Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.46.0-wmf.23 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Đề tài Thành viên:Mrfly911 2 68467 204624 204573 2026-04-10T02:51:06Z Mrfly911 2215 /* Chiến Quốc (476–221 TCN) */ 204624 wikitext text/x-wiki == Các tài liệu đóng góp và tham khảo == {{Nhị thập tứ sử}} {{Kinh điển Phật giáo}} ===Xuân Thu (770 - 481 TCN)=== * [[Đạo Đức kinh]] === Chiến Quốc (476–221 TCN)=== '''Chủ đề Y dược.''' * [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]] * [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]] * [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]] * [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]] ** [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]] ** [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]] * [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]] * [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]] * [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]] * Nam dược thần hiệu (南藥神效) * Hồng Nghĩa giác tư y thư * Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領) * [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]] * [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]] * [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]] * [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]] * [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]] * [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]] * [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]] ---- === Hán (206 TCN - 9)=== * [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]] ** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]] ** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]] * [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]] ** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾) * [[Tác gia:Tư Mã Thiên]] ** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]] *** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] ** [[:zh:素王妙論]] ** [[:zh:悲士不遇賦]] ** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944) ** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch) ** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]]) * [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]] ** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]] * [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]] ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện ===Đông Hán (25–220)=== * [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]] ** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]] *[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]] ---- * [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]] ** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]] === Tào Ngụy === * [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360) === Đông Ngô === * [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]] * [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]] ** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]] ** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]] === Tấn === * [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]] ---- * [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]] ** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]] * [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]] ** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] ===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)=== * [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]] ** KINH (經) *** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển ***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển *** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng) *** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển) *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển ** LUẬT (律) *** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển ** LUẬN (論) & PHÁP (法) *** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển *** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển *** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển *** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển *** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp) ** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP *** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển ---- * [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]] ** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]] **:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng. ** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]] ---- * [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442) ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] ===Nam–Bắc triều (420–589)=== ==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ==== * [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]] === Đường 618–907)=== * [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]] * [[Lữ ngụ An Nam]] * [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]] * [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]] * [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]] * [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]] ** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]] ** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]] ---- * [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]] * [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713) ** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]] ** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762) ** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]] * [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]] ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]]) ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]]) ===Ngũ đại Thập quốc (907–979)=== * [[Tân Ngũ Đại sử]] ===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)=== * [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178) * [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186) * [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]] * [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]] * [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]] * [[Tục tư trị thông giám]] * [[Tư trị thông giám trường biên]] === Trần # Nguyên (1260–1368)=== * [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]] * [[:zh:安南志畧]] ** [[Biên dịch:An Nam chí lược]] * [[Biên dịch:Nguyên sử]] ** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]] *[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]] **Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]] * [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]] === Trần - Lê # Minh (1368–1644)=== * [[:zh:越史略|越史略]] ** [[Biên dịch:Việt sử lược]] * [[Biên dịch:Minh thực lục]] ** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]] *** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]] * [[Biên dịch:Minh sử]] ** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]] * [[Bình An Nam chiếu]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]] * [[:zh:殊域周咨錄]] ** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]] * [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]] * [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]] * [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội] === Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)=== * [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]] * [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]] **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]] ***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]] *** ... **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]] * [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]] ** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]] *[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) **[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) *[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]] **[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]] *[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) *[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) * [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]] * [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]] * [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]] * [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]] ---- * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]] ==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu== <pre> <inputbox> type=search width=30 placeholder=Tìm trong trang này searchbuttonlabel=Tìm fulltext=false prefix={{FULLPAGENAME}} </inputbox> </pre> ==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn== ===Dịch lịch sử=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ. ===Dịch kinh Phật=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt theo các yêu cầu sau: Nếu là các đoạn văn xuôi: dịch đơn giản, thuần Việt, không giải thích, không lược bỏ. Giữ đúng bố cục, thứ tự. Nếu là các bài kệ: dịch theo thể kinh kệ ra tiếng Việt, đơn giản, dễ hiểu. Kèm theo một bài diễn thơ thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ luật chặt chẽ, âm hưởng trang trọng. ===Dịch y học=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ. 9dl7ya6argivk9kc91g09oe1o7mw3xm 204625 204624 2026-04-10T02:53:10Z Mrfly911 2215 /* Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu */ 204625 wikitext text/x-wiki == Các tài liệu đóng góp và tham khảo == {{Nhị thập tứ sử}} {{Kinh điển Phật giáo}} ===Xuân Thu (770 - 481 TCN)=== * [[Đạo Đức kinh]] === Chiến Quốc (476–221 TCN)=== '''Chủ đề Y dược.''' * [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]] * [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]] * [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]] * [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]] ** [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]] ** [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]] * [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]] * [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]] * [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]] * Nam dược thần hiệu (南藥神效) * Hồng Nghĩa giác tư y thư * Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領) * [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]] * [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]] * [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]] * [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]] * [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]] * [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]] * [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]] ---- === Hán (206 TCN - 9)=== * [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]] ** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]] ** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]] * [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]] ** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾) * [[Tác gia:Tư Mã Thiên]] ** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]] *** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] ** [[:zh:素王妙論]] ** [[:zh:悲士不遇賦]] ** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944) ** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch) ** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]]) * [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]] ** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]] * [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]] ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện ===Đông Hán (25–220)=== * [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]] ** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]] *[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]] ---- * [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]] ** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]] === Tào Ngụy === * [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360) === Đông Ngô === * [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]] * [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]] ** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]] ** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]] === Tấn === * [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]] ---- * [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]] ** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]] * [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]] ** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] ===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)=== * [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]] ** KINH (經) *** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển ***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển *** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng) *** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển) *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển ** LUẬT (律) *** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển ** LUẬN (論) & PHÁP (法) *** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển *** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển *** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển *** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển *** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp) ** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP *** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển ---- * [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]] ** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]] **:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng. ** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]] ---- * [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442) ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] ===Nam–Bắc triều (420–589)=== ==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ==== * [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]] === Đường 618–907)=== * [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]] * [[Lữ ngụ An Nam]] * [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]] * [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]] * [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]] * [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]] ** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]] ** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]] ---- * [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]] * [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713) ** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]] ** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762) ** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]] * [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]] ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]]) ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]]) ===Ngũ đại Thập quốc (907–979)=== * [[Tân Ngũ Đại sử]] ===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)=== * [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178) * [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186) * [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]] * [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]] * [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]] * [[Tục tư trị thông giám]] * [[Tư trị thông giám trường biên]] === Trần # Nguyên (1260–1368)=== * [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]] * [[:zh:安南志畧]] ** [[Biên dịch:An Nam chí lược]] * [[Biên dịch:Nguyên sử]] ** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]] *[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]] **Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]] * [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]] === Trần - Lê # Minh (1368–1644)=== * [[:zh:越史略|越史略]] ** [[Biên dịch:Việt sử lược]] * [[Biên dịch:Minh thực lục]] ** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]] *** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]] * [[Biên dịch:Minh sử]] ** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]] * [[Bình An Nam chiếu]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]] * [[:zh:殊域周咨錄]] ** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]] * [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]] * [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]] * [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội] === Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)=== * [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]] * [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]] **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]] ***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]] *** ... **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]] * [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]] ** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]] *[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) **[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) *[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]] **[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]] *[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) *[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) * [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]] * [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]] * [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]] * [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]] ---- * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]] * [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]] ==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu== <nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki> hoặc <pre> <inputbox> type=search width=30 placeholder=Tìm trong trang này searchbuttonlabel=Tìm fulltext=false prefix={{FULLPAGENAME}} </inputbox> </pre> ==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn== ===Dịch lịch sử=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ. ===Dịch kinh Phật=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt theo các yêu cầu sau: Nếu là các đoạn văn xuôi: dịch đơn giản, thuần Việt, không giải thích, không lược bỏ. Giữ đúng bố cục, thứ tự. Nếu là các bài kệ: dịch theo thể kinh kệ ra tiếng Việt, đơn giản, dễ hiểu. Kèm theo một bài diễn thơ thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ luật chặt chẽ, âm hưởng trang trọng. ===Dịch y học=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ. er4j4wxespw0cgm5hz374pskg4tgyau Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển 114 71913 204627 204619 2026-04-10T09:17:08Z Mrfly911 2215 204627 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典 | năm= 1726 | phần = Phương dư vị biên<br>'''Biên duệ điển''' | trước= | sau= | ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang). }} {{tìm kiếm}} {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 17%;"| Bộ ! style="width: 11%;"| Vị khảo ! style="width: 11%;"| Tổng luận ! style="width: 11%;"| Nghệ văn ! style="width: 11%;"| Tuyển cú ! style="width: 11%;"| Kỷ sự ! style="width: 11%;"| Tạp lục ! style="width: 11%;"| Ngoại biên |- ! [[/Biên duệ tổng bộ|Biên duệ tổng bộ]] | [[/quyển 001|1]] [[/quyển 002|2]] [[/quyển 003|3]] [[/quyển 004|4]] [[/quyển 005|5]] [[/quyển 006|6]] [[/quyển 007|7]] [[/quyển 008|8]] [[/quyển 009|9]] || [[/quyển 010|10]] [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 012|12]] || || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Nam phương chư quốc tổng bộ |Nam phương chư quốc tổng bộ]] | [[/quyển 089|quyển 89]] || [[/quyển 089|quyển 89]] || || || [[/quyển 089 |quyển 89]] || || |- ! [[/An Nam bộ|An Nam bộ]] | [[/quyển 090|90]] [[/quyển 091|91]] [[/quyển 092|92]] [[/quyển 093|93]] [[/quyển 094|94]] || || [[/quyển 095|95]] || || [[/quyển 095|95]] || [[/quyển 095|95]] || |- ! ... ||| || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Lâm Ấp bộ |Lâm Ấp bộ]] | [[/quyển 096|quyển 96]] || || || || || || |- ! [[/Phù Nam bộ |Phù Nam bộ]] | [[/quyển 097|quyển 97]] || || || || || || |- ! [[/Qua Oa bộ |Qua Oa bộ (Java)]] | [[/quyển 097|quyển 97]] || || || || || || |- ! [[/Tam Phật Tề bộ |Tam Phật Tề bộ]] | [[/quyển 098|quyển 98]] || || || || || || |- ! ... ||| || || || || || |- ! [[/Xiêm La bộ |Xiêm La bộ]] | [[/quyển 101|quyển 101]] || || || || || || |- ! [[/Chân Lạp bộ |Chân Lạp bộ]] | [[/quyển 101|quyển 101]] || || || || || || |- ! [[/Chiêm Thành bộ |Chiêm Thành bộ]] | [[/quyển 103|quyển 103]] || || || || [[/quyển 103|quyển 103]] || || |- ! ... ||| || || || || || |} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 586dpqmg5xw1ezd7nqaqp11ue3ss9h0 Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 096 114 71932 204622 2026-04-09T12:05:16Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第096卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 96''' | trước= [[../quyển 095|quyển 95]] | sau= [[../quyển 097|quyển 97]] | ghi chú = }} == Cầm Nhân bộ hối khảo (禽人部彙考)== '''…” 204622 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第096卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 96''' | trước= [[../quyển 095|quyển 95]] | sau= [[../quyển 097|quyển 97]] | ghi chú = }} == Cầm Nhân bộ hối khảo (禽人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Cầm (禽人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Cầm (禽人) dâng cỏ gian (菅)." *(Chú thích: Cũng là người Man phương Đông Nam, cỏ gian vốn bền dai). == Lộ Nhân bộ hối khảo (路人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Lộ (路人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Lộ (路人) dâng trúc lớn." *(Chú thích: Người Lộ là người Man phương Đông, cống nạp trúc lớn). == Bặc Nhân bộ hối khảo (卜人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Bặc (卜人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Bặc (卜人) dâng đan sa (丹沙)." *(Chú thích: Người Bặc là người Man phương Tây Nam, nơi sản sinh ra đan sa). == Dương Châu bộ hối khảo (揚州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Dương Châu (揚州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Dương Châu (揚州) dâng cá ngu ngu (禺禺), tên là Giải Du Khấu (解隃寇)." *(Chú thích: Cũng là một loài cá lạ). == Quyền Phù bộ hối khảo (權扶部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Quyền (權)''' và '''Phù (扶)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Quyền (權) và Phù (扶) dâng chim tam mục (三目 - chim 3 mắt)." *(Chú thích: Quyền và Phù là người Man phương Nam, hình dáng rất nhỏ bé). == Bạch Châu bộ hối khảo (白州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Bạch Châu (白州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Bạch Châu (白州) dâng cây bắc lư (北閭). Cây bắc lư ấy da nó như tấm khiên, đốn lấy gỗ nó để làm xe, đi mãi mà không hỏng." *(Chú thích: Bạch Châu là người Man phương Đông Nam, giáp giới với tộc Bạch Dân (白民)). == Trường Công bộ hối khảo 1 (長肱部彙考一) 〈Trường tý - 長臂〉== '''Thời nhà Chu (周)''' '''Chu Mục vương (穆王)''' chinh phạt phía Tây, phong cho người '''Trường Công (長肱)''' ở phía Tây sông '''Hắc Thủy (黑水)'''. Xét: Mục Thiên tử truyện (穆天子傳) có chép như vậy. *(Chú thích: Tức là "người tay dài" vậy. Thân hình như người Trung Quốc, nhưng cánh tay dài 3 trượng (khoảng 10 mét). Thời nhà Ngụy (魏) từng thu được vạt áo của người này ở vùng Biển Đỏ (Xích hải - 赤海)). == Trường Công bộ hối khảo 2 (長肱部彙考二)== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Trường Tý (長臂國 - Nước tay dài)''', bắt cá dưới nước, mỗi tay cầm 1 con cá. Có thuyết nói nước này ở phía Đông nước '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', bắt cá ở trong biển. *(Chú thích: Thuyết cũ nói rằng: Tay người nước ấy buông thõng xuống chạm đất. Những năm Hoàng Sơ (黃初) (năm 220 – 226 dương lịch) thời nhà Ngụy (魏), Thái thú Nguyên Thố (元菟) là Vương Kỳ (王頎) thảo phạt vua nước Cao Câu Ly (高句麗) là Cung (宮), đuổi gấp đến cùng, đi qua nước Hoạt Thư (活沮), biên giới phía Đông giáp biển lớn, gần nơi mặt trời mọc. Vương Kỳ hỏi các bậc kỳ lão rằng: "Phía Đông biển có người nữa không?". Họ đáp: "Thường thu được một chiếc áo vải ở trong biển, thân áo to như người Trung Quốc, nhưng 2 ống tay dài 3 thước (khoảng 1 mét)". Đó chính là áo của người tay dài vậy. Xét theo sách Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Trường Tý ở phía Đông biển, người buông tay chạm đất. Xưa có người ở trong biển thu được 1 chiếc áo vải, mỗi ống tay dài hơn 1 trượng (khoảng 3.3 mét)). == Trường Công bộ nghệ văn (長肱部藝文)== '''"Trường Tý quốc tán" (長臂國贊 - Bài tán về nước tay dài)''' '''Tấn (晉) · Quách Phác (郭璞)''' "Đôi tay dài 3 thước, thân thể như người thường. Kẻ kia là ai vậy? Chính dân nước Trường Tý. Cậy đôi chân dài, bắt cá bến bờ xa." == Hoàng Chi bộ hối khảo (黃支部彙考)== '''Thời nhà Hán (漢)''' Mùa xuân năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch) đời '''Bình Đế (平帝)''', nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' dâng nộp tê ngưu (tê giác). Xét: Hán Thư (漢書) - Bình Đế bản kỷ chép như vậy. *(Chú thích: '''Ứng Thiệu (應劭)''' nói: "Hoàng Chi ở phía Nam của Nhật Nam (日南), cách kinh sư 30,000 dặm." '''Sư Cổ (師古)''' nói: "Tê giác hình trạng như trâu nước, đầu giống lợn mà có 4 chân, loại như voi, màu đen, có 1 sừng ở trước trán, trên mũi lại có sừng nhỏ nữa"). Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Nam Man truyện: "'''Vương Mãng (王莽)''' phụ chính, vào năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch), nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' ở phía Nam của '''Nhật Nam (日南)''' đến dâng nộp tê ngưu. Phàm những nơi vùng '''Giao Chỉ (交趾)''' thống lĩnh, tuy có đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác biệt, phải qua nhiều lần dịch mới thông. Người ở đó như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt. Búi tóc sau gáy, đi chân đất, dùng vải khoét lỗ xỏ qua đầu mà mặc. Sau này khá nhiều tội nhân người Trung Quốc bị đày đến, cho ở xen kẽ giữa họ, nên họ mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy được lễ nghi giáo hóa." Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước '''Hoàng Chi (黃支國)''', thời Hán đã thông sứ, ở phía Nam của vùng biển hợp với '''Nhật Nam (日南)''' 30,000 dặm, phong tục đại lược tương tự với vùng '''Châu Nhai (珠崖)'''. Từ thời '''Vũ Đế (武帝)''' trở đi thảy đều đến cống nạp, có minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá lạ vật lạ. Hạt châu lớn có vòng tròn đến dưới 2 tấc mà cực tròn, đặt trên đất bằng thì lăn suốt ngày không dừng." == Mãn Lạt Gia bộ hối khảo (滿剌加部彙考) Malacca == '''〈Ca La (哥羅), Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅), Trọng Già La (重迦羅)〉''' ===Thời nhà Hán (漢)=== Nước '''Ca La (哥羅國)''' thời Hán đã nghe danh tại Trung Quốc. Xét: Hán Thư (漢書) không chép. Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước Ca La (哥羅國), thời Hán đã nghe danh, ở phía Đông Nam nước '''Pán Pán (槃槃)''', cũng gọi là nước '''Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅國)'''. Vua họ '''Thỉ Lợi Bà La (矢利婆羅)''', tên là '''Mễ Thất Bát La (米失缽羅)'''. Thành quách xây bằng đá, trên thành có lầu khuyết, cửa có cấm vệ, cung thất lợp bằng cỏ. Nước có 24 châu mà không có huyện. Trong sân bày nghi trượng, có cờ tiết trang trí bằng lông công. Binh khí có cung, tên, đao, sáo, giáp da. Chinh phạt đều cưỡi voi, 1 đội có 100 thớt voi, mỗi thớt voi có 100 người hộ vệ. Yên voi có móc ngăn, trong đó ngồi 4 người: 1 người cầm khiên, 1 người cầm cung tên, 1 người cầm gậy nhọn, 1 người cầm đao. Thuế khóa mỗi người nộp 1 thù bạc. Trong nước không có tơ tằm, gai sợi, chỉ sản xuất vải cát bối (vải bông), gia súc có bò và ít ngựa. Theo tục lệ, kẻ không có chức quan thì không được búi tóc trên đầu. Lại có tục gả cưới, lúc đầu hỏi vợ chỉ dùng trầu cau làm lễ, kẻ nhiều đến 200 mâm; hoặc lúc cưới chỉ lấy vàng làm tài vật, kẻ nhiều đến 200 lạng. Đàn bà gả xong thì theo họ chồng. Âm nhạc có tỳ bà, sáo ngang, chũm chọe đồng, trống sắt, kèn, ốc loa, đánh trống. Khi chết thì thiêu xác, bỏ tro vào hũ vàng, dìm xuống biển lớn." === Thời nhà Minh (明)=== '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403 dương lịch), Thành Tổ (成祖) sai sứ chiêu dụ nước Mãn Lạt Gia (滿剌加國).''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Mãn Lạt Gia ở phía Nam nước '''Chiêm Thành (占城)''', thuận gió 8 ngày thì đến '''Long Nha Môn (龍牙門)''', lại đi về phía Tây 2 ngày là tới. Có thuyết nói đó là đất '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' thuộc nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' đời cổ. Tháng 10 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 1 (năm 1403 dương lịch), sai Trung quan '''Doãn Khánh (尹慶)''' sứ đến nơi đó, ban cho gấm thêu vàng, màn trướng dát vàng và các vật dụng. Đất ấy không có vua, cũng không xưng quốc hiệu, lệ thuộc vào nước '''Xiêm La (暹羅)''', mỗi năm nộp 40 lạng vàng làm thuế. Doãn Khánh đến nơi, tuyên thị uy đức cùng ý định chiêu mời. Tù trưởng là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' cả mừng, sai sứ theo Khánh vào triều, dâng sản vật địa phương." '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào cống, phong làm Mãn Lạt Gia Quốc vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Tháng 9 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch) đến kinh sư, Hoàng đế khen ngợi, phong làm '''Mãn Lạt Gia Quốc vương (滿剌加國王)''', ban cho cáo ấn, lụa màu, áo mặc, lọng vàng, lại mệnh cho Doãn Khánh đi cùng. Sứ giả thưa rằng: "Vua tôi hâm mộ nghĩa cả, nguyện cùng Trung Quốc liệt vào hàng các quận, hằng năm dâng nộp lễ cống, xin phong cho ngọn núi ở đó làm trấn sơn của một nước." Hoàng đế nghe theo, soạn văn bia khắc trên núi, cuối bài thêm bài thơ rằng: "Biển lớn Tây Nam thông Trung Quốc, đổ trời rót đất muôn đời cùng... Bia đá chữ lớn biểu lòng trung, núi Tây nước ngươi vĩnh viễn phong làm trấn." Nhóm người Doãn Khánh lại đến, nhà vua càng mừng, tiếp đãi lễ độ tăng thêm. Xét Minh Hội Điển (明會典): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch), tù trưởng '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' sai sứ dâng biểu bằng lá vàng đến triều cống, chiếu phong làm Quốc vương. Sản vật cống nạp gồm: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hạt mã não, hạt san hô, nhẫn nạm vàng, vẹt, gấu đen, vượn đen, hoẵng trắng, vải Tây Dương, các loại hương liệu như trầm hương, nhũ hương, đinh hương... và hắc tiểu tư (nô lệ đen). Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), tự vương (vua nối ngôi) là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' thân hành dẫn vợ con đến triều kiến, được ban thưởng hậu hĩnh rồi về. Từ đó triều cống không dứt. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): Nước Mãn Lạt Gia chính là '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' cổ. Thời Hán thường thông với Trung Quốc, sau bị nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' ràng buộc. Đốn Tốn ở trên núi đảo giữa biển, đất rộng 1,000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, thảy đều thuộc về '''Phù Nam (扶南)'''. Phía Tây giáp các nước ngoài biên giới Thiên Trúc (天竺), thành nước ấy tiếp giáp '''Xà Bà (闍婆)''' nên còn tên là '''Đại Xà Bà (大闍婆)''', nay gọi là '''Trọng Già La (重迦羅)'''. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411 dương lịch), Mãn Lạt Gia dẫn vợ con vào triều dâng cống. Vua ngự tại cửa Phụng Thiên, ban yến thưởng thêm hậu hĩnh.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con và bồi thần hơn 540 người đến triều kiến. Đến ngoại ô, vua mệnh cho Trung quan '''Hải Thọ (海壽)''', Lang trung Bộ Lễ '''Hoàng Thường (黃裳)''' đón yến lao. Khi vào triều, Hoàng đế thân hành ban yến tại điện Phụng Thiên, Vương phi và người dưới được ban yến nơi khác. Ban cho vua 2 bộ áo rồng thêu vàng, 1 bộ áo kỳ lân, đồ vàng bạc, màn chăn đều đủ, Vương phi và người dưới đều được ban thưởng. Lúc sắp về, ban cho đai ngọc, nghi trượng, yên ngựa, 100 lạng vàng, 500 lạng bạc, 400,000 quán tiền giấy, 2,600 quán tiền đồng, 300 xấp gấm và 1,000 xấp lụa. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414 dương lịch), Quốc vương Mãn Lạt Gia qua đời, con trai vào triều báo tang, liền mệnh cho tập phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 12 (năm 1414 dương lịch), thế tử là '''Mẫu Oát Tát Can Đích Nhi Sa (母斡撒干的兒沙)''' đến triều kiến báo tang cha, liền mệnh cho nối ngôi, ban cho vàng tiền. Từ đó về sau hoặc liên tiếp các năm, hoặc cách năm lại vào cống, lấy đó làm thường lệ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 (năm 1419 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con bồi thần vào triều tạ ơn, tố cáo việc bị Xiêm La xâm lấn.''' Hoàng đế ban sắc dụ răn bảo '''Xiêm La (暹羅)''', Xiêm La bèn vâng chiếu. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 6 (năm 1431 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào tố cáo Xiêm La xâm lấn ngăn trở đường cống.''' Vua mệnh cho '''Trịnh Hòa (鄭和)''' mang sắc chỉ răn bảo Xiêm La, trách việc phải giữ hòa mục với láng giềng, không được trái mệnh triều đình. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), sứ giả nước Mãn Lạt Gia xin ban cho vua họ sắc thư, lọng che để trấn phục dân trong nước, lại nói vua muốn thân hành đến cung khuyết xin ban cho thuyền lớn.''' Vua đều nghe theo. Từ năm '''Chính Thống (正統)''' thứ 10 (năm 1445 dương lịch) trở đi, nhiều lần sai sứ đến cống, đường đi qua '''Quảng Đông (廣東)'''. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 6 (năm 1455 dương lịch) đời Đại Tông (代宗), Mãn Lạt Gia vào cống xin phong, [triều đình] sai sứ kiêm ban cho mũ áo.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Cảnh Thái (景泰)''' thứ 6 (năm 1455 dương lịch), '''Tốc Lỗ Đàn Vô Đáp Phật Na Sa (速魯檀無答佛哪沙)''' dâng ngựa và sản vật, xin phong làm vương. Chiếu sai Cấp sự trung '''Vương Huy (王暉)''' đi. Sau đó lại vào cống, nói rằng mũ đai được ban bị cháy trong hỏa hoạn, vua mệnh chế áo Bì biện, thường phục bằng lụa hồng cùng đai sừng tê, mũ sa ban cho." '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 3 (năm 1459 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), nước Mãn Lạt Gia vào cống xin phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), thế tử là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' sai sứ vào cống, mệnh cho Cấp sự trung '''Trần Gia Du (陳嘉猷)''' đi phong vương. Cách 2 năm sau, quan Bộ Lễ tấu rằng: Nhóm Gia Du đi biển 2 ngày đến biển '''Ô Chú (烏豬洋)''' gặp bão, thuyền hỏng trôi dạt 6 ngày đến sở Thủ ngự '''Thanh Lan (清瀾)''' thì được cứu. Sắc thư không mất nhưng đồ ban thưởng đều ướt nước, xin cấp lại và sai sứ đi lần nữa. Vua nghe theo." Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), Quốc vương '''Vô Đáp Phật Na Sa (無答佛哪沙)''' chết, con là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' xin mệnh, triều đình lại sai sứ mang chiếu đi phong." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 10 (năm 1474 dương lịch) đời Hiến Tông (憲宗), Mãn Lạt Gia vào cống.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 10 (năm 1474 dương lịch), Cấp sự trung '''Trần Tuấn (陳峻)''' đi phong vương nước '''Chiêm Thành (占城)''', gặp binh '''An Nam (安南)''' chiếm giữ Chiêm Thành nên không vào được, bèn mang đồ đến Mãn Lạt Gia, dụ vương vào cống. Sứ giả đến, Đế vui mừng ban sắc khen ngợi." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 (năm 1481 dương lịch), An Nam cướp bóc sứ giả Mãn Lạt Gia. Sứ giả đến triều đình tố cáo. [Đế] ban sắc trách An Nam và sai quan phong Mã Cáp Mộc Sa làm vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Tháng 9 năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 17 (năm 1481 dương lịch), sứ giả nói: 'Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 5 (năm 1469 dương lịch) sứ giả về nước dạt vào cõi An Nam, đa số bị giết, số còn lại bị xăm mặt làm nô lệ, kẻ nhỏ tuổi bị thiến. Nay họ đã chiếm đất Chiêm Thành, lại muốn nuốt bản quốc. Bản quốc vì thảy đều là thần tử của Vương nên chưa dám đánh'. Vừa lúc sứ An Nam cũng đến, sứ Mãn Lạt Gia xin tranh biện tại triều. Bộ Binh nói việc đã qua không đáng so đo sâu. Đế bèn nhân lúc sứ An Nam về, ban sắc trách vương nước ấy, đồng thời dụ Mãn Lạt Gia rằng: 'Nếu An Nam lại xâm lăng thì hãy chỉnh binh đợi chiến'. Sau đó sai Cấp sự trung '''Lâm Vinh (林榮)''', Hành nhân '''Hoàng Càn Hanh (黃乾亨)''' đi phong thế tử '''Mã Cáp Mộc Sa (馬哈木沙)''' làm vương. 2 người chết đuối, được truy tặng quan chức, ban tế tự cho con cháu, cứu tế gia đình. Lại sai Cấp sự trung '''Trương Thịnh (張晟)''' đi thay, Thịnh chết ở '''Quảng Đông (廣東)''', mệnh quan thủ thần chọn 1 quan viên làm phó cho '''Tả Phụ (左輔)''' để hoàn tất việc phong vương." '''Năm Chính Đức (正德) thứ 3 (năm 1508 dương lịch) đời Võ Tông (武宗), người Giang Tây là Tiêu Minh Cử cướp giết sứ Mãn Lạt Gia, sự việc bại lộ bị xử tử. Người Phật Lang Cơ cậy mạnh đoạt đất Mãn Lạt Gia.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Chính Đức (正德)''' thứ 3 (năm 1508 dương lịch), sứ thần '''Đoan Á Trí (端亞智)''' vào cống. Thông sự là '''Á Lưu (亞劉)''', vốn là người huyện '''Vạn An (萬安)''' tỉnh '''Giang Tây (江西)''' tên '''Tiêu Minh Cử (蕭明舉)''', phạm tội trốn sang nước ấy, hối lộ thông sự để mưu đồ bảo vật. Khi về đến Quảng Đông, Minh Cử cùng đồng bọn cướp giết sứ giả lấy hết tài vật. Sự việc bại lộ, Minh Cử bị lăng trì, bọn còn lại bị chém. Sau đó, người '''Phật Lang Cơ (佛郎機 - người Bồ Đào Nha)''' đem quân xâm chiếm đất ấy, vương là '''Tô Đoan Ma Mạt (蘇端媽末)''' bỏ chạy, sai sứ cáo nan. Lúc này '''Thế Tông (世宗)''' đã lên ngôi, ban sắc trách Phật Lang Cơ lệnh trả lại đất cũ, dụ vua các nước '''Xiêm La (暹羅)''' cứu láng giềng. Nhưng không ai ứng phó, Mãn Lạt Gia cuối cùng bị diệt. Sau này đổi tên là '''Ma Lục Giáp (麻六甲 - Malacca)'''." Sản vật cống nạp gồm: mã não, ngọc trai, đồi mồi, san hô, sừng tê, ngà voi, vẹt, trầm hương... Có núi chảy ra suối, thổ dân đãi cát lấy thiếc, đúc thành khối gọi là "đấu thiếc". Đất đai khô cằn, dân chủ yếu đãi thiếc và bắt cá. Khí hậu sáng nóng chiều lạnh. Nam nữ búi tóc, thân hình đen đúa, kẻ có da trắng là giống người Đường (Trung Quốc) vậy. Từ khi bị Phật Lang Cơ phá, phong tục thay đổi hẳn, thuyền buôn ít đến. === Mãn Lạt Gia bộ kỷ sự (滿剌加部紀事 - Ghi chép sự việc)=== *Huyện chí Vô Tích (無錫縣志): "'''Du Phổ (俞溥)''' làm Tham quân, sứ đến Mãn Lạt Gia 3 năm mới về, học được thuật bói rùa. Chọn rùa lớn nuôi bằng suối trong và rêu xanh, mỗi năm bói 1 lần. Trước khi bói ăn chay 7 ngày, dùng sơn mỏng bôi bụng rùa, đợi sơn nứt như vết nung để nghiệm cát hung. Phổ mang về 2 con rùa, một con dài 1 tấc 3 phân, một con dài 1 tấc rưỡi. Lại mang về 2 loại thuốc: một tên '''A Chỉ Nhi (阿止兒)''' trị nội thương; một tên '''A Tức Loại (阿息類)''' trị kim thương." *Khôn Dư Đồ Thuyết (坤輿圖說): "Nước Mãn Lạt Gia đất không rộng lắm nhưng là nơi thương nhân tụ hội, nằm ngay dưới đường xích đạo. Tiết xuân phân và thu phân khí hậu cực nóng, nhờ ngày nào cũng mưa nên có thể ở được. Sản sinh voi, hồ tiêu và gỗ quý. Người lương thiện, không lo kế sinh nhai, thường đàn tỳ bà rong chơi nhàn hạ." ==Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 1 (僬僥部彙考一)== ===〈Chu Nhiêu - 周饒〉=== ===Thời Hậu Hán (後漢)=== Tháng 3 mùa xuân, ngày Kỷ Mão năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 107 dương lịch) đời '''An Đế (安帝)''', dân Di chủng tộc '''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''' đến cống nạp và xin nội thuộc. Xét: Hậu Hán Thư (後漢書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. ===Thời nhà Minh (明)=== Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 17 (năm 1419 dương lịch) đời '''Thành Tổ (成祖)''', nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' đến cống nạp. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): "'''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' là người Di ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''', người cao 3 thước (khoảng 1 mét). Trong số các nô lệ đen (hắc tiểu tư) của các nước phiên thường dùng làm vật cống nạp, thì các chủng tộc như Hợi Thủ (咳首) đại để đều là người Lão ở biển (hải lão) vậy." === Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 2 (僬僥部彙考二)=== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Chu Nhiêu (周饒國)''', người ở đó thân hình ngắn nhỏ, đội mũ thắt đai. Có thuyết nói nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' ở phía Đông nước '''Tam Thủ (三首)'''. *(Chú thích: Người ở đó cao 3 thước (khoảng 1 mét), sống trong hang, có thể làm được các đồ máy móc khéo léo, có đủ 5 loại ngũ cốc. Lại nữa, sách Ngoại truyện nói: Dân Tiêu Nghiêu cao 3 thước, là cực điểm của sự ngắn nhỏ. Sách Thi Hàm Thần Vụ chép: Từ Trung Châu đi về phía Đông 400,000 dặm, có người nước Tiêu Nghiêu, cao 1 tấc 5 phân (khoảng 45 cm)). '''Phần Đại hoang Nam kinh (大荒南經)''' Có nước của người nhỏ bé tên là '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', mang họ Kỷ (幾), ăn các loại ngũ cốc tốt (gia cốc). *(Chú thích: Thảy đều cao 3 thước. Xét về phương Tây, người Tiêu Nghiêu thời Nghiêu (堯) từng vào cống nạp, hoặc chính là nước này. Hoặc ở phương Tây Nam, phương Tây, phương Nam mỗi nơi đều có người Tiêu Nghiêu, thảy đều không có gì để khảo chứng thêm, nay tạm để tồn tại song song cả hai thuyết). == Bản Thuẫn Man bộ hối khảo (板楯蠻部彙考) Khảo cứu về bộ lạc người Man cầm khiên gỗ== === Thời Hậu Hán (後漢)=== Mùa đông tháng 10 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''' ở quận '''Ba (巴郡)''' làm phản, [triều đình] sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc Thứ sử '''Ích Châu (益州)''' thảo phạt nhưng không thắng được. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: "Giống người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''', vào thời '''Tần Chiêu Tương vương (秦昭襄王)''' có 1 con hổ trắng thường đi theo đàn hổ, nhiều lần dạo chơi vùng biên cảnh '''Tần (秦)''', '''Thục (蜀)''', '''Ba (巴)''', '''Hán (漢)''', làm hại hơn 1,000 người. Chiêu vương bèn trọng thưởng chiêu mộ trong nước, ai giết được hổ sẽ phong ấp 10,000 hộ, thưởng 100 dĩ vàng. Bấy giờ có người Di ở '''Lãng Trung (閬中)''' thuộc quận '''Ba (巴郡)''' biết làm nỏ bằng tre trắng, bèn lên lầu bắn chết hổ trắng. Chiêu vương khen ngợi, nhưng vì họ là người Di nên không muốn phong tước, bèn khắc đá lập thề, miễn thuế cho ruộng đất của họ, 10 người vợ không phải nộp thuế thân, kẻ làm bị thương người thì luận tội, kẻ giết người được dùng tiền 'tàm' (tức tiền chuộc) để chuộc tội chết. Lời thề rằng: 'Nếu người Tần phạm người Di, nộp 1 đôi rồng vàng; nếu người Di phạm người Tần, nộp 1 chung rượu trong'. Người Di yên lòng với việc đó. Đến khi '''Cao Tổ (高祖)''' làm Hán Vương, phát động người Di theo về đánh 3 đất Tần (Tam Tần). Sau khi đất Tần đã định, bèn cho họ về lại vùng '''Ba Trung (巴中)''', miễn thuế khóa cho các thủ lĩnh thuộc 7 họ: '''La (羅)''', '''Phác (朴)''', '''Đốc (督)''', '''Ngạc (鄂)''', '''Độ (度)''', '''Tịch (夕)''', '''Cung (龔)'''. Các hộ còn lại hằng năm nộp 40 tiền 'tư' mỗi khẩu, đời gọi là người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)'''. Vùng Lãng Trung có sông '''Du Thủy (渝水)''', người dân phần lớn sống hai bên bờ, thiên tính mạnh dũng, ban đầu làm tiền phong cho quân Hán, nhiều lần hãm trận. Tục thích ca múa, Cao Tổ xem xong nói: 'Đây là bài ca của Vũ Vương phạt Trụ vậy', bèn lệnh cho nhạc nhân học theo, chính là điệu múa '''Ba Du (巴渝舞)'''. Từ đó đời đời phục tùng. Đến thời Trung hưng, Thái thú thường dẫn họ đi chinh chiến. Đời '''Hoàn Đế (桓帝)''', Bản Thuẫn nhiều lần phản lại, Thái thú quận Thục là '''Triệu Ôn (趙溫)''' dùng ơn tín mà hàng phục được họ. Năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 3 (năm 180 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người Bản Thuẫn quận Ba lại phản, cướp bóc các quận thuộc Tam Thục và Hán Trung. Linh Đế sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc binh sĩ Ích Châu thảo phạt, liên tiếp nhiều năm không thắng được. Đế muốn phát động đại binh, bèn hỏi các Kế lại (quan lo việc sổ sách) của Ích Châu để khảo sát phương lược chinh thảo. Quan Thượng kế của '''Hán Trung (漢中)''' là '''Trình Bào (程包)''' thưa rằng: 'Bảy họ Bản Thuẫn từng bắn chết hổ trắng, lập công với tiền thế, vốn là nghĩa dân. Người đó dũng mãnh, giỏi binh chiến. Xưa những năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' (năm 107 – 113 dương lịch), người Khương vào Hán Xuyên, quận huyện tan vỡ, nhờ được Bản Thuẫn cứu viện mà quân Khương bị tiêu diệt gần sạch, nên họ được gọi là thần binh. Người Khương sợ hãi, truyền lời cho bộ tộc rằng chớ đi về phía Nam nữa. Đến năm '''Kiến Hòa (建和)''' thứ 2 (năm 148 dương lịch), người Khương lại đại cử xâm nhập, thực cũng nhờ Bản Thuẫn liên chiến phá được. Tiền Xa kị Tướng quân '''Phùng Côn (馮緄)''' khi nam chinh '''Vũ Lăng (武陵)''', tuy có tinh binh Đan Dương nhưng cũng dựa vào Bản Thuẫn mới thành công. Gần đây quận Ích Châu có loạn, Thái thú '''Lý Ngung (李顒)''' cũng dùng Bản Thuẫn mà dẹp yên. Trung công như thế, vốn không có lòng ác. Thế nhưng quan lại địa phương thu thuế quá nặng, tôi tớ đánh đập họ quá cả nô lệ, có người phải gả vợ bán con, hoặc thậm chí tự cắt cổ. Tuy họ kêu oan lên châu quận nhưng Mục thủ không phân định lý lẽ. Cung đình xa xôi không tự nghe thấu, nên họ ngậm oán kêu trời ở thung lũng cùng cực, sầu khổ vì sưu dịch, khốn đốn vì hình phạt tàn khốc, nên các ấp tụ tập mà làm phản, chứ không phải có chủ mưu tiếm hiệu làm loạn. Nay chỉ cần chọn Mục thủ sáng suốt hiền tài, tự khắc họ sẽ yên ổn tụ họp, không phiền đến chinh phạt'. Đế theo lời đó, sai Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' tuyên chiếu ân xá, họ liền đều hàng phục. Xét Hán Trung Sĩ Nữ Chí (漢中士女志): '''Trình Bào (程包)''' tự là '''Nguyên Đạo (元道)''', người '''Nam Trịnh (南鄭)''', năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) làm Thượng kế lại. Bấy giờ Bản Thuẫn làm phản, quân lữ nhiều phen nổi dậy, thiên tử lo lắng hỏi phương lược. Bào thưa: 'Bản Thuẫn trung dũng, lập công từ thời tiền Hán, là nghĩa dân của hoàng đế. Quân Khương vào Hán Trung, đều nhờ sức họ. Bởi không biết vỗ về nên mới dẫn đến phản loạn, chứ không có lòng tiếm đoạt. Nay binh lính kéo đến chưa chắc thắng được, chẳng bằng chọn Thái thú hiền tài, dùng ơn tín mà thu phục'. Thiên tử theo lời, kết quả đúng như lời ông nói. Sau này ông mất trên đường đi. Mùa thu tháng 7 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 5 (năm 182 dương lịch), người Bản Thuẫn Man ở quận Ba đến gặp Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' xin hàng. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Năm '''Trung Bình (中平)''' thứ 5 (năm 188 dương lịch), Bản Thuẫn Man lại phản, sai Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: 'Năm Trung Bình thứ 5, giặc Hoàng Cân ở quận Ba nổi dậy, người Bản Thuẫn Man nhân đó lại phản, cướp bóc thành ấp. [Triều đình] sai Tây Viên Thượng quân Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên'. == Lâm Ấp bộ hối khảo 1 (林邑部彙考一)== === Thời nhà Tấn (晉)=== '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Thái Khang (太康) thứ 5 (năm 284 dương lịch), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ và Lâm Ấp truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣) thời Hán, tức là nơi '''Mã Viện (馬援)''' đúc cột đồng vậy, cách Nam Hải (南海) 3,000 dặm. Cuối thời Hậu Hán, Công tào của huyện họ Khu (區) có con tên Liên (連), giết huyện lệnh rồi tự lập làm vua, con cháu truyền nối nhau. Về sau vua không có con nối dõi, ngoại tôn (cháu ngoại) là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, Hùng chết, con là Dật (逸) lập. Phong tục ở đó thảy đều mở cửa đất hướng về phía mặt trời. Về nơi cư ngụ thì hoặc Đông hoặc Tây không cố định. Tính người hung hãn, quả cảm trong chiến đấu, giỏi leo núi lội nước, không quen đất bằng. Bốn mùa ấm áp, không sương không tuyết, người đều ở trần đi chân đất, lấy sắc đen làm đẹp. Quý nữ khinh nam, người cùng họ lấy nhau. Người nữ hỏi cưới chồng trước. Lúc con gái gả đi thì mặc áo Ca-bàn (迦盤衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, đầu đội hoa quý. Lúc có tang thì cắt tóc mai, gọi đó là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Vua đội thiên quan (mũ trời), khoác chuỗi anh lạc. Mỗi khi nghe chính sự, tử đệ và thị thần đều không được lại gần. Từ thời '''Tôn Quyền (孫權)''' trở đi không triều cống Trung Quốc. Đến năm Thái Khang đời Vũ Đế mới bắt đầu đến cống nạp." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp bản truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣), quận Nhật Nam (日南郡) thời Hán, thuộc cương giới Việt Thường (越裳) xưa. Phục Ba tướng quân Mã Viện mở cõi Nam của nhà Hán, đặt ra huyện này. Đất ấy chiều dọc chiều ngang khoảng 600 dặm, thành cách biển 120 dặm, cách biên giới Nhật Nam hơn 400 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德郡), biên giới phía Nam đi đường thủy bộ hơn 200 dặm. Có người Di phương Tây cũng xưng vương, là nơi Mã Viện trồng 2 cột đồng để làm mốc biên giới nhà Hán vậy. Nước ấy có núi vàng (Kim Sơn), đá thảy đều màu đỏ, trong đó sinh ra vàng, đêm đến vàng bay ra như ánh đom đóm. Lại có đồi mồi, vỏ ốc, cát bối (vải bông), trầm mộc hương. Cát bối (吉貝) là tên cây. Khi hoa nở như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt vải, trắng sạch không khác vải gai (trữ bố), cũng nhuộm thành 5 màu, dệt thành vải vằn (ban bố). Trầm mộc (沉木) là cây do người bản địa chặt đứt, tích qua năm tháng cho mục nát mà phần tâm tiết vẫn còn, bỏ xuống nước thì chìm nên gọi là 'Trầm hương' (沉香). Loại kém hơn không chìm không nổi gọi là 'Hương' (香). Cuối thời Hán đại loạn, Công tào là '''Khu Đạt (區達)''' giết huyện lệnh tự lập làm vua, truyền được mấy đời. Về sau vua không con, lập cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊). Hùng chết, con là Dật (逸) nối ngôi." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Hiệu Lâm Ấp khởi đầu từ cuối thời Hán. Lúc loạn năm Sơ Bình (初平) (năm 190 – 193 dương lịch), người người ôm lòng khác. Công tào Tượng Lâm họ Khu có con tên Liên (連), đánh huyện giết lệnh, tự hiệu là vua. Gặp lúc loạn ly, Lâm Ấp bèn đứng vững, sau đó truyền vị cho con cháu. Thời Tam Quốc đỉnh tranh, chưa phụ thuộc bên nào. Nhà Ngô có đất Giao Châu tiếp giáp, tiến chiếm Thọ Lãnh (壽泠) làm cương giới. Từ đời Khu Liên trở đi, nước không có văn sử nên việc truyền nối mất dấu, thế số khó tường. Tông tộc tuyệt diệt, không còn hậu duệ. Cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊) lên thay, được lòng người vui vẻ ủng hộ. Sau Hùng chết, con là Dật (逸) lập." '''Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Thành Đế (成帝), vua Lâm Ấp là Phạm Dật chết, nô bộc là Văn (文) chiếm ngôi lập.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 2 (năm 336 dương lịch), Phạm Dật chết, nô bộc là Văn chiếm ngôi. Văn vốn là nô bộc của di soái '''Phạm Thôi (范椎)''' huyện Tây Quyển (西卷縣), quận Nhật Nam. Từng chăn bò trong khe núi, bắt được 2 con cá chép hóa thành sắt, dùng để rèn dao. Dao rèn xong, Văn đối diện tảng đá lớn mà khấn rằng: 'Cá chép biến hóa, đúc thành dao đôi, nếu tảng đá vỡ thì là có thần linh'. Tiến đến chém, đá liền vỡ tan. Văn biết là thần vật, bèn giấu đi, theo lái buôn qua lại, thấy được chế độ nước thượng quốc. Đến Lâm Ấp, Văn dạy Dật làm cung thất thành ấp cùng khí giới. Dật rất yêu tin, cho làm tướng. Văn bèn gièm pha các con của Dật, kẻ thì bị đày người thì bỏ trốn. Đến khi Dật chết không con, Văn bèn tự lập làm vua, đem vợ thiếp của Dật đặt hết lên lầu cao, ai theo mình thì nhận lấy, ai không theo thì cắt lương thực. Sau đó đánh các nước Đại Kỳ giới, Tiểu Kỳ giới, Thức Bộc, Từ Lang, Khuất Đô, Kiền Lỗ, Phù Đan rồi thôn tính cả, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Sai sứ dâng biểu triều cống hoàng đế, thư thảy đều dùng chữ Hồ (胡)." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Tấn Thành Đế, Dật chết, nô bộc là Văn chiếm lập. Văn vốn là gia nô của di soái '''Phạm Tr稚 (范稚)''' huyện Tây Quyển, quận Nhật Nam. Thường chăn bò ở khe núi, được 2 con cá lăng, hóa làm sắt, nhân đó đúc dao. Đúc xong Văn hướng về phía đá mà chú rằng: 'Nếu chém đá vỡ, Văn sẽ làm vua nước này'. Bèn giơ dao chém đá, như chém cỏ khô. Văn lấy làm lạ. Phạm Tr稚 thường sai Văn đi buôn đến Lâm Ấp, Văn nhân đó dạy vua Lâm Ấp làm cung thất cùng binh xa khí giới, vua sủng ái trọng dụng. Sau Văn gièm pha các con vua, mỗi người trốn một nước. Khi vua chết không con, Văn giả vờ đón hoàng tử ở láng giềng về, bỏ độc vào nước uống mà giết đi, rồi hiếp dân trong nước tự lập. Cử binh đánh các nước nhỏ xung quanh thảy đều nuốt sạch, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Bấy giờ Thứ sử Giao Châu là '''Khương Tráng (姜壯)''' sai thân tín là '''Hàn Tập (韓戢)''', '''Tạ Trạc (謝稚)''' lần lượt giám sát quận Nhật Nam, đều tham tàn, các nước lấy làm khổ." Xét Thủy Kinh Chú (水經注) có đoạn về Phạm Văn: "... Văn vào núi tìm đá luyện sắt, đúc làm 2 con dao, giơ lưỡi hướng về phía vách núi (chướng) mà chúc rằng: 'Cá chép biến hóa, luyện đá thành dao, chém vách đá vỡ thì là có linh thần, Văn sẽ trị nơi này làm quân vương nước ấy. Nếu chém không vào thì là dao không thần linh'. Tiến đến chém vách đá như rồng thiêng chém cỏ, từ đó lòng người dần theo phục. Nay sông đá vẫn còn, dao cá vẫn tồn tại, truyền cho con cháu như kiếm trảm xà (chém rắn) vậy. Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 6 (năm 331 dương lịch) Dật chết không con... Văn tự lập làm vua. Lấy vợ thiếp vua trước đặt lên lầu cao, ai theo mình thì nạp làm thiếp, không theo thì tuyệt ăn uống cho đến chết. Sách Giang Đông cựu sự nói: Phạm Văn vốn là người Dương Châu (揚州), thuở nhỏ bị bắt làm nô lệ, bán đến Giao Châu. Năm 15 – 16 tuổi gặp tội đáng gậy, sợ hãi trốn theo lái buôn Lâm Ấp vượt biển đi xa, lọt vào nước của vua, được vua rất sủng ái. Qua hơn 10 năm vua chết... tự lập làm vua, uy thế trải khắp các nước. Có bộ lạc thì búi tóc tiếng Man, miệng ăn mũi uống, hoặc xăm mặt chạm mình, là giống người ở trần (thoát lỏa chủng), những kẻ lưu đày thời Hán Ngụy thảy đều bị Văn dùng." '''Tháng 10 năm Hàm Khang (咸康) thứ 6 (năm 340 dương lịch), Lâm Ấp dâng voi thuần.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ chép như vậy. '''Tháng Giêng mùa xuân năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch) đời Mục Đế (穆帝), Phạm Văn nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, giết Thái thú Hạ Hầu Lãm, dùng thây tế trời. Tháng 7 mùa thu, Phạm Văn lại chiếm Nhật Nam, giết Đốc hộ Lưu Hùng. Ngôi Văn lập Phạm Bôn làm đế.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), Văn suất quân đánh chiếm Nhật Nam, hại Thái thú '''Hạ Hầu Lãm (夏侯覽)''', giết 5,000 – 6,000 người, số còn lại chạy sang Cửu Chân. Lấy thây Lãm tế trời, san phẳng thành huyện Tây Quyển, rồi chiếm Nhật Nam, cáo với Thứ sử Giao Châu là '''Chu Phiên (朱蕃)''', xin lấy núi Hoành Sơn (橫山) ở phía Bắc Nhật Nam làm ranh giới. Nguyên trước đó các nước ngoài cõi thường mang bảo vật theo đường biển đến buôn bán, mà Thứ sử Giao Châu, Thái thú Nhật Nam đa số tham lợi xâm lấn, 10 phần chiết khấu mất 2 – 3 phần. Đến thời Thứ sử '''Khương Tráng (姜壯)''', sai '''Hàn Tập (韓戢)''' lĩnh Thái thú Nhật Nam, Tập đánh giá cao hơn nửa (ép giá), lại chặt cây đóng thuyền điều động phu phen, phao tin là 'chinh phạt', do đó các nước căm giận. Vả lại Lâm Ấp vốn tham đất Nhật Nam, Tập chết, người kế nhiệm là '''Tạ Trạc (謝擢)''' lại xâm khắc như trước. Đến khi Lãm đến quận lại đắm chìm trong rượu chè, chính giáo càng loạn, nên bị phá diệt. Sau đó Văn về Lâm Ấp. Năm ấy, Chu Phiên sai Đốc hộ '''Lưu Hùng (劉雄)''' đóng giữ Nhật Nam, Văn lại đánh chiếm nơi đó." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), đài đình sai Hạ Hầu Lãm làm Thái thú, xâm khắc càng thậm. Lâm Ấp vốn không có ruộng đất, tham đất Nhật Nam màu mỡ, thường muốn chiếm lấy. Đến đây nhân nỗi oán của dân bèn cử binh đánh Nhật Nam, giết Lãm, dùng thây tế trời. Ở lại Nhật Nam 3 năm mới về Lâm Ấp. Thứ sử Giao Châu Chu Phiên sau đó sai Đốc hộ Lưu Hùng đóng giữ Nhật Nam, Văn lại tiêu diệt đi, tiến đánh quận Cửu Đức (九德郡), tàn hại quan dân. Sai sứ bảo Phiên nguyện lấy núi Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm giới hạn, Phiên không hứa. Lại sai Đốc hộ '''Đào Hoãn (陶緩)''', '''Lý Cù (李衢)''' thảo phạt. Văn về Lâm Ấp, tìm cách đóng đồn ở Nhật Nam." '''Tháng 4 mùa hè năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 4 (năm 348 dương lịch), Phạm Văn đánh phá Cửu Chân, giết hại rất nhiều.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 4, Văn lại đánh Cửu Chân, hại sĩ dân đến 18 – 19 phần." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), Hoàn Ôn (桓溫) sai Đốc quân Đằng Tuấn (滕畯) thảo phạt Phạm Văn, không thắng. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi. Đằng Tuấn thảo phạt, tiến vào thành, Phật xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), '''Hoàn Ôn (桓溫)''' sai Đốc quân '''Đằng Tuấn (滕畯)''' thảo phạt Phạm Văn, bị Văn đánh bại." Xét Lâm Ấp bản truyền: "Năm thứ 5, Chinh Tây đốc hộ Đằng Tuấn suất binh Giao Châu, Quảng Châu đánh Văn ở Lô Dung (盧容), bị Văn đánh bại, lui về Cửu Chân. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 5, Văn chết, con là Phật lập, vẫn đóng đồn ở Nhật Nam. Chinh Tây tướng quân Hoàn Ôn sai Đốc hộ Đằng Tuấn, Thái thú Cửu Chân '''Quán Thúy (灌邃)''' suất binh Giao, Quảng thảo phạt, Phật ôm thành cố thủ. Thúy lệnh Tuấn bày binh mạnh ở phía trước, Thúy suất 700 tinh binh từ phía sau vượt lũy xông vào, quân Phật kinh sợ tan chạy. Thúy đuổi đến Lâm Ấp, Phật bèn xin hàng." '''Năm Thăng Bình (升平) thứ 3 (năm 359 dương lịch), Lâm Ấp xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Tháng 12 năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 3 (năm 359 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là '''Ôn Phóng Chi (溫放之)''' suất binh thảo phạt các bộ lạc Tham Lê (參黎), Đam Lão (耽潦) của Lâm Ấp, thảy đều hàng phục." Xét Lâm Ấp truyền: "Cuối năm Thăng Bình, Thứ sử Quảng Châu là '''Đằng Hàm (滕含)''' suất quân đánh Lâm Ấp, vua Phật (佛) sợ hãi xin hàng, Hàm cùng lập minh ước rồi về." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Đầu năm Thăng Bình, Lâm Ấp lại đến cướp bóc, Thứ sử Ôn Phóng Chi thảo phạt phá tan." '''Năm Ninh Khang (寧康) [không rõ số] đời Hiếu Vũ Đế (孝武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Ngày Kỷ Tỵ tháng 6 năm Thái Nguyên (太元) thứ 2 (năm 377 dương lịch), Lâm Ấp dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 3 năm Thái Nguyên (太元) thứ 7 (năm 382 dương lịch), Phạm Hùng (范熊) nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' *(Xét Bản truyền nói Phạm Hùng chết thì con là Dật (逸) nối ngôi vốn phải ở thời Vũ Đế (武帝). Đến đây lại chép việc Phạm Hùng, ấy là vẫn theo nguyên bản đã ghi, xin lưu lại để tham khảo). Xét: Các mục trên theo Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ. '''Tháng 2 năm Lũng An (隆安) thứ 3 (năm 399 dương lịch) đời An Đế (安帝), Phạm Đạt (范達) nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, Cửu Chân rồi tiến đánh Giao Chỉ, Thái thú Đỗ Viện (杜瑗) thảo phạt phá tan.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Lũng An (隆安)''' thứ 3 (năm 399 dương lịch), cháu của Phật là '''Tu Đạt (須達)''' lại đánh Nhật Nam, bắt Thái thú '''Quảnh Nguyên (炅源)'''. Lại tiến đánh Cửu Đức (九德), bắt Thái thú '''Tào Bính (曹炳)'''. Thái thú Giao Chỉ là '''Đỗ Viện (杜瑗)''' sai Đô hộ '''Đặng Lỗi (鄧逸)''' đánh phá được, bèn lấy Viện làm Thứ sử." '''Năm Nghĩa Hy (義熙) thứ 9 (năm 413 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ: "Tháng 3 năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 9 (năm 413 dương lịch), '''Phạm Hồ Đạt (范胡達)''' nước Lâm Ấp đánh phá Cửu Chân, Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Huệ Độ (杜慧度)''' chém được y." Xét Lâm Ấp truyền: "Trong những năm Nghĩa Hy, hằng năm Lâm Ấp lại đến đánh các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Cửu Đức, giết hại rất nhiều, Giao Châu vì thế mà suy yếu, mà Lâm Ấp cũng bị mệt mỏi. Vua Phật chết, con là Hồ Đạt lập, dâng sớ tiến cống mâm bát vàng và chiêng vàng." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 3 (năm 407 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Nhật Nam, giết Trưởng sử của Viện, [Viện] sai Hải loa Đốc hộ '''Nguyễn Phỉ (阮斐)''' thảo phạt phá tan, chém và bắt được rất nhiều. Năm thứ 9 (năm 413 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Cửu Chân, Hành quận sự '''Đỗ Huệ Kỳ (杜慧期)''' cùng chiến đấu, chém được con y là Giao Long vương '''Chân Tri (甄知)''' cùng các tướng '''Phạm Kiện (范健)'''... bắt sống Tu Đạt cùng con là '''Na Năng (郍能)''' và hơn 100 người. Từ sau khi Viện mất, Lâm Ấp không năm nào không đánh Nhật Nam, Cửu Đức, giết hại cực nhiều, Giao Châu do đó suy yếu. Tu Đạt chết, con là '''Địch Chân (敵真)''' lập, em là '''Địch Khải (敵鎧)''' dắt mẹ bỏ trốn. Địch Chân truy hận vì không dung nạp được mẹ và em, bèn bỏ nước sang Thiên Trúc (天竺), nhường ngôi cho cháu gọi bằng cậu. Quốc tướng là '''Tạng Lân (藏驎)''' cố can nhưng không nghe. Người cháu lên ngôi bèn giết Tạng Lân, con Tạng Lân lại đánh giết kẻ đó, rồi lập em cùng mẹ khác cha của Địch Khải tên là '''Văn Địch (文敵)'''. Văn Địch sau bị vương tử nước Phù Nam (扶南) là '''Đương Căn Thuần (當根純)''' giết chết, đại thần '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' dẹp loạn rồi tự lập làm vua. Chư Nông chết, con là '''Dương Mại (陽邁)''' lập." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Năm '''Kiến Nguyên (建元)''' thứ 2 (năm 380 dương lịch), Văn đánh Nhật Nam, Cửu Đức, Cửu Chân, trăm họ tan tác, 1,000 dặm không bóng khói, sau đó về Lâm Ấp. Lâm Ấp cách Quảng Châu (廣州) 2,500 dặm về phía Tây. Góc Tây Nam thành có núi cao dãy dài nối tận chân trời. Phía Bắc dãy núi tiếp giáp khe suối, nguồn lớn của sông Hoài (Hoài thủy) chảy ra từ vùng Tam Trọng Trường Châu thuộc cõi '''Na Na (郍郍)''' xa xôi, ẩn sau núi bao quanh phía Tây và vòng qua phía Đông núi Vệ Sơn. Phía Nam dãy núi mở ra khe suối, nguồn nhỏ sông Hoài chảy từ núi hẻm vùng Tùng Căn (松根), lượn quanh phía Nam Khúc Nhai rồi vòng về phía Đông, hợp với dòng sông Hoài chảy vào Điển Xung. Thành ấy phía Tây Nam giáp núi, phía Đông Bắc nhìn ra sông, hào sâu nhiều lớp bao quanh dưới thành. Chu vi thành rộng 8 dặm 100 bước, tường gạch cao 2 trượng, phía trên xây thêm tường gạch 1 trượng để hở lỗ vuông, trên gác ván, trên ván có tầng các, trên các có nhà, trên nhà có lầu. Lầu cao 6 – 7 trượng, thấp thì 4 – 5 trượng, đầu mái hình chim xi (si vĩ) bay bổng chạm mây, nương núi nhìn sông, vút cao lừng lững. Nhưng cách chế tạo thì tráng lệ mà vụng về, theo phong tục cổ của người Di. Thành mở 4 cửa, cửa Đông là cửa trước, đối diện bến sông Hoài nơi đường quanh, có bia cổ khắc chữ Di ngợi khen công đức của vua trước là '''Hồ Đạt (胡達)'''. Cửa Tây đối diện 2 tầng hào, vòng lên phía Bắc vào núi, phía Tây núi chính là dòng sông Hoài. Cửa Nam đi qua 2 tầng hào, đối diện lũy của Ôn công. Năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 2 (năm 358 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là Ôn Phóng Chi giết Thái thú Giao Chỉ là '''Bảo (寶)''' và Biệt giá '''Nguyễn Lang (阮郎)''', rồi đi đánh Lâm Ấp. Thủy lục đánh nhau nhiều trận, vua Phật cố thủ trong thành, sau xin phục tùng nên được tha cho. Nay ở phía Nam thành Đông của Lâm Ấp 5 dặm vẫn còn 2 lũy của Ôn công là vậy. Cửa Bắc sát sông Hoài, đường đứt không thông. Trong thành có tiểu thành chu vi 320 bước, điện ngói nhà chung, vách phía Nam không mở, nhà dài 2 đầu, nóc nhà đưa ra hướng Nam Bắc. Các cột trên điện các cao hơn tường thành 1 trượng có dư, dùng 5 loại phân bò làm bùn trát, vách tường ánh sắc xanh bóng. Vợ con cung tần thảy đều ở chung trên điện, không có cung quán riêng biệt. Vua ngồi dựa vào hiên phía Đông, trực tiếp nói chuyện với bên dưới, tử đệ và thần hạ đều không được lên. Nhà có hơn 50 nóc, mái hiên nối liền nhau. Có 8 ngôi miếu lớn nhỏ thờ thần quỷ, đài tầng gác trọng, trạng thái giống như chùa Phật. Ngoài quách không có chợ búa, ấp ít người ở, bờ biển tiêu điều, vốn không phải nơi dân cư sinh sống. Kẻ đứng đầu dùng sự yên ổn lâu dài để nuôi dưỡng đất nước, 10 đời há có thể tồn tại lâu bền sao!" '''Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 2 (năm 421 dương lịch) đời Tống Vũ Đế (宋武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp (林邑國) ở phương Nam, năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 đời Cao Tổ, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' sai sứ đến cống nạp, liền được ban chức tước. Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp ở phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德). Thời nhà Tần là huyện Lâm Ấp cũ. Cuối thời Hán xưng vương. Năm '''Thái Khang (太康)''' thứ 5 (năm 284 dương lịch) đời Tấn mới bắt đầu cống nạp. Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 420 dương lịch) đời nhà Tống, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' mới sinh, mẹ mơ thấy người đem chiếu vàng cho lót nằm, ánh sắc kỳ lệ, Trung Quốc gọi là vàng Tử Ma (vàng tía), người Di gọi là Dương Mại, nên lấy đó làm tên. Khi Dương Mại chết, con là '''Đốt (咄)''' lập, vì mộ cha nên lại đổi tên thành Dương Mại. Lâm Ấp có núi vàng, nước vàng chảy ra bến. Theo đạo Ni Kiền (尼乾道), họ đúc tượng người bằng vàng bạc, lớn đến 10 vòng ôm. '''Những năm Nguyên Gia (元嘉) đời Văn Đế (文 Đế), Lâm Ấp xâm chiếm các quận Nhật Nam, Cửu Đức.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Đầu năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' đời Thái Tổ, [Lâm Ấp] xâm lấn tàn phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức. Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Hoằng Văn (杜弘文)''' dựng cờ tụ họp quân chúng muốn đi thảo phạt, nghe tin có người đến thay chức bèn thôi. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 (năm 421 dương lịch), [Lâm Ấp] sai sứ cống nạp, phong Dương Mại làm Lâm Ấp vương. Dương Mại chết, con là Đốt lập, lại gọi là Dương Mại. Phong tục nước ấy ở nhà gác gọi là Vu Lan (于闌), cửa đều hướng về phía Bắc, viết lên lá cây làm giấy. Nam nữ đều dùng khổ ngang vải Cát Bối (vải bông) quấn từ thắt lưng trở xuống, gọi là Can Mạn (干縵) hoặc Đô Mạn (都縵), xỏ tai đeo vòng nhỏ. Kẻ quý đi giày da, người tiện đi chân đất. Các nước từ Lâm Ấp, Phù Nam (扶南) trở về phía Nam đều như vậy. Vua mặc pháp phục, đeo anh lạc, trang sức như tượng Phật. Khi ra ngoài thì cưỡi voi, thổi ốc đánh trống, che lọng Cát Bối, dùng vải Cát Bối làm cờ xí. Nước không đặt hình pháp, kẻ có tội thì cho voi giẫm chết. Họ lớn hiệu là Bà-la-môn (婆羅門), gả cưới tất dùng vào tháng 8. Nữ cầu nam trước, do trọng nữ khinh nam vậy. Người cùng họ lấy nhau, sai người Bà-la-môn dẫn rể đến gặp vợ, nắm tay nhau trao gửi, đọc chú "Cát lợi cát lợi" để thành lễ. Người chết thì thiêu giữa đồng, gọi là hỏa táng. Góa phụ ở vậy xõa tóc đến già. Vua thờ đạo Ni Kiền, đúc tượng vàng bạc lớn 10 vòng ôm. Đầu năm Nguyên Gia, Dương Mại xâm chiếm Nhật Nam, Cửu Đức, Thứ sử Đỗ Hoằng Văn muốn thảo phạt, nghe tin có người thay bèn thôi. '''Ngày Giáp Dần tháng 7 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 7 (năm 430 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét: Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Năm thứ 7, Dương Mại sai sứ tự trần tình rằng không hòa hợp với Giao Châu, cầu xin được tha thứ. Năm thứ 8, lại sai hơn 100 thuyền lâu báu đánh Cửu Đức, vào cửa biển Tứ Hội (四會浦). Thứ sử Giao Châu là '''Nguyễn Di Chi (阮彌之)''' sai Đội chủ '''Tương Đạo Sinh (相道生)''' đem 3,000 người đi thảo phạt, đánh thành Khu Túc (區粟城) không hạ được, phải rút về. '''Tháng 5 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), vua Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét Lâm Ấp truyền: Lâm Ấp muốn đánh Giao Châu, mượn binh vua nước Phù Nam (扶南), vua Phù Nam không nghe. Năm thứ 10, Dương Mại sai sứ dâng biểu, cống sản vật, xin được lĩnh chức cai quản Giao Châu. Chiếu đáp rằng đường xá xa xôi nên không hứa cho. '''Năm Nguyên Gia thứ 11 (434), thứ 15 (438), thứ 16 (439), thứ 18 (441), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' '''Mùa hạ tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 23 (năm 446 dương lịch), Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh nước Lâm Ấp, chiếm được.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Các năm Nguyên Gia thứ 12, 15, 16, 18 dù thường sai sứ cống nạp nhưng cướp bóc không thôi, đồ dâng cũng thô lậu. Thái Tổ giận kẻ làm trái, năm thứ 23 sai Long tương Tướng quân, Thứ sử Giao Châu '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' đi đánh. Sai Chấn vũ Tướng quân phủ Thái úy là '''Tông Xác (宗慤)''' chịu sự tiết chế của Hòa Chi. Hòa Chi sai Phủ Tư mã '''Tiêu Cảnh Hiến (蕭景憲)''' làm tiền phong, Xác làm phó quân. Dương Mại nghe tin binh đến, sai sứ dâng biểu xin trả lại dân hộ Nhật Nam đã bắt, dâng trân bảo của nước. Thái Tổ hạ chiếu bảo Hòa Chi nếu Dương Mại có lòng thành thì cho quy thuận. Tháng 2 năm đó, quân đến đồn Chu Ngô (朱梧戍), sai Tham quân Phủ Hộ tào là Thái thú Nhật Nam '''Khương Trọng Cơ (姜仲基)''', Tham quân Tiền bộ Tặc tào '''Kiểu Hoằng Dân (蟜弘民)''' cùng bọn '''Tất Nguyện (畢願)''', '''Cao Tinh Nô (高精奴)''' đi tuyên dương ân chỉ. Dương Mại bắt giữ bọn Trọng Cơ, Tinh Nô gồm 28 người, sai Hoằng Dân về báo, ngoài miệng nói quy thuận nhưng phòng bị càng nghiêm. Cảnh Hiến tiến quân hướng về thành Khu Túc (區粟城). Dương Mại sai Đại soái '''Phạm Phù Long Đại (范扶龍大)''' trấn giữ Khu Túc, lại sai thủy bộ quân đến đánh phá viện binh bên ngoài của Cảnh Hiến. Quân Tống dốc sức công thành, tháng 5 chiếm được, chém đầu Phù Long Đại, thu được vàng bạc tạp vật không sao kể xiết. Thừa thắng truy kích, chiếm luôn Lâm Ấp. Cha con Dương Mại đều bỏ chạy thoát thân. Đồ trân dị thu được đều là những vật báu chưa có tên. Thượng khen công lao tướng soái, phong Tiêu Cảnh Hiến làm Trì tiết đốc quân sự 2 quận Uất Lâm, Ninh Phố. Các tướng '''Đồng Lâm Chi (童林之)''', '''Phó Úy Tổ (傅蔚祖)''' tử trận, đều được truy tặng quan chức. Xét Truyện của Thẩm Diễn Chi (沈演之傳): Thượng muốn đánh Lâm Ấp, triều thần không đồng ý, riêng Thứ sử Quảng Châu là '''Lục Huy (陸徽)''' cùng Diễn Chi tán thành. Khi bình định xong, ban cho quần thần vàng, nô lệ (sinh khẩu), đồ đồng. Diễn Chi được thưởng nhiều nhất. Xét Truyện của Tông Xác (宗慤傳): Năm Nguyên Gia thứ 22 (năm 445 dương lịch), việc đánh Lâm Ấp khởi sự, Xác tự xin đi. Nghĩa Cung cử Xác là người can đảm dũng mãnh. Khi vây thành Khu Túc, Lâm Ấp sai tướng '''Phạm Tỳ Sa Đạt (范毗沙達)''' đến cứu. Quân Tống bị giặc đánh bại một trận. Xác bèn chia quân làm nhiều đường, hạ cờ xí ngầm tiến, đánh tan giặc, hạ Khu Túc, tiến vào Tượng Phố (象浦). Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại dốc hết quân ra cự chiến, cho voi mặc giáp trụ, đông đảo không biên giới, sĩ tốt không địch nổi. Xác nói: "Ta nghe sư tử uy phục bách thú", bèn làm hình sư tử để chống voi. Voi quả nhiên kinh sợ chạy loạn, quân giặc tan rã. Chiếm được Lâm Ấp, thu bảo vật dị vật không sao kể xiết. Xét Lương Thư (梁書): Dương Mại sợ, muốn nộp 10,000 cân vàng, 100,000 cân bạc để chuộc tội nhưng đại thần '''Độc Tăng Đạt (毒僧達)''' can ngăn nên thôi. Khi chiếm thành, quân Tống đem nấu chảy các tượng vàng, được mấy trăm nghìn cân vàng. Hòa Chi sau bị bệnh chết, thấy hình bóng người Hồ làm quái. Xét Thủy Kinh Chú (水經注): Năm Nguyên Gia, Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Dương Mại dốc nước chạy đêm, trốn vào núi rừng. Quân rút đi, Dương Mại về nước. Nhà cửa đất nước tan hoang, người thời ấy chẳng còn ai, ông đau đớn phẫn uất, năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' thứ 23 (năm 446 dương lịch) thì chết. Trước đó, lúc mẹ Dương Mại mang thai, mơ thấy người trải chiếu vàng Dương Mại cho con rơi vào, ánh sáng rực rỡ. Cha là Hồ Đạt chết, con lên ngôi, được lòng người, tự lấy điềm mộng làm điều lành cho nước. Thái tử ban đầu tên Đốt, sau khi Dương Mại chết, Đốt 19 tuổi lên ngôi, vì mộ đức của tiên quân nên lại lấy tên Dương Mại. Hai đời cha con cùng tên, biết là điềm Lâm Ấp sắp mất vậy. '''Năm Hiếu Kiến (孝建) thứ 2 (năm 455 dương lịch) đời Vũ Đế (武 Đế), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 đời Thế Tổ (tức Hiếu Vũ Đế), Lâm Ấp lại sai Trường sử là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' phụng mệnh sứ giả đến cống nạp, phong Long Bạt làm Dương võ Tướng quân." '''Năm Đại Minh (大明) thứ 2 (năm 458 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Đại Minh (大明)''' thứ 2, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' lại sai Trường sử là '''Phạm Lưu (范流)''' dâng biểu, tiến cống đồ dùng bằng vàng bạc cùng các vật phẩm như hương liệu, vải vóc." '''Năm Thái Dự (泰豫) thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 9 (năm 491 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝) nhà Nam Tề, Phạm Đương Căn Thuần (范當根純) nước Lâm Ấp sai sứ vào cống, bắt đầu phong làm An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Cao Đế bản kỷ không chép. Xét Nam Sử (南史) - Tề Vũ Đế bản kỷ: "Tháng 5 năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, nước Lâm Ấp dâng chiếu vàng (kim điệm)." Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 (năm 455 dương lịch), bắt đầu lấy Trường sử Lâm Ấp là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' làm Dương võ Tướng quân. Con cháu Dương Mại (楊邁) truyền nối nhau làm vua, nhưng chưa có vị hiệu. Người Di là '''Phạm Đương Căn Thuần (范當根純)''' đánh chiếm nước ấy,篡 vị làm vua. Năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, sai sứ cống nạp chiếu vàng cùng các vật phẩm. Chiếu rằng: 'Lâm Ấp nhỏ bé ở nơi xa xôi, đời đời phục tùng vương hóa. Đương Căn Thuần nay tỏ lòng thành khẩn, suất lãnh liêu thuộc, lập công ở phương xa, thật đáng khen ngợi, nên ban tước hiệu để mở rộng ơn trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương'. Sau đó, con cháu của Phạm Dương Mại là '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' suất lĩnh chúng nhân đánh Đương Căn Thuần, lấy lại được bản quốc." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 10 (năm 492 dương lịch), lấy Phạm Chư Nông làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 2 (năm 495 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), tiến phong hiệu của Phạm Chư Nông làm Trấn Nam Tướng quân.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Thái (永泰) thứ 1 (năm 498 dương lịch), lấy con của Phạm Chư Nông là Văn Khoản (文款) làm Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Vĩnh Thái (永泰)''' thứ 1, Chư Nông vào triều, đi biển gặp gió bão bị chết đuối. Lấy con là '''Văn Khoản (文款)''' làm Giả tiết, Đô đốc duyên hải quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương. Khoảng năm '''Kiến Hưng (建興)''' (năm 313 – 317 dương lịch) đời nhà Tấn, nô bộc của di soái quận Nhật Nam (日南) là '''Phạm Tr稚 (范稚)''' tên là '''Văn (文)''' thường đi buôn bán, thấy được chế độ nước thượng quốc, bèn dạy vua Lâm Ấp là '''Phạm Dật (范逸)''' xây thành trì, lâu đài điện các. Vua đội mũ thiên quan giống như mũ Phật, thân quàng chuỗi anh lạc thơm. Người trong nước hung hãn, quen thuộc núi sông, giỏi chiến đấu, thổi vỏ ốc (hải lệ) thay kèn, người thảy đều ở trần. Bốn mùa ấm áp, không sương tuyết. Quý nữ khinh nam. Gọi thầy cúng (sư vu) là Bà-la-môn (婆羅門). Những người trong họ hàng cưới hỏi nhau, người nữ trước tiên sai người đến hỏi cưới chồng. Con gái khi gả đi mặc áo Già-lam (迦藍衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, trên đầu đội hoa báu. Khi có tang thì cắt tóc gọi là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Ở vùng biên viễn có loài chim Linh Thứu (靈鷲鳥), biết người sắp chết bèn tụ tập tại nhà đó, ăn hết thịt người chết rồi bay đi, sau đó người ta lấy xương thiêu thành tro, ném xuống biển gọi là thủy táng. Sắc da lấy đen làm đẹp. Các nước phương Nam thảy đều như vậy. Tại thành Khu Lật (區栗城), đặt cột biểu cao 8 thước (khoảng 2.6 mét), đo bóng mặt trời về phía Nam được 8 tấc (khoảng 26 cm). Từ Lâm Ấp đi về hướng Tây Nam hơn 3,000 dặm là đến nước Phù Nam (扶南)." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 9 (năm 510 dương lịch) đời Lương Vũ Đế (梁武帝), Lâm Ấp sai sứ dâng vượn trắng, xuống chiếu phong Phạm Thiên Cải làm Lâm Ấp vương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ: Tháng 4 năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9, nước Lâm Ấp sai sứ dâng 1 con vượn trắng. Xét Lâm Ấp truyền: Trong những năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' (454 – 456), '''Đại Minh (大明)''' (457 – 464) đời Tống Hiếu Vũ Đế, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' liên tiếp sai Trường sử dâng biểu cống nạp. Năm '''Thái Dự (泰豫)''' thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế, lại sai sứ dâng sản vật địa phương. Trong những năm '''Vĩnh Minh (永明)''' (483 – 493) đời nhà Tề, '''Phạm Văn Tán (范文贊)''' nhiều lần sai sứ cống nạp. Năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9 (năm 510 dương lịch), con của Văn Tán là '''Thiên Cải (天凱)''' dâng vượn trắng. Chiếu rằng: "Lâm Ấp vương '''Phạm Thiên Cải (范天凱)''' ở nơi hải ngoại, có lòng thành khẩn, từ xa tu sửa chức phận cống nạp, thật đáng khen ngợi. Nên ban tước hiệu, phủ thêm vinh trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Uy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 10 (năm 511 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 11 (năm 512 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 13 (năm 514 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét các mục trên theo Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 13, Thiên Cải liên tiếp sai sứ dâng sản vật, chẳng bao lâu sau thì bệnh mất, con là '''Bật Thụy Bạt Ma (弼毳跋摩)''' lập, dâng biểu cống nạp." '''Tháng 6 năm Phổ Thông (普通) thứ 7 (năm 526 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Phổ Thông (普通)''' thứ 7, vua '''Cao Thức Thắng Khải (高式勝鎧)''' sai sứ dâng sản vật. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 3 năm Đại Thông (大通) thứ 1 (năm 527 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Trung Đại Thông (中大通)''' thứ 2, hành Lâm Ấp vương '''Cao Thức Luật Đà La Bạt Ma (高式律陁羅跋摩)''' sai sứ cống nạp. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 7 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 6 (năm 534 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Những năm Khai Hoàng (開皇) đời Tùy Văn Đế (隋文帝), Lâm Ấp sai sứ vào cống.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Tổ tiên Lâm Ấp nhân lúc loạn '''Trưng Trắc (徵側)''' người con gái Giao Chỉ cuối thời Hán, con của Công tào là '''Khu Liên (區連)''' giết huyện lệnh, tự hiệu làm vua, không con, cháu ngoại là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, chết, con là '''Dật (逸)''' lập. Người Nhật Nam (日南) là '''Phạm Văn (范文)''' nhân lúc loạn làm nô bộc cho Dật, bèn dạy cho cách xây cung thất, chế khí giới. Dật rất tín nhiệm, sai Văn cầm quân, cực được lòng người. Văn nhân đó ly gián các con cháu của Dật, kẻ thì bỏ chạy người bị đày. Khi Dật chết không có con nối, Văn tự lập làm vua. Về sau '''Phạm Phật (范佛)''' bị Dương uy tướng quân nhà Tấn là '''Đái Hoàn (戴桓)''' đánh phá; Thứ sử Giao Châu nhà Tống là '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' cầm quân đánh sâu vào biên cảnh; đến thời nhà Lương, nhà Trần cũng thông sứ qua lại. Nước ấy dài rộng mấy 1,000 dặm, đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống với Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi từ vỏ sò (thần hôi) trát lên, cửa hướng về phía Đông. Quan cao cấp có 2 hạng: một là '''Tây Na Bà Đế (西那婆帝)''', hai là '''Tát Bà Địa Ca (薩婆地歌)'''. Thuộc quan có 3 cấp: thứ nhất là '''Luân Đa (倫多)''', thứ đến là '''Ca Luân Trí Địa (歌倫致地)''', thứ đến là '''Ất Tha Già Lan (乙他伽蘭)'''. Quan ở ngoài chia làm hơn 200 bộ, chức trưởng quan gọi là '''Phất La (弗羅)''', thứ đến gọi là '''Khả Luân (可輪)''', giống như sự sai biệt của Mục tể vậy. Vua đội mũ hoa vàng, hình dáng như mũ Chương phủ. Mặc vải Triều hà, đeo anh lạc châu ngọc, chân đi giày da, đôi khi khoác áo bào gấm. Con em nhà lành thị vệ có khoảng 200 người, đều cầm đao trang trí vàng. Có cung tên, đao sáo, lấy tre làm nỏ, bôi độc vào mũi tên. Nhạc có đàn cầm, sáo, tỳ bà, đàn 5 dây, khá giống Trung Quốc. Mỗi khi đánh trống để cảnh báo chúng dân, thổi vỏ ốc để tập hợp quân đội. Người ở đó mắt sâu mũi cao, tóc xoăn, da đen. Tục đều đi chân đất, dùng khổ vải quấn thân. Tháng mùa đông thì mặc áo bào, phụ nữ búi tóc hình chóp, trải chiếu lá. Mỗi khi có cưới hỏi, lệnh cho người mai mối mang vòng vàng bạc, 2 hũ rượu, mấy con cá đến nhà gái. Sau đó chọn ngày, nhà trai họp thân khách, múa hát đối đáp. Nhà gái mời 1 người Bà-la-môn (婆羅門) đưa cô gái đến nhà trai, chú rể rửa tay, nhân đó dắt cô gái trao cho. Vua chết 7 ngày thì táng, người có quan tước 3 ngày, dân thường 1 ngày. Đều dùng hòm đựng thây, đánh trống múa hát dẫn đường, dùng xe khiêng đến bên nước, chất củi đốt đi, thu lại xương còn sót, nếu là vua thì đặt trong hũ vàng, dìm xuống biển. Người có quan thì dùng hũ đồng dìm ở cửa biển, dân thường dùng hũ sành tiễn đưa xuống sông. Nam nữ đều cắt tóc, theo đám tang đến bên nước, hết lòng thương tiếc mới thôi, về nhà thì không khóc. Cứ mỗi 7 ngày lại đốt hương rắc hoa, lại khóc hết lòng sầu thảm mới thôi. Trọn 7 lần 7 (49 ngày) thì dứt. Đến 100 ngày và 3 năm cũng làm như vậy. Người đều thờ Phật, văn tự giống với Thiên Trúc (天竺). Sau khi Cao Tổ bình định nhà Trần, [Lâm Ấp] bèn sai sứ dâng sản vật địa phương, về sau triều cống bị đoạn tuyệt. '''Tháng 4 năm Đại Nghiệp (大業) thứ 1 (năm 605 dương lịch) đời Dạng Đế (煬帝), Đại tướng quân Lưu Phương đánh Lâm Ấp, phá được.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Bấy giờ thiên hạ vô sự, quần thần nói Lâm Ấp có nhiều báu vật kỳ lạ. Cuối năm '''Nhân Thọ (仁壽)''' (năm 604 dương lịch), Thượng sai Đại tướng quân '''Lưu Phương (劉方)''' làm Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu (歡州), suất lĩnh Thứ sử Khâm Châu '''Ninh Trường Chân (甯長真)''', Thứ sử Hoan Châu '''Lý Ng晕 (李暈)''', Khai phủ '''Tần Hùng (秦雄)''' cùng hơn 10,000 bộ kỵ và mấy 1,000 tội nhân đi đánh. Vua nước ấy là '''Phạn Chí (梵志)''' suất lĩnh đồ đảng cưỡi voi lớn ra chiến đấu, quân của Phương bất lợi. Phương bèn đào nhiều hố nhỏ, lấy cỏ phủ lên trên, nhân đó dùng binh khiêu chiến, Phạn Chí dốc toàn quân ra dàn trận. Phương đánh rồi giả vờ chạy, Phạn Chí đuổi theo đến chỗ có hố, quân chúng sa hố rất nhiều, lại kinh hãi lẫn nhau, quân bèn loạn. Phương tung binh đánh, đại phá quân giặc. Phạn Chí thua trận liên tiếp, bèn bỏ thành mà chạy. Phương vào kinh đô nước ấy, thu được 18枚 (tấm/mộc) bài vị thờ trong miếu, thảy đều đúc bằng vàng, đại khái là nước ấy đã trải qua 18 đời. Phương rút quân về, Phạn Chí lại chiếm đất cũ, sai sứ tạ tội, từ đó triều cống không tuyệt. Xét Truyện của Lưu Phương (劉方傳): Năm '''Nhân Thọ (仁壽)''', Phương được trao chức Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu, lấy Thượng thư Hữu thừa '''Lý Cương (李綱)''' làm Tư mã để kinh lược Lâm Ấp. Phương sai Ninh Trường Chân, Lý Ng晕, Tần Hùng đem bộ kỵ ra từ Việt Thường (越常), tự mình suất lãnh Đại tướng quân '''Trương Tốn (張愻)''', Tư mã Lý Cương theo quân thủy hướng đến Tỷ Cảnh (比景). Sau khi Cao Tổ băng hà, Dạng Đế lên ngôi, tháng Giêng năm '''Đại Nghiệp (大業)''' thứ 1 (năm 605 dương lịch), quân đến cửa biển, vua Lâm Ấp Phạn Chí sai quân giữ nơi hiểm yếu, Phương đánh đuổi đi. Quân đến sông Xà Lê (闍黎江), giặc dựa vào bờ Nam lập rào chắn. Phương bày cờ xí rầm rộ, đánh kim gõ trống, giặc sợ hãi tan rã. Đã qua sông, đi được 30 dặm, giặc cưỡi voi lớn từ 4 mặt kéo đến, Phương dùng nỏ bắn voi, voi trúng thương quay lại giẫm vào trận đồ quân giặc, vương sư lực chiến, giặc chạy vào rào chắn, quân Tùy phá được, bắt và chém hàng 10,000 người. Sau đó vượt Khu Túc (區粟), qua Lục Lý (六里), trước sau gặp giặc trận nào cũng bắt được. Tiến đến sông Đại Duyên (大緣江), giặc dựa nơi hiểm lập rào, lại đánh phá được. Đi qua cột đồng của '''Mã Viện (馬援)''', đi về phía Nam 8 ngày thì đến kinh đô nước ấy. Vua Lâm Ấp Phạn Chí bỏ thành chạy ra biển, Phương thu được bài vị miếu chủ bằng vàng, khắc đá ghi công rồi về. Sĩ tốt chân bị sưng phù, người chết mất 14 – 15 phần trong tổng số 10 phần (tức 40% – 50%). Phương trên đường về gặp bệnh mà mất, Đế rất thương tiếc. === Lâm Ấp bộ hối khảo 2 (林邑部彙考二)=== '''Những năm Vũ Đức (武德) đời Đường Cao Tổ (唐高祖), nước Hoàn Vương (環王) sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Nước Hoàn Vương vốn là Lâm Ấp (林邑), còn gọi là Chiêm Bất Lao (占不勞), cũng gọi là Chiêm Bà (占婆), nằm thẳng phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm. Đất đai chiều Đông Tây rộng hơn 300 dặm, chiều Nam Bắc 1,000 dặm. Phía Tây giáp núi Vụ Ôn (霧溫山) của nước Chân Lạp (真臘), phía Nam đến Bôn Lãng Đà Châu (奔浪陀州). Ở phía Nam có cửa biển lớn (đại phố) có núi Ngũ Đồng Trụ (五銅柱山), hình như cái lọng che, phía Tây là núi đá trùng điệp, phía Đông sát biển, là nơi Mã Viện (馬援) nhà Hán trồng cột đồng vậy. Đất ấy mùa đông ấm, nhiều sương mưa. Sản sinh hổ phách, đười ươi, thú Kết Liêu, chim Kết Liêu. Lấy tháng 2 làm đầu năm, lúa chín 2 vụ một năm. Lấy nước cau làm rượu, lá dừa làm chiếu. Tục hung hãn, giỏi chiến đấu, dùng xạ hương bôi thân, ngày bôi 2 lần tắm 2 lần. Khi bái yết thì chắp tay sát trán. Có văn tự. Thích đạo Phù Đồ (Phật giáo). Đúc tượng vàng bạc, có cái lớn đến 10 vòng ôm. Gọi vua là 'Dương Bồ Cô' (陽蒲逋), vợ vua là 'Đà Dương A Hùng' (陀陽阿熊), Thái tử là 'A Trường Cô' (阿長逋), Tể tướng là Bà Mạn Địa (婆漫地). Nơi vua ở gọi là Chiêm Thành (占城), nơi ở khác gọi là Tề Quốc (齊國), Bồng Bì Thế (蓬皮勢). Vua mặc vải bạch điệp (vải bông trắng) cổ bối, quấn chéo qua cánh tay, sức chuỗi hạt vàng làm anh lạc, tóc xoăn, đội mũ hoa vàng như mũ Chương phủ. Vợ mặc váy ngắn bằng vải cổ bối màu triều hà, mũ và anh lạc giống như vua. Vua có 5,000 vệ binh, chiến đấu cưỡi voi, dùng mây làm áo giáp, dùng tre làm cung tên, suất lĩnh 1,000 voi, 400 ngựa, chia làm trước sau. Không đặt hình phạt, kẻ có tội thì cho voi giẫm, hoặc đưa đến núi Bất Lao (不勞山) cho tự chết. Năm Nhân Thọ (仁壽) đời Tùy, sai Tướng quân Lưu Phương (劉芳) [Tùy thư chép là Lưu Phương 劉方] đánh nơi đó, vua là Phạm Phạn Chí (范梵志) bỏ chạy. [Nhà Tùy] lấy đất ấy làm 3 quận, đặt thủ lệnh, nhưng vì đường xá trở ngại không thông, Phạn Chí gom góp tàn quân riêng xây quốc ấp. Những năm Vũ Đức (618 – 626 dương lịch), lại sai sứ dâng sản vật, Cao Tổ cho bày nhạc Cửu Bộ (九部樂) để yến đãi." '''Những năm Trinh Quán (貞觀) đời Thái Tông (太宗), Lâm Ấp sai sứ vào dâng lễ.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Thời Trinh Quán, vua Đầu Lê (頭黎) dâng voi thuần, xích lưu (vàng ròng), đai ngũ sắc, vải triều hà, cây lửa (hỏa thụ), cùng đi với sứ giả hai nước Bà Lợi (婆利), La Sát (羅剎). Lời lẽ sứ giả không cung kính, quần thần xin hưng binh hỏi tội. Thái Tông nói: 'Xưa Phù Kiên muốn nuốt nhà Tấn, quân có 1,000,000 người nhưng một trận là mất sạch. Nhà Tùy đánh Cao Ly, hằng năm điều động phu phen khiến lòng người oán hận, rồi chết trong tay kẻ thất phu. Trẫm há dám vọng bàn việc phát binh sao?'. Bèn tha cho không hỏi đến. [Lâm Ấp] lại dâng vẹt ngũ sắc, vẹt trắng, chúng thường kêu lạnh, vua hạ chiếu trả về. Đầu Lê chết, con là Trấn Long (鎮龍) lập, dâng tê giác Thông Thiên cùng các thứ báu vật." '''Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (năm 645 dương lịch), vua Lâm Ấp Phạm Trấn Long (范鎮龍) bị ám sát, người trong nước lập Gia Cát Địa (諸葛地) làm vua.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Năm thứ 19, Ma Ha Mạn Đa Già Độc (摩呵慢多伽獨) giết Trấn Long, diệt tông tộc họ Phạm. Người trong nước lập con rể của Đầu Lê là người Bà-la-môn (婆羅門) làm vua, các đại thần cùng phế đi, lại lập con gái của Đầu Lê làm vương. Gia Cát Địa là con của cô vua Đầu Lê, cha gặp tội phải trốn sang Chân Lạp (真臘). Vua nữ không thể định quốc, đại thần cùng đón Gia Cát Địa về làm vua, gả vua nữ cho." '''Những năm Chí Đức (至德) đời Túc Tông (肅宗), Lâm Ấp đổi hiệu thành Hoàn Vương (環王).''' Xét Đường Thư (唐書) - Túc Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Từ năm Vĩnh Huy (永徽) đến Thiên Bảo (天寶) phàm 3 lần vào dâng cống, sau năm Chí Đức (năm 756 dương lịch) đổi hiệu là Hoàn Vương." '''Những năm Nguyên Hòa (元和) đời Hiến Tông (憲宗), Đô hộ An Nam Trương Chu bắt Đô thống và 59 vương tử nước Hoàn Vương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Đầu năm Nguyên Hòa (năm 806 dương lịch), [Hoàn Vương] không vào triều cống, Đô hộ An Nam '''Trương Chu (張舟)''' bắt Đô thống các châu Hoan, Ái ngụy của chúng, chém 30,000 thủ cấp, bắt làm tù binh 59 vương tử, thu được voi chiến, thuyền chiến và áo giáp." === Lâm Ấp - Tạp ký (雜記) - 7 mục=== * '''Cây cau (Binh lang thụ):''' Thân to hơn 1 trượng, cao hơn 10 trượng, vỏ như đồng xanh, đốt như tre đốm. Gốc không to, ngọn không nhỏ, xa gần thành rừng, 1,000 – 10,000 cây như một. Dáng tươi đẹp không có cành, đỉnh đầu có lá, lá xòe ra như nan quạt. Nhìn lên xa xăm như khóm chuối trên ngọn tre, gió thổi thì lá động tựa như quạt lông quét trời. Dưới lá có mấy buồng, mỗi buồng đính 10 số quả, nhà có mấy 100 cây nhìn thưa thớt như dây thừng treo vậy. * '''Chim Linh Thứu (靈鷲):''' Ở biên giới xa xôi phía Tây Nam có chim Linh Thứu, biết được cát hung. Thấy người sắp chết thì rình ăn sạch thịt thây mới đi. Người nhà lấy xương thiêu thành tro ném xuống nước. * '''Cá bay (Phi ngư):''' Cánh như cánh ve, khi bơi thì lướt mây, khi lặn thì xuống đáy biển. * '''Đất đai:''' Trải dài 60 dặm. Đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi vỏ sò trát lên. Đều mở cửa phía Bắc hướng về mặt trời, hoặc Đông Tây không định. * '''Vua Phạm Văn (范文):''' Đúc đồng làm bò, làm nhà bằng đồng, làm hành cung. * '''Vua Minh Đạt (明達):''' Dâng nhẫn kim cương (Kim cương chỉ hoàn). * '''Núi vàng (Kim Sơn):''' Từ Lâm Ấp đi đến Kim Sơn hơn 30 dặm, xa nhìn thấy Kim Sơn cao ngất mà sắc đỏ chiếu rọi như bầu trời. Trong khe hốc có vàng sinh ra hình như sâu bọ, nhỏ thì như ruồi xanh, lớn thì như ong ve, đêm đi tỏa sáng như đom đóm. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] ojpj626a6kmtdnt3cays434jvkmiyf8 Tác gia:Trần Mộng Lôi 102 71933 204623 2026-04-10T02:20:30Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{tác gia | tên-họ = | tên = Lôi | họ = Trần Mộng | chữ đầu tên = L | năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | mô tả = Trần Mộng Lôi (tiếng Trung: 陳夢雷; tiếng Trung: 陈梦雷; 1650 – 1741), tự Tắc Ch…” 204623 wikitext text/x-wiki {{tác gia | tên-họ = | tên = Lôi | họ = Trần Mộng | chữ đầu tên = L | năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | mô tả = Trần Mộng Lôi (tiếng Trung: 陳夢雷; tiếng Trung: 陈梦雷; 1650 – 1741), tự Tắc Chấn (则震), hiệu Tỉnh Trai (省斋) và biệt danh Tùng Hạc Lão Nhân (松鶴老人), là nhà bách khoa học, sử gia và triết gia danh tiếng thời Thanh. Ông được biết đến rộng rãi với vai trò là người khởi xướng, chủ biên và tác giả chính của bộ đại điển Cổ kim đồ thư tập thành. Trong suốt hơn 50 năm, Trần Mộng Lôi đã miệt mài nghiên cứu, tra cứu qua hơn 10.000 quyển sách. Đến năm 1701, ông được vua Khang Hi tin tưởng giao phó trọng trách biên soạn bộ bách khoa toàn thư Cổ kim đồ thư tập thành. Chỉ trong vòng bốn năm rưỡi, ông đã hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ này. {{wikipediaref}} }} ==Tác phẩm== * [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành|Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]] t4kumldmfnem3o8llevooq2kn46j5hz Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 097 114 71934 204626 2026-04-10T09:11:40Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第097卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 97''' | trước= [[../quyển 096|quyển 96]] | sau= [[../quyển 098|quyển 98]] | ghi chú = }} ==Phù Nam quốc vị khảo (扶南國彙考 - Khảo…” 204626 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第097卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 97''' | trước= [[../quyển 096|quyển 96]] | sau= [[../quyển 098|quyển 98]] | ghi chú = }} ==Phù Nam quốc vị khảo (扶南國彙考 - Khảo cứu tổng hợp về nước Phù Nam) == === Đời Tấn (晉)=== Vào năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Tấn Vũ Đế (晉武帝), nước Phù Nam (扶南國) sai sứ đến dâng lễ vật. Theo Tấn thư - Vũ Đế bản kỷ (晉書·武帝本紀) có chép sự việc này. Theo Phù Nam truyện (扶南傳): "Nước Phù Nam cách Lâm Ấp (林邑) hơn 3.000 dặm về phía Tây, nằm trong một vịnh biển lớn, cương vực rộng 3.000 dặm, có thành quách cung thất. Người dân đều xấu xí, da đen, tóc xoăn, mình trần chân đất. Tính cách ngay thẳng, không trộm cướp, chuyên nghề canh tác, gieo trồng 1 năm thì thu hoạch trong 2 năm. Họ lại ưa thích điêu khắc, chạm trổ, đồ ăn thức uống đa phần dùng bằng bạc. Sưu thuế đóng bằng vàng, bạc, châu ngọc, hương liệu. Cũng có sách vở, chữ viết trong phủ khố có nét giống chữ của người Hồ (胡). Việc tang lễ và cưới hỏi đại lược giống với Lâm Ấp. Vua nước ấy vốn là đàn bà, tên là Diệp Liễu (葉柳)." Khi đó có người nước ngoài tên là Hỗn Quế (混潰), vốn thờ thần linh, nằm mộng thấy thần ban cho cây cung và dạy phải đi thuyền ra biển. Sáng ra Hỗn Quế đến đền thờ thần, quả nhiên được cung, bèn theo thuyền buôn lênh đênh trên biển, đến ấp ngoài của Phù Nam. Diệp Liễu dẫn quân chống lại. Hỗn Quế giương cung, Diệp Liễu sợ hãi bèn đầu hàng. Hỗn Quế lấy làm vợ và chiếm giữ nước ấy. Sau này con cháu suy vi không nối nghiệp được, đại tướng là Phạm Tầm (范尋) lại đời đời làm vua Phù Nam. Đầu năm Thái Thủy đời Vũ Đế, nước này sai sứ đến cống nạp. Theo Nam Tề thư - Phù Nam truyện (南齊書·扶南傳): "Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam (日南), trong vịnh phía Tây biển lớn, rộng hơn 3.000 dặm, có con sông lớn chảy về phía Tây vào biển. Xưa có người đàn bà làm vua tên là Liễu Diệp (柳葉) (Tấn thư chép là Diệp Liễu). Lại có người nước Kích (激國) tên là Hỗn Điền (混填) (Tấn thư chép là Quế), mộng thấy thần ban cho 2 cây cung, dạy đi thuyền ra biển. Hỗn Điền sáng dậy, ở dưới gốc cây nơi miếu thần được cung, liền đi thuyền hướng về Phù Nam. Liễu Diệp thấy thuyền đến, dẫn quân định chống lại. Hỗn Điền giương cung bắn xa, xuyên qua thành thuyền, trúng người bên trong. Liễu Diệp sợ hãi bèn hàng. Hỗn Điền bèn lấy làm vợ. Ghét nàng để thân mình trần truồng, bèn lấy vải gấp lại, khoét lỗ xỏ vào đầu (kiểu áo chui đầu), rồi cai trị nước ấy. Con cháu truyền nhau đến đời vua Bàn Huống (槃況) chết, người trong nước lập đại tướng là Phạm Sư Man (范師蔓) lên. Khi Sư Man bệnh, con của chị là Chiên (旃) đương mộ binh, bèn giết con của Sư Man là Kim Sinh (金生) rồi tự lập, trị vì hơn 10 năm. Con út của Sư Man là Trường (長) tập kích giết chết Chiên, dùng dao rạch bụng Chiên và nói: 'Ngươi xưa giết anh ta, nay ta vì cha anh mà báo thù ngươi!'. Đại tướng của Chiên là Phạm Tầm (范尋) lại giết Trường, người trong nước lập lên làm vua, ấy là vào thời Ngô và Tấn." Theo Lương thư - Phù Nam truyện (梁書·扶南傳): "Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh lớn phía Tây biển, cách Nhật Nam khoảng 7.000 dặm, cách Lâm Ấp về phía Tây Nam hơn 3.000 dặm. Thành cách biển 500 dặm, có con sông lớn rộng 10 dặm, chảy từ Tây Bắc về phía Đông vào biển. Đất nước vuông vức hơn 3.000 dặm. Đất đai thấp trũng mà bằng phẳng rộng lớn, khí hậu phong tục đại khái giống Lâm Ấp. Sản vật có vàng, bạc, đồng, thiếc, trầm hương, ngà voi, chim khổng tước, vẹt 5 màu. Cương giới phía Nam hơn 3.000 dặm có nước Đốn Tốn (頓遜國), nằm trên một dải đất nhô ra biển, đất rộng 1.000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, đều thuộc quyền cai quản của Phù Nam. Phía Đông của Đốn Tốn thông với Giao Châu (交州), phía Tây tiếp giáp với các nước ngoài biên ải như Thiên Trúc (天竺), An Tức (安息), đi lại giao thương. Sở dĩ như vậy vì Đốn Tốn vươn ra biển hơn 1.000 dặm, biển rộng không bờ bến, thuyền bè chưa từng đi qua hết được. Chợ ở đó là nơi giao hội Đông Tây, mỗi ngày có hơn 10.000 người, trân bảo vật lạ không gì không có. Lại có cây rượu, giống như cây lựu, hái nước hoa của nó để trong vò, vài ngày thành rượu. Bên ngoài Đốn Tốn, giữa các cù lao biển lớn, lại có nước Tỳ Kiển (毗騫國), cách Phù Nam 8.000 dặm. Truyền rằng vua nước đó thân cao 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét), đầu dài 3 thước (khoảng 75 cm), từ xưa đến nay không chết, không ai biết bao nhiêu tuổi. Vua là bậc thần thánh, mọi việc thiện ác và tương lai của người trong nước vua đều biết rõ, nên không ai dám lừa dối. Phương Nam gọi là Trường Cảnh Vương (長頸王 - Vua Cổ Dài). Phong tục nước đó có nhà cửa quần áo, ăn gạo tẻ. Ngôn ngữ hơi khác Phù Nam. Có núi sản sinh ra vàng, vàng lộ ra trên đá, không có hạn định. Luật pháp nước đó hình phạt người có tội là đem ăn thịt ngay trước mặt vua. Trong nước không tiếp nhận thương nhân, ai đến cũng bị giết ăn thịt, nên lái buôn không dám tới. Vua thường ở trên lầu, không ăn huyết nhục, không thờ quỷ thần. Con cháu vua sinh tử như người thường, chỉ riêng vua là không chết. Vua Phù Nam thường sai sứ trao đổi thư từ. Thường tặng vua Phù Nam 50 người bằng vàng ròng, đồ đựng thức ăn hình như cái mâm tròn. Lại có loại bình gốm tên là Đa La (多羅), chứa được 5 thăng (khoảng 1 lít), và loại như cái bát chứa được 1 thăng. Vua cũng có thể viết chữ Thiên Trúc, khoảng 3.000 lời, nói về nhân quả tiền kiếp, giống với kinh Phật, đều bàn về việc thiện. Lại truyền rằng phía Đông Phù Nam là biển Đại Trướng (大漲海), trong biển có cù lao lớn, trên đó có nước Chư Bạc (諸薄國), phía Đông nước đó có 5 cù lao tên là Mã (馬五洲). Lại đi về phía Đông qua biển Trướng hơn 1.000 dặm đến một cù lao tự nhiên. Trên đó có cây sinh trong lửa. Người ở gần cù lao đó lột vỏ cây, dệt làm vải, được vài thước dùng làm khăn tay, không khác gì vải gai nhưng màu hơi xanh đen. Nếu bẩn thì ném vào lửa, sẽ lại sạch sẽ tinh tươm. Hoặc dùng làm tim đèn, dùng mãi không hết. Phong tục Phù Nam vốn ở trần, xăm mình, xõa tóc, không may quần áo. Lấy đàn bà làm vua, hiệu là Liễu Diệp, trẻ tuổi khỏe mạnh, giống như nam giới. Phía Nam có nước Kiểu (弼國), có người thờ quỷ thần tên là Hỗn Điền, mộng thấy thần ban cho cung, bèn theo thuyền buôn ra biển. Hỗn Điền sáng dậy đến miếu, dưới gốc cây thần được cung, theo mộng đi thuyền vào ấp ngoài của Phù Nam. Liễu Diệp thấy thuyền đến muốn đánh chiếm. Hỗn Điền giương cung bắn xuyên thuyền, tên trúng vào người hầu. Liễu Diệp đại hãi, dẫn chúng hàng Hỗn Điền. Hỗn Điền dạy Liễu Diệp xỏ vải vào đầu để che thân. Rồi cai trị nước, lấy Liễu Diệp làm vợ, sinh con, chia cho cai quản 7 ấp. Về sau vua Hỗn Bàn Huống (混盤況) dùng mưu kế khiến các ấp nghi kỵ lẫn nhau, rồi đem quân đánh chiếm thôn tính. Bèn sai con cháu chia nhau cai trị các ấp, gọi là Tiểu Vương. Bàn Huống hơn 90 tuổi thì chết, lập con thứ là Bàn Bàn (盤盤), đem việc nước phó thác cho đại tướng Phạm Man (范蔓). Bàn Bàn làm vua 3 năm thì chết, người trong nước cùng cử Phạm Man làm vua. Phạm Man dũng cảm có mưu lược, lại dùng uy binh đánh dẹp, các nước lân bang đều thần phục, tự xưng là Phù Nam Đại Vương. Bèn cho đóng tàu lớn, đi khắp biển Trướng, đánh các nước Khuất Đô Côn (屈都昆), Cửu Tr稚 (九稚), Điển Tôn (典孫)... hơn 10 nước, mở mang đất đai 5.000-6.000 dặm. Đến lúc định đánh nước Kim Lân (金鄰國) thì Phạm Man mắc bệnh, sai Thái tử là Kim Sinh đi thay. Cháu gọi bằng cậu của Man là Chiên khi ấy đang chỉ huy 2.000 người, nhân đó cướp ngôi tự lập, sai người lừa giết Kim Sinh. Khi Man chết, có người con đang bú tên là Trường, sống trong dân gian, đến năm 20 tuổi bèn kết tập tráng sĩ trong nước tập kích giết chết Chiên. Đại tướng của Chiên là Phạm Tầm lại giết Trường mà tự lập. Phạm Tầm tu sửa trong nước, dựng lầu đài vui chơi, sáng trưa chiều 3-4 lần tiếp khách. Dân dùng mía, rùa, chim làm lễ vật. Luật nước không có nhà tù, người có tội phải trai giới 3 ngày, rồi nung rìu thật đỏ, bắt người thưa kiện cầm đi 7 bước. Lại lấy vòng vàng, trứng gà ném vào vạc nước sôi, bắt lấy ra; nếu không có tội thì tay không bị bỏng, nếu có tội thì tay nát cháy. Lại nuôi cá sấu trong hào thành, nuôi thú dữ ngoài cửa, người có tội thì đem cho thú dữ và cá sấu ăn, nếu thú không ăn thì coi như không tội, sau 3 ngày thì thả ra. Cá sấu lớn dài hơn 2 trượng (khoảng 5-6 mét), hình dạng giống con đà (con lửng/cá sấu nhỏ), có 4 chân, mõm dài 6-7 thước (khoảng 1.5 mét), hai bên có răng sắc như đao kiếm, thường ăn cá, gặp hươu nai và người cũng ăn thịt. Từ phía Nam quận Thương Ngô (蒼梧) và các nước ngoài đều có. Thời Ngô (吳), vua sai Trung lang Khương Thái (康泰), Tuyên hóa thông sự Chu Ứng (朱應) đi sứ đến nước của Tầm. Người trong nước vẫn ở trần, duy phụ nữ mặc áo xỏ đầu. Khương Thái và Chu Ứng bảo rằng: 'Nước này thật tốt, chỉ có việc để người trần truồng là lạ lùng quá'. Phạm Tầm mới lệnh cho đàn ông trong nước mặc vải ngang. Vải ngang nay là Can Man (干縵). Nhà giàu thì cắt gấm mà làm, người nghèo thì dùng vải. Năm Thái Khang (太康) đời Tấn Vũ Đế (khoảng năm 280-289 dương lịch), Phạm Tầm bắt đầu sai sứ đến cống nạp." *Trích dẫn từ Thủy Kinh Chú (水經注) *Thủy Kinh Chú dẫn lời Trúc Chi (竺芝) trong sách Phù Nam ký (扶南記) rằng: "Phù Nam cách Lâm Ấp 4.000 dặm đường thủy bộ, thông với huyện Đàn Hòa (檀和). Quân đội tiến vào cửa vịnh của ấp, đóng ở thành Thuyền Quan Khẩu (船官口) cách 6 dặm. Từ Thuyền Quan đổ xuống hồ phía Đông của đại vịnh, nước lớn chảy liền nhau, trên hồ chảy về phía Tây, thủy triều ngày đêm dâng cao 7-8 thước (khoảng 2 mét). Từ đây về phía Tây, ngày Sóc và ngày Vọng (mồng 1 và rằm) thủy triều cùng dâng. Một lần dâng kéo dài 7 ngày, nước cao 1 trượng 6 thước (khoảng 4 mét). Sau 7 lần 7 là 49 ngày, ngày đêm chia làm hai lần triều dâng, nước cao 1-2 thước. Xuân hạ thu đông, mức nước cố định rõ ràng, cao thấp có chừng mực, không dư không thiếu, ấy gọi là Hải Vận (海運), cũng gọi là Tượng Thủy (象水). Lại kiêm cả tên gọi Tượng Phố (象浦). Sách Tấn công thần biểu gọi là 'vàng chọn lối trong, bãi Tượng sạch nguồn' là vậy. Ở các sông ngòi bãi bồi đó có loài sâu nước rất nhỏ, đục gỗ ăn thuyền, vài mươi ngày là thuyền hỏng. Nơi vực sâu nước lặng có loài cá tươi, màu đen, thân dài 5 trượng (khoảng 12 mét), đầu như đầu ngựa, rình người xuống nước là đến gây hại." *Thời Mục Đế (穆帝) Năm Thăng Bình (升平) thứ 1 (năm 357 dương lịch), tháng Giêng, Phù Nam dâng voi thuần.* Theo Tấn thư - Mục Đế bản kỷ (晉書·穆帝本紀) có chép sự việc này. Theo Phù Nam bản truyện (扶南本傳): "Đầu năm Thăng Bình thời Mục Đế, lại có Trúc Chiên Đàn (竺旃檀) xưng vương, sai sứ dâng voi thuần. Hoàng đế cho rằng thú lạ từ phương xa sợ sẽ gây họa cho người, bèn ra chiếu trả lại." Theo Lương thư - Phù Nam truyện (梁書·扶南傳): "Năm Thăng Bình thứ 1 (năm 357 dương lịch), vua Trúc Chiên Đàn dâng biểu dâng voi thuần. Chiếu viết: 'Vật này tốn kém không ít sức lực, hạ lệnh dừng lại không cần gửi đến'. Sau đó vua là Kiều Trần Như (憍陳如), vốn là người Bà-la-môn ở Thiên Trúc (天竺), có thần nhân bảo rằng: 'Ngươi nên làm vua Phù Nam'. Kiều Trần Như trong lòng vui mừng, đi về phía Nam đến nước Bàn Bàn (盤盤). Người Phù Nam nghe tin, cả nước mừng rỡ đón về lập làm vua. Ông thay đổi chế độ, dùng luật pháp Thiên Trúc." === Đời Lưu Tống (劉宋) - Thời Văn Đế (文帝)=== *Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 11 (năm 434 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ (宋書·文帝本紀) có chép. Theo Phù Nam bản truyện: "Năm Nguyên Gia thứ 11 đời Thái Tổ (太祖), quốc vương là Trì Lê Bạt Ma (持黎跋摩) sai sứ dâng lễ." *Mùa thu tháng 7 năm Nguyên Gia thứ 12 (năm 435 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. *Năm Nguyên Gia thứ 15 (năm 438 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. (Các việc trên đều chép trong Tống thư - Văn Đế bản kỷ). === Đời Nam Tề (南齊) - Thời Vũ Đế (武帝)=== *Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 2 (năm 484 dương lịch), vua Phù Nam sai sứ nhập cống. Theo Nam Tề thư - Vũ Đế bản kỷ (南齊書·武帝本紀) không chép, nhưng theo Phù Nam bản truyện: "Nước Phù Nam từ đời Tấn, Tống vẫn thông sứ cống nạp. Cuối đời Tống, vua Phù Nam họ Kiều Trần Như (僑陳如), tên là Xà Da Bạt Ma (闍邪跋摩), gửi hàng hóa đến Quảng Châu (廣州). Đạo nhân Thiên Trúc là Na Già Tiên (那伽仙) xin đi nhờ thuyền về nước, gặp gió dạt đến Lâm Ấp (林邑), bị cướp sạch tài vật. Na Già Tiên đi đường tắt đến được Phù Nam, kể tường tận rằng ở Trung Hoa có thánh chủ thụ mệnh trời. Năm Vĩnh Minh thứ 2 (năm 484 dương lịch), Xà Da Bạt Ma sai đạo nhân Thiên Trúc là Thích Na Già Tiên (釋那伽仙) dâng biểu, xưng là bề tôi Kiều Trần Như Xà Da Bạt Ma, khấu đầu thưa rằng: 'Ơn trời nuôi dưỡng cảm động đến linh thần, bốn mùa điều hòa, nguyện Thánh chủ khỏe mạnh, Hoàng thái tử vạn phúc, lục cung thanh nhàn, các vương phi, triều thần hòa mục, muôn nước quy tâm, ngũ cốc trúng mùa, tai ương không sinh... Bề tôi trước có sai sứ mang tạp vật đến Quảng Châu giao dịch, gặp đạo nhân Thích Na Già Tiên tại đó, ông ấy theo thuyền tôi muốn về Phù Nam, nhưng bị gió dạt vào Lâm Ấp và bị vua nước đó cướp sạch. Na Già Tiên kể về đức trị của Bệ hạ, Phật pháp hưng thịnh, chúng tăng đông đúc... nghe qua như cảnh cõi tiên. Nay sai sứ mang lễ mọn bày tỏ lòng thành, cúi xin Thiên từ thấu hiểu'. Vua Phù Nam lại trình: 'Tôi có tên nô lệ là Câu Thù La (鳩酬羅) bỏ trốn, cấu kết hung nghịch, phá nước Lâm Ấp rồi tự lập làm vua, bội nghĩa phản chủ... Lâm Ấp xưa bị quân Đàn Hòa (檀和) phá, nay Câu Thù La lại chuyên quyền hung ác. Lâm Ấp và Phù Nam giáp ranh, kẻ phản nghịch ngay cạnh, cúi xin Bệ hạ sai quân đánh dẹp, tôi xin tự mình hiệp lực cắt bỏ mầm họa, khiến các nước ven biển quy phục. Nếu Bệ hạ muốn lập người khác làm vua nước ấy, tôi xin nghe theo sắc chỉ. Nếu chưa muốn hưng binh đại quy mô, xin ban sắc lệnh cho quân địa phương trợ giúp tôi ít quân để diệt tặc'. Biểu dâng kèm theo tượng Long Vương bằng vàng, tượng gỗ đàn trắng, 2 tháp ngà voi, 2 đôi vải cổ bối, 2 chiếc bình lưu ly, 1 khay đồi mồi đựng trầu cau. Na Già Tiên đến kinh sư, kể rằng tục nước ấy thờ thần Ma Hê Thủ La (摩䤈首羅天神 - Shiva). Thần thường giáng xuống núi Ma Đam (摩耽山). Khí đất luôn ấm, cây cỏ không rụng lá. Lời sớ viết rằng: 'Cát tường lợi thế gian... Núi tiên tên Ma Đam, cây lành tươi tốt, thần Ma Hê Thủ La dựa vào đó giáng linh, vua dân đều được an ninh...' Chiếu đáp rằng: 'Biết chuyện thần Ma Hê giáng linh tại đất đó, dù phong tục khác biệt nhưng trẫm rất khen ngợi. Chuyện Câu Thù La phản nghịch chiếm Lâm Ấp, đúng là nên đánh dẹp. Nhưng vì mới sang triều đại mới, trẫm muốn dùng văn đức thu phục người xa, chưa muốn dùng can qua ngay. Nay lệnh cho bộ phận tại Giao Châu (交部) tùy nghi ứng tiếp'. Ban thưởng lại cho sứ giả các loại lụa là, gấm vóc màu tía, vàng, xanh. Người Phù Nam khôn ngoan, khéo tay, thường đánh các ấp lân cận không phục tùng để bắt làm nô tì, đổi lấy vàng bạc lụa là. Đàn ông nhà giàu cắt gấm làm vải ngang, phụ nữ làm áo Tân Đầu (賓頭). Người nghèo lấy vải che thân. Họ biết rèn vàng làm vòng, làm đồ ăn bằng bạc. Chặt cây dựng nhà, vua ở lầu cao, dùng gỗ làm thành. Ven biển có lá nhược lớn dài 8-9 thước (khoảng 2.5 mét), tết lá lợp nhà. Người dân cũng ở nhà sàn (nhà lầu). Thuyền dài 8-9 trượng (khoảng 25-30 mét), rộng 6-7 thước (khoảng 2 mét), đầu đuôi giống hình cá. Vua đi cưỡi voi, phụ nữ cũng biết cưỡi voi. Thích đá gà, chọi lợn làm vui. Không có nhà tù. Kẻ có tranh tụng thì bỏ nhẫn vàng hoặc trứng gà vào nước sôi bắt lấy ra. Hoặc nung xích sắt thật đỏ, bắt cầm đi 7 bước; kẻ có tội thì tay cháy nát, kẻ vô tội thì không sao. Hoặc bắt lặn xuống nước, người ngay thì không chìm, kẻ gian thì chìm ngay. Sản vật có mía, lựu, cam quýt và rất nhiều trầu cau. Chim thú giống như Trung Hoa. Tính người hiền lành, không thạo chiến đấu, thường bị người Lâm Ấp xâm kích. Vì không được thông thương với Giao Châu thường xuyên nên sứ giả hiếm khi đến được." === Đời Lương (梁) - Thời Vũ Đế (武帝)=== *Năm Thiên Giám (天監) thứ 2 (năm 503 dương lịch), Phù Nam sai sứ nhập cống, chiếu phong làm An Nam tướng quân, Phù Nam vương. Theo Lương thư - Vũ Đế bản kỷ (梁書·武帝本紀): Tháng 7 năm Thiên Giám thứ 2 (năm 503 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Sau khi Kiều Trần Như (憍陳如) chết, vua là Trì Lê Đà Bạt Ma (持黎陁跋摩) đã từng dâng biểu hiến phương vật vào thời Tống Văn Đế. Trong niên hiệu Vĩnh Minh thời Tề, vua Xà Da Bạt Ma (闍邪跋摩) sai sứ cống nạp. Năm Thiên Giám thứ 2 (năm 503 dương lịch), Bạt Ma lại sai sứ tặng tượng Phật bằng san hô và dâng phương vật. Chiếu viết: "Vua Phù Nam là Kiều Trần Như Xà Da Bạt Ma ở tận ngoài biển, đời đời giữ phương Nam, lòng thành thấu đến phương xa, trải qua nhiều lần dịch thuật để đến dâng bảo vật, nên được thu nhận và ban cho danh hiệu vinh hiển, khả phong làm An Nam tướng quân (安南將軍), Phù Nam vương (扶南王)." Nay người nước ấy hình dáng xấu xí, da đen, tóc xoăn. Nơi ở không đào giếng, vài mươi nhà dùng chung một cái ao để dẫn nước uống. Tục thờ Thiên thần, tượng Thiên thần đúc bằng đồng, loại 2 mặt thì có 4 tay, loại 4 mặt thì có 8 tay, mỗi tay cầm một vật, hoặc là đứa trẻ, hoặc là chim thú, hoặc là mặt trời mặt trăng. Vua ra vào cưỡi voi, cung tần hầu cận cũng vậy. Khi vua ngồi thì ngồi nghiêng co đầu gối (bán già), gập đầu gối trái chạm đất, trải vải trắng phía trước, đặt chậu vàng và lư hương lên trên. Phong tục nước này, khi có tang thì cạo sạch râu tóc. Người chết có 4 cách táng: Thủy táng thì ném xuống dòng sông; Hỏa táng thì đốt thành tro bụi; Thổ táng thì chôn cất dưới đất; Điểu táng thì bỏ mặc giữa đồng hoang. Tính người tham lam, không có lễ nghĩa, nam nữ tự ý đi theo nhau. *Năm Thiên Giám thứ 10 (năm 511 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ cống nạp. (Theo Lương thư - Vũ Đế bản kỷ không chép, theo Phù Nam bản truyện có chép). *Tháng 8 năm Thiên Giám thứ 13 (năm 514 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 13 (năm 514 dương lịch), Bạt Ma sai sứ cống nạp, cùng năm đó thì chết. Con thứ là Lưu Đà Bạt Ma (留陁跋摩) giết chết em đích để tự lập làm vua. *Tháng 8 năm Thiên Giám thứ 16 (năm 517 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 16 (năm 517 dương lịch), sai sứ là Trúc Đương Bão Lão (竺當抱老) dâng biểu cống nạp. *Mùa thu tháng 7 năm Thiên Giám thứ 18 (năm 519 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 18 (năm 519 dương lịch), lại sai sứ tặng tượng Thụy bằng gỗ đàn hương của Thiên Trúc, lá cây Bà-la (lá bối), cùng dâng hạt hỏa tề (thủy tinh đỏ), hương uất kim, tô hợp... *Tháng Giêng năm Phổ Thông (普通) thứ 1 (năm 520 dương lịch), tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), tháng 7 năm Đại Đồng (大同) thứ 1 (năm 535 dương lịch), nước Phù Nam đều sai sứ dâng phương vật. *Tháng 8 năm Đại Đồng thứ 5 (năm 539 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng tê giác sống và phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 5 (năm 539 dương lịch) lại sai sứ dâng tê giác sống. Lại nói trong nước có tóc Phật dài 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét). Chiếu sai sa môn Thích Vân Bảo (釋雲寶) đi theo sứ giả đến nghênh đón. Trước đó, vào tháng 8 năm thứ 3 (năm 537 dương lịch), Cao Tổ (Lương Vũ Đế) cho cải tạo tháp chùa A Dục Vương (阿育王寺), lấy được từ dưới tháp cũ xá lợi cùng móng và tóc Phật. Tóc màu xanh tím, các tăng dùng tay kéo ra thì dài ngắn tùy ý, buông tay ra thì xoắn lại thành hình vỏ ốc. Theo kinh Tăng Già, tóc Phật xanh và mảnh như sợi tơ sen. Theo kinh Phật Tam Muội, xưa Phật ở trong cung gội đầu, đo tóc dài 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét), buông ra thì xoáy về bên phải thành hình vỏ ốc. Điều này khớp với vật mà Cao Tổ tìm được. A Dục Vương tức là Thiết Luân Vương, cai trị cõi Diêm Phù Đề. Sau khi Phật diệt độ, trong 1 ngày 1 đêm đã sai khiến quỷ thần xây 84.000 ngôi tháp, đây là một trong số đó. Thời Ngô (吳) có ni cô dựng tịnh xá nhỏ tại đó, sau bị Tôn Lâm (孫綝) hủy hoại, tháp cũng mất dấu. Sau khi dẹp nhà Ngô, các đạo nhân dựng lại trên nền cũ. Thời Tấn Trung Tông (Tấn Nguyên Đế) mới sang sông đã tu sửa lại. Đến đời Giản Văn Đế niên hiệu Hàm An (咸安), sai sa môn An pháp sư (安法師) xây tháp nhỏ, chưa xong thì mất, đệ tử là Tăng Hiển (僧顯) tiếp tục hoàn thành. Đến năm Thái Nguyên thứ 9 (năm 384 dương lịch) đời Hiếu Vũ Đế, mới đặt thêm tướng luân bằng vàng và mâm hứng sương. Sau đó, ở huyện Ly Thạch vùng Tây Hà có người Hồ tên là Lưu Tát Hà (劉薩何) mắc bệnh đột tử, nhưng dưới tim còn ấm, nhà không dám khâm liệm, qua 10 ngày thì sống lại, kể rằng: "Có 2 viên quan dẫn đi về phía Tây Bắc, đến 18 tầng địa hạt, chịu đủ cực hình tùy tội nặng nhẹ. Gặp Quán Thế Âm bảo rằng: 'Duyên của ngươi chưa tận, nếu sống lại hãy làm sa môn. Tại Lạc Hạ, Tề Thành, Đan Dương, Hội Kê đều có tháp A Dục Vương, hãy đến lễ bái thì khi chết không đọa địa ngục'. Nói xong như rơi xuống vực cao, giật mình tỉnh dậy". Từ đó xuất gia, tên là Huệ Đạt (慧達). Ông đi lễ các tháp, đến Đan Dương chưa biết tháp ở đâu, bèn lên Việt Thành nhìn bốn phương, thấy khí sắc lạ thường, tìm đến lễ bái, quả nhiên là nơi tháp A Dục Vương, thường phát hào quang. Biết chắc có xá lợi, bèn họp dân đào lên sâu 1 trượng (khoảng 2.5 mét), được 3 bia đá dài 6 thước (khoảng 1.5 mét). Bia giữa có hòm sắt, trong hòm sắt có hòm bạc, trong hòm bạc có hòm vàng đựng 3 viên xá lợi cùng 1 móng tay và tóc. Tóc dài vài thước. Bèn dời xá lợi về phía Bắc, xây tháp 1 tầng. Năm thứ 16 đời Thái Nguyên (năm 391 dương lịch), sai sa môn Tăng Thượng Già (僧尚伽) xây thành 3 tầng, chính là tháp mà Cao Tổ đã mở ra. Lúc đầu đào đất sâu 4 thước thấy hang rồng cùng vàng bạc vòng xuyến mà người xưa cúng dường, sâu chừng 9 thước thì tới bệ đá. Dưới bệ có hòm đá, trong hòm có hũ sắt chứa hũ bạc, trong hũ bạc có bình vàng chạm trổ đựng 3 viên xá lợi to như hạt kê, tròn trịa sáng sạch. Trong hòm còn có bát lưu ly đựng 4 viên xá lợi cùng tóc và móng tay, móng tay có 4 chiếc đều màu trầm hương. Đến ngày 27 tháng đó, Cao Tổ đến chùa lễ bái, lập đại hội Vô Ngại, đại xá thiên hạ. Ngày hôm đó lấy bát vàng đựng nước thả xá lợi vào, viên nhỏ nhất ẩn dưới đáy bát không ra. Cao Tổ lễ vài chục bái, xá lợi mới phát quang trong bát, xoay tròn hồi lâu rồi dừng lại giữa bát. Cao Tổ hỏi Đại tăng chính Huệ Niệm (慧念): "Hôm nay có thấy việc bất khả tư nghị chăng?". Huệ Niệm đáp: "Pháp thân thường trụ, lặng lẽ không động". Cao Tổ nói: "Đệ tử muốn thỉnh 1 viên xá lợi về cung phụng thờ". Đến ngày mồng 5 tháng 9 lại lập đại hội Vô Ngại, sai Hoàng thái tử và vương hầu đón rước. Hôm đó phong cảnh sáng sủa, kinh sư có tới hơn 1.000.000 người đi xem. Các đồ cúng bằng vàng bạc đều để lại chùa, ban thêm 10.000.000 tiền làm vốn cho chùa. Đến ngày 15 tháng 9 năm thứ 4 (năm 538 dương lịch), Cao Tổ lại đến chùa lập đại hội, dựng 2 sát trụ, mỗi bên dùng bình vàng đặt trong bình ngọc, đựng xá lợi cùng tóc móng vào trong tháp thất bảo. Lại dùng hòm đá đựng tháp bảo đặt dưới 2 sát trụ, vàng bạc vòng xuyến do vương hầu phi tần và nhà giàu cúng dường chất đầy bên trong. Ngày mồng 2 tháng 11 năm thứ 11 (năm 545 dương lịch), tăng chúng mời Cao Tổ giảng đề kinh Bát Nhã tại chùa, tối đó 2 tháp đều phát hào quang. Sắc lệnh cho Trấn đông tướng quân Thiệu Lăng vương Luân (邵陵王綸) soạn văn bia công đức lớn của chùa. Trước đó vào năm thứ 2 (năm 536 dương lịch), cũng cải tạo tháp huyện Mậu vùng Hội Kê, mở tháp cũ lấy xá lợi, sai 4 vị tăng chùa Quang Trạch là Thích Kính Thoát (釋敬脫)... cùng xá nhân Tôn Chiếu (孫照) rước về cung. Cao Tổ lễ bái xong liền gửi trả lại huyện đặt vào tháp mới. Tháp huyện này cũng do Lưu Tát Hà tìm ra. Niên hiệu Hàm Hòa (咸和) thời Tấn, quan doãn Đan Dương là Cao Khôi (高悝) đi đến cầu Trương Hầu thấy dưới bến có hào quang 5 màu dài vài thước, bèn cho người đào xem, được tượng vàng chưa có đài sen phát quang (quang phu). Khôi chở tượng về đến đầu ngõ Trường Can thì trâu không chịu đi tiếp, Khôi để mặc trâu muốn đi đâu thì đi, trâu kéo xe thẳng vào chùa. Khôi để tượng lại chùa. Mỗi đêm tượng thường phát quang, không trung nghe tiếng chuông khánh. Qua 1 năm, người đánh cá là Trương Hệ Thế (張係世) ở cửa biển thấy đài sen bằng đồng nổi lên, bèn đem nộp cho huyện, huyện dâng về triều, đem lắp vào chân tượng thì vừa khít. Năm Hàm An thứ 1 thời Giản Văn Đế (năm 371 dương lịch), người huyện Hợp Phố thuộc Giao Châu là Đổng Tông Chi (董宗之) lặn xuống biển tìm ngọc được hào quang bằng đồng (phần hào quang phía sau tượng), Giao Châu áp tống về kinh, lắp vào tượng cũng vừa khít. Từ lúc Cao Khôi được tượng (khoảng năm 326-334 dương lịch) đến lúc đủ bộ hào quang, đài sen (năm 371 dương lịch) mất hơn 30 năm. Lúc đầu khi Cao Khôi mới được tượng, có 5 vị tăng Hồ từ Tây Vực đến bảo: "Xưa ở Thiên Trúc có tượng do vua A Dục đúc, mang đến vùng Nghiệp Hạ gặp lúc loạn lạc phải chôn bên sông, nay tìm không thấy". 5 người cùng mộng thấy tượng bảo đã sang Giang Đông và về tay Cao Khôi. Họ đến chùa thấy tượng thì khóc lóc thảm thiết, tượng bèn phát quang sáng rực điện thờ. Lại có Huệ Thúy (慧邃) ở chùa Ngõa Quan muốn đúc mẫu theo tượng này, chủ chùa là Tăng Thượng (僧尚) sợ hỏng lớp vàng nên bảo: "Nếu khiến tượng phát quang và quay mặt về hướng Tây thì mới cho phép". Huệ Thúy khấn vái thành tâm, đêm đó tượng xoay ngồi về hướng Tây phát hào quang, sáng hôm sau bèn được cho phép đúc mẫu. Dưới đài sen có chữ nước ngoài không ai biết, sau có Tam tạng Na Cầu Bạt Ma (郍求跋摩) nhận ra, nói là tượng vua A Dục đúc cho con gái thứ 4. Đến niên hiệu Đại Đồng, khi lấy xá lợi tháp cũ, chiếu mua thêm đất của hàng trăm hộ dân quanh chùa để mở rộng, xây điện đường và hành lang quanh tượng Thụy vô cùng lộng lẫy. Các bức họa về kinh biến đều do nghệ nhân người Ngô là Trương Do (張繇) vẽ, tài hội họa của Do đứng đầu một thời. === Đời Đường (唐) - Thời Cao Tổ (高祖)=== *Năm Vũ Đức (武德) [618-626 dương lịch], Phù Nam sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Cao Tổ bản kỷ (唐書·高祖本紀) không chép. Theo Phù Nam bản truyện: "Phù Nam (扶南) ở phía Nam Nhật Nam (日南) 7.000 dặm, đất đai thấp trũng, phong tục giống với Hoàn Vương (環王), có thành quách cung thất. Vua họ Cổ Long (古龍), ở lầu cao, thành bằng gỗ, lợp nhà bằng lá nhược. Vua ra ngoài cưỡi voi. Người dân da đen, tóc xoăn, đi mình trần, tục không có trộm cướp. Ruộng 1 năm gieo trồng, 3 năm thu hoạch. Nước ấy sản sinh ra 'cương kim' (vàng cứng), hình dạng giống như thạch anh tím, sinh ra từ đá dưới đáy nước. Người dân lặn xuống nước lấy nó, có thể dùng để chạm khắc ngọc, nhưng gõ bằng sừng dê đực (hắc dương) thì tan ra. Dân thích chọi gà và chọi lợn, lấy vàng, ngọc trai, hương liệu làm thuế. Trị sở tại thành Đặc Mục (特牧城), chẳng bao lâu bị Chân Lạp (真臘) thôn tính, bèn dời đô về phía Nam tới thành Na Phất Na (那弗那城). Thời Vũ Đức (武德) [618-626 dương lịch] và Trinh Quán (貞觀) [627-649 dương lịch] lại sang triều cống. Lại dâng 2 người 'Bạch Đầu' (người đầu trắng), người Bạch Đầu vốn là người ở phía Tây Phù Nam, toàn bộ đầu đều trắng, da dẻ mịn màng như mỡ. Họ sống trong hang núi, 4 phía vách đá dựng đứng, người thường không đến được. Đất này tiếp giáp với nước Tham Bán (參半國)." == Qua Oa bộ vị khảo (爪哇部彙考) phần 1 (Xà Bà 闍婆 - Ha Lăng 訶陵 - Phủ Gia Long 莆家龍) == === Đời Lưu Tống (劉宋) - Thời Văn Đế (文帝)=== *Tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), nước Xà Bà (闍婆國) sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ (宋書·文帝本紀) có chép sự việc này. *Mùa thu tháng 7 năm Nguyên Gia thứ 12 (năm 435 dương lịch), nước Xà Bà sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ có chép sự việc này. === Đời Đường (唐) - Thời Thái Tông (太宗)=== *Năm Trinh Quán (貞觀) [627-649 dương lịch], nước Ha Lăng (訶陵國) sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Thái Tông bản kỷ (唐書·太宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng bản truyện: "Ha Lăng (訶陵) cũng gọi là Đỗ Bà (杜婆), gọi là Xà Bà (闍婆). Ở trong biển Nam, phía Đông giáp Bà Lợi (婆利), phía Tây giáp Bà Đăng (婆登), phía Nam sát biển, phía Bắc giáp Chân Lạp (真臘). Lấy gỗ làm thành, dù nhà lớn cũng lợp bằng lá tùng (mây rừng), dùng ngà voi làm giường hoặc chiếu. Sản vật có đồi mồi, vàng, bạc, tê giác, voi. Nước ấy rất giàu, có hang tự phun ra muối. Lấy hoa liễu, dừa làm rượu, uống vào là say ngay. Từ xưa đã có chữ viết, biết xem tinh tượng lịch pháp. Khi ăn không dùng thìa đũa. Có loại sâu độc, phụ nữ tiếp xúc với nó liền bị lở loét khổ sở, người chết xác không thối rữa. Vua cư trú tại thành Xà Bà (闍婆城), tổ tiên là Cát Diên (吉延) dời đô về phía Đông tới Bà Lộ Già Tư (婆露伽斯). Cạnh thành có 28 tiểu quốc, không nước nào không thần phục. Quan lại có 32 vị đại phu, trong đó chức 'Đại Tọa' (大坐) và 'Cảm Huynh' (敢兄) là tôn quý nhất. Trên núi có châu Lang Ti Bình Dã (郎卑野州), vua thường lên đó để trông ra biển. Vào ngày Hạ chí dựng cây cột cao 8 thước (khoảng 2 mét), bóng cột đổ về phía Nam 2 thước 4 thốn (khoảng 60 cm). Thời Trinh Quán (貞觀), nước này cùng nước Đoạ Hòa La (墮和羅), Đoạ Bà Đăng (墮婆登) đều sai sứ giả nhập cống. Thái Tông ban chiếu thư và ấn tỉ ưu ái khen ngợi. Đoạ Hòa La cầu xin ngựa tốt, hoàng đế bèn ban cho." === Đời Đường (唐) - Thời Đại Tông (代宗)=== *Năm Đại Lịch (大曆) [766-779 dương lịch], Ha Lăng sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Đại Tông bản kỷ (唐書·代宗 bản kỷ) không chép. Theo Ha Lăng truyền: "Khoảng niên hiệu Thượng Nguyên (上元) [760-761 dương lịch], người trong nước suy tôn một người đàn bà lên làm vua, hiệu là Tất Ma (悉莫). Uy lệnh nghiêm túc, của rơi ngoài đường không ai nhặt. Vua của Đại Thực (大食 - Ả Rập) nghe danh, bèn sai mang 1 túi vàng đặt ở ngoài ngoại ô nước ấy, người đi đường đều tránh đi, suốt 3 năm như vậy. Một lần Thái tử đi ngang qua, lấy chân giẫm lên túi vàng. Tất Ma nổi giận, định chém đầu Thái tử. Quần thần khẩn thiết van xin, Tất Ma nói: 'Tội của ngươi thực chất bắt nguồn từ bàn chân, vậy phải chặt ngón chân'. Quần thần lại van xin, bà bèn cho chặt ngón chân cái để răn đe. Người Đại Thực nghe tin ấy thì sợ hãi, không dám động binh. Thời Đại Lịch (大曆) [766-779 dương lịch], sứ giả Ha Lăng đến 3 lần." === Đời Đường (唐) - Thời Hiến Tông (憲宗)=== *Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 8 (năm 813 dương lịch), Ha Lăng sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Hiến Tông bản kỷ (唐書·憲宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng truyền: "Năm Nguyên Hòa thứ 8 (năm 813 dương lịch), dâng 4 nô lệ Tăng Kỳ (僧祗奴), vẹt 5 màu, chim Tần Già (頻伽鳥). Hiến Tông phong cho sứ giả chức Tả Quả Nghị thuộc phủ Nội Tứ Môn. Sứ giả nhường chức đó cho em trai, hoàng đế khen ngợi đức độ, bèn phong quan cho cả hai. Đến niên hiệu Thái Hòa (太和) [827-835 dương lịch] lại sang triều cống." === Đời Đường (唐) - Thời Ý Tông (懿宗)=== *Năm Hàm Thông (咸通) [860-874 dương lịch], Ha Lăng sai sứ dâng nữ nhạc. Theo Đường thư - Ý Tông bản kỷ (唐書·懿宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng bản truyện có chép sự việc này. === Đời Nguyên (元) - Thời Thế Tổ (世祖)=== *Năm Chí Nguyên (至元) thứ 29 (năm 1292 dương lịch), mệnh cho 3 hành tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Quảng hội quân chinh phạt Qua Oa (爪哇). Theo Nguyên Sử - Thế Tổ bản kỷ (元史·世祖本紀): "Tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch), lấy Tuyền phủ đại khanh Diệc Hắc Mê Thất (亦黑迷失), Vạn hộ quân cũ ở Đặng Châu là Sử Bật (史弼), Hữu thừa hành tỉnh Phúc Kiến là Cao Hưng (高興) cùng làm Bình chương chính sự hành trung thư tỉnh Phúc Kiến, thống lĩnh quân chinh phạt Qua Oa (爪哇 - Java). Tháng 7, chiếu lấy Sử Bật thay Diệc Hắc Mê Thất và Cao Hưng thống lĩnh 10.000 người chinh phạt Qua Oa." Theo Qua Oa truyện (瓜哇傳): "Qua Oa ở hải ngoại, so với Chiêm Thành (占城) thì xa hơn. Từ phía Nam Tuyền Châu (泉州) lên thuyền đi đường biển, trước hết đến Chiêm Thành rồi sau đó mới đến nước này, phong tục thổ sản không thể khảo cứu hết. Đại khái các phiên quốc hải ngoại đa phần có nhiều kỳ trân dị bảo, được Trung Hoa coi trọng, còn con người thì hình thù kỳ quái, tính tình ngôn ngữ không thông với Trung Hoa. Thế Tổ vỗ về bốn phương di địch, việc xuất quân ra hải ngoại các phiên quốc, duy có chiến dịch Qua Oa là lớn nhất." Tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch), chiếu lệnh cho hành tỉnh Phúc Kiến bổ dụng Sử Bật, Diệc Hắc Mê Thất, Cao Hưng làm Bình chương chính sự để chinh phạt Qua Oa. Hội quân 3 hành tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Quảng gồm 20.000 người, lập 2 phủ Tả Hữu quân đô nguyên soái, 4 Thượng vạn hộ chinh hành, phái 1.000 chiến thuyền, cấp lương ăn trong 1 năm, 40.000 đĩnh tiền sao, ban 10 Hổ phù, 40 Kim phù, 100 Ngân phù, 100 đoạn y phục bằng gấm vàng để dự phòng ban thưởng công trạng. Khi Diệc Hắc Mê Thất cùng các tướng bái biệt, Hoàng đế phán: "Các khanh đến Qua Oa, hãy báo rõ cho vua dân nước ấy. Ban đầu triều đình cùng Qua Oa thông sứ, đi lại giao hảo, sau này chúng lại rạch mặt sứ giả là Mạnh hữu thừa (孟右丞), vì lý do đó mà tiến quân thảo phạt." Tháng 9, quân hội tại Khánh Nguyên (慶元). Sử Bật và Diệc Hắc Mê Thất lĩnh việc hành tỉnh, đến Tuyền Châu (泉州). Cao Hưng suất lĩnh quân nhu từ Khánh Nguyên lên thuyền vượt biển. Tháng 11, quân 3 tỉnh hội tại Tuyền Châu. Tháng 12, từ cửa biển Hậu Chử (後渚) khởi hành. *Năm Chí Nguyên thứ 30 (năm 1293 dương lịch), bọn Sử Bật chinh phạt Qua Oa, đại phá quân địch. Quốc vương nước ấy ra hàng, trả lại đất đai, sắm sửa lễ vật nhập cống. Theo Nguyên Sử - Thế Tổ bản kỷ: Tháng 8 năm Chí Nguyên thứ 30 (năm 1293 dương lịch), sắc lệnh cho hành tỉnh Phúc Kiến cho quân chinh phạt Qua Oa được giải ngũ về nhà. Theo Qua Oa truyện: Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293 dương lịch) đến núi Câu Lan (勾欄山) bàn định phương lược. Tháng 2, Diệc Hắc Mê Thất và T參 chính họ Tôn (孫參政) dẫn thuộc quan hành tỉnh cùng các quan của Tuyên úy ty đi chiêu dụ là Khúc Xuất Hải Nha (曲出海牙), Dương Tử (楊梓), Toàn Trung Tổ (全忠祖), Vạn hộ Trương Tháp Lạt Xích (張塔剌赤) cùng hơn 500 người, 10 chiến thuyền, đi chiêu dụ trước. Đại quân tiếp nối tiến đến Cát Lợi Môn (吉利門). Sử Bật và Cao Hưng tiến đến Đỗ Tịnh Túc (杜並足) thuộc Qua Oa, cùng Diệc Hắc Mê Thất bàn bạc: "Chia quân xuống bờ, thủy lục cùng tiến." Sử Bật, Cao Hưng và Tôn Tham chính soái lĩnh Đô nguyên soái Na Hải (那海), Vạn hộ Ninh Cư Nhân (甯居仁) cùng thủy quân từ Đỗ Tịnh Túc qua cửa cảng Nhung Nha Lộ (戎牙路) đến Bát Tiết Giản (八節澗). Cao Hưng cùng Diệc Hắc Mê Thất soái lĩnh Đô nguyên soái Trịnh Trấn Quốc (鄭鎮國), Vạn hộ Thoát Hoan (脫歡) cùng mã bộ quân từ Đỗ Tịnh Túc đi đường bộ. Lấy Vạn hộ Thân Nguyên (申元) làm tiền phong, sai Phó nguyên soái Thổ Hổ Đăng Ca (土虎登哥), Vạn hộ Chử Hoài Viễn (褚懷遠), Lý Trung (李忠)... cưỡi thuyền tiêm kích, từ Nhung Nha Lộ tiến đến cầu phao Ma Nhạ Ba Khiết (麻喏巴歇), hẹn hội quân tại Bát Tiết Giản. Quan Tuyên phủ ty Qua Oa báo: "Phò mã Qua Oa là Thổ Hãn Tất Xà Da (土罕必闍耶) đem cả nước đầu hàng, nhưng vì không thể rời quân ngũ, nên sai Dương Tử, Cam Châu Bất Hoa (甘州不花), Toàn Trung Tổ dẫn Tể tướng Tích Lạt Nan Đáp Trá Da (昔剌難答吒耶) cùng hơn 50 người đến đón." Ngày mồng 1 tháng 3, hội quân tại Bát Tiết Giản. Phía trên gián thông với phủ vương Đỗ Mã Ban (杜馬班), dưới thông ra biển lớn Phủ Bôn (莆奔), là yết hầu yếu địa tất tranh của Qua Oa. Lại có mưu thần nước ấy là Hy Ninh Quan (希寧官) đậu thuyền dọc sông quan sát thắng bại, chiêu dụ nhiều lần không hàng. Hành tỉnh lập trại Yến Nguyệt bên bờ gián, lưu Vạn hộ Vương Thiên Tường (王天祥) giữ bến sông, Thổ Hổ Đăng Ca và Lý Trung lĩnh thủy quân, Trịnh Trấn Quốc cùng Đô trấn phủ Luân Tín (倫信) lĩnh mã bộ quân, thủy lục cùng tiến. Hy Ninh Quan sợ hãi bỏ thuyền chạy đêm, quân ta thu được hơn 100 chiến thuyền lớn hình đầu quỷ. Lệnh cho Đô nguyên soái Na Hải, Vạn hộ Ninh Cư Nhân, Trịnh Khuê (鄭珪), Cao Đức Thành (高德誠), Trương Thụ (張受) trấn giữ cửa biển Bát Tiết Giản. Đại quân đang tiến, Thổ Hãn Tất Xà Da sai sứ đến báo: vua Cát Lang (葛郎王) truy sát đến Ma Nhạ Ba Khiết, xin quan quân cứu viện. Diệc Hắc Mê Thất và Tham chính họ Trương (張參政) đi trước an ủi Thổ Hãn Tất Xà Da; Trịnh Trấn Quốc dẫn quân đến Chương Cô (章孤) tiếp ứng. Cao Hưng tiến đến Ma Nhạ Ba Khiết nhưng quân Cát Lang chưa rõ gần xa. Cao Hưng quay lại Bát Tiết Giản, Diệc Hắc Mê Thất báo tin giặc sẽ đến đêm nay, gọi Cao Hưng đến Ma Nhạ Ba Khiết. Ngày mồng 7, quân Cát Lang 3 đường đánh Thổ Hãn Tất Xà Da. Mờ sáng ngày mồng 8, Diệc Hắc Mê Thất và Tôn Tham chính suất lĩnh Vạn hộ Lý Minh (李明) đón đánh giặc ở phía Tây Nam nhưng không gặp. Cao Hưng và Thoát Hoan theo đường Đông Nam đánh nhau với giặc, giết vài trăm người, số còn lại tan chạy vào sơn cốc. Giữa trưa, giặc đường Tây Nam lại tới, Cao Hưng lại chiến đấu đến chiều tối thì đánh bại chúng. Ngày 15, chia quân làm 3 đạo đánh Cát Lang, hẹn ngày 19 hội quân tại Đáp Cáp (答哈) nghe tiếng pháo làm hiệu ứng chiến. Thổ Hổ Đăng Ca lĩnh thủy quân ngược dòng đi lên, Diệc Hắc Mê Thất đi đường Tây, Cao Hưng đi đường Đông, quân Thổ Hãn Tất Xà Da theo sau. Ngày 19 đến Đáp Cáp. Quốc chủ Cát Lang thống lĩnh hơn 100.000 quân giao chiến, từ giờ Mão đến giờ Mùi (5 giờ sáng đến 3 giờ chiều), đánh liên tiếp 3 trận, giặc bại tản mác, xô nhau xuống sông chết vài vạn người, bị giết hơn 5.000 người. Quốc chủ vào nội thành cố thủ, quan quân vây hãm và chiêu hàng. Đêm đó, quốc chủ Háp Chỉ Cát Đương (哈只葛當) ra hàng, ta vỗ về lệnh cho về. Ngày mồng 2 tháng 4, tiễn Thổ Hãn Tất Xà Da về nước sắm lễ vật nhập cống, sai Vạn hộ Niết Chỉ Bất Đinh (捏只不丁), Cam Châu Bất Hoa suất lĩnh 200 binh hộ tống. Ngày 19, Thổ Hãn Tất Xà Da phản bội bỏ trốn, để quân ở lại cản đường chiến đấu. Niết Chỉ Bất Đinh, Cam Châu Bất Hoa cùng duyên hành tỉnh là Phùng Tường (馮祥) đều tử nạn. Ngày 24, quân rút về, bắt được vợ con và thuộc quan của Háp Chỉ Cát Đương hơn 100 người, cùng bản đồ hộ tịch, dâng biểu chữ vàng mang về. Theo Sử Bật truyện (史弼傳): Thế Tổ muốn chinh phạt Qua Oa, bảo với Sử Bật: "Các thần tử là tâm phúc của trẫm rất ít, trẫm muốn giao việc Qua Oa cho ngươi." Bật đáp: "Bệ hạ mệnh cho thần, thần há dám tự ái thân mình." Năm thứ 27 (năm 1290 dương lịch), thụ chức Tả thừa Thượng thư tỉnh (dao thụ), Hành tuyên úy sứ Chiết Đông, dẹp cướp ở Xử Châu. Năm thứ 29 (năm 1292 dương lịch), bái vinh lộc đại phu, Bình chương chính sự hành trung thư tỉnh Phúc Kiến, đi chinh phạt Qua Oa, lấy Diệc Hắc Mê Thất và Cao Hưng làm phó tướng, trao cho 150 Kim phù, 200 xấp gấm lụa để thưởng người có công. Tháng 12, Bật dẫn 5.000 người hợp với các quân xuất phát từ Tuyền Châu. Gió gấp sóng lừng, thuyền chao đảo, sĩ tốt suốt vài ngày không thể ăn được. Qua Thất Châu Dương (七洲洋), Vạn Lý Thạch Đường (萬里石塘), đi qua địa giới Giao Chỉ (交趾) và Chiêm Thành. Tháng Giêng năm sau, đến núi Đông Đổng (東董), Tây Đổng (西董), đảo Ngưu Khi (牛崎嶼), vào đại dương Hỗn Độn (混沌), núi Cảm Lãm (橄欖), Giả Lý (假里), Mã Đáp (馬答), Câu Lan (勾欄), đóng quân chặt cây đóng thuyền nhỏ để tiến vào. Lúc đó Qua Oa đang có oán thù với nước láng giềng Cát Lang. Vua Qua Oa là Háp Chỉ Cát Đạt Na Gia Lạt (哈只葛達那加剌) đã bị vua Cát Lang là Háp Chỉ Cát Đương giết. Con rể là Thổ Hãn Tất Xà Da đánh Háp Chỉ Cát Đương không thắng, lui về giữ Ma Nhạ Ba Khiết. Nghe tin bọn Sử Bật đến, sai sứ mang bản đồ núi sông, hộ khẩu nước mình và bản đồ nước Cát Lang đến hàng và cầu cứu. Bật cùng chư tướng tiến đánh quân Cát Lang đại phá chúng, Háp Chỉ Cát Đương tháo chạy về nước. Cao Hưng nói: "Qua Oa tuy hàng, nhưng nếu giữa đường thay đổi mà hợp với Cát Lang thì quân ta cô độc xa xôi, việc khó lường được." Bật bèn chia quân 3 đạo, cùng Cao Hưng và Diệc Hắc Mê Thất mỗi người dẫn 1 đạo đánh Cát Lang. Đến thành Đáp Cáp, quân Cát Lang hơn 100.000 đón đánh, từ sáng đến trưa quân Cát Lang bại, vào thành thủ hiểm, ta bèn vây thành. Háp Chỉ Cát Đương ra hàng, quân ta bắt cả vợ con, quan thuộc mang về. Thổ Hãn Tất Xà Da xin về nước để thay tờ biểu hàng và lấy châu báu về triều. Bật và Diệc Hắc Mê Thất đồng ý, sai Vạn hộ Niết Chỉ Bất Đinh, Cam Châu Bất Hoa dẫn 200 binh hộ tống về nước. Thổ Hãn Tất Xà Da giữa đường giết 2 tướng rồi phản bội, nhân lúc quân ta rút về thì chặn đường cướp bóc. Sử Bật tự mình đoạn hậu, vừa đánh vừa đi, hành quân 300 dặm mới lên được thuyền. Đi biển 68 ngày đêm thì tới Tuyền Châu, sĩ tốt tử trận hơn 3.000 người. Quan lại kiểm kê vàng bạc, hương liệu, vải vóc thu được trị giá hơn 500.000 (đĩnh), lại dâng biểu chữ vàng của nước Một Lý (沒理國) cùng vàng bạc, tê giác, voi. Bấy giờ triều đình vì quân lính tổn thất nhiều, phạt Sử Bật 17 trượng, tịch thu 1/3 gia sản. Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 (năm 1295 dương lịch), khởi dụng làm Đồng tri Xu mật viện sự. Nguyệt Nhi Lỗ (月兒魯) tấu rằng: "Bọn Sử Bật dẫn 5.000 người vượt biển 250.000 dặm, vào nước mà từ xưa tới nay chưa ai tới được, bắt được vua của họ và chiêu hàng các tiểu quốc lân cận, nên được thương xót." Bèn chiếu trả lại tài sản đã tịch thu. Bái làm Vinh lộc đại phu, Hữu thừa hành trung thư tỉnh Giang Tây. === Đời Nguyên (元) - Thời Thành Tông (成宗)=== *Ngày Đinh Hợi tháng 9 năm Nguyên Trinh thứ 1 (năm 1295 dương lịch), Qua Oa sai sứ đến hiến phương vật. Theo Nguyên Sử - Thành Tông bản kỷ có chép sự việc này. === Đời Minh (明) - Thời Thái Tổ (太祖)=== *Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Nước Qua Oa (瓜哇國) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城). Tháng Giêng năm Hồng Vũ thứ 2 (năm 1369 dương lịch) đời Thái Tổ, vua sai sứ mang chiếu chỉ đăng quang đi dụ nước ấy. Sứ thần nước này trước đó đã phụng mệnh cống nạp cho nhà Nguyên, khi trở về đến Phúc Kiến (福建) thì nhà Nguyên đã mất, bèn vào cư ngụ tại kinh sư. Tháng 2 năm đó, Thái Tổ lại sai sứ đưa người ấy về nước, lại ban cho lịch Đại Thống (大統曆). Tháng 6 năm thứ 3 (năm 1370 dương lịch), vì đã bình định được sa mạc, vua ban chiếu nói: 'Từ xưa bậc làm chủ thiên hạ, nhìn khắp nơi trời che đất chở, nhật nguyệt soi chiếu, dù xa hay gần, loài người không ai là không muốn an cư lạc nghiệp. Nhưng tất yếu Trung Hoa phải yên thì bốn phương muôn nước mới thuận phục. Gần đây vua Nguyên là Thỏa Hoan Thiếp Mộc Nhi (妥懽帖木兒) hoang dâm hôn nhược, chí không tại dân, anh hùng thiên hạ chia cắt bờ cõi. Trẫm thương sinh dân lầm than, dấy nghĩa binh dẹp loạn, quân dân thiên hạ cùng tôn Trẫm lên ngôi hoàng đế, quốc hiệu Đại Minh (大明), niên hiệu Hồng Vũ (洪武). Năm trước đã chiếm được kinh đô nhà Nguyên, bốn phương lần lượt bình định. Các nước Chiêm Thành, An Nam (安南), Cao Ly (高麗) đều đã đến triều cống. Năm nay phái tướng bắc chinh, mới biết vua Nguyên đã mất, bắt được cháu là Mãi Đích Lý Bát Lạt (買的里八剌), phong làm Sùng Lễ hầu. Trẫm phỏng theo các bậc đế vương đời trước trị vì thiên hạ, chỉ muốn nhân dân trong ngoài đều được yên ổn. Lại lo các phiên bang hẻo lánh phương xa chưa rõ ý Trẫm, nên sai sứ giả đến dụ để cho tất cả đều được nghe biết'. Tháng 9, vua nước ấy là Tích Lý Bát Đạt Lạt Bồ (昔里八達剌蒲) sai sứ dâng Kim diệp biểu (biểu bằng lá vàng) đến triều kiến, dâng phương vật, vua ban yến tiệc và ban thưởng đúng lễ." Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Qua Oa phía Đông giáp nước Cổ Nữ Nhân (古女人國), phía Tây giáp nước Tam Phật Tề (三佛齊國), phía Nam giáp nước Cổ Đại Thực (古大食國), phía Bắc giáp nước Chiêm Thành. Vốn là nước Cổ Xà Bà (古闍婆國), còn có tên là Phủ Gia Long (莆家龍). Các thuộc quốc có Tô Cát Đan (蘇吉丹), Đả Bản (打板), Đả Cương (打綱), Đ底 Vật (底勿). Niên hiệu Nguyên Gia thời Tống bắt đầu thông sứ với Trung Hoa, sau đó đứt đoạn. Đến niên hiệu Thuần Hóa thời Tống, vua nước ấy là Mục La Trà (穆羅茶) sai sứ đến triều cống. Niên hiệu Đại Quan lại sai sứ nhập cống. Thời Nguyên gọi là nước Qua Oa. Cuối niên hiệu Chí Nguyên phái binh chinh phạt nhưng không thắng. Đầu niên hiệu Hồng Vũ triều ta, vua là Tích Lý Bát Đạt Lạt Bồ sai thần hạ là Bát Đích Chiêm Tất (八的占必) đến triều cống, nộp lại 2 đạo tuyên sắc của nhà Nguyên. Từ đó triều cống không tuyệt." Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Dân Qua Oa trọng khí tiết, hiếu chiến, không thiết hình luật nghiêm ngặt, kẻ phạm tội tạp tùy mức độ nặng nhẹ mà nộp vàng để chuộc tội, duy chỉ có trộm cướp thì xử tử." Theo Đảo di chí (島夷志): "Đất Qua Oa màu mỡ, địa hình bằng phẳng, thóc gạo phong phú gấp bội nước khác. Dân không trộm cắp, của rơi ngoài đường không ai nhặt. Ngạn ngữ gọi là 'Xà Bà thái bình' là chỉ nơi này. Nam nữ quấn khăn trên đầu, mặc áo dài." Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 năm Hồng Vũ thứ 2 (năm 1369 dương lịch), sai Hành nhân Ngô Dụng (吳用) ban cho vua Qua Oa tỉ thư (thư đóng ấn) nói rằng: 'Đại thống Trung Hoa, người Nguyên thụ mệnh hơn 100 năm, nay cương thường đã đổ, trên dưới đảo lộn, Trẫm vì thế dấy binh đánh dẹp, gần 20 năm hải nội đều định. Trẫm phụng mệnh trời làm chủ Trung Hoa, sợ nơi xa gần chưa nghe thấy nên sai báo cho vua biết. Sứ giả đã đi rồi, nay nghe nói người trong vương quốc là Nghễ Chỉ Mưu Đinh (睨只某丁) trước phụng mệnh sứ Nguyên, khi về đến Phúc Kiến thì Nguyên mất, bèn đến cư ngụ tại kinh sư. Trẫm nghĩ người ấy xa Qua Oa đã lâu, tất sẽ thương nhớ khôn nguôi, nay sai người đưa về và ban cho 1 quyển lịch Đại Thống. Mong vua biết chính sóc ở đâu, thuận theo đạo trời, để dân Qua Oa yên ổn làm ăn, vua cũng mãi giữ được lộc vị, phúc đến con cháu. Hãy cố gắng làm theo, chớ có lười nhác'. Năm thứ 30 (năm 1397 dương lịch), các phiên bang ngăn trở không có thương nhân đi lại. Coi Tam Phật Tề là thuộc quốc của Qua Oa. Mệnh Bộ Lễ gửi văn thư sang Xiêm La (暹羅) chuyển đạt cho Qua Oa, sau chia thành 2 nước Đông - Tây." *Năm Hồng Vũ thứ 5 (năm 1372 dương lịch), Qua Oa đem 3 đạo sắc chỉ do nhà Nguyên ban tặng nộp lên. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 5, lại sai sứ theo sứ triều đình là Thường Khắc Kính (常克敬) đến cống nạp, nộp lên 3 đạo tuyên sắc do nhà Nguyên ban cho." *Năm Hồng Vũ thứ 8 (năm 1375 dương lịch), lệnh cho thần sông núi nước Tam Phật Tề và Qua Oa được tế phụ vào sau thần sông núi tỉnh Quảng Đông. Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 2 năm Hồng Vũ thứ 8 (năm 1375 dương lịch), lệnh cho thần núi sông các nước Tam Phật Tề, Qua Oa tế phụ vào sau lễ tế núi sông Quảng Đông. Trước đó Thượng thư Bộ Lễ Ngưu Lượng (牛諒) thưa rằng: 'Kinh đô đã bãi tế núi sông thiên hạ, thì núi sông của tứ di cũng không phải nơi Thiên tử nên tự mình cúng tế'. Bèn mệnh cho bàn bạc lại. Đến đây, Trung thư và Bộ Lễ tâu rằng nên để thần núi sông ngoại di tế phụ vào các tỉnh. Như Quảng Tây tế phụ An Nam, Chiêm Thành, Chân Lạp (真臘), Xiêm La, Tỏa Lý (鎖里); Quảng Đông tế phụ Tam Phật Tề, Qua Oa; Phúc Kiến tế phụ Nhật Bản (日本), Lưu Cầu (琉球), Bột Ni (渤泥); Liêu Đông tế phụ Cao Ly; Thiểm Tây tế phụ Cam Túc, Đóa Cam (朵甘), Ô Tư Tạng (烏思藏). Kinh thành không cần tế nữa. Lại nói: 'Thần núi sông các tỉnh cùng thần Gió Mây Sấm Mưa đã ngồi ở giữa hướng về Nam, thì thần vị núi sông ngoại di nên chia làm hai bên Đông Tây, cùng chung bàn thờ mà cúng tế'. Vua chuẩn tấu, khi tế phái 1 viên quan đến giám sát." *Năm Hồng Vũ thứ 10 (năm 1377 dương lịch), Qua Oa chia làm 3 vua, đều sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 10, vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ (八達那巴那務) sai sứ triều cống. Nước đó lại có 2 vua Đông - Tây: Đông phiên vương Vật Viện Lao Võng Kết (勿院勞網結), Tây phiên vương Vật Lao Ba Vụ (勿勞波務), đều sai sứ triều cống. Thiên tử thấy lễ ý không thành khẩn, chiếu lệnh giữ sứ giả lại, một thời gian sau mới thả về." *Năm Hồng Vũ thứ 11 (năm 1378 dương lịch), vua Xà Bà (闍婆) sai sứ triều cống. (Theo các sách khác đều nói Qua Oa chính là Cổ Xà Bà, riêng Minh ngoại sử chép ngoài Qua Oa còn có Xà Bà vào cống, nay phụ lục ở đây để chờ tham khảo). Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Xà Bà xưa gọi là Xà Bà Đạt (闍婆達), thời Nguyên Gia nhà Tống bắt đầu triều cống Trung Hoa. Đời Đường gọi là Ha Lăng (訶陵), lại gọi là Đỗ Bà (杜婆), vua cư ngụ tại thành Xà Bà, đời Tống gọi là Xà Bà, đều có vào cống. Năm Hồng Vũ thứ 11, vua là Ma Na Đà Nam (摩那駝喃) sai sứ dâng biểu cống phương vật, sau này không thấy đến nữa. Có thuyết nói Qua Oa chính là Xà Bà. Tuy nhiên Nguyên sử - Qua Oa truyện không nói vậy, lại bảo phong tục vật sản không thể khảo cứu. Hơn nữa thời Thái Tổ, hai nước này cùng lúc vào cống, tên vua lại khác nhau. Có thể vốn là 2 nước, về sau Xà Bà bị Qua Oa diệt, nhưng không thể khảo chứng rõ ràng." *Năm Hồng Vũ thứ 13 (năm 1380 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Lúc phái sứ ban ấn thụ cho Tam Phật Tề, Qua Oa đã dụ giết sứ giả, vua ban sắc trách mắng nặng nề. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 12, vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ sai sứ triều cống, năm sau lại cống. Khi đó triều đình sai sứ ban ấn thụ cho vua Tam Phật Tề, Qua Oa lừa bắt rồi giết đi. Thiên tử giận, giữ sứ giả của họ lại hơn 1 tháng, định trị tội nhưng sau lại cho về, ban sắc trách mắng." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 13 (năm 1380 dương lịch), vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ sai sứ là A Liệt Di Liệt Thời (阿烈彝烈時) dâng biểu lá vàng vào cống. Sứ giả bị giữ lại hơn 1 tháng rồi cho về. Vua ban chiếu dụ quốc chủ nước đó rằng: 'Bậc thánh nhân trị thiên hạ, coi trong ngoài bốn biển đều là con đỏ, đó là lòng nhân coi muôn loài như một. Trẫm làm quân chủ cả Hoa và Di, cách vỗ về không phân biệt xa gần. Bang của ngươi ở tận đảo xa, vừa qua sai sứ đến Trung Hoa, tuy nói là tu cống nhưng thực chất là ham lợi, Trẫm đều suy lòng thành mà đãi lễ. Trước kia vua Tam Phật Tề sai sứ dâng biểu xin ấn thụ, Trẫm khen lòng mộ nghĩa nên sai sứ ban cho. Ngươi cớ sao lại dùng gian kế, dụ sứ giả mà giết đi? Há phải ngươi cậy hiểm trở xa xôi mà dám khinh nhờn như thế sao? Nay sứ giả đến, vốn định giữ lại, nhưng nghĩ đến nỗi nhớ cha mẹ vợ con, người Di hay người Hoa đều như nhau. Trẫm suy lòng này mà đặc mệnh cho về nước. Nhà vua nên xét mình tự sửa, khiêm cung thành kính, chớ dẫm vết xe đổ mà làm nộ Trung Hoa, thì mới giữ được phú quý. Nếu không như vậy, tự chuốc họa ương, hối cũng không kịp'." *Năm Hồng Vũ thứ 14 (năm 1381 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 14, sai sứ dâng 300 hắc nô (nô lệ đen) và phương vật. Năm sau lại dâng 100 hắc nô nam nữ, 8 viên ngọc trai lớn, 75.000 cân hồ tiêu." *Năm Hồng Vũ thứ 26 (năm 1393 dương lịch), Qua Oa vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 26 lại cống. Năm sau tiếp tục cống." === Đời Minh (明) - Thời Thành Tổ (成祖)=== *Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 (năm 1404 dương lịch), sai sứ ban tiền vàng cho Qua Oa (瓜哇), hai vua Đông - Tây đều vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Năm Vĩnh Lạc thứ 1 (năm 1403 dương lịch), lại sai Phó sứ Văn Lương Phụ (聞良輔), Hành nhân Ninh Thiện (甯善) ban cho vua nước ấy gấm vóc, lụa vân thêu chỉ vàng. Sau khi sứ giả đi rồi, Tây vương là Đô Mã Bản (都馬板) sai sứ vào triều chúc mừng nhân dịp hoàng đế lên ngôi, bèn lại mệnh cho Trung quan Mã Bân (馬彬) mang ấn bạc mạ vàng đến ban cho. Tây vương sai sứ tạ ơn nhận ấn và dâng phương vật. Trong khi đó, Đông vương là Bột Lệnh Đạt Cáp (孛令達哈) cũng sai sứ triều cống, xin ban ấn; hoàng đế mệnh sai quan đến ban cho. Từ đó về sau, hai vua cùng nộp cống." Theo Minh hội điển (明會典): "Nước Qua Oa, đầu năm Vĩnh Lạc, ban cho các vua Đông - Tây màn trướng bằng lụa và sa, khăn tay, khí cụ đựng rượu và cừu; ban cho vương phi các thứ như khăn tay bằng lụa và sa." Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 2 (năm 1404 dương lịch), Đông vương Bột Lệnh Đạt Cáp sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật, tấu trình xin ấn chương, mệnh đúc ấn bạc mạ vàng ban cho, cùng ban tiền sao và vải vóc." *Năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Tây vương Đô Mã Bản sai sứ nhập cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405 dương lịch), sai Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Tây vương Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu cống hiến phương vật. Lúc bấy giờ các nước lân cận là Điệp Lý Nhật La (牒里日羅), Hạ Trị (夏治), Hợp Miêu Lý (合描里) gồm 3 nước, mỗi nước đều sai sứ cùng mang phương vật đến triều cống, tất cả đều được ban cho áo mặc và lụa vân." *Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Trung quan Trịnh Hòa đến Qua Oa. Khi đó hai vua Đông - Tây đánh nhau, binh lính của sứ đoàn đi ngang qua đất Đông vương bị người của nước Tây vương giết chết. Tây vương sợ hãi, sai sứ tạ tội. Có chiếu trách mắng nặng nề. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Tây vương và Đông vương đánh nhau, Đông vương bại trận, nước bị diệt. Vừa lúc sứ đoàn triều đình đi ngang qua đất Đông vương, binh lính đi vào chợ, bị người của nước Tây vương giết chết, tổng cộng 170 người. Tây vương sợ hãi, sai sứ tạ tội. Hoàng đế ban sắc trách mắng nặng nề, mệnh phải nộp 60.000 lạng vàng để chuộc tội." Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 năm thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Tây vương lại đến cống trân châu, san hô, khổng thanh (một loại đá quý). Cũng trong tháng 3, Đông vương sai sứ dâng ngựa, đều ban cho tiền sao và vải vóc có khác biệt theo thứ bậc. Tháng 7 nhuận, Tây vương sai sứ triều cống, lại nói Đông vương không đáng được lập, nay đã đánh diệt rồi, hoàng đế giáng chiếu trách mắng gay gắt." *Năm Vĩnh Lạc thứ 5 (năm 1407 dương lịch), Qua Oa sai sứ thỉnh tội, nguyện đền 60.000 lạng vàng để chuộc tội. Hoàng đế chấp thuận. Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 5 (năm 1407 dương lịch), Qua Oa dâng biểu thỉnh tội, nguyện đền 60.000 lạng vàng, lại lập con của Bột Lệnh Đạt Cáp, hoàng đế nghe theo." *Năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408 dương lịch), quan Lễ bộ hạch tội Qua Oa nộp vàng không đủ, hoàng đế mệnh cho miễn số vàng còn lại. Lúc đó vua Mãn Thứ Gia (滿剌加 - Malacca) giả chiếu chỉ đòi đất Cựu Cảng (舊港), hoàng đế ban sắc an ủi vua Qua Oa. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408 dương lịch), lại sai Trịnh Hòa đi sứ nước ấy. Tây vương hiến 10.000 lạng vàng, quan Lễ bộ vì thấy số lượng nộp không đủ nên xin tống giam sứ giả vào ngục. Hoàng đế phán: 'Trẫm đối với người phương xa, chỉ muốn họ biết sợ tội mà thôi, há lại ham lợi số vàng đó sao?'. Bèn cho miễn tất cả. Từ đó về sau, gần như năm nào cũng vào cống, hoặc cách 1 năm cống 1 lần, hoặc 1 năm cống vài lần. Trung quan Ngô Tân (吳賓), Trịnh Hòa lại lần lượt đi sứ nước ấy. Khi đó đất Cựu Cảng có nơi bị Qua Oa xâm chiếm, vua nước Mãn Thứ Gia giả chiếu chỉ ra lệnh đòi lại, hoàng đế bèn ban sắc rằng: 'Trước đây Trung quan Ngô Khánh (吳慶) về tâu rằng Vương cung kính đãi sứ đoàn, cung cách ngày càng tăng không hề giảm. Gần đây nghe nói nước Mãn Thứ Gia đòi đất Cựu Cảng khiến Vương lo sợ nghi ngại. Trẫm lấy lòng thành đãi người, nếu thực sự cho phép họ tất sẽ có sắc dụ, Vương can gì phải nghi ngờ. Kẻ tiểu nhân nói lời phù phiếm, cẩn thận chớ có nhẹ dạ tin theo'." *Năm Vĩnh Lạc thứ 8 (năm 1410 dương lịch), Qua Oa sai sứ nhập cống. Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 8 (năm 1410 dương lịch), Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu, cống ngựa và phương vật." *Năm Vĩnh Lạc thứ 11 (năm 1413 dương lịch) và thứ 13 (năm 1415 dương lịch), Qua Oa sai sứ đến cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 13 (năm 1415 dương lịch), vua nước ấy đổi tên là Dương Duy Tây Sa (揚惟西沙), sai sứ tạ ơn và dâng phương vật. Bấy giờ binh lính do sứ đoàn mang theo có người gặp gió dạt đến nước Ban Đột Nhi (班卒兒), người Qua Oa là Trân Ban (珍班) nghe tin, dùng vàng chuộc về, đưa đến chỗ nhà vua." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 13 (năm 1415 dương lịch) đổi tên là Dương Duy Tây Sa, sai sứ tạ ơn." *Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch), binh lính sứ đoàn gặp gió dạt vào nước Ban Đột Nhi được người Qua Oa chuộc về trả triều đình, chiếu chỉ khen ngợi và dụ bảo. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch), vua sai sứ triều cống, nhân đó đưa trả các binh lính sứ đoàn bị gió dạt. Hoàng đế khen ngợi, ban sắc thưởng cho vua, đồng cũng hậu ban cho Trân Ban. Từ đó sứ thần triều cống đại lược mỗi năm đến 1 lần." === Đời Minh (明) - Thời Anh Tông (英宗)=== *Năm Chính Thống (正統) thứ 1 (năm 1436 dương lịch), ban đai vàng cho sứ thần Qua Oa, lại lệnh cho họ cùng đi với sứ thần các nước Cổ Lý (古里)... về Qua Oa, sắc dụ vua nước ấy vỗ về và phân phái họ về nước. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Chính Thống thứ 1 (năm 1436 dương lịch), sứ thần Mã Dụng Lương (馬用良) nói rằng: trước kia người giữ chức Bát Đế (八諦) đến triều kiến được ơn ban đai bạc, nay đã là Á Liệt (亞烈), trật 4 phẩm, xin được ban đai vàng. Hoàng đế nghe theo. Tháng 6 nhuận, phái sứ thần các nước Cổ Lý (古里 - Calicut), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門答剌 - Sumatra), Tích Lan Sơn (錫蘭山 - Ceylon), Kha Chi (柯枝 - Cochin), Thiên Phương (天方 - Mecca), Gia Dị Lặc (加異勒 - Kayal), A Đan (阿丹 - Aden), Hốt Lỗ Mô Tư (忽魯謨斯 - Ormuz), Tổ Pháp Nhi (祖法兒 - Dhofar), Cam Ba Lý (甘巴里 - Comari), Chân Lạp (真臘 - Cambodia) cùng đi với sứ thần Qua Oa là Quách Tín (郭信) về nước. Ban sắc cho vua Qua Oa rằng: 'Vương từ thời tiên triều đã tu giữ chức phận không trễ nải, Trẫm nay nối ngôi, Vương lại sai sứ đến triều, lòng thành đã thấu suốt'. Thời Tuyên Đức, có 11 nước như Cổ Lý đến cống. Nay nhân vì sứ giả của Vương về nước, lệnh cho các sứ giả cùng đi. Vương hãy thêm ý vỗ về, phân phái họ về nước mình, để giúp Trẫm thực hiện lòng thành vỗ về người phương xa." *Năm Chính Thống thứ 3 (năm 1438 dương lịch), ban vải lụa cho vua Qua Oa và vương phi. Theo Minh hội điển: "Năm Chính Thống thứ 3 (năm 1438 dương lịch), ban cho vua Qua Oa 10 xấp lụa, mỗi loại sa và la 3 xấp; ban cho vương phi 6 xấp lụa, mỗi loại sa và la 2 xấp." *Năm Chính Thống thứ 8 (năm 1443 dương lịch), định lệ Qua Oa 3 năm cống 1 lần. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Tháng 8 năm Chính Thống thứ 5 (năm 1440 dương lịch), sứ thần về nước gặp gió bị chết đuối 56 người, còn sống 83 người, quay lại Quảng Đông. Mệnh cho cơ quan hữu trách cấp lương dưỡng, chờ thuyền thuận tiện đưa về. Năm thứ 8 (năm 1443 dương lịch), Tham chính Quảng Đông là Trương Diễm (張琰) nói: Qua Oa triều cống quá thường xuyên, việc cung ứng tốn kém phiền hà, làm mệt nhọc Trung Hoa để thờ phụng người phương xa là điều không phải kế sách. Hoàng đế nghe theo, khi sứ giả về, ban sắc rằng: 'Các bang quốc ngoài biển đều 3 năm cống 1 lần, Vương cũng nên thể tất quân dân, nhất loạt tuân theo chế độ này'." *Năm Chính Thống thứ 11 (năm 1446 dương lịch), Qua Oa nhập cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Chính Thống thứ 11 (năm 1446 dương lịch) lại cống 3 lần, về sau thưa dần." === Đời Minh (明) - Thời Đại Tông (代宗)=== *Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 (năm 1452 dương lịch), Qua Oa vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Năm Cảnh Thái thứ 3 (năm 1452 dương lịch), vua là Ba Lạt Vũ (巴剌武) sai sứ triều cống." Theo Minh hội điển (明會典): "Nước Qua Oa, năm Cảnh Thái thứ 3, vì quốc vương cầu xin, bèn ban cho 1 chiếc lọng che, 1 bộ y phục mãng long. Các sứ thần, thông sự, đầu mục khi mới đến được ban áo lụa tố la thêu chỉ vàng, giày vớ; phần thưởng chính thức là vải lụa, sa, la, lụa quyến. Nữ sứ cùng nữ đầu mục đều tùy theo vật phẩm cống nạp mà định giá ban thưởng." === Đời Minh (明) - Thời Anh Tông (英宗)=== *Năm Thiên Thuận (天順) thứ 4 (năm 1460 dương lịch), sứ giả Qua Oa đánh chết tăng nhân phương Tây, Lễ bộ hạch tội Hành nhân hộ tống, sứ giả xin để vua nước mình tự trị tội. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Thiên Thuận thứ 4 (năm 1460 dương lịch), vua Đô Mã Bản (都馬班) sai sứ nhập cống. Sứ giả khi về đến An Khánh (安慶), do say rượu đã đánh nhau với các tăng nhân phương Tây vùng Trường Hà Tây (長河西) cũng đang vào cống, làm 6 tăng nhân tử thương. Lễ bộ xin trị tội Hành nhân hộ tống. Sứ giả xin lệnh cho quốc vương tự mình trị tội, hoàng đế nghe theo." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch) và 19 (năm 1421 dương lịch), Tây vương đều cống, còn Đông vương lâu không thấy tới, có lẽ đã bị thôn tính. Tháng 8 năm Thiên Thuận thứ 4 (năm 1460 dương lịch), vua Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu triều cống phương vật, vua ban yến tiệc thưởng hậu, sai sứ mang sắc chỉ cùng gấm vóc về ban cho nhà vua và vương phi." === Đời Minh (明) - Thời Hiến Tông (憲宗)=== *Năm Thành Hóa (成化) thứ 1 (năm 1465 dương lịch), Qua Oa vào cống. (Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện chép như trên). === Đời Minh (明) - Thời Hiếu Tông (孝宗)=== *Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 12 (năm 1499 dương lịch), sứ giả Qua Oa gặp gió hư thuyền, chỉ có 1 thuyền của thông sự đến được Quảng Đông, chiếu lệnh chuyển cống vật về kinh sư, cơ quan hữu trách tùy nghi ban thưởng rồi cho về. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hoằng Trị thứ 12 (năm 1499 dương lịch), sứ giả gặp gió hư thuyền, chỉ có 1 thuyền thông sự đến được Quảng Đông. Lễ bộ xin chiếu lệnh cơ quan hữu trách tùy nghi ban thưởng, cho sứ giả về, còn cống vật vẫn chuyển về kinh sư. Vua chuẩn y. Từ đó sứ giả hiếm khi đến. Nước này gần Chiêm Thành, đi 20 ngày đêm có thể tới. Quân nhà Nguyên tây chinh, từ tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch) phát từ Tuyền Châu (泉州), tháng Giêng năm sau đã tới nước ấy, khoảng cách chỉ hơn 1 tháng. Năm Tuyên Đức thứ 7 (năm 1432 dương lịch) vào cống, trong biểu ghi năm thứ 1.376, tính ra năm Nguyên Khang thứ 1 thời Hán Tuyên Đế (năm 65 trước Công nguyên) chính là năm khởi đầu lập quốc của họ. Đất rộng dân đông, tính tình hung hãn. Đàn ông không phân biệt già trẻ sang hèn đều đeo dao, hễ phật ý là giết nhau ngay, nên giáp binh của họ mạnh nhất trong đám phiên bang. Chữ viết loại Tỏa Lý (瑣里), không có giấy bút, khắc lên lá giao (茭葉). Khí hậu thường như mùa hè, lúa chín 2 vụ 1 năm. Không có bàn ghế thìa đũa. Người có 3 loại: người Hoa lưu ngụ thì phục sức tươi đẹp; thương nhân nước khác cư trú lâu cũng chuộng thanh khiết. Còn người bản quốc thì vô cùng uế tạp, thích ăn rắn, kiến, sâu bọ, nằm ngủ và ăn cùng với chó; hình dáng đen nhẻm, tóc như khỉ, chân trần. Sùng tín quỷ đạo, kẻ giết người nếu lẩn tránh được 3 ngày thì miễn tội. Cha mẹ chết thì khiêng ra đồng cho chó ăn, nếu ăn không hết thì buồn bã đốt phần còn lại; vợ thiếp đa phần nhảy vào lửa chết theo. Nước ấy một tên là Phủ Gia Long (莆家龍), lại gọi là Hạ Cảng (下港), hay Thuận Tá (順塔). Thời Vạn Lịch (萬曆), người Hồng Mao (紅毛 - Hà Lan) xây kho bằng đất ở phía Đông con gián lớn, người Phật Lang Cơ (佛郎機 - Bồ Đào Nha/Tây Ban Nha) xây ở phía Tây, hàng năm giao thương, thương lữ Trung Hoa qua lại không tuyệt. Nước ấy có Tân Thôn (新村), hiệu là giàu có nhất, tàu bè thương nhân Trung Hoa và các phiên quốc tụ hội đông đúc, bảo vật tràn ngập. Thôn chủ chính là người Quảng Đông, năm Vĩnh Lạc thứ 9 (năm 1411 dương lịch) tự mình sai sứ dâng biểu cống phương vật." Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Qua Oa xưa là Xà Bà, nước có 4 nơi đều không thành quách. Trước vào Đỗ Bản (杜板), sau vào Tư Thôn (廝村), kế đến Tô Lỗ Mã Ích (蘇魯馬益), rồi đến Mãn Giả Bá Di (滿者伯夷) là vương đô. Cung vua 4 phía tường gạch, tường cao hơn 3 trượng (khoảng 10 mét), chu vi hơn 300 dặm. Cửa ngõ thâm nghiêm, nhà cao 4 trượng, sàn lát ván, trải chiếu hoa mây, ngồi xếp bằng, mái lợp bằng gỗ cứng. Dân ở nhà cỏ, bên trong xây kho gạch để ngồi nằm. Vua tóc rối, đội mũ lá vàng, ngực quấn khăn lụa thêu, lưng buộc dải gấm gọi là 'áp yêu' (yáp-yao), lưng giắt dao ngắn gọi là 'bất lạt đầu' (pǔ-là-tóu), đi chân đất, hoặc cưỡi voi, cưỡi bò. Dân gian nam tóc rối, nữ búi tóc, áo trên váy dưới. Đàn ông tất đeo dao, không kể già trẻ sang hèn đều vậy. Dao phải có vân tuyết hoa, đúc bằng sắt tân, cán sức bằng vàng hoặc sừng tê, ngà voi, thường chạm mặt quỷ, cực kỳ tinh xảo. Lúc hội họp nếu ai phạm vào đầu hoặc tranh đấu, tất dùng dao đâm, kẻ giết người lẩn trốn quá 3 ngày thì miễn tội. Nếu bị bắt ngay thì bị đâm chết. Quan không dùng roi vọt, tội không hỏi nặng nhẹ, dùng dây mây trói lại rồi đâm chết. Việc giết chóc là thường, không lấy làm lạ. Chợ búa dùng tiền đồng Trung Hoa. Đỗ Bản (杜板) là tên đất, khoảng hơn 1.000 nhà, do 2 tù trưởng cai quản. Có người lưu ngụ đa phần là người Quảng Đông, Chương Châu (漳州). Bên bãi biển có ao nhỏ, nước ngọt lành có thể uống, gọi là 'Thánh thủy'. Truyền rằng: Tướng nhà Nguyên là Sử Bật (史弼), Cao Hưng (高興) chinh phạt Xà Bà, đánh cả tháng không được, bèn lên bờ. Ba quân thiếu nước, khát lắm, hai tướng khấn thầm rồi cắm thương xuống bãi, suối liền vọt ra, quân nhờ đó mà sống. Lại đi về phía Đông nửa ngày đến Tư Thôn, gọi là Cách Nhi (革兒). Xưa vốn là bãi cát, người Trung Hoa đến khách cư thành tụ lạc nên tên là 'Tân Thôn' (新村), khoảng hơn 1.000 nhà. Thôn chủ là người Quảng Đông. Tàu bè các phiên bang đến đây giao thương, vàng bạc bảo vật sung túc, dân cư đa phần giàu có. Lại theo đường thủy về phía Nam nửa ngày đến cửa cảng Tô Lỗ Mã Ích. Nước ngọt cạn hẹp, chỉ thông thuyền nhỏ, đi 20 dặm mới đến Tô Lỗ Mã Ích, gọi là Tô Nhi Ba Nha (蘇兒把牙), khoảng hơn 1.000 nhà, cũng có thủ lĩnh, có cả người Trung Hoa. Tại cửa cảng là châu lớn, rừng cây rậm rạp, hàng vạn con khỉ đuôi dài tụ tập, tục gọi là 'Hồ tôn'. Khỉ già làm chủ, từng bắt bà lão người phiên về sống cùng. Người trong nước cầu tự tất phải biện rượu thịt cầu xin khỉ già, khỉ ăn thừa xong cho đàn khỉ tranh nhau ăn, ăn hết một lúc thì khỉ đực cái giao phối, lấy đó làm điềm. Người cầu tự về tất có thai, nếu không thì không ứng nghiệm. Lại theo đường thủy 80 dặm đến bến tàu gọi là Chương Cô (漳沽), lên bờ đi bộ hướng Tây Nam nửa ngày đến Mãn Giả Bá Di chính là vương đô. Có khoảng 200-300 nhà, 7-8 vị tổng lĩnh đều là phụ tá của vua. Khí hậu thường nóng như mùa hè, lúa chín 2 vụ. Ngồi nằm không ghế chõng, ăn uống không thìa muỗng, miệng không rời trầu cau. Để cơm vào mâm, rưới váng sữa lên. Khi ăn nhổ bã trầu, hướng về mâm bốc mà ăn. Ăn xong uống nước, đãi khách bằng trầu cau. Người có 3 hạng: Hạng thứ nhất là thương nhân Tây phiên lưu lạc ở lâu, ăn mặc thanh nhã. Hạng thứ hai là người Đường (Trung Hoa) như người Quảng Đông, Chương Châu, Tuyền Châu lưu ngụ, ăn uống tươi đẹp, đa phần theo giáo Hồi Hồi (Hồi giáo), ăn chay thụ giới. Hạng thứ ba là dân bản địa, sắc mặt đen nhẻm, tóc rối chân trần, sùng tín quỷ đạo, nhà Phật gọi 'Quỷ quốc' chính là vùng này. Ăn uống thô ác, ăn rắn kiến sâu trùng, chỉ hơ qua lửa, ăn ngủ cùng chó, không lấy làm bẩn. Truyền rằng: 'Xưa có Quỷ Tử Ma Vương, mặt xanh da đỏ, râu tóc đỏ rực, giao cấu với Võng Tượng (loài quỷ) đẻ ra hơn 100 con, lấy người làm thức ăn. Chợt sấm động đá nứt, sinh ra một người. Mọi người lấy làm lạ, suy tôn làm chủ, bèn lĩnh binh đuổi Võng Tượng Quỷ Tử đi, từ đó người dân được yên'. Tục chuộng võ dũng, hàng năm tổ chức hội múa thương tre bắt đầu từ tháng 10 mùa đông. Vua cùng vợ ra xem, mỗi người ngồi một chiếc xe tháp, vợ trước chồng sau, xe cao hơn 1 trượng, 4 phía cửa sổ thông thoáng, dùng ngựa kéo. Đến hội mở trường, liệt trận đối hướng, mỗi người cầm thương tre, cứng chắc như sắt. Người lên trường cũng đưa vợ theo, vợ cũng cầm gậy 3 thước để đỡ, gọi là 'Na Lạt Cách' (nà-là-gé). Kẻ bị thương chết, vua sai người thắng cuộc đưa 1 ống tiền vàng trả cho người góa phụ, thế là xong. Phàm việc hôn nhân, trai đến nhà gái, sau khi hợp cẩn 5 ngày thì rước vợ về. Đánh cồng chiêng, thổi ống dừa, cầm đao khiên hộ tống, trước sau rất thịnh. Vợ thì mình trần xõa tóc đi chân đất, quấn khăn lụa thêu, đeo vàng ngọc, trang sức lộng lẫy không thiếu thứ gì. Họ hàng láng giềng cũng dùng hoa cau cỏ thơm bày thuyền hoa trợ giúp. Yến tiệc vui chơi vài ngày mới giải tán. Việc tang ma khi bệnh nặng tử đệ xin di mệnh, hoặc thủy táng, hỏa táng, hoặc khuyển phúc táng (cho vào bụng chó). Khiêng thây đến bờ biển, thả chó cho ăn, dù ăn hết hay không cũng nhặt phần còn lại ném xuống nước mới thôi. Thảm nhất là hỏa táng, thiếp nào được sủng ái thề đi theo chủ, trang điểm lộng lẫy gào khóc, đợi lửa thiêu xương cháy rực cũng nhảy vào lửa chết theo. Dân gian giàu có, giao thương dùng tiền cổ Trung Hoa. Chữ viết không có giấy, khắc lên lá giao, giống chữ Tỏa Lý. Lấy 20 lạng làm 1 cân, 16 tiền làm 1 lạng, 4 cô bang (gū-bāng) làm 1 tiền, mỗi bang là 2 phân 1 li 8 hào 7 ty 5 hốt. Chặt tre làm thăng (đấu), 1 thăng gọi là 1 cô lạt (gū-là), bằng 1 thăng 8 hợp Trung Hoa. Đấu gọi là nại lê (nài-lí), bằng 8 thăng, bằng 1 đấu 4 thăng 4 hợp Trung Hoa. Đêm rằm, phụ nữ phiên bang khoảng 20-30 người thành đội, dưới ánh trăng nắm tay nhau đi thành hàng, hát vè họa lại, đi khắp cửa quan nhà giàu, tất được thưởng tiền. Lại có người bày sách chỉ trỏ giảng giải cho đám đông, người ngồi nghe vây quanh có cười có khóc, rất động lòng người. Chuộng nhất là đồ sứ hoa Trung Hoa cùng với xạ hương, lụa hoa, gấm vóc. Sản vật có vừng trắng, đậu xanh, tô mộc, kim cương tử (hạt rudraksha), bạch đàn nhục, đậu khấu, mai rùa, đồi mồi, vẹt (có loại xanh đỏ 5 màu), chim liêu ca (yểng) đều biết nói. Lại có gà trân châu, chim đảo quải (vẹt treo ngược), cày kêu, công, chim sẻ trân châu, chim bồ câu xanh... Hươu trắng, vượn trắng, khỉ, dê, lợn, bò, ngựa, gà, vịt cũng có cả. Quả có chuối, dừa, mía (to dài khoảng 2-3 trượng), lựu, gương sen, hồng mật, lang hấp (langsep) giống tỳ bà hơi nhọn, bên trong có thịt trắng." Theo Quảng Đông thông chí: "Nước Qua Oa là đất Ha Lăng (訶陵) cổ. Một tên Xà Bà, lại tên Phủ Gia Long, ở trên hòn đảo giữa biển Nam phía dưới Chân Lạp. Phía Đông giáp Bà Lợi (婆利), phía Tây giáp Đọa Bà Đăng (墮婆登), phía Bắc tiếp giáp Chân Lạp, phía Nam giáp biển lớn. Tống sử chép: Đông đến biển, đi biển 1 tháng; nửa tháng đến nước Khôn Lôn (崑崙). Tây đến biển đi 45 ngày. Nam đến biển đi 3 ngày; đi biển 5 ngày đến nước Đại Thực (大食). Bắc đến biển đi 4 ngày; hướng Tây Bắc đi biển 15 ngày đến Bột Ni (渤泥), lại 15 ngày đến Tam Phật Tề (三佛齊), lại 7 ngày đến Xiêm La (暹羅), lại 10 ngày đến Sài Lịch Đình (柴歷亭), đến Giao Chỉ rồi đạt tới Quảng Châu. Nước ấy lấy gỗ làm thành, có chữ viết, biết lịch pháp tinh tượng. Hạ chí dựng cột 8 thước, bóng đổ về phía Nam 2 thước 4 thốn. Cương vực Qua Oa: Đông giáp Cổ Nữ Nhân quốc, Tây giáp Tam Phật Tề, Nam giáp Cổ Đại Thực quốc, Bắc giới với Chiêm Thành. Từ Chiêm Thành nhổ neo thuận gió 20 ngày đêm có thể tới. Đất rộng dân đông, giáp binh thuốc súng thuộc hàng mạnh nhất trong các phiên quốc Đông Dương. Sách Phật gọi là 'Quỷ quốc' chính là nơi này. Cửa cảng vào đến bến tàu gọi là Tân Thôn (新村), nhà cửa hàng quán san sát thành chợ, thương lữ buôn bán đông nhất. Nước Tam Phật Tề bị nước này thôn tính, tên là Cựu Cảng (舊港) để phân biệt với Tân Thôn. Sứ giả tiến cống khi về lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông khoản đãi." Theo Khôn dư đồ thuyết (坤輿圖說): "Qua Oa có 2 đảo lớn nhỏ, đều ở hải đảo phía Đông Nam Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅喇), mỗi đảo có chủ riêng. Nhiều voi, không có ngựa lừa. Sản xuất hương liệu, tô mộc, ngà voi. Không dùng tiền, lấy hồ tiêu và vải làm tiền tệ. Người dân gian giảo hung ác, thích làm thuật phù thủy yểm bùa. Các nước mỗi khi dấy binh thường tranh giành voi trắng, voi trắng ở đâu thì nước đó làm minh chủ." == Qua Oa bộ vị khảo (爪哇部彙考) phần 2== === 《Minh Nhất Thống Chí》 (明一統志)=== ==== Qua Oa quốc sơn xuyên khảo (Khảo cứu núi sông nước Qua Oa)==== * Núi Bảo Lão Ngạn (保老岸山): Ở nước Tô Cát Đan (蘇吉丹國). Phàm hễ tàu bè phương Tây chưa đến nơi thì đã thấy núi này trước. Đỉnh núi có 5 ngọn cao vút, thường có mây bao phủ bên trên. * Núi Anh Vũ (鸚鵡山): Sản sinh chim anh vũ (vẹt), nên có tên như vậy. * Bát Tiết Giản (八節澗): Phía trên gián (khe nước) tiếp giáp với phủ của chúa Đỗ Mã Ban (杜馬班), phía dưới thông ra biển lớn Phủ Bôn (莆奔), là yết hầu của Qua Oa (瓜哇), vùng đất tất tranh. Đời Nguyên, Sử Bật (史弼) và Cao Hưng (高興) từng hội quân tại đây. ==== Qua Oa quốc thổ sản khảo (Khảo cứu sản vật nước Qua Oa)==== * Vàng (金), Bạc (銀). * Trân châu (真珠): Tên phương Tây là Một Đê Hạ La (沒爹蝦羅). * Sừng tê giác (犀角): Tên phương Tây là Đê Mật (低密). * Ngà voi (象牙): Tên phương Tây là Gia La (家囉). * Đồi mồi (玳瑁), Trầm hương (沉香), Hồi hương (茴香). * Thanh muối (青鹽): Không nhờ đun nấu, do phơi nắng mà thành. * Đàn hương (檀香): Cây và lá giống cây vải. * Long não hương (龍腦香), Đinh hương (丁香). * Tất trừng già (蓽澄茄 - Hồ tiêu khối): Dây leo lan rộng, mùa xuân ra hoa, mùa hạ kết quả, hoa trắng mà quả đen. * Đu đủ (木瓜), Dừa (椰子), Chuối (蕉子), Mía (甘蔗). * Khoai môn (芋), Bình lang (檳榔 - Trầu cau). * Hồ tiêu (胡椒): Cây như cây bồ đào (nho), lấy tre gỗ làm giàn giá. Tháng 1 ra hoa, tháng 4 kết quả, tháng 5 thu hái, phơi khô. * Lưu hoàng (硫黃), Hồng hoa (紅花), Tô mộc (蘇木), Gỗ quặng lang (桄榔木 - Gỗ cây báng). * Cát bối (吉貝 - Bông vải). * Vải giảo (絞布): Có loại giảo thêu tơ, giảo tơ tạp sắc. * Trang kiếm (裝劍 - Kiếm có trang trí), Chiếu mây (藤簟). * Anh vũ trắng (白鸚鵡). * Khỉ (猴): Trong núi ở nước này có nhiều khỉ, không sợ người, gọi bằng tiếng "tiêu tiêu" là chúng liền ra. Nếu ném quả cho ăn, thì có 2 con khỉ lớn đến trước, người bản địa gọi là "Khỉ vương" (猴王) và "Khỉ phu nhân". Chúng ăn quả xong, đàn khỉ mới ăn phần còn lại. Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Qua Oa (瓜哇國) nằm trong các hải đảo phía Đông Nam, chính là nước Xà Bà (闍婆) cổ. Từ đường trạm ở Tuyền Châu (泉州) khởi hành, 1 tháng có thể tới nơi. Trời không có sương tuyết, khí tiết 4 mùa thường nóng bức. Đất sản sinh hồ tiêu, không có thành trì binh giáp, kho lẫm phủ khố. Mỗi khi đến thời tiết lễ hội, quốc vương cùng các thuộc hạ cưỡi ngựa cầm thương diễn võ, kẻ thắng được ban thưởng, thân bằng cố hữu nhảy múa vui mừng. Kẻ bị thương chết thì người vợ cũng chẳng màng nhìn tới mà bỏ đi. Ăn uống dùng lá cây đựng, dùng tay bốc mà ăn. Tiệc tùng hội họp thì nam nữ ngồi thành hàng, cười nói ồn ào đến tận khi say khướt. Phàm các loại cỏ trùng, tất cả đều đem nấu ăn. Việc buôn bán ngoài chợ đều là phụ nữ. Cưới hỏi đa phần bàn chuyện tiền của, chồng chết không quá 10 ngày đã đi lấy người khác. : (Ghi chú: Theo Minh Nhất Thống Chí (明一統志), nước Qua Oa trước sau có 4 tên gọi, mà Tam Tài Đồ Hội lại chép thành "4 nước", mỗi nước đều có hình vẽ riêng, nay tạm để cả hai thuyết để cùng lưu giữ). [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic105 - 瓜哇國.svg|center]] ==Đại Chà Và quốc 大闍婆國== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic102 - 大闍婆國.svg|center]] Đại Chà Và quốc đồ khảo 大闍婆國 Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Đại Xà Bà (大闍婆國) còn có tên là Phủ Gia Long (莆家龍), đi thuyền buồm 8 ngày có thể tới nơi. Xưa truyền rằng nước ấy sấm động đá nứt, có một người bước ra, sau được lập làm vua, con cháu người ấy nay vẫn còn. Nơi đây sản sinh thanh muối, cừu, chim anh vũ (vẹt), du châu, bảo bối... Lại nói trong nước ấy có hạng người "phi đầu" (đầu bay), người đó mắt không có con ngươi, đầu có thể bay đi. Thần linh mà phong tục họ thờ cúng tên gọi là "Trùng Lạc" (虫落), nên gọi là họ Lạc (落氏). Thời Hán Vũ Đế (漢武帝), phương Nam có dân "giải hình" (tách rời thân thể), có thể khiến đầu bay đến biển Nam (南海), tay trái bay đến biển Đông (東海), tay phải bay đến đầm phía Tây (西澤). Đến tối, đầu quay về trên vai, hai tay nếu gặp gió dữ thì sẽ bị thổi dạt ra ngoài biển khơi. ==Ha Lăng quốc 訶陵國== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic103 - 訶陵國.svg|center]] Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會): "Nước Ha Lăng (訶陵國) ở phía Nam nước Chân Lạp (真臘國), dựng gỗ làm thành, xây nhà lớn lầu cao, lợp bằng vỏ cây tông (棕), dùng ngà voi làm giường, lấy hoa dừa làm rượu. Dùng tay bốc ăn. Có độc, người thường ngủ cùng phòng liền sinh lở loét, giao hợp với đàn bà tất sẽ chết, nước dãi dính vào cỏ cây thì cây cỏ liền khô héo." ==Phủ Gia Long quốc (莆家龍)== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic104 - 莆家龍.svg|center]] Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), Phủ Gia Long (莆家龍) ở phía Đông Nam biển, từ Quảng Châu (廣州) nhổ neo, thuận gió 1 tháng có thể tới nơi. Quốc vương búi tóc sau gáy, nhân dân cạo đầu. Lấy dừa ủ rượu, sắc rượu hồng trắng mà vị rất ngon. Nơi đây sản sinh hồ tiêu, đàn hương, trầm hương, đinh hương, bạch đậu khấu. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] headg09ute3dlnlublg9irucgmlip06