em của Khoách là Ngụy Tướng quốc Hoan Quốc vương Quý Chắt (季揝) cũng bị bắt ở nơi khác, giặc bị dẹp tan. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục" (平定交南錄):'' Dư đảng của Giản Định (簡定) là Trần Quý Khoách lại tụ tập, tiếm xưng niên hiệu Trùng Quang (重光). Quý Khoách là cháu của Giản Định. Định bị bọn Nguyễn Súy phế đi mà lập Quý Khoách. Khi Định bại trận lén trốn đi xa, nghe tin Vương (Trương Phụ) rút quân về, lại cùng Đặng Cảnh Dị làm phản. Mùa xuân tháng 1 năm thứ 9 (năm 1411), vua lại trao ấn trước cho Vương, sang đốc sư chinh phạt. Mùa hè tháng 5 quân dừng ở Đông Quan (東關), tháng 6 tiến binh. Giặc nghe Vương đến, lấy đá lấp cửa biển Thần Đầu (神頭海口) chừng 30 trượng, đặt cọc gỗ kháng cự. Vương đốc tướng sĩ bốc hết đá lên để thông đường thuyền. Giặc sợ, lập đồn ở sông Thường Nguyệt (常月江), Vương dặn quân rằng: "Đồn này không đáng đánh, nhưng phía Nam núi hiểm trở, chúng tất đặt phục binh làm khó ta." Bèn sai kiêu tướng dẫn thổ binh soát núi, quả nhiên bắt được quân phục, chém đi rồi chiếm đồn, giặc trốn xa. Vương đuổi theo khắp nơi, giặc lúc tụ lúc tán, cuối cùng không nắm được manh mối. Lúc bấy giờ phía Đông cửa quan giặc cướp nổi lên như ong, vùng vẹn toàn chỉ còn mỗi thành Giao Châu. Đại để là vì châu huyện quân vệ mới đặt quá nhiều, người Giao đã rời xa giáo hóa lâu ngày, ưa phóng túng, không chịu nổi sự nhiễu loạn của quan lại binh lính. Thường tưởng nhớ tục cũ, hễ nghe giặc nổi lên là rủ nhau hưởng ứng. Giặc đến đâu cũng được cung cấp, che giấu, nên giặc tan rồi lại tụ. Triều đình nhiều lần xuống chiếu chiêu phủ, phong Quý Khoách làm Bố chính sứ. Khoách muốn nhận mệnh nhưng bị đồng đảng khống chế, hàng rồi lại phản, giả xưng là con cháu họ Trần để lấy cớ khôi phục. Đại quân đến thì chúng trốn sâu vào núi rừng biển cả, quân rút thì chúng lại ra, vì thế quan quân không thành công. Khi Vương cầm quân, bắt đầu thi hành thưởng phạt nghiêm minh, chư tướng vốn mệt mỏi vì chạy vạy nên thường hay chần chừ lơ là. Đô đốc Hoàng Trung (黃中) không tuân mệnh, Vương dùng quân pháp xử lý. Từ đó ai nấy đều biết sợ, không dám từ nan tránh hiểm. Lúc đó giặc dựa vào sự hiểm yếu của biển Hoa Sen (Hà Hoa - 荷花海), cho là quân ta không qua được, bèn lập đồn ở cửa biển Nhật Lệ (日麗海口) để giữ. Vương dẫn thủy quân từ đại dương Kỳ La (奇羅海) vượt qua cửa biển Hoa Sen, tiến thẳng đến Nhật Lệ. Giặc đốt đồn chạy trốn đến sông Trà Kế (茶偈江), Vương tiến binh đánh phá. Giặc kinh hãi nói: "Thiên binh bay đến!" rồi đại bại, mất thành Hóa Khẩu. Thám tử cho biết giặc dốc hết quân giữ sông Ái Tử (愛子江), Vương đuổi đến tận nơi, giặc dàn hàng chục voi lớn làm tiên phong, ngựa người dàn sau, dốc sức chống cự. Vương bảo tướng hiệu: "Bắt giặc chính là trận này, cơ hội không được để mất." Bèn quất ngựa tiến lên trước, voi phục đột nhiên xông ra. Vương bắn 1 mũi tên làm rơi quản tượng, mũi thứ 2 trúng mũi voi. Voi rống lên chạy ngược về, giày xéo quân mình, quân Minh thừa thế đánh tới, xác giặc lấp đầy khe núi, giặc chạy trốn sang vùng Xiêm Man. Vương chia tướng lãnh đi soát bắt khắp nơi, đến các trại Bồ Cán (蒲幹) vùng Xiêm Man, đường núi gập ghềnh, rừng rậm u ám, ngựa không tiến được. Vương bèn xuống ngựa đi bộ, vượt hiểm đi gấp, sĩ卒 (sĩ tốt) không theo kịp, chỉ có hơn 100 tướng hiệu theo sát. Gặp giặc, giết vài nghìn người, thủ lĩnh Trần Quý Khoách cùng vợ con thảy đều bị bắt. Lúc đó là mùa đông năm thứ 11 (năm 1413). * ''(Ghi chú: "Bình định Giao Nam lục" chép việc này vào năm thứ 11, "Minh ngoại sử" chép năm thứ 12. Nay chép cả hai để lưu lại).'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 (năm 1415), Phụ, Thạnh bình định xong An Nam, rút quân về. Năm ấy, lại mệnh Phụ đeo ấn Tướng quân ra trấn thủ.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 13 (năm 1415), bọn Phụ, Thạnh rút quân về kinh, tháng 4 lại mệnh Phụ đeo ấn Chinh Di tướng quân ra trấn thủ. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục":'' Năm Vĩnh Lạc thứ 12 (năm 1414), ban sư về kinh. Từ khi Vương xuất sư đến lúc này, đầu đuôi hơn 3 năm mới bắt được kẻ cầm đầu. Người đời cho rằng công lao trận này của Vương khó hơn trận bình định trước. Tháng 4 năm thứ 13 (năm 1415), triều đình mệnh đeo ấn Chinh Man tướng quân làm Tổng binh sang trấn thủ Giao Chỉ. Lại có công bình định Trần Nguyệt (平陳月). Năm thứ 15 (năm 1417), vua cho rằng Vương lao khổ lâu ngày ở ngoài, chiếu cho về kinh sư. Vương mất vào năm Kỷ Tỵ (1449) đời Chính Thống khi đang làm việc quân, đến nay đã 37 năm. Con thừa tự là Thái tử Thái phó, Anh quốc công thụ phong là Mậu (懋) đưa bản ghi chép của người canh cổng tên là Phúc Trụ ghi lại các bản tấu của Vương lúc bình định An Nam cho tôi xem, nhờ tôi sắp xếp lại. Tôi bèn tham khảo bản "Lộ bố bảng văn" chép trong "Giao Chỉ quận chí", cùng bài "Bình An Nam bi" của Hồ Văn Mục công phụng sắc soạn, bài thần đạo bi cho Đông Bình Võ Liệt vương và Định Viễn Trung Kính vương của Dương Văn Trinh công, cùng những điều nghe thấy để soạn ra tập này. Mùa đông năm Vĩnh Lạc thứ 14 (năm 1416), triệu Phụ về kinh. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 (năm 1417), mệnh Phong Thành hầu Lý Bân (李彬) trấn thủ An Nam. Lúc bấy giờ quân phản loạn đồng loạt nổi dậy, chinh chiến đông tây không lúc nào ngơi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 15 (năm 1417), mệnh Phong Thành hầu Lý Bân sang thay trấn thủ. Người Giao vốn thích loạn, Trung quan Mã Kỳ (馬麒) đến thu mua, vét sạch trân bảo trong vùng, lòng dân xao động, những kẻ kiệt hiệt kích động dân chúng. Đại quân vừa về, dân liền đồng loạt nổi dậy làm loạn. Lục Na (陸那), Nguyễn Trinh (阮貞), Lê Hạch (黎核) ở Thuận Châu, Phan Cường (潘強) cùng Thổ quan Đồng tri Trần Khả Luận (陳可論), Phán quan Nguyễn Chiêu (阮昭), Thiên hộ Trần Hung (陳恟), Phán quan phủ Nam Linh Nguyễn Nghĩ (阮擬), Tri huyện Tả Bình Phạm Bá Cao (范伯高), Huyện thừa Vũ Vạn (武萬), Bách hộ Trần Kỷ Luật (陳己律)... nhất thời đều phản. Bân đều sai tướng thảo diệt, nhưng kẻ phản loạn vẫn không dứt. Ngay sau đó, Tuần kiểm Lạc Hạnh là Lê Lợi (黎利) ở Tứ Mang (四忙), con trai của cố Tri huyện Xa Miên là Tam (三), Tri phủ Nghệ An Phan Liêu (潘僚), Thiên hộ Nam Linh Trần Thuận Khánh (陳順慶), Bách hộ vệ Nghệ An Trần Trực Thành (陳直誠) cũng thừa cơ tác loạn. Những kẻ gian quỹ khác như Phạm Nhuyễn (范軟) nổi dậy ở Phù Lạc, Võ Cống (武貢); Hoàng Nhữ Điển (黃汝典) ở sông Kế Giang (偈江); Nùng Văn Lịch (儂文歷) ở Khâu Ôn (Khâu Ôn - 丘溫); Trần Thủy Quả (陳水果) ở Vũ Định (武定); Nguyễn Đặc (阮特) ở Khoái Châu (快州); Ngô Cự Lai (吳巨來) ở Thiện Thệ (善誓); Trịnh Công Chứng (鄭公證), Lê Tiết (黎姪) ở Đồng Lợi (同利); Đào Cường (陶強) ở Thiện Tài (善才); Đinh Tông Lão (丁宗老) ở Đại Loan (大灣); Phạm Ngọc (范玉) ở An Lão (安老), thảy đều tự phong quan tước, giết tướng lại, đốt nhà cửa. Có Dương Cung (楊恭), Nguyễn Đa (阮多) đều tự xưng vương, phong đồng đảng là Vi Ngũ (韋五), Đàm Hưng Bang (譚興邦), Nguyễn Gia (阮嘉) làm Thái sư, Bình chương, nương tựa lẫn nhau. Trong đó Phan Liêu và Phạm Ngọc là ngang ngược nhất. Liêu là con của cố Tri phủ Nghệ An Quý Hựu, nối chức cha, không chịu nổi sự ngược đãi của Mã Kỳ bèn phản. Thổ quan Chỉ huy Lộ Văn Luật (路文律), Thiên hộ Trần Đài (陳苔)... đi theo hắn. Ngọc là nhà sư chùa Đồ Sơn (塗山寺), tự xưng "trời ban ấn kiếm", bèn tiếm hiệu La Bình vương (羅平王), niên hiệu Vĩnh Ninh (永寧), cùng Phạm Thiện (范善), Ngô Trung (吳中), Lê Hành (黎行), Đào Thừa (陶承)... làm loạn, phong làm Tướng quốc, Tư không, Đại tướng quân, đánh chiếm thành ấp. Bân đi chinh phạt đông tây, không lúc nào ngơi tay. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 (năm 1420), sắc lệnh Phong Thành hầu Lý Bân mau chóng tiễu trừ phản khấu An Nam.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Triều đình thấy giặc lâu ngày chưa dẹp xong, tháng 3 năm Vĩnh Lạc thứ 18 (năm 1420), mệnh Vinh Xương bá Trần Trí (陳智) làm Tả tham tướng sang hỗ trợ. Lại giáng sắc trách Bân rằng: "Phản khấu Phan Liêu, Lê Lợi, Xa Tam, Nùng Văn Lịch... đến nay chưa bắt được, binh đao bao giờ mới dứt? Dân bao giờ mới yên? Phải rộng định phương lược, mau chóng báo tin bình định." Bân sợ hãi, đốc thúc chư tướng truy tiễu. '''Mùa thu năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 (năm 1421), bọn giặc thảy đều bị phá diệt, chỉ có Lê Lợi (黎利) là không bắt được. Phan Liêu (潘僚) trốn sang Lão Qua (老撾), hợp quân với Lợi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 20 (năm 1422), chiếu mệnh Vinh Xương bá Trần Trí (陳智) trấn thủ An Nam; vì không thể tiêu diệt được Lê Lợi (黎利), vua xuống sắc trách cứ.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 20 (năm 1422), (Lý) Bân (李彬) mất tại chức, chiếu mệnh (Trần) Trí thay trấn thủ. (Lê) Lợi ban đầu phục vụ Trần Quý Khoách (陳季擴), làm Kim ngô tướng quân, sau quy thuận, được dùng làm Tuần kiểm huyện Nga Lạc (俄樂縣) thuộc phủ Thanh Hóa (清化府), lòng luôn u uất không đắc chí. Đến khi đại quân rút về, bèn làm phản, tiếm xưng là Bình Định Vương (平定王), lấy em là Thạch (石) làm Tướng quốc, cùng đồng đảng là Đoàn Mãng (段莽), Phạm Liễu (范柳), Phạm Án (范晏)... đem quân cướp phá. Quan quân thảo phạt, bắt sống được bọn Án, Lợi trốn đi. Được một thời gian, Lợi ra chiếm cứ đồn Khả Lam (可藍堡) hành tống. Các tướng Phương Chính (方政), Sư Hữu (師祐) tiễu phạt bắt được Ngụy tướng quân Nguyễn Cá Lập (阮箇立) của hắn, Lợi trốn sang ẩn náu ở Lão Qua (老撾 - Lào). Đến khi bọn Chính rút về, Lợi lại xuất hiện, giết chết Tuần kiểm Ngọc Cục. Các tướng khác đuổi theo, Lợi lại trốn đi. Mùa hè năm thứ 17 (năm 1419), trời nắng nóng chướng khí thịnh, (quân Minh) bàn đợi mùa thu mát mẻ sẽ tiến binh, Lợi nhờ đó mà lập kế. Mùa thu năm ấy, Lợi ra đánh phá Lỗi Giang (磊江), bị đánh bại liền lẩn trốn; khi bọn Lão Qua và quần đạo thảy đều bị diệt, Lợi càng ẩn náu sâu hơn. (Lý) Bân tấu rằng: "Lợi lẩn trốn ở Lão Qua, Lão Qua sắp phát binh tập kích. Họ xin quan quân đừng vào, họ sẽ tự phát hết binh bộ hạ để bắt Lợi. Nay đã lâu mà không thấy giao nộp, tình hình khó lường." Thiên tử nghi ngờ Lão Qua bao che giặc, lệnh cho Bân đưa sứ thần của họ về kinh sư để tra hỏi. Lão Qua bèn xua đuổi Lợi. Vừa lúc (Trần) Trí thay Bân, Thiên tử cho rằng Trí không thể diệt được giặc, bèn giáng sắc trách cứ. '''Tháng 1 năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 (năm 1423), Trí đuổi theo Lợi tại huyện Xa Lai (車來縣) thuộc Ninh Hóa Châu (寧化州), đánh bại được, Lợi lại chạy trốn ra xa.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 22 (năm 1424), đầu mục của Lê Lợi là Phạm Ngưỡng (范仰) cùng những người khác đến hàng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa thu năm Vĩnh Lạc thứ 22 (năm 1424), Trí tấu rằng: "Lợi ban đầu trốn sang Lão Qua, sau bị xua đuổi phải về huyện Quy Hồn (歸魂縣). Quan quân tiến đánh, đầu mục của hắn là Phạm Ngưỡng (范仰) cùng những người khác đã dẫn theo 1.600 nam phụ đến hàng. Lợi tuy xin cầu hòa, nguyện đem bộ hạ về quy thuận nhưng chỉ dừng ở Nga Lạc (俄樂) không ra, việc chế tạo quân khí vẫn chưa dừng, nhất định phải tiến binh." ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9gtnpkp5?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] ksqgui0s0yrausja97sqq0v5501mj1p 204610 204609 2026-04-08T10:57:37Z Mrfly911 2215 204610 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第093卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 93''' | trước= [[../quyển 092|quyển 92]] | sau= [[../quyển 094|quyển 94]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 4== ===Minh (phần 1)=== '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 1 (năm 1368) đời Minh Thái Tổ (明太祖), An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê (陳日煃 - tức vua Trần Dụ Tông) sai sứ sang triều cống.''' * ''Xét theo "Minh Thông kỷ" (明通紀) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh Hội điển" (明會典):'' Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), ban cho Quốc vương lịch "Đại Thống" (大統曆) cùng lụa màu và các vật phẩm. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考):'' Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368) khi lên ngôi, (Thái Tổ) xuống chiếu dụ khắp trong ngoài bốn biển, Nhật Khuê lấy làm lo sợ. Lại nghe tin Chinh Nam tướng quân Liêu Vĩnh Trung (廖永忠), Phó tướng quân Chu Lượng Tổ (朱亮祖) dẫn quân vượt núi Lĩnh, thu hàng Hà Chân (何真), định yên Quảng Đông và Quảng Tây. Nhật Khuê muốn tuân phục nhưng vì Lương vương (nhà Nguyên) vẫn còn ở Vân Nam (雲南) nên còn giữ thái độ lưỡng lự. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' An Nam vốn là đất Giao Chỉ (交趾) cổ, trước thời Đường đều thuộc Trung Hoa. Thời Ngũ đại, bắt đầu bị người bản địa là Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chiếm giữ. Đầu thời Tống, mới phong Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) làm Giao Chỉ quận vương, truyền được 3 đời thì bị đại thần Lê Hoàn (黎桓) cướp ngôi. Họ Lê cũng truyền được 3 đời thì bị đại thần Lý Công Uẩn (李公蘊) cướp ngôi. Họ Lý truyền 8 đời không có con trai, truyền cho con rể là Trần Nhật Cảnh (陳日炬 - tức Trần Thái Tông), thời Nguyên từng nhiều lần phá nước ấy. Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), vương là Nhật Khuê nghe tin Liêu Vĩnh Trung định yên lưỡng Quảng, định sai sứ nộp khoản, nhưng vì Lương vương ở Vân Nam nên chưa thành. Tháng 12, Thái Tổ mệnh cho Tri phủ Hán Dương (漢陽) là Dịch Tế (易濟) mang chiếu sang dụ. Nhật Khuê liền sai Thiếu trung đại phu Đồng Thời Mẫn (同時敏), Chính đại phu Đoạn Thế Đệ (段悌), Lê An Thế (黎安世) dâng biểu sang triều, cống phương vật. Tháng 6 năm sau đến Kinh sư. * ''(Ghi chú: Theo Thông khảo và Minh sử, năm này mới bắt đầu sai sứ sang cống nhưng chưa tới nơi; Hội điển chép ban lịch và lụa màu vào năm này, nghi là nên đưa vào năm thứ 2 thì đúng hơn).'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 2 (năm 1369), phong Trần Nhật Khuê làm An Nam quốc vương. Sứ giả chưa đến nơi thì Nhật Khuê mất. Cháu là Nhật Kiên (日熞 - tức vua Dương Nhật Lễ) nối ngôi, sai sứ sang xin mệnh. Lúc bấy giờ An Nam và Chiêm Thành (占城) đang đánh nhau, (nhà Minh) sai sứ sang dụ, cả hai đều vâng mệnh.''' * ''Xét theo "Minh Nhất thống chí" (明一統志):'' Đất Nam Giao cổ, thời Tần thuộc Tượng Quận (象郡). Đầu thời Hán thuộc về Nam Việt, Vũ Đế bình Nam Việt, đặt 3 quận Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), kiêm đặt Giao Chỉ Thứ sử, trị sở tại Luy Lâu (羸). Đông Hán, quận thuộc Giao Châu (交州). Nhà Ngô đặt thêm 3 quận Cửu Đức (九德), Vũ Bình (武平), Tân Xương (新昌). Nhà Tống lại đặt thêm quận Tống Bình (宋平), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編). Nhà Lương, nhà Trần đặt Đô đốc phủ tại Giao Châu. Đầu thời Tùy, bãi bỏ quận, đổi Đô đốc phủ thành Tổng quản phủ. Đầu thời Đường, vẫn gọi là Giao Châu. Đầu năm Điều Lộ, đổi làm An Nam đô hộ phủ. Đầu năm Chí Đức, đổi làm Trấn Nam đô hộ phủ. Khoảng năm Đại Lịch, gọi lại là An Nam. Thời Lương của Ngũ Đại, hào trưởng bản địa Khúc Thừa Mỹ chiếm giữ đất này, sau bị Lưu Ẩn thôn tính. Sau Dương Diên Nghệ (楊延藝), (Kiều) Thiệu Hồng (紹洪) kế tiếp nhau làm Giao Chỉ Tiết độ sứ, rồi trong vùng đại loạn, suy tôn Đinh Bộ (丁部) làm Châu soái, con là (Đinh) Liễn kế vị. Nhà Tống bình định Lĩnh Biểu, Liễn nội phụ, phong Giao Chỉ quận vương. Em là Toàn (璿) nối ngôi, bị tướng là Lê Hoàn cướp ngôi. Sau đó Lý Công Uẩn cướp ngôi họ Lê, Trần Nhật Cảnh cướp ngôi họ Lý, nhưng thảy đều xưng thần với Trung Hoa, phong Giao Chỉ quận vương. Thời Nguyên Hiến Tông, sai tướng phá nước ấy, Nhật Cảnh chạy ra hải đảo. Sau quy phụ, phong con là Quang Bính (光昺 - tức Trần Thánh Tông) làm An Nam quốc vương. Quang Bính chết, con là Nhật Huyên (日烜) tự lập, Thế Tổ lại phát binh đánh phá. Nhật Huyên chết, con là Nhật Tuân (日燇) sai sứ nhập cống. Đầu thời Hồng Vũ của bản triều, Trần Nhật Khuê tiên phong quy phụ, vẫn ban cho ấn An Nam quốc vương. An Nam phía Đông đến biển 320 dặm, phía Tây đến ranh giới Lão Qua (老撾 - Lào) Tuyên úy ty thuộc Vân Nam 560 dặm, phía Nam đến biên giới Chiêm Thành 1.900 dặm, phía Bắc đến ranh giới huyện Bằng Tường thuộc phủ Tư Minh Quảng Tây 400 dặm. Từ nước ấy đến Nam Kinh 7.720 dặm, đến Kinh sư 11.165 dặm. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo":'' Năm thứ 2 (năm 1369), bắt đầu sai Thiếu trung đại phu Đồng Thời Mẫn, Chính đại phu Đoạn Thế Đệ, Lê An Thế sang triều cống xin phong. (Nhà Minh) sai Thị độc học sĩ Trương Dĩ Ninh (張以寧), Điển bạ Ngưu Lượng (牛諒) sang phong Nhật Khuê làm An Nam quốc vương, ban ấn bạc mạ vàng núm hình lạc đà. Bọn Dĩ Ninh đến biên giới An Nam thì Nhật Khuê đã mất, em là Nhật (日 - tức Trần Nghệ Tông) nối ngôi, sai Nguyễn Nhữ Lượng (阮汝亮) ra đón xin cáo ấn, Dĩ Ninh không nghe. Nhật sai Đỗ Thuấn Khâm (杜舜欽) sang triều đình xin mệnh. Dĩ Ninh đóng tại An Nam đợi mệnh, sau đó có chiếu phong Nhật làm Vương. Năm ấy, sai Hàn lâm Biên tu La Phục Nhân (羅復仁), Binh bộ Chủ sự Trương Phúc (張福) mang chiếu dụ vua An Nam và Chiêm Thành, thảy đều bãi binh cho dân nghỉ ngơi, cả hai nước đều nghe mệnh. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 12 năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), Nhật Khuê sai sứ dâng biểu triều cống phương vật. Tháng 6 năm sau đến Kinh sư. Vua mừng, ban yến, mệnh Thị độc học sĩ Trương Dĩ Ninh, Điển bạ Ngưu Lượng sang phong làm An Nam quốc vương, ban ấn bạc mạ vàng núm hình lạc đà. Chiếu viết: "Hỡi ngươi An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê, duy ông cha ngươi giữ cõi phương Nam, xưng phiên với Trung Hoa, cung kính chức trách thần tử để giữ mãi phong ấp đời đời. Trẫm nhờ linh khí trời đất, quét sạch Hoa Hạ, đưa thư báo tin, khanh liền dâng biểu xưng thần, sai sứ tới chúc mừng. Thật đúng phép tiền nhân, yên dân viễn xứ. Lòng cần thành ấy đáng được ngợi khen. Nay sai sứ mang ấn, phong ngươi làm An Nam quốc vương...". Ban cho Nhật Khuê lịch "Đại Thống", 40 xấp gấm thêu vàng, lụa, sa, la; bọn Đồng Thời Mẫn trở xuống thảy đều có thưởng. Bọn Dĩ Ninh đến nơi thì Nhật Khuê đã mất trước đó, cháu là Nhật Kiên (日熞 - tức Dương Nhật Lễ) nối ngôi, sai thần hạ là Nguyễn Nhữ Lượng đến đón xin cáo ấn; Dĩ Ninh không cho. Nhật Kiên lại sai Đỗ Thuấn Khâm sang xin mệnh tại triều đình, Dĩ Ninh đóng lại An Nam đợi mệnh. Lúc đó An Nam và Chiêm Thành đang đánh nhau, vua mệnh La Phục Nhân, Trương Phúc dụ lệnh bãi binh, hai nước đều phụng chiếu. '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370), An Nam cáo tang xin mệnh, (nhà Minh) sai sứ sang điếu tế. Phong Nhật Kiên làm An Nam quốc vương. Nhật Kiên lại sai sứ sang tạ ơn, cống phương vật.''' * ''Xét theo "Minh Thông kỷ":'' Năm Hồng Vũ thứ 3 (năm 1370), sứ thần An Nam là Đỗ Thuấn Khâm vì chủ mình là Trần Nhật Khuê mất, sang cáo tang xin mệnh. Vua triệu kiến, tự soạn văn tế, mệnh Hàn lâm Biên tu Vương Liêm (王廉) sang tế, đặt linh vị Nhật Khuê riêng tại điện, Liêm đứng hướng Nam tuyên đọc, vua tôi nước ấy quỳ lạy lắng nghe, xong lễ thì về. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo":'' Năm thứ 3 (năm 1370) Nhật (日 - tức Nghệ Tông) mất, phong cho con là Nhật Kiên (日熞) nối ngôi Vương. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 4 năm thứ 3 (năm 1370), bọn Thuấn Khâm đến cáo tang, vua mặc tố phục ngự tại cửa Tây Hoa triệu kiến, sai Biên tu Vương Liêm sang tế, tặng 50 lượng bạc trắng, 50 xấp lụa. Lại sai Lại bộ Chủ sự Lâm Đường Thần (林唐臣) phong Nhật Kiên làm Vương, ban ấn vàng cùng 40 xấp gấm thêu lụa sa. Liêm đi rồi, vua thấy Mã Viện thời Hán lập cột đồng trấn giữ Nam Man công lao rất lớn, mệnh Liêm đến tế. Sau đó ban chiếu khoa cử cho nước ấy, lại vì việc định lại thần hiệu núi sông và quét sạch sa mạc mà 2 lần sai quan sang thông báo. Nhật Kiên sai Thượng đại phu Nguyễn Kiêm (阮兼), Trung đại phu Mạc Kế Long (莫季龍), Hạ đại phu Lê Nguyên Phổ (黎元普) sang tạ ơn và cống phương vật. Kiêm chết dọc đường, vua ban thưởng cho Vương và sứ thần, lại đưa linh cữu Kiêm về nước. Không lâu sau, bọn Phục Nhân về, nói là từ chối không nhận quà tiễn của nước ấy. Vua khen ngợi, ban thưởng thêm cho bọn Kế Long. * ''Xét theo "Danh sơn tàng – Vương hưởng ký":'' An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê nhập cống cầu phong, sai học sĩ Trương Dĩ Ninh mang chiếu phong làm An Nam vương. Đi đến biên giới thì Nhật Khuê đã mất, con của anh là Nhật Kiên nối ngôi, muốn đòi ấn vương ngay, Dĩ Ninh ôm lấy hòm ấn không cho, bắt phải xin tại triều rồi đứng đợi ở biên giới. Sau khi tấu lên, vua mệnh Dĩ Ninh trao ấn cho Nhật Kiên, lại sai sứ khác điếu tế Nhật Khuê. Dĩ Ninh lúc đó mới vào, Nhật Kiên ra ngoại ô đón. Vì Nhật Khuê chưa có linh vị, nên đặt vị hướng Bắc, sứ giả hướng Nam trao chiếu, Nhật Kiên phủ phục tạ ơn. Ngày hôm sau, quỳ dài dập đầu nhận ấn. Người Giao vốn xưa nay chỉ vái chào làm lễ, đến nay mới quỳ dài dập đầu. Dĩ Ninh về báo cáo, vua hài lòng nói: "Ấy mới là sứ giả của ta". Nhật Kiên ở nước mình say mê sắc tửu, từng dâng 2 con gái, dung mạo uyển chuyển diễm lệ, may vá khéo léo, lục cung không ai bì kịp. Cao Đế nhận lấy. Được vài năm, lại dâng thêm 2 con gái, Cao Đế không vui nói: "Hắn bảo Trẫm là kẻ ham mê sắc dục sao?" Bèn đem trả cả 2 người trước cùng 2 người sau về, bảo sứ giả rằng: "Về bảo Vương, gả họ cho người khác như con gái mình vậy." * ''(Ghi chú: Theo Thông khảo, năm thứ 2 Nhật Khuê mất em là Nhật nối ngôi; năm thứ 3 Nhật mất con là Nhật Kiên nối ngôi. "Danh sơn tàng" chép Nhật Khuê mất con của anh là Nhật Kiên nối ngôi. "Minh ngoại sử" chép Nhật Khuê mất cháu là Nhật Kiên nối ngôi. Thảy đều chép lại để tham khảo).'' '''Mùa xuân năm Hồng Vũ (洪武) thứ 4 (năm 1371), (An Nam) sai sứ dâng voi, chúc mừng việc bình định sa mạc. Lại sai sứ đi theo bọn Trương Dĩ Ninh (張以寧), Lâm Đường Thần (林唐臣), Vương Liêm (王廉) sang triều kiến. Mùa đông năm ấy, Nhật Kiên (日熞 - tức Dương Nhật Lễ) bị bác là Thúc Minh (叔明 - tức Trần Nghệ Tông) bức tử.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Danh sơn tàng – Vương hưởng ký" (名山藏·王享記):'' "Nhật Kiên cuối cùng vì hoang hôn không lo chính sự, bị chú là Thúc Minh bức tử, Thúc Minh tự lập làm vua." * ''(Ghi chú: Bác và chú chép khác nhau, chưa biết bên nào đúng).'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 (năm 1372), Trần Thúc Minh (陳叔明) sai người sang triều cống, nhưng bị khước từ không nhận.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Mùa đông năm thứ 4 (năm 1371), Nhật Kiên bị Thúc Minh bức tử. Thúc Minh sợ tội, cống voi và phương vật, sang năm sau mới đến Kinh sư. Lễ quan thấy tên ký trên biểu không phải tên Nhật Kiên, gặng hỏi biết được sự thực, có chiếu khước từ." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 (năm 1373), An Nam lại sai người sang nộp cống tạ tội và xin phong.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Thúc Minh lại triều cống, tạ tội xin phong. Sứ giả nói thác rằng Nhật Kiên thực sự bệnh chết, Thúc Minh vốn nhường nhịn lánh ra ngoài nhưng được người trong nước suy tôn. Vua lệnh cho người trong nước để tang Nhật Kiên, còn Thúc Minh tạm dùng ấn của tiên vương để quản lý công việc." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 (năm 1374), xuống chiếu định kỳ hạn triều cống.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng 3 năm thứ 7 (năm 1374), Thúc Minh sai sứ tạ ơn, tự xưng tuổi đã già, xin mệnh cho em là Thuyên (煓 - tức vua Trần Duệ Tông) nhiếp chính, vua nghe theo. Thuyên sai sứ tạ ơn, nhân đó xin định kỳ hạn cống. Chiếu định 3 năm 1 lần cống. Tân vương thế kiến (vừa mới nối ngôi) nên lại sai sứ sang cống. Vua lệnh cho hữu ty dụ khước đi, lại định rõ sứ giả không quá 3 đến 4 người, cống vật không cần hậu." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 (năm 1377), Thuyên (煓) đánh Chiêm Thành (占城) rồi bại trận tử vong. Em là Vi (煒 - tức vua Trần Phế Đế) nối ngôi. Thiên tử cho rằng An Nam cậy thế cường hãn, nhiều lần xâm phạm Chiêm Thành, bèn ban sắc dụ Thúc Minh.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng Giêng năm thứ 10 (năm 1377), Thuyên đánh Chiêm Thành bại trận tử vong, em là Vi thay ngôi, sai sứ báo tang, mệnh cho Trung quan Trần Năng (陳能) sang tế. Lúc đó An Nam cậy mạnh, muốn diệt Chiêm Thành, ngược lại dẫn đến bại vong. Vua sai quan dụ cựu vương Thúc Minh chớ gây hấn để lại họa sau, vì Thúc Minh thực tế vẫn chủ trì việc nước. Thúc Minh cống phương vật tạ tội, bèn được ban yến thưởng theo chế độ. Thổ quan Tư Minh (思明) thuộc Quảng Tây tố cáo An Nam phạm cảnh, An Nam cũng tố Tư Minh nhiễu biên. Vua ghét họ dùng lời xảo trá, khi sứ cống đến bèn khước từ, gửi hịch kể tội gian cuống, sắc cho thủ thần không được đón tiếp sứ giả. Vi sợ hãi, sai sứ tạ ơn. Liên tiếp nhiều năm cống thái giám (hoạn quan), vàng bạc, mâm tử kim, bình rượu vàng, voi ngựa các loại. Vua mệnh Trợ giáo Dương Bàn (楊盤) sang sứ, lệnh cho tiếp tế quân lương Vân Nam, Vi liền nộp 5.000 thạch lương tại Lâm An (臨安)." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 (năm 1387), Vi (煒) sai sứ sang cống mừng thọ vua.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 (năm 1388), xuống chiếu An Nam vẫn giữ lệ 3 năm 1 lần cống. Năm ấy Quốc tướng Lê Quý Ly (黎季犛) phế Nhật Vi (日煒) rồi giết đi, lập con của Thúc Minh là Nhật Hỗn (日焜 - tức vua Trần Thuận Tông), vẫn mượn danh Vi để nhập cống.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Năm thứ 21 (năm 1388), vua lại mệnh Lễ bộ Lang trung Hình Văn Vĩ (邢文偉) mang sắc và tệ vật sang ban thưởng. Vi sai sứ tạ ơn, lại dâng voi. Vua cho rằng việc cống quá phiền hà, vật cống xa xỉ, mệnh giữ lệ 3 năm 1 lần cống, không cần dâng tê giác và voi. Đúng lúc đó, Quốc tướng Lê Quý Ly tiếm quyền, ôm mưu bất chính, tháng 12 phế chủ là Vi, rồi giết đi, lập con của Thúc Minh là Nhật Hỗn chủ trì việc nước, vẫn mượn danh Vi để vào cống. Triều đình không biết nên vẫn nhận. Qua vài năm sau mới nhận ra, mệnh cho thủ thần Quảng Tây tuyệt giao với sứ giả. Quý Ly sợ hãi." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 22 (năm 1389), Trần Nhật Hỗn (陳日焜) mượn danh "Vi" sai người sang cống.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' '''Tháng 5 năm Hồng Vũ (洪武) thứ 27 (năm 1394), An Nam sai sứ từ đường Quảng Đông vào cống. Vua giận, sai quan chất vấn trách cứ, khước từ vật cống. Quý Ly càng sợ hãi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 (năm 1395), An Nam lại vào cống, (nhà Minh) nhận lấy. Sai sứ dụ lệnh nộp gạo tiếp tế cho quân ở Long Châu (龍州).''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Năm thứ 28 (năm 1395) lại dùng lời quỷ quyệt vào cống. Vua tuy ghét tội giết vua cướp ngôi, nhưng không muốn nhọc quân viễn chinh, nên vẫn nhận. Đại quân đang phạt Long Châu, Triệu Tông Thọ (趙宗壽) mệnh cho Lễ bộ Thượng thư Nhậm Hanh Thái (任亨泰), Ngự sử Nghiêm Chấn Trực (嚴震直) dụ Nhật Hỗn chớ tự nghi ngờ. Quý Ly nghe tin ra quân thì rất sợ, nghe lời bọn Hanh Thái mới hơi yên tâm. Vua lại sai Hình bộ Thượng thư Dương Tĩnh (楊靖) dụ lệnh nộp 80.000 thạch gạo để nuôi quân Long Châu. Quý Ly nộp 10.000 thạch, dâng biếu 1.000 lượng vàng, 20.000 lượng bạc. Lại nói đường bộ Long Châu hiểm trở, xin vận chuyển đến động Bằng Tường (憑祥). Dương Tĩnh không chịu, lệnh nộp 20.000 thạch tại sông Đà Hải (沲海江). Sông này cách Long Châu chỉ nửa ngày đường. Dương Tĩnh nhân đó nói: 'Nhật Hỗn tuổi nhỏ, quốc sự đều do cha con Quý Ly quyết định. Họ nghe tin Tông Thọ đã được tha tội nên mới quan vọng như thế'. Lúc đó vua vì Tông Thọ đã hàng, dời binh chinh phạt các man ở Hướng Võ (向武), bèn dụ Dương Tĩnh lệnh nộp 20.000 thạch cấp cho quân, còn vàng bạc họ biếu thì miễn cho không nhận." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 29 (năm 1396), sai Hành nhân Trần Thành (陳誠), Lã Nhượng (呂讓) dụ lệnh trả lại 5 huyện thuộc Tư Minh (思明), (An Nam) không nghe theo.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng 2 năm thứ 29 (năm 1396), Quý Ly báo tang cựu vương Thúc Minh. Vua cho rằng Thúc Minh vốn là kẻ cướp ngôi giết chúa, nếu điếu tế là khuyến khích loạn tặc nên không thực hiện, chỉ gửi hịch báo cho biết. Thổ quan Tư Minh là Hoàng Quảng Thành (黃廣成) tâu rằng: 'Từ khi Nguyên đặt Tổng quản phủ Tư Minh, cai quản các châu huyện tả giang, phía Đông lấy Thượng Tư Châu (上思州), phía Nam lấy Đồng Trụ (銅柱) làm giới hạn. Khi Nguyên chinh Giao Chỉ, cách Đồng Trụ 100 dặm lập vạn hộ phủ Vĩnh Bình (永平), phái binh đóng giữ, lệnh cho người Giao tiếp tế quân nhu. Cuối thời Nguyên loạn lạc, người Giao đánh phá Vĩnh Bình, vượt qua Đồng Trụ hơn 200 dặm, xâm chiếm 5 huyện thuộc Tư Minh là Khâu Ôn (丘溫), Như Ngao (如嶅), Khánh Viễn (慶遠), Uyên Thoát (淵脫)... bức dân phụ thuộc theo. Gần đây lại báo Nhậm Thượng thư đặt trạm dịch tại đất Đăng địa thuộc động Tư Minh. Thần từng tâu lên, được phái Dương Thượng thư khám thực, xin sắc lệnh cho An Nam trả lại 5 huyện cho thần, vẫn vạch biên giới tại Đồng Trụ'. Vua mệnh Hành nhân Trần Thành, Lã Nhượng sang dụ, Quý Ly cố chấp không theo. Thành tự viết thư dụ Nhật Hỗn, Quý Ly gửi thư tranh biện, lại mượn danh Nhật Hỗn gửi thư cho Hộ bộ. Bọn Thành về báo mệnh, vua biết họ cuối cùng không chịu hoàn trả, bèn nói: 'Man di tranh nhau từ cổ đã có. Họ cậy sự bướng bỉnh tất chuốc họa, cứ tạm chờ đó thôi'." '''Năm Kiến Văn (建文) thứ 1 (năm 1399) đời Huệ Tông (惠宗), Lê Quý Ly (黎季犛) nước An Nam giết vua của mình mà tự lập, đổi tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元), sau lại truyền ngôi cho con là Đê (夷).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' "Năm Kiến Văn thứ 1 (năm 1399), Quý Ly giết Nhật Hỗn (日焜 - Trần Thuận Tông), lập con là Ngung (顒 - Trần Thiếu Đế). Chẳng bao lâu lại giết Ngung, lập em của Ngung." Khi đó người em còn đang trong tã lót, Quý Ly lại giết đi, giết sạch tông tộc họ Trần rồi tự lập, đổi họ tên thành Hồ Nhất Nguyên (胡一元), đặt tên con là Hán (蒼 - tức Hồ Hán Thương) là "Hồ Đê" (胡夷), tự nhận là dòng dõi Hồ Công - hậu duệ Đế Thuấn, sau đó tiếm hiệu quốc hiệu Đại Ngu (大虞), niên hiệu Nguyên Thánh (元聖). Chẳng bao lâu tự xưng Thái thượng hoàng, truyền ngôi cho Đê, triều đình (nhà Minh) không hề hay biết. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403) đời Thành Tổ (成祖), phong Hồ Đê làm An Nam quốc vương. Lúc đó Lão Qua (老撾 - Lào) đưa hậu duệ nhà Trần là Thiên Bình (天平) đến xin quân thảo phạt tội篡弒 (cướp ngôi giết vua) của Hồ Đê.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Sau khi Thành Tổ lên ngôi, sai quan mang chiếu tức vị thông cáo nước ấy. Tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 1 (năm 1403), Đê tự xưng quyền lý quốc sự An Nam, sai sứ dâng biểu triều cống, nói rằng: "Thời Cao Hoàng đế, An Nam vương Nhật Khuê tiên phong quy phụ, không may mất sớm, hậu duệ đã tuyệt. Thần là cháu ngoại họ Trần được chúng dân suy tôn quyền lý quốc sự đến nay đã 4 năm. Mong thiên ân ban phong tước, thần thề chết không hai lòng." Sự việc giao xuống Lễ bộ, bộ thần nghi ngờ, xin sai quan đi điều tra thực tế. Bèn mệnh Hành nhân Dương Bột (楊渤) mang sắc dụ bồi thần phụ lão nước ấy, phàm là việc họ Trần còn hay mất hậu duệ, việc Hồ Đê được suy tôn là thật hay giả, đều phải tâu thực. Sau đó, Đê lại sai sứ đi cùng bọn Bột về, dâng biểu của bồi thần phụ lão theo đúng lời dối trá của Đê để lừa gạt Thiên tử, xin sớm ban phong tước. Vua bèn mệnh Lễ bộ Lang trung Hạ Chỉ Thiện (夏止善) phong làm An Nam quốc vương. Đê sai sứ tạ ơn, nhưng trong nước vẫn tự xưng như cũ. Đê xâm chiếm các châu Lộc, Tây Bình và trại Vĩnh Bình thuộc Tư Minh, Thiên tử dụ lệnh trả lại nhưng Đê không nghe. Chiêm Thành tố cáo An Nam xâm lược, có chiếu lệnh tu hảo. Đê ngoài miệng nói phụng mệnh nhưng bên trong xâm lược như cũ, lại ban ấn chương, ép làm thuộc quốc, lại chặn cướp đồ ban tặng của Thiên triều. Thiên tử ghét lắm, đang lúc sai quan trách phạt thì cựu bồi thần Bùi Bá Kỳ (裴伯耆) đến cửa khuyết cáo nạn, nói rằng: "Ông cha thần đều là chức đại phu chấp chính, chết vì nước. Mẹ thần thuộc tộc gần của họ Trần, nên thần từ nhỏ hầu hạ Quốc vương chức ngũ phẩm, sau thuộc quyền Võ Tiết hầu Trần Khát Chân (陳渴真) làm tì tướng. Cuối thời Hồng Vũ, thay Khát Chân chống giặc ở Biển Đông, mà tặc thần Lê Quý Ly cha con giết chúa chiếm ngôi, tàn sát trung lương, diệt tộc đến hàng trăm mười người. Anh em vợ con thần cũng bị hại, chúng sai người bắt thần định giết. Thần bỏ quân trốn chạy, ẩn náu thung lũng, trằn trọc mấy năm mới đến được cửa khuyết nhìn thấy trời xanh. Trộm nghĩ Quý Ly là con của cố Kinh lược sứ Lê Quốc Mạo, đời thờ họ Trần, trộm lấy sủng vinh, đến con là Hán cũng được trọng dụng, một mai đắc chí bèn thành cướp đoạt, đổi họ thay tên, tiếm hiệu cải nguyên, không cung kính triều mệnh. Trung thần lương sĩ đau lòng nhức óc, nguyện dấy quân điếu phạt, dựng lại dòng họ đã tuyệt, tiễu trừ gian hung, lập lại hậu duệ họ Trần. Thần chết không hối tiếc..." Thiên tử nghe tấu cảm động, mệnh hữu ty chu cấp áo cơm. Vừa lúc Lão Qua đưa Trần Thiên Bình (陳天平) đến, Thiên Bình nói: "Thần là cháu của tiên vương Nhật Huyên (日烜), Nhật Khuê là em của ông nội thần. Giặc Lê diệt tận tộc Trần, thần trốn ở châu ngoài mới thoát. Bồi thần kích động bởi trung nghĩa, suy tôn thần làm chủ thảo tặc. Đang lúc bàn chiêu quân thì giặc đuổi tới, vội vã chạy trốn thung lũng, vạn phần chết một mới đến được Lão Qua. Nghe bệ hạ lên ngôi chính thống, thần có nơi nương tựa, bò lết vạn dặm tới kêu van. Hậu duệ họ Trần chỉ còn một mình thần. Thần với giặc này không đội trời chung, cúi xin thánh từ thương xót, mau phát 6 sư (quân đội) thực thi thiên thảo." Thiên tử càng cảm động, mệnh hữu ty sắp xếp quán xá. Đê sai sứ mừng tết Nguyên đán, vua đưa Thiên Bình ra cho xem, sứ giả đều ngơ ngác lạy xuống, có người bật khóc. Bá Kỳ trách mắng sứ giả bằng đại nghĩa, sứ giả sợ hãi không đáp được. Vua bảo thị thần: "Cha con Đê bội nghịch, quỷ thần không dung. Mà thần dân trong nước cùng nhau lừa dối, cả nước đều là tội nhân, Trẫm sao dung thứ được!" '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405), An Nam Hồ Đê giả vờ xin đón Trần Thiên Bình về làm chủ, sắc cho Quảng Tây tướng quân Hoàng Trung (黃中), Lã Nghị (呂毅) đem quân tiễn đưa.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405), mệnh Ngự sử Lý Kỳ (李琦), Hành nhân Vương Khu (王樞) mang sắc trách cứ Đê, lệnh tâu thực việc cướp ngôi. Châu Ninh Viễn ở Vân Nam lại tố Đê chiếm 7 trại, cướp phụ nữ. Đê sai thần là Nguyễn Cảnh Chân (阮景真) theo bọn Kỳ vào triều tạ tội, nói thác là chưa từng tiếm hiệu, xin đón Thiên Bình về làm chủ, trả lại đất Lộc Châu, Ninh Viễn. Vua không lường được sự dối trá, hứa cho, mệnh Hành nhân Nhiếp Thông (聶聰) mang sắc sang dụ, nói nếu đón Thiên Bình về thờ như vua, sẽ phong cho Đê chức Thượng công, cai quản quận lớn. Đê lại sai Cảnh Chân theo Thông về báo việc đón Thiên Bình. Thông hết sức nói lời Đê đáng tin, vua bèn cho Thiên Bình về nước, sắc cho Quảng Tây Tả hữu phó tướng quân Hoàng Trung, Lã Nghị dẫn 5.000 quân tiễn đi. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 (năm 1406), Lê Quý Ly nước An Nam phản bội, Thành quốc công Chu Năng (朱能), Tây Bình hầu Mộc Thạnh (沐晟) dẫn quân thảo phạt.''''''Năm thứ 5 (năm 1407), An Nam bình định, đổi thành quận huyện.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), Thiên Bình vào lạy từ biệt, vua ban thưởng hậu, sắc phong Đê làm Thuận Hóa quận công. Tháng 3, quân Minh hộ tống Thiên Bình vào cửa Kê Lăng, gần đến trạm Cần (芹站), Đê phục binh giết Thiên Bình, quân Minh bại về. Vua đại nộ, triệu Chu Năng bàn kế thảo phạt. Tháng 7, mệnh Năng đeo ấn Chinh Di tướng quân làm Tổng binh; Mộc Thạnh làm Tả phó tướng quân; Tân Thành hầu Trương Phụ (張輔) làm Hữu phó tướng quân; Phong Thành hầu Lý彬 (Lý Bân), Vân Dương bá Trần Húc làm Tả hữu Tham tướng, đốc sư nam chinh. Năng đến Long Châu thì bệnh chết. Phụ thay cầm quân tiến vào cửa Pha Lũy, truyền hịch kể 20 tội lớn của cha con Nhất Nguyên, dụ quốc dân về ý định lập con cháu họ Trần. Vượt cửa Kê Lăng đến trạm Cần, đánh tan phục binh, bắc cầu phao qua sông Xương Giang để tiến quân. Tiền phương tới huyện Gia Lâm bắc sông Phú Lương, Phụ từ trạm Cần đi đường phía Tây đến huyện Tân Phúc phủ Bắc Giang. Thám tử báo quân của Thạnh, Bân từ Vân Nam cũng đến Bạch Hạc, bèn sai Phiêu kỵ tướng quân Chu Vinh (朱榮) tới hội quân. Phụ phân đạo tiến quân, đi đến đâu thắng đó. Giặc men sông dựng rào gỗ, đắp thành đất tại ải Đa Bang. Thành lũy dài hơn 900 dặm, huy động hơn 2.000.000 dân giữ thành, các cửa biển đều đóng cọc gỗ, Đông Đô canh phòng nghiêm ngặt, quân thủy bộ xưng là 7.000.000 người, định đánh lâu dài cho quân Minh mệt mỏi. Phụ dời doanh đến cửa sông Cá Chiêu (箇招市江口) thuộc Tam Đới Châu đóng chiến thuyền. Thiên tử lo giặc kéo dài thời gian chờ chướng khí, sắc cho Phụ phải diệt giặc vào mùa xuân năm sau. Tháng 12, Thạnh đóng quân bờ bắc sông Thao, đối diện thành Đa Bang. Phụ sai Húc đánh Thao Châu, bắc cầu phao sang sông, cùng tới dưới thành đánh chiếm được. Giặc cậy vào thành này, thành mất thì mật vỡ. Đại quân xuôi sông Phú Lương đánh thẳng vào Đông Đô, giặc bỏ thành chạy, đại quân chiếm giữ, tiến sát Tây Đô, giặc đốt sạch cung thất, lên thuyền ra biển. Các quận huyện nối nhau quy thuận, kẻ kháng cự đều bị đánh tan. Sĩ dân dâng thư kể tội họ Lê mỗi ngày hàng trăm người. Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 5 (năm 1407), đại phá Quý Ly tại sông Mộc Hoàn, tuyên chiếu tìm hậu duệ họ Trần, hơn 1.120 kỳ lão đến quân môn nói: "Họ Trần bị giặc Lê giết sạch, không còn người nối dõi. An Nam vốn là đất Trung Hoa, xin nhập vào chức phương như quận nội địa." Phụ tâu lên, sau đó đại phá giặc tại sông Phú Lương, cha con Quý Ly dùng vài chiếc thuyền bỏ trốn. Chư quân thủy bộ cùng đuổi đến huyện Trà Lung, biết Quý Ly chạy vào Nghệ An, bèn theo sông Cử Khuyết đuổi đến cửa biển Kỳ La phủ Nhật Nam, mệnh Liễu Thăng (柳升) ra biển đuổi theo. Giặc thua nhiều trận không thành quân nữa. Tháng 5, bắt được Quý Ly và ngụy Thái tử Nhuế tại núi Cao Vọng, An Nam thảy đều bình định. Quần thần xin làm theo lời kỳ lão lập quận huyện. Ngày mùng 1 tháng 6, xuống chiếu cáo thiên hạ, đổi An Nam thành Giao Chỉ (交趾). Thiết lập Tam ty, lấy Đô đốc Thiêm sự Lã Nghị quản Đô ty, Hoàng Trung phó chi. Trương Hiển Tông làm Tả Bố chính sứ, Vương Bình làm Hữu Bố chính sứ, Nguyễn Hữu Chương làm Án sát sứ, Bùi Bá Kỳ làm Hữu Tham nghị. Lại mệnh Thượng thư Hoàng Phúc (黃福) kiêm quản hai ty Bố, Án. Thiết lập 15 phủ gồm: Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Kiến Bình, Tân An, Kiến Xương, Phụng Hóa, Thanh Hóa, Trấn Man, Lạng Sơn, Tân Bình, Diễn Châu, Nghệ An, Thuận Hóa, chia quản 36 châu, 181 huyện. Lại đặt 5 châu Thái Nguyên, Tuyên Hóa, Gia Hưng, Quy Hóa, Quảng Oai trực thuộc Bố chính ty, quản 29 huyện. Những nơi yếu hại đều đặt vệ sở khống chế. Sắc cho hữu ty: Các vương họ Trần bị giết đều được tặng thụy, lập đền thờ quản mộ, cấp cho 20 hộ lo quét tước. Tông tộc bị hại được tặng quan, quân dân chết lộ thiên thì chôn cất. Kẻ làm quan vẫn giữ chức cũ cùng tham gia trị lý. Các chính sách hà khắc của họ Lê thảy đều bãi bỏ, kẻ bị hình phạt được tha miễn. Đãi ngộ người cao tuổi đức độ, kẻ cô độc không nơi nương tựa thì đặt Dưỡng tế viện. Chiêu mộ nhân tài về kinh. Chẳng bao lâu lại có chiếu cầu tìm người ẩn dật, tinh thông kinh sách, hiền lương phương chính, hiếu đệ, liêm khiết, giỏi quân pháp, y học... thảy đều đưa về kinh lục dụng. Trương Phụ đã tâu cử hơn 9.000 người. Tháng 9, cha con Quý Ly, Hán bị áp giải về cửa khuyết, cùng các ngụy tướng Hồ Đỗ thảy đều giao cho ngục lại. Tha tội cho em của Hán là Vệ quốc đại vương Trừng (澄) và con là Nhuế, cho hữu ty chu cấp áo cơm. *Theo "Bình định Giao Nam lục" của Khâu Tuấn:'' Thời Thái Tông Văn Hoàng đế mới lên ngôi, An Nam vương Trần Nhật Hỗn bị thần hạ là Lê Quý Ly giết. Quý Ly giả họ tên là Hồ Nhất Nguyên, con là Hán (Cương), biểu xưng họ Trần tuyệt tự, Hán là cháu ngoại, xin quyền giữ việc nước. Vua không bắt lỗi sự gian trá, nghe theo. Chẳng bao lâu lại xin tập tước Vương, vua cho. Qua năm sau, cháu họ Trần là Thiên Bình mới từ Lão Qua trốn đến kinh sư tố cáo sự thực. Quý Ly nghe tin sợ hãi, sai sứ dâng biểu xin đón Thiên Bình về nước. Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), sai sứ dẫn 5.000 quân tiễn Thiên Bình về, đến biên giới, Quý Ly phục binh giết Thiên Bình và sứ giả. Vua nghe tin chấn nộ, bảo quần thần: "Trẫm là chủ muôn nước, lũ man di kia dám làm điều vô đạo, giết chủ đoạt nước, Trẫm không chính tội chúng thì sao hợp thiên đạo?" Sau đó Chiêm Thành cũng báo bị xâm lấn ranh giới, ép dùng ấn phục. Lại nghe chúng tiếm hiệu Đại Ngu, cải niên hiệu, Quý Ly xưng Thái thượng hoàng, hủy hoại Nho giáo Trung Hoa, gọi Mạnh Tử là đạo nho, Trình - Chu là kẻ剽竊 (ăn cắp ý tưởng). Bèn nghị hưng binh hỏi tội, quần thần đều tán thành. Sai đại thần cáo tại giao miếu, sai cận thị cáo tại danh sơn đại xuyên. Mùa thu tháng 7 ngày Quý Mùi, chế dụ Thái tử Thái phó Thành quốc công Chu Năng đeo ấn Chinh Man đại tướng quân làm Tổng binh; Mộc Thạnh làm Tả phó tướng quân; Trương Phụ làm Hữu phó tướng quân; Lý Bân làm Tả tham tướng; Trần Húc làm Hữu tham tướng. Sắc Đại tướng quân soái Hữu phó tướng quân, Hữu tham tướng cùng Thanh Viễn bá Chu Hữu, dẫn các tướng Chu Vinh, Lưu Trát Xuất... cùng 25 vị tướng quân khác, thống lĩnh quân từ hai Kinh kỳ, Kinh Hồ, Mân, Chiết, Lưỡng Quảng, tiến quân từ huyện Bằng Tường phủ Tư Minh Quảng Tây. Tả phó tướng quân thống lĩnh quân Ba Thục, Kiến Xương, Vân Quý, tiến quân từ huyện Mông Tự phủ Lâm An Vân Nam. Lấy Binh bộ Thượng thư Lưu Tuyển tham tán nhung cơ, Hình bộ Thượng thư Hoàng Phúc, Đại lý tự khanh Trần Hiệp, Cấp sự trung Phùng Quý đốc lương. Các nơi danh sơn đại xuyên đi qua đều tu tế sự. Ngày Ất Dậu xuất sư, vua thân hành đến Long Giang làm lễ tế mã, tướng soái bồi vị nhận nhục (thịt tế) hết sức kính cẩn. Xong việc, dừng giá tại bờ sông, thề với chúng quân: "Trẫm mệnh các ngươi thực thi thiên phạt, tội chỉ tại tên nguyên hung. Phải thể theo lòng Trẫm, đừng tham võ, đừng giết kẻ hàng, đừng bắt bớ già trẻ, đừng hủy hoại nhà cửa lăng mộ. Dù một ngọn cỏ nhánh cây cũng không được cắt bỏ bừa bãi. Kẻ vi mệnh, dù nhọc công cũng không tính thành tích, lại còn bị phạt." Bọn Năng dập đầu nhận mệnh, vạn dân cổ vũ, lên thuyền ra đi. Tháng 9 năm ấy, quân dừng tại Long Châu, Đại tướng quân lâm bệnh, giao quân cho Hữu phó tướng quân. Tháng 10 ngày Canh Tý, Đại tướng quân mất. Chúng nghị quân cơ trọng đại không thể chậm trễ, xin Hữu phó tướng quân đại tổng binh quyền. Tin khẩn báo về kinh, vua mệnh Phụ đeo ấn Chinh Man đại tướng quân thay Năng tổng binh, lại giáng sắc dụ: "Xưa Thái Tổ Hoàng đế mệnh Khai Bình vương Thường Ngộ Xuân làm Đại tướng quân, Kỳ Dương vương Lý Văn Trung làm Phiên tướng quân bắc chinh. Khai Bình vương mất tại sông Liễu Hà, Kỳ Dương vương soái chư tướng quét sạch tàn nghiệt, lập đại huân, ghi danh thanh sử. Ngươi nên học theo tiền nhân để xây công vạn thế." Đây là khởi đầu của việc Định Hưng Trung Liệt vương (Trương Phụ) nhận mệnh chuyên chinh. Trước đó, Vương cùng Đại tướng quân niêm yết 20 tội lớn của cha con giặc Lê để làm rõ ý Thiên thảo. Kể tội Quý Ly: 1. Giết hai chủ đoạt nước; 2. Giết sạch con cháu họ Trần; 3. Dùng hình tàn bạo, coi dân như thù; 4. Thuế nặng sưu cao dân không sống nổi; 5. Vốn họ Lê mà phản tổ đổi họ; 6. Cướp ngôi mà dối là quyền lý để lừa triều đình; 7. Biểu xin đón cháu họ Trần về rồi lại ngăn trở; 8. Giết cháu quốc chủ; 9. Chiếm 7 trại Ninh Viễn; 10. Giết thổ quan Mãnh Mạn, ngược đãi con gái họ, thu bạc của họ; 11. Uy hiếp thổ quan biên giới; 12. Chiếm đất Lộc Châu Quảng Tây; 13. Chiếm Tây Bình Châu giết thổ quan; 14. Đánh Chiêm Thành lúc tang gia, chiếm đất Cách Liệt; 15. Đánh chiếm các châu Bản Đạt Lang, Hắc, Bạch; 16. Cướp hơn 100 con voi Chiêm Thành; 17. Ép Chiêm Thành dùng ấn phục ngụy; 18. Ép vua Chiêm thờ mình như thờ Trung Hoa; 19. Cướp quân nhu của sứ triều đình tại cảng Côn Lăng; 20. Tự xưng quốc hiệu, niên hiệu ngụy Thánh Nguyên, Thiệu Thành, Khai Đại... không dùng chính sóc. Người Giao nghe thiên binh xuống, ban đầu không hiểu tại sao, sau nghe bảng văn thì biết lỗi tại họ Lê. Lại thấy cuối bảng ghi: "Đợi sau khi bắt được cha con giặc Lê sẽ tìm họ Trần lập lên", thảy đều kiễng chân chờ đợi vương sư. Vương đến huyện Bằng Tường vào ngày Đinh Mùi tháng 10, vào cảnh làm lễ tế, dụ chúng: "Hoàng đế không ham đất đai nhân dân An Nam, chỉ vì giặc Lê hại chúa ngược dân, nên thực hiện thiên thảo để nối dòng họ tuyệt, cứu dân khốn. Mệnh ta điếu dân phạt tội, dặn dò không được giết người bừa bãi, không lấy vật bừa bãi, không chiếm đoạt nữ tử, không đốt nhà, không xéo lúa. Kẻ vi mệnh sẽ theo quân pháp không tha!" Chúng quân hoan hô dùng mệnh. Ngày đó đại quân nhập cửa Pha Lũy, dán bảng dụ dân, chiêu lai kẻ hàng. Vương biết từ Pha Lũy về phía Nam, qua cửa Ải Lưu, Kê Lăng tới trạm Cần núi non hiểm trở, rừng rậm chằng chịt, sợ có phục binh, sai Lã Nghị đi thám thính, lệnh Hàn Quan Vinh sửa đường bắc cầu tại Pha Lũy. Ngày Mậu Thân đại quân dừng tại huyện Khâu Ôn. Ngày Kỷ Dậu thám tử đến Ải Lưu, giặc 20.000 người dựa núi kết trại, Nghị đánh chiếm được, chém 40 thủ cấp, bắt sống 60 người. Chu Vinh cũng phá cửa Kê Lăng, chém hơn 80 người. Giặc nghe tin hai cửa quan mất, quân phục đều tan chạy. Ngày Nhâm Tý đại quân dừng tại Kê Lăng, ngày Quý Sửu tới trạm Cần. Phương Chính, Vương Thứ tiến thẳng đến huyện Gia Lâm bờ bắc sông Phú Lương. Lúc này Mộc Thạnh cũng từ Mông Tự tiến quân qua vùng Dã Bồ Man nhập cảnh, đánh chiếm cửa Mãnh Liệt, phá rào Hoa Ải, tùy nơi đắp lũy造舟 (đóng thuyền). Đô chỉ huy Từ Nguyên, Khổng Bân đột kích cửa sông Tuyên Quang... Thủy quân giặc号称 (xưng là) 7.000.000 người, thực chất là xua cả già trẻ gái trai để trợ thanh thế. Vương viết thư dụ Quý Ly: "Ta phụng mệnh đến hỏi tội, nếu dám chiến thì dàn quân tại Gia Lâm mà đợi, nếu không thì đến quân môn nghe phân xử." Vương muốn khích giặc đánh gấp. Vừa lúc Hành nhân Chu Khuyên mang sắc đến dụ giặc họa phúc, cho nộp 50.000 lượng vàng, 100 con voi để chuộc tội. Khuyên đến nơi, Quý Ly không ra tiếp, nói lời quỷ quyệt: "Văn thư này không giống bản cũ, chắc không phải vua sai. Nếu binh lui thì sẽ cống, nếu không thì tự có chuẩn bị." Vương biết sắc này chỉ là để hoãn binh, giặc không có ý hối lỗi. Bèn dời quân đến Nhị Đới Châu, cửa sông Cá Chiêu, cùng Mộc Thạnh bàn việc đóng thuyền chế súng tiến công. Có thuyền chèo của giặc xuất hiện, Vương lệnh Lỗ Lân ban đêm chèo thuyền xuôi dòng cướp thuyền giặc, chém hơn 100 người. Từ đó giặc không dám ló mặt. Vương định vượt sông ở thượng lưu, sai Chu Vinh ở hạ lưu 80 dặm tại Gia Lâm bày thuyền bè như muốn vượt sông để nghi binh. Giặc quả nhiên chia thủy quân đến Gia Lâm, Vinh đánh phá tan tác. Tháng 12 ngày Kỷ Hợi, hai cánh quân hợp nhất. Vương bảo Thạnh: "Giặc dựng rào ven sông, thế hiểm đất hẹp khó dàn quân. Chỉ có ải Đa Bang bãi cát ngoài thành bằng phẳng rộng rãi đủ chứa quân. Tuy thành cao hào sâu, phòng thủ nghiêm ngặt, ngoài đặt hầm chông, nhưng người Man yếu ớt không chịu được khổ, không đáng lo. Nay thang vân, tiên nhân động... của ta đã sẵn, dễ chiếm thôi." Bèn bảo tướng sĩ: "Báo quốc thành công tại trận này. Phải奮力 (dốc sức) tranh tiên, kẻ lên thành trước sẽ được trọng thưởng." Đêm đó canh 4, Hoàng Trung dẫn quân bí mật vượt hào tới dưới thành, bắc thang vân leo lên. Thái Phúc cùng vài người lên trước dùng đao chém loạn, giặc kinh hãi kêu rú, trên thành lửa sáng rực, tướng sĩ như kiến bò lên. Giặc trong thành dàn trận, xua voi ra lao tới. Quân Minh tung ra "Sư tử phục" (hình sư tử giả) trùm lên ngựa, voi thấy hình sư tử thì kinh sợ run rẩy, lại bị súng tên bắn trúng bèn quay đầu chạy ngược giẫm đạp quân nhà. Đại quân thừa thắng tiến thẳng, hôm sau đuổi đến núi Tản Viên, hôm sau nữa xuôi sông Phú Lương đốt sạch rào gỗ ven sông, khói lửa ngất trời. Ngày Tân Hợi đánh thẳng vào Đông Đô, chiếm được. Vương cùng Thạnh đóng quân phía Đông Nam thành, dán bảng chiêu dụ, kẻ hàng mỗi ngày hàng vạn người. Vương bảo các kỳ lão về ý đồ điếu phạt, tiếng hoan hô động đất. Ngày Ất Mão, bàn việc sai Lý Bân, Trần Húc đánh Tây Đô. Giặc nghe tin Đa Bang mất, đã đốt kho tàng đưa vợ con trốn ra biển. Quân Minh tới chiếm thành. Dư đảng dựa vào núi Thiên Kiện, núi Khốn Mai đóng giữ thủy bộ. Sai Vương Hữu, Hoàng Trung, Liễu Tông chia quân tiễu trừ. Từ đông năm ấy đến xuân năm sau chém hơn 37.000 thủ cấp. Nghe tin Hồ Trừng tụ thuyền tại sông Hoàng, quân Minh tiến sát sông Mộc Hoàn hạ trại. Ngày Tân Tỵ thuyền giặc hơn 300 chiếc tới phạm, quân Minh thủy bộ kẹp đánh, chém hơn vạn người, chết đuối vô số. Tháng 2 ngày Ất Tỵ, nghe tin giặc chạy ra cửa Mộn Hải, đi cửa sông Lỗ gặp quân Thạnh tại huyện Giao Thủy. Giặc lại chạy ra cửa biển Đại An. Vương bảo Thạnh: "Giặc thấy ta không dám đánh, trốn nơi khác để xem động tĩnh. Nếu ta về Giao Châu, để quân ở cửa Hàm Thủy canh phòng, chúng tất ra cửa Mộn Hải tập kích. Ta đợi chúng ra sẽ đánh úp." Tháng 3 ngày Quý Dậu đại quân về Giao Châu. Ngày Giáp Ngọ giặc quả nhiên phạm cửa Hàm Thủy. Ngày Kỷ Dậu, Vương cùng Thạnh thủy bộ tiến gấp. Giặc dùng hải thuyền chặn ngang sông, hai bên bờ tiến quân. Lên bờ dựng rào. Vương thừa lúc rào chưa xong, thân đốc tinh nhuệ đánh, Liễu Thăng dẫn thủy quân tới tiếp ứng, giặc đại bại, nước sông Phú Lương nhuộm đỏ, xác chất vài mươi dặm. Trần Húc thừa thế tiến thẳng đến cửa Mộn Hải. Cha con giặc Lê chạy ra Linh Nguyên. Vương bảo tướng sĩ phải thừa thế chẻ tre mà diệt tận. Bèn về Giao Châu để Lý Bân trấn giữ sông Hoàng. Tháng 4 ngày Ất Hợi, Vương cùng Thạnh từ Thanh Hóa tiến gấp, điều Liễu Thăng, Lỗ Lân cùng thổ quan Mạc Thúy dẫn thuyền đuổi theo đường thủy. Ngày Mậu Dần tới sông Lỗi Giang Thanh Hóa, giặc tụ thuyền chống cự, Thăng đánh bại chém vạn người. Tháng 5 ngày Đinh Mão tới Diễn Châu, Liễu Thăng tới hội quân, kẻ hàng nối nhau. Biết cha con giặc Lê trốn tại sông Thâm phủ Nghệ An. Vương cùng Thạnh đi đường bộ, Liễu Thăng đi đường thủy đuổi giặc. Ngày Nhâm Thân tới huyện Thượng Dầu phủ Nghệ An, Vương đi đường đông sông Cử Khuyết, Thạnh đi đường tây, cùng hạ trại tại huyện Bàn Thạch. Ngày Giáp Tuất Liễu Thăng tới cửa biển Kỳ La đánh bại giặc, thu 300 thuyền. Ngày Ất Hợi, quân sĩ Vương Sài Hồ... 7 người bắt được ngụy Thượng hoàng Lê Quý Ly. Quân sĩ Lý Bảo Bảo... 10 người bắt được ngụy Vệ quốc đại vương Lê Trừng. Ngày Bính Tý, thổ nhân Vũ Như Khanh bắt được ngụy quốc chủ Lê Hán (Hồ Hán Thương) cùng ngụy Thái tử Nhuế tại núi Cao Vọng. Thân thuộc họ Lê bị bắt không sót một ai, đất An Nam bình định. Thu được 48 phủ châu, 166 huyện, 3.120.500 hộ, voi ngựa trâu dê lương thực không xuể. Sai Liễu Thăng áp giải tù binh về cửa khuyết. Sau khi bình định, Vương tìm hậu duệ họ Trần. Quan lại kỳ lão đều nói: "Giặc Lê năm Kỷ Mão giết Quang Thái vương (Trần Thuận Tông), lập con ông ta rồi lại giết đi mà chiếm nước. Giết hơn 50 người thuộc tộc gần, hơn 1.000 người tộc xa, máu mủ tuyệt tận, không ai nối dõi. Xin theo lệ Hán Đường lập quận huyện như nội địa." Vương tâu lên, vua nghe theo. Bèn lập Giao Chỉ承宣布政使司 (Thừa tuyên Bố chính sứ ty), Đô chỉ huy sứ ty, Án sát ty. Chia làm 17 phủ, 47 châu, 157 huyện. Đặt 11 vệ, 3 sở thủ ngự. Tại biên giới Giao - Quảng, đặt vệ Khâu Ôn cùng các sở Pha Lũy, Ải Lưu để khống chế. Năm ấy đại cáo thiên hạ việc phục cổ quận huyện An Nam, sắc cho hữu ty tặng thụy cho vua Trần, tông thân bị hại đều được tặng quan, xây đền dựng bia quét tước mộ phần. Bãi bỏ các sưu thuế hà khắc của giặc Lê. Dùng người hiền năng, ưu đãi kỳ lão, đổi phong tục theo Hoa phong. Khiến cho dải đất từ Tần Hán rơi vào tay man di suốt 446 năm, nay một mai trở lại bản đồ Trung Hoa. Văn võ quần thần thảy đều dâng biểu chúc mừng. *Theo "Minh Nhất thống chí":'' Đầu thời Hồng Vũ, Trần Nhật Khuê tiên phong quy phụ, ban ấn An Nam quốc vương. Truyền đến Nhật Hỗn, thần là Lê Quý Ly cướp ngôi tiếm hiệu. Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), sai Trương Phụ, Mộc Thạnh chia quân tiến đánh, bắt sống cha con Quý Ly. Tìm hậu duệ họ Trần không thấy, bèn quận huyện hóa đất ấy, đặt 17 phủ, 5 châu trực thuộc. Lại lập Giao Chỉ Bố chính ty, Đề hình Án sát ty cùng Đô chỉ huy sứ ty tại phủ Giao Châu. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 (năm 1408), An Nam bình định, ban sư (rút quân). Năm ấy, cựu quan An Nam là Giản Định (簡定) lại làm phản.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408), bọn (Trương) Phụ chấn chỉnh quân ngũ trở về kinh sư, dâng bản đồ Giao Chỉ (交阯), phía Đông sang phía Tây dài 1.760 dặm, phía Bắc xuống phía Nam dài 2.800 dặm, an phủ nhân dân hơn 3.120.500 người, bắt được người Man hơn 2.087.500 người, voi, ngựa, trâu hơn 235.900 con, thóc gạo hơn 13.600.000 thạch, thuyền hơn 8.670 chiếc. Khí giới quân dụng tính được 2.539.800 món. Do đó đại hành phong thưởng, Phụ tiến phong Anh quốc công (英國公), (Mộc) Thạnh phong Kiềm quốc công (黔國公), những người còn lại tùy theo thứ bậc mà ban thưởng. Lúc bấy giờ, các quan lại do triều đình phương Bắc đặt ra cốt lấy sự khoan hậu để thu phục vùng đất mới lập, nhưng người Man tự coi mình là loài khác, thường xuyên kinh động sợ hãi. Cựu quan họ Trần là Giản Định (簡定) trước đó đã hàng, sắp sửa được đưa về kinh sư, bèn cùng đồng đảng là Trần Hy Cát (陳希葛) trốn đi, mưu loạn với các ngụy quan Hóa Châu (化州) là Đặng Tất (鄧悉), Nguyễn Súy (阮帥)... Định bèn tiếm hiệu đại hiệu, đặt niên hiệu Hưng Khánh (興慶), quốc hiệu là Đại Việt (大越). Chúng ra vào trong núi ở Nghệ An (乂安), Hóa Châu (化州), rình lúc đại quân rút về liền ra đánh Phà Than (盤灘), bến Hàm Tử (鹹子關), chốt giữ con đường huyết mạch qua lại ở phủ Tam Giang (三江府), đánh phá vùng gần Giao Châu (交州). Các châu huyện Từ Liêm (慈廉), Uy Man (威蠻), Thượng Hồng (上洪), Thiên Đường (天堂), Ứng Bình (應平), Thạch Thất (石室) thảy đều hưởng ứng. Thủ tướng nhiều lần ra quân thảo phạt nhưng đều không có công. Tháng 8, sự việc báo về kinh, mệnh Mộc Thạnh làm Chinh Di tướng quân, thống lĩnh 40.000 quân từ Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên đi thảo phạt, đồng thời sai sứ mang sắc dụ hàng, hứa cho thế quan. Định không ứng chiếu, Thạnh đánh với giặc ở sông Sinh Quyết (生厥江), đại bại, Lã Nghị (呂毅) cùng Tham tán Thượng thư Lưu Tuấn (劉㒞) đều tử trận. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục" (平定交南錄):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408), ban sư về triều. Mùa thu tháng 7, xét công hành thưởng, tiến phong Anh quốc công, Tây Bình hầu phong làm Kiềm quốc công, Thanh Viễn bá Vương Hữu (王友) tiến phong tước Hầu, Đô đốc Liễu Thăng (柳升) thăng làm An Viễn bá (安遠伯), những người còn lại đều thăng quan tăng lộc tùy theo thứ bậc. Ban cho (Trương) Phụ cáo khoán, đai ngọc, vàng lụa, mệnh cho con cháu đời đời tập tước, tăng thêm 3.000 thạch lộc mễ. Sau khi đại yến, Hoàng thượng tự thân chế bài "Bình An Nam ca" để khen ngợi. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 (năm 1409), đảng phản loạn An Nam tôn Giản Định làm Thái thượng hoàng, lập riêng Trần Quý Khoách (陳季擴) làm vua, mệnh Anh quốc công Trương Phụ thảo phạt.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 7 (năm 1409), tin bại trận báo về, tăng phái 47.000 quân từ Nam Kỳ, Chiết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Quảng, Quảng Đông, Quảng Tây, theo Anh quốc công (Trương) Phụ đi chinh phạt. Phụ cho rằng giặc dựa vào sông biển, không lợi cho bộ binh, bèn đóng quân ở Tiên Du (仙游) thuộc Bắc Giang, đóng gấp chiến hạm, đồng thời chiêu an những người bị giặc đánh phá phải ly tán, liền liên tiếp phá các đồn trại ở Từ Liêm, Quảng Oai (廣威). Thám thính biết đồng đảng của giặc là Đặng Cảnh Dị (鄧景異) chốt giữ sông Lô ở phủ Nam Sách (南策州), vượt cầu Thái Bình, bèn tiến quân đến bến Hàm Tử (鹹子關). Ngụy Kim ngô tướng quân Nguyễn Thế Mỗi (阮世每) có 20.000 quân, lập trại rào ở bờ đối diện, dàn hơn 600 chiếc thuyền, dựng cọc ở phía Đông Nam để ngăn giữ. Lúc đó là tháng 8, gió Tây Bắc thổi gấp, Phụ đốc thúc Trần Húc, Chu Quảng, Du Nhượng, Phương Chính... đồng loạt cho thuyền tiến lên, pháo tên bắn ra như bão, chém 3.000 thủ cấp, bắt sống Ngụy Giám môn tướng quân Phan Đê (潘低) cùng hơn 200 người, thu hơn 400 chiếc thuyền. Liền tiến đánh Cảnh Dị, Cảnh Dị bỏ chạy trước, bèn bình định các phủ Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tân An, Kiến Xương, Trấn Man, đuổi phá Cảnh Dị ở cửa biển Thái Bình, bắt được đồng đảng là Phạm Tất Lật (范必栗). Lúc bấy giờ Nguyễn Súy và các tướng tôn Giản Định làm Thái thượng hoàng, lập riêng Trần Quý Khoách làm vua, đặt niên hiệu Trùng Quang (重光). Khoách sai sứ tự xưng là "cháu của vua An Nam trước", cầu xin phong tước, Phụ quát mắng rồi chém đi. Từ sông Hoàng Giang, sông A Giang, cửa biển Đại An đến sông Phúc Thành, chuyển vào cửa biển Thần Đầu (神投海口), nhổ sạch cọc rào giặc dựng. Hơn 10 ngày thì đến Thanh Hóa (清化), quân thủy bộ đều hội tụ. Định đã chạy sang Diễn Châu (演州), Quý Khoách chạy vào Nghệ An, bọn Súy, Cảnh Dị cũng tan tác bỏ trốn. Bèn đóng quân bắt dư đảng, Định chạy đến trại Cát Lợi huyện Mỹ Lương (美良縣), bọn Phụ đuổi gấp đến nơi, Định trốn vào núi, đại soát không được, bèn vây lại, cùng với ngụy tướng tướng của hắn là Trần Hy Cát, Nguyễn Nhữ Lệ (阮汝勵), Nguyễn Án (阮晏)... thảy đều bị bắt. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục":'' Dư nghiệt An Nam là Giản Định tác loạn, Định tự xưng họ Trần, vốn là quan cũ của họ Trần, trước đã hàng phục, sau lại trốn vào phủ Nghệ An, cùng đồng đảng Đặng Tất, Nguyễn Súy, Trần Hy Cát mưu phản, ngụy xưng là Nhật Nam vương. Sau đó tiếm hiệu Đại Việt, xưng niên hiệu Hưng Khánh. Triều đình mệnh Kiềm quốc công Mộc Thạnh làm tướng quân, từ Vân Nam sang chinh phạt, lâu ngày không ngăn tuyệt được, đình nghị cho rằng nếu không phải Vương (Trương Phụ) thì không xong. Tháng 1 năm thứ 7 (năm 1409), bèn mệnh Vương đeo ấn Chinh Man phó tướng quân, sang cùng tiễu trừ. Vương đến Nam Ninh hội quân vào tháng 4, tháng 5 nhập cảnh; Vương thân tự đốc chiến hạm, phá rào Khổng Mục, lại phá bến Hàm Tử, chém bắt vô số. Giặc lui về giữ Hoàng Giang, Vương thừa thắng đánh ở cửa biển Thái Bình, giặc chạy vào sông Trà Kế (茶偈江) ở Nghệ An. Mùa đông tháng 12, quân đến Thanh Hóa. Qua 4 ngày, bắt sống Giản Định ở núi thuộc trại Cát Lợi, cùng đồng đảng Trần Hy Cát..., đóng cũi giải về kinh sư. Tháng 2 năm sau, Vương về triều, Hoàng thượng khen ngợi lao khổ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 (năm 1410), Trần Quý Khoách xin hàng.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Trước đó, đảng giặc Nguyễn Sư Cối (阮師檜) tiếm tước Vương, cùng Ngụy Kim ngô Thượng tướng quân Đỗ Nguyên Thố (杜元措)... chiếm xã Nghi Dương huyện An Lão phủ Đông Triều (東潮州), có quân hơn 20.000 người. Tháng 1 năm thứ 8 (năm 1410), Phụ tiến đánh, chém hơn 4.500 thủ cấp, bắt bọn đồng đảng Phạm Chi (范支), Trần Nguyên Khanh (陳原卿), Nguyễn Nhân Trụ (阮人柱)... hơn 2.000 người, thảy đều chém đi, đắp kinh quán (gò xác). Tháng ấy, Phụ sắp ban sư, tâu rằng Quý Khoách cùng đồng đảng Nguyễn Súy, Hồ Cụ (胡具), Đặng Cảnh Dị... vẫn còn ở Diễn Châu, Nghệ An, ép sát Thanh Hóa, mà Đặng Dung (鄧鎔) chặn cửa sông Thần Đầu, Phúc Thành, chiếm cứ yếu lộ Thanh Hóa, ra vào các nơi ở Nghệ An. Nếu chư quân rút hết về, e rằng quân của Mộc Thạnh ít không địch nổi. Xin lưu Đô đốc Giang Hạo (江浩), Đô chỉ huy Du Nhượng (俞讓), Hoa Anh (花英), Sư Hữu (師祐)... ở lại giúp Thạnh thủ ngự. Vua nghe theo. Tháng 5, Thạnh đuổi Quý Khoách đến sông Ngu Giang (虞江), giặc bỏ rào trốn. Đuổi đến huyện Cổ Linh và cửa biển Hội Triều, Linh Trường, chém hơn 3.000 thủ cấp, bắt được ngụy tướng Lê Lộng (黎弄). Quý Khoách bị bách quá, dâng biểu xin hàng. Vua biết là dối trá nhưng tạm hứa cho. Chiếu thụ cho Giao Chỉ Bố chính sứ Nguyễn Súy, Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung đều làm Đô chỉ huy, Trần Nguyên Tôn làm Hữu tham chính, Phan Quý Hựu làm Án sát phó sứ. Chiếu xuống rồi mà giặc không có lòng hối cải. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Đặng Tông Tắc (鄧宗稷)... bị bắt, năm ấy truy sát gần hết.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 9 (năm 1411), lại mệnh Phụ đốc 24.000 quân, hợp với quân của Thạnh để thảo phạt. Giặc chiếm giữ sông Nguyệt Thường (月常江), dựng cọc gỗ cao hơn 40 trượng, hai bên bờ đặt rào dài 2-3 dặm, dàn hơn 300 chiếc thuyền, đặt phục binh ở bên phải núi. Mùa thu năm ấy, bọn Phụ, Thạnh thủy bộ cùng tiến, Nguyễn Súy, Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung... đến cự chiến. Phụ lệnh cho Chu Quảng kết thuyền nhổ cọc để tiến, tự mình dẫn bọn Phương Chính dùng bộ đội tiễu trừ phục binh. Thủy bộ kẹp đánh, giặc đại bại, bọn Súy đều tan chạy, bắt sống ngụy tướng Đặng Tông Tắc, Lê Đức Di (黎德彝), Nguyễn Trung (阮忠), Nguyễn Hiên (阮軒)... thu 120 chiếc thuyền. Phụ bèn đốc thủy quân tiễu trừ Quý Khoách, nghe tin Ngụy Long hổ tướng quân Lê Nhuế (黎蕊)... ở các châu huyện Thạch Thất, Phúc An chặt đứt cầu phao sông Duệ Giang (銳江), làm nghẽn đường sông Sinh Quyết và hậu vệ Giao Châu, liền đi chinh phạt. Nhuế cùng đồng đảng Phạm Khang (范慷) đến cự chiến, Nhuế trúng tên chết, chém ngụy tướng Nguyễn Đà (阮陁), bắt ngụy tướng Dương Nhữ Mai (楊汝梅), Phòng ngự sứ Phùng Hấp (馮翕), chém 1.500 thủ cấp, truy sát dư tặc gần hết, Khang cùng đồng đảng Đỗ Cá Đán (杜箇旦), Đặng Minh (鄧明), Nguyễn Tư Châm (阮思瑊)... cũng bị bắt. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 (năm 1412), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Trần Mẫn (陳敏)... nối nhau xin hàng.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Ngày mùng 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 10 (năm 1412), Phụ đốc bọn Phương Chính đánh thuyền giặc ở biển Thần Đầu (神投海), đại phá chúng, bắt ngụy tướng Trần Lỗi (陳磊), Đặng Nhữ H戲 (Đặng Nhữ Hí)... Nguyễn Súy chạy xa, đuổi không kịp. Quân Phụ đến Nghệ An, ngụy Thiếu bảo vùng Thượng Hoàng là Phan Quý Hựu (潘季祐)... đều bỏ trốn. Chẳng bao lâu Quý Hựu xin hàng, dẫn theo 17 ngụy quan đến yết kiến. Phụ thừa chế thụ cho Quý Hựu làm Án sát phó sứ, thự việc phủ Nghệ An. Thế là các ngụy tướng quân, quan sát, an phủ, chiêu thảo như Trần Mẫn (陳敏), Nguyễn Sĩ Cần (阮士勤), Trần Toàn Húc (陳全勗), Trần Toàn Mẫn (陳全敏)... nối nhau ra hàng. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 11 (năm 1413), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Đặng Dung (鄧鎔)... thảy đều hàng phục.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 11 (năm 1413), Phụ và Thạnh hợp quân đến Thuận Châu (順州), Nguyễn Súy đặt phục binh ở sông Ái Tử (愛子江), dựa vào thế hiểm núi Côn Truyền (昆傳山), dàn trận voi đón đánh. Chư quân đại phá được, bắt sống ngụy tướng Phan Kính (潘徑), Nguyễn Từ (阮徐)... 56 người. Đuổi đến sông Ái Mẫu (愛母江), giặc tan tác, em của Đặng Dung là Ngụy hầu Thiết (鐵) cùng tướng quân Phan Lỗ (潘魯), Phan Cần (潘勤)... thảy đều hàng phục. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414), Trần Quý Khoách (陳季擴) bị bắt, An Nam lại được bình định.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 12 (năm 1414), tiến quân đến Chính Hòa (政和), tướng giặc là Hồ Đồng (胡同) ra hàng, nói rằng Ngụy Đại tướng quân (鄧景異) dẫn đồng đảng là Lê Diệm (黎蟾) cùng 700 người trốn vào trại Côn Bồ (昆蒲柵) của dân Xiêm Man (暹蠻). Quân Minh bèn tiến vào La Giang (羅江), bỏ ngựa đi bộ, khi đến nơi thì giặc đã trốn, đuổi đến trại Sất Bồ Nạt (叱蒲捺柵) giặc lại trốn tiếp. Đêm tối đi hơn 20 dặm, nghe tiếng trống cầm canh, (Trương) Phụ dẫn bọn (Phương) Chính ngậm tăm đi gấp, mờ sáng đến trại Sất Bồ Cán (叱蒲幹柵). Giặc vẫn đóng trại ở bờ Nam sông Bắc Giang, quan quân qua sông vây đánh, tên bắn trúng Cảnh Dị rồi bắt sống được. (Đặng) Dung (鄧鎔) cùng em là Duẩn (鈗) chạy trốn cũng bị đuổi bắt, thu hết đồ chúng. Biệt tướng Chu Quảng (朱廣) đuổi theo Ngụy Đại tướng quân Nguyễn Súy (阮帥) tại Xiêm Man, lục soát khắp các núi vùng Xiêm Nhân Quan, bắt được vợ con Súy và Quý Khoách. Súy trốn sang Nam Linh Châu (南靈州) dựa vào Thổ quan Nguyễn Trà Hối (阮茶彙). Chỉ huy Tiết Tụ (薛聚) đuổi bắt được Súy, chém Trà Hối. Trước đó, khi Đặng Dung bị bắt, Quý Khoách trốn vào núi Trúc Bài (竹排山) ở Nghệ An. Phụ sai Đô chỉ huy Sư Hữu (師祐) tập kích, Khoách chạy sang Lão Qua (老撾 - Lào), Hữu đuổi theo sau. Lão Qua sợ quan quân giày xéo đất đai, xin tự trói giặc nộp. Phụ gửi hịch đòi người, đồng thời lệnh cho Hữu tiến sâu vào, hạ 3 cửa quan, đến Kim Lăng Cá (金陵箇). Đồng đảng của giặc tan chạy hết, bèn bắt được Quý Khoách. Em của Khoách là Ngụy Tướng quốc Hoan Quốc vương Quý Chắt (季揝) cũng bị bắt ở nơi khác, giặc bị dẹp tan. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục" (平定交南錄):'' Dư đảng của Giản Định (簡定) là Trần Quý Khoách lại tụ tập, tiếm xưng niên hiệu Trùng Quang (重光). Quý Khoách là cháu của Giản Định. Định bị bọn Nguyễn Súy phế đi mà lập Quý Khoách. Khi Định bại trận lén trốn đi xa, nghe tin Vương (Trương Phụ) rút quân về, lại cùng Đặng Cảnh Dị làm phản. Mùa xuân tháng 1 năm thứ 9 (năm 1411), vua lại trao ấn trước cho Vương, sang đốc sư chinh phạt. Mùa hè tháng 5 quân dừng ở Đông Quan (東關), tháng 6 tiến binh. Giặc nghe Vương đến, lấy đá lấp cửa biển Thần Đầu (神頭海口) chừng 30 trượng, đặt cọc gỗ kháng cự. Vương đốc tướng sĩ bốc hết đá lên để thông đường thuyền. Giặc sợ, lập đồn ở sông Thường Nguyệt (常月江), Vương dặn quân rằng: "Đồn này không đáng đánh, nhưng phía Nam núi hiểm trở, chúng tất đặt phục binh làm khó ta." Bèn sai kiêu tướng dẫn thổ binh soát núi, quả nhiên bắt được quân phục, chém đi rồi chiếm đồn, giặc trốn xa. Vương đuổi theo khắp nơi, giặc lúc tụ lúc tán, cuối cùng không nắm được manh mối. Lúc bấy giờ phía Đông cửa quan giặc cướp nổi lên như ong, vùng vẹn toàn chỉ còn mỗi thành Giao Châu. Đại để là vì châu huyện quân vệ mới đặt quá nhiều, người Giao đã rời xa giáo hóa lâu ngày, ưa phóng túng, không chịu nổi sự nhiễu loạn của quan lại binh lính. Thường tưởng nhớ tục cũ, hễ nghe giặc nổi lên là rủ nhau hưởng ứng. Giặc đến đâu cũng được cung cấp, che giấu, nên giặc tan rồi lại tụ. Triều đình nhiều lần xuống chiếu chiêu phủ, phong Quý Khoách làm Bố chính sứ. Khoách muốn nhận mệnh nhưng bị đồng đảng khống chế, hàng rồi lại phản, giả xưng là con cháu họ Trần để lấy cớ khôi phục. Đại quân đến thì chúng trốn sâu vào núi rừng biển cả, quân rút thì chúng lại ra, vì thế quan quân không thành công. Khi Vương cầm quân, bắt đầu thi hành thưởng phạt nghiêm minh, chư tướng vốn mệt mỏi vì chạy vạy nên thường hay chần chừ lơ là. Đô đốc Hoàng Trung (黃中) không tuân mệnh, Vương dùng quân pháp xử lý. Từ đó ai nấy đều biết sợ, không dám từ nan tránh hiểm. Lúc đó giặc dựa vào sự hiểm yếu của biển Hoa Sen (Hà Hoa - 荷花海), cho là quân ta không qua được, bèn lập đồn ở cửa biển Nhật Lệ (日麗海口) để giữ. Vương dẫn thủy quân từ đại dương Kỳ La (奇羅海) vượt qua cửa biển Hoa Sen, tiến thẳng đến Nhật Lệ. Giặc đốt đồn chạy trốn đến sông Trà Kế (茶偈江), Vương tiến binh đánh phá. Giặc kinh hãi nói: "Thiên binh bay đến!" rồi đại bại, mất thành Hóa Khẩu. Thám tử cho biết giặc dốc hết quân giữ sông Ái Tử (愛子江), Vương đuổi đến tận nơi, giặc dàn hàng chục voi lớn làm tiên phong, ngựa người dàn sau, dốc sức chống cự. Vương bảo tướng hiệu: "Bắt giặc chính là trận này, cơ hội không được để mất." Bèn quất ngựa tiến lên trước, voi phục đột nhiên xông ra. Vương bắn 1 mũi tên làm rơi quản tượng, mũi thứ 2 trúng mũi voi. Voi rống lên chạy ngược về, giày xéo quân mình, quân Minh thừa thế đánh tới, xác giặc lấp đầy khe núi, giặc chạy trốn sang vùng Xiêm Man. Vương chia tướng lãnh đi soát bắt khắp nơi, đến các trại Bồ Cán (蒲幹) vùng Xiêm Man, đường núi gập ghềnh, rừng rậm u ám, ngựa không tiến được. Vương bèn xuống ngựa đi bộ, vượt hiểm đi gấp, sĩ卒 (sĩ tốt) không theo kịp, chỉ có hơn 100 tướng hiệu theo sát. Gặp giặc, giết vài nghìn người, thủ lĩnh Trần Quý Khoách cùng vợ con thảy đều bị bắt. Lúc đó là mùa đông năm thứ 11 (năm 1413). * ''(Ghi chú: "Bình định Giao Nam lục" chép việc này vào năm thứ 11, "Minh ngoại sử" chép năm thứ 12. Nay chép cả hai để lưu lại).'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 (năm 1415), Phụ, Thạnh bình định xong An Nam, rút quân về. Năm ấy, lại mệnh Phụ đeo ấn Tướng quân ra trấn thủ.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 13 (năm 1415), bọn Phụ, Thạnh rút quân về kinh, tháng 4 lại mệnh Phụ đeo ấn Chinh Di tướng quân ra trấn thủ. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục":'' Năm Vĩnh Lạc thứ 12 (năm 1414), ban sư về kinh. Từ khi Vương xuất sư đến lúc này, đầu đuôi hơn 3 năm mới bắt được kẻ cầm đầu. Người đời cho rằng công lao trận này của Vương khó hơn trận bình định trước. Tháng 4 năm thứ 13 (năm 1415), triều đình mệnh đeo ấn Chinh Man tướng quân làm Tổng binh sang trấn thủ Giao Chỉ. Lại có công bình định Trần Nguyệt (平陳月). Năm thứ 15 (năm 1417), vua cho rằng Vương lao khổ lâu ngày ở ngoài, chiếu cho về kinh sư. Vương mất vào năm Kỷ Tỵ (1449) đời Chính Thống khi đang làm việc quân, đến nay đã 37 năm. Con thừa tự là Thái tử Thái phó, Anh quốc công thụ phong là Mậu (懋) đưa bản ghi chép của người canh cổng tên là Phúc Trụ ghi lại các bản tấu của Vương lúc bình định An Nam cho tôi xem, nhờ tôi sắp xếp lại. Tôi bèn tham khảo bản "Lộ bố bảng văn" chép trong "Giao Chỉ quận chí", cùng bài "Bình An Nam bi" của Hồ Văn Mục công phụng sắc soạn, bài thần đạo bi cho Đông Bình Võ Liệt vương và Định Viễn Trung Kính vương của Dương Văn Trinh công, cùng những điều nghe thấy để soạn ra tập này. Mùa đông năm Vĩnh Lạc thứ 14 (năm 1416), triệu Phụ về kinh. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 (năm 1417), mệnh Phong Thành hầu Lý Bân (李彬) trấn thủ An Nam. Lúc bấy giờ quân phản loạn đồng loạt nổi dậy, chinh chiến đông tây không lúc nào ngơi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 15 (năm 1417), mệnh Phong Thành hầu Lý Bân sang thay trấn thủ. Người Giao vốn thích loạn, Trung quan Mã Kỳ (馬麒) đến thu mua, vét sạch trân bảo trong vùng, lòng dân xao động, những kẻ kiệt hiệt kích động dân chúng. Đại quân vừa về, dân liền đồng loạt nổi dậy làm loạn. Lục Na (陸那), Nguyễn Trinh (阮貞), Lê Hạch (黎核) ở Thuận Châu, Phan Cường (潘強) cùng Thổ quan Đồng tri Trần Khả Luận (陳可論), Phán quan Nguyễn Chiêu (阮昭), Thiên hộ Trần Hung (陳恟), Phán quan phủ Nam Linh Nguyễn Nghĩ (阮擬), Tri huyện Tả Bình Phạm Bá Cao (范伯高), Huyện thừa Vũ Vạn (武萬), Bách hộ Trần Kỷ Luật (陳己律)... nhất thời đều phản. Bân đều sai tướng thảo diệt, nhưng kẻ phản loạn vẫn không dứt. Ngay sau đó, Tuần kiểm Lạc Hạnh là Lê Lợi (黎利) ở Tứ Mang (四忙), con trai của cố Tri huyện Xa Miên là Tam (三), Tri phủ Nghệ An Phan Liêu (潘僚), Thiên hộ Nam Linh Trần Thuận Khánh (陳順慶), Bách hộ vệ Nghệ An Trần Trực Thành (陳直誠) cũng thừa cơ tác loạn. Những kẻ gian quỹ khác như Phạm Nhuyễn (范軟) nổi dậy ở Phù Lạc, Võ Cống (武貢); Hoàng Nhữ Điển (黃汝典) ở sông Kế Giang (偈江); Nùng Văn Lịch (儂文歷) ở Khâu Ôn (Khâu Ôn - 丘溫); Trần Thủy Quả (陳水果) ở Vũ Định (武定); Nguyễn Đặc (阮特) ở Khoái Châu (快州); Ngô Cự Lai (吳巨來) ở Thiện Thệ (善誓); Trịnh Công Chứng (鄭公證), Lê Tiết (黎姪) ở Đồng Lợi (同利); Đào Cường (陶強) ở Thiện Tài (善才); Đinh Tông Lão (丁宗老) ở Đại Loan (大灣); Phạm Ngọc (范玉) ở An Lão (安老), thảy đều tự phong quan tước, giết tướng lại, đốt nhà cửa. Có Dương Cung (楊恭), Nguyễn Đa (阮多) đều tự xưng vương, phong đồng đảng là Vi Ngũ (韋五), Đàm Hưng Bang (譚興邦), Nguyễn Gia (阮嘉) làm Thái sư, Bình chương, nương tựa lẫn nhau. Trong đó Phan Liêu và Phạm Ngọc là ngang ngược nhất. Liêu là con của cố Tri phủ Nghệ An Quý Hựu, nối chức cha, không chịu nổi sự ngược đãi của Mã Kỳ bèn phản. Thổ quan Chỉ huy Lộ Văn Luật (路文律), Thiên hộ Trần Đài (陳苔)... đi theo hắn. Ngọc là nhà sư chùa Đồ Sơn (塗山寺), tự xưng "trời ban ấn kiếm", bèn tiếm hiệu La Bình vương (羅平王), niên hiệu Vĩnh Ninh (永寧), cùng Phạm Thiện (范善), Ngô Trung (吳中), Lê Hành (黎行), Đào Thừa (陶承)... làm loạn, phong làm Tướng quốc, Tư không, Đại tướng quân, đánh chiếm thành ấp. Bân đi chinh phạt đông tây, không lúc nào ngơi tay. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 (năm 1420), sắc lệnh Phong Thành hầu Lý Bân mau chóng tiễu trừ phản khấu An Nam.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Triều đình thấy giặc lâu ngày chưa dẹp xong, tháng 3 năm Vĩnh Lạc thứ 18 (năm 1420), mệnh Vinh Xương bá Trần Trí (陳智) làm Tả tham tướng sang hỗ trợ. Lại giáng sắc trách Bân rằng: "Phản khấu Phan Liêu, Lê Lợi, Xa Tam, Nùng Văn Lịch... đến nay chưa bắt được, binh đao bao giờ mới dứt? Dân bao giờ mới yên? Phải rộng định phương lược, mau chóng báo tin bình định." Bân sợ hãi, đốc thúc chư tướng truy tiễu. '''Mùa thu năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 (năm 1421), bọn giặc thảy đều bị phá diệt, chỉ có Lê Lợi (黎利) là không bắt được. Phan Liêu (潘僚) trốn sang Lão Qua (老撾), hợp quân với Lợi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 20 (năm 1422), chiếu mệnh Vinh Xương bá Trần Trí (陳智) trấn thủ An Nam; vì không thể tiêu diệt được Lê Lợi (黎利), vua xuống sắc trách cứ.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 20 (năm 1422), (Lý) Bân (李彬) mất tại chức, chiếu mệnh (Trần) Trí thay trấn thủ. (Lê) Lợi ban đầu phục vụ Trần Quý Khoách (陳季擴), làm Kim ngô tướng quân, sau quy thuận, được dùng làm Tuần kiểm huyện Nga Lạc (俄樂縣) thuộc phủ Thanh Hóa (清化府), lòng luôn u uất không đắc chí. Đến khi đại quân rút về, bèn làm phản, tiếm xưng là Bình Định Vương (平定王), lấy em là Thạch (石) làm Tướng quốc, cùng đồng đảng là Đoàn Mãng (段莽), Phạm Liễu (范柳), Phạm Án (范晏)... đem quân cướp phá. Quan quân thảo phạt, bắt sống được bọn Án, Lợi trốn đi. Được một thời gian, Lợi ra chiếm cứ đồn Khả Lam (可藍堡) hành tống. Các tướng Phương Chính (方政), Sư Hữu (師祐) tiễu phạt bắt được Ngụy tướng quân Nguyễn Cá Lập (阮箇立) của hắn, Lợi trốn sang ẩn náu ở Lão Qua (老撾 - Lào). Đến khi bọn Chính rút về, Lợi lại xuất hiện, giết chết Tuần kiểm Ngọc Cục. Các tướng khác đuổi theo, Lợi lại trốn đi. Mùa hè năm thứ 17 (năm 1419), trời nắng nóng chướng khí thịnh, (quân Minh) bàn đợi mùa thu mát mẻ sẽ tiến binh, Lợi nhờ đó mà lập kế. Mùa thu năm ấy, Lợi ra đánh phá Lỗi Giang (磊江), bị đánh bại liền lẩn trốn; khi bọn Lão Qua và quần đạo thảy đều bị diệt, Lợi càng ẩn náu sâu hơn. (Lý) Bân tấu rằng: "Lợi lẩn trốn ở Lão Qua, Lão Qua sắp phát binh tập kích. Họ xin quan quân đừng vào, họ sẽ tự phát hết binh bộ hạ để bắt Lợi. Nay đã lâu mà không thấy giao nộp, tình hình khó lường." Thiên tử nghi ngờ Lão Qua bao che giặc, lệnh cho Bân đưa sứ thần của họ về kinh sư để tra hỏi. Lão Qua bèn xua đuổi Lợi. Vừa lúc (Trần) Trí thay Bân, Thiên tử cho rằng Trí không thể diệt được giặc, bèn giáng sắc trách cứ. '''Tháng 1 năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 (năm 1423), Trí đuổi theo Lợi tại huyện Xa Lai (車來縣) thuộc Ninh Hóa Châu (寧化州), đánh bại được, Lợi lại chạy trốn ra xa.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 22 (năm 1424), đầu mục của Lê Lợi là Phạm Ngưỡng (范仰) cùng những người khác đến hàng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa thu năm Vĩnh Lạc thứ 22 (năm 1424), Trí tấu rằng: "Lợi ban đầu trốn sang Lão Qua, sau bị xua đuổi phải về huyện Quy Hồn (歸魂縣). Quan quân tiến đánh, đầu mục của hắn là Phạm Ngưỡng (范仰) cùng những người khác đã dẫn theo 1.600 nam phụ đến hàng. Lợi tuy xin cầu hòa, nguyện đem bộ hạ về quy thuận nhưng chỉ dừng ở Nga Lạc (俄樂) không ra, việc chế tạo quân khí vẫn chưa dừng, nhất định phải tiến binh." ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9gtnpkp5?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] as1dk4lm0u49gfejzwl32hm0r58sufp 204611 204610 2026-04-08T11:00:26Z Mrfly911 2215 204611 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第093卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 93''' | trước= [[../quyển 092|quyển 92]] | sau= [[../quyển 094|quyển 94]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 4== ===Minh (phần 1)=== '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 1 (năm 1368) đời Minh Thái Tổ (明太祖), An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê (陳日煃 - tức vua Trần Dụ Tông) sai sứ sang triều cống.''' * ''Xét theo "Minh Thông kỷ" (明通紀) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh Hội điển" (明會典):'' Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), ban cho Quốc vương lịch "Đại Thống" (大統曆) cùng lụa màu và các vật phẩm. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考):'' Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368) khi lên ngôi, (Thái Tổ) xuống chiếu dụ khắp trong ngoài bốn biển, Nhật Khuê lấy làm lo sợ. Lại nghe tin Chinh Nam tướng quân Liêu Vĩnh Trung (廖永忠), Phó tướng quân Chu Lượng Tổ (朱亮祖) dẫn quân vượt núi Lĩnh, thu hàng Hà Chân (何真), định yên Quảng Đông và Quảng Tây. Nhật Khuê muốn tuân phục nhưng vì Lương vương (nhà Nguyên) vẫn còn ở Vân Nam (雲南) nên còn giữ thái độ lưỡng lự. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' An Nam vốn là đất Giao Chỉ (交趾) cổ, trước thời Đường đều thuộc Trung Hoa. Thời Ngũ đại, bắt đầu bị người bản địa là Khúc Thừa Mỹ (曲承美) chiếm giữ. Đầu thời Tống, mới phong Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) làm Giao Chỉ quận vương, truyền được 3 đời thì bị đại thần Lê Hoàn (黎桓) cướp ngôi. Họ Lê cũng truyền được 3 đời thì bị đại thần Lý Công Uẩn (李公蘊) cướp ngôi. Họ Lý truyền 8 đời không có con trai, truyền cho con rể là Trần Nhật Cảnh (陳日炬 - tức Trần Thái Tông), thời Nguyên từng nhiều lần phá nước ấy. Năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), vương là Nhật Khuê nghe tin Liêu Vĩnh Trung định yên lưỡng Quảng, định sai sứ nộp khoản, nhưng vì Lương vương ở Vân Nam nên chưa thành. Tháng 12, Thái Tổ mệnh cho Tri phủ Hán Dương (漢陽) là Dịch Tế (易濟) mang chiếu sang dụ. Nhật Khuê liền sai Thiếu trung đại phu Đồng Thời Mẫn (同時敏), Chính đại phu Đoạn Thế Đệ (段悌), Lê An Thế (黎安世) dâng biểu sang triều, cống phương vật. Tháng 6 năm sau đến Kinh sư. * ''(Ghi chú: Theo Thông khảo và Minh sử, năm này mới bắt đầu sai sứ sang cống nhưng chưa tới nơi; Hội điển chép ban lịch và lụa màu vào năm này, nghi là nên đưa vào năm thứ 2 thì đúng hơn).'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 2 (năm 1369), phong Trần Nhật Khuê làm An Nam quốc vương. Sứ giả chưa đến nơi thì Nhật Khuê mất. Cháu là Nhật Kiên (日熞 - tức vua Dương Nhật Lễ) nối ngôi, sai sứ sang xin mệnh. Lúc bấy giờ An Nam và Chiêm Thành (占城) đang đánh nhau, (nhà Minh) sai sứ sang dụ, cả hai đều vâng mệnh.''' * ''Xét theo "Minh Nhất thống chí" (明一統志):'' Đất Nam Giao cổ, thời Tần thuộc Tượng Quận (象郡). Đầu thời Hán thuộc về Nam Việt, Vũ Đế bình Nam Việt, đặt 3 quận Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), kiêm đặt Giao Chỉ Thứ sử, trị sở tại Luy Lâu (羸). Đông Hán, quận thuộc Giao Châu (交州). Nhà Ngô đặt thêm 3 quận Cửu Đức (九德), Vũ Bình (武平), Tân Xương (新昌). Nhà Tống lại đặt thêm quận Tống Bình (宋平), dời trị sở Giao Châu đến Long Biên (龍編). Nhà Lương, nhà Trần đặt Đô đốc phủ tại Giao Châu. Đầu thời Tùy, bãi bỏ quận, đổi Đô đốc phủ thành Tổng quản phủ. Đầu thời Đường, vẫn gọi là Giao Châu. Đầu năm Điều Lộ, đổi làm An Nam đô hộ phủ. Đầu năm Chí Đức, đổi làm Trấn Nam đô hộ phủ. Khoảng năm Đại Lịch, gọi lại là An Nam. Thời Lương của Ngũ Đại, hào trưởng bản địa Khúc Thừa Mỹ chiếm giữ đất này, sau bị Lưu Ẩn thôn tính. Sau Dương Diên Nghệ (楊延藝), (Kiều) Thiệu Hồng (紹洪) kế tiếp nhau làm Giao Chỉ Tiết độ sứ, rồi trong vùng đại loạn, suy tôn Đinh Bộ (丁部) làm Châu soái, con là (Đinh) Liễn kế vị. Nhà Tống bình định Lĩnh Biểu, Liễn nội phụ, phong Giao Chỉ quận vương. Em là Toàn (璿) nối ngôi, bị tướng là Lê Hoàn cướp ngôi. Sau đó Lý Công Uẩn cướp ngôi họ Lê, Trần Nhật Cảnh cướp ngôi họ Lý, nhưng thảy đều xưng thần với Trung Hoa, phong Giao Chỉ quận vương. Thời Nguyên Hiến Tông, sai tướng phá nước ấy, Nhật Cảnh chạy ra hải đảo. Sau quy phụ, phong con là Quang Bính (光昺 - tức Trần Thánh Tông) làm An Nam quốc vương. Quang Bính chết, con là Nhật Huyên (日烜) tự lập, Thế Tổ lại phát binh đánh phá. Nhật Huyên chết, con là Nhật Tuân (日燇) sai sứ nhập cống. Đầu thời Hồng Vũ của bản triều, Trần Nhật Khuê tiên phong quy phụ, vẫn ban cho ấn An Nam quốc vương. An Nam phía Đông đến biển 320 dặm, phía Tây đến ranh giới Lão Qua (老撾 - Lào) Tuyên úy ty thuộc Vân Nam 560 dặm, phía Nam đến biên giới Chiêm Thành 1.900 dặm, phía Bắc đến ranh giới huyện Bằng Tường thuộc phủ Tư Minh Quảng Tây 400 dặm. Từ nước ấy đến Nam Kinh 7.720 dặm, đến Kinh sư 11.165 dặm. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo":'' Năm thứ 2 (năm 1369), bắt đầu sai Thiếu trung đại phu Đồng Thời Mẫn, Chính đại phu Đoạn Thế Đệ, Lê An Thế sang triều cống xin phong. (Nhà Minh) sai Thị độc học sĩ Trương Dĩ Ninh (張以寧), Điển bạ Ngưu Lượng (牛諒) sang phong Nhật Khuê làm An Nam quốc vương, ban ấn bạc mạ vàng núm hình lạc đà. Bọn Dĩ Ninh đến biên giới An Nam thì Nhật Khuê đã mất, em là Nhật (日 - tức Trần Nghệ Tông) nối ngôi, sai Nguyễn Nhữ Lượng (阮汝亮) ra đón xin cáo ấn, Dĩ Ninh không nghe. Nhật sai Đỗ Thuấn Khâm (杜舜欽) sang triều đình xin mệnh. Dĩ Ninh đóng tại An Nam đợi mệnh, sau đó có chiếu phong Nhật làm Vương. Năm ấy, sai Hàn lâm Biên tu La Phục Nhân (羅復仁), Binh bộ Chủ sự Trương Phúc (張福) mang chiếu dụ vua An Nam và Chiêm Thành, thảy đều bãi binh cho dân nghỉ ngơi, cả hai nước đều nghe mệnh. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 12 năm Hồng Vũ thứ 1 (năm 1368), Nhật Khuê sai sứ dâng biểu triều cống phương vật. Tháng 6 năm sau đến Kinh sư. Vua mừng, ban yến, mệnh Thị độc học sĩ Trương Dĩ Ninh, Điển bạ Ngưu Lượng sang phong làm An Nam quốc vương, ban ấn bạc mạ vàng núm hình lạc đà. Chiếu viết: "Hỡi ngươi An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê, duy ông cha ngươi giữ cõi phương Nam, xưng phiên với Trung Hoa, cung kính chức trách thần tử để giữ mãi phong ấp đời đời. Trẫm nhờ linh khí trời đất, quét sạch Hoa Hạ, đưa thư báo tin, khanh liền dâng biểu xưng thần, sai sứ tới chúc mừng. Thật đúng phép tiền nhân, yên dân viễn xứ. Lòng cần thành ấy đáng được ngợi khen. Nay sai sứ mang ấn, phong ngươi làm An Nam quốc vương...". Ban cho Nhật Khuê lịch "Đại Thống", 40 xấp gấm thêu vàng, lụa, sa, la; bọn Đồng Thời Mẫn trở xuống thảy đều có thưởng. Bọn Dĩ Ninh đến nơi thì Nhật Khuê đã mất trước đó, cháu là Nhật Kiên (日熞 - tức Dương Nhật Lễ) nối ngôi, sai thần hạ là Nguyễn Nhữ Lượng đến đón xin cáo ấn; Dĩ Ninh không cho. Nhật Kiên lại sai Đỗ Thuấn Khâm sang xin mệnh tại triều đình, Dĩ Ninh đóng lại An Nam đợi mệnh. Lúc đó An Nam và Chiêm Thành đang đánh nhau, vua mệnh La Phục Nhân, Trương Phúc dụ lệnh bãi binh, hai nước đều phụng chiếu. '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370), An Nam cáo tang xin mệnh, (nhà Minh) sai sứ sang điếu tế. Phong Nhật Kiên làm An Nam quốc vương. Nhật Kiên lại sai sứ sang tạ ơn, cống phương vật.''' * ''Xét theo "Minh Thông kỷ":'' Năm Hồng Vũ thứ 3 (năm 1370), sứ thần An Nam là Đỗ Thuấn Khâm vì chủ mình là Trần Nhật Khuê mất, sang cáo tang xin mệnh. Vua triệu kiến, tự soạn văn tế, mệnh Hàn lâm Biên tu Vương Liêm (王廉) sang tế, đặt linh vị Nhật Khuê riêng tại điện, Liêm đứng hướng Nam tuyên đọc, vua tôi nước ấy quỳ lạy lắng nghe, xong lễ thì về. * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo":'' Năm thứ 3 (năm 1370) Nhật (日 - tức Nghệ Tông) mất, phong cho con là Nhật Kiên (日熞) nối ngôi Vương. * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 4 năm thứ 3 (năm 1370), bọn Thuấn Khâm đến cáo tang, vua mặc tố phục ngự tại cửa Tây Hoa triệu kiến, sai Biên tu Vương Liêm sang tế, tặng 50 lượng bạc trắng, 50 xấp lụa. Lại sai Lại bộ Chủ sự Lâm Đường Thần (林唐臣) phong Nhật Kiên làm Vương, ban ấn vàng cùng 40 xấp gấm thêu lụa sa. Liêm đi rồi, vua thấy Mã Viện thời Hán lập cột đồng trấn giữ Nam Man công lao rất lớn, mệnh Liêm đến tế. Sau đó ban chiếu khoa cử cho nước ấy, lại vì việc định lại thần hiệu núi sông và quét sạch sa mạc mà 2 lần sai quan sang thông báo. Nhật Kiên sai Thượng đại phu Nguyễn Kiêm (阮兼), Trung đại phu Mạc Kế Long (莫季龍), Hạ đại phu Lê Nguyên Phổ (黎元普) sang tạ ơn và cống phương vật. Kiêm chết dọc đường, vua ban thưởng cho Vương và sứ thần, lại đưa linh cữu Kiêm về nước. Không lâu sau, bọn Phục Nhân về, nói là từ chối không nhận quà tiễn của nước ấy. Vua khen ngợi, ban thưởng thêm cho bọn Kế Long. * ''Xét theo "Danh sơn tàng – Vương hưởng ký":'' An Nam quốc vương Trần Nhật Khuê nhập cống cầu phong, sai học sĩ Trương Dĩ Ninh mang chiếu phong làm An Nam vương. Đi đến biên giới thì Nhật Khuê đã mất, con của anh là Nhật Kiên nối ngôi, muốn đòi ấn vương ngay, Dĩ Ninh ôm lấy hòm ấn không cho, bắt phải xin tại triều rồi đứng đợi ở biên giới. Sau khi tấu lên, vua mệnh Dĩ Ninh trao ấn cho Nhật Kiên, lại sai sứ khác điếu tế Nhật Khuê. Dĩ Ninh lúc đó mới vào, Nhật Kiên ra ngoại ô đón. Vì Nhật Khuê chưa có linh vị, nên đặt vị hướng Bắc, sứ giả hướng Nam trao chiếu, Nhật Kiên phủ phục tạ ơn. Ngày hôm sau, quỳ dài dập đầu nhận ấn. Người Giao vốn xưa nay chỉ vái chào làm lễ, đến nay mới quỳ dài dập đầu. Dĩ Ninh về báo cáo, vua hài lòng nói: "Ấy mới là sứ giả của ta". Nhật Kiên ở nước mình say mê sắc tửu, từng dâng 2 con gái, dung mạo uyển chuyển diễm lệ, may vá khéo léo, lục cung không ai bì kịp. Cao Đế nhận lấy. Được vài năm, lại dâng thêm 2 con gái, Cao Đế không vui nói: "Hắn bảo Trẫm là kẻ ham mê sắc dục sao?" Bèn đem trả cả 2 người trước cùng 2 người sau về, bảo sứ giả rằng: "Về bảo Vương, gả họ cho người khác như con gái mình vậy." * ''(Ghi chú: Theo Thông khảo, năm thứ 2 Nhật Khuê mất em là Nhật nối ngôi; năm thứ 3 Nhật mất con là Nhật Kiên nối ngôi. "Danh sơn tàng" chép Nhật Khuê mất con của anh là Nhật Kiên nối ngôi. "Minh ngoại sử" chép Nhật Khuê mất cháu là Nhật Kiên nối ngôi. Thảy đều chép lại để tham khảo).'' '''Mùa xuân năm Hồng Vũ (洪武) thứ 4 (năm 1371), (An Nam) sai sứ dâng voi, chúc mừng việc bình định sa mạc. Lại sai sứ đi theo bọn Trương Dĩ Ninh (張以寧), Lâm Đường Thần (林唐臣), Vương Liêm (王廉) sang triều kiến. Mùa đông năm ấy, Nhật Kiên (日熞 - tức Dương Nhật Lễ) bị bác là Thúc Minh (叔明 - tức Trần Nghệ Tông) bức tử.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Danh sơn tàng – Vương hưởng ký" (名山藏·王享記):'' "Nhật Kiên cuối cùng vì hoang hôn không lo chính sự, bị chú là Thúc Minh bức tử, Thúc Minh tự lập làm vua." * ''(Ghi chú: Bác và chú chép khác nhau, chưa biết bên nào đúng).'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 (năm 1372), Trần Thúc Minh (陳叔明) sai người sang triều cống, nhưng bị khước từ không nhận.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" (續文獻通考) chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Mùa đông năm thứ 4 (năm 1371), Nhật Kiên bị Thúc Minh bức tử. Thúc Minh sợ tội, cống voi và phương vật, sang năm sau mới đến Kinh sư. Lễ quan thấy tên ký trên biểu không phải tên Nhật Kiên, gặng hỏi biết được sự thực, có chiếu khước từ." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 (năm 1373), An Nam lại sai người sang nộp cống tạ tội và xin phong.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Thúc Minh lại triều cống, tạ tội xin phong. Sứ giả nói thác rằng Nhật Kiên thực sự bệnh chết, Thúc Minh vốn nhường nhịn lánh ra ngoài nhưng được người trong nước suy tôn. Vua lệnh cho người trong nước để tang Nhật Kiên, còn Thúc Minh tạm dùng ấn của tiên vương để quản lý công việc." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 (năm 1374), xuống chiếu định kỳ hạn triều cống.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng 3 năm thứ 7 (năm 1374), Thúc Minh sai sứ tạ ơn, tự xưng tuổi đã già, xin mệnh cho em là Thuyên (煓 - tức vua Trần Duệ Tông) nhiếp chính, vua nghe theo. Thuyên sai sứ tạ ơn, nhân đó xin định kỳ hạn cống. Chiếu định 3 năm 1 lần cống. Tân vương thế kiến (vừa mới nối ngôi) nên lại sai sứ sang cống. Vua lệnh cho hữu ty dụ khước đi, lại định rõ sứ giả không quá 3 đến 4 người, cống vật không cần hậu." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 (năm 1377), Thuyên (煓) đánh Chiêm Thành (占城) rồi bại trận tử vong. Em là Vi (煒 - tức vua Trần Phế Đế) nối ngôi. Thiên tử cho rằng An Nam cậy thế cường hãn, nhiều lần xâm phạm Chiêm Thành, bèn ban sắc dụ Thúc Minh.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng Giêng năm thứ 10 (năm 1377), Thuyên đánh Chiêm Thành bại trận tử vong, em là Vi thay ngôi, sai sứ báo tang, mệnh cho Trung quan Trần Năng (陳能) sang tế. Lúc đó An Nam cậy mạnh, muốn diệt Chiêm Thành, ngược lại dẫn đến bại vong. Vua sai quan dụ cựu vương Thúc Minh chớ gây hấn để lại họa sau, vì Thúc Minh thực tế vẫn chủ trì việc nước. Thúc Minh cống phương vật tạ tội, bèn được ban yến thưởng theo chế độ. Thổ quan Tư Minh (思明) thuộc Quảng Tây tố cáo An Nam phạm cảnh, An Nam cũng tố Tư Minh nhiễu biên. Vua ghét họ dùng lời xảo trá, khi sứ cống đến bèn khước từ, gửi hịch kể tội gian cuống, sắc cho thủ thần không được đón tiếp sứ giả. Vi sợ hãi, sai sứ tạ ơn. Liên tiếp nhiều năm cống thái giám (hoạn quan), vàng bạc, mâm tử kim, bình rượu vàng, voi ngựa các loại. Vua mệnh Trợ giáo Dương Bàn (楊盤) sang sứ, lệnh cho tiếp tế quân lương Vân Nam, Vi liền nộp 5.000 thạch lương tại Lâm An (臨安)." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 (năm 1387), Vi (煒) sai sứ sang cống mừng thọ vua.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 (năm 1388), xuống chiếu An Nam vẫn giữ lệ 3 năm 1 lần cống. Năm ấy Quốc tướng Lê Quý Ly (黎季犛) phế Nhật Vi (日煒) rồi giết đi, lập con của Thúc Minh là Nhật Hỗn (日焜 - tức vua Trần Thuận Tông), vẫn mượn danh Vi để nhập cống.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Năm thứ 21 (năm 1388), vua lại mệnh Lễ bộ Lang trung Hình Văn Vĩ (邢文偉) mang sắc và tệ vật sang ban thưởng. Vi sai sứ tạ ơn, lại dâng voi. Vua cho rằng việc cống quá phiền hà, vật cống xa xỉ, mệnh giữ lệ 3 năm 1 lần cống, không cần dâng tê giác và voi. Đúng lúc đó, Quốc tướng Lê Quý Ly tiếm quyền, ôm mưu bất chính, tháng 12 phế chủ là Vi, rồi giết đi, lập con của Thúc Minh là Nhật Hỗn chủ trì việc nước, vẫn mượn danh Vi để vào cống. Triều đình không biết nên vẫn nhận. Qua vài năm sau mới nhận ra, mệnh cho thủ thần Quảng Tây tuyệt giao với sứ giả. Quý Ly sợ hãi." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 22 (năm 1389), Trần Nhật Hỗn (陳日焜) mượn danh "Vi" sai người sang cống.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' '''Tháng 5 năm Hồng Vũ (洪武) thứ 27 (năm 1394), An Nam sai sứ từ đường Quảng Đông vào cống. Vua giận, sai quan chất vấn trách cứ, khước từ vật cống. Quý Ly càng sợ hãi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 (năm 1395), An Nam lại vào cống, (nhà Minh) nhận lấy. Sai sứ dụ lệnh nộp gạo tiếp tế cho quân ở Long Châu (龍州).''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Năm thứ 28 (năm 1395) lại dùng lời quỷ quyệt vào cống. Vua tuy ghét tội giết vua cướp ngôi, nhưng không muốn nhọc quân viễn chinh, nên vẫn nhận. Đại quân đang phạt Long Châu, Triệu Tông Thọ (趙宗壽) mệnh cho Lễ bộ Thượng thư Nhậm Hanh Thái (任亨泰), Ngự sử Nghiêm Chấn Trực (嚴震直) dụ Nhật Hỗn chớ tự nghi ngờ. Quý Ly nghe tin ra quân thì rất sợ, nghe lời bọn Hanh Thái mới hơi yên tâm. Vua lại sai Hình bộ Thượng thư Dương Tĩnh (楊靖) dụ lệnh nộp 80.000 thạch gạo để nuôi quân Long Châu. Quý Ly nộp 10.000 thạch, dâng biếu 1.000 lượng vàng, 20.000 lượng bạc. Lại nói đường bộ Long Châu hiểm trở, xin vận chuyển đến động Bằng Tường (憑祥). Dương Tĩnh không chịu, lệnh nộp 20.000 thạch tại sông Đà Hải (沲海江). Sông này cách Long Châu chỉ nửa ngày đường. Dương Tĩnh nhân đó nói: 'Nhật Hỗn tuổi nhỏ, quốc sự đều do cha con Quý Ly quyết định. Họ nghe tin Tông Thọ đã được tha tội nên mới quan vọng như thế'. Lúc đó vua vì Tông Thọ đã hàng, dời binh chinh phạt các man ở Hướng Võ (向武), bèn dụ Dương Tĩnh lệnh nộp 20.000 thạch cấp cho quân, còn vàng bạc họ biếu thì miễn cho không nhận." '''Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 29 (năm 1396), sai Hành nhân Trần Thành (陳誠), Lã Nhượng (呂讓) dụ lệnh trả lại 5 huyện thuộc Tư Minh (思明), (An Nam) không nghe theo.''' * ''Xét theo "Tục Văn hiến thông khảo" chép như vậy.'' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' "Tháng 2 năm thứ 29 (năm 1396), Quý Ly báo tang cựu vương Thúc Minh. Vua cho rằng Thúc Minh vốn là kẻ cướp ngôi giết chúa, nếu điếu tế là khuyến khích loạn tặc nên không thực hiện, chỉ gửi hịch báo cho biết. Thổ quan Tư Minh là Hoàng Quảng Thành (黃廣成) tâu rằng: 'Từ khi Nguyên đặt Tổng quản phủ Tư Minh, cai quản các châu huyện tả giang, phía Đông lấy Thượng Tư Châu (上思州), phía Nam lấy Đồng Trụ (銅柱) làm giới hạn. Khi Nguyên chinh Giao Chỉ, cách Đồng Trụ 100 dặm lập vạn hộ phủ Vĩnh Bình (永平), phái binh đóng giữ, lệnh cho người Giao tiếp tế quân nhu. Cuối thời Nguyên loạn lạc, người Giao đánh phá Vĩnh Bình, vượt qua Đồng Trụ hơn 200 dặm, xâm chiếm 5 huyện thuộc Tư Minh là Khâu Ôn (丘溫), Như Ngao (如嶅), Khánh Viễn (慶遠), Uyên Thoát (淵脫)... bức dân phụ thuộc theo. Gần đây lại báo Nhậm Thượng thư đặt trạm dịch tại đất Đăng địa thuộc động Tư Minh. Thần từng tâu lên, được phái Dương Thượng thư khám thực, xin sắc lệnh cho An Nam trả lại 5 huyện cho thần, vẫn vạch biên giới tại Đồng Trụ'. Vua mệnh Hành nhân Trần Thành, Lã Nhượng sang dụ, Quý Ly cố chấp không theo. Thành tự viết thư dụ Nhật Hỗn, Quý Ly gửi thư tranh biện, lại mượn danh Nhật Hỗn gửi thư cho Hộ bộ. Bọn Thành về báo mệnh, vua biết họ cuối cùng không chịu hoàn trả, bèn nói: 'Man di tranh nhau từ cổ đã có. Họ cậy sự bướng bỉnh tất chuốc họa, cứ tạm chờ đó thôi'." '''Năm Kiến Văn (建文) thứ 1 (năm 1399) đời Huệ Tông (惠宗), Lê Quý Ly (黎季犛) nước An Nam giết vua của mình mà tự lập, đổi tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元), sau lại truyền ngôi cho con là Đê (夷).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' "Năm Kiến Văn thứ 1 (năm 1399), Quý Ly giết Nhật Hỗn (日焜 - Trần Thuận Tông), lập con là Ngung (顒 - Trần Thiếu Đế). Chẳng bao lâu lại giết Ngung, lập em của Ngung." Khi đó người em còn đang trong tã lót, Quý Ly lại giết đi, giết sạch tông tộc họ Trần rồi tự lập, đổi họ tên thành Hồ Nhất Nguyên (胡一元), đặt tên con là Hán (蒼 - tức Hồ Hán Thương) là "Hồ Đê" (胡夷), tự nhận là dòng dõi Hồ Công - hậu duệ Đế Thuấn, sau đó tiếm hiệu quốc hiệu Đại Ngu (大虞), niên hiệu Nguyên Thánh (元聖). Chẳng bao lâu tự xưng Thái thượng hoàng, truyền ngôi cho Đê, triều đình (nhà Minh) không hề hay biết. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403) đời Thành Tổ (成祖), phong Hồ Đê làm An Nam quốc vương. Lúc đó Lão Qua (老撾 - Lào) đưa hậu duệ nhà Trần là Thiên Bình (天平) đến xin quân thảo phạt tội篡弒 (cướp ngôi giết vua) của Hồ Đê.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Sau khi Thành Tổ lên ngôi, sai quan mang chiếu tức vị thông cáo nước ấy. Tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 1 (năm 1403), Đê tự xưng quyền lý quốc sự An Nam, sai sứ dâng biểu triều cống, nói rằng: "Thời Cao Hoàng đế, An Nam vương Nhật Khuê tiên phong quy phụ, không may mất sớm, hậu duệ đã tuyệt. Thần là cháu ngoại họ Trần được chúng dân suy tôn quyền lý quốc sự đến nay đã 4 năm. Mong thiên ân ban phong tước, thần thề chết không hai lòng." Sự việc giao xuống Lễ bộ, bộ thần nghi ngờ, xin sai quan đi điều tra thực tế. Bèn mệnh Hành nhân Dương Bột (楊渤) mang sắc dụ bồi thần phụ lão nước ấy, phàm là việc họ Trần còn hay mất hậu duệ, việc Hồ Đê được suy tôn là thật hay giả, đều phải tâu thực. Sau đó, Đê lại sai sứ đi cùng bọn Bột về, dâng biểu của bồi thần phụ lão theo đúng lời dối trá của Đê để lừa gạt Thiên tử, xin sớm ban phong tước. Vua bèn mệnh Lễ bộ Lang trung Hạ Chỉ Thiện (夏止善) phong làm An Nam quốc vương. Đê sai sứ tạ ơn, nhưng trong nước vẫn tự xưng như cũ. Đê xâm chiếm các châu Lộc, Tây Bình và trại Vĩnh Bình thuộc Tư Minh, Thiên tử dụ lệnh trả lại nhưng Đê không nghe. Chiêm Thành tố cáo An Nam xâm lược, có chiếu lệnh tu hảo. Đê ngoài miệng nói phụng mệnh nhưng bên trong xâm lược như cũ, lại ban ấn chương, ép làm thuộc quốc, lại chặn cướp đồ ban tặng của Thiên triều. Thiên tử ghét lắm, đang lúc sai quan trách phạt thì cựu bồi thần Bùi Bá Kỳ (裴伯耆) đến cửa khuyết cáo nạn, nói rằng: "Ông cha thần đều là chức đại phu chấp chính, chết vì nước. Mẹ thần thuộc tộc gần của họ Trần, nên thần từ nhỏ hầu hạ Quốc vương chức ngũ phẩm, sau thuộc quyền Võ Tiết hầu Trần Khát Chân (陳渴真) làm tì tướng. Cuối thời Hồng Vũ, thay Khát Chân chống giặc ở Biển Đông, mà tặc thần Lê Quý Ly cha con giết chúa chiếm ngôi, tàn sát trung lương, diệt tộc đến hàng trăm mười người. Anh em vợ con thần cũng bị hại, chúng sai người bắt thần định giết. Thần bỏ quân trốn chạy, ẩn náu thung lũng, trằn trọc mấy năm mới đến được cửa khuyết nhìn thấy trời xanh. Trộm nghĩ Quý Ly là con của cố Kinh lược sứ Lê Quốc Mạo, đời thờ họ Trần, trộm lấy sủng vinh, đến con là Hán cũng được trọng dụng, một mai đắc chí bèn thành cướp đoạt, đổi họ thay tên, tiếm hiệu cải nguyên, không cung kính triều mệnh. Trung thần lương sĩ đau lòng nhức óc, nguyện dấy quân điếu phạt, dựng lại dòng họ đã tuyệt, tiễu trừ gian hung, lập lại hậu duệ họ Trần. Thần chết không hối tiếc..." Thiên tử nghe tấu cảm động, mệnh hữu ty chu cấp áo cơm. Vừa lúc Lão Qua đưa Trần Thiên Bình (陳天平) đến, Thiên Bình nói: "Thần là cháu của tiên vương Nhật Huyên (日烜), Nhật Khuê là em của ông nội thần. Giặc Lê diệt tận tộc Trần, thần trốn ở châu ngoài mới thoát. Bồi thần kích động bởi trung nghĩa, suy tôn thần làm chủ thảo tặc. Đang lúc bàn chiêu quân thì giặc đuổi tới, vội vã chạy trốn thung lũng, vạn phần chết một mới đến được Lão Qua. Nghe bệ hạ lên ngôi chính thống, thần có nơi nương tựa, bò lết vạn dặm tới kêu van. Hậu duệ họ Trần chỉ còn một mình thần. Thần với giặc này không đội trời chung, cúi xin thánh từ thương xót, mau phát 6 sư (quân đội) thực thi thiên thảo." Thiên tử càng cảm động, mệnh hữu ty sắp xếp quán xá. Đê sai sứ mừng tết Nguyên đán, vua đưa Thiên Bình ra cho xem, sứ giả đều ngơ ngác lạy xuống, có người bật khóc. Bá Kỳ trách mắng sứ giả bằng đại nghĩa, sứ giả sợ hãi không đáp được. Vua bảo thị thần: "Cha con Đê bội nghịch, quỷ thần không dung. Mà thần dân trong nước cùng nhau lừa dối, cả nước đều là tội nhân, Trẫm sao dung thứ được!" '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405), An Nam Hồ Đê giả vờ xin đón Trần Thiên Bình về làm chủ, sắc cho Quảng Tây tướng quân Hoàng Trung (黃中), Lã Nghị (呂毅) đem quân tiễn đưa.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405), mệnh Ngự sử Lý Kỳ (李琦), Hành nhân Vương Khu (王樞) mang sắc trách cứ Đê, lệnh tâu thực việc cướp ngôi. Châu Ninh Viễn ở Vân Nam lại tố Đê chiếm 7 trại, cướp phụ nữ. Đê sai thần là Nguyễn Cảnh Chân (阮景真) theo bọn Kỳ vào triều tạ tội, nói thác là chưa từng tiếm hiệu, xin đón Thiên Bình về làm chủ, trả lại đất Lộc Châu, Ninh Viễn. Vua không lường được sự dối trá, hứa cho, mệnh Hành nhân Nhiếp Thông (聶聰) mang sắc sang dụ, nói nếu đón Thiên Bình về thờ như vua, sẽ phong cho Đê chức Thượng công, cai quản quận lớn. Đê lại sai Cảnh Chân theo Thông về báo việc đón Thiên Bình. Thông hết sức nói lời Đê đáng tin, vua bèn cho Thiên Bình về nước, sắc cho Quảng Tây Tả hữu phó tướng quân Hoàng Trung, Lã Nghị dẫn 5.000 quân tiễn đi. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 (năm 1406), Lê Quý Ly nước An Nam phản bội, Thành quốc công Chu Năng (朱能), Tây Bình hầu Mộc Thạnh (沐晟) dẫn quân thảo phạt.''' '''Năm thứ 5 (năm 1407), An Nam bình định, đổi thành quận huyện.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), Thiên Bình vào lạy từ biệt, vua ban thưởng hậu, sắc phong Đê làm Thuận Hóa quận công. Tháng 3, quân Minh hộ tống Thiên Bình vào cửa Kê Lăng, gần đến trạm Cần (芹站), Đê phục binh giết Thiên Bình, quân Minh bại về. Vua đại nộ, triệu Chu Năng bàn kế thảo phạt. Tháng 7, mệnh Năng đeo ấn Chinh Di tướng quân làm Tổng binh; Mộc Thạnh làm Tả phó tướng quân; Tân Thành hầu Trương Phụ (張輔) làm Hữu phó tướng quân; Phong Thành hầu Lý彬 (Lý Bân), Vân Dương bá Trần Húc làm Tả hữu Tham tướng, đốc sư nam chinh. Năng đến Long Châu thì bệnh chết. Phụ thay cầm quân tiến vào cửa Pha Lũy, truyền hịch kể 20 tội lớn của cha con Nhất Nguyên, dụ quốc dân về ý định lập con cháu họ Trần. Vượt cửa Kê Lăng đến trạm Cần, đánh tan phục binh, bắc cầu phao qua sông Xương Giang để tiến quân. Tiền phương tới huyện Gia Lâm bắc sông Phú Lương, Phụ từ trạm Cần đi đường phía Tây đến huyện Tân Phúc phủ Bắc Giang. Thám tử báo quân của Thạnh, Bân từ Vân Nam cũng đến Bạch Hạc, bèn sai Phiêu kỵ tướng quân Chu Vinh (朱榮) tới hội quân. Phụ phân đạo tiến quân, đi đến đâu thắng đó. Giặc men sông dựng rào gỗ, đắp thành đất tại ải Đa Bang. Thành lũy dài hơn 900 dặm, huy động hơn 2.000.000 dân giữ thành, các cửa biển đều đóng cọc gỗ, Đông Đô canh phòng nghiêm ngặt, quân thủy bộ xưng là 7.000.000 người, định đánh lâu dài cho quân Minh mệt mỏi. Phụ dời doanh đến cửa sông Cá Chiêu (箇招市江口) thuộc Tam Đới Châu đóng chiến thuyền. Thiên tử lo giặc kéo dài thời gian chờ chướng khí, sắc cho Phụ phải diệt giặc vào mùa xuân năm sau. Tháng 12, Thạnh đóng quân bờ bắc sông Thao, đối diện thành Đa Bang. Phụ sai Húc đánh Thao Châu, bắc cầu phao sang sông, cùng tới dưới thành đánh chiếm được. Giặc cậy vào thành này, thành mất thì mật vỡ. Đại quân xuôi sông Phú Lương đánh thẳng vào Đông Đô, giặc bỏ thành chạy, đại quân chiếm giữ, tiến sát Tây Đô, giặc đốt sạch cung thất, lên thuyền ra biển. Các quận huyện nối nhau quy thuận, kẻ kháng cự đều bị đánh tan. Sĩ dân dâng thư kể tội họ Lê mỗi ngày hàng trăm người. Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 5 (năm 1407), đại phá Quý Ly tại sông Mộc Hoàn, tuyên chiếu tìm hậu duệ họ Trần, hơn 1.120 kỳ lão đến quân môn nói: "Họ Trần bị giặc Lê giết sạch, không còn người nối dõi. An Nam vốn là đất Trung Hoa, xin nhập vào chức phương như quận nội địa." Phụ tâu lên, sau đó đại phá giặc tại sông Phú Lương, cha con Quý Ly dùng vài chiếc thuyền bỏ trốn. Chư quân thủy bộ cùng đuổi đến huyện Trà Lung, biết Quý Ly chạy vào Nghệ An, bèn theo sông Cử Khuyết đuổi đến cửa biển Kỳ La phủ Nhật Nam, mệnh Liễu Thăng (柳升) ra biển đuổi theo. Giặc thua nhiều trận không thành quân nữa. Tháng 5, bắt được Quý Ly và ngụy Thái tử Nhuế tại núi Cao Vọng, An Nam thảy đều bình định. Quần thần xin làm theo lời kỳ lão lập quận huyện. Ngày mùng 1 tháng 6, xuống chiếu cáo thiên hạ, đổi An Nam thành Giao Chỉ (交趾). Thiết lập Tam ty, lấy Đô đốc Thiêm sự Lã Nghị quản Đô ty, Hoàng Trung phó chi. Trương Hiển Tông làm Tả Bố chính sứ, Vương Bình làm Hữu Bố chính sứ, Nguyễn Hữu Chương làm Án sát sứ, Bùi Bá Kỳ làm Hữu Tham nghị. Lại mệnh Thượng thư Hoàng Phúc (黃福) kiêm quản hai ty Bố, Án. Thiết lập 15 phủ gồm: Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Kiến Bình, Tân An, Kiến Xương, Phụng Hóa, Thanh Hóa, Trấn Man, Lạng Sơn, Tân Bình, Diễn Châu, Nghệ An, Thuận Hóa, chia quản 36 châu, 181 huyện. Lại đặt 5 châu Thái Nguyên, Tuyên Hóa, Gia Hưng, Quy Hóa, Quảng Oai trực thuộc Bố chính ty, quản 29 huyện. Những nơi yếu hại đều đặt vệ sở khống chế. Sắc cho hữu ty: Các vương họ Trần bị giết đều được tặng thụy, lập đền thờ quản mộ, cấp cho 20 hộ lo quét tước. Tông tộc bị hại được tặng quan, quân dân chết lộ thiên thì chôn cất. Kẻ làm quan vẫn giữ chức cũ cùng tham gia trị lý. Các chính sách hà khắc của họ Lê thảy đều bãi bỏ, kẻ bị hình phạt được tha miễn. Đãi ngộ người cao tuổi đức độ, kẻ cô độc không nơi nương tựa thì đặt Dưỡng tế viện. Chiêu mộ nhân tài về kinh. Chẳng bao lâu lại có chiếu cầu tìm người ẩn dật, tinh thông kinh sách, hiền lương phương chính, hiếu đệ, liêm khiết, giỏi quân pháp, y học... thảy đều đưa về kinh lục dụng. Trương Phụ đã tâu cử hơn 9.000 người. Tháng 9, cha con Quý Ly, Hán bị áp giải về cửa khuyết, cùng các ngụy tướng Hồ Đỗ thảy đều giao cho ngục lại. Tha tội cho em của Hán là Vệ quốc đại vương Trừng (澄) và con là Nhuế, cho hữu ty chu cấp áo cơm. *Theo "Bình định Giao Nam lục" của Khâu Tuấn:'' Thời Thái Tông Văn Hoàng đế mới lên ngôi, An Nam vương Trần Nhật Hỗn bị thần hạ là Lê Quý Ly giết. Quý Ly giả họ tên là Hồ Nhất Nguyên, con là Hán (Cương), biểu xưng họ Trần tuyệt tự, Hán là cháu ngoại, xin quyền giữ việc nước. Vua không bắt lỗi sự gian trá, nghe theo. Chẳng bao lâu lại xin tập tước Vương, vua cho. Qua năm sau, cháu họ Trần là Thiên Bình mới từ Lão Qua trốn đến kinh sư tố cáo sự thực. Quý Ly nghe tin sợ hãi, sai sứ dâng biểu xin đón Thiên Bình về nước. Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), sai sứ dẫn 5.000 quân tiễn Thiên Bình về, đến biên giới, Quý Ly phục binh giết Thiên Bình và sứ giả. Vua nghe tin chấn nộ, bảo quần thần: "Trẫm là chủ muôn nước, lũ man di kia dám làm điều vô đạo, giết chủ đoạt nước, Trẫm không chính tội chúng thì sao hợp thiên đạo?" Sau đó Chiêm Thành cũng báo bị xâm lấn ranh giới, ép dùng ấn phục. Lại nghe chúng tiếm hiệu Đại Ngu, cải niên hiệu, Quý Ly xưng Thái thượng hoàng, hủy hoại Nho giáo Trung Hoa, gọi Mạnh Tử là đạo nho, Trình - Chu là kẻ剽竊 (ăn cắp ý tưởng). Bèn nghị hưng binh hỏi tội, quần thần đều tán thành. Sai đại thần cáo tại giao miếu, sai cận thị cáo tại danh sơn đại xuyên. Mùa thu tháng 7 ngày Quý Mùi, chế dụ Thái tử Thái phó Thành quốc công Chu Năng đeo ấn Chinh Man đại tướng quân làm Tổng binh; Mộc Thạnh làm Tả phó tướng quân; Trương Phụ làm Hữu phó tướng quân; Lý Bân làm Tả tham tướng; Trần Húc làm Hữu tham tướng. Sắc Đại tướng quân soái Hữu phó tướng quân, Hữu tham tướng cùng Thanh Viễn bá Chu Hữu, dẫn các tướng Chu Vinh, Lưu Trát Xuất... cùng 25 vị tướng quân khác, thống lĩnh quân từ hai Kinh kỳ, Kinh Hồ, Mân, Chiết, Lưỡng Quảng, tiến quân từ huyện Bằng Tường phủ Tư Minh Quảng Tây. Tả phó tướng quân thống lĩnh quân Ba Thục, Kiến Xương, Vân Quý, tiến quân từ huyện Mông Tự phủ Lâm An Vân Nam. Lấy Binh bộ Thượng thư Lưu Tuyển tham tán nhung cơ, Hình bộ Thượng thư Hoàng Phúc, Đại lý tự khanh Trần Hiệp, Cấp sự trung Phùng Quý đốc lương. Các nơi danh sơn đại xuyên đi qua đều tu tế sự. Ngày Ất Dậu xuất sư, vua thân hành đến Long Giang làm lễ tế mã, tướng soái bồi vị nhận nhục (thịt tế) hết sức kính cẩn. Xong việc, dừng giá tại bờ sông, thề với chúng quân: "Trẫm mệnh các ngươi thực thi thiên phạt, tội chỉ tại tên nguyên hung. Phải thể theo lòng Trẫm, đừng tham võ, đừng giết kẻ hàng, đừng bắt bớ già trẻ, đừng hủy hoại nhà cửa lăng mộ. Dù một ngọn cỏ nhánh cây cũng không được cắt bỏ bừa bãi. Kẻ vi mệnh, dù nhọc công cũng không tính thành tích, lại còn bị phạt." Bọn Năng dập đầu nhận mệnh, vạn dân cổ vũ, lên thuyền ra đi. Tháng 9 năm ấy, quân dừng tại Long Châu, Đại tướng quân lâm bệnh, giao quân cho Hữu phó tướng quân. Tháng 10 ngày Canh Tý, Đại tướng quân mất. Chúng nghị quân cơ trọng đại không thể chậm trễ, xin Hữu phó tướng quân đại tổng binh quyền. Tin khẩn báo về kinh, vua mệnh Phụ đeo ấn Chinh Man đại tướng quân thay Năng tổng binh, lại giáng sắc dụ: "Xưa Thái Tổ Hoàng đế mệnh Khai Bình vương Thường Ngộ Xuân làm Đại tướng quân, Kỳ Dương vương Lý Văn Trung làm Phiên tướng quân bắc chinh. Khai Bình vương mất tại sông Liễu Hà, Kỳ Dương vương soái chư tướng quét sạch tàn nghiệt, lập đại huân, ghi danh thanh sử. Ngươi nên học theo tiền nhân để xây công vạn thế." Đây là khởi đầu của việc Định Hưng Trung Liệt vương (Trương Phụ) nhận mệnh chuyên chinh. Trước đó, Vương cùng Đại tướng quân niêm yết 20 tội lớn của cha con giặc Lê để làm rõ ý Thiên thảo. Kể tội Quý Ly: 1. Giết hai chủ đoạt nước; 2. Giết sạch con cháu họ Trần; 3. Dùng hình tàn bạo, coi dân như thù; 4. Thuế nặng sưu cao dân không sống nổi; 5. Vốn họ Lê mà phản tổ đổi họ; 6. Cướp ngôi mà dối là quyền lý để lừa triều đình; 7. Biểu xin đón cháu họ Trần về rồi lại ngăn trở; 8. Giết cháu quốc chủ; 9. Chiếm 7 trại Ninh Viễn; 10. Giết thổ quan Mãnh Mạn, ngược đãi con gái họ, thu bạc của họ; 11. Uy hiếp thổ quan biên giới; 12. Chiếm đất Lộc Châu Quảng Tây; 13. Chiếm Tây Bình Châu giết thổ quan; 14. Đánh Chiêm Thành lúc tang gia, chiếm đất Cách Liệt; 15. Đánh chiếm các châu Bản Đạt Lang, Hắc, Bạch; 16. Cướp hơn 100 con voi Chiêm Thành; 17. Ép Chiêm Thành dùng ấn phục ngụy; 18. Ép vua Chiêm thờ mình như thờ Trung Hoa; 19. Cướp quân nhu của sứ triều đình tại cảng Côn Lăng; 20. Tự xưng quốc hiệu, niên hiệu ngụy Thánh Nguyên, Thiệu Thành, Khai Đại... không dùng chính sóc. Người Giao nghe thiên binh xuống, ban đầu không hiểu tại sao, sau nghe bảng văn thì biết lỗi tại họ Lê. Lại thấy cuối bảng ghi: "Đợi sau khi bắt được cha con giặc Lê sẽ tìm họ Trần lập lên", thảy đều kiễng chân chờ đợi vương sư. Vương đến huyện Bằng Tường vào ngày Đinh Mùi tháng 10, vào cảnh làm lễ tế, dụ chúng: "Hoàng đế không ham đất đai nhân dân An Nam, chỉ vì giặc Lê hại chúa ngược dân, nên thực hiện thiên thảo để nối dòng họ tuyệt, cứu dân khốn. Mệnh ta điếu dân phạt tội, dặn dò không được giết người bừa bãi, không lấy vật bừa bãi, không chiếm đoạt nữ tử, không đốt nhà, không xéo lúa. Kẻ vi mệnh sẽ theo quân pháp không tha!" Chúng quân hoan hô dùng mệnh. Ngày đó đại quân nhập cửa Pha Lũy, dán bảng dụ dân, chiêu lai kẻ hàng. Vương biết từ Pha Lũy về phía Nam, qua cửa Ải Lưu, Kê Lăng tới trạm Cần núi non hiểm trở, rừng rậm chằng chịt, sợ có phục binh, sai Lã Nghị đi thám thính, lệnh Hàn Quan Vinh sửa đường bắc cầu tại Pha Lũy. Ngày Mậu Thân đại quân dừng tại huyện Khâu Ôn. Ngày Kỷ Dậu thám tử đến Ải Lưu, giặc 20.000 người dựa núi kết trại, Nghị đánh chiếm được, chém 40 thủ cấp, bắt sống 60 người. Chu Vinh cũng phá cửa Kê Lăng, chém hơn 80 người. Giặc nghe tin hai cửa quan mất, quân phục đều tan chạy. Ngày Nhâm Tý đại quân dừng tại Kê Lăng, ngày Quý Sửu tới trạm Cần. Phương Chính, Vương Thứ tiến thẳng đến huyện Gia Lâm bờ bắc sông Phú Lương. Lúc này Mộc Thạnh cũng từ Mông Tự tiến quân qua vùng Dã Bồ Man nhập cảnh, đánh chiếm cửa Mãnh Liệt, phá rào Hoa Ải, tùy nơi đắp lũy造舟 (đóng thuyền). Đô chỉ huy Từ Nguyên, Khổng Bân đột kích cửa sông Tuyên Quang... Thủy quân giặc号称 (xưng là) 7.000.000 người, thực chất là xua cả già trẻ gái trai để trợ thanh thế. Vương viết thư dụ Quý Ly: "Ta phụng mệnh đến hỏi tội, nếu dám chiến thì dàn quân tại Gia Lâm mà đợi, nếu không thì đến quân môn nghe phân xử." Vương muốn khích giặc đánh gấp. Vừa lúc Hành nhân Chu Khuyên mang sắc đến dụ giặc họa phúc, cho nộp 50.000 lượng vàng, 100 con voi để chuộc tội. Khuyên đến nơi, Quý Ly không ra tiếp, nói lời quỷ quyệt: "Văn thư này không giống bản cũ, chắc không phải vua sai. Nếu binh lui thì sẽ cống, nếu không thì tự có chuẩn bị." Vương biết sắc này chỉ là để hoãn binh, giặc không có ý hối lỗi. Bèn dời quân đến Nhị Đới Châu, cửa sông Cá Chiêu, cùng Mộc Thạnh bàn việc đóng thuyền chế súng tiến công. Có thuyền chèo của giặc xuất hiện, Vương lệnh Lỗ Lân ban đêm chèo thuyền xuôi dòng cướp thuyền giặc, chém hơn 100 người. Từ đó giặc không dám ló mặt. Vương định vượt sông ở thượng lưu, sai Chu Vinh ở hạ lưu 80 dặm tại Gia Lâm bày thuyền bè như muốn vượt sông để nghi binh. Giặc quả nhiên chia thủy quân đến Gia Lâm, Vinh đánh phá tan tác. Tháng 12 ngày Kỷ Hợi, hai cánh quân hợp nhất. Vương bảo Thạnh: "Giặc dựng rào ven sông, thế hiểm đất hẹp khó dàn quân. Chỉ có ải Đa Bang bãi cát ngoài thành bằng phẳng rộng rãi đủ chứa quân. Tuy thành cao hào sâu, phòng thủ nghiêm ngặt, ngoài đặt hầm chông, nhưng người Man yếu ớt không chịu được khổ, không đáng lo. Nay thang vân, tiên nhân động... của ta đã sẵn, dễ chiếm thôi." Bèn bảo tướng sĩ: "Báo quốc thành công tại trận này. Phải奮力 (dốc sức) tranh tiên, kẻ lên thành trước sẽ được trọng thưởng." Đêm đó canh 4, Hoàng Trung dẫn quân bí mật vượt hào tới dưới thành, bắc thang vân leo lên. Thái Phúc cùng vài người lên trước dùng đao chém loạn, giặc kinh hãi kêu rú, trên thành lửa sáng rực, tướng sĩ như kiến bò lên. Giặc trong thành dàn trận, xua voi ra lao tới. Quân Minh tung ra "Sư tử phục" (hình sư tử giả) trùm lên ngựa, voi thấy hình sư tử thì kinh sợ run rẩy, lại bị súng tên bắn trúng bèn quay đầu chạy ngược giẫm đạp quân nhà. Đại quân thừa thắng tiến thẳng, hôm sau đuổi đến núi Tản Viên, hôm sau nữa xuôi sông Phú Lương đốt sạch rào gỗ ven sông, khói lửa ngất trời. Ngày Tân Hợi đánh thẳng vào Đông Đô, chiếm được. Vương cùng Thạnh đóng quân phía Đông Nam thành, dán bảng chiêu dụ, kẻ hàng mỗi ngày hàng vạn người. Vương bảo các kỳ lão về ý đồ điếu phạt, tiếng hoan hô động đất. Ngày Ất Mão, bàn việc sai Lý Bân, Trần Húc đánh Tây Đô. Giặc nghe tin Đa Bang mất, đã đốt kho tàng đưa vợ con trốn ra biển. Quân Minh tới chiếm thành. Dư đảng dựa vào núi Thiên Kiện, núi Khốn Mai đóng giữ thủy bộ. Sai Vương Hữu, Hoàng Trung, Liễu Tông chia quân tiễu trừ. Từ đông năm ấy đến xuân năm sau chém hơn 37.000 thủ cấp. Nghe tin Hồ Trừng tụ thuyền tại sông Hoàng, quân Minh tiến sát sông Mộc Hoàn hạ trại. Ngày Tân Tỵ thuyền giặc hơn 300 chiếc tới phạm, quân Minh thủy bộ kẹp đánh, chém hơn vạn người, chết đuối vô số. Tháng 2 ngày Ất Tỵ, nghe tin giặc chạy ra cửa Mộn Hải, đi cửa sông Lỗ gặp quân Thạnh tại huyện Giao Thủy. Giặc lại chạy ra cửa biển Đại An. Vương bảo Thạnh: "Giặc thấy ta không dám đánh, trốn nơi khác để xem động tĩnh. Nếu ta về Giao Châu, để quân ở cửa Hàm Thủy canh phòng, chúng tất ra cửa Mộn Hải tập kích. Ta đợi chúng ra sẽ đánh úp." Tháng 3 ngày Quý Dậu đại quân về Giao Châu. Ngày Giáp Ngọ giặc quả nhiên phạm cửa Hàm Thủy. Ngày Kỷ Dậu, Vương cùng Thạnh thủy bộ tiến gấp. Giặc dùng hải thuyền chặn ngang sông, hai bên bờ tiến quân. Lên bờ dựng rào. Vương thừa lúc rào chưa xong, thân đốc tinh nhuệ đánh, Liễu Thăng dẫn thủy quân tới tiếp ứng, giặc đại bại, nước sông Phú Lương nhuộm đỏ, xác chất vài mươi dặm. Trần Húc thừa thế tiến thẳng đến cửa Mộn Hải. Cha con giặc Lê chạy ra Linh Nguyên. Vương bảo tướng sĩ phải thừa thế chẻ tre mà diệt tận. Bèn về Giao Châu để Lý Bân trấn giữ sông Hoàng. Tháng 4 ngày Ất Hợi, Vương cùng Thạnh từ Thanh Hóa tiến gấp, điều Liễu Thăng, Lỗ Lân cùng thổ quan Mạc Thúy dẫn thuyền đuổi theo đường thủy. Ngày Mậu Dần tới sông Lỗi Giang Thanh Hóa, giặc tụ thuyền chống cự, Thăng đánh bại chém vạn người. Tháng 5 ngày Đinh Mão tới Diễn Châu, Liễu Thăng tới hội quân, kẻ hàng nối nhau. Biết cha con giặc Lê trốn tại sông Thâm phủ Nghệ An. Vương cùng Thạnh đi đường bộ, Liễu Thăng đi đường thủy đuổi giặc. Ngày Nhâm Thân tới huyện Thượng Dầu phủ Nghệ An, Vương đi đường đông sông Cử Khuyết, Thạnh đi đường tây, cùng hạ trại tại huyện Bàn Thạch. Ngày Giáp Tuất Liễu Thăng tới cửa biển Kỳ La đánh bại giặc, thu 300 thuyền. Ngày Ất Hợi, quân sĩ Vương Sài Hồ... 7 người bắt được ngụy Thượng hoàng Lê Quý Ly. Quân sĩ Lý Bảo Bảo... 10 người bắt được ngụy Vệ quốc đại vương Lê Trừng. Ngày Bính Tý, thổ nhân Vũ Như Khanh bắt được ngụy quốc chủ Lê Hán (Hồ Hán Thương) cùng ngụy Thái tử Nhuế tại núi Cao Vọng. Thân thuộc họ Lê bị bắt không sót một ai, đất An Nam bình định. Thu được 48 phủ châu, 166 huyện, 3.120.500 hộ, voi ngựa trâu dê lương thực không xuể. Sai Liễu Thăng áp giải tù binh về cửa khuyết. Sau khi bình định, Vương tìm hậu duệ họ Trần. Quan lại kỳ lão đều nói: "Giặc Lê năm Kỷ Mão giết Quang Thái vương (Trần Thuận Tông), lập con ông ta rồi lại giết đi mà chiếm nước. Giết hơn 50 người thuộc tộc gần, hơn 1.000 người tộc xa, máu mủ tuyệt tận, không ai nối dõi. Xin theo lệ Hán Đường lập quận huyện như nội địa." Vương tâu lên, vua nghe theo. Bèn lập Giao Chỉ承宣布政使司 (Thừa tuyên Bố chính sứ ty), Đô chỉ huy sứ ty, Án sát ty. Chia làm 17 phủ, 47 châu, 157 huyện. Đặt 11 vệ, 3 sở thủ ngự. Tại biên giới Giao - Quảng, đặt vệ Khâu Ôn cùng các sở Pha Lũy, Ải Lưu để khống chế. Năm ấy đại cáo thiên hạ việc phục cổ quận huyện An Nam, sắc cho hữu ty tặng thụy cho vua Trần, tông thân bị hại đều được tặng quan, xây đền dựng bia quét tước mộ phần. Bãi bỏ các sưu thuế hà khắc của giặc Lê. Dùng người hiền năng, ưu đãi kỳ lão, đổi phong tục theo Hoa phong. Khiến cho dải đất từ Tần Hán rơi vào tay man di suốt 446 năm, nay một mai trở lại bản đồ Trung Hoa. Văn võ quần thần thảy đều dâng biểu chúc mừng. *Theo "Minh Nhất thống chí":'' Đầu thời Hồng Vũ, Trần Nhật Khuê tiên phong quy phụ, ban ấn An Nam quốc vương. Truyền đến Nhật Hỗn, thần là Lê Quý Ly cướp ngôi tiếm hiệu. Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), sai Trương Phụ, Mộc Thạnh chia quân tiến đánh, bắt sống cha con Quý Ly. Tìm hậu duệ họ Trần không thấy, bèn quận huyện hóa đất ấy, đặt 17 phủ, 5 châu trực thuộc. Lại lập Giao Chỉ Bố chính ty, Đề hình Án sát ty cùng Đô chỉ huy sứ ty tại phủ Giao Châu. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 (năm 1408), An Nam bình định, ban sư (rút quân). Năm ấy, cựu quan An Nam là Giản Định (簡定) lại làm phản.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408), bọn (Trương) Phụ chấn chỉnh quân ngũ trở về kinh sư, dâng bản đồ Giao Chỉ (交阯), phía Đông sang phía Tây dài 1.760 dặm, phía Bắc xuống phía Nam dài 2.800 dặm, an phủ nhân dân hơn 3.120.500 người, bắt được người Man hơn 2.087.500 người, voi, ngựa, trâu hơn 235.900 con, thóc gạo hơn 13.600.000 thạch, thuyền hơn 8.670 chiếc. Khí giới quân dụng tính được 2.539.800 món. Do đó đại hành phong thưởng, Phụ tiến phong Anh quốc công (英國公), (Mộc) Thạnh phong Kiềm quốc công (黔國公), những người còn lại tùy theo thứ bậc mà ban thưởng. Lúc bấy giờ, các quan lại do triều đình phương Bắc đặt ra cốt lấy sự khoan hậu để thu phục vùng đất mới lập, nhưng người Man tự coi mình là loài khác, thường xuyên kinh động sợ hãi. Cựu quan họ Trần là Giản Định (簡定) trước đó đã hàng, sắp sửa được đưa về kinh sư, bèn cùng đồng đảng là Trần Hy Cát (陳希葛) trốn đi, mưu loạn với các ngụy quan Hóa Châu (化州) là Đặng Tất (鄧悉), Nguyễn Súy (阮帥)... Định bèn tiếm hiệu đại hiệu, đặt niên hiệu Hưng Khánh (興慶), quốc hiệu là Đại Việt (大越). Chúng ra vào trong núi ở Nghệ An (乂安), Hóa Châu (化州), rình lúc đại quân rút về liền ra đánh Phà Than (盤灘), bến Hàm Tử (鹹子關), chốt giữ con đường huyết mạch qua lại ở phủ Tam Giang (三江府), đánh phá vùng gần Giao Châu (交州). Các châu huyện Từ Liêm (慈廉), Uy Man (威蠻), Thượng Hồng (上洪), Thiên Đường (天堂), Ứng Bình (應平), Thạch Thất (石室) thảy đều hưởng ứng. Thủ tướng nhiều lần ra quân thảo phạt nhưng đều không có công. Tháng 8, sự việc báo về kinh, mệnh Mộc Thạnh làm Chinh Di tướng quân, thống lĩnh 40.000 quân từ Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên đi thảo phạt, đồng thời sai sứ mang sắc dụ hàng, hứa cho thế quan. Định không ứng chiếu, Thạnh đánh với giặc ở sông Sinh Quyết (生厥江), đại bại, Lã Nghị (呂毅) cùng Tham tán Thượng thư Lưu Tuấn (劉㒞) đều tử trận. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục" (平定交南錄):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408), ban sư về triều. Mùa thu tháng 7, xét công hành thưởng, tiến phong Anh quốc công, Tây Bình hầu phong làm Kiềm quốc công, Thanh Viễn bá Vương Hữu (王友) tiến phong tước Hầu, Đô đốc Liễu Thăng (柳升) thăng làm An Viễn bá (安遠伯), những người còn lại đều thăng quan tăng lộc tùy theo thứ bậc. Ban cho (Trương) Phụ cáo khoán, đai ngọc, vàng lụa, mệnh cho con cháu đời đời tập tước, tăng thêm 3.000 thạch lộc mễ. Sau khi đại yến, Hoàng thượng tự thân chế bài "Bình An Nam ca" để khen ngợi. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 (năm 1409), đảng phản loạn An Nam tôn Giản Định làm Thái thượng hoàng, lập riêng Trần Quý Khoách (陳季擴) làm vua, mệnh Anh quốc công Trương Phụ thảo phạt.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 7 (năm 1409), tin bại trận báo về, tăng phái 47.000 quân từ Nam Kỳ, Chiết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Quảng, Quảng Đông, Quảng Tây, theo Anh quốc công (Trương) Phụ đi chinh phạt. Phụ cho rằng giặc dựa vào sông biển, không lợi cho bộ binh, bèn đóng quân ở Tiên Du (仙游) thuộc Bắc Giang, đóng gấp chiến hạm, đồng thời chiêu an những người bị giặc đánh phá phải ly tán, liền liên tiếp phá các đồn trại ở Từ Liêm, Quảng Oai (廣威). Thám thính biết đồng đảng của giặc là Đặng Cảnh Dị (鄧景異) chốt giữ sông Lô ở phủ Nam Sách (南策州), vượt cầu Thái Bình, bèn tiến quân đến bến Hàm Tử (鹹子關). Ngụy Kim ngô tướng quân Nguyễn Thế Mỗi (阮世每) có 20.000 quân, lập trại rào ở bờ đối diện, dàn hơn 600 chiếc thuyền, dựng cọc ở phía Đông Nam để ngăn giữ. Lúc đó là tháng 8, gió Tây Bắc thổi gấp, Phụ đốc thúc Trần Húc, Chu Quảng, Du Nhượng, Phương Chính... đồng loạt cho thuyền tiến lên, pháo tên bắn ra như bão, chém 3.000 thủ cấp, bắt sống Ngụy Giám môn tướng quân Phan Đê (潘低) cùng hơn 200 người, thu hơn 400 chiếc thuyền. Liền tiến đánh Cảnh Dị, Cảnh Dị bỏ chạy trước, bèn bình định các phủ Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tân An, Kiến Xương, Trấn Man, đuổi phá Cảnh Dị ở cửa biển Thái Bình, bắt được đồng đảng là Phạm Tất Lật (范必栗). Lúc bấy giờ Nguyễn Súy và các tướng tôn Giản Định làm Thái thượng hoàng, lập riêng Trần Quý Khoách làm vua, đặt niên hiệu Trùng Quang (重光). Khoách sai sứ tự xưng là "cháu của vua An Nam trước", cầu xin phong tước, Phụ quát mắng rồi chém đi. Từ sông Hoàng Giang, sông A Giang, cửa biển Đại An đến sông Phúc Thành, chuyển vào cửa biển Thần Đầu (神投海口), nhổ sạch cọc rào giặc dựng. Hơn 10 ngày thì đến Thanh Hóa (清化), quân thủy bộ đều hội tụ. Định đã chạy sang Diễn Châu (演州), Quý Khoách chạy vào Nghệ An, bọn Súy, Cảnh Dị cũng tan tác bỏ trốn. Bèn đóng quân bắt dư đảng, Định chạy đến trại Cát Lợi huyện Mỹ Lương (美良縣), bọn Phụ đuổi gấp đến nơi, Định trốn vào núi, đại soát không được, bèn vây lại, cùng với ngụy tướng tướng của hắn là Trần Hy Cát, Nguyễn Nhữ Lệ (阮汝勵), Nguyễn Án (阮晏)... thảy đều bị bắt. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục":'' Dư nghiệt An Nam là Giản Định tác loạn, Định tự xưng họ Trần, vốn là quan cũ của họ Trần, trước đã hàng phục, sau lại trốn vào phủ Nghệ An, cùng đồng đảng Đặng Tất, Nguyễn Súy, Trần Hy Cát mưu phản, ngụy xưng là Nhật Nam vương. Sau đó tiếm hiệu Đại Việt, xưng niên hiệu Hưng Khánh. Triều đình mệnh Kiềm quốc công Mộc Thạnh làm tướng quân, từ Vân Nam sang chinh phạt, lâu ngày không ngăn tuyệt được, đình nghị cho rằng nếu không phải Vương (Trương Phụ) thì không xong. Tháng 1 năm thứ 7 (năm 1409), bèn mệnh Vương đeo ấn Chinh Man phó tướng quân, sang cùng tiễu trừ. Vương đến Nam Ninh hội quân vào tháng 4, tháng 5 nhập cảnh; Vương thân tự đốc chiến hạm, phá rào Khổng Mục, lại phá bến Hàm Tử, chém bắt vô số. Giặc lui về giữ Hoàng Giang, Vương thừa thắng đánh ở cửa biển Thái Bình, giặc chạy vào sông Trà Kế (茶偈江) ở Nghệ An. Mùa đông tháng 12, quân đến Thanh Hóa. Qua 4 ngày, bắt sống Giản Định ở núi thuộc trại Cát Lợi, cùng đồng đảng Trần Hy Cát..., đóng cũi giải về kinh sư. Tháng 2 năm sau, Vương về triều, Hoàng thượng khen ngợi lao khổ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 (năm 1410), Trần Quý Khoách xin hàng.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Trước đó, đảng giặc Nguyễn Sư Cối (阮師檜) tiếm tước Vương, cùng Ngụy Kim ngô Thượng tướng quân Đỗ Nguyên Thố (杜元措)... chiếm xã Nghi Dương huyện An Lão phủ Đông Triều (東潮州), có quân hơn 20.000 người. Tháng 1 năm thứ 8 (năm 1410), Phụ tiến đánh, chém hơn 4.500 thủ cấp, bắt bọn đồng đảng Phạm Chi (范支), Trần Nguyên Khanh (陳原卿), Nguyễn Nhân Trụ (阮人柱)... hơn 2.000 người, thảy đều chém đi, đắp kinh quán (gò xác). Tháng ấy, Phụ sắp ban sư, tâu rằng Quý Khoách cùng đồng đảng Nguyễn Súy, Hồ Cụ (胡具), Đặng Cảnh Dị... vẫn còn ở Diễn Châu, Nghệ An, ép sát Thanh Hóa, mà Đặng Dung (鄧鎔) chặn cửa sông Thần Đầu, Phúc Thành, chiếm cứ yếu lộ Thanh Hóa, ra vào các nơi ở Nghệ An. Nếu chư quân rút hết về, e rằng quân của Mộc Thạnh ít không địch nổi. Xin lưu Đô đốc Giang Hạo (江浩), Đô chỉ huy Du Nhượng (俞讓), Hoa Anh (花英), Sư Hữu (師祐)... ở lại giúp Thạnh thủ ngự. Vua nghe theo. Tháng 5, Thạnh đuổi Quý Khoách đến sông Ngu Giang (虞江), giặc bỏ rào trốn. Đuổi đến huyện Cổ Linh và cửa biển Hội Triều, Linh Trường, chém hơn 3.000 thủ cấp, bắt được ngụy tướng Lê Lộng (黎弄). Quý Khoách bị bách quá, dâng biểu xin hàng. Vua biết là dối trá nhưng tạm hứa cho. Chiếu thụ cho Giao Chỉ Bố chính sứ Nguyễn Súy, Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung đều làm Đô chỉ huy, Trần Nguyên Tôn làm Hữu tham chính, Phan Quý Hựu làm Án sát phó sứ. Chiếu xuống rồi mà giặc không có lòng hối cải. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Đặng Tông Tắc (鄧宗稷)... bị bắt, năm ấy truy sát gần hết.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 9 (năm 1411), lại mệnh Phụ đốc 24.000 quân, hợp với quân của Thạnh để thảo phạt. Giặc chiếm giữ sông Nguyệt Thường (月常江), dựng cọc gỗ cao hơn 40 trượng, hai bên bờ đặt rào dài 2-3 dặm, dàn hơn 300 chiếc thuyền, đặt phục binh ở bên phải núi. Mùa thu năm ấy, bọn Phụ, Thạnh thủy bộ cùng tiến, Nguyễn Súy, Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung... đến cự chiến. Phụ lệnh cho Chu Quảng kết thuyền nhổ cọc để tiến, tự mình dẫn bọn Phương Chính dùng bộ đội tiễu trừ phục binh. Thủy bộ kẹp đánh, giặc đại bại, bọn Súy đều tan chạy, bắt sống ngụy tướng Đặng Tông Tắc, Lê Đức Di (黎德彝), Nguyễn Trung (阮忠), Nguyễn Hiên (阮軒)... thu 120 chiếc thuyền. Phụ bèn đốc thủy quân tiễu trừ Quý Khoách, nghe tin Ngụy Long hổ tướng quân Lê Nhuế (黎蕊)... ở các châu huyện Thạch Thất, Phúc An chặt đứt cầu phao sông Duệ Giang (銳江), làm nghẽn đường sông Sinh Quyết và hậu vệ Giao Châu, liền đi chinh phạt. Nhuế cùng đồng đảng Phạm Khang (范慷) đến cự chiến, Nhuế trúng tên chết, chém ngụy tướng Nguyễn Đà (阮陁), bắt ngụy tướng Dương Nhữ Mai (楊汝梅), Phòng ngự sứ Phùng Hấp (馮翕), chém 1.500 thủ cấp, truy sát dư tặc gần hết, Khang cùng đồng đảng Đỗ Cá Đán (杜箇旦), Đặng Minh (鄧明), Nguyễn Tư Châm (阮思瑊)... cũng bị bắt. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 (năm 1412), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Trần Mẫn (陳敏)... nối nhau xin hàng.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Ngày mùng 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 10 (năm 1412), Phụ đốc bọn Phương Chính đánh thuyền giặc ở biển Thần Đầu (神投海), đại phá chúng, bắt ngụy tướng Trần Lỗi (陳磊), Đặng Nhữ H戲 (Đặng Nhữ Hí)... Nguyễn Súy chạy xa, đuổi không kịp. Quân Phụ đến Nghệ An, ngụy Thiếu bảo vùng Thượng Hoàng là Phan Quý Hựu (潘季祐)... đều bỏ trốn. Chẳng bao lâu Quý Hựu xin hàng, dẫn theo 17 ngụy quan đến yết kiến. Phụ thừa chế thụ cho Quý Hựu làm Án sát phó sứ, thự việc phủ Nghệ An. Thế là các ngụy tướng quân, quan sát, an phủ, chiêu thảo như Trần Mẫn (陳敏), Nguyễn Sĩ Cần (阮士勤), Trần Toàn Húc (陳全勗), Trần Toàn Mẫn (陳全敏)... nối nhau ra hàng. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 11 (năm 1413), đảng phản loạn của Trần Quý Khoách là Đặng Dung (鄧鎔)... thảy đều hàng phục.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 11 (năm 1413), Phụ và Thạnh hợp quân đến Thuận Châu (順州), Nguyễn Súy đặt phục binh ở sông Ái Tử (愛子江), dựa vào thế hiểm núi Côn Truyền (昆傳山), dàn trận voi đón đánh. Chư quân đại phá được, bắt sống ngụy tướng Phan Kính (潘徑), Nguyễn Từ (阮徐)... 56 người. Đuổi đến sông Ái Mẫu (愛母江), giặc tan tác, em của Đặng Dung là Ngụy hầu Thiết (鐵) cùng tướng quân Phan Lỗ (潘魯), Phan Cần (潘勤)... thảy đều hàng phục. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414), Trần Quý Khoách (陳季擴) bị bắt, An Nam lại được bình định.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 12 (năm 1414), tiến quân đến Chính Hòa (政和), tướng giặc là Hồ Đồng (胡同) ra hàng, nói rằng Ngụy Đại tướng quân (鄧景異) dẫn đồng đảng là Lê Diệm (黎蟾) cùng 700 người trốn vào trại Côn Bồ (昆蒲柵) của dân Xiêm Man (暹蠻). Quân Minh bèn tiến vào La Giang (羅江), bỏ ngựa đi bộ, khi đến nơi thì giặc đã trốn, đuổi đến trại Sất Bồ Nạt (叱蒲捺柵) giặc lại trốn tiếp. Đêm tối đi hơn 20 dặm, nghe tiếng trống cầm canh, (Trương) Phụ dẫn bọn (Phương) Chính ngậm tăm đi gấp, mờ sáng đến trại Sất Bồ Cán (叱蒲幹柵). Giặc vẫn đóng trại ở bờ Nam sông Bắc Giang, quan quân qua sông vây đánh, tên bắn trúng Cảnh Dị rồi bắt sống được. (Đặng) Dung (鄧鎔) cùng em là Duẩn (鈗) chạy trốn cũng bị đuổi bắt, thu hết đồ chúng. Biệt tướng Chu Quảng (朱廣) đuổi theo Ngụy Đại tướng quân Nguyễn Súy (阮帥) tại Xiêm Man, lục soát khắp các núi vùng Xiêm Nhân Quan, bắt được vợ con Súy và Quý Khoách. Súy trốn sang Nam Linh Châu (南靈州) dựa vào Thổ quan Nguyễn Trà Hối (阮茶彙). Chỉ huy Tiết Tụ (薛聚) đuổi bắt được Súy, chém Trà Hối. Trước đó, khi Đặng Dung bị bắt, Quý Khoách trốn vào núi Trúc Bài (竹排山) ở Nghệ An. Phụ sai Đô chỉ huy Sư Hữu (師祐) tập kích, Khoách chạy sang Lão Qua (老撾 - Lào), Hữu đuổi theo sau. Lão Qua sợ quan quân giày xéo đất đai, xin tự trói giặc nộp. Phụ gửi hịch đòi người, đồng thời lệnh cho Hữu tiến sâu vào, hạ 3 cửa quan, đến Kim Lăng Cá (金陵箇). Đồng đảng của giặc tan chạy hết, bèn bắt được Quý Khoách. Em của Khoách là Ngụy Tướng quốc Hoan Quốc vương Quý Chắt (季揝) cũng bị bắt ở nơi khác, giặc bị dẹp tan. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục" (平定交南錄):'' Dư đảng của Giản Định (簡定) là Trần Quý Khoách lại tụ tập, tiếm xưng niên hiệu Trùng Quang (重光). Quý Khoách là cháu của Giản Định. Định bị bọn Nguyễn Súy phế đi mà lập Quý Khoách. Khi Định bại trận lén trốn đi xa, nghe tin Vương (Trương Phụ) rút quân về, lại cùng Đặng Cảnh Dị làm phản. Mùa xuân tháng 1 năm thứ 9 (năm 1411), vua lại trao ấn trước cho Vương, sang đốc sư chinh phạt. Mùa hè tháng 5 quân dừng ở Đông Quan (東關), tháng 6 tiến binh. Giặc nghe Vương đến, lấy đá lấp cửa biển Thần Đầu (神頭海口) chừng 30 trượng, đặt cọc gỗ kháng cự. Vương đốc tướng sĩ bốc hết đá lên để thông đường thuyền. Giặc sợ, lập đồn ở sông Thường Nguyệt (常月江), Vương dặn quân rằng: "Đồn này không đáng đánh, nhưng phía Nam núi hiểm trở, chúng tất đặt phục binh làm khó ta." Bèn sai kiêu tướng dẫn thổ binh soát núi, quả nhiên bắt được quân phục, chém đi rồi chiếm đồn, giặc trốn xa. Vương đuổi theo khắp nơi, giặc lúc tụ lúc tán, cuối cùng không nắm được manh mối. Lúc bấy giờ phía Đông cửa quan giặc cướp nổi lên như ong, vùng vẹn toàn chỉ còn mỗi thành Giao Châu. Đại để là vì châu huyện quân vệ mới đặt quá nhiều, người Giao đã rời xa giáo hóa lâu ngày, ưa phóng túng, không chịu nổi sự nhiễu loạn của quan lại binh lính. Thường tưởng nhớ tục cũ, hễ nghe giặc nổi lên là rủ nhau hưởng ứng. Giặc đến đâu cũng được cung cấp, che giấu, nên giặc tan rồi lại tụ. Triều đình nhiều lần xuống chiếu chiêu phủ, phong Quý Khoách làm Bố chính sứ. Khoách muốn nhận mệnh nhưng bị đồng đảng khống chế, hàng rồi lại phản, giả xưng là con cháu họ Trần để lấy cớ khôi phục. Đại quân đến thì chúng trốn sâu vào núi rừng biển cả, quân rút thì chúng lại ra, vì thế quan quân không thành công. Khi Vương cầm quân, bắt đầu thi hành thưởng phạt nghiêm minh, chư tướng vốn mệt mỏi vì chạy vạy nên thường hay chần chừ lơ là. Đô đốc Hoàng Trung (黃中) không tuân mệnh, Vương dùng quân pháp xử lý. Từ đó ai nấy đều biết sợ, không dám từ nan tránh hiểm. Lúc đó giặc dựa vào sự hiểm yếu của biển Hoa Sen (Hà Hoa - 荷花海), cho là quân ta không qua được, bèn lập đồn ở cửa biển Nhật Lệ (日麗海口) để giữ. Vương dẫn thủy quân từ đại dương Kỳ La (奇羅海) vượt qua cửa biển Hoa Sen, tiến thẳng đến Nhật Lệ. Giặc đốt đồn chạy trốn đến sông Trà Kế (茶偈江), Vương tiến binh đánh phá. Giặc kinh hãi nói: "Thiên binh bay đến!" rồi đại bại, mất thành Hóa Khẩu. Thám tử cho biết giặc dốc hết quân giữ sông Ái Tử (愛子江), Vương đuổi đến tận nơi, giặc dàn hàng chục voi lớn làm tiên phong, ngựa người dàn sau, dốc sức chống cự. Vương bảo tướng hiệu: "Bắt giặc chính là trận này, cơ hội không được để mất." Bèn quất ngựa tiến lên trước, voi phục đột nhiên xông ra. Vương bắn 1 mũi tên làm rơi quản tượng, mũi thứ 2 trúng mũi voi. Voi rống lên chạy ngược về, giày xéo quân mình, quân Minh thừa thế đánh tới, xác giặc lấp đầy khe núi, giặc chạy trốn sang vùng Xiêm Man. Vương chia tướng lãnh đi soát bắt khắp nơi, đến các trại Bồ Cán (蒲幹) vùng Xiêm Man, đường núi gập ghềnh, rừng rậm u ám, ngựa không tiến được. Vương bèn xuống ngựa đi bộ, vượt hiểm đi gấp, sĩ卒 (sĩ tốt) không theo kịp, chỉ có hơn 100 tướng hiệu theo sát. Gặp giặc, giết vài nghìn người, thủ lĩnh Trần Quý Khoách cùng vợ con thảy đều bị bắt. Lúc đó là mùa đông năm thứ 11 (năm 1413). * ''(Ghi chú: "Bình định Giao Nam lục" chép việc này vào năm thứ 11, "Minh ngoại sử" chép năm thứ 12. Nay chép cả hai để lưu lại).'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 (năm 1415), Phụ, Thạnh bình định xong An Nam, rút quân về. Năm ấy, lại mệnh Phụ đeo ấn Tướng quân ra trấn thủ.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 13 (năm 1415), bọn Phụ, Thạnh rút quân về kinh, tháng 4 lại mệnh Phụ đeo ấn Chinh Di tướng quân ra trấn thủ. * ''Xét theo "Bình định Giao Nam lục":'' Năm Vĩnh Lạc thứ 12 (năm 1414), ban sư về kinh. Từ khi Vương xuất sư đến lúc này, đầu đuôi hơn 3 năm mới bắt được kẻ cầm đầu. Người đời cho rằng công lao trận này của Vương khó hơn trận bình định trước. Tháng 4 năm thứ 13 (năm 1415), triều đình mệnh đeo ấn Chinh Man tướng quân làm Tổng binh sang trấn thủ Giao Chỉ. Lại có công bình định Trần Nguyệt (平陳月). Năm thứ 15 (năm 1417), vua cho rằng Vương lao khổ lâu ngày ở ngoài, chiếu cho về kinh sư. Vương mất vào năm Kỷ Tỵ (1449) đời Chính Thống khi đang làm việc quân, đến nay đã 37 năm. Con thừa tự là Thái tử Thái phó, Anh quốc công thụ phong là Mậu (懋) đưa bản ghi chép của người canh cổng tên là Phúc Trụ ghi lại các bản tấu của Vương lúc bình định An Nam cho tôi xem, nhờ tôi sắp xếp lại. Tôi bèn tham khảo bản "Lộ bố bảng văn" chép trong "Giao Chỉ quận chí", cùng bài "Bình An Nam bi" của Hồ Văn Mục công phụng sắc soạn, bài thần đạo bi cho Đông Bình Võ Liệt vương và Định Viễn Trung Kính vương của Dương Văn Trinh công, cùng những điều nghe thấy để soạn ra tập này. Mùa đông năm Vĩnh Lạc thứ 14 (năm 1416), triệu Phụ về kinh. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 (năm 1417), mệnh Phong Thành hầu Lý Bân (李彬) trấn thủ An Nam. Lúc bấy giờ quân phản loạn đồng loạt nổi dậy, chinh chiến đông tây không lúc nào ngơi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 15 (năm 1417), mệnh Phong Thành hầu Lý Bân sang thay trấn thủ. Người Giao vốn thích loạn, Trung quan Mã Kỳ (馬麒) đến thu mua, vét sạch trân bảo trong vùng, lòng dân xao động, những kẻ kiệt hiệt kích động dân chúng. Đại quân vừa về, dân liền đồng loạt nổi dậy làm loạn. Lục Na (陸那), Nguyễn Trinh (阮貞), Lê Hạch (黎核) ở Thuận Châu, Phan Cường (潘強) cùng Thổ quan Đồng tri Trần Khả Luận (陳可論), Phán quan Nguyễn Chiêu (阮昭), Thiên hộ Trần Hung (陳恟), Phán quan phủ Nam Linh Nguyễn Nghĩ (阮擬), Tri huyện Tả Bình Phạm Bá Cao (范伯高), Huyện thừa Vũ Vạn (武萬), Bách hộ Trần Kỷ Luật (陳己律)... nhất thời đều phản. Bân đều sai tướng thảo diệt, nhưng kẻ phản loạn vẫn không dứt. Ngay sau đó, Tuần kiểm Lạc Hạnh là Lê Lợi (黎利) ở Tứ Mang (四忙), con trai của cố Tri huyện Xa Miên là Tam (三), Tri phủ Nghệ An Phan Liêu (潘僚), Thiên hộ Nam Linh Trần Thuận Khánh (陳順慶), Bách hộ vệ Nghệ An Trần Trực Thành (陳直誠) cũng thừa cơ tác loạn. Những kẻ gian quỹ khác như Phạm Nhuyễn (范軟) nổi dậy ở Phù Lạc, Võ Cống (武貢); Hoàng Nhữ Điển (黃汝典) ở sông Kế Giang (偈江); Nùng Văn Lịch (儂文歷) ở Khâu Ôn (Khâu Ôn - 丘溫); Trần Thủy Quả (陳水果) ở Vũ Định (武定); Nguyễn Đặc (阮特) ở Khoái Châu (快州); Ngô Cự Lai (吳巨來) ở Thiện Thệ (善誓); Trịnh Công Chứng (鄭公證), Lê Tiết (黎姪) ở Đồng Lợi (同利); Đào Cường (陶強) ở Thiện Tài (善才); Đinh Tông Lão (丁宗老) ở Đại Loan (大灣); Phạm Ngọc (范玉) ở An Lão (安老), thảy đều tự phong quan tước, giết tướng lại, đốt nhà cửa. Có Dương Cung (楊恭), Nguyễn Đa (阮多) đều tự xưng vương, phong đồng đảng là Vi Ngũ (韋五), Đàm Hưng Bang (譚興邦), Nguyễn Gia (阮嘉) làm Thái sư, Bình chương, nương tựa lẫn nhau. Trong đó Phan Liêu và Phạm Ngọc là ngang ngược nhất. Liêu là con của cố Tri phủ Nghệ An Quý Hựu, nối chức cha, không chịu nổi sự ngược đãi của Mã Kỳ bèn phản. Thổ quan Chỉ huy Lộ Văn Luật (路文律), Thiên hộ Trần Đài (陳苔)... đi theo hắn. Ngọc là nhà sư chùa Đồ Sơn (塗山寺), tự xưng "trời ban ấn kiếm", bèn tiếm hiệu La Bình vương (羅平王), niên hiệu Vĩnh Ninh (永寧), cùng Phạm Thiện (范善), Ngô Trung (吳中), Lê Hành (黎行), Đào Thừa (陶承)... làm loạn, phong làm Tướng quốc, Tư không, Đại tướng quân, đánh chiếm thành ấp. Bân đi chinh phạt đông tây, không lúc nào ngơi tay. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 (năm 1420), sắc lệnh Phong Thành hầu Lý Bân mau chóng tiễu trừ phản khấu An Nam.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Triều đình thấy giặc lâu ngày chưa dẹp xong, tháng 3 năm Vĩnh Lạc thứ 18 (năm 1420), mệnh Vinh Xương bá Trần Trí (陳智) làm Tả tham tướng sang hỗ trợ. Lại giáng sắc trách Bân rằng: "Phản khấu Phan Liêu, Lê Lợi, Xa Tam, Nùng Văn Lịch... đến nay chưa bắt được, binh đao bao giờ mới dứt? Dân bao giờ mới yên? Phải rộng định phương lược, mau chóng báo tin bình định." Bân sợ hãi, đốc thúc chư tướng truy tiễu. '''Mùa thu năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 (năm 1421), bọn giặc thảy đều bị phá diệt, chỉ có Lê Lợi (黎利) là không bắt được. Phan Liêu (潘僚) trốn sang Lão Qua (老撾), hợp quân với Lợi.''' * ''Xét theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 20 (năm 1422), chiếu mệnh Vinh Xương bá Trần Trí (陳智) trấn thủ An Nam; vì không thể tiêu diệt được Lê Lợi (黎利), vua xuống sắc trách cứ.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa xuân năm Vĩnh Lạc thứ 20 (năm 1422), (Lý) Bân (李彬) mất tại chức, chiếu mệnh (Trần) Trí thay trấn thủ. (Lê) Lợi ban đầu phục vụ Trần Quý Khoách (陳季擴), làm Kim ngô tướng quân, sau quy thuận, được dùng làm Tuần kiểm huyện Nga Lạc (俄樂縣) thuộc phủ Thanh Hóa (清化府), lòng luôn u uất không đắc chí. Đến khi đại quân rút về, bèn làm phản, tiếm xưng là Bình Định Vương (平定王), lấy em là Thạch (石) làm Tướng quốc, cùng đồng đảng là Đoàn Mãng (段莽), Phạm Liễu (范柳), Phạm Án (范晏)... đem quân cướp phá. Quan quân thảo phạt, bắt sống được bọn Án, Lợi trốn đi. Được một thời gian, Lợi ra chiếm cứ đồn Khả Lam (可藍堡) hành tống. Các tướng Phương Chính (方政), Sư Hữu (師祐) tiễu phạt bắt được Ngụy tướng quân Nguyễn Cá Lập (阮箇立) của hắn, Lợi trốn sang ẩn náu ở Lão Qua (老撾 - Lào). Đến khi bọn Chính rút về, Lợi lại xuất hiện, giết chết Tuần kiểm Ngọc Cục. Các tướng khác đuổi theo, Lợi lại trốn đi. Mùa hè năm thứ 17 (năm 1419), trời nắng nóng chướng khí thịnh, (quân Minh) bàn đợi mùa thu mát mẻ sẽ tiến binh, Lợi nhờ đó mà lập kế. Mùa thu năm ấy, Lợi ra đánh phá Lỗi Giang (磊江), bị đánh bại liền lẩn trốn; khi bọn Lão Qua và quần đạo thảy đều bị diệt, Lợi càng ẩn náu sâu hơn. (Lý) Bân tấu rằng: "Lợi lẩn trốn ở Lão Qua, Lão Qua sắp phát binh tập kích. Họ xin quan quân đừng vào, họ sẽ tự phát hết binh bộ hạ để bắt Lợi. Nay đã lâu mà không thấy giao nộp, tình hình khó lường." Thiên tử nghi ngờ Lão Qua bao che giặc, lệnh cho Bân đưa sứ thần của họ về kinh sư để tra hỏi. Lão Qua bèn xua đuổi Lợi. Vừa lúc (Trần) Trí thay Bân, Thiên tử cho rằng Trí không thể diệt được giặc, bèn giáng sắc trách cứ. '''Tháng 1 năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 (năm 1423), Trí đuổi theo Lợi tại huyện Xa Lai (車來縣) thuộc Ninh Hóa Châu (寧化州), đánh bại được, Lợi lại chạy trốn ra xa.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 22 (năm 1424), đầu mục của Lê Lợi là Phạm Ngưỡng (范仰) cùng những người khác đến hàng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa thu năm Vĩnh Lạc thứ 22 (năm 1424), Trí tấu rằng: "Lợi ban đầu trốn sang Lão Qua, sau bị xua đuổi phải về huyện Quy Hồn (歸魂縣). Quan quân tiến đánh, đầu mục của hắn là Phạm Ngưỡng (范仰) cùng những người khác đã dẫn theo 1.600 nam phụ đến hàng. Lợi tuy xin cầu hòa, nguyện đem bộ hạ về quy thuận nhưng chỉ dừng ở Nga Lạc (俄樂) không ra, việc chế tạo quân khí vẫn chưa dừng, nhất định phải tiến binh." ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9gtnpkp5?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] q618zcn8bd9s8j7leobw3zxqpqszhfy Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 094 114 71928 204612 2026-04-08T11:36:12Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第094卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 94''' | trước= [[../quyển 093|quyển 93]] | sau= [[../quyển 095|quyển 95]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 5== ===Minh (phần 2)=== ''…” 204612 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第094卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 94''' | trước= [[../quyển 093|quyển 93]] | sau= [[../quyển 095|quyển 95]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 5== ===Minh (phần 2)=== '''Năm Hồng Hy (洪熙) thứ 1 (năm 1425) đời Minh Nhân Tông (仁宗), theo lời thỉnh cầu của Trung quan Sơn Thọ (山壽), vua sai mang sắc dụ ban cho Lê Lợi (黎利), nhưng Lợi vẫn cướp phá không ngừng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Nhân Tông đã lên ngôi, đại xá thiên hạ, bèn sai sắc dụ Trần Trí (陳智) phải khéo léo vỗ về Lợi. Nhưng Lợi đã đánh phá châu Trà Lung (茶籠州), đánh bại quân của Phương Chính (方政), giết chết Chỉ huy Ngũ Vân (伍雲). Khi Lợi chưa phản, vốn có quan hệ tốt với Trấn thủ Trung quan Sơn Thọ (山壽). Đến lúc này Thọ về triều, sức nói rằng Lợi và mình tin cậy nhau, nay nếu sang dụ bảo tất sẽ về quy thuận. Đế nói: "Tên giặc này xảo trá, nếu bị hắn lừa thì thế hắn càng mạnh, khó mà chế ngự." Thọ dập đầu thưa: "Nếu thần sang dụ mà Lợi không đến, thần xin chịu muôn thác." Đế gật đầu, sai Thọ mang sắc thư, phong Lợi làm Tri phủ Thanh Hóa (清化知府), an ủi dụ bảo hết sức nồng hậu. Sắc vừa ban xuống, Lợi đã đánh phá Thanh Hóa, giết chết Đô chỉ huy Trần Trung (陳忠). Đầu năm Hồng Hy, Lợi nhận được sắc nhưng không có ý quy hàng, bèn mượn việc "vỗ về" để lừa dối. Các quan thủ thần hờ hững nói đợi mùa thu mát mẻ sẽ đi nhậm chức, nhưng việc cướp phá vẫn không dứt. Trí vốn không có tài tướng lược, sợ giặc nên cũng mượn việc vỗ về để lừa dối triều đình, lại có hiềm khích với Phương Chính, nên đóng quân không tiến. Giặc càng không sợ hãi gì, lại vây Trà Lung, bọn Trí ngồi nhìn không cứu. Qua 7 tháng, trong thành hết lương. Tuần án Ngự sử đem việc này tâu lên. Sớ tâu đến nơi thì Nhân Tông băng hà. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 1 (năm 1426) đời Tuyên Tông (宣宗), đánh Lê Lợi ở An Nam không thắng. Mệnh Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) làm Chinh Di tướng quân. Đô đốc Thông đánh thua, tự ý cắt đất từ Thanh Hóa trở về Nam cho giặc. Lại mệnh An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) làm Tổng binh đốc sư thảo phạt.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tuyên Tông mới lên ngôi, giáng sắc trách Trần Trí và các quan Tam ty, bọn Trí không để ý, Trà Lung bèn mất, Tri châu Cầm Bành (琴彭) tử tiết. Thượng thư chưởng Bố chính và Án sát nhị ty Trần Hiệp (陳洽) nói: "Lợi tuy xin hàng nhưng bên trong lại chia rẽ, đã chiếm Trà Lung, lại kết liên với Thổ quan Ngọc Ma (玉麻) và tù trưởng Lão Qua (老撾 - Lào) để cùng làm ác. Trước nói đợi mùa thu mát, nay mùa thu đã qua. Lại nói có oán với Tham chính Lương Nhữ Hốt (梁汝笏). Xin đổi phong ở châu Trà Lung, rồi lại phái nghịch đảng Phan Liêu (潘僚), Lộ Văn Luật (路文律) sang các châu Gia Hưng (嘉興), Quảng Oai (廣威) chiêu tập đồ đảng, thế lực ngày càng lan rộng. Xin sai Tổng binh mau chóng tiễu diệt." Nhân Tông từng đúc ấn tướng quân ban cho các tướng biên thùy. Trí nhận được ấn Chinh Di phó tướng quân, lại mệnh An Bình bá Lý An (李安) sang trợ chiến. Khi tờ tấu của Trần Hiệp dâng lên, vua giáng sắc quở trách nặng nề, hạn mùa xuân năm sau phải bình định xong giặc. Trí mới sợ, cùng Phương Chính tiến sát quan ải Bạc Khả Lưu (薄可留關), đánh thua chạy về, đến Trà Lung lại thua trận nữa. Chính dũng cảm nhưng thiếu mưu, Trí nhu nhược lại đa nghi, vốn không ưa nhau, mà Sơn Thọ lại chuyên việc chiêu phủ, đóng quân ở Nghệ An không cứu, vì thế liên tiếp bại trận. Mùa xuân năm Tuyên Đức thứ 1 (năm 1426), việc tâu đến kinh, lại giáng sắc quở trách. Đương lúc đó, đầu sỏ chưa dẹp xong mà giặc nhỏ đã nổi lên như ong. Phan Khả Lợi (潘可利) ở Mỹ Lưu giúp giặc, Chu Trang (周莊) ở Tuyên Hóa, Hoàng Am (黃菴) ở Thái Nguyên kết với giặc Áo Đỏ (Hồng y tặc) ở châu Ninh Viễn (寧遠州) thuộc Vân Nam cướp phá lớn. Đế sắc cho Mộc Thạnh (沐晟) tiễu trừ Ninh Viễn, lại phát 15.000 quân ở các vệ Tây Nam và 3.000 cung thủ Quảng Tây sang Giao Chỉ, sắc cho Lão Qua không được dung túng phản nhân. Tháng 4, mệnh Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) làm Chinh Di tướng quân, Đô đốc Mã Anh (馬瑛) làm Tham tướng, sang thảo phạt Lê Lợi. Tước chức của Trần Trí và Phương Chính, cho làm Sự quan (lập công chuộc tội). Thông chưa đến, giặc phạm Thanh Hóa, Chính không ra chiến. Đô chỉ huy Vương Diễn (王演) đánh bại giặc. Đế có chiếu đại xá tội nhân Giao Chỉ. Lê Lợi, Phan Liêu nếu hàng cũng được thụ chức. Đình chỉ việc thu mua vàng bạc, hương hàng, mong để dập tắt giặc, nhưng giặc không có ý hối cải. Chính đốc thúc các quân tiến đánh, Lý An cùng Đô chỉ huy Vu Sạn (于瓚), Tạ Phượng (謝鳳), Tiết Tụ (薛聚), Chu Quảng (朱廣) tháo chạy trước, Chính vì thế mà thua trận. Có chiếu đều biếm làm Sự quan. Không lâu sau, Trí sai Đô chỉ huy Viên Lượng (袁亮) đánh giặc Lê Thiện (黎善) ở châu Quảng Oai, định vượt sông. Thổ quan Hà Gia Kháng (何加伉) bảo có phục binh. Lượng không nghe, sai Chỉ huy Đào Sâm (陶森), Tiền Phụ (錢輔) vượt sông, bị phục binh nổi lên giết sạch, Lượng cũng bị bắt. Lê Thiện bèn chia binh 3 đạo phạm Giao Châu. Cánh quân đánh Hạ Quan bị Đô đốc Trần Tuấn (陳濬) đánh bại; cánh quân đánh tiểu môn Biên Giang bị Lý An đánh bại, Thiện nhân đêm tối bỏ chạy. Thông nghe tin, cũng chia binh 3 đạo xuất kích. Mã Anh thắng giặc ở Thanh Oai (清威), đến Thạch Thất (石室) hội với Thông, cùng đến Ninh Kiều (寧橋) thuộc Ứng Bình (應平). Sĩ tử đi trong bùn lầy, gặp phục binh, đại bại, Thượng thư Trần Hiệp chết trận, Thông cũng bị trúng vào sườn phải rút về. Lợi ở Thanh Hoá nghe tin, gióng trống tiến quân đến Thanh Đàm (清潭), đánh Bắc Giang, tiến vây Đông Quan (東關). Thông vốn không có chiến công, nhờ cha là Chân (真) chết vì việc quân mà được phong tước, triều đình không biết hắn hèn kém nên dùng lầm. Một trận là bại, tâm mật đều mất, cử chỉ sai trái, không theo mệnh triều đình, tự ý cắt đất phía Nam Thanh Hóa cho giặc, rút hết quan lại quân dân về Đông Quan, duy có Tri châu Thanh Hóa là La Thông (羅通) không theo. Lợi dời quân đánh nhưng không hạ được. Giặc chia 10.000 quân vây cửa Ải Lưu (隘留關), Bách hộ Vạn Tòng (萬琮) hăng hái đánh, giặc mới rút. Đế nghe tin Thông bại trận, đại kinh hãi, mệnh An Viễn hầu Liễu Thăng làm Tổng binh quan, Bảo Định bá Lương Minh (梁銘) làm phó, đốc sư sang thảo phạt. Lại mệnh Mộc Thạnh làm Chinh Nam tướng quân, Hưng An bá Từ Hanh (徐亨), Tân Ninh bá Đàm Trung (譚忠) làm Tả hữu phó tướng quân, từ Vân Nam tiến binh. Hai đạo quân cộng cộng hơn 70.000 người, sắc cho Thông cố thủ đợi Thăng. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 2 (năm 1427), Vương Thông bỏ Giao Chỉ, nghị hòa với Lê Lợi. Do Lê Lợi dối xưng họ Trần có hậu duệ, bèn phong Trần Cảo (陳暠) làm An Nam vương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa xuân năm Tuyên Đức thứ 2 (năm 1427), Lợi phạm Giao Châu. Thông giao chiến, chém Ngụy Thái giám Lê Bí (黎祕) cùng các quan Thái úy, Tư đồ, Tư không của giặc, thu đầu cấp tính bằng số vạn. Lợi vỡ mật bỏ trốn, chư tướng xin thừa thế đuổi theo, Thông nấn ná 3 ngày, giặc biết hắn sợ, lại lập trại đào hào, bốn phía ra cướp phá. Tháng 3, lại phát 33.000 người đi theo Liễu Thăng, Mộc Thạnh chinh thảo. Giặc chia binh vây Khâu Ôn (丘溫), Đô chỉ huy Tôn Tụ (孫聚) sức chống giữ. Trước đó, giặc cho rằng Xương Giang (昌江) là yếu đạo của đại quân qua lại, phát hơn 80.000 quân đánh thành, Đô chỉ huy Lý Nhậm (李任) sức chống giữ, giết giặc rất nhiều. Trải 9 tháng, chư tướng quan vọng không cứu, giặc sợ đại quân của Thăng đến nên đánh càng gấp. Tháng 4 mùa hạ, thành mất, Nhậm tử tiết. Lúc này giặc vây Giao Châu đã lâu, Thông đóng cửa thành không dám ra, giặc càng coi thường, gửi thư cầu hòa. Thông muốn thuận theo, tập họp mọi người bàn bạc. Án sát sứ Dương Thời Tập (楊時習) nói: "Phụng mệnh thảo tặc, nay hòa với chúng mà tự ý rút quân, sao thoát khỏi tội?" Thông giận, lớn tiếng quát mắng, mọi người không dám nói nữa, bèn đem thư của Lợi tâu lên. Liễu Thăng nhận mệnh đã lâu, đợi chư quân tập họp, tháng 9 mới đến cửa Ải Lưu. Lợi đã có lời ước với Thông, bèn dối xưng họ Trần có hậu duệ, dẫn các đầu mục lớn nhỏ viết thư đến quân của Thăng, xin bãi binh để lập dòng dõi họ Trần. Thăng không mở thư, sai sứ tâu về kinh. Không lâu sau, Thăng tiến sát gò Đảo Mã (倒馬坡), rơi vào phục kích tử trận, hậu quân nối tiếp nhau thảy đều tử trận. Thông nghe tin, sợ hãi lắm, tập họp quân dân quan lại lớn nhỏ, ra bến Hạ Tiêu (下哨河), lập đàn thề với Lợi, hẹn ngày rút quân. Bèn sai quan cùng sứ của giặc dâng biểu và phương vật tiến cống. Quân của Mộc Thạnh đến Thủy Vĩ (水尾), đóng thuyền định tiến, nghe tin Thông đã nghị hòa, cũng rút về. Giặc thừa thế đánh, đại bại quân Minh. Hồng lô tự tiến dâng thư của giặc gửi cho Thăng, đại lược nói: "Thời Cao Hoàng đế khởi nghĩa, An Nam đứng đầu triều cống, đặc biệt được khen thưởng, ban cho ấn ngọc. Sau giặc Lê (Quý Ly) cướp ngôi, Thái Tông Hoàng đế hưng sư thảo diệt, tìm con cháu họ Trần. Họ Trần lánh nạn, phương xa lẩn trốn, nên không có đường tìm kiếm. Nay có dòng dõi sót lại, Cảo ẩn thân ở Lão Qua đã 20 năm, nhân dân bản quốc không quên ơn trạch của tiên vương, nay đã tìm được. Thảng hoặc được chuyển đạt lên Thiên tử, theo minh chiếu kế tuyệt của Thái Tông Hoàng đế, hoàn lại tước đất, chẳng những một tông tộc họ Trần, mà thực là phúc của hàng ức vạn sinh dân man bang." Đế xem thư bèn gật đầu. Ngày sau, biểu của Cảo cũng đến, tự xưng là đích tôn đời thứ 3 của tiên vương Trần Phủ (陳暊), lời lẽ giống với thư của Lợi. Đế tâm biết là dối trá, nhưng muốn mượn cớ đó để nghỉ binh, bèn nạp lời ấy. Ban đầu, đế nối ngôi, cùng Dương Sĩ Kỳ (楊士奇), Dương Vinh (楊榮) bàn việc Giao Chỉ đã muốn bỏ đất ấy. Đến nay đem biểu cho đình thần xem, dụ về ý bãi binh cho dân nghỉ. Sĩ Kỳ, Vinh hết sức tán thành. Duy có Kiển Nghĩa (蹇義), Hạ Nguyên Cát (夏原吉) không cho là phải. Tuy nhiên ý đế đã quyết, đình thần không dám tranh. Ngày mùng 1 tháng 11, mệnh Lễ bộ Tả thị lang Lý Kỳ (李琦), Công bộ Hữu thị lang La Nhữ Kính (羅汝敬) làm Chính sứ, Hữu Thông chính Hoàng Ký (黃驥), Hồng lô khanh Từ Vĩnh Đạt (徐永達) làm Phó sứ, mang chiếu dụ nhân dân An Nam, xá hết tội lỗi, cùng đổi mới với họ, lệnh cho tâu thực việc hậu nhân họ Trần. Nhân đó sắc cho Lợi về ý nghĩa hưng diệt kế tuyệt, đồng thời dụ Thông và các quan Tam ty rút hết quân dân về Bắc. Chiếu chưa đến nơi, Thông đã bỏ Giao Chỉ, theo đường bộ về Quảng Tây; Trung quan Sơn Thọ, Mã Kỳ và các thủ lệnh Tam ty theo đường thủy về Khâm Châu. Phàm số người về được chỉ còn 86.000 người, số bị giặc giết và bị giữ lại không thể thắng kế. Thiên hạ đều oán trách Thông bỏ đất hại dân, nhưng đế không giận. *Theo "Minh nhất thống chí" (明一統志):'' Năm Tuyên Đức thứ 2 (năm 1427), Lê Lợi thế khuất, bắt đầu dâng biểu xin lập hậu duệ họ Trần tên là Cảo làm chủ nước ấy, có chiếu phong làm An Nam vương. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 6 (năm 1431), mệnh Lễ bộ Thị lang Chương Hoảng (章敞), Hữu Thông chính Từ Kỳ (徐琦) mang sắc ấn mệnh Lê Lợi quyền giữ việc nước An Nam (quyền thự An Nam quốc sự).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa hạ năm Tuyên Đức thứ 3 (năm 1428), bọn Thông về đến kinh, văn võ chư thần cùng tâu tội, tại đình thẩm vấn đều đã nhận tội, bèn cùng Trần Trí, Mã Anh, Phương Chính, Sơn Thọ, Mã Kỳ và Bố chính sứ Dặc Khiêm (弋謙) đều bị luận tội chết hạ ngục, tịch thu gia sản, nhưng đế cuối cùng không giết, chỉ giam lâu đợi quyết định mà thôi. Mã Kỳ phóng túng ngược đãi gây biến, tội nặng nhất, còn Dặc Khiêm thực vô tội, đều bị luận tội cùng nhau, thời nghị cho là không phải. Đình thần lại hạch tội Mộc Thạnh, Từ Hanh, Đàm Trung nấn ná và tội làm mất quân nhục nước, đế không hỏi đến. Bọn Từ Kỳ về triều, Lợi sai sứ dâng biểu tạ ơn, dối nói Cảo đã mất vào tháng 1, con cháu họ Trần tuyệt tự, người trong nước suy tôn Lợi giữ nước, kính cẩn đợi mệnh triều đình. Đế cũng biết là dối, không muốn phong ngay, lại sai Nhữ Kính, Vĩnh Đạt dụ Lợi cùng quân dân lệnh tìm dòng dõi họ Trần, và phải hoàn lại hết quan lại nhân dân cùng quyến thuộc. Mùa xuân năm thứ 4 (năm 1429), Nhữ Kính về, Lợi lại nói: "Họ Trần không còn mống nào, xin mệnh khác cho." Nhân đó cống phương vật và người vàng thế thân. Lại nói: "Con gái thần 9 tuổi, gặp loạn lạc tán, sau biết Mã Kỳ đưa về làm cung tì. Thần tình cha con khôn xiết, mạo muội xin lại." Đế tâm biết nếu họ Trần có hậu duệ thì Lợi cũng không nói, nhưng vì phong cho Lợi không có danh nghĩa, lại mệnh Kỳ, Nhữ Kính sắc dụ tìm lần nữa, và báo cho Lợi biết con gái đã bệnh chết. Mùa xuân năm thứ 5 (năm 1430), bọn Kỳ về, Lợi sai sứ cống đồ vàng bạc, phương vật, lại dùng lời trau chuốt tâu lên, cùng với tờ tấu của đầu mục kỳ lão xin cho Lợi nhiếp quốc chính. Đế lại dụ việc tìm hậu duệ họ Trần và hoàn lại di dân Trung Hoa, nhưng lời lẽ không mấy cứng rắn. Mùa hạ năm thứ 6 (năm 1431), Lợi sai sứ tạ tội, dùng lời khéo đối đáp hai việc trên. Đầu mục kỳ lão dâng tấu vẫn xin phong cho Lợi, đế bèn hứa cho. Mệnh Lễ bộ Hữu thị lang Chương Hoảng (章敞), Hữu Thông chính Từ Kỳ (徐琦) mang sắc ấn, mệnh quyền giữ việc nước An Nam. Lợi sai sứ mang biểu và đồ vàng bạc, phương vật theo bọn Hoảng vào cống. '''Tháng 2 năm Tuyên Đức (宣德) thứ 7 (năm 1432), theo bọn Hoảng vào cống đến kinh sư. Khi về Bắc, Lợi và sứ thần đều được ban thưởng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 (năm 1433), Lê Lợi nước An Nam chết, mệnh con là Lân (麟) quyền giữ việc nước.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 8 năm Tuyên Đức thứ 8 (năm 1433) sang cống, mệnh Binh bộ Thị lang Từ Kỳ (徐琦) cùng sứ giả đi cùng, dụ đạo Thuận thiên bảo dân (thuận trời giữ dân). Năm ấy Lợi chết. Lợi tuy nhận mệnh (của nhà Minh), nhưng ở trong nước xưng Đế, niên hiệu Thuận Thiên (順天), xây hai kinh Đông và Tây, chia làm 13 đạo: Sơn Nam, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, An Bang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Minh Quang, Lạng Hóa, Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam. Mỗi đạo đặt Thừa chính ty, Hiến sát ty, Tổng binh sứ ty phỏng theo Tam ty của Trung Hoa. Đông Đô tại phủ Giao Châu, Tây Đô tại phủ Thanh Hoa. Đặt trăm quan, lập trường học, dùng hai khoa Kinh nghĩa và Thi phú lấy sĩ tử, văn minh có phong thái Hoa Hạ. Ở ngôi tiếm vị 6 năm, thụy riêng là Thái Tổ. Con là Lân (麟) kế vị, Lân còn có tên là Long (龍). Từ đó các quân trưởng nước ấy đều có 2 tên, dùng 1 tên để tâu lên Thiên triều, cống hiến không dứt theo lệ thường. Lân sai sứ báo tang, mệnh Thị lang Chương Hoảng, Hành nhân Hầu Tiến (侯璡) sắc cho Lân quyền giữ việc nước. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 9 (năm 1434), Quyền giữ việc nước An Nam là Lân sai sứ vào cống tạ ơn.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Chính Thống (正統) thứ 1 (năm 1436) đời Anh Tông (英宗), phong Lân (麟) làm An Nam quốc vương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 4 năm Chính Thống thứ 1 (năm 1436), nhân dịp Tuyên Tông băng hà, (An Nam) sai sứ sang dâng hương. Lại nhân dịp Anh Tông lên ngôi và tôn phong vị hiệu cho Thái hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu, đều sai sứ dâng biểu chúc mừng và tiến cống phương vật. Tháng 6 nhuận lại sang cống. Hoàng đế cho rằng tông chi họ Trần đã tuyệt, muốn để Lân (麟) chính vị, bèn đưa ra đình nghị, mọi người đều cho là nên. Liền mệnh Binh bộ Hữu thị lang Lý Úc (李郁), Tả thông chính Nại Hanh (柰亨) mang sắc ấn phong Lân (麟) làm An Nam quốc vương. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 2 (năm 1437), An Nam quốc vương Lân (麟) sai sứ vào cống tạ ơn. Lại sai sứ tạ tội việc Thổ quan châu Tư Lang (思郎州) xâm lược.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Chính Thống thứ 2 (năm 1437), sai sứ vào cống tạ ơn. Bấy giờ Thổ quan châu Tư Lang (思郎州) của An Nam đánh chiếm các châu An Bình (安平), Tư Lăng (思陵) của Quảng Tây, chiếm giữ 2 động và 21 làng. Hoàng đế mệnh Cấp sự trung Thang Nại (湯鼐), Hành nhân Cao Dần (高寅) mang sắc lệnh yêu cầu Lân (麟) trả lại đất đã chiếm. Lân (麟) phụng mệnh sai sứ tạ tội, nhưng lại tố cáo Thổ quan An Bình, Tư Lăng xâm lược Tư Lang, Hoàng đế lệnh cho quan thủ thần nghiêm khắc chấn chỉnh. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 7 (năm 1442), An Nam vương Lân (麟) chết, sách phong con là Tuấn (濬) làm Quốc vương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Chính Thống thứ 7 (năm 1442), sứ giả An Nam về nước, (Hoàng đế) lệnh mang theo mũ da (Pì biền quan), trang phục và áo thêu chỉ vàng ban cho Vương. Năm ấy, Lân (麟) chết, thụy riêng là Thái Tông. Trong đời ông có 2 niên hiệu: Thiệu Bình (紹平) 6 năm, Đại Bảo (大寶) 3 năm. Con là Tuấn (濬) kế vị, còn có tên là Mộ Long (墓隆), sai sứ báo tang. (Hoàng đế) mệnh Quang lộc Thiếu khanh Tống Kiệt (宋傑), Binh khoa Đô cấp sự trung Tiết Khiêm (薛謙) cầm tiết sang sách phong làm Quốc vương. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 1 (năm 1450) đời Đại Tông (代宗), sắc lệnh An Nam vương Tuấn (濬) trả lại vua Chiêm Thành và dân chúng đã bắt; Tuấn (濬) không phụng chiếu.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tuấn (濬) sai tướng xâm chiếm Chiêm Thành (占城), đoạt cảng Tân Châu (新州港), bắt vua nước ấy là Ma Ha Bí Cai (摩訶賁該) đem về. Hoàng đế bèn lập vua mới là Ma Ha Quý Lai (摩訶貴來), sắc cho sứ giả An Nam dụ bảo Tuấn (濬) trả lại vua cũ. Tuấn (濬) không phụng chiếu, còn xâm lược bắt dân chúng lên đến hơn 33.000 người, Chiêm Thành vào triều khiếu kiện. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 2 (năm 1451), ban cho An Nam gấm vóc.''' *Theo "Minh hội điển" (明會典):'' Năm Cảnh Thái thứ 2 (năm 1451), chiếu theo lệ nước Triều Tiên năm Tuyên Đức thứ 10, ban cho 10 bộ đoạn màu (thái đoạn), 4 tấm gấm. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 (năm 1453), An Nam vương Tuấn (濬) sai sứ chúc mừng việc sách lập Hoàng thái tử.''' '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 (năm 1457) đời Anh Tông (英宗), An Nam sai sứ vào cống, xin ban mũ áo (cổn miện) theo lệ Triều Tiên, không được chấp thuận; sứ giả xin lấy thổ sản đổi lấy sách vở và dược tài, (vua) nghe theo.''' '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 2 (năm 1458), An Nam sai sứ chúc mừng Anh Tông phục bích (lên ngôi trở lại).''' *Ghi chú: Các phần trên theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện".'' '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 3 (năm 1459), Lạng Sơn vương Tông (琮) của An Nam giết Tuấn (濬) tự lập, sau bị người trong nước giết chết, em Tuấn (濬) là Hạo (灝) nối ngôi.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 10 năm Thiên Thuận thứ 3 (năm 1459), anh khác mẹ là Lạng Sơn vương Tông (琮) giết chết Tuấn (濬) mà tự lập. Tuấn (濬) có 2 niên hiệu: Đại Lợi (大利) 11 năm, Diên Ninh (延寧) 6 năm, thụy riêng là Nhân Tông. Tông (琮) có tên là Nghi Dân (宜民), chiếm ngôi 9 tháng, đổi niên hiệu là Thiên Dữ (天與), bị người trong nước giết chết, biếm làm Lệ Đức hầu (厲德侯), lấy em của Tuấn (濬) là Hạo (灝) kế vị. Hạo (灝) còn tên là Tư Thành (思誠). Ban đầu, Tông (琮) giết Tuấn (濬) rồi tâu với Thiên triều là Tuấn (濬) đi chơi hồ bị chết đuối, (nhà Minh) không biết nên định sai quan sang điếu tế. Tông (琮) sợ thiên sứ đến sẽ lộ tình cảnh, bèn nói theo lễ không điếu người chết đuối, không dám làm phiền thiên sứ. Hoàng đế bèn thôi. Sau đó sứ giả (của Hạo) nói Tuấn (濬) không có con, xin phong vương. Tông (Hoàng đế) bèn mệnh Thông chính Tham nghị Doãn Mân (尹旻), Lễ khoa Cấp sự trung Vương Dự (王豫) sang phong vương. Chưa vào cảnh giới đã nghe tin Tông (琮) bị giết, Hạo (灝) nối ngôi, liền quay về. Hạo (灝) liên tiếp sai sứ triều cống xin phong. Lễ quan nghi ngờ có sự gian trá, xin mệnh cho quan thủ thần Quảng Tây xác minh sự thực rồi mới tâu xin, (vua) nghe theo. Sứ thần nói: "Theo lễ, sống thì có phong, thác thì có tế. Nay việc Tuấn (濬) chết đã rõ, xin ban cho tế lễ." Bèn mệnh Hành nhân sang tế. '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 (năm 1462), phong em của Tuấn (濬) là Hạo (灝) làm An Nam quốc vương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Thiên Thuận thứ 6 (năm 1462), mệnh Thị độc Học sĩ Tiền Phổ (錢溥), Cấp sự trung Vương Dự (王豫) sang phong Hạo (灝) làm Quốc vương. '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 1 (năm 1465) đời Hiến Tông (憲宗), An Nam quốc vương Hạo (灝) sai sứ dâng hương, mệnh cho đến Dụ Lăng hành lễ.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Hiến Tông lên ngôi, mệnh Thượng thư khanh Lăng Tín (凌信), Hành nhân Thiệu Chấn (卲震) ban cho Vương và Phi lụa màu. Hạo (灝) sai sứ lại cống, nhân đó xin mũ áo (miện phục), (vua) không cho, chỉ ban mũ da (Pì biền quan) cùng mũ sa (sa mạo), đai tê (tê đới). Tháng 8 năm Thành Hóa thứ 1 (năm 1465), vì Anh Tông băng hà, (An Nam) sai sứ sang dâng hương, mệnh cho đến Dụ Lăng (裕陵) hành lễ. Hạo (灝) vốn là kẻ hùng kiệt tự phụ, nước giàu binh mạnh, thường hay tự đại. '''Tháng 4 năm Thành Hóa (成化) thứ 4 (năm 1468), An Nam phát binh xâm chiếm vùng Bằng Tường (憑祥) thuộc Quảng Tây. Hoàng đế nghe tin, mệnh cho quan thủ thần cẩn thận phòng bị.''' '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 7 (năm 1471), An Nam vương Hạo (灝) mượn đường Vân Nam, quấy rối biên địa, chiếu mệnh quan thủ thần tra hỏi. Lại tâu rằng "Chiêm Thành bị phá không phải do xâm đoạt". Năm ấy sai sứ mừng sách lập Hoàng thái tử, có chiếu cấm đoán nghiêm khắc.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Thành Hóa thứ 7 (năm 1471), (An Nam) phá Chiêm Thành, bắt vua nước ấy là Bàn La Trà Toàn (盤羅茶全). Qua 3 năm lại phá lần nữa, bắt vua là Bàn La Trà Duyệt (盤羅茶悅). Sau đó đổi nước ấy làm châu Giao Nam (交南州), đặt binh trấn giữ. Đường triều cống của An Nam vốn đi qua Quảng Tây. Bấy giờ Trấn thủ Trung quan Vân Nam là Tiền Năng (錢能) tham lam phóng túng, sai Chỉ huy Quách Cảnh (郭景) mang sắc lệnh đi lấy hàng hóa. Hạo (灝) vốn muốn dòm ngó Vân Nam, bèn lấy cớ giải tống tội nhân ở Long Châu (龍州) thuộc Quảng Tây, theo chân Cảnh mượn đường Vân Nam, vào kinh đòi hơn 600 phu dịch, lại phát binh theo sau, khiến Vân Nam đại loạn. Binh bộ nói, Vân Nam không phải đường triều cống, tội nhân Long Châu nên giải qua Quảng Tây, không cần đến kinh. Bèn lệnh quan thủ thần phát hịch dụ bảo, đồng thời nghiêm ngặt phòng bị biên cương. Hạo (灝) sau khi lấy được Bằng Tường, diệt Chiêm Thành, liền xâm phạm Quảng Đông, lấy trộm ngọc trai ở Quỳnh, Lôi. Các nơi Long Châu, Hữu Bình thuộc Quảng Tây, Lâm An thuộc Vân Nam, Trấn An thuộc Quảng Nam cũng mấy lần báo biến. Chiếu mệnh quan thủ thần tra hỏi, Hạo (灝) đều dùng lời lẽ quỷ quyệt đối đáp. Triều đình vốn giữ thái độ nhân nhượng, tuy nhiều lần giáng sắc dụ bảo nhưng không có lời lẽ gay gắt. Hạo (灝) càng khinh lạt không sợ hãi, nói rằng vua Chiêm Thành là Bàn La Trà Toàn xâm phạm đạo Hóa Châu (化州道), bị em là Bàn La Trà Duyệt giết chết rồi tự lập. Đến khi sắp nhận phong lại bị con là Trà Chất Đài (茶質苔) giết chết. Nước ấy tự loạn, không phải lỗi của thần Hạo (灝). Triều đình biết hắn gian trá nhưng không thể tra hỏi, chỉ dùng lời tốt khuyên nhủ hoàn lại đất đai mà thôi. Lâu sau, Hạo (灝) tâu rằng: "Chiêm Thành không phải đất màu mỡ, nhà chẳng có của tích trữ, đồng ruộng tuyệt đường dâu tằm. Núi không có thu hoạch vàng ngọc, biển thiếu cái lợi cá muối, chỉ sản xuất ngà voi, sừng tê, gỗ mun, trầm hương. Được đất ấy không thể ở, được dân ấy không thể dùng, được hàng hóa ấy không đủ để làm giàu, đó là lý do thần không xâm đoạt Chiêm Thành. Minh chiếu lệnh cho thần phục hồi đất đai nước ấy, xin phái sứ giả triều đình sang phân định biên giới, khiến biên thùy hai nước được nghỉ ngơi, thần hết lòng mong mỏi." Khi ấy Chiêm Thành đã bị chiếm đóng lâu ngày mà lời lẽ hắn vẫn xằng bậy như thế. Trước đó, An Nam vào cống thường mang theo nhiều đồ riêng, đi qua Bằng Tường, Long Châu thiếu người vận chuyển liền nảy sinh thù hằn. Gặp lúc sai sứ mừng sách lập Hoàng thái tử, có chiếu cấm đoán nghiêm khắc. '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 15 (năm 1479), An Nam vương Hạo (灝) xâm lược nước láng giềng. Đình nghị lệnh cho các quan thủ thần Vân Nam, Lưỡng Quảng đề cao phòng bị biên cương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa đông năm Thành Hóa thứ 15 (năm 1479), Hạo (灝) sai hơn 800 binh vượt biên giới Mông Tự (蒙自) thuộc Vân Nam, nói phao là bắt cướp, tự ý lập doanh dựng nhà để ở. Quan thủ thần sức ngăn lại, họ mới rút. Hạo (灝) sau khi phá Chiêm Thành, chí ý càng rộng lớn, đích thân đốc thúc 90.000 binh, xẻ núi làm 3 đường, đánh phá Ai Lao (哀牢), xâm lược Lão Qua (老撾), lại đại phá chúng, giết chết cả ba cha con Tuyên úy Đao Bản Nhã Lan Chưởng (刀板雅蘭掌), con út là Bá Nhã Tái (伯雅賽) chạy đến Bát Bách (八百) mới thoát. Hạo (灝) lại tích lương luyện binh, ban sắc lệnh giả ở Xa Lý (車里), trưng binh nước ấy hợp công Bát Bách, tướng sĩ chết đột ngột hơn vài nghìn người, đều nói là bị sấm sét đánh. Bát Bách bèn chặn đường về, tập kích giết hơn 10.000 người, Hạo (灝) mới dẫn quân về. Đế đưa ra đình nghị, xin lệnh cho Bố chính ty Quảng Tây phát hịch yêu cầu Hạo (灝) thu quân khỏi Vân Nam, các quan thủ thần Lưỡng Quảng đề cao phòng bị biên cương mà thôi. Sau đó Hạo (灝) biện bạch chưa từng xâm lược Lão Qua, lại không biết biên giới Bát Bách ở đâu, lời lẽ rất cuồng dối. Đế lại an ủi dụ bảo, nhưng hắn vẫn không phụng mệnh. '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 (năm 1481), sắc lệnh An Nam vương Hạo (灝) phải hòa mục với láng giềng. Khi sứ thần vào cống, xin ban mũ đai (quan đới), vua chấp thuận.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa thu năm Thành Hóa thứ 17 (năm 1481), Mãn Thứ Gia (滿剌加 - Malacca) cũng vì bị xâm lược mà báo cáo, Hoàng đế sắc lệnh sứ giả dụ bảo (Hạo) phải hòa mục láng giềng để giữ nước. Chẳng bao lâu, sứ thần vào cống, xin theo lệ của Xiêm La (暹羅), Qua Oa (瓜哇 - Java) được ban mũ đai. (Vua) chấp thuận, nhưng không lấy đó làm lệ thường. '''Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 1 (năm 1488) đời Hiếu Tông (孝宗), sứ thần An Nam đến cống.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Hiếu Tông lên ngôi, mệnh Thị độc Lưu Tiễn (劉戩) mang chiếu dụ đến nước ấy. Sứ thần nước ấy đến cống, vì gặp đại tang (vua Minh) nên được miễn việc dẫn vào tâu bầy. '''Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 3 (năm 1490), vua Chiêm Thành tâu việc bị An Nam (安南) xâm lấn. Binh bộ Mã Văn Thăng (馬文升) triệu sứ thần An Nam đến răn bảo.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Hoằng Trị thứ 3 (năm 1490), bấy giờ vua Chiêm Thành là Cổ Lai (古來) nhờ sức Thiên triều mà được về nước, lại tâu việc bị An Nam xâm lấn. Binh bộ Thượng thư Mã Văn Thăng triệu sứ thần An Nam đến bảo rằng: "Về nói với chủ ngươi, hãy lo giữ lấy cương thổ mà hưởng thái bình. Nếu không, một mai triều đình nổi giận, thiên binh áp sát cảnh giới như việc thời Vĩnh Lạc, chủ ngươi chẳng hối hận sao?". Từ đó An Nam có phần sợ hãi. '''Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 10 (năm 1497), An Nam vương Hạo (灝) chết, con là Huy (暉) nối ngôi, sai sứ báo tang, ngay sau đó ban cho弁服 (Biền phục). Sứ thần xin đổi loại ban thưởng nhưng không cho.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Hoằng Trị thứ 10 (năm 1497), Hạo (灝) chết, thụy riêng là Thánh Tông. Trong đời ông có 2 niên hiệu: Quang Thuận (光順) 10 năm, Hồng Đức (洪德) 28 năm. Con là Huy (暉) kế vị, còn có tên là Tăng (鏳), sai sứ báo tang. (Hoàng đế) mệnh Hành nhân Từ Ngọc (徐鈺) sang tế, ngay sau đó ban cho Huy (暉) mũ da (Pì biền phục), đai tê nạm vàng. Sứ thần nước ấy nói: "Quốc chủ nhận tước Vương, nhưng trang phục ban cho không khác gì thần hạ, xin được đổi loại khác." Quan lễ bộ nói: "An Nam danh nghĩa là Vương, thực chất là thần tử của Trung Quốc. Vương mới lập tất phải ban mũ da trang phục (Pì biền quan phục) để không mất đi cái tôn quý của bậc chủ tể một nước; lại ban cho thường phục nhất phẩm để không quên nghĩa phụng sự Trung Quốc của bậc tôi tớ. Nay điều thỉnh cầu làm rối loạn tổ chế, không thể cho phép. Tuy nhiên đây không phải tội của sứ thần, mà do bọn thông sự dẫn dắt tâu bậy, nên trừng phạt." Đế đặc cách tha thứ. '''Tháng 5 năm Hoằng Trị (弘治) thứ 17 (năm 1504), An Nam vương Huy (暉) chết, thụy riêng là Hiến Tông. Con là Kính (敬) kế vị, mới được 7 tháng thì chết, thụy riêng là Túc Tông. Em là Nghị (誼) kế vị, còn có tên là Tuyền (璿).''' *Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Chính Đức (正德) thứ 1 (năm 1506) đời Võ Tông (武宗), sách phong em của Vương là Nghị (誼) làm Quốc vương. Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện", Võ Tông lên ngôi, mệnh Tu soạn Luân Văn Thứ (倫文敘), Cấp sự trung Trương Hoằng Chí (張弘至) mang chiếu dụ đến nước ấy. Nghị (誼) cũng sai sứ báo tang, (Hoàng đế) mệnh quan sang tế theo nghi lễ thông thường.''' Năm Chính Đức thứ 1 (năm 1506), sách phong làm Vương. Nghị (誼) sủng ái và tin dùng vây cánh bên ngoại là anh em Nguyễn Chủng (阮种), Nguyễn Bá Thắng (阮伯勝), làm điều oai ngược tàn bạo, tàn sát tông thân, đánh thuốc độc giết cả tổ mẫu. Bọn Chủng cậy thế sủng ái mà chiếm đoạt quyền hành. '''Năm Chính Đức (正德) thứ 4 (năm 1509), An Nam vương Nghị (誼) bị bọn Nguyễn Chủng (阮种) bức bách phải tự sát, chúng lập em của Chủng là Bá Thắng (伯勝) lên. Người trong nước giết đi, lập cháu nội của Hạo (灝) là Chu (晭).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 11 năm Chính Đức thứ 4 (năm 1509), (bọn Nguyễn Chủng) bức Nghị (誼) tự sát, ủng lập em hắn là Bá Thắng (伯勝). Biếm Nghị (誼) làm Lệ Mẫn vương (厲愍王). Người trong nước là Lê Quảng (黎廣) cùng những người khác giết hắn đi, lập cháu nội của Hạo (灝) là Chu (晭), đổi thụy cho Nghị (誼) là Uy Mục đế (威穆帝). Nghị (誼) tại vị 4 năm, niên hiệu Đoan Khánh (端慶). Chu (晭) còn có tên là Oanh (瀅). '''Năm Chính Đức (正德) thứ 7 (năm 1512), An Nam vương Chu (晭) - cháu của Hạo (灝) - nhận phong, làm nhiều việc bất nghĩa.''' *Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Chính Đức (正德) thứ 11 (năm 1516), quan An Nam là Trần Cảo (陳暠) cùng 2 con là Bính (昺), Thăng (昇) giết vua Chu (晭) mà tự lập. Đại thần Nguyễn Hoằng Dụ (阮弘裕) cùng những người khác thảo phạt, bèn cùng lập cháu gọi Chu (晭) bằng chú là Huệ (譓). Sau này Huệ (譓) xin phong nhưng vì nước loạn nên không thành.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 4 năm Chính Đức thứ 11 (năm 1516), quan dâng hương xã đường là Trần Cảo (陳暠) cùng 2 con Bính (昺), Thăng (昇) làm loạn, giết Chu (晭) mà tự lập, dối xưng là hậu duệ họ Trần đời trước, vẫn xưng Đại Ngu hoàng đế (大虞皇帝), niên hiệu Ứng Thiên (應天), biếm Chu (晭) làm Linh Ẩn vương (靈隱王). Đô lực sĩ của Chu (晭) là Mạc Đăng Dung (莫登庸) ban đầu theo Cảo (暠), sau cùng các đại thần họ Lê là Nguyễn Hoằng Dụ (阮弘裕) dấy binh thảo phạt. Cảo (暠) bại chạy, bắt được Bính (昺) cùng đảng hữu là Trần Toại (陳璲). Cảo (暠) và Thăng (昇) chạy sang Lạng Sơn (諒山), dọc đường chiếm giữ 3 phủ Trường Ninh (長寧), Thái Nguyên (太原), Thanh Tiết (清節) để tự vệ. Đăng Dung cùng những người khác bèn cùng lập con của Hạo (灝 - con anh trai của Chu) là Huệ (譓), đổi thụy cho Chu (晭) là Tương Dực đế (襄翼帝). Chu (晭) tại vị 7 năm, niên hiệu Hồng Thuận (洪順). Huệ (譓) định xin phong nhưng vì nước loạn nên không thành. Vì Đăng Dung có công nên được phong Vũ Xuyên bá (武川伯), tổng lĩnh các quân thủy bộ. Khi đã nắm binh quyền, ngầm nuôi ý chí khác. Thần tử họ Lê là Trịnh Tuy (鄭綏) cho rằng Huệ (譓) chỉ ngồi không, bèn lập riêng người trong tộc là Dậu Bảng (酉榜), phát binh đánh kinh đô, Huệ (譓) phải bỏ chạy. Đăng Dung đánh tan binh của Tuy, bắt Dậu Bảng giết đi, càng cậy công chuyên quyền phóng túng, bèn bức ép vợ và mẹ của Huệ (譓) rồi đón Huệ (譓) về, tự làm Thái phó, Nhân Quốc công. Năm thứ 16 (năm 1521), dẫn binh đánh Trần Cảo (陳暠), Cảo (暠) bại chạy rồi chết. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 (năm 1522) đời Thế Tông (世宗), Mạc Đăng Dung (莫登庸) mưu giết chủ là Huệ (譓). Huệ đi đường tắt thoát thân, Đăng Dung lập em Huệ là Khoáng (懬) lên ngôi.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Năm Gia Tĩnh thứ 1 (năm 1522), Đăng Dung tự xưng là An Hưng vương (安興王), mưu giết Huệ. Mẹ của Huệ báo tin, Huệ bèn cùng thần hạ là Đỗ Ôn Nhuận (杜溫潤) đi đường tắt trốn thoát, cư ngụ tại Thanh Hoa (清華). Đăng Dung lập em khác mẹ của Huệ là Khoáng (懬) lên ngôi, dời đô về phủ Trường Khánh (長慶府) vùng Hải Đông (海東). Thế Tông lên ngôi, mệnh Biên tu Tôn Thừa Ân (孫承恩), Cấp sự trung Du Đôn (俞敦) mang chiếu dụ đến nước ấy, đi đến Long Châu (龍州) nghe tin nước ấy đại loạn, đường xá không thông nên quay về. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 4 (năm 1524), Quốc chủ An Nam Lê Huệ (黎譓) đi đường tắt xin phong vương, nhưng bị Đăng Dung ngăn trở.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa hạ năm Gia Tĩnh thứ 4 (năm 1524), Huệ sai sứ đi đường tắt thông cống và xin phong vương, nhưng bị Đăng Dung ngăn cản. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 5 (năm 1525), Đăng Dung thay mặt cho Quốc chủ do mình lập là Khoáng (懬) để cầu phong.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa xuân năm Gia Tĩnh thứ 5 (năm 1525), Đăng Dung đút lót cho Phán quan Khâm Châu (欽州) là Đường Thanh (唐清) để cầu phong cho Khoáng. Tổng đốc Trương Đỉnh (張嵿) bắt giam Thanh, Thanh chết trong ngục. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 6 (năm 1527), Đăng Dung nước An Nam cướp ngôi của Khoáng (懬) tự lập.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 3 năm Gia Tĩnh thứ 6 (năm 1527), Đăng Dung lệnh cho đồng đảng là Phạm Gia Mô (范嘉謨) làm giả chiếu nhường ngôi của Khoáng, chiếm lấy ngôi vị, đổi niên hiệu là Minh Đức (明德). Lập con là Phương Doanh (方瀛) làm Hoàng thái tử. Ngay sau đó dùng thuốc độc giết Khoáng, thụy là Cung Hoàng đế (恭皇帝). Qua năm sau, sai sứ đến cống, đến thành Lạng Sơn (諒山城) bị đánh phải quay về. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 9 (năm 1530), Đăng Dung nhường ngôi cho con là Phương Doanh (方瀛). Năm ấy Lê Huệ (黎譓) chết.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Gia Tĩnh thứ 9 (năm 1530), Đăng Dung nhường ngôi cho Phương Doanh, tự xưng Thái thượng hoàng (太上皇), dời đến Đồ Sơn (都齋) thuộc Hải Dương (海陽) để làm ngoại viện cho Phương Doanh. Soạn "Đại cáo" (大誥) 59 điều ban bố trong nước. Phương Doanh đổi niên hiệu là Đại Chính (大正). Tháng 9 năm ấy, Lê Huệ chết ở Thanh Hoa (清華), nước mất. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 15 (năm 1536), (nhà Minh) phái quan đi khám xét danh tính kẻ phạm tội chiếm ngôi giết chúa ở An Nam, bàn việc chinh phạt.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa đông năm Gia Tĩnh thứ 15 (năm 1536), Hoàng thái tử sinh ra, định ban chiếu cho An Nam. Lễ quan Hạ Ngôn (夏言) nói: "An Nam không cống đã 20 năm. Quan thủ thần Lưỡng Quảng nói Lê Huệ, Lê Khoáng đều không phải là đích tự của Lê Chu (黎晭) đáng được lập; Mạc Đăng Dung, Trần Cảo (陳暠) đều là thần tử chiếm ngôi phản nghịch, nên phái quan sang tra hỏi, tìm danh tính kẻ thủ ác. Vả lại sứ giả trước đây vì đường trở ngại không thông, nay nên tạm dừng sứ mệnh." Đế thấy việc An Nam phản nghịch rõ ràng, nên gấp phái quan đi khám xét, lệnh Ngôn hội cùng Binh bộ bàn việc chinh phạt. Ngôn cùng Thượng thư Binh bộ Trương Toản (張瓚) lực nói: "Nghịch thần chiếm ngôi đoạt nước, không tu sửa triều cống, quyết nên thảo phạt. Xin trước phái 2 quan Cẩm y vệ đi xác minh sự thực. Sắc lệnh quan thủ thần Lưỡng Quảng, Vân Nam chỉnh đốn binh mã, tích trữ lương thảo để đợi ngày xuất quân." Vua chuẩn tấu. Bèn mệnh Thiên hộ Đào Phụng Nghi (陶鳳儀), Trịnh Tỉ (鄭璽) chia đi Quảng Tây, Vân Nam tra hỏi danh tính kẻ phạm tội, sắc cho quan thủ thần các tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu, Hồ Quảng, Phúc Kiến, Giang Tây chuẩn bị binh lương chờ điều động. Hữu thị lang bộ Hộ là Đường Trụ (唐胄) dâng sớ liệt kê 7 điều không nên dùng binh. Các quan Trung, Vĩnh nói: "An Nam tuy loạn nhưng vẫn thường dâng biểu sớ, mang phương vật đến cửa quan cầu xin vào cống. Quan thủ thần vì thấy họ tên không khớp nên cự tuyệt. Ấy là họ muốn cống mà không được, chứ không phải cậy hiểm không cống." Sớ chuyển đến Binh bộ, cũng cho là phải, bèn lệnh đợi quan khám xét về mới bàn tiếp. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 16 (năm 1537), Lê Ninh (黎寧) ở An Nam phái người tố cáo trạng thái chiếm ngôi giết chúa của Đăng Dung, nói Ninh là con của Huệ, quốc nhân lập Ninh quyền chủ quốc sự. Năm ấy cha con Đăng Dung dâng biểu xin hàng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 16 (năm 1537), Lê Ninh phái người trong nước là Trịnh Duy Liêu (鄭惟憭) đến kinh sư, trình bày chi tiết việc Đăng Dung chiếm ngôi giết chúa, nói Ninh là con Huệ. Huệ chết, quốc nhân lập Ninh làm Thế tôn, quyền chủ quốc sự. Nhiều lần gửi thư cho biên thần báo nạn đều bị Đăng Dung chặn giết. Xin hưng binh hỏi tội, trừ khử quốc tặc. Lúc ấy Nghiêm Tung (嚴嵩) chưởng bộ Lễ, cho là lời nói chưa thể tin hết, xin tạm giữ lại đợi quan khám xét về tâu báo. Vua nghe theo. Không lâu sau triệu bọn Phụng Nghi về, mệnh bộ Lễ, bộ Binh hội đình thần bàn bạc, liệt kê 10 đại tội của Đăng Dung, xin đại chấn oai trời, định ngày chinh phạt. Triệu Hữu đô ngự sử Mao Bá Ôn (毛伯溫) tại gia ra tham tán quân vụ. Mệnh Thị lang bộ Hộ Hồ Luyến (胡璉), Cao Công Thiều (高公韶) đi trước đến Vân, Quý, Lưỡng Quảng điều độ quân lương. Lấy Đô đốc thiêm sự Giang Hoàn (江桓), Ngưu Hoàn (牛桓) làm Tả hữu phó tổng binh, đốc quân chinh phạt. Đại tướng sẽ đợi mệnh sau. Binh bộ lại phụng chiếu điều hành 12 việc cơ yếu dùng binh, duy có Thị lang Phan Trân (潘珍) giữ ý không nên, dâng sớ can gián thiết tha. Đế giận, bãi chức Trân. Tổng đốc Lưỡng Quảng Phan Đán (潘旦) cũng dâng sớ xin dừng lệnh trước, nói: "Triều đình vừa dấy quân hỏi tội, Đăng Dung đã có sứ cầu cống, nên nhân đó mà hứa cho để quan sát biến chuyển, đợi nước ấy tự định đoạt." Nghiêm Tung, Trương Toản nhìn thấu ý vua, lực nói không thể tha, lại nói Lê Ninh ở Thanh Đô mưu khôi phục, mà Đán nói nước ấy đã định, dâng biểu cầu cống là quyết không thể hứa. Sớ của Đán bị gác lại. Tháng 5, Bá Ôn đến kinh, dâng 6 kế sách lược, cho rằng Đán không thể cùng làm việc, xin thay người. Vua ban chỉ khen ngợi. Đến khi Binh bộ nghị xong, ý vua bỗng thay đổi, cho rằng việc Lê Ninh thực giả chưa rõ, lệnh quan thủ thần 3 phương tùy nghi vỗ về hoặc tiễu phạt, các quan tham tán đốc lương tạm dừng điều động, lấy Trương Kinh (張經) thay Đán. Không lâu sau, Ngự sử Từ Cửu Cao (徐九皋), Cấp sự trung Tạ Đình Chủy (謝廷茝) nhân dịp tu tỉnh cũng xin bãi binh chinh Nam. Đến tháng 8, Tuần phủ Vân Nam Uông Văn Thịnh (汪文盛) bắt được gián điệp của Đăng Dung và nộp bản "Đại cáo" (大誥) giả do hắn soạn. Đế nổi giận, mệnh quan thủ thần tuân chiếu trước mà chinh phạt. Bấy giờ Văn Thịnh chiêu nạp cựu thần họ Lê là Vũ Văn Uyên (武文淵), có được bản đồ tiến binh, cho rằng Đăng Dung tất có thể phá, bèn dâng lên triều đình. Nhưng Án sát Quảng Đông Dư Quang (余光) nói: "Mạc chiếm ngôi Lê cũng như Lê chiếm ngôi Trần, không đáng tính kỹ. Chỉ nên trị tội không triều kiến, bắt xưng thần tu sửa triều cống, không cần viễn chinh làm mệt nhọc Trung Quốc. Thần đã phái sứ tuyên dụ, nếu hắn quy thuận nên nhân đó mà vỗ về." Đế trị tội Quang khinh suất, đoạt lộc 1 năm, nhưng lệnh tùy nghi vỗ về tiễu phạt. Văn Thịnh truyền hịch cho An Nam, nói Đăng Dung nếu biết trói mình về chịu mệnh, nộp bản đồ thì sẽ giữ cho không chết. Thế là cha con Đăng Dung phái sứ dâng biểu xin hàng, gửi tờ trình cho Văn Thịnh và Kiềm quốc công Mộc Triều Phụ (沐朝輔), thuật rõ họ Lê suy loạn, Trần Cảo phản nghịch, mình và Phương Doanh có công nên được quốc nhân quy phụ; đất đai có bấy nhiêu đã ghi trong "Nhất thống chí". Xin xá tội, tu sửa triều cống như cũ. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 19 (năm 1540), Đăng Dung đến cửa quân đầu hàng. Việc định xong, tâu lên. Hạ nước An Nam xuống thành An Nam đô thống sứ ty, phong Đăng Dung làm Đô thống sứ. Lại lệnh xác minh Lê Ninh là họ Lê thực hay giả.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 3 năm Gia Tĩnh thứ 17 (năm 1538), Triều Phụ tâu báo việc ấy, mà Lê Ninh theo chiếu trước, sợ Thiên triều nhận hàng, bèn nộp chi tiết bản mạt việc chiếm ngôi và số quân mã, đường tiến binh thủy bộ. Đều giao Binh bộ hội đình thần nghị, mọi người nói tội họ Lê (nhầm, ý nói họ Mạc) không thể xá, nên tiến quân ngay, xin lấy Hàm Ninh hầu Cừu Loan (仇鸞) làm Tổng đốc quân vụ, Bá Ôn vẫn làm Tham tán. Vua nghe theo. Trương Kinh tâu: "Đường tiến binh An Nam có 6 ngả, cần dùng 300.000 quân; lương 1 năm cần 1.600.000 (thạch), phí đóng thuyền, mua ngựa, chế khí giới, khao quân mất hơn 700.000 (lượng). Nếu binh đao không dứt trong vài tháng, phí tổn còn hơn thế. Huống hồ điều đại quân qua biển nóng, đấu với kẻ tự chiến trên đất nhà, lao nhọc và nhàn nhã thế khác nhau, không thể không xét kỹ." Sớ vừa dâng, Tri châu Khâm Châu Lâm Hy Nguyên (林希元) lại lực trần trạng thái Đăng Dung có thể đánh chiếm. Binh bộ không quyết được, lại xin đình nghị. Khi nghị xong, đại đa số đều là lời cũ đã tâu. Đế không vui nói: "Trẫm nghe khanh sĩ đại phu bàn riêng thảy đều bảo không nên hưng sư. Các ngươi giữ chức trị bang quốc mà không có chủ trương, thảy đều đẩy cho hội nghị. Đã không đồng lòng mưu quốc thì thôi việc của Loan và Bá Ôn đi." Tháng 2 năm thứ 18 (năm 1539) sách lập Hoàng thái tử, định ban chiếu cho An Nam, đặc khởi dụng Hoàng Quán (黃綰) làm Thượng thư bộ Lễ, Học sĩ Trương Trị (張治) làm phó sang sứ nước ấy. Lệnh vừa ban, Phương Doanh phái sứ dâng biểu hàng, nộp sổ sách đất đai hộ khẩu, nghe theo Thiên triều xử phân. Phàm có 53 phủ, 49 châu, 176 huyện. Đế nhận, giao bộ Lễ, bộ Binh nghị hiệp. Đến tháng 7, Quán vẫn chưa đi, vì trái ý vua nên bị bãi chức, sứ mệnh dừng lại. Ban đầu, nghị chinh phạt do Hạ Ngôn xướng ra. Đế đã trách Quán, nhân đó nổi giận nói: "Việc An Nam vốn một người xướng, muôn người theo, nay lại phao tin thượng cấp nghe lời mưu kế, cùng làm lời lơ là. Nước này nên bỏ hay nên phạt, phải có định nghị." Binh bộ tập nghị tâu lên. Toản và đình thần hoàng cụ, xin như chiếu trước, vẫn phái Loan, Bá Ôn nam chinh. Nếu cha con Đăng Dung trói mình về hàng, không có lòng khác thì giữ cho không chết. Vua nghe theo. Đăng Dung nghe tin đại hỷ. Năm thứ 19 (năm 1540), Bá Ôn đến Quảng Tây, truyền hịch dụ về ý nhận hàng xá tội. Bấy giờ Phương Doanh đã mất, Đăng Dung liền phái sứ xin hàng. Tháng 11, Đăng Dung dẫn cháu là Văn Minh (文明) cùng bộ mục 42 người vào cửa Trấn Nam Quan (鎮南關), tự trói mình, đi chân đất, quỳ lạy dập đầu, dâng biểu hàng trên đàn. Bá Ôn xưng chiếu xá tội. Lại đến cửa quân, quỳ lạy hai lạy, nộp sổ sách đất đai quân dân, xin theo chính sóc, đời đời làm phiên thần. Bá Ôn tuyên thị oai đức, lệnh về nước đợi mệnh, việc mới định xong. Tâu lên, đế đại hỷ, mệnh hạ nước An Nam xuống làm An Nam đô thống sứ ty (安南都統使司), phong Đăng Dung làm Đô thống sứ, trật tòng nhị phẩm, ấn bạc. Các chế độ tiếm xưng cũ thảy đều bãi bỏ, đổi 13 đạo thành 13 ty Tuyên phủ, mỗi nơi đặt Tuyên phủ, Đồng tri, Phó sứ, Thiêm sự, nghe theo Đô thống bổ bạt. Quảng Tây mỗi năm cấp 1.000 bản lịch "Đại Thống" (大統曆), vẫn 3 năm một cống làm thường lệ. Lại lệnh xác minh Lê Ninh thực giả, nếu quả là hậu duệ họ Lê thì cắt 4 phủ đang chiếm giữ để phụng thờ hương hỏa, nếu không thì thôi. Chỉ ban xuống, Đăng Dung run rẩy nhận mệnh. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 20 (năm 1541), đổi chức Đô thống sứ, lệnh cho Bố chính ty Quảng Tây mỗi năm in cấp 1.000 bản lịch "Đại Thống".''' *Theo "Minh hội điển" chép như vậy.'' '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 21 (năm 1542), lệnh cho Đô thống sứ vẫn chiếu theo lệ An Nam quốc vương mà cấp thưởng.''' *Theo "Minh hội điển" chép như vậy.'' '''Tháng 2 năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 22 (năm 1543), Đăng Dung chết, con Phương Doanh là Phúc Hải (福海) kế vị. Phái Tuyên phủ đồng tri Nguyễn Kính Điển (阮敬典 - nhầm, ý nói Nguyễn Kính và con là Nguyễn Kính Điển/Nguyễn Kính) đến triều kiến.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' *Theo "Minh hội điển":'' Năm Gia Tĩnh thứ 22 (năm 1543), người của An Nam đô thống sứ ty phái đến bị cắt giảm 1/3 khẩu phần (hạ trình) so với lệ cũ. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 25 (năm 1546), Đô thống sứ An Nam Phúc Hải (福海) chết, con là Hoành Dực (宏瀷) kế vị, phái sứ đến cống. Lễ quan vì thấy nước ấy nội loạn, chặn sứ giả không cho tiến kinh, lệnh quan thủ thần xác minh người xứng đáng được lập.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 5 năm Gia Tĩnh thứ 25 (năm 1546), Phúc Hải chết, con là Hoành Dực (宏瀷) kế vị. Ban đầu, Đăng Dung lấy người vùng Thạch Thất (石室) là Nguyễn Kính (阮敬) làm con nuôi, phong Tây Ninh hầu. Kính có con gái gả cho con thứ của Phương Doanh là Kính Điển (敬典), do đó thông với vợ của Phương Doanh là Vũ thị (武氏), được chuyên nắm binh quyền. Hoành Dực lên ngôi lúc mới 5 tuổi, Kính càng chuyên quyền. Con thứ của Đăng Dung là Chính Trung (正中), Văn Minh (文明) lánh đến Đồ Sơn (都齋), những người cùng lứa như Nguyễn Như Quế (阮如桂), Phạm Tử Nghi (范子儀) cũng lánh về điền viên. Kính cử binh bức bách Đồ Sơn, Chính Trung, Như Quế, Tử Nghi chống cự không thắng, Chính Trung và Văn Minh dẫn gia quyến chạy sang Khâm Châu (欽州), Tử Nghi thu tàn quân trốn ra Hải Đông. Kính dối xưng "Hoành Dực đã mất, đón lập Chính Trung" làm cớ, phạm vào Khâm Châu, bị Tham tướng Du Đại Du (俞大猷) đánh bại, bị giết. Khi Hoành Dực mới lập, phái sứ Lê Quang Bí (黎光賁) đến cống. Đến Nam Ninh (南寧), quan thủ thần tâu báo. Lễ quan vì nước loạn danh phận chưa định, chặn sứ giả không cho tiến, lệnh quan thủ thần xác minh người xứng đáng được lập. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 30 (năm 1551), mệnh phong Hoành Dực (宏瀷) làm Đô thống sứ. Gặp lúc bộ hạ đến đánh, Hoành Dực chạy ra Hải Dương (海陽).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Gia Tĩnh thứ 30 (năm 1551), việc sáng tỏ, mệnh phong Hoành Dực làm Đô thống sứ, đến cửa quan nhận điệp văn. Gặp lúc bộ mục Lê Bá Ly (黎伯驪) cùng thần tử của Lê Ninh là Trịnh Kiểm (鄭檢) hợp binh đến đánh. Hoành Dực chạy ra Hải Dương, không thể đến cửa quan. Bọn Quang Bí lưu lại Nam Ninh suốt 15 năm, người đi cùng chết mất quá nửa. Hoành Dực khẩn cầu quan thủ thần xin thay, chiếu cho phép vào kinh. Sắc phong Đô thống vẫn đợi Hoành Dực đến cửa quan mới cấp. '''Tháng 2 năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 43 (năm 1564), Hoành Dực (宏瀷) chết, con là Mậu Hợp (茂洽) kế vị.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 3 (năm 1575) đời Thần Tông (神宗), An Nam Đô thống sứ Mạc Mậu Hợp (莫茂洽) sai sứ tạ ơn. Bấy giờ, con của thần tử họ Lê là Trịnh Kiểm (鄭檢) tên là Tùng (松) lập Lê Duy Đàm (黎維潭), đời đời ở Thanh Hoa (清華), tự làm một nước.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Năm Vạn Lịch thứ 1 (năm 1573), thụ chức Đô thống sứ. Tháng 7 năm thứ 3 (năm 1575), sai sứ tạ ơn, mừng việc lên ngôi, tiến dâng phương vật và nộp bù lễ cống thiếu hụt của nhiều năm trước. Tuy nhiên bấy giờ họ Mạc dần suy, họ Lê hưng lại, thường xuyên đánh nhau, trong nước có nhiều biến cố. Ban đầu khi Lê Ninh (黎寧) chiếm giữ Thanh Hoa (清華), vẫn tiếm hiệu Đế, lấy năm Gia Tĩnh thứ 9 (năm 1530) làm năm Nguyên Hòa (元和) thứ 1. Ở được 4 năm, bị (Mạc) Đăng Dung đánh, phải chạy sang biên giới Chiêm Thành (占城). Người trong nước lập em là Hiến (憲), đổi niên hiệu là Quang Chiếu (光照). Tháng 6 năm thứ 15 (năm 1536), biết rõ nơi ở của Ninh, đón về Thanh Hoa, sau dời đến sông Tất Mã (漆馬江). Ninh chết, thần tử là Trịnh Kiểm (鄭檢) lập con Ninh là Sùng (寵). Sùng chết không có con, người trong nước cùng lập cháu 4 đời của Lê Huy (黎暉) là Duy Bang (維邦). Duy Bang chết, con của Kiểm là Tùng (松) lập con của Duy Bang là Duy Đàm (黎維潭), đời đời ở Thanh Hoa (清華), tự làm một nước. '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 4 (năm 1476), định chế độ ban thưởng cho sứ giả An Nam.''' *Theo "Minh hội điển" (明會典):'' Năm Vạn Lịch thứ 4 (năm 1476), lấy lễ tạ ơn và nộp cống bù làm lệ, ngoài lệ cũ thì thưởng thêm 4 bộ đoạn màu (thái đoạn), 2 tấm gấm. Các viên bồi thần đi sai phái, mỗi viên được 2 bộ đoạn màu, 1 xấp sa lụa (sa la), 1 bộ áo dệt kim bằng lụa thô (chữ ty y), 5 xấp quy đổi tiền mặt và lụa (sao quyến), 1 đôi ủng và tất, các phu dịch tùy bậc mà thưởng. '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 19 (năm 1591), (Lê) Duy Đàm (維潭) nước An Nam dần mạnh, cử binh đánh (Mạc) Mậu Hợp (茂洽). Mậu Hợp bại trận, chạy đến huyện Hỷ Lâm (喜林縣).''' *Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 (năm 1592), Trịnh Tùng (鄭松) lừa giết Mậu Hợp (茂洽), đoạt lấy ấn. Mạc Kính Dụng (莫敬用) cùng những người khác báo nạn, mà Lê Duy Đàm (黎維潭) cũng khấu quan (gõ cửa ải) xin thông sứ cầu cống.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa đông năm Vạn Lịch thứ 20 (năm 1592), Tùng lừa người bản địa làm nội ứng, đánh úp giết chết Mậu Hợp, đoạt lấy ấn Đô thống sứ, thân đảng bị hại rất nhiều. Có người tên Mạc Đôn Nhượng (莫敦讓) chạy đến Phòng Thành (防城) báo nạn, Tổng đốc Trần Cừ (陳蕖) tâu lên. Không lâu sau, Tùng lại bắt được Đôn Nhượng, thế lực càng bành trướng. Con của Mậu Hợp là Kính Cung (敬恭) cùng người tông thất là Lý Tốn (履遜)... chạy sang châu Tư Lăng (思陵州) thuộc Quảng Tây, Mạc Lý Cơ (莫履機) chạy sang Khâm Châu (欽州). Duy có Mạc Kính Bang (莫敬邦) có quân hơn 10 vạn người, nổi lên ở đạo Kinh Bắc (京北道), đánh đuổi các quân của đảng họ Lê là Phạm Bạt Tụy (范拔萃), Phạm Bách Lộc (范百祿), Đôn Nhượng nhờ đó quay về được. Mọi người bèn suy tôn Kính Bang quyền giữ chức Đô thống (thự Đô thống), những người lưu lạc ở Tư Lăng, Khâm Châu thảy đều trở về. Chẳng bao lâu quân Lê đánh châu Nam Sách (南策州), Kính Bang bị giết, thế lực họ Mạc càng suy. Bấy giờ Kính Cung, Kính Dụng đóng quân ở Lạng Sơn (諒山), Cao Bình (高平); Kính Chương đóng ở Đông Hải (東海), Tân An (新安), vì sợ quân Lê truy sát nên trốn đến vùng biên giới Long Châu (龍州), Bằng Tường (憑祥). Họ lệnh cho Thổ quan liệt kê sự trạng cáo với quan đương sự, mà Duy Đàm (維潭) cũng đến cửa quan xin thông cống, đóng dấu bằng "Quốc vương kim ấn". '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 25 (năm 1597), phong Lê Duy Đàm (黎維潭) làm An Nam Đô thống sứ, còn bọn Mạc Kính Cung (莫敬恭) được cho phép cư ngụ tại một quận Cao Bình (高平).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 1 năm Vạn Lịch thứ 21 (năm 1593), Tuần phủ Quảng Tây Trần Đại Khoa (陳大科) tâu rằng: "Xứ man bang đổi họ như đánh cờ, không nên dựa vào việc họ phản hay phục nhau mà coi là thuận nghịch, chỉ nên dựa vào việc họ phản ta hay phục ta mà coi là thuận nghịch. Nay Duy Đàm tuy mưu khôi phục, nhưng Mậu Hợp vốn là ngoại thần của Thiên triều, sao có thể không xin mệnh mà tự ý giết đi? Trộm nghĩ cái tội tự ý dấy binh của họ Lê không thể không hỏi đến, mà sợi dây huyết thống còn sót lại của họ Mạc cũng không thể không bảo tồn. Nếu theo cố sự triều trước, nghe cho họ Lê nộp khoản (xin hàng) mà vẫn giữ lại họ Mạc, giống như vùng sông Tất Mã (漆馬江) xưa kia để không dứt sự thờ cúng, ấy là cái kế tiện lợi nhất." Đình nghị nghe theo lời đó. Tháng 7 năm thứ 22 (năm 1594), Đại Khoa đang phái quan đi xem xét, Kính Dụng liền sai sứ đến cửa quân báo nạn và xin binh. Mùa thu năm thứ 23 (năm 1595), Duy Đàm cũng sai sứ tạ tội cầu hòa. Bấy giờ Đại Khoa đã làm Tổng đốc Lưỡng Quảng, cùng Tuần phủ Quảng Tây Đái Diệu (戴燿) cùng giao việc này cho Tả Giang phó sứ Dương Dần Thu (楊寅秋). Dần Thu thầm tính rằng: "Không cự tuyệt Lê, cũng không bỏ rơi Mạc, kế của ta đã định." Bèn hai lần phái quan sang hỏi, báo lại rằng Kính Cung nguyện cư ngụ ở Cao Bình, mà sứ cầu hòa của Duy Đàm cũng mấy lần đến. Dần Thu bèn hẹn kỳ hạn với họ, báo lên Đốc, Phủ. Gặp lúc Kính Chương dẫn quân đến Vĩnh An (永安), bị quân họ Lê đánh bại, đất Đông Hải (東海), Tân An (新 An) thảy đều mất, vì thế việc nghị hòa càng quyết định. Tuy nhiên bấy giờ Duy Đàm mang danh khôi phục, không muốn tự coi mình như (Mạc) Đăng Dung, không có ý trói mình vào cửa quan. Dần Thu lại phái quan sang dụ, sứ giả đến báo đúng hẹn. Đến kỳ hạn, bỗng nói với quan giữ ải rằng: "Sĩ tốt đói bệnh, nghi lễ hòa hoãn chưa chuẩn bị kịp. Vả lại họ Mạc là kẻ thù của ta, cho họ ở Cao Bình thì ta chưa dám nghe mệnh." Rồi nhân đêm tối trốn đi. Đại Khoa tâu việc lên, nói rằng do thần tử Trịnh Tùng (鄭松) chuyên quyền gây ra. Không lâu sau Duy Đàm lại sai sứ gõ cửa quan, thanh minh mình không phải bỏ trốn. Đại Khoa lại phái quan sang dụ, Duy Đàm nghe mệnh. Tháng 1 năm thứ 25 (năm 1597), sai sứ xin hẹn kỳ hạn với Dần Thu, hẹn vào tháng 4. Đến hạn, Duy Đàm đến ngoài cửa quan, người thông dịch chất vấn 6 việc: Một là tự ý giết Mậu Hợp, đáp: "Báo thù gấp, không kịp xin mệnh"; hai là tông phái của Duy Đàm, đáp: "Là thế tôn vậy. Tổ phụ là Huy (黎暉) từng được Thiên triều ban mệnh"; ba là Trịnh Tùng, đáp: "Đây là thế thần của họ Lê, không phải kẻ làm loạn họ Lê. Vậy tại sao đêm tối bỏ trốn?", đáp: "Vì đồ lễ chưa cẩn mật chứ không phải trốn, tại sao dùng Vương chương?", đáp: "Tạm thời phỏng theo mà làm, nay hủy bỏ ngay." Duy có việc cắt Cao Bình cho họ Mạc ở là vẫn giằng co không quyết. Lại dụ rằng: "Đều là thần tử tiến cống cả. Họ Lê xưa kia còn có thể ở sông Tất Mã, họ Mạc sao lại không thể ở Cao Bình?". Bấy giờ Duy Đàm mới nghe mệnh, được truyền cho các nghi tiết tại cửa quan để luyện tập. Duy Đàm dẫn bộ hạ vào cửa quan, bái yết dưới màn trướng, mọi nghi thức đều y như lệ cũ của Đăng Dung. Khi lui ra bái yết Dần Thu, xin dùng lễ chủ khách, Dần Thu không theo, hành lễ 4 lạy rồi lui. An Nam lại định xong, chiếu ban thụ Duy Đàm chức Đô thống sứ, ban lịch, nhận cống, thảy đều theo lệ cũ của họ Mạc. Trước đây Lê Lợi và Đăng Dung khi dâng người vàng thế thân (đại thân kim nhân) đều để đầu trần, tay trói sau lưng. Duy Đàm vì mang danh khôi phục nên đứng độc lập nghiêm trang, quan đương sự ghét vẻ ngạo mạn đó, nay đổi mẫu chế thành dáng phủ phục, khắc trên lưng rằng: "Thế tôn họ Lê nước An Nam, thần Lê Duy Đàm, không được bò rạp cửa trời, kính dâng người vàng thế thân chuộc tội cầu ân." Từ đó An Nam lại thuộc về họ Lê, mà họ Mạc chỉ giữ một quận Cao Bình (高平). '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 27 (năm 1599), Lê Duy Đàm (黎維潭) chết, con là Duy Tân (維新) nối ngôi, Trịnh Tùng (鄭松) chuyên nắm quyền bính. Gặp lúc phản tặc Phan Ngạn (潘彥) gây loạn, Duy Tân cùng Tùng dời đi bảo vệ Thanh Hóa (清化).''' *Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 34 (năm 1606), phong Lê Duy Tân (維新) làm An Nam Đô thống sứ. Bấy giờ tông đảng họ Mạc vẫn xâm lấn biên cảnh. Chẳng bao lâu Duy Tân chết, con là Duy Kỳ (維祺) nối ngôi.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Năm Vạn Lịch thứ 34 (năm 1606), sai sứ vào cống, mệnh thụ chức Đô thống sứ. Bấy giờ tông đảng họ Mạc phần lớn lẩn lút ở góc biển, thường tiếm xưng danh hiệu Công, Hầu, Bá, xâm lấn biên cảnh, Duy Tân cũng không thể chế ngự được. Quan thủ thần phát hịch tra hỏi, nhiều lần phát binh kẹp đánh. Tuy phá diệt kịp thời nhưng vùng biên phương chịu hại khá nhiều. Duy Tân chết, con là Duy Kỳ (維祺) nối ngôi. '''Năm Thiên Khải (天啟) thứ 4 (năm 1624) đời Hy Tông (熹宗), phát binh đánh Mạc Kính Khoan (莫敬寬), thắng được. Kính Khoan lại trốn vào Cao Bình (高平).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Năm Thiên Khải thứ 4 (năm 1624), phát binh đánh Mạc Kính Khoan, thắng được, giết con cả của hắn, bắt vợ thiếp và con nhỏ đem về. Kính Khoan cùng con thứ trốn vào trong núi, sau quay lại Cao Bình, thế lực càng yếu. Tuy nhiên cho đến hết thời Minh, hai họ (Lê - Mạc) vẫn chia nhau chiếm giữ, cuối cùng không thể quy về một mối. Có thuyết nói: "Đô hội An Nam tại Giao Châu (交州), tức là trị sở của Đô hộ phủ thời Đường. Cương vực phía Đông giáp biển, phía Tây tiếp giáp Lão Qua (老撾 - Lào), phía Nam qua biển là Chiêm Thành (占城), phía Bắc liền với Tư Minh (思明), Nam Ninh (南寧) của Quảng Tây và Lâm An (臨安), Nguyên Giang (元江) của Vân Nam. Đất đai màu mỡ, khí hậu nóng, lúa mỗi năm 2 vụ (nhị nẫm). Tính người hung hãn. Hai châu Hoan (驩), Diễn (演) có nhiều người văn học; hai châu Giao (交), Ái (愛) thì nhiều kẻ sĩ hào hiệp (tiếc đảng sĩ), so với các phương khác thì có phần đặc biệt hơn." ===Thanh=== '''Năm Thuận Trị (順治) thứ 18 (năm 1661) đời Thế Tổ Chương Hoàng đế (世祖章皇帝) triều Thanh.''' *Theo "Đại Thanh hội điển" (大清會典):'' Năm Thuận Trị thứ 18 (năm 1661), Tuần phủ Quảng Đông tâu rằng: An Nam quốc vương Lê Duy Kỳ (黎維祺) sai quan dâng biểu đầu thành (quy thuận). Bộ Lễ đề đạt và được chuẩn y, chiếu theo lệ của nước Lưu Cầu để ban cấp. Ban 1 đạo sắc dụ giao cho quan sai phái mang về nước. Đồng thời ban thưởng các vật phẩm như bạc, đoạn (lụa). '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 (năm 1663).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 2 (năm 1663), nước An Nam sai sứ tiến cống. Kỳ hạn tiến cống được định là 3 năm 1 lần. Lại có việc An Nam quốc vương Lê Duy Kỳ (黎維祺) bệnh qua đời, tự vương (vương nối ngôi) Lê Duy Hy (黎維禧) dâng sớ báo tang (cáo ai). '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 (năm 1464).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 3 (năm 1464), ơn ban bạc và lụa để dụ tế; phái quan của Nội viện và bộ Lễ mỗi bên 1 viên đi đến nước ấy đọc văn tế. '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 (năm 1665).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 4 (năm 1665), đề chuẩn việc tiến cống của nước An Nam, đường đi khởi đầu từ châu Bằng Tường (憑祥州) thuộc Quảng Tây để chuyển đi. '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 5 (năm 1666).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 5 (năm 1666), An Nam quốc vương nộp trả 1 đạo cáo mệnh ngụy (của vua Vĩnh Lịch nhà Nam Minh) và 1 quả ấn vàng. Bộ Lễ đề chuẩn việc ban cho phong điển (sách phong), triều cống như thường lệ. Phái quan của Nội viện và bộ Lễ mỗi bên 1 viên làm Chánh phó sứ sang phong vương. Lại đề chuẩn: "Việc An Nam quốc vương tặng bạc làm phí đi đường, lụa, vải... cho các quan phụng sứ, chỉ lệnh cho thu nhận (số định mức), các vật dư thừa khác thảy đều không chuẩn cho thu nhận." '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 (năm 1668).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 7 (năm 1668), An Nam quốc vương sai quan sang nộp tuế cống, dâng biểu tạ ơn, biểu sách phong, biểu tạ ơn ban tuất, biểu trình bày sự việc và xin khoản cống. Mỗi việc đều có sớ tấu riêng. Đồng thời xin đổi lệ "3 năm 1 cống" thành "6 năm 2 cống". Thánh chỉ chấp thuận cho thực hiện. Lại đề chuẩn: "Khi người nước An Nam về nước, phái 1 viên Tự ban thuộc Ty Tân khách đi kèm tiễn chân đến Quảng Tây, giao cho quan sai phái của Tuần phủ sở tại hộ tống ra khỏi biên cảnh." '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 13 (năm 1674).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 13 (năm 1674), An Nam quốc vương Lê Duy Hy (黎維禧) bệnh qua đời, tự vương là Lê Duy (黎維 - tức Lê Duy Trưng/Lê Hy Tông) dâng sớ báo tang. Sai bồi thần mang đến phương vật của các kỳ tuế cống năm Khang Hy thứ 8 và thứ 11. '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 21 (năm 1682).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 21 (năm 1682), tự vương nước An Nam là Lê Duy Trưng (黎維徵) sai bồi thần mang vật phẩm tạ ơn; lại sai bồi thần mang phương vật khoản cống; lại sai bồi thần mang phương vật tuế cống của năm Khang Hy thứ 14 và phương vật tuế cống của năm Khang Hy thứ 17. '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 22 (năm 1683).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 22 (năm 1683). Khâm phái quan của Hàn lâm viện và bộ Lễ mỗi bên 1 viên đến ban ơn an ủi và tế lễ cho cố vương (vua đã mất) nước An Nam. Lại phái 2 viên quan Hàn lâm viện sang sách phong tự vương Lê Duy Trưng (黎維徵) làm An Nam quốc vương. Ban cho cáo mệnh, đồng thời đổi cấp cho ấn bạc mạ vàng mới đúc, núm hình lạc đà (đà nữu). Ngự bút viết 4 chữ "Trung hiếu thủ bang" (忠孝守邦 - Trung hiếu giữ nước) ban cho. Vật phẩm tiến cống cũ có: lụa trắng, hương giáng chân, hương bạch mộc, hương trung hắc tuyến, về sau thảy đều được miễn nộp. (Các vật phẩm chính còn lại): * 4 bộ lư hương và bình hoa bằng vàng. * 12 cái chậu bạc. * 960 lượng trầm hương. * 2.368 lượng tốc hương. * 20 chiếc ngà voi. * 20 bộ sừng tê giác. ==An Nam bộ vị khảo 6== Theo sách '''"Bác vật chí" (博物志)''' '''Nước ngoài (外國):''' Dân Giao Chỉ (交趾) ở phía Đông vùng Xuyên Hung (穿胸). Theo sách '''"Giao Châu ký" (交州記)''' '''Chuột tre (竹鼠):''' Chuột tre (竹鼠) to như con mèo nhỏ, ăn rễ tre. Sản sinh ở huyện Phong Khê (封溪縣). '''Guốc đi vàng (金踶屐):''' Triệu Ẩu (趙嫗 - tức Bà Triệu) là người con gái ở huyện Quân Yên (軍安縣), quận Cửu Chân (九真), vú dài mấy thước, không lấy chồng, vào núi tụ tập quân trộm cướp trong quận, thường đi guốc có mũi nạm vàng (kim cầm đề kịch). '''Cây Cổ Độ (古度樹):''' Cây Cổ Độ (古度) không hoa mà ra quả, quả mọc ra từ trong lớp vỏ, to như quả lựu (an thạch lựu), sắc đỏ, có thể ăn được. Trong quả ấy có thứ giống như trái bồ lê, lấy đó làm bánh tông, nếu mấy ngày không nấu thì đều hóa thành sâu, trông như kiến có cánh, đục vỏ bay ra, bám vào nhà đen kịt. '''Hạt Đa Cảm (多感子):''' Hạt Đa Cảm (多感子) màu vàng, vòng quanh rộng 1 tấc. '''Nước dừa (椰漿):''' Quả dừa có nước, cắt hoa rồi lấy ống tre hứng lấy nước ấy làm rượu, uống vào cũng say. '''Cây sam ở Hợp Phố (合浦杉):''' Cách phía Đông Hợp Phố (合浦) 200 dặm có 1 cây sam, lá rụng theo gió bay vào tận trong thành Lạc Dương (洛陽). Thời nhà Hán có người giỏi tướng số nói: "Điềm lành này báo hiệu bậc vương giả sắp xuất hiện". Vì thế (triều đình) sai 1.000 người đến chặt cây, dân phu chết nhiều, 300 người ngồi trên gốc cây bị đốn để ăn uống mà vẫn đủ chỗ chứa nhau. '''Lấy thịt trong đất làm canh (土肉為臛):''' Thái thú Cửu Chân (九真) là Đào Hoằng (陶璜) khi lập quận đắp thành, ở trong hầm đất tìm được 1 vật màu trắng hình dạng giống như nhộng tằm, không có đầu, dài mấy chục trượng, vòng thân to hơn 1 ôm, chuyển động mềm mại, không ai đặt tên được. Mổ bụng thấy có thịt như thịt lợn, bèn đem nấu canh, hương vị thơm ngon. Hoằng (璜) ăn 1 bát, rồi cả ba quân đều được ăn. '''Cà cuống nướng (炙黌):''' Cá Hoành (黌魚 - tức con cà cuống/con sam) hình dạng như con rùa, có 12 chân, trứng to như hạt vừng (ma tử), có thể làm mắm, sắc đen, chân giống chân cua mọc ở bụng, con cái cõng con đực mà đi, người phương Nam đem nướng lên ăn. Theo sách '''"Thủy kinh chú" (水經注)''' '''Sông Cân (斤江):''' Nước sông Cân (斤江) chảy ra từ huyện Long Biên (龍編縣), quận Giao Chỉ (交阯), về phía Đông Bắc đến huyện Lãnh Phương (領方縣), quận Uất Lâm (鬱林), rồi đổ về phía Đông vào sông Uất (鬱). Sách "Địa lý chí" (地理志) chép: "Chảy qua huyện Lâm Trần (臨塵縣) đến huyện Lãnh Phương (領方縣) rồi đổ vào sông Uất (鬱)". '''(Các dòng nước khác):''' Dung Dung (容容), Dạ (夜), Khâm Thừa (堪乘), Ngưu Chử (牛渚), Tu Vô (須無), Vô Nhu (無濡), Doanh (營), Tiến Hoàng (進皇), Vô Địa (無地), Linh (零), Xâm Lê (侵黎). Sông Xâm Lê (侵黎) chảy ra từ quận Tấn Hưng (晉興郡), Quảng Châu (廣州). Quận này được chia ra từ quận Uất Lâm (鬱林) vào thời Thái Khang (太康 - năm 280-289), chảy đến Lâm Trần (臨塵) thì nhập vào sông Uất (鬱). Các dòng Vô Hội (無會), Trọng Lại (重瀨), Phu Tỉnh (夫省), Vô Biến (無變), Do Bồ (由蒲), Vương Đô (王都), Dung Dũng (融勇)... ngoài ra thảy đều từ phía Tây quận Nhật Nam (日南郡) chảy về phía Đông rồi đổ ra biển. Sách "Hán Địa lý chí" chép: "Quận Nhật Nam (日南郡) có 16 dòng nước nhỏ, chảy song hành dài 3.280 dặm, thuộc Giao Châu (交州)". Những dòng nước như Vô Hội (無會) này chính là tên của 16 dòng nước đó. Nước Dung Dung (容容) ở dải phía Nam, các tên gọi thứ tự chuyển dần về phía Bắc. Phía bên phải là 30 dòng nước, tính từ phía Nam Trường Giang đến tận quận Nhật Nam (日南郡). '''NGUYÊN SỬ (元史)''' ''PHỤ LỤC QUẬN HUYỆN AN NAM (安南郡縣附錄)'' An Nam (安南), xưa là Giao Chỉ (交阯). Dấu tích về việc phản phục của họ Trần (陳氏) đã thấy ở "Bản truyện", nay lấy những thành ấp có thể ghi chép được, lục lại ở phía bên trái: '''Lộ Đại La Thành (大羅城路):''' Hán là quận Giao Chỉ (交阯郡). Đường đặt An Nam đô hộ phủ (安南都護府). Thời Tống, người trong quận là Lý Công Uẩn (李公蘊) lập quốc tại đây. Đến khi họ Trần (陳氏) lập lên, lấy đất thuộc đó đặt làm các phủ Long Hưng (龍興), Thiên Trường (天長), Trường Yên (長安). * '''Phủ Long Hưng (龍興府):''' Vốn là hương Đa Cương (多岡鄉). Họ Trần có nước, đặt làm phủ Long Hưng. * '''Phủ Thiên Trường (天長府):''' Vốn là hương Đa Mặc (多墨鄉), là nơi sinh ra tổ phụ của họ Trần, xây hành cung tại đây, mỗi năm đến 1 lần để tỏ rõ không quên gốc gác, nên đổi tên gọi là Thiên Trường. * '''Phủ Trường Yên (長安府):''' Vốn là động Hoa Lư (華閭洞), là nơi sinh ra Đinh Bộ Lĩnh (丁部領). Cuối thời Ngũ Đại, Bộ Lĩnh lập quốc tại đây. '''Lộ Quy Hóa Giang (歸化江路):''' Đất tiếp giáp Vân Nam (雲南). '''Lộ Tuyên Hóa Giang (宣化江路):''' Đất tiếp giáp đạo Đặc Ma (特磨道). '''Lộ Đà Giang (沱江路):''' Đất tiếp giáp Kim Sỉ (金齒). '''Lộ Lạng Châu Giang (諒州江路):''' Đất tiếp giáp hai giang Tả, Hữu (左右兩江). '''Lộ Bắc Giang (北江路):''' Ở bờ Đông La Thành (羅城), nước sông Lô (瀘江) chia dòng chảy vào Bắc Giang. Sông có 6 chiếc cầu. Như các lộ Nguyệt Giang (如月江路), lộ Nam Sách Giang (南冊江路), lộ Đại Hoàng Giang (大黃江路), lộ Hồng (烘路), lộ Khoái (快路). '''Châu Quốc Oai (國威州):''' Ở phía Nam La Thành (羅城). Các châu từ đây trở xuống phần lớn tiếp giáp giới hạn Vân Nam (雲南), Quảng Tây (廣西), tuy danh nghĩa là châu nhưng thực chất là động. * '''Châu Cổ (古州):''' Ở Bắc Giang (北江). * '''Châu Tiên (仙州).''' * '''Cổ Long Biên (古龍編).''' * '''Phú Lương (富良).''' * '''Tư Nông (司農):''' Một tên gọi là Dương Xá (楊舍). * '''Định Biên (定邊):''' Một tên gọi là Minh Mị (明媚). * '''Vạn Nhai (萬涯):''' Một tên gọi là Minh Hoàng (明黃). * '''Văn Chu (文周):''' Một tên gọi là châu Môn (門州). * '''Thất Nguyên (七源).''' * '''Tư Lãng (思浪).''' * '''Thái Nguyên (大原):''' Một tên gọi là Hoàng Nguyên (黃源). * '''Thông Nông (通農).''' * '''La Thuận (羅順):''' Một tên gọi là Lai Thần (來神). * '''Lương Xá (梁舍):''' Một tên gọi là Lương Cá (梁個). * '''Bình Nguyên (平源).''' * '''Quang Châu (光州):''' Một tên gọi là Minh Tô (明蘇). * '''Vị Long (渭龍):''' Một tên gọi là Ất Xá (乙舍). * '''Đạo Hoàng (道黃):''' Tức là trường Bình Lâm (平林場). '''Vũ Ninh (武寧):''' Các huyện từ đây trở xuống tiếp giáp giới hạn Vân Nam (雲南), Quảng Tây (廣西), tuy danh nghĩa là huyện nhưng thực chất là động. Vạn Tải (萬載), Khâu (丘), Ôn (溫), Tân Lập (新立), huyện Hoảng (恍縣), huyện Chỉ (紙縣), huyện Lịch (歷縣), Lan Kiều (闌橋), Ô Diên (烏延), Cổ Dũng (古勇), huyện Cung (供縣), huyện Khuất (窟縣), huyện Thượng Pha Môn (上坡門縣). '''Lộ Phủ Thanh Hóa (清化府路):''' Hán là Cửu Chân (九真), Tùy và Đường là Ái Châu (愛州), các ấp thuộc đó đổi tên gọi là Giang (江), là Trường (場), là Giáp (甲), là Xã (社). Lương Giang (梁江), sông Ba Long (波龍江), sông Cổ Nông (古農江), sông Tống Xá (宋舍江), Trà Giang (茶江), sông An Tiêm (安暹江), trường Phân (分場), trường Cổ Văn (古文場), giáp Cổ Đằng (古藤甲), giáp Chi Minh (支明甲), giáp Cổ Hoằng (古弘甲), giáp Cổ Chiến (古戰甲), Duyên Giáp (緣甲). '''Lộ Phủ Nghệ An (乂安府路):''' Hán gọi là Nam Tùy (南隋). Đường là Hoan Châu (驩州). Sông Bội (倍江), sông Ác (惡江), sông Kệ (偈江), xã Thượng Lộ (尚路社), xã Đường Xá (唐舍社), xã Trương Xá (張舍社). '''Lộ Diễn Châu (演州路):''' Vốn là huyện thuộc Nhật Nam (日南), gọi là Phù Diễn (扶演), An Nhân (安仁). Đường đổi làm Diễn Châu (演州). Sông Hiếu (孝江), trường Đa Bích (多壁場), xã Cự Lại (巨賴社), xã Tha Viên (他袁社). '''Lộ Bố Chính Phủ (布政府路):''' Vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣) quận Nhật Nam (日南郡). Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp Chân Lạp (真蠟), phía Nam giáp Phù Nam (扶南), phía Bắc liền với Cửu Đức (九德). Cuối thời Đông Hán, Khu Liên (區連) giết huyện lệnh Tượng Lâm, tự lập quốc, xưng là Lâm Ấp (林邑). Thời Đường có Hoàn Vương (環王), dời nước đến Chiêm (占), gọi là Chiêm Thành (占城). Bố Chính (布政) nay là đất cũ của Lâm Ấp. Từ Đại La Thành (大羅城) của An Nam đến Yến Kinh (燕京) khoảng 115 trạm dịch, tính ra hơn 7.700 dặm. '''Dân biên thùy phục dịch (邊氓服役):''' Chiêm Thành (占城), Vương Cầm (王琴), Bồ Già (蒲伽), Đạo Lãm (道覽), Lục Hoài (淥淮), Nhẫm Bà La (稔婆邏), Lão (獠). '''MINH NHẤT THỐNG CHÍ (明一統志)''' ''KHẢO VỀ QUẬN HUYỆN NƯỚC AN NAM (安南國郡縣考)'' '''Phủ Giao Châu (交州府):''' Lãnh 5 châu là Từ (慈), Liêm (廉), Phúc An (福安), Uy Man (威蠻), Lợi Nhân (利仁) và Tam Đái (三帶). Cùng với 13 huyện: Đông Quan (東關), Từ Liêm (慈廉), Thạch Thất (石室), Phù Lưu (芙蒥), Thanh Đàm (清潭), Thanh Oai (清威), Ứng Bình (應平), Bình Lục (平陸), Lợi Nhân (利仁), An Lãng (安朗), An Lạc (安樂), Phù Ninh (扶寧), Lập Thạch (立石). '''Phủ Bắc Giang (北江府):''' Lãnh 3 châu là Gia Lâm (嘉林), Vũ Ninh (武寧), Bắc Giang (北江). Cùng với 7 huyện: Gia Lâm (嘉林), Siêu Loại (超類), Tế Giang (細江), Thiện Tài (善才), Đông Ngạn (東岸), Từ Sơn (慈山), Thiện Thề (善誓). '''Phủ Lạng Giang (諒江府):''' Lãnh 2 châu là Lạng Giang (諒江), Thượng Hồng (上洪). Cùng với 10 huyện: Thanh Viễn (清遠), Na Ngạn (那岸), Bình Hà (平河), Phượng Sơn (鳳山), Lục Na (陸那), An Ninh (安寧), Bảo Lộc (保祿), Cổ Lũng (古隴), Đường An (唐安), Đa Cẩm (多錦). '''Phủ Lạng Sơn (諒山府):''' Lãnh 7 châu là Thượng Văn (上文), Hạ Văn (下文), Thất Nguyên (七源), Vạn Nhai (萬涯), Quảng Nguyên (廣源), Thượng Tư (上思), Hạ Tư (下思). Cùng với 5 huyện: Khâu Ôn (丘溫), Trấn Di (鎮夷), Uyên (淵), Đan Ba (丹巴), Thoát (脫). '''Phủ Tân An (新安府):''' Lãnh 4 châu là Đông Triều (東潮), Tĩnh An (靖安), Nam Sách (南策), Hạ Hồng (下洪). Cùng với 13 huyện: Chí Linh (至靈), Giáp Sơn (峽山), Cổ Phí (古費), An Lão (安老), Thủy Đường (水棠), Chi Phong (支封), Tân An (新安), An Hòa (安和), Đồng Lợi (同利), Vạn Ninh (萬寧), Vân Đồn (雲屯), Tứ Kỳ (四岐), Thanh Miện (清沔). '''Phủ Kiến Xương (建昌府):''' Lãnh châu Khoái (快州) và 6 huyện: Kiến Xương (建昌), Bố (布), Chân Lợi (真利), Đông Kết (東結), Phù Dung (芙蓉), Vĩnh Hợp (永涸). '''Phủ Trấn Man (鎮蠻府):''' Lãnh 4 huyện: Đình Hà (廷河), Thái Bình (太平), Cổ Lan (古蘭), Đa Dực (多翼). '''Phủ Phụng Hóa (奉化府):''' Lãnh 4 huyện: Mỹ Lộc (Mỹ Lộc), Tây Chân (西真), Giao Thủy (膠水), Thuận Vi (順為). '''Phủ Kiến Bình (建平府):''' Lãnh 1 châu Trường Yên (長安). Cùng với 6 huyện: Ý Yên (懿安), Đại Vịnh (大灣), An Bản (安本), Vọng Doanh (望瀛), An Ninh (安寧), Lê Bình (黎平). '''Phủ Tam Giang (三江府):''' Lãnh 3 châu là Thao Giang (洮江), Tuyên Giang (宣江), Đà Giang (沱江). Cùng với 5 huyện: Ma Khê (麻溪), Hạ Hoa (夏華), Thanh Ba (清波), Tây Lan (西闌), Cổ Nông (古農). '''Phủ Tuyên Hóa (宣化府):''' Lãnh 9 huyện: Khoáng (曠), Đương Đạo (當道), Văn An (文安), Bình Nguyên (平原), Đáy Giang (底江), Thu Vật (收物), Đại Man (大蠻), Dương (楊), Ất (乙). '''Phủ Thái Nguyên (太原府):''' Lãnh 11 huyện: Phú Lương (富良), Tư Nông (司農), Vũ Lễ (武禮), Động Hỷ (洞喜), Vĩnh Thông (永通), Tuyên Hóa (宣化), Lộng Thạch (弄石), Đại Từ (大慈), Định Hóa (安定), Cảm Hóa (感化), Thái Nguyên (太原). '''Phủ Thanh Hóa (清化府):''' Lãnh 4 châu là Cửu Chân (九真), Ái Châu (愛州), Thanh Hóa (清化), Quỳ Châu (葵州). Cùng với 11 huyện: Yên Định (安定), Vĩnh Ninh (永寧), Cổ Đằng (古藤), Lương Giang (梁江), Đông Sơn (東山), Cổ Lôi (古雷), Nông Cống (農貢), Tống Giang (宋江), Nga Lạc (俄樂), Lỗi Giang (磊江), An Lạc (安樂). '''Phủ Nghệ An (乂安府):''' Lãnh 4 châu là Hoan Châu (驩州), Nam Tĩnh (南靖), Trà Lung (茶籠), Ngọc Ma (王麻). Cùng với 13 huyện: Nha Nghi (衙儀), Hữu La (友羅), Phi Lộc (丕祿), Thượng Dầu (上油), Kệ Giang (偈江), Chân Phúc (真福), Cổ Xã (古社), Thượng Hoàng (上黃), Đông Ngạn (東岸), Thạch Đường (石塘), Kỳ La (奇羅), Bàn Thạch (盤石), Hà Hoa (河華). '''Phủ Tân Bình (新平府):''' Lãnh 2 châu là Chính Bình (政平), Nam Linh (南靈). Cùng với 3 huyện: Nha Nghi (衙儀), Phúc Khang (福康), Tả Bình (左平). '''Phủ Thuận Hóa (順化府):''' Lãnh 2 châu Thuận (順) và Hóa (化). Cùng với 11 huyện: Lợi Điều (利調), Thạch Lan (石蘭), Ba Lạng (巴閬), An Nhân (安仁), Trà褐 (茶褐), Lợi Bồng (利蓬), Sạ Lệnh (乍令), Tư Dung (思蓉), Bồ Đài (蒲苔), Bồ Lãng (蒲浪), Sĩ Vinh (士榮). '''Phủ Thăng Hoa (升華府):''' Lãnh 4 châu là Thăng (升), Hoa (華), Tư (思), Nghĩa (義). Cùng với 11 huyện: Lê (黎), Giang (江), Đô Hòa (都和), An Bị (安備), Vạn An (萬安), Cụ Hy (具熙), Lễ (禮), Đệ (悌), Trì (持), Dương (羊), Bạch Ô (白烏). (Nguyên văn liệt kê thêm: Nghĩa (義), Thuần (純), Nga (鵝), Bôi Khê Cẩm (杯溪錦)). '''Châu Quảng Oai (廣威州):''' Lãnh 2 huyện: Ma Lũng (麻籠), Mỹ Lương (美良). '''Châu Gia Hưng (嘉興州):''' Lãnh 4 huyện: Lung (籠), Mông (蒙), 4 châu Mường (忙 - Mang). '''Châu Quy Hóa (歸化州):''' Lãnh 4 huyện: An Lập (安立), Trượng Bàn (丈盤), Văn Chấn (文振), Thủy Vĩ (水尾). '''Châu Tuyên Hóa (宣化州):''' Lãnh 3 huyện: Xích Thổ (赤土), Xa Lai (車來), Khôi (瑰). '''Châu Diễn (演州):''' Lãnh 3 huyện: Quỳnh Lâm (瓊林), Trà Thanh (茶清), Phù Lưu (芙蒥). ''KHẢO VỀ NÚI SÔNG NƯỚC AN NAM (安南國山川考)'' '''Núi Phật Tích (佛跡山):''' Ở huyện Thạch Thất (石室縣), phủ Giao Châu (交州府), trên núi có dấu chân người khổng lồ, dưới núi có ao, cảnh vật thanh lệ, là thắng cảnh một phương. '''Núi Câu Lậu (勾漏山):''' Ở huyện Thạch Thất (石室縣), tương truyền huyện Câu Lậu cổ nằm ở dưới núi này. Sách ''Hán thư'' chép: "Huyện Câu Lậu có trâu nước ngầm, lên bờ cùng đấu, sừng mềm, khi về lại hiện ra như cũ". '''Núi Đông Cứu (東究山):''' Ở châu Gia Lâm (嘉林州), phủ Bắc Giang (北江府), một tên gọi là núi Đông Cao (東皋山). Thời Đường, Thứ sử Cao Biền (高駢) xây tháp trên đỉnh núi. '''Núi Tiên Du (仙遊山):''' Ở huyện Vũ Ninh (武寧縣), phủ Bắc Giang (北江府), một tên gọi là núi Lạn Kha (爛柯山). Tương truyền có người tiều phu xem 2 vị tiên đánh cờ tại đây, không ngờ cán rìu (kha) đã mục nát (lạn). '''Núi Kim Ngưu (金牛山):''' Ở huyện Vũ Ninh (武寧縣). Tương truyền thời Đường, Thứ sử Cao Biền muốn đào núi này, thấy trâu vàng (kim ngưu) chạy ra, bèn thôi. Sách ''Hán thư'' chép: "Huyện Cư Phong, quận Cửu Chân có núi hiện trâu vàng, thường thấy vào ban đêm, ánh sáng rực rỡ 10 dặm". '''Côn Sơn (崑山):''' Ở huyện Phượng Sơn (鳳山縣), phủ Lạng Giang (諒江府), trên núi có động Thanh Hư (清虛洞), sườn núi có cầu Lại Ngọc (瀨玉橋), chùa Bạch Vân (白雲菴), là nơi rừng núi u thắng. '''Núi Khâu Pha (丘皤山):''' Ở huyện Đan Ba (丹巴縣), phủ Lạng Giang (諒江府), trên núi có cửa đá rộng 3 trượng, tương truyền do Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) nhà Hán đục thông. '''Núi Yên Tử (安子山):''' Ở huyện Đông Triều (東潮縣), phủ Tân An (新安府), một tên gọi là núi Tượng (象山), là nơi An Kỳ Sinh (安期生) thời Hán đắc đạo. Sách ''Hải Nhạc danh sơn đồ'' thời Tống xếp núi này là phúc địa thứ 4. '''Núi Vân Đồn (雲屯山):''' Trong biển lớn thuộc huyện Vân Đồn (雲屯縣), phủ Tân An (新安府), 2 ngọn núi đối nhau, ở giữa có dòng nước thông suốt, thuyền buôn các nước thường tụ hội ở đây. '''Núi Đại Viên (大圓山):''' Ngọn núi tròn nổi lên giữa biển lớn thuộc huyện Tân An (新安府), phủ Tân An. Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418), núi này bắt được 2 con voi trắng đem tiến cống. '''Núi Phượng Dực (鳳翼山):''' Ở huyện Hạ Hoa (夏華縣), phủ Tam Giang (三江府), người trong vùng thường đến leo núi ngắm cảnh vào các dịp lễ tiết. '''Núi Tam Đảo (三島山):''' Ở huyện Dương (楊縣), phủ Tuyên Hóa (宣化府), 3 ngọn núi vọt lên đặc biệt. '''Núi Hoàn (芄山):''' Ở huyện Mỹ Thạch (美石縣), phủ Thái Nguyên (太原府), dưới có hang động, nước chảy xuyên qua động, có thể đi thuyền. '''Núi Lũng (隴山):''' Ở huyện Động Hỷ (洞喜縣), phủ Thái Nguyên (太原府), 4 mặt là vách đá dựng đứng, bên trong có xóm làng. '''Núi Hí Mã (戲馬山):''' Ở huyện Vĩnh Ninh (永寧縣), phủ Thanh Hóa (清化府), một tên gọi là núi Du Anh (遊英山), đứng sừng sững độc lập, nằm ngang bên sông lớn, là nơi người trong vùng lên cao ngắm cảnh vào ngày mồng 9 (Tết Trùng Cửu). '''Núi An Hoạch (安鑊山):''' Ở huyện Đông Sơn (東山縣), phủ Thanh Hóa (清化府), sản sinh đá đẹp. Thái thú Dự Chương thời Hán là Phạm Ninh (范甯) từng sai lại dịch đến đây lấy đá làm khánh. '''Núi Thiên Cầm (天琴山):''' Ở ven biển Đông thuộc huyện Kỳ La (奇羅縣), phủ Nghệ An (乂安府). Tương truyền vua nhà Trần dạo chơi đây, đêm nghe tiếng nhạc trời (thiên lân), nên đặt tên như vậy. Đầu thời Vĩnh Lạc triều ta, thiên binh bắt được con giặc Lê là Thương (蒼) tại đây. '''Hoành Sơn (橫山):''' Ở huyện Hà Hoa (河華縣), phủ Nghệ An (乂安府). Xưa nước Lâm Ấp tâu với Thứ sử Giao Châu là Chu Phiên (朱蕃), xin lấy Hoành Sơn ở cõi Bắc quận Nhật Nam làm ranh giới, chính là núi này. '''Núi Tản Viên (傘圓山):''' Ở châu Gia Hưng (嘉興州), thế núi cao vút hùng vĩ. '''Núi Ngải (艾山):''' Ở huyện Mông (蒙縣), châu Gia Hưng (嘉興州), nhìn ra sông lớn, đá dốc bao quanh, dấu chân người khó đến. Tương truyền "trên có ngải tiên, mỗi mùa xuân nở hoa, sau mưa trôi xuống nước, đàn cá nuốt vào, liền vượt sông Long Môn hóa thành rồng". '''Biển (海):''' Bao quanh phía Đông Nam các phủ Giao Châu. Thơ ''Độ hải'' của Thẩm Thuyên Kỳ (沈佺期) thời Đường có câu: "Thường nghe quận Giao Chỉ, Nam liền với Quán Hung. Bốn mùa ít lạnh lẽo, Ba sáng ánh mặt trời lệch. Người Việt dâng chim trịch, Tướng Hán ngắm diều hâu. Bắc Đẩu treo núi cao, Gió Nam kéo biển lớn. Ly biệt trăng mấy độ, Tóc mai giục năm canh. Chớ nói lệ đổ thành, Lòng sáng thấu trời xanh". '''Sông Phú Lương (富良江):''' Ở huyện Đông Quan (東關縣), phủ Giao Châu (交州府), một tên gọi là sông Lô (瀘江), phía trên tiếp giáp sông Bạch Hạc (白鶴江) ở châu Tam Đái (三帶州), chảy qua phía Đông phủ thành, phía dưới thông với huyện Lợi Nhân (利仁縣), sông Đại Hoàng (大黃江) để ra biển. Quách Quỳ (郭逵) nhà Tống phá quân Man, phá ải Quyết Lý, dừng quân ở sông Phú Lương. Triều ta có Trương Phụ (張輔) từng phá giặc Lê ở chỗ này. '''Sông Thiên Đức (天德江):''' Một tên gọi là sông Đình Uẩn (廷蘊江), lại có tên là sông Đông Ngạn (東岸江). Đầu thời Vĩnh Lạc, giặc Lê sợ bị thảo phạt nên đã bắt dân lấp tắc từ lâu. Sau khi thiên binh bình định giặc, đã cho khơi thông lại, thuyền bè qua lại như cũ. '''Sông Lai Tô (來蘇江):''' Tên cũ là sông Tô Lịch (蘇歷江), từ phía Đông Bắc phủ thành Giao Châu chuyển hướng chảy xuống phía Tây, thông thẳng tới sông Nhuệ (銳江). Xưa có người tên là Tô Lịch (蘇歷) khai ngòi này, nên đặt tên vậy. Đầu thời Vĩnh Lạc triều ta, Thượng thư bộ Công là Hoàng Phúc (黃福) khơi lại, vì vương sư đến đánh kẻ có tội cứu dân nên đổi tên là Lai Tô. '''Sông Tuyên Quang (宣光江):''' Ở huyện Khoáng (曠縣), phủ Tuyên Hóa (宣化府), nguồn từ Ty Giáo hóa trưởng quan (教化長官司) tỉnh Vân Nam nhập vào biên giới, chảy hơn 700 dặm để đạt đến sông Tuyên Hóa. Đầu thời Vĩnh Lạc, Mộc Thạnh (沐晟) dẫn quân từ Vân Nam về trú đóng ở đây. '''Sông Hải Triều (海潮江):''' Ở châu Khoái (快州), phủ Kiến Xương (建昌府), chia dòng từ sông A Lỗ (阿魯江), phía dưới thông với sông Ngọc Cầu (玉球江). Là nơi xưa nhà Trần phá quân Chiêm Thành. '''Sông Long Môn (龍門江):''' Ở huyện Mông (蒙縣), châu Gia Hưng (嘉興州). Sách ''Hán thư'' chép "Huyện Phong Khê có đê phòng", nước Long Môn chính là ở đây. Nguồn chảy từ châu Ninh Viễn (寧遠州) tỉnh Vân Nam, đến đây dòng sông chảy ngang, ở giữa chia làm 3 đạo thác bay, tiếng vang 100 dặm. Thuyền qua đây tất phải khiêng lên cạn mới đi tiếp được. Bên cạnh có hang, sản sinh nhiều cá anh vũ (鸚鵡魚), sắc xanh lục, mỏ cong và đỏ như mỏ vẹt. Tương truyền cá này có thể hóa rồng. '''Dạ Trạch (夜澤):''' Ở huyện Đông Kết (東結縣), phủ Kiến Xương (建昌府). Thời Lương Vũ Đế có Nguyễn Bí (阮賁) là hào hữu đời đời, đế sai Trần Bá Tiên (陳霸先) đánh phá. Bí trốn vào đầm (trạch), đêm (dạ) ra cướp phá, nên gọi là Dạ Trạch. '''Long Khê (龍溪):''' Ở huyện Đình Hà (廷河縣), phủ Trấn Man (鎮蠻府). Xưa nhà Trần đi đêm qua sông này không sang được, bỗng thấy một cây cầu bắc ngang sông, sau khi sang rồi ngoảnh lại không thấy đâu, đến khi có nước bèn đổi tên là Long Khê. '''Kênh Thiên Uy (天威涇):''' Thời Đường, Cao Biền cho rằng từ Giao Châu đến Ung Xuyên mặt biển nhiều đá ngầm, vận tải đường thủy không thông, bèn đào mở 5 đạo. Có kênh Thanh Thạch (青石涇), truyền rằng Mã Viện nhà Hán cũng không trị nổi, sau đó sét đánh vỡ nát đá, thuyền bè liền thông được, nên đặt tên là kênh Thiên Uy. '''Bến Đông Tân (東津渡):''' Ở huyện Đông Quan (東關縣), phủ Giao Châu (交州府). Sông Lô xưa đi lại bằng thuyền hay bị gió sóng cản trở. Đầu thời Vĩnh Lạc, Trương Phụ (張輔), Mộc Thạnh (沐晟) bắt đầu đặt cầu phao, mỗi năm thay 1 lần. ''KHẢO VỀ CỔ TÍCH NƯỚC AN NAM (安南國古蹟考)'' '''Thành Việt Vương (越王城):''' Ở huyện Đông Ngạn (東岸縣), phủ Nghệ An (乂安府) (có lẽ là sự nhầm lẫn địa lý trong văn bản gốc, vì thành này thường ở Bắc Ninh/Hà Nội), còn tên là Loa Thành (螺城) vì hình dáng uốn lượn như ốc loa, do An Dương Vương (安陽王) thời Hán xây dựng. An Dương Vương đóng đô cũ tại đất Việt, nên gọi là thành Việt Vương, dấu vết cung điện trong thành vẫn còn. '''Thành Tỉ (璽城).''' '''Thành Vọng Hải (望海城):''' Đều ở huyện An Minh (安明縣), phủ Giao Châu (交州府). Giữa thời Kiến Vũ nhà Hán, Mã Viện bình Giao Chỉ, chia đặt 2 huyện Phong Khê (封溪), Vọng Hải (望海), xây 2 thành này để trấn giữ. '''Thành Đại La (大羅城):''' Ở ngoài thành phủ Giao Châu. Quận Giao Chỉ thời Hán và An Nam đô hộ phủ thời Đường đều ở đây. Thành do Trương Bá Nghi (張伯儀) thời Đường xây dựng, Cao Biền (高駢) từng tu sửa mở rộng. Thời Tống, Lý Công Uẩn (李公蘊) lập quốc tại đây. '''Cung Lạc Vương (雒王宮):''' Ở châu Tam Đái (三帶州), phủ Giao Châu, thời chưa có quận huyện. Khi ấy có ruộng Lạc (雒田) theo nước triều lên xuống, người khẩn ruộng đó là dân Lạc (雒民), người cai quản dân đó là vua Lạc (雒王), người giúp việc là tướng Lạc (雒將), đều có ấn đồng dải xanh, hiệu là nước Văn Lang (文朗國). Lấy thuần phác làm tục, lấy thắt nút dây để cai trị. Truyền được 18 đời, bị con vua Thục là Phán (泮) diệt, nền cung điện vẫn còn. '''Sứ quán Thiên Sứ (天使館):''' Thời Nguyên, Phó Dữ Lệ (傅與礪) đi sứ An Nam có đề thơ rằng: "Cờ sứ vào quán mây xanh động, Lọng tiên ven sông mặt trời quay. Dụ Thục há phiền hịch Tư Mã, Triều Chu cuối thấy Việt Thường lai". '''Lãng Bạc (浪泊):''' Ở huyện Đông Quan (東關縣), phủ Giao Châu (交州府), một tên gọi là Tây Hồ (西湖). Mã Viện sau khi bình Giao Chỉ nói với quan thuộc rằng: "Em ta là Thiếu Du thường thương ta khảng khái có chí lớn, than rằng: 'Kẻ sĩ sinh ra một đời, chỉ cần có áo ăn, đủ làm chân lại quận huyện, giữ mồ mả, khiến xóm làng khen là người thiện là đủ rồi, còn cầu dư thừa chỉ tự làm khổ mình thôi'. Ta ở giữa khoảng Lãng Bạc, Tây Lý, lúc giặc chưa diệt, dưới nước lụt trên sương mù, khí độc xông lên, ngẩng nhìn diều hâu đang bay bỗng rơi xuống nước. Nghĩ đến lời Thiếu Du, sao mà có được!". '''Cột đồng (銅柱):''' Mã Viện nhà Hán sau khi bình Giao Chỉ, lập cột đồng làm giới hạn nhà Hán, tương truyền ở trên động Cổ Sâm (古森洞), quận Khâm Châu (欽州), trên có lời thề của Viện rằng: "Cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt". Thời Đường, Mã Tổng (馬總) lại dựng 2 cột đồng, khắc công đức nhà Đường để tỏ rõ mình là dòng dõi Phục Ba, nay chưa rõ ở đâu. Phía Tây quận Nhật Nam có nước Tây Thù Di (西屠夷國), Viện từng qua đất đó, cũng trồng 2 cột đồng làm mốc giới nhà Hán. Khi về Bắc, lưu lại hơn 10 hộ ở dưới cột, đến thời Tùy có hơn 300 hộ, thảy đều họ Mã. Theo sách ''Lâm Ấp ký'': Cửa Đại Phố nước Lâm Ấp có 5 cột đồng. Giữa thời Thiên Bảo nhà Đường, Hà Lý Quang (何履光) đánh Vân Nam, thu thành An Ninh, lập cột đồng của Viện để định biên giới. Cũng chưa rõ ở đâu. '''Trống đồng (銅鼓):''' Dân phục dịch ở Giao Chỉ có các loại Lão (獠) như: Lão đầu bay (đầu phi lão tử), Lão khố đỏ (xích khốn lão tử), Lão uống mũi (tị ẩm lão tử), thảy đều ở hang ở tổ. Thích uống rượu, đánh trống đồng. Khi trống mới đúc xong, đặt giữa sân, mời người cùng loại đến đông nghịt cửa. Con gái nhà giàu sang lấy trâm vàng bạc gõ vào trống, gõ xong để lại cho chủ nhà. Có thuyết nói: "Trống đồng vốn là chiêng hành quân của Gia Cát Lượng khi chinh phạt Man". ''KHẢO VỀ THỔ SẢN NƯỚC AN NAM (安南國土產考)'' '''Vàng (金):''' Sản sinh tại các phủ Thái Nguyên (太原), Lạng Sơn (諒山), Nghệ An (乂 An). '''Ngọc trai (珠):''' Sản sinh trong vùng biển Vân Đồn (雲屯) thuộc Tĩnh An (靖安). Người buôn biển (Hải giả) nói: "Trung thu mà có trăng thì năm ấy nhiều ngọc trai". '''San hô (珊瑚):''' Có vài loại, ở dưới biển thì thẳng và mềm, gặp ánh mặt trời thì cong và cứng lại. Đầu thời Hán, Triệu Đà (趙佗) dâng san hô đỏ, tên gọi là "Cây lửa" (Hỏa thụ). '''Đồi mồi (玳瑁):''' Hình dạng giống rùa nhưng mai hơi dài, có 6 chân, 2 chân sau không có móng. '''Đan sa (丹砂):''' Thời Tấn, Cát Hồng (葛洪) muốn luyện đan nên đã xin làm lệnh huyện Câu Lậu (勾漏). Thơ Đỗ Phủ (杜甫) có câu: "Đan sa ở Giao Chỉ rất quý trọng". '''Trầm hương (沉香):''' Có loại cây hương chặt đứt, qua năm tháng lâu ngày mục nát, chỉ còn riêng phần lõi và mắt cây tồn tại, bỏ vào nước thì chìm, nên gọi là "Trầm hương". '''An tức hương (安息香):''' Cây như cây khổ luyện nhưng lớn và thẳng, lá giống dương đào nhưng dài, bên trong tâm có nhựa (chi) dùng làm hương. '''Dầu tô hợp (蘇合油):''' Nhựa sinh ra từ cây, có thể dùng làm thuốc. '''Hồ tiêu (胡椒):''' Loại dây leo giống như củ mài (sơn thục), mùa xuân ra hoa, mùa thu kết quả. '''Sừng linh dương (羚羊角):''' Sản sinh ở núi Cao Thạch (高石山). Loại 1 sừng mà bên trong đặc, cực kỳ cứng, có thể đập vỡ đá kim cương. '''Tê giác (犀), Voi (象), Tê ngưu (兕):''' Thời Hán Linh Đế, quận Cửu Chân dâng nộp, coi là thú lạ. Thời Nguyên, An Nam từng cống tê ngưu. '''Nai trắng (白鹿):''' Đầu thời Nguyên Khang (năm 291-299) nhà Tấn, nai trắng xuất hiện tại huyện Vũ Ninh (武寧縣), Giao Chỉ. Cuối thời Nguyên Gia (năm 424-453) nhà Tống, Giao Chỉ dâng nai trắng. '''Đười ươi (猩猩):''' Sách ''Nam Trung chí'' chép: "Đười ươi mặt người thân lợn, giống vượn, thường đi thành đàn vài mươi con. Người ta đem rượu và bã rượu đặt bên đường, kết các đôi guốc cỏ lại với nhau. Đười ươi thấy thế liền biết tên tuổi tổ tiên của người đặt bẫy, gọi tên mà mắng rằng: 'Tên nô kia muốn bẫy ta sao?', rồi bỏ đi ngay. Nhưng sau đó tự bảo nhau thử cùng nếm rượu xem sao. Đến khi say, lấy guốc xỏ vào chân, liền bị người ta bắt sống". '''Phi phỉ (狒狒):''' Quách Phác (郭璞) nhà Tấn nói: "Sản sinh trong núi ở Giao Châu. Hình dạng như mặt người, tay dài, thân đen, xõa tóc, chạy rất nhanh và ăn thịt người, thấy người thì cười". '''Mông quý (蒙貴 - tức con cầy):''' Hình dạng như con khỉ nhỏ (nào), màu tím đen. Nuôi nó để bắt chuột còn giỏi hơn mèo. '''Trĩ trắng (白雉):''' Thời Chu Thành Vương, họ Việt Thường (越裳氏) đến dâng. Thời Hán Quang Vũ, Nhật Nam và Cửu Chân tiến cống. '''Phỉ thúy (翡翠 - tức chim trả):''' Lông vũ có thể dùng làm đồ trang sức. '''Trăn (蚺蛇):''' Hình dạng lớn và dài, mật của nó tính cực lạnh, có thể chữa bệnh về mắt và các loại mụn nhọt. '''Mắm trứng kiến (蟻子鹽醢):''' Sử cũ chép các tù trưởng khê động ở Giao Châu thường thu lượm trứng kiến cho thêm muối vào làm mắm, nếu không phải khách quý hoặc người thân thì không được ăn. Sách ''Chu Lễ'' phần "Hải nhân" chép về các loại mắm trong mâm cỗ có mắm tì (trứng kiến), chính là loại này. '''Quả Am la (菴羅果 - tức quả xoài):''' Tên tục gọi là "Hương cái". Là loại cực phẩm trong các loài quả. Có người nói giống này xuất xứ từ Tây Vực. Quả giống quả lê phương Bắc. Chín vào khoảng tháng 4 tháng 5. Ăn nhiều không hại. '''Mít (波羅蜜):''' Lớn như quả bí xanh (đông qua), vỏ có gai mềm. Chín vào tháng 5 tháng 6, vị rất thơm ngọt. Hạt có thể luộc ăn, giúp người ta no bụng. Loại sản sinh ở phủ Phụng Hóa (奉化府) và châu Gia Lâm (嘉林州) là tốt nhất. '''Gỗ ô mộc (烏木 - tức gỗ mun):''' Cứng và mịn, có thể làm đồ dùng. '''Gỗ tô mộc (蘇木):''' Một tên gọi là Đa bang (多邦). [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic100 - 交趾國.svg|thumb|center|Hình vẽ minh họa nước Giao Chỉ trong Cổ kim đồ thư tập thành.]] ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9jp04zeb?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] c9xx37xkmu748aub30844laec31rqvs 204613 204612 2026-04-08T11:38:57Z Mrfly911 2215 /* An Nam bộ vị khảo 6 */ 204613 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第094卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 94''' | trước= [[../quyển 093|quyển 93]] | sau= [[../quyển 095|quyển 95]] | ghi chú = }} ==An Nam bộ vị khảo 5== ===Minh (phần 2)=== '''Năm Hồng Hy (洪熙) thứ 1 (năm 1425) đời Minh Nhân Tông (仁宗), theo lời thỉnh cầu của Trung quan Sơn Thọ (山壽), vua sai mang sắc dụ ban cho Lê Lợi (黎利), nhưng Lợi vẫn cướp phá không ngừng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Nhân Tông đã lên ngôi, đại xá thiên hạ, bèn sai sắc dụ Trần Trí (陳智) phải khéo léo vỗ về Lợi. Nhưng Lợi đã đánh phá châu Trà Lung (茶籠州), đánh bại quân của Phương Chính (方政), giết chết Chỉ huy Ngũ Vân (伍雲). Khi Lợi chưa phản, vốn có quan hệ tốt với Trấn thủ Trung quan Sơn Thọ (山壽). Đến lúc này Thọ về triều, sức nói rằng Lợi và mình tin cậy nhau, nay nếu sang dụ bảo tất sẽ về quy thuận. Đế nói: "Tên giặc này xảo trá, nếu bị hắn lừa thì thế hắn càng mạnh, khó mà chế ngự." Thọ dập đầu thưa: "Nếu thần sang dụ mà Lợi không đến, thần xin chịu muôn thác." Đế gật đầu, sai Thọ mang sắc thư, phong Lợi làm Tri phủ Thanh Hóa (清化知府), an ủi dụ bảo hết sức nồng hậu. Sắc vừa ban xuống, Lợi đã đánh phá Thanh Hóa, giết chết Đô chỉ huy Trần Trung (陳忠). Đầu năm Hồng Hy, Lợi nhận được sắc nhưng không có ý quy hàng, bèn mượn việc "vỗ về" để lừa dối. Các quan thủ thần hờ hững nói đợi mùa thu mát mẻ sẽ đi nhậm chức, nhưng việc cướp phá vẫn không dứt. Trí vốn không có tài tướng lược, sợ giặc nên cũng mượn việc vỗ về để lừa dối triều đình, lại có hiềm khích với Phương Chính, nên đóng quân không tiến. Giặc càng không sợ hãi gì, lại vây Trà Lung, bọn Trí ngồi nhìn không cứu. Qua 7 tháng, trong thành hết lương. Tuần án Ngự sử đem việc này tâu lên. Sớ tâu đến nơi thì Nhân Tông băng hà. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 1 (năm 1426) đời Tuyên Tông (宣宗), đánh Lê Lợi ở An Nam không thắng. Mệnh Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) làm Chinh Di tướng quân. Đô đốc Thông đánh thua, tự ý cắt đất từ Thanh Hóa trở về Nam cho giặc. Lại mệnh An Viễn hầu Liễu Thăng (柳升) làm Tổng binh đốc sư thảo phạt.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tuyên Tông mới lên ngôi, giáng sắc trách Trần Trí và các quan Tam ty, bọn Trí không để ý, Trà Lung bèn mất, Tri châu Cầm Bành (琴彭) tử tiết. Thượng thư chưởng Bố chính và Án sát nhị ty Trần Hiệp (陳洽) nói: "Lợi tuy xin hàng nhưng bên trong lại chia rẽ, đã chiếm Trà Lung, lại kết liên với Thổ quan Ngọc Ma (玉麻) và tù trưởng Lão Qua (老撾 - Lào) để cùng làm ác. Trước nói đợi mùa thu mát, nay mùa thu đã qua. Lại nói có oán với Tham chính Lương Nhữ Hốt (梁汝笏). Xin đổi phong ở châu Trà Lung, rồi lại phái nghịch đảng Phan Liêu (潘僚), Lộ Văn Luật (路文律) sang các châu Gia Hưng (嘉興), Quảng Oai (廣威) chiêu tập đồ đảng, thế lực ngày càng lan rộng. Xin sai Tổng binh mau chóng tiễu diệt." Nhân Tông từng đúc ấn tướng quân ban cho các tướng biên thùy. Trí nhận được ấn Chinh Di phó tướng quân, lại mệnh An Bình bá Lý An (李安) sang trợ chiến. Khi tờ tấu của Trần Hiệp dâng lên, vua giáng sắc quở trách nặng nề, hạn mùa xuân năm sau phải bình định xong giặc. Trí mới sợ, cùng Phương Chính tiến sát quan ải Bạc Khả Lưu (薄可留關), đánh thua chạy về, đến Trà Lung lại thua trận nữa. Chính dũng cảm nhưng thiếu mưu, Trí nhu nhược lại đa nghi, vốn không ưa nhau, mà Sơn Thọ lại chuyên việc chiêu phủ, đóng quân ở Nghệ An không cứu, vì thế liên tiếp bại trận. Mùa xuân năm Tuyên Đức thứ 1 (năm 1426), việc tâu đến kinh, lại giáng sắc quở trách. Đương lúc đó, đầu sỏ chưa dẹp xong mà giặc nhỏ đã nổi lên như ong. Phan Khả Lợi (潘可利) ở Mỹ Lưu giúp giặc, Chu Trang (周莊) ở Tuyên Hóa, Hoàng Am (黃菴) ở Thái Nguyên kết với giặc Áo Đỏ (Hồng y tặc) ở châu Ninh Viễn (寧遠州) thuộc Vân Nam cướp phá lớn. Đế sắc cho Mộc Thạnh (沐晟) tiễu trừ Ninh Viễn, lại phát 15.000 quân ở các vệ Tây Nam và 3.000 cung thủ Quảng Tây sang Giao Chỉ, sắc cho Lão Qua không được dung túng phản nhân. Tháng 4, mệnh Thành Sơn hầu Vương Thông (王通) làm Chinh Di tướng quân, Đô đốc Mã Anh (馬瑛) làm Tham tướng, sang thảo phạt Lê Lợi. Tước chức của Trần Trí và Phương Chính, cho làm Sự quan (lập công chuộc tội). Thông chưa đến, giặc phạm Thanh Hóa, Chính không ra chiến. Đô chỉ huy Vương Diễn (王演) đánh bại giặc. Đế có chiếu đại xá tội nhân Giao Chỉ. Lê Lợi, Phan Liêu nếu hàng cũng được thụ chức. Đình chỉ việc thu mua vàng bạc, hương hàng, mong để dập tắt giặc, nhưng giặc không có ý hối cải. Chính đốc thúc các quân tiến đánh, Lý An cùng Đô chỉ huy Vu Sạn (于瓚), Tạ Phượng (謝鳳), Tiết Tụ (薛聚), Chu Quảng (朱廣) tháo chạy trước, Chính vì thế mà thua trận. Có chiếu đều biếm làm Sự quan. Không lâu sau, Trí sai Đô chỉ huy Viên Lượng (袁亮) đánh giặc Lê Thiện (黎善) ở châu Quảng Oai, định vượt sông. Thổ quan Hà Gia Kháng (何加伉) bảo có phục binh. Lượng không nghe, sai Chỉ huy Đào Sâm (陶森), Tiền Phụ (錢輔) vượt sông, bị phục binh nổi lên giết sạch, Lượng cũng bị bắt. Lê Thiện bèn chia binh 3 đạo phạm Giao Châu. Cánh quân đánh Hạ Quan bị Đô đốc Trần Tuấn (陳濬) đánh bại; cánh quân đánh tiểu môn Biên Giang bị Lý An đánh bại, Thiện nhân đêm tối bỏ chạy. Thông nghe tin, cũng chia binh 3 đạo xuất kích. Mã Anh thắng giặc ở Thanh Oai (清威), đến Thạch Thất (石室) hội với Thông, cùng đến Ninh Kiều (寧橋) thuộc Ứng Bình (應平). Sĩ tử đi trong bùn lầy, gặp phục binh, đại bại, Thượng thư Trần Hiệp chết trận, Thông cũng bị trúng vào sườn phải rút về. Lợi ở Thanh Hoá nghe tin, gióng trống tiến quân đến Thanh Đàm (清潭), đánh Bắc Giang, tiến vây Đông Quan (東關). Thông vốn không có chiến công, nhờ cha là Chân (真) chết vì việc quân mà được phong tước, triều đình không biết hắn hèn kém nên dùng lầm. Một trận là bại, tâm mật đều mất, cử chỉ sai trái, không theo mệnh triều đình, tự ý cắt đất phía Nam Thanh Hóa cho giặc, rút hết quan lại quân dân về Đông Quan, duy có Tri châu Thanh Hóa là La Thông (羅通) không theo. Lợi dời quân đánh nhưng không hạ được. Giặc chia 10.000 quân vây cửa Ải Lưu (隘留關), Bách hộ Vạn Tòng (萬琮) hăng hái đánh, giặc mới rút. Đế nghe tin Thông bại trận, đại kinh hãi, mệnh An Viễn hầu Liễu Thăng làm Tổng binh quan, Bảo Định bá Lương Minh (梁銘) làm phó, đốc sư sang thảo phạt. Lại mệnh Mộc Thạnh làm Chinh Nam tướng quân, Hưng An bá Từ Hanh (徐亨), Tân Ninh bá Đàm Trung (譚忠) làm Tả hữu phó tướng quân, từ Vân Nam tiến binh. Hai đạo quân cộng cộng hơn 70.000 người, sắc cho Thông cố thủ đợi Thăng. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 2 (năm 1427), Vương Thông bỏ Giao Chỉ, nghị hòa với Lê Lợi. Do Lê Lợi dối xưng họ Trần có hậu duệ, bèn phong Trần Cảo (陳暠) làm An Nam vương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa xuân năm Tuyên Đức thứ 2 (năm 1427), Lợi phạm Giao Châu. Thông giao chiến, chém Ngụy Thái giám Lê Bí (黎祕) cùng các quan Thái úy, Tư đồ, Tư không của giặc, thu đầu cấp tính bằng số vạn. Lợi vỡ mật bỏ trốn, chư tướng xin thừa thế đuổi theo, Thông nấn ná 3 ngày, giặc biết hắn sợ, lại lập trại đào hào, bốn phía ra cướp phá. Tháng 3, lại phát 33.000 người đi theo Liễu Thăng, Mộc Thạnh chinh thảo. Giặc chia binh vây Khâu Ôn (丘溫), Đô chỉ huy Tôn Tụ (孫聚) sức chống giữ. Trước đó, giặc cho rằng Xương Giang (昌江) là yếu đạo của đại quân qua lại, phát hơn 80.000 quân đánh thành, Đô chỉ huy Lý Nhậm (李任) sức chống giữ, giết giặc rất nhiều. Trải 9 tháng, chư tướng quan vọng không cứu, giặc sợ đại quân của Thăng đến nên đánh càng gấp. Tháng 4 mùa hạ, thành mất, Nhậm tử tiết. Lúc này giặc vây Giao Châu đã lâu, Thông đóng cửa thành không dám ra, giặc càng coi thường, gửi thư cầu hòa. Thông muốn thuận theo, tập họp mọi người bàn bạc. Án sát sứ Dương Thời Tập (楊時習) nói: "Phụng mệnh thảo tặc, nay hòa với chúng mà tự ý rút quân, sao thoát khỏi tội?" Thông giận, lớn tiếng quát mắng, mọi người không dám nói nữa, bèn đem thư của Lợi tâu lên. Liễu Thăng nhận mệnh đã lâu, đợi chư quân tập họp, tháng 9 mới đến cửa Ải Lưu. Lợi đã có lời ước với Thông, bèn dối xưng họ Trần có hậu duệ, dẫn các đầu mục lớn nhỏ viết thư đến quân của Thăng, xin bãi binh để lập dòng dõi họ Trần. Thăng không mở thư, sai sứ tâu về kinh. Không lâu sau, Thăng tiến sát gò Đảo Mã (倒馬坡), rơi vào phục kích tử trận, hậu quân nối tiếp nhau thảy đều tử trận. Thông nghe tin, sợ hãi lắm, tập họp quân dân quan lại lớn nhỏ, ra bến Hạ Tiêu (下哨河), lập đàn thề với Lợi, hẹn ngày rút quân. Bèn sai quan cùng sứ của giặc dâng biểu và phương vật tiến cống. Quân của Mộc Thạnh đến Thủy Vĩ (水尾), đóng thuyền định tiến, nghe tin Thông đã nghị hòa, cũng rút về. Giặc thừa thế đánh, đại bại quân Minh. Hồng lô tự tiến dâng thư của giặc gửi cho Thăng, đại lược nói: "Thời Cao Hoàng đế khởi nghĩa, An Nam đứng đầu triều cống, đặc biệt được khen thưởng, ban cho ấn ngọc. Sau giặc Lê (Quý Ly) cướp ngôi, Thái Tông Hoàng đế hưng sư thảo diệt, tìm con cháu họ Trần. Họ Trần lánh nạn, phương xa lẩn trốn, nên không có đường tìm kiếm. Nay có dòng dõi sót lại, Cảo ẩn thân ở Lão Qua đã 20 năm, nhân dân bản quốc không quên ơn trạch của tiên vương, nay đã tìm được. Thảng hoặc được chuyển đạt lên Thiên tử, theo minh chiếu kế tuyệt của Thái Tông Hoàng đế, hoàn lại tước đất, chẳng những một tông tộc họ Trần, mà thực là phúc của hàng ức vạn sinh dân man bang." Đế xem thư bèn gật đầu. Ngày sau, biểu của Cảo cũng đến, tự xưng là đích tôn đời thứ 3 của tiên vương Trần Phủ (陳暊), lời lẽ giống với thư của Lợi. Đế tâm biết là dối trá, nhưng muốn mượn cớ đó để nghỉ binh, bèn nạp lời ấy. Ban đầu, đế nối ngôi, cùng Dương Sĩ Kỳ (楊士奇), Dương Vinh (楊榮) bàn việc Giao Chỉ đã muốn bỏ đất ấy. Đến nay đem biểu cho đình thần xem, dụ về ý bãi binh cho dân nghỉ. Sĩ Kỳ, Vinh hết sức tán thành. Duy có Kiển Nghĩa (蹇義), Hạ Nguyên Cát (夏原吉) không cho là phải. Tuy nhiên ý đế đã quyết, đình thần không dám tranh. Ngày mùng 1 tháng 11, mệnh Lễ bộ Tả thị lang Lý Kỳ (李琦), Công bộ Hữu thị lang La Nhữ Kính (羅汝敬) làm Chính sứ, Hữu Thông chính Hoàng Ký (黃驥), Hồng lô khanh Từ Vĩnh Đạt (徐永達) làm Phó sứ, mang chiếu dụ nhân dân An Nam, xá hết tội lỗi, cùng đổi mới với họ, lệnh cho tâu thực việc hậu nhân họ Trần. Nhân đó sắc cho Lợi về ý nghĩa hưng diệt kế tuyệt, đồng thời dụ Thông và các quan Tam ty rút hết quân dân về Bắc. Chiếu chưa đến nơi, Thông đã bỏ Giao Chỉ, theo đường bộ về Quảng Tây; Trung quan Sơn Thọ, Mã Kỳ và các thủ lệnh Tam ty theo đường thủy về Khâm Châu. Phàm số người về được chỉ còn 86.000 người, số bị giặc giết và bị giữ lại không thể thắng kế. Thiên hạ đều oán trách Thông bỏ đất hại dân, nhưng đế không giận. *Theo "Minh nhất thống chí" (明一統志):'' Năm Tuyên Đức thứ 2 (năm 1427), Lê Lợi thế khuất, bắt đầu dâng biểu xin lập hậu duệ họ Trần tên là Cảo làm chủ nước ấy, có chiếu phong làm An Nam vương. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 6 (năm 1431), mệnh Lễ bộ Thị lang Chương Hoảng (章敞), Hữu Thông chính Từ Kỳ (徐琦) mang sắc ấn mệnh Lê Lợi quyền giữ việc nước An Nam (quyền thự An Nam quốc sự).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa hạ năm Tuyên Đức thứ 3 (năm 1428), bọn Thông về đến kinh, văn võ chư thần cùng tâu tội, tại đình thẩm vấn đều đã nhận tội, bèn cùng Trần Trí, Mã Anh, Phương Chính, Sơn Thọ, Mã Kỳ và Bố chính sứ Dặc Khiêm (弋謙) đều bị luận tội chết hạ ngục, tịch thu gia sản, nhưng đế cuối cùng không giết, chỉ giam lâu đợi quyết định mà thôi. Mã Kỳ phóng túng ngược đãi gây biến, tội nặng nhất, còn Dặc Khiêm thực vô tội, đều bị luận tội cùng nhau, thời nghị cho là không phải. Đình thần lại hạch tội Mộc Thạnh, Từ Hanh, Đàm Trung nấn ná và tội làm mất quân nhục nước, đế không hỏi đến. Bọn Từ Kỳ về triều, Lợi sai sứ dâng biểu tạ ơn, dối nói Cảo đã mất vào tháng 1, con cháu họ Trần tuyệt tự, người trong nước suy tôn Lợi giữ nước, kính cẩn đợi mệnh triều đình. Đế cũng biết là dối, không muốn phong ngay, lại sai Nhữ Kính, Vĩnh Đạt dụ Lợi cùng quân dân lệnh tìm dòng dõi họ Trần, và phải hoàn lại hết quan lại nhân dân cùng quyến thuộc. Mùa xuân năm thứ 4 (năm 1429), Nhữ Kính về, Lợi lại nói: "Họ Trần không còn mống nào, xin mệnh khác cho." Nhân đó cống phương vật và người vàng thế thân. Lại nói: "Con gái thần 9 tuổi, gặp loạn lạc tán, sau biết Mã Kỳ đưa về làm cung tì. Thần tình cha con khôn xiết, mạo muội xin lại." Đế tâm biết nếu họ Trần có hậu duệ thì Lợi cũng không nói, nhưng vì phong cho Lợi không có danh nghĩa, lại mệnh Kỳ, Nhữ Kính sắc dụ tìm lần nữa, và báo cho Lợi biết con gái đã bệnh chết. Mùa xuân năm thứ 5 (năm 1430), bọn Kỳ về, Lợi sai sứ cống đồ vàng bạc, phương vật, lại dùng lời trau chuốt tâu lên, cùng với tờ tấu của đầu mục kỳ lão xin cho Lợi nhiếp quốc chính. Đế lại dụ việc tìm hậu duệ họ Trần và hoàn lại di dân Trung Hoa, nhưng lời lẽ không mấy cứng rắn. Mùa hạ năm thứ 6 (năm 1431), Lợi sai sứ tạ tội, dùng lời khéo đối đáp hai việc trên. Đầu mục kỳ lão dâng tấu vẫn xin phong cho Lợi, đế bèn hứa cho. Mệnh Lễ bộ Hữu thị lang Chương Hoảng (章敞), Hữu Thông chính Từ Kỳ (徐琦) mang sắc ấn, mệnh quyền giữ việc nước An Nam. Lợi sai sứ mang biểu và đồ vàng bạc, phương vật theo bọn Hoảng vào cống. '''Tháng 2 năm Tuyên Đức (宣德) thứ 7 (năm 1432), theo bọn Hoảng vào cống đến kinh sư. Khi về Bắc, Lợi và sứ thần đều được ban thưởng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 (năm 1433), Lê Lợi nước An Nam chết, mệnh con là Lân (麟) quyền giữ việc nước.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 8 năm Tuyên Đức thứ 8 (năm 1433) sang cống, mệnh Binh bộ Thị lang Từ Kỳ (徐琦) cùng sứ giả đi cùng, dụ đạo Thuận thiên bảo dân (thuận trời giữ dân). Năm ấy Lợi chết. Lợi tuy nhận mệnh (của nhà Minh), nhưng ở trong nước xưng Đế, niên hiệu Thuận Thiên (順天), xây hai kinh Đông và Tây, chia làm 13 đạo: Sơn Nam, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, An Bang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Minh Quang, Lạng Hóa, Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam. Mỗi đạo đặt Thừa chính ty, Hiến sát ty, Tổng binh sứ ty phỏng theo Tam ty của Trung Hoa. Đông Đô tại phủ Giao Châu, Tây Đô tại phủ Thanh Hoa. Đặt trăm quan, lập trường học, dùng hai khoa Kinh nghĩa và Thi phú lấy sĩ tử, văn minh có phong thái Hoa Hạ. Ở ngôi tiếm vị 6 năm, thụy riêng là Thái Tổ. Con là Lân (麟) kế vị, Lân còn có tên là Long (龍). Từ đó các quân trưởng nước ấy đều có 2 tên, dùng 1 tên để tâu lên Thiên triều, cống hiến không dứt theo lệ thường. Lân sai sứ báo tang, mệnh Thị lang Chương Hoảng, Hành nhân Hầu Tiến (侯璡) sắc cho Lân quyền giữ việc nước. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 9 (năm 1434), Quyền giữ việc nước An Nam là Lân sai sứ vào cống tạ ơn.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Chính Thống (正統) thứ 1 (năm 1436) đời Anh Tông (英宗), phong Lân (麟) làm An Nam quốc vương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 4 năm Chính Thống thứ 1 (năm 1436), nhân dịp Tuyên Tông băng hà, (An Nam) sai sứ sang dâng hương. Lại nhân dịp Anh Tông lên ngôi và tôn phong vị hiệu cho Thái hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu, đều sai sứ dâng biểu chúc mừng và tiến cống phương vật. Tháng 6 nhuận lại sang cống. Hoàng đế cho rằng tông chi họ Trần đã tuyệt, muốn để Lân (麟) chính vị, bèn đưa ra đình nghị, mọi người đều cho là nên. Liền mệnh Binh bộ Hữu thị lang Lý Úc (李郁), Tả thông chính Nại Hanh (柰亨) mang sắc ấn phong Lân (麟) làm An Nam quốc vương. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 2 (năm 1437), An Nam quốc vương Lân (麟) sai sứ vào cống tạ ơn. Lại sai sứ tạ tội việc Thổ quan châu Tư Lang (思郎州) xâm lược.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Chính Thống thứ 2 (năm 1437), sai sứ vào cống tạ ơn. Bấy giờ Thổ quan châu Tư Lang (思郎州) của An Nam đánh chiếm các châu An Bình (安平), Tư Lăng (思陵) của Quảng Tây, chiếm giữ 2 động và 21 làng. Hoàng đế mệnh Cấp sự trung Thang Nại (湯鼐), Hành nhân Cao Dần (高寅) mang sắc lệnh yêu cầu Lân (麟) trả lại đất đã chiếm. Lân (麟) phụng mệnh sai sứ tạ tội, nhưng lại tố cáo Thổ quan An Bình, Tư Lăng xâm lược Tư Lang, Hoàng đế lệnh cho quan thủ thần nghiêm khắc chấn chỉnh. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 7 (năm 1442), An Nam vương Lân (麟) chết, sách phong con là Tuấn (濬) làm Quốc vương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Chính Thống thứ 7 (năm 1442), sứ giả An Nam về nước, (Hoàng đế) lệnh mang theo mũ da (Pì biền quan), trang phục và áo thêu chỉ vàng ban cho Vương. Năm ấy, Lân (麟) chết, thụy riêng là Thái Tông. Trong đời ông có 2 niên hiệu: Thiệu Bình (紹平) 6 năm, Đại Bảo (大寶) 3 năm. Con là Tuấn (濬) kế vị, còn có tên là Mộ Long (墓隆), sai sứ báo tang. (Hoàng đế) mệnh Quang lộc Thiếu khanh Tống Kiệt (宋傑), Binh khoa Đô cấp sự trung Tiết Khiêm (薛謙) cầm tiết sang sách phong làm Quốc vương. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 1 (năm 1450) đời Đại Tông (代宗), sắc lệnh An Nam vương Tuấn (濬) trả lại vua Chiêm Thành và dân chúng đã bắt; Tuấn (濬) không phụng chiếu.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tuấn (濬) sai tướng xâm chiếm Chiêm Thành (占城), đoạt cảng Tân Châu (新州港), bắt vua nước ấy là Ma Ha Bí Cai (摩訶賁該) đem về. Hoàng đế bèn lập vua mới là Ma Ha Quý Lai (摩訶貴來), sắc cho sứ giả An Nam dụ bảo Tuấn (濬) trả lại vua cũ. Tuấn (濬) không phụng chiếu, còn xâm lược bắt dân chúng lên đến hơn 33.000 người, Chiêm Thành vào triều khiếu kiện. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 2 (năm 1451), ban cho An Nam gấm vóc.''' *Theo "Minh hội điển" (明會典):'' Năm Cảnh Thái thứ 2 (năm 1451), chiếu theo lệ nước Triều Tiên năm Tuyên Đức thứ 10, ban cho 10 bộ đoạn màu (thái đoạn), 4 tấm gấm. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 (năm 1453), An Nam vương Tuấn (濬) sai sứ chúc mừng việc sách lập Hoàng thái tử.''' '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 (năm 1457) đời Anh Tông (英宗), An Nam sai sứ vào cống, xin ban mũ áo (cổn miện) theo lệ Triều Tiên, không được chấp thuận; sứ giả xin lấy thổ sản đổi lấy sách vở và dược tài, (vua) nghe theo.''' '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 2 (năm 1458), An Nam sai sứ chúc mừng Anh Tông phục bích (lên ngôi trở lại).''' *Ghi chú: Các phần trên theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện".'' '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 3 (năm 1459), Lạng Sơn vương Tông (琮) của An Nam giết Tuấn (濬) tự lập, sau bị người trong nước giết chết, em Tuấn (濬) là Hạo (灝) nối ngôi.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 10 năm Thiên Thuận thứ 3 (năm 1459), anh khác mẹ là Lạng Sơn vương Tông (琮) giết chết Tuấn (濬) mà tự lập. Tuấn (濬) có 2 niên hiệu: Đại Lợi (大利) 11 năm, Diên Ninh (延寧) 6 năm, thụy riêng là Nhân Tông. Tông (琮) có tên là Nghi Dân (宜民), chiếm ngôi 9 tháng, đổi niên hiệu là Thiên Dữ (天與), bị người trong nước giết chết, biếm làm Lệ Đức hầu (厲德侯), lấy em của Tuấn (濬) là Hạo (灝) kế vị. Hạo (灝) còn tên là Tư Thành (思誠). Ban đầu, Tông (琮) giết Tuấn (濬) rồi tâu với Thiên triều là Tuấn (濬) đi chơi hồ bị chết đuối, (nhà Minh) không biết nên định sai quan sang điếu tế. Tông (琮) sợ thiên sứ đến sẽ lộ tình cảnh, bèn nói theo lễ không điếu người chết đuối, không dám làm phiền thiên sứ. Hoàng đế bèn thôi. Sau đó sứ giả (của Hạo) nói Tuấn (濬) không có con, xin phong vương. Tông (Hoàng đế) bèn mệnh Thông chính Tham nghị Doãn Mân (尹旻), Lễ khoa Cấp sự trung Vương Dự (王豫) sang phong vương. Chưa vào cảnh giới đã nghe tin Tông (琮) bị giết, Hạo (灝) nối ngôi, liền quay về. Hạo (灝) liên tiếp sai sứ triều cống xin phong. Lễ quan nghi ngờ có sự gian trá, xin mệnh cho quan thủ thần Quảng Tây xác minh sự thực rồi mới tâu xin, (vua) nghe theo. Sứ thần nói: "Theo lễ, sống thì có phong, thác thì có tế. Nay việc Tuấn (濬) chết đã rõ, xin ban cho tế lễ." Bèn mệnh Hành nhân sang tế. '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 (năm 1462), phong em của Tuấn (濬) là Hạo (灝) làm An Nam quốc vương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Thiên Thuận thứ 6 (năm 1462), mệnh Thị độc Học sĩ Tiền Phổ (錢溥), Cấp sự trung Vương Dự (王豫) sang phong Hạo (灝) làm Quốc vương. '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 1 (năm 1465) đời Hiến Tông (憲宗), An Nam quốc vương Hạo (灝) sai sứ dâng hương, mệnh cho đến Dụ Lăng hành lễ.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Hiến Tông lên ngôi, mệnh Thượng thư khanh Lăng Tín (凌信), Hành nhân Thiệu Chấn (卲震) ban cho Vương và Phi lụa màu. Hạo (灝) sai sứ lại cống, nhân đó xin mũ áo (miện phục), (vua) không cho, chỉ ban mũ da (Pì biền quan) cùng mũ sa (sa mạo), đai tê (tê đới). Tháng 8 năm Thành Hóa thứ 1 (năm 1465), vì Anh Tông băng hà, (An Nam) sai sứ sang dâng hương, mệnh cho đến Dụ Lăng (裕陵) hành lễ. Hạo (灝) vốn là kẻ hùng kiệt tự phụ, nước giàu binh mạnh, thường hay tự đại. '''Tháng 4 năm Thành Hóa (成化) thứ 4 (năm 1468), An Nam phát binh xâm chiếm vùng Bằng Tường (憑祥) thuộc Quảng Tây. Hoàng đế nghe tin, mệnh cho quan thủ thần cẩn thận phòng bị.''' '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 7 (năm 1471), An Nam vương Hạo (灝) mượn đường Vân Nam, quấy rối biên địa, chiếu mệnh quan thủ thần tra hỏi. Lại tâu rằng "Chiêm Thành bị phá không phải do xâm đoạt". Năm ấy sai sứ mừng sách lập Hoàng thái tử, có chiếu cấm đoán nghiêm khắc.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Thành Hóa thứ 7 (năm 1471), (An Nam) phá Chiêm Thành, bắt vua nước ấy là Bàn La Trà Toàn (盤羅茶全). Qua 3 năm lại phá lần nữa, bắt vua là Bàn La Trà Duyệt (盤羅茶悅). Sau đó đổi nước ấy làm châu Giao Nam (交南州), đặt binh trấn giữ. Đường triều cống của An Nam vốn đi qua Quảng Tây. Bấy giờ Trấn thủ Trung quan Vân Nam là Tiền Năng (錢能) tham lam phóng túng, sai Chỉ huy Quách Cảnh (郭景) mang sắc lệnh đi lấy hàng hóa. Hạo (灝) vốn muốn dòm ngó Vân Nam, bèn lấy cớ giải tống tội nhân ở Long Châu (龍州) thuộc Quảng Tây, theo chân Cảnh mượn đường Vân Nam, vào kinh đòi hơn 600 phu dịch, lại phát binh theo sau, khiến Vân Nam đại loạn. Binh bộ nói, Vân Nam không phải đường triều cống, tội nhân Long Châu nên giải qua Quảng Tây, không cần đến kinh. Bèn lệnh quan thủ thần phát hịch dụ bảo, đồng thời nghiêm ngặt phòng bị biên cương. Hạo (灝) sau khi lấy được Bằng Tường, diệt Chiêm Thành, liền xâm phạm Quảng Đông, lấy trộm ngọc trai ở Quỳnh, Lôi. Các nơi Long Châu, Hữu Bình thuộc Quảng Tây, Lâm An thuộc Vân Nam, Trấn An thuộc Quảng Nam cũng mấy lần báo biến. Chiếu mệnh quan thủ thần tra hỏi, Hạo (灝) đều dùng lời lẽ quỷ quyệt đối đáp. Triều đình vốn giữ thái độ nhân nhượng, tuy nhiều lần giáng sắc dụ bảo nhưng không có lời lẽ gay gắt. Hạo (灝) càng khinh lạt không sợ hãi, nói rằng vua Chiêm Thành là Bàn La Trà Toàn xâm phạm đạo Hóa Châu (化州道), bị em là Bàn La Trà Duyệt giết chết rồi tự lập. Đến khi sắp nhận phong lại bị con là Trà Chất Đài (茶質苔) giết chết. Nước ấy tự loạn, không phải lỗi của thần Hạo (灝). Triều đình biết hắn gian trá nhưng không thể tra hỏi, chỉ dùng lời tốt khuyên nhủ hoàn lại đất đai mà thôi. Lâu sau, Hạo (灝) tâu rằng: "Chiêm Thành không phải đất màu mỡ, nhà chẳng có của tích trữ, đồng ruộng tuyệt đường dâu tằm. Núi không có thu hoạch vàng ngọc, biển thiếu cái lợi cá muối, chỉ sản xuất ngà voi, sừng tê, gỗ mun, trầm hương. Được đất ấy không thể ở, được dân ấy không thể dùng, được hàng hóa ấy không đủ để làm giàu, đó là lý do thần không xâm đoạt Chiêm Thành. Minh chiếu lệnh cho thần phục hồi đất đai nước ấy, xin phái sứ giả triều đình sang phân định biên giới, khiến biên thùy hai nước được nghỉ ngơi, thần hết lòng mong mỏi." Khi ấy Chiêm Thành đã bị chiếm đóng lâu ngày mà lời lẽ hắn vẫn xằng bậy như thế. Trước đó, An Nam vào cống thường mang theo nhiều đồ riêng, đi qua Bằng Tường, Long Châu thiếu người vận chuyển liền nảy sinh thù hằn. Gặp lúc sai sứ mừng sách lập Hoàng thái tử, có chiếu cấm đoán nghiêm khắc. '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 15 (năm 1479), An Nam vương Hạo (灝) xâm lược nước láng giềng. Đình nghị lệnh cho các quan thủ thần Vân Nam, Lưỡng Quảng đề cao phòng bị biên cương.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa đông năm Thành Hóa thứ 15 (năm 1479), Hạo (灝) sai hơn 800 binh vượt biên giới Mông Tự (蒙自) thuộc Vân Nam, nói phao là bắt cướp, tự ý lập doanh dựng nhà để ở. Quan thủ thần sức ngăn lại, họ mới rút. Hạo (灝) sau khi phá Chiêm Thành, chí ý càng rộng lớn, đích thân đốc thúc 90.000 binh, xẻ núi làm 3 đường, đánh phá Ai Lao (哀牢), xâm lược Lão Qua (老撾), lại đại phá chúng, giết chết cả ba cha con Tuyên úy Đao Bản Nhã Lan Chưởng (刀板雅蘭掌), con út là Bá Nhã Tái (伯雅賽) chạy đến Bát Bách (八百) mới thoát. Hạo (灝) lại tích lương luyện binh, ban sắc lệnh giả ở Xa Lý (車里), trưng binh nước ấy hợp công Bát Bách, tướng sĩ chết đột ngột hơn vài nghìn người, đều nói là bị sấm sét đánh. Bát Bách bèn chặn đường về, tập kích giết hơn 10.000 người, Hạo (灝) mới dẫn quân về. Đế đưa ra đình nghị, xin lệnh cho Bố chính ty Quảng Tây phát hịch yêu cầu Hạo (灝) thu quân khỏi Vân Nam, các quan thủ thần Lưỡng Quảng đề cao phòng bị biên cương mà thôi. Sau đó Hạo (灝) biện bạch chưa từng xâm lược Lão Qua, lại không biết biên giới Bát Bách ở đâu, lời lẽ rất cuồng dối. Đế lại an ủi dụ bảo, nhưng hắn vẫn không phụng mệnh. '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 (năm 1481), sắc lệnh An Nam vương Hạo (灝) phải hòa mục với láng giềng. Khi sứ thần vào cống, xin ban mũ đai (quan đới), vua chấp thuận.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa thu năm Thành Hóa thứ 17 (năm 1481), Mãn Thứ Gia (滿剌加 - Malacca) cũng vì bị xâm lược mà báo cáo, Hoàng đế sắc lệnh sứ giả dụ bảo (Hạo) phải hòa mục láng giềng để giữ nước. Chẳng bao lâu, sứ thần vào cống, xin theo lệ của Xiêm La (暹羅), Qua Oa (瓜哇 - Java) được ban mũ đai. (Vua) chấp thuận, nhưng không lấy đó làm lệ thường. '''Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 1 (năm 1488) đời Hiếu Tông (孝宗), sứ thần An Nam đến cống.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Hiếu Tông lên ngôi, mệnh Thị độc Lưu Tiễn (劉戩) mang chiếu dụ đến nước ấy. Sứ thần nước ấy đến cống, vì gặp đại tang (vua Minh) nên được miễn việc dẫn vào tâu bầy. '''Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 3 (năm 1490), vua Chiêm Thành tâu việc bị An Nam (安南) xâm lấn. Binh bộ Mã Văn Thăng (馬文升) triệu sứ thần An Nam đến răn bảo.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Hoằng Trị thứ 3 (năm 1490), bấy giờ vua Chiêm Thành là Cổ Lai (古來) nhờ sức Thiên triều mà được về nước, lại tâu việc bị An Nam xâm lấn. Binh bộ Thượng thư Mã Văn Thăng triệu sứ thần An Nam đến bảo rằng: "Về nói với chủ ngươi, hãy lo giữ lấy cương thổ mà hưởng thái bình. Nếu không, một mai triều đình nổi giận, thiên binh áp sát cảnh giới như việc thời Vĩnh Lạc, chủ ngươi chẳng hối hận sao?". Từ đó An Nam có phần sợ hãi. '''Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 10 (năm 1497), An Nam vương Hạo (灝) chết, con là Huy (暉) nối ngôi, sai sứ báo tang, ngay sau đó ban cho弁服 (Biền phục). Sứ thần xin đổi loại ban thưởng nhưng không cho.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Hoằng Trị thứ 10 (năm 1497), Hạo (灝) chết, thụy riêng là Thánh Tông. Trong đời ông có 2 niên hiệu: Quang Thuận (光順) 10 năm, Hồng Đức (洪德) 28 năm. Con là Huy (暉) kế vị, còn có tên là Tăng (鏳), sai sứ báo tang. (Hoàng đế) mệnh Hành nhân Từ Ngọc (徐鈺) sang tế, ngay sau đó ban cho Huy (暉) mũ da (Pì biền phục), đai tê nạm vàng. Sứ thần nước ấy nói: "Quốc chủ nhận tước Vương, nhưng trang phục ban cho không khác gì thần hạ, xin được đổi loại khác." Quan lễ bộ nói: "An Nam danh nghĩa là Vương, thực chất là thần tử của Trung Quốc. Vương mới lập tất phải ban mũ da trang phục (Pì biền quan phục) để không mất đi cái tôn quý của bậc chủ tể một nước; lại ban cho thường phục nhất phẩm để không quên nghĩa phụng sự Trung Quốc của bậc tôi tớ. Nay điều thỉnh cầu làm rối loạn tổ chế, không thể cho phép. Tuy nhiên đây không phải tội của sứ thần, mà do bọn thông sự dẫn dắt tâu bậy, nên trừng phạt." Đế đặc cách tha thứ. '''Tháng 5 năm Hoằng Trị (弘治) thứ 17 (năm 1504), An Nam vương Huy (暉) chết, thụy riêng là Hiến Tông. Con là Kính (敬) kế vị, mới được 7 tháng thì chết, thụy riêng là Túc Tông. Em là Nghị (誼) kế vị, còn có tên là Tuyền (璿).''' *Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Chính Đức (正德) thứ 1 (năm 1506) đời Võ Tông (武宗), sách phong em của Vương là Nghị (誼) làm Quốc vương. Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện", Võ Tông lên ngôi, mệnh Tu soạn Luân Văn Thứ (倫文敘), Cấp sự trung Trương Hoằng Chí (張弘至) mang chiếu dụ đến nước ấy. Nghị (誼) cũng sai sứ báo tang, (Hoàng đế) mệnh quan sang tế theo nghi lễ thông thường.''' Năm Chính Đức thứ 1 (năm 1506), sách phong làm Vương. Nghị (誼) sủng ái và tin dùng vây cánh bên ngoại là anh em Nguyễn Chủng (阮种), Nguyễn Bá Thắng (阮伯勝), làm điều oai ngược tàn bạo, tàn sát tông thân, đánh thuốc độc giết cả tổ mẫu. Bọn Chủng cậy thế sủng ái mà chiếm đoạt quyền hành. '''Năm Chính Đức (正德) thứ 4 (năm 1509), An Nam vương Nghị (誼) bị bọn Nguyễn Chủng (阮种) bức bách phải tự sát, chúng lập em của Chủng là Bá Thắng (伯勝) lên. Người trong nước giết đi, lập cháu nội của Hạo (灝) là Chu (晭).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 11 năm Chính Đức thứ 4 (năm 1509), (bọn Nguyễn Chủng) bức Nghị (誼) tự sát, ủng lập em hắn là Bá Thắng (伯勝). Biếm Nghị (誼) làm Lệ Mẫn vương (厲愍王). Người trong nước là Lê Quảng (黎廣) cùng những người khác giết hắn đi, lập cháu nội của Hạo (灝) là Chu (晭), đổi thụy cho Nghị (誼) là Uy Mục đế (威穆帝). Nghị (誼) tại vị 4 năm, niên hiệu Đoan Khánh (端慶). Chu (晭) còn có tên là Oanh (瀅). '''Năm Chính Đức (正德) thứ 7 (năm 1512), An Nam vương Chu (晭) - cháu của Hạo (灝) - nhận phong, làm nhiều việc bất nghĩa.''' *Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Chính Đức (正德) thứ 11 (năm 1516), quan An Nam là Trần Cảo (陳暠) cùng 2 con là Bính (昺), Thăng (昇) giết vua Chu (晭) mà tự lập. Đại thần Nguyễn Hoằng Dụ (阮弘裕) cùng những người khác thảo phạt, bèn cùng lập cháu gọi Chu (晭) bằng chú là Huệ (譓). Sau này Huệ (譓) xin phong nhưng vì nước loạn nên không thành.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 4 năm Chính Đức thứ 11 (năm 1516), quan dâng hương xã đường là Trần Cảo (陳暠) cùng 2 con Bính (昺), Thăng (昇) làm loạn, giết Chu (晭) mà tự lập, dối xưng là hậu duệ họ Trần đời trước, vẫn xưng Đại Ngu hoàng đế (大虞皇帝), niên hiệu Ứng Thiên (應天), biếm Chu (晭) làm Linh Ẩn vương (靈隱王). Đô lực sĩ của Chu (晭) là Mạc Đăng Dung (莫登庸) ban đầu theo Cảo (暠), sau cùng các đại thần họ Lê là Nguyễn Hoằng Dụ (阮弘裕) dấy binh thảo phạt. Cảo (暠) bại chạy, bắt được Bính (昺) cùng đảng hữu là Trần Toại (陳璲). Cảo (暠) và Thăng (昇) chạy sang Lạng Sơn (諒山), dọc đường chiếm giữ 3 phủ Trường Ninh (長寧), Thái Nguyên (太原), Thanh Tiết (清節) để tự vệ. Đăng Dung cùng những người khác bèn cùng lập con của Hạo (灝 - con anh trai của Chu) là Huệ (譓), đổi thụy cho Chu (晭) là Tương Dực đế (襄翼帝). Chu (晭) tại vị 7 năm, niên hiệu Hồng Thuận (洪順). Huệ (譓) định xin phong nhưng vì nước loạn nên không thành. Vì Đăng Dung có công nên được phong Vũ Xuyên bá (武川伯), tổng lĩnh các quân thủy bộ. Khi đã nắm binh quyền, ngầm nuôi ý chí khác. Thần tử họ Lê là Trịnh Tuy (鄭綏) cho rằng Huệ (譓) chỉ ngồi không, bèn lập riêng người trong tộc là Dậu Bảng (酉榜), phát binh đánh kinh đô, Huệ (譓) phải bỏ chạy. Đăng Dung đánh tan binh của Tuy, bắt Dậu Bảng giết đi, càng cậy công chuyên quyền phóng túng, bèn bức ép vợ và mẹ của Huệ (譓) rồi đón Huệ (譓) về, tự làm Thái phó, Nhân Quốc công. Năm thứ 16 (năm 1521), dẫn binh đánh Trần Cảo (陳暠), Cảo (暠) bại chạy rồi chết. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 (năm 1522) đời Thế Tông (世宗), Mạc Đăng Dung (莫登庸) mưu giết chủ là Huệ (譓). Huệ đi đường tắt thoát thân, Đăng Dung lập em Huệ là Khoáng (懬) lên ngôi.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Năm Gia Tĩnh thứ 1 (năm 1522), Đăng Dung tự xưng là An Hưng vương (安興王), mưu giết Huệ. Mẹ của Huệ báo tin, Huệ bèn cùng thần hạ là Đỗ Ôn Nhuận (杜溫潤) đi đường tắt trốn thoát, cư ngụ tại Thanh Hoa (清華). Đăng Dung lập em khác mẹ của Huệ là Khoáng (懬) lên ngôi, dời đô về phủ Trường Khánh (長慶府) vùng Hải Đông (海東). Thế Tông lên ngôi, mệnh Biên tu Tôn Thừa Ân (孫承恩), Cấp sự trung Du Đôn (俞敦) mang chiếu dụ đến nước ấy, đi đến Long Châu (龍州) nghe tin nước ấy đại loạn, đường xá không thông nên quay về. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 4 (năm 1524), Quốc chủ An Nam Lê Huệ (黎譓) đi đường tắt xin phong vương, nhưng bị Đăng Dung ngăn trở.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa hạ năm Gia Tĩnh thứ 4 (năm 1524), Huệ sai sứ đi đường tắt thông cống và xin phong vương, nhưng bị Đăng Dung ngăn cản. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 5 (năm 1525), Đăng Dung thay mặt cho Quốc chủ do mình lập là Khoáng (懬) để cầu phong.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa xuân năm Gia Tĩnh thứ 5 (năm 1525), Đăng Dung đút lót cho Phán quan Khâm Châu (欽州) là Đường Thanh (唐清) để cầu phong cho Khoáng. Tổng đốc Trương Đỉnh (張嵿) bắt giam Thanh, Thanh chết trong ngục. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 6 (năm 1527), Đăng Dung nước An Nam cướp ngôi của Khoáng (懬) tự lập.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 3 năm Gia Tĩnh thứ 6 (năm 1527), Đăng Dung lệnh cho đồng đảng là Phạm Gia Mô (范嘉謨) làm giả chiếu nhường ngôi của Khoáng, chiếm lấy ngôi vị, đổi niên hiệu là Minh Đức (明德). Lập con là Phương Doanh (方瀛) làm Hoàng thái tử. Ngay sau đó dùng thuốc độc giết Khoáng, thụy là Cung Hoàng đế (恭皇帝). Qua năm sau, sai sứ đến cống, đến thành Lạng Sơn (諒山城) bị đánh phải quay về. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 9 (năm 1530), Đăng Dung nhường ngôi cho con là Phương Doanh (方瀛). Năm ấy Lê Huệ (黎譓) chết.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 1 năm Gia Tĩnh thứ 9 (năm 1530), Đăng Dung nhường ngôi cho Phương Doanh, tự xưng Thái thượng hoàng (太上皇), dời đến Đồ Sơn (都齋) thuộc Hải Dương (海陽) để làm ngoại viện cho Phương Doanh. Soạn "Đại cáo" (大誥) 59 điều ban bố trong nước. Phương Doanh đổi niên hiệu là Đại Chính (大正). Tháng 9 năm ấy, Lê Huệ chết ở Thanh Hoa (清華), nước mất. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 15 (năm 1536), (nhà Minh) phái quan đi khám xét danh tính kẻ phạm tội chiếm ngôi giết chúa ở An Nam, bàn việc chinh phạt.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Mùa đông năm Gia Tĩnh thứ 15 (năm 1536), Hoàng thái tử sinh ra, định ban chiếu cho An Nam. Lễ quan Hạ Ngôn (夏言) nói: "An Nam không cống đã 20 năm. Quan thủ thần Lưỡng Quảng nói Lê Huệ, Lê Khoáng đều không phải là đích tự của Lê Chu (黎晭) đáng được lập; Mạc Đăng Dung, Trần Cảo (陳暠) đều là thần tử chiếm ngôi phản nghịch, nên phái quan sang tra hỏi, tìm danh tính kẻ thủ ác. Vả lại sứ giả trước đây vì đường trở ngại không thông, nay nên tạm dừng sứ mệnh." Đế thấy việc An Nam phản nghịch rõ ràng, nên gấp phái quan đi khám xét, lệnh Ngôn hội cùng Binh bộ bàn việc chinh phạt. Ngôn cùng Thượng thư Binh bộ Trương Toản (張瓚) lực nói: "Nghịch thần chiếm ngôi đoạt nước, không tu sửa triều cống, quyết nên thảo phạt. Xin trước phái 2 quan Cẩm y vệ đi xác minh sự thực. Sắc lệnh quan thủ thần Lưỡng Quảng, Vân Nam chỉnh đốn binh mã, tích trữ lương thảo để đợi ngày xuất quân." Vua chuẩn tấu. Bèn mệnh Thiên hộ Đào Phụng Nghi (陶鳳儀), Trịnh Tỉ (鄭璽) chia đi Quảng Tây, Vân Nam tra hỏi danh tính kẻ phạm tội, sắc cho quan thủ thần các tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu, Hồ Quảng, Phúc Kiến, Giang Tây chuẩn bị binh lương chờ điều động. Hữu thị lang bộ Hộ là Đường Trụ (唐胄) dâng sớ liệt kê 7 điều không nên dùng binh. Các quan Trung, Vĩnh nói: "An Nam tuy loạn nhưng vẫn thường dâng biểu sớ, mang phương vật đến cửa quan cầu xin vào cống. Quan thủ thần vì thấy họ tên không khớp nên cự tuyệt. Ấy là họ muốn cống mà không được, chứ không phải cậy hiểm không cống." Sớ chuyển đến Binh bộ, cũng cho là phải, bèn lệnh đợi quan khám xét về mới bàn tiếp. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 16 (năm 1537), Lê Ninh (黎寧) ở An Nam phái người tố cáo trạng thái chiếm ngôi giết chúa của Đăng Dung, nói Ninh là con của Huệ, quốc nhân lập Ninh quyền chủ quốc sự. Năm ấy cha con Đăng Dung dâng biểu xin hàng.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 16 (năm 1537), Lê Ninh phái người trong nước là Trịnh Duy Liêu (鄭惟憭) đến kinh sư, trình bày chi tiết việc Đăng Dung chiếm ngôi giết chúa, nói Ninh là con Huệ. Huệ chết, quốc nhân lập Ninh làm Thế tôn, quyền chủ quốc sự. Nhiều lần gửi thư cho biên thần báo nạn đều bị Đăng Dung chặn giết. Xin hưng binh hỏi tội, trừ khử quốc tặc. Lúc ấy Nghiêm Tung (嚴嵩) chưởng bộ Lễ, cho là lời nói chưa thể tin hết, xin tạm giữ lại đợi quan khám xét về tâu báo. Vua nghe theo. Không lâu sau triệu bọn Phụng Nghi về, mệnh bộ Lễ, bộ Binh hội đình thần bàn bạc, liệt kê 10 đại tội của Đăng Dung, xin đại chấn oai trời, định ngày chinh phạt. Triệu Hữu đô ngự sử Mao Bá Ôn (毛伯溫) tại gia ra tham tán quân vụ. Mệnh Thị lang bộ Hộ Hồ Luyến (胡璉), Cao Công Thiều (高公韶) đi trước đến Vân, Quý, Lưỡng Quảng điều độ quân lương. Lấy Đô đốc thiêm sự Giang Hoàn (江桓), Ngưu Hoàn (牛桓) làm Tả hữu phó tổng binh, đốc quân chinh phạt. Đại tướng sẽ đợi mệnh sau. Binh bộ lại phụng chiếu điều hành 12 việc cơ yếu dùng binh, duy có Thị lang Phan Trân (潘珍) giữ ý không nên, dâng sớ can gián thiết tha. Đế giận, bãi chức Trân. Tổng đốc Lưỡng Quảng Phan Đán (潘旦) cũng dâng sớ xin dừng lệnh trước, nói: "Triều đình vừa dấy quân hỏi tội, Đăng Dung đã có sứ cầu cống, nên nhân đó mà hứa cho để quan sát biến chuyển, đợi nước ấy tự định đoạt." Nghiêm Tung, Trương Toản nhìn thấu ý vua, lực nói không thể tha, lại nói Lê Ninh ở Thanh Đô mưu khôi phục, mà Đán nói nước ấy đã định, dâng biểu cầu cống là quyết không thể hứa. Sớ của Đán bị gác lại. Tháng 5, Bá Ôn đến kinh, dâng 6 kế sách lược, cho rằng Đán không thể cùng làm việc, xin thay người. Vua ban chỉ khen ngợi. Đến khi Binh bộ nghị xong, ý vua bỗng thay đổi, cho rằng việc Lê Ninh thực giả chưa rõ, lệnh quan thủ thần 3 phương tùy nghi vỗ về hoặc tiễu phạt, các quan tham tán đốc lương tạm dừng điều động, lấy Trương Kinh (張經) thay Đán. Không lâu sau, Ngự sử Từ Cửu Cao (徐九皋), Cấp sự trung Tạ Đình Chủy (謝廷茝) nhân dịp tu tỉnh cũng xin bãi binh chinh Nam. Đến tháng 8, Tuần phủ Vân Nam Uông Văn Thịnh (汪文盛) bắt được gián điệp của Đăng Dung và nộp bản "Đại cáo" (大誥) giả do hắn soạn. Đế nổi giận, mệnh quan thủ thần tuân chiếu trước mà chinh phạt. Bấy giờ Văn Thịnh chiêu nạp cựu thần họ Lê là Vũ Văn Uyên (武文淵), có được bản đồ tiến binh, cho rằng Đăng Dung tất có thể phá, bèn dâng lên triều đình. Nhưng Án sát Quảng Đông Dư Quang (余光) nói: "Mạc chiếm ngôi Lê cũng như Lê chiếm ngôi Trần, không đáng tính kỹ. Chỉ nên trị tội không triều kiến, bắt xưng thần tu sửa triều cống, không cần viễn chinh làm mệt nhọc Trung Quốc. Thần đã phái sứ tuyên dụ, nếu hắn quy thuận nên nhân đó mà vỗ về." Đế trị tội Quang khinh suất, đoạt lộc 1 năm, nhưng lệnh tùy nghi vỗ về tiễu phạt. Văn Thịnh truyền hịch cho An Nam, nói Đăng Dung nếu biết trói mình về chịu mệnh, nộp bản đồ thì sẽ giữ cho không chết. Thế là cha con Đăng Dung phái sứ dâng biểu xin hàng, gửi tờ trình cho Văn Thịnh và Kiềm quốc công Mộc Triều Phụ (沐朝輔), thuật rõ họ Lê suy loạn, Trần Cảo phản nghịch, mình và Phương Doanh có công nên được quốc nhân quy phụ; đất đai có bấy nhiêu đã ghi trong "Nhất thống chí". Xin xá tội, tu sửa triều cống như cũ. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 19 (năm 1540), Đăng Dung đến cửa quân đầu hàng. Việc định xong, tâu lên. Hạ nước An Nam xuống thành An Nam đô thống sứ ty, phong Đăng Dung làm Đô thống sứ. Lại lệnh xác minh Lê Ninh là họ Lê thực hay giả.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 3 năm Gia Tĩnh thứ 17 (năm 1538), Triều Phụ tâu báo việc ấy, mà Lê Ninh theo chiếu trước, sợ Thiên triều nhận hàng, bèn nộp chi tiết bản mạt việc chiếm ngôi và số quân mã, đường tiến binh thủy bộ. Đều giao Binh bộ hội đình thần nghị, mọi người nói tội họ Lê (nhầm, ý nói họ Mạc) không thể xá, nên tiến quân ngay, xin lấy Hàm Ninh hầu Cừu Loan (仇鸞) làm Tổng đốc quân vụ, Bá Ôn vẫn làm Tham tán. Vua nghe theo. Trương Kinh tâu: "Đường tiến binh An Nam có 6 ngả, cần dùng 300.000 quân; lương 1 năm cần 1.600.000 (thạch), phí đóng thuyền, mua ngựa, chế khí giới, khao quân mất hơn 700.000 (lượng). Nếu binh đao không dứt trong vài tháng, phí tổn còn hơn thế. Huống hồ điều đại quân qua biển nóng, đấu với kẻ tự chiến trên đất nhà, lao nhọc và nhàn nhã thế khác nhau, không thể không xét kỹ." Sớ vừa dâng, Tri châu Khâm Châu Lâm Hy Nguyên (林希元) lại lực trần trạng thái Đăng Dung có thể đánh chiếm. Binh bộ không quyết được, lại xin đình nghị. Khi nghị xong, đại đa số đều là lời cũ đã tâu. Đế không vui nói: "Trẫm nghe khanh sĩ đại phu bàn riêng thảy đều bảo không nên hưng sư. Các ngươi giữ chức trị bang quốc mà không có chủ trương, thảy đều đẩy cho hội nghị. Đã không đồng lòng mưu quốc thì thôi việc của Loan và Bá Ôn đi." Tháng 2 năm thứ 18 (năm 1539) sách lập Hoàng thái tử, định ban chiếu cho An Nam, đặc khởi dụng Hoàng Quán (黃綰) làm Thượng thư bộ Lễ, Học sĩ Trương Trị (張治) làm phó sang sứ nước ấy. Lệnh vừa ban, Phương Doanh phái sứ dâng biểu hàng, nộp sổ sách đất đai hộ khẩu, nghe theo Thiên triều xử phân. Phàm có 53 phủ, 49 châu, 176 huyện. Đế nhận, giao bộ Lễ, bộ Binh nghị hiệp. Đến tháng 7, Quán vẫn chưa đi, vì trái ý vua nên bị bãi chức, sứ mệnh dừng lại. Ban đầu, nghị chinh phạt do Hạ Ngôn xướng ra. Đế đã trách Quán, nhân đó nổi giận nói: "Việc An Nam vốn một người xướng, muôn người theo, nay lại phao tin thượng cấp nghe lời mưu kế, cùng làm lời lơ là. Nước này nên bỏ hay nên phạt, phải có định nghị." Binh bộ tập nghị tâu lên. Toản và đình thần hoàng cụ, xin như chiếu trước, vẫn phái Loan, Bá Ôn nam chinh. Nếu cha con Đăng Dung trói mình về hàng, không có lòng khác thì giữ cho không chết. Vua nghe theo. Đăng Dung nghe tin đại hỷ. Năm thứ 19 (năm 1540), Bá Ôn đến Quảng Tây, truyền hịch dụ về ý nhận hàng xá tội. Bấy giờ Phương Doanh đã mất, Đăng Dung liền phái sứ xin hàng. Tháng 11, Đăng Dung dẫn cháu là Văn Minh (文明) cùng bộ mục 42 người vào cửa Trấn Nam Quan (鎮南關), tự trói mình, đi chân đất, quỳ lạy dập đầu, dâng biểu hàng trên đàn. Bá Ôn xưng chiếu xá tội. Lại đến cửa quân, quỳ lạy hai lạy, nộp sổ sách đất đai quân dân, xin theo chính sóc, đời đời làm phiên thần. Bá Ôn tuyên thị oai đức, lệnh về nước đợi mệnh, việc mới định xong. Tâu lên, đế đại hỷ, mệnh hạ nước An Nam xuống làm An Nam đô thống sứ ty (安南都統使司), phong Đăng Dung làm Đô thống sứ, trật tòng nhị phẩm, ấn bạc. Các chế độ tiếm xưng cũ thảy đều bãi bỏ, đổi 13 đạo thành 13 ty Tuyên phủ, mỗi nơi đặt Tuyên phủ, Đồng tri, Phó sứ, Thiêm sự, nghe theo Đô thống bổ bạt. Quảng Tây mỗi năm cấp 1.000 bản lịch "Đại Thống" (大統曆), vẫn 3 năm một cống làm thường lệ. Lại lệnh xác minh Lê Ninh thực giả, nếu quả là hậu duệ họ Lê thì cắt 4 phủ đang chiếm giữ để phụng thờ hương hỏa, nếu không thì thôi. Chỉ ban xuống, Đăng Dung run rẩy nhận mệnh. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 20 (năm 1541), đổi chức Đô thống sứ, lệnh cho Bố chính ty Quảng Tây mỗi năm in cấp 1.000 bản lịch "Đại Thống".''' *Theo "Minh hội điển" chép như vậy.'' '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 21 (năm 1542), lệnh cho Đô thống sứ vẫn chiếu theo lệ An Nam quốc vương mà cấp thưởng.''' *Theo "Minh hội điển" chép như vậy.'' '''Tháng 2 năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 22 (năm 1543), Đăng Dung chết, con Phương Doanh là Phúc Hải (福海) kế vị. Phái Tuyên phủ đồng tri Nguyễn Kính Điển (阮敬典 - nhầm, ý nói Nguyễn Kính và con là Nguyễn Kính Điển/Nguyễn Kính) đến triều kiến.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' *Theo "Minh hội điển":'' Năm Gia Tĩnh thứ 22 (năm 1543), người của An Nam đô thống sứ ty phái đến bị cắt giảm 1/3 khẩu phần (hạ trình) so với lệ cũ. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 25 (năm 1546), Đô thống sứ An Nam Phúc Hải (福海) chết, con là Hoành Dực (宏瀷) kế vị, phái sứ đến cống. Lễ quan vì thấy nước ấy nội loạn, chặn sứ giả không cho tiến kinh, lệnh quan thủ thần xác minh người xứng đáng được lập.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 5 năm Gia Tĩnh thứ 25 (năm 1546), Phúc Hải chết, con là Hoành Dực (宏瀷) kế vị. Ban đầu, Đăng Dung lấy người vùng Thạch Thất (石室) là Nguyễn Kính (阮敬) làm con nuôi, phong Tây Ninh hầu. Kính có con gái gả cho con thứ của Phương Doanh là Kính Điển (敬典), do đó thông với vợ của Phương Doanh là Vũ thị (武氏), được chuyên nắm binh quyền. Hoành Dực lên ngôi lúc mới 5 tuổi, Kính càng chuyên quyền. Con thứ của Đăng Dung là Chính Trung (正中), Văn Minh (文明) lánh đến Đồ Sơn (都齋), những người cùng lứa như Nguyễn Như Quế (阮如桂), Phạm Tử Nghi (范子儀) cũng lánh về điền viên. Kính cử binh bức bách Đồ Sơn, Chính Trung, Như Quế, Tử Nghi chống cự không thắng, Chính Trung và Văn Minh dẫn gia quyến chạy sang Khâm Châu (欽州), Tử Nghi thu tàn quân trốn ra Hải Đông. Kính dối xưng "Hoành Dực đã mất, đón lập Chính Trung" làm cớ, phạm vào Khâm Châu, bị Tham tướng Du Đại Du (俞大猷) đánh bại, bị giết. Khi Hoành Dực mới lập, phái sứ Lê Quang Bí (黎光賁) đến cống. Đến Nam Ninh (南寧), quan thủ thần tâu báo. Lễ quan vì nước loạn danh phận chưa định, chặn sứ giả không cho tiến, lệnh quan thủ thần xác minh người xứng đáng được lập. '''Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 30 (năm 1551), mệnh phong Hoành Dực (宏瀷) làm Đô thống sứ. Gặp lúc bộ hạ đến đánh, Hoành Dực chạy ra Hải Dương (海陽).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện":'' Năm Gia Tĩnh thứ 30 (năm 1551), việc sáng tỏ, mệnh phong Hoành Dực làm Đô thống sứ, đến cửa quan nhận điệp văn. Gặp lúc bộ mục Lê Bá Ly (黎伯驪) cùng thần tử của Lê Ninh là Trịnh Kiểm (鄭檢) hợp binh đến đánh. Hoành Dực chạy ra Hải Dương, không thể đến cửa quan. Bọn Quang Bí lưu lại Nam Ninh suốt 15 năm, người đi cùng chết mất quá nửa. Hoành Dực khẩn cầu quan thủ thần xin thay, chiếu cho phép vào kinh. Sắc phong Đô thống vẫn đợi Hoành Dực đến cửa quan mới cấp. '''Tháng 2 năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 43 (năm 1564), Hoành Dực (宏瀷) chết, con là Mậu Hợp (茂洽) kế vị.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 3 (năm 1575) đời Thần Tông (神宗), An Nam Đô thống sứ Mạc Mậu Hợp (莫茂洽) sai sứ tạ ơn. Bấy giờ, con của thần tử họ Lê là Trịnh Kiểm (鄭檢) tên là Tùng (松) lập Lê Duy Đàm (黎維潭), đời đời ở Thanh Hoa (清華), tự làm một nước.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Năm Vạn Lịch thứ 1 (năm 1573), thụ chức Đô thống sứ. Tháng 7 năm thứ 3 (năm 1575), sai sứ tạ ơn, mừng việc lên ngôi, tiến dâng phương vật và nộp bù lễ cống thiếu hụt của nhiều năm trước. Tuy nhiên bấy giờ họ Mạc dần suy, họ Lê hưng lại, thường xuyên đánh nhau, trong nước có nhiều biến cố. Ban đầu khi Lê Ninh (黎寧) chiếm giữ Thanh Hoa (清華), vẫn tiếm hiệu Đế, lấy năm Gia Tĩnh thứ 9 (năm 1530) làm năm Nguyên Hòa (元和) thứ 1. Ở được 4 năm, bị (Mạc) Đăng Dung đánh, phải chạy sang biên giới Chiêm Thành (占城). Người trong nước lập em là Hiến (憲), đổi niên hiệu là Quang Chiếu (光照). Tháng 6 năm thứ 15 (năm 1536), biết rõ nơi ở của Ninh, đón về Thanh Hoa, sau dời đến sông Tất Mã (漆馬江). Ninh chết, thần tử là Trịnh Kiểm (鄭檢) lập con Ninh là Sùng (寵). Sùng chết không có con, người trong nước cùng lập cháu 4 đời của Lê Huy (黎暉) là Duy Bang (維邦). Duy Bang chết, con của Kiểm là Tùng (松) lập con của Duy Bang là Duy Đàm (黎維潭), đời đời ở Thanh Hoa (清華), tự làm một nước. '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 4 (năm 1476), định chế độ ban thưởng cho sứ giả An Nam.''' *Theo "Minh hội điển" (明會典):'' Năm Vạn Lịch thứ 4 (năm 1476), lấy lễ tạ ơn và nộp cống bù làm lệ, ngoài lệ cũ thì thưởng thêm 4 bộ đoạn màu (thái đoạn), 2 tấm gấm. Các viên bồi thần đi sai phái, mỗi viên được 2 bộ đoạn màu, 1 xấp sa lụa (sa la), 1 bộ áo dệt kim bằng lụa thô (chữ ty y), 5 xấp quy đổi tiền mặt và lụa (sao quyến), 1 đôi ủng và tất, các phu dịch tùy bậc mà thưởng. '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 19 (năm 1591), (Lê) Duy Đàm (維潭) nước An Nam dần mạnh, cử binh đánh (Mạc) Mậu Hợp (茂洽). Mậu Hợp bại trận, chạy đến huyện Hỷ Lâm (喜林縣).''' *Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 (năm 1592), Trịnh Tùng (鄭松) lừa giết Mậu Hợp (茂洽), đoạt lấy ấn. Mạc Kính Dụng (莫敬用) cùng những người khác báo nạn, mà Lê Duy Đàm (黎維潭) cũng khấu quan (gõ cửa ải) xin thông sứ cầu cống.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Mùa đông năm Vạn Lịch thứ 20 (năm 1592), Tùng lừa người bản địa làm nội ứng, đánh úp giết chết Mậu Hợp, đoạt lấy ấn Đô thống sứ, thân đảng bị hại rất nhiều. Có người tên Mạc Đôn Nhượng (莫敦讓) chạy đến Phòng Thành (防城) báo nạn, Tổng đốc Trần Cừ (陳蕖) tâu lên. Không lâu sau, Tùng lại bắt được Đôn Nhượng, thế lực càng bành trướng. Con của Mậu Hợp là Kính Cung (敬恭) cùng người tông thất là Lý Tốn (履遜)... chạy sang châu Tư Lăng (思陵州) thuộc Quảng Tây, Mạc Lý Cơ (莫履機) chạy sang Khâm Châu (欽州). Duy có Mạc Kính Bang (莫敬邦) có quân hơn 10 vạn người, nổi lên ở đạo Kinh Bắc (京北道), đánh đuổi các quân của đảng họ Lê là Phạm Bạt Tụy (范拔萃), Phạm Bách Lộc (范百祿), Đôn Nhượng nhờ đó quay về được. Mọi người bèn suy tôn Kính Bang quyền giữ chức Đô thống (thự Đô thống), những người lưu lạc ở Tư Lăng, Khâm Châu thảy đều trở về. Chẳng bao lâu quân Lê đánh châu Nam Sách (南策州), Kính Bang bị giết, thế lực họ Mạc càng suy. Bấy giờ Kính Cung, Kính Dụng đóng quân ở Lạng Sơn (諒山), Cao Bình (高平); Kính Chương đóng ở Đông Hải (東海), Tân An (新安), vì sợ quân Lê truy sát nên trốn đến vùng biên giới Long Châu (龍州), Bằng Tường (憑祥). Họ lệnh cho Thổ quan liệt kê sự trạng cáo với quan đương sự, mà Duy Đàm (維潭) cũng đến cửa quan xin thông cống, đóng dấu bằng "Quốc vương kim ấn". '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 25 (năm 1597), phong Lê Duy Đàm (黎維潭) làm An Nam Đô thống sứ, còn bọn Mạc Kính Cung (莫敬恭) được cho phép cư ngụ tại một quận Cao Bình (高平).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Tháng 1 năm Vạn Lịch thứ 21 (năm 1593), Tuần phủ Quảng Tây Trần Đại Khoa (陳大科) tâu rằng: "Xứ man bang đổi họ như đánh cờ, không nên dựa vào việc họ phản hay phục nhau mà coi là thuận nghịch, chỉ nên dựa vào việc họ phản ta hay phục ta mà coi là thuận nghịch. Nay Duy Đàm tuy mưu khôi phục, nhưng Mậu Hợp vốn là ngoại thần của Thiên triều, sao có thể không xin mệnh mà tự ý giết đi? Trộm nghĩ cái tội tự ý dấy binh của họ Lê không thể không hỏi đến, mà sợi dây huyết thống còn sót lại của họ Mạc cũng không thể không bảo tồn. Nếu theo cố sự triều trước, nghe cho họ Lê nộp khoản (xin hàng) mà vẫn giữ lại họ Mạc, giống như vùng sông Tất Mã (漆馬江) xưa kia để không dứt sự thờ cúng, ấy là cái kế tiện lợi nhất." Đình nghị nghe theo lời đó. Tháng 7 năm thứ 22 (năm 1594), Đại Khoa đang phái quan đi xem xét, Kính Dụng liền sai sứ đến cửa quân báo nạn và xin binh. Mùa thu năm thứ 23 (năm 1595), Duy Đàm cũng sai sứ tạ tội cầu hòa. Bấy giờ Đại Khoa đã làm Tổng đốc Lưỡng Quảng, cùng Tuần phủ Quảng Tây Đái Diệu (戴燿) cùng giao việc này cho Tả Giang phó sứ Dương Dần Thu (楊寅秋). Dần Thu thầm tính rằng: "Không cự tuyệt Lê, cũng không bỏ rơi Mạc, kế của ta đã định." Bèn hai lần phái quan sang hỏi, báo lại rằng Kính Cung nguyện cư ngụ ở Cao Bình, mà sứ cầu hòa của Duy Đàm cũng mấy lần đến. Dần Thu bèn hẹn kỳ hạn với họ, báo lên Đốc, Phủ. Gặp lúc Kính Chương dẫn quân đến Vĩnh An (永安), bị quân họ Lê đánh bại, đất Đông Hải (東海), Tân An (新 An) thảy đều mất, vì thế việc nghị hòa càng quyết định. Tuy nhiên bấy giờ Duy Đàm mang danh khôi phục, không muốn tự coi mình như (Mạc) Đăng Dung, không có ý trói mình vào cửa quan. Dần Thu lại phái quan sang dụ, sứ giả đến báo đúng hẹn. Đến kỳ hạn, bỗng nói với quan giữ ải rằng: "Sĩ tốt đói bệnh, nghi lễ hòa hoãn chưa chuẩn bị kịp. Vả lại họ Mạc là kẻ thù của ta, cho họ ở Cao Bình thì ta chưa dám nghe mệnh." Rồi nhân đêm tối trốn đi. Đại Khoa tâu việc lên, nói rằng do thần tử Trịnh Tùng (鄭松) chuyên quyền gây ra. Không lâu sau Duy Đàm lại sai sứ gõ cửa quan, thanh minh mình không phải bỏ trốn. Đại Khoa lại phái quan sang dụ, Duy Đàm nghe mệnh. Tháng 1 năm thứ 25 (năm 1597), sai sứ xin hẹn kỳ hạn với Dần Thu, hẹn vào tháng 4. Đến hạn, Duy Đàm đến ngoài cửa quan, người thông dịch chất vấn 6 việc: Một là tự ý giết Mậu Hợp, đáp: "Báo thù gấp, không kịp xin mệnh"; hai là tông phái của Duy Đàm, đáp: "Là thế tôn vậy. Tổ phụ là Huy (黎暉) từng được Thiên triều ban mệnh"; ba là Trịnh Tùng, đáp: "Đây là thế thần của họ Lê, không phải kẻ làm loạn họ Lê. Vậy tại sao đêm tối bỏ trốn?", đáp: "Vì đồ lễ chưa cẩn mật chứ không phải trốn, tại sao dùng Vương chương?", đáp: "Tạm thời phỏng theo mà làm, nay hủy bỏ ngay." Duy có việc cắt Cao Bình cho họ Mạc ở là vẫn giằng co không quyết. Lại dụ rằng: "Đều là thần tử tiến cống cả. Họ Lê xưa kia còn có thể ở sông Tất Mã, họ Mạc sao lại không thể ở Cao Bình?". Bấy giờ Duy Đàm mới nghe mệnh, được truyền cho các nghi tiết tại cửa quan để luyện tập. Duy Đàm dẫn bộ hạ vào cửa quan, bái yết dưới màn trướng, mọi nghi thức đều y như lệ cũ của Đăng Dung. Khi lui ra bái yết Dần Thu, xin dùng lễ chủ khách, Dần Thu không theo, hành lễ 4 lạy rồi lui. An Nam lại định xong, chiếu ban thụ Duy Đàm chức Đô thống sứ, ban lịch, nhận cống, thảy đều theo lệ cũ của họ Mạc. Trước đây Lê Lợi và Đăng Dung khi dâng người vàng thế thân (đại thân kim nhân) đều để đầu trần, tay trói sau lưng. Duy Đàm vì mang danh khôi phục nên đứng độc lập nghiêm trang, quan đương sự ghét vẻ ngạo mạn đó, nay đổi mẫu chế thành dáng phủ phục, khắc trên lưng rằng: "Thế tôn họ Lê nước An Nam, thần Lê Duy Đàm, không được bò rạp cửa trời, kính dâng người vàng thế thân chuộc tội cầu ân." Từ đó An Nam lại thuộc về họ Lê, mà họ Mạc chỉ giữ một quận Cao Bình (高平). '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 27 (năm 1599), Lê Duy Đàm (黎維潭) chết, con là Duy Tân (維新) nối ngôi, Trịnh Tùng (鄭松) chuyên nắm quyền bính. Gặp lúc phản tặc Phan Ngạn (潘彥) gây loạn, Duy Tân cùng Tùng dời đi bảo vệ Thanh Hóa (清化).''' *Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" chép như vậy.'' '''Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 34 (năm 1606), phong Lê Duy Tân (維新) làm An Nam Đô thống sứ. Bấy giờ tông đảng họ Mạc vẫn xâm lấn biên cảnh. Chẳng bao lâu Duy Tân chết, con là Duy Kỳ (維祺) nối ngôi.''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Năm Vạn Lịch thứ 34 (năm 1606), sai sứ vào cống, mệnh thụ chức Đô thống sứ. Bấy giờ tông đảng họ Mạc phần lớn lẩn lút ở góc biển, thường tiếm xưng danh hiệu Công, Hầu, Bá, xâm lấn biên cảnh, Duy Tân cũng không thể chế ngự được. Quan thủ thần phát hịch tra hỏi, nhiều lần phát binh kẹp đánh. Tuy phá diệt kịp thời nhưng vùng biên phương chịu hại khá nhiều. Duy Tân chết, con là Duy Kỳ (維祺) nối ngôi. '''Năm Thiên Khải (天啟) thứ 4 (năm 1624) đời Hy Tông (熹宗), phát binh đánh Mạc Kính Khoan (莫敬寬), thắng được. Kính Khoan lại trốn vào Cao Bình (高平).''' *Theo "Minh ngoại sử – An Nam truyện" (明外史·安南傳):'' Năm Thiên Khải thứ 4 (năm 1624), phát binh đánh Mạc Kính Khoan, thắng được, giết con cả của hắn, bắt vợ thiếp và con nhỏ đem về. Kính Khoan cùng con thứ trốn vào trong núi, sau quay lại Cao Bình, thế lực càng yếu. Tuy nhiên cho đến hết thời Minh, hai họ (Lê - Mạc) vẫn chia nhau chiếm giữ, cuối cùng không thể quy về một mối. Có thuyết nói: "Đô hội An Nam tại Giao Châu (交州), tức là trị sở của Đô hộ phủ thời Đường. Cương vực phía Đông giáp biển, phía Tây tiếp giáp Lão Qua (老撾 - Lào), phía Nam qua biển là Chiêm Thành (占城), phía Bắc liền với Tư Minh (思明), Nam Ninh (南寧) của Quảng Tây và Lâm An (臨安), Nguyên Giang (元江) của Vân Nam. Đất đai màu mỡ, khí hậu nóng, lúa mỗi năm 2 vụ (nhị nẫm). Tính người hung hãn. Hai châu Hoan (驩), Diễn (演) có nhiều người văn học; hai châu Giao (交), Ái (愛) thì nhiều kẻ sĩ hào hiệp (tiếc đảng sĩ), so với các phương khác thì có phần đặc biệt hơn." ===Thanh=== '''Năm Thuận Trị (順治) thứ 18 (năm 1661) đời Thế Tổ Chương Hoàng đế (世祖章皇帝) triều Thanh.''' *Theo "Đại Thanh hội điển" (大清會典):'' Năm Thuận Trị thứ 18 (năm 1661), Tuần phủ Quảng Đông tâu rằng: An Nam quốc vương Lê Duy Kỳ (黎維祺) sai quan dâng biểu đầu thành (quy thuận). Bộ Lễ đề đạt và được chuẩn y, chiếu theo lệ của nước Lưu Cầu để ban cấp. Ban 1 đạo sắc dụ giao cho quan sai phái mang về nước. Đồng thời ban thưởng các vật phẩm như bạc, đoạn (lụa). '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 (năm 1663).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 2 (năm 1663), nước An Nam sai sứ tiến cống. Kỳ hạn tiến cống được định là 3 năm 1 lần. Lại có việc An Nam quốc vương Lê Duy Kỳ (黎維祺) bệnh qua đời, tự vương (vương nối ngôi) Lê Duy Hy (黎維禧) dâng sớ báo tang (cáo ai). '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 (năm 1464).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 3 (năm 1464), ơn ban bạc và lụa để dụ tế; phái quan của Nội viện và bộ Lễ mỗi bên 1 viên đi đến nước ấy đọc văn tế. '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 (năm 1665).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 4 (năm 1665), đề chuẩn việc tiến cống của nước An Nam, đường đi khởi đầu từ châu Bằng Tường (憑祥州) thuộc Quảng Tây để chuyển đi. '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 5 (năm 1666).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 5 (năm 1666), An Nam quốc vương nộp trả 1 đạo cáo mệnh ngụy (của vua Vĩnh Lịch nhà Nam Minh) và 1 quả ấn vàng. Bộ Lễ đề chuẩn việc ban cho phong điển (sách phong), triều cống như thường lệ. Phái quan của Nội viện và bộ Lễ mỗi bên 1 viên làm Chánh phó sứ sang phong vương. Lại đề chuẩn: "Việc An Nam quốc vương tặng bạc làm phí đi đường, lụa, vải... cho các quan phụng sứ, chỉ lệnh cho thu nhận (số định mức), các vật dư thừa khác thảy đều không chuẩn cho thu nhận." '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 (năm 1668).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 7 (năm 1668), An Nam quốc vương sai quan sang nộp tuế cống, dâng biểu tạ ơn, biểu sách phong, biểu tạ ơn ban tuất, biểu trình bày sự việc và xin khoản cống. Mỗi việc đều có sớ tấu riêng. Đồng thời xin đổi lệ "3 năm 1 cống" thành "6 năm 2 cống". Thánh chỉ chấp thuận cho thực hiện. Lại đề chuẩn: "Khi người nước An Nam về nước, phái 1 viên Tự ban thuộc Ty Tân khách đi kèm tiễn chân đến Quảng Tây, giao cho quan sai phái của Tuần phủ sở tại hộ tống ra khỏi biên cảnh." '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 13 (năm 1674).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 13 (năm 1674), An Nam quốc vương Lê Duy Hy (黎維禧) bệnh qua đời, tự vương là Lê Duy (黎維 - tức Lê Duy Trưng/Lê Hy Tông) dâng sớ báo tang. Sai bồi thần mang đến phương vật của các kỳ tuế cống năm Khang Hy thứ 8 và thứ 11. '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 21 (năm 1682).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 21 (năm 1682), tự vương nước An Nam là Lê Duy Trưng (黎維徵) sai bồi thần mang vật phẩm tạ ơn; lại sai bồi thần mang phương vật khoản cống; lại sai bồi thần mang phương vật tuế cống của năm Khang Hy thứ 14 và phương vật tuế cống của năm Khang Hy thứ 17. '''Năm Khang Hy (康熙) thứ 22 (năm 1683).''' *Theo "Đại Thanh hội điển":'' Năm Khang Hy thứ 22 (năm 1683). Khâm phái quan của Hàn lâm viện và bộ Lễ mỗi bên 1 viên đến ban ơn an ủi và tế lễ cho cố vương (vua đã mất) nước An Nam. Lại phái 2 viên quan Hàn lâm viện sang sách phong tự vương Lê Duy Trưng (黎維徵) làm An Nam quốc vương. Ban cho cáo mệnh, đồng thời đổi cấp cho ấn bạc mạ vàng mới đúc, núm hình lạc đà (đà nữu). Ngự bút viết 4 chữ "Trung hiếu thủ bang" (忠孝守邦 - Trung hiếu giữ nước) ban cho. Vật phẩm tiến cống cũ có: lụa trắng, hương giáng chân, hương bạch mộc, hương trung hắc tuyến, về sau thảy đều được miễn nộp. (Các vật phẩm chính còn lại): * 4 bộ lư hương và bình hoa bằng vàng. * 12 cái chậu bạc. * 960 lượng trầm hương. * 2.368 lượng tốc hương. * 20 chiếc ngà voi. * 20 bộ sừng tê giác. ==An Nam bộ vị khảo 6== Theo sách '''"Bác vật chí" (博物志)''' '''Nước ngoài (外國):''' Dân Giao Chỉ (交趾) ở phía Đông vùng Xuyên Hung (穿胸). Theo sách '''"Giao Châu ký" (交州記)''' '''Chuột tre (竹鼠):''' Chuột tre (竹鼠) to như con mèo nhỏ, ăn rễ tre. Sản sinh ở huyện Phong Khê (封溪縣). '''Guốc đi vàng (金踶屐):''' Triệu Ẩu (趙嫗 - tức Bà Triệu) là người con gái ở huyện Quân Yên (軍安縣), quận Cửu Chân (九真), vú dài mấy thước, không lấy chồng, vào núi tụ tập quân trộm cướp trong quận, thường đi guốc có mũi nạm vàng (kim cầm đề kịch). '''Cây Cổ Độ (古度樹):''' Cây Cổ Độ (古度) không hoa mà ra quả, quả mọc ra từ trong lớp vỏ, to như quả lựu (an thạch lựu), sắc đỏ, có thể ăn được. Trong quả ấy có thứ giống như trái bồ lê, lấy đó làm bánh tông, nếu mấy ngày không nấu thì đều hóa thành sâu, trông như kiến có cánh, đục vỏ bay ra, bám vào nhà đen kịt. '''Hạt Đa Cảm (多感子):''' Hạt Đa Cảm (多感子) màu vàng, vòng quanh rộng 1 tấc. '''Nước dừa (椰漿):''' Quả dừa có nước, cắt hoa rồi lấy ống tre hứng lấy nước ấy làm rượu, uống vào cũng say. '''Cây sam ở Hợp Phố (合浦杉):''' Cách phía Đông Hợp Phố (合浦) 200 dặm có 1 cây sam, lá rụng theo gió bay vào tận trong thành Lạc Dương (洛陽). Thời nhà Hán có người giỏi tướng số nói: "Điềm lành này báo hiệu bậc vương giả sắp xuất hiện". Vì thế (triều đình) sai 1.000 người đến chặt cây, dân phu chết nhiều, 300 người ngồi trên gốc cây bị đốn để ăn uống mà vẫn đủ chỗ chứa nhau. '''Lấy thịt trong đất làm canh (土肉為臛):''' Thái thú Cửu Chân (九真) là Đào Hoằng (陶璜) khi lập quận đắp thành, ở trong hầm đất tìm được 1 vật màu trắng hình dạng giống như nhộng tằm, không có đầu, dài mấy chục trượng, vòng thân to hơn 1 ôm, chuyển động mềm mại, không ai đặt tên được. Mổ bụng thấy có thịt như thịt lợn, bèn đem nấu canh, hương vị thơm ngon. Hoằng (璜) ăn 1 bát, rồi cả ba quân đều được ăn. '''Cà cuống nướng (炙黌):''' Cá Hoành (黌魚 - tức con cà cuống/con sam) hình dạng như con rùa, có 12 chân, trứng to như hạt vừng (ma tử), có thể làm mắm, sắc đen, chân giống chân cua mọc ở bụng, con cái cõng con đực mà đi, người phương Nam đem nướng lên ăn. Theo sách '''"Thủy kinh chú" (水經注)''' '''Sông Cân (斤江):''' Nước sông Cân (斤江) chảy ra từ huyện Long Biên (龍編縣), quận Giao Chỉ (交阯), về phía Đông Bắc đến huyện Lãnh Phương (領方縣), quận Uất Lâm (鬱林), rồi đổ về phía Đông vào sông Uất (鬱). Sách "Địa lý chí" (地理志) chép: "Chảy qua huyện Lâm Trần (臨塵縣) đến huyện Lãnh Phương (領方縣) rồi đổ vào sông Uất (鬱)". '''(Các dòng nước khác):''' Dung Dung (容容), Dạ (夜), Khâm Thừa (堪乘), Ngưu Chử (牛渚), Tu Vô (須無), Vô Nhu (無濡), Doanh (營), Tiến Hoàng (進皇), Vô Địa (無地), Linh (零), Xâm Lê (侵黎). Sông Xâm Lê (侵黎) chảy ra từ quận Tấn Hưng (晉興郡), Quảng Châu (廣州). Quận này được chia ra từ quận Uất Lâm (鬱林) vào thời Thái Khang (太康 - năm 280-289), chảy đến Lâm Trần (臨塵) thì nhập vào sông Uất (鬱). Các dòng Vô Hội (無會), Trọng Lại (重瀨), Phu Tỉnh (夫省), Vô Biến (無變), Do Bồ (由蒲), Vương Đô (王都), Dung Dũng (融勇)... ngoài ra thảy đều từ phía Tây quận Nhật Nam (日南郡) chảy về phía Đông rồi đổ ra biển. Sách "Hán Địa lý chí" chép: "Quận Nhật Nam (日南郡) có 16 dòng nước nhỏ, chảy song hành dài 3.280 dặm, thuộc Giao Châu (交州)". Những dòng nước như Vô Hội (無會) này chính là tên của 16 dòng nước đó. Nước Dung Dung (容容) ở dải phía Nam, các tên gọi thứ tự chuyển dần về phía Bắc. Phía bên phải là 30 dòng nước, tính từ phía Nam Trường Giang đến tận quận Nhật Nam (日南郡). '''NGUYÊN SỬ (元史)''' ''PHỤ LỤC QUẬN HUYỆN AN NAM (安南郡縣附錄)'' An Nam (安南), xưa là Giao Chỉ (交阯). Dấu tích về việc phản phục của họ Trần (陳氏) đã thấy ở "Bản truyện", nay lấy những thành ấp có thể ghi chép được, lục lại ở phía bên trái: '''Lộ Đại La Thành (大羅城路):''' Hán là quận Giao Chỉ (交阯郡). Đường đặt An Nam đô hộ phủ (安南都護府). Thời Tống, người trong quận là Lý Công Uẩn (李公蘊) lập quốc tại đây. Đến khi họ Trần (陳氏) lập lên, lấy đất thuộc đó đặt làm các phủ Long Hưng (龍興), Thiên Trường (天長), Trường Yên (長安). * '''Phủ Long Hưng (龍興府):''' Vốn là hương Đa Cương (多岡鄉). Họ Trần có nước, đặt làm phủ Long Hưng. * '''Phủ Thiên Trường (天長府):''' Vốn là hương Đa Mặc (多墨鄉), là nơi sinh ra tổ phụ của họ Trần, xây hành cung tại đây, mỗi năm đến 1 lần để tỏ rõ không quên gốc gác, nên đổi tên gọi là Thiên Trường. * '''Phủ Trường Yên (長安府):''' Vốn là động Hoa Lư (華閭洞), là nơi sinh ra Đinh Bộ Lĩnh (丁部領). Cuối thời Ngũ Đại, Bộ Lĩnh lập quốc tại đây. '''Lộ Quy Hóa Giang (歸化江路):''' Đất tiếp giáp Vân Nam (雲南). '''Lộ Tuyên Hóa Giang (宣化江路):''' Đất tiếp giáp đạo Đặc Ma (特磨道). '''Lộ Đà Giang (沱江路):''' Đất tiếp giáp Kim Sỉ (金齒). '''Lộ Lạng Châu Giang (諒州江路):''' Đất tiếp giáp hai giang Tả, Hữu (左右兩江). '''Lộ Bắc Giang (北江路):''' Ở bờ Đông La Thành (羅城), nước sông Lô (瀘江) chia dòng chảy vào Bắc Giang. Sông có 6 chiếc cầu. Như các lộ Nguyệt Giang (如月江路), lộ Nam Sách Giang (南冊江路), lộ Đại Hoàng Giang (大黃江路), lộ Hồng (烘路), lộ Khoái (快路). '''Châu Quốc Oai (國威州):''' Ở phía Nam La Thành (羅城). Các châu từ đây trở xuống phần lớn tiếp giáp giới hạn Vân Nam (雲南), Quảng Tây (廣西), tuy danh nghĩa là châu nhưng thực chất là động. * '''Châu Cổ (古州):''' Ở Bắc Giang (北江). * '''Châu Tiên (仙州).''' * '''Cổ Long Biên (古龍編).''' * '''Phú Lương (富良).''' * '''Tư Nông (司農):''' Một tên gọi là Dương Xá (楊舍). * '''Định Biên (定邊):''' Một tên gọi là Minh Mị (明媚). * '''Vạn Nhai (萬涯):''' Một tên gọi là Minh Hoàng (明黃). * '''Văn Chu (文周):''' Một tên gọi là châu Môn (門州). * '''Thất Nguyên (七源).''' * '''Tư Lãng (思浪).''' * '''Thái Nguyên (大原):''' Một tên gọi là Hoàng Nguyên (黃源). * '''Thông Nông (通農).''' * '''La Thuận (羅順):''' Một tên gọi là Lai Thần (來神). * '''Lương Xá (梁舍):''' Một tên gọi là Lương Cá (梁個). * '''Bình Nguyên (平源).''' * '''Quang Châu (光州):''' Một tên gọi là Minh Tô (明蘇). * '''Vị Long (渭龍):''' Một tên gọi là Ất Xá (乙舍). * '''Đạo Hoàng (道黃):''' Tức là trường Bình Lâm (平林場). '''Vũ Ninh (武寧):''' Các huyện từ đây trở xuống tiếp giáp giới hạn Vân Nam (雲南), Quảng Tây (廣西), tuy danh nghĩa là huyện nhưng thực chất là động. Vạn Tải (萬載), Khâu (丘), Ôn (溫), Tân Lập (新立), huyện Hoảng (恍縣), huyện Chỉ (紙縣), huyện Lịch (歷縣), Lan Kiều (闌橋), Ô Diên (烏延), Cổ Dũng (古勇), huyện Cung (供縣), huyện Khuất (窟縣), huyện Thượng Pha Môn (上坡門縣). '''Lộ Phủ Thanh Hóa (清化府路):''' Hán là Cửu Chân (九真), Tùy và Đường là Ái Châu (愛州), các ấp thuộc đó đổi tên gọi là Giang (江), là Trường (場), là Giáp (甲), là Xã (社). Lương Giang (梁江), sông Ba Long (波龍江), sông Cổ Nông (古農江), sông Tống Xá (宋舍江), Trà Giang (茶江), sông An Tiêm (安暹江), trường Phân (分場), trường Cổ Văn (古文場), giáp Cổ Đằng (古藤甲), giáp Chi Minh (支明甲), giáp Cổ Hoằng (古弘甲), giáp Cổ Chiến (古戰甲), Duyên Giáp (緣甲). '''Lộ Phủ Nghệ An (乂安府路):''' Hán gọi là Nam Tùy (南隋). Đường là Hoan Châu (驩州). Sông Bội (倍江), sông Ác (惡江), sông Kệ (偈江), xã Thượng Lộ (尚路社), xã Đường Xá (唐舍社), xã Trương Xá (張舍社). '''Lộ Diễn Châu (演州路):''' Vốn là huyện thuộc Nhật Nam (日南), gọi là Phù Diễn (扶演), An Nhân (安仁). Đường đổi làm Diễn Châu (演州). Sông Hiếu (孝江), trường Đa Bích (多壁場), xã Cự Lại (巨賴社), xã Tha Viên (他袁社). '''Lộ Bố Chính Phủ (布政府路):''' Vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣) quận Nhật Nam (日南郡). Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp Chân Lạp (真蠟), phía Nam giáp Phù Nam (扶南), phía Bắc liền với Cửu Đức (九德). Cuối thời Đông Hán, Khu Liên (區連) giết huyện lệnh Tượng Lâm, tự lập quốc, xưng là Lâm Ấp (林邑). Thời Đường có Hoàn Vương (環王), dời nước đến Chiêm (占), gọi là Chiêm Thành (占城). Bố Chính (布政) nay là đất cũ của Lâm Ấp. Từ Đại La Thành (大羅城) của An Nam đến Yến Kinh (燕京) khoảng 115 trạm dịch, tính ra hơn 7.700 dặm. '''Dân biên thùy phục dịch (邊氓服役):''' Chiêm Thành (占城), Vương Cầm (王琴), Bồ Già (蒲伽), Đạo Lãm (道覽), Lục Hoài (淥淮), Nhẫm Bà La (稔婆邏), Lão (獠). '''MINH NHẤT THỐNG CHÍ (明一統志)''' ''KHẢO VỀ QUẬN HUYỆN NƯỚC AN NAM (安南國郡縣考)'' '''Phủ Giao Châu (交州府):''' Lãnh 5 châu là Từ (慈), Liêm (廉), Phúc An (福安), Uy Man (威蠻), Lợi Nhân (利仁) và Tam Đái (三帶). Cùng với 13 huyện: Đông Quan (東關), Từ Liêm (慈廉), Thạch Thất (石室), Phù Lưu (芙蒥), Thanh Đàm (清潭), Thanh Oai (清威), Ứng Bình (應平), Bình Lục (平陸), Lợi Nhân (利仁), An Lãng (安朗), An Lạc (安樂), Phù Ninh (扶寧), Lập Thạch (立石). '''Phủ Bắc Giang (北江府):''' Lãnh 3 châu là Gia Lâm (嘉林), Vũ Ninh (武寧), Bắc Giang (北江). Cùng với 7 huyện: Gia Lâm (嘉林), Siêu Loại (超類), Tế Giang (細江), Thiện Tài (善才), Đông Ngạn (東岸), Từ Sơn (慈山), Thiện Thề (善誓). '''Phủ Lạng Giang (諒江府):''' Lãnh 2 châu là Lạng Giang (諒江), Thượng Hồng (上洪). Cùng với 10 huyện: Thanh Viễn (清遠), Na Ngạn (那岸), Bình Hà (平河), Phượng Sơn (鳳山), Lục Na (陸那), An Ninh (安寧), Bảo Lộc (保祿), Cổ Lũng (古隴), Đường An (唐安), Đa Cẩm (多錦). '''Phủ Lạng Sơn (諒山府):''' Lãnh 7 châu là Thượng Văn (上文), Hạ Văn (下文), Thất Nguyên (七源), Vạn Nhai (萬涯), Quảng Nguyên (廣源), Thượng Tư (上思), Hạ Tư (下思). Cùng với 5 huyện: Khâu Ôn (丘溫), Trấn Di (鎮夷), Uyên (淵), Đan Ba (丹巴), Thoát (脫). '''Phủ Tân An (新安府):''' Lãnh 4 châu là Đông Triều (東潮), Tĩnh An (靖安), Nam Sách (南策), Hạ Hồng (下洪). Cùng với 13 huyện: Chí Linh (至靈), Giáp Sơn (峽山), Cổ Phí (古費), An Lão (安老), Thủy Đường (水棠), Chi Phong (支封), Tân An (新安), An Hòa (安和), Đồng Lợi (同利), Vạn Ninh (萬寧), Vân Đồn (雲屯), Tứ Kỳ (四岐), Thanh Miện (清沔). '''Phủ Kiến Xương (建昌府):''' Lãnh châu Khoái (快州) và 6 huyện: Kiến Xương (建昌), Bố (布), Chân Lợi (真利), Đông Kết (東結), Phù Dung (芙蓉), Vĩnh Hợp (永涸). '''Phủ Trấn Man (鎮蠻府):''' Lãnh 4 huyện: Đình Hà (廷河), Thái Bình (太平), Cổ Lan (古蘭), Đa Dực (多翼). '''Phủ Phụng Hóa (奉化府):''' Lãnh 4 huyện: Mỹ Lộc (Mỹ Lộc), Tây Chân (西真), Giao Thủy (膠水), Thuận Vi (順為). '''Phủ Kiến Bình (建平府):''' Lãnh 1 châu Trường Yên (長安). Cùng với 6 huyện: Ý Yên (懿安), Đại Vịnh (大灣), An Bản (安本), Vọng Doanh (望瀛), An Ninh (安寧), Lê Bình (黎平). '''Phủ Tam Giang (三江府):''' Lãnh 3 châu là Thao Giang (洮江), Tuyên Giang (宣江), Đà Giang (沱江). Cùng với 5 huyện: Ma Khê (麻溪), Hạ Hoa (夏華), Thanh Ba (清波), Tây Lan (西闌), Cổ Nông (古農). '''Phủ Tuyên Hóa (宣化府):''' Lãnh 9 huyện: Khoáng (曠), Đương Đạo (當道), Văn An (文安), Bình Nguyên (平原), Đáy Giang (底江), Thu Vật (收物), Đại Man (大蠻), Dương (楊), Ất (乙). '''Phủ Thái Nguyên (太原府):''' Lãnh 11 huyện: Phú Lương (富良), Tư Nông (司農), Vũ Lễ (武禮), Động Hỷ (洞喜), Vĩnh Thông (永通), Tuyên Hóa (宣化), Lộng Thạch (弄石), Đại Từ (大慈), Định Hóa (安定), Cảm Hóa (感化), Thái Nguyên (太原). '''Phủ Thanh Hóa (清化府):''' Lãnh 4 châu là Cửu Chân (九真), Ái Châu (愛州), Thanh Hóa (清化), Quỳ Châu (葵州). Cùng với 11 huyện: Yên Định (安定), Vĩnh Ninh (永寧), Cổ Đằng (古藤), Lương Giang (梁江), Đông Sơn (東山), Cổ Lôi (古雷), Nông Cống (農貢), Tống Giang (宋江), Nga Lạc (俄樂), Lỗi Giang (磊江), An Lạc (安樂). '''Phủ Nghệ An (乂安府):''' Lãnh 4 châu là Hoan Châu (驩州), Nam Tĩnh (南靖), Trà Lung (茶籠), Ngọc Ma (王麻). Cùng với 13 huyện: Nha Nghi (衙儀), Hữu La (友羅), Phi Lộc (丕祿), Thượng Dầu (上油), Kệ Giang (偈江), Chân Phúc (真福), Cổ Xã (古社), Thượng Hoàng (上黃), Đông Ngạn (東岸), Thạch Đường (石塘), Kỳ La (奇羅), Bàn Thạch (盤石), Hà Hoa (河華). '''Phủ Tân Bình (新平府):''' Lãnh 2 châu là Chính Bình (政平), Nam Linh (南靈). Cùng với 3 huyện: Nha Nghi (衙儀), Phúc Khang (福康), Tả Bình (左平). '''Phủ Thuận Hóa (順化府):''' Lãnh 2 châu Thuận (順) và Hóa (化). Cùng với 11 huyện: Lợi Điều (利調), Thạch Lan (石蘭), Ba Lạng (巴閬), An Nhân (安仁), Trà褐 (茶褐), Lợi Bồng (利蓬), Sạ Lệnh (乍令), Tư Dung (思蓉), Bồ Đài (蒲苔), Bồ Lãng (蒲浪), Sĩ Vinh (士榮). '''Phủ Thăng Hoa (升華府):''' Lãnh 4 châu là Thăng (升), Hoa (華), Tư (思), Nghĩa (義). Cùng với 11 huyện: Lê (黎), Giang (江), Đô Hòa (都和), An Bị (安備), Vạn An (萬安), Cụ Hy (具熙), Lễ (禮), Đệ (悌), Trì (持), Dương (羊), Bạch Ô (白烏). (Nguyên văn liệt kê thêm: Nghĩa (義), Thuần (純), Nga (鵝), Bôi Khê Cẩm (杯溪錦)). '''Châu Quảng Oai (廣威州):''' Lãnh 2 huyện: Ma Lũng (麻籠), Mỹ Lương (美良). '''Châu Gia Hưng (嘉興州):''' Lãnh 4 huyện: Lung (籠), Mông (蒙), 4 châu Mường (忙 - Mang). '''Châu Quy Hóa (歸化州):''' Lãnh 4 huyện: An Lập (安立), Trượng Bàn (丈盤), Văn Chấn (文振), Thủy Vĩ (水尾). '''Châu Tuyên Hóa (宣化州):''' Lãnh 3 huyện: Xích Thổ (赤土), Xa Lai (車來), Khôi (瑰). '''Châu Diễn (演州):''' Lãnh 3 huyện: Quỳnh Lâm (瓊林), Trà Thanh (茶清), Phù Lưu (芙蒥). ''KHẢO VỀ NÚI SÔNG NƯỚC AN NAM (安南國山川考)'' '''Núi Phật Tích (佛跡山):''' Ở huyện Thạch Thất (石室縣), phủ Giao Châu (交州府), trên núi có dấu chân người khổng lồ, dưới núi có ao, cảnh vật thanh lệ, là thắng cảnh một phương. '''Núi Câu Lậu (勾漏山):''' Ở huyện Thạch Thất (石室縣), tương truyền huyện Câu Lậu cổ nằm ở dưới núi này. Sách ''Hán thư'' chép: "Huyện Câu Lậu có trâu nước ngầm, lên bờ cùng đấu, sừng mềm, khi về lại hiện ra như cũ". '''Núi Đông Cứu (東究山):''' Ở châu Gia Lâm (嘉林州), phủ Bắc Giang (北江府), một tên gọi là núi Đông Cao (東皋山). Thời Đường, Thứ sử Cao Biền (高駢) xây tháp trên đỉnh núi. '''Núi Tiên Du (仙遊山):''' Ở huyện Vũ Ninh (武寧縣), phủ Bắc Giang (北江府), một tên gọi là núi Lạn Kha (爛柯山). Tương truyền có người tiều phu xem 2 vị tiên đánh cờ tại đây, không ngờ cán rìu (kha) đã mục nát (lạn). '''Núi Kim Ngưu (金牛山):''' Ở huyện Vũ Ninh (武寧縣). Tương truyền thời Đường, Thứ sử Cao Biền muốn đào núi này, thấy trâu vàng (kim ngưu) chạy ra, bèn thôi. Sách ''Hán thư'' chép: "Huyện Cư Phong, quận Cửu Chân có núi hiện trâu vàng, thường thấy vào ban đêm, ánh sáng rực rỡ 10 dặm". '''Côn Sơn (崑山):''' Ở huyện Phượng Sơn (鳳山縣), phủ Lạng Giang (諒江府), trên núi có động Thanh Hư (清虛洞), sườn núi có cầu Lại Ngọc (瀨玉橋), chùa Bạch Vân (白雲菴), là nơi rừng núi u thắng. '''Núi Khâu Pha (丘皤山):''' Ở huyện Đan Ba (丹巴縣), phủ Lạng Giang (諒江府), trên núi có cửa đá rộng 3 trượng, tương truyền do Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) nhà Hán đục thông. '''Núi Yên Tử (安子山):''' Ở huyện Đông Triều (東潮縣), phủ Tân An (新安府), một tên gọi là núi Tượng (象山), là nơi An Kỳ Sinh (安期生) thời Hán đắc đạo. Sách ''Hải Nhạc danh sơn đồ'' thời Tống xếp núi này là phúc địa thứ 4. '''Núi Vân Đồn (雲屯山):''' Trong biển lớn thuộc huyện Vân Đồn (雲屯縣), phủ Tân An (新安府), 2 ngọn núi đối nhau, ở giữa có dòng nước thông suốt, thuyền buôn các nước thường tụ hội ở đây. '''Núi Đại Viên (大圓山):''' Ngọn núi tròn nổi lên giữa biển lớn thuộc huyện Tân An (新安府), phủ Tân An. Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418), núi này bắt được 2 con voi trắng đem tiến cống. '''Núi Phượng Dực (鳳翼山):''' Ở huyện Hạ Hoa (夏華縣), phủ Tam Giang (三江府), người trong vùng thường đến leo núi ngắm cảnh vào các dịp lễ tiết. '''Núi Tam Đảo (三島山):''' Ở huyện Dương (楊縣), phủ Tuyên Hóa (宣化府), 3 ngọn núi vọt lên đặc biệt. '''Núi Hoàn (芄山):''' Ở huyện Mỹ Thạch (美石縣), phủ Thái Nguyên (太原府), dưới có hang động, nước chảy xuyên qua động, có thể đi thuyền. '''Núi Lũng (隴山):''' Ở huyện Động Hỷ (洞喜縣), phủ Thái Nguyên (太原府), 4 mặt là vách đá dựng đứng, bên trong có xóm làng. '''Núi Hí Mã (戲馬山):''' Ở huyện Vĩnh Ninh (永寧縣), phủ Thanh Hóa (清化府), một tên gọi là núi Du Anh (遊英山), đứng sừng sững độc lập, nằm ngang bên sông lớn, là nơi người trong vùng lên cao ngắm cảnh vào ngày mồng 9 (Tết Trùng Cửu). '''Núi An Hoạch (安鑊山):''' Ở huyện Đông Sơn (東山縣), phủ Thanh Hóa (清化府), sản sinh đá đẹp. Thái thú Dự Chương thời Hán là Phạm Ninh (范甯) từng sai lại dịch đến đây lấy đá làm khánh. '''Núi Thiên Cầm (天琴山):''' Ở ven biển Đông thuộc huyện Kỳ La (奇羅縣), phủ Nghệ An (乂安府). Tương truyền vua nhà Trần dạo chơi đây, đêm nghe tiếng nhạc trời (thiên lân), nên đặt tên như vậy. Đầu thời Vĩnh Lạc triều ta, thiên binh bắt được con giặc Lê là Thương (蒼) tại đây. '''Hoành Sơn (橫山):''' Ở huyện Hà Hoa (河華縣), phủ Nghệ An (乂安府). Xưa nước Lâm Ấp tâu với Thứ sử Giao Châu là Chu Phiên (朱蕃), xin lấy Hoành Sơn ở cõi Bắc quận Nhật Nam làm ranh giới, chính là núi này. '''Núi Tản Viên (傘圓山):''' Ở châu Gia Hưng (嘉興州), thế núi cao vút hùng vĩ. '''Núi Ngải (艾山):''' Ở huyện Mông (蒙縣), châu Gia Hưng (嘉興州), nhìn ra sông lớn, đá dốc bao quanh, dấu chân người khó đến. Tương truyền "trên có ngải tiên, mỗi mùa xuân nở hoa, sau mưa trôi xuống nước, đàn cá nuốt vào, liền vượt sông Long Môn hóa thành rồng". '''Biển (海):''' Bao quanh phía Đông Nam các phủ Giao Châu. Thơ ''Độ hải'' của Thẩm Thuyên Kỳ (沈佺期) thời Đường có câu: "Thường nghe quận Giao Chỉ, Nam liền với Quán Hung. Bốn mùa ít lạnh lẽo, Ba sáng ánh mặt trời lệch. Người Việt dâng chim trịch, Tướng Hán ngắm diều hâu. Bắc Đẩu treo núi cao, Gió Nam kéo biển lớn. Ly biệt trăng mấy độ, Tóc mai giục năm canh. Chớ nói lệ đổ thành, Lòng sáng thấu trời xanh". '''Sông Phú Lương (富良江):''' Ở huyện Đông Quan (東關縣), phủ Giao Châu (交州府), một tên gọi là sông Lô (瀘江), phía trên tiếp giáp sông Bạch Hạc (白鶴江) ở châu Tam Đái (三帶州), chảy qua phía Đông phủ thành, phía dưới thông với huyện Lợi Nhân (利仁縣), sông Đại Hoàng (大黃江) để ra biển. Quách Quỳ (郭逵) nhà Tống phá quân Man, phá ải Quyết Lý, dừng quân ở sông Phú Lương. Triều ta có Trương Phụ (張輔) từng phá giặc Lê ở chỗ này. '''Sông Thiên Đức (天德江):''' Một tên gọi là sông Đình Uẩn (廷蘊江), lại có tên là sông Đông Ngạn (東岸江). Đầu thời Vĩnh Lạc, giặc Lê sợ bị thảo phạt nên đã bắt dân lấp tắc từ lâu. Sau khi thiên binh bình định giặc, đã cho khơi thông lại, thuyền bè qua lại như cũ. '''Sông Lai Tô (來蘇江):''' Tên cũ là sông Tô Lịch (蘇歷江), từ phía Đông Bắc phủ thành Giao Châu chuyển hướng chảy xuống phía Tây, thông thẳng tới sông Nhuệ (銳江). Xưa có người tên là Tô Lịch (蘇歷) khai ngòi này, nên đặt tên vậy. Đầu thời Vĩnh Lạc triều ta, Thượng thư bộ Công là Hoàng Phúc (黃福) khơi lại, vì vương sư đến đánh kẻ có tội cứu dân nên đổi tên là Lai Tô. '''Sông Tuyên Quang (宣光江):''' Ở huyện Khoáng (曠縣), phủ Tuyên Hóa (宣化府), nguồn từ Ty Giáo hóa trưởng quan (教化長官司) tỉnh Vân Nam nhập vào biên giới, chảy hơn 700 dặm để đạt đến sông Tuyên Hóa. Đầu thời Vĩnh Lạc, Mộc Thạnh (沐晟) dẫn quân từ Vân Nam về trú đóng ở đây. '''Sông Hải Triều (海潮江):''' Ở châu Khoái (快州), phủ Kiến Xương (建昌府), chia dòng từ sông A Lỗ (阿魯江), phía dưới thông với sông Ngọc Cầu (玉球江). Là nơi xưa nhà Trần phá quân Chiêm Thành. '''Sông Long Môn (龍門江):''' Ở huyện Mông (蒙縣), châu Gia Hưng (嘉興州). Sách ''Hán thư'' chép "Huyện Phong Khê có đê phòng", nước Long Môn chính là ở đây. Nguồn chảy từ châu Ninh Viễn (寧遠州) tỉnh Vân Nam, đến đây dòng sông chảy ngang, ở giữa chia làm 3 đạo thác bay, tiếng vang 100 dặm. Thuyền qua đây tất phải khiêng lên cạn mới đi tiếp được. Bên cạnh có hang, sản sinh nhiều cá anh vũ (鸚鵡魚), sắc xanh lục, mỏ cong và đỏ như mỏ vẹt. Tương truyền cá này có thể hóa rồng. '''Dạ Trạch (夜澤):''' Ở huyện Đông Kết (東結縣), phủ Kiến Xương (建昌府). Thời Lương Vũ Đế có Nguyễn Bí (阮賁) là hào hữu đời đời, đế sai Trần Bá Tiên (陳霸先) đánh phá. Bí trốn vào đầm (trạch), đêm (dạ) ra cướp phá, nên gọi là Dạ Trạch. '''Long Khê (龍溪):''' Ở huyện Đình Hà (廷河縣), phủ Trấn Man (鎮蠻府). Xưa nhà Trần đi đêm qua sông này không sang được, bỗng thấy một cây cầu bắc ngang sông, sau khi sang rồi ngoảnh lại không thấy đâu, đến khi có nước bèn đổi tên là Long Khê. '''Kênh Thiên Uy (天威涇):''' Thời Đường, Cao Biền cho rằng từ Giao Châu đến Ung Xuyên mặt biển nhiều đá ngầm, vận tải đường thủy không thông, bèn đào mở 5 đạo. Có kênh Thanh Thạch (青石涇), truyền rằng Mã Viện nhà Hán cũng không trị nổi, sau đó sét đánh vỡ nát đá, thuyền bè liền thông được, nên đặt tên là kênh Thiên Uy. '''Bến Đông Tân (東津渡):''' Ở huyện Đông Quan (東關縣), phủ Giao Châu (交州府). Sông Lô xưa đi lại bằng thuyền hay bị gió sóng cản trở. Đầu thời Vĩnh Lạc, Trương Phụ (張輔), Mộc Thạnh (沐晟) bắt đầu đặt cầu phao, mỗi năm thay 1 lần. ''KHẢO VỀ CỔ TÍCH NƯỚC AN NAM (安南國古蹟考)'' '''Thành Việt Vương (越王城):''' Ở huyện Đông Ngạn (東岸縣), phủ Nghệ An (乂安府) (có lẽ là sự nhầm lẫn địa lý trong văn bản gốc, vì thành này thường ở Bắc Ninh/Hà Nội), còn tên là Loa Thành (螺城) vì hình dáng uốn lượn như ốc loa, do An Dương Vương (安陽王) thời Hán xây dựng. An Dương Vương đóng đô cũ tại đất Việt, nên gọi là thành Việt Vương, dấu vết cung điện trong thành vẫn còn. '''Thành Tỉ (璽城).''' '''Thành Vọng Hải (望海城):''' Đều ở huyện An Minh (安明縣), phủ Giao Châu (交州府). Giữa thời Kiến Vũ nhà Hán, Mã Viện bình Giao Chỉ, chia đặt 2 huyện Phong Khê (封溪), Vọng Hải (望海), xây 2 thành này để trấn giữ. '''Thành Đại La (大羅城):''' Ở ngoài thành phủ Giao Châu. Quận Giao Chỉ thời Hán và An Nam đô hộ phủ thời Đường đều ở đây. Thành do Trương Bá Nghi (張伯儀) thời Đường xây dựng, Cao Biền (高駢) từng tu sửa mở rộng. Thời Tống, Lý Công Uẩn (李公蘊) lập quốc tại đây. '''Cung Lạc Vương (雒王宮):''' Ở châu Tam Đái (三帶州), phủ Giao Châu, thời chưa có quận huyện. Khi ấy có ruộng Lạc (雒田) theo nước triều lên xuống, người khẩn ruộng đó là dân Lạc (雒民), người cai quản dân đó là vua Lạc (雒王), người giúp việc là tướng Lạc (雒將), đều có ấn đồng dải xanh, hiệu là nước Văn Lang (文朗國). Lấy thuần phác làm tục, lấy thắt nút dây để cai trị. Truyền được 18 đời, bị con vua Thục là Phán (泮) diệt, nền cung điện vẫn còn. '''Sứ quán Thiên Sứ (天使館):''' Thời Nguyên, Phó Dữ Lệ (傅與礪) đi sứ An Nam có đề thơ rằng: "Cờ sứ vào quán mây xanh động, Lọng tiên ven sông mặt trời quay. Dụ Thục há phiền hịch Tư Mã, Triều Chu cuối thấy Việt Thường lai". '''Lãng Bạc (浪泊):''' Ở huyện Đông Quan (東關縣), phủ Giao Châu (交州府), một tên gọi là Tây Hồ (西湖). Mã Viện sau khi bình Giao Chỉ nói với quan thuộc rằng: "Em ta là Thiếu Du thường thương ta khảng khái có chí lớn, than rằng: 'Kẻ sĩ sinh ra một đời, chỉ cần có áo ăn, đủ làm chân lại quận huyện, giữ mồ mả, khiến xóm làng khen là người thiện là đủ rồi, còn cầu dư thừa chỉ tự làm khổ mình thôi'. Ta ở giữa khoảng Lãng Bạc, Tây Lý, lúc giặc chưa diệt, dưới nước lụt trên sương mù, khí độc xông lên, ngẩng nhìn diều hâu đang bay bỗng rơi xuống nước. Nghĩ đến lời Thiếu Du, sao mà có được!". '''Cột đồng (銅柱):''' Mã Viện nhà Hán sau khi bình Giao Chỉ, lập cột đồng làm giới hạn nhà Hán, tương truyền ở trên động Cổ Sâm (古森洞), quận Khâm Châu (欽州), trên có lời thề của Viện rằng: "Cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt". Thời Đường, Mã Tổng (馬總) lại dựng 2 cột đồng, khắc công đức nhà Đường để tỏ rõ mình là dòng dõi Phục Ba, nay chưa rõ ở đâu. Phía Tây quận Nhật Nam có nước Tây Thù Di (西屠夷國), Viện từng qua đất đó, cũng trồng 2 cột đồng làm mốc giới nhà Hán. Khi về Bắc, lưu lại hơn 10 hộ ở dưới cột, đến thời Tùy có hơn 300 hộ, thảy đều họ Mã. Theo sách ''Lâm Ấp ký'': Cửa Đại Phố nước Lâm Ấp có 5 cột đồng. Giữa thời Thiên Bảo nhà Đường, Hà Lý Quang (何履光) đánh Vân Nam, thu thành An Ninh, lập cột đồng của Viện để định biên giới. Cũng chưa rõ ở đâu. '''Trống đồng (銅鼓):''' Dân phục dịch ở Giao Chỉ có các loại Lão (獠) như: Lão đầu bay (đầu phi lão tử), Lão khố đỏ (xích khốn lão tử), Lão uống mũi (tị ẩm lão tử), thảy đều ở hang ở tổ. Thích uống rượu, đánh trống đồng. Khi trống mới đúc xong, đặt giữa sân, mời người cùng loại đến đông nghịt cửa. Con gái nhà giàu sang lấy trâm vàng bạc gõ vào trống, gõ xong để lại cho chủ nhà. Có thuyết nói: "Trống đồng vốn là chiêng hành quân của Gia Cát Lượng khi chinh phạt Man". ''KHẢO VỀ THỔ SẢN NƯỚC AN NAM (安南國土產考)'' '''Vàng (金):''' Sản sinh tại các phủ Thái Nguyên (太原), Lạng Sơn (諒山), Nghệ An (乂 An). '''Ngọc trai (珠):''' Sản sinh trong vùng biển Vân Đồn (雲屯) thuộc Tĩnh An (靖安). Người buôn biển (Hải giả) nói: "Trung thu mà có trăng thì năm ấy nhiều ngọc trai". '''San hô (珊瑚):''' Có vài loại, ở dưới biển thì thẳng và mềm, gặp ánh mặt trời thì cong và cứng lại. Đầu thời Hán, Triệu Đà (趙佗) dâng san hô đỏ, tên gọi là "Cây lửa" (Hỏa thụ). '''Đồi mồi (玳瑁):''' Hình dạng giống rùa nhưng mai hơi dài, có 6 chân, 2 chân sau không có móng. '''Đan sa (丹砂):''' Thời Tấn, Cát Hồng (葛洪) muốn luyện đan nên đã xin làm lệnh huyện Câu Lậu (勾漏). Thơ Đỗ Phủ (杜甫) có câu: "Đan sa ở Giao Chỉ rất quý trọng". '''Trầm hương (沉香):''' Có loại cây hương chặt đứt, qua năm tháng lâu ngày mục nát, chỉ còn riêng phần lõi và mắt cây tồn tại, bỏ vào nước thì chìm, nên gọi là "Trầm hương". '''An tức hương (安息香):''' Cây như cây khổ luyện nhưng lớn và thẳng, lá giống dương đào nhưng dài, bên trong tâm có nhựa (chi) dùng làm hương. '''Dầu tô hợp (蘇合油):''' Nhựa sinh ra từ cây, có thể dùng làm thuốc. '''Hồ tiêu (胡椒):''' Loại dây leo giống như củ mài (sơn thục), mùa xuân ra hoa, mùa thu kết quả. '''Sừng linh dương (羚羊角):''' Sản sinh ở núi Cao Thạch (高石山). Loại 1 sừng mà bên trong đặc, cực kỳ cứng, có thể đập vỡ đá kim cương. '''Tê giác (犀), Voi (象), Tê ngưu (兕):''' Thời Hán Linh Đế, quận Cửu Chân dâng nộp, coi là thú lạ. Thời Nguyên, An Nam từng cống tê ngưu. '''Nai trắng (白鹿):''' Đầu thời Nguyên Khang (năm 291-299) nhà Tấn, nai trắng xuất hiện tại huyện Vũ Ninh (武寧縣), Giao Chỉ. Cuối thời Nguyên Gia (năm 424-453) nhà Tống, Giao Chỉ dâng nai trắng. '''Đười ươi (猩猩):''' Sách ''Nam Trung chí'' chép: "Đười ươi mặt người thân lợn, giống vượn, thường đi thành đàn vài mươi con. Người ta đem rượu và bã rượu đặt bên đường, kết các đôi guốc cỏ lại với nhau. Đười ươi thấy thế liền biết tên tuổi tổ tiên của người đặt bẫy, gọi tên mà mắng rằng: 'Tên nô kia muốn bẫy ta sao?', rồi bỏ đi ngay. Nhưng sau đó tự bảo nhau thử cùng nếm rượu xem sao. Đến khi say, lấy guốc xỏ vào chân, liền bị người ta bắt sống". '''Phi phỉ (狒狒):''' Quách Phác (郭璞) nhà Tấn nói: "Sản sinh trong núi ở Giao Châu. Hình dạng như mặt người, tay dài, thân đen, xõa tóc, chạy rất nhanh và ăn thịt người, thấy người thì cười". '''Mông quý (蒙貴 - tức con cầy):''' Hình dạng như con khỉ nhỏ (nào), màu tím đen. Nuôi nó để bắt chuột còn giỏi hơn mèo. '''Trĩ trắng (白雉):''' Thời Chu Thành Vương, họ Việt Thường (越裳氏) đến dâng. Thời Hán Quang Vũ, Nhật Nam và Cửu Chân tiến cống. '''Phỉ thúy (翡翠 - tức chim trả):''' Lông vũ có thể dùng làm đồ trang sức. '''Trăn (蚺蛇):''' Hình dạng lớn và dài, mật của nó tính cực lạnh, có thể chữa bệnh về mắt và các loại mụn nhọt. '''Mắm trứng kiến (蟻子鹽醢):''' Sử cũ chép các tù trưởng khê động ở Giao Châu thường thu lượm trứng kiến cho thêm muối vào làm mắm, nếu không phải khách quý hoặc người thân thì không được ăn. Sách ''Chu Lễ'' phần "Hải nhân" chép về các loại mắm trong mâm cỗ có mắm tì (trứng kiến), chính là loại này. '''Quả Am la (菴羅果 - tức quả xoài):''' Tên tục gọi là "Hương cái". Là loại cực phẩm trong các loài quả. Có người nói giống này xuất xứ từ Tây Vực. Quả giống quả lê phương Bắc. Chín vào khoảng tháng 4 tháng 5. Ăn nhiều không hại. '''Mít (波羅蜜):''' Lớn như quả bí xanh (đông qua), vỏ có gai mềm. Chín vào tháng 5 tháng 6, vị rất thơm ngọt. Hạt có thể luộc ăn, giúp người ta no bụng. Loại sản sinh ở phủ Phụng Hóa (奉化府) và châu Gia Lâm (嘉林州) là tốt nhất. '''Gỗ ô mộc (烏木 - tức gỗ mun):''' Cứng và mịn, có thể làm đồ dùng. '''Gỗ tô mộc (蘇木):''' Một tên gọi là Đa bang (多邦). [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic100 - 交趾國.svg|center|Hình vẽ minh họa nước Giao Chỉ trong Cổ kim đồ thư tập thành.]] Hình vẽ minh họa nước Giao Chỉ trong Cổ kim đồ thư tập thành. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9jp04zeb?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] gtuqyznv66n5jntkijot4ruuzvioe3n