Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.46.0-wmf.23 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Đề tài Thảo luận:Lục Vân Tiên 1 7594 204705 83176 2026-04-15T03:07:26Z ~2026-23089-57 20074 204705 wikitext text/x-wiki {{thông tin văn kiện | ấn bản = Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu | nguồn = Lục Vân Tiên, NXB Đồng Nai, 2006 | đóng góp = [[User:Tranminh360|Tranminh360]] | tiến triển = Văn kiện đã hoàn tất và qua hai lần hiệu đính [[File:100 percent.svg]] | ghi chú = Chia làm 4 phần dựa theo bản in của NXB Đồng Nai, có tổng cộng 2082 câu so với 2079 trước khi hiệu đính. | người duyệt = [[User:Vinhtantran|Vinhtantran]] duyệt theo ''Truyện Lục Vân Tiên do Nguyễn Thạch Giang hiệu đính và khảo chú, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1975''.<br>[[User:Tranminh360|Tranminh360]] duyệt lại theo bản Nôm của [http://nomfoundation.org/nom-project/Luc-Van-Tien/Luc-Van-Tien-Text Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm]: [http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/62/ Vân Tiên cổ tích tân truyện] (雲僊古跡新傳), Liễu Văn Đường tàng bản (柳文堂藏板), khắc in vào mùa thu năm Khải Định thứ 1 (啓定元年秋新刊, 1916). Bản Nôm này có nhiều điểm khác so với bản Quốc ngữ của Nguyễn Thạch Giang, bản Nguyễn Thạch Giang chuyển thành dị bản (ghi chú bằng {{tl|khác}}) }} == Tách thành 2 bản? == Bản Nôm 1916 có quá nhiều điểm khác biệt so với bản Quốc ngữ thông dụng gồm 2082 câu, và cũng không rõ bản này gồm bao nhiêu câu nữa. Nên gộp chung 2 bản như hiện nay hay tách thành 2 bản riêng biệt? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:23, ngày 22 tháng 10 năm 2012 (UTC) :Do được in nhiều lần nên Lục Vân Tiên có nhiều bản khác nhau, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ. Ví dụ như bản Lục Vân Tiên giới thiệu trong ''[http://www.songhuong.com.vn/fullsize.php?id=51&page=150.jpg Việt Nam thi văn hợp tuyển]'' gồm 2246 câu, các trích đoạn như [http://www.songhuong.com.vn/fullsize.php?id=51&page=151.jpg Lục Vân Tiên đánh cướp], [http://www.songhuong.com.vn/fullsize.php?id=51&page=151.jpg Lục Vân Tiên bị Võ Công hãm hại], [http://www.songhuong.com.vn/fullsize.php?id=51&page=151.jpg Vương Tử Trực mắng cha con Võ Công] có nhiều điểm khác so với bản 2082 câu thông dụng. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 15:28, ngày 3 tháng 11 năm 2012 (UTC) ::Đã tách thành 2 bản để dễ theo dõi: [[Lục Vân Tiên (bản Nôm 1916)]] và [[Lục Vân Tiên (bản Quốc ngữ 2082 câu)]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]]([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 16:55, ngày 9 tháng 1 năm 2013 (UTC) :::Lịch sử trang cũng được tách thành hai theo hướng dẫn tại [[w:en:Wikipedia:How to fix cut-and-paste moves#History splitting|đây]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:26, ngày 13 tháng 1 năm 2013 (UTC) 03zoqg7nx00usqje0feqy2z7nn4e60j Sợi tóc (truyện ngắn) 0 7801 204702 181655 2026-04-14T21:27:02Z ~2026-23046-37 20073 204702 wikitext text/x-wiki {{Chất lượng vk|50%}}{{đầu đề | tựa đề = Sợi tóc | tác giả = Thạch Lam | dịch giả = | năm = 1942 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = Rút từ tập truyện ngắn [[Sợi tóc]]. {{Ấn bản}} }} {{văn| Anh Thành nhỏm dậy, nghiêng mình chống khuỷu tay xuống giường rồi bắt đầu nói với một giọng trầm và thong thả khiến người nghe hiểu được hết các ý tứ của câu chuyện: Tôi có một người anh họ rất giầu và rất ngốc (có lẽ mình cho anh ta là ngốc, bởi vì hắn không xử sự như mình, không có những quan niệm về cuộc đời như mình; nhưng thật ra biết đâu cách ăn ở của anh ta lại không khôn ngoan hơn, bởi vì anh ta đã giầu và sung sướng?). Tên anh ta là Bân, Bân rất phục tôi, coi tôi là một người sành sỏi, thạo đời và nhất là thạo các ngón ăn chơi. Bởi vậy, động có việc gì, hoặc là muốn mua bán cái gì, anh ta đều không quên đến hỏi tôi trước. Hôm ấy, Bân đến rủ tôi cùng đi mua một cái đồng hồ. Anh ta muốn mua hạng thật tốt, và nhờ tôi xem hộ. Hai chúng tôi đến hiệu Chabot ở phố Tràng Tiền. Đồng hồ ở hãng này thì không còn phải nói gì nữa: Thật là những đồng hồ các hiệu có tiếng, có bảo hành chắc chắn và cố nhiên là giá đắt. Tôi chọn cho hắn ta cái đồng hồ đeo tay hiệu Movado, xuống nước hay vùi cát cũng không hề gì. Chiếc đồng hồ trông rất đẹp. Tôi thấy anh ta mân mê cầm lên ngắm nghía, xem chừng cũng muốn mua lắm. Nhưng cái tính hà tiện của anh ta lại thắng cái thích, nên rồi lưỡng lự một lát, anh ta trả lại nhà hàng, kéo tôi đi ra và bảo: - Đẹp thì đẹp thật, nhưng mà đắt quá, anh ạ. Thôi, chúng ta lại các hiệu khách mà mua thì hơn. Tôi yên lặng gật đầu, và theo đi, cũng chả muốn nói gì. Trong bụng nghĩ anh chàng này thật là ngốc, có tiền mà không biết chơi đồng hồ tốt. Lại kiệt nữa. Không biết hắn để tiền làm cái gì? Vào một hiệu ở Hàng Ngang, sau khi mặc cả ráo riết từng hào, anh ta bằng lòng mua một cái đồng hồ hiệu không mấy ai biết tiếng. Hắn có hỏi ý kiến tôi, song tôi cũng ừ hữ bảo dùng được cho xong chuyện, vì hắn có mua được thứ tốt hay không, bấy giờ tôi thực không thấy quan hệ mấy. Lúc trả tiền, tôi thấy hắn giở ra một cái ví da lớn, phồng chặt. Hắn đếm giấy bạc thong thả và cẩn thận. Thoáng nhìn qua, tôi cũng biết trong ví nhiều tiền lắm: ngoài số tiền bạc lẻ hắn mang ra trả, tôi còn thấy gấp ở ngăn trên đến năm, sáu cái giấy bạc một trăm nữa, những giấy bạc mới, màu còn tươi nguyên - "Quái, thằng cha này làm gì mà lắm tiền thế? Mình thì chả bao giờ có đến được một trăm bạc bỏ túi!" Tôi nghĩ thầm và so sánh thế. Mua xong đồng hồ. Bân rủ tôi đi ăn: - Ta lên hiệu chén, rồi lát nữa làm một chầu chứ, - hắn vỗ vào túi - tôi có đủ tiền đây! Chúng tôi vào hiệu. Bân ăn vui vẻ lắm, có lẽ hắn vừa ý vì cái đồng hồ mua rẻ. Tôi thì trong óc cứ vơ vẩn cái ý nghĩ sao một thằng ngốc như hắn - tôi thấy hắn càng ngốc - lại có lắm tiền thế, còn mình... Tuy vậy, ý nghĩ cũng không làm tôi ăn mất ngon. Tôi tỏ mặt sành, gọi những thức ăn quý và đắt tiền, và hai chúng tôi uống rượu say sưa. Cơm xong, Bân đưa tôi xuống Vạn Thái, vào nhà một người nhân tình của hắn. Hình như đã lâu không được đi hát, nên hắn có vẻ tha thiết và sung sướng đến đáng ghét. Về phần tôi, không thấy hứng lắm, - đi chơi với một anh có nhiều tiền mà mình lại khinh là ngốc, không có thú vị mấy - nhưng chẳng lẽ lại bỏ hắn nửa chừng. Tôi định bụng ở chơi qua quýt đến nửa đêm thì về. Nhà hát, ngoài cô nhân tình của Bân, các con em khác trông cũng khá. Tôi nằm bên bàn đèn nói vài câu chuyện tầm phơ. Còn Bân, hắn không nghe hát hiếc gì cả. Ngồi nói chuyện với tôi một lát lấy lệ, rồi hắn cùng với cô nhân tình vào buồng trong đi nằm một chỗ. Hắn không quên - tính cẩn thận của anh kiệt! - đem cả cái áo tây trong có ví tiền vào chỗ nằm, vất trên thành đầu giường. Một mình tôi ở ngoài đâm chán. Nằm một lát rồi tôi cũng đứng dậy sửa soạn ra về; Bân vẫn ở trong màn, nói vọng ra giữ lại: - Anh hãy ở chơi đã, về làm gì vội. Ngày mai chủ nhật cơ mà. - Thôi, tôi phải về. Sáng mai còn có việc. Vừa nói tôi vừa với cái áo tây của tôi treo trên mắc. Bỗng nhiên có cái gì chuyển mạnh qua tim: tay tôi yên hẳn lại; tôi vừa mới nhận ra rằng cái áo tôi đương cầm không phải là áo của tôi. Thì ra lúc mang áo vào giường nằm, Bân đã mang nhầm áo. Hai chúng tôi cùng mặc thứ hàng len giống màu, như vậy dễ lẫn lắm. Tôi ghé nhìn vào phía trong áo thấy cái ví tiền ở túi thò ra ngoài một ít. Cái ví tiền... mấy tờ giấy bạc... - Ở chơi đã anh. Ở chơi sáng sớm mai về với tôi một thể. - Ờ... ờ... Tôi điềm nhiên treo cái áo vào chỗ cũ, quay ra. Mấy chị em cũng phụ họa vào lời mời của Bân, nài nỉ: - Tội gì mà về bây giờ anh, khuya và lạnh chết. Tôi chỉ thoáng nghe thấy, trong trí như còn bận sự gì. Bâng khuâng tôi lại gần giường; một chị nâng chén mời: - Anh uống chén nước nóng. Rồi nằm xuống đây có hơn không? - Ờ thì hẵng nằm một lát đã. Tiếng Bân trong màn đưa ra: - Phải đấy, đến mai hẵng về. Tôi bảo chị Lan phải làm thế nào giữ anh ấy lại thì làm... - Không... thể nào tôi cũng phải về, anh ạ... Những lời đối đáp ấy cứ tự nhiên buột miệng ra, tôi không để ý đến. Trước mắt tôi, mấy tờ giấy bạc một trăm gấp trong ngăn ví, hiện ra rất rõ rệt. Lấy mấy tờ, độ hai tờ - tại sao lại hai? Tôi không biết - thật dễ dàng quá. Tôi cứ việc điềm nhiên với lấy áo, mở ví rút ra hai tờ, rồi khoác áo ở trên vai, ra ý sắp sửa về. Rồi chọn lúc mọi người vô ý - mà dẫu có ý cũng không ai biết được - tôi đổi lấy áo của tôi vắt ở đầu giường Bân... Thế là xong, và gọn. Mai dậy Bân biết mất chắc chẳng bao giờ dám nghi ngờ cho tôi. Mà nghi ngờ thế nào được? Tôi về từ đêm cơ mà! Vả lại cái áo đựng tiền hắn đã cẩn thận mang vào giường ngay từ chập tối, vậy nếu có người lấy, thì chỉ có người nhà cô đầu mà thôi. Mà người nhà thì cũng khó lòng đến đấy lấy được, họa chăng có ngay cô nằm với Bân. ừ, có lẽ Bân sẽ nghi cho nhân tình của hắn lấy... Chắc thế. Tôi mỉm cười: Bân sẽ không dám nói gì đâu; biết nhân tình lấy, hắn sẽ im lặng, sợ làm cho nhân tình xấu hổ, và sợ làm tai tiếng chủ nhà. Hắn vốn tính nhát, với lại hai trăm đối với hắn chắc chả là bao. Tất cả những cách xếp đặt ấy diễn qua rất nhanh trong trí tôi. Chỉ một thoáng thôi, tôi đủ tưởng trước được các việc xảy ra như thế, êm thấm và yên lặng, và trôi chảy... dễ dàng quá, mà không còn sợ cái gì cả... - Mời anh xơi thuốc. Tôi giật mình đỡ lấy dọc tẩu. Cô Lan đã tiêm xong điếu thuốc từ bao giờ, quay dọc sang mời. Mắt cô nhìn tôi âu yếm. Tôi đưa mắt nhìn xuống, cầm lấy dọc hút. Điếu thuốc kêu vo vo, tiếng như ở đâu đưa lại. Qua làn khói trắng tỏa ra, tôi tưởng nhìn thấy tập giấy bạc một trăm, còn mới nguyên gấp trong ngăn ví. Hắn làm gì mà có lắm tiền thế? Lại mang để trong ví làm gì? Rõ anh chàng ngốc không biết dùng đồng tiền, tiền ở trong tay hắn cũng uổng. Ngộ có đứa lấy đi thì sao? Để thế có bữa mất thật... - Anh nghĩ gì mà thần người ra thế? Say thuốc có phải không? Lan để tay nhẹ nhàng lên người tôi, lẳng lơ đưa mắt hỏi. Tôi giả vờ cười không đáp, rồi xoay nằm ngửa, nhìn lên trần nhà. Trong người bứt rứt không yên... Lắng nghe thấy tiếng Bân thì thào và tiếng cười khúc khích của nhân tình hắn trong màn. Chiếc áo vắt ở đầu giường - chiếc áo của tôi - chắc vẫn còn y nguyên ở đấy. Tôi tưởng tượng khi có hai trăm trong túi rồi, lên xe về điềm tĩnh đi nằm ngủ. Sớm mai mất tiền, thế nào hắn chả về qua nhà mình. Hắn gọi cửa vào, đánh thức mình dậy và bơ phờ bảo: - Tôi mất hai trăm bạc tối hôm qua rồi, anh ạ... Tôi thấy trước bộ mặt ngạc nhiên của tôi lúc bấy giờ - một vẻ mặt rất tự nhiên, - và tôi hỏi: "Chết chửa, mất bao giờ? Ở đâu?" - Hắn sẽ thuật lại buổi tối hôm nay, lúc mang áo vào giường, đến lúc thấy mất: "Chỉ có con nhân tình tôi nó lấy thôi, anh ạ. Chả còn ai vào đấy nữa..." - Thế giấy bạc của anh có biên số không? Nếu hắn không biên số thì mình cứ việc tiêu tự nhiên! Vạn nhất hắn có biên số rồi, thì bảo hắn đi trình cẩm. Nhưng mình sẽ tiêu ngay hôm ấy... Một người như mình cầm tờ giấy trăm vào Gô Đa mua hàng, ai dám nghi ngờ?... Tôi nhớ lúc ấy tuy vẫn nói chuyện với mấy cô em, tôi xếp đặt đâu vào đấy rất chu đáo, phòng ngừa đủ mọi việc xảy ra. Chỉ còn việc lấy, và đổi áo nữa là xong. Rất dễ. - Ấy kìa, anh đi đâu đấy? - Tôi đi về đây, mai có việc bận, không thể ở lại được. Tôi đã nhổm dậy đến bên mắc, với áo, chiếc áo của Bân. Qua lần vải tôi thấy chiếc ví kềnh kệnh răn rắn. Khoác áo lên một bên vai, tôi đi lại trong nhà, bồn chồn nóng ruột. Một cô đầu lê guốc ra hé cửa, nhìn ra ngoài trời: - Tối lắm. Phải vạ gì mà đi bây giờ anh ạ. - Đâu xem nào... Tôi cũng đến bên cửa nghiêng nhìn ra ngoài. Tay tôi đưa vào trong áo, luồn vào khe ví, sờ vào mấy tấm giấy bạc. Tôi rùng mình. Mấy ngón tay mân mê đầu tấm giấy, một cái, hai cái... - Thôi, vào không gió, anh ạ. Vào nằm cho ấm... Tôi bỏ tay ra - thong thả, không vội gì, - theo vào, cái áo vẫn đè trĩu trên vai. Tôi ngồi ghé xuống cạnh giường, cầm chén nước lên nhấp, rồi lại đặt xuống. Tiếng Bân trong nhà cất lên: - Ông ấy về rồi à? Tôi đáp: - Không, đã về đâu. Tí nữa. Bân nói câu gì sau, tôi cũng không nghe thấy. Tâm hồn tôi lúc bấy giờ thế nào, tôi không biết rõ. Tôi đứng lên, ngồi xuống, như một cái máy. Tôi chỉ băn khoăn, bứt rứt, và thời giờ qua... tôi cảm thấy đi qua tâm hồn tôi từ bên này sang bên kia... như thế không biết trong bao nhiêu lâu... Tôi khẽ thở dài, đứng lên lần này thì nhất định. - Về thôi. Không mai đi sớm lại nhọc chết. Bân hỏi vọng ra: - Ồ, anh về à? Mấy giờ rồi đấy nhỉ? - Gần một giờ rồi. Anh cứ ở đây. Cả mấy cô này nữa, đi ngủ đi cho béo mắt. Bận sau tôi ở lâu nhé. Tôi đưa tay vuốt mái tóc một cô sán đến gần, hai tay để lên vai tôi, mắt nhìn ra vẻ âu yếm. Hai cô khác ngồi yên trên giường, cũng đưa mắt nhìn tôi như chờ đợi. - Thôi đi ngủ đi. Tôi gạt tay cô ấy ra, gấp cái áo tây trên cánh tay, rồi đi vào phía giường Bân nằm. Tôi cúi xuống, tì vào thành giường - cố ý tì vào chỗ vắt cái áo - nhìn vào trong, qua màn. - Anh ở lại nhé - tôi mỉm cười - tri kỷ hết đêm nay cho nó sướng... Cô nhân tình khúc khích trong chăn. Và Bân ngửa đầu trông lên, tay với vào tấm màn: - Mai nhé. - Oui, à demain. Nhưng tôi chưa quay ra. Tôi vẫn cứ tì mình trên thành giường, lưỡng lự, một lát bấy giờ sao lâu thế. Rồi, không biết tại sao, bỗng nhiên: - Áo anh đây này, đây là áo của tôi. Và nói thêm bằng tiếng Pháp: - Anh đếm lại tiền đi. Và để cẩn thận vào trong ấy. Bân nhỏm nửa người dậy, cầm lấy áo: - Merci, được rồi. Tôi bước một bước lùi ra. Thế là hết. Bây giờ thì không sao đụng đến ví được nữa. Tôi bần thần ngơ ngẩn, mặc lấy chiếc áo của tôi, và đội mũ... Vừa gài khuy, tôi vừa nói mấy câu bông đùa vô vị với cô ả đứng ở chân giường sắp tiễn tôi về. Tôi trùng trình uống nước và hút thuốc, muốn cái thời khắc này cứ kéo dài ra mãi. Đến khi ngồi trên xe về qua những phố khuya vắng vẻ, tâm trí tôi mới dần bình tĩnh lại. Gió lạnh thổi mát trên vừng trán nóng, và cái cảm giác mát ấy khiến tôi dễ chịu. Tôi nghĩ lại đến những cử chỉ và dự định của tôi lúc nãy, thật vừa như một người khôn khéo lại như một người mất hồn. Tất cả những cái đó bây giờ xa quá. Tâm trí tôi giãn ra, như một cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường. Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị, khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ. Và một mối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng cố ý không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một vẻ rờn rợn và sâu sắc. {{ba sao}} Sáng hôm sau tỉnh dậy ở nhà, tôi ngẩn ngơ nghĩ lại các việc tối hôm trước, y như trong một giấc mộng, chứ không phải việc đã xảy ra... Tôi ngạc nhiên tự hỏi sao mình hãy còn là người lương thiện, không phải là kẻ ăn cắp. Mà tôi thú thực rằng nếu bấy giờ tôi đã là kẻ ăn cắp, cái đó cũng không khiến tôi lấy làm ngạc nhiên hơn. Mà còn là người lương thiện, tôi tự thấy cũng chẳng có gì là đáng khen. Tôi nhớ rõ lúc đó không có một ý nghĩ nào về danh dự, về điều phải, điều trái ngăn cản tôi, và khiến tôi đi vào con đường ngay, như người ta vẫn nói. Không, không có một chút gì như thế. Cái gì đã giữ tôi lại? Tôi không biết... Có lẽ chỉ một lời nói không đâu, một cử chỉ nào đấy, về phía này hay phía kia, đã khiến tôi có ăn cắp hay không ăn cắp. Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên... Tôi có tiếc đã không lấy hay không, hay bằng lòng mình vì đã chống giữ lại cái ý xấu? Tôi cũng không tìm biết rõ hơn. Hình như ý nghĩ ham muốn hay trù trừ tối ấy không phải là của tôi, hình như của ai ấy, của một người nào khác lạ, khác với cái người thường của tôi bây giờ... Chúng tôi đều yên lặng. Anh Thành nói xong, với cái điếu hút một hơi thuốc lào rất kêu. Rồi anh thở ra thong thả, mắt lờ mờ nhìn dõi theo làn khói đi. }} [[Thể loại:Truyện ngắn Việt Nam]] n0hin9cev27fyr5l3t2p9r435ut1uus Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc 4 24710 204703 204682 2026-04-15T03:05:19Z ~2026-23089-57 20074 204703 wikitext text/x-wiki __NEWSECTIONLINK__ {{Đề mục diễn tiến | tựa đề = [[Wikisource:Tác phẩm chọn lọc|Tác phẩm chọn lọc]] | đề mục = (ứng cử viên) | trước = [[Wikisource:Tác phẩm chọn lọc|Tác phẩm chọn lọc]] | sau = [[/Lưu trữ|lưu trữ]] | viết tắt = [[WS:UCVCL]] | ghi chú = Đây là trang dùng để đề cử các tác phẩm chọn lọc theo [[WS:TPCL|các hướng dẫn về Tác phẩm chọn lọc]]. Một tác phẩm chọn lọc phải đạt được những tiêu chuẩn cao nhất về độ chính xác trên Wikisource. Khi bạn đề cử một tác phẩm, bạn nên có trách nhiệm cải tiến tác phẩm theo những ý kiến chưa đồng tình ở đây. Bất kỳ thành viên đầy đủ nào (mở tài khoản trên 4 ngày và có hơn 10 sửa đổi) đều có thể đề cử hoặc bỏ phiếu cho một tác phẩm (dựa trên [[WS:TPCL#Tiêu chí|các tiêu chí]]). Vào mỗi tháng, đề cử nào đạt được tỷ lệ ủng hộ cao nhất, nếu có hai tác phẩm bằng tỷ lệ thì là tác phẩm có nhiều phiếu hơn, sẽ được lựa chọn làm tác phẩm chọn lọc. Tất cả các đề cử có ít hơn 70% số phiếu ủng hộ sau một tuần sẽ được lưu trữ. Những đề cử có triển vọng (tối đa là 10) sẽ được chuyển sang tuần kế tiếp, và các thành viên sẽ tiếp tục bỏ phiếu. }} [[Thể loại:Độ toàn vẹn văn kiện|Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc]] [[Thể loại:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc| ]] {{danh sách tác phẩm chọn lọc}} =Thông tin= ==Đề cử một tác phẩm== # Hãy đảm bảo tác phẩm đạt được ''toàn bộ'' các [[WS:TPCL|các tiêu chí của một tác phẩm chọn lọc]] và [[Wikisource:Cẩm nang biên soạn|hướng dẫn cách biên soạn]]. Đề cử nào bị đánh dấu chưa đạt tiêu chí sẽ bị gỡ sau 24 giờ, trừ khi nó được sửa để thỏa mãn các tiêu chí trong thời gian đó. # Hãy đảm bảo "tùy chọn tải về" ở thanh bên hoạt động tốt với toàn bộ tác phẩm # Ghi chú việc đề cử tại trang thảo luận tác phẩm bằng cách thêm bản mẫu {{tl|ứng viên tác phẩm chọn lọc}}. # Bắt đầu thảo luận ở dưới trang này. Ghi rõ lý do đề cử tác phẩm. ;Xem thêm: * [[WS:HD|Hiệu đính]] ==Thảo luận== * Nếu bạn tin rằng tác phẩm đã thỏa mãn toàn bộ các tiêu chí, hãy viết '''Đồng ý''' kèm theo lý do của bạn. * Nếu bạn phản đối đề cử, viết '''Không đồng ý''' kèm theo lý do của bạn. Mỗi một phiếu không đồng ý phải có lời giải thích chính đáng và có thể giải quyết được. Nếu trên nguyên tắc không có cách nào có thể "sửa" được nguyên nhân phản đối, lời phản đối có thể bị bỏ qua. Áp dụng tương tự đối với lời phản đối với lý do "không phù hợp để đưa lên [[Trang Chính|trang chính]]", trừ khi có thể làm gì đó để nó trở nên phù hợp với trang chính. * Để rút lại lời phản đối, gạch ngang (bằng <nowiki><s>nội dung</s></nowiki>) chứ đừng xóa nó đi. ==Kết luận một đề cử (dành cho bảo quản viên)== * Đề cử thất bại *# Ghi một tóm tắt tại sao đề cử thất bại. *# [[/Lưu trữ|Lưu trữ]] nó. *# Đặt {{tlx|Đề cử tác phẩm chọn lọc thất bại|năm|tiêu đề}} vào đầu trang thảo luận của tác phẩm (thêm năm và tên đề mục của thảo luận đã lưu trữ). * Đề cử thành công *# Ghi một tóm tắt về việc tác phẩm được lựa chọn làm chọn lọc. *# [[/Lưu trữ|Lưu trữ]] nó. *# Thêm tác phẩm vào {{tl|Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc}} (với trang con năm và tháng theo định dạng "{{CURRENTYEAR}}/{{CURRENTMONTH1}}") và {{tl|danh sách tác phẩm chọn lọc}}. *# Đặt {{tl|chọn lọc}} vào phía trên bản mẫu {{tl|đầu đề}} trong trang chính của tác phẩm. *# Đặt {{tlx|thảo luận chọn lọc|{{#time:Y-m|+1 month}}}} vào đầu trang thảo luận chính của tác phẩm (thay số tháng cho đúng). *# Khóa toàn bộ các trang nằm trong không gian chính của tác phẩm. *# Ghi tình trạng chọn lọc của tác phẩm tại mục dữ liệu của nó trên Wikidata. =Đề cử= ''Xem các đề cử trước tại [[/Lưu trữ|lưu trữ]].'' == [[Hưng Đạo vương]] == Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 4 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) == [[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca/Cuốn thứ nhứt]] == Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 4 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) == [[Việt Nam phong tục]] == Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 6 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) == [[Anh phải sống]] == Hiệu đính từ tháng 7 năm 2020. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) == [[Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh/Bản đánh máy 1965]] == Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) == [[Ba người bạn]] == Tác phẩm đã được phê chuẩn. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 12:13, ngày 22 tháng 10 năm 2024 (UTC) == [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]] == Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:08, ngày 15 tháng 7 năm 2025 (UTC) qpo2bo27x2kf9a4bkgamueq6y22bbf7 Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2019 4 25287 204707 147154 2026-04-15T03:08:19Z ~2026-23089-57 20074 /* Thư Trần Trọng Kim gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947 */ 204707 wikitext text/x-wiki {{Đề mục diễn tiến | tựa đề = Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ | đề mục = 2019 | trước = | sau = [[Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2020|2020]] | viết tắt = | ghi chú = }} ==Thành công== ===[[Hịch tướng sĩ (Trần Trọng Kim dịch)]]=== {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 3 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 20:41, ngày 23 tháng 2 năm 2019 (UTC)|ND= Nội dung lấy từ bản scan năm 1971, các trang đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:03, ngày 5 tháng 2 năm 2019 (UTC) #{{OK}} [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:04, ngày 5 tháng 2 năm 2019 (UTC) #{{OK}}. Tôi đã thêm một vài liên kết Wikipedia cho tên người và địa danh trong bài. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 20:19, ngày 11 tháng 2 năm 2019 (UTC) }} ===[[Xứ Bắc kỳ ngày nay]]=== {{biểu quyết|KQ=Bài chọn lọc cho tháng 4. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 00:43, ngày 11 tháng 3 năm 2019 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được phê chuẩn hoàn toàn, có nhiều hình minh họa phong phú. Đề nghị là tác phẩm chọn lọc trong tháng 4 năm 2019. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:15, ngày 24 tháng 2 năm 2019 (UTC) #{{OK}} Như trên. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:15, ngày 24 tháng 2 năm 2019 (UTC) #{{OK}} Trang đã hoàn toàn được phê chuẩn. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 22:43, ngày 28 tháng 2 năm 2019 (UTC) }} ===[[Trở vỏ lửa ra]]=== {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 5 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 22:42, ngày 30 tháng 3 năm 2019 (UTC)|ND= Nội dung có bản quét đã được phê chuẩn hoàn toàn. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 18:12, ngày 17 tháng 3 năm 2019 (UTC) #{{OK}} Đề nghị là tác phẩm chọn lọc tháng 5 năm 2019. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:06, ngày 18 tháng 3 năm 2019 (UTC) }} ===[[Sương tháng tám]]=== {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc cho tháng 6 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 15:15, ngày 18 tháng 4 năm 2019 (UTC)|ND= Tác phẩm có bản quét đã được phê chuẩn hoàn toàn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:13, ngày 28 tháng 3 năm 2019 (UTC) # {{OK}} Tán thành. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 22:37, ngày 30 tháng 3 năm 2019 (UTC) }} ===[[Bình Ngô đại cáo (Trần Trọng Kim dịch)]]=== {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 7 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 17:38, ngày 2 tháng 6 năm 2019 (UTC)|ND= Nội dung lấy từ bản scan năm 1971, các trang đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:09, ngày 5 tháng 2 năm 2019 (UTC) #{{OK}} [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 16:25, ngày 11 tháng 2 năm 2019 (UTC) #{{OK}} Hoàn toàn tán thành. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 22:37, ngày 30 tháng 3 năm 2019 (UTC) }} ===[[Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam]]=== {{bq|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 9 năm 2019|ND= Tác phẩm có bản quét đã được phê chuẩn hoàn toàn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 00:34, ngày 10 tháng 7 năm 2019 (UTC) }} ===[[Tôn Ngô binh pháp]]=== {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 8 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 17:26, ngày 1 tháng 8 năm 2019 (UTC)|ND= Tác phẩm có bản quét đã được phê chuẩn hoàn toàn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:41, ngày 20 tháng 5 năm 2019 (UTC) #{{OK}} Đã phê chuẩn xong. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 00:48, ngày 21 tháng 5 năm 2019 (UTC) # {{OK}} Đồng ý. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 17:39, ngày 2 tháng 6 năm 2019 (UTC) }} === [[Bánh trôi nước]] === {{bq|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 10/2019.|ND= Tác phẩm đã được một số thành viên đối chiếu với các dị bản khác nhau. Có nhiều chú giải. Chất lượng văn kiện đạt 100%. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 23:07, ngày 2 tháng 2 năm 2019 (UTC) # {{OK}} Như trên. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 16:43, ngày 6 tháng 2 năm 2019 (UTC) }} ===[[Hiệp định Paris 1973]]=== {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 11 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 05:09, ngày 28 tháng 10 năm 2019 (UTC)|ND= Tác phẩm có bản quét đã được phê chuẩn hoàn toàn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 06:32, ngày 14 tháng 7 năm 2019 (UTC) }} === [[Lục Vân Tiên (bản Nôm 1916)]] === {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 12 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 15:09, ngày 27 tháng 11 năm 2019 (UTC)|ND= Đây là một trong những truyện thơ Nôm nổi tiếng của Việt Nam. Bản này có nguồn gốc đầy đủ, có thể kiểm chứng và có ít nhất hai thành viên đã hiệu đính tác phẩm. Tác phẩm cũng có rất nhiều chú thích hữu ích. Chất lượng văn kiện đạt 100%. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 23:07, ngày 2 tháng 2 năm 2019 (UTC) # {{OK}} Như trên. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 16:43, ngày 6 tháng 2 năm 2019 (UTC) }} == Không thành công == === [[Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc]] === {{biểu quyết|1=Đề cử thất bại do bản dịch hiện tại không cho phép sử dụng thương mại. Bản dịch mới có nội dung hoàn toàn khác. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 04:32, ngày 3 tháng 2 năm 2019 (UTC)|ND= Đây là một tác phẩm dịch (không phải thành viên Wikisource dịch). Có văn bản quét, và đạt được độ hoàn chỉnh tuyệt đối. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 23:07, ngày 2 tháng 2 năm 2019 (UTC) }} === Thư Trần Trọng Kim gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947 === {{biểu quyết|Đề cử thất bại do tác phẩm còn hạn bản quyền. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 01:08, ngày 3 tháng 2 năm 2019 (UTC)|ND= Bản số hóa từ một lá thư viết tay. Định dạng có thể cần phải tinh chỉnh thêm để giống tác phẩm gốc, nhưng đã đạt đến sự hoàn chỉnh. Lá thư tay này cũng mới được phát hiện gần đây nên có thể "tin tức" hơn chăng? [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 23:07, ngày 2 tháng 2 năm 2019 (UTC) }} [[Thể loại:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc|2019]] 54mlaislfg9vaxug7hve2tdn28das72 Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ 4 25288 204704 204681 2026-04-15T03:06:04Z ~2026-23089-57 20074 /* Lưu trữ */ 204704 wikitext text/x-wiki {{Đề mục diễn tiến | tựa đề = [[../]] (Lưu trữ) | đề mục = | trước = [[../]] | sau = | viết tắt = | ghi chú = Đây là trang lưu trữ các biểu quyết chọn tác phẩm chọn lọc. Vui lòng không thảo luận tại đây. }} == Lưu trữ == * [[/2021 /]] ** <small>Thành công— ''[[Luật 10-59|Luật 10/59]]'' | ''[[Việt Nam sử lược/Quyển I|Việt Nam sử lược, Quyển I]]'' | ''[[Thề non nước (tập truyện ngắn)|Thề non nước]].</small> * [[/2020 /]] ** <small>Thành công— ''[[Hiệp định Paris 1973 và các văn bản có liên quan/Định ước]]'' | ''[[Cung oán ngâm khúc (bản Edmond Nordemann 1905)]]'' | ''[[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]]'' | ''[[Đông Dương ngày xưa và ngày nay]]'' | ''[[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]''.</small> ** <small>Không thành công— ''[[Đại Việt sử ký toàn thư/Tập II]]'' | ''[[Lịch Annam thuộc về sáu tỉnh Nam Kì]]'' | ''[[Phú bần truyện diễn ca]]'' | ''[[Thi pháp nhập môn]]'' | ''[[Tuồng Joseph]]''.</small> * [[/2019 /]] ** <small>Thành công— ''[[Hịch tướng sĩ (Trần Trọng Kim dịch)]]'' | ''[[Xứ Bắc kỳ ngày nay]]'' | ''[[Trở vỏ lửa ra]]'' | ''[[Sương tháng tám]]'' | ''[[Bình Ngô đại cáo (Trần Trọng Kim dịch)]]'' | ''[[Tôn Ngô binh pháp]]'' | ''[[Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam]]'' | ''[[Bánh trôi nước]]'' | ''[[Hiệp định Paris 1973]]'' | ''[[Lục Vân Tiên (bản Nôm 1916)]]''.</small> ** <small>Không thành công— ''Thư Trần Trọng Kim gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947'' | ''[[Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc]]''.</small> [[Thể loại:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc|Lưu trữ]] 3n8t56jedlivntzk024m7mioawcomxk 204720 204704 2026-04-15T03:42:53Z ~2026-23089-57 20074 /* Lưu trữ */ 204720 wikitext text/x-wiki {{Đề mục diễn tiến | tựa đề = [[../]] (Lưu trữ) | đề mục = | trước = [[../]] | sau = | viết tắt = | ghi chú = Đây là trang lưu trữ các biểu quyết chọn tác phẩm chọn lọc. Vui lòng không thảo luận tại đây. }} == Lưu trữ == *[[/2019/]] **<small>Thành công — [[Hịch tướng sĩ (Trần Trọng Kim dịch)|''Hịch tướng sĩ'' (Trần Trọng Kim dịch)]] | ''[[Xứ Bắc kỳ ngày nay]]'' | ''[[Trở vỏ lửa ra]]'' | ''[[Sương tháng tám]]'' | [[Bình Ngô đại cáo (Trần Trọng Kim dịch)|''Bình Ngô đại cáo'' (Trần Trọng Kim dịch)]] | ''[[Tôn Ngô binh pháp]]'' | ''[[Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam]]'' | ''[[Bánh trôi nước]]'' | ''[[Hiệp định Paris 1973]]'' | [[Lục Vân Tiên (bản Nôm 1916)|''Lục Vân Tiên'' (bản Nôm 1916)]]</small> **<small>Không thành công — ''Thư Trần Trọng Kim gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947'' | ''[[Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc]]''</small> *[[/2020/]] **<small>Thành công — ''[[Định ước của Hội nghị Paris 1973]]'' | [[Cung oán ngâm khúc (bản Edmond Nordemann 1905)|''Cung oán ngâm khúc'' (bản Edmond Nordemann 1905)]] | ''[[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]]'' | ''[[Đông Dương ngày xưa và ngày nay]]'' | ''[[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]''</small> **<small>Không thành công — [[Đại Việt sử ký toàn thư/Tập II|''Đại Việt sử ký toàn thư'', Tập II]] | ''[[Lịch Annam thuộc về sáu tỉnh Nam Kì]]'' | ''[[Phú bần truyện diễn ca]]'' | ''[[Thi pháp nhập môn]]'' | ''[[Tuồng Joseph]]''</small> *[[/2021/]] **<small>Thành công — ''[[Luật 10-59|Luật 10/59]]'' | [[Việt Nam sử lược/Quyển I|''Việt Nam sử lược'', Quyển I]] | ''[[Thề non nước (tập truyện ngắn)|Thề non nước]]''</small> *[[/2024/]] **<small>Thành công — ''[[Lên sáu]]'' | ''[[Lên tám]]'' | ''[[Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa]]'' | [[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến/Bản viết tay|''Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến''/Bản viết tay]] | ''[[Tuồng Joseph]]'' | ''[[Những trẻ khốn nạn]]''</small> [[Thể loại:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc|Lưu trữ]] pgmpwtrzlnbah3bbkdd46m9dxrjuiob Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2020 4 28521 204709 147156 2026-04-15T03:08:51Z ~2026-23089-57 20074 /* Tuồng Joseph */ 204709 wikitext text/x-wiki {{Đề mục diễn tiến | tựa đề = Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ | đề mục = 2020 | trước = [[Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2019|2019]] | sau = [[Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2021|2021]] | viết tắt = | ghi chú = }} ==Thành công== === [[Hiệp định Paris 1973 và các văn bản có liên quan/Định ước]] === {{Biểu quyết|KQ=Bài viết chọn lọc tháng 2 năm 2020. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 03:47, ngày 1 tháng 2 năm 2020 (UTC)|ND= Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam là một văn kiện độc lập với Hiệp định Paris 1973, do 12 nước ký kết. Tác phẩm có bản quét và đã được phê chuẩn hoàn toàn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:28, ngày 28 tháng 12 năm 2019 (UTC) }} === [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] === {{biểu quyết|KQ=Bài viết chọn lọc tháng 9 năm 2020. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 14 tháng 8 năm 2020 (UTC)|ND = Tác phẩm có bản quét và đã được phê chuẩn hoàn toàn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:39, ngày 31 tháng 1 năm 2020 (UTC) }} === [[Đông Dương ngày xưa và ngày nay]] === {{biểu quyết|KQ = Tác phẩm chọn lọc tháng 10 năm 2020. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 16:41, ngày 22 tháng 9 năm 2020 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 2 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) :{{OK}} Đã phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:58, ngày 11 tháng 9 năm 2020 (UTC) }} === [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]] === {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 11/2020. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:56, ngày 20 tháng 10 năm 2020 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính nhưng cần phải được phê chuẩn, là bước cuối cùng để hoàn thiện một quyển sách. Vì số thành viên Wikisource không nhiều để làm việc này mà chỉ có 2 thành viên hiệu đính qua lại, tác phẩm như vậy có lẽ đã đủ chất lượng để được đưa lên Trang Chính nhằm quảng bá thêm các tác phẩm đang có trên Wikisource. Do đó tôi đưa tác phẩm này ra để bình chọn. Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 2 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) :Đề cử [[Ấu học khải mông]] (quyển 1) hay [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]] (quyển 2) vậy? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:49, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) ::Tôi đã sửa tựa đề thành [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 20:51, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) :::{{OK}} Đã phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:18, ngày 5 tháng 9 năm 2020 (UTC) }} :<s>{{Phản đối}} Phản đối toàn bộ các đề cử trên.</s> Theo [[Wikisource:Tác phẩm chọn lọc#Tiêu chí]]: ''Tác phẩm phải được hiệu đính đầy đủ bởi nhiều thành viên để bảo đảm nó khớp một cách chính xác với bản gốc.'' Tác phẩm chỉ được hiệu đính bởi 1 thành viên là không đáp ứng được tiêu chí của tác phẩm chọn lọc. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:07, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) ::Do Tân nói trong [[Đề tài:Usjxsoesol2snodo|thảo luận này]]: ''mình gõ văn bản bằng tay, thậm chí dùng văn bản có sẵn và chỉnh sửa cho khớp, thì rất đáng để đặt màu vàng'' nên gõ xong tôi đặt màu vàng đấy chứ đã hiệu đính gì đâu, cần có người soát lỗi đánh máy đã chứ? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:27, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) :::Tôi không rõ các tác phẩm bạn đưa vào là tự đánh máy hay lấy từ nguồn đánh máy có sẵn sau đó soát lỗi. Nếu là trường hợp 1, tức là tự đánh máy và sau đó tự kiểm lỗi thì chưa đạt đủ điều kiện ''nhiều thành viên''. Còn trường hợp 2 thì đã đủ điều kiện. Tác phẩm nào thuộc trường hợp thì 1 nhờ bạn đánh dấu vào đề cử và sẽ để chúng lại. Các tác phẩm do tôi đưa vào (không có đánh dấu "Phản đối" ở trên, kể cả [[Luật 10-59]]) đều thuộc nhóm 2. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 20:46, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) ::::Các tác phẩm tôi đánh dấu {{Phản đối}} đều do tôi tự đánh máy (mà còn đánh máy trên điện thoại nữa). Riêng [[Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca]] thì phần tiếng Việt lấy từ bản đánh máy của tve-4u.org, còn phần chữ Hán do tôi đánh máy. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:14, ngày 29 tháng 8 năm 2020 (UTC) ==Không thành công== === [[Đại Việt sử ký toàn thư/Tập II]] === {{biểu quyết|KQ=Đề cử thất bại. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:53, ngày 31 tháng 8 năm 2020 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 3 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) :{{Phản đối}} Mới chỉ đánh máy chứ chưa hiệu đính gì đâu, cần có người kiểm tra xem đánh máy có đúng không đã. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:42, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) }} === [[Lịch Annam thuộc về sáu tỉnh Nam Kì]] === {{biểu quyết|KQ=Đề cử thất bại. Cần được hiệu đính một lần nữa. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:54, ngày 31 tháng 8 năm 2020 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 6 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) :{{Phản đối}} Tác phẩm do tôi đánh máy, cần có người kiểm tra xem đánh máy có đúng không đã. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:18, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) }} === [[Phú bần truyện diễn ca]] === {{biểu quyết|KQ=Đề cử thất bại. Cần được hiệu đính một lần nữa. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:54, ngày 31 tháng 8 năm 2020 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 7 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) :{{Phản đối}} Tác phẩm do tôi đánh máy, cần có người kiểm tra xem đánh máy có đúng không đã. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:18, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) }} === [[Thi pháp nhập môn]] === {{biểu quyết|KQ=Đề cử thất bại. Cần được hiệu đính một lần nữa. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:54, ngày 31 tháng 8 năm 2020 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 7 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) :{{Phản đối}} Tác phẩm do tôi đánh máy, cần có người kiểm tra xem đánh máy có đúng không đã. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:18, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) }} === [[Tuồng Joseph]] === {{biểu quyết|KQ=Đề cử thất bại. Cần được hiệu đính một lần nữa. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:54, ngày 31 tháng 8 năm 2020 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 7 năm 2019. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) :{{Phản đối}} Tác phẩm do tôi đánh máy, cần có người kiểm tra xem đánh máy có đúng không đã. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:18, ngày 28 tháng 8 năm 2020 (UTC) }} [[Thể loại:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc|2020]] oxx2qfhytbpv7qgr49mcvfdy7h2twp2 Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2021 4 32039 204708 180411 2026-04-15T03:08:34Z ~2026-23089-57 20074 /* Thề non nước */ 204708 wikitext text/x-wiki {{Đầu đề quy trình | tựa đề = Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ | đề mục = 2021 | trước = [[Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2020|2020]] | sau = [[Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2024|2024]] | viết tắt = | ghi chú = }} ==Thành công== === [[Luật 10-59]] === {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm chọn lọc tháng 6 năm 2021. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 21:59, ngày 21 tháng 5 năm 2021 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính xong từ tháng 8 năm 2020. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:20, ngày 27 tháng 8 năm 2020 (UTC) ::{{OK}} Đã phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:11, ngày 1 tháng 9 năm 2020 (UTC) }} === [[Việt Nam sử lược/Quyển I]] === {{biểu quyết|KQ=Văn kiện chọn lọc tháng 7/21. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:19, ngày 22 tháng 6 năm 2021 (UTC)|ND= Tác phẩm đã được hiệu đính từ lâu nhưng chỉ vì vài trang bị sai mà chưa được thành chọn lọc. Các trang thiếu hiện đã được bổ sung, văn bản đã được nhập đầy đủ, hình ảnh đã được chuyển sang định dạng đúng, và cuối cùng là các trang đã được nhúng lại bằng pages. Do đó, tôi đề nghị đưa văn kiện này thành chọn lọc. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 18:22, ngày 15 tháng 6 năm 2021 (UTC) }} === [[Thề non nước (tập truyện ngắn)|Thề non nước]] === {{biểu quyết|KQ=Tác phẩm đã được phê chuẩn hoàn toàn, không cần phải biểu quyết. Chọn lọc tháng 8 năm 2021. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 03:36, ngày 29 tháng 7 năm 2021 (UTC)|ND=Tập truyện này đã được hiệu đính vào ngày 22 tháng 5 và được phê chuẩn vào ngày 26 tháng 7 năm 2021. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 19:08, ngày 26 tháng 7 năm 2021 (UTC)}} [[Thể loại:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc|2021]] mlo40m0hpdcscu63zc37nqn5uit652t Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2024 4 62573 204718 180412 2026-04-15T03:29:09Z ~2026-23089-57 20074 204718 wikitext text/x-wiki {{Đầu đề quy trình | tựa đề = Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ | đề mục = 2024 | trước = [[Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2021|2021]] | sau = | viết tắt = | ghi chú = }} == Thành công == === [[Lên sáu]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 2/2025. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:55, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Lên tám]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 11/2024. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:53, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 4/2025. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:56, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến/Bản viết tay]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 12/2024. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:54, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Tuồng Joseph]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:05, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 1/2025. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:54, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Những trẻ khốn nạn]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 12:46, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 3/2025. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:55, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) kbgozm26izna7blrt8t3zm0mhsa80cd 204719 204718 2026-04-15T03:30:14Z ~2026-23089-57 20074 /* Những trẻ khốn nạn */ 204719 wikitext text/x-wiki {{Đầu đề quy trình | tựa đề = Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ | đề mục = 2024 | trước = [[Wikisource:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc/Lưu trữ/2021|2021]] | sau = | viết tắt = | ghi chú = }} == Thành công == === [[Lên sáu]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 2/2025. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:55, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Lên tám]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 11/2024. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:53, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 4/2025. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:56, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến/Bản viết tay]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:03, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 12/2024. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:54, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Tuồng Joseph]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:05, ngày 7 tháng 8 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 1/2025. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:54, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) === [[Những trẻ khốn nạn]] === Tác phẩm đã được phê chuẩn. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 12:46, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) :Văn kiện chọn lọc tháng 3/2025. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:55, ngày 6 tháng 10 năm 2024 (UTC) [[Thể loại:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc|2024]] chqsg4p43p10xck0ug1242c5cbuz3cy Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089 114 71930 204722 204621 2026-04-15T07:10:57Z Mrfly911 2215 /* Quảng Đông Thông Chí (廣東通志) - Ngoại chí (外志) */ 204722 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第089卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 89''' | trước= [[../quyển 088|quyển 88]] | sau= [[../quyển 090|quyển 90]] | ghi chú = }} ==Nam phương chư quốc tổng bộ vị khảo (南方諸國總部彙考)== === Quảng Đông Thông Chí (廣東通志) - Ngoại chí (外志) === Thời Hoàng Đế (黃帝), người Di phương Nam (南彝) cưỡi hươu trắng đến dâng rượu nghệ và áo lông thú màu nâu. Thời Đường Nghiêu (唐堯) vỗ về phương Nam đến vùng Giao Chỉ (交阯), tộc Tam Miêu (三苗) đến thần phục. Thời Ngu Thuấn (虞舜), tộc Kiêu Diêu thị (僬僥氏) đến cống nạp lông chim Một Vũ, các tộc Man Di (蠻彝) đều tuân phục. Nhà Hạ (夏) lập ra 5 vùng Ngũ phục (五服), bên ngoài tiếp giáp bốn biển, Nam Hải (南海) có cá, da thú, ngọc trai, ngọc cơ và ốc tai tượng đại bối. Thời Thương (商), Y Doãn (伊尹) định lệ cống nạp bốn phương, phương Nam có các nước Âu (甌), Đặng (鄧), Quế (桂), Tổn Tử (損子), Sản Lý (產里), Bách Bộc (百濮), Cửu Khuẩn (九菌). * 6 cái tên này là tên gọi riêng của các tộc Nam Man (南蠻). ''Âu'' (甌) cũng giống như ''Âu'' (漚), ''Âu'' là ''Lạc'' (駱) vậy. ''Đặng'' (鄧) mang họ Mạn (曼), là các động người Man ở Kinh Nam (荊南). ''Quế'' (桂) là tám cây quế ở Phiên Ngung (番禺). ''Tổn Tử Sản'' (損子產) là chỉ tộc người Man ăn đầu người và sinh con. ''Lý'' (里) âm đọc là Lê, nay gọi là người Lỉ (俚人). Lệnh dâng nộp ngọc trai, đồi mồi, ngà voi, tê giác văn tê, lông chim thúy, chim Khuẩn hạc, chó Củ làm đồ cống. * ''Cơ'' (璣) giống ngọc trai nhưng nhỏ hơn. ''Khuẩn hạc'' có lông dùng làm cờ và quạt che, ''chó Củ'' là giống chó tốt. Buổi triều hội thời Thành Chu (成周), người Âu (甌) dâng ve sầu và rắn hổ mang ở đất Việt (越), nộp hàu văn thận của tộc Thả Âu (且甌). * Nay là đất Lạc Việt (駱越) ở Quảng Tây. Y Doãn (伊尹) triều cống phương Đông là tộc Âu (漚), tức người Âu (甌). Còn phương Nam là tộc Âu (甌), tức người Lạc Việt (駱越). ''Âu'' (漚) và ''Âu'' (甌) dùng thông nhau. ''Văn thận'' (文蜃) là loài sò lớn. Tộc Cộng nhân (共人) dâng sò Nguyên bối (元貝). * Người Man ở Ngô Việt (吳越) gọi là ''Cộng nhân'' (共人). ''Nguyên'' (元) là màu đen. ''Bối'' là loài sâu lớn dưới biển. Vùng Hải Dương (海陽) dâng cua lớn. * Phía Nam nước biển, nay là nơi sản sinh ra con cù kỳ (蝤蛑), thuộc phía Đông Triều Châu (潮州) vào vùng Mân (閩 - Phúc Kiến). Tự Thâm (自深) dâng quế. * ''Tự Thâm'' là tên vùng Nam Man, quế nay xuất sản từ Quế Châu (桂州), Thiều Châu (韶州). Vùng Hội Khê (會稽) dâng da thú. * Da có thể dùng bọc mặt trống. Chim trĩ của tộc Man Dương (蠻揚). * Chim trĩ của người Man ở Dương Châu (揚州) là loài gà núi (sơn kê). Vùng Thương Ngô (倉吾) dâng chim phỉ thúy. Phỉ thúy dùng để lấy lông. * ''Thương Ngô'' (倉吾) nay là Thương Ngô (蒼梧). Chim phỉ thúy có lông xanh pha vàng. Người phương Nam khi dâng lễ vật đông đảo thảy đều hướng về phương Bắc. * ''Nam'' ở đây là Nam Việt (南越). Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺) đến sát biển là vùng Dương Việt (揚粵), nay là đất Quảng Đông. Thời Hán (漢), phía Nam Nhật Nam (日南) có các nước Đô Nguyên (都元), Trạm Ly (湛離), Cam Đô Lư (甘都盧), Hoàng Chi (黃支)... gần thì đi 10 dư ngày, xa thì hành trình đến 4 hoặc 5 tháng. Phong tục đại lược giống vùng Châu Nhai (朱崖). Cõi bang rộng lớn, hộ khẩu đông đúc, nhiều vật lạ. Thời Hán Vũ Đế (漢武帝), thường sai những người ứng tuyển cùng sứ giả đi biển, mua ngọc minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá quý và vật lạ, mang theo vàng ròng và các loại lụa là mà đi. Đến nước nào cũng được cung cấp lương thực theo cặp, thuyền buôn của người Man Di (蠻彝) lần lượt chuyển tống đi. Đồ trân quý của ngoại tộc lưu nhập vào Trung Quốc bắt đầu từ đây. * Lưu Hướng (劉向) nói: "Thuyền buôn một cột buồm sâu hơn 50 khuỷu tay, thuyền ba cột buồm sâu hơn 15 khuỷu tay; Tây Vực lấy khuỷu tay làm đơn vị đo lường." Thời Quang Vũ Đế (光武帝) nhà Hậu Hán (後漢), người Man ngoài biên ải Giao Chỉ (交阯), Nhật Nam (日南) đến cống nạp. Mã Viện (馬援) dựng cột đồng. Sau đó, người Di ở Tây Đồ (西屠) cũng đổi quốc hiệu thành Ca La (哥羅), thuộc về Phù Nam (扶南). Từ đó tên các nước nhiều lần thay đổi. Người Man ở Tượng Lâm (象林), Nhật Nam nhiều lần phản loạn rồi lại hàng, sau đó Khu Liên (區連) 〈có chỗ chép là Khu Liên 區憐〉 chiếm cứ Lâm Ấp (林邑), bỏ phong tục và văn tự Trung Quốc, dần giống với Bà La Môn (婆羅門), từ đó sách Phật truyền đến. Đến thời Hoàn Đế (桓帝), các nước Thiên Trúc (天竺), Đại Tần (大秦) ở phía Tây Phù Nam (扶南) đều từ Nam Hải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ đến cống hiến, từ đó thương nhân người Hồ (賈胡) tràn ngập vùng Dương Việt (揚粵). Đồ cống có đồi mồi, ngà voi, vải bông (cổ bối), trầm hương, hổ phách. Thú thì có voi thuần, tê giác đen (nguyên tê), đười ươi (tinh tinh)... nhiều không sao kể xiết. Đời Ngô (吳), Tôn Quyền (孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước phiên thuộc, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến số lượng vài trăm nước. Khang Thái lập kỷ truyện, gọi là "Phù Nam thổ tục", chép về các nước: Bồ Lư Trung (蒲盧中), Ưu Bạt (優鈸), Hoành Điệt (橫跌), Chư Bạc (諸薄), Bắc Lỗ (北櫓), Tân Na Chuyên (濱郍專), Điểu Văn (鳥文), Tư Điều (斯調), Lâm Dương (林陽), đảo Mã Ngũ (馬五洲), đảo Bạc Thán (薄歎洲), đảo Đam Lan (耽蘭洲), đảo Cự Diên (巨延洲). Về sau trải qua các triều đại thay đổi, không còn dùng tên cũ nữa. Khi Tấn Vũ Đế (晉武帝) bình định nhà Ngô (吳), sau khi các nước Lâm Ấp (林邑), Phù Nam (扶南) vào cống nạp, lại có các nước gọi là Mâu La (牟羅), Mô Lư (模盧), Mạt Lợi (末利), Ty Ly (卑離), Mãn Đô (滿都), Thằng Dư (繩余), Sa Lâu (沙樓), Bồ Lâm (蒲林), thảy đều là những tên trước đây chưa từng nghe thấy. Thời Tống (宋), Tề (齊) có các nước đến gồm: Sư Tử (師子), Tỳ Gia Lê (毗迦梨), Can Đà Lợi (干陀利), Đồ Bà (闍婆 Java), Bồ Hoàng (蒲黃), A La Đà La (阿羅陀羅), Đơn Bà Hoàng (單婆皇), Lang Nha (狼牙), Tu (修), Bàn Bàn (槃槃), Đốn Tốn (頓遜)... đại khái có hơn 10 nước. Thời Lương Vũ Đế (梁武帝), các nước Bà Lợi (婆利), Đan Đan (丹丹), Tỳ Kiên (毗騫) mới bắt đầu thông sứ. "Vua nước Tỳ Kiên (毗騫) thân cao 3 trượng, cổ dài 3 thước, từ xưa đến nay không chết, biết được những việc thần thánh chưa xảy ra; con cháu vua thì sinh tử như người thường." Nhà Tùy (隋) sai sứ thông với nước Xích Thổ (赤土), dẫn đến nước La Sát (羅剎). Nước ấy ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng ưng, chính là loài "Dạ xoa La sát thân dài kim cương" mà sách Phật nhắc đến vậy. Các nước khác như Đầu Hòa (投和), Biên Đẩu (邊斗) cống nạp cho nhà Tùy (隋) ngày càng nhiều. Đồ cống đại để là vàng bạc báu vật, hương liệu dược liệu, cũng có khi dâng răng Phật (Phật nha), xá lợi, thảy đều vì họ phụng theo giáo pháp Bà La Môn (婆羅門) vậy. Nhà Đường (唐) bắt đầu đặt chức Thị bạc sứ (市舶使), giao cho quan soái trấn Lĩnh Nam (嶺南) kiêm quản, lập khu chợ búa, lệnh cho người Man Di (蠻彝) đến cống nạp được phép giao dịch, thu một phần lợi nhuận vào kho quan. Phàm thuyền buôn đến, lớn nhất là "Độc tường bách" (thuyền 1 cột buồm), có thể chở được 1,000 Bà lan (婆蘭). 〈Người Hồ gọi 200 cân là 1 Bà lan〉. Hạng nhì gọi là "Ngưu đầu bách", bằng 1 phần 3 thuyền Độc tường; hạng tiếp theo là "Nhị mộc bách" và "Liệu hà bách", mỗi loại lại kém đi 1 phần 3. Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 17 (năm 643 dương lịch), chiếu lệnh cho Ty Thị bạc 3 lộ, hễ thương nhân nước ngoài buôn đến 4 loại hàng là Long não, Trầm hương, Đinh hương, Bạch đậu khấu thì đều thu thuế 1 phần 10 (trừu giải). Thời Võ hậu (武后), Đô đốc Lộ Nguyên Du (路元皻) tham lam chiếm đoạt hàng hóa của các thủ lĩnh phương Nam, vị chúa tàu (bách tửu) không chịu nổi cơn giận đã giết chết y. Đầu năm Khai Nguyên (開元), Thị bạc sứ Chu Khánh Lập (周慶立) cùng với tăng nhân Ba Tư (波斯) chế tạo đồ kỳ xảo để tiến dâng, bị hạch tội và bãi chức; triều đình cũng bãi bỏ việc sai sứ giả đến Nam Hải (南海) tìm ngọc trai và chim thúy. Năm Khai Nguyên (開元) thứ 4 (năm 716 dương lịch), có người Hồ tâu rằng: "Nam Hải (南海) nhiều ngọc trai, chim thúy và báu vật lạ, có thể sang đó tìm kiếm." Nhân đó nói về cái lợi của việc buôn bán đường biển (thị bạc), lại muốn sang nước Sư Tử (獅子 - Sri Lanka) tìm linh dược, và tìm những bà lão giỏi y thuật đưa vào cung đình. Vua mệnh cho Giám sát Ngự sử Dương Phạm Thần (楊範臣) cùng người Hồ ấy đi tìm. Phạm Thần ung dung tâu rằng: "Năm kia Bệ hạ cho đốt châu ngọc gấm vóc để tỏ ý không dùng đến nữa. Nay những thứ tìm kiếm này có gì khác với những thứ đã đốt? Việc Thị bạc là tranh lợi với thương giả, không phải là thể thống của bậc vương giả. Tính chất dược liệu phương Nam người Trung Hoa đa phần không biết, huống hồ là bà lão người Hồ, sao nên đưa vào cung đình? Chức Ngự sử là tai mắt của Thiên tử, hễ có đại sự quân quốc, thần dù phải dấn thân vào nơi lam chướng, chết cũng không dám từ nan. Đây chẳng qua là bọn người Hồ muốn mê hoặc để cầu sủng, không ích gì cho thánh đức, trộm nghĩ không phải ý của Bệ hạ, xin hãy suy xét kỹ." Vua lập tức tự nhận lỗi, an ủi ông rồi bãi bỏ việc ấy. Sau đó tại Quảng Châu (廣州) đặt chức Kết hảo sứ (結好使), mỗi khi thuyền buôn nước ngoài đến thì xem xét tình hình mà tâu báo. Lúc này các nước phương Nam có nhiều thay đổi: Lâm Ấp (林邑) đổi hiệu là Hoàn Vương (環王), còn Lục Chân Lạp (陸真臘) cũng gọi là Văn Đan (文單), thảy đều thường xâm phạm biên giới. Khoảng năm Nguyên Hòa (元和) (năm 806 - 820 dương lịch), An Nam Đô hộ Trương Chu (張舟) đánh bại chúng, dựng lại cột đồng để phân định cương giới, từ đó đồ trân bảo cống nạp đầy ắp kho vương phủ. Sau đó, Tiết độ sứ Mã Tổng (馬總) lại đúc thêm 2 cột đồng nối tiếp. Thời Trinh Nguyên (貞元), 2 nước Ba Tư (波斯) và Cổ La (古羅) vào cống nhiều vật quý, Tiết độ sứ Vương Xứ Hưu (王處休) tuyên dương uy đức, vỗ về lệnh cho giao dịch, ngoài phần cung phụng thường lệ thì không lấy thêm một thứ gì. Ông bèn vẽ bản đồ "Sứ viện đồ biểu" dâng lên, trong đó có lời rằng: "Ngoài cửa biển, ẩn hiện như những quốc gia đối địch. Giữ lòng trung thực, để đức lại cho mai sau." Thời bấy giờ khen là đắc thể. Về sau vì việc quân nhu nổi lên, dần gia thêm thuế chợ. Khoảng năm Thái Hòa (太和) (năm 827 - 835 dương lịch), Văn Tông (文宗) xuống chiếu bãi bỏ thuế này. Nhà Nam Tống (宋), năm Khai Bảo (開寶) thứ 4 (năm 971 dương lịch), đặt Ty Thị bạc tại Quảng Châu (廣州), lấy Tri châu kiêm chức Sứ, Thông phán kiêm chức Phán quan. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch), bắt đầu định lệ thu thuế (trừu giải) là 2 phần 10. Phàm các nước phương Nam ở Nam Hải (南海) đều thông thương dùng vàng, thiếc, tiền giấy để đổi lấy các thứ: tê giác, voi, san hô, hổ phách, chuỗi ngọc, gang (tân thiết), da cá sấu, đồi mồi, mã não, xà cừ, thủy tinh, vải phương Nam (phiên bố), gỗ mun (ô man), tô mộc, hồ tiêu, hương liệu dược liệu... Thái Tông (太宗) đặt cơ quan Quế vụ (榷務) tại kinh sư, chiếu lệnh hàng hóa phương Nam đến Quảng Châu (廣州), nếu không phải từ kho quan đưa ra thì không được tự ý buôn bán riêng. Sau đó có chiếu: những thứ không phải kỳ trân dị bảo thì thảy đều cho phép bán ở chợ. Lại có chiếu: những hàng hóa tốt khác cũng cho phép bán ở chợ một nửa. Đại để thuyền biển đến thì thu thuế 1 phần 10 (thập nhất), còn lại cấp cho thương nhân, giá trị thu vào hằng năm tính bằng con số hàng chục vạn, giúp ích cho kinh phí của triều đình. Năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) thứ 3 (năm 978 dương lịch), Lý Xương Linh (李昌齡) tri Quảng Châu (廣州), đất Quảng có nguồn lợi thuyền biển dồi dào, Xương Linh không giữ được lòng thanh liêm. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 2 (năm 991 dương lịch) khi mãn nhiệm về kinh, Xương Linh tâu rằng: "Thị bạc ở Quảng Châu, hằng năm thuyền buôn đến, quan lại đều tăng giá mua hết sạch, hàng tốt xấu lẫn lộn nên ít lợi nhuận. Từ nay xin chọn lấy hàng tốt theo giá mà mua, còn hàng xấu thì mặc cho họ tự bán, không cấm." Khoảng năm Hy Ninh (熙寧) (năm 1068 - 1077 dương lịch), nguồn thu Thị bạc Quảng Châu bị thâm hụt, có người cho rằng do Ty Thị dịch gây nhiễu loạn, nên lệnh cho quan Đề cử điều tra báo lên. Khi ấy quan coi việc là Lã Mạo (呂邈) bị hạch tội vì tự tiện lấy hàng phương Nam và bị bãi chức. Sau đó theo lời bàn của quan viên mà bãi bỏ Thị bạc ở Hàng Châu (杭), Minh Châu (明), thảy đều lệ thuộc về Quảng Châu. Năm Nguyên Phong (元豐) thứ 3 (năm 1080 dương lịch), Trung thư tâu rằng: "Thuyền buôn Quảng Châu đã tu định điều ước, nên chọn quan thực thi." Chiếu lệnh cho Quảng Đông lấy Chuyển vận sứ Tôn Hồi (孫迥) thay quan Soái kiêm lĩnh. Năm Đại Quan (大觀) thứ 1 (năm 1107 dương lịch), lại đặt quan Đề cử Thị bạc 2 lộ Chiết, Quảng và Phúc Kiến; phục hồi Ty Thị bạc tại Hàng Châu, Minh Châu, lại tăng thêm 1 Ty ở Tuyền Châu (泉州). Năm thứ 3 (năm 1109 dương lịch), thương nhân phương Nam muốn sang quận khác thì phải do Ty Thị bạc cấp giấy thông hành (khoán), không được mang theo vật cấm. Việc phòng bị vũ khí trên thuyền được cấp theo luật của các nước. Ty Thị bạc bán hàng hóa đã thu mua đều thu lợi vượt quá 2 phần, quan lại tự ý mua hàng thì bị cấm. Năm Chính Hòa (政和) thứ 4 (năm 1114 dương lịch), chiếu lệnh Ty Thị bạc Quảng Nam hằng năm cống nạp trân châu, sừng tê giác, ngà voi. Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 1 (năm 1127 dương lịch) xuống chiếu: "Việc Thị bạc đa phần lấy những thứ vô dụng, lãng phí quốc dụng để làm vui lòng kẻ quyền quý; từ nay ai dùng hương đốc nục, nhẫn, mã não, mắt mèo và các loại tương tự để trao đổi, cũng như ai gây thiệt hại cho thương nhân phương Nam, đều sẽ bị trị tội nặng theo pháp luật. Chỉ ban cho các quan đại thần hốt ngà, đai tê là được phép, lượng cho vận chuyển vào." Luật cũ chia hàng phương Nam thành 2 loại thô và mịn (thô tế nhị sắc). Những thứ như Long não, trân châu đều là hàng mịn, thu thuế 1 phần 10. Sau đó lại thu mua thêm 4 phần; hàng thô cũng thu thuế 1 phần 10 và thu mua thêm 4 phần. Việc thu mua quá nhiều khiến thương nhân thường giấu hàng mịn đi, không khai báo thật. Luật cũ hàng mịn lấy 5,000 lạng làm 1 cương (kiện hàng), hàng thô lấy 10,000 cân làm 1 cương; mỗi cương thì có tiền vận chuyển và nuôi gia đình là hơn 1,000 quán. Về sau kẻ vận chuyển gian dối lấy ngà voi, sừng tê, tử khoáng để chiếm tiền vận chuyển, khiến 1 cương cũ bị chia nhỏ thành 33 cương, tốn kém tiền vận chuyển và nuôi nhà đến hơn 3,000 quán. Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 27 (năm 1157 dương lịch), chiếu lệnh cho Kinh lược Ty Thị bạc Quảng Nam thanh tra thương nhân phương Nam giả mạo vào cống nạp. Đầu năm Long Hưng (隆興) (năm 1163 dương lịch), quan viên cho rằng ngà voi, tê giác đỏ so với hàng khác là nặng nhất, xin thu thuế 1 phần 10 và bãi bỏ việc thu mua thêm. Đầu năm Càn Đạo (乾道) (năm 1165 dương lịch), quan viên lại tâu rằng Phúc Kiến, Quảng Nam đều có Thị bạc, hàng hóa mênh mông, đặt quan Đề cử là thực sự thỏa đáng. Năm Càn Đạo (乾道) thứ 7 (năm 1171 dương lịch), chiếu lệnh hàng thô lấy 20,000 cân làm 1 cương, hao hụt 600 cân, theo lệ cũ chi trả tiền vận chuyển đường thủy (thủy cước tiền) là 1,662 quán và lẻ. Sau khi dời đô xuống phía Nam (Nam độ), kinh phí túng quẫn, mọi việc thảy đều dựa vào nguồn thu này. Hàng nhập vào hằng năm vốn không ít, nhưng vàng bạc đồng sắt tiền tệ cũng theo đó mà rò rỉ ra ngoài cảnh, trong đó tiền tệ rò rỉ là nghiêm trọng nhất. Pháp luật dù nghiêm minh nhưng gian xảo ngày càng tinh vi, cái tệ ấy rốt cuộc không thể ngăn cấm được. Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2 (năm 1175 dương lịch), chiếu lệnh Thị bạc Quảng Châu ngoài những mặt hàng độc quyền (quế hóa), những hàng tốt khác chỉ được thu mua một nửa. Đời Nguyên (元), Thế Tổ (世祖) từng lập Ty Đề cử nhưng rồi bãi bỏ. Năm Chí Trị (至治) thứ 4 (năm 1324 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), sai sứ thu mua hàng phương Nam ở Quảng Đông, bèn lập lại Ty này, cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thì thu thuế. Năm Nguyên Thống (元統) thứ 6 (năm 1338 dương lịch) đời Thuận Đế (順帝), bãi bỏ 2 Ty Đề cử ở Quảng Đông. Năm Chí Chính (至正) thứ 2 (năm 1342 dương lịch), lập lại Đề cử Quảng Đông, siết chặt lệnh cấm Thị bạc. Năm thứ 3 (năm 1343 dương lịch), cho phép thương gia đi biển giao dịch, khi về thu thuế. Nhà Minh (明), trừ những nước phương Nam có lệ cứ 3 năm vào cống 1 lần, các nước khác đến quy phục thì cho phép giao thương (hỗ thị). Lập Ty Đề cử Thị bạc để chủ trì việc vào cống của các nước. Theo chế độ cũ, các nước vào cống trước tiên được cấp sổ sách phù hiệu (phù bộ), khi đến Tam ty (布、按、都三司) thì đối chiếu phù hiệu, xem biểu văn và phương vật không có gì giả mạo mới chuyển đưa vào kinh. Nếu là hàng hóa của Quốc vương, Vương phi, Bồi thần mang theo thêm thì thu thuế 5 phần 10, phần còn lại quan trả tiền theo giá; riêng 2 nước Xiêm La (暹邏), Qua Oa (瓜哇 - Java) được miễn thuế này. Những thương nhân phương Nam tự mang hàng đến buôn bán, khi thuyền đến bến nước, thảy đều phong tỏa và vào sổ, thu thuế 2 phần 10 mới cho phép giao dịch. Tuy nhiên dân gian xảo ở Mân, Quảng thường hay búi tóc đeo khuyên tai, bắt chước quần áo tiếng nói của người phương Nam, lẻn vào trong thuyền dẫn đường cho chúng làm điều gian ác, nhân đó cướp bóc, dân vùng ven biển rất khổ sở. ''Cựu Chí'' chép: Phàm giao dịch ở Đông Dương đa phần dùng tơ lụa, nước Oa (倭國 - Nhật Bản) đặc biệt hung hãn, thương nhân rất sợ chúng, thường đổi lấy đầu chim hạc (hạc đính)... Giao dịch ở Tây Dương đa phần dùng hàng Quảng (Quảng hóa), đổi lấy hồ tiêu... Những hàng quý mịn thường đầy ắp thuyền. Như nước Xiêm La (暹邏) sản xuất tô mộc, Địa Muộn (地悶 - Timor) sản xuất đàn hương, các loại hương liệu khác nước nào cũng có. Về Trầm hương, có các loại trầm vàng (hoàng trầm), trầm đen (ô giác), trầm rất quý thì gọi là trầm sáp (lạp trầm), gọt ra thì cuộn lại, nhai thì mềm, thảy đều kết tụ từ gốc cây khô; chỉ có gỗ Kỳ Nam (奇南木) mới là phần trầm kết từ cây sống. Sừng tê giác có tê đen (ô tê), tê hoa (hoa tê), tê thông thiên (thông thiên tê), tê phục thông (phục thông tê). Tê hoa là nền trắng hoa đen; tê thông thiên là nền đen hoa trắng; tê phục thông là trong hoa trắng của tê thông thiên lại có thêm hoa đen, thảy đều là vật quý hiếm thấy trên đời. Hạc đính, mu rùa, đồi mồi thảy đều có thể kết hợp (kiến hợp khả hợp), riêng sừng tê giác không tùy tiện kết hợp, cho nên công phục lấy ngọc và tê làm đai, quý ở cái nghĩa không tùy tiện kết hợp vậy. Tháng 5 năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370 dương lịch), sai sứ ban chiếu về Khoa cử cho An Nam (安南), Chiêm Thành (占城), vì họ thông hiểu văn tự Trung Quốc. Các nước phương Nam không ai không sợ uy mà nhớ đức, từ đó triều cống không dứt, cũng có nước chưa đến kỳ cũng cống hiến. Đầu năm Vĩnh Lạc (永樂), sai sứ bốn phương chiêu dụ các nước, cống hiến thảy đều đến. Hàng lạ bảo vật quý hiếm trước nay chưa từng có. Bèn mệnh cho Nội thần giám trấn Thị bạc, đặt công quán ở bến nước phía Nam thành; công quán cũng xây ở Tiên Hồ phía Tây quận 〈nay là đường Phân thủ〉. Tháng 9 năm thứ 3 (năm 1045 dương lịch), Đại lý tự khanh 〈khuyết tên〉 Phụ, ban đầu làm Phó sứ Hồ Quảng, vì có tội bị giáng làm Hành nhân. Đến nay phụng mệnh đi sứ các nước Tây Nam như Xiêm La, Qua Oa đến tận các nước Cổ Lý (古里 - Calicut) ở Tây Dương. Khi về kinh tâu việc đúng ý vua, được thăng làm Quảng Đông Án sát sứ. Nội thần Hầu Hiển (侯顯), Trịnh Hòa (鄭和) cùng Hành nhân đi lại, các vua phương Nam đều đãi lễ rất hậu. Tháng 6 năm thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Bố chính ty Quảng Đông tâu: "Hằng năm người phương Nam ở hải ngoại vào cống phương vật, đường thủy dùng thuyền vận tải, duy có đoạn từ Nam Hùng (南雄) đến Nam An (南安) bị ngăn cách bởi đèo Mai Lĩnh (梅嶺), thuyền bè không thông. Từ nay xin dùng sức dân để tiếp vận." Vua phán rằng: "Làm vua phải lo nuôi dân. Nay việc cống nạp không có định kỳ mà nông dân ít ngày rảnh. Giả sử từ xuân đến thu, người phương Nam vào cống không dứt, thảy đều bắt dân tiếp vận, há chẳng ngăn trở việc nhà nông sao? Từ nay người phương Nam vào cống, nếu gặp lúc vụ mùa thì phương vật thảy đều lưu trữ ở Nam Hùng, đợi đến tháng 11 (tháng 11 âm lịch) lúc nông nhàn mới cho vận chuyển đến Nam An, hãy ghi làm lệnh." Lại bảo thị thần rằng: "Dân không mất sự nuôi dưỡng thì dù nhọc nhằn cũng ít oán; dân mất sự nuôi dưỡng thì dù cho nghỉ ngơi cũng không cảm đức." Tháng 8, đặt trạm Hoài Viễn (懷遠驛) tại bến Hiện Tử (蜆子步) thành Quảng Châu, xây 120 gian phòng để người phương Nam ở. Lệ thuộc Ty Đề cử Thị bạc, nhưng quan Nội quan tổng quản hàng hóa, quan lại Đề cử chỉ giữ sổ sách mà thôi. Có những thuyền đáng lẽ đi Phúc Kiến nhưng bị gió bạt đến đây. Như nước Bột Ni (渤泥 - Brunei), vốn là thuộc quốc của Đồ Bà (闍婆 Java), ở trong biển lớn phía Tây Nam, cách Qua Oa 45 ngày đường, cách Tam Phật Tề (三佛齊 - Srivijaya) 40 ngày đường, cách Chiêm Thành (占城) 30 ngày đường. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 (năm 1406 dương lịch), vua nước ấy là Hà Vượng (遐旺) đến triều kiến. Lưu Cầu (琉球) ở trong biển lớn Đông Dương, nằm phía Đông quận Kiến An, đi đường thủy 5 ngày thì đến. Thời Tùy Đại Nghiệp (隋大業), sai tướng dẫn binh từ Nghĩa An (義安) vượt biển đánh chúng. Nghĩa An nay là Triều Châu (潮州) vậy. Thời Hồng Vũ (洪武), chia ra Đại, Tiểu Lưu Cầu, triều cống rất cung kính. Quan sinh thường vào Thái học thụ nghiệp, triều đình thường gia thêm ơn xót thương. Những nước khác như Nam Bột Lợi (喃勃利)... cũng có kẻ theo thuyền đến Quảng Châu. Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), Án sát Phó sứ Chương Cách (章格) tuần thị đường biển. Lúc ấy sứ thần Lưu Cầu là Thái Tuyên (蔡璇) cùng vài người mang phương vật buôn bán với nước lân cận, bị gió bạt đến cảng Hương Sơn (香山). Viên quan Thủ bị coi là "hải khấu" muốn giết đi để lập công. Cách không cho, biện minh cho họ, tâu xin trả lại tài sản rồi cho về, người phương Nam ca tụng công đức. Những năm gần đây, khách buôn Lưu Cầu có kẻ bạt đến Quỳnh Châu (瓊州), được đưa đến thành Quảng Châu. Thiêm sự Kinh Ngạn Thái (經彥寀) hết lòng chăm sóc cứu trợ, người phương xa rất cảm kích. Thời Thành Hóa (成化), Hoằng Trị (弘治), người vào cống ngày càng đông. Quan hữu tư chỉ cho phép sứ giả vào bái kiến, còn lại thảy đều lưu lại ở trạm (dịch). Việc đi lại có đặt yến tiệc tiếp đãi mới cho vào thành. Quần áo kỳ dị, cũng có kẻ đội mũ gắn vàng ngọc, mặc áo màu ráng chiều, người già trẻ con thảy đều tranh nhau xem. Hồ tiêu, gỗ quế, trống đồng, nhẫn, đá quý tràn ngập kho và chợ. Hàng phương Nam rất rẻ, dân nghèo vâng lệnh thu mua đa phần trở nên giàu có. Năm Chính Đức (正德) thứ 12 (năm 1517 dương lịch), người Di ở biển Tây là Phật Lãng Cơ (佛朗機 - Bồ Đào Nha) cũng xưng là triều cống, đột nhập huyện Đông Quản (東莞), hỏa súng dữ dội, chấn động xa gần, tàn phá cướp bóc thậm tệ, thậm chí nướng ăn cả trẻ con. Quan Hải đạo phụng mệnh tiêu diệt và xua đuổi mới ra khỏi cảnh. Từ đó thảy đều cấm chỉ thuyền biển, các nước đáng lẽ vào cống cũng hiếm khi đến. Thuyền cống bèn sang Chương (漳), Tuyền (泉) và thành Quảng để buôn bán, chợ búa tiêu điều không như chế độ cũ. Khi ấy Đô Ngự sử tuần phủ Lưỡng Quảng là Lâm Phú (林富) tra xét tổ huấn, tuân theo ''Hội điển'' dâng sớ lên, được chuẩn y, từ đó thuyền phương Nam mới thông lại. Tờ sớ đại lược nói: "Thần trộm nghĩ chức Tuần phủ trước hết là vì dân dấy lợi trừ hại. Phàm trên có ích cho triều đình, dưới có ích cho sinh dân là lợi; trên có hại cho triều đình, dưới có hại cho sinh dân là hại. Nay lấy danh nghĩa trừ hại mà ngăn tuyệt mọi nguồn lợi, khiến quân quốc không có nguồn dựa, quên đi phép tắc của tổ tông, lại mất lòng người phương xa, ấy chính là việc Thị bạc ở Quảng vậy." Cẩn án ''Minh Hoàng Tổ Huấn'', các nước An Nam, Chân Lạp, Xiêm La, Chiêm Thành, Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Tây Dương, Qua Oa, Bành Hanh (彭亨), Bạch Hoa (白花), Tam Phật Tề, Bột Ni thảy đều cho phép triều cống, chỉ khi có hành thương đi kèm làm điều gian trá thì mới tạm khước từ, sau đó dần dần cho thông. Lại án ''Đại Minh Hội Điển'': Phàm các nước An Nam, Mãn Lạt Gia (滿剌加) đến triều cống, khi sứ giả về thảy đều lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông tiếp đãi. Hiện nay có đặt Ty Đề cử Thị bạc, lại có sắc lệnh cho 1 quan Nội thần đốc trách, chính là để đưa đón, trao đổi hàng hóa, vỗ về người phương xa mà tuyên dương uy đức vậy. Đến năm Chính Đức thứ 12, có người Phật Lãng Cơ đột nhập cõi Đông Quản, lúc ấy Bố chính sứ Ngô Đình Cử (吳廷舉) cho phép chúng triều cống và tâu báo về, đây chính là cái lỗi không xét kỹ phép tắc cũ. Sau đó sự hung xảo của chúng bị bại lộ, triều đình chuẩn theo sớ của Ngự sử Khâu Đạo Long (丘道隆), lệnh cho quan Hải đạo xua đuổi ra khỏi cảnh, giết kẻ cầm đầu là Á Tam (亞三), dư đảng nghe phong thanh liền chạy trốn. Quan hữu tư từ đó ngăn tuyệt hết thuyền buôn An Nam, Mãn Lạt Gia, chúng đều sang trú đậu tại vùng biển thuộc phủ Chương Châu (漳州), thế là lợi về tay người Mân (Phúc Kiến) mà chợ búa vùng Quảng tiêu điều vậy. Kẻ Phật Lãng Cơ vốn không thông với Trung Quốc, đuổi tuyệt chúng là phải. Nhưng các nước chép trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'' vốn cung thuận thông hiếu, nay ngăn tuyệt việc triều cống giao thương của họ, chẳng khác nào "vì nghẹn mà bỏ ăn". Huống hồ quan lại Thị bạc đặt công khai ở Quảng Đông trái lại không bằng việc "thông thương riêng không cấm" ở Chương Châu, vậy pháp tắc quốc gia nằm ở đâu? Thần trộm tính toán, cái lợi của Trung Quốc thì muối và sắt là lớn nhất, nhưng hằng năm vất vả cũng chỉ đủ định mức thường lệ. Hễ có hạn hán lũ lụt, khuyên dân nộp thóc vẫn sợ không đủ. Theo quy cũ cũ, ngoài phần triều cống, việc thuế thu (抽解) đều có lệ định, đủ cung cho ngự dụng. Đây là cái lợi lớn thứ 1. Ngoài phần thuế thu, có thể sung vào quân lương. Nay Lưỡng Quảng dùng binh liên tiếp, kho tàng cạn kiệt, nhờ nguồn này có thể làm đầy kho để phòng lúc bất trắc. Đây là cái lợi lớn thứ 2. Tỉnh Quảng Tây thảy đều dựa vào Quảng Đông, nay có việc trưng phát là không lo liệu được ngay. Dù lấy gỗ quế hồ tiêu thay lương bổng nhưng lâu ngày đã thiếu hụt, bắt dân gánh vác là điều khó tránh. Tra lại lúc thuyền buôn cũ còn thông, công tư đều dư dả, hàng phương Nam trong kho chỉ mươi ngày là thu được vài vạn lạng bạc. Đây là cái lợi lớn thứ 3. Lệ cũ giao dịch là quan chọn hàng tốt mua theo giá, còn lại cho dân mua bán, nên dân nghèo cầm món hàng 2 tiền là đổi được hồ tiêu, xoay vần trao đổi mà trở nên giàu có. Quảng Đông xưa nay xưng là phú thứ chính nhờ vào đây vậy. Đây là cái lợi lớn thứ 4. Giúp nước cấp quân đã có nguồn cậy trông, mà quan và dân thảy đều được đủ đầy, ấy là nhân cái lợi của dân mà làm lợi vậy, không phải là mở lỗ hổng tư lợi hay làm thang cho dân phạm tội. Kẻ bàn luận có lẽ lo ngại người Di đột nhập biên cảnh gây họa, thần lại trộm tính toán: Các nước Xiêm La, Chân Lạp, Qua Oa, Tam Phật Tề đầu năm Hồng Vũ đã cống phương vật, thần phục đến nay. Thời Vĩnh Lạc, Bột Ni nhập triều, đến chết vẫn cảm đức. Khoảng năm Thành Hóa, Chiêm Thành bị cướp ngôi, triều đình nối lại dòng dõi nên họ mong ơn. Người Man Di phương Nam đại để khoan nhu, đó là tính thường của họ, hơn 100 năm qua chưa từng dám làm giặc cướp. Gần đây kẻ Phật Lãng Cơ đến từ biển Tây, chúng khinh nhờn là có lý do mời gọi vậy. Hiện nay thuyền phương Nam ở Chương, Mân cũng chưa nghe thấy có động tĩnh nhỏ nào, thế thì chúng quyết không dám gây hại là điều đã rõ ràng. Huống hồ ngăn trở đã lâu nay chợt cho thông, há chẳng đủ để đắc lòng chúng sao? Thần xin tại các nơi yếu hại ngoài biển và vùng Nam Đầu (南頭) huyện Đông Quản, hằng năm lệnh cho Hải đạo Phó sứ và Bị Oa Đô chỉ huy đốc suất quan quân nghiêm ngặt tuần tra. Phàm thuyền đến mà có tên trong ''Tổ Huấn'', ''Hội Điển'', dò xét đúng thực thì cho trú đậu theo lệ cũ. Những kẻ không có tên trong đó như Phật Lãng Cơ thì đuổi ngay ra khỏi cảnh. Nếu dám kháng cự không phục thì đốc phát quan quân bắt chém. Còn phàm là giặc Lạt Cáp (喇哈) không cho phép kẻ quyền quý thông tư, nghiêm cấm dân nghèo dụ dỗ con cái xuống biển. Hễ có sơ hở thì quan quân tất phải chịu tội. Như thế không chỉ dấy khởi nguồn lợi một phương, mà đạo trị quốc không phân biệt trong ngoài cũng nằm ở đó vậy. Cúi mong Hoàng thượng đặc biệt sắc lệnh bộ ấy bàn bạc kỹ, những điều lợi hại thần đã trần thưa xin hãy lần lượt tham cứu. Nếu quả thực hành được, xin hãy thi hành tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, lệnh cho những thuyền trú đậu riêng thảy đều xua đi; kẻ có biểu văn triều cống thì cho phép đến vùng biển Quảng Châu chờ quan ty xử trí. Như thế, việc hoài nhu mới có phương pháp mà công tư thảy đều thuận tiện vậy." ==Nam phương chư quốc tổng bộ tổng luận 南方諸國總部總論== ===Nam Tề Thư (南齊書)=== ==== Đông Nam Di truyện tự (東南夷傳序 - Lời tựa truyện Đông Nam Di)==== Chủng loại người Man (蠻) cực kỳ đông đúc, ngôn ngữ không đồng nhất, thảy đều nương theo sơn cốc mà ở, phân bố tại ranh giới 5 châu gồm: Kinh (荊), Tương (湘), Ung (雍), Dĩnh (郢), Tư (司). Tục người Man (蠻) mặc áo vải, đi chân đất, kẻ thì búi tóc củ hành (chuỳ kế), kẻ thì cắt tóc ngắn. Binh khí lấy vàng bạc làm sức trang trí; dùng da hổ bọc khiên, giỏi bắn nỏ; thảy đều hung bạo, dữ tằn, thích cướp bóc. ==== Đông Nam Di truyện luận (東南夷傳論 - Lời luận truyện Đông Nam Di)==== Sử thần nói rằng: Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", ấy là lời nói tổng quát vậy. Đến như các giống tạp cư của Nam Di (南夷), chia cắt hải đảo mà lập nước, những đồ trân bảo kỳ quái phương xa, không đâu nhiều bằng nơi này. Núi tàng biển ẩn, ngọc báu rực mắt, thuyền buôn từ xa đến, vận chuyển nộp cho phương Nam. Thế nên Giao Châu (交州) và Quảng Châu (廣州) giàu có thực thụ, hàng hóa chất đầy kho vương phủ. Việc xâm phạm quấy nhiễu tuy có đôi chút nhưng đạo thanh giáo có thể ban tới. Nếu dùng đức để vỗ về người phương xa, chính là ở đây vậy! === Lương Thư (梁書)=== ==== Hải Nam truyện tự (海南傳序 - Lời tựa truyện Hải Nam)==== Các nước Hải Nam (海南), đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州) trên các hải đảo ngoài biển lớn, cách nhau gần thì 3,000 đến 5,000 dặm, xa thì 20,000 đến 30,000 dặm, phía Tây giáp với các nước Tây Vực (西域). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên) thời Hán (漢), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều dâng lễ triều kiến. Đời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến thời Ngô Tôn Quyền (吳孫權), sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) thông sứ nơi ấy. Những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, nên quan chép sử không ghi lại. Đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến, mới bắt đầu lập truyện. Từ khi nhà Lương (梁) thay đổi vận nước, họ phụng chính sóc, tu sửa chức phận cống nạp, đường biển năm nào cũng đến, vượt xa các đời trước. Nay chọn lấy những nơi phong tục rõ rệt, biên chép thành ''Hải Nam Truyện''. === Tùy Thư (隋書)=== ==== Nam Man truyện tự (南蠻傳序 - Lời tựa truyện Nam Man)==== Nam Man (南蠻) gồm các loại tạp cư, ở xen kẽ với người Hoa, gọi là Diên (蜒), gọi là Nhương (獽), gọi là Ly (狸), gọi là Lão (獠), gọi là Đà (㐌), thảy đều không có quân trưởng, nương theo hang núi mà ở, chính là cái gọi là "Bách Việt" (百越) thời cổ xưa vậy. Tục của họ cắt tóc xăm mình, thích công kích đánh giết lẫn nhau, dần trở nên suy yếu, rồi lần lượt thuộc về Trung Quốc, đều được liệt vào quận huyện, đối xử như người Tề (tân dân), nên không chép lại chi tiết. Những năm Đại Nghiệp (大業) (năm 605 - 618 dương lịch), các nước phương Nam xa xôi đến triều cống có hơn 10 nước, nhưng sự tích đa phần mai một không nghe thấy, nay chỉ còn ghi chép được 4 nước mà thôi. ==== Nam Man truyện luận (南蠻傳論 - Lời luận truyện Nam Man)==== Sử thần nói rằng: Lễ ký (禮) nói "Phương Nam gọi là Man (蠻)", có kẻ không ăn đồ nấu chín. Kinh ''Thư'' chép "Man Di (蠻夷) làm rối loạn hoa hạ", Kinh ''Thi'' nói "Kẻ ngu muội kia là Man Kinh (蠻荊)". Chủng loại thực sự đông đúc, đời đời gây rắc rối nghẽn trở. Từ khi nhà Tần (秦) gộp hai nước Sở, nhà Hán (漢) bình định Bách Việt (百越), đất tận cùng biên ải phía Nam (đan kiêu), bóng nắng tột cùng ở Nhật Nam (日南), nơi nào thủy lục có thể ở được thảy đều lập thành quận huyện. Đến lúc chia biên cảnh Ngô (吳), Thục (蜀), thời gian trải qua Tấn (晉), Tống (宋), đạo trị quốc có lúc hưng lúc suy, việc thần phục hay phản nghịch không nhất quán. Cao Tổ (高祖) thụ mệnh, bình định 9 cõi (cửu vũ); Dạng Đế (煬帝) nối nghiệp, uy đức ban đến 8 phương hoang sơ (bát hoang), dồn tâm sức vào di bang phương xa, chí cầu vật trân dị. Thế nên quân ra đến Lưu Cầu (流求), binh đánh đến Lâm Ấp (林邑), uy chấn phong tục lạ, vượt xa thời Tần (秦), Hán (漢). Tuy có công lao nơi hoang ngoại nhưng không cứu vãn được sự bại vong trong bờ cõi. ''Truyện'' có câu: "Chẳng phải bậc thánh nhân, ngoài yên tất trong lo", lời ấy thật đúng thay! ===Thông Điển (通典) của Đỗ Hữu (杜佑)=== ==== Lược thuật lời tựa về Hải Nam (海南序略)==== Các nước Hải Nam (海南) đã thông hiếu từ thời Hán (漢). Đại để nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu (交州), cư ngụ trên các đảo giữa biển lớn, cách nhau hoặc 300 đến 500 dặm, hoặc 3,000 đến 5,000 dặm, nơi xa thì 20,000 đến 30,000 dặm. Cưỡi tàu dương buồm, đường sá xa xôi không thể biết tường tận dặm sở. Sách vở các nước ngoài tuy có nói về số dặm, nhưng cũng không định thực. Phía Tây giáp với các nước Hồ (胡). Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) (năm 111 trước Công nguyên), sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức (路博德) mở đất Bách Việt (百越), đặt quận Nhật Nam (日南). Các nước ngoài biên ải từ thời Vũ Đế (武帝) đến nay thảy đều triều kiến. Thời Hán Hoàn Đế (漢桓帝) (năm 146 - 168 dương lịch), các nước Đại Tần (大秦), Thiên Trúc (天竺) thảy đều theo đường này sai sứ dâng cống vật. Đến khi Ngô Tôn Quyền (吳孫權) sai Tuyên hóa tòng sự Chu Ứng (朱應), Trung lang Khang Thái (康泰) đi sứ các nước, những nơi đi qua và nghe kể lại có đến 100 hoặc 70 nước, nhân đó lập ra ký truyện. Đời Tấn (晉) số nước thông hiếu với Trung Quốc rất ít, đến thời Tống (宋), Tề (齊) có hơn 10 nước đến. Từ thời Lương Vũ Đế (梁武) và Tùy Dạng Đế (隋煬帝), sứ giả các nước đến vượt xa các đời trước. Đời Đại Đường (大唐) từ năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) về sau, thanh giáo ban xa, những nơi từ cổ chưa thông hiếu nay cũng qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà đến, còn nhiều hơn thời Lương, Tùy. Những gì không có tin tức lạ thì không ghi chép lại nữa. ==== Lược thuật lời tựa về Lĩnh Nam (嶺南序略)==== Phía Nam Ngũ Lĩnh (五嶺), phía Bắc biển Trướng Hải (漲海), trước thời Ba đại (三代) là vùng hoang phục. Nhà Tần (秦) bình định thiên hạ, mở đất đặt ra 3 quận như Nam Hải (南海). Nhà Tần loạn, Triệu Đà (趙佗) chiếm giữ đất ấy, truyền 5 đời suốt 93 năm. Đến năm Kiến Nguyên (建元) (năm 140 - 135 trước Công nguyên) đời Hán Vũ Đế, Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức diệt đi, chia làm 9 bộ như Đạm Nhĩ (儋耳). Quận Châu Nhai (珠崖) ở trên đảo giữa biển, đại suất vài năm lại phản 1 lần. Năm Sơ Nguyên (初元) đời Nguyên Đế (năm 48 - 44 trước Công nguyên), nghe theo lời bàn của Giả Quyên Chi (賈捐之) mà bãi bỏ quận ấy. Thời Hán Quang Vũ Đế (漢光武), năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 - 56 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ (交趾) là Trưng Trắc (徵側) nổi dậy, chiếm hơn 60 thành, Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) thảo phạt bình định xong. Từ thời Hoàn Đế (桓), Linh Đế (靈) về sau, người Man Lão (蠻獠) lại chiếm huyện Tượng Lâm (象林) thuộc quận Tượng (象郡), bèn trở thành nước Lâm Ấp (林邑). Các quận huyện còn lại qua các đời dù thỉnh thoảng có phản loạn, binh lính châu quận lập tức bình định được ngay. Người ở vùng cực Nam xăm mặt (điêu đề), chân vòng kiềng (giao chỉ), tục lệ trai gái tắm cùng sông. Phía Tây có nước Ăn thịt người (Đạm Nhân quốc), đẻ con đầu lòng thảy đều xẻ ra ăn, gọi là "nghĩa nghi đệ". Nếu thấy ngon thì dâng cho vua, vua thích bèn thưởng cho cha nó; cưới vợ thiếp đẹp thì nhường cho anh mình, đó là người Ô Hú (烏滸). Phía Nam Giao Chỉ có nước Việt Thường (越裳). Năm thứ 6 (năm 1110 trước Công nguyên) thời Chu Công (周公) nhiếp chính, thiên hạ hòa bình, người Việt Thường qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mà dâng chim trĩ trắng. Khi đức nhà Chu suy, việc ấy dần dứt. Đến khi Sở tử (楚子) xưng bá, Bách Việt (百越) đến triều cống. Tần Thủy Hoàng (秦始皇) bình định thiên hạ, mở vùng ngoài Lĩnh, đặt các quận Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林), Tượng (象). Đến thời Hồ Hợi (胡亥), quan Úy Nam Hải là Nhâm Ngao (任囂) ốm sắp chết, gọi Lệnh huyện Long Xuyên (龍川) là người Chân Định (真定) tên Triệu Đà (趙佗) bảo rằng: "Trung Quốc nhiễu loạn, chưa biết nơi nào yên. Đất Phiên Ngung (番禺) dựa núi hiểm trở, biên thùy mấy ngàn dặm, có thể lập thành nước. Trong quận các quan lại chẳng ai đáng bàn cùng, nên gọi ông đến bảo." Bèn cho Đà nhận thư, hành chức Úy Nam Hải. Sau khi Ngao chết, Đà lập tức cắt đứt đường mới mở của nhà Tần, tụ binh tự giữ. Nhà Tần đã diệt, Đà bèn đánh chiếm cả Quế Lâm, Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương (南越武王). Hán đã định thiên hạ, vì Trung Quốc khổ cực, nên tha không giết Đà, sai Lục Giả (陸賈) phong Đà làm Nam Việt vương. Thời Cao Hậu (高後), Đà bèn tự xưng là Nam Việt Vũ đế (南越武帝), phát binh đánh các ấp biên thùy của Trường Sa (長沙), đánh bại mấy huyện rồi rút. Dùng uy binh và của cải hối lộ các tộc Mân Việt (閩越), Tây Âu (西甌), Lạc Việt (駱越), thảy đều thần phục, đất rộng Đông Tây hơn 10,000 dặm, Nam Bắc mấy ngàn dặm. Khi Hiếu Văn Đế (孝文帝) mới lập (năm 179 trước Công nguyên), vỗ về thiên hạ, sai giữ mồ mả tổ tiên Đà ở Chân Định, đặt hộ giữ ấp, hằng năm cúng tế; gọi anh em họ hàng Đà phong quan cao, ban thưởng hậu hĩnh. Sai Lục Giả đi dụ Đà. Giả đến, Nam Việt vương dâng thư tạ lỗi, nguyện làm phiên thần, phụng chức cống nạp. Đến năm Kiến Nguyên (建元) thứ 4 (năm 137 trước Công nguyên) đời Vũ Đế, thời cháu Đà là Hồ (胡), Mân Việt vương là Dĩnh (郢) hưng binh đánh biên ấp Nam Việt. Hồ sai người dâng thư nói: "Hai nước Việt đều là phiên thần, không được tự ý hưng binh đánh nhau. Nay Đông Việt xâm lấn thần, thần không dám hưng binh, chỉ đợi chiếu chỉ Thiên tử." Bấy giờ Thiên tử khen Nam Việt giữ nghĩa giữ ước, bèn sai 2 tướng đi thảo phạt Mân Việt. Hoài Nam vương là An (安) dâng thư can rằng: : "Nước Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Cho nên xưa kia trong cõi là Điện phục, ngoài cõi là Hầu phục, rồi đến Tân phục, Man Di là Yếu phục, Nhung Địch là Hoang phục, thế xa gần khác nhau vậy. Từ khi nhà Hán mới định đến nay 72 năm, người Ngô Việt đánh nhau không sao kể xiết, nhưng Thiên tử chưa từng cử binh vào đất ấy. Thần nghe người Việt không có thành quách ấp lý, ở giữa khe cốc, trong rừng tre, quen thủy chiến, giỏi dùng thuyền. Đất tối tăm ẩm thấp, nhiều hiểm trở đường thủy, người Trung Quốc không biết thế đất, dấn thân vào đó thì 100 người không địch nổi 1 người. Được đất ấy cũng không thể lập quận huyện, đánh chúng không thể dùng bạo lực mà lấy được. : : Nay tự đánh nhau mà Bệ hạ dùng binh cứu, ấy là ngược lại lấy Trung Quốc mà làm nhọc cho Man Di vậy. Vả lại người Việt ngu ngốc khinh bạc, bội ước phản phúc, việc họ không dùng pháp độ Thiên tử không phải tích tụ trong 1 ngày. Một khi không phụng chiếu bèn cử binh giết đi, thần e binh cách sau này không lúc nào được nghỉ. Nay phát binh đi mấy ngàn dặm, mang áo lương vào đất Việt, khiêng kiệu vượt đèo, kéo thuyền vào nước, mùa hè nóng nực, bệnh thổ tả hoắc loạn nối nhau, chưa kịp chạm đao thương thì người chết bị thương chắc đã nhiều rồi. : : Hơn nữa người Việt ít lực thiếu tài, không thể lục chiến, lại không biết dùng xe ngựa cung nỏ, nhưng không thể vào được là vì đất kia hiểm mà người Trung Quốc không hợp thủy thổ. Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. : : Thần nghe lời đồn trên đường rằng em Mân Việt vương là Giáp giết vương rồi. Giáp đã bị giết chết, người dân chưa có chỗ thuộc về. Bệ hạ nếu muốn họ nội thuộc, hãy đưa vào Trung Quốc, sai trọng thần đến chiêu dụ, họ tất sẽ bồng con dắt già mà về với thánh đức. Nếu Bệ hạ không dùng đến họ, hãy nối lại dòng dõi đã dứt, giữ lại nước đã mất, lập vương hầu cho họ, họ tất sẽ ủy thác làm phiên thần, thay nhau cống nạp. Bệ hạ dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt. Đàn ông không được cày cấy, đàn bà không được dệt sợi. Bệ hạ lấy bốn biển làm bờ, chín châu làm nhà, muôn dân thảy đều là thần thiếp, số thuế thu được đủ dùng, hà tất phải tốn công mồ hôi ngựa vì một ngày ở đất Di Địch?" Đế không nghe. Binh chưa vượt đèo, em Mân Việt vương là Dư Thiện (餘善) đã giết Dĩnh để hàng, bèn bãi binh. Sau đó đến đời cháu là Hưng (興), lập mẹ làm Thái hậu vốn là người Trung Quốc, khuyên vương cùng sủng thần dâng thư xin sánh ngang chư hầu trong cõi, 3 năm triều kiến 1 lần. Tể tướng Lã Gia (呂嘉) không muốn, bèn làm phản giết Thái hậu và hết sứ giả nhà Hán. Lập con trưởng của Dĩnh là Kiến Đức (建德) làm vương, phát binh giữ nơi yếu hại. Bấy giờ lệnh cho người Việt và các đạo lâu thuyền phía Nam Giang Hoài là 100,000 quân chinh thảo. Năm Nguyên Đỉnh (元鼎) thứ 5 (năm 112 trước Công nguyên) mùa thu, Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, từ Quế Dương (桂陽) xuôi dòng Hối Thủy; Chủ tước Đô úy Dương Phục (楊僕) làm Lâu thuyền tướng quân, ra khỏi quận Chương (章郡), xuôi dòng Hoành Phố; 2 người vốn là Quy nghĩa Việt hầu làm Qua thuyền, Hạ lại tướng quân, ra khỏi Linh Lăng (零陵), kẻ xuôi dòng Ly Thủy, người đến Thương Ngô (蒼梧). Sai Trì nghĩa hầu nhân tội nhân đất Thục, phát binh Dạ Lang (夜郎), xuôi dòng sông Tường Kha (牂牱), thảy đều hội quân tại Phiên Ngung (番禺). Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên), Lâu thuyền tướng quân dẫn tinh binh hạ cửa hiểm trước, phá Thạch Môn (石門), thu được thuyền lương của Việt, bèn đẩy tới phía trước, làm nhụt nhuệ khí quân Việt. Phục Ba tướng quân dẫn tội nhân, đường xa nên đến muộn, hội quân với Lâu thuyền thì có hơn 1,000 người, bèn cùng tiến. Lâu thuyền đi trước đến Phiên Ngung, Kiến Đức và Gia đóng thành thủ, Lâu thuyền tự chọn chỗ thuận lợi ở hướng Đông Nam, Phục Ba ở hướng Tây Bắc. Gặp lúc tối trời, Lâu thuyền công phá bại quân Việt, phóng hỏa đốt thành. Quân Việt vốn nghe danh Phục Ba nhưng đêm tối không biết quân ít hay nhiều. Phục Ba bèn sai sứ chiêu hàng kẻ đầu hàng, ban ấn thụ, lại thả cho đi chiêu dụ nhau. Lâu thuyền đánh gấp đốt địch, địch trái lại chạy vào doanh trại Phục Ba. Đến mờ sáng, trong thành thảy đều hàng Phục Ba. Lã Gia, Kiến Đức cùng bộ hạ mấy trăm người đêm tối trốn ra biển. Phục Ba sai người đuổi bắt, Hiệu tư mã Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, Việt lang Đô Kê (都稽) bắt được Lã Gia. Binh của Qua thuyền, Hạ lại tướng quân và binh Dạ Lang của Trì nghĩa hầu chưa kịp đến thì Nam Việt đã bình định xong. Bèn lấy đất ấy làm 9 quận: Đạm Nhĩ (儋耳), Châu Nhai (珠崖), Nam Hải (南海), Quế Lâm (桂林 - bản gốc ghi Thương Ngô 蒼梧), Út Lâm (鬱林), Hợp Phố (合浦), Giao Chỉ (交趾), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), đặt Giao Chỉ Thứ sử thống lĩnh. Từ thời vua Đà về sau, phàm 5 đời, trải 93 năm thì mất. Hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ ở trên đảo giữa biển, Đông Tây 1,000 dặm, Nam Bắc 500 dặm. Các cừ soái tù trưởng thảy đều xuyên hạt châu vào tai rồi treo xuống, rủ quá vai 3 thốn. Cuối đời Vũ Đế, Thái thú Châu Nhai là người Hội Khê tên Tôn Hạnh (孫幸) bắt nộp khăn rộng khổ, người Man không chịu nổi sưu dịch bèn đánh quận giết Hạnh. Con Hạnh là Báo (豹) tập hợp 10,000 người trở lại đánh phá quân Man, tự lĩnh việc quận, thảo kích dư đảng, liên tiếp mấy năm mới bình xong. Báo sai sứ nộp lại ấn thụ, dâng thư tâu bày sự trạng. Chiếu chỉ bèn bái Báo làm Thái thú Châu Nhai, uy chính thi hành rộng khắp, cống nạp hằng năm thảy đều đến. Trung Quốc tham của quý của họ, dần xâm mưu khinh rẻ, nên đại suất vài năm lại phản 1 lần. Đến đầu thời Nguyên Đế (năm 48 trước Công nguyên), Châu Nhai mấy lần phản. Giả Nghị (賈誼), Tôn Quyên Chi (孫捐之) dâng thư xin đừng đánh, nói rằng: : "Thần nghe đức của ba thánh Diêu, Thuấn, Vũ, đất không quá mấy ngàn dặm mà thanh giáo ban đến bốn biển. Kẻ muốn nhận thanh giáo thì trị, kẻ không muốn thì không cưỡng trị. Thế nên quân thần ca đức, vạn vật thái bình. Võ Đinh, Thành Vương là bậc đại quân, nhưng đất phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương, nhờ thế tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, muôn loài vui với sự sống. Người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc suy, Nam chinh không về, cho đến nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, chỉ lo rộng đất mà không lo hại, khiến thiên hạ tan rã. Nhờ thánh Hán vì trăm họ thỉnh mệnh, bình định thiên hạ. Đến Hiếu Văn hoàng đế, bỏ võ theo văn, án ngục chỉ có mấy trăm người, thuế 40 phần thu 1, trai tráng 3 năm mới đi phục dịch 1 lần. Có người hiến ngựa thiên lý, chiếu không nhận, lệnh cho bốn phương không đến dâng hiến. : : Đến Hiếu Vũ hoàng đế, nhờ nước giàu dân rảnh, đánh đuổi Hung Nô, thông với Tây Vực đến tận An Tức (安息), phía Đông qua Kiệt Thạch, lấy Huyền Thố, Lạc Lãng làm quận, dời đồn ải, chế trị Nam Hải làm 9 quận, thì thiên hạ án ngục hàng vạn, thuế má tăng lên mấy trăm, đặt ra lợi muối sắt rượu để trợ dụng độ mà vẫn không đủ. Khi ấy giặc cướp cùng nổi lên là do chinh phạt không nghỉ vậy. : : Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. Kinh ''Thi'' có câu: 'Ngu muội thay Kinh Man, coi đại quốc là thù'. Từ cổ đã lo ngại lâu rồi, huống hồ là hàng phục đám Man cách phương Nam 10,000 dặm sao? Người Lạc Việt cha con cùng tắm một sông, quen uống bằng mũi, không khác gì cầm thú, vốn không đáng lập quận huyện vậy. Một mình cô độc giữa biển, sương mù ẩm thấp, nhiều độc thảo trùng xà thủy thổ gây hại, người chưa bắt được mà chiến sĩ tự chết. Lại chẳng phải chỉ Châu Nhai mới có châu, tê, đồi mồi; bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy, người ở đó ví như cá rùa, có gì đáng tham! : : Thần trộm lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa đất vô dụng sao? Xét về xưa không hợp, thi hành nay không tiện. Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ đi." Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) bèn bãi bỏ, phàm có 2 quận 65 thành. Phàm vùng Giao Chỉ thống lĩnh, tuy đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác nhau, phải qua nhiều lần dịch ngôn ngữ mới thông. Người như cầm thú, già trẻ không phân biệt. Búi tóc đi chân đất, lấy vải xuyên đầu mà mặc. Sau đó dời tội nhân Trung Quốc đến ở lẫn giữa chúng, mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy lễ hóa. Quang Vũ trung hưng, Tích Quang (錫光) làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên (任延) giữ Cửu Chân, bèn dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày. Mới đặt法令 (pháp lệnh), bắt đầu biết cưới hỏi, lập ra lễ nghi trường học. Đến năm Quang Vũ thứ 16 (năm 40 dương lịch), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc (徵側) cùng em là Trưng Nhị (徵貳) làm phản, đánh các quận huyện. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (麊泠), gả cho người Chu Diên (朱鳶) là Thi Sách (詩索) làm vợ, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ dùng pháp luật thắt buộc, Trắc giận nên phản. Bấy giờ các tộc Man Lỉ (蠻俚) ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố thảy đều theo, chiếm 65 thành, tự lập làm vương. Giao Chỉ Thứ sử cùng các Thái thú chỉ đủ tự giữ mình. Năm thứ 18 (năm 42 dương lịch), sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援), Lâu thuyền tướng quân Đoạn Chí (叚志) phát binh các vùng Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô hơn 10,000 người đi thảo phạt. Mùa hạ tháng 4 năm sau, Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị... còn lại thảy đều hàng phục tan rã. Tiến đánh giặc Cửu Chân là Đô Dương (都陽)... phá tan và bắt hàng, dời cừ soái chúng hơn 300 người sang Linh Lăng, vùng ngoài Lĩnh thảy đều bình định. Đầu năm Nguyên Hòa (元和) đời Chương Đế (năm 84 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải Nhật Nam là Cứu Bất Sự nhân (究不事人), hào trưởng trong ấp dâng tê sống, trĩ trắng. Khoảng năm Vĩnh Quang (永光) (năm 43 - 39 trước Công nguyên), người Man Di Tượng Lâm (象林) thuộc Nhật Nam hơn 2,000 người cướp bóc trăm họ, bèn đặt chức Tượng Lâm tướng binh Trường sử để phòng họa ấy. Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 2 đời Thuận Đế (năm 85 dương lịch), người Man Di ngoài biên ải huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam là Khu Liên (區憐)... hơn mấy ngàn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành quách đền miếu, giết quan lại. Châu quận hợp lực thảo phạt nhưng không thuận lợi. Đế triệu công khanh bách quan và thuộc hạ bốn phủ hỏi phương lược, thảy đều bàn nên phát 40,000 binh các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự (bản gốc ghi Kinh Hà 荊河) đến đó. Đô úy Đại tướng quân là Lý Cố (李固) bác lại rằng: : "Nếu Kinh, Dương không có việc thì phát đi cũng được. Nay giặc cướp 2 châu đó kết bè không tan, mà lại làm náo động thêm tất sẽ sinh họa khác. Lại nữa người vùng Diễn Châu, Dự Châu đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến trốn chạy. Quân đi 30 dặm làm 1 trình, mà cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới. Tính mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực cho tướng lại lừa ngựa, chỉ riêng việc mang giáp tự đi tốn kém đã như thế rồi. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quân lại ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ lấy lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬), nhờ các tướng lại ở đó mà trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú, thảy đều sai đến trú tại phủ Giao Chỉ. Nay binh Nhật Nam ít lại không được huấn luyện, giữ không đủ đánh không xong, có thể dời hết quan lại dân chúng lên phía Bắc nương tựa Giao Chỉ, sau khi yên tĩnh mới lệnh cho về. Chiêu mộ người Man Di khiến chúng tự đánh nhau, kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong tước tặng đất. : : Trước đây Thứ sử Tinh Châu là người Trường Sa tên Chúc Lương (祝良) tính dũng quyết. Lại có người Nam Dương tên Trương Kiều trước ở Ích Châu có công phá giặc, thảy đều dùng được. Xưa Văn Đế gia phong Ngụy Thượng ở Vân Trung, Ai Đế bái Cung Xá làm Thái thú, nay nên bái Lương... theo đường tắt mà nhậm chức ngay." Bấy giờ bái Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều, Lương đến, đi xe một ngựa vào đất giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, vùng ngoài Lĩnh lại bình định. Về sau nhiều lần có phản loạn, binh châu quận thảo phạt rồi hàng phục chúng. Đến năm Kiến Ninh (建寧) thứ 3 đời Linh Đế (năm 170 dương lịch), Thái thú Út Lâm là Cốc Vĩnh (谷永) lấy ân tín chiêu hàng hơn 100,000 người Ô Hú (烏滸) nội thuộc, thảy đều thụ quan đái, mở đặt 7 huyện. Tuy nhiên từ nhà Hán về sau, dù lập ra châu huyện, nhưng tục người Lão (獠) khó trị, đại suất vài năm lại loạn 1 lần, nhưng chung quy không đủ làm đại họa. ====Nam Man Tự Lược (南蠻序略)==== Nam Man (南蠻). Vào thời Đường (唐 - Đường Nghiêu) và Ngu (虞 - Ngu Thuấn), họ cùng triều đình lập minh ước, nên gọi là Yếu phục (要服). Thời nhà Hạ (夏) và nhà Thương (商), họ dần trở thành mối lo nơi biên cảnh. Đến thời đại nhà Chu (周), bè đảng bộ chúng ngày càng thịnh. Cho nên kinh ''Thi'' (詩) nói: "Ngu muội thay Kinh Man (荊蠻), coi đại quốc là thù." Đến thời Sở Vũ vương (楚武王) (năm 740 – 690 trước Công nguyên), quân Man (蠻子) cùng quân La (羅子) cùng đánh bại quân Sở, giết chết tướng là Khuất Hà (屈瑕). Quân Sở sau đó chấn hưng lại, các tộc ấy bèn thuộc về nước Sở (楚). Đến khi Ngô Khởi (吳起) làm Tướng quốc cho Sở Điệu vương (楚悼王) (năm 401 – 381 trước Công nguyên), phương Nam thôn tính cả Man (蠻) và Việt (越), chiếm được đất Động Đình (洞庭) và Thương Ngô (蒼梧). Tần Chiêu vương (秦昭王) sai tướng phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di (蠻夷), đặt ra quận Kiềm Trung (黔中). Sau khi nhà Hán (漢) hưng thịnh, thỉnh thoảng có giặc cướp, các tộc Di phương Tây Nam (西南諸夷) thuộc nhóm Dạ Lang (夜郎) thảy đều bị bình định và lập thành quận huyện. Thời Công Tôn Thuật (公孫述) (năm 25 – 36 dương lịch), các đại tính người Dạ Lang (夜郎) đã giúp nhà Hán giữ vững biên cảnh. Đầu thời Hậu Hán (後漢), họ theo sông Phiên Ngung (番禺江) dâng đồ cống nạp. Năm Kiến Vũ (建武) (năm 25 – 56 dương lịch) đời Quang Vũ (光武), thủ lĩnh người Man (蠻) ở Vũ Lăng (武陵) là Đơn Trình (單程) đánh phá lớn các quận huyện, tướng nhà Hán là Lưu Thượng (劉尚) đánh bại trận, trải qua mấy năm mới bình định được. Thời Thuận Đế (順帝) (năm 125 – 144 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng tăng thuế khóa, người Man lại huy động cả chủng tộc làm phản, giết chết quan lại địa phương (hương lại). Thời Đông Tấn (東晉) (năm 317 – 420 dương lịch), người Man vùng Miện Trung (沔中) nhân sau loạn Lưu Thạch (劉石 - Lưu Uyên và Thạch Lặc) đã dần dời xuống phía Nam Lục Hồn (陸渾), ở khắp đầy các sơn cốc. Từ thời nhà Tống (宋), nhà Tề (齊) về sau, 2 châu Kinh (荊) và Ung (雍) đều đặt chức Hiệu úy để vỗ về yên định vùng đó. Các tù trưởng thủ lĩnh người Man ở quận thường nhận phong tước của Nam Bắc triều (南北朝). Đến cuối thời Hậu Ngụy (後魏), mối họa bạo loạn càng thêm dữ dội, chúng tiếm xưng là Hầu là Vương, đóng giữ các đường hẻm núi (hiệp lộ), làm đứt đoạn đường đi của lữ khách. Chu Vũ Đế (周武帝) (năm 560 – 578 dương lịch) sai Lục Đằng (陸騰) đánh tan quân ấy. Tộc Lão (獠) ban đầu nhân lúc loạn Lý Thế (李勢) đất Thục, sau đó từ sơn cốc vùng Thục Hán (蜀漢) đi ra xâm nhiễu các quận huyện. Đến thời nhà Lương (梁) (năm 502 – 557 dương lịch), các châu quận hằng năm đều đi đánh tộc Lão (獠) để thu lợi. Đến khi Hậu Chu (後周) bình định vùng Lương (梁), Ích (益), từ đó họ dần đồng hóa với người Hoa. Riêng vùng Đông Tạ (東謝), Tây Tạ (西謝) ở Kiềm Trung (黔中), từ cổ chưa từng làm thần tử của Trung Quốc. Từ sau năm Trinh Quán (貞觀) (năm 627 dương lịch) đời Đại Đường (大唐), triều đình đặt ra các châu Kiềm Mâu (羈縻州) để thống lĩnh vùng này. ===Tống Sử (宋史)=== ==== Man Di truyện tự (蠻夷傳序)==== "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi (tứ duệ), chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu." Các tộc Man Di (蠻夷) phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ (thượng du) để lấy về vùng đất cằn cỗi (bất mao), làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh (tù trưởng), khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di (蠻夷), ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn (tinh ngô) thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực (đồ độc) của người dân đã sâu nặng lắm rồi. Nhà Tống (宋) cậy vào văn giáo mà xem nhẹ vũ bị, ấy há phải là cái đạo trị vùng hoang phục (hoang phục) của các bậc tiên vương sao? ===Đại Học Diễn Nghĩa Bổ (大學衍義補) của Khâu Tuấn (邱濬)=== ====Tứ phương Di lạc chi tình (四方夷落之情 - Tình hình các bộ lạc Di ở bốn phương)==== Kinh ''Thuấn Điển'' (舜典) chép: "Đuổi Tam Miêu (三苗) đến Tam Nguy (三危)." '''Chu Hy (朱熹)''' nói: "Tam Miêu là tên nước, ở giữa vùng Kinh (荊), Dương (揚) thuộc Giang Nam, dựa nơi hiểm yếu mà làm loạn. Đuổi (窜) tức là xua đuổi và giam cầm ở đó." "Chia tách và xua đuổi Tam Miêu về phương Bắc." '''Chu Hy''' nói: "Bắc (北) cũng như là Bối (背 - quay lưng), kẻ thiện thì giữ lại, kẻ không thiện thì xua đuổi đi, khiến chúng chia lìa quay lưng mà đi." Kinh ''Ích Tắc'' (益稷) chép: "Bọn Miêu ngoan cố không chịu làm việc, Đế hãy lưu tâm nhé! Đế phán: 'Dẫn dắt đức của ta, ấy là công của ngươi, thảy đều trật tự.' Cao Đao (皋陶) bấy giờ kính cẩn giữ trật tự ấy, bèn thi hành tượng hình (hình phạt biểu trưng), thật là sáng suốt." '''Thái Thẩm (蔡沈)''' nói: "Trong thì Hầu Mục, ngoài thì Phiên Di thảy đều thực hành có công, duy chỉ Tam Miêu ngoan cố kiêu mạn không tuân theo, không chịu làm việc, Đế nên lo nghĩ về việc đó. Đế nói trong bốn biển kẻ nào thực hành đức giáo của ta thì đó là công lao của ngươi (Cao Đao) làm cho có trật tự, nên kẻ ngoan cố không phục tùng thì Cao Đao bấy giờ kính cẩn thừa hành cái trật tự công lao của ngươi, thi hành tượng hình thật sáng suốt. Có kẻ cho rằng bọn Miêu hung hãn, sáu quân (lục sư) chinh phạt mà vẫn nghịch mệnh, há chẳng phải tượng hình của Cao Đao có thể làm được sao? Ấy là chưa biết trật tự binh hình của thánh nhân và gốc ngọn việc trị tộc Miêu của Đế Thuấn vậy. Đại để lấy tượng hình làm uy mà Miêu vẫn không phục, sau đó mới mệnh cho Vũ (禹) chinh phạt. Chinh phạt không phục, lại tăng cường tu sửa đức giáo, đợi khi chúng đến quy phục, sau đó mới chia tách chúng ra." Kinh ''Vũ Cống'' (禹貢) chép: "Tam Nguy (三危) đã yên ổn, Tam Miêu (三苗) cả thảy đều có trật tự." '''Thái Thẩm''' nói: "Tam Nguy chính là nơi Thuấn đuổi Tam Miêu đến." '''Lã Tổ Khiêm (呂祖謙)''' nói: "Tam Miêu có tội tự đáng bị xua đuổi, nhưng phát chính thi nhân tự nhiên phải ban tới chúng, nên khi trị thủy đến Tam Nguy cũng đã khiến chúng an cư, đạt được trật tự lớn. Người đời sau cho rằng ném chúng ra bốn cõi (tứ duệ) là vứt bỏ chúng, đó không phải tâm của thánh nhân." '''Thần (Khâu Tuấn) xét rằng:''' Những gì kinh sử gọi là "Man" (蠻) đa phần chỉ các tộc Di ở phương Nam. Di Địch thấy trong kinh điển bắt đầu từ Tam Miêu, cái gọi là "Miêu dân" (苗民) thì các thiên ''Thuấn Điển'', ''Vũ Mô'', ''Ích Tắc'', ''Vũ Cống'', ''Lã Hình'' đều có đủ. Đế Thuấn lúc mới nhận truyền ngôi đã đứng đầu việc đuổi chúng đến Tam Nguy, đến thời Vũ trị thủy, những kẻ bị đuổi đã có trật tự lớn, kẻ ở lại vẫn không chịu làm việc, nên Đế mệnh Vũ đi chinh phạt, nhưng chúng vẫn nghịch mệnh, đợi đến khi Vũ rút quân chúng mới đến quy phục, bấy giờ mới xét thiện ác mà chia tách chúng ra. Lúc ấy, điều đáng lo là người Man phương Nam, nên Thuấn mệnh Cao Đao làm Sĩ (quan hình pháp), đứng đầu là cử việc "Man Di làm rối loạn Hoa Hạ" làm lời nói. Cái gọi là Man ấy chính là Tam Miêu vậy. Ban đầu, chọn lấy kẻ cực ác mà xua đuổi, sau khi đuổi rồi, lại đối với kẻ ở lại mà chia tách giữa thiện và ác. Kẻ thiện thì khen thưởng mà ban thêm ơn, kẻ ác thì trừng phạt mà dùng thêm uy. Ban ơn thì chúng biết hướng mộ mà làm điều thiện; dùng uy thì chúng biết sợ hãi mà không dám làm điều ác. Đó chính là quyền biến vi diệu của thánh nhân. Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm, trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là cái gọi là Man vậy. Trong đó kẻ khinh捷 (nhanh nhẹn) nhất gọi là Miêu (貓/苗), người thuyết cho rằng đây chính là hậu duệ của Tam Miêu. Nhưng người Miêu ngày nay nương núi mà ở, tính nết không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Xem lời thề của Vũ (Vũ thề sư), kể tội tộc Miêu rằng "quân tử ở nơi hoang dã, tiểu nhân tại vị", tức là tộc Miêu thời ấy có quốc đô quan thuộc, chỉ là việc dùng người bị đảo lộn mà thôi, không giống như người Miêu ngày nay như loài vượn khỉ, không định cư, không nghề nghiệp thường xuyên, không thống thuộc lẫn nhau. Đầu triều đại (nhà Minh), tại Hồ Bắc, Xuyên Đông lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Châu (思州), Bá Châu (播州), lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (quan bản xứ) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa chia tách của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" trong kinh ''Vũ Cống''. Tần Chiêu vương (秦昭王) sai Bạch Khởi (白起) phạt Sở, đánh chiếm vùng Man Di, đặt quận Kiềm Trung (黔中). Nhà Hán hưng, đổi thành quận Vũ Lăng (武陵), hằng năm lệnh cho người lớn nộp 1 xấp vải, trẻ nhỏ nộp 2 thước, gọi là "vải tông" (賨布). '''Thần xét rằng:''' Quận Vũ Lăng thời Hán chính là các châu quận Thường Đức (常德), Lễ (澧), Thần (辰), Nguyên (沅) ngày nay vậy. Năm thứ 33 (năm 214 trước Công nguyên) thời Thủy Hoàng, phát những kẻ từng trốn tránh, ở rể, người buôn bán đi đánh Nam Việt (南越), lấy đất ấy đặt các quận Quế Lâm (桂林), Nam Hải (南海), Tượng (象). Lại có Mân Việt vương Vô Chư (無諸) và Việt Đông Hải vương Dao (搖), tổ tiên họ đều là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn (勾踐), họ Ô (騶). Tần đã gộp thiên hạ, thảy đều phế làm quân trưởng, lấy đất ấy làm quận Mân Trung (閩中). '''Thần xét rằng:''' Tần gộp 100 quận, vùng Lĩnh Nam có 3 quận: Quế Lâm nay là đất Quảng Tây (廣西); Nam Hải nay là đất Quảng Đông (廣東); Tượng quận nay là đất An Nam (安南). Từ thời Tần, Hán đến nay, lý do chúng gây hại cho Trung Quốc không phải vì ở ngoài biên ải có giới hạn, mà vì chúng không thể vượt biên giới vào nội địa ta. Đất của tộc Việt, thời cổ chủng loại thực nhiều, nên có danh xưng Bách Việt (百越), gồm Nam Việt (南越), Âu Việt (甌越), Mân Việt (閩越), Đông Việt (東越), Ư Việt (於越), đất ấy không chỉ một nơi, người ấy không chỉ một loại. Nhưng từ thời Tần, Hán đến nay, những loại như Ư Việt, Đông Việt, Âu Mân thảy đều đã vào Trung Quốc từ lâu, không khác gì các nước Tề, Lỗ, Tống, Vệ. Duy chỉ Nam Việt, đất phía Tây nối với Hồ Tương, thẳng tới Điền (Vân Nam), Quý (Quý Châu), ranh giới Tường Kha (牂牁), Việt Huề (越巂), núi sâu đất hiểm, vẫn còn kẻ chưa thảy đều quy về vương hóa, thường xuyên gây hại cho cư dân quận ấp. Đại để Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay, các quận ấp đều nằm xen kẽ giữa các dãy núi, ở lẫn với Man Di, chỉ có chỗ hiểm chỗ bằng khác nhau mà thôi. Thỉnh thoảng chúng lén lút nổi lên, khó lòng phòng bị. Thời Hán Vũ Đế, muốn đánh Mân Việt. Hoài Nam vương An (安) dâng thư nói: : "Việt là nơi đất ngoại phương, người cắt tóc xăm mình, không thể dùng pháp độ của nước văn minh (quan đái chi quốc) mà trị được. Từ sự thịnh trị của Ba đại, người Hồ người Việt không thụ chính sóc, không phải vì mạnh mà không thể phục, uy mà không thể chế. Đó là nơi đất không ở được, người không chăn dắt được, không đáng để làm phiền Trung Quốc. : : Phương Nam nóng ẩm, gần mùa hè thì hầm hập, phơi mình dưới nước, rắn rết côn trùng bệnh dịch đều nổi lên, binh chưa nhuốm máu mà chết bệnh đã 2 đến 3 phần 10. Dù có bắt hết cả nước Việt cũng không đủ bù đắp chỗ mất mát. Nay dùng binh vào đất ấy, chúng tất sẽ như chim trĩ thỏ hoang trốn vào rừng núi hiểm trở. Rút đi thì chúng lại tụ họp; ở lại giữ thì qua năm suốt tháng sĩ tốt mệt mỏi, lương thực cạn kiệt, dân khổ vì binh đao tất sinh trộm cướp. Binh đao là việc hung hiểm, một phương có biến bốn mặt đều lo. Thần e biến cố phát sinh, gian tà nổi dậy chính từ đây vậy. Thần nghe binh của Thiên tử chỉ có chinh phạt chứ không có chiến đấu, ý nói không kẻ nào dám chống lại. Nếu để người Việt gặp may mà chống lại nhan sắc của bậc chấp sự, khiến binh lính phải phục dịch, chỉ cần 1 người không trở về, dù có lấy được đầu Việt vương, thần vẫn trộm lấy làm hổ thẹn cho nhà Đại Hán." '''Thần xét rằng:''' Mân Việt nay là đất Phúc Kiến (福建), đã nhập vào bản đồ (chức phương) từ lâu, không còn như thời Hán nữa. Nhưng lời Lưu An nói về phương Nam ẩm độc, binh vào đất ấy chưa đợi đao thương đã tự chết bệnh, cùng với việc binh đến thì ẩn trốn, binh lui thì tụ họp, đánh lâu thì sĩ tốt mệt mỏi, dân khổ binh đao... thì tình trạng chướng lệ rừng núi và thực trạng người Miêu, người Lão ở Hồ Nam, Quảng Tây, Vân Quý ngày nay thực sự không khác gì thời Hán. Minh chủ tại vị, lấy thiên địa làm lượng, vũ trụ làm cảnh giới, gặp lúc Di phương xa chưa được giáo hóa thì như lời Lưu An, dùng một cái ấn vuông thốn, dải lụa trượng hai để trấn phủ ngoại phương, không nhọc 1 tốt, không mẻ 1 kích mà uy đức song hành; dùng trách nhiệm của 1 sứ giả thay cho 100,000 quân, đừng để dân Trung Quốc phải chịu độc của rắn rết mãnh thú, nhuốm bệnh thổ tả hoắc loạn, cha già rơi lệ, con côi gào khóc, đón thây từ dặm xa, bỏ xương nơi hoang vắng. Điều Lưu An lo nghĩ không chỉ là cái phúc của Di phương xa, mà thực sự là cái phúc của Trung Quốc vậy. Năm Sơ Nguyên (初元) thứ 3 (năm 46 trước Công nguyên) đời Nguyên Đế, các quận Châu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) đại suất mấy năm lại phản 1 lần, giết quan lại, nhà Hán thường phát binh đánh định. Đến lúc này, các huyện làm phản liên năm không định. Vua bàn với quần thần muốn phát đại quân. Đãi chiếu Giả Quyên Chi (賈捐之) nói: : "Thần nghe đức thịnh trị của Nghiêu, Thuấn. Vũ vào cõi thánh nhưng không ưu tiên bằng đức của ba vị thánh. Đất không quá mấy ngàn dặm, phía Tây đến Lưu Sa, phía Đông sát biển, phía Bắc và Nam thanh giáo ban đến bốn biển. Ý nói muốn nhận thanh giáo thì trị, không muốn thì không cưỡng trị. Đất thời Ân, Chu phía Đông không quá Giang, Hoàng, phía Tây không quá Đê, Khương, phía Nam không quá Man Kinh, phía Bắc không quá Sóc Phương. Thế nên tiếng tụng ca cùng trỗi dậy, người vui với sự sống, người Việt Thường qua 9 lần dịch ngôn ngữ đến hiến, ấy không phải do binh cách mà đến được. : : Đến lúc nhà Tần hưng binh đánh xa, tham ngoại hư nội, khiến thiên hạ tan rã. Hiếu Vũ hoàng đế rèn binh mã để dẹp bốn Di, thuế dịch phiền trọng, giặc cướp cùng nổi lên, thảy đều do mở đất quá rộng, chinh phạt không nghỉ vậy. Nay dân Quan Đông khốn quẫn, lưu lạc trên đường, đến mức gả vợ bán con, luật pháp không thể cấm, đạo nghĩa không thể chỉnh, đó là nỗi lo của xã tắc. Lạc Việt bỏ đi chẳng đáng tiếc, không đánh chẳng tổn uy. Nay Bệ hạ không nỡ cơn giận nhỏ, muốn đuổi sĩ chúng tống vào giữa biển khơi, làm vui lòng ở nơi đất u minh, không phải cách để cứu giúp đói kém, bảo toàn muôn dân vậy. : : Vả lại lấy quân Khương trước đây mà bàn, bêu quân chưa đầy 1 năm, binh ra không quá 1,000 dặm mà tốn hơn 40 vạn, tiền của Đại tư nông cạn kiệt phải lấy tiền cấm của Thiếu phủ nối vào. Một góc không yên mà tốn kém còn như thế, huống hồ nhọc quân đánh xa, mất quân mà không có công sao? Thần ngu nghĩ không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị, thảy đều có thể bỏ qua." Bèn bỏ Châu Nhai, chuyên tâm lo lắng cứu tế vùng Quan Đông. Vua hỏi đại thần, Thừa tướng Vu Định Quốc (于定國) cho rằng: "Trước đánh Châu Nhai hưng binh liên năm, Hiệu úy và Thừa phàm 11 người, kẻ về chỉ có 2, tốt sĩ và phu dịch chết hơn 10,000 người, tốn kém hơn 300,000,000 mà vẫn chưa thể khiến thảy đều hàng phục. Nay Quan Đông khốn quẫn, dân khó lòng dao động." Lời bàn của Quyên Chi là đúng. Chiếu rằng: "Dân Châu Nhai ai mộ nghĩa muốn nội thuộc thì cho ở lại, ai không muốn đừng cưỡng ép." '''Tô Thức (蘇軾)''' nói: "Dương Hùng có câu: 'Việc bỏ Châu Nhai là sức của Quyên Chi, nếu không loài vảy mai (lân giới) đã thay mũ áo (quán thường) của ta', lời này dùng thời bấy giờ thì được. Từ cuối đời Hán đến Ngũ Đại, dân Trung Quốc lánh nạn đa phần ở đây, nay lễ nhạc văn minh đã hiện rõ, sao có thể lại nói chuyện bỏ rơi được?" '''Thần xét rằng:''' Quyên Chi nói không phải nước văn minh, nơi ''Vũ Cống'' không tới, ''Xuân Thu'' không trị thảy đều đừng làm. Thần trộm nghĩ phàm những vùng đất ngày nay không phải của tổ tông để lại thì có thể dùng kế của Quyên Chi, nếu là vùng đất tổ tông lúc mới được thiên hạ đã đưa vào bản đồ thì sao có thể cho người khác được? Huống hồ vốn là nơi đất đai màu mỡ của Trung Quốc, ải hiểm yếu, người xưa gọi là "một tấc sơn hà một tấc vàng" sao? Nếu không đến mức cực kỳ bất đắc dĩ, và sự sống còn an nguy của đất nước quyết định ở đây thì không thể nhẹ nhàng nói chuyện bỏ rơi. Đầu năm Vĩnh Hòa (永和) đời Thuận Đế (năm 136 dương lịch), Thái thú Vũ Lăng dâng thư rằng người Man Di thảy đều phục tùng, có thể ví như người Hán mà tăng thuế khóa, người bàn thảy đều cho là được. Duy có Thượng thư lệnh Ưu Hủ (虞詡) tâu rằng: : "Từ cổ thánh vương không coi kẻ mặc áo quần khác lạ (dị phục) là thần tử, không phải đức không đến được, uy không ban được. Mà vì tâm địa như cầm thú của chúng tham lam, khó dùng lễ mà dẫn dắt. Vì thế mà dùng chính sách kiềm chế (kiềm mâu) vỗ về, phụ thuộc thì nhận mà không cự tuyệt, phản loạn thì bỏ mà không đuổi theo. Điển cũ của tiên đế, thuế cống nhiều ít đã có từ lâu. Nay đột ngột tăng thêm tất có oán hận phản loạn, tính toán cái được không bù đắp được cái mất." '''Thần xét rằng:''' Loại người Hoa và Di khác nhau, nhưng cái tâm tham được và tiếc cho thì giống nhau vậy. Đế vương điều khiển Di Địch, thảy đều lấy nghĩa thắng chúng mà không tính toán cái lợi. Cái cũ đã có mà không lấy thì chúng dám tự tiện, cái cũ không có mà lấy thì chúng tất dẫn đến oán vọng. Ta chỉ tuân theo cái cũ mà thôi, ngoài lệ cũ không thêm mảy may, nhưng lại phải nhân lúc chúng thiên tai thiếu thốn mà thỉnh thoảng có sự buông bỏ, không đòi hỏi đủ đầy, không cự tuyệt sự dối lừa của chúng. Trong năm Vĩnh Hòa, Thị ngự sử Giả Xương (賈昌) cùng châu quận thảo phạt Khu Liên (區憐)... hơn 1 năm không thắng. Vua triệu bách quan hỏi phương lược, thảy đều bàn sai đại tướng phát 40,000 quân các vùng Kinh, Dương, Diễn, Dự đến đó. ''' Lý Cố (李固)''' bác lại rằng: : "Giặc cướp Kinh, Dương kết bè không tan, Trường Sa, Quế Dương mấy lần bị trưng phát, nếu lại làm náo động tất sinh họa khác. Người Diễn, Dự đi xa vạn dặm, chiếu thư thúc ép tất dẫn đến phản trốn. Phương Nam nóng ẩm, lại có chướng khí, kẻ chết chắc chắn 4 đến 5 phần 10. Đi xa vạn dặm sĩ tốt mệt mỏi, đến được Lĩnh Nam không còn sức đánh. Quân đi mỗi ngày 30 dặm, mà Diễn, Dự cách Nhật Nam hơn 9,000 dặm, 300 ngày mới tới, mỗi người ăn 5 thăng, tốn 60 vạn hộc gạo, chưa tính lương thực tướng lại lừa ngựa. Nơi đóng quân người chết chắc chắn nhiều, đã không đủ chống địch lại phải phát thêm quân, ấy là cắt lòng dạ để bù chân tay. Cửu Chân, Nhật Nam cách nhau 1,000 dặm, phát quan lính ở đó còn chưa chịu nổi, huống hồ làm khổ lính 4 châu đi vào nơi gian nan vạn dặm sao! : : Trước đây Trung lang tướng Doãn Tự (尹就) đánh quân Khương phản loạn ở Ích Châu, ngạn ngữ Ích Châu có câu: 'Giặc đến còn được, Doãn đến giết ta'. Sau đó Tự bị triệu về, giao binh cho Thứ sử Trương Kiều (張喬). Kiều nhờ các tướng lại đó, trong mười ngày một tháng đã phá sạch giặc khấu, ấy là cái hiệu của việc phát tướng vô ích, là cái nghiệm của việc châu quận có thể tin cậy được vậy. Nên chọn người có dũng lược nhân huệ làm Thứ sử, Thái thú. Dời quan dân Nhật Nam lên Bắc dựa vào Giao Chỉ, chiêu mộ người Man khiến chúng tự đánh nhau, vận chuyển vàng lụa làm kinh phí. Kẻ nào làm phản gián lấy được đầu thủ lĩnh thì hứa ban phong hầu tặng đất." Bốn phủ thảy đều theo lời bàn của Lý Cố. Bèn bái Chúc Lương (祝良) làm Thái thú Cửu Chân, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ. Kiều đến nơi, mở lòng an ủi dụ dỗ, chúng thảy đều hàng phục tan rã. Lương đến Cửu Chân, đi xe một ngựa vào giữa quân giặc, đặt phương lược, tỏ rõ uy tín, người hàng phục mấy vạn người, thảy đều vì Lương mà xây dựng phủ sở, vùng ngoài Lĩnh lại thái bình. '''Thần xét rằng:''' Lời bàn này của Lý Cố nói về cái tệ của việc dùng binh phương Nam, trúng thiết thực tình, khiến người đời sau đọc sử đến đây thấy rõ như chính mình trong hàng quân, tận mắt thấy việc ngàn năm như một ngày vậy. Đến như lời ông nói về việc "phát tướng vô ích, châu quận có thể tin cậy" đều là những minh chứng đã hiện rõ. Nhưng về sau các quan cai quản ở đó nhậm chức không lâu đã rời đi, người Man Lão biết họ đi nhanh không thể dựa dẫm, mà quan lại sau này chưa chắc đã vậy, thường nửa tin nửa ngờ, nên tuy tạm hàng mà lại phản. Xin lấy hai sông Tả, Hữu Giang (左右兩江) ở Quảng Tây ngày nay làm ví dụ. Đất hai sông rộng 2,000 đến 3,000 dặm, quản辖 (quản hạt) binh dũng (狠兵) không dưới 10 mấy vạn, nay đặt làm 4 phủ, 37 châu, quan chính các phủ châu thảy đều lấy người bản xứ (thổ nhân) đảm nhiệm, còn các chức tá nhị, mạc chức thì dùng quan từ nơi khác đến (lưu quan). Cho nên trong hơn 100 năm qua, chưa nghe thấy có việc tụ tập xâm lược. Mà những kẻ gây hại cho châu huyện thảy đều là những người không thuộc sự quản thúc của Thổ quan, ở xen kẽ trong châu huyện. Trong đó tuy cũng có chức ti带 quản hoặc thiết lập Thổ quan Tuần kiểm, nhưng Lưu quan không có quyền, chúng biết họ ở không lâu nên khinh lờn; còn cái gọi là Thổ tuần kiểm thì quan thấp lực mỏng, không đủ sức kiềm chế nhau. Thần ngu nghĩ kế sách chế ngự thuần phục ngày nay không gì gấp bằng việc lập Thổ quan, xin dùng lệ của hai sông Tả, Hữu Giang mà lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ. Đại để việc đặt phủ châu ở hai sông Tả, Hữu là chuyên giao đất ấy cho một họ, ý thần nói "lồng ghép ý nghĩa thiết lập Quân vệ" là lập ra nhiều quan để phân chia quyền lực. Phàm người Dao, Trọng ngày nay ở lẫn với dân biên tịch trong châu huyện, chỉ là chúng dựa núi rừng mà ở mà thôi. Nay nên đặc biệt sắc lệnh đại thần trong ngoài thân hành đến đất đó, tập hợp các tù trưởng hào kiệt, dụ bằng ơn uy triều đình, sẽ trao cho chức quan, như lệ Thổ quan hai sông Tả Hữu, cho con cháu đời đời hưởng dụng. Kẻ nào dẫn dắt chủng tộc từ 500 tên trở lên nội thuộc thì trao cho chức Tri châu; dưới 400 tên tùy lượng trao chức Đồng tri, Phán quan, Lại mục... Các quan ấy không hạn định số lượng, cũng như chế độ Vệ sở. Khi họ nộp tờ khai không cần khám thực, cấp ngay mũ áo, sai quan thuộc dùng xe ngựa trống nhạc đưa về nơi cư ngụ. Dần dà cho họ chọn đất lập công sở, hợp sức muôn người mà thành. Thành xong dâng tấu xin ấn, cho cử ra một người được muôn người tin phục trong số đó để giữ ấn, thì họ nhận tước mệnh triều đình tất biết cảm mộ, mà đồng loại thảy đều kính trọng. Kẻ nào không phục, họ dựa uy quốc gia hợp lực trừ khử không khó vậy. Tích lâu thành tục, họ thảy đều mộ phong thái Hoa hạ, học lễ giáo mà biết giết chóc cướp bóc là sai. Huống hồ lập ra nhiều quan, thế chia lực cân, tự đủ kiềm chế nhau, không thể làm loạn, mà trong đó không thể không có việc tự tranh tụng. Phải bẩm báo lên thượng ty, tấu về triều đình, thì thế quốc gia càng tôn quý, không nhọc binh đao mà một phương yên tĩnh. Nhưng điều lo ngại gây họa về sau là ranh giới không rõ, lúc khác không thể không tranh giành. Nên nhân lúc ban đầu sai quan hội cùng Thổ tù phân chia địa giới, hoặc lấy khe suối, hoặc lấy gò núi, ngay trên ranh giới lập đá làm dấu, viết chữ lớn khắc sâu rằng: "Từ đây đến đây là giới của hữu ty, đến đây là giới của thổ quan". Trong đó đất của dân có lọt sâu vào cảnh giới của họ thì lấy đất ngoài nơi không thu thuế mà đổi cho dân, tùy rộng hẹp không cần đo đạc lại. Đất do Thổ tù thống lĩnh thì để họ tự nhận nộp thuế lương, định làm ngạch số, ngày sau không được tăng thêm. Xử trí như thế chắc có lẽ vĩnh viễn không có lo âu chăng? Trong năm Trinh Nguyên (貞元) (năm 785 – 805 dương lịch) đời Đường, thủ lĩnh động Hoàng (黃洞) ở Quảng Tây là Hoàng Thiếu Khanh (黃少卿) đánh Ung Quản (邕管), chiếm các châu Khâm (欽), Hoành (橫), Quý (貴)... mấy lần hàng mấy lần phản. Đầu năm Trường Khánh (長慶) (năm 821 dương lịch), Kinh lược sứ Nghiêm Công Tố (嚴公素) lại xin thảo phạt. Binh bộ Thị lang ''' Hàn Dũ (韓愈)''' kiến ngôn: : "Giặc họ Hoàng đều là bọn Di Lão, không có thành quách để ở, dựa núi dựa hiểm, thường ngày cũng tự kiếm sống, gấp thì tụ tập bảo vệ nhau. Gần đây do Kinh lược sứ Ung Quản đa phần không được người tốt, đức đã không thể vỗ về, uy lại không thể lâm chế, xâm khi chiếm đoạt, dẫn đến oán hận. Tính người Man Di dễ động khó an, bèn dẫn đến cướp bóc châu huyện, xâm hại người lành, hoặc để trả thù riêng, hoặc tham lợi nhỏ, khi tụ khi tán, chung quy cũng không thể thành việc lớn. : : Việc chinh thảo gần đây vốn bắt đầu từ Bùi Hành Lập (裴行立), Dương Mân (陽旻), hai người này vốn không có viễn lự thâm mưu, ý tại cầu công nhận thưởng, cũng nhân thấy lúc giặc chưa tụ tập, cho rằng lẻ tẻ có thể đánh tan ngay, tranh nhau hiến mưu kế, chỉ sợ chậm chân. Triều đình tin theo bèn cho phép. Từ khi dùng binh đến nay đã trải qua 2 năm, trước sau tâu báo giết bắt tính không dưới 10,000 đến 20,000 người. Nếu thảy đều không phải giả thì giặc đã hết sạch rồi, mà nay giặc vẫn như cũ, đủ rõ sự dối trá. Lại từ khi Nam chinh đến nay, đồ đảng giặc cũng bị thương tổn nhiều, xét tình lý chúng chắc đã chán khổ sâu sắc. : : Đại để Lĩnh Nam người thưa đất rộng, nơi giặc ở lại càng hoang vu hẻo lánh. Giả sử giết sạch người, chiếm sạch đất ấy, đối với quốc kế cũng chẳng có ích gì. Hãy bao dung kiềm chế, ví chúng như cầm thú, đến thì phòng ngự, đi thì không đuổi, cũng chẳng tổn hại thế sự triều đình. Xin hãy chọn người có tài năng uy tín, am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên vĩnh viễn không có việc xâm lấn phản loạn." '''Thần xét rằng:''' Lời Hàn Dũ nói về việc dùng binh đã 2 năm, tâu báo giết bắt 10,000 đến 20,000 người, nếu không phải giả thì giặc đã hết sạch... lời này không chỉ là cái tệ thời bấy giờ. Nhân tình cổ kim không khác xa nhau, lấy xưa biết nay, duy mong Thánh minh lưu tâm, gặp lúc có tiệp báo phương xa hãy lấy lời này mà nghiệm, sẽ thấy rõ thực giả vậy. Đến như việc xin chọn người tài năng uy tín am hiểu việc Lĩnh Nam làm Kinh lược sứ, xử lý thỏa đáng tự nhiên không có việc phản loạn, lời này thực là lương kế xử trị Nam Man từ cổ chí kim. Đại để Nam Man khác với Bắc Địch, tính người Man âm nhu, dựa núi làm thế, quân đến thì vào núi trốn xa, quân đi thì ra ngoài cướp bóc, như loài ruồi muỗi, vung quạt thì bay tán, thu quạt thì tụ lại, tiêu diệt rất khó. Vả lại đất ấy nhiều chướng lệ, người Trung Nguyên sợ vào đất đó, chưa đến đã khiếp sợ, một khi vào khí hậu không đồng đều, ẩm ướt cực độ, thường thường chưa đánh đã chết, vừa không thể đánh nhanh vừa không thể đánh lâu, nên từ cổ dùng binh chưa từng đắc chí lớn ở Nam Man vậy. Tuy nhiên, cái họa trong thiên hạ thảy đều có lý do. Biết lý do mà chặn cửa, tuyệt gốc thì họa tự dứt. Hơn nữa những kẻ gọi là "Dao Trọng" (猺獞) ngày nay không phải có cường tông hào tộc, cũng không thâm mưu viễn lự, không muốn tranh thành ấp, không muốn thu nhân tâm, chẳng qua muốn cướp đoạt tài vật mà thôi. Nơi chúng ở trong núi sâu rừng lớn, không xây cung thất, không dùng thê thiếp, không vì con cháu; tiền tài kiếm được sẽ dùng vào việc gì? Mà dùng thì sẽ giao thương ở đâu? Khiến người nội địa ta không giao thông với chúng thì tiền tài chúng kiếm được không có chỗ dùng, mà muốn dùng cũng không có chỗ bán. Kế sách ngày nay, nên sắc lệnh Trấn thủ Đô hiến đốc trách các ty Phan, Niết và các Thủ lệnh tướng lãnh nghiêm thúc quân dân thuộc hạ, không cho phép giao thông với giặc. Phàm quân dân ai vào sơn động làm ăn thì cho phép đến quan cáo tri, chở vật gì đến sơn động nào bán, quan ty cấp cho ấn thiếp làm chứng, không có thiếp không cho phép, bắt phải cam kết không mang theo khí vật cấm, chỉ cho phép lấy người, thóc gạo, thổ sản, không cho phép nhận bạc trắng và những vật đất ấy không sản xuất. Kẻ vi phạm đóng gông thị chúng, tịch thu tài vật. Thân thuộc hàng xóm biết tình mà không báo thì tội như nhau, ai báo cáo thì thưởng cho 1 phần 3 tài vật đó. Như thế chúng có vật không chỗ bán, sẽ không cướp hàng cầu tài, giết người lập uy nữa. Lại nghe những năm gần đây, thành ấp về đêm thường bị giặc lẻn vào, nếu không giết chết quan viên, cướp đi ấn tín thì thường giấu tội không báo. Suy nguyên lý do không phải chúng có tài mà do ta không phòng bị. Nên lệnh Trấn thủ Đô hiến Tổng binh quy hoạch phép giữ thành, hành xuống quân vệ hữu ty bảo họ tuân theo thì vĩnh viễn không mất. Xét lý do lẻn vào đa phần do quân vệ hữu ty đùn đẩy nhau, đêm tối mất cảnh giác nên thành ấp thường đến mức thất thủ. Đó không phải bên trong không lương thảo, ngoài không cứu viện, lực kiệt không chống nổi. Từ nay về sau phàm nơi có thành trì, trách lệnh quan chính tá quân vệ hữu ty viết tờ lãnh trạng, bắt họ cùng thành còn mất, có thất thủ quyết không nhẹ tha, thì họ biết tội trách thâm trọng không dám khinh suất, giặc không thể lẻn vào được. Cái gọi là quy hoạch phép giữ thành: mỗi thành tất làm nội viên (tường trong), rào gai dựng sấn thảy đều làm 1 cửa, đêm tối khi đã lên thành giữ thì không cho xuống nữa, phải đợi bình minh mới mở cửa, chúng biết không đường sống thì ngủ không yên chiếu vậy. Lại nuôi sẵn chó sữa thuần phục chúng, cứ mỗi 5 đóa dùng gỗ làm hòm treo một con chó sủa, hơi có tiếng gió chó đã biết cảnh giác. Chúng không thể bắc thang leo tường, thì kế lẻn vào không còn chỗ thi triển. ''Tống Sử'' chép: "Bậc đế vương xưa kia dốc sức vào mưu lược phương xa, phô trương binh uy nơi bốn cõi, chẳng qua cũng chỉ muốn làm yên bên trong mà chống giữ bên ngoài, chứ không phải để thỏa chí mong cầu. Các tộc Man Di phương Tây Nam, núi non trùng điệp, nằm xen kẽ giữa các vùng Kinh (荊), Sở (楚), Ba (巴), Kiềm (黔), Vu Trung (巫中), bốn mặt thảy đều là đất của nhà vua. Thế nhưng nếu lại muốn bỏ đi nguồn thuế từ nơi đất đai màu mỡ để lấy về vùng đất cằn cỗi, làm mệt mỏi số dân chúng vốn dễ sai bảo để thu phục đám dân cứng đầu chưa được giáo hóa, thì thực sự có ích gì đâu! Lập ra các tù trưởng thủ lĩnh, khiến họ tự trấn giữ và vỗ về lẫn nhau, thủy chung đối đãi với họ theo tư thế với người Man Di, ấy mới là cái đắc lợi của mưu kế vậy. Thế nhưng nếu không có chính sách lâu dài để kiềm chế và điều khiển, thì với bản tính như loài khỉ vượn thích nhảy nhót làm loạn, hoặc vì thù khích mà tìm nhau báo oán, hoặc vì đói kém mà bị bức bách, chúng sẽ hú dài mà nổi dậy. Khi ra thì xung đột với châu huyện, khi vào thì dựa nơi hiểm yếu của núi rừng; khiến triều đình phải nhọc lòng hưng sư thảo phạt. Dù có thể tiêu diệt trừ bỏ được chúng, nhưng sự khổ cực của người dân đã sâu nặng lắm rồi." '''Thần xét rằng:''' Thời Đường Ngu, người Di ở ba biên Đông, Tây, Bắc thảy đều không thấy chép, mà thấy trước nhất trong kinh điển là tộc Miêu ở phương Nam. Nhưng người Di ở ba phương thảy đều giáp biên một mặt, người Di ở ngoài mà trong đó là đất của vua; duy chỉ đất biên ải phương Nam thì người Di ở lẫn trong đất vua, xen kẽ với cư dân, nên cái hại đến dân lại càng dễ, không giống như giặc ba biên có lúc đến, có nơi xâm, có hành trình, trước đó có thể phòng bị, lúc đến không dẫn đến cuống cuồng mất phương hướng. Thời Nhân Tông, ''' Địch Thanh (狄青)''' xin đánh Nùng Trí Cao (儂智高), muốn có binh của các bộ lạc (phiên lạc) ở biên giới phía Tây đi theo. Có kẻ bảo phương Nam không hợp cho kỵ binh, Khu mật sứ Cao Nhược Nạp (高若訥) nói: "Các bộ lạc giỏi bắn, chịu gian khổ, lên xuống núi như đất bằng, nhân lúc chướng khí chưa phát mà xua nhanh phá chúng, tất thắng vậy." Thanh cuối cùng dùng kỵ binh phá giặc. '''Thần xét rằng:''' Binh các bộ lạc lấy kỵ xạ vang danh thiên hạ, người Man phương Nam nghe thấy tự nhiên rụng rời, nhưng thần cho rằng dùng vào lúc có sự không bằng lúc không sự gặp kẻ Khương Hồ nội thuộc thì ưu ái nuôi dưỡng an trí vùng này, không chỉ hôm nay biên ải phương Nam cậy vào sức họ, mà cũng có thể tiêu trừ họa nội địa lúc khác. Đầu thời Tống, có lời tâu với Nhân Tông rằng: "Lĩnh Nam là vùng đất xa xôi, chướng lệ bốc lên, người phương Bắc đi lính trấn thủ kẻ đi 10 chết 9. Phát nhiều binh thì thiếu lương, ít thì việc không xong, gấp gáp cầu công thì người Man trốn biệt không chịu ra, lơi lỏng thì lại đến nhiễu người, ấy là nên có cách chế ngự vậy. Nay nghe phát Bắc binh hơn 10,000 người trấn thủ ngoài Lĩnh, dưới thấp trên hầm bệnh chết chắc nhiều, liệu các tộc Man không đóng lâu, đánh chúng tất tán. Thần cho rằng không bằng chọn 1 đến 2 kiện tướng, hằng năm chỉ giữ 5,000 Bắc binh, chia đóng nơi yếu hại, tìm hơn 10 thiện lại chia đặt các châu, mộ thổ nhân làm hương quân, miễn thuế dịch cho họ, xem châu lớn nhỏ, hộ nhiều ít mà định số lượng, thống lĩnh bộ ngũ, dạy cách tiến thoái, thảy đều lấy sở trường của họ mà đuổi bắt nhau. Cứ 100 người thì cho 30 Bắc binh đi kèm, dùng cung mạnh binh sắc hỗ trợ. Mùa Đông Xuân thì sai thâm nhập nhiễu nơi ở của chúng; mùa Hạ Thu thì sai giữ kỹ phòng chúng cướp bóc. Chúng tuy có thể dụ dỗ kẻ vong mạng Trung Quốc, nhưng xét cho cùng ăn hết tất phải ra cướp. Nếu chúng đến, đánh giết được nhiều thì suốt đời chúng kinh hãi. Uy đã lập rồi sau đó mới bàn chuyện chiêu hàng. Thề với chúng thì bền, cho làm thần tử thì lâu, hẹn xa 5 năm, gần chỉ 1 năm, phương Nam vô sự vậy." '''Thần xét rằng:''' Pháp trị Nam Man khác với Bắc Địch, người thuyết cho rằng chinh Man không có kế toàn thắng, vì sao? Vì đất ấy nóng ẩm, chướng lệ cực độ, lính Trung Nguyên không hợp thủy thổ, không đợi qua gươm giáo tên đá đã tự mắc dịch mà chết, dù có triệu binh cũng không làm gì được vậy. Thần trộm nghĩ nạn chướng lệ chỉ xảy đến với kẻ nghèo yếu và kẻ không biết điều tiết mà thôi, còn như tướng soái cư quan hiển yếu thì hiếm gặp. Xin lệnh cho các trọng thần trấn giữ nơi đó đa phương hỏi han những kẻ bị đày ở đó lâu năm mà vẫn thọ và khỏe, hỏi họ cách ăn ở điều tiết, ghi chép chi tiết khắc bản ban cho sĩ tốt. Mỗi đội ngũ chọn 1 người chuyên trách việc đó, kẻ nào không tuân theo điều chỉ dẫn mà tự tiện không kiêng khem tất phải gia tội. Những thuốc men dụng cụ cần chuẩn bị hãy lệnh hữu ty cấp cho. '''Trương Thức (張栻)''' khi làm Tri phủ Tĩnh Giang tâu rằng: "Bản phủ có 9 quận phòng biên mà Ung Quản (邕管) là trọng yếu nhất. Ung Quản rộng mấy ngàn dặm mà hai sông Tả Hữu Giang là trọng yếu nhất. Từ phía Tây Bắc Ung Quản có Tường Kha (牂牁), La Điện (羅甸), Tự Kỷ (自杞); từ phía Tây Nam có các nước An Nam (安南), thảy đều là nơi phải phòng bị. Nhưng lính trấn thủ Ung Quản không đầy 1,000 người, cái cậy làm hàng rào duy chỉ có các khe động ở hai sông Tả Hữu Giang cộng hơn 8,000 nơi, dân binh không dưới 100,000, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu cổ xưa. Cách Ung Quản gần nhất là hơn 300 dặm, xa nhất gần 1,000 dặm, cái cậy để duy trì vỗ về duy chỉ có 4 người Đề cử Đạo tặc Đô tuần kiểm, mỗi người mang hơn 100 lính trấn thủ làm cương lĩnh cho khe động, chức nhiệm ấy không thể gọi là nhẹ vậy. Có thể nào không tuyển chọn kỹ người, cẩn trọng giữ đất đó để làm kế lâu dài cho nơi xa xôi chăng!" '''Thần xét rằng:''' Nhà Đường chia đất Lĩnh Nam làm 5 quản, mà Quế (桂), Ung (邕), Dung (容) thuộc Lĩnh Nam Tây Đạo; trong bản triều ta, cắt đất phía Tây Dung Quản thuộc Quảng Đông, còn Quảng Tây thực sự chiếm trọn hai quản Quế, Ung và một phần nhỏ Dung Quản. Ung chính là phủ Nam Ninh (南寧) ngày nay, đất ấy khống chế hai sông Tả Hữu Giang, thực là cổ họng của đất An Nam. Đầu triều đại nhân theo lệ cũ của đời trước, đặt 4 phủ Thái Bình (太平), Điền Châu (田州), Tư Minh (思明), Trấn An (鎮安) và 7 châu như Long Châu (龍州). Đầu năm Chính Thống (正統) (năm 1436 dương lịch) lại nâng Tư Ân châu lên làm phủ, dùng thổ nhân làm Thủ trưởng, còn Tá nhị Mạc chức dùng Lưu quan, duy chỉ phủ Thái Bình thảy đều dùng Lưu quan, còn các châu trực thuộc vẫn theo tục cũ. Phàm các châu quận kiềm chế này đã hướng nội từ lâu, thủ lĩnh thế tập, người dân tự chiến đấu, như chế độ dân binh của chư hầu xưa, gặp lúc trưng phát cũng cậy vào sức họ. Nhưng hiện nay lính trấn thủ khống chế chỉ có hai vệ Nam Ninh, Tuần Tượng và một sở Thái Bình, có vẻ đơn yếu. Xin như lời Trương Thức nói, nhân lúc vô sự hiện nay, tại đất này đồn binh làm trọng trấn, tuyển chọn giữ tướng, cẩn trọng giữ đất, làm kế lâu dài để tiêu biến biến loạn lúc chưa xảy ra. An Nam (安南) vốn là Giao Chỉ (交阯) cổ xưa. Tần gộp thiên hạ, tại đây đặt Tượng quận (象郡). Tần vong, Úy Nam Hải là Triệu Đà đánh chiếm lấy. Hán đặt 9 quận, ba quận Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Tượng (象) chính là đất Giao Chỉ. Sau người đàn bà Trưng Trắc (徵側) phản, sai Mã Viện bình định, lập cột đồng làm giới hạn nhà Hán. Nhà Đường bắt đầu chia Lĩnh Nam làm hai đạo Đông Tây, đặt Tiết độ, lập 5 quản, An Nam lệ thuộc vào đó. Thời Ngũ Đại, Lưu Ẩn gộp đất ấy làm Giao Chỉ Tiết độ sứ. Sau đó trong quản đại loạn, có Đinh Bộ Lĩnh (丁部領) định yên. Con là Liễn (璉) nội thuộc, nhà Tống phong làm Giao Chỉ quận vương. Truyền cho con là Toàn (璿), bị Lê Hoàn (黎桓) đoạt lấy. Năm Thuần Hóa (淳化) thứ 4 (năm 993 dương lịch), phong Hoàn làm Vương. Hoàn chết, con là Long Việt (龍鉞) lập, em là Long Đĩnh (龍廷) giết Việt mà thay thế. Long Đĩnh muốn tu cống, An phủ sứ Thiệu Diệp (邵曄) bẩm báo, Chân Tông nói: "Vùng xa xôi tục lạ không hiểu thể thống, sao có thể trách được." Vẫn phong làm Vương, ban tên Chí Trung. Sau bị hạ thần Lý Công Uẩn (李公蘊) đoạt lấy, bèn phong Công Uẩn làm Vương. Họ Lý truyền 8 đời đến Hạo Hàm (昊旵), người Phúc Kiến là Trần Nhật Chiếu (陳日照) làm rể, bèn có được nước ấy. '''Thần xét rằng:''' Giao Chỉ vốn là đất quận huyện của Trung Quốc từ thời Tần Hán đến nay, thời Ngũ Đại bị Lưu Ẩn thôn tính, đến đầu thời Tống mới phong làm Quận vương, nhưng vẫn ban cho quan tước huân giai của Trung Quốc như "Đặc tiến, Kiểm hiệu Thái úy, Tĩnh Hải quân Tiết độ Quan sát đẳng sứ" và ban hiệu "Thôi thành Thuận hóa Công thần", thảy đều như bề tôi nội địa, chưa từng gọi là "Quốc" (nước). Về sau phong Nam Bình vương, tấu chương văn di vẫn xưng là "An Nam đạo", thời Hiếu Tông bắt đầu phong Vương xưng Quốc, mà thiên hạ nhân đó coi họ như Cao Ly, Chân Lạp, không còn biết đó là quận huyện của Trung Quốc nữa. Họ Trần truyền 12 đời đến Nhật Côn (日焜), bị Lê Quý Ly (黎季犛) chiếm ngôi. Quý Ly dâng biểu dối tên là Hồ Nhất Nguyên (胡一元), con là Thương (蒼) đổi tên, trá xưng họ Trần tuyệt tự, lấy danh nghĩa cháu ngoại cầu quyền giữ việc nước, Thái Tông hoàng đế ta đã nghe theo. Qua năm sau, cháu họ Trần tên Thiêm Bình (添平) chạy đến kinh sư tố thực, Quý Ly bèn dâng biểu xin đón Thiêm Bình về nước. Triều đình không ngăn sự dối trá, sai sứ đưa Thiêm Bình về. Đến biên giới, Quý Ly phục binh giết đi cùng cả sứ giả. Sự việc đến tai, Thái Tông cáo với trời đất thần kỳ, kể tội chinh phạt, sai Chinh Di tướng quân Chu Năng (朱能)... đi đánh. Năng chết trên đường, mệnh Phó tướng Trương Phụ (張輔) tổng lĩnh quân binh, bắt sống Quý Ly cùng con là Thương, Trừng hiến phù tại kinh sư. Ra chiếu tìm hậu duệ họ Trần để lập. Người trong nước thảy đều nói Quý Ly đã giết sạch, không ai kế thừa, thảy đều xin phục hồi quận huyện như xưa. Bèn như chế độ ngày nay, lập ba ty Đô, Bố, Án Giao Chỉ cùng các phủ châu huyện vệ sở, thảy đều như nội địa. Về sau có Lê Lợi (黎利), là kẻ Di trong đám Di vậy, quan trong triều che chở nên dẫn đến ngang tàng, dâng biểu xin lập hậu duệ họ Trần. Tuyên Tông hoàng đế nói đây là ý của Hoàng tổ (Thành Tổ), bèn nghe theo, bèn bỏ đất ấy để họ phục hồi làm nước. Ôi! Từ khi Tần gộp 100 quận, đất Giao Chỉ đã cùng Nam Hải, Quế Lâm vào Trung Quốc. Giữa thời Đường, người Giang Nam làm quan hiển hách còn ít, mà người Ái Châu (愛州) là Khương Công Phụ (姜公輔) đã làm Học sĩ, Tể tướng trong triều, sánh vai với các sĩ phu Trung Châu vậy. Thế mà trải qua Ngũ Đại bị thổ hào chiếm cứ. Nhà Tống hưng không thể thảo phạt, khiến đất này sa vào cõi Man Di, mang cái tục nhếch nhác, 300 năm mà không được cùng Nam Hải, Quế Lâm... dự vào hàng ngũ văn minh lễ nhạc làm quê hương danh tiếng vật báu, thật là bất hạnh thay! Trong đó người Tống dù 1 lần đuổi được vua họ, người Nguyên dù 2 lần vào kinh đô họ mà chung quy không thể giữ được. Thái Tổ hoàng đế ta khai quốc ban đầu, họ Trần trước tiên nộp khoản, Thái Tổ chép vào ''Tổ Huấn'' không cho hậu nhân đánh nước họ. Họ Trần bị giặc Quý Ly giết hại, Thái Tông hoàng đế thể theo ý của Cao Hoàng, không dứt dòng dõi họ Trần, sai sứ đưa về nước, giặc Quý Ly lại giết đi cả sứ giả. Bất đắc dĩ hưng binh bình định, tìm hậu duệ họ Trần không được, bèn dùng cố sự Hán Đường phục lập quận huyện, nhưng quan giữ đất không cẩn trọng dẫn đến Man Lão lại hoành hành, mà Lê Lợi lấy lời tìm hậu duệ họ Trần làm từ ngữ. Tuyên Tông hoàng đế thể theo tâm của Văn Hoàng, để họ nối lại dòng tuyệt của họ Trần, không ngăn sự dối trá của Lê Lợi, bèn bị che mắt, quần thần mấy lần xin hưng binh thảo phạt, Chương hoàng đế (Minh Anh Tông) nhớ lời dạy của Thánh tổ nên gác lại không hỏi. Mà vùng Cửu Chân, Nhật Nam, di dân từ thời Tần Hán đến nay đã được thấy ánh mặt trời rồi lại sa vào vực thẳm, thật là trọng bất hạnh thay! Trộm nghĩ cương vực ngày nay xa quá thời Tống, sánh ngang thời Đường mà không bằng thời Hán chính vì mất 3 quận ngoài Lĩnh này. May mắn được rồi lại mất, thật là đáng tiếc. Nhưng giữ lời dạy của tổ tông không sai không quên, ấy là cái hiếu lớn của việc kế thừa, cái đại thể của việc giữ thành quả vậy. Điều đáng tiếc là dân một phương chịu sự trọng bất hạnh mà thôi. Cương vực An Nam, thời Tần Hán là đất 3 quận, nay đất ấy phía Đông vượt Khâm Châu (欽州) của Quảng Đông, phía Tây trải qua Tả Giang của Quảng Tây, đến Lâm An (臨安) Nguyên Giang (元江) của Vân Nam làm giới hạn. Khâm Châu về phía Đông là đường biển đối cảnh; phía Tây Khâm Châu là giới hạn phủ Nam Ninh. Phía Đông Nam Nam Ninh là các châu Thượng Tư (上思), Trung Châu (忠州), Thượng Hạ Thạch Tây (上下石西) thuộc phủ Tư Minh; các châu Long Anh (龍英), Thái Bình (太平), An Bình (安平), Thượng Hạ Đống (上下凍) thuộc phủ Thái Bình thảy đều giáp giới với họ. Mà Long Châu (龍州) chính là con đường họ tất phải đi qua, còn huyện Phán Tường (憑祥) là nơi yếu hại vậy. Phủ Trấn An có Quy Thuận (歸順) và động Hạ Lôi (下雷) cũng giáp giới. Phía Tây hai động ấy là giới hạn Vân Nam. Các châu A Mê (阿迷), trại Tả Năng (左能)... 9 Trưởng quan ty thuộc Lâm An thảy đều là giới hạn gần, Nguyên Giang có đường thủy thông tới, còn huyện Mông Tự (蒙自) là con đường tất phải đi qua của họ. Về đường sá: * Tại Quảng Tây: Từ phủ Thái Bình trải qua Long Châu và huyện Phán Tường, đến phủ Lạng Sơn (諒山) của họ, tới nơi họ gọi là Đông Đô (thăng long) mất 7 ngày đường. * Tại Quảng Đông: Từ Khâm Châu đi về hướng Tây Nam 1 ngày đến Vĩnh An châu (永安) của họ, từ Ngọc Sơn (玉山) đến Đông Đô của họ mất 5 ngày đường. * Tại Vân Nam: Từ phủ Lâm An qua bãi Liên Hoa (蓮花灘) ở đáy sông huyện Mông Tự đến Đông Đô của họ mất 4 - 5 ngày đường. Đó là đại lược về biên cảnh giữa Trung Quốc và Giao Nam vậy. ===Đồ Thư Biên (圖書編)=== ==== Nội Di tổng luận (內夷總論)==== '''Xét rằng:''' Bốn phương Di (四夷) thấy trong kinh điển bắt đầu từ tộc Tam Miêu (三苗). Nay từ Ba Thục (巴蜀) về phía Đông, trải qua Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), Quế Lĩnh (桂嶺), Vân Nam (雲南), Quý Châu (貴州) mấy ngàn dặm trong khe động rừng sâu, có các loại gọi là Hạt (犵), Linh (狑), Lão (獠), Dao (猺), Trọng (獞)... phàm 10 mấy chủng loại, thảy đều là người Man (蠻) vậy. Trong đó kẻ nhanh nhẹn nhất gọi là Miêu (貓), chính là hậu duệ của Tam Miêu (三苗), nương núi mà ở, bản tính tập quán không thường, không có luân kỷ lễ nghĩa. Đầu triều đại, tại Hồ Bắc (湖北), Xuyên Đông (川東) lập ra 5 Tuyên úy ty: Vĩnh Thuận (永順), Bảo Tĩnh (保靖), Quý Châu (貴州), Tư Xuyên (思川), Bá Châu (播州). Lại có thiết lập Tuyên phủ ty, An phủ ty cùng Chiêu thảo ty, Trưởng quan ty. Ngoài ra còn có các phủ Quân dân và Chỉ huy sứ ty Quân dân, lại kiêm thiết lập Thổ quan (土官) để cai quản người Di, tùy nơi mà đặt quan, nhân tục mà trị, kẻ thiện ban cho chức vụ, kẻ ác chia rẽ thế lực, ấy chính là đạt được cái nghĩa "chia tách phương Bắc" của nhà Hữu Ngu và cái ý "trật tự lớn" của Đại Vũ (大禹). ==== Chế ngự Nội Di tổng luận (制馭內夷總論)==== "Nhà Minh (明) hưng thịnh, bình định bốn biển, phàm những vùng đất của người Di (夷), Lão (獠), Man (蠻), Bặc (僰), Dao (猺), Trọng (獞), phía Tây khởi từ Ba Thục (巴蜀), Tường Kha (牂牁), phía Đông đến vùng Tương (襄), Sở (楚), phía Bắc bao bọc Hồ Lĩnh (湖嶺), chuyển sang phía Đông rồi xuống phía Nam, phương Nam tận cùng tới biển, lại phía Đông vượt qua Bách Việt (百粵) và ba sông (Tam Giang - 三江). Kẻ lớn thì chiếm giữ cả dãy thành trì, kẻ nhỏ thì bám giữ nơi rừng sâu. Tuy có chút phụng theo ước thúc, nhưng chủ yếu vẫn chỉ là kiềm chế vỗ về (kiềm mâu - 羈縻) mà thôi. Thế nhưng khi binh lực của chúng mạnh lên một chút thì lúc phản lúc hàng; nếu cứ thuận theo và buông lỏng quá mức, vỗ về mất kế sách, thì hùng tâm của ta tự thu hẹp mà hang ổ của chúng lại càng sâu. Huống hồ đất rộng quan cao, chiếm lợi giỏi binh, dân số (sinh xỉ) càng đông, tài vật càng đầy. Chúng dùng dối trá để thành mưu, dùng công lao để giải tội, gieo rắc nỗi lo nuôi dưỡng tai họa, xem thường Trung Thổ (中土), chưa thể nói là không có lo âu. Than ôi! Kinh ''Hạ điển'' có vùng Yếu Hoang (要荒), chức ''Chu quan'' có vùng Phiên Trấn (蕃鎮), đại để đều là nương theo dân mà thuận theo tục. Vượt biển đánh dẹp, qua sông cách núi, đất đai dần mở mang nhưng sự giáo hóa cuối cùng vẫn bị ngăn lấp. Mới hay đức trời không tư riêng, vương đạo có chừng mực, mở mang nước nhà mà coi nhẹ việc vỗ về lòng dân thì sự phòng bị sẽ bị khốn đốn bởi tầm nhìn hạn hẹp. Nếu bốn Di tự có đủ no ấm, Trung Hoa không lo bị độc hại, thì ta còn mong cầu gì hơn? Chỉ vì quan lại thích tích trữ, chính sự nhiều trễ nải, hoặc vì lánh hiềm tự làm sạch mình, hoặc vì cầu thắng mà ham lập công, thế nên tin tức xâm lấn hằng ngày nghe thấy, binh lính mấy phen nổi lên, lưới pháp lỏng lẻo, Di (夷) và Hạ (夏) đều khốn đốn. Nay muốn thu tóm kế sách lâu dài để mưu đồ sự yên ổn bền vững, tất phải phân định rạch ròi cương giới thì lân tộc không tranh giành; định rõ đích thứ thì tông chi tự ổn định. Lúc cha truyền con nối, phải kịp thời kiểm tra báo cáo; việc nộp tiền thóc, thảy đều bãi bỏ. Lại phải chỉnh đốn võ bị nơi các Tiết soái, tu sửa văn đức chốn Miếu đường, thì nỗi lo loạn lạc sẽ ít đi vậy." ==Nam Phương chư quốc tổng bộ kỷ sự (南方諸國總部紀事)== ===Nguyên Sử (元史)=== ====Truyện Quy Dương (歸暘)==== Tù trưởng vùng Thuận Giang (順江) là Nhạc Tôn (樂孫) cầu xin nội phụ, xin lập Tuyên phủ ty cùng đặt 13 nơi quận huyện. Quy Dương (歸暘) nói: "Người xưa có câu: 'Roi tuy dài nhưng không đánh tới bụng ngựa'. Nếu thực đặt quận huyện, khi có sự cố mà không cứu thì cô phụ cái ý đến quy phụ, nếu cứu thì làm mệt mỏi Trung Quốc mà phục vụ ngoại Di, ấy gọi là hưởng hư danh mà chịu thực họa vậy." Quy Dương tranh biện rất mạnh với Tả thừa Lữ Tư Thành (呂思誠). Thừa tướng Thái Bình (太平) cười bảo: "Đô sự Quy Dương giỏi thật, khờ khạo như thế, sao lại kháng cự dữ vậy? Thế nhưng mưu sách của ngươi rốt cuộc là gì?" Quy Dương đáp: "Tù trưởng ấy có thể phong chức Tuyên phủ, chớ nên cưỡng cầu cống nạp thuế khóa, sứ giả ban cho vàng lụa rồi cho về là đủ rồi." Sau cùng đã theo lời của Quy Dương. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/en/book/GJTS08/chapter/1lpka93xg3nyy?page_from=profile&version=1 安南部彙考] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] aapy2qxiq3gyj91swsdvqap1lfoecdc Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 096 114 71932 204721 204622 2026-04-15T07:09:15Z Mrfly911 2215 /* Thời nhà Minh (明) */ 204721 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第096卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 96''' | trước= [[../quyển 095|quyển 95]] | sau= [[../quyển 097|quyển 97]] | ghi chú = }} == Cầm Nhân bộ hối khảo (禽人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Cầm (禽人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Cầm (禽人) dâng cỏ gian (菅)." *(Chú thích: Cũng là người Man phương Đông Nam, cỏ gian vốn bền dai). == Lộ Nhân bộ hối khảo (路人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Lộ (路人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Lộ (路人) dâng trúc lớn." *(Chú thích: Người Lộ là người Man phương Đông, cống nạp trúc lớn). == Bặc Nhân bộ hối khảo (卜人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Bặc (卜人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Bặc (卜人) dâng đan sa (丹沙)." *(Chú thích: Người Bặc là người Man phương Tây Nam, nơi sản sinh ra đan sa). == Dương Châu bộ hối khảo (揚州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Dương Châu (揚州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Dương Châu (揚州) dâng cá ngu ngu (禺禺), tên là Giải Du Khấu (解隃寇)." *(Chú thích: Cũng là một loài cá lạ). == Quyền Phù bộ hối khảo (權扶部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Quyền (權)''' và '''Phù (扶)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Quyền (權) và Phù (扶) dâng chim tam mục (三目 - chim 3 mắt)." *(Chú thích: Quyền và Phù là người Man phương Nam, hình dáng rất nhỏ bé). == Bạch Châu bộ hối khảo (白州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Bạch Châu (白州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Bạch Châu (白州) dâng cây bắc lư (北閭). Cây bắc lư ấy da nó như tấm khiên, đốn lấy gỗ nó để làm xe, đi mãi mà không hỏng." *(Chú thích: Bạch Châu là người Man phương Đông Nam, giáp giới với tộc Bạch Dân (白民)). == Trường Công bộ hối khảo 1 (長肱部彙考一) 〈Trường tý - 長臂〉== '''Thời nhà Chu (周)''' '''Chu Mục vương (穆王)''' chinh phạt phía Tây, phong cho người '''Trường Công (長肱)''' ở phía Tây sông '''Hắc Thủy (黑水)'''. Xét: Mục Thiên tử truyện (穆天子傳) có chép như vậy. *(Chú thích: Tức là "người tay dài" vậy. Thân hình như người Trung Quốc, nhưng cánh tay dài 3 trượng (khoảng 10 mét). Thời nhà Ngụy (魏) từng thu được vạt áo của người này ở vùng Biển Đỏ (Xích hải - 赤海)). == Trường Công bộ hối khảo 2 (長肱部彙考二)== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Trường Tý (長臂國 - Nước tay dài)''', bắt cá dưới nước, mỗi tay cầm 1 con cá. Có thuyết nói nước này ở phía Đông nước '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', bắt cá ở trong biển. *(Chú thích: Thuyết cũ nói rằng: Tay người nước ấy buông thõng xuống chạm đất. Những năm Hoàng Sơ (黃初) (năm 220 – 226 dương lịch) thời nhà Ngụy (魏), Thái thú Nguyên Thố (元菟) là Vương Kỳ (王頎) thảo phạt vua nước Cao Câu Ly (高句麗) là Cung (宮), đuổi gấp đến cùng, đi qua nước Hoạt Thư (活沮), biên giới phía Đông giáp biển lớn, gần nơi mặt trời mọc. Vương Kỳ hỏi các bậc kỳ lão rằng: "Phía Đông biển có người nữa không?". Họ đáp: "Thường thu được một chiếc áo vải ở trong biển, thân áo to như người Trung Quốc, nhưng 2 ống tay dài 3 thước (khoảng 1 mét)". Đó chính là áo của người tay dài vậy. Xét theo sách Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Trường Tý ở phía Đông biển, người buông tay chạm đất. Xưa có người ở trong biển thu được 1 chiếc áo vải, mỗi ống tay dài hơn 1 trượng (khoảng 3.3 mét)). == Trường Công bộ nghệ văn (長肱部藝文)== '''"Trường Tý quốc tán" (長臂國贊 - Bài tán về nước tay dài)''' '''Tấn (晉) · Quách Phác (郭璞)''' "Đôi tay dài 3 thước, thân thể như người thường. Kẻ kia là ai vậy? Chính dân nước Trường Tý. Cậy đôi chân dài, bắt cá bến bờ xa." == Hoàng Chi bộ hối khảo (黃支部彙考)== '''Thời nhà Hán (漢)''' Mùa xuân năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch) đời '''Bình Đế (平帝)''', nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' dâng nộp tê ngưu (tê giác). Xét: Hán Thư (漢書) - Bình Đế bản kỷ chép như vậy. *(Chú thích: '''Ứng Thiệu (應劭)''' nói: "Hoàng Chi ở phía Nam của Nhật Nam (日南), cách kinh sư 30,000 dặm." '''Sư Cổ (師古)''' nói: "Tê giác hình trạng như trâu nước, đầu giống lợn mà có 4 chân, loại như voi, màu đen, có 1 sừng ở trước trán, trên mũi lại có sừng nhỏ nữa"). Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Nam Man truyện: "'''Vương Mãng (王莽)''' phụ chính, vào năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch), nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' ở phía Nam của '''Nhật Nam (日南)''' đến dâng nộp tê ngưu. Phàm những nơi vùng '''Giao Chỉ (交趾)''' thống lĩnh, tuy có đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác biệt, phải qua nhiều lần dịch mới thông. Người ở đó như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt. Búi tóc sau gáy, đi chân đất, dùng vải khoét lỗ xỏ qua đầu mà mặc. Sau này khá nhiều tội nhân người Trung Quốc bị đày đến, cho ở xen kẽ giữa họ, nên họ mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy được lễ nghi giáo hóa." Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước '''Hoàng Chi (黃支國)''', thời Hán đã thông sứ, ở phía Nam của vùng biển hợp với '''Nhật Nam (日南)''' 30,000 dặm, phong tục đại lược tương tự với vùng '''Châu Nhai (珠崖)'''. Từ thời '''Vũ Đế (武帝)''' trở đi thảy đều đến cống nạp, có minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá lạ vật lạ. Hạt châu lớn có vòng tròn đến dưới 2 tấc mà cực tròn, đặt trên đất bằng thì lăn suốt ngày không dừng." == Mãn Lạt Gia bộ hối khảo (滿剌加部彙考) Malacca == '''〈Ca La (哥羅), Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅), Trọng Già La (重迦羅)〉''' ===Thời nhà Hán (漢)=== Nước '''Ca La (哥羅國)''' thời Hán đã nghe danh tại Trung Quốc. Xét: Hán Thư (漢書) không chép. Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước Ca La (哥羅國), thời Hán đã nghe danh, ở phía Đông Nam nước '''Pán Pán (槃槃)''', cũng gọi là nước '''Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅國)'''. Vua họ '''Thỉ Lợi Bà La (矢利婆羅)''', tên là '''Mễ Thất Bát La (米失缽羅)'''. Thành quách xây bằng đá, trên thành có lầu khuyết, cửa có cấm vệ, cung thất lợp bằng cỏ. Nước có 24 châu mà không có huyện. Trong sân bày nghi trượng, có cờ tiết trang trí bằng lông công. Binh khí có cung, tên, đao, sáo, giáp da. Chinh phạt đều cưỡi voi, 1 đội có 100 thớt voi, mỗi thớt voi có 100 người hộ vệ. Yên voi có móc ngăn, trong đó ngồi 4 người: 1 người cầm khiên, 1 người cầm cung tên, 1 người cầm gậy nhọn, 1 người cầm đao. Thuế khóa mỗi người nộp 1 thù bạc. Trong nước không có tơ tằm, gai sợi, chỉ sản xuất vải cát bối (vải bông), gia súc có bò và ít ngựa. Theo tục lệ, kẻ không có chức quan thì không được búi tóc trên đầu. Lại có tục gả cưới, lúc đầu hỏi vợ chỉ dùng trầu cau làm lễ, kẻ nhiều đến 200 mâm; hoặc lúc cưới chỉ lấy vàng làm tài vật, kẻ nhiều đến 200 lạng. Đàn bà gả xong thì theo họ chồng. Âm nhạc có tỳ bà, sáo ngang, chũm chọe đồng, trống sắt, kèn, ốc loa, đánh trống. Khi chết thì thiêu xác, bỏ tro vào hũ vàng, dìm xuống biển lớn." === Thời nhà Minh (明)=== '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403 dương lịch), Thành Tổ (成祖) sai sứ chiêu dụ nước Mãn Lạt Gia (滿剌加國).''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Mãn Lạt Gia ở phía Nam nước '''Chiêm Thành (占城)''', thuận gió 8 ngày thì đến '''Long Nha Môn (龍牙門)''', lại đi về phía Tây 2 ngày là tới. Có thuyết nói đó là đất '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' thuộc nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' đời cổ. Tháng 10 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 1 (năm 1403 dương lịch), sai Trung quan '''Doãn Khánh (尹慶)''' sứ đến nơi đó, ban cho gấm thêu vàng, màn trướng dát vàng và các vật dụng. Đất ấy không có vua, cũng không xưng quốc hiệu, lệ thuộc vào nước '''Xiêm La (暹羅)''', mỗi năm nộp 40 lạng vàng làm thuế. Doãn Khánh đến nơi, tuyên thị uy đức cùng ý định chiêu mời. Tù trưởng là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' cả mừng, sai sứ theo Khánh vào triều, dâng sản vật địa phương." '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào cống, phong làm Mãn Lạt Gia Quốc vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Tháng 9 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch) đến kinh sư, Hoàng đế khen ngợi, phong làm '''Mãn Lạt Gia Quốc vương (滿剌加國王)''', ban cho cáo ấn, lụa màu, áo mặc, lọng vàng, lại mệnh cho Doãn Khánh đi cùng. Sứ giả thưa rằng: "Vua tôi hâm mộ nghĩa cả, nguyện cùng Trung Quốc liệt vào hàng các quận, hằng năm dâng nộp lễ cống, xin phong cho ngọn núi ở đó làm trấn sơn của một nước." Hoàng đế nghe theo, soạn văn bia khắc trên núi, cuối bài thêm bài thơ rằng: "Biển lớn Tây Nam thông Trung Quốc, đổ trời rót đất muôn đời cùng... Bia đá chữ lớn biểu lòng trung, núi Tây nước ngươi vĩnh viễn phong làm trấn." Nhóm người Doãn Khánh lại đến, nhà vua càng mừng, tiếp đãi lễ độ tăng thêm. Xét Minh Hội Điển (明會典): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch), tù trưởng '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' sai sứ dâng biểu bằng lá vàng đến triều cống, chiếu phong làm Quốc vương. Sản vật cống nạp gồm: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hạt mã não, hạt san hô, nhẫn nạm vàng, vẹt, gấu đen, vượn đen, hoẵng trắng, vải Tây Dương, các loại hương liệu như trầm hương, nhũ hương, đinh hương... và hắc tiểu tư (nô lệ đen). Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), tự vương (vua nối ngôi) là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' thân hành dẫn vợ con đến triều kiến, được ban thưởng hậu hĩnh rồi về. Từ đó triều cống không dứt. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): Nước Mãn Lạt Gia chính là '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' cổ. Thời Hán thường thông với Trung Quốc, sau bị nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' ràng buộc. Đốn Tốn ở trên núi đảo giữa biển, đất rộng 1,000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, thảy đều thuộc về '''Phù Nam (扶南)'''. Phía Tây giáp các nước ngoài biên giới Thiên Trúc (天竺), thành nước ấy tiếp giáp '''Đồ Bà (闍婆 Java)''' nên còn tên là '''Đại Đồ Bà (大闍婆)''', nay gọi là '''Trọng Già La (重迦羅)'''. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411 dương lịch), Mãn Lạt Gia dẫn vợ con vào triều dâng cống. Vua ngự tại cửa Phụng Thiên, ban yến thưởng thêm hậu hĩnh.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con và bồi thần hơn 540 người đến triều kiến. Đến ngoại ô, vua mệnh cho Trung quan '''Hải Thọ (海壽)''', Lang trung Bộ Lễ '''Hoàng Thường (黃裳)''' đón yến lao. Khi vào triều, Hoàng đế thân hành ban yến tại điện Phụng Thiên, Vương phi và người dưới được ban yến nơi khác. Ban cho vua 2 bộ áo rồng thêu vàng, 1 bộ áo kỳ lân, đồ vàng bạc, màn chăn đều đủ, Vương phi và người dưới đều được ban thưởng. Lúc sắp về, ban cho đai ngọc, nghi trượng, yên ngựa, 100 lạng vàng, 500 lạng bạc, 400,000 quán tiền giấy, 2,600 quán tiền đồng, 300 xấp gấm và 1,000 xấp lụa. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414 dương lịch), Quốc vương Mãn Lạt Gia qua đời, con trai vào triều báo tang, liền mệnh cho tập phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 12 (năm 1414 dương lịch), thế tử là '''Mẫu Oát Tát Can Đích Nhi Sa (母斡撒干的兒沙)''' đến triều kiến báo tang cha, liền mệnh cho nối ngôi, ban cho vàng tiền. Từ đó về sau hoặc liên tiếp các năm, hoặc cách năm lại vào cống, lấy đó làm thường lệ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 (năm 1419 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con bồi thần vào triều tạ ơn, tố cáo việc bị Xiêm La xâm lấn.''' Hoàng đế ban sắc dụ răn bảo '''Xiêm La (暹羅)''', Xiêm La bèn vâng chiếu. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 6 (năm 1431 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào tố cáo Xiêm La xâm lấn ngăn trở đường cống.''' Vua mệnh cho '''Trịnh Hòa (鄭和)''' mang sắc chỉ răn bảo Xiêm La, trách việc phải giữ hòa mục với láng giềng, không được trái mệnh triều đình. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), sứ giả nước Mãn Lạt Gia xin ban cho vua họ sắc thư, lọng che để trấn phục dân trong nước, lại nói vua muốn thân hành đến cung khuyết xin ban cho thuyền lớn.''' Vua đều nghe theo. Từ năm '''Chính Thống (正統)''' thứ 10 (năm 1445 dương lịch) trở đi, nhiều lần sai sứ đến cống, đường đi qua '''Quảng Đông (廣東)'''. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 6 (năm 1455 dương lịch) đời Đại Tông (代宗), Mãn Lạt Gia vào cống xin phong, [triều đình] sai sứ kiêm ban cho mũ áo.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Cảnh Thái (景泰)''' thứ 6 (năm 1455 dương lịch), '''Tốc Lỗ Đàn Vô Đáp Phật Na Sa (速魯檀無答佛哪沙)''' dâng ngựa và sản vật, xin phong làm vương. Chiếu sai Cấp sự trung '''Vương Huy (王暉)''' đi. Sau đó lại vào cống, nói rằng mũ đai được ban bị cháy trong hỏa hoạn, vua mệnh chế áo Bì biện, thường phục bằng lụa hồng cùng đai sừng tê, mũ sa ban cho." '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 3 (năm 1459 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), nước Mãn Lạt Gia vào cống xin phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), thế tử là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' sai sứ vào cống, mệnh cho Cấp sự trung '''Trần Gia Du (陳嘉猷)''' đi phong vương. Cách 2 năm sau, quan Bộ Lễ tấu rằng: Nhóm Gia Du đi biển 2 ngày đến biển '''Ô Chú (烏豬洋)''' gặp bão, thuyền hỏng trôi dạt 6 ngày đến sở Thủ ngự '''Thanh Lan (清瀾)''' thì được cứu. Sắc thư không mất nhưng đồ ban thưởng đều ướt nước, xin cấp lại và sai sứ đi lần nữa. Vua nghe theo." Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), Quốc vương '''Vô Đáp Phật Na Sa (無答佛哪沙)''' chết, con là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' xin mệnh, triều đình lại sai sứ mang chiếu đi phong." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 10 (năm 1474 dương lịch) đời Hiến Tông (憲宗), Mãn Lạt Gia vào cống.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 10 (năm 1474 dương lịch), Cấp sự trung '''Trần Tuấn (陳峻)''' đi phong vương nước '''Chiêm Thành (占城)''', gặp binh '''An Nam (安南)''' chiếm giữ Chiêm Thành nên không vào được, bèn mang đồ đến Mãn Lạt Gia, dụ vương vào cống. Sứ giả đến, Đế vui mừng ban sắc khen ngợi." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 (năm 1481 dương lịch), An Nam cướp bóc sứ giả Mãn Lạt Gia. Sứ giả đến triều đình tố cáo. [Đế] ban sắc trách An Nam và sai quan phong Mã Cáp Mộc Sa làm vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Tháng 9 năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 17 (năm 1481 dương lịch), sứ giả nói: 'Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 5 (năm 1469 dương lịch) sứ giả về nước dạt vào cõi An Nam, đa số bị giết, số còn lại bị xăm mặt làm nô lệ, kẻ nhỏ tuổi bị thiến. Nay họ đã chiếm đất Chiêm Thành, lại muốn nuốt bản quốc. Bản quốc vì thảy đều là thần tử của Vương nên chưa dám đánh'. Vừa lúc sứ An Nam cũng đến, sứ Mãn Lạt Gia xin tranh biện tại triều. Bộ Binh nói việc đã qua không đáng so đo sâu. Đế bèn nhân lúc sứ An Nam về, ban sắc trách vương nước ấy, đồng thời dụ Mãn Lạt Gia rằng: 'Nếu An Nam lại xâm lăng thì hãy chỉnh binh đợi chiến'. Sau đó sai Cấp sự trung '''Lâm Vinh (林榮)''', Hành nhân '''Hoàng Càn Hanh (黃乾亨)''' đi phong thế tử '''Mã Cáp Mộc Sa (馬哈木沙)''' làm vương. 2 người chết đuối, được truy tặng quan chức, ban tế tự cho con cháu, cứu tế gia đình. Lại sai Cấp sự trung '''Trương Thịnh (張晟)''' đi thay, Thịnh chết ở '''Quảng Đông (廣東)''', mệnh quan thủ thần chọn 1 quan viên làm phó cho '''Tả Phụ (左輔)''' để hoàn tất việc phong vương." '''Năm Chính Đức (正德) thứ 3 (năm 1508 dương lịch) đời Võ Tông (武宗), người Giang Tây là Tiêu Minh Cử cướp giết sứ Mãn Lạt Gia, sự việc bại lộ bị xử tử. Người Phật Lang Cơ cậy mạnh đoạt đất Mãn Lạt Gia.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Chính Đức (正德)''' thứ 3 (năm 1508 dương lịch), sứ thần '''Đoan Á Trí (端亞智)''' vào cống. Thông sự là '''Á Lưu (亞劉)''', vốn là người huyện '''Vạn An (萬安)''' tỉnh '''Giang Tây (江西)''' tên '''Tiêu Minh Cử (蕭明舉)''', phạm tội trốn sang nước ấy, hối lộ thông sự để mưu đồ bảo vật. Khi về đến Quảng Đông, Minh Cử cùng đồng bọn cướp giết sứ giả lấy hết tài vật. Sự việc bại lộ, Minh Cử bị lăng trì, bọn còn lại bị chém. Sau đó, người '''Phật Lang Cơ (佛郎機 - người Bồ Đào Nha)''' đem quân xâm chiếm đất ấy, vương là '''Tô Đoan Ma Mạt (蘇端媽末)''' bỏ chạy, sai sứ cáo nan. Lúc này '''Thế Tông (世宗)''' đã lên ngôi, ban sắc trách Phật Lang Cơ lệnh trả lại đất cũ, dụ vua các nước '''Xiêm La (暹羅)''' cứu láng giềng. Nhưng không ai ứng phó, Mãn Lạt Gia cuối cùng bị diệt. Sau này đổi tên là '''Ma Lục Giáp (麻六甲 - Malacca)'''." Sản vật cống nạp gồm: mã não, ngọc trai, đồi mồi, san hô, sừng tê, ngà voi, vẹt, trầm hương... Có núi chảy ra suối, thổ dân đãi cát lấy thiếc, đúc thành khối gọi là "đấu thiếc". Đất đai khô cằn, dân chủ yếu đãi thiếc và bắt cá. Khí hậu sáng nóng chiều lạnh. Nam nữ búi tóc, thân hình đen đúa, kẻ có da trắng là giống người Đường (Trung Quốc) vậy. Từ khi bị Phật Lang Cơ phá, phong tục thay đổi hẳn, thuyền buôn ít đến. === Mãn Lạt Gia bộ kỷ sự (滿剌加部紀事 - Ghi chép sự việc)=== *Huyện chí Vô Tích (無錫縣志): "'''Du Phổ (俞溥)''' làm Tham quân, sứ đến Mãn Lạt Gia 3 năm mới về, học được thuật bói rùa. Chọn rùa lớn nuôi bằng suối trong và rêu xanh, mỗi năm bói 1 lần. Trước khi bói ăn chay 7 ngày, dùng sơn mỏng bôi bụng rùa, đợi sơn nứt như vết nung để nghiệm cát hung. Phổ mang về 2 con rùa, một con dài 1 tấc 3 phân, một con dài 1 tấc rưỡi. Lại mang về 2 loại thuốc: một tên '''A Chỉ Nhi (阿止兒)''' trị nội thương; một tên '''A Tức Loại (阿息類)''' trị kim thương." *Khôn Dư Đồ Thuyết (坤輿圖說): "Nước Mãn Lạt Gia đất không rộng lắm nhưng là nơi thương nhân tụ hội, nằm ngay dưới đường xích đạo. Tiết xuân phân và thu phân khí hậu cực nóng, nhờ ngày nào cũng mưa nên có thể ở được. Sản sinh voi, hồ tiêu và gỗ quý. Người lương thiện, không lo kế sinh nhai, thường đàn tỳ bà rong chơi nhàn hạ." ==Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 1 (僬僥部彙考一)== ===〈Chu Nhiêu - 周饒〉=== ===Thời Hậu Hán (後漢)=== Tháng 3 mùa xuân, ngày Kỷ Mão năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 107 dương lịch) đời '''An Đế (安帝)''', dân Di chủng tộc '''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''' đến cống nạp và xin nội thuộc. Xét: Hậu Hán Thư (後漢書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. ===Thời nhà Minh (明)=== Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 17 (năm 1419 dương lịch) đời '''Thành Tổ (成祖)''', nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' đến cống nạp. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): "'''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' là người Di ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''', người cao 3 thước (khoảng 1 mét). Trong số các nô lệ đen (hắc tiểu tư) của các nước phiên thường dùng làm vật cống nạp, thì các chủng tộc như Hợi Thủ (咳首) đại để đều là người Lão ở biển (hải lão) vậy." === Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 2 (僬僥部彙考二)=== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Chu Nhiêu (周饒國)''', người ở đó thân hình ngắn nhỏ, đội mũ thắt đai. Có thuyết nói nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' ở phía Đông nước '''Tam Thủ (三首)'''. *(Chú thích: Người ở đó cao 3 thước (khoảng 1 mét), sống trong hang, có thể làm được các đồ máy móc khéo léo, có đủ 5 loại ngũ cốc. Lại nữa, sách Ngoại truyện nói: Dân Tiêu Nghiêu cao 3 thước, là cực điểm của sự ngắn nhỏ. Sách Thi Hàm Thần Vụ chép: Từ Trung Châu đi về phía Đông 400,000 dặm, có người nước Tiêu Nghiêu, cao 1 tấc 5 phân (khoảng 45 cm)). '''Phần Đại hoang Nam kinh (大荒南經)''' Có nước của người nhỏ bé tên là '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', mang họ Kỷ (幾), ăn các loại ngũ cốc tốt (gia cốc). *(Chú thích: Thảy đều cao 3 thước. Xét về phương Tây, người Tiêu Nghiêu thời Nghiêu (堯) từng vào cống nạp, hoặc chính là nước này. Hoặc ở phương Tây Nam, phương Tây, phương Nam mỗi nơi đều có người Tiêu Nghiêu, thảy đều không có gì để khảo chứng thêm, nay tạm để tồn tại song song cả hai thuyết). == Bản Thuẫn Man bộ hối khảo (板楯蠻部彙考) Khảo cứu về bộ lạc người Man cầm khiên gỗ== === Thời Hậu Hán (後漢)=== Mùa đông tháng 10 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''' ở quận '''Ba (巴郡)''' làm phản, [triều đình] sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc Thứ sử '''Ích Châu (益州)''' thảo phạt nhưng không thắng được. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: "Giống người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''', vào thời '''Tần Chiêu Tương vương (秦昭襄王)''' có 1 con hổ trắng thường đi theo đàn hổ, nhiều lần dạo chơi vùng biên cảnh '''Tần (秦)''', '''Thục (蜀)''', '''Ba (巴)''', '''Hán (漢)''', làm hại hơn 1,000 người. Chiêu vương bèn trọng thưởng chiêu mộ trong nước, ai giết được hổ sẽ phong ấp 10,000 hộ, thưởng 100 dĩ vàng. Bấy giờ có người Di ở '''Lãng Trung (閬中)''' thuộc quận '''Ba (巴郡)''' biết làm nỏ bằng tre trắng, bèn lên lầu bắn chết hổ trắng. Chiêu vương khen ngợi, nhưng vì họ là người Di nên không muốn phong tước, bèn khắc đá lập thề, miễn thuế cho ruộng đất của họ, 10 người vợ không phải nộp thuế thân, kẻ làm bị thương người thì luận tội, kẻ giết người được dùng tiền 'tàm' (tức tiền chuộc) để chuộc tội chết. Lời thề rằng: 'Nếu người Tần phạm người Di, nộp 1 đôi rồng vàng; nếu người Di phạm người Tần, nộp 1 chung rượu trong'. Người Di yên lòng với việc đó. Đến khi '''Cao Tổ (高祖)''' làm Hán Vương, phát động người Di theo về đánh 3 đất Tần (Tam Tần). Sau khi đất Tần đã định, bèn cho họ về lại vùng '''Ba Trung (巴中)''', miễn thuế khóa cho các thủ lĩnh thuộc 7 họ: '''La (羅)''', '''Phác (朴)''', '''Đốc (督)''', '''Ngạc (鄂)''', '''Độ (度)''', '''Tịch (夕)''', '''Cung (龔)'''. Các hộ còn lại hằng năm nộp 40 tiền 'tư' mỗi khẩu, đời gọi là người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)'''. Vùng Lãng Trung có sông '''Du Thủy (渝水)''', người dân phần lớn sống hai bên bờ, thiên tính mạnh dũng, ban đầu làm tiền phong cho quân Hán, nhiều lần hãm trận. Tục thích ca múa, Cao Tổ xem xong nói: 'Đây là bài ca của Vũ Vương phạt Trụ vậy', bèn lệnh cho nhạc nhân học theo, chính là điệu múa '''Ba Du (巴渝舞)'''. Từ đó đời đời phục tùng. Đến thời Trung hưng, Thái thú thường dẫn họ đi chinh chiến. Đời '''Hoàn Đế (桓帝)''', Bản Thuẫn nhiều lần phản lại, Thái thú quận Thục là '''Triệu Ôn (趙溫)''' dùng ơn tín mà hàng phục được họ. Năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 3 (năm 180 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người Bản Thuẫn quận Ba lại phản, cướp bóc các quận thuộc Tam Thục và Hán Trung. Linh Đế sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc binh sĩ Ích Châu thảo phạt, liên tiếp nhiều năm không thắng được. Đế muốn phát động đại binh, bèn hỏi các Kế lại (quan lo việc sổ sách) của Ích Châu để khảo sát phương lược chinh thảo. Quan Thượng kế của '''Hán Trung (漢中)''' là '''Trình Bào (程包)''' thưa rằng: 'Bảy họ Bản Thuẫn từng bắn chết hổ trắng, lập công với tiền thế, vốn là nghĩa dân. Người đó dũng mãnh, giỏi binh chiến. Xưa những năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' (năm 107 – 113 dương lịch), người Khương vào Hán Xuyên, quận huyện tan vỡ, nhờ được Bản Thuẫn cứu viện mà quân Khương bị tiêu diệt gần sạch, nên họ được gọi là thần binh. Người Khương sợ hãi, truyền lời cho bộ tộc rằng chớ đi về phía Nam nữa. Đến năm '''Kiến Hòa (建和)''' thứ 2 (năm 148 dương lịch), người Khương lại đại cử xâm nhập, thực cũng nhờ Bản Thuẫn liên chiến phá được. Tiền Xa kị Tướng quân '''Phùng Côn (馮緄)''' khi nam chinh '''Vũ Lăng (武陵)''', tuy có tinh binh Đan Dương nhưng cũng dựa vào Bản Thuẫn mới thành công. Gần đây quận Ích Châu có loạn, Thái thú '''Lý Ngung (李顒)''' cũng dùng Bản Thuẫn mà dẹp yên. Trung công như thế, vốn không có lòng ác. Thế nhưng quan lại địa phương thu thuế quá nặng, tôi tớ đánh đập họ quá cả nô lệ, có người phải gả vợ bán con, hoặc thậm chí tự cắt cổ. Tuy họ kêu oan lên châu quận nhưng Mục thủ không phân định lý lẽ. Cung đình xa xôi không tự nghe thấu, nên họ ngậm oán kêu trời ở thung lũng cùng cực, sầu khổ vì sưu dịch, khốn đốn vì hình phạt tàn khốc, nên các ấp tụ tập mà làm phản, chứ không phải có chủ mưu tiếm hiệu làm loạn. Nay chỉ cần chọn Mục thủ sáng suốt hiền tài, tự khắc họ sẽ yên ổn tụ họp, không phiền đến chinh phạt'. Đế theo lời đó, sai Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' tuyên chiếu ân xá, họ liền đều hàng phục. Xét Hán Trung Sĩ Nữ Chí (漢中士女志): '''Trình Bào (程包)''' tự là '''Nguyên Đạo (元道)''', người '''Nam Trịnh (南鄭)''', năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) làm Thượng kế lại. Bấy giờ Bản Thuẫn làm phản, quân lữ nhiều phen nổi dậy, thiên tử lo lắng hỏi phương lược. Bào thưa: 'Bản Thuẫn trung dũng, lập công từ thời tiền Hán, là nghĩa dân của hoàng đế. Quân Khương vào Hán Trung, đều nhờ sức họ. Bởi không biết vỗ về nên mới dẫn đến phản loạn, chứ không có lòng tiếm đoạt. Nay binh lính kéo đến chưa chắc thắng được, chẳng bằng chọn Thái thú hiền tài, dùng ơn tín mà thu phục'. Thiên tử theo lời, kết quả đúng như lời ông nói. Sau này ông mất trên đường đi. Mùa thu tháng 7 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 5 (năm 182 dương lịch), người Bản Thuẫn Man ở quận Ba đến gặp Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' xin hàng. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Năm '''Trung Bình (中平)''' thứ 5 (năm 188 dương lịch), Bản Thuẫn Man lại phản, sai Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: 'Năm Trung Bình thứ 5, giặc Hoàng Cân ở quận Ba nổi dậy, người Bản Thuẫn Man nhân đó lại phản, cướp bóc thành ấp. [Triều đình] sai Tây Viên Thượng quân Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên'. == Lâm Ấp bộ hối khảo 1 (林邑部彙考一)== === Thời nhà Tấn (晉)=== '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Thái Khang (太康) thứ 5 (năm 284 dương lịch), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ và Lâm Ấp truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣) thời Hán, tức là nơi '''Mã Viện (馬援)''' đúc cột đồng vậy, cách Nam Hải (南海) 3,000 dặm. Cuối thời Hậu Hán, Công tào của huyện họ Khu (區) có con tên Liên (連), giết huyện lệnh rồi tự lập làm vua, con cháu truyền nối nhau. Về sau vua không có con nối dõi, ngoại tôn (cháu ngoại) là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, Hùng chết, con là Dật (逸) lập. Phong tục ở đó thảy đều mở cửa đất hướng về phía mặt trời. Về nơi cư ngụ thì hoặc Đông hoặc Tây không cố định. Tính người hung hãn, quả cảm trong chiến đấu, giỏi leo núi lội nước, không quen đất bằng. Bốn mùa ấm áp, không sương không tuyết, người đều ở trần đi chân đất, lấy sắc đen làm đẹp. Quý nữ khinh nam, người cùng họ lấy nhau. Người nữ hỏi cưới chồng trước. Lúc con gái gả đi thì mặc áo Ca-bàn (迦盤衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, đầu đội hoa quý. Lúc có tang thì cắt tóc mai, gọi đó là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Vua đội thiên quan (mũ trời), khoác chuỗi anh lạc. Mỗi khi nghe chính sự, tử đệ và thị thần đều không được lại gần. Từ thời '''Tôn Quyền (孫權)''' trở đi không triều cống Trung Quốc. Đến năm Thái Khang đời Vũ Đế mới bắt đầu đến cống nạp." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp bản truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣), quận Nhật Nam (日南郡) thời Hán, thuộc cương giới Việt Thường (越裳) xưa. Phục Ba tướng quân Mã Viện mở cõi Nam của nhà Hán, đặt ra huyện này. Đất ấy chiều dọc chiều ngang khoảng 600 dặm, thành cách biển 120 dặm, cách biên giới Nhật Nam hơn 400 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德郡), biên giới phía Nam đi đường thủy bộ hơn 200 dặm. Có người Di phương Tây cũng xưng vương, là nơi Mã Viện trồng 2 cột đồng để làm mốc biên giới nhà Hán vậy. Nước ấy có núi vàng (Kim Sơn), đá thảy đều màu đỏ, trong đó sinh ra vàng, đêm đến vàng bay ra như ánh đom đóm. Lại có đồi mồi, vỏ ốc, cát bối (vải bông), trầm mộc hương. Cát bối (吉貝) là tên cây. Khi hoa nở như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt vải, trắng sạch không khác vải gai (trữ bố), cũng nhuộm thành 5 màu, dệt thành vải vằn (ban bố). Trầm mộc (沉木) là cây do người bản địa chặt đứt, tích qua năm tháng cho mục nát mà phần tâm tiết vẫn còn, bỏ xuống nước thì chìm nên gọi là 'Trầm hương' (沉香). Loại kém hơn không chìm không nổi gọi là 'Hương' (香). Cuối thời Hán đại loạn, Công tào là '''Khu Đạt (區達)''' giết huyện lệnh tự lập làm vua, truyền được mấy đời. Về sau vua không con, lập cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊). Hùng chết, con là Dật (逸) nối ngôi." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Hiệu Lâm Ấp khởi đầu từ cuối thời Hán. Lúc loạn năm Sơ Bình (初平) (năm 190 – 193 dương lịch), người người ôm lòng khác. Công tào Tượng Lâm họ Khu có con tên Liên (連), đánh huyện giết lệnh, tự hiệu là vua. Gặp lúc loạn ly, Lâm Ấp bèn đứng vững, sau đó truyền vị cho con cháu. Thời Tam Quốc đỉnh tranh, chưa phụ thuộc bên nào. Nhà Ngô có đất Giao Châu tiếp giáp, tiến chiếm Thọ Lãnh (壽泠) làm cương giới. Từ đời Khu Liên trở đi, nước không có văn sử nên việc truyền nối mất dấu, thế số khó tường. Tông tộc tuyệt diệt, không còn hậu duệ. Cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊) lên thay, được lòng người vui vẻ ủng hộ. Sau Hùng chết, con là Dật (逸) lập." '''Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Thành Đế (成帝), vua Lâm Ấp là Phạm Dật chết, nô bộc là Văn (文) chiếm ngôi lập.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 2 (năm 336 dương lịch), Phạm Dật chết, nô bộc là Văn chiếm ngôi. Văn vốn là nô bộc của di soái '''Phạm Thôi (范椎)''' huyện Tây Quyển (西卷縣), quận Nhật Nam. Từng chăn bò trong khe núi, bắt được 2 con cá chép hóa thành sắt, dùng để rèn dao. Dao rèn xong, Văn đối diện tảng đá lớn mà khấn rằng: 'Cá chép biến hóa, đúc thành dao đôi, nếu tảng đá vỡ thì là có thần linh'. Tiến đến chém, đá liền vỡ tan. Văn biết là thần vật, bèn giấu đi, theo lái buôn qua lại, thấy được chế độ nước thượng quốc. Đến Lâm Ấp, Văn dạy Dật làm cung thất thành ấp cùng khí giới. Dật rất yêu tin, cho làm tướng. Văn bèn gièm pha các con của Dật, kẻ thì bị đày người thì bỏ trốn. Đến khi Dật chết không con, Văn bèn tự lập làm vua, đem vợ thiếp của Dật đặt hết lên lầu cao, ai theo mình thì nhận lấy, ai không theo thì cắt lương thực. Sau đó đánh các nước Đại Kỳ giới, Tiểu Kỳ giới, Thức Bộc, Từ Lang, Khuất Đô, Kiền Lỗ, Phù Đan rồi thôn tính cả, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Sai sứ dâng biểu triều cống hoàng đế, thư thảy đều dùng chữ Hồ (胡)." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Tấn Thành Đế, Dật chết, nô bộc là Văn chiếm lập. Văn vốn là gia nô của di soái '''Phạm Tr稚 (范稚)''' huyện Tây Quyển, quận Nhật Nam. Thường chăn bò ở khe núi, được 2 con cá lăng, hóa làm sắt, nhân đó đúc dao. Đúc xong Văn hướng về phía đá mà chú rằng: 'Nếu chém đá vỡ, Văn sẽ làm vua nước này'. Bèn giơ dao chém đá, như chém cỏ khô. Văn lấy làm lạ. Phạm Tr稚 thường sai Văn đi buôn đến Lâm Ấp, Văn nhân đó dạy vua Lâm Ấp làm cung thất cùng binh xa khí giới, vua sủng ái trọng dụng. Sau Văn gièm pha các con vua, mỗi người trốn một nước. Khi vua chết không con, Văn giả vờ đón hoàng tử ở láng giềng về, bỏ độc vào nước uống mà giết đi, rồi hiếp dân trong nước tự lập. Cử binh đánh các nước nhỏ xung quanh thảy đều nuốt sạch, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Bấy giờ Thứ sử Giao Châu là '''Khương Tráng (姜壯)''' sai thân tín là '''Hàn Tập (韓戢)''', '''Tạ Trạc (謝稚)''' lần lượt giám sát quận Nhật Nam, đều tham tàn, các nước lấy làm khổ." Xét Thủy Kinh Chú (水經注) có đoạn về Phạm Văn: "... Văn vào núi tìm đá luyện sắt, đúc làm 2 con dao, giơ lưỡi hướng về phía vách núi (chướng) mà chúc rằng: 'Cá chép biến hóa, luyện đá thành dao, chém vách đá vỡ thì là có linh thần, Văn sẽ trị nơi này làm quân vương nước ấy. Nếu chém không vào thì là dao không thần linh'. Tiến đến chém vách đá như rồng thiêng chém cỏ, từ đó lòng người dần theo phục. Nay sông đá vẫn còn, dao cá vẫn tồn tại, truyền cho con cháu như kiếm trảm xà (chém rắn) vậy. Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 6 (năm 331 dương lịch) Dật chết không con... Văn tự lập làm vua. Lấy vợ thiếp vua trước đặt lên lầu cao, ai theo mình thì nạp làm thiếp, không theo thì tuyệt ăn uống cho đến chết. Sách Giang Đông cựu sự nói: Phạm Văn vốn là người Dương Châu (揚州), thuở nhỏ bị bắt làm nô lệ, bán đến Giao Châu. Năm 15 – 16 tuổi gặp tội đáng gậy, sợ hãi trốn theo lái buôn Lâm Ấp vượt biển đi xa, lọt vào nước của vua, được vua rất sủng ái. Qua hơn 10 năm vua chết... tự lập làm vua, uy thế trải khắp các nước. Có bộ lạc thì búi tóc tiếng Man, miệng ăn mũi uống, hoặc xăm mặt chạm mình, là giống người ở trần (thoát lỏa chủng), những kẻ lưu đày thời Hán Ngụy thảy đều bị Văn dùng." '''Tháng 10 năm Hàm Khang (咸康) thứ 6 (năm 340 dương lịch), Lâm Ấp dâng voi thuần.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ chép như vậy. '''Tháng Giêng mùa xuân năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch) đời Mục Đế (穆帝), Phạm Văn nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, giết Thái thú Hạ Hầu Lãm, dùng thây tế trời. Tháng 7 mùa thu, Phạm Văn lại chiếm Nhật Nam, giết Đốc hộ Lưu Hùng. Ngôi Văn lập Phạm Bôn làm đế.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), Văn suất quân đánh chiếm Nhật Nam, hại Thái thú '''Hạ Hầu Lãm (夏侯覽)''', giết 5,000 – 6,000 người, số còn lại chạy sang Cửu Chân. Lấy thây Lãm tế trời, san phẳng thành huyện Tây Quyển, rồi chiếm Nhật Nam, cáo với Thứ sử Giao Châu là '''Chu Phiên (朱蕃)''', xin lấy núi Hoành Sơn (橫山) ở phía Bắc Nhật Nam làm ranh giới. Nguyên trước đó các nước ngoài cõi thường mang bảo vật theo đường biển đến buôn bán, mà Thứ sử Giao Châu, Thái thú Nhật Nam đa số tham lợi xâm lấn, 10 phần chiết khấu mất 2 – 3 phần. Đến thời Thứ sử '''Khương Tráng (姜壯)''', sai '''Hàn Tập (韓戢)''' lĩnh Thái thú Nhật Nam, Tập đánh giá cao hơn nửa (ép giá), lại chặt cây đóng thuyền điều động phu phen, phao tin là 'chinh phạt', do đó các nước căm giận. Vả lại Lâm Ấp vốn tham đất Nhật Nam, Tập chết, người kế nhiệm là '''Tạ Trạc (謝擢)''' lại xâm khắc như trước. Đến khi Lãm đến quận lại đắm chìm trong rượu chè, chính giáo càng loạn, nên bị phá diệt. Sau đó Văn về Lâm Ấp. Năm ấy, Chu Phiên sai Đốc hộ '''Lưu Hùng (劉雄)''' đóng giữ Nhật Nam, Văn lại đánh chiếm nơi đó." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), đài đình sai Hạ Hầu Lãm làm Thái thú, xâm khắc càng thậm. Lâm Ấp vốn không có ruộng đất, tham đất Nhật Nam màu mỡ, thường muốn chiếm lấy. Đến đây nhân nỗi oán của dân bèn cử binh đánh Nhật Nam, giết Lãm, dùng thây tế trời. Ở lại Nhật Nam 3 năm mới về Lâm Ấp. Thứ sử Giao Châu Chu Phiên sau đó sai Đốc hộ Lưu Hùng đóng giữ Nhật Nam, Văn lại tiêu diệt đi, tiến đánh quận Cửu Đức (九德郡), tàn hại quan dân. Sai sứ bảo Phiên nguyện lấy núi Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm giới hạn, Phiên không hứa. Lại sai Đốc hộ '''Đào Hoãn (陶緩)''', '''Lý Cù (李衢)''' thảo phạt. Văn về Lâm Ấp, tìm cách đóng đồn ở Nhật Nam." '''Tháng 4 mùa hè năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 4 (năm 348 dương lịch), Phạm Văn đánh phá Cửu Chân, giết hại rất nhiều.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 4, Văn lại đánh Cửu Chân, hại sĩ dân đến 18 – 19 phần." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), Hoàn Ôn (桓溫) sai Đốc quân Đằng Tuấn (滕畯) thảo phạt Phạm Văn, không thắng. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi. Đằng Tuấn thảo phạt, tiến vào thành, Phật xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), '''Hoàn Ôn (桓溫)''' sai Đốc quân '''Đằng Tuấn (滕畯)''' thảo phạt Phạm Văn, bị Văn đánh bại." Xét Lâm Ấp bản truyền: "Năm thứ 5, Chinh Tây đốc hộ Đằng Tuấn suất binh Giao Châu, Quảng Châu đánh Văn ở Lô Dung (盧容), bị Văn đánh bại, lui về Cửu Chân. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 5, Văn chết, con là Phật lập, vẫn đóng đồn ở Nhật Nam. Chinh Tây tướng quân Hoàn Ôn sai Đốc hộ Đằng Tuấn, Thái thú Cửu Chân '''Quán Thúy (灌邃)''' suất binh Giao, Quảng thảo phạt, Phật ôm thành cố thủ. Thúy lệnh Tuấn bày binh mạnh ở phía trước, Thúy suất 700 tinh binh từ phía sau vượt lũy xông vào, quân Phật kinh sợ tan chạy. Thúy đuổi đến Lâm Ấp, Phật bèn xin hàng." '''Năm Thăng Bình (升平) thứ 3 (năm 359 dương lịch), Lâm Ấp xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Tháng 12 năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 3 (năm 359 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là '''Ôn Phóng Chi (溫放之)''' suất binh thảo phạt các bộ lạc Tham Lê (參黎), Đam Lão (耽潦) của Lâm Ấp, thảy đều hàng phục." Xét Lâm Ấp truyền: "Cuối năm Thăng Bình, Thứ sử Quảng Châu là '''Đằng Hàm (滕含)''' suất quân đánh Lâm Ấp, vua Phật (佛) sợ hãi xin hàng, Hàm cùng lập minh ước rồi về." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Đầu năm Thăng Bình, Lâm Ấp lại đến cướp bóc, Thứ sử Ôn Phóng Chi thảo phạt phá tan." '''Năm Ninh Khang (寧康) [không rõ số] đời Hiếu Vũ Đế (孝武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Ngày Kỷ Tỵ tháng 6 năm Thái Nguyên (太元) thứ 2 (năm 377 dương lịch), Lâm Ấp dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 3 năm Thái Nguyên (太元) thứ 7 (năm 382 dương lịch), Phạm Hùng (范熊) nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' *(Xét Bản truyền nói Phạm Hùng chết thì con là Dật (逸) nối ngôi vốn phải ở thời Vũ Đế (武帝). Đến đây lại chép việc Phạm Hùng, ấy là vẫn theo nguyên bản đã ghi, xin lưu lại để tham khảo). Xét: Các mục trên theo Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ. '''Tháng 2 năm Lũng An (隆安) thứ 3 (năm 399 dương lịch) đời An Đế (安帝), Phạm Đạt (范達) nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, Cửu Chân rồi tiến đánh Giao Chỉ, Thái thú Đỗ Viện (杜瑗) thảo phạt phá tan.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Lũng An (隆安)''' thứ 3 (năm 399 dương lịch), cháu của Phật là '''Tu Đạt (須達)''' lại đánh Nhật Nam, bắt Thái thú '''Quảnh Nguyên (炅源)'''. Lại tiến đánh Cửu Đức (九德), bắt Thái thú '''Tào Bính (曹炳)'''. Thái thú Giao Chỉ là '''Đỗ Viện (杜瑗)''' sai Đô hộ '''Đặng Lỗi (鄧逸)''' đánh phá được, bèn lấy Viện làm Thứ sử." '''Năm Nghĩa Hy (義熙) thứ 9 (năm 413 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ: "Tháng 3 năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 9 (năm 413 dương lịch), '''Phạm Hồ Đạt (范胡達)''' nước Lâm Ấp đánh phá Cửu Chân, Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Huệ Độ (杜慧度)''' chém được y." Xét Lâm Ấp truyền: "Trong những năm Nghĩa Hy, hằng năm Lâm Ấp lại đến đánh các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Cửu Đức, giết hại rất nhiều, Giao Châu vì thế mà suy yếu, mà Lâm Ấp cũng bị mệt mỏi. Vua Phật chết, con là Hồ Đạt lập, dâng sớ tiến cống mâm bát vàng và chiêng vàng." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 3 (năm 407 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Nhật Nam, giết Trưởng sử của Viện, [Viện] sai Hải loa Đốc hộ '''Nguyễn Phỉ (阮斐)''' thảo phạt phá tan, chém và bắt được rất nhiều. Năm thứ 9 (năm 413 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Cửu Chân, Hành quận sự '''Đỗ Huệ Kỳ (杜慧期)''' cùng chiến đấu, chém được con y là Giao Long vương '''Chân Tri (甄知)''' cùng các tướng '''Phạm Kiện (范健)'''... bắt sống Tu Đạt cùng con là '''Na Năng (郍能)''' và hơn 100 người. Từ sau khi Viện mất, Lâm Ấp không năm nào không đánh Nhật Nam, Cửu Đức, giết hại cực nhiều, Giao Châu do đó suy yếu. Tu Đạt chết, con là '''Địch Chân (敵真)''' lập, em là '''Địch Khải (敵鎧)''' dắt mẹ bỏ trốn. Địch Chân truy hận vì không dung nạp được mẹ và em, bèn bỏ nước sang Thiên Trúc (天竺), nhường ngôi cho cháu gọi bằng cậu. Quốc tướng là '''Tạng Lân (藏驎)''' cố can nhưng không nghe. Người cháu lên ngôi bèn giết Tạng Lân, con Tạng Lân lại đánh giết kẻ đó, rồi lập em cùng mẹ khác cha của Địch Khải tên là '''Văn Địch (文敵)'''. Văn Địch sau bị vương tử nước Phù Nam (扶南) là '''Đương Căn Thuần (當根純)''' giết chết, đại thần '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' dẹp loạn rồi tự lập làm vua. Chư Nông chết, con là '''Dương Mại (陽邁)''' lập." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Năm '''Kiến Nguyên (建元)''' thứ 2 (năm 380 dương lịch), Văn đánh Nhật Nam, Cửu Đức, Cửu Chân, trăm họ tan tác, 1,000 dặm không bóng khói, sau đó về Lâm Ấp. Lâm Ấp cách Quảng Châu (廣州) 2,500 dặm về phía Tây. Góc Tây Nam thành có núi cao dãy dài nối tận chân trời. Phía Bắc dãy núi tiếp giáp khe suối, nguồn lớn của sông Hoài (Hoài thủy) chảy ra từ vùng Tam Trọng Trường Châu thuộc cõi '''Na Na (郍郍)''' xa xôi, ẩn sau núi bao quanh phía Tây và vòng qua phía Đông núi Vệ Sơn. Phía Nam dãy núi mở ra khe suối, nguồn nhỏ sông Hoài chảy từ núi hẻm vùng Tùng Căn (松根), lượn quanh phía Nam Khúc Nhai rồi vòng về phía Đông, hợp với dòng sông Hoài chảy vào Điển Xung. Thành ấy phía Tây Nam giáp núi, phía Đông Bắc nhìn ra sông, hào sâu nhiều lớp bao quanh dưới thành. Chu vi thành rộng 8 dặm 100 bước, tường gạch cao 2 trượng, phía trên xây thêm tường gạch 1 trượng để hở lỗ vuông, trên gác ván, trên ván có tầng các, trên các có nhà, trên nhà có lầu. Lầu cao 6 – 7 trượng, thấp thì 4 – 5 trượng, đầu mái hình chim xi (si vĩ) bay bổng chạm mây, nương núi nhìn sông, vút cao lừng lững. Nhưng cách chế tạo thì tráng lệ mà vụng về, theo phong tục cổ của người Di. Thành mở 4 cửa, cửa Đông là cửa trước, đối diện bến sông Hoài nơi đường quanh, có bia cổ khắc chữ Di ngợi khen công đức của vua trước là '''Hồ Đạt (胡達)'''. Cửa Tây đối diện 2 tầng hào, vòng lên phía Bắc vào núi, phía Tây núi chính là dòng sông Hoài. Cửa Nam đi qua 2 tầng hào, đối diện lũy của Ôn công. Năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 2 (năm 358 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là Ôn Phóng Chi giết Thái thú Giao Chỉ là '''Bảo (寶)''' và Biệt giá '''Nguyễn Lang (阮郎)''', rồi đi đánh Lâm Ấp. Thủy lục đánh nhau nhiều trận, vua Phật cố thủ trong thành, sau xin phục tùng nên được tha cho. Nay ở phía Nam thành Đông của Lâm Ấp 5 dặm vẫn còn 2 lũy của Ôn công là vậy. Cửa Bắc sát sông Hoài, đường đứt không thông. Trong thành có tiểu thành chu vi 320 bước, điện ngói nhà chung, vách phía Nam không mở, nhà dài 2 đầu, nóc nhà đưa ra hướng Nam Bắc. Các cột trên điện các cao hơn tường thành 1 trượng có dư, dùng 5 loại phân bò làm bùn trát, vách tường ánh sắc xanh bóng. Vợ con cung tần thảy đều ở chung trên điện, không có cung quán riêng biệt. Vua ngồi dựa vào hiên phía Đông, trực tiếp nói chuyện với bên dưới, tử đệ và thần hạ đều không được lên. Nhà có hơn 50 nóc, mái hiên nối liền nhau. Có 8 ngôi miếu lớn nhỏ thờ thần quỷ, đài tầng gác trọng, trạng thái giống như chùa Phật. Ngoài quách không có chợ búa, ấp ít người ở, bờ biển tiêu điều, vốn không phải nơi dân cư sinh sống. Kẻ đứng đầu dùng sự yên ổn lâu dài để nuôi dưỡng đất nước, 10 đời há có thể tồn tại lâu bền sao!" '''Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 2 (năm 421 dương lịch) đời Tống Vũ Đế (宋武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp (林邑國) ở phương Nam, năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 đời Cao Tổ, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' sai sứ đến cống nạp, liền được ban chức tước. Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp ở phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德). Thời nhà Tần là huyện Lâm Ấp cũ. Cuối thời Hán xưng vương. Năm '''Thái Khang (太康)''' thứ 5 (năm 284 dương lịch) đời Tấn mới bắt đầu cống nạp. Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 420 dương lịch) đời nhà Tống, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' mới sinh, mẹ mơ thấy người đem chiếu vàng cho lót nằm, ánh sắc kỳ lệ, Trung Quốc gọi là vàng Tử Ma (vàng tía), người Di gọi là Dương Mại, nên lấy đó làm tên. Khi Dương Mại chết, con là '''Đốt (咄)''' lập, vì mộ cha nên lại đổi tên thành Dương Mại. Lâm Ấp có núi vàng, nước vàng chảy ra bến. Theo đạo Ni Kiền (尼乾道), họ đúc tượng người bằng vàng bạc, lớn đến 10 vòng ôm. '''Những năm Nguyên Gia (元嘉) đời Văn Đế (文 Đế), Lâm Ấp xâm chiếm các quận Nhật Nam, Cửu Đức.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Đầu năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' đời Thái Tổ, [Lâm Ấp] xâm lấn tàn phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức. Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Hoằng Văn (杜弘文)''' dựng cờ tụ họp quân chúng muốn đi thảo phạt, nghe tin có người đến thay chức bèn thôi. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 (năm 421 dương lịch), [Lâm Ấp] sai sứ cống nạp, phong Dương Mại làm Lâm Ấp vương. Dương Mại chết, con là Đốt lập, lại gọi là Dương Mại. Phong tục nước ấy ở nhà gác gọi là Vu Lan (于闌), cửa đều hướng về phía Bắc, viết lên lá cây làm giấy. Nam nữ đều dùng khổ ngang vải Cát Bối (vải bông) quấn từ thắt lưng trở xuống, gọi là Can Mạn (干縵) hoặc Đô Mạn (都縵), xỏ tai đeo vòng nhỏ. Kẻ quý đi giày da, người tiện đi chân đất. Các nước từ Lâm Ấp, Phù Nam (扶南) trở về phía Nam đều như vậy. Vua mặc pháp phục, đeo anh lạc, trang sức như tượng Phật. Khi ra ngoài thì cưỡi voi, thổi ốc đánh trống, che lọng Cát Bối, dùng vải Cát Bối làm cờ xí. Nước không đặt hình pháp, kẻ có tội thì cho voi giẫm chết. Họ lớn hiệu là Bà-la-môn (婆羅門), gả cưới tất dùng vào tháng 8. Nữ cầu nam trước, do trọng nữ khinh nam vậy. Người cùng họ lấy nhau, sai người Bà-la-môn dẫn rể đến gặp vợ, nắm tay nhau trao gửi, đọc chú "Cát lợi cát lợi" để thành lễ. Người chết thì thiêu giữa đồng, gọi là hỏa táng. Góa phụ ở vậy xõa tóc đến già. Vua thờ đạo Ni Kiền, đúc tượng vàng bạc lớn 10 vòng ôm. Đầu năm Nguyên Gia, Dương Mại xâm chiếm Nhật Nam, Cửu Đức, Thứ sử Đỗ Hoằng Văn muốn thảo phạt, nghe tin có người thay bèn thôi. '''Ngày Giáp Dần tháng 7 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 7 (năm 430 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét: Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Năm thứ 7, Dương Mại sai sứ tự trần tình rằng không hòa hợp với Giao Châu, cầu xin được tha thứ. Năm thứ 8, lại sai hơn 100 thuyền lâu báu đánh Cửu Đức, vào cửa biển Tứ Hội (四會浦). Thứ sử Giao Châu là '''Nguyễn Di Chi (阮彌之)''' sai Đội chủ '''Tương Đạo Sinh (相道生)''' đem 3,000 người đi thảo phạt, đánh thành Khu Túc (區粟城) không hạ được, phải rút về. '''Tháng 5 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), vua Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét Lâm Ấp truyền: Lâm Ấp muốn đánh Giao Châu, mượn binh vua nước Phù Nam (扶南), vua Phù Nam không nghe. Năm thứ 10, Dương Mại sai sứ dâng biểu, cống sản vật, xin được lĩnh chức cai quản Giao Châu. Chiếu đáp rằng đường xá xa xôi nên không hứa cho. '''Năm Nguyên Gia thứ 11 (434), thứ 15 (438), thứ 16 (439), thứ 18 (441), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' '''Mùa hạ tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 23 (năm 446 dương lịch), Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh nước Lâm Ấp, chiếm được.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Các năm Nguyên Gia thứ 12, 15, 16, 18 dù thường sai sứ cống nạp nhưng cướp bóc không thôi, đồ dâng cũng thô lậu. Thái Tổ giận kẻ làm trái, năm thứ 23 sai Long tương Tướng quân, Thứ sử Giao Châu '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' đi đánh. Sai Chấn vũ Tướng quân phủ Thái úy là '''Tông Xác (宗慤)''' chịu sự tiết chế của Hòa Chi. Hòa Chi sai Phủ Tư mã '''Tiêu Cảnh Hiến (蕭景憲)''' làm tiền phong, Xác làm phó quân. Dương Mại nghe tin binh đến, sai sứ dâng biểu xin trả lại dân hộ Nhật Nam đã bắt, dâng trân bảo của nước. Thái Tổ hạ chiếu bảo Hòa Chi nếu Dương Mại có lòng thành thì cho quy thuận. Tháng 2 năm đó, quân đến đồn Chu Ngô (朱梧戍), sai Tham quân Phủ Hộ tào là Thái thú Nhật Nam '''Khương Trọng Cơ (姜仲基)''', Tham quân Tiền bộ Tặc tào '''Kiểu Hoằng Dân (蟜弘民)''' cùng bọn '''Tất Nguyện (畢願)''', '''Cao Tinh Nô (高精奴)''' đi tuyên dương ân chỉ. Dương Mại bắt giữ bọn Trọng Cơ, Tinh Nô gồm 28 người, sai Hoằng Dân về báo, ngoài miệng nói quy thuận nhưng phòng bị càng nghiêm. Cảnh Hiến tiến quân hướng về thành Khu Túc (區粟城). Dương Mại sai Đại soái '''Phạm Phù Long Đại (范扶龍大)''' trấn giữ Khu Túc, lại sai thủy bộ quân đến đánh phá viện binh bên ngoài của Cảnh Hiến. Quân Tống dốc sức công thành, tháng 5 chiếm được, chém đầu Phù Long Đại, thu được vàng bạc tạp vật không sao kể xiết. Thừa thắng truy kích, chiếm luôn Lâm Ấp. Cha con Dương Mại đều bỏ chạy thoát thân. Đồ trân dị thu được đều là những vật báu chưa có tên. Thượng khen công lao tướng soái, phong Tiêu Cảnh Hiến làm Trì tiết đốc quân sự 2 quận Uất Lâm, Ninh Phố. Các tướng '''Đồng Lâm Chi (童林之)''', '''Phó Úy Tổ (傅蔚祖)''' tử trận, đều được truy tặng quan chức. Xét Truyện của Thẩm Diễn Chi (沈演之傳): Thượng muốn đánh Lâm Ấp, triều thần không đồng ý, riêng Thứ sử Quảng Châu là '''Lục Huy (陸徽)''' cùng Diễn Chi tán thành. Khi bình định xong, ban cho quần thần vàng, nô lệ (sinh khẩu), đồ đồng. Diễn Chi được thưởng nhiều nhất. Xét Truyện của Tông Xác (宗慤傳): Năm Nguyên Gia thứ 22 (năm 445 dương lịch), việc đánh Lâm Ấp khởi sự, Xác tự xin đi. Nghĩa Cung cử Xác là người can đảm dũng mãnh. Khi vây thành Khu Túc, Lâm Ấp sai tướng '''Phạm Tỳ Sa Đạt (范毗沙達)''' đến cứu. Quân Tống bị giặc đánh bại một trận. Xác bèn chia quân làm nhiều đường, hạ cờ xí ngầm tiến, đánh tan giặc, hạ Khu Túc, tiến vào Tượng Phố (象浦). Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại dốc hết quân ra cự chiến, cho voi mặc giáp trụ, đông đảo không biên giới, sĩ tốt không địch nổi. Xác nói: "Ta nghe sư tử uy phục bách thú", bèn làm hình sư tử để chống voi. Voi quả nhiên kinh sợ chạy loạn, quân giặc tan rã. Chiếm được Lâm Ấp, thu bảo vật dị vật không sao kể xiết. Xét Lương Thư (梁書): Dương Mại sợ, muốn nộp 10,000 cân vàng, 100,000 cân bạc để chuộc tội nhưng đại thần '''Độc Tăng Đạt (毒僧達)''' can ngăn nên thôi. Khi chiếm thành, quân Tống đem nấu chảy các tượng vàng, được mấy trăm nghìn cân vàng. Hòa Chi sau bị bệnh chết, thấy hình bóng người Hồ làm quái. Xét Thủy Kinh Chú (水經注): Năm Nguyên Gia, Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Dương Mại dốc nước chạy đêm, trốn vào núi rừng. Quân rút đi, Dương Mại về nước. Nhà cửa đất nước tan hoang, người thời ấy chẳng còn ai, ông đau đớn phẫn uất, năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' thứ 23 (năm 446 dương lịch) thì chết. Trước đó, lúc mẹ Dương Mại mang thai, mơ thấy người trải chiếu vàng Dương Mại cho con rơi vào, ánh sáng rực rỡ. Cha là Hồ Đạt chết, con lên ngôi, được lòng người, tự lấy điềm mộng làm điều lành cho nước. Thái tử ban đầu tên Đốt, sau khi Dương Mại chết, Đốt 19 tuổi lên ngôi, vì mộ đức của tiên quân nên lại lấy tên Dương Mại. Hai đời cha con cùng tên, biết là điềm Lâm Ấp sắp mất vậy. '''Năm Hiếu Kiến (孝建) thứ 2 (năm 455 dương lịch) đời Vũ Đế (武 Đế), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 đời Thế Tổ (tức Hiếu Vũ Đế), Lâm Ấp lại sai Trường sử là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' phụng mệnh sứ giả đến cống nạp, phong Long Bạt làm Dương võ Tướng quân." '''Năm Đại Minh (大明) thứ 2 (năm 458 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Đại Minh (大明)''' thứ 2, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' lại sai Trường sử là '''Phạm Lưu (范流)''' dâng biểu, tiến cống đồ dùng bằng vàng bạc cùng các vật phẩm như hương liệu, vải vóc." '''Năm Thái Dự (泰豫) thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 9 (năm 491 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝) nhà Nam Tề, Phạm Đương Căn Thuần (范當根純) nước Lâm Ấp sai sứ vào cống, bắt đầu phong làm An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Cao Đế bản kỷ không chép. Xét Nam Sử (南史) - Tề Vũ Đế bản kỷ: "Tháng 5 năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, nước Lâm Ấp dâng chiếu vàng (kim điệm)." Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 (năm 455 dương lịch), bắt đầu lấy Trường sử Lâm Ấp là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' làm Dương võ Tướng quân. Con cháu Dương Mại (楊邁) truyền nối nhau làm vua, nhưng chưa có vị hiệu. Người Di là '''Phạm Đương Căn Thuần (范當根純)''' đánh chiếm nước ấy,篡 vị làm vua. Năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, sai sứ cống nạp chiếu vàng cùng các vật phẩm. Chiếu rằng: 'Lâm Ấp nhỏ bé ở nơi xa xôi, đời đời phục tùng vương hóa. Đương Căn Thuần nay tỏ lòng thành khẩn, suất lãnh liêu thuộc, lập công ở phương xa, thật đáng khen ngợi, nên ban tước hiệu để mở rộng ơn trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương'. Sau đó, con cháu của Phạm Dương Mại là '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' suất lĩnh chúng nhân đánh Đương Căn Thuần, lấy lại được bản quốc." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 10 (năm 492 dương lịch), lấy Phạm Chư Nông làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 2 (năm 495 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), tiến phong hiệu của Phạm Chư Nông làm Trấn Nam Tướng quân.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Thái (永泰) thứ 1 (năm 498 dương lịch), lấy con của Phạm Chư Nông là Văn Khoản (文款) làm Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Vĩnh Thái (永泰)''' thứ 1, Chư Nông vào triều, đi biển gặp gió bão bị chết đuối. Lấy con là '''Văn Khoản (文款)''' làm Giả tiết, Đô đốc duyên hải quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương. Khoảng năm '''Kiến Hưng (建興)''' (năm 313 – 317 dương lịch) đời nhà Tấn, nô bộc của di soái quận Nhật Nam (日南) là '''Phạm Tr稚 (范稚)''' tên là '''Văn (文)''' thường đi buôn bán, thấy được chế độ nước thượng quốc, bèn dạy vua Lâm Ấp là '''Phạm Dật (范逸)''' xây thành trì, lâu đài điện các. Vua đội mũ thiên quan giống như mũ Phật, thân quàng chuỗi anh lạc thơm. Người trong nước hung hãn, quen thuộc núi sông, giỏi chiến đấu, thổi vỏ ốc (hải lệ) thay kèn, người thảy đều ở trần. Bốn mùa ấm áp, không sương tuyết. Quý nữ khinh nam. Gọi thầy cúng (sư vu) là Bà-la-môn (婆羅門). Những người trong họ hàng cưới hỏi nhau, người nữ trước tiên sai người đến hỏi cưới chồng. Con gái khi gả đi mặc áo Già-lam (迦藍衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, trên đầu đội hoa báu. Khi có tang thì cắt tóc gọi là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Ở vùng biên viễn có loài chim Linh Thứu (靈鷲鳥), biết người sắp chết bèn tụ tập tại nhà đó, ăn hết thịt người chết rồi bay đi, sau đó người ta lấy xương thiêu thành tro, ném xuống biển gọi là thủy táng. Sắc da lấy đen làm đẹp. Các nước phương Nam thảy đều như vậy. Tại thành Khu Lật (區栗城), đặt cột biểu cao 8 thước (khoảng 2.6 mét), đo bóng mặt trời về phía Nam được 8 tấc (khoảng 26 cm). Từ Lâm Ấp đi về hướng Tây Nam hơn 3,000 dặm là đến nước Phù Nam (扶南)." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 9 (năm 510 dương lịch) đời Lương Vũ Đế (梁武帝), Lâm Ấp sai sứ dâng vượn trắng, xuống chiếu phong Phạm Thiên Cải làm Lâm Ấp vương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ: Tháng 4 năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9, nước Lâm Ấp sai sứ dâng 1 con vượn trắng. Xét Lâm Ấp truyền: Trong những năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' (454 – 456), '''Đại Minh (大明)''' (457 – 464) đời Tống Hiếu Vũ Đế, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' liên tiếp sai Trường sử dâng biểu cống nạp. Năm '''Thái Dự (泰豫)''' thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế, lại sai sứ dâng sản vật địa phương. Trong những năm '''Vĩnh Minh (永明)''' (483 – 493) đời nhà Tề, '''Phạm Văn Tán (范文贊)''' nhiều lần sai sứ cống nạp. Năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9 (năm 510 dương lịch), con của Văn Tán là '''Thiên Cải (天凱)''' dâng vượn trắng. Chiếu rằng: "Lâm Ấp vương '''Phạm Thiên Cải (范天凱)''' ở nơi hải ngoại, có lòng thành khẩn, từ xa tu sửa chức phận cống nạp, thật đáng khen ngợi. Nên ban tước hiệu, phủ thêm vinh trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Uy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 10 (năm 511 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 11 (năm 512 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 13 (năm 514 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét các mục trên theo Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 13, Thiên Cải liên tiếp sai sứ dâng sản vật, chẳng bao lâu sau thì bệnh mất, con là '''Bật Thụy Bạt Ma (弼毳跋摩)''' lập, dâng biểu cống nạp." '''Tháng 6 năm Phổ Thông (普通) thứ 7 (năm 526 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Phổ Thông (普通)''' thứ 7, vua '''Cao Thức Thắng Khải (高式勝鎧)''' sai sứ dâng sản vật. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 3 năm Đại Thông (大通) thứ 1 (năm 527 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Trung Đại Thông (中大通)''' thứ 2, hành Lâm Ấp vương '''Cao Thức Luật Đà La Bạt Ma (高式律陁羅跋摩)''' sai sứ cống nạp. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 7 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 6 (năm 534 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Những năm Khai Hoàng (開皇) đời Tùy Văn Đế (隋文帝), Lâm Ấp sai sứ vào cống.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Tổ tiên Lâm Ấp nhân lúc loạn '''Trưng Trắc (徵側)''' người con gái Giao Chỉ cuối thời Hán, con của Công tào là '''Khu Liên (區連)''' giết huyện lệnh, tự hiệu làm vua, không con, cháu ngoại là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, chết, con là '''Dật (逸)''' lập. Người Nhật Nam (日南) là '''Phạm Văn (范文)''' nhân lúc loạn làm nô bộc cho Dật, bèn dạy cho cách xây cung thất, chế khí giới. Dật rất tín nhiệm, sai Văn cầm quân, cực được lòng người. Văn nhân đó ly gián các con cháu của Dật, kẻ thì bỏ chạy người bị đày. Khi Dật chết không có con nối, Văn tự lập làm vua. Về sau '''Phạm Phật (范佛)''' bị Dương uy tướng quân nhà Tấn là '''Đái Hoàn (戴桓)''' đánh phá; Thứ sử Giao Châu nhà Tống là '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' cầm quân đánh sâu vào biên cảnh; đến thời nhà Lương, nhà Trần cũng thông sứ qua lại. Nước ấy dài rộng mấy 1,000 dặm, đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống với Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi từ vỏ sò (thần hôi) trát lên, cửa hướng về phía Đông. Quan cao cấp có 2 hạng: một là '''Tây Na Bà Đế (西那婆帝)''', hai là '''Tát Bà Địa Ca (薩婆地歌)'''. Thuộc quan có 3 cấp: thứ nhất là '''Luân Đa (倫多)''', thứ đến là '''Ca Luân Trí Địa (歌倫致地)''', thứ đến là '''Ất Tha Già Lan (乙他伽蘭)'''. Quan ở ngoài chia làm hơn 200 bộ, chức trưởng quan gọi là '''Phất La (弗羅)''', thứ đến gọi là '''Khả Luân (可輪)''', giống như sự sai biệt của Mục tể vậy. Vua đội mũ hoa vàng, hình dáng như mũ Chương phủ. Mặc vải Triều hà, đeo anh lạc châu ngọc, chân đi giày da, đôi khi khoác áo bào gấm. Con em nhà lành thị vệ có khoảng 200 người, đều cầm đao trang trí vàng. Có cung tên, đao sáo, lấy tre làm nỏ, bôi độc vào mũi tên. Nhạc có đàn cầm, sáo, tỳ bà, đàn 5 dây, khá giống Trung Quốc. Mỗi khi đánh trống để cảnh báo chúng dân, thổi vỏ ốc để tập hợp quân đội. Người ở đó mắt sâu mũi cao, tóc xoăn, da đen. Tục đều đi chân đất, dùng khổ vải quấn thân. Tháng mùa đông thì mặc áo bào, phụ nữ búi tóc hình chóp, trải chiếu lá. Mỗi khi có cưới hỏi, lệnh cho người mai mối mang vòng vàng bạc, 2 hũ rượu, mấy con cá đến nhà gái. Sau đó chọn ngày, nhà trai họp thân khách, múa hát đối đáp. Nhà gái mời 1 người Bà-la-môn (婆羅門) đưa cô gái đến nhà trai, chú rể rửa tay, nhân đó dắt cô gái trao cho. Vua chết 7 ngày thì táng, người có quan tước 3 ngày, dân thường 1 ngày. Đều dùng hòm đựng thây, đánh trống múa hát dẫn đường, dùng xe khiêng đến bên nước, chất củi đốt đi, thu lại xương còn sót, nếu là vua thì đặt trong hũ vàng, dìm xuống biển. Người có quan thì dùng hũ đồng dìm ở cửa biển, dân thường dùng hũ sành tiễn đưa xuống sông. Nam nữ đều cắt tóc, theo đám tang đến bên nước, hết lòng thương tiếc mới thôi, về nhà thì không khóc. Cứ mỗi 7 ngày lại đốt hương rắc hoa, lại khóc hết lòng sầu thảm mới thôi. Trọn 7 lần 7 (49 ngày) thì dứt. Đến 100 ngày và 3 năm cũng làm như vậy. Người đều thờ Phật, văn tự giống với Thiên Trúc (天竺). Sau khi Cao Tổ bình định nhà Trần, [Lâm Ấp] bèn sai sứ dâng sản vật địa phương, về sau triều cống bị đoạn tuyệt. '''Tháng 4 năm Đại Nghiệp (大業) thứ 1 (năm 605 dương lịch) đời Dạng Đế (煬帝), Đại tướng quân Lưu Phương đánh Lâm Ấp, phá được.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Bấy giờ thiên hạ vô sự, quần thần nói Lâm Ấp có nhiều báu vật kỳ lạ. Cuối năm '''Nhân Thọ (仁壽)''' (năm 604 dương lịch), Thượng sai Đại tướng quân '''Lưu Phương (劉方)''' làm Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu (歡州), suất lĩnh Thứ sử Khâm Châu '''Ninh Trường Chân (甯長真)''', Thứ sử Hoan Châu '''Lý Ng晕 (李暈)''', Khai phủ '''Tần Hùng (秦雄)''' cùng hơn 10,000 bộ kỵ và mấy 1,000 tội nhân đi đánh. Vua nước ấy là '''Phạn Chí (梵志)''' suất lĩnh đồ đảng cưỡi voi lớn ra chiến đấu, quân của Phương bất lợi. Phương bèn đào nhiều hố nhỏ, lấy cỏ phủ lên trên, nhân đó dùng binh khiêu chiến, Phạn Chí dốc toàn quân ra dàn trận. Phương đánh rồi giả vờ chạy, Phạn Chí đuổi theo đến chỗ có hố, quân chúng sa hố rất nhiều, lại kinh hãi lẫn nhau, quân bèn loạn. Phương tung binh đánh, đại phá quân giặc. Phạn Chí thua trận liên tiếp, bèn bỏ thành mà chạy. Phương vào kinh đô nước ấy, thu được 18枚 (tấm/mộc) bài vị thờ trong miếu, thảy đều đúc bằng vàng, đại khái là nước ấy đã trải qua 18 đời. Phương rút quân về, Phạn Chí lại chiếm đất cũ, sai sứ tạ tội, từ đó triều cống không tuyệt. Xét Truyện của Lưu Phương (劉方傳): Năm '''Nhân Thọ (仁壽)''', Phương được trao chức Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu, lấy Thượng thư Hữu thừa '''Lý Cương (李綱)''' làm Tư mã để kinh lược Lâm Ấp. Phương sai Ninh Trường Chân, Lý Ng晕, Tần Hùng đem bộ kỵ ra từ Việt Thường (越常), tự mình suất lãnh Đại tướng quân '''Trương Tốn (張愻)''', Tư mã Lý Cương theo quân thủy hướng đến Tỷ Cảnh (比景). Sau khi Cao Tổ băng hà, Dạng Đế lên ngôi, tháng Giêng năm '''Đại Nghiệp (大業)''' thứ 1 (năm 605 dương lịch), quân đến cửa biển, vua Lâm Ấp Phạn Chí sai quân giữ nơi hiểm yếu, Phương đánh đuổi đi. Quân đến sông Xà Lê (闍黎江), giặc dựa vào bờ Nam lập rào chắn. Phương bày cờ xí rầm rộ, đánh kim gõ trống, giặc sợ hãi tan rã. Đã qua sông, đi được 30 dặm, giặc cưỡi voi lớn từ 4 mặt kéo đến, Phương dùng nỏ bắn voi, voi trúng thương quay lại giẫm vào trận đồ quân giặc, vương sư lực chiến, giặc chạy vào rào chắn, quân Tùy phá được, bắt và chém hàng 10,000 người. Sau đó vượt Khu Túc (區粟), qua Lục Lý (六里), trước sau gặp giặc trận nào cũng bắt được. Tiến đến sông Đại Duyên (大緣江), giặc dựa nơi hiểm lập rào, lại đánh phá được. Đi qua cột đồng của '''Mã Viện (馬援)''', đi về phía Nam 8 ngày thì đến kinh đô nước ấy. Vua Lâm Ấp Phạn Chí bỏ thành chạy ra biển, Phương thu được bài vị miếu chủ bằng vàng, khắc đá ghi công rồi về. Sĩ tốt chân bị sưng phù, người chết mất 14 – 15 phần trong tổng số 10 phần (tức 40% – 50%). Phương trên đường về gặp bệnh mà mất, Đế rất thương tiếc. === Lâm Ấp bộ hối khảo 2 (林邑部彙考二)=== '''Những năm Vũ Đức (武德) đời Đường Cao Tổ (唐高祖), nước Hoàn Vương (環王) sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Nước Hoàn Vương vốn là Lâm Ấp (林邑), còn gọi là Chiêm Bất Lao (占不勞), cũng gọi là Chiêm Bà (占婆), nằm thẳng phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm. Đất đai chiều Đông Tây rộng hơn 300 dặm, chiều Nam Bắc 1,000 dặm. Phía Tây giáp núi Vụ Ôn (霧溫山) của nước Chân Lạp (真臘), phía Nam đến Bôn Lãng Đà Châu (奔浪陀州). Ở phía Nam có cửa biển lớn (đại phố) có núi Ngũ Đồng Trụ (五銅柱山), hình như cái lọng che, phía Tây là núi đá trùng điệp, phía Đông sát biển, là nơi Mã Viện (馬援) nhà Hán trồng cột đồng vậy. Đất ấy mùa đông ấm, nhiều sương mưa. Sản sinh hổ phách, đười ươi, thú Kết Liêu, chim Kết Liêu. Lấy tháng 2 làm đầu năm, lúa chín 2 vụ một năm. Lấy nước cau làm rượu, lá dừa làm chiếu. Tục hung hãn, giỏi chiến đấu, dùng xạ hương bôi thân, ngày bôi 2 lần tắm 2 lần. Khi bái yết thì chắp tay sát trán. Có văn tự. Thích đạo Phù Đồ (Phật giáo). Đúc tượng vàng bạc, có cái lớn đến 10 vòng ôm. Gọi vua là 'Dương Bồ Cô' (陽蒲逋), vợ vua là 'Đà Dương A Hùng' (陀陽阿熊), Thái tử là 'A Trường Cô' (阿長逋), Tể tướng là Bà Mạn Địa (婆漫地). Nơi vua ở gọi là Chiêm Thành (占城), nơi ở khác gọi là Tề Quốc (齊國), Bồng Bì Thế (蓬皮勢). Vua mặc vải bạch điệp (vải bông trắng) cổ bối, quấn chéo qua cánh tay, sức chuỗi hạt vàng làm anh lạc, tóc xoăn, đội mũ hoa vàng như mũ Chương phủ. Vợ mặc váy ngắn bằng vải cổ bối màu triều hà, mũ và anh lạc giống như vua. Vua có 5,000 vệ binh, chiến đấu cưỡi voi, dùng mây làm áo giáp, dùng tre làm cung tên, suất lĩnh 1,000 voi, 400 ngựa, chia làm trước sau. Không đặt hình phạt, kẻ có tội thì cho voi giẫm, hoặc đưa đến núi Bất Lao (不勞山) cho tự chết. Năm Nhân Thọ (仁壽) đời Tùy, sai Tướng quân Lưu Phương (劉芳) [Tùy thư chép là Lưu Phương 劉方] đánh nơi đó, vua là Phạm Phạn Chí (范梵志) bỏ chạy. [Nhà Tùy] lấy đất ấy làm 3 quận, đặt thủ lệnh, nhưng vì đường xá trở ngại không thông, Phạn Chí gom góp tàn quân riêng xây quốc ấp. Những năm Vũ Đức (618 – 626 dương lịch), lại sai sứ dâng sản vật, Cao Tổ cho bày nhạc Cửu Bộ (九部樂) để yến đãi." '''Những năm Trinh Quán (貞觀) đời Thái Tông (太宗), Lâm Ấp sai sứ vào dâng lễ.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Thời Trinh Quán, vua Đầu Lê (頭黎) dâng voi thuần, xích lưu (vàng ròng), đai ngũ sắc, vải triều hà, cây lửa (hỏa thụ), cùng đi với sứ giả hai nước Bà Lợi (婆利), La Sát (羅剎). Lời lẽ sứ giả không cung kính, quần thần xin hưng binh hỏi tội. Thái Tông nói: 'Xưa Phù Kiên muốn nuốt nhà Tấn, quân có 1,000,000 người nhưng một trận là mất sạch. Nhà Tùy đánh Cao Ly, hằng năm điều động phu phen khiến lòng người oán hận, rồi chết trong tay kẻ thất phu. Trẫm há dám vọng bàn việc phát binh sao?'. Bèn tha cho không hỏi đến. [Lâm Ấp] lại dâng vẹt ngũ sắc, vẹt trắng, chúng thường kêu lạnh, vua hạ chiếu trả về. Đầu Lê chết, con là Trấn Long (鎮龍) lập, dâng tê giác Thông Thiên cùng các thứ báu vật." '''Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (năm 645 dương lịch), vua Lâm Ấp Phạm Trấn Long (范鎮龍) bị ám sát, người trong nước lập Gia Cát Địa (諸葛地) làm vua.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Năm thứ 19, Ma Ha Mạn Đa Già Độc (摩呵慢多伽獨) giết Trấn Long, diệt tông tộc họ Phạm. Người trong nước lập con rể của Đầu Lê là người Bà-la-môn (婆羅門) làm vua, các đại thần cùng phế đi, lại lập con gái của Đầu Lê làm vương. Gia Cát Địa là con của cô vua Đầu Lê, cha gặp tội phải trốn sang Chân Lạp (真臘). Vua nữ không thể định quốc, đại thần cùng đón Gia Cát Địa về làm vua, gả vua nữ cho." '''Những năm Chí Đức (至德) đời Túc Tông (肅宗), Lâm Ấp đổi hiệu thành Hoàn Vương (環王).''' Xét Đường Thư (唐書) - Túc Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Từ năm Vĩnh Huy (永徽) đến Thiên Bảo (天寶) phàm 3 lần vào dâng cống, sau năm Chí Đức (năm 756 dương lịch) đổi hiệu là Hoàn Vương." '''Những năm Nguyên Hòa (元和) đời Hiến Tông (憲宗), Đô hộ An Nam Trương Chu bắt Đô thống và 59 vương tử nước Hoàn Vương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Đầu năm Nguyên Hòa (năm 806 dương lịch), [Hoàn Vương] không vào triều cống, Đô hộ An Nam '''Trương Chu (張舟)''' bắt Đô thống các châu Hoan, Ái ngụy của chúng, chém 30,000 thủ cấp, bắt làm tù binh 59 vương tử, thu được voi chiến, thuyền chiến và áo giáp." === Lâm Ấp - Tạp ký (雜記) - 7 mục=== * '''Cây cau (Binh lang thụ):''' Thân to hơn 1 trượng, cao hơn 10 trượng, vỏ như đồng xanh, đốt như tre đốm. Gốc không to, ngọn không nhỏ, xa gần thành rừng, 1,000 – 10,000 cây như một. Dáng tươi đẹp không có cành, đỉnh đầu có lá, lá xòe ra như nan quạt. Nhìn lên xa xăm như khóm chuối trên ngọn tre, gió thổi thì lá động tựa như quạt lông quét trời. Dưới lá có mấy buồng, mỗi buồng đính 10 số quả, nhà có mấy 100 cây nhìn thưa thớt như dây thừng treo vậy. * '''Chim Linh Thứu (靈鷲):''' Ở biên giới xa xôi phía Tây Nam có chim Linh Thứu, biết được cát hung. Thấy người sắp chết thì rình ăn sạch thịt thây mới đi. Người nhà lấy xương thiêu thành tro ném xuống nước. * '''Cá bay (Phi ngư):''' Cánh như cánh ve, khi bơi thì lướt mây, khi lặn thì xuống đáy biển. * '''Đất đai:''' Trải dài 60 dặm. Đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi vỏ sò trát lên. Đều mở cửa phía Bắc hướng về mặt trời, hoặc Đông Tây không định. * '''Vua Phạm Văn (范文):''' Đúc đồng làm bò, làm nhà bằng đồng, làm hành cung. * '''Vua Minh Đạt (明達):''' Dâng nhẫn kim cương (Kim cương chỉ hoàn). * '''Núi vàng (Kim Sơn):''' Từ Lâm Ấp đi đến Kim Sơn hơn 30 dặm, xa nhìn thấy Kim Sơn cao ngất mà sắc đỏ chiếu rọi như bầu trời. Trong khe hốc có vàng sinh ra hình như sâu bọ, nhỏ thì như ruồi xanh, lớn thì như ong ve, đêm đi tỏa sáng như đom đóm. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 5tsogqgdmjbnsfagymab72wsognnbkz 204724 204721 2026-04-15T07:47:19Z Mrfly911 2215 204724 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第096卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 96''' | trước= [[../quyển 095|quyển 95]] | sau= [[../quyển 097|quyển 97]] | ghi chú = }} == Cầm Nhân bộ hối khảo (禽人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Cầm (禽人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Cầm (禽人) dâng cỏ gian (菅)." *(Chú thích: Cũng là người Man phương Đông Nam, cỏ gian vốn bền dai). == Lộ Nhân bộ hối khảo (路人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Lộ (路人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Lộ (路人) dâng trúc lớn." *(Chú thích: Người Lộ là người Man phương Đông, cống nạp trúc lớn). == Bặc Nhân bộ hối khảo (卜人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Bặc (卜人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Bặc (卜人) dâng đan sa (丹沙)." *(Chú thích: Người Bặc là người Man phương Tây Nam, nơi sản sinh ra đan sa). == Dương Châu bộ hối khảo (揚州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Dương Châu (揚州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Dương Châu (揚州) dâng cá ngu ngu (禺禺), tên là Giải Du Khấu (解隃寇)." *(Chú thích: Cũng là một loài cá lạ). == Quyền Phù bộ hối khảo (權扶部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Quyền (權)''' và '''Phù (扶)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Quyền (權) và Phù (扶) dâng chim tam mục (三目 - chim 3 mắt)." *(Chú thích: Quyền và Phù là người Man phương Nam, hình dáng rất nhỏ bé). == Bạch Châu bộ hối khảo (白州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Bạch Châu (白州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Bạch Châu (白州) dâng cây bắc lư (北閭). Cây bắc lư ấy da nó như tấm khiên, đốn lấy gỗ nó để làm xe, đi mãi mà không hỏng." *(Chú thích: Bạch Châu là người Man phương Đông Nam, giáp giới với tộc Bạch Dân (白民)). == Trường Công bộ hối khảo 1 (長肱部彙考一) 〈Trường tý - 長臂〉== '''Thời nhà Chu (周)''' '''Chu Mục vương (穆王)''' chinh phạt phía Tây, phong cho người '''Trường Công (長肱)''' ở phía Tây sông '''Hắc Thủy (黑水)'''. Xét: Mục Thiên tử truyện (穆天子傳) có chép như vậy. *(Chú thích: Tức là "người tay dài" vậy. Thân hình như người Trung Quốc, nhưng cánh tay dài 3 trượng (khoảng 10 mét). Thời nhà Ngụy (魏) từng thu được vạt áo của người này ở vùng Biển Đỏ (Xích hải - 赤海)). == Trường Công bộ hối khảo 2 (長肱部彙考二)== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Trường Tý (長臂國 - Nước tay dài)''', bắt cá dưới nước, mỗi tay cầm 1 con cá. Có thuyết nói nước này ở phía Đông nước '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', bắt cá ở trong biển. *(Chú thích: Thuyết cũ nói rằng: Tay người nước ấy buông thõng xuống chạm đất. Những năm Hoàng Sơ (黃初) (năm 220 – 226 dương lịch) thời nhà Ngụy (魏), Thái thú Nguyên Thố (元菟) là Vương Kỳ (王頎) thảo phạt vua nước Cao Câu Ly (高句麗) là Cung (宮), đuổi gấp đến cùng, đi qua nước Hoạt Thư (活沮), biên giới phía Đông giáp biển lớn, gần nơi mặt trời mọc. Vương Kỳ hỏi các bậc kỳ lão rằng: "Phía Đông biển có người nữa không?". Họ đáp: "Thường thu được một chiếc áo vải ở trong biển, thân áo to như người Trung Quốc, nhưng 2 ống tay dài 3 thước (khoảng 1 mét)". Đó chính là áo của người tay dài vậy. Xét theo sách Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Trường Tý ở phía Đông biển, người buông tay chạm đất. Xưa có người ở trong biển thu được 1 chiếc áo vải, mỗi ống tay dài hơn 1 trượng (khoảng 3.3 mét)). == Trường Công bộ nghệ văn (長肱部藝文)== '''"Trường Tý quốc tán" (長臂國贊 - Bài tán về nước tay dài)''' '''Tấn (晉) · Quách Phác (郭璞)''' "Đôi tay dài 3 thước, thân thể như người thường. Kẻ kia là ai vậy? Chính dân nước Trường Tý. Cậy đôi chân dài, bắt cá bến bờ xa." == Hoàng Chi bộ hối khảo (黃支部彙考)== '''Thời nhà Hán (漢)''' Mùa xuân năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch) đời '''Bình Đế (平帝)''', nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' dâng nộp tê ngưu (tê giác). Xét: Hán Thư (漢書) - Bình Đế bản kỷ chép như vậy. *(Chú thích: '''Ứng Thiệu (應劭)''' nói: "Hoàng Chi ở phía Nam của Nhật Nam (日南), cách kinh sư 30,000 dặm." '''Sư Cổ (師古)''' nói: "Tê giác hình trạng như trâu nước, đầu giống lợn mà có 4 chân, loại như voi, màu đen, có 1 sừng ở trước trán, trên mũi lại có sừng nhỏ nữa"). Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Nam Man truyện: "'''Vương Mãng (王莽)''' phụ chính, vào năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch), nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' ở phía Nam của '''Nhật Nam (日南)''' đến dâng nộp tê ngưu. Phàm những nơi vùng '''Giao Chỉ (交趾)''' thống lĩnh, tuy có đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác biệt, phải qua nhiều lần dịch mới thông. Người ở đó như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt. Búi tóc sau gáy, đi chân đất, dùng vải khoét lỗ xỏ qua đầu mà mặc. Sau này khá nhiều tội nhân người Trung Quốc bị đày đến, cho ở xen kẽ giữa họ, nên họ mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy được lễ nghi giáo hóa." Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước '''Hoàng Chi (黃支國)''', thời Hán đã thông sứ, ở phía Nam của vùng biển hợp với '''Nhật Nam (日南)''' 30,000 dặm, phong tục đại lược tương tự với vùng '''Châu Nhai (珠崖)'''. Từ thời '''Vũ Đế (武帝)''' trở đi thảy đều đến cống nạp, có minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá lạ vật lạ. Hạt châu lớn có vòng tròn đến dưới 2 tấc mà cực tròn, đặt trên đất bằng thì lăn suốt ngày không dừng." == Mãn Lạt Gia bộ hối khảo (滿剌加部彙考) Malacca == '''〈Ca La (哥羅), Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅), Trọng Già La (重迦羅)〉''' ===Thời nhà Hán (漢)=== Nước '''Ca La (哥羅國)''' thời Hán đã nghe danh tại Trung Quốc. Xét: Hán Thư (漢書) không chép. Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước Ca La (哥羅國), thời Hán đã nghe danh, ở phía Đông Nam nước '''Pán Pán (槃槃)''', cũng gọi là nước '''Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅國)'''. Vua họ '''Thỉ Lợi Bà La (矢利婆羅)''', tên là '''Mễ Thất Bát La (米失缽羅)'''. Thành quách xây bằng đá, trên thành có lầu khuyết, cửa có cấm vệ, cung thất lợp bằng cỏ. Nước có 24 châu mà không có huyện. Trong sân bày nghi trượng, có cờ tiết trang trí bằng lông công. Binh khí có cung, tên, đao, sáo, giáp da. Chinh phạt đều cưỡi voi, 1 đội có 100 thớt voi, mỗi thớt voi có 100 người hộ vệ. Yên voi có móc ngăn, trong đó ngồi 4 người: 1 người cầm khiên, 1 người cầm cung tên, 1 người cầm gậy nhọn, 1 người cầm đao. Thuế khóa mỗi người nộp 1 thù bạc. Trong nước không có tơ tằm, gai sợi, chỉ sản xuất vải cát bối (vải bông), gia súc có bò và ít ngựa. Theo tục lệ, kẻ không có chức quan thì không được búi tóc trên đầu. Lại có tục gả cưới, lúc đầu hỏi vợ chỉ dùng trầu cau làm lễ, kẻ nhiều đến 200 mâm; hoặc lúc cưới chỉ lấy vàng làm tài vật, kẻ nhiều đến 200 lạng. Đàn bà gả xong thì theo họ chồng. Âm nhạc có tỳ bà, sáo ngang, chũm chọe đồng, trống sắt, kèn, ốc loa, đánh trống. Khi chết thì thiêu xác, bỏ tro vào hũ vàng, dìm xuống biển lớn." === Thời nhà Minh (明)=== '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403 dương lịch), Thành Tổ (成祖) sai sứ chiêu dụ nước Mãn Lạt Gia (滿剌加國).''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Mãn Lạt Gia ở phía Nam nước '''Chiêm Thành (占城)''', thuận gió 8 ngày thì đến '''Long Nha Môn (龍牙門)''', lại đi về phía Tây 2 ngày là tới. Có thuyết nói đó là đất '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' thuộc nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' đời cổ. Tháng 10 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 1 (năm 1403 dương lịch), sai Trung quan '''Doãn Khánh (尹慶)''' sứ đến nơi đó, ban cho gấm thêu vàng, màn trướng dát vàng và các vật dụng. Đất ấy không có vua, cũng không xưng quốc hiệu, lệ thuộc vào nước '''Xiêm La (暹羅)''', mỗi năm nộp 40 lạng vàng làm thuế. Doãn Khánh đến nơi, tuyên thị uy đức cùng ý định chiêu mời. Tù trưởng là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' cả mừng, sai sứ theo Khánh vào triều, dâng sản vật địa phương." '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào cống, phong làm Mãn Lạt Gia Quốc vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Tháng 9 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch) đến kinh sư, Hoàng đế khen ngợi, phong làm '''Mãn Lạt Gia Quốc vương (滿剌加國王)''', ban cho cáo ấn, lụa màu, áo mặc, lọng vàng, lại mệnh cho Doãn Khánh đi cùng. Sứ giả thưa rằng: "Vua tôi hâm mộ nghĩa cả, nguyện cùng Trung Quốc liệt vào hàng các quận, hằng năm dâng nộp lễ cống, xin phong cho ngọn núi ở đó làm trấn sơn của một nước." Hoàng đế nghe theo, soạn văn bia khắc trên núi, cuối bài thêm bài thơ rằng: "Biển lớn Tây Nam thông Trung Quốc, đổ trời rót đất muôn đời cùng... Bia đá chữ lớn biểu lòng trung, núi Tây nước ngươi vĩnh viễn phong làm trấn." Nhóm người Doãn Khánh lại đến, nhà vua càng mừng, tiếp đãi lễ độ tăng thêm. Xét Minh Hội Điển (明會典): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch), tù trưởng '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' sai sứ dâng biểu bằng lá vàng đến triều cống, chiếu phong làm Quốc vương. Sản vật cống nạp gồm: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hạt mã não, hạt san hô, nhẫn nạm vàng, vẹt, gấu đen, vượn đen, hoẵng trắng, vải Tây Dương, các loại hương liệu như trầm hương, nhũ hương, đinh hương... và hắc tiểu tư (nô lệ đen). Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), tự vương (vua nối ngôi) là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' thân hành dẫn vợ con đến triều kiến, được ban thưởng hậu hĩnh rồi về. Từ đó triều cống không dứt. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): Nước Mãn Lạt Gia chính là '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' cổ. Thời Hán thường thông với Trung Quốc, sau bị nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' ràng buộc. Đốn Tốn ở trên núi đảo giữa biển, đất rộng 1,000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, thảy đều thuộc về '''Phù Nam (扶南)'''. Phía Tây giáp các nước ngoài biên giới Thiên Trúc (天竺), thành nước ấy tiếp giáp '''Đồ Bà (闍婆 Java)''' nên còn tên là '''Đại Đồ Bà (大闍婆)''', nay gọi là '''Trọng Già La (重迦羅)'''. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411 dương lịch), Mãn Lạt Gia dẫn vợ con vào triều dâng cống. Vua ngự tại cửa Phụng Thiên, ban yến thưởng thêm hậu hĩnh.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con và bồi thần hơn 540 người đến triều kiến. Đến ngoại ô, vua mệnh cho Trung quan '''Hải Thọ (海壽)''', Lang trung Bộ Lễ '''Hoàng Thường (黃裳)''' đón yến lao. Khi vào triều, Hoàng đế thân hành ban yến tại điện Phụng Thiên, Vương phi và người dưới được ban yến nơi khác. Ban cho vua 2 bộ áo rồng thêu vàng, 1 bộ áo kỳ lân, đồ vàng bạc, màn chăn đều đủ, Vương phi và người dưới đều được ban thưởng. Lúc sắp về, ban cho đai ngọc, nghi trượng, yên ngựa, 100 lạng vàng, 500 lạng bạc, 400,000 quán tiền giấy, 2,600 quán tiền đồng, 300 xấp gấm và 1,000 xấp lụa. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414 dương lịch), Quốc vương Mãn Lạt Gia qua đời, con trai vào triều báo tang, liền mệnh cho tập phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 12 (năm 1414 dương lịch), thế tử là '''Mẫu Oát Tát Can Đích Nhi Sa (母斡撒干的兒沙)''' đến triều kiến báo tang cha, liền mệnh cho nối ngôi, ban cho vàng tiền. Từ đó về sau hoặc liên tiếp các năm, hoặc cách năm lại vào cống, lấy đó làm thường lệ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 (năm 1419 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con bồi thần vào triều tạ ơn, tố cáo việc bị Xiêm La xâm lấn.''' Hoàng đế ban sắc dụ răn bảo '''Xiêm La (暹羅)''', Xiêm La bèn vâng chiếu. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 6 (năm 1431 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào tố cáo Xiêm La xâm lấn ngăn trở đường cống.''' Vua mệnh cho '''Trịnh Hòa (鄭和)''' mang sắc chỉ răn bảo Xiêm La, trách việc phải giữ hòa mục với láng giềng, không được trái mệnh triều đình. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), sứ giả nước Mãn Lạt Gia xin ban cho vua họ sắc thư, lọng che để trấn phục dân trong nước, lại nói vua muốn thân hành đến cung khuyết xin ban cho thuyền lớn.''' Vua đều nghe theo. Từ năm '''Chính Thống (正統)''' thứ 10 (năm 1445 dương lịch) trở đi, nhiều lần sai sứ đến cống, đường đi qua '''Quảng Đông (廣東)'''. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 6 (năm 1455 dương lịch) đời Đại Tông (代宗), Mãn Lạt Gia vào cống xin phong, [triều đình] sai sứ kiêm ban cho mũ áo.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Cảnh Thái (景泰)''' thứ 6 (năm 1455 dương lịch), '''Tốc Lỗ Đàn Vô Đáp Phật Na Sa (速魯檀無答佛哪沙)''' dâng ngựa và sản vật, xin phong làm vương. Chiếu sai Cấp sự trung '''Vương Huy (王暉)''' đi. Sau đó lại vào cống, nói rằng mũ đai được ban bị cháy trong hỏa hoạn, vua mệnh chế áo Bì biện, thường phục bằng lụa hồng cùng đai sừng tê, mũ sa ban cho." '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 3 (năm 1459 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), nước Mãn Lạt Gia vào cống xin phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), thế tử là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' sai sứ vào cống, mệnh cho Cấp sự trung '''Trần Gia Du (陳嘉猷)''' đi phong vương. Cách 2 năm sau, quan Bộ Lễ tấu rằng: Nhóm Gia Du đi biển 2 ngày đến biển '''Ô Chú (烏豬洋)''' gặp bão, thuyền hỏng trôi dạt 6 ngày đến sở Thủ ngự '''Thanh Lan (清瀾)''' thì được cứu. Sắc thư không mất nhưng đồ ban thưởng đều ướt nước, xin cấp lại và sai sứ đi lần nữa. Vua nghe theo." Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), Quốc vương '''Vô Đáp Phật Na Sa (無答佛哪沙)''' chết, con là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' xin mệnh, triều đình lại sai sứ mang chiếu đi phong." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 10 (năm 1474 dương lịch) đời Hiến Tông (憲宗), Mãn Lạt Gia vào cống.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 10 (năm 1474 dương lịch), Cấp sự trung '''Trần Tuấn (陳峻)''' đi phong vương nước '''Chiêm Thành (占城)''', gặp binh '''An Nam (安南)''' chiếm giữ Chiêm Thành nên không vào được, bèn mang đồ đến Mãn Lạt Gia, dụ vương vào cống. Sứ giả đến, Đế vui mừng ban sắc khen ngợi." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 (năm 1481 dương lịch), An Nam cướp bóc sứ giả Mãn Lạt Gia. Sứ giả đến triều đình tố cáo. [Đế] ban sắc trách An Nam và sai quan phong Mã Cáp Mộc Sa làm vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Tháng 9 năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 17 (năm 1481 dương lịch), sứ giả nói: 'Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 5 (năm 1469 dương lịch) sứ giả về nước dạt vào cõi An Nam, đa số bị giết, số còn lại bị xăm mặt làm nô lệ, kẻ nhỏ tuổi bị thiến. Nay họ đã chiếm đất Chiêm Thành, lại muốn nuốt bản quốc. Bản quốc vì thảy đều là thần tử của Vương nên chưa dám đánh'. Vừa lúc sứ An Nam cũng đến, sứ Mãn Lạt Gia xin tranh biện tại triều. Bộ Binh nói việc đã qua không đáng so đo sâu. Đế bèn nhân lúc sứ An Nam về, ban sắc trách vương nước ấy, đồng thời dụ Mãn Lạt Gia rằng: 'Nếu An Nam lại xâm lăng thì hãy chỉnh binh đợi chiến'. Sau đó sai Cấp sự trung '''Lâm Vinh (林榮)''', Hành nhân '''Hoàng Càn Hanh (黃乾亨)''' đi phong thế tử '''Mã Cáp Mộc Sa (馬哈木沙)''' làm vương. 2 người chết đuối, được truy tặng quan chức, ban tế tự cho con cháu, cứu tế gia đình. Lại sai Cấp sự trung '''Trương Thịnh (張晟)''' đi thay, Thịnh chết ở '''Quảng Đông (廣東)''', mệnh quan thủ thần chọn 1 quan viên làm phó cho '''Tả Phụ (左輔)''' để hoàn tất việc phong vương." '''Năm Chính Đức (正德) thứ 3 (năm 1508 dương lịch) đời Võ Tông (武宗), người Giang Tây là Tiêu Minh Cử cướp giết sứ Mãn Lạt Gia, sự việc bại lộ bị xử tử. Người Phật Lang Cơ (nguyên văn 佛郎機 người Pháp - đúng ra là người Bồ Đào Nha) cậy mạnh đoạt đất Mãn Lạt Gia.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Chính Đức (正德)''' thứ 3 (năm 1508 dương lịch), sứ thần '''Đoan Á Trí (端亞智)''' vào cống. Thông sự là '''Á Lưu (亞劉)''', vốn là người huyện '''Vạn An (萬安)''' tỉnh '''Giang Tây (江西)''' tên '''Tiêu Minh Cử (蕭明舉)''', phạm tội trốn sang nước ấy, hối lộ thông sự để mưu đồ bảo vật. Khi về đến Quảng Đông, Minh Cử cùng đồng bọn cướp giết sứ giả lấy hết tài vật. Sự việc bại lộ, Minh Cử bị lăng trì, bọn còn lại bị chém. Sau đó, người '''Phật Lang Cơ (佛郎機 - người Bồ Đào Nha)''' đem quân xâm chiếm đất ấy, vương là '''Tô Đoan Ma Mạt (蘇端媽末)''' bỏ chạy, sai sứ cáo nan. Lúc này '''Thế Tông (世宗)''' đã lên ngôi, ban sắc trách Phật Lang Cơ lệnh trả lại đất cũ, dụ vua các nước '''Xiêm La (暹羅)''' cứu láng giềng. Nhưng không ai ứng phó, Mãn Lạt Gia cuối cùng bị diệt. Sau này đổi tên là '''Ma Lục Giáp (麻六甲 - Malacca)'''." Sản vật cống nạp gồm: mã não, ngọc trai, đồi mồi, san hô, sừng tê, ngà voi, vẹt, trầm hương... Có núi chảy ra suối, thổ dân đãi cát lấy thiếc, đúc thành khối gọi là "đấu thiếc". Đất đai khô cằn, dân chủ yếu đãi thiếc và bắt cá. Khí hậu sáng nóng chiều lạnh. Nam nữ búi tóc, thân hình đen đúa, kẻ có da trắng là giống người Đường (Trung Quốc) vậy. Từ khi bị Phật Lang Cơ phá, phong tục thay đổi hẳn, thuyền buôn ít đến. === Mãn Lạt Gia bộ kỷ sự (滿剌加部紀事 - Ghi chép sự việc)=== *Huyện chí Vô Tích (無錫縣志): "'''Du Phổ (俞溥)''' làm Tham quân, sứ đến Mãn Lạt Gia 3 năm mới về, học được thuật bói rùa. Chọn rùa lớn nuôi bằng suối trong và rêu xanh, mỗi năm bói 1 lần. Trước khi bói ăn chay 7 ngày, dùng sơn mỏng bôi bụng rùa, đợi sơn nứt như vết nung để nghiệm cát hung. Phổ mang về 2 con rùa, một con dài 1 tấc 3 phân, một con dài 1 tấc rưỡi. Lại mang về 2 loại thuốc: một tên '''A Chỉ Nhi (阿止兒)''' trị nội thương; một tên '''A Tức Loại (阿息類)''' trị kim thương." *Khôn Dư Đồ Thuyết (坤輿圖說): "Nước Mãn Lạt Gia đất không rộng lắm nhưng là nơi thương nhân tụ hội, nằm ngay dưới đường xích đạo. Tiết xuân phân và thu phân khí hậu cực nóng, nhờ ngày nào cũng mưa nên có thể ở được. Sản sinh voi, hồ tiêu và gỗ quý. Người lương thiện, không lo kế sinh nhai, thường đàn tỳ bà rong chơi nhàn hạ." ==Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 1 (僬僥部彙考一)== ===〈Chu Nhiêu - 周饒〉=== ===Thời Hậu Hán (後漢)=== Tháng 3 mùa xuân, ngày Kỷ Mão năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 107 dương lịch) đời '''An Đế (安帝)''', dân Di chủng tộc '''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''' đến cống nạp và xin nội thuộc. Xét: Hậu Hán Thư (後漢書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. ===Thời nhà Minh (明)=== Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 17 (năm 1419 dương lịch) đời '''Thành Tổ (成祖)''', nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' đến cống nạp. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): "'''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' là người Di ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''', người cao 3 thước (khoảng 1 mét). Trong số các nô lệ đen (hắc tiểu tư) của các nước phiên thường dùng làm vật cống nạp, thì các chủng tộc như Hợi Thủ (咳首) đại để đều là người Lão ở biển (hải lão) vậy." === Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 2 (僬僥部彙考二)=== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Chu Nhiêu (周饒國)''', người ở đó thân hình ngắn nhỏ, đội mũ thắt đai. Có thuyết nói nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' ở phía Đông nước '''Tam Thủ (三首)'''. *(Chú thích: Người ở đó cao 3 thước (khoảng 1 mét), sống trong hang, có thể làm được các đồ máy móc khéo léo, có đủ 5 loại ngũ cốc. Lại nữa, sách Ngoại truyện nói: Dân Tiêu Nghiêu cao 3 thước, là cực điểm của sự ngắn nhỏ. Sách Thi Hàm Thần Vụ chép: Từ Trung Châu đi về phía Đông 400,000 dặm, có người nước Tiêu Nghiêu, cao 1 tấc 5 phân (khoảng 45 cm)). '''Phần Đại hoang Nam kinh (大荒南經)''' Có nước của người nhỏ bé tên là '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', mang họ Kỷ (幾), ăn các loại ngũ cốc tốt (gia cốc). *(Chú thích: Thảy đều cao 3 thước. Xét về phương Tây, người Tiêu Nghiêu thời Nghiêu (堯) từng vào cống nạp, hoặc chính là nước này. Hoặc ở phương Tây Nam, phương Tây, phương Nam mỗi nơi đều có người Tiêu Nghiêu, thảy đều không có gì để khảo chứng thêm, nay tạm để tồn tại song song cả hai thuyết). == Bản Thuẫn Man bộ hối khảo (板楯蠻部彙考) Khảo cứu về bộ lạc người Man cầm khiên gỗ== === Thời Hậu Hán (後漢)=== Mùa đông tháng 10 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''' ở quận '''Ba (巴郡)''' làm phản, [triều đình] sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc Thứ sử '''Ích Châu (益州)''' thảo phạt nhưng không thắng được. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: "Giống người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''', vào thời '''Tần Chiêu Tương vương (秦昭襄王)''' có 1 con hổ trắng thường đi theo đàn hổ, nhiều lần dạo chơi vùng biên cảnh '''Tần (秦)''', '''Thục (蜀)''', '''Ba (巴)''', '''Hán (漢)''', làm hại hơn 1,000 người. Chiêu vương bèn trọng thưởng chiêu mộ trong nước, ai giết được hổ sẽ phong ấp 10,000 hộ, thưởng 100 dĩ vàng. Bấy giờ có người Di ở '''Lãng Trung (閬中)''' thuộc quận '''Ba (巴郡)''' biết làm nỏ bằng tre trắng, bèn lên lầu bắn chết hổ trắng. Chiêu vương khen ngợi, nhưng vì họ là người Di nên không muốn phong tước, bèn khắc đá lập thề, miễn thuế cho ruộng đất của họ, 10 người vợ không phải nộp thuế thân, kẻ làm bị thương người thì luận tội, kẻ giết người được dùng tiền 'tàm' (tức tiền chuộc) để chuộc tội chết. Lời thề rằng: 'Nếu người Tần phạm người Di, nộp 1 đôi rồng vàng; nếu người Di phạm người Tần, nộp 1 chung rượu trong'. Người Di yên lòng với việc đó. Đến khi '''Cao Tổ (高祖)''' làm Hán Vương, phát động người Di theo về đánh 3 đất Tần (Tam Tần). Sau khi đất Tần đã định, bèn cho họ về lại vùng '''Ba Trung (巴中)''', miễn thuế khóa cho các thủ lĩnh thuộc 7 họ: '''La (羅)''', '''Phác (朴)''', '''Đốc (督)''', '''Ngạc (鄂)''', '''Độ (度)''', '''Tịch (夕)''', '''Cung (龔)'''. Các hộ còn lại hằng năm nộp 40 tiền 'tư' mỗi khẩu, đời gọi là người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)'''. Vùng Lãng Trung có sông '''Du Thủy (渝水)''', người dân phần lớn sống hai bên bờ, thiên tính mạnh dũng, ban đầu làm tiền phong cho quân Hán, nhiều lần hãm trận. Tục thích ca múa, Cao Tổ xem xong nói: 'Đây là bài ca của Vũ Vương phạt Trụ vậy', bèn lệnh cho nhạc nhân học theo, chính là điệu múa '''Ba Du (巴渝舞)'''. Từ đó đời đời phục tùng. Đến thời Trung hưng, Thái thú thường dẫn họ đi chinh chiến. Đời '''Hoàn Đế (桓帝)''', Bản Thuẫn nhiều lần phản lại, Thái thú quận Thục là '''Triệu Ôn (趙溫)''' dùng ơn tín mà hàng phục được họ. Năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 3 (năm 180 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người Bản Thuẫn quận Ba lại phản, cướp bóc các quận thuộc Tam Thục và Hán Trung. Linh Đế sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc binh sĩ Ích Châu thảo phạt, liên tiếp nhiều năm không thắng được. Đế muốn phát động đại binh, bèn hỏi các Kế lại (quan lo việc sổ sách) của Ích Châu để khảo sát phương lược chinh thảo. Quan Thượng kế của '''Hán Trung (漢中)''' là '''Trình Bào (程包)''' thưa rằng: 'Bảy họ Bản Thuẫn từng bắn chết hổ trắng, lập công với tiền thế, vốn là nghĩa dân. Người đó dũng mãnh, giỏi binh chiến. Xưa những năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' (năm 107 – 113 dương lịch), người Khương vào Hán Xuyên, quận huyện tan vỡ, nhờ được Bản Thuẫn cứu viện mà quân Khương bị tiêu diệt gần sạch, nên họ được gọi là thần binh. Người Khương sợ hãi, truyền lời cho bộ tộc rằng chớ đi về phía Nam nữa. Đến năm '''Kiến Hòa (建和)''' thứ 2 (năm 148 dương lịch), người Khương lại đại cử xâm nhập, thực cũng nhờ Bản Thuẫn liên chiến phá được. Tiền Xa kị Tướng quân '''Phùng Côn (馮緄)''' khi nam chinh '''Vũ Lăng (武陵)''', tuy có tinh binh Đan Dương nhưng cũng dựa vào Bản Thuẫn mới thành công. Gần đây quận Ích Châu có loạn, Thái thú '''Lý Ngung (李顒)''' cũng dùng Bản Thuẫn mà dẹp yên. Trung công như thế, vốn không có lòng ác. Thế nhưng quan lại địa phương thu thuế quá nặng, tôi tớ đánh đập họ quá cả nô lệ, có người phải gả vợ bán con, hoặc thậm chí tự cắt cổ. Tuy họ kêu oan lên châu quận nhưng Mục thủ không phân định lý lẽ. Cung đình xa xôi không tự nghe thấu, nên họ ngậm oán kêu trời ở thung lũng cùng cực, sầu khổ vì sưu dịch, khốn đốn vì hình phạt tàn khốc, nên các ấp tụ tập mà làm phản, chứ không phải có chủ mưu tiếm hiệu làm loạn. Nay chỉ cần chọn Mục thủ sáng suốt hiền tài, tự khắc họ sẽ yên ổn tụ họp, không phiền đến chinh phạt'. Đế theo lời đó, sai Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' tuyên chiếu ân xá, họ liền đều hàng phục. Xét Hán Trung Sĩ Nữ Chí (漢中士女志): '''Trình Bào (程包)''' tự là '''Nguyên Đạo (元道)''', người '''Nam Trịnh (南鄭)''', năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) làm Thượng kế lại. Bấy giờ Bản Thuẫn làm phản, quân lữ nhiều phen nổi dậy, thiên tử lo lắng hỏi phương lược. Bào thưa: 'Bản Thuẫn trung dũng, lập công từ thời tiền Hán, là nghĩa dân của hoàng đế. Quân Khương vào Hán Trung, đều nhờ sức họ. Bởi không biết vỗ về nên mới dẫn đến phản loạn, chứ không có lòng tiếm đoạt. Nay binh lính kéo đến chưa chắc thắng được, chẳng bằng chọn Thái thú hiền tài, dùng ơn tín mà thu phục'. Thiên tử theo lời, kết quả đúng như lời ông nói. Sau này ông mất trên đường đi. Mùa thu tháng 7 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 5 (năm 182 dương lịch), người Bản Thuẫn Man ở quận Ba đến gặp Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' xin hàng. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Năm '''Trung Bình (中平)''' thứ 5 (năm 188 dương lịch), Bản Thuẫn Man lại phản, sai Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: 'Năm Trung Bình thứ 5, giặc Hoàng Cân ở quận Ba nổi dậy, người Bản Thuẫn Man nhân đó lại phản, cướp bóc thành ấp. [Triều đình] sai Tây Viên Thượng quân Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên'. == Lâm Ấp bộ hối khảo 1 (林邑部彙考一)== === Thời nhà Tấn (晉)=== '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Thái Khang (太康) thứ 5 (năm 284 dương lịch), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ và Lâm Ấp truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣) thời Hán, tức là nơi '''Mã Viện (馬援)''' đúc cột đồng vậy, cách Nam Hải (南海) 3,000 dặm. Cuối thời Hậu Hán, Công tào của huyện họ Khu (區) có con tên Liên (連), giết huyện lệnh rồi tự lập làm vua, con cháu truyền nối nhau. Về sau vua không có con nối dõi, ngoại tôn (cháu ngoại) là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, Hùng chết, con là Dật (逸) lập. Phong tục ở đó thảy đều mở cửa đất hướng về phía mặt trời. Về nơi cư ngụ thì hoặc Đông hoặc Tây không cố định. Tính người hung hãn, quả cảm trong chiến đấu, giỏi leo núi lội nước, không quen đất bằng. Bốn mùa ấm áp, không sương không tuyết, người đều ở trần đi chân đất, lấy sắc đen làm đẹp. Quý nữ khinh nam, người cùng họ lấy nhau. Người nữ hỏi cưới chồng trước. Lúc con gái gả đi thì mặc áo Ca-bàn (迦盤衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, đầu đội hoa quý. Lúc có tang thì cắt tóc mai, gọi đó là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Vua đội thiên quan (mũ trời), khoác chuỗi anh lạc. Mỗi khi nghe chính sự, tử đệ và thị thần đều không được lại gần. Từ thời '''Tôn Quyền (孫權)''' trở đi không triều cống Trung Quốc. Đến năm Thái Khang đời Vũ Đế mới bắt đầu đến cống nạp." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp bản truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣), quận Nhật Nam (日南郡) thời Hán, thuộc cương giới Việt Thường (越裳) xưa. Phục Ba tướng quân Mã Viện mở cõi Nam của nhà Hán, đặt ra huyện này. Đất ấy chiều dọc chiều ngang khoảng 600 dặm, thành cách biển 120 dặm, cách biên giới Nhật Nam hơn 400 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德郡), biên giới phía Nam đi đường thủy bộ hơn 200 dặm. Có người Di phương Tây cũng xưng vương, là nơi Mã Viện trồng 2 cột đồng để làm mốc biên giới nhà Hán vậy. Nước ấy có núi vàng (Kim Sơn), đá thảy đều màu đỏ, trong đó sinh ra vàng, đêm đến vàng bay ra như ánh đom đóm. Lại có đồi mồi, vỏ ốc, cát bối (vải bông), trầm mộc hương. Cát bối (吉貝) là tên cây. Khi hoa nở như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt vải, trắng sạch không khác vải gai (trữ bố), cũng nhuộm thành 5 màu, dệt thành vải vằn (ban bố). Trầm mộc (沉木) là cây do người bản địa chặt đứt, tích qua năm tháng cho mục nát mà phần tâm tiết vẫn còn, bỏ xuống nước thì chìm nên gọi là 'Trầm hương' (沉香). Loại kém hơn không chìm không nổi gọi là 'Hương' (香). Cuối thời Hán đại loạn, Công tào là '''Khu Đạt (區達)''' giết huyện lệnh tự lập làm vua, truyền được mấy đời. Về sau vua không con, lập cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊). Hùng chết, con là Dật (逸) nối ngôi." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Hiệu Lâm Ấp khởi đầu từ cuối thời Hán. Lúc loạn năm Sơ Bình (初平) (năm 190 – 193 dương lịch), người người ôm lòng khác. Công tào Tượng Lâm họ Khu có con tên Liên (連), đánh huyện giết lệnh, tự hiệu là vua. Gặp lúc loạn ly, Lâm Ấp bèn đứng vững, sau đó truyền vị cho con cháu. Thời Tam Quốc đỉnh tranh, chưa phụ thuộc bên nào. Nhà Ngô có đất Giao Châu tiếp giáp, tiến chiếm Thọ Lãnh (壽泠) làm cương giới. Từ đời Khu Liên trở đi, nước không có văn sử nên việc truyền nối mất dấu, thế số khó tường. Tông tộc tuyệt diệt, không còn hậu duệ. Cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊) lên thay, được lòng người vui vẻ ủng hộ. Sau Hùng chết, con là Dật (逸) lập." '''Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Thành Đế (成帝), vua Lâm Ấp là Phạm Dật chết, nô bộc là Văn (文) chiếm ngôi lập.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 2 (năm 336 dương lịch), Phạm Dật chết, nô bộc là Văn chiếm ngôi. Văn vốn là nô bộc của di soái '''Phạm Thôi (范椎)''' huyện Tây Quyển (西卷縣), quận Nhật Nam. Từng chăn bò trong khe núi, bắt được 2 con cá chép hóa thành sắt, dùng để rèn dao. Dao rèn xong, Văn đối diện tảng đá lớn mà khấn rằng: 'Cá chép biến hóa, đúc thành dao đôi, nếu tảng đá vỡ thì là có thần linh'. Tiến đến chém, đá liền vỡ tan. Văn biết là thần vật, bèn giấu đi, theo lái buôn qua lại, thấy được chế độ nước thượng quốc. Đến Lâm Ấp, Văn dạy Dật làm cung thất thành ấp cùng khí giới. Dật rất yêu tin, cho làm tướng. Văn bèn gièm pha các con của Dật, kẻ thì bị đày người thì bỏ trốn. Đến khi Dật chết không con, Văn bèn tự lập làm vua, đem vợ thiếp của Dật đặt hết lên lầu cao, ai theo mình thì nhận lấy, ai không theo thì cắt lương thực. Sau đó đánh các nước Đại Kỳ giới, Tiểu Kỳ giới, Thức Bộc, Từ Lang, Khuất Đô, Kiền Lỗ, Phù Đan rồi thôn tính cả, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Sai sứ dâng biểu triều cống hoàng đế, thư thảy đều dùng chữ Hồ (胡)." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Tấn Thành Đế, Dật chết, nô bộc là Văn chiếm lập. Văn vốn là gia nô của di soái '''Phạm Tr稚 (范稚)''' huyện Tây Quyển, quận Nhật Nam. Thường chăn bò ở khe núi, được 2 con cá lăng, hóa làm sắt, nhân đó đúc dao. Đúc xong Văn hướng về phía đá mà chú rằng: 'Nếu chém đá vỡ, Văn sẽ làm vua nước này'. Bèn giơ dao chém đá, như chém cỏ khô. Văn lấy làm lạ. Phạm Tr稚 thường sai Văn đi buôn đến Lâm Ấp, Văn nhân đó dạy vua Lâm Ấp làm cung thất cùng binh xa khí giới, vua sủng ái trọng dụng. Sau Văn gièm pha các con vua, mỗi người trốn một nước. Khi vua chết không con, Văn giả vờ đón hoàng tử ở láng giềng về, bỏ độc vào nước uống mà giết đi, rồi hiếp dân trong nước tự lập. Cử binh đánh các nước nhỏ xung quanh thảy đều nuốt sạch, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Bấy giờ Thứ sử Giao Châu là '''Khương Tráng (姜壯)''' sai thân tín là '''Hàn Tập (韓戢)''', '''Tạ Trạc (謝稚)''' lần lượt giám sát quận Nhật Nam, đều tham tàn, các nước lấy làm khổ." Xét Thủy Kinh Chú (水經注) có đoạn về Phạm Văn: "... Văn vào núi tìm đá luyện sắt, đúc làm 2 con dao, giơ lưỡi hướng về phía vách núi (chướng) mà chúc rằng: 'Cá chép biến hóa, luyện đá thành dao, chém vách đá vỡ thì là có linh thần, Văn sẽ trị nơi này làm quân vương nước ấy. Nếu chém không vào thì là dao không thần linh'. Tiến đến chém vách đá như rồng thiêng chém cỏ, từ đó lòng người dần theo phục. Nay sông đá vẫn còn, dao cá vẫn tồn tại, truyền cho con cháu như kiếm trảm xà (chém rắn) vậy. Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 6 (năm 331 dương lịch) Dật chết không con... Văn tự lập làm vua. Lấy vợ thiếp vua trước đặt lên lầu cao, ai theo mình thì nạp làm thiếp, không theo thì tuyệt ăn uống cho đến chết. Sách Giang Đông cựu sự nói: Phạm Văn vốn là người Dương Châu (揚州), thuở nhỏ bị bắt làm nô lệ, bán đến Giao Châu. Năm 15 – 16 tuổi gặp tội đáng gậy, sợ hãi trốn theo lái buôn Lâm Ấp vượt biển đi xa, lọt vào nước của vua, được vua rất sủng ái. Qua hơn 10 năm vua chết... tự lập làm vua, uy thế trải khắp các nước. Có bộ lạc thì búi tóc tiếng Man, miệng ăn mũi uống, hoặc xăm mặt chạm mình, là giống người ở trần (thoát lỏa chủng), những kẻ lưu đày thời Hán Ngụy thảy đều bị Văn dùng." '''Tháng 10 năm Hàm Khang (咸康) thứ 6 (năm 340 dương lịch), Lâm Ấp dâng voi thuần.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ chép như vậy. '''Tháng Giêng mùa xuân năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch) đời Mục Đế (穆帝), Phạm Văn nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, giết Thái thú Hạ Hầu Lãm, dùng thây tế trời. Tháng 7 mùa thu, Phạm Văn lại chiếm Nhật Nam, giết Đốc hộ Lưu Hùng. Ngôi Văn lập Phạm Bôn làm đế.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), Văn suất quân đánh chiếm Nhật Nam, hại Thái thú '''Hạ Hầu Lãm (夏侯覽)''', giết 5,000 – 6,000 người, số còn lại chạy sang Cửu Chân. Lấy thây Lãm tế trời, san phẳng thành huyện Tây Quyển, rồi chiếm Nhật Nam, cáo với Thứ sử Giao Châu là '''Chu Phiên (朱蕃)''', xin lấy núi Hoành Sơn (橫山) ở phía Bắc Nhật Nam làm ranh giới. Nguyên trước đó các nước ngoài cõi thường mang bảo vật theo đường biển đến buôn bán, mà Thứ sử Giao Châu, Thái thú Nhật Nam đa số tham lợi xâm lấn, 10 phần chiết khấu mất 2 – 3 phần. Đến thời Thứ sử '''Khương Tráng (姜壯)''', sai '''Hàn Tập (韓戢)''' lĩnh Thái thú Nhật Nam, Tập đánh giá cao hơn nửa (ép giá), lại chặt cây đóng thuyền điều động phu phen, phao tin là 'chinh phạt', do đó các nước căm giận. Vả lại Lâm Ấp vốn tham đất Nhật Nam, Tập chết, người kế nhiệm là '''Tạ Trạc (謝擢)''' lại xâm khắc như trước. Đến khi Lãm đến quận lại đắm chìm trong rượu chè, chính giáo càng loạn, nên bị phá diệt. Sau đó Văn về Lâm Ấp. Năm ấy, Chu Phiên sai Đốc hộ '''Lưu Hùng (劉雄)''' đóng giữ Nhật Nam, Văn lại đánh chiếm nơi đó." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), đài đình sai Hạ Hầu Lãm làm Thái thú, xâm khắc càng thậm. Lâm Ấp vốn không có ruộng đất, tham đất Nhật Nam màu mỡ, thường muốn chiếm lấy. Đến đây nhân nỗi oán của dân bèn cử binh đánh Nhật Nam, giết Lãm, dùng thây tế trời. Ở lại Nhật Nam 3 năm mới về Lâm Ấp. Thứ sử Giao Châu Chu Phiên sau đó sai Đốc hộ Lưu Hùng đóng giữ Nhật Nam, Văn lại tiêu diệt đi, tiến đánh quận Cửu Đức (九德郡), tàn hại quan dân. Sai sứ bảo Phiên nguyện lấy núi Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm giới hạn, Phiên không hứa. Lại sai Đốc hộ '''Đào Hoãn (陶緩)''', '''Lý Cù (李衢)''' thảo phạt. Văn về Lâm Ấp, tìm cách đóng đồn ở Nhật Nam." '''Tháng 4 mùa hè năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 4 (năm 348 dương lịch), Phạm Văn đánh phá Cửu Chân, giết hại rất nhiều.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 4, Văn lại đánh Cửu Chân, hại sĩ dân đến 18 – 19 phần." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), Hoàn Ôn (桓溫) sai Đốc quân Đằng Tuấn (滕畯) thảo phạt Phạm Văn, không thắng. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi. Đằng Tuấn thảo phạt, tiến vào thành, Phật xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), '''Hoàn Ôn (桓溫)''' sai Đốc quân '''Đằng Tuấn (滕畯)''' thảo phạt Phạm Văn, bị Văn đánh bại." Xét Lâm Ấp bản truyền: "Năm thứ 5, Chinh Tây đốc hộ Đằng Tuấn suất binh Giao Châu, Quảng Châu đánh Văn ở Lô Dung (盧容), bị Văn đánh bại, lui về Cửu Chân. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 5, Văn chết, con là Phật lập, vẫn đóng đồn ở Nhật Nam. Chinh Tây tướng quân Hoàn Ôn sai Đốc hộ Đằng Tuấn, Thái thú Cửu Chân '''Quán Thúy (灌邃)''' suất binh Giao, Quảng thảo phạt, Phật ôm thành cố thủ. Thúy lệnh Tuấn bày binh mạnh ở phía trước, Thúy suất 700 tinh binh từ phía sau vượt lũy xông vào, quân Phật kinh sợ tan chạy. Thúy đuổi đến Lâm Ấp, Phật bèn xin hàng." '''Năm Thăng Bình (升平) thứ 3 (năm 359 dương lịch), Lâm Ấp xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Tháng 12 năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 3 (năm 359 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là '''Ôn Phóng Chi (溫放之)''' suất binh thảo phạt các bộ lạc Tham Lê (參黎), Đam Lão (耽潦) của Lâm Ấp, thảy đều hàng phục." Xét Lâm Ấp truyền: "Cuối năm Thăng Bình, Thứ sử Quảng Châu là '''Đằng Hàm (滕含)''' suất quân đánh Lâm Ấp, vua Phật (佛) sợ hãi xin hàng, Hàm cùng lập minh ước rồi về." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Đầu năm Thăng Bình, Lâm Ấp lại đến cướp bóc, Thứ sử Ôn Phóng Chi thảo phạt phá tan." '''Năm Ninh Khang (寧康) [không rõ số] đời Hiếu Vũ Đế (孝武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Ngày Kỷ Tỵ tháng 6 năm Thái Nguyên (太元) thứ 2 (năm 377 dương lịch), Lâm Ấp dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 3 năm Thái Nguyên (太元) thứ 7 (năm 382 dương lịch), Phạm Hùng (范熊) nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' *(Xét Bản truyền nói Phạm Hùng chết thì con là Dật (逸) nối ngôi vốn phải ở thời Vũ Đế (武帝). Đến đây lại chép việc Phạm Hùng, ấy là vẫn theo nguyên bản đã ghi, xin lưu lại để tham khảo). Xét: Các mục trên theo Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ. '''Tháng 2 năm Lũng An (隆安) thứ 3 (năm 399 dương lịch) đời An Đế (安帝), Phạm Đạt (范達) nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, Cửu Chân rồi tiến đánh Giao Chỉ, Thái thú Đỗ Viện (杜瑗) thảo phạt phá tan.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Lũng An (隆安)''' thứ 3 (năm 399 dương lịch), cháu của Phật là '''Tu Đạt (須達)''' lại đánh Nhật Nam, bắt Thái thú '''Quảnh Nguyên (炅源)'''. Lại tiến đánh Cửu Đức (九德), bắt Thái thú '''Tào Bính (曹炳)'''. Thái thú Giao Chỉ là '''Đỗ Viện (杜瑗)''' sai Đô hộ '''Đặng Lỗi (鄧逸)''' đánh phá được, bèn lấy Viện làm Thứ sử." '''Năm Nghĩa Hy (義熙) thứ 9 (năm 413 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ: "Tháng 3 năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 9 (năm 413 dương lịch), '''Phạm Hồ Đạt (范胡達)''' nước Lâm Ấp đánh phá Cửu Chân, Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Huệ Độ (杜慧度)''' chém được y." Xét Lâm Ấp truyền: "Trong những năm Nghĩa Hy, hằng năm Lâm Ấp lại đến đánh các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Cửu Đức, giết hại rất nhiều, Giao Châu vì thế mà suy yếu, mà Lâm Ấp cũng bị mệt mỏi. Vua Phật chết, con là Hồ Đạt lập, dâng sớ tiến cống mâm bát vàng và chiêng vàng." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 3 (năm 407 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Nhật Nam, giết Trưởng sử của Viện, [Viện] sai Hải loa Đốc hộ '''Nguyễn Phỉ (阮斐)''' thảo phạt phá tan, chém và bắt được rất nhiều. Năm thứ 9 (năm 413 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Cửu Chân, Hành quận sự '''Đỗ Huệ Kỳ (杜慧期)''' cùng chiến đấu, chém được con y là Giao Long vương '''Chân Tri (甄知)''' cùng các tướng '''Phạm Kiện (范健)'''... bắt sống Tu Đạt cùng con là '''Na Năng (郍能)''' và hơn 100 người. Từ sau khi Viện mất, Lâm Ấp không năm nào không đánh Nhật Nam, Cửu Đức, giết hại cực nhiều, Giao Châu do đó suy yếu. Tu Đạt chết, con là '''Địch Chân (敵真)''' lập, em là '''Địch Khải (敵鎧)''' dắt mẹ bỏ trốn. Địch Chân truy hận vì không dung nạp được mẹ và em, bèn bỏ nước sang Thiên Trúc (天竺), nhường ngôi cho cháu gọi bằng cậu. Quốc tướng là '''Tạng Lân (藏驎)''' cố can nhưng không nghe. Người cháu lên ngôi bèn giết Tạng Lân, con Tạng Lân lại đánh giết kẻ đó, rồi lập em cùng mẹ khác cha của Địch Khải tên là '''Văn Địch (文敵)'''. Văn Địch sau bị vương tử nước Phù Nam (扶南) là '''Đương Căn Thuần (當根純)''' giết chết, đại thần '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' dẹp loạn rồi tự lập làm vua. Chư Nông chết, con là '''Dương Mại (陽邁)''' lập." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Năm '''Kiến Nguyên (建元)''' thứ 2 (năm 380 dương lịch), Văn đánh Nhật Nam, Cửu Đức, Cửu Chân, trăm họ tan tác, 1,000 dặm không bóng khói, sau đó về Lâm Ấp. Lâm Ấp cách Quảng Châu (廣州) 2,500 dặm về phía Tây. Góc Tây Nam thành có núi cao dãy dài nối tận chân trời. Phía Bắc dãy núi tiếp giáp khe suối, nguồn lớn của sông Hoài (Hoài thủy) chảy ra từ vùng Tam Trọng Trường Châu thuộc cõi '''Na Na (郍郍)''' xa xôi, ẩn sau núi bao quanh phía Tây và vòng qua phía Đông núi Vệ Sơn. Phía Nam dãy núi mở ra khe suối, nguồn nhỏ sông Hoài chảy từ núi hẻm vùng Tùng Căn (松根), lượn quanh phía Nam Khúc Nhai rồi vòng về phía Đông, hợp với dòng sông Hoài chảy vào Điển Xung. Thành ấy phía Tây Nam giáp núi, phía Đông Bắc nhìn ra sông, hào sâu nhiều lớp bao quanh dưới thành. Chu vi thành rộng 8 dặm 100 bước, tường gạch cao 2 trượng, phía trên xây thêm tường gạch 1 trượng để hở lỗ vuông, trên gác ván, trên ván có tầng các, trên các có nhà, trên nhà có lầu. Lầu cao 6 – 7 trượng, thấp thì 4 – 5 trượng, đầu mái hình chim xi (si vĩ) bay bổng chạm mây, nương núi nhìn sông, vút cao lừng lững. Nhưng cách chế tạo thì tráng lệ mà vụng về, theo phong tục cổ của người Di. Thành mở 4 cửa, cửa Đông là cửa trước, đối diện bến sông Hoài nơi đường quanh, có bia cổ khắc chữ Di ngợi khen công đức của vua trước là '''Hồ Đạt (胡達)'''. Cửa Tây đối diện 2 tầng hào, vòng lên phía Bắc vào núi, phía Tây núi chính là dòng sông Hoài. Cửa Nam đi qua 2 tầng hào, đối diện lũy của Ôn công. Năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 2 (năm 358 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là Ôn Phóng Chi giết Thái thú Giao Chỉ là '''Bảo (寶)''' và Biệt giá '''Nguyễn Lang (阮郎)''', rồi đi đánh Lâm Ấp. Thủy lục đánh nhau nhiều trận, vua Phật cố thủ trong thành, sau xin phục tùng nên được tha cho. Nay ở phía Nam thành Đông của Lâm Ấp 5 dặm vẫn còn 2 lũy của Ôn công là vậy. Cửa Bắc sát sông Hoài, đường đứt không thông. Trong thành có tiểu thành chu vi 320 bước, điện ngói nhà chung, vách phía Nam không mở, nhà dài 2 đầu, nóc nhà đưa ra hướng Nam Bắc. Các cột trên điện các cao hơn tường thành 1 trượng có dư, dùng 5 loại phân bò làm bùn trát, vách tường ánh sắc xanh bóng. Vợ con cung tần thảy đều ở chung trên điện, không có cung quán riêng biệt. Vua ngồi dựa vào hiên phía Đông, trực tiếp nói chuyện với bên dưới, tử đệ và thần hạ đều không được lên. Nhà có hơn 50 nóc, mái hiên nối liền nhau. Có 8 ngôi miếu lớn nhỏ thờ thần quỷ, đài tầng gác trọng, trạng thái giống như chùa Phật. Ngoài quách không có chợ búa, ấp ít người ở, bờ biển tiêu điều, vốn không phải nơi dân cư sinh sống. Kẻ đứng đầu dùng sự yên ổn lâu dài để nuôi dưỡng đất nước, 10 đời há có thể tồn tại lâu bền sao!" '''Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 2 (năm 421 dương lịch) đời Tống Vũ Đế (宋武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp (林邑國) ở phương Nam, năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 đời Cao Tổ, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' sai sứ đến cống nạp, liền được ban chức tước. Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp ở phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德). Thời nhà Tần là huyện Lâm Ấp cũ. Cuối thời Hán xưng vương. Năm '''Thái Khang (太康)''' thứ 5 (năm 284 dương lịch) đời Tấn mới bắt đầu cống nạp. Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 420 dương lịch) đời nhà Tống, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' mới sinh, mẹ mơ thấy người đem chiếu vàng cho lót nằm, ánh sắc kỳ lệ, Trung Quốc gọi là vàng Tử Ma (vàng tía), người Di gọi là Dương Mại, nên lấy đó làm tên. Khi Dương Mại chết, con là '''Đốt (咄)''' lập, vì mộ cha nên lại đổi tên thành Dương Mại. Lâm Ấp có núi vàng, nước vàng chảy ra bến. Theo đạo Ni Kiền (尼乾道), họ đúc tượng người bằng vàng bạc, lớn đến 10 vòng ôm. '''Những năm Nguyên Gia (元嘉) đời Văn Đế (文 Đế), Lâm Ấp xâm chiếm các quận Nhật Nam, Cửu Đức.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Đầu năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' đời Thái Tổ, [Lâm Ấp] xâm lấn tàn phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức. Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Hoằng Văn (杜弘文)''' dựng cờ tụ họp quân chúng muốn đi thảo phạt, nghe tin có người đến thay chức bèn thôi. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 (năm 421 dương lịch), [Lâm Ấp] sai sứ cống nạp, phong Dương Mại làm Lâm Ấp vương. Dương Mại chết, con là Đốt lập, lại gọi là Dương Mại. Phong tục nước ấy ở nhà gác gọi là Vu Lan (于闌), cửa đều hướng về phía Bắc, viết lên lá cây làm giấy. Nam nữ đều dùng khổ ngang vải Cát Bối (vải bông) quấn từ thắt lưng trở xuống, gọi là Can Mạn (干縵) hoặc Đô Mạn (都縵), xỏ tai đeo vòng nhỏ. Kẻ quý đi giày da, người tiện đi chân đất. Các nước từ Lâm Ấp, Phù Nam (扶南) trở về phía Nam đều như vậy. Vua mặc pháp phục, đeo anh lạc, trang sức như tượng Phật. Khi ra ngoài thì cưỡi voi, thổi ốc đánh trống, che lọng Cát Bối, dùng vải Cát Bối làm cờ xí. Nước không đặt hình pháp, kẻ có tội thì cho voi giẫm chết. Họ lớn hiệu là Bà-la-môn (婆羅門), gả cưới tất dùng vào tháng 8. Nữ cầu nam trước, do trọng nữ khinh nam vậy. Người cùng họ lấy nhau, sai người Bà-la-môn dẫn rể đến gặp vợ, nắm tay nhau trao gửi, đọc chú "Cát lợi cát lợi" để thành lễ. Người chết thì thiêu giữa đồng, gọi là hỏa táng. Góa phụ ở vậy xõa tóc đến già. Vua thờ đạo Ni Kiền, đúc tượng vàng bạc lớn 10 vòng ôm. Đầu năm Nguyên Gia, Dương Mại xâm chiếm Nhật Nam, Cửu Đức, Thứ sử Đỗ Hoằng Văn muốn thảo phạt, nghe tin có người thay bèn thôi. '''Ngày Giáp Dần tháng 7 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 7 (năm 430 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét: Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Năm thứ 7, Dương Mại sai sứ tự trần tình rằng không hòa hợp với Giao Châu, cầu xin được tha thứ. Năm thứ 8, lại sai hơn 100 thuyền lâu báu đánh Cửu Đức, vào cửa biển Tứ Hội (四會浦). Thứ sử Giao Châu là '''Nguyễn Di Chi (阮彌之)''' sai Đội chủ '''Tương Đạo Sinh (相道生)''' đem 3,000 người đi thảo phạt, đánh thành Khu Túc (區粟城) không hạ được, phải rút về. '''Tháng 5 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), vua Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét Lâm Ấp truyền: Lâm Ấp muốn đánh Giao Châu, mượn binh vua nước Phù Nam (扶南), vua Phù Nam không nghe. Năm thứ 10, Dương Mại sai sứ dâng biểu, cống sản vật, xin được lĩnh chức cai quản Giao Châu. Chiếu đáp rằng đường xá xa xôi nên không hứa cho. '''Năm Nguyên Gia thứ 11 (434), thứ 15 (438), thứ 16 (439), thứ 18 (441), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' '''Mùa hạ tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 23 (năm 446 dương lịch), Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh nước Lâm Ấp, chiếm được.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Các năm Nguyên Gia thứ 12, 15, 16, 18 dù thường sai sứ cống nạp nhưng cướp bóc không thôi, đồ dâng cũng thô lậu. Thái Tổ giận kẻ làm trái, năm thứ 23 sai Long tương Tướng quân, Thứ sử Giao Châu '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' đi đánh. Sai Chấn vũ Tướng quân phủ Thái úy là '''Tông Xác (宗慤)''' chịu sự tiết chế của Hòa Chi. Hòa Chi sai Phủ Tư mã '''Tiêu Cảnh Hiến (蕭景憲)''' làm tiền phong, Xác làm phó quân. Dương Mại nghe tin binh đến, sai sứ dâng biểu xin trả lại dân hộ Nhật Nam đã bắt, dâng trân bảo của nước. Thái Tổ hạ chiếu bảo Hòa Chi nếu Dương Mại có lòng thành thì cho quy thuận. Tháng 2 năm đó, quân đến đồn Chu Ngô (朱梧戍), sai Tham quân Phủ Hộ tào là Thái thú Nhật Nam '''Khương Trọng Cơ (姜仲基)''', Tham quân Tiền bộ Tặc tào '''Kiểu Hoằng Dân (蟜弘民)''' cùng bọn '''Tất Nguyện (畢願)''', '''Cao Tinh Nô (高精奴)''' đi tuyên dương ân chỉ. Dương Mại bắt giữ bọn Trọng Cơ, Tinh Nô gồm 28 người, sai Hoằng Dân về báo, ngoài miệng nói quy thuận nhưng phòng bị càng nghiêm. Cảnh Hiến tiến quân hướng về thành Khu Túc (區粟城). Dương Mại sai Đại soái '''Phạm Phù Long Đại (范扶龍大)''' trấn giữ Khu Túc, lại sai thủy bộ quân đến đánh phá viện binh bên ngoài của Cảnh Hiến. Quân Tống dốc sức công thành, tháng 5 chiếm được, chém đầu Phù Long Đại, thu được vàng bạc tạp vật không sao kể xiết. Thừa thắng truy kích, chiếm luôn Lâm Ấp. Cha con Dương Mại đều bỏ chạy thoát thân. Đồ trân dị thu được đều là những vật báu chưa có tên. Thượng khen công lao tướng soái, phong Tiêu Cảnh Hiến làm Trì tiết đốc quân sự 2 quận Uất Lâm, Ninh Phố. Các tướng '''Đồng Lâm Chi (童林之)''', '''Phó Úy Tổ (傅蔚祖)''' tử trận, đều được truy tặng quan chức. Xét Truyện của Thẩm Diễn Chi (沈演之傳): Thượng muốn đánh Lâm Ấp, triều thần không đồng ý, riêng Thứ sử Quảng Châu là '''Lục Huy (陸徽)''' cùng Diễn Chi tán thành. Khi bình định xong, ban cho quần thần vàng, nô lệ (sinh khẩu), đồ đồng. Diễn Chi được thưởng nhiều nhất. Xét Truyện của Tông Xác (宗慤傳): Năm Nguyên Gia thứ 22 (năm 445 dương lịch), việc đánh Lâm Ấp khởi sự, Xác tự xin đi. Nghĩa Cung cử Xác là người can đảm dũng mãnh. Khi vây thành Khu Túc, Lâm Ấp sai tướng '''Phạm Tỳ Sa Đạt (范毗沙達)''' đến cứu. Quân Tống bị giặc đánh bại một trận. Xác bèn chia quân làm nhiều đường, hạ cờ xí ngầm tiến, đánh tan giặc, hạ Khu Túc, tiến vào Tượng Phố (象浦). Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại dốc hết quân ra cự chiến, cho voi mặc giáp trụ, đông đảo không biên giới, sĩ tốt không địch nổi. Xác nói: "Ta nghe sư tử uy phục bách thú", bèn làm hình sư tử để chống voi. Voi quả nhiên kinh sợ chạy loạn, quân giặc tan rã. Chiếm được Lâm Ấp, thu bảo vật dị vật không sao kể xiết. Xét Lương Thư (梁書): Dương Mại sợ, muốn nộp 10,000 cân vàng, 100,000 cân bạc để chuộc tội nhưng đại thần '''Độc Tăng Đạt (毒僧達)''' can ngăn nên thôi. Khi chiếm thành, quân Tống đem nấu chảy các tượng vàng, được mấy trăm nghìn cân vàng. Hòa Chi sau bị bệnh chết, thấy hình bóng người Hồ làm quái. Xét Thủy Kinh Chú (水經注): Năm Nguyên Gia, Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Dương Mại dốc nước chạy đêm, trốn vào núi rừng. Quân rút đi, Dương Mại về nước. Nhà cửa đất nước tan hoang, người thời ấy chẳng còn ai, ông đau đớn phẫn uất, năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' thứ 23 (năm 446 dương lịch) thì chết. Trước đó, lúc mẹ Dương Mại mang thai, mơ thấy người trải chiếu vàng Dương Mại cho con rơi vào, ánh sáng rực rỡ. Cha là Hồ Đạt chết, con lên ngôi, được lòng người, tự lấy điềm mộng làm điều lành cho nước. Thái tử ban đầu tên Đốt, sau khi Dương Mại chết, Đốt 19 tuổi lên ngôi, vì mộ đức của tiên quân nên lại lấy tên Dương Mại. Hai đời cha con cùng tên, biết là điềm Lâm Ấp sắp mất vậy. '''Năm Hiếu Kiến (孝建) thứ 2 (năm 455 dương lịch) đời Vũ Đế (武 Đế), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 đời Thế Tổ (tức Hiếu Vũ Đế), Lâm Ấp lại sai Trường sử là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' phụng mệnh sứ giả đến cống nạp, phong Long Bạt làm Dương võ Tướng quân." '''Năm Đại Minh (大明) thứ 2 (năm 458 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Đại Minh (大明)''' thứ 2, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' lại sai Trường sử là '''Phạm Lưu (范流)''' dâng biểu, tiến cống đồ dùng bằng vàng bạc cùng các vật phẩm như hương liệu, vải vóc." '''Năm Thái Dự (泰豫) thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 9 (năm 491 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝) nhà Nam Tề, Phạm Đương Căn Thuần (范當根純) nước Lâm Ấp sai sứ vào cống, bắt đầu phong làm An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Cao Đế bản kỷ không chép. Xét Nam Sử (南史) - Tề Vũ Đế bản kỷ: "Tháng 5 năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, nước Lâm Ấp dâng chiếu vàng (kim điệm)." Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 (năm 455 dương lịch), bắt đầu lấy Trường sử Lâm Ấp là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' làm Dương võ Tướng quân. Con cháu Dương Mại (楊邁) truyền nối nhau làm vua, nhưng chưa có vị hiệu. Người Di là '''Phạm Đương Căn Thuần (范當根純)''' đánh chiếm nước ấy,篡 vị làm vua. Năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, sai sứ cống nạp chiếu vàng cùng các vật phẩm. Chiếu rằng: 'Lâm Ấp nhỏ bé ở nơi xa xôi, đời đời phục tùng vương hóa. Đương Căn Thuần nay tỏ lòng thành khẩn, suất lãnh liêu thuộc, lập công ở phương xa, thật đáng khen ngợi, nên ban tước hiệu để mở rộng ơn trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương'. Sau đó, con cháu của Phạm Dương Mại là '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' suất lĩnh chúng nhân đánh Đương Căn Thuần, lấy lại được bản quốc." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 10 (năm 492 dương lịch), lấy Phạm Chư Nông làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 2 (năm 495 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), tiến phong hiệu của Phạm Chư Nông làm Trấn Nam Tướng quân.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Thái (永泰) thứ 1 (năm 498 dương lịch), lấy con của Phạm Chư Nông là Văn Khoản (文款) làm Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Vĩnh Thái (永泰)''' thứ 1, Chư Nông vào triều, đi biển gặp gió bão bị chết đuối. Lấy con là '''Văn Khoản (文款)''' làm Giả tiết, Đô đốc duyên hải quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương. Khoảng năm '''Kiến Hưng (建興)''' (năm 313 – 317 dương lịch) đời nhà Tấn, nô bộc của di soái quận Nhật Nam (日南) là '''Phạm Tr稚 (范稚)''' tên là '''Văn (文)''' thường đi buôn bán, thấy được chế độ nước thượng quốc, bèn dạy vua Lâm Ấp là '''Phạm Dật (范逸)''' xây thành trì, lâu đài điện các. Vua đội mũ thiên quan giống như mũ Phật, thân quàng chuỗi anh lạc thơm. Người trong nước hung hãn, quen thuộc núi sông, giỏi chiến đấu, thổi vỏ ốc (hải lệ) thay kèn, người thảy đều ở trần. Bốn mùa ấm áp, không sương tuyết. Quý nữ khinh nam. Gọi thầy cúng (sư vu) là Bà-la-môn (婆羅門). Những người trong họ hàng cưới hỏi nhau, người nữ trước tiên sai người đến hỏi cưới chồng. Con gái khi gả đi mặc áo Già-lam (迦藍衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, trên đầu đội hoa báu. Khi có tang thì cắt tóc gọi là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Ở vùng biên viễn có loài chim Linh Thứu (靈鷲鳥), biết người sắp chết bèn tụ tập tại nhà đó, ăn hết thịt người chết rồi bay đi, sau đó người ta lấy xương thiêu thành tro, ném xuống biển gọi là thủy táng. Sắc da lấy đen làm đẹp. Các nước phương Nam thảy đều như vậy. Tại thành Khu Lật (區栗城), đặt cột biểu cao 8 thước (khoảng 2.6 mét), đo bóng mặt trời về phía Nam được 8 tấc (khoảng 26 cm). Từ Lâm Ấp đi về hướng Tây Nam hơn 3,000 dặm là đến nước Phù Nam (扶南)." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 9 (năm 510 dương lịch) đời Lương Vũ Đế (梁武帝), Lâm Ấp sai sứ dâng vượn trắng, xuống chiếu phong Phạm Thiên Cải làm Lâm Ấp vương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ: Tháng 4 năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9, nước Lâm Ấp sai sứ dâng 1 con vượn trắng. Xét Lâm Ấp truyền: Trong những năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' (454 – 456), '''Đại Minh (大明)''' (457 – 464) đời Tống Hiếu Vũ Đế, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' liên tiếp sai Trường sử dâng biểu cống nạp. Năm '''Thái Dự (泰豫)''' thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế, lại sai sứ dâng sản vật địa phương. Trong những năm '''Vĩnh Minh (永明)''' (483 – 493) đời nhà Tề, '''Phạm Văn Tán (范文贊)''' nhiều lần sai sứ cống nạp. Năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9 (năm 510 dương lịch), con của Văn Tán là '''Thiên Cải (天凱)''' dâng vượn trắng. Chiếu rằng: "Lâm Ấp vương '''Phạm Thiên Cải (范天凱)''' ở nơi hải ngoại, có lòng thành khẩn, từ xa tu sửa chức phận cống nạp, thật đáng khen ngợi. Nên ban tước hiệu, phủ thêm vinh trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Uy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 10 (năm 511 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 11 (năm 512 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 13 (năm 514 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét các mục trên theo Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 13, Thiên Cải liên tiếp sai sứ dâng sản vật, chẳng bao lâu sau thì bệnh mất, con là '''Bật Thụy Bạt Ma (弼毳跋摩)''' lập, dâng biểu cống nạp." '''Tháng 6 năm Phổ Thông (普通) thứ 7 (năm 526 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Phổ Thông (普通)''' thứ 7, vua '''Cao Thức Thắng Khải (高式勝鎧)''' sai sứ dâng sản vật. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 3 năm Đại Thông (大通) thứ 1 (năm 527 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Trung Đại Thông (中大通)''' thứ 2, hành Lâm Ấp vương '''Cao Thức Luật Đà La Bạt Ma (高式律陁羅跋摩)''' sai sứ cống nạp. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 7 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 6 (năm 534 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Những năm Khai Hoàng (開皇) đời Tùy Văn Đế (隋文帝), Lâm Ấp sai sứ vào cống.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Tổ tiên Lâm Ấp nhân lúc loạn '''Trưng Trắc (徵側)''' người con gái Giao Chỉ cuối thời Hán, con của Công tào là '''Khu Liên (區連)''' giết huyện lệnh, tự hiệu làm vua, không con, cháu ngoại là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, chết, con là '''Dật (逸)''' lập. Người Nhật Nam (日南) là '''Phạm Văn (范文)''' nhân lúc loạn làm nô bộc cho Dật, bèn dạy cho cách xây cung thất, chế khí giới. Dật rất tín nhiệm, sai Văn cầm quân, cực được lòng người. Văn nhân đó ly gián các con cháu của Dật, kẻ thì bỏ chạy người bị đày. Khi Dật chết không có con nối, Văn tự lập làm vua. Về sau '''Phạm Phật (范佛)''' bị Dương uy tướng quân nhà Tấn là '''Đái Hoàn (戴桓)''' đánh phá; Thứ sử Giao Châu nhà Tống là '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' cầm quân đánh sâu vào biên cảnh; đến thời nhà Lương, nhà Trần cũng thông sứ qua lại. Nước ấy dài rộng mấy 1,000 dặm, đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống với Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi từ vỏ sò (thần hôi) trát lên, cửa hướng về phía Đông. Quan cao cấp có 2 hạng: một là '''Tây Na Bà Đế (西那婆帝)''', hai là '''Tát Bà Địa Ca (薩婆地歌)'''. Thuộc quan có 3 cấp: thứ nhất là '''Luân Đa (倫多)''', thứ đến là '''Ca Luân Trí Địa (歌倫致地)''', thứ đến là '''Ất Tha Già Lan (乙他伽蘭)'''. Quan ở ngoài chia làm hơn 200 bộ, chức trưởng quan gọi là '''Phất La (弗羅)''', thứ đến gọi là '''Khả Luân (可輪)''', giống như sự sai biệt của Mục tể vậy. Vua đội mũ hoa vàng, hình dáng như mũ Chương phủ. Mặc vải Triều hà, đeo anh lạc châu ngọc, chân đi giày da, đôi khi khoác áo bào gấm. Con em nhà lành thị vệ có khoảng 200 người, đều cầm đao trang trí vàng. Có cung tên, đao sáo, lấy tre làm nỏ, bôi độc vào mũi tên. Nhạc có đàn cầm, sáo, tỳ bà, đàn 5 dây, khá giống Trung Quốc. Mỗi khi đánh trống để cảnh báo chúng dân, thổi vỏ ốc để tập hợp quân đội. Người ở đó mắt sâu mũi cao, tóc xoăn, da đen. Tục đều đi chân đất, dùng khổ vải quấn thân. Tháng mùa đông thì mặc áo bào, phụ nữ búi tóc hình chóp, trải chiếu lá. Mỗi khi có cưới hỏi, lệnh cho người mai mối mang vòng vàng bạc, 2 hũ rượu, mấy con cá đến nhà gái. Sau đó chọn ngày, nhà trai họp thân khách, múa hát đối đáp. Nhà gái mời 1 người Bà-la-môn (婆羅門) đưa cô gái đến nhà trai, chú rể rửa tay, nhân đó dắt cô gái trao cho. Vua chết 7 ngày thì táng, người có quan tước 3 ngày, dân thường 1 ngày. Đều dùng hòm đựng thây, đánh trống múa hát dẫn đường, dùng xe khiêng đến bên nước, chất củi đốt đi, thu lại xương còn sót, nếu là vua thì đặt trong hũ vàng, dìm xuống biển. Người có quan thì dùng hũ đồng dìm ở cửa biển, dân thường dùng hũ sành tiễn đưa xuống sông. Nam nữ đều cắt tóc, theo đám tang đến bên nước, hết lòng thương tiếc mới thôi, về nhà thì không khóc. Cứ mỗi 7 ngày lại đốt hương rắc hoa, lại khóc hết lòng sầu thảm mới thôi. Trọn 7 lần 7 (49 ngày) thì dứt. Đến 100 ngày và 3 năm cũng làm như vậy. Người đều thờ Phật, văn tự giống với Thiên Trúc (天竺). Sau khi Cao Tổ bình định nhà Trần, [Lâm Ấp] bèn sai sứ dâng sản vật địa phương, về sau triều cống bị đoạn tuyệt. '''Tháng 4 năm Đại Nghiệp (大業) thứ 1 (năm 605 dương lịch) đời Dạng Đế (煬帝), Đại tướng quân Lưu Phương đánh Lâm Ấp, phá được.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Bấy giờ thiên hạ vô sự, quần thần nói Lâm Ấp có nhiều báu vật kỳ lạ. Cuối năm '''Nhân Thọ (仁壽)''' (năm 604 dương lịch), Thượng sai Đại tướng quân '''Lưu Phương (劉方)''' làm Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu (歡州), suất lĩnh Thứ sử Khâm Châu '''Ninh Trường Chân (甯長真)''', Thứ sử Hoan Châu '''Lý Ng晕 (李暈)''', Khai phủ '''Tần Hùng (秦雄)''' cùng hơn 10,000 bộ kỵ và mấy 1,000 tội nhân đi đánh. Vua nước ấy là '''Phạn Chí (梵志)''' suất lĩnh đồ đảng cưỡi voi lớn ra chiến đấu, quân của Phương bất lợi. Phương bèn đào nhiều hố nhỏ, lấy cỏ phủ lên trên, nhân đó dùng binh khiêu chiến, Phạn Chí dốc toàn quân ra dàn trận. Phương đánh rồi giả vờ chạy, Phạn Chí đuổi theo đến chỗ có hố, quân chúng sa hố rất nhiều, lại kinh hãi lẫn nhau, quân bèn loạn. Phương tung binh đánh, đại phá quân giặc. Phạn Chí thua trận liên tiếp, bèn bỏ thành mà chạy. Phương vào kinh đô nước ấy, thu được 18枚 (tấm/mộc) bài vị thờ trong miếu, thảy đều đúc bằng vàng, đại khái là nước ấy đã trải qua 18 đời. Phương rút quân về, Phạn Chí lại chiếm đất cũ, sai sứ tạ tội, từ đó triều cống không tuyệt. Xét Truyện của Lưu Phương (劉方傳): Năm '''Nhân Thọ (仁壽)''', Phương được trao chức Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu, lấy Thượng thư Hữu thừa '''Lý Cương (李綱)''' làm Tư mã để kinh lược Lâm Ấp. Phương sai Ninh Trường Chân, Lý Ng晕, Tần Hùng đem bộ kỵ ra từ Việt Thường (越常), tự mình suất lãnh Đại tướng quân '''Trương Tốn (張愻)''', Tư mã Lý Cương theo quân thủy hướng đến Tỷ Cảnh (比景). Sau khi Cao Tổ băng hà, Dạng Đế lên ngôi, tháng Giêng năm '''Đại Nghiệp (大業)''' thứ 1 (năm 605 dương lịch), quân đến cửa biển, vua Lâm Ấp Phạn Chí sai quân giữ nơi hiểm yếu, Phương đánh đuổi đi. Quân đến sông Xà Lê (闍黎江), giặc dựa vào bờ Nam lập rào chắn. Phương bày cờ xí rầm rộ, đánh kim gõ trống, giặc sợ hãi tan rã. Đã qua sông, đi được 30 dặm, giặc cưỡi voi lớn từ 4 mặt kéo đến, Phương dùng nỏ bắn voi, voi trúng thương quay lại giẫm vào trận đồ quân giặc, vương sư lực chiến, giặc chạy vào rào chắn, quân Tùy phá được, bắt và chém hàng 10,000 người. Sau đó vượt Khu Túc (區粟), qua Lục Lý (六里), trước sau gặp giặc trận nào cũng bắt được. Tiến đến sông Đại Duyên (大緣江), giặc dựa nơi hiểm lập rào, lại đánh phá được. Đi qua cột đồng của '''Mã Viện (馬援)''', đi về phía Nam 8 ngày thì đến kinh đô nước ấy. Vua Lâm Ấp Phạn Chí bỏ thành chạy ra biển, Phương thu được bài vị miếu chủ bằng vàng, khắc đá ghi công rồi về. Sĩ tốt chân bị sưng phù, người chết mất 14 – 15 phần trong tổng số 10 phần (tức 40% – 50%). Phương trên đường về gặp bệnh mà mất, Đế rất thương tiếc. === Lâm Ấp bộ hối khảo 2 (林邑部彙考二)=== '''Những năm Vũ Đức (武德) đời Đường Cao Tổ (唐高祖), nước Hoàn Vương (環王) sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Nước Hoàn Vương vốn là Lâm Ấp (林邑), còn gọi là Chiêm Bất Lao (占不勞), cũng gọi là Chiêm Bà (占婆), nằm thẳng phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm. Đất đai chiều Đông Tây rộng hơn 300 dặm, chiều Nam Bắc 1,000 dặm. Phía Tây giáp núi Vụ Ôn (霧溫山) của nước Chân Lạp (真臘), phía Nam đến Bôn Lãng Đà Châu (奔浪陀州). Ở phía Nam có cửa biển lớn (đại phố) có núi Ngũ Đồng Trụ (五銅柱山), hình như cái lọng che, phía Tây là núi đá trùng điệp, phía Đông sát biển, là nơi Mã Viện (馬援) nhà Hán trồng cột đồng vậy. Đất ấy mùa đông ấm, nhiều sương mưa. Sản sinh hổ phách, đười ươi, thú Kết Liêu, chim Kết Liêu. Lấy tháng 2 làm đầu năm, lúa chín 2 vụ một năm. Lấy nước cau làm rượu, lá dừa làm chiếu. Tục hung hãn, giỏi chiến đấu, dùng xạ hương bôi thân, ngày bôi 2 lần tắm 2 lần. Khi bái yết thì chắp tay sát trán. Có văn tự. Thích đạo Phù Đồ (Phật giáo). Đúc tượng vàng bạc, có cái lớn đến 10 vòng ôm. Gọi vua là 'Dương Bồ Cô' (陽蒲逋), vợ vua là 'Đà Dương A Hùng' (陀陽阿熊), Thái tử là 'A Trường Cô' (阿長逋), Tể tướng là Bà Mạn Địa (婆漫地). Nơi vua ở gọi là Chiêm Thành (占城), nơi ở khác gọi là Tề Quốc (齊國), Bồng Bì Thế (蓬皮勢). Vua mặc vải bạch điệp (vải bông trắng) cổ bối, quấn chéo qua cánh tay, sức chuỗi hạt vàng làm anh lạc, tóc xoăn, đội mũ hoa vàng như mũ Chương phủ. Vợ mặc váy ngắn bằng vải cổ bối màu triều hà, mũ và anh lạc giống như vua. Vua có 5,000 vệ binh, chiến đấu cưỡi voi, dùng mây làm áo giáp, dùng tre làm cung tên, suất lĩnh 1,000 voi, 400 ngựa, chia làm trước sau. Không đặt hình phạt, kẻ có tội thì cho voi giẫm, hoặc đưa đến núi Bất Lao (不勞山) cho tự chết. Năm Nhân Thọ (仁壽) đời Tùy, sai Tướng quân Lưu Phương (劉芳) [Tùy thư chép là Lưu Phương 劉方] đánh nơi đó, vua là Phạm Phạn Chí (范梵志) bỏ chạy. [Nhà Tùy] lấy đất ấy làm 3 quận, đặt thủ lệnh, nhưng vì đường xá trở ngại không thông, Phạn Chí gom góp tàn quân riêng xây quốc ấp. Những năm Vũ Đức (618 – 626 dương lịch), lại sai sứ dâng sản vật, Cao Tổ cho bày nhạc Cửu Bộ (九部樂) để yến đãi." '''Những năm Trinh Quán (貞觀) đời Thái Tông (太宗), Lâm Ấp sai sứ vào dâng lễ.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Thời Trinh Quán, vua Đầu Lê (頭黎) dâng voi thuần, xích lưu (vàng ròng), đai ngũ sắc, vải triều hà, cây lửa (hỏa thụ), cùng đi với sứ giả hai nước Bà Lợi (婆利), La Sát (羅剎). Lời lẽ sứ giả không cung kính, quần thần xin hưng binh hỏi tội. Thái Tông nói: 'Xưa Phù Kiên muốn nuốt nhà Tấn, quân có 1,000,000 người nhưng một trận là mất sạch. Nhà Tùy đánh Cao Ly, hằng năm điều động phu phen khiến lòng người oán hận, rồi chết trong tay kẻ thất phu. Trẫm há dám vọng bàn việc phát binh sao?'. Bèn tha cho không hỏi đến. [Lâm Ấp] lại dâng vẹt ngũ sắc, vẹt trắng, chúng thường kêu lạnh, vua hạ chiếu trả về. Đầu Lê chết, con là Trấn Long (鎮龍) lập, dâng tê giác Thông Thiên cùng các thứ báu vật." '''Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (năm 645 dương lịch), vua Lâm Ấp Phạm Trấn Long (范鎮龍) bị ám sát, người trong nước lập Gia Cát Địa (諸葛地) làm vua.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Năm thứ 19, Ma Ha Mạn Đa Già Độc (摩呵慢多伽獨) giết Trấn Long, diệt tông tộc họ Phạm. Người trong nước lập con rể của Đầu Lê là người Bà-la-môn (婆羅門) làm vua, các đại thần cùng phế đi, lại lập con gái của Đầu Lê làm vương. Gia Cát Địa là con của cô vua Đầu Lê, cha gặp tội phải trốn sang Chân Lạp (真臘). Vua nữ không thể định quốc, đại thần cùng đón Gia Cát Địa về làm vua, gả vua nữ cho." '''Những năm Chí Đức (至德) đời Túc Tông (肅宗), Lâm Ấp đổi hiệu thành Hoàn Vương (環王).''' Xét Đường Thư (唐書) - Túc Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Từ năm Vĩnh Huy (永徽) đến Thiên Bảo (天寶) phàm 3 lần vào dâng cống, sau năm Chí Đức (năm 756 dương lịch) đổi hiệu là Hoàn Vương." '''Những năm Nguyên Hòa (元和) đời Hiến Tông (憲宗), Đô hộ An Nam Trương Chu bắt Đô thống và 59 vương tử nước Hoàn Vương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Đầu năm Nguyên Hòa (năm 806 dương lịch), [Hoàn Vương] không vào triều cống, Đô hộ An Nam '''Trương Chu (張舟)''' bắt Đô thống các châu Hoan, Ái ngụy của chúng, chém 30,000 thủ cấp, bắt làm tù binh 59 vương tử, thu được voi chiến, thuyền chiến và áo giáp." === Lâm Ấp - Tạp ký (雜記) - 7 mục=== * '''Cây cau (Binh lang thụ):''' Thân to hơn 1 trượng, cao hơn 10 trượng, vỏ như đồng xanh, đốt như tre đốm. Gốc không to, ngọn không nhỏ, xa gần thành rừng, 1,000 – 10,000 cây như một. Dáng tươi đẹp không có cành, đỉnh đầu có lá, lá xòe ra như nan quạt. Nhìn lên xa xăm như khóm chuối trên ngọn tre, gió thổi thì lá động tựa như quạt lông quét trời. Dưới lá có mấy buồng, mỗi buồng đính 10 số quả, nhà có mấy 100 cây nhìn thưa thớt như dây thừng treo vậy. * '''Chim Linh Thứu (靈鷲):''' Ở biên giới xa xôi phía Tây Nam có chim Linh Thứu, biết được cát hung. Thấy người sắp chết thì rình ăn sạch thịt thây mới đi. Người nhà lấy xương thiêu thành tro ném xuống nước. * '''Cá bay (Phi ngư):''' Cánh như cánh ve, khi bơi thì lướt mây, khi lặn thì xuống đáy biển. * '''Đất đai:''' Trải dài 60 dặm. Đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi vỏ sò trát lên. Đều mở cửa phía Bắc hướng về mặt trời, hoặc Đông Tây không định. * '''Vua Phạm Văn (范文):''' Đúc đồng làm bò, làm nhà bằng đồng, làm hành cung. * '''Vua Minh Đạt (明達):''' Dâng nhẫn kim cương (Kim cương chỉ hoàn). * '''Núi vàng (Kim Sơn):''' Từ Lâm Ấp đi đến Kim Sơn hơn 30 dặm, xa nhìn thấy Kim Sơn cao ngất mà sắc đỏ chiếu rọi như bầu trời. Trong khe hốc có vàng sinh ra hình như sâu bọ, nhỏ thì như ruồi xanh, lớn thì như ong ve, đêm đi tỏa sáng như đom đóm. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 870vbwqzrfzrrdasg3hwmya5bbveflv 204725 204724 2026-04-15T08:01:03Z Mrfly911 2215 /* Thời nhà Tấn (晉) */ 204725 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第096卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 96''' | trước= [[../quyển 095|quyển 95]] | sau= [[../quyển 097|quyển 97]] | ghi chú = }} == Cầm Nhân bộ hối khảo (禽人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Cầm (禽人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Cầm (禽人) dâng cỏ gian (菅)." *(Chú thích: Cũng là người Man phương Đông Nam, cỏ gian vốn bền dai). == Lộ Nhân bộ hối khảo (路人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Lộ (路人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Lộ (路人) dâng trúc lớn." *(Chú thích: Người Lộ là người Man phương Đông, cống nạp trúc lớn). == Bặc Nhân bộ hối khảo (卜人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Bặc (卜人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Bặc (卜人) dâng đan sa (丹沙)." *(Chú thích: Người Bặc là người Man phương Tây Nam, nơi sản sinh ra đan sa). == Dương Châu bộ hối khảo (揚州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Dương Châu (揚州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Dương Châu (揚州) dâng cá ngu ngu (禺禺), tên là Giải Du Khấu (解隃寇)." *(Chú thích: Cũng là một loài cá lạ). == Quyền Phù bộ hối khảo (權扶部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Quyền (權)''' và '''Phù (扶)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Quyền (權) và Phù (扶) dâng chim tam mục (三目 - chim 3 mắt)." *(Chú thích: Quyền và Phù là người Man phương Nam, hình dáng rất nhỏ bé). == Bạch Châu bộ hối khảo (白州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Bạch Châu (白州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Bạch Châu (白州) dâng cây bắc lư (北閭). Cây bắc lư ấy da nó như tấm khiên, đốn lấy gỗ nó để làm xe, đi mãi mà không hỏng." *(Chú thích: Bạch Châu là người Man phương Đông Nam, giáp giới với tộc Bạch Dân (白民)). == Trường Công bộ hối khảo 1 (長肱部彙考一) 〈Trường tý - 長臂〉== '''Thời nhà Chu (周)''' '''Chu Mục vương (穆王)''' chinh phạt phía Tây, phong cho người '''Trường Công (長肱)''' ở phía Tây sông '''Hắc Thủy (黑水)'''. Xét: Mục Thiên tử truyện (穆天子傳) có chép như vậy. *(Chú thích: Tức là "người tay dài" vậy. Thân hình như người Trung Quốc, nhưng cánh tay dài 3 trượng (khoảng 10 mét). Thời nhà Ngụy (魏) từng thu được vạt áo của người này ở vùng Biển Đỏ (Xích hải - 赤海)). == Trường Công bộ hối khảo 2 (長肱部彙考二)== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Trường Tý (長臂國 - Nước tay dài)''', bắt cá dưới nước, mỗi tay cầm 1 con cá. Có thuyết nói nước này ở phía Đông nước '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', bắt cá ở trong biển. *(Chú thích: Thuyết cũ nói rằng: Tay người nước ấy buông thõng xuống chạm đất. Những năm Hoàng Sơ (黃初) (năm 220 – 226 dương lịch) thời nhà Ngụy (魏), Thái thú Nguyên Thố (元菟) là Vương Kỳ (王頎) thảo phạt vua nước Cao Câu Ly (高句麗) là Cung (宮), đuổi gấp đến cùng, đi qua nước Hoạt Thư (活沮), biên giới phía Đông giáp biển lớn, gần nơi mặt trời mọc. Vương Kỳ hỏi các bậc kỳ lão rằng: "Phía Đông biển có người nữa không?". Họ đáp: "Thường thu được một chiếc áo vải ở trong biển, thân áo to như người Trung Quốc, nhưng 2 ống tay dài 3 thước (khoảng 1 mét)". Đó chính là áo của người tay dài vậy. Xét theo sách Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Trường Tý ở phía Đông biển, người buông tay chạm đất. Xưa có người ở trong biển thu được 1 chiếc áo vải, mỗi ống tay dài hơn 1 trượng (khoảng 3.3 mét)). == Trường Công bộ nghệ văn (長肱部藝文)== '''"Trường Tý quốc tán" (長臂國贊 - Bài tán về nước tay dài)''' '''Tấn (晉) · Quách Phác (郭璞)''' "Đôi tay dài 3 thước, thân thể như người thường. Kẻ kia là ai vậy? Chính dân nước Trường Tý. Cậy đôi chân dài, bắt cá bến bờ xa." == Hoàng Chi bộ hối khảo (黃支部彙考)== '''Thời nhà Hán (漢)''' Mùa xuân năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch) đời '''Bình Đế (平帝)''', nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' dâng nộp tê ngưu (tê giác). Xét: Hán Thư (漢書) - Bình Đế bản kỷ chép như vậy. *(Chú thích: '''Ứng Thiệu (應劭)''' nói: "Hoàng Chi ở phía Nam của Nhật Nam (日南), cách kinh sư 30,000 dặm." '''Sư Cổ (師古)''' nói: "Tê giác hình trạng như trâu nước, đầu giống lợn mà có 4 chân, loại như voi, màu đen, có 1 sừng ở trước trán, trên mũi lại có sừng nhỏ nữa"). Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Nam Man truyện: "'''Vương Mãng (王莽)''' phụ chính, vào năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch), nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' ở phía Nam của '''Nhật Nam (日南)''' đến dâng nộp tê ngưu. Phàm những nơi vùng '''Giao Chỉ (交趾)''' thống lĩnh, tuy có đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác biệt, phải qua nhiều lần dịch mới thông. Người ở đó như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt. Búi tóc sau gáy, đi chân đất, dùng vải khoét lỗ xỏ qua đầu mà mặc. Sau này khá nhiều tội nhân người Trung Quốc bị đày đến, cho ở xen kẽ giữa họ, nên họ mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy được lễ nghi giáo hóa." Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước '''Hoàng Chi (黃支國)''', thời Hán đã thông sứ, ở phía Nam của vùng biển hợp với '''Nhật Nam (日南)''' 30,000 dặm, phong tục đại lược tương tự với vùng '''Châu Nhai (珠崖)'''. Từ thời '''Vũ Đế (武帝)''' trở đi thảy đều đến cống nạp, có minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá lạ vật lạ. Hạt châu lớn có vòng tròn đến dưới 2 tấc mà cực tròn, đặt trên đất bằng thì lăn suốt ngày không dừng." == Mãn Lạt Gia bộ hối khảo (滿剌加部彙考) Malacca == '''〈Ca La (哥羅), Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅), Trọng Già La (重迦羅)〉''' ===Thời nhà Hán (漢)=== Nước '''Ca La (哥羅國)''' thời Hán đã nghe danh tại Trung Quốc. Xét: Hán Thư (漢書) không chép. Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước Ca La (哥羅國), thời Hán đã nghe danh, ở phía Đông Nam nước '''Pán Pán (槃槃)''', cũng gọi là nước '''Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅國)'''. Vua họ '''Thỉ Lợi Bà La (矢利婆羅)''', tên là '''Mễ Thất Bát La (米失缽羅)'''. Thành quách xây bằng đá, trên thành có lầu khuyết, cửa có cấm vệ, cung thất lợp bằng cỏ. Nước có 24 châu mà không có huyện. Trong sân bày nghi trượng, có cờ tiết trang trí bằng lông công. Binh khí có cung, tên, đao, sáo, giáp da. Chinh phạt đều cưỡi voi, 1 đội có 100 thớt voi, mỗi thớt voi có 100 người hộ vệ. Yên voi có móc ngăn, trong đó ngồi 4 người: 1 người cầm khiên, 1 người cầm cung tên, 1 người cầm gậy nhọn, 1 người cầm đao. Thuế khóa mỗi người nộp 1 thù bạc. Trong nước không có tơ tằm, gai sợi, chỉ sản xuất vải cát bối (vải bông), gia súc có bò và ít ngựa. Theo tục lệ, kẻ không có chức quan thì không được búi tóc trên đầu. Lại có tục gả cưới, lúc đầu hỏi vợ chỉ dùng trầu cau làm lễ, kẻ nhiều đến 200 mâm; hoặc lúc cưới chỉ lấy vàng làm tài vật, kẻ nhiều đến 200 lạng. Đàn bà gả xong thì theo họ chồng. Âm nhạc có tỳ bà, sáo ngang, chũm chọe đồng, trống sắt, kèn, ốc loa, đánh trống. Khi chết thì thiêu xác, bỏ tro vào hũ vàng, dìm xuống biển lớn." === Thời nhà Minh (明)=== '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403 dương lịch), Thành Tổ (成祖) sai sứ chiêu dụ nước Mãn Lạt Gia (滿剌加國).''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Mãn Lạt Gia ở phía Nam nước '''Chiêm Thành (占城)''', thuận gió 8 ngày thì đến '''Long Nha Môn (龍牙門)''', lại đi về phía Tây 2 ngày là tới. Có thuyết nói đó là đất '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' thuộc nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' đời cổ. Tháng 10 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 1 (năm 1403 dương lịch), sai Trung quan '''Doãn Khánh (尹慶)''' sứ đến nơi đó, ban cho gấm thêu vàng, màn trướng dát vàng và các vật dụng. Đất ấy không có vua, cũng không xưng quốc hiệu, lệ thuộc vào nước '''Xiêm La (暹羅)''', mỗi năm nộp 40 lạng vàng làm thuế. Doãn Khánh đến nơi, tuyên thị uy đức cùng ý định chiêu mời. Tù trưởng là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' cả mừng, sai sứ theo Khánh vào triều, dâng sản vật địa phương." '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào cống, phong làm Mãn Lạt Gia Quốc vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Tháng 9 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch) đến kinh sư, Hoàng đế khen ngợi, phong làm '''Mãn Lạt Gia Quốc vương (滿剌加國王)''', ban cho cáo ấn, lụa màu, áo mặc, lọng vàng, lại mệnh cho Doãn Khánh đi cùng. Sứ giả thưa rằng: "Vua tôi hâm mộ nghĩa cả, nguyện cùng Trung Quốc liệt vào hàng các quận, hằng năm dâng nộp lễ cống, xin phong cho ngọn núi ở đó làm trấn sơn của một nước." Hoàng đế nghe theo, soạn văn bia khắc trên núi, cuối bài thêm bài thơ rằng: "Biển lớn Tây Nam thông Trung Quốc, đổ trời rót đất muôn đời cùng... Bia đá chữ lớn biểu lòng trung, núi Tây nước ngươi vĩnh viễn phong làm trấn." Nhóm người Doãn Khánh lại đến, nhà vua càng mừng, tiếp đãi lễ độ tăng thêm. Xét Minh Hội Điển (明會典): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch), tù trưởng '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' sai sứ dâng biểu bằng lá vàng đến triều cống, chiếu phong làm Quốc vương. Sản vật cống nạp gồm: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hạt mã não, hạt san hô, nhẫn nạm vàng, vẹt, gấu đen, vượn đen, hoẵng trắng, vải Tây Dương, các loại hương liệu như trầm hương, nhũ hương, đinh hương... và hắc tiểu tư (nô lệ đen). Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), tự vương (vua nối ngôi) là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' thân hành dẫn vợ con đến triều kiến, được ban thưởng hậu hĩnh rồi về. Từ đó triều cống không dứt. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): Nước Mãn Lạt Gia chính là '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' cổ. Thời Hán thường thông với Trung Quốc, sau bị nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' ràng buộc. Đốn Tốn ở trên núi đảo giữa biển, đất rộng 1,000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, thảy đều thuộc về '''Phù Nam (扶南)'''. Phía Tây giáp các nước ngoài biên giới Thiên Trúc (天竺), thành nước ấy tiếp giáp '''Đồ Bà (闍婆 Java)''' nên còn tên là '''Đại Đồ Bà (大闍婆)''', nay gọi là '''Trọng Già La (重迦羅)'''. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411 dương lịch), Mãn Lạt Gia dẫn vợ con vào triều dâng cống. Vua ngự tại cửa Phụng Thiên, ban yến thưởng thêm hậu hĩnh.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con và bồi thần hơn 540 người đến triều kiến. Đến ngoại ô, vua mệnh cho Trung quan '''Hải Thọ (海壽)''', Lang trung Bộ Lễ '''Hoàng Thường (黃裳)''' đón yến lao. Khi vào triều, Hoàng đế thân hành ban yến tại điện Phụng Thiên, Vương phi và người dưới được ban yến nơi khác. Ban cho vua 2 bộ áo rồng thêu vàng, 1 bộ áo kỳ lân, đồ vàng bạc, màn chăn đều đủ, Vương phi và người dưới đều được ban thưởng. Lúc sắp về, ban cho đai ngọc, nghi trượng, yên ngựa, 100 lạng vàng, 500 lạng bạc, 400,000 quán tiền giấy, 2,600 quán tiền đồng, 300 xấp gấm và 1,000 xấp lụa. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414 dương lịch), Quốc vương Mãn Lạt Gia qua đời, con trai vào triều báo tang, liền mệnh cho tập phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 12 (năm 1414 dương lịch), thế tử là '''Mẫu Oát Tát Can Đích Nhi Sa (母斡撒干的兒沙)''' đến triều kiến báo tang cha, liền mệnh cho nối ngôi, ban cho vàng tiền. Từ đó về sau hoặc liên tiếp các năm, hoặc cách năm lại vào cống, lấy đó làm thường lệ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 (năm 1419 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con bồi thần vào triều tạ ơn, tố cáo việc bị Xiêm La xâm lấn.''' Hoàng đế ban sắc dụ răn bảo '''Xiêm La (暹羅)''', Xiêm La bèn vâng chiếu. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 6 (năm 1431 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào tố cáo Xiêm La xâm lấn ngăn trở đường cống.''' Vua mệnh cho '''Trịnh Hòa (鄭和)''' mang sắc chỉ răn bảo Xiêm La, trách việc phải giữ hòa mục với láng giềng, không được trái mệnh triều đình. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), sứ giả nước Mãn Lạt Gia xin ban cho vua họ sắc thư, lọng che để trấn phục dân trong nước, lại nói vua muốn thân hành đến cung khuyết xin ban cho thuyền lớn.''' Vua đều nghe theo. Từ năm '''Chính Thống (正統)''' thứ 10 (năm 1445 dương lịch) trở đi, nhiều lần sai sứ đến cống, đường đi qua '''Quảng Đông (廣東)'''. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 6 (năm 1455 dương lịch) đời Đại Tông (代宗), Mãn Lạt Gia vào cống xin phong, [triều đình] sai sứ kiêm ban cho mũ áo.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Cảnh Thái (景泰)''' thứ 6 (năm 1455 dương lịch), '''Tốc Lỗ Đàn Vô Đáp Phật Na Sa (速魯檀無答佛哪沙)''' dâng ngựa và sản vật, xin phong làm vương. Chiếu sai Cấp sự trung '''Vương Huy (王暉)''' đi. Sau đó lại vào cống, nói rằng mũ đai được ban bị cháy trong hỏa hoạn, vua mệnh chế áo Bì biện, thường phục bằng lụa hồng cùng đai sừng tê, mũ sa ban cho." '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 3 (năm 1459 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), nước Mãn Lạt Gia vào cống xin phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), thế tử là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' sai sứ vào cống, mệnh cho Cấp sự trung '''Trần Gia Du (陳嘉猷)''' đi phong vương. Cách 2 năm sau, quan Bộ Lễ tấu rằng: Nhóm Gia Du đi biển 2 ngày đến biển '''Ô Chú (烏豬洋)''' gặp bão, thuyền hỏng trôi dạt 6 ngày đến sở Thủ ngự '''Thanh Lan (清瀾)''' thì được cứu. Sắc thư không mất nhưng đồ ban thưởng đều ướt nước, xin cấp lại và sai sứ đi lần nữa. Vua nghe theo." Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), Quốc vương '''Vô Đáp Phật Na Sa (無答佛哪沙)''' chết, con là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' xin mệnh, triều đình lại sai sứ mang chiếu đi phong." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 10 (năm 1474 dương lịch) đời Hiến Tông (憲宗), Mãn Lạt Gia vào cống.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 10 (năm 1474 dương lịch), Cấp sự trung '''Trần Tuấn (陳峻)''' đi phong vương nước '''Chiêm Thành (占城)''', gặp binh '''An Nam (安南)''' chiếm giữ Chiêm Thành nên không vào được, bèn mang đồ đến Mãn Lạt Gia, dụ vương vào cống. Sứ giả đến, Đế vui mừng ban sắc khen ngợi." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 (năm 1481 dương lịch), An Nam cướp bóc sứ giả Mãn Lạt Gia. Sứ giả đến triều đình tố cáo. [Đế] ban sắc trách An Nam và sai quan phong Mã Cáp Mộc Sa làm vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Tháng 9 năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 17 (năm 1481 dương lịch), sứ giả nói: 'Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 5 (năm 1469 dương lịch) sứ giả về nước dạt vào cõi An Nam, đa số bị giết, số còn lại bị xăm mặt làm nô lệ, kẻ nhỏ tuổi bị thiến. Nay họ đã chiếm đất Chiêm Thành, lại muốn nuốt bản quốc. Bản quốc vì thảy đều là thần tử của Vương nên chưa dám đánh'. Vừa lúc sứ An Nam cũng đến, sứ Mãn Lạt Gia xin tranh biện tại triều. Bộ Binh nói việc đã qua không đáng so đo sâu. Đế bèn nhân lúc sứ An Nam về, ban sắc trách vương nước ấy, đồng thời dụ Mãn Lạt Gia rằng: 'Nếu An Nam lại xâm lăng thì hãy chỉnh binh đợi chiến'. Sau đó sai Cấp sự trung '''Lâm Vinh (林榮)''', Hành nhân '''Hoàng Càn Hanh (黃乾亨)''' đi phong thế tử '''Mã Cáp Mộc Sa (馬哈木沙)''' làm vương. 2 người chết đuối, được truy tặng quan chức, ban tế tự cho con cháu, cứu tế gia đình. Lại sai Cấp sự trung '''Trương Thịnh (張晟)''' đi thay, Thịnh chết ở '''Quảng Đông (廣東)''', mệnh quan thủ thần chọn 1 quan viên làm phó cho '''Tả Phụ (左輔)''' để hoàn tất việc phong vương." '''Năm Chính Đức (正德) thứ 3 (năm 1508 dương lịch) đời Võ Tông (武宗), người Giang Tây là Tiêu Minh Cử cướp giết sứ Mãn Lạt Gia, sự việc bại lộ bị xử tử. Người Phật Lang Cơ (nguyên văn 佛郎機 người Pháp - đúng ra là người Bồ Đào Nha) cậy mạnh đoạt đất Mãn Lạt Gia.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Chính Đức (正德)''' thứ 3 (năm 1508 dương lịch), sứ thần '''Đoan Á Trí (端亞智)''' vào cống. Thông sự là '''Á Lưu (亞劉)''', vốn là người huyện '''Vạn An (萬安)''' tỉnh '''Giang Tây (江西)''' tên '''Tiêu Minh Cử (蕭明舉)''', phạm tội trốn sang nước ấy, hối lộ thông sự để mưu đồ bảo vật. Khi về đến Quảng Đông, Minh Cử cùng đồng bọn cướp giết sứ giả lấy hết tài vật. Sự việc bại lộ, Minh Cử bị lăng trì, bọn còn lại bị chém. Sau đó, người '''Phật Lang Cơ (佛郎機 - người Bồ Đào Nha)''' đem quân xâm chiếm đất ấy, vương là '''Tô Đoan Ma Mạt (蘇端媽末)''' bỏ chạy, sai sứ cáo nan. Lúc này '''Thế Tông (世宗)''' đã lên ngôi, ban sắc trách Phật Lang Cơ lệnh trả lại đất cũ, dụ vua các nước '''Xiêm La (暹羅)''' cứu láng giềng. Nhưng không ai ứng phó, Mãn Lạt Gia cuối cùng bị diệt. Sau này đổi tên là '''Ma Lục Giáp (麻六甲 - Malacca)'''." Sản vật cống nạp gồm: mã não, ngọc trai, đồi mồi, san hô, sừng tê, ngà voi, vẹt, trầm hương... Có núi chảy ra suối, thổ dân đãi cát lấy thiếc, đúc thành khối gọi là "đấu thiếc". Đất đai khô cằn, dân chủ yếu đãi thiếc và bắt cá. Khí hậu sáng nóng chiều lạnh. Nam nữ búi tóc, thân hình đen đúa, kẻ có da trắng là giống người Đường (Trung Quốc) vậy. Từ khi bị Phật Lang Cơ phá, phong tục thay đổi hẳn, thuyền buôn ít đến. === Mãn Lạt Gia bộ kỷ sự (滿剌加部紀事 - Ghi chép sự việc)=== *Huyện chí Vô Tích (無錫縣志): "'''Du Phổ (俞溥)''' làm Tham quân, sứ đến Mãn Lạt Gia 3 năm mới về, học được thuật bói rùa. Chọn rùa lớn nuôi bằng suối trong và rêu xanh, mỗi năm bói 1 lần. Trước khi bói ăn chay 7 ngày, dùng sơn mỏng bôi bụng rùa, đợi sơn nứt như vết nung để nghiệm cát hung. Phổ mang về 2 con rùa, một con dài 1 tấc 3 phân, một con dài 1 tấc rưỡi. Lại mang về 2 loại thuốc: một tên '''A Chỉ Nhi (阿止兒)''' trị nội thương; một tên '''A Tức Loại (阿息類)''' trị kim thương." *Khôn Dư Đồ Thuyết (坤輿圖說): "Nước Mãn Lạt Gia đất không rộng lắm nhưng là nơi thương nhân tụ hội, nằm ngay dưới đường xích đạo. Tiết xuân phân và thu phân khí hậu cực nóng, nhờ ngày nào cũng mưa nên có thể ở được. Sản sinh voi, hồ tiêu và gỗ quý. Người lương thiện, không lo kế sinh nhai, thường đàn tỳ bà rong chơi nhàn hạ." ==Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 1 (僬僥部彙考一)== ===〈Chu Nhiêu - 周饒〉=== ===Thời Hậu Hán (後漢)=== Tháng 3 mùa xuân, ngày Kỷ Mão năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 107 dương lịch) đời '''An Đế (安帝)''', dân Di chủng tộc '''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''' đến cống nạp và xin nội thuộc. Xét: Hậu Hán Thư (後漢書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. ===Thời nhà Minh (明)=== Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 17 (năm 1419 dương lịch) đời '''Thành Tổ (成祖)''', nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' đến cống nạp. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): "'''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' là người Di ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''', người cao 3 thước (khoảng 1 mét). Trong số các nô lệ đen (hắc tiểu tư) của các nước phiên thường dùng làm vật cống nạp, thì các chủng tộc như Hợi Thủ (咳首) đại để đều là người Lão ở biển (hải lão) vậy." === Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 2 (僬僥部彙考二)=== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Chu Nhiêu (周饒國)''', người ở đó thân hình ngắn nhỏ, đội mũ thắt đai. Có thuyết nói nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' ở phía Đông nước '''Tam Thủ (三首)'''. *(Chú thích: Người ở đó cao 3 thước (khoảng 1 mét), sống trong hang, có thể làm được các đồ máy móc khéo léo, có đủ 5 loại ngũ cốc. Lại nữa, sách Ngoại truyện nói: Dân Tiêu Nghiêu cao 3 thước, là cực điểm của sự ngắn nhỏ. Sách Thi Hàm Thần Vụ chép: Từ Trung Châu đi về phía Đông 400,000 dặm, có người nước Tiêu Nghiêu, cao 1 tấc 5 phân (khoảng 45 cm)). '''Phần Đại hoang Nam kinh (大荒南經)''' Có nước của người nhỏ bé tên là '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', mang họ Kỷ (幾), ăn các loại ngũ cốc tốt (gia cốc). *(Chú thích: Thảy đều cao 3 thước. Xét về phương Tây, người Tiêu Nghiêu thời Nghiêu (堯) từng vào cống nạp, hoặc chính là nước này. Hoặc ở phương Tây Nam, phương Tây, phương Nam mỗi nơi đều có người Tiêu Nghiêu, thảy đều không có gì để khảo chứng thêm, nay tạm để tồn tại song song cả hai thuyết). == Bản Thuẫn Man bộ hối khảo (板楯蠻部彙考) Khảo cứu về bộ lạc người Man cầm khiên gỗ== === Thời Hậu Hán (後漢)=== Mùa đông tháng 10 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''' ở quận '''Ba (巴郡)''' làm phản, [triều đình] sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc Thứ sử '''Ích Châu (益州)''' thảo phạt nhưng không thắng được. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: "Giống người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''', vào thời '''Tần Chiêu Tương vương (秦昭襄王)''' có 1 con hổ trắng thường đi theo đàn hổ, nhiều lần dạo chơi vùng biên cảnh '''Tần (秦)''', '''Thục (蜀)''', '''Ba (巴)''', '''Hán (漢)''', làm hại hơn 1,000 người. Chiêu vương bèn trọng thưởng chiêu mộ trong nước, ai giết được hổ sẽ phong ấp 10,000 hộ, thưởng 100 dĩ vàng. Bấy giờ có người Di ở '''Lãng Trung (閬中)''' thuộc quận '''Ba (巴郡)''' biết làm nỏ bằng tre trắng, bèn lên lầu bắn chết hổ trắng. Chiêu vương khen ngợi, nhưng vì họ là người Di nên không muốn phong tước, bèn khắc đá lập thề, miễn thuế cho ruộng đất của họ, 10 người vợ không phải nộp thuế thân, kẻ làm bị thương người thì luận tội, kẻ giết người được dùng tiền 'tàm' (tức tiền chuộc) để chuộc tội chết. Lời thề rằng: 'Nếu người Tần phạm người Di, nộp 1 đôi rồng vàng; nếu người Di phạm người Tần, nộp 1 chung rượu trong'. Người Di yên lòng với việc đó. Đến khi '''Cao Tổ (高祖)''' làm Hán Vương, phát động người Di theo về đánh 3 đất Tần (Tam Tần). Sau khi đất Tần đã định, bèn cho họ về lại vùng '''Ba Trung (巴中)''', miễn thuế khóa cho các thủ lĩnh thuộc 7 họ: '''La (羅)''', '''Phác (朴)''', '''Đốc (督)''', '''Ngạc (鄂)''', '''Độ (度)''', '''Tịch (夕)''', '''Cung (龔)'''. Các hộ còn lại hằng năm nộp 40 tiền 'tư' mỗi khẩu, đời gọi là người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)'''. Vùng Lãng Trung có sông '''Du Thủy (渝水)''', người dân phần lớn sống hai bên bờ, thiên tính mạnh dũng, ban đầu làm tiền phong cho quân Hán, nhiều lần hãm trận. Tục thích ca múa, Cao Tổ xem xong nói: 'Đây là bài ca của Vũ Vương phạt Trụ vậy', bèn lệnh cho nhạc nhân học theo, chính là điệu múa '''Ba Du (巴渝舞)'''. Từ đó đời đời phục tùng. Đến thời Trung hưng, Thái thú thường dẫn họ đi chinh chiến. Đời '''Hoàn Đế (桓帝)''', Bản Thuẫn nhiều lần phản lại, Thái thú quận Thục là '''Triệu Ôn (趙溫)''' dùng ơn tín mà hàng phục được họ. Năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 3 (năm 180 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người Bản Thuẫn quận Ba lại phản, cướp bóc các quận thuộc Tam Thục và Hán Trung. Linh Đế sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc binh sĩ Ích Châu thảo phạt, liên tiếp nhiều năm không thắng được. Đế muốn phát động đại binh, bèn hỏi các Kế lại (quan lo việc sổ sách) của Ích Châu để khảo sát phương lược chinh thảo. Quan Thượng kế của '''Hán Trung (漢中)''' là '''Trình Bào (程包)''' thưa rằng: 'Bảy họ Bản Thuẫn từng bắn chết hổ trắng, lập công với tiền thế, vốn là nghĩa dân. Người đó dũng mãnh, giỏi binh chiến. Xưa những năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' (năm 107 – 113 dương lịch), người Khương vào Hán Xuyên, quận huyện tan vỡ, nhờ được Bản Thuẫn cứu viện mà quân Khương bị tiêu diệt gần sạch, nên họ được gọi là thần binh. Người Khương sợ hãi, truyền lời cho bộ tộc rằng chớ đi về phía Nam nữa. Đến năm '''Kiến Hòa (建和)''' thứ 2 (năm 148 dương lịch), người Khương lại đại cử xâm nhập, thực cũng nhờ Bản Thuẫn liên chiến phá được. Tiền Xa kị Tướng quân '''Phùng Côn (馮緄)''' khi nam chinh '''Vũ Lăng (武陵)''', tuy có tinh binh Đan Dương nhưng cũng dựa vào Bản Thuẫn mới thành công. Gần đây quận Ích Châu có loạn, Thái thú '''Lý Ngung (李顒)''' cũng dùng Bản Thuẫn mà dẹp yên. Trung công như thế, vốn không có lòng ác. Thế nhưng quan lại địa phương thu thuế quá nặng, tôi tớ đánh đập họ quá cả nô lệ, có người phải gả vợ bán con, hoặc thậm chí tự cắt cổ. Tuy họ kêu oan lên châu quận nhưng Mục thủ không phân định lý lẽ. Cung đình xa xôi không tự nghe thấu, nên họ ngậm oán kêu trời ở thung lũng cùng cực, sầu khổ vì sưu dịch, khốn đốn vì hình phạt tàn khốc, nên các ấp tụ tập mà làm phản, chứ không phải có chủ mưu tiếm hiệu làm loạn. Nay chỉ cần chọn Mục thủ sáng suốt hiền tài, tự khắc họ sẽ yên ổn tụ họp, không phiền đến chinh phạt'. Đế theo lời đó, sai Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' tuyên chiếu ân xá, họ liền đều hàng phục. Xét Hán Trung Sĩ Nữ Chí (漢中士女志): '''Trình Bào (程包)''' tự là '''Nguyên Đạo (元道)''', người '''Nam Trịnh (南鄭)''', năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) làm Thượng kế lại. Bấy giờ Bản Thuẫn làm phản, quân lữ nhiều phen nổi dậy, thiên tử lo lắng hỏi phương lược. Bào thưa: 'Bản Thuẫn trung dũng, lập công từ thời tiền Hán, là nghĩa dân của hoàng đế. Quân Khương vào Hán Trung, đều nhờ sức họ. Bởi không biết vỗ về nên mới dẫn đến phản loạn, chứ không có lòng tiếm đoạt. Nay binh lính kéo đến chưa chắc thắng được, chẳng bằng chọn Thái thú hiền tài, dùng ơn tín mà thu phục'. Thiên tử theo lời, kết quả đúng như lời ông nói. Sau này ông mất trên đường đi. Mùa thu tháng 7 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 5 (năm 182 dương lịch), người Bản Thuẫn Man ở quận Ba đến gặp Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' xin hàng. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Năm '''Trung Bình (中平)''' thứ 5 (năm 188 dương lịch), Bản Thuẫn Man lại phản, sai Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: 'Năm Trung Bình thứ 5, giặc Hoàng Cân ở quận Ba nổi dậy, người Bản Thuẫn Man nhân đó lại phản, cướp bóc thành ấp. [Triều đình] sai Tây Viên Thượng quân Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên'. == Lâm Ấp bộ hối khảo 1 (林邑部彙考一)== === Thời nhà Tấn (晉)=== '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Thái Khang (太康) thứ 5 (năm 284 dương lịch), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ và Lâm Ấp truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣) thời Hán, tức là nơi '''Mã Viện (馬援)''' đúc cột đồng vậy, cách Nam Hải (南海) 3,000 dặm. Cuối thời Hậu Hán, Công tào của huyện họ Khu (區) có con tên Liên (連), giết huyện lệnh rồi tự lập làm vua, con cháu truyền nối nhau. Về sau vua không có con nối dõi, ngoại tôn (cháu ngoại) là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, Hùng chết, con là Dật (逸) lập. Phong tục ở đó thảy đều mở cửa đất hướng về phía mặt trời. Về nơi cư ngụ thì hoặc Đông hoặc Tây không cố định. Tính người hung hãn, quả cảm trong chiến đấu, giỏi leo núi lội nước, không quen đất bằng. Bốn mùa ấm áp, không sương không tuyết, người đều ở trần đi chân đất, lấy sắc đen làm đẹp. Quý nữ khinh nam, người cùng họ lấy nhau. Người nữ hỏi cưới chồng trước. Lúc con gái gả đi thì mặc áo Ca-bàn (迦盤衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, đầu đội hoa quý. Lúc có tang thì cắt tóc mai, gọi đó là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Vua đội thiên quan (mũ trời), khoác chuỗi anh lạc. Mỗi khi nghe chính sự, tử đệ và thị thần đều không được lại gần. Từ thời '''Tôn Quyền (孫權)''' trở đi không triều cống Trung Quốc. Đến năm Thái Khang đời Vũ Đế mới bắt đầu đến cống nạp." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp bản truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣), quận Nhật Nam (日南郡) thời Hán, thuộc cương giới Việt Thường (越裳) xưa. Phục Ba tướng quân Mã Viện mở cõi Nam của nhà Hán, đặt ra huyện này. Đất ấy chiều dọc chiều ngang khoảng 600 dặm, thành cách biển 120 dặm, cách biên giới Nhật Nam hơn 400 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德郡), biên giới phía Nam đi đường thủy bộ hơn 200 dặm. Có người Di phương Tây cũng xưng vương, là nơi Mã Viện trồng 2 cột đồng để làm mốc biên giới nhà Hán vậy. Nước ấy có núi vàng (Kim Sơn), đá thảy đều màu đỏ, trong đó sinh ra vàng, đêm đến vàng bay ra như ánh đom đóm. Lại có đồi mồi, vỏ ốc, cát bối (vải bông), trầm mộc hương. Cát bối (吉貝) là tên cây. Khi hoa nở như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt vải, trắng sạch không khác vải gai (trữ bố), cũng nhuộm thành 5 màu, dệt thành vải vằn (ban bố). Trầm mộc (沉木) là cây do người bản địa chặt đứt, tích qua năm tháng cho mục nát mà phần tâm tiết vẫn còn, bỏ xuống nước thì chìm nên gọi là 'Trầm hương' (沉香). Loại kém hơn không chìm không nổi gọi là 'Hương' (香). Cuối thời Hán đại loạn, Công tào là '''Khu Đạt (區達)''' giết huyện lệnh tự lập làm vua, truyền được mấy đời. Về sau vua không con, lập cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊). Hùng chết, con là Dật (逸) nối ngôi." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Hiệu Lâm Ấp khởi đầu từ cuối thời Hán. Lúc loạn năm Sơ Bình (初平) (năm 190 – 193 dương lịch), người người ôm lòng khác. Công tào Tượng Lâm họ Khu có con tên Liên (連), đánh huyện giết lệnh, tự hiệu là vua. Gặp lúc loạn ly, Lâm Ấp bèn đứng vững, sau đó truyền vị cho con cháu. Thời Tam Quốc đỉnh tranh, chưa phụ thuộc bên nào. Nhà Ngô có đất Giao Châu tiếp giáp, tiến chiếm Thọ Lãnh (壽泠) làm cương giới. Từ đời Khu Liên trở đi, nước không có văn sử nên việc truyền nối mất dấu, thế số khó tường. Tông tộc tuyệt diệt, không còn hậu duệ. Cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊) lên thay, được lòng người vui vẻ ủng hộ. Sau Hùng chết, con là Dật (逸) lập." '''Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Thành Đế (成帝), vua Lâm Ấp là Phạm Dật chết, nô bộc là Văn (文) chiếm ngôi lập.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 2 (năm 336 dương lịch), Phạm Dật chết, nô bộc là Văn chiếm ngôi. Văn vốn là nô bộc của di soái '''Phạm Thôi (范椎)''' huyện Tây Quyển (西卷縣), quận Nhật Nam. Từng chăn bò trong khe núi, bắt được 2 con cá chép hóa thành sắt, dùng để rèn dao. Dao rèn xong, Văn đối diện tảng đá lớn mà khấn rằng: 'Cá chép biến hóa, đúc thành dao đôi, nếu tảng đá vỡ thì là có thần linh'. Tiến đến chém, đá liền vỡ tan. Văn biết là thần vật, bèn giấu đi, theo lái buôn qua lại, thấy được chế độ nước thượng quốc. Đến Lâm Ấp, Văn dạy Dật làm cung thất thành ấp cùng khí giới. Dật rất yêu tin, cho làm tướng. Văn bèn gièm pha các con của Dật, kẻ thì bị đày người thì bỏ trốn. Đến khi Dật chết không con, Văn bèn tự lập làm vua, đem vợ thiếp của Dật đặt hết lên lầu cao, ai theo mình thì nhận lấy, ai không theo thì cắt lương thực. Sau đó đánh các nước Đại Kỳ giới, Tiểu Kỳ giới, Thức Bộc, Từ Lang, Khuất Đô, Kiền Lỗ, Phù Đan rồi thôn tính cả, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Sai sứ dâng biểu triều cống hoàng đế, thư thảy đều dùng chữ Hồ (胡)." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Tấn Thành Đế, Dật chết, nô bộc là Văn chiếm lập. Văn vốn là gia nô của di soái '''Phạm Trĩ (范稚)''' huyện Tây Quyển, quận Nhật Nam. Thường chăn bò ở khe núi, được 2 con cá lăng, hóa làm sắt, nhân đó đúc dao. Đúc xong Văn hướng về phía đá mà chú rằng: 'Nếu chém đá vỡ, Văn sẽ làm vua nước này'. Bèn giơ dao chém đá, như chém cỏ khô. Văn lấy làm lạ. Phạm Tr稚 thường sai Văn đi buôn đến Lâm Ấp, Văn nhân đó dạy vua Lâm Ấp làm cung thất cùng binh xa khí giới, vua sủng ái trọng dụng. Sau Văn gièm pha các con vua, mỗi người trốn một nước. Khi vua chết không con, Văn giả vờ đón hoàng tử ở láng giềng về, bỏ độc vào nước uống mà giết đi, rồi hiếp dân trong nước tự lập. Cử binh đánh các nước nhỏ xung quanh thảy đều nuốt sạch, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Bấy giờ Thứ sử Giao Châu là '''Khương Tráng (姜壯)''' sai thân tín là '''Hàn Tập (韓戢)''', '''Tạ Trạc (謝稚)''' lần lượt giám sát quận Nhật Nam, đều tham tàn, các nước lấy làm khổ." Xét Thủy Kinh Chú (水經注) có đoạn về Phạm Văn: "... Văn vào núi tìm đá luyện sắt, đúc làm 2 con dao, giơ lưỡi hướng về phía vách núi (chướng) mà chúc rằng: 'Cá chép biến hóa, luyện đá thành dao, chém vách đá vỡ thì là có linh thần, Văn sẽ trị nơi này làm quân vương nước ấy. Nếu chém không vào thì là dao không thần linh'. Tiến đến chém vách đá như rồng thiêng chém cỏ, từ đó lòng người dần theo phục. Nay sông đá vẫn còn, dao cá vẫn tồn tại, truyền cho con cháu như kiếm trảm xà (chém rắn) vậy. Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 6 (năm 331 dương lịch) Dật chết không con... Văn tự lập làm vua. Lấy vợ thiếp vua trước đặt lên lầu cao, ai theo mình thì nạp làm thiếp, không theo thì tuyệt ăn uống cho đến chết. Sách Giang Đông cựu sự nói: Phạm Văn vốn là người Dương Châu (揚州), thuở nhỏ bị bắt làm nô lệ, bán đến Giao Châu. Năm 15 – 16 tuổi gặp tội đáng gậy, sợ hãi trốn theo lái buôn Lâm Ấp vượt biển đi xa, lọt vào nước của vua, được vua rất sủng ái. Qua hơn 10 năm vua chết... tự lập làm vua, uy thế trải khắp các nước. Có bộ lạc thì búi tóc tiếng Man, miệng ăn mũi uống, hoặc xăm mặt chạm mình, là giống người ở trần (thoát lỏa chủng), những kẻ lưu đày thời Hán Ngụy thảy đều bị Văn dùng." '''Tháng 10 năm Hàm Khang (咸康) thứ 6 (năm 340 dương lịch), Lâm Ấp dâng voi thuần.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ chép như vậy. '''Tháng Giêng mùa xuân năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch) đời Mục Đế (穆帝), Phạm Văn nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, giết Thái thú Hạ Hầu Lãm, dùng thây tế trời. Tháng 7 mùa thu, Phạm Văn lại chiếm Nhật Nam, giết Đốc hộ Lưu Hùng. Ngôi Văn lập Phạm Bôn làm đế.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), Văn suất quân đánh chiếm Nhật Nam, hại Thái thú '''Hạ Hầu Lãm (夏侯覽)''', giết 5,000 – 6,000 người, số còn lại chạy sang Cửu Chân. Lấy thây Lãm tế trời, san phẳng thành huyện Tây Quyển, rồi chiếm Nhật Nam, cáo với Thứ sử Giao Châu là '''Chu Phiên (朱蕃)''', xin lấy núi Hoành Sơn (橫山) ở phía Bắc Nhật Nam làm ranh giới. Nguyên trước đó các nước ngoài cõi thường mang bảo vật theo đường biển đến buôn bán, mà Thứ sử Giao Châu, Thái thú Nhật Nam đa số tham lợi xâm lấn, 10 phần chiết khấu mất 2 – 3 phần. Đến thời Thứ sử '''Khương Tráng (姜壯)''', sai '''Hàn Tập (韓戢)''' lĩnh Thái thú Nhật Nam, Tập đánh giá cao hơn nửa (ép giá), lại chặt cây đóng thuyền điều động phu phen, phao tin là 'chinh phạt', do đó các nước căm giận. Vả lại Lâm Ấp vốn tham đất Nhật Nam, Tập chết, người kế nhiệm là '''Tạ Trạc (謝擢)''' lại xâm khắc như trước. Đến khi Lãm đến quận lại đắm chìm trong rượu chè, chính giáo càng loạn, nên bị phá diệt. Sau đó Văn về Lâm Ấp. Năm ấy, Chu Phiên sai Đốc hộ '''Lưu Hùng (劉雄)''' đóng giữ Nhật Nam, Văn lại đánh chiếm nơi đó." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), đài đình sai Hạ Hầu Lãm làm Thái thú, xâm khắc càng thậm. Lâm Ấp vốn không có ruộng đất, tham đất Nhật Nam màu mỡ, thường muốn chiếm lấy. Đến đây nhân nỗi oán của dân bèn cử binh đánh Nhật Nam, giết Lãm, dùng thây tế trời. Ở lại Nhật Nam 3 năm mới về Lâm Ấp. Thứ sử Giao Châu Chu Phiên sau đó sai Đốc hộ Lưu Hùng đóng giữ Nhật Nam, Văn lại tiêu diệt đi, tiến đánh quận Cửu Đức (九德郡), tàn hại quan dân. Sai sứ bảo Phiên nguyện lấy núi Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm giới hạn, Phiên không hứa. Lại sai Đốc hộ '''Đào Hoãn (陶緩)''', '''Lý Cù (李衢)''' thảo phạt. Văn về Lâm Ấp, tìm cách đóng đồn ở Nhật Nam." '''Tháng 4 mùa hè năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 4 (năm 348 dương lịch), Phạm Văn đánh phá Cửu Chân, giết hại rất nhiều.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 4, Văn lại đánh Cửu Chân, hại sĩ dân đến 18 – 19 phần." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), Hoàn Ôn (桓溫) sai Đốc quân Đằng Tuấn (滕畯) thảo phạt Phạm Văn, không thắng. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi. Đằng Tuấn thảo phạt, tiến vào thành, Phật xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), '''Hoàn Ôn (桓溫)''' sai Đốc quân '''Đằng Tuấn (滕畯)''' thảo phạt Phạm Văn, bị Văn đánh bại." Xét Lâm Ấp bản truyền: "Năm thứ 5, Chinh Tây đốc hộ Đằng Tuấn suất binh Giao Châu, Quảng Châu đánh Văn ở Lô Dung (盧容), bị Văn đánh bại, lui về Cửu Chân. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 5, Văn chết, con là Phật lập, vẫn đóng đồn ở Nhật Nam. Chinh Tây tướng quân Hoàn Ôn sai Đốc hộ Đằng Tuấn, Thái thú Cửu Chân '''Quán Thúy (灌邃)''' suất binh Giao, Quảng thảo phạt, Phật ôm thành cố thủ. Thúy lệnh Tuấn bày binh mạnh ở phía trước, Thúy suất 700 tinh binh từ phía sau vượt lũy xông vào, quân Phật kinh sợ tan chạy. Thúy đuổi đến Lâm Ấp, Phật bèn xin hàng." '''Năm Thăng Bình (升平) thứ 3 (năm 359 dương lịch), Lâm Ấp xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Tháng 12 năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 3 (năm 359 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là '''Ôn Phóng Chi (溫放之)''' suất binh thảo phạt các bộ lạc Tham Lê (參黎), Đam Lão (耽潦) của Lâm Ấp, thảy đều hàng phục." Xét Lâm Ấp truyền: "Cuối năm Thăng Bình, Thứ sử Quảng Châu là '''Đằng Hàm (滕含)''' suất quân đánh Lâm Ấp, vua Phật (佛) sợ hãi xin hàng, Hàm cùng lập minh ước rồi về." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Đầu năm Thăng Bình, Lâm Ấp lại đến cướp bóc, Thứ sử Ôn Phóng Chi thảo phạt phá tan." '''Năm Ninh Khang (寧康) [không rõ số] đời Hiếu Vũ Đế (孝武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Ngày Kỷ Tỵ tháng 6 năm Thái Nguyên (太元) thứ 2 (năm 377 dương lịch), Lâm Ấp dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 3 năm Thái Nguyên (太元) thứ 7 (năm 382 dương lịch), Phạm Hùng (范熊) nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' *(Xét Bản truyền nói Phạm Hùng chết thì con là Dật (逸) nối ngôi vốn phải ở thời Vũ Đế (武帝). Đến đây lại chép việc Phạm Hùng, ấy là vẫn theo nguyên bản đã ghi, xin lưu lại để tham khảo). Xét: Các mục trên theo Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ. '''Tháng 2 năm Lũng An (隆安) thứ 3 (năm 399 dương lịch) đời An Đế (安帝), Phạm Đạt (范達) nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, Cửu Chân rồi tiến đánh Giao Chỉ, Thái thú Đỗ Viện (杜瑗) thảo phạt phá tan.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Lũng An (隆安)''' thứ 3 (năm 399 dương lịch), cháu của Phật là '''Tu Đạt (須達)''' lại đánh Nhật Nam, bắt Thái thú '''Quảnh Nguyên (炅源)'''. Lại tiến đánh Cửu Đức (九德), bắt Thái thú '''Tào Bính (曹炳)'''. Thái thú Giao Chỉ là '''Đỗ Viện (杜瑗)''' sai Đô hộ '''Đặng Lỗi (鄧逸)''' đánh phá được, bèn lấy Viện làm Thứ sử." '''Năm Nghĩa Hy (義熙) thứ 9 (năm 413 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ: "Tháng 3 năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 9 (năm 413 dương lịch), '''Phạm Hồ Đạt (范胡達)''' nước Lâm Ấp đánh phá Cửu Chân, Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Huệ Độ (杜慧度)''' chém được y." Xét Lâm Ấp truyền: "Trong những năm Nghĩa Hy, hằng năm Lâm Ấp lại đến đánh các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Cửu Đức, giết hại rất nhiều, Giao Châu vì thế mà suy yếu, mà Lâm Ấp cũng bị mệt mỏi. Vua Phật chết, con là Hồ Đạt lập, dâng sớ tiến cống mâm bát vàng và chiêng vàng." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 3 (năm 407 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Nhật Nam, giết Trưởng sử của Viện, [Viện] sai Hải loa Đốc hộ '''Nguyễn Phỉ (阮斐)''' thảo phạt phá tan, chém và bắt được rất nhiều. Năm thứ 9 (năm 413 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Cửu Chân, Hành quận sự '''Đỗ Huệ Kỳ (杜慧期)''' cùng chiến đấu, chém được con y là Giao Long vương '''Chân Tri (甄知)''' cùng các tướng '''Phạm Kiện (范健)'''... bắt sống Tu Đạt cùng con là '''Na Năng (郍能)''' và hơn 100 người. Từ sau khi Viện mất, Lâm Ấp không năm nào không đánh Nhật Nam, Cửu Đức, giết hại cực nhiều, Giao Châu do đó suy yếu. Tu Đạt chết, con là '''Địch Chân (敵真)''' lập, em là '''Địch Khải (敵鎧)''' dắt mẹ bỏ trốn. Địch Chân truy hận vì không dung nạp được mẹ và em, bèn bỏ nước sang Thiên Trúc (天竺), nhường ngôi cho cháu gọi bằng cậu. Quốc tướng là '''Tạng Lân (藏驎)''' cố can nhưng không nghe. Người cháu lên ngôi bèn giết Tạng Lân, con Tạng Lân lại đánh giết kẻ đó, rồi lập em cùng mẹ khác cha của Địch Khải tên là '''Văn Địch (文敵)'''. Văn Địch sau bị vương tử nước Phù Nam (扶南) là '''Đương Căn Thuần (當根純)''' giết chết, đại thần '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' dẹp loạn rồi tự lập làm vua. Chư Nông chết, con là '''Dương Mại (陽邁)''' lập." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Năm '''Kiến Nguyên (建元)''' thứ 2 (năm 380 dương lịch), Văn đánh Nhật Nam, Cửu Đức, Cửu Chân, trăm họ tan tác, 1,000 dặm không bóng khói, sau đó về Lâm Ấp. Lâm Ấp cách Quảng Châu (廣州) 2,500 dặm về phía Tây. Góc Tây Nam thành có núi cao dãy dài nối tận chân trời. Phía Bắc dãy núi tiếp giáp khe suối, nguồn lớn của sông Hoài (Hoài thủy) chảy ra từ vùng Tam Trọng Trường Châu thuộc cõi '''Na Na (郍郍)''' xa xôi, ẩn sau núi bao quanh phía Tây và vòng qua phía Đông núi Vệ Sơn. Phía Nam dãy núi mở ra khe suối, nguồn nhỏ sông Hoài chảy từ núi hẻm vùng Tùng Căn (松根), lượn quanh phía Nam Khúc Nhai rồi vòng về phía Đông, hợp với dòng sông Hoài chảy vào Điển Xung. Thành ấy phía Tây Nam giáp núi, phía Đông Bắc nhìn ra sông, hào sâu nhiều lớp bao quanh dưới thành. Chu vi thành rộng 8 dặm 100 bước, tường gạch cao 2 trượng, phía trên xây thêm tường gạch 1 trượng để hở lỗ vuông, trên gác ván, trên ván có tầng các, trên các có nhà, trên nhà có lầu. Lầu cao 6 – 7 trượng, thấp thì 4 – 5 trượng, đầu mái hình chim xi (si vĩ) bay bổng chạm mây, nương núi nhìn sông, vút cao lừng lững. Nhưng cách chế tạo thì tráng lệ mà vụng về, theo phong tục cổ của người Di. Thành mở 4 cửa, cửa Đông là cửa trước, đối diện bến sông Hoài nơi đường quanh, có bia cổ khắc chữ Di ngợi khen công đức của vua trước là '''Hồ Đạt (胡達)'''. Cửa Tây đối diện 2 tầng hào, vòng lên phía Bắc vào núi, phía Tây núi chính là dòng sông Hoài. Cửa Nam đi qua 2 tầng hào, đối diện lũy của Ôn công. Năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 2 (năm 358 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là Ôn Phóng Chi giết Thái thú Giao Chỉ là '''Bảo (寶)''' và Biệt giá '''Nguyễn Lang (阮郎)''', rồi đi đánh Lâm Ấp. Thủy lục đánh nhau nhiều trận, vua Phật cố thủ trong thành, sau xin phục tùng nên được tha cho. Nay ở phía Nam thành Đông của Lâm Ấp 5 dặm vẫn còn 2 lũy của Ôn công là vậy. Cửa Bắc sát sông Hoài, đường đứt không thông. Trong thành có tiểu thành chu vi 320 bước, điện ngói nhà chung, vách phía Nam không mở, nhà dài 2 đầu, nóc nhà đưa ra hướng Nam Bắc. Các cột trên điện các cao hơn tường thành 1 trượng có dư, dùng 5 loại phân bò làm bùn trát, vách tường ánh sắc xanh bóng. Vợ con cung tần thảy đều ở chung trên điện, không có cung quán riêng biệt. Vua ngồi dựa vào hiên phía Đông, trực tiếp nói chuyện với bên dưới, tử đệ và thần hạ đều không được lên. Nhà có hơn 50 nóc, mái hiên nối liền nhau. Có 8 ngôi miếu lớn nhỏ thờ thần quỷ, đài tầng gác trọng, trạng thái giống như chùa Phật. Ngoài quách không có chợ búa, ấp ít người ở, bờ biển tiêu điều, vốn không phải nơi dân cư sinh sống. Kẻ đứng đầu dùng sự yên ổn lâu dài để nuôi dưỡng đất nước, 10 đời há có thể tồn tại lâu bền sao!" '''Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 2 (năm 421 dương lịch) đời Tống Vũ Đế (宋武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp (林邑國) ở phương Nam, năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 đời Cao Tổ, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' sai sứ đến cống nạp, liền được ban chức tước. Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp ở phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德). Thời nhà Tần là huyện Lâm Ấp cũ. Cuối thời Hán xưng vương. Năm '''Thái Khang (太康)''' thứ 5 (năm 284 dương lịch) đời Tấn mới bắt đầu cống nạp. Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 420 dương lịch) đời nhà Tống, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' mới sinh, mẹ mơ thấy người đem chiếu vàng cho lót nằm, ánh sắc kỳ lệ, Trung Quốc gọi là vàng Tử Ma (vàng tía), người Di gọi là Dương Mại, nên lấy đó làm tên. Khi Dương Mại chết, con là '''Đốt (咄)''' lập, vì mộ cha nên lại đổi tên thành Dương Mại. Lâm Ấp có núi vàng, nước vàng chảy ra bến. Theo đạo Ni Kiền (尼乾道), họ đúc tượng người bằng vàng bạc, lớn đến 10 vòng ôm. '''Những năm Nguyên Gia (元嘉) đời Văn Đế (文 Đế), Lâm Ấp xâm chiếm các quận Nhật Nam, Cửu Đức.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Đầu năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' đời Thái Tổ, [Lâm Ấp] xâm lấn tàn phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức. Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Hoằng Văn (杜弘文)''' dựng cờ tụ họp quân chúng muốn đi thảo phạt, nghe tin có người đến thay chức bèn thôi. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 (năm 421 dương lịch), [Lâm Ấp] sai sứ cống nạp, phong Dương Mại làm Lâm Ấp vương. Dương Mại chết, con là Đốt lập, lại gọi là Dương Mại. Phong tục nước ấy ở nhà gác gọi là Vu Lan (于闌), cửa đều hướng về phía Bắc, viết lên lá cây làm giấy. Nam nữ đều dùng khổ ngang vải Cát Bối (vải bông) quấn từ thắt lưng trở xuống, gọi là Can Mạn (干縵) hoặc Đô Mạn (都縵), xỏ tai đeo vòng nhỏ. Kẻ quý đi giày da, người tiện đi chân đất. Các nước từ Lâm Ấp, Phù Nam (扶南) trở về phía Nam đều như vậy. Vua mặc pháp phục, đeo anh lạc, trang sức như tượng Phật. Khi ra ngoài thì cưỡi voi, thổi ốc đánh trống, che lọng Cát Bối, dùng vải Cát Bối làm cờ xí. Nước không đặt hình pháp, kẻ có tội thì cho voi giẫm chết. Họ lớn hiệu là Bà-la-môn (婆羅門), gả cưới tất dùng vào tháng 8. Nữ cầu nam trước, do trọng nữ khinh nam vậy. Người cùng họ lấy nhau, sai người Bà-la-môn dẫn rể đến gặp vợ, nắm tay nhau trao gửi, đọc chú "Cát lợi cát lợi" để thành lễ. Người chết thì thiêu giữa đồng, gọi là hỏa táng. Góa phụ ở vậy xõa tóc đến già. Vua thờ đạo Ni Kiền, đúc tượng vàng bạc lớn 10 vòng ôm. Đầu năm Nguyên Gia, Dương Mại xâm chiếm Nhật Nam, Cửu Đức, Thứ sử Đỗ Hoằng Văn muốn thảo phạt, nghe tin có người thay bèn thôi. '''Ngày Giáp Dần tháng 7 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 7 (năm 430 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét: Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Năm thứ 7, Dương Mại sai sứ tự trần tình rằng không hòa hợp với Giao Châu, cầu xin được tha thứ. Năm thứ 8, lại sai hơn 100 thuyền lâu báu đánh Cửu Đức, vào cửa biển Tứ Hội (四會浦). Thứ sử Giao Châu là '''Nguyễn Di Chi (阮彌之)''' sai Đội chủ '''Tương Đạo Sinh (相道生)''' đem 3,000 người đi thảo phạt, đánh thành Khu Túc (區粟城) không hạ được, phải rút về. '''Tháng 5 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), vua Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét Lâm Ấp truyền: Lâm Ấp muốn đánh Giao Châu, mượn binh vua nước Phù Nam (扶南), vua Phù Nam không nghe. Năm thứ 10, Dương Mại sai sứ dâng biểu, cống sản vật, xin được lĩnh chức cai quản Giao Châu. Chiếu đáp rằng đường xá xa xôi nên không hứa cho. '''Năm Nguyên Gia thứ 11 (434), thứ 15 (438), thứ 16 (439), thứ 18 (441), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' '''Mùa hạ tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 23 (năm 446 dương lịch), Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh nước Lâm Ấp, chiếm được.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Các năm Nguyên Gia thứ 12, 15, 16, 18 dù thường sai sứ cống nạp nhưng cướp bóc không thôi, đồ dâng cũng thô lậu. Thái Tổ giận kẻ làm trái, năm thứ 23 sai Long tương Tướng quân, Thứ sử Giao Châu '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' đi đánh. Sai Chấn vũ Tướng quân phủ Thái úy là '''Tông Xác (宗慤)''' chịu sự tiết chế của Hòa Chi. Hòa Chi sai Phủ Tư mã '''Tiêu Cảnh Hiến (蕭景憲)''' làm tiền phong, Xác làm phó quân. Dương Mại nghe tin binh đến, sai sứ dâng biểu xin trả lại dân hộ Nhật Nam đã bắt, dâng trân bảo của nước. Thái Tổ hạ chiếu bảo Hòa Chi nếu Dương Mại có lòng thành thì cho quy thuận. Tháng 2 năm đó, quân đến đồn Chu Ngô (朱梧戍), sai Tham quân Phủ Hộ tào là Thái thú Nhật Nam '''Khương Trọng Cơ (姜仲基)''', Tham quân Tiền bộ Tặc tào '''Kiểu Hoằng Dân (蟜弘民)''' cùng bọn '''Tất Nguyện (畢願)''', '''Cao Tinh Nô (高精奴)''' đi tuyên dương ân chỉ. Dương Mại bắt giữ bọn Trọng Cơ, Tinh Nô gồm 28 người, sai Hoằng Dân về báo, ngoài miệng nói quy thuận nhưng phòng bị càng nghiêm. Cảnh Hiến tiến quân hướng về thành Khu Túc (區粟城). Dương Mại sai Đại soái '''Phạm Phù Long Đại (范扶龍大)''' trấn giữ Khu Túc, lại sai thủy bộ quân đến đánh phá viện binh bên ngoài của Cảnh Hiến. Quân Tống dốc sức công thành, tháng 5 chiếm được, chém đầu Phù Long Đại, thu được vàng bạc tạp vật không sao kể xiết. Thừa thắng truy kích, chiếm luôn Lâm Ấp. Cha con Dương Mại đều bỏ chạy thoát thân. Đồ trân dị thu được đều là những vật báu chưa có tên. Thượng khen công lao tướng soái, phong Tiêu Cảnh Hiến làm Trì tiết đốc quân sự 2 quận Uất Lâm, Ninh Phố. Các tướng '''Đồng Lâm Chi (童林之)''', '''Phó Úy Tổ (傅蔚祖)''' tử trận, đều được truy tặng quan chức. Xét Truyện của Thẩm Diễn Chi (沈演之傳): Thượng muốn đánh Lâm Ấp, triều thần không đồng ý, riêng Thứ sử Quảng Châu là '''Lục Huy (陸徽)''' cùng Diễn Chi tán thành. Khi bình định xong, ban cho quần thần vàng, nô lệ (sinh khẩu), đồ đồng. Diễn Chi được thưởng nhiều nhất. Xét Truyện của Tông Xác (宗慤傳): Năm Nguyên Gia thứ 22 (năm 445 dương lịch), việc đánh Lâm Ấp khởi sự, Xác tự xin đi. Nghĩa Cung cử Xác là người can đảm dũng mãnh. Khi vây thành Khu Túc, Lâm Ấp sai tướng '''Phạm Tỳ Sa Đạt (范毗沙達)''' đến cứu. Quân Tống bị giặc đánh bại một trận. Xác bèn chia quân làm nhiều đường, hạ cờ xí ngầm tiến, đánh tan giặc, hạ Khu Túc, tiến vào Tượng Phố (象浦). Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại dốc hết quân ra cự chiến, cho voi mặc giáp trụ, đông đảo không biên giới, sĩ tốt không địch nổi. Xác nói: "Ta nghe sư tử uy phục bách thú", bèn làm hình sư tử để chống voi. Voi quả nhiên kinh sợ chạy loạn, quân giặc tan rã. Chiếm được Lâm Ấp, thu bảo vật dị vật không sao kể xiết. Xét Lương Thư (梁書): Dương Mại sợ, muốn nộp 10,000 cân vàng, 100,000 cân bạc để chuộc tội nhưng đại thần '''Độc Tăng Đạt (毒僧達)''' can ngăn nên thôi. Khi chiếm thành, quân Tống đem nấu chảy các tượng vàng, được mấy trăm nghìn cân vàng. Hòa Chi sau bị bệnh chết, thấy hình bóng người Hồ làm quái. Xét Thủy Kinh Chú (水經注): Năm Nguyên Gia, Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Dương Mại dốc nước chạy đêm, trốn vào núi rừng. Quân rút đi, Dương Mại về nước. Nhà cửa đất nước tan hoang, người thời ấy chẳng còn ai, ông đau đớn phẫn uất, năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' thứ 23 (năm 446 dương lịch) thì chết. Trước đó, lúc mẹ Dương Mại mang thai, mơ thấy người trải chiếu vàng Dương Mại cho con rơi vào, ánh sáng rực rỡ. Cha là Hồ Đạt chết, con lên ngôi, được lòng người, tự lấy điềm mộng làm điều lành cho nước. Thái tử ban đầu tên Đốt, sau khi Dương Mại chết, Đốt 19 tuổi lên ngôi, vì mộ đức của tiên quân nên lại lấy tên Dương Mại. Hai đời cha con cùng tên, biết là điềm Lâm Ấp sắp mất vậy. '''Năm Hiếu Kiến (孝建) thứ 2 (năm 455 dương lịch) đời Vũ Đế (武 Đế), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 đời Thế Tổ (tức Hiếu Vũ Đế), Lâm Ấp lại sai Trường sử là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' phụng mệnh sứ giả đến cống nạp, phong Long Bạt làm Dương võ Tướng quân." '''Năm Đại Minh (大明) thứ 2 (năm 458 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Đại Minh (大明)''' thứ 2, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' lại sai Trường sử là '''Phạm Lưu (范流)''' dâng biểu, tiến cống đồ dùng bằng vàng bạc cùng các vật phẩm như hương liệu, vải vóc." '''Năm Thái Dự (泰豫) thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 9 (năm 491 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝) nhà Nam Tề, Phạm Đương Căn Thuần (范當根純) nước Lâm Ấp sai sứ vào cống, bắt đầu phong làm An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Cao Đế bản kỷ không chép. Xét Nam Sử (南史) - Tề Vũ Đế bản kỷ: "Tháng 5 năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, nước Lâm Ấp dâng chiếu vàng (kim điệm)." Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 (năm 455 dương lịch), bắt đầu lấy Trường sử Lâm Ấp là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' làm Dương võ Tướng quân. Con cháu Dương Mại (楊邁) truyền nối nhau làm vua, nhưng chưa có vị hiệu. Người Di là '''Phạm Đương Căn Thuần (范當根純)''' đánh chiếm nước ấy,篡 vị làm vua. Năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, sai sứ cống nạp chiếu vàng cùng các vật phẩm. Chiếu rằng: 'Lâm Ấp nhỏ bé ở nơi xa xôi, đời đời phục tùng vương hóa. Đương Căn Thuần nay tỏ lòng thành khẩn, suất lãnh liêu thuộc, lập công ở phương xa, thật đáng khen ngợi, nên ban tước hiệu để mở rộng ơn trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương'. Sau đó, con cháu của Phạm Dương Mại là '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' suất lĩnh chúng nhân đánh Đương Căn Thuần, lấy lại được bản quốc." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 10 (năm 492 dương lịch), lấy Phạm Chư Nông làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 2 (năm 495 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), tiến phong hiệu của Phạm Chư Nông làm Trấn Nam Tướng quân.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Thái (永泰) thứ 1 (năm 498 dương lịch), lấy con của Phạm Chư Nông là Văn Khoản (文款) làm Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Vĩnh Thái (永泰)''' thứ 1, Chư Nông vào triều, đi biển gặp gió bão bị chết đuối. Lấy con là '''Văn Khoản (文款)''' làm Giả tiết, Đô đốc duyên hải quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương. Khoảng năm '''Kiến Hưng (建興)''' (năm 313 – 317 dương lịch) đời nhà Tấn, nô bộc của di soái quận Nhật Nam (日南) là '''Phạm Tr稚 (范稚)''' tên là '''Văn (文)''' thường đi buôn bán, thấy được chế độ nước thượng quốc, bèn dạy vua Lâm Ấp là '''Phạm Dật (范逸)''' xây thành trì, lâu đài điện các. Vua đội mũ thiên quan giống như mũ Phật, thân quàng chuỗi anh lạc thơm. Người trong nước hung hãn, quen thuộc núi sông, giỏi chiến đấu, thổi vỏ ốc (hải lệ) thay kèn, người thảy đều ở trần. Bốn mùa ấm áp, không sương tuyết. Quý nữ khinh nam. Gọi thầy cúng (sư vu) là Bà-la-môn (婆羅門). Những người trong họ hàng cưới hỏi nhau, người nữ trước tiên sai người đến hỏi cưới chồng. Con gái khi gả đi mặc áo Già-lam (迦藍衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, trên đầu đội hoa báu. Khi có tang thì cắt tóc gọi là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Ở vùng biên viễn có loài chim Linh Thứu (靈鷲鳥), biết người sắp chết bèn tụ tập tại nhà đó, ăn hết thịt người chết rồi bay đi, sau đó người ta lấy xương thiêu thành tro, ném xuống biển gọi là thủy táng. Sắc da lấy đen làm đẹp. Các nước phương Nam thảy đều như vậy. Tại thành Khu Lật (區栗城), đặt cột biểu cao 8 thước (khoảng 2.6 mét), đo bóng mặt trời về phía Nam được 8 tấc (khoảng 26 cm). Từ Lâm Ấp đi về hướng Tây Nam hơn 3,000 dặm là đến nước Phù Nam (扶南)." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 9 (năm 510 dương lịch) đời Lương Vũ Đế (梁武帝), Lâm Ấp sai sứ dâng vượn trắng, xuống chiếu phong Phạm Thiên Cải làm Lâm Ấp vương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ: Tháng 4 năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9, nước Lâm Ấp sai sứ dâng 1 con vượn trắng. Xét Lâm Ấp truyền: Trong những năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' (454 – 456), '''Đại Minh (大明)''' (457 – 464) đời Tống Hiếu Vũ Đế, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' liên tiếp sai Trường sử dâng biểu cống nạp. Năm '''Thái Dự (泰豫)''' thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế, lại sai sứ dâng sản vật địa phương. Trong những năm '''Vĩnh Minh (永明)''' (483 – 493) đời nhà Tề, '''Phạm Văn Tán (范文贊)''' nhiều lần sai sứ cống nạp. Năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9 (năm 510 dương lịch), con của Văn Tán là '''Thiên Cải (天凱)''' dâng vượn trắng. Chiếu rằng: "Lâm Ấp vương '''Phạm Thiên Cải (范天凱)''' ở nơi hải ngoại, có lòng thành khẩn, từ xa tu sửa chức phận cống nạp, thật đáng khen ngợi. Nên ban tước hiệu, phủ thêm vinh trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Uy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 10 (năm 511 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 11 (năm 512 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 13 (năm 514 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét các mục trên theo Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 13, Thiên Cải liên tiếp sai sứ dâng sản vật, chẳng bao lâu sau thì bệnh mất, con là '''Bật Thụy Bạt Ma (弼毳跋摩)''' lập, dâng biểu cống nạp." '''Tháng 6 năm Phổ Thông (普通) thứ 7 (năm 526 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Phổ Thông (普通)''' thứ 7, vua '''Cao Thức Thắng Khải (高式勝鎧)''' sai sứ dâng sản vật. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 3 năm Đại Thông (大通) thứ 1 (năm 527 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Trung Đại Thông (中大通)''' thứ 2, hành Lâm Ấp vương '''Cao Thức Luật Đà La Bạt Ma (高式律陁羅跋摩)''' sai sứ cống nạp. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 7 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 6 (năm 534 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Những năm Khai Hoàng (開皇) đời Tùy Văn Đế (隋文帝), Lâm Ấp sai sứ vào cống.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Tổ tiên Lâm Ấp nhân lúc loạn '''Trưng Trắc (徵側)''' người con gái Giao Chỉ cuối thời Hán, con của Công tào là '''Khu Liên (區連)''' giết huyện lệnh, tự hiệu làm vua, không con, cháu ngoại là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, chết, con là '''Dật (逸)''' lập. Người Nhật Nam (日南) là '''Phạm Văn (范文)''' nhân lúc loạn làm nô bộc cho Dật, bèn dạy cho cách xây cung thất, chế khí giới. Dật rất tín nhiệm, sai Văn cầm quân, cực được lòng người. Văn nhân đó ly gián các con cháu của Dật, kẻ thì bỏ chạy người bị đày. Khi Dật chết không có con nối, Văn tự lập làm vua. Về sau '''Phạm Phật (范佛)''' bị Dương uy tướng quân nhà Tấn là '''Đái Hoàn (戴桓)''' đánh phá; Thứ sử Giao Châu nhà Tống là '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' cầm quân đánh sâu vào biên cảnh; đến thời nhà Lương, nhà Trần cũng thông sứ qua lại. Nước ấy dài rộng mấy 1,000 dặm, đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống với Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi từ vỏ sò (thần hôi) trát lên, cửa hướng về phía Đông. Quan cao cấp có 2 hạng: một là '''Tây Na Bà Đế (西那婆帝)''', hai là '''Tát Bà Địa Ca (薩婆地歌)'''. Thuộc quan có 3 cấp: thứ nhất là '''Luân Đa (倫多)''', thứ đến là '''Ca Luân Trí Địa (歌倫致地)''', thứ đến là '''Ất Tha Già Lan (乙他伽蘭)'''. Quan ở ngoài chia làm hơn 200 bộ, chức trưởng quan gọi là '''Phất La (弗羅)''', thứ đến gọi là '''Khả Luân (可輪)''', giống như sự sai biệt của Mục tể vậy. Vua đội mũ hoa vàng, hình dáng như mũ Chương phủ. Mặc vải Triều hà, đeo anh lạc châu ngọc, chân đi giày da, đôi khi khoác áo bào gấm. Con em nhà lành thị vệ có khoảng 200 người, đều cầm đao trang trí vàng. Có cung tên, đao sáo, lấy tre làm nỏ, bôi độc vào mũi tên. Nhạc có đàn cầm, sáo, tỳ bà, đàn 5 dây, khá giống Trung Quốc. Mỗi khi đánh trống để cảnh báo chúng dân, thổi vỏ ốc để tập hợp quân đội. Người ở đó mắt sâu mũi cao, tóc xoăn, da đen. Tục đều đi chân đất, dùng khổ vải quấn thân. Tháng mùa đông thì mặc áo bào, phụ nữ búi tóc hình chóp, trải chiếu lá. Mỗi khi có cưới hỏi, lệnh cho người mai mối mang vòng vàng bạc, 2 hũ rượu, mấy con cá đến nhà gái. Sau đó chọn ngày, nhà trai họp thân khách, múa hát đối đáp. Nhà gái mời 1 người Bà-la-môn (婆羅門) đưa cô gái đến nhà trai, chú rể rửa tay, nhân đó dắt cô gái trao cho. Vua chết 7 ngày thì táng, người có quan tước 3 ngày, dân thường 1 ngày. Đều dùng hòm đựng thây, đánh trống múa hát dẫn đường, dùng xe khiêng đến bên nước, chất củi đốt đi, thu lại xương còn sót, nếu là vua thì đặt trong hũ vàng, dìm xuống biển. Người có quan thì dùng hũ đồng dìm ở cửa biển, dân thường dùng hũ sành tiễn đưa xuống sông. Nam nữ đều cắt tóc, theo đám tang đến bên nước, hết lòng thương tiếc mới thôi, về nhà thì không khóc. Cứ mỗi 7 ngày lại đốt hương rắc hoa, lại khóc hết lòng sầu thảm mới thôi. Trọn 7 lần 7 (49 ngày) thì dứt. Đến 100 ngày và 3 năm cũng làm như vậy. Người đều thờ Phật, văn tự giống với Thiên Trúc (天竺). Sau khi Cao Tổ bình định nhà Trần, [Lâm Ấp] bèn sai sứ dâng sản vật địa phương, về sau triều cống bị đoạn tuyệt. '''Tháng 4 năm Đại Nghiệp (大業) thứ 1 (năm 605 dương lịch) đời Dạng Đế (煬帝), Đại tướng quân Lưu Phương đánh Lâm Ấp, phá được.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Bấy giờ thiên hạ vô sự, quần thần nói Lâm Ấp có nhiều báu vật kỳ lạ. Cuối năm '''Nhân Thọ (仁壽)''' (năm 604 dương lịch), Thượng sai Đại tướng quân '''Lưu Phương (劉方)''' làm Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu (歡州), suất lĩnh Thứ sử Khâm Châu '''Ninh Trường Chân (甯長真)''', Thứ sử Hoan Châu '''Lý Ng晕 (李暈)''', Khai phủ '''Tần Hùng (秦雄)''' cùng hơn 10,000 bộ kỵ và mấy 1,000 tội nhân đi đánh. Vua nước ấy là '''Phạn Chí (梵志)''' suất lĩnh đồ đảng cưỡi voi lớn ra chiến đấu, quân của Phương bất lợi. Phương bèn đào nhiều hố nhỏ, lấy cỏ phủ lên trên, nhân đó dùng binh khiêu chiến, Phạn Chí dốc toàn quân ra dàn trận. Phương đánh rồi giả vờ chạy, Phạn Chí đuổi theo đến chỗ có hố, quân chúng sa hố rất nhiều, lại kinh hãi lẫn nhau, quân bèn loạn. Phương tung binh đánh, đại phá quân giặc. Phạn Chí thua trận liên tiếp, bèn bỏ thành mà chạy. Phương vào kinh đô nước ấy, thu được 18枚 (tấm/mộc) bài vị thờ trong miếu, thảy đều đúc bằng vàng, đại khái là nước ấy đã trải qua 18 đời. Phương rút quân về, Phạn Chí lại chiếm đất cũ, sai sứ tạ tội, từ đó triều cống không tuyệt. Xét Truyện của Lưu Phương (劉方傳): Năm '''Nhân Thọ (仁壽)''', Phương được trao chức Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu, lấy Thượng thư Hữu thừa '''Lý Cương (李綱)''' làm Tư mã để kinh lược Lâm Ấp. Phương sai Ninh Trường Chân, Lý Ng晕, Tần Hùng đem bộ kỵ ra từ Việt Thường (越常), tự mình suất lãnh Đại tướng quân '''Trương Tốn (張愻)''', Tư mã Lý Cương theo quân thủy hướng đến Tỷ Cảnh (比景). Sau khi Cao Tổ băng hà, Dạng Đế lên ngôi, tháng Giêng năm '''Đại Nghiệp (大業)''' thứ 1 (năm 605 dương lịch), quân đến cửa biển, vua Lâm Ấp Phạn Chí sai quân giữ nơi hiểm yếu, Phương đánh đuổi đi. Quân đến sông Xà Lê (闍黎江), giặc dựa vào bờ Nam lập rào chắn. Phương bày cờ xí rầm rộ, đánh kim gõ trống, giặc sợ hãi tan rã. Đã qua sông, đi được 30 dặm, giặc cưỡi voi lớn từ 4 mặt kéo đến, Phương dùng nỏ bắn voi, voi trúng thương quay lại giẫm vào trận đồ quân giặc, vương sư lực chiến, giặc chạy vào rào chắn, quân Tùy phá được, bắt và chém hàng 10,000 người. Sau đó vượt Khu Túc (區粟), qua Lục Lý (六里), trước sau gặp giặc trận nào cũng bắt được. Tiến đến sông Đại Duyên (大緣江), giặc dựa nơi hiểm lập rào, lại đánh phá được. Đi qua cột đồng của '''Mã Viện (馬援)''', đi về phía Nam 8 ngày thì đến kinh đô nước ấy. Vua Lâm Ấp Phạn Chí bỏ thành chạy ra biển, Phương thu được bài vị miếu chủ bằng vàng, khắc đá ghi công rồi về. Sĩ tốt chân bị sưng phù, người chết mất 14 – 15 phần trong tổng số 10 phần (tức 40% – 50%). Phương trên đường về gặp bệnh mà mất, Đế rất thương tiếc. === Lâm Ấp bộ hối khảo 2 (林邑部彙考二)=== '''Những năm Vũ Đức (武德) đời Đường Cao Tổ (唐高祖), nước Hoàn Vương (環王) sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Nước Hoàn Vương vốn là Lâm Ấp (林邑), còn gọi là Chiêm Bất Lao (占不勞), cũng gọi là Chiêm Bà (占婆), nằm thẳng phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm. Đất đai chiều Đông Tây rộng hơn 300 dặm, chiều Nam Bắc 1,000 dặm. Phía Tây giáp núi Vụ Ôn (霧溫山) của nước Chân Lạp (真臘), phía Nam đến Bôn Lãng Đà Châu (奔浪陀州). Ở phía Nam có cửa biển lớn (đại phố) có núi Ngũ Đồng Trụ (五銅柱山), hình như cái lọng che, phía Tây là núi đá trùng điệp, phía Đông sát biển, là nơi Mã Viện (馬援) nhà Hán trồng cột đồng vậy. Đất ấy mùa đông ấm, nhiều sương mưa. Sản sinh hổ phách, đười ươi, thú Kết Liêu, chim Kết Liêu. Lấy tháng 2 làm đầu năm, lúa chín 2 vụ một năm. Lấy nước cau làm rượu, lá dừa làm chiếu. Tục hung hãn, giỏi chiến đấu, dùng xạ hương bôi thân, ngày bôi 2 lần tắm 2 lần. Khi bái yết thì chắp tay sát trán. Có văn tự. Thích đạo Phù Đồ (Phật giáo). Đúc tượng vàng bạc, có cái lớn đến 10 vòng ôm. Gọi vua là 'Dương Bồ Cô' (陽蒲逋), vợ vua là 'Đà Dương A Hùng' (陀陽阿熊), Thái tử là 'A Trường Cô' (阿長逋), Tể tướng là Bà Mạn Địa (婆漫地). Nơi vua ở gọi là Chiêm Thành (占城), nơi ở khác gọi là Tề Quốc (齊國), Bồng Bì Thế (蓬皮勢). Vua mặc vải bạch điệp (vải bông trắng) cổ bối, quấn chéo qua cánh tay, sức chuỗi hạt vàng làm anh lạc, tóc xoăn, đội mũ hoa vàng như mũ Chương phủ. Vợ mặc váy ngắn bằng vải cổ bối màu triều hà, mũ và anh lạc giống như vua. Vua có 5,000 vệ binh, chiến đấu cưỡi voi, dùng mây làm áo giáp, dùng tre làm cung tên, suất lĩnh 1,000 voi, 400 ngựa, chia làm trước sau. Không đặt hình phạt, kẻ có tội thì cho voi giẫm, hoặc đưa đến núi Bất Lao (不勞山) cho tự chết. Năm Nhân Thọ (仁壽) đời Tùy, sai Tướng quân Lưu Phương (劉芳) [Tùy thư chép là Lưu Phương 劉方] đánh nơi đó, vua là Phạm Phạn Chí (范梵志) bỏ chạy. [Nhà Tùy] lấy đất ấy làm 3 quận, đặt thủ lệnh, nhưng vì đường xá trở ngại không thông, Phạn Chí gom góp tàn quân riêng xây quốc ấp. Những năm Vũ Đức (618 – 626 dương lịch), lại sai sứ dâng sản vật, Cao Tổ cho bày nhạc Cửu Bộ (九部樂) để yến đãi." '''Những năm Trinh Quán (貞觀) đời Thái Tông (太宗), Lâm Ấp sai sứ vào dâng lễ.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Thời Trinh Quán, vua Đầu Lê (頭黎) dâng voi thuần, xích lưu (vàng ròng), đai ngũ sắc, vải triều hà, cây lửa (hỏa thụ), cùng đi với sứ giả hai nước Bà Lợi (婆利), La Sát (羅剎). Lời lẽ sứ giả không cung kính, quần thần xin hưng binh hỏi tội. Thái Tông nói: 'Xưa Phù Kiên muốn nuốt nhà Tấn, quân có 1,000,000 người nhưng một trận là mất sạch. Nhà Tùy đánh Cao Ly, hằng năm điều động phu phen khiến lòng người oán hận, rồi chết trong tay kẻ thất phu. Trẫm há dám vọng bàn việc phát binh sao?'. Bèn tha cho không hỏi đến. [Lâm Ấp] lại dâng vẹt ngũ sắc, vẹt trắng, chúng thường kêu lạnh, vua hạ chiếu trả về. Đầu Lê chết, con là Trấn Long (鎮龍) lập, dâng tê giác Thông Thiên cùng các thứ báu vật." '''Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (năm 645 dương lịch), vua Lâm Ấp Phạm Trấn Long (范鎮龍) bị ám sát, người trong nước lập Gia Cát Địa (諸葛地) làm vua.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Năm thứ 19, Ma Ha Mạn Đa Già Độc (摩呵慢多伽獨) giết Trấn Long, diệt tông tộc họ Phạm. Người trong nước lập con rể của Đầu Lê là người Bà-la-môn (婆羅門) làm vua, các đại thần cùng phế đi, lại lập con gái của Đầu Lê làm vương. Gia Cát Địa là con của cô vua Đầu Lê, cha gặp tội phải trốn sang Chân Lạp (真臘). Vua nữ không thể định quốc, đại thần cùng đón Gia Cát Địa về làm vua, gả vua nữ cho." '''Những năm Chí Đức (至德) đời Túc Tông (肅宗), Lâm Ấp đổi hiệu thành Hoàn Vương (環王).''' Xét Đường Thư (唐書) - Túc Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Từ năm Vĩnh Huy (永徽) đến Thiên Bảo (天寶) phàm 3 lần vào dâng cống, sau năm Chí Đức (năm 756 dương lịch) đổi hiệu là Hoàn Vương." '''Những năm Nguyên Hòa (元和) đời Hiến Tông (憲宗), Đô hộ An Nam Trương Chu bắt Đô thống và 59 vương tử nước Hoàn Vương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Đầu năm Nguyên Hòa (năm 806 dương lịch), [Hoàn Vương] không vào triều cống, Đô hộ An Nam '''Trương Chu (張舟)''' bắt Đô thống các châu Hoan, Ái ngụy của chúng, chém 30,000 thủ cấp, bắt làm tù binh 59 vương tử, thu được voi chiến, thuyền chiến và áo giáp." === Lâm Ấp - Tạp ký (雜記) - 7 mục=== * '''Cây cau (Binh lang thụ):''' Thân to hơn 1 trượng, cao hơn 10 trượng, vỏ như đồng xanh, đốt như tre đốm. Gốc không to, ngọn không nhỏ, xa gần thành rừng, 1,000 – 10,000 cây như một. Dáng tươi đẹp không có cành, đỉnh đầu có lá, lá xòe ra như nan quạt. Nhìn lên xa xăm như khóm chuối trên ngọn tre, gió thổi thì lá động tựa như quạt lông quét trời. Dưới lá có mấy buồng, mỗi buồng đính 10 số quả, nhà có mấy 100 cây nhìn thưa thớt như dây thừng treo vậy. * '''Chim Linh Thứu (靈鷲):''' Ở biên giới xa xôi phía Tây Nam có chim Linh Thứu, biết được cát hung. Thấy người sắp chết thì rình ăn sạch thịt thây mới đi. Người nhà lấy xương thiêu thành tro ném xuống nước. * '''Cá bay (Phi ngư):''' Cánh như cánh ve, khi bơi thì lướt mây, khi lặn thì xuống đáy biển. * '''Đất đai:''' Trải dài 60 dặm. Đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi vỏ sò trát lên. Đều mở cửa phía Bắc hướng về mặt trời, hoặc Đông Tây không định. * '''Vua Phạm Văn (范文):''' Đúc đồng làm bò, làm nhà bằng đồng, làm hành cung. * '''Vua Minh Đạt (明達):''' Dâng nhẫn kim cương (Kim cương chỉ hoàn). * '''Núi vàng (Kim Sơn):''' Từ Lâm Ấp đi đến Kim Sơn hơn 30 dặm, xa nhìn thấy Kim Sơn cao ngất mà sắc đỏ chiếu rọi như bầu trời. Trong khe hốc có vàng sinh ra hình như sâu bọ, nhỏ thì như ruồi xanh, lớn thì như ong ve, đêm đi tỏa sáng như đom đóm. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 3xzzdvs8i1q4sqqq6aa8vnrwhmmmrxg 204726 204725 2026-04-15T08:02:06Z Mrfly911 2215 /* Thời nhà Tấn (晉) */ 204726 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第096卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 96''' | trước= [[../quyển 095|quyển 95]] | sau= [[../quyển 097|quyển 97]] | ghi chú = }} == Cầm Nhân bộ hối khảo (禽人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Cầm (禽人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Cầm (禽人) dâng cỏ gian (菅)." *(Chú thích: Cũng là người Man phương Đông Nam, cỏ gian vốn bền dai). == Lộ Nhân bộ hối khảo (路人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Lộ (路人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Lộ (路人) dâng trúc lớn." *(Chú thích: Người Lộ là người Man phương Đông, cống nạp trúc lớn). == Bặc Nhân bộ hối khảo (卜人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Bặc (卜人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Bặc (卜人) dâng đan sa (丹沙)." *(Chú thích: Người Bặc là người Man phương Tây Nam, nơi sản sinh ra đan sa). == Dương Châu bộ hối khảo (揚州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Dương Châu (揚州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Dương Châu (揚州) dâng cá ngu ngu (禺禺), tên là Giải Du Khấu (解隃寇)." *(Chú thích: Cũng là một loài cá lạ). == Quyền Phù bộ hối khảo (權扶部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Quyền (權)''' và '''Phù (扶)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Quyền (權) và Phù (扶) dâng chim tam mục (三目 - chim 3 mắt)." *(Chú thích: Quyền và Phù là người Man phương Nam, hình dáng rất nhỏ bé). == Bạch Châu bộ hối khảo (白州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Bạch Châu (白州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Bạch Châu (白州) dâng cây bắc lư (北閭). Cây bắc lư ấy da nó như tấm khiên, đốn lấy gỗ nó để làm xe, đi mãi mà không hỏng." *(Chú thích: Bạch Châu là người Man phương Đông Nam, giáp giới với tộc Bạch Dân (白民)). == Trường Công bộ hối khảo 1 (長肱部彙考一) 〈Trường tý - 長臂〉== '''Thời nhà Chu (周)''' '''Chu Mục vương (穆王)''' chinh phạt phía Tây, phong cho người '''Trường Công (長肱)''' ở phía Tây sông '''Hắc Thủy (黑水)'''. Xét: Mục Thiên tử truyện (穆天子傳) có chép như vậy. *(Chú thích: Tức là "người tay dài" vậy. Thân hình như người Trung Quốc, nhưng cánh tay dài 3 trượng (khoảng 10 mét). Thời nhà Ngụy (魏) từng thu được vạt áo của người này ở vùng Biển Đỏ (Xích hải - 赤海)). == Trường Công bộ hối khảo 2 (長肱部彙考二)== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Trường Tý (長臂國 - Nước tay dài)''', bắt cá dưới nước, mỗi tay cầm 1 con cá. Có thuyết nói nước này ở phía Đông nước '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', bắt cá ở trong biển. *(Chú thích: Thuyết cũ nói rằng: Tay người nước ấy buông thõng xuống chạm đất. Những năm Hoàng Sơ (黃初) (năm 220 – 226 dương lịch) thời nhà Ngụy (魏), Thái thú Nguyên Thố (元菟) là Vương Kỳ (王頎) thảo phạt vua nước Cao Câu Ly (高句麗) là Cung (宮), đuổi gấp đến cùng, đi qua nước Hoạt Thư (活沮), biên giới phía Đông giáp biển lớn, gần nơi mặt trời mọc. Vương Kỳ hỏi các bậc kỳ lão rằng: "Phía Đông biển có người nữa không?". Họ đáp: "Thường thu được một chiếc áo vải ở trong biển, thân áo to như người Trung Quốc, nhưng 2 ống tay dài 3 thước (khoảng 1 mét)". Đó chính là áo của người tay dài vậy. Xét theo sách Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Trường Tý ở phía Đông biển, người buông tay chạm đất. Xưa có người ở trong biển thu được 1 chiếc áo vải, mỗi ống tay dài hơn 1 trượng (khoảng 3.3 mét)). == Trường Công bộ nghệ văn (長肱部藝文)== '''"Trường Tý quốc tán" (長臂國贊 - Bài tán về nước tay dài)''' '''Tấn (晉) · Quách Phác (郭璞)''' "Đôi tay dài 3 thước, thân thể như người thường. Kẻ kia là ai vậy? Chính dân nước Trường Tý. Cậy đôi chân dài, bắt cá bến bờ xa." == Hoàng Chi bộ hối khảo (黃支部彙考)== '''Thời nhà Hán (漢)''' Mùa xuân năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch) đời '''Bình Đế (平帝)''', nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' dâng nộp tê ngưu (tê giác). Xét: Hán Thư (漢書) - Bình Đế bản kỷ chép như vậy. *(Chú thích: '''Ứng Thiệu (應劭)''' nói: "Hoàng Chi ở phía Nam của Nhật Nam (日南), cách kinh sư 30,000 dặm." '''Sư Cổ (師古)''' nói: "Tê giác hình trạng như trâu nước, đầu giống lợn mà có 4 chân, loại như voi, màu đen, có 1 sừng ở trước trán, trên mũi lại có sừng nhỏ nữa"). Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Nam Man truyện: "'''Vương Mãng (王莽)''' phụ chính, vào năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch), nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' ở phía Nam của '''Nhật Nam (日南)''' đến dâng nộp tê ngưu. Phàm những nơi vùng '''Giao Chỉ (交趾)''' thống lĩnh, tuy có đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác biệt, phải qua nhiều lần dịch mới thông. Người ở đó như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt. Búi tóc sau gáy, đi chân đất, dùng vải khoét lỗ xỏ qua đầu mà mặc. Sau này khá nhiều tội nhân người Trung Quốc bị đày đến, cho ở xen kẽ giữa họ, nên họ mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy được lễ nghi giáo hóa." Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước '''Hoàng Chi (黃支國)''', thời Hán đã thông sứ, ở phía Nam của vùng biển hợp với '''Nhật Nam (日南)''' 30,000 dặm, phong tục đại lược tương tự với vùng '''Châu Nhai (珠崖)'''. Từ thời '''Vũ Đế (武帝)''' trở đi thảy đều đến cống nạp, có minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá lạ vật lạ. Hạt châu lớn có vòng tròn đến dưới 2 tấc mà cực tròn, đặt trên đất bằng thì lăn suốt ngày không dừng." == Mãn Lạt Gia bộ hối khảo (滿剌加部彙考) Malacca == '''〈Ca La (哥羅), Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅), Trọng Già La (重迦羅)〉''' ===Thời nhà Hán (漢)=== Nước '''Ca La (哥羅國)''' thời Hán đã nghe danh tại Trung Quốc. Xét: Hán Thư (漢書) không chép. Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước Ca La (哥羅國), thời Hán đã nghe danh, ở phía Đông Nam nước '''Pán Pán (槃槃)''', cũng gọi là nước '''Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅國)'''. Vua họ '''Thỉ Lợi Bà La (矢利婆羅)''', tên là '''Mễ Thất Bát La (米失缽羅)'''. Thành quách xây bằng đá, trên thành có lầu khuyết, cửa có cấm vệ, cung thất lợp bằng cỏ. Nước có 24 châu mà không có huyện. Trong sân bày nghi trượng, có cờ tiết trang trí bằng lông công. Binh khí có cung, tên, đao, sáo, giáp da. Chinh phạt đều cưỡi voi, 1 đội có 100 thớt voi, mỗi thớt voi có 100 người hộ vệ. Yên voi có móc ngăn, trong đó ngồi 4 người: 1 người cầm khiên, 1 người cầm cung tên, 1 người cầm gậy nhọn, 1 người cầm đao. Thuế khóa mỗi người nộp 1 thù bạc. Trong nước không có tơ tằm, gai sợi, chỉ sản xuất vải cát bối (vải bông), gia súc có bò và ít ngựa. Theo tục lệ, kẻ không có chức quan thì không được búi tóc trên đầu. Lại có tục gả cưới, lúc đầu hỏi vợ chỉ dùng trầu cau làm lễ, kẻ nhiều đến 200 mâm; hoặc lúc cưới chỉ lấy vàng làm tài vật, kẻ nhiều đến 200 lạng. Đàn bà gả xong thì theo họ chồng. Âm nhạc có tỳ bà, sáo ngang, chũm chọe đồng, trống sắt, kèn, ốc loa, đánh trống. Khi chết thì thiêu xác, bỏ tro vào hũ vàng, dìm xuống biển lớn." === Thời nhà Minh (明)=== '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403 dương lịch), Thành Tổ (成祖) sai sứ chiêu dụ nước Mãn Lạt Gia (滿剌加國).''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Mãn Lạt Gia ở phía Nam nước '''Chiêm Thành (占城)''', thuận gió 8 ngày thì đến '''Long Nha Môn (龍牙門)''', lại đi về phía Tây 2 ngày là tới. Có thuyết nói đó là đất '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' thuộc nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' đời cổ. Tháng 10 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 1 (năm 1403 dương lịch), sai Trung quan '''Doãn Khánh (尹慶)''' sứ đến nơi đó, ban cho gấm thêu vàng, màn trướng dát vàng và các vật dụng. Đất ấy không có vua, cũng không xưng quốc hiệu, lệ thuộc vào nước '''Xiêm La (暹羅)''', mỗi năm nộp 40 lạng vàng làm thuế. Doãn Khánh đến nơi, tuyên thị uy đức cùng ý định chiêu mời. Tù trưởng là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' cả mừng, sai sứ theo Khánh vào triều, dâng sản vật địa phương." '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào cống, phong làm Mãn Lạt Gia Quốc vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Tháng 9 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch) đến kinh sư, Hoàng đế khen ngợi, phong làm '''Mãn Lạt Gia Quốc vương (滿剌加國王)''', ban cho cáo ấn, lụa màu, áo mặc, lọng vàng, lại mệnh cho Doãn Khánh đi cùng. Sứ giả thưa rằng: "Vua tôi hâm mộ nghĩa cả, nguyện cùng Trung Quốc liệt vào hàng các quận, hằng năm dâng nộp lễ cống, xin phong cho ngọn núi ở đó làm trấn sơn của một nước." Hoàng đế nghe theo, soạn văn bia khắc trên núi, cuối bài thêm bài thơ rằng: "Biển lớn Tây Nam thông Trung Quốc, đổ trời rót đất muôn đời cùng... Bia đá chữ lớn biểu lòng trung, núi Tây nước ngươi vĩnh viễn phong làm trấn." Nhóm người Doãn Khánh lại đến, nhà vua càng mừng, tiếp đãi lễ độ tăng thêm. Xét Minh Hội Điển (明會典): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch), tù trưởng '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' sai sứ dâng biểu bằng lá vàng đến triều cống, chiếu phong làm Quốc vương. Sản vật cống nạp gồm: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hạt mã não, hạt san hô, nhẫn nạm vàng, vẹt, gấu đen, vượn đen, hoẵng trắng, vải Tây Dương, các loại hương liệu như trầm hương, nhũ hương, đinh hương... và hắc tiểu tư (nô lệ đen). Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), tự vương (vua nối ngôi) là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' thân hành dẫn vợ con đến triều kiến, được ban thưởng hậu hĩnh rồi về. Từ đó triều cống không dứt. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): Nước Mãn Lạt Gia chính là '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' cổ. Thời Hán thường thông với Trung Quốc, sau bị nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' ràng buộc. Đốn Tốn ở trên núi đảo giữa biển, đất rộng 1,000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, thảy đều thuộc về '''Phù Nam (扶南)'''. Phía Tây giáp các nước ngoài biên giới Thiên Trúc (天竺), thành nước ấy tiếp giáp '''Đồ Bà (闍婆 Java)''' nên còn tên là '''Đại Đồ Bà (大闍婆)''', nay gọi là '''Trọng Già La (重迦羅)'''. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411 dương lịch), Mãn Lạt Gia dẫn vợ con vào triều dâng cống. Vua ngự tại cửa Phụng Thiên, ban yến thưởng thêm hậu hĩnh.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con và bồi thần hơn 540 người đến triều kiến. Đến ngoại ô, vua mệnh cho Trung quan '''Hải Thọ (海壽)''', Lang trung Bộ Lễ '''Hoàng Thường (黃裳)''' đón yến lao. Khi vào triều, Hoàng đế thân hành ban yến tại điện Phụng Thiên, Vương phi và người dưới được ban yến nơi khác. Ban cho vua 2 bộ áo rồng thêu vàng, 1 bộ áo kỳ lân, đồ vàng bạc, màn chăn đều đủ, Vương phi và người dưới đều được ban thưởng. Lúc sắp về, ban cho đai ngọc, nghi trượng, yên ngựa, 100 lạng vàng, 500 lạng bạc, 400,000 quán tiền giấy, 2,600 quán tiền đồng, 300 xấp gấm và 1,000 xấp lụa. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414 dương lịch), Quốc vương Mãn Lạt Gia qua đời, con trai vào triều báo tang, liền mệnh cho tập phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 12 (năm 1414 dương lịch), thế tử là '''Mẫu Oát Tát Can Đích Nhi Sa (母斡撒干的兒沙)''' đến triều kiến báo tang cha, liền mệnh cho nối ngôi, ban cho vàng tiền. Từ đó về sau hoặc liên tiếp các năm, hoặc cách năm lại vào cống, lấy đó làm thường lệ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 (năm 1419 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con bồi thần vào triều tạ ơn, tố cáo việc bị Xiêm La xâm lấn.''' Hoàng đế ban sắc dụ răn bảo '''Xiêm La (暹羅)''', Xiêm La bèn vâng chiếu. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 6 (năm 1431 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào tố cáo Xiêm La xâm lấn ngăn trở đường cống.''' Vua mệnh cho '''Trịnh Hòa (鄭和)''' mang sắc chỉ răn bảo Xiêm La, trách việc phải giữ hòa mục với láng giềng, không được trái mệnh triều đình. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), sứ giả nước Mãn Lạt Gia xin ban cho vua họ sắc thư, lọng che để trấn phục dân trong nước, lại nói vua muốn thân hành đến cung khuyết xin ban cho thuyền lớn.''' Vua đều nghe theo. Từ năm '''Chính Thống (正統)''' thứ 10 (năm 1445 dương lịch) trở đi, nhiều lần sai sứ đến cống, đường đi qua '''Quảng Đông (廣東)'''. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 6 (năm 1455 dương lịch) đời Đại Tông (代宗), Mãn Lạt Gia vào cống xin phong, [triều đình] sai sứ kiêm ban cho mũ áo.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Cảnh Thái (景泰)''' thứ 6 (năm 1455 dương lịch), '''Tốc Lỗ Đàn Vô Đáp Phật Na Sa (速魯檀無答佛哪沙)''' dâng ngựa và sản vật, xin phong làm vương. Chiếu sai Cấp sự trung '''Vương Huy (王暉)''' đi. Sau đó lại vào cống, nói rằng mũ đai được ban bị cháy trong hỏa hoạn, vua mệnh chế áo Bì biện, thường phục bằng lụa hồng cùng đai sừng tê, mũ sa ban cho." '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 3 (năm 1459 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), nước Mãn Lạt Gia vào cống xin phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), thế tử là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' sai sứ vào cống, mệnh cho Cấp sự trung '''Trần Gia Du (陳嘉猷)''' đi phong vương. Cách 2 năm sau, quan Bộ Lễ tấu rằng: Nhóm Gia Du đi biển 2 ngày đến biển '''Ô Chú (烏豬洋)''' gặp bão, thuyền hỏng trôi dạt 6 ngày đến sở Thủ ngự '''Thanh Lan (清瀾)''' thì được cứu. Sắc thư không mất nhưng đồ ban thưởng đều ướt nước, xin cấp lại và sai sứ đi lần nữa. Vua nghe theo." Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), Quốc vương '''Vô Đáp Phật Na Sa (無答佛哪沙)''' chết, con là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' xin mệnh, triều đình lại sai sứ mang chiếu đi phong." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 10 (năm 1474 dương lịch) đời Hiến Tông (憲宗), Mãn Lạt Gia vào cống.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 10 (năm 1474 dương lịch), Cấp sự trung '''Trần Tuấn (陳峻)''' đi phong vương nước '''Chiêm Thành (占城)''', gặp binh '''An Nam (安南)''' chiếm giữ Chiêm Thành nên không vào được, bèn mang đồ đến Mãn Lạt Gia, dụ vương vào cống. Sứ giả đến, Đế vui mừng ban sắc khen ngợi." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 (năm 1481 dương lịch), An Nam cướp bóc sứ giả Mãn Lạt Gia. Sứ giả đến triều đình tố cáo. [Đế] ban sắc trách An Nam và sai quan phong Mã Cáp Mộc Sa làm vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Tháng 9 năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 17 (năm 1481 dương lịch), sứ giả nói: 'Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 5 (năm 1469 dương lịch) sứ giả về nước dạt vào cõi An Nam, đa số bị giết, số còn lại bị xăm mặt làm nô lệ, kẻ nhỏ tuổi bị thiến. Nay họ đã chiếm đất Chiêm Thành, lại muốn nuốt bản quốc. Bản quốc vì thảy đều là thần tử của Vương nên chưa dám đánh'. Vừa lúc sứ An Nam cũng đến, sứ Mãn Lạt Gia xin tranh biện tại triều. Bộ Binh nói việc đã qua không đáng so đo sâu. Đế bèn nhân lúc sứ An Nam về, ban sắc trách vương nước ấy, đồng thời dụ Mãn Lạt Gia rằng: 'Nếu An Nam lại xâm lăng thì hãy chỉnh binh đợi chiến'. Sau đó sai Cấp sự trung '''Lâm Vinh (林榮)''', Hành nhân '''Hoàng Càn Hanh (黃乾亨)''' đi phong thế tử '''Mã Cáp Mộc Sa (馬哈木沙)''' làm vương. 2 người chết đuối, được truy tặng quan chức, ban tế tự cho con cháu, cứu tế gia đình. Lại sai Cấp sự trung '''Trương Thịnh (張晟)''' đi thay, Thịnh chết ở '''Quảng Đông (廣東)''', mệnh quan thủ thần chọn 1 quan viên làm phó cho '''Tả Phụ (左輔)''' để hoàn tất việc phong vương." '''Năm Chính Đức (正德) thứ 3 (năm 1508 dương lịch) đời Võ Tông (武宗), người Giang Tây là Tiêu Minh Cử cướp giết sứ Mãn Lạt Gia, sự việc bại lộ bị xử tử. Người Phật Lang Cơ (nguyên văn 佛郎機 người Pháp - đúng ra là người Bồ Đào Nha) cậy mạnh đoạt đất Mãn Lạt Gia.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Chính Đức (正德)''' thứ 3 (năm 1508 dương lịch), sứ thần '''Đoan Á Trí (端亞智)''' vào cống. Thông sự là '''Á Lưu (亞劉)''', vốn là người huyện '''Vạn An (萬安)''' tỉnh '''Giang Tây (江西)''' tên '''Tiêu Minh Cử (蕭明舉)''', phạm tội trốn sang nước ấy, hối lộ thông sự để mưu đồ bảo vật. Khi về đến Quảng Đông, Minh Cử cùng đồng bọn cướp giết sứ giả lấy hết tài vật. Sự việc bại lộ, Minh Cử bị lăng trì, bọn còn lại bị chém. Sau đó, người '''Phật Lang Cơ (佛郎機 - người Bồ Đào Nha)''' đem quân xâm chiếm đất ấy, vương là '''Tô Đoan Ma Mạt (蘇端媽末)''' bỏ chạy, sai sứ cáo nan. Lúc này '''Thế Tông (世宗)''' đã lên ngôi, ban sắc trách Phật Lang Cơ lệnh trả lại đất cũ, dụ vua các nước '''Xiêm La (暹羅)''' cứu láng giềng. Nhưng không ai ứng phó, Mãn Lạt Gia cuối cùng bị diệt. Sau này đổi tên là '''Ma Lục Giáp (麻六甲 - Malacca)'''." Sản vật cống nạp gồm: mã não, ngọc trai, đồi mồi, san hô, sừng tê, ngà voi, vẹt, trầm hương... Có núi chảy ra suối, thổ dân đãi cát lấy thiếc, đúc thành khối gọi là "đấu thiếc". Đất đai khô cằn, dân chủ yếu đãi thiếc và bắt cá. Khí hậu sáng nóng chiều lạnh. Nam nữ búi tóc, thân hình đen đúa, kẻ có da trắng là giống người Đường (Trung Quốc) vậy. Từ khi bị Phật Lang Cơ phá, phong tục thay đổi hẳn, thuyền buôn ít đến. === Mãn Lạt Gia bộ kỷ sự (滿剌加部紀事 - Ghi chép sự việc)=== *Huyện chí Vô Tích (無錫縣志): "'''Du Phổ (俞溥)''' làm Tham quân, sứ đến Mãn Lạt Gia 3 năm mới về, học được thuật bói rùa. Chọn rùa lớn nuôi bằng suối trong và rêu xanh, mỗi năm bói 1 lần. Trước khi bói ăn chay 7 ngày, dùng sơn mỏng bôi bụng rùa, đợi sơn nứt như vết nung để nghiệm cát hung. Phổ mang về 2 con rùa, một con dài 1 tấc 3 phân, một con dài 1 tấc rưỡi. Lại mang về 2 loại thuốc: một tên '''A Chỉ Nhi (阿止兒)''' trị nội thương; một tên '''A Tức Loại (阿息類)''' trị kim thương." *Khôn Dư Đồ Thuyết (坤輿圖說): "Nước Mãn Lạt Gia đất không rộng lắm nhưng là nơi thương nhân tụ hội, nằm ngay dưới đường xích đạo. Tiết xuân phân và thu phân khí hậu cực nóng, nhờ ngày nào cũng mưa nên có thể ở được. Sản sinh voi, hồ tiêu và gỗ quý. Người lương thiện, không lo kế sinh nhai, thường đàn tỳ bà rong chơi nhàn hạ." ==Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 1 (僬僥部彙考一)== ===〈Chu Nhiêu - 周饒〉=== ===Thời Hậu Hán (後漢)=== Tháng 3 mùa xuân, ngày Kỷ Mão năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 107 dương lịch) đời '''An Đế (安帝)''', dân Di chủng tộc '''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''' đến cống nạp và xin nội thuộc. Xét: Hậu Hán Thư (後漢書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. ===Thời nhà Minh (明)=== Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 17 (năm 1419 dương lịch) đời '''Thành Tổ (成祖)''', nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' đến cống nạp. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): "'''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' là người Di ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''', người cao 3 thước (khoảng 1 mét). Trong số các nô lệ đen (hắc tiểu tư) của các nước phiên thường dùng làm vật cống nạp, thì các chủng tộc như Hợi Thủ (咳首) đại để đều là người Lão ở biển (hải lão) vậy." === Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 2 (僬僥部彙考二)=== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Chu Nhiêu (周饒國)''', người ở đó thân hình ngắn nhỏ, đội mũ thắt đai. Có thuyết nói nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' ở phía Đông nước '''Tam Thủ (三首)'''. *(Chú thích: Người ở đó cao 3 thước (khoảng 1 mét), sống trong hang, có thể làm được các đồ máy móc khéo léo, có đủ 5 loại ngũ cốc. Lại nữa, sách Ngoại truyện nói: Dân Tiêu Nghiêu cao 3 thước, là cực điểm của sự ngắn nhỏ. Sách Thi Hàm Thần Vụ chép: Từ Trung Châu đi về phía Đông 400,000 dặm, có người nước Tiêu Nghiêu, cao 1 tấc 5 phân (khoảng 45 cm)). '''Phần Đại hoang Nam kinh (大荒南經)''' Có nước của người nhỏ bé tên là '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', mang họ Kỷ (幾), ăn các loại ngũ cốc tốt (gia cốc). *(Chú thích: Thảy đều cao 3 thước. Xét về phương Tây, người Tiêu Nghiêu thời Nghiêu (堯) từng vào cống nạp, hoặc chính là nước này. Hoặc ở phương Tây Nam, phương Tây, phương Nam mỗi nơi đều có người Tiêu Nghiêu, thảy đều không có gì để khảo chứng thêm, nay tạm để tồn tại song song cả hai thuyết). == Bản Thuẫn Man bộ hối khảo (板楯蠻部彙考) Khảo cứu về bộ lạc người Man cầm khiên gỗ== === Thời Hậu Hán (後漢)=== Mùa đông tháng 10 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''' ở quận '''Ba (巴郡)''' làm phản, [triều đình] sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc Thứ sử '''Ích Châu (益州)''' thảo phạt nhưng không thắng được. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: "Giống người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''', vào thời '''Tần Chiêu Tương vương (秦昭襄王)''' có 1 con hổ trắng thường đi theo đàn hổ, nhiều lần dạo chơi vùng biên cảnh '''Tần (秦)''', '''Thục (蜀)''', '''Ba (巴)''', '''Hán (漢)''', làm hại hơn 1,000 người. Chiêu vương bèn trọng thưởng chiêu mộ trong nước, ai giết được hổ sẽ phong ấp 10,000 hộ, thưởng 100 dĩ vàng. Bấy giờ có người Di ở '''Lãng Trung (閬中)''' thuộc quận '''Ba (巴郡)''' biết làm nỏ bằng tre trắng, bèn lên lầu bắn chết hổ trắng. Chiêu vương khen ngợi, nhưng vì họ là người Di nên không muốn phong tước, bèn khắc đá lập thề, miễn thuế cho ruộng đất của họ, 10 người vợ không phải nộp thuế thân, kẻ làm bị thương người thì luận tội, kẻ giết người được dùng tiền 'tàm' (tức tiền chuộc) để chuộc tội chết. Lời thề rằng: 'Nếu người Tần phạm người Di, nộp 1 đôi rồng vàng; nếu người Di phạm người Tần, nộp 1 chung rượu trong'. Người Di yên lòng với việc đó. Đến khi '''Cao Tổ (高祖)''' làm Hán Vương, phát động người Di theo về đánh 3 đất Tần (Tam Tần). Sau khi đất Tần đã định, bèn cho họ về lại vùng '''Ba Trung (巴中)''', miễn thuế khóa cho các thủ lĩnh thuộc 7 họ: '''La (羅)''', '''Phác (朴)''', '''Đốc (督)''', '''Ngạc (鄂)''', '''Độ (度)''', '''Tịch (夕)''', '''Cung (龔)'''. Các hộ còn lại hằng năm nộp 40 tiền 'tư' mỗi khẩu, đời gọi là người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)'''. Vùng Lãng Trung có sông '''Du Thủy (渝水)''', người dân phần lớn sống hai bên bờ, thiên tính mạnh dũng, ban đầu làm tiền phong cho quân Hán, nhiều lần hãm trận. Tục thích ca múa, Cao Tổ xem xong nói: 'Đây là bài ca của Vũ Vương phạt Trụ vậy', bèn lệnh cho nhạc nhân học theo, chính là điệu múa '''Ba Du (巴渝舞)'''. Từ đó đời đời phục tùng. Đến thời Trung hưng, Thái thú thường dẫn họ đi chinh chiến. Đời '''Hoàn Đế (桓帝)''', Bản Thuẫn nhiều lần phản lại, Thái thú quận Thục là '''Triệu Ôn (趙溫)''' dùng ơn tín mà hàng phục được họ. Năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 3 (năm 180 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người Bản Thuẫn quận Ba lại phản, cướp bóc các quận thuộc Tam Thục và Hán Trung. Linh Đế sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc binh sĩ Ích Châu thảo phạt, liên tiếp nhiều năm không thắng được. Đế muốn phát động đại binh, bèn hỏi các Kế lại (quan lo việc sổ sách) của Ích Châu để khảo sát phương lược chinh thảo. Quan Thượng kế của '''Hán Trung (漢中)''' là '''Trình Bào (程包)''' thưa rằng: 'Bảy họ Bản Thuẫn từng bắn chết hổ trắng, lập công với tiền thế, vốn là nghĩa dân. Người đó dũng mãnh, giỏi binh chiến. Xưa những năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' (năm 107 – 113 dương lịch), người Khương vào Hán Xuyên, quận huyện tan vỡ, nhờ được Bản Thuẫn cứu viện mà quân Khương bị tiêu diệt gần sạch, nên họ được gọi là thần binh. Người Khương sợ hãi, truyền lời cho bộ tộc rằng chớ đi về phía Nam nữa. Đến năm '''Kiến Hòa (建和)''' thứ 2 (năm 148 dương lịch), người Khương lại đại cử xâm nhập, thực cũng nhờ Bản Thuẫn liên chiến phá được. Tiền Xa kị Tướng quân '''Phùng Côn (馮緄)''' khi nam chinh '''Vũ Lăng (武陵)''', tuy có tinh binh Đan Dương nhưng cũng dựa vào Bản Thuẫn mới thành công. Gần đây quận Ích Châu có loạn, Thái thú '''Lý Ngung (李顒)''' cũng dùng Bản Thuẫn mà dẹp yên. Trung công như thế, vốn không có lòng ác. Thế nhưng quan lại địa phương thu thuế quá nặng, tôi tớ đánh đập họ quá cả nô lệ, có người phải gả vợ bán con, hoặc thậm chí tự cắt cổ. Tuy họ kêu oan lên châu quận nhưng Mục thủ không phân định lý lẽ. Cung đình xa xôi không tự nghe thấu, nên họ ngậm oán kêu trời ở thung lũng cùng cực, sầu khổ vì sưu dịch, khốn đốn vì hình phạt tàn khốc, nên các ấp tụ tập mà làm phản, chứ không phải có chủ mưu tiếm hiệu làm loạn. Nay chỉ cần chọn Mục thủ sáng suốt hiền tài, tự khắc họ sẽ yên ổn tụ họp, không phiền đến chinh phạt'. Đế theo lời đó, sai Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' tuyên chiếu ân xá, họ liền đều hàng phục. Xét Hán Trung Sĩ Nữ Chí (漢中士女志): '''Trình Bào (程包)''' tự là '''Nguyên Đạo (元道)''', người '''Nam Trịnh (南鄭)''', năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) làm Thượng kế lại. Bấy giờ Bản Thuẫn làm phản, quân lữ nhiều phen nổi dậy, thiên tử lo lắng hỏi phương lược. Bào thưa: 'Bản Thuẫn trung dũng, lập công từ thời tiền Hán, là nghĩa dân của hoàng đế. Quân Khương vào Hán Trung, đều nhờ sức họ. Bởi không biết vỗ về nên mới dẫn đến phản loạn, chứ không có lòng tiếm đoạt. Nay binh lính kéo đến chưa chắc thắng được, chẳng bằng chọn Thái thú hiền tài, dùng ơn tín mà thu phục'. Thiên tử theo lời, kết quả đúng như lời ông nói. Sau này ông mất trên đường đi. Mùa thu tháng 7 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 5 (năm 182 dương lịch), người Bản Thuẫn Man ở quận Ba đến gặp Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' xin hàng. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Năm '''Trung Bình (中平)''' thứ 5 (năm 188 dương lịch), Bản Thuẫn Man lại phản, sai Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: 'Năm Trung Bình thứ 5, giặc Hoàng Cân ở quận Ba nổi dậy, người Bản Thuẫn Man nhân đó lại phản, cướp bóc thành ấp. [Triều đình] sai Tây Viên Thượng quân Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên'. == Lâm Ấp bộ hối khảo 1 (林邑部彙考一)== === Thời nhà Tấn (晉)=== '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Thái Khang (太康) thứ 5 (năm 284 dương lịch), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ và Lâm Ấp truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣) thời Hán, tức là nơi '''Mã Viện (馬援)''' đúc cột đồng vậy, cách Nam Hải (南海) 3,000 dặm. Cuối thời Hậu Hán, Công tào của huyện họ Khu (區) có con tên Liên (連), giết huyện lệnh rồi tự lập làm vua, con cháu truyền nối nhau. Về sau vua không có con nối dõi, ngoại tôn (cháu ngoại) là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, Hùng chết, con là Dật (逸) lập. Phong tục ở đó thảy đều mở cửa đất hướng về phía mặt trời. Về nơi cư ngụ thì hoặc Đông hoặc Tây không cố định. Tính người hung hãn, quả cảm trong chiến đấu, giỏi leo núi lội nước, không quen đất bằng. Bốn mùa ấm áp, không sương không tuyết, người đều ở trần đi chân đất, lấy sắc đen làm đẹp. Quý nữ khinh nam, người cùng họ lấy nhau. Người nữ hỏi cưới chồng trước. Lúc con gái gả đi thì mặc áo Ca-bàn (迦盤衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, đầu đội hoa quý. Lúc có tang thì cắt tóc mai, gọi đó là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Vua đội thiên quan (mũ trời), khoác chuỗi anh lạc. Mỗi khi nghe chính sự, tử đệ và thị thần đều không được lại gần. Từ thời '''Tôn Quyền (孫權)''' trở đi không triều cống Trung Quốc. Đến năm Thái Khang đời Vũ Đế mới bắt đầu đến cống nạp." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp bản truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣), quận Nhật Nam (日南郡) thời Hán, thuộc cương giới Việt Thường (越裳) xưa. Phục Ba tướng quân Mã Viện mở cõi Nam của nhà Hán, đặt ra huyện này. Đất ấy chiều dọc chiều ngang khoảng 600 dặm, thành cách biển 120 dặm, cách biên giới Nhật Nam hơn 400 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德郡), biên giới phía Nam đi đường thủy bộ hơn 200 dặm. Có người Di phương Tây cũng xưng vương, là nơi Mã Viện trồng 2 cột đồng để làm mốc biên giới nhà Hán vậy. Nước ấy có núi vàng (Kim Sơn), đá thảy đều màu đỏ, trong đó sinh ra vàng, đêm đến vàng bay ra như ánh đom đóm. Lại có đồi mồi, vỏ ốc, cát bối (vải bông), trầm mộc hương. Cát bối (吉貝) là tên cây. Khi hoa nở như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt vải, trắng sạch không khác vải gai (trữ bố), cũng nhuộm thành 5 màu, dệt thành vải vằn (ban bố). Trầm mộc (沉木) là cây do người bản địa chặt đứt, tích qua năm tháng cho mục nát mà phần tâm tiết vẫn còn, bỏ xuống nước thì chìm nên gọi là 'Trầm hương' (沉香). Loại kém hơn không chìm không nổi gọi là 'Hương' (香). Cuối thời Hán đại loạn, Công tào là '''Khu Đạt (區達)''' giết huyện lệnh tự lập làm vua, truyền được mấy đời. Về sau vua không con, lập cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊). Hùng chết, con là Dật (逸) nối ngôi." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Hiệu Lâm Ấp khởi đầu từ cuối thời Hán. Lúc loạn năm Sơ Bình (初平) (năm 190 – 193 dương lịch), người người ôm lòng khác. Công tào Tượng Lâm họ Khu có con tên Liên (連), đánh huyện giết lệnh, tự hiệu là vua. Gặp lúc loạn ly, Lâm Ấp bèn đứng vững, sau đó truyền vị cho con cháu. Thời Tam Quốc đỉnh tranh, chưa phụ thuộc bên nào. Nhà Ngô có đất Giao Châu tiếp giáp, tiến chiếm Thọ Lãnh (壽泠) làm cương giới. Từ đời Khu Liên trở đi, nước không có văn sử nên việc truyền nối mất dấu, thế số khó tường. Tông tộc tuyệt diệt, không còn hậu duệ. Cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊) lên thay, được lòng người vui vẻ ủng hộ. Sau Hùng chết, con là Dật (逸) lập." '''Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Thành Đế (成帝), vua Lâm Ấp là Phạm Dật chết, nô bộc là Văn (文) chiếm ngôi lập.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 2 (năm 336 dương lịch), Phạm Dật chết, nô bộc là Văn chiếm ngôi. Văn vốn là nô bộc của di soái '''Phạm Trùy (范椎)''' huyện Tây Quyển (西卷縣), quận Nhật Nam. Từng chăn bò trong khe núi, bắt được 2 con cá chép hóa thành sắt, dùng để rèn dao. Dao rèn xong, Văn đối diện tảng đá lớn mà khấn rằng: 'Cá chép biến hóa, đúc thành dao đôi, nếu tảng đá vỡ thì là có thần linh'. Tiến đến chém, đá liền vỡ tan. Văn biết là thần vật, bèn giấu đi, theo lái buôn qua lại, thấy được chế độ nước thượng quốc. Đến Lâm Ấp, Văn dạy Dật làm cung thất thành ấp cùng khí giới. Dật rất yêu tin, cho làm tướng. Văn bèn gièm pha các con của Dật, kẻ thì bị đày người thì bỏ trốn. Đến khi Dật chết không con, Văn bèn tự lập làm vua, đem vợ thiếp của Dật đặt hết lên lầu cao, ai theo mình thì nhận lấy, ai không theo thì cắt lương thực. Sau đó đánh các nước Đại Kỳ giới, Tiểu Kỳ giới, Thức Bộc, Từ Lang, Khuất Đô, Kiền Lỗ, Phù Đan rồi thôn tính cả, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Sai sứ dâng biểu triều cống hoàng đế, thư thảy đều dùng chữ Hồ (胡)." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Tấn Thành Đế, Dật chết, nô bộc là Văn chiếm lập. Văn vốn là gia nô của di soái '''Phạm Trĩ (范稚)''' huyện Tây Quyển, quận Nhật Nam. Thường chăn bò ở khe núi, được 2 con cá lăng, hóa làm sắt, nhân đó đúc dao. Đúc xong Văn hướng về phía đá mà chú rằng: 'Nếu chém đá vỡ, Văn sẽ làm vua nước này'. Bèn giơ dao chém đá, như chém cỏ khô. Văn lấy làm lạ. Phạm Tr稚 thường sai Văn đi buôn đến Lâm Ấp, Văn nhân đó dạy vua Lâm Ấp làm cung thất cùng binh xa khí giới, vua sủng ái trọng dụng. Sau Văn gièm pha các con vua, mỗi người trốn một nước. Khi vua chết không con, Văn giả vờ đón hoàng tử ở láng giềng về, bỏ độc vào nước uống mà giết đi, rồi hiếp dân trong nước tự lập. Cử binh đánh các nước nhỏ xung quanh thảy đều nuốt sạch, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Bấy giờ Thứ sử Giao Châu là '''Khương Tráng (姜壯)''' sai thân tín là '''Hàn Tập (韓戢)''', '''Tạ Trạc (謝稚)''' lần lượt giám sát quận Nhật Nam, đều tham tàn, các nước lấy làm khổ." Xét Thủy Kinh Chú (水經注) có đoạn về Phạm Văn: "... Văn vào núi tìm đá luyện sắt, đúc làm 2 con dao, giơ lưỡi hướng về phía vách núi (chướng) mà chúc rằng: 'Cá chép biến hóa, luyện đá thành dao, chém vách đá vỡ thì là có linh thần, Văn sẽ trị nơi này làm quân vương nước ấy. Nếu chém không vào thì là dao không thần linh'. Tiến đến chém vách đá như rồng thiêng chém cỏ, từ đó lòng người dần theo phục. Nay sông đá vẫn còn, dao cá vẫn tồn tại, truyền cho con cháu như kiếm trảm xà (chém rắn) vậy. Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 6 (năm 331 dương lịch) Dật chết không con... Văn tự lập làm vua. Lấy vợ thiếp vua trước đặt lên lầu cao, ai theo mình thì nạp làm thiếp, không theo thì tuyệt ăn uống cho đến chết. Sách Giang Đông cựu sự nói: Phạm Văn vốn là người Dương Châu (揚州), thuở nhỏ bị bắt làm nô lệ, bán đến Giao Châu. Năm 15 – 16 tuổi gặp tội đáng gậy, sợ hãi trốn theo lái buôn Lâm Ấp vượt biển đi xa, lọt vào nước của vua, được vua rất sủng ái. Qua hơn 10 năm vua chết... tự lập làm vua, uy thế trải khắp các nước. Có bộ lạc thì búi tóc tiếng Man, miệng ăn mũi uống, hoặc xăm mặt chạm mình, là giống người ở trần (thoát lỏa chủng), những kẻ lưu đày thời Hán Ngụy thảy đều bị Văn dùng." '''Tháng 10 năm Hàm Khang (咸康) thứ 6 (năm 340 dương lịch), Lâm Ấp dâng voi thuần.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ chép như vậy. '''Tháng Giêng mùa xuân năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch) đời Mục Đế (穆帝), Phạm Văn nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, giết Thái thú Hạ Hầu Lãm, dùng thây tế trời. Tháng 7 mùa thu, Phạm Văn lại chiếm Nhật Nam, giết Đốc hộ Lưu Hùng. Ngôi Văn lập Phạm Bôn làm đế.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), Văn suất quân đánh chiếm Nhật Nam, hại Thái thú '''Hạ Hầu Lãm (夏侯覽)''', giết 5,000 – 6,000 người, số còn lại chạy sang Cửu Chân. Lấy thây Lãm tế trời, san phẳng thành huyện Tây Quyển, rồi chiếm Nhật Nam, cáo với Thứ sử Giao Châu là '''Chu Phiên (朱蕃)''', xin lấy núi Hoành Sơn (橫山) ở phía Bắc Nhật Nam làm ranh giới. Nguyên trước đó các nước ngoài cõi thường mang bảo vật theo đường biển đến buôn bán, mà Thứ sử Giao Châu, Thái thú Nhật Nam đa số tham lợi xâm lấn, 10 phần chiết khấu mất 2 – 3 phần. Đến thời Thứ sử '''Khương Tráng (姜壯)''', sai '''Hàn Tập (韓戢)''' lĩnh Thái thú Nhật Nam, Tập đánh giá cao hơn nửa (ép giá), lại chặt cây đóng thuyền điều động phu phen, phao tin là 'chinh phạt', do đó các nước căm giận. Vả lại Lâm Ấp vốn tham đất Nhật Nam, Tập chết, người kế nhiệm là '''Tạ Trạc (謝擢)''' lại xâm khắc như trước. Đến khi Lãm đến quận lại đắm chìm trong rượu chè, chính giáo càng loạn, nên bị phá diệt. Sau đó Văn về Lâm Ấp. Năm ấy, Chu Phiên sai Đốc hộ '''Lưu Hùng (劉雄)''' đóng giữ Nhật Nam, Văn lại đánh chiếm nơi đó." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), đài đình sai Hạ Hầu Lãm làm Thái thú, xâm khắc càng thậm. Lâm Ấp vốn không có ruộng đất, tham đất Nhật Nam màu mỡ, thường muốn chiếm lấy. Đến đây nhân nỗi oán của dân bèn cử binh đánh Nhật Nam, giết Lãm, dùng thây tế trời. Ở lại Nhật Nam 3 năm mới về Lâm Ấp. Thứ sử Giao Châu Chu Phiên sau đó sai Đốc hộ Lưu Hùng đóng giữ Nhật Nam, Văn lại tiêu diệt đi, tiến đánh quận Cửu Đức (九德郡), tàn hại quan dân. Sai sứ bảo Phiên nguyện lấy núi Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm giới hạn, Phiên không hứa. Lại sai Đốc hộ '''Đào Hoãn (陶緩)''', '''Lý Cù (李衢)''' thảo phạt. Văn về Lâm Ấp, tìm cách đóng đồn ở Nhật Nam." '''Tháng 4 mùa hè năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 4 (năm 348 dương lịch), Phạm Văn đánh phá Cửu Chân, giết hại rất nhiều.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 4, Văn lại đánh Cửu Chân, hại sĩ dân đến 18 – 19 phần." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), Hoàn Ôn (桓溫) sai Đốc quân Đằng Tuấn (滕畯) thảo phạt Phạm Văn, không thắng. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi. Đằng Tuấn thảo phạt, tiến vào thành, Phật xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), '''Hoàn Ôn (桓溫)''' sai Đốc quân '''Đằng Tuấn (滕畯)''' thảo phạt Phạm Văn, bị Văn đánh bại." Xét Lâm Ấp bản truyền: "Năm thứ 5, Chinh Tây đốc hộ Đằng Tuấn suất binh Giao Châu, Quảng Châu đánh Văn ở Lô Dung (盧容), bị Văn đánh bại, lui về Cửu Chân. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 5, Văn chết, con là Phật lập, vẫn đóng đồn ở Nhật Nam. Chinh Tây tướng quân Hoàn Ôn sai Đốc hộ Đằng Tuấn, Thái thú Cửu Chân '''Quán Thúy (灌邃)''' suất binh Giao, Quảng thảo phạt, Phật ôm thành cố thủ. Thúy lệnh Tuấn bày binh mạnh ở phía trước, Thúy suất 700 tinh binh từ phía sau vượt lũy xông vào, quân Phật kinh sợ tan chạy. Thúy đuổi đến Lâm Ấp, Phật bèn xin hàng." '''Năm Thăng Bình (升平) thứ 3 (năm 359 dương lịch), Lâm Ấp xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Tháng 12 năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 3 (năm 359 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là '''Ôn Phóng Chi (溫放之)''' suất binh thảo phạt các bộ lạc Tham Lê (參黎), Đam Lão (耽潦) của Lâm Ấp, thảy đều hàng phục." Xét Lâm Ấp truyền: "Cuối năm Thăng Bình, Thứ sử Quảng Châu là '''Đằng Hàm (滕含)''' suất quân đánh Lâm Ấp, vua Phật (佛) sợ hãi xin hàng, Hàm cùng lập minh ước rồi về." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Đầu năm Thăng Bình, Lâm Ấp lại đến cướp bóc, Thứ sử Ôn Phóng Chi thảo phạt phá tan." '''Năm Ninh Khang (寧康) [không rõ số] đời Hiếu Vũ Đế (孝武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Ngày Kỷ Tỵ tháng 6 năm Thái Nguyên (太元) thứ 2 (năm 377 dương lịch), Lâm Ấp dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 3 năm Thái Nguyên (太元) thứ 7 (năm 382 dương lịch), Phạm Hùng (范熊) nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' *(Xét Bản truyền nói Phạm Hùng chết thì con là Dật (逸) nối ngôi vốn phải ở thời Vũ Đế (武帝). Đến đây lại chép việc Phạm Hùng, ấy là vẫn theo nguyên bản đã ghi, xin lưu lại để tham khảo). Xét: Các mục trên theo Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ. '''Tháng 2 năm Lũng An (隆安) thứ 3 (năm 399 dương lịch) đời An Đế (安帝), Phạm Đạt (范達) nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, Cửu Chân rồi tiến đánh Giao Chỉ, Thái thú Đỗ Viện (杜瑗) thảo phạt phá tan.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Lũng An (隆安)''' thứ 3 (năm 399 dương lịch), cháu của Phật là '''Tu Đạt (須達)''' lại đánh Nhật Nam, bắt Thái thú '''Quảnh Nguyên (炅源)'''. Lại tiến đánh Cửu Đức (九德), bắt Thái thú '''Tào Bính (曹炳)'''. Thái thú Giao Chỉ là '''Đỗ Viện (杜瑗)''' sai Đô hộ '''Đặng Lỗi (鄧逸)''' đánh phá được, bèn lấy Viện làm Thứ sử." '''Năm Nghĩa Hy (義熙) thứ 9 (năm 413 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ: "Tháng 3 năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 9 (năm 413 dương lịch), '''Phạm Hồ Đạt (范胡達)''' nước Lâm Ấp đánh phá Cửu Chân, Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Huệ Độ (杜慧度)''' chém được y." Xét Lâm Ấp truyền: "Trong những năm Nghĩa Hy, hằng năm Lâm Ấp lại đến đánh các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Cửu Đức, giết hại rất nhiều, Giao Châu vì thế mà suy yếu, mà Lâm Ấp cũng bị mệt mỏi. Vua Phật chết, con là Hồ Đạt lập, dâng sớ tiến cống mâm bát vàng và chiêng vàng." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 3 (năm 407 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Nhật Nam, giết Trưởng sử của Viện, [Viện] sai Hải loa Đốc hộ '''Nguyễn Phỉ (阮斐)''' thảo phạt phá tan, chém và bắt được rất nhiều. Năm thứ 9 (năm 413 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Cửu Chân, Hành quận sự '''Đỗ Huệ Kỳ (杜慧期)''' cùng chiến đấu, chém được con y là Giao Long vương '''Chân Tri (甄知)''' cùng các tướng '''Phạm Kiện (范健)'''... bắt sống Tu Đạt cùng con là '''Na Năng (郍能)''' và hơn 100 người. Từ sau khi Viện mất, Lâm Ấp không năm nào không đánh Nhật Nam, Cửu Đức, giết hại cực nhiều, Giao Châu do đó suy yếu. Tu Đạt chết, con là '''Địch Chân (敵真)''' lập, em là '''Địch Khải (敵鎧)''' dắt mẹ bỏ trốn. Địch Chân truy hận vì không dung nạp được mẹ và em, bèn bỏ nước sang Thiên Trúc (天竺), nhường ngôi cho cháu gọi bằng cậu. Quốc tướng là '''Tạng Lân (藏驎)''' cố can nhưng không nghe. Người cháu lên ngôi bèn giết Tạng Lân, con Tạng Lân lại đánh giết kẻ đó, rồi lập em cùng mẹ khác cha của Địch Khải tên là '''Văn Địch (文敵)'''. Văn Địch sau bị vương tử nước Phù Nam (扶南) là '''Đương Căn Thuần (當根純)''' giết chết, đại thần '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' dẹp loạn rồi tự lập làm vua. Chư Nông chết, con là '''Dương Mại (陽邁)''' lập." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Năm '''Kiến Nguyên (建元)''' thứ 2 (năm 380 dương lịch), Văn đánh Nhật Nam, Cửu Đức, Cửu Chân, trăm họ tan tác, 1,000 dặm không bóng khói, sau đó về Lâm Ấp. Lâm Ấp cách Quảng Châu (廣州) 2,500 dặm về phía Tây. Góc Tây Nam thành có núi cao dãy dài nối tận chân trời. Phía Bắc dãy núi tiếp giáp khe suối, nguồn lớn của sông Hoài (Hoài thủy) chảy ra từ vùng Tam Trọng Trường Châu thuộc cõi '''Na Na (郍郍)''' xa xôi, ẩn sau núi bao quanh phía Tây và vòng qua phía Đông núi Vệ Sơn. Phía Nam dãy núi mở ra khe suối, nguồn nhỏ sông Hoài chảy từ núi hẻm vùng Tùng Căn (松根), lượn quanh phía Nam Khúc Nhai rồi vòng về phía Đông, hợp với dòng sông Hoài chảy vào Điển Xung. Thành ấy phía Tây Nam giáp núi, phía Đông Bắc nhìn ra sông, hào sâu nhiều lớp bao quanh dưới thành. Chu vi thành rộng 8 dặm 100 bước, tường gạch cao 2 trượng, phía trên xây thêm tường gạch 1 trượng để hở lỗ vuông, trên gác ván, trên ván có tầng các, trên các có nhà, trên nhà có lầu. Lầu cao 6 – 7 trượng, thấp thì 4 – 5 trượng, đầu mái hình chim xi (si vĩ) bay bổng chạm mây, nương núi nhìn sông, vút cao lừng lững. Nhưng cách chế tạo thì tráng lệ mà vụng về, theo phong tục cổ của người Di. Thành mở 4 cửa, cửa Đông là cửa trước, đối diện bến sông Hoài nơi đường quanh, có bia cổ khắc chữ Di ngợi khen công đức của vua trước là '''Hồ Đạt (胡達)'''. Cửa Tây đối diện 2 tầng hào, vòng lên phía Bắc vào núi, phía Tây núi chính là dòng sông Hoài. Cửa Nam đi qua 2 tầng hào, đối diện lũy của Ôn công. Năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 2 (năm 358 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là Ôn Phóng Chi giết Thái thú Giao Chỉ là '''Bảo (寶)''' và Biệt giá '''Nguyễn Lang (阮郎)''', rồi đi đánh Lâm Ấp. Thủy lục đánh nhau nhiều trận, vua Phật cố thủ trong thành, sau xin phục tùng nên được tha cho. Nay ở phía Nam thành Đông của Lâm Ấp 5 dặm vẫn còn 2 lũy của Ôn công là vậy. Cửa Bắc sát sông Hoài, đường đứt không thông. Trong thành có tiểu thành chu vi 320 bước, điện ngói nhà chung, vách phía Nam không mở, nhà dài 2 đầu, nóc nhà đưa ra hướng Nam Bắc. Các cột trên điện các cao hơn tường thành 1 trượng có dư, dùng 5 loại phân bò làm bùn trát, vách tường ánh sắc xanh bóng. Vợ con cung tần thảy đều ở chung trên điện, không có cung quán riêng biệt. Vua ngồi dựa vào hiên phía Đông, trực tiếp nói chuyện với bên dưới, tử đệ và thần hạ đều không được lên. Nhà có hơn 50 nóc, mái hiên nối liền nhau. Có 8 ngôi miếu lớn nhỏ thờ thần quỷ, đài tầng gác trọng, trạng thái giống như chùa Phật. Ngoài quách không có chợ búa, ấp ít người ở, bờ biển tiêu điều, vốn không phải nơi dân cư sinh sống. Kẻ đứng đầu dùng sự yên ổn lâu dài để nuôi dưỡng đất nước, 10 đời há có thể tồn tại lâu bền sao!" '''Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 2 (năm 421 dương lịch) đời Tống Vũ Đế (宋武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp (林邑國) ở phương Nam, năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 đời Cao Tổ, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' sai sứ đến cống nạp, liền được ban chức tước. Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp ở phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德). Thời nhà Tần là huyện Lâm Ấp cũ. Cuối thời Hán xưng vương. Năm '''Thái Khang (太康)''' thứ 5 (năm 284 dương lịch) đời Tấn mới bắt đầu cống nạp. Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 420 dương lịch) đời nhà Tống, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' mới sinh, mẹ mơ thấy người đem chiếu vàng cho lót nằm, ánh sắc kỳ lệ, Trung Quốc gọi là vàng Tử Ma (vàng tía), người Di gọi là Dương Mại, nên lấy đó làm tên. Khi Dương Mại chết, con là '''Đốt (咄)''' lập, vì mộ cha nên lại đổi tên thành Dương Mại. Lâm Ấp có núi vàng, nước vàng chảy ra bến. Theo đạo Ni Kiền (尼乾道), họ đúc tượng người bằng vàng bạc, lớn đến 10 vòng ôm. '''Những năm Nguyên Gia (元嘉) đời Văn Đế (文 Đế), Lâm Ấp xâm chiếm các quận Nhật Nam, Cửu Đức.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Đầu năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' đời Thái Tổ, [Lâm Ấp] xâm lấn tàn phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức. Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Hoằng Văn (杜弘文)''' dựng cờ tụ họp quân chúng muốn đi thảo phạt, nghe tin có người đến thay chức bèn thôi. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 (năm 421 dương lịch), [Lâm Ấp] sai sứ cống nạp, phong Dương Mại làm Lâm Ấp vương. Dương Mại chết, con là Đốt lập, lại gọi là Dương Mại. Phong tục nước ấy ở nhà gác gọi là Vu Lan (于闌), cửa đều hướng về phía Bắc, viết lên lá cây làm giấy. Nam nữ đều dùng khổ ngang vải Cát Bối (vải bông) quấn từ thắt lưng trở xuống, gọi là Can Mạn (干縵) hoặc Đô Mạn (都縵), xỏ tai đeo vòng nhỏ. Kẻ quý đi giày da, người tiện đi chân đất. Các nước từ Lâm Ấp, Phù Nam (扶南) trở về phía Nam đều như vậy. Vua mặc pháp phục, đeo anh lạc, trang sức như tượng Phật. Khi ra ngoài thì cưỡi voi, thổi ốc đánh trống, che lọng Cát Bối, dùng vải Cát Bối làm cờ xí. Nước không đặt hình pháp, kẻ có tội thì cho voi giẫm chết. Họ lớn hiệu là Bà-la-môn (婆羅門), gả cưới tất dùng vào tháng 8. Nữ cầu nam trước, do trọng nữ khinh nam vậy. Người cùng họ lấy nhau, sai người Bà-la-môn dẫn rể đến gặp vợ, nắm tay nhau trao gửi, đọc chú "Cát lợi cát lợi" để thành lễ. Người chết thì thiêu giữa đồng, gọi là hỏa táng. Góa phụ ở vậy xõa tóc đến già. Vua thờ đạo Ni Kiền, đúc tượng vàng bạc lớn 10 vòng ôm. Đầu năm Nguyên Gia, Dương Mại xâm chiếm Nhật Nam, Cửu Đức, Thứ sử Đỗ Hoằng Văn muốn thảo phạt, nghe tin có người thay bèn thôi. '''Ngày Giáp Dần tháng 7 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 7 (năm 430 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét: Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Năm thứ 7, Dương Mại sai sứ tự trần tình rằng không hòa hợp với Giao Châu, cầu xin được tha thứ. Năm thứ 8, lại sai hơn 100 thuyền lâu báu đánh Cửu Đức, vào cửa biển Tứ Hội (四會浦). Thứ sử Giao Châu là '''Nguyễn Di Chi (阮彌之)''' sai Đội chủ '''Tương Đạo Sinh (相道生)''' đem 3,000 người đi thảo phạt, đánh thành Khu Túc (區粟城) không hạ được, phải rút về. '''Tháng 5 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), vua Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét Lâm Ấp truyền: Lâm Ấp muốn đánh Giao Châu, mượn binh vua nước Phù Nam (扶南), vua Phù Nam không nghe. Năm thứ 10, Dương Mại sai sứ dâng biểu, cống sản vật, xin được lĩnh chức cai quản Giao Châu. Chiếu đáp rằng đường xá xa xôi nên không hứa cho. '''Năm Nguyên Gia thứ 11 (434), thứ 15 (438), thứ 16 (439), thứ 18 (441), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' '''Mùa hạ tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 23 (năm 446 dương lịch), Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh nước Lâm Ấp, chiếm được.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Các năm Nguyên Gia thứ 12, 15, 16, 18 dù thường sai sứ cống nạp nhưng cướp bóc không thôi, đồ dâng cũng thô lậu. Thái Tổ giận kẻ làm trái, năm thứ 23 sai Long tương Tướng quân, Thứ sử Giao Châu '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' đi đánh. Sai Chấn vũ Tướng quân phủ Thái úy là '''Tông Xác (宗慤)''' chịu sự tiết chế của Hòa Chi. Hòa Chi sai Phủ Tư mã '''Tiêu Cảnh Hiến (蕭景憲)''' làm tiền phong, Xác làm phó quân. Dương Mại nghe tin binh đến, sai sứ dâng biểu xin trả lại dân hộ Nhật Nam đã bắt, dâng trân bảo của nước. Thái Tổ hạ chiếu bảo Hòa Chi nếu Dương Mại có lòng thành thì cho quy thuận. Tháng 2 năm đó, quân đến đồn Chu Ngô (朱梧戍), sai Tham quân Phủ Hộ tào là Thái thú Nhật Nam '''Khương Trọng Cơ (姜仲基)''', Tham quân Tiền bộ Tặc tào '''Kiểu Hoằng Dân (蟜弘民)''' cùng bọn '''Tất Nguyện (畢願)''', '''Cao Tinh Nô (高精奴)''' đi tuyên dương ân chỉ. Dương Mại bắt giữ bọn Trọng Cơ, Tinh Nô gồm 28 người, sai Hoằng Dân về báo, ngoài miệng nói quy thuận nhưng phòng bị càng nghiêm. Cảnh Hiến tiến quân hướng về thành Khu Túc (區粟城). Dương Mại sai Đại soái '''Phạm Phù Long Đại (范扶龍大)''' trấn giữ Khu Túc, lại sai thủy bộ quân đến đánh phá viện binh bên ngoài của Cảnh Hiến. Quân Tống dốc sức công thành, tháng 5 chiếm được, chém đầu Phù Long Đại, thu được vàng bạc tạp vật không sao kể xiết. Thừa thắng truy kích, chiếm luôn Lâm Ấp. Cha con Dương Mại đều bỏ chạy thoát thân. Đồ trân dị thu được đều là những vật báu chưa có tên. Thượng khen công lao tướng soái, phong Tiêu Cảnh Hiến làm Trì tiết đốc quân sự 2 quận Uất Lâm, Ninh Phố. Các tướng '''Đồng Lâm Chi (童林之)''', '''Phó Úy Tổ (傅蔚祖)''' tử trận, đều được truy tặng quan chức. Xét Truyện của Thẩm Diễn Chi (沈演之傳): Thượng muốn đánh Lâm Ấp, triều thần không đồng ý, riêng Thứ sử Quảng Châu là '''Lục Huy (陸徽)''' cùng Diễn Chi tán thành. Khi bình định xong, ban cho quần thần vàng, nô lệ (sinh khẩu), đồ đồng. Diễn Chi được thưởng nhiều nhất. Xét Truyện của Tông Xác (宗慤傳): Năm Nguyên Gia thứ 22 (năm 445 dương lịch), việc đánh Lâm Ấp khởi sự, Xác tự xin đi. Nghĩa Cung cử Xác là người can đảm dũng mãnh. Khi vây thành Khu Túc, Lâm Ấp sai tướng '''Phạm Tỳ Sa Đạt (范毗沙達)''' đến cứu. Quân Tống bị giặc đánh bại một trận. Xác bèn chia quân làm nhiều đường, hạ cờ xí ngầm tiến, đánh tan giặc, hạ Khu Túc, tiến vào Tượng Phố (象浦). Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại dốc hết quân ra cự chiến, cho voi mặc giáp trụ, đông đảo không biên giới, sĩ tốt không địch nổi. Xác nói: "Ta nghe sư tử uy phục bách thú", bèn làm hình sư tử để chống voi. Voi quả nhiên kinh sợ chạy loạn, quân giặc tan rã. Chiếm được Lâm Ấp, thu bảo vật dị vật không sao kể xiết. Xét Lương Thư (梁書): Dương Mại sợ, muốn nộp 10,000 cân vàng, 100,000 cân bạc để chuộc tội nhưng đại thần '''Độc Tăng Đạt (毒僧達)''' can ngăn nên thôi. Khi chiếm thành, quân Tống đem nấu chảy các tượng vàng, được mấy trăm nghìn cân vàng. Hòa Chi sau bị bệnh chết, thấy hình bóng người Hồ làm quái. Xét Thủy Kinh Chú (水經注): Năm Nguyên Gia, Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Dương Mại dốc nước chạy đêm, trốn vào núi rừng. Quân rút đi, Dương Mại về nước. Nhà cửa đất nước tan hoang, người thời ấy chẳng còn ai, ông đau đớn phẫn uất, năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' thứ 23 (năm 446 dương lịch) thì chết. Trước đó, lúc mẹ Dương Mại mang thai, mơ thấy người trải chiếu vàng Dương Mại cho con rơi vào, ánh sáng rực rỡ. Cha là Hồ Đạt chết, con lên ngôi, được lòng người, tự lấy điềm mộng làm điều lành cho nước. Thái tử ban đầu tên Đốt, sau khi Dương Mại chết, Đốt 19 tuổi lên ngôi, vì mộ đức của tiên quân nên lại lấy tên Dương Mại. Hai đời cha con cùng tên, biết là điềm Lâm Ấp sắp mất vậy. '''Năm Hiếu Kiến (孝建) thứ 2 (năm 455 dương lịch) đời Vũ Đế (武 Đế), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 đời Thế Tổ (tức Hiếu Vũ Đế), Lâm Ấp lại sai Trường sử là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' phụng mệnh sứ giả đến cống nạp, phong Long Bạt làm Dương võ Tướng quân." '''Năm Đại Minh (大明) thứ 2 (năm 458 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Đại Minh (大明)''' thứ 2, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' lại sai Trường sử là '''Phạm Lưu (范流)''' dâng biểu, tiến cống đồ dùng bằng vàng bạc cùng các vật phẩm như hương liệu, vải vóc." '''Năm Thái Dự (泰豫) thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 9 (năm 491 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝) nhà Nam Tề, Phạm Đương Căn Thuần (范當根純) nước Lâm Ấp sai sứ vào cống, bắt đầu phong làm An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Cao Đế bản kỷ không chép. Xét Nam Sử (南史) - Tề Vũ Đế bản kỷ: "Tháng 5 năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, nước Lâm Ấp dâng chiếu vàng (kim điệm)." Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 (năm 455 dương lịch), bắt đầu lấy Trường sử Lâm Ấp là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' làm Dương võ Tướng quân. Con cháu Dương Mại (楊邁) truyền nối nhau làm vua, nhưng chưa có vị hiệu. Người Di là '''Phạm Đương Căn Thuần (范當根純)''' đánh chiếm nước ấy,篡 vị làm vua. Năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, sai sứ cống nạp chiếu vàng cùng các vật phẩm. Chiếu rằng: 'Lâm Ấp nhỏ bé ở nơi xa xôi, đời đời phục tùng vương hóa. Đương Căn Thuần nay tỏ lòng thành khẩn, suất lãnh liêu thuộc, lập công ở phương xa, thật đáng khen ngợi, nên ban tước hiệu để mở rộng ơn trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương'. Sau đó, con cháu của Phạm Dương Mại là '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' suất lĩnh chúng nhân đánh Đương Căn Thuần, lấy lại được bản quốc." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 10 (năm 492 dương lịch), lấy Phạm Chư Nông làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 2 (năm 495 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), tiến phong hiệu của Phạm Chư Nông làm Trấn Nam Tướng quân.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Thái (永泰) thứ 1 (năm 498 dương lịch), lấy con của Phạm Chư Nông là Văn Khoản (文款) làm Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Vĩnh Thái (永泰)''' thứ 1, Chư Nông vào triều, đi biển gặp gió bão bị chết đuối. Lấy con là '''Văn Khoản (文款)''' làm Giả tiết, Đô đốc duyên hải quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương. Khoảng năm '''Kiến Hưng (建興)''' (năm 313 – 317 dương lịch) đời nhà Tấn, nô bộc của di soái quận Nhật Nam (日南) là '''Phạm Tr稚 (范稚)''' tên là '''Văn (文)''' thường đi buôn bán, thấy được chế độ nước thượng quốc, bèn dạy vua Lâm Ấp là '''Phạm Dật (范逸)''' xây thành trì, lâu đài điện các. Vua đội mũ thiên quan giống như mũ Phật, thân quàng chuỗi anh lạc thơm. Người trong nước hung hãn, quen thuộc núi sông, giỏi chiến đấu, thổi vỏ ốc (hải lệ) thay kèn, người thảy đều ở trần. Bốn mùa ấm áp, không sương tuyết. Quý nữ khinh nam. Gọi thầy cúng (sư vu) là Bà-la-môn (婆羅門). Những người trong họ hàng cưới hỏi nhau, người nữ trước tiên sai người đến hỏi cưới chồng. Con gái khi gả đi mặc áo Già-lam (迦藍衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, trên đầu đội hoa báu. Khi có tang thì cắt tóc gọi là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Ở vùng biên viễn có loài chim Linh Thứu (靈鷲鳥), biết người sắp chết bèn tụ tập tại nhà đó, ăn hết thịt người chết rồi bay đi, sau đó người ta lấy xương thiêu thành tro, ném xuống biển gọi là thủy táng. Sắc da lấy đen làm đẹp. Các nước phương Nam thảy đều như vậy. Tại thành Khu Lật (區栗城), đặt cột biểu cao 8 thước (khoảng 2.6 mét), đo bóng mặt trời về phía Nam được 8 tấc (khoảng 26 cm). Từ Lâm Ấp đi về hướng Tây Nam hơn 3,000 dặm là đến nước Phù Nam (扶南)." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 9 (năm 510 dương lịch) đời Lương Vũ Đế (梁武帝), Lâm Ấp sai sứ dâng vượn trắng, xuống chiếu phong Phạm Thiên Cải làm Lâm Ấp vương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ: Tháng 4 năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9, nước Lâm Ấp sai sứ dâng 1 con vượn trắng. Xét Lâm Ấp truyền: Trong những năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' (454 – 456), '''Đại Minh (大明)''' (457 – 464) đời Tống Hiếu Vũ Đế, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' liên tiếp sai Trường sử dâng biểu cống nạp. Năm '''Thái Dự (泰豫)''' thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế, lại sai sứ dâng sản vật địa phương. Trong những năm '''Vĩnh Minh (永明)''' (483 – 493) đời nhà Tề, '''Phạm Văn Tán (范文贊)''' nhiều lần sai sứ cống nạp. Năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9 (năm 510 dương lịch), con của Văn Tán là '''Thiên Cải (天凱)''' dâng vượn trắng. Chiếu rằng: "Lâm Ấp vương '''Phạm Thiên Cải (范天凱)''' ở nơi hải ngoại, có lòng thành khẩn, từ xa tu sửa chức phận cống nạp, thật đáng khen ngợi. Nên ban tước hiệu, phủ thêm vinh trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Uy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 10 (năm 511 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 11 (năm 512 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 13 (năm 514 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét các mục trên theo Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 13, Thiên Cải liên tiếp sai sứ dâng sản vật, chẳng bao lâu sau thì bệnh mất, con là '''Bật Thụy Bạt Ma (弼毳跋摩)''' lập, dâng biểu cống nạp." '''Tháng 6 năm Phổ Thông (普通) thứ 7 (năm 526 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Phổ Thông (普通)''' thứ 7, vua '''Cao Thức Thắng Khải (高式勝鎧)''' sai sứ dâng sản vật. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 3 năm Đại Thông (大通) thứ 1 (năm 527 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Trung Đại Thông (中大通)''' thứ 2, hành Lâm Ấp vương '''Cao Thức Luật Đà La Bạt Ma (高式律陁羅跋摩)''' sai sứ cống nạp. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 7 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 6 (năm 534 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Những năm Khai Hoàng (開皇) đời Tùy Văn Đế (隋文帝), Lâm Ấp sai sứ vào cống.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Tổ tiên Lâm Ấp nhân lúc loạn '''Trưng Trắc (徵側)''' người con gái Giao Chỉ cuối thời Hán, con của Công tào là '''Khu Liên (區連)''' giết huyện lệnh, tự hiệu làm vua, không con, cháu ngoại là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, chết, con là '''Dật (逸)''' lập. Người Nhật Nam (日南) là '''Phạm Văn (范文)''' nhân lúc loạn làm nô bộc cho Dật, bèn dạy cho cách xây cung thất, chế khí giới. Dật rất tín nhiệm, sai Văn cầm quân, cực được lòng người. Văn nhân đó ly gián các con cháu của Dật, kẻ thì bỏ chạy người bị đày. Khi Dật chết không có con nối, Văn tự lập làm vua. Về sau '''Phạm Phật (范佛)''' bị Dương uy tướng quân nhà Tấn là '''Đái Hoàn (戴桓)''' đánh phá; Thứ sử Giao Châu nhà Tống là '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' cầm quân đánh sâu vào biên cảnh; đến thời nhà Lương, nhà Trần cũng thông sứ qua lại. Nước ấy dài rộng mấy 1,000 dặm, đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống với Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi từ vỏ sò (thần hôi) trát lên, cửa hướng về phía Đông. Quan cao cấp có 2 hạng: một là '''Tây Na Bà Đế (西那婆帝)''', hai là '''Tát Bà Địa Ca (薩婆地歌)'''. Thuộc quan có 3 cấp: thứ nhất là '''Luân Đa (倫多)''', thứ đến là '''Ca Luân Trí Địa (歌倫致地)''', thứ đến là '''Ất Tha Già Lan (乙他伽蘭)'''. Quan ở ngoài chia làm hơn 200 bộ, chức trưởng quan gọi là '''Phất La (弗羅)''', thứ đến gọi là '''Khả Luân (可輪)''', giống như sự sai biệt của Mục tể vậy. Vua đội mũ hoa vàng, hình dáng như mũ Chương phủ. Mặc vải Triều hà, đeo anh lạc châu ngọc, chân đi giày da, đôi khi khoác áo bào gấm. Con em nhà lành thị vệ có khoảng 200 người, đều cầm đao trang trí vàng. Có cung tên, đao sáo, lấy tre làm nỏ, bôi độc vào mũi tên. Nhạc có đàn cầm, sáo, tỳ bà, đàn 5 dây, khá giống Trung Quốc. Mỗi khi đánh trống để cảnh báo chúng dân, thổi vỏ ốc để tập hợp quân đội. Người ở đó mắt sâu mũi cao, tóc xoăn, da đen. Tục đều đi chân đất, dùng khổ vải quấn thân. Tháng mùa đông thì mặc áo bào, phụ nữ búi tóc hình chóp, trải chiếu lá. Mỗi khi có cưới hỏi, lệnh cho người mai mối mang vòng vàng bạc, 2 hũ rượu, mấy con cá đến nhà gái. Sau đó chọn ngày, nhà trai họp thân khách, múa hát đối đáp. Nhà gái mời 1 người Bà-la-môn (婆羅門) đưa cô gái đến nhà trai, chú rể rửa tay, nhân đó dắt cô gái trao cho. Vua chết 7 ngày thì táng, người có quan tước 3 ngày, dân thường 1 ngày. Đều dùng hòm đựng thây, đánh trống múa hát dẫn đường, dùng xe khiêng đến bên nước, chất củi đốt đi, thu lại xương còn sót, nếu là vua thì đặt trong hũ vàng, dìm xuống biển. Người có quan thì dùng hũ đồng dìm ở cửa biển, dân thường dùng hũ sành tiễn đưa xuống sông. Nam nữ đều cắt tóc, theo đám tang đến bên nước, hết lòng thương tiếc mới thôi, về nhà thì không khóc. Cứ mỗi 7 ngày lại đốt hương rắc hoa, lại khóc hết lòng sầu thảm mới thôi. Trọn 7 lần 7 (49 ngày) thì dứt. Đến 100 ngày và 3 năm cũng làm như vậy. Người đều thờ Phật, văn tự giống với Thiên Trúc (天竺). Sau khi Cao Tổ bình định nhà Trần, [Lâm Ấp] bèn sai sứ dâng sản vật địa phương, về sau triều cống bị đoạn tuyệt. '''Tháng 4 năm Đại Nghiệp (大業) thứ 1 (năm 605 dương lịch) đời Dạng Đế (煬帝), Đại tướng quân Lưu Phương đánh Lâm Ấp, phá được.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Bấy giờ thiên hạ vô sự, quần thần nói Lâm Ấp có nhiều báu vật kỳ lạ. Cuối năm '''Nhân Thọ (仁壽)''' (năm 604 dương lịch), Thượng sai Đại tướng quân '''Lưu Phương (劉方)''' làm Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu (歡州), suất lĩnh Thứ sử Khâm Châu '''Ninh Trường Chân (甯長真)''', Thứ sử Hoan Châu '''Lý Ng晕 (李暈)''', Khai phủ '''Tần Hùng (秦雄)''' cùng hơn 10,000 bộ kỵ và mấy 1,000 tội nhân đi đánh. Vua nước ấy là '''Phạn Chí (梵志)''' suất lĩnh đồ đảng cưỡi voi lớn ra chiến đấu, quân của Phương bất lợi. Phương bèn đào nhiều hố nhỏ, lấy cỏ phủ lên trên, nhân đó dùng binh khiêu chiến, Phạn Chí dốc toàn quân ra dàn trận. Phương đánh rồi giả vờ chạy, Phạn Chí đuổi theo đến chỗ có hố, quân chúng sa hố rất nhiều, lại kinh hãi lẫn nhau, quân bèn loạn. Phương tung binh đánh, đại phá quân giặc. Phạn Chí thua trận liên tiếp, bèn bỏ thành mà chạy. Phương vào kinh đô nước ấy, thu được 18枚 (tấm/mộc) bài vị thờ trong miếu, thảy đều đúc bằng vàng, đại khái là nước ấy đã trải qua 18 đời. Phương rút quân về, Phạn Chí lại chiếm đất cũ, sai sứ tạ tội, từ đó triều cống không tuyệt. Xét Truyện của Lưu Phương (劉方傳): Năm '''Nhân Thọ (仁壽)''', Phương được trao chức Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu, lấy Thượng thư Hữu thừa '''Lý Cương (李綱)''' làm Tư mã để kinh lược Lâm Ấp. Phương sai Ninh Trường Chân, Lý Ng晕, Tần Hùng đem bộ kỵ ra từ Việt Thường (越常), tự mình suất lãnh Đại tướng quân '''Trương Tốn (張愻)''', Tư mã Lý Cương theo quân thủy hướng đến Tỷ Cảnh (比景). Sau khi Cao Tổ băng hà, Dạng Đế lên ngôi, tháng Giêng năm '''Đại Nghiệp (大業)''' thứ 1 (năm 605 dương lịch), quân đến cửa biển, vua Lâm Ấp Phạn Chí sai quân giữ nơi hiểm yếu, Phương đánh đuổi đi. Quân đến sông Xà Lê (闍黎江), giặc dựa vào bờ Nam lập rào chắn. Phương bày cờ xí rầm rộ, đánh kim gõ trống, giặc sợ hãi tan rã. Đã qua sông, đi được 30 dặm, giặc cưỡi voi lớn từ 4 mặt kéo đến, Phương dùng nỏ bắn voi, voi trúng thương quay lại giẫm vào trận đồ quân giặc, vương sư lực chiến, giặc chạy vào rào chắn, quân Tùy phá được, bắt và chém hàng 10,000 người. Sau đó vượt Khu Túc (區粟), qua Lục Lý (六里), trước sau gặp giặc trận nào cũng bắt được. Tiến đến sông Đại Duyên (大緣江), giặc dựa nơi hiểm lập rào, lại đánh phá được. Đi qua cột đồng của '''Mã Viện (馬援)''', đi về phía Nam 8 ngày thì đến kinh đô nước ấy. Vua Lâm Ấp Phạn Chí bỏ thành chạy ra biển, Phương thu được bài vị miếu chủ bằng vàng, khắc đá ghi công rồi về. Sĩ tốt chân bị sưng phù, người chết mất 14 – 15 phần trong tổng số 10 phần (tức 40% – 50%). Phương trên đường về gặp bệnh mà mất, Đế rất thương tiếc. === Lâm Ấp bộ hối khảo 2 (林邑部彙考二)=== '''Những năm Vũ Đức (武德) đời Đường Cao Tổ (唐高祖), nước Hoàn Vương (環王) sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Nước Hoàn Vương vốn là Lâm Ấp (林邑), còn gọi là Chiêm Bất Lao (占不勞), cũng gọi là Chiêm Bà (占婆), nằm thẳng phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm. Đất đai chiều Đông Tây rộng hơn 300 dặm, chiều Nam Bắc 1,000 dặm. Phía Tây giáp núi Vụ Ôn (霧溫山) của nước Chân Lạp (真臘), phía Nam đến Bôn Lãng Đà Châu (奔浪陀州). Ở phía Nam có cửa biển lớn (đại phố) có núi Ngũ Đồng Trụ (五銅柱山), hình như cái lọng che, phía Tây là núi đá trùng điệp, phía Đông sát biển, là nơi Mã Viện (馬援) nhà Hán trồng cột đồng vậy. Đất ấy mùa đông ấm, nhiều sương mưa. Sản sinh hổ phách, đười ươi, thú Kết Liêu, chim Kết Liêu. Lấy tháng 2 làm đầu năm, lúa chín 2 vụ một năm. Lấy nước cau làm rượu, lá dừa làm chiếu. Tục hung hãn, giỏi chiến đấu, dùng xạ hương bôi thân, ngày bôi 2 lần tắm 2 lần. Khi bái yết thì chắp tay sát trán. Có văn tự. Thích đạo Phù Đồ (Phật giáo). Đúc tượng vàng bạc, có cái lớn đến 10 vòng ôm. Gọi vua là 'Dương Bồ Cô' (陽蒲逋), vợ vua là 'Đà Dương A Hùng' (陀陽阿熊), Thái tử là 'A Trường Cô' (阿長逋), Tể tướng là Bà Mạn Địa (婆漫地). Nơi vua ở gọi là Chiêm Thành (占城), nơi ở khác gọi là Tề Quốc (齊國), Bồng Bì Thế (蓬皮勢). Vua mặc vải bạch điệp (vải bông trắng) cổ bối, quấn chéo qua cánh tay, sức chuỗi hạt vàng làm anh lạc, tóc xoăn, đội mũ hoa vàng như mũ Chương phủ. Vợ mặc váy ngắn bằng vải cổ bối màu triều hà, mũ và anh lạc giống như vua. Vua có 5,000 vệ binh, chiến đấu cưỡi voi, dùng mây làm áo giáp, dùng tre làm cung tên, suất lĩnh 1,000 voi, 400 ngựa, chia làm trước sau. Không đặt hình phạt, kẻ có tội thì cho voi giẫm, hoặc đưa đến núi Bất Lao (不勞山) cho tự chết. Năm Nhân Thọ (仁壽) đời Tùy, sai Tướng quân Lưu Phương (劉芳) [Tùy thư chép là Lưu Phương 劉方] đánh nơi đó, vua là Phạm Phạn Chí (范梵志) bỏ chạy. [Nhà Tùy] lấy đất ấy làm 3 quận, đặt thủ lệnh, nhưng vì đường xá trở ngại không thông, Phạn Chí gom góp tàn quân riêng xây quốc ấp. Những năm Vũ Đức (618 – 626 dương lịch), lại sai sứ dâng sản vật, Cao Tổ cho bày nhạc Cửu Bộ (九部樂) để yến đãi." '''Những năm Trinh Quán (貞觀) đời Thái Tông (太宗), Lâm Ấp sai sứ vào dâng lễ.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Thời Trinh Quán, vua Đầu Lê (頭黎) dâng voi thuần, xích lưu (vàng ròng), đai ngũ sắc, vải triều hà, cây lửa (hỏa thụ), cùng đi với sứ giả hai nước Bà Lợi (婆利), La Sát (羅剎). Lời lẽ sứ giả không cung kính, quần thần xin hưng binh hỏi tội. Thái Tông nói: 'Xưa Phù Kiên muốn nuốt nhà Tấn, quân có 1,000,000 người nhưng một trận là mất sạch. Nhà Tùy đánh Cao Ly, hằng năm điều động phu phen khiến lòng người oán hận, rồi chết trong tay kẻ thất phu. Trẫm há dám vọng bàn việc phát binh sao?'. Bèn tha cho không hỏi đến. [Lâm Ấp] lại dâng vẹt ngũ sắc, vẹt trắng, chúng thường kêu lạnh, vua hạ chiếu trả về. Đầu Lê chết, con là Trấn Long (鎮龍) lập, dâng tê giác Thông Thiên cùng các thứ báu vật." '''Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (năm 645 dương lịch), vua Lâm Ấp Phạm Trấn Long (范鎮龍) bị ám sát, người trong nước lập Gia Cát Địa (諸葛地) làm vua.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Năm thứ 19, Ma Ha Mạn Đa Già Độc (摩呵慢多伽獨) giết Trấn Long, diệt tông tộc họ Phạm. Người trong nước lập con rể của Đầu Lê là người Bà-la-môn (婆羅門) làm vua, các đại thần cùng phế đi, lại lập con gái của Đầu Lê làm vương. Gia Cát Địa là con của cô vua Đầu Lê, cha gặp tội phải trốn sang Chân Lạp (真臘). Vua nữ không thể định quốc, đại thần cùng đón Gia Cát Địa về làm vua, gả vua nữ cho." '''Những năm Chí Đức (至德) đời Túc Tông (肅宗), Lâm Ấp đổi hiệu thành Hoàn Vương (環王).''' Xét Đường Thư (唐書) - Túc Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Từ năm Vĩnh Huy (永徽) đến Thiên Bảo (天寶) phàm 3 lần vào dâng cống, sau năm Chí Đức (năm 756 dương lịch) đổi hiệu là Hoàn Vương." '''Những năm Nguyên Hòa (元和) đời Hiến Tông (憲宗), Đô hộ An Nam Trương Chu bắt Đô thống và 59 vương tử nước Hoàn Vương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Đầu năm Nguyên Hòa (năm 806 dương lịch), [Hoàn Vương] không vào triều cống, Đô hộ An Nam '''Trương Chu (張舟)''' bắt Đô thống các châu Hoan, Ái ngụy của chúng, chém 30,000 thủ cấp, bắt làm tù binh 59 vương tử, thu được voi chiến, thuyền chiến và áo giáp." === Lâm Ấp - Tạp ký (雜記) - 7 mục=== * '''Cây cau (Binh lang thụ):''' Thân to hơn 1 trượng, cao hơn 10 trượng, vỏ như đồng xanh, đốt như tre đốm. Gốc không to, ngọn không nhỏ, xa gần thành rừng, 1,000 – 10,000 cây như một. Dáng tươi đẹp không có cành, đỉnh đầu có lá, lá xòe ra như nan quạt. Nhìn lên xa xăm như khóm chuối trên ngọn tre, gió thổi thì lá động tựa như quạt lông quét trời. Dưới lá có mấy buồng, mỗi buồng đính 10 số quả, nhà có mấy 100 cây nhìn thưa thớt như dây thừng treo vậy. * '''Chim Linh Thứu (靈鷲):''' Ở biên giới xa xôi phía Tây Nam có chim Linh Thứu, biết được cát hung. Thấy người sắp chết thì rình ăn sạch thịt thây mới đi. Người nhà lấy xương thiêu thành tro ném xuống nước. * '''Cá bay (Phi ngư):''' Cánh như cánh ve, khi bơi thì lướt mây, khi lặn thì xuống đáy biển. * '''Đất đai:''' Trải dài 60 dặm. Đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi vỏ sò trát lên. Đều mở cửa phía Bắc hướng về mặt trời, hoặc Đông Tây không định. * '''Vua Phạm Văn (范文):''' Đúc đồng làm bò, làm nhà bằng đồng, làm hành cung. * '''Vua Minh Đạt (明達):''' Dâng nhẫn kim cương (Kim cương chỉ hoàn). * '''Núi vàng (Kim Sơn):''' Từ Lâm Ấp đi đến Kim Sơn hơn 30 dặm, xa nhìn thấy Kim Sơn cao ngất mà sắc đỏ chiếu rọi như bầu trời. Trong khe hốc có vàng sinh ra hình như sâu bọ, nhỏ thì như ruồi xanh, lớn thì như ong ve, đêm đi tỏa sáng như đom đóm. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 6f0p80fkvuzfwbf2utl4uy0xgrbw6vp 204727 204726 2026-04-15T09:00:05Z Mrfly911 2215 /* Thời nhà Tấn (晉) */ 204727 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第096卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 96''' | trước= [[../quyển 095|quyển 95]] | sau= [[../quyển 097|quyển 97]] | ghi chú = }} == Cầm Nhân bộ hối khảo (禽人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Cầm (禽人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Cầm (禽人) dâng cỏ gian (菅)." *(Chú thích: Cũng là người Man phương Đông Nam, cỏ gian vốn bền dai). == Lộ Nhân bộ hối khảo (路人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Lộ (路人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Lộ (路人) dâng trúc lớn." *(Chú thích: Người Lộ là người Man phương Đông, cống nạp trúc lớn). == Bặc Nhân bộ hối khảo (卜人部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', người '''Bặc (卜人)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Người Bặc (卜人) dâng đan sa (丹沙)." *(Chú thích: Người Bặc là người Man phương Tây Nam, nơi sản sinh ra đan sa). == Dương Châu bộ hối khảo (揚州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Dương Châu (揚州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Dương Châu (揚州) dâng cá ngu ngu (禺禺), tên là Giải Du Khấu (解隃寇)." *(Chú thích: Cũng là một loài cá lạ). == Quyền Phù bộ hối khảo (權扶部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Quyền (權)''' và '''Phù (扶)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Quyền (權) và Phù (扶) dâng chim tam mục (三目 - chim 3 mắt)." *(Chú thích: Quyền và Phù là người Man phương Nam, hình dáng rất nhỏ bé). == Bạch Châu bộ hối khảo (白州部彙考)== '''Thời nhà Chu (周)''' Năm [không rõ số] đời '''Thành Vương (成王)''', đại hội chư hầu tại '''Thành Chu (成周)''', vùng '''Bạch Châu (白州)''' vào cống nạp. Xét: Cấp Trủng Chu Thư (汲冢周書), phần Vương hội giải chép: "Bạch Châu (白州) dâng cây bắc lư (北閭). Cây bắc lư ấy da nó như tấm khiên, đốn lấy gỗ nó để làm xe, đi mãi mà không hỏng." *(Chú thích: Bạch Châu là người Man phương Đông Nam, giáp giới với tộc Bạch Dân (白民)). == Trường Công bộ hối khảo 1 (長肱部彙考一) 〈Trường tý - 長臂〉== '''Thời nhà Chu (周)''' '''Chu Mục vương (穆王)''' chinh phạt phía Tây, phong cho người '''Trường Công (長肱)''' ở phía Tây sông '''Hắc Thủy (黑水)'''. Xét: Mục Thiên tử truyện (穆天子傳) có chép như vậy. *(Chú thích: Tức là "người tay dài" vậy. Thân hình như người Trung Quốc, nhưng cánh tay dài 3 trượng (khoảng 10 mét). Thời nhà Ngụy (魏) từng thu được vạt áo của người này ở vùng Biển Đỏ (Xích hải - 赤海)). == Trường Công bộ hối khảo 2 (長肱部彙考二)== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Trường Tý (長臂國 - Nước tay dài)''', bắt cá dưới nước, mỗi tay cầm 1 con cá. Có thuyết nói nước này ở phía Đông nước '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', bắt cá ở trong biển. *(Chú thích: Thuyết cũ nói rằng: Tay người nước ấy buông thõng xuống chạm đất. Những năm Hoàng Sơ (黃初) (năm 220 – 226 dương lịch) thời nhà Ngụy (魏), Thái thú Nguyên Thố (元菟) là Vương Kỳ (王頎) thảo phạt vua nước Cao Câu Ly (高句麗) là Cung (宮), đuổi gấp đến cùng, đi qua nước Hoạt Thư (活沮), biên giới phía Đông giáp biển lớn, gần nơi mặt trời mọc. Vương Kỳ hỏi các bậc kỳ lão rằng: "Phía Đông biển có người nữa không?". Họ đáp: "Thường thu được một chiếc áo vải ở trong biển, thân áo to như người Trung Quốc, nhưng 2 ống tay dài 3 thước (khoảng 1 mét)". Đó chính là áo của người tay dài vậy. Xét theo sách Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Trường Tý ở phía Đông biển, người buông tay chạm đất. Xưa có người ở trong biển thu được 1 chiếc áo vải, mỗi ống tay dài hơn 1 trượng (khoảng 3.3 mét)). == Trường Công bộ nghệ văn (長肱部藝文)== '''"Trường Tý quốc tán" (長臂國贊 - Bài tán về nước tay dài)''' '''Tấn (晉) · Quách Phác (郭璞)''' "Đôi tay dài 3 thước, thân thể như người thường. Kẻ kia là ai vậy? Chính dân nước Trường Tý. Cậy đôi chân dài, bắt cá bến bờ xa." == Hoàng Chi bộ hối khảo (黃支部彙考)== '''Thời nhà Hán (漢)''' Mùa xuân năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch) đời '''Bình Đế (平帝)''', nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' dâng nộp tê ngưu (tê giác). Xét: Hán Thư (漢書) - Bình Đế bản kỷ chép như vậy. *(Chú thích: '''Ứng Thiệu (應劭)''' nói: "Hoàng Chi ở phía Nam của Nhật Nam (日南), cách kinh sư 30,000 dặm." '''Sư Cổ (師古)''' nói: "Tê giác hình trạng như trâu nước, đầu giống lợn mà có 4 chân, loại như voi, màu đen, có 1 sừng ở trước trán, trên mũi lại có sừng nhỏ nữa"). Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Nam Man truyện: "'''Vương Mãng (王莽)''' phụ chính, vào năm '''Nguyên Thủy (元始)''' thứ 2 (năm 2 dương lịch), nước '''Hoàng Chi (黃支國)''' ở phía Nam của '''Nhật Nam (日南)''' đến dâng nộp tê ngưu. Phàm những nơi vùng '''Giao Chỉ (交趾)''' thống lĩnh, tuy có đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác biệt, phải qua nhiều lần dịch mới thông. Người ở đó như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt. Búi tóc sau gáy, đi chân đất, dùng vải khoét lỗ xỏ qua đầu mà mặc. Sau này khá nhiều tội nhân người Trung Quốc bị đày đến, cho ở xen kẽ giữa họ, nên họ mới dần biết ngôn ngữ, dần thấy được lễ nghi giáo hóa." Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước '''Hoàng Chi (黃支國)''', thời Hán đã thông sứ, ở phía Nam của vùng biển hợp với '''Nhật Nam (日南)''' 30,000 dặm, phong tục đại lược tương tự với vùng '''Châu Nhai (珠崖)'''. Từ thời '''Vũ Đế (武帝)''' trở đi thảy đều đến cống nạp, có minh châu, ngọc bích, lưu ly, đá lạ vật lạ. Hạt châu lớn có vòng tròn đến dưới 2 tấc mà cực tròn, đặt trên đất bằng thì lăn suốt ngày không dừng." == Mãn Lạt Gia bộ hối khảo (滿剌加部彙考) Malacca == '''〈Ca La (哥羅), Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅), Trọng Già La (重迦羅)〉''' ===Thời nhà Hán (漢)=== Nước '''Ca La (哥羅國)''' thời Hán đã nghe danh tại Trung Quốc. Xét: Hán Thư (漢書) không chép. Xét sách Thông Điển (通典) của họ '''Đỗ (杜)''': "Nước Ca La (哥羅國), thời Hán đã nghe danh, ở phía Đông Nam nước '''Pán Pán (槃槃)''', cũng gọi là nước '''Ca La Phú Sa La (哥羅富沙羅國)'''. Vua họ '''Thỉ Lợi Bà La (矢利婆羅)''', tên là '''Mễ Thất Bát La (米失缽羅)'''. Thành quách xây bằng đá, trên thành có lầu khuyết, cửa có cấm vệ, cung thất lợp bằng cỏ. Nước có 24 châu mà không có huyện. Trong sân bày nghi trượng, có cờ tiết trang trí bằng lông công. Binh khí có cung, tên, đao, sáo, giáp da. Chinh phạt đều cưỡi voi, 1 đội có 100 thớt voi, mỗi thớt voi có 100 người hộ vệ. Yên voi có móc ngăn, trong đó ngồi 4 người: 1 người cầm khiên, 1 người cầm cung tên, 1 người cầm gậy nhọn, 1 người cầm đao. Thuế khóa mỗi người nộp 1 thù bạc. Trong nước không có tơ tằm, gai sợi, chỉ sản xuất vải cát bối (vải bông), gia súc có bò và ít ngựa. Theo tục lệ, kẻ không có chức quan thì không được búi tóc trên đầu. Lại có tục gả cưới, lúc đầu hỏi vợ chỉ dùng trầu cau làm lễ, kẻ nhiều đến 200 mâm; hoặc lúc cưới chỉ lấy vàng làm tài vật, kẻ nhiều đến 200 lạng. Đàn bà gả xong thì theo họ chồng. Âm nhạc có tỳ bà, sáo ngang, chũm chọe đồng, trống sắt, kèn, ốc loa, đánh trống. Khi chết thì thiêu xác, bỏ tro vào hũ vàng, dìm xuống biển lớn." === Thời nhà Minh (明)=== '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 (năm 1403 dương lịch), Thành Tổ (成祖) sai sứ chiêu dụ nước Mãn Lạt Gia (滿剌加國).''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Mãn Lạt Gia ở phía Nam nước '''Chiêm Thành (占城)''', thuận gió 8 ngày thì đến '''Long Nha Môn (龍牙門)''', lại đi về phía Tây 2 ngày là tới. Có thuyết nói đó là đất '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' thuộc nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' đời cổ. Tháng 10 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 1 (năm 1403 dương lịch), sai Trung quan '''Doãn Khánh (尹慶)''' sứ đến nơi đó, ban cho gấm thêu vàng, màn trướng dát vàng và các vật dụng. Đất ấy không có vua, cũng không xưng quốc hiệu, lệ thuộc vào nước '''Xiêm La (暹羅)''', mỗi năm nộp 40 lạng vàng làm thuế. Doãn Khánh đến nơi, tuyên thị uy đức cùng ý định chiêu mời. Tù trưởng là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' cả mừng, sai sứ theo Khánh vào triều, dâng sản vật địa phương." '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào cống, phong làm Mãn Lạt Gia Quốc vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Tháng 9 năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch) đến kinh sư, Hoàng đế khen ngợi, phong làm '''Mãn Lạt Gia Quốc vương (滿剌加國王)''', ban cho cáo ấn, lụa màu, áo mặc, lọng vàng, lại mệnh cho Doãn Khánh đi cùng. Sứ giả thưa rằng: "Vua tôi hâm mộ nghĩa cả, nguyện cùng Trung Quốc liệt vào hàng các quận, hằng năm dâng nộp lễ cống, xin phong cho ngọn núi ở đó làm trấn sơn của một nước." Hoàng đế nghe theo, soạn văn bia khắc trên núi, cuối bài thêm bài thơ rằng: "Biển lớn Tây Nam thông Trung Quốc, đổ trời rót đất muôn đời cùng... Bia đá chữ lớn biểu lòng trung, núi Tây nước ngươi vĩnh viễn phong làm trấn." Nhóm người Doãn Khánh lại đến, nhà vua càng mừng, tiếp đãi lễ độ tăng thêm. Xét Minh Hội Điển (明會典): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 3 (năm 1405 dương lịch), tù trưởng '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' sai sứ dâng biểu bằng lá vàng đến triều cống, chiếu phong làm Quốc vương. Sản vật cống nạp gồm: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hạt mã não, hạt san hô, nhẫn nạm vàng, vẹt, gấu đen, vượn đen, hoẵng trắng, vải Tây Dương, các loại hương liệu như trầm hương, nhũ hương, đinh hương... và hắc tiểu tư (nô lệ đen). Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), tự vương (vua nối ngôi) là '''Bái Lý Mê Tô Lạt (拜里迷蘇剌)''' thân hành dẫn vợ con đến triều kiến, được ban thưởng hậu hĩnh rồi về. Từ đó triều cống không dứt. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): Nước Mãn Lạt Gia chính là '''Ca La Phú Sa (哥羅富沙)''' cổ. Thời Hán thường thông với Trung Quốc, sau bị nước '''Đốn Tốn (頓遜)''' ràng buộc. Đốn Tốn ở trên núi đảo giữa biển, đất rộng 1,000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, thảy đều thuộc về '''Phù Nam (扶南)'''. Phía Tây giáp các nước ngoài biên giới Thiên Trúc (天竺), thành nước ấy tiếp giáp '''Đồ Bà (闍婆 Java)''' nên còn tên là '''Đại Đồ Bà (大闍婆)''', nay gọi là '''Trọng Già La (重迦羅)'''. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 9 (năm 1411 dương lịch), Mãn Lạt Gia dẫn vợ con vào triều dâng cống. Vua ngự tại cửa Phụng Thiên, ban yến thưởng thêm hậu hĩnh.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 9 (năm 1411 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con và bồi thần hơn 540 người đến triều kiến. Đến ngoại ô, vua mệnh cho Trung quan '''Hải Thọ (海壽)''', Lang trung Bộ Lễ '''Hoàng Thường (黃裳)''' đón yến lao. Khi vào triều, Hoàng đế thân hành ban yến tại điện Phụng Thiên, Vương phi và người dưới được ban yến nơi khác. Ban cho vua 2 bộ áo rồng thêu vàng, 1 bộ áo kỳ lân, đồ vàng bạc, màn chăn đều đủ, Vương phi và người dưới đều được ban thưởng. Lúc sắp về, ban cho đai ngọc, nghi trượng, yên ngựa, 100 lạng vàng, 500 lạng bạc, 400,000 quán tiền giấy, 2,600 quán tiền đồng, 300 xấp gấm và 1,000 xấp lụa. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 (năm 1414 dương lịch), Quốc vương Mãn Lạt Gia qua đời, con trai vào triều báo tang, liền mệnh cho tập phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 12 (năm 1414 dương lịch), thế tử là '''Mẫu Oát Tát Can Đích Nhi Sa (母斡撒干的兒沙)''' đến triều kiến báo tang cha, liền mệnh cho nối ngôi, ban cho vàng tiền. Từ đó về sau hoặc liên tiếp các năm, hoặc cách năm lại vào cống, lấy đó làm thường lệ. '''Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 (năm 1419 dương lịch), vua Mãn Lạt Gia dẫn vợ con bồi thần vào triều tạ ơn, tố cáo việc bị Xiêm La xâm lấn.''' Hoàng đế ban sắc dụ răn bảo '''Xiêm La (暹羅)''', Xiêm La bèn vâng chiếu. '''Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 6 (năm 1431 dương lịch), Mãn Lạt Gia sai sứ vào tố cáo Xiêm La xâm lấn ngăn trở đường cống.''' Vua mệnh cho '''Trịnh Hòa (鄭和)''' mang sắc chỉ răn bảo Xiêm La, trách việc phải giữ hòa mục với láng giềng, không được trái mệnh triều đình. '''Năm Chính Thống (正統) thứ 10 (năm 1445 dương lịch), sứ giả nước Mãn Lạt Gia xin ban cho vua họ sắc thư, lọng che để trấn phục dân trong nước, lại nói vua muốn thân hành đến cung khuyết xin ban cho thuyền lớn.''' Vua đều nghe theo. Từ năm '''Chính Thống (正統)''' thứ 10 (năm 1445 dương lịch) trở đi, nhiều lần sai sứ đến cống, đường đi qua '''Quảng Đông (廣東)'''. '''Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 6 (năm 1455 dương lịch) đời Đại Tông (代宗), Mãn Lạt Gia vào cống xin phong, [triều đình] sai sứ kiêm ban cho mũ áo.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Cảnh Thái (景泰)''' thứ 6 (năm 1455 dương lịch), '''Tốc Lỗ Đàn Vô Đáp Phật Na Sa (速魯檀無答佛哪沙)''' dâng ngựa và sản vật, xin phong làm vương. Chiếu sai Cấp sự trung '''Vương Huy (王暉)''' đi. Sau đó lại vào cống, nói rằng mũ đai được ban bị cháy trong hỏa hoạn, vua mệnh chế áo Bì biện, thường phục bằng lụa hồng cùng đai sừng tê, mũ sa ban cho." '''Năm Thiên Thuận (天順) thứ 3 (năm 1459 dương lịch) đời Anh Tông (英宗), nước Mãn Lạt Gia vào cống xin phong.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史) - Mãn Lạt Gia truyện: "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), thế tử là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' sai sứ vào cống, mệnh cho Cấp sự trung '''Trần Gia Du (陳嘉猷)''' đi phong vương. Cách 2 năm sau, quan Bộ Lễ tấu rằng: Nhóm Gia Du đi biển 2 ngày đến biển '''Ô Chú (烏豬洋)''' gặp bão, thuyền hỏng trôi dạt 6 ngày đến sở Thủ ngự '''Thanh Lan (清瀾)''' thì được cứu. Sắc thư không mất nhưng đồ ban thưởng đều ướt nước, xin cấp lại và sai sứ đi lần nữa. Vua nghe theo." Xét Minh Nhất Thống Chí (明一統志): "Năm '''Thiên Thuận (天順)''' thứ 3 (năm 1459 dương lịch), Quốc vương '''Vô Đáp Phật Na Sa (無答佛哪沙)''' chết, con là '''Tô Đan Mang Tốc Sa (蘇丹芒速沙)''' xin mệnh, triều đình lại sai sứ mang chiếu đi phong." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 10 (năm 1474 dương lịch) đời Hiến Tông (憲宗), Mãn Lạt Gia vào cống.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 10 (năm 1474 dương lịch), Cấp sự trung '''Trần Tuấn (陳峻)''' đi phong vương nước '''Chiêm Thành (占城)''', gặp binh '''An Nam (安南)''' chiếm giữ Chiêm Thành nên không vào được, bèn mang đồ đến Mãn Lạt Gia, dụ vương vào cống. Sứ giả đến, Đế vui mừng ban sắc khen ngợi." '''Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 (năm 1481 dương lịch), An Nam cướp bóc sứ giả Mãn Lạt Gia. Sứ giả đến triều đình tố cáo. [Đế] ban sắc trách An Nam và sai quan phong Mã Cáp Mộc Sa làm vương.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Tháng 9 năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 17 (năm 1481 dương lịch), sứ giả nói: 'Năm '''Thành Hóa (成化)''' thứ 5 (năm 1469 dương lịch) sứ giả về nước dạt vào cõi An Nam, đa số bị giết, số còn lại bị xăm mặt làm nô lệ, kẻ nhỏ tuổi bị thiến. Nay họ đã chiếm đất Chiêm Thành, lại muốn nuốt bản quốc. Bản quốc vì thảy đều là thần tử của Vương nên chưa dám đánh'. Vừa lúc sứ An Nam cũng đến, sứ Mãn Lạt Gia xin tranh biện tại triều. Bộ Binh nói việc đã qua không đáng so đo sâu. Đế bèn nhân lúc sứ An Nam về, ban sắc trách vương nước ấy, đồng thời dụ Mãn Lạt Gia rằng: 'Nếu An Nam lại xâm lăng thì hãy chỉnh binh đợi chiến'. Sau đó sai Cấp sự trung '''Lâm Vinh (林榮)''', Hành nhân '''Hoàng Càn Hanh (黃乾亨)''' đi phong thế tử '''Mã Cáp Mộc Sa (馬哈木沙)''' làm vương. 2 người chết đuối, được truy tặng quan chức, ban tế tự cho con cháu, cứu tế gia đình. Lại sai Cấp sự trung '''Trương Thịnh (張晟)''' đi thay, Thịnh chết ở '''Quảng Đông (廣東)''', mệnh quan thủ thần chọn 1 quan viên làm phó cho '''Tả Phụ (左輔)''' để hoàn tất việc phong vương." '''Năm Chính Đức (正德) thứ 3 (năm 1508 dương lịch) đời Võ Tông (武宗), người Giang Tây là Tiêu Minh Cử cướp giết sứ Mãn Lạt Gia, sự việc bại lộ bị xử tử. Người Phật Lang Cơ (nguyên văn 佛郎機 người Pháp - đúng ra là người Bồ Đào Nha) cậy mạnh đoạt đất Mãn Lạt Gia.''' Xét Minh Ngoại Sử (明外史): "Năm '''Chính Đức (正德)''' thứ 3 (năm 1508 dương lịch), sứ thần '''Đoan Á Trí (端亞智)''' vào cống. Thông sự là '''Á Lưu (亞劉)''', vốn là người huyện '''Vạn An (萬安)''' tỉnh '''Giang Tây (江西)''' tên '''Tiêu Minh Cử (蕭明舉)''', phạm tội trốn sang nước ấy, hối lộ thông sự để mưu đồ bảo vật. Khi về đến Quảng Đông, Minh Cử cùng đồng bọn cướp giết sứ giả lấy hết tài vật. Sự việc bại lộ, Minh Cử bị lăng trì, bọn còn lại bị chém. Sau đó, người '''Phật Lang Cơ (佛郎機 - người Bồ Đào Nha)''' đem quân xâm chiếm đất ấy, vương là '''Tô Đoan Ma Mạt (蘇端媽末)''' bỏ chạy, sai sứ cáo nan. Lúc này '''Thế Tông (世宗)''' đã lên ngôi, ban sắc trách Phật Lang Cơ lệnh trả lại đất cũ, dụ vua các nước '''Xiêm La (暹羅)''' cứu láng giềng. Nhưng không ai ứng phó, Mãn Lạt Gia cuối cùng bị diệt. Sau này đổi tên là '''Ma Lục Giáp (麻六甲 - Malacca)'''." Sản vật cống nạp gồm: mã não, ngọc trai, đồi mồi, san hô, sừng tê, ngà voi, vẹt, trầm hương... Có núi chảy ra suối, thổ dân đãi cát lấy thiếc, đúc thành khối gọi là "đấu thiếc". Đất đai khô cằn, dân chủ yếu đãi thiếc và bắt cá. Khí hậu sáng nóng chiều lạnh. Nam nữ búi tóc, thân hình đen đúa, kẻ có da trắng là giống người Đường (Trung Quốc) vậy. Từ khi bị Phật Lang Cơ phá, phong tục thay đổi hẳn, thuyền buôn ít đến. === Mãn Lạt Gia bộ kỷ sự (滿剌加部紀事 - Ghi chép sự việc)=== *Huyện chí Vô Tích (無錫縣志): "'''Du Phổ (俞溥)''' làm Tham quân, sứ đến Mãn Lạt Gia 3 năm mới về, học được thuật bói rùa. Chọn rùa lớn nuôi bằng suối trong và rêu xanh, mỗi năm bói 1 lần. Trước khi bói ăn chay 7 ngày, dùng sơn mỏng bôi bụng rùa, đợi sơn nứt như vết nung để nghiệm cát hung. Phổ mang về 2 con rùa, một con dài 1 tấc 3 phân, một con dài 1 tấc rưỡi. Lại mang về 2 loại thuốc: một tên '''A Chỉ Nhi (阿止兒)''' trị nội thương; một tên '''A Tức Loại (阿息類)''' trị kim thương." *Khôn Dư Đồ Thuyết (坤輿圖說): "Nước Mãn Lạt Gia đất không rộng lắm nhưng là nơi thương nhân tụ hội, nằm ngay dưới đường xích đạo. Tiết xuân phân và thu phân khí hậu cực nóng, nhờ ngày nào cũng mưa nên có thể ở được. Sản sinh voi, hồ tiêu và gỗ quý. Người lương thiện, không lo kế sinh nhai, thường đàn tỳ bà rong chơi nhàn hạ." ==Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 1 (僬僥部彙考一)== ===〈Chu Nhiêu - 周饒〉=== ===Thời Hậu Hán (後漢)=== Tháng 3 mùa xuân, ngày Kỷ Mão năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 107 dương lịch) đời '''An Đế (安帝)''', dân Di chủng tộc '''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''' đến cống nạp và xin nội thuộc. Xét: Hậu Hán Thư (後漢書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. ===Thời nhà Minh (明)=== Năm '''Vĩnh Lạc (永樂)''' thứ 17 (năm 1419 dương lịch) đời '''Thành Tổ (成祖)''', nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' đến cống nạp. Xét Quảng Đông Thông Chí (廣東通志): "'''Tiêu Nghiêu (僬僥)''' là người Di ở ngoài cõi '''Vĩnh Xương (永昌)''', người cao 3 thước (khoảng 1 mét). Trong số các nô lệ đen (hắc tiểu tư) của các nước phiên thường dùng làm vật cống nạp, thì các chủng tộc như Hợi Thủ (咳首) đại để đều là người Lão ở biển (hải lão) vậy." === Tiêu Nghiêu bộ hối khảo 2 (僬僥部彙考二)=== '''Kinh Sơn Hải Kinh (山海經)''' '''Phần Hải ngoại Nam kinh (海外南經)''' Nước '''Chu Nhiêu (周饒國)''', người ở đó thân hình ngắn nhỏ, đội mũ thắt đai. Có thuyết nói nước '''Tiêu Nghiêu (僬僥國)''' ở phía Đông nước '''Tam Thủ (三首)'''. *(Chú thích: Người ở đó cao 3 thước (khoảng 1 mét), sống trong hang, có thể làm được các đồ máy móc khéo léo, có đủ 5 loại ngũ cốc. Lại nữa, sách Ngoại truyện nói: Dân Tiêu Nghiêu cao 3 thước, là cực điểm của sự ngắn nhỏ. Sách Thi Hàm Thần Vụ chép: Từ Trung Châu đi về phía Đông 400,000 dặm, có người nước Tiêu Nghiêu, cao 1 tấc 5 phân (khoảng 45 cm)). '''Phần Đại hoang Nam kinh (大荒南經)''' Có nước của người nhỏ bé tên là '''Tiêu Nghiêu (焦僥)''', mang họ Kỷ (幾), ăn các loại ngũ cốc tốt (gia cốc). *(Chú thích: Thảy đều cao 3 thước. Xét về phương Tây, người Tiêu Nghiêu thời Nghiêu (堯) từng vào cống nạp, hoặc chính là nước này. Hoặc ở phương Tây Nam, phương Tây, phương Nam mỗi nơi đều có người Tiêu Nghiêu, thảy đều không có gì để khảo chứng thêm, nay tạm để tồn tại song song cả hai thuyết). == Bản Thuẫn Man bộ hối khảo (板楯蠻部彙考) Khảo cứu về bộ lạc người Man cầm khiên gỗ== === Thời Hậu Hán (後漢)=== Mùa đông tháng 10 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''' ở quận '''Ba (巴郡)''' làm phản, [triều đình] sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc Thứ sử '''Ích Châu (益州)''' thảo phạt nhưng không thắng được. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: "Giống người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)''', vào thời '''Tần Chiêu Tương vương (秦昭襄王)''' có 1 con hổ trắng thường đi theo đàn hổ, nhiều lần dạo chơi vùng biên cảnh '''Tần (秦)''', '''Thục (蜀)''', '''Ba (巴)''', '''Hán (漢)''', làm hại hơn 1,000 người. Chiêu vương bèn trọng thưởng chiêu mộ trong nước, ai giết được hổ sẽ phong ấp 10,000 hộ, thưởng 100 dĩ vàng. Bấy giờ có người Di ở '''Lãng Trung (閬中)''' thuộc quận '''Ba (巴郡)''' biết làm nỏ bằng tre trắng, bèn lên lầu bắn chết hổ trắng. Chiêu vương khen ngợi, nhưng vì họ là người Di nên không muốn phong tước, bèn khắc đá lập thề, miễn thuế cho ruộng đất của họ, 10 người vợ không phải nộp thuế thân, kẻ làm bị thương người thì luận tội, kẻ giết người được dùng tiền 'tàm' (tức tiền chuộc) để chuộc tội chết. Lời thề rằng: 'Nếu người Tần phạm người Di, nộp 1 đôi rồng vàng; nếu người Di phạm người Tần, nộp 1 chung rượu trong'. Người Di yên lòng với việc đó. Đến khi '''Cao Tổ (高祖)''' làm Hán Vương, phát động người Di theo về đánh 3 đất Tần (Tam Tần). Sau khi đất Tần đã định, bèn cho họ về lại vùng '''Ba Trung (巴中)''', miễn thuế khóa cho các thủ lĩnh thuộc 7 họ: '''La (羅)''', '''Phác (朴)''', '''Đốc (督)''', '''Ngạc (鄂)''', '''Độ (度)''', '''Tịch (夕)''', '''Cung (龔)'''. Các hộ còn lại hằng năm nộp 40 tiền 'tư' mỗi khẩu, đời gọi là người '''Bản Thuẫn Man (板楯蠻)'''. Vùng Lãng Trung có sông '''Du Thủy (渝水)''', người dân phần lớn sống hai bên bờ, thiên tính mạnh dũng, ban đầu làm tiền phong cho quân Hán, nhiều lần hãm trận. Tục thích ca múa, Cao Tổ xem xong nói: 'Đây là bài ca của Vũ Vương phạt Trụ vậy', bèn lệnh cho nhạc nhân học theo, chính là điệu múa '''Ba Du (巴渝舞)'''. Từ đó đời đời phục tùng. Đến thời Trung hưng, Thái thú thường dẫn họ đi chinh chiến. Đời '''Hoàn Đế (桓帝)''', Bản Thuẫn nhiều lần phản lại, Thái thú quận Thục là '''Triệu Ôn (趙溫)''' dùng ơn tín mà hàng phục được họ. Năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 3 (năm 180 dương lịch) đời '''Linh Đế (靈帝)''', người Bản Thuẫn quận Ba lại phản, cướp bóc các quận thuộc Tam Thục và Hán Trung. Linh Đế sai Ngự sử Trung thừa '''Tiêu Viện (蕭瑗)''' đốc thúc binh sĩ Ích Châu thảo phạt, liên tiếp nhiều năm không thắng được. Đế muốn phát động đại binh, bèn hỏi các Kế lại (quan lo việc sổ sách) của Ích Châu để khảo sát phương lược chinh thảo. Quan Thượng kế của '''Hán Trung (漢中)''' là '''Trình Bào (程包)''' thưa rằng: 'Bảy họ Bản Thuẫn từng bắn chết hổ trắng, lập công với tiền thế, vốn là nghĩa dân. Người đó dũng mãnh, giỏi binh chiến. Xưa những năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' (năm 107 – 113 dương lịch), người Khương vào Hán Xuyên, quận huyện tan vỡ, nhờ được Bản Thuẫn cứu viện mà quân Khương bị tiêu diệt gần sạch, nên họ được gọi là thần binh. Người Khương sợ hãi, truyền lời cho bộ tộc rằng chớ đi về phía Nam nữa. Đến năm '''Kiến Hòa (建和)''' thứ 2 (năm 148 dương lịch), người Khương lại đại cử xâm nhập, thực cũng nhờ Bản Thuẫn liên chiến phá được. Tiền Xa kị Tướng quân '''Phùng Côn (馮緄)''' khi nam chinh '''Vũ Lăng (武陵)''', tuy có tinh binh Đan Dương nhưng cũng dựa vào Bản Thuẫn mới thành công. Gần đây quận Ích Châu có loạn, Thái thú '''Lý Ngung (李顒)''' cũng dùng Bản Thuẫn mà dẹp yên. Trung công như thế, vốn không có lòng ác. Thế nhưng quan lại địa phương thu thuế quá nặng, tôi tớ đánh đập họ quá cả nô lệ, có người phải gả vợ bán con, hoặc thậm chí tự cắt cổ. Tuy họ kêu oan lên châu quận nhưng Mục thủ không phân định lý lẽ. Cung đình xa xôi không tự nghe thấu, nên họ ngậm oán kêu trời ở thung lũng cùng cực, sầu khổ vì sưu dịch, khốn đốn vì hình phạt tàn khốc, nên các ấp tụ tập mà làm phản, chứ không phải có chủ mưu tiếm hiệu làm loạn. Nay chỉ cần chọn Mục thủ sáng suốt hiền tài, tự khắc họ sẽ yên ổn tụ họp, không phiền đến chinh phạt'. Đế theo lời đó, sai Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' tuyên chiếu ân xá, họ liền đều hàng phục. Xét Hán Trung Sĩ Nữ Chí (漢中士女志): '''Trình Bào (程包)''' tự là '''Nguyên Đạo (元道)''', người '''Nam Trịnh (南鄭)''', năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 2 (năm 179 dương lịch) làm Thượng kế lại. Bấy giờ Bản Thuẫn làm phản, quân lữ nhiều phen nổi dậy, thiên tử lo lắng hỏi phương lược. Bào thưa: 'Bản Thuẫn trung dũng, lập công từ thời tiền Hán, là nghĩa dân của hoàng đế. Quân Khương vào Hán Trung, đều nhờ sức họ. Bởi không biết vỗ về nên mới dẫn đến phản loạn, chứ không có lòng tiếm đoạt. Nay binh lính kéo đến chưa chắc thắng được, chẳng bằng chọn Thái thú hiền tài, dùng ơn tín mà thu phục'. Thiên tử theo lời, kết quả đúng như lời ông nói. Sau này ông mất trên đường đi. Mùa thu tháng 7 năm '''Quang Hòa (光和)''' thứ 5 (năm 182 dương lịch), người Bản Thuẫn Man ở quận Ba đến gặp Thái thú '''Tào Khiêm (曹謙)''' xin hàng. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Năm '''Trung Bình (中平)''' thứ 5 (năm 188 dương lịch), Bản Thuẫn Man lại phản, sai Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên. Xét Hậu Hán Thư (後漢書) - Linh Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Nam Man truyện: 'Năm Trung Bình thứ 5, giặc Hoàng Cân ở quận Ba nổi dậy, người Bản Thuẫn Man nhân đó lại phản, cướp bóc thành ấp. [Triều đình] sai Tây Viên Thượng quân Biệt bộ Tư mã '''Triệu Cẩn (趙瑾)''' thảo phạt dẹp yên'. == Lâm Ấp bộ hối khảo 1 (林邑部彙考一)== === Thời nhà Tấn (晉)=== '''Năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Thái Khang (太康) thứ 5 (năm 284 dương lịch), nước Lâm Ấp (林邑國) sai sứ đến dâng lễ vật.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Vũ Đế bản kỷ và Lâm Ấp truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣) thời Hán, tức là nơi '''Mã Viện (馬援)''' đúc cột đồng vậy, cách Nam Hải (南海) 3,000 dặm. Cuối thời Hậu Hán, Công tào của huyện họ Khu (區) có con tên Liên (連), giết huyện lệnh rồi tự lập làm vua, con cháu truyền nối nhau. Về sau vua không có con nối dõi, ngoại tôn (cháu ngoại) là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, Hùng chết, con là Dật (逸) lập. Phong tục ở đó thảy đều mở cửa đất hướng về phía mặt trời. Về nơi cư ngụ thì hoặc Đông hoặc Tây không cố định. Tính người hung hãn, quả cảm trong chiến đấu, giỏi leo núi lội nước, không quen đất bằng. Bốn mùa ấm áp, không sương không tuyết, người đều ở trần đi chân đất, lấy sắc đen làm đẹp. Quý nữ khinh nam, người cùng họ lấy nhau. Người nữ hỏi cưới chồng trước. Lúc con gái gả đi thì mặc áo Ca-bàn (迦盤衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, đầu đội hoa quý. Lúc có tang thì cắt tóc mai, gọi đó là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Vua đội thiên quan (mũ trời), khoác chuỗi anh lạc. Mỗi khi nghe chính sự, tử đệ và thị thần đều không được lại gần. Từ thời '''Tôn Quyền (孫權)''' trở đi không triều cống Trung Quốc. Đến năm Thái Khang đời Vũ Đế mới bắt đầu đến cống nạp." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp bản truyền: "Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm (象林縣), quận Nhật Nam (日南郡) thời Hán, thuộc cương giới Việt Thường (越裳) xưa. Phục Ba tướng quân Mã Viện mở cõi Nam của nhà Hán, đặt ra huyện này. Đất ấy chiều dọc chiều ngang khoảng 600 dặm, thành cách biển 120 dặm, cách biên giới Nhật Nam hơn 400 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德郡), biên giới phía Nam đi đường thủy bộ hơn 200 dặm. Có người Di phương Tây cũng xưng vương, là nơi Mã Viện trồng 2 cột đồng để làm mốc biên giới nhà Hán vậy. Nước ấy có núi vàng (Kim Sơn), đá thảy đều màu đỏ, trong đó sinh ra vàng, đêm đến vàng bay ra như ánh đom đóm. Lại có đồi mồi, vỏ ốc, cát bối (vải bông), trầm mộc hương. Cát bối (吉貝) là tên cây. Khi hoa nở như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt vải, trắng sạch không khác vải gai (trữ bố), cũng nhuộm thành 5 màu, dệt thành vải vằn (ban bố). Trầm mộc (沉木) là cây do người bản địa chặt đứt, tích qua năm tháng cho mục nát mà phần tâm tiết vẫn còn, bỏ xuống nước thì chìm nên gọi là 'Trầm hương' (沉香). Loại kém hơn không chìm không nổi gọi là 'Hương' (香). Cuối thời Hán đại loạn, Công tào là '''Khu Đạt (區達)''' giết huyện lệnh tự lập làm vua, truyền được mấy đời. Về sau vua không con, lập cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊). Hùng chết, con là Dật (逸) nối ngôi." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Hiệu Lâm Ấp khởi đầu từ cuối thời Hán. Lúc loạn năm Sơ Bình (初平) (năm 190 – 193 dương lịch), người người ôm lòng khác. Công tào Tượng Lâm họ Khu có con tên Liên (連), đánh huyện giết lệnh, tự hiệu là vua. Gặp lúc loạn ly, Lâm Ấp bèn đứng vững, sau đó truyền vị cho con cháu. Thời Tam Quốc đỉnh tranh, chưa phụ thuộc bên nào. Nhà Ngô có đất Giao Châu tiếp giáp, tiến chiếm Thọ Lãnh (壽泠) làm cương giới. Từ đời Khu Liên trở đi, nước không có văn sử nên việc truyền nối mất dấu, thế số khó tường. Tông tộc tuyệt diệt, không còn hậu duệ. Cháu ngoại là Phạm Hùng (范熊) lên thay, được lòng người vui vẻ ủng hộ. Sau Hùng chết, con là Dật (逸) lập." '''Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Thành Đế (成帝), vua Lâm Ấp là Phạm Dật chết, nô bộc là Văn (文) chiếm ngôi lập.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 2 (năm 336 dương lịch), Phạm Dật chết, nô bộc là Văn chiếm ngôi. Văn vốn là nô bộc của di soái '''Phạm Trùy (范椎)''' huyện Tây Quyển (西卷縣), quận Nhật Nam. Từng chăn bò trong khe núi, bắt được 2 con cá chép hóa thành sắt, dùng để rèn dao. Dao rèn xong, Văn đối diện tảng đá lớn mà khấn rằng: 'Cá chép biến hóa, đúc thành dao đôi, nếu tảng đá vỡ thì là có thần linh'. Tiến đến chém, đá liền vỡ tan. Văn biết là thần vật, bèn giấu đi, theo lái buôn qua lại, thấy được chế độ nước thượng quốc. Đến Lâm Ấp, Văn dạy Dật làm cung thất thành ấp cùng khí giới. Dật rất yêu tin, cho làm tướng. Văn bèn gièm pha các con của Dật, kẻ thì bị đày người thì bỏ trốn. Đến khi Dật chết không con, Văn bèn tự lập làm vua, đem vợ thiếp của Dật đặt hết lên lầu cao, ai theo mình thì nhận lấy, ai không theo thì cắt lương thực. Sau đó đánh các nước Đại Kỳ giới, Tiểu Kỳ giới, Thức Bộc, Từ Lang, Khuất Đô, Kiền Lỗ, Phù Đan rồi thôn tính cả, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Sai sứ dâng biểu triều cống hoàng đế, thư thảy đều dùng chữ Hồ (胡)." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Hàm Khang (咸康) thứ 3 (năm 337 dương lịch) đời Tấn Thành Đế, Dật chết, nô bộc là Văn chiếm lập. Văn vốn là gia nô của di soái '''Phạm Trĩ (范稚)''' huyện Tây Quyển, quận Nhật Nam. Thường chăn bò ở khe núi, được 2 con cá lăng, hóa làm sắt, nhân đó đúc dao. Đúc xong Văn hướng về phía đá mà chú rằng: 'Nếu chém đá vỡ, Văn sẽ làm vua nước này'. Bèn giơ dao chém đá, như chém cỏ khô. Văn lấy làm lạ. Phạm Tr稚 thường sai Văn đi buôn đến Lâm Ấp, Văn nhân đó dạy vua Lâm Ấp làm cung thất cùng binh xa khí giới, vua sủng ái trọng dụng. Sau Văn gièm pha các con vua, mỗi người trốn một nước. Khi vua chết không con, Văn giả vờ đón hoàng tử ở láng giềng về, bỏ độc vào nước uống mà giết đi, rồi hiếp dân trong nước tự lập. Cử binh đánh các nước nhỏ xung quanh thảy đều nuốt sạch, có quân chúng 40,000 – 50,000 người. Bấy giờ Thứ sử Giao Châu là '''Khương Tráng (姜壯)''' sai thân tín là '''Hàn Tập (韓戢)''', '''Tạ Trạc (謝稚)''' lần lượt giám sát quận Nhật Nam, đều tham tàn, các nước lấy làm khổ." Xét Thủy Kinh Chú (水經注) có đoạn về Phạm Văn: "... Văn vào núi tìm đá luyện sắt, đúc làm 2 con dao, giơ lưỡi hướng về phía vách núi (chướng) mà chúc rằng: 'Cá chép biến hóa, luyện đá thành dao, chém vách đá vỡ thì là có linh thần, Văn sẽ trị nơi này làm quân vương nước ấy. Nếu chém không vào thì là dao không thần linh'. Tiến đến chém vách đá như rồng thiêng chém cỏ, từ đó lòng người dần theo phục. Nay sông đá vẫn còn, dao cá vẫn tồn tại, truyền cho con cháu như kiếm trảm xà (chém rắn) vậy. Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 6 (năm 331 dương lịch) Dật chết không con... Văn tự lập làm vua. Lấy vợ thiếp vua trước đặt lên lầu cao, ai theo mình thì nạp làm thiếp, không theo thì tuyệt ăn uống cho đến chết. Sách Giang Đông cựu sự nói: Phạm Văn vốn là người Dương Châu (揚州), thuở nhỏ bị bắt làm nô lệ, bán đến Giao Châu. Năm 15 – 16 tuổi gặp tội đáng gậy, sợ hãi trốn theo lái buôn Lâm Ấp vượt biển đi xa, lọt vào nước của vua, được vua rất sủng ái. Qua hơn 10 năm vua chết... tự lập làm vua, uy thế trải khắp các nước. Có bộ lạc thì búi tóc tiếng Man, miệng ăn mũi uống, hoặc xăm mặt chạm mình, là giống người ở trần (thoát lỏa chủng), những kẻ lưu đày thời Hán Ngụy thảy đều bị Văn dùng." '''Tháng 10 năm Hàm Khang (咸康) thứ 6 (năm 340 dương lịch), Lâm Ấp dâng voi thuần.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Thành Đế bản kỷ chép như vậy. '''Tháng Giêng mùa xuân năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch) đời Mục Đế (穆帝), Phạm Văn nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, giết Thái thú Hạ Hầu Lãm, dùng thây tế trời. Tháng 7 mùa thu, Phạm Văn lại chiếm Nhật Nam, giết Đốc hộ Lưu Hùng. Ngôi Văn lập Phạm Bôn làm đế.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), Văn suất quân đánh chiếm Nhật Nam, hại Thái thú '''Hạ Hầu Lãm (夏侯覽)''', giết 5,000 – 6,000 người, số còn lại chạy sang Cửu Chân. Lấy thây Lãm tế trời, san phẳng thành huyện Tây Quyển, rồi chiếm Nhật Nam, cáo với Thứ sử Giao Châu là '''Chu Phiên (朱蕃)''', xin lấy núi Hoành Sơn (橫山) ở phía Bắc Nhật Nam làm ranh giới. Nguyên trước đó các nước ngoài cõi thường mang bảo vật theo đường biển đến buôn bán, mà Thứ sử Giao Châu, Thái thú Nhật Nam đa số tham lợi xâm lấn, 10 phần chiết khấu mất 2 – 3 phần. Đến thời Thứ sử '''Khương Tráng (姜壯)''', sai '''Hàn Tập (韓戢)''' lĩnh Thái thú Nhật Nam, Tập đánh giá cao hơn nửa (ép giá), lại chặt cây đóng thuyền điều động phu phen, phao tin là 'chinh phạt', do đó các nước căm giận. Vả lại Lâm Ấp vốn tham đất Nhật Nam, Tập chết, người kế nhiệm là '''Tạ Trạc (謝擢)''' lại xâm khắc như trước. Đến khi Lãm đến quận lại đắm chìm trong rượu chè, chính giáo càng loạn, nên bị phá diệt. Sau đó Văn về Lâm Ấp. Năm ấy, Chu Phiên sai Đốc hộ '''Lưu Hùng (劉雄)''' đóng giữ Nhật Nam, Văn lại đánh chiếm nơi đó." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 3 (năm 347 dương lịch), đài đình sai Hạ Hầu Lãm làm Thái thú, xâm khắc càng thậm. Lâm Ấp vốn không có ruộng đất, tham đất Nhật Nam màu mỡ, thường muốn chiếm lấy. Đến đây nhân nỗi oán của dân bèn cử binh đánh Nhật Nam, giết Lãm, dùng thây tế trời. Ở lại Nhật Nam 3 năm mới về Lâm Ấp. Thứ sử Giao Châu Chu Phiên sau đó sai Đốc hộ Lưu Hùng đóng giữ Nhật Nam, Văn lại tiêu diệt đi, tiến đánh quận Cửu Đức (九德郡), tàn hại quan dân. Sai sứ bảo Phiên nguyện lấy núi Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm giới hạn, Phiên không hứa. Lại sai Đốc hộ '''Đào Hoãn (陶緩)''', '''Lý Cù (李衢)''' thảo phạt. Văn về Lâm Ấp, tìm cách đóng đồn ở Nhật Nam." '''Tháng 4 mùa hè năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 4 (năm 348 dương lịch), Phạm Văn đánh phá Cửu Chân, giết hại rất nhiều.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 4, Văn lại đánh Cửu Chân, hại sĩ dân đến 18 – 19 phần." '''Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), Hoàn Ôn (桓溫) sai Đốc quân Đằng Tuấn (滕畯) thảo phạt Phạm Văn, không thắng. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi. Đằng Tuấn thảo phạt, tiến vào thành, Phật xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Năm Vĩnh Hòa (永和) thứ 5 (năm 349 dương lịch), '''Hoàn Ôn (桓溫)''' sai Đốc quân '''Đằng Tuấn (滕畯)''' thảo phạt Phạm Văn, bị Văn đánh bại." Xét Lâm Ấp bản truyền: "Năm thứ 5, Chinh Tây đốc hộ Đằng Tuấn suất binh Giao Châu, Quảng Châu đánh Văn ở Lô Dung (盧容), bị Văn đánh bại, lui về Cửu Chân. Năm ấy Văn chết, con là Phật (佛) nối ngôi." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 5, Văn chết, con là Phật lập, vẫn đóng đồn ở Nhật Nam. Chinh Tây tướng quân Hoàn Ôn sai Đốc hộ Đằng Tuấn, Thái thú Cửu Chân '''Quán Thúy (灌邃)''' suất binh Giao, Quảng thảo phạt, Phật ôm thành cố thủ. Thúy lệnh Tuấn bày binh mạnh ở phía trước, Thúy suất 700 tinh binh từ phía sau vượt lũy xông vào, quân Phật kinh sợ tan chạy. Thúy đuổi đến Lâm Ấp, Phật bèn xin hàng." '''Năm Thăng Bình (升平) thứ 3 (năm 359 dương lịch), Lâm Ấp xin hàng.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Mục Đế bản kỷ: "Tháng 12 năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 3 (năm 359 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là '''Ôn Phóng Chi (溫放之)''' suất binh thảo phạt các bộ lạc Tham Lê (參黎), Đam Lão (耽潦) của Lâm Ấp, thảy đều hàng phục." Xét Lâm Ấp truyền: "Cuối năm Thăng Bình, Thứ sử Quảng Châu là '''Đằng Hàm (滕含)''' suất quân đánh Lâm Ấp, vua Phật (佛) sợ hãi xin hàng, Hàm cùng lập minh ước rồi về." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Đầu năm Thăng Bình, Lâm Ấp lại đến cướp bóc, Thứ sử Ôn Phóng Chi thảo phạt phá tan." '''Năm Ninh Khang (寧康) [không rõ số] đời Hiếu Vũ Đế (孝武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Ngày Kỷ Tỵ tháng 6 năm Thái Nguyên (太元) thứ 2 (năm 377 dương lịch), Lâm Ấp dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 3 năm Thái Nguyên (太元) thứ 7 (năm 382 dương lịch), Phạm Hùng (范熊) nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' *(Xét Bản truyền nói Phạm Hùng chết thì con là Dật (逸) nối ngôi vốn phải ở thời Vũ Đế (武帝). Đến đây lại chép việc Phạm Hùng, ấy là vẫn theo nguyên bản đã ghi, xin lưu lại để tham khảo). Xét: Các mục trên theo Tấn Thư (晉書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ. '''Tháng 2 năm Lũng An (隆安) thứ 3 (năm 399 dương lịch) đời An Đế (安帝), Phạm Đạt (范達) nước Lâm Ấp đánh chiếm Nhật Nam, Cửu Chân rồi tiến đánh Giao Chỉ, Thái thú Đỗ Viện (杜瑗) thảo phạt phá tan.''' Xét: Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Lũng An (隆安)''' thứ 3 (năm 399 dương lịch), cháu của Phật là '''Tu Đạt (須達)''' lại đánh Nhật Nam, bắt Thái thú '''Quảnh Nguyên (炅源)'''. Lại tiến đánh Cửu Đức (九德), bắt Thái thú '''Tào Bính (曹炳)'''. Thái thú Giao Chỉ là '''Đỗ Viện (杜瑗)''' sai Đô hộ '''Đặng Lỗi (鄧逸)''' đánh phá được, bèn lấy Viện làm Thứ sử." '''Năm Nghĩa Hy (義熙) thứ 9 (năm 413 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tấn Thư (晉書) - An Đế bản kỷ: "Tháng 3 năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 9 (năm 413 dương lịch), '''Phạm Hồ Đạt (范胡達)''' nước Lâm Ấp đánh phá Cửu Chân, Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Huệ Độ (杜慧度)''' chém được y." Xét Lâm Ấp truyền: "Trong những năm Nghĩa Hy, hằng năm Lâm Ấp lại đến đánh các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Cửu Đức, giết hại rất nhiều, Giao Châu vì thế mà suy yếu, mà Lâm Ấp cũng bị mệt mỏi. Vua Phật chết, con là Hồ Đạt lập, dâng sớ tiến cống mâm bát vàng và chiêng vàng." Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Nghĩa Hy (義熙)''' thứ 3 (năm 407 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Nhật Nam, giết Trưởng sử của Viện, [Viện] sai Hải loa Đốc hộ '''Nguyễn Phỉ (阮斐)''' thảo phạt phá tan, chém và bắt được rất nhiều. Năm thứ 9 (năm 413 dương lịch), Tu Đạt lại đánh Cửu Chân, Hành quận sự '''Đỗ Huệ Kỳ (杜慧期)''' cùng chiến đấu, chém được con y là Giao Long vương '''Chân Tri (甄知)''' cùng các tướng '''Phạm Kiện (范健)'''... bắt sống Tu Đạt cùng con là '''Na Năng (郍能)''' và hơn 100 người. Từ sau khi Viện mất, Lâm Ấp không năm nào không đánh Nhật Nam, Cửu Đức, giết hại cực nhiều, Giao Châu do đó suy yếu. Tu Đạt chết, con là '''Địch Chân (敵真)''' lập, em là '''Địch Khải (敵鎧)''' dắt mẹ bỏ trốn. Địch Chân truy hận vì không dung nạp được mẹ và em, bèn bỏ nước sang Thiên Trúc (天竺), nhường ngôi cho cháu gọi bằng cậu. Quốc tướng là '''Tạng Lân (藏驎)''' cố can nhưng không nghe. Người cháu lên ngôi bèn giết Tạng Lân, con Tạng Lân lại đánh giết kẻ đó, rồi lập em cùng mẹ khác cha của Địch Khải tên là '''Văn Địch (文敵)'''. Văn Địch sau bị vương tử nước Phù Nam (扶南) là '''Đương Căn Thuần (當根純)''' giết chết, đại thần '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' dẹp loạn rồi tự lập làm vua. Chư Nông chết, con là '''Dương Mại (陽邁)''' lập." Xét Thủy Kinh Chú (水經注): "Năm '''Kiến Nguyên (建元)''' thứ 2 (năm 380 dương lịch), Văn đánh Nhật Nam, Cửu Đức, Cửu Chân, trăm họ tan tác, 1,000 dặm không bóng khói, sau đó về Lâm Ấp. Lâm Ấp cách Quảng Châu (廣州) 2,500 dặm về phía Tây. Góc Tây Nam thành có núi cao dãy dài nối tận chân trời. Phía Bắc dãy núi tiếp giáp khe suối, nguồn lớn của sông Hoài (Hoài thủy) chảy ra từ vùng Tam Trọng Trường Châu thuộc cõi '''Na Na (郍郍)''' xa xôi, ẩn sau núi bao quanh phía Tây và vòng qua phía Đông núi Vệ Sơn. Phía Nam dãy núi mở ra khe suối, nguồn nhỏ sông Hoài chảy từ núi hẻm vùng Tùng Căn (松根), lượn quanh phía Nam Khúc Nhai rồi vòng về phía Đông, hợp với dòng sông Hoài chảy vào Điển Xung. Thành ấy phía Tây Nam giáp núi, phía Đông Bắc nhìn ra sông, hào sâu nhiều lớp bao quanh dưới thành. Chu vi thành rộng 8 dặm 100 bước, tường gạch cao 2 trượng, phía trên xây thêm tường gạch 1 trượng để hở lỗ vuông, trên gác ván, trên ván có tầng các, trên các có nhà, trên nhà có lầu. Lầu cao 6 – 7 trượng, thấp thì 4 – 5 trượng, đầu mái hình chim xi (si vĩ) bay bổng chạm mây, nương núi nhìn sông, vút cao lừng lững. Nhưng cách chế tạo thì tráng lệ mà vụng về, theo phong tục cổ của người Di. Thành mở 4 cửa, cửa Đông là cửa trước, đối diện bến sông Hoài nơi đường quanh, có bia cổ khắc chữ Di ngợi khen công đức của vua trước là '''Hồ Đạt (胡達)'''. Cửa Tây đối diện 2 tầng hào, vòng lên phía Bắc vào núi, phía Tây núi chính là dòng sông Hoài. Cửa Nam đi qua 2 tầng hào, đối diện lũy của Ôn công. Năm '''Thăng Bình (升平)''' thứ 2 (năm 358 dương lịch), Thứ sử Giao Châu là Ôn Phóng Chi giết Thái thú Giao Chỉ là '''Bảo (寶)''' và Biệt giá '''Nguyễn Lang (阮郎)''', rồi đi đánh Lâm Ấp. Thủy lục đánh nhau nhiều trận, vua Phật cố thủ trong thành, sau xin phục tùng nên được tha cho. Nay ở phía Nam thành Đông của Lâm Ấp 5 dặm vẫn còn 2 lũy của Ôn công là vậy. Cửa Bắc sát sông Hoài, đường đứt không thông. Trong thành có tiểu thành chu vi 320 bước, điện ngói nhà chung, vách phía Nam không mở, nhà dài 2 đầu, nóc nhà đưa ra hướng Nam Bắc. Các cột trên điện các cao hơn tường thành 1 trượng có dư, dùng 5 loại phân bò làm bùn trát, vách tường ánh sắc xanh bóng. Vợ con cung tần thảy đều ở chung trên điện, không có cung quán riêng biệt. Vua ngồi dựa vào hiên phía Đông, trực tiếp nói chuyện với bên dưới, tử đệ và thần hạ đều không được lên. Nhà có hơn 50 nóc, mái hiên nối liền nhau. Có 8 ngôi miếu lớn nhỏ thờ thần quỷ, đài tầng gác trọng, trạng thái giống như chùa Phật. Ngoài quách không có chợ búa, ấp ít người ở, bờ biển tiêu điều, vốn không phải nơi dân cư sinh sống. Kẻ đứng đầu dùng sự yên ổn lâu dài để nuôi dưỡng đất nước, 10 đời há có thể tồn tại lâu bền sao!" '''Năm Vĩnh Sơ (永初) thứ 2 (năm 421 dương lịch) đời Tống Vũ Đế (宋武帝), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp (林邑國) ở phương Nam, năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 đời Cao Tổ, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' sai sứ đến cống nạp, liền được ban chức tước. Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: Nước Lâm Ấp ở phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm, phía Bắc giáp quận Cửu Đức (九德). Thời nhà Tần là huyện Lâm Ấp cũ. Cuối thời Hán xưng vương. Năm '''Thái Khang (太康)''' thứ 5 (năm 284 dương lịch) đời Tấn mới bắt đầu cống nạp. Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 1 (năm 420 dương lịch) đời nhà Tống, vua Lâm Ấp là '''Phạm Dương Mại (范陽邁)''' mới sinh, mẹ mơ thấy người đem chiếu vàng cho lót nằm, ánh sắc kỳ lệ, Trung Quốc gọi là vàng Tử Ma (vàng tía), người Di gọi là Dương Mại, nên lấy đó làm tên. Khi Dương Mại chết, con là '''Đốt (咄)''' lập, vì mộ cha nên lại đổi tên thành Dương Mại. Lâm Ấp có núi vàng, nước vàng chảy ra bến. Theo đạo Ni Kiền (尼乾道), họ đúc tượng người bằng vàng bạc, lớn đến 10 vòng ôm. '''Những năm Nguyên Gia (元嘉) đời Văn Đế (文 Đế), Lâm Ấp xâm chiếm các quận Nhật Nam, Cửu Đức.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Đầu năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' đời Thái Tổ, [Lâm Ấp] xâm lấn tàn phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức. Thứ sử Giao Châu là '''Đỗ Hoằng Văn (杜弘文)''' dựng cờ tụ họp quân chúng muốn đi thảo phạt, nghe tin có người đến thay chức bèn thôi. Xét Lương Thư (梁書) - Lâm Ấp truyền: Năm '''Vĩnh Sơ (永初)''' thứ 2 (năm 421 dương lịch), [Lâm Ấp] sai sứ cống nạp, phong Dương Mại làm Lâm Ấp vương. Dương Mại chết, con là Đốt lập, lại gọi là Dương Mại. Phong tục nước ấy ở nhà gác gọi là Vu Lan (于闌), cửa đều hướng về phía Bắc, viết lên lá cây làm giấy. Nam nữ đều dùng khổ ngang vải Cát Bối (vải bông) quấn từ thắt lưng trở xuống, gọi là Can Mạn (干縵) hoặc Đô Mạn (都縵), xỏ tai đeo vòng nhỏ. Kẻ quý đi giày da, người tiện đi chân đất. Các nước từ Lâm Ấp, Phù Nam (扶南) trở về phía Nam đều như vậy. Vua mặc pháp phục, đeo anh lạc, trang sức như tượng Phật. Khi ra ngoài thì cưỡi voi, thổi ốc đánh trống, che lọng Cát Bối, dùng vải Cát Bối làm cờ xí. Nước không đặt hình pháp, kẻ có tội thì cho voi giẫm chết. Họ lớn hiệu là Bà-la-môn (婆羅門), gả cưới tất dùng vào tháng 8. Nữ cầu nam trước, do trọng nữ khinh nam vậy. Người cùng họ lấy nhau, sai người Bà-la-môn dẫn rể đến gặp vợ, nắm tay nhau trao gửi, đọc chú "Cát lợi cát lợi" để thành lễ. Người chết thì thiêu giữa đồng, gọi là hỏa táng. Góa phụ ở vậy xõa tóc đến già. Vua thờ đạo Ni Kiền, đúc tượng vàng bạc lớn 10 vòng ôm. Đầu năm Nguyên Gia, Dương Mại xâm chiếm Nhật Nam, Cửu Đức, Thứ sử Đỗ Hoằng Văn muốn thảo phạt, nghe tin có người thay bèn thôi. '''Ngày Giáp Dần tháng 7 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 7 (năm 430 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét: Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. '''Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 8 (năm 431 dương lịch), Lâm Ấp vào cướp bóc.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Năm thứ 7, Dương Mại sai sứ tự trần tình rằng không hòa hợp với Giao Châu, cầu xin được tha thứ. Năm thứ 8, lại sai hơn 100 thuyền lâu báu đánh Cửu Đức, vào cửa biển Tứ Hội (四會浦). Thứ sử Giao Châu là '''Nguyễn Di Chi (阮彌之)''' sai Đội chủ '''Tương Đạo Sinh (相道生)''' đem 3,000 người đi thảo phạt, đánh thành Khu Túc (區粟城) không hạ được, phải rút về. '''Tháng 5 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), vua Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' Xét Lâm Ấp truyền: Lâm Ấp muốn đánh Giao Châu, mượn binh vua nước Phù Nam (扶南), vua Phù Nam không nghe. Năm thứ 10, Dương Mại sai sứ dâng biểu, cống sản vật, xin được lĩnh chức cai quản Giao Châu. Chiếu đáp rằng đường xá xa xôi nên không hứa cho. '''Năm Nguyên Gia thứ 11 (434), thứ 15 (438), thứ 16 (439), thứ 18 (441), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật.''' '''Mùa hạ tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 23 (năm 446 dương lịch), Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh nước Lâm Ấp, chiếm được.''' Xét Tống Thư (宋書) - Văn Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Các năm Nguyên Gia thứ 12, 15, 16, 18 dù thường sai sứ cống nạp nhưng cướp bóc không thôi, đồ dâng cũng thô lậu. Thái Tổ giận kẻ làm trái, năm thứ 23 sai Long tương Tướng quân, Thứ sử Giao Châu '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' đi đánh. Sai Chấn vũ Tướng quân phủ Thái úy là '''Tông Xác (宗慤)''' chịu sự tiết chế của Hòa Chi. Hòa Chi sai Phủ Tư mã '''Tiêu Cảnh Hiến (蕭景憲)''' làm tiền phong, Xác làm phó quân. Dương Mại nghe tin binh đến, sai sứ dâng biểu xin trả lại dân hộ Nhật Nam đã bắt, dâng trân bảo của nước. Thái Tổ hạ chiếu bảo Hòa Chi nếu Dương Mại có lòng thành thì cho quy thuận. Tháng 2 năm đó, quân đến đồn Chu Ngô (朱梧戍), sai Tham quân Phủ Hộ tào là Thái thú Nhật Nam '''Khương Trọng Cơ (姜仲基)''', Tham quân Tiền bộ Tặc tào '''Kiểu Hoằng Dân (蟜弘民)''' cùng bọn '''Tất Nguyện (畢願)''', '''Cao Tinh Nô (高精奴)''' đi tuyên dương ân chỉ. Dương Mại bắt giữ bọn Trọng Cơ, Tinh Nô gồm 28 người, sai Hoằng Dân về báo, ngoài miệng nói quy thuận nhưng phòng bị càng nghiêm. Cảnh Hiến tiến quân hướng về thành Khu Túc (區粟城). Dương Mại sai Đại soái '''Phạm Phù Long Đại (范扶龍大)''' trấn giữ Khu Túc, lại sai thủy bộ quân đến đánh phá viện binh bên ngoài của Cảnh Hiến. Quân Tống dốc sức công thành, tháng 5 chiếm được, chém đầu Phù Long Đại, thu được vàng bạc tạp vật không sao kể xiết. Thừa thắng truy kích, chiếm luôn Lâm Ấp. Cha con Dương Mại đều bỏ chạy thoát thân. Đồ trân dị thu được đều là những vật báu chưa có tên. Thượng khen công lao tướng soái, phong Tiêu Cảnh Hiến làm Trì tiết đốc quân sự 2 quận Uất Lâm, Ninh Phố. Các tướng '''Đồng Lâm Chi (童林之)''', '''Phó Úy Tổ (傅蔚祖)''' tử trận, đều được truy tặng quan chức. Xét Truyện của Thẩm Diễn Chi (沈演之傳): Thượng muốn đánh Lâm Ấp, triều thần không đồng ý, riêng Thứ sử Quảng Châu là '''Lục Huy (陸徽)''' cùng Diễn Chi tán thành. Khi bình định xong, ban cho quần thần vàng, nô lệ (sinh khẩu), đồ đồng. Diễn Chi được thưởng nhiều nhất. Xét Truyện của Tông Xác (宗慤傳): Năm Nguyên Gia thứ 22 (năm 445 dương lịch), việc đánh Lâm Ấp khởi sự, Xác tự xin đi. Nghĩa Cung cử Xác là người can đảm dũng mãnh. Khi vây thành Khu Túc, Lâm Ấp sai tướng '''Phạm Tỳ Sa Đạt (范毗沙達)''' đến cứu. Quân Tống bị giặc đánh bại một trận. Xác bèn chia quân làm nhiều đường, hạ cờ xí ngầm tiến, đánh tan giặc, hạ Khu Túc, tiến vào Tượng Phố (象浦). Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại dốc hết quân ra cự chiến, cho voi mặc giáp trụ, đông đảo không biên giới, sĩ tốt không địch nổi. Xác nói: "Ta nghe sư tử uy phục bách thú", bèn làm hình sư tử để chống voi. Voi quả nhiên kinh sợ chạy loạn, quân giặc tan rã. Chiếm được Lâm Ấp, thu bảo vật dị vật không sao kể xiết. Xét Lương Thư (梁書): Dương Mại sợ, muốn nộp 10,000 cân vàng, 100,000 cân bạc để chuộc tội nhưng đại thần '''Độc Tăng Đạt (毒僧達)''' can ngăn nên thôi. Khi chiếm thành, quân Tống đem nấu chảy các tượng vàng, được mấy trăm nghìn cân vàng. Hòa Chi sau bị bệnh chết, thấy hình bóng người Hồ làm quái. Xét Thủy Kinh Chú (水經注): Năm Nguyên Gia, Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Dương Mại dốc nước chạy đêm, trốn vào núi rừng. Quân rút đi, Dương Mại về nước. Nhà cửa đất nước tan hoang, người thời ấy chẳng còn ai, ông đau đớn phẫn uất, năm '''Nguyên Gia (元嘉)''' thứ 23 (năm 446 dương lịch) thì chết. Trước đó, lúc mẹ Dương Mại mang thai, mơ thấy người trải chiếu vàng Dương Mại cho con rơi vào, ánh sáng rực rỡ. Cha là Hồ Đạt chết, con lên ngôi, được lòng người, tự lấy điềm mộng làm điều lành cho nước. Thái tử ban đầu tên Đốt, sau khi Dương Mại chết, Đốt 19 tuổi lên ngôi, vì mộ đức của tiên quân nên lại lấy tên Dương Mại. Hai đời cha con cùng tên, biết là điềm Lâm Ấp sắp mất vậy. '''Năm Hiếu Kiến (孝建) thứ 2 (năm 455 dương lịch) đời Vũ Đế (武 Đế), Lâm Ấp sai sứ đến cống nạp.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 đời Thế Tổ (tức Hiếu Vũ Đế), Lâm Ấp lại sai Trường sử là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' phụng mệnh sứ giả đến cống nạp, phong Long Bạt làm Dương võ Tướng quân." '''Năm Đại Minh (大明) thứ 2 (năm 458 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Hiếu Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Đại Minh (大明)''' thứ 2, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' lại sai Trường sử là '''Phạm Lưu (范流)''' dâng biểu, tiến cống đồ dùng bằng vàng bạc cùng các vật phẩm như hương liệu, vải vóc." '''Năm Thái Dự (泰豫) thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Tống Thư (宋書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 9 (năm 491 dương lịch) đời Vũ Đế (武帝) nhà Nam Tề, Phạm Đương Căn Thuần (范當根純) nước Lâm Ấp sai sứ vào cống, bắt đầu phong làm An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Cao Đế bản kỷ không chép. Xét Nam Sử (南史) - Tề Vũ Đế bản kỷ: "Tháng 5 năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, nước Lâm Ấp dâng chiếu vàng (kim điệm)." Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Lâm Ấp truyền: "Năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' thứ 2 (năm 455 dương lịch), bắt đầu lấy Trường sử Lâm Ấp là '''Phạm Long Bạt (范龍跋)''' làm Dương võ Tướng quân. Con cháu Dương Mại (楊邁) truyền nối nhau làm vua, nhưng chưa có vị hiệu. Người Di là '''Phạm Đương Căn Thuần (范當根純)''' đánh chiếm nước ấy, soán vị làm vua. Năm '''Vĩnh Minh (永明)''' thứ 9, sai sứ cống nạp chiếu vàng cùng các vật phẩm. Chiếu rằng: 'Lâm Ấp nhỏ bé ở nơi xa xôi, đời đời phục tùng vương hóa. Đương Căn Thuần nay tỏ lòng thành khẩn, suất lãnh liêu thuộc, lập công ở phương xa, thật đáng khen ngợi, nên ban tước hiệu để mở rộng ơn trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương'. Sau đó, con cháu của Phạm Dương Mại là '''Phạm Chư Nông (范諸農)''' suất lĩnh chúng nhân đánh Đương Căn Thuần, lấy lại được bản quốc." '''Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 10 (năm 492 dương lịch), lấy Phạm Chư Nông làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Kiến Vũ (建武) thứ 2 (năm 495 dương lịch) đời Minh Đế (明帝), tiến phong hiệu của Phạm Chư Nông làm Trấn Nam Tướng quân.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Vĩnh Thái (永泰) thứ 1 (năm 498 dương lịch), lấy con của Phạm Chư Nông là Văn Khoản (文款) làm Lâm Ấp vương.''' Xét Nam Tề Thư (南齊書) - Minh Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Vĩnh Thái (永泰)''' thứ 1, Chư Nông vào triều, đi biển gặp gió bão bị chết đuối. Lấy con là '''Văn Khoản (文款)''' làm Giả tiết, Đô đốc duyên hải quân sự, An Nam Tướng quân, Lâm Ấp vương. Khoảng năm '''Kiến Hưng (建興)''' (năm 313 – 317 dương lịch) đời nhà Tấn, nô bộc của di soái quận Nhật Nam (日南) là '''Phạm Tr稚 (范稚)''' tên là '''Văn (文)''' thường đi buôn bán, thấy được chế độ nước thượng quốc, bèn dạy vua Lâm Ấp là '''Phạm Dật (范逸)''' xây thành trì, lâu đài điện các. Vua đội mũ thiên quan giống như mũ Phật, thân quàng chuỗi anh lạc thơm. Người trong nước hung hãn, quen thuộc núi sông, giỏi chiến đấu, thổi vỏ ốc (hải lệ) thay kèn, người thảy đều ở trần. Bốn mùa ấm áp, không sương tuyết. Quý nữ khinh nam. Gọi thầy cúng (sư vu) là Bà-la-môn (婆羅門). Những người trong họ hàng cưới hỏi nhau, người nữ trước tiên sai người đến hỏi cưới chồng. Con gái khi gả đi mặc áo Già-lam (迦藍衣), khổ ngang hợp đường khâu như thành giếng, trên đầu đội hoa báu. Khi có tang thì cắt tóc gọi là 'hiếu', thiêu xác giữa đồng làm lễ táng. Ở vùng biên viễn có loài chim Linh Thứu (靈鷲鳥), biết người sắp chết bèn tụ tập tại nhà đó, ăn hết thịt người chết rồi bay đi, sau đó người ta lấy xương thiêu thành tro, ném xuống biển gọi là thủy táng. Sắc da lấy đen làm đẹp. Các nước phương Nam thảy đều như vậy. Tại thành Khu Lật (區栗城), đặt cột biểu cao 8 thước (khoảng 2.6 mét), đo bóng mặt trời về phía Nam được 8 tấc (khoảng 26 cm). Từ Lâm Ấp đi về hướng Tây Nam hơn 3,000 dặm là đến nước Phù Nam (扶南)." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 9 (năm 510 dương lịch) đời Lương Vũ Đế (梁武帝), Lâm Ấp sai sứ dâng vượn trắng, xuống chiếu phong Phạm Thiên Cải làm Lâm Ấp vương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ: Tháng 4 năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9, nước Lâm Ấp sai sứ dâng 1 con vượn trắng. Xét Lâm Ấp truyền: Trong những năm '''Hiếu Kiến (孝建)''' (454 – 456), '''Đại Minh (大明)''' (457 – 464) đời Tống Hiếu Vũ Đế, vua Lâm Ấp là '''Phạm Thần Thành (范神成)''' liên tiếp sai Trường sử dâng biểu cống nạp. Năm '''Thái Dự (泰豫)''' thứ 1 (năm 472 dương lịch) đời Minh Đế, lại sai sứ dâng sản vật địa phương. Trong những năm '''Vĩnh Minh (永明)''' (483 – 493) đời nhà Tề, '''Phạm Văn Tán (范文贊)''' nhiều lần sai sứ cống nạp. Năm '''Thiên Giám (天監)''' thứ 9 (năm 510 dương lịch), con của Văn Tán là '''Thiên Cải (天凱)''' dâng vượn trắng. Chiếu rằng: "Lâm Ấp vương '''Phạm Thiên Cải (范天凱)''' ở nơi hải ngoại, có lòng thành khẩn, từ xa tu sửa chức phận cống nạp, thật đáng khen ngợi. Nên ban tước hiệu, phủ thêm vinh trạch. Cho làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Uy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 10 (năm 511 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền có chép như vậy. '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 11 (năm 512 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Năm Thiên Giám (天監) thứ 13 (năm 514 dương lịch), Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét các mục trên theo Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm thứ 13, Thiên Cải liên tiếp sai sứ dâng sản vật, chẳng bao lâu sau thì bệnh mất, con là '''Bật Thụy Bạt Ma (弼毳跋摩)''' lập, dâng biểu cống nạp." '''Tháng 6 năm Phổ Thông (普通) thứ 7 (năm 526 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Phổ Thông (普通)''' thứ 7, vua '''Cao Thức Thắng Khải (高式勝鎧)''' sai sứ dâng sản vật. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 3 năm Đại Thông (大通) thứ 1 (năm 527 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Lương Thư (梁書) - Vũ Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: "Năm '''Trung Đại Thông (中大通)''' thứ 2, hành Lâm Ấp vương '''Cao Thức Luật Đà La Bạt Ma (高式律陁羅跋摩)''' sai sứ cống nạp. Chiếu lấy làm Trì tiết, Đô đốc duyên hải chư quân sự, Tuy Nam tướng quân, Lâm Ấp vương." '''Tháng 7 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 6 (năm 534 dương lịch), nước Lâm Ấp sai sứ dâng sản vật địa phương.''' '''Những năm Khai Hoàng (開皇) đời Tùy Văn Đế (隋文帝), Lâm Ấp sai sứ vào cống.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Văn Đế bản kỷ không chép. Xét Lâm Ấp truyền: Tổ tiên Lâm Ấp nhân lúc loạn '''Trưng Trắc (徵側)''' người con gái Giao Chỉ cuối thời Hán, con của Công tào là '''Khu Liên (區連)''' giết huyện lệnh, tự hiệu làm vua, không con, cháu ngoại là '''Phạm Hùng (范熊)''' lên thay, chết, con là '''Dật (逸)''' lập. Người Nhật Nam (日南) là '''Phạm Văn (范文)''' nhân lúc loạn làm nô bộc cho Dật, bèn dạy cho cách xây cung thất, chế khí giới. Dật rất tín nhiệm, sai Văn cầm quân, cực được lòng người. Văn nhân đó ly gián các con cháu của Dật, kẻ thì bỏ chạy người bị đày. Khi Dật chết không có con nối, Văn tự lập làm vua. Về sau '''Phạm Phật (范佛)''' bị Dương uy tướng quân nhà Tấn là '''Đái Hoàn (戴桓)''' đánh phá; Thứ sử Giao Châu nhà Tống là '''Đàn Hòa Chi (檀和之)''' cầm quân đánh sâu vào biên cảnh; đến thời nhà Lương, nhà Trần cũng thông sứ qua lại. Nước ấy dài rộng mấy 1,000 dặm, đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống với Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi từ vỏ sò (thần hôi) trát lên, cửa hướng về phía Đông. Quan cao cấp có 2 hạng: một là '''Tây Na Bà Đế (西那婆帝)''', hai là '''Tát Bà Địa Ca (薩婆地歌)'''. Thuộc quan có 3 cấp: thứ nhất là '''Luân Đa (倫多)''', thứ đến là '''Ca Luân Trí Địa (歌倫致地)''', thứ đến là '''Ất Tha Già Lan (乙他伽蘭)'''. Quan ở ngoài chia làm hơn 200 bộ, chức trưởng quan gọi là '''Phất La (弗羅)''', thứ đến gọi là '''Khả Luân (可輪)''', giống như sự sai biệt của Mục tể vậy. Vua đội mũ hoa vàng, hình dáng như mũ Chương phủ. Mặc vải Triều hà, đeo anh lạc châu ngọc, chân đi giày da, đôi khi khoác áo bào gấm. Con em nhà lành thị vệ có khoảng 200 người, đều cầm đao trang trí vàng. Có cung tên, đao sáo, lấy tre làm nỏ, bôi độc vào mũi tên. Nhạc có đàn cầm, sáo, tỳ bà, đàn 5 dây, khá giống Trung Quốc. Mỗi khi đánh trống để cảnh báo chúng dân, thổi vỏ ốc để tập hợp quân đội. Người ở đó mắt sâu mũi cao, tóc xoăn, da đen. Tục đều đi chân đất, dùng khổ vải quấn thân. Tháng mùa đông thì mặc áo bào, phụ nữ búi tóc hình chóp, trải chiếu lá. Mỗi khi có cưới hỏi, lệnh cho người mai mối mang vòng vàng bạc, 2 hũ rượu, mấy con cá đến nhà gái. Sau đó chọn ngày, nhà trai họp thân khách, múa hát đối đáp. Nhà gái mời 1 người Bà-la-môn (婆羅門) đưa cô gái đến nhà trai, chú rể rửa tay, nhân đó dắt cô gái trao cho. Vua chết 7 ngày thì táng, người có quan tước 3 ngày, dân thường 1 ngày. Đều dùng hòm đựng thây, đánh trống múa hát dẫn đường, dùng xe khiêng đến bên nước, chất củi đốt đi, thu lại xương còn sót, nếu là vua thì đặt trong hũ vàng, dìm xuống biển. Người có quan thì dùng hũ đồng dìm ở cửa biển, dân thường dùng hũ sành tiễn đưa xuống sông. Nam nữ đều cắt tóc, theo đám tang đến bên nước, hết lòng thương tiếc mới thôi, về nhà thì không khóc. Cứ mỗi 7 ngày lại đốt hương rắc hoa, lại khóc hết lòng sầu thảm mới thôi. Trọn 7 lần 7 (49 ngày) thì dứt. Đến 100 ngày và 3 năm cũng làm như vậy. Người đều thờ Phật, văn tự giống với Thiên Trúc (天竺). Sau khi Cao Tổ bình định nhà Trần, [Lâm Ấp] bèn sai sứ dâng sản vật địa phương, về sau triều cống bị đoạn tuyệt. '''Tháng 4 năm Đại Nghiệp (大業) thứ 1 (năm 605 dương lịch) đời Dạng Đế (煬帝), Đại tướng quân Lưu Phương đánh Lâm Ấp, phá được.''' Xét Tùy Thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ chép như vậy. Xét Lâm Ấp truyền: Bấy giờ thiên hạ vô sự, quần thần nói Lâm Ấp có nhiều báu vật kỳ lạ. Cuối năm '''Nhân Thọ (仁壽)''' (năm 604 dương lịch), Thượng sai Đại tướng quân '''Lưu Phương (劉方)''' làm Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu (歡州), suất lĩnh Thứ sử Khâm Châu '''Ninh Trường Chân (甯長真)''', Thứ sử Hoan Châu '''Lý Ng晕 (李暈)''', Khai phủ '''Tần Hùng (秦雄)''' cùng hơn 10,000 bộ kỵ và mấy 1,000 tội nhân đi đánh. Vua nước ấy là '''Phạn Chí (梵志)''' suất lĩnh đồ đảng cưỡi voi lớn ra chiến đấu, quân của Phương bất lợi. Phương bèn đào nhiều hố nhỏ, lấy cỏ phủ lên trên, nhân đó dùng binh khiêu chiến, Phạn Chí dốc toàn quân ra dàn trận. Phương đánh rồi giả vờ chạy, Phạn Chí đuổi theo đến chỗ có hố, quân chúng sa hố rất nhiều, lại kinh hãi lẫn nhau, quân bèn loạn. Phương tung binh đánh, đại phá quân giặc. Phạn Chí thua trận liên tiếp, bèn bỏ thành mà chạy. Phương vào kinh đô nước ấy, thu được 18枚 (tấm/mộc) bài vị thờ trong miếu, thảy đều đúc bằng vàng, đại khái là nước ấy đã trải qua 18 đời. Phương rút quân về, Phạn Chí lại chiếm đất cũ, sai sứ tạ tội, từ đó triều cống không tuyệt. Xét Truyện của Lưu Phương (劉方傳): Năm '''Nhân Thọ (仁壽)''', Phương được trao chức Hành quân Tổng quản đường Hoan Châu, lấy Thượng thư Hữu thừa '''Lý Cương (李綱)''' làm Tư mã để kinh lược Lâm Ấp. Phương sai Ninh Trường Chân, Lý Ng晕, Tần Hùng đem bộ kỵ ra từ Việt Thường (越常), tự mình suất lãnh Đại tướng quân '''Trương Tốn (張愻)''', Tư mã Lý Cương theo quân thủy hướng đến Tỷ Cảnh (比景). Sau khi Cao Tổ băng hà, Dạng Đế lên ngôi, tháng Giêng năm '''Đại Nghiệp (大業)''' thứ 1 (năm 605 dương lịch), quân đến cửa biển, vua Lâm Ấp Phạn Chí sai quân giữ nơi hiểm yếu, Phương đánh đuổi đi. Quân đến sông Xà Lê (闍黎江), giặc dựa vào bờ Nam lập rào chắn. Phương bày cờ xí rầm rộ, đánh kim gõ trống, giặc sợ hãi tan rã. Đã qua sông, đi được 30 dặm, giặc cưỡi voi lớn từ 4 mặt kéo đến, Phương dùng nỏ bắn voi, voi trúng thương quay lại giẫm vào trận đồ quân giặc, vương sư lực chiến, giặc chạy vào rào chắn, quân Tùy phá được, bắt và chém hàng 10,000 người. Sau đó vượt Khu Túc (區粟), qua Lục Lý (六里), trước sau gặp giặc trận nào cũng bắt được. Tiến đến sông Đại Duyên (大緣江), giặc dựa nơi hiểm lập rào, lại đánh phá được. Đi qua cột đồng của '''Mã Viện (馬援)''', đi về phía Nam 8 ngày thì đến kinh đô nước ấy. Vua Lâm Ấp Phạn Chí bỏ thành chạy ra biển, Phương thu được bài vị miếu chủ bằng vàng, khắc đá ghi công rồi về. Sĩ tốt chân bị sưng phù, người chết mất 14 – 15 phần trong tổng số 10 phần (tức 40% – 50%). Phương trên đường về gặp bệnh mà mất, Đế rất thương tiếc. === Lâm Ấp bộ hối khảo 2 (林邑部彙考二)=== '''Những năm Vũ Đức (武德) đời Đường Cao Tổ (唐高祖), nước Hoàn Vương (環王) sai sứ dâng sản vật địa phương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Nước Hoàn Vương vốn là Lâm Ấp (林邑), còn gọi là Chiêm Bất Lao (占不勞), cũng gọi là Chiêm Bà (占婆), nằm thẳng phía Nam Giao Châu (交州), đi đường biển 3,000 dặm. Đất đai chiều Đông Tây rộng hơn 300 dặm, chiều Nam Bắc 1,000 dặm. Phía Tây giáp núi Vụ Ôn (霧溫山) của nước Chân Lạp (真臘), phía Nam đến Bôn Lãng Đà Châu (奔浪陀州). Ở phía Nam có cửa biển lớn (đại phố) có núi Ngũ Đồng Trụ (五銅柱山), hình như cái lọng che, phía Tây là núi đá trùng điệp, phía Đông sát biển, là nơi Mã Viện (馬援) nhà Hán trồng cột đồng vậy. Đất ấy mùa đông ấm, nhiều sương mưa. Sản sinh hổ phách, đười ươi, thú Kết Liêu, chim Kết Liêu. Lấy tháng 2 làm đầu năm, lúa chín 2 vụ một năm. Lấy nước cau làm rượu, lá dừa làm chiếu. Tục hung hãn, giỏi chiến đấu, dùng xạ hương bôi thân, ngày bôi 2 lần tắm 2 lần. Khi bái yết thì chắp tay sát trán. Có văn tự. Thích đạo Phù Đồ (Phật giáo). Đúc tượng vàng bạc, có cái lớn đến 10 vòng ôm. Gọi vua là 'Dương Bồ Cô' (陽蒲逋), vợ vua là 'Đà Dương A Hùng' (陀陽阿熊), Thái tử là 'A Trường Cô' (阿長逋), Tể tướng là Bà Mạn Địa (婆漫地). Nơi vua ở gọi là Chiêm Thành (占城), nơi ở khác gọi là Tề Quốc (齊國), Bồng Bì Thế (蓬皮勢). Vua mặc vải bạch điệp (vải bông trắng) cổ bối, quấn chéo qua cánh tay, sức chuỗi hạt vàng làm anh lạc, tóc xoăn, đội mũ hoa vàng như mũ Chương phủ. Vợ mặc váy ngắn bằng vải cổ bối màu triều hà, mũ và anh lạc giống như vua. Vua có 5,000 vệ binh, chiến đấu cưỡi voi, dùng mây làm áo giáp, dùng tre làm cung tên, suất lĩnh 1,000 voi, 400 ngựa, chia làm trước sau. Không đặt hình phạt, kẻ có tội thì cho voi giẫm, hoặc đưa đến núi Bất Lao (不勞山) cho tự chết. Năm Nhân Thọ (仁壽) đời Tùy, sai Tướng quân Lưu Phương (劉芳) [Tùy thư chép là Lưu Phương 劉方] đánh nơi đó, vua là Phạm Phạn Chí (范梵志) bỏ chạy. [Nhà Tùy] lấy đất ấy làm 3 quận, đặt thủ lệnh, nhưng vì đường xá trở ngại không thông, Phạn Chí gom góp tàn quân riêng xây quốc ấp. Những năm Vũ Đức (618 – 626 dương lịch), lại sai sứ dâng sản vật, Cao Tổ cho bày nhạc Cửu Bộ (九部樂) để yến đãi." '''Những năm Trinh Quán (貞觀) đời Thái Tông (太宗), Lâm Ấp sai sứ vào dâng lễ.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Thời Trinh Quán, vua Đầu Lê (頭黎) dâng voi thuần, xích lưu (vàng ròng), đai ngũ sắc, vải triều hà, cây lửa (hỏa thụ), cùng đi với sứ giả hai nước Bà Lợi (婆利), La Sát (羅剎). Lời lẽ sứ giả không cung kính, quần thần xin hưng binh hỏi tội. Thái Tông nói: 'Xưa Phù Kiên muốn nuốt nhà Tấn, quân có 1,000,000 người nhưng một trận là mất sạch. Nhà Tùy đánh Cao Ly, hằng năm điều động phu phen khiến lòng người oán hận, rồi chết trong tay kẻ thất phu. Trẫm há dám vọng bàn việc phát binh sao?'. Bèn tha cho không hỏi đến. [Lâm Ấp] lại dâng vẹt ngũ sắc, vẹt trắng, chúng thường kêu lạnh, vua hạ chiếu trả về. Đầu Lê chết, con là Trấn Long (鎮龍) lập, dâng tê giác Thông Thiên cùng các thứ báu vật." '''Năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (năm 645 dương lịch), vua Lâm Ấp Phạm Trấn Long (范鎮龍) bị ám sát, người trong nước lập Gia Cát Địa (諸葛地) làm vua.''' Xét Đường Thư (唐書) - Thái Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Năm thứ 19, Ma Ha Mạn Đa Già Độc (摩呵慢多伽獨) giết Trấn Long, diệt tông tộc họ Phạm. Người trong nước lập con rể của Đầu Lê là người Bà-la-môn (婆羅門) làm vua, các đại thần cùng phế đi, lại lập con gái của Đầu Lê làm vương. Gia Cát Địa là con của cô vua Đầu Lê, cha gặp tội phải trốn sang Chân Lạp (真臘). Vua nữ không thể định quốc, đại thần cùng đón Gia Cát Địa về làm vua, gả vua nữ cho." '''Những năm Chí Đức (至德) đời Túc Tông (肅宗), Lâm Ấp đổi hiệu thành Hoàn Vương (環王).''' Xét Đường Thư (唐書) - Túc Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Từ năm Vĩnh Huy (永徽) đến Thiên Bảo (天寶) phàm 3 lần vào dâng cống, sau năm Chí Đức (năm 756 dương lịch) đổi hiệu là Hoàn Vương." '''Những năm Nguyên Hòa (元和) đời Hiến Tông (憲宗), Đô hộ An Nam Trương Chu bắt Đô thống và 59 vương tử nước Hoàn Vương.''' Xét Đường Thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép. Xét Nam Man truyền: "Đầu năm Nguyên Hòa (năm 806 dương lịch), [Hoàn Vương] không vào triều cống, Đô hộ An Nam '''Trương Chu (張舟)''' bắt Đô thống các châu Hoan, Ái ngụy của chúng, chém 30,000 thủ cấp, bắt làm tù binh 59 vương tử, thu được voi chiến, thuyền chiến và áo giáp." === Lâm Ấp - Tạp ký (雜記) - 7 mục=== * '''Cây cau (Binh lang thụ):''' Thân to hơn 1 trượng, cao hơn 10 trượng, vỏ như đồng xanh, đốt như tre đốm. Gốc không to, ngọn không nhỏ, xa gần thành rừng, 1,000 – 10,000 cây như một. Dáng tươi đẹp không có cành, đỉnh đầu có lá, lá xòe ra như nan quạt. Nhìn lên xa xăm như khóm chuối trên ngọn tre, gió thổi thì lá động tựa như quạt lông quét trời. Dưới lá có mấy buồng, mỗi buồng đính 10 số quả, nhà có mấy 100 cây nhìn thưa thớt như dây thừng treo vậy. * '''Chim Linh Thứu (靈鷲):''' Ở biên giới xa xôi phía Tây Nam có chim Linh Thứu, biết được cát hung. Thấy người sắp chết thì rình ăn sạch thịt thây mới đi. Người nhà lấy xương thiêu thành tro ném xuống nước. * '''Cá bay (Phi ngư):''' Cánh như cánh ve, khi bơi thì lướt mây, khi lặn thì xuống đáy biển. * '''Đất đai:''' Trải dài 60 dặm. Đất nhiều gỗ thơm, vàng bạc báu vật, sản vật đại để giống Giao Chỉ. Dùng gạch xây thành, lấy vôi vỏ sò trát lên. Đều mở cửa phía Bắc hướng về mặt trời, hoặc Đông Tây không định. * '''Vua Phạm Văn (范文):''' Đúc đồng làm bò, làm nhà bằng đồng, làm hành cung. * '''Vua Minh Đạt (明達):''' Dâng nhẫn kim cương (Kim cương chỉ hoàn). * '''Núi vàng (Kim Sơn):''' Từ Lâm Ấp đi đến Kim Sơn hơn 30 dặm, xa nhìn thấy Kim Sơn cao ngất mà sắc đỏ chiếu rọi như bầu trời. Trong khe hốc có vàng sinh ra hình như sâu bọ, nhỏ thì như ruồi xanh, lớn thì như ong ve, đêm đi tỏa sáng như đom đóm. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 7ncuxn4vrv8vfykmmcidqgzq2jf27d2 Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 097 114 71934 204723 204626 2026-04-15T07:13:09Z Mrfly911 2215 204723 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第097卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 97''' | trước= [[../quyển 096|quyển 96]] | sau= [[../quyển 098|quyển 98]] | ghi chú = }} ==Phù Nam quốc vị khảo (扶南國彙考 - Khảo cứu tổng hợp về nước Phù Nam) == === Đời Tấn (晉)=== Vào năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Tấn Vũ Đế (晉武帝), nước Phù Nam (扶南國) sai sứ đến dâng lễ vật. Theo Tấn thư - Vũ Đế bản kỷ (晉書·武帝本紀) có chép sự việc này. Theo Phù Nam truyện (扶南傳): "Nước Phù Nam cách Lâm Ấp (林邑) hơn 3.000 dặm về phía Tây, nằm trong một vịnh biển lớn, cương vực rộng 3.000 dặm, có thành quách cung thất. Người dân đều xấu xí, da đen, tóc xoăn, mình trần chân đất. Tính cách ngay thẳng, không trộm cướp, chuyên nghề canh tác, gieo trồng 1 năm thì thu hoạch trong 2 năm. Họ lại ưa thích điêu khắc, chạm trổ, đồ ăn thức uống đa phần dùng bằng bạc. Sưu thuế đóng bằng vàng, bạc, châu ngọc, hương liệu. Cũng có sách vở, chữ viết trong phủ khố có nét giống chữ của người Hồ (胡). Việc tang lễ và cưới hỏi đại lược giống với Lâm Ấp. Vua nước ấy vốn là đàn bà, tên là Diệp Liễu (葉柳)." Khi đó có người nước ngoài tên là Hỗn Quế (混潰), vốn thờ thần linh, nằm mộng thấy thần ban cho cây cung và dạy phải đi thuyền ra biển. Sáng ra Hỗn Quế đến đền thờ thần, quả nhiên được cung, bèn theo thuyền buôn lênh đênh trên biển, đến ấp ngoài của Phù Nam. Diệp Liễu dẫn quân chống lại. Hỗn Quế giương cung, Diệp Liễu sợ hãi bèn đầu hàng. Hỗn Quế lấy làm vợ và chiếm giữ nước ấy. Sau này con cháu suy vi không nối nghiệp được, đại tướng là Phạm Tầm (范尋) lại đời đời làm vua Phù Nam. Đầu năm Thái Thủy đời Vũ Đế, nước này sai sứ đến cống nạp. Theo Nam Tề thư - Phù Nam truyện (南齊書·扶南傳): "Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam (日南), trong vịnh phía Tây biển lớn, rộng hơn 3.000 dặm, có con sông lớn chảy về phía Tây vào biển. Xưa có người đàn bà làm vua tên là Liễu Diệp (柳葉) (Tấn thư chép là Diệp Liễu). Lại có người nước Kích (激國) tên là Hỗn Điền (混填) (Tấn thư chép là Quế), mộng thấy thần ban cho 2 cây cung, dạy đi thuyền ra biển. Hỗn Điền sáng dậy, ở dưới gốc cây nơi miếu thần được cung, liền đi thuyền hướng về Phù Nam. Liễu Diệp thấy thuyền đến, dẫn quân định chống lại. Hỗn Điền giương cung bắn xa, xuyên qua thành thuyền, trúng người bên trong. Liễu Diệp sợ hãi bèn hàng. Hỗn Điền bèn lấy làm vợ. Ghét nàng để thân mình trần truồng, bèn lấy vải gấp lại, khoét lỗ xỏ vào đầu (kiểu áo chui đầu), rồi cai trị nước ấy. Con cháu truyền nhau đến đời vua Bàn Huống (槃況) chết, người trong nước lập đại tướng là Phạm Sư Man (范師蔓) lên. Khi Sư Man bệnh, con của chị là Chiên (旃) đương mộ binh, bèn giết con của Sư Man là Kim Sinh (金生) rồi tự lập, trị vì hơn 10 năm. Con út của Sư Man là Trường (長) tập kích giết chết Chiên, dùng dao rạch bụng Chiên và nói: 'Ngươi xưa giết anh ta, nay ta vì cha anh mà báo thù ngươi!'. Đại tướng của Chiên là Phạm Tầm (范尋) lại giết Trường, người trong nước lập lên làm vua, ấy là vào thời Ngô và Tấn." Theo Lương thư - Phù Nam truyện (梁書·扶南傳): "Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh lớn phía Tây biển, cách Nhật Nam khoảng 7.000 dặm, cách Lâm Ấp về phía Tây Nam hơn 3.000 dặm. Thành cách biển 500 dặm, có con sông lớn rộng 10 dặm, chảy từ Tây Bắc về phía Đông vào biển. Đất nước vuông vức hơn 3.000 dặm. Đất đai thấp trũng mà bằng phẳng rộng lớn, khí hậu phong tục đại khái giống Lâm Ấp. Sản vật có vàng, bạc, đồng, thiếc, trầm hương, ngà voi, chim khổng tước, vẹt 5 màu. Cương giới phía Nam hơn 3.000 dặm có nước Đốn Tốn (頓遜國), nằm trên một dải đất nhô ra biển, đất rộng 1.000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, đều thuộc quyền cai quản của Phù Nam. Phía Đông của Đốn Tốn thông với Giao Châu (交州), phía Tây tiếp giáp với các nước ngoài biên ải như Thiên Trúc (天竺), An Tức (安息), đi lại giao thương. Sở dĩ như vậy vì Đốn Tốn vươn ra biển hơn 1.000 dặm, biển rộng không bờ bến, thuyền bè chưa từng đi qua hết được. Chợ ở đó là nơi giao hội Đông Tây, mỗi ngày có hơn 10.000 người, trân bảo vật lạ không gì không có. Lại có cây rượu, giống như cây lựu, hái nước hoa của nó để trong vò, vài ngày thành rượu. Bên ngoài Đốn Tốn, giữa các cù lao biển lớn, lại có nước Tỳ Kiển (毗騫國), cách Phù Nam 8.000 dặm. Truyền rằng vua nước đó thân cao 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét), đầu dài 3 thước (khoảng 75 cm), từ xưa đến nay không chết, không ai biết bao nhiêu tuổi. Vua là bậc thần thánh, mọi việc thiện ác và tương lai của người trong nước vua đều biết rõ, nên không ai dám lừa dối. Phương Nam gọi là Trường Cảnh Vương (長頸王 - Vua Cổ Dài). Phong tục nước đó có nhà cửa quần áo, ăn gạo tẻ. Ngôn ngữ hơi khác Phù Nam. Có núi sản sinh ra vàng, vàng lộ ra trên đá, không có hạn định. Luật pháp nước đó hình phạt người có tội là đem ăn thịt ngay trước mặt vua. Trong nước không tiếp nhận thương nhân, ai đến cũng bị giết ăn thịt, nên lái buôn không dám tới. Vua thường ở trên lầu, không ăn huyết nhục, không thờ quỷ thần. Con cháu vua sinh tử như người thường, chỉ riêng vua là không chết. Vua Phù Nam thường sai sứ trao đổi thư từ. Thường tặng vua Phù Nam 50 người bằng vàng ròng, đồ đựng thức ăn hình như cái mâm tròn. Lại có loại bình gốm tên là Đa La (多羅), chứa được 5 thăng (khoảng 1 lít), và loại như cái bát chứa được 1 thăng. Vua cũng có thể viết chữ Thiên Trúc, khoảng 3.000 lời, nói về nhân quả tiền kiếp, giống với kinh Phật, đều bàn về việc thiện. Lại truyền rằng phía Đông Phù Nam là biển Đại Trướng (大漲海), trong biển có cù lao lớn, trên đó có nước Chư Bạc (諸薄國), phía Đông nước đó có 5 cù lao tên là Mã (馬五洲). Lại đi về phía Đông qua biển Trướng hơn 1.000 dặm đến một cù lao tự nhiên. Trên đó có cây sinh trong lửa. Người ở gần cù lao đó lột vỏ cây, dệt làm vải, được vài thước dùng làm khăn tay, không khác gì vải gai nhưng màu hơi xanh đen. Nếu bẩn thì ném vào lửa, sẽ lại sạch sẽ tinh tươm. Hoặc dùng làm tim đèn, dùng mãi không hết. Phong tục Phù Nam vốn ở trần, xăm mình, xõa tóc, không may quần áo. Lấy đàn bà làm vua, hiệu là Liễu Diệp, trẻ tuổi khỏe mạnh, giống như nam giới. Phía Nam có nước Kiểu (弼國), có người thờ quỷ thần tên là Hỗn Điền, mộng thấy thần ban cho cung, bèn theo thuyền buôn ra biển. Hỗn Điền sáng dậy đến miếu, dưới gốc cây thần được cung, theo mộng đi thuyền vào ấp ngoài của Phù Nam. Liễu Diệp thấy thuyền đến muốn đánh chiếm. Hỗn Điền giương cung bắn xuyên thuyền, tên trúng vào người hầu. Liễu Diệp đại hãi, dẫn chúng hàng Hỗn Điền. Hỗn Điền dạy Liễu Diệp xỏ vải vào đầu để che thân. Rồi cai trị nước, lấy Liễu Diệp làm vợ, sinh con, chia cho cai quản 7 ấp. Về sau vua Hỗn Bàn Huống (混盤況) dùng mưu kế khiến các ấp nghi kỵ lẫn nhau, rồi đem quân đánh chiếm thôn tính. Bèn sai con cháu chia nhau cai trị các ấp, gọi là Tiểu Vương. Bàn Huống hơn 90 tuổi thì chết, lập con thứ là Bàn Bàn (盤盤), đem việc nước phó thác cho đại tướng Phạm Man (范蔓). Bàn Bàn làm vua 3 năm thì chết, người trong nước cùng cử Phạm Man làm vua. Phạm Man dũng cảm có mưu lược, lại dùng uy binh đánh dẹp, các nước lân bang đều thần phục, tự xưng là Phù Nam Đại Vương. Bèn cho đóng tàu lớn, đi khắp biển Trướng, đánh các nước Khuất Đô Côn (屈都昆), Cửu Tr稚 (九稚), Điển Tôn (典孫)... hơn 10 nước, mở mang đất đai 5.000-6.000 dặm. Đến lúc định đánh nước Kim Lân (金鄰國) thì Phạm Man mắc bệnh, sai Thái tử là Kim Sinh đi thay. Cháu gọi bằng cậu của Man là Chiên khi ấy đang chỉ huy 2.000 người, nhân đó cướp ngôi tự lập, sai người lừa giết Kim Sinh. Khi Man chết, có người con đang bú tên là Trường, sống trong dân gian, đến năm 20 tuổi bèn kết tập tráng sĩ trong nước tập kích giết chết Chiên. Đại tướng của Chiên là Phạm Tầm lại giết Trường mà tự lập. Phạm Tầm tu sửa trong nước, dựng lầu đài vui chơi, sáng trưa chiều 3-4 lần tiếp khách. Dân dùng mía, rùa, chim làm lễ vật. Luật nước không có nhà tù, người có tội phải trai giới 3 ngày, rồi nung rìu thật đỏ, bắt người thưa kiện cầm đi 7 bước. Lại lấy vòng vàng, trứng gà ném vào vạc nước sôi, bắt lấy ra; nếu không có tội thì tay không bị bỏng, nếu có tội thì tay nát cháy. Lại nuôi cá sấu trong hào thành, nuôi thú dữ ngoài cửa, người có tội thì đem cho thú dữ và cá sấu ăn, nếu thú không ăn thì coi như không tội, sau 3 ngày thì thả ra. Cá sấu lớn dài hơn 2 trượng (khoảng 5-6 mét), hình dạng giống con đà (con lửng/cá sấu nhỏ), có 4 chân, mõm dài 6-7 thước (khoảng 1.5 mét), hai bên có răng sắc như đao kiếm, thường ăn cá, gặp hươu nai và người cũng ăn thịt. Từ phía Nam quận Thương Ngô (蒼梧) và các nước ngoài đều có. Thời Ngô (吳), vua sai Trung lang Khương Thái (康泰), Tuyên hóa thông sự Chu Ứng (朱應) đi sứ đến nước của Tầm. Người trong nước vẫn ở trần, duy phụ nữ mặc áo xỏ đầu. Khương Thái và Chu Ứng bảo rằng: 'Nước này thật tốt, chỉ có việc để người trần truồng là lạ lùng quá'. Phạm Tầm mới lệnh cho đàn ông trong nước mặc vải ngang. Vải ngang nay là Can Man (干縵). Nhà giàu thì cắt gấm mà làm, người nghèo thì dùng vải. Năm Thái Khang (太康) đời Tấn Vũ Đế (khoảng năm 280-289 dương lịch), Phạm Tầm bắt đầu sai sứ đến cống nạp." *Trích dẫn từ Thủy Kinh Chú (水經注) *Thủy Kinh Chú dẫn lời Trúc Chi (竺芝) trong sách Phù Nam ký (扶南記) rằng: "Phù Nam cách Lâm Ấp 4.000 dặm đường thủy bộ, thông với huyện Đàn Hòa (檀和). Quân đội tiến vào cửa vịnh của ấp, đóng ở thành Thuyền Quan Khẩu (船官口) cách 6 dặm. Từ Thuyền Quan đổ xuống hồ phía Đông của đại vịnh, nước lớn chảy liền nhau, trên hồ chảy về phía Tây, thủy triều ngày đêm dâng cao 7-8 thước (khoảng 2 mét). Từ đây về phía Tây, ngày Sóc và ngày Vọng (mồng 1 và rằm) thủy triều cùng dâng. Một lần dâng kéo dài 7 ngày, nước cao 1 trượng 6 thước (khoảng 4 mét). Sau 7 lần 7 là 49 ngày, ngày đêm chia làm hai lần triều dâng, nước cao 1-2 thước. Xuân hạ thu đông, mức nước cố định rõ ràng, cao thấp có chừng mực, không dư không thiếu, ấy gọi là Hải Vận (海運), cũng gọi là Tượng Thủy (象水). Lại kiêm cả tên gọi Tượng Phố (象浦). Sách Tấn công thần biểu gọi là 'vàng chọn lối trong, bãi Tượng sạch nguồn' là vậy. Ở các sông ngòi bãi bồi đó có loài sâu nước rất nhỏ, đục gỗ ăn thuyền, vài mươi ngày là thuyền hỏng. Nơi vực sâu nước lặng có loài cá tươi, màu đen, thân dài 5 trượng (khoảng 12 mét), đầu như đầu ngựa, rình người xuống nước là đến gây hại." *Thời Mục Đế (穆帝) Năm Thăng Bình (升平) thứ 1 (năm 357 dương lịch), tháng Giêng, Phù Nam dâng voi thuần.* Theo Tấn thư - Mục Đế bản kỷ (晉書·穆帝本紀) có chép sự việc này. Theo Phù Nam bản truyện (扶南本傳): "Đầu năm Thăng Bình thời Mục Đế, lại có Trúc Chiên Đàn (竺旃檀) xưng vương, sai sứ dâng voi thuần. Hoàng đế cho rằng thú lạ từ phương xa sợ sẽ gây họa cho người, bèn ra chiếu trả lại." Theo Lương thư - Phù Nam truyện (梁書·扶南傳): "Năm Thăng Bình thứ 1 (năm 357 dương lịch), vua Trúc Chiên Đàn dâng biểu dâng voi thuần. Chiếu viết: 'Vật này tốn kém không ít sức lực, hạ lệnh dừng lại không cần gửi đến'. Sau đó vua là Kiều Trần Như (憍陳如), vốn là người Bà-la-môn ở Thiên Trúc (天竺), có thần nhân bảo rằng: 'Ngươi nên làm vua Phù Nam'. Kiều Trần Như trong lòng vui mừng, đi về phía Nam đến nước Bàn Bàn (盤盤). Người Phù Nam nghe tin, cả nước mừng rỡ đón về lập làm vua. Ông thay đổi chế độ, dùng luật pháp Thiên Trúc." === Đời Lưu Tống (劉宋) - Thời Văn Đế (文帝)=== *Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 11 (năm 434 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ (宋書·文帝本紀) có chép. Theo Phù Nam bản truyện: "Năm Nguyên Gia thứ 11 đời Thái Tổ (太祖), quốc vương là Trì Lê Bạt Ma (持黎跋摩) sai sứ dâng lễ." *Mùa thu tháng 7 năm Nguyên Gia thứ 12 (năm 435 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. *Năm Nguyên Gia thứ 15 (năm 438 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. (Các việc trên đều chép trong Tống thư - Văn Đế bản kỷ). === Đời Nam Tề (南齊) - Thời Vũ Đế (武帝)=== *Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 2 (năm 484 dương lịch), vua Phù Nam sai sứ nhập cống. Theo Nam Tề thư - Vũ Đế bản kỷ (南齊書·武帝本紀) không chép, nhưng theo Phù Nam bản truyện: "Nước Phù Nam từ đời Tấn, Tống vẫn thông sứ cống nạp. Cuối đời Tống, vua Phù Nam họ Kiều Trần Như (僑陳如), tên là Xà Da Bạt Ma (闍邪跋摩), gửi hàng hóa đến Quảng Châu (廣州). Đạo nhân Thiên Trúc là Na Già Tiên (那伽仙) xin đi nhờ thuyền về nước, gặp gió dạt đến Lâm Ấp (林邑), bị cướp sạch tài vật. Na Già Tiên đi đường tắt đến được Phù Nam, kể tường tận rằng ở Trung Hoa có thánh chủ thụ mệnh trời. Năm Vĩnh Minh thứ 2 (năm 484 dương lịch), Xà Da Bạt Ma sai đạo nhân Thiên Trúc là Thích Na Già Tiên (釋那伽仙) dâng biểu, xưng là bề tôi Kiều Trần Như Xà Da Bạt Ma, khấu đầu thưa rằng: 'Ơn trời nuôi dưỡng cảm động đến linh thần, bốn mùa điều hòa, nguyện Thánh chủ khỏe mạnh, Hoàng thái tử vạn phúc, lục cung thanh nhàn, các vương phi, triều thần hòa mục, muôn nước quy tâm, ngũ cốc trúng mùa, tai ương không sinh... Bề tôi trước có sai sứ mang tạp vật đến Quảng Châu giao dịch, gặp đạo nhân Thích Na Già Tiên tại đó, ông ấy theo thuyền tôi muốn về Phù Nam, nhưng bị gió dạt vào Lâm Ấp và bị vua nước đó cướp sạch. Na Già Tiên kể về đức trị của Bệ hạ, Phật pháp hưng thịnh, chúng tăng đông đúc... nghe qua như cảnh cõi tiên. Nay sai sứ mang lễ mọn bày tỏ lòng thành, cúi xin Thiên từ thấu hiểu'. Vua Phù Nam lại trình: 'Tôi có tên nô lệ là Câu Thù La (鳩酬羅) bỏ trốn, cấu kết hung nghịch, phá nước Lâm Ấp rồi tự lập làm vua, bội nghĩa phản chủ... Lâm Ấp xưa bị quân Đàn Hòa (檀和) phá, nay Câu Thù La lại chuyên quyền hung ác. Lâm Ấp và Phù Nam giáp ranh, kẻ phản nghịch ngay cạnh, cúi xin Bệ hạ sai quân đánh dẹp, tôi xin tự mình hiệp lực cắt bỏ mầm họa, khiến các nước ven biển quy phục. Nếu Bệ hạ muốn lập người khác làm vua nước ấy, tôi xin nghe theo sắc chỉ. Nếu chưa muốn hưng binh đại quy mô, xin ban sắc lệnh cho quân địa phương trợ giúp tôi ít quân để diệt tặc'. Biểu dâng kèm theo tượng Long Vương bằng vàng, tượng gỗ đàn trắng, 2 tháp ngà voi, 2 đôi vải cổ bối, 2 chiếc bình lưu ly, 1 khay đồi mồi đựng trầu cau. Na Già Tiên đến kinh sư, kể rằng tục nước ấy thờ thần Ma Hê Thủ La (摩䤈首羅天神 - Shiva). Thần thường giáng xuống núi Ma Đam (摩耽山). Khí đất luôn ấm, cây cỏ không rụng lá. Lời sớ viết rằng: 'Cát tường lợi thế gian... Núi tiên tên Ma Đam, cây lành tươi tốt, thần Ma Hê Thủ La dựa vào đó giáng linh, vua dân đều được an ninh...' Chiếu đáp rằng: 'Biết chuyện thần Ma Hê giáng linh tại đất đó, dù phong tục khác biệt nhưng trẫm rất khen ngợi. Chuyện Câu Thù La phản nghịch chiếm Lâm Ấp, đúng là nên đánh dẹp. Nhưng vì mới sang triều đại mới, trẫm muốn dùng văn đức thu phục người xa, chưa muốn dùng can qua ngay. Nay lệnh cho bộ phận tại Giao Châu (交部) tùy nghi ứng tiếp'. Ban thưởng lại cho sứ giả các loại lụa là, gấm vóc màu tía, vàng, xanh. Người Phù Nam khôn ngoan, khéo tay, thường đánh các ấp lân cận không phục tùng để bắt làm nô tì, đổi lấy vàng bạc lụa là. Đàn ông nhà giàu cắt gấm làm vải ngang, phụ nữ làm áo Tân Đầu (賓頭). Người nghèo lấy vải che thân. Họ biết rèn vàng làm vòng, làm đồ ăn bằng bạc. Chặt cây dựng nhà, vua ở lầu cao, dùng gỗ làm thành. Ven biển có lá nhược lớn dài 8-9 thước (khoảng 2.5 mét), tết lá lợp nhà. Người dân cũng ở nhà sàn (nhà lầu). Thuyền dài 8-9 trượng (khoảng 25-30 mét), rộng 6-7 thước (khoảng 2 mét), đầu đuôi giống hình cá. Vua đi cưỡi voi, phụ nữ cũng biết cưỡi voi. Thích đá gà, chọi lợn làm vui. Không có nhà tù. Kẻ có tranh tụng thì bỏ nhẫn vàng hoặc trứng gà vào nước sôi bắt lấy ra. Hoặc nung xích sắt thật đỏ, bắt cầm đi 7 bước; kẻ có tội thì tay cháy nát, kẻ vô tội thì không sao. Hoặc bắt lặn xuống nước, người ngay thì không chìm, kẻ gian thì chìm ngay. Sản vật có mía, lựu, cam quýt và rất nhiều trầu cau. Chim thú giống như Trung Hoa. Tính người hiền lành, không thạo chiến đấu, thường bị người Lâm Ấp xâm kích. Vì không được thông thương với Giao Châu thường xuyên nên sứ giả hiếm khi đến được." === Đời Lương (梁) - Thời Vũ Đế (武帝)=== *Năm Thiên Giám (天監) thứ 2 (năm 503 dương lịch), Phù Nam sai sứ nhập cống, chiếu phong làm An Nam tướng quân, Phù Nam vương. Theo Lương thư - Vũ Đế bản kỷ (梁書·武帝本紀): Tháng 7 năm Thiên Giám thứ 2 (năm 503 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Sau khi Kiều Trần Như (憍陳如) chết, vua là Trì Lê Đà Bạt Ma (持黎陁跋摩) đã từng dâng biểu hiến phương vật vào thời Tống Văn Đế. Trong niên hiệu Vĩnh Minh thời Tề, vua Xà Da Bạt Ma (闍邪跋摩) sai sứ cống nạp. Năm Thiên Giám thứ 2 (năm 503 dương lịch), Bạt Ma lại sai sứ tặng tượng Phật bằng san hô và dâng phương vật. Chiếu viết: "Vua Phù Nam là Kiều Trần Như Xà Da Bạt Ma ở tận ngoài biển, đời đời giữ phương Nam, lòng thành thấu đến phương xa, trải qua nhiều lần dịch thuật để đến dâng bảo vật, nên được thu nhận và ban cho danh hiệu vinh hiển, khả phong làm An Nam tướng quân (安南將軍), Phù Nam vương (扶南王)." Nay người nước ấy hình dáng xấu xí, da đen, tóc xoăn. Nơi ở không đào giếng, vài mươi nhà dùng chung một cái ao để dẫn nước uống. Tục thờ Thiên thần, tượng Thiên thần đúc bằng đồng, loại 2 mặt thì có 4 tay, loại 4 mặt thì có 8 tay, mỗi tay cầm một vật, hoặc là đứa trẻ, hoặc là chim thú, hoặc là mặt trời mặt trăng. Vua ra vào cưỡi voi, cung tần hầu cận cũng vậy. Khi vua ngồi thì ngồi nghiêng co đầu gối (bán già), gập đầu gối trái chạm đất, trải vải trắng phía trước, đặt chậu vàng và lư hương lên trên. Phong tục nước này, khi có tang thì cạo sạch râu tóc. Người chết có 4 cách táng: Thủy táng thì ném xuống dòng sông; Hỏa táng thì đốt thành tro bụi; Thổ táng thì chôn cất dưới đất; Điểu táng thì bỏ mặc giữa đồng hoang. Tính người tham lam, không có lễ nghĩa, nam nữ tự ý đi theo nhau. *Năm Thiên Giám thứ 10 (năm 511 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ cống nạp. (Theo Lương thư - Vũ Đế bản kỷ không chép, theo Phù Nam bản truyện có chép). *Tháng 8 năm Thiên Giám thứ 13 (năm 514 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 13 (năm 514 dương lịch), Bạt Ma sai sứ cống nạp, cùng năm đó thì chết. Con thứ là Lưu Đà Bạt Ma (留陁跋摩) giết chết em đích để tự lập làm vua. *Tháng 8 năm Thiên Giám thứ 16 (năm 517 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 16 (năm 517 dương lịch), sai sứ là Trúc Đương Bão Lão (竺當抱老) dâng biểu cống nạp. *Mùa thu tháng 7 năm Thiên Giám thứ 18 (năm 519 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 18 (năm 519 dương lịch), lại sai sứ tặng tượng Thụy bằng gỗ đàn hương của Thiên Trúc, lá cây Bà-la (lá bối), cùng dâng hạt hỏa tề (thủy tinh đỏ), hương uất kim, tô hợp... *Tháng Giêng năm Phổ Thông (普通) thứ 1 (năm 520 dương lịch), tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), tháng 7 năm Đại Đồng (大同) thứ 1 (năm 535 dương lịch), nước Phù Nam đều sai sứ dâng phương vật. *Tháng 8 năm Đại Đồng thứ 5 (năm 539 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng tê giác sống và phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 5 (năm 539 dương lịch) lại sai sứ dâng tê giác sống. Lại nói trong nước có tóc Phật dài 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét). Chiếu sai sa môn Thích Vân Bảo (釋雲寶) đi theo sứ giả đến nghênh đón. Trước đó, vào tháng 8 năm thứ 3 (năm 537 dương lịch), Cao Tổ (Lương Vũ Đế) cho cải tạo tháp chùa A Dục Vương (阿育王寺), lấy được từ dưới tháp cũ xá lợi cùng móng và tóc Phật. Tóc màu xanh tím, các tăng dùng tay kéo ra thì dài ngắn tùy ý, buông tay ra thì xoắn lại thành hình vỏ ốc. Theo kinh Tăng Già, tóc Phật xanh và mảnh như sợi tơ sen. Theo kinh Phật Tam Muội, xưa Phật ở trong cung gội đầu, đo tóc dài 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét), buông ra thì xoáy về bên phải thành hình vỏ ốc. Điều này khớp với vật mà Cao Tổ tìm được. A Dục Vương tức là Thiết Luân Vương, cai trị cõi Diêm Phù Đề. Sau khi Phật diệt độ, trong 1 ngày 1 đêm đã sai khiến quỷ thần xây 84.000 ngôi tháp, đây là một trong số đó. Thời Ngô (吳) có ni cô dựng tịnh xá nhỏ tại đó, sau bị Tôn Lâm (孫綝) hủy hoại, tháp cũng mất dấu. Sau khi dẹp nhà Ngô, các đạo nhân dựng lại trên nền cũ. Thời Tấn Trung Tông (Tấn Nguyên Đế) mới sang sông đã tu sửa lại. Đến đời Giản Văn Đế niên hiệu Hàm An (咸安), sai sa môn An pháp sư (安法師) xây tháp nhỏ, chưa xong thì mất, đệ tử là Tăng Hiển (僧顯) tiếp tục hoàn thành. Đến năm Thái Nguyên thứ 9 (năm 384 dương lịch) đời Hiếu Vũ Đế, mới đặt thêm tướng luân bằng vàng và mâm hứng sương. Sau đó, ở huyện Ly Thạch vùng Tây Hà có người Hồ tên là Lưu Tát Hà (劉薩何) mắc bệnh đột tử, nhưng dưới tim còn ấm, nhà không dám khâm liệm, qua 10 ngày thì sống lại, kể rằng: "Có 2 viên quan dẫn đi về phía Tây Bắc, đến 18 tầng địa hạt, chịu đủ cực hình tùy tội nặng nhẹ. Gặp Quán Thế Âm bảo rằng: 'Duyên của ngươi chưa tận, nếu sống lại hãy làm sa môn. Tại Lạc Hạ, Tề Thành, Đan Dương, Hội Kê đều có tháp A Dục Vương, hãy đến lễ bái thì khi chết không đọa địa ngục'. Nói xong như rơi xuống vực cao, giật mình tỉnh dậy". Từ đó xuất gia, tên là Huệ Đạt (慧達). Ông đi lễ các tháp, đến Đan Dương chưa biết tháp ở đâu, bèn lên Việt Thành nhìn bốn phương, thấy khí sắc lạ thường, tìm đến lễ bái, quả nhiên là nơi tháp A Dục Vương, thường phát hào quang. Biết chắc có xá lợi, bèn họp dân đào lên sâu 1 trượng (khoảng 2.5 mét), được 3 bia đá dài 6 thước (khoảng 1.5 mét). Bia giữa có hòm sắt, trong hòm sắt có hòm bạc, trong hòm bạc có hòm vàng đựng 3 viên xá lợi cùng 1 móng tay và tóc. Tóc dài vài thước. Bèn dời xá lợi về phía Bắc, xây tháp 1 tầng. Năm thứ 16 đời Thái Nguyên (năm 391 dương lịch), sai sa môn Tăng Thượng Già (僧尚伽) xây thành 3 tầng, chính là tháp mà Cao Tổ đã mở ra. Lúc đầu đào đất sâu 4 thước thấy hang rồng cùng vàng bạc vòng xuyến mà người xưa cúng dường, sâu chừng 9 thước thì tới bệ đá. Dưới bệ có hòm đá, trong hòm có hũ sắt chứa hũ bạc, trong hũ bạc có bình vàng chạm trổ đựng 3 viên xá lợi to như hạt kê, tròn trịa sáng sạch. Trong hòm còn có bát lưu ly đựng 4 viên xá lợi cùng tóc và móng tay, móng tay có 4 chiếc đều màu trầm hương. Đến ngày 27 tháng đó, Cao Tổ đến chùa lễ bái, lập đại hội Vô Ngại, đại xá thiên hạ. Ngày hôm đó lấy bát vàng đựng nước thả xá lợi vào, viên nhỏ nhất ẩn dưới đáy bát không ra. Cao Tổ lễ vài chục bái, xá lợi mới phát quang trong bát, xoay tròn hồi lâu rồi dừng lại giữa bát. Cao Tổ hỏi Đại tăng chính Huệ Niệm (慧念): "Hôm nay có thấy việc bất khả tư nghị chăng?". Huệ Niệm đáp: "Pháp thân thường trụ, lặng lẽ không động". Cao Tổ nói: "Đệ tử muốn thỉnh 1 viên xá lợi về cung phụng thờ". Đến ngày mồng 5 tháng 9 lại lập đại hội Vô Ngại, sai Hoàng thái tử và vương hầu đón rước. Hôm đó phong cảnh sáng sủa, kinh sư có tới hơn 1.000.000 người đi xem. Các đồ cúng bằng vàng bạc đều để lại chùa, ban thêm 10.000.000 tiền làm vốn cho chùa. Đến ngày 15 tháng 9 năm thứ 4 (năm 538 dương lịch), Cao Tổ lại đến chùa lập đại hội, dựng 2 sát trụ, mỗi bên dùng bình vàng đặt trong bình ngọc, đựng xá lợi cùng tóc móng vào trong tháp thất bảo. Lại dùng hòm đá đựng tháp bảo đặt dưới 2 sát trụ, vàng bạc vòng xuyến do vương hầu phi tần và nhà giàu cúng dường chất đầy bên trong. Ngày mồng 2 tháng 11 năm thứ 11 (năm 545 dương lịch), tăng chúng mời Cao Tổ giảng đề kinh Bát Nhã tại chùa, tối đó 2 tháp đều phát hào quang. Sắc lệnh cho Trấn đông tướng quân Thiệu Lăng vương Luân (邵陵王綸) soạn văn bia công đức lớn của chùa. Trước đó vào năm thứ 2 (năm 536 dương lịch), cũng cải tạo tháp huyện Mậu vùng Hội Kê, mở tháp cũ lấy xá lợi, sai 4 vị tăng chùa Quang Trạch là Thích Kính Thoát (釋敬脫)... cùng xá nhân Tôn Chiếu (孫照) rước về cung. Cao Tổ lễ bái xong liền gửi trả lại huyện đặt vào tháp mới. Tháp huyện này cũng do Lưu Tát Hà tìm ra. Niên hiệu Hàm Hòa (咸和) thời Tấn, quan doãn Đan Dương là Cao Khôi (高悝) đi đến cầu Trương Hầu thấy dưới bến có hào quang 5 màu dài vài thước, bèn cho người đào xem, được tượng vàng chưa có đài sen phát quang (quang phu). Khôi chở tượng về đến đầu ngõ Trường Can thì trâu không chịu đi tiếp, Khôi để mặc trâu muốn đi đâu thì đi, trâu kéo xe thẳng vào chùa. Khôi để tượng lại chùa. Mỗi đêm tượng thường phát quang, không trung nghe tiếng chuông khánh. Qua 1 năm, người đánh cá là Trương Hệ Thế (張係世) ở cửa biển thấy đài sen bằng đồng nổi lên, bèn đem nộp cho huyện, huyện dâng về triều, đem lắp vào chân tượng thì vừa khít. Năm Hàm An thứ 1 thời Giản Văn Đế (năm 371 dương lịch), người huyện Hợp Phố thuộc Giao Châu là Đổng Tông Chi (董宗之) lặn xuống biển tìm ngọc được hào quang bằng đồng (phần hào quang phía sau tượng), Giao Châu áp tống về kinh, lắp vào tượng cũng vừa khít. Từ lúc Cao Khôi được tượng (khoảng năm 326-334 dương lịch) đến lúc đủ bộ hào quang, đài sen (năm 371 dương lịch) mất hơn 30 năm. Lúc đầu khi Cao Khôi mới được tượng, có 5 vị tăng Hồ từ Tây Vực đến bảo: "Xưa ở Thiên Trúc có tượng do vua A Dục đúc, mang đến vùng Nghiệp Hạ gặp lúc loạn lạc phải chôn bên sông, nay tìm không thấy". 5 người cùng mộng thấy tượng bảo đã sang Giang Đông và về tay Cao Khôi. Họ đến chùa thấy tượng thì khóc lóc thảm thiết, tượng bèn phát quang sáng rực điện thờ. Lại có Huệ Thúy (慧邃) ở chùa Ngõa Quan muốn đúc mẫu theo tượng này, chủ chùa là Tăng Thượng (僧尚) sợ hỏng lớp vàng nên bảo: "Nếu khiến tượng phát quang và quay mặt về hướng Tây thì mới cho phép". Huệ Thúy khấn vái thành tâm, đêm đó tượng xoay ngồi về hướng Tây phát hào quang, sáng hôm sau bèn được cho phép đúc mẫu. Dưới đài sen có chữ nước ngoài không ai biết, sau có Tam tạng Na Cầu Bạt Ma (郍求跋摩) nhận ra, nói là tượng vua A Dục đúc cho con gái thứ 4. Đến niên hiệu Đại Đồng, khi lấy xá lợi tháp cũ, chiếu mua thêm đất của hàng trăm hộ dân quanh chùa để mở rộng, xây điện đường và hành lang quanh tượng Thụy vô cùng lộng lẫy. Các bức họa về kinh biến đều do nghệ nhân người Ngô là Trương Do (張繇) vẽ, tài hội họa của Do đứng đầu một thời. === Đời Đường (唐) - Thời Cao Tổ (高祖)=== *Năm Vũ Đức (武德) [618-626 dương lịch], Phù Nam sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Cao Tổ bản kỷ (唐書·高祖本紀) không chép. Theo Phù Nam bản truyện: "Phù Nam (扶南) ở phía Nam Nhật Nam (日南) 7.000 dặm, đất đai thấp trũng, phong tục giống với Hoàn Vương (環王), có thành quách cung thất. Vua họ Cổ Long (古龍), ở lầu cao, thành bằng gỗ, lợp nhà bằng lá nhược. Vua ra ngoài cưỡi voi. Người dân da đen, tóc xoăn, đi mình trần, tục không có trộm cướp. Ruộng 1 năm gieo trồng, 3 năm thu hoạch. Nước ấy sản sinh ra 'cương kim' (vàng cứng), hình dạng giống như thạch anh tím, sinh ra từ đá dưới đáy nước. Người dân lặn xuống nước lấy nó, có thể dùng để chạm khắc ngọc, nhưng gõ bằng sừng dê đực (hắc dương) thì tan ra. Dân thích chọi gà và chọi lợn, lấy vàng, ngọc trai, hương liệu làm thuế. Trị sở tại thành Đặc Mục (特牧城), chẳng bao lâu bị Chân Lạp (真臘) thôn tính, bèn dời đô về phía Nam tới thành Na Phất Na (那弗那城). Thời Vũ Đức (武德) [618-626 dương lịch] và Trinh Quán (貞觀) [627-649 dương lịch] lại sang triều cống. Lại dâng 2 người 'Bạch Đầu' (người đầu trắng), người Bạch Đầu vốn là người ở phía Tây Phù Nam, toàn bộ đầu đều trắng, da dẻ mịn màng như mỡ. Họ sống trong hang núi, 4 phía vách đá dựng đứng, người thường không đến được. Đất này tiếp giáp với nước Tham Bán (參半國)." == Qua Oa bộ vị khảo (爪哇部彙考) phần 1 (Đồ Bà 闍婆 - Ha Lăng 訶陵 - Phủ Gia Long 莆家龍) == === Đời Lưu Tống (劉宋) - Thời Văn Đế (文帝)=== *Tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), nước Đồ Bà (Java 闍婆國) sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ (宋書·文帝本紀) có chép sự việc này. *Mùa thu tháng 7 năm Nguyên Gia thứ 12 (năm 435 dương lịch), nước Đồ Bà sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ có chép sự việc này. === Đời Đường (唐) - Thời Thái Tông (太宗)=== *Năm Trinh Quán (貞觀) [627-649 dương lịch], nước Ha Lăng (訶陵國) sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Thái Tông bản kỷ (唐書·太宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng bản truyện: "Ha Lăng (訶陵) cũng gọi là Đỗ Bà (杜婆), gọi là Đồ Bà (Java 闍婆). Ở trong biển Nam, phía Đông giáp Bà Lợi (婆利), phía Tây giáp Bà Đăng (婆登), phía Nam sát biển, phía Bắc giáp Chân Lạp (真臘). Lấy gỗ làm thành, dù nhà lớn cũng lợp bằng lá tùng (mây rừng), dùng ngà voi làm giường hoặc chiếu. Sản vật có đồi mồi, vàng, bạc, tê giác, voi. Nước ấy rất giàu, có hang tự phun ra muối. Lấy hoa liễu, dừa làm rượu, uống vào là say ngay. Từ xưa đã có chữ viết, biết xem tinh tượng lịch pháp. Khi ăn không dùng thìa đũa. Có loại sâu độc, phụ nữ tiếp xúc với nó liền bị lở loét khổ sở, người chết xác không thối rữa. Vua cư trú tại thành Đồ Bà (Java 闍婆城), tổ tiên là Cát Diên (吉延) dời đô về phía Đông tới Bà Lộ Già Tư (婆露伽斯). Cạnh thành có 28 tiểu quốc, không nước nào không thần phục. Quan lại có 32 vị đại phu, trong đó chức 'Đại Tọa' (大坐) và 'Cảm Huynh' (敢兄) là tôn quý nhất. Trên núi có châu Lang Ti Bình Dã (郎卑野州), vua thường lên đó để trông ra biển. Vào ngày Hạ chí dựng cây cột cao 8 thước (khoảng 2 mét), bóng cột đổ về phía Nam 2 thước 4 thốn (khoảng 60 cm). Thời Trinh Quán (貞觀), nước này cùng nước Đoạ Hòa La (墮和羅), Đoạ Bà Đăng (墮婆登) đều sai sứ giả nhập cống. Thái Tông ban chiếu thư và ấn tỉ ưu ái khen ngợi. Đoạ Hòa La cầu xin ngựa tốt, hoàng đế bèn ban cho." === Đời Đường (唐) - Thời Đại Tông (代宗)=== *Năm Đại Lịch (大曆) [766-779 dương lịch], Ha Lăng sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Đại Tông bản kỷ (唐書·代宗 bản kỷ) không chép. Theo Ha Lăng truyền: "Khoảng niên hiệu Thượng Nguyên (上元) [760-761 dương lịch], người trong nước suy tôn một người đàn bà lên làm vua, hiệu là Tất Ma (悉莫). Uy lệnh nghiêm túc, của rơi ngoài đường không ai nhặt. Vua của Đại Thực (大食 - Ả Rập) nghe danh, bèn sai mang 1 túi vàng đặt ở ngoài ngoại ô nước ấy, người đi đường đều tránh đi, suốt 3 năm như vậy. Một lần Thái tử đi ngang qua, lấy chân giẫm lên túi vàng. Tất Ma nổi giận, định chém đầu Thái tử. Quần thần khẩn thiết van xin, Tất Ma nói: 'Tội của ngươi thực chất bắt nguồn từ bàn chân, vậy phải chặt ngón chân'. Quần thần lại van xin, bà bèn cho chặt ngón chân cái để răn đe. Người Đại Thực nghe tin ấy thì sợ hãi, không dám động binh. Thời Đại Lịch (大曆) [766-779 dương lịch], sứ giả Ha Lăng đến 3 lần." === Đời Đường (唐) - Thời Hiến Tông (憲宗)=== *Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 8 (năm 813 dương lịch), Ha Lăng sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Hiến Tông bản kỷ (唐書·憲宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng truyền: "Năm Nguyên Hòa thứ 8 (năm 813 dương lịch), dâng 4 nô lệ Tăng Kỳ (僧祗奴), vẹt 5 màu, chim Tần Già (頻伽鳥). Hiến Tông phong cho sứ giả chức Tả Quả Nghị thuộc phủ Nội Tứ Môn. Sứ giả nhường chức đó cho em trai, hoàng đế khen ngợi đức độ, bèn phong quan cho cả hai. Đến niên hiệu Thái Hòa (太和) [827-835 dương lịch] lại sang triều cống." === Đời Đường (唐) - Thời Ý Tông (懿宗)=== *Năm Hàm Thông (咸通) [860-874 dương lịch], Ha Lăng sai sứ dâng nữ nhạc. Theo Đường thư - Ý Tông bản kỷ (唐書·懿宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng bản truyện có chép sự việc này. === Đời Nguyên (元) - Thời Thế Tổ (世祖)=== *Năm Chí Nguyên (至元) thứ 29 (năm 1292 dương lịch), mệnh cho 3 hành tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Quảng hội quân chinh phạt Qua Oa (爪哇). Theo Nguyên Sử - Thế Tổ bản kỷ (元史·世祖本紀): "Tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch), lấy Tuyền phủ đại khanh Diệc Hắc Mê Thất (亦黑迷失), Vạn hộ quân cũ ở Đặng Châu là Sử Bật (史弼), Hữu thừa hành tỉnh Phúc Kiến là Cao Hưng (高興) cùng làm Bình chương chính sự hành trung thư tỉnh Phúc Kiến, thống lĩnh quân chinh phạt Qua Oa (爪哇 - Java). Tháng 7, chiếu lấy Sử Bật thay Diệc Hắc Mê Thất và Cao Hưng thống lĩnh 10.000 người chinh phạt Qua Oa." Theo Qua Oa truyện (瓜哇傳): "Qua Oa ở hải ngoại, so với Chiêm Thành (占城) thì xa hơn. Từ phía Nam Tuyền Châu (泉州) lên thuyền đi đường biển, trước hết đến Chiêm Thành rồi sau đó mới đến nước này, phong tục thổ sản không thể khảo cứu hết. Đại khái các phiên quốc hải ngoại đa phần có nhiều kỳ trân dị bảo, được Trung Hoa coi trọng, còn con người thì hình thù kỳ quái, tính tình ngôn ngữ không thông với Trung Hoa. Thế Tổ vỗ về bốn phương di địch, việc xuất quân ra hải ngoại các phiên quốc, duy có chiến dịch Qua Oa là lớn nhất." Tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch), chiếu lệnh cho hành tỉnh Phúc Kiến bổ dụng Sử Bật, Diệc Hắc Mê Thất, Cao Hưng làm Bình chương chính sự để chinh phạt Qua Oa. Hội quân 3 hành tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Quảng gồm 20.000 người, lập 2 phủ Tả Hữu quân đô nguyên soái, 4 Thượng vạn hộ chinh hành, phái 1.000 chiến thuyền, cấp lương ăn trong 1 năm, 40.000 đĩnh tiền sao, ban 10 Hổ phù, 40 Kim phù, 100 Ngân phù, 100 đoạn y phục bằng gấm vàng để dự phòng ban thưởng công trạng. Khi Diệc Hắc Mê Thất cùng các tướng bái biệt, Hoàng đế phán: "Các khanh đến Qua Oa, hãy báo rõ cho vua dân nước ấy. Ban đầu triều đình cùng Qua Oa thông sứ, đi lại giao hảo, sau này chúng lại rạch mặt sứ giả là Mạnh hữu thừa (孟右丞), vì lý do đó mà tiến quân thảo phạt." Tháng 9, quân hội tại Khánh Nguyên (慶元). Sử Bật và Diệc Hắc Mê Thất lĩnh việc hành tỉnh, đến Tuyền Châu (泉州). Cao Hưng suất lĩnh quân nhu từ Khánh Nguyên lên thuyền vượt biển. Tháng 11, quân 3 tỉnh hội tại Tuyền Châu. Tháng 12, từ cửa biển Hậu Chử (後渚) khởi hành. *Năm Chí Nguyên thứ 30 (năm 1293 dương lịch), bọn Sử Bật chinh phạt Qua Oa, đại phá quân địch. Quốc vương nước ấy ra hàng, trả lại đất đai, sắm sửa lễ vật nhập cống. Theo Nguyên Sử - Thế Tổ bản kỷ: Tháng 8 năm Chí Nguyên thứ 30 (năm 1293 dương lịch), sắc lệnh cho hành tỉnh Phúc Kiến cho quân chinh phạt Qua Oa được giải ngũ về nhà. Theo Qua Oa truyện: Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293 dương lịch) đến núi Câu Lan (勾欄山) bàn định phương lược. Tháng 2, Diệc Hắc Mê Thất và T參 chính họ Tôn (孫參政) dẫn thuộc quan hành tỉnh cùng các quan của Tuyên úy ty đi chiêu dụ là Khúc Xuất Hải Nha (曲出海牙), Dương Tử (楊梓), Toàn Trung Tổ (全忠祖), Vạn hộ Trương Tháp Lạt Xích (張塔剌赤) cùng hơn 500 người, 10 chiến thuyền, đi chiêu dụ trước. Đại quân tiếp nối tiến đến Cát Lợi Môn (吉利門). Sử Bật và Cao Hưng tiến đến Đỗ Tịnh Túc (杜並足) thuộc Qua Oa, cùng Diệc Hắc Mê Thất bàn bạc: "Chia quân xuống bờ, thủy lục cùng tiến." Sử Bật, Cao Hưng và Tôn Tham chính soái lĩnh Đô nguyên soái Na Hải (那海), Vạn hộ Ninh Cư Nhân (甯居仁) cùng thủy quân từ Đỗ Tịnh Túc qua cửa cảng Nhung Nha Lộ (戎牙路) đến Bát Tiết Giản (八節澗). Cao Hưng cùng Diệc Hắc Mê Thất soái lĩnh Đô nguyên soái Trịnh Trấn Quốc (鄭鎮國), Vạn hộ Thoát Hoan (脫歡) cùng mã bộ quân từ Đỗ Tịnh Túc đi đường bộ. Lấy Vạn hộ Thân Nguyên (申元) làm tiền phong, sai Phó nguyên soái Thổ Hổ Đăng Ca (土虎登哥), Vạn hộ Chử Hoài Viễn (褚懷遠), Lý Trung (李忠)... cưỡi thuyền tiêm kích, từ Nhung Nha Lộ tiến đến cầu phao Ma Nhạ Ba Khiết (麻喏巴歇), hẹn hội quân tại Bát Tiết Giản. Quan Tuyên phủ ty Qua Oa báo: "Phò mã Qua Oa là Thổ Hãn Tất Xà Da (土罕必闍耶) đem cả nước đầu hàng, nhưng vì không thể rời quân ngũ, nên sai Dương Tử, Cam Châu Bất Hoa (甘州不花), Toàn Trung Tổ dẫn Tể tướng Tích Lạt Nan Đáp Trá Da (昔剌難答吒耶) cùng hơn 50 người đến đón." Ngày mồng 1 tháng 3, hội quân tại Bát Tiết Giản. Phía trên gián thông với phủ vương Đỗ Mã Ban (杜馬班), dưới thông ra biển lớn Phủ Bôn (莆奔), là yết hầu yếu địa tất tranh của Qua Oa. Lại có mưu thần nước ấy là Hy Ninh Quan (希寧官) đậu thuyền dọc sông quan sát thắng bại, chiêu dụ nhiều lần không hàng. Hành tỉnh lập trại Yến Nguyệt bên bờ gián, lưu Vạn hộ Vương Thiên Tường (王天祥) giữ bến sông, Thổ Hổ Đăng Ca và Lý Trung lĩnh thủy quân, Trịnh Trấn Quốc cùng Đô trấn phủ Luân Tín (倫信) lĩnh mã bộ quân, thủy lục cùng tiến. Hy Ninh Quan sợ hãi bỏ thuyền chạy đêm, quân ta thu được hơn 100 chiến thuyền lớn hình đầu quỷ. Lệnh cho Đô nguyên soái Na Hải, Vạn hộ Ninh Cư Nhân, Trịnh Khuê (鄭珪), Cao Đức Thành (高德誠), Trương Thụ (張受) trấn giữ cửa biển Bát Tiết Giản. Đại quân đang tiến, Thổ Hãn Tất Xà Da sai sứ đến báo: vua Cát Lang (葛郎王) truy sát đến Ma Nhạ Ba Khiết, xin quan quân cứu viện. Diệc Hắc Mê Thất và Tham chính họ Trương (張參政) đi trước an ủi Thổ Hãn Tất Xà Da; Trịnh Trấn Quốc dẫn quân đến Chương Cô (章孤) tiếp ứng. Cao Hưng tiến đến Ma Nhạ Ba Khiết nhưng quân Cát Lang chưa rõ gần xa. Cao Hưng quay lại Bát Tiết Giản, Diệc Hắc Mê Thất báo tin giặc sẽ đến đêm nay, gọi Cao Hưng đến Ma Nhạ Ba Khiết. Ngày mồng 7, quân Cát Lang 3 đường đánh Thổ Hãn Tất Xà Da. Mờ sáng ngày mồng 8, Diệc Hắc Mê Thất và Tôn Tham chính suất lĩnh Vạn hộ Lý Minh (李明) đón đánh giặc ở phía Tây Nam nhưng không gặp. Cao Hưng và Thoát Hoan theo đường Đông Nam đánh nhau với giặc, giết vài trăm người, số còn lại tan chạy vào sơn cốc. Giữa trưa, giặc đường Tây Nam lại tới, Cao Hưng lại chiến đấu đến chiều tối thì đánh bại chúng. Ngày 15, chia quân làm 3 đạo đánh Cát Lang, hẹn ngày 19 hội quân tại Đáp Cáp (答哈) nghe tiếng pháo làm hiệu ứng chiến. Thổ Hổ Đăng Ca lĩnh thủy quân ngược dòng đi lên, Diệc Hắc Mê Thất đi đường Tây, Cao Hưng đi đường Đông, quân Thổ Hãn Tất Xà Da theo sau. Ngày 19 đến Đáp Cáp. Quốc chủ Cát Lang thống lĩnh hơn 100.000 quân giao chiến, từ giờ Mão đến giờ Mùi (5 giờ sáng đến 3 giờ chiều), đánh liên tiếp 3 trận, giặc bại tản mác, xô nhau xuống sông chết vài vạn người, bị giết hơn 5.000 người. Quốc chủ vào nội thành cố thủ, quan quân vây hãm và chiêu hàng. Đêm đó, quốc chủ Háp Chỉ Cát Đương (哈只葛當) ra hàng, ta vỗ về lệnh cho về. Ngày mồng 2 tháng 4, tiễn Thổ Hãn Tất Xà Da về nước sắm lễ vật nhập cống, sai Vạn hộ Niết Chỉ Bất Đinh (捏只不丁), Cam Châu Bất Hoa suất lĩnh 200 binh hộ tống. Ngày 19, Thổ Hãn Tất Xà Da phản bội bỏ trốn, để quân ở lại cản đường chiến đấu. Niết Chỉ Bất Đinh, Cam Châu Bất Hoa cùng duyên hành tỉnh là Phùng Tường (馮祥) đều tử nạn. Ngày 24, quân rút về, bắt được vợ con và thuộc quan của Háp Chỉ Cát Đương hơn 100 người, cùng bản đồ hộ tịch, dâng biểu chữ vàng mang về. Theo Sử Bật truyện (史弼傳): Thế Tổ muốn chinh phạt Qua Oa, bảo với Sử Bật: "Các thần tử là tâm phúc của trẫm rất ít, trẫm muốn giao việc Qua Oa cho ngươi." Bật đáp: "Bệ hạ mệnh cho thần, thần há dám tự ái thân mình." Năm thứ 27 (năm 1290 dương lịch), thụ chức Tả thừa Thượng thư tỉnh (dao thụ), Hành tuyên úy sứ Chiết Đông, dẹp cướp ở Xử Châu. Năm thứ 29 (năm 1292 dương lịch), bái vinh lộc đại phu, Bình chương chính sự hành trung thư tỉnh Phúc Kiến, đi chinh phạt Qua Oa, lấy Diệc Hắc Mê Thất và Cao Hưng làm phó tướng, trao cho 150 Kim phù, 200 xấp gấm lụa để thưởng người có công. Tháng 12, Bật dẫn 5.000 người hợp với các quân xuất phát từ Tuyền Châu. Gió gấp sóng lừng, thuyền chao đảo, sĩ tốt suốt vài ngày không thể ăn được. Qua Thất Châu Dương (七洲洋), Vạn Lý Thạch Đường (萬里石塘), đi qua địa giới Giao Chỉ (交趾) và Chiêm Thành. Tháng Giêng năm sau, đến núi Đông Đổng (東董), Tây Đổng (西董), đảo Ngưu Khi (牛崎嶼), vào đại dương Hỗn Độn (混沌), núi Cảm Lãm (橄欖), Giả Lý (假里), Mã Đáp (馬答), Câu Lan (勾欄), đóng quân chặt cây đóng thuyền nhỏ để tiến vào. Lúc đó Qua Oa đang có oán thù với nước láng giềng Cát Lang. Vua Qua Oa là Háp Chỉ Cát Đạt Na Gia Lạt (哈只葛達那加剌) đã bị vua Cát Lang là Háp Chỉ Cát Đương giết. Con rể là Thổ Hãn Tất Xà Da đánh Háp Chỉ Cát Đương không thắng, lui về giữ Ma Nhạ Ba Khiết. Nghe tin bọn Sử Bật đến, sai sứ mang bản đồ núi sông, hộ khẩu nước mình và bản đồ nước Cát Lang đến hàng và cầu cứu. Bật cùng chư tướng tiến đánh quân Cát Lang đại phá chúng, Háp Chỉ Cát Đương tháo chạy về nước. Cao Hưng nói: "Qua Oa tuy hàng, nhưng nếu giữa đường thay đổi mà hợp với Cát Lang thì quân ta cô độc xa xôi, việc khó lường được." Bật bèn chia quân 3 đạo, cùng Cao Hưng và Diệc Hắc Mê Thất mỗi người dẫn 1 đạo đánh Cát Lang. Đến thành Đáp Cáp, quân Cát Lang hơn 100.000 đón đánh, từ sáng đến trưa quân Cát Lang bại, vào thành thủ hiểm, ta bèn vây thành. Háp Chỉ Cát Đương ra hàng, quân ta bắt cả vợ con, quan thuộc mang về. Thổ Hãn Tất Xà Da xin về nước để thay tờ biểu hàng và lấy châu báu về triều. Bật và Diệc Hắc Mê Thất đồng ý, sai Vạn hộ Niết Chỉ Bất Đinh, Cam Châu Bất Hoa dẫn 200 binh hộ tống về nước. Thổ Hãn Tất Xà Da giữa đường giết 2 tướng rồi phản bội, nhân lúc quân ta rút về thì chặn đường cướp bóc. Sử Bật tự mình đoạn hậu, vừa đánh vừa đi, hành quân 300 dặm mới lên được thuyền. Đi biển 68 ngày đêm thì tới Tuyền Châu, sĩ tốt tử trận hơn 3.000 người. Quan lại kiểm kê vàng bạc, hương liệu, vải vóc thu được trị giá hơn 500.000 (đĩnh), lại dâng biểu chữ vàng của nước Một Lý (沒理國) cùng vàng bạc, tê giác, voi. Bấy giờ triều đình vì quân lính tổn thất nhiều, phạt Sử Bật 17 trượng, tịch thu 1/3 gia sản. Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 (năm 1295 dương lịch), khởi dụng làm Đồng tri Xu mật viện sự. Nguyệt Nhi Lỗ (月兒魯) tấu rằng: "Bọn Sử Bật dẫn 5.000 người vượt biển 250.000 dặm, vào nước mà từ xưa tới nay chưa ai tới được, bắt được vua của họ và chiêu hàng các tiểu quốc lân cận, nên được thương xót." Bèn chiếu trả lại tài sản đã tịch thu. Bái làm Vinh lộc đại phu, Hữu thừa hành trung thư tỉnh Giang Tây. === Đời Nguyên (元) - Thời Thành Tông (成宗)=== *Ngày Đinh Hợi tháng 9 năm Nguyên Trinh thứ 1 (năm 1295 dương lịch), Qua Oa sai sứ đến hiến phương vật. Theo Nguyên Sử - Thành Tông bản kỷ có chép sự việc này. === Đời Minh (明) - Thời Thái Tổ (太祖)=== *Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Nước Qua Oa (瓜哇國) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城). Tháng Giêng năm Hồng Vũ thứ 2 (năm 1369 dương lịch) đời Thái Tổ, vua sai sứ mang chiếu chỉ đăng quang đi dụ nước ấy. Sứ thần nước này trước đó đã phụng mệnh cống nạp cho nhà Nguyên, khi trở về đến Phúc Kiến (福建) thì nhà Nguyên đã mất, bèn vào cư ngụ tại kinh sư. Tháng 2 năm đó, Thái Tổ lại sai sứ đưa người ấy về nước, lại ban cho lịch Đại Thống (大統曆). Tháng 6 năm thứ 3 (năm 1370 dương lịch), vì đã bình định được sa mạc, vua ban chiếu nói: 'Từ xưa bậc làm chủ thiên hạ, nhìn khắp nơi trời che đất chở, nhật nguyệt soi chiếu, dù xa hay gần, loài người không ai là không muốn an cư lạc nghiệp. Nhưng tất yếu Trung Hoa phải yên thì bốn phương muôn nước mới thuận phục. Gần đây vua Nguyên là Thỏa Hoan Thiếp Mộc Nhi (妥懽帖木兒) hoang dâm hôn nhược, chí không tại dân, anh hùng thiên hạ chia cắt bờ cõi. Trẫm thương sinh dân lầm than, dấy nghĩa binh dẹp loạn, quân dân thiên hạ cùng tôn Trẫm lên ngôi hoàng đế, quốc hiệu Đại Minh (大明), niên hiệu Hồng Vũ (洪武). Năm trước đã chiếm được kinh đô nhà Nguyên, bốn phương lần lượt bình định. Các nước Chiêm Thành, An Nam (安南), Cao Ly (高麗) đều đã đến triều cống. Năm nay phái tướng bắc chinh, mới biết vua Nguyên đã mất, bắt được cháu là Mãi Đích Lý Bát Lạt (買的里八剌), phong làm Sùng Lễ hầu. Trẫm phỏng theo các bậc đế vương đời trước trị vì thiên hạ, chỉ muốn nhân dân trong ngoài đều được yên ổn. Lại lo các phiên bang hẻo lánh phương xa chưa rõ ý Trẫm, nên sai sứ giả đến dụ để cho tất cả đều được nghe biết'. Tháng 9, vua nước ấy là Tích Lý Bát Đạt Lạt Bồ (昔里八達剌蒲) sai sứ dâng Kim diệp biểu (biểu bằng lá vàng) đến triều kiến, dâng phương vật, vua ban yến tiệc và ban thưởng đúng lễ." Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Qua Oa phía Đông giáp nước Cổ Nữ Nhân (古女人國), phía Tây giáp nước Tam Phật Tề (三佛齊國), phía Nam giáp nước Cổ Đại Thực (古大食國), phía Bắc giáp nước Chiêm Thành. Vốn là nước Cổ Đồ Bà (Java 古闍婆國), còn có tên là Phủ Gia Long (莆家龍). Các thuộc quốc có Tô Cát Đan (蘇吉丹), Đả Bản (打板), Đả Cương (打綱), Đ底 Vật (底勿). Niên hiệu Nguyên Gia thời Tống bắt đầu thông sứ với Trung Hoa, sau đó đứt đoạn. Đến niên hiệu Thuần Hóa thời Tống, vua nước ấy là Mục La Trà (穆羅茶) sai sứ đến triều cống. Niên hiệu Đại Quan lại sai sứ nhập cống. Thời Nguyên gọi là nước Qua Oa. Cuối niên hiệu Chí Nguyên phái binh chinh phạt nhưng không thắng. Đầu niên hiệu Hồng Vũ triều ta, vua là Tích Lý Bát Đạt Lạt Bồ sai thần hạ là Bát Đích Chiêm Tất (八的占必) đến triều cống, nộp lại 2 đạo tuyên sắc của nhà Nguyên. Từ đó triều cống không tuyệt." Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Dân Qua Oa trọng khí tiết, hiếu chiến, không thiết hình luật nghiêm ngặt, kẻ phạm tội tạp tùy mức độ nặng nhẹ mà nộp vàng để chuộc tội, duy chỉ có trộm cướp thì xử tử." Theo Đảo di chí (島夷志): "Đất Qua Oa màu mỡ, địa hình bằng phẳng, thóc gạo phong phú gấp bội nước khác. Dân không trộm cắp, của rơi ngoài đường không ai nhặt. Ngạn ngữ gọi là 'Đồ Bà thái bình' là chỉ nơi này. Nam nữ quấn khăn trên đầu, mặc áo dài." Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 năm Hồng Vũ thứ 2 (năm 1369 dương lịch), sai Hành nhân Ngô Dụng (吳用) ban cho vua Qua Oa tỉ thư (thư đóng ấn) nói rằng: 'Đại thống Trung Hoa, người Nguyên thụ mệnh hơn 100 năm, nay cương thường đã đổ, trên dưới đảo lộn, Trẫm vì thế dấy binh đánh dẹp, gần 20 năm hải nội đều định. Trẫm phụng mệnh trời làm chủ Trung Hoa, sợ nơi xa gần chưa nghe thấy nên sai báo cho vua biết. Sứ giả đã đi rồi, nay nghe nói người trong vương quốc là Nghễ Chỉ Mưu Đinh (睨只某丁) trước phụng mệnh sứ Nguyên, khi về đến Phúc Kiến thì Nguyên mất, bèn đến cư ngụ tại kinh sư. Trẫm nghĩ người ấy xa Qua Oa đã lâu, tất sẽ thương nhớ khôn nguôi, nay sai người đưa về và ban cho 1 quyển lịch Đại Thống. Mong vua biết chính sóc ở đâu, thuận theo đạo trời, để dân Qua Oa yên ổn làm ăn, vua cũng mãi giữ được lộc vị, phúc đến con cháu. Hãy cố gắng làm theo, chớ có lười nhác'. Năm thứ 30 (năm 1397 dương lịch), các phiên bang ngăn trở không có thương nhân đi lại. Coi Tam Phật Tề là thuộc quốc của Qua Oa. Mệnh Bộ Lễ gửi văn thư sang Xiêm La (暹羅) chuyển đạt cho Qua Oa, sau chia thành 2 nước Đông - Tây." *Năm Hồng Vũ thứ 5 (năm 1372 dương lịch), Qua Oa đem 3 đạo sắc chỉ do nhà Nguyên ban tặng nộp lên. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 5, lại sai sứ theo sứ triều đình là Thường Khắc Kính (常克敬) đến cống nạp, nộp lên 3 đạo tuyên sắc do nhà Nguyên ban cho." *Năm Hồng Vũ thứ 8 (năm 1375 dương lịch), lệnh cho thần sông núi nước Tam Phật Tề và Qua Oa được tế phụ vào sau thần sông núi tỉnh Quảng Đông. Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 2 năm Hồng Vũ thứ 8 (năm 1375 dương lịch), lệnh cho thần núi sông các nước Tam Phật Tề, Qua Oa tế phụ vào sau lễ tế núi sông Quảng Đông. Trước đó Thượng thư Bộ Lễ Ngưu Lượng (牛諒) thưa rằng: 'Kinh đô đã bãi tế núi sông thiên hạ, thì núi sông của tứ di cũng không phải nơi Thiên tử nên tự mình cúng tế'. Bèn mệnh cho bàn bạc lại. Đến đây, Trung thư và Bộ Lễ tâu rằng nên để thần núi sông ngoại di tế phụ vào các tỉnh. Như Quảng Tây tế phụ An Nam, Chiêm Thành, Chân Lạp (真臘), Xiêm La, Tỏa Lý (鎖里); Quảng Đông tế phụ Tam Phật Tề, Qua Oa; Phúc Kiến tế phụ Nhật Bản (日本), Lưu Cầu (琉球), Bột Ni (渤泥); Liêu Đông tế phụ Cao Ly; Thiểm Tây tế phụ Cam Túc, Đóa Cam (朵甘), Ô Tư Tạng (烏思藏). Kinh thành không cần tế nữa. Lại nói: 'Thần núi sông các tỉnh cùng thần Gió Mây Sấm Mưa đã ngồi ở giữa hướng về Nam, thì thần vị núi sông ngoại di nên chia làm hai bên Đông Tây, cùng chung bàn thờ mà cúng tế'. Vua chuẩn tấu, khi tế phái 1 viên quan đến giám sát." *Năm Hồng Vũ thứ 10 (năm 1377 dương lịch), Qua Oa chia làm 3 vua, đều sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 10, vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ (八達那巴那務) sai sứ triều cống. Nước đó lại có 2 vua Đông - Tây: Đông phiên vương Vật Viện Lao Võng Kết (勿院勞網結), Tây phiên vương Vật Lao Ba Vụ (勿勞波務), đều sai sứ triều cống. Thiên tử thấy lễ ý không thành khẩn, chiếu lệnh giữ sứ giả lại, một thời gian sau mới thả về." *Năm Hồng Vũ thứ 11 (năm 1378 dương lịch), vua Đồ Bà (Java 闍婆) sai sứ triều cống. (Theo các sách khác đều nói Qua Oa chính là Cổ Đồ Bà, riêng Minh ngoại sử chép ngoài Qua Oa còn có Đồ Bà vào cống, nay phụ lục ở đây để chờ tham khảo). Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Đồ Bà xưa gọi là Đồ Bà Đạt (闍婆達), thời Nguyên Gia nhà Tống bắt đầu triều cống Trung Hoa. Đời Đường gọi là Ha Lăng (訶陵), lại gọi là Đỗ Bà (杜婆), vua cư ngụ tại thành Đồ Bà, đời Tống gọi là Đồ Bà, đều có vào cống. Năm Hồng Vũ thứ 11, vua là Ma Na Đà Nam (摩那駝喃) sai sứ dâng biểu cống phương vật, sau này không thấy đến nữa. Có thuyết nói Qua Oa chính là Đồ Bà. Tuy nhiên Nguyên sử - Qua Oa truyện không nói vậy, lại bảo phong tục vật sản không thể khảo cứu. Hơn nữa thời Thái Tổ, hai nước này cùng lúc vào cống, tên vua lại khác nhau. Có thể vốn là 2 nước, về sau Đồ Bà bị Qua Oa diệt, nhưng không thể khảo chứng rõ ràng." *Năm Hồng Vũ thứ 13 (năm 1380 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Lúc phái sứ ban ấn thụ cho Tam Phật Tề, Qua Oa đã dụ giết sứ giả, vua ban sắc trách mắng nặng nề. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 12, vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ sai sứ triều cống, năm sau lại cống. Khi đó triều đình sai sứ ban ấn thụ cho vua Tam Phật Tề, Qua Oa lừa bắt rồi giết đi. Thiên tử giận, giữ sứ giả của họ lại hơn 1 tháng, định trị tội nhưng sau lại cho về, ban sắc trách mắng." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 13 (năm 1380 dương lịch), vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ sai sứ là A Liệt Di Liệt Thời (阿烈彝烈時) dâng biểu lá vàng vào cống. Sứ giả bị giữ lại hơn 1 tháng rồi cho về. Vua ban chiếu dụ quốc chủ nước đó rằng: 'Bậc thánh nhân trị thiên hạ, coi trong ngoài bốn biển đều là con đỏ, đó là lòng nhân coi muôn loài như một. Trẫm làm quân chủ cả Hoa và Di, cách vỗ về không phân biệt xa gần. Bang của ngươi ở tận đảo xa, vừa qua sai sứ đến Trung Hoa, tuy nói là tu cống nhưng thực chất là ham lợi, Trẫm đều suy lòng thành mà đãi lễ. Trước kia vua Tam Phật Tề sai sứ dâng biểu xin ấn thụ, Trẫm khen lòng mộ nghĩa nên sai sứ ban cho. Ngươi cớ sao lại dùng gian kế, dụ sứ giả mà giết đi? Há phải ngươi cậy hiểm trở xa xôi mà dám khinh nhờn như thế sao? Nay sứ giả đến, vốn định giữ lại, nhưng nghĩ đến nỗi nhớ cha mẹ vợ con, người Di hay người Hoa đều như nhau. Trẫm suy lòng này mà đặc mệnh cho về nước. Nhà vua nên xét mình tự sửa, khiêm cung thành kính, chớ dẫm vết xe đổ mà làm nộ Trung Hoa, thì mới giữ được phú quý. Nếu không như vậy, tự chuốc họa ương, hối cũng không kịp'." *Năm Hồng Vũ thứ 14 (năm 1381 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 14, sai sứ dâng 300 hắc nô (nô lệ đen) và phương vật. Năm sau lại dâng 100 hắc nô nam nữ, 8 viên ngọc trai lớn, 75.000 cân hồ tiêu." *Năm Hồng Vũ thứ 26 (năm 1393 dương lịch), Qua Oa vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 26 lại cống. Năm sau tiếp tục cống." === Đời Minh (明) - Thời Thành Tổ (成祖)=== *Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 (năm 1404 dương lịch), sai sứ ban tiền vàng cho Qua Oa (瓜哇), hai vua Đông - Tây đều vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Năm Vĩnh Lạc thứ 1 (năm 1403 dương lịch), lại sai Phó sứ Văn Lương Phụ (聞良輔), Hành nhân Ninh Thiện (甯善) ban cho vua nước ấy gấm vóc, lụa vân thêu chỉ vàng. Sau khi sứ giả đi rồi, Tây vương là Đô Mã Bản (都馬板) sai sứ vào triều chúc mừng nhân dịp hoàng đế lên ngôi, bèn lại mệnh cho Trung quan Mã Bân (馬彬) mang ấn bạc mạ vàng đến ban cho. Tây vương sai sứ tạ ơn nhận ấn và dâng phương vật. Trong khi đó, Đông vương là Bột Lệnh Đạt Cáp (孛令達哈) cũng sai sứ triều cống, xin ban ấn; hoàng đế mệnh sai quan đến ban cho. Từ đó về sau, hai vua cùng nộp cống." Theo Minh hội điển (明會典): "Nước Qua Oa, đầu năm Vĩnh Lạc, ban cho các vua Đông - Tây màn trướng bằng lụa và sa, khăn tay, khí cụ đựng rượu và cừu; ban cho vương phi các thứ như khăn tay bằng lụa và sa." Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 2 (năm 1404 dương lịch), Đông vương Bột Lệnh Đạt Cáp sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật, tấu trình xin ấn chương, mệnh đúc ấn bạc mạ vàng ban cho, cùng ban tiền sao và vải vóc." *Năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Tây vương Đô Mã Bản sai sứ nhập cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405 dương lịch), sai Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Tây vương Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu cống hiến phương vật. Lúc bấy giờ các nước lân cận là Điệp Lý Nhật La (牒里日羅), Hạ Trị (夏治), Hợp Miêu Lý (合描里) gồm 3 nước, mỗi nước đều sai sứ cùng mang phương vật đến triều cống, tất cả đều được ban cho áo mặc và lụa vân." *Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Trung quan Trịnh Hòa đến Qua Oa. Khi đó hai vua Đông - Tây đánh nhau, binh lính của sứ đoàn đi ngang qua đất Đông vương bị người của nước Tây vương giết chết. Tây vương sợ hãi, sai sứ tạ tội. Có chiếu trách mắng nặng nề. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Tây vương và Đông vương đánh nhau, Đông vương bại trận, nước bị diệt. Vừa lúc sứ đoàn triều đình đi ngang qua đất Đông vương, binh lính đi vào chợ, bị người của nước Tây vương giết chết, tổng cộng 170 người. Tây vương sợ hãi, sai sứ tạ tội. Hoàng đế ban sắc trách mắng nặng nề, mệnh phải nộp 60.000 lạng vàng để chuộc tội." Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 năm thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Tây vương lại đến cống trân châu, san hô, khổng thanh (một loại đá quý). Cũng trong tháng 3, Đông vương sai sứ dâng ngựa, đều ban cho tiền sao và vải vóc có khác biệt theo thứ bậc. Tháng 7 nhuận, Tây vương sai sứ triều cống, lại nói Đông vương không đáng được lập, nay đã đánh diệt rồi, hoàng đế giáng chiếu trách mắng gay gắt." *Năm Vĩnh Lạc thứ 5 (năm 1407 dương lịch), Qua Oa sai sứ thỉnh tội, nguyện đền 60.000 lạng vàng để chuộc tội. Hoàng đế chấp thuận. Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 5 (năm 1407 dương lịch), Qua Oa dâng biểu thỉnh tội, nguyện đền 60.000 lạng vàng, lại lập con của Bột Lệnh Đạt Cáp, hoàng đế nghe theo." *Năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408 dương lịch), quan Lễ bộ hạch tội Qua Oa nộp vàng không đủ, hoàng đế mệnh cho miễn số vàng còn lại. Lúc đó vua Mãn Thứ Gia (滿剌加 - Malacca) giả chiếu chỉ đòi đất Cựu Cảng (舊港), hoàng đế ban sắc an ủi vua Qua Oa. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408 dương lịch), lại sai Trịnh Hòa đi sứ nước ấy. Tây vương hiến 10.000 lạng vàng, quan Lễ bộ vì thấy số lượng nộp không đủ nên xin tống giam sứ giả vào ngục. Hoàng đế phán: 'Trẫm đối với người phương xa, chỉ muốn họ biết sợ tội mà thôi, há lại ham lợi số vàng đó sao?'. Bèn cho miễn tất cả. Từ đó về sau, gần như năm nào cũng vào cống, hoặc cách 1 năm cống 1 lần, hoặc 1 năm cống vài lần. Trung quan Ngô Tân (吳賓), Trịnh Hòa lại lần lượt đi sứ nước ấy. Khi đó đất Cựu Cảng có nơi bị Qua Oa xâm chiếm, vua nước Mãn Thứ Gia giả chiếu chỉ ra lệnh đòi lại, hoàng đế bèn ban sắc rằng: 'Trước đây Trung quan Ngô Khánh (吳慶) về tâu rằng Vương cung kính đãi sứ đoàn, cung cách ngày càng tăng không hề giảm. Gần đây nghe nói nước Mãn Thứ Gia đòi đất Cựu Cảng khiến Vương lo sợ nghi ngại. Trẫm lấy lòng thành đãi người, nếu thực sự cho phép họ tất sẽ có sắc dụ, Vương can gì phải nghi ngờ. Kẻ tiểu nhân nói lời phù phiếm, cẩn thận chớ có nhẹ dạ tin theo'." *Năm Vĩnh Lạc thứ 8 (năm 1410 dương lịch), Qua Oa sai sứ nhập cống. Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 8 (năm 1410 dương lịch), Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu, cống ngựa và phương vật." *Năm Vĩnh Lạc thứ 11 (năm 1413 dương lịch) và thứ 13 (năm 1415 dương lịch), Qua Oa sai sứ đến cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 13 (năm 1415 dương lịch), vua nước ấy đổi tên là Dương Duy Tây Sa (揚惟西沙), sai sứ tạ ơn và dâng phương vật. Bấy giờ binh lính do sứ đoàn mang theo có người gặp gió dạt đến nước Ban Đột Nhi (班卒兒), người Qua Oa là Trân Ban (珍班) nghe tin, dùng vàng chuộc về, đưa đến chỗ nhà vua." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 13 (năm 1415 dương lịch) đổi tên là Dương Duy Tây Sa, sai sứ tạ ơn." *Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch), binh lính sứ đoàn gặp gió dạt vào nước Ban Đột Nhi được người Qua Oa chuộc về trả triều đình, chiếu chỉ khen ngợi và dụ bảo. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch), vua sai sứ triều cống, nhân đó đưa trả các binh lính sứ đoàn bị gió dạt. Hoàng đế khen ngợi, ban sắc thưởng cho vua, đồng cũng hậu ban cho Trân Ban. Từ đó sứ thần triều cống đại lược mỗi năm đến 1 lần." === Đời Minh (明) - Thời Anh Tông (英宗)=== *Năm Chính Thống (正統) thứ 1 (năm 1436 dương lịch), ban đai vàng cho sứ thần Qua Oa, lại lệnh cho họ cùng đi với sứ thần các nước Cổ Lý (古里)... về Qua Oa, sắc dụ vua nước ấy vỗ về và phân phái họ về nước. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Chính Thống thứ 1 (năm 1436 dương lịch), sứ thần Mã Dụng Lương (馬用良) nói rằng: trước kia người giữ chức Bát Đế (八諦) đến triều kiến được ơn ban đai bạc, nay đã là Á Liệt (亞烈), trật 4 phẩm, xin được ban đai vàng. Hoàng đế nghe theo. Tháng 6 nhuận, phái sứ thần các nước Cổ Lý (古里 - Calicut), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門答剌 - Sumatra), Tích Lan Sơn (錫蘭山 - Ceylon), Kha Chi (柯枝 - Cochin), Thiên Phương (天方 - Mecca), Gia Dị Lặc (加異勒 - Kayal), A Đan (阿丹 - Aden), Hốt Lỗ Mô Tư (忽魯謨斯 - Ormuz), Tổ Pháp Nhi (祖法兒 - Dhofar), Cam Ba Lý (甘巴里 - Comari), Chân Lạp (真臘 - Cambodia) cùng đi với sứ thần Qua Oa là Quách Tín (郭信) về nước. Ban sắc cho vua Qua Oa rằng: 'Vương từ thời tiên triều đã tu giữ chức phận không trễ nải, Trẫm nay nối ngôi, Vương lại sai sứ đến triều, lòng thành đã thấu suốt'. Thời Tuyên Đức, có 11 nước như Cổ Lý đến cống. Nay nhân vì sứ giả của Vương về nước, lệnh cho các sứ giả cùng đi. Vương hãy thêm ý vỗ về, phân phái họ về nước mình, để giúp Trẫm thực hiện lòng thành vỗ về người phương xa." *Năm Chính Thống thứ 3 (năm 1438 dương lịch), ban vải lụa cho vua Qua Oa và vương phi. Theo Minh hội điển: "Năm Chính Thống thứ 3 (năm 1438 dương lịch), ban cho vua Qua Oa 10 xấp lụa, mỗi loại sa và la 3 xấp; ban cho vương phi 6 xấp lụa, mỗi loại sa và la 2 xấp." *Năm Chính Thống thứ 8 (năm 1443 dương lịch), định lệ Qua Oa 3 năm cống 1 lần. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Tháng 8 năm Chính Thống thứ 5 (năm 1440 dương lịch), sứ thần về nước gặp gió bị chết đuối 56 người, còn sống 83 người, quay lại Quảng Đông. Mệnh cho cơ quan hữu trách cấp lương dưỡng, chờ thuyền thuận tiện đưa về. Năm thứ 8 (năm 1443 dương lịch), Tham chính Quảng Đông là Trương Diễm (張琰) nói: Qua Oa triều cống quá thường xuyên, việc cung ứng tốn kém phiền hà, làm mệt nhọc Trung Hoa để thờ phụng người phương xa là điều không phải kế sách. Hoàng đế nghe theo, khi sứ giả về, ban sắc rằng: 'Các bang quốc ngoài biển đều 3 năm cống 1 lần, Vương cũng nên thể tất quân dân, nhất loạt tuân theo chế độ này'." *Năm Chính Thống thứ 11 (năm 1446 dương lịch), Qua Oa nhập cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Chính Thống thứ 11 (năm 1446 dương lịch) lại cống 3 lần, về sau thưa dần." === Đời Minh (明) - Thời Đại Tông (代宗)=== *Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 (năm 1452 dương lịch), Qua Oa vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Năm Cảnh Thái thứ 3 (năm 1452 dương lịch), vua là Ba Lạt Vũ (巴剌武) sai sứ triều cống." Theo Minh hội điển (明會典): "Nước Qua Oa, năm Cảnh Thái thứ 3, vì quốc vương cầu xin, bèn ban cho 1 chiếc lọng che, 1 bộ y phục mãng long. Các sứ thần, thông sự, đầu mục khi mới đến được ban áo lụa tố la thêu chỉ vàng, giày vớ; phần thưởng chính thức là vải lụa, sa, la, lụa quyến. Nữ sứ cùng nữ đầu mục đều tùy theo vật phẩm cống nạp mà định giá ban thưởng." === Đời Minh (明) - Thời Anh Tông (英宗)=== *Năm Thiên Thuận (天順) thứ 4 (năm 1460 dương lịch), sứ giả Qua Oa đánh chết tăng nhân phương Tây, Lễ bộ hạch tội Hành nhân hộ tống, sứ giả xin để vua nước mình tự trị tội. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Thiên Thuận thứ 4 (năm 1460 dương lịch), vua Đô Mã Bản (都馬班) sai sứ nhập cống. Sứ giả khi về đến An Khánh (安慶), do say rượu đã đánh nhau với các tăng nhân phương Tây vùng Trường Hà Tây (長河西) cũng đang vào cống, làm 6 tăng nhân tử thương. Lễ bộ xin trị tội Hành nhân hộ tống. Sứ giả xin lệnh cho quốc vương tự mình trị tội, hoàng đế nghe theo." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch) và 19 (năm 1421 dương lịch), Tây vương đều cống, còn Đông vương lâu không thấy tới, có lẽ đã bị thôn tính. Tháng 8 năm Thiên Thuận thứ 4 (năm 1460 dương lịch), vua Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu triều cống phương vật, vua ban yến tiệc thưởng hậu, sai sứ mang sắc chỉ cùng gấm vóc về ban cho nhà vua và vương phi." === Đời Minh (明) - Thời Hiến Tông (憲宗)=== *Năm Thành Hóa (成化) thứ 1 (năm 1465 dương lịch), Qua Oa vào cống. (Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện chép như trên). === Đời Minh (明) - Thời Hiếu Tông (孝宗)=== *Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 12 (năm 1499 dương lịch), sứ giả Qua Oa gặp gió hư thuyền, chỉ có 1 thuyền của thông sự đến được Quảng Đông, chiếu lệnh chuyển cống vật về kinh sư, cơ quan hữu trách tùy nghi ban thưởng rồi cho về. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hoằng Trị thứ 12 (năm 1499 dương lịch), sứ giả gặp gió hư thuyền, chỉ có 1 thuyền thông sự đến được Quảng Đông. Lễ bộ xin chiếu lệnh cơ quan hữu trách tùy nghi ban thưởng, cho sứ giả về, còn cống vật vẫn chuyển về kinh sư. Vua chuẩn y. Từ đó sứ giả hiếm khi đến. Nước này gần Chiêm Thành, đi 20 ngày đêm có thể tới. Quân nhà Nguyên tây chinh, từ tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch) phát từ Tuyền Châu (泉州), tháng Giêng năm sau đã tới nước ấy, khoảng cách chỉ hơn 1 tháng. Năm Tuyên Đức thứ 7 (năm 1432 dương lịch) vào cống, trong biểu ghi năm thứ 1.376, tính ra năm Nguyên Khang thứ 1 thời Hán Tuyên Đế (năm 65 trước Công nguyên) chính là năm khởi đầu lập quốc của họ. Đất rộng dân đông, tính tình hung hãn. Đàn ông không phân biệt già trẻ sang hèn đều đeo dao, hễ phật ý là giết nhau ngay, nên giáp binh của họ mạnh nhất trong đám phiên bang. Chữ viết loại Tỏa Lý (瑣里), không có giấy bút, khắc lên lá giao (茭葉). Khí hậu thường như mùa hè, lúa chín 2 vụ 1 năm. Không có bàn ghế thìa đũa. Người có 3 loại: người Hoa lưu ngụ thì phục sức tươi đẹp; thương nhân nước khác cư trú lâu cũng chuộng thanh khiết. Còn người bản quốc thì vô cùng uế tạp, thích ăn rắn, kiến, sâu bọ, nằm ngủ và ăn cùng với chó; hình dáng đen nhẻm, tóc như khỉ, chân trần. Sùng tín quỷ đạo, kẻ giết người nếu lẩn tránh được 3 ngày thì miễn tội. Cha mẹ chết thì khiêng ra đồng cho chó ăn, nếu ăn không hết thì buồn bã đốt phần còn lại; vợ thiếp đa phần nhảy vào lửa chết theo. Nước ấy một tên là Phủ Gia Long (莆家龍), lại gọi là Hạ Cảng (下港), hay Thuận Tá (順塔). Thời Vạn Lịch (萬曆), người Hồng Mao (紅毛 - Hà Lan) xây kho bằng đất ở phía Đông con gián lớn, người Phật Lang Cơ (佛郎機 - Bồ Đào Nha/Tây Ban Nha) xây ở phía Tây, hàng năm giao thương, thương lữ Trung Hoa qua lại không tuyệt. Nước ấy có Tân Thôn (新村), hiệu là giàu có nhất, tàu bè thương nhân Trung Hoa và các phiên quốc tụ hội đông đúc, bảo vật tràn ngập. Thôn chủ chính là người Quảng Đông, năm Vĩnh Lạc thứ 9 (năm 1411 dương lịch) tự mình sai sứ dâng biểu cống phương vật." Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Qua Oa xưa là Đồ Bà, nước có 4 nơi đều không thành quách. Trước vào Đỗ Bản (杜板), sau vào Tư Thôn (廝村), kế đến Tô Lỗ Mã Ích (蘇魯馬益), rồi đến Mãn Giả Bá Di (滿者伯夷) là vương đô. Cung vua 4 phía tường gạch, tường cao hơn 3 trượng (khoảng 10 mét), chu vi hơn 300 dặm. Cửa ngõ thâm nghiêm, nhà cao 4 trượng, sàn lát ván, trải chiếu hoa mây, ngồi xếp bằng, mái lợp bằng gỗ cứng. Dân ở nhà cỏ, bên trong xây kho gạch để ngồi nằm. Vua tóc rối, đội mũ lá vàng, ngực quấn khăn lụa thêu, lưng buộc dải gấm gọi là 'áp yêu' (yáp-yao), lưng giắt dao ngắn gọi là 'bất lạt đầu' (pǔ-là-tóu), đi chân đất, hoặc cưỡi voi, cưỡi bò. Dân gian nam tóc rối, nữ búi tóc, áo trên váy dưới. Đàn ông tất đeo dao, không kể già trẻ sang hèn đều vậy. Dao phải có vân tuyết hoa, đúc bằng sắt tân, cán sức bằng vàng hoặc sừng tê, ngà voi, thường chạm mặt quỷ, cực kỳ tinh xảo. Lúc hội họp nếu ai phạm vào đầu hoặc tranh đấu, tất dùng dao đâm, kẻ giết người lẩn trốn quá 3 ngày thì miễn tội. Nếu bị bắt ngay thì bị đâm chết. Quan không dùng roi vọt, tội không hỏi nặng nhẹ, dùng dây mây trói lại rồi đâm chết. Việc giết chóc là thường, không lấy làm lạ. Chợ búa dùng tiền đồng Trung Hoa. Đỗ Bản (杜板) là tên đất, khoảng hơn 1.000 nhà, do 2 tù trưởng cai quản. Có người lưu ngụ đa phần là người Quảng Đông, Chương Châu (漳州). Bên bãi biển có ao nhỏ, nước ngọt lành có thể uống, gọi là 'Thánh thủy'. Truyền rằng: Tướng nhà Nguyên là Sử Bật (史弼), Cao Hưng (高興) chinh phạt Đồ Bà, đánh cả tháng không được, bèn lên bờ. Ba quân thiếu nước, khát lắm, hai tướng khấn thầm rồi cắm thương xuống bãi, suối liền vọt ra, quân nhờ đó mà sống. Lại đi về phía Đông nửa ngày đến Tư Thôn, gọi là Cách Nhi (革兒). Xưa vốn là bãi cát, người Trung Hoa đến khách cư thành tụ lạc nên tên là 'Tân Thôn' (新村), khoảng hơn 1.000 nhà. Thôn chủ là người Quảng Đông. Tàu bè các phiên bang đến đây giao thương, vàng bạc bảo vật sung túc, dân cư đa phần giàu có. Lại theo đường thủy về phía Nam nửa ngày đến cửa cảng Tô Lỗ Mã Ích. Nước ngọt cạn hẹp, chỉ thông thuyền nhỏ, đi 20 dặm mới đến Tô Lỗ Mã Ích, gọi là Tô Nhi Ba Nha (蘇兒把牙), khoảng hơn 1.000 nhà, cũng có thủ lĩnh, có cả người Trung Hoa. Tại cửa cảng là châu lớn, rừng cây rậm rạp, hàng vạn con khỉ đuôi dài tụ tập, tục gọi là 'Hồ tôn'. Khỉ già làm chủ, từng bắt bà lão người phiên về sống cùng. Người trong nước cầu tự tất phải biện rượu thịt cầu xin khỉ già, khỉ ăn thừa xong cho đàn khỉ tranh nhau ăn, ăn hết một lúc thì khỉ đực cái giao phối, lấy đó làm điềm. Người cầu tự về tất có thai, nếu không thì không ứng nghiệm. Lại theo đường thủy 80 dặm đến bến tàu gọi là Chương Cô (漳沽), lên bờ đi bộ hướng Tây Nam nửa ngày đến Mãn Giả Bá Di chính là vương đô. Có khoảng 200-300 nhà, 7-8 vị tổng lĩnh đều là phụ tá của vua. Khí hậu thường nóng như mùa hè, lúa chín 2 vụ. Ngồi nằm không ghế chõng, ăn uống không thìa muỗng, miệng không rời trầu cau. Để cơm vào mâm, rưới váng sữa lên. Khi ăn nhổ bã trầu, hướng về mâm bốc mà ăn. Ăn xong uống nước, đãi khách bằng trầu cau. Người có 3 hạng: Hạng thứ nhất là thương nhân Tây phiên lưu lạc ở lâu, ăn mặc thanh nhã. Hạng thứ hai là người Đường (Trung Hoa) như người Quảng Đông, Chương Châu, Tuyền Châu lưu ngụ, ăn uống tươi đẹp, đa phần theo giáo Hồi Hồi (Hồi giáo), ăn chay thụ giới. Hạng thứ ba là dân bản địa, sắc mặt đen nhẻm, tóc rối chân trần, sùng tín quỷ đạo, nhà Phật gọi 'Quỷ quốc' chính là vùng này. Ăn uống thô ác, ăn rắn kiến sâu trùng, chỉ hơ qua lửa, ăn ngủ cùng chó, không lấy làm bẩn. Truyền rằng: 'Xưa có Quỷ Tử Ma Vương, mặt xanh da đỏ, râu tóc đỏ rực, giao cấu với Võng Tượng (loài quỷ) đẻ ra hơn 100 con, lấy người làm thức ăn. Chợt sấm động đá nứt, sinh ra một người. Mọi người lấy làm lạ, suy tôn làm chủ, bèn lĩnh binh đuổi Võng Tượng Quỷ Tử đi, từ đó người dân được yên'. Tục chuộng võ dũng, hàng năm tổ chức hội múa thương tre bắt đầu từ tháng 10 mùa đông. Vua cùng vợ ra xem, mỗi người ngồi một chiếc xe tháp, vợ trước chồng sau, xe cao hơn 1 trượng, 4 phía cửa sổ thông thoáng, dùng ngựa kéo. Đến hội mở trường, liệt trận đối hướng, mỗi người cầm thương tre, cứng chắc như sắt. Người lên trường cũng đưa vợ theo, vợ cũng cầm gậy 3 thước để đỡ, gọi là 'Na Lạt Cách' (nà-là-gé). Kẻ bị thương chết, vua sai người thắng cuộc đưa 1 ống tiền vàng trả cho người góa phụ, thế là xong. Phàm việc hôn nhân, trai đến nhà gái, sau khi hợp cẩn 5 ngày thì rước vợ về. Đánh cồng chiêng, thổi ống dừa, cầm đao khiên hộ tống, trước sau rất thịnh. Vợ thì mình trần xõa tóc đi chân đất, quấn khăn lụa thêu, đeo vàng ngọc, trang sức lộng lẫy không thiếu thứ gì. Họ hàng láng giềng cũng dùng hoa cau cỏ thơm bày thuyền hoa trợ giúp. Yến tiệc vui chơi vài ngày mới giải tán. Việc tang ma khi bệnh nặng tử đệ xin di mệnh, hoặc thủy táng, hỏa táng, hoặc khuyển phúc táng (cho vào bụng chó). Khiêng thây đến bờ biển, thả chó cho ăn, dù ăn hết hay không cũng nhặt phần còn lại ném xuống nước mới thôi. Thảm nhất là hỏa táng, thiếp nào được sủng ái thề đi theo chủ, trang điểm lộng lẫy gào khóc, đợi lửa thiêu xương cháy rực cũng nhảy vào lửa chết theo. Dân gian giàu có, giao thương dùng tiền cổ Trung Hoa. Chữ viết không có giấy, khắc lên lá giao, giống chữ Tỏa Lý. Lấy 20 lạng làm 1 cân, 16 tiền làm 1 lạng, 4 cô bang (gū-bāng) làm 1 tiền, mỗi bang là 2 phân 1 li 8 hào 7 ty 5 hốt. Chặt tre làm thăng (đấu), 1 thăng gọi là 1 cô lạt (gū-là), bằng 1 thăng 8 hợp Trung Hoa. Đấu gọi là nại lê (nài-lí), bằng 8 thăng, bằng 1 đấu 4 thăng 4 hợp Trung Hoa. Đêm rằm, phụ nữ phiên bang khoảng 20-30 người thành đội, dưới ánh trăng nắm tay nhau đi thành hàng, hát vè họa lại, đi khắp cửa quan nhà giàu, tất được thưởng tiền. Lại có người bày sách chỉ trỏ giảng giải cho đám đông, người ngồi nghe vây quanh có cười có khóc, rất động lòng người. Chuộng nhất là đồ sứ hoa Trung Hoa cùng với xạ hương, lụa hoa, gấm vóc. Sản vật có vừng trắng, đậu xanh, tô mộc, kim cương tử (hạt rudraksha), bạch đàn nhục, đậu khấu, mai rùa, đồi mồi, vẹt (có loại xanh đỏ 5 màu), chim liêu ca (yểng) đều biết nói. Lại có gà trân châu, chim đảo quải (vẹt treo ngược), cày kêu, công, chim sẻ trân châu, chim bồ câu xanh... Hươu trắng, vượn trắng, khỉ, dê, lợn, bò, ngựa, gà, vịt cũng có cả. Quả có chuối, dừa, mía (to dài khoảng 2-3 trượng), lựu, gương sen, hồng mật, lang hấp (langsep) giống tỳ bà hơi nhọn, bên trong có thịt trắng." Theo Quảng Đông thông chí: "Nước Qua Oa là đất Ha Lăng (訶陵) cổ. Một tên Đồ Bà, lại tên Phủ Gia Long, ở trên hòn đảo giữa biển Nam phía dưới Chân Lạp. Phía Đông giáp Bà Lợi (婆利), phía Tây giáp Đọa Bà Đăng (墮婆登), phía Bắc tiếp giáp Chân Lạp, phía Nam giáp biển lớn. Tống sử chép: Đông đến biển, đi biển 1 tháng; nửa tháng đến nước Khôn Lôn (崑崙). Tây đến biển đi 45 ngày. Nam đến biển đi 3 ngày; đi biển 5 ngày đến nước Đại Thực (大食). Bắc đến biển đi 4 ngày; hướng Tây Bắc đi biển 15 ngày đến Bột Ni (渤泥), lại 15 ngày đến Tam Phật Tề (三佛齊), lại 7 ngày đến Xiêm La (暹羅), lại 10 ngày đến Sài Lịch Đình (柴歷亭), đến Giao Chỉ rồi đạt tới Quảng Châu. Nước ấy lấy gỗ làm thành, có chữ viết, biết lịch pháp tinh tượng. Hạ chí dựng cột 8 thước, bóng đổ về phía Nam 2 thước 4 thốn. Cương vực Qua Oa: Đông giáp Cổ Nữ Nhân quốc, Tây giáp Tam Phật Tề, Nam giáp Cổ Đại Thực quốc, Bắc giới với Chiêm Thành. Từ Chiêm Thành nhổ neo thuận gió 20 ngày đêm có thể tới. Đất rộng dân đông, giáp binh thuốc súng thuộc hàng mạnh nhất trong các phiên quốc Đông Dương. Sách Phật gọi là 'Quỷ quốc' chính là nơi này. Cửa cảng vào đến bến tàu gọi là Tân Thôn (新村), nhà cửa hàng quán san sát thành chợ, thương lữ buôn bán đông nhất. Nước Tam Phật Tề bị nước này thôn tính, tên là Cựu Cảng (舊港) để phân biệt với Tân Thôn. Sứ giả tiến cống khi về lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông khoản đãi." Theo Khôn dư đồ thuyết (坤輿圖說): "Qua Oa có 2 đảo lớn nhỏ, đều ở hải đảo phía Đông Nam Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅喇), mỗi đảo có chủ riêng. Nhiều voi, không có ngựa lừa. Sản xuất hương liệu, tô mộc, ngà voi. Không dùng tiền, lấy hồ tiêu và vải làm tiền tệ. Người dân gian giảo hung ác, thích làm thuật phù thủy yểm bùa. Các nước mỗi khi dấy binh thường tranh giành voi trắng, voi trắng ở đâu thì nước đó làm minh chủ." == Qua Oa bộ vị khảo (爪哇部彙考) phần 2== === 《Minh Nhất Thống Chí》 (明一統志)=== ==== Qua Oa quốc sơn xuyên khảo (Khảo cứu núi sông nước Qua Oa)==== * Núi Bảo Lão Ngạn (保老岸山): Ở nước Tô Cát Đan (蘇吉丹國). Phàm hễ tàu bè phương Tây chưa đến nơi thì đã thấy núi này trước. Đỉnh núi có 5 ngọn cao vút, thường có mây bao phủ bên trên. * Núi Anh Vũ (鸚鵡山): Sản sinh chim anh vũ (vẹt), nên có tên như vậy. * Bát Tiết Giản (八節澗): Phía trên gián (khe nước) tiếp giáp với phủ của chúa Đỗ Mã Ban (杜馬班), phía dưới thông ra biển lớn Phủ Bôn (莆奔), là yết hầu của Qua Oa (瓜哇), vùng đất tất tranh. Đời Nguyên, Sử Bật (史弼) và Cao Hưng (高興) từng hội quân tại đây. ==== Qua Oa quốc thổ sản khảo (Khảo cứu sản vật nước Qua Oa)==== * Vàng (金), Bạc (銀). * Trân châu (真珠): Tên phương Tây là Một Đê Hạ La (沒爹蝦羅). * Sừng tê giác (犀角): Tên phương Tây là Đê Mật (低密). * Ngà voi (象牙): Tên phương Tây là Gia La (家囉). * Đồi mồi (玳瑁), Trầm hương (沉香), Hồi hương (茴香). * Thanh muối (青鹽): Không nhờ đun nấu, do phơi nắng mà thành. * Đàn hương (檀香): Cây và lá giống cây vải. * Long não hương (龍腦香), Đinh hương (丁香). * Tất trừng già (蓽澄茄 - Hồ tiêu khối): Dây leo lan rộng, mùa xuân ra hoa, mùa hạ kết quả, hoa trắng mà quả đen. * Đu đủ (木瓜), Dừa (椰子), Chuối (蕉子), Mía (甘蔗). * Khoai môn (芋), Bình lang (檳榔 - Trầu cau). * Hồ tiêu (胡椒): Cây như cây bồ đào (nho), lấy tre gỗ làm giàn giá. Tháng 1 ra hoa, tháng 4 kết quả, tháng 5 thu hái, phơi khô. * Lưu hoàng (硫黃), Hồng hoa (紅花), Tô mộc (蘇木), Gỗ quặng lang (桄榔木 - Gỗ cây báng). * Cát bối (吉貝 - Bông vải). * Vải giảo (絞布): Có loại giảo thêu tơ, giảo tơ tạp sắc. * Trang kiếm (裝劍 - Kiếm có trang trí), Chiếu mây (藤簟). * Anh vũ trắng (白鸚鵡). * Khỉ (猴): Trong núi ở nước này có nhiều khỉ, không sợ người, gọi bằng tiếng "tiêu tiêu" là chúng liền ra. Nếu ném quả cho ăn, thì có 2 con khỉ lớn đến trước, người bản địa gọi là "Khỉ vương" (猴王) và "Khỉ phu nhân". Chúng ăn quả xong, đàn khỉ mới ăn phần còn lại. Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Qua Oa (瓜哇國) nằm trong các hải đảo phía Đông Nam, chính là nước Đồ Bà (Java 闍婆) cổ. Từ đường trạm ở Tuyền Châu (泉州) khởi hành, 1 tháng có thể tới nơi. Trời không có sương tuyết, khí tiết 4 mùa thường nóng bức. Đất sản sinh hồ tiêu, không có thành trì binh giáp, kho lẫm phủ khố. Mỗi khi đến thời tiết lễ hội, quốc vương cùng các thuộc hạ cưỡi ngựa cầm thương diễn võ, kẻ thắng được ban thưởng, thân bằng cố hữu nhảy múa vui mừng. Kẻ bị thương chết thì người vợ cũng chẳng màng nhìn tới mà bỏ đi. Ăn uống dùng lá cây đựng, dùng tay bốc mà ăn. Tiệc tùng hội họp thì nam nữ ngồi thành hàng, cười nói ồn ào đến tận khi say khướt. Phàm các loại cỏ trùng, tất cả đều đem nấu ăn. Việc buôn bán ngoài chợ đều là phụ nữ. Cưới hỏi đa phần bàn chuyện tiền của, chồng chết không quá 10 ngày đã đi lấy người khác. : (Ghi chú: Theo Minh Nhất Thống Chí (明一統志), nước Qua Oa trước sau có 4 tên gọi, mà Tam Tài Đồ Hội lại chép thành "4 nước", mỗi nước đều có hình vẽ riêng, nay tạm để cả hai thuyết để cùng lưu giữ). [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic105 - 瓜哇國.svg|center]] ==Đại Chà Và quốc 大闍婆國== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic102 - 大闍婆國.svg|center]] Đại Chà Và quốc đồ khảo 大闍婆國 Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Đại Đồ Bà (Java 大闍婆國) còn có tên là Phủ Gia Long (莆家龍), đi thuyền buồm 8 ngày có thể tới nơi. Xưa truyền rằng nước ấy sấm động đá nứt, có một người bước ra, sau được lập làm vua, con cháu người ấy nay vẫn còn. Nơi đây sản sinh thanh muối, cừu, chim anh vũ (vẹt), du châu, bảo bối... Lại nói trong nước ấy có hạng người "phi đầu" (đầu bay), người đó mắt không có con ngươi, đầu có thể bay đi. Thần linh mà phong tục họ thờ cúng tên gọi là "Trùng Lạc" (虫落), nên gọi là họ Lạc (落氏). Thời Hán Vũ Đế (漢武帝), phương Nam có dân "giải hình" (tách rời thân thể), có thể khiến đầu bay đến biển Nam (南海), tay trái bay đến biển Đông (東海), tay phải bay đến đầm phía Tây (西澤). Đến tối, đầu quay về trên vai, hai tay nếu gặp gió dữ thì sẽ bị thổi dạt ra ngoài biển khơi. ==Ha Lăng quốc 訶陵國== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic103 - 訶陵國.svg|center]] Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會): "Nước Ha Lăng (訶陵國) ở phía Nam nước Chân Lạp (真臘國), dựng gỗ làm thành, xây nhà lớn lầu cao, lợp bằng vỏ cây tông (棕), dùng ngà voi làm giường, lấy hoa dừa làm rượu. Dùng tay bốc ăn. Có độc, người thường ngủ cùng phòng liền sinh lở loét, giao hợp với đàn bà tất sẽ chết, nước dãi dính vào cỏ cây thì cây cỏ liền khô héo." ==Phủ Gia Long quốc (莆家龍)== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic104 - 莆家龍.svg|center]] Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), Phủ Gia Long (莆家龍) ở phía Đông Nam biển, từ Quảng Châu (廣州) nhổ neo, thuận gió 1 tháng có thể tới nơi. Quốc vương búi tóc sau gáy, nhân dân cạo đầu. Lấy dừa ủ rượu, sắc rượu hồng trắng mà vị rất ngon. Nơi đây sản sinh hồ tiêu, đàn hương, trầm hương, đinh hương, bạch đậu khấu. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] i8a7kkc4wt1to4rqd5pqssbqeehjlfg 204728 204723 2026-04-15T09:22:20Z Mrfly911 2215 /* Đời Tấn (晉) */ 204728 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第097卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 97''' | trước= [[../quyển 096|quyển 96]] | sau= [[../quyển 098|quyển 98]] | ghi chú = }} ==Phù Nam quốc vị khảo (扶南國彙考 - Khảo cứu tổng hợp về nước Phù Nam) == === Đời Tấn (晉)=== Vào năm Thái Thủy (泰始) thứ 4 (năm 268 dương lịch) đời Tấn Vũ Đế (晉武帝), nước Phù Nam (扶南國) sai sứ đến dâng lễ vật. Theo Tấn thư - Vũ Đế bản kỷ (晉書·武帝本紀) có chép sự việc này. Theo Phù Nam truyện (扶南傳): "Nước Phù Nam cách Lâm Ấp (林邑) hơn 3.000 dặm về phía Tây, nằm trong một vịnh biển lớn, cương vực rộng 3.000 dặm, có thành quách cung thất. Người dân đều xấu xí, da đen, tóc xoăn, mình trần chân đất. Tính cách ngay thẳng, không trộm cướp, chuyên nghề canh tác, gieo trồng 1 năm thì thu hoạch trong 2 năm. Họ lại ưa thích điêu khắc, chạm trổ, đồ ăn thức uống đa phần dùng bằng bạc. Sưu thuế đóng bằng vàng, bạc, châu ngọc, hương liệu. Cũng có sách vở, chữ viết trong phủ khố có nét giống chữ của người Hồ (胡). Việc tang lễ và cưới hỏi đại lược giống với Lâm Ấp. Vua nước ấy vốn là đàn bà, tên là Diệp Liễu (葉柳)." Khi đó có người nước ngoài tên là Hỗn Hội (混潰), vốn thờ thần linh, nằm mộng thấy thần ban cho cây cung và dạy phải đi thuyền ra biển. Sáng ra Hỗn Hội đến đền thờ thần, quả nhiên được cung, bèn theo thuyền buôn lênh đênh trên biển, đến ấp ngoài của Phù Nam. Diệp Liễu dẫn quân chống lại. Hỗn Hội giương cung, Diệp Liễu sợ hãi bèn đầu hàng. Hỗn Hội lấy làm vợ và chiếm giữ nước ấy. Sau này con cháu suy vi không nối nghiệp được, đại tướng là Phạm Tầm (范尋) lại đời đời làm vua Phù Nam. Đầu năm Thái Thủy đời Vũ Đế, nước này sai sứ đến cống nạp. Theo Nam Tề thư - Phù Nam truyện (南齊書·扶南傳): "Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam (日南), trong vịnh phía Tây biển lớn, rộng hơn 3.000 dặm, có con sông lớn chảy về phía Tây vào biển. Xưa có người đàn bà làm vua tên là Liễu Diệp (柳葉) (Tấn thư chép là Diệp Liễu). Lại có người nước Kích (激國) tên là Hỗn Điền (混填) (Tấn thư chép là Hội 潰), mộng thấy thần ban cho 2 cây cung, dạy đi thuyền ra biển. Hỗn Điền sáng dậy, ở dưới gốc cây nơi miếu thần được cung, liền đi thuyền hướng về Phù Nam. Liễu Diệp thấy thuyền đến, dẫn quân định chống lại. Hỗn Điền giương cung bắn xa, xuyên qua thành thuyền, trúng người bên trong. Liễu Diệp sợ hãi bèn hàng. Hỗn Điền bèn lấy làm vợ. Ghét nàng để thân mình trần truồng, bèn lấy vải gấp lại, khoét lỗ xỏ vào đầu (kiểu áo chui đầu), rồi cai trị nước ấy. Con cháu truyền nhau đến đời vua Bàn Huống (槃況) chết, người trong nước lập đại tướng là Phạm Sư Man (范師蔓) lên. Khi Sư Man bệnh, con của chị là Chiên (旃) đương mộ binh, bèn giết con của Sư Man là Kim Sinh (金生) rồi tự lập, trị vì hơn 10 năm. Con út của Sư Man là Trường (長) tập kích giết chết Chiên, dùng dao rạch bụng Chiên và nói: 'Ngươi xưa giết anh ta, nay ta vì cha anh mà báo thù ngươi!'. Đại tướng của Chiên là Phạm Tầm (范尋) lại giết Trường, người trong nước lập lên làm vua, ấy là vào thời Ngô và Tấn." Theo Lương thư - Phù Nam truyện (梁書·扶南傳): "Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh lớn phía Tây biển, cách Nhật Nam khoảng 7.000 dặm, cách Lâm Ấp về phía Tây Nam hơn 3.000 dặm. Thành cách biển 500 dặm, có con sông lớn rộng 10 dặm, chảy từ Tây Bắc về phía Đông vào biển. Đất nước vuông vức hơn 3.000 dặm. Đất đai thấp trũng mà bằng phẳng rộng lớn, khí hậu phong tục đại khái giống Lâm Ấp. Sản vật có vàng, bạc, đồng, thiếc, trầm hương, ngà voi, chim khổng tước, vẹt 5 màu. Cương giới phía Nam hơn 3.000 dặm có nước Đốn Tốn (頓遜國), nằm trên một dải đất nhô ra biển, đất rộng 1.000 dặm, thành cách biển 10 dặm, có 5 vị vua, đều thuộc quyền cai quản của Phù Nam. Phía Đông của Đốn Tốn thông với Giao Châu (交州), phía Tây tiếp giáp với các nước ngoài biên ải như Thiên Trúc (天竺), An Tức (安息), đi lại giao thương. Sở dĩ như vậy vì Đốn Tốn vươn ra biển hơn 1.000 dặm, biển rộng không bờ bến, thuyền bè chưa từng đi qua hết được. Chợ ở đó là nơi giao hội Đông Tây, mỗi ngày có hơn 10.000 người, trân bảo vật lạ không gì không có. Lại có cây rượu, giống như cây lựu, hái nước hoa của nó để trong vò, vài ngày thành rượu. Bên ngoài Đốn Tốn, giữa các cù lao biển lớn, lại có nước Tỳ Kiển (毗騫國), cách Phù Nam 8.000 dặm. Truyền rằng vua nước đó thân cao 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét), đầu dài 3 thước (khoảng 75 cm), từ xưa đến nay không chết, không ai biết bao nhiêu tuổi. Vua là bậc thần thánh, mọi việc thiện ác và tương lai của người trong nước vua đều biết rõ, nên không ai dám lừa dối. Phương Nam gọi là Trường Cảnh Vương (長頸王 - Vua Cổ Dài). Phong tục nước đó có nhà cửa quần áo, ăn gạo tẻ. Ngôn ngữ hơi khác Phù Nam. Có núi sản sinh ra vàng, vàng lộ ra trên đá, không có hạn định. Luật pháp nước đó hình phạt người có tội là đem ăn thịt ngay trước mặt vua. Trong nước không tiếp nhận thương nhân, ai đến cũng bị giết ăn thịt, nên lái buôn không dám tới. Vua thường ở trên lầu, không ăn huyết nhục, không thờ quỷ thần. Con cháu vua sinh tử như người thường, chỉ riêng vua là không chết. Vua Phù Nam thường sai sứ trao đổi thư từ. Thường tặng vua Phù Nam 50 người bằng vàng ròng, đồ đựng thức ăn hình như cái mâm tròn. Lại có loại bình gốm tên là Đa La (多羅), chứa được 5 thăng (khoảng 1 lít), và loại như cái bát chứa được 1 thăng. Vua cũng có thể viết chữ Thiên Trúc, khoảng 3.000 lời, nói về nhân quả tiền kiếp, giống với kinh Phật, đều bàn về việc thiện. Lại truyền rằng phía Đông Phù Nam là biển Đại Trướng (大漲海), trong biển có cù lao lớn, trên đó có nước Chư Bạc (諸薄國), phía Đông nước đó có 5 cù lao tên là Mã (馬五洲). Lại đi về phía Đông qua biển Trướng hơn 1.000 dặm đến một cù lao tự nhiên. Trên đó có cây sinh trong lửa. Người ở gần cù lao đó lột vỏ cây, dệt làm vải, được vài thước dùng làm khăn tay, không khác gì vải gai nhưng màu hơi xanh đen. Nếu bẩn thì ném vào lửa, sẽ lại sạch sẽ tinh tươm. Hoặc dùng làm tim đèn, dùng mãi không hết. Phong tục Phù Nam vốn ở trần, xăm mình, xõa tóc, không may quần áo. Lấy đàn bà làm vua, hiệu là Liễu Diệp, trẻ tuổi khỏe mạnh, giống như nam giới. Phía Nam có nước Kiểu (弼國), có người thờ quỷ thần tên là Hỗn Điền, mộng thấy thần ban cho cung, bèn theo thuyền buôn ra biển. Hỗn Điền sáng dậy đến miếu, dưới gốc cây thần được cung, theo mộng đi thuyền vào ấp ngoài của Phù Nam. Liễu Diệp thấy thuyền đến muốn đánh chiếm. Hỗn Điền giương cung bắn xuyên thuyền, tên trúng vào người hầu. Liễu Diệp đại hãi, dẫn chúng hàng Hỗn Điền. Hỗn Điền dạy Liễu Diệp xỏ vải vào đầu để che thân. Rồi cai trị nước, lấy Liễu Diệp làm vợ, sinh con, chia cho cai quản 7 ấp. Về sau vua Hỗn Bàn Huống (混盤況) dùng mưu kế khiến các ấp nghi kỵ lẫn nhau, rồi đem quân đánh chiếm thôn tính. Bèn sai con cháu chia nhau cai trị các ấp, gọi là Tiểu Vương. Bàn Huống hơn 90 tuổi thì chết, lập con thứ là Bàn Bàn (盤盤), đem việc nước phó thác cho đại tướng Phạm Man (范蔓). Bàn Bàn làm vua 3 năm thì chết, người trong nước cùng cử Phạm Man làm vua. Phạm Man dũng cảm có mưu lược, lại dùng uy binh đánh dẹp, các nước lân bang đều thần phục, tự xưng là Phù Nam Đại Vương. Bèn cho đóng tàu lớn, đi khắp biển Trướng, đánh các nước Khuất Đô Côn (屈都昆), Cửu Tr稚 (九稚), Điển Tôn (典孫)... hơn 10 nước, mở mang đất đai 5.000-6.000 dặm. Đến lúc định đánh nước Kim Lân (金鄰國) thì Phạm Man mắc bệnh, sai Thái tử là Kim Sinh đi thay. Cháu gọi bằng cậu của Man là Chiên khi ấy đang chỉ huy 2.000 người, nhân đó cướp ngôi tự lập, sai người lừa giết Kim Sinh. Khi Man chết, có người con đang bú tên là Trường, sống trong dân gian, đến năm 20 tuổi bèn kết tập tráng sĩ trong nước tập kích giết chết Chiên. Đại tướng của Chiên là Phạm Tầm lại giết Trường mà tự lập. Phạm Tầm tu sửa trong nước, dựng lầu đài vui chơi, sáng trưa chiều 3-4 lần tiếp khách. Dân dùng mía, rùa, chim làm lễ vật. Luật nước không có nhà tù, người có tội phải trai giới 3 ngày, rồi nung rìu thật đỏ, bắt người thưa kiện cầm đi 7 bước. Lại lấy vòng vàng, trứng gà ném vào vạc nước sôi, bắt lấy ra; nếu không có tội thì tay không bị bỏng, nếu có tội thì tay nát cháy. Lại nuôi cá sấu trong hào thành, nuôi thú dữ ngoài cửa, người có tội thì đem cho thú dữ và cá sấu ăn, nếu thú không ăn thì coi như không tội, sau 3 ngày thì thả ra. Cá sấu lớn dài hơn 2 trượng (khoảng 5-6 mét), hình dạng giống con đà (con lửng/cá sấu nhỏ), có 4 chân, mõm dài 6-7 thước (khoảng 1.5 mét), hai bên có răng sắc như đao kiếm, thường ăn cá, gặp hươu nai và người cũng ăn thịt. Từ phía Nam quận Thương Ngô (蒼梧) và các nước ngoài đều có. Thời Ngô (吳), vua sai Trung lang Khương Thái (康泰), Tuyên hóa thông sự Chu Ứng (朱應) đi sứ đến nước của Tầm. Người trong nước vẫn ở trần, duy phụ nữ mặc áo xỏ đầu. Khương Thái và Chu Ứng bảo rằng: 'Nước này thật tốt, chỉ có việc để người trần truồng là lạ lùng quá'. Phạm Tầm mới lệnh cho đàn ông trong nước mặc vải ngang. Vải ngang nay là Can Man (干縵). Nhà giàu thì cắt gấm mà làm, người nghèo thì dùng vải. Năm Thái Khang (太康) đời Tấn Vũ Đế (khoảng năm 280-289 dương lịch), Phạm Tầm bắt đầu sai sứ đến cống nạp." *Trích dẫn từ Thủy Kinh Chú (水經注) *Thủy Kinh Chú dẫn lời Trúc Chi (竺芝) trong sách Phù Nam ký (扶南記) rằng: "Phù Nam cách Lâm Ấp 4.000 dặm đường thủy bộ, thông với huyện Đàn Hòa (檀和). Quân đội tiến vào cửa vịnh của ấp, đóng ở thành Thuyền Quan Khẩu (船官口) cách 6 dặm. Từ Thuyền Quan đổ xuống hồ phía Đông của đại vịnh, nước lớn chảy liền nhau, trên hồ chảy về phía Tây, thủy triều ngày đêm dâng cao 7-8 thước (khoảng 2 mét). Từ đây về phía Tây, ngày Sóc và ngày Vọng (mồng 1 và rằm) thủy triều cùng dâng. Một lần dâng kéo dài 7 ngày, nước cao 1 trượng 6 thước (khoảng 4 mét). Sau 7 lần 7 là 49 ngày, ngày đêm chia làm hai lần triều dâng, nước cao 1-2 thước. Xuân hạ thu đông, mức nước cố định rõ ràng, cao thấp có chừng mực, không dư không thiếu, ấy gọi là Hải Vận (海運), cũng gọi là Tượng Thủy (象水). Lại kiêm cả tên gọi Tượng Phố (象浦). Sách Tấn công thần biểu gọi là 'vàng chọn lối trong, bãi Tượng sạch nguồn' là vậy. Ở các sông ngòi bãi bồi đó có loài sâu nước rất nhỏ, đục gỗ ăn thuyền, vài mươi ngày là thuyền hỏng. Nơi vực sâu nước lặng có loài cá tươi, màu đen, thân dài 5 trượng (khoảng 12 mét), đầu như đầu ngựa, rình người xuống nước là đến gây hại." *Thời Mục Đế (穆帝) Năm Thăng Bình (升平) thứ 1 (năm 357 dương lịch), tháng Giêng, Phù Nam dâng voi thuần.* Theo Tấn thư - Mục Đế bản kỷ (晉書·穆帝本紀) có chép sự việc này. Theo Phù Nam bản truyện (扶南本傳): "Đầu năm Thăng Bình thời Mục Đế, lại có Trúc Chiên Đàn (竺旃檀) xưng vương, sai sứ dâng voi thuần. Hoàng đế cho rằng thú lạ từ phương xa sợ sẽ gây họa cho người, bèn ra chiếu trả lại." Theo Lương thư - Phù Nam truyện (梁書·扶南傳): "Năm Thăng Bình thứ 1 (năm 357 dương lịch), vua Trúc Chiên Đàn dâng biểu dâng voi thuần. Chiếu viết: 'Vật này tốn kém không ít sức lực, hạ lệnh dừng lại không cần gửi đến'. Sau đó vua là Kiều Trần Như (憍陳如), vốn là người Bà-la-môn ở Thiên Trúc (天竺), có thần nhân bảo rằng: 'Ngươi nên làm vua Phù Nam'. Kiều Trần Như trong lòng vui mừng, đi về phía Nam đến nước Bàn Bàn (盤盤). Người Phù Nam nghe tin, cả nước mừng rỡ đón về lập làm vua. Ông thay đổi chế độ, dùng luật pháp Thiên Trúc." === Đời Lưu Tống (劉宋) - Thời Văn Đế (文帝)=== *Năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 11 (năm 434 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ (宋書·文帝本紀) có chép. Theo Phù Nam bản truyện: "Năm Nguyên Gia thứ 11 đời Thái Tổ (太祖), quốc vương là Trì Lê Bạt Ma (持黎跋摩) sai sứ dâng lễ." *Mùa thu tháng 7 năm Nguyên Gia thứ 12 (năm 435 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. *Năm Nguyên Gia thứ 15 (năm 438 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. (Các việc trên đều chép trong Tống thư - Văn Đế bản kỷ). === Đời Nam Tề (南齊) - Thời Vũ Đế (武帝)=== *Năm Vĩnh Minh (永明) thứ 2 (năm 484 dương lịch), vua Phù Nam sai sứ nhập cống. Theo Nam Tề thư - Vũ Đế bản kỷ (南齊書·武帝本紀) không chép, nhưng theo Phù Nam bản truyện: "Nước Phù Nam từ đời Tấn, Tống vẫn thông sứ cống nạp. Cuối đời Tống, vua Phù Nam họ Kiều Trần Như (僑陳如), tên là Xà Da Bạt Ma (闍邪跋摩), gửi hàng hóa đến Quảng Châu (廣州). Đạo nhân Thiên Trúc là Na Già Tiên (那伽仙) xin đi nhờ thuyền về nước, gặp gió dạt đến Lâm Ấp (林邑), bị cướp sạch tài vật. Na Già Tiên đi đường tắt đến được Phù Nam, kể tường tận rằng ở Trung Hoa có thánh chủ thụ mệnh trời. Năm Vĩnh Minh thứ 2 (năm 484 dương lịch), Xà Da Bạt Ma sai đạo nhân Thiên Trúc là Thích Na Già Tiên (釋那伽仙) dâng biểu, xưng là bề tôi Kiều Trần Như Xà Da Bạt Ma, khấu đầu thưa rằng: 'Ơn trời nuôi dưỡng cảm động đến linh thần, bốn mùa điều hòa, nguyện Thánh chủ khỏe mạnh, Hoàng thái tử vạn phúc, lục cung thanh nhàn, các vương phi, triều thần hòa mục, muôn nước quy tâm, ngũ cốc trúng mùa, tai ương không sinh... Bề tôi trước có sai sứ mang tạp vật đến Quảng Châu giao dịch, gặp đạo nhân Thích Na Già Tiên tại đó, ông ấy theo thuyền tôi muốn về Phù Nam, nhưng bị gió dạt vào Lâm Ấp và bị vua nước đó cướp sạch. Na Già Tiên kể về đức trị của Bệ hạ, Phật pháp hưng thịnh, chúng tăng đông đúc... nghe qua như cảnh cõi tiên. Nay sai sứ mang lễ mọn bày tỏ lòng thành, cúi xin Thiên từ thấu hiểu'. Vua Phù Nam lại trình: 'Tôi có tên nô lệ là Câu Thù La (鳩酬羅) bỏ trốn, cấu kết hung nghịch, phá nước Lâm Ấp rồi tự lập làm vua, bội nghĩa phản chủ... Lâm Ấp xưa bị quân Đàn Hòa (檀和) phá, nay Câu Thù La lại chuyên quyền hung ác. Lâm Ấp và Phù Nam giáp ranh, kẻ phản nghịch ngay cạnh, cúi xin Bệ hạ sai quân đánh dẹp, tôi xin tự mình hiệp lực cắt bỏ mầm họa, khiến các nước ven biển quy phục. Nếu Bệ hạ muốn lập người khác làm vua nước ấy, tôi xin nghe theo sắc chỉ. Nếu chưa muốn hưng binh đại quy mô, xin ban sắc lệnh cho quân địa phương trợ giúp tôi ít quân để diệt tặc'. Biểu dâng kèm theo tượng Long Vương bằng vàng, tượng gỗ đàn trắng, 2 tháp ngà voi, 2 đôi vải cổ bối, 2 chiếc bình lưu ly, 1 khay đồi mồi đựng trầu cau. Na Già Tiên đến kinh sư, kể rằng tục nước ấy thờ thần Ma Hê Thủ La (摩䤈首羅天神 - Shiva). Thần thường giáng xuống núi Ma Đam (摩耽山). Khí đất luôn ấm, cây cỏ không rụng lá. Lời sớ viết rằng: 'Cát tường lợi thế gian... Núi tiên tên Ma Đam, cây lành tươi tốt, thần Ma Hê Thủ La dựa vào đó giáng linh, vua dân đều được an ninh...' Chiếu đáp rằng: 'Biết chuyện thần Ma Hê giáng linh tại đất đó, dù phong tục khác biệt nhưng trẫm rất khen ngợi. Chuyện Câu Thù La phản nghịch chiếm Lâm Ấp, đúng là nên đánh dẹp. Nhưng vì mới sang triều đại mới, trẫm muốn dùng văn đức thu phục người xa, chưa muốn dùng can qua ngay. Nay lệnh cho bộ phận tại Giao Châu (交部) tùy nghi ứng tiếp'. Ban thưởng lại cho sứ giả các loại lụa là, gấm vóc màu tía, vàng, xanh. Người Phù Nam khôn ngoan, khéo tay, thường đánh các ấp lân cận không phục tùng để bắt làm nô tì, đổi lấy vàng bạc lụa là. Đàn ông nhà giàu cắt gấm làm vải ngang, phụ nữ làm áo Tân Đầu (賓頭). Người nghèo lấy vải che thân. Họ biết rèn vàng làm vòng, làm đồ ăn bằng bạc. Chặt cây dựng nhà, vua ở lầu cao, dùng gỗ làm thành. Ven biển có lá nhược lớn dài 8-9 thước (khoảng 2.5 mét), tết lá lợp nhà. Người dân cũng ở nhà sàn (nhà lầu). Thuyền dài 8-9 trượng (khoảng 25-30 mét), rộng 6-7 thước (khoảng 2 mét), đầu đuôi giống hình cá. Vua đi cưỡi voi, phụ nữ cũng biết cưỡi voi. Thích đá gà, chọi lợn làm vui. Không có nhà tù. Kẻ có tranh tụng thì bỏ nhẫn vàng hoặc trứng gà vào nước sôi bắt lấy ra. Hoặc nung xích sắt thật đỏ, bắt cầm đi 7 bước; kẻ có tội thì tay cháy nát, kẻ vô tội thì không sao. Hoặc bắt lặn xuống nước, người ngay thì không chìm, kẻ gian thì chìm ngay. Sản vật có mía, lựu, cam quýt và rất nhiều trầu cau. Chim thú giống như Trung Hoa. Tính người hiền lành, không thạo chiến đấu, thường bị người Lâm Ấp xâm kích. Vì không được thông thương với Giao Châu thường xuyên nên sứ giả hiếm khi đến được." === Đời Lương (梁) - Thời Vũ Đế (武帝)=== *Năm Thiên Giám (天監) thứ 2 (năm 503 dương lịch), Phù Nam sai sứ nhập cống, chiếu phong làm An Nam tướng quân, Phù Nam vương. Theo Lương thư - Vũ Đế bản kỷ (梁書·武帝本紀): Tháng 7 năm Thiên Giám thứ 2 (năm 503 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Sau khi Kiều Trần Như (憍陳如) chết, vua là Trì Lê Đà Bạt Ma (持黎陁跋摩) đã từng dâng biểu hiến phương vật vào thời Tống Văn Đế. Trong niên hiệu Vĩnh Minh thời Tề, vua Xà Da Bạt Ma (闍邪跋摩) sai sứ cống nạp. Năm Thiên Giám thứ 2 (năm 503 dương lịch), Bạt Ma lại sai sứ tặng tượng Phật bằng san hô và dâng phương vật. Chiếu viết: "Vua Phù Nam là Kiều Trần Như Xà Da Bạt Ma ở tận ngoài biển, đời đời giữ phương Nam, lòng thành thấu đến phương xa, trải qua nhiều lần dịch thuật để đến dâng bảo vật, nên được thu nhận và ban cho danh hiệu vinh hiển, khả phong làm An Nam tướng quân (安南將軍), Phù Nam vương (扶南王)." Nay người nước ấy hình dáng xấu xí, da đen, tóc xoăn. Nơi ở không đào giếng, vài mươi nhà dùng chung một cái ao để dẫn nước uống. Tục thờ Thiên thần, tượng Thiên thần đúc bằng đồng, loại 2 mặt thì có 4 tay, loại 4 mặt thì có 8 tay, mỗi tay cầm một vật, hoặc là đứa trẻ, hoặc là chim thú, hoặc là mặt trời mặt trăng. Vua ra vào cưỡi voi, cung tần hầu cận cũng vậy. Khi vua ngồi thì ngồi nghiêng co đầu gối (bán già), gập đầu gối trái chạm đất, trải vải trắng phía trước, đặt chậu vàng và lư hương lên trên. Phong tục nước này, khi có tang thì cạo sạch râu tóc. Người chết có 4 cách táng: Thủy táng thì ném xuống dòng sông; Hỏa táng thì đốt thành tro bụi; Thổ táng thì chôn cất dưới đất; Điểu táng thì bỏ mặc giữa đồng hoang. Tính người tham lam, không có lễ nghĩa, nam nữ tự ý đi theo nhau. *Năm Thiên Giám thứ 10 (năm 511 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ cống nạp. (Theo Lương thư - Vũ Đế bản kỷ không chép, theo Phù Nam bản truyện có chép). *Tháng 8 năm Thiên Giám thứ 13 (năm 514 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 13 (năm 514 dương lịch), Bạt Ma sai sứ cống nạp, cùng năm đó thì chết. Con thứ là Lưu Đà Bạt Ma (留陁跋摩) giết chết em đích để tự lập làm vua. *Tháng 8 năm Thiên Giám thứ 16 (năm 517 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 16 (năm 517 dương lịch), sai sứ là Trúc Đương Bão Lão (竺當抱老) dâng biểu cống nạp. *Mùa thu tháng 7 năm Thiên Giám thứ 18 (năm 519 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 18 (năm 519 dương lịch), lại sai sứ tặng tượng Thụy bằng gỗ đàn hương của Thiên Trúc, lá cây Bà-la (lá bối), cùng dâng hạt hỏa tề (thủy tinh đỏ), hương uất kim, tô hợp... *Tháng Giêng năm Phổ Thông (普通) thứ 1 (năm 520 dương lịch), tháng 6 năm Trung Đại Thông (中大通) thứ 2 (năm 530 dương lịch), tháng 7 năm Đại Đồng (大同) thứ 1 (năm 535 dương lịch), nước Phù Nam đều sai sứ dâng phương vật. *Tháng 8 năm Đại Đồng thứ 5 (năm 539 dương lịch), nước Phù Nam sai sứ dâng tê giác sống và phương vật. Theo Phù Nam bản truyện: Năm thứ 5 (năm 539 dương lịch) lại sai sứ dâng tê giác sống. Lại nói trong nước có tóc Phật dài 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét). Chiếu sai sa môn Thích Vân Bảo (釋雲寶) đi theo sứ giả đến nghênh đón. Trước đó, vào tháng 8 năm thứ 3 (năm 537 dương lịch), Cao Tổ (Lương Vũ Đế) cho cải tạo tháp chùa A Dục Vương (阿育王寺), lấy được từ dưới tháp cũ xá lợi cùng móng và tóc Phật. Tóc màu xanh tím, các tăng dùng tay kéo ra thì dài ngắn tùy ý, buông tay ra thì xoắn lại thành hình vỏ ốc. Theo kinh Tăng Già, tóc Phật xanh và mảnh như sợi tơ sen. Theo kinh Phật Tam Muội, xưa Phật ở trong cung gội đầu, đo tóc dài 1 trượng 2 thước (khoảng 3 mét), buông ra thì xoáy về bên phải thành hình vỏ ốc. Điều này khớp với vật mà Cao Tổ tìm được. A Dục Vương tức là Thiết Luân Vương, cai trị cõi Diêm Phù Đề. Sau khi Phật diệt độ, trong 1 ngày 1 đêm đã sai khiến quỷ thần xây 84.000 ngôi tháp, đây là một trong số đó. Thời Ngô (吳) có ni cô dựng tịnh xá nhỏ tại đó, sau bị Tôn Lâm (孫綝) hủy hoại, tháp cũng mất dấu. Sau khi dẹp nhà Ngô, các đạo nhân dựng lại trên nền cũ. Thời Tấn Trung Tông (Tấn Nguyên Đế) mới sang sông đã tu sửa lại. Đến đời Giản Văn Đế niên hiệu Hàm An (咸安), sai sa môn An pháp sư (安法師) xây tháp nhỏ, chưa xong thì mất, đệ tử là Tăng Hiển (僧顯) tiếp tục hoàn thành. Đến năm Thái Nguyên thứ 9 (năm 384 dương lịch) đời Hiếu Vũ Đế, mới đặt thêm tướng luân bằng vàng và mâm hứng sương. Sau đó, ở huyện Ly Thạch vùng Tây Hà có người Hồ tên là Lưu Tát Hà (劉薩何) mắc bệnh đột tử, nhưng dưới tim còn ấm, nhà không dám khâm liệm, qua 10 ngày thì sống lại, kể rằng: "Có 2 viên quan dẫn đi về phía Tây Bắc, đến 18 tầng địa hạt, chịu đủ cực hình tùy tội nặng nhẹ. Gặp Quán Thế Âm bảo rằng: 'Duyên của ngươi chưa tận, nếu sống lại hãy làm sa môn. Tại Lạc Hạ, Tề Thành, Đan Dương, Hội Kê đều có tháp A Dục Vương, hãy đến lễ bái thì khi chết không đọa địa ngục'. Nói xong như rơi xuống vực cao, giật mình tỉnh dậy". Từ đó xuất gia, tên là Huệ Đạt (慧達). Ông đi lễ các tháp, đến Đan Dương chưa biết tháp ở đâu, bèn lên Việt Thành nhìn bốn phương, thấy khí sắc lạ thường, tìm đến lễ bái, quả nhiên là nơi tháp A Dục Vương, thường phát hào quang. Biết chắc có xá lợi, bèn họp dân đào lên sâu 1 trượng (khoảng 2.5 mét), được 3 bia đá dài 6 thước (khoảng 1.5 mét). Bia giữa có hòm sắt, trong hòm sắt có hòm bạc, trong hòm bạc có hòm vàng đựng 3 viên xá lợi cùng 1 móng tay và tóc. Tóc dài vài thước. Bèn dời xá lợi về phía Bắc, xây tháp 1 tầng. Năm thứ 16 đời Thái Nguyên (năm 391 dương lịch), sai sa môn Tăng Thượng Già (僧尚伽) xây thành 3 tầng, chính là tháp mà Cao Tổ đã mở ra. Lúc đầu đào đất sâu 4 thước thấy hang rồng cùng vàng bạc vòng xuyến mà người xưa cúng dường, sâu chừng 9 thước thì tới bệ đá. Dưới bệ có hòm đá, trong hòm có hũ sắt chứa hũ bạc, trong hũ bạc có bình vàng chạm trổ đựng 3 viên xá lợi to như hạt kê, tròn trịa sáng sạch. Trong hòm còn có bát lưu ly đựng 4 viên xá lợi cùng tóc và móng tay, móng tay có 4 chiếc đều màu trầm hương. Đến ngày 27 tháng đó, Cao Tổ đến chùa lễ bái, lập đại hội Vô Ngại, đại xá thiên hạ. Ngày hôm đó lấy bát vàng đựng nước thả xá lợi vào, viên nhỏ nhất ẩn dưới đáy bát không ra. Cao Tổ lễ vài chục bái, xá lợi mới phát quang trong bát, xoay tròn hồi lâu rồi dừng lại giữa bát. Cao Tổ hỏi Đại tăng chính Huệ Niệm (慧念): "Hôm nay có thấy việc bất khả tư nghị chăng?". Huệ Niệm đáp: "Pháp thân thường trụ, lặng lẽ không động". Cao Tổ nói: "Đệ tử muốn thỉnh 1 viên xá lợi về cung phụng thờ". Đến ngày mồng 5 tháng 9 lại lập đại hội Vô Ngại, sai Hoàng thái tử và vương hầu đón rước. Hôm đó phong cảnh sáng sủa, kinh sư có tới hơn 1.000.000 người đi xem. Các đồ cúng bằng vàng bạc đều để lại chùa, ban thêm 10.000.000 tiền làm vốn cho chùa. Đến ngày 15 tháng 9 năm thứ 4 (năm 538 dương lịch), Cao Tổ lại đến chùa lập đại hội, dựng 2 sát trụ, mỗi bên dùng bình vàng đặt trong bình ngọc, đựng xá lợi cùng tóc móng vào trong tháp thất bảo. Lại dùng hòm đá đựng tháp bảo đặt dưới 2 sát trụ, vàng bạc vòng xuyến do vương hầu phi tần và nhà giàu cúng dường chất đầy bên trong. Ngày mồng 2 tháng 11 năm thứ 11 (năm 545 dương lịch), tăng chúng mời Cao Tổ giảng đề kinh Bát Nhã tại chùa, tối đó 2 tháp đều phát hào quang. Sắc lệnh cho Trấn đông tướng quân Thiệu Lăng vương Luân (邵陵王綸) soạn văn bia công đức lớn của chùa. Trước đó vào năm thứ 2 (năm 536 dương lịch), cũng cải tạo tháp huyện Mậu vùng Hội Kê, mở tháp cũ lấy xá lợi, sai 4 vị tăng chùa Quang Trạch là Thích Kính Thoát (釋敬脫)... cùng xá nhân Tôn Chiếu (孫照) rước về cung. Cao Tổ lễ bái xong liền gửi trả lại huyện đặt vào tháp mới. Tháp huyện này cũng do Lưu Tát Hà tìm ra. Niên hiệu Hàm Hòa (咸和) thời Tấn, quan doãn Đan Dương là Cao Khôi (高悝) đi đến cầu Trương Hầu thấy dưới bến có hào quang 5 màu dài vài thước, bèn cho người đào xem, được tượng vàng chưa có đài sen phát quang (quang phu). Khôi chở tượng về đến đầu ngõ Trường Can thì trâu không chịu đi tiếp, Khôi để mặc trâu muốn đi đâu thì đi, trâu kéo xe thẳng vào chùa. Khôi để tượng lại chùa. Mỗi đêm tượng thường phát quang, không trung nghe tiếng chuông khánh. Qua 1 năm, người đánh cá là Trương Hệ Thế (張係世) ở cửa biển thấy đài sen bằng đồng nổi lên, bèn đem nộp cho huyện, huyện dâng về triều, đem lắp vào chân tượng thì vừa khít. Năm Hàm An thứ 1 thời Giản Văn Đế (năm 371 dương lịch), người huyện Hợp Phố thuộc Giao Châu là Đổng Tông Chi (董宗之) lặn xuống biển tìm ngọc được hào quang bằng đồng (phần hào quang phía sau tượng), Giao Châu áp tống về kinh, lắp vào tượng cũng vừa khít. Từ lúc Cao Khôi được tượng (khoảng năm 326-334 dương lịch) đến lúc đủ bộ hào quang, đài sen (năm 371 dương lịch) mất hơn 30 năm. Lúc đầu khi Cao Khôi mới được tượng, có 5 vị tăng Hồ từ Tây Vực đến bảo: "Xưa ở Thiên Trúc có tượng do vua A Dục đúc, mang đến vùng Nghiệp Hạ gặp lúc loạn lạc phải chôn bên sông, nay tìm không thấy". 5 người cùng mộng thấy tượng bảo đã sang Giang Đông và về tay Cao Khôi. Họ đến chùa thấy tượng thì khóc lóc thảm thiết, tượng bèn phát quang sáng rực điện thờ. Lại có Huệ Thúy (慧邃) ở chùa Ngõa Quan muốn đúc mẫu theo tượng này, chủ chùa là Tăng Thượng (僧尚) sợ hỏng lớp vàng nên bảo: "Nếu khiến tượng phát quang và quay mặt về hướng Tây thì mới cho phép". Huệ Thúy khấn vái thành tâm, đêm đó tượng xoay ngồi về hướng Tây phát hào quang, sáng hôm sau bèn được cho phép đúc mẫu. Dưới đài sen có chữ nước ngoài không ai biết, sau có Tam tạng Na Cầu Bạt Ma (郍求跋摩) nhận ra, nói là tượng vua A Dục đúc cho con gái thứ 4. Đến niên hiệu Đại Đồng, khi lấy xá lợi tháp cũ, chiếu mua thêm đất của hàng trăm hộ dân quanh chùa để mở rộng, xây điện đường và hành lang quanh tượng Thụy vô cùng lộng lẫy. Các bức họa về kinh biến đều do nghệ nhân người Ngô là Trương Do (張繇) vẽ, tài hội họa của Do đứng đầu một thời. === Đời Đường (唐) - Thời Cao Tổ (高祖)=== *Năm Vũ Đức (武德) [618-626 dương lịch], Phù Nam sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Cao Tổ bản kỷ (唐書·高祖本紀) không chép. Theo Phù Nam bản truyện: "Phù Nam (扶南) ở phía Nam Nhật Nam (日南) 7.000 dặm, đất đai thấp trũng, phong tục giống với Hoàn Vương (環王), có thành quách cung thất. Vua họ Cổ Long (古龍), ở lầu cao, thành bằng gỗ, lợp nhà bằng lá nhược. Vua ra ngoài cưỡi voi. Người dân da đen, tóc xoăn, đi mình trần, tục không có trộm cướp. Ruộng 1 năm gieo trồng, 3 năm thu hoạch. Nước ấy sản sinh ra 'cương kim' (vàng cứng), hình dạng giống như thạch anh tím, sinh ra từ đá dưới đáy nước. Người dân lặn xuống nước lấy nó, có thể dùng để chạm khắc ngọc, nhưng gõ bằng sừng dê đực (hắc dương) thì tan ra. Dân thích chọi gà và chọi lợn, lấy vàng, ngọc trai, hương liệu làm thuế. Trị sở tại thành Đặc Mục (特牧城), chẳng bao lâu bị Chân Lạp (真臘) thôn tính, bèn dời đô về phía Nam tới thành Na Phất Na (那弗那城). Thời Vũ Đức (武德) [618-626 dương lịch] và Trinh Quán (貞觀) [627-649 dương lịch] lại sang triều cống. Lại dâng 2 người 'Bạch Đầu' (người đầu trắng), người Bạch Đầu vốn là người ở phía Tây Phù Nam, toàn bộ đầu đều trắng, da dẻ mịn màng như mỡ. Họ sống trong hang núi, 4 phía vách đá dựng đứng, người thường không đến được. Đất này tiếp giáp với nước Tham Bán (參半國)." == Qua Oa bộ vị khảo (爪哇部彙考) phần 1 (Đồ Bà 闍婆 - Ha Lăng 訶陵 - Phủ Gia Long 莆家龍) == === Đời Lưu Tống (劉宋) - Thời Văn Đế (文帝)=== *Tháng 6 năm Nguyên Gia (元嘉) thứ 10 (năm 433 dương lịch), nước Đồ Bà (Java 闍婆國) sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ (宋書·文帝本紀) có chép sự việc này. *Mùa thu tháng 7 năm Nguyên Gia thứ 12 (năm 435 dương lịch), nước Đồ Bà sai sứ dâng phương vật. Theo Tống thư - Văn Đế bản kỷ có chép sự việc này. === Đời Đường (唐) - Thời Thái Tông (太宗)=== *Năm Trinh Quán (貞觀) [627-649 dương lịch], nước Ha Lăng (訶陵國) sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Thái Tông bản kỷ (唐書·太宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng bản truyện: "Ha Lăng (訶陵) cũng gọi là Đỗ Bà (杜婆), gọi là Đồ Bà (Java 闍婆). Ở trong biển Nam, phía Đông giáp Bà Lợi (婆利), phía Tây giáp Bà Đăng (婆登), phía Nam sát biển, phía Bắc giáp Chân Lạp (真臘). Lấy gỗ làm thành, dù nhà lớn cũng lợp bằng lá tùng (mây rừng), dùng ngà voi làm giường hoặc chiếu. Sản vật có đồi mồi, vàng, bạc, tê giác, voi. Nước ấy rất giàu, có hang tự phun ra muối. Lấy hoa liễu, dừa làm rượu, uống vào là say ngay. Từ xưa đã có chữ viết, biết xem tinh tượng lịch pháp. Khi ăn không dùng thìa đũa. Có loại sâu độc, phụ nữ tiếp xúc với nó liền bị lở loét khổ sở, người chết xác không thối rữa. Vua cư trú tại thành Đồ Bà (Java 闍婆城), tổ tiên là Cát Diên (吉延) dời đô về phía Đông tới Bà Lộ Già Tư (婆露伽斯). Cạnh thành có 28 tiểu quốc, không nước nào không thần phục. Quan lại có 32 vị đại phu, trong đó chức 'Đại Tọa' (大坐) và 'Cảm Huynh' (敢兄) là tôn quý nhất. Trên núi có châu Lang Ti Bình Dã (郎卑野州), vua thường lên đó để trông ra biển. Vào ngày Hạ chí dựng cây cột cao 8 thước (khoảng 2 mét), bóng cột đổ về phía Nam 2 thước 4 thốn (khoảng 60 cm). Thời Trinh Quán (貞觀), nước này cùng nước Đoạ Hòa La (墮和羅), Đoạ Bà Đăng (墮婆登) đều sai sứ giả nhập cống. Thái Tông ban chiếu thư và ấn tỉ ưu ái khen ngợi. Đoạ Hòa La cầu xin ngựa tốt, hoàng đế bèn ban cho." === Đời Đường (唐) - Thời Đại Tông (代宗)=== *Năm Đại Lịch (大曆) [766-779 dương lịch], Ha Lăng sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Đại Tông bản kỷ (唐書·代宗 bản kỷ) không chép. Theo Ha Lăng truyền: "Khoảng niên hiệu Thượng Nguyên (上元) [760-761 dương lịch], người trong nước suy tôn một người đàn bà lên làm vua, hiệu là Tất Ma (悉莫). Uy lệnh nghiêm túc, của rơi ngoài đường không ai nhặt. Vua của Đại Thực (大食 - Ả Rập) nghe danh, bèn sai mang 1 túi vàng đặt ở ngoài ngoại ô nước ấy, người đi đường đều tránh đi, suốt 3 năm như vậy. Một lần Thái tử đi ngang qua, lấy chân giẫm lên túi vàng. Tất Ma nổi giận, định chém đầu Thái tử. Quần thần khẩn thiết van xin, Tất Ma nói: 'Tội của ngươi thực chất bắt nguồn từ bàn chân, vậy phải chặt ngón chân'. Quần thần lại van xin, bà bèn cho chặt ngón chân cái để răn đe. Người Đại Thực nghe tin ấy thì sợ hãi, không dám động binh. Thời Đại Lịch (大曆) [766-779 dương lịch], sứ giả Ha Lăng đến 3 lần." === Đời Đường (唐) - Thời Hiến Tông (憲宗)=== *Năm Nguyên Hòa (元和) thứ 8 (năm 813 dương lịch), Ha Lăng sai sứ nhập cống. Theo Đường thư - Hiến Tông bản kỷ (唐書·憲宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng truyền: "Năm Nguyên Hòa thứ 8 (năm 813 dương lịch), dâng 4 nô lệ Tăng Kỳ (僧祗奴), vẹt 5 màu, chim Tần Già (頻伽鳥). Hiến Tông phong cho sứ giả chức Tả Quả Nghị thuộc phủ Nội Tứ Môn. Sứ giả nhường chức đó cho em trai, hoàng đế khen ngợi đức độ, bèn phong quan cho cả hai. Đến niên hiệu Thái Hòa (太和) [827-835 dương lịch] lại sang triều cống." === Đời Đường (唐) - Thời Ý Tông (懿宗)=== *Năm Hàm Thông (咸通) [860-874 dương lịch], Ha Lăng sai sứ dâng nữ nhạc. Theo Đường thư - Ý Tông bản kỷ (唐書·懿宗本紀) không chép. Theo Ha Lăng bản truyện có chép sự việc này. === Đời Nguyên (元) - Thời Thế Tổ (世祖)=== *Năm Chí Nguyên (至元) thứ 29 (năm 1292 dương lịch), mệnh cho 3 hành tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Quảng hội quân chinh phạt Qua Oa (爪哇). Theo Nguyên Sử - Thế Tổ bản kỷ (元史·世祖本紀): "Tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch), lấy Tuyền phủ đại khanh Diệc Hắc Mê Thất (亦黑迷失), Vạn hộ quân cũ ở Đặng Châu là Sử Bật (史弼), Hữu thừa hành tỉnh Phúc Kiến là Cao Hưng (高興) cùng làm Bình chương chính sự hành trung thư tỉnh Phúc Kiến, thống lĩnh quân chinh phạt Qua Oa (爪哇 - Java). Tháng 7, chiếu lấy Sử Bật thay Diệc Hắc Mê Thất và Cao Hưng thống lĩnh 10.000 người chinh phạt Qua Oa." Theo Qua Oa truyện (瓜哇傳): "Qua Oa ở hải ngoại, so với Chiêm Thành (占城) thì xa hơn. Từ phía Nam Tuyền Châu (泉州) lên thuyền đi đường biển, trước hết đến Chiêm Thành rồi sau đó mới đến nước này, phong tục thổ sản không thể khảo cứu hết. Đại khái các phiên quốc hải ngoại đa phần có nhiều kỳ trân dị bảo, được Trung Hoa coi trọng, còn con người thì hình thù kỳ quái, tính tình ngôn ngữ không thông với Trung Hoa. Thế Tổ vỗ về bốn phương di địch, việc xuất quân ra hải ngoại các phiên quốc, duy có chiến dịch Qua Oa là lớn nhất." Tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch), chiếu lệnh cho hành tỉnh Phúc Kiến bổ dụng Sử Bật, Diệc Hắc Mê Thất, Cao Hưng làm Bình chương chính sự để chinh phạt Qua Oa. Hội quân 3 hành tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Quảng gồm 20.000 người, lập 2 phủ Tả Hữu quân đô nguyên soái, 4 Thượng vạn hộ chinh hành, phái 1.000 chiến thuyền, cấp lương ăn trong 1 năm, 40.000 đĩnh tiền sao, ban 10 Hổ phù, 40 Kim phù, 100 Ngân phù, 100 đoạn y phục bằng gấm vàng để dự phòng ban thưởng công trạng. Khi Diệc Hắc Mê Thất cùng các tướng bái biệt, Hoàng đế phán: "Các khanh đến Qua Oa, hãy báo rõ cho vua dân nước ấy. Ban đầu triều đình cùng Qua Oa thông sứ, đi lại giao hảo, sau này chúng lại rạch mặt sứ giả là Mạnh hữu thừa (孟右丞), vì lý do đó mà tiến quân thảo phạt." Tháng 9, quân hội tại Khánh Nguyên (慶元). Sử Bật và Diệc Hắc Mê Thất lĩnh việc hành tỉnh, đến Tuyền Châu (泉州). Cao Hưng suất lĩnh quân nhu từ Khánh Nguyên lên thuyền vượt biển. Tháng 11, quân 3 tỉnh hội tại Tuyền Châu. Tháng 12, từ cửa biển Hậu Chử (後渚) khởi hành. *Năm Chí Nguyên thứ 30 (năm 1293 dương lịch), bọn Sử Bật chinh phạt Qua Oa, đại phá quân địch. Quốc vương nước ấy ra hàng, trả lại đất đai, sắm sửa lễ vật nhập cống. Theo Nguyên Sử - Thế Tổ bản kỷ: Tháng 8 năm Chí Nguyên thứ 30 (năm 1293 dương lịch), sắc lệnh cho hành tỉnh Phúc Kiến cho quân chinh phạt Qua Oa được giải ngũ về nhà. Theo Qua Oa truyện: Tháng Giêng năm thứ 30 (năm 1293 dương lịch) đến núi Câu Lan (勾欄山) bàn định phương lược. Tháng 2, Diệc Hắc Mê Thất và T參 chính họ Tôn (孫參政) dẫn thuộc quan hành tỉnh cùng các quan của Tuyên úy ty đi chiêu dụ là Khúc Xuất Hải Nha (曲出海牙), Dương Tử (楊梓), Toàn Trung Tổ (全忠祖), Vạn hộ Trương Tháp Lạt Xích (張塔剌赤) cùng hơn 500 người, 10 chiến thuyền, đi chiêu dụ trước. Đại quân tiếp nối tiến đến Cát Lợi Môn (吉利門). Sử Bật và Cao Hưng tiến đến Đỗ Tịnh Túc (杜並足) thuộc Qua Oa, cùng Diệc Hắc Mê Thất bàn bạc: "Chia quân xuống bờ, thủy lục cùng tiến." Sử Bật, Cao Hưng và Tôn Tham chính soái lĩnh Đô nguyên soái Na Hải (那海), Vạn hộ Ninh Cư Nhân (甯居仁) cùng thủy quân từ Đỗ Tịnh Túc qua cửa cảng Nhung Nha Lộ (戎牙路) đến Bát Tiết Giản (八節澗). Cao Hưng cùng Diệc Hắc Mê Thất soái lĩnh Đô nguyên soái Trịnh Trấn Quốc (鄭鎮國), Vạn hộ Thoát Hoan (脫歡) cùng mã bộ quân từ Đỗ Tịnh Túc đi đường bộ. Lấy Vạn hộ Thân Nguyên (申元) làm tiền phong, sai Phó nguyên soái Thổ Hổ Đăng Ca (土虎登哥), Vạn hộ Chử Hoài Viễn (褚懷遠), Lý Trung (李忠)... cưỡi thuyền tiêm kích, từ Nhung Nha Lộ tiến đến cầu phao Ma Nhạ Ba Khiết (麻喏巴歇), hẹn hội quân tại Bát Tiết Giản. Quan Tuyên phủ ty Qua Oa báo: "Phò mã Qua Oa là Thổ Hãn Tất Xà Da (土罕必闍耶) đem cả nước đầu hàng, nhưng vì không thể rời quân ngũ, nên sai Dương Tử, Cam Châu Bất Hoa (甘州不花), Toàn Trung Tổ dẫn Tể tướng Tích Lạt Nan Đáp Trá Da (昔剌難答吒耶) cùng hơn 50 người đến đón." Ngày mồng 1 tháng 3, hội quân tại Bát Tiết Giản. Phía trên gián thông với phủ vương Đỗ Mã Ban (杜馬班), dưới thông ra biển lớn Phủ Bôn (莆奔), là yết hầu yếu địa tất tranh của Qua Oa. Lại có mưu thần nước ấy là Hy Ninh Quan (希寧官) đậu thuyền dọc sông quan sát thắng bại, chiêu dụ nhiều lần không hàng. Hành tỉnh lập trại Yến Nguyệt bên bờ gián, lưu Vạn hộ Vương Thiên Tường (王天祥) giữ bến sông, Thổ Hổ Đăng Ca và Lý Trung lĩnh thủy quân, Trịnh Trấn Quốc cùng Đô trấn phủ Luân Tín (倫信) lĩnh mã bộ quân, thủy lục cùng tiến. Hy Ninh Quan sợ hãi bỏ thuyền chạy đêm, quân ta thu được hơn 100 chiến thuyền lớn hình đầu quỷ. Lệnh cho Đô nguyên soái Na Hải, Vạn hộ Ninh Cư Nhân, Trịnh Khuê (鄭珪), Cao Đức Thành (高德誠), Trương Thụ (張受) trấn giữ cửa biển Bát Tiết Giản. Đại quân đang tiến, Thổ Hãn Tất Xà Da sai sứ đến báo: vua Cát Lang (葛郎王) truy sát đến Ma Nhạ Ba Khiết, xin quan quân cứu viện. Diệc Hắc Mê Thất và Tham chính họ Trương (張參政) đi trước an ủi Thổ Hãn Tất Xà Da; Trịnh Trấn Quốc dẫn quân đến Chương Cô (章孤) tiếp ứng. Cao Hưng tiến đến Ma Nhạ Ba Khiết nhưng quân Cát Lang chưa rõ gần xa. Cao Hưng quay lại Bát Tiết Giản, Diệc Hắc Mê Thất báo tin giặc sẽ đến đêm nay, gọi Cao Hưng đến Ma Nhạ Ba Khiết. Ngày mồng 7, quân Cát Lang 3 đường đánh Thổ Hãn Tất Xà Da. Mờ sáng ngày mồng 8, Diệc Hắc Mê Thất và Tôn Tham chính suất lĩnh Vạn hộ Lý Minh (李明) đón đánh giặc ở phía Tây Nam nhưng không gặp. Cao Hưng và Thoát Hoan theo đường Đông Nam đánh nhau với giặc, giết vài trăm người, số còn lại tan chạy vào sơn cốc. Giữa trưa, giặc đường Tây Nam lại tới, Cao Hưng lại chiến đấu đến chiều tối thì đánh bại chúng. Ngày 15, chia quân làm 3 đạo đánh Cát Lang, hẹn ngày 19 hội quân tại Đáp Cáp (答哈) nghe tiếng pháo làm hiệu ứng chiến. Thổ Hổ Đăng Ca lĩnh thủy quân ngược dòng đi lên, Diệc Hắc Mê Thất đi đường Tây, Cao Hưng đi đường Đông, quân Thổ Hãn Tất Xà Da theo sau. Ngày 19 đến Đáp Cáp. Quốc chủ Cát Lang thống lĩnh hơn 100.000 quân giao chiến, từ giờ Mão đến giờ Mùi (5 giờ sáng đến 3 giờ chiều), đánh liên tiếp 3 trận, giặc bại tản mác, xô nhau xuống sông chết vài vạn người, bị giết hơn 5.000 người. Quốc chủ vào nội thành cố thủ, quan quân vây hãm và chiêu hàng. Đêm đó, quốc chủ Háp Chỉ Cát Đương (哈只葛當) ra hàng, ta vỗ về lệnh cho về. Ngày mồng 2 tháng 4, tiễn Thổ Hãn Tất Xà Da về nước sắm lễ vật nhập cống, sai Vạn hộ Niết Chỉ Bất Đinh (捏只不丁), Cam Châu Bất Hoa suất lĩnh 200 binh hộ tống. Ngày 19, Thổ Hãn Tất Xà Da phản bội bỏ trốn, để quân ở lại cản đường chiến đấu. Niết Chỉ Bất Đinh, Cam Châu Bất Hoa cùng duyên hành tỉnh là Phùng Tường (馮祥) đều tử nạn. Ngày 24, quân rút về, bắt được vợ con và thuộc quan của Háp Chỉ Cát Đương hơn 100 người, cùng bản đồ hộ tịch, dâng biểu chữ vàng mang về. Theo Sử Bật truyện (史弼傳): Thế Tổ muốn chinh phạt Qua Oa, bảo với Sử Bật: "Các thần tử là tâm phúc của trẫm rất ít, trẫm muốn giao việc Qua Oa cho ngươi." Bật đáp: "Bệ hạ mệnh cho thần, thần há dám tự ái thân mình." Năm thứ 27 (năm 1290 dương lịch), thụ chức Tả thừa Thượng thư tỉnh (dao thụ), Hành tuyên úy sứ Chiết Đông, dẹp cướp ở Xử Châu. Năm thứ 29 (năm 1292 dương lịch), bái vinh lộc đại phu, Bình chương chính sự hành trung thư tỉnh Phúc Kiến, đi chinh phạt Qua Oa, lấy Diệc Hắc Mê Thất và Cao Hưng làm phó tướng, trao cho 150 Kim phù, 200 xấp gấm lụa để thưởng người có công. Tháng 12, Bật dẫn 5.000 người hợp với các quân xuất phát từ Tuyền Châu. Gió gấp sóng lừng, thuyền chao đảo, sĩ tốt suốt vài ngày không thể ăn được. Qua Thất Châu Dương (七洲洋), Vạn Lý Thạch Đường (萬里石塘), đi qua địa giới Giao Chỉ (交趾) và Chiêm Thành. Tháng Giêng năm sau, đến núi Đông Đổng (東董), Tây Đổng (西董), đảo Ngưu Khi (牛崎嶼), vào đại dương Hỗn Độn (混沌), núi Cảm Lãm (橄欖), Giả Lý (假里), Mã Đáp (馬答), Câu Lan (勾欄), đóng quân chặt cây đóng thuyền nhỏ để tiến vào. Lúc đó Qua Oa đang có oán thù với nước láng giềng Cát Lang. Vua Qua Oa là Háp Chỉ Cát Đạt Na Gia Lạt (哈只葛達那加剌) đã bị vua Cát Lang là Háp Chỉ Cát Đương giết. Con rể là Thổ Hãn Tất Xà Da đánh Háp Chỉ Cát Đương không thắng, lui về giữ Ma Nhạ Ba Khiết. Nghe tin bọn Sử Bật đến, sai sứ mang bản đồ núi sông, hộ khẩu nước mình và bản đồ nước Cát Lang đến hàng và cầu cứu. Bật cùng chư tướng tiến đánh quân Cát Lang đại phá chúng, Háp Chỉ Cát Đương tháo chạy về nước. Cao Hưng nói: "Qua Oa tuy hàng, nhưng nếu giữa đường thay đổi mà hợp với Cát Lang thì quân ta cô độc xa xôi, việc khó lường được." Bật bèn chia quân 3 đạo, cùng Cao Hưng và Diệc Hắc Mê Thất mỗi người dẫn 1 đạo đánh Cát Lang. Đến thành Đáp Cáp, quân Cát Lang hơn 100.000 đón đánh, từ sáng đến trưa quân Cát Lang bại, vào thành thủ hiểm, ta bèn vây thành. Háp Chỉ Cát Đương ra hàng, quân ta bắt cả vợ con, quan thuộc mang về. Thổ Hãn Tất Xà Da xin về nước để thay tờ biểu hàng và lấy châu báu về triều. Bật và Diệc Hắc Mê Thất đồng ý, sai Vạn hộ Niết Chỉ Bất Đinh, Cam Châu Bất Hoa dẫn 200 binh hộ tống về nước. Thổ Hãn Tất Xà Da giữa đường giết 2 tướng rồi phản bội, nhân lúc quân ta rút về thì chặn đường cướp bóc. Sử Bật tự mình đoạn hậu, vừa đánh vừa đi, hành quân 300 dặm mới lên được thuyền. Đi biển 68 ngày đêm thì tới Tuyền Châu, sĩ tốt tử trận hơn 3.000 người. Quan lại kiểm kê vàng bạc, hương liệu, vải vóc thu được trị giá hơn 500.000 (đĩnh), lại dâng biểu chữ vàng của nước Một Lý (沒理國) cùng vàng bạc, tê giác, voi. Bấy giờ triều đình vì quân lính tổn thất nhiều, phạt Sử Bật 17 trượng, tịch thu 1/3 gia sản. Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 (năm 1295 dương lịch), khởi dụng làm Đồng tri Xu mật viện sự. Nguyệt Nhi Lỗ (月兒魯) tấu rằng: "Bọn Sử Bật dẫn 5.000 người vượt biển 250.000 dặm, vào nước mà từ xưa tới nay chưa ai tới được, bắt được vua của họ và chiêu hàng các tiểu quốc lân cận, nên được thương xót." Bèn chiếu trả lại tài sản đã tịch thu. Bái làm Vinh lộc đại phu, Hữu thừa hành trung thư tỉnh Giang Tây. === Đời Nguyên (元) - Thời Thành Tông (成宗)=== *Ngày Đinh Hợi tháng 9 năm Nguyên Trinh thứ 1 (năm 1295 dương lịch), Qua Oa sai sứ đến hiến phương vật. Theo Nguyên Sử - Thành Tông bản kỷ có chép sự việc này. === Đời Minh (明) - Thời Thái Tổ (太祖)=== *Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 (năm 1370 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Nước Qua Oa (瓜哇國) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城). Tháng Giêng năm Hồng Vũ thứ 2 (năm 1369 dương lịch) đời Thái Tổ, vua sai sứ mang chiếu chỉ đăng quang đi dụ nước ấy. Sứ thần nước này trước đó đã phụng mệnh cống nạp cho nhà Nguyên, khi trở về đến Phúc Kiến (福建) thì nhà Nguyên đã mất, bèn vào cư ngụ tại kinh sư. Tháng 2 năm đó, Thái Tổ lại sai sứ đưa người ấy về nước, lại ban cho lịch Đại Thống (大統曆). Tháng 6 năm thứ 3 (năm 1370 dương lịch), vì đã bình định được sa mạc, vua ban chiếu nói: 'Từ xưa bậc làm chủ thiên hạ, nhìn khắp nơi trời che đất chở, nhật nguyệt soi chiếu, dù xa hay gần, loài người không ai là không muốn an cư lạc nghiệp. Nhưng tất yếu Trung Hoa phải yên thì bốn phương muôn nước mới thuận phục. Gần đây vua Nguyên là Thỏa Hoan Thiếp Mộc Nhi (妥懽帖木兒) hoang dâm hôn nhược, chí không tại dân, anh hùng thiên hạ chia cắt bờ cõi. Trẫm thương sinh dân lầm than, dấy nghĩa binh dẹp loạn, quân dân thiên hạ cùng tôn Trẫm lên ngôi hoàng đế, quốc hiệu Đại Minh (大明), niên hiệu Hồng Vũ (洪武). Năm trước đã chiếm được kinh đô nhà Nguyên, bốn phương lần lượt bình định. Các nước Chiêm Thành, An Nam (安南), Cao Ly (高麗) đều đã đến triều cống. Năm nay phái tướng bắc chinh, mới biết vua Nguyên đã mất, bắt được cháu là Mãi Đích Lý Bát Lạt (買的里八剌), phong làm Sùng Lễ hầu. Trẫm phỏng theo các bậc đế vương đời trước trị vì thiên hạ, chỉ muốn nhân dân trong ngoài đều được yên ổn. Lại lo các phiên bang hẻo lánh phương xa chưa rõ ý Trẫm, nên sai sứ giả đến dụ để cho tất cả đều được nghe biết'. Tháng 9, vua nước ấy là Tích Lý Bát Đạt Lạt Bồ (昔里八達剌蒲) sai sứ dâng Kim diệp biểu (biểu bằng lá vàng) đến triều kiến, dâng phương vật, vua ban yến tiệc và ban thưởng đúng lễ." Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Qua Oa phía Đông giáp nước Cổ Nữ Nhân (古女人國), phía Tây giáp nước Tam Phật Tề (三佛齊國), phía Nam giáp nước Cổ Đại Thực (古大食國), phía Bắc giáp nước Chiêm Thành. Vốn là nước Cổ Đồ Bà (Java 古闍婆國), còn có tên là Phủ Gia Long (莆家龍). Các thuộc quốc có Tô Cát Đan (蘇吉丹), Đả Bản (打板), Đả Cương (打綱), Đ底 Vật (底勿). Niên hiệu Nguyên Gia thời Tống bắt đầu thông sứ với Trung Hoa, sau đó đứt đoạn. Đến niên hiệu Thuần Hóa thời Tống, vua nước ấy là Mục La Trà (穆羅茶) sai sứ đến triều cống. Niên hiệu Đại Quan lại sai sứ nhập cống. Thời Nguyên gọi là nước Qua Oa. Cuối niên hiệu Chí Nguyên phái binh chinh phạt nhưng không thắng. Đầu niên hiệu Hồng Vũ triều ta, vua là Tích Lý Bát Đạt Lạt Bồ sai thần hạ là Bát Đích Chiêm Tất (八的占必) đến triều cống, nộp lại 2 đạo tuyên sắc của nhà Nguyên. Từ đó triều cống không tuyệt." Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Dân Qua Oa trọng khí tiết, hiếu chiến, không thiết hình luật nghiêm ngặt, kẻ phạm tội tạp tùy mức độ nặng nhẹ mà nộp vàng để chuộc tội, duy chỉ có trộm cướp thì xử tử." Theo Đảo di chí (島夷志): "Đất Qua Oa màu mỡ, địa hình bằng phẳng, thóc gạo phong phú gấp bội nước khác. Dân không trộm cắp, của rơi ngoài đường không ai nhặt. Ngạn ngữ gọi là 'Đồ Bà thái bình' là chỉ nơi này. Nam nữ quấn khăn trên đầu, mặc áo dài." Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 năm Hồng Vũ thứ 2 (năm 1369 dương lịch), sai Hành nhân Ngô Dụng (吳用) ban cho vua Qua Oa tỉ thư (thư đóng ấn) nói rằng: 'Đại thống Trung Hoa, người Nguyên thụ mệnh hơn 100 năm, nay cương thường đã đổ, trên dưới đảo lộn, Trẫm vì thế dấy binh đánh dẹp, gần 20 năm hải nội đều định. Trẫm phụng mệnh trời làm chủ Trung Hoa, sợ nơi xa gần chưa nghe thấy nên sai báo cho vua biết. Sứ giả đã đi rồi, nay nghe nói người trong vương quốc là Nghễ Chỉ Mưu Đinh (睨只某丁) trước phụng mệnh sứ Nguyên, khi về đến Phúc Kiến thì Nguyên mất, bèn đến cư ngụ tại kinh sư. Trẫm nghĩ người ấy xa Qua Oa đã lâu, tất sẽ thương nhớ khôn nguôi, nay sai người đưa về và ban cho 1 quyển lịch Đại Thống. Mong vua biết chính sóc ở đâu, thuận theo đạo trời, để dân Qua Oa yên ổn làm ăn, vua cũng mãi giữ được lộc vị, phúc đến con cháu. Hãy cố gắng làm theo, chớ có lười nhác'. Năm thứ 30 (năm 1397 dương lịch), các phiên bang ngăn trở không có thương nhân đi lại. Coi Tam Phật Tề là thuộc quốc của Qua Oa. Mệnh Bộ Lễ gửi văn thư sang Xiêm La (暹羅) chuyển đạt cho Qua Oa, sau chia thành 2 nước Đông - Tây." *Năm Hồng Vũ thứ 5 (năm 1372 dương lịch), Qua Oa đem 3 đạo sắc chỉ do nhà Nguyên ban tặng nộp lên. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 5, lại sai sứ theo sứ triều đình là Thường Khắc Kính (常克敬) đến cống nạp, nộp lên 3 đạo tuyên sắc do nhà Nguyên ban cho." *Năm Hồng Vũ thứ 8 (năm 1375 dương lịch), lệnh cho thần sông núi nước Tam Phật Tề và Qua Oa được tế phụ vào sau thần sông núi tỉnh Quảng Đông. Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 2 năm Hồng Vũ thứ 8 (năm 1375 dương lịch), lệnh cho thần núi sông các nước Tam Phật Tề, Qua Oa tế phụ vào sau lễ tế núi sông Quảng Đông. Trước đó Thượng thư Bộ Lễ Ngưu Lượng (牛諒) thưa rằng: 'Kinh đô đã bãi tế núi sông thiên hạ, thì núi sông của tứ di cũng không phải nơi Thiên tử nên tự mình cúng tế'. Bèn mệnh cho bàn bạc lại. Đến đây, Trung thư và Bộ Lễ tâu rằng nên để thần núi sông ngoại di tế phụ vào các tỉnh. Như Quảng Tây tế phụ An Nam, Chiêm Thành, Chân Lạp (真臘), Xiêm La, Tỏa Lý (鎖里); Quảng Đông tế phụ Tam Phật Tề, Qua Oa; Phúc Kiến tế phụ Nhật Bản (日本), Lưu Cầu (琉球), Bột Ni (渤泥); Liêu Đông tế phụ Cao Ly; Thiểm Tây tế phụ Cam Túc, Đóa Cam (朵甘), Ô Tư Tạng (烏思藏). Kinh thành không cần tế nữa. Lại nói: 'Thần núi sông các tỉnh cùng thần Gió Mây Sấm Mưa đã ngồi ở giữa hướng về Nam, thì thần vị núi sông ngoại di nên chia làm hai bên Đông Tây, cùng chung bàn thờ mà cúng tế'. Vua chuẩn tấu, khi tế phái 1 viên quan đến giám sát." *Năm Hồng Vũ thứ 10 (năm 1377 dương lịch), Qua Oa chia làm 3 vua, đều sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 10, vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ (八達那巴那務) sai sứ triều cống. Nước đó lại có 2 vua Đông - Tây: Đông phiên vương Vật Viện Lao Võng Kết (勿院勞網結), Tây phiên vương Vật Lao Ba Vụ (勿勞波務), đều sai sứ triều cống. Thiên tử thấy lễ ý không thành khẩn, chiếu lệnh giữ sứ giả lại, một thời gian sau mới thả về." *Năm Hồng Vũ thứ 11 (năm 1378 dương lịch), vua Đồ Bà (Java 闍婆) sai sứ triều cống. (Theo các sách khác đều nói Qua Oa chính là Cổ Đồ Bà, riêng Minh ngoại sử chép ngoài Qua Oa còn có Đồ Bà vào cống, nay phụ lục ở đây để chờ tham khảo). Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Đồ Bà xưa gọi là Đồ Bà Đạt (闍婆達), thời Nguyên Gia nhà Tống bắt đầu triều cống Trung Hoa. Đời Đường gọi là Ha Lăng (訶陵), lại gọi là Đỗ Bà (杜婆), vua cư ngụ tại thành Đồ Bà, đời Tống gọi là Đồ Bà, đều có vào cống. Năm Hồng Vũ thứ 11, vua là Ma Na Đà Nam (摩那駝喃) sai sứ dâng biểu cống phương vật, sau này không thấy đến nữa. Có thuyết nói Qua Oa chính là Đồ Bà. Tuy nhiên Nguyên sử - Qua Oa truyện không nói vậy, lại bảo phong tục vật sản không thể khảo cứu. Hơn nữa thời Thái Tổ, hai nước này cùng lúc vào cống, tên vua lại khác nhau. Có thể vốn là 2 nước, về sau Đồ Bà bị Qua Oa diệt, nhưng không thể khảo chứng rõ ràng." *Năm Hồng Vũ thứ 13 (năm 1380 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Lúc phái sứ ban ấn thụ cho Tam Phật Tề, Qua Oa đã dụ giết sứ giả, vua ban sắc trách mắng nặng nề. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 12, vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ sai sứ triều cống, năm sau lại cống. Khi đó triều đình sai sứ ban ấn thụ cho vua Tam Phật Tề, Qua Oa lừa bắt rồi giết đi. Thiên tử giận, giữ sứ giả của họ lại hơn 1 tháng, định trị tội nhưng sau lại cho về, ban sắc trách mắng." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 13 (năm 1380 dương lịch), vua Bát Đạt Na Ba Na Vụ sai sứ là A Liệt Di Liệt Thời (阿烈彝烈時) dâng biểu lá vàng vào cống. Sứ giả bị giữ lại hơn 1 tháng rồi cho về. Vua ban chiếu dụ quốc chủ nước đó rằng: 'Bậc thánh nhân trị thiên hạ, coi trong ngoài bốn biển đều là con đỏ, đó là lòng nhân coi muôn loài như một. Trẫm làm quân chủ cả Hoa và Di, cách vỗ về không phân biệt xa gần. Bang của ngươi ở tận đảo xa, vừa qua sai sứ đến Trung Hoa, tuy nói là tu cống nhưng thực chất là ham lợi, Trẫm đều suy lòng thành mà đãi lễ. Trước kia vua Tam Phật Tề sai sứ dâng biểu xin ấn thụ, Trẫm khen lòng mộ nghĩa nên sai sứ ban cho. Ngươi cớ sao lại dùng gian kế, dụ sứ giả mà giết đi? Há phải ngươi cậy hiểm trở xa xôi mà dám khinh nhờn như thế sao? Nay sứ giả đến, vốn định giữ lại, nhưng nghĩ đến nỗi nhớ cha mẹ vợ con, người Di hay người Hoa đều như nhau. Trẫm suy lòng này mà đặc mệnh cho về nước. Nhà vua nên xét mình tự sửa, khiêm cung thành kính, chớ dẫm vết xe đổ mà làm nộ Trung Hoa, thì mới giữ được phú quý. Nếu không như vậy, tự chuốc họa ương, hối cũng không kịp'." *Năm Hồng Vũ thứ 14 (năm 1381 dương lịch), Qua Oa sai sứ triều cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 14, sai sứ dâng 300 hắc nô (nô lệ đen) và phương vật. Năm sau lại dâng 100 hắc nô nam nữ, 8 viên ngọc trai lớn, 75.000 cân hồ tiêu." *Năm Hồng Vũ thứ 26 (năm 1393 dương lịch), Qua Oa vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hồng Vũ thứ 26 lại cống. Năm sau tiếp tục cống." === Đời Minh (明) - Thời Thành Tổ (成祖)=== *Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 (năm 1404 dương lịch), sai sứ ban tiền vàng cho Qua Oa (瓜哇), hai vua Đông - Tây đều vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Năm Vĩnh Lạc thứ 1 (năm 1403 dương lịch), lại sai Phó sứ Văn Lương Phụ (聞良輔), Hành nhân Ninh Thiện (甯善) ban cho vua nước ấy gấm vóc, lụa vân thêu chỉ vàng. Sau khi sứ giả đi rồi, Tây vương là Đô Mã Bản (都馬板) sai sứ vào triều chúc mừng nhân dịp hoàng đế lên ngôi, bèn lại mệnh cho Trung quan Mã Bân (馬彬) mang ấn bạc mạ vàng đến ban cho. Tây vương sai sứ tạ ơn nhận ấn và dâng phương vật. Trong khi đó, Đông vương là Bột Lệnh Đạt Cáp (孛令達哈) cũng sai sứ triều cống, xin ban ấn; hoàng đế mệnh sai quan đến ban cho. Từ đó về sau, hai vua cùng nộp cống." Theo Minh hội điển (明會典): "Nước Qua Oa, đầu năm Vĩnh Lạc, ban cho các vua Đông - Tây màn trướng bằng lụa và sa, khăn tay, khí cụ đựng rượu và cừu; ban cho vương phi các thứ như khăn tay bằng lụa và sa." Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 2 (năm 1404 dương lịch), Đông vương Bột Lệnh Đạt Cáp sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật, tấu trình xin ấn chương, mệnh đúc ấn bạc mạ vàng ban cho, cùng ban tiền sao và vải vóc." *Năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Tây vương Đô Mã Bản sai sứ nhập cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 3 (năm 1405 dương lịch), sai Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 3 (năm 1405 dương lịch), Tây vương Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu cống hiến phương vật. Lúc bấy giờ các nước lân cận là Điệp Lý Nhật La (牒里日羅), Hạ Trị (夏治), Hợp Miêu Lý (合描里) gồm 3 nước, mỗi nước đều sai sứ cùng mang phương vật đến triều cống, tất cả đều được ban cho áo mặc và lụa vân." *Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Trung quan Trịnh Hòa đến Qua Oa. Khi đó hai vua Đông - Tây đánh nhau, binh lính của sứ đoàn đi ngang qua đất Đông vương bị người của nước Tây vương giết chết. Tây vương sợ hãi, sai sứ tạ tội. Có chiếu trách mắng nặng nề. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Tây vương và Đông vương đánh nhau, Đông vương bại trận, nước bị diệt. Vừa lúc sứ đoàn triều đình đi ngang qua đất Đông vương, binh lính đi vào chợ, bị người của nước Tây vương giết chết, tổng cộng 170 người. Tây vương sợ hãi, sai sứ tạ tội. Hoàng đế ban sắc trách mắng nặng nề, mệnh phải nộp 60.000 lạng vàng để chuộc tội." Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 năm thứ 4 (năm 1406 dương lịch), Tây vương lại đến cống trân châu, san hô, khổng thanh (một loại đá quý). Cũng trong tháng 3, Đông vương sai sứ dâng ngựa, đều ban cho tiền sao và vải vóc có khác biệt theo thứ bậc. Tháng 7 nhuận, Tây vương sai sứ triều cống, lại nói Đông vương không đáng được lập, nay đã đánh diệt rồi, hoàng đế giáng chiếu trách mắng gay gắt." *Năm Vĩnh Lạc thứ 5 (năm 1407 dương lịch), Qua Oa sai sứ thỉnh tội, nguyện đền 60.000 lạng vàng để chuộc tội. Hoàng đế chấp thuận. Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 5 (năm 1407 dương lịch), Qua Oa dâng biểu thỉnh tội, nguyện đền 60.000 lạng vàng, lại lập con của Bột Lệnh Đạt Cáp, hoàng đế nghe theo." *Năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408 dương lịch), quan Lễ bộ hạch tội Qua Oa nộp vàng không đủ, hoàng đế mệnh cho miễn số vàng còn lại. Lúc đó vua Mãn Thứ Gia (滿剌加 - Malacca) giả chiếu chỉ đòi đất Cựu Cảng (舊港), hoàng đế ban sắc an ủi vua Qua Oa. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408 dương lịch), lại sai Trịnh Hòa đi sứ nước ấy. Tây vương hiến 10.000 lạng vàng, quan Lễ bộ vì thấy số lượng nộp không đủ nên xin tống giam sứ giả vào ngục. Hoàng đế phán: 'Trẫm đối với người phương xa, chỉ muốn họ biết sợ tội mà thôi, há lại ham lợi số vàng đó sao?'. Bèn cho miễn tất cả. Từ đó về sau, gần như năm nào cũng vào cống, hoặc cách 1 năm cống 1 lần, hoặc 1 năm cống vài lần. Trung quan Ngô Tân (吳賓), Trịnh Hòa lại lần lượt đi sứ nước ấy. Khi đó đất Cựu Cảng có nơi bị Qua Oa xâm chiếm, vua nước Mãn Thứ Gia giả chiếu chỉ ra lệnh đòi lại, hoàng đế bèn ban sắc rằng: 'Trước đây Trung quan Ngô Khánh (吳慶) về tâu rằng Vương cung kính đãi sứ đoàn, cung cách ngày càng tăng không hề giảm. Gần đây nghe nói nước Mãn Thứ Gia đòi đất Cựu Cảng khiến Vương lo sợ nghi ngại. Trẫm lấy lòng thành đãi người, nếu thực sự cho phép họ tất sẽ có sắc dụ, Vương can gì phải nghi ngờ. Kẻ tiểu nhân nói lời phù phiếm, cẩn thận chớ có nhẹ dạ tin theo'." *Năm Vĩnh Lạc thứ 8 (năm 1410 dương lịch), Qua Oa sai sứ nhập cống. Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 8 (năm 1410 dương lịch), Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu, cống ngựa và phương vật." *Năm Vĩnh Lạc thứ 11 (năm 1413 dương lịch) và thứ 13 (năm 1415 dương lịch), Qua Oa sai sứ đến cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 13 (năm 1415 dương lịch), vua nước ấy đổi tên là Dương Duy Tây Sa (揚惟西沙), sai sứ tạ ơn và dâng phương vật. Bấy giờ binh lính do sứ đoàn mang theo có người gặp gió dạt đến nước Ban Đột Nhi (班卒兒), người Qua Oa là Trân Ban (珍班) nghe tin, dùng vàng chuộc về, đưa đến chỗ nhà vua." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm thứ 13 (năm 1415 dương lịch) đổi tên là Dương Duy Tây Sa, sai sứ tạ ơn." *Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch), binh lính sứ đoàn gặp gió dạt vào nước Ban Đột Nhi được người Qua Oa chuộc về trả triều đình, chiếu chỉ khen ngợi và dụ bảo. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch), vua sai sứ triều cống, nhân đó đưa trả các binh lính sứ đoàn bị gió dạt. Hoàng đế khen ngợi, ban sắc thưởng cho vua, đồng cũng hậu ban cho Trân Ban. Từ đó sứ thần triều cống đại lược mỗi năm đến 1 lần." === Đời Minh (明) - Thời Anh Tông (英宗)=== *Năm Chính Thống (正統) thứ 1 (năm 1436 dương lịch), ban đai vàng cho sứ thần Qua Oa, lại lệnh cho họ cùng đi với sứ thần các nước Cổ Lý (古里)... về Qua Oa, sắc dụ vua nước ấy vỗ về và phân phái họ về nước. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Chính Thống thứ 1 (năm 1436 dương lịch), sứ thần Mã Dụng Lương (馬用良) nói rằng: trước kia người giữ chức Bát Đế (八諦) đến triều kiến được ơn ban đai bạc, nay đã là Á Liệt (亞烈), trật 4 phẩm, xin được ban đai vàng. Hoàng đế nghe theo. Tháng 6 nhuận, phái sứ thần các nước Cổ Lý (古里 - Calicut), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門答剌 - Sumatra), Tích Lan Sơn (錫蘭山 - Ceylon), Kha Chi (柯枝 - Cochin), Thiên Phương (天方 - Mecca), Gia Dị Lặc (加異勒 - Kayal), A Đan (阿丹 - Aden), Hốt Lỗ Mô Tư (忽魯謨斯 - Ormuz), Tổ Pháp Nhi (祖法兒 - Dhofar), Cam Ba Lý (甘巴里 - Comari), Chân Lạp (真臘 - Cambodia) cùng đi với sứ thần Qua Oa là Quách Tín (郭信) về nước. Ban sắc cho vua Qua Oa rằng: 'Vương từ thời tiên triều đã tu giữ chức phận không trễ nải, Trẫm nay nối ngôi, Vương lại sai sứ đến triều, lòng thành đã thấu suốt'. Thời Tuyên Đức, có 11 nước như Cổ Lý đến cống. Nay nhân vì sứ giả của Vương về nước, lệnh cho các sứ giả cùng đi. Vương hãy thêm ý vỗ về, phân phái họ về nước mình, để giúp Trẫm thực hiện lòng thành vỗ về người phương xa." *Năm Chính Thống thứ 3 (năm 1438 dương lịch), ban vải lụa cho vua Qua Oa và vương phi. Theo Minh hội điển: "Năm Chính Thống thứ 3 (năm 1438 dương lịch), ban cho vua Qua Oa 10 xấp lụa, mỗi loại sa và la 3 xấp; ban cho vương phi 6 xấp lụa, mỗi loại sa và la 2 xấp." *Năm Chính Thống thứ 8 (năm 1443 dương lịch), định lệ Qua Oa 3 năm cống 1 lần. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Tháng 8 năm Chính Thống thứ 5 (năm 1440 dương lịch), sứ thần về nước gặp gió bị chết đuối 56 người, còn sống 83 người, quay lại Quảng Đông. Mệnh cho cơ quan hữu trách cấp lương dưỡng, chờ thuyền thuận tiện đưa về. Năm thứ 8 (năm 1443 dương lịch), Tham chính Quảng Đông là Trương Diễm (張琰) nói: Qua Oa triều cống quá thường xuyên, việc cung ứng tốn kém phiền hà, làm mệt nhọc Trung Hoa để thờ phụng người phương xa là điều không phải kế sách. Hoàng đế nghe theo, khi sứ giả về, ban sắc rằng: 'Các bang quốc ngoài biển đều 3 năm cống 1 lần, Vương cũng nên thể tất quân dân, nhất loạt tuân theo chế độ này'." *Năm Chính Thống thứ 11 (năm 1446 dương lịch), Qua Oa nhập cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Chính Thống thứ 11 (năm 1446 dương lịch) lại cống 3 lần, về sau thưa dần." === Đời Minh (明) - Thời Đại Tông (代宗)=== *Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 (năm 1452 dương lịch), Qua Oa vào cống. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện (明外史·瓜哇傳): "Năm Cảnh Thái thứ 3 (năm 1452 dương lịch), vua là Ba Lạt Vũ (巴剌武) sai sứ triều cống." Theo Minh hội điển (明會典): "Nước Qua Oa, năm Cảnh Thái thứ 3, vì quốc vương cầu xin, bèn ban cho 1 chiếc lọng che, 1 bộ y phục mãng long. Các sứ thần, thông sự, đầu mục khi mới đến được ban áo lụa tố la thêu chỉ vàng, giày vớ; phần thưởng chính thức là vải lụa, sa, la, lụa quyến. Nữ sứ cùng nữ đầu mục đều tùy theo vật phẩm cống nạp mà định giá ban thưởng." === Đời Minh (明) - Thời Anh Tông (英宗)=== *Năm Thiên Thuận (天順) thứ 4 (năm 1460 dương lịch), sứ giả Qua Oa đánh chết tăng nhân phương Tây, Lễ bộ hạch tội Hành nhân hộ tống, sứ giả xin để vua nước mình tự trị tội. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Thiên Thuận thứ 4 (năm 1460 dương lịch), vua Đô Mã Bản (都馬班) sai sứ nhập cống. Sứ giả khi về đến An Khánh (安慶), do say rượu đã đánh nhau với các tăng nhân phương Tây vùng Trường Hà Tây (長河西) cũng đang vào cống, làm 6 tăng nhân tử thương. Lễ bộ xin trị tội Hành nhân hộ tống. Sứ giả xin lệnh cho quốc vương tự mình trị tội, hoàng đế nghe theo." Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc thứ 16 (năm 1418 dương lịch) và 19 (năm 1421 dương lịch), Tây vương đều cống, còn Đông vương lâu không thấy tới, có lẽ đã bị thôn tính. Tháng 8 năm Thiên Thuận thứ 4 (năm 1460 dương lịch), vua Đô Mã Bản sai sứ dâng biểu triều cống phương vật, vua ban yến tiệc thưởng hậu, sai sứ mang sắc chỉ cùng gấm vóc về ban cho nhà vua và vương phi." === Đời Minh (明) - Thời Hiến Tông (憲宗)=== *Năm Thành Hóa (成化) thứ 1 (năm 1465 dương lịch), Qua Oa vào cống. (Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện chép như trên). === Đời Minh (明) - Thời Hiếu Tông (孝宗)=== *Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 12 (năm 1499 dương lịch), sứ giả Qua Oa gặp gió hư thuyền, chỉ có 1 thuyền của thông sự đến được Quảng Đông, chiếu lệnh chuyển cống vật về kinh sư, cơ quan hữu trách tùy nghi ban thưởng rồi cho về. Theo Minh ngoại sử - Qua Oa truyện: "Năm Hoằng Trị thứ 12 (năm 1499 dương lịch), sứ giả gặp gió hư thuyền, chỉ có 1 thuyền thông sự đến được Quảng Đông. Lễ bộ xin chiếu lệnh cơ quan hữu trách tùy nghi ban thưởng, cho sứ giả về, còn cống vật vẫn chuyển về kinh sư. Vua chuẩn y. Từ đó sứ giả hiếm khi đến. Nước này gần Chiêm Thành, đi 20 ngày đêm có thể tới. Quân nhà Nguyên tây chinh, từ tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 29 (năm 1292 dương lịch) phát từ Tuyền Châu (泉州), tháng Giêng năm sau đã tới nước ấy, khoảng cách chỉ hơn 1 tháng. Năm Tuyên Đức thứ 7 (năm 1432 dương lịch) vào cống, trong biểu ghi năm thứ 1.376, tính ra năm Nguyên Khang thứ 1 thời Hán Tuyên Đế (năm 65 trước Công nguyên) chính là năm khởi đầu lập quốc của họ. Đất rộng dân đông, tính tình hung hãn. Đàn ông không phân biệt già trẻ sang hèn đều đeo dao, hễ phật ý là giết nhau ngay, nên giáp binh của họ mạnh nhất trong đám phiên bang. Chữ viết loại Tỏa Lý (瑣里), không có giấy bút, khắc lên lá giao (茭葉). Khí hậu thường như mùa hè, lúa chín 2 vụ 1 năm. Không có bàn ghế thìa đũa. Người có 3 loại: người Hoa lưu ngụ thì phục sức tươi đẹp; thương nhân nước khác cư trú lâu cũng chuộng thanh khiết. Còn người bản quốc thì vô cùng uế tạp, thích ăn rắn, kiến, sâu bọ, nằm ngủ và ăn cùng với chó; hình dáng đen nhẻm, tóc như khỉ, chân trần. Sùng tín quỷ đạo, kẻ giết người nếu lẩn tránh được 3 ngày thì miễn tội. Cha mẹ chết thì khiêng ra đồng cho chó ăn, nếu ăn không hết thì buồn bã đốt phần còn lại; vợ thiếp đa phần nhảy vào lửa chết theo. Nước ấy một tên là Phủ Gia Long (莆家龍), lại gọi là Hạ Cảng (下港), hay Thuận Tá (順塔). Thời Vạn Lịch (萬曆), người Hồng Mao (紅毛 - Hà Lan) xây kho bằng đất ở phía Đông con gián lớn, người Phật Lang Cơ (佛郎機 - Bồ Đào Nha/Tây Ban Nha) xây ở phía Tây, hàng năm giao thương, thương lữ Trung Hoa qua lại không tuyệt. Nước ấy có Tân Thôn (新村), hiệu là giàu có nhất, tàu bè thương nhân Trung Hoa và các phiên quốc tụ hội đông đúc, bảo vật tràn ngập. Thôn chủ chính là người Quảng Đông, năm Vĩnh Lạc thứ 9 (năm 1411 dương lịch) tự mình sai sứ dâng biểu cống phương vật." Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Qua Oa xưa là Đồ Bà, nước có 4 nơi đều không thành quách. Trước vào Đỗ Bản (杜板), sau vào Tư Thôn (廝村), kế đến Tô Lỗ Mã Ích (蘇魯馬益), rồi đến Mãn Giả Bá Di (滿者伯夷) là vương đô. Cung vua 4 phía tường gạch, tường cao hơn 3 trượng (khoảng 10 mét), chu vi hơn 300 dặm. Cửa ngõ thâm nghiêm, nhà cao 4 trượng, sàn lát ván, trải chiếu hoa mây, ngồi xếp bằng, mái lợp bằng gỗ cứng. Dân ở nhà cỏ, bên trong xây kho gạch để ngồi nằm. Vua tóc rối, đội mũ lá vàng, ngực quấn khăn lụa thêu, lưng buộc dải gấm gọi là 'áp yêu' (yáp-yao), lưng giắt dao ngắn gọi là 'bất lạt đầu' (pǔ-là-tóu), đi chân đất, hoặc cưỡi voi, cưỡi bò. Dân gian nam tóc rối, nữ búi tóc, áo trên váy dưới. Đàn ông tất đeo dao, không kể già trẻ sang hèn đều vậy. Dao phải có vân tuyết hoa, đúc bằng sắt tân, cán sức bằng vàng hoặc sừng tê, ngà voi, thường chạm mặt quỷ, cực kỳ tinh xảo. Lúc hội họp nếu ai phạm vào đầu hoặc tranh đấu, tất dùng dao đâm, kẻ giết người lẩn trốn quá 3 ngày thì miễn tội. Nếu bị bắt ngay thì bị đâm chết. Quan không dùng roi vọt, tội không hỏi nặng nhẹ, dùng dây mây trói lại rồi đâm chết. Việc giết chóc là thường, không lấy làm lạ. Chợ búa dùng tiền đồng Trung Hoa. Đỗ Bản (杜板) là tên đất, khoảng hơn 1.000 nhà, do 2 tù trưởng cai quản. Có người lưu ngụ đa phần là người Quảng Đông, Chương Châu (漳州). Bên bãi biển có ao nhỏ, nước ngọt lành có thể uống, gọi là 'Thánh thủy'. Truyền rằng: Tướng nhà Nguyên là Sử Bật (史弼), Cao Hưng (高興) chinh phạt Đồ Bà, đánh cả tháng không được, bèn lên bờ. Ba quân thiếu nước, khát lắm, hai tướng khấn thầm rồi cắm thương xuống bãi, suối liền vọt ra, quân nhờ đó mà sống. Lại đi về phía Đông nửa ngày đến Tư Thôn, gọi là Cách Nhi (革兒). Xưa vốn là bãi cát, người Trung Hoa đến khách cư thành tụ lạc nên tên là 'Tân Thôn' (新村), khoảng hơn 1.000 nhà. Thôn chủ là người Quảng Đông. Tàu bè các phiên bang đến đây giao thương, vàng bạc bảo vật sung túc, dân cư đa phần giàu có. Lại theo đường thủy về phía Nam nửa ngày đến cửa cảng Tô Lỗ Mã Ích. Nước ngọt cạn hẹp, chỉ thông thuyền nhỏ, đi 20 dặm mới đến Tô Lỗ Mã Ích, gọi là Tô Nhi Ba Nha (蘇兒把牙), khoảng hơn 1.000 nhà, cũng có thủ lĩnh, có cả người Trung Hoa. Tại cửa cảng là châu lớn, rừng cây rậm rạp, hàng vạn con khỉ đuôi dài tụ tập, tục gọi là 'Hồ tôn'. Khỉ già làm chủ, từng bắt bà lão người phiên về sống cùng. Người trong nước cầu tự tất phải biện rượu thịt cầu xin khỉ già, khỉ ăn thừa xong cho đàn khỉ tranh nhau ăn, ăn hết một lúc thì khỉ đực cái giao phối, lấy đó làm điềm. Người cầu tự về tất có thai, nếu không thì không ứng nghiệm. Lại theo đường thủy 80 dặm đến bến tàu gọi là Chương Cô (漳沽), lên bờ đi bộ hướng Tây Nam nửa ngày đến Mãn Giả Bá Di chính là vương đô. Có khoảng 200-300 nhà, 7-8 vị tổng lĩnh đều là phụ tá của vua. Khí hậu thường nóng như mùa hè, lúa chín 2 vụ. Ngồi nằm không ghế chõng, ăn uống không thìa muỗng, miệng không rời trầu cau. Để cơm vào mâm, rưới váng sữa lên. Khi ăn nhổ bã trầu, hướng về mâm bốc mà ăn. Ăn xong uống nước, đãi khách bằng trầu cau. Người có 3 hạng: Hạng thứ nhất là thương nhân Tây phiên lưu lạc ở lâu, ăn mặc thanh nhã. Hạng thứ hai là người Đường (Trung Hoa) như người Quảng Đông, Chương Châu, Tuyền Châu lưu ngụ, ăn uống tươi đẹp, đa phần theo giáo Hồi Hồi (Hồi giáo), ăn chay thụ giới. Hạng thứ ba là dân bản địa, sắc mặt đen nhẻm, tóc rối chân trần, sùng tín quỷ đạo, nhà Phật gọi 'Quỷ quốc' chính là vùng này. Ăn uống thô ác, ăn rắn kiến sâu trùng, chỉ hơ qua lửa, ăn ngủ cùng chó, không lấy làm bẩn. Truyền rằng: 'Xưa có Quỷ Tử Ma Vương, mặt xanh da đỏ, râu tóc đỏ rực, giao cấu với Võng Tượng (loài quỷ) đẻ ra hơn 100 con, lấy người làm thức ăn. Chợt sấm động đá nứt, sinh ra một người. Mọi người lấy làm lạ, suy tôn làm chủ, bèn lĩnh binh đuổi Võng Tượng Quỷ Tử đi, từ đó người dân được yên'. Tục chuộng võ dũng, hàng năm tổ chức hội múa thương tre bắt đầu từ tháng 10 mùa đông. Vua cùng vợ ra xem, mỗi người ngồi một chiếc xe tháp, vợ trước chồng sau, xe cao hơn 1 trượng, 4 phía cửa sổ thông thoáng, dùng ngựa kéo. Đến hội mở trường, liệt trận đối hướng, mỗi người cầm thương tre, cứng chắc như sắt. Người lên trường cũng đưa vợ theo, vợ cũng cầm gậy 3 thước để đỡ, gọi là 'Na Lạt Cách' (nà-là-gé). Kẻ bị thương chết, vua sai người thắng cuộc đưa 1 ống tiền vàng trả cho người góa phụ, thế là xong. Phàm việc hôn nhân, trai đến nhà gái, sau khi hợp cẩn 5 ngày thì rước vợ về. Đánh cồng chiêng, thổi ống dừa, cầm đao khiên hộ tống, trước sau rất thịnh. Vợ thì mình trần xõa tóc đi chân đất, quấn khăn lụa thêu, đeo vàng ngọc, trang sức lộng lẫy không thiếu thứ gì. Họ hàng láng giềng cũng dùng hoa cau cỏ thơm bày thuyền hoa trợ giúp. Yến tiệc vui chơi vài ngày mới giải tán. Việc tang ma khi bệnh nặng tử đệ xin di mệnh, hoặc thủy táng, hỏa táng, hoặc khuyển phúc táng (cho vào bụng chó). Khiêng thây đến bờ biển, thả chó cho ăn, dù ăn hết hay không cũng nhặt phần còn lại ném xuống nước mới thôi. Thảm nhất là hỏa táng, thiếp nào được sủng ái thề đi theo chủ, trang điểm lộng lẫy gào khóc, đợi lửa thiêu xương cháy rực cũng nhảy vào lửa chết theo. Dân gian giàu có, giao thương dùng tiền cổ Trung Hoa. Chữ viết không có giấy, khắc lên lá giao, giống chữ Tỏa Lý. Lấy 20 lạng làm 1 cân, 16 tiền làm 1 lạng, 4 cô bang (gū-bāng) làm 1 tiền, mỗi bang là 2 phân 1 li 8 hào 7 ty 5 hốt. Chặt tre làm thăng (đấu), 1 thăng gọi là 1 cô lạt (gū-là), bằng 1 thăng 8 hợp Trung Hoa. Đấu gọi là nại lê (nài-lí), bằng 8 thăng, bằng 1 đấu 4 thăng 4 hợp Trung Hoa. Đêm rằm, phụ nữ phiên bang khoảng 20-30 người thành đội, dưới ánh trăng nắm tay nhau đi thành hàng, hát vè họa lại, đi khắp cửa quan nhà giàu, tất được thưởng tiền. Lại có người bày sách chỉ trỏ giảng giải cho đám đông, người ngồi nghe vây quanh có cười có khóc, rất động lòng người. Chuộng nhất là đồ sứ hoa Trung Hoa cùng với xạ hương, lụa hoa, gấm vóc. Sản vật có vừng trắng, đậu xanh, tô mộc, kim cương tử (hạt rudraksha), bạch đàn nhục, đậu khấu, mai rùa, đồi mồi, vẹt (có loại xanh đỏ 5 màu), chim liêu ca (yểng) đều biết nói. Lại có gà trân châu, chim đảo quải (vẹt treo ngược), cày kêu, công, chim sẻ trân châu, chim bồ câu xanh... Hươu trắng, vượn trắng, khỉ, dê, lợn, bò, ngựa, gà, vịt cũng có cả. Quả có chuối, dừa, mía (to dài khoảng 2-3 trượng), lựu, gương sen, hồng mật, lang hấp (langsep) giống tỳ bà hơi nhọn, bên trong có thịt trắng." Theo Quảng Đông thông chí: "Nước Qua Oa là đất Ha Lăng (訶陵) cổ. Một tên Đồ Bà, lại tên Phủ Gia Long, ở trên hòn đảo giữa biển Nam phía dưới Chân Lạp. Phía Đông giáp Bà Lợi (婆利), phía Tây giáp Đọa Bà Đăng (墮婆登), phía Bắc tiếp giáp Chân Lạp, phía Nam giáp biển lớn. Tống sử chép: Đông đến biển, đi biển 1 tháng; nửa tháng đến nước Khôn Lôn (崑崙). Tây đến biển đi 45 ngày. Nam đến biển đi 3 ngày; đi biển 5 ngày đến nước Đại Thực (大食). Bắc đến biển đi 4 ngày; hướng Tây Bắc đi biển 15 ngày đến Bột Ni (渤泥), lại 15 ngày đến Tam Phật Tề (三佛齊), lại 7 ngày đến Xiêm La (暹羅), lại 10 ngày đến Sài Lịch Đình (柴歷亭), đến Giao Chỉ rồi đạt tới Quảng Châu. Nước ấy lấy gỗ làm thành, có chữ viết, biết lịch pháp tinh tượng. Hạ chí dựng cột 8 thước, bóng đổ về phía Nam 2 thước 4 thốn. Cương vực Qua Oa: Đông giáp Cổ Nữ Nhân quốc, Tây giáp Tam Phật Tề, Nam giáp Cổ Đại Thực quốc, Bắc giới với Chiêm Thành. Từ Chiêm Thành nhổ neo thuận gió 20 ngày đêm có thể tới. Đất rộng dân đông, giáp binh thuốc súng thuộc hàng mạnh nhất trong các phiên quốc Đông Dương. Sách Phật gọi là 'Quỷ quốc' chính là nơi này. Cửa cảng vào đến bến tàu gọi là Tân Thôn (新村), nhà cửa hàng quán san sát thành chợ, thương lữ buôn bán đông nhất. Nước Tam Phật Tề bị nước này thôn tính, tên là Cựu Cảng (舊港) để phân biệt với Tân Thôn. Sứ giả tiến cống khi về lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông khoản đãi." Theo Khôn dư đồ thuyết (坤輿圖說): "Qua Oa có 2 đảo lớn nhỏ, đều ở hải đảo phía Đông Nam Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅喇), mỗi đảo có chủ riêng. Nhiều voi, không có ngựa lừa. Sản xuất hương liệu, tô mộc, ngà voi. Không dùng tiền, lấy hồ tiêu và vải làm tiền tệ. Người dân gian giảo hung ác, thích làm thuật phù thủy yểm bùa. Các nước mỗi khi dấy binh thường tranh giành voi trắng, voi trắng ở đâu thì nước đó làm minh chủ." == Qua Oa bộ vị khảo (爪哇部彙考) phần 2== === 《Minh Nhất Thống Chí》 (明一統志)=== ==== Qua Oa quốc sơn xuyên khảo (Khảo cứu núi sông nước Qua Oa)==== * Núi Bảo Lão Ngạn (保老岸山): Ở nước Tô Cát Đan (蘇吉丹國). Phàm hễ tàu bè phương Tây chưa đến nơi thì đã thấy núi này trước. Đỉnh núi có 5 ngọn cao vút, thường có mây bao phủ bên trên. * Núi Anh Vũ (鸚鵡山): Sản sinh chim anh vũ (vẹt), nên có tên như vậy. * Bát Tiết Giản (八節澗): Phía trên gián (khe nước) tiếp giáp với phủ của chúa Đỗ Mã Ban (杜馬班), phía dưới thông ra biển lớn Phủ Bôn (莆奔), là yết hầu của Qua Oa (瓜哇), vùng đất tất tranh. Đời Nguyên, Sử Bật (史弼) và Cao Hưng (高興) từng hội quân tại đây. ==== Qua Oa quốc thổ sản khảo (Khảo cứu sản vật nước Qua Oa)==== * Vàng (金), Bạc (銀). * Trân châu (真珠): Tên phương Tây là Một Đê Hạ La (沒爹蝦羅). * Sừng tê giác (犀角): Tên phương Tây là Đê Mật (低密). * Ngà voi (象牙): Tên phương Tây là Gia La (家囉). * Đồi mồi (玳瑁), Trầm hương (沉香), Hồi hương (茴香). * Thanh muối (青鹽): Không nhờ đun nấu, do phơi nắng mà thành. * Đàn hương (檀香): Cây và lá giống cây vải. * Long não hương (龍腦香), Đinh hương (丁香). * Tất trừng già (蓽澄茄 - Hồ tiêu khối): Dây leo lan rộng, mùa xuân ra hoa, mùa hạ kết quả, hoa trắng mà quả đen. * Đu đủ (木瓜), Dừa (椰子), Chuối (蕉子), Mía (甘蔗). * Khoai môn (芋), Bình lang (檳榔 - Trầu cau). * Hồ tiêu (胡椒): Cây như cây bồ đào (nho), lấy tre gỗ làm giàn giá. Tháng 1 ra hoa, tháng 4 kết quả, tháng 5 thu hái, phơi khô. * Lưu hoàng (硫黃), Hồng hoa (紅花), Tô mộc (蘇木), Gỗ quặng lang (桄榔木 - Gỗ cây báng). * Cát bối (吉貝 - Bông vải). * Vải giảo (絞布): Có loại giảo thêu tơ, giảo tơ tạp sắc. * Trang kiếm (裝劍 - Kiếm có trang trí), Chiếu mây (藤簟). * Anh vũ trắng (白鸚鵡). * Khỉ (猴): Trong núi ở nước này có nhiều khỉ, không sợ người, gọi bằng tiếng "tiêu tiêu" là chúng liền ra. Nếu ném quả cho ăn, thì có 2 con khỉ lớn đến trước, người bản địa gọi là "Khỉ vương" (猴王) và "Khỉ phu nhân". Chúng ăn quả xong, đàn khỉ mới ăn phần còn lại. Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Qua Oa (瓜哇國) nằm trong các hải đảo phía Đông Nam, chính là nước Đồ Bà (Java 闍婆) cổ. Từ đường trạm ở Tuyền Châu (泉州) khởi hành, 1 tháng có thể tới nơi. Trời không có sương tuyết, khí tiết 4 mùa thường nóng bức. Đất sản sinh hồ tiêu, không có thành trì binh giáp, kho lẫm phủ khố. Mỗi khi đến thời tiết lễ hội, quốc vương cùng các thuộc hạ cưỡi ngựa cầm thương diễn võ, kẻ thắng được ban thưởng, thân bằng cố hữu nhảy múa vui mừng. Kẻ bị thương chết thì người vợ cũng chẳng màng nhìn tới mà bỏ đi. Ăn uống dùng lá cây đựng, dùng tay bốc mà ăn. Tiệc tùng hội họp thì nam nữ ngồi thành hàng, cười nói ồn ào đến tận khi say khướt. Phàm các loại cỏ trùng, tất cả đều đem nấu ăn. Việc buôn bán ngoài chợ đều là phụ nữ. Cưới hỏi đa phần bàn chuyện tiền của, chồng chết không quá 10 ngày đã đi lấy người khác. : (Ghi chú: Theo Minh Nhất Thống Chí (明一統志), nước Qua Oa trước sau có 4 tên gọi, mà Tam Tài Đồ Hội lại chép thành "4 nước", mỗi nước đều có hình vẽ riêng, nay tạm để cả hai thuyết để cùng lưu giữ). [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic105 - 瓜哇國.svg|center]] ==Đại Chà Và quốc 大闍婆國== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic102 - 大闍婆國.svg|center]] Đại Chà Và quốc đồ khảo 大闍婆國 Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), nước Đại Đồ Bà (Java 大闍婆國) còn có tên là Phủ Gia Long (莆家龍), đi thuyền buồm 8 ngày có thể tới nơi. Xưa truyền rằng nước ấy sấm động đá nứt, có một người bước ra, sau được lập làm vua, con cháu người ấy nay vẫn còn. Nơi đây sản sinh thanh muối, cừu, chim anh vũ (vẹt), du châu, bảo bối... Lại nói trong nước ấy có hạng người "phi đầu" (đầu bay), người đó mắt không có con ngươi, đầu có thể bay đi. Thần linh mà phong tục họ thờ cúng tên gọi là "Trùng Lạc" (虫落), nên gọi là họ Lạc (落氏). Thời Hán Vũ Đế (漢武帝), phương Nam có dân "giải hình" (tách rời thân thể), có thể khiến đầu bay đến biển Nam (南海), tay trái bay đến biển Đông (東海), tay phải bay đến đầm phía Tây (西澤). Đến tối, đầu quay về trên vai, hai tay nếu gặp gió dữ thì sẽ bị thổi dạt ra ngoài biển khơi. ==Ha Lăng quốc 訶陵國== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic103 - 訶陵國.svg|center]] Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會): "Nước Ha Lăng (訶陵國) ở phía Nam nước Chân Lạp (真臘國), dựng gỗ làm thành, xây nhà lớn lầu cao, lợp bằng vỏ cây tông (棕), dùng ngà voi làm giường, lấy hoa dừa làm rượu. Dùng tay bốc ăn. Có độc, người thường ngủ cùng phòng liền sinh lở loét, giao hợp với đàn bà tất sẽ chết, nước dãi dính vào cỏ cây thì cây cỏ liền khô héo." ==Phủ Gia Long quốc (莆家龍)== [[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic104 - 莆家龍.svg|center]] Theo Tam Tài Đồ Hội (三才圖會), Phủ Gia Long (莆家龍) ở phía Đông Nam biển, từ Quảng Châu (廣州) nhổ neo, thuận gió 1 tháng có thể tới nơi. Quốc vương búi tóc sau gáy, nhân dân cạo đầu. Lấy dừa ủ rượu, sắc rượu hồng trắng mà vị rất ngon. Nơi đây sản sinh hồ tiêu, đàn hương, trầm hương, đinh hương, bạch đậu khấu. ---- '''Nguồn tham khảo bổ sung''' * [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Trung Quốc]] 6go86t247hfnu6vof1fvjz5j6r5bzpb Thể loại:Ứng cử viên tác phẩm chọn lọc 14 71952 204706 2026-04-15T03:07:50Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “[[Thể loại:Tác phẩm chọn lọc]]” 204706 wikitext text/x-wiki [[Thể loại:Tác phẩm chọn lọc]] rx4zdjf55yr1yvvvzdgwykww23yg368 Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/2026 10 71953 204710 2026-04-15T03:12:03Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2026]] 204710 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2026]] bidmvg56etlsovntro4qzrai7cq2i4q Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/2025 10 71954 204711 2026-04-15T03:12:30Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2025]] 204711 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2025]] fx576irr3mh51yk6eya268gwyt0wqe4 Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/2024 10 71955 204712 2026-04-15T03:13:13Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2024]] 204712 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2024]] ohruzxi8tvim7nezobp87fowcjdf13y Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/2023 10 71956 204713 2026-04-15T03:13:35Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2023]] 204713 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2023]] 2obtot1kdthwktq70968j7ds10wkxhw Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/2022 10 71957 204714 2026-04-15T03:13:57Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2022]] 204714 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2022]] 40hd7dkxdq7sh93d2i843so1uwvp4rk Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/2021 10 71958 204715 2026-04-15T03:14:19Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2021]] 204715 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2021]] ampv8ofilhh3t4ulqz4j4q69b37q7qt Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/2020 10 71959 204716 2026-04-15T03:14:51Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2020]] 204716 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2020]] pu442phbg36wz2i6cdsg8nrmbjfcuga Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/2019 10 71960 204717 2026-04-15T03:15:25Z ~2026-23089-57 20074 [[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2019]] 204717 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Trang Chính - Tác phẩm chọn lọc/Lưu#2019]] gld2gmro6op9pgvnpqbbjdah6pox71t Trang:Tien bac bac tien.pdf/33 104 71961 204729 2026-04-15T10:10:31Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204729 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 31 —|}}</noinclude>Vạn giàu lớn đương sửa soạn tranh cử Hội-đồng Quản-hạt thì bà lại càng mừng nhiều hơn nữa. Hai bên hiệp ý nhau mà định một tháng nữa, trúng nhầm ngày lễ Đình-chiến, sẽ làm lễ hỏi. Bữa nọ, lối 4 giờ chiều, Bá-Vạn đương nằm trên ghế xích-đu mà đọc nhựt-báo, còn vợ thì ngồi trên bộ ván ngang đó mà ăn trầu. Thình-lình Đỗ-thị nói với chồng rằng: « Mình bậy quá, hổm nay mình đi Cholon hoài mà không ghé thăm chị Phủ, rồi luôn dịp thưa cho chỉ hay sự mình tính ra tranh cử Hội đồng và sự gả con nhỏ. Như việc tranh cử Hội-đồng dầu mình không thưa trước cho chỉ hay cũng không mấy hại, chớ việc mình gả con nếu không thưa trước chắc là chỉ hờn. » Bá-Vạn và xếp tờ nhựt-báo và nói rằng: — Ối! Thưa hay là không thưa cũng vậy! — Sao mình lại nói vậy? Chỉ là chị, mà chỉ lại giàu có lớn, bề nào mình cũng phải uật hạ chỉ chớ. — Chỉ giàu thì chỉ ăn, chớ mình ăn được hay sao mà uật hạ cho uổng công. Bây giờ chỉ thấy tôi giàu rồi chỉ mới tới lui chị chị em em, chớ<noinclude></noinclude> 39uf7xhkomvwha8zooou139e3pfoyf8 Trang:Tien bac bac tien.pdf/34 104 71962 204730 2026-04-15T10:10:34Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204730 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 32 —|}}</noinclude>hồi trước tôi nghèo, làm thầy giáo tổng ăn lương mỗi tháng có 16 đồng bạc, khi đau ốm hoặc sắm áo quần hụt tiền, gởi thơ xin chỉ chút đỉnh, chỉ mắng vãi trên đầu, nói theo báo chỉ, mà rồi cũng không gởi cho được một đồng su nhỏ nào. — Chuyện cũ hơi nào mà nhắc lại. Chị em không mấy người, thuận hòa với nhau đặng nưng đỡ nhau không tốt hơn hay sao. Để tôi nói chuyện này cho mình nghe: chị Phủ năm nay đã trên 50 tuổi rồi. Chỉ có sự nghiệp lớn mà không có con; không phải là rủa chỉ, song ví dụ mà nghe, một ngày kia chỉ theo ông theo bà rồi gia tài của chỉ đó ai ăn? Không phải về con mình ăn hay sao? Vậy thì mình nên chịu lòn chỉ chở nghịch ý chỉ làm gì. — Chị đó tánh ý khó chịu lắm mà, ai mà thuận với chỉ cho được. — Đã biết tánh chỉ khó mặc dầu, song phải rán mà chịu chớ. Ngồi nói chuyện với chỉ thì chỉ coi mình như rơm như rác, ai mà chịu cho nổi. — Chỉ là chị, mình là em, dầu chỉ có mắng nhiếc mình đi nữa, mà mình nhịn thua, ai lại cười chê gì hay sao? Phận tôi đây, tôi không<noinclude></noinclude> m9mx3ctybchrus5zecquct5ne3tbbo7 Trang:Tien bac bac tien.pdf/35 104 71963 204731 2026-04-15T10:10:36Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204731 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 33 —|}}</noinclude>cần, ai giỏi cười thì cười, miễn là có tiền nhiều thì thôi. Có lẽ Bá-Vạn cho lời của vợ nói đó là phải, nên ngồi lặng thinh không cãi nữa. Đỗ-Thị thấy vậy mới nói tiếp rằng: « Mình phải nghe lời tôi. Mai mốt có rảnh vô mà thăm chỉ một chút, đặng thưa việc nhà của mình cho chỉ hay. Nầy, tôi coi ý chỉ thương con Thanh-Kiều lắm, nếu mình gả nó mà không thưa trước với chỉ chắc chỉ giận đa. Mình gả được nó cho ông Thầy-thuốc thì có phước quá, chớ phải gả chỗ hư hèn gì hay sao, nên sợ không dám cho chỉ hay. Không biết chừng mình thưa cho chỉ hay đây chỉ mua hột-xoàn mà cho nó nữa chớ. » Đỗ-Thị nói vừa dứt lời, kể nghe tiếng xe-hơi ngừng ngoài cửa, dòm ra thấy bà Phủ Khánh-Long, thì hối chồng mau mau chạy ra tiếp rước. Vợ chồng Bá-Vạn dắc nhau ra tới ngoài đường mà chào. Bà Phủ không thèm ngó tới, cứ ngồi trên xe và mắng tên sốp-phơ rằng: « Quân mầy thiệt là không có tâm để gì hết! Tao dặn có bao nhiêu đó mà quên hoài: tao biểu hễ tao đi chơi thì phải đem đồ theo cho đủ, có một cái ống nhỏ mà mầy quên. Thế khi mầy đề ở nhà mà thờ cha mầy phải hôn? » {{nop}}<noinclude></noinclude> 441n1gyneundgop3ovkte67eegewk5e 204736 204731 2026-04-15T10:15:41Z ~2026-23135-49 20076 204736 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 33 —|}}</noinclude>cần, ai giỏi cười thì cười, miễn là có tiền nhiều thì thôi. Có lẽ Bá-Vạn cho lời của vợ nói đó là phải, nên ngồi lặng thinh không cãi nữa. Đỗ-Thị thấy vậy mới nói tiếp rằng: « Mình phải nghe lời tôi. Mai mốt có rảnh vô mà thăm chỉ một chút, đặng thưa việc nhà của mình cho chỉ hay. Nầy, tôi coi ý chỉ thương con Thanh-Kiều lắm, nếu mình gả nó mà không thưa trước với chỉ chắc chỉ giận đa. Mình gả được nó cho ông Thầy-thuốc thì có phước quá, chớ phải gả chỗ hư hèn gì hay sao, nên sợ không dám cho chỉ hay. Không biết chừng mình thưa cho chỉ hay đây chỉ mua hột-xoàn mà cho nó nữa chớ. » Đỗ-Thị nói vừa dứt lời, kể nghe tiếng xe-hơi ngừng ngoài cửa, dòm ra thấy bà Phủ Khánh-Long, thì hối chồng mau mau chạy ra tiếp rước. Vợ chồng Bá-Vạn dắc nhau ra tới ngoài đường mà chào. Bà Phủ không thèm ngó tới, cứ ngồi trên xe và mắng tên sốp-phơ rằng: « Quân mầy thiệt là không có tâm để gì hết! Tao dặn có bao nhiêu đó mà quên hoài: tao biểu hễ tao đi chơi thì phải đem đồ theo cho đủ, có một cái ống nhỏ mà mầy quên. Thế khi mầy để ở nhà mà thờ cha mầy phải hôn? » {{nop}}<noinclude></noinclude> 6ahuzwhk2u6om7pnb776zput89nofii Trang:Tien bac bac tien.pdf/36 104 71964 204732 2026-04-15T10:10:39Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204732 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 34 —|}}</noinclude>Tên sốp-phơ vừa bước xuống xe vừa bẩm rằng: « Bẩm bà lớn, hồi nãy tôi có nhắc con Lại đem theo mà tại nó quên..... » Bà Phủ nạt rằng: « Nín! Đồ chó! Không nên thân rồi còn nói giống gì nữa. » Bá-Vạn thò tay mở cửa xe, còn Đỗ-Thị mời bà Phủ vô nhà. Bà Phủ trên xe bước xuống rồi thủng-thẳng đi trước, vợ chồng Bá-Vạn đi theo sau. Vô tới sân Đỗ-Thị ngó trong nhà kêu lớn rằng: « Thanh-Kiều a, có cô con ra đây, con đi đâu sao không ra mà mừng cô con vậy con? » Thanh-Kiều bước xuống thềm nhà, chấp tay xá bà Phủ, rồi đứng nép lại một bên. Bà Phủ liếc ngó Thanh-Kiều và nói rằng: « Mẹ kiếp nó đợi tôi ra thăm nó, chớ đời nào nó thèm vô thăm tôi. » Thanh-Kiều ú-ớ không biết tiếng chi mà đáp, Đỗ-thị thấy vậy mới hớt mà trả lời rằng: — Bẩm chị, mấy tháng nay việc nhà lộn-xộn quá, mẹ con tôi không đi đâu được hết. Hai vợ chồng tôi mới bàn tính với nhau hồi nãy đây, tính vô bẩm việc nhà cho chị hay. — Bẩm việc gì? {{nop}}<noinclude></noinclude> mnz9weakmuurx1rs6m4idiy3sy0uz98 Trang:Tien bac bac tien.pdf/37 104 71965 204733 2026-04-15T10:10:41Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204733 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 35 —|}}</noinclude>— Việc thiếu gì, mà việc cũng là lớn lắm. Xin chị vô nhà rồi tôi sẽ bẩm cho chị nghe. Bà Phủ vô nhà, kéo ghế ngồi tại bàn giữa. Đỗ-Thị lăng-xăng lịch-xích, hối gia-dịch súc bình bỏ trà ngon rồi chế nước cho mau, hối Thanh-Kiều rọc trầu, bửa cau tươi, lấy ống nhổ đồng bạch. Bà Phủ ngó Bá-Vạn mà hỏi rằng: — Hai vợ chồng con Thanh-Huê nó có hay về nhà hay không? — Dạ, thưa nó về hoài. — Nó làm việc đủ ăn hay không? — Ối! Nó hụt tiền tháng nào cũng về xin mãi. — Hễ có vợ có chồng rồi thì phải lo làm ăn chớ xin nỗi gì. — Nó nghèo bây giờ mình nỡ bỏ nó hay sao? — Mầy dại lắm! Ai biểu hồi đó gả nó cho con nhà nghèo làm chi! Bá-Vạn day mặt ra cữa không trả lời. Bà Phủ mới nói tiếp rằng: « Có vậy cho bây tởn đặng sau có gả con Thanh-Kiều đừng có gả cho quân nghèo nữa. » Đỗ-Thị kéo ghế ngồi gần bà Phủ, têm một miếng trầu rồi cầm hai tay mà đưa và nói<noinclude></noinclude> os83hyufsvms7kds7zp86qfkh967w36 Trang:Tien bac bac tien.pdf/38 104 71966 204734 2026-04-15T10:10:44Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204734 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 36 —|}}</noinclude>rằng: « Bẩm chị ăn trầu đây. Hồi sớm mơi bầy trẻ ở nhà đi chợ Tân-Định nên mua cau không được ngon. Tôi không dè chị ra chơi, chớ phải tôi hay trước thì tôi đã sai bầy trẻ đi xuống chợ Bến-Thành nó mua mới có cau tốt. » Bà Phủ lấy miếng trầu và đút vô miệng và hỏi rằng: « Hồi nãy bây nói muốn vô bẩm việc nhà cho tao hay, vậy chớ việc gì đó. » Đỗ-Thị liếc mắt nháy chồng, có ý muốn cho chồng khởi đầu mà nói. Bá-Vạn chúm-chím cười và nói rằng: — Tôi tính kỳ này tôi ra tranh cử Hội-đồng. — Hội-đồng gì? — Hội-đồng Quản-hạt. — Mầy mà làm Hội-đồng nỗi gì? — Ủa! vậy chớ họ đó, họ lại hơn gì tôi, mà họ cũng làm được vậy sao! Đỗ-Thị xen vô mà nói rằng: « Bẩm chị, ba nó nghĩ bây giờ làm ăn khá rồi, trong nhà có năm bảy muôn, nếu không có quyền tước chút đỉnh, thì thiên hạ họ khi, nên mới tính ra làm Hội-đồng Quản-hạt một khóa chơi với người ta vậy mà, dầu tốn hao chút đỉnh cũng không sá gì. » {{nop}}<noinclude></noinclude> 4mgv0wi3u4gta0gf5d9fea13rl8p1n9 Trang:Tien bac bac tien.pdf/39 104 71967 204735 2026-04-15T10:10:47Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 204735 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 37 —|}}</noinclude>Bà Phủ cười gắn và đáp rằng: « Ra tranh cử phải tốn hao nhiều; mà làm được thì họ kêu « ông Hội-đồng » vậy thôi, chớ có ích lợi gì đâu. » Bá-Vạn châu mày đáp rằng: — Chị mà biết giống gì! Chị đợi tôi làm được Hội-đồng rồi chị coi tôi có làm giàu lớn hơn nữa hay không mà. — Mầy làm sao mà làm giàu? — Chị không hiểu, chớ đời bây giờ làm nghề nào lợi cho bằng làm Hội-đồng: ai muốn làm Huyện-hàm Phủ-hàm mình đi lo giùm kiếm ít nào cũng năm bảy ngàn; ai muốn sắm súng mình đi nói giùm kiếm mạt lắm cũng năm sáu trăm; Phủ Huyện và mấy thầy muốn lên chức hoặc đổi đi chỗ tốt, mình giúp lời tự nhiên họ phải đền ơn; chỗ nào có cử Cai-tổng mình xía vô càng no hơn nữa. Đã vậy mà mình còn có thể khẩn ruộng đất khỏi tốn tiền; lại hễ mình biết cách làm cho quan trên vừa lòng, mình còn được mề-đay đồ nữa, không khoái hay sao? — Tao thấy họ làm Hội-đồng rồi họ cải lẽ sao đó mà dân nó chưởi quá, như vậy mà khoái nỗi gì! {{nop}}<noinclude></noinclude> 4q43odoma5g7we25e45pqekgwf96xzu