Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.46.0-wmf.23 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Đề tài Wikisource:GUS2Wiki 4 46964 204614 204513 2026-04-08T19:18:45Z Alexis Jazz 15437 Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]]) 204614 wikitext text/x-wiki {{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}} Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-04-07T22:17:54Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm. {| class="sortable wikitable" ! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực |- |AutoOldStyleVi || 7 || 0 |- |HotCat || 44 || 2 |- |NopInserter || 9 || 1 |- |Preload Page Images || 5 || 0 |- |QualityButton || 12 || 0 |- |Subpages || 7 || 0 |- |TemplatePreloader || 37 || 2 |- |UTCLiveClock || 21 || 0 |- |addsection-plus || 20 || 0 |- |edittop || 22 || 1 |- |mark-proofread || 11 || 1 |- |navpop || 35 || 1 |- |purgetab || 26 || 0 |- |removeAccessKeys || 4 || 0 |- |wiked || 11 || 0 |} * [[Đặc biệt:GadgetUsage]] * [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]] <!-- data in CSV format: AutoOldStyleVi,7,0 HotCat,44,2 NopInserter,9,1 Preload Page Images,5,0 QualityButton,12,0 Subpages,7,0 TemplatePreloader,37,2 UTCLiveClock,21,0 addsection-plus,20,0 edittop,22,1 mark-proofread,11,1 navpop,35,1 purgetab,26,0 removeAccessKeys,4,0 wiked,11,0 --> 8r3og67s3n8if4vhraj7tsahkeh1quk Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển 114 71913 204619 204591 2026-04-09T10:58:39Z Mrfly911 2215 204619 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên<br>'''Biên duệ điển''' | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} {{tìm kiếm}} {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 17%;"| Bộ ! style="width: 11%;"| Vị khảo ! style="width: 11%;"| Tổng luận ! style="width: 11%;"| Nghệ văn ! style="width: 11%;"| Tuyển cú ! style="width: 11%;"| Kỷ sự ! style="width: 11%;"| Tạp lục ! style="width: 11%;"| Ngoại biên |- ! [[/Biên duệ tổng bộ|Biên duệ tổng bộ]] | [[/quyển 001|1]] [[/quyển 002|2]] [[/quyển 003|3]] [[/quyển 004|4]] [[/quyển 005|5]] [[/quyển 006|6]] [[/quyển 007|7]] [[/quyển 008|8]] [[/quyển 009|9]] || [[/quyển 010|10]] [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 012|12]] || || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Nam phương chư quốc tổng bộ |Nam phương chư quốc tổng bộ]] | [[/quyển 089|quyển 89]] || [[/quyển 089|quyển 89]] || || || [[/quyển 089 |quyển 89]] || || |- ! [[/An Nam bộ|An Nam bộ]] | [[/quyển 090|90]] [[/quyển 091|91]] [[/quyển 092|92]] [[/quyển 093|93]] [[/quyển 094|94]] || || [[/quyển 095|95]] || || [[/quyển 095|95]] || [[/quyển 095|95]] || |- ! ... ||| || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Lâm Ấp bộ |Lâm Ấp bộ]] | [[/quyển 096|quyển 96]] || || || || || || |- ! [[/Phù Nam bộ |Phù Nam bộ]] | [[/quyển 097|quyển 97]] || || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Xiêm La bộ |Xiêm La bộ]] | [[/quyển 101|quyển 101]] || || || || || || |- ! [[/Chân Lạp bộ |Chân Lạp bộ]] | [[/quyển 101|quyển 101]] || || || || || || |- ! [[/Chiêm Thành bộ |Chiêm Thành bộ]] | [[/quyển 103|quyển 103]] || || || || [[/quyển 103|quyển 103]] || || |- ! ... ||| || || || || || |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 6h4oz5logssoyz61mw678llwqw7ad4c Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 095 114 71929 204615 2026-04-09T08:02:56Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第095卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 95''' | trước= [[../quyển 094|quyển 94]] | sau= [[../quyển 096|quyển 96]] | ghi chú = }} == An Nam bộ nghệ văn 1 (văn) == === Giao Châu M…” 204615 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第095卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<Br>Biên Duệ Điển<Br>'''quyển 95''' | trước= [[../quyển 094|quyển 94]] | sau= [[../quyển 096|quyển 96]] | ghi chú = }} == An Nam bộ nghệ văn 1 (văn) == === Giao Châu Mục Châm (交州牧箴) === '''Tác giả: Dương Hùng (揚雄) - Thời Hán (漢)''' Giao Châu (交州) là vùng biên viễn xa xôi, nước tiếp giáp tận chân trời. Phía nam của Việt Thường (越裳), ngoài cả những quốc gia hoang sơ. Từ khi khai mạc mở mang, vốn chẳng chịu ràng buộc hay kiềm chế. Khi Chu Công (周公) nhiếp chính, chim Trĩ trắng (白雉) đã được dâng nộp. Đến thời Chiêu Vương (昭王) suy yếu, nhà Chu (周) bắt đầu loạn lạc. Việt Thường (越裳) dứt bỏ việc triều cống, đất Kinh Sở (荊楚) phản nghịch. Bốn phương xâm lấn vào trong, gặm nhấm tông thất nhà Chu. Đến đời vua cuối là Noãn (赧), bèn đi đến chỗ diệt vong. Đại Hán (大漢) thụ mệnh trời, gồm thâu cả Trung Quốc (中國). Cõi bờ Nam Hải (南海), dùng thánh võ mà mở rộng. Dần dần chịu sự ràng buộc, thông đến tận nước Hoàng Chi (黃支). Vượt biển 30,000 dặm, đến dâng tê ngưu. Thịnh vượng thì không thể không lo, hưng long thì không thể không sợ. Nhìn lại lúc suy vi, mà quên mất quy củ khuôn phép. Nước mất thường do hưởng lạc quá nhiều, nước còn thường do trải qua nhiều gian nan. Suối cạn thì lòng giếng trống không, ao cạn thì bùn đất khô nẻ. Kẻ mục thần coi giữ Giao Châu (交州), dám cáo cùng bậc chấp pháp. === Tứ Xá Giao Châu Chiếu (賜赦交州詔) === '''Tác giả: Giang Yêm (江淹) - Thời Lương (梁)''' Môn hạ: Giao bộ trước đây gặp lúc thời thế bế tắc, cậy có biển xa mà không vào chầu, vì mê lầm mà lỡ bước, muốn trở về lòng thành nhưng không có lối. Nay ta sáng chế muôn phương, vận hành tạo hóa, giảm hình phạt cho bốn cõi, ơn trạch thấm nhuần khắp vùng kinh kỳ. Thương xót dân biên thùy kia, chưa được hưởng đồng đều giáo hóa của vương triều, nay tuyên dương lòng nhân rộng lớn, tẩy sạch lỗi xưa để bắt đầu lại từ đầu. Nay ban lệnh đặc xá cho các vùng thuộc châu ấy quản hạt, hết thảy cùng hưởng sự thái bình rộng lớn. Một người là Lý Thúc Hiến (李叔獻), cho phép trấn giữ đất phương Nam. Các quan văn võ phò tá, hãy xét chọn người tài mà cử dụng. Đồng thời phái Đại sứ đến, tuyên dương ý chỉ của triều đình. === Bình An Nam Tụng (平安南頌)=== '''Tác giả: Tiềm (潛) - Thời Lương (梁)''' Nhớ Giao Chỉ (交趾) kia, vốn dâng cống cho phương Nam. Đã qua nhiều năm, yên vị tại nơi đó. Duy có tên gian thần, dám làm trái đạo thường. Lời cuồng vọng đầy triều, để mong cầu yên lạc. Trời soi xét nơi này, chỉ dùng giáo huấn thường tình. Kính theo mệnh trời, đi chinh phạt kẻ không phục tùng. Mưu lược thánh minh lẫy lừng, quân đội có 1,000,000 binh sĩ. Những tướng hổ dũng mãnh, như gấu như bi. Hoàng đế đến tiễn đưa, tại bên bờ Trường Giang (長江). Tiếng kèn vang động trời, vung giáo như mưa hạ. Hoàng đế phán: "Hỡi các tướng thần của ta. Chớ có dùng võ lực đến cùng, hãy đến an ủi dân chúng." Hoàng đế phán: "Hỡi quân thống lĩnh của ta." Tham tướng, Phó tướng, bên trái bên phải cho thỏa đáng. Thần cơ vượt biển, Phiêu kỵ Du kích, cùng với các tướng Ưng dương, mỗi người hãy giữ chức trách của mình. Dòng giang lưu cuồn cuộn, quân lữ ta hùng dũng, bình định khắp mọi nơi, uy võ thật hiển hách. Phía tây Trường Giang (長江), trên vùng núi Quế Lĩnh (桂嶺). 10,000 đồn lũy đóng như mây tụ, 10,000 thăng mã phi nhanh như điện chớp. Khi vương sư chưa đến, nơi đó là hang hổ hang sói. Khí độc mờ mịt ban ngày, rắn rết phun độc làm rừng khô héo. Khi vương sư đến nơi, có luồng gió mát lành. Tuyết bay phủ đầy đồng, trời quang nhật sáng soi. Trận thế đường đường chính chính, đi trên đạo lớn không gì cản trở. Cánh quân riêng rẽ tiến nhanh, đánh vào cổ họng địch, chặt đứt trại lũy của chúng. Lửa cháy mạnh như bão cuốn, bùn cát lấp đầy hố sâu. Dù núi cao hiểm trở đến đâu, tại sông Phú Lương (富良), quân địch đứng san sát như rừng. Một mồi lửa ném vào đêm tối, bầy thuyền địch tan tác như đàn vịt. Mất chỗ dựa trên sông lớn, các hàng rào liên hoàn đều bị nhổ sạch. Bèn san phẳng thành quách, phá hủy đô thành. Hai kinh đô đã bình định, bốn cõi liền yên vui. Thu binh dừng giáo, tuyên dương đức của hoàng thượng. Bèn chiếu cố đến những kẻ góa bụa, ai nấy đều hân hoan vui mừng. Có cừu dắt trên tay, có rượu đầy trong chén. Ngước cổ bước nhanh, bái lạy nơi cửa viên môn. Người Giao Châu (交州) đã đến, bèn thưa rằng: "Chúng tôi là dân của trời, xin hoàng thượng đừng bỏ rơi xa cách. Hóa dục rộng lớn của hoàng thượng, như trời cao mênh mông. Huống chi dân Giao (交), mà chẳng được che chở sao." Sớ tấu bay về cửa đế khuyết, hoàng thượng thương xót mà thở dài. Phán rằng để yên dân Giao (交), phải mưu tính từ lúc ban đầu. Xưa kia thời Hán (漢), Đường (唐), đều nạp vào nội địa. Đến thời Tống (宋) giáo hóa không được tuyên dương, nên rơi vào tay loài xấu xa. Đến nay đã 500 năm, vận trời quay trở lại. Trẫm nay gặp thời thế này, dám đâu không thuận theo trời? Bèn tự mình quyết đoán, chọn lựa người tài đức, lập ra trăm quan, thống lĩnh bởi các thuộc lại. Bèn phát ra âm thanh lớn lao, khuyên răn các kẻ sĩ: "Dân Giao (交) đã khốn mệt, các ngươi hãy ban ơn huệ cho họ. Chớ để dân Giao (交) phải lo âu sầu muộn. Ôi chao! Ơn thánh cuồn cuộn! Từ nay bắt đầu, dân Giao (交) mãi mãi khang an." === GIAO NAM PHÚ (交南賦) === '''Tác giả: Trạm Nhược Thủy (湛若水)''' ==== Lời tựa==== Tôi phụng mệnh đi phong vương cho vua nước An Nam (安南) là Chu (晭 - tức vua Lê Uy Mục), ngày 7 tháng 2 năm Chính Đức thứ 7 (năm 1512 dương lịch) khởi hành từ kinh đô, đến ngày 17 tháng giêng năm sau (năm 1513 dương lịch) mới tới nước ấy. Chứng kiến dân vật phong tục, thấy xảo quyệt, thô lậu, chẳng có gì lạ lùng. Trách kẻ thời trước truyền tin quá sự thật, bèn nhờ ba vị thần đính chính, cuối cùng quy kết về đạo thường, viết ra bài ''Giao Nam Phú''. ==== Nội dung bài phú==== '''I. Cõi bờ và Nguồn gốc''' Vòm trời cao thẳm không dấu vết, trống rỗng bao la chẳng hình hình. Đất dày sâu thẳm khôn dò, mênh mông bát ngát chẳng bến bờ. Giữa khoảng lên xuống ấy là Trung Thổ (中土), nơi tụ hội trung khí gọi là Người. Từ 4 vùng biên tiến ra 4 cõi hoang sơ, tận cùng nơi bát ngát là láng giềng của chim muông cỏ nội. Duy có trung khí thuận theo gió mà thấm dần, bậc Thánh thần khởi đầu là Bàn Cổ (盤古). Các bậc Hoàng Đế nối nhau hạ thế, những bậc minh vương trị vì cõi Trung Thổ (中土). Chia ra 4 phương và 5 phục, lan tới 4 biển, lại lập nên các bậc trưởng ở 5 phương. Phân định rạch ròi trong là Hạ (夏), ngoài là Di (夷), lấy các vùng Yếu (要), Hoang (荒) làm mức độ. Đế phán rằng: "Cõi hoang viễn phương Nam, ai chia phân dã mà thay ta làm việc?". Phương Nam thuộc sao Dực (翼), sao Chẩn (軫), là chim Chu Tước (朱鳥), Đế là Viêm Đế (炎帝), thần là Chúc Dung (祝融). Thẳm sâu thay nơi Hoàng hậu và Quân vương trị vì, gọi là Hỏa Tiên (火仙) và Trưng Long (徵龍). Soi thấu 9 cõi âm tại Xích Thủy (赤水), thấy cung điện u tối của Phùng Di (馮夷). Xưa thời Đào Đường (陶唐) ban mệnh, Hy Thúc (羲叔) đến ở phương Nam tại Giao Chỉ (交阯). Lo việc sắp xếp thứ tự cày cấy phương Nam, cũng là theo thời theo việc vậy. Đến thời mạt đức suy mỏng không lan xa được, cõi hoang sơ tự khác biệt. Kẻ Giao (交) nhỏ bé kia, phía bắc 5 quản mà ở cương giới phía Nam của Việt (越). Tiếp giáp 7 quận thời Uất Tha (尉佗), nhà Hán (漢) đặt cùng 9 quận. Dựa vào Đô Lư (都盧) nơi chân trời, trông về Việt Thường (越裳) nơi mé biển. Phía Nam trải dài đến Chiêm Bất Lao (占不勞), phía Tây liên thuộc tận cuối vùng Điền Minh (滇溟). Nhánh quân Gia Cát (諸葛) vượt sông Lô (瀘), thời Viêm Lưu (炎劉 - nhà Hán) bắt đầu kinh lý. Nhà Đường (唐) nối nghiệp về sau, mở rộng phủ trị Đô hộ (都護). '''II. Sự biến thiên của các dòng họ''' Tích xưa Viêm thị đang hưng thịnh, thuyền lầu nổi trên mặt biển. Hai người con gái (Trưng Trắc, Trưng Nhị) gây loạn vào giữa thời, hạt ý dĩ dùng để mê hoặc Mã Viện (馬援). Cột đồng (銅柱) sừng sững lân tinh, trấn áp sao Chổi trên trời Nam. Họ Cao (高 - Cao Biền) định yên đất Giao (交), dựng tháp đá nguy nga. Sao cao vút nơi chợ Cầu, lập bên bờ sông Phú Lương (富良). Kẻ xảo quyệt kia tên là Viêm Quân (炎均), mạo nhận là con cháu của Nhĩ Đam (耳聃 - Lão Tử). Duy có Công Uẩn (公蘊) gây dựng cơ nghiệp, truyền nối 8 đời đến vị vua này. Họ Kinh (京) dùng mưu chiếm vị, phụ họa theo con cháu xa của Hồ Công (胡公). Sau đó Hòa Thúc (和叔) lại gọi là họ Lê (黎), cũng chiếm đoạt qua nhiều đời. Xưa Thiếu Hạo (少皞) suy vi, Cửu Lê (九黎) nhiễu loạn đức. Bắc Chính (北正) họ Lê coi giữ đất và dân, bắt đầu chịu mệnh từ Chuyên Húc (顓頊). Bọn Tam Miêu (三苗) bắt chước theo, Đào Đường (陶唐) lại phục hồi chính đạo. '''III. Lễ nghi và Tiếp đón''' Nay Hoàng đế hợp nhất thiên hạ làm một nhà, đất chở trời che. Cùng một chính sóc, cùng một văn tự, xe cùng trục hội tụ về kinh. Sản vật phương xa đóng hộp dâng nộp, cứ 9 năm thì 3 lần triều cống. Đời đời nối nhau đến chầu, tại sân rồng chịu mệnh Thiên vương. Ban cho ngọc khuê thượng đẳng, mũ bình thiên 7 chuỗi ngọc. Chân đi giày đỏ lướt sóng, đai lưng khảm sừng tê và ngọc bội. Cưỡi tiết rồng dừng tại Vân Đình (雲亭), truyền lời thiên tử trước điện. Đế phán: "Ai có thể hỏi han?". Rằng lúc này ta dùng người ấy, ai chuyên đối mà thông hiểu ''Kinh Thi'' (詩). Kẻ ngu muội là ta đây, đi 4 phương sao cho phải phép. Mặc áo lân rực rỡ, đeo ngọc bội lung linh. Đai mây bay phất phơ, mũ thiết vân cao ngất. Ghi lòng chữ trung tín, giữ cung kính mà hành trì. Lo đường đời quanh co, lại xa xôi hiểm trở. Vất vả nơi Hoài (淮), Tứ (泗), rồi ca hát bên bờ sông. Trông về địa cực phương Nam nơi Lĩnh Kiều (嶺嶠), dựa gió nóng mà than dài. Bồi hồi nơi đất Thương Ngô (蒼梧), vái chào Trùng Hoa (重華 - vua Thuấn). Phía Tây trông xa sông Quế (桂), sông Tương (湘), thấy vẻ đẹp của nhị phi (Nga Hoàng và Nữ Anh). Ngắm Côn Lôn (崑崙) thong thả, nghỉ ngơi cười nói nơi biên thùy. Tháng năm qua vùng Ngũ Quản (五管), trâu xanh khuất bóng cửa Nam Quan (南關). Gió Huân (凱風) đón ta, ta gởi hứng vào đàn 5 dây. Dừng chân tại Nam Sào (南巢), thấy chim Phượng bay liệng. Bắt đầu hỏi đường qua Lạng Sơn (諒山), đâu là Nhãn Phượng (鳳眼), Thất Nguyên (七源). Hóng nắng tạnh nơi Pha Lũy (坡壘), giặt áo dòng nước trong Bắc Nga (北峨). Nắng sớm lên tại Bất Bác (不博), qua Buộc Lân (卜鄰) đến Bộc Sơn (僕山). Bước chân bay bổng trên đá gió, mờ ảo tận đỉnh mây. Vách đá treo leo bên vực thẳm, đường chim lượn vòng quanh. Hoặc sâu vào lòng đất, hoặc leo tận trời cao. Rừng núi hiểm trở, sông ngòi uốn lượn. Chiều hổ báo bò trườn, sáng rắn rết bò ngang. Qua Phi Lễ (丕禮) đến Xương Hà (昌河), vượt Thị Kiều (市橋) đến Lữ Côi (呂瑰). Viêm Quân (炎均 - vua Lê) từ xa đón tiếp, vượt sông Phú Lương (富良) nơi khúc quanh. Nói rằng: "Ta là con cháu Trung Hoa (中華), nhà ở Tăng Thành (增城) 9 tầng. Theo chơi nơi vườn Huyền (伭圃) của Đế, thong dong gió Lãng Phong (閬風). Ban đầu rời quận Dự Chương (豫章), khen tên gọi Thanh Nguyên (清源). Nhánh của Tư nông Viêm Hán (炎漢), ở kinh đô ta tại Cam Tuyền (甘泉). Nương đỉnh cao Vân Mẫu (雲母), láng giềng trái An Kỳ (安期). Ở lều quý của Thái Ất (太乙), ôm mây bay núi La Phù (羅浮)". Thừa hưởng lời ca ''Hoàng Hoa'' (皇華) của Đế, lại hỏi han về đức phương Nam. Dạo chơi ngoài phương ngoại, xem cõi vô cực bát ngát. Năm Quý Dậu (癸酉 - 1513), sao Đẩu chuyển hướng đông. Bánh xe lửa đi qua cung Song Ngư (娀訾), đêm sau trăng hạ huyền. Ta ngồi thuyền vương vượt sông, thuyền sơn đen vàng đỏ trắng. Thuyền rồng nối đuôi nhau, quân lính cởi trần lội nước. Chèo bằng 100 mái chèo hình đao, cán đen lưỡi trắng. Ấy là tập dượt thủy chiến, dùng để đâm châm. Sáng sớm hôm sau nghênh bái, bên điện phụ Trường Thọ (祥壽). Vào cửa lớn Đại Hưng (大興), thấy tấm biển Quảng Văn (廣文). Đối diện đền Hỏa Quan (炎官) sâu thẳm, Chúc Dung (祝融) dẹp đường hướng đông. Theo gió Nam dừng xe, trông sứ quán của Thiên sứ. Viêm Quân (炎均) cúi đợi tại điện Triều Nguyên (朝元), cung kính bái lạy phương Bắc. Trăm quan uy nghiêm, các tước hầu vội vã. Bày trướng vàng nơi điện Trăng, lúc này 6 rồng (xe vua) hạ xuống. Cầu vồng bắc ngang chưa có mây, lại có cầu Ô Thước xen kẽ. Nghe tiếng vang truyền chiếu thư, dân chúng phủ phục dưới đất. Lúc này nhạc luật vào cung Thái Tộc (太簇), chuông lớn im lìm không đánh. Đặt ống sáo Phượng Hoàng núi Giải (嶰), đánh trống da đà lớn. Ứng với sao Hà Cổ (河鼓) rền vang, như thủy thần Thiên Ngô (天吳) nhảy múa. Dạ xoa vung cánh tay giận dữ, kẻ trần truồng cầm gậy chặn trước. Mở đại yến tại điện Cần Chính (勤政), tôn ta ngồi đầu phía đông. Trân phẩm sâu tôm, trâu bò riêng biệt. Chiếu dừa nhiều lớp trải dưới đất. Bày tượng đất cùng mâm cỗ. Bánh kẹo tạp phẩm thơm nức. Than ôi nhạc lớn thiếu đi chương ''Đại Lã'' (大呂), nhảy nhót múa may chẳng dùng mâu thuẫn lông chim. Dùng bình gốm gõ nhịp thay đỉnh chung. Lúc này vào tháng giêng, bày quả mơ xanh như đạn bi. Chén đĩa bừa bãi, dưa hấu cũng dâng sớm. Nhạc Di (夷樂) tấu trên điện, tiếng chiêng trống hỗn loạn. Bày rắn lớn làm trận, lại mặc áo mũ cho khỉ. '''IV. Phong tục và Cảnh vật''' Hỏi rằng: "Ngươi là con cháu Trùng Lê (重黎), tổ tiên thực là chức Tư nông. Sao không giữ y phục cũ, lại cắt tóc đi chân đất?". Ta vừa bước qua cửa quan, đúng vào giữa tháng giêng. Than ôi thần sông cách biệt, mầm khoai mọc cao 3 thước. Lúa báo đã gặt xong mà mạ vẫn xanh rì, con cò cũng vì thế mà giấu mình. Trông lửa nóng ngàn dặm, đón gió xoáy mà sưởi. Ngắm quả tiên cho thư thái, quả đỏ trĩu cành xanh. Dân kinh thành đổ ra xem, trai gái không phân biệt đầy đường. Đều cúi mình cung kính, đầu thấp đít cao. Nhà nho đội mũ phủ phục đón, ngón chân cái tẽ ra và đi chân đất. Thấy kẻ kiêu dũng tóc bay phất phơ, xõa tóc chạy nhanh. Cung kính cầm tiết rồng khởi hành, phía trước có kim chỉ nam dẫn lối. Cưỡi xe voi như Thái Ất (太乙), sai Thần Gió đánh xe. Hái mây ngũ sắc làm xà, theo chim Chu Tước hướng về phía trước. Nắm rồng xanh làm ngựa bên trái, buộc ngựa trắng bên phải. Cưỡi sao Cơ, sao Vĩ lồng lộng, cầm rồng nến dẫn trước sau. Kéo cờ mặt trời huy hoàng, đánh trống sấm ầm ầm. Cờ mây uốn lượn, xe sao lanh lảnh. Gió hiu hiu quấn dải ruy băng rạng đông, vung tay áo phất phơ. Bên phải ta có Nhục Thu (蓐收) đi cùng, bên trái dắt tay Câu Mang (勾芒). Ghét sao Mão đầu không sáng, kéo đuôi chim sẻ thênh thang. Gõ sao Mộc cầm nhịp, khoác áo lông hạc vác mác. Quân lính ngậm tăm không nói, cầm cung trời sợ chi ai? Phục 10,000 mũi tên trong rừng, 1 người hô muôn người đáp. Dựng trướng đỏ tại các quán, màn mây sẵn đó không dời. Màn huệ khảm vàng, đính tua ngũ sắc. Ngồi trên gỗ trầm hương thơm phức, bày rèm đỏ rực rỡ. Hoặc hát cao gõ hũ, rửa nghiên sành nơi ao trời. Ma núi xuống thổi đèn, mời mộc khách đề thơ. Các tước hầu đeo ngọc dâng lễ vật, cung kính lễ thần càng khiêm hạ. Kẻ quý hiển đội mũ mà đi chân đất, dùng bữa ngồi bệt dưới đất. Hỏi Do Dư (由余) nơi phương nhung, thăm Quý Tử (季子) nước Ngô (吳). Xõa tóc mà đội mũ cao, sao xem nhạc phương lớn mà cùng luận ý thơ? Treo xích đu mờ ảo, cưỡi mây gió dạo hư không. Ngắm thiếu nữ dòng Hữu Song (有娀), gặp mỹ nhân vùng Mông Sơn (蒙山). Da trắng như tuyết, tóc đen như sơn, lông mày lá liễu da dẻ mịn màng. Áo trên theo lối cổ che đến ống chân, không mặc váy mà mặc nhiều lớp áo ngắn. Tay áo phất phơ theo gió, đôi chân trần lấm bùn đất. Tóc giả quý giá không bán được, răng đen kịt khấp khểnh. Theo đan sa của Cát Hồng (葛洪), tìm thăm vùng Cấu Lậu (勾漏). Gặp Bào Tịnh (鮑靚) tại Nam Hải (南海), ta cũng có cuộc kỳ ngộ. Xem nhà dân như cánh chim, thường xây cao mà mái thấp. Ngói vuông nhọn phía dưới, hình dáng như chiếc khuê ngắn. Lợp bằng cỏ mây trải phẳng, giống như vảy cá xếp hàng. Phải chăng do thủy tộc cảm ứng mà thế, hay là loại ấy giống như vậy. Nhà hình cánh chim lập thành làng xóm, giữa trưa họp chợ nơi thôn dã. Bốn mặt vây quanh đặt giường nằm, quan coi chợ ở giữa thu thuế công bằng. Nước không có 1,000 cỗ xe, cần gì chọn ngựa ký ngựa đài. Nói rằng vua nước ấy xưng giàu, sao lại đem số lượng ra đối đáp. Quân cởi trần không giáp trụ, cần gì sừng tê da tê. Phải chăng nhà không có của tích trữ, hay sợ đức của mình chưa đổi? Cây ký sinh chằng chịt, đã rậm rạp mà chưa héo. Nhờ phúc uy của người, chẳng được 2 đời đã mang họa. Viêm Quân (炎均) tặng ta cỏ thơm, cùng hoa lan ngào ngạt. Ta từ chối vì đã có dải áo của Đế, có hương thơm vườn Huyền (縣圃). Lại tặng thêm tiêu và linh chi, nói rằng lòng ta khó đổi. Ta nhận lấy sắc màu của Lãng Phong (閬風), cùng quế tiên nơi cung trăng. Cảm khái có chức hỏi han, dù là cỏ cây chim thú cũng không giấu ta. Lại ân cần hỏi về phong tục, sợ người trong nước lừa dối mình. '''V. Lời của Linh Điểu''' Gọi chim Chu Tước 7 sao, chia dã phương Nam coi giữ trời. Loài linh triết bay trên trời ấy, sao không vì ta mà kể rõ. Chim chập chờn hạ xuống lúc chiều tà, bảo rằng: "Ta không quen lời thế gian. Cầm chân 3 móng viết chữ triện, để ý ta được truyền ra". Rằng: "Khắp gầm trời muôn phương, gió máy khác nhau. Cúi nhìn cực Nam dưới đất, ngẩng trông sao Nam Đẩu giữa trời. Quy luật nóng bức thuộc sao Thuần Vĩ (鶉尾), trời đất không lạnh gió chẳng mát. Lại đến cung Huyền Kiêu (伭枵), đầm nước không đóng băng cứng mà tan chảy. Dựa núi Bích Kê (碧雞) làm nách phải, tiếp giáp láng giềng Ô Y (烏衣). Mặc áo vẽ hình chim, cưỡi chim nhạn, cưỡi chim hồng hộc, nghe gà trời gáy. Cò trắng giữ mình sạch sẽ, hải âu quên hết mưu mô. Ghét chim vàng dối trá, chim cúc si ngốc chiếm tổ người khác. Chim trĩ sao biến thành con thận hiện lâu đài, tiếng lươn như sấm nổ rung chuyển. Vẹt khôn biết kêu lạnh, chim trả sao chết vì bộ lông lạ? Bọn phàm phu tục tử kia, đâu đáng kể ra nhiều? Tung cánh 90,000 dặm nơi u minh, cánh chim bằng rợp trời. Lại có loài chim 9 đầu, chim sẻ sò sao cảm ứng mà hóa thành? Chim đề quyết hót thì cỏ thơm, cầu vồng ẩn hiện mà không tuyết. Theo dương mà chẳng biết băng tan, chim bố cốc kêu vào tháng mùa đông". Rằng: "Xa xôi thay vòm trời huyền bí, sáng rõ thay đất dày chẳng thể thấu nguyên do. Vái chào Chúc Dung (祝融) nơi u tối, giữ kỷ cương phương Nam. Bao nhiêu vực thẳm đất liền, sao không nghe lời tốt lành của ta. Rằng con cháu vùng Dương Châu (揚州), đất đai khác hẳn bùn đen. Cống kỳ nam và trầm hương, lại có vàng phương Nam và lụa mỏng. Quýt bưởi đóng gói không đưa tới được, vải đỏ từ xa gởi tặng. Đúc núi lấy vàng, nấu nước biển lấy muối. Quả dứa lạ lùng nơi bến ấy, nhựa an tức tự diệt mình. Lợn có nanh bắn nhanh, thú mặc giáp xuyên núi. Hươu xạ vì hương mà chịu họa, tinh tinh cơ mưu mà biết nói. Tìm viên châu dưới cằm rồng của ta, lại giăng lưới san hô nơi đáy biển. Đeo minh châu tại Nam Hải (南海), quét cây Nhược Mộc tại Minh Đô (明都). Thú nhảy múa ngậm giáo, Bồng Lai nổi trên biển nhờ rùa cõng. Con xạ công khéo đợi bóng, rắn hổ nuốt voi mà mửa ra". Lại rằng: "Quái vật 9 đầu nuốt người, Thiên Ngô (天吳) gào thét, tê ngưu sao linh hiển mà sừng thông thiên? Voi sao biết được mà tự chôn ngà nơi xa xôi? Có con rồng đen thoắt ẩn thoắt hiện, cõng gấu vàng đi chơi. Trông chim xanh của Tây Hoàng (西皇), thấy đôi vịt trời của Vương Kiều (王喬). Ngẩn ngơ thủy thần Hải Nhược đêm ra, cùng nàng phi đi dạo. Sao Phùng Di (馮夷) lại lấy vợ, thật là giai kỳ hảo cầu. Sao người cưỡi trên biển, đêm bay đầu đi ăn biển. Sáng ra lại trở về nguyên vẹn, lại theo đuổi như đêm trước". '''VI. Kết luận và Quay về''' Hát rằng: "Hai vị thần quái đản hoang đường, khiến ta nghi hoặc chẳng quyết. Cưỡi sao Cơ sao Vĩ, vái chào Phó Thuyết (傅說). Đường trời thăm thẳm, sao mà xa xôi? Xưa họ Hy (羲) ở đất Giao (交), hóa thành thần điều khiển xe nhật. Nói là sắp xếp thứ tự phương Nam, hãy cùng ta định lại một lời. Dựa vào nắng sớm mà định đoạt, mong giải được sự do dự của ta". Rằng: "Vật sinh ra, đầu đen chân đặt trên đất. Một thể cùng khí, ai khiến đầu bay đi? Đứt rồi không nối lại được, ai có thể vá vào? Vá trời có đá, ai là người luyện? Chân rùa lập cực, ai thấy người cắt? Voi biết chôn ngà, ai người đi đào? Không móng không sừng, ai đem cắm vào? Phùng Di lấy vợ, hình thể không hợp. Thủy tiên có cung, sao lấy thân làm nghiệp. Cánh bằng rợp trời, ai người vận hành? Gió lốc nổi lên, quạt nước 3,000 dặm, ai đo lường được. Chim có 9 đầu, ai mổ thức ăn? Trời là một gốc, ai tham gia phân tích? Rắn độc 1 chân, ai gắn thêm vào? Lẽ thường của trời đất, truyền vật có giới hạn. Nhật nguyệt tỏa sáng, gió động sấm vang, động thực vật bay lặn, đều biết rõ chức phận mình. Bách gia cửu lưu, hoang đường khôn thấu. Nay có điển mô, Thánh nhân làm phép tắc. Dân chúng theo đó mà sinh sôi, chim muông theo đó mà sinh sản, quá chỗ này thì không phải điều ta biết vậy". Lúc ấy xe nhật bắt đầu chạy, Hy Hòa (羲和) kéo xe. Mặt trời rực rỡ nơi phù tang, Viêm Quân (炎均) đánh trống vừa cười vừa hát, bèn đến bên cầu tiễn ta qua sông. Bàng hoàng ngẩn ngơ, như giấc mộng Nam Kha. Lại hát rằng: "Trung khí bàng bạc, núi sông quanh co, uốn lượn ngăn cách, lìa khỏi Trung Châu (中州). Thường mà không thường, quái dị u huyền. Không thường mà thường, ba ánh sáng (nhật nguyệt tinh) vây quanh. Thánh nhân rạng đức, văn minh lưu truyền, sóng biển chẳng dậy. Điềm lành dừng chân. Kết lòng trung của ta làm trục, lấy chữ tín làm đường, cưỡi lòng kính trên đất trời. Tự đắc bao la mà thong thả, ta theo đó thong dong trên đạo Chu (周). Xem 8 cõi vô cùng, dạo chơi cưỡi ngựa trong vũ trụ lên xuống. Nhìn lại mà biết trời, thong dong nơi đóng cửa. Bèn quay cờ tía rực rỡ, thu cờ mây khép lại. Kéo cờ vân rung rinh, gọi cửa đế nơi cổng trời. Vào cung Tử Vi (紫微) tấu nhạc chín chương". === Thư gửi An Nam Quốc vương Trần Nhật Côn (諭安南國王陳日焜書) === '''Tác giả: Lữ Nhượng (呂讓)''' "Gần đây, thổ quan phủ Tư Minh (思明府) là Hoàng Quảng Thành (黃廣成) tâu rằng, An Nam (安南) lấn chiếm đất đai, triều đình tra cứu điển tịch, khảo sát đồ chí, sai sứ giả đến cáo dụ để hoàn trả đất đã chiếm. Từ khi Thành (誠) và Nhượng (讓) tôi đến vương quốc, tuyên bố ý thượng cấp, bày tỏ sự lý, mà chức sự (chỉ vua Trần) vẫn giữ ý định kiên cố, chưa chịu nghe theo. Nay lấy lợi hại về cương giới được ghi chép từ tiền đại, vì chức sự mà trình bày." Theo ''Chí'' (誌), Giao Chỉ (交阯) xưa là đất Giao Châu (交州). Thời Hậu Hán (後漢), người con gái là Trưng Trắc (徵側) làm loạn, Quang Vũ (光武) sai Mã Viện (馬援) thống lĩnh quân đội bình định, bèn dựng cột đồng ghi công, cũng là để phân định trong ngoài. Thời Đường (唐) thì là 1 trong 5 quản, thống lĩnh bởi Đô hộ (都護). Thời Tống (宋), Lý Càn Đức (李乾德) cướp phá biên giới, Quách Quỳ (郭逵) đem binh chinh phạt, bắt được thái tử giả là Hồng Chân (洪真); Càn Đức (乾德) sợ hãi mà cắt các vùng đất Quảng Lương (廣涼), Môn (門), châu Tư Lãng (思浪州), Tô Mậu (蘇茂), Quang Lang (桄榔) để đầu hàng; bấy giờ đất này vẫn thuộc về Trung Quốc (中國), huống chi các vùng Khâu Ôn (丘溫) ở phía bắc cột đồng sao? Thời Nguyên Thế Tổ (元世祖), tổ tiên ông là Quang Bính (光炳 - Trần Thái Tông) vào khoản đãi xưng thần; đến khi Nhật Huyên (日烜 - Trần Thánh Tông) kế vị, mất tiết bề tôi với Thế Tổ (世祖), nên mới dấy binh hỏi tội. Nhật Huyên (日烜) phải nằm gai nếm mật, ẩn núp bụi rậm, dân sinh gần như tuyệt diệt, thành quách gần thành gò hoang. Khi Nhật Tôn (燇 Trần Nhân Tông) kế vị, khẩn khoản xin tội, Thế Tổ (世祖) sai sứ xuống chiếu dụ lệnh vào chầu. Trong chiếu thư bấy giờ có câu "hoàn đất", mà Nhật Tôn (日煿) nói: "Trước kia thiên sứ nhục lâm tiểu quốc, đón tiễn tại Lộc Châu (祿州), sợ có xâm lấn, thường từ chối ở Khâu Ôn (丘溫) mà thôi." Xem thế thì đất phía bắc Khâu Ôn (丘溫) thuộc về Tư Minh (思明) đã rõ ràng. Nay An Nam (安南) lại vượt qua Uyên (淵), Thoát Du (脫踰), Như Ngao (如嶅), Khánh Viễn (慶遠) mà chiếm hết, hay là thừa lúc loạn lạc cuối thời Nguyên (元) mà cầu may có được? Ngày hành nhân xuống xe, quân thần của vương đều nói đất này cũ thuộc An Nam (安南), mà không biết lý do thuộc về. Hai nước Trần (陳), Lê (黎) nối nhau, sao kẻ chấp chính cũng giữ thuyết trước cho là đất tổ tông, chưa rõ dựa vào đâu mà nói vậy? Nếu như chức sự nói, thì lời ghi trong sách ''Chí'' và lời của Nhật Tôn (日煿) chẳng phải chỉ là thuyết suông sao? Hay vương sợ có tội chiếm đất, nên cố chấp lời không căn cứ để tự bào chữa? Hoàng thượng ta trời ban trí dũng, chỉnh đốn vạn bang, kẻ cậy nhờ đến cùng dù lỗi nhỏ không tha, kẻ sửa lỗi dù tội nặng cũng giải. ''Truyện'' nói: "Có lỗi mà biết sửa thì trở lại như không lỗi." Có lỗi không sửa, ấy mới là lỗi. Sửa lỗi được tường lợi, như việc Triệu Tông Thọ (趙宗壽) ở Long Châu (龍州) năm xưa vậy. Tiếc lỗi chuốc họa, như các tù trưởng man di vùng Nam Đan (南丹), Phụng Nghị (奉議) gần đây vậy. Đó đều là những minh chứng lớn lao mà mọi người cùng nghe thấy. Vương có thể lánh họa tìm phúc, trả lại đất đã chiếm, đâu chỉ tông miếu xã tắc được yên, mà cũng là phúc cho dân sinh cả nước. Bỏ qua việc này không tính, tranh giành mà không nhượng bộ, ấy là tự chuốc họa vậy. Mong chức sự hãy tính toán. === Sớ luận về việc chinh phạt An Nam (論征安南疏)=== '''Tác giả: Trương Nhạc (張岳)''' Thần phục thấy Hoàng tử đản sinh, chiếu mệnh ban bố khắp nơi, thần dân trong ngoài không ai không được thấm nhuần. Chỉ có An Nam (安南) vì lâu không vào cống, sứ giả được phái đi bị đình chỉ. Hạ lệnh ngoại đình hội nghị, đều cho rằng tội đáng đánh không tha. Bệ hạ khoan nhân trắc ẩn, không nỡ vội động binh đao, đặc biệt sai sứ giả phi ngựa vào nước ấy để tra hỏi nguyên do. Thần đợi tội nơi biên khương, không thể tuyên đạt uy đức triều đình khiến các quân trưởng phương Nam hướng về chính nghĩa, chạy đến nộp cống. Đến mức khiến thánh thượng phải lo âu, phái sứ giả đi 10,000 dặm, thần chết có dư tội. Thần trộm nghe An Nam (安南) từ năm Chính Đức thứ 11 (năm 1516 dương lịch), quốc vương Lê Chủ (黎晭 - Lê Tương Dực) bị nghịch thần Trần Cao (陳暠) cùng con là Trần Thăng (陳昇) giết hại. Người trong nước lập em của Chủ (晭) là Lê Huyên (黎譓 - Lê Chiêu Tông) làm chủ quốc sự, dùng binh đuổi cha con Trần Cao (陳暠), chúng chạy đến chiếm phủ Lạng Sơn (諒山府). Lê Huyên (黎譓) lập được 7 năm, lại bị quyền thần Mạc Đăng Dung (莫登庸) ép buộc, phải ra ở phủ Thanh Hoa (清華府). Đăng Dung (登庸) lập em nhỏ của Huyên (譓) là Lê Khoáng (黎懬 - Lê Cung Hoàng) phò tá, sau đó lại giết Khoáng (懬) mà tự lập. Trong nước chia cắt, ngày ngày đánh giết, không rảnh để thỉnh cống. Đó đều là lời truyền tụng các năm trước và công điệp từ các phủ Lạng Sơn (諒山), Trường Khánh (長慶) nước ấy báo về. Những khúc chiết và sự tình gần đây tuy không thể biết tường tận, nhưng việc lỡ kỳ hạn cống đại để do vậy. Chẳng phải chúng thực sự có thế mạnh như lợn lồi, dám cậy binh giữ hiểm để kháng mệnh thượng quốc mà không cống vậy. Từ xưa man di, chỉ khi nghịch mệnh mới giết, nếu nước họ không thể thông cống, dường như không đáng để làm mệt nhọc Trung Quốc (中國). Nay tiếng dùng binh đã truyền đi trước khiến trong ngoài đều biết, mà những bề tôi gây hớn không thể hiểu thấu bản ý sai sứ đi khám xét của bệ hạ, bèn hùa theo để mưu động binh đao. Thần không rảnh dẫn chứng xa xôi, xin lấy sự thế lý nghĩa trước mắt mà hỏi đi hỏi lại: * '''Thứ 1:''' Muốn dấy binh tất lấy họ Lê (黎) làm cớ, để phạt bọn loạn tặc. Vì một vùng Nam Giao (南交) nhỏ bé mà làm mệt quân sĩ ngoài 10,000 dặm, đánh tặc để định ngôi cho họ, không phải kế dài lâu của Trung Quốc (中國). * '''Thứ 2:''' Không lập họ Lê (黎) mà nhân đó chiếm lấy, là thừa lúc người gặp nguy nan mà trục lợi, ngũ bá kẻ biết nghĩa còn không thèm làm, huống hồ là bậc thánh minh? * '''Thứ 3:''' Vạn nhất thắng thua không chắc, người Giao (交) có sở trường dùng nỏ độc, dựa nơi cao cắt đường hiểm để chặn quân ta, nếu có sơ suất, họa bại này ai gánh chịu? * '''Thứ 4:''' Nay Lưỡng Quảng (兩廣) khốn đốn, dân Dao (猺), Tráng (獞) tụ tập, quan quân chỉ đủ phòng thủ, chỗ dựa là Lang binh (狼兵). Nhưng thổ quan các châu và tay đao vùng Hồ Quảng (湖廣) nhiều năm mệt mỏi vì chinh điều, trong lòng oán hận. Nếu lại đuổi đi chinh chiến xa, thâm nhập nơi hiểm yếu 1,000 dặm, tiến có địch khó thắng, lui không kỳ trở về, lòng chiến đấu không kiên định. Nam Giao (南交) ẩm thấp, dễ sinh dịch bệnh, vạn nhất quân già tài kiệt, dân Dao (猺) Tráng (獞) thừa cơ nổi dậy, An Nam (安南) chưa xong mà Lưỡng Quảng (兩廣) bại vong có thể thấy ngay. * '''Thứ 5:''' Gần đây vì việc đại công dịch, bạc ở phủ châu huyện đều điều về bộ. Quân lương Ngũ Châu (梧州) cũng vì muối nghẽn, thuế hụt, hằng năm cấp cho các quân không còn dư bao nhiêu. Binh dấy 100,000, ngày tốn 1,000 lạng vàng. Thời Vĩnh Lạc (永樂) dùng 800,000 người vào Giao (交), nay nói giảm một nửa cũng phải có 400,000 người ăn. Lưỡng Quảng (兩廣) vận lương, ước tính 2 thạch mới đến được 1 thạch, lấy đâu ra? * '''Thứ 6:''' Thiên hạ thái bình đã lâu, người không biết binh, binh không quen chiến. Tướng soái toàn con em nhà giàu, ít kinh nghiệm trận mạc, kẻ sĩ phu thích bàn binh toàn hạng Triệu Quát (趙括), Phòng Quán (房琯), ngày thường chỉ nói đại ngôn. Kẻ giỏi binh tất không bàn binh, kẻ nhặt nhạnh bã mía của người xưa để bàn đa số là xằng bậy. Khiến con em nhà giàu cầm quân, kẻ nóng nảy mưu sự, chưa đánh đã thấy cơ bại. Thần ngu cho rằng An Nam (安南) dù có tội đáng giết, vẫn nên vì mạng dân mà yêu tiếc. Việc lâu không nộp cống tình hình chỉ có vậy. Thần đêm nằm nghĩ đến mà không khỏi rùng mình. Cúi mong bệ hạ suy xét tâm nhân ái của thượng thiên, nghĩ tới huấn thị của hoàng tổ, đợi sứ giả phục mệnh rồi hãy cho đình thần bàn kỹ. Nếu họ Lê (黎) còn tồn tại, đủ sức nộp cống thì cho phép; nếu nội nạn chưa định, thì lệnh cho biên thần củng cố cương trường, cấm kẻ gian làm loạn. Đợi An Nam (安南) định loạn, có nên cho nộp cống hay không sẽ tâu sau. Như vậy quốc thể không tổn hại mà sinh linh tránh được họa binh đao. Thần là quan biên giới, gặp cuộc đại chinh này lẽ ra phải mặc giáp cầm mác đi đầu, đem cái chết báo mệnh là chức phận. Nhưng không tự lượng sức, mạo muội dâng lời ngu muội, làm phiền đình nghị, tội đáng vạn chết. Nhưng thần chẳng dám tiếc chết, chỉ sợ chết mà vô ích nên mới mạo muội trình bày. Cúi xin bệ hạ ai lân tài sát. Chẳng riêng gì thần, mà là phúc của thiên hạ vạn thế. === Luận về An Nam (論安南)=== '''Tác giả: Diệp Hướng Cao (葉向高)''' An Nam (安南), từ thời Tống (宋) trở về trước, tuy là đất nội thuộc, nhưng phản loạn đời nào cũng có, vốn là cõi biên thùy ngoài vùng Nam Phục (南服) vậy. Việc thảo phạt Hồ Quý Ly (胡季犛), khi tội ác của hắn đã đầy, há phải vì cậy Trung Quốc (中國) rộng lớn mà khinh suất dùng võ sao? Quét sạch bụi mù, trừ khử nghiệt chủng, khôi phục lại đất phong cũ của ta, uy linh hoàng đế thật rạng rỡ thay. Thế nhưng ấn đồng mực đen vừa ban sáng, thì thư báo khẩn cấp đã tới chiều; 3 lần phái nguyên nhung đại tướng, vừa dẹp yên lại rối loạn. Vùng đất Côn Minh (昆明), Bách Việt (百粵), binh lính đi thuyền đánh giặc, quấy nhiễu lẫn nhau, khốn đốn đã đến cực điểm. Quốc gia chẳng được dùng đến 1 thước lụa hay 1 đấu thóc từ đó, nên mới bỗng nhiên từ bỏ, cùng họ bắt đầu lại từ đầu. Binh đao không dấy, bản đồ không tổn hại, há chẳng phải là cái thiện của việc "tiếp nối lúc lầm lạc" mà bậc minh thánh đã tính toán sao? Bấy giờ lòng dân mới yên, kẻ bị hình phạt còn nảy nọc độc, quan lại làm chính sự cẩu thả, tướng lĩnh thiếu tài chống giữ, bèn mở lối cho lòng xâm lấn, rốt cuộc làm đổ vỡ nghiệp lớn, nên người bàn luận vẫn còn ý kiến chưa thông. Họ Lê (黎) và họ Mạc (莫) tàn sát lẫn nhau, thịnh suy thay đổi, so mức độ hung bạo hay nghịch loạn thì chẳng khác gì nhau. Tuy nhiên, họ đều trước sau hết lòng thành kính, gõ cửa quan xin mệnh. Tước vương bị tước bỏ vĩnh viễn, quốc thể càng thêm tôn nghiêm, uy thế đã gia tăng, sau đó mới nới lỏng cho họ. Việc thao túng có mức độ, cũng là xét theo những việc đã qua vậy. Xưa thời Thành Hóa (成化), bọn hoạn quan nịnh hót cầu công, thường xuyên can thiệp. Cơ quan hữu quan truy tìm hồ sơ cũ việc chinh phạt An Nam (安南), Lưu Trung Tuyên (劉忠宣 - tức Lưu Đại Hạ) đã giấu đi không đưa, sự việc bèn đình chỉ. Than ôi, đó chính là cái tâm của bậc bầy tôi tận trung vậy! ===Tựa sách An Nam Chí (安南志序)=== '''Khuyết danh''' An Nam (安南) nằm giữa vùng Quảng Đông (粵東), Quảng Tây (粵西) và phía nam Vân Nam (滇南). Từ Quảng Đông (粵東), Vân Nam (滇南) đi đường biển vào, còn Quảng Tây (粵西) đi đường bộ vào, nên việc ban lịch truyền hịch, cũng như dâng biểu tiến cống đều đi qua Quảng Tây (粵西), ấy là vì địa hình thuận tiện vậy. Khoảng năm Chính Đức (正德) và Gia Tĩnh (嘉靖) nhà Minh (明), 2 tộc Di là họ Lê (黎) và họ Mạc (莫) ở An Nam (安南) tranh nhau hùng cứ, đều muốn có được điển lễ của Trung Quốc (中國) làm trọng, mà Trung Quốc (中國) cũng xem xét tình hình, tùy nghi ứng phó, cốt giữ sự ràng buộc không dứt mà thôi. Đến khi họ Mạc (莫) suy vi, họ Lê (黎) phục hưng, các ý kiến bàn luận bên ngoài gần như đầy cả triều đình. Đa số các kẻ sĩ anh dũng, hăng hái lấy danh nghĩa quận huyện thời Hán (漢), Đường (唐), nhất định muốn thừa thế trai cò mà quét sạch bụi trần nơi biển khơi. Các bậc đại thần lão luyện thì lo sợ vết xe đổ thời Tống (宋), Nguyên (元), đều muốn lấy người Di trị người Di, như lệ cũ thời Gia Tĩnh (嘉靖). Tình hình nay và xưa chẳng cách xa nhau mấy. ''Truyện'' nói: "Bậc thượng sách thì thuận theo, hạng thứ thì chỉnh đốn, hạng thấp nhất mới cùng tranh giành". Thời Tây Kinh (西京 - Tây Hán), nới lỏng pháp luật mà thuận theo phong tục, nên dân yên. Thời Đông Kinh (東京 - Đông Hán), dẫn dắt bằng lễ pháp và đe dọa bằng uy binh, nên dân nghi ngờ. Đến cuối thời Hán (漢), quan lại làm khổ dân, dân cũng làm khổ quan, gần như không thể cứu vãn. Từ thời Đường (唐), Tống (宋) trở về sau, lại càng tệ hơn. Quan lại tham ô ham lợi lộc từ rừng núi khe suối, coi An Nam (安南) là món hàng lạ để trục lợi, đào bới núi, tát cạn đầm, tính tình như hổ sói, sự phản kháng cũng theo đó mà ra. Những kẻ tự hiệu là mạnh mẽ có lực, thích lập công danh cho bản thân. Hôm nay chiêu mộ, ngày mai trưng thu, chưa nghe thấy lấy được thủ cấp giặc, mà đã thấy dân tình khốn quẫn ngay trước mắt. Thời Nguyên (元) thì không bàn đến, thời Tây Hán (西漢), Giao Châu (交州) đặt 1 chức Thứ sử, 2 chức Quận thủ, huyện lệnh thì không kể xiết. Nhà Minh (明) thì liệt vào Tam ty (三司), chia làm 17 phủ, châu huyện tính bằng con số 100, lại còn đặt hoạn quan trấn giữ. Những người đó há đều là hạng thanh liêm, lo cho dân sao? Nghe chuyện cũ kể lại, như Tham chính Phùng Quý (馮貴) đã có tiếng tham ô, mà hoạn quan Mã Kỳ (馬騏) lại càng tệ hơn. Mới trị vì mà đã thế, sau này biết đến nhường nào? Thật thỏa đáng khi người Giao (交) nhiều lần phản loạn vậy. Xưa quận Hợp Phố (合浦) nhiều quan tham, hạt châu dời sang Giao Chỉ (交趾); đến khi Mạnh Thường (孟嘗) làm thái thú, châu lại quay về. Than ôi, đời nay sao có thể tìm được tất cả những người như thế để bố trí ở Nam Giao (南交), khiến người Di không dám khinh nhờn Trung Hạ (中夏) đây! === Luận về An Nam (論安南)=== '''Khuyết danh''' Xưa Hán Vũ Đế (漢武帝) chinh phạt Đại Uyển (大宛) ở phía Tây, phía Tây Nam vào vùng đất cũ của Tường Kha (牂牁), Dạ Lang (夜郎), phía Nam bình định vùng Âu (甌), Mân ( Mân) và cả Đông Tây Quảng (粵東西), rồi dùng sức dư định yên 3 quận Giao Chỉ (交阯), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南) dễ như trở bàn tay, oai liệt biết bao! Nhà Nguyên (元) thống nhất thiên hạ, dùng toàn lực trong cõi mà không thể hạ được 1 nước An Nam (安南), vì sao vậy? Vì nhà Hán (漢) dùng văn cáo, còn nhà Nguyên (元) dùng uy binh. Tôi xem thời Hán Vũ (漢武), quân thuyền lầu đánh giặc chưa từng vượt qua sông Phú Lương (富良), vùng đất Long Biên (龍編), Lạng Sơn ( Lạng Sơn) chẳng phiền đến lính canh giữ. Họ không có rào dậu, ta cũng cùng họ không rào dậu. ''Lễ'' nói: "Chỉnh đốn chính sự mà không thay đổi phong tục", chính là gần như thế vậy. Quang Vũ (光武) có thể đóng cửa Tây Vực (西域), nhưng không thể quên được sự phản loạn của Trưng Trắc (徵側), tuy cột đồng ghi danh sáng ngời ngàn thu, nhưng cuộc chiến ở cõi Nam cũng từ đó mà bắt đầu nảy sinh mầm mống. Thử đem công lao thời Kiến Vũ (建武) so với thời Nguyên Đỉnh (元鼎), đã không thể sánh ngang hàng, huống chi là so với nhà Nguyên (元)? Quan lại tham ô trước hết làm mất lòng dân, tập tục hổ sói khó lòng sửa đổi cái cũ, dù có được đất, liệu có giữ được đến cùng chăng? Đầu nhà Minh (明) bắt được tội nhân mà đặt làm quận huyện, há chẳng xưng là oai liệt sao? Nhưng vừa bình xong lại phản, nên cái khó không phải là ở việc thắng, mà là ở việc giữ. Đến thời Tuyên Tông (宣宗), tướng mạnh tử trận, quân giỏi phơi xác nơi nội cỏ, lương hướng không tiếp ứng nổi, trong nước trống rỗng, dù muốn không đình chỉ binh đao liệu có được không? Những kẻ bàn luận về sau vẫn cho rằng "Tam Dương" (3 vị đại thần họ Dương) từ bỏ An Nam (安南) là mất sách lược. Ôi! Kế sách vững chắc của bậc lão thành vốn không dễ để nói cho những kẻ thiếu niên thích lập công hiểu được vậy. ==An Nam bộ nghệ văn 2 (thơ)== === Lữ ngụ An Nam (旅寓安南)=== '''Tác giả: Đỗ Thẩm Ngôn (杜審言) - Thời Đường (唐)''' Giao Chỉ (交阯) khí hậu thật khác lạ, cái lạnh đến muộn mà cái nóng lại giục giã ngay. Tháng 11 âm lịch (仲冬) quả trên núi đã chín, tháng 1 âm lịch (正月) hoa đồng nội đã nở rộ. Mưa dầm tích tụ sinh ra sương mù tối tăm, sương nhẹ rơi xuống mà lại có tiếng sấm vang. Quê nhà cách xa hơn 10,000 dặm, lòng khách ly hương càng thêm bội phần. === Độ An Hải nhập Long Biên (度安海入龍編)=== '''Tác giả: Thẩm Thuyên Kỳ (沈佺期)''' Ta đến quận Giao Chỉ (交阯), phía Nam thông với nước Quán Hung (貫胸). 4 mùa phân chia thì khí lạnh ít, 3 nguồn sáng (nhật, nguyệt, tinh) thì mặt trời đặt lệch phương. Uất Tha (尉佗 - Triệu Đà) từng trị vì đất nước này, Ông Trọng (翁仲 - Lý Thân) đã lâu dạo chơi chốn suối vàng. Nhà cửa của dân sót lại vẫn còn đó, nghề cá và muối từ xưa truyền lại. Người Việt (越) từ xa bưng chim trĩ dâng nộp, tướng nhà Hán (漢 Mã Viện) nhìn xuống thấy chim diều hâu rơi. Sao Bắc Đẩu treo trên núi cao, gió Nam kéo theo biển dâng sóng lớn. Biệt ly thường xuyên làm tan nát vầng trăng, diện mạo tóc mai chợt giục giã tuổi già. Anh em thì phó mặc cho số mệnh, vợ con đành cắt đứt giao cho duyên phận. Mộng về khiến hồn thêm nhiễu loạn, sầu chất chồng làm bệnh quấn thân vô ích. Luống công nói về giọt nước mắt làm sụp đổ thành trì, lòng sáng này chẳng ứng với trời xanh. === Lý Vân Nam chinh Man thi (李雲南征蠻詩)=== '''Tác giả: Cao Thích (高適) - Có lời tựa''' ====Lời tựa==== Năm Thiên Bảo (天寶) thứ 11 (năm 752 dương lịch), có chiếu chỉ đi đánh giặc Di (夷) phương Tây Nam, Phụ tướng (右相) Dương Công (楊公 - Dương Quốc Trung) kiêm giữ trọng trách tiết chế, bèn tấu rằng: "Cựu Thái thú Vân Nam (雲南) là Lý Mật (李宓) vượt biển từ Giao Chỉ (交阯) đánh tới. Đường sá hiểm trở gian nan, đi về hơn 10,000 dặm, ấy là nơi mà trăm đời vua trước chưa thông được vậy." Tháng 4 năm Thiên Bảo (天寶) thứ 12 (năm 753 dương lịch), Lý Công (李公) về tới Trường An (長安). Bậc quân tử do đó biết triều đình biết dùng người tài, mà Lý Công (李公) thì tận trung báo quốc. Ta vốn là chỗ cũ của người này, nhân đó làm bài thơ này. ==== Bài thơ==== Bậc Thánh nhân nổi cơn thịnh nộ, ban chiếu phạt giặc Nhung (戎) phương Tây Nam. Uy nghiêm thay nơi triều đường, thâm trầm thay bậc tiết chế anh hùng. Bèn khiến kẻ sĩ cảm kích, gây dựng nên công trạng phi thường. Liệu cái chết chứ không liệu kẻ địch, nghĩ ơn vua há nghĩ đến lúc cuối cùng. Đánh trống tiến quân ngoài biển trời, chuyển chiến trong lòng bọn Man Di (蠻夷). Leo vách đá gần sát chim bay cao, xuyên qua rừng kinh qua loài sâu độc. Cửa Quỷ Môn (鬼門) không khách quay về, Cửa Bắc (北戶) thổi nhiều gió phương Nam. Loài ong bò cạp cách biệt 10,000 dặm, mây sấm theo sát 9 lần tấn công. Tiến xa phá tan những con sóng lớn, đánh gấp làm trống cả dãy núi non. Đường tiếp lương bỗng chốc đã xa, quân cô độc gần như sắp kiệt sức. Lòng thành kính động cả mặt trời trắng, khí phẫn nộ xông lên tận trời xanh. Ngoài đồng ăn thịt chuột đào dưới đất, bữa xế ăn chung với tôi tớ người Bộc (僰). Thu binh bày hàng nơi đình hậu, mở đất rộng khắp cả Tây Đông. Gặp việc thẹn nếu cầu thoát thân, bước vào nguy nan càng biết giữ mình. Sao tướng quân một mình tỏa sáng, sắc thái biên thùy sao mà mịt mùng. Sông Lô (瀘水) đêm có thể lội qua, Giao Châu (交州) nay mới bắt đầu thông suốt. Quay về trên con đường Trường An (長安), được triệu kiến tại cung Cam Tuyền (甘泉). Liêm Pha (廉), Lận Tương Như (藺) nếu chưa chết, Tôn Tử (孫), Ngô Khởi (吳) cũng biết là cùng chí hướng. Gặp nhau luận bàn ý khí, khảng khái tạ nỗi lòng sâu kín. === Việt Thường Thao (越裳操)=== '''Tác giả: Hàn Dũ (韓愈)''' Mưa ban xuống, muôn vật theo đó mà sinh sôi, ta đâu có ý riêng gì với chúng? Từ tổ tiên nhà Chu (周), đã gian khổ đã cần lao. Để có được cõi bờ vũ trụ, để lại cho hậu nhân chúng ta. Tổ tiên ta ở trên cao, 4 phương ở dưới thấp. Sự hiển linh của người rất uy nghiêm, ai dám đùa cợt hay khinh nhờn. Ai bỏ hoang nơi cửa ngõ, ai canh tác nơi ruộng đồng. 4 biển đã thái bình, Việt Thường (越裳) theo đó mà xưng thần. === Việt Thường hiến bạch địch (越裳獻白翟)=== ''(Có thuyết cho là thơ của Đinh Tiên Chi - 丁仙芝)'' '''Tác giả: Tôn Xương Dẫn (孫昌引)''' Bậc thánh triết gặp vận tốt lành, các vị Y (伊), Cao (皋) đứng hàng thượng đài. Ơn sâu thấm nhuần tận cõi Đan Kiều (丹徼) xa xôi, vật phẩm vào cống là chim trĩ trắng bay đến. Nơi cửa khuyết phía Bắc vui mừng lần đầu trông thấy, cành cây phương Nam ngoảnh lại chưa muốn quay về. Thu mình lại như tuyết tàn tinh khiết, tung cánh ra như mảnh mây mở lối. Thuần hậu rồi sẽ không còn sợ hãi, tung bay xin chớ có nghi ngại. Cam lòng ở trong vườn thượng uyển, tự mình ăn uống thong dong chốn Tương Hồi (襄回). === Tống Lý đại phu phó Quảng Châu (送李大夫赴廣州)=== '''Tác giả: Tiền Khởi (錢起)''' Một bậc hiền tài nhờ khí thiêng mà sinh ra, như chân Kỳ Lân, như lông Phượng Hoàng. Đâu ngờ sự trông đợi của lòng người, lại chưa làm bậc phụ tá cho quân vương. Việc ra trấn giữ bỗng chốc được đề cử nhờ tài năng, thật thịnh thay bậc văn võ song toàn. Phương Nam Việt (南越) gởi gắm nơi thành trì giữ nước, hùng dũng nắm giữ giáp binh. Cửa trống thông đến mạc phủ, giếng trời đi vào quân doanh. Phong tục vùng ấy nhiều kẻ hào hoa xa xỉ, từ xưa đã khó đem lễ nghĩa đến. Chỉ có lòng thanh liêm như uống nước băng của quân, mới có thể nếm được nước suối Tham Tuyền (貪泉). Bầy tôi trung cảm động bậc thánh quân, vì nghĩa mà dấn thân không cầu công trạng. Gương rồng xua đuổi sơn mị, gió sương phá tan mây núi. Đường viễn chinh trải qua bao nhiêu khúc quanh, cửa Ngụy Khuyết (魏闕) như ở ngay trước mắt. Hướng về quận có triều dâng đón đợi, chỉ về làng quê thấy cây cối đã xa. Cầm phù tiết giáo hóa vùng Ôn Mân (甌閩), xuống xe đã có chính sách mới tốt đẹp. Nên khiến phong tục của Uất Tha (尉佗) xưa, quay trở lại làm dân thời Thượng Hoàng (上皇). Ta và người cùng chơi với bậc tuấn triết, từ lúc 20 tuổi (弱冠) đến khi tóc bạc (華髮). Xưa hứa hẹn cùng nhau nơi mây cao, nay than thở sự chia biệt giữa chim bằng và chim én. Hướng về phương Nam không gì ngăn cản nổi, bùi ngùi trông giữ bóng hoàng hôn. === Cung phụng Định pháp sư quy An Nam (供奉定法師歸安南)=== '''Tác giả: Dương Cự Nguyên (楊巨源)''' Quê hương ở ngoài cõi Nam Việt (南越), muôn dặm đỉnh núi mây trắng bao phủ. Từ biệt kinh đô đem theo kinh luận, hương hoa gặp nhau nơi biển cả. Sóng nước trắng xóa vang vọng tiếng kinh trong trẻo, lầu các hiện ra như hóa thành điệp trùng. Lòng vẫn tìm đến đường sá Trường An (長安), đêm sau đã nghe tiếng chuông chùa Giao Châu (交州). === Kinh Phục Ba thần từ (經伏波神祠)=== '''Tác giả: Lưu Vũ Tích (劉禹錫)''' Mịt mùng dưới rặng tre rừng, có con đường lên núi Hổ Đầu (壺頭). Đồn cũ nhà Hán (漢) nay hươu nai và loài dơi đánh nhau, khe suối vùng Man di sương mưa sầu thảm. Nhớ người xưa kính cẩn nhìn di tượng, xem thế sự chỉ về dòng nước chảy xuôi đông. Tự phụ có lược lược bá vương, đâu biết chỉ là tước hầu nhờ ơn trạch. Làng xóm từ biệt cột đá, sức lực đã cạn nơi vùng đất nóng Viêm Châu (炎洲). Chỉ vì một nỗi công danh ràng buộc, lại quay sang nhớ về Mã Thiếu Du (馬少游). === Tống Man khách (送蠻客)=== '''Tác giả: Trương Tịch (張籍)''' Thử hỏi người khách vùng Viêm Châu (炎洲), trời Nam đi mấy ngày thì tới? Sông nối liền con đường qua suối dữ, núi bao quanh thành Dạ Lang (夜郎). Lá liễu thấm đẫm mây chướng khí, lùm cây quế vang tiếng chim vùng Man di. Biết khi quân trở về, vẫn còn nhớ được tên của loài "hoa biển". === Sơn trung tặng Nhật Nam tăng (山中贈日南僧)=== '''Tác giả: Trương Tịch (張籍)''' Một mình già đi nơi 2 ngọn núi, cửa tùng đóng kín giữa 2 vách đá. Chép kinh lên lá chuối, treo áo cà sa giữa những đóa hoa mây. Đá lát giếng mới đào, xuyên qua rừng tự mình trồng trà. Thường gặp người khách từ Hải Nam (海南) tới, dùng tiếng Man di mà hỏi thăm là nhà ai. === Tống Trịnh thượng thư phó Quảng Châu (送鄭尚書赴廣州)=== '''Tác giả: Trương Tịch (張籍)''' Thánh triều chọn tướng cầm phù tiết, nội sứ tuyên cáo lúc 100 quan (百辟) lắng nghe. Người Man di phía bắc biển đến múa hát, vùng Lĩnh Nam (嶺南) dâng nộp "đồ kinh". Chim trĩ trắng bay quanh chào đón thuyền quan, hoa cận đỏ nở ngay nơi đình tiệc đãi khách. Nơi đây chớ có nói nhiều về chướng khí, hãy nhìn lên tận chân trời mà ngắm sao Lão Nhân (老人星). === Man trung (蠻中)=== '''Tác giả: Trương Tịch (張籍)''' Phía nam cột đồng cỏ độc nảy mầm xuân, người đi hành quân mấy ngày thì đến Kim Lân (金潾)? Thiếu nữ nhà ai xỏ vòng ngọc qua tai? Tự ôm đàn tỳ bà đón chào thần biển. === Tống Vương tú tài vãng An Nam (送王秀才往安南)=== '''Tác giả: Dương Hành (楊衡)''' Quân vốn là khách lướt sóng biển, đường khách đi ai tường tận cho bằng. Cá kình vượt qua ngỡ là núi dựng, gà gáy báo canh đã sớm thấy mặt trời. Chỉ than nỗi chèo quay về muộn, càng khiến tình ly biệt thêm thắt chặt. Chớ có tham viên ngọc ở Hợp Phố (合浦), hãy nhớ giữ gìn cây quýt đất Giang Lăng (江陵). === Tống Mã phán quan phó An Nam (送馬判官赴安南)=== '''Tác giả: Hùng Nhu Đăng (熊孺登)''' Người cũ sang Giao Chỉ (交阯) để tòng quân, chắc sẽ cười kẻ cuồng sinh này chỉ biết múa bút giữa tầng mây. Hiểu rõ được sự việc ở Thái Châu (蔡州) ngày hôm nay, vốn xưa kia từng được nghe trước trướng của quan Đô hộ (都護). === Ký An Nam Mã trung thừa (寄安南馬中丞)=== '''Tác giả: Hùng Nhu Đăng (熊孺登)''' Thông hiểu ''Long Thao'' (龍韜) nên được chia giữ hổ phù, đài ngự sử vạn dặm uy nghiêm đè bầy mây chướng khí. Khách phương xa không cần lo âu đường biển, vì thần sóng nay đã khuất phục trước Mã tướng quân (馬將軍). === Tống Hoàng Tri Tân quy An Nam (送黃知新歸 An 南)=== '''Tác giả: Giả Đảo (賈島)''' Nơi đình ao đã uống say khắp lượt, đâu chỉ riêng ngắm hoa vùng Khúc Giang (曲江). Đất xa xôi đường xuyên qua biển, mùa xuân đi mà mùa đông mới đến nhà. Nơi núi lửa khó lòng có tuyết xuống, đất chướng khí không mọc được trà. Biết quân đã quyết định kế hoạch dời đi, ngày gặp lại nhau hẳn còn xa xôi. === Phó An Nam khước ký đài ty (赴安南卻寄台司)=== '''Tác giả: Cao Biền (高駢)''' Từng ruổi ngựa 10,000 dặm lên núi Thiên Sơn (天山), gió đi mây về chỉ trong khoảnh khắc. Chuyện phương Nam nơi cửa biển ngày hôm nay, chớ để quay lại giống như ở cửa Phượng Lâm Quan (鳳林關). === An Nam tống Tào biệt sắc quy triều (安南送曹別敕歸朝)=== '''Tác giả: Cao Biền (高駢)''' Mây nước mịt mùng mặt trời sắp tắt, nơi khói đồng sâu thẳm chim đa đa hót buồn. Biết quân vượt 10,000 dặm về triều kiến thiên tử, hãy thưa giùm rằng kẻ "Chinh Nam" này đã trải qua 5 mùa thu rồi. === An Nam ngụ chỉ (安南寓止)=== '''Tác giả: Hàn Ác (韓偓)''' Đất này 3 năm tình cờ gởi thân, giậu cây chỉ, nhà mái cỏ cùng với dâu gai. Bướm khoe cánh ấm thong thả nhìn cỏ, ong cậy mình nhẹ chăm chú ngắm hoa. Trời gần cửa Hàm Quan (函關) tụ khí lành, nước lấn cõi Ngô Điện (吳甸) thấm ráng chiều tạnh. Đâu biết nơi hàng bói toán có Nghiêm phu tử (嚴夫子), thầm chỉ vào máy trời mà nhận ra chiếc bè tiên trên biển. === Tặng hữu nhân bãi cử phó Giao Chỉ tịch mệnh (贈友人罷舉赴交阯辟命)=== '''Tác giả: Đỗ Tuân Hạc (杜荀鶴)''' Rời bỏ trường danh lợi dự định vào đất Tần (秦), hành trình về phương Nam không tội mà giống như kẻ bị lưu đày. Dẫu đi qua núi Thương Lĩnh (商嶺) cũng chẳng phải cưỡi ngựa trạm, phải ghé Trường Sa (長沙) để viếng bậc bề tôi bị ruồng bỏ (Khuất Nguyên). Thuyền chở nô lệ biển đeo vòng nặng nơi tai, voi chở thiếu nữ người Man gấm vóc quấn thân. Sao bằng đợi lấy cành quế nơi cung mây, để rồi nhận lời mời tốt đẹp làm bậc thượng tân. === Hỷ hữu nhân Nhật Nam hồi (喜友人日南迴)=== '''Tác giả: Trương Bân (張蠙)''' Dạo chơi phương Nam từng đến tận cõi Hải Nam (海南), khách đi nơi ấy chẳng dễ quay về. Ban ngày sương mù tối tăm phải thắp nến đêm, giữa mùa đông khí trời ấm áp lại mặc áo xuân. Khe suối hoang vu chim độc bay theo thuyền kêu váng, hang động tối tăm rắn oan nghiệt từ cây phi ra. Trở lại kinh thành sao mà lặng lẽ, cùng những kẻ bị biếm trích quay về, nửa phần đã gầy gò nửa phần đã béo tốt. === Tống nhân quy Nam Trung (送人歸南中)=== '''Tác giả: Trương Bân (張蠙)''' Có nhà ai mà chẳng phải biệt ly, nhưng trải qua loạn lạc thì một mình thật khó tìm về. Đường xa sóng đào dữ dội, cõi hoang vu mưa mù mịt mùng. Lửa đốt làm kinh động voi núi chạy ra, sấm động chạm khiến rùa biển chìm xuống. Xin hỏi những khách dời xuống phương Nam, còn ai đang ở trong rừng chướng khí? === Quảng Châu Vương Viên Tự phục nhật tức sự ký Bắc Trung thân hữu (廣州王園寺伏日即事寄北中親友)=== '''Tác giả: Vương Ngôn Sử (王言史)''' Vùng Nam Việt (南越) gặp ngày sơ phục, chùa Đông Lâm (東林) trải qua 1 sáng. Ao uốn lượn như thiêu dưới cảnh nóng đáng sợ, gác cao tuyệt không có lấy một luồng gió nhẹ. Chiếu trúc dời đi phải dội nước trước, quạt bồ quỳ rách rồi lại lắc lư. Đất hẻo lánh nên cái khí "mao chướng" gần kề, núi độc nên cái oai hỏa nồng đượm. Mồ hôi thấm áo vải thưa như mới giặt, giường chiếu và gối nằm đều nóng như thiêu. Cành rơi làm bị thương chim翠羽 (thúy vũ), lá héo làm thương tiếc nhành紅蕉 (hồng tiêu). Đang khốn khổ vì cái nóng chảy vàng, khó thành lời ca lúc một mình nâng chén. Ngóng mưa nhìn chân cột đá ẩm ướt, nhớ gió đợi những nhành cây mảnh khảnh lay động. Nỗi hận lữ thứ sinh ra ở đất Ô Hử (烏滸), lòng nhớ quê buộc nơi cầu Dục Kiều (浴橋). Ai thương kẻ khách đang ở nơi nóng bức, chỉ một đêm mà dung mạo tráng kiện đã tiêu gầy. === Thí Việt Thường cống bạch trĩ (試越裳貢白雉)=== '''Tác giả: Vương Nhược Nham (王若喦)''' Chim trĩ trắng vẻ ngoài thật rõ rệt, từ phương xa Việt Thường (越裳) đem lại. Mắt như băng sáng soi dưới ánh mặt trời buổi sớm, lông như ngọc ngậm hơi sương buổi đêm. Ngày tháng trải 3 năm xa cách, núi sông qua 9 đầm (九澤) dài dằng dặc. Đến từ con đường nơi biển xanh, vào chầu nơi quê hương của mây trắng. Làm điềm lành để nhà Chu (周) hưng thịnh, lên lời ca ca ngợi vua nhà Hán (漢). Triều đình nhờ đạo hiếu để trị vì, ơn đức giáo hóa thật không biên giới. === Thứ An Nam sự (刺安南事)=== ''(Thời bấy giờ 2,000 lính hứa thác tại Nam Hương)'' '''Tác giả: Một cử tử thời vua Ý Tông (懿宗)''' Vùng đất hoang phương Nam không chọn quan lại, khiến cho Giao Chỉ (交阯) của ta bị lật đổ. Liên miên suốt 3 đến 4 năm, khiến cho Giao Chỉ (交阯) của ta chịu nhục. Kẻ hèn nhát hễ đánh là lui, kẻ võ biền càng ham dùng binh. Quân dung đầy rẫy thiên hạ, tướng chiến nhiều vàng ngọc. Nạo vét hết vết thương của dân lành, chia làm bổng lộc cho các mãnh sĩ. Hùng dũng thay quân đội đất Hứa Xương (許昌), trung vũ đứng đầu trong các tộc. Ra đi là gió cuốn 10,000 kỵ mã, ở lại làm thịt nát một dòng sông. Thỉnh thoảng có tàn quân quay về, 1,000 cửa 10,000 nhà than khóc. Tiếng đau thương động cả xóm làng, khí oán hận chất thành sơn cốc. Ai có thể nghe tiếng trống, ai chẳng nỡ nhìn mũi tên vàng. Nghĩ đến đây nước mắt trào rơi, nhìn mãi dòng sông xanh vùng Dĩnh Xuyên (潁川). === An Nam tức sự (安南即事)=== '''Tác giả: Trần Phu (陳孚) - Thời Nguyên (元)''' Đức thánh như trời không có bên ngoài, ánh sáng ân trạch soi đến tận góc bể. Bèn ban chiếu cho vùng Nam Việt (南越), lệnh cho kẻ sĩ phu Bắc Môn (北門). 10,000 dặm mùa thu cầm phù tiết, 1,000 quân buổi đêm cầm giáo dài. Tiền quân nghiêm chỉnh cung nỏ, hậu cần đầy đủ củi đuốc. Ngắm nhìn vùng đất Giao Châu (交州) kia, thuở đầu vốn là khu vực của nhà Hán (漢). Thuyền lầu chinh phạt đã bình định, Trưng Trắc (徵側) làm phản cũng bị tiêu diệt. Thời Ngũ Đại (五代) kỷ cương vương thất đổ nát, các phương chia cắt đồ bản bá chủ. Khiến cho phong khí bị ngăn cách, chợt thấy bản đồ và sổ sách đã khác xưa. Đinh Liễn (丁璉) trước kia vốn ngang ngược, Lê Hoàn (黎桓) sau đó lại nhòm ngó. Một sớm họ Trần (陳) dựng nghiệp, 8 đời tông tộc họ Lý (李) đã qua. Phong tục bên dưới rất nông cạn, không có lễ nhạc của Trung Hoa (中華). Kiêng húy mà gọi nhầm họ là Nguyễn (阮 - nhà Trần bắt dân đổi họ Lý sang Nguyễn), mượn chế độ mà chiếm xưng là Cô (孤 - tự xưng vua). Tế tự nơi tông miếu đã dứt, hôn nhân trong tộc thuộc đều ô uế. Sang hèn đều đi chân đất, già trẻ đều cạo trọc đầu. Leo núi nhẹ hơn hươu, bơi dưới sóng nhanh hơn vịt. Mũ lụa xanh móc chéo, áo lụa đen cổ cong. Lời nói cười như chim én trước đường, dáng chạy nhảy như chim quạ trên nóc nhà. Chống quạ thân như heo nằm, bẫy sẻ lưng như cáo cuộn. Chùa hiệu Thiên Linh (千齡) thật thô lậu, tên châu Vạn Kiếp (萬劫 - vạn đời, vạn tai nạn) thật ngu ngơ. Sáo nhị vây quanh bầy kỹ nữ xấu xí, rượu thịt cúng tế cho bọn pháp sư dâm tà. Quốc úy (國尉) dùng mâm xanh để bảo vệ, quân canh cầm gậy trắng xua đuổi. Xem xét điều luật thân chinh xử kiện, thông chữ nghĩa giữ chức cơ khuê. Khách trong phủ quan đi lững thững, nô lệ trên tòa tóc rối bời. Chức Trung tán (中贊) trong đài cương kiểm soát, thuế của ấp giao cho quan lớn nộp. Lại dịch thu thuế cau, người dân nộp sưu an tức hương. Hình phạt bằng vàng không thể chuộc, lọng tím trái luật khó vượt qua. Cầu An Hóa (安化) nguy hiểm thay, gác Minh Linh (明靈) chênh vênh quá. Hát khúc ca than thở thời thế, nhạc tấu vang tận hoàng đô. Rễ rồng thường xuyên xuyên qua vách, dây trầu chẳng rời khỏi bình. Trâm đồi mồi cài trên mái tóc ngắn, hình sâu khắc trên làn da cứng. Có nhà đều đục hang, không giường nào chẳng chuộng lò. Sao sáng bến thuyền làm chợ, hoa phúc dòng nước làm thành. Cao ngất núi chia làm lạp, mênh mông sóng đổ vào sông Lô (瀘). Cửa Chuột (鼠關) rừng rậm che lấp, Ải Sói (狼塞) khe suối quanh co. Miếu Sĩ Nhiếp (士燮) sắp đổ, tháp Cao Biền (高駢) chưa hoang vu. Thuyền sắt thấy bóng dưới sóng, cột đồng vết thổ nhòa khô. Làng xóm đa phần đặt chõng tre, vách núi dựng đứng thường dời lối. 1,000 thuyền buôn nơi đất mặn, 4 mùa thu hoạch hạt gạo phì nhiêu. Vườn mạ dâu ngắn ngủi, bụi tre gai góc đầy đường. Chuối mật treo như kiếm, nhãn rồng kết như châu. Chén quý bày hình chim vẹt, hương danh nghiền hạt đa đa. Treo cờ vẽ hình ma quỷ, gõ mõ tụ tập binh đồ. Mũi uống nước như bình gốm, đầu bay đi như lộc lộc. Da trăn làm mặt trống đánh, râu tôm làm gậy chống đi. Nhà nào cũng nấu rắn rết, người có thể huyễn hóa hổ báo. Mái nhà ngói lấp lánh như vảy cá, thuyền nổi trên biển như đuôi chim khách. Nỏ nước ngậm cát phun người, sơn tinh ra khỏi hang thô kệch. Cá sấu kêu như sấm sét, khí con thận nhả ra lâu đài. Vùng đất nơi đây đau lòng vì chia cách, sinh linh khốn khổ vì chướng độc. Múa trên bậc thềm (vũ giai) vẫn chưa cảm hóa được, một tấm thiếp sao có thể gọi đến. Đàn đại xã bắt đầu truyền lễ tế quân, cửa viên môn hợp sức thu nhận hàng binh. Quân tì hưu hơi tạm dừng nghỉ, loài rắn rết đôi khi trốn chạy. Trời đã diệt kẻ ác cầm đầu, dân vẫn thờ đứa trẻ僭 hiệu. Thế như Thuần (Tôn Thuần) chiếm cứ đất Lũng, chính sự như Hạo (Tôn Hạo) làm mất nước Ngô (吳). Chiếu phụng lại tuyên lệnh, lòng lang dạ thú lại chịu tội. May mắn được khoan hồng hình phạt, mà vẫn tự mình quyến luyến nơi bùn lầy. Dâng bài tụng tôn vinh Thiên tử, gởi sớ chương sai đại phu đi. Lời của dịch giả có thể khảo đính, sự việc trong sách cũ chẳng hề sai lầm. Công lao muốn thu về nơi biên cõi, uy thế phải nhờ vào mưu lược nơi triều đình. Tắm gội sạch sẽ bày tỏ vần thơ này, tiểu thần bộ Lễ là Phu (孚) kính cẩn. === An Nam Hành (安南行)=== ''(Tống Lý Cảnh Sơn Thị lang xuất sứ - 送李景山侍郎出使)'' '''Tác giả: Viên Quyết (袁桷)''' Sứ giả ngồi xe nhẹ từ An Nam (安南) đến, phong ấn bùn tím chứa chiếu thư đi nhanh như phong lôi. Mây ẩm lật nhào giữa không trung, sóng biển dựng đứng, núi Thiết Võng (鐵網山) nứt ra khiến giao long điên cuồng bị bẻ gãy. Kinh đô rực rỡ trấn giữ cõi vô cùng, chuột lửa rồng nến tận cùng phương Bắc hoang sơ. Vùng đất nhỏ như viên đạn có gì đáng bàn, lấy giun làm thành, lấy sương mù làm cõi. Sông chướng khí đen như mực, cỏ gianh vàng nhuộm màu hôn ám, lũ man di vượt sông làm nước sông đục ngầu. 1,000 năm tuyết trắng chẳng rơi xuống đất, tháng 10 (tháng 10 âm lịch) mai xanh vẫn trĩu khắp thôn. Chân trần múa môi khoe tài chiến đấu nhanh nhẹn, tên tre giấu nọc rắn lẫn lộn với bầy vượn khỉ. Kẻ quật cường từng khoe khoang như ếch ngồi đáy giếng, lúc cúi đầu lại tự ví như thú vật trong bùn. Rồng bay Thiên tử lên ngôi vào mùa xuân năm thứ 1 (có thể là năm 1324 dương lịch), vạn bang cầm ngọc bích tu sửa nghĩa láng giềng bề tôi. Thuẫn đỏ rìu ngọc múa giữa sân rộng, cười hỏi cột đồng nay còn ai? "Ngài chẳng nghe sao, người dịch nhiều tầng ngôn ngữ như tộc Việt Thường (越裳氏), có đạo nên đã dâng trĩ trắng cho vua nhà Chu (周)." "Lại chẳng nghe sao, xương của Phòng Phong (防風) lớn đến nỗi đầy cả xe. Thần Vũ (禹) nổi giận thi hành thiên tru, Lý Hầu (李侯) uy phong lẫm liệt đeo ngọc thúy thương. Lưỡi uốn như sông treo đối đáp 4 phương, xe sau chở đầy quà tặng về triều lúc chưa tan." Cúi đầu dập đầu 9 lạy, xin nhận lấy kim ấn để quay về vùng đất nóng cháy phương Nam. === Tặng Lưu Tông Đạo sứ An Nam (贈劉宗道使安南)=== '''Tác giả: Lý Nguyên Đạo (李源道)''' Một kẻ sĩ còn mạnh hơn 100,000 binh, gió thu cầm phù tiết đi sứ nơi trong trẻo. Sao có thể để Tán Phổ (贊普) nhòm ngó đất Đường (唐), phải khiến Toa Xa (莎車) đến bái lạy đình Hán (漢). Con thận phun khói chướng khiến hang rồng đen tối, cá kình dấy sóng lớn làm mây biển tanh nồng. Nguyên nhung đã chuẩn bị xong kế sách yên biên giới, vạn cổ nghìn thu danh ghi sử sách xanh. === Nhạc Dương Trung thu trị An Nam cống sứ nhân hoài cựu du (岳陽中秋值安南貢使因懷舊遊)=== '''Tác giả: Phó Nhược Kim (傅若金)''' Động Đình (洞庭) khí thu tràn ngập Long Đống (龍堆), làm khách tha hương chợt giật mình thấy thời tiết giục giã. Sáo sắt chợt nghe vang ngoài tầng mây, lầu quỳnh hẳn phải mở bên cạnh vầng trăng. Người Việt Thường (越裳) qua nhiều lần dịch ngôn ngữ sau 3 năm mới đến, bè trôi trên biển khơi đến vào tháng 8 (tháng 8 âm lịch). Chợt nhớ chuyến đi cũ nay đã cách vạn dặm, nơi chân trời thường thấy nhạn bay về. === Tống An Nam sứ hoàn quốc ứng chế (送安南使還國應制)=== '''Tác giả: Vương Di (王彝) - Thời Minh (明)''' Đức đế như trời 4 biển cùng chung, áo cỏ nối nhau hướng về phong hóa Trung Hoa. Xưng thần đặc biệt dâng biểu trong hòm rồng, đình chỉ việc võ, cất cung vào bao hổ. Đồ cống từ phương nóng chảy về trong bờ cõi, lòng theo dòng nước chảy đến Giang Đông (江東). Đường đi qua nơi mặt trời mọc biết trời cao rộng, thành quách uốn lượn theo núi thấy đất hùng vĩ. Chiếu ban cho bồi thần chạy lên bệ ngọc, hàng lối theo xe tiên dàn ngoài cung điện đỏ. Trình bày tình cảm quanh co bằng tiếng Man, ban cho đối đáp thong dong thấu đến tai thánh thượng. Núm lạc đà mới ban trên ấn ngọc nặng trĩu, chén rượu kiến uống nhiều lần mà bình vẫn còn. Chịu ơn đều biết sứ giả Hoàng Hoa (皇華), thừa mệnh chẳng làm phiền đến lão ông quắc thước (Mã Viện). Đã định lại dâng trĩ trắng như thời Chu (周), hà tất phải nhắc lại cột đồng năm Hán (漢). Khúc nhạc 5 dây tấu lên sóng kình im lặng, người dịch nhiều tầng quay về đường chim mở thông. Hạt ý dĩ cung cấp thức ăn cho lữ khách, lá mọc lá桄榔 che bóng cho ống đựng thơ. Bộ hạ đón chào chắc thấy kỵ binh của tân vương, trạm dịch đưa tiễn còn nhớ chim hồng thượng quốc. Ca múa vạn năm thường theo giáo hóa, dắt tay bách Việt cùng bày tỏ lòng trung. Đại Minh (大明) soi sáng muôn vật nay không có bên ngoài, từ nay nhìn nơi đây như trong đất của vua Vũ (禹). === Tống Lưu tú y án Giao Chỉ (送劉繡衣按交阯)=== '''Tác giả: Giải Tiết (解縉)''' Chàng trai áo gấm chân đi giày trắng râu rồng, cưỡi ngựa sáu chân tuần du phương Nam vùng Việt Thường (越裳) cổ. Thành quách mới mở theo quận huyện nhà Tần (秦), sơn hà vốn dĩ là nơi hiểm yếu nhà Hán (漢). Trời liền cột đồng khói man đen kịt, đất tiếp Chu Nhai (朱崖) khí biển vàng đục. Chớ nói vùng hoang nóng ít băng tuyết, phải khiến tháng 6 (tháng 6 âm lịch) thấy tuyết rơi bay. === Tống Vương Hy Dương Biên tu sứ Giao Chỉ (送王希暘編修使交阯)=== '''Tác giả: Tô Bá Hành (蘇伯衡)''' Lịch số quy về chân chúa, muôn phương như những dải tua che. Phiên thuộc phương ngoài cần người kế vị, vua nơi cung điện coi trọng việc vỗ về. Chiếu thư văn chương thêm rực rỡ, phong đất lễ nghĩa càng ưu ái. Thay lời vua vui mừng giao cho ngươi, đem ý chỉ đáp lại mong cầu của ta. Tạm rời tầng mây đi xuống, thực thành chuyến du ngoạn vạn dặm. Áo cung đình cắt bằng lụa trắng, ngựa chuồng ra loại Hoa Lưu (驊騮). Trọng trách đặt lên sứ giả Hoàng Hoa (皇華), danh cao như tước hầu vùng Hảo Thời (好畤). Vung roi theo chim phương Nam, tiệc tiễn chân tặng gươm Ngô Câu (吳鉤). Tự thấy hào quang lan xa, đâu quản đường xá dài dằng dặc. Mấy tuần đi qua vùng Lĩnh Kiều (嶺嶠), nơi nào là Giao Châu (交州). Núi vây quanh như vảy cá tụ hội, sông chia nhánh như đuôi én chảy trôi. Diều rơi đỗ nơi trạm dịch, hươu thuần tự kêu呦呦. Bến Cây Móc (桄榔浦) nhận ra sắc xanh, bãi Lệ Chi (荔子洲) ngắm nhìn sắc đỏ. Người cưỡi ngựa vùng này ham tiếp khách, nhà thuyền chài đều giỏi chèo ghe. Mặt trời mọc nơi phù tang, trời rủ xuống đầu biển chướng. Xưa nghe đồn đúc đồng làm cột, nay thấy con thận hiện lâu đài. Lá sồi đôi khi rụng xuống, sâu cát hoặc ngầm hại người. Vốn dĩ tuyên dương đức lớn, muốn lan tỏa tận cõi xa xôi. Dọn dẹp quán xá đón sứ kinh đô, nghiêng thành cung kính bên đường. Bồi thần rình rập cẩn thận, kẻ nấu nướng đi lại đông đúc. Nhạc trỗi lên nghe tiếng trống đồng, thay áo xem áo da sò lông. Trân phẩm bày ra đủ loại hải vị, điệu múa đẹp xen lẫn câu hò đất Ba (巴). Quả chuối trĩu nặng, nước dừa đầy tràn. Thắt túi răn mình chuyện ý dĩ (Mã Viện), chát miệng khước từ miếng trầu cau. Việc lớn không trái lễ nghĩa, tân vương thực sự chăm tu nhân. Lời trình bày đều là thánh huấn, việc dư thừa tìm kiếm tận nơi xa. Đủ khiến lòng thành khuất phục, chẳng phải do khéo miệng mà nên. Thượng cấp đang nhớ con thiết tha, ai dám lưu giữ vương ở lại. Chia tay gặp mùa mưa mận, kỳ hạn về chỉ vào mùa mạch thu (tháng 5 âm lịch). Ngày bàn luận nơi Kim Mã (金馬), dâng bài tụng vùng Bích Kê (碧雞). === Tống Hàn lâm Vương Mạnh Dương tham tướng An Nam (送翰林王孟暘參將安南)=== '''Tác giả: Vương Toại (王燧)''' Tạm ngừng việc ngậm hương trực ban sáng, mới dự việc tướng soái đi bình định phương Nam. Cỏ gianh vàng cây xanh ngắt nghìn trùng núi, mưa chướng mây man mấy tầng quan ải. Ngựa đi đúng lúc dừa chín rộ, cờ về chắc chắn khi vải đỏ tươi. Biết khanh vốn có ngòi bút hào hùng, phải khắc ghi thần công trấn giữ núi biển. ==An Nam bộ kỷ sự (安南部紀事)== === Hậu Hán Thư - Giả Tông truyện (《後漢書·賈琮傳》)=== Đất Giao Chỉ (交阯) có nhiều sản vật quý báu như ngọc minh cơ, lông chim thúy, tê giác, voi, đồi mồi, cùng các loại hương lạ, gỗ đẹp, không thứ gì là không có. Các đời Thứ sử trước đây đa phần không có nết thanh liêm, trên thì nịnh hót quyền quý, dưới thì tích góp hối lộ, của cải tính toán đủ đầy là lại xin được thuyên chuyển, nên lại quan và dân chúng đều oán hận mà phản bội. Năm Trung Bình (中平) thứ 1 (năm 184 dương lịch), binh lính đóng đồn ở Giao Chỉ (交阯) nổi loạn, bắt giữ Thứ sử và Thái thú Hợp Phố (合浦), tự xưng là Trụ Thiên tướng quân. Linh Đế (靈帝) đặc biệt ra sắc lệnh cho ba phủ tuyển chọn lại quan có năng lực, hữu tư cử Giả Tông (賈琮) làm Giao Chỉ Thứ sử. Tông (琮) đến nhiệm sở, thẩm vấn nguyên do phản loạn, mọi người đều nói rằng thuế khóa quá nặng, bách tính không ai không kiệt quệ, kinh sư xa xôi, không nơi nào cáo oan, dân không có cách gì tự sống nên mới tụ tập làm đạo tặc. Tông (琮) bèn gửi hịch thông báo, khiến ai nấy yên tâm với nghề nghiệp của mình, chiêu phủ những kẻ lưu tán, miễn trừ sưu dịch, chém đầu những tên thủ lĩnh gây hại lớn. Ông tuyển chọn các lại quan hiền lương thử giữ chức tại các huyện, trong vòng 1 năm thì dẹp yên, bách tính được ổn định. Dân gian có câu hát rằng: "Giả phụ đến muộn, khiến ta phản trước. Nay thấy thanh bình, lại quan không dám ăn hối lộ." === Trịnh Hoằng truyện (《鄭弘傳》)=== Năm Kiến Sơ (建初) thứ 8 (năm 83 dương lịch), Hoằng (弘) thay Trịnh Chúng (鄭眾) làm Đại tư nông. Trước đây, đồ cống hiến và vận tải của 7 quận Giao Chỉ (交阯) đều phải từ Đông Dã (東冶) đi đường biển mà đến, phong ba hiểm trở, việc đắm thuyền xảy ra liên tiếp. Hoằng (弘) tâu xin mở đường núi qua Linh Lăng (零陵), Quế Dương (桂陽), từ đó vùng biên thông suốt, đến nay đã trở thành con đường thường dùng. === Ngô Chí - Lục Dẫn truyện (《吳志·陸引傳》)=== Dẫn (引) làm Giao Châu Thứ sử kiêm An Nam hiệu úy. Vào cõi dùng ơn tín để dụ bảo, dốc sức chiêu nạp. Thủ lĩnh vùng Cao Lương (高涼) là Hoàng Ngô (黃吳) cùng bè đảng hơn 3,000 hộ đều ra hàng. Dẫn (引) dẫn quân về phía nam, lần nữa tuyên bố lòng thành, ban tặng tài vật. Hơn 100 thủ lĩnh giặc và hơn 50,000 hộ dân vốn trước nay không chịu sự ràng buộc đều dập đầu quy phục, cõi Giao (交) được thanh bình. Ông được gia phong làm An Nam tướng quân, lại thảo phạt giặc ở Thương Ngô (蒼梧), Kiến Lăng (建陵) và phá tan chúng. Tổng cộng xuất hơn 8,000 quân để sung vào quân dụng. Năm Vĩnh An (永安) thứ 1 (năm 258 dương lịch), được triệu về làm Tây Lăng đốc, phong Đô Đình hầu. Sau chuyển làm Tả Hổ Lâm. Trung thư thừa Hoa Hạch (華覈) dâng biểu tiến cử Dẫn (引) rằng: "Dẫn (引) thiên tư thông minh, tài đức vẹn toàn, trước đây làm ở Tuyển tào có nhiều thành tích đáng ghi. Khi ở Giao Châu (交州), phụng mệnh tuyên dương ơn triều đình, lưu dân quy phụ, bờ cõi thanh bình. Vùng Thương Ngô (蒼梧), Nam Hải (南海) hằng năm thường có gió độc chướng khí gây hại, gió thì gãy cây bay đá, khí thì sương mù u uất chim bay không lọt. Từ khi Dẫn (引) đến châu, gió độc tuyệt dứt, thương lữ đi lại bình an, dân không bệnh tật, mùa màng tươi tốt. Trị sở của châu gần biển, nước biển mùa thu vốn mặn, Dẫn (引) cho tích nước ngọt, dân mới có nước ngon để ăn, đức độ rộng khắp, cảm hóa cả người lẫn thần. Nhờ uy trời mà chiêu tập kẻ lưu tán. Đến khi có chiếu thư điều đi, dân cảm ơn ông mà quên cả luyến tiếc đất đai, cõng già dắt trẻ vui lòng đi theo, chúng dân đồng lòng, không cần binh lính hộ vệ. Các tướng lĩnh khác tập hợp đám đông thường dùng uy hiếp, chưa ai dùng ơn tín như Dẫn (引) cả. Nhận mệnh ở châu hơn 10 năm, tiếp xúc phong tục lạ, nơi sinh ra báu vật mà trong nhà không có tì thiếp đeo ngọc, gia đình không có trân bảo ngà voi. So với bầy tôi nay, thực khó tìm được người thứ 2. Nên đưa về kinh đô phò tá vương thất." === Lữ Đại truyện (《呂岱傳》)=== Đại (岱) được thăng làm An Nam tướng quân, ban tiết, phong Đô Hương hầu, kiêm Giao Chỉ Thái thú. Khi Sĩ Nhiếp (士燮) chết, Tôn Quyền (孫權) phong con Nhiếp là Sĩ Huy (士徽) làm An Viễn tướng quân kiêm Thái thú Cửu Chân (九真), sai Hiệu úy Trần Thời (陳時) thay Nhiếp. Đại (岱) dâng biểu xin chia 3 quận phía nam biển làm Giao Châu (交州), dùng tướng quân Đới Lương (戴良) làm Thứ sử; 4 quận phía đông biển làm Quảng Châu (廣州). Đại (岱) tự làm Thứ sử, sai Lương (良) và Thời (時) đi vào phía nam. Nhưng Huy (徽) không tuân mệnh, dấy binh trấn giữ hải khẩu để chống lại Lương (良). Đại (岱) bèn thượng thư xin thảo phạt tội của Huy (徽), đốc thúc 3,000 quân, ngày đêm đi đường biển. Có người nói với Đại (岱) rằng: "Huy (徽) nhờ ơn đức nhiều đời, được cả châu phụ trợ, không dễ khinh suất." Đại (岱) đáp: "Nay Huy (徽) tuy có mưu nghịch nhưng chưa lường được ta sẽ đến bất ngờ. Nếu ta đi lén, đánh lúc không phòng bị, tất sẽ phá được. Nếu chần chừ để chúng nảy sinh ý định khác, cố thủ thành trì, 7 quận trăm tộc man di hưởng ứng, thì dẫu có người trí cũng khó lòng mưu tính!" Bèn đi qua Hợp Phố (合浦), cùng Lương (良) tiến quân. Huy (徽) nghe tin Đại (岱) đến, quả nhiên kinh hãi không biết làm sao, bèn dẫn 6 anh em cởi trần ra đón Đại (岱), Đại (岱) đều chém hết rồi gửi đầu về kinh. Các đại tướng của Huy (徽) là Cam Lễ (甘醴), Hoàn Trị (桓治) dẫn lại dân công đánh Đại (岱), Đại (岱) hăng hái đánh trả, đại phá chúng, được tiến phong Phiên Ngung hầu. Sau đó bãi bỏ Quảng Châu, phục hồi Giao Châu như cũ. Đại (岱) dẹp xong Giao Châu lại tiến đánh Cửu Chân (九真), chém và bắt được tính bằng con số 10,000. Lại phái tòng sự đi về phía nam tuyên dương quốc giáo, các vua nước ngoài như Phù Nam (扶南), Lâm Ấp (林邑), Đường Minh (堂明) đều sai sứ hiến cống. === Tiết Tổng truyện (《薛綜傳》)=== Tổng (綜) giữ chức Yết giả bộc xạ. Lữ Đại (呂岱) được triệu ra khỏi Giao Châu (交州), Tổng (綜) sợ người kế vị không xứng đáng, bèn dâng sớ rằng: "Xưa Đế Thuấn (帝舜) tuần du phương nam rồi mất ở Thương Ngô (蒼梧). Nhà Tần đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng Quận (象郡), thế nên 4 cõi nội thuộc đã có từ lâu. Triệu Đà (趙陀) khởi nghiệp ở Phiên Ngung (番禺), thu phục các vua Bách Việt, chính là vùng phía nam Châu Quan (珠官). Hán Vũ Đế giết Lữ Gia (呂嘉), mở mang 9 quận, đặt Giao Chỉ Thứ sử để trấn giám. Núi sông xa cách, tập tục không đều, ngôn ngữ dị biệt, phải qua nhiều lần dịch mới thông. Dân như chim thú, già trẻ không phân biệt, búi tóc đi chân đất, áo mặc chui đầu cài vạt trái. Việc đặt quan lại có cũng như không. Từ đó về sau, nhiều tội nhân từ Trung Quốc được đưa đến ở lẫn lộn, mới khiến họ học chữ, hiểu sơ ngôn ngữ, sứ trạm qua lại mới thấy lễ giáo. Đến khi Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên (任延) làm Thái thú Cửu Chân, mới dạy họ cày bừa, dùng mũ giày, đặt ra quan mai mối, bấy giờ mới biết cưới hỏi, lập trường học, dạy kinh nghĩa. Từ đó đến nay hơn 400 năm, mới có chút lễ nghĩa. Theo lời thần, khi khách xưa mới đến, vùng Châu Nhai (珠崖) việc cưới hỏi đều đợi đến tháng 8 (tháng 8 âm lịch) khi dân chúng hội họp, trai gái tự ưng thuận nhau là thành phu thê, cha mẹ không ngăn được. Các huyện Mê Linh (糜泠) thuộc Giao Chỉ, Đô Bàng (都龐) thuộc Cửu Chân, đều có tục anh chết thì em lấy chị dâu, đời đời coi là tục, quan lại mặc kệ không cấm được. Quận Nhật Nam (日南) nam nữ ở trần, không biết xấu hổ. Nói vậy thì họ chỉ là loài sâu bọ có mặt người mà thôi. Tuy nhiên đất rộng người đông, hiểm trở chướng độc, dễ làm loạn nhưng khó cai trị. Quan lại chỉ ràng buộc qua loa, cốt cho họ uy phục, thu thuế vừa đủ cung ứng, quý ở việc đem về trân bảo phương xa như ngọc quý, hương liệu, ngà voi, tê giác, đồi mồi, san hô, lưu ly, vẹt, phỉ thúy, công... không nhất thiết phải trông chờ vào thuế khóa để ích cho Trung Quốc. Nhưng vì ở ngoài 9 cõi, việc chọn quan lại thường không tinh xét. Thời Hán pháp luật lỏng lẻo, quan lại phóng túng nên dân thường làm phản. Việc phế quận Châu Nhai bắt nguồn từ việc quan lại thấy tóc dân đẹp bèn cắt lấy làm tóc giả. Như thần thấy Thái thú Nhật Nam là Hoàng Cái (黃蓋) người Nam Hải, mới xuống xe vì đồ cung phụng không hậu mà đánh chết Chủ bạ, rồi bị xua đuổi. Thái thú Cửu Chân là Đam Manh (儋萌) vì cha vợ là Chu Kinh (周京) mà mở tiệc mời quan lại. Rượu say nhạc trỗi, Công tào Phiên Hâm (番歆) đứng dậy múa mời Kinh (京), Kinh (京) không dậy, Hâm (歆) ép mạnh. Manh (萌) giận, đánh chết Hâm (歆) trong quận. Em Hâm (歆) là Miêu (苗) dẫn quân đánh phủ, dùng tên độc bắn Manh (萌), Manh (萌) chết. Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp (士燮) phái binh thảo phạt nhưng không thắng được. Lại có cố Thứ sử Chu Phù (朱符) người Hội Kê, dùng người làng là Ngu Bào (虞褒), Lưu Ngạn (劉彥) làm quan, xâm ngược bách tính, thu thuế cực nặng, 1 con cá vàng thu 1 hộc thóc, dân chúng oán hận. Sơn tặc nổi lên đánh phá châu quận, Phù (符) chạy ra biển rồi chết mất xác. Kế đến là Trương Tân (張津) người Nam Dương, thù hằn với Kinh Châu mục Lưu Biểu (劉表), binh yếu địch mạnh mà năm nào cũng dấy quân, tướng sĩ chán ghét. Tân (津) kém uy vũ, bị thuộc hạ khinh lờn rồi bị giết. Sau đó được Lại Cung (賴恭) người Linh Lăng, là bậc tiền bối nhân cẩn nhưng không hiểu thời sự, Biểu (表) lại phái Ngô Cự (吳巨) làm Thái thú Thương Ngô. Cự (巨) là võ phu hung hãn, không phục Cung (恭), đuổi Cung (恭) đi. Bấy giờ tướng cũ của Tân (津) là Di Liêu (夷廖), Tiền Bác (錢博) vẫn còn nhiều, Bộ Chất (步騭) lần lượt dẹp yên, kỷ cương mới định thì lại điều Lữ Đại (呂岱) đi. Sau có biến loạn, quân Việt chinh phạt phía nam, ngày dẹp yên đã đặt lại quan lại, làm sáng tỏ vương cương, uy gia vạn dặm. Thế nên việc vỗ về biên thùy thực cần đúng người. Nay Giao Châu tuy tạm định nhưng vẫn còn giặc cũ ở Cao Lương (高涼), các quận Nam Hải (南海), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林), Châu Quan (珠官) biên giới chưa yên, là nơi ẩn náu của bọn phản loạn. Nếu Đại (岱) không trở lại phương nam, Thứ sử mới phải là người tinh nhuệ, trị được Cao Lương (高涼), được ban uy sủng mới mong có kết quả. Nếu chỉ là người bình thường, giữ phép thường, không có kỳ thuật, thì bọn ác ngày càng nhiều, lâu dần thành hại. Sự an nguy của quốc gia nằm ở việc dùng người, không thể không xét kỹ." ===Tấn Thư - Đào Hoàng truyện (《晉書·陶璜傳》)=== Tôn Hạo (孫皓) lấy Hoàng (璜) làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, Tiền tướng quân, Giao Châu mục. Các vùng Vũ Bình (武平), Cửu Đức (九德), Tân Xương (新昌) đất đai hiểm trở, dân Di Lão (夷獠) cứng cỏi hung hãn, trải qua nhiều đời không phục tùng. Hoàng (璜) đi chinh phạt, mở đặt 3 quận và hơn 30 huyện thuộc quốc Cửu Chân (九真). Sau đó triều đình trưng triệu Hoàng (璜) về làm Võ Xương đô đốc, lấy Thái thú Hợp Phố (合浦) là Tu Uẩn (修允) thay thế. Người Giao Châu (交州) đến xin lưu Hoàng (璜) lại tính bằng con số 1,000 người, vì thế ông được phái quay trở lại. Khi Hạo (皓) đã hàng nhà Tấn (晉), viết thư tay sai Hoàng (璜) và con là Dung (融) sắc lệnh cho Hoàng (璜) phải quy thuận. Hoàng (璜) chảy nước mắt suốt mấy ngày, rồi sai sứ dâng ấn thụ đến Lạc Dương (洛陽). Đế xuống chiếu cho phục chức cũ, phong làm Uyển Lăng hầu, đổi làm Quan Quân tướng quân. Sau khi cương thổ nhà Ngô (吳) đã bình định, nhà Tấn (晉) giảm bớt binh lực ở các châu quận, Hoàng (璜) dâng lời rằng: "Đất Giao Châu (交州) hoang sơ xa xôi, biệt lập một phương, có nơi phải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mới thông, núi biển liền kề. Lại có quận phía Nam cách châu hơn 1,000 dặm đường biển, phía ngoài cách Lâm Ấp (林邑) chỉ 700 dặm. Thủ lĩnh người Di là Phạm Hùng (範熊) đời đời làm giặc trốn tránh, tự xưng là vương, thường xuyên đánh phá bách tính. Lại thêm liên kết với Phù Nam (扶南), chủng loại rất đông, bè đảng dựa dẫm nhau, cậy hiểm không phục tùng. Trước đây khi lệ thuộc nhà Ngô (吳), chúng nhiều lần làm loạn, đánh phá quận huyện, giết hại quan lại. Thần tài hèn sức mọn xưa được cố quốc trọng dụng, đóng giữ phương Nam đã hơn 10 năm, tuy trước sau chinh phạt chém được những kẻ cầm đầu, nhưng nơi thâm sơn cùng cốc vẫn còn kẻ lẩn lút. Lại nữa, quân số thần thống lĩnh vốn có hơn 7,000 người, đất phương Nam nóng ẩm, nhiều khí độc, cộng thêm nhiều năm chinh chiến, tử vong hao hụt, nay hiện có 2,420 người. Nay bốn biển một nhà, không ai không phục, đáng lẽ phải xếp giáp xếp gươm, chăm lo lễ nhạc. Thế nhưng người ở châu này ít kẻ biết nghĩa, chán cảnh an lạc, thích gây họa loạn. Lại có bờ nam Quảng Châu (廣州), chu vi hơn 6,000 dặm, những kẻ không phục tùng có đến hơn 50,000 hộ, cùng bọn không chịu ràng buộc ở Quế Lâm (桂林) lại có thêm 10,000 hộ; còn như những nhà chịu phục tùng quan dịch chỉ được hơn 5,000 hộ. Hai châu như môi với răng, chỉ có dùng binh mới trấn giữ được. Lại có Hưng Cổ (興古) thuộc Ninh Châu (寧州), chiếm giữ thượng lưu, cách quận Giao Chỉ (交阯) 1,600 dặm, thủy lục đều thông, hỗ trợ bảo vệ lẫn nhau. Binh sĩ ở châu chưa nên cắt giảm để lộ vẻ suy yếu. Chuyện biến loạn phong trần thường xảy ra bất ngờ. Thần là dư thần của vong quốc, lời bàn không đáng thu nạp. Thánh ân rộng dày, thương xót đề bạt, xá tội cũ, giao phó trọng trách, bỏ nhục hưởng vinh, thề sẽ liều mình báo đáp. Những gì tai nghe mắt thấy, kính cẩn mạo muội trần trình." Ông lại lấy cớ rằng: "Quận Hợp Phố (合浦) đất đai khô cằn, không có ruộng nương, bách tính chỉ lấy nghề mò ngọc làm nghiệp, thương nhân đi lại dùng ngọc đổi gạo. Thời Ngô (吳) lệnh cấm ngọc rất nghiêm, lo bách tính tư tán ngọc tốt nên cấm tuyệt đi lại, khiến người dân đói khổ. Lại thêm tô thuế nhiều, hạn định thường không đủ. Nay xin ngọc loại thượng đẳng nộp 2 phần 3, loại thứ nộp 1 phần, loại thô thì miễn bỏ. Từ tháng 10 (tháng 10 âm lịch) đến tháng 2 (tháng 2 âm lịch) năm sau không phải mùa mò ngọc thượng đẳng, xin cho thương lữ đi lại như cũ." Triều đình đều nghe theo. Ở phương Nam 30 năm, uy đức vang dội nơi đất lạ. Khi ông mất, cả châu gào khóc như mất cha mẹ. Triều đình lấy Viên ngoại Tán kỵ Thường thị là Ngô Ngạn (吾彥) thay Hoàng (璜). === Bác Vật Chí (《博物志》)=== Người Di ở Giao Châu (交州) tên gọi là Lý Tử (俚子). Lý Tử (俚子) dùng cung dài mấy thước, tên dài hơn 1 thước. Dùng đồng cháy làm đầu mũi tên, bôi thuốc độc lên ngọn, bắn trúng người là chết ngay, nếu không kịp liệm cất thì bụng sưng phồng thối rữa, trong chốc lát thịt da tan hết, chỉ còn xương thôi. Tục của họ thề không truyền phương thuốc trị liệu cho người ngoài. Cách trị là uống nước kinh nguyệt phụ nữ và nước phân, đôi khi có người khỏi. Chỉ có kẻ bắn heo chó là không sao, vì chúng ăn phân. Đồng cháy là những đồ khí cũ bị thiêu trụi, các bậc trưởng lão phân biệt được tiếng đồng cháy bằng cách dùng vật mà đâm vào, từ từ nghe tiếng, hễ được chỗ có độc cháy thì đục lấy làm đầu mũi tên. Khoảng năm Cảnh Sơ (景初) (năm 237 - 239 dương lịch), viên lại vùng Thương Ngô (蒼梧) đến kinh đô kể rằng: Vùng Quảng Châu (廣州) phía tây nam giáp mấy quận Giao Châu (交州), giữa các vùng Quế Lâm (桂林), Tấn Hưng (晉興), Ninh Phố (寧浦), hễ có người ốm sắp chết là có sâu bay đến, to như hạt lúa mạch. Có người bảo trên mái nhà có loài giáp trùng, hễ người đứt hơi là đến ăn xác, dù có đánh giết cũng có hàng đống (đẩu, hộc) bay đến. Như mưa gió nối tiếp nhau không dứt, thịt da bị ăn sạch chỉ còn xương mới chịu đi. Nhà nghèo không có gì che phủ hoặc tẩm liệm không kịp đều chịu tệ nạn này. Người có sức thì dùng quần áo vải vóc bọc xác 5 đến 6 lớp. Loài sâu này sợ mùi gỗ tử, nên dùng ván ngăn phòng bị hoặc làm quan tài bằng gỗ đó, sâu không dám đến gần. Vào cõi Giao (交) thì không thấy chuyển biến này, các quận lân cận cũng có nhưng rất ít. Xưa Nhật Nam (日南) tiến cống 4 con voi, đều có đủ đực cái. Một con đực chết ở Cửu Chân (九真), khi đến Nam Hải (南海) đã hơn 100 ngày. Con cái bôi đất lên thân, không ăn uống cỏ rác. Viên Trường sử hỏi nguyên do, nghe xong liền rơi nước mắt. === Thuật Dị Ký (《述異記》)=== Nhật Nam (日南) có Chợ Hương (香市), là nơi thương nhân giao dịch các loại hương. Quận Nhật Nam (日南) sản sinh ra loài '''Bò dưới quả''' (''Quả hạ ngưu'' 果下牛), cao 3 thước. Nhà Hán (漢) ở quận Lạc Lãng (樂浪) có loài '''Ngựa dưới quả''' (''Quả hạ mã'' 果下馬), đều cao 3 thước. === Tục Bác Vật Chí (《續博物志》)=== An Dương Vương (安陽王) ở Giao Châu (交州) có thần nhân tên là Cao Thông (皋通). Làm cho An Dương Vương (安陽王) 1 chiếc nỏ, bắn 1 phát giết được 300 người. Khoảng năm Thiên Bảo (天寶) (năm 742 - 756 dương lịch), Giao Chỉ (交阯) tiến cống long não giống như hình ve sầu, sâu tằm; đó là long não già, ở đốt cây mới có, trong cung gọi là Thụy Long não. Vua chỉ ban cho Quý phi 10 miếng, hương thơm thấu hơn 10 bước. === Bắc Mộng Tỏa Ngôn (《北夢瑣言》)=== Cao Biền (高駢) ở An Nam (安南) tâu xin mở đường biển trong châu. Ban đầu, phía bắc Giao Chỉ (交阯) ngăn cách với Nam Hải (南海) bằng đường thủy có nhiều đá ngầm làm lật thuyền lớn. Biền (駢) đến xem, thấy có đá nằm ngang ẩn dưới nước, bèn tâu xin khai đục để thông cái lợi với Nam Hải (南海). Tờ biểu có đoạn: "Người kéo mái chèo trục lợi, đá chặn bến ngang, vừa bước lên thuyền đi một chuyến là đã tính chuyện xuống chín suối." Bấy giờ có chiếu cho phép, bèn gọi thợ đến, đem lợi lộc hậu hĩnh nhử họ, cuối cùng đục được đá đó. Cái lợi của vùng Giao, Quảng bách tính đến nay vẫn nhờ đó mà qua lại được. Có người bảo Biền (駢) dùng thuật mượn sấm sét để mở, chưa rõ thực hư. Bảo Quang Tử từng nghe Mân vương Vương Thẩm Tri lo ngại đá ghềnh bên bờ biển làm nghẽn thuyền bè, một đêm mộng thấy Ngô An Vương tức Ngũ Tử Tư hứa sẽ khai thông, bèn sai Phán quan Lưu Sơn Phủ thân hành đến tế lễ. Ba tuần rượu tế vừa xong, phong lôi nổi dậy, Sơn Phủ đứng trên cao nhìn xuống, thấy trong biển có vật màu vàng dài nghìn trượng, vẫy vùng đánh phá, qua 3 ngày thì trời tạnh, thấy bến đá thông suốt, tiện cho việc bơi thuyền. Lúc đó tâu về được ban tên là "Cảng Cam Đường", ấy là nhờ sức thần nơi biển cả, có gì lạ đâu! Cũng gọi nơi ấy là "Đường Thiên Uy", thực là công đức của thần vậy. === Tống Sử - Lý Giác truyện (《宋史·李覺傳》)=== Giác (覺) làm Lễ ký Tiến sĩ, ban cho túi cá tía. Năm Ung Hy (雍熙) thứ 3 (năm 986 dương lịch), cùng Bổ khuyết Lý Nhược Chuyết cùng đi sứ Giao Châu (交州). Lê Hoàn (𥟖桓) bảo rằng: "Đất này núi sông hiểm trở, người Trung triều chợt đi qua há không mệt sao?" Giác (覺) đáp: "Quốc gia cương thổ vạn dặm, quận huyện có 400, có nơi bằng phẳng, cũng có nơi hiểm cố, phương này có đáng gì mà nói!" Hoàn (桓) im lặng, sắc mặt sa sầm. === Hứa Trọng Tuyên truyện (《許仲宣傳》)=== Trọng Tuyên (仲宣) đổi làm Quảng Nam Chuyển vận sứ, gặp lúc chinh phạt Giao Châu (交州), vùng đất đó nắng nóng chướng khí, sĩ tốt chết đến 2 hoặc 3 phần 10. Đại tướng Tôn Toàn Hưng thất luật, Trọng Tuyên (仲宣) bèn tâu xin bãi binh, không đợi báo về đã lập tức chia quân đóng đồn các châu, mở kho ban thưởng, viết hịch văn dụ bảo Giao Châu (交州). Giao Châu (交州) liền nộp khoản cầu thân, sai sứ tu cống. Trọng Tuyên (仲宣) lại dâng chương đợi tội, vua khen ngợi ông. === Trần Nghiêu Sưu truyện (《陳堯叟傳》)=== Nghiêu Sưu (堯叟) làm Quảng Nam Tây Lộ Chuyển vận sứ, gặp lúc gia ân, Lê Hoàn (黎桓) làm Giao Châu Quốc tín sứ. Ban đầu người nhận mệnh đi sứ tất được tặng thưởng mấy nghìn quán tiền. Hoàn (桓) thu thuế của dân quá nặng, thường xuyên chặt tay chân người dân. Nghiêu Sưu (堯叟) biết chuyện, bèn tâu mời con của Hoàn (桓) đến giao chiếu mệnh của triều đình mà từ chối quà tặng riêng. Lại nữa, cõi của Hoàn (桓) trước đó có kẻ trốn chạy đến, nhiều kẻ ẩn nấp không chịu trả về, vì thế giặc biển thường xuyên vào cướp phá. Nghiêu Sưu (堯叟) bắt hết kẻ trốn chạy trả về cho Hoàn (桓), Hoàn (桓) cảm ơn, bắt sạch giặc biển để tạ lỗi. === Tề Đông Dã Ngữ (《齊東野語》)=== Quốc vương An Nam (安南) là Trần Nhật Chiếu (陳日照), vốn là người huyện Trường Lạc, phủ Phúc Châu, họ tên là Tạ Thăng Khanh (謝升卿). Thuở nhỏ có chí lớn, không thèm học nghiệp cử tử. Thỉnh thoảng làm thơ có câu: "Cá ao chốc hóa chim Côn Bằng, yến tước sao biết lòng hồng hộc. 池魚便作鶤鵬化,燕雀安知鴻鵠心。" Đa phần là lời lẽ phóng túng. Thích giao du với bọn đánh bạc, hào hiệp, nhiều lần trộm đồ đạc trong nhà để chi dùng bậy bạ, nên bị cha ghét bỏ. Người chú thấy ông đặc biệt khác thường nên thường che chở. Gặp lúc nhà anh trai có tiệc cưới, bày biện đồ đạc rất thịnh, đến đêm ông cuốn sạch mà đi, tìm đến người trong tộc đang làm quan ở Hồ Nam. Đến nửa đường gọi đò, lái buôn đòi tiền không thỏa, ông đánh trúng chỗ hiểm của hắn. Thuyền rời bến, Tạ (謝) đứng đầu bến đợi, nghe người ta nói lái buôn đã chết, bèn đổi họ tên trốn đi. Đến Hành Châu (衡) bị người bắt được, may thay chủ viên quan đó cũng là người Mân (Phúc Kiến), bèn ngầm thả cho đi. Đến Vĩnh Châu (永州), lâu ngày túng quẫn, dạy học tự nuôi thân. Thái thú Vĩnh Châu họ Lâm (林) cũng cùng quê, rất tốt với người đồng hương. Ở chưa được bao lâu, có viên Tuần kiểm trại Vĩnh Niên thuộc Ung Châu (邕州) đi ngang qua, thấy ông kỳ lạ bèn đưa về trại Nam. Sống giữa vùng Ung (邕), Nghi (宜), gần kề Giao Chỉ (交阯). Vùng biên có đất bỏ hoang mấy trăm dặm, mỗi khi buôn bán thì quý nhân nước đó đều ra chợ. Quốc tướng nước đó là rể của vua, có con gái đi cùng, thấy Tạ (謝) là thiếu niên tuấn tú thì đem lòng yêu mến, bèn xin đưa về. Cho đi thi cử, Tạ (謝) đỗ đầu, bèn nạp làm rể. Vua nước ấy không có con trai, đem quốc sự giao cho tướng quốc. Tướng quốc lại già yếu, bèn giao cho con rể, nhờ đó mà được nước vậy. Về sau nhiều lần sai người đến Mân (閩) tìm gia đình, gia đình cho là việc khó lường nên không thông tin, cuối cùng vì năm tháng lâu ngày khó hỏi thăm nên sứ giả quay về báo mệnh như thế. Chuyện này nghe được từ Trần Hợp Duy Thiện (陳合惟善) là người giữ chức Thiêm khu vậy. === Mộng Khê Bút Đàm (夢溪筆談)=== Giao Chỉ (交阯) là đất cũ của Giao Châu (交州) thời Hán (漢), Đường (唐). Thời Ngũ Đại (五代) loạn lạc, Ngô Văn Xương (吳文昌 - tức Ngô Xương Văn) mới bắt đầu chiếm giữ An Nam (安南), dần xâm lấn đất Giao (交), Quảng (廣). Sau đó Văn Xương (文昌) bị Đinh Liễn (丁璉) giết, Liễn chiếm giữ đất ấy. Năm Khai Bảo (開寶) thứ 6 (năm 973 dương lịch) đời Thái Tổ, Liễn mới quy phụ, được phong làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ. Năm thứ 8 (năm 975 dương lịch), phong làm Giao Chỉ quận vương. Năm Cảnh Đức (景德) thứ 1 (năm 1004 dương lịch), người bản địa là Lê Uy (黎威 - tức Lê Long Đĩnh) giết Liễn (đoạn này nguyên văn nhầm lẫn, thực tế là Lê Hoàn thay nhà Đinh, rồi Long Đĩnh nối ngôi) tự lập. Năm thứ 3 (năm 1006 dương lịch), Uy chết, An Nam đại loạn, lâu ngày không có thủ lĩnh. Sau đó người trong nước cùng lập người Mân (閩) là Lý Công Uẩn (李公蘊) làm chủ. Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 7 (năm 1029 dương lịch), Công Uẩn chết, con là Đức Chính (德政 - Lý Thái Tông) lập. Năm Gia Hữu (嘉祐) thứ 6 (năm 1061 dương lịch), Đức Chính chết, con là Nhật Tôn (日尊 - Lý Thánh Tông) lập. Từ khi Công Uẩn chiếm An Nam, bắt đầu gây họa biên cảnh, thường dẫn binh vào cướp phá. Đến thời Nhật Tôn, bèn tiếm xưng là "Pháp Thiên Ứng Vận Sùng Nhân Chí Đạo Khánh Thành Long Tường Anh Vũ Duệ Văn Tôn Đức Thánh Thần Hoàng Đế 法天應運崇仁至道慶成龍祥英 武睿文尊德聖神皇帝", tôn Công Uẩn là Thái Tổ Thần Vũ Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Việt (大越). Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 1 (năm 1068 dương lịch), ngụy cải niên hiệu là Bảo Tượng (寶象), năm sau lại đổi thành Thần Vũ (神武). Nhật Tôn chết, con là Càn Đức (乾德 - Lý Nhân Tông) lập, lấy hoạn quan Lý Thượng Cát (李尚吉 - tức Lý Thường Kiệt) cùng mẹ là Lê thị (𥟖氏 - tức Ỷ Lan), hiệu là Yến Loan Thái phi (鷰鸞太妃), cùng coi việc nước. Năm Hy Ninh (熙寧) thứ 8 (năm 1075 dương lịch), cử binh đánh chiếm 3 châu Ung (邕), Khâm (欽), Liêm (廉). Năm thứ 9 (năm 1076 dương lịch), triều đình sai Tuyên huy sứ Quách Trọng Thông (郭仲通 - tức Quách Quỳ), Thiên chương các Đãi chế Triệu Công Tài (趙公才 - tức Triệu Tiết) thảo phạt, hạ được châu Quảng Nguyên (廣源), bắt thủ lĩnh Lưu Kỷ (劉紀), đốt Giáp Động (甲峒), phá Cơ Lang (機郎), Quyết Lý (決里). Tiến đến sông Phú Lương (富良), Thượng Cát sai Vương tử Hồng Chân (洪真) dẫn quân đến cản, quân ta đánh bại chúng, chém Hồng Chân, quân địch bị diệt sạch trên sông, Càn Đức bèn hàng. Lúc bấy giờ, Càn Đức mới 10 tuổi, mọi việc đều do Thượng Cát quyết định. Châu Quảng Nguyên vốn là đất cơ mi của Ung Châu, năm Thiên Thánh thứ 7 (năm 1029 dương lịch), thủ lĩnh Nùng Tồn Phúc (儂存福) quy phụ, bổ làm chức Vệ ở Ung Châu. Chuyển vận sứ Chương Tần (章頻) bãi bỏ và đuổi đi, không nhận đất ấy. Tồn Phúc bèn cùng con là Trí Cao (智高) đánh chiếm châu Lũng (籠州) ở phía Đông. Tồn Phúc nhân lúc loạn giết anh trai mình, dẫn người bản địa là Lưu Xuyên (劉川) đem châu Thất Nguyên (七源) quy thuận Tồn Phúc. Năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 8 (năm 1048 dương lịch), Trí Cao tự quản châu Quảng Nguyên, dần thôn tính các man động thuộc lộ Hữu Giang (右江) và Điền Châu (田州). Năm Hoàng Hữu (皇祐) thứ 1 (năm 1049 dương lịch), người Ung Châu là Điện trung thừa Xương Hiệp (昌協) tâu xin chiêu thu Trí Cao nhưng không được trả lời. Châu Quảng Nguyên cô lập không biết theo đâu, Giao Chỉ thừa cơ đánh úp bắt Tồn Phúc đem về. Trí Cao giữ châu không chịu hàng, lại muốn đánh Giao Chỉ nhưng không thắng, bị người Giao công kích, Trí Cao chạy trốn đến Văn Thôn (文村) thuộc Hữu Giang, dùng biểu đựng trong hộp vàng nộp cho Ung Châu xin quy thuận triều đình, Trần Củng (陳拱) ở Ung Châu cự tuyệt không nhận. Năm sau, Trí Cao cùng các thủ lĩnh Lư Báo (盧豹), Lê Mạo (黎貌), Hoàng Trọng Khanh (黃仲卿), Liêu Thông (廖通)... đánh hạ trại Hoành Sơn (橫山) rồi vào cướp, chiếm Ung Châu, đánh vào 2 Quảng. Đến khi Trí Cao bại tẩu, Lư Báo thu gom tàn quân theo Lưu Kỷ, hạ Quảng Hà (廣河). Đến năm Hy Ninh thứ 2 (năm 1069 dương lịch), bọn Báo quy thuận, chưa được bao lâu lại phản, theo Lưu Kỷ đến. Khi đại quân Nam chinh, Quách soái sai biệt tướng Yến Đạt (燕達) hạ Quảng Nguyên, mới bắt được Lưu Kỷ, đổi Quảng Nguyên làm Thuận Châu (順州). "Giáp Động" (甲峒) là nơi tụ lạc lớn của Giao Chỉ. Người đứng đầu là Giáp Thừa Quý (甲承貴) lấy con gái Lý Công Uẩn, đổi sang họ Giáp (甲 - đúng ra là họ Thân 申); con của Thừa Quý là Thiệu Thái (紹泰) lại lấy con gái Đức Chính; con của y là Cảnh Long (景隆) lấy con gái Nhật Tôn; đời đời làm thông gia, là mối họa biên cảnh lớn nhất. Từ năm Thiên Thánh thứ 5 (năm 1027 dương lịch), Thừa Quý phá trại Thái Bình (太平), giết trại chủ Lý Thự (李緒). Năm Gia Hữu thứ 5 (năm 1060 dương lịch), Thiệu Thái lại giết trại chủ Vĩnh Bình (永平) là Lý Đức Dụng (李德用), nhiều lần xâm phạm biên cảnh. Đến khi Hy Ninh đại cử binh mới thảo phạt bình định được, thu nạp vào huyện Cơ Lang. ''(Ghi chú: Đoạn này so với Hối khảo và Tống sử về tên người, ngày tháng có nhiều chỗ khác biệt, nhưng Mộng Khê Bút Đàm là người Tống chép việc Tống, nên lưu lại cả hai bản)'' === Đông Hiên Bút Đàm (東軒筆錄)=== Tiêu Chú (蕭注) thời Nhân Tông (仁宗) giữ chức Các môn sứ tri Ung Châu gần 10 năm, nhiều lần dâng mưu lấy Giao Chỉ nhưng triều đình không theo. Năm cuối, Giao Chỉ đánh chiếm Tả Giang, Hữu Giang, giết Tuần kiểm Tả Minh (左明), Tống Sĩ Nghiêu (宋士堯)... Chú bị tội phòng ngự không có kế sách, giáng làm Kinh Nam kiềm hạt. Lúc đó, Lý Sư Trung (李師中) làm Quảng Tây Đề điểm hình ngục, lại tố cáo Chú ở Ung Châu tự ý điều động động đinh khai mỏ vàng mà không có giấy tờ. Qua tra xét, bèn hạ ngục Chú ở Quế Châu. Án xong, biếm làm Tần Châu Đoàn luyện phó sứ, rồi chuyển làm Hồng Châu Tiết độ phó sứ. Anh Tông (英宗) lên ngôi, khởi phục làm Giám môn vệ Tướng quân, Tân Châu Đô giám, rồi chuyển làm Vị Châu Kiềm hạt, gia thêm Ninh Châu. Thần Tông (神宗) lên ngôi, Vương Kinh Công (王荊公 - tức Vương An Thạch) nắm chính, Chú đoán triều đình đang có ý khai khẩn biên cương, lại vì quan tước chưa phục hồi, muốn làm động lòng quân thượng và tể tướng, bèn nói: "Xưa nay ở Ung Châu đã lâu, biết Giao Chỉ có thể lấy được". Triều đình lập tức triệu về phục chức Các môn sứ, cho làm Tri Quế Châu kiêm Quảng Tây Kinh lược an phủ. Chú đến Quế Châu 2 năm, nhưng làm việc sai trái không ra sao, có chỉ triệu về, chết ở Đàm Châu (潭州). Tuy nhiên triều đình vẫn cho rằng Giao Chỉ có thể lấy được, lại dùng Thẩm Khởi (沈起) tri Quế Châu. Khởi đến Quế Châu, trước tiên lấy trại Vương Khẩu (王口) ở Nghi Châu (宜州), nhưng quân lính nhiều lần bại trận. Lại đóng chiến hạm, tập trung quân lương, tuy bày ra trăm phương ngàn kế nhưng không hợp thời cơ. Triều đình nghi y trì hoãn, chuyển sang tri Đàm Châu, dùng Lưu Di (劉彝) giữ Quế Châu. Chẳng bao lâu mưu kế bị lộ, một buổi sáng Giao Chỉ vượt biển chở binh đánh chiếm 3 quận Liêm (廉), Bạch (白), Khâm (欽), vây Ung Châu suốt 40 ngày. Thành vỡ, giết Tri châu Tô Giam (蘇緘), tàn sát cả thành, bắt người ở 4 quận đi rồi rút về. Triều đình xét tội các thủ thần trước sau, lần lượt biếm chức, truy tặng Giam làm Tiết độ sứ. Xuống chiếu lấy Triệu Tiết (趙卨) làm Kinh lược sứ. Tiết mời Quách Quỳ (郭逵) cùng làm việc, bèn lấy Quỳ làm Tuyên huy sứ, Tiết làm phó. Quỳ dừng quân ở Ung Châu lâu ngày, sau mới tiến đánh chiếm châu Quảng Nguyên và huyện Cơ Lang, nhưng quân giặc giữ sông Phú Lương để chặn quân ta, Quỳ đóng cửa lũy 40 ngày, cuối cùng không thể qua sông. Sau đó đường lương không tiếp ứng kịp, chướng khí ngày càng nặng, 100,000 quân thì chết đến 9 phần 10, chỉ nhận được tờ hàng biểu của Giao Chỉ bèn rút quân. Triều đình tước chức Tuyên huy sứ của Quỳ và đuổi đi, Tiết cũng bị lột quan chức, lập Quảng Nguyên làm Thuận Châu. Năm sau, người Giao mới vào cống. Quảng Nguyên lam chướng rất nặng, từ khi lập châu, phàm là Tri châu đến quan lại, thú binh hễ đến là chết, trong vài năm số người chết không thể ghi hết. Mỗi khi thay quân canh gác, sĩ tốt đều biết là không về được, đều biệt ly tử biệt với người thân, đến mức cả doanh trại khóc lóc không dứt suốt hơn 1 tháng, vì thế lòng người cực kỳ bất an. Gặp lúc Tằng Bố (曾布) làm soái ở Quế Châu, bắt được tướng Giao Chỉ là Nùng Trí Xuân (儂智春), người Giao hơi sợ. Tằng nhân đó kiến nghị: "Xin nhân cơ hội này, cho phép Giao Chỉ trả lại những người dân đã bắt trước đây mà từ bỏ Thuận Châu". Triều đình nghe theo. Năm sau, người Giao trả lại vài trăm người, bèn đem Quảng Nguyên trả cho chúng, phục chức Long Đồ các Trực học sĩ cho Tằng Bố, các tướng tá được thăng quan có thứ bậc khác nhau. Từ khi bọn Tiêu Chú làm Kinh lược, hoặc dùng mưu gian dối lừa gạt trên dưới, hoặc không vỗ về được người phương xa, dẫn đến mất 4 quận, mà Quách Quỳ trì hoãn tự làm hại mình, chỉ lấy được Quảng Nguyên nhưng lại không thể giữ, cuối cùng phải bỏ đi. Người bị bắt 10 phần không được 1, mà tài chính triều đình tốn kém hàng ức vạn, dân Lưỡng Quảng từ đó lâm vào cảnh khốn quẫn cực độ. ==An Nam bộ tạp lục== === Hán Cung Nghi (漢宮儀)=== Hiếu Vũ Hoàng đế (孝武皇帝) phía Nam bình định Bách Việt (百越), phía Bắc đánh đuổi Hung Nô (匈奴), đặt các châu Giao Chỉ (交阯), Sóc Phương (朔方), khôi phục đất vùng Từ (徐), Lương (梁), đổi Ung (雍) gọi là Lương (梁), đổi Lương (梁) gọi là Ích (益), phàm là 13 châu. Riêng Giao (交) và Sóc (朔) không gọi là châu, để minh định rằng đế vương không nhất thiết phải theo rập khuôn nhau, bắt đầu mở mang bờ cõi, thông đến phương Nam, làm nền móng cho con cháu vậy. === Thủy Kinh Chú (水經注)=== Thái thú Cửu Chân (九真) là Nhâm Diên (任延) bắt đầu dạy việc cày bừa, phong tục giáo hóa đất Giao (交), gió lành thổi đến Tượng Lâm (象林). Từ khi biết cày cấy đến nay đã hơn 600 năm, pháp canh tác phát đốt làm cỏ cùng nghệ thuật cày cấy đều giống với Trung Hoa. Ruộng gọi là "bạch điền 白田" thì trồng lúa trắng, tháng 7 (tháng 7 âm lịch) bắt đầu đốt cỏ làm ruộng, tháng 10 (tháng 10 âm lịch) lúa chín. Ruộng gọi là "xích điền 赤田" thì trồng lúa đỏ, tháng 12 (tháng 12 âm lịch) bắt đầu làm, tháng 4 (tháng 4 âm lịch) năm sau lúa chín; đó chính là giống lúa hai vụ vậy. Cho đến khi cỏ lại nảy mầm, các tháng thay nhau gieo trồng, lúa sớm lúa muộn, không tháng nào là không trổ bông. Công cày bừa thì nặng mà lợi thu hoạch thì nhẹ, ấy là do lúa chín nhanh vậy. Gạo không bán ra ngoài, hằng là nước giàu có. Dâu tằm mỗi năm có 8 đợt kén, chính là thứ "miên của 8 đợt tằm (八蠶之綿)" mà kinh ''Tam Đô Phú'' 《三都賦》 nhắc đến. Nơi vách đá có dòng nước nhỏ rủ xuống mịt mùng, thường phun ra tia nước bay bổng, hoặc như tuyết rơi sa dâng, nước trong lạnh khôn đáy, chia các khe rạch, bến đò thông nhau. Nước từ góc Đông Bắc của thành chảy lên, bắc cầu cao treo lơ lửng, vượt qua bờ Bắc sông Hoài (淮), chính là con đường thông đến khu vực lương thực Bành Long (彭龍). Trận đại chiến trên cầu phía Đông của Đàn Hòa Chi (檀和之), Dương Mại (楊邁) bị thương ngã khỏi voi chính là ở chỗ này. Nước lại chảy về phía Đông Nam, đi qua cửa Thuyền Quan (船官口). Người dân vùng Thuyền Quan (船官) cùng vùng ngoại di Từ Lang (徐狼) thảy đều ở trần, đàn ông dùng ống tre che thân, đàn bà dùng lá cây che hình. Tên gọi bên ngoài là Lang (狼), tức là "Nước ở trần" (''Lỏa quốc'' 裸國) vậy. Tuy tập tục ở trần nhưng vẫn hổ thẹn nếu không có gì che đậy. Chỉ nương lúc đêm tối mới cùng người ta giao dịch, trong bóng tối ngửi tiền kim loại mà biết tốt xấu, sáng sớm hôm sau xem lại đều đúng như lời họ nói. Từ đây đi ra có thể đến Phù Nam (扶南). === Mộng Khê Bút Đàm (夢溪筆談)=== Khoảng năm Chí Hòa (至和) (năm 1054 - 1056 dương lịch), Giao Chỉ (交阯) dâng con lân 麟, giống như bò mà lớn, toàn thân đều có vảy lớn, trên đầu có 1 sừng. Xét trong ký truyền thì không giống lân, bấy giờ có người gọi là tê giác núi (''sơn tê'' 山犀). Nhưng tê giác không nghe nói có vảy, nên không biết đích xác là gì. Chiếu định gọi là lân thì lo bị người Di Lão (夷獠) đánh lừa, không gọi là lân thì chưa có gì để đối chứng, bèn chỉ gọi là "dị thú", ấy là cách làm thận trọng và đúng mực nhất. Nay theo ý ta, hẳn là con Thiên Lộc (天祿). Xét ''Hán Thư'', năm Trung Bình (中平) thứ 3 (năm 186 dương lịch) đời Linh Đế (靈帝), đúc hình Thiên Lộc và con cóc ở ngoài cửa Bình Tân (平津門). Chú thích rằng: "Thiên Lộc là tên loài thú, nay ở phía Bắc huyện Nam Dương (南陽) thuộc Đặng Châu (鄧州)". Bên cạnh văn bia Tông Tư (宗資碑) có 2 con thú khắc trên vai, một con gọi là Thiên Lộc, một con gọi là Tịch Tà (辟邪). Năm Nguyên Phong (元豐) (năm 1078 - 1085 dương lịch), ta đi ngang qua cõi Đặng (鄧), nghe nói đá hình thú này vẫn còn, sai người rập bản khắc các chữ "Thiên Lộc", "Tịch Tà" mà xem, chữ tựa như triện lại tựa như lệ. Con thú ấy có sừng, có bờm, vảy lớn như bàn tay. Tằng Phụ (曾阜) người Nam Phong (南豐) làm Huyện lệnh Nam Dương (南陽), đề sau bia Tông Tư (宗資) rằng: "Chữ khắc trên vai 2 con thú vẫn còn, chế tác tinh xảo, cao 7 đến 8 thước, đuôi và bờm thảy đều là vảy sừng, chẳng rõ là hình tượng gì mà đặt tên như thế". Nay xét kỹ hình dáng, rất giống với con dị thú mà Giao Chỉ (交阯) đã dâng, nên biết chắc đó là Thiên Lộc (天祿) vậy. === Ngọc Đường Tạp Ký (玉堂雜記)=== Ngày Ất Mùi tháng 8 năm Bính Thân niên hiệu Thuần Hy (ngày 21 tháng 9 năm 1176 dương lịch), Đô đường triệu tập bàn nghị chiếu thư ban lịch năm sau cho Giao Chỉ (交阯). Ta nói rằng Lý Thiên Tố (李天祚 - tức Lý Anh Tông) mùa đông năm ngoái đã mất, Long Cán (龍𣉙 - tức Lý Cao Tông) chưa kinh qua phong bái, muốn gọi là "An Nam quốc vương tự tử Long Cán", các chấp chính quan đều cho là phải. Trước đó, ta lấy chức sự ở Binh bộ để soạn thảo điển lễ truy tặng cho Thiên Tố (天祚). Xét theo lệ cũ, vua nước ấy khi mới lập thì phong Giao Chỉ quận vương (交阯郡王), lâu ngày thì tiến phong Nam Bình vương (南平王), khi mất thì tặng Thị trung, Nam Việt vương (南越王). Nhà vua cho rằng Thiên Tố (天祚) kế vị từ năm Đinh Tỵ niên hiệu Thiệu Hưng (năm 1137 dương lịch), đến nay đã 40 năm. Tháng 2 năm Thuần Hy (淳熙) thứ 1 (tháng 3 năm 1174 dương lịch), lại từ Nam Bình vương đặc phong An Nam quốc vương, nên muốn hậu đãi lễ nghi. Ta xin vẫn tặng Thị trung, truy phong Nam Việt quốc vương (南越國王), chiếu phê chuẩn cho. <div style="background-color:pink;"> An Nam trở thành "Quốc" là do lỗi lầm của Tăng Thừa tướng (曾丞相 - Tăng Hoài 曾怀). Các tấu chương giấy tờ cũ chỉ gọi là An Nam đạo (安南道), sau khi gia phong, họ dần tự tôn đại, văn thư xưng là "Quốc", không thể sửa lại được nữa. Ngày 24 tháng 3 năm Đinh Dậu (ngày 23 tháng 4 năm 1177 dương lịch), ban chế phong cho Long Cán (龍𣉙) làm Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương, hưởng thực ấp 3,000 hộ, thực phong 1,000 hộ, lại ban hiệu Thôi thành Thuận hóa Công thần. Ta vừa vặn soạn chế văn đó, có câu rằng: "Nương nơi lạc quốc mà khởi phong, đã theo thế tập; tột bậc chân vương mà ban mệnh, hà tất đợi thăng thứ?" Ý nói là không phong Quận vương nữa. Giao Châu (交州) thời Đường là An Nam đô hộ phủ. Triều ta thời Thái Tông (太宗), họ Lê (黎) đoạt tiết độ của Đinh Toàn (丁璿). Năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 2 (năm 1009 dương lịch), Lý Công Uẩn (李公蘊) lại đoạt ngôi, truyền cho con là Đức Chính (德政), đến cháu là Nhật Tôn (日尊) từng xưng đế cải nguyên. Nhật Tôn mất, Càn Đức (乾德) nối, Càn Đức mất, Dương Hoán (陽煥) nối, Dương Hoán mất, Thiên Tố (天祚) nối, Thiên Tố mất, Long Cán (龍𣉙) nối, khi đó mới có vài tuổi. Chế văn nói: "Đoái trông một bang, nay truyền 7 đời", là tính từ Công Uẩn vậy. Các tên gọi như Nhật, Càn, Dương, Thiên, Long thảy đều có ý tiếm thượng. Tuy nhiên chữ trong biểu chương nhỏ như đầu ruồi, gần như không thể phân biệt, thánh thượng mỗi khi nghe lời tâu đều khen họ cung thuận. </div> === Tề Đông Dã Ngữ (齊東野語)=== Dã bà (野婆) ở vùng Ung (邕), Nghi (宜) cùng các tộc man phương Tây Nam thảy đều ở nơi vách đá hang sâu. Có loài thú tên là Dã bà (野婆), tóc vàng búi cao, chân đất mình trần, hệt như một bà lão. Lên xuống vách núi nhanh như vượn bay, từ thắt lưng trở xuống có lớp da rủ xuống che đầu gối như cái khố, sức địch nổi vài người khỏe mạnh, thích bắt trộm con cái người ta, nhưng tính hay nghi ngờ và sợ bị mắng. Đã bắt trộm rồi tất sẽ lại đến nhà mất con để rình rập. Nhà ấy biết là bị nó bắt thì tập hợp hàng xóm chửi bới ầm ĩ không ngớt lời, nó thường không chịu nổi đám đông mắng chửi mà ôm đứa trẻ trả lại. Loài này toàn là giống cái, không có bầu bạn, mỗi khi gặp đàn ông tất sẽ cõng đi cầu hợp. Từng có người khỏe mạnh lập mưu đẩy nó xuống hố lớn, nó lăn lộn gầm thét, gãy ống chân không đứng dậy được. Người Dao tập hợp đám đông đâm chết nó, đến chết tay vẫn hộ vệ nơi thắt lưng không rời. Mổ ra thấy một cái ấn vuông 1 thốn, trong suốt như ngọc thương bích, chữ tựa như bùa triện không thể đọc được. Không phải đục không phải chạm, ấy là văn tự tự nhiên, nhưng rốt cuộc cũng chẳng ai biết báu vật đó dùng làm gì. Chu Tử Công (周子功) vào niên hiệu Cảnh Định (景定) (năm 1260 - 1264 dương lịch) đi sứ Đại Lý (大理), đi qua con đường này, tận mắt thấy cái gọi là ấn đó, chuyện này trước đây chưa từng nghe qua. Thế mới biết vùng hoang sơ tuyệt viễn, trời kỳ đất quái, thứ gì mà chẳng có, không nên lấy những điều tai nghe mắt thấy chưa tới mà cho là chuyện hoang đường. Sách ''Hậu Hán'' dẫn ''Bác Vật Ký'' nói: "Nhật Nam (日南) có Dã nữ (野女), đi thành bầy mà không thấy chồng, hình dáng trắng trẻo, ở trần không áo yếm", há chẳng phải là loài này sao? ''Bác Vật Ký'' vốn là sách cổ thời Tần (秦), Hán (漢), Trương Mậu Tiên (張茂先) hẳn đã lấy tên đó mà chép vào chí vậy. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9mbzfjn7?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 9xcurowh23v7qbplb1gdzvcpved24j6 Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089 114 71930 204616 2026-04-09T10:56:28Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第089卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 89''' | trước= [[../quyển 088|quyển 88]] | sau= [[../quyển 090|quyển 90]] | ghi chú = }} ==Nam phương chư quốc tổng bộ vị khảo (南…” 204616 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第089卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 89''' | trước= [[../quyển 088|quyển 88]] | sau= [[../quyển 090|quyển 90]] | ghi chú = }} ==Nam phương chư quốc tổng bộ vị khảo (南方諸國總部彙考)== === Quảng Đông Thông Chí (廣東通志) - Ngoại chí (外志) === Thời Hoàng Đế (黃帝), người Di phương Nam (南彝) cưỡi hươu trắng đến dâng rượu nghệ và áo lông thú màu nâu. Thời Đường Nghiêu (唐堯) vỗ về phương Nam đến vùng Giao Chỉ (交阯), tộc Tam Miêu (三苗) đến thần phục. Thời Ngu Thuấn (虞舜), tộc Kiêu Diêu thị (僬僥氏) đến cống nạp lông chim Một Vũ, các tộc Man Di (蠻彝) đều tuân phục. Nhà Hạ (夏) lập ra 5 vùng Ngũ phục (五服), bên ngoài tiếp giáp bốn biển, Nam Hải (南海) có cá, da thú, ngọc trai, ngọc cơ và ốc tai tượng đại bối. Thời Thương (商), Y Doãn (伊尹) định lệ cống nạp bốn phương, phương Nam có các nước Âu (甌), Đặng (鄧), Quế (桂), Tổn Tử (損子), Sản Lý (產里), Bách Bộc (百濮), Cửu Khuẩn (九菌). * 6 cái tên này là tên gọi riêng của các tộc Nam Man (南蠻). ''Âu'' (甌) cũng giống như ''Âu'' (漚), ''Âu'' là ''Lạc'' (駱) vậy. ''Đặng'' (鄧) mang họ Mạn (曼), là các động người Man ở Kinh Nam (荊南). ''Quế'' (桂) là tám cây quế ở Phiên Ngung (番禺). ''Tổn Tử Sản'' (損子產) là chỉ tộc người Man ăn đầu người và sinh con. ''Lý'' (里) âm đọc là Lê, nay gọi là người Lỉ (俚人). Lệnh dâng nộp ngọc trai, đồi mồi, ngà voi, tê giác văn tê, lông chim thúy, chim Khuẩn hạc, chó Củ làm đồ cống. * ''Cơ'' (璣) giống ngọc trai nhưng nhỏ hơn. ''Khuẩn hạc'' có lông dùng làm cờ và quạt che, ''chó Củ'' là giống chó tốt. Buổi triều hội thời Thành Chu (成周), người Âu (甌) dâng ve sầu và rắn hổ mang ở đất Việt (越), nộp hàu văn thận của tộc Thả Âu (且甌). * Nay là đất Lạc Việt (駱越) ở Quảng Tây. Y Doãn (伊尹) triều cống phương Đông là tộc Âu (漚), tức người Âu (甌). Còn phương Nam là tộc Âu (甌), tức người Lạc Việt (駱越). ''Âu'' (漚) và ''Âu'' (甌) dùng thông nhau. ''Văn thận'' (文蜃) là loài sò lớn. Tộc Cộng nhân (共人) dâng sò Nguyên bối (元貝). * Người Man ở Ngô Việt (吳越) gọi là ''Cộng nhân'' (共人). ''Nguyên'' (元) là màu đen. ''Bối'' là loài sâu lớn dưới biển. Vùng Hải Dương (海陽) dâng cua lớn. * Phía Nam nước biển, nay là nơi sản sinh ra con cù kỳ (蝤蛑), thuộc phía Đông Triều Châu (潮州) vào vùng Mân (閩 - Phúc Kiến). Tự Thâm (自深) dâng quế. * ''Tự Thâm'' là tên vùng Nam Man, quế nay xuất sản từ Quế Châu (桂州), Thiều Châu (韶州). Vùng Hội Khê (會稽) dâng da thú. * Da có thể dùng bọc mặt trống. Chim trĩ của tộc Man Dương (蠻揚). * Chim trĩ của người Man ở Dương Châu (揚州) là loài gà núi (sơn kê). Vùng Thương Ngô (倉吾) dâng chim phỉ thúy. Phỉ thúy dùng để lấy lông. * ''Thương Ngô'' (倉吾) nay là Thương Ngô (蒼梧). Chim phỉ thúy có lông xanh pha vàng. Người phương Nam khi dâng lễ vật đông đảo thảy đều hướng về phương Bắc. * ''Nam'' ở đây là Nam Việt (南越). Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺) đến sát biển là vùng Dương Việt (揚粵), nay là đất Quảng Đông. Thời Hán (漢), phía Nam Nhật Nam (日南) có các nước Đô Nguyên (都元), Trạm Ly (湛離), Cam Đô Lư (甘都盧), Hoàng Chi (黃支)... gần thì đi 10 dư ngày, xa thì hành trình đến 4 hoặc 5 tháng. Phong tục đại lược giống vùng Châu Nhai (朱崖). Cõi bang rộng lớn, hộ khẩu đông đúc, nhiều vật lạ. Thời Hán Vũ Đế (漢武帝), thường sai những người ứng tuyển cùng sứ giả đi biển, mua ngọc minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá quý và vật lạ, mang theo vàng ròng và các loại lụa là mà đi. Đến nước nào cũng được cung cấp lương thực theo cặp, thuyền buôn của người Man Di (蠻彝) lần lượt chuyển tống đi. Đồ trân quý của ngoại tộc lưu nhập vào Trung Quốc bắt đầu từ đây. * Lưu Hướng (劉向) nói: "Thuyền buôn một cột buồm sâu hơn 50 khuỷu tay, thuyền ba cột buồm sâu hơn 15 khuỷu tay; Tây Vực lấy khuỷu tay làm đơn vị đo lường." Thời Quang Vũ Đế (光武帝) nhà Hậu Hán (後漢), người Man ngoài biên ải Giao Chỉ (交阯), Nhật Nam (日南) đến cống nạp. Mã Viện (馬援) dựng cột đồng. Sau đó, người Di ở Tây Đồ (西屠) cũng đổi quốc hiệu thành Ca La (哥羅), thuộc về Phù Nam (扶南). Từ đó tên các nước nhiều lần thay đổi. Người Man ở Tượng Lâm (象林), Nhật Nam nhiều lần phản loạn rồi lại hàng, sau đó Khu Liên (區連) 〈có chỗ chép là Khu Liên 區憐〉 chiếm cứ Lâm Ấp (林邑), bỏ phong tục và văn tự Trung Quốc, dần giống với Bà La Môn (婆羅門), từ đó sách Phật truyền đến. Đến thời Hoàn Đế (桓帝), các nước Thiên Trúc (天竺), Đại Tần (大秦) ở phía Tây Phù Nam (扶南) đều từ Nam Hải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ đến cống hiến, từ đó thương nhân người Hồ (賈胡) tràn ngập vùng Dương Việt (揚粵). Đồ cống có đồi mồi, ngà voi, vải bông (cổ bối), trầm hương, hổ phách. Thú thì có voi thuần, tê giác đen (nguyên tê), đười ươi (tinh tinh)... nhiều không sao kể xiết. Đời Ngô (吳), Tôn Quyền (孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước phiên thuộc, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến số lượng vài trăm nước. Khang Thái lập kỷ truyện, gọi là "Phù Nam thổ tục", chép về các nước: Bồ Lư Trung (蒲盧中), Ưu Bạt (優鈸), Hoành Điệt (橫跌), Chư Bạc (諸薄), Bắc Lỗ (北櫓), Tân Na Chuyên (濱郍專), Điểu Văn (鳥文), Tư Điều (斯調), Lâm Dương (林陽), đảo Mã Ngũ (馬五洲), đảo Bạc Thán (薄歎洲), đảo Đam Lan (耽蘭洲), đảo Cự Diên (巨延洲). Về sau trải qua các triều đại thay đổi, không còn dùng tên cũ nữa. Khi Tấn Vũ Đế (晉武帝) bình định nhà Ngô (吳), sau khi các nước Lâm Ấp (林邑), Phù Nam (扶南) vào cống nạp, lại có các nước gọi là Mâu La (牟羅), Mô Lư (模盧), Mạt Lợi (末利), Ty Ly (卑離), Mãn Đô (滿都), Thằng Dư (繩余), Sa Lâu (沙樓), Bồ Lâm (蒲林), thảy đều là những tên trước đây chưa từng nghe thấy. Thời Tống (宋), Tề (齊) có các nước đến gồm: Sư Tử (師子), Tỳ Gia Lê (毗迦梨), Can Đà Lợi (干陀利), Xà Bà (闍婆), Bồ Hoàng (蒲黃), A La Đà La (阿羅陀羅), Đơn Bà Hoàng (單婆皇), Lang Nha (狼牙), Tu (修), Bàn Bàn (槃槃), Đốn Tốn (頓遜)... đại khái có hơn 10 nước. Thời Lương Vũ Đế (梁武帝), các nước Bà Lợi (婆利), Đan Đan (丹丹), Tỳ Kiên (毗騫) mới bắt đầu thông sứ. "Vua nước Tỳ Kiên (毗騫) thân cao 3 trượng, cổ dài 3 thước, từ xưa đến nay không chết, biết được những việc thần thánh chưa xảy ra; con cháu vua thì sinh tử như người thường." Nhà Tùy (隋) sai sứ thông với nước Xích Thổ (赤土), dẫn đến nước La Sát (羅剎). Nước ấy ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng ưng, chính là loài "Dạ xoa La sát thân dài kim cương" mà sách Phật nhắc đến vậy. Các nước khác như Đầu Hòa (投和), Biên Đẩu (邊斗) cống nạp cho nhà Tùy (隋) ngày càng nhiều. Đồ cống đại để là vàng bạc báu vật, hương liệu dược liệu, cũng có khi dâng răng Phật (Phật nha), xá lợi, thảy đều vì họ phụng theo giáo pháp Bà La Môn (婆羅門) vậy. Nhà Đường (唐) bắt đầu đặt chức Thị bạc sứ (市舶使), giao cho quan soái trấn Lĩnh Nam (嶺南) kiêm quản, lập khu chợ búa, lệnh cho người Man Di (蠻彝) đến cống nạp được phép giao dịch, thu một phần lợi nhuận vào kho quan. Phàm thuyền buôn đến, lớn nhất là "Độc tường bách" (thuyền 1 cột buồm), có thể chở được 1,000 Bà lan (婆蘭). 〈Người Hồ gọi 200 cân là 1 Bà lan〉. Hạng nhì gọi là "Ngưu đầu bách", bằng 1 phần 3 thuyền Độc tường; hạng tiếp theo là "Nhị mộc bách" và "Liệu hà bách", mỗi loại lại kém đi 1 phần 3. Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 17 (năm 643 dương lịch), chiếu lệnh cho Ty Thị bạc 3 lộ, hễ thương nhân nước ngoài buôn đến 4 loại hàng là Long não, Trầm hương, Đinh hương, Bạch đậu khấu thì đều thu thuế 1 phần 10 (trừu giải). Thời Võ hậu (武后), Đô đốc Lộ Nguyên Du (路元皻) tham lam chiếm đoạt hàng hóa của các thủ lĩnh phương Nam, vị chúa tàu (bách tửu) không chịu nổi cơn giận đã giết chết y. Đầu năm Khai Nguyên (開元), Thị bạc sứ Chu Khánh Lập (周慶立) cùng với tăng nhân Ba Tư (波斯) chế tạo đồ kỳ xảo để tiến dâng, bị hạch tội và bãi chức; triều đình cũng bãi bỏ việc sai sứ giả đến Nam Hải (南海) tìm ngọc trai và chim thúy. Năm Khai Nguyên (開元) thứ 4 (năm 716 dương lịch), có người Hồ tâu rằng: "Nam Hải (南海) nhiều ngọc trai, chim thúy và báu vật lạ, có thể sang đó tìm kiếm." Nhân đó nói về cái lợi của việc buôn bán đường biển (thị bạc), lại muốn sang nước Sư Tử (獅子 - Sri Lanka) tìm linh dược, và tìm những bà lão giỏi y thuật đưa vào cung đình. Vua mệnh cho Giám sát Ngự sử Dương Phạm Thần (楊範臣) cùng người Hồ ấy đi tìm. Phạm Thần ung dung tâu rằng: "Năm kia Bệ hạ cho đốt châu ngọc gấm vóc để tỏ ý không dùng đến nữa. Nay những thứ tìm kiếm này có gì khác với những thứ đã đốt? Việc Thị bạc là tranh lợi với thương giả, không phải là thể thống của bậc vương giả. Tính chất dược liệu phương Nam người Trung Hoa đa phần không biết, huống hồ là bà lão người Hồ, sao nên đưa vào cung đình? Chức Ngự sử là tai mắt của Thiên tử, hễ có đại sự quân quốc, thần dù phải dấn thân vào nơi lam chướng, chết cũng không dám từ nan. Đây chẳng qua là bọn người Hồ muốn mê hoặc để cầu sủng, không ích gì cho thánh đức, trộm nghĩ không phải ý của Bệ hạ, xin hãy suy xét kỹ." Vua lập tức tự nhận lỗi, an ủi ông rồi bãi bỏ việc ấy. Sau đó tại Quảng Châu (廣州) đặt chức Kết hảo sứ (結好使), mỗi khi thuyền buôn nước ngoài đến thì xem xét tình hình mà tâu báo. Lúc này các nước phương Nam có nhiều thay đổi: Lâm Ấp (林邑) đổi hiệu là Hoàn Vương (環王), còn Lục Chân Lạp (陸真臘) cũng gọi là Văn Đan (文單), thảy đều thường xâm phạm biên giới. Khoảng năm Nguyên Hòa (元和) (năm 806 - 820 dương lịch), An Nam Đô hộ Trương Chu (張舟) đánh bại chúng, dựng lại cột đồng để phân định cương giới, từ đó đồ trân bảo cống nạp đầy ắp kho vương phủ. Sau đó, Tiết độ sứ Mã Tổng (馬總) lại đúc thêm 2 cột đồng nối tiếp. Thời Trinh Nguyên (貞元), 2 nước Ba Tư (波斯) và Cổ La (古羅) vào cống nhiều vật quý, Tiết độ sứ Vương Xứ Hưu (王處休) tuyên dương uy đức, vỗ về lệnh cho giao dịch, ngoài phần cung phụng thường lệ thì không lấy thêm một thứ gì. Ông bèn vẽ bản đồ "Sứ viện đồ biểu" dâng lên, trong đó có lời rằng: "Ngoài cửa biển, ẩn hiện như những quốc gia đối địch. Giữ lòng trung thực, để đức lại cho mai sau." Thời bấy giờ khen là đắc thể. Về sau vì việc quân nhu nổi lên, dần gia thêm thuế chợ. Khoảng năm Thái Hòa (太和) (năm 827 - 835 dương lịch), Văn Tông (文宗) xuống chiếu bãi bỏ thuế này. Nhà Nam Tống (宋), năm Khai Bảo (開寶) thứ 4 (năm 971 dương lịch), đặt Ty Thị bạc tại Quảng Châu (廣州), lấy Tri châu kiêm chức Sứ, Thông phán kiêm chức Phán quan. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch), bắt đầu định lệ thu thuế (trừu giải) là 2 phần 10. Phàm các nước phương Nam ở Nam Hải (南海) đều thông thương dùng vàng, thiếc, tiền giấy để đổi lấy các thứ: tê giác, voi, san hô, hổ phách, chuỗi ngọc, gang (tân thiết), da cá sấu, đồi mồi, mã não, xà cừ, thủy tinh, vải phương Nam (phiên bố), gỗ mun (ô man), tô mộc, hồ tiêu, hương liệu dược liệu... Thái Tông (太宗) đặt cơ quan Quế vụ (榷務) tại kinh sư, chiếu lệnh hàng hóa phương Nam đến Quảng Châu (廣州), nếu không phải từ kho quan đưa ra thì không được tự ý buôn bán riêng. Sau đó có chiếu: những thứ không phải kỳ trân dị bảo thì thảy đều cho phép bán ở chợ. Lại có chiếu: những hàng hóa tốt khác cũng cho phép bán ở chợ một nửa. Đại để thuyền biển đến thì thu thuế 1 phần 10 (thập nhất), còn lại cấp cho thương nhân, giá trị thu vào hằng năm tính bằng con số hàng chục vạn, giúp ích cho kinh phí của triều đình. Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 3 (năm 978 dương lịch), Lý Xương Linh (李昌齡) tri Quảng Châu (廣州), đất Quảng có nguồn lợi thuyền biển dồi dào, Xương Linh không giữ được lòng thanh liêm. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch) khi mãn nhiệm về kinh, Xương Linh tâu rằng: "Thị bạc ở Quảng Châu, hằng năm thuyền buôn đến, quan lại đều tăng giá mua hết sạch, hàng tốt xấu lẫn lộn nên ít lợi nhuận. Từ nay xin chọn lấy hàng tốt theo giá mà mua, còn hàng xấu thì mặc cho họ tự bán, không cấm." Khoảng năm Hy Ninh (熙寧) (năm 1068 - 1077 dương lịch), nguồn thu Thị bạc Quảng Châu bị thâm hụt, có người cho rằng do Ty Thị dịch gây nhiễu loạn, nên lệnh cho quan Đề cử điều tra báo lên. Khi ấy quan coi việc là Lã Mạo (呂邈) bị hạch tội vì tự tiện lấy hàng phương Nam và bị bãi chức. Sau đó theo lời bàn của quan viên mà bãi bỏ Thị bạc ở Hàng Châu (杭), Minh Châu (明), thảy đều lệ thuộc về Quảng Châu. Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 3 (năm 1080 dương lịch), Trung thư tâu rằng: "Thuyền buôn Quảng Châu đã tu định điều ước, nên chọn quan thực thi." Chiếu lệnh cho Quảng Đông lấy Chuyển vận sứ Tôn Hồi (孫迥) thay quan Soái kiêm lĩnh. Năm Đại Quan (大觀) thứ 1 (năm 1107 dương lịch), lại đặt quan Đề cử Thị bạc 2 lộ Chiết, Quảng và Phúc Kiến; phục hồi Ty Thị bạc tại Hàng Châu, Minh Châu, lại tăng thêm 1 Ty ở Tuyền Châu (泉州). Năm thứ 3 (năm 1109 dương lịch), thương nhân phương Nam muốn sang quận khác thì phải do Ty Thị bạc cấp giấy thông hành (khoán), không được mang theo vật cấm. Việc phòng bị vũ khí trên thuyền được cấp theo luật của các nước. Ty Thị bạc bán hàng hóa đã thu mua đều thu lợi vượt quá 2 phần, quan lại tự ý mua hàng thì bị cấm. Năm Chính Hòa (政和) thứ 4 (năm 1114 dương lịch), chiếu lệnh Ty Thị bạc Quảng Nam hằng năm cống nạp trân châu, sừng tê giác, ngà voi. Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127 dương lịch) xuống chiếu: "Việc Thị bạc đa phần lấy những thứ vô dụng, lãng phí quốc dụng để làm vui lòng kẻ quyền quý; từ nay ai dùng hương đốc nục, nhẫn, mã não, mắt mèo và các loại tương tự để trao đổi, cũng như ai gây thiệt hại cho thương nhân phương Nam, đều sẽ bị trị tội nặng theo pháp luật. Chỉ ban cho các quan đại thần hốt ngà, đai tê là được phép, lượng cho vận chuyển vào." Luật cũ chia hàng phương Nam thành 2 loại thô và mịn (thô tế nhị sắc). Những thứ như Long não, trân châu đều là hàng mịn, thu thuế 1 phần 10. Sau đó lại thu mua thêm 4 phần; hàng thô cũng thu thuế 1 phần 10 và thu mua thêm 4 phần. Việc thu mua quá nhiều khiến thương nhân thường giấu hàng mịn đi, không khai báo thật. Luật cũ hàng mịn lấy 5,000 lạng làm 1 cương (kiện hàng), hàng thô lấy 10,000 cân làm 1 cương; mỗi cương thì có tiền vận chuyển và nuôi gia đình là hơn 1,000 quán. Về sau kẻ vận chuyển gian dối lấy ngà voi, sừng tê, tử khoáng để chiếm tiền vận chuyển, khiến 1 cương cũ bị chia nhỏ thành 33 cương, tốn kém tiền vận chuyển và nuôi nhà đến hơn 3,000 quán. Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 27 (năm 1157 dương lịch), chiếu lệnh cho Kinh lược Ty Thị bạc Quảng Nam thanh tra thương nhân phương Nam giả mạo vào cống nạp. Đầu năm Long Hưng (隆興) (năm 1163 dương lịch), quan viên cho rằng ngà voi, tê giác đỏ so với hàng khác là nặng nhất, xin thu thuế 1 phần 10 và bãi bỏ việc thu mua thêm. Đầu năm Càn Đạo (乾道) (năm 1165 dương lịch), quan viên lại tâu rằng Phúc Kiến, Quảng Nam đều có Thị bạc, hàng hóa mênh mông, đặt quan Đề cử là thực sự thỏa đáng. Năm Càn Đạo (乾道) thứ 7 (năm 1171 dương lịch), chiếu lệnh hàng thô lấy 20,000 cân làm 1 cương, hao hụt 600 cân, theo lệ cũ chi trả tiền vận chuyển đường thủy (thủy cước tiền) là 1,662 quán và lẻ. Sau khi dời đô xuống phía Nam (Nam độ), kinh phí túng quẫn, mọi việc thảy đều dựa vào nguồn thu này. Hàng nhập vào hằng năm vốn không ít, nhưng vàng bạc đồng sắt tiền tệ cũng theo đó mà rò rỉ ra ngoài cảnh, trong đó tiền tệ rò rỉ là nghiêm trọng nhất. Pháp luật dù nghiêm minh nhưng gian xảo ngày càng tinh vi, cái tệ ấy rốt cuộc không thể ngăn cấm được. Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2 (năm 1175 dương lịch), chiếu lệnh Thị bạc Quảng Châu ngoài những mặt hàng độc quyền (quế hóa), những hàng tốt khác chỉ được thu mua một nửa. Đời Nguyên (元), Thế Tổ (世祖) từng lập Ty Đề cử nhưng rồi bãi bỏ. Năm Chí Trị (至治) thứ 4 (năm 1324 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), sai sứ thu mua hàng phương Nam ở Quảng Đông, bèn lập lại Ty này, cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thì thu thuế. Năm Nguyên Thống (元統) thứ 6 (năm 1338 dương lịch) đời Thuận Đế (順帝), bãi bỏ 2 Ty Đề cử ở Quảng Đông. Năm Chí Chính (至正) thứ 2 (năm 1342 dương lịch), lập lại Đề cử Quảng Đông, siết chặt lệnh cấm Thị bạc. Năm thứ 3 (năm 1343 dương lịch), cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thu thuế. Nhà Minh (明), trừ những nước phương Nam có lệ cứ 3 năm vào cống 1 lần, các nước khác đến quy phục thì cho phép giao thương (hỗ thị). Lập Ty Đề cử Thị bạc để chủ trì việc vào cống của các nước. Theo chế độ cũ, các nước vào cống trước tiên được cấp sổ sách phù hiệu (phù bộ), khi đến Tam ty (布、按、都三司) thì đối chiếu phù hiệu, xem biểu văn và phương vật không có gì giả mạo mới chuyển đưa vào kinh. Nếu là hàng hóa của Quốc vương, Vương phi, Bồi thần mang theo thêm thì thu thuế 5 phần 10, phần còn lại quan trả tiền theo giá; riêng 2 nước Xiêm La (暹邏), Qua Oa (瓜哇 - Java) được miễn thuế này. Những thương nhân phương Nam tự mang hàng đến buôn bán, khi thuyền đến bến nước, thảy đều phong tỏa và vào sổ, thu thuế 2 phần 10 mới cho phép giao dịch. Tuy nhiên dân gian xảo ở Mân, Quảng thường hay búi tóc đeo khuyên tai, bắt chước quần áo tiếng nói của người phương Nam, lẻn vào trong thuyền dẫn đường cho chúng làm điều gian ác, nhân đó cướp bóc, dân vùng ven biển rất khổ sở. ''Cựu Chí'' chép: Phàm giao dịch ở Đông Dương đa phần dùng tơ lụa, nước Oa (倭國 - Nhật Bản) đặc biệt hung hãn, thương nhân rất sợ chúng, thường đổi lấy đầu chim hạc (hạc đính)... Giao dịch ở Tây Dương đa phần dùng hàng Quảng (Quảng hóa), đổi lấy hồ tiêu... Những hàng quý mịn thường đầy ắp thuyền. Như nước Xiêm La (暹邏) sản xuất tô mộc, Địa Muộn (地悶 - Timor) sản xuất đàn hương, các loại hương liệu khác nước nào cũng có. Về Trầm hương, có các loại trầm vàng (hoàng trầm), trầm đen (ô giác), trầm rất quý thì gọi là trầm sáp (lạp trầm), gọt ra thì cuộn lại, nhai thì mềm, thảy đều kết tụ từ gốc cây khô; chỉ có gỗ Kỳ Nam (奇南木) mới là phần trầm kết từ cây sống. Sừng tê giác có tê đen (ô tê), tê hoa (hoa tê), tê thông thiên (thông thiên tê), tê phục thông (phục thông tê). Tê hoa là nền trắng hoa đen; tê thông thiên là nền đen hoa trắng; tê phục thông là trong hoa trắng của tê thông thiên lại có thêm hoa đen, thảy đều là vật quý hiếm thấy trên đời. Hạc đính, mu rùa, đồi mồi thảy đều có thể kết hợp (kiến hợp khả hợp), riêng sừng tê giác không tùy tiện kết hợp, cho nên công phục lấy ngọc và tê làm đai, quý ở cái nghĩa không tùy tiện kết hợp vậy. Tháng 5 năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370 dương lịch), sai sứ ban chiếu về Khoa cử cho An Nam (安南), Chiêm Thành (占城), vì họ thông hiểu văn tự Trung Quốc. Các nước phương Nam không ai không sợ uy mà nhớ đức, từ đó triều cống không dứt, cũng có nước chưa đến kỳ cũng cống hiến. Đầu năm Vĩnh Lạc (永樂), sai sứ bốn phương chiêu dụ các nước, cống hiến thảy đều đến. Hàng lạ bảo vật quý hiếm trước nay chưa từng có. Bèn mệnh cho Nội thần giám trấn Thị bạc, đặt công quán ở bến nước phía Nam thành; công quán cũng xây ở Tiên Hồ phía Tây quận 〈nay là đường Phân thủ〉. Tháng 9 năm thứ 3 (năm 1045 dương lịch), Đại lý tự khanh 〈khuyết tên〉 Phụ, ban đầu làm Phó sứ Hồ Quảng, vì có tội bị giáng làm Hành nhân. Đến nay phụng mệnh đi sứ các nước Tây Nam như Xiêm La, Qua Oa đến tận các nước Cổ Lý (古里 - Calicut) ở Tây Dương. Khi về kinh tâu việc đúng ý vua, được thăng làm Quảng Đông Án sát sứ. Nội thần Hầu Hiển (侯顯), Trịnh Hòa (鄭和) cùng Hành nhân đi lại, các vua phương Nam đều đãi lễ rất hậu. Tháng 6 năm thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Bố chính ty Quảng Đông tâu: "Hằng năm người phương Nam ở hải ngoại vào cống phương vật, đường thủy dùng thuyền vận tải, duy có đoạn từ Nam Hùng (南雄) đến Nam An (南安) bị ngăn cách bởi đèo Mai Lĩnh (梅嶺), thuyền bè không thông. Từ nay xin dùng sức dân để tiếp vận." Vua phán rằng: "Làm vua phải lo nuôi dân. Nay việc cống nạp không có định kỳ mà nông dân ít ngày rảnh. Giả sử từ xuân đến thu, người phương Nam vào cống không dứt, thảy đều bắt dân tiếp vận, há chẳng ngăn trở việc nhà nông sao? Từ nay người phương Nam vào cống, nếu gặp lúc vụ mùa thì phương vật thảy đều lưu trữ ở Nam Hùng, đợi đến tháng 11 (tháng 11 âm lịch) lúc nông nhàn mới cho vận chuyển đến Nam An, hãy ghi làm lệnh." Lại bảo thị thần rằng: "Dân không mất sự nuôi dưỡng thì dù nhọc nhằn cũng ít oán; dân mất sự nuôi dưỡng thì dù cho nghỉ ngơi cũng không cảm đức." Tháng 8, đặt trạm Hoài Viễn (懷遠驛) tại bến Hiện Tử (蜆子步) thành Quảng Châu, xây 120 gian phòng để người phương Nam ở. Lệ thuộc Ty Đề cử Thị bạc, nhưng quan Nội quan tổng quản hàng hóa, quan lại Đề cử chỉ giữ sổ sách mà thôi. Có những thuyền đáng lẽ đi Phúc Kiến nhưng bị gió bạt đến đây. Như nước Bột Ni (渤泥 - Brunei), vốn là thuộc quốc của Xà Bà (闍婆), ở trong biển lớn phía Tây Nam, cách Qua Oa 45 ngày đường, cách Tam Phật Tề (三佛齊 - Srivijaya) 40 ngày đường, cách Chiêm Thành (占城) 30 ngày đường. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 (năm 1406 dương lịch), vua nước ấy là Hà Vượng (遐旺) đến triều kiến. Lưu Cầu (琉球) ở trong biển lớn Đông Dương, nằm phía Đông quận Kiến An, đi đường thủy 5 ngày thì đến. Thời Tùy Đại Nghiệp (隋大業), sai tướng dẫn binh từ Nghĩa An (義安) vượt biển đánh chúng. Nghĩa An nay là Triều Châu (潮州) vậy. Thời Hồng Vũ (洪武), chia ra Đại, Tiểu Lưu Cầu, triều cống rất cung kính. Quan sinh thường vào Thái học thụ nghiệp, triều đình thường gia thêm ơn xót thương. Những nước khác như Nam Bột Lợi (喃勃利)... cũng có kẻ theo thuyền đến Quảng Châu. Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), Án sát Phó sứ Chương Cách (章格) tuần thị đường biển. Lúc ấy sứ thần Lưu Cầu là Thái Tuyên (蔡璇) cùng vài người mang phương vật buôn bán với nước lân cận, bị gió bạt đến cảng Hương Sơn (香山). Viên quan Thủ bị coi là "hải khấu" muốn giết đi để lập công. Cách không cho, biện minh cho họ, tâu xin trả lại tài sản rồi cho về, người phương Nam ca tụng công đức. Những năm gần đây, khách buôn Lưu Cầu có kẻ bạt đến Quỳnh Châu (瓊州), được đưa đến thành Quảng Châu. Thiêm sự Kinh Ngạn Thái (經彥寀) hết lòng chăm sóc cứu trợ, người phương xa rất cảm kích. Thời Thành Hóa (成化), Hoằng Trị (弘治), người vào cống ngày càng đông. Quan hữu tư chỉ cho phép sứ giả vào bái kiến, còn lại thảy đều lưu lại ở trạm (dịch). Việc đi lại có đặt yến tiệc tiếp đãi mới cho vào thành. Quần áo kỳ dị, cũng có kẻ đội mũ gắn vàng ngọc, mặc áo màu ráng chiều, người già trẻ con thảy đều tranh nhau xem. Hồ tiêu, gỗ quế, trống đồng, nhẫn, đá quý tràn ngập kho và chợ. Hàng phương Nam rất rẻ, dân nghèo vâng lệnh thu mua đa phần trở nên giàu có. Năm Chính Đức (正德) thứ 12 (năm 1517 dương lịch), người Di ở biển Tây là Phật Lãng Cơ (佛朗機 - Bồ Đào Nha) cũng xưng là triều cống, đột nhập huyện Đông Quản (東莞), hỏa súng dữ dội, chấn động xa gần, tàn phá cướp bóc thậm tệ, thậm chí nướng ăn cả trẻ con. Quan Hải đạo phụng mệnh tiêu diệt và xua đuổi mới ra khỏi cảnh. Từ đó thảy đều cấm chỉ thuyền biển, các nước đáng lẽ vào cống cũng hiếm khi đến. Thuyền cống bèn sang Chương (漳), Tuyền (泉) và thành Quảng để buôn bán, chợ búa tiêu điều không như chế độ cũ. Khi ấy Đô Ngự sử tuần phủ Lưỡng Quảng là Lâm Phú (林富) tra xét tổ huấn, tuân theo ''Hội điển'' dâng sớ lên, được chuẩn y, từ đó thuyền phương Nam mới thông lại. Tờ sớ đại lược nói: "Thần trộm nghĩ chức Tuần phủ trước hết là vì dân dấy lợi trừ hại. Phàm trên có ích cho triều đình, dưới có ích cho sinh dân là lợi; trên có hại cho triều đình, dưới có hại cho sinh dân là hại. Nay lấy danh nghĩa trừ hại mà ngăn tuyệt mọi nguồn lợi, khiến quân quốc không có nguồn dựa, quên đi phép tắc của tổ tông, lại mất lòng người phương xa, ấy chính là việc Thị bạc ở Quảng vậy." Cẩn án ''Minh Hoàng Tổ Huấn'', các nước An Nam, Chân Lạp, Xiêm La, Chiêm Thành, Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Tây Dương, Qua Oa, Bành Hanh (彭亨), Bạch Hoa (白花), Tam Phật Tề, Bột Ni thảy đều cho phép triều cống, chỉ khi có hành thương đi kèm làm điều gian trá thì mới tạm khước từ, sau đó dần dần cho thông. Lại án ''Đại Minh Hội Điển'': Phàm các nước An Nam, Mãn Lạt Gia (滿剌加) đến triều cống, khi sứ giả về thảy đều lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông tiếp đãi. Hiện nay có đặt Ty Đề cử Thị bạc, lại có sắc lệnh cho 1 quan Nội thần đốc trách, chính là để đưa đón, trao đổi hàng hóa, vỗ về người phương xa mà tuyên dương uy đức vậy. Đến năm Chính Đức thứ 12, có người Phật Lãng Cơ đột nhập cõi Đông Quản, lúc ấy Bố chính sứ Ngô Đình Cử (吳廷舉) cho phép chúng triều cống và tâu báo về, đây chính là cái lỗi không xét kỹ phép tắc cũ. Sau đó sự hung xảo của chúng bị bại lộ, triều đình chuẩn theo sớ của Ngự sử Khâu Đạo Long (丘道隆), lệnh cho quan Hải đạo xua đuổi ra khỏi cảnh, giết kẻ cầm đầu là Á Tam (亞三), dư đảng nghe phong thanh liền chạy trốn. Quan hữu tư từ đó ngăn tuyệt hết thuyền buôn An Nam, Mãn Lạt Gia, chúng đều sang trú đậu tại vùng biển thuộc phủ Chương Châu (漳州), thế là lợi về tay người Mân (Phúc Kiến) mà chợ búa vùng Quảng tiêu điều vậy. Kẻ Phật Lãng Cơ vốn không thông với Trung Quốc, đuổi tuyệt chúng là phải. Nhưng các nước chép trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'' vốn cung thuận thông hiếu, nay ngăn tuyệt việc triều cống giao thương của họ, chẳng khác nào "vì nghẹn mà bỏ ăn". Huống hồ quan lại Thị bạc đặt công khai ở Quảng Đông trái lại không bằng việc "thông thương riêng không cấm" ở Chương Châu, vậy pháp tắc quốc gia nằm ở đâu? Thần trộm tính toán, cái lợi của Trung Quốc thì muối và sắt là lớn nhất, nhưng hằng năm vất vả cũng chỉ đủ định mức thường lệ. Hễ có hạn hán lũ lụt, khuyên dân nộp thóc vẫn sợ không đủ. Theo quy cũ cũ, ngoài phần triều cống, việc thuế thu (抽解) đều có lệ định, đủ cung cho ngự dụng. Đây là cái lợi lớn thứ 1. Ngoài phần thuế thu, có thể sung vào quân lương. Nay Lưỡng Quảng dùng binh liên tiếp, kho tàng cạn kiệt, nhờ nguồn này có thể làm đầy kho để phòng lúc bất trắc. Đây là cái lợi lớn thứ 2. Tỉnh Quảng Tây thảy đều dựa vào Quảng Đông, nay có việc trưng phát là không lo liệu được ngay. Dù lấy gỗ quế hồ tiêu thay lương bổng nhưng lâu ngày đã thiếu hụt, bắt dân gánh vác là điều khó tránh. Tra lại lúc thuyền buôn cũ còn thông, công tư đều dư dả, hàng phương Nam trong kho chỉ mươi ngày là thu được vài vạn lạng bạc. Đây là cái lợi lớn thứ 3. Lệ cũ giao dịch là quan chọn hàng tốt mua theo giá, còn lại cho dân mua bán, nên dân nghèo cầm món hàng 2 tiền là đổi được hồ tiêu, xoay vần trao đổi mà trở nên giàu có. Quảng Đông xưa nay xưng là phú thứ chính nhờ vào đây vậy. Đây là cái lợi lớn thứ 4. Giúp nước cấp quân đã có nguồn cậy trông, mà quan và dân thảy đều được đủ đầy, ấy là nhân cái lợi của dân mà làm lợi vậy, không phải là mở lỗ hổng tư lợi hay làm thang cho dân phạm tội. Kẻ bàn luận có lẽ lo ngại người Di đột nhập biên cảnh gây họa, thần lại trộm tính toán: Các nước Xiêm La, Chân Lạp, Qua Oa, Tam Phật Tề đầu năm Hồng Vũ đã cống phương vật, thần phục đến nay. Thời Vĩnh Lạc, Bột Ni nhập triều, đến chết vẫn cảm đức. Khoảng năm Thành Hóa, Chiêm Thành bị cướp ngôi, triều đình nối lại dòng dõi nên họ mong ơn. Người Man Di phương Nam đại để khoan nhu, đó là tính thường của họ, hơn 100 năm qua chưa từng dám làm giặc cướp. Gần đây kẻ Phật Lãng Cơ đến từ biển Tây, chúng khinh nhờn là có lý do mời gọi vậy. Hiện nay thuyền phương Nam ở Chương, Mân cũng chưa nghe thấy có động tĩnh nhỏ nào, thế thì chúng quyết không dám gây hại là điều đã rõ ràng. Huống hồ ngăn trở đã lâu nay chợt cho thông, há chẳng đủ để đắc lòng chúng sao? Thần xin tại các nơi yếu hại ngoài biển và vùng Nam Đầu (南頭) huyện Đông Quản, hằng năm lệnh cho Hải đạo Phó sứ và Bị Oa Đô chỉ huy đốc suất quan quân nghiêm ngặt tuần tra. Phàm thuyền đến mà có tên trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'', dò xét đúng thực thì cho trú đậu theo lệ cũ. Những kẻ không có tên trong đó như Phật Lãng Cơ thì đuổi ngay ra khỏi cảnh. Nếu dám kháng cự không phục thì đốc phát quan quân bắt chém. Còn phàm là giặc Lạt Cáp (喇哈) không cho phép kẻ quyền quý thông tư, nghiêm cấm dân nghèo dụ dỗ con cái xuống biển. Hễ có sơ hở thì quan quân tất phải chịu tội. Như thế không chỉ dấy khởi nguồn lợi một phương, mà đạo trị quốc không phân biệt trong ngoài cũng nằm ở đó vậy. Cúi mong Hoàng thượng đặc biệt sắc lệnh bộ ấy bàn bạc kỹ, những điều lợi hại thần đã trần thưa xin hãy lần lượt tham cứu. Nếu quả thực hành được, xin hãy thi hành tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, lệnh cho những thuyền trú đậu riêng thảy đều xua đi; kẻ có biểu văn triều cống thì cho phép đến vùng biển Quảng Châu chờ quan ty xử trí. Như thế, việc hoài nhu mới có phương pháp mà công tư thảy đều thuận tiện vậy." ==Nam phương chư quốc tổng bộ tổng luận 南方諸國總部總論== ===Nam Tề Thư (南齊書)=== ==== Đông Nam Di truyện tự (東南夷傳序 - Lời tựa truyện Đông Nam Di)==== Chủng loại người Man (蠻) cực kỳ đông đúc, ngôn ngữ không đồng nhất, thảy đều nương theo sơn cốc mà ở, phân bố tại ranh giới 5 châu gồm: Kinh (荊), Tương (湘), Ung (雍), Dĩnh (郢), Tư (司). Tục người Man (蠻) mặc áo vải, đi chân đất, kẻ thì búi tóc củ hành (chuỳ kế), kẻ thì cắt tóc ngắn. Binh khí lấy vàng bạc làm sức trang trí; dùng da hổ bọc khiên, giỏi bắn nỏ; thảy đều hung bạo, dữ tằn, thích cướp bóc. ==== Đông Nam Di truyện luận (東南夷傳論 - Lời luận truyện Đông Nam Di)==== Sử thần nói rằng: Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", ấy là lời nói tổng quát vậy. Đến như các giống tạp cư của Nam Di (南夷), chia cắt hải đảo mà lập nước, những đồ trân bảo kỳ quái phương xa, không đâu nhiều bằng nơi này. Núi tàng biển ẩn, ngọc báu rực mắt, thuyền buôn từ xa đến, vận chuyển nộp cho phương Nam. Thế nên Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州) giàu có thực thụ, hàng hóa chất đầy kho vương phủ. Việc xâm phạm quấy nhiễu tuy có đôi chút nhưng đạo thanh giáo có thể ban tới. Nếu dùng đức để vỗ về người phương xa, chính là ở đây vậy! === Lương Thư (梁書)=== ==== Hải Nam truyện tự (海南傳序 - Lời tựa truyện Hải Nam)==== Các nước Hải Nam (海南), đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州) trên các hải đảo ngoài biển lớn, cách nhau gần thì 3,000 đến 5,000 dặm, xa thì 20,000 đến 30,000 dặm, phía Tây giáp với các nước Tây Vực (西域). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên) thời Hán (漢), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều dâng lễ triều kiến. Đời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến thời Ngô Tôn Quyền (吳孫權), sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) thông sứ nơi ấy. Những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, nên quan chép sử không ghi lại. Đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến, mới bắt đầu lập truyện. Từ khi nhà Lương (梁) thay đổi vận nước, họ phụng chính sóc, tu sửa chức phận cống nạp, đường biển năm nào cũng đến, vượt xa các đời trước. Nay chọn lấy những nơi phong tục rõ rệt, biên chép thành ''Hải Nam Truyện''. === Tùy Thư (隋書)=== ==== Nam Man truyện tự (南蠻傳序 - Lời tựa truyện Nam Man)==== Nam Man (南蠻) gồm các loại tạp cư, ở xen kẽ với người Hoa, gọi là Diên (蜒), gọi là Nhương (獽), gọi là Ly (狸), gọi là Lão (獠), gọi là Đà (㐌), thảy đều không có quân trưởng, nương theo hang núi mà ở, chính là cái gọi là "Bách Việt" (百越) thời cổ xưa vậy. Tục của họ cắt tóc xăm mình, thích công kích đánh giết lẫn nhau, dần trở nên suy yếu, rồi lần lượt thuộc về Trung Quốc, đều được liệt vào quận huyện, đối xử như người Tề (tân dân), nên không chép lại chi tiết. Những năm Đại Nghiệp (大業) (năm 605 - 618 dương lịch), các nước phương Nam xa xôi đến triều cống có hơn 10 nước, nhưng sự tích đa phần mai một không nghe thấy, nay chỉ còn ghi chép được 4 nước mà thôi. ==== Nam Man truyện luận (南蠻傳論 - Lời luận truyện Nam Man)==== Sử thần nói rằng: Lễ ký (禮) nói "Phương Nam gọi là Man (蠻)", có kẻ không ăn đồ nấu chín. Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", Kinh ''Thi'' nói "Kẻ ngu muội kia là Man Kinh (蠻荊)". Chủng loại thực sự đông đúc, đời đời gây rắc rối nghẽn trở. Từ khi nhà Tần (秦) gộp hai nước Sở, nhà Hán (漢) bình định Bách Việt (百越), đất tận cùng biên ải phía Nam (đan kiêu), bóng nắng tột cùng ở Nhật Nam (日南), nơi nào thủy lục có thể ở được thảy đều lập thành quận huyện. Đến lúc chia biên cảnh Ngô (吳), Thục (蜀), thời gian trải qua Tấn (晉), Tống (宋), đạo trị quốc có lúc hưng lúc suy, việc thần phục hay phản nghịch không nhất quán. Cao Tổ (高祖) thụ mệnh, bình định 9 cõi (cửu vũ); Dạng Đế (煬帝) nối nghiệp, uy đức ban đến 8 phương hoang sơ (bát hoang), dồn tâm sức vào di bang phương xa, chí cầu vật trân dị. Thế nên quân ra đến Lưu Cầu (流求), binh đánh đến Lâm Ấp (林邑), uy chấn phong tục lạ, vượt xa thời Tần (秦), Hán (漢). Tuy có công lao nơi hoang ngoại nhưng không cứu vãn được sự bại vong trong bờ cõi. ''Truyện'' có câu: "Chẳng phải bậc thánh nhân, ngoài yên tất trong lo", lời ấy thật đúng thay! ===Thông Điển (通典) của Đỗ Hữu (杜佑)=== ==== Lược thuật lời tựa về Hải Nam (海南序略)==== Các nước Hải Nam (海南) đã thông hiếu từ thời Hán (漢). Đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州), cư ngụ trên các đảo giữa biển lớn, cách nhau hoặc 300 đến 500 dặm, hoặc 3,000 đến 5,000 dặm, nơi xa thì 20,000 đến 30,000 dặm. Cưỡi tàu dương buồm, đường sá xa xôi không thể biết tường tận dặm sở. Sách vở các nước ngoài tuy có nói về số dặm, nhưng cũng không định thực. Phía Tây giáp với các nước Hồ (胡). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) (năm 111 trước Công nguyên), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều triều kiến. Thời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến khi Ngô Tôn Quyền (吳孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến. Từ thời Lương Vũ Đế (梁武) và Tùy Dạng Đế (隋煬帝), sứ giả các nước đến vượt xa các đời trước. Đời Đại Đường (大唐) từ năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) về sau, thanh giáo ban xa, những nơi từ cổ chưa thông hiếu nay cũng qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà đến, còn nhiều hơn thời Lương, Tùy. Những gì không có tin tức lạ thì không ghi chép lại nữa. ==== Lược thuật lời tựa về Lĩnh Nam (嶺南序略)==== Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺), phía Bắc biển Trướng Hải (漲海), trước thời Ba đại (三代) là vùng hoang phục. Nhà Tần (秦) bình định thiên hạ, mở đất đặt ra 3 quận như Nam Hải (南海). Nhà Tần loạn, Triệu Đà (趙佗) chiếm giữ đất ấy, truyền 5 đời suốt 93 năm. Đến năm Kiến Nguyên (建元) (năm 140 - 135 trước Công nguyên) đời Hán Vũ Đế, Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức diệt đi, chia làm 9 bộ như Đạm Nhĩ (儋耳). Quận Châu Nhai (珠崖) ở trên đảo giữa biển, đại suất vài năm lại phản 1 lần. Năm Sơ Nguyên (初元) đời Nguyên Đế (năm 48 - 44 trước Công nguyên), nghe theo lời bàn của Giả Quyên Chi (賈捐之) mà bãi bỏ quận ấy. Thời Hán Quang Vũ Đế (漢光武), năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 - 56 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) nổi dậy, chiếm hơn 60 thành, Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong. Từ thời Hoàn Đế (桓), Linh Đế (靈) về sau, người Man Lão (蠻獠) lại chiếm huyện Tượng Lâm (象林) thuộc quận Tượng (象郡), bèn trở thành nước Lâm Ấp (林邑). Các quận huyện còn lại qua các đời dù thỉnh thoảng có phản loạn, binh lính châu quận lập tức bình định được ngay. Người ở vùng cực Nam xăm mặt (điêu đề), chân vòng kiềng (giao chỉ), tục lệ trai gái tắm cùng sông. Phía Tây có nước Ăn thịt người (Đạm Nhân quốc), đẻ con đầu lòng thảy đều xẻ ra ăn, gọi là "nghĩa nghi đệ". Nếu thấy ngon thì dâng cho vua, vua thích bèn thưởng cho cha nó; cưới vợ thiếp đẹp thì nhường cho anh mình, đó là người Ô Hú (烏滸). Phía Nam Giao Chỉ có nước Việt Thường (越裳). Năm thứ 6 (năm 1110 trước Công nguyên) thời Chu Công (周公) nhiếp chính, thiên hạ hòa bình, người Việt Thường qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà dâng chim trĩ trắng. Khi đức nhà Chu suy, việc ấy dần dứt. Đến khi Sở tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Tần Thủy Hoàng (秦始皇) bình định thiên hạ, mở vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng (象). Đến thời Hồ Hợi (胡亥), quan Úy Nam Hải là Nhâm Ngao (任囂) ốm sắp chết, gọi Lệnh huyện Long Xuyên (龍川) là người Chân Định (真定) tên Triệu Đà (趙佗) bảo rằng: "Trung Quốc nhiễu loạn, chưa biết nơi nào yên. Đất Phiên Ngung (番禺) dựa núi hiểm trở, biên thùy mấy ngàn dặm, có thể lập thành nước. Trong quận các quan lại chẳng ai đáng bàn cùng, nên gọi ông đến bảo." Bèn cho Đà nhận thư, hành chức Úy Nam Hải. Sau khi Ngao chết, Đà lập tức cắt đứt đường mới mở của nhà Tần, tụ binh tự giữ. Nhà Tần đã diệt, Đà bèn đánh chiếm cả Quế Lâm, Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương (南越武王). Hán đã định thiên hạ, vì Trung Quốc khổ cực, nên tha không giết Đà, sai Lục Giả (陸賈) phong Đà làm Nam Việt vương. Thời Cao Hậu (高後), Đà bèn tự xưng là Nam Việt Vũ đế (南越武帝), phát binh đánh các ấp biên thùy của Trường Sa (長沙), đánh bại mấy huyện rồi rút. Dùng uy binh và của cải hối lộ các tộc Mân Việt (閩越), Tây Âu (西甌), Lạc Việt (駱越), thảy đều thần phục, đất rộng Đông Tây hơn 10,000 dặm, Nam Bắc mấy ngàn dặm. Khi Hiếu Văn Đế (孝文帝) mới lập (năm 179 trước Công nguyên), vỗ về thiên hạ, sai giữ mồ mả tổ tiên Đà ở Chân Định, đặt hộ giữ ấp, hằng năm cúng tế; gọi anh em họ hàng Đà phong quan cao, ban thưởng hậu hĩnh. Sai Lục Giả đi dụ Đà. Giả đến, Nam Việt vương dâng thư tạ lỗi, nguyện làm phiên thần, phụng chức cống nạp. Đến năm Kiến Nguyên (建元) thứ 4 (năm 137 trước Công nguyên) đời Vũ Đế, thời cháu Đà là Hồ (胡), Mân Việt vương là Dĩnh (郢) hưng binh đánh biên ấp Nam Việt. Hồ sai người dâng thư nói: "Hai nước Việt đều là phiên thần, không được tự ý hưng binh đánh nhau. Nay Đông Việt xâm lấn thần, thần không dám hưng binh, chỉ đợi chiếu chỉ Thiên tử." Bấy giờ Thiên tử khen Nam Việt giữ nghĩa giữ ước, bèn sai 2 tướng đi thảo phạt Mân Việt. Hoài Nam vương là An (安) dâng thư can rằng: : "Nước Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Cho nên xưa kia trong cõi là Điện phục, ngoài cõi là Hầu phục, rồi đến Tân phục, Man Di là Yếu phục, Nhung Địch là Hoang phục, thế xa gần khác nhau vậy. Từ khi nhà Hán mới định đến nay 72 năm, người Ngô Việt đánh nhau không sao kể xiết, nhưng Thiên tử chưa từng cử binh vào đất ấy. Thần nghe người Việt không có thành quách ấp lý, ở giữa khe cốc, trong rừng tre, quen thủy chiến, giỏi dùng thuyền. Đất tối tăm ẩm thấp, nhiều hiểm trở đường thủy, người Trung Quốc không biết thế đất, dấn thân vào đó thì 100 người không địch nổi 1 người. Được đất ấy cũng không thể lập quận huyện, đánh chúng không thể dùng bạo lực mà lấy được. : : Nay tự đánh nhau mà Bệ hạ dùng binh cứu, ấy là ngược lại lấy Trung Quốc mà làm nhọc cho Man Di vậy. Vả lại người Việt ngu ngốc khinh bạc, bội ước phản phúc, việc họ không dùng pháp độ Thiên tử không phải tích tụ trong 1 ngày. Một khi không phụng chiếu bèn cử binh giết đi, thần e binh cách sau này không lúc nào được nghỉ. Nay phát binh đi mấy ngàn dặm, mang áo lương vào đất Việt, khiêng kiệu vượt đèo, kéo thuyền vào nước, mùa hè nóng nực, bệnh thổ tả hoắc loạn nối nhau, chưa kịp chạm đao thương thì người chết bị thương chắc đã nhiều rồi. : : Hơn nữa người Việt ít lực thiếu tài, không thể lục chiến, lại không biết dùng xe ngựa cung nỏ, nhưng không thể vào được là vì đất kia hiểm mà người Trung Quốc không hợp thủy thổ. Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. : : Thần nghe lời đồn trên đường rằng em Mân Việt vương là Giáp giết vương rồi. Giáp đã bị giết chết, người dân chưa có chỗ thuộc về. Bệ hạ nếu muốn họ nội thuộc, hãy đưa vào Trung Quốc, sai trọng thần đến chiêu dụ, họ tất sẽ bồng con dắt già mà về với thánh đức. Nếu Bệ hạ không dùng đến họ, hãy nối lại dòng dõi đã dứt, giữ lại nước đã mất, lập vương hầu cho họ, họ tất sẽ ủy thác làm phiên thần, thay nhau cống nạp. Bệ hạ dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt. Đàn ông không được cày cấy, đàn bà không được dệt sợi. Bệ hạ lấy bốn biển làm bờ, chín châu làm nhà, muôn dân thảy đều là thần thiếp, số thuế thu được đủ dùng, hà tất phải tốn công mồ hôi ngựa vì một ngày ở đất Di Địch?" Đế không nghe. Binh chưa vượt đèo, em Mân Việt vương là Dư Thiện (餘善) đã giết Dĩnh để hàng, bèn bãi binh. Sau đó đến đời cháu là Hưng (興), lập mẹ làm Thái hậu vốn là người Trung Quốc, khuyên vương cùng sủng thần dâng thư xin sánh ngang chư hầu trong cõi, 3 năm triều kiến 1 lần. Tể tướng Lã Gia (呂嘉) không muốn, bèn làm phản giết Thái hậu và hết sứ giả nhà Hán. Lập con trưởng của Dĩnh là Kiến Đức (建德) làm vương, phát binh giữ nơi yếu hại. Bấy giờ lệnh cho người Việt và các đạo lâu thuyền phía Nam Giang Hoài là 100,000 quân chinh thảo. Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 5 (năm 112 trước Công nguyên) mùa thu, Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, từ Quế Dương (桂陽) xuôi dòng Hối Thủy; Chủ tước Đô úy Dương Phục (楊僕) làm Lâu thuyền tướng quân, ra khỏi quận Chương (章郡), xuôi dòng Hoành Phố; 2 người vốn là Quy nghĩa Việt hầu làm Qua thuyền, Hạ lại tướng quân, ra khỏi Linh Lăng (零陵), kẻ xuôi dòng Ly Thủy, người đến Thương Ngô (蒼梧). Sai Trì nghĩa hầu nhân tội nhân đất Thục, phát binh Dạ Lang (夜郎), xuôi dòng sông Tường Kha (牂牱), thảy đều hội quân tại Phiên Ngung (番禺). Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên), Lâu thuyền tướng quân dẫn tinh binh hạ cửa hiểm trước, phá Thạch Môn (石門), thu được thuyền lương của Việt, bèn đẩy tới phía trước, làm nhụt nhuệ khí quân Việt. Phục Ba tướng quân dẫn tội nhân, đường xa nên đến muộn, hội quân với Lâu thuyền thì có hơn 1,000 người, bèn cùng tiến. Lâu thuyền đi trước đến Phiên Ngung, Kiến Đức và Gia đóng thành thủ, Lâu thuyền tự chọn chỗ thuận lợi ở hướng Đông Nam, Phục Ba ở hướng Tây Bắc. Gặp lúc tối trời, Lâu thuyền công phá bại quân Việt, phóng hỏa đốt thành. Quân Việt vốn nghe danh Phục Ba nhưng đêm tối không biết quân ít hay nhiều. Phục Ba bèn sai sứ chiêu hàng kẻ đầu hàng, ban ấn thụ, lại thả cho đi chiêu dụ nhau. Lâu thuyền đánh gấp đốt địch, địch trái lại chạy vào doanh trại Phục Ba. Đến mờ sáng, trong thành thảy đều hàng Phục Ba. Lã Gia, Kiến Đức cùng bộ hạ mấy trăm người đêm tối trốn ra biển. Phục Ba sai người đuổi bắt, Hiệu tư mã Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, Việt lang Đô Kê (都稽) bắt được Lã Gia. Binh của Qua thuyền, Hạ lại tướng quân và binh Dạ Lang của Trì nghĩa hầu chưa kịp đến thì Nam Việt đã bình định xong. Bèn lấy đất ấy làm 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林 - bản gốc ghi Thương Ngô 蒼梧), Út Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đặt Giao Chỉ Thứ sử thống lĩnh. Từ thời vua Đà về sau, phàm 5 đời, trải 93 năm thì mất. Hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ ở trên đảo giữa biển, Đông Tây 1,000 dặm, Nam Bắc 500 dặm. Các cừ soái tù trưởng thảy đều xuyên hạt châu vào tai rồi treo xuống, rủ quá vai 3 thốn. Cuối đời Vũ Đế, Thái thú Châu Nhai là người Hội Khê tên Tôn Hạnh (孫幸) bắt nộp khăn rộng khổ, người Man không chịu nổi sưu dịch bèn đánh quận giết Hạnh. Con Hạnh là Báo (豹) tập hợp 10,000 người trở lại đánh phá quân Man, tự lĩnh việc quận, thảo kích dư đảng, liên tiếp mấy năm mới bình xong. Báo sai sứ nộp lại ấn thụ, dâng thư tâu bày sự trạng. Chiếu chỉ bèn bái Báo làm Thái thú Châu Nhai, uy chính thi hành rộng khắp, cống nạp hằng năm thảy đều đến. Trung Quốc tham của quý của họ, dần xâm mưu khinh rẻ, nên đại suất vài năm lại phản 1 lần. Đến đầu thời Nguyên Đế (năm 48 trước Công nguyên), Châu Nhai mấy lần phản. Giả Nghị (賈誼), Tôn Quyên Chi (孫捐之) dâng thư xin đừng đánh, nói rằng: : "Thần nghe đức của ba thánh Diêu, Thuấn, Vũ, đất không quá mấy ngàn dặm mà thanh giáo ban đến bốn biển. Kẻ muốn nhận thanh giáo thì trị, kẻ không muốn thì không cưỡng trị. Thế nên quân thần ca đức, vạn vật thái bình. Võ Đinh, Thành Vương là bậc đại quân, nhưng đất phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương, nhờ thế tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, muôn loài vui với sự sống. Người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc suy, Nam chinh không về, cho đến nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, chỉ lo rộng đất mà không lo hại, khiến thiên hạ tan rã. Nhờ thánh Hán vì trăm họ thỉnh mệnh, bình định thiên hạ. Đến Hiếu Văn hoàng đế, bỏ võ theo văn, án ngục chỉ có mấy trăm người, thuế 40 phần thu 1, trai tráng 3 năm mới đi phục dịch 1 lần. Có người hiến ngựa thiên lý, chiếu không nhận, lệnh cho bốn phương không đến dâng hiến. : : Đến Hiếu Vũ hoàng đế, nhờ nước giàu dân rảnh, đánh đuổi Hung Nô, thông với Tây Vực đến tận An Tức (安息), phía Đông qua Kiệt Thạch, lấy Huyền Thố, Lạc Lãng làm quận, dời đồn ải, chế trị Nam Hải làm 9 quận, thì thiên hạ án ngục hàng vạn, thuế má tăng lên mấy trăm, đặt ra lợi muối sắt rượu để trợ dụng độ mà vẫn không đủ. Khi ấy giặc cướp cùng nổi lên là do chinh phạt không nghỉ vậy. : : Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. Kinh ''Thi'' có câu: 'Ngu muội thay Kinh Man, coi đại quốc là thù'. Từ cổ đã lo ngại lâu rồi, huống hồ là hàng phục đám Man cách phương Nam 10,000 dặm sao? Người Lạc Việt cha con cùng tắm một sông, quen uống bằng mũi, không khác gì cầm thú, vốn không đáng lập quận huyện vậy. Một mình cô độc giữa biển, sương mù ẩm thấp, nhiều độc thảo trùng xà thủy thổ gây hại, người chưa bắt được mà chiến sĩ tự chết. Lại chẳng phải chỉ Châu Nhai mới có châu, tê, đồi mồi; bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy, người ở đó ví như cá rùa, có gì đáng tham! : : Thần trộm lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa đất vô dụng sao? Xét về xưa không hợp, thi hành nay không tiện. Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ đi." Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) bèn bãi bỏ, phàm có 2 quận 65 thành. Phàm vùng Giao Chỉ thống lĩnh, tuy đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác nhau, phải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mới thông. Người như cầm thú, già trẻ không phân biệt. Búi tóc đi chân đất, lấy vải xuyên đầu mà mặc. Sau đó dời tội nhân Trung Quốc đến ở lẫn giữa chúng, mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy lễ hóa. Quang Vũ trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên (任延) giữ Cửu Chân, bèn dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày. Mới đặt法令 (pháp lệnh), bắt đầu biết cưới hỏi, lập ra lễ nghi trường học. Đến năm Quang Vũ thứ 16 (năm 40 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) cùng em là Trưng Nhị (徵貳) làm phản, đánh các quận huyện. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (麊泠), gả cho người Chu Diên (朱鳶) là Thi Sách (詩索) làm vợ, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ dùng pháp luật thắt buộc, Trắc giận nên phản. Bấy giờ các tộc Man Lỉ (蠻俚) ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố thảy đều theo, chiếm 65 thành, tự lập làm vương. Giao Chỉ Thứ sử cùng các Thái thú chỉ đủ tự giữ mình. Năm thứ 18 (năm 42 dương lịch), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (叚志) phát binh các vùng Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô hơn 10,000 người đi thảo phạt. Mùa hạ tháng 4 năm sau, Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị... còn lại thảy đều hàng phục tan rã. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽)... phá tan và bắt hàng, dời cừ soái chúng hơn 300 người sang Linh Lăng, vùng ngoài Lĩnh thảy đều bình định. Đầu năm Nguyên Hòa (元和) đời Chương Đế (năm 84 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải Nhật Nam là Cứu Bất Sự nhân (究不事人), hào trưởng trong ấp dâng tê sống, trĩ trắng. Khoảng năm Vĩnh Quang (永光) (năm 43 - 39 trước Công nguyên), người Man Di Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam hơn 2,000 người cướp bóc trăm họ, bèn đặt chức Tượng Lâm tướng binh Trường sử để phòng họa ấy. Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 2 đời Thuận Đế (năm 85 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam là Khu Liên (區憐)... hơn mấy ngàn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành quách đền miếu, giết quan lại. Châu quận hợp lực thảo phạt nhưng không thuận lợi. Đế triệu công khanh bách quan và thuộc hạ bốn phủ hỏi phương lược, thảy đều bàn nên phát 40,000 binh các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự (bản gốc ghi Kinh Hà 荊河) đến đó. Đô úy Đại tướng quân là Lý Cố (李固) bác lại rằng: : "Nếu Kinh, Dương không có việc thì phát đi cũng được. Nay giặc cướp 2 châu đó kết bè không tan, mà lại làm náo động thêm tất sẽ sinh họa khác. Lại nữa người vùng Diễn Châu, Dự Châu đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến trốn chạy. Quân đi 30 dặm làm 1 trình, mà cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi tốn kém đã như thế rồi. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quân lại ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ lấy lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬), nhờ các tướng lại ở đó mà trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều sai đến trú tại phủ Giao Chỉ. Nay binh Nhật Nam ít lại không được huấn luyện, giữ không đủ đánh không xong, có thể dời hết quan lại dân chúng lên phía Bắc nương tựa Giao Chỉ, sau khi yên tĩnh mới lệnh cho về. Chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh nhau, kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong tước tặng đất. : : Trước đây Thứ sử Tinh Châu là người Trường Sa tên Chúc Lương (祝良) tính dũng quyết. Lại có người Nam Dương tên Trương Kiều trước ở Ích Châu có công phá giặc, thảy đều dùng được. Xưa Văn Đế gia phong Ngụy Thượng ở Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú, nay nên bái Lương... theo đường tắt mà nhậm chức ngay." Bấy giờ bái Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều, Lương đến, đi xe một ngựa vào đất giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, vùng ngoài Lĩnh lại bình định. Về sau nhiều lần có phản loạn, binh châu quận thảo phạt rồi hàng phục chúng. Đến năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 đời Linh Đế (năm 170 dương lịch), Thái thú Út Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) lấy ân tín chiêu hàng hơn 100,000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều thụ quan đái, mở đặt 7 huyện. Tuy nhiên từ nhà Hán về sau, dù lập ra châu huyện, nhưng tục người Lão (獠) khó trị, đại suất vài năm lại loạn 1 lần, nhưng chung quy không đủ làm đại họa. ====Nam Man Tự Lược (南蠻序略)==== Nam Man (南蠻). Vào thời Đường (唐 - Đường Nghiêu) và Ngu (虞 - Ngu Thuấn), họ cùng triều đình lập minh ước, nên gọi là Yếu phục (要服). Thời nhà Hạ (夏) và nhà Thương (商), họ dần trở thành mối lo nơi biên cảnh. Đến thời đại nhà Chu (周), bè đảng bộ chúng ngày càng thịnh. Cho nên kinh ''Thi'' (詩) nói: "Ngu muội thay Kinh Man (荊蠻), coi đại quốc là thù." Đến thời Sở Vũ vương (楚武王) (năm 740 – 690 trước Công nguyên), quân Man (蠻子) cùng quân La (羅子) cùng đánh bại quân Sở, giết chết tướng là Khuất Hà (屈瑕). Quân Sở sau đó chấn hưng lại, các tộc ấy bèn thuộc về nước Sở (楚). Đến khi Ngô Khởi (吳起) làm Tướng quốc cho Sở Điệu vương (楚悼王) (năm 401 – 381 trước Công nguyên), phương Nam thôn tính cả Man (蠻) và Việt (越), chiếm được đất Động Đình (洞庭) và Thương Ngô (蒼梧). Tần Chiêu vương (秦昭王) sai tướng phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di (蠻夷), đặt ra quận Kiềm Trung (黔中). Sau khi nhà Hán (漢) hưng thịnh, thỉnh thoảng có giặc cướp, các tộc Di phương Tây Nam (西南諸夷) thuộc nhóm Dạ Lang (夜郎) thảy đều bị bình định và lập thành quận huyện. Thời Công Tôn Thuật (公孫述) (năm 25 – 36 dương lịch), các đại tính người Dạ Lang (夜郎) đã giúp nhà Hán giữ vững biên cảnh. Đầu thời Hậu Hán (後漢), họ theo sông Phiên Ngung (番禺江) dâng đồ cống nạp. Năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 – 56 dương lịch) đời Quang Vũ (光武), thủ lĩnh người Man (蠻) ở Vũ Lăng (武陵) là Đơn Trình (單程) đánh phá lớn các quận huyện, tướng nhà Hán là Lưu Thượng (劉尚) đánh bại trận, trải qua mấy năm mới bình định được. Thời Thuận Đế (順帝) (năm 125 – 144 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng tăng thuế khóa, người Man lại huy động cả chủng tộc làm phản, giết chết quan lại địa phương (hương lại). Thời Đông Tấn (東晉) (năm 317 – 420 dương lịch), người Man vùng Miện Trung (沔中) nhân sau loạn Lưu Thạch (劉石 - Lưu Uyên và Thạch Lặc) đã dần dời xuống phía Nam Lục Hồn (陸渾), ở khắp đầy các sơn cốc. Từ thời nhà Tống (宋), nhà Tề (齊) về sau, 2 châu Kinh (荊) và Ung (雍) đều đặt chức Hiệu úy để vỗ về yên định vùng đó. Các tù trưởng thủ lĩnh người Man ở quận thường nhận phong tước của Nam Bắc triều (南北朝). Đến cuối thời Hậu Ngụy (後魏), mối họa bạo loạn càng thêm dữ dội, chúng tiếm xưng là Hầu là Vương, đóng giữ các đường hẻm núi (hiệp lộ), làm đứt đoạn đường đi của lữ khách. Chu Vũ Đế (周武帝) (năm 560 – 578 dương lịch) sai Lục Đằng (陸騰) đánh tan quân ấy. Tộc Lão (獠) ban đầu nhân lúc loạn Lý Thế (李勢) đất Thục, sau đó từ sơn cốc vùng Thục Hán (蜀漢) đi ra xâm nhiễu các quận huyện. Đến thời nhà Lương (梁) (năm 502 – 557 dương lịch), các châu quận hằng năm đều đi đánh tộc Lão (獠) để thu lợi. Đến khi Hậu Chu (後周) bình định vùng Lương (梁), Ích (益), từ đó họ dần đồng hóa với người Hoa. Riêng vùng Đông Tạ (東謝), Tây Tạ (西謝) ở Kiềm Trung (黔中), từ cổ chưa từng làm thần tử của Trung Quốc. Từ sau năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) đời Đại Đường (大唐), triều đình đặt ra các châu Kiềm Mâu (羈縻州) để thống lĩnh vùng này. ===Tống Sử (宋史)=== ==== Man Di truyện tự (蠻夷傳序)==== "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi (tứ duệ), chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu." Các tộc Man Di (蠻夷) phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ (thượng du) để lấy về vùng đất cằn cỗi (bất mao), làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh (tù trưởng), khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di (蠻夷), ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn (tinh ngô) thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực (đồ độc) của người dân đã sâu nặng lắm rồi. Nhà Tống (宋) cậy vào văn giáo mà xem nhẹ vũ bị, ấy há phải là cái đạo trị vùng hoang phục (hoang phục) của các bậc tiên vương sao? ===Đại Học Diễn Nghĩa Bổ (大學衍義補) của Khâu Tuấn (邱濬)=== ====Tứ phương Di lạc chi tình (四方夷落之情 - Tình hình các bộ lạc Di ở bốn phương)==== Kinh ''Thuấn Điển'' (舜典) chép: "Đuổi Tam Miêu (三苗) đến Tam Nguy (三危)." '''Chu Hy (朱熹)'''' nói: "Tam Miêu là tên nước, ở giữa vùng Kinh (荊), Dương (揚) thuộc Giang Nam, dựa nơi hiểm yếu mà làm loạn. Đuổi (窜) tức là xua đuổi và giam cầm ở đó." "Chia tách và xua đuổi Tam Miêu về phương Bắc." '''Chu Hy'''' nói: "Bắc (北) cũng như là Bối (背 - quay lưng), kẻ thiện thì giữ lại, kẻ không thiện thì xua đuổi đi, khiến chúng chia lìa quay lưng mà đi." Kinh ''Ích Tắc'' (益稷) chép: "Bọn Miêu ngoan cố không chịu làm việc, Đế hãy lưu tâm nhé! Đế phán: 'Dẫn dắt đức của ta, ấy là công của ngươi, thảy đều trật tự.' Cao Đao (皋陶) bấy giờ kính cẩn giữ trật tự ấy, bèn thi hành tượng hình (hình phạt biểu trưng), thật là sáng suốt." '''Thái Thẩm (蔡沈)'''' nói: "Trong thì Hầu Mục, ngoài thì Phiên Di thảy đều thực hành có công, duy chỉ Tam Miêu ngoan cố kiêu mạn không tuân theo, không chịu làm việc, Đế nên lo nghĩ về việc đó. Đế nói trong bốn biển kẻ nào thực hành đức giáo của ta thì đó là công lao của ngươi (Cao Đao) làm cho có trật tự, nên kẻ ngoan cố không phục tùng thì Cao Đao bấy giờ kính cẩn thừa hành cái trật tự công lao của ngươi, thi hành tượng hình thật sáng suốt. Có kẻ cho rằng bọn Miêu hung hãn, sáu quân (lục sư) chinh phạt mà vẫn nghịch mệnh, há chẳng phải tượng hình của Cao Đao có thể làm được sao? Ấy là chưa biết trật tự binh hình của thánh nhân và gốc ngọn việc trị tộc Miêu của Đế Thuấn vậy. Đại để lấy tượng hình làm uy mà Miêu vẫn không phục, sau đó mới mệnh cho Vũ (禹) chinh phạt. Chinh phạt không phục, lại tăng cường tu sửa đức giáo, đợi khi chúng đến quy phục, sau đó mới chia tách chúng ra." Kinh ''Vũ Cống'' (禹貢) chép: "Tam Nguy (三危) đã yên ổn, Tam Miêu (三苗) cả thảy đều có trật tự." '''Thái Thẩm'''' nói: "Tam Nguy chính là nơi Thuấn đuổi Tam Miêu đến." '''Lã Tổ Khiêm (呂祖謙)'''' nói: "Tam Miêu có tội tự đáng bị xua đuổi, nhưng phát chính thi nhân tự nhiên phải ban tới chúng, nên khi trị thủy đến Tam Nguy cũng đã khiến chúng an cư, đạt được trật tự lớn. Người đời sau cho rằng ném chúng ra bốn cõi (tứ duệ) là vứt bỏ chúng, đó không phải tâm của thánh nhân." '''Thần (Khâu Tuấn) xét rằng:'''' Những gì kinh sử gọi là "Man" (蠻) đa phần chỉ các tộc Di ở phương Nam. Di Địch thấy trong kinh điển bắt đầu từ Tam Miêu, cái gọi là "Miêu dân" (苗民) thì các thiên ''Thuấn Điển'', ''Vũ Mô'', ''Ích Tắc'', ''Vũ Cống'', ''Lã Hình'' đều có đủ. Đế Thuấn lúc mới nhận truyền ngôi đã đứng đầu việc đuổi chúng đến Tam Nguy, đến thời Vũ trị thủy, những kẻ bị đuổi đã có trật tự lớn, kẻ ở lại vẫn không chịu làm việc, nên Đế mệnh Vũ đi chinh phạt, nhưng chúng vẫn nghịch mệnh, đợi đến khi Vũ rút quân chúng mới đến quy phục, bấy giờ mới xét thiện ác mà chia tách chúng ra. Lúc ấy, điều đáng lo là người Man phương Nam, nên Thuấn mệnh Cao Đao làm Sĩ (quan hình pháp), đứng đầu là cử việc "Man Di làm rối loạn Hoa Hạ" làm lời nói. Cái gọi là Man ấy chính là Tam Miêu vậy. Ban đầu, chọn lấy kẻ cực ác mà xua đuổi, sau khi đuổi rồi, lại đối với kẻ ở lại mà chia tách giữa thiện và ác. Kẻ thiện thì khen thưởng mà ban thêm ơn, kẻ ác thì trừng phạt mà dùng thêm uy. Ban ơn thì chúng biết hướng mộ mà làm điều thiện; dùng uy thì chúng biết sợ hãi mà không dám làm điều ác. Đó chính là quyền biến vi diệu của thánh nhân. Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm, trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là cái gọi là Man vậy. Trong đó kẻ khinh捷 (nhanh nhẹn) nhất gọi là Miêu (貓/苗), người thuyết cho rằng đây chính là hậu duệ của Tam Miêu. Nhưng người Miêu ngày nay nương núi mà ở, tính nết không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Xem lời thề của Vũ (Vũ thề sư), kể tội tộc Miêu rằng "quân tử ở nơi hoang dã, tiểu nhân tại vị", tức là tộc Miêu thời ấy có quốc đô quan thuộc, chỉ là việc dùng người bị đảo lộn mà thôi, không giống như người Miêu ngày nay như loài vượn khỉ, không định cư, không nghề nghiệp thường xuyên, không thống thuộc lẫn nhau. Đầu triều đại (nhà Minh), tại Hồ Bắc, Xuyên Đông lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Châu (思州), Bá Châu (播州), lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (quan bản xứ) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa chia tách của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" trong kinh ''Vũ Cống''. Tần Chiêu vương (秦昭王) sai Bạch Khởi (白起) phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di, đặt quận Kiềm Trung (黔中). Nhà Hán hưng, đổi thành quận Vũ Lăng (武陵), hằng năm lệnh cho người lớn nộp 1 xấp vải, trẻ nhỏ nộp 2 thước, gọi là "vải tông" (賨布). '''Thần xét rằng:'''' Quận Vũ Lăng thời Hán chính là các châu quận Thường Đức (常德), Lễ (澧), Thần (辰), Nguyên (沅) ngày nay vậy. Năm thứ 33 (năm 214 trước Công nguyên) thời Thủy Hoàng, phát những kẻ từng trốn tránh, ở rể, người buôn bán đi đánh Nam Việt (南越), lấy đất ấy đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象). Lại có Mân Việt vương Vô Chư (無諸) và Việt Đông Hải vương Dao (搖), tổ tiên họ đều là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn (勾踐), họ Ô (騶). Tần đã gộp thiên hạ, thảy đều phế làm quân trưởng, lấy đất ấy làm quận Mân Trung (閩中). '''Thần xét rằng:'''' Tần gộp 100 quận, vùng Lĩnh Nam có 3 quận: Quế Lâm nay là đất Quảng Tây (廣西); Nam Hải nay là đất Quảng Đông (廣東); Tượng quận nay là đất An Nam (安南). Từ thời Tần, Hán đến nay, lý do chúng gây hại cho Trung Quốc không phải vì ở ngoài biên ải có giới hạn, mà vì chúng không thể vượt biên giới vào nội địa ta. Đất của tộc Việt, thời cổ chủng loại thực nhiều, nên có danh xưng Bách Việt (百越), gồm Nam Việt (南越), Âu Việt (甌越), Mân Việt (閩越), Đông Việt (東越), Ư Việt (於越), đất ấy không chỉ một nơi, người ấy không chỉ một loại. Nhưng từ thời Tần, Hán đến nay, những loại như Ư Việt, Đông Việt, Âu Mân thảy đều đã vào Trung Quốc từ lâu, không khác gì các nước Tề, Lỗ, Tống, Vệ. Duy chỉ Nam Việt, đất phía Tây nối với Hồ Tương, thẳng tới Điền (Vân Nam), Quý (Quý Châu), ranh giới Tường Kha (牂牁), Việt Huề (越巂), núi sâu đất hiểm, vẫn còn kẻ chưa thảy đều quy về vương hóa, thường xuyên gây hại cho cư dân quận ấp. Đại để Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay, các quận ấp đều nằm xen kẽ giữa các dãy núi, ở lẫn với Man Di, chỉ có chỗ hiểm chỗ bằng khác nhau mà thôi. Thỉnh thoảng chúng lén lút nổi lên, khó lòng phòng bị. Thời Hán Vũ Đế, muốn đánh Mân Việt. Hoài Nam vương An (安) dâng thư nói: : "Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt, dân khổ vì binh đao tất sinh trộm cướp. Binh đao là việc hung hiểm, một phương có biến bốn mặt đều lo. Thần e biến cố phát sinh, gian tà nổi dậy chính từ đây vậy. Thần nghe binh của Thiên tử chỉ có chinh phạt chứ không có chiến đấu, ý nói không kẻ nào dám chống lại. Nếu để người Việt gặp may mà chống lại nhan sắc của bậc chấp sự, khiến binh lính phải phục dịch, chỉ cần 1 người không trở về, dù có lấy được đầu Việt vương, thần vẫn trộm lấy làm hổ thẹn cho nhà Đại Hán." '''Thần xét rằng:'''' Mân Việt nay là đất Phúc Kiến (福建), đã nhập vào bản đồ (chức phương) từ lâu, không còn như thời Hán nữa. Nhưng lời Lưu An nói về phương Nam ẩm độc, binh vào đất ấy chưa đợi đao thương đã tự chết bệnh, cùng với việc binh đến thì ẩn trốn, binh lui thì tụ họp, đánh lâu thì sĩ tốt mệt mỏi, dân khổ binh đao... thì tình trạng chướng lệ rừng núi và thực trạng người Miêu, người Lão ở Hồ Nam, Quảng Tây, Vân Quý ngày nay thực sự không khác gì thời Hán. Minh chủ tại vị, lấy thiên địa làm lượng, vũ trụ làm cảnh giới, gặp lúc Di phương xa chưa được giáo hóa thì như lời Lưu An, dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai để trấn phủ ngoại phương, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành; dùng trách nhiệm của 1 sứ giả thay cho 100,000 quân, đừng để dân Trung Quốc phải chịu độc của rắn rết mãnh thú, nhuốm bệnh thổ tả hoắc loạn, cha già rơi lệ, con côi gào khóc, đón thây từ dặm xa, bỏ xương nơi hoang vắng. Điều Lưu An lo nghĩ không chỉ là cái phúc của Di phương xa, mà thực sự là cái phúc của Trung Quốc vậy. Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) đời Nguyên Đế, các quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) đại suất mấy năm lại phản 1 lần, giết quan lại, nhà Hán thường phát binh đánh định. Đến lúc này, các huyện làm phản liên năm không định. Vua bàn với quần thần muốn phát đại quân. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) nói: : "Thần nghe đức thịnh trị của Nghiêu, Thuấn. Vũ vào cõi thánh nhưng không ưu tiên bằng đức của ba vị thánh. Đất không quá mấy ngàn dặm, phía Tây đến Lưu Sa, phía Đông sát biển, phía Bắc và Nam thanh giáo ban đến bốn biển. Ý nói muốn nhận thanh giáo thì trị, không muốn thì không cưỡng trị. Đất thời Ân, Chu phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương. Thế nên tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, người vui với sự sống, người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, khiến thiên hạ tan rã. Hiếu Vũ hoàng đế rèn binh mã để dẹp bốn Di, thuế dịch phiền trọng, giặc cướp cùng nổi lên, thảy đều do mở đất quá rộng, chinh phạt không nghỉ vậy. Nay dân Quan Đông khốn quẫn, lưu lạc trên đường, đến mức gả vợ bán con, luật pháp không thể cấm, đạo nghĩa không thể chỉnh, đó là nỗi lo của xã tắc. Lạc Việt bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy. Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. : : Vả lại lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa, mất quân mà không có công sao? Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ qua." Bèn bỏ Châu Nhai, chuyên tâm lo lắng cứu tế vùng Quan Đông. Vua hỏi đại thần, Thừa tướng Vu Định Quốc (于定國) cho rằng: "Trước đánh Châu Nhai hưng binh liên năm, Hiệu úy và Thừa phàm 11 người, kẻ về chỉ có 2, tốt sĩ và phu dịch chết hơn 10,000 người, tốn kém hơn 300,000,000 mà vẫn chưa thể khiến thảy đều hàng phục. Nay Quan Đông khốn quẫn, dân khó lòng dao động." Lời bàn của Quyên Chi là đúng. Chiếu rằng: "Dân Châu Nhai ai mộ nghĩa muốn nội thuộc thì cho ở lại, ai không muốn đừng cưỡng ép." '''Tô Thức (蘇軾)'''' nói: "Dương Hùng có câu: 'Việc bỏ Châu Nhai là sức của Quyên Chi, nếu không loài vảy mai (lân giới) đã thay mũ áo (quán thường) của ta', lời này dùng thời bấy giờ thì được. Từ cuối đời Hán đến Ngũ Đại, dân Trung Quốc lánh nạn đa phần ở đây, nay lễ nhạc văn minh đã hiện rõ, sao có thể lại nói chuyện bỏ rơi được?" '''Thần xét rằng:'''' Quyên Chi nói không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị thảy đều đừng làm. Thần trộm nghĩ phàm những vùng đất ngày nay không phải của tổ tông để lại thì có thể dùng kế của Quyên Chi, nếu là vùng đất tổ tông lúc mới được thiên hạ đã đưa vào bản đồ thì sao có thể cho người khác được? Huống hồ vốn là nơi đất đai màu mỡ của Trung Quốc, ải hiểm yếu, người xưa gọi là "một tấc sơn hà một tấc vàng" sao? Nếu không đến mức cực kỳ bất đắc dĩ, và sự sống còn an nguy của đất nước quyết định ở đây thì không thể nhẹ nhàng nói chuyện bỏ rơi. Đầu năm Vĩnh Hòa (永和) đời Thuận Đế (năm 136 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng dâng thư rằng người Man Di thảy đều phục tùng, có thể ví như người Hán mà tăng thuế khóa, người bàn thảy đều cho là được. Duy có Thượng thư lệnh Ưu Hủ (虞詡) tâu rằng: : "Từ cổ thánh vương không coi kẻ mặc áo quần khác lạ (dị phục) là thần tử, không phải đức không đến được, uy không ban được. Mà vì tâm địa như cầm thú của chúng tham lam, khó dùng lễ mà dẫn dắt. Vì thế mà dùng chính sách kiềm chế (kiềm mâu) vỗ về, phụ thuộc thì nhận mà không cự tuyệt, phản loạn thì bỏ mà không đuổi theo. Điển cũ của tiên đế, thuế cống nhiều ít đã có từ lâu. Nay đột ngột tăng thêm tất có oán hận phản loạn, tính toán cái được không bù đắp được cái mất." '''Thần xét rằng:'''' Loại người Hoa và Di khác nhau, nhưng cái tâm tham được và tiếc cho thì giống nhau vậy. Đế vương điều khiển Di Địch, thảy đều lấy nghĩa thắng chúng mà không tính toán cái lợi. Cái cũ đã có mà không lấy thì chúng dám tự tiện, cái cũ không có mà lấy thì chúng tất dẫn đến oán vọng. Ta chỉ tuân theo cái cũ mà thôi, ngoài lệ cũ không thêm mảy may, nhưng lại phải nhân lúc chúng thiên tai thiếu thốn mà thỉnh thoảng có sự buông bỏ, không đòi hỏi đủ đầy, không cự tuyệt sự dối lừa của chúng. Trong năm Vĩnh Hòa, Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) cùng châu quận thảo phạt Khu Liên (區憐)... hơn 1 năm không thắng. Vua triệu bách quan hỏi phương lược, thảy đều bàn sai đại tướng phát 40,000 quân các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự đến đó. ''''Lý Cố (李固)'''' bác lại rằng: : "Giặc cướp Kinh, Dương kết bè không tan, Trường Sa, Quế Dương mấy lần bị trưng phát, nếu lại làm náo động tất sinh họa khác. Người Diễn, Dự đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến phản trốn. Phương Nam nóng ẩm, lại có chướng khí, kẻ chết chắc chắn 4 đến 5 phần 10. Đi xa vạn dặm sĩ tốt mệt mỏi, đến được Lĩnh Nam không còn sức đánh. Quân đi mỗi ngày 30 dặm, mà Diễn, Dự cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới, mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực tướng lại lừa ngựa. Nơi đóng quân người chết chắc chắn nhiều, đã không đủ chống địch lại phải phát thêm quân, ấy là cắt lòng dạ để bù chân tay. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quan lính ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ làm khổ lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều nhờ các tướng lại đó, trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú. Dời quan dân Nhật Nam lên Bắc dựa vào Giao Chỉ, chiêu mộ người Man khiến chúng tự đánh nhau, vận chuyển vàng lụa làm kinh phí. Kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong hầu tặng đất." Bốn phủ thảy đều theo lời bàn của Lý Cố. Bèn bái Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, chúng thảy đều hàng phục tan rã. Lương đến Cửu Chân, đi xe một ngựa vào giữa quân giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, người hàng phục mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng phủ sở, vùng ngoài Lĩnh lại thái bình. '''Thần xét rằng:'''' Lời bàn này của Lý Cố nói về cái tệ của việc dùng binh phương Nam, trúng thiết thực tình, khiến người đời sau đọc sử đến đây thấy rõ như chính mình trong hàng quân, tận mắt thấy việc ngàn năm như một ngày vậy. Đến như lời ông nói về việc "phát tướng vô ích, châu quận có thể tin cậy" đều là những minh chứng đã hiện rõ. Nhưng về sau các quan cai quản ở đó nhậm chức không lâu đã rời đi, người Man Lão biết họ đi nhanh không thể dựa dẫm, mà quan lại sau này chưa chắc đã vậy, thường nửa tin nửa ngờ, nên tuy tạm hàng mà lại phản. Xin lấy hai sông Tả, Hữu Giang (左右兩江) ở Quảng Tây ngày nay làm ví dụ. Đất hai sông rộng 2,000 đến 3,000 dặm, quản辖 (quản hạt) binh dũng (狠兵) không dưới 10 mấy vạn, nay đặt làm 4 phủ, 37 châu, quan chính các phủ châu thảy đều lấy người bản xứ (thổ nhân) đảm nhiệm, còn các chức tá nhị, mạc chức thì dùng quan từ nơi khác đến (lưu quan). Cho nên trong hơn 100 năm qua, chưa nghe thấy có việc tụ tập xâm lược. Mà những kẻ gây hại cho châu huyện thảy đều là những người không thuộc sự quản thúc của Thổ quan, ở xen kẽ trong châu huyện. Trong đó tuy cũng có chức ti带 quản hoặc thiết lập Thổ quan Tuần kiểm, nhưng Lưu quan không có quyền, chúng biết họ ở không lâu nên khinh lờn; còn cái gọi là Thổ tuần kiểm thì quan thấp lực mỏng, không đủ sức kiềm chế nhau. Thần ngu nghĩ kế sách chế ngự thuần phục ngày nay không gì gấp bằng việc lập Thổ quan, xin dùng lệ của hai sông Tả, Hữu Giang mà lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ. Đại để việc đặt phủ châu ở hai sông Tả, Hữu là chuyên giao đất ấy cho một họ, ý thần nói "lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ" là lập ra nhiều quan để phân chia quyền lực. Phàm người Dao, Trọng ngày nay ở lẫn với dân biên tịch trong châu huyện, chỉ là chúng dựa núi rừng mà ở mà thôi. Nay nên đặc biệt sắc lệnh đại thần trong ngoài thân hành đến đất đó, tập hợp các tù trưởng hào kiệt, dụ bằng ơn uy triều đình, sẽ trao cho chức quan, như lệ Thổ quan hai sông Tả Hữu, cho con cháu đời đời hưởng dụng. Kẻ nào dẫn dắt chủng tộc từ 500 tên trở lên nội thuộc thì trao cho chức Tri châu; dưới 400 tên tùy lượng trao chức Đồng tri, Phán quan, Lại mục... Các quan ấy không hạn định số lượng, cũng như chế độ Vệ sở. Khi họ nộp tờ khai không cần khám thực, cấp ngay mũ áo, sai quan thuộc dùng xe ngựa trống nhạc đưa về nơi cư ngụ. Dần dà cho họ chọn đất lập công sở, hợp sức muôn người mà thành. Thành xong dâng tấu xin ấn, cho cử ra một người được muôn người tin phục trong số đó để giữ ấn, thì họ nhận tước mệnh triều đình tất biết cảm mộ, mà đồng loại thảy đều kính trọng. Kẻ nào không phục, họ dựa uy quốc gia hợp lực trừ khử không khó vậy. Tích lâu thành tục, họ thảy đều mộ phong thái Hoa hạ, học lễ giáo mà biết giết chóc cướp bóc là sai. Huống hồ lập ra nhiều quan, thế chia lực cân, tự đủ kiềm chế nhau, không thể làm loạn, mà trong đó không thể không có việc tự tranh tụng. Phải bẩm báo lên thượng ty, tấu về triều đình, thì thế quốc gia càng tôn quý, không nhọc binh đao mà một phương yên tĩnh. Nhưng điều lo ngại gây họa về sau là ranh giới không rõ, lúc khác không thể không tranh giành. Nên nhân lúc ban đầu sai quan hội cùng Thổ tù phân chia địa giới, hoặc lấy khe suối, hoặc lấy gò núi, ngay trên ranh giới lập đá làm dấu, viết chữ lớn khắc sâu rằng: "Từ đây đến đây là giới của hữu ty, đến đây là giới của thổ quan". Trong đó đất của dân có lọt sâu vào cảnh giới của họ thì lấy đất ngoài nơi không thu thuế mà đổi cho dân, tùy rộng hẹp không cần đo đạc lại. Đất do Thổ tù thống lĩnh thì để họ tự nhận nộp thuế lương, định làm ngạch số, ngày sau không được tăng thêm. Xử trí như thế chắc có lẽ vĩnh viễn không có lo âu chăng? Trong năm Trinh Nguyên (貞元) (năm 785 – 805 dương lịch) đời Đường, thủ lĩnh động Hoàng (黃洞) ở Quảng Tây là Hoàng Thiếu Khanh (黃少卿) đánh Ung Quản (邕管), chiếm các châu Khâm (欽), Hoành (橫), Quý (貴)... mấy lần hàng mấy lần phản. Đầu năm Trường Khánh (長慶) (năm 821 dương lịch), Kinh lược sứ Nghiêm Công Tố (嚴公素) lại xin thảo phạt. Binh bộ Thị lang ''''Hàn Dũ (韓愈)'''' kiến ngôn: : "Giặc họ Hoàng đều là bọn Di Lão, không có thành quách để ở, dựa núi dựa hiểm, thường ngày cũng tự kiếm sống, gấp thì tụ tập bảo vệ nhau. Gần đây do Kinh lược sứ Ung Quản đa phần không được người tốt, đức đã không thể vỗ về, uy lại không thể lâm chế, xâm khi chiếm đoạt, dẫn đến oán hận. Tính người Man Di dễ động khó an, bèn dẫn đến cướp bóc châu huyện, xâm hại người lành, hoặc để trả thù riêng, hoặc tham lợi nhỏ, khi tụ khi tán, chung quy cũng không thể thành việc lớn. : : Việc chinh thảo gần đây vốn bắt đầu từ Bùi Hành Lập (裴行立), Dương Mân (陽旻), hai người này vốn không có viễn lự thâm mưu, ý tại cầu công nhận thưởng, cũng nhân thấy lúc giặc chưa tụ tập, cho rằng lẻ tẻ có thể đánh tan ngay, tranh nhau hiến mưu kế, chỉ sợ chậm chân. Triều đình tin theo bèn cho phép. Từ khi dùng binh đến nay đã trải qua 2 năm, trước sau tâu báo giết bắt tính không dưới 10,000 đến 20,000 người. Nếu thảy đều không phải giả thì giặc đã hết sạch rồi, mà nay giặc vẫn như cũ, đủ rõ sự dối trá. Lại từ khi Nam chinh đến nay, đồ đảng giặc cũng bị thương tổn nhiều, xét tình lý chúng chắc đã chán khổ sâu sắc. : : Đại để Lĩnh Nam người thưa đất rộng, nơi giặc ở lại càng hoang vu hẻo lánh. Giả sử giết sạch người, chiếm sạch đất ấy, đối với quốc kế cũng chẳng có ích gì. Hãy bao dung kiềm chế, ví chúng như cầm thú, đến thì phòng ngự, đi thì không đuổi, cũng chẳng tổn hại thế sự triều đình. Xin hãy chọn người có tài năng uy tín, am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên vĩnh viễn không có việc xâm lấn phản loạn." '''Thần xét rằng:'''' Lời Hàn Dũ nói về việc dùng binh đã 2 năm, tâu báo giết bắt 10,000 đến 20,000 người, nếu không phải giả thì giặc đã hết sạch... lời này không chỉ là cái tệ thời bấy giờ. Nhân tình cổ kim không khác xa nhau, lấy xưa biết nay, duy mong Thánh minh lưu tâm, gặp lúc có tiệp báo phương xa hãy lấy lời này mà nghiệm, sẽ thấy rõ thực giả vậy. Đến như việc xin chọn người tài năng uy tín am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên không có việc phản loạn, lời này thực là lương kế xử trị Nam Man từ cổ chí kim. Đại để Nam Man khác với Bắc Địch, tính người Man âm nhu, dựa núi làm thế, quân đến thì vào núi trốn xa, quân đi thì ra ngoài cướp bóc, như loài ruồi muỗi, vung quạt thì bay tán, thu quạt thì tụ lại, tiêu diệt rất khó. Vả lại đất ấy nhiều chướng lệ, người Trung Nguyên sợ vào đất đó, chưa đến đã khiếp sợ, một khi vào khí hậu không đồng đều, ẩm ướt cực độ, thường thường chưa đánh đã chết, vừa không thể đánh nhanh vừa không thể đánh lâu, nên từ cổ dùng binh chưa từng đắc chí lớn ở Nam Man vậy. Tuy nhiên, cái họa trong thiên hạ thảy đều có lý do. Biết lý do mà chặn cửa, tuyệt gốc thì họa tự dứt. Hơn nữa những kẻ gọi là "Dao Trọng" (猺獞) ngày nay không phải có cường tông hào tộc, cũng không thâm mưu viễn lự, không muốn tranh thành ấp, không muốn thu nhân tâm, chẳng qua muốn cướp đoạt tài vật mà thôi. Nơi chúng ở trong núi sâu rừng lớn, không xây cung thất, không dùng thê thiếp, không vì con cháu; tiền tài kiếm được sẽ dùng vào việc gì? Mà dùng thì sẽ giao thương ở đâu? Khiến người nội địa ta không giao thông với chúng thì tiền tài chúng kiếm được không có chỗ dùng, mà muốn dùng cũng không có chỗ bán. Kế sách ngày nay, nên sắc lệnh Trấn thủ Đô hiến đốc trách các ty Phan, Niết và các Thủ lệnh tướng lãnh nghiêm thúc quân dân thuộc hạ, không cho phép giao thông với giặc. Phàm quân dân ai vào sơn động làm ăn thì cho phép đến quan cáo tri, chở vật gì đến sơn động nào bán, quan ty cấp cho ấn thiếp làm chứng, không có thiếp không cho phép, bắt phải cam kết không mang theo khí vật cấm, chỉ cho phép lấy người, thóc gạo, thổ sản, không cho phép nhận bạc trắng và những vật đất ấy không sản xuất. Kẻ vi phạm đóng gông thị chúng, tịch thu tài vật. Thân thuộc hàng xóm biết tình mà không báo thì tội như nhau, ai báo cáo thì thưởng cho 1 phần 3 tài vật đó. Như thế chúng có vật không chỗ bán, sẽ không cướp hàng cầu tài, giết người lập uy nữa. Lại nghe những năm gần đây, thành ấp về đêm thường bị giặc lẻn vào, nếu không giết chết quan viên, cướp đi ấn tín thì thường giấu tội không báo. Suy nguyên lý do không phải chúng có tài mà do ta không phòng bị. Nên lệnh Trấn thủ Đô hiến Tổng binh quy hoạch phép giữ thành, hành xuống quân vệ hữu ty bảo họ tuân theo thì vĩnh viễn không mất. Xét lý do lẻn vào đa phần do quân vệ hữu ty đùn đẩy nhau, đêm tối mất cảnh giác nên thành ấp thường đến mức thất thủ. Đó không phải bên trong không lương thảo, ngoài không cứu viện, lực kiệt không chống nổi. Từ nay về sau phàm nơi có thành trì, trách lệnh quan chính tá quân vệ hữu ty viết tờ lãnh trạng, bắt họ cùng thành còn mất, có thất thủ quyết không nhẹ tha, thì họ biết tội trách thâm trọng không dám khinh suất, giặc không thể lẻn vào được. Cái gọi là quy hoạch phép giữ thành: mỗi thành tất làm nội viên (tường trong), rào gai dựng sấn thảy đều làm 1 cửa, đêm tối khi đã lên thành giữ thì không cho xuống nữa, phải đợi bình minh mới mở cửa, chúng biết không đường sống thì ngủ không yên chiếu vậy. Lại nuôi sẵn chó sữa thuần phục chúng, cứ mỗi 5 đóa dùng gỗ làm hòm treo một con chó sủa, hơi có tiếng gió chó đã biết cảnh giác. Chúng không thể bắc thang leo tường, thì kế lẻn vào không còn chỗ thi triển. ''Tống Sử'' chép: "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi, chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu. Các tộc Man Di phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ để lấy về vùng đất cằn cỗi, làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh, khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di, ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực của người dân đã sâu nặng lắm rồi." '''Thần xét rằng:'''' Thời Đường Ngu, người Di ở ba biên Đông, Tây, Bắc thảy đều không thấy chép, mà thấy trước nhất trong kinh điển là tộc Miêu ở phương Nam. Nhưng người Di ở ba phương thảy đều giáp biên một mặt, người Di ở ngoài mà trong đó là đất của vua; duy chỉ đất biên ải phương Nam thì người Di ở lẫn trong đất vua, xen kẽ với cư dân, nên cái hại đến dân lại càng dễ, không giống như giặc ba biên có lúc đến, có nơi xâm, có hành trình, trước đó có thể phòng bị, lúc đến không dẫn đến cuống cuồng mất phương hướng. Thời Nhân Tông, ''''Địch Thanh (狄青)'''' xin đánh Nùng Trí Cao (儂智高), muốn có binh của các bộ lạc (phiên lạc) ở biên giới phía Tây đi theo. Có kẻ bảo phương Nam không hợp cho kỵ binh, Khu mật sứ Cao Nhược Nạp (高若訥) nói: "Các bộ lạc giỏi bắn, chịu gian khổ, lên xuống núi như đất bằng, nhân lúc chướng khí chưa phát mà xua nhanh phá chúng, tất thắng vậy." Thanh cuối cùng dùng kỵ binh phá giặc. '''Thần xét rằng:'''' Binh các bộ lạc lấy kỵ xạ vang danh thiên hạ, người Man phương Nam nghe thấy tự nhiên rụng rời, nhưng thần cho rằng dùng vào lúc có sự không bằng lúc không sự gặp kẻ Khương Hồ nội thuộc thì ưu ái nuôi dưỡng an trí vùng này, không chỉ hôm nay biên ải phương Nam cậy vào sức họ, mà cũng có thể tiêu trừ họa nội địa lúc khác. Đầu thời Tống, có lời tâu với Nhân Tông rằng: "Lĩnh Nam là vùng đất xa xôi, chướng lệ bốc lên, người phương Bắc đi lính trấn thủ kẻ đi 10 chết 9. Phát nhiều binh thì thiếu lương, ít thì việc không xong, gấp gáp cầu công thì người Man trốn biệt không chịu ra, lơi lỏng thì lại đến nhiễu người, ấy là nên có cách chế ngự vậy. Nay nghe phát Bắc binh hơn 10,000 người trấn thủ ngoài Lĩnh, dưới thấp trên hầm bệnh chết chắc nhiều, liệu các tộc Man không đóng lâu, đánh chúng tất tán. Thần cho rằng không bằng chọn 1 đến 2 kiện tướng, hằng năm chỉ giữ 5,000 Bắc binh, chia đóng nơi yếu hại, tìm hơn 10 thiện lại chia đặt các châu, mộ thổ nhân làm hương quân, miễn thuế dịch cho họ, xem châu lớn nhỏ, hộ nhiều ít mà định số lượng, thống lĩnh bộ ngũ, dạy cách tiến thoái, thảy đều lấy sở trường của họ mà đuổi bắt nhau. Cứ 100 người thì cho 30 Bắc binh đi kèm, dùng cung mạnh binh sắc hỗ trợ. Mùa Đông Xuân thì sai thâm nhập nhiễu nơi ở của chúng; mùa Hạ Thu thì sai giữ kỹ phòng chúng cướp bóc. Chúng tuy có thể dụ dỗ kẻ vong mạng Trung Quốc, nhưng xét cho cùng ăn hết tất phải ra cướp. Nếu chúng đến, đánh giết được nhiều thì suốt đời chúng kinh hãi. Uy đã lập rồi sau đó mới bàn chuyện chiêu hàng. Thề với chúng thì bền, cho làm thần tử thì lâu, hẹn xa 5 năm, gần chỉ 1 năm, phương Nam vô sự vậy." '''Thần xét rằng:'''' Pháp trị Nam Man khác với Bắc Địch, người thuyết cho rằng chinh Man không có kế toàn thắng, vì sao? Vì đất ấy nóng ẩm, chướng lệ cực độ, lính Trung Nguyên không hợp thủy thổ, không đợi qua gươm giáo tên đá đã tự mắc dịch mà chết, dù có triệu binh cũng không làm gì được vậy. Thần trộm nghĩ nạn chướng lệ chỉ xảy đến với kẻ nghèo yếu và kẻ không biết điều tiết mà thôi, còn như tướng soái cư quan hiển yếu thì hiếm gặp. Xin lệnh cho các trọng thần trấn giữ nơi đó đa phương hỏi han những kẻ bị đày ở đó lâu năm mà vẫn thọ và khỏe, hỏi họ cách ăn ở điều tiết, ghi chép chi tiết khắc bản ban cho sĩ tốt. Mỗi đội ngũ chọn 1 người chuyên trách việc đó, kẻ nào không tuân theo điều chỉ dẫn mà tự tiện không kiêng khem tất phải gia tội. Những thuốc men dụng cụ cần chuẩn bị hãy lệnh hữu ty cấp cho. '''Trương Thức (張栻)'''' khi làm Tri phủ Tĩnh Giang tâu rằng: "Bản phủ có 9 quận phòng biên mà Ung Quản (邕管) là trọng yếu nhất. Ung Quản rộng mấy ngàn dặm mà hai sông Tả Hữu Giang là trọng yếu nhất. Từ phía Tây Bắc Ung Quản có Tường Kha (牂牁), La Điện (羅甸), Tự Kỷ (自杞); từ phía Tây Nam có các nước An Nam (安南), thảy đều là nơi phải phòng bị. Nhưng lính trấn thủ Ung Quản không đầy 1,000 người, cái cậy làm hàng rào duy chỉ có các khe động ở hai sông Tả Hữu Giang cộng hơn 8,000 nơi, dân binh không dưới 100,000, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu cổ xưa. Cách Ung Quản gần nhất là hơn 300 dặm, xa nhất gần 1,000 dặm, cái cậy để duy trì vỗ về duy chỉ có 4 người Đề cử Đạo tặc Đô tuần kiểm, mỗi người mang hơn 100 lính trấn thủ làm cương lĩnh cho khe động, chức nhiệm ấy không thể gọi là nhẹ vậy. Có thể nào không tuyển chọn kỹ người, cẩn trọng giữ đất đó để làm kế lâu dài cho nơi xa xôi chăng!" '''Thần xét rằng:'''' Nhà Đường chia đất Lĩnh Nam làm 5 quản, mà Quế (桂), Ung (邕), Dung (容) thuộc Lĩnh Nam Tây Đạo; trong bản triều ta, cắt đất phía Tây Dung Quản thuộc Quảng Đông, còn Quảng Tây thực sự chiếm trọn hai quản Quế, Ung và một phần nhỏ Dung Quản. Ung chính là phủ Nam Ninh (南寧) ngày nay, đất ấy khống chế hai sông Tả Hữu Giang, thực là cổ họng của đất An Nam. Đầu triều đại nhân theo lệ cũ của đời trước, đặt 4 phủ Thái Bình (太平), Điền Châu (田州), Tư Minh (思明), Trấn An (鎮安) và 7 châu như Long Châu (龍州). Đầu năm Chính Thống (正統) (năm 1436 dương lịch) lại nâng Tư Ân châu lên làm phủ, dùng thổ nhân làm Thủ trưởng, còn Tá nhị Mạc chức dùng Lưu quan, duy chỉ phủ Thái Bình thảy đều dùng Lưu quan, còn các châu trực thuộc vẫn theo tục cũ. Phàm các châu quận kiềm chế này đã hướng nội từ lâu, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu xưa, gặp lúc trưng phát cũng cậy vào sức họ. Nhưng hiện nay lính trấn thủ khống chế chỉ có hai vệ Nam Ninh, Tuần Tượng và một sở Thái Bình, có vẻ đơn yếu. Xin như lời Trương Thức nói, nhân lúc vô sự hiện nay, tại đất này đồn binh làm trọng trấn, tuyển chọn giữ tướng, cẩn trọng giữ đất, làm kế lâu dài để tiêu biến biến loạn lúc chưa xảy ra. An Nam (安南) vốn là Giao Chỉ (交阯) cổ xưa. Tần gộp thiên hạ, tại đây đặt Tượng quận (象郡). Tần vong, Úy Nam Hải là Triệu Đà đánh chiếm lấy. Hán đặt 9 quận, ba quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Tượng (象) chính là đất Giao Chỉ. Sau người đàn bà Trưng Trắc (徵側) phản, sai Mã Viện bình định, lập cột đồng làm giới hạn nhà Hán. Nhà Đường bắt đầu chia Lĩnh Nam làm hai đạo Đông Tây, đặt Tiết độ, lập 5 quản, An Nam lệ thuộc vào đó. Thời Ngũ Đại, Lưu Ẩn gộp đất ấy làm Giao Chỉ Tiết độ sứ. Sau đó trong quản đại loạn, có Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) định yên. Con là Liễn (璉) nội thuộc, nhà Tống phong làm Giao Chỉ quận vương. Truyền cho con là Toàn (璿), bị Lê Hoàn (黎桓) đoạt lấy. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 4 (năm 993 dương lịch), phong Hoàn làm Vương. Hoàn chết, con là Long Việt (龍鉞) lập, em là Long Đĩnh (龍廷) giết Việt mà thay thế. Long Đĩnh muốn tu cống, An phủ sứ Thiệu Diệp (邵曄) bẩm báo, Chân Tông nói: "Vùng xa xôi tục lạ không hiểu thể thống, sao có thể trách được." Vẫn phong làm Vương, ban tên Chí Trung. Sau bị hạ thần Lý Công Uẩn (李公蘊) đoạt lấy, bèn phong Công Uẩn làm Vương. Họ Lý truyền 8 đời đến Hạo Hàm (昊旵), người Phúc Kiến là Trần Nhật Chiếu (陳日照) làm rể, bèn có được nước ấy. '''Thần xét rằng:'''' Giao Chỉ vốn là đất quận huyện của Trung Quốc từ thời Tần Hán đến nay, thời Ngũ Đại bị Lưu Ẩn thôn tính, đến đầu thời Tống mới phong làm Quận vương, nhưng vẫn ban cho quan tước huân giai của Trung Quốc như "Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát đẳng sứ" và ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa Công thần", thảy đều như bề tôi nội địa, chưa từng gọi là "Quốc" (nước). Về sau phong Nam Bình vương, tấu chương văn di vẫn xưng là "An Nam đạo", thời Hiếu Tông bắt đầu phong Vương xưng Quốc, mà thiên hạ nhân đó coi họ như Cao Ly, Chân Lạp, không còn biết đó là quận huyện của Trung Quốc nữa. Họ Trần truyền 12 đời đến Nhật Côn (日焜), bị Lê Quý Ly (黎季犛) chiếm ngôi. Quý Ly dâng biểu dối tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元), con là Thương (蒼) đổi tên, trá xưng họ Trần tuyệt tự, lấy danh nghĩa cháu ngoại cầu quyền giữ việc nước, Thái Tông hoàng đế ta đã nghe theo. Qua năm sau, cháu họ Trần tên Thiêm Bình (添平) chạy đến kinh sư tố thực, Quý Ly bèn dâng biểu xin đón Thiêm Bình về nước. Triều đình không ngăn sự dối trá, sai sứ đưa Thiêm Bình về. Đến biên giới, Quý Ly phục binh giết đi cùng cả sứ giả. Sự việc đến tai, Thái Tông cáo với trời đất thần kỳ, kể tội chinh phạt, sai Chinh Di tướng quân Chu Năng (朱能)... đi đánh. Năng chết trên đường, mệnh Phó tướng Trương Phụ (張輔) tổng lĩnh quân binh, bắt sống Quý Ly cùng con là Thương, Trừng hiến phù tại kinh sư. Ra chiếu tìm hậu duệ họ Trần để lập. Người trong nước thảy đều nói Quý Ly đã giết sạch, không ai kế thừa, thảy đều xin phục hồi quận huyện như xưa. Bèn như chế độ ngày nay, lập ba ty Đô, Bố, Án Giao Chỉ cùng các phủ châu huyện vệ sở, thảy đều như nội địa. Về sau có Lê Lợi (黎利), là kẻ Di trong đám Di vậy, quan trong triều che chở nên dẫn đến ngang tàng, dâng biểu xin lập hậu duệ họ Trần. Tuyên Tông hoàng đế nói đây là ý của Hoàng tổ (Thành Tổ), bèn nghe theo, bèn bỏ đất ấy để họ phục hồi làm nước. Ôi! Từ khi Tần gộp 100 quận, đất Giao Chỉ đã cùng Nam Hải, Quế Lâm vào Trung Quốc. Giữa thời Đường, người Giang Nam làm quan hiển hách còn ít, mà người Ái Châu (愛州) là Khương Công Phụ (姜公輔) đã làm Học sĩ, Tể tướng trong triều, sánh vai với các sĩ phu Trung Châu vậy. Thế mà trải qua Ngũ Đại bị thổ hào chiếm cứ. Nhà Tống hưng không thể thảo phạt, khiến đất này sa vào cõi Man Di, mang cái tục nhếch nhác, 300 năm mà không được cùng Nam Hải, Quế Lâm... dự vào hàng ngũ văn minh lễ nhạc làm quê hương danh tiếng vật báu, thật là bất hạnh thay! Trong đó người Tống dù 1 lần đuổi được vua họ, người Nguyên dù 2 lần vào kinh đô họ mà chung quy không thể giữ được. Thái Tổ hoàng đế ta khai quốc ban đầu, họ Trần trước tiên nộp khoản, Thái Tổ chép vào ''Tổ Huấn'' không cho hậu nhân đánh nước họ. Họ Trần bị giặc Quý Ly giết hại, Thái Tông hoàng đế thể theo ý của Cao Hoàng, không dứt dòng dõi họ Trần, sai sứ đưa về nước, giặc Quý Ly lại giết đi cả sứ giả. Bất đắc dĩ hưng binh bình định, tìm hậu duệ họ Trần không được, bèn dùng cố sự Hán Đường phục lập quận huyện, nhưng quan giữ đất không cẩn trọng dẫn đến Man Lão lại hoành hành, mà Lê Lợi lấy lời tìm hậu duệ họ Trần làm từ ngữ. Tuyên Tông hoàng đế thể theo tâm của Văn Hoàng, để họ nối lại dòng tuyệt của họ Trần, không ngăn sự dối trá của Lê Lợi, bèn bị che mắt, quần thần mấy lần xin hưng binh thảo phạt, Chương hoàng đế (Minh Anh Tông) nhớ lời dạy của Thánh tổ nên gác lại không hỏi. Mà vùng Cửu Chân, Nhật Nam, di dân từ thời Tần Hán đến nay đã được thấy ánh mặt trời rồi lại sa vào vực thẳm, thật là trọng bất hạnh thay! Trộm nghĩ cương vực ngày nay xa quá thời Tống, sánh ngang thời Đường mà không bằng thời Hán chính vì mất 3 quận ngoài Lĩnh này. May mắn được rồi lại mất, thật là đáng tiếc. Nhưng giữ lời dạy của tổ tông không sai không quên, ấy là cái hiếu lớn của việc kế thừa, cái đại thể của việc giữ thành quả vậy. Điều đáng tiếc là dân một phương chịu sự trọng bất hạnh mà thôi. Cương vực An Nam, thời Tần Hán là đất 3 quận, nay đất ấy phía Đông vượt Khâm Châu (欽州) của Quảng Đông, phía Tây trải qua Tả Giang của Quảng Tây, đến Lâm An (臨安) Nguyên Giang (元江) của Vân Nam làm giới hạn. Khâm Châu về phía Đông là đường biển đối cảnh; phía Tây Khâm Châu là giới hạn phủ Nam Ninh. Phía Đông Nam Nam Ninh là các châu Thượng Tư (上思), Trung Châu (忠州), Thượng Hạ Thạch Tây (上下石西) thuộc phủ Tư Minh; các châu Long Anh (龍英), Thái Bình (太平), An Bình (安平), Thượng Hạ Đống (上下凍) thuộc phủ Thái Bình thảy đều giáp giới với họ. Mà Long Châu (龍州) chính là con đường họ tất phải đi qua, còn huyện Phán Tường (憑祥) là nơi yếu hại vậy. Phủ Trấn An có Quy Thuận (歸順) và động Hạ Lôi (下雷) cũng giáp giới. Phía Tây hai động ấy là giới hạn Vân Nam. Các châu A Mê (阿迷), trại Tả Năng (左能)... 9 Trưởng quan ty thuộc Lâm An thảy đều là giới hạn gần, Nguyên Giang có đường thủy thông tới, còn huyện Mông Tự (蒙自) là con đường tất phải đi qua của họ. Về đường sá: * Tại Quảng Tây: Từ phủ Thái Bình trải qua Long Châu và huyện Phán Tường, đến phủ Lạng Sơn (諒山) của họ, tới nơi họ gọi là Đông Đô (thăng long) mất 7 ngày đường. * Tại Quảng Đông: Từ Khâm Châu đi về hướng Tây Nam 1 ngày đến Vĩnh An châu (永安) của họ, từ Ngọc Sơn (玉山) đến Đông Đô của họ mất 5 ngày đường. * Tại Vân Nam: Từ phủ Lâm An qua bãi Liên Hoa (蓮花灘) ở đáy sông huyện Mông Tự đến Đông Đô của họ mất 4 - 5 ngày đường. Đó là đại lược về biên cảnh giữa Trung Quốc và Giao Nam vậy. ===Đồ Thư Biên (圖書編)=== ==== Nội Di tổng luận (內夷總論)==== '''Xét rằng:''' Bốn phương Di (四夷) thấy trong kinh điển bắt đầu từ tộc Tam Miêu (三苗). Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là người Man (蠻) vậy. Trong đó kẻ nhanh nhẹn nhất gọi là Miêu (貓), chính là hậu duệ của Tam Miêu (三苗), nương núi mà ở, bản tính tập quán không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Đầu triều đại, tại Hồ Bắc (湖北), Xuyên Đông (川東) lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Xuyên (思川), Bá Châu (播州). Lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (土官) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa "chia tách phương Bắc" của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" của Đại Vũ (大禹). ==== Chế ngự Nội Di tổng luận (制馭內夷總論)==== "Nhà Minh (明) hưng thịnh, bình định bốn biển, phàm những vùng đất của người Di (夷), Lão (獠), Man (蠻), Bặc (僰), Dao (猺), Trọng (獞), phía Tây khởi từ Ba Thục (巴蜀), Tường Kha (牂牁), phía Đông đến vùng Tương (襄), Sở (楚), phía Bắc bao bọc Hồ Lĩnh (湖嶺), chuyển sang phía Đông rồi xuống phía Nam, phương Nam tận cùng tới biển, lại phía Đông vượt qua Bách Việt (百粵) và ba sông (Tam Giang - 三江). Kẻ lớn thì chiếm giữ cả dãy thành trì, kẻ nhỏ thì bám giữ nơi rừng sâu. Tuy có chút phụng theo ước thúc, nhưng chủ yếu vẫn chỉ là kiềm chế vỗ về (kiềm mâu - 羈縻) mà thôi. Thế nhưng khi binh lực của chúng mạnh lên một chút thì lúc phản lúc hàng; nếu cứ thuận theo và buông lỏng quá mức, vỗ về mất kế sách, thì hùng tâm của ta tự thu hẹp mà hang ổ của chúng lại càng sâu. Huống hồ đất rộng quan cao, chiếm lợi giỏi binh, dân số (sinh xỉ) càng đông, tài vật càng đầy. Chúng dùng dối trá để thành mưu, dùng công lao để giải tội, gieo rắc nỗi lo nuôi dưỡng tai họa, xem thường Trung Thổ (中土), chưa thể nói là không có lo âu. Than ôi! Kinh ''Hạ điển'' có vùng Yếu Hoang (要荒), chức ''Chu quan'' có vùng Phiên Trấn (蕃鎮), đại để đều là nương theo dân mà thuận theo tục. Vượt biển đánh dẹp, qua sông cách núi, đất đai dần mở mang nhưng sự giáo hóa cuối cùng vẫn bị ngăn lấp. Mới hay đức trời không tư riêng, vương đạo có chừng mực, mở mang nước nhà mà coi nhẹ việc vỗ về lòng dân thì sự phòng bị sẽ bị khốn đốn bởi tầm nhìn hạn hẹp. Nếu bốn Di tự có đủ no ấm, Trung Hoa không lo bị độc hại, thì ta còn mong cầu gì hơn? Chỉ vì quan lại thích tích trữ, chính sự nhiều trễ nải, hoặc vì lánh hiềm tự làm sạch mình, hoặc vì cầu thắng mà ham lập công, thế nên tin tức xâm lấn hằng ngày nghe thấy, binh lính mấy phen nổi lên, lưới pháp lỏng lẻo, Di (夷) và Hạ (夏) đều khốn đốn. Nay muốn thu tóm kế sách lâu dài để mưu đồ sự yên ổn bền vững, tất phải phân định rạch ròi cương giới thì lân tộc không tranh giành; định rõ đích thứ thì tông chi tự ổn định. Lúc cha truyền con nối, phải kịp thời kiểm tra báo cáo; việc nộp tiền thóc, thảy đều bãi bỏ. Lại phải chỉnh đốn võ bị nơi các Tiết soái, tu sửa văn đức chốn Miếu đường, thì nỗi lo loạn lạc sẽ ít đi vậy." ==Nam Phương chư quốc tổng bộ kỷ sự (南方諸國總部紀事)== ===Nguyên Sử (元史)=== ====Truyện Quy Dương (歸暘)==== Tù trưởng vùng Thuận Giang (順江) là Nhạc Tôn (樂孫) cầu xin nội phụ, xin lập Tuyên phủ ty cùng đặt 13 nơi quận huyện. Quy Dương (歸暘) nói: "Người xưa có câu: 'Roi tuy dài nhưng không đánh tới bụng ngựa'. Nếu thực đặt quận huyện, khi có sự cố mà không cứu thì cô phụ cái ý đến quy phụ, nếu cứu thì làm mệt mỏi Trung Quốc mà phục vụ ngoại Di, ấy gọi là hưởng hư danh mà chịu thực họa vậy." Quy Dương tranh biện rất mạnh với Tả thừa Lữ Tư Thành (呂思誠). Thừa tướng Thái Bình (太平) cười bảo: "Đô sự Quy Dương giỏi thật, khờ khạo như thế, sao lại kháng cự dữ vậy? Thế nhưng mưu sách của ngươi rốt cuộc là gì?" Quy Dương đáp: "Tù trưởng ấy có thể phong chức Tuyên phủ, chớ nên cưỡng cầu cống nạp thuế khóa, sứ giả ban cho vàng lụa rồi cho về là đủ rồi." Sau cùng đã theo lời của Quy Dương. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/en/book/GJTS08/chapter/1lpka93xg3nyy?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 63bkt5cmznjcb32l924muqk11r7xukk 204617 204616 2026-04-09T10:57:11Z Mrfly911 2215 Mrfly911 đã đổi [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089 quyển]] thành [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089]] 204616 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第089卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 89''' | trước= [[../quyển 088|quyển 88]] | sau= [[../quyển 090|quyển 90]] | ghi chú = }} ==Nam phương chư quốc tổng bộ vị khảo (南方諸國總部彙考)== === Quảng Đông Thông Chí (廣東通志) - Ngoại chí (外志) === Thời Hoàng Đế (黃帝), người Di phương Nam (南彝) cưỡi hươu trắng đến dâng rượu nghệ và áo lông thú màu nâu. Thời Đường Nghiêu (唐堯) vỗ về phương Nam đến vùng Giao Chỉ (交阯), tộc Tam Miêu (三苗) đến thần phục. Thời Ngu Thuấn (虞舜), tộc Kiêu Diêu thị (僬僥氏) đến cống nạp lông chim Một Vũ, các tộc Man Di (蠻彝) đều tuân phục. Nhà Hạ (夏) lập ra 5 vùng Ngũ phục (五服), bên ngoài tiếp giáp bốn biển, Nam Hải (南海) có cá, da thú, ngọc trai, ngọc cơ và ốc tai tượng đại bối. Thời Thương (商), Y Doãn (伊尹) định lệ cống nạp bốn phương, phương Nam có các nước Âu (甌), Đặng (鄧), Quế (桂), Tổn Tử (損子), Sản Lý (產里), Bách Bộc (百濮), Cửu Khuẩn (九菌). * 6 cái tên này là tên gọi riêng của các tộc Nam Man (南蠻). ''Âu'' (甌) cũng giống như ''Âu'' (漚), ''Âu'' là ''Lạc'' (駱) vậy. ''Đặng'' (鄧) mang họ Mạn (曼), là các động người Man ở Kinh Nam (荊南). ''Quế'' (桂) là tám cây quế ở Phiên Ngung (番禺). ''Tổn Tử Sản'' (損子產) là chỉ tộc người Man ăn đầu người và sinh con. ''Lý'' (里) âm đọc là Lê, nay gọi là người Lỉ (俚人). Lệnh dâng nộp ngọc trai, đồi mồi, ngà voi, tê giác văn tê, lông chim thúy, chim Khuẩn hạc, chó Củ làm đồ cống. * ''Cơ'' (璣) giống ngọc trai nhưng nhỏ hơn. ''Khuẩn hạc'' có lông dùng làm cờ và quạt che, ''chó Củ'' là giống chó tốt. Buổi triều hội thời Thành Chu (成周), người Âu (甌) dâng ve sầu và rắn hổ mang ở đất Việt (越), nộp hàu văn thận của tộc Thả Âu (且甌). * Nay là đất Lạc Việt (駱越) ở Quảng Tây. Y Doãn (伊尹) triều cống phương Đông là tộc Âu (漚), tức người Âu (甌). Còn phương Nam là tộc Âu (甌), tức người Lạc Việt (駱越). ''Âu'' (漚) và ''Âu'' (甌) dùng thông nhau. ''Văn thận'' (文蜃) là loài sò lớn. Tộc Cộng nhân (共人) dâng sò Nguyên bối (元貝). * Người Man ở Ngô Việt (吳越) gọi là ''Cộng nhân'' (共人). ''Nguyên'' (元) là màu đen. ''Bối'' là loài sâu lớn dưới biển. Vùng Hải Dương (海陽) dâng cua lớn. * Phía Nam nước biển, nay là nơi sản sinh ra con cù kỳ (蝤蛑), thuộc phía Đông Triều Châu (潮州) vào vùng Mân (閩 - Phúc Kiến). Tự Thâm (自深) dâng quế. * ''Tự Thâm'' là tên vùng Nam Man, quế nay xuất sản từ Quế Châu (桂州), Thiều Châu (韶州). Vùng Hội Khê (會稽) dâng da thú. * Da có thể dùng bọc mặt trống. Chim trĩ của tộc Man Dương (蠻揚). * Chim trĩ của người Man ở Dương Châu (揚州) là loài gà núi (sơn kê). Vùng Thương Ngô (倉吾) dâng chim phỉ thúy. Phỉ thúy dùng để lấy lông. * ''Thương Ngô'' (倉吾) nay là Thương Ngô (蒼梧). Chim phỉ thúy có lông xanh pha vàng. Người phương Nam khi dâng lễ vật đông đảo thảy đều hướng về phương Bắc. * ''Nam'' ở đây là Nam Việt (南越). Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺) đến sát biển là vùng Dương Việt (揚粵), nay là đất Quảng Đông. Thời Hán (漢), phía Nam Nhật Nam (日南) có các nước Đô Nguyên (都元), Trạm Ly (湛離), Cam Đô Lư (甘都盧), Hoàng Chi (黃支)... gần thì đi 10 dư ngày, xa thì hành trình đến 4 hoặc 5 tháng. Phong tục đại lược giống vùng Châu Nhai (朱崖). Cõi bang rộng lớn, hộ khẩu đông đúc, nhiều vật lạ. Thời Hán Vũ Đế (漢武帝), thường sai những người ứng tuyển cùng sứ giả đi biển, mua ngọc minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá quý và vật lạ, mang theo vàng ròng và các loại lụa là mà đi. Đến nước nào cũng được cung cấp lương thực theo cặp, thuyền buôn của người Man Di (蠻彝) lần lượt chuyển tống đi. Đồ trân quý của ngoại tộc lưu nhập vào Trung Quốc bắt đầu từ đây. * Lưu Hướng (劉向) nói: "Thuyền buôn một cột buồm sâu hơn 50 khuỷu tay, thuyền ba cột buồm sâu hơn 15 khuỷu tay; Tây Vực lấy khuỷu tay làm đơn vị đo lường." Thời Quang Vũ Đế (光武帝) nhà Hậu Hán (後漢), người Man ngoài biên ải Giao Chỉ (交阯), Nhật Nam (日南) đến cống nạp. Mã Viện (馬援) dựng cột đồng. Sau đó, người Di ở Tây Đồ (西屠) cũng đổi quốc hiệu thành Ca La (哥羅), thuộc về Phù Nam (扶南). Từ đó tên các nước nhiều lần thay đổi. Người Man ở Tượng Lâm (象林), Nhật Nam nhiều lần phản loạn rồi lại hàng, sau đó Khu Liên (區連) 〈có chỗ chép là Khu Liên 區憐〉 chiếm cứ Lâm Ấp (林邑), bỏ phong tục và văn tự Trung Quốc, dần giống với Bà La Môn (婆羅門), từ đó sách Phật truyền đến. Đến thời Hoàn Đế (桓帝), các nước Thiên Trúc (天竺), Đại Tần (大秦) ở phía Tây Phù Nam (扶南) đều từ Nam Hải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ đến cống hiến, từ đó thương nhân người Hồ (賈胡) tràn ngập vùng Dương Việt (揚粵). Đồ cống có đồi mồi, ngà voi, vải bông (cổ bối), trầm hương, hổ phách. Thú thì có voi thuần, tê giác đen (nguyên tê), đười ươi (tinh tinh)... nhiều không sao kể xiết. Đời Ngô (吳), Tôn Quyền (孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước phiên thuộc, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến số lượng vài trăm nước. Khang Thái lập kỷ truyện, gọi là "Phù Nam thổ tục", chép về các nước: Bồ Lư Trung (蒲盧中), Ưu Bạt (優鈸), Hoành Điệt (橫跌), Chư Bạc (諸薄), Bắc Lỗ (北櫓), Tân Na Chuyên (濱郍專), Điểu Văn (鳥文), Tư Điều (斯調), Lâm Dương (林陽), đảo Mã Ngũ (馬五洲), đảo Bạc Thán (薄歎洲), đảo Đam Lan (耽蘭洲), đảo Cự Diên (巨延洲). Về sau trải qua các triều đại thay đổi, không còn dùng tên cũ nữa. Khi Tấn Vũ Đế (晉武帝) bình định nhà Ngô (吳), sau khi các nước Lâm Ấp (林邑), Phù Nam (扶南) vào cống nạp, lại có các nước gọi là Mâu La (牟羅), Mô Lư (模盧), Mạt Lợi (末利), Ty Ly (卑離), Mãn Đô (滿都), Thằng Dư (繩余), Sa Lâu (沙樓), Bồ Lâm (蒲林), thảy đều là những tên trước đây chưa từng nghe thấy. Thời Tống (宋), Tề (齊) có các nước đến gồm: Sư Tử (師子), Tỳ Gia Lê (毗迦梨), Can Đà Lợi (干陀利), Xà Bà (闍婆), Bồ Hoàng (蒲黃), A La Đà La (阿羅陀羅), Đơn Bà Hoàng (單婆皇), Lang Nha (狼牙), Tu (修), Bàn Bàn (槃槃), Đốn Tốn (頓遜)... đại khái có hơn 10 nước. Thời Lương Vũ Đế (梁武帝), các nước Bà Lợi (婆利), Đan Đan (丹丹), Tỳ Kiên (毗騫) mới bắt đầu thông sứ. "Vua nước Tỳ Kiên (毗騫) thân cao 3 trượng, cổ dài 3 thước, từ xưa đến nay không chết, biết được những việc thần thánh chưa xảy ra; con cháu vua thì sinh tử như người thường." Nhà Tùy (隋) sai sứ thông với nước Xích Thổ (赤土), dẫn đến nước La Sát (羅剎). Nước ấy ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng ưng, chính là loài "Dạ xoa La sát thân dài kim cương" mà sách Phật nhắc đến vậy. Các nước khác như Đầu Hòa (投和), Biên Đẩu (邊斗) cống nạp cho nhà Tùy (隋) ngày càng nhiều. Đồ cống đại để là vàng bạc báu vật, hương liệu dược liệu, cũng có khi dâng răng Phật (Phật nha), xá lợi, thảy đều vì họ phụng theo giáo pháp Bà La Môn (婆羅門) vậy. Nhà Đường (唐) bắt đầu đặt chức Thị bạc sứ (市舶使), giao cho quan soái trấn Lĩnh Nam (嶺南) kiêm quản, lập khu chợ búa, lệnh cho người Man Di (蠻彝) đến cống nạp được phép giao dịch, thu một phần lợi nhuận vào kho quan. Phàm thuyền buôn đến, lớn nhất là "Độc tường bách" (thuyền 1 cột buồm), có thể chở được 1,000 Bà lan (婆蘭). 〈Người Hồ gọi 200 cân là 1 Bà lan〉. Hạng nhì gọi là "Ngưu đầu bách", bằng 1 phần 3 thuyền Độc tường; hạng tiếp theo là "Nhị mộc bách" và "Liệu hà bách", mỗi loại lại kém đi 1 phần 3. Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 17 (năm 643 dương lịch), chiếu lệnh cho Ty Thị bạc 3 lộ, hễ thương nhân nước ngoài buôn đến 4 loại hàng là Long não, Trầm hương, Đinh hương, Bạch đậu khấu thì đều thu thuế 1 phần 10 (trừu giải). Thời Võ hậu (武后), Đô đốc Lộ Nguyên Du (路元皻) tham lam chiếm đoạt hàng hóa của các thủ lĩnh phương Nam, vị chúa tàu (bách tửu) không chịu nổi cơn giận đã giết chết y. Đầu năm Khai Nguyên (開元), Thị bạc sứ Chu Khánh Lập (周慶立) cùng với tăng nhân Ba Tư (波斯) chế tạo đồ kỳ xảo để tiến dâng, bị hạch tội và bãi chức; triều đình cũng bãi bỏ việc sai sứ giả đến Nam Hải (南海) tìm ngọc trai và chim thúy. Năm Khai Nguyên (開元) thứ 4 (năm 716 dương lịch), có người Hồ tâu rằng: "Nam Hải (南海) nhiều ngọc trai, chim thúy và báu vật lạ, có thể sang đó tìm kiếm." Nhân đó nói về cái lợi của việc buôn bán đường biển (thị bạc), lại muốn sang nước Sư Tử (獅子 - Sri Lanka) tìm linh dược, và tìm những bà lão giỏi y thuật đưa vào cung đình. Vua mệnh cho Giám sát Ngự sử Dương Phạm Thần (楊範臣) cùng người Hồ ấy đi tìm. Phạm Thần ung dung tâu rằng: "Năm kia Bệ hạ cho đốt châu ngọc gấm vóc để tỏ ý không dùng đến nữa. Nay những thứ tìm kiếm này có gì khác với những thứ đã đốt? Việc Thị bạc là tranh lợi với thương giả, không phải là thể thống của bậc vương giả. Tính chất dược liệu phương Nam người Trung Hoa đa phần không biết, huống hồ là bà lão người Hồ, sao nên đưa vào cung đình? Chức Ngự sử là tai mắt của Thiên tử, hễ có đại sự quân quốc, thần dù phải dấn thân vào nơi lam chướng, chết cũng không dám từ nan. Đây chẳng qua là bọn người Hồ muốn mê hoặc để cầu sủng, không ích gì cho thánh đức, trộm nghĩ không phải ý của Bệ hạ, xin hãy suy xét kỹ." Vua lập tức tự nhận lỗi, an ủi ông rồi bãi bỏ việc ấy. Sau đó tại Quảng Châu (廣州) đặt chức Kết hảo sứ (結好使), mỗi khi thuyền buôn nước ngoài đến thì xem xét tình hình mà tâu báo. Lúc này các nước phương Nam có nhiều thay đổi: Lâm Ấp (林邑) đổi hiệu là Hoàn Vương (環王), còn Lục Chân Lạp (陸真臘) cũng gọi là Văn Đan (文單), thảy đều thường xâm phạm biên giới. Khoảng năm Nguyên Hòa (元和) (năm 806 - 820 dương lịch), An Nam Đô hộ Trương Chu (張舟) đánh bại chúng, dựng lại cột đồng để phân định cương giới, từ đó đồ trân bảo cống nạp đầy ắp kho vương phủ. Sau đó, Tiết độ sứ Mã Tổng (馬總) lại đúc thêm 2 cột đồng nối tiếp. Thời Trinh Nguyên (貞元), 2 nước Ba Tư (波斯) và Cổ La (古羅) vào cống nhiều vật quý, Tiết độ sứ Vương Xứ Hưu (王處休) tuyên dương uy đức, vỗ về lệnh cho giao dịch, ngoài phần cung phụng thường lệ thì không lấy thêm một thứ gì. Ông bèn vẽ bản đồ "Sứ viện đồ biểu" dâng lên, trong đó có lời rằng: "Ngoài cửa biển, ẩn hiện như những quốc gia đối địch. Giữ lòng trung thực, để đức lại cho mai sau." Thời bấy giờ khen là đắc thể. Về sau vì việc quân nhu nổi lên, dần gia thêm thuế chợ. Khoảng năm Thái Hòa (太和) (năm 827 - 835 dương lịch), Văn Tông (文宗) xuống chiếu bãi bỏ thuế này. Nhà Nam Tống (宋), năm Khai Bảo (開寶) thứ 4 (năm 971 dương lịch), đặt Ty Thị bạc tại Quảng Châu (廣州), lấy Tri châu kiêm chức Sứ, Thông phán kiêm chức Phán quan. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch), bắt đầu định lệ thu thuế (trừu giải) là 2 phần 10. Phàm các nước phương Nam ở Nam Hải (南海) đều thông thương dùng vàng, thiếc, tiền giấy để đổi lấy các thứ: tê giác, voi, san hô, hổ phách, chuỗi ngọc, gang (tân thiết), da cá sấu, đồi mồi, mã não, xà cừ, thủy tinh, vải phương Nam (phiên bố), gỗ mun (ô man), tô mộc, hồ tiêu, hương liệu dược liệu... Thái Tông (太宗) đặt cơ quan Quế vụ (榷務) tại kinh sư, chiếu lệnh hàng hóa phương Nam đến Quảng Châu (廣州), nếu không phải từ kho quan đưa ra thì không được tự ý buôn bán riêng. Sau đó có chiếu: những thứ không phải kỳ trân dị bảo thì thảy đều cho phép bán ở chợ. Lại có chiếu: những hàng hóa tốt khác cũng cho phép bán ở chợ một nửa. Đại để thuyền biển đến thì thu thuế 1 phần 10 (thập nhất), còn lại cấp cho thương nhân, giá trị thu vào hằng năm tính bằng con số hàng chục vạn, giúp ích cho kinh phí của triều đình. Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 3 (năm 978 dương lịch), Lý Xương Linh (李昌齡) tri Quảng Châu (廣州), đất Quảng có nguồn lợi thuyền biển dồi dào, Xương Linh không giữ được lòng thanh liêm. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch) khi mãn nhiệm về kinh, Xương Linh tâu rằng: "Thị bạc ở Quảng Châu, hằng năm thuyền buôn đến, quan lại đều tăng giá mua hết sạch, hàng tốt xấu lẫn lộn nên ít lợi nhuận. Từ nay xin chọn lấy hàng tốt theo giá mà mua, còn hàng xấu thì mặc cho họ tự bán, không cấm." Khoảng năm Hy Ninh (熙寧) (năm 1068 - 1077 dương lịch), nguồn thu Thị bạc Quảng Châu bị thâm hụt, có người cho rằng do Ty Thị dịch gây nhiễu loạn, nên lệnh cho quan Đề cử điều tra báo lên. Khi ấy quan coi việc là Lã Mạo (呂邈) bị hạch tội vì tự tiện lấy hàng phương Nam và bị bãi chức. Sau đó theo lời bàn của quan viên mà bãi bỏ Thị bạc ở Hàng Châu (杭), Minh Châu (明), thảy đều lệ thuộc về Quảng Châu. Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 3 (năm 1080 dương lịch), Trung thư tâu rằng: "Thuyền buôn Quảng Châu đã tu định điều ước, nên chọn quan thực thi." Chiếu lệnh cho Quảng Đông lấy Chuyển vận sứ Tôn Hồi (孫迥) thay quan Soái kiêm lĩnh. Năm Đại Quan (大觀) thứ 1 (năm 1107 dương lịch), lại đặt quan Đề cử Thị bạc 2 lộ Chiết, Quảng và Phúc Kiến; phục hồi Ty Thị bạc tại Hàng Châu, Minh Châu, lại tăng thêm 1 Ty ở Tuyền Châu (泉州). Năm thứ 3 (năm 1109 dương lịch), thương nhân phương Nam muốn sang quận khác thì phải do Ty Thị bạc cấp giấy thông hành (khoán), không được mang theo vật cấm. Việc phòng bị vũ khí trên thuyền được cấp theo luật của các nước. Ty Thị bạc bán hàng hóa đã thu mua đều thu lợi vượt quá 2 phần, quan lại tự ý mua hàng thì bị cấm. Năm Chính Hòa (政和) thứ 4 (năm 1114 dương lịch), chiếu lệnh Ty Thị bạc Quảng Nam hằng năm cống nạp trân châu, sừng tê giác, ngà voi. Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127 dương lịch) xuống chiếu: "Việc Thị bạc đa phần lấy những thứ vô dụng, lãng phí quốc dụng để làm vui lòng kẻ quyền quý; từ nay ai dùng hương đốc nục, nhẫn, mã não, mắt mèo và các loại tương tự để trao đổi, cũng như ai gây thiệt hại cho thương nhân phương Nam, đều sẽ bị trị tội nặng theo pháp luật. Chỉ ban cho các quan đại thần hốt ngà, đai tê là được phép, lượng cho vận chuyển vào." Luật cũ chia hàng phương Nam thành 2 loại thô và mịn (thô tế nhị sắc). Những thứ như Long não, trân châu đều là hàng mịn, thu thuế 1 phần 10. Sau đó lại thu mua thêm 4 phần; hàng thô cũng thu thuế 1 phần 10 và thu mua thêm 4 phần. Việc thu mua quá nhiều khiến thương nhân thường giấu hàng mịn đi, không khai báo thật. Luật cũ hàng mịn lấy 5,000 lạng làm 1 cương (kiện hàng), hàng thô lấy 10,000 cân làm 1 cương; mỗi cương thì có tiền vận chuyển và nuôi gia đình là hơn 1,000 quán. Về sau kẻ vận chuyển gian dối lấy ngà voi, sừng tê, tử khoáng để chiếm tiền vận chuyển, khiến 1 cương cũ bị chia nhỏ thành 33 cương, tốn kém tiền vận chuyển và nuôi nhà đến hơn 3,000 quán. Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 27 (năm 1157 dương lịch), chiếu lệnh cho Kinh lược Ty Thị bạc Quảng Nam thanh tra thương nhân phương Nam giả mạo vào cống nạp. Đầu năm Long Hưng (隆興) (năm 1163 dương lịch), quan viên cho rằng ngà voi, tê giác đỏ so với hàng khác là nặng nhất, xin thu thuế 1 phần 10 và bãi bỏ việc thu mua thêm. Đầu năm Càn Đạo (乾道) (năm 1165 dương lịch), quan viên lại tâu rằng Phúc Kiến, Quảng Nam đều có Thị bạc, hàng hóa mênh mông, đặt quan Đề cử là thực sự thỏa đáng. Năm Càn Đạo (乾道) thứ 7 (năm 1171 dương lịch), chiếu lệnh hàng thô lấy 20,000 cân làm 1 cương, hao hụt 600 cân, theo lệ cũ chi trả tiền vận chuyển đường thủy (thủy cước tiền) là 1,662 quán và lẻ. Sau khi dời đô xuống phía Nam (Nam độ), kinh phí túng quẫn, mọi việc thảy đều dựa vào nguồn thu này. Hàng nhập vào hằng năm vốn không ít, nhưng vàng bạc đồng sắt tiền tệ cũng theo đó mà rò rỉ ra ngoài cảnh, trong đó tiền tệ rò rỉ là nghiêm trọng nhất. Pháp luật dù nghiêm minh nhưng gian xảo ngày càng tinh vi, cái tệ ấy rốt cuộc không thể ngăn cấm được. Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2 (năm 1175 dương lịch), chiếu lệnh Thị bạc Quảng Châu ngoài những mặt hàng độc quyền (quế hóa), những hàng tốt khác chỉ được thu mua một nửa. Đời Nguyên (元), Thế Tổ (世祖) từng lập Ty Đề cử nhưng rồi bãi bỏ. Năm Chí Trị (至治) thứ 4 (năm 1324 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), sai sứ thu mua hàng phương Nam ở Quảng Đông, bèn lập lại Ty này, cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thì thu thuế. Năm Nguyên Thống (元統) thứ 6 (năm 1338 dương lịch) đời Thuận Đế (順帝), bãi bỏ 2 Ty Đề cử ở Quảng Đông. Năm Chí Chính (至正) thứ 2 (năm 1342 dương lịch), lập lại Đề cử Quảng Đông, siết chặt lệnh cấm Thị bạc. Năm thứ 3 (năm 1343 dương lịch), cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thu thuế. Nhà Minh (明), trừ những nước phương Nam có lệ cứ 3 năm vào cống 1 lần, các nước khác đến quy phục thì cho phép giao thương (hỗ thị). Lập Ty Đề cử Thị bạc để chủ trì việc vào cống của các nước. Theo chế độ cũ, các nước vào cống trước tiên được cấp sổ sách phù hiệu (phù bộ), khi đến Tam ty (布、按、都三司) thì đối chiếu phù hiệu, xem biểu văn và phương vật không có gì giả mạo mới chuyển đưa vào kinh. Nếu là hàng hóa của Quốc vương, Vương phi, Bồi thần mang theo thêm thì thu thuế 5 phần 10, phần còn lại quan trả tiền theo giá; riêng 2 nước Xiêm La (暹邏), Qua Oa (瓜哇 - Java) được miễn thuế này. Những thương nhân phương Nam tự mang hàng đến buôn bán, khi thuyền đến bến nước, thảy đều phong tỏa và vào sổ, thu thuế 2 phần 10 mới cho phép giao dịch. Tuy nhiên dân gian xảo ở Mân, Quảng thường hay búi tóc đeo khuyên tai, bắt chước quần áo tiếng nói của người phương Nam, lẻn vào trong thuyền dẫn đường cho chúng làm điều gian ác, nhân đó cướp bóc, dân vùng ven biển rất khổ sở. ''Cựu Chí'' chép: Phàm giao dịch ở Đông Dương đa phần dùng tơ lụa, nước Oa (倭國 - Nhật Bản) đặc biệt hung hãn, thương nhân rất sợ chúng, thường đổi lấy đầu chim hạc (hạc đính)... Giao dịch ở Tây Dương đa phần dùng hàng Quảng (Quảng hóa), đổi lấy hồ tiêu... Những hàng quý mịn thường đầy ắp thuyền. Như nước Xiêm La (暹邏) sản xuất tô mộc, Địa Muộn (地悶 - Timor) sản xuất đàn hương, các loại hương liệu khác nước nào cũng có. Về Trầm hương, có các loại trầm vàng (hoàng trầm), trầm đen (ô giác), trầm rất quý thì gọi là trầm sáp (lạp trầm), gọt ra thì cuộn lại, nhai thì mềm, thảy đều kết tụ từ gốc cây khô; chỉ có gỗ Kỳ Nam (奇南木) mới là phần trầm kết từ cây sống. Sừng tê giác có tê đen (ô tê), tê hoa (hoa tê), tê thông thiên (thông thiên tê), tê phục thông (phục thông tê). Tê hoa là nền trắng hoa đen; tê thông thiên là nền đen hoa trắng; tê phục thông là trong hoa trắng của tê thông thiên lại có thêm hoa đen, thảy đều là vật quý hiếm thấy trên đời. Hạc đính, mu rùa, đồi mồi thảy đều có thể kết hợp (kiến hợp khả hợp), riêng sừng tê giác không tùy tiện kết hợp, cho nên công phục lấy ngọc và tê làm đai, quý ở cái nghĩa không tùy tiện kết hợp vậy. Tháng 5 năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370 dương lịch), sai sứ ban chiếu về Khoa cử cho An Nam (安南), Chiêm Thành (占城), vì họ thông hiểu văn tự Trung Quốc. Các nước phương Nam không ai không sợ uy mà nhớ đức, từ đó triều cống không dứt, cũng có nước chưa đến kỳ cũng cống hiến. Đầu năm Vĩnh Lạc (永樂), sai sứ bốn phương chiêu dụ các nước, cống hiến thảy đều đến. Hàng lạ bảo vật quý hiếm trước nay chưa từng có. Bèn mệnh cho Nội thần giám trấn Thị bạc, đặt công quán ở bến nước phía Nam thành; công quán cũng xây ở Tiên Hồ phía Tây quận 〈nay là đường Phân thủ〉. Tháng 9 năm thứ 3 (năm 1045 dương lịch), Đại lý tự khanh 〈khuyết tên〉 Phụ, ban đầu làm Phó sứ Hồ Quảng, vì có tội bị giáng làm Hành nhân. Đến nay phụng mệnh đi sứ các nước Tây Nam như Xiêm La, Qua Oa đến tận các nước Cổ Lý (古里 - Calicut) ở Tây Dương. Khi về kinh tâu việc đúng ý vua, được thăng làm Quảng Đông Án sát sứ. Nội thần Hầu Hiển (侯顯), Trịnh Hòa (鄭和) cùng Hành nhân đi lại, các vua phương Nam đều đãi lễ rất hậu. Tháng 6 năm thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Bố chính ty Quảng Đông tâu: "Hằng năm người phương Nam ở hải ngoại vào cống phương vật, đường thủy dùng thuyền vận tải, duy có đoạn từ Nam Hùng (南雄) đến Nam An (南安) bị ngăn cách bởi đèo Mai Lĩnh (梅嶺), thuyền bè không thông. Từ nay xin dùng sức dân để tiếp vận." Vua phán rằng: "Làm vua phải lo nuôi dân. Nay việc cống nạp không có định kỳ mà nông dân ít ngày rảnh. Giả sử từ xuân đến thu, người phương Nam vào cống không dứt, thảy đều bắt dân tiếp vận, há chẳng ngăn trở việc nhà nông sao? Từ nay người phương Nam vào cống, nếu gặp lúc vụ mùa thì phương vật thảy đều lưu trữ ở Nam Hùng, đợi đến tháng 11 (tháng 11 âm lịch) lúc nông nhàn mới cho vận chuyển đến Nam An, hãy ghi làm lệnh." Lại bảo thị thần rằng: "Dân không mất sự nuôi dưỡng thì dù nhọc nhằn cũng ít oán; dân mất sự nuôi dưỡng thì dù cho nghỉ ngơi cũng không cảm đức." Tháng 8, đặt trạm Hoài Viễn (懷遠驛) tại bến Hiện Tử (蜆子步) thành Quảng Châu, xây 120 gian phòng để người phương Nam ở. Lệ thuộc Ty Đề cử Thị bạc, nhưng quan Nội quan tổng quản hàng hóa, quan lại Đề cử chỉ giữ sổ sách mà thôi. Có những thuyền đáng lẽ đi Phúc Kiến nhưng bị gió bạt đến đây. Như nước Bột Ni (渤泥 - Brunei), vốn là thuộc quốc của Xà Bà (闍婆), ở trong biển lớn phía Tây Nam, cách Qua Oa 45 ngày đường, cách Tam Phật Tề (三佛齊 - Srivijaya) 40 ngày đường, cách Chiêm Thành (占城) 30 ngày đường. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 (năm 1406 dương lịch), vua nước ấy là Hà Vượng (遐旺) đến triều kiến. Lưu Cầu (琉球) ở trong biển lớn Đông Dương, nằm phía Đông quận Kiến An, đi đường thủy 5 ngày thì đến. Thời Tùy Đại Nghiệp (隋大業), sai tướng dẫn binh từ Nghĩa An (義安) vượt biển đánh chúng. Nghĩa An nay là Triều Châu (潮州) vậy. Thời Hồng Vũ (洪武), chia ra Đại, Tiểu Lưu Cầu, triều cống rất cung kính. Quan sinh thường vào Thái học thụ nghiệp, triều đình thường gia thêm ơn xót thương. Những nước khác như Nam Bột Lợi (喃勃利)... cũng có kẻ theo thuyền đến Quảng Châu. Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), Án sát Phó sứ Chương Cách (章格) tuần thị đường biển. Lúc ấy sứ thần Lưu Cầu là Thái Tuyên (蔡璇) cùng vài người mang phương vật buôn bán với nước lân cận, bị gió bạt đến cảng Hương Sơn (香山). Viên quan Thủ bị coi là "hải khấu" muốn giết đi để lập công. Cách không cho, biện minh cho họ, tâu xin trả lại tài sản rồi cho về, người phương Nam ca tụng công đức. Những năm gần đây, khách buôn Lưu Cầu có kẻ bạt đến Quỳnh Châu (瓊州), được đưa đến thành Quảng Châu. Thiêm sự Kinh Ngạn Thái (經彥寀) hết lòng chăm sóc cứu trợ, người phương xa rất cảm kích. Thời Thành Hóa (成化), Hoằng Trị (弘治), người vào cống ngày càng đông. Quan hữu tư chỉ cho phép sứ giả vào bái kiến, còn lại thảy đều lưu lại ở trạm (dịch). Việc đi lại có đặt yến tiệc tiếp đãi mới cho vào thành. Quần áo kỳ dị, cũng có kẻ đội mũ gắn vàng ngọc, mặc áo màu ráng chiều, người già trẻ con thảy đều tranh nhau xem. Hồ tiêu, gỗ quế, trống đồng, nhẫn, đá quý tràn ngập kho và chợ. Hàng phương Nam rất rẻ, dân nghèo vâng lệnh thu mua đa phần trở nên giàu có. Năm Chính Đức (正德) thứ 12 (năm 1517 dương lịch), người Di ở biển Tây là Phật Lãng Cơ (佛朗機 - Bồ Đào Nha) cũng xưng là triều cống, đột nhập huyện Đông Quản (東莞), hỏa súng dữ dội, chấn động xa gần, tàn phá cướp bóc thậm tệ, thậm chí nướng ăn cả trẻ con. Quan Hải đạo phụng mệnh tiêu diệt và xua đuổi mới ra khỏi cảnh. Từ đó thảy đều cấm chỉ thuyền biển, các nước đáng lẽ vào cống cũng hiếm khi đến. Thuyền cống bèn sang Chương (漳), Tuyền (泉) và thành Quảng để buôn bán, chợ búa tiêu điều không như chế độ cũ. Khi ấy Đô Ngự sử tuần phủ Lưỡng Quảng là Lâm Phú (林富) tra xét tổ huấn, tuân theo ''Hội điển'' dâng sớ lên, được chuẩn y, từ đó thuyền phương Nam mới thông lại. Tờ sớ đại lược nói: "Thần trộm nghĩ chức Tuần phủ trước hết là vì dân dấy lợi trừ hại. Phàm trên có ích cho triều đình, dưới có ích cho sinh dân là lợi; trên có hại cho triều đình, dưới có hại cho sinh dân là hại. Nay lấy danh nghĩa trừ hại mà ngăn tuyệt mọi nguồn lợi, khiến quân quốc không có nguồn dựa, quên đi phép tắc của tổ tông, lại mất lòng người phương xa, ấy chính là việc Thị bạc ở Quảng vậy." Cẩn án ''Minh Hoàng Tổ Huấn'', các nước An Nam, Chân Lạp, Xiêm La, Chiêm Thành, Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Tây Dương, Qua Oa, Bành Hanh (彭亨), Bạch Hoa (白花), Tam Phật Tề, Bột Ni thảy đều cho phép triều cống, chỉ khi có hành thương đi kèm làm điều gian trá thì mới tạm khước từ, sau đó dần dần cho thông. Lại án ''Đại Minh Hội Điển'': Phàm các nước An Nam, Mãn Lạt Gia (滿剌加) đến triều cống, khi sứ giả về thảy đều lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông tiếp đãi. Hiện nay có đặt Ty Đề cử Thị bạc, lại có sắc lệnh cho 1 quan Nội thần đốc trách, chính là để đưa đón, trao đổi hàng hóa, vỗ về người phương xa mà tuyên dương uy đức vậy. Đến năm Chính Đức thứ 12, có người Phật Lãng Cơ đột nhập cõi Đông Quản, lúc ấy Bố chính sứ Ngô Đình Cử (吳廷舉) cho phép chúng triều cống và tâu báo về, đây chính là cái lỗi không xét kỹ phép tắc cũ. Sau đó sự hung xảo của chúng bị bại lộ, triều đình chuẩn theo sớ của Ngự sử Khâu Đạo Long (丘道隆), lệnh cho quan Hải đạo xua đuổi ra khỏi cảnh, giết kẻ cầm đầu là Á Tam (亞三), dư đảng nghe phong thanh liền chạy trốn. Quan hữu tư từ đó ngăn tuyệt hết thuyền buôn An Nam, Mãn Lạt Gia, chúng đều sang trú đậu tại vùng biển thuộc phủ Chương Châu (漳州), thế là lợi về tay người Mân (Phúc Kiến) mà chợ búa vùng Quảng tiêu điều vậy. Kẻ Phật Lãng Cơ vốn không thông với Trung Quốc, đuổi tuyệt chúng là phải. Nhưng các nước chép trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'' vốn cung thuận thông hiếu, nay ngăn tuyệt việc triều cống giao thương của họ, chẳng khác nào "vì nghẹn mà bỏ ăn". Huống hồ quan lại Thị bạc đặt công khai ở Quảng Đông trái lại không bằng việc "thông thương riêng không cấm" ở Chương Châu, vậy pháp tắc quốc gia nằm ở đâu? Thần trộm tính toán, cái lợi của Trung Quốc thì muối và sắt là lớn nhất, nhưng hằng năm vất vả cũng chỉ đủ định mức thường lệ. Hễ có hạn hán lũ lụt, khuyên dân nộp thóc vẫn sợ không đủ. Theo quy cũ cũ, ngoài phần triều cống, việc thuế thu (抽解) đều có lệ định, đủ cung cho ngự dụng. Đây là cái lợi lớn thứ 1. Ngoài phần thuế thu, có thể sung vào quân lương. Nay Lưỡng Quảng dùng binh liên tiếp, kho tàng cạn kiệt, nhờ nguồn này có thể làm đầy kho để phòng lúc bất trắc. Đây là cái lợi lớn thứ 2. Tỉnh Quảng Tây thảy đều dựa vào Quảng Đông, nay có việc trưng phát là không lo liệu được ngay. Dù lấy gỗ quế hồ tiêu thay lương bổng nhưng lâu ngày đã thiếu hụt, bắt dân gánh vác là điều khó tránh. Tra lại lúc thuyền buôn cũ còn thông, công tư đều dư dả, hàng phương Nam trong kho chỉ mươi ngày là thu được vài vạn lạng bạc. Đây là cái lợi lớn thứ 3. Lệ cũ giao dịch là quan chọn hàng tốt mua theo giá, còn lại cho dân mua bán, nên dân nghèo cầm món hàng 2 tiền là đổi được hồ tiêu, xoay vần trao đổi mà trở nên giàu có. Quảng Đông xưa nay xưng là phú thứ chính nhờ vào đây vậy. Đây là cái lợi lớn thứ 4. Giúp nước cấp quân đã có nguồn cậy trông, mà quan và dân thảy đều được đủ đầy, ấy là nhân cái lợi của dân mà làm lợi vậy, không phải là mở lỗ hổng tư lợi hay làm thang cho dân phạm tội. Kẻ bàn luận có lẽ lo ngại người Di đột nhập biên cảnh gây họa, thần lại trộm tính toán: Các nước Xiêm La, Chân Lạp, Qua Oa, Tam Phật Tề đầu năm Hồng Vũ đã cống phương vật, thần phục đến nay. Thời Vĩnh Lạc, Bột Ni nhập triều, đến chết vẫn cảm đức. Khoảng năm Thành Hóa, Chiêm Thành bị cướp ngôi, triều đình nối lại dòng dõi nên họ mong ơn. Người Man Di phương Nam đại để khoan nhu, đó là tính thường của họ, hơn 100 năm qua chưa từng dám làm giặc cướp. Gần đây kẻ Phật Lãng Cơ đến từ biển Tây, chúng khinh nhờn là có lý do mời gọi vậy. Hiện nay thuyền phương Nam ở Chương, Mân cũng chưa nghe thấy có động tĩnh nhỏ nào, thế thì chúng quyết không dám gây hại là điều đã rõ ràng. Huống hồ ngăn trở đã lâu nay chợt cho thông, há chẳng đủ để đắc lòng chúng sao? Thần xin tại các nơi yếu hại ngoài biển và vùng Nam Đầu (南頭) huyện Đông Quản, hằng năm lệnh cho Hải đạo Phó sứ và Bị Oa Đô chỉ huy đốc suất quan quân nghiêm ngặt tuần tra. Phàm thuyền đến mà có tên trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'', dò xét đúng thực thì cho trú đậu theo lệ cũ. Những kẻ không có tên trong đó như Phật Lãng Cơ thì đuổi ngay ra khỏi cảnh. Nếu dám kháng cự không phục thì đốc phát quan quân bắt chém. Còn phàm là giặc Lạt Cáp (喇哈) không cho phép kẻ quyền quý thông tư, nghiêm cấm dân nghèo dụ dỗ con cái xuống biển. Hễ có sơ hở thì quan quân tất phải chịu tội. Như thế không chỉ dấy khởi nguồn lợi một phương, mà đạo trị quốc không phân biệt trong ngoài cũng nằm ở đó vậy. Cúi mong Hoàng thượng đặc biệt sắc lệnh bộ ấy bàn bạc kỹ, những điều lợi hại thần đã trần thưa xin hãy lần lượt tham cứu. Nếu quả thực hành được, xin hãy thi hành tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, lệnh cho những thuyền trú đậu riêng thảy đều xua đi; kẻ có biểu văn triều cống thì cho phép đến vùng biển Quảng Châu chờ quan ty xử trí. Như thế, việc hoài nhu mới có phương pháp mà công tư thảy đều thuận tiện vậy." ==Nam phương chư quốc tổng bộ tổng luận 南方諸國總部總論== ===Nam Tề Thư (南齊書)=== ==== Đông Nam Di truyện tự (東南夷傳序 - Lời tựa truyện Đông Nam Di)==== Chủng loại người Man (蠻) cực kỳ đông đúc, ngôn ngữ không đồng nhất, thảy đều nương theo sơn cốc mà ở, phân bố tại ranh giới 5 châu gồm: Kinh (荊), Tương (湘), Ung (雍), Dĩnh (郢), Tư (司). Tục người Man (蠻) mặc áo vải, đi chân đất, kẻ thì búi tóc củ hành (chuỳ kế), kẻ thì cắt tóc ngắn. Binh khí lấy vàng bạc làm sức trang trí; dùng da hổ bọc khiên, giỏi bắn nỏ; thảy đều hung bạo, dữ tằn, thích cướp bóc. ==== Đông Nam Di truyện luận (東南夷傳論 - Lời luận truyện Đông Nam Di)==== Sử thần nói rằng: Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", ấy là lời nói tổng quát vậy. Đến như các giống tạp cư của Nam Di (南夷), chia cắt hải đảo mà lập nước, những đồ trân bảo kỳ quái phương xa, không đâu nhiều bằng nơi này. Núi tàng biển ẩn, ngọc báu rực mắt, thuyền buôn từ xa đến, vận chuyển nộp cho phương Nam. Thế nên Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州) giàu có thực thụ, hàng hóa chất đầy kho vương phủ. Việc xâm phạm quấy nhiễu tuy có đôi chút nhưng đạo thanh giáo có thể ban tới. Nếu dùng đức để vỗ về người phương xa, chính là ở đây vậy! === Lương Thư (梁書)=== ==== Hải Nam truyện tự (海南傳序 - Lời tựa truyện Hải Nam)==== Các nước Hải Nam (海南), đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州) trên các hải đảo ngoài biển lớn, cách nhau gần thì 3,000 đến 5,000 dặm, xa thì 20,000 đến 30,000 dặm, phía Tây giáp với các nước Tây Vực (西域). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên) thời Hán (漢), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều dâng lễ triều kiến. Đời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến thời Ngô Tôn Quyền (吳孫權), sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) thông sứ nơi ấy. Những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, nên quan chép sử không ghi lại. Đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến, mới bắt đầu lập truyện. Từ khi nhà Lương (梁) thay đổi vận nước, họ phụng chính sóc, tu sửa chức phận cống nạp, đường biển năm nào cũng đến, vượt xa các đời trước. Nay chọn lấy những nơi phong tục rõ rệt, biên chép thành ''Hải Nam Truyện''. === Tùy Thư (隋書)=== ==== Nam Man truyện tự (南蠻傳序 - Lời tựa truyện Nam Man)==== Nam Man (南蠻) gồm các loại tạp cư, ở xen kẽ với người Hoa, gọi là Diên (蜒), gọi là Nhương (獽), gọi là Ly (狸), gọi là Lão (獠), gọi là Đà (㐌), thảy đều không có quân trưởng, nương theo hang núi mà ở, chính là cái gọi là "Bách Việt" (百越) thời cổ xưa vậy. Tục của họ cắt tóc xăm mình, thích công kích đánh giết lẫn nhau, dần trở nên suy yếu, rồi lần lượt thuộc về Trung Quốc, đều được liệt vào quận huyện, đối xử như người Tề (tân dân), nên không chép lại chi tiết. Những năm Đại Nghiệp (大業) (năm 605 - 618 dương lịch), các nước phương Nam xa xôi đến triều cống có hơn 10 nước, nhưng sự tích đa phần mai một không nghe thấy, nay chỉ còn ghi chép được 4 nước mà thôi. ==== Nam Man truyện luận (南蠻傳論 - Lời luận truyện Nam Man)==== Sử thần nói rằng: Lễ ký (禮) nói "Phương Nam gọi là Man (蠻)", có kẻ không ăn đồ nấu chín. Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", Kinh ''Thi'' nói "Kẻ ngu muội kia là Man Kinh (蠻荊)". Chủng loại thực sự đông đúc, đời đời gây rắc rối nghẽn trở. Từ khi nhà Tần (秦) gộp hai nước Sở, nhà Hán (漢) bình định Bách Việt (百越), đất tận cùng biên ải phía Nam (đan kiêu), bóng nắng tột cùng ở Nhật Nam (日南), nơi nào thủy lục có thể ở được thảy đều lập thành quận huyện. Đến lúc chia biên cảnh Ngô (吳), Thục (蜀), thời gian trải qua Tấn (晉), Tống (宋), đạo trị quốc có lúc hưng lúc suy, việc thần phục hay phản nghịch không nhất quán. Cao Tổ (高祖) thụ mệnh, bình định 9 cõi (cửu vũ); Dạng Đế (煬帝) nối nghiệp, uy đức ban đến 8 phương hoang sơ (bát hoang), dồn tâm sức vào di bang phương xa, chí cầu vật trân dị. Thế nên quân ra đến Lưu Cầu (流求), binh đánh đến Lâm Ấp (林邑), uy chấn phong tục lạ, vượt xa thời Tần (秦), Hán (漢). Tuy có công lao nơi hoang ngoại nhưng không cứu vãn được sự bại vong trong bờ cõi. ''Truyện'' có câu: "Chẳng phải bậc thánh nhân, ngoài yên tất trong lo", lời ấy thật đúng thay! ===Thông Điển (通典) của Đỗ Hữu (杜佑)=== ==== Lược thuật lời tựa về Hải Nam (海南序略)==== Các nước Hải Nam (海南) đã thông hiếu từ thời Hán (漢). Đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州), cư ngụ trên các đảo giữa biển lớn, cách nhau hoặc 300 đến 500 dặm, hoặc 3,000 đến 5,000 dặm, nơi xa thì 20,000 đến 30,000 dặm. Cưỡi tàu dương buồm, đường sá xa xôi không thể biết tường tận dặm sở. Sách vở các nước ngoài tuy có nói về số dặm, nhưng cũng không định thực. Phía Tây giáp với các nước Hồ (胡). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) (năm 111 trước Công nguyên), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều triều kiến. Thời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến khi Ngô Tôn Quyền (吳孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến. Từ thời Lương Vũ Đế (梁武) và Tùy Dạng Đế (隋煬帝), sứ giả các nước đến vượt xa các đời trước. Đời Đại Đường (大唐) từ năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) về sau, thanh giáo ban xa, những nơi từ cổ chưa thông hiếu nay cũng qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà đến, còn nhiều hơn thời Lương, Tùy. Những gì không có tin tức lạ thì không ghi chép lại nữa. ==== Lược thuật lời tựa về Lĩnh Nam (嶺南序略)==== Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺), phía Bắc biển Trướng Hải (漲海), trước thời Ba đại (三代) là vùng hoang phục. Nhà Tần (秦) bình định thiên hạ, mở đất đặt ra 3 quận như Nam Hải (南海). Nhà Tần loạn, Triệu Đà (趙佗) chiếm giữ đất ấy, truyền 5 đời suốt 93 năm. Đến năm Kiến Nguyên (建元) (năm 140 - 135 trước Công nguyên) đời Hán Vũ Đế, Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức diệt đi, chia làm 9 bộ như Đạm Nhĩ (儋耳). Quận Châu Nhai (珠崖) ở trên đảo giữa biển, đại suất vài năm lại phản 1 lần. Năm Sơ Nguyên (初元) đời Nguyên Đế (năm 48 - 44 trước Công nguyên), nghe theo lời bàn của Giả Quyên Chi (賈捐之) mà bãi bỏ quận ấy. Thời Hán Quang Vũ Đế (漢光武), năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 - 56 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) nổi dậy, chiếm hơn 60 thành, Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong. Từ thời Hoàn Đế (桓), Linh Đế (靈) về sau, người Man Lão (蠻獠) lại chiếm huyện Tượng Lâm (象林) thuộc quận Tượng (象郡), bèn trở thành nước Lâm Ấp (林邑). Các quận huyện còn lại qua các đời dù thỉnh thoảng có phản loạn, binh lính châu quận lập tức bình định được ngay. Người ở vùng cực Nam xăm mặt (điêu đề), chân vòng kiềng (giao chỉ), tục lệ trai gái tắm cùng sông. Phía Tây có nước Ăn thịt người (Đạm Nhân quốc), đẻ con đầu lòng thảy đều xẻ ra ăn, gọi là "nghĩa nghi đệ". Nếu thấy ngon thì dâng cho vua, vua thích bèn thưởng cho cha nó; cưới vợ thiếp đẹp thì nhường cho anh mình, đó là người Ô Hú (烏滸). Phía Nam Giao Chỉ có nước Việt Thường (越裳). Năm thứ 6 (năm 1110 trước Công nguyên) thời Chu Công (周公) nhiếp chính, thiên hạ hòa bình, người Việt Thường qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà dâng chim trĩ trắng. Khi đức nhà Chu suy, việc ấy dần dứt. Đến khi Sở tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Tần Thủy Hoàng (秦始皇) bình định thiên hạ, mở vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng (象). Đến thời Hồ Hợi (胡亥), quan Úy Nam Hải là Nhâm Ngao (任囂) ốm sắp chết, gọi Lệnh huyện Long Xuyên (龍川) là người Chân Định (真定) tên Triệu Đà (趙佗) bảo rằng: "Trung Quốc nhiễu loạn, chưa biết nơi nào yên. Đất Phiên Ngung (番禺) dựa núi hiểm trở, biên thùy mấy ngàn dặm, có thể lập thành nước. Trong quận các quan lại chẳng ai đáng bàn cùng, nên gọi ông đến bảo." Bèn cho Đà nhận thư, hành chức Úy Nam Hải. Sau khi Ngao chết, Đà lập tức cắt đứt đường mới mở của nhà Tần, tụ binh tự giữ. Nhà Tần đã diệt, Đà bèn đánh chiếm cả Quế Lâm, Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương (南越武王). Hán đã định thiên hạ, vì Trung Quốc khổ cực, nên tha không giết Đà, sai Lục Giả (陸賈) phong Đà làm Nam Việt vương. Thời Cao Hậu (高後), Đà bèn tự xưng là Nam Việt Vũ đế (南越武帝), phát binh đánh các ấp biên thùy của Trường Sa (長沙), đánh bại mấy huyện rồi rút. Dùng uy binh và của cải hối lộ các tộc Mân Việt (閩越), Tây Âu (西甌), Lạc Việt (駱越), thảy đều thần phục, đất rộng Đông Tây hơn 10,000 dặm, Nam Bắc mấy ngàn dặm. Khi Hiếu Văn Đế (孝文帝) mới lập (năm 179 trước Công nguyên), vỗ về thiên hạ, sai giữ mồ mả tổ tiên Đà ở Chân Định, đặt hộ giữ ấp, hằng năm cúng tế; gọi anh em họ hàng Đà phong quan cao, ban thưởng hậu hĩnh. Sai Lục Giả đi dụ Đà. Giả đến, Nam Việt vương dâng thư tạ lỗi, nguyện làm phiên thần, phụng chức cống nạp. Đến năm Kiến Nguyên (建元) thứ 4 (năm 137 trước Công nguyên) đời Vũ Đế, thời cháu Đà là Hồ (胡), Mân Việt vương là Dĩnh (郢) hưng binh đánh biên ấp Nam Việt. Hồ sai người dâng thư nói: "Hai nước Việt đều là phiên thần, không được tự ý hưng binh đánh nhau. Nay Đông Việt xâm lấn thần, thần không dám hưng binh, chỉ đợi chiếu chỉ Thiên tử." Bấy giờ Thiên tử khen Nam Việt giữ nghĩa giữ ước, bèn sai 2 tướng đi thảo phạt Mân Việt. Hoài Nam vương là An (安) dâng thư can rằng: : "Nước Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Cho nên xưa kia trong cõi là Điện phục, ngoài cõi là Hầu phục, rồi đến Tân phục, Man Di là Yếu phục, Nhung Địch là Hoang phục, thế xa gần khác nhau vậy. Từ khi nhà Hán mới định đến nay 72 năm, người Ngô Việt đánh nhau không sao kể xiết, nhưng Thiên tử chưa từng cử binh vào đất ấy. Thần nghe người Việt không có thành quách ấp lý, ở giữa khe cốc, trong rừng tre, quen thủy chiến, giỏi dùng thuyền. Đất tối tăm ẩm thấp, nhiều hiểm trở đường thủy, người Trung Quốc không biết thế đất, dấn thân vào đó thì 100 người không địch nổi 1 người. Được đất ấy cũng không thể lập quận huyện, đánh chúng không thể dùng bạo lực mà lấy được. : : Nay tự đánh nhau mà Bệ hạ dùng binh cứu, ấy là ngược lại lấy Trung Quốc mà làm nhọc cho Man Di vậy. Vả lại người Việt ngu ngốc khinh bạc, bội ước phản phúc, việc họ không dùng pháp độ Thiên tử không phải tích tụ trong 1 ngày. Một khi không phụng chiếu bèn cử binh giết đi, thần e binh cách sau này không lúc nào được nghỉ. Nay phát binh đi mấy ngàn dặm, mang áo lương vào đất Việt, khiêng kiệu vượt đèo, kéo thuyền vào nước, mùa hè nóng nực, bệnh thổ tả hoắc loạn nối nhau, chưa kịp chạm đao thương thì người chết bị thương chắc đã nhiều rồi. : : Hơn nữa người Việt ít lực thiếu tài, không thể lục chiến, lại không biết dùng xe ngựa cung nỏ, nhưng không thể vào được là vì đất kia hiểm mà người Trung Quốc không hợp thủy thổ. Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. : : Thần nghe lời đồn trên đường rằng em Mân Việt vương là Giáp giết vương rồi. Giáp đã bị giết chết, người dân chưa có chỗ thuộc về. Bệ hạ nếu muốn họ nội thuộc, hãy đưa vào Trung Quốc, sai trọng thần đến chiêu dụ, họ tất sẽ bồng con dắt già mà về với thánh đức. Nếu Bệ hạ không dùng đến họ, hãy nối lại dòng dõi đã dứt, giữ lại nước đã mất, lập vương hầu cho họ, họ tất sẽ ủy thác làm phiên thần, thay nhau cống nạp. Bệ hạ dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt. Đàn ông không được cày cấy, đàn bà không được dệt sợi. Bệ hạ lấy bốn biển làm bờ, chín châu làm nhà, muôn dân thảy đều là thần thiếp, số thuế thu được đủ dùng, hà tất phải tốn công mồ hôi ngựa vì một ngày ở đất Di Địch?" Đế không nghe. Binh chưa vượt đèo, em Mân Việt vương là Dư Thiện (餘善) đã giết Dĩnh để hàng, bèn bãi binh. Sau đó đến đời cháu là Hưng (興), lập mẹ làm Thái hậu vốn là người Trung Quốc, khuyên vương cùng sủng thần dâng thư xin sánh ngang chư hầu trong cõi, 3 năm triều kiến 1 lần. Tể tướng Lã Gia (呂嘉) không muốn, bèn làm phản giết Thái hậu và hết sứ giả nhà Hán. Lập con trưởng của Dĩnh là Kiến Đức (建德) làm vương, phát binh giữ nơi yếu hại. Bấy giờ lệnh cho người Việt và các đạo lâu thuyền phía Nam Giang Hoài là 100,000 quân chinh thảo. Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 5 (năm 112 trước Công nguyên) mùa thu, Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, từ Quế Dương (桂陽) xuôi dòng Hối Thủy; Chủ tước Đô úy Dương Phục (楊僕) làm Lâu thuyền tướng quân, ra khỏi quận Chương (章郡), xuôi dòng Hoành Phố; 2 người vốn là Quy nghĩa Việt hầu làm Qua thuyền, Hạ lại tướng quân, ra khỏi Linh Lăng (零陵), kẻ xuôi dòng Ly Thủy, người đến Thương Ngô (蒼梧). Sai Trì nghĩa hầu nhân tội nhân đất Thục, phát binh Dạ Lang (夜郎), xuôi dòng sông Tường Kha (牂牱), thảy đều hội quân tại Phiên Ngung (番禺). Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên), Lâu thuyền tướng quân dẫn tinh binh hạ cửa hiểm trước, phá Thạch Môn (石門), thu được thuyền lương của Việt, bèn đẩy tới phía trước, làm nhụt nhuệ khí quân Việt. Phục Ba tướng quân dẫn tội nhân, đường xa nên đến muộn, hội quân với Lâu thuyền thì có hơn 1,000 người, bèn cùng tiến. Lâu thuyền đi trước đến Phiên Ngung, Kiến Đức và Gia đóng thành thủ, Lâu thuyền tự chọn chỗ thuận lợi ở hướng Đông Nam, Phục Ba ở hướng Tây Bắc. Gặp lúc tối trời, Lâu thuyền công phá bại quân Việt, phóng hỏa đốt thành. Quân Việt vốn nghe danh Phục Ba nhưng đêm tối không biết quân ít hay nhiều. Phục Ba bèn sai sứ chiêu hàng kẻ đầu hàng, ban ấn thụ, lại thả cho đi chiêu dụ nhau. Lâu thuyền đánh gấp đốt địch, địch trái lại chạy vào doanh trại Phục Ba. Đến mờ sáng, trong thành thảy đều hàng Phục Ba. Lã Gia, Kiến Đức cùng bộ hạ mấy trăm người đêm tối trốn ra biển. Phục Ba sai người đuổi bắt, Hiệu tư mã Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, Việt lang Đô Kê (都稽) bắt được Lã Gia. Binh của Qua thuyền, Hạ lại tướng quân và binh Dạ Lang của Trì nghĩa hầu chưa kịp đến thì Nam Việt đã bình định xong. Bèn lấy đất ấy làm 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林 - bản gốc ghi Thương Ngô 蒼梧), Út Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đặt Giao Chỉ Thứ sử thống lĩnh. Từ thời vua Đà về sau, phàm 5 đời, trải 93 năm thì mất. Hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ ở trên đảo giữa biển, Đông Tây 1,000 dặm, Nam Bắc 500 dặm. Các cừ soái tù trưởng thảy đều xuyên hạt châu vào tai rồi treo xuống, rủ quá vai 3 thốn. Cuối đời Vũ Đế, Thái thú Châu Nhai là người Hội Khê tên Tôn Hạnh (孫幸) bắt nộp khăn rộng khổ, người Man không chịu nổi sưu dịch bèn đánh quận giết Hạnh. Con Hạnh là Báo (豹) tập hợp 10,000 người trở lại đánh phá quân Man, tự lĩnh việc quận, thảo kích dư đảng, liên tiếp mấy năm mới bình xong. Báo sai sứ nộp lại ấn thụ, dâng thư tâu bày sự trạng. Chiếu chỉ bèn bái Báo làm Thái thú Châu Nhai, uy chính thi hành rộng khắp, cống nạp hằng năm thảy đều đến. Trung Quốc tham của quý của họ, dần xâm mưu khinh rẻ, nên đại suất vài năm lại phản 1 lần. Đến đầu thời Nguyên Đế (năm 48 trước Công nguyên), Châu Nhai mấy lần phản. Giả Nghị (賈誼), Tôn Quyên Chi (孫捐之) dâng thư xin đừng đánh, nói rằng: : "Thần nghe đức của ba thánh Diêu, Thuấn, Vũ, đất không quá mấy ngàn dặm mà thanh giáo ban đến bốn biển. Kẻ muốn nhận thanh giáo thì trị, kẻ không muốn thì không cưỡng trị. Thế nên quân thần ca đức, vạn vật thái bình. Võ Đinh, Thành Vương là bậc đại quân, nhưng đất phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương, nhờ thế tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, muôn loài vui với sự sống. Người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc suy, Nam chinh không về, cho đến nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, chỉ lo rộng đất mà không lo hại, khiến thiên hạ tan rã. Nhờ thánh Hán vì trăm họ thỉnh mệnh, bình định thiên hạ. Đến Hiếu Văn hoàng đế, bỏ võ theo văn, án ngục chỉ có mấy trăm người, thuế 40 phần thu 1, trai tráng 3 năm mới đi phục dịch 1 lần. Có người hiến ngựa thiên lý, chiếu không nhận, lệnh cho bốn phương không đến dâng hiến. : : Đến Hiếu Vũ hoàng đế, nhờ nước giàu dân rảnh, đánh đuổi Hung Nô, thông với Tây Vực đến tận An Tức (安息), phía Đông qua Kiệt Thạch, lấy Huyền Thố, Lạc Lãng làm quận, dời đồn ải, chế trị Nam Hải làm 9 quận, thì thiên hạ án ngục hàng vạn, thuế má tăng lên mấy trăm, đặt ra lợi muối sắt rượu để trợ dụng độ mà vẫn không đủ. Khi ấy giặc cướp cùng nổi lên là do chinh phạt không nghỉ vậy. : : Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. Kinh ''Thi'' có câu: 'Ngu muội thay Kinh Man, coi đại quốc là thù'. Từ cổ đã lo ngại lâu rồi, huống hồ là hàng phục đám Man cách phương Nam 10,000 dặm sao? Người Lạc Việt cha con cùng tắm một sông, quen uống bằng mũi, không khác gì cầm thú, vốn không đáng lập quận huyện vậy. Một mình cô độc giữa biển, sương mù ẩm thấp, nhiều độc thảo trùng xà thủy thổ gây hại, người chưa bắt được mà chiến sĩ tự chết. Lại chẳng phải chỉ Châu Nhai mới có châu, tê, đồi mồi; bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy, người ở đó ví như cá rùa, có gì đáng tham! : : Thần trộm lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa đất vô dụng sao? Xét về xưa không hợp, thi hành nay không tiện. Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ đi." Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) bèn bãi bỏ, phàm có 2 quận 65 thành. Phàm vùng Giao Chỉ thống lĩnh, tuy đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác nhau, phải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mới thông. Người như cầm thú, già trẻ không phân biệt. Búi tóc đi chân đất, lấy vải xuyên đầu mà mặc. Sau đó dời tội nhân Trung Quốc đến ở lẫn giữa chúng, mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy lễ hóa. Quang Vũ trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên (任延) giữ Cửu Chân, bèn dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày. Mới đặt法令 (pháp lệnh), bắt đầu biết cưới hỏi, lập ra lễ nghi trường học. Đến năm Quang Vũ thứ 16 (năm 40 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) cùng em là Trưng Nhị (徵貳) làm phản, đánh các quận huyện. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (麊泠), gả cho người Chu Diên (朱鳶) là Thi Sách (詩索) làm vợ, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ dùng pháp luật thắt buộc, Trắc giận nên phản. Bấy giờ các tộc Man Lỉ (蠻俚) ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố thảy đều theo, chiếm 65 thành, tự lập làm vương. Giao Chỉ Thứ sử cùng các Thái thú chỉ đủ tự giữ mình. Năm thứ 18 (năm 42 dương lịch), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (叚志) phát binh các vùng Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô hơn 10,000 người đi thảo phạt. Mùa hạ tháng 4 năm sau, Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị... còn lại thảy đều hàng phục tan rã. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽)... phá tan và bắt hàng, dời cừ soái chúng hơn 300 người sang Linh Lăng, vùng ngoài Lĩnh thảy đều bình định. Đầu năm Nguyên Hòa (元和) đời Chương Đế (năm 84 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải Nhật Nam là Cứu Bất Sự nhân (究不事人), hào trưởng trong ấp dâng tê sống, trĩ trắng. Khoảng năm Vĩnh Quang (永光) (năm 43 - 39 trước Công nguyên), người Man Di Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam hơn 2,000 người cướp bóc trăm họ, bèn đặt chức Tượng Lâm tướng binh Trường sử để phòng họa ấy. Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 2 đời Thuận Đế (năm 85 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam là Khu Liên (區憐)... hơn mấy ngàn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành quách đền miếu, giết quan lại. Châu quận hợp lực thảo phạt nhưng không thuận lợi. Đế triệu công khanh bách quan và thuộc hạ bốn phủ hỏi phương lược, thảy đều bàn nên phát 40,000 binh các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự (bản gốc ghi Kinh Hà 荊河) đến đó. Đô úy Đại tướng quân là Lý Cố (李固) bác lại rằng: : "Nếu Kinh, Dương không có việc thì phát đi cũng được. Nay giặc cướp 2 châu đó kết bè không tan, mà lại làm náo động thêm tất sẽ sinh họa khác. Lại nữa người vùng Diễn Châu, Dự Châu đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến trốn chạy. Quân đi 30 dặm làm 1 trình, mà cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi tốn kém đã như thế rồi. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quân lại ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ lấy lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬), nhờ các tướng lại ở đó mà trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều sai đến trú tại phủ Giao Chỉ. Nay binh Nhật Nam ít lại không được huấn luyện, giữ không đủ đánh không xong, có thể dời hết quan lại dân chúng lên phía Bắc nương tựa Giao Chỉ, sau khi yên tĩnh mới lệnh cho về. Chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh nhau, kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong tước tặng đất. : : Trước đây Thứ sử Tinh Châu là người Trường Sa tên Chúc Lương (祝良) tính dũng quyết. Lại có người Nam Dương tên Trương Kiều trước ở Ích Châu có công phá giặc, thảy đều dùng được. Xưa Văn Đế gia phong Ngụy Thượng ở Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú, nay nên bái Lương... theo đường tắt mà nhậm chức ngay." Bấy giờ bái Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều, Lương đến, đi xe một ngựa vào đất giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, vùng ngoài Lĩnh lại bình định. Về sau nhiều lần có phản loạn, binh châu quận thảo phạt rồi hàng phục chúng. Đến năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 đời Linh Đế (năm 170 dương lịch), Thái thú Út Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) lấy ân tín chiêu hàng hơn 100,000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều thụ quan đái, mở đặt 7 huyện. Tuy nhiên từ nhà Hán về sau, dù lập ra châu huyện, nhưng tục người Lão (獠) khó trị, đại suất vài năm lại loạn 1 lần, nhưng chung quy không đủ làm đại họa. ====Nam Man Tự Lược (南蠻序略)==== Nam Man (南蠻). Vào thời Đường (唐 - Đường Nghiêu) và Ngu (虞 - Ngu Thuấn), họ cùng triều đình lập minh ước, nên gọi là Yếu phục (要服). Thời nhà Hạ (夏) và nhà Thương (商), họ dần trở thành mối lo nơi biên cảnh. Đến thời đại nhà Chu (周), bè đảng bộ chúng ngày càng thịnh. Cho nên kinh ''Thi'' (詩) nói: "Ngu muội thay Kinh Man (荊蠻), coi đại quốc là thù." Đến thời Sở Vũ vương (楚武王) (năm 740 – 690 trước Công nguyên), quân Man (蠻子) cùng quân La (羅子) cùng đánh bại quân Sở, giết chết tướng là Khuất Hà (屈瑕). Quân Sở sau đó chấn hưng lại, các tộc ấy bèn thuộc về nước Sở (楚). Đến khi Ngô Khởi (吳起) làm Tướng quốc cho Sở Điệu vương (楚悼王) (năm 401 – 381 trước Công nguyên), phương Nam thôn tính cả Man (蠻) và Việt (越), chiếm được đất Động Đình (洞庭) và Thương Ngô (蒼梧). Tần Chiêu vương (秦昭王) sai tướng phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di (蠻夷), đặt ra quận Kiềm Trung (黔中). Sau khi nhà Hán (漢) hưng thịnh, thỉnh thoảng có giặc cướp, các tộc Di phương Tây Nam (西南諸夷) thuộc nhóm Dạ Lang (夜郎) thảy đều bị bình định và lập thành quận huyện. Thời Công Tôn Thuật (公孫述) (năm 25 – 36 dương lịch), các đại tính người Dạ Lang (夜郎) đã giúp nhà Hán giữ vững biên cảnh. Đầu thời Hậu Hán (後漢), họ theo sông Phiên Ngung (番禺江) dâng đồ cống nạp. Năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 – 56 dương lịch) đời Quang Vũ (光武), thủ lĩnh người Man (蠻) ở Vũ Lăng (武陵) là Đơn Trình (單程) đánh phá lớn các quận huyện, tướng nhà Hán là Lưu Thượng (劉尚) đánh bại trận, trải qua mấy năm mới bình định được. Thời Thuận Đế (順帝) (năm 125 – 144 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng tăng thuế khóa, người Man lại huy động cả chủng tộc làm phản, giết chết quan lại địa phương (hương lại). Thời Đông Tấn (東晉) (năm 317 – 420 dương lịch), người Man vùng Miện Trung (沔中) nhân sau loạn Lưu Thạch (劉石 - Lưu Uyên và Thạch Lặc) đã dần dời xuống phía Nam Lục Hồn (陸渾), ở khắp đầy các sơn cốc. Từ thời nhà Tống (宋), nhà Tề (齊) về sau, 2 châu Kinh (荊) và Ung (雍) đều đặt chức Hiệu úy để vỗ về yên định vùng đó. Các tù trưởng thủ lĩnh người Man ở quận thường nhận phong tước của Nam Bắc triều (南北朝). Đến cuối thời Hậu Ngụy (後魏), mối họa bạo loạn càng thêm dữ dội, chúng tiếm xưng là Hầu là Vương, đóng giữ các đường hẻm núi (hiệp lộ), làm đứt đoạn đường đi của lữ khách. Chu Vũ Đế (周武帝) (năm 560 – 578 dương lịch) sai Lục Đằng (陸騰) đánh tan quân ấy. Tộc Lão (獠) ban đầu nhân lúc loạn Lý Thế (李勢) đất Thục, sau đó từ sơn cốc vùng Thục Hán (蜀漢) đi ra xâm nhiễu các quận huyện. Đến thời nhà Lương (梁) (năm 502 – 557 dương lịch), các châu quận hằng năm đều đi đánh tộc Lão (獠) để thu lợi. Đến khi Hậu Chu (後周) bình định vùng Lương (梁), Ích (益), từ đó họ dần đồng hóa với người Hoa. Riêng vùng Đông Tạ (東謝), Tây Tạ (西謝) ở Kiềm Trung (黔中), từ cổ chưa từng làm thần tử của Trung Quốc. Từ sau năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) đời Đại Đường (大唐), triều đình đặt ra các châu Kiềm Mâu (羈縻州) để thống lĩnh vùng này. ===Tống Sử (宋史)=== ==== Man Di truyện tự (蠻夷傳序)==== "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi (tứ duệ), chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu." Các tộc Man Di (蠻夷) phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ (thượng du) để lấy về vùng đất cằn cỗi (bất mao), làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh (tù trưởng), khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di (蠻夷), ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn (tinh ngô) thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực (đồ độc) của người dân đã sâu nặng lắm rồi. Nhà Tống (宋) cậy vào văn giáo mà xem nhẹ vũ bị, ấy há phải là cái đạo trị vùng hoang phục (hoang phục) của các bậc tiên vương sao? ===Đại Học Diễn Nghĩa Bổ (大學衍義補) của Khâu Tuấn (邱濬)=== ====Tứ phương Di lạc chi tình (四方夷落之情 - Tình hình các bộ lạc Di ở bốn phương)==== Kinh ''Thuấn Điển'' (舜典) chép: "Đuổi Tam Miêu (三苗) đến Tam Nguy (三危)." '''Chu Hy (朱熹)'''' nói: "Tam Miêu là tên nước, ở giữa vùng Kinh (荊), Dương (揚) thuộc Giang Nam, dựa nơi hiểm yếu mà làm loạn. Đuổi (窜) tức là xua đuổi và giam cầm ở đó." "Chia tách và xua đuổi Tam Miêu về phương Bắc." '''Chu Hy'''' nói: "Bắc (北) cũng như là Bối (背 - quay lưng), kẻ thiện thì giữ lại, kẻ không thiện thì xua đuổi đi, khiến chúng chia lìa quay lưng mà đi." Kinh ''Ích Tắc'' (益稷) chép: "Bọn Miêu ngoan cố không chịu làm việc, Đế hãy lưu tâm nhé! Đế phán: 'Dẫn dắt đức của ta, ấy là công của ngươi, thảy đều trật tự.' Cao Đao (皋陶) bấy giờ kính cẩn giữ trật tự ấy, bèn thi hành tượng hình (hình phạt biểu trưng), thật là sáng suốt." '''Thái Thẩm (蔡沈)'''' nói: "Trong thì Hầu Mục, ngoài thì Phiên Di thảy đều thực hành có công, duy chỉ Tam Miêu ngoan cố kiêu mạn không tuân theo, không chịu làm việc, Đế nên lo nghĩ về việc đó. Đế nói trong bốn biển kẻ nào thực hành đức giáo của ta thì đó là công lao của ngươi (Cao Đao) làm cho có trật tự, nên kẻ ngoan cố không phục tùng thì Cao Đao bấy giờ kính cẩn thừa hành cái trật tự công lao của ngươi, thi hành tượng hình thật sáng suốt. Có kẻ cho rằng bọn Miêu hung hãn, sáu quân (lục sư) chinh phạt mà vẫn nghịch mệnh, há chẳng phải tượng hình của Cao Đao có thể làm được sao? Ấy là chưa biết trật tự binh hình của thánh nhân và gốc ngọn việc trị tộc Miêu của Đế Thuấn vậy. Đại để lấy tượng hình làm uy mà Miêu vẫn không phục, sau đó mới mệnh cho Vũ (禹) chinh phạt. Chinh phạt không phục, lại tăng cường tu sửa đức giáo, đợi khi chúng đến quy phục, sau đó mới chia tách chúng ra." Kinh ''Vũ Cống'' (禹貢) chép: "Tam Nguy (三危) đã yên ổn, Tam Miêu (三苗) cả thảy đều có trật tự." '''Thái Thẩm'''' nói: "Tam Nguy chính là nơi Thuấn đuổi Tam Miêu đến." '''Lã Tổ Khiêm (呂祖謙)'''' nói: "Tam Miêu có tội tự đáng bị xua đuổi, nhưng phát chính thi nhân tự nhiên phải ban tới chúng, nên khi trị thủy đến Tam Nguy cũng đã khiến chúng an cư, đạt được trật tự lớn. Người đời sau cho rằng ném chúng ra bốn cõi (tứ duệ) là vứt bỏ chúng, đó không phải tâm của thánh nhân." '''Thần (Khâu Tuấn) xét rằng:'''' Những gì kinh sử gọi là "Man" (蠻) đa phần chỉ các tộc Di ở phương Nam. Di Địch thấy trong kinh điển bắt đầu từ Tam Miêu, cái gọi là "Miêu dân" (苗民) thì các thiên ''Thuấn Điển'', ''Vũ Mô'', ''Ích Tắc'', ''Vũ Cống'', ''Lã Hình'' đều có đủ. Đế Thuấn lúc mới nhận truyền ngôi đã đứng đầu việc đuổi chúng đến Tam Nguy, đến thời Vũ trị thủy, những kẻ bị đuổi đã có trật tự lớn, kẻ ở lại vẫn không chịu làm việc, nên Đế mệnh Vũ đi chinh phạt, nhưng chúng vẫn nghịch mệnh, đợi đến khi Vũ rút quân chúng mới đến quy phục, bấy giờ mới xét thiện ác mà chia tách chúng ra. Lúc ấy, điều đáng lo là người Man phương Nam, nên Thuấn mệnh Cao Đao làm Sĩ (quan hình pháp), đứng đầu là cử việc "Man Di làm rối loạn Hoa Hạ" làm lời nói. Cái gọi là Man ấy chính là Tam Miêu vậy. Ban đầu, chọn lấy kẻ cực ác mà xua đuổi, sau khi đuổi rồi, lại đối với kẻ ở lại mà chia tách giữa thiện và ác. Kẻ thiện thì khen thưởng mà ban thêm ơn, kẻ ác thì trừng phạt mà dùng thêm uy. Ban ơn thì chúng biết hướng mộ mà làm điều thiện; dùng uy thì chúng biết sợ hãi mà không dám làm điều ác. Đó chính là quyền biến vi diệu của thánh nhân. Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm, trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là cái gọi là Man vậy. Trong đó kẻ khinh捷 (nhanh nhẹn) nhất gọi là Miêu (貓/苗), người thuyết cho rằng đây chính là hậu duệ của Tam Miêu. Nhưng người Miêu ngày nay nương núi mà ở, tính nết không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Xem lời thề của Vũ (Vũ thề sư), kể tội tộc Miêu rằng "quân tử ở nơi hoang dã, tiểu nhân tại vị", tức là tộc Miêu thời ấy có quốc đô quan thuộc, chỉ là việc dùng người bị đảo lộn mà thôi, không giống như người Miêu ngày nay như loài vượn khỉ, không định cư, không nghề nghiệp thường xuyên, không thống thuộc lẫn nhau. Đầu triều đại (nhà Minh), tại Hồ Bắc, Xuyên Đông lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Châu (思州), Bá Châu (播州), lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (quan bản xứ) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa chia tách của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" trong kinh ''Vũ Cống''. Tần Chiêu vương (秦昭王) sai Bạch Khởi (白起) phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di, đặt quận Kiềm Trung (黔中). Nhà Hán hưng, đổi thành quận Vũ Lăng (武陵), hằng năm lệnh cho người lớn nộp 1 xấp vải, trẻ nhỏ nộp 2 thước, gọi là "vải tông" (賨布). '''Thần xét rằng:'''' Quận Vũ Lăng thời Hán chính là các châu quận Thường Đức (常德), Lễ (澧), Thần (辰), Nguyên (沅) ngày nay vậy. Năm thứ 33 (năm 214 trước Công nguyên) thời Thủy Hoàng, phát những kẻ từng trốn tránh, ở rể, người buôn bán đi đánh Nam Việt (南越), lấy đất ấy đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象). Lại có Mân Việt vương Vô Chư (無諸) và Việt Đông Hải vương Dao (搖), tổ tiên họ đều là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn (勾踐), họ Ô (騶). Tần đã gộp thiên hạ, thảy đều phế làm quân trưởng, lấy đất ấy làm quận Mân Trung (閩中). '''Thần xét rằng:'''' Tần gộp 100 quận, vùng Lĩnh Nam có 3 quận: Quế Lâm nay là đất Quảng Tây (廣西); Nam Hải nay là đất Quảng Đông (廣東); Tượng quận nay là đất An Nam (安南). Từ thời Tần, Hán đến nay, lý do chúng gây hại cho Trung Quốc không phải vì ở ngoài biên ải có giới hạn, mà vì chúng không thể vượt biên giới vào nội địa ta. Đất của tộc Việt, thời cổ chủng loại thực nhiều, nên có danh xưng Bách Việt (百越), gồm Nam Việt (南越), Âu Việt (甌越), Mân Việt (閩越), Đông Việt (東越), Ư Việt (於越), đất ấy không chỉ một nơi, người ấy không chỉ một loại. Nhưng từ thời Tần, Hán đến nay, những loại như Ư Việt, Đông Việt, Âu Mân thảy đều đã vào Trung Quốc từ lâu, không khác gì các nước Tề, Lỗ, Tống, Vệ. Duy chỉ Nam Việt, đất phía Tây nối với Hồ Tương, thẳng tới Điền (Vân Nam), Quý (Quý Châu), ranh giới Tường Kha (牂牁), Việt Huề (越巂), núi sâu đất hiểm, vẫn còn kẻ chưa thảy đều quy về vương hóa, thường xuyên gây hại cho cư dân quận ấp. Đại để Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay, các quận ấp đều nằm xen kẽ giữa các dãy núi, ở lẫn với Man Di, chỉ có chỗ hiểm chỗ bằng khác nhau mà thôi. Thỉnh thoảng chúng lén lút nổi lên, khó lòng phòng bị. Thời Hán Vũ Đế, muốn đánh Mân Việt. Hoài Nam vương An (安) dâng thư nói: : "Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt, dân khổ vì binh đao tất sinh trộm cướp. Binh đao là việc hung hiểm, một phương có biến bốn mặt đều lo. Thần e biến cố phát sinh, gian tà nổi dậy chính từ đây vậy. Thần nghe binh của Thiên tử chỉ có chinh phạt chứ không có chiến đấu, ý nói không kẻ nào dám chống lại. Nếu để người Việt gặp may mà chống lại nhan sắc của bậc chấp sự, khiến binh lính phải phục dịch, chỉ cần 1 người không trở về, dù có lấy được đầu Việt vương, thần vẫn trộm lấy làm hổ thẹn cho nhà Đại Hán." '''Thần xét rằng:'''' Mân Việt nay là đất Phúc Kiến (福建), đã nhập vào bản đồ (chức phương) từ lâu, không còn như thời Hán nữa. Nhưng lời Lưu An nói về phương Nam ẩm độc, binh vào đất ấy chưa đợi đao thương đã tự chết bệnh, cùng với việc binh đến thì ẩn trốn, binh lui thì tụ họp, đánh lâu thì sĩ tốt mệt mỏi, dân khổ binh đao... thì tình trạng chướng lệ rừng núi và thực trạng người Miêu, người Lão ở Hồ Nam, Quảng Tây, Vân Quý ngày nay thực sự không khác gì thời Hán. Minh chủ tại vị, lấy thiên địa làm lượng, vũ trụ làm cảnh giới, gặp lúc Di phương xa chưa được giáo hóa thì như lời Lưu An, dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai để trấn phủ ngoại phương, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành; dùng trách nhiệm của 1 sứ giả thay cho 100,000 quân, đừng để dân Trung Quốc phải chịu độc của rắn rết mãnh thú, nhuốm bệnh thổ tả hoắc loạn, cha già rơi lệ, con côi gào khóc, đón thây từ dặm xa, bỏ xương nơi hoang vắng. Điều Lưu An lo nghĩ không chỉ là cái phúc của Di phương xa, mà thực sự là cái phúc của Trung Quốc vậy. Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) đời Nguyên Đế, các quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) đại suất mấy năm lại phản 1 lần, giết quan lại, nhà Hán thường phát binh đánh định. Đến lúc này, các huyện làm phản liên năm không định. Vua bàn với quần thần muốn phát đại quân. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) nói: : "Thần nghe đức thịnh trị của Nghiêu, Thuấn. Vũ vào cõi thánh nhưng không ưu tiên bằng đức của ba vị thánh. Đất không quá mấy ngàn dặm, phía Tây đến Lưu Sa, phía Đông sát biển, phía Bắc và Nam thanh giáo ban đến bốn biển. Ý nói muốn nhận thanh giáo thì trị, không muốn thì không cưỡng trị. Đất thời Ân, Chu phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương. Thế nên tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, người vui với sự sống, người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, khiến thiên hạ tan rã. Hiếu Vũ hoàng đế rèn binh mã để dẹp bốn Di, thuế dịch phiền trọng, giặc cướp cùng nổi lên, thảy đều do mở đất quá rộng, chinh phạt không nghỉ vậy. Nay dân Quan Đông khốn quẫn, lưu lạc trên đường, đến mức gả vợ bán con, luật pháp không thể cấm, đạo nghĩa không thể chỉnh, đó là nỗi lo của xã tắc. Lạc Việt bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy. Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. : : Vả lại lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa, mất quân mà không có công sao? Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ qua." Bèn bỏ Châu Nhai, chuyên tâm lo lắng cứu tế vùng Quan Đông. Vua hỏi đại thần, Thừa tướng Vu Định Quốc (于定國) cho rằng: "Trước đánh Châu Nhai hưng binh liên năm, Hiệu úy và Thừa phàm 11 người, kẻ về chỉ có 2, tốt sĩ và phu dịch chết hơn 10,000 người, tốn kém hơn 300,000,000 mà vẫn chưa thể khiến thảy đều hàng phục. Nay Quan Đông khốn quẫn, dân khó lòng dao động." Lời bàn của Quyên Chi là đúng. Chiếu rằng: "Dân Châu Nhai ai mộ nghĩa muốn nội thuộc thì cho ở lại, ai không muốn đừng cưỡng ép." '''Tô Thức (蘇軾)'''' nói: "Dương Hùng có câu: 'Việc bỏ Châu Nhai là sức của Quyên Chi, nếu không loài vảy mai (lân giới) đã thay mũ áo (quán thường) của ta', lời này dùng thời bấy giờ thì được. Từ cuối đời Hán đến Ngũ Đại, dân Trung Quốc lánh nạn đa phần ở đây, nay lễ nhạc văn minh đã hiện rõ, sao có thể lại nói chuyện bỏ rơi được?" '''Thần xét rằng:'''' Quyên Chi nói không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị thảy đều đừng làm. Thần trộm nghĩ phàm những vùng đất ngày nay không phải của tổ tông để lại thì có thể dùng kế của Quyên Chi, nếu là vùng đất tổ tông lúc mới được thiên hạ đã đưa vào bản đồ thì sao có thể cho người khác được? Huống hồ vốn là nơi đất đai màu mỡ của Trung Quốc, ải hiểm yếu, người xưa gọi là "một tấc sơn hà một tấc vàng" sao? Nếu không đến mức cực kỳ bất đắc dĩ, và sự sống còn an nguy của đất nước quyết định ở đây thì không thể nhẹ nhàng nói chuyện bỏ rơi. Đầu năm Vĩnh Hòa (永和) đời Thuận Đế (năm 136 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng dâng thư rằng người Man Di thảy đều phục tùng, có thể ví như người Hán mà tăng thuế khóa, người bàn thảy đều cho là được. Duy có Thượng thư lệnh Ưu Hủ (虞詡) tâu rằng: : "Từ cổ thánh vương không coi kẻ mặc áo quần khác lạ (dị phục) là thần tử, không phải đức không đến được, uy không ban được. Mà vì tâm địa như cầm thú của chúng tham lam, khó dùng lễ mà dẫn dắt. Vì thế mà dùng chính sách kiềm chế (kiềm mâu) vỗ về, phụ thuộc thì nhận mà không cự tuyệt, phản loạn thì bỏ mà không đuổi theo. Điển cũ của tiên đế, thuế cống nhiều ít đã có từ lâu. Nay đột ngột tăng thêm tất có oán hận phản loạn, tính toán cái được không bù đắp được cái mất." '''Thần xét rằng:'''' Loại người Hoa và Di khác nhau, nhưng cái tâm tham được và tiếc cho thì giống nhau vậy. Đế vương điều khiển Di Địch, thảy đều lấy nghĩa thắng chúng mà không tính toán cái lợi. Cái cũ đã có mà không lấy thì chúng dám tự tiện, cái cũ không có mà lấy thì chúng tất dẫn đến oán vọng. Ta chỉ tuân theo cái cũ mà thôi, ngoài lệ cũ không thêm mảy may, nhưng lại phải nhân lúc chúng thiên tai thiếu thốn mà thỉnh thoảng có sự buông bỏ, không đòi hỏi đủ đầy, không cự tuyệt sự dối lừa của chúng. Trong năm Vĩnh Hòa, Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) cùng châu quận thảo phạt Khu Liên (區憐)... hơn 1 năm không thắng. Vua triệu bách quan hỏi phương lược, thảy đều bàn sai đại tướng phát 40,000 quân các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự đến đó. ''''Lý Cố (李固)'''' bác lại rằng: : "Giặc cướp Kinh, Dương kết bè không tan, Trường Sa, Quế Dương mấy lần bị trưng phát, nếu lại làm náo động tất sinh họa khác. Người Diễn, Dự đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến phản trốn. Phương Nam nóng ẩm, lại có chướng khí, kẻ chết chắc chắn 4 đến 5 phần 10. Đi xa vạn dặm sĩ tốt mệt mỏi, đến được Lĩnh Nam không còn sức đánh. Quân đi mỗi ngày 30 dặm, mà Diễn, Dự cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới, mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực tướng lại lừa ngựa. Nơi đóng quân người chết chắc chắn nhiều, đã không đủ chống địch lại phải phát thêm quân, ấy là cắt lòng dạ để bù chân tay. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quan lính ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ làm khổ lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều nhờ các tướng lại đó, trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú. Dời quan dân Nhật Nam lên Bắc dựa vào Giao Chỉ, chiêu mộ người Man khiến chúng tự đánh nhau, vận chuyển vàng lụa làm kinh phí. Kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong hầu tặng đất." Bốn phủ thảy đều theo lời bàn của Lý Cố. Bèn bái Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, chúng thảy đều hàng phục tan rã. Lương đến Cửu Chân, đi xe một ngựa vào giữa quân giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, người hàng phục mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng phủ sở, vùng ngoài Lĩnh lại thái bình. '''Thần xét rằng:'''' Lời bàn này của Lý Cố nói về cái tệ của việc dùng binh phương Nam, trúng thiết thực tình, khiến người đời sau đọc sử đến đây thấy rõ như chính mình trong hàng quân, tận mắt thấy việc ngàn năm như một ngày vậy. Đến như lời ông nói về việc "phát tướng vô ích, châu quận có thể tin cậy" đều là những minh chứng đã hiện rõ. Nhưng về sau các quan cai quản ở đó nhậm chức không lâu đã rời đi, người Man Lão biết họ đi nhanh không thể dựa dẫm, mà quan lại sau này chưa chắc đã vậy, thường nửa tin nửa ngờ, nên tuy tạm hàng mà lại phản. Xin lấy hai sông Tả, Hữu Giang (左右兩江) ở Quảng Tây ngày nay làm ví dụ. Đất hai sông rộng 2,000 đến 3,000 dặm, quản辖 (quản hạt) binh dũng (狠兵) không dưới 10 mấy vạn, nay đặt làm 4 phủ, 37 châu, quan chính các phủ châu thảy đều lấy người bản xứ (thổ nhân) đảm nhiệm, còn các chức tá nhị, mạc chức thì dùng quan từ nơi khác đến (lưu quan). Cho nên trong hơn 100 năm qua, chưa nghe thấy có việc tụ tập xâm lược. Mà những kẻ gây hại cho châu huyện thảy đều là những người không thuộc sự quản thúc của Thổ quan, ở xen kẽ trong châu huyện. Trong đó tuy cũng có chức ti带 quản hoặc thiết lập Thổ quan Tuần kiểm, nhưng Lưu quan không có quyền, chúng biết họ ở không lâu nên khinh lờn; còn cái gọi là Thổ tuần kiểm thì quan thấp lực mỏng, không đủ sức kiềm chế nhau. Thần ngu nghĩ kế sách chế ngự thuần phục ngày nay không gì gấp bằng việc lập Thổ quan, xin dùng lệ của hai sông Tả, Hữu Giang mà lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ. Đại để việc đặt phủ châu ở hai sông Tả, Hữu là chuyên giao đất ấy cho một họ, ý thần nói "lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ" là lập ra nhiều quan để phân chia quyền lực. Phàm người Dao, Trọng ngày nay ở lẫn với dân biên tịch trong châu huyện, chỉ là chúng dựa núi rừng mà ở mà thôi. Nay nên đặc biệt sắc lệnh đại thần trong ngoài thân hành đến đất đó, tập hợp các tù trưởng hào kiệt, dụ bằng ơn uy triều đình, sẽ trao cho chức quan, như lệ Thổ quan hai sông Tả Hữu, cho con cháu đời đời hưởng dụng. Kẻ nào dẫn dắt chủng tộc từ 500 tên trở lên nội thuộc thì trao cho chức Tri châu; dưới 400 tên tùy lượng trao chức Đồng tri, Phán quan, Lại mục... Các quan ấy không hạn định số lượng, cũng như chế độ Vệ sở. Khi họ nộp tờ khai không cần khám thực, cấp ngay mũ áo, sai quan thuộc dùng xe ngựa trống nhạc đưa về nơi cư ngụ. Dần dà cho họ chọn đất lập công sở, hợp sức muôn người mà thành. Thành xong dâng tấu xin ấn, cho cử ra một người được muôn người tin phục trong số đó để giữ ấn, thì họ nhận tước mệnh triều đình tất biết cảm mộ, mà đồng loại thảy đều kính trọng. Kẻ nào không phục, họ dựa uy quốc gia hợp lực trừ khử không khó vậy. Tích lâu thành tục, họ thảy đều mộ phong thái Hoa hạ, học lễ giáo mà biết giết chóc cướp bóc là sai. Huống hồ lập ra nhiều quan, thế chia lực cân, tự đủ kiềm chế nhau, không thể làm loạn, mà trong đó không thể không có việc tự tranh tụng. Phải bẩm báo lên thượng ty, tấu về triều đình, thì thế quốc gia càng tôn quý, không nhọc binh đao mà một phương yên tĩnh. Nhưng điều lo ngại gây họa về sau là ranh giới không rõ, lúc khác không thể không tranh giành. Nên nhân lúc ban đầu sai quan hội cùng Thổ tù phân chia địa giới, hoặc lấy khe suối, hoặc lấy gò núi, ngay trên ranh giới lập đá làm dấu, viết chữ lớn khắc sâu rằng: "Từ đây đến đây là giới của hữu ty, đến đây là giới của thổ quan". Trong đó đất của dân có lọt sâu vào cảnh giới của họ thì lấy đất ngoài nơi không thu thuế mà đổi cho dân, tùy rộng hẹp không cần đo đạc lại. Đất do Thổ tù thống lĩnh thì để họ tự nhận nộp thuế lương, định làm ngạch số, ngày sau không được tăng thêm. Xử trí như thế chắc có lẽ vĩnh viễn không có lo âu chăng? Trong năm Trinh Nguyên (貞元) (năm 785 – 805 dương lịch) đời Đường, thủ lĩnh động Hoàng (黃洞) ở Quảng Tây là Hoàng Thiếu Khanh (黃少卿) đánh Ung Quản (邕管), chiếm các châu Khâm (欽), Hoành (橫), Quý (貴)... mấy lần hàng mấy lần phản. Đầu năm Trường Khánh (長慶) (năm 821 dương lịch), Kinh lược sứ Nghiêm Công Tố (嚴公素) lại xin thảo phạt. Binh bộ Thị lang ''''Hàn Dũ (韓愈)'''' kiến ngôn: : "Giặc họ Hoàng đều là bọn Di Lão, không có thành quách để ở, dựa núi dựa hiểm, thường ngày cũng tự kiếm sống, gấp thì tụ tập bảo vệ nhau. Gần đây do Kinh lược sứ Ung Quản đa phần không được người tốt, đức đã không thể vỗ về, uy lại không thể lâm chế, xâm khi chiếm đoạt, dẫn đến oán hận. Tính người Man Di dễ động khó an, bèn dẫn đến cướp bóc châu huyện, xâm hại người lành, hoặc để trả thù riêng, hoặc tham lợi nhỏ, khi tụ khi tán, chung quy cũng không thể thành việc lớn. : : Việc chinh thảo gần đây vốn bắt đầu từ Bùi Hành Lập (裴行立), Dương Mân (陽旻), hai người này vốn không có viễn lự thâm mưu, ý tại cầu công nhận thưởng, cũng nhân thấy lúc giặc chưa tụ tập, cho rằng lẻ tẻ có thể đánh tan ngay, tranh nhau hiến mưu kế, chỉ sợ chậm chân. Triều đình tin theo bèn cho phép. Từ khi dùng binh đến nay đã trải qua 2 năm, trước sau tâu báo giết bắt tính không dưới 10,000 đến 20,000 người. Nếu thảy đều không phải giả thì giặc đã hết sạch rồi, mà nay giặc vẫn như cũ, đủ rõ sự dối trá. Lại từ khi Nam chinh đến nay, đồ đảng giặc cũng bị thương tổn nhiều, xét tình lý chúng chắc đã chán khổ sâu sắc. : : Đại để Lĩnh Nam người thưa đất rộng, nơi giặc ở lại càng hoang vu hẻo lánh. Giả sử giết sạch người, chiếm sạch đất ấy, đối với quốc kế cũng chẳng có ích gì. Hãy bao dung kiềm chế, ví chúng như cầm thú, đến thì phòng ngự, đi thì không đuổi, cũng chẳng tổn hại thế sự triều đình. Xin hãy chọn người có tài năng uy tín, am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên vĩnh viễn không có việc xâm lấn phản loạn." '''Thần xét rằng:'''' Lời Hàn Dũ nói về việc dùng binh đã 2 năm, tâu báo giết bắt 10,000 đến 20,000 người, nếu không phải giả thì giặc đã hết sạch... lời này không chỉ là cái tệ thời bấy giờ. Nhân tình cổ kim không khác xa nhau, lấy xưa biết nay, duy mong Thánh minh lưu tâm, gặp lúc có tiệp báo phương xa hãy lấy lời này mà nghiệm, sẽ thấy rõ thực giả vậy. Đến như việc xin chọn người tài năng uy tín am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên không có việc phản loạn, lời này thực là lương kế xử trị Nam Man từ cổ chí kim. Đại để Nam Man khác với Bắc Địch, tính người Man âm nhu, dựa núi làm thế, quân đến thì vào núi trốn xa, quân đi thì ra ngoài cướp bóc, như loài ruồi muỗi, vung quạt thì bay tán, thu quạt thì tụ lại, tiêu diệt rất khó. Vả lại đất ấy nhiều chướng lệ, người Trung Nguyên sợ vào đất đó, chưa đến đã khiếp sợ, một khi vào khí hậu không đồng đều, ẩm ướt cực độ, thường thường chưa đánh đã chết, vừa không thể đánh nhanh vừa không thể đánh lâu, nên từ cổ dùng binh chưa từng đắc chí lớn ở Nam Man vậy. Tuy nhiên, cái họa trong thiên hạ thảy đều có lý do. Biết lý do mà chặn cửa, tuyệt gốc thì họa tự dứt. Hơn nữa những kẻ gọi là "Dao Trọng" (猺獞) ngày nay không phải có cường tông hào tộc, cũng không thâm mưu viễn lự, không muốn tranh thành ấp, không muốn thu nhân tâm, chẳng qua muốn cướp đoạt tài vật mà thôi. Nơi chúng ở trong núi sâu rừng lớn, không xây cung thất, không dùng thê thiếp, không vì con cháu; tiền tài kiếm được sẽ dùng vào việc gì? Mà dùng thì sẽ giao thương ở đâu? Khiến người nội địa ta không giao thông với chúng thì tiền tài chúng kiếm được không có chỗ dùng, mà muốn dùng cũng không có chỗ bán. Kế sách ngày nay, nên sắc lệnh Trấn thủ Đô hiến đốc trách các ty Phan, Niết và các Thủ lệnh tướng lãnh nghiêm thúc quân dân thuộc hạ, không cho phép giao thông với giặc. Phàm quân dân ai vào sơn động làm ăn thì cho phép đến quan cáo tri, chở vật gì đến sơn động nào bán, quan ty cấp cho ấn thiếp làm chứng, không có thiếp không cho phép, bắt phải cam kết không mang theo khí vật cấm, chỉ cho phép lấy người, thóc gạo, thổ sản, không cho phép nhận bạc trắng và những vật đất ấy không sản xuất. Kẻ vi phạm đóng gông thị chúng, tịch thu tài vật. Thân thuộc hàng xóm biết tình mà không báo thì tội như nhau, ai báo cáo thì thưởng cho 1 phần 3 tài vật đó. Như thế chúng có vật không chỗ bán, sẽ không cướp hàng cầu tài, giết người lập uy nữa. Lại nghe những năm gần đây, thành ấp về đêm thường bị giặc lẻn vào, nếu không giết chết quan viên, cướp đi ấn tín thì thường giấu tội không báo. Suy nguyên lý do không phải chúng có tài mà do ta không phòng bị. Nên lệnh Trấn thủ Đô hiến Tổng binh quy hoạch phép giữ thành, hành xuống quân vệ hữu ty bảo họ tuân theo thì vĩnh viễn không mất. Xét lý do lẻn vào đa phần do quân vệ hữu ty đùn đẩy nhau, đêm tối mất cảnh giác nên thành ấp thường đến mức thất thủ. Đó không phải bên trong không lương thảo, ngoài không cứu viện, lực kiệt không chống nổi. Từ nay về sau phàm nơi có thành trì, trách lệnh quan chính tá quân vệ hữu ty viết tờ lãnh trạng, bắt họ cùng thành còn mất, có thất thủ quyết không nhẹ tha, thì họ biết tội trách thâm trọng không dám khinh suất, giặc không thể lẻn vào được. Cái gọi là quy hoạch phép giữ thành: mỗi thành tất làm nội viên (tường trong), rào gai dựng sấn thảy đều làm 1 cửa, đêm tối khi đã lên thành giữ thì không cho xuống nữa, phải đợi bình minh mới mở cửa, chúng biết không đường sống thì ngủ không yên chiếu vậy. Lại nuôi sẵn chó sữa thuần phục chúng, cứ mỗi 5 đóa dùng gỗ làm hòm treo một con chó sủa, hơi có tiếng gió chó đã biết cảnh giác. Chúng không thể bắc thang leo tường, thì kế lẻn vào không còn chỗ thi triển. ''Tống Sử'' chép: "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi, chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu. Các tộc Man Di phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ để lấy về vùng đất cằn cỗi, làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh, khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di, ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực của người dân đã sâu nặng lắm rồi." '''Thần xét rằng:'''' Thời Đường Ngu, người Di ở ba biên Đông, Tây, Bắc thảy đều không thấy chép, mà thấy trước nhất trong kinh điển là tộc Miêu ở phương Nam. Nhưng người Di ở ba phương thảy đều giáp biên một mặt, người Di ở ngoài mà trong đó là đất của vua; duy chỉ đất biên ải phương Nam thì người Di ở lẫn trong đất vua, xen kẽ với cư dân, nên cái hại đến dân lại càng dễ, không giống như giặc ba biên có lúc đến, có nơi xâm, có hành trình, trước đó có thể phòng bị, lúc đến không dẫn đến cuống cuồng mất phương hướng. Thời Nhân Tông, ''''Địch Thanh (狄青)'''' xin đánh Nùng Trí Cao (儂智高), muốn có binh của các bộ lạc (phiên lạc) ở biên giới phía Tây đi theo. Có kẻ bảo phương Nam không hợp cho kỵ binh, Khu mật sứ Cao Nhược Nạp (高若訥) nói: "Các bộ lạc giỏi bắn, chịu gian khổ, lên xuống núi như đất bằng, nhân lúc chướng khí chưa phát mà xua nhanh phá chúng, tất thắng vậy." Thanh cuối cùng dùng kỵ binh phá giặc. '''Thần xét rằng:'''' Binh các bộ lạc lấy kỵ xạ vang danh thiên hạ, người Man phương Nam nghe thấy tự nhiên rụng rời, nhưng thần cho rằng dùng vào lúc có sự không bằng lúc không sự gặp kẻ Khương Hồ nội thuộc thì ưu ái nuôi dưỡng an trí vùng này, không chỉ hôm nay biên ải phương Nam cậy vào sức họ, mà cũng có thể tiêu trừ họa nội địa lúc khác. Đầu thời Tống, có lời tâu với Nhân Tông rằng: "Lĩnh Nam là vùng đất xa xôi, chướng lệ bốc lên, người phương Bắc đi lính trấn thủ kẻ đi 10 chết 9. Phát nhiều binh thì thiếu lương, ít thì việc không xong, gấp gáp cầu công thì người Man trốn biệt không chịu ra, lơi lỏng thì lại đến nhiễu người, ấy là nên có cách chế ngự vậy. Nay nghe phát Bắc binh hơn 10,000 người trấn thủ ngoài Lĩnh, dưới thấp trên hầm bệnh chết chắc nhiều, liệu các tộc Man không đóng lâu, đánh chúng tất tán. Thần cho rằng không bằng chọn 1 đến 2 kiện tướng, hằng năm chỉ giữ 5,000 Bắc binh, chia đóng nơi yếu hại, tìm hơn 10 thiện lại chia đặt các châu, mộ thổ nhân làm hương quân, miễn thuế dịch cho họ, xem châu lớn nhỏ, hộ nhiều ít mà định số lượng, thống lĩnh bộ ngũ, dạy cách tiến thoái, thảy đều lấy sở trường của họ mà đuổi bắt nhau. Cứ 100 người thì cho 30 Bắc binh đi kèm, dùng cung mạnh binh sắc hỗ trợ. Mùa Đông Xuân thì sai thâm nhập nhiễu nơi ở của chúng; mùa Hạ Thu thì sai giữ kỹ phòng chúng cướp bóc. Chúng tuy có thể dụ dỗ kẻ vong mạng Trung Quốc, nhưng xét cho cùng ăn hết tất phải ra cướp. Nếu chúng đến, đánh giết được nhiều thì suốt đời chúng kinh hãi. Uy đã lập rồi sau đó mới bàn chuyện chiêu hàng. Thề với chúng thì bền, cho làm thần tử thì lâu, hẹn xa 5 năm, gần chỉ 1 năm, phương Nam vô sự vậy." '''Thần xét rằng:'''' Pháp trị Nam Man khác với Bắc Địch, người thuyết cho rằng chinh Man không có kế toàn thắng, vì sao? Vì đất ấy nóng ẩm, chướng lệ cực độ, lính Trung Nguyên không hợp thủy thổ, không đợi qua gươm giáo tên đá đã tự mắc dịch mà chết, dù có triệu binh cũng không làm gì được vậy. Thần trộm nghĩ nạn chướng lệ chỉ xảy đến với kẻ nghèo yếu và kẻ không biết điều tiết mà thôi, còn như tướng soái cư quan hiển yếu thì hiếm gặp. Xin lệnh cho các trọng thần trấn giữ nơi đó đa phương hỏi han những kẻ bị đày ở đó lâu năm mà vẫn thọ và khỏe, hỏi họ cách ăn ở điều tiết, ghi chép chi tiết khắc bản ban cho sĩ tốt. Mỗi đội ngũ chọn 1 người chuyên trách việc đó, kẻ nào không tuân theo điều chỉ dẫn mà tự tiện không kiêng khem tất phải gia tội. Những thuốc men dụng cụ cần chuẩn bị hãy lệnh hữu ty cấp cho. '''Trương Thức (張栻)'''' khi làm Tri phủ Tĩnh Giang tâu rằng: "Bản phủ có 9 quận phòng biên mà Ung Quản (邕管) là trọng yếu nhất. Ung Quản rộng mấy ngàn dặm mà hai sông Tả Hữu Giang là trọng yếu nhất. Từ phía Tây Bắc Ung Quản có Tường Kha (牂牁), La Điện (羅甸), Tự Kỷ (自杞); từ phía Tây Nam có các nước An Nam (安南), thảy đều là nơi phải phòng bị. Nhưng lính trấn thủ Ung Quản không đầy 1,000 người, cái cậy làm hàng rào duy chỉ có các khe động ở hai sông Tả Hữu Giang cộng hơn 8,000 nơi, dân binh không dưới 100,000, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu cổ xưa. Cách Ung Quản gần nhất là hơn 300 dặm, xa nhất gần 1,000 dặm, cái cậy để duy trì vỗ về duy chỉ có 4 người Đề cử Đạo tặc Đô tuần kiểm, mỗi người mang hơn 100 lính trấn thủ làm cương lĩnh cho khe động, chức nhiệm ấy không thể gọi là nhẹ vậy. Có thể nào không tuyển chọn kỹ người, cẩn trọng giữ đất đó để làm kế lâu dài cho nơi xa xôi chăng!" '''Thần xét rằng:'''' Nhà Đường chia đất Lĩnh Nam làm 5 quản, mà Quế (桂), Ung (邕), Dung (容) thuộc Lĩnh Nam Tây Đạo; trong bản triều ta, cắt đất phía Tây Dung Quản thuộc Quảng Đông, còn Quảng Tây thực sự chiếm trọn hai quản Quế, Ung và một phần nhỏ Dung Quản. Ung chính là phủ Nam Ninh (南寧) ngày nay, đất ấy khống chế hai sông Tả Hữu Giang, thực là cổ họng của đất An Nam. Đầu triều đại nhân theo lệ cũ của đời trước, đặt 4 phủ Thái Bình (太平), Điền Châu (田州), Tư Minh (思明), Trấn An (鎮安) và 7 châu như Long Châu (龍州). Đầu năm Chính Thống (正統) (năm 1436 dương lịch) lại nâng Tư Ân châu lên làm phủ, dùng thổ nhân làm Thủ trưởng, còn Tá nhị Mạc chức dùng Lưu quan, duy chỉ phủ Thái Bình thảy đều dùng Lưu quan, còn các châu trực thuộc vẫn theo tục cũ. Phàm các châu quận kiềm chế này đã hướng nội từ lâu, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu xưa, gặp lúc trưng phát cũng cậy vào sức họ. Nhưng hiện nay lính trấn thủ khống chế chỉ có hai vệ Nam Ninh, Tuần Tượng và một sở Thái Bình, có vẻ đơn yếu. Xin như lời Trương Thức nói, nhân lúc vô sự hiện nay, tại đất này đồn binh làm trọng trấn, tuyển chọn giữ tướng, cẩn trọng giữ đất, làm kế lâu dài để tiêu biến biến loạn lúc chưa xảy ra. An Nam (安南) vốn là Giao Chỉ (交阯) cổ xưa. Tần gộp thiên hạ, tại đây đặt Tượng quận (象郡). Tần vong, Úy Nam Hải là Triệu Đà đánh chiếm lấy. Hán đặt 9 quận, ba quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Tượng (象) chính là đất Giao Chỉ. Sau người đàn bà Trưng Trắc (徵側) phản, sai Mã Viện bình định, lập cột đồng làm giới hạn nhà Hán. Nhà Đường bắt đầu chia Lĩnh Nam làm hai đạo Đông Tây, đặt Tiết độ, lập 5 quản, An Nam lệ thuộc vào đó. Thời Ngũ Đại, Lưu Ẩn gộp đất ấy làm Giao Chỉ Tiết độ sứ. Sau đó trong quản đại loạn, có Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) định yên. Con là Liễn (璉) nội thuộc, nhà Tống phong làm Giao Chỉ quận vương. Truyền cho con là Toàn (璿), bị Lê Hoàn (黎桓) đoạt lấy. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 4 (năm 993 dương lịch), phong Hoàn làm Vương. Hoàn chết, con là Long Việt (龍鉞) lập, em là Long Đĩnh (龍廷) giết Việt mà thay thế. Long Đĩnh muốn tu cống, An phủ sứ Thiệu Diệp (邵曄) bẩm báo, Chân Tông nói: "Vùng xa xôi tục lạ không hiểu thể thống, sao có thể trách được." Vẫn phong làm Vương, ban tên Chí Trung. Sau bị hạ thần Lý Công Uẩn (李公蘊) đoạt lấy, bèn phong Công Uẩn làm Vương. Họ Lý truyền 8 đời đến Hạo Hàm (昊旵), người Phúc Kiến là Trần Nhật Chiếu (陳日照) làm rể, bèn có được nước ấy. '''Thần xét rằng:'''' Giao Chỉ vốn là đất quận huyện của Trung Quốc từ thời Tần Hán đến nay, thời Ngũ Đại bị Lưu Ẩn thôn tính, đến đầu thời Tống mới phong làm Quận vương, nhưng vẫn ban cho quan tước huân giai của Trung Quốc như "Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát đẳng sứ" và ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa Công thần", thảy đều như bề tôi nội địa, chưa từng gọi là "Quốc" (nước). Về sau phong Nam Bình vương, tấu chương văn di vẫn xưng là "An Nam đạo", thời Hiếu Tông bắt đầu phong Vương xưng Quốc, mà thiên hạ nhân đó coi họ như Cao Ly, Chân Lạp, không còn biết đó là quận huyện của Trung Quốc nữa. Họ Trần truyền 12 đời đến Nhật Côn (日焜), bị Lê Quý Ly (黎季犛) chiếm ngôi. Quý Ly dâng biểu dối tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元), con là Thương (蒼) đổi tên, trá xưng họ Trần tuyệt tự, lấy danh nghĩa cháu ngoại cầu quyền giữ việc nước, Thái Tông hoàng đế ta đã nghe theo. Qua năm sau, cháu họ Trần tên Thiêm Bình (添平) chạy đến kinh sư tố thực, Quý Ly bèn dâng biểu xin đón Thiêm Bình về nước. Triều đình không ngăn sự dối trá, sai sứ đưa Thiêm Bình về. Đến biên giới, Quý Ly phục binh giết đi cùng cả sứ giả. Sự việc đến tai, Thái Tông cáo với trời đất thần kỳ, kể tội chinh phạt, sai Chinh Di tướng quân Chu Năng (朱能)... đi đánh. Năng chết trên đường, mệnh Phó tướng Trương Phụ (張輔) tổng lĩnh quân binh, bắt sống Quý Ly cùng con là Thương, Trừng hiến phù tại kinh sư. Ra chiếu tìm hậu duệ họ Trần để lập. Người trong nước thảy đều nói Quý Ly đã giết sạch, không ai kế thừa, thảy đều xin phục hồi quận huyện như xưa. Bèn như chế độ ngày nay, lập ba ty Đô, Bố, Án Giao Chỉ cùng các phủ châu huyện vệ sở, thảy đều như nội địa. Về sau có Lê Lợi (黎利), là kẻ Di trong đám Di vậy, quan trong triều che chở nên dẫn đến ngang tàng, dâng biểu xin lập hậu duệ họ Trần. Tuyên Tông hoàng đế nói đây là ý của Hoàng tổ (Thành Tổ), bèn nghe theo, bèn bỏ đất ấy để họ phục hồi làm nước. Ôi! Từ khi Tần gộp 100 quận, đất Giao Chỉ đã cùng Nam Hải, Quế Lâm vào Trung Quốc. Giữa thời Đường, người Giang Nam làm quan hiển hách còn ít, mà người Ái Châu (愛州) là Khương Công Phụ (姜公輔) đã làm Học sĩ, Tể tướng trong triều, sánh vai với các sĩ phu Trung Châu vậy. Thế mà trải qua Ngũ Đại bị thổ hào chiếm cứ. Nhà Tống hưng không thể thảo phạt, khiến đất này sa vào cõi Man Di, mang cái tục nhếch nhác, 300 năm mà không được cùng Nam Hải, Quế Lâm... dự vào hàng ngũ văn minh lễ nhạc làm quê hương danh tiếng vật báu, thật là bất hạnh thay! Trong đó người Tống dù 1 lần đuổi được vua họ, người Nguyên dù 2 lần vào kinh đô họ mà chung quy không thể giữ được. Thái Tổ hoàng đế ta khai quốc ban đầu, họ Trần trước tiên nộp khoản, Thái Tổ chép vào ''Tổ Huấn'' không cho hậu nhân đánh nước họ. Họ Trần bị giặc Quý Ly giết hại, Thái Tông hoàng đế thể theo ý của Cao Hoàng, không dứt dòng dõi họ Trần, sai sứ đưa về nước, giặc Quý Ly lại giết đi cả sứ giả. Bất đắc dĩ hưng binh bình định, tìm hậu duệ họ Trần không được, bèn dùng cố sự Hán Đường phục lập quận huyện, nhưng quan giữ đất không cẩn trọng dẫn đến Man Lão lại hoành hành, mà Lê Lợi lấy lời tìm hậu duệ họ Trần làm từ ngữ. Tuyên Tông hoàng đế thể theo tâm của Văn Hoàng, để họ nối lại dòng tuyệt của họ Trần, không ngăn sự dối trá của Lê Lợi, bèn bị che mắt, quần thần mấy lần xin hưng binh thảo phạt, Chương hoàng đế (Minh Anh Tông) nhớ lời dạy của Thánh tổ nên gác lại không hỏi. Mà vùng Cửu Chân, Nhật Nam, di dân từ thời Tần Hán đến nay đã được thấy ánh mặt trời rồi lại sa vào vực thẳm, thật là trọng bất hạnh thay! Trộm nghĩ cương vực ngày nay xa quá thời Tống, sánh ngang thời Đường mà không bằng thời Hán chính vì mất 3 quận ngoài Lĩnh này. May mắn được rồi lại mất, thật là đáng tiếc. Nhưng giữ lời dạy của tổ tông không sai không quên, ấy là cái hiếu lớn của việc kế thừa, cái đại thể của việc giữ thành quả vậy. Điều đáng tiếc là dân một phương chịu sự trọng bất hạnh mà thôi. Cương vực An Nam, thời Tần Hán là đất 3 quận, nay đất ấy phía Đông vượt Khâm Châu (欽州) của Quảng Đông, phía Tây trải qua Tả Giang của Quảng Tây, đến Lâm An (臨安) Nguyên Giang (元江) của Vân Nam làm giới hạn. Khâm Châu về phía Đông là đường biển đối cảnh; phía Tây Khâm Châu là giới hạn phủ Nam Ninh. Phía Đông Nam Nam Ninh là các châu Thượng Tư (上思), Trung Châu (忠州), Thượng Hạ Thạch Tây (上下石西) thuộc phủ Tư Minh; các châu Long Anh (龍英), Thái Bình (太平), An Bình (安平), Thượng Hạ Đống (上下凍) thuộc phủ Thái Bình thảy đều giáp giới với họ. Mà Long Châu (龍州) chính là con đường họ tất phải đi qua, còn huyện Phán Tường (憑祥) là nơi yếu hại vậy. Phủ Trấn An có Quy Thuận (歸順) và động Hạ Lôi (下雷) cũng giáp giới. Phía Tây hai động ấy là giới hạn Vân Nam. Các châu A Mê (阿迷), trại Tả Năng (左能)... 9 Trưởng quan ty thuộc Lâm An thảy đều là giới hạn gần, Nguyên Giang có đường thủy thông tới, còn huyện Mông Tự (蒙自) là con đường tất phải đi qua của họ. Về đường sá: * Tại Quảng Tây: Từ phủ Thái Bình trải qua Long Châu và huyện Phán Tường, đến phủ Lạng Sơn (諒山) của họ, tới nơi họ gọi là Đông Đô (thăng long) mất 7 ngày đường. * Tại Quảng Đông: Từ Khâm Châu đi về hướng Tây Nam 1 ngày đến Vĩnh An châu (永安) của họ, từ Ngọc Sơn (玉山) đến Đông Đô của họ mất 5 ngày đường. * Tại Vân Nam: Từ phủ Lâm An qua bãi Liên Hoa (蓮花灘) ở đáy sông huyện Mông Tự đến Đông Đô của họ mất 4 - 5 ngày đường. Đó là đại lược về biên cảnh giữa Trung Quốc và Giao Nam vậy. ===Đồ Thư Biên (圖書編)=== ==== Nội Di tổng luận (內夷總論)==== '''Xét rằng:''' Bốn phương Di (四夷) thấy trong kinh điển bắt đầu từ tộc Tam Miêu (三苗). Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là người Man (蠻) vậy. Trong đó kẻ nhanh nhẹn nhất gọi là Miêu (貓), chính là hậu duệ của Tam Miêu (三苗), nương núi mà ở, bản tính tập quán không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Đầu triều đại, tại Hồ Bắc (湖北), Xuyên Đông (川東) lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Xuyên (思川), Bá Châu (播州). Lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (土官) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa "chia tách phương Bắc" của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" của Đại Vũ (大禹). ==== Chế ngự Nội Di tổng luận (制馭內夷總論)==== "Nhà Minh (明) hưng thịnh, bình định bốn biển, phàm những vùng đất của người Di (夷), Lão (獠), Man (蠻), Bặc (僰), Dao (猺), Trọng (獞), phía Tây khởi từ Ba Thục (巴蜀), Tường Kha (牂牁), phía Đông đến vùng Tương (襄), Sở (楚), phía Bắc bao bọc Hồ Lĩnh (湖嶺), chuyển sang phía Đông rồi xuống phía Nam, phương Nam tận cùng tới biển, lại phía Đông vượt qua Bách Việt (百粵) và ba sông (Tam Giang - 三江). Kẻ lớn thì chiếm giữ cả dãy thành trì, kẻ nhỏ thì bám giữ nơi rừng sâu. Tuy có chút phụng theo ước thúc, nhưng chủ yếu vẫn chỉ là kiềm chế vỗ về (kiềm mâu - 羈縻) mà thôi. Thế nhưng khi binh lực của chúng mạnh lên một chút thì lúc phản lúc hàng; nếu cứ thuận theo và buông lỏng quá mức, vỗ về mất kế sách, thì hùng tâm của ta tự thu hẹp mà hang ổ của chúng lại càng sâu. Huống hồ đất rộng quan cao, chiếm lợi giỏi binh, dân số (sinh xỉ) càng đông, tài vật càng đầy. Chúng dùng dối trá để thành mưu, dùng công lao để giải tội, gieo rắc nỗi lo nuôi dưỡng tai họa, xem thường Trung Thổ (中土), chưa thể nói là không có lo âu. Than ôi! Kinh ''Hạ điển'' có vùng Yếu Hoang (要荒), chức ''Chu quan'' có vùng Phiên Trấn (蕃鎮), đại để đều là nương theo dân mà thuận theo tục. Vượt biển đánh dẹp, qua sông cách núi, đất đai dần mở mang nhưng sự giáo hóa cuối cùng vẫn bị ngăn lấp. Mới hay đức trời không tư riêng, vương đạo có chừng mực, mở mang nước nhà mà coi nhẹ việc vỗ về lòng dân thì sự phòng bị sẽ bị khốn đốn bởi tầm nhìn hạn hẹp. Nếu bốn Di tự có đủ no ấm, Trung Hoa không lo bị độc hại, thì ta còn mong cầu gì hơn? Chỉ vì quan lại thích tích trữ, chính sự nhiều trễ nải, hoặc vì lánh hiềm tự làm sạch mình, hoặc vì cầu thắng mà ham lập công, thế nên tin tức xâm lấn hằng ngày nghe thấy, binh lính mấy phen nổi lên, lưới pháp lỏng lẻo, Di (夷) và Hạ (夏) đều khốn đốn. Nay muốn thu tóm kế sách lâu dài để mưu đồ sự yên ổn bền vững, tất phải phân định rạch ròi cương giới thì lân tộc không tranh giành; định rõ đích thứ thì tông chi tự ổn định. Lúc cha truyền con nối, phải kịp thời kiểm tra báo cáo; việc nộp tiền thóc, thảy đều bãi bỏ. Lại phải chỉnh đốn võ bị nơi các Tiết soái, tu sửa văn đức chốn Miếu đường, thì nỗi lo loạn lạc sẽ ít đi vậy." ==Nam Phương chư quốc tổng bộ kỷ sự (南方諸國總部紀事)== ===Nguyên Sử (元史)=== ====Truyện Quy Dương (歸暘)==== Tù trưởng vùng Thuận Giang (順江) là Nhạc Tôn (樂孫) cầu xin nội phụ, xin lập Tuyên phủ ty cùng đặt 13 nơi quận huyện. Quy Dương (歸暘) nói: "Người xưa có câu: 'Roi tuy dài nhưng không đánh tới bụng ngựa'. Nếu thực đặt quận huyện, khi có sự cố mà không cứu thì cô phụ cái ý đến quy phụ, nếu cứu thì làm mệt mỏi Trung Quốc mà phục vụ ngoại Di, ấy gọi là hưởng hư danh mà chịu thực họa vậy." Quy Dương tranh biện rất mạnh với Tả thừa Lữ Tư Thành (呂思誠). Thừa tướng Thái Bình (太平) cười bảo: "Đô sự Quy Dương giỏi thật, khờ khạo như thế, sao lại kháng cự dữ vậy? Thế nhưng mưu sách của ngươi rốt cuộc là gì?" Quy Dương đáp: "Tù trưởng ấy có thể phong chức Tuyên phủ, chớ nên cưỡng cầu cống nạp thuế khóa, sứ giả ban cho vàng lụa rồi cho về là đủ rồi." Sau cùng đã theo lời của Quy Dương. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/en/book/GJTS08/chapter/1lpka93xg3nyy?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 63bkt5cmznjcb32l924muqk11r7xukk 204620 204617 2026-04-09T11:03:11Z Mrfly911 2215 204620 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第089卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 89''' | trước= [[../quyển 088|quyển 88]] | sau= [[../quyển 090|quyển 90]] | ghi chú = }} ==Nam phương chư quốc tổng bộ vị khảo (南方諸國總部彙考)== === Quảng Đông Thông Chí (廣東通志) - Ngoại chí (外志) === Thời Hoàng Đế (黃帝), người Di phương Nam (南彝) cưỡi hươu trắng đến dâng rượu nghệ và áo lông thú màu nâu. Thời Đường Nghiêu (唐堯) vỗ về phương Nam đến vùng Giao Chỉ (交阯), tộc Tam Miêu (三苗) đến thần phục. Thời Ngu Thuấn (虞舜), tộc Kiêu Diêu thị (僬僥氏) đến cống nạp lông chim Một Vũ, các tộc Man Di (蠻彝) đều tuân phục. Nhà Hạ (夏) lập ra 5 vùng Ngũ phục (五服), bên ngoài tiếp giáp bốn biển, Nam Hải (南海) có cá, da thú, ngọc trai, ngọc cơ và ốc tai tượng đại bối. Thời Thương (商), Y Doãn (伊尹) định lệ cống nạp bốn phương, phương Nam có các nước Âu (甌), Đặng (鄧), Quế (桂), Tổn Tử (損子), Sản Lý (產里), Bách Bộc (百濮), Cửu Khuẩn (九菌). * 6 cái tên này là tên gọi riêng của các tộc Nam Man (南蠻). ''Âu'' (甌) cũng giống như ''Âu'' (漚), ''Âu'' là ''Lạc'' (駱) vậy. ''Đặng'' (鄧) mang họ Mạn (曼), là các động người Man ở Kinh Nam (荊南). ''Quế'' (桂) là tám cây quế ở Phiên Ngung (番禺). ''Tổn Tử Sản'' (損子產) là chỉ tộc người Man ăn đầu người và sinh con. ''Lý'' (里) âm đọc là Lê, nay gọi là người Lỉ (俚人). Lệnh dâng nộp ngọc trai, đồi mồi, ngà voi, tê giác văn tê, lông chim thúy, chim Khuẩn hạc, chó Củ làm đồ cống. * ''Cơ'' (璣) giống ngọc trai nhưng nhỏ hơn. ''Khuẩn hạc'' có lông dùng làm cờ và quạt che, ''chó Củ'' là giống chó tốt. Buổi triều hội thời Thành Chu (成周), người Âu (甌) dâng ve sầu và rắn hổ mang ở đất Việt (越), nộp hàu văn thận của tộc Thả Âu (且甌). * Nay là đất Lạc Việt (駱越) ở Quảng Tây. Y Doãn (伊尹) triều cống phương Đông là tộc Âu (漚), tức người Âu (甌). Còn phương Nam là tộc Âu (甌), tức người Lạc Việt (駱越). ''Âu'' (漚) và ''Âu'' (甌) dùng thông nhau. ''Văn thận'' (文蜃) là loài sò lớn. Tộc Cộng nhân (共人) dâng sò Nguyên bối (元貝). * Người Man ở Ngô Việt (吳越) gọi là ''Cộng nhân'' (共人). ''Nguyên'' (元) là màu đen. ''Bối'' là loài sâu lớn dưới biển. Vùng Hải Dương (海陽) dâng cua lớn. * Phía Nam nước biển, nay là nơi sản sinh ra con cù kỳ (蝤蛑), thuộc phía Đông Triều Châu (潮州) vào vùng Mân (閩 - Phúc Kiến). Tự Thâm (自深) dâng quế. * ''Tự Thâm'' là tên vùng Nam Man, quế nay xuất sản từ Quế Châu (桂州), Thiều Châu (韶州). Vùng Hội Khê (會稽) dâng da thú. * Da có thể dùng bọc mặt trống. Chim trĩ của tộc Man Dương (蠻揚). * Chim trĩ của người Man ở Dương Châu (揚州) là loài gà núi (sơn kê). Vùng Thương Ngô (倉吾) dâng chim phỉ thúy. Phỉ thúy dùng để lấy lông. * ''Thương Ngô'' (倉吾) nay là Thương Ngô (蒼梧). Chim phỉ thúy có lông xanh pha vàng. Người phương Nam khi dâng lễ vật đông đảo thảy đều hướng về phương Bắc. * ''Nam'' ở đây là Nam Việt (南越). Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺) đến sát biển là vùng Dương Việt (揚粵), nay là đất Quảng Đông. Thời Hán (漢), phía Nam Nhật Nam (日南) có các nước Đô Nguyên (都元), Trạm Ly (湛離), Cam Đô Lư (甘都盧), Hoàng Chi (黃支)... gần thì đi 10 dư ngày, xa thì hành trình đến 4 hoặc 5 tháng. Phong tục đại lược giống vùng Châu Nhai (朱崖). Cõi bang rộng lớn, hộ khẩu đông đúc, nhiều vật lạ. Thời Hán Vũ Đế (漢武帝), thường sai những người ứng tuyển cùng sứ giả đi biển, mua ngọc minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá quý và vật lạ, mang theo vàng ròng và các loại lụa là mà đi. Đến nước nào cũng được cung cấp lương thực theo cặp, thuyền buôn của người Man Di (蠻彝) lần lượt chuyển tống đi. Đồ trân quý của ngoại tộc lưu nhập vào Trung Quốc bắt đầu từ đây. * Lưu Hướng (劉向) nói: "Thuyền buôn một cột buồm sâu hơn 50 khuỷu tay, thuyền ba cột buồm sâu hơn 15 khuỷu tay; Tây Vực lấy khuỷu tay làm đơn vị đo lường." Thời Quang Vũ Đế (光武帝) nhà Hậu Hán (後漢), người Man ngoài biên ải Giao Chỉ (交阯), Nhật Nam (日南) đến cống nạp. Mã Viện (馬援) dựng cột đồng. Sau đó, người Di ở Tây Đồ (西屠) cũng đổi quốc hiệu thành Ca La (哥羅), thuộc về Phù Nam (扶南). Từ đó tên các nước nhiều lần thay đổi. Người Man ở Tượng Lâm (象林), Nhật Nam nhiều lần phản loạn rồi lại hàng, sau đó Khu Liên (區連) 〈có chỗ chép là Khu Liên 區憐〉 chiếm cứ Lâm Ấp (林邑), bỏ phong tục và văn tự Trung Quốc, dần giống với Bà La Môn (婆羅門), từ đó sách Phật truyền đến. Đến thời Hoàn Đế (桓帝), các nước Thiên Trúc (天竺), Đại Tần (大秦) ở phía Tây Phù Nam (扶南) đều từ Nam Hải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ đến cống hiến, từ đó thương nhân người Hồ (賈胡) tràn ngập vùng Dương Việt (揚粵). Đồ cống có đồi mồi, ngà voi, vải bông (cổ bối), trầm hương, hổ phách. Thú thì có voi thuần, tê giác đen (nguyên tê), đười ươi (tinh tinh)... nhiều không sao kể xiết. Đời Ngô (吳), Tôn Quyền (孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước phiên thuộc, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến số lượng vài trăm nước. Khang Thái lập kỷ truyện, gọi là "Phù Nam thổ tục", chép về các nước: Bồ Lư Trung (蒲盧中), Ưu Bạt (優鈸), Hoành Điệt (橫跌), Chư Bạc (諸薄), Bắc Lỗ (北櫓), Tân Na Chuyên (濱郍專), Điểu Văn (鳥文), Tư Điều (斯調), Lâm Dương (林陽), đảo Mã Ngũ (馬五洲), đảo Bạc Thán (薄歎洲), đảo Đam Lan (耽蘭洲), đảo Cự Diên (巨延洲). Về sau trải qua các triều đại thay đổi, không còn dùng tên cũ nữa. Khi Tấn Vũ Đế (晉武帝) bình định nhà Ngô (吳), sau khi các nước Lâm Ấp (林邑), Phù Nam (扶南) vào cống nạp, lại có các nước gọi là Mâu La (牟羅), Mô Lư (模盧), Mạt Lợi (末利), Ty Ly (卑離), Mãn Đô (滿都), Thằng Dư (繩余), Sa Lâu (沙樓), Bồ Lâm (蒲林), thảy đều là những tên trước đây chưa từng nghe thấy. Thời Tống (宋), Tề (齊) có các nước đến gồm: Sư Tử (師子), Tỳ Gia Lê (毗迦梨), Can Đà Lợi (干陀利), Xà Bà (闍婆), Bồ Hoàng (蒲黃), A La Đà La (阿羅陀羅), Đơn Bà Hoàng (單婆皇), Lang Nha (狼牙), Tu (修), Bàn Bàn (槃槃), Đốn Tốn (頓遜)... đại khái có hơn 10 nước. Thời Lương Vũ Đế (梁武帝), các nước Bà Lợi (婆利), Đan Đan (丹丹), Tỳ Kiên (毗騫) mới bắt đầu thông sứ. "Vua nước Tỳ Kiên (毗騫) thân cao 3 trượng, cổ dài 3 thước, từ xưa đến nay không chết, biết được những việc thần thánh chưa xảy ra; con cháu vua thì sinh tử như người thường." Nhà Tùy (隋) sai sứ thông với nước Xích Thổ (赤土), dẫn đến nước La Sát (羅剎). Nước ấy ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng ưng, chính là loài "Dạ xoa La sát thân dài kim cương" mà sách Phật nhắc đến vậy. Các nước khác như Đầu Hòa (投和), Biên Đẩu (邊斗) cống nạp cho nhà Tùy (隋) ngày càng nhiều. Đồ cống đại để là vàng bạc báu vật, hương liệu dược liệu, cũng có khi dâng răng Phật (Phật nha), xá lợi, thảy đều vì họ phụng theo giáo pháp Bà La Môn (婆羅門) vậy. Nhà Đường (唐) bắt đầu đặt chức Thị bạc sứ (市舶使), giao cho quan soái trấn Lĩnh Nam (嶺南) kiêm quản, lập khu chợ búa, lệnh cho người Man Di (蠻彝) đến cống nạp được phép giao dịch, thu một phần lợi nhuận vào kho quan. Phàm thuyền buôn đến, lớn nhất là "Độc tường bách" (thuyền 1 cột buồm), có thể chở được 1,000 Bà lan (婆蘭). 〈Người Hồ gọi 200 cân là 1 Bà lan〉. Hạng nhì gọi là "Ngưu đầu bách", bằng 1 phần 3 thuyền Độc tường; hạng tiếp theo là "Nhị mộc bách" và "Liệu hà bách", mỗi loại lại kém đi 1 phần 3. Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 17 (năm 643 dương lịch), chiếu lệnh cho Ty Thị bạc 3 lộ, hễ thương nhân nước ngoài buôn đến 4 loại hàng là Long não, Trầm hương, Đinh hương, Bạch đậu khấu thì đều thu thuế 1 phần 10 (trừu giải). Thời Võ hậu (武后), Đô đốc Lộ Nguyên Du (路元皻) tham lam chiếm đoạt hàng hóa của các thủ lĩnh phương Nam, vị chúa tàu (bách tửu) không chịu nổi cơn giận đã giết chết y. Đầu năm Khai Nguyên (開元), Thị bạc sứ Chu Khánh Lập (周慶立) cùng với tăng nhân Ba Tư (波斯) chế tạo đồ kỳ xảo để tiến dâng, bị hạch tội và bãi chức; triều đình cũng bãi bỏ việc sai sứ giả đến Nam Hải (南海) tìm ngọc trai và chim thúy. Năm Khai Nguyên (開元) thứ 4 (năm 716 dương lịch), có người Hồ tâu rằng: "Nam Hải (南海) nhiều ngọc trai, chim thúy và báu vật lạ, có thể sang đó tìm kiếm." Nhân đó nói về cái lợi của việc buôn bán đường biển (thị bạc), lại muốn sang nước Sư Tử (獅子 - Sri Lanka) tìm linh dược, và tìm những bà lão giỏi y thuật đưa vào cung đình. Vua mệnh cho Giám sát Ngự sử Dương Phạm Thần (楊範臣) cùng người Hồ ấy đi tìm. Phạm Thần ung dung tâu rằng: "Năm kia Bệ hạ cho đốt châu ngọc gấm vóc để tỏ ý không dùng đến nữa. Nay những thứ tìm kiếm này có gì khác với những thứ đã đốt? Việc Thị bạc là tranh lợi với thương giả, không phải là thể thống của bậc vương giả. Tính chất dược liệu phương Nam người Trung Hoa đa phần không biết, huống hồ là bà lão người Hồ, sao nên đưa vào cung đình? Chức Ngự sử là tai mắt của Thiên tử, hễ có đại sự quân quốc, thần dù phải dấn thân vào nơi lam chướng, chết cũng không dám từ nan. Đây chẳng qua là bọn người Hồ muốn mê hoặc để cầu sủng, không ích gì cho thánh đức, trộm nghĩ không phải ý của Bệ hạ, xin hãy suy xét kỹ." Vua lập tức tự nhận lỗi, an ủi ông rồi bãi bỏ việc ấy. Sau đó tại Quảng Châu (廣州) đặt chức Kết hảo sứ (結好使), mỗi khi thuyền buôn nước ngoài đến thì xem xét tình hình mà tâu báo. Lúc này các nước phương Nam có nhiều thay đổi: Lâm Ấp (林邑) đổi hiệu là Hoàn Vương (環王), còn Lục Chân Lạp (陸真臘) cũng gọi là Văn Đan (文單), thảy đều thường xâm phạm biên giới. Khoảng năm Nguyên Hòa (元和) (năm 806 - 820 dương lịch), An Nam Đô hộ Trương Chu (張舟) đánh bại chúng, dựng lại cột đồng để phân định cương giới, từ đó đồ trân bảo cống nạp đầy ắp kho vương phủ. Sau đó, Tiết độ sứ Mã Tổng (馬總) lại đúc thêm 2 cột đồng nối tiếp. Thời Trinh Nguyên (貞元), 2 nước Ba Tư (波斯) và Cổ La (古羅) vào cống nhiều vật quý, Tiết độ sứ Vương Xứ Hưu (王處休) tuyên dương uy đức, vỗ về lệnh cho giao dịch, ngoài phần cung phụng thường lệ thì không lấy thêm một thứ gì. Ông bèn vẽ bản đồ "Sứ viện đồ biểu" dâng lên, trong đó có lời rằng: "Ngoài cửa biển, ẩn hiện như những quốc gia đối địch. Giữ lòng trung thực, để đức lại cho mai sau." Thời bấy giờ khen là đắc thể. Về sau vì việc quân nhu nổi lên, dần gia thêm thuế chợ. Khoảng năm Thái Hòa (太和) (năm 827 - 835 dương lịch), Văn Tông (文宗) xuống chiếu bãi bỏ thuế này. Nhà Nam Tống (宋), năm Khai Bảo (開寶) thứ 4 (năm 971 dương lịch), đặt Ty Thị bạc tại Quảng Châu (廣州), lấy Tri châu kiêm chức Sứ, Thông phán kiêm chức Phán quan. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch), bắt đầu định lệ thu thuế (trừu giải) là 2 phần 10. Phàm các nước phương Nam ở Nam Hải (南海) đều thông thương dùng vàng, thiếc, tiền giấy để đổi lấy các thứ: tê giác, voi, san hô, hổ phách, chuỗi ngọc, gang (tân thiết), da cá sấu, đồi mồi, mã não, xà cừ, thủy tinh, vải phương Nam (phiên bố), gỗ mun (ô man), tô mộc, hồ tiêu, hương liệu dược liệu... Thái Tông (太宗) đặt cơ quan Quế vụ (榷務) tại kinh sư, chiếu lệnh hàng hóa phương Nam đến Quảng Châu (廣州), nếu không phải từ kho quan đưa ra thì không được tự ý buôn bán riêng. Sau đó có chiếu: những thứ không phải kỳ trân dị bảo thì thảy đều cho phép bán ở chợ. Lại có chiếu: những hàng hóa tốt khác cũng cho phép bán ở chợ một nửa. Đại để thuyền biển đến thì thu thuế 1 phần 10 (thập nhất), còn lại cấp cho thương nhân, giá trị thu vào hằng năm tính bằng con số hàng chục vạn, giúp ích cho kinh phí của triều đình. Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 3 (năm 978 dương lịch), Lý Xương Linh (李昌齡) tri Quảng Châu (廣州), đất Quảng có nguồn lợi thuyền biển dồi dào, Xương Linh không giữ được lòng thanh liêm. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch) khi mãn nhiệm về kinh, Xương Linh tâu rằng: "Thị bạc ở Quảng Châu, hằng năm thuyền buôn đến, quan lại đều tăng giá mua hết sạch, hàng tốt xấu lẫn lộn nên ít lợi nhuận. Từ nay xin chọn lấy hàng tốt theo giá mà mua, còn hàng xấu thì mặc cho họ tự bán, không cấm." Khoảng năm Hy Ninh (熙寧) (năm 1068 - 1077 dương lịch), nguồn thu Thị bạc Quảng Châu bị thâm hụt, có người cho rằng do Ty Thị dịch gây nhiễu loạn, nên lệnh cho quan Đề cử điều tra báo lên. Khi ấy quan coi việc là Lã Mạo (呂邈) bị hạch tội vì tự tiện lấy hàng phương Nam và bị bãi chức. Sau đó theo lời bàn của quan viên mà bãi bỏ Thị bạc ở Hàng Châu (杭), Minh Châu (明), thảy đều lệ thuộc về Quảng Châu. Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 3 (năm 1080 dương lịch), Trung thư tâu rằng: "Thuyền buôn Quảng Châu đã tu định điều ước, nên chọn quan thực thi." Chiếu lệnh cho Quảng Đông lấy Chuyển vận sứ Tôn Hồi (孫迥) thay quan Soái kiêm lĩnh. Năm Đại Quan (大觀) thứ 1 (năm 1107 dương lịch), lại đặt quan Đề cử Thị bạc 2 lộ Chiết, Quảng và Phúc Kiến; phục hồi Ty Thị bạc tại Hàng Châu, Minh Châu, lại tăng thêm 1 Ty ở Tuyền Châu (泉州). Năm thứ 3 (năm 1109 dương lịch), thương nhân phương Nam muốn sang quận khác thì phải do Ty Thị bạc cấp giấy thông hành (khoán), không được mang theo vật cấm. Việc phòng bị vũ khí trên thuyền được cấp theo luật của các nước. Ty Thị bạc bán hàng hóa đã thu mua đều thu lợi vượt quá 2 phần, quan lại tự ý mua hàng thì bị cấm. Năm Chính Hòa (政和) thứ 4 (năm 1114 dương lịch), chiếu lệnh Ty Thị bạc Quảng Nam hằng năm cống nạp trân châu, sừng tê giác, ngà voi. Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127 dương lịch) xuống chiếu: "Việc Thị bạc đa phần lấy những thứ vô dụng, lãng phí quốc dụng để làm vui lòng kẻ quyền quý; từ nay ai dùng hương đốc nục, nhẫn, mã não, mắt mèo và các loại tương tự để trao đổi, cũng như ai gây thiệt hại cho thương nhân phương Nam, đều sẽ bị trị tội nặng theo pháp luật. Chỉ ban cho các quan đại thần hốt ngà, đai tê là được phép, lượng cho vận chuyển vào." Luật cũ chia hàng phương Nam thành 2 loại thô và mịn (thô tế nhị sắc). Những thứ như Long não, trân châu đều là hàng mịn, thu thuế 1 phần 10. Sau đó lại thu mua thêm 4 phần; hàng thô cũng thu thuế 1 phần 10 và thu mua thêm 4 phần. Việc thu mua quá nhiều khiến thương nhân thường giấu hàng mịn đi, không khai báo thật. Luật cũ hàng mịn lấy 5,000 lạng làm 1 cương (kiện hàng), hàng thô lấy 10,000 cân làm 1 cương; mỗi cương thì có tiền vận chuyển và nuôi gia đình là hơn 1,000 quán. Về sau kẻ vận chuyển gian dối lấy ngà voi, sừng tê, tử khoáng để chiếm tiền vận chuyển, khiến 1 cương cũ bị chia nhỏ thành 33 cương, tốn kém tiền vận chuyển và nuôi nhà đến hơn 3,000 quán. Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 27 (năm 1157 dương lịch), chiếu lệnh cho Kinh lược Ty Thị bạc Quảng Nam thanh tra thương nhân phương Nam giả mạo vào cống nạp. Đầu năm Long Hưng (隆興) (năm 1163 dương lịch), quan viên cho rằng ngà voi, tê giác đỏ so với hàng khác là nặng nhất, xin thu thuế 1 phần 10 và bãi bỏ việc thu mua thêm. Đầu năm Càn Đạo (乾道) (năm 1165 dương lịch), quan viên lại tâu rằng Phúc Kiến, Quảng Nam đều có Thị bạc, hàng hóa mênh mông, đặt quan Đề cử là thực sự thỏa đáng. Năm Càn Đạo (乾道) thứ 7 (năm 1171 dương lịch), chiếu lệnh hàng thô lấy 20,000 cân làm 1 cương, hao hụt 600 cân, theo lệ cũ chi trả tiền vận chuyển đường thủy (thủy cước tiền) là 1,662 quán và lẻ. Sau khi dời đô xuống phía Nam (Nam độ), kinh phí túng quẫn, mọi việc thảy đều dựa vào nguồn thu này. Hàng nhập vào hằng năm vốn không ít, nhưng vàng bạc đồng sắt tiền tệ cũng theo đó mà rò rỉ ra ngoài cảnh, trong đó tiền tệ rò rỉ là nghiêm trọng nhất. Pháp luật dù nghiêm minh nhưng gian xảo ngày càng tinh vi, cái tệ ấy rốt cuộc không thể ngăn cấm được. Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2 (năm 1175 dương lịch), chiếu lệnh Thị bạc Quảng Châu ngoài những mặt hàng độc quyền (quế hóa), những hàng tốt khác chỉ được thu mua một nửa. Đời Nguyên (元), Thế Tổ (世祖) từng lập Ty Đề cử nhưng rồi bãi bỏ. Năm Chí Trị (至治) thứ 4 (năm 1324 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), sai sứ thu mua hàng phương Nam ở Quảng Đông, bèn lập lại Ty này, cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thì thu thuế. Năm Nguyên Thống (元統) thứ 6 (năm 1338 dương lịch) đời Thuận Đế (順帝), bãi bỏ 2 Ty Đề cử ở Quảng Đông. Năm Chí Chính (至正) thứ 2 (năm 1342 dương lịch), lập lại Đề cử Quảng Đông, siết chặt lệnh cấm Thị bạc. Năm thứ 3 (năm 1343 dương lịch), cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thu thuế. Nhà Minh (明), trừ những nước phương Nam có lệ cứ 3 năm vào cống 1 lần, các nước khác đến quy phục thì cho phép giao thương (hỗ thị). Lập Ty Đề cử Thị bạc để chủ trì việc vào cống của các nước. Theo chế độ cũ, các nước vào cống trước tiên được cấp sổ sách phù hiệu (phù bộ), khi đến Tam ty (布、按、都三司) thì đối chiếu phù hiệu, xem biểu văn và phương vật không có gì giả mạo mới chuyển đưa vào kinh. Nếu là hàng hóa của Quốc vương, Vương phi, Bồi thần mang theo thêm thì thu thuế 5 phần 10, phần còn lại quan trả tiền theo giá; riêng 2 nước Xiêm La (暹邏), Qua Oa (瓜哇 - Java) được miễn thuế này. Những thương nhân phương Nam tự mang hàng đến buôn bán, khi thuyền đến bến nước, thảy đều phong tỏa và vào sổ, thu thuế 2 phần 10 mới cho phép giao dịch. Tuy nhiên dân gian xảo ở Mân, Quảng thường hay búi tóc đeo khuyên tai, bắt chước quần áo tiếng nói của người phương Nam, lẻn vào trong thuyền dẫn đường cho chúng làm điều gian ác, nhân đó cướp bóc, dân vùng ven biển rất khổ sở. ''Cựu Chí'' chép: Phàm giao dịch ở Đông Dương đa phần dùng tơ lụa, nước Oa (倭國 - Nhật Bản) đặc biệt hung hãn, thương nhân rất sợ chúng, thường đổi lấy đầu chim hạc (hạc đính)... Giao dịch ở Tây Dương đa phần dùng hàng Quảng (Quảng hóa), đổi lấy hồ tiêu... Những hàng quý mịn thường đầy ắp thuyền. Như nước Xiêm La (暹邏) sản xuất tô mộc, Địa Muộn (地悶 - Timor) sản xuất đàn hương, các loại hương liệu khác nước nào cũng có. Về Trầm hương, có các loại trầm vàng (hoàng trầm), trầm đen (ô giác), trầm rất quý thì gọi là trầm sáp (lạp trầm), gọt ra thì cuộn lại, nhai thì mềm, thảy đều kết tụ từ gốc cây khô; chỉ có gỗ Kỳ Nam (奇南木) mới là phần trầm kết từ cây sống. Sừng tê giác có tê đen (ô tê), tê hoa (hoa tê), tê thông thiên (thông thiên tê), tê phục thông (phục thông tê). Tê hoa là nền trắng hoa đen; tê thông thiên là nền đen hoa trắng; tê phục thông là trong hoa trắng của tê thông thiên lại có thêm hoa đen, thảy đều là vật quý hiếm thấy trên đời. Hạc đính, mu rùa, đồi mồi thảy đều có thể kết hợp (kiến hợp khả hợp), riêng sừng tê giác không tùy tiện kết hợp, cho nên công phục lấy ngọc và tê làm đai, quý ở cái nghĩa không tùy tiện kết hợp vậy. Tháng 5 năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370 dương lịch), sai sứ ban chiếu về Khoa cử cho An Nam (安南), Chiêm Thành (占城), vì họ thông hiểu văn tự Trung Quốc. Các nước phương Nam không ai không sợ uy mà nhớ đức, từ đó triều cống không dứt, cũng có nước chưa đến kỳ cũng cống hiến. Đầu năm Vĩnh Lạc (永樂), sai sứ bốn phương chiêu dụ các nước, cống hiến thảy đều đến. Hàng lạ bảo vật quý hiếm trước nay chưa từng có. Bèn mệnh cho Nội thần giám trấn Thị bạc, đặt công quán ở bến nước phía Nam thành; công quán cũng xây ở Tiên Hồ phía Tây quận 〈nay là đường Phân thủ〉. Tháng 9 năm thứ 3 (năm 1045 dương lịch), Đại lý tự khanh 〈khuyết tên〉 Phụ, ban đầu làm Phó sứ Hồ Quảng, vì có tội bị giáng làm Hành nhân. Đến nay phụng mệnh đi sứ các nước Tây Nam như Xiêm La, Qua Oa đến tận các nước Cổ Lý (古里 - Calicut) ở Tây Dương. Khi về kinh tâu việc đúng ý vua, được thăng làm Quảng Đông Án sát sứ. Nội thần Hầu Hiển (侯顯), Trịnh Hòa (鄭和) cùng Hành nhân đi lại, các vua phương Nam đều đãi lễ rất hậu. Tháng 6 năm thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Bố chính ty Quảng Đông tâu: "Hằng năm người phương Nam ở hải ngoại vào cống phương vật, đường thủy dùng thuyền vận tải, duy có đoạn từ Nam Hùng (南雄) đến Nam An (南安) bị ngăn cách bởi đèo Mai Lĩnh (梅嶺), thuyền bè không thông. Từ nay xin dùng sức dân để tiếp vận." Vua phán rằng: "Làm vua phải lo nuôi dân. Nay việc cống nạp không có định kỳ mà nông dân ít ngày rảnh. Giả sử từ xuân đến thu, người phương Nam vào cống không dứt, thảy đều bắt dân tiếp vận, há chẳng ngăn trở việc nhà nông sao? Từ nay người phương Nam vào cống, nếu gặp lúc vụ mùa thì phương vật thảy đều lưu trữ ở Nam Hùng, đợi đến tháng 11 (tháng 11 âm lịch) lúc nông nhàn mới cho vận chuyển đến Nam An, hãy ghi làm lệnh." Lại bảo thị thần rằng: "Dân không mất sự nuôi dưỡng thì dù nhọc nhằn cũng ít oán; dân mất sự nuôi dưỡng thì dù cho nghỉ ngơi cũng không cảm đức." Tháng 8, đặt trạm Hoài Viễn (懷遠驛) tại bến Hiện Tử (蜆子步) thành Quảng Châu, xây 120 gian phòng để người phương Nam ở. Lệ thuộc Ty Đề cử Thị bạc, nhưng quan Nội quan tổng quản hàng hóa, quan lại Đề cử chỉ giữ sổ sách mà thôi. Có những thuyền đáng lẽ đi Phúc Kiến nhưng bị gió bạt đến đây. Như nước Bột Ni (渤泥 - Brunei), vốn là thuộc quốc của Xà Bà (闍婆), ở trong biển lớn phía Tây Nam, cách Qua Oa 45 ngày đường, cách Tam Phật Tề (三佛齊 - Srivijaya) 40 ngày đường, cách Chiêm Thành (占城) 30 ngày đường. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 (năm 1406 dương lịch), vua nước ấy là Hà Vượng (遐旺) đến triều kiến. Lưu Cầu (琉球) ở trong biển lớn Đông Dương, nằm phía Đông quận Kiến An, đi đường thủy 5 ngày thì đến. Thời Tùy Đại Nghiệp (隋大業), sai tướng dẫn binh từ Nghĩa An (義安) vượt biển đánh chúng. Nghĩa An nay là Triều Châu (潮州) vậy. Thời Hồng Vũ (洪武), chia ra Đại, Tiểu Lưu Cầu, triều cống rất cung kính. Quan sinh thường vào Thái học thụ nghiệp, triều đình thường gia thêm ơn xót thương. Những nước khác như Nam Bột Lợi (喃勃利)... cũng có kẻ theo thuyền đến Quảng Châu. Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), Án sát Phó sứ Chương Cách (章格) tuần thị đường biển. Lúc ấy sứ thần Lưu Cầu là Thái Tuyên (蔡璇) cùng vài người mang phương vật buôn bán với nước lân cận, bị gió bạt đến cảng Hương Sơn (香山). Viên quan Thủ bị coi là "hải khấu" muốn giết đi để lập công. Cách không cho, biện minh cho họ, tâu xin trả lại tài sản rồi cho về, người phương Nam ca tụng công đức. Những năm gần đây, khách buôn Lưu Cầu có kẻ bạt đến Quỳnh Châu (瓊州), được đưa đến thành Quảng Châu. Thiêm sự Kinh Ngạn Thái (經彥寀) hết lòng chăm sóc cứu trợ, người phương xa rất cảm kích. Thời Thành Hóa (成化), Hoằng Trị (弘治), người vào cống ngày càng đông. Quan hữu tư chỉ cho phép sứ giả vào bái kiến, còn lại thảy đều lưu lại ở trạm (dịch). Việc đi lại có đặt yến tiệc tiếp đãi mới cho vào thành. Quần áo kỳ dị, cũng có kẻ đội mũ gắn vàng ngọc, mặc áo màu ráng chiều, người già trẻ con thảy đều tranh nhau xem. Hồ tiêu, gỗ quế, trống đồng, nhẫn, đá quý tràn ngập kho và chợ. Hàng phương Nam rất rẻ, dân nghèo vâng lệnh thu mua đa phần trở nên giàu có. Năm Chính Đức (正德) thứ 12 (năm 1517 dương lịch), người Di ở biển Tây là Phật Lãng Cơ (佛朗機 - Bồ Đào Nha) cũng xưng là triều cống, đột nhập huyện Đông Quản (東莞), hỏa súng dữ dội, chấn động xa gần, tàn phá cướp bóc thậm tệ, thậm chí nướng ăn cả trẻ con. Quan Hải đạo phụng mệnh tiêu diệt và xua đuổi mới ra khỏi cảnh. Từ đó thảy đều cấm chỉ thuyền biển, các nước đáng lẽ vào cống cũng hiếm khi đến. Thuyền cống bèn sang Chương (漳), Tuyền (泉) và thành Quảng để buôn bán, chợ búa tiêu điều không như chế độ cũ. Khi ấy Đô Ngự sử tuần phủ Lưỡng Quảng là Lâm Phú (林富) tra xét tổ huấn, tuân theo ''Hội điển'' dâng sớ lên, được chuẩn y, từ đó thuyền phương Nam mới thông lại. Tờ sớ đại lược nói: "Thần trộm nghĩ chức Tuần phủ trước hết là vì dân dấy lợi trừ hại. Phàm trên có ích cho triều đình, dưới có ích cho sinh dân là lợi; trên có hại cho triều đình, dưới có hại cho sinh dân là hại. Nay lấy danh nghĩa trừ hại mà ngăn tuyệt mọi nguồn lợi, khiến quân quốc không có nguồn dựa, quên đi phép tắc của tổ tông, lại mất lòng người phương xa, ấy chính là việc Thị bạc ở Quảng vậy." Cẩn án ''Minh Hoàng Tổ Huấn'', các nước An Nam, Chân Lạp, Xiêm La, Chiêm Thành, Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Tây Dương, Qua Oa, Bành Hanh (彭亨), Bạch Hoa (白花), Tam Phật Tề, Bột Ni thảy đều cho phép triều cống, chỉ khi có hành thương đi kèm làm điều gian trá thì mới tạm khước từ, sau đó dần dần cho thông. Lại án ''Đại Minh Hội Điển'': Phàm các nước An Nam, Mãn Lạt Gia (滿剌加) đến triều cống, khi sứ giả về thảy đều lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông tiếp đãi. Hiện nay có đặt Ty Đề cử Thị bạc, lại có sắc lệnh cho 1 quan Nội thần đốc trách, chính là để đưa đón, trao đổi hàng hóa, vỗ về người phương xa mà tuyên dương uy đức vậy. Đến năm Chính Đức thứ 12, có người Phật Lãng Cơ đột nhập cõi Đông Quản, lúc ấy Bố chính sứ Ngô Đình Cử (吳廷舉) cho phép chúng triều cống và tâu báo về, đây chính là cái lỗi không xét kỹ phép tắc cũ. Sau đó sự hung xảo của chúng bị bại lộ, triều đình chuẩn theo sớ của Ngự sử Khâu Đạo Long (丘道隆), lệnh cho quan Hải đạo xua đuổi ra khỏi cảnh, giết kẻ cầm đầu là Á Tam (亞三), dư đảng nghe phong thanh liền chạy trốn. Quan hữu tư từ đó ngăn tuyệt hết thuyền buôn An Nam, Mãn Lạt Gia, chúng đều sang trú đậu tại vùng biển thuộc phủ Chương Châu (漳州), thế là lợi về tay người Mân (Phúc Kiến) mà chợ búa vùng Quảng tiêu điều vậy. Kẻ Phật Lãng Cơ vốn không thông với Trung Quốc, đuổi tuyệt chúng là phải. Nhưng các nước chép trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'' vốn cung thuận thông hiếu, nay ngăn tuyệt việc triều cống giao thương của họ, chẳng khác nào "vì nghẹn mà bỏ ăn". Huống hồ quan lại Thị bạc đặt công khai ở Quảng Đông trái lại không bằng việc "thông thương riêng không cấm" ở Chương Châu, vậy pháp tắc quốc gia nằm ở đâu? Thần trộm tính toán, cái lợi của Trung Quốc thì muối và sắt là lớn nhất, nhưng hằng năm vất vả cũng chỉ đủ định mức thường lệ. Hễ có hạn hán lũ lụt, khuyên dân nộp thóc vẫn sợ không đủ. Theo quy cũ cũ, ngoài phần triều cống, việc thuế thu (抽解) đều có lệ định, đủ cung cho ngự dụng. Đây là cái lợi lớn thứ 1. Ngoài phần thuế thu, có thể sung vào quân lương. Nay Lưỡng Quảng dùng binh liên tiếp, kho tàng cạn kiệt, nhờ nguồn này có thể làm đầy kho để phòng lúc bất trắc. Đây là cái lợi lớn thứ 2. Tỉnh Quảng Tây thảy đều dựa vào Quảng Đông, nay có việc trưng phát là không lo liệu được ngay. Dù lấy gỗ quế hồ tiêu thay lương bổng nhưng lâu ngày đã thiếu hụt, bắt dân gánh vác là điều khó tránh. Tra lại lúc thuyền buôn cũ còn thông, công tư đều dư dả, hàng phương Nam trong kho chỉ mươi ngày là thu được vài vạn lạng bạc. Đây là cái lợi lớn thứ 3. Lệ cũ giao dịch là quan chọn hàng tốt mua theo giá, còn lại cho dân mua bán, nên dân nghèo cầm món hàng 2 tiền là đổi được hồ tiêu, xoay vần trao đổi mà trở nên giàu có. Quảng Đông xưa nay xưng là phú thứ chính nhờ vào đây vậy. Đây là cái lợi lớn thứ 4. Giúp nước cấp quân đã có nguồn cậy trông, mà quan và dân thảy đều được đủ đầy, ấy là nhân cái lợi của dân mà làm lợi vậy, không phải là mở lỗ hổng tư lợi hay làm thang cho dân phạm tội. Kẻ bàn luận có lẽ lo ngại người Di đột nhập biên cảnh gây họa, thần lại trộm tính toán: Các nước Xiêm La, Chân Lạp, Qua Oa, Tam Phật Tề đầu năm Hồng Vũ đã cống phương vật, thần phục đến nay. Thời Vĩnh Lạc, Bột Ni nhập triều, đến chết vẫn cảm đức. Khoảng năm Thành Hóa, Chiêm Thành bị cướp ngôi, triều đình nối lại dòng dõi nên họ mong ơn. Người Man Di phương Nam đại để khoan nhu, đó là tính thường của họ, hơn 100 năm qua chưa từng dám làm giặc cướp. Gần đây kẻ Phật Lãng Cơ đến từ biển Tây, chúng khinh nhờn là có lý do mời gọi vậy. Hiện nay thuyền phương Nam ở Chương, Mân cũng chưa nghe thấy có động tĩnh nhỏ nào, thế thì chúng quyết không dám gây hại là điều đã rõ ràng. Huống hồ ngăn trở đã lâu nay chợt cho thông, há chẳng đủ để đắc lòng chúng sao? Thần xin tại các nơi yếu hại ngoài biển và vùng Nam Đầu (南頭) huyện Đông Quản, hằng năm lệnh cho Hải đạo Phó sứ và Bị Oa Đô chỉ huy đốc suất quan quân nghiêm ngặt tuần tra. Phàm thuyền đến mà có tên trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'', dò xét đúng thực thì cho trú đậu theo lệ cũ. Những kẻ không có tên trong đó như Phật Lãng Cơ thì đuổi ngay ra khỏi cảnh. Nếu dám kháng cự không phục thì đốc phát quan quân bắt chém. Còn phàm là giặc Lạt Cáp (喇哈) không cho phép kẻ quyền quý thông tư, nghiêm cấm dân nghèo dụ dỗ con cái xuống biển. Hễ có sơ hở thì quan quân tất phải chịu tội. Như thế không chỉ dấy khởi nguồn lợi một phương, mà đạo trị quốc không phân biệt trong ngoài cũng nằm ở đó vậy. Cúi mong Hoàng thượng đặc biệt sắc lệnh bộ ấy bàn bạc kỹ, những điều lợi hại thần đã trần thưa xin hãy lần lượt tham cứu. Nếu quả thực hành được, xin hãy thi hành tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, lệnh cho những thuyền trú đậu riêng thảy đều xua đi; kẻ có biểu văn triều cống thì cho phép đến vùng biển Quảng Châu chờ quan ty xử trí. Như thế, việc hoài nhu mới có phương pháp mà công tư thảy đều thuận tiện vậy." ==Nam phương chư quốc tổng bộ tổng luận 南方諸國總部總論== ===Nam Tề Thư (南齊書)=== ==== Đông Nam Di truyện tự (東南夷傳序 - Lời tựa truyện Đông Nam Di)==== Chủng loại người Man (蠻) cực kỳ đông đúc, ngôn ngữ không đồng nhất, thảy đều nương theo sơn cốc mà ở, phân bố tại ranh giới 5 châu gồm: Kinh (荊), Tương (湘), Ung (雍), Dĩnh (郢), Tư (司). Tục người Man (蠻) mặc áo vải, đi chân đất, kẻ thì búi tóc củ hành (chuỳ kế), kẻ thì cắt tóc ngắn. Binh khí lấy vàng bạc làm sức trang trí; dùng da hổ bọc khiên, giỏi bắn nỏ; thảy đều hung bạo, dữ tằn, thích cướp bóc. ==== Đông Nam Di truyện luận (東南夷傳論 - Lời luận truyện Đông Nam Di)==== Sử thần nói rằng: Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", ấy là lời nói tổng quát vậy. Đến như các giống tạp cư của Nam Di (南夷), chia cắt hải đảo mà lập nước, những đồ trân bảo kỳ quái phương xa, không đâu nhiều bằng nơi này. Núi tàng biển ẩn, ngọc báu rực mắt, thuyền buôn từ xa đến, vận chuyển nộp cho phương Nam. Thế nên Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州) giàu có thực thụ, hàng hóa chất đầy kho vương phủ. Việc xâm phạm quấy nhiễu tuy có đôi chút nhưng đạo thanh giáo có thể ban tới. Nếu dùng đức để vỗ về người phương xa, chính là ở đây vậy! === Lương Thư (梁書)=== ==== Hải Nam truyện tự (海南傳序 - Lời tựa truyện Hải Nam)==== Các nước Hải Nam (海南), đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州) trên các hải đảo ngoài biển lớn, cách nhau gần thì 3,000 đến 5,000 dặm, xa thì 20,000 đến 30,000 dặm, phía Tây giáp với các nước Tây Vực (西域). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên) thời Hán (漢), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều dâng lễ triều kiến. Đời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến thời Ngô Tôn Quyền (吳孫權), sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) thông sứ nơi ấy. Những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, nên quan chép sử không ghi lại. Đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến, mới bắt đầu lập truyện. Từ khi nhà Lương (梁) thay đổi vận nước, họ phụng chính sóc, tu sửa chức phận cống nạp, đường biển năm nào cũng đến, vượt xa các đời trước. Nay chọn lấy những nơi phong tục rõ rệt, biên chép thành ''Hải Nam Truyện''. === Tùy Thư (隋書)=== ==== Nam Man truyện tự (南蠻傳序 - Lời tựa truyện Nam Man)==== Nam Man (南蠻) gồm các loại tạp cư, ở xen kẽ với người Hoa, gọi là Diên (蜒), gọi là Nhương (獽), gọi là Ly (狸), gọi là Lão (獠), gọi là Đà (㐌), thảy đều không có quân trưởng, nương theo hang núi mà ở, chính là cái gọi là "Bách Việt" (百越) thời cổ xưa vậy. Tục của họ cắt tóc xăm mình, thích công kích đánh giết lẫn nhau, dần trở nên suy yếu, rồi lần lượt thuộc về Trung Quốc, đều được liệt vào quận huyện, đối xử như người Tề (tân dân), nên không chép lại chi tiết. Những năm Đại Nghiệp (大業) (năm 605 - 618 dương lịch), các nước phương Nam xa xôi đến triều cống có hơn 10 nước, nhưng sự tích đa phần mai một không nghe thấy, nay chỉ còn ghi chép được 4 nước mà thôi. ==== Nam Man truyện luận (南蠻傳論 - Lời luận truyện Nam Man)==== Sử thần nói rằng: Lễ ký (禮) nói "Phương Nam gọi là Man (蠻)", có kẻ không ăn đồ nấu chín. Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", Kinh ''Thi'' nói "Kẻ ngu muội kia là Man Kinh (蠻荊)". Chủng loại thực sự đông đúc, đời đời gây rắc rối nghẽn trở. Từ khi nhà Tần (秦) gộp hai nước Sở, nhà Hán (漢) bình định Bách Việt (百越), đất tận cùng biên ải phía Nam (đan kiêu), bóng nắng tột cùng ở Nhật Nam (日南), nơi nào thủy lục có thể ở được thảy đều lập thành quận huyện. Đến lúc chia biên cảnh Ngô (吳), Thục (蜀), thời gian trải qua Tấn (晉), Tống (宋), đạo trị quốc có lúc hưng lúc suy, việc thần phục hay phản nghịch không nhất quán. Cao Tổ (高祖) thụ mệnh, bình định 9 cõi (cửu vũ); Dạng Đế (煬帝) nối nghiệp, uy đức ban đến 8 phương hoang sơ (bát hoang), dồn tâm sức vào di bang phương xa, chí cầu vật trân dị. Thế nên quân ra đến Lưu Cầu (流求), binh đánh đến Lâm Ấp (林邑), uy chấn phong tục lạ, vượt xa thời Tần (秦), Hán (漢). Tuy có công lao nơi hoang ngoại nhưng không cứu vãn được sự bại vong trong bờ cõi. ''Truyện'' có câu: "Chẳng phải bậc thánh nhân, ngoài yên tất trong lo", lời ấy thật đúng thay! ===Thông Điển (通典) của Đỗ Hữu (杜佑)=== ==== Lược thuật lời tựa về Hải Nam (海南序略)==== Các nước Hải Nam (海南) đã thông hiếu từ thời Hán (漢). Đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州), cư ngụ trên các đảo giữa biển lớn, cách nhau hoặc 300 đến 500 dặm, hoặc 3,000 đến 5,000 dặm, nơi xa thì 20,000 đến 30,000 dặm. Cưỡi tàu dương buồm, đường sá xa xôi không thể biết tường tận dặm sở. Sách vở các nước ngoài tuy có nói về số dặm, nhưng cũng không định thực. Phía Tây giáp với các nước Hồ (胡). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) (năm 111 trước Công nguyên), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều triều kiến. Thời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến khi Ngô Tôn Quyền (吳孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến. Từ thời Lương Vũ Đế (梁武) và Tùy Dạng Đế (隋煬帝), sứ giả các nước đến vượt xa các đời trước. Đời Đại Đường (大唐) từ năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) về sau, thanh giáo ban xa, những nơi từ cổ chưa thông hiếu nay cũng qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà đến, còn nhiều hơn thời Lương, Tùy. Những gì không có tin tức lạ thì không ghi chép lại nữa. ==== Lược thuật lời tựa về Lĩnh Nam (嶺南序略)==== Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺), phía Bắc biển Trướng Hải (漲海), trước thời Ba đại (三代) là vùng hoang phục. Nhà Tần (秦) bình định thiên hạ, mở đất đặt ra 3 quận như Nam Hải (南海). Nhà Tần loạn, Triệu Đà (趙佗) chiếm giữ đất ấy, truyền 5 đời suốt 93 năm. Đến năm Kiến Nguyên (建元) (năm 140 - 135 trước Công nguyên) đời Hán Vũ Đế, Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức diệt đi, chia làm 9 bộ như Đạm Nhĩ (儋耳). Quận Châu Nhai (珠崖) ở trên đảo giữa biển, đại suất vài năm lại phản 1 lần. Năm Sơ Nguyên (初元) đời Nguyên Đế (năm 48 - 44 trước Công nguyên), nghe theo lời bàn của Giả Quyên Chi (賈捐之) mà bãi bỏ quận ấy. Thời Hán Quang Vũ Đế (漢光武), năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 - 56 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) nổi dậy, chiếm hơn 60 thành, Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong. Từ thời Hoàn Đế (桓), Linh Đế (靈) về sau, người Man Lão (蠻獠) lại chiếm huyện Tượng Lâm (象林) thuộc quận Tượng (象郡), bèn trở thành nước Lâm Ấp (林邑). Các quận huyện còn lại qua các đời dù thỉnh thoảng có phản loạn, binh lính châu quận lập tức bình định được ngay. Người ở vùng cực Nam xăm mặt (điêu đề), chân vòng kiềng (giao chỉ), tục lệ trai gái tắm cùng sông. Phía Tây có nước Ăn thịt người (Đạm Nhân quốc), đẻ con đầu lòng thảy đều xẻ ra ăn, gọi là "nghĩa nghi đệ". Nếu thấy ngon thì dâng cho vua, vua thích bèn thưởng cho cha nó; cưới vợ thiếp đẹp thì nhường cho anh mình, đó là người Ô Hú (烏滸). Phía Nam Giao Chỉ có nước Việt Thường (越裳). Năm thứ 6 (năm 1110 trước Công nguyên) thời Chu Công (周公) nhiếp chính, thiên hạ hòa bình, người Việt Thường qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà dâng chim trĩ trắng. Khi đức nhà Chu suy, việc ấy dần dứt. Đến khi Sở tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Tần Thủy Hoàng (秦始皇) bình định thiên hạ, mở vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng (象). Đến thời Hồ Hợi (胡亥), quan Úy Nam Hải là Nhâm Ngao (任囂) ốm sắp chết, gọi Lệnh huyện Long Xuyên (龍川) là người Chân Định (真定) tên Triệu Đà (趙佗) bảo rằng: "Trung Quốc nhiễu loạn, chưa biết nơi nào yên. Đất Phiên Ngung (番禺) dựa núi hiểm trở, biên thùy mấy ngàn dặm, có thể lập thành nước. Trong quận các quan lại chẳng ai đáng bàn cùng, nên gọi ông đến bảo." Bèn cho Đà nhận thư, hành chức Úy Nam Hải. Sau khi Ngao chết, Đà lập tức cắt đứt đường mới mở của nhà Tần, tụ binh tự giữ. Nhà Tần đã diệt, Đà bèn đánh chiếm cả Quế Lâm, Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương (南越武王). Hán đã định thiên hạ, vì Trung Quốc khổ cực, nên tha không giết Đà, sai Lục Giả (陸賈) phong Đà làm Nam Việt vương. Thời Cao Hậu (高後), Đà bèn tự xưng là Nam Việt Vũ đế (南越武帝), phát binh đánh các ấp biên thùy của Trường Sa (長沙), đánh bại mấy huyện rồi rút. Dùng uy binh và của cải hối lộ các tộc Mân Việt (閩越), Tây Âu (西甌), Lạc Việt (駱越), thảy đều thần phục, đất rộng Đông Tây hơn 10,000 dặm, Nam Bắc mấy ngàn dặm. Khi Hiếu Văn Đế (孝文帝) mới lập (năm 179 trước Công nguyên), vỗ về thiên hạ, sai giữ mồ mả tổ tiên Đà ở Chân Định, đặt hộ giữ ấp, hằng năm cúng tế; gọi anh em họ hàng Đà phong quan cao, ban thưởng hậu hĩnh. Sai Lục Giả đi dụ Đà. Giả đến, Nam Việt vương dâng thư tạ lỗi, nguyện làm phiên thần, phụng chức cống nạp. Đến năm Kiến Nguyên (建元) thứ 4 (năm 137 trước Công nguyên) đời Vũ Đế, thời cháu Đà là Hồ (胡), Mân Việt vương là Dĩnh (郢) hưng binh đánh biên ấp Nam Việt. Hồ sai người dâng thư nói: "Hai nước Việt đều là phiên thần, không được tự ý hưng binh đánh nhau. Nay Đông Việt xâm lấn thần, thần không dám hưng binh, chỉ đợi chiếu chỉ Thiên tử." Bấy giờ Thiên tử khen Nam Việt giữ nghĩa giữ ước, bèn sai 2 tướng đi thảo phạt Mân Việt. Hoài Nam vương là An (安) dâng thư can rằng: : "Nước Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Cho nên xưa kia trong cõi là Điện phục, ngoài cõi là Hầu phục, rồi đến Tân phục, Man Di là Yếu phục, Nhung Địch là Hoang phục, thế xa gần khác nhau vậy. Từ khi nhà Hán mới định đến nay 72 năm, người Ngô Việt đánh nhau không sao kể xiết, nhưng Thiên tử chưa từng cử binh vào đất ấy. Thần nghe người Việt không có thành quách ấp lý, ở giữa khe cốc, trong rừng tre, quen thủy chiến, giỏi dùng thuyền. Đất tối tăm ẩm thấp, nhiều hiểm trở đường thủy, người Trung Quốc không biết thế đất, dấn thân vào đó thì 100 người không địch nổi 1 người. Được đất ấy cũng không thể lập quận huyện, đánh chúng không thể dùng bạo lực mà lấy được. : : Nay tự đánh nhau mà Bệ hạ dùng binh cứu, ấy là ngược lại lấy Trung Quốc mà làm nhọc cho Man Di vậy. Vả lại người Việt ngu ngốc khinh bạc, bội ước phản phúc, việc họ không dùng pháp độ Thiên tử không phải tích tụ trong 1 ngày. Một khi không phụng chiếu bèn cử binh giết đi, thần e binh cách sau này không lúc nào được nghỉ. Nay phát binh đi mấy ngàn dặm, mang áo lương vào đất Việt, khiêng kiệu vượt đèo, kéo thuyền vào nước, mùa hè nóng nực, bệnh thổ tả hoắc loạn nối nhau, chưa kịp chạm đao thương thì người chết bị thương chắc đã nhiều rồi. : : Hơn nữa người Việt ít lực thiếu tài, không thể lục chiến, lại không biết dùng xe ngựa cung nỏ, nhưng không thể vào được là vì đất kia hiểm mà người Trung Quốc không hợp thủy thổ. Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. : : Thần nghe lời đồn trên đường rằng em Mân Việt vương là Giáp giết vương rồi. Giáp đã bị giết chết, người dân chưa có chỗ thuộc về. Bệ hạ nếu muốn họ nội thuộc, hãy đưa vào Trung Quốc, sai trọng thần đến chiêu dụ, họ tất sẽ bồng con dắt già mà về với thánh đức. Nếu Bệ hạ không dùng đến họ, hãy nối lại dòng dõi đã dứt, giữ lại nước đã mất, lập vương hầu cho họ, họ tất sẽ ủy thác làm phiên thần, thay nhau cống nạp. Bệ hạ dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt. Đàn ông không được cày cấy, đàn bà không được dệt sợi. Bệ hạ lấy bốn biển làm bờ, chín châu làm nhà, muôn dân thảy đều là thần thiếp, số thuế thu được đủ dùng, hà tất phải tốn công mồ hôi ngựa vì một ngày ở đất Di Địch?" Đế không nghe. Binh chưa vượt đèo, em Mân Việt vương là Dư Thiện (餘善) đã giết Dĩnh để hàng, bèn bãi binh. Sau đó đến đời cháu là Hưng (興), lập mẹ làm Thái hậu vốn là người Trung Quốc, khuyên vương cùng sủng thần dâng thư xin sánh ngang chư hầu trong cõi, 3 năm triều kiến 1 lần. Tể tướng Lã Gia (呂嘉) không muốn, bèn làm phản giết Thái hậu và hết sứ giả nhà Hán. Lập con trưởng của Dĩnh là Kiến Đức (建德) làm vương, phát binh giữ nơi yếu hại. Bấy giờ lệnh cho người Việt và các đạo lâu thuyền phía Nam Giang Hoài là 100,000 quân chinh thảo. Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 5 (năm 112 trước Công nguyên) mùa thu, Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, từ Quế Dương (桂陽) xuôi dòng Hối Thủy; Chủ tước Đô úy Dương Phục (楊僕) làm Lâu thuyền tướng quân, ra khỏi quận Chương (章郡), xuôi dòng Hoành Phố; 2 người vốn là Quy nghĩa Việt hầu làm Qua thuyền, Hạ lại tướng quân, ra khỏi Linh Lăng (零陵), kẻ xuôi dòng Ly Thủy, người đến Thương Ngô (蒼梧). Sai Trì nghĩa hầu nhân tội nhân đất Thục, phát binh Dạ Lang (夜郎), xuôi dòng sông Tường Kha (牂牱), thảy đều hội quân tại Phiên Ngung (番禺). Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên), Lâu thuyền tướng quân dẫn tinh binh hạ cửa hiểm trước, phá Thạch Môn (石門), thu được thuyền lương của Việt, bèn đẩy tới phía trước, làm nhụt nhuệ khí quân Việt. Phục Ba tướng quân dẫn tội nhân, đường xa nên đến muộn, hội quân với Lâu thuyền thì có hơn 1,000 người, bèn cùng tiến. Lâu thuyền đi trước đến Phiên Ngung, Kiến Đức và Gia đóng thành thủ, Lâu thuyền tự chọn chỗ thuận lợi ở hướng Đông Nam, Phục Ba ở hướng Tây Bắc. Gặp lúc tối trời, Lâu thuyền công phá bại quân Việt, phóng hỏa đốt thành. Quân Việt vốn nghe danh Phục Ba nhưng đêm tối không biết quân ít hay nhiều. Phục Ba bèn sai sứ chiêu hàng kẻ đầu hàng, ban ấn thụ, lại thả cho đi chiêu dụ nhau. Lâu thuyền đánh gấp đốt địch, địch trái lại chạy vào doanh trại Phục Ba. Đến mờ sáng, trong thành thảy đều hàng Phục Ba. Lã Gia, Kiến Đức cùng bộ hạ mấy trăm người đêm tối trốn ra biển. Phục Ba sai người đuổi bắt, Hiệu tư mã Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, Việt lang Đô Kê (都稽) bắt được Lã Gia. Binh của Qua thuyền, Hạ lại tướng quân và binh Dạ Lang của Trì nghĩa hầu chưa kịp đến thì Nam Việt đã bình định xong. Bèn lấy đất ấy làm 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林 - bản gốc ghi Thương Ngô 蒼梧), Út Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đặt Giao Chỉ Thứ sử thống lĩnh. Từ thời vua Đà về sau, phàm 5 đời, trải 93 năm thì mất. Hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ ở trên đảo giữa biển, Đông Tây 1,000 dặm, Nam Bắc 500 dặm. Các cừ soái tù trưởng thảy đều xuyên hạt châu vào tai rồi treo xuống, rủ quá vai 3 thốn. Cuối đời Vũ Đế, Thái thú Châu Nhai là người Hội Khê tên Tôn Hạnh (孫幸) bắt nộp khăn rộng khổ, người Man không chịu nổi sưu dịch bèn đánh quận giết Hạnh. Con Hạnh là Báo (豹) tập hợp 10,000 người trở lại đánh phá quân Man, tự lĩnh việc quận, thảo kích dư đảng, liên tiếp mấy năm mới bình xong. Báo sai sứ nộp lại ấn thụ, dâng thư tâu bày sự trạng. Chiếu chỉ bèn bái Báo làm Thái thú Châu Nhai, uy chính thi hành rộng khắp, cống nạp hằng năm thảy đều đến. Trung Quốc tham của quý của họ, dần xâm mưu khinh rẻ, nên đại suất vài năm lại phản 1 lần. Đến đầu thời Nguyên Đế (năm 48 trước Công nguyên), Châu Nhai mấy lần phản. Giả Nghị (賈誼), Tôn Quyên Chi (孫捐之) dâng thư xin đừng đánh, nói rằng: : "Thần nghe đức của ba thánh Diêu, Thuấn, Vũ, đất không quá mấy ngàn dặm mà thanh giáo ban đến bốn biển. Kẻ muốn nhận thanh giáo thì trị, kẻ không muốn thì không cưỡng trị. Thế nên quân thần ca đức, vạn vật thái bình. Võ Đinh, Thành Vương là bậc đại quân, nhưng đất phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương, nhờ thế tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, muôn loài vui với sự sống. Người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc suy, Nam chinh không về, cho đến nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, chỉ lo rộng đất mà không lo hại, khiến thiên hạ tan rã. Nhờ thánh Hán vì trăm họ thỉnh mệnh, bình định thiên hạ. Đến Hiếu Văn hoàng đế, bỏ võ theo văn, án ngục chỉ có mấy trăm người, thuế 40 phần thu 1, trai tráng 3 năm mới đi phục dịch 1 lần. Có người hiến ngựa thiên lý, chiếu không nhận, lệnh cho bốn phương không đến dâng hiến. : : Đến Hiếu Vũ hoàng đế, nhờ nước giàu dân rảnh, đánh đuổi Hung Nô, thông với Tây Vực đến tận An Tức (安息), phía Đông qua Kiệt Thạch, lấy Huyền Thố, Lạc Lãng làm quận, dời đồn ải, chế trị Nam Hải làm 9 quận, thì thiên hạ án ngục hàng vạn, thuế má tăng lên mấy trăm, đặt ra lợi muối sắt rượu để trợ dụng độ mà vẫn không đủ. Khi ấy giặc cướp cùng nổi lên là do chinh phạt không nghỉ vậy. : : Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. Kinh ''Thi'' có câu: 'Ngu muội thay Kinh Man, coi đại quốc là thù'. Từ cổ đã lo ngại lâu rồi, huống hồ là hàng phục đám Man cách phương Nam 10,000 dặm sao? Người Lạc Việt cha con cùng tắm một sông, quen uống bằng mũi, không khác gì cầm thú, vốn không đáng lập quận huyện vậy. Một mình cô độc giữa biển, sương mù ẩm thấp, nhiều độc thảo trùng xà thủy thổ gây hại, người chưa bắt được mà chiến sĩ tự chết. Lại chẳng phải chỉ Châu Nhai mới có châu, tê, đồi mồi; bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy, người ở đó ví như cá rùa, có gì đáng tham! : : Thần trộm lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa đất vô dụng sao? Xét về xưa không hợp, thi hành nay không tiện. Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ đi." Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) bèn bãi bỏ, phàm có 2 quận 65 thành. Phàm vùng Giao Chỉ thống lĩnh, tuy đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác nhau, phải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mới thông. Người như cầm thú, già trẻ không phân biệt. Búi tóc đi chân đất, lấy vải xuyên đầu mà mặc. Sau đó dời tội nhân Trung Quốc đến ở lẫn giữa chúng, mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy lễ hóa. Quang Vũ trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên (任延) giữ Cửu Chân, bèn dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày. Mới đặt法令 (pháp lệnh), bắt đầu biết cưới hỏi, lập ra lễ nghi trường học. Đến năm Quang Vũ thứ 16 (năm 40 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) cùng em là Trưng Nhị (徵貳) làm phản, đánh các quận huyện. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (麊泠), gả cho người Chu Diên (朱鳶) là Thi Sách (詩索) làm vợ, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ dùng pháp luật thắt buộc, Trắc giận nên phản. Bấy giờ các tộc Man Lỉ (蠻俚) ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố thảy đều theo, chiếm 65 thành, tự lập làm vương. Giao Chỉ Thứ sử cùng các Thái thú chỉ đủ tự giữ mình. Năm thứ 18 (năm 42 dương lịch), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (叚志) phát binh các vùng Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô hơn 10,000 người đi thảo phạt. Mùa hạ tháng 4 năm sau, Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị... còn lại thảy đều hàng phục tan rã. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽)... phá tan và bắt hàng, dời cừ soái chúng hơn 300 người sang Linh Lăng, vùng ngoài Lĩnh thảy đều bình định. Đầu năm Nguyên Hòa (元和) đời Chương Đế (năm 84 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải Nhật Nam là Cứu Bất Sự nhân (究不事人), hào trưởng trong ấp dâng tê sống, trĩ trắng. Khoảng năm Vĩnh Quang (永光) (năm 43 - 39 trước Công nguyên), người Man Di Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam hơn 2,000 người cướp bóc trăm họ, bèn đặt chức Tượng Lâm tướng binh Trường sử để phòng họa ấy. Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 2 đời Thuận Đế (năm 85 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam là Khu Liên (區憐)... hơn mấy ngàn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành quách đền miếu, giết quan lại. Châu quận hợp lực thảo phạt nhưng không thuận lợi. Đế triệu công khanh bách quan và thuộc hạ bốn phủ hỏi phương lược, thảy đều bàn nên phát 40,000 binh các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự (bản gốc ghi Kinh Hà 荊河) đến đó. Đô úy Đại tướng quân là Lý Cố (李固) bác lại rằng: : "Nếu Kinh, Dương không có việc thì phát đi cũng được. Nay giặc cướp 2 châu đó kết bè không tan, mà lại làm náo động thêm tất sẽ sinh họa khác. Lại nữa người vùng Diễn Châu, Dự Châu đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến trốn chạy. Quân đi 30 dặm làm 1 trình, mà cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi tốn kém đã như thế rồi. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quân lại ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ lấy lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬), nhờ các tướng lại ở đó mà trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều sai đến trú tại phủ Giao Chỉ. Nay binh Nhật Nam ít lại không được huấn luyện, giữ không đủ đánh không xong, có thể dời hết quan lại dân chúng lên phía Bắc nương tựa Giao Chỉ, sau khi yên tĩnh mới lệnh cho về. Chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh nhau, kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong tước tặng đất. : : Trước đây Thứ sử Tinh Châu là người Trường Sa tên Chúc Lương (祝良) tính dũng quyết. Lại có người Nam Dương tên Trương Kiều trước ở Ích Châu có công phá giặc, thảy đều dùng được. Xưa Văn Đế gia phong Ngụy Thượng ở Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú, nay nên bái Lương... theo đường tắt mà nhậm chức ngay." Bấy giờ bái Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều, Lương đến, đi xe một ngựa vào đất giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, vùng ngoài Lĩnh lại bình định. Về sau nhiều lần có phản loạn, binh châu quận thảo phạt rồi hàng phục chúng. Đến năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 đời Linh Đế (năm 170 dương lịch), Thái thú Út Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) lấy ân tín chiêu hàng hơn 100,000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều thụ quan đái, mở đặt 7 huyện. Tuy nhiên từ nhà Hán về sau, dù lập ra châu huyện, nhưng tục người Lão (獠) khó trị, đại suất vài năm lại loạn 1 lần, nhưng chung quy không đủ làm đại họa. ====Nam Man Tự Lược (南蠻序略)==== Nam Man (南蠻). Vào thời Đường (唐 - Đường Nghiêu) và Ngu (虞 - Ngu Thuấn), họ cùng triều đình lập minh ước, nên gọi là Yếu phục (要服). Thời nhà Hạ (夏) và nhà Thương (商), họ dần trở thành mối lo nơi biên cảnh. Đến thời đại nhà Chu (周), bè đảng bộ chúng ngày càng thịnh. Cho nên kinh ''Thi'' (詩) nói: "Ngu muội thay Kinh Man (荊蠻), coi đại quốc là thù." Đến thời Sở Vũ vương (楚武王) (năm 740 – 690 trước Công nguyên), quân Man (蠻子) cùng quân La (羅子) cùng đánh bại quân Sở, giết chết tướng là Khuất Hà (屈瑕). Quân Sở sau đó chấn hưng lại, các tộc ấy bèn thuộc về nước Sở (楚). Đến khi Ngô Khởi (吳起) làm Tướng quốc cho Sở Điệu vương (楚悼王) (năm 401 – 381 trước Công nguyên), phương Nam thôn tính cả Man (蠻) và Việt (越), chiếm được đất Động Đình (洞庭) và Thương Ngô (蒼梧). Tần Chiêu vương (秦昭王) sai tướng phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di (蠻夷), đặt ra quận Kiềm Trung (黔中). Sau khi nhà Hán (漢) hưng thịnh, thỉnh thoảng có giặc cướp, các tộc Di phương Tây Nam (西南諸夷) thuộc nhóm Dạ Lang (夜郎) thảy đều bị bình định và lập thành quận huyện. Thời Công Tôn Thuật (公孫述) (năm 25 – 36 dương lịch), các đại tính người Dạ Lang (夜郎) đã giúp nhà Hán giữ vững biên cảnh. Đầu thời Hậu Hán (後漢), họ theo sông Phiên Ngung (番禺江) dâng đồ cống nạp. Năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 – 56 dương lịch) đời Quang Vũ (光武), thủ lĩnh người Man (蠻) ở Vũ Lăng (武陵) là Đơn Trình (單程) đánh phá lớn các quận huyện, tướng nhà Hán là Lưu Thượng (劉尚) đánh bại trận, trải qua mấy năm mới bình định được. Thời Thuận Đế (順帝) (năm 125 – 144 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng tăng thuế khóa, người Man lại huy động cả chủng tộc làm phản, giết chết quan lại địa phương (hương lại). Thời Đông Tấn (東晉) (năm 317 – 420 dương lịch), người Man vùng Miện Trung (沔中) nhân sau loạn Lưu Thạch (劉石 - Lưu Uyên và Thạch Lặc) đã dần dời xuống phía Nam Lục Hồn (陸渾), ở khắp đầy các sơn cốc. Từ thời nhà Tống (宋), nhà Tề (齊) về sau, 2 châu Kinh (荊) và Ung (雍) đều đặt chức Hiệu úy để vỗ về yên định vùng đó. Các tù trưởng thủ lĩnh người Man ở quận thường nhận phong tước của Nam Bắc triều (南北朝). Đến cuối thời Hậu Ngụy (後魏), mối họa bạo loạn càng thêm dữ dội, chúng tiếm xưng là Hầu là Vương, đóng giữ các đường hẻm núi (hiệp lộ), làm đứt đoạn đường đi của lữ khách. Chu Vũ Đế (周武帝) (năm 560 – 578 dương lịch) sai Lục Đằng (陸騰) đánh tan quân ấy. Tộc Lão (獠) ban đầu nhân lúc loạn Lý Thế (李勢) đất Thục, sau đó từ sơn cốc vùng Thục Hán (蜀漢) đi ra xâm nhiễu các quận huyện. Đến thời nhà Lương (梁) (năm 502 – 557 dương lịch), các châu quận hằng năm đều đi đánh tộc Lão (獠) để thu lợi. Đến khi Hậu Chu (後周) bình định vùng Lương (梁), Ích (益), từ đó họ dần đồng hóa với người Hoa. Riêng vùng Đông Tạ (東謝), Tây Tạ (西謝) ở Kiềm Trung (黔中), từ cổ chưa từng làm thần tử của Trung Quốc. Từ sau năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) đời Đại Đường (大唐), triều đình đặt ra các châu Kiềm Mâu (羈縻州) để thống lĩnh vùng này. ===Tống Sử (宋史)=== ==== Man Di truyện tự (蠻夷傳序)==== "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi (tứ duệ), chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu." Các tộc Man Di (蠻夷) phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ (thượng du) để lấy về vùng đất cằn cỗi (bất mao), làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh (tù trưởng), khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di (蠻夷), ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn (tinh ngô) thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực (đồ độc) của người dân đã sâu nặng lắm rồi. Nhà Tống (宋) cậy vào văn giáo mà xem nhẹ vũ bị, ấy há phải là cái đạo trị vùng hoang phục (hoang phục) của các bậc tiên vương sao? ===Đại Học Diễn Nghĩa Bổ (大學衍義補) của Khâu Tuấn (邱濬)=== ====Tứ phương Di lạc chi tình (四方夷落之情 - Tình hình các bộ lạc Di ở bốn phương)==== Kinh ''Thuấn Điển'' (舜典) chép: "Đuổi Tam Miêu (三苗) đến Tam Nguy (三危)." '''Chu Hy (朱熹)''' nói: "Tam Miêu là tên nước, ở giữa vùng Kinh (荊), Dương (揚) thuộc Giang Nam, dựa nơi hiểm yếu mà làm loạn. Đuổi (窜) tức là xua đuổi và giam cầm ở đó." "Chia tách và xua đuổi Tam Miêu về phương Bắc." '''Chu Hy''' nói: "Bắc (北) cũng như là Bối (背 - quay lưng), kẻ thiện thì giữ lại, kẻ không thiện thì xua đuổi đi, khiến chúng chia lìa quay lưng mà đi." Kinh ''Ích Tắc'' (益稷) chép: "Bọn Miêu ngoan cố không chịu làm việc, Đế hãy lưu tâm nhé! Đế phán: 'Dẫn dắt đức của ta, ấy là công của ngươi, thảy đều trật tự.' Cao Đao (皋陶) bấy giờ kính cẩn giữ trật tự ấy, bèn thi hành tượng hình (hình phạt biểu trưng), thật là sáng suốt." '''Thái Thẩm (蔡沈)''' nói: "Trong thì Hầu Mục, ngoài thì Phiên Di thảy đều thực hành có công, duy chỉ Tam Miêu ngoan cố kiêu mạn không tuân theo, không chịu làm việc, Đế nên lo nghĩ về việc đó. Đế nói trong bốn biển kẻ nào thực hành đức giáo của ta thì đó là công lao của ngươi (Cao Đao) làm cho có trật tự, nên kẻ ngoan cố không phục tùng thì Cao Đao bấy giờ kính cẩn thừa hành cái trật tự công lao của ngươi, thi hành tượng hình thật sáng suốt. Có kẻ cho rằng bọn Miêu hung hãn, sáu quân (lục sư) chinh phạt mà vẫn nghịch mệnh, há chẳng phải tượng hình của Cao Đao có thể làm được sao? Ấy là chưa biết trật tự binh hình của thánh nhân và gốc ngọn việc trị tộc Miêu của Đế Thuấn vậy. Đại để lấy tượng hình làm uy mà Miêu vẫn không phục, sau đó mới mệnh cho Vũ (禹) chinh phạt. Chinh phạt không phục, lại tăng cường tu sửa đức giáo, đợi khi chúng đến quy phục, sau đó mới chia tách chúng ra." Kinh ''Vũ Cống'' (禹貢) chép: "Tam Nguy (三危) đã yên ổn, Tam Miêu (三苗) cả thảy đều có trật tự." '''Thái Thẩm''' nói: "Tam Nguy chính là nơi Thuấn đuổi Tam Miêu đến." '''Lã Tổ Khiêm (呂祖謙)''' nói: "Tam Miêu có tội tự đáng bị xua đuổi, nhưng phát chính thi nhân tự nhiên phải ban tới chúng, nên khi trị thủy đến Tam Nguy cũng đã khiến chúng an cư, đạt được trật tự lớn. Người đời sau cho rằng ném chúng ra bốn cõi (tứ duệ) là vứt bỏ chúng, đó không phải tâm của thánh nhân." '''Thần (Khâu Tuấn) xét rằng:''' Những gì kinh sử gọi là "Man" (蠻) đa phần chỉ các tộc Di ở phương Nam. Di Địch thấy trong kinh điển bắt đầu từ Tam Miêu, cái gọi là "Miêu dân" (苗民) thì các thiên ''Thuấn Điển'', ''Vũ Mô'', ''Ích Tắc'', ''Vũ Cống'', ''Lã Hình'' đều có đủ. Đế Thuấn lúc mới nhận truyền ngôi đã đứng đầu việc đuổi chúng đến Tam Nguy, đến thời Vũ trị thủy, những kẻ bị đuổi đã có trật tự lớn, kẻ ở lại vẫn không chịu làm việc, nên Đế mệnh Vũ đi chinh phạt, nhưng chúng vẫn nghịch mệnh, đợi đến khi Vũ rút quân chúng mới đến quy phục, bấy giờ mới xét thiện ác mà chia tách chúng ra. Lúc ấy, điều đáng lo là người Man phương Nam, nên Thuấn mệnh Cao Đao làm Sĩ (quan hình pháp), đứng đầu là cử việc "Man Di làm rối loạn Hoa Hạ" làm lời nói. Cái gọi là Man ấy chính là Tam Miêu vậy. Ban đầu, chọn lấy kẻ cực ác mà xua đuổi, sau khi đuổi rồi, lại đối với kẻ ở lại mà chia tách giữa thiện và ác. Kẻ thiện thì khen thưởng mà ban thêm ơn, kẻ ác thì trừng phạt mà dùng thêm uy. Ban ơn thì chúng biết hướng mộ mà làm điều thiện; dùng uy thì chúng biết sợ hãi mà không dám làm điều ác. Đó chính là quyền biến vi diệu của thánh nhân. Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm, trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là cái gọi là Man vậy. Trong đó kẻ khinh捷 (nhanh nhẹn) nhất gọi là Miêu (貓/苗), người thuyết cho rằng đây chính là hậu duệ của Tam Miêu. Nhưng người Miêu ngày nay nương núi mà ở, tính nết không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Xem lời thề của Vũ (Vũ thề sư), kể tội tộc Miêu rằng "quân tử ở nơi hoang dã, tiểu nhân tại vị", tức là tộc Miêu thời ấy có quốc đô quan thuộc, chỉ là việc dùng người bị đảo lộn mà thôi, không giống như người Miêu ngày nay như loài vượn khỉ, không định cư, không nghề nghiệp thường xuyên, không thống thuộc lẫn nhau. Đầu triều đại (nhà Minh), tại Hồ Bắc, Xuyên Đông lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Châu (思州), Bá Châu (播州), lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (quan bản xứ) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa chia tách của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" trong kinh ''Vũ Cống''. Tần Chiêu vương (秦昭王) sai Bạch Khởi (白起) phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di, đặt quận Kiềm Trung (黔中). Nhà Hán hưng, đổi thành quận Vũ Lăng (武陵), hằng năm lệnh cho người lớn nộp 1 xấp vải, trẻ nhỏ nộp 2 thước, gọi là "vải tông" (賨布). '''Thần xét rằng:''' Quận Vũ Lăng thời Hán chính là các châu quận Thường Đức (常德), Lễ (澧), Thần (辰), Nguyên (沅) ngày nay vậy. Năm thứ 33 (năm 214 trước Công nguyên) thời Thủy Hoàng, phát những kẻ từng trốn tránh, ở rể, người buôn bán đi đánh Nam Việt (南越), lấy đất ấy đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象). Lại có Mân Việt vương Vô Chư (無諸) và Việt Đông Hải vương Dao (搖), tổ tiên họ đều là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn (勾踐), họ Ô (騶). Tần đã gộp thiên hạ, thảy đều phế làm quân trưởng, lấy đất ấy làm quận Mân Trung (閩中). '''Thần xét rằng:''' Tần gộp 100 quận, vùng Lĩnh Nam có 3 quận: Quế Lâm nay là đất Quảng Tây (廣西); Nam Hải nay là đất Quảng Đông (廣東); Tượng quận nay là đất An Nam (安南). Từ thời Tần, Hán đến nay, lý do chúng gây hại cho Trung Quốc không phải vì ở ngoài biên ải có giới hạn, mà vì chúng không thể vượt biên giới vào nội địa ta. Đất của tộc Việt, thời cổ chủng loại thực nhiều, nên có danh xưng Bách Việt (百越), gồm Nam Việt (南越), Âu Việt (甌越), Mân Việt (閩越), Đông Việt (東越), Ư Việt (於越), đất ấy không chỉ một nơi, người ấy không chỉ một loại. Nhưng từ thời Tần, Hán đến nay, những loại như Ư Việt, Đông Việt, Âu Mân thảy đều đã vào Trung Quốc từ lâu, không khác gì các nước Tề, Lỗ, Tống, Vệ. Duy chỉ Nam Việt, đất phía Tây nối với Hồ Tương, thẳng tới Điền (Vân Nam), Quý (Quý Châu), ranh giới Tường Kha (牂牁), Việt Huề (越巂), núi sâu đất hiểm, vẫn còn kẻ chưa thảy đều quy về vương hóa, thường xuyên gây hại cho cư dân quận ấp. Đại để Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay, các quận ấp đều nằm xen kẽ giữa các dãy núi, ở lẫn với Man Di, chỉ có chỗ hiểm chỗ bằng khác nhau mà thôi. Thỉnh thoảng chúng lén lút nổi lên, khó lòng phòng bị. Thời Hán Vũ Đế, muốn đánh Mân Việt. Hoài Nam vương An (安) dâng thư nói: : "Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt, dân khổ vì binh đao tất sinh trộm cướp. Binh đao là việc hung hiểm, một phương có biến bốn mặt đều lo. Thần e biến cố phát sinh, gian tà nổi dậy chính từ đây vậy. Thần nghe binh của Thiên tử chỉ có chinh phạt chứ không có chiến đấu, ý nói không kẻ nào dám chống lại. Nếu để người Việt gặp may mà chống lại nhan sắc của bậc chấp sự, khiến binh lính phải phục dịch, chỉ cần 1 người không trở về, dù có lấy được đầu Việt vương, thần vẫn trộm lấy làm hổ thẹn cho nhà Đại Hán." '''Thần xét rằng:''' Mân Việt nay là đất Phúc Kiến (福建), đã nhập vào bản đồ (chức phương) từ lâu, không còn như thời Hán nữa. Nhưng lời Lưu An nói về phương Nam ẩm độc, binh vào đất ấy chưa đợi đao thương đã tự chết bệnh, cùng với việc binh đến thì ẩn trốn, binh lui thì tụ họp, đánh lâu thì sĩ tốt mệt mỏi, dân khổ binh đao... thì tình trạng chướng lệ rừng núi và thực trạng người Miêu, người Lão ở Hồ Nam, Quảng Tây, Vân Quý ngày nay thực sự không khác gì thời Hán. Minh chủ tại vị, lấy thiên địa làm lượng, vũ trụ làm cảnh giới, gặp lúc Di phương xa chưa được giáo hóa thì như lời Lưu An, dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai để trấn phủ ngoại phương, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành; dùng trách nhiệm của 1 sứ giả thay cho 100,000 quân, đừng để dân Trung Quốc phải chịu độc của rắn rết mãnh thú, nhuốm bệnh thổ tả hoắc loạn, cha già rơi lệ, con côi gào khóc, đón thây từ dặm xa, bỏ xương nơi hoang vắng. Điều Lưu An lo nghĩ không chỉ là cái phúc của Di phương xa, mà thực sự là cái phúc của Trung Quốc vậy. Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) đời Nguyên Đế, các quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) đại suất mấy năm lại phản 1 lần, giết quan lại, nhà Hán thường phát binh đánh định. Đến lúc này, các huyện làm phản liên năm không định. Vua bàn với quần thần muốn phát đại quân. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) nói: : "Thần nghe đức thịnh trị của Nghiêu, Thuấn. Vũ vào cõi thánh nhưng không ưu tiên bằng đức của ba vị thánh. Đất không quá mấy ngàn dặm, phía Tây đến Lưu Sa, phía Đông sát biển, phía Bắc và Nam thanh giáo ban đến bốn biển. Ý nói muốn nhận thanh giáo thì trị, không muốn thì không cưỡng trị. Đất thời Ân, Chu phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương. Thế nên tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, người vui với sự sống, người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, khiến thiên hạ tan rã. Hiếu Vũ hoàng đế rèn binh mã để dẹp bốn Di, thuế dịch phiền trọng, giặc cướp cùng nổi lên, thảy đều do mở đất quá rộng, chinh phạt không nghỉ vậy. Nay dân Quan Đông khốn quẫn, lưu lạc trên đường, đến mức gả vợ bán con, luật pháp không thể cấm, đạo nghĩa không thể chỉnh, đó là nỗi lo của xã tắc. Lạc Việt bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy. Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. : : Vả lại lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa, mất quân mà không có công sao? Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ qua." Bèn bỏ Châu Nhai, chuyên tâm lo lắng cứu tế vùng Quan Đông. Vua hỏi đại thần, Thừa tướng Vu Định Quốc (于定國) cho rằng: "Trước đánh Châu Nhai hưng binh liên năm, Hiệu úy và Thừa phàm 11 người, kẻ về chỉ có 2, tốt sĩ và phu dịch chết hơn 10,000 người, tốn kém hơn 300,000,000 mà vẫn chưa thể khiến thảy đều hàng phục. Nay Quan Đông khốn quẫn, dân khó lòng dao động." Lời bàn của Quyên Chi là đúng. Chiếu rằng: "Dân Châu Nhai ai mộ nghĩa muốn nội thuộc thì cho ở lại, ai không muốn đừng cưỡng ép." '''Tô Thức (蘇軾)''' nói: "Dương Hùng có câu: 'Việc bỏ Châu Nhai là sức của Quyên Chi, nếu không loài vảy mai (lân giới) đã thay mũ áo (quán thường) của ta', lời này dùng thời bấy giờ thì được. Từ cuối đời Hán đến Ngũ Đại, dân Trung Quốc lánh nạn đa phần ở đây, nay lễ nhạc văn minh đã hiện rõ, sao có thể lại nói chuyện bỏ rơi được?" '''Thần xét rằng:''' Quyên Chi nói không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị thảy đều đừng làm. Thần trộm nghĩ phàm những vùng đất ngày nay không phải của tổ tông để lại thì có thể dùng kế của Quyên Chi, nếu là vùng đất tổ tông lúc mới được thiên hạ đã đưa vào bản đồ thì sao có thể cho người khác được? Huống hồ vốn là nơi đất đai màu mỡ của Trung Quốc, ải hiểm yếu, người xưa gọi là "một tấc sơn hà một tấc vàng" sao? Nếu không đến mức cực kỳ bất đắc dĩ, và sự sống còn an nguy của đất nước quyết định ở đây thì không thể nhẹ nhàng nói chuyện bỏ rơi. Đầu năm Vĩnh Hòa (永和) đời Thuận Đế (năm 136 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng dâng thư rằng người Man Di thảy đều phục tùng, có thể ví như người Hán mà tăng thuế khóa, người bàn thảy đều cho là được. Duy có Thượng thư lệnh Ưu Hủ (虞詡) tâu rằng: : "Từ cổ thánh vương không coi kẻ mặc áo quần khác lạ (dị phục) là thần tử, không phải đức không đến được, uy không ban được. Mà vì tâm địa như cầm thú của chúng tham lam, khó dùng lễ mà dẫn dắt. Vì thế mà dùng chính sách kiềm chế (kiềm mâu) vỗ về, phụ thuộc thì nhận mà không cự tuyệt, phản loạn thì bỏ mà không đuổi theo. Điển cũ của tiên đế, thuế cống nhiều ít đã có từ lâu. Nay đột ngột tăng thêm tất có oán hận phản loạn, tính toán cái được không bù đắp được cái mất." '''Thần xét rằng:''' Loại người Hoa và Di khác nhau, nhưng cái tâm tham được và tiếc cho thì giống nhau vậy. Đế vương điều khiển Di Địch, thảy đều lấy nghĩa thắng chúng mà không tính toán cái lợi. Cái cũ đã có mà không lấy thì chúng dám tự tiện, cái cũ không có mà lấy thì chúng tất dẫn đến oán vọng. Ta chỉ tuân theo cái cũ mà thôi, ngoài lệ cũ không thêm mảy may, nhưng lại phải nhân lúc chúng thiên tai thiếu thốn mà thỉnh thoảng có sự buông bỏ, không đòi hỏi đủ đầy, không cự tuyệt sự dối lừa của chúng. Trong năm Vĩnh Hòa, Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) cùng châu quận thảo phạt Khu Liên (區憐)... hơn 1 năm không thắng. Vua triệu bách quan hỏi phương lược, thảy đều bàn sai đại tướng phát 40,000 quân các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự đến đó. ''''Lý Cố (李固)''' bác lại rằng: : "Giặc cướp Kinh, Dương kết bè không tan, Trường Sa, Quế Dương mấy lần bị trưng phát, nếu lại làm náo động tất sinh họa khác. Người Diễn, Dự đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến phản trốn. Phương Nam nóng ẩm, lại có chướng khí, kẻ chết chắc chắn 4 đến 5 phần 10. Đi xa vạn dặm sĩ tốt mệt mỏi, đến được Lĩnh Nam không còn sức đánh. Quân đi mỗi ngày 30 dặm, mà Diễn, Dự cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới, mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực tướng lại lừa ngựa. Nơi đóng quân người chết chắc chắn nhiều, đã không đủ chống địch lại phải phát thêm quân, ấy là cắt lòng dạ để bù chân tay. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quan lính ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ làm khổ lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều nhờ các tướng lại đó, trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú. Dời quan dân Nhật Nam lên Bắc dựa vào Giao Chỉ, chiêu mộ người Man khiến chúng tự đánh nhau, vận chuyển vàng lụa làm kinh phí. Kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong hầu tặng đất." Bốn phủ thảy đều theo lời bàn của Lý Cố. Bèn bái Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, chúng thảy đều hàng phục tan rã. Lương đến Cửu Chân, đi xe một ngựa vào giữa quân giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, người hàng phục mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng phủ sở, vùng ngoài Lĩnh lại thái bình. '''Thần xét rằng:''' Lời bàn này của Lý Cố nói về cái tệ của việc dùng binh phương Nam, trúng thiết thực tình, khiến người đời sau đọc sử đến đây thấy rõ như chính mình trong hàng quân, tận mắt thấy việc ngàn năm như một ngày vậy. Đến như lời ông nói về việc "phát tướng vô ích, châu quận có thể tin cậy" đều là những minh chứng đã hiện rõ. Nhưng về sau các quan cai quản ở đó nhậm chức không lâu đã rời đi, người Man Lão biết họ đi nhanh không thể dựa dẫm, mà quan lại sau này chưa chắc đã vậy, thường nửa tin nửa ngờ, nên tuy tạm hàng mà lại phản. Xin lấy hai sông Tả, Hữu Giang (左右兩江) ở Quảng Tây ngày nay làm ví dụ. Đất hai sông rộng 2,000 đến 3,000 dặm, quản辖 (quản hạt) binh dũng (狠兵) không dưới 10 mấy vạn, nay đặt làm 4 phủ, 37 châu, quan chính các phủ châu thảy đều lấy người bản xứ (thổ nhân) đảm nhiệm, còn các chức tá nhị, mạc chức thì dùng quan từ nơi khác đến (lưu quan). Cho nên trong hơn 100 năm qua, chưa nghe thấy có việc tụ tập xâm lược. Mà những kẻ gây hại cho châu huyện thảy đều là những người không thuộc sự quản thúc của Thổ quan, ở xen kẽ trong châu huyện. Trong đó tuy cũng có chức ti带 quản hoặc thiết lập Thổ quan Tuần kiểm, nhưng Lưu quan không có quyền, chúng biết họ ở không lâu nên khinh lờn; còn cái gọi là Thổ tuần kiểm thì quan thấp lực mỏng, không đủ sức kiềm chế nhau. Thần ngu nghĩ kế sách chế ngự thuần phục ngày nay không gì gấp bằng việc lập Thổ quan, xin dùng lệ của hai sông Tả, Hữu Giang mà lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ. Đại để việc đặt phủ châu ở hai sông Tả, Hữu là chuyên giao đất ấy cho một họ, ý thần nói "lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ" là lập ra nhiều quan để phân chia quyền lực. Phàm người Dao, Trọng ngày nay ở lẫn với dân biên tịch trong châu huyện, chỉ là chúng dựa núi rừng mà ở mà thôi. Nay nên đặc biệt sắc lệnh đại thần trong ngoài thân hành đến đất đó, tập hợp các tù trưởng hào kiệt, dụ bằng ơn uy triều đình, sẽ trao cho chức quan, như lệ Thổ quan hai sông Tả Hữu, cho con cháu đời đời hưởng dụng. Kẻ nào dẫn dắt chủng tộc từ 500 tên trở lên nội thuộc thì trao cho chức Tri châu; dưới 400 tên tùy lượng trao chức Đồng tri, Phán quan, Lại mục... Các quan ấy không hạn định số lượng, cũng như chế độ Vệ sở. Khi họ nộp tờ khai không cần khám thực, cấp ngay mũ áo, sai quan thuộc dùng xe ngựa trống nhạc đưa về nơi cư ngụ. Dần dà cho họ chọn đất lập công sở, hợp sức muôn người mà thành. Thành xong dâng tấu xin ấn, cho cử ra một người được muôn người tin phục trong số đó để giữ ấn, thì họ nhận tước mệnh triều đình tất biết cảm mộ, mà đồng loại thảy đều kính trọng. Kẻ nào không phục, họ dựa uy quốc gia hợp lực trừ khử không khó vậy. Tích lâu thành tục, họ thảy đều mộ phong thái Hoa hạ, học lễ giáo mà biết giết chóc cướp bóc là sai. Huống hồ lập ra nhiều quan, thế chia lực cân, tự đủ kiềm chế nhau, không thể làm loạn, mà trong đó không thể không có việc tự tranh tụng. Phải bẩm báo lên thượng ty, tấu về triều đình, thì thế quốc gia càng tôn quý, không nhọc binh đao mà một phương yên tĩnh. Nhưng điều lo ngại gây họa về sau là ranh giới không rõ, lúc khác không thể không tranh giành. Nên nhân lúc ban đầu sai quan hội cùng Thổ tù phân chia địa giới, hoặc lấy khe suối, hoặc lấy gò núi, ngay trên ranh giới lập đá làm dấu, viết chữ lớn khắc sâu rằng: "Từ đây đến đây là giới của hữu ty, đến đây là giới của thổ quan". Trong đó đất của dân có lọt sâu vào cảnh giới của họ thì lấy đất ngoài nơi không thu thuế mà đổi cho dân, tùy rộng hẹp không cần đo đạc lại. Đất do Thổ tù thống lĩnh thì để họ tự nhận nộp thuế lương, định làm ngạch số, ngày sau không được tăng thêm. Xử trí như thế chắc có lẽ vĩnh viễn không có lo âu chăng? Trong năm Trinh Nguyên (貞元) (năm 785 – 805 dương lịch) đời Đường, thủ lĩnh động Hoàng (黃洞) ở Quảng Tây là Hoàng Thiếu Khanh (黃少卿) đánh Ung Quản (邕管), chiếm các châu Khâm (欽), Hoành (橫), Quý (貴)... mấy lần hàng mấy lần phản. Đầu năm Trường Khánh (長慶) (năm 821 dương lịch), Kinh lược sứ Nghiêm Công Tố (嚴公素) lại xin thảo phạt. Binh bộ Thị lang ''''Hàn Dũ (韓愈)''' kiến ngôn: : "Giặc họ Hoàng đều là bọn Di Lão, không có thành quách để ở, dựa núi dựa hiểm, thường ngày cũng tự kiếm sống, gấp thì tụ tập bảo vệ nhau. Gần đây do Kinh lược sứ Ung Quản đa phần không được người tốt, đức đã không thể vỗ về, uy lại không thể lâm chế, xâm khi chiếm đoạt, dẫn đến oán hận. Tính người Man Di dễ động khó an, bèn dẫn đến cướp bóc châu huyện, xâm hại người lành, hoặc để trả thù riêng, hoặc tham lợi nhỏ, khi tụ khi tán, chung quy cũng không thể thành việc lớn. : : Việc chinh thảo gần đây vốn bắt đầu từ Bùi Hành Lập (裴行立), Dương Mân (陽旻), hai người này vốn không có viễn lự thâm mưu, ý tại cầu công nhận thưởng, cũng nhân thấy lúc giặc chưa tụ tập, cho rằng lẻ tẻ có thể đánh tan ngay, tranh nhau hiến mưu kế, chỉ sợ chậm chân. Triều đình tin theo bèn cho phép. Từ khi dùng binh đến nay đã trải qua 2 năm, trước sau tâu báo giết bắt tính không dưới 10,000 đến 20,000 người. Nếu thảy đều không phải giả thì giặc đã hết sạch rồi, mà nay giặc vẫn như cũ, đủ rõ sự dối trá. Lại từ khi Nam chinh đến nay, đồ đảng giặc cũng bị thương tổn nhiều, xét tình lý chúng chắc đã chán khổ sâu sắc. : : Đại để Lĩnh Nam người thưa đất rộng, nơi giặc ở lại càng hoang vu hẻo lánh. Giả sử giết sạch người, chiếm sạch đất ấy, đối với quốc kế cũng chẳng có ích gì. Hãy bao dung kiềm chế, ví chúng như cầm thú, đến thì phòng ngự, đi thì không đuổi, cũng chẳng tổn hại thế sự triều đình. Xin hãy chọn người có tài năng uy tín, am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên vĩnh viễn không có việc xâm lấn phản loạn." '''Thần xét rằng:''' Lời Hàn Dũ nói về việc dùng binh đã 2 năm, tâu báo giết bắt 10,000 đến 20,000 người, nếu không phải giả thì giặc đã hết sạch... lời này không chỉ là cái tệ thời bấy giờ. Nhân tình cổ kim không khác xa nhau, lấy xưa biết nay, duy mong Thánh minh lưu tâm, gặp lúc có tiệp báo phương xa hãy lấy lời này mà nghiệm, sẽ thấy rõ thực giả vậy. Đến như việc xin chọn người tài năng uy tín am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên không có việc phản loạn, lời này thực là lương kế xử trị Nam Man từ cổ chí kim. Đại để Nam Man khác với Bắc Địch, tính người Man âm nhu, dựa núi làm thế, quân đến thì vào núi trốn xa, quân đi thì ra ngoài cướp bóc, như loài ruồi muỗi, vung quạt thì bay tán, thu quạt thì tụ lại, tiêu diệt rất khó. Vả lại đất ấy nhiều chướng lệ, người Trung Nguyên sợ vào đất đó, chưa đến đã khiếp sợ, một khi vào khí hậu không đồng đều, ẩm ướt cực độ, thường thường chưa đánh đã chết, vừa không thể đánh nhanh vừa không thể đánh lâu, nên từ cổ dùng binh chưa từng đắc chí lớn ở Nam Man vậy. Tuy nhiên, cái họa trong thiên hạ thảy đều có lý do. Biết lý do mà chặn cửa, tuyệt gốc thì họa tự dứt. Hơn nữa những kẻ gọi là "Dao Trọng" (猺獞) ngày nay không phải có cường tông hào tộc, cũng không thâm mưu viễn lự, không muốn tranh thành ấp, không muốn thu nhân tâm, chẳng qua muốn cướp đoạt tài vật mà thôi. Nơi chúng ở trong núi sâu rừng lớn, không xây cung thất, không dùng thê thiếp, không vì con cháu; tiền tài kiếm được sẽ dùng vào việc gì? Mà dùng thì sẽ giao thương ở đâu? Khiến người nội địa ta không giao thông với chúng thì tiền tài chúng kiếm được không có chỗ dùng, mà muốn dùng cũng không có chỗ bán. Kế sách ngày nay, nên sắc lệnh Trấn thủ Đô hiến đốc trách các ty Phan, Niết và các Thủ lệnh tướng lãnh nghiêm thúc quân dân thuộc hạ, không cho phép giao thông với giặc. Phàm quân dân ai vào sơn động làm ăn thì cho phép đến quan cáo tri, chở vật gì đến sơn động nào bán, quan ty cấp cho ấn thiếp làm chứng, không có thiếp không cho phép, bắt phải cam kết không mang theo khí vật cấm, chỉ cho phép lấy người, thóc gạo, thổ sản, không cho phép nhận bạc trắng và những vật đất ấy không sản xuất. Kẻ vi phạm đóng gông thị chúng, tịch thu tài vật. Thân thuộc hàng xóm biết tình mà không báo thì tội như nhau, ai báo cáo thì thưởng cho 1 phần 3 tài vật đó. Như thế chúng có vật không chỗ bán, sẽ không cướp hàng cầu tài, giết người lập uy nữa. Lại nghe những năm gần đây, thành ấp về đêm thường bị giặc lẻn vào, nếu không giết chết quan viên, cướp đi ấn tín thì thường giấu tội không báo. Suy nguyên lý do không phải chúng có tài mà do ta không phòng bị. Nên lệnh Trấn thủ Đô hiến Tổng binh quy hoạch phép giữ thành, hành xuống quân vệ hữu ty bảo họ tuân theo thì vĩnh viễn không mất. Xét lý do lẻn vào đa phần do quân vệ hữu ty đùn đẩy nhau, đêm tối mất cảnh giác nên thành ấp thường đến mức thất thủ. Đó không phải bên trong không lương thảo, ngoài không cứu viện, lực kiệt không chống nổi. Từ nay về sau phàm nơi có thành trì, trách lệnh quan chính tá quân vệ hữu ty viết tờ lãnh trạng, bắt họ cùng thành còn mất, có thất thủ quyết không nhẹ tha, thì họ biết tội trách thâm trọng không dám khinh suất, giặc không thể lẻn vào được. Cái gọi là quy hoạch phép giữ thành: mỗi thành tất làm nội viên (tường trong), rào gai dựng sấn thảy đều làm 1 cửa, đêm tối khi đã lên thành giữ thì không cho xuống nữa, phải đợi bình minh mới mở cửa, chúng biết không đường sống thì ngủ không yên chiếu vậy. Lại nuôi sẵn chó sữa thuần phục chúng, cứ mỗi 5 đóa dùng gỗ làm hòm treo một con chó sủa, hơi có tiếng gió chó đã biết cảnh giác. Chúng không thể bắc thang leo tường, thì kế lẻn vào không còn chỗ thi triển. ''Tống Sử'' chép: "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi, chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu. Các tộc Man Di phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ để lấy về vùng đất cằn cỗi, làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh, khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di, ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực của người dân đã sâu nặng lắm rồi." '''Thần xét rằng:''' Thời Đường Ngu, người Di ở ba biên Đông, Tây, Bắc thảy đều không thấy chép, mà thấy trước nhất trong kinh điển là tộc Miêu ở phương Nam. Nhưng người Di ở ba phương thảy đều giáp biên một mặt, người Di ở ngoài mà trong đó là đất của vua; duy chỉ đất biên ải phương Nam thì người Di ở lẫn trong đất vua, xen kẽ với cư dân, nên cái hại đến dân lại càng dễ, không giống như giặc ba biên có lúc đến, có nơi xâm, có hành trình, trước đó có thể phòng bị, lúc đến không dẫn đến cuống cuồng mất phương hướng. Thời Nhân Tông, ''''Địch Thanh (狄青)''' xin đánh Nùng Trí Cao (儂智高), muốn có binh của các bộ lạc (phiên lạc) ở biên giới phía Tây đi theo. Có kẻ bảo phương Nam không hợp cho kỵ binh, Khu mật sứ Cao Nhược Nạp (高若訥) nói: "Các bộ lạc giỏi bắn, chịu gian khổ, lên xuống núi như đất bằng, nhân lúc chướng khí chưa phát mà xua nhanh phá chúng, tất thắng vậy." Thanh cuối cùng dùng kỵ binh phá giặc. '''Thần xét rằng:''' Binh các bộ lạc lấy kỵ xạ vang danh thiên hạ, người Man phương Nam nghe thấy tự nhiên rụng rời, nhưng thần cho rằng dùng vào lúc có sự không bằng lúc không sự gặp kẻ Khương Hồ nội thuộc thì ưu ái nuôi dưỡng an trí vùng này, không chỉ hôm nay biên ải phương Nam cậy vào sức họ, mà cũng có thể tiêu trừ họa nội địa lúc khác. Đầu thời Tống, có lời tâu với Nhân Tông rằng: "Lĩnh Nam là vùng đất xa xôi, chướng lệ bốc lên, người phương Bắc đi lính trấn thủ kẻ đi 10 chết 9. Phát nhiều binh thì thiếu lương, ít thì việc không xong, gấp gáp cầu công thì người Man trốn biệt không chịu ra, lơi lỏng thì lại đến nhiễu người, ấy là nên có cách chế ngự vậy. Nay nghe phát Bắc binh hơn 10,000 người trấn thủ ngoài Lĩnh, dưới thấp trên hầm bệnh chết chắc nhiều, liệu các tộc Man không đóng lâu, đánh chúng tất tán. Thần cho rằng không bằng chọn 1 đến 2 kiện tướng, hằng năm chỉ giữ 5,000 Bắc binh, chia đóng nơi yếu hại, tìm hơn 10 thiện lại chia đặt các châu, mộ thổ nhân làm hương quân, miễn thuế dịch cho họ, xem châu lớn nhỏ, hộ nhiều ít mà định số lượng, thống lĩnh bộ ngũ, dạy cách tiến thoái, thảy đều lấy sở trường của họ mà đuổi bắt nhau. Cứ 100 người thì cho 30 Bắc binh đi kèm, dùng cung mạnh binh sắc hỗ trợ. Mùa Đông Xuân thì sai thâm nhập nhiễu nơi ở của chúng; mùa Hạ Thu thì sai giữ kỹ phòng chúng cướp bóc. Chúng tuy có thể dụ dỗ kẻ vong mạng Trung Quốc, nhưng xét cho cùng ăn hết tất phải ra cướp. Nếu chúng đến, đánh giết được nhiều thì suốt đời chúng kinh hãi. Uy đã lập rồi sau đó mới bàn chuyện chiêu hàng. Thề với chúng thì bền, cho làm thần tử thì lâu, hẹn xa 5 năm, gần chỉ 1 năm, phương Nam vô sự vậy." '''Thần xét rằng:''' Pháp trị Nam Man khác với Bắc Địch, người thuyết cho rằng chinh Man không có kế toàn thắng, vì sao? Vì đất ấy nóng ẩm, chướng lệ cực độ, lính Trung Nguyên không hợp thủy thổ, không đợi qua gươm giáo tên đá đã tự mắc dịch mà chết, dù có triệu binh cũng không làm gì được vậy. Thần trộm nghĩ nạn chướng lệ chỉ xảy đến với kẻ nghèo yếu và kẻ không biết điều tiết mà thôi, còn như tướng soái cư quan hiển yếu thì hiếm gặp. Xin lệnh cho các trọng thần trấn giữ nơi đó đa phương hỏi han những kẻ bị đày ở đó lâu năm mà vẫn thọ và khỏe, hỏi họ cách ăn ở điều tiết, ghi chép chi tiết khắc bản ban cho sĩ tốt. Mỗi đội ngũ chọn 1 người chuyên trách việc đó, kẻ nào không tuân theo điều chỉ dẫn mà tự tiện không kiêng khem tất phải gia tội. Những thuốc men dụng cụ cần chuẩn bị hãy lệnh hữu ty cấp cho. '''Trương Thức (張栻)''' khi làm Tri phủ Tĩnh Giang tâu rằng: "Bản phủ có 9 quận phòng biên mà Ung Quản (邕管) là trọng yếu nhất. Ung Quản rộng mấy ngàn dặm mà hai sông Tả Hữu Giang là trọng yếu nhất. Từ phía Tây Bắc Ung Quản có Tường Kha (牂牁), La Điện (羅甸), Tự Kỷ (自杞); từ phía Tây Nam có các nước An Nam (安南), thảy đều là nơi phải phòng bị. Nhưng lính trấn thủ Ung Quản không đầy 1,000 người, cái cậy làm hàng rào duy chỉ có các khe động ở hai sông Tả Hữu Giang cộng hơn 8,000 nơi, dân binh không dưới 100,000, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu cổ xưa. Cách Ung Quản gần nhất là hơn 300 dặm, xa nhất gần 1,000 dặm, cái cậy để duy trì vỗ về duy chỉ có 4 người Đề cử Đạo tặc Đô tuần kiểm, mỗi người mang hơn 100 lính trấn thủ làm cương lĩnh cho khe động, chức nhiệm ấy không thể gọi là nhẹ vậy. Có thể nào không tuyển chọn kỹ người, cẩn trọng giữ đất đó để làm kế lâu dài cho nơi xa xôi chăng!" '''Thần xét rằng:''' Nhà Đường chia đất Lĩnh Nam làm 5 quản, mà Quế (桂), Ung (邕), Dung (容) thuộc Lĩnh Nam Tây Đạo; trong bản triều ta, cắt đất phía Tây Dung Quản thuộc Quảng Đông, còn Quảng Tây thực sự chiếm trọn hai quản Quế, Ung và một phần nhỏ Dung Quản. Ung chính là phủ Nam Ninh (南寧) ngày nay, đất ấy khống chế hai sông Tả Hữu Giang, thực là cổ họng của đất An Nam. Đầu triều đại nhân theo lệ cũ của đời trước, đặt 4 phủ Thái Bình (太平), Điền Châu (田州), Tư Minh (思明), Trấn An (鎮安) và 7 châu như Long Châu (龍州). Đầu năm Chính Thống (正統) (năm 1436 dương lịch) lại nâng Tư Ân châu lên làm phủ, dùng thổ nhân làm Thủ trưởng, còn Tá nhị Mạc chức dùng Lưu quan, duy chỉ phủ Thái Bình thảy đều dùng Lưu quan, còn các châu trực thuộc vẫn theo tục cũ. Phàm các châu quận kiềm chế này đã hướng nội từ lâu, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu xưa, gặp lúc trưng phát cũng cậy vào sức họ. Nhưng hiện nay lính trấn thủ khống chế chỉ có hai vệ Nam Ninh, Tuần Tượng và một sở Thái Bình, có vẻ đơn yếu. Xin như lời Trương Thức nói, nhân lúc vô sự hiện nay, tại đất này đồn binh làm trọng trấn, tuyển chọn giữ tướng, cẩn trọng giữ đất, làm kế lâu dài để tiêu biến biến loạn lúc chưa xảy ra. An Nam (安南) vốn là Giao Chỉ (交阯) cổ xưa. Tần gộp thiên hạ, tại đây đặt Tượng quận (象郡). Tần vong, Úy Nam Hải là Triệu Đà đánh chiếm lấy. Hán đặt 9 quận, ba quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Tượng (象) chính là đất Giao Chỉ. Sau người đàn bà Trưng Trắc (徵側) phản, sai Mã Viện bình định, lập cột đồng làm giới hạn nhà Hán. Nhà Đường bắt đầu chia Lĩnh Nam làm hai đạo Đông Tây, đặt Tiết độ, lập 5 quản, An Nam lệ thuộc vào đó. Thời Ngũ Đại, Lưu Ẩn gộp đất ấy làm Giao Chỉ Tiết độ sứ. Sau đó trong quản đại loạn, có Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) định yên. Con là Liễn (璉) nội thuộc, nhà Tống phong làm Giao Chỉ quận vương. Truyền cho con là Toàn (璿), bị Lê Hoàn (黎桓) đoạt lấy. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 4 (năm 993 dương lịch), phong Hoàn làm Vương. Hoàn chết, con là Long Việt (龍鉞) lập, em là Long Đĩnh (龍廷) giết Việt mà thay thế. Long Đĩnh muốn tu cống, An phủ sứ Thiệu Diệp (邵曄) bẩm báo, Chân Tông nói: "Vùng xa xôi tục lạ không hiểu thể thống, sao có thể trách được." Vẫn phong làm Vương, ban tên Chí Trung. Sau bị hạ thần Lý Công Uẩn (李公蘊) đoạt lấy, bèn phong Công Uẩn làm Vương. Họ Lý truyền 8 đời đến Hạo Hàm (昊旵), người Phúc Kiến là Trần Nhật Chiếu (陳日照) làm rể, bèn có được nước ấy. '''Thần xét rằng:''' Giao Chỉ vốn là đất quận huyện của Trung Quốc từ thời Tần Hán đến nay, thời Ngũ Đại bị Lưu Ẩn thôn tính, đến đầu thời Tống mới phong làm Quận vương, nhưng vẫn ban cho quan tước huân giai của Trung Quốc như "Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát đẳng sứ" và ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa Công thần", thảy đều như bề tôi nội địa, chưa từng gọi là "Quốc" (nước). Về sau phong Nam Bình vương, tấu chương văn di vẫn xưng là "An Nam đạo", thời Hiếu Tông bắt đầu phong Vương xưng Quốc, mà thiên hạ nhân đó coi họ như Cao Ly, Chân Lạp, không còn biết đó là quận huyện của Trung Quốc nữa. Họ Trần truyền 12 đời đến Nhật Côn (日焜), bị Lê Quý Ly (黎季犛) chiếm ngôi. Quý Ly dâng biểu dối tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元), con là Thương (蒼) đổi tên, trá xưng họ Trần tuyệt tự, lấy danh nghĩa cháu ngoại cầu quyền giữ việc nước, Thái Tông hoàng đế ta đã nghe theo. Qua năm sau, cháu họ Trần tên Thiêm Bình (添平) chạy đến kinh sư tố thực, Quý Ly bèn dâng biểu xin đón Thiêm Bình về nước. Triều đình không ngăn sự dối trá, sai sứ đưa Thiêm Bình về. Đến biên giới, Quý Ly phục binh giết đi cùng cả sứ giả. Sự việc đến tai, Thái Tông cáo với trời đất thần kỳ, kể tội chinh phạt, sai Chinh Di tướng quân Chu Năng (朱能)... đi đánh. Năng chết trên đường, mệnh Phó tướng Trương Phụ (張輔) tổng lĩnh quân binh, bắt sống Quý Ly cùng con là Thương, Trừng hiến phù tại kinh sư. Ra chiếu tìm hậu duệ họ Trần để lập. Người trong nước thảy đều nói Quý Ly đã giết sạch, không ai kế thừa, thảy đều xin phục hồi quận huyện như xưa. Bèn như chế độ ngày nay, lập ba ty Đô, Bố, Án Giao Chỉ cùng các phủ châu huyện vệ sở, thảy đều như nội địa. Về sau có Lê Lợi (黎利), là kẻ Di trong đám Di vậy, quan trong triều che chở nên dẫn đến ngang tàng, dâng biểu xin lập hậu duệ họ Trần. Tuyên Tông hoàng đế nói đây là ý của Hoàng tổ (Thành Tổ), bèn nghe theo, bèn bỏ đất ấy để họ phục hồi làm nước. Ôi! Từ khi Tần gộp 100 quận, đất Giao Chỉ đã cùng Nam Hải, Quế Lâm vào Trung Quốc. Giữa thời Đường, người Giang Nam làm quan hiển hách còn ít, mà người Ái Châu (愛州) là Khương Công Phụ (姜公輔) đã làm Học sĩ, Tể tướng trong triều, sánh vai với các sĩ phu Trung Châu vậy. Thế mà trải qua Ngũ Đại bị thổ hào chiếm cứ. Nhà Tống hưng không thể thảo phạt, khiến đất này sa vào cõi Man Di, mang cái tục nhếch nhác, 300 năm mà không được cùng Nam Hải, Quế Lâm... dự vào hàng ngũ văn minh lễ nhạc làm quê hương danh tiếng vật báu, thật là bất hạnh thay! Trong đó người Tống dù 1 lần đuổi được vua họ, người Nguyên dù 2 lần vào kinh đô họ mà chung quy không thể giữ được. Thái Tổ hoàng đế ta khai quốc ban đầu, họ Trần trước tiên nộp khoản, Thái Tổ chép vào ''Tổ Huấn'' không cho hậu nhân đánh nước họ. Họ Trần bị giặc Quý Ly giết hại, Thái Tông hoàng đế thể theo ý của Cao Hoàng, không dứt dòng dõi họ Trần, sai sứ đưa về nước, giặc Quý Ly lại giết đi cả sứ giả. Bất đắc dĩ hưng binh bình định, tìm hậu duệ họ Trần không được, bèn dùng cố sự Hán Đường phục lập quận huyện, nhưng quan giữ đất không cẩn trọng dẫn đến Man Lão lại hoành hành, mà Lê Lợi lấy lời tìm hậu duệ họ Trần làm từ ngữ. Tuyên Tông hoàng đế thể theo tâm của Văn Hoàng, để họ nối lại dòng tuyệt của họ Trần, không ngăn sự dối trá của Lê Lợi, bèn bị che mắt, quần thần mấy lần xin hưng binh thảo phạt, Chương hoàng đế (Minh Anh Tông) nhớ lời dạy của Thánh tổ nên gác lại không hỏi. Mà vùng Cửu Chân, Nhật Nam, di dân từ thời Tần Hán đến nay đã được thấy ánh mặt trời rồi lại sa vào vực thẳm, thật là trọng bất hạnh thay! Trộm nghĩ cương vực ngày nay xa quá thời Tống, sánh ngang thời Đường mà không bằng thời Hán chính vì mất 3 quận ngoài Lĩnh này. May mắn được rồi lại mất, thật là đáng tiếc. Nhưng giữ lời dạy của tổ tông không sai không quên, ấy là cái hiếu lớn của việc kế thừa, cái đại thể của việc giữ thành quả vậy. Điều đáng tiếc là dân một phương chịu sự trọng bất hạnh mà thôi. Cương vực An Nam, thời Tần Hán là đất 3 quận, nay đất ấy phía Đông vượt Khâm Châu (欽州) của Quảng Đông, phía Tây trải qua Tả Giang của Quảng Tây, đến Lâm An (臨安) Nguyên Giang (元江) của Vân Nam làm giới hạn. Khâm Châu về phía Đông là đường biển đối cảnh; phía Tây Khâm Châu là giới hạn phủ Nam Ninh. Phía Đông Nam Nam Ninh là các châu Thượng Tư (上思), Trung Châu (忠州), Thượng Hạ Thạch Tây (上下石西) thuộc phủ Tư Minh; các châu Long Anh (龍英), Thái Bình (太平), An Bình (安平), Thượng Hạ Đống (上下凍) thuộc phủ Thái Bình thảy đều giáp giới với họ. Mà Long Châu (龍州) chính là con đường họ tất phải đi qua, còn huyện Phán Tường (憑祥) là nơi yếu hại vậy. Phủ Trấn An có Quy Thuận (歸順) và động Hạ Lôi (下雷) cũng giáp giới. Phía Tây hai động ấy là giới hạn Vân Nam. Các châu A Mê (阿迷), trại Tả Năng (左能)... 9 Trưởng quan ty thuộc Lâm An thảy đều là giới hạn gần, Nguyên Giang có đường thủy thông tới, còn huyện Mông Tự (蒙自) là con đường tất phải đi qua của họ. Về đường sá: * Tại Quảng Tây: Từ phủ Thái Bình trải qua Long Châu và huyện Phán Tường, đến phủ Lạng Sơn (諒山) của họ, tới nơi họ gọi là Đông Đô (thăng long) mất 7 ngày đường. * Tại Quảng Đông: Từ Khâm Châu đi về hướng Tây Nam 1 ngày đến Vĩnh An châu (永安) của họ, từ Ngọc Sơn (玉山) đến Đông Đô của họ mất 5 ngày đường. * Tại Vân Nam: Từ phủ Lâm An qua bãi Liên Hoa (蓮花灘) ở đáy sông huyện Mông Tự đến Đông Đô của họ mất 4 - 5 ngày đường. Đó là đại lược về biên cảnh giữa Trung Quốc và Giao Nam vậy. ===Đồ Thư Biên (圖書編)=== ==== Nội Di tổng luận (內夷總論)==== '''Xét rằng:''' Bốn phương Di (四夷) thấy trong kinh điển bắt đầu từ tộc Tam Miêu (三苗). Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là người Man (蠻) vậy. Trong đó kẻ nhanh nhẹn nhất gọi là Miêu (貓), chính là hậu duệ của Tam Miêu (三苗), nương núi mà ở, bản tính tập quán không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Đầu triều đại, tại Hồ Bắc (湖北), Xuyên Đông (川東) lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Xuyên (思川), Bá Châu (播州). Lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (土官) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa "chia tách phương Bắc" của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" của Đại Vũ (大禹). ==== Chế ngự Nội Di tổng luận (制馭內夷總論)==== "Nhà Minh (明) hưng thịnh, bình định bốn biển, phàm những vùng đất của người Di (夷), Lão (獠), Man (蠻), Bặc (僰), Dao (猺), Trọng (獞), phía Tây khởi từ Ba Thục (巴蜀), Tường Kha (牂牁), phía Đông đến vùng Tương (襄), Sở (楚), phía Bắc bao bọc Hồ Lĩnh (湖嶺), chuyển sang phía Đông rồi xuống phía Nam, phương Nam tận cùng tới biển, lại phía Đông vượt qua Bách Việt (百粵) và ba sông (Tam Giang - 三江). Kẻ lớn thì chiếm giữ cả dãy thành trì, kẻ nhỏ thì bám giữ nơi rừng sâu. Tuy có chút phụng theo ước thúc, nhưng chủ yếu vẫn chỉ là kiềm chế vỗ về (kiềm mâu - 羈縻) mà thôi. Thế nhưng khi binh lực của chúng mạnh lên một chút thì lúc phản lúc hàng; nếu cứ thuận theo và buông lỏng quá mức, vỗ về mất kế sách, thì hùng tâm của ta tự thu hẹp mà hang ổ của chúng lại càng sâu. Huống hồ đất rộng quan cao, chiếm lợi giỏi binh, dân số (sinh xỉ) càng đông, tài vật càng đầy. Chúng dùng dối trá để thành mưu, dùng công lao để giải tội, gieo rắc nỗi lo nuôi dưỡng tai họa, xem thường Trung Thổ (中土), chưa thể nói là không có lo âu. Than ôi! Kinh ''Hạ điển'' có vùng Yếu Hoang (要荒), chức ''Chu quan'' có vùng Phiên Trấn (蕃鎮), đại để đều là nương theo dân mà thuận theo tục. Vượt biển đánh dẹp, qua sông cách núi, đất đai dần mở mang nhưng sự giáo hóa cuối cùng vẫn bị ngăn lấp. Mới hay đức trời không tư riêng, vương đạo có chừng mực, mở mang nước nhà mà coi nhẹ việc vỗ về lòng dân thì sự phòng bị sẽ bị khốn đốn bởi tầm nhìn hạn hẹp. Nếu bốn Di tự có đủ no ấm, Trung Hoa không lo bị độc hại, thì ta còn mong cầu gì hơn? Chỉ vì quan lại thích tích trữ, chính sự nhiều trễ nải, hoặc vì lánh hiềm tự làm sạch mình, hoặc vì cầu thắng mà ham lập công, thế nên tin tức xâm lấn hằng ngày nghe thấy, binh lính mấy phen nổi lên, lưới pháp lỏng lẻo, Di (夷) và Hạ (夏) đều khốn đốn. Nay muốn thu tóm kế sách lâu dài để mưu đồ sự yên ổn bền vững, tất phải phân định rạch ròi cương giới thì lân tộc không tranh giành; định rõ đích thứ thì tông chi tự ổn định. Lúc cha truyền con nối, phải kịp thời kiểm tra báo cáo; việc nộp tiền thóc, thảy đều bãi bỏ. Lại phải chỉnh đốn võ bị nơi các Tiết soái, tu sửa văn đức chốn Miếu đường, thì nỗi lo loạn lạc sẽ ít đi vậy." ==Nam Phương chư quốc tổng bộ kỷ sự (南方諸國總部紀事)== ===Nguyên Sử (元史)=== ====Truyện Quy Dương (歸暘)==== Tù trưởng vùng Thuận Giang (順江) là Nhạc Tôn (樂孫) cầu xin nội phụ, xin lập Tuyên phủ ty cùng đặt 13 nơi quận huyện. Quy Dương (歸暘) nói: "Người xưa có câu: 'Roi tuy dài nhưng không đánh tới bụng ngựa'. Nếu thực đặt quận huyện, khi có sự cố mà không cứu thì cô phụ cái ý đến quy phụ, nếu cứu thì làm mệt mỏi Trung Quốc mà phục vụ ngoại Di, ấy gọi là hưởng hư danh mà chịu thực họa vậy." Quy Dương tranh biện rất mạnh với Tả thừa Lữ Tư Thành (呂思誠). Thừa tướng Thái Bình (太平) cười bảo: "Đô sự Quy Dương giỏi thật, khờ khạo như thế, sao lại kháng cự dữ vậy? Thế nhưng mưu sách của ngươi rốt cuộc là gì?" Quy Dương đáp: "Tù trưởng ấy có thể phong chức Tuyên phủ, chớ nên cưỡng cầu cống nạp thuế khóa, sứ giả ban cho vàng lụa rồi cho về là đủ rồi." Sau cùng đã theo lời của Quy Dương. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/en/book/GJTS08/chapter/1lpka93xg3nyy?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] jf3xmnaz10scsaqovsdp23fyc5ud6lv 204621 204620 2026-04-09T11:09:30Z Mrfly911 2215 204621 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第089卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 89''' | trước= [[../quyển 088|quyển 88]] | sau= [[../quyển 090|quyển 90]] | ghi chú = }} ==Nam phương chư quốc tổng bộ vị khảo (南方諸國總部彙考)== === Quảng Đông Thông Chí (廣東通志) - Ngoại chí (外志) === Thời Hoàng Đế (黃帝), người Di phương Nam (南彝) cưỡi hươu trắng đến dâng rượu nghệ và áo lông thú màu nâu. Thời Đường Nghiêu (唐堯) vỗ về phương Nam đến vùng Giao Chỉ (交阯), tộc Tam Miêu (三苗) đến thần phục. Thời Ngu Thuấn (虞舜), tộc Kiêu Diêu thị (僬僥氏) đến cống nạp lông chim Một Vũ, các tộc Man Di (蠻彝) đều tuân phục. Nhà Hạ (夏) lập ra 5 vùng Ngũ phục (五服), bên ngoài tiếp giáp bốn biển, Nam Hải (南海) có cá, da thú, ngọc trai, ngọc cơ và ốc tai tượng đại bối. Thời Thương (商), Y Doãn (伊尹) định lệ cống nạp bốn phương, phương Nam có các nước Âu (甌), Đặng (鄧), Quế (桂), Tổn Tử (損子), Sản Lý (產里), Bách Bộc (百濮), Cửu Khuẩn (九菌). * 6 cái tên này là tên gọi riêng của các tộc Nam Man (南蠻). ''Âu'' (甌) cũng giống như ''Âu'' (漚), ''Âu'' là ''Lạc'' (駱) vậy. ''Đặng'' (鄧) mang họ Mạn (曼), là các động người Man ở Kinh Nam (荊南). ''Quế'' (桂) là tám cây quế ở Phiên Ngung (番禺). ''Tổn Tử Sản'' (損子產) là chỉ tộc người Man ăn đầu người và sinh con. ''Lý'' (里) âm đọc là Lê, nay gọi là người Lỉ (俚人). Lệnh dâng nộp ngọc trai, đồi mồi, ngà voi, tê giác văn tê, lông chim thúy, chim Khuẩn hạc, chó Củ làm đồ cống. * ''Cơ'' (璣) giống ngọc trai nhưng nhỏ hơn. ''Khuẩn hạc'' có lông dùng làm cờ và quạt che, ''chó Củ'' là giống chó tốt. Buổi triều hội thời Thành Chu (成周), người Âu (甌) dâng ve sầu và rắn hổ mang ở đất Việt (越), nộp hàu văn thận của tộc Thả Âu (且甌). * Nay là đất Lạc Việt (駱越) ở Quảng Tây. Y Doãn (伊尹) triều cống phương Đông là tộc Âu (漚), tức người Âu (甌). Còn phương Nam là tộc Âu (甌), tức người Lạc Việt (駱越). ''Âu'' (漚) và ''Âu'' (甌) dùng thông nhau. ''Văn thận'' (文蜃) là loài sò lớn. Tộc Cộng nhân (共人) dâng sò Nguyên bối (元貝). * Người Man ở Ngô Việt (吳越) gọi là ''Cộng nhân'' (共人). ''Nguyên'' (元) là màu đen. ''Bối'' là loài sâu lớn dưới biển. Vùng Hải Dương (海陽) dâng cua lớn. * Phía Nam nước biển, nay là nơi sản sinh ra con cù kỳ (蝤蛑), thuộc phía Đông Triều Châu (潮州) vào vùng Mân (閩 - Phúc Kiến). Tự Thâm (自深) dâng quế. * ''Tự Thâm'' là tên vùng Nam Man, quế nay xuất sản từ Quế Châu (桂州), Thiều Châu (韶州). Vùng Hội Khê (會稽) dâng da thú. * Da có thể dùng bọc mặt trống. Chim trĩ của tộc Man Dương (蠻揚). * Chim trĩ của người Man ở Dương Châu (揚州) là loài gà núi (sơn kê). Vùng Thương Ngô (倉吾) dâng chim phỉ thúy. Phỉ thúy dùng để lấy lông. * ''Thương Ngô'' (倉吾) nay là Thương Ngô (蒼梧). Chim phỉ thúy có lông xanh pha vàng. Người phương Nam khi dâng lễ vật đông đảo thảy đều hướng về phương Bắc. * ''Nam'' ở đây là Nam Việt (南越). Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺) đến sát biển là vùng Dương Việt (揚粵), nay là đất Quảng Đông. Thời Hán (漢), phía Nam Nhật Nam (日南) có các nước Đô Nguyên (都元), Trạm Ly (湛離), Cam Đô Lư (甘都盧), Hoàng Chi (黃支)... gần thì đi 10 dư ngày, xa thì hành trình đến 4 hoặc 5 tháng. Phong tục đại lược giống vùng Châu Nhai (朱崖). Cõi bang rộng lớn, hộ khẩu đông đúc, nhiều vật lạ. Thời Hán Vũ Đế (漢武帝), thường sai những người ứng tuyển cùng sứ giả đi biển, mua ngọc minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá quý và vật lạ, mang theo vàng ròng và các loại lụa là mà đi. Đến nước nào cũng được cung cấp lương thực theo cặp, thuyền buôn của người Man Di (蠻彝) lần lượt chuyển tống đi. Đồ trân quý của ngoại tộc lưu nhập vào Trung Quốc bắt đầu từ đây. * Lưu Hướng (劉向) nói: "Thuyền buôn một cột buồm sâu hơn 50 khuỷu tay, thuyền ba cột buồm sâu hơn 15 khuỷu tay; Tây Vực lấy khuỷu tay làm đơn vị đo lường." Thời Quang Vũ Đế (光武帝) nhà Hậu Hán (後漢), người Man ngoài biên ải Giao Chỉ (交阯), Nhật Nam (日南) đến cống nạp. Mã Viện (馬援) dựng cột đồng. Sau đó, người Di ở Tây Đồ (西屠) cũng đổi quốc hiệu thành Ca La (哥羅), thuộc về Phù Nam (扶南). Từ đó tên các nước nhiều lần thay đổi. Người Man ở Tượng Lâm (象林), Nhật Nam nhiều lần phản loạn rồi lại hàng, sau đó Khu Liên (區連) 〈có chỗ chép là Khu Liên 區憐〉 chiếm cứ Lâm Ấp (林邑), bỏ phong tục và văn tự Trung Quốc, dần giống với Bà La Môn (婆羅門), từ đó sách Phật truyền đến. Đến thời Hoàn Đế (桓帝), các nước Thiên Trúc (天竺), Đại Tần (大秦) ở phía Tây Phù Nam (扶南) đều từ Nam Hải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ đến cống hiến, từ đó thương nhân người Hồ (賈胡) tràn ngập vùng Dương Việt (揚粵). Đồ cống có đồi mồi, ngà voi, vải bông (cổ bối), trầm hương, hổ phách. Thú thì có voi thuần, tê giác đen (nguyên tê), đười ươi (tinh tinh)... nhiều không sao kể xiết. Đời Ngô (吳), Tôn Quyền (孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước phiên thuộc, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến số lượng vài trăm nước. Khang Thái lập kỷ truyện, gọi là "Phù Nam thổ tục", chép về các nước: Bồ Lư Trung (蒲盧中), Ưu Bạt (優鈸), Hoành Điệt (橫跌), Chư Bạc (諸薄), Bắc Lỗ (北櫓), Tân Na Chuyên (濱郍專), Điểu Văn (鳥文), Tư Điều (斯調), Lâm Dương (林陽), đảo Mã Ngũ (馬五洲), đảo Bạc Thán (薄歎洲), đảo Đam Lan (耽蘭洲), đảo Cự Diên (巨延洲). Về sau trải qua các triều đại thay đổi, không còn dùng tên cũ nữa. Khi Tấn Vũ Đế (晉武帝) bình định nhà Ngô (吳), sau khi các nước Lâm Ấp (林邑), Phù Nam (扶南) vào cống nạp, lại có các nước gọi là Mâu La (牟羅), Mô Lư (模盧), Mạt Lợi (末利), Ty Ly (卑離), Mãn Đô (滿都), Thằng Dư (繩余), Sa Lâu (沙樓), Bồ Lâm (蒲林), thảy đều là những tên trước đây chưa từng nghe thấy. Thời Tống (宋), Tề (齊) có các nước đến gồm: Sư Tử (師子), Tỳ Gia Lê (毗迦梨), Can Đà Lợi (干陀利), Xà Bà (闍婆), Bồ Hoàng (蒲黃), A La Đà La (阿羅陀羅), Đơn Bà Hoàng (單婆皇), Lang Nha (狼牙), Tu (修), Bàn Bàn (槃槃), Đốn Tốn (頓遜)... đại khái có hơn 10 nước. Thời Lương Vũ Đế (梁武帝), các nước Bà Lợi (婆利), Đan Đan (丹丹), Tỳ Kiên (毗騫) mới bắt đầu thông sứ. "Vua nước Tỳ Kiên (毗騫) thân cao 3 trượng, cổ dài 3 thước, từ xưa đến nay không chết, biết được những việc thần thánh chưa xảy ra; con cháu vua thì sinh tử như người thường." Nhà Tùy (隋) sai sứ thông với nước Xích Thổ (赤土), dẫn đến nước La Sát (羅剎). Nước ấy ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng ưng, chính là loài "Dạ xoa La sát thân dài kim cương" mà sách Phật nhắc đến vậy. Các nước khác như Đầu Hòa (投和), Biên Đẩu (邊斗) cống nạp cho nhà Tùy (隋) ngày càng nhiều. Đồ cống đại để là vàng bạc báu vật, hương liệu dược liệu, cũng có khi dâng răng Phật (Phật nha), xá lợi, thảy đều vì họ phụng theo giáo pháp Bà La Môn (婆羅門) vậy. Nhà Đường (唐) bắt đầu đặt chức Thị bạc sứ (市舶使), giao cho quan soái trấn Lĩnh Nam (嶺南) kiêm quản, lập khu chợ búa, lệnh cho người Man Di (蠻彝) đến cống nạp được phép giao dịch, thu một phần lợi nhuận vào kho quan. Phàm thuyền buôn đến, lớn nhất là "Độc tường bách" (thuyền 1 cột buồm), có thể chở được 1,000 Bà lan (婆蘭). 〈Người Hồ gọi 200 cân là 1 Bà lan〉. Hạng nhì gọi là "Ngưu đầu bách", bằng 1 phần 3 thuyền Độc tường; hạng tiếp theo là "Nhị mộc bách" và "Liệu hà bách", mỗi loại lại kém đi 1 phần 3. Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 17 (năm 643 dương lịch), chiếu lệnh cho Ty Thị bạc 3 lộ, hễ thương nhân nước ngoài buôn đến 4 loại hàng là Long não, Trầm hương, Đinh hương, Bạch đậu khấu thì đều thu thuế 1 phần 10 (trừu giải). Thời Võ hậu (武后), Đô đốc Lộ Nguyên Du (路元皻) tham lam chiếm đoạt hàng hóa của các thủ lĩnh phương Nam, vị chúa tàu (bách tửu) không chịu nổi cơn giận đã giết chết y. Đầu năm Khai Nguyên (開元), Thị bạc sứ Chu Khánh Lập (周慶立) cùng với tăng nhân Ba Tư (波斯) chế tạo đồ kỳ xảo để tiến dâng, bị hạch tội và bãi chức; triều đình cũng bãi bỏ việc sai sứ giả đến Nam Hải (南海) tìm ngọc trai và chim thúy. Năm Khai Nguyên (開元) thứ 4 (năm 716 dương lịch), có người Hồ tâu rằng: "Nam Hải (南海) nhiều ngọc trai, chim thúy và báu vật lạ, có thể sang đó tìm kiếm." Nhân đó nói về cái lợi của việc buôn bán đường biển (thị bạc), lại muốn sang nước Sư Tử (獅子 - Sri Lanka) tìm linh dược, và tìm những bà lão giỏi y thuật đưa vào cung đình. Vua mệnh cho Giám sát Ngự sử Dương Phạm Thần (楊範臣) cùng người Hồ ấy đi tìm. Phạm Thần ung dung tâu rằng: "Năm kia Bệ hạ cho đốt châu ngọc gấm vóc để tỏ ý không dùng đến nữa. Nay những thứ tìm kiếm này có gì khác với những thứ đã đốt? Việc Thị bạc là tranh lợi với thương giả, không phải là thể thống của bậc vương giả. Tính chất dược liệu phương Nam người Trung Hoa đa phần không biết, huống hồ là bà lão người Hồ, sao nên đưa vào cung đình? Chức Ngự sử là tai mắt của Thiên tử, hễ có đại sự quân quốc, thần dù phải dấn thân vào nơi lam chướng, chết cũng không dám từ nan. Đây chẳng qua là bọn người Hồ muốn mê hoặc để cầu sủng, không ích gì cho thánh đức, trộm nghĩ không phải ý của Bệ hạ, xin hãy suy xét kỹ." Vua lập tức tự nhận lỗi, an ủi ông rồi bãi bỏ việc ấy. Sau đó tại Quảng Châu (廣州) đặt chức Kết hảo sứ (結好使), mỗi khi thuyền buôn nước ngoài đến thì xem xét tình hình mà tâu báo. Lúc này các nước phương Nam có nhiều thay đổi: Lâm Ấp (林邑) đổi hiệu là Hoàn Vương (環王), còn Lục Chân Lạp (陸真臘) cũng gọi là Văn Đan (文單), thảy đều thường xâm phạm biên giới. Khoảng năm Nguyên Hòa (元和) (năm 806 - 820 dương lịch), An Nam Đô hộ Trương Chu (張舟) đánh bại chúng, dựng lại cột đồng để phân định cương giới, từ đó đồ trân bảo cống nạp đầy ắp kho vương phủ. Sau đó, Tiết độ sứ Mã Tổng (馬總) lại đúc thêm 2 cột đồng nối tiếp. Thời Trinh Nguyên (貞元), 2 nước Ba Tư (波斯) và Cổ La (古羅) vào cống nhiều vật quý, Tiết độ sứ Vương Xứ Hưu (王處休) tuyên dương uy đức, vỗ về lệnh cho giao dịch, ngoài phần cung phụng thường lệ thì không lấy thêm một thứ gì. Ông bèn vẽ bản đồ "Sứ viện đồ biểu" dâng lên, trong đó có lời rằng: "Ngoài cửa biển, ẩn hiện như những quốc gia đối địch. Giữ lòng trung thực, để đức lại cho mai sau." Thời bấy giờ khen là đắc thể. Về sau vì việc quân nhu nổi lên, dần gia thêm thuế chợ. Khoảng năm Thái Hòa (太和) (năm 827 - 835 dương lịch), Văn Tông (文宗) xuống chiếu bãi bỏ thuế này. Nhà Nam Tống (宋), năm Khai Bảo (開寶) thứ 4 (năm 971 dương lịch), đặt Ty Thị bạc tại Quảng Châu (廣州), lấy Tri châu kiêm chức Sứ, Thông phán kiêm chức Phán quan. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch), bắt đầu định lệ thu thuế (trừu giải) là 2 phần 10. Phàm các nước phương Nam ở Nam Hải (南海) đều thông thương dùng vàng, thiếc, tiền giấy để đổi lấy các thứ: tê giác, voi, san hô, hổ phách, chuỗi ngọc, gang (tân thiết), da cá sấu, đồi mồi, mã não, xà cừ, thủy tinh, vải phương Nam (phiên bố), gỗ mun (ô man), tô mộc, hồ tiêu, hương liệu dược liệu... Thái Tông (太宗) đặt cơ quan Quế vụ (榷務) tại kinh sư, chiếu lệnh hàng hóa phương Nam đến Quảng Châu (廣州), nếu không phải từ kho quan đưa ra thì không được tự ý buôn bán riêng. Sau đó có chiếu: những thứ không phải kỳ trân dị bảo thì thảy đều cho phép bán ở chợ. Lại có chiếu: những hàng hóa tốt khác cũng cho phép bán ở chợ một nửa. Đại để thuyền biển đến thì thu thuế 1 phần 10 (thập nhất), còn lại cấp cho thương nhân, giá trị thu vào hằng năm tính bằng con số hàng chục vạn, giúp ích cho kinh phí của triều đình. Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 3 (năm 978 dương lịch), Lý Xương Linh (李昌齡) tri Quảng Châu (廣州), đất Quảng có nguồn lợi thuyền biển dồi dào, Xương Linh không giữ được lòng thanh liêm. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch) khi mãn nhiệm về kinh, Xương Linh tâu rằng: "Thị bạc ở Quảng Châu, hằng năm thuyền buôn đến, quan lại đều tăng giá mua hết sạch, hàng tốt xấu lẫn lộn nên ít lợi nhuận. Từ nay xin chọn lấy hàng tốt theo giá mà mua, còn hàng xấu thì mặc cho họ tự bán, không cấm." Khoảng năm Hy Ninh (熙寧) (năm 1068 - 1077 dương lịch), nguồn thu Thị bạc Quảng Châu bị thâm hụt, có người cho rằng do Ty Thị dịch gây nhiễu loạn, nên lệnh cho quan Đề cử điều tra báo lên. Khi ấy quan coi việc là Lã Mạo (呂邈) bị hạch tội vì tự tiện lấy hàng phương Nam và bị bãi chức. Sau đó theo lời bàn của quan viên mà bãi bỏ Thị bạc ở Hàng Châu (杭), Minh Châu (明), thảy đều lệ thuộc về Quảng Châu. Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 3 (năm 1080 dương lịch), Trung thư tâu rằng: "Thuyền buôn Quảng Châu đã tu định điều ước, nên chọn quan thực thi." Chiếu lệnh cho Quảng Đông lấy Chuyển vận sứ Tôn Hồi (孫迥) thay quan Soái kiêm lĩnh. Năm Đại Quan (大觀) thứ 1 (năm 1107 dương lịch), lại đặt quan Đề cử Thị bạc 2 lộ Chiết, Quảng và Phúc Kiến; phục hồi Ty Thị bạc tại Hàng Châu, Minh Châu, lại tăng thêm 1 Ty ở Tuyền Châu (泉州). Năm thứ 3 (năm 1109 dương lịch), thương nhân phương Nam muốn sang quận khác thì phải do Ty Thị bạc cấp giấy thông hành (khoán), không được mang theo vật cấm. Việc phòng bị vũ khí trên thuyền được cấp theo luật của các nước. Ty Thị bạc bán hàng hóa đã thu mua đều thu lợi vượt quá 2 phần, quan lại tự ý mua hàng thì bị cấm. Năm Chính Hòa (政和) thứ 4 (năm 1114 dương lịch), chiếu lệnh Ty Thị bạc Quảng Nam hằng năm cống nạp trân châu, sừng tê giác, ngà voi. Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127 dương lịch) xuống chiếu: "Việc Thị bạc đa phần lấy những thứ vô dụng, lãng phí quốc dụng để làm vui lòng kẻ quyền quý; từ nay ai dùng hương đốc nục, nhẫn, mã não, mắt mèo và các loại tương tự để trao đổi, cũng như ai gây thiệt hại cho thương nhân phương Nam, đều sẽ bị trị tội nặng theo pháp luật. Chỉ ban cho các quan đại thần hốt ngà, đai tê là được phép, lượng cho vận chuyển vào." Luật cũ chia hàng phương Nam thành 2 loại thô và mịn (thô tế nhị sắc). Những thứ như Long não, trân châu đều là hàng mịn, thu thuế 1 phần 10. Sau đó lại thu mua thêm 4 phần; hàng thô cũng thu thuế 1 phần 10 và thu mua thêm 4 phần. Việc thu mua quá nhiều khiến thương nhân thường giấu hàng mịn đi, không khai báo thật. Luật cũ hàng mịn lấy 5,000 lạng làm 1 cương (kiện hàng), hàng thô lấy 10,000 cân làm 1 cương; mỗi cương thì có tiền vận chuyển và nuôi gia đình là hơn 1,000 quán. Về sau kẻ vận chuyển gian dối lấy ngà voi, sừng tê, tử khoáng để chiếm tiền vận chuyển, khiến 1 cương cũ bị chia nhỏ thành 33 cương, tốn kém tiền vận chuyển và nuôi nhà đến hơn 3,000 quán. Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 27 (năm 1157 dương lịch), chiếu lệnh cho Kinh lược Ty Thị bạc Quảng Nam thanh tra thương nhân phương Nam giả mạo vào cống nạp. Đầu năm Long Hưng (隆興) (năm 1163 dương lịch), quan viên cho rằng ngà voi, tê giác đỏ so với hàng khác là nặng nhất, xin thu thuế 1 phần 10 và bãi bỏ việc thu mua thêm. Đầu năm Càn Đạo (乾道) (năm 1165 dương lịch), quan viên lại tâu rằng Phúc Kiến, Quảng Nam đều có Thị bạc, hàng hóa mênh mông, đặt quan Đề cử là thực sự thỏa đáng. Năm Càn Đạo (乾道) thứ 7 (năm 1171 dương lịch), chiếu lệnh hàng thô lấy 20,000 cân làm 1 cương, hao hụt 600 cân, theo lệ cũ chi trả tiền vận chuyển đường thủy (thủy cước tiền) là 1,662 quán và lẻ. Sau khi dời đô xuống phía Nam (Nam độ), kinh phí túng quẫn, mọi việc thảy đều dựa vào nguồn thu này. Hàng nhập vào hằng năm vốn không ít, nhưng vàng bạc đồng sắt tiền tệ cũng theo đó mà rò rỉ ra ngoài cảnh, trong đó tiền tệ rò rỉ là nghiêm trọng nhất. Pháp luật dù nghiêm minh nhưng gian xảo ngày càng tinh vi, cái tệ ấy rốt cuộc không thể ngăn cấm được. Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2 (năm 1175 dương lịch), chiếu lệnh Thị bạc Quảng Châu ngoài những mặt hàng độc quyền (quế hóa), những hàng tốt khác chỉ được thu mua một nửa. Đời Nguyên (元), Thế Tổ (世祖) từng lập Ty Đề cử nhưng rồi bãi bỏ. Năm Chí Trị (至治) thứ 4 (năm 1324 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), sai sứ thu mua hàng phương Nam ở Quảng Đông, bèn lập lại Ty này, cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thì thu thuế. Năm Nguyên Thống (元統) thứ 6 (năm 1338 dương lịch) đời Thuận Đế (順帝), bãi bỏ 2 Ty Đề cử ở Quảng Đông. Năm Chí Chính (至正) thứ 2 (năm 1342 dương lịch), lập lại Đề cử Quảng Đông, siết chặt lệnh cấm Thị bạc. Năm thứ 3 (năm 1343 dương lịch), cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thu thuế. Nhà Minh (明), trừ những nước phương Nam có lệ cứ 3 năm vào cống 1 lần, các nước khác đến quy phục thì cho phép giao thương (hỗ thị). Lập Ty Đề cử Thị bạc để chủ trì việc vào cống của các nước. Theo chế độ cũ, các nước vào cống trước tiên được cấp sổ sách phù hiệu (phù bộ), khi đến Tam ty (布、按、都三司) thì đối chiếu phù hiệu, xem biểu văn và phương vật không có gì giả mạo mới chuyển đưa vào kinh. Nếu là hàng hóa của Quốc vương, Vương phi, Bồi thần mang theo thêm thì thu thuế 5 phần 10, phần còn lại quan trả tiền theo giá; riêng 2 nước Xiêm La (暹邏), Qua Oa (瓜哇 - Java) được miễn thuế này. Những thương nhân phương Nam tự mang hàng đến buôn bán, khi thuyền đến bến nước, thảy đều phong tỏa và vào sổ, thu thuế 2 phần 10 mới cho phép giao dịch. Tuy nhiên dân gian xảo ở Mân, Quảng thường hay búi tóc đeo khuyên tai, bắt chước quần áo tiếng nói của người phương Nam, lẻn vào trong thuyền dẫn đường cho chúng làm điều gian ác, nhân đó cướp bóc, dân vùng ven biển rất khổ sở. ''Cựu Chí'' chép: Phàm giao dịch ở Đông Dương đa phần dùng tơ lụa, nước Oa (倭國 - Nhật Bản) đặc biệt hung hãn, thương nhân rất sợ chúng, thường đổi lấy đầu chim hạc (hạc đính)... Giao dịch ở Tây Dương đa phần dùng hàng Quảng (Quảng hóa), đổi lấy hồ tiêu... Những hàng quý mịn thường đầy ắp thuyền. Như nước Xiêm La (暹邏) sản xuất tô mộc, Địa Muộn (地悶 - Timor) sản xuất đàn hương, các loại hương liệu khác nước nào cũng có. Về Trầm hương, có các loại trầm vàng (hoàng trầm), trầm đen (ô giác), trầm rất quý thì gọi là trầm sáp (lạp trầm), gọt ra thì cuộn lại, nhai thì mềm, thảy đều kết tụ từ gốc cây khô; chỉ có gỗ Kỳ Nam (奇南木) mới là phần trầm kết từ cây sống. Sừng tê giác có tê đen (ô tê), tê hoa (hoa tê), tê thông thiên (thông thiên tê), tê phục thông (phục thông tê). Tê hoa là nền trắng hoa đen; tê thông thiên là nền đen hoa trắng; tê phục thông là trong hoa trắng của tê thông thiên lại có thêm hoa đen, thảy đều là vật quý hiếm thấy trên đời. Hạc đính, mu rùa, đồi mồi thảy đều có thể kết hợp (kiến hợp khả hợp), riêng sừng tê giác không tùy tiện kết hợp, cho nên công phục lấy ngọc và tê làm đai, quý ở cái nghĩa không tùy tiện kết hợp vậy. Tháng 5 năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370 dương lịch), sai sứ ban chiếu về Khoa cử cho An Nam (安南), Chiêm Thành (占城), vì họ thông hiểu văn tự Trung Quốc. Các nước phương Nam không ai không sợ uy mà nhớ đức, từ đó triều cống không dứt, cũng có nước chưa đến kỳ cũng cống hiến. Đầu năm Vĩnh Lạc (永樂), sai sứ bốn phương chiêu dụ các nước, cống hiến thảy đều đến. Hàng lạ bảo vật quý hiếm trước nay chưa từng có. Bèn mệnh cho Nội thần giám trấn Thị bạc, đặt công quán ở bến nước phía Nam thành; công quán cũng xây ở Tiên Hồ phía Tây quận 〈nay là đường Phân thủ〉. Tháng 9 năm thứ 3 (năm 1045 dương lịch), Đại lý tự khanh 〈khuyết tên〉 Phụ, ban đầu làm Phó sứ Hồ Quảng, vì có tội bị giáng làm Hành nhân. Đến nay phụng mệnh đi sứ các nước Tây Nam như Xiêm La, Qua Oa đến tận các nước Cổ Lý (古里 - Calicut) ở Tây Dương. Khi về kinh tâu việc đúng ý vua, được thăng làm Quảng Đông Án sát sứ. Nội thần Hầu Hiển (侯顯), Trịnh Hòa (鄭和) cùng Hành nhân đi lại, các vua phương Nam đều đãi lễ rất hậu. Tháng 6 năm thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Bố chính ty Quảng Đông tâu: "Hằng năm người phương Nam ở hải ngoại vào cống phương vật, đường thủy dùng thuyền vận tải, duy có đoạn từ Nam Hùng (南雄) đến Nam An (南安) bị ngăn cách bởi đèo Mai Lĩnh (梅嶺), thuyền bè không thông. Từ nay xin dùng sức dân để tiếp vận." Vua phán rằng: "Làm vua phải lo nuôi dân. Nay việc cống nạp không có định kỳ mà nông dân ít ngày rảnh. Giả sử từ xuân đến thu, người phương Nam vào cống không dứt, thảy đều bắt dân tiếp vận, há chẳng ngăn trở việc nhà nông sao? Từ nay người phương Nam vào cống, nếu gặp lúc vụ mùa thì phương vật thảy đều lưu trữ ở Nam Hùng, đợi đến tháng 11 (tháng 11 âm lịch) lúc nông nhàn mới cho vận chuyển đến Nam An, hãy ghi làm lệnh." Lại bảo thị thần rằng: "Dân không mất sự nuôi dưỡng thì dù nhọc nhằn cũng ít oán; dân mất sự nuôi dưỡng thì dù cho nghỉ ngơi cũng không cảm đức." Tháng 8, đặt trạm Hoài Viễn (懷遠驛) tại bến Hiện Tử (蜆子步) thành Quảng Châu, xây 120 gian phòng để người phương Nam ở. Lệ thuộc Ty Đề cử Thị bạc, nhưng quan Nội quan tổng quản hàng hóa, quan lại Đề cử chỉ giữ sổ sách mà thôi. Có những thuyền đáng lẽ đi Phúc Kiến nhưng bị gió bạt đến đây. Như nước Bột Ni (渤泥 - Brunei), vốn là thuộc quốc của Xà Bà (闍婆), ở trong biển lớn phía Tây Nam, cách Qua Oa 45 ngày đường, cách Tam Phật Tề (三佛齊 - Srivijaya) 40 ngày đường, cách Chiêm Thành (占城) 30 ngày đường. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 (năm 1406 dương lịch), vua nước ấy là Hà Vượng (遐旺) đến triều kiến. Lưu Cầu (琉球) ở trong biển lớn Đông Dương, nằm phía Đông quận Kiến An, đi đường thủy 5 ngày thì đến. Thời Tùy Đại Nghiệp (隋大業), sai tướng dẫn binh từ Nghĩa An (義安) vượt biển đánh chúng. Nghĩa An nay là Triều Châu (潮州) vậy. Thời Hồng Vũ (洪武), chia ra Đại, Tiểu Lưu Cầu, triều cống rất cung kính. Quan sinh thường vào Thái học thụ nghiệp, triều đình thường gia thêm ơn xót thương. Những nước khác như Nam Bột Lợi (喃勃利)... cũng có kẻ theo thuyền đến Quảng Châu. Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), Án sát Phó sứ Chương Cách (章格) tuần thị đường biển. Lúc ấy sứ thần Lưu Cầu là Thái Tuyên (蔡璇) cùng vài người mang phương vật buôn bán với nước lân cận, bị gió bạt đến cảng Hương Sơn (香山). Viên quan Thủ bị coi là "hải khấu" muốn giết đi để lập công. Cách không cho, biện minh cho họ, tâu xin trả lại tài sản rồi cho về, người phương Nam ca tụng công đức. Những năm gần đây, khách buôn Lưu Cầu có kẻ bạt đến Quỳnh Châu (瓊州), được đưa đến thành Quảng Châu. Thiêm sự Kinh Ngạn Thái (經彥寀) hết lòng chăm sóc cứu trợ, người phương xa rất cảm kích. Thời Thành Hóa (成化), Hoằng Trị (弘治), người vào cống ngày càng đông. Quan hữu tư chỉ cho phép sứ giả vào bái kiến, còn lại thảy đều lưu lại ở trạm (dịch). Việc đi lại có đặt yến tiệc tiếp đãi mới cho vào thành. Quần áo kỳ dị, cũng có kẻ đội mũ gắn vàng ngọc, mặc áo màu ráng chiều, người già trẻ con thảy đều tranh nhau xem. Hồ tiêu, gỗ quế, trống đồng, nhẫn, đá quý tràn ngập kho và chợ. Hàng phương Nam rất rẻ, dân nghèo vâng lệnh thu mua đa phần trở nên giàu có. Năm Chính Đức (正德) thứ 12 (năm 1517 dương lịch), người Di ở biển Tây là Phật Lãng Cơ (佛朗機 - Bồ Đào Nha) cũng xưng là triều cống, đột nhập huyện Đông Quản (東莞), hỏa súng dữ dội, chấn động xa gần, tàn phá cướp bóc thậm tệ, thậm chí nướng ăn cả trẻ con. Quan Hải đạo phụng mệnh tiêu diệt và xua đuổi mới ra khỏi cảnh. Từ đó thảy đều cấm chỉ thuyền biển, các nước đáng lẽ vào cống cũng hiếm khi đến. Thuyền cống bèn sang Chương (漳), Tuyền (泉) và thành Quảng để buôn bán, chợ búa tiêu điều không như chế độ cũ. Khi ấy Đô Ngự sử tuần phủ Lưỡng Quảng là Lâm Phú (林富) tra xét tổ huấn, tuân theo ''Hội điển'' dâng sớ lên, được chuẩn y, từ đó thuyền phương Nam mới thông lại. Tờ sớ đại lược nói: "Thần trộm nghĩ chức Tuần phủ trước hết là vì dân dấy lợi trừ hại. Phàm trên có ích cho triều đình, dưới có ích cho sinh dân là lợi; trên có hại cho triều đình, dưới có hại cho sinh dân là hại. Nay lấy danh nghĩa trừ hại mà ngăn tuyệt mọi nguồn lợi, khiến quân quốc không có nguồn dựa, quên đi phép tắc của tổ tông, lại mất lòng người phương xa, ấy chính là việc Thị bạc ở Quảng vậy." Cẩn án ''Minh Hoàng Tổ Huấn'', các nước An Nam, Chân Lạp, Xiêm La, Chiêm Thành, Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Tây Dương, Qua Oa, Bành Hanh (彭亨), Bạch Hoa (白花), Tam Phật Tề, Bột Ni thảy đều cho phép triều cống, chỉ khi có hành thương đi kèm làm điều gian trá thì mới tạm khước từ, sau đó dần dần cho thông. Lại án ''Đại Minh Hội Điển'': Phàm các nước An Nam, Mãn Lạt Gia (滿剌加) đến triều cống, khi sứ giả về thảy đều lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông tiếp đãi. Hiện nay có đặt Ty Đề cử Thị bạc, lại có sắc lệnh cho 1 quan Nội thần đốc trách, chính là để đưa đón, trao đổi hàng hóa, vỗ về người phương xa mà tuyên dương uy đức vậy. Đến năm Chính Đức thứ 12, có người Phật Lãng Cơ đột nhập cõi Đông Quản, lúc ấy Bố chính sứ Ngô Đình Cử (吳廷舉) cho phép chúng triều cống và tâu báo về, đây chính là cái lỗi không xét kỹ phép tắc cũ. Sau đó sự hung xảo của chúng bị bại lộ, triều đình chuẩn theo sớ của Ngự sử Khâu Đạo Long (丘道隆), lệnh cho quan Hải đạo xua đuổi ra khỏi cảnh, giết kẻ cầm đầu là Á Tam (亞三), dư đảng nghe phong thanh liền chạy trốn. Quan hữu tư từ đó ngăn tuyệt hết thuyền buôn An Nam, Mãn Lạt Gia, chúng đều sang trú đậu tại vùng biển thuộc phủ Chương Châu (漳州), thế là lợi về tay người Mân (Phúc Kiến) mà chợ búa vùng Quảng tiêu điều vậy. Kẻ Phật Lãng Cơ vốn không thông với Trung Quốc, đuổi tuyệt chúng là phải. Nhưng các nước chép trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'' vốn cung thuận thông hiếu, nay ngăn tuyệt việc triều cống giao thương của họ, chẳng khác nào "vì nghẹn mà bỏ ăn". Huống hồ quan lại Thị bạc đặt công khai ở Quảng Đông trái lại không bằng việc "thông thương riêng không cấm" ở Chương Châu, vậy pháp tắc quốc gia nằm ở đâu? Thần trộm tính toán, cái lợi của Trung Quốc thì muối và sắt là lớn nhất, nhưng hằng năm vất vả cũng chỉ đủ định mức thường lệ. Hễ có hạn hán lũ lụt, khuyên dân nộp thóc vẫn sợ không đủ. Theo quy cũ cũ, ngoài phần triều cống, việc thuế thu (抽解) đều có lệ định, đủ cung cho ngự dụng. Đây là cái lợi lớn thứ 1. Ngoài phần thuế thu, có thể sung vào quân lương. Nay Lưỡng Quảng dùng binh liên tiếp, kho tàng cạn kiệt, nhờ nguồn này có thể làm đầy kho để phòng lúc bất trắc. Đây là cái lợi lớn thứ 2. Tỉnh Quảng Tây thảy đều dựa vào Quảng Đông, nay có việc trưng phát là không lo liệu được ngay. Dù lấy gỗ quế hồ tiêu thay lương bổng nhưng lâu ngày đã thiếu hụt, bắt dân gánh vác là điều khó tránh. Tra lại lúc thuyền buôn cũ còn thông, công tư đều dư dả, hàng phương Nam trong kho chỉ mươi ngày là thu được vài vạn lạng bạc. Đây là cái lợi lớn thứ 3. Lệ cũ giao dịch là quan chọn hàng tốt mua theo giá, còn lại cho dân mua bán, nên dân nghèo cầm món hàng 2 tiền là đổi được hồ tiêu, xoay vần trao đổi mà trở nên giàu có. Quảng Đông xưa nay xưng là phú thứ chính nhờ vào đây vậy. Đây là cái lợi lớn thứ 4. Giúp nước cấp quân đã có nguồn cậy trông, mà quan và dân thảy đều được đủ đầy, ấy là nhân cái lợi của dân mà làm lợi vậy, không phải là mở lỗ hổng tư lợi hay làm thang cho dân phạm tội. Kẻ bàn luận có lẽ lo ngại người Di đột nhập biên cảnh gây họa, thần lại trộm tính toán: Các nước Xiêm La, Chân Lạp, Qua Oa, Tam Phật Tề đầu năm Hồng Vũ đã cống phương vật, thần phục đến nay. Thời Vĩnh Lạc, Bột Ni nhập triều, đến chết vẫn cảm đức. Khoảng năm Thành Hóa, Chiêm Thành bị cướp ngôi, triều đình nối lại dòng dõi nên họ mong ơn. Người Man Di phương Nam đại để khoan nhu, đó là tính thường của họ, hơn 100 năm qua chưa từng dám làm giặc cướp. Gần đây kẻ Phật Lãng Cơ đến từ biển Tây, chúng khinh nhờn là có lý do mời gọi vậy. Hiện nay thuyền phương Nam ở Chương, Mân cũng chưa nghe thấy có động tĩnh nhỏ nào, thế thì chúng quyết không dám gây hại là điều đã rõ ràng. Huống hồ ngăn trở đã lâu nay chợt cho thông, há chẳng đủ để đắc lòng chúng sao? Thần xin tại các nơi yếu hại ngoài biển và vùng Nam Đầu (南頭) huyện Đông Quản, hằng năm lệnh cho Hải đạo Phó sứ và Bị Oa Đô chỉ huy đốc suất quan quân nghiêm ngặt tuần tra. Phàm thuyền đến mà có tên trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'', dò xét đúng thực thì cho trú đậu theo lệ cũ. Những kẻ không có tên trong đó như Phật Lãng Cơ thì đuổi ngay ra khỏi cảnh. Nếu dám kháng cự không phục thì đốc phát quan quân bắt chém. Còn phàm là giặc Lạt Cáp (喇哈) không cho phép kẻ quyền quý thông tư, nghiêm cấm dân nghèo dụ dỗ con cái xuống biển. Hễ có sơ hở thì quan quân tất phải chịu tội. Như thế không chỉ dấy khởi nguồn lợi một phương, mà đạo trị quốc không phân biệt trong ngoài cũng nằm ở đó vậy. Cúi mong Hoàng thượng đặc biệt sắc lệnh bộ ấy bàn bạc kỹ, những điều lợi hại thần đã trần thưa xin hãy lần lượt tham cứu. Nếu quả thực hành được, xin hãy thi hành tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, lệnh cho những thuyền trú đậu riêng thảy đều xua đi; kẻ có biểu văn triều cống thì cho phép đến vùng biển Quảng Châu chờ quan ty xử trí. Như thế, việc hoài nhu mới có phương pháp mà công tư thảy đều thuận tiện vậy." ==Nam phương chư quốc tổng bộ tổng luận 南方諸國總部總論== ===Nam Tề Thư (南齊書)=== ==== Đông Nam Di truyện tự (東南夷傳序 - Lời tựa truyện Đông Nam Di)==== Chủng loại người Man (蠻) cực kỳ đông đúc, ngôn ngữ không đồng nhất, thảy đều nương theo sơn cốc mà ở, phân bố tại ranh giới 5 châu gồm: Kinh (荊), Tương (湘), Ung (雍), Dĩnh (郢), Tư (司). Tục người Man (蠻) mặc áo vải, đi chân đất, kẻ thì búi tóc củ hành (chuỳ kế), kẻ thì cắt tóc ngắn. Binh khí lấy vàng bạc làm sức trang trí; dùng da hổ bọc khiên, giỏi bắn nỏ; thảy đều hung bạo, dữ tằn, thích cướp bóc. ==== Đông Nam Di truyện luận (東南夷傳論 - Lời luận truyện Đông Nam Di)==== Sử thần nói rằng: Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", ấy là lời nói tổng quát vậy. Đến như các giống tạp cư của Nam Di (南夷), chia cắt hải đảo mà lập nước, những đồ trân bảo kỳ quái phương xa, không đâu nhiều bằng nơi này. Núi tàng biển ẩn, ngọc báu rực mắt, thuyền buôn từ xa đến, vận chuyển nộp cho phương Nam. Thế nên Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州) giàu có thực thụ, hàng hóa chất đầy kho vương phủ. Việc xâm phạm quấy nhiễu tuy có đôi chút nhưng đạo thanh giáo có thể ban tới. Nếu dùng đức để vỗ về người phương xa, chính là ở đây vậy! === Lương Thư (梁書)=== ==== Hải Nam truyện tự (海南傳序 - Lời tựa truyện Hải Nam)==== Các nước Hải Nam (海南), đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州) trên các hải đảo ngoài biển lớn, cách nhau gần thì 3,000 đến 5,000 dặm, xa thì 20,000 đến 30,000 dặm, phía Tây giáp với các nước Tây Vực (西域). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên) thời Hán (漢), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều dâng lễ triều kiến. Đời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến thời Ngô Tôn Quyền (吳孫權), sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) thông sứ nơi ấy. Những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, nên quan chép sử không ghi lại. Đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến, mới bắt đầu lập truyện. Từ khi nhà Lương (梁) thay đổi vận nước, họ phụng chính sóc, tu sửa chức phận cống nạp, đường biển năm nào cũng đến, vượt xa các đời trước. Nay chọn lấy những nơi phong tục rõ rệt, biên chép thành ''Hải Nam Truyện''. === Tùy Thư (隋書)=== ==== Nam Man truyện tự (南蠻傳序 - Lời tựa truyện Nam Man)==== Nam Man (南蠻) gồm các loại tạp cư, ở xen kẽ với người Hoa, gọi là Diên (蜒), gọi là Nhương (獽), gọi là Ly (狸), gọi là Lão (獠), gọi là Đà (㐌), thảy đều không có quân trưởng, nương theo hang núi mà ở, chính là cái gọi là "Bách Việt" (百越) thời cổ xưa vậy. Tục của họ cắt tóc xăm mình, thích công kích đánh giết lẫn nhau, dần trở nên suy yếu, rồi lần lượt thuộc về Trung Quốc, đều được liệt vào quận huyện, đối xử như người Tề (tân dân), nên không chép lại chi tiết. Những năm Đại Nghiệp (大業) (năm 605 - 618 dương lịch), các nước phương Nam xa xôi đến triều cống có hơn 10 nước, nhưng sự tích đa phần mai một không nghe thấy, nay chỉ còn ghi chép được 4 nước mà thôi. ==== Nam Man truyện luận (南蠻傳論 - Lời luận truyện Nam Man)==== Sử thần nói rằng: Lễ ký (禮) nói "Phương Nam gọi là Man (蠻)", có kẻ không ăn đồ nấu chín. Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", Kinh ''Thi'' nói "Kẻ ngu muội kia là Man Kinh (蠻荊)". Chủng loại thực sự đông đúc, đời đời gây rắc rối nghẽn trở. Từ khi nhà Tần (秦) gộp hai nước Sở, nhà Hán (漢) bình định Bách Việt (百越), đất tận cùng biên ải phía Nam (đan kiêu), bóng nắng tột cùng ở Nhật Nam (日南), nơi nào thủy lục có thể ở được thảy đều lập thành quận huyện. Đến lúc chia biên cảnh Ngô (吳), Thục (蜀), thời gian trải qua Tấn (晉), Tống (宋), đạo trị quốc có lúc hưng lúc suy, việc thần phục hay phản nghịch không nhất quán. Cao Tổ (高祖) thụ mệnh, bình định 9 cõi (cửu vũ); Dạng Đế (煬帝) nối nghiệp, uy đức ban đến 8 phương hoang sơ (bát hoang), dồn tâm sức vào di bang phương xa, chí cầu vật trân dị. Thế nên quân ra đến Lưu Cầu (流求), binh đánh đến Lâm Ấp (林邑), uy chấn phong tục lạ, vượt xa thời Tần (秦), Hán (漢). Tuy có công lao nơi hoang ngoại nhưng không cứu vãn được sự bại vong trong bờ cõi. ''Truyện'' có câu: "Chẳng phải bậc thánh nhân, ngoài yên tất trong lo", lời ấy thật đúng thay! ===Thông Điển (通典) của Đỗ Hữu (杜佑)=== ==== Lược thuật lời tựa về Hải Nam (海南序略)==== Các nước Hải Nam (海南) đã thông hiếu từ thời Hán (漢). Đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州), cư ngụ trên các đảo giữa biển lớn, cách nhau hoặc 300 đến 500 dặm, hoặc 3,000 đến 5,000 dặm, nơi xa thì 20,000 đến 30,000 dặm. Cưỡi tàu dương buồm, đường sá xa xôi không thể biết tường tận dặm sở. Sách vở các nước ngoài tuy có nói về số dặm, nhưng cũng không định thực. Phía Tây giáp với các nước Hồ (胡). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) (năm 111 trước Công nguyên), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều triều kiến. Thời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến khi Ngô Tôn Quyền (吳孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến. Từ thời Lương Vũ Đế (梁武) và Tùy Dạng Đế (隋煬帝), sứ giả các nước đến vượt xa các đời trước. Đời Đại Đường (大唐) từ năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) về sau, thanh giáo ban xa, những nơi từ cổ chưa thông hiếu nay cũng qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà đến, còn nhiều hơn thời Lương, Tùy. Những gì không có tin tức lạ thì không ghi chép lại nữa. ==== Lược thuật lời tựa về Lĩnh Nam (嶺南序略)==== Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺), phía Bắc biển Trướng Hải (漲海), trước thời Ba đại (三代) là vùng hoang phục. Nhà Tần (秦) bình định thiên hạ, mở đất đặt ra 3 quận như Nam Hải (南海). Nhà Tần loạn, Triệu Đà (趙佗) chiếm giữ đất ấy, truyền 5 đời suốt 93 năm. Đến năm Kiến Nguyên (建元) (năm 140 - 135 trước Công nguyên) đời Hán Vũ Đế, Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức diệt đi, chia làm 9 bộ như Đạm Nhĩ (儋耳). Quận Châu Nhai (珠崖) ở trên đảo giữa biển, đại suất vài năm lại phản 1 lần. Năm Sơ Nguyên (初元) đời Nguyên Đế (năm 48 - 44 trước Công nguyên), nghe theo lời bàn của Giả Quyên Chi (賈捐之) mà bãi bỏ quận ấy. Thời Hán Quang Vũ Đế (漢光武), năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 - 56 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) nổi dậy, chiếm hơn 60 thành, Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong. Từ thời Hoàn Đế (桓), Linh Đế (靈) về sau, người Man Lão (蠻獠) lại chiếm huyện Tượng Lâm (象林) thuộc quận Tượng (象郡), bèn trở thành nước Lâm Ấp (林邑). Các quận huyện còn lại qua các đời dù thỉnh thoảng có phản loạn, binh lính châu quận lập tức bình định được ngay. Người ở vùng cực Nam xăm mặt (điêu đề), chân vòng kiềng (giao chỉ), tục lệ trai gái tắm cùng sông. Phía Tây có nước Ăn thịt người (Đạm Nhân quốc), đẻ con đầu lòng thảy đều xẻ ra ăn, gọi là "nghĩa nghi đệ". Nếu thấy ngon thì dâng cho vua, vua thích bèn thưởng cho cha nó; cưới vợ thiếp đẹp thì nhường cho anh mình, đó là người Ô Hú (烏滸). Phía Nam Giao Chỉ có nước Việt Thường (越裳). Năm thứ 6 (năm 1110 trước Công nguyên) thời Chu Công (周公) nhiếp chính, thiên hạ hòa bình, người Việt Thường qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà dâng chim trĩ trắng. Khi đức nhà Chu suy, việc ấy dần dứt. Đến khi Sở tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Tần Thủy Hoàng (秦始皇) bình định thiên hạ, mở vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng (象). Đến thời Hồ Hợi (胡亥), quan Úy Nam Hải là Nhâm Ngao (任囂) ốm sắp chết, gọi Lệnh huyện Long Xuyên (龍川) là người Chân Định (真定) tên Triệu Đà (趙佗) bảo rằng: "Trung Quốc nhiễu loạn, chưa biết nơi nào yên. Đất Phiên Ngung (番禺) dựa núi hiểm trở, biên thùy mấy ngàn dặm, có thể lập thành nước. Trong quận các quan lại chẳng ai đáng bàn cùng, nên gọi ông đến bảo." Bèn cho Đà nhận thư, hành chức Úy Nam Hải. Sau khi Ngao chết, Đà lập tức cắt đứt đường mới mở của nhà Tần, tụ binh tự giữ. Nhà Tần đã diệt, Đà bèn đánh chiếm cả Quế Lâm, Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương (南越武王). Hán đã định thiên hạ, vì Trung Quốc khổ cực, nên tha không giết Đà, sai Lục Giả (陸賈) phong Đà làm Nam Việt vương. Thời Cao Hậu (高後), Đà bèn tự xưng là Nam Việt Vũ đế (南越武帝), phát binh đánh các ấp biên thùy của Trường Sa (長沙), đánh bại mấy huyện rồi rút. Dùng uy binh và của cải hối lộ các tộc Mân Việt (閩越), Tây Âu (西甌), Lạc Việt (駱越), thảy đều thần phục, đất rộng Đông Tây hơn 10,000 dặm, Nam Bắc mấy ngàn dặm. Khi Hiếu Văn Đế (孝文帝) mới lập (năm 179 trước Công nguyên), vỗ về thiên hạ, sai giữ mồ mả tổ tiên Đà ở Chân Định, đặt hộ giữ ấp, hằng năm cúng tế; gọi anh em họ hàng Đà phong quan cao, ban thưởng hậu hĩnh. Sai Lục Giả đi dụ Đà. Giả đến, Nam Việt vương dâng thư tạ lỗi, nguyện làm phiên thần, phụng chức cống nạp. Đến năm Kiến Nguyên (建元) thứ 4 (năm 137 trước Công nguyên) đời Vũ Đế, thời cháu Đà là Hồ (胡), Mân Việt vương là Dĩnh (郢) hưng binh đánh biên ấp Nam Việt. Hồ sai người dâng thư nói: "Hai nước Việt đều là phiên thần, không được tự ý hưng binh đánh nhau. Nay Đông Việt xâm lấn thần, thần không dám hưng binh, chỉ đợi chiếu chỉ Thiên tử." Bấy giờ Thiên tử khen Nam Việt giữ nghĩa giữ ước, bèn sai 2 tướng đi thảo phạt Mân Việt. Hoài Nam vương là An (安) dâng thư can rằng: : "Nước Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Cho nên xưa kia trong cõi là Điện phục, ngoài cõi là Hầu phục, rồi đến Tân phục, Man Di là Yếu phục, Nhung Địch là Hoang phục, thế xa gần khác nhau vậy. Từ khi nhà Hán mới định đến nay 72 năm, người Ngô Việt đánh nhau không sao kể xiết, nhưng Thiên tử chưa từng cử binh vào đất ấy. Thần nghe người Việt không có thành quách ấp lý, ở giữa khe cốc, trong rừng tre, quen thủy chiến, giỏi dùng thuyền. Đất tối tăm ẩm thấp, nhiều hiểm trở đường thủy, người Trung Quốc không biết thế đất, dấn thân vào đó thì 100 người không địch nổi 1 người. Được đất ấy cũng không thể lập quận huyện, đánh chúng không thể dùng bạo lực mà lấy được. : : Nay tự đánh nhau mà Bệ hạ dùng binh cứu, ấy là ngược lại lấy Trung Quốc mà làm nhọc cho Man Di vậy. Vả lại người Việt ngu ngốc khinh bạc, bội ước phản phúc, việc họ không dùng pháp độ Thiên tử không phải tích tụ trong 1 ngày. Một khi không phụng chiếu bèn cử binh giết đi, thần e binh cách sau này không lúc nào được nghỉ. Nay phát binh đi mấy ngàn dặm, mang áo lương vào đất Việt, khiêng kiệu vượt đèo, kéo thuyền vào nước, mùa hè nóng nực, bệnh thổ tả hoắc loạn nối nhau, chưa kịp chạm đao thương thì người chết bị thương chắc đã nhiều rồi. : : Hơn nữa người Việt ít lực thiếu tài, không thể lục chiến, lại không biết dùng xe ngựa cung nỏ, nhưng không thể vào được là vì đất kia hiểm mà người Trung Quốc không hợp thủy thổ. Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. : : Thần nghe lời đồn trên đường rằng em Mân Việt vương là Giáp giết vương rồi. Giáp đã bị giết chết, người dân chưa có chỗ thuộc về. Bệ hạ nếu muốn họ nội thuộc, hãy đưa vào Trung Quốc, sai trọng thần đến chiêu dụ, họ tất sẽ bồng con dắt già mà về với thánh đức. Nếu Bệ hạ không dùng đến họ, hãy nối lại dòng dõi đã dứt, giữ lại nước đã mất, lập vương hầu cho họ, họ tất sẽ ủy thác làm phiên thần, thay nhau cống nạp. Bệ hạ dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt. Đàn ông không được cày cấy, đàn bà không được dệt sợi. Bệ hạ lấy bốn biển làm bờ, chín châu làm nhà, muôn dân thảy đều là thần thiếp, số thuế thu được đủ dùng, hà tất phải tốn công mồ hôi ngựa vì một ngày ở đất Di Địch?" Đế không nghe. Binh chưa vượt đèo, em Mân Việt vương là Dư Thiện (餘善) đã giết Dĩnh để hàng, bèn bãi binh. Sau đó đến đời cháu là Hưng (興), lập mẹ làm Thái hậu vốn là người Trung Quốc, khuyên vương cùng sủng thần dâng thư xin sánh ngang chư hầu trong cõi, 3 năm triều kiến 1 lần. Tể tướng Lã Gia (呂嘉) không muốn, bèn làm phản giết Thái hậu và hết sứ giả nhà Hán. Lập con trưởng của Dĩnh là Kiến Đức (建德) làm vương, phát binh giữ nơi yếu hại. Bấy giờ lệnh cho người Việt và các đạo lâu thuyền phía Nam Giang Hoài là 100,000 quân chinh thảo. Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 5 (năm 112 trước Công nguyên) mùa thu, Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, từ Quế Dương (桂陽) xuôi dòng Hối Thủy; Chủ tước Đô úy Dương Phục (楊僕) làm Lâu thuyền tướng quân, ra khỏi quận Chương (章郡), xuôi dòng Hoành Phố; 2 người vốn là Quy nghĩa Việt hầu làm Qua thuyền, Hạ lại tướng quân, ra khỏi Linh Lăng (零陵), kẻ xuôi dòng Ly Thủy, người đến Thương Ngô (蒼梧). Sai Trì nghĩa hầu nhân tội nhân đất Thục, phát binh Dạ Lang (夜郎), xuôi dòng sông Tường Kha (牂牱), thảy đều hội quân tại Phiên Ngung (番禺). Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên), Lâu thuyền tướng quân dẫn tinh binh hạ cửa hiểm trước, phá Thạch Môn (石門), thu được thuyền lương của Việt, bèn đẩy tới phía trước, làm nhụt nhuệ khí quân Việt. Phục Ba tướng quân dẫn tội nhân, đường xa nên đến muộn, hội quân với Lâu thuyền thì có hơn 1,000 người, bèn cùng tiến. Lâu thuyền đi trước đến Phiên Ngung, Kiến Đức và Gia đóng thành thủ, Lâu thuyền tự chọn chỗ thuận lợi ở hướng Đông Nam, Phục Ba ở hướng Tây Bắc. Gặp lúc tối trời, Lâu thuyền công phá bại quân Việt, phóng hỏa đốt thành. Quân Việt vốn nghe danh Phục Ba nhưng đêm tối không biết quân ít hay nhiều. Phục Ba bèn sai sứ chiêu hàng kẻ đầu hàng, ban ấn thụ, lại thả cho đi chiêu dụ nhau. Lâu thuyền đánh gấp đốt địch, địch trái lại chạy vào doanh trại Phục Ba. Đến mờ sáng, trong thành thảy đều hàng Phục Ba. Lã Gia, Kiến Đức cùng bộ hạ mấy trăm người đêm tối trốn ra biển. Phục Ba sai người đuổi bắt, Hiệu tư mã Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, Việt lang Đô Kê (都稽) bắt được Lã Gia. Binh của Qua thuyền, Hạ lại tướng quân và binh Dạ Lang của Trì nghĩa hầu chưa kịp đến thì Nam Việt đã bình định xong. Bèn lấy đất ấy làm 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林 - bản gốc ghi Thương Ngô 蒼梧), Út Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đặt Giao Chỉ Thứ sử thống lĩnh. Từ thời vua Đà về sau, phàm 5 đời, trải 93 năm thì mất. Hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ ở trên đảo giữa biển, Đông Tây 1,000 dặm, Nam Bắc 500 dặm. Các cừ soái tù trưởng thảy đều xuyên hạt châu vào tai rồi treo xuống, rủ quá vai 3 thốn. Cuối đời Vũ Đế, Thái thú Châu Nhai là người Hội Khê tên Tôn Hạnh (孫幸) bắt nộp khăn rộng khổ, người Man không chịu nổi sưu dịch bèn đánh quận giết Hạnh. Con Hạnh là Báo (豹) tập hợp 10,000 người trở lại đánh phá quân Man, tự lĩnh việc quận, thảo kích dư đảng, liên tiếp mấy năm mới bình xong. Báo sai sứ nộp lại ấn thụ, dâng thư tâu bày sự trạng. Chiếu chỉ bèn bái Báo làm Thái thú Châu Nhai, uy chính thi hành rộng khắp, cống nạp hằng năm thảy đều đến. Trung Quốc tham của quý của họ, dần xâm mưu khinh rẻ, nên đại suất vài năm lại phản 1 lần. Đến đầu thời Nguyên Đế (năm 48 trước Công nguyên), Châu Nhai mấy lần phản. Giả Nghị (賈誼), Tôn Quyên Chi (孫捐之) dâng thư xin đừng đánh, nói rằng: : "Thần nghe đức của ba thánh Diêu, Thuấn, Vũ, đất không quá mấy ngàn dặm mà thanh giáo ban đến bốn biển. Kẻ muốn nhận thanh giáo thì trị, kẻ không muốn thì không cưỡng trị. Thế nên quân thần ca đức, vạn vật thái bình. Võ Đinh, Thành Vương là bậc đại quân, nhưng đất phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương, nhờ thế tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, muôn loài vui với sự sống. Người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc suy, Nam chinh không về, cho đến nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, chỉ lo rộng đất mà không lo hại, khiến thiên hạ tan rã. Nhờ thánh Hán vì trăm họ thỉnh mệnh, bình định thiên hạ. Đến Hiếu Văn hoàng đế, bỏ võ theo văn, án ngục chỉ có mấy trăm người, thuế 40 phần thu 1, trai tráng 3 năm mới đi phục dịch 1 lần. Có người hiến ngựa thiên lý, chiếu không nhận, lệnh cho bốn phương không đến dâng hiến. : : Đến Hiếu Vũ hoàng đế, nhờ nước giàu dân rảnh, đánh đuổi Hung Nô, thông với Tây Vực đến tận An Tức (安息), phía Đông qua Kiệt Thạch, lấy Huyền Thố, Lạc Lãng làm quận, dời đồn ải, chế trị Nam Hải làm 9 quận, thì thiên hạ án ngục hàng vạn, thuế má tăng lên mấy trăm, đặt ra lợi muối sắt rượu để trợ dụng độ mà vẫn không đủ. Khi ấy giặc cướp cùng nổi lên là do chinh phạt không nghỉ vậy. : : Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. Kinh ''Thi'' có câu: 'Ngu muội thay Kinh Man, coi đại quốc là thù'. Từ cổ đã lo ngại lâu rồi, huống hồ là hàng phục đám Man cách phương Nam 10,000 dặm sao? Người Lạc Việt cha con cùng tắm một sông, quen uống bằng mũi, không khác gì cầm thú, vốn không đáng lập quận huyện vậy. Một mình cô độc giữa biển, sương mù ẩm thấp, nhiều độc thảo trùng xà thủy thổ gây hại, người chưa bắt được mà chiến sĩ tự chết. Lại chẳng phải chỉ Châu Nhai mới có châu, tê, đồi mồi; bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy, người ở đó ví như cá rùa, có gì đáng tham! : : Thần trộm lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa đất vô dụng sao? Xét về xưa không hợp, thi hành nay không tiện. Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ đi." Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) bèn bãi bỏ, phàm có 2 quận 65 thành. Phàm vùng Giao Chỉ thống lĩnh, tuy đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác nhau, phải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mới thông. Người như cầm thú, già trẻ không phân biệt. Búi tóc đi chân đất, lấy vải xuyên đầu mà mặc. Sau đó dời tội nhân Trung Quốc đến ở lẫn giữa chúng, mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy lễ hóa. Quang Vũ trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên (任延) giữ Cửu Chân, bèn dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày. Mới đặt法令 (pháp lệnh), bắt đầu biết cưới hỏi, lập ra lễ nghi trường học. Đến năm Quang Vũ thứ 16 (năm 40 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) cùng em là Trưng Nhị (徵貳) làm phản, đánh các quận huyện. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (麊泠), gả cho người Chu Diên (朱鳶) là Thi Sách (詩索) làm vợ, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ dùng pháp luật thắt buộc, Trắc giận nên phản. Bấy giờ các tộc Man Lỉ (蠻俚) ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố thảy đều theo, chiếm 65 thành, tự lập làm vương. Giao Chỉ Thứ sử cùng các Thái thú chỉ đủ tự giữ mình. Năm thứ 18 (năm 42 dương lịch), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (叚志) phát binh các vùng Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô hơn 10,000 người đi thảo phạt. Mùa hạ tháng 4 năm sau, Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị... còn lại thảy đều hàng phục tan rã. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽)... phá tan và bắt hàng, dời cừ soái chúng hơn 300 người sang Linh Lăng, vùng ngoài Lĩnh thảy đều bình định. Đầu năm Nguyên Hòa (元和) đời Chương Đế (năm 84 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải Nhật Nam là Cứu Bất Sự nhân (究不事人), hào trưởng trong ấp dâng tê sống, trĩ trắng. Khoảng năm Vĩnh Quang (永光) (năm 43 - 39 trước Công nguyên), người Man Di Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam hơn 2,000 người cướp bóc trăm họ, bèn đặt chức Tượng Lâm tướng binh Trường sử để phòng họa ấy. Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 2 đời Thuận Đế (năm 85 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam là Khu Liên (區憐)... hơn mấy ngàn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành quách đền miếu, giết quan lại. Châu quận hợp lực thảo phạt nhưng không thuận lợi. Đế triệu công khanh bách quan và thuộc hạ bốn phủ hỏi phương lược, thảy đều bàn nên phát 40,000 binh các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự (bản gốc ghi Kinh Hà 荊河) đến đó. Đô úy Đại tướng quân là Lý Cố (李固) bác lại rằng: : "Nếu Kinh, Dương không có việc thì phát đi cũng được. Nay giặc cướp 2 châu đó kết bè không tan, mà lại làm náo động thêm tất sẽ sinh họa khác. Lại nữa người vùng Diễn Châu, Dự Châu đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến trốn chạy. Quân đi 30 dặm làm 1 trình, mà cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi tốn kém đã như thế rồi. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quân lại ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ lấy lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬), nhờ các tướng lại ở đó mà trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều sai đến trú tại phủ Giao Chỉ. Nay binh Nhật Nam ít lại không được huấn luyện, giữ không đủ đánh không xong, có thể dời hết quan lại dân chúng lên phía Bắc nương tựa Giao Chỉ, sau khi yên tĩnh mới lệnh cho về. Chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh nhau, kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong tước tặng đất. : : Trước đây Thứ sử Tinh Châu là người Trường Sa tên Chúc Lương (祝良) tính dũng quyết. Lại có người Nam Dương tên Trương Kiều trước ở Ích Châu có công phá giặc, thảy đều dùng được. Xưa Văn Đế gia phong Ngụy Thượng ở Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú, nay nên bái Lương... theo đường tắt mà nhậm chức ngay." Bấy giờ bái Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều, Lương đến, đi xe một ngựa vào đất giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, vùng ngoài Lĩnh lại bình định. Về sau nhiều lần có phản loạn, binh châu quận thảo phạt rồi hàng phục chúng. Đến năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 đời Linh Đế (năm 170 dương lịch), Thái thú Út Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) lấy ân tín chiêu hàng hơn 100,000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều thụ quan đái, mở đặt 7 huyện. Tuy nhiên từ nhà Hán về sau, dù lập ra châu huyện, nhưng tục người Lão (獠) khó trị, đại suất vài năm lại loạn 1 lần, nhưng chung quy không đủ làm đại họa. ====Nam Man Tự Lược (南蠻序略)==== Nam Man (南蠻). Vào thời Đường (唐 - Đường Nghiêu) và Ngu (虞 - Ngu Thuấn), họ cùng triều đình lập minh ước, nên gọi là Yếu phục (要服). Thời nhà Hạ (夏) và nhà Thương (商), họ dần trở thành mối lo nơi biên cảnh. Đến thời đại nhà Chu (周), bè đảng bộ chúng ngày càng thịnh. Cho nên kinh ''Thi'' (詩) nói: "Ngu muội thay Kinh Man (荊蠻), coi đại quốc là thù." Đến thời Sở Vũ vương (楚武王) (năm 740 – 690 trước Công nguyên), quân Man (蠻子) cùng quân La (羅子) cùng đánh bại quân Sở, giết chết tướng là Khuất Hà (屈瑕). Quân Sở sau đó chấn hưng lại, các tộc ấy bèn thuộc về nước Sở (楚). Đến khi Ngô Khởi (吳起) làm Tướng quốc cho Sở Điệu vương (楚悼王) (năm 401 – 381 trước Công nguyên), phương Nam thôn tính cả Man (蠻) và Việt (越), chiếm được đất Động Đình (洞庭) và Thương Ngô (蒼梧). Tần Chiêu vương (秦昭王) sai tướng phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di (蠻夷), đặt ra quận Kiềm Trung (黔中). Sau khi nhà Hán (漢) hưng thịnh, thỉnh thoảng có giặc cướp, các tộc Di phương Tây Nam (西南諸夷) thuộc nhóm Dạ Lang (夜郎) thảy đều bị bình định và lập thành quận huyện. Thời Công Tôn Thuật (公孫述) (năm 25 – 36 dương lịch), các đại tính người Dạ Lang (夜郎) đã giúp nhà Hán giữ vững biên cảnh. Đầu thời Hậu Hán (後漢), họ theo sông Phiên Ngung (番禺江) dâng đồ cống nạp. Năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 – 56 dương lịch) đời Quang Vũ (光武), thủ lĩnh người Man (蠻) ở Vũ Lăng (武陵) là Đơn Trình (單程) đánh phá lớn các quận huyện, tướng nhà Hán là Lưu Thượng (劉尚) đánh bại trận, trải qua mấy năm mới bình định được. Thời Thuận Đế (順帝) (năm 125 – 144 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng tăng thuế khóa, người Man lại huy động cả chủng tộc làm phản, giết chết quan lại địa phương (hương lại). Thời Đông Tấn (東晉) (năm 317 – 420 dương lịch), người Man vùng Miện Trung (沔中) nhân sau loạn Lưu Thạch (劉石 - Lưu Uyên và Thạch Lặc) đã dần dời xuống phía Nam Lục Hồn (陸渾), ở khắp đầy các sơn cốc. Từ thời nhà Tống (宋), nhà Tề (齊) về sau, 2 châu Kinh (荊) và Ung (雍) đều đặt chức Hiệu úy để vỗ về yên định vùng đó. Các tù trưởng thủ lĩnh người Man ở quận thường nhận phong tước của Nam Bắc triều (南北朝). Đến cuối thời Hậu Ngụy (後魏), mối họa bạo loạn càng thêm dữ dội, chúng tiếm xưng là Hầu là Vương, đóng giữ các đường hẻm núi (hiệp lộ), làm đứt đoạn đường đi của lữ khách. Chu Vũ Đế (周武帝) (năm 560 – 578 dương lịch) sai Lục Đằng (陸騰) đánh tan quân ấy. Tộc Lão (獠) ban đầu nhân lúc loạn Lý Thế (李勢) đất Thục, sau đó từ sơn cốc vùng Thục Hán (蜀漢) đi ra xâm nhiễu các quận huyện. Đến thời nhà Lương (梁) (năm 502 – 557 dương lịch), các châu quận hằng năm đều đi đánh tộc Lão (獠) để thu lợi. Đến khi Hậu Chu (後周) bình định vùng Lương (梁), Ích (益), từ đó họ dần đồng hóa với người Hoa. Riêng vùng Đông Tạ (東謝), Tây Tạ (西謝) ở Kiềm Trung (黔中), từ cổ chưa từng làm thần tử của Trung Quốc. Từ sau năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) đời Đại Đường (大唐), triều đình đặt ra các châu Kiềm Mâu (羈縻州) để thống lĩnh vùng này. ===Tống Sử (宋史)=== ==== Man Di truyện tự (蠻夷傳序)==== "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi (tứ duệ), chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu." Các tộc Man Di (蠻夷) phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ (thượng du) để lấy về vùng đất cằn cỗi (bất mao), làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh (tù trưởng), khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di (蠻夷), ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn (tinh ngô) thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực (đồ độc) của người dân đã sâu nặng lắm rồi. Nhà Tống (宋) cậy vào văn giáo mà xem nhẹ vũ bị, ấy há phải là cái đạo trị vùng hoang phục (hoang phục) của các bậc tiên vương sao? ===Đại Học Diễn Nghĩa Bổ (大學衍義補) của Khâu Tuấn (邱濬)=== ====Tứ phương Di lạc chi tình (四方夷落之情 - Tình hình các bộ lạc Di ở bốn phương)==== Kinh ''Thuấn Điển'' (舜典) chép: "Đuổi Tam Miêu (三苗) đến Tam Nguy (三危)." '''Chu Hy (朱熹)''' nói: "Tam Miêu là tên nước, ở giữa vùng Kinh (荊), Dương (揚) thuộc Giang Nam, dựa nơi hiểm yếu mà làm loạn. Đuổi (窜) tức là xua đuổi và giam cầm ở đó." "Chia tách và xua đuổi Tam Miêu về phương Bắc." '''Chu Hy''' nói: "Bắc (北) cũng như là Bối (背 - quay lưng), kẻ thiện thì giữ lại, kẻ không thiện thì xua đuổi đi, khiến chúng chia lìa quay lưng mà đi." Kinh ''Ích Tắc'' (益稷) chép: "Bọn Miêu ngoan cố không chịu làm việc, Đế hãy lưu tâm nhé! Đế phán: 'Dẫn dắt đức của ta, ấy là công của ngươi, thảy đều trật tự.' Cao Đao (皋陶) bấy giờ kính cẩn giữ trật tự ấy, bèn thi hành tượng hình (hình phạt biểu trưng), thật là sáng suốt." '''Thái Thẩm (蔡沈)''' nói: "Trong thì Hầu Mục, ngoài thì Phiên Di thảy đều thực hành có công, duy chỉ Tam Miêu ngoan cố kiêu mạn không tuân theo, không chịu làm việc, Đế nên lo nghĩ về việc đó. Đế nói trong bốn biển kẻ nào thực hành đức giáo của ta thì đó là công lao của ngươi (Cao Đao) làm cho có trật tự, nên kẻ ngoan cố không phục tùng thì Cao Đao bấy giờ kính cẩn thừa hành cái trật tự công lao của ngươi, thi hành tượng hình thật sáng suốt. Có kẻ cho rằng bọn Miêu hung hãn, sáu quân (lục sư) chinh phạt mà vẫn nghịch mệnh, há chẳng phải tượng hình của Cao Đao có thể làm được sao? Ấy là chưa biết trật tự binh hình của thánh nhân và gốc ngọn việc trị tộc Miêu của Đế Thuấn vậy. Đại để lấy tượng hình làm uy mà Miêu vẫn không phục, sau đó mới mệnh cho Vũ (禹) chinh phạt. Chinh phạt không phục, lại tăng cường tu sửa đức giáo, đợi khi chúng đến quy phục, sau đó mới chia tách chúng ra." Kinh ''Vũ Cống'' (禹貢) chép: "Tam Nguy (三危) đã yên ổn, Tam Miêu (三苗) cả thảy đều có trật tự." '''Thái Thẩm''' nói: "Tam Nguy chính là nơi Thuấn đuổi Tam Miêu đến." '''Lã Tổ Khiêm (呂祖謙)''' nói: "Tam Miêu có tội tự đáng bị xua đuổi, nhưng phát chính thi nhân tự nhiên phải ban tới chúng, nên khi trị thủy đến Tam Nguy cũng đã khiến chúng an cư, đạt được trật tự lớn. Người đời sau cho rằng ném chúng ra bốn cõi (tứ duệ) là vứt bỏ chúng, đó không phải tâm của thánh nhân." '''Thần (Khâu Tuấn) xét rằng:''' Những gì kinh sử gọi là "Man" (蠻) đa phần chỉ các tộc Di ở phương Nam. Di Địch thấy trong kinh điển bắt đầu từ Tam Miêu, cái gọi là "Miêu dân" (苗民) thì các thiên ''Thuấn Điển'', ''Vũ Mô'', ''Ích Tắc'', ''Vũ Cống'', ''Lã Hình'' đều có đủ. Đế Thuấn lúc mới nhận truyền ngôi đã đứng đầu việc đuổi chúng đến Tam Nguy, đến thời Vũ trị thủy, những kẻ bị đuổi đã có trật tự lớn, kẻ ở lại vẫn không chịu làm việc, nên Đế mệnh Vũ đi chinh phạt, nhưng chúng vẫn nghịch mệnh, đợi đến khi Vũ rút quân chúng mới đến quy phục, bấy giờ mới xét thiện ác mà chia tách chúng ra. Lúc ấy, điều đáng lo là người Man phương Nam, nên Thuấn mệnh Cao Đao làm Sĩ (quan hình pháp), đứng đầu là cử việc "Man Di làm rối loạn Hoa Hạ" làm lời nói. Cái gọi là Man ấy chính là Tam Miêu vậy. Ban đầu, chọn lấy kẻ cực ác mà xua đuổi, sau khi đuổi rồi, lại đối với kẻ ở lại mà chia tách giữa thiện và ác. Kẻ thiện thì khen thưởng mà ban thêm ơn, kẻ ác thì trừng phạt mà dùng thêm uy. Ban ơn thì chúng biết hướng mộ mà làm điều thiện; dùng uy thì chúng biết sợ hãi mà không dám làm điều ác. Đó chính là quyền biến vi diệu của thánh nhân. Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm, trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là cái gọi là Man vậy. Trong đó kẻ khinh捷 (nhanh nhẹn) nhất gọi là Miêu (貓/苗), người thuyết cho rằng đây chính là hậu duệ của Tam Miêu. Nhưng người Miêu ngày nay nương núi mà ở, tính nết không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Xem lời thề của Vũ (Vũ thề sư), kể tội tộc Miêu rằng "quân tử ở nơi hoang dã, tiểu nhân tại vị", tức là tộc Miêu thời ấy có quốc đô quan thuộc, chỉ là việc dùng người bị đảo lộn mà thôi, không giống như người Miêu ngày nay như loài vượn khỉ, không định cư, không nghề nghiệp thường xuyên, không thống thuộc lẫn nhau. Đầu triều đại (nhà Minh), tại Hồ Bắc, Xuyên Đông lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Châu (思州), Bá Châu (播州), lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (quan bản xứ) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa chia tách của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" trong kinh ''Vũ Cống''. Tần Chiêu vương (秦昭王) sai Bạch Khởi (白起) phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di, đặt quận Kiềm Trung (黔中). Nhà Hán hưng, đổi thành quận Vũ Lăng (武陵), hằng năm lệnh cho người lớn nộp 1 xấp vải, trẻ nhỏ nộp 2 thước, gọi là "vải tông" (賨布). '''Thần xét rằng:''' Quận Vũ Lăng thời Hán chính là các châu quận Thường Đức (常德), Lễ (澧), Thần (辰), Nguyên (沅) ngày nay vậy. Năm thứ 33 (năm 214 trước Công nguyên) thời Thủy Hoàng, phát những kẻ từng trốn tránh, ở rể, người buôn bán đi đánh Nam Việt (南越), lấy đất ấy đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象). Lại có Mân Việt vương Vô Chư (無諸) và Việt Đông Hải vương Dao (搖), tổ tiên họ đều là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn (勾踐), họ Ô (騶). Tần đã gộp thiên hạ, thảy đều phế làm quân trưởng, lấy đất ấy làm quận Mân Trung (閩中). '''Thần xét rằng:''' Tần gộp 100 quận, vùng Lĩnh Nam có 3 quận: Quế Lâm nay là đất Quảng Tây (廣西); Nam Hải nay là đất Quảng Đông (廣東); Tượng quận nay là đất An Nam (安南). Từ thời Tần, Hán đến nay, lý do chúng gây hại cho Trung Quốc không phải vì ở ngoài biên ải có giới hạn, mà vì chúng không thể vượt biên giới vào nội địa ta. Đất của tộc Việt, thời cổ chủng loại thực nhiều, nên có danh xưng Bách Việt (百越), gồm Nam Việt (南越), Âu Việt (甌越), Mân Việt (閩越), Đông Việt (東越), Ư Việt (於越), đất ấy không chỉ một nơi, người ấy không chỉ một loại. Nhưng từ thời Tần, Hán đến nay, những loại như Ư Việt, Đông Việt, Âu Mân thảy đều đã vào Trung Quốc từ lâu, không khác gì các nước Tề, Lỗ, Tống, Vệ. Duy chỉ Nam Việt, đất phía Tây nối với Hồ Tương, thẳng tới Điền (Vân Nam), Quý (Quý Châu), ranh giới Tường Kha (牂牁), Việt Huề (越巂), núi sâu đất hiểm, vẫn còn kẻ chưa thảy đều quy về vương hóa, thường xuyên gây hại cho cư dân quận ấp. Đại để Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay, các quận ấp đều nằm xen kẽ giữa các dãy núi, ở lẫn với Man Di, chỉ có chỗ hiểm chỗ bằng khác nhau mà thôi. Thỉnh thoảng chúng lén lút nổi lên, khó lòng phòng bị. Thời Hán Vũ Đế, muốn đánh Mân Việt. Hoài Nam vương An (安) dâng thư nói: : "Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt, dân khổ vì binh đao tất sinh trộm cướp. Binh đao là việc hung hiểm, một phương có biến bốn mặt đều lo. Thần e biến cố phát sinh, gian tà nổi dậy chính từ đây vậy. Thần nghe binh của Thiên tử chỉ có chinh phạt chứ không có chiến đấu, ý nói không kẻ nào dám chống lại. Nếu để người Việt gặp may mà chống lại nhan sắc của bậc chấp sự, khiến binh lính phải phục dịch, chỉ cần 1 người không trở về, dù có lấy được đầu Việt vương, thần vẫn trộm lấy làm hổ thẹn cho nhà Đại Hán." '''Thần xét rằng:''' Mân Việt nay là đất Phúc Kiến (福建), đã nhập vào bản đồ (chức phương) từ lâu, không còn như thời Hán nữa. Nhưng lời Lưu An nói về phương Nam ẩm độc, binh vào đất ấy chưa đợi đao thương đã tự chết bệnh, cùng với việc binh đến thì ẩn trốn, binh lui thì tụ họp, đánh lâu thì sĩ tốt mệt mỏi, dân khổ binh đao... thì tình trạng chướng lệ rừng núi và thực trạng người Miêu, người Lão ở Hồ Nam, Quảng Tây, Vân Quý ngày nay thực sự không khác gì thời Hán. Minh chủ tại vị, lấy thiên địa làm lượng, vũ trụ làm cảnh giới, gặp lúc Di phương xa chưa được giáo hóa thì như lời Lưu An, dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai để trấn phủ ngoại phương, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành; dùng trách nhiệm của 1 sứ giả thay cho 100,000 quân, đừng để dân Trung Quốc phải chịu độc của rắn rết mãnh thú, nhuốm bệnh thổ tả hoắc loạn, cha già rơi lệ, con côi gào khóc, đón thây từ dặm xa, bỏ xương nơi hoang vắng. Điều Lưu An lo nghĩ không chỉ là cái phúc của Di phương xa, mà thực sự là cái phúc của Trung Quốc vậy. Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) đời Nguyên Đế, các quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) đại suất mấy năm lại phản 1 lần, giết quan lại, nhà Hán thường phát binh đánh định. Đến lúc này, các huyện làm phản liên năm không định. Vua bàn với quần thần muốn phát đại quân. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) nói: : "Thần nghe đức thịnh trị của Nghiêu, Thuấn. Vũ vào cõi thánh nhưng không ưu tiên bằng đức của ba vị thánh. Đất không quá mấy ngàn dặm, phía Tây đến Lưu Sa, phía Đông sát biển, phía Bắc và Nam thanh giáo ban đến bốn biển. Ý nói muốn nhận thanh giáo thì trị, không muốn thì không cưỡng trị. Đất thời Ân, Chu phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương. Thế nên tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, người vui với sự sống, người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, khiến thiên hạ tan rã. Hiếu Vũ hoàng đế rèn binh mã để dẹp bốn Di, thuế dịch phiền trọng, giặc cướp cùng nổi lên, thảy đều do mở đất quá rộng, chinh phạt không nghỉ vậy. Nay dân Quan Đông khốn quẫn, lưu lạc trên đường, đến mức gả vợ bán con, luật pháp không thể cấm, đạo nghĩa không thể chỉnh, đó là nỗi lo của xã tắc. Lạc Việt bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy. Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. : : Vả lại lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa, mất quân mà không có công sao? Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ qua." Bèn bỏ Châu Nhai, chuyên tâm lo lắng cứu tế vùng Quan Đông. Vua hỏi đại thần, Thừa tướng Vu Định Quốc (于定國) cho rằng: "Trước đánh Châu Nhai hưng binh liên năm, Hiệu úy và Thừa phàm 11 người, kẻ về chỉ có 2, tốt sĩ và phu dịch chết hơn 10,000 người, tốn kém hơn 300,000,000 mà vẫn chưa thể khiến thảy đều hàng phục. Nay Quan Đông khốn quẫn, dân khó lòng dao động." Lời bàn của Quyên Chi là đúng. Chiếu rằng: "Dân Châu Nhai ai mộ nghĩa muốn nội thuộc thì cho ở lại, ai không muốn đừng cưỡng ép." '''Tô Thức (蘇軾)''' nói: "Dương Hùng có câu: 'Việc bỏ Châu Nhai là sức của Quyên Chi, nếu không loài vảy mai (lân giới) đã thay mũ áo (quán thường) của ta', lời này dùng thời bấy giờ thì được. Từ cuối đời Hán đến Ngũ Đại, dân Trung Quốc lánh nạn đa phần ở đây, nay lễ nhạc văn minh đã hiện rõ, sao có thể lại nói chuyện bỏ rơi được?" '''Thần xét rằng:''' Quyên Chi nói không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị thảy đều đừng làm. Thần trộm nghĩ phàm những vùng đất ngày nay không phải của tổ tông để lại thì có thể dùng kế của Quyên Chi, nếu là vùng đất tổ tông lúc mới được thiên hạ đã đưa vào bản đồ thì sao có thể cho người khác được? Huống hồ vốn là nơi đất đai màu mỡ của Trung Quốc, ải hiểm yếu, người xưa gọi là "một tấc sơn hà một tấc vàng" sao? Nếu không đến mức cực kỳ bất đắc dĩ, và sự sống còn an nguy của đất nước quyết định ở đây thì không thể nhẹ nhàng nói chuyện bỏ rơi. Đầu năm Vĩnh Hòa (永和) đời Thuận Đế (năm 136 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng dâng thư rằng người Man Di thảy đều phục tùng, có thể ví như người Hán mà tăng thuế khóa, người bàn thảy đều cho là được. Duy có Thượng thư lệnh Ưu Hủ (虞詡) tâu rằng: : "Từ cổ thánh vương không coi kẻ mặc áo quần khác lạ (dị phục) là thần tử, không phải đức không đến được, uy không ban được. Mà vì tâm địa như cầm thú của chúng tham lam, khó dùng lễ mà dẫn dắt. Vì thế mà dùng chính sách kiềm chế (kiềm mâu) vỗ về, phụ thuộc thì nhận mà không cự tuyệt, phản loạn thì bỏ mà không đuổi theo. Điển cũ của tiên đế, thuế cống nhiều ít đã có từ lâu. Nay đột ngột tăng thêm tất có oán hận phản loạn, tính toán cái được không bù đắp được cái mất." '''Thần xét rằng:''' Loại người Hoa và Di khác nhau, nhưng cái tâm tham được và tiếc cho thì giống nhau vậy. Đế vương điều khiển Di Địch, thảy đều lấy nghĩa thắng chúng mà không tính toán cái lợi. Cái cũ đã có mà không lấy thì chúng dám tự tiện, cái cũ không có mà lấy thì chúng tất dẫn đến oán vọng. Ta chỉ tuân theo cái cũ mà thôi, ngoài lệ cũ không thêm mảy may, nhưng lại phải nhân lúc chúng thiên tai thiếu thốn mà thỉnh thoảng có sự buông bỏ, không đòi hỏi đủ đầy, không cự tuyệt sự dối lừa của chúng. Trong năm Vĩnh Hòa, Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) cùng châu quận thảo phạt Khu Liên (區憐)... hơn 1 năm không thắng. Vua triệu bách quan hỏi phương lược, thảy đều bàn sai đại tướng phát 40,000 quân các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự đến đó. ''' Lý Cố (李固)''' bác lại rằng: : "Giặc cướp Kinh, Dương kết bè không tan, Trường Sa, Quế Dương mấy lần bị trưng phát, nếu lại làm náo động tất sinh họa khác. Người Diễn, Dự đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến phản trốn. Phương Nam nóng ẩm, lại có chướng khí, kẻ chết chắc chắn 4 đến 5 phần 10. Đi xa vạn dặm sĩ tốt mệt mỏi, đến được Lĩnh Nam không còn sức đánh. Quân đi mỗi ngày 30 dặm, mà Diễn, Dự cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới, mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực tướng lại lừa ngựa. Nơi đóng quân người chết chắc chắn nhiều, đã không đủ chống địch lại phải phát thêm quân, ấy là cắt lòng dạ để bù chân tay. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quan lính ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ làm khổ lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều nhờ các tướng lại đó, trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú. Dời quan dân Nhật Nam lên Bắc dựa vào Giao Chỉ, chiêu mộ người Man khiến chúng tự đánh nhau, vận chuyển vàng lụa làm kinh phí. Kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong hầu tặng đất." Bốn phủ thảy đều theo lời bàn của Lý Cố. Bèn bái Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, chúng thảy đều hàng phục tan rã. Lương đến Cửu Chân, đi xe một ngựa vào giữa quân giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, người hàng phục mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng phủ sở, vùng ngoài Lĩnh lại thái bình. '''Thần xét rằng:''' Lời bàn này của Lý Cố nói về cái tệ của việc dùng binh phương Nam, trúng thiết thực tình, khiến người đời sau đọc sử đến đây thấy rõ như chính mình trong hàng quân, tận mắt thấy việc ngàn năm như một ngày vậy. Đến như lời ông nói về việc "phát tướng vô ích, châu quận có thể tin cậy" đều là những minh chứng đã hiện rõ. Nhưng về sau các quan cai quản ở đó nhậm chức không lâu đã rời đi, người Man Lão biết họ đi nhanh không thể dựa dẫm, mà quan lại sau này chưa chắc đã vậy, thường nửa tin nửa ngờ, nên tuy tạm hàng mà lại phản. Xin lấy hai sông Tả, Hữu Giang (左右兩江) ở Quảng Tây ngày nay làm ví dụ. Đất hai sông rộng 2,000 đến 3,000 dặm, quản辖 (quản hạt) binh dũng (狠兵) không dưới 10 mấy vạn, nay đặt làm 4 phủ, 37 châu, quan chính các phủ châu thảy đều lấy người bản xứ (thổ nhân) đảm nhiệm, còn các chức tá nhị, mạc chức thì dùng quan từ nơi khác đến (lưu quan). Cho nên trong hơn 100 năm qua, chưa nghe thấy có việc tụ tập xâm lược. Mà những kẻ gây hại cho châu huyện thảy đều là những người không thuộc sự quản thúc của Thổ quan, ở xen kẽ trong châu huyện. Trong đó tuy cũng có chức ti带 quản hoặc thiết lập Thổ quan Tuần kiểm, nhưng Lưu quan không có quyền, chúng biết họ ở không lâu nên khinh lờn; còn cái gọi là Thổ tuần kiểm thì quan thấp lực mỏng, không đủ sức kiềm chế nhau. Thần ngu nghĩ kế sách chế ngự thuần phục ngày nay không gì gấp bằng việc lập Thổ quan, xin dùng lệ của hai sông Tả, Hữu Giang mà lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ. Đại để việc đặt phủ châu ở hai sông Tả, Hữu là chuyên giao đất ấy cho một họ, ý thần nói "lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ" là lập ra nhiều quan để phân chia quyền lực. Phàm người Dao, Trọng ngày nay ở lẫn với dân biên tịch trong châu huyện, chỉ là chúng dựa núi rừng mà ở mà thôi. Nay nên đặc biệt sắc lệnh đại thần trong ngoài thân hành đến đất đó, tập hợp các tù trưởng hào kiệt, dụ bằng ơn uy triều đình, sẽ trao cho chức quan, như lệ Thổ quan hai sông Tả Hữu, cho con cháu đời đời hưởng dụng. Kẻ nào dẫn dắt chủng tộc từ 500 tên trở lên nội thuộc thì trao cho chức Tri châu; dưới 400 tên tùy lượng trao chức Đồng tri, Phán quan, Lại mục... Các quan ấy không hạn định số lượng, cũng như chế độ Vệ sở. Khi họ nộp tờ khai không cần khám thực, cấp ngay mũ áo, sai quan thuộc dùng xe ngựa trống nhạc đưa về nơi cư ngụ. Dần dà cho họ chọn đất lập công sở, hợp sức muôn người mà thành. Thành xong dâng tấu xin ấn, cho cử ra một người được muôn người tin phục trong số đó để giữ ấn, thì họ nhận tước mệnh triều đình tất biết cảm mộ, mà đồng loại thảy đều kính trọng. Kẻ nào không phục, họ dựa uy quốc gia hợp lực trừ khử không khó vậy. Tích lâu thành tục, họ thảy đều mộ phong thái Hoa hạ, học lễ giáo mà biết giết chóc cướp bóc là sai. Huống hồ lập ra nhiều quan, thế chia lực cân, tự đủ kiềm chế nhau, không thể làm loạn, mà trong đó không thể không có việc tự tranh tụng. Phải bẩm báo lên thượng ty, tấu về triều đình, thì thế quốc gia càng tôn quý, không nhọc binh đao mà một phương yên tĩnh. Nhưng điều lo ngại gây họa về sau là ranh giới không rõ, lúc khác không thể không tranh giành. Nên nhân lúc ban đầu sai quan hội cùng Thổ tù phân chia địa giới, hoặc lấy khe suối, hoặc lấy gò núi, ngay trên ranh giới lập đá làm dấu, viết chữ lớn khắc sâu rằng: "Từ đây đến đây là giới của hữu ty, đến đây là giới của thổ quan". Trong đó đất của dân có lọt sâu vào cảnh giới của họ thì lấy đất ngoài nơi không thu thuế mà đổi cho dân, tùy rộng hẹp không cần đo đạc lại. Đất do Thổ tù thống lĩnh thì để họ tự nhận nộp thuế lương, định làm ngạch số, ngày sau không được tăng thêm. Xử trí như thế chắc có lẽ vĩnh viễn không có lo âu chăng? Trong năm Trinh Nguyên (貞元) (năm 785 – 805 dương lịch) đời Đường, thủ lĩnh động Hoàng (黃洞) ở Quảng Tây là Hoàng Thiếu Khanh (黃少卿) đánh Ung Quản (邕管), chiếm các châu Khâm (欽), Hoành (橫), Quý (貴)... mấy lần hàng mấy lần phản. Đầu năm Trường Khánh (長慶) (năm 821 dương lịch), Kinh lược sứ Nghiêm Công Tố (嚴公素) lại xin thảo phạt. Binh bộ Thị lang ''' Hàn Dũ (韓愈)''' kiến ngôn: : "Giặc họ Hoàng đều là bọn Di Lão, không có thành quách để ở, dựa núi dựa hiểm, thường ngày cũng tự kiếm sống, gấp thì tụ tập bảo vệ nhau. Gần đây do Kinh lược sứ Ung Quản đa phần không được người tốt, đức đã không thể vỗ về, uy lại không thể lâm chế, xâm khi chiếm đoạt, dẫn đến oán hận. Tính người Man Di dễ động khó an, bèn dẫn đến cướp bóc châu huyện, xâm hại người lành, hoặc để trả thù riêng, hoặc tham lợi nhỏ, khi tụ khi tán, chung quy cũng không thể thành việc lớn. : : Việc chinh thảo gần đây vốn bắt đầu từ Bùi Hành Lập (裴行立), Dương Mân (陽旻), hai người này vốn không có viễn lự thâm mưu, ý tại cầu công nhận thưởng, cũng nhân thấy lúc giặc chưa tụ tập, cho rằng lẻ tẻ có thể đánh tan ngay, tranh nhau hiến mưu kế, chỉ sợ chậm chân. Triều đình tin theo bèn cho phép. Từ khi dùng binh đến nay đã trải qua 2 năm, trước sau tâu báo giết bắt tính không dưới 10,000 đến 20,000 người. Nếu thảy đều không phải giả thì giặc đã hết sạch rồi, mà nay giặc vẫn như cũ, đủ rõ sự dối trá. Lại từ khi Nam chinh đến nay, đồ đảng giặc cũng bị thương tổn nhiều, xét tình lý chúng chắc đã chán khổ sâu sắc. : : Đại để Lĩnh Nam người thưa đất rộng, nơi giặc ở lại càng hoang vu hẻo lánh. Giả sử giết sạch người, chiếm sạch đất ấy, đối với quốc kế cũng chẳng có ích gì. Hãy bao dung kiềm chế, ví chúng như cầm thú, đến thì phòng ngự, đi thì không đuổi, cũng chẳng tổn hại thế sự triều đình. Xin hãy chọn người có tài năng uy tín, am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên vĩnh viễn không có việc xâm lấn phản loạn." '''Thần xét rằng:''' Lời Hàn Dũ nói về việc dùng binh đã 2 năm, tâu báo giết bắt 10,000 đến 20,000 người, nếu không phải giả thì giặc đã hết sạch... lời này không chỉ là cái tệ thời bấy giờ. Nhân tình cổ kim không khác xa nhau, lấy xưa biết nay, duy mong Thánh minh lưu tâm, gặp lúc có tiệp báo phương xa hãy lấy lời này mà nghiệm, sẽ thấy rõ thực giả vậy. Đến như việc xin chọn người tài năng uy tín am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên không có việc phản loạn, lời này thực là lương kế xử trị Nam Man từ cổ chí kim. Đại để Nam Man khác với Bắc Địch, tính người Man âm nhu, dựa núi làm thế, quân đến thì vào núi trốn xa, quân đi thì ra ngoài cướp bóc, như loài ruồi muỗi, vung quạt thì bay tán, thu quạt thì tụ lại, tiêu diệt rất khó. Vả lại đất ấy nhiều chướng lệ, người Trung Nguyên sợ vào đất đó, chưa đến đã khiếp sợ, một khi vào khí hậu không đồng đều, ẩm ướt cực độ, thường thường chưa đánh đã chết, vừa không thể đánh nhanh vừa không thể đánh lâu, nên từ cổ dùng binh chưa từng đắc chí lớn ở Nam Man vậy. Tuy nhiên, cái họa trong thiên hạ thảy đều có lý do. Biết lý do mà chặn cửa, tuyệt gốc thì họa tự dứt. Hơn nữa những kẻ gọi là "Dao Trọng" (猺獞) ngày nay không phải có cường tông hào tộc, cũng không thâm mưu viễn lự, không muốn tranh thành ấp, không muốn thu nhân tâm, chẳng qua muốn cướp đoạt tài vật mà thôi. Nơi chúng ở trong núi sâu rừng lớn, không xây cung thất, không dùng thê thiếp, không vì con cháu; tiền tài kiếm được sẽ dùng vào việc gì? Mà dùng thì sẽ giao thương ở đâu? Khiến người nội địa ta không giao thông với chúng thì tiền tài chúng kiếm được không có chỗ dùng, mà muốn dùng cũng không có chỗ bán. Kế sách ngày nay, nên sắc lệnh Trấn thủ Đô hiến đốc trách các ty Phan, Niết và các Thủ lệnh tướng lãnh nghiêm thúc quân dân thuộc hạ, không cho phép giao thông với giặc. Phàm quân dân ai vào sơn động làm ăn thì cho phép đến quan cáo tri, chở vật gì đến sơn động nào bán, quan ty cấp cho ấn thiếp làm chứng, không có thiếp không cho phép, bắt phải cam kết không mang theo khí vật cấm, chỉ cho phép lấy người, thóc gạo, thổ sản, không cho phép nhận bạc trắng và những vật đất ấy không sản xuất. Kẻ vi phạm đóng gông thị chúng, tịch thu tài vật. Thân thuộc hàng xóm biết tình mà không báo thì tội như nhau, ai báo cáo thì thưởng cho 1 phần 3 tài vật đó. Như thế chúng có vật không chỗ bán, sẽ không cướp hàng cầu tài, giết người lập uy nữa. Lại nghe những năm gần đây, thành ấp về đêm thường bị giặc lẻn vào, nếu không giết chết quan viên, cướp đi ấn tín thì thường giấu tội không báo. Suy nguyên lý do không phải chúng có tài mà do ta không phòng bị. Nên lệnh Trấn thủ Đô hiến Tổng binh quy hoạch phép giữ thành, hành xuống quân vệ hữu ty bảo họ tuân theo thì vĩnh viễn không mất. Xét lý do lẻn vào đa phần do quân vệ hữu ty đùn đẩy nhau, đêm tối mất cảnh giác nên thành ấp thường đến mức thất thủ. Đó không phải bên trong không lương thảo, ngoài không cứu viện, lực kiệt không chống nổi. Từ nay về sau phàm nơi có thành trì, trách lệnh quan chính tá quân vệ hữu ty viết tờ lãnh trạng, bắt họ cùng thành còn mất, có thất thủ quyết không nhẹ tha, thì họ biết tội trách thâm trọng không dám khinh suất, giặc không thể lẻn vào được. Cái gọi là quy hoạch phép giữ thành: mỗi thành tất làm nội viên (tường trong), rào gai dựng sấn thảy đều làm 1 cửa, đêm tối khi đã lên thành giữ thì không cho xuống nữa, phải đợi bình minh mới mở cửa, chúng biết không đường sống thì ngủ không yên chiếu vậy. Lại nuôi sẵn chó sữa thuần phục chúng, cứ mỗi 5 đóa dùng gỗ làm hòm treo một con chó sủa, hơi có tiếng gió chó đã biết cảnh giác. Chúng không thể bắc thang leo tường, thì kế lẻn vào không còn chỗ thi triển. ''Tống Sử'' chép: "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi, chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu. Các tộc Man Di phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ để lấy về vùng đất cằn cỗi, làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh, khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di, ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực của người dân đã sâu nặng lắm rồi." '''Thần xét rằng:''' Thời Đường Ngu, người Di ở ba biên Đông, Tây, Bắc thảy đều không thấy chép, mà thấy trước nhất trong kinh điển là tộc Miêu ở phương Nam. Nhưng người Di ở ba phương thảy đều giáp biên một mặt, người Di ở ngoài mà trong đó là đất của vua; duy chỉ đất biên ải phương Nam thì người Di ở lẫn trong đất vua, xen kẽ với cư dân, nên cái hại đến dân lại càng dễ, không giống như giặc ba biên có lúc đến, có nơi xâm, có hành trình, trước đó có thể phòng bị, lúc đến không dẫn đến cuống cuồng mất phương hướng. Thời Nhân Tông, ''' Địch Thanh (狄青)''' xin đánh Nùng Trí Cao (儂智高), muốn có binh của các bộ lạc (phiên lạc) ở biên giới phía Tây đi theo. Có kẻ bảo phương Nam không hợp cho kỵ binh, Khu mật sứ Cao Nhược Nạp (高若訥) nói: "Các bộ lạc giỏi bắn, chịu gian khổ, lên xuống núi như đất bằng, nhân lúc chướng khí chưa phát mà xua nhanh phá chúng, tất thắng vậy." Thanh cuối cùng dùng kỵ binh phá giặc. '''Thần xét rằng:''' Binh các bộ lạc lấy kỵ xạ vang danh thiên hạ, người Man phương Nam nghe thấy tự nhiên rụng rời, nhưng thần cho rằng dùng vào lúc có sự không bằng lúc không sự gặp kẻ Khương Hồ nội thuộc thì ưu ái nuôi dưỡng an trí vùng này, không chỉ hôm nay biên ải phương Nam cậy vào sức họ, mà cũng có thể tiêu trừ họa nội địa lúc khác. Đầu thời Tống, có lời tâu với Nhân Tông rằng: "Lĩnh Nam là vùng đất xa xôi, chướng lệ bốc lên, người phương Bắc đi lính trấn thủ kẻ đi 10 chết 9. Phát nhiều binh thì thiếu lương, ít thì việc không xong, gấp gáp cầu công thì người Man trốn biệt không chịu ra, lơi lỏng thì lại đến nhiễu người, ấy là nên có cách chế ngự vậy. Nay nghe phát Bắc binh hơn 10,000 người trấn thủ ngoài Lĩnh, dưới thấp trên hầm bệnh chết chắc nhiều, liệu các tộc Man không đóng lâu, đánh chúng tất tán. Thần cho rằng không bằng chọn 1 đến 2 kiện tướng, hằng năm chỉ giữ 5,000 Bắc binh, chia đóng nơi yếu hại, tìm hơn 10 thiện lại chia đặt các châu, mộ thổ nhân làm hương quân, miễn thuế dịch cho họ, xem châu lớn nhỏ, hộ nhiều ít mà định số lượng, thống lĩnh bộ ngũ, dạy cách tiến thoái, thảy đều lấy sở trường của họ mà đuổi bắt nhau. Cứ 100 người thì cho 30 Bắc binh đi kèm, dùng cung mạnh binh sắc hỗ trợ. Mùa Đông Xuân thì sai thâm nhập nhiễu nơi ở của chúng; mùa Hạ Thu thì sai giữ kỹ phòng chúng cướp bóc. Chúng tuy có thể dụ dỗ kẻ vong mạng Trung Quốc, nhưng xét cho cùng ăn hết tất phải ra cướp. Nếu chúng đến, đánh giết được nhiều thì suốt đời chúng kinh hãi. Uy đã lập rồi sau đó mới bàn chuyện chiêu hàng. Thề với chúng thì bền, cho làm thần tử thì lâu, hẹn xa 5 năm, gần chỉ 1 năm, phương Nam vô sự vậy." '''Thần xét rằng:''' Pháp trị Nam Man khác với Bắc Địch, người thuyết cho rằng chinh Man không có kế toàn thắng, vì sao? Vì đất ấy nóng ẩm, chướng lệ cực độ, lính Trung Nguyên không hợp thủy thổ, không đợi qua gươm giáo tên đá đã tự mắc dịch mà chết, dù có triệu binh cũng không làm gì được vậy. Thần trộm nghĩ nạn chướng lệ chỉ xảy đến với kẻ nghèo yếu và kẻ không biết điều tiết mà thôi, còn như tướng soái cư quan hiển yếu thì hiếm gặp. Xin lệnh cho các trọng thần trấn giữ nơi đó đa phương hỏi han những kẻ bị đày ở đó lâu năm mà vẫn thọ và khỏe, hỏi họ cách ăn ở điều tiết, ghi chép chi tiết khắc bản ban cho sĩ tốt. Mỗi đội ngũ chọn 1 người chuyên trách việc đó, kẻ nào không tuân theo điều chỉ dẫn mà tự tiện không kiêng khem tất phải gia tội. Những thuốc men dụng cụ cần chuẩn bị hãy lệnh hữu ty cấp cho. '''Trương Thức (張栻)''' khi làm Tri phủ Tĩnh Giang tâu rằng: "Bản phủ có 9 quận phòng biên mà Ung Quản (邕管) là trọng yếu nhất. Ung Quản rộng mấy ngàn dặm mà hai sông Tả Hữu Giang là trọng yếu nhất. Từ phía Tây Bắc Ung Quản có Tường Kha (牂牁), La Điện (羅甸), Tự Kỷ (自杞); từ phía Tây Nam có các nước An Nam (安南), thảy đều là nơi phải phòng bị. Nhưng lính trấn thủ Ung Quản không đầy 1,000 người, cái cậy làm hàng rào duy chỉ có các khe động ở hai sông Tả Hữu Giang cộng hơn 8,000 nơi, dân binh không dưới 100,000, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu cổ xưa. Cách Ung Quản gần nhất là hơn 300 dặm, xa nhất gần 1,000 dặm, cái cậy để duy trì vỗ về duy chỉ có 4 người Đề cử Đạo tặc Đô tuần kiểm, mỗi người mang hơn 100 lính trấn thủ làm cương lĩnh cho khe động, chức nhiệm ấy không thể gọi là nhẹ vậy. Có thể nào không tuyển chọn kỹ người, cẩn trọng giữ đất đó để làm kế lâu dài cho nơi xa xôi chăng!" '''Thần xét rằng:''' Nhà Đường chia đất Lĩnh Nam làm 5 quản, mà Quế (桂), Ung (邕), Dung (容) thuộc Lĩnh Nam Tây Đạo; trong bản triều ta, cắt đất phía Tây Dung Quản thuộc Quảng Đông, còn Quảng Tây thực sự chiếm trọn hai quản Quế, Ung và một phần nhỏ Dung Quản. Ung chính là phủ Nam Ninh (南寧) ngày nay, đất ấy khống chế hai sông Tả Hữu Giang, thực là cổ họng của đất An Nam. Đầu triều đại nhân theo lệ cũ của đời trước, đặt 4 phủ Thái Bình (太平), Điền Châu (田州), Tư Minh (思明), Trấn An (鎮安) và 7 châu như Long Châu (龍州). Đầu năm Chính Thống (正統) (năm 1436 dương lịch) lại nâng Tư Ân châu lên làm phủ, dùng thổ nhân làm Thủ trưởng, còn Tá nhị Mạc chức dùng Lưu quan, duy chỉ phủ Thái Bình thảy đều dùng Lưu quan, còn các châu trực thuộc vẫn theo tục cũ. Phàm các châu quận kiềm chế này đã hướng nội từ lâu, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu xưa, gặp lúc trưng phát cũng cậy vào sức họ. Nhưng hiện nay lính trấn thủ khống chế chỉ có hai vệ Nam Ninh, Tuần Tượng và một sở Thái Bình, có vẻ đơn yếu. Xin như lời Trương Thức nói, nhân lúc vô sự hiện nay, tại đất này đồn binh làm trọng trấn, tuyển chọn giữ tướng, cẩn trọng giữ đất, làm kế lâu dài để tiêu biến biến loạn lúc chưa xảy ra. An Nam (安南) vốn là Giao Chỉ (交阯) cổ xưa. Tần gộp thiên hạ, tại đây đặt Tượng quận (象郡). Tần vong, Úy Nam Hải là Triệu Đà đánh chiếm lấy. Hán đặt 9 quận, ba quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Tượng (象) chính là đất Giao Chỉ. Sau người đàn bà Trưng Trắc (徵側) phản, sai Mã Viện bình định, lập cột đồng làm giới hạn nhà Hán. Nhà Đường bắt đầu chia Lĩnh Nam làm hai đạo Đông Tây, đặt Tiết độ, lập 5 quản, An Nam lệ thuộc vào đó. Thời Ngũ Đại, Lưu Ẩn gộp đất ấy làm Giao Chỉ Tiết độ sứ. Sau đó trong quản đại loạn, có Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) định yên. Con là Liễn (璉) nội thuộc, nhà Tống phong làm Giao Chỉ quận vương. Truyền cho con là Toàn (璿), bị Lê Hoàn (黎桓) đoạt lấy. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 4 (năm 993 dương lịch), phong Hoàn làm Vương. Hoàn chết, con là Long Việt (龍鉞) lập, em là Long Đĩnh (龍廷) giết Việt mà thay thế. Long Đĩnh muốn tu cống, An phủ sứ Thiệu Diệp (邵曄) bẩm báo, Chân Tông nói: "Vùng xa xôi tục lạ không hiểu thể thống, sao có thể trách được." Vẫn phong làm Vương, ban tên Chí Trung. Sau bị hạ thần Lý Công Uẩn (李公蘊) đoạt lấy, bèn phong Công Uẩn làm Vương. Họ Lý truyền 8 đời đến Hạo Hàm (昊旵), người Phúc Kiến là Trần Nhật Chiếu (陳日照) làm rể, bèn có được nước ấy. '''Thần xét rằng:''' Giao Chỉ vốn là đất quận huyện của Trung Quốc từ thời Tần Hán đến nay, thời Ngũ Đại bị Lưu Ẩn thôn tính, đến đầu thời Tống mới phong làm Quận vương, nhưng vẫn ban cho quan tước huân giai của Trung Quốc như "Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát đẳng sứ" và ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa Công thần", thảy đều như bề tôi nội địa, chưa từng gọi là "Quốc" (nước). Về sau phong Nam Bình vương, tấu chương văn di vẫn xưng là "An Nam đạo", thời Hiếu Tông bắt đầu phong Vương xưng Quốc, mà thiên hạ nhân đó coi họ như Cao Ly, Chân Lạp, không còn biết đó là quận huyện của Trung Quốc nữa. Họ Trần truyền 12 đời đến Nhật Côn (日焜), bị Lê Quý Ly (黎季犛) chiếm ngôi. Quý Ly dâng biểu dối tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元), con là Thương (蒼) đổi tên, trá xưng họ Trần tuyệt tự, lấy danh nghĩa cháu ngoại cầu quyền giữ việc nước, Thái Tông hoàng đế ta đã nghe theo. Qua năm sau, cháu họ Trần tên Thiêm Bình (添平) chạy đến kinh sư tố thực, Quý Ly bèn dâng biểu xin đón Thiêm Bình về nước. Triều đình không ngăn sự dối trá, sai sứ đưa Thiêm Bình về. Đến biên giới, Quý Ly phục binh giết đi cùng cả sứ giả. Sự việc đến tai, Thái Tông cáo với trời đất thần kỳ, kể tội chinh phạt, sai Chinh Di tướng quân Chu Năng (朱能)... đi đánh. Năng chết trên đường, mệnh Phó tướng Trương Phụ (張輔) tổng lĩnh quân binh, bắt sống Quý Ly cùng con là Thương, Trừng hiến phù tại kinh sư. Ra chiếu tìm hậu duệ họ Trần để lập. Người trong nước thảy đều nói Quý Ly đã giết sạch, không ai kế thừa, thảy đều xin phục hồi quận huyện như xưa. Bèn như chế độ ngày nay, lập ba ty Đô, Bố, Án Giao Chỉ cùng các phủ châu huyện vệ sở, thảy đều như nội địa. Về sau có Lê Lợi (黎利), là kẻ Di trong đám Di vậy, quan trong triều che chở nên dẫn đến ngang tàng, dâng biểu xin lập hậu duệ họ Trần. Tuyên Tông hoàng đế nói đây là ý của Hoàng tổ (Thành Tổ), bèn nghe theo, bèn bỏ đất ấy để họ phục hồi làm nước. Ôi! Từ khi Tần gộp 100 quận, đất Giao Chỉ đã cùng Nam Hải, Quế Lâm vào Trung Quốc. Giữa thời Đường, người Giang Nam làm quan hiển hách còn ít, mà người Ái Châu (愛州) là Khương Công Phụ (姜公輔) đã làm Học sĩ, Tể tướng trong triều, sánh vai với các sĩ phu Trung Châu vậy. Thế mà trải qua Ngũ Đại bị thổ hào chiếm cứ. Nhà Tống hưng không thể thảo phạt, khiến đất này sa vào cõi Man Di, mang cái tục nhếch nhác, 300 năm mà không được cùng Nam Hải, Quế Lâm... dự vào hàng ngũ văn minh lễ nhạc làm quê hương danh tiếng vật báu, thật là bất hạnh thay! Trong đó người Tống dù 1 lần đuổi được vua họ, người Nguyên dù 2 lần vào kinh đô họ mà chung quy không thể giữ được. Thái Tổ hoàng đế ta khai quốc ban đầu, họ Trần trước tiên nộp khoản, Thái Tổ chép vào ''Tổ Huấn'' không cho hậu nhân đánh nước họ. Họ Trần bị giặc Quý Ly giết hại, Thái Tông hoàng đế thể theo ý của Cao Hoàng, không dứt dòng dõi họ Trần, sai sứ đưa về nước, giặc Quý Ly lại giết đi cả sứ giả. Bất đắc dĩ hưng binh bình định, tìm hậu duệ họ Trần không được, bèn dùng cố sự Hán Đường phục lập quận huyện, nhưng quan giữ đất không cẩn trọng dẫn đến Man Lão lại hoành hành, mà Lê Lợi lấy lời tìm hậu duệ họ Trần làm từ ngữ. Tuyên Tông hoàng đế thể theo tâm của Văn Hoàng, để họ nối lại dòng tuyệt của họ Trần, không ngăn sự dối trá của Lê Lợi, bèn bị che mắt, quần thần mấy lần xin hưng binh thảo phạt, Chương hoàng đế (Minh Anh Tông) nhớ lời dạy của Thánh tổ nên gác lại không hỏi. Mà vùng Cửu Chân, Nhật Nam, di dân từ thời Tần Hán đến nay đã được thấy ánh mặt trời rồi lại sa vào vực thẳm, thật là trọng bất hạnh thay! Trộm nghĩ cương vực ngày nay xa quá thời Tống, sánh ngang thời Đường mà không bằng thời Hán chính vì mất 3 quận ngoài Lĩnh này. May mắn được rồi lại mất, thật là đáng tiếc. Nhưng giữ lời dạy của tổ tông không sai không quên, ấy là cái hiếu lớn của việc kế thừa, cái đại thể của việc giữ thành quả vậy. Điều đáng tiếc là dân một phương chịu sự trọng bất hạnh mà thôi. Cương vực An Nam, thời Tần Hán là đất 3 quận, nay đất ấy phía Đông vượt Khâm Châu (欽州) của Quảng Đông, phía Tây trải qua Tả Giang của Quảng Tây, đến Lâm An (臨安) Nguyên Giang (元江) của Vân Nam làm giới hạn. Khâm Châu về phía Đông là đường biển đối cảnh; phía Tây Khâm Châu là giới hạn phủ Nam Ninh. Phía Đông Nam Nam Ninh là các châu Thượng Tư (上思), Trung Châu (忠州), Thượng Hạ Thạch Tây (上下石西) thuộc phủ Tư Minh; các châu Long Anh (龍英), Thái Bình (太平), An Bình (安平), Thượng Hạ Đống (上下凍) thuộc phủ Thái Bình thảy đều giáp giới với họ. Mà Long Châu (龍州) chính là con đường họ tất phải đi qua, còn huyện Phán Tường (憑祥) là nơi yếu hại vậy. Phủ Trấn An có Quy Thuận (歸順) và động Hạ Lôi (下雷) cũng giáp giới. Phía Tây hai động ấy là giới hạn Vân Nam. Các châu A Mê (阿迷), trại Tả Năng (左能)... 9 Trưởng quan ty thuộc Lâm An thảy đều là giới hạn gần, Nguyên Giang có đường thủy thông tới, còn huyện Mông Tự (蒙自) là con đường tất phải đi qua của họ. Về đường sá: * Tại Quảng Tây: Từ phủ Thái Bình trải qua Long Châu và huyện Phán Tường, đến phủ Lạng Sơn (諒山) của họ, tới nơi họ gọi là Đông Đô (thăng long) mất 7 ngày đường. * Tại Quảng Đông: Từ Khâm Châu đi về hướng Tây Nam 1 ngày đến Vĩnh An châu (永安) của họ, từ Ngọc Sơn (玉山) đến Đông Đô của họ mất 5 ngày đường. * Tại Vân Nam: Từ phủ Lâm An qua bãi Liên Hoa (蓮花灘) ở đáy sông huyện Mông Tự đến Đông Đô của họ mất 4 - 5 ngày đường. Đó là đại lược về biên cảnh giữa Trung Quốc và Giao Nam vậy. ===Đồ Thư Biên (圖書編)=== ==== Nội Di tổng luận (內夷總論)==== '''Xét rằng:''' Bốn phương Di (四夷) thấy trong kinh điển bắt đầu từ tộc Tam Miêu (三苗). Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là người Man (蠻) vậy. Trong đó kẻ nhanh nhẹn nhất gọi là Miêu (貓), chính là hậu duệ của Tam Miêu (三苗), nương núi mà ở, bản tính tập quán không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Đầu triều đại, tại Hồ Bắc (湖北), Xuyên Đông (川東) lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Xuyên (思川), Bá Châu (播州). Lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (土官) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa "chia tách phương Bắc" của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" của Đại Vũ (大禹). ==== Chế ngự Nội Di tổng luận (制馭內夷總論)==== "Nhà Minh (明) hưng thịnh, bình định bốn biển, phàm những vùng đất của người Di (夷), Lão (獠), Man (蠻), Bặc (僰), Dao (猺), Trọng (獞), phía Tây khởi từ Ba Thục (巴蜀), Tường Kha (牂牁), phía Đông đến vùng Tương (襄), Sở (楚), phía Bắc bao bọc Hồ Lĩnh (湖嶺), chuyển sang phía Đông rồi xuống phía Nam, phương Nam tận cùng tới biển, lại phía Đông vượt qua Bách Việt (百粵) và ba sông (Tam Giang - 三江). Kẻ lớn thì chiếm giữ cả dãy thành trì, kẻ nhỏ thì bám giữ nơi rừng sâu. Tuy có chút phụng theo ước thúc, nhưng chủ yếu vẫn chỉ là kiềm chế vỗ về (kiềm mâu - 羈縻) mà thôi. Thế nhưng khi binh lực của chúng mạnh lên một chút thì lúc phản lúc hàng; nếu cứ thuận theo và buông lỏng quá mức, vỗ về mất kế sách, thì hùng tâm của ta tự thu hẹp mà hang ổ của chúng lại càng sâu. Huống hồ đất rộng quan cao, chiếm lợi giỏi binh, dân số (sinh xỉ) càng đông, tài vật càng đầy. Chúng dùng dối trá để thành mưu, dùng công lao để giải tội, gieo rắc nỗi lo nuôi dưỡng tai họa, xem thường Trung Thổ (中土), chưa thể nói là không có lo âu. Than ôi! Kinh ''Hạ điển'' có vùng Yếu Hoang (要荒), chức ''Chu quan'' có vùng Phiên Trấn (蕃鎮), đại để đều là nương theo dân mà thuận theo tục. Vượt biển đánh dẹp, qua sông cách núi, đất đai dần mở mang nhưng sự giáo hóa cuối cùng vẫn bị ngăn lấp. Mới hay đức trời không tư riêng, vương đạo có chừng mực, mở mang nước nhà mà coi nhẹ việc vỗ về lòng dân thì sự phòng bị sẽ bị khốn đốn bởi tầm nhìn hạn hẹp. Nếu bốn Di tự có đủ no ấm, Trung Hoa không lo bị độc hại, thì ta còn mong cầu gì hơn? Chỉ vì quan lại thích tích trữ, chính sự nhiều trễ nải, hoặc vì lánh hiềm tự làm sạch mình, hoặc vì cầu thắng mà ham lập công, thế nên tin tức xâm lấn hằng ngày nghe thấy, binh lính mấy phen nổi lên, lưới pháp lỏng lẻo, Di (夷) và Hạ (夏) đều khốn đốn. Nay muốn thu tóm kế sách lâu dài để mưu đồ sự yên ổn bền vững, tất phải phân định rạch ròi cương giới thì lân tộc không tranh giành; định rõ đích thứ thì tông chi tự ổn định. Lúc cha truyền con nối, phải kịp thời kiểm tra báo cáo; việc nộp tiền thóc, thảy đều bãi bỏ. Lại phải chỉnh đốn võ bị nơi các Tiết soái, tu sửa văn đức chốn Miếu đường, thì nỗi lo loạn lạc sẽ ít đi vậy." ==Nam Phương chư quốc tổng bộ kỷ sự (南方諸國總部紀事)== ===Nguyên Sử (元史)=== ====Truyện Quy Dương (歸暘)==== Tù trưởng vùng Thuận Giang (順江) là Nhạc Tôn (樂孫) cầu xin nội phụ, xin lập Tuyên phủ ty cùng đặt 13 nơi quận huyện. Quy Dương (歸暘) nói: "Người xưa có câu: 'Roi tuy dài nhưng không đánh tới bụng ngựa'. Nếu thực đặt quận huyện, khi có sự cố mà không cứu thì cô phụ cái ý đến quy phụ, nếu cứu thì làm mệt mỏi Trung Quốc mà phục vụ ngoại Di, ấy gọi là hưởng hư danh mà chịu thực họa vậy." Quy Dương tranh biện rất mạnh với Tả thừa Lữ Tư Thành (呂思誠). Thừa tướng Thái Bình (太平) cười bảo: "Đô sự Quy Dương giỏi thật, khờ khạo như thế, sao lại kháng cự dữ vậy? Thế nhưng mưu sách của ngươi rốt cuộc là gì?" Quy Dương đáp: "Tù trưởng ấy có thể phong chức Tuyên phủ, chớ nên cưỡng cầu cống nạp thuế khóa, sứ giả ban cho vàng lụa rồi cho về là đủ rồi." Sau cùng đã theo lời của Quy Dương. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/en/book/GJTS08/chapter/1lpka93xg3nyy?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] q6usdyb7t6reuvvwnl6e0hbzeeby24m Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089 quyển 114 71931 204618 2026-04-09T10:57:12Z Mrfly911 2215 Mrfly911 đã đổi [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089 quyển]] thành [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089]] 204618 wikitext text/x-wiki #đổi [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089]] 2sz9x1a1ruydo3gqkswyhvrvulf0wi8