Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.46.0-wmf.24
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Thành viên:Mrfly911
2
68467
204741
204625
2026-04-16T03:20:03Z
Mrfly911
2215
/* Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912) */
204741
wikitext
text/x-wiki
== Các tài liệu đóng góp và tham khảo ==
{{Nhị thập tứ sử}}
{{Kinh điển Phật giáo}}
===Xuân Thu (770 - 481 TCN)===
* [[Đạo Đức kinh]]
=== Chiến Quốc (476–221 TCN)===
'''Chủ đề Y dược.'''
* [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]]
* [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]]
* [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]]
* [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]]
** [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]]
** [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]]
* [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]]
* [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]]
* [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]]
* Nam dược thần hiệu (南藥神效)
* Hồng Nghĩa giác tư y thư
* Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領)
* [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]]
* [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]]
* [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]]
* [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]]
* [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]]
* [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]]
* [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]]
----
=== Hán (206 TCN - 9)===
* [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]]
** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]]
** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]]
* [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]]
** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾)
* [[Tác gia:Tư Mã Thiên]]
** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]]
*** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]]
** [[:zh:素王妙論]]
** [[:zh:悲士不遇賦]]
** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944)
** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch)
** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]])
* [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]]
** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]]
* [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]]
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
===Đông Hán (25–220)===
* [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]]
** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]]
*[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]]
----
* [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]]
** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]]
=== Tào Ngụy ===
* [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360)
=== Đông Ngô ===
* [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]]
* [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]]
** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]]
** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]]
=== Tấn ===
* [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]]
----
* [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]]
** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]]
* [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]]
** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]]
===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)===
* [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]]
** KINH (經)
*** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển
***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển
*** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng)
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển)
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển
** LUẬT (律)
*** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển
** LUẬN (論) & PHÁP (法)
*** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển
*** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển
*** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp)
** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP
*** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển
----
* [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]]
** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]]
**:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng.
** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]]
----
* [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442)
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
===Nam–Bắc triều (420–589)===
==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ====
* [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]]
=== Đường 618–907)===
* [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]]
* [[Lữ ngụ An Nam]]
* [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]]
* [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]]
* [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]]
* [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]]
** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]]
** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]]
----
* [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]]
* [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713)
** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]]
** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762)
** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]]
* [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]]
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]])
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]])
===Ngũ đại Thập quốc (907–979)===
* [[Tân Ngũ Đại sử]]
===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)===
* [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178)
* [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186)
* [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]]
* [[Tục tư trị thông giám]]
* [[Tư trị thông giám trường biên]]
=== Trần # Nguyên (1260–1368)===
* [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]]
* [[:zh:安南志畧]]
** [[Biên dịch:An Nam chí lược]]
* [[Biên dịch:Nguyên sử]]
** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]]
*[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]]
**Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]]
* [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]]
=== Trần - Lê # Minh (1368–1644)===
* [[:zh:越史略|越史略]]
** [[Biên dịch:Việt sử lược]]
* [[Biên dịch:Minh thực lục]]
** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]]
*** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]]
* [[Biên dịch:Minh sử]]
** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]]
* [[Bình An Nam chiếu]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]]
* [[:zh:殊域周咨錄]]
** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]]
* [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]]
* [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]]
* [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội]
=== Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)===
* [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]]
* [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]]
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]]
***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]]
*** ...
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]]
* [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]]
** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]]
*[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
**[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
*[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]]
**[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]]
*[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
*[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
* [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]]
* [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]]
* [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]]
* [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]]
----
====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành====
* [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]])
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]]
==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu==
<nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki>
hoặc
<pre>
<inputbox>
type=search
width=30
placeholder=Tìm trong trang này
searchbuttonlabel=Tìm
fulltext=false
prefix={{FULLPAGENAME}}
</inputbox>
</pre>
==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn==
===Dịch lịch sử===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ.
===Dịch kinh Phật===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt theo các yêu cầu sau: Nếu là các đoạn văn xuôi: dịch đơn giản, thuần Việt, không giải thích, không lược bỏ. Giữ đúng bố cục, thứ tự.
Nếu là các bài kệ: dịch theo thể kinh kệ ra tiếng Việt, đơn giản, dễ hiểu. Kèm theo một bài diễn thơ thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ luật chặt chẽ, âm hưởng trang trọng.
===Dịch y học===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ.
iyqkrnm8wh1ef4ciu50nou2ohzo63lv
Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển
114
71913
204748
204627
2026-04-16T10:18:02Z
Mrfly911
2215
204748
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典
| năm= 1726
| phần = Phương dư vị biên<br>'''Biên duệ điển'''
| trước=
| sau=
| ghi chú= Phương dư (方舆): Ghi chép về khoáng vật, địa lý hành chính, hệ thống sông ngòi núi non, và các ngoại phiên (các nước lân bang).
}}
{{tìm kiếm}}
{| class="wikitable" style="width: 75%; "
! style="width: 17%;"| Bộ
! style="width: 11%;"| Vị khảo
! style="width: 11%;"| Tổng luận
! style="width: 11%;"| Nghệ văn
! style="width: 11%;"| Tuyển cú
! style="width: 11%;"| Kỷ sự
! style="width: 11%;"| Tạp lục
! style="width: 11%;"| Ngoại biên
|-
! [[/Biên duệ tổng bộ|Biên duệ tổng bộ]]
| [[/quyển 001|1]] [[/quyển 002|2]] [[/quyển 003|3]] [[/quyển 004|4]] [[/quyển 005|5]] [[/quyển 006|6]] [[/quyển 007|7]] [[/quyển 008|8]] [[/quyển 009|9]] || [[/quyển 010|10]] [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 012|12]] || || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]]
|-
! ...
||| || || || || ||
|-
! [[/Nam phương chư quốc tổng bộ |Nam phương chư quốc tổng bộ]]
| [[/quyển 089|quyển 89]] || [[/quyển 089|quyển 89]] || || || [[/quyển 089 |quyển 89]] || ||
|-
! [[/An Nam bộ|An Nam bộ]]
| [[/quyển 090|90]] [[/quyển 091|91]] [[/quyển 092|92]] [[/quyển 093|93]] [[/quyển 094|94]] || || [[/quyển 095|95]] || || [[/quyển 095|95]] || [[/quyển 095|95]] ||
|-
! ...
||| || || || || ||
|-
! ...
||| || || || || ||
|-
! [[/Lâm Ấp bộ |Lâm Ấp bộ]]
| [[/quyển 096|quyển 96]] || || || || || ||
|-
! [[/Phù Nam bộ |Phù Nam bộ]]
| [[/quyển 097|quyển 97]] || || || || || ||
|-
! [[/Qua Oa bộ |Qua Oa bộ (Java)]]
| [[/quyển 097|quyển 97]] || || || || || ||
|-
! [[/Tam Phật Tề bộ |Tam Phật Tề bộ]]
| [[/quyển 098|quyển 98]] || || || || || ||
|-
! ...
||| || || || || ||
|-
! [[/Xiêm La bộ |Xiêm La bộ]]
| [[/quyển 101|quyển 101]] || || || || || ||
|-
! [[/Chân Lạp bộ |Chân Lạp bộ]]
| [[/quyển 101|quyển 101]] || || || || || ||
|-
! [[/Chiêm Thành bộ |Chiêm Thành bộ]]
| [[/quyển 103|quyển 103]] || || || || [[/quyển 103|quyển 103]] || ||
|-
! ...
||| || || || || ||
|}
----
'''Nguồn bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka2bttgi06?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
3xbcs8j3zscz477mt1g9m9wumlvczx4
Thảo luận:Làm lẽ
1
71968
204737
2026-04-15T12:26:15Z
~2026-23407-15
20078
Mục mới: /* phân tích thơ */
204737
wikitext
text/x-wiki
== phân tích thơ ==
Bài thơ “Làm lẽ” của Hồ Xuân Hương là một tiếng nói vừa chua chát vừa mạnh mẽ về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.Bài thơ không chỉ biểu lộ cảm xúc mà còn phản ánh hiện thực một cách sâu sắc và thể hiện rõ cá tính nghệ thuật độc đáo của “Bà chúa thơ Nôm”.
Trước hết, ngay từ nhan đề “Làm lẽ”, tác giả đã gợi ra một thân phận éo le. “Làm lẽ” không phải là một lựa chọn tự nguyện mà thường là sự ép buộc của hoàn cảnh. Điều đó khiến người phụ nữ ngay từ đầu đã ở vị thế thấp kém, thiệt thòi trong tình yêu và hôn nhân. Vào trong bài thơ, Hồ Xuân Hương đã khắc họa rõ nỗi tủi hờn ấy qua cách nói đầy ẩn ý:”kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”.
Phân tích sâu hơn, ta thấy nỗi đau không chỉ nằm ở hoàn cảnh mà còn ở tâm trạng. Giọng điệu bài thơ mang sắc thái vừa mỉa mai vừa chua xót. Những cách diễn đạt tưởng như nhẹ nhàng nhưng lại ẩn chứa sự cay đắng, như một lời than thân mà cũng là lời tố cáo.Hai câu thơ “Năm thì mười họa hay chăng chớ”, “Một tháng đôi lần có như không” đối với nhau,thể hiện cảm giác cô đơn,lẻ loi của người phụ nữ “chung chồng”.Ngôn ngữ bộc trực càng làm nổi bật sự cam chịu của người phụ nữ.
Bên cạnh nội dung, nghệ thuật của bài thơ cũng rất đặc sắc. Cách dùng từ tinh tế, hình ảnh giàu sức biểu cảm, giọng điệu linh hoạt đã góp phần làm nổi bật chủ đề. Tác giả sử dụng rất tinh tế biện pháp điệp từ qua việc lặp lại các từ “xôi”, “mướn”. “Xôi” vốn gắn với những nghi lễ cưới hỏi, tượng trưng cho hôn nhân, còn “mướn” lại gợi sự tạm bợ, rẻ rúng. Sự kết hợp và lặp lại hai từ này đã tạo nên một nghịch lí đầy chua chát: hôn nhân – vốn thiêng liêng – lại trở thành thứ có thể “thuê mướn”. Qua đó, tác giả không chỉ khắc sâu nỗi tủi hờn của người phụ nữ làm lẽ mà còn thể hiện thái độ mỉa mai, phê phán gay gắt xã hội phong kiến bất công.Việc sử dụng điệp ngữ còn làm tăng sức gợi cảm và nhấn mạnh nỗi đau như lặp đi lặp lại, day dứt không nguôi trong tâm trạng nhân vật trữ tình.
Một điểm đáng nhắc đến nữa là ngôn ngữ của bài thơ.Ngôn ngữ của thơ Hồ Xuân Hương bình dị,gần gũi như”đắp chăn bông”,”làm mướn”,...nhưng lại xen vào đó là những từ táo bạo,mạnh mẽ:”chém cha cái kiếp”,...
Ở hai câu thơ cuối bài “Làm lẽ”,tác giả đã ẩy cảm xúc bài thơ lên cao trào và khép lại bằng một nỗi cay đắng sâu sắc. Cách xưng “thân này” gợi lên ý thức về thân phận nhỏ bé, tội nghiệp của người phụ nữ; còn “ví biết” là lời tiếc nuối muộn màng khi đã lỡ bước vào cảnh làm lẽ.Câu hỏi tu từ “ví biết duờng này nhỉ” không mang ý hỏi mà như một tiếng thở dài đầy xót xa.Câu thơ “Thà trước thôi đành ở vậy xong” gợi lên sự bất lực,tiếc nuối của 1 người đàn bà lỡ làng.
Tóm lại, bài thơ “Làm lẽ” của Hồ Xuân Hương không chỉ là tiếng lòng đầy xót xa của người phụ nữ trong cảnh chung chồng mà còn là lời tố cáo sâu sắc chế độ phong kiến bất công. Với ngôn ngữ giản dị mà táo bạo, giọng điệu chua chát mà mạnh mẽ, tác giả đã thể hiện rõ nỗi đau cùng khát vọng được sống hạnh phúc, được trân trọng của người phụ nữ. – [[Đặc biệt:Đóng góp/~2026-23407-15|~2026-23407-15]] ([[Thảo luận Thành viên:~2026-23407-15|thảo luận]]) 12:26, ngày 15 tháng 4 năm 2026 (UTC)
j0adtefbylwr2cr6jph7cnwlvbhkfg2
Tác gia:Hoàng Ngọc Phách
102
71969
204738
2026-04-15T16:41:08Z
Megatracer
18779
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{tác gia | họ-tên = Hoàng Ngọc Phách | họ = Hoàng | tên = Ngọc Phách | chữ đầu tên = P | năm sinh = 1896 | năm mất = 1973 | mô tả = húy Tước,hiệu Song An. Tác giả tiểu thuyết chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, "Tố Tâm" (1925) }} ==Tác phẩm== [[Tố Tâm]] (Tiểu thuyết,1925) <!-- vui lòng ghi giấy phép của tác gia ở đây, xem Trợ gi…”
204738
wikitext
text/x-wiki
{{tác gia
| họ-tên = Hoàng Ngọc Phách
| họ = Hoàng
| tên = Ngọc Phách
| chữ đầu tên = P
| năm sinh = 1896
| năm mất = 1973
| mô tả = húy Tước,hiệu Song An. Tác giả tiểu thuyết chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, "Tố Tâm" (1925)
}}
==Tác phẩm==
[[Tố Tâm]] (Tiểu thuyết,1925)
<!-- vui lòng ghi giấy phép của tác gia ở đây, xem [[Trợ giúp:Thẻ bản quyền]] -->
{{kiểm soát tính nhất quán}}
73ml0kllho0q1gu88qgdo6m5ofr2qvh
Tố Tâm
0
71970
204739
2026-04-15T16:44:23Z
Megatracer
18779
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = Tố Tâm | tác giả = Hoàng Ngọc Phách | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | năm = | ghi chú = }} ==Mục lục== [[Chương 1]] [[Chương 2]] [[Chương 3]] [[Chương 4]] [[Chương 5]]”
204739
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Tố Tâm
| tác giả = Hoàng Ngọc Phách
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm =
| ghi chú =
}}
==Mục lục==
[[Chương 1]]
[[Chương 2]]
[[Chương 3]]
[[Chương 4]]
[[Chương 5]]
103beq9jy840wodq8lkzje5taywiucc
204740
204739
2026-04-15T16:50:10Z
Megatracer
18779
204740
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Tố Tâm
| tác giả = Hoàng Ngọc Phách
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm =
| ghi chú =
}}
==Mục lục==
[[/Chương 1|Chương 1]]
[[/Chương 2|Chương 2]]
[[/Chương 3|Chương 3]]
[[Chương 4]]
[[Chương 5]]
6qolbuqgouzefyzbgj6ay7hgbs12r1i
Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 101
114
71971
204742
2026-04-16T04:08:58Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第101卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 101''' | trước= [[../quyển 100|quyển 100]] | sau= [[../quyển 102|quyển 102]] | ghi chú = }} ==XIÊM LA bộ vị khảo (暹羅部彙考)== ''' (…”
204742
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第101卷
| năm= 1726
| phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 101'''
| trước= [[../quyển 100|quyển 100]]
| sau= [[../quyển 102|quyển 102]]
| ghi chú =
}}
==XIÊM LA bộ vị khảo (暹羅部彙考)==
''' (Xích Thổ 赤土 - Xiêm La Hộc 暹羅斛) '''
===Tùy===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế (隋煬帝) [năm 607], sai quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ.'''
Theo Tùy thư - Dạng Đế bản kỷ (隋書煬帝本紀) thì không chép việc này. Theo Xích Thổ bản truyện (赤土本傳): "Nước Xích Thổ (赤土國) là một chủng loại khác của Phù Nam (扶南). Nằm ở trong biển Nam Hải (南海), đi đường thủy hơn 100 ngày thì đến kinh đô. Đất sắc đỏ nhiều nên lấy đó làm tên nước. Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Bà La Sa (婆羅娑國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm.
Vua nước ấy họ Cù Đàm (瞿曇氏), tên là Lợi Phú Đa Tắc (利富多塞), không rõ nước thành lập đã bao lâu. Nghe nói cha vua nhường ngôi, xuất gia làm đạo, truyền vị cho Lợi Phú Đa Tắc, đến nay đã tại vị được 16 năm. Vua có 3 vợ, đều là con gái của vua các nước láng giềng. Cư ngụ tại thành Tăng Kỳ (僧祗城), có 3 tầng cửa, mỗi cửa cách nhau chừng 100 bước, mỗi cửa đều vẽ hình tượng Phi tiên (飛仙), Tiên nhân (仙人), Bồ Tát (菩薩). Treo chuông hoa vàng và bờm ngựa, có mấy chục phụ nữ, người thì tấu nhạc, người thì bưng hoa vàng. Lại trang điểm cho 4 người phụ nữ, dung mạo như Phật, đứng hai bên cửa như hình trạng Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士) bên cạnh tháp. Người đứng ngoài cửa cầm binh khí, người đứng trong cửa cầm phất trần trắng, giăng lưới trắng kết hoa dọc lối đi."
Các gian nhà trong cung vua thảy đều là lầu gác cao. Vua ngồi ở cửa phía Bắc, mặt hướng về phía Bắc, ngồi trên sập 3 tầng, mặc vải Triều Hà (朝霞布), đội mũ hoa vàng, treo anh lạc bằng ngọc báu hỗn hợp. Có 4 nữ nhân đứng hầu, tả hữu có hơn 100 lính bảo vệ. Sau sập vua có một khám thờ bằng gỗ, dùng vàng bạc và 5 loại gỗ thơm khảm trai trang trí; sau khám treo một vầng hào quang vàng rực, hai bên sập dựng 2 chiếc gương vàng, trước gương bày bình vàng, trước bình có lư hương vàng, phía trước đặt một con trâu nằm bằng vàng, trước trâu dựng 1 bảo cái, hai bên bảo cái đều có quạt quý. Hàng trăm người Bà La Môn (婆羅門) ngồi đối diện nhau thành từng hàng ở phía Đông và Tây.
Quan lại có: 1 người gọi là Tát Đà Ca La (薩陀迦羅), 2 người gọi là Đà Noa Đạt Xoa (陀挐達叉), 3 người gọi là Ca Lợi Mật Ca (迦利密迦), cùng nhau nắm chính sự; 1 người gọi là Câu La Mật Đế (俱羅末帝) nắm hình pháp. Mỗi thành đặt 1 người Na Gia Ca (那邪迦), 10 người Bát Đế (缽帝).
Phong tục ở đó đều xỏ tai cắt tóc, không có lễ quỳ lạy, dùng dầu thơm xức thân. Dân chúng kính Phật, đặc biệt trọng Bà La Môn. Phụ nữ búi tóc sau gáy, nam nữ đều dùng vải ngũ sắc Triều Hà (朝霞), Triều Vân (朝雲) làm áo. Nhà hào phú thì xa hoa tùy ý, duy có xích vàng nếu không phải vua ban thì không được dùng. Mỗi khi cưới gả thì chọn ngày lành, nhà gái trước kỳ hạn 5 ngày sẽ tấu nhạc uống rượu, người cha cầm tay con gái trao cho chàng rể, sau 7 ngày mới thành phối hợp. Cưới xong thì chia tài sản ra ở riêng, duy con út ở chung với cha. Cha mẹ anh em chết thì cạo tóc mặc áo trắng, dựng sàn gỗ tre trên mặt nước, trong sàn chất củi, đặt thi thể lên trên, đốt hương dựng phướn, thổi ốc đánh trống để tiễn đưa. Phóng hỏa đốt củi, thi thể rơi xuống nước. Sang hèn đều như nhau, duy tro cốt của vua sau khi thiêu xong thì thu lại, đựng vào bình vàng, cất trong miếu thờ.
Khí hậu đông hè thường ấm, mưa nhiều tạnh ít, gieo trồng không cứ mùa màng. Đặc biệt thích hợp trồng lúa, kê, đậu trắng, mè đen; các sản vật khác đa phần giống với Giao Chỉ (交趾). Dùng mía làm rượu, pha với rễ dưa tím, rượu màu vàng đỏ, vị thơm ngon; cũng gọi nước dừa là rượu.
Khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, chiêu mộ những người có thể thông sứ với các vùng đất xa xôi. Tháng 10 âm lịch năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607], Tùn điền Chủ sự Thường Tuấn (常駿), Ngu bộ Chủ sự Vương Quân Chính (王君政) xin đi sứ Xích Thổ. Đế rất vui, ban cho Tuấn mỗi người 100 xấp lụa, 1 bộ triều phục, và sai mang theo 5.000 đoạn vật phẩm để ban cho vua Xích Thổ.
Tháng 10 năm đó, bọn Tuấn từ quận Nam Hải (南海郡) đi thuyền, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, đi qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵迦缽拔多洲), phía Tây đối diện với Lâm Ấp (林邑), trên đó có miếu thờ thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (師子石), từ đó đảo nhỏ nối liền nhau. Đi tiếp 2 đến 3 ngày, nhìn về phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙須國), bèn đi về hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), rồi tới biên giới Xích Thổ.
Vua nước ấy sai Bà La Môn tên là Câu Ma La (鳩摩羅) mang 30 chiếc thuyền đến đón, thổi ốc đánh trống để chào mừng sứ giả nhà Tùy, dâng xích vàng để buộc thuyền của Tuấn. Sau hơn 1 tháng thì đến kinh đô, vua sai con trai là Na Gia Ca (那邪迦) mời bọn Tuấn vào hội kiến theo lễ. Trước hết sai người đưa mâm vàng đựng hoa thơm cùng gương và kẹp tóc, 2 hộp vàng đựng dầu thơm, 8 bình vàng đựng nước thơm, 4 dải vải trắng để cho sứ giả tắm gội. Vào giờ Mùi ngày hôm đó, Na Gia Ca lại dắt 2 con voi, cầm lọng lông công để đón sứ giả, đồng thời dâng hoa vàng mâm vàng để đỡ chiếu thư. 100 nam nữ tấu loa trống, 2 người Bà La Môn dẫn đường đến cung vua. Bọn Tuấn dâng chiếu thư lên lầu, từ vua trở xuống đều quỳ. Tuyên chiếu xong, mời bọn Tuấn ngồi, tấu nhạc Thiên Trúc (天竺). Xong việc, bọn Tuấn về quán xá. Vua lại sai Bà La Môn đến quán đưa cơm, dùng lá cỏ làm mâm, rộng 1 trượng vuông, nói với Tuấn rằng: "Nay ngài là người của đại quốc, không còn ở nước Xích Thổ nữa. Ăn uống sơ sài, xin vì ý của đại quốc mà dùng cho."
Mấy ngày sau, mời bọn Tuấn vào dự tiệc, nghi vệ dẫn đường như lễ kiến diện ban đầu. Trước mặt vua đặt 2 chiếc giường, trên giường đều đặt mâm lá cỏ rộng 1 trượng 5 thước, trên đó có các loại bánh 4 màu vàng, trắng, tím, đỏ; hơn 100 món thịt trâu, dê, cá, ba ba, lợn, đồi mồi. Mời Tuấn lên giường ngồi, người đi theo ngồi trên chiếu dưới đất, mỗi người dùng chén vàng rót rượu, nữ nhạc luân phiên tấu diễn, lễ vật tặng vô cùng hậu hĩnh.
Sau đó vua sai Na Gia Ca theo Tuấn về cống phương vật, cùng dâng mũ hoa sen vàng (Kim Phù Dung quán), hương Long Não, dùng vàng đúc thành lá Đa La (多羅葉), chạm nổi thành chữ để làm biểu, bỏ trong hộp vàng phong kín lại. Sai Bà La Môn dâng hoa thơm tấu loa trống tiễn đưa. Khi ra biển, thấy bầy cá xanh bay trên mặt nước, đi biển hơn 10 ngày thì đến phía Đông Nam Lâm Ấp (林邑), đi men theo núi. Vùng biển đó rộng hơn 1.000 bước, màu nước vàng và khí vị tanh hôi, thuyền đi 1 ngày không hết, nghe nói đó là phân của cá lớn (Đại ngư phế). Men theo bờ Bắc biển mà đạt đến Giao Chỉ (交趾).
Mùa xuân năm Đại Nghiệp thứ 6 [năm 610], Tuấn cùng Na Gia Ca vào bệ kiến Đế tại Hoằng Nông (弘農). Đế rất vui, ban cho Tuấn 200 đoạn vật phẩm, phong cả hai làm Bỉnh Nghĩa Úy (秉義尉), những người khác trong đoàn Na Gia Ca đều được ban thưởng có sai biệt.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Cương vực Xích Thổ giống với Xiêm La (暹羅). Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Ba La Bà (婆羅婆國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm. Thời Tùy, Thường Tuấn (常駿) từ quận Nam Hải (南海郡) đi đường thủy, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵伽缽拔多洲), phía Tây đối diện Lâm Ấp (林邑), trên có miếu thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (獅子石), từ đó đảo nối tiếp nhau. Đi thêm 2 đến 3 ngày, phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙修國), bèn hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), tới biên giới Xích Thổ. Lâm Ấp (林邑) nay là Chiêm Thành (占城). Sách Tinh tra thắng lãm (星槎勝覽) chép: 'Từ Chiêm Thành thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến', chính là chỗ này vậy."
===Nguyên===
'''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Nguyên Thành Tông (元成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu xin sai sứ giả đến.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyền (暹國本傳): Vào năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Thành Tông (成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu bằng chữ vàng, muốn triều đình sai sứ giả đến nước mình. Đến khi biểu văn ấy tới nơi, thì triều đình đã sai sứ giả đi từ trước rồi, vốn là do bên kia chưa biết vậy. Triều đình ban cho sứ giả nước họ đến lạy một chiếc phù bằng vàng trơn (tố kim phù) để đeo, rồi sai đi gấp để đuổi theo đoàn chiếu sứ cùng đi. Vì người Xiêm (暹人) và người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒) vốn có thù hận chém giết nhau cũ, đến nay thảy đều quy thuận. Có chỉ dụ bảo người Xiêm (暹人) rằng: "Chớ làm tổn thương người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒), để giữ trọn lời hứa của các ngươi."
'''Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], nước Xiêm xin ban yên ngựa, chiếu ban cho áo thêu chỉ vàng nhưng không cho ngựa.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Thành Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyền (暹國本傳): Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], quốc chủ nước Xiêm (暹國) dâng lời rằng: "Lúc cha tôi còn tại vị, triều đình từng ban cho yên cương, ngựa trắng cùng áo thêu chỉ vàng, nay xin theo lệ cũ mà ban cho." Hoàng đế dựa theo lời của Thừa tướng Hoàn Trạch Đáp Lạt Hãn (完澤荅剌罕) rằng: "Kia là nước nhỏ mà ban cho ngựa, e rằng bọn lân bang như Hân Đô (忻都) sẽ chê cười." Triều đình vẫn ban cho áo thêu chỉ vàng, nhưng không ban cho ngựa.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹邏國), vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (邏斛), cũng tức là đất cũ của Xích Thổ (赤土) và Bà La Sát (婆羅剎). Nằm ở cực Nam của Chiêm Thành (占城), phía Bắc thẳng hướng đến Liêm Châu (廉州), men theo bờ Bắc biển nối liền với Giao Chỉ (交趾). Đất nước Xiêm (暹) khô cằn, không hợp cho việc cày cấy trồng trọt; đất ruộng nước La Hộc (羅斛) thì bằng phẳng, rộng rãi và nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm phải trông cậy vào đó để cung cấp. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607] đời Tùy, quan Tùn điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác từ quận Nam Hải (南海郡) cưỡi thuyền đi sứ Xích Thổ (赤土), đến nay truyền sai là di chủng của Xích Mi (赤眉), sau đổi tên gọi là Xiêm (暹). Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295] thời Nguyên, người Xiêm (暹人) từng sai sứ vào cống. Trong khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục nước La Hộc (羅斛), mà hợp lại thành 1 nước."
===Minh===
'''Minh Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ 4, Xiêm La sai sứ triều cống'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Xiêm La (暹羅) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến, chính là nước Xích Thổ (赤土國) thời Tùy Đường. Sau chia làm 2 nước là La Hộc (羅斛) và Xiêm (暹). Đất Xiêm (暹) khô cằn không hợp gieo trồng, đất La Hộc (羅斛) bằng phẳng, trồng trọt thu hoạch nhiều, nước Xiêm (暹) phải trông cậy vào đó. Thời Nguyên (元), nước Xiêm (暹) thường vào cống. Sau đó nước La Hộc (羅斛) mạnh lên, thôn tính đất Xiêm (暹), nên gọi là nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國)."
Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], mệnh sứ thần Lữ Tông Tuấn (呂宗俊) mang chiếu thư đi dụ nước đó. Năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai sứ dâng biểu, cùng bọn Tông Tuấn (宗俊) đến cống voi thuần, rùa 6 chân và phương vật. Chiếu ban cho vua gấm vóc và ban cho sứ giả tiền vải có sai biệt. Sau đó, lại sai sứ đến chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372], chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu.
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Xiêm La (暹羅) vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛). Nước Xiêm (暹) là di chủng của quân Xích Mi (赤眉) nhà Hán, đất nước ấy khô cằn, không hợp cày cấy. Đất ruộng La Hộc (羅斛) bằng phẳng nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm trông cậy vào đó. Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], người Xiêm (暹人) thường sai sứ vào cống. Khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục La Hộc (羅斛) mà hợp thành 1 nước. Đầu năm Hồng Vũ (洪武) triều ta, vua nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國) là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai các sứ thần Nại Tư Lý Sài Lạt Thức Tất Thế (奈思俚儕剌識悉替) đến triều cống, dâng biểu lá vàng. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆)."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Khí hậu Xiêm La (暹羅) không điều hòa, tục chuộng xâm chiếm. Nấu biển làm muối, nấu gạo nếp làm rượu. Trai gái búi tóc hình dùi, dùng vải trắng quấn đầu, mặc áo dài. Mỗi khi có việc bàn bạc, hình pháp nặng nhẹ, tiền thóc ra vào, thảy đều do phụ nữ quyết định. Ý chí và năng lực của họ trên cả nam giới. Dùng vỏ ốc (nghệ tử) thay tiền lưu thông. Người chết thì đổ thủy ngân vào để giữ xác."
Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Đất Xiêm La (暹羅) rộng 1.000 dặm, quanh nước đều là núi, hiểm trở gồ ghề, đất dưới thấp ẩm ướt lỏng lẻo, hiếm chỗ trồng trọt được. Khí hậu không ổn định, lúc sương mù lúc nóng nực. Từ phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), đi thuyền 7 ngày đêm mới đến cửa biển Tân Môn (新門海口), vào cảng mới đạt đến nước ấy. Vua ở cung thất tráng lệ, dân ở nhà sàn, sàn nhà lợp san sát cây bàng lang, dùng mây sợi buộc rất chặt, trải chiếu mây, chiếu tre để ngủ nghỉ bên trong. Vua vốn là người Tỏa Lý (鎖里), dùng vải trắng quấn đầu, không mặc áo, lưng thắt khăn thêu sợi, thêm gấm vóc áp lưng, cưỡi voi đi hoặc ngồi kiệu, lọng cán vàng làm bằng lá giao. Chuộng đạo Phật, người trong nước đều như vậy. Tăng ni rất nhiều, trang phục giống Trung Quốc, có am quan, ăn chay thụ giới. Phụ nữ dân dã nhiều trí tuệ, chồng nghe theo vợ, vợ có tư thông với người Trung Quốc, ăn ngủ cùng nhau, chồng vẫn điềm nhiên không lấy làm lạ. Nam giới quấn đầu vải trắng, mặc áo dài, phụ nữ cũng vậy và búi tóc hình dùi. Nam giới năm 20 tuổi, bộ phận sinh dục tất phải khảm châu ngọc, kẻ phú quý đúc vàng bọc châu, phát ra tiếng kêu mới coi là đẹp, nếu không là người bần tiện. Khi cưới thì bầy tăng đón rể đến nhà gái, tăng lấy chỉ đỏ dán lên trán nam gọi là 'lợi thị', hủ lậu không thể tả xiết. Qua 3 ngày, tăng cùng thân quyến đẩy thuyền hoa bàng lang tiễn về, rồi mở tiệc tấu nhạc. Lễ tang, kẻ phú quý thì đổ thủy ngân mà chôn, dân gian thì khiêng xác quăng xuống biển. Ở các cồn bãi có hàng chục con chim sắc vàng bay đến ăn, có khi xác bị bỏ trôi biển, gọi là 'điểu táng'. Sau đó dùng giáo pháp Phù Đồ để làm chay. Ngôn ngữ giống Quảng Đông (廣東), phong tục nông nổi, thạo thủy chiến. Thường chinh phạt lân bang. Thị trường dùng vỏ ốc biển, giá trị như tiền. Sản vật có đá Hồng Mã Khẩn Đích (紅馬肯的石), kém hơn đá Hồng Nha (紅鴉), sáng trong như hạt lựu. Phía Tây Bắc nước này hơn 200 dặm có thị trấn gọi là Thượng Thủy (上水), thông về phía Nam, dân cư chừng 600 nhà, các loại hàng phiên đều có: hoàng liên hương, la hắc, tốc hương, giáng chân, trầm thủy, cũng có gỗ hoa lê, bạch đậu khấu, đại phong tử, huyết kiệt đằng, kết tô mộc, thiếc hoa, ngà voi, lông chim thúy. Tô mộc rẻ như củi, sắc cực tốt. Thú có voi trắng, sư tử, mèo, chuột trắng. Rau quả như Chiêm Thành (占城). Có rượu gạo, rượu dừa, đều là rượu nấu. Cống vật là tô mộc, hương giáng chân."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], nước Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 [năm 1372], cống gấu đen, vượn trắng và phương vật. Năm sau lại đến cống. Chị của vua là Tham Liệt Tư Ninh (參烈思寧) riêng sai sứ dâng biểu lá vàng, cống phương vật cho Trung cung (Hoàng hậu), bị từ chối. Sau đó người chị lại sai sứ đến cống, Đế vẫn từ chối, nhưng ban yến tiệc cho sứ giả. Lúc bấy giờ vua nước ấy nhu nhược không có võ công, người trong nước suy tôn bác là Tham Liệt Bảo Tì Nha Tì Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙毗哩哆囉祿) làm chủ việc nước, sai sứ đến báo, cống phương vật, ban yến tiệc theo chế độ. Sau đó tân vương sai sứ đến cống tạ ơn, sứ giả cũng có vật hiến tặng, Đế không nhận. Tiếp đó, sai sứ chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1374], cống phương vật, lại dâng bản đồ nước mình."
'''Năm Hồng Vũ thứ 7 [năm 1374], sứ thần Xiêm La vào cống, nói rằng "thuyền cống gặp gió trôi mất", thu nhặt những vật còn sót lại để tiến dâng. Chiếu vì không có biểu văn nên từ chối.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 [năm 1374], sứ thần Sa Lý Bạt (沙里拔) đến cống, nói rằng năm ngoái thuyền dừng tại Dương Ô Chư (烏豬洋), gặp gió làm hỏng thuyền, trôi đến Hải Nam (海南), nhờ quan lại cứu hộ, còn giữ được các vật sót lại như gấm đầu la, giáng hương, tô mộc tiến hiến. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên. Đế trách không có biểu văn, đã nói chìm thuyền mà phương vật lại còn, nghi là thương buôn phiên bang, mệnh từ chối. Dụ cho các thần ở Trung thư và Lễ bộ rằng: 'Xưa chư hầu đối với Thiên tử, hằng năm có tiểu sính, 3 năm có đại sính. Ngoài chín châu (Cửu châu) thì mỗi đời triều kiến một lần, phương vật tiến cống cốt để tỏ lòng thành kính mà thôi. Duy Cao Ly (高麗) khá biết lễ nghĩa, nên lệnh 3 năm một lần cống. Các nước xa khác như Chiêm Thành (占城), An Nam (安南), Tây Dương Tỏa Lý (西洋瑣里), Qua Oa (瓜哇), Bột Ni (浡泥), Tam Phật Tề (三佛齊), Xiêm La Hộc (暹羅斛), Chân Lạp (真臘), vào cống đã tần suất cao, hao phí quá lớn, nay không cần phải như thế nữa, hãy gửi văn thư cho các nước biết'. Tuy nhiên kẻ đến vẫn không dứt, Thế tử là Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) cũng sai sứ dâng thư lên Hoàng thái tử, cống phương vật, mệnh dẫn sứ giả triều kiến Đông Cung, ban yến tiệc rồi cho về."
'''Năm Hồng Vũ thứ 8 [năm 1375], nước Xiêm La vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 8 [năm 1375] lại vào cống. Mà Thế tử cũ là Minh Đài Vương Thế tử Chiêu Bột La Cục (昭孛羅局) cũng sai sứ dâng biểu triều cống, ban yến tiệc như sứ của vua."
'''Năm Hồng Vũ thứ 9 [năm 1376], chiếu dụ vua nước Xiêm La, ban ấn và 1 bộ áo.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 9 năm thứ 9 [năm 1376], vua nước ấy sai con là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) dâng biểu cống voi và phương vật, ban chiếu khen ngợi. Dụ vua nước Xiêm La rằng: Làm vua trị dân, nếu không phải mệnh sáng của trời, ơn lớn của đất, sao được như vậy? Hoa Hạ và Di Địch tuy cách biệt, nhưng vui cái vui của thiên hạ thì ở đâu cũng thế. Nếu làm kẻ bề trên, biết thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế, hòa hợp người và thần, thì lộc truyền đời đời không dứt. Ngươi là Đa La Lộc (哆囉祿) từ khi nối ngôi đến nay, trong thì sửa đạo tề gia, ngoài thì tạo phương cách hòa mục láng giềng, huống hồ nhiều lần sai sứ đến Trung Quốc, xưng thần nhập cống, xét trong các vương thời nay, Đa La Lộc (哆囉祿) có thể gọi là hiền đức vậy, há chẳng tiếng vang các nước phiên sao? Mùa thu năm nay, cống voi đến triều, trẫm sai sứ sang dụ, đặc biệt ban ấn nước Xiêm và 1 bộ áo. Ngươi nên vỗ về dân bang, mãi hưởng nhiều phúc. Nay ban chiếu dụ, mong hãy thấu hiểu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], nước Xiêm La đến triều.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 [năm 1377], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) vâng mệnh cha đến triều kiến. Đế vui mừng, mệnh Lễ bộ Viên ngoại lang Vương Hằng (王恆) cùng những người khác mang chiếu và ấn ban cho, văn ấn khắc 'Xiêm La quốc vương chi ấn' (暹羅國王之印), đồng thời ban cho Thế tử áo, tiền vải và phí đi đường. Từ đó, nước ấy tuân theo mệnh triều đình, bắt đầu gọi là Xiêm La (暹羅). Cứ 1 năm 1 lần cống, hoặc 1 năm 2 lần cống. Đến sau năm Chính Thống (正統) [sau năm 1449], mới là mấy năm 1 lần cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], ban cho nước Xiêm La văn sách Khám hợp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], ban văn sách Khám hợp cùng gấm vóc đồ sứ cho bọn Chân Lạp (真臘)."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], nước Xiêm La cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], cống 10.000 cân hồ tiêu, 10.000 cân tô mộc. Đế sai quan báo đáp hậu hĩnh. Lúc đó dân Ôn Châu (溫州) có người mua trầm hương các vật của họ, hữu trách khép vào tội thông phiên, đáng phải chém bêu đầu. Đế phán: 'Ôn Châu là nơi Xiêm La tất phải đi qua, nhân họ qua lại mà mua bán, không phải thông phiên'. Bèn được tha tội."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Xiêm La cống 30 ngà voi, 60 nô tỳ phiên.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Thế tử Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ đến cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Xiêm La cống tô mộc, hồ tiêu, giáng hương tổng cộng 170.000 cân.'''
*Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử - Xiêm La truyện" đã nêu ở trên.
'''Năm Hồng Vũ thứ 28 [năm 1395], Thế tử nước Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) triều cống, và báo tang cha. Sắc phong Thế tử nối ngôi vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 [năm 1395], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ triều cống, và báo tang cha. Mệnh trung quan Triệu Đạt (趙達) cùng những người khác sang tế, sắc phong Thế tử nối ngôi vương, ban thưởng thêm hậu. Dụ rằng: 'Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, sai sứ ra biên giới, đi khắp bốn phương, nơi đặt chân đến có 36 nước, nơi tiếng tăm thông đạt có 31 nước. Phong tục khác biệt, nước lớn có 18, nước nhỏ có 149, so với ngày nay thì Xiêm La gần nhất. Vừa rồi sứ đến, biết tiên vương đã mất. Vương nối tiếp nghiệp tiên vương, có đạo với bang gia, thần dân vui mừng. Nay đặc biệt sai người ban mệnh, Vương chớ làm mất pháp độ, chớ dâm dật hưởng lạc, để làm rạng rỡ tiền liệt. Hãy kính cẩn thay'."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 28 [năm 1395], chiếu sai nội sứ Triệu Đạt (趙達), Tống Phúc (宋福) làm sứ giả đi nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國), tế vua Tham Liệt Bảo Tì Nha Tư Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙思哩哆囉祿), ban cho嗣 vương (vua nối ngôi) Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) 4 xấp gấm, 4 xấp là, 40 xấp vải mưu ti (mâu ti bố); ban cho vương phi 4 xấp gấm, 4 xấp là, 12 xấp vải mưu ti, có sắc dụ."
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, BAN CHO VUA NƯỚC XIÊM LA ẤN BẠC MẠ VÀNG NÚM LẠC ĐÀ CÙNG CÁC VẬT PHẨM'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Thành Tổ (成祖) lên ngôi, sai chiếu dụ nước ấy. Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], ban cho vua nước ấy là Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) ấn bạc mạ vàng núm lạc đà, vua nước ấy liền sai sứ đến tạ ơn. Tháng 6 âm lịch [năm 1403], nhân việc dâng tôn thụy cho Cao Hoàng đế (高皇帝), sai quan đi ban bố chiếu thư và ban thưởng. Tháng 8 âm lịch [năm 1403], lại mệnh cho Cấp sự trung Vương Triết (王哲), Hành nhân Thành Vụ (成務) ban cho vua nước ấy gấm vóc. Tháng 9 âm lịch [năm 1403], mệnh Trung quan Lý Hưng (李興) mang sắc thư đến thăm hỏi và ban thưởng cho vua nước ấy, các quan văn võ cũng đều được ban thưởng. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước Xiêm La (暹羅) sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật."
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 9 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], có thuyền phiên trôi dạt đến bờ biển Phúc Kiến (福建), thẩm vấn thì ra là thuyền thông hảo giữa Xiêm La (暹羅) và Lưu Cầu (琉球). Ty sở tại kiểm kê hàng hóa rồi tâu lên. Hoàng đế nói: 'Hai nước tu hảo là việc rất tốt. Không may gặp gió bão, chính là lúc nên thương xót, lẽ nào lại nhân đó mà trục lợi?'. Mệnh cho ty sở tại sửa thuyền cấp thóc, đợi khi gió thuận thì tiễn đi Lưu Cầu (琉球). Tháng này, vua nước ấy vì được nhận玺 thư (tỷ thư) thăm hỏi ban thưởng của Hoàng đế, nên sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật, ban thưởng thêm hậu, lại ban cho 100 cuốn Liệt nữ truyện (列女傳). Sứ giả xin ban hành quy chuẩn đo lường (lượng hành) làm mẫu mực vĩnh viễn cho quốc gia, Hoàng đế chấp thuận."
Trước đó, sứ giả cống nạp của Chiêm Thành (占城) khi về, gió thổi thuyền đến Bành Hanh (彭亨), nước Xiêm La (暹羅) cưỡng đoạt sứ giả đó, giam giữ không cho về. Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌) và Mãn Lạt Gia (滿剌加) lại kiện Xiêm La (暹羅) cậy mạnh phát binh, đoạt ấn cáo do Thiên triều ban cho. Hoàng đế bèn hạ sắc trách phạt rằng: "Chiêm Thành (占城), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加) cùng ngươi đều chịu mệnh triều đình, sao dám cậy thế uy quyền? Giam giữ sứ giả, đoạt ấn cáo của họ. Trời có đạo hiển hiện, phúc cho kẻ thiện họa cho kẻ dâm, giặc Lê (黎) ở An Nam (安南) có thể làm gương soi. Hãy lập tức trả lại sứ giả Chiêm Thành (占城), hoàn lại ấn cáo cho Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加). Từ nay về sau phụng pháp theo lý, giữ yên bờ cõi hòa mục láng giềng, mới mong hưởng phúc thái bình vĩnh viễn." Lúc bấy giờ sứ giả cống nạp do Xiêm La (暹羅) sai đi bị lạc gió trôi đến An Nam (安南), thảy đều bị giặc Lê (黎) giết chết, chỉ còn dư lại 1 người là Bột Hắc (孛黑). Sau khi quan quân đánh An Nam (安南), cứu được người này đưa về, Hoàng đế rất thương xót.
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 4 [năm 1406], Xiêm La sai sứ vào cống, xin sách và mẫu đo lường.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 [năm 1406], sứ giả Xiêm La (暹羅) là Nại Tất (奈必) dâng biểu cống phương vật, được tặng sách Cổ kim liệt nữ truyện (古今列女傳). Lại xin mẫu đo lường làm chuẩn mực trong nước, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Xiêm La sai sứ cống phương vật, tạ tội trước.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 [năm 1408], mệnh Trung quan Trương Nguyên (張原) đưa sứ giả về nước, ban cho vua tiền vải, lệnh cho vua phải chu cấp hậu hĩnh cho gia đình những người bị giết. Tháng 9 âm lịch [năm 1408], Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy, vua nước ấy sai sứ cống phương vật, tạ lỗi trước."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 7 [năm 1409], Xiêm La sai sứ đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), lại đưa dân gian trốn tránh về nước, cùng cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sứ giả đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh cho Trung quan tâu cáo trước linh sàng. Lúc đó quân gian là Hà Bát Quan (何八觀) cùng những người khác trốn vào Xiêm La (暹羅), Hoàng đế mệnh sứ giả về báo với chủ họ, đừng thu nhận kẻ đào tẩu. Vua nước ấy liền phụng mệnh sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa bọn Bát Quan (八觀) về, mệnh Trương Nguyên (張原) mang sắc thư và tiền lụa đến khen ngợi."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sai sứ dâng nghi vật đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh Trung cung quan đến cáo trước linh sàng. Tháng 9 âm lịch [năm 1409], lại sai sứ là Khôn Văn Côn (坤文琨) cùng những người khác dâng biểu cống phương vật, ban tiền vải rồi tiễn về. Lúc bấy giờ người Nam Hải (南海) là Hà Bát Quan (何八觀) lưu dạt ra đảo biển, rồi vào Xiêm La (暹羅). Đến nay nhân lúc bọn Văn Côn (文琨) về, Thượng (Hoàng đế) lệnh dụ quốc vương nước ấy, sai đưa bọn Bát Quan (八觀) về, chớ thu nhận kẻ đào tẩu mà chuốc lấy tội lỗi, đồng thời ban cho vua nước ấy gấm thêu vàng, lụa trừu, sa, la, nhung gấm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 8 [năm 1410], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 [năm 1410], Xiêm La (暹羅) sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa người Trung Quốc lưu dạt về, ban sắc thư thăm hỏi cùng tiền lụa màu."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải cho Xiêm La. Năm này vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], lại đến triều cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 13 [năm 1415], vua nước Xiêm La qua đời.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 5 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 [năm 1415], Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) qua đời."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 14 [năm 1416], phong Thế tử nước Xiêm La làm vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 14 [năm 1416], vương tử Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) sai sứ cáo tang cha, mệnh Trung quan Quách Văn (郭文) sang tế, riêng sai quan mang chiếu phong con trai làm vua, ban cho gấm trắng lụa trắng, liền sau đó sai sứ đến tạ ơn."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], định số lượng gấm vóc ban cho vua và vương phi nước Xiêm La.'''
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], cấp cho vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 10 xấp lụa trừu, sa, la, trong đó mỗi loại có 4 xấp dệt kim; vương phi mỗi loại trừu, sa, la có 6 xấp, trong đó mỗi loại có 2 xấp dệt kim."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La xâm lấn Mãn Lạt Gia, sai sứ giả trách phạt. Vua Xiêm La sai sứ giả tạ tội.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La (暹羅) xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加) nên sai sứ giả trách lệnh phải hòa mục. Sau khi sứ giả nước họ vào cống, mệnh Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về. Vua lại sai sứ tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加)."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], sai sứ dụ vua nước Xiêm La (暹羅), khiến cho hòa bình với Mãn Lạt Gia (滿剌加). Sắc dụ Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) rằng: 'Trẫm vâng mệnh trời, làm chủ cả Hoa Hạ và Di Địch, lấy tâm hiếu sinh của天地 (thiên địa) để trị quốc, nhất thị đồng nhân, không phân biệt bên này bên kia. Vương có thể kính trời thờ nước lớn, giữ chức vụ phụng cống, lòng trẫm rất khen ngợi, vốn chẳng phải chỉ trong một ngày. Gần đây vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) là Y Tư Hạn Đáp Nhi Sa (亦思罕答兒沙) lên nối ngôi, có thể tiếp nối chí hướng của cha, tự thân dẫn vợ con đến cửa khuyết triều cống, lòng thành thờ nước lớn đó không khác gì Vương. Nhưng nghe tin Vương vô cớ muốn động binh. Phàm binh khí là vật hung, hai bên đánh nhau tất cùng bị thương, cho nên chuộng binh không phải là tâm của người nhân. Huống hồ vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) đã nội thuộc, tức là thần tử của triều đình. Họ có lỗi, nên trình bày lên triều đình. Không làm theo cách này mà tự tiện động binh, ấy là không nể triều đình vậy. Đây chắc không phải ý của Vương, hoặc là thuộc hạ bên cạnh mượn danh Vương, dùng binh để thỏa tư thù. Vương nên suy xét kỹ, chớ để bị mê hoặc, hãy hòa mục với láng giềng, không xâm lấn nhau, để cùng hưởng phúc, há có giới hạn sao! Vương hãy lưu tâm cho'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 18 [năm 1420], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 4 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 [năm 1420], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ vào cống phương vật, ban tiền vải, vẫn sai Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về nước, vẫn ban cho vua gấm vóc sa la các thứ."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 19 [năm 1421], Xiêm La sai sứ vào cống, và tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 [năm 1421], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Nại Hoài (奈懷) cùng 60 người cống phương vật, tạ tội xâm lấn nước Mãn Lạt Gia (滿剌加), ban tiền vải có sai biệt. Tháng 7 âm lịch lại vào cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 21 [năm 1423], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 [năm 1423], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Mai (坤梅) cống phương vật, ban cho tiền vải."
'''MINH TUYÊN TÔNG NĂM TUYÊN ĐỨC THỨ 8, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 [năm 1433], vua nước ấy là Tất Lý Ma Ha Lạt (悉里麻哈賴) sai sứ triều cống. Trước đó, bồi thần nước này là Nại Tam Đạc (奈三鐸) cùng những người khác đi cống, thuyền ghé cảng Tân Châu (新州港) nước Chiêm Thành (占城), thảy đều bị người nước ấy cướp bóc."
'''MINH ANH TÔNG NĂM CHÍNH THỐNG THỨ 1, SỨ CỐNG XIÊM LA TỐ CÁO VIỆC CHIÊM THÀNH CƯỚP BÓC, LỆNH CHIÊM THÀNH TRẢ LẠI NGƯỜI VÀ VẬT ĐÃ CƯỚP'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 1 [năm 1436], Nại Tam Đạc (奈三鐸) lén đi thuyền nhỏ đến kinh đô, mà sứ cống do vua nước ấy sai đi cũng tới nơi, đều tố cáo tình trạng Chiêm Thành (占城) đánh cướp. Hoàng đế mệnh triệu sứ giả Chiêm Thành (占城) đến để đối chất, sứ giả không có gì để đáp lại, bèn sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城), lệnh phải hoàn trả toàn bộ người và vật đã cướp. Sau đó, nước Chiêm Thành (占城) gửi văn thư cho Lễ bộ (禮部), nói rằng: 'Năm kia nước tôi sai sứ đi Tu Văn Đát Na (須文達那), cũng bị người tặc nước Xiêm La (暹羅) cướp đi, tất nhiên Xiêm La (暹羅) phải trả lại những gì đã cướp trước, thì nước tôi tự nhiên không dám không trả'."
Theo Minh hội điển (明會典): "Xiêm La (暹羅) vào cống. Khoảng năm Tuyên Đức (宣德), ban thưởng đều giảm một nửa. Sau năm Chính Thống (正統), đều chiếu theo lệ năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], sứ thần chính và phó khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là dệt kim, 1 đôi giày và tất. Những người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai vàng trơn. Những người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai vàng chạm hoa. Phần thưởng chính là 4 xấp lụa trừu và 4 xấp là, đổi sang 2 xấp sa quyến, 1 xấp vải bông, 1 bộ áo trừu dệt kim. Đám người thông sự khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là trơn, 1 đôi giày và tất; người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai bạc trơn. Người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai bạc chạm hoa. Phần thưởng chính là 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là, đổi sang 1 xấp quyến bằng tiền giấy (钞绢), 1 bộ áo trừu trơn. Bạn phiên (người đi theo) khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo quyến, 1 đôi giày và tất; phần thưởng chính đổi sang 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Những người lưu lại Quảng Đông (廣東) mà có tiến cống thì hạng đầu mục mỗi người thưởng 1 bộ áo trừu trơn, 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là; người theo hầu mỗi người 1 bộ áo quyến trừu, 1 xấp lụa trừu; hạng bạn phiên mỗi người 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Hàng hóa của đám sứ thần mang tới theo lệ không thu thuế, mà trả bằng tiền giấy theo giá trị."
'''Năm Chính Thống thứ 3 [năm 1438], Xiêm La vào cống, vẫn lệnh phải trả lại người và vật của Chiêm Thành đã cướp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 3 [năm 1438], sứ cống Xiêm La (暹羅) lại đến, nhân đó ban sắc thư, lệnh phải gấp rút hoàn trả người và vật cho Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Chính Thống thứ 11 [năm 1446], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 11 [năm 1446], vua nước ấy là Tư Lợi Ba La Ma Na Nhược Trí Lạt (思利波羅麻那若智剌) lại sai sứ vào cống."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 4, PHONG TỰ TỬ CỦA XIÊM LA LÀ BẢ LA LAN MỄ TUÂN LẠT LÀM XIÊM LA QUỐC VƯƠNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 [năm 1453], mệnh Cấp sự trung Lưu Chu (劉洙), Hành nhân Lưu Thái (劉泰) sang tế cố vương Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (波羅摩剌劄的賴), nhân đó phong cho con nối ngôi (tự tử) là Bả La Lan Mễ Tuân Lạt (把羅蘭米孫剌) làm vua."
'''MINH ANH TÔNG NĂM THIÊN THUẬN THỨ 1, BAN CHO SỨ CỐNG XIÊM LA ĐAI VÀNG CHẠM HOA'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳) đã nêu.
'''Năm Thiên Thuận thứ 6 [năm 1462], Xiêm La sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 [năm 1462], vua nước ấy là Bột Lạt Lam La Giả Trực Ba Trí (孛剌藍羅者直波智) sai sứ triều cống."
'''MINH HIẾN TÔNG NĂM THÀNH HÓA THỨ 9, NƯỚC XIÊM LA XIN CẤP ĐỔI KHÁM HỢP, CHẤP THUẬN'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 9 [năm 1473], sứ cống nói rằng văn bản Khám hợp (勘合) ban năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 [năm 1457] bị mọt ăn, xin cấp đổi cái mới, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], sứ cống Xiêm La về đến giữa đường, lén mua con cái nhà lành, chở muối lậu, mệnh sai quan răn đe.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 [năm 1481], sứ cống về nước, đến giữa đường lén mua trẻ con làm nô tỳ, lại chở nhiều muối lậu, Hoàng đế mệnh sai quan đi răn đe các nước phiên. Trước đó có người vùng Đinh Châu (汀州) là Tạ Văn Bân (謝文彬), vì buôn muối ra biển, trôi dạt vào nước đó, làm quan đến chức Khôn Nhạc (坤岳), tương đương với Học sĩ (學士) của Thiên triều. Sau đó sung làm sứ giả đến triều kiến, vì buôn bán đồ cấm, việc bị lộ, bị hạ ngục."
'''Năm Thành Hóa thứ 18 [năm 1482], Thế tử Xiêm La sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh phong làm Xiêm La quốc vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 18 [năm 1482], sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh Cấp sự trung Lâm Tiêu (林霄), Hành nhân Diêu Long (姚隆) sang phong cho con trai là Quốc Long Bột Lạt Lược Khôn Tức Lạt Ưu Địa (國隆勃剌略坤息剌尤地) làm vua."
'''MINH HIẾU TÔNG NĂM HỒNG TRỊ THỨ 10, XIÊM LA VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khi vào cống năm Hồng Trị (弘治) thứ 10 [năm 1497], Tứ Di Quán (四夷館) không có quan dịch thuật tiếng Xiêm La (暹羅), các đại thần nội các là Từ Phổ (徐溥) và những người khác xin gửi văn thư đến Quảng Đông (廣東), tìm chọn những người thông thạo ngôn ngữ và văn tự nước ấy đưa về kinh đô để dự bị sử dụng, Hoàng đế chấp thuận."
'''MINH VŨ TÔNG NĂM CHÍNH ĐỨC THỨ 10, XIÊM LA TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Đức (正德) thứ 4 [năm 1509], có thuyền Xiêm La (暹羅) trôi dạt đến Quảng Đông (廣東), Trung quan Thị bạc là Hùng Tuyên (熊宣) bàn với các quan thủ thành, đánh thuế hàng hóa đó để cung ứng quân nhu. Việc đến tai triều đình, chiếu chỉ khiển trách Tuyên (宣) lạm quyền, điều về Nam Kinh (南京). Năm thứ 10 [năm 1515], dâng biểu lá vàng sang triều cống, trong quán không ai nhận mặt được mặt chữ ấy. Các đại thần nội các là Lương Trữ (梁儲) và những người khác xin chọn lưu lại 1 đến 2 người trong đoàn sứ giả vào quán để rèn luyện học tập, Hoàng đế phê chuẩn."
'''MINH THẾ TÔNG NĂM GIA TĨNH THỨ 32, XIÊM LA CỐNG PHƯƠNG VẬT'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 [năm 1522], thuyền hàng Xiêm La (暹羅), Chiêm Thành (占城) đến Quảng Đông (廣東) buôn bán, Trung quan Ngưu Vinh (牛榮) thả cho người nhà riêng tự buôn bán, bị luận tội chết theo luật. Năm thứ 32 [năm 1553], sai sứ cống voi trắng và phương vật. Voi chết trên đường đi, sứ giả lấy châu báu trang điểm trên ngà, đựng vào mâm vàng cùng với đuôi voi đem đến dâng hiến. Đế khen ngợi ý đó, ban thưởng hậu hĩnh cho về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹羅), từ sau các năm Hồng Hy (洪熙) [1425], Tuyên Đức (宣德) [1426-1435], việc nhập cống vẫn như kỳ hạn thường lệ. Khoảng năm Chính Thống (正統) [1436-1449], Cảnh Thái (景泰) [1450-1456], việc cống nạp đôi khi không thường xuyên. Từ năm Thành Hóa (成化) [1465-1487] đến nay, đại để 6 năm một lần cống. Gần đây vào năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 32 [năm 1553], sai sứ là Khôn Tùy Ly (坤隋離) và những người khác cống voi trắng và phương vật. Voi trắng đã chết, để lại 1 chiếc ngà voi dài 6 thước, đầu và gốc khảm vàng chạm hoa; đầu ngà lớn 5 tấc 7 phân, khảm 10 hạt lựu, ở giữa khảm 10 viên trân châu, 4 viên bảo thạch; phần đuôi lớn 1 tấc, khảm 1 viên kim cương. Trong hộp vàng đựng lông đuôi voi trắng để làm bằng chứng." Lại có 19 chiếc ngà voi, tổng cộng 350 cân; 37 cây gỗ mun (ô mộc), tổng cộng 3.600 cân; 600 cân thụ hương; 480 cân đằng hoàng; 580 cân đại phong tử; 300 cân tử cánh; 21 cây tốc hương, tổng cộng 650 cân; 20 cân mộc hương; 60 cân bạch đậu khấu; 810 cân hồ tiêu; 14.200 cân tô mộc.
'''Năm Gia Tĩnh thứ 37 [năm 1558], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 8 âm lịch năm thứ 37 [năm 1558], Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Ứng Mệnh (坤應命) và những người khác cống phương vật: 300 cân ngà voi, 650 cân thụ hương, 150 cân đằng hoàng, 310 cân tốc hương, 30 cân bạch đậu khấu, 13.200 cân tô mộc, 450 cân hồ tiêu, 3.800 cân ô mộc, 5.000 cân đại phong tử." Số lượng so với trước kia khá khác biệt.
'''MINH MỤC TÔNG NĂM LONG KHÁNH, NƯỚC XIÊM LA BỊ ĐÔNG MAN NGƯU PHÁ, BẮT THẾ TỬ VÀ ẤN MANG VỀ, CON THỨ NỐI NGÔI DÂNG BIỂU XIN ẤN, TRIỀU ĐÌNH BAN CHO'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Trong năm Long Khánh (隆慶) [1567-1572], nước láng giềng là Đông Man Ngưu (東蠻牛) cầu hôn không được, hổ thẹn tức giận, huy động đại binh công phá nước ấy. Vua nước ấy tự thắt cổ, Thế tử cùng ấn tín do Thiên triều ban cho bị bắt mang đi. Con thứ lên nối ngôi, dâng biểu xin ấn, triều đình ban cho. Từ đó bị nước Đông Man Ngưu (東蠻牛) chế ngự, vua nối ngôi lập chí phục thù."
'''MINH THẦN TÔNG NĂM VẠN LỊCH THỨ 6, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khoảng năm Vạn Lịch (萬曆), quân Đông Man Ngưu (東蠻牛) lại đến, Vua chỉnh đốn binh mã phấn đấu đánh trả, đại phá chúng, giết chết con trai vua ấy. Số quân còn lại chạy trốn trong đêm, Xiêm La (暹羅) từ đó hùng bá trên biển, dời binh công phá Chân Lạp (真臘), bắt vua nước ấy đầu hàng. Từ đó hằng năm dùng binh, bèn xưng bá các nước. Năm thứ 6 [năm 1578], sai sứ vào cống."
'''Năm Vạn Lịch thứ 20 [năm 1592], Xiêm La xin ngầm dùng quân giúp đánh Nhật Bản.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 [năm 1592], Nhật Bản (日本) đánh phá Triều Tiên (朝鮮), Xiêm La (暹羅) xin ngầm dùng quân đánh thẳng vào Nhật Bản (日本) để kiềm chế phía sau. Trung khu Thạch Tinh (石星) bàn định đồng ý, nhưng Đốc thần Lưỡng Quảng là Tiêu Ngạn (蕭彥) kiên trì phản đối, nên thôi. Sau đó việc phụng cống không thay đổi. Đến tháng 3 âm lịch năm Sùng Trinh (崇禎) thứ 16 [năm 1643], vẫn còn vào cống. Nước ấy chu vi 1.000 dặm, phong tục cứng cỏi hung hãn, thạo thủy chiến. Đại tướng dùng 'thánh thiết' bọc thân, đao tên không đâm thủng được. Thánh thiết ấy là xương sọ người vậy. Vua là người Tỏa Lý (鎖里), quan lại chia làm 10 cấp, từ vua đến dân thường, mọi việc đều do vợ quyết định. Ý chí và năng lực của phụ nữ thực sự vượt trên nam giới. Vợ tư thông với người Hoa thì chồng bày rượu cùng uống, điềm nhiên không lấy làm lạ, nói rằng: 'Vợ ta đẹp nên mới được người Hoa yêu mến'. Sùng tín đạo Phật, nam nữ đa số làm tăng ni, cũng ở am chùa, ăn chay thụ giới, trang phục khá giống Trung Quốc. Kẻ phú quý càng kính Phật, có tài sản 100 lạng vàng thì đem một nửa bố thí. Khí hậu không điều hòa, lúc lạnh lúc nóng, đất thấp ẩm ướt, người dân đều ở nhà sàn. Nam nữ búi tóc hình dùi, lấy vải trắng quấn đầu. Kẻ phú quý chết thì dùng thủy ngân đổ vào miệng mà chôn. Kẻ nghèo thì dời xác ra ven biển, tức thì có đàn chim bay đến mổ, chốc lát là hết sạch. Người nhà nhặt xương, khóc lóc rồi vứt xuống biển, gọi là 'điểu táng'. Cũng mời tăng lập đàn chay lễ Phật. Giao dịch dùng vỏ ốc biển (hải nghệ), năm nào không dùng vỏ ốc thì trong nước tất có dịch bệnh lớn. Đồ cống có: voi, ngà voi, sừng tê, lông công, lông thúy, mai rùa, rùa 6 chân, bảo thạch, san hô, phiến não, mễ não, khang não, não du, não sài, tường vi thủy, uyển thạch, đinh bì, a ngụy, tử cánh đằng, kiệt đằng hoàng, lưu hoàng, một dược, ô điêu nê, an tức hương, la hộc hương, tốc hương, đàn hương, hoàng thục hương, giáng chân hương, nhũ hương, thụ hương, mộc hương, đinh hương, ô hương, hồ tiêu, tô mộc, nhục đậu khấu, bạch đậu khấu, tất bát, ô mộc, đại phong tử cùng các loại vải tát cá lạt (sa-ha-la), Tây Dương. Nước ấy có 'miếu Tam Bảo', thờ Trung quan Trịnh Hòa (鄭和)."
===Thanh===
'''THẾ TỔ CHƯƠNG HOÀNG ĐẾ (世祖章皇帝)'''
'''Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653]'''
Theo Đại Thanh Hội điển (大清會典): "Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653], Tuần phủ Quảng Đông (廣東巡撫) tâu rằng, nước Xiêm La (暹羅) xin vào cống."
Xét thấy Xiêm La (暹羅), vốn là 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛) ở Hải Nam (海南), sau hợp thành một. Năm thứ 10 [năm 1653] xin vào cống.
'''Năm Thuận Trị thứ 16 [năm 1659]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Thuận Trị (順治) thứ 16 [năm 1659], Tổng đốc Lưỡng Quảng (兩廣總督) đề chuẩn cho nước Xiêm La (暹羅) lại đến thăm dò việc nộp cống. Các hàng hóa mang theo để đè thuyền (áp thuyền hóa vật) được cho phép giao dịch tại địa phương. Các sổ sách thanh tra thuế bạc hàng hóa trên thuyền đều được chuyển đến Hộ bộ (戶部) để kiểm tra."
'''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], nước Xiêm La (暹羅) có 2 chiếc thuyền chính cống, đi đến vùng biển Thất Châu (七洲海), gặp gió dạt mất, chỉ có 1 chiếc thuyền 'Hộ cống' đến được Hổ Môn (虎門), vẫn lệnh cho quay về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 12 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], sai sứ triều cống, dâng 1 đạo biểu văn bằng lá vàng, cống hiến phương vật gồm: 1 cân long diên hương, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương."
Phương vật dâng Hoàng hậu: 8 lạng long diên hương, 4 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 150 cân ngà voi, 150 cân hồ tiêu, 150 cân đằng hoàng, 150 cân đậu khấu, 150 cân tô mộc, 150 cân tốc hương, 150 cân đại phong tử, 150 cân kim ngân hương.
'''Năm Khang Hy thứ 3 [năm 1664]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 [năm 1664], nước Xiêm La (暹羅) dâng biểu tiến cống. Mệnh cho 2 thuyền chính cống cử 20 viên chức đến kinh đô để nộp bổ cống. 1 thuyền khác lệnh cho 6 người đến kinh đô."
'''Năm Khang Hy thứ 4 [năm 1665]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 [năm 1665], Xiêm La (暹羅) tiến cống đến kinh đô, Lễ bộ (禮部) đề định kỳ hạn cống là 3 năm 1 lần cống. Đường đi qua Quảng Đông (廣東)."
'''Năm Khang Hy thứ 6 [năm 1667]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 6 [năm 1667], Xiêm La (暹羅) tiến cống gồm 1 chiếc thuyền chính cống, 1 chiếc thuyền hộ cống, 1 chiếc thuyền chở voi, và 1 chiếc thuyền thăm dò phát sau. Lễ bộ (禮部) duyệt chuẩn, thuyền tiến cống không được quá 3 chiếc, mỗi thuyền không được quá 100 người, viên chức đến kinh đô là 22 người; các thuyền tiếp cống và thuyền thăm dò đều không được thả người lên bờ."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 6 âm lịch năm thứ 6 [năm 1667], sai sứ triều hạ. Dâng 1 bản biểu văn lá vàng nhân lễ Vạn thọ, 1 bản biểu văn dịch chữ. Cống hiến phương vật gồm: 1 tòa Long đình, 1 cân long diên hương, 300 cân tốc hương, 3.000 cân tô mộc, 300 cân ngà voi, 300 cân an tức hương, 300 cân bạch đậu khấu, 300 cân đại phong tử, 300 cân đằng hoàng, 4 con chim công, 300 cân ô mộc, 300 cân hồ tiêu, 300 cân giáng hương, 1 con voi thuần, 6 chiếc sừng tê, 4 con rùa 6 chân, 10 bức bình phong đuôi công, 600 tấm lông chim trả (thúy điểu), 100 cân hương nhựa cây (thụ giao hương), 2 cân hương trầm thủy, 100 cân hương vỏ cây (thụ bì hương), 100 cân nhi trà, 100 cân hoa hồ tiêu, 1 cân uyển thạch, 100 cân tử cánh, 6 xấp vải giao kiêu, 6 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 4 dải thiên thanh, 1 xấp vải đỏ, 6 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 10 xấp vải hoa chữ 'nhân' (人), 4 dải hoa văn hình người và voi, 10 xấp vải Tây Dương, 1 cân băng phiến loại lớn, 2 cân băng phiến loại vừa, 20 gáo dầu phiến, 100 cân long não, 100 cân hoàng đàn hương, 60 hũ nước hoa hồng (tường vi lộ), 100 cân lưu huỳnh."
Phương vật dâng Hoàng hậu tề niên (齊年): 8 lạng long diên hương, 150 cân tốc hương, 1.500 cân tô mộc, 150 cân ngà voi, 150 cân an tức hương, 150 cân bạch đậu khấu, 150 cân đại phong tử, 150 cân đằng hoàng, 2 con chim công, 150 cân ô mộc, 150 cân hồ tiêu, 150 cân giáng hương, 3 chiếc sừng tê, 2 con rùa 6 chân, 5 bức bình phong đuôi công, 300 tấm lông chim trả, 50 cân hương nhựa cây, 50 cân nhi trà, 50 cân hoa hồ tiêu, 1 cân hương trầm thủy, 50 cân hương vỏ cây, 8 lạng uyển thạch, 50 cân tử cánh, 3 xấp vải giao kiêu, 3 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 2 dải thiên thanh, 5 xấp vải đỏ, 3 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 5 xấp vải hoa chữ 'nhân', 5 xấp vải Tây Dương, 2 dải hoa tạp sắc hình người và voi, 8 lạng băng phiến loại lớn, 1 cân băng phiến loại vừa, 10 gáo dầu phiến, 50 cân long não, 50 cân hoàng đàn hương, 30 hũ nước hoa hồng, 50 cân lưu huỳnh.
'''Năm Khang Hy thứ 7 [năm 1668]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 [năm 1668], chính sứ Xiêm La (暹羅) vào cống đến kinh đô, các đầu mục lưu lại ở biên giới được cấp khẩu phần ăn."
'''Năm Khang Hy thứ 10 [năm 1671]'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 11 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 10 [năm 1671], cống hiến phương vật. Phụng chiếu ban tặng vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 6 xấp đoạn, 4 xấp đoạn dệt kim, 6 xấp sa, 4 xấp sa dệt kim, 6 xấp la, 4 xấp la dệt kim."
Chiếu ban cho Vương phi 4 xấp đoạn, 2 xấp đoạn dệt kim, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 4 xấp sa, 2 xấp sa dệt kim. Chính sứ, Phó sứ (nhị cống sứ), Tam sứ, mỗi người 7 xấp đoạn, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 2 xấp quyến, 1 xấp vải lót, 1 xấp vải thường, cùng 1 đôi tất nỉ gắn liền, 1 đôi ủng hạng nhất da xanh khâu kẽ; Thông sự thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành (Bành đoạn); Biện sự thưởng 4 xấp đoạn, 2 xấp la, 1 xấp quyến, 1 đôi ủng da ngựa lau mặt có tất nỉ; 22 người theo hầu, mỗi người 2 xấp quyến, 5 xấp vải, 1 đôi ủng da bò có tất nỉ; Quan hộ tống (bạn cống quan) thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành. Các vật phẩm ban thưởng này do hai bộ Hộ và Công chuyển tới trước Ngọ Môn (午門), ban cấp trong 2 lần yến tiệc tại bộ. Đợi đến ngày sứ cống Xiêm La (暹羅) về đến tỉnh, theo lệ thiết tiệc rượu 1 lần rồi tiễn về. Các lần tiến cống trên đều theo lệ ban thưởng như vậy. Khi sứ giả về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi.
'''Năm Khang Hy thứ 12 [năm 1673]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 12 [năm 1673], vua nước Xiêm La (暹羅) là Sâm Liệt Phách Lạt Chiếu Cổ Long Phách Lạt Mã Hô Lục Khôn Tư Do Đề Nha Bồ Ai (森列拍臘照古龍拍臘馬呼陸坤司由提呀菩埃) tiến cống và xin phong điển, Lễ bộ (禮部) đề chuẩn cấp cho Cáo mệnh cùng ấn bạc mạ vàng núm lạc đà. Sau khi sứ cống xong việc, các quan viên của Lễ bộ mặc triều phục trước Ngọ Môn (午門) cung kính đặt án kỷ. Quan Hồng lô tự (鴻蒚寺) dẫn các sứ cống hành lễ 3 quỳ 9 khấu đầu, quỳ nhận Cáo mệnh và Ấn tín, gửi văn thư cho quốc vương nước ấy, lệnh cho vua ra ngoài thành cung kính đón nhận Cáo ấn."
Lại có dụ rằng: "Nước ấy đi biển từ xa đến, bày tỏ lòng thành tiến cống. Những vật bị mọt ăn hoặc thiếu hụt đều miễn cho việc nộp bổ."
'''Năm Khang Hy thứ 23 [năm 1684]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 23 [năm 1684]. Dụ rằng: Viên chức tiến cống nước Xiêm La (暹羅) khi về nước, ai không cưỡi được ngựa thì quan phủ cấp cho kiệu khiêng, người theo hầu cấp cho phu gánh. Ngoài quan hộ tống, đặc phái thêm 1 Ty quan và 1 Bút thiếp thức của Lễ bộ (禮部) để bảo vệ cống vật. Ngoài lệ cống thường, lệ có thêm vật cống tăng thêm. Trước đây có chim công và rùa, sau lệnh miễn tiến dâng."
Cung tiến trước ngự tiền: 1 cân long diên hương đựng trong hộp bạc, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương.
Cống vật cho Hoàng hậu cũng giống như vậy, số lượng giảm đi một nửa.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic110 - 暹羅國.svg|center]]
Theo sách Tam tài đồ hội (三才圖會): "Phong tục vùng ven biển nước Xiêm La (暹羅), nam giới từ nhỏ đã cắt bộ phận sinh dục để khảm tám loại bảo vật (bát bảo) nhằm khoe khoang sự phú quý, nếu không làm vậy thì nhà gái sẽ không gả con gái cho."
Gần đây có người khách buôn đi biển tới Xiêm La (暹羅), dừng chân tại một hòn đảo nọ, khắp núi thảy đều là những chiếc thìa và đũa (thì trứ) màu đen tuyền, nơi ấy có rất nhiều cây lớn. Người khách ngẩng lên nhìn kỹ những chiếc thìa đũa ấy, hóa ra chúng chính là hoa và râu của loài cây đó. Bèn nhặt hơn 100 đôi mang về sử dụng, dù dính mỡ cũng không bị bẩn (nhiễm), sau tình cờ lấy ra khuấy trà, chúng liền theo đó mà tan biến mất.
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 1 (真臘部彙考一)==
'''[Cát Miệt (吉蔑), Cam Bột Trí (甘孛智), Gạm Phổ Chỉ (澉浦只)]'''
===THỜI TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 12, tháng 2 [năm 616], nước Chân Lạp (真臘) bắt đầu sai sứ dâng phương vật.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ: (Nội dung như trên).
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp (林邑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南). Cách quận Nhật Nam (日南郡) 60 ngày đi thuyền, phía Nam giáp nước Xa Cừ (車渠), phía Tây có nước Chu Giang (朱江). Vua họ Sát Lợi (剎利氏), tên là Chất Đa Tư Na (質多斯那). Từ thời tổ tiên đã dần cường thịnh, đến đời Chất Đa Tư Na (質多斯那) bèn kiêm tính và chiếm hữu đất Phù Nam (扶南). Khi vua chết, con là Y Xa Na (伊奢那) lên ngôi thay thế. Vua cư ngụ tại thành Y Xa Na (伊奢那城), dưới thành có 20.000 hộ. Trong thành có một tòa đại đường là nơi vua nghe chính sự. Tổng cộng có 30 tòa thành lớn, mỗi thành có vài ngàn hộ, đều có bộ soái riêng, tên quan chức giống với Lâm Ấp (林邑).
Vua cứ 3 ngày nghe triều một lần, ngồi trên giường ngũ hương thất bảo, phía trên căng màn báu. Màn dùng gỗ có vân làm cột, dùng ngà voi và hoa vàng (kim điền) làm vách, hình dáng như ngôi nhà nhỏ, treo ánh vàng rực rỡ, giống như nước Xích Thổ (赤土). Phía trước có lư hương vàng, có 2 người hầu hai bên. Vua mặc vải cổ bối triều hà, quấn quanh thắt lưng và bụng, rủ xuống đến tận ống chân. Đầu đội mũ hoa bằng vàng báu, đeo anh lạc trân châu, chân đi giày da, tai đeo khuyên vàng. Thường mặc áo vải bạch điệp, lấy ngà voi làm guốc (kiêu), nếu để tóc trần thì không đeo anh lạc. Trang phục của thần dân đại để cũng tương tự.
Có 5 đại thần: một là Cô Lạc Chi (孤落支), hai là Cao Tương Bằng (高相憑), ba là Bà Hà Đa Lăng (婆何多陵), bốn là Xá Ma Lăng (舍摩陵), năm là Nhiêm Đa Lâu (髯多婁). Các tiểu thần khi vào chầu vua thảy đều dập đầu 3 lần ở dưới bậc thềm. Vua gọi lên thềm thì quỳ, dùng hai tay ôm vai, ngồi vòng quanh vua. Bàn bạc chính sự xong thì quỳ lạy mà lui ra. Thị vệ ở thềm đình, cửa các có hơn 1.000 người, mặc giáp cầm binh khí. Nước này hòa hiếu với hai nước Tham Bán (參半) và Chu Giang (朱江), nhưng thường xuyên chiến tranh với hai nước Lâm Ấp (林邑) và Đà Hoàn (陀洹). Người dân khi đi đứng đều mang theo binh khí, nếu có chinh phạt thì dùng luôn.
Theo tục lệ, nếu không phải con của chính thê thì không được làm người kế vị. Ngày vua mới lên ngôi, tất cả anh em đều bị hình phạt tàn tật, hoặc chặt 1 ngón tay, hoặc xẻo mũi, rồi đưa đi cung phụng ở nơi khác, không được ra làm quan. Người dân vóc dáng nhỏ và sắc da đen, phụ nữ cũng có người trắng, thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài, tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi. Nhà cửa khí dụng khá giống nước Xích Thổ (赤土). Coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn. Mỗi sáng sớm đều tắm rửa, dùng cành dương làm sạch răng, tụng đọc kinh chú, lại tắm rửa rồi mới ăn, ăn xong lại dùng cành dương sạch răng và đọc kinh chú. Ăn uống nhiều tô lạc (váng sữa), đường cát, gạo tẻ, bánh mì. Khi muốn ăn, trước tiên lấy canh thịt tạp hòa với bánh, dùng tay nắm mà ăn.
Cưới vợ chỉ tặng 1 bộ quần áo, chọn ngày sai bà mối đón dâu. Hai nhà trai gái mỗi bên đều 8 ngày không ra ngoài, đêm ngày đốt đèn không tắt. Nam giới làm lễ cưới xong là chia tài sản với cha mẹ, ra ở riêng. Khi cha mẹ chết, nếu còn ai chưa cưới thì chia tài sản còn lại cho người đó. Nếu đã cưới hết thì tài sản nộp vào quan phủ. Tang lễ thì con cái đều 7 ngày không ăn, cắt tóc mà khóc. Tăng ni, đạo sĩ và thân hữu đều tụ tập, dùng âm nhạc đưa tiễn. Dùng gỗ ngũ hương thiêu xác rồi thu tro, đựng bằng bình vàng bạc, tiễn đưa vào trong vùng nước lớn. Người nghèo có khi dùng bình gốm rồi vẽ màu lên. Cũng có người không thiêu, đưa xác vào trong núi để mặc thú dữ ăn.
Phía Bắc nước này nhiều đồi núi, phía Nam có đầm lầy, khí đất rất nóng, không có sương tuyết, nhiều chướng khí và độc trùng. Đất hợp trồng lúa gạo, ít kê sáp, hoa quả và rau cỏ tương tự Nhật Nam (日南) và Cửu Chân (九真). Điểm khác biệt là có cây Bà Na Sa (婆那娑), không hoa, lá như hồng, quả như đông qua; cây Am La (菴羅), hoa lá như táo, quả như mận; cây Tì Dã (毗野), hoa như mộc qua, lá như hạnh, quả như giấy; cây Bà Điền La (婆田羅), hoa lá quả đều giống táo nhưng hơi khác. Cây Ca Tất Đà (歌畢佗), hoa như lâm cầm, lá như du nhưng dày lớn, quả như mận, to như cái thăng (1 lít), còn lại phần lớn đều giống nhau.
Trong biển Cửu Chân (九真) có loài cá tên là Kiến Đồng (建同), có 4 chân, không vảy, mũi như voi, hút nước phun lên cao 50 đến 60 thước. Có cá Phù Hồ (浮胡), hình như cá lươn, mỏ như vẹt, có 8 chân. Nhiều loài cá lớn, nửa thân nhô lên mặt nước trông như núi. Cứ mỗi tháng 5 tháng 6 âm lịch, khí độc lưu hành, dân lại dùng lợn trắng, bò trắng, dê trắng để tế lễ ngoài cửa Tây thành, nếu không làm vậy thì ngũ cốc không chín, sáu loại gia súc chết nhiều, dân chúng bệnh dịch. Gần kinh đô có núi Lăng Già Bát Bà (陵伽缽婆山), trên có thần từ, thường dùng 5.000 binh sĩ canh giữ. Phía Đông thành có vị thần tên Bà Đa Lợi (婆多利), tế lễ dùng thịt người. Vua nước này hằng năm đều giết người để tế lễ cầu khẩn vào ban đêm. Cũng có 1.000 người canh giữ, việc kính quỷ thần là như vậy. Phần lớn phụng thờ Phật pháp, đặc biệt tin theo đạo sĩ, Phật và đạo sĩ thảy đều lập tượng trong quán. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], sai sứ vào cống hiến, Hoàng đế tiếp đãi rất hậu, sau đó thì đứt đoạn."
===THỜI ĐƯỜNG===
'''CAO TỔ (唐高祖)'''
'''Năm Vũ Đức (武德) [618–626], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Chân Lạp (真臘) còn gọi là Cát Miệt (吉蔑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cách kinh sư 20.700 dặm. Phía Đông giáp Xa Cừ (車渠), phía Tây thuộc Phiêu (驃), phía Nam sát biển, phía Bắc tiếp giáp Đạo Minh (道明), phía Đông Bắc giáp Hoan Châu (驩州). Vua là Sát Lợi Y Kim Na (剎利伊金那), đầu năm Trinh Quán (貞觀) [năm 627] thôn tính Phù Nam (扶南), chiếm đất ấy. Nhà cửa đều quay hướng Đông, khi ngồi thì ngồi phía trên. Khi khách phương Đông tới, họ nghiền trầu cau, long não, hương cáp để mời. Không uống rượu, coi rượu như dâm uế, chỉ cùng vợ uống trong phòng riêng, tránh mặt tôn trưởng. Có 5.000 chiến tượng, những con tốt được cho ăn thịt. Đời đời giao hảo với Tham Bán (參半) và Phiêu (驃). Thường đánh nhau với Hoàn Vương (環王) và Càn Đà Hoàn (乾陀洹). Từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) [618–700], phàm 4 lần vào triều."
Theo Triều dã thiêm tái (朝野僉載): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Hoan Châu (驩州) 500 dặm. Tục lệ khi có khách thì bày trầu cau, long não, hộp hương nghiền... để thết đãi, coi rượu như thứ dâm uế. Trong phòng riêng thì cùng vợ uống, nhưng đối với bậc bề trên thì lánh đi. Lại nữa, vợ chồng ngủ không cho người khác thấy. Tục này giống với Trung Quốc. Người trong nước không mặc quần áo, thấy ai mặc quần áo thì cùng cười nhạo. Tục không có muối sắt, dùng nỏ tre bắn sâu bọ chim chóc."
'''ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG (元宗/玄宗)'''
'''Năm Khai Nguyên (開元) [713–741], Chân Lạp (真臘) chia làm hai nước Nam Bắc là Thủy và Lục. Vương tử Lục Chân Lạp (陸真臘) dẫn thuộc hạ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Huyền Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Sau năm Thần Long (神龍) [năm 707], chia làm hai nửa: Phía Bắc nhiều đồi núi, gọi là nửa Lục Chân Lạp (陸真臘); phía Nam sát biển, nhiều đầm hồ, gọi là nửa Thủy Chân Lạp (水真臘). Thủy Chân Lạp (水真臘) đất rộng 800 dặm, vua cư ngụ tại thành Bà La Đề Bạt (婆羅提拔城). Lục Chân Lạp (陸真臘) còn gọi là Văn Đan (文單), gọi là Bà Lậu (婆鏤), đất rộng 700 dặm, tước hiệu vua là Khuất (屈). Thời Khai Nguyên (開元) và Thiên Bảo (天寶) [713–756], vương tử dẫn 26 người thuộc hạ vào triều, được bái làm Quả nghị đô úy."
'''ĐƯỜNG ĐẠI TÔNG (代宗)'''
'''Năm Đại Lịch (大曆) thứ 14 [năm 779], Phó vương Lục Chân Lạp (陸真臘) là Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Đại Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Khoảng năm Đại Lịch (大曆), Phó vương Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều, dâng 11 con voi thuần. Thăng chức Bà Di (婆彌) làm Thử Điện trung giám, ban tên là Tân Hán (賓漢). Lúc ấy Đức Tông (德宗) mới lên ngôi, tất cả chim quý thú lạ thảy đều thả đi. Những con voi thuần do quân Man Di hiến tặng nuôi trong ngự uyển, phàm có 32 con thường sung vào sân chầu ngày Nguyên hội, thảy đều thả về phía Nam núi Kinh Sơn (荊山)."
'''ĐƯỜNG HIẾN TÔNG (憲宗)'''
'''Năm Nguyên Hòa (元和) [806–820], Thủy Chân Lạp (水真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Đường thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Khoảng năm Nguyên Hòa (元和), Thủy Chân Lạp (水真臘) cũng sai sứ vào cống."
===Tống===
'''TỐNG HUY TÔNG NĂM CHÍNH HÒA THỨ 6, MÙA ĐÔNG THÁNG 12, NƯỚC CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ: (Nội dung như trên). Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Nước này ở phía Nam Chiêm Thành (占城), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam đến Gia La Hy (加羅希). Phong tục các huyện trấn giống với Chiêm Thành (占城). Đất đai rộng hơn 7.000 dặm, có đài đồng, liệt kê 24 tháp đồng, 8 voi đồng để trấn giữ phía trên, mỗi con voi nặng 4.000 cân. Nước này có gần 200.000 chiến tượng, ngựa nhiều nhưng nhỏ. Tháng 12 âm lịch năm Chính Hòa (政和) thứ 6 [năm 1116], sai Tiến tấu sứ Phụng hóa lang tướng Khâu Ma Tăng Ca (鳩摩僧哥), Phó sứ An hóa lang tướng Ma Quân Minh Khê (摩君明稽) cùng 14 người đến cống, được ban cho triều phục. Tăng Ca (僧哥) nói: 'Nước xa vạn dặm, ngưỡng trông thánh hóa, mà vẫn còn mặc y phục cỏ cây (hủy phục), chưa xứng với lòng thành hướng mộ thiết tha, nguyện xin được phép mặc đồ đã ban'. Chiếu chỉ chấp thuận, đồng thời đem việc đó giao cho Sử quán, ghi vào sách lược. Tháng 3 âm lịch năm sau [năm 1117], đoàn sứ giả từ biệt ra về."
'''Năm Tuyên Hòa thứ 2, tháng 12 [năm 1120], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ và Chân Lạp bản truyền: "Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 2 [năm 1120], lại sai Lang tướng Ma Lạp (摩臘), Ma Đột Phòng (摩禿防) đến triều kiến, phong cho vua nước ấy ngang hàng với Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Kiến Viêm thứ 2 [năm 1128], thời Cao Tông, gia phong tước hiệu và thực ấp cho vua Chân Lạp, định làm thường chế.'''
Theo Tống sử (宋史) - Cao Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyền: "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 2 [năm 1128], nhân ơn tế Giao, trao cho vua nước ấy là Kim Bâu Tân Thâm (金裒賓深) chức Kiểm hiệu Tư đồ, thêm thực ấp, từ đó định làm thường chế."
'''Năm Khánh Nguyên thứ 6 [năm 1200], thời Ninh Tông, ấp thuộc của Chân Lạp là Chân Lý Phú dâng biểu cống phương vật.'''
Theo Tống sử (宋史) - Ninh Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyền: "Ấp thuộc của Chân Lạp (真臘) có Chân Lý Phú (真里富), ở góc Tây Nam, phía Đông Nam giáp Ba Tư Lan (波斯蘭), phía Tây Nam làm láng giềng với Đăng Lưu Mi (登流眉), bộ tộc quản lý hơn 60 tụ lạc." Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 [năm 1200], chúa nước ấy đã lập được 20 năm, sai sứ dâng biểu cống phương vật và 2 con voi thuần. Chiếu chỉ ưu ái ban thưởng đáp lễ, nhưng vì đường biển xa xôi, nên từ sau không cần vào cống nữa.
===Minh===
'''MINH THÁI TỔ NĂM HỒNG VŨ THỨ 4, CHÂN LẠP SAI SỨ TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyền: "Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 3 ngày đêm có thể đến. Các triều Tùy, Đường và Tống đều triều cống. Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元) nhà Tống, Chân Lạp diệt Chiêm Thành (占城) mà gộp đất ấy lại, vì vậy đổi quốc hiệu thành Chiêm Lạp (占臘). Thời Nguyên (元), vẫn gọi là Chân Lạp (真臘). Tháng 8 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], sai sứ thần Quách Trưng (郭徵) mang chiếu thư đi vỗ về nước đó. Tháng 11 âm lịch năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Ba Sơn Vương Hốt Nhi Na (巴山王忽兒那) sai sứ dâng biểu cống phương vật, chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372]. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu, sứ giả cũng được ban thưởng có sai biệt."
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Chân Lạp (真臘), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam liền Gia La Hy (加囉希), phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城). Nước này vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Vua họ Sát Lợi (剎利), người tên Chất Đa Tư Na (質多斯那) bắt đầu thôn tính Phù Nam (扶南) mà chiếm đất. Năm Đại Nghiệp (大業) nhà Tùy bắt đầu thông sứ Trung Quốc. Nhà Đường từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) phàm 4 lần vào triều. Sau năm Thần Long (神龍), nước chia làm hai. Phía Nam gần biển, nhiều đầm lầy, là Thủy Chân Lạp (水真臘); phía Bắc nhiều đồi núi, là Lục Chân Lạp (陸真臘). Sau lại hợp lại làm một. Thời Chính Hòa (政和) nhà Tống, sai sứ đến cống. Đầu năm Tuyên Hòa (宣和), phong làm Chân Lạp quốc vương (真臘國王), ngang với Chiêm Thành (占城). Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元), người trong nước dấy binh lớn đánh Chiêm Thành (占城), phá được, lập người Chân Lạp (真臘) làm vua Chiêm Thành (占城). Vì vậy lúc bấy giờ Chiêm Thành (占城) cũng là thuộc quốc. Các thuộc quốc còn có Tham Bán (參半), Chân Lý (真里), Đăng Lưu Mi (登流眉), Bồ Cam (蒲甘)... thống lĩnh hơn 60 tụ lạc, đất đai hơn 7.000 dặm. Đầu triều ta năm Hồng Vũ (洪武), quốc vương Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử là Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật, từ đó triều cống không dứt."
Theo Hoàn vũ ký (寰宇記): "Tục nước Chân Lạp (真臘) mở cửa hướng về phía Đông, lấy hướng Đông làm trọng, nam nữ thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài. Tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi, coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn."
Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Đất Chân Lạp (真臘) màu mỡ, ruộng không có bờ giới, tầm mắt nhìn đến đâu thì cày cấy đến đó."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Nước Chân Lạp (真臘) có thành chu vi hơn 70 dặm, điện đài hơn 30 tòa, khá là tráng lệ. Đồ dùng của vua và quý tộc đa số trang trí bằng vàng ngọc. Tục chuộng hoa lệ xa xỉ, điền sản phong phú, nam nữ búi tóc hình dùi. Con gái đủ 10 tuổi thì gả chồng. Lấy gấm quấn thân, mày và trán bôi đỏ. Tục ngữ nói 'Phú quý Chân Lạp', chính là thế này vậy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Đầu năm Hồng Vũ (洪武), vua Chân Lạp (真臘) là Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật: voi, ngà voi, tô mộc, hồ tiêu, sáp vàng, sừng tê, ô mộc, hoàng hoa mộc thổ, giáng hương, bảo thạch, lông công. Sứ giả khi về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp (真臘) vào cống."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], ban cho quốc vương lịch Đại Thống (大統曆) và gấm vóc màu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Vua nước ấy là Tham Đáp Cam Vũ Giả Đặc Đạt Chí (參荅甘武者特達志) sai sứ đến cống, yến tiệc ban thưởng như trước."
'''Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền (Nội dung như trên).
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua Chân Lạp, đồng thời ban cho gấm vàng và đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua nước ấy. Phàm sứ Trung Quốc đến mà Khám hợp không khớp thì đều là giả mạo, cho phép bắt trói báo cáo. Lại sai sứ ban cho 32 xấp gấm dệt kim, 19.000 món đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ đến cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn sang ban đồ sứ cho nước Chân Lạp.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn (劉敏), Đường Kính (唐敬) cùng Trung quan mang đồ sứ sang ban tặng."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], bọn Đường Kính (唐敬) về nước, vua nước ấy sai sứ cống 59 con voi, 60.000 cân hương. Chẳng bao lâu sai sứ ban cho vua ấn bạc mạ vàng, vua và phi đều được ban thưởng. Vua là Tham Liệt Bảo Tì Da Cam Bồ Giả (參烈寶毗邪甘菩者) sai sứ cống voi và phương vật."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 7 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], Hành nhân Đường Kính (唐敬) từ Chân Lạp (真臘) về, vua nước ấy sai sứ cống 50 con voi, 60.000 cân hương, từ đó triều cống không dứt."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 [năm 1388], lại cống 28 con voi, 34 quản tượng, 45 nô tỳ phiên, để tạ ơn ban ấn."
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Chân Lạp 3 lần vào cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Chân Lạp lại vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu ở trên).
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, SAI SỨ TUYÊN DỤ NƯỚC ẤY'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai Hành nhân Tưởng Tân Hưng (蔣賓興), Vương Khuê (王樞) mang chiếu thư lên ngôi đến tuyên dụ nước ấy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai sứ đến Chân Lạp (真臘), ban chiếu dụ việc lên ngôi. Đến nước ấy thấy khí hậu thường nóng, lúa ruộng chín quanh năm, nấu nước biển làm muối. Phong tục giàu có, nam nữ búi tóc hình dùi (chuỳ kế), mặc áo ngắn, quấn vải sao (tiêu bố), không còn ở trần nữa. Các nước thuộc quốc của họ vẫn có người ở trần, thấy ai mặc quần áo thì người ta lại cười nhạo. Pháp luật có các hình phạt xẻo mũi (tị), chặt chân (nguyệt), xăm chữ vào mặt (thứ), đày đi xa (phối). Phạm tội trộm cắp thì chặt tay chân. Dân nước ấy giết người Trung Quốc thì phải đền mạng. Người Trung Quốc giết dân nước ấy thì phạt tiền vàng. Không có tiền thì bán thân chuộc tội."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 2 [năm 1404], Chân Lạp sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước ấy là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), có 3 người lính bộ tốt trốn đi, tìm không được, nhà vua lấy 3 người nước mình để thay thế. Đến nay đưa vào yết kiến, Hoàng đế phán: 'Người Hoa tự bỏ trốn sang đó, can dự gì đến họ mà trách phạt đòi bồi thường? Vả lại ngôn ngữ không thông, phong thổ không quen, ta dùng họ làm gì?'. Mệnh ban cho quần áo và chi phí đi đường, rồi cho về."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua Chân Lạp (真臘) là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai bồi thần là Nại Chức (奈職) cùng 9 người triều cống phương vật, ban thưởng tiền giấy và vải vóc. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), lúc sắp về có 3 người lính đi theo bỏ trốn, tìm không được, quốc vương lấy 3 người trong nước theo Trung quan về để bổ sung vào hàng ngũ. Đến nay, Lễ bộ (禮部) đưa vào yết kiến, Thượng (Hoàng đế) phán: 'Người Trung Quốc tự bỏ trốn, can hệ gì đến việc của họ mà bắt đền? Vả lại có được 3 người này thì ngôn ngữ không thông, phong tục chẳng hiểu, ta dùng làm gì? Huống hồ họ đều có gia đình, lẽ nào vui vẻ ở lại đây? Ngươi hãy bảo Lễ bộ (禮部) cấp cho cơm áo, chi phí đi đường, cho họ về Chân Lạp (真臘)'. Thượng thư Lý Chí Cương (李至剛) cùng những người khác thưa: 'Thần trộm nghĩ người Trung Quốc tất không phải tự trốn ở đó, hoặc giả là bị họ giấu đi, thì 3 người này cũng không nên cho về'. Thượng phán: 'Làm vua không nên dùng lòng nghi kỵ để đối đãi người, chỉ cần suy rộng lòng của trời đất để đối đãi với người là được'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến phúng viếng tang lễ quốc vương Chân Lạp. Lại ban chiếu phong Thế tử lên làm vương. Liền đó sai sứ đến tạ ơn.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến cống, báo tang cố vương, mệnh cho Hồng lô tự Tự ban Vương Tư (王孜) đến tế lễ, Cấp sự trung Tất Tiến (畢進), Trung quan Vương Tông (王琮) mang chiếu thư phong Thế tử là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương. Khi bọn Tất Tiến (進) trở về, tân vương sai sứ cùng đi theo đến tạ ơn."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) mất, mệnh Tự ban Vương Tư (王孜) sang tế, phong con trưởng là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương, ban cho gấm lụa màu và các vật phẩm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 12 [năm 1414], Chân Lạp lại vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 [năm 1414] lại vào cống, sứ giả lấy cớ nước mình nhiều lần bị Chiêm Thành (占城) xâm nhiễu nên ở lại lâu không đi. Hoàng đế sai Trung quan tiễn về, đồng thời hạ sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城) bãi binh tu hảo."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) sai sứ dâng biểu văn khắc trên vàng (kim lũ biểu văn), cống voi thuần và phương vật."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 3, CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
'''[Năm 1452]'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Trong những năm Tuyên Đức (宣德) [1426–1435] và Cảnh Thái (景泰) [1450–1456] cũng sai sứ vào cống, về sau không đến thường xuyên. Kinh thành nước ấy chu vi hơn 70 dặm, bờ cõi rộng mấy ngàn dặm. Trong nước có tháp vàng cầu vàng, điện đài hơn 30 tòa. Vua mỗi năm hội họp một lần, la liệt khỉ ngọc, công, voi trắng, tê ngưu ở phía trước, gọi là Bách Tháp Châu (百塔洲). Dùng mâm vàng bát vàng để đựng đồ ăn, nên có câu tục ngữ 'Phú quý Chân Lạp'. Dân tục giàu có, tiết trời thường nóng, không biết sương tuyết. Lúa một năm chín mấy vụ, nam nữ búi tóc hình dùi, mặc áo ngắn, quấn vải tiêu. Hình pháp có xẻo mũi, chặt chân, xăm chữ, đày đi; trộm cắp thì bỏ tay chân. Người phiên giết người Đường (Đường nhân) thì tội chết. Người Đường giết người phiên thì phạt tiền vàng, không tiền thì bán thân chuộc tội. 'Đường nhân' (唐人) là cách các nước phiên gọi người Hoa vậy, các nước hải ngoại thảy đều như thế. Việc cưới xin, hai nhà thảy đều 8 ngày không ra khỏi cửa, đốt đèn đêm ngày. Người chết thì bỏ ra đồng, mặc cho diều quạ ăn, trong chốc lát mà ăn hết sạch thì gọi là được phúc báo. Có tang thì chỉ cạo trọc đầu. Con gái thì cắt tóc trên trán to bằng đồng tiền, nói rằng 'dùng việc này để báo đáp cha mẹ'. Chữ viết dùng các loại da hoẵng da hươu nhuộm đen, dùng bột làm thỏi nhỏ để vẽ lên trên, vĩnh viễn không phai. Lấy tháng 10 âm lịch làm đầu năm, tháng nhuận thảy đều dùng tháng 9 âm lịch, đêm chia làm 4 canh. Cũng có người am hiểu thiên văn, có thể tính toán nhật thực nguyệt thực tại địa phương đó. Gọi nhà Nho là 'Ban cật' (班詰), tăng là 'Trữ cô' (苧姑), đạo là 'Bát tư' (八思). Ban cật không biết đọc sách gì, ai do đường này vào làm quan thì được coi là hiển đạt (hoa quán). Trước khi sang trọng thì đeo một sợi chỉ trắng ở cổ để tự phân biệt, khi đã quý hiển rồi vẫn kéo sợi chỉ trắng như cũ. Tục chuộng đạo Phật, sư đều ăn cá thịt, hoặc dùng để cúng Phật, duy chỉ không uống rượu. Nước ấy tự xưng là 'Cam Bột Trí' (甘孛智), sau gọi chệch thành 'Cam Phá Giá' (甘破蔗). Sau đời Vạn Lịch (萬曆) lại đổi thành 'Đông Phố Trại' (東埔寨 - Campuchia)."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 [năm 1452], ban cho vua Chân Lạp (真臘) 2 đoạn gấm, 6 xấp lụa trừu (trữ ti), 4 xấp sa, 4 xấp la; ban cho Vương phi 4 xấp lụa trừu, 3 xấp sa, 3 xấp la. Các đầu mục cùng Tổng quản thông sự, Hỏa trưởng đi theo được ban quần áo, lụa trừu, quyến, vải có sai biệt, ban yến tiệc 1 lần. Sứ thần khi về đến Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) được quản đãi 1 lần, cấp lộ phí (hạ trình) 1 lần cho 10 ngày. Cứ mỗi 10 người thì cấp 2 con dê, ngỗng, gà; 20 bình rượu, 1 đấu gạo, 5 đấu mì, rau xanh và gia vị..."
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 2 (真臘部彙考二)==
=== 《Chân Lạp phong thổ ký》 (真臘風土記) ===
'''Tổng tự (總敘)'''
Nước Chân Lạp (真臘), hoặc gọi là Chiêm Lạp (占臘), nước ấy tự xưng là "Cam Bột Trí" (甘孛智). Nay Thánh triều dựa theo Tây Phiên kinh (西蕃經), đặt tên nước ấy là "Gạm Phổ Chỉ" (澉浦只), đó cũng là âm cận với Cam Bột Trí (甘孛智) vậy. Từ Ôn Châu (溫州) ra khơi, theo kim chỉ hướng Đinh Mùi, đi qua các cảng khẩu thuộc các châu ngoài khơi của Mân (閩 - Phúc Kiến), Quảng (廣 - Quảng Đông), vượt biển Thất Châu (七洲洋), qua biển Giao Chỉ (交趾洋) đến Chiêm Thành (占城). Lại từ Chiêm Thành (占城) thuận gió mất khoảng nửa tháng thì đến Chân Bồ (真蒲), ấy là biên cảnh của nước này. Lại từ Chân Bồ (真蒲) hành trình theo kim chỉ hướng Khôn Thân, qua biển Côn Lôn (崑崙洋) vào cửa sông. Cửa sông có đến mấy chục, chỉ có cửa sông thứ 4 là có thể vào được, còn lại thảy đều cát nông, nên thuyền lớn không thông. Tuy nhiên nhìn khắp nơi chỉ thấy mây ngàn cây cổ, cát vàng lau trắng, lúc vội vã không dễ nhận ra, vì thế người đi thuyền coi việc tìm cửa sông là việc khó. Từ cửa sông đi về hướng Bắc, thuận dòng mất khoảng nửa tháng thì tới địa danh là Tra Nam (查南), ấy là một quận thuộc nước này. Lại từ Tra Nam (查南) đổi sang thuyền nhỏ, thuận dòng hơn 10 ngày, đi qua làng Bán Lộ (半路村), làng Phật (佛村), vượt hồ Đạm Dương (淡洋), có thể đến nơi gọi là Can Báng (干傍), cách thành 50 dặm.
Theo Chư phiên chí (諸蕃志) chép rằng: "Đất ấy rộng 7.000 dặm, phía Bắc nước này đến Chiêm Thành (占城) mất nửa tháng đường, phía Tây Nam cách Xiêm La (暹羅) nửa tháng hành trình, phía Nam cách Phiên Ngung (番禺) 10 ngày hành trình, phía Đông là biển lớn vậy". Xưa kia đây là nước thông thương qua lại, Thánh triều nay nhận mệnh trời, thống lĩnh bốn biển. Khi Toa Đô (唆都) Nguyên soái đặt hành tỉnh ở Chiêm Thành (占城), từng sai một Hổ phù Bách hộ, một Kim bài Thiên hộ cùng đến nước này, rốt cuộc bị bắt giữ không cho về. Tháng 6 âm lịch năm Ất Vị thời Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], Thiên tử sai sứ chiêu dụ, ta đi theo đoàn. Tháng 2 âm lịch năm sau [năm 1296] rời Minh Châu (明州), ngày 20 ra khơi từ cửa biển Ôn Châu (溫州), ngày 15 tháng 3 âm lịch đến Chiêm Thành (占城), giữa đường gió ngược không thuận, tháng 7 âm lịch mới tới nơi. Tháng 6 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức (大德) [năm 1297] quay thuyền về, ngày 12 tháng 8 âm lịch đến bến thuyền Tứ Minh (四明). Những chi tiết về phong thổ, quốc sự nước ấy, tuy không thể biết hết, nhưng đại lược cũng có thể thấy được vậy.
'''Thành quách (城郭)'''
Thành của châu vi chu vi khoảng 20 dặm, có 5 cửa, cửa đều có hai tầng, duy chỉ hướng Đông mở 2 cửa, các hướng còn lại đều 1 cửa. Bên ngoài thành có hào lớn, ngoài hào đều là đường cái và cầu lớn, hai bên cầu mỗi bên có 54 pho tượng thần bằng đá, hình dáng như Thạch tướng quân, rất lớn và dữ tợn, 5 cửa đều tương tự như nhau. Lan can cầu đều làm bằng đá, đục theo hình rắn, rắn đều có 9 đầu, 54 vị thần đều dùng tay kéo rắn, có thế như không cho rắn chạy thoát. Phía trên cửa thành có 5 đầu Phật bằng đá lớn, mặt hướng về phía Tây, chính giữa đặt một đầu trang trí bằng vàng. Hai bên cửa thành đục đá thành hình voi. Thành đều xếp đá mà thành, cao khoảng 2 trượng (khoảng 6.6 mét), đá rất khít và kiên cố, lại không mọc cỏ dại, nhưng không có nữ tường (tường thấp trên mặt thành). Trên thành đôi khi trồng cây quặng lang (cây thốt nốt), rải rác là các dãy nhà trống, phía trong thành như một cái dốc, dày khoảng hơn 10 trượng. Trên dốc đều có cửa lớn, đêm đóng sáng mở. Cũng có người canh cửa, riêng chó không được vào cửa. Thành ấy rất vuông vức, bốn góc mỗi góc có một tháp đá, người từng chịu hình phạt chặt ngón chân cũng không được vào cửa.
Ngay giữa nước có một tháp vàng, bên cạnh có hơn 20 tháp đá, hơn 100 gian nhà đá, hướng về phía Đông có một cây cầu vàng, 2 con sư tử vàng đặt ở tả hữu cầu, 8 pho tượng Phật vàng đặt dưới nhà đá. Phía Bắc tháp vàng khoảng hơn 1 dặm có một tháp đồng, cao hơn tháp vàng, nhìn xa thấy sừng sững. Dưới tháp cũng có mười mấy gian nhà đá. Lại phía Bắc tháp ấy 1 dặm là cung thất của quốc chủ, trong phòng ngủ lại có một tháp vàng nữa. Vì thế khách buôn trên thuyền từ xưa đã có lời khen "Phú quý Chân Lạp", tưởng là vì lẽ này. Tháp đá ở ngoài cửa Nam hơn nửa dặm, tục truyền do Lỗ Ban (魯般) xây xong trong một đêm. Mộ Lỗ Ban (魯般) ở ngoài cửa Nam khoảng hơn 1 dặm, chu vi khoảng 10 dặm, có hàng trăm gian nhà đá. Hồ Đông (Đông Trì) cách thành 10 dặm về phía Đông, chu vi khoảng 100 dặm, trong hồ có tháp đá nhà đá, trong tháp có một pho tượng Phật đồng nằm, từ rốn thường có nước chảy ra. Hồ Bắc (Bắc Trì) cách thành 5 dặm về phía Bắc, trong hồ có một tháp vàng vuông, mấy chục gian nhà đá, sư tử vàng, Phật vàng, voi đồng, bò đồng, ngựa đồng đều có đủ.
'''Cung thất (宮室)'''
Cung điện và dinh thự quan lại đều hướng về phía Đông. Quốc cung ở phía Bắc tháp vàng cầu vàng, gần cửa chu vi khoảng 5 đến 6 dặm. Ngói của chính thất làm bằng chì, còn lại đều là ngói đất màu vàng. Cột cầu rất lớn, đều chạm vẽ hình Phật. Mái nhà tráng lệ, hành lang dài bao quanh, cao thấp so le, khá có quy mô. Nơi làm việc có cửa sổ vàng, cột vuông hai bên, trên có gương, ước chừng 40 đến 50 chiếc đặt bên cạnh cửa sổ. Phía dưới làm hình voi, nghe nói bên trong có nhiều nơi kỳ lạ, canh phòng rất nghiêm, không thể nhìn thấy được. Trong tháp vàng bên nội cung, quốc chủ đêm nằm trên đó, người bản địa đều nói trong tháp có tinh rắn 9 đầu, là chủ đất của một nước, thân là nữ, mỗi đêm đều hiện ra gặp quốc chủ, vua phải cùng ngủ giao cấu trước, dù là vợ vua cũng không dám vào. Đến canh hai vua mới ra, bấy giờ mới có thể ngủ cùng vợ thiếp. Nếu tinh này một đêm không hiện ra thì ngày chết của vương phiên đã đến. Nếu vương phiên một đêm không tới thì tất sẽ gặp tai họa. Kế đến như dinh thự của quốc thích, đại thần, chế độ rộng lớn, khác hẳn nhà thường dân. Xung quanh đều lợp bằng cỏ, duy chỉ có gia miếu và chính tẩm (phòng ngủ chính) là 2 nơi được dùng ngói, cũng tùy theo đẳng cấp chức quan mà định chế độ nhà rộng hẹp khác nhau. Phía dưới như nhà của bách tính, chỉ lợp cỏ, không dám dùng dù chỉ một mảnh ngói trên mái, rộng hẹp tuy tùy vào sự nghèo giàu của gia đình, nhưng tuyệt nhiên không dám bắt chước chế độ của phủ đệ.
'''Phục sức (服飾)'''
Từ quốc chủ trở xuống nam nữ đều búi tóc hình dùi, để trần thân trên, chỉ lấy vải quấn ngang hông, khi ra ngoài thì thêm một dải vải lớn quấn lên trên lớp vải nhỏ. Vải có phân đẳng cấp rõ rệt, vải của quốc chủ quấn có giá trị 3 đến 4 lạng vàng, cực kỳ hoa lệ tinh mỹ. Trong nước tuy tự dệt vải, nhưng người Xiêm La (暹羅) và Chiêm Thành (占城) đều mang vải đến bán, thường lấy vải từ Tây Dương (西洋) làm hạng thượng đẳng vì tinh xảo và hoa văn nhỏ, vì thế chỉ riêng quốc chủ mới được quấn vải hoa thuần chất. Trên đầu đội mũ vương miện vàng, như loại mũ trên đầu các vị Kim Cang vậy. Hoặc có lúc không đội mũ, chỉ lấy dây xâu hoa thơm như hoa nhài quấn quanh búi tóc. Trên đỉnh đầu đội khối trân châu lớn nặng khoảng 3 cân, tay chân và các ngón tay đều đeo vòng vàng, nhẫn đều khảm đá mắt mèo. Phía dưới đi chân đất, lòng bàn chân và lòng bàn tay đều dùng thuốc hồng nhuộm đỏ, khi ra ngoài tay cầm gươm vàng. Trong dân gian chỉ phụ nữ mới được nhuộm lòng bàn tay chân, đàn ông không dám vậy. Đại thần quốc thích có thể quấn vải hoa thưa, chỉ người trong cung mới được quấn vải hoa hai đầu, phụ nữ trong dân gian cũng có thể quấn loại này. Nếu là người Đường mới đến (tân Đường nhân) dù có quấn vải hoa hai đầu, người ta cũng không dám trách tội, vì họ "ám đinh bát sát" vậy. "Ám đinh bát sát" nghĩa là không biết thể lệ, quy tắc vậy. (Ghi chú: Trên đỉnh đầu đội trân châu nặng khoảng 3 cân, chữ "cân" này có vẻ nhầm lẫn nhưng chuyện ngoại quốc cũng không thể dùng lý thường mà đoán định, tạm theo nguyên bản).
'''QUAN THUỘC (官屬)'''
Trong nước cũng có các quan Thừa tướng, Tướng soái, Tư thiên, bên dưới mỗi quan lại đặt các thuộc viên Tư lại, chỉ là danh xưng khác biệt mà thôi. Đại để các chức ấy đều do quốc thích nắm giữ, nếu không thì cũng là người có con gái nạp làm phi tần. Nghi thức và đoàn tùy tùng khi ra ngoài cũng có đẳng cấp. Dùng kiệu vàng có 4 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhất; kiệu vàng 2 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhì; kiệu vàng 1 người khiêng và lọng cán vàng là hạng kế tiếp; chỉ dùng 1 lọng cán vàng lại là hạng sau đó nữa. Kẻ cấp thấp hơn nữa thì chỉ dùng 1 lọng cán bạc mà thôi, cũng có người dùng kiệu có đòn khiêng bằng bạc. Các quan từ cấp lọng cán vàng trở lên đều gọi là "Bả đinh" (把丁), hoặc gọi là "Ám đinh" (暗丁). Người dùng lọng cán bạc thì gọi là "Sư lạt đích tản" (廝辣的傘). Lọng đều dùng lụa đỏ của Trung Quốc mà làm, dải rủ xuống kéo dài chạm đất. Ô che dầu thì đều dùng lụa xanh, dải rủ lại ngắn.
''' TAM GIÁO (三教)'''
Bậc học giả (Nho) gọi là Ban cật (班詰), bậc đi tu (Sư) gọi là Trữ cô (苧姑), bậc theo đạo (Đạo sĩ) gọi là Bát tư duy (八思惟). Ban cật không biết tổ sư là ai, cũng không có nơi gọi là học xá để giảng tập, cũng khó lòng tìm hiểu họ đọc sách gì, chỉ thấy ngoài việc quấn vải như người thường, họ còn treo một sợi chỉ trắng trên đỉnh đầu, lấy đó làm dấu hiệu phân biệt là Nho. Những người từ hàng Ban cật mà ra làm quan thì được coi là bậc cao sang. Sợi chỉ trên cổ ấy suốt đời không bỏ.
Trữ cô thì cạo tóc mặc áo vàng, để hở vai phải, phía dưới thắt váy vải vàng. Đi chân đất. Chùa cũng được phép dùng ngói lợp. Chính giữa chỉ thờ một pho tượng, hình dáng giống hệt Thích Ca Phật, gọi là Bột lại (孛賴), mặc áo đỏ nặn bằng bùn, trang trí màu sắc, ngoài ra không có tượng nào khác. Phật trong tháp thì tướng mạo lại khác, đều đúc bằng đồng, không có chuông trống, não bạt hay tràng phan bảo cái. Tăng sĩ đều ăn cá thịt, chỉ là không uống rượu, cúng Phật cũng dùng cá thịt. Mỗi ngày dùng một bữa chay, đều lấy từ nhà thí chủ. Trong chùa không đặt bếp núc. Kinh văn tụng đọc rất nhiều, đều chép trên lá bối (bối diệp) xếp lại cực kỳ chỉnh tề, trên đó viết chữ đen, đã không dùng bút mực thì chẳng rõ họ dùng vật gì để viết. Tăng sĩ cũng dùng kiệu và lọng có cán vàng, bạc. Khi quốc vương có đại chính sự cũng thường tìm đến hỏi ý kiến, nhưng ở đây không có ni cô.
Bát tư duy cũng như người thường, ngoài việc quấn vải thì trên đầu đội một miếng vải đỏ hoặc trắng, giống như mũ Cố cô (罟姑) của người đàn bà Đạt Đát (韃靼) nhưng hơi thấp hơn. Cũng có cung quán (nơi tu hành), nhưng so với chùa chiền thì hẹp hơn, mà Đạo giáo cũng không hưng thịnh bằng Phật giáo. Nơi thờ phụng không có tượng gì khác, chỉ có một khối đá, như đá trong đàn xã tắc của Trung Quốc, cũng không rõ tổ sư là ai. Lại có cả cung quán cho nữ đạo sĩ. Bát tư duy cũng được dùng ngói lợp. Họ không ăn đồ của người khác nấu, cũng không cho người khác thấy mình ăn, không uống rượu, cũng chưa từng thấy họ tụng kinh hay làm các việc công quả cho người. Theo tục lệ, trẻ con đi học đều trước hết đến nhà chùa để học tập với tăng sĩ, khi lớn lên mới hoàn tục, chi tiết cụ thể không thể khảo chứng rõ được.
'''NHÂN VẬT (人物)'''
Người ta chỉ biết nhân vật vùng Man tục thô xấu và rất đen, nhưng không biết rằng những người ở hải đảo u tịch hay ngõ phố tầm thường mới đúng là như vậy. Còn như cung nhân và phụ nữ ở Nam Bằng (南棚), nhiều người trắng trẻo như ngọc, ấy là vì không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vậy. Đại để ngoài một mảnh vải quấn ngang hông, bất luận nam nữ đều để lộ ngực, búi tóc hình dùi, đi chân đất, ngay cả vợ quốc vương cũng chỉ như thế. Quốc vương có tất cả 5 người vợ, 1 người ở chính thất, 4 người ở bốn phương. Phía dưới là phi tần và tỳ thiếp, nghe đâu có từ 3.000 đến 5.000 người, cũng phân chia đẳng cấp, không mấy khi ra khỏi cửa.
Mỗi khi ta vào nội cung, thấy phiên chủ tất cùng ra với chính thê, ngồi trong cửa sổ vàng nơi chính thất, các cung nhân đều thứ tự đứng liệt dưới cửa sổ hai bên hành lang, đứng tựa mà nhìn trộm, ta có dịp được thấy hết một lượt. Hễ nhà dân có con gái đẹp đều bị triệu vào cung. Những người phục dịch việc đi lại bên dưới gọi là "Trần gia lan" (陳家蘭), cũng không dưới 1.000 đến 2.000 người. Họ đều có chồng, sống lẫn lộn trong dân gian, chỉ ở trước thóp đầu thì cạo tóc, bôi phấn hồng (ngân chu) và bôi ở hai bên thái dương để làm dấu hiệu phân biệt là Trần gia lan. Chỉ hạng phụ nữ này mới được vào nội cung, hạng người khác bên dưới không được vào. Trước sau nội cung, hạng người này đi lại nườm nượp trên đường. Phụ nữ tầm thường ngoài việc búi tóc hình dùi ra không có đồ trang sức trâm lược nào khác, nhưng trên cánh tay đeo vòng vàng, ngón tay đeo nhẫn vàng; các Trần gia lan và cung nhân trong nội đình đều dùng như vậy. Nam nữ trên mình thường xức thuốc thơm, hợp thành từ hương đàn, xạ; nhà nhà đều tu sửa Phật sự. Trong nước có nhiều người lưỡng tính (nhị hình nhân), mỗi ngày từng đoàn mười mấy người đi lại giữa chợ búa, thường có ý lôi kéo người Đường (người Trung Quốc), ngược lại còn tặng quà hậu hĩnh, thật là xấu xa đáng ghét.
'''SẢN PHỤ (產婦)'''
Phụ nữ phiên sau khi sinh, liền lấy cơm nóng trộn muối xoa vào và nạp vào âm hộ, sau 1 ngày đêm thì lấy ra, nhờ đó mà trong lúc sinh không mắc bệnh, lại thu hẹp lại như người con gái còn trinh. Ta mới nghe qua thì lấy làm lạ, rất nghi ngờ không phải vậy. Sau đó nhà nơi ta tạm trú có người sinh con, mới biết rõ sự việc đó, và ngày hôm sau người ấy đã ôm đứa bé cùng ra sông tắm rửa, thật là chuyện quái lạ thấy được. Lại thường thấy người ta nói phụ nữ phiên rất dâm đãng, nếu chồng không đáp ứng được dục vọng thì liền có việc bị vợ ruồng bỏ. Nếu chồng có việc đi xa, chỉ có thể đi vài đêm. Quá 10 đêm, người vợ tất nói: "Ta không phải là ma quỷ, sao có thể ngủ cô độc?", lòng dâm đãng càng khẩn thiết. Tuy nhiên cũng nghe có người giữ tiết chí. Phụ nữ ở đây rất nhanh già. Có lẽ vì việc cưới xin sinh nở quá sớm, người 20 đến 30 tuổi đã như người 40 đến 50 tuổi ở Trung Quốc rồi.
'''THIẾU NỮ (室女)'''
Nhà dân nuôi con gái, cha mẹ tất cầu nguyện rằng: "Nguyện cho con có người muốn, sau này lấy được hàng ngàn hàng trăm người chồng". Con gái nhà giàu từ 7 tuổi đến 9 tuổi, nhà cực nghèo thì đến 11 tuổi, tất phải mời tăng sĩ hoặc đạo sĩ làm lễ phá trinh, gọi là "Trận thảm" (陣毯). Đại để quan phủ mỗi năm vào 1 ngày trong tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] sẽ ban hành lệnh, nhà dân có con gái đến tuổi Trận thảm phải báo cáo quan phủ trước. Quan phủ trước hết cấp cho 1 cây nến lớn, trên nến có khắc một vạch, ước chừng đêm đó khi trời tối thì đốt nến, khi cháy đến vạch khắc thì là lúc làm lễ Trận thảm.
Trước kỳ hạn 1 tháng, hoặc nửa tháng, hoặc 10 ngày, cha mẹ tất chọn lấy 1 tăng sĩ hoặc đạo sĩ tùy theo chùa quán nào, thường cũng có nơi quen thuộc. Các tăng sĩ tốt, bậc cao đều được các nhà quan lại giàu có chọn trước, nhà nghèo thì không kịp chọn lựa. Nhà giàu sang thì biếu tặng rượu, gạo, vải vóc, trầu cau, đồ bạc các loại, có khi đến 100 gánh, giá trị bằng 200 đến 300 lạng bạc trắng của Trung Quốc; nhà ít hơn thì 30 đến 40 gánh, hoặc 10 đến 20 gánh, tùy nhà giàu nghèo, cho nên nhà nghèo đến 11 tuổi mới làm lễ là vì khó biện được các vật phẩm này. Cũng có người bố thí tiền cho con gái nhà nghèo làm lễ Trận thảm, gọi là "làm việc thiện" (tố hảo sự).
Đại để trong 1 năm, một tăng sĩ chỉ được nhận 1 cô gái, tăng sĩ đã nhận lời rồi thì không được nhận nơi khác. Đêm đó, bày tiệc ăn uống lớn, khua trống nhạc hội họp người thân hàng xóm. Ngoài cửa dựng một cái lán cao, trang trí hình nặn người bùn, thú bùn các loại trên đó, hoặc hơn 10 cái, hoặc chỉ 3 đến 4 cái, nhà nghèo thì không có. Mỗi nhà theo tích cũ, phàm 7 ngày mới dỡ bỏ. Khi trời tối, dùng kiệu lọng trống nhạc đón tăng sĩ này về. Dùng vải màu kết thành 2 cái đình nhỏ, một cái để cô gái ngồi trong đó, một cái tăng sĩ ngồi trong đó, không rõ miệng họ nói lời gì, tiếng trống nhạc ồn ã vang trời. Đêm đó không cấm việc đi đêm.
Nghe nói đến giờ, tăng cùng con gái vào phòng, tự tay làm lễ phá trinh, rồi bỏ vào trong rượu; có người nói cha mẹ và hàng xóm đều chấm lên trán, có người nói thảy đều nếm bằng miệng, có người nói tăng cùng con gái giao cấu, có người lại nói không có việc này, nhưng họ không cho người Đường thấy nên không biết chắc được. Đến khi trời sắp sáng, lại dùng kiệu lọng trống nhạc tiễn tăng đi, sau đó phải dùng vải vóc các loại đưa cho tăng để "chuộc thân", nếu không cô gái này sẽ mãi thuộc về vị tăng đó, không thể gả cho người khác được.
Việc ta thấy tận mắt là vào đêm mùng 6 tháng 4 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức [năm 1297]. Trước đó cha mẹ tất ngủ cùng con gái, sau lễ này thì đuổi ra ngoài phòng, mặc cho đi đâu thì đi, không còn gò bó hay đề phòng gì nữa. Đến như việc cưới xin, tuy có lễ nạp tệ nhưng cũng chỉ làm sơ sài cho xong chuyện, nhiều người tư thông trước rồi mới cưới sau, phong tục ấy họ chẳng cho là nhục, cũng chẳng cho là lạ. Đêm Trận thảm, trong một ngõ có khi đến hơn 10 nhà làm lễ, trong thành người đón tăng sĩ đạo sĩ đi lại đan xen trên đường, tiếng trống nhạc không nơi nào không có.
'''NÔ TỲ (奴婢)'''
Nô tỳ trong các gia đình đều mua người dã man (dã nhân) để sung vào việc phục dịch, nhà nhiều có hơn 100 người, nhà ít cũng có 10 đến 20 người, trừ những nhà cực nghèo thì mới không có. Những người dã man này là người ở vùng núi rừng, tự có chủng loại riêng, tục gọi là "Trông" (獞). Khi bọn giặc này đến trong thành, cũng không dám ra vào nhà người khác. Người trong thành khi mắng chửi nhau, hễ gọi đối phương là "Trông" (獞) thì kẻ đó hận thấu xương tủy, sự khinh rẻ của mọi người đối với họ là như thế. Người trẻ khỏe giá 100 tấm vải, người già yếu chỉ giá 30 đến 40 tấm vải. Họ chỉ được phép ngồi nằm dưới sàn lầu. Nếu có việc sai bảo mới được lên lầu, nhưng phải quỳ gối, chắp tay, đảnh lễ rồi mới dám tiến tới. Họ gọi chủ nam là "Ba đà" (巴駝), chủ mẫu là "Mễ" (米). Đà (駝) nghĩa là cha, Mễ (米) nghĩa là mẹ. Nếu có lỗi mà bị đánh, họ cúi đầu chịu gậy, chẳng dám cử động. Nam nữ nô tỳ tự phối đôi với nhau, chủ nhân tuyệt không có lễ giao tiếp (cưới hỏi) với họ. Có người Đường (唐人) đến đó, vì xa nhà lâu ngày nên không chọn lựa mà giao cấu với họ, chủ nhân nghe thấy thì ngày hôm sau không thèm ngồi cùng chỗ, vì người đó đã từng tiếp xúc với dã nhân vậy. Nếu nô tỳ giao cấu với người ngoài đến mức có thai, sinh con, chủ nhân cũng không gặng hỏi lai lịch, vì coi họ là hạng không đáng kể (bất xỉ), lại có lợi là thêm được đứa trẻ, sau này vẫn làm nô tỳ được. Nếu có kẻ bỏ trốn mà bị bắt lại, tất sẽ bị xăm màu xanh vào mặt, hoặc đeo vòng sắt quanh cổ để khóa lại, cũng có người bị đeo vòng sắt ở cánh tay hoặc bắp chân.
'''NGÔN NGỮ (語言)'''
Ngôn ngữ trong nước tự thành hệ thống riêng, âm thanh tuy gần giống nhưng người Chiêm Thành (占城) và người Xiêm (暹人) đều không thông hiểu lời nói. Ví như 1 là "Mai", 2 là "Biệt", 3 là "Ti", 4 là "Ban", 5 là "Bột giam", 6 là "Bột giam mai", 7 là "Bột giam biệt", 8 là "Bột giam ti", 9 là "Bột giam ban", 10 là "Đáp hô". Cha gọi là "Ba đà", chú bác cũng gọi là "Ba đà". Mẹ gọi là "Mễ", cô, dì, thím, mợ cho đến bậc cao tuổi hàng xóm cũng gọi là "Mễ". Anh gọi là "Bang", chị cũng gọi là "Bang". Em gọi là "Bổ ôn". Cậu gọi là "Khiết lại", dượng (chồng của cô) cũng gọi là "Bột lại". Đại để họ đặt chữ "Dưới" lên trên (ngữ pháp ngược), như trong đảng phái thường tự sát hại lẫn nhau. Vùng đất gần đó cũng có người trồng đậu khấu, bông vải dệt vải để làm nghề nghiệp, vải rất thô dày, hoa văn rất khác biệt.
'''CHỮ VIẾT (文字)'''
Chữ viết thông thường và văn thư quan phủ đều dùng các vật như da hoẵng, da hươu nhuộm đen, tùy theo kích thước rộng hẹp mà cắt theo ý muốn. Dùng một loại phấn như đất phấn trắng (bạch oắc) của Trung Quốc, vê thành thỏi nhỏ gọi là "Sa" (梭), cầm trong tay rồi viết chữ lên da, vĩnh viễn không phai. Dùng xong thì giắt lên trên tai. Chữ viết có thể nhận ra là do ai viết, phải dùng vật ướt lau sạch mới mất đi. Đại suất mặt chữ giống như chữ Hồi Hột (回鶻), sách chữ đều viết từ sau ra trước, chứ không viết từ trên xuống dưới. Ta nghe Dã Tiên Hải Nha (也先海牙) nói rằng: "Chữ ấy không có âm thanh, chính là gần với âm người Mông Cổ (蒙古), chỉ khác nhau 2 đến 3 chữ mà thôi". Ban đầu không có ấn tín, người dân đi kiện cáo cũng có cửa hàng chép thuê (thư phô) viết giúp.
'''CHÍNH SÓC THỜI TỰ (正朔時序)'''
Thường lấy tháng 10 âm lịch của Trung Quốc làm tháng Giêng. Tháng ấy tên là "Giai đắc" (佳得). Trước nội cung dựng một cái giàn lớn, trên có thể chứa hơn 1.000 người, treo đầy đèn cầu, hoa lá các loại. Phía đối diện cách xa 20 trượng, dùng gỗ nối nhau dựng thành giàn cao như cột leo (phác can) khi xây tháp, cao khoảng hơn 20 trượng. Mỗi đêm dựng 3 đến 4 tòa hoặc 5 đến 6 tòa, trang bị pháo hoa, pháo tre (bộc trượng) trên đó. Việc này đều do các thuộc quận và các phủ đệ nhận trách nhiệm (nhận trực). Đêm đến mời quốc vương ra xem, châm đốt pháo hoa và pháo tre. Pháo hoa tỏa sáng dù cách xa 100 dặm cũng thấy. Pháo tre to như đại bác, tiếng vang động cả thành. Các quan thuộc và quý thích, mỗi người được chia nến lớn và trầu cau, chi phí rất lớn. Quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem, như thế suốt nửa tháng mới thôi.
Mỗi tháng tất có một sự lệ, như tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì ném cầu (phao cầu), tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì áp liệt (tập hợp thợ săn), tụ tập dân chúng cả nước đều vào thành, duyệt binh trước nội cung. Tháng 5 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì nghênh Phật, các tượng Phật từ xa gần trong cả nước đều được đưa đến dâng nước cho quốc chủ tắm mình. Trên cạn có thuyền đi (lục địa hành chu), quốc chủ lên lầu để xem. Tháng 7 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì đốt lúa, khi ấy lúa mới đã chín, đón ở ngoài cửa Nam, đốt đi để cúng Phật, phụ nữ đến xem vô số, nhưng quốc chủ không ra. Tháng 8 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì Ai lam (挨藍), Ai lam nghĩa là múa vậy. Vua mỗi ngày ở trong nội cung múa Ai lam, lại cho lợn đấu, voi đấu, quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem. Như thế suốt 1 tuần trăng (10 ngày), các tháng còn lại không thể ghi nhớ tường tận được.
Người trong nước cũng có kẻ thông thiên văn, nhật thực nguyệt thực đều có thể tính toán, nhưng tháng đủ tháng thiếu lại khác với Trung Quốc. Năm nhuận thì họ cũng đặt nhuận, nhưng chỉ nhuận tháng 9 âm lịch, thật không hiểu nổi. Một đêm chỉ chia làm 4 canh. Cứ mỗi 7 ngày là một vòng, cũng như Trung Quốc gọi là "Khai bế kiến trừ" (các trực). Người phiên đã không có danh tính, cũng không nhớ ngày sinh, nhiều người lấy tên ngày sinh làm tên gọi. Có 2 ngày là đại cát, 3 ngày bình thường, 4 ngày là đại hung. Ngày nào có thể xuất hành hướng Đông, ngày nào có thể xuất hành hướng Tây, dù là phụ nữ cũng đều biết tính. 12 con giáp (thập nhị sinh tiếu) cũng giống Trung Quốc, nhưng tên gọi thì khác. Như gọi ngựa là "Bốc tái", tiếng gọi gà là "Loan", tiếng gọi lợn là "Trực lư", gọi bò là "Cá".
'''TRANH TỤNG (爭訟)'''
Dân gian tranh tụng, dù là việc nhỏ cũng phải tâu lên. Quốc chủ ban đầu không dùng hình phạt roi trượng, chỉ nghe việc "phạt tiền vàng" (phạt kim) mà thôi. Người phạm tội đại nghịch trọng sự cũng không có việc treo cổ hay chém đầu, chỉ ở ngoài cửa Tây thành đào đất thành hố, bỏ tội nhân vào trong, lấp đầy đất đá, nén chặt là xong. Kế đến có kẻ bị chặt ngón tay chân, có kẻ bị xẻo mũi. Nhưng việc gian dâm và hối lộ thì không cấm, chồng của người đàn bà gian dâm nếu biết được, thì dùng 2 thanh củi kẹp chặt chân kẻ gian phu, đau đớn không chịu nổi, phải bỏ hết tiền của đưa cho người chồng mới được tha. Tuy nhiên cũng có kẻ dàn cảnh lừa bịp, hoặc có kẻ chết ở ngay cửa nhà, thì họ tự dùng dây kéo vứt ra bãi đất trống ngoài thành, ban đầu không có việc báo quan kiểm nghiệm. Gia đình bắt được trộm, cũng có thể thi hành hình phạt giam giữ khảo tra, nhưng có một điều đáng nói: như nhà mất đồ, nghi người này là trộm mà họ không nhận, bèn lấy nồi đun dầu thật nóng, lệnh cho người đó nhúng tay vào, nếu quả thực trộm đồ thì tay bị thối rữa, nếu không thì da thịt vẫn như cũ. Người phiên có pháp thuật như vậy.
Lại có 2 nhà tranh tụng, không phân rõ phải trái. Phía đối diện nội cung có 12 tòa tháp đá nhỏ, lệnh cho mỗi người ngồi trong một tháp, bên ngoài người thân hai nhà tự canh phòng lẫn nhau. Ngồi 1 hoặc 2 ngày, hoặc 3 đến 4 ngày, kẻ không có lý tất sẽ phát bệnh mà ra. Hoặc trên thân mọc mụn nhọt, hoặc bị ho, sốt nóng các loại; người có lý thì chẳng có việc gì. Dựa vào đó để phân định phải trái, gọi là "Thiên ngục". Ấy là linh khí của mảnh đất đó có sự như vậy.
'''BỆNH HỦI (病癩)'''
Người trong nước thông thường có bệnh, đa số là xuống nước tắm ngâm, và thường xuyên gội đầu, tự khắc sẽ khỏi. Tuy nhiên người bị bệnh hủi (bệnh lùi) rất nhiều, rải rác trên đường. Người bản địa dù cùng nằm cùng ăn với họ cũng không nề hà. Có người nói do phong thổ nơi đó có tật bệnh này, từng có quốc chủ mắc bệnh này nên mọi người không hiềm khích. Theo ý kiến thiển cận của ta, thường là sau khi mây mưa (hảo sắc), liền xuống nước tắm rửa, nên mới thành bệnh này. Nghe nói người bản địa sau khi xong việc sắc dục đều xuống nước tắm rửa. Những người mắc bệnh lỵ thì 10 người chết đến 8, 9 người. Cũng có người bán thuốc ở chợ, không giống Trung Quốc, không rõ là vật gì. Lại còn một hạng thầy phù thủy (sư vu) làm phép cho người, càng đáng cười hơn.
'''TỬ VONG (死亡)'''
Người chết không có quan tài, chỉ dùng chiếu tre các loại, đắp lên bằng vải. Lúc đưa tang, phía trước phía sau dùng cờ xí trống nhạc, lại dùng 2 mâm gạo rang, đi dọc đường vung vãi, khiêng đến nơi hoang vắng xa xôi không người, quẳng bỏ lại đó. Đợi có diều quạ, chó hoặc các loài súc vật đến ăn, trong chốc lát mà ăn hết thì bảo cha mẹ có phúc nên mới được báo đáp này. Nếu không ăn, hoặc ăn không hết, lại bảo cha mẹ có tội. Đến nay cũng dần có người thiêu xác, thường là dòng giống còn sót lại của người Đường (唐人). Cha mẹ chết, không có tang phục riêng, nam giới thì cạo trọc đầu, nữ giới thì ở đỉnh đầu cắt tóc to bằng đồng tiền, lấy đó làm hiếu vậy. Quốc chủ thì có tháp để chôn cất, nhưng không rõ là táng cả thân xác hay táng xương cốt.
'''CANH CHÚNG (耕種)'''
Đại để một năm có thể thu hoạch gieo trồng 3, 4 bận, vì bốn mùa thường như tiết tháng 5, 6 âm lịch, vả lại không biết đến sương tuyết vậy. Đất ấy nửa năm có mưa, nửa năm tuyệt không. Từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], mỗi ngày đều mưa, sau buổi trưa mới mưa. Trong hồ Đạm Dương (淡水洋) mực nước cao đến 7, 8 trượng, cây lớn đều ngập hết, chỉ còn lại ngọn. Những nhà ở ven nước đều dời vào sau núi. Từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], một giọt mưa cũng không có, trong hồ chỉ có thể thông thuyền nhỏ, chỗ sâu không quá 3, 5 thước, dân chúng lại dời xuống canh tác. Họ chỉ định lúc nào lúa chín, lúc đó nước có thể ngập đến đâu, tùy theo địa thế mà gieo giống. Cày không dùng bò. Các công cụ như cày, liềm, cuốc tuy hơi giống nhưng chế tác thì khác biệt. Lại có một loại ruộng thấp, không trồng mà tự mọc, nước cao đến 1 trượng thì lúa cũng cao theo. Nhưng việc bón ruộng và trồng rau đều không dùng phân uế, vì ghét sự không sạch sẽ. Người Đường (唐人) đến đó đều không nói với họ chuyện dùng phân bón ở Trung Quốc, sợ bị khinh bỉ. Cứ 2, 3 nhà cùng đào một cái hố đất, hễ cỏ đầy thì lấp đi, lại đào hố khác. Phàm sau khi đi vệ sinh (đăng mỗ), tất phải vào ao tắm sạch, chỉ dùng tay trái, tay phải để dành nắm cơm. Thấy người Đường đi vệ sinh dùng giấy chùi thì cười nhạo, thậm chí không muốn cho vào cửa. Phụ nữ cũng có người đứng mà tiểu tiện, thật đáng cười thay!
'''SƠN XUYÊN (山川)'''
Từ khi vào Chân Bồ (真蒲) đến nay, phần lớn là rừng phẳng rậm rạp. Sông dài cảng lớn trải dài mấy trăm dặm, cây cổ thụ dây leo chằng chịt, bóng râm che phủ, tiếng chim thú rộn ràng trong đó. Đến giữa cửa sông mới bắt đầu thấy ruộng đồng bát ngát, tuyệt không có một bóng cây, nhìn xa chỉ thấy lúa nếp xanh tốt. Bò rừng tụ tập nơi đây từng đàn hàng ngàn hàng trăm con. Lại có những đồi tre, cũng trải dài mấy trăm dặm, tre ở đó các đốt mọc gai đan xen, măng vị rất đắng. Bốn phía đều có núi cao.
'''SẢN VẬT (出產)'''
Núi nhiều gỗ lạ, nơi không có cây cối là nơi tê ngưu và voi tụ tập sinh sôi, chim quý thú lạ không kế xiết. Hàng tinh tế (tế sắc) có lông chim trả (thúy mao), ngà voi, sừng tê, sáp vàng. Hàng thô (thô sắc) có giáng chân (giáng hương), đậu khấu, khương hoàng (nghệ), tử cảnh (nhựa cánh kiến), dầu đại phong tử, phỉ thúy (chim trả), việc kiếm được chúng khá khó khăn. Đại để trong rừng rậm có ao, trong ao có cá, chim trả từ trong rừng bay ra kiếm cá. Người Phiên lấy lá cây che thân, ngồi bên bờ nước, nhốt một con chim mái trong lồng để nhử, tay cầm lưới nhỏ, đợi nó đến thì chụp lấy; có ngày bắt được 3 đến 5 con, có khi cả ngày chẳng được con nào.
Ngà voi thì ở nhà dân nơi núi sâu hẻo lánh mới có; mỗi con voi chết mới có 2 chiếc ngà; xưa truyền rằng "mỗi năm voi thay ngà một lần" là sai vậy. Ngà voi do dùng lao (tiêu) đâm chết mà lấy là hạng thượng đẳng; voi tự chết rồi người ta tiện tay lấy được là hạng thứ; voi chết trong núi đã nhiều năm thì là hạng hạ đẳng. Sáp vàng sản sinh trong kẽ cây mục nơi thôn xóm, do một loại ong eo nhỏ như con kiến đen (lâu nghị) tạo ra, người Phiên lấy được; mỗi chuyến thuyền có thể thu gom 2.000 đến 3.000 khối, mỗi khối lớn nặng 30 đến 40 cân, khối nhỏ cũng không dưới 18 đến 19 cân. Sừng tê trắng mà có hoa văn là hạng thượng đẳng, màu đen là hạng hạ đẳng.
Giáng chân sinh trong rừng rậm, người Phiên rất tốn công đốn chặt, vì đây là lõi của cây vậy. Lớp gỗ trắng bên ngoài dày 8 đến 9 tấc, cây nhỏ cũng không dưới 4 đến 5 tấc. Đậu khấu đều do người dã man (dã nhân) trồng trên núi. Họa hoàng (nhựa cây hoàng đằng) là nhựa tiết ra từ một loại cây, người Phiên trước đó 1 năm dùng dao chặt vào thân cây cho nhựa nhỏ ra, đến năm sau mới thu hoạch. Tử cảnh sinh trên cành một loại cây, hình dáng như tầm gửi cây dâu (tang ký sinh), cũng rất khó kiếm. Dầu đại phong tử là hạt của một loại cây lớn, hình dáng như quả dừa mà tròn, bên trong có mấy chục hạt. Hồ tiêu đôi khi cũng có, mọc theo kiểu dây leo, kết trái lủng lẳng như hạt cỏ xanh; lúc còn tươi xanh thì vị càng cay hơn.
'''THƯƠNG MẠI (貿易)'''
Người trong nước giao dịch đều do phụ nữ đảm nhiệm. Cho nên người Đường (唐人) đến đó, trước hết tất phải nạp một người vợ, cũng là để lợi dụng tài mua bán của họ vậy. Mỗi ngày có một buổi chợ (khu), từ giờ Mão đến giờ Ngọ thì tan. Không có cửa hàng cố định, chỉ dùng các loại lều cỏ, chiếu tre trải trên đất, mỗi người đều có chỗ riêng. Phải nộp tiền thuê đất cho quan phủ. Giao dịch nhỏ thì dùng gạo thóc và hàng hóa người Đường mang tới, kế đến dùng vải. Nếu là giao dịch lớn thì dùng vàng bạc. Người bản thổ thường rất chất phác, thấy người Đường thì khá kính sợ, gọi là "Phật" (佛), thấy người Đường thì phục lạy sát đất. Gần đây cũng có kẻ lừa gạt, bắt nạt người Đường, ấy là do người qua lại đã đông vậy.
'''HÀNG HÓA NGƯỜI ĐƯỜNG MUỐN MANG TỚI (欲得唐貨)'''
Đất ấy nghĩ là không sản sinh vàng bạc, nên coi vàng bạc của người Đường là thứ nhất; lụa là năm màu (ngũ sắc kiêm bạch) đứng thứ hai; kế đến là thiếc chì của Chân Châu (真州), khay sơn của Ôn Châu (溫州), đồ sứ xanh (thanh từ khí) của Tuyền Châu (泉州), cùng với thủy ngân, ngân chu (phấn hồng), giấy tờ, lưu huỳnh, diêm tiêu, đàn hương, bạch chỉ, xạ hương, vải lanh (ma bố), vải cỏ vàng (hoàng thảo bố), ô dù, nồi sắt, mâm đồng, hạt cườm gỗ, dầu đồng, lược bí, lược gỗ, kim khâu; hàng thô nặng thì như chiếu của Minh Châu (明州). Thứ họ rất muốn có được là đậu và lúa mạch, nhưng không thể mang (hạt giống) đi được vậy.
'''CỎ CÂY (草木)'''
Lựu, mía, hoa sen, gương sen, ngó sen, khoai môn, đào, chuối, khung (xuyên khung) đều giống với Trung Quốc. Vải, quýt hình dáng tuy giống nhưng vị chua; còn lại đều là thứ ở Trung Quốc chưa từng thấy. Cây cối cũng rất khác biệt. Hoa cỏ thì nhiều vô kể, lại thơm và đẹp. Hoa dưới nước lại càng nhiều chủng loại, thảy đều không biết tên. Còn như các loại đào, mận, hạnh, mai, thông, bách, sam, quế, lan, cúc... thì thảy đều không có. Ở đó vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] cũng có hoa sen.
'''CHIM MUÔNG (飛鳥)'''
Chim có chim công (khổng tước), chim trả (phỉ thúy), vẹt (anh ca) là thứ Trung Quốc không có. Còn lại như diều hâu, quạ, cò, diệc, chim cốc, chim quán, sếu, vịt trời, chim sẻ vàng các thứ đều có. Thứ không có là chim khách, chim hồng nhạn, chim oanh vàng, chim đỗ quyên, chim én, chim bồ câu.
'''THÚ CHẠY (走獸)'''
Thú có tê ngưu, voi, bò rừng, ngựa núi là những thứ Trung Quốc không có. Còn lại như hổ, báo, gấu, lợn rừng, nai, hươu, hoẵng, khỉ, cáo các loại rất nhiều. Thứ thiếu là sư tử, đười ươi, lạc đà. Gà, vịt, bò, ngựa, lợn, dê thì không cần bàn đến. Ngựa rất lùn nhỏ. Bò rất nhiều. Lúc sống người dân dám cưỡi, nhưng chết thì không dám ăn, cũng không dám lột da, cứ để mặc cho thối rữa mà thôi, vì cho rằng bò đã giúp sức cho người, chỉ dùng để kéo xe thôi. Trước kia không có ngỗng, gần đây có người đi thuyền từ Trung Quốc mang sang nên mới có giống đó. Chuột có con to như mèo. Lại có một loại đầu chuột nhưng tuyệt nhiên giống như chó con mới đẻ.
'''RAU CỦ (蔬菜)'''
Rau củ có hành, mù tạt (giới), hẹ, cà, dưa chuột, dưa hấu, vương qua, bí đao, rau dền. Thứ không có là củ cải, xà lách (sinh thái), khổ mãi, rau chân vịt (ba lăng). Dưa và cà vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] đã có rồi. Cây cà có khi trải qua mấy năm không nhổ bỏ. Cây bông vải (mộc miên) cao vượt cả mái nhà, 10 năm không thay. Các loại rau không biết tên rất nhiều, rau dưới nước cũng có nhiều loại.
'''NGƯ LONG (魚龍)'''
Cá và ba ba, chỉ có cá chép đen là nhiều nhất, các loại khác như cá chép, cá diếc, cá trắm cũng rất nhiều, con lớn nặng trên 2 cân. Có những loại cá không biết tên cũng rất nhiều, thảy đều từ hồ Đạm Dương (淡水洋) mà ra. Còn như cá ở biển thì loại gì cũng có. Lươn, chình, ếch nhái người bản thổ không ăn, đêm đến chúng bò ngang dọc đầy đường. Giải và cá sấu lớn như cái bồ, dù là loại rùa 6 mai cũng được dùng làm thức ăn. Tôm ở Tra Nam (查南) nặng trên 1 cân. Rùa ở Chân Bồ (真蒲) chân có thể dài khoảng 8 đến 9 tấc. Cá sấu lớn như chiếc thuyền, có 4 chân, cực giống hình rồng nhưng không có sừng, bụng rất giòn và ngon. Các loại trai, hến, ốc ở hồ Đạm Dương có thể vốc tay là được. Duy nhất không thấy cua, nghĩ là cũng có nhưng người ta không ăn vậy.
'''UỔN NHƯỠNG (醞釀 - Nấu rượu)'''
Rượu có 4 hạng: Thứ nhất, người Đường (唐人) gọi là "rượu mật đường", dùng men thuốc pha với mật và nước mỗi thứ một nửa mà thành. Thứ nhì, chủ nhà gọi là "Bằng nha tứ" (朋牙四), làm bằng lá cây. Bằng nha tứ (朋牙四) là tên một loại lá cây vậy. Thứ ba nữa là dùng gạo hoặc cơm thừa mà làm, tên gọi là "Bao lăng giác" (包稜角), vì Bao lăng giác (包稜角) nghĩa là gạo vậy. Hạng thấp nhất là "rượu đường giám", làm bằng đường. Lại nữa, khi vào cửa sông ven nước có "rượu giao tương", vì có một loại lá giao mọc ven nước, nhựa của nó có thể nấu rượu.
'''MUỐI, GIẤM, TƯƠNG, MÌ (鹽醋醬麪)'''
Việc nấu muối trong nước không cấm, từ Chân Bồ (真蒲), Ba Giản (巴澗) ven biển trở đi thảy đều nấu muối. Trong núi lại có một loại đá vị còn ngon hơn muối, có thể đẽo gọt thành đồ dùng. Người bản thổ không biết làm giấm, trong canh muốn có vị chua thì bỏ lá cây "Hàm bình" (咸平), cây có quả thì dùng quả, có hạt thì dùng hạt. Họ cũng không làm tương vì không có lúa mạch và đậu. Cũng không có men đại mạch (khúc), vì nấu rượu bằng mật nước và lá cây nên cái họ dùng là men thuốc (tửu dược), hình dáng giống như men rượu trắng ở vùng quê Trung Quốc.
''' TẰM TANG (蠶桑)'''
Người bản thổ đều không làm nghề tằm tang, phụ nữ cũng không hiểu việc kim chỉ khâu vá, chỉ có thể dệt vải bông (mộc miên) mà thôi. Họ cũng không biết quay sợi, chỉ lấy tay vuốt thành sợi. Không có khung cửi để dệt, chỉ dùng một đầu buộc vào thắt lưng, một đầu gác lên trên, thoi dệt cũng chỉ dùng một ống tre. Những năm gần đây người Xiêm (暹人) đến ở mới lấy nghề tằm tang làm nghiệp. Giống dâu, giống tằm đều từ nước Xiêm mang đến. Ở đây cũng không có gai, đay, chỉ có lạc ma (một loại sợi). Người Xiêm tự dùng tơ dệt áo lăng đen để mặc, phụ nữ Xiêm thì biết khâu vá. Người bản thổ khi vải quấn bị rách đều thuê họ vá giúp.
'''KHÍ DỤNG (器用 - Đồ dùng)'''
Ngoài phòng xá của những nhà tầm thường ra không có các loại bàn ghế hay thùng chậu. Chỉ khi nấu cơm thì dùng một nồi đất (ngõa phủ), nấu canh dùng một siêu đất (ngõa điêu), chôn 3 hòn đá xuống đất làm bếp, dùng gáo dừa làm muôi. Đựng cơm dùng bồn đất Trung Quốc hoặc mâm đồng. Canh thì dùng lá cây chế thành một cái bát nhỏ, dù đựng nước cũng không rò rỉ. Lại lấy lá giao làm một cái muôi nhỏ để múc nước canh vào miệng, dùng xong thì vứt đi, dù là lúc tế lễ thần Phật cũng vậy. Lại dùng một đồ thiếc hoặc đồ đất đựng nước bên cạnh để nhúng tay, vì ăn cơm chỉ dùng tay bốc, cơm dính vào tay nếu không có nước này thì không sạch được. Uống rượu dùng ấm bằng thiếc (lạp chú tử), người nghèo dùng bát đất, nếu là phủ đệ nhà giàu thì thảy đều dùng đồ bạc, thậm chí có nhà dùng vàng. Các dịp khánh hạ của quốc gia đa số dùng vàng làm đồ dùng, chế độ hình dáng lại khác biệt. Trên đất thì trải chiếu cỏ Minh Châu (明州), hoặc có nhà trải da hổ, báo, hoẵng, hươu và thảm mây. Gần đây mới đặt bàn thấp, cao khoảng 1 xích (hơn 30cm), lúc ngủ chỉ nằm chiếu tre trên ván. Gần đây lại có người dùng giường thấp, thảy đều do người Đường (唐人) chế tác. Đồ ăn dùng vải che lại, trong cung quốc chủ dùng gấm lụa dát vàng (tiêu kim kiêm bạch), thảy đều do khách buôn trên thuyền biếu tặng. Lúa không dùng cối xay, chỉ dùng chày giã mà thôi.
'''XA KIÊU (車轎 - Xe và kiệu)'''
Chế độ của kiệu là lấy một khúc gỗ uốn cong ở giữa, hai đầu dựng đứng lên, điêu khắc hoa văn và bọc vàng bạc, đó chính là cái gọi là "đòn khiêng kiệu vàng bạc" vậy. Mỗi đầu trong khoảng 1 xích thì đóng móc sắt, dùng một tấm vải lớn gấp dày, lấy dây buộc vào hai đầu móc, người ngồi trong vải, dùng 2 người khiêng. Kiệu lớn thì thêm một vật như mui thuyền nhưng rộng hơn, trang trí bằng gấm lụa năm màu, dùng 4 người khiêng, có người chạy theo kiệu. Nếu đi xa cũng có người cưỡi voi, cưỡi ngựa. Cũng có người dùng xe, chế độ của xe giống như những nơi khác. Ngựa không có yên, voi không có ghế để ngồi.
'''CHU TẬP (舟楫 - Thuyền bè)'''
Thuyền lớn dùng gỗ cứng xẻ ván mà làm. Thợ không có cưa, chỉ dùng rìu đục mà đẽo thành ván, vừa tốn gỗ vừa tốn công. Phàm muốn cắt gỗ thành đoạn cũng chỉ dùng đục mà đục đứt, dựng nhà cũng vậy. Thuyền cũng dùng đinh sắt, trên lợp lá giao, lấy mảnh gỗ cây cau ép lên trên. Loại thuyền này tên là "Tân nã" (新拏). Dầu dán mái chèo là dầu cá, vôi trộn là vôi đá. Thuyền nhỏ thì lấy gỗ lớn đục thành máng, dùng lửa hơ mềm rồi lấy gỗ chống cho choãi ra; bụng to, hai đầu nhọn, không mui, chở được vài người, chỉ dùng mái chèo mà khua, tên là "Bì lan" (皮闌).
'''THUỘC QUẬN (屬郡)'''
Các quận thuộc quyền có hơn 90 nơi: như Chân Bồ (真蒲), Tra Nam (查南), Ba Giản (巴澗), Mạc Lương (莫良), Bát Tiết (八薛), Bồ Mãi (蒲買), Trĩ Côn (雉棍), Mộc Tân Ba (木津波), Lại Cảm Khanh (賴敢坑), Bát Tư Lý (八廝里). Còn lại không thể nhớ hết. Mỗi nơi đều đặt quan thuộc, đều lấy hàng rào gỗ làm thành.
'''THÔN LẠC (村落)'''
Mỗi làng hoặc có chùa, hoặc có tháp. Nơi nhà cửa hơi đông đúc tất có quan trấn thủ, gọi là "Mai tiết" (買節). Trên đường lớn có nơi nghỉ ngơi như nhà trạm, tên là "Sâm mộc" (森木). Gần đây vì đánh nhau với người Xiêm (暹人) nên thảy đều thành đất hoang.
'''THỦ ĐẢM (取膽 - Lấy mật người)'''
Trước kia vào tháng 8 âm lịch [thời kỳ trước năm 1296], có tục lấy mật người. Nguyên do là vua Chiêm Thành (占城) mỗi năm đòi hàng ngàn chiếc mật người đựng trong một chiếc bình lớn. Đêm đến, họ tìm nhiều cách sai người vào trong thành và các thôn lạc, gặp người đi đêm thì dùng dây thòng lọng giữ chặt đầu, dùng dao nhỏ lấy mật ở dưới sườn phải, đợi cho đủ số để dâng cho vua Chiêm Thành (占城). Duy chỉ không lấy mật của người Đường (唐人), vì có một năm lấy một cái mật của người Đường trộn vào trong đó, khiến cho mật trong cả bình đều thối rữa không dùng được. Những năm gần đây đã bỏ việc lấy mật này, lập ra chức quan lấy mật riêng, ở phía trong cửa Bắc.
'''DỊ SỰ (異事 - Chuyện lạ)'''
Phía trong cửa Đông có người Man phạm tội dâm ô với em gái mình, da thịt dính chặt không rời, trải qua 3 ngày không ăn mà cả hai cùng chết. Người đồng hương của ta là họ Tiết, ở phiên bang đã 35 năm, ông ta bảo đã 2 lần thấy chuyện này, ấy là vì uy linh của Thánh Phật nên mới như vậy.
'''TẢO DỤC (澡浴 - Tắm rửa)'''
Đất này cực kỳ nóng nực, mỗi ngày nếu không tắm rửa vài lần thì không chịu nổi, đêm đến cũng không tránh khỏi 1 đến 2 lần. Ban đầu không có phòng tắm hay bồn chậu, nhưng mỗi nhà đều phải có một cái ao, nếu không thì 2 đến 3 nhà chung một ao. Không phân biệt nam nữ thảy đều trần truồng xuống ao. Duy chỉ có cha mẹ bậc tôn trưởng ở trong ao thì con cái bậc thấp không dám vào. Nếu bậc thấp ở trong ao trước, thấy bậc tôn trưởng đến thì cũng phải tránh đi. Nếu hàng vai vế ngang hàng thì không gò bó. Lúc xuống nước chỉ dùng tay trái che bộ phận kín là được. Cứ 3 đến 4 ngày, hoặc 5 đến 6 ngày, phụ nữ trong thành từng nhóm 3 đến 5 người cùng ra sông ngoài thành tắm rửa. Đến bờ sông, cởi bỏ tấm vải quấn mà xuống nước, người tụ tập ở sông có đến hàng ngàn, dù là phụ nữ nhà quyền quý cũng dự vào, tuyệt không cho là nhục. Từ gót chân đến đỉnh đầu thảy đều nhìn thấy rõ. Ở con sông lớn ngoài thành, không ngày nào không có cảnh này, người Đường (唐人) lúc rảnh rỗi thường lấy việc này làm thú vui tiêu khiển. Nghe nói cũng có kẻ ước hẹn tư thông ngay dưới nước. Nước thường ấm như nước nóng, chỉ đến canh 5 mới hơi mát, hễ mặt trời mọc là lại ấm ngay.
'''LƯU NGỤ (流寓)'''
Những người Đường (唐人) làm thủy thủ thấy nước này có lợi là không cần mặc quần áo, gạo thóc dễ kiếm, phụ nữ dễ lấy, nhà cửa dễ lo, đồ dùng dễ đủ, mua bán dễ làm, nên thường trốn ở lại đó.
'''QUÂN MÃ (軍馬)'''
Quân lính cũng trần truồng đi chân đất, tay phải cầm lao (tiêu thương), tay trái cầm khiên (chiến bài), không có các thứ gọi là cung tên, pháo đá, giáp trụ. Nghe nói khi đánh nhau với người Xiêm (暹人) đều lùa bách tính ra trận, thường cũng chẳng có mưu lược trí kế gì.
'''QUỐC CHỦ XUẤT NHẬP (國主出入 - Việc đi lại của vua)'''
Nghe nói trước kia quốc chủ không mấy khi ra khỏi cửa, ấy là để phòng những biến cố bất trắc. Vị chủ mới này là con rể của quốc chủ cũ, nguyên giữ chức thống lĩnh quân đội. Nhạc phụ yêu con gái, người con gái ấy mật mật lấy trộm gươm vàng giao cho chồng, khiến cho con trai ruột không được kế vị. Người con trai ấy từng mưu dấy binh nhưng bị chủ mới phát giác, bị chặt ngón chân rồi giam vào phòng tối. Chủ mới thân khảm "sắt thánh", dù đao tên chạm vào mình cũng không hại được, nhờ cậy vào đó mới dám ra khỏi cửa. Ta ở lại hơn 1 năm, thấy vua ra ngoài 4 đến 5 lần. Phàm khi ra ngoài, quân mã vây bọc phía trước, cờ xí trống nhạc theo sau. Cung nữ 300 đến 500 người, mặc vải hoa, búi tóc hoa, tay cầm nến lớn thành một đội, dù ban ngày cũng đốt nến. Lại có cung nữ thảy đều cầm đồ dùng bằng vàng bạc và đồ trang sức trong cung, chế độ khác biệt, không rõ dùng làm gì. Lại có cung nữ cầm lao và khiên làm quân nội đình, lập thành một đội. Lại có xe dê, xe ngựa thảy đều trang trí bằng vàng. Các quan đại thần và quốc thích đều cưỡi voi đi trước, nhìn xa lọng che màu đỏ (hồng lương tản) không kế xiết. Kế đến là vợ và thiếp của quốc chủ, hoặc ngồi kiệu, ngồi xe, cưỡi ngựa hay cưỡi voi, lọng che dát vàng (tiêu kim lương tản) có hơn 100 chiếc. Sau cùng là quốc chủ, đứng trên lưng voi, tay cầm bảo kiếm, ngà voi cũng được bọc vàng. Lọng che màu trắng dát vàng (tiêu kim bạch lương tản) phàm hơn 20 chiếc, cán lọng đều bằng vàng. Chung quanh vây bọc rất nhiều voi và có quân mã bảo vệ. Nếu đi chơi gần thì chỉ dùng kiệu vàng, đều do cung nữ khiêng. Đại phàm ra vào, tất rước tháp vàng nhỏ và Phật vàng đi trước, người xem thảy đều phải quỳ xuống đảnh lễ, gọi là "Tam bãi" (三罷). Nếu không sẽ bị quân canh bắt giữ, không được thả ra vô ích. Mỗi ngày quốc chủ ra ngự triều trị sự 2 lần, cũng không có văn bản nhất định. Các quan và bách tính muốn gặp quốc chủ đều ngồi liệt trên đất để đợi. Một lát sau, bên trong ẩn hiện tiếng nhạc, bên ngoài mới thổi ốc tù và để đón. Nghe nói vua chỉ dùng xe vàng đến từ nơi hơi xa, chốc lát thấy 2 cung nữ dùng bàn tay thon dài cuốn rèm lên, quốc chủ tay chống kiếm đứng trong cửa sổ vàng. Từ quan lại trở xuống đều chắp tay cúi đầu, tiếng ốc vừa dứt mới được ngẩng đầu. Vua lúc đó cũng liền ngồi xuống. Chỗ ngồi có một tấm da sư tử, là vật báu truyền quốc. Sau khi bàn việc xong, quốc chủ liền quay mình đi vào, 2 cung nữ lại hạ rèm xuống, mọi người cùng đứng dậy. Xem thế thì biết dù là nơi man di, chưa từng không biết có quân vương vậy.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic111 - 真臘國.svg|center]]
Theo Tam tài đồ hội (三才圖會): Nước Chân Lạp (真臘) phát thuyền từ Quảng Châu (廣州), đi gió Bắc 10 ngày thì đến nơi, thời tiết không có mùa lạnh. Mỗi khi cưới hỏi thì người nam về ở nhà người nữ. Sinh con gái đến 9 tuổi, liền mời sư tăng tụng kinh làm phép Phạn (Phạn pháp), lấy ngón tay chọc phá thân đồng trinh, lấy máu đó điểm lên trán con gái, người mẹ cũng dùng điểm lên trán mình, gọi đó là "Lợi thị" (利市). Làm như vậy thì người con gái ấy sau này lấy chồng sẽ hòa hợp vui vẻ. Phàm con gái đủ 10 tuổi là gả chồng. Người trong nước phạm tội trộm cắp thì bị chặt tay chân, nung lửa đóng dấu vào ngực lưng hoặc xăm mặt, phạm tội đến mức chết thì bị chém. Người phiên giết người Đường (唐人) thì y theo pháp luật người phiên mà đền mạng; nếu người Đường giết người phiên thì bị phạt tiền vàng rất nặng; nếu không có tiền vàng thì bán thân lấy tiền chuộc tội. Phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城), bên cạnh có các nước Tây Bằng (西棚)...
== ĐỖ BẠC bộ vị khảo (杜薄部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đỗ Bạc (杜薄) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Đỗ Bạc (杜薄) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong biển Trướng Hải (漲海) về phía Đông của Phù Nam (扶南), đi thuyền thẳng trên biển mấy chục ngày thì tới. Người nước ấy diện mạo trắng trẻo, thảy đều mặc quần áo. Trong nước có ruộng lúa, phụ nữ dệt vải hoa bằng bông trắng (bạch điệp hoa bố). Sản sinh vàng, bạc, sắt, lấy vàng làm tiền. Sản sinh hương Kê thiệt (雞舌香), có thể ngậm được. Vì hương thơm nên không cho vào quần áo. Cây Kê thiệt ấy khí vị cay mà tính mãnh liệt, chim thú không thể đến gần, nên chưa có ai nhận biết được cây ấy thế nào. Hoa chín tự rụng, trôi theo dòng nước mà ra, bấy giờ mới lấy được. Trên đảo Đỗ Bạc có hơn 10 tòa thành nước, đều xưng Vương."
== BẠC LẠT bộ vị khảo (薄剌部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Bạc Lạt (薄剌) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Bạc Lạt (薄剌) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong vịnh biển phía Nam của Câu Lợi (拘利). Người ở đó da đen răng trắng, mắt đỏ, nam nữ thảy đều không mặc quần áo."
==HỎA SƠN bộ vị khảo (火山部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Hỏa Sơn (火山) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Hỏa Sơn (火山) được biết đến vào thời Tùy. Cách các đảo Chư Bạc (諸薄) 5.000 dặm về phía Đông. Trong núi ở nước ấy thảy đều có lửa, dù mưa cũng không tắt, trong lửa có loài chuột trắng." Thổ tục Phù Nam (扶南) truyền rằng: "Đảo Hỏa Sơn ở phía Đông đảo Mã Ngũ (馬五) khoảng hơn 1.000 dặm, tháng mùa xuân mưa dầm, mưa tạnh thì lửa cháy. Cây cối trên đảo hễ gặp mưa thì vỏ đen, gặp lửa thì vỏ trắng. Người ở các đảo lân cận vào tháng mùa xuân thường lấy vỏ cây ấy, bện lại làm vải, hoặc làm tim đèn; vải hễ hơi bẩn, quăng vào trong lửa lại sạch như cũ." Lại có nước Gia Doanh (加營), phía Bắc các đảo Chư Bạc, có ngọn núi phía Tây chu vi 300 dặm, từ tháng 4 âm lịch lửa sinh ra, tháng Giêng âm lịch lửa tắt; khi lửa cháy thì cỏ cây rụng lá như mùa lạnh ở Trung Quốc. Người thời ấy vào tháng 3 âm lịch đến núi này lấy vỏ cây, bện làm vải hỏa hoạn (vải chịu lửa)."
== ĐÔ CÔN bộ vị khảo (都昆部彙考)==
'''(Đính kèm nước Biên Đẩu, Câu Lợi, Tỉ Tùng)'''
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đô Côn (都昆) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Biên Đẩu (邊斗), còn gọi là Ban Đẩu (班斗); nước Đô Côn (都昆), còn gọi là Đô Quân (都軍); nước Câu Lợi (拘利), còn gọi là Cửu Ly (九離); nước Tỉ Tùng (比嵩), thảy đều được biết đến từ thời Tùy. Từ Phù Nam (扶南) vượt vịnh lớn Kim Lân (金鄰), đi về phía Nam 3.000 dặm thì có 4 nước này. Việc nông tác của họ giống với Kim Lân (金鄰), người đa số da trắng. Đô Côn (都昆) sản sinh hương Trản (棧香) tốt, hương Hoắc (藿香) và lưu huỳnh. Cây hương Hoắc ở đó sống đến 1.000 năm, gốc rễ rất lớn; chặt xuống để 4 đến 5 năm, phần gỗ đều mục nát, chỉ có các đốt ở giữa kiên cố, hương thơm còn lưu lại, lấy đó làm hương."
== VÔ LUÂN bộ vị khảo (無論部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Vô Luân (無論) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Vô Luân (無論) được biết đến vào thời Tùy. Ở phía Tây Phù Nam (扶南) hơn 2.000 dặm. Hai bên đường cái của nước ấy trồng xen kẽ cây tỳ bà và các loại hoa quả, đi dưới tán cây luôn có bóng râm mát. Cứ 10 dặm có 1 trạm đình, trạm đình đều có giếng nước. Họ ăn cơm mạch, uống rượu bồ đào (nho), rượu đặc như keo, khi uống pha thêm nước, vị rất ngọt ngon."
==LA SÁT bộ vị khảo (羅剎部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp thứ 3 đời Tùy Dạng Đế, sai sứ sang nước Xích Thổ, đi đến La Sát.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước La Sát (羅剎) ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với Lâm Ấp (林邑) vào ban đêm, ban ngày thì che mặt." Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế [năm 607], sai sứ là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ (赤土), đi đến La Sát (羅剎).
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Phía Đông Bà Lợi (婆利) có nước La Sát (羅剎), người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với người Lâm Ấp (林邑), đến vào ban đêm, tự che mặt mình. Nước ấy sản sinh hỏa châu (ngọc lửa), hình dáng như thủy tinh, vào lúc giữa trưa lấy viên châu hứng bóng mặt trời để bắt vào ngải, nương theo đó lửa sẽ phát ra."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
jjb6s2s2j7g6dw418ciaqyjd991b2n8
204744
204742
2026-04-16T07:54:22Z
Mrfly911
2215
/* Nguyên */
204744
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第101卷
| năm= 1726
| phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 101'''
| trước= [[../quyển 100|quyển 100]]
| sau= [[../quyển 102|quyển 102]]
| ghi chú =
}}
==XIÊM LA bộ vị khảo (暹羅部彙考)==
''' (Xích Thổ 赤土 - Xiêm La Hộc 暹羅斛) '''
===Tùy===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế (隋煬帝) [năm 607], sai quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ.'''
Theo Tùy thư - Dạng Đế bản kỷ (隋書煬帝本紀) thì không chép việc này. Theo Xích Thổ bản truyện (赤土本傳): "Nước Xích Thổ (赤土國) là một chủng loại khác của Phù Nam (扶南). Nằm ở trong biển Nam Hải (南海), đi đường thủy hơn 100 ngày thì đến kinh đô. Đất sắc đỏ nhiều nên lấy đó làm tên nước. Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Bà La Sa (婆羅娑國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm.
Vua nước ấy họ Cù Đàm (瞿曇氏), tên là Lợi Phú Đa Tắc (利富多塞), không rõ nước thành lập đã bao lâu. Nghe nói cha vua nhường ngôi, xuất gia làm đạo, truyền vị cho Lợi Phú Đa Tắc, đến nay đã tại vị được 16 năm. Vua có 3 vợ, đều là con gái của vua các nước láng giềng. Cư ngụ tại thành Tăng Kỳ (僧祗城), có 3 tầng cửa, mỗi cửa cách nhau chừng 100 bước, mỗi cửa đều vẽ hình tượng Phi tiên (飛仙), Tiên nhân (仙人), Bồ Tát (菩薩). Treo chuông hoa vàng và bờm ngựa, có mấy chục phụ nữ, người thì tấu nhạc, người thì bưng hoa vàng. Lại trang điểm cho 4 người phụ nữ, dung mạo như Phật, đứng hai bên cửa như hình trạng Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士) bên cạnh tháp. Người đứng ngoài cửa cầm binh khí, người đứng trong cửa cầm phất trần trắng, giăng lưới trắng kết hoa dọc lối đi."
Các gian nhà trong cung vua thảy đều là lầu gác cao. Vua ngồi ở cửa phía Bắc, mặt hướng về phía Bắc, ngồi trên sập 3 tầng, mặc vải Triều Hà (朝霞布), đội mũ hoa vàng, treo anh lạc bằng ngọc báu hỗn hợp. Có 4 nữ nhân đứng hầu, tả hữu có hơn 100 lính bảo vệ. Sau sập vua có một khám thờ bằng gỗ, dùng vàng bạc và 5 loại gỗ thơm khảm trai trang trí; sau khám treo một vầng hào quang vàng rực, hai bên sập dựng 2 chiếc gương vàng, trước gương bày bình vàng, trước bình có lư hương vàng, phía trước đặt một con trâu nằm bằng vàng, trước trâu dựng 1 bảo cái, hai bên bảo cái đều có quạt quý. Hàng trăm người Bà La Môn (婆羅門) ngồi đối diện nhau thành từng hàng ở phía Đông và Tây.
Quan lại có: 1 người gọi là Tát Đà Ca La (薩陀迦羅), 2 người gọi là Đà Noa Đạt Xoa (陀挐達叉), 3 người gọi là Ca Lợi Mật Ca (迦利密迦), cùng nhau nắm chính sự; 1 người gọi là Câu La Mật Đế (俱羅末帝) nắm hình pháp. Mỗi thành đặt 1 người Na Gia Ca (那邪迦), 10 người Bát Đế (缽帝).
Phong tục ở đó đều xỏ tai cắt tóc, không có lễ quỳ lạy, dùng dầu thơm xức thân. Dân chúng kính Phật, đặc biệt trọng Bà La Môn. Phụ nữ búi tóc sau gáy, nam nữ đều dùng vải ngũ sắc Triều Hà (朝霞), Triều Vân (朝雲) làm áo. Nhà hào phú thì xa hoa tùy ý, duy có xích vàng nếu không phải vua ban thì không được dùng. Mỗi khi cưới gả thì chọn ngày lành, nhà gái trước kỳ hạn 5 ngày sẽ tấu nhạc uống rượu, người cha cầm tay con gái trao cho chàng rể, sau 7 ngày mới thành phối hợp. Cưới xong thì chia tài sản ra ở riêng, duy con út ở chung với cha. Cha mẹ anh em chết thì cạo tóc mặc áo trắng, dựng sàn gỗ tre trên mặt nước, trong sàn chất củi, đặt thi thể lên trên, đốt hương dựng phướn, thổi ốc đánh trống để tiễn đưa. Phóng hỏa đốt củi, thi thể rơi xuống nước. Sang hèn đều như nhau, duy tro cốt của vua sau khi thiêu xong thì thu lại, đựng vào bình vàng, cất trong miếu thờ.
Khí hậu đông hè thường ấm, mưa nhiều tạnh ít, gieo trồng không cứ mùa màng. Đặc biệt thích hợp trồng lúa, kê, đậu trắng, mè đen; các sản vật khác đa phần giống với Giao Chỉ (交趾). Dùng mía làm rượu, pha với rễ dưa tím, rượu màu vàng đỏ, vị thơm ngon; cũng gọi nước dừa là rượu.
Khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, chiêu mộ những người có thể thông sứ với các vùng đất xa xôi. Tháng 10 âm lịch năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607], Tùn điền Chủ sự Thường Tuấn (常駿), Ngu bộ Chủ sự Vương Quân Chính (王君政) xin đi sứ Xích Thổ. Đế rất vui, ban cho Tuấn mỗi người 100 xấp lụa, 1 bộ triều phục, và sai mang theo 5.000 đoạn vật phẩm để ban cho vua Xích Thổ.
Tháng 10 năm đó, bọn Tuấn từ quận Nam Hải (南海郡) đi thuyền, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, đi qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵迦缽拔多洲), phía Tây đối diện với Lâm Ấp (林邑), trên đó có miếu thờ thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (師子石), từ đó đảo nhỏ nối liền nhau. Đi tiếp 2 đến 3 ngày, nhìn về phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙須國), bèn đi về hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), rồi tới biên giới Xích Thổ.
Vua nước ấy sai Bà La Môn tên là Câu Ma La (鳩摩羅) mang 30 chiếc thuyền đến đón, thổi ốc đánh trống để chào mừng sứ giả nhà Tùy, dâng xích vàng để buộc thuyền của Tuấn. Sau hơn 1 tháng thì đến kinh đô, vua sai con trai là Na Gia Ca (那邪迦) mời bọn Tuấn vào hội kiến theo lễ. Trước hết sai người đưa mâm vàng đựng hoa thơm cùng gương và kẹp tóc, 2 hộp vàng đựng dầu thơm, 8 bình vàng đựng nước thơm, 4 dải vải trắng để cho sứ giả tắm gội. Vào giờ Mùi ngày hôm đó, Na Gia Ca lại dắt 2 con voi, cầm lọng lông công để đón sứ giả, đồng thời dâng hoa vàng mâm vàng để đỡ chiếu thư. 100 nam nữ tấu loa trống, 2 người Bà La Môn dẫn đường đến cung vua. Bọn Tuấn dâng chiếu thư lên lầu, từ vua trở xuống đều quỳ. Tuyên chiếu xong, mời bọn Tuấn ngồi, tấu nhạc Thiên Trúc (天竺). Xong việc, bọn Tuấn về quán xá. Vua lại sai Bà La Môn đến quán đưa cơm, dùng lá cỏ làm mâm, rộng 1 trượng vuông, nói với Tuấn rằng: "Nay ngài là người của đại quốc, không còn ở nước Xích Thổ nữa. Ăn uống sơ sài, xin vì ý của đại quốc mà dùng cho."
Mấy ngày sau, mời bọn Tuấn vào dự tiệc, nghi vệ dẫn đường như lễ kiến diện ban đầu. Trước mặt vua đặt 2 chiếc giường, trên giường đều đặt mâm lá cỏ rộng 1 trượng 5 thước, trên đó có các loại bánh 4 màu vàng, trắng, tím, đỏ; hơn 100 món thịt trâu, dê, cá, ba ba, lợn, đồi mồi. Mời Tuấn lên giường ngồi, người đi theo ngồi trên chiếu dưới đất, mỗi người dùng chén vàng rót rượu, nữ nhạc luân phiên tấu diễn, lễ vật tặng vô cùng hậu hĩnh.
Sau đó vua sai Na Gia Ca theo Tuấn về cống phương vật, cùng dâng mũ hoa sen vàng (Kim Phù Dung quán), hương Long Não, dùng vàng đúc thành lá Đa La (多羅葉), chạm nổi thành chữ để làm biểu, bỏ trong hộp vàng phong kín lại. Sai Bà La Môn dâng hoa thơm tấu loa trống tiễn đưa. Khi ra biển, thấy bầy cá xanh bay trên mặt nước, đi biển hơn 10 ngày thì đến phía Đông Nam Lâm Ấp (林邑), đi men theo núi. Vùng biển đó rộng hơn 1.000 bước, màu nước vàng và khí vị tanh hôi, thuyền đi 1 ngày không hết, nghe nói đó là phân của cá lớn (Đại ngư phế). Men theo bờ Bắc biển mà đạt đến Giao Chỉ (交趾).
Mùa xuân năm Đại Nghiệp thứ 6 [năm 610], Tuấn cùng Na Gia Ca vào bệ kiến Đế tại Hoằng Nông (弘農). Đế rất vui, ban cho Tuấn 200 đoạn vật phẩm, phong cả hai làm Bỉnh Nghĩa Úy (秉義尉), những người khác trong đoàn Na Gia Ca đều được ban thưởng có sai biệt.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Cương vực Xích Thổ giống với Xiêm La (暹羅). Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Ba La Bà (婆羅婆國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm. Thời Tùy, Thường Tuấn (常駿) từ quận Nam Hải (南海郡) đi đường thủy, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵伽缽拔多洲), phía Tây đối diện Lâm Ấp (林邑), trên có miếu thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (獅子石), từ đó đảo nối tiếp nhau. Đi thêm 2 đến 3 ngày, phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙修國), bèn hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), tới biên giới Xích Thổ. Lâm Ấp (林邑) nay là Chiêm Thành (占城). Sách Tinh tra thắng lãm (星槎勝覽) chép: 'Từ Chiêm Thành thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến', chính là chỗ này vậy."
===Nguyên===
'''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Nguyên Thành Tông (元成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu xin sai sứ giả đến.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyền (暹國本傳): Vào năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Thành Tông (成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu bằng chữ vàng, muốn triều đình sai sứ giả đến nước mình. Đến khi biểu văn ấy tới nơi, thì triều đình đã sai sứ giả đi từ trước rồi, vốn là do bên kia chưa biết vậy. Triều đình ban cho sứ giả nước họ đến lạy một chiếc phù bằng vàng trơn (tố kim phù) để đeo, rồi sai đi gấp để đuổi theo đoàn chiếu sứ cùng đi. Vì người Xiêm (暹人) và người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒) vốn có thù hận chém giết nhau cũ, đến nay thảy đều quy thuận. Có chỉ dụ bảo người Xiêm (暹人) rằng: "Chớ làm tổn thương người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒), để giữ trọn lời hứa của các ngươi."
'''Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], nước Xiêm xin ban yên ngựa, chiếu ban cho áo thêu chỉ vàng nhưng không cho ngựa.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Thành Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyền (暹國本傳): Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], quốc chủ nước Xiêm (暹國) dâng lời rằng: "Lúc cha tôi còn tại vị, triều đình từng ban cho yên cương, ngựa trắng cùng áo thêu chỉ vàng, nay xin theo lệ cũ mà ban cho." Hoàng đế dựa theo lời của Thừa tướng Hoàn Trạch Đáp Lạt Hãn (完澤荅剌罕) rằng: "Kia là nước nhỏ mà ban cho ngựa, e rằng bọn lân bang như Hân Đô (忻都) sẽ chê cười." Triều đình vẫn ban cho áo thêu chỉ vàng, nhưng không ban cho ngựa.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹邏國), vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (邏斛), cũng tức là đất cũ của Xích Thổ (赤土) và Bà La Sát (婆羅剎). Nằm ở cực Nam của Chiêm Thành (占城), phía Bắc thẳng hướng đến Liêm Châu (廉州), men theo bờ Bắc biển nối liền với Giao Chỉ (交趾). Đất nước Xiêm (暹) khô cằn, không hợp cho việc cày cấy trồng trọt; đất ruộng nước La Hộc (羅斛) thì bằng phẳng, rộng rãi và nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm phải trông cậy vào đó để cung cấp. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607] đời Tùy, quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác từ quận Nam Hải (南海郡) cưỡi thuyền đi sứ Xích Thổ (赤土), đến nay truyền sai là di chủng của Xích Mi (赤眉), sau đổi tên gọi là Xiêm (暹). Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295] thời Nguyên, người Xiêm (暹人) từng sai sứ vào cống. Trong khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục nước La Hộc (羅斛), mà hợp lại thành 1 nước."
===Minh===
'''Minh Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ 4, Xiêm La sai sứ triều cống'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Xiêm La (暹羅) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến, chính là nước Xích Thổ (赤土國) thời Tùy Đường. Sau chia làm 2 nước là La Hộc (羅斛) và Xiêm (暹). Đất Xiêm (暹) khô cằn không hợp gieo trồng, đất La Hộc (羅斛) bằng phẳng, trồng trọt thu hoạch nhiều, nước Xiêm (暹) phải trông cậy vào đó. Thời Nguyên (元), nước Xiêm (暹) thường vào cống. Sau đó nước La Hộc (羅斛) mạnh lên, thôn tính đất Xiêm (暹), nên gọi là nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國)."
Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], mệnh sứ thần Lữ Tông Tuấn (呂宗俊) mang chiếu thư đi dụ nước đó. Năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai sứ dâng biểu, cùng bọn Tông Tuấn (宗俊) đến cống voi thuần, rùa 6 chân và phương vật. Chiếu ban cho vua gấm vóc và ban cho sứ giả tiền vải có sai biệt. Sau đó, lại sai sứ đến chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372], chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu.
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Xiêm La (暹羅) vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛). Nước Xiêm (暹) là di chủng của quân Xích Mi (赤眉) nhà Hán, đất nước ấy khô cằn, không hợp cày cấy. Đất ruộng La Hộc (羅斛) bằng phẳng nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm trông cậy vào đó. Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], người Xiêm (暹人) thường sai sứ vào cống. Khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục La Hộc (羅斛) mà hợp thành 1 nước. Đầu năm Hồng Vũ (洪武) triều ta, vua nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國) là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai các sứ thần Nại Tư Lý Sài Lạt Thức Tất Thế (奈思俚儕剌識悉替) đến triều cống, dâng biểu lá vàng. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆)."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Khí hậu Xiêm La (暹羅) không điều hòa, tục chuộng xâm chiếm. Nấu biển làm muối, nấu gạo nếp làm rượu. Trai gái búi tóc hình dùi, dùng vải trắng quấn đầu, mặc áo dài. Mỗi khi có việc bàn bạc, hình pháp nặng nhẹ, tiền thóc ra vào, thảy đều do phụ nữ quyết định. Ý chí và năng lực của họ trên cả nam giới. Dùng vỏ ốc (nghệ tử) thay tiền lưu thông. Người chết thì đổ thủy ngân vào để giữ xác."
Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Đất Xiêm La (暹羅) rộng 1.000 dặm, quanh nước đều là núi, hiểm trở gồ ghề, đất dưới thấp ẩm ướt lỏng lẻo, hiếm chỗ trồng trọt được. Khí hậu không ổn định, lúc sương mù lúc nóng nực. Từ phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), đi thuyền 7 ngày đêm mới đến cửa biển Tân Môn (新門海口), vào cảng mới đạt đến nước ấy. Vua ở cung thất tráng lệ, dân ở nhà sàn, sàn nhà lợp san sát cây bàng lang, dùng mây sợi buộc rất chặt, trải chiếu mây, chiếu tre để ngủ nghỉ bên trong. Vua vốn là người Tỏa Lý (鎖里), dùng vải trắng quấn đầu, không mặc áo, lưng thắt khăn thêu sợi, thêm gấm vóc áp lưng, cưỡi voi đi hoặc ngồi kiệu, lọng cán vàng làm bằng lá giao. Chuộng đạo Phật, người trong nước đều như vậy. Tăng ni rất nhiều, trang phục giống Trung Quốc, có am quan, ăn chay thụ giới. Phụ nữ dân dã nhiều trí tuệ, chồng nghe theo vợ, vợ có tư thông với người Trung Quốc, ăn ngủ cùng nhau, chồng vẫn điềm nhiên không lấy làm lạ. Nam giới quấn đầu vải trắng, mặc áo dài, phụ nữ cũng vậy và búi tóc hình dùi. Nam giới năm 20 tuổi, bộ phận sinh dục tất phải khảm châu ngọc, kẻ phú quý đúc vàng bọc châu, phát ra tiếng kêu mới coi là đẹp, nếu không là người bần tiện. Khi cưới thì bầy tăng đón rể đến nhà gái, tăng lấy chỉ đỏ dán lên trán nam gọi là 'lợi thị', hủ lậu không thể tả xiết. Qua 3 ngày, tăng cùng thân quyến đẩy thuyền hoa bàng lang tiễn về, rồi mở tiệc tấu nhạc. Lễ tang, kẻ phú quý thì đổ thủy ngân mà chôn, dân gian thì khiêng xác quăng xuống biển. Ở các cồn bãi có hàng chục con chim sắc vàng bay đến ăn, có khi xác bị bỏ trôi biển, gọi là 'điểu táng'. Sau đó dùng giáo pháp Phù Đồ để làm chay. Ngôn ngữ giống Quảng Đông (廣東), phong tục nông nổi, thạo thủy chiến. Thường chinh phạt lân bang. Thị trường dùng vỏ ốc biển, giá trị như tiền. Sản vật có đá Hồng Mã Khẩn Đích (紅馬肯的石), kém hơn đá Hồng Nha (紅鴉), sáng trong như hạt lựu. Phía Tây Bắc nước này hơn 200 dặm có thị trấn gọi là Thượng Thủy (上水), thông về phía Nam, dân cư chừng 600 nhà, các loại hàng phiên đều có: hoàng liên hương, la hắc, tốc hương, giáng chân, trầm thủy, cũng có gỗ hoa lê, bạch đậu khấu, đại phong tử, huyết kiệt đằng, kết tô mộc, thiếc hoa, ngà voi, lông chim thúy. Tô mộc rẻ như củi, sắc cực tốt. Thú có voi trắng, sư tử, mèo, chuột trắng. Rau quả như Chiêm Thành (占城). Có rượu gạo, rượu dừa, đều là rượu nấu. Cống vật là tô mộc, hương giáng chân."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], nước Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 [năm 1372], cống gấu đen, vượn trắng và phương vật. Năm sau lại đến cống. Chị của vua là Tham Liệt Tư Ninh (參烈思寧) riêng sai sứ dâng biểu lá vàng, cống phương vật cho Trung cung (Hoàng hậu), bị từ chối. Sau đó người chị lại sai sứ đến cống, Đế vẫn từ chối, nhưng ban yến tiệc cho sứ giả. Lúc bấy giờ vua nước ấy nhu nhược không có võ công, người trong nước suy tôn bác là Tham Liệt Bảo Tì Nha Tì Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙毗哩哆囉祿) làm chủ việc nước, sai sứ đến báo, cống phương vật, ban yến tiệc theo chế độ. Sau đó tân vương sai sứ đến cống tạ ơn, sứ giả cũng có vật hiến tặng, Đế không nhận. Tiếp đó, sai sứ chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1374], cống phương vật, lại dâng bản đồ nước mình."
'''Năm Hồng Vũ thứ 7 [năm 1374], sứ thần Xiêm La vào cống, nói rằng "thuyền cống gặp gió trôi mất", thu nhặt những vật còn sót lại để tiến dâng. Chiếu vì không có biểu văn nên từ chối.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 [năm 1374], sứ thần Sa Lý Bạt (沙里拔) đến cống, nói rằng năm ngoái thuyền dừng tại Dương Ô Chư (烏豬洋), gặp gió làm hỏng thuyền, trôi đến Hải Nam (海南), nhờ quan lại cứu hộ, còn giữ được các vật sót lại như gấm đầu la, giáng hương, tô mộc tiến hiến. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên. Đế trách không có biểu văn, đã nói chìm thuyền mà phương vật lại còn, nghi là thương buôn phiên bang, mệnh từ chối. Dụ cho các thần ở Trung thư và Lễ bộ rằng: 'Xưa chư hầu đối với Thiên tử, hằng năm có tiểu sính, 3 năm có đại sính. Ngoài chín châu (Cửu châu) thì mỗi đời triều kiến một lần, phương vật tiến cống cốt để tỏ lòng thành kính mà thôi. Duy Cao Ly (高麗) khá biết lễ nghĩa, nên lệnh 3 năm một lần cống. Các nước xa khác như Chiêm Thành (占城), An Nam (安南), Tây Dương Tỏa Lý (西洋瑣里), Qua Oa (瓜哇), Bột Ni (浡泥), Tam Phật Tề (三佛齊), Xiêm La Hộc (暹羅斛), Chân Lạp (真臘), vào cống đã tần suất cao, hao phí quá lớn, nay không cần phải như thế nữa, hãy gửi văn thư cho các nước biết'. Tuy nhiên kẻ đến vẫn không dứt, Thế tử là Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) cũng sai sứ dâng thư lên Hoàng thái tử, cống phương vật, mệnh dẫn sứ giả triều kiến Đông Cung, ban yến tiệc rồi cho về."
'''Năm Hồng Vũ thứ 8 [năm 1375], nước Xiêm La vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 8 [năm 1375] lại vào cống. Mà Thế tử cũ là Minh Đài Vương Thế tử Chiêu Bột La Cục (昭孛羅局) cũng sai sứ dâng biểu triều cống, ban yến tiệc như sứ của vua."
'''Năm Hồng Vũ thứ 9 [năm 1376], chiếu dụ vua nước Xiêm La, ban ấn và 1 bộ áo.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 9 năm thứ 9 [năm 1376], vua nước ấy sai con là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) dâng biểu cống voi và phương vật, ban chiếu khen ngợi. Dụ vua nước Xiêm La rằng: Làm vua trị dân, nếu không phải mệnh sáng của trời, ơn lớn của đất, sao được như vậy? Hoa Hạ và Di Địch tuy cách biệt, nhưng vui cái vui của thiên hạ thì ở đâu cũng thế. Nếu làm kẻ bề trên, biết thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế, hòa hợp người và thần, thì lộc truyền đời đời không dứt. Ngươi là Đa La Lộc (哆囉祿) từ khi nối ngôi đến nay, trong thì sửa đạo tề gia, ngoài thì tạo phương cách hòa mục láng giềng, huống hồ nhiều lần sai sứ đến Trung Quốc, xưng thần nhập cống, xét trong các vương thời nay, Đa La Lộc (哆囉祿) có thể gọi là hiền đức vậy, há chẳng tiếng vang các nước phiên sao? Mùa thu năm nay, cống voi đến triều, trẫm sai sứ sang dụ, đặc biệt ban ấn nước Xiêm và 1 bộ áo. Ngươi nên vỗ về dân bang, mãi hưởng nhiều phúc. Nay ban chiếu dụ, mong hãy thấu hiểu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], nước Xiêm La đến triều.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 [năm 1377], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) vâng mệnh cha đến triều kiến. Đế vui mừng, mệnh Lễ bộ Viên ngoại lang Vương Hằng (王恆) cùng những người khác mang chiếu và ấn ban cho, văn ấn khắc 'Xiêm La quốc vương chi ấn' (暹羅國王之印), đồng thời ban cho Thế tử áo, tiền vải và phí đi đường. Từ đó, nước ấy tuân theo mệnh triều đình, bắt đầu gọi là Xiêm La (暹羅). Cứ 1 năm 1 lần cống, hoặc 1 năm 2 lần cống. Đến sau năm Chính Thống (正統) [sau năm 1449], mới là mấy năm 1 lần cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], ban cho nước Xiêm La văn sách Khám hợp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], ban văn sách Khám hợp cùng gấm vóc đồ sứ cho bọn Chân Lạp (真臘)."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], nước Xiêm La cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], cống 10.000 cân hồ tiêu, 10.000 cân tô mộc. Đế sai quan báo đáp hậu hĩnh. Lúc đó dân Ôn Châu (溫州) có người mua trầm hương các vật của họ, hữu trách khép vào tội thông phiên, đáng phải chém bêu đầu. Đế phán: 'Ôn Châu là nơi Xiêm La tất phải đi qua, nhân họ qua lại mà mua bán, không phải thông phiên'. Bèn được tha tội."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Xiêm La cống 30 ngà voi, 60 nô tỳ phiên.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Thế tử Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ đến cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Xiêm La cống tô mộc, hồ tiêu, giáng hương tổng cộng 170.000 cân.'''
*Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử - Xiêm La truyện" đã nêu ở trên.
'''Năm Hồng Vũ thứ 28 [năm 1395], Thế tử nước Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) triều cống, và báo tang cha. Sắc phong Thế tử nối ngôi vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 [năm 1395], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ triều cống, và báo tang cha. Mệnh trung quan Triệu Đạt (趙達) cùng những người khác sang tế, sắc phong Thế tử nối ngôi vương, ban thưởng thêm hậu. Dụ rằng: 'Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, sai sứ ra biên giới, đi khắp bốn phương, nơi đặt chân đến có 36 nước, nơi tiếng tăm thông đạt có 31 nước. Phong tục khác biệt, nước lớn có 18, nước nhỏ có 149, so với ngày nay thì Xiêm La gần nhất. Vừa rồi sứ đến, biết tiên vương đã mất. Vương nối tiếp nghiệp tiên vương, có đạo với bang gia, thần dân vui mừng. Nay đặc biệt sai người ban mệnh, Vương chớ làm mất pháp độ, chớ dâm dật hưởng lạc, để làm rạng rỡ tiền liệt. Hãy kính cẩn thay'."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 28 [năm 1395], chiếu sai nội sứ Triệu Đạt (趙達), Tống Phúc (宋福) làm sứ giả đi nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國), tế vua Tham Liệt Bảo Tì Nha Tư Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙思哩哆囉祿), ban cho嗣 vương (vua nối ngôi) Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) 4 xấp gấm, 4 xấp là, 40 xấp vải mưu ti (mâu ti bố); ban cho vương phi 4 xấp gấm, 4 xấp là, 12 xấp vải mưu ti, có sắc dụ."
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, BAN CHO VUA NƯỚC XIÊM LA ẤN BẠC MẠ VÀNG NÚM LẠC ĐÀ CÙNG CÁC VẬT PHẨM'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Thành Tổ (成祖) lên ngôi, sai chiếu dụ nước ấy. Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], ban cho vua nước ấy là Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) ấn bạc mạ vàng núm lạc đà, vua nước ấy liền sai sứ đến tạ ơn. Tháng 6 âm lịch [năm 1403], nhân việc dâng tôn thụy cho Cao Hoàng đế (高皇帝), sai quan đi ban bố chiếu thư và ban thưởng. Tháng 8 âm lịch [năm 1403], lại mệnh cho Cấp sự trung Vương Triết (王哲), Hành nhân Thành Vụ (成務) ban cho vua nước ấy gấm vóc. Tháng 9 âm lịch [năm 1403], mệnh Trung quan Lý Hưng (李興) mang sắc thư đến thăm hỏi và ban thưởng cho vua nước ấy, các quan văn võ cũng đều được ban thưởng. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước Xiêm La (暹羅) sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật."
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 9 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], có thuyền phiên trôi dạt đến bờ biển Phúc Kiến (福建), thẩm vấn thì ra là thuyền thông hảo giữa Xiêm La (暹羅) và Lưu Cầu (琉球). Ty sở tại kiểm kê hàng hóa rồi tâu lên. Hoàng đế nói: 'Hai nước tu hảo là việc rất tốt. Không may gặp gió bão, chính là lúc nên thương xót, lẽ nào lại nhân đó mà trục lợi?'. Mệnh cho ty sở tại sửa thuyền cấp thóc, đợi khi gió thuận thì tiễn đi Lưu Cầu (琉球). Tháng này, vua nước ấy vì được nhận玺 thư (tỷ thư) thăm hỏi ban thưởng của Hoàng đế, nên sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật, ban thưởng thêm hậu, lại ban cho 100 cuốn Liệt nữ truyện (列女傳). Sứ giả xin ban hành quy chuẩn đo lường (lượng hành) làm mẫu mực vĩnh viễn cho quốc gia, Hoàng đế chấp thuận."
Trước đó, sứ giả cống nạp của Chiêm Thành (占城) khi về, gió thổi thuyền đến Bành Hanh (彭亨), nước Xiêm La (暹羅) cưỡng đoạt sứ giả đó, giam giữ không cho về. Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌) và Mãn Lạt Gia (滿剌加) lại kiện Xiêm La (暹羅) cậy mạnh phát binh, đoạt ấn cáo do Thiên triều ban cho. Hoàng đế bèn hạ sắc trách phạt rằng: "Chiêm Thành (占城), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加) cùng ngươi đều chịu mệnh triều đình, sao dám cậy thế uy quyền? Giam giữ sứ giả, đoạt ấn cáo của họ. Trời có đạo hiển hiện, phúc cho kẻ thiện họa cho kẻ dâm, giặc Lê (黎) ở An Nam (安南) có thể làm gương soi. Hãy lập tức trả lại sứ giả Chiêm Thành (占城), hoàn lại ấn cáo cho Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加). Từ nay về sau phụng pháp theo lý, giữ yên bờ cõi hòa mục láng giềng, mới mong hưởng phúc thái bình vĩnh viễn." Lúc bấy giờ sứ giả cống nạp do Xiêm La (暹羅) sai đi bị lạc gió trôi đến An Nam (安南), thảy đều bị giặc Lê (黎) giết chết, chỉ còn dư lại 1 người là Bột Hắc (孛黑). Sau khi quan quân đánh An Nam (安南), cứu được người này đưa về, Hoàng đế rất thương xót.
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 4 [năm 1406], Xiêm La sai sứ vào cống, xin sách và mẫu đo lường.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 [năm 1406], sứ giả Xiêm La (暹羅) là Nại Tất (奈必) dâng biểu cống phương vật, được tặng sách Cổ kim liệt nữ truyện (古今列女傳). Lại xin mẫu đo lường làm chuẩn mực trong nước, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Xiêm La sai sứ cống phương vật, tạ tội trước.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 [năm 1408], mệnh Trung quan Trương Nguyên (張原) đưa sứ giả về nước, ban cho vua tiền vải, lệnh cho vua phải chu cấp hậu hĩnh cho gia đình những người bị giết. Tháng 9 âm lịch [năm 1408], Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy, vua nước ấy sai sứ cống phương vật, tạ lỗi trước."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 7 [năm 1409], Xiêm La sai sứ đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), lại đưa dân gian trốn tránh về nước, cùng cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sứ giả đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh cho Trung quan tâu cáo trước linh sàng. Lúc đó quân gian là Hà Bát Quan (何八觀) cùng những người khác trốn vào Xiêm La (暹羅), Hoàng đế mệnh sứ giả về báo với chủ họ, đừng thu nhận kẻ đào tẩu. Vua nước ấy liền phụng mệnh sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa bọn Bát Quan (八觀) về, mệnh Trương Nguyên (張原) mang sắc thư và tiền lụa đến khen ngợi."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sai sứ dâng nghi vật đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh Trung cung quan đến cáo trước linh sàng. Tháng 9 âm lịch [năm 1409], lại sai sứ là Khôn Văn Côn (坤文琨) cùng những người khác dâng biểu cống phương vật, ban tiền vải rồi tiễn về. Lúc bấy giờ người Nam Hải (南海) là Hà Bát Quan (何八觀) lưu dạt ra đảo biển, rồi vào Xiêm La (暹羅). Đến nay nhân lúc bọn Văn Côn (文琨) về, Thượng (Hoàng đế) lệnh dụ quốc vương nước ấy, sai đưa bọn Bát Quan (八觀) về, chớ thu nhận kẻ đào tẩu mà chuốc lấy tội lỗi, đồng thời ban cho vua nước ấy gấm thêu vàng, lụa trừu, sa, la, nhung gấm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 8 [năm 1410], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 [năm 1410], Xiêm La (暹羅) sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa người Trung Quốc lưu dạt về, ban sắc thư thăm hỏi cùng tiền lụa màu."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải cho Xiêm La. Năm này vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], lại đến triều cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 13 [năm 1415], vua nước Xiêm La qua đời.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 5 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 [năm 1415], Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) qua đời."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 14 [năm 1416], phong Thế tử nước Xiêm La làm vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 14 [năm 1416], vương tử Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) sai sứ cáo tang cha, mệnh Trung quan Quách Văn (郭文) sang tế, riêng sai quan mang chiếu phong con trai làm vua, ban cho gấm trắng lụa trắng, liền sau đó sai sứ đến tạ ơn."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], định số lượng gấm vóc ban cho vua và vương phi nước Xiêm La.'''
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], cấp cho vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 10 xấp lụa trừu, sa, la, trong đó mỗi loại có 4 xấp dệt kim; vương phi mỗi loại trừu, sa, la có 6 xấp, trong đó mỗi loại có 2 xấp dệt kim."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La xâm lấn Mãn Lạt Gia, sai sứ giả trách phạt. Vua Xiêm La sai sứ giả tạ tội.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La (暹羅) xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加) nên sai sứ giả trách lệnh phải hòa mục. Sau khi sứ giả nước họ vào cống, mệnh Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về. Vua lại sai sứ tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加)."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], sai sứ dụ vua nước Xiêm La (暹羅), khiến cho hòa bình với Mãn Lạt Gia (滿剌加). Sắc dụ Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) rằng: 'Trẫm vâng mệnh trời, làm chủ cả Hoa Hạ và Di Địch, lấy tâm hiếu sinh của天地 (thiên địa) để trị quốc, nhất thị đồng nhân, không phân biệt bên này bên kia. Vương có thể kính trời thờ nước lớn, giữ chức vụ phụng cống, lòng trẫm rất khen ngợi, vốn chẳng phải chỉ trong một ngày. Gần đây vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) là Y Tư Hạn Đáp Nhi Sa (亦思罕答兒沙) lên nối ngôi, có thể tiếp nối chí hướng của cha, tự thân dẫn vợ con đến cửa khuyết triều cống, lòng thành thờ nước lớn đó không khác gì Vương. Nhưng nghe tin Vương vô cớ muốn động binh. Phàm binh khí là vật hung, hai bên đánh nhau tất cùng bị thương, cho nên chuộng binh không phải là tâm của người nhân. Huống hồ vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) đã nội thuộc, tức là thần tử của triều đình. Họ có lỗi, nên trình bày lên triều đình. Không làm theo cách này mà tự tiện động binh, ấy là không nể triều đình vậy. Đây chắc không phải ý của Vương, hoặc là thuộc hạ bên cạnh mượn danh Vương, dùng binh để thỏa tư thù. Vương nên suy xét kỹ, chớ để bị mê hoặc, hãy hòa mục với láng giềng, không xâm lấn nhau, để cùng hưởng phúc, há có giới hạn sao! Vương hãy lưu tâm cho'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 18 [năm 1420], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 4 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 [năm 1420], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ vào cống phương vật, ban tiền vải, vẫn sai Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về nước, vẫn ban cho vua gấm vóc sa la các thứ."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 19 [năm 1421], Xiêm La sai sứ vào cống, và tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 [năm 1421], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Nại Hoài (奈懷) cùng 60 người cống phương vật, tạ tội xâm lấn nước Mãn Lạt Gia (滿剌加), ban tiền vải có sai biệt. Tháng 7 âm lịch lại vào cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 21 [năm 1423], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 [năm 1423], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Mai (坤梅) cống phương vật, ban cho tiền vải."
'''MINH TUYÊN TÔNG NĂM TUYÊN ĐỨC THỨ 8, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 [năm 1433], vua nước ấy là Tất Lý Ma Ha Lạt (悉里麻哈賴) sai sứ triều cống. Trước đó, bồi thần nước này là Nại Tam Đạc (奈三鐸) cùng những người khác đi cống, thuyền ghé cảng Tân Châu (新州港) nước Chiêm Thành (占城), thảy đều bị người nước ấy cướp bóc."
'''MINH ANH TÔNG NĂM CHÍNH THỐNG THỨ 1, SỨ CỐNG XIÊM LA TỐ CÁO VIỆC CHIÊM THÀNH CƯỚP BÓC, LỆNH CHIÊM THÀNH TRẢ LẠI NGƯỜI VÀ VẬT ĐÃ CƯỚP'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 1 [năm 1436], Nại Tam Đạc (奈三鐸) lén đi thuyền nhỏ đến kinh đô, mà sứ cống do vua nước ấy sai đi cũng tới nơi, đều tố cáo tình trạng Chiêm Thành (占城) đánh cướp. Hoàng đế mệnh triệu sứ giả Chiêm Thành (占城) đến để đối chất, sứ giả không có gì để đáp lại, bèn sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城), lệnh phải hoàn trả toàn bộ người và vật đã cướp. Sau đó, nước Chiêm Thành (占城) gửi văn thư cho Lễ bộ (禮部), nói rằng: 'Năm kia nước tôi sai sứ đi Tu Văn Đát Na (須文達那), cũng bị người tặc nước Xiêm La (暹羅) cướp đi, tất nhiên Xiêm La (暹羅) phải trả lại những gì đã cướp trước, thì nước tôi tự nhiên không dám không trả'."
Theo Minh hội điển (明會典): "Xiêm La (暹羅) vào cống. Khoảng năm Tuyên Đức (宣德), ban thưởng đều giảm một nửa. Sau năm Chính Thống (正統), đều chiếu theo lệ năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], sứ thần chính và phó khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là dệt kim, 1 đôi giày và tất. Những người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai vàng trơn. Những người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai vàng chạm hoa. Phần thưởng chính là 4 xấp lụa trừu và 4 xấp là, đổi sang 2 xấp sa quyến, 1 xấp vải bông, 1 bộ áo trừu dệt kim. Đám người thông sự khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là trơn, 1 đôi giày và tất; người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai bạc trơn. Người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai bạc chạm hoa. Phần thưởng chính là 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là, đổi sang 1 xấp quyến bằng tiền giấy (钞绢), 1 bộ áo trừu trơn. Bạn phiên (người đi theo) khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo quyến, 1 đôi giày và tất; phần thưởng chính đổi sang 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Những người lưu lại Quảng Đông (廣東) mà có tiến cống thì hạng đầu mục mỗi người thưởng 1 bộ áo trừu trơn, 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là; người theo hầu mỗi người 1 bộ áo quyến trừu, 1 xấp lụa trừu; hạng bạn phiên mỗi người 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Hàng hóa của đám sứ thần mang tới theo lệ không thu thuế, mà trả bằng tiền giấy theo giá trị."
'''Năm Chính Thống thứ 3 [năm 1438], Xiêm La vào cống, vẫn lệnh phải trả lại người và vật của Chiêm Thành đã cướp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 3 [năm 1438], sứ cống Xiêm La (暹羅) lại đến, nhân đó ban sắc thư, lệnh phải gấp rút hoàn trả người và vật cho Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Chính Thống thứ 11 [năm 1446], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 11 [năm 1446], vua nước ấy là Tư Lợi Ba La Ma Na Nhược Trí Lạt (思利波羅麻那若智剌) lại sai sứ vào cống."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 4, PHONG TỰ TỬ CỦA XIÊM LA LÀ BẢ LA LAN MỄ TUÂN LẠT LÀM XIÊM LA QUỐC VƯƠNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 [năm 1453], mệnh Cấp sự trung Lưu Chu (劉洙), Hành nhân Lưu Thái (劉泰) sang tế cố vương Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (波羅摩剌劄的賴), nhân đó phong cho con nối ngôi (tự tử) là Bả La Lan Mễ Tuân Lạt (把羅蘭米孫剌) làm vua."
'''MINH ANH TÔNG NĂM THIÊN THUẬN THỨ 1, BAN CHO SỨ CỐNG XIÊM LA ĐAI VÀNG CHẠM HOA'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳) đã nêu.
'''Năm Thiên Thuận thứ 6 [năm 1462], Xiêm La sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 [năm 1462], vua nước ấy là Bột Lạt Lam La Giả Trực Ba Trí (孛剌藍羅者直波智) sai sứ triều cống."
'''MINH HIẾN TÔNG NĂM THÀNH HÓA THỨ 9, NƯỚC XIÊM LA XIN CẤP ĐỔI KHÁM HỢP, CHẤP THUẬN'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 9 [năm 1473], sứ cống nói rằng văn bản Khám hợp (勘合) ban năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 [năm 1457] bị mọt ăn, xin cấp đổi cái mới, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], sứ cống Xiêm La về đến giữa đường, lén mua con cái nhà lành, chở muối lậu, mệnh sai quan răn đe.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 [năm 1481], sứ cống về nước, đến giữa đường lén mua trẻ con làm nô tỳ, lại chở nhiều muối lậu, Hoàng đế mệnh sai quan đi răn đe các nước phiên. Trước đó có người vùng Đinh Châu (汀州) là Tạ Văn Bân (謝文彬), vì buôn muối ra biển, trôi dạt vào nước đó, làm quan đến chức Khôn Nhạc (坤岳), tương đương với Học sĩ (學士) của Thiên triều. Sau đó sung làm sứ giả đến triều kiến, vì buôn bán đồ cấm, việc bị lộ, bị hạ ngục."
'''Năm Thành Hóa thứ 18 [năm 1482], Thế tử Xiêm La sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh phong làm Xiêm La quốc vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 18 [năm 1482], sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh Cấp sự trung Lâm Tiêu (林霄), Hành nhân Diêu Long (姚隆) sang phong cho con trai là Quốc Long Bột Lạt Lược Khôn Tức Lạt Ưu Địa (國隆勃剌略坤息剌尤地) làm vua."
'''MINH HIẾU TÔNG NĂM HỒNG TRỊ THỨ 10, XIÊM LA VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khi vào cống năm Hồng Trị (弘治) thứ 10 [năm 1497], Tứ Di Quán (四夷館) không có quan dịch thuật tiếng Xiêm La (暹羅), các đại thần nội các là Từ Phổ (徐溥) và những người khác xin gửi văn thư đến Quảng Đông (廣東), tìm chọn những người thông thạo ngôn ngữ và văn tự nước ấy đưa về kinh đô để dự bị sử dụng, Hoàng đế chấp thuận."
'''MINH VŨ TÔNG NĂM CHÍNH ĐỨC THỨ 10, XIÊM LA TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Đức (正德) thứ 4 [năm 1509], có thuyền Xiêm La (暹羅) trôi dạt đến Quảng Đông (廣東), Trung quan Thị bạc là Hùng Tuyên (熊宣) bàn với các quan thủ thành, đánh thuế hàng hóa đó để cung ứng quân nhu. Việc đến tai triều đình, chiếu chỉ khiển trách Tuyên (宣) lạm quyền, điều về Nam Kinh (南京). Năm thứ 10 [năm 1515], dâng biểu lá vàng sang triều cống, trong quán không ai nhận mặt được mặt chữ ấy. Các đại thần nội các là Lương Trữ (梁儲) và những người khác xin chọn lưu lại 1 đến 2 người trong đoàn sứ giả vào quán để rèn luyện học tập, Hoàng đế phê chuẩn."
'''MINH THẾ TÔNG NĂM GIA TĨNH THỨ 32, XIÊM LA CỐNG PHƯƠNG VẬT'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 [năm 1522], thuyền hàng Xiêm La (暹羅), Chiêm Thành (占城) đến Quảng Đông (廣東) buôn bán, Trung quan Ngưu Vinh (牛榮) thả cho người nhà riêng tự buôn bán, bị luận tội chết theo luật. Năm thứ 32 [năm 1553], sai sứ cống voi trắng và phương vật. Voi chết trên đường đi, sứ giả lấy châu báu trang điểm trên ngà, đựng vào mâm vàng cùng với đuôi voi đem đến dâng hiến. Đế khen ngợi ý đó, ban thưởng hậu hĩnh cho về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹羅), từ sau các năm Hồng Hy (洪熙) [1425], Tuyên Đức (宣德) [1426-1435], việc nhập cống vẫn như kỳ hạn thường lệ. Khoảng năm Chính Thống (正統) [1436-1449], Cảnh Thái (景泰) [1450-1456], việc cống nạp đôi khi không thường xuyên. Từ năm Thành Hóa (成化) [1465-1487] đến nay, đại để 6 năm một lần cống. Gần đây vào năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 32 [năm 1553], sai sứ là Khôn Tùy Ly (坤隋離) và những người khác cống voi trắng và phương vật. Voi trắng đã chết, để lại 1 chiếc ngà voi dài 6 thước, đầu và gốc khảm vàng chạm hoa; đầu ngà lớn 5 tấc 7 phân, khảm 10 hạt lựu, ở giữa khảm 10 viên trân châu, 4 viên bảo thạch; phần đuôi lớn 1 tấc, khảm 1 viên kim cương. Trong hộp vàng đựng lông đuôi voi trắng để làm bằng chứng." Lại có 19 chiếc ngà voi, tổng cộng 350 cân; 37 cây gỗ mun (ô mộc), tổng cộng 3.600 cân; 600 cân thụ hương; 480 cân đằng hoàng; 580 cân đại phong tử; 300 cân tử cánh; 21 cây tốc hương, tổng cộng 650 cân; 20 cân mộc hương; 60 cân bạch đậu khấu; 810 cân hồ tiêu; 14.200 cân tô mộc.
'''Năm Gia Tĩnh thứ 37 [năm 1558], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 8 âm lịch năm thứ 37 [năm 1558], Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Ứng Mệnh (坤應命) và những người khác cống phương vật: 300 cân ngà voi, 650 cân thụ hương, 150 cân đằng hoàng, 310 cân tốc hương, 30 cân bạch đậu khấu, 13.200 cân tô mộc, 450 cân hồ tiêu, 3.800 cân ô mộc, 5.000 cân đại phong tử." Số lượng so với trước kia khá khác biệt.
'''MINH MỤC TÔNG NĂM LONG KHÁNH, NƯỚC XIÊM LA BỊ ĐÔNG MAN NGƯU PHÁ, BẮT THẾ TỬ VÀ ẤN MANG VỀ, CON THỨ NỐI NGÔI DÂNG BIỂU XIN ẤN, TRIỀU ĐÌNH BAN CHO'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Trong năm Long Khánh (隆慶) [1567-1572], nước láng giềng là Đông Man Ngưu (東蠻牛) cầu hôn không được, hổ thẹn tức giận, huy động đại binh công phá nước ấy. Vua nước ấy tự thắt cổ, Thế tử cùng ấn tín do Thiên triều ban cho bị bắt mang đi. Con thứ lên nối ngôi, dâng biểu xin ấn, triều đình ban cho. Từ đó bị nước Đông Man Ngưu (東蠻牛) chế ngự, vua nối ngôi lập chí phục thù."
'''MINH THẦN TÔNG NĂM VẠN LỊCH THỨ 6, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khoảng năm Vạn Lịch (萬曆), quân Đông Man Ngưu (東蠻牛) lại đến, Vua chỉnh đốn binh mã phấn đấu đánh trả, đại phá chúng, giết chết con trai vua ấy. Số quân còn lại chạy trốn trong đêm, Xiêm La (暹羅) từ đó hùng bá trên biển, dời binh công phá Chân Lạp (真臘), bắt vua nước ấy đầu hàng. Từ đó hằng năm dùng binh, bèn xưng bá các nước. Năm thứ 6 [năm 1578], sai sứ vào cống."
'''Năm Vạn Lịch thứ 20 [năm 1592], Xiêm La xin ngầm dùng quân giúp đánh Nhật Bản.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 [năm 1592], Nhật Bản (日本) đánh phá Triều Tiên (朝鮮), Xiêm La (暹羅) xin ngầm dùng quân đánh thẳng vào Nhật Bản (日本) để kiềm chế phía sau. Trung khu Thạch Tinh (石星) bàn định đồng ý, nhưng Đốc thần Lưỡng Quảng là Tiêu Ngạn (蕭彥) kiên trì phản đối, nên thôi. Sau đó việc phụng cống không thay đổi. Đến tháng 3 âm lịch năm Sùng Trinh (崇禎) thứ 16 [năm 1643], vẫn còn vào cống. Nước ấy chu vi 1.000 dặm, phong tục cứng cỏi hung hãn, thạo thủy chiến. Đại tướng dùng 'thánh thiết' bọc thân, đao tên không đâm thủng được. Thánh thiết ấy là xương sọ người vậy. Vua là người Tỏa Lý (鎖里), quan lại chia làm 10 cấp, từ vua đến dân thường, mọi việc đều do vợ quyết định. Ý chí và năng lực của phụ nữ thực sự vượt trên nam giới. Vợ tư thông với người Hoa thì chồng bày rượu cùng uống, điềm nhiên không lấy làm lạ, nói rằng: 'Vợ ta đẹp nên mới được người Hoa yêu mến'. Sùng tín đạo Phật, nam nữ đa số làm tăng ni, cũng ở am chùa, ăn chay thụ giới, trang phục khá giống Trung Quốc. Kẻ phú quý càng kính Phật, có tài sản 100 lạng vàng thì đem một nửa bố thí. Khí hậu không điều hòa, lúc lạnh lúc nóng, đất thấp ẩm ướt, người dân đều ở nhà sàn. Nam nữ búi tóc hình dùi, lấy vải trắng quấn đầu. Kẻ phú quý chết thì dùng thủy ngân đổ vào miệng mà chôn. Kẻ nghèo thì dời xác ra ven biển, tức thì có đàn chim bay đến mổ, chốc lát là hết sạch. Người nhà nhặt xương, khóc lóc rồi vứt xuống biển, gọi là 'điểu táng'. Cũng mời tăng lập đàn chay lễ Phật. Giao dịch dùng vỏ ốc biển (hải nghệ), năm nào không dùng vỏ ốc thì trong nước tất có dịch bệnh lớn. Đồ cống có: voi, ngà voi, sừng tê, lông công, lông thúy, mai rùa, rùa 6 chân, bảo thạch, san hô, phiến não, mễ não, khang não, não du, não sài, tường vi thủy, uyển thạch, đinh bì, a ngụy, tử cánh đằng, kiệt đằng hoàng, lưu hoàng, một dược, ô điêu nê, an tức hương, la hộc hương, tốc hương, đàn hương, hoàng thục hương, giáng chân hương, nhũ hương, thụ hương, mộc hương, đinh hương, ô hương, hồ tiêu, tô mộc, nhục đậu khấu, bạch đậu khấu, tất bát, ô mộc, đại phong tử cùng các loại vải tát cá lạt (sa-ha-la), Tây Dương. Nước ấy có 'miếu Tam Bảo', thờ Trung quan Trịnh Hòa (鄭和)."
===Thanh===
'''THẾ TỔ CHƯƠNG HOÀNG ĐẾ (世祖章皇帝)'''
'''Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653]'''
Theo Đại Thanh Hội điển (大清會典): "Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653], Tuần phủ Quảng Đông (廣東巡撫) tâu rằng, nước Xiêm La (暹羅) xin vào cống."
Xét thấy Xiêm La (暹羅), vốn là 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛) ở Hải Nam (海南), sau hợp thành một. Năm thứ 10 [năm 1653] xin vào cống.
'''Năm Thuận Trị thứ 16 [năm 1659]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Thuận Trị (順治) thứ 16 [năm 1659], Tổng đốc Lưỡng Quảng (兩廣總督) đề chuẩn cho nước Xiêm La (暹羅) lại đến thăm dò việc nộp cống. Các hàng hóa mang theo để đè thuyền (áp thuyền hóa vật) được cho phép giao dịch tại địa phương. Các sổ sách thanh tra thuế bạc hàng hóa trên thuyền đều được chuyển đến Hộ bộ (戶部) để kiểm tra."
'''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], nước Xiêm La (暹羅) có 2 chiếc thuyền chính cống, đi đến vùng biển Thất Châu (七洲海), gặp gió dạt mất, chỉ có 1 chiếc thuyền 'Hộ cống' đến được Hổ Môn (虎門), vẫn lệnh cho quay về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 12 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], sai sứ triều cống, dâng 1 đạo biểu văn bằng lá vàng, cống hiến phương vật gồm: 1 cân long diên hương, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương."
Phương vật dâng Hoàng hậu: 8 lạng long diên hương, 4 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 150 cân ngà voi, 150 cân hồ tiêu, 150 cân đằng hoàng, 150 cân đậu khấu, 150 cân tô mộc, 150 cân tốc hương, 150 cân đại phong tử, 150 cân kim ngân hương.
'''Năm Khang Hy thứ 3 [năm 1664]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 [năm 1664], nước Xiêm La (暹羅) dâng biểu tiến cống. Mệnh cho 2 thuyền chính cống cử 20 viên chức đến kinh đô để nộp bổ cống. 1 thuyền khác lệnh cho 6 người đến kinh đô."
'''Năm Khang Hy thứ 4 [năm 1665]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 [năm 1665], Xiêm La (暹羅) tiến cống đến kinh đô, Lễ bộ (禮部) đề định kỳ hạn cống là 3 năm 1 lần cống. Đường đi qua Quảng Đông (廣東)."
'''Năm Khang Hy thứ 6 [năm 1667]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 6 [năm 1667], Xiêm La (暹羅) tiến cống gồm 1 chiếc thuyền chính cống, 1 chiếc thuyền hộ cống, 1 chiếc thuyền chở voi, và 1 chiếc thuyền thăm dò phát sau. Lễ bộ (禮部) duyệt chuẩn, thuyền tiến cống không được quá 3 chiếc, mỗi thuyền không được quá 100 người, viên chức đến kinh đô là 22 người; các thuyền tiếp cống và thuyền thăm dò đều không được thả người lên bờ."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 6 âm lịch năm thứ 6 [năm 1667], sai sứ triều hạ. Dâng 1 bản biểu văn lá vàng nhân lễ Vạn thọ, 1 bản biểu văn dịch chữ. Cống hiến phương vật gồm: 1 tòa Long đình, 1 cân long diên hương, 300 cân tốc hương, 3.000 cân tô mộc, 300 cân ngà voi, 300 cân an tức hương, 300 cân bạch đậu khấu, 300 cân đại phong tử, 300 cân đằng hoàng, 4 con chim công, 300 cân ô mộc, 300 cân hồ tiêu, 300 cân giáng hương, 1 con voi thuần, 6 chiếc sừng tê, 4 con rùa 6 chân, 10 bức bình phong đuôi công, 600 tấm lông chim trả (thúy điểu), 100 cân hương nhựa cây (thụ giao hương), 2 cân hương trầm thủy, 100 cân hương vỏ cây (thụ bì hương), 100 cân nhi trà, 100 cân hoa hồ tiêu, 1 cân uyển thạch, 100 cân tử cánh, 6 xấp vải giao kiêu, 6 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 4 dải thiên thanh, 1 xấp vải đỏ, 6 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 10 xấp vải hoa chữ 'nhân' (人), 4 dải hoa văn hình người và voi, 10 xấp vải Tây Dương, 1 cân băng phiến loại lớn, 2 cân băng phiến loại vừa, 20 gáo dầu phiến, 100 cân long não, 100 cân hoàng đàn hương, 60 hũ nước hoa hồng (tường vi lộ), 100 cân lưu huỳnh."
Phương vật dâng Hoàng hậu tề niên (齊年): 8 lạng long diên hương, 150 cân tốc hương, 1.500 cân tô mộc, 150 cân ngà voi, 150 cân an tức hương, 150 cân bạch đậu khấu, 150 cân đại phong tử, 150 cân đằng hoàng, 2 con chim công, 150 cân ô mộc, 150 cân hồ tiêu, 150 cân giáng hương, 3 chiếc sừng tê, 2 con rùa 6 chân, 5 bức bình phong đuôi công, 300 tấm lông chim trả, 50 cân hương nhựa cây, 50 cân nhi trà, 50 cân hoa hồ tiêu, 1 cân hương trầm thủy, 50 cân hương vỏ cây, 8 lạng uyển thạch, 50 cân tử cánh, 3 xấp vải giao kiêu, 3 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 2 dải thiên thanh, 5 xấp vải đỏ, 3 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 5 xấp vải hoa chữ 'nhân', 5 xấp vải Tây Dương, 2 dải hoa tạp sắc hình người và voi, 8 lạng băng phiến loại lớn, 1 cân băng phiến loại vừa, 10 gáo dầu phiến, 50 cân long não, 50 cân hoàng đàn hương, 30 hũ nước hoa hồng, 50 cân lưu huỳnh.
'''Năm Khang Hy thứ 7 [năm 1668]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 [năm 1668], chính sứ Xiêm La (暹羅) vào cống đến kinh đô, các đầu mục lưu lại ở biên giới được cấp khẩu phần ăn."
'''Năm Khang Hy thứ 10 [năm 1671]'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 11 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 10 [năm 1671], cống hiến phương vật. Phụng chiếu ban tặng vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 6 xấp đoạn, 4 xấp đoạn dệt kim, 6 xấp sa, 4 xấp sa dệt kim, 6 xấp la, 4 xấp la dệt kim."
Chiếu ban cho Vương phi 4 xấp đoạn, 2 xấp đoạn dệt kim, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 4 xấp sa, 2 xấp sa dệt kim. Chính sứ, Phó sứ (nhị cống sứ), Tam sứ, mỗi người 7 xấp đoạn, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 2 xấp quyến, 1 xấp vải lót, 1 xấp vải thường, cùng 1 đôi tất nỉ gắn liền, 1 đôi ủng hạng nhất da xanh khâu kẽ; Thông sự thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành (Bành đoạn); Biện sự thưởng 4 xấp đoạn, 2 xấp la, 1 xấp quyến, 1 đôi ủng da ngựa lau mặt có tất nỉ; 22 người theo hầu, mỗi người 2 xấp quyến, 5 xấp vải, 1 đôi ủng da bò có tất nỉ; Quan hộ tống (bạn cống quan) thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành. Các vật phẩm ban thưởng này do hai bộ Hộ và Công chuyển tới trước Ngọ Môn (午門), ban cấp trong 2 lần yến tiệc tại bộ. Đợi đến ngày sứ cống Xiêm La (暹羅) về đến tỉnh, theo lệ thiết tiệc rượu 1 lần rồi tiễn về. Các lần tiến cống trên đều theo lệ ban thưởng như vậy. Khi sứ giả về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi.
'''Năm Khang Hy thứ 12 [năm 1673]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 12 [năm 1673], vua nước Xiêm La (暹羅) là Sâm Liệt Phách Lạt Chiếu Cổ Long Phách Lạt Mã Hô Lục Khôn Tư Do Đề Nha Bồ Ai (森列拍臘照古龍拍臘馬呼陸坤司由提呀菩埃) tiến cống và xin phong điển, Lễ bộ (禮部) đề chuẩn cấp cho Cáo mệnh cùng ấn bạc mạ vàng núm lạc đà. Sau khi sứ cống xong việc, các quan viên của Lễ bộ mặc triều phục trước Ngọ Môn (午門) cung kính đặt án kỷ. Quan Hồng lô tự (鴻蒚寺) dẫn các sứ cống hành lễ 3 quỳ 9 khấu đầu, quỳ nhận Cáo mệnh và Ấn tín, gửi văn thư cho quốc vương nước ấy, lệnh cho vua ra ngoài thành cung kính đón nhận Cáo ấn."
Lại có dụ rằng: "Nước ấy đi biển từ xa đến, bày tỏ lòng thành tiến cống. Những vật bị mọt ăn hoặc thiếu hụt đều miễn cho việc nộp bổ."
'''Năm Khang Hy thứ 23 [năm 1684]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 23 [năm 1684]. Dụ rằng: Viên chức tiến cống nước Xiêm La (暹羅) khi về nước, ai không cưỡi được ngựa thì quan phủ cấp cho kiệu khiêng, người theo hầu cấp cho phu gánh. Ngoài quan hộ tống, đặc phái thêm 1 Ty quan và 1 Bút thiếp thức của Lễ bộ (禮部) để bảo vệ cống vật. Ngoài lệ cống thường, lệ có thêm vật cống tăng thêm. Trước đây có chim công và rùa, sau lệnh miễn tiến dâng."
Cung tiến trước ngự tiền: 1 cân long diên hương đựng trong hộp bạc, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương.
Cống vật cho Hoàng hậu cũng giống như vậy, số lượng giảm đi một nửa.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic110 - 暹羅國.svg|center]]
Theo sách Tam tài đồ hội (三才圖會): "Phong tục vùng ven biển nước Xiêm La (暹羅), nam giới từ nhỏ đã cắt bộ phận sinh dục để khảm tám loại bảo vật (bát bảo) nhằm khoe khoang sự phú quý, nếu không làm vậy thì nhà gái sẽ không gả con gái cho."
Gần đây có người khách buôn đi biển tới Xiêm La (暹羅), dừng chân tại một hòn đảo nọ, khắp núi thảy đều là những chiếc thìa và đũa (thì trứ) màu đen tuyền, nơi ấy có rất nhiều cây lớn. Người khách ngẩng lên nhìn kỹ những chiếc thìa đũa ấy, hóa ra chúng chính là hoa và râu của loài cây đó. Bèn nhặt hơn 100 đôi mang về sử dụng, dù dính mỡ cũng không bị bẩn (nhiễm), sau tình cờ lấy ra khuấy trà, chúng liền theo đó mà tan biến mất.
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 1 (真臘部彙考一)==
'''[Cát Miệt (吉蔑), Cam Bột Trí (甘孛智), Gạm Phổ Chỉ (澉浦只)]'''
===THỜI TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 12, tháng 2 [năm 616], nước Chân Lạp (真臘) bắt đầu sai sứ dâng phương vật.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ: (Nội dung như trên).
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp (林邑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南). Cách quận Nhật Nam (日南郡) 60 ngày đi thuyền, phía Nam giáp nước Xa Cừ (車渠), phía Tây có nước Chu Giang (朱江). Vua họ Sát Lợi (剎利氏), tên là Chất Đa Tư Na (質多斯那). Từ thời tổ tiên đã dần cường thịnh, đến đời Chất Đa Tư Na (質多斯那) bèn kiêm tính và chiếm hữu đất Phù Nam (扶南). Khi vua chết, con là Y Xa Na (伊奢那) lên ngôi thay thế. Vua cư ngụ tại thành Y Xa Na (伊奢那城), dưới thành có 20.000 hộ. Trong thành có một tòa đại đường là nơi vua nghe chính sự. Tổng cộng có 30 tòa thành lớn, mỗi thành có vài ngàn hộ, đều có bộ soái riêng, tên quan chức giống với Lâm Ấp (林邑).
Vua cứ 3 ngày nghe triều một lần, ngồi trên giường ngũ hương thất bảo, phía trên căng màn báu. Màn dùng gỗ có vân làm cột, dùng ngà voi và hoa vàng (kim điền) làm vách, hình dáng như ngôi nhà nhỏ, treo ánh vàng rực rỡ, giống như nước Xích Thổ (赤土). Phía trước có lư hương vàng, có 2 người hầu hai bên. Vua mặc vải cổ bối triều hà, quấn quanh thắt lưng và bụng, rủ xuống đến tận ống chân. Đầu đội mũ hoa bằng vàng báu, đeo anh lạc trân châu, chân đi giày da, tai đeo khuyên vàng. Thường mặc áo vải bạch điệp, lấy ngà voi làm guốc (kiêu), nếu để tóc trần thì không đeo anh lạc. Trang phục của thần dân đại để cũng tương tự.
Có 5 đại thần: một là Cô Lạc Chi (孤落支), hai là Cao Tương Bằng (高相憑), ba là Bà Hà Đa Lăng (婆何多陵), bốn là Xá Ma Lăng (舍摩陵), năm là Nhiêm Đa Lâu (髯多婁). Các tiểu thần khi vào chầu vua thảy đều dập đầu 3 lần ở dưới bậc thềm. Vua gọi lên thềm thì quỳ, dùng hai tay ôm vai, ngồi vòng quanh vua. Bàn bạc chính sự xong thì quỳ lạy mà lui ra. Thị vệ ở thềm đình, cửa các có hơn 1.000 người, mặc giáp cầm binh khí. Nước này hòa hiếu với hai nước Tham Bán (參半) và Chu Giang (朱江), nhưng thường xuyên chiến tranh với hai nước Lâm Ấp (林邑) và Đà Hoàn (陀洹). Người dân khi đi đứng đều mang theo binh khí, nếu có chinh phạt thì dùng luôn.
Theo tục lệ, nếu không phải con của chính thê thì không được làm người kế vị. Ngày vua mới lên ngôi, tất cả anh em đều bị hình phạt tàn tật, hoặc chặt 1 ngón tay, hoặc xẻo mũi, rồi đưa đi cung phụng ở nơi khác, không được ra làm quan. Người dân vóc dáng nhỏ và sắc da đen, phụ nữ cũng có người trắng, thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài, tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi. Nhà cửa khí dụng khá giống nước Xích Thổ (赤土). Coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn. Mỗi sáng sớm đều tắm rửa, dùng cành dương làm sạch răng, tụng đọc kinh chú, lại tắm rửa rồi mới ăn, ăn xong lại dùng cành dương sạch răng và đọc kinh chú. Ăn uống nhiều tô lạc (váng sữa), đường cát, gạo tẻ, bánh mì. Khi muốn ăn, trước tiên lấy canh thịt tạp hòa với bánh, dùng tay nắm mà ăn.
Cưới vợ chỉ tặng 1 bộ quần áo, chọn ngày sai bà mối đón dâu. Hai nhà trai gái mỗi bên đều 8 ngày không ra ngoài, đêm ngày đốt đèn không tắt. Nam giới làm lễ cưới xong là chia tài sản với cha mẹ, ra ở riêng. Khi cha mẹ chết, nếu còn ai chưa cưới thì chia tài sản còn lại cho người đó. Nếu đã cưới hết thì tài sản nộp vào quan phủ. Tang lễ thì con cái đều 7 ngày không ăn, cắt tóc mà khóc. Tăng ni, đạo sĩ và thân hữu đều tụ tập, dùng âm nhạc đưa tiễn. Dùng gỗ ngũ hương thiêu xác rồi thu tro, đựng bằng bình vàng bạc, tiễn đưa vào trong vùng nước lớn. Người nghèo có khi dùng bình gốm rồi vẽ màu lên. Cũng có người không thiêu, đưa xác vào trong núi để mặc thú dữ ăn.
Phía Bắc nước này nhiều đồi núi, phía Nam có đầm lầy, khí đất rất nóng, không có sương tuyết, nhiều chướng khí và độc trùng. Đất hợp trồng lúa gạo, ít kê sáp, hoa quả và rau cỏ tương tự Nhật Nam (日南) và Cửu Chân (九真). Điểm khác biệt là có cây Bà Na Sa (婆那娑), không hoa, lá như hồng, quả như đông qua; cây Am La (菴羅), hoa lá như táo, quả như mận; cây Tì Dã (毗野), hoa như mộc qua, lá như hạnh, quả như giấy; cây Bà Điền La (婆田羅), hoa lá quả đều giống táo nhưng hơi khác. Cây Ca Tất Đà (歌畢佗), hoa như lâm cầm, lá như du nhưng dày lớn, quả như mận, to như cái thăng (1 lít), còn lại phần lớn đều giống nhau.
Trong biển Cửu Chân (九真) có loài cá tên là Kiến Đồng (建同), có 4 chân, không vảy, mũi như voi, hút nước phun lên cao 50 đến 60 thước. Có cá Phù Hồ (浮胡), hình như cá lươn, mỏ như vẹt, có 8 chân. Nhiều loài cá lớn, nửa thân nhô lên mặt nước trông như núi. Cứ mỗi tháng 5 tháng 6 âm lịch, khí độc lưu hành, dân lại dùng lợn trắng, bò trắng, dê trắng để tế lễ ngoài cửa Tây thành, nếu không làm vậy thì ngũ cốc không chín, sáu loại gia súc chết nhiều, dân chúng bệnh dịch. Gần kinh đô có núi Lăng Già Bát Bà (陵伽缽婆山), trên có thần từ, thường dùng 5.000 binh sĩ canh giữ. Phía Đông thành có vị thần tên Bà Đa Lợi (婆多利), tế lễ dùng thịt người. Vua nước này hằng năm đều giết người để tế lễ cầu khẩn vào ban đêm. Cũng có 1.000 người canh giữ, việc kính quỷ thần là như vậy. Phần lớn phụng thờ Phật pháp, đặc biệt tin theo đạo sĩ, Phật và đạo sĩ thảy đều lập tượng trong quán. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], sai sứ vào cống hiến, Hoàng đế tiếp đãi rất hậu, sau đó thì đứt đoạn."
===THỜI ĐƯỜNG===
'''CAO TỔ (唐高祖)'''
'''Năm Vũ Đức (武德) [618–626], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Chân Lạp (真臘) còn gọi là Cát Miệt (吉蔑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cách kinh sư 20.700 dặm. Phía Đông giáp Xa Cừ (車渠), phía Tây thuộc Phiêu (驃), phía Nam sát biển, phía Bắc tiếp giáp Đạo Minh (道明), phía Đông Bắc giáp Hoan Châu (驩州). Vua là Sát Lợi Y Kim Na (剎利伊金那), đầu năm Trinh Quán (貞觀) [năm 627] thôn tính Phù Nam (扶南), chiếm đất ấy. Nhà cửa đều quay hướng Đông, khi ngồi thì ngồi phía trên. Khi khách phương Đông tới, họ nghiền trầu cau, long não, hương cáp để mời. Không uống rượu, coi rượu như dâm uế, chỉ cùng vợ uống trong phòng riêng, tránh mặt tôn trưởng. Có 5.000 chiến tượng, những con tốt được cho ăn thịt. Đời đời giao hảo với Tham Bán (參半) và Phiêu (驃). Thường đánh nhau với Hoàn Vương (環王) và Càn Đà Hoàn (乾陀洹). Từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) [618–700], phàm 4 lần vào triều."
Theo Triều dã thiêm tái (朝野僉載): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Hoan Châu (驩州) 500 dặm. Tục lệ khi có khách thì bày trầu cau, long não, hộp hương nghiền... để thết đãi, coi rượu như thứ dâm uế. Trong phòng riêng thì cùng vợ uống, nhưng đối với bậc bề trên thì lánh đi. Lại nữa, vợ chồng ngủ không cho người khác thấy. Tục này giống với Trung Quốc. Người trong nước không mặc quần áo, thấy ai mặc quần áo thì cùng cười nhạo. Tục không có muối sắt, dùng nỏ tre bắn sâu bọ chim chóc."
'''ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG (元宗/玄宗)'''
'''Năm Khai Nguyên (開元) [713–741], Chân Lạp (真臘) chia làm hai nước Nam Bắc là Thủy và Lục. Vương tử Lục Chân Lạp (陸真臘) dẫn thuộc hạ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Huyền Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Sau năm Thần Long (神龍) [năm 707], chia làm hai nửa: Phía Bắc nhiều đồi núi, gọi là nửa Lục Chân Lạp (陸真臘); phía Nam sát biển, nhiều đầm hồ, gọi là nửa Thủy Chân Lạp (水真臘). Thủy Chân Lạp (水真臘) đất rộng 800 dặm, vua cư ngụ tại thành Bà La Đề Bạt (婆羅提拔城). Lục Chân Lạp (陸真臘) còn gọi là Văn Đan (文單), gọi là Bà Lậu (婆鏤), đất rộng 700 dặm, tước hiệu vua là Khuất (屈). Thời Khai Nguyên (開元) và Thiên Bảo (天寶) [713–756], vương tử dẫn 26 người thuộc hạ vào triều, được bái làm Quả nghị đô úy."
'''ĐƯỜNG ĐẠI TÔNG (代宗)'''
'''Năm Đại Lịch (大曆) thứ 14 [năm 779], Phó vương Lục Chân Lạp (陸真臘) là Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Đại Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Khoảng năm Đại Lịch (大曆), Phó vương Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều, dâng 11 con voi thuần. Thăng chức Bà Di (婆彌) làm Thử Điện trung giám, ban tên là Tân Hán (賓漢). Lúc ấy Đức Tông (德宗) mới lên ngôi, tất cả chim quý thú lạ thảy đều thả đi. Những con voi thuần do quân Man Di hiến tặng nuôi trong ngự uyển, phàm có 32 con thường sung vào sân chầu ngày Nguyên hội, thảy đều thả về phía Nam núi Kinh Sơn (荊山)."
'''ĐƯỜNG HIẾN TÔNG (憲宗)'''
'''Năm Nguyên Hòa (元和) [806–820], Thủy Chân Lạp (水真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Đường thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Khoảng năm Nguyên Hòa (元和), Thủy Chân Lạp (水真臘) cũng sai sứ vào cống."
===Tống===
'''TỐNG HUY TÔNG NĂM CHÍNH HÒA THỨ 6, MÙA ĐÔNG THÁNG 12, NƯỚC CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ: (Nội dung như trên). Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Nước này ở phía Nam Chiêm Thành (占城), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam đến Gia La Hy (加羅希). Phong tục các huyện trấn giống với Chiêm Thành (占城). Đất đai rộng hơn 7.000 dặm, có đài đồng, liệt kê 24 tháp đồng, 8 voi đồng để trấn giữ phía trên, mỗi con voi nặng 4.000 cân. Nước này có gần 200.000 chiến tượng, ngựa nhiều nhưng nhỏ. Tháng 12 âm lịch năm Chính Hòa (政和) thứ 6 [năm 1116], sai Tiến tấu sứ Phụng hóa lang tướng Khâu Ma Tăng Ca (鳩摩僧哥), Phó sứ An hóa lang tướng Ma Quân Minh Khê (摩君明稽) cùng 14 người đến cống, được ban cho triều phục. Tăng Ca (僧哥) nói: 'Nước xa vạn dặm, ngưỡng trông thánh hóa, mà vẫn còn mặc y phục cỏ cây (hủy phục), chưa xứng với lòng thành hướng mộ thiết tha, nguyện xin được phép mặc đồ đã ban'. Chiếu chỉ chấp thuận, đồng thời đem việc đó giao cho Sử quán, ghi vào sách lược. Tháng 3 âm lịch năm sau [năm 1117], đoàn sứ giả từ biệt ra về."
'''Năm Tuyên Hòa thứ 2, tháng 12 [năm 1120], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ và Chân Lạp bản truyền: "Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 2 [năm 1120], lại sai Lang tướng Ma Lạp (摩臘), Ma Đột Phòng (摩禿防) đến triều kiến, phong cho vua nước ấy ngang hàng với Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Kiến Viêm thứ 2 [năm 1128], thời Cao Tông, gia phong tước hiệu và thực ấp cho vua Chân Lạp, định làm thường chế.'''
Theo Tống sử (宋史) - Cao Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyền: "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 2 [năm 1128], nhân ơn tế Giao, trao cho vua nước ấy là Kim Bâu Tân Thâm (金裒賓深) chức Kiểm hiệu Tư đồ, thêm thực ấp, từ đó định làm thường chế."
'''Năm Khánh Nguyên thứ 6 [năm 1200], thời Ninh Tông, ấp thuộc của Chân Lạp là Chân Lý Phú dâng biểu cống phương vật.'''
Theo Tống sử (宋史) - Ninh Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyền: "Ấp thuộc của Chân Lạp (真臘) có Chân Lý Phú (真里富), ở góc Tây Nam, phía Đông Nam giáp Ba Tư Lan (波斯蘭), phía Tây Nam làm láng giềng với Đăng Lưu Mi (登流眉), bộ tộc quản lý hơn 60 tụ lạc." Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 [năm 1200], chúa nước ấy đã lập được 20 năm, sai sứ dâng biểu cống phương vật và 2 con voi thuần. Chiếu chỉ ưu ái ban thưởng đáp lễ, nhưng vì đường biển xa xôi, nên từ sau không cần vào cống nữa.
===Minh===
'''MINH THÁI TỔ NĂM HỒNG VŨ THỨ 4, CHÂN LẠP SAI SỨ TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyền: "Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 3 ngày đêm có thể đến. Các triều Tùy, Đường và Tống đều triều cống. Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元) nhà Tống, Chân Lạp diệt Chiêm Thành (占城) mà gộp đất ấy lại, vì vậy đổi quốc hiệu thành Chiêm Lạp (占臘). Thời Nguyên (元), vẫn gọi là Chân Lạp (真臘). Tháng 8 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], sai sứ thần Quách Trưng (郭徵) mang chiếu thư đi vỗ về nước đó. Tháng 11 âm lịch năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Ba Sơn Vương Hốt Nhi Na (巴山王忽兒那) sai sứ dâng biểu cống phương vật, chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372]. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu, sứ giả cũng được ban thưởng có sai biệt."
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Chân Lạp (真臘), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam liền Gia La Hy (加囉希), phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城). Nước này vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Vua họ Sát Lợi (剎利), người tên Chất Đa Tư Na (質多斯那) bắt đầu thôn tính Phù Nam (扶南) mà chiếm đất. Năm Đại Nghiệp (大業) nhà Tùy bắt đầu thông sứ Trung Quốc. Nhà Đường từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) phàm 4 lần vào triều. Sau năm Thần Long (神龍), nước chia làm hai. Phía Nam gần biển, nhiều đầm lầy, là Thủy Chân Lạp (水真臘); phía Bắc nhiều đồi núi, là Lục Chân Lạp (陸真臘). Sau lại hợp lại làm một. Thời Chính Hòa (政和) nhà Tống, sai sứ đến cống. Đầu năm Tuyên Hòa (宣和), phong làm Chân Lạp quốc vương (真臘國王), ngang với Chiêm Thành (占城). Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元), người trong nước dấy binh lớn đánh Chiêm Thành (占城), phá được, lập người Chân Lạp (真臘) làm vua Chiêm Thành (占城). Vì vậy lúc bấy giờ Chiêm Thành (占城) cũng là thuộc quốc. Các thuộc quốc còn có Tham Bán (參半), Chân Lý (真里), Đăng Lưu Mi (登流眉), Bồ Cam (蒲甘)... thống lĩnh hơn 60 tụ lạc, đất đai hơn 7.000 dặm. Đầu triều ta năm Hồng Vũ (洪武), quốc vương Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử là Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật, từ đó triều cống không dứt."
Theo Hoàn vũ ký (寰宇記): "Tục nước Chân Lạp (真臘) mở cửa hướng về phía Đông, lấy hướng Đông làm trọng, nam nữ thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài. Tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi, coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn."
Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Đất Chân Lạp (真臘) màu mỡ, ruộng không có bờ giới, tầm mắt nhìn đến đâu thì cày cấy đến đó."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Nước Chân Lạp (真臘) có thành chu vi hơn 70 dặm, điện đài hơn 30 tòa, khá là tráng lệ. Đồ dùng của vua và quý tộc đa số trang trí bằng vàng ngọc. Tục chuộng hoa lệ xa xỉ, điền sản phong phú, nam nữ búi tóc hình dùi. Con gái đủ 10 tuổi thì gả chồng. Lấy gấm quấn thân, mày và trán bôi đỏ. Tục ngữ nói 'Phú quý Chân Lạp', chính là thế này vậy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Đầu năm Hồng Vũ (洪武), vua Chân Lạp (真臘) là Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật: voi, ngà voi, tô mộc, hồ tiêu, sáp vàng, sừng tê, ô mộc, hoàng hoa mộc thổ, giáng hương, bảo thạch, lông công. Sứ giả khi về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp (真臘) vào cống."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], ban cho quốc vương lịch Đại Thống (大統曆) và gấm vóc màu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Vua nước ấy là Tham Đáp Cam Vũ Giả Đặc Đạt Chí (參荅甘武者特達志) sai sứ đến cống, yến tiệc ban thưởng như trước."
'''Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền (Nội dung như trên).
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua Chân Lạp, đồng thời ban cho gấm vàng và đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua nước ấy. Phàm sứ Trung Quốc đến mà Khám hợp không khớp thì đều là giả mạo, cho phép bắt trói báo cáo. Lại sai sứ ban cho 32 xấp gấm dệt kim, 19.000 món đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ đến cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn sang ban đồ sứ cho nước Chân Lạp.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn (劉敏), Đường Kính (唐敬) cùng Trung quan mang đồ sứ sang ban tặng."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], bọn Đường Kính (唐敬) về nước, vua nước ấy sai sứ cống 59 con voi, 60.000 cân hương. Chẳng bao lâu sai sứ ban cho vua ấn bạc mạ vàng, vua và phi đều được ban thưởng. Vua là Tham Liệt Bảo Tì Da Cam Bồ Giả (參烈寶毗邪甘菩者) sai sứ cống voi và phương vật."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 7 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], Hành nhân Đường Kính (唐敬) từ Chân Lạp (真臘) về, vua nước ấy sai sứ cống 50 con voi, 60.000 cân hương, từ đó triều cống không dứt."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 [năm 1388], lại cống 28 con voi, 34 quản tượng, 45 nô tỳ phiên, để tạ ơn ban ấn."
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Chân Lạp 3 lần vào cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Chân Lạp lại vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu ở trên).
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, SAI SỨ TUYÊN DỤ NƯỚC ẤY'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai Hành nhân Tưởng Tân Hưng (蔣賓興), Vương Khuê (王樞) mang chiếu thư lên ngôi đến tuyên dụ nước ấy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai sứ đến Chân Lạp (真臘), ban chiếu dụ việc lên ngôi. Đến nước ấy thấy khí hậu thường nóng, lúa ruộng chín quanh năm, nấu nước biển làm muối. Phong tục giàu có, nam nữ búi tóc hình dùi (chuỳ kế), mặc áo ngắn, quấn vải sao (tiêu bố), không còn ở trần nữa. Các nước thuộc quốc của họ vẫn có người ở trần, thấy ai mặc quần áo thì người ta lại cười nhạo. Pháp luật có các hình phạt xẻo mũi (tị), chặt chân (nguyệt), xăm chữ vào mặt (thứ), đày đi xa (phối). Phạm tội trộm cắp thì chặt tay chân. Dân nước ấy giết người Trung Quốc thì phải đền mạng. Người Trung Quốc giết dân nước ấy thì phạt tiền vàng. Không có tiền thì bán thân chuộc tội."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 2 [năm 1404], Chân Lạp sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước ấy là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), có 3 người lính bộ tốt trốn đi, tìm không được, nhà vua lấy 3 người nước mình để thay thế. Đến nay đưa vào yết kiến, Hoàng đế phán: 'Người Hoa tự bỏ trốn sang đó, can dự gì đến họ mà trách phạt đòi bồi thường? Vả lại ngôn ngữ không thông, phong thổ không quen, ta dùng họ làm gì?'. Mệnh ban cho quần áo và chi phí đi đường, rồi cho về."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua Chân Lạp (真臘) là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai bồi thần là Nại Chức (奈職) cùng 9 người triều cống phương vật, ban thưởng tiền giấy và vải vóc. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), lúc sắp về có 3 người lính đi theo bỏ trốn, tìm không được, quốc vương lấy 3 người trong nước theo Trung quan về để bổ sung vào hàng ngũ. Đến nay, Lễ bộ (禮部) đưa vào yết kiến, Thượng (Hoàng đế) phán: 'Người Trung Quốc tự bỏ trốn, can hệ gì đến việc của họ mà bắt đền? Vả lại có được 3 người này thì ngôn ngữ không thông, phong tục chẳng hiểu, ta dùng làm gì? Huống hồ họ đều có gia đình, lẽ nào vui vẻ ở lại đây? Ngươi hãy bảo Lễ bộ (禮部) cấp cho cơm áo, chi phí đi đường, cho họ về Chân Lạp (真臘)'. Thượng thư Lý Chí Cương (李至剛) cùng những người khác thưa: 'Thần trộm nghĩ người Trung Quốc tất không phải tự trốn ở đó, hoặc giả là bị họ giấu đi, thì 3 người này cũng không nên cho về'. Thượng phán: 'Làm vua không nên dùng lòng nghi kỵ để đối đãi người, chỉ cần suy rộng lòng của trời đất để đối đãi với người là được'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến phúng viếng tang lễ quốc vương Chân Lạp. Lại ban chiếu phong Thế tử lên làm vương. Liền đó sai sứ đến tạ ơn.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến cống, báo tang cố vương, mệnh cho Hồng lô tự Tự ban Vương Tư (王孜) đến tế lễ, Cấp sự trung Tất Tiến (畢進), Trung quan Vương Tông (王琮) mang chiếu thư phong Thế tử là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương. Khi bọn Tất Tiến (進) trở về, tân vương sai sứ cùng đi theo đến tạ ơn."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) mất, mệnh Tự ban Vương Tư (王孜) sang tế, phong con trưởng là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương, ban cho gấm lụa màu và các vật phẩm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 12 [năm 1414], Chân Lạp lại vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 [năm 1414] lại vào cống, sứ giả lấy cớ nước mình nhiều lần bị Chiêm Thành (占城) xâm nhiễu nên ở lại lâu không đi. Hoàng đế sai Trung quan tiễn về, đồng thời hạ sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城) bãi binh tu hảo."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) sai sứ dâng biểu văn khắc trên vàng (kim lũ biểu văn), cống voi thuần và phương vật."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 3, CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
'''[Năm 1452]'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Trong những năm Tuyên Đức (宣德) [1426–1435] và Cảnh Thái (景泰) [1450–1456] cũng sai sứ vào cống, về sau không đến thường xuyên. Kinh thành nước ấy chu vi hơn 70 dặm, bờ cõi rộng mấy ngàn dặm. Trong nước có tháp vàng cầu vàng, điện đài hơn 30 tòa. Vua mỗi năm hội họp một lần, la liệt khỉ ngọc, công, voi trắng, tê ngưu ở phía trước, gọi là Bách Tháp Châu (百塔洲). Dùng mâm vàng bát vàng để đựng đồ ăn, nên có câu tục ngữ 'Phú quý Chân Lạp'. Dân tục giàu có, tiết trời thường nóng, không biết sương tuyết. Lúa một năm chín mấy vụ, nam nữ búi tóc hình dùi, mặc áo ngắn, quấn vải tiêu. Hình pháp có xẻo mũi, chặt chân, xăm chữ, đày đi; trộm cắp thì bỏ tay chân. Người phiên giết người Đường (Đường nhân) thì tội chết. Người Đường giết người phiên thì phạt tiền vàng, không tiền thì bán thân chuộc tội. 'Đường nhân' (唐人) là cách các nước phiên gọi người Hoa vậy, các nước hải ngoại thảy đều như thế. Việc cưới xin, hai nhà thảy đều 8 ngày không ra khỏi cửa, đốt đèn đêm ngày. Người chết thì bỏ ra đồng, mặc cho diều quạ ăn, trong chốc lát mà ăn hết sạch thì gọi là được phúc báo. Có tang thì chỉ cạo trọc đầu. Con gái thì cắt tóc trên trán to bằng đồng tiền, nói rằng 'dùng việc này để báo đáp cha mẹ'. Chữ viết dùng các loại da hoẵng da hươu nhuộm đen, dùng bột làm thỏi nhỏ để vẽ lên trên, vĩnh viễn không phai. Lấy tháng 10 âm lịch làm đầu năm, tháng nhuận thảy đều dùng tháng 9 âm lịch, đêm chia làm 4 canh. Cũng có người am hiểu thiên văn, có thể tính toán nhật thực nguyệt thực tại địa phương đó. Gọi nhà Nho là 'Ban cật' (班詰), tăng là 'Trữ cô' (苧姑), đạo là 'Bát tư' (八思). Ban cật không biết đọc sách gì, ai do đường này vào làm quan thì được coi là hiển đạt (hoa quán). Trước khi sang trọng thì đeo một sợi chỉ trắng ở cổ để tự phân biệt, khi đã quý hiển rồi vẫn kéo sợi chỉ trắng như cũ. Tục chuộng đạo Phật, sư đều ăn cá thịt, hoặc dùng để cúng Phật, duy chỉ không uống rượu. Nước ấy tự xưng là 'Cam Bột Trí' (甘孛智), sau gọi chệch thành 'Cam Phá Giá' (甘破蔗). Sau đời Vạn Lịch (萬曆) lại đổi thành 'Đông Phố Trại' (東埔寨 - Campuchia)."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 [năm 1452], ban cho vua Chân Lạp (真臘) 2 đoạn gấm, 6 xấp lụa trừu (trữ ti), 4 xấp sa, 4 xấp la; ban cho Vương phi 4 xấp lụa trừu, 3 xấp sa, 3 xấp la. Các đầu mục cùng Tổng quản thông sự, Hỏa trưởng đi theo được ban quần áo, lụa trừu, quyến, vải có sai biệt, ban yến tiệc 1 lần. Sứ thần khi về đến Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) được quản đãi 1 lần, cấp lộ phí (hạ trình) 1 lần cho 10 ngày. Cứ mỗi 10 người thì cấp 2 con dê, ngỗng, gà; 20 bình rượu, 1 đấu gạo, 5 đấu mì, rau xanh và gia vị..."
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 2 (真臘部彙考二)==
=== 《Chân Lạp phong thổ ký》 (真臘風土記) ===
'''Tổng tự (總敘)'''
Nước Chân Lạp (真臘), hoặc gọi là Chiêm Lạp (占臘), nước ấy tự xưng là "Cam Bột Trí" (甘孛智). Nay Thánh triều dựa theo Tây Phiên kinh (西蕃經), đặt tên nước ấy là "Gạm Phổ Chỉ" (澉浦只), đó cũng là âm cận với Cam Bột Trí (甘孛智) vậy. Từ Ôn Châu (溫州) ra khơi, theo kim chỉ hướng Đinh Mùi, đi qua các cảng khẩu thuộc các châu ngoài khơi của Mân (閩 - Phúc Kiến), Quảng (廣 - Quảng Đông), vượt biển Thất Châu (七洲洋), qua biển Giao Chỉ (交趾洋) đến Chiêm Thành (占城). Lại từ Chiêm Thành (占城) thuận gió mất khoảng nửa tháng thì đến Chân Bồ (真蒲), ấy là biên cảnh của nước này. Lại từ Chân Bồ (真蒲) hành trình theo kim chỉ hướng Khôn Thân, qua biển Côn Lôn (崑崙洋) vào cửa sông. Cửa sông có đến mấy chục, chỉ có cửa sông thứ 4 là có thể vào được, còn lại thảy đều cát nông, nên thuyền lớn không thông. Tuy nhiên nhìn khắp nơi chỉ thấy mây ngàn cây cổ, cát vàng lau trắng, lúc vội vã không dễ nhận ra, vì thế người đi thuyền coi việc tìm cửa sông là việc khó. Từ cửa sông đi về hướng Bắc, thuận dòng mất khoảng nửa tháng thì tới địa danh là Tra Nam (查南), ấy là một quận thuộc nước này. Lại từ Tra Nam (查南) đổi sang thuyền nhỏ, thuận dòng hơn 10 ngày, đi qua làng Bán Lộ (半路村), làng Phật (佛村), vượt hồ Đạm Dương (淡洋), có thể đến nơi gọi là Can Báng (干傍), cách thành 50 dặm.
Theo Chư phiên chí (諸蕃志) chép rằng: "Đất ấy rộng 7.000 dặm, phía Bắc nước này đến Chiêm Thành (占城) mất nửa tháng đường, phía Tây Nam cách Xiêm La (暹羅) nửa tháng hành trình, phía Nam cách Phiên Ngung (番禺) 10 ngày hành trình, phía Đông là biển lớn vậy". Xưa kia đây là nước thông thương qua lại, Thánh triều nay nhận mệnh trời, thống lĩnh bốn biển. Khi Toa Đô (唆都) Nguyên soái đặt hành tỉnh ở Chiêm Thành (占城), từng sai một Hổ phù Bách hộ, một Kim bài Thiên hộ cùng đến nước này, rốt cuộc bị bắt giữ không cho về. Tháng 6 âm lịch năm Ất Vị thời Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], Thiên tử sai sứ chiêu dụ, ta đi theo đoàn. Tháng 2 âm lịch năm sau [năm 1296] rời Minh Châu (明州), ngày 20 ra khơi từ cửa biển Ôn Châu (溫州), ngày 15 tháng 3 âm lịch đến Chiêm Thành (占城), giữa đường gió ngược không thuận, tháng 7 âm lịch mới tới nơi. Tháng 6 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức (大德) [năm 1297] quay thuyền về, ngày 12 tháng 8 âm lịch đến bến thuyền Tứ Minh (四明). Những chi tiết về phong thổ, quốc sự nước ấy, tuy không thể biết hết, nhưng đại lược cũng có thể thấy được vậy.
'''Thành quách (城郭)'''
Thành của châu vi chu vi khoảng 20 dặm, có 5 cửa, cửa đều có hai tầng, duy chỉ hướng Đông mở 2 cửa, các hướng còn lại đều 1 cửa. Bên ngoài thành có hào lớn, ngoài hào đều là đường cái và cầu lớn, hai bên cầu mỗi bên có 54 pho tượng thần bằng đá, hình dáng như Thạch tướng quân, rất lớn và dữ tợn, 5 cửa đều tương tự như nhau. Lan can cầu đều làm bằng đá, đục theo hình rắn, rắn đều có 9 đầu, 54 vị thần đều dùng tay kéo rắn, có thế như không cho rắn chạy thoát. Phía trên cửa thành có 5 đầu Phật bằng đá lớn, mặt hướng về phía Tây, chính giữa đặt một đầu trang trí bằng vàng. Hai bên cửa thành đục đá thành hình voi. Thành đều xếp đá mà thành, cao khoảng 2 trượng (khoảng 6.6 mét), đá rất khít và kiên cố, lại không mọc cỏ dại, nhưng không có nữ tường (tường thấp trên mặt thành). Trên thành đôi khi trồng cây quặng lang (cây thốt nốt), rải rác là các dãy nhà trống, phía trong thành như một cái dốc, dày khoảng hơn 10 trượng. Trên dốc đều có cửa lớn, đêm đóng sáng mở. Cũng có người canh cửa, riêng chó không được vào cửa. Thành ấy rất vuông vức, bốn góc mỗi góc có một tháp đá, người từng chịu hình phạt chặt ngón chân cũng không được vào cửa.
Ngay giữa nước có một tháp vàng, bên cạnh có hơn 20 tháp đá, hơn 100 gian nhà đá, hướng về phía Đông có một cây cầu vàng, 2 con sư tử vàng đặt ở tả hữu cầu, 8 pho tượng Phật vàng đặt dưới nhà đá. Phía Bắc tháp vàng khoảng hơn 1 dặm có một tháp đồng, cao hơn tháp vàng, nhìn xa thấy sừng sững. Dưới tháp cũng có mười mấy gian nhà đá. Lại phía Bắc tháp ấy 1 dặm là cung thất của quốc chủ, trong phòng ngủ lại có một tháp vàng nữa. Vì thế khách buôn trên thuyền từ xưa đã có lời khen "Phú quý Chân Lạp", tưởng là vì lẽ này. Tháp đá ở ngoài cửa Nam hơn nửa dặm, tục truyền do Lỗ Ban (魯般) xây xong trong một đêm. Mộ Lỗ Ban (魯般) ở ngoài cửa Nam khoảng hơn 1 dặm, chu vi khoảng 10 dặm, có hàng trăm gian nhà đá. Hồ Đông (Đông Trì) cách thành 10 dặm về phía Đông, chu vi khoảng 100 dặm, trong hồ có tháp đá nhà đá, trong tháp có một pho tượng Phật đồng nằm, từ rốn thường có nước chảy ra. Hồ Bắc (Bắc Trì) cách thành 5 dặm về phía Bắc, trong hồ có một tháp vàng vuông, mấy chục gian nhà đá, sư tử vàng, Phật vàng, voi đồng, bò đồng, ngựa đồng đều có đủ.
'''Cung thất (宮室)'''
Cung điện và dinh thự quan lại đều hướng về phía Đông. Quốc cung ở phía Bắc tháp vàng cầu vàng, gần cửa chu vi khoảng 5 đến 6 dặm. Ngói của chính thất làm bằng chì, còn lại đều là ngói đất màu vàng. Cột cầu rất lớn, đều chạm vẽ hình Phật. Mái nhà tráng lệ, hành lang dài bao quanh, cao thấp so le, khá có quy mô. Nơi làm việc có cửa sổ vàng, cột vuông hai bên, trên có gương, ước chừng 40 đến 50 chiếc đặt bên cạnh cửa sổ. Phía dưới làm hình voi, nghe nói bên trong có nhiều nơi kỳ lạ, canh phòng rất nghiêm, không thể nhìn thấy được. Trong tháp vàng bên nội cung, quốc chủ đêm nằm trên đó, người bản địa đều nói trong tháp có tinh rắn 9 đầu, là chủ đất của một nước, thân là nữ, mỗi đêm đều hiện ra gặp quốc chủ, vua phải cùng ngủ giao cấu trước, dù là vợ vua cũng không dám vào. Đến canh hai vua mới ra, bấy giờ mới có thể ngủ cùng vợ thiếp. Nếu tinh này một đêm không hiện ra thì ngày chết của vương phiên đã đến. Nếu vương phiên một đêm không tới thì tất sẽ gặp tai họa. Kế đến như dinh thự của quốc thích, đại thần, chế độ rộng lớn, khác hẳn nhà thường dân. Xung quanh đều lợp bằng cỏ, duy chỉ có gia miếu và chính tẩm (phòng ngủ chính) là 2 nơi được dùng ngói, cũng tùy theo đẳng cấp chức quan mà định chế độ nhà rộng hẹp khác nhau. Phía dưới như nhà của bách tính, chỉ lợp cỏ, không dám dùng dù chỉ một mảnh ngói trên mái, rộng hẹp tuy tùy vào sự nghèo giàu của gia đình, nhưng tuyệt nhiên không dám bắt chước chế độ của phủ đệ.
'''Phục sức (服飾)'''
Từ quốc chủ trở xuống nam nữ đều búi tóc hình dùi, để trần thân trên, chỉ lấy vải quấn ngang hông, khi ra ngoài thì thêm một dải vải lớn quấn lên trên lớp vải nhỏ. Vải có phân đẳng cấp rõ rệt, vải của quốc chủ quấn có giá trị 3 đến 4 lạng vàng, cực kỳ hoa lệ tinh mỹ. Trong nước tuy tự dệt vải, nhưng người Xiêm La (暹羅) và Chiêm Thành (占城) đều mang vải đến bán, thường lấy vải từ Tây Dương (西洋) làm hạng thượng đẳng vì tinh xảo và hoa văn nhỏ, vì thế chỉ riêng quốc chủ mới được quấn vải hoa thuần chất. Trên đầu đội mũ vương miện vàng, như loại mũ trên đầu các vị Kim Cang vậy. Hoặc có lúc không đội mũ, chỉ lấy dây xâu hoa thơm như hoa nhài quấn quanh búi tóc. Trên đỉnh đầu đội khối trân châu lớn nặng khoảng 3 cân, tay chân và các ngón tay đều đeo vòng vàng, nhẫn đều khảm đá mắt mèo. Phía dưới đi chân đất, lòng bàn chân và lòng bàn tay đều dùng thuốc hồng nhuộm đỏ, khi ra ngoài tay cầm gươm vàng. Trong dân gian chỉ phụ nữ mới được nhuộm lòng bàn tay chân, đàn ông không dám vậy. Đại thần quốc thích có thể quấn vải hoa thưa, chỉ người trong cung mới được quấn vải hoa hai đầu, phụ nữ trong dân gian cũng có thể quấn loại này. Nếu là người Đường mới đến (tân Đường nhân) dù có quấn vải hoa hai đầu, người ta cũng không dám trách tội, vì họ "ám đinh bát sát" vậy. "Ám đinh bát sát" nghĩa là không biết thể lệ, quy tắc vậy. (Ghi chú: Trên đỉnh đầu đội trân châu nặng khoảng 3 cân, chữ "cân" này có vẻ nhầm lẫn nhưng chuyện ngoại quốc cũng không thể dùng lý thường mà đoán định, tạm theo nguyên bản).
'''QUAN THUỘC (官屬)'''
Trong nước cũng có các quan Thừa tướng, Tướng soái, Tư thiên, bên dưới mỗi quan lại đặt các thuộc viên Tư lại, chỉ là danh xưng khác biệt mà thôi. Đại để các chức ấy đều do quốc thích nắm giữ, nếu không thì cũng là người có con gái nạp làm phi tần. Nghi thức và đoàn tùy tùng khi ra ngoài cũng có đẳng cấp. Dùng kiệu vàng có 4 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhất; kiệu vàng 2 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhì; kiệu vàng 1 người khiêng và lọng cán vàng là hạng kế tiếp; chỉ dùng 1 lọng cán vàng lại là hạng sau đó nữa. Kẻ cấp thấp hơn nữa thì chỉ dùng 1 lọng cán bạc mà thôi, cũng có người dùng kiệu có đòn khiêng bằng bạc. Các quan từ cấp lọng cán vàng trở lên đều gọi là "Bả đinh" (把丁), hoặc gọi là "Ám đinh" (暗丁). Người dùng lọng cán bạc thì gọi là "Sư lạt đích tản" (廝辣的傘). Lọng đều dùng lụa đỏ của Trung Quốc mà làm, dải rủ xuống kéo dài chạm đất. Ô che dầu thì đều dùng lụa xanh, dải rủ lại ngắn.
''' TAM GIÁO (三教)'''
Bậc học giả (Nho) gọi là Ban cật (班詰), bậc đi tu (Sư) gọi là Trữ cô (苧姑), bậc theo đạo (Đạo sĩ) gọi là Bát tư duy (八思惟). Ban cật không biết tổ sư là ai, cũng không có nơi gọi là học xá để giảng tập, cũng khó lòng tìm hiểu họ đọc sách gì, chỉ thấy ngoài việc quấn vải như người thường, họ còn treo một sợi chỉ trắng trên đỉnh đầu, lấy đó làm dấu hiệu phân biệt là Nho. Những người từ hàng Ban cật mà ra làm quan thì được coi là bậc cao sang. Sợi chỉ trên cổ ấy suốt đời không bỏ.
Trữ cô thì cạo tóc mặc áo vàng, để hở vai phải, phía dưới thắt váy vải vàng. Đi chân đất. Chùa cũng được phép dùng ngói lợp. Chính giữa chỉ thờ một pho tượng, hình dáng giống hệt Thích Ca Phật, gọi là Bột lại (孛賴), mặc áo đỏ nặn bằng bùn, trang trí màu sắc, ngoài ra không có tượng nào khác. Phật trong tháp thì tướng mạo lại khác, đều đúc bằng đồng, không có chuông trống, não bạt hay tràng phan bảo cái. Tăng sĩ đều ăn cá thịt, chỉ là không uống rượu, cúng Phật cũng dùng cá thịt. Mỗi ngày dùng một bữa chay, đều lấy từ nhà thí chủ. Trong chùa không đặt bếp núc. Kinh văn tụng đọc rất nhiều, đều chép trên lá bối (bối diệp) xếp lại cực kỳ chỉnh tề, trên đó viết chữ đen, đã không dùng bút mực thì chẳng rõ họ dùng vật gì để viết. Tăng sĩ cũng dùng kiệu và lọng có cán vàng, bạc. Khi quốc vương có đại chính sự cũng thường tìm đến hỏi ý kiến, nhưng ở đây không có ni cô.
Bát tư duy cũng như người thường, ngoài việc quấn vải thì trên đầu đội một miếng vải đỏ hoặc trắng, giống như mũ Cố cô (罟姑) của người đàn bà Đạt Đát (韃靼) nhưng hơi thấp hơn. Cũng có cung quán (nơi tu hành), nhưng so với chùa chiền thì hẹp hơn, mà Đạo giáo cũng không hưng thịnh bằng Phật giáo. Nơi thờ phụng không có tượng gì khác, chỉ có một khối đá, như đá trong đàn xã tắc của Trung Quốc, cũng không rõ tổ sư là ai. Lại có cả cung quán cho nữ đạo sĩ. Bát tư duy cũng được dùng ngói lợp. Họ không ăn đồ của người khác nấu, cũng không cho người khác thấy mình ăn, không uống rượu, cũng chưa từng thấy họ tụng kinh hay làm các việc công quả cho người. Theo tục lệ, trẻ con đi học đều trước hết đến nhà chùa để học tập với tăng sĩ, khi lớn lên mới hoàn tục, chi tiết cụ thể không thể khảo chứng rõ được.
'''NHÂN VẬT (人物)'''
Người ta chỉ biết nhân vật vùng Man tục thô xấu và rất đen, nhưng không biết rằng những người ở hải đảo u tịch hay ngõ phố tầm thường mới đúng là như vậy. Còn như cung nhân và phụ nữ ở Nam Bằng (南棚), nhiều người trắng trẻo như ngọc, ấy là vì không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vậy. Đại để ngoài một mảnh vải quấn ngang hông, bất luận nam nữ đều để lộ ngực, búi tóc hình dùi, đi chân đất, ngay cả vợ quốc vương cũng chỉ như thế. Quốc vương có tất cả 5 người vợ, 1 người ở chính thất, 4 người ở bốn phương. Phía dưới là phi tần và tỳ thiếp, nghe đâu có từ 3.000 đến 5.000 người, cũng phân chia đẳng cấp, không mấy khi ra khỏi cửa.
Mỗi khi ta vào nội cung, thấy phiên chủ tất cùng ra với chính thê, ngồi trong cửa sổ vàng nơi chính thất, các cung nhân đều thứ tự đứng liệt dưới cửa sổ hai bên hành lang, đứng tựa mà nhìn trộm, ta có dịp được thấy hết một lượt. Hễ nhà dân có con gái đẹp đều bị triệu vào cung. Những người phục dịch việc đi lại bên dưới gọi là "Trần gia lan" (陳家蘭), cũng không dưới 1.000 đến 2.000 người. Họ đều có chồng, sống lẫn lộn trong dân gian, chỉ ở trước thóp đầu thì cạo tóc, bôi phấn hồng (ngân chu) và bôi ở hai bên thái dương để làm dấu hiệu phân biệt là Trần gia lan. Chỉ hạng phụ nữ này mới được vào nội cung, hạng người khác bên dưới không được vào. Trước sau nội cung, hạng người này đi lại nườm nượp trên đường. Phụ nữ tầm thường ngoài việc búi tóc hình dùi ra không có đồ trang sức trâm lược nào khác, nhưng trên cánh tay đeo vòng vàng, ngón tay đeo nhẫn vàng; các Trần gia lan và cung nhân trong nội đình đều dùng như vậy. Nam nữ trên mình thường xức thuốc thơm, hợp thành từ hương đàn, xạ; nhà nhà đều tu sửa Phật sự. Trong nước có nhiều người lưỡng tính (nhị hình nhân), mỗi ngày từng đoàn mười mấy người đi lại giữa chợ búa, thường có ý lôi kéo người Đường (người Trung Quốc), ngược lại còn tặng quà hậu hĩnh, thật là xấu xa đáng ghét.
'''SẢN PHỤ (產婦)'''
Phụ nữ phiên sau khi sinh, liền lấy cơm nóng trộn muối xoa vào và nạp vào âm hộ, sau 1 ngày đêm thì lấy ra, nhờ đó mà trong lúc sinh không mắc bệnh, lại thu hẹp lại như người con gái còn trinh. Ta mới nghe qua thì lấy làm lạ, rất nghi ngờ không phải vậy. Sau đó nhà nơi ta tạm trú có người sinh con, mới biết rõ sự việc đó, và ngày hôm sau người ấy đã ôm đứa bé cùng ra sông tắm rửa, thật là chuyện quái lạ thấy được. Lại thường thấy người ta nói phụ nữ phiên rất dâm đãng, nếu chồng không đáp ứng được dục vọng thì liền có việc bị vợ ruồng bỏ. Nếu chồng có việc đi xa, chỉ có thể đi vài đêm. Quá 10 đêm, người vợ tất nói: "Ta không phải là ma quỷ, sao có thể ngủ cô độc?", lòng dâm đãng càng khẩn thiết. Tuy nhiên cũng nghe có người giữ tiết chí. Phụ nữ ở đây rất nhanh già. Có lẽ vì việc cưới xin sinh nở quá sớm, người 20 đến 30 tuổi đã như người 40 đến 50 tuổi ở Trung Quốc rồi.
'''THIẾU NỮ (室女)'''
Nhà dân nuôi con gái, cha mẹ tất cầu nguyện rằng: "Nguyện cho con có người muốn, sau này lấy được hàng ngàn hàng trăm người chồng". Con gái nhà giàu từ 7 tuổi đến 9 tuổi, nhà cực nghèo thì đến 11 tuổi, tất phải mời tăng sĩ hoặc đạo sĩ làm lễ phá trinh, gọi là "Trận thảm" (陣毯). Đại để quan phủ mỗi năm vào 1 ngày trong tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] sẽ ban hành lệnh, nhà dân có con gái đến tuổi Trận thảm phải báo cáo quan phủ trước. Quan phủ trước hết cấp cho 1 cây nến lớn, trên nến có khắc một vạch, ước chừng đêm đó khi trời tối thì đốt nến, khi cháy đến vạch khắc thì là lúc làm lễ Trận thảm.
Trước kỳ hạn 1 tháng, hoặc nửa tháng, hoặc 10 ngày, cha mẹ tất chọn lấy 1 tăng sĩ hoặc đạo sĩ tùy theo chùa quán nào, thường cũng có nơi quen thuộc. Các tăng sĩ tốt, bậc cao đều được các nhà quan lại giàu có chọn trước, nhà nghèo thì không kịp chọn lựa. Nhà giàu sang thì biếu tặng rượu, gạo, vải vóc, trầu cau, đồ bạc các loại, có khi đến 100 gánh, giá trị bằng 200 đến 300 lạng bạc trắng của Trung Quốc; nhà ít hơn thì 30 đến 40 gánh, hoặc 10 đến 20 gánh, tùy nhà giàu nghèo, cho nên nhà nghèo đến 11 tuổi mới làm lễ là vì khó biện được các vật phẩm này. Cũng có người bố thí tiền cho con gái nhà nghèo làm lễ Trận thảm, gọi là "làm việc thiện" (tố hảo sự).
Đại để trong 1 năm, một tăng sĩ chỉ được nhận 1 cô gái, tăng sĩ đã nhận lời rồi thì không được nhận nơi khác. Đêm đó, bày tiệc ăn uống lớn, khua trống nhạc hội họp người thân hàng xóm. Ngoài cửa dựng một cái lán cao, trang trí hình nặn người bùn, thú bùn các loại trên đó, hoặc hơn 10 cái, hoặc chỉ 3 đến 4 cái, nhà nghèo thì không có. Mỗi nhà theo tích cũ, phàm 7 ngày mới dỡ bỏ. Khi trời tối, dùng kiệu lọng trống nhạc đón tăng sĩ này về. Dùng vải màu kết thành 2 cái đình nhỏ, một cái để cô gái ngồi trong đó, một cái tăng sĩ ngồi trong đó, không rõ miệng họ nói lời gì, tiếng trống nhạc ồn ã vang trời. Đêm đó không cấm việc đi đêm.
Nghe nói đến giờ, tăng cùng con gái vào phòng, tự tay làm lễ phá trinh, rồi bỏ vào trong rượu; có người nói cha mẹ và hàng xóm đều chấm lên trán, có người nói thảy đều nếm bằng miệng, có người nói tăng cùng con gái giao cấu, có người lại nói không có việc này, nhưng họ không cho người Đường thấy nên không biết chắc được. Đến khi trời sắp sáng, lại dùng kiệu lọng trống nhạc tiễn tăng đi, sau đó phải dùng vải vóc các loại đưa cho tăng để "chuộc thân", nếu không cô gái này sẽ mãi thuộc về vị tăng đó, không thể gả cho người khác được.
Việc ta thấy tận mắt là vào đêm mùng 6 tháng 4 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức [năm 1297]. Trước đó cha mẹ tất ngủ cùng con gái, sau lễ này thì đuổi ra ngoài phòng, mặc cho đi đâu thì đi, không còn gò bó hay đề phòng gì nữa. Đến như việc cưới xin, tuy có lễ nạp tệ nhưng cũng chỉ làm sơ sài cho xong chuyện, nhiều người tư thông trước rồi mới cưới sau, phong tục ấy họ chẳng cho là nhục, cũng chẳng cho là lạ. Đêm Trận thảm, trong một ngõ có khi đến hơn 10 nhà làm lễ, trong thành người đón tăng sĩ đạo sĩ đi lại đan xen trên đường, tiếng trống nhạc không nơi nào không có.
'''NÔ TỲ (奴婢)'''
Nô tỳ trong các gia đình đều mua người dã man (dã nhân) để sung vào việc phục dịch, nhà nhiều có hơn 100 người, nhà ít cũng có 10 đến 20 người, trừ những nhà cực nghèo thì mới không có. Những người dã man này là người ở vùng núi rừng, tự có chủng loại riêng, tục gọi là "Trông" (獞). Khi bọn giặc này đến trong thành, cũng không dám ra vào nhà người khác. Người trong thành khi mắng chửi nhau, hễ gọi đối phương là "Trông" (獞) thì kẻ đó hận thấu xương tủy, sự khinh rẻ của mọi người đối với họ là như thế. Người trẻ khỏe giá 100 tấm vải, người già yếu chỉ giá 30 đến 40 tấm vải. Họ chỉ được phép ngồi nằm dưới sàn lầu. Nếu có việc sai bảo mới được lên lầu, nhưng phải quỳ gối, chắp tay, đảnh lễ rồi mới dám tiến tới. Họ gọi chủ nam là "Ba đà" (巴駝), chủ mẫu là "Mễ" (米). Đà (駝) nghĩa là cha, Mễ (米) nghĩa là mẹ. Nếu có lỗi mà bị đánh, họ cúi đầu chịu gậy, chẳng dám cử động. Nam nữ nô tỳ tự phối đôi với nhau, chủ nhân tuyệt không có lễ giao tiếp (cưới hỏi) với họ. Có người Đường (唐人) đến đó, vì xa nhà lâu ngày nên không chọn lựa mà giao cấu với họ, chủ nhân nghe thấy thì ngày hôm sau không thèm ngồi cùng chỗ, vì người đó đã từng tiếp xúc với dã nhân vậy. Nếu nô tỳ giao cấu với người ngoài đến mức có thai, sinh con, chủ nhân cũng không gặng hỏi lai lịch, vì coi họ là hạng không đáng kể (bất xỉ), lại có lợi là thêm được đứa trẻ, sau này vẫn làm nô tỳ được. Nếu có kẻ bỏ trốn mà bị bắt lại, tất sẽ bị xăm màu xanh vào mặt, hoặc đeo vòng sắt quanh cổ để khóa lại, cũng có người bị đeo vòng sắt ở cánh tay hoặc bắp chân.
'''NGÔN NGỮ (語言)'''
Ngôn ngữ trong nước tự thành hệ thống riêng, âm thanh tuy gần giống nhưng người Chiêm Thành (占城) và người Xiêm (暹人) đều không thông hiểu lời nói. Ví như 1 là "Mai", 2 là "Biệt", 3 là "Ti", 4 là "Ban", 5 là "Bột giam", 6 là "Bột giam mai", 7 là "Bột giam biệt", 8 là "Bột giam ti", 9 là "Bột giam ban", 10 là "Đáp hô". Cha gọi là "Ba đà", chú bác cũng gọi là "Ba đà". Mẹ gọi là "Mễ", cô, dì, thím, mợ cho đến bậc cao tuổi hàng xóm cũng gọi là "Mễ". Anh gọi là "Bang", chị cũng gọi là "Bang". Em gọi là "Bổ ôn". Cậu gọi là "Khiết lại", dượng (chồng của cô) cũng gọi là "Bột lại". Đại để họ đặt chữ "Dưới" lên trên (ngữ pháp ngược), như trong đảng phái thường tự sát hại lẫn nhau. Vùng đất gần đó cũng có người trồng đậu khấu, bông vải dệt vải để làm nghề nghiệp, vải rất thô dày, hoa văn rất khác biệt.
'''CHỮ VIẾT (文字)'''
Chữ viết thông thường và văn thư quan phủ đều dùng các vật như da hoẵng, da hươu nhuộm đen, tùy theo kích thước rộng hẹp mà cắt theo ý muốn. Dùng một loại phấn như đất phấn trắng (bạch oắc) của Trung Quốc, vê thành thỏi nhỏ gọi là "Sa" (梭), cầm trong tay rồi viết chữ lên da, vĩnh viễn không phai. Dùng xong thì giắt lên trên tai. Chữ viết có thể nhận ra là do ai viết, phải dùng vật ướt lau sạch mới mất đi. Đại suất mặt chữ giống như chữ Hồi Hột (回鶻), sách chữ đều viết từ sau ra trước, chứ không viết từ trên xuống dưới. Ta nghe Dã Tiên Hải Nha (也先海牙) nói rằng: "Chữ ấy không có âm thanh, chính là gần với âm người Mông Cổ (蒙古), chỉ khác nhau 2 đến 3 chữ mà thôi". Ban đầu không có ấn tín, người dân đi kiện cáo cũng có cửa hàng chép thuê (thư phô) viết giúp.
'''CHÍNH SÓC THỜI TỰ (正朔時序)'''
Thường lấy tháng 10 âm lịch của Trung Quốc làm tháng Giêng. Tháng ấy tên là "Giai đắc" (佳得). Trước nội cung dựng một cái giàn lớn, trên có thể chứa hơn 1.000 người, treo đầy đèn cầu, hoa lá các loại. Phía đối diện cách xa 20 trượng, dùng gỗ nối nhau dựng thành giàn cao như cột leo (phác can) khi xây tháp, cao khoảng hơn 20 trượng. Mỗi đêm dựng 3 đến 4 tòa hoặc 5 đến 6 tòa, trang bị pháo hoa, pháo tre (bộc trượng) trên đó. Việc này đều do các thuộc quận và các phủ đệ nhận trách nhiệm (nhận trực). Đêm đến mời quốc vương ra xem, châm đốt pháo hoa và pháo tre. Pháo hoa tỏa sáng dù cách xa 100 dặm cũng thấy. Pháo tre to như đại bác, tiếng vang động cả thành. Các quan thuộc và quý thích, mỗi người được chia nến lớn và trầu cau, chi phí rất lớn. Quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem, như thế suốt nửa tháng mới thôi.
Mỗi tháng tất có một sự lệ, như tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì ném cầu (phao cầu), tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì áp liệt (tập hợp thợ săn), tụ tập dân chúng cả nước đều vào thành, duyệt binh trước nội cung. Tháng 5 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì nghênh Phật, các tượng Phật từ xa gần trong cả nước đều được đưa đến dâng nước cho quốc chủ tắm mình. Trên cạn có thuyền đi (lục địa hành chu), quốc chủ lên lầu để xem. Tháng 7 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì đốt lúa, khi ấy lúa mới đã chín, đón ở ngoài cửa Nam, đốt đi để cúng Phật, phụ nữ đến xem vô số, nhưng quốc chủ không ra. Tháng 8 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì Ai lam (挨藍), Ai lam nghĩa là múa vậy. Vua mỗi ngày ở trong nội cung múa Ai lam, lại cho lợn đấu, voi đấu, quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem. Như thế suốt 1 tuần trăng (10 ngày), các tháng còn lại không thể ghi nhớ tường tận được.
Người trong nước cũng có kẻ thông thiên văn, nhật thực nguyệt thực đều có thể tính toán, nhưng tháng đủ tháng thiếu lại khác với Trung Quốc. Năm nhuận thì họ cũng đặt nhuận, nhưng chỉ nhuận tháng 9 âm lịch, thật không hiểu nổi. Một đêm chỉ chia làm 4 canh. Cứ mỗi 7 ngày là một vòng, cũng như Trung Quốc gọi là "Khai bế kiến trừ" (các trực). Người phiên đã không có danh tính, cũng không nhớ ngày sinh, nhiều người lấy tên ngày sinh làm tên gọi. Có 2 ngày là đại cát, 3 ngày bình thường, 4 ngày là đại hung. Ngày nào có thể xuất hành hướng Đông, ngày nào có thể xuất hành hướng Tây, dù là phụ nữ cũng đều biết tính. 12 con giáp (thập nhị sinh tiếu) cũng giống Trung Quốc, nhưng tên gọi thì khác. Như gọi ngựa là "Bốc tái", tiếng gọi gà là "Loan", tiếng gọi lợn là "Trực lư", gọi bò là "Cá".
'''TRANH TỤNG (爭訟)'''
Dân gian tranh tụng, dù là việc nhỏ cũng phải tâu lên. Quốc chủ ban đầu không dùng hình phạt roi trượng, chỉ nghe việc "phạt tiền vàng" (phạt kim) mà thôi. Người phạm tội đại nghịch trọng sự cũng không có việc treo cổ hay chém đầu, chỉ ở ngoài cửa Tây thành đào đất thành hố, bỏ tội nhân vào trong, lấp đầy đất đá, nén chặt là xong. Kế đến có kẻ bị chặt ngón tay chân, có kẻ bị xẻo mũi. Nhưng việc gian dâm và hối lộ thì không cấm, chồng của người đàn bà gian dâm nếu biết được, thì dùng 2 thanh củi kẹp chặt chân kẻ gian phu, đau đớn không chịu nổi, phải bỏ hết tiền của đưa cho người chồng mới được tha. Tuy nhiên cũng có kẻ dàn cảnh lừa bịp, hoặc có kẻ chết ở ngay cửa nhà, thì họ tự dùng dây kéo vứt ra bãi đất trống ngoài thành, ban đầu không có việc báo quan kiểm nghiệm. Gia đình bắt được trộm, cũng có thể thi hành hình phạt giam giữ khảo tra, nhưng có một điều đáng nói: như nhà mất đồ, nghi người này là trộm mà họ không nhận, bèn lấy nồi đun dầu thật nóng, lệnh cho người đó nhúng tay vào, nếu quả thực trộm đồ thì tay bị thối rữa, nếu không thì da thịt vẫn như cũ. Người phiên có pháp thuật như vậy.
Lại có 2 nhà tranh tụng, không phân rõ phải trái. Phía đối diện nội cung có 12 tòa tháp đá nhỏ, lệnh cho mỗi người ngồi trong một tháp, bên ngoài người thân hai nhà tự canh phòng lẫn nhau. Ngồi 1 hoặc 2 ngày, hoặc 3 đến 4 ngày, kẻ không có lý tất sẽ phát bệnh mà ra. Hoặc trên thân mọc mụn nhọt, hoặc bị ho, sốt nóng các loại; người có lý thì chẳng có việc gì. Dựa vào đó để phân định phải trái, gọi là "Thiên ngục". Ấy là linh khí của mảnh đất đó có sự như vậy.
'''BỆNH HỦI (病癩)'''
Người trong nước thông thường có bệnh, đa số là xuống nước tắm ngâm, và thường xuyên gội đầu, tự khắc sẽ khỏi. Tuy nhiên người bị bệnh hủi (bệnh lùi) rất nhiều, rải rác trên đường. Người bản địa dù cùng nằm cùng ăn với họ cũng không nề hà. Có người nói do phong thổ nơi đó có tật bệnh này, từng có quốc chủ mắc bệnh này nên mọi người không hiềm khích. Theo ý kiến thiển cận của ta, thường là sau khi mây mưa (hảo sắc), liền xuống nước tắm rửa, nên mới thành bệnh này. Nghe nói người bản địa sau khi xong việc sắc dục đều xuống nước tắm rửa. Những người mắc bệnh lỵ thì 10 người chết đến 8, 9 người. Cũng có người bán thuốc ở chợ, không giống Trung Quốc, không rõ là vật gì. Lại còn một hạng thầy phù thủy (sư vu) làm phép cho người, càng đáng cười hơn.
'''TỬ VONG (死亡)'''
Người chết không có quan tài, chỉ dùng chiếu tre các loại, đắp lên bằng vải. Lúc đưa tang, phía trước phía sau dùng cờ xí trống nhạc, lại dùng 2 mâm gạo rang, đi dọc đường vung vãi, khiêng đến nơi hoang vắng xa xôi không người, quẳng bỏ lại đó. Đợi có diều quạ, chó hoặc các loài súc vật đến ăn, trong chốc lát mà ăn hết thì bảo cha mẹ có phúc nên mới được báo đáp này. Nếu không ăn, hoặc ăn không hết, lại bảo cha mẹ có tội. Đến nay cũng dần có người thiêu xác, thường là dòng giống còn sót lại của người Đường (唐人). Cha mẹ chết, không có tang phục riêng, nam giới thì cạo trọc đầu, nữ giới thì ở đỉnh đầu cắt tóc to bằng đồng tiền, lấy đó làm hiếu vậy. Quốc chủ thì có tháp để chôn cất, nhưng không rõ là táng cả thân xác hay táng xương cốt.
'''CANH CHÚNG (耕種)'''
Đại để một năm có thể thu hoạch gieo trồng 3, 4 bận, vì bốn mùa thường như tiết tháng 5, 6 âm lịch, vả lại không biết đến sương tuyết vậy. Đất ấy nửa năm có mưa, nửa năm tuyệt không. Từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], mỗi ngày đều mưa, sau buổi trưa mới mưa. Trong hồ Đạm Dương (淡水洋) mực nước cao đến 7, 8 trượng, cây lớn đều ngập hết, chỉ còn lại ngọn. Những nhà ở ven nước đều dời vào sau núi. Từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], một giọt mưa cũng không có, trong hồ chỉ có thể thông thuyền nhỏ, chỗ sâu không quá 3, 5 thước, dân chúng lại dời xuống canh tác. Họ chỉ định lúc nào lúa chín, lúc đó nước có thể ngập đến đâu, tùy theo địa thế mà gieo giống. Cày không dùng bò. Các công cụ như cày, liềm, cuốc tuy hơi giống nhưng chế tác thì khác biệt. Lại có một loại ruộng thấp, không trồng mà tự mọc, nước cao đến 1 trượng thì lúa cũng cao theo. Nhưng việc bón ruộng và trồng rau đều không dùng phân uế, vì ghét sự không sạch sẽ. Người Đường (唐人) đến đó đều không nói với họ chuyện dùng phân bón ở Trung Quốc, sợ bị khinh bỉ. Cứ 2, 3 nhà cùng đào một cái hố đất, hễ cỏ đầy thì lấp đi, lại đào hố khác. Phàm sau khi đi vệ sinh (đăng mỗ), tất phải vào ao tắm sạch, chỉ dùng tay trái, tay phải để dành nắm cơm. Thấy người Đường đi vệ sinh dùng giấy chùi thì cười nhạo, thậm chí không muốn cho vào cửa. Phụ nữ cũng có người đứng mà tiểu tiện, thật đáng cười thay!
'''SƠN XUYÊN (山川)'''
Từ khi vào Chân Bồ (真蒲) đến nay, phần lớn là rừng phẳng rậm rạp. Sông dài cảng lớn trải dài mấy trăm dặm, cây cổ thụ dây leo chằng chịt, bóng râm che phủ, tiếng chim thú rộn ràng trong đó. Đến giữa cửa sông mới bắt đầu thấy ruộng đồng bát ngát, tuyệt không có một bóng cây, nhìn xa chỉ thấy lúa nếp xanh tốt. Bò rừng tụ tập nơi đây từng đàn hàng ngàn hàng trăm con. Lại có những đồi tre, cũng trải dài mấy trăm dặm, tre ở đó các đốt mọc gai đan xen, măng vị rất đắng. Bốn phía đều có núi cao.
'''SẢN VẬT (出產)'''
Núi nhiều gỗ lạ, nơi không có cây cối là nơi tê ngưu và voi tụ tập sinh sôi, chim quý thú lạ không kế xiết. Hàng tinh tế (tế sắc) có lông chim trả (thúy mao), ngà voi, sừng tê, sáp vàng. Hàng thô (thô sắc) có giáng chân (giáng hương), đậu khấu, khương hoàng (nghệ), tử cảnh (nhựa cánh kiến), dầu đại phong tử, phỉ thúy (chim trả), việc kiếm được chúng khá khó khăn. Đại để trong rừng rậm có ao, trong ao có cá, chim trả từ trong rừng bay ra kiếm cá. Người Phiên lấy lá cây che thân, ngồi bên bờ nước, nhốt một con chim mái trong lồng để nhử, tay cầm lưới nhỏ, đợi nó đến thì chụp lấy; có ngày bắt được 3 đến 5 con, có khi cả ngày chẳng được con nào.
Ngà voi thì ở nhà dân nơi núi sâu hẻo lánh mới có; mỗi con voi chết mới có 2 chiếc ngà; xưa truyền rằng "mỗi năm voi thay ngà một lần" là sai vậy. Ngà voi do dùng lao (tiêu) đâm chết mà lấy là hạng thượng đẳng; voi tự chết rồi người ta tiện tay lấy được là hạng thứ; voi chết trong núi đã nhiều năm thì là hạng hạ đẳng. Sáp vàng sản sinh trong kẽ cây mục nơi thôn xóm, do một loại ong eo nhỏ như con kiến đen (lâu nghị) tạo ra, người Phiên lấy được; mỗi chuyến thuyền có thể thu gom 2.000 đến 3.000 khối, mỗi khối lớn nặng 30 đến 40 cân, khối nhỏ cũng không dưới 18 đến 19 cân. Sừng tê trắng mà có hoa văn là hạng thượng đẳng, màu đen là hạng hạ đẳng.
Giáng chân sinh trong rừng rậm, người Phiên rất tốn công đốn chặt, vì đây là lõi của cây vậy. Lớp gỗ trắng bên ngoài dày 8 đến 9 tấc, cây nhỏ cũng không dưới 4 đến 5 tấc. Đậu khấu đều do người dã man (dã nhân) trồng trên núi. Họa hoàng (nhựa cây hoàng đằng) là nhựa tiết ra từ một loại cây, người Phiên trước đó 1 năm dùng dao chặt vào thân cây cho nhựa nhỏ ra, đến năm sau mới thu hoạch. Tử cảnh sinh trên cành một loại cây, hình dáng như tầm gửi cây dâu (tang ký sinh), cũng rất khó kiếm. Dầu đại phong tử là hạt của một loại cây lớn, hình dáng như quả dừa mà tròn, bên trong có mấy chục hạt. Hồ tiêu đôi khi cũng có, mọc theo kiểu dây leo, kết trái lủng lẳng như hạt cỏ xanh; lúc còn tươi xanh thì vị càng cay hơn.
'''THƯƠNG MẠI (貿易)'''
Người trong nước giao dịch đều do phụ nữ đảm nhiệm. Cho nên người Đường (唐人) đến đó, trước hết tất phải nạp một người vợ, cũng là để lợi dụng tài mua bán của họ vậy. Mỗi ngày có một buổi chợ (khu), từ giờ Mão đến giờ Ngọ thì tan. Không có cửa hàng cố định, chỉ dùng các loại lều cỏ, chiếu tre trải trên đất, mỗi người đều có chỗ riêng. Phải nộp tiền thuê đất cho quan phủ. Giao dịch nhỏ thì dùng gạo thóc và hàng hóa người Đường mang tới, kế đến dùng vải. Nếu là giao dịch lớn thì dùng vàng bạc. Người bản thổ thường rất chất phác, thấy người Đường thì khá kính sợ, gọi là "Phật" (佛), thấy người Đường thì phục lạy sát đất. Gần đây cũng có kẻ lừa gạt, bắt nạt người Đường, ấy là do người qua lại đã đông vậy.
'''HÀNG HÓA NGƯỜI ĐƯỜNG MUỐN MANG TỚI (欲得唐貨)'''
Đất ấy nghĩ là không sản sinh vàng bạc, nên coi vàng bạc của người Đường là thứ nhất; lụa là năm màu (ngũ sắc kiêm bạch) đứng thứ hai; kế đến là thiếc chì của Chân Châu (真州), khay sơn của Ôn Châu (溫州), đồ sứ xanh (thanh từ khí) của Tuyền Châu (泉州), cùng với thủy ngân, ngân chu (phấn hồng), giấy tờ, lưu huỳnh, diêm tiêu, đàn hương, bạch chỉ, xạ hương, vải lanh (ma bố), vải cỏ vàng (hoàng thảo bố), ô dù, nồi sắt, mâm đồng, hạt cườm gỗ, dầu đồng, lược bí, lược gỗ, kim khâu; hàng thô nặng thì như chiếu của Minh Châu (明州). Thứ họ rất muốn có được là đậu và lúa mạch, nhưng không thể mang (hạt giống) đi được vậy.
'''CỎ CÂY (草木)'''
Lựu, mía, hoa sen, gương sen, ngó sen, khoai môn, đào, chuối, khung (xuyên khung) đều giống với Trung Quốc. Vải, quýt hình dáng tuy giống nhưng vị chua; còn lại đều là thứ ở Trung Quốc chưa từng thấy. Cây cối cũng rất khác biệt. Hoa cỏ thì nhiều vô kể, lại thơm và đẹp. Hoa dưới nước lại càng nhiều chủng loại, thảy đều không biết tên. Còn như các loại đào, mận, hạnh, mai, thông, bách, sam, quế, lan, cúc... thì thảy đều không có. Ở đó vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] cũng có hoa sen.
'''CHIM MUÔNG (飛鳥)'''
Chim có chim công (khổng tước), chim trả (phỉ thúy), vẹt (anh ca) là thứ Trung Quốc không có. Còn lại như diều hâu, quạ, cò, diệc, chim cốc, chim quán, sếu, vịt trời, chim sẻ vàng các thứ đều có. Thứ không có là chim khách, chim hồng nhạn, chim oanh vàng, chim đỗ quyên, chim én, chim bồ câu.
'''THÚ CHẠY (走獸)'''
Thú có tê ngưu, voi, bò rừng, ngựa núi là những thứ Trung Quốc không có. Còn lại như hổ, báo, gấu, lợn rừng, nai, hươu, hoẵng, khỉ, cáo các loại rất nhiều. Thứ thiếu là sư tử, đười ươi, lạc đà. Gà, vịt, bò, ngựa, lợn, dê thì không cần bàn đến. Ngựa rất lùn nhỏ. Bò rất nhiều. Lúc sống người dân dám cưỡi, nhưng chết thì không dám ăn, cũng không dám lột da, cứ để mặc cho thối rữa mà thôi, vì cho rằng bò đã giúp sức cho người, chỉ dùng để kéo xe thôi. Trước kia không có ngỗng, gần đây có người đi thuyền từ Trung Quốc mang sang nên mới có giống đó. Chuột có con to như mèo. Lại có một loại đầu chuột nhưng tuyệt nhiên giống như chó con mới đẻ.
'''RAU CỦ (蔬菜)'''
Rau củ có hành, mù tạt (giới), hẹ, cà, dưa chuột, dưa hấu, vương qua, bí đao, rau dền. Thứ không có là củ cải, xà lách (sinh thái), khổ mãi, rau chân vịt (ba lăng). Dưa và cà vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] đã có rồi. Cây cà có khi trải qua mấy năm không nhổ bỏ. Cây bông vải (mộc miên) cao vượt cả mái nhà, 10 năm không thay. Các loại rau không biết tên rất nhiều, rau dưới nước cũng có nhiều loại.
'''NGƯ LONG (魚龍)'''
Cá và ba ba, chỉ có cá chép đen là nhiều nhất, các loại khác như cá chép, cá diếc, cá trắm cũng rất nhiều, con lớn nặng trên 2 cân. Có những loại cá không biết tên cũng rất nhiều, thảy đều từ hồ Đạm Dương (淡水洋) mà ra. Còn như cá ở biển thì loại gì cũng có. Lươn, chình, ếch nhái người bản thổ không ăn, đêm đến chúng bò ngang dọc đầy đường. Giải và cá sấu lớn như cái bồ, dù là loại rùa 6 mai cũng được dùng làm thức ăn. Tôm ở Tra Nam (查南) nặng trên 1 cân. Rùa ở Chân Bồ (真蒲) chân có thể dài khoảng 8 đến 9 tấc. Cá sấu lớn như chiếc thuyền, có 4 chân, cực giống hình rồng nhưng không có sừng, bụng rất giòn và ngon. Các loại trai, hến, ốc ở hồ Đạm Dương có thể vốc tay là được. Duy nhất không thấy cua, nghĩ là cũng có nhưng người ta không ăn vậy.
'''UỔN NHƯỠNG (醞釀 - Nấu rượu)'''
Rượu có 4 hạng: Thứ nhất, người Đường (唐人) gọi là "rượu mật đường", dùng men thuốc pha với mật và nước mỗi thứ một nửa mà thành. Thứ nhì, chủ nhà gọi là "Bằng nha tứ" (朋牙四), làm bằng lá cây. Bằng nha tứ (朋牙四) là tên một loại lá cây vậy. Thứ ba nữa là dùng gạo hoặc cơm thừa mà làm, tên gọi là "Bao lăng giác" (包稜角), vì Bao lăng giác (包稜角) nghĩa là gạo vậy. Hạng thấp nhất là "rượu đường giám", làm bằng đường. Lại nữa, khi vào cửa sông ven nước có "rượu giao tương", vì có một loại lá giao mọc ven nước, nhựa của nó có thể nấu rượu.
'''MUỐI, GIẤM, TƯƠNG, MÌ (鹽醋醬麪)'''
Việc nấu muối trong nước không cấm, từ Chân Bồ (真蒲), Ba Giản (巴澗) ven biển trở đi thảy đều nấu muối. Trong núi lại có một loại đá vị còn ngon hơn muối, có thể đẽo gọt thành đồ dùng. Người bản thổ không biết làm giấm, trong canh muốn có vị chua thì bỏ lá cây "Hàm bình" (咸平), cây có quả thì dùng quả, có hạt thì dùng hạt. Họ cũng không làm tương vì không có lúa mạch và đậu. Cũng không có men đại mạch (khúc), vì nấu rượu bằng mật nước và lá cây nên cái họ dùng là men thuốc (tửu dược), hình dáng giống như men rượu trắng ở vùng quê Trung Quốc.
''' TẰM TANG (蠶桑)'''
Người bản thổ đều không làm nghề tằm tang, phụ nữ cũng không hiểu việc kim chỉ khâu vá, chỉ có thể dệt vải bông (mộc miên) mà thôi. Họ cũng không biết quay sợi, chỉ lấy tay vuốt thành sợi. Không có khung cửi để dệt, chỉ dùng một đầu buộc vào thắt lưng, một đầu gác lên trên, thoi dệt cũng chỉ dùng một ống tre. Những năm gần đây người Xiêm (暹人) đến ở mới lấy nghề tằm tang làm nghiệp. Giống dâu, giống tằm đều từ nước Xiêm mang đến. Ở đây cũng không có gai, đay, chỉ có lạc ma (một loại sợi). Người Xiêm tự dùng tơ dệt áo lăng đen để mặc, phụ nữ Xiêm thì biết khâu vá. Người bản thổ khi vải quấn bị rách đều thuê họ vá giúp.
'''KHÍ DỤNG (器用 - Đồ dùng)'''
Ngoài phòng xá của những nhà tầm thường ra không có các loại bàn ghế hay thùng chậu. Chỉ khi nấu cơm thì dùng một nồi đất (ngõa phủ), nấu canh dùng một siêu đất (ngõa điêu), chôn 3 hòn đá xuống đất làm bếp, dùng gáo dừa làm muôi. Đựng cơm dùng bồn đất Trung Quốc hoặc mâm đồng. Canh thì dùng lá cây chế thành một cái bát nhỏ, dù đựng nước cũng không rò rỉ. Lại lấy lá giao làm một cái muôi nhỏ để múc nước canh vào miệng, dùng xong thì vứt đi, dù là lúc tế lễ thần Phật cũng vậy. Lại dùng một đồ thiếc hoặc đồ đất đựng nước bên cạnh để nhúng tay, vì ăn cơm chỉ dùng tay bốc, cơm dính vào tay nếu không có nước này thì không sạch được. Uống rượu dùng ấm bằng thiếc (lạp chú tử), người nghèo dùng bát đất, nếu là phủ đệ nhà giàu thì thảy đều dùng đồ bạc, thậm chí có nhà dùng vàng. Các dịp khánh hạ của quốc gia đa số dùng vàng làm đồ dùng, chế độ hình dáng lại khác biệt. Trên đất thì trải chiếu cỏ Minh Châu (明州), hoặc có nhà trải da hổ, báo, hoẵng, hươu và thảm mây. Gần đây mới đặt bàn thấp, cao khoảng 1 xích (hơn 30cm), lúc ngủ chỉ nằm chiếu tre trên ván. Gần đây lại có người dùng giường thấp, thảy đều do người Đường (唐人) chế tác. Đồ ăn dùng vải che lại, trong cung quốc chủ dùng gấm lụa dát vàng (tiêu kim kiêm bạch), thảy đều do khách buôn trên thuyền biếu tặng. Lúa không dùng cối xay, chỉ dùng chày giã mà thôi.
'''XA KIÊU (車轎 - Xe và kiệu)'''
Chế độ của kiệu là lấy một khúc gỗ uốn cong ở giữa, hai đầu dựng đứng lên, điêu khắc hoa văn và bọc vàng bạc, đó chính là cái gọi là "đòn khiêng kiệu vàng bạc" vậy. Mỗi đầu trong khoảng 1 xích thì đóng móc sắt, dùng một tấm vải lớn gấp dày, lấy dây buộc vào hai đầu móc, người ngồi trong vải, dùng 2 người khiêng. Kiệu lớn thì thêm một vật như mui thuyền nhưng rộng hơn, trang trí bằng gấm lụa năm màu, dùng 4 người khiêng, có người chạy theo kiệu. Nếu đi xa cũng có người cưỡi voi, cưỡi ngựa. Cũng có người dùng xe, chế độ của xe giống như những nơi khác. Ngựa không có yên, voi không có ghế để ngồi.
'''CHU TẬP (舟楫 - Thuyền bè)'''
Thuyền lớn dùng gỗ cứng xẻ ván mà làm. Thợ không có cưa, chỉ dùng rìu đục mà đẽo thành ván, vừa tốn gỗ vừa tốn công. Phàm muốn cắt gỗ thành đoạn cũng chỉ dùng đục mà đục đứt, dựng nhà cũng vậy. Thuyền cũng dùng đinh sắt, trên lợp lá giao, lấy mảnh gỗ cây cau ép lên trên. Loại thuyền này tên là "Tân nã" (新拏). Dầu dán mái chèo là dầu cá, vôi trộn là vôi đá. Thuyền nhỏ thì lấy gỗ lớn đục thành máng, dùng lửa hơ mềm rồi lấy gỗ chống cho choãi ra; bụng to, hai đầu nhọn, không mui, chở được vài người, chỉ dùng mái chèo mà khua, tên là "Bì lan" (皮闌).
'''THUỘC QUẬN (屬郡)'''
Các quận thuộc quyền có hơn 90 nơi: như Chân Bồ (真蒲), Tra Nam (查南), Ba Giản (巴澗), Mạc Lương (莫良), Bát Tiết (八薛), Bồ Mãi (蒲買), Trĩ Côn (雉棍), Mộc Tân Ba (木津波), Lại Cảm Khanh (賴敢坑), Bát Tư Lý (八廝里). Còn lại không thể nhớ hết. Mỗi nơi đều đặt quan thuộc, đều lấy hàng rào gỗ làm thành.
'''THÔN LẠC (村落)'''
Mỗi làng hoặc có chùa, hoặc có tháp. Nơi nhà cửa hơi đông đúc tất có quan trấn thủ, gọi là "Mai tiết" (買節). Trên đường lớn có nơi nghỉ ngơi như nhà trạm, tên là "Sâm mộc" (森木). Gần đây vì đánh nhau với người Xiêm (暹人) nên thảy đều thành đất hoang.
'''THỦ ĐẢM (取膽 - Lấy mật người)'''
Trước kia vào tháng 8 âm lịch [thời kỳ trước năm 1296], có tục lấy mật người. Nguyên do là vua Chiêm Thành (占城) mỗi năm đòi hàng ngàn chiếc mật người đựng trong một chiếc bình lớn. Đêm đến, họ tìm nhiều cách sai người vào trong thành và các thôn lạc, gặp người đi đêm thì dùng dây thòng lọng giữ chặt đầu, dùng dao nhỏ lấy mật ở dưới sườn phải, đợi cho đủ số để dâng cho vua Chiêm Thành (占城). Duy chỉ không lấy mật của người Đường (唐人), vì có một năm lấy một cái mật của người Đường trộn vào trong đó, khiến cho mật trong cả bình đều thối rữa không dùng được. Những năm gần đây đã bỏ việc lấy mật này, lập ra chức quan lấy mật riêng, ở phía trong cửa Bắc.
'''DỊ SỰ (異事 - Chuyện lạ)'''
Phía trong cửa Đông có người Man phạm tội dâm ô với em gái mình, da thịt dính chặt không rời, trải qua 3 ngày không ăn mà cả hai cùng chết. Người đồng hương của ta là họ Tiết, ở phiên bang đã 35 năm, ông ta bảo đã 2 lần thấy chuyện này, ấy là vì uy linh của Thánh Phật nên mới như vậy.
'''TẢO DỤC (澡浴 - Tắm rửa)'''
Đất này cực kỳ nóng nực, mỗi ngày nếu không tắm rửa vài lần thì không chịu nổi, đêm đến cũng không tránh khỏi 1 đến 2 lần. Ban đầu không có phòng tắm hay bồn chậu, nhưng mỗi nhà đều phải có một cái ao, nếu không thì 2 đến 3 nhà chung một ao. Không phân biệt nam nữ thảy đều trần truồng xuống ao. Duy chỉ có cha mẹ bậc tôn trưởng ở trong ao thì con cái bậc thấp không dám vào. Nếu bậc thấp ở trong ao trước, thấy bậc tôn trưởng đến thì cũng phải tránh đi. Nếu hàng vai vế ngang hàng thì không gò bó. Lúc xuống nước chỉ dùng tay trái che bộ phận kín là được. Cứ 3 đến 4 ngày, hoặc 5 đến 6 ngày, phụ nữ trong thành từng nhóm 3 đến 5 người cùng ra sông ngoài thành tắm rửa. Đến bờ sông, cởi bỏ tấm vải quấn mà xuống nước, người tụ tập ở sông có đến hàng ngàn, dù là phụ nữ nhà quyền quý cũng dự vào, tuyệt không cho là nhục. Từ gót chân đến đỉnh đầu thảy đều nhìn thấy rõ. Ở con sông lớn ngoài thành, không ngày nào không có cảnh này, người Đường (唐人) lúc rảnh rỗi thường lấy việc này làm thú vui tiêu khiển. Nghe nói cũng có kẻ ước hẹn tư thông ngay dưới nước. Nước thường ấm như nước nóng, chỉ đến canh 5 mới hơi mát, hễ mặt trời mọc là lại ấm ngay.
'''LƯU NGỤ (流寓)'''
Những người Đường (唐人) làm thủy thủ thấy nước này có lợi là không cần mặc quần áo, gạo thóc dễ kiếm, phụ nữ dễ lấy, nhà cửa dễ lo, đồ dùng dễ đủ, mua bán dễ làm, nên thường trốn ở lại đó.
'''QUÂN MÃ (軍馬)'''
Quân lính cũng trần truồng đi chân đất, tay phải cầm lao (tiêu thương), tay trái cầm khiên (chiến bài), không có các thứ gọi là cung tên, pháo đá, giáp trụ. Nghe nói khi đánh nhau với người Xiêm (暹人) đều lùa bách tính ra trận, thường cũng chẳng có mưu lược trí kế gì.
'''QUỐC CHỦ XUẤT NHẬP (國主出入 - Việc đi lại của vua)'''
Nghe nói trước kia quốc chủ không mấy khi ra khỏi cửa, ấy là để phòng những biến cố bất trắc. Vị chủ mới này là con rể của quốc chủ cũ, nguyên giữ chức thống lĩnh quân đội. Nhạc phụ yêu con gái, người con gái ấy mật mật lấy trộm gươm vàng giao cho chồng, khiến cho con trai ruột không được kế vị. Người con trai ấy từng mưu dấy binh nhưng bị chủ mới phát giác, bị chặt ngón chân rồi giam vào phòng tối. Chủ mới thân khảm "sắt thánh", dù đao tên chạm vào mình cũng không hại được, nhờ cậy vào đó mới dám ra khỏi cửa. Ta ở lại hơn 1 năm, thấy vua ra ngoài 4 đến 5 lần. Phàm khi ra ngoài, quân mã vây bọc phía trước, cờ xí trống nhạc theo sau. Cung nữ 300 đến 500 người, mặc vải hoa, búi tóc hoa, tay cầm nến lớn thành một đội, dù ban ngày cũng đốt nến. Lại có cung nữ thảy đều cầm đồ dùng bằng vàng bạc và đồ trang sức trong cung, chế độ khác biệt, không rõ dùng làm gì. Lại có cung nữ cầm lao và khiên làm quân nội đình, lập thành một đội. Lại có xe dê, xe ngựa thảy đều trang trí bằng vàng. Các quan đại thần và quốc thích đều cưỡi voi đi trước, nhìn xa lọng che màu đỏ (hồng lương tản) không kế xiết. Kế đến là vợ và thiếp của quốc chủ, hoặc ngồi kiệu, ngồi xe, cưỡi ngựa hay cưỡi voi, lọng che dát vàng (tiêu kim lương tản) có hơn 100 chiếc. Sau cùng là quốc chủ, đứng trên lưng voi, tay cầm bảo kiếm, ngà voi cũng được bọc vàng. Lọng che màu trắng dát vàng (tiêu kim bạch lương tản) phàm hơn 20 chiếc, cán lọng đều bằng vàng. Chung quanh vây bọc rất nhiều voi và có quân mã bảo vệ. Nếu đi chơi gần thì chỉ dùng kiệu vàng, đều do cung nữ khiêng. Đại phàm ra vào, tất rước tháp vàng nhỏ và Phật vàng đi trước, người xem thảy đều phải quỳ xuống đảnh lễ, gọi là "Tam bãi" (三罷). Nếu không sẽ bị quân canh bắt giữ, không được thả ra vô ích. Mỗi ngày quốc chủ ra ngự triều trị sự 2 lần, cũng không có văn bản nhất định. Các quan và bách tính muốn gặp quốc chủ đều ngồi liệt trên đất để đợi. Một lát sau, bên trong ẩn hiện tiếng nhạc, bên ngoài mới thổi ốc tù và để đón. Nghe nói vua chỉ dùng xe vàng đến từ nơi hơi xa, chốc lát thấy 2 cung nữ dùng bàn tay thon dài cuốn rèm lên, quốc chủ tay chống kiếm đứng trong cửa sổ vàng. Từ quan lại trở xuống đều chắp tay cúi đầu, tiếng ốc vừa dứt mới được ngẩng đầu. Vua lúc đó cũng liền ngồi xuống. Chỗ ngồi có một tấm da sư tử, là vật báu truyền quốc. Sau khi bàn việc xong, quốc chủ liền quay mình đi vào, 2 cung nữ lại hạ rèm xuống, mọi người cùng đứng dậy. Xem thế thì biết dù là nơi man di, chưa từng không biết có quân vương vậy.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic111 - 真臘國.svg|center]]
Theo Tam tài đồ hội (三才圖會): Nước Chân Lạp (真臘) phát thuyền từ Quảng Châu (廣州), đi gió Bắc 10 ngày thì đến nơi, thời tiết không có mùa lạnh. Mỗi khi cưới hỏi thì người nam về ở nhà người nữ. Sinh con gái đến 9 tuổi, liền mời sư tăng tụng kinh làm phép Phạn (Phạn pháp), lấy ngón tay chọc phá thân đồng trinh, lấy máu đó điểm lên trán con gái, người mẹ cũng dùng điểm lên trán mình, gọi đó là "Lợi thị" (利市). Làm như vậy thì người con gái ấy sau này lấy chồng sẽ hòa hợp vui vẻ. Phàm con gái đủ 10 tuổi là gả chồng. Người trong nước phạm tội trộm cắp thì bị chặt tay chân, nung lửa đóng dấu vào ngực lưng hoặc xăm mặt, phạm tội đến mức chết thì bị chém. Người phiên giết người Đường (唐人) thì y theo pháp luật người phiên mà đền mạng; nếu người Đường giết người phiên thì bị phạt tiền vàng rất nặng; nếu không có tiền vàng thì bán thân lấy tiền chuộc tội. Phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城), bên cạnh có các nước Tây Bằng (西棚)...
== ĐỖ BẠC bộ vị khảo (杜薄部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đỗ Bạc (杜薄) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Đỗ Bạc (杜薄) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong biển Trướng Hải (漲海) về phía Đông của Phù Nam (扶南), đi thuyền thẳng trên biển mấy chục ngày thì tới. Người nước ấy diện mạo trắng trẻo, thảy đều mặc quần áo. Trong nước có ruộng lúa, phụ nữ dệt vải hoa bằng bông trắng (bạch điệp hoa bố). Sản sinh vàng, bạc, sắt, lấy vàng làm tiền. Sản sinh hương Kê thiệt (雞舌香), có thể ngậm được. Vì hương thơm nên không cho vào quần áo. Cây Kê thiệt ấy khí vị cay mà tính mãnh liệt, chim thú không thể đến gần, nên chưa có ai nhận biết được cây ấy thế nào. Hoa chín tự rụng, trôi theo dòng nước mà ra, bấy giờ mới lấy được. Trên đảo Đỗ Bạc có hơn 10 tòa thành nước, đều xưng Vương."
== BẠC LẠT bộ vị khảo (薄剌部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Bạc Lạt (薄剌) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Bạc Lạt (薄剌) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong vịnh biển phía Nam của Câu Lợi (拘利). Người ở đó da đen răng trắng, mắt đỏ, nam nữ thảy đều không mặc quần áo."
==HỎA SƠN bộ vị khảo (火山部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Hỏa Sơn (火山) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Hỏa Sơn (火山) được biết đến vào thời Tùy. Cách các đảo Chư Bạc (諸薄) 5.000 dặm về phía Đông. Trong núi ở nước ấy thảy đều có lửa, dù mưa cũng không tắt, trong lửa có loài chuột trắng." Thổ tục Phù Nam (扶南) truyền rằng: "Đảo Hỏa Sơn ở phía Đông đảo Mã Ngũ (馬五) khoảng hơn 1.000 dặm, tháng mùa xuân mưa dầm, mưa tạnh thì lửa cháy. Cây cối trên đảo hễ gặp mưa thì vỏ đen, gặp lửa thì vỏ trắng. Người ở các đảo lân cận vào tháng mùa xuân thường lấy vỏ cây ấy, bện lại làm vải, hoặc làm tim đèn; vải hễ hơi bẩn, quăng vào trong lửa lại sạch như cũ." Lại có nước Gia Doanh (加營), phía Bắc các đảo Chư Bạc, có ngọn núi phía Tây chu vi 300 dặm, từ tháng 4 âm lịch lửa sinh ra, tháng Giêng âm lịch lửa tắt; khi lửa cháy thì cỏ cây rụng lá như mùa lạnh ở Trung Quốc. Người thời ấy vào tháng 3 âm lịch đến núi này lấy vỏ cây, bện làm vải hỏa hoạn (vải chịu lửa)."
== ĐÔ CÔN bộ vị khảo (都昆部彙考)==
'''(Đính kèm nước Biên Đẩu, Câu Lợi, Tỉ Tùng)'''
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đô Côn (都昆) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Biên Đẩu (邊斗), còn gọi là Ban Đẩu (班斗); nước Đô Côn (都昆), còn gọi là Đô Quân (都軍); nước Câu Lợi (拘利), còn gọi là Cửu Ly (九離); nước Tỉ Tùng (比嵩), thảy đều được biết đến từ thời Tùy. Từ Phù Nam (扶南) vượt vịnh lớn Kim Lân (金鄰), đi về phía Nam 3.000 dặm thì có 4 nước này. Việc nông tác của họ giống với Kim Lân (金鄰), người đa số da trắng. Đô Côn (都昆) sản sinh hương Trản (棧香) tốt, hương Hoắc (藿香) và lưu huỳnh. Cây hương Hoắc ở đó sống đến 1.000 năm, gốc rễ rất lớn; chặt xuống để 4 đến 5 năm, phần gỗ đều mục nát, chỉ có các đốt ở giữa kiên cố, hương thơm còn lưu lại, lấy đó làm hương."
== VÔ LUÂN bộ vị khảo (無論部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Vô Luân (無論) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Vô Luân (無論) được biết đến vào thời Tùy. Ở phía Tây Phù Nam (扶南) hơn 2.000 dặm. Hai bên đường cái của nước ấy trồng xen kẽ cây tỳ bà và các loại hoa quả, đi dưới tán cây luôn có bóng râm mát. Cứ 10 dặm có 1 trạm đình, trạm đình đều có giếng nước. Họ ăn cơm mạch, uống rượu bồ đào (nho), rượu đặc như keo, khi uống pha thêm nước, vị rất ngọt ngon."
==LA SÁT bộ vị khảo (羅剎部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp thứ 3 đời Tùy Dạng Đế, sai sứ sang nước Xích Thổ, đi đến La Sát.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước La Sát (羅剎) ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với Lâm Ấp (林邑) vào ban đêm, ban ngày thì che mặt." Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế [năm 607], sai sứ là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ (赤土), đi đến La Sát (羅剎).
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Phía Đông Bà Lợi (婆利) có nước La Sát (羅剎), người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với người Lâm Ấp (林邑), đến vào ban đêm, tự che mặt mình. Nước ấy sản sinh hỏa châu (ngọc lửa), hình dáng như thủy tinh, vào lúc giữa trưa lấy viên châu hứng bóng mặt trời để bắt vào ngải, nương theo đó lửa sẽ phát ra."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
h7yedmu0l5pm3lycsud6v0s53od589n
204745
204744
2026-04-16T07:54:48Z
Mrfly911
2215
/* Tùy */
204745
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第101卷
| năm= 1726
| phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 101'''
| trước= [[../quyển 100|quyển 100]]
| sau= [[../quyển 102|quyển 102]]
| ghi chú =
}}
==XIÊM LA bộ vị khảo (暹羅部彙考)==
''' (Xích Thổ 赤土 - Xiêm La Hộc 暹羅斛) '''
===Tùy===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế (隋煬帝) [năm 607], sai quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ.'''
Theo Tùy thư - Dạng Đế bản kỷ (隋書煬帝本紀) thì không chép việc này. Theo Xích Thổ bản truyện (赤土本傳): "Nước Xích Thổ (赤土國) là một chủng loại khác của Phù Nam (扶南). Nằm ở trong biển Nam Hải (南海), đi đường thủy hơn 100 ngày thì đến kinh đô. Đất sắc đỏ nhiều nên lấy đó làm tên nước. Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Bà La Sa (婆羅娑國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm.
Vua nước ấy họ Cù Đàm (瞿曇氏), tên là Lợi Phú Đa Tắc (利富多塞), không rõ nước thành lập đã bao lâu. Nghe nói cha vua nhường ngôi, xuất gia làm đạo, truyền vị cho Lợi Phú Đa Tắc, đến nay đã tại vị được 16 năm. Vua có 3 vợ, đều là con gái của vua các nước láng giềng. Cư ngụ tại thành Tăng Kỳ (僧祗城), có 3 tầng cửa, mỗi cửa cách nhau chừng 100 bước, mỗi cửa đều vẽ hình tượng Phi tiên (飛仙), Tiên nhân (仙人), Bồ Tát (菩薩). Treo chuông hoa vàng và bờm ngựa, có mấy chục phụ nữ, người thì tấu nhạc, người thì bưng hoa vàng. Lại trang điểm cho 4 người phụ nữ, dung mạo như Phật, đứng hai bên cửa như hình trạng Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士) bên cạnh tháp. Người đứng ngoài cửa cầm binh khí, người đứng trong cửa cầm phất trần trắng, giăng lưới trắng kết hoa dọc lối đi."
Các gian nhà trong cung vua thảy đều là lầu gác cao. Vua ngồi ở cửa phía Bắc, mặt hướng về phía Bắc, ngồi trên sập 3 tầng, mặc vải Triều Hà (朝霞布), đội mũ hoa vàng, treo anh lạc bằng ngọc báu hỗn hợp. Có 4 nữ nhân đứng hầu, tả hữu có hơn 100 lính bảo vệ. Sau sập vua có một khám thờ bằng gỗ, dùng vàng bạc và 5 loại gỗ thơm khảm trai trang trí; sau khám treo một vầng hào quang vàng rực, hai bên sập dựng 2 chiếc gương vàng, trước gương bày bình vàng, trước bình có lư hương vàng, phía trước đặt một con trâu nằm bằng vàng, trước trâu dựng 1 bảo cái, hai bên bảo cái đều có quạt quý. Hàng trăm người Bà La Môn (婆羅門) ngồi đối diện nhau thành từng hàng ở phía Đông và Tây.
Quan lại có: 1 người gọi là Tát Đà Ca La (薩陀迦羅), 2 người gọi là Đà Noa Đạt Xoa (陀挐達叉), 3 người gọi là Ca Lợi Mật Ca (迦利密迦), cùng nhau nắm chính sự; 1 người gọi là Câu La Mật Đế (俱羅末帝) nắm hình pháp. Mỗi thành đặt 1 người Na Gia Ca (那邪迦), 10 người Bát Đế (缽帝).
Phong tục ở đó đều xỏ tai cắt tóc, không có lễ quỳ lạy, dùng dầu thơm xức thân. Dân chúng kính Phật, đặc biệt trọng Bà La Môn. Phụ nữ búi tóc sau gáy, nam nữ đều dùng vải ngũ sắc Triều Hà (朝霞), Triều Vân (朝雲) làm áo. Nhà hào phú thì xa hoa tùy ý, duy có xích vàng nếu không phải vua ban thì không được dùng. Mỗi khi cưới gả thì chọn ngày lành, nhà gái trước kỳ hạn 5 ngày sẽ tấu nhạc uống rượu, người cha cầm tay con gái trao cho chàng rể, sau 7 ngày mới thành phối hợp. Cưới xong thì chia tài sản ra ở riêng, duy con út ở chung với cha. Cha mẹ anh em chết thì cạo tóc mặc áo trắng, dựng sàn gỗ tre trên mặt nước, trong sàn chất củi, đặt thi thể lên trên, đốt hương dựng phướn, thổi ốc đánh trống để tiễn đưa. Phóng hỏa đốt củi, thi thể rơi xuống nước. Sang hèn đều như nhau, duy tro cốt của vua sau khi thiêu xong thì thu lại, đựng vào bình vàng, cất trong miếu thờ.
Khí hậu đông hè thường ấm, mưa nhiều tạnh ít, gieo trồng không cứ mùa màng. Đặc biệt thích hợp trồng lúa, kê, đậu trắng, mè đen; các sản vật khác đa phần giống với Giao Chỉ (交趾). Dùng mía làm rượu, pha với rễ dưa tím, rượu màu vàng đỏ, vị thơm ngon; cũng gọi nước dừa là rượu.
Khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, chiêu mộ những người có thể thông sứ với các vùng đất xa xôi. Tháng 10 âm lịch năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607], Truân điền Chủ sự Thường Tuấn (常駿), Ngu bộ Chủ sự Vương Quân Chính (王君政) xin đi sứ Xích Thổ. Đế rất vui, ban cho Tuấn mỗi người 100 xấp lụa, 1 bộ triều phục, và sai mang theo 5.000 đoạn vật phẩm để ban cho vua Xích Thổ.
Tháng 10 năm đó, bọn Tuấn từ quận Nam Hải (南海郡) đi thuyền, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, đi qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵迦缽拔多洲), phía Tây đối diện với Lâm Ấp (林邑), trên đó có miếu thờ thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (師子石), từ đó đảo nhỏ nối liền nhau. Đi tiếp 2 đến 3 ngày, nhìn về phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙須國), bèn đi về hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), rồi tới biên giới Xích Thổ.
Vua nước ấy sai Bà La Môn tên là Câu Ma La (鳩摩羅) mang 30 chiếc thuyền đến đón, thổi ốc đánh trống để chào mừng sứ giả nhà Tùy, dâng xích vàng để buộc thuyền của Tuấn. Sau hơn 1 tháng thì đến kinh đô, vua sai con trai là Na Gia Ca (那邪迦) mời bọn Tuấn vào hội kiến theo lễ. Trước hết sai người đưa mâm vàng đựng hoa thơm cùng gương và kẹp tóc, 2 hộp vàng đựng dầu thơm, 8 bình vàng đựng nước thơm, 4 dải vải trắng để cho sứ giả tắm gội. Vào giờ Mùi ngày hôm đó, Na Gia Ca lại dắt 2 con voi, cầm lọng lông công để đón sứ giả, đồng thời dâng hoa vàng mâm vàng để đỡ chiếu thư. 100 nam nữ tấu loa trống, 2 người Bà La Môn dẫn đường đến cung vua. Bọn Tuấn dâng chiếu thư lên lầu, từ vua trở xuống đều quỳ. Tuyên chiếu xong, mời bọn Tuấn ngồi, tấu nhạc Thiên Trúc (天竺). Xong việc, bọn Tuấn về quán xá. Vua lại sai Bà La Môn đến quán đưa cơm, dùng lá cỏ làm mâm, rộng 1 trượng vuông, nói với Tuấn rằng: "Nay ngài là người của đại quốc, không còn ở nước Xích Thổ nữa. Ăn uống sơ sài, xin vì ý của đại quốc mà dùng cho."
Mấy ngày sau, mời bọn Tuấn vào dự tiệc, nghi vệ dẫn đường như lễ kiến diện ban đầu. Trước mặt vua đặt 2 chiếc giường, trên giường đều đặt mâm lá cỏ rộng 1 trượng 5 thước, trên đó có các loại bánh 4 màu vàng, trắng, tím, đỏ; hơn 100 món thịt trâu, dê, cá, ba ba, lợn, đồi mồi. Mời Tuấn lên giường ngồi, người đi theo ngồi trên chiếu dưới đất, mỗi người dùng chén vàng rót rượu, nữ nhạc luân phiên tấu diễn, lễ vật tặng vô cùng hậu hĩnh.
Sau đó vua sai Na Gia Ca theo Tuấn về cống phương vật, cùng dâng mũ hoa sen vàng (Kim Phù Dung quán), hương Long Não, dùng vàng đúc thành lá Đa La (多羅葉), chạm nổi thành chữ để làm biểu, bỏ trong hộp vàng phong kín lại. Sai Bà La Môn dâng hoa thơm tấu loa trống tiễn đưa. Khi ra biển, thấy bầy cá xanh bay trên mặt nước, đi biển hơn 10 ngày thì đến phía Đông Nam Lâm Ấp (林邑), đi men theo núi. Vùng biển đó rộng hơn 1.000 bước, màu nước vàng và khí vị tanh hôi, thuyền đi 1 ngày không hết, nghe nói đó là phân của cá lớn (Đại ngư phế). Men theo bờ Bắc biển mà đạt đến Giao Chỉ (交趾).
Mùa xuân năm Đại Nghiệp thứ 6 [năm 610], Tuấn cùng Na Gia Ca vào bệ kiến Đế tại Hoằng Nông (弘農). Đế rất vui, ban cho Tuấn 200 đoạn vật phẩm, phong cả hai làm Bỉnh Nghĩa Úy (秉義尉), những người khác trong đoàn Na Gia Ca đều được ban thưởng có sai biệt.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Cương vực Xích Thổ giống với Xiêm La (暹羅). Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Ba La Bà (婆羅婆國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm. Thời Tùy, Thường Tuấn (常駿) từ quận Nam Hải (南海郡) đi đường thủy, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵伽缽拔多洲), phía Tây đối diện Lâm Ấp (林邑), trên có miếu thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (獅子石), từ đó đảo nối tiếp nhau. Đi thêm 2 đến 3 ngày, phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙修國), bèn hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), tới biên giới Xích Thổ. Lâm Ấp (林邑) nay là Chiêm Thành (占城). Sách Tinh tra thắng lãm (星槎勝覽) chép: 'Từ Chiêm Thành thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến', chính là chỗ này vậy."
===Nguyên===
'''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Nguyên Thành Tông (元成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu xin sai sứ giả đến.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyền (暹國本傳): Vào năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Thành Tông (成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu bằng chữ vàng, muốn triều đình sai sứ giả đến nước mình. Đến khi biểu văn ấy tới nơi, thì triều đình đã sai sứ giả đi từ trước rồi, vốn là do bên kia chưa biết vậy. Triều đình ban cho sứ giả nước họ đến lạy một chiếc phù bằng vàng trơn (tố kim phù) để đeo, rồi sai đi gấp để đuổi theo đoàn chiếu sứ cùng đi. Vì người Xiêm (暹人) và người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒) vốn có thù hận chém giết nhau cũ, đến nay thảy đều quy thuận. Có chỉ dụ bảo người Xiêm (暹人) rằng: "Chớ làm tổn thương người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒), để giữ trọn lời hứa của các ngươi."
'''Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], nước Xiêm xin ban yên ngựa, chiếu ban cho áo thêu chỉ vàng nhưng không cho ngựa.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Thành Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyền (暹國本傳): Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], quốc chủ nước Xiêm (暹國) dâng lời rằng: "Lúc cha tôi còn tại vị, triều đình từng ban cho yên cương, ngựa trắng cùng áo thêu chỉ vàng, nay xin theo lệ cũ mà ban cho." Hoàng đế dựa theo lời của Thừa tướng Hoàn Trạch Đáp Lạt Hãn (完澤荅剌罕) rằng: "Kia là nước nhỏ mà ban cho ngựa, e rằng bọn lân bang như Hân Đô (忻都) sẽ chê cười." Triều đình vẫn ban cho áo thêu chỉ vàng, nhưng không ban cho ngựa.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹邏國), vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (邏斛), cũng tức là đất cũ của Xích Thổ (赤土) và Bà La Sát (婆羅剎). Nằm ở cực Nam của Chiêm Thành (占城), phía Bắc thẳng hướng đến Liêm Châu (廉州), men theo bờ Bắc biển nối liền với Giao Chỉ (交趾). Đất nước Xiêm (暹) khô cằn, không hợp cho việc cày cấy trồng trọt; đất ruộng nước La Hộc (羅斛) thì bằng phẳng, rộng rãi và nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm phải trông cậy vào đó để cung cấp. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607] đời Tùy, quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác từ quận Nam Hải (南海郡) cưỡi thuyền đi sứ Xích Thổ (赤土), đến nay truyền sai là di chủng của Xích Mi (赤眉), sau đổi tên gọi là Xiêm (暹). Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295] thời Nguyên, người Xiêm (暹人) từng sai sứ vào cống. Trong khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục nước La Hộc (羅斛), mà hợp lại thành 1 nước."
===Minh===
'''Minh Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ 4, Xiêm La sai sứ triều cống'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Xiêm La (暹羅) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến, chính là nước Xích Thổ (赤土國) thời Tùy Đường. Sau chia làm 2 nước là La Hộc (羅斛) và Xiêm (暹). Đất Xiêm (暹) khô cằn không hợp gieo trồng, đất La Hộc (羅斛) bằng phẳng, trồng trọt thu hoạch nhiều, nước Xiêm (暹) phải trông cậy vào đó. Thời Nguyên (元), nước Xiêm (暹) thường vào cống. Sau đó nước La Hộc (羅斛) mạnh lên, thôn tính đất Xiêm (暹), nên gọi là nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國)."
Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], mệnh sứ thần Lữ Tông Tuấn (呂宗俊) mang chiếu thư đi dụ nước đó. Năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai sứ dâng biểu, cùng bọn Tông Tuấn (宗俊) đến cống voi thuần, rùa 6 chân và phương vật. Chiếu ban cho vua gấm vóc và ban cho sứ giả tiền vải có sai biệt. Sau đó, lại sai sứ đến chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372], chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu.
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Xiêm La (暹羅) vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛). Nước Xiêm (暹) là di chủng của quân Xích Mi (赤眉) nhà Hán, đất nước ấy khô cằn, không hợp cày cấy. Đất ruộng La Hộc (羅斛) bằng phẳng nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm trông cậy vào đó. Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], người Xiêm (暹人) thường sai sứ vào cống. Khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục La Hộc (羅斛) mà hợp thành 1 nước. Đầu năm Hồng Vũ (洪武) triều ta, vua nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國) là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai các sứ thần Nại Tư Lý Sài Lạt Thức Tất Thế (奈思俚儕剌識悉替) đến triều cống, dâng biểu lá vàng. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆)."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Khí hậu Xiêm La (暹羅) không điều hòa, tục chuộng xâm chiếm. Nấu biển làm muối, nấu gạo nếp làm rượu. Trai gái búi tóc hình dùi, dùng vải trắng quấn đầu, mặc áo dài. Mỗi khi có việc bàn bạc, hình pháp nặng nhẹ, tiền thóc ra vào, thảy đều do phụ nữ quyết định. Ý chí và năng lực của họ trên cả nam giới. Dùng vỏ ốc (nghệ tử) thay tiền lưu thông. Người chết thì đổ thủy ngân vào để giữ xác."
Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Đất Xiêm La (暹羅) rộng 1.000 dặm, quanh nước đều là núi, hiểm trở gồ ghề, đất dưới thấp ẩm ướt lỏng lẻo, hiếm chỗ trồng trọt được. Khí hậu không ổn định, lúc sương mù lúc nóng nực. Từ phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), đi thuyền 7 ngày đêm mới đến cửa biển Tân Môn (新門海口), vào cảng mới đạt đến nước ấy. Vua ở cung thất tráng lệ, dân ở nhà sàn, sàn nhà lợp san sát cây bàng lang, dùng mây sợi buộc rất chặt, trải chiếu mây, chiếu tre để ngủ nghỉ bên trong. Vua vốn là người Tỏa Lý (鎖里), dùng vải trắng quấn đầu, không mặc áo, lưng thắt khăn thêu sợi, thêm gấm vóc áp lưng, cưỡi voi đi hoặc ngồi kiệu, lọng cán vàng làm bằng lá giao. Chuộng đạo Phật, người trong nước đều như vậy. Tăng ni rất nhiều, trang phục giống Trung Quốc, có am quan, ăn chay thụ giới. Phụ nữ dân dã nhiều trí tuệ, chồng nghe theo vợ, vợ có tư thông với người Trung Quốc, ăn ngủ cùng nhau, chồng vẫn điềm nhiên không lấy làm lạ. Nam giới quấn đầu vải trắng, mặc áo dài, phụ nữ cũng vậy và búi tóc hình dùi. Nam giới năm 20 tuổi, bộ phận sinh dục tất phải khảm châu ngọc, kẻ phú quý đúc vàng bọc châu, phát ra tiếng kêu mới coi là đẹp, nếu không là người bần tiện. Khi cưới thì bầy tăng đón rể đến nhà gái, tăng lấy chỉ đỏ dán lên trán nam gọi là 'lợi thị', hủ lậu không thể tả xiết. Qua 3 ngày, tăng cùng thân quyến đẩy thuyền hoa bàng lang tiễn về, rồi mở tiệc tấu nhạc. Lễ tang, kẻ phú quý thì đổ thủy ngân mà chôn, dân gian thì khiêng xác quăng xuống biển. Ở các cồn bãi có hàng chục con chim sắc vàng bay đến ăn, có khi xác bị bỏ trôi biển, gọi là 'điểu táng'. Sau đó dùng giáo pháp Phù Đồ để làm chay. Ngôn ngữ giống Quảng Đông (廣東), phong tục nông nổi, thạo thủy chiến. Thường chinh phạt lân bang. Thị trường dùng vỏ ốc biển, giá trị như tiền. Sản vật có đá Hồng Mã Khẩn Đích (紅馬肯的石), kém hơn đá Hồng Nha (紅鴉), sáng trong như hạt lựu. Phía Tây Bắc nước này hơn 200 dặm có thị trấn gọi là Thượng Thủy (上水), thông về phía Nam, dân cư chừng 600 nhà, các loại hàng phiên đều có: hoàng liên hương, la hắc, tốc hương, giáng chân, trầm thủy, cũng có gỗ hoa lê, bạch đậu khấu, đại phong tử, huyết kiệt đằng, kết tô mộc, thiếc hoa, ngà voi, lông chim thúy. Tô mộc rẻ như củi, sắc cực tốt. Thú có voi trắng, sư tử, mèo, chuột trắng. Rau quả như Chiêm Thành (占城). Có rượu gạo, rượu dừa, đều là rượu nấu. Cống vật là tô mộc, hương giáng chân."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], nước Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 [năm 1372], cống gấu đen, vượn trắng và phương vật. Năm sau lại đến cống. Chị của vua là Tham Liệt Tư Ninh (參烈思寧) riêng sai sứ dâng biểu lá vàng, cống phương vật cho Trung cung (Hoàng hậu), bị từ chối. Sau đó người chị lại sai sứ đến cống, Đế vẫn từ chối, nhưng ban yến tiệc cho sứ giả. Lúc bấy giờ vua nước ấy nhu nhược không có võ công, người trong nước suy tôn bác là Tham Liệt Bảo Tì Nha Tì Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙毗哩哆囉祿) làm chủ việc nước, sai sứ đến báo, cống phương vật, ban yến tiệc theo chế độ. Sau đó tân vương sai sứ đến cống tạ ơn, sứ giả cũng có vật hiến tặng, Đế không nhận. Tiếp đó, sai sứ chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1374], cống phương vật, lại dâng bản đồ nước mình."
'''Năm Hồng Vũ thứ 7 [năm 1374], sứ thần Xiêm La vào cống, nói rằng "thuyền cống gặp gió trôi mất", thu nhặt những vật còn sót lại để tiến dâng. Chiếu vì không có biểu văn nên từ chối.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 [năm 1374], sứ thần Sa Lý Bạt (沙里拔) đến cống, nói rằng năm ngoái thuyền dừng tại Dương Ô Chư (烏豬洋), gặp gió làm hỏng thuyền, trôi đến Hải Nam (海南), nhờ quan lại cứu hộ, còn giữ được các vật sót lại như gấm đầu la, giáng hương, tô mộc tiến hiến. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên. Đế trách không có biểu văn, đã nói chìm thuyền mà phương vật lại còn, nghi là thương buôn phiên bang, mệnh từ chối. Dụ cho các thần ở Trung thư và Lễ bộ rằng: 'Xưa chư hầu đối với Thiên tử, hằng năm có tiểu sính, 3 năm có đại sính. Ngoài chín châu (Cửu châu) thì mỗi đời triều kiến một lần, phương vật tiến cống cốt để tỏ lòng thành kính mà thôi. Duy Cao Ly (高麗) khá biết lễ nghĩa, nên lệnh 3 năm một lần cống. Các nước xa khác như Chiêm Thành (占城), An Nam (安南), Tây Dương Tỏa Lý (西洋瑣里), Qua Oa (瓜哇), Bột Ni (浡泥), Tam Phật Tề (三佛齊), Xiêm La Hộc (暹羅斛), Chân Lạp (真臘), vào cống đã tần suất cao, hao phí quá lớn, nay không cần phải như thế nữa, hãy gửi văn thư cho các nước biết'. Tuy nhiên kẻ đến vẫn không dứt, Thế tử là Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) cũng sai sứ dâng thư lên Hoàng thái tử, cống phương vật, mệnh dẫn sứ giả triều kiến Đông Cung, ban yến tiệc rồi cho về."
'''Năm Hồng Vũ thứ 8 [năm 1375], nước Xiêm La vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 8 [năm 1375] lại vào cống. Mà Thế tử cũ là Minh Đài Vương Thế tử Chiêu Bột La Cục (昭孛羅局) cũng sai sứ dâng biểu triều cống, ban yến tiệc như sứ của vua."
'''Năm Hồng Vũ thứ 9 [năm 1376], chiếu dụ vua nước Xiêm La, ban ấn và 1 bộ áo.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 9 năm thứ 9 [năm 1376], vua nước ấy sai con là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) dâng biểu cống voi và phương vật, ban chiếu khen ngợi. Dụ vua nước Xiêm La rằng: Làm vua trị dân, nếu không phải mệnh sáng của trời, ơn lớn của đất, sao được như vậy? Hoa Hạ và Di Địch tuy cách biệt, nhưng vui cái vui của thiên hạ thì ở đâu cũng thế. Nếu làm kẻ bề trên, biết thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế, hòa hợp người và thần, thì lộc truyền đời đời không dứt. Ngươi là Đa La Lộc (哆囉祿) từ khi nối ngôi đến nay, trong thì sửa đạo tề gia, ngoài thì tạo phương cách hòa mục láng giềng, huống hồ nhiều lần sai sứ đến Trung Quốc, xưng thần nhập cống, xét trong các vương thời nay, Đa La Lộc (哆囉祿) có thể gọi là hiền đức vậy, há chẳng tiếng vang các nước phiên sao? Mùa thu năm nay, cống voi đến triều, trẫm sai sứ sang dụ, đặc biệt ban ấn nước Xiêm và 1 bộ áo. Ngươi nên vỗ về dân bang, mãi hưởng nhiều phúc. Nay ban chiếu dụ, mong hãy thấu hiểu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], nước Xiêm La đến triều.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 [năm 1377], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) vâng mệnh cha đến triều kiến. Đế vui mừng, mệnh Lễ bộ Viên ngoại lang Vương Hằng (王恆) cùng những người khác mang chiếu và ấn ban cho, văn ấn khắc 'Xiêm La quốc vương chi ấn' (暹羅國王之印), đồng thời ban cho Thế tử áo, tiền vải và phí đi đường. Từ đó, nước ấy tuân theo mệnh triều đình, bắt đầu gọi là Xiêm La (暹羅). Cứ 1 năm 1 lần cống, hoặc 1 năm 2 lần cống. Đến sau năm Chính Thống (正統) [sau năm 1449], mới là mấy năm 1 lần cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], ban cho nước Xiêm La văn sách Khám hợp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], ban văn sách Khám hợp cùng gấm vóc đồ sứ cho bọn Chân Lạp (真臘)."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], nước Xiêm La cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], cống 10.000 cân hồ tiêu, 10.000 cân tô mộc. Đế sai quan báo đáp hậu hĩnh. Lúc đó dân Ôn Châu (溫州) có người mua trầm hương các vật của họ, hữu trách khép vào tội thông phiên, đáng phải chém bêu đầu. Đế phán: 'Ôn Châu là nơi Xiêm La tất phải đi qua, nhân họ qua lại mà mua bán, không phải thông phiên'. Bèn được tha tội."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Xiêm La cống 30 ngà voi, 60 nô tỳ phiên.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Thế tử Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ đến cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Xiêm La cống tô mộc, hồ tiêu, giáng hương tổng cộng 170.000 cân.'''
*Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử - Xiêm La truyện" đã nêu ở trên.
'''Năm Hồng Vũ thứ 28 [năm 1395], Thế tử nước Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) triều cống, và báo tang cha. Sắc phong Thế tử nối ngôi vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 [năm 1395], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ triều cống, và báo tang cha. Mệnh trung quan Triệu Đạt (趙達) cùng những người khác sang tế, sắc phong Thế tử nối ngôi vương, ban thưởng thêm hậu. Dụ rằng: 'Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, sai sứ ra biên giới, đi khắp bốn phương, nơi đặt chân đến có 36 nước, nơi tiếng tăm thông đạt có 31 nước. Phong tục khác biệt, nước lớn có 18, nước nhỏ có 149, so với ngày nay thì Xiêm La gần nhất. Vừa rồi sứ đến, biết tiên vương đã mất. Vương nối tiếp nghiệp tiên vương, có đạo với bang gia, thần dân vui mừng. Nay đặc biệt sai người ban mệnh, Vương chớ làm mất pháp độ, chớ dâm dật hưởng lạc, để làm rạng rỡ tiền liệt. Hãy kính cẩn thay'."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 28 [năm 1395], chiếu sai nội sứ Triệu Đạt (趙達), Tống Phúc (宋福) làm sứ giả đi nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國), tế vua Tham Liệt Bảo Tì Nha Tư Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙思哩哆囉祿), ban cho嗣 vương (vua nối ngôi) Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) 4 xấp gấm, 4 xấp là, 40 xấp vải mưu ti (mâu ti bố); ban cho vương phi 4 xấp gấm, 4 xấp là, 12 xấp vải mưu ti, có sắc dụ."
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, BAN CHO VUA NƯỚC XIÊM LA ẤN BẠC MẠ VÀNG NÚM LẠC ĐÀ CÙNG CÁC VẬT PHẨM'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Thành Tổ (成祖) lên ngôi, sai chiếu dụ nước ấy. Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], ban cho vua nước ấy là Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) ấn bạc mạ vàng núm lạc đà, vua nước ấy liền sai sứ đến tạ ơn. Tháng 6 âm lịch [năm 1403], nhân việc dâng tôn thụy cho Cao Hoàng đế (高皇帝), sai quan đi ban bố chiếu thư và ban thưởng. Tháng 8 âm lịch [năm 1403], lại mệnh cho Cấp sự trung Vương Triết (王哲), Hành nhân Thành Vụ (成務) ban cho vua nước ấy gấm vóc. Tháng 9 âm lịch [năm 1403], mệnh Trung quan Lý Hưng (李興) mang sắc thư đến thăm hỏi và ban thưởng cho vua nước ấy, các quan văn võ cũng đều được ban thưởng. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước Xiêm La (暹羅) sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật."
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 9 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], có thuyền phiên trôi dạt đến bờ biển Phúc Kiến (福建), thẩm vấn thì ra là thuyền thông hảo giữa Xiêm La (暹羅) và Lưu Cầu (琉球). Ty sở tại kiểm kê hàng hóa rồi tâu lên. Hoàng đế nói: 'Hai nước tu hảo là việc rất tốt. Không may gặp gió bão, chính là lúc nên thương xót, lẽ nào lại nhân đó mà trục lợi?'. Mệnh cho ty sở tại sửa thuyền cấp thóc, đợi khi gió thuận thì tiễn đi Lưu Cầu (琉球). Tháng này, vua nước ấy vì được nhận玺 thư (tỷ thư) thăm hỏi ban thưởng của Hoàng đế, nên sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật, ban thưởng thêm hậu, lại ban cho 100 cuốn Liệt nữ truyện (列女傳). Sứ giả xin ban hành quy chuẩn đo lường (lượng hành) làm mẫu mực vĩnh viễn cho quốc gia, Hoàng đế chấp thuận."
Trước đó, sứ giả cống nạp của Chiêm Thành (占城) khi về, gió thổi thuyền đến Bành Hanh (彭亨), nước Xiêm La (暹羅) cưỡng đoạt sứ giả đó, giam giữ không cho về. Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌) và Mãn Lạt Gia (滿剌加) lại kiện Xiêm La (暹羅) cậy mạnh phát binh, đoạt ấn cáo do Thiên triều ban cho. Hoàng đế bèn hạ sắc trách phạt rằng: "Chiêm Thành (占城), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加) cùng ngươi đều chịu mệnh triều đình, sao dám cậy thế uy quyền? Giam giữ sứ giả, đoạt ấn cáo của họ. Trời có đạo hiển hiện, phúc cho kẻ thiện họa cho kẻ dâm, giặc Lê (黎) ở An Nam (安南) có thể làm gương soi. Hãy lập tức trả lại sứ giả Chiêm Thành (占城), hoàn lại ấn cáo cho Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加). Từ nay về sau phụng pháp theo lý, giữ yên bờ cõi hòa mục láng giềng, mới mong hưởng phúc thái bình vĩnh viễn." Lúc bấy giờ sứ giả cống nạp do Xiêm La (暹羅) sai đi bị lạc gió trôi đến An Nam (安南), thảy đều bị giặc Lê (黎) giết chết, chỉ còn dư lại 1 người là Bột Hắc (孛黑). Sau khi quan quân đánh An Nam (安南), cứu được người này đưa về, Hoàng đế rất thương xót.
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 4 [năm 1406], Xiêm La sai sứ vào cống, xin sách và mẫu đo lường.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 [năm 1406], sứ giả Xiêm La (暹羅) là Nại Tất (奈必) dâng biểu cống phương vật, được tặng sách Cổ kim liệt nữ truyện (古今列女傳). Lại xin mẫu đo lường làm chuẩn mực trong nước, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Xiêm La sai sứ cống phương vật, tạ tội trước.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 [năm 1408], mệnh Trung quan Trương Nguyên (張原) đưa sứ giả về nước, ban cho vua tiền vải, lệnh cho vua phải chu cấp hậu hĩnh cho gia đình những người bị giết. Tháng 9 âm lịch [năm 1408], Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy, vua nước ấy sai sứ cống phương vật, tạ lỗi trước."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 7 [năm 1409], Xiêm La sai sứ đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), lại đưa dân gian trốn tránh về nước, cùng cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sứ giả đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh cho Trung quan tâu cáo trước linh sàng. Lúc đó quân gian là Hà Bát Quan (何八觀) cùng những người khác trốn vào Xiêm La (暹羅), Hoàng đế mệnh sứ giả về báo với chủ họ, đừng thu nhận kẻ đào tẩu. Vua nước ấy liền phụng mệnh sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa bọn Bát Quan (八觀) về, mệnh Trương Nguyên (張原) mang sắc thư và tiền lụa đến khen ngợi."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sai sứ dâng nghi vật đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh Trung cung quan đến cáo trước linh sàng. Tháng 9 âm lịch [năm 1409], lại sai sứ là Khôn Văn Côn (坤文琨) cùng những người khác dâng biểu cống phương vật, ban tiền vải rồi tiễn về. Lúc bấy giờ người Nam Hải (南海) là Hà Bát Quan (何八觀) lưu dạt ra đảo biển, rồi vào Xiêm La (暹羅). Đến nay nhân lúc bọn Văn Côn (文琨) về, Thượng (Hoàng đế) lệnh dụ quốc vương nước ấy, sai đưa bọn Bát Quan (八觀) về, chớ thu nhận kẻ đào tẩu mà chuốc lấy tội lỗi, đồng thời ban cho vua nước ấy gấm thêu vàng, lụa trừu, sa, la, nhung gấm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 8 [năm 1410], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 [năm 1410], Xiêm La (暹羅) sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa người Trung Quốc lưu dạt về, ban sắc thư thăm hỏi cùng tiền lụa màu."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải cho Xiêm La. Năm này vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], lại đến triều cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 13 [năm 1415], vua nước Xiêm La qua đời.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 5 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 [năm 1415], Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) qua đời."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 14 [năm 1416], phong Thế tử nước Xiêm La làm vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 14 [năm 1416], vương tử Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) sai sứ cáo tang cha, mệnh Trung quan Quách Văn (郭文) sang tế, riêng sai quan mang chiếu phong con trai làm vua, ban cho gấm trắng lụa trắng, liền sau đó sai sứ đến tạ ơn."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], định số lượng gấm vóc ban cho vua và vương phi nước Xiêm La.'''
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], cấp cho vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 10 xấp lụa trừu, sa, la, trong đó mỗi loại có 4 xấp dệt kim; vương phi mỗi loại trừu, sa, la có 6 xấp, trong đó mỗi loại có 2 xấp dệt kim."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La xâm lấn Mãn Lạt Gia, sai sứ giả trách phạt. Vua Xiêm La sai sứ giả tạ tội.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La (暹羅) xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加) nên sai sứ giả trách lệnh phải hòa mục. Sau khi sứ giả nước họ vào cống, mệnh Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về. Vua lại sai sứ tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加)."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], sai sứ dụ vua nước Xiêm La (暹羅), khiến cho hòa bình với Mãn Lạt Gia (滿剌加). Sắc dụ Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) rằng: 'Trẫm vâng mệnh trời, làm chủ cả Hoa Hạ và Di Địch, lấy tâm hiếu sinh của天地 (thiên địa) để trị quốc, nhất thị đồng nhân, không phân biệt bên này bên kia. Vương có thể kính trời thờ nước lớn, giữ chức vụ phụng cống, lòng trẫm rất khen ngợi, vốn chẳng phải chỉ trong một ngày. Gần đây vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) là Y Tư Hạn Đáp Nhi Sa (亦思罕答兒沙) lên nối ngôi, có thể tiếp nối chí hướng của cha, tự thân dẫn vợ con đến cửa khuyết triều cống, lòng thành thờ nước lớn đó không khác gì Vương. Nhưng nghe tin Vương vô cớ muốn động binh. Phàm binh khí là vật hung, hai bên đánh nhau tất cùng bị thương, cho nên chuộng binh không phải là tâm của người nhân. Huống hồ vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) đã nội thuộc, tức là thần tử của triều đình. Họ có lỗi, nên trình bày lên triều đình. Không làm theo cách này mà tự tiện động binh, ấy là không nể triều đình vậy. Đây chắc không phải ý của Vương, hoặc là thuộc hạ bên cạnh mượn danh Vương, dùng binh để thỏa tư thù. Vương nên suy xét kỹ, chớ để bị mê hoặc, hãy hòa mục với láng giềng, không xâm lấn nhau, để cùng hưởng phúc, há có giới hạn sao! Vương hãy lưu tâm cho'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 18 [năm 1420], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 4 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 [năm 1420], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ vào cống phương vật, ban tiền vải, vẫn sai Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về nước, vẫn ban cho vua gấm vóc sa la các thứ."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 19 [năm 1421], Xiêm La sai sứ vào cống, và tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 [năm 1421], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Nại Hoài (奈懷) cùng 60 người cống phương vật, tạ tội xâm lấn nước Mãn Lạt Gia (滿剌加), ban tiền vải có sai biệt. Tháng 7 âm lịch lại vào cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 21 [năm 1423], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 [năm 1423], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Mai (坤梅) cống phương vật, ban cho tiền vải."
'''MINH TUYÊN TÔNG NĂM TUYÊN ĐỨC THỨ 8, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 [năm 1433], vua nước ấy là Tất Lý Ma Ha Lạt (悉里麻哈賴) sai sứ triều cống. Trước đó, bồi thần nước này là Nại Tam Đạc (奈三鐸) cùng những người khác đi cống, thuyền ghé cảng Tân Châu (新州港) nước Chiêm Thành (占城), thảy đều bị người nước ấy cướp bóc."
'''MINH ANH TÔNG NĂM CHÍNH THỐNG THỨ 1, SỨ CỐNG XIÊM LA TỐ CÁO VIỆC CHIÊM THÀNH CƯỚP BÓC, LỆNH CHIÊM THÀNH TRẢ LẠI NGƯỜI VÀ VẬT ĐÃ CƯỚP'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 1 [năm 1436], Nại Tam Đạc (奈三鐸) lén đi thuyền nhỏ đến kinh đô, mà sứ cống do vua nước ấy sai đi cũng tới nơi, đều tố cáo tình trạng Chiêm Thành (占城) đánh cướp. Hoàng đế mệnh triệu sứ giả Chiêm Thành (占城) đến để đối chất, sứ giả không có gì để đáp lại, bèn sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城), lệnh phải hoàn trả toàn bộ người và vật đã cướp. Sau đó, nước Chiêm Thành (占城) gửi văn thư cho Lễ bộ (禮部), nói rằng: 'Năm kia nước tôi sai sứ đi Tu Văn Đát Na (須文達那), cũng bị người tặc nước Xiêm La (暹羅) cướp đi, tất nhiên Xiêm La (暹羅) phải trả lại những gì đã cướp trước, thì nước tôi tự nhiên không dám không trả'."
Theo Minh hội điển (明會典): "Xiêm La (暹羅) vào cống. Khoảng năm Tuyên Đức (宣德), ban thưởng đều giảm một nửa. Sau năm Chính Thống (正統), đều chiếu theo lệ năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], sứ thần chính và phó khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là dệt kim, 1 đôi giày và tất. Những người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai vàng trơn. Những người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai vàng chạm hoa. Phần thưởng chính là 4 xấp lụa trừu và 4 xấp là, đổi sang 2 xấp sa quyến, 1 xấp vải bông, 1 bộ áo trừu dệt kim. Đám người thông sự khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là trơn, 1 đôi giày và tất; người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai bạc trơn. Người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai bạc chạm hoa. Phần thưởng chính là 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là, đổi sang 1 xấp quyến bằng tiền giấy (钞绢), 1 bộ áo trừu trơn. Bạn phiên (người đi theo) khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo quyến, 1 đôi giày và tất; phần thưởng chính đổi sang 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Những người lưu lại Quảng Đông (廣東) mà có tiến cống thì hạng đầu mục mỗi người thưởng 1 bộ áo trừu trơn, 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là; người theo hầu mỗi người 1 bộ áo quyến trừu, 1 xấp lụa trừu; hạng bạn phiên mỗi người 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Hàng hóa của đám sứ thần mang tới theo lệ không thu thuế, mà trả bằng tiền giấy theo giá trị."
'''Năm Chính Thống thứ 3 [năm 1438], Xiêm La vào cống, vẫn lệnh phải trả lại người và vật của Chiêm Thành đã cướp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 3 [năm 1438], sứ cống Xiêm La (暹羅) lại đến, nhân đó ban sắc thư, lệnh phải gấp rút hoàn trả người và vật cho Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Chính Thống thứ 11 [năm 1446], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 11 [năm 1446], vua nước ấy là Tư Lợi Ba La Ma Na Nhược Trí Lạt (思利波羅麻那若智剌) lại sai sứ vào cống."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 4, PHONG TỰ TỬ CỦA XIÊM LA LÀ BẢ LA LAN MỄ TUÂN LẠT LÀM XIÊM LA QUỐC VƯƠNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 [năm 1453], mệnh Cấp sự trung Lưu Chu (劉洙), Hành nhân Lưu Thái (劉泰) sang tế cố vương Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (波羅摩剌劄的賴), nhân đó phong cho con nối ngôi (tự tử) là Bả La Lan Mễ Tuân Lạt (把羅蘭米孫剌) làm vua."
'''MINH ANH TÔNG NĂM THIÊN THUẬN THỨ 1, BAN CHO SỨ CỐNG XIÊM LA ĐAI VÀNG CHẠM HOA'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳) đã nêu.
'''Năm Thiên Thuận thứ 6 [năm 1462], Xiêm La sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 [năm 1462], vua nước ấy là Bột Lạt Lam La Giả Trực Ba Trí (孛剌藍羅者直波智) sai sứ triều cống."
'''MINH HIẾN TÔNG NĂM THÀNH HÓA THỨ 9, NƯỚC XIÊM LA XIN CẤP ĐỔI KHÁM HỢP, CHẤP THUẬN'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 9 [năm 1473], sứ cống nói rằng văn bản Khám hợp (勘合) ban năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 [năm 1457] bị mọt ăn, xin cấp đổi cái mới, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], sứ cống Xiêm La về đến giữa đường, lén mua con cái nhà lành, chở muối lậu, mệnh sai quan răn đe.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 [năm 1481], sứ cống về nước, đến giữa đường lén mua trẻ con làm nô tỳ, lại chở nhiều muối lậu, Hoàng đế mệnh sai quan đi răn đe các nước phiên. Trước đó có người vùng Đinh Châu (汀州) là Tạ Văn Bân (謝文彬), vì buôn muối ra biển, trôi dạt vào nước đó, làm quan đến chức Khôn Nhạc (坤岳), tương đương với Học sĩ (學士) của Thiên triều. Sau đó sung làm sứ giả đến triều kiến, vì buôn bán đồ cấm, việc bị lộ, bị hạ ngục."
'''Năm Thành Hóa thứ 18 [năm 1482], Thế tử Xiêm La sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh phong làm Xiêm La quốc vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 18 [năm 1482], sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh Cấp sự trung Lâm Tiêu (林霄), Hành nhân Diêu Long (姚隆) sang phong cho con trai là Quốc Long Bột Lạt Lược Khôn Tức Lạt Ưu Địa (國隆勃剌略坤息剌尤地) làm vua."
'''MINH HIẾU TÔNG NĂM HỒNG TRỊ THỨ 10, XIÊM LA VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khi vào cống năm Hồng Trị (弘治) thứ 10 [năm 1497], Tứ Di Quán (四夷館) không có quan dịch thuật tiếng Xiêm La (暹羅), các đại thần nội các là Từ Phổ (徐溥) và những người khác xin gửi văn thư đến Quảng Đông (廣東), tìm chọn những người thông thạo ngôn ngữ và văn tự nước ấy đưa về kinh đô để dự bị sử dụng, Hoàng đế chấp thuận."
'''MINH VŨ TÔNG NĂM CHÍNH ĐỨC THỨ 10, XIÊM LA TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Đức (正德) thứ 4 [năm 1509], có thuyền Xiêm La (暹羅) trôi dạt đến Quảng Đông (廣東), Trung quan Thị bạc là Hùng Tuyên (熊宣) bàn với các quan thủ thành, đánh thuế hàng hóa đó để cung ứng quân nhu. Việc đến tai triều đình, chiếu chỉ khiển trách Tuyên (宣) lạm quyền, điều về Nam Kinh (南京). Năm thứ 10 [năm 1515], dâng biểu lá vàng sang triều cống, trong quán không ai nhận mặt được mặt chữ ấy. Các đại thần nội các là Lương Trữ (梁儲) và những người khác xin chọn lưu lại 1 đến 2 người trong đoàn sứ giả vào quán để rèn luyện học tập, Hoàng đế phê chuẩn."
'''MINH THẾ TÔNG NĂM GIA TĨNH THỨ 32, XIÊM LA CỐNG PHƯƠNG VẬT'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 [năm 1522], thuyền hàng Xiêm La (暹羅), Chiêm Thành (占城) đến Quảng Đông (廣東) buôn bán, Trung quan Ngưu Vinh (牛榮) thả cho người nhà riêng tự buôn bán, bị luận tội chết theo luật. Năm thứ 32 [năm 1553], sai sứ cống voi trắng và phương vật. Voi chết trên đường đi, sứ giả lấy châu báu trang điểm trên ngà, đựng vào mâm vàng cùng với đuôi voi đem đến dâng hiến. Đế khen ngợi ý đó, ban thưởng hậu hĩnh cho về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹羅), từ sau các năm Hồng Hy (洪熙) [1425], Tuyên Đức (宣德) [1426-1435], việc nhập cống vẫn như kỳ hạn thường lệ. Khoảng năm Chính Thống (正統) [1436-1449], Cảnh Thái (景泰) [1450-1456], việc cống nạp đôi khi không thường xuyên. Từ năm Thành Hóa (成化) [1465-1487] đến nay, đại để 6 năm một lần cống. Gần đây vào năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 32 [năm 1553], sai sứ là Khôn Tùy Ly (坤隋離) và những người khác cống voi trắng và phương vật. Voi trắng đã chết, để lại 1 chiếc ngà voi dài 6 thước, đầu và gốc khảm vàng chạm hoa; đầu ngà lớn 5 tấc 7 phân, khảm 10 hạt lựu, ở giữa khảm 10 viên trân châu, 4 viên bảo thạch; phần đuôi lớn 1 tấc, khảm 1 viên kim cương. Trong hộp vàng đựng lông đuôi voi trắng để làm bằng chứng." Lại có 19 chiếc ngà voi, tổng cộng 350 cân; 37 cây gỗ mun (ô mộc), tổng cộng 3.600 cân; 600 cân thụ hương; 480 cân đằng hoàng; 580 cân đại phong tử; 300 cân tử cánh; 21 cây tốc hương, tổng cộng 650 cân; 20 cân mộc hương; 60 cân bạch đậu khấu; 810 cân hồ tiêu; 14.200 cân tô mộc.
'''Năm Gia Tĩnh thứ 37 [năm 1558], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 8 âm lịch năm thứ 37 [năm 1558], Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Ứng Mệnh (坤應命) và những người khác cống phương vật: 300 cân ngà voi, 650 cân thụ hương, 150 cân đằng hoàng, 310 cân tốc hương, 30 cân bạch đậu khấu, 13.200 cân tô mộc, 450 cân hồ tiêu, 3.800 cân ô mộc, 5.000 cân đại phong tử." Số lượng so với trước kia khá khác biệt.
'''MINH MỤC TÔNG NĂM LONG KHÁNH, NƯỚC XIÊM LA BỊ ĐÔNG MAN NGƯU PHÁ, BẮT THẾ TỬ VÀ ẤN MANG VỀ, CON THỨ NỐI NGÔI DÂNG BIỂU XIN ẤN, TRIỀU ĐÌNH BAN CHO'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Trong năm Long Khánh (隆慶) [1567-1572], nước láng giềng là Đông Man Ngưu (東蠻牛) cầu hôn không được, hổ thẹn tức giận, huy động đại binh công phá nước ấy. Vua nước ấy tự thắt cổ, Thế tử cùng ấn tín do Thiên triều ban cho bị bắt mang đi. Con thứ lên nối ngôi, dâng biểu xin ấn, triều đình ban cho. Từ đó bị nước Đông Man Ngưu (東蠻牛) chế ngự, vua nối ngôi lập chí phục thù."
'''MINH THẦN TÔNG NĂM VẠN LỊCH THỨ 6, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khoảng năm Vạn Lịch (萬曆), quân Đông Man Ngưu (東蠻牛) lại đến, Vua chỉnh đốn binh mã phấn đấu đánh trả, đại phá chúng, giết chết con trai vua ấy. Số quân còn lại chạy trốn trong đêm, Xiêm La (暹羅) từ đó hùng bá trên biển, dời binh công phá Chân Lạp (真臘), bắt vua nước ấy đầu hàng. Từ đó hằng năm dùng binh, bèn xưng bá các nước. Năm thứ 6 [năm 1578], sai sứ vào cống."
'''Năm Vạn Lịch thứ 20 [năm 1592], Xiêm La xin ngầm dùng quân giúp đánh Nhật Bản.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 [năm 1592], Nhật Bản (日本) đánh phá Triều Tiên (朝鮮), Xiêm La (暹羅) xin ngầm dùng quân đánh thẳng vào Nhật Bản (日本) để kiềm chế phía sau. Trung khu Thạch Tinh (石星) bàn định đồng ý, nhưng Đốc thần Lưỡng Quảng là Tiêu Ngạn (蕭彥) kiên trì phản đối, nên thôi. Sau đó việc phụng cống không thay đổi. Đến tháng 3 âm lịch năm Sùng Trinh (崇禎) thứ 16 [năm 1643], vẫn còn vào cống. Nước ấy chu vi 1.000 dặm, phong tục cứng cỏi hung hãn, thạo thủy chiến. Đại tướng dùng 'thánh thiết' bọc thân, đao tên không đâm thủng được. Thánh thiết ấy là xương sọ người vậy. Vua là người Tỏa Lý (鎖里), quan lại chia làm 10 cấp, từ vua đến dân thường, mọi việc đều do vợ quyết định. Ý chí và năng lực của phụ nữ thực sự vượt trên nam giới. Vợ tư thông với người Hoa thì chồng bày rượu cùng uống, điềm nhiên không lấy làm lạ, nói rằng: 'Vợ ta đẹp nên mới được người Hoa yêu mến'. Sùng tín đạo Phật, nam nữ đa số làm tăng ni, cũng ở am chùa, ăn chay thụ giới, trang phục khá giống Trung Quốc. Kẻ phú quý càng kính Phật, có tài sản 100 lạng vàng thì đem một nửa bố thí. Khí hậu không điều hòa, lúc lạnh lúc nóng, đất thấp ẩm ướt, người dân đều ở nhà sàn. Nam nữ búi tóc hình dùi, lấy vải trắng quấn đầu. Kẻ phú quý chết thì dùng thủy ngân đổ vào miệng mà chôn. Kẻ nghèo thì dời xác ra ven biển, tức thì có đàn chim bay đến mổ, chốc lát là hết sạch. Người nhà nhặt xương, khóc lóc rồi vứt xuống biển, gọi là 'điểu táng'. Cũng mời tăng lập đàn chay lễ Phật. Giao dịch dùng vỏ ốc biển (hải nghệ), năm nào không dùng vỏ ốc thì trong nước tất có dịch bệnh lớn. Đồ cống có: voi, ngà voi, sừng tê, lông công, lông thúy, mai rùa, rùa 6 chân, bảo thạch, san hô, phiến não, mễ não, khang não, não du, não sài, tường vi thủy, uyển thạch, đinh bì, a ngụy, tử cánh đằng, kiệt đằng hoàng, lưu hoàng, một dược, ô điêu nê, an tức hương, la hộc hương, tốc hương, đàn hương, hoàng thục hương, giáng chân hương, nhũ hương, thụ hương, mộc hương, đinh hương, ô hương, hồ tiêu, tô mộc, nhục đậu khấu, bạch đậu khấu, tất bát, ô mộc, đại phong tử cùng các loại vải tát cá lạt (sa-ha-la), Tây Dương. Nước ấy có 'miếu Tam Bảo', thờ Trung quan Trịnh Hòa (鄭和)."
===Thanh===
'''THẾ TỔ CHƯƠNG HOÀNG ĐẾ (世祖章皇帝)'''
'''Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653]'''
Theo Đại Thanh Hội điển (大清會典): "Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653], Tuần phủ Quảng Đông (廣東巡撫) tâu rằng, nước Xiêm La (暹羅) xin vào cống."
Xét thấy Xiêm La (暹羅), vốn là 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛) ở Hải Nam (海南), sau hợp thành một. Năm thứ 10 [năm 1653] xin vào cống.
'''Năm Thuận Trị thứ 16 [năm 1659]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Thuận Trị (順治) thứ 16 [năm 1659], Tổng đốc Lưỡng Quảng (兩廣總督) đề chuẩn cho nước Xiêm La (暹羅) lại đến thăm dò việc nộp cống. Các hàng hóa mang theo để đè thuyền (áp thuyền hóa vật) được cho phép giao dịch tại địa phương. Các sổ sách thanh tra thuế bạc hàng hóa trên thuyền đều được chuyển đến Hộ bộ (戶部) để kiểm tra."
'''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], nước Xiêm La (暹羅) có 2 chiếc thuyền chính cống, đi đến vùng biển Thất Châu (七洲海), gặp gió dạt mất, chỉ có 1 chiếc thuyền 'Hộ cống' đến được Hổ Môn (虎門), vẫn lệnh cho quay về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 12 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], sai sứ triều cống, dâng 1 đạo biểu văn bằng lá vàng, cống hiến phương vật gồm: 1 cân long diên hương, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương."
Phương vật dâng Hoàng hậu: 8 lạng long diên hương, 4 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 150 cân ngà voi, 150 cân hồ tiêu, 150 cân đằng hoàng, 150 cân đậu khấu, 150 cân tô mộc, 150 cân tốc hương, 150 cân đại phong tử, 150 cân kim ngân hương.
'''Năm Khang Hy thứ 3 [năm 1664]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 [năm 1664], nước Xiêm La (暹羅) dâng biểu tiến cống. Mệnh cho 2 thuyền chính cống cử 20 viên chức đến kinh đô để nộp bổ cống. 1 thuyền khác lệnh cho 6 người đến kinh đô."
'''Năm Khang Hy thứ 4 [năm 1665]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 [năm 1665], Xiêm La (暹羅) tiến cống đến kinh đô, Lễ bộ (禮部) đề định kỳ hạn cống là 3 năm 1 lần cống. Đường đi qua Quảng Đông (廣東)."
'''Năm Khang Hy thứ 6 [năm 1667]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 6 [năm 1667], Xiêm La (暹羅) tiến cống gồm 1 chiếc thuyền chính cống, 1 chiếc thuyền hộ cống, 1 chiếc thuyền chở voi, và 1 chiếc thuyền thăm dò phát sau. Lễ bộ (禮部) duyệt chuẩn, thuyền tiến cống không được quá 3 chiếc, mỗi thuyền không được quá 100 người, viên chức đến kinh đô là 22 người; các thuyền tiếp cống và thuyền thăm dò đều không được thả người lên bờ."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 6 âm lịch năm thứ 6 [năm 1667], sai sứ triều hạ. Dâng 1 bản biểu văn lá vàng nhân lễ Vạn thọ, 1 bản biểu văn dịch chữ. Cống hiến phương vật gồm: 1 tòa Long đình, 1 cân long diên hương, 300 cân tốc hương, 3.000 cân tô mộc, 300 cân ngà voi, 300 cân an tức hương, 300 cân bạch đậu khấu, 300 cân đại phong tử, 300 cân đằng hoàng, 4 con chim công, 300 cân ô mộc, 300 cân hồ tiêu, 300 cân giáng hương, 1 con voi thuần, 6 chiếc sừng tê, 4 con rùa 6 chân, 10 bức bình phong đuôi công, 600 tấm lông chim trả (thúy điểu), 100 cân hương nhựa cây (thụ giao hương), 2 cân hương trầm thủy, 100 cân hương vỏ cây (thụ bì hương), 100 cân nhi trà, 100 cân hoa hồ tiêu, 1 cân uyển thạch, 100 cân tử cánh, 6 xấp vải giao kiêu, 6 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 4 dải thiên thanh, 1 xấp vải đỏ, 6 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 10 xấp vải hoa chữ 'nhân' (人), 4 dải hoa văn hình người và voi, 10 xấp vải Tây Dương, 1 cân băng phiến loại lớn, 2 cân băng phiến loại vừa, 20 gáo dầu phiến, 100 cân long não, 100 cân hoàng đàn hương, 60 hũ nước hoa hồng (tường vi lộ), 100 cân lưu huỳnh."
Phương vật dâng Hoàng hậu tề niên (齊年): 8 lạng long diên hương, 150 cân tốc hương, 1.500 cân tô mộc, 150 cân ngà voi, 150 cân an tức hương, 150 cân bạch đậu khấu, 150 cân đại phong tử, 150 cân đằng hoàng, 2 con chim công, 150 cân ô mộc, 150 cân hồ tiêu, 150 cân giáng hương, 3 chiếc sừng tê, 2 con rùa 6 chân, 5 bức bình phong đuôi công, 300 tấm lông chim trả, 50 cân hương nhựa cây, 50 cân nhi trà, 50 cân hoa hồ tiêu, 1 cân hương trầm thủy, 50 cân hương vỏ cây, 8 lạng uyển thạch, 50 cân tử cánh, 3 xấp vải giao kiêu, 3 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 2 dải thiên thanh, 5 xấp vải đỏ, 3 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 5 xấp vải hoa chữ 'nhân', 5 xấp vải Tây Dương, 2 dải hoa tạp sắc hình người và voi, 8 lạng băng phiến loại lớn, 1 cân băng phiến loại vừa, 10 gáo dầu phiến, 50 cân long não, 50 cân hoàng đàn hương, 30 hũ nước hoa hồng, 50 cân lưu huỳnh.
'''Năm Khang Hy thứ 7 [năm 1668]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 [năm 1668], chính sứ Xiêm La (暹羅) vào cống đến kinh đô, các đầu mục lưu lại ở biên giới được cấp khẩu phần ăn."
'''Năm Khang Hy thứ 10 [năm 1671]'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 11 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 10 [năm 1671], cống hiến phương vật. Phụng chiếu ban tặng vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 6 xấp đoạn, 4 xấp đoạn dệt kim, 6 xấp sa, 4 xấp sa dệt kim, 6 xấp la, 4 xấp la dệt kim."
Chiếu ban cho Vương phi 4 xấp đoạn, 2 xấp đoạn dệt kim, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 4 xấp sa, 2 xấp sa dệt kim. Chính sứ, Phó sứ (nhị cống sứ), Tam sứ, mỗi người 7 xấp đoạn, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 2 xấp quyến, 1 xấp vải lót, 1 xấp vải thường, cùng 1 đôi tất nỉ gắn liền, 1 đôi ủng hạng nhất da xanh khâu kẽ; Thông sự thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành (Bành đoạn); Biện sự thưởng 4 xấp đoạn, 2 xấp la, 1 xấp quyến, 1 đôi ủng da ngựa lau mặt có tất nỉ; 22 người theo hầu, mỗi người 2 xấp quyến, 5 xấp vải, 1 đôi ủng da bò có tất nỉ; Quan hộ tống (bạn cống quan) thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành. Các vật phẩm ban thưởng này do hai bộ Hộ và Công chuyển tới trước Ngọ Môn (午門), ban cấp trong 2 lần yến tiệc tại bộ. Đợi đến ngày sứ cống Xiêm La (暹羅) về đến tỉnh, theo lệ thiết tiệc rượu 1 lần rồi tiễn về. Các lần tiến cống trên đều theo lệ ban thưởng như vậy. Khi sứ giả về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi.
'''Năm Khang Hy thứ 12 [năm 1673]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 12 [năm 1673], vua nước Xiêm La (暹羅) là Sâm Liệt Phách Lạt Chiếu Cổ Long Phách Lạt Mã Hô Lục Khôn Tư Do Đề Nha Bồ Ai (森列拍臘照古龍拍臘馬呼陸坤司由提呀菩埃) tiến cống và xin phong điển, Lễ bộ (禮部) đề chuẩn cấp cho Cáo mệnh cùng ấn bạc mạ vàng núm lạc đà. Sau khi sứ cống xong việc, các quan viên của Lễ bộ mặc triều phục trước Ngọ Môn (午門) cung kính đặt án kỷ. Quan Hồng lô tự (鴻蒚寺) dẫn các sứ cống hành lễ 3 quỳ 9 khấu đầu, quỳ nhận Cáo mệnh và Ấn tín, gửi văn thư cho quốc vương nước ấy, lệnh cho vua ra ngoài thành cung kính đón nhận Cáo ấn."
Lại có dụ rằng: "Nước ấy đi biển từ xa đến, bày tỏ lòng thành tiến cống. Những vật bị mọt ăn hoặc thiếu hụt đều miễn cho việc nộp bổ."
'''Năm Khang Hy thứ 23 [năm 1684]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 23 [năm 1684]. Dụ rằng: Viên chức tiến cống nước Xiêm La (暹羅) khi về nước, ai không cưỡi được ngựa thì quan phủ cấp cho kiệu khiêng, người theo hầu cấp cho phu gánh. Ngoài quan hộ tống, đặc phái thêm 1 Ty quan và 1 Bút thiếp thức của Lễ bộ (禮部) để bảo vệ cống vật. Ngoài lệ cống thường, lệ có thêm vật cống tăng thêm. Trước đây có chim công và rùa, sau lệnh miễn tiến dâng."
Cung tiến trước ngự tiền: 1 cân long diên hương đựng trong hộp bạc, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương.
Cống vật cho Hoàng hậu cũng giống như vậy, số lượng giảm đi một nửa.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic110 - 暹羅國.svg|center]]
Theo sách Tam tài đồ hội (三才圖會): "Phong tục vùng ven biển nước Xiêm La (暹羅), nam giới từ nhỏ đã cắt bộ phận sinh dục để khảm tám loại bảo vật (bát bảo) nhằm khoe khoang sự phú quý, nếu không làm vậy thì nhà gái sẽ không gả con gái cho."
Gần đây có người khách buôn đi biển tới Xiêm La (暹羅), dừng chân tại một hòn đảo nọ, khắp núi thảy đều là những chiếc thìa và đũa (thì trứ) màu đen tuyền, nơi ấy có rất nhiều cây lớn. Người khách ngẩng lên nhìn kỹ những chiếc thìa đũa ấy, hóa ra chúng chính là hoa và râu của loài cây đó. Bèn nhặt hơn 100 đôi mang về sử dụng, dù dính mỡ cũng không bị bẩn (nhiễm), sau tình cờ lấy ra khuấy trà, chúng liền theo đó mà tan biến mất.
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 1 (真臘部彙考一)==
'''[Cát Miệt (吉蔑), Cam Bột Trí (甘孛智), Gạm Phổ Chỉ (澉浦只)]'''
===THỜI TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 12, tháng 2 [năm 616], nước Chân Lạp (真臘) bắt đầu sai sứ dâng phương vật.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ: (Nội dung như trên).
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp (林邑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南). Cách quận Nhật Nam (日南郡) 60 ngày đi thuyền, phía Nam giáp nước Xa Cừ (車渠), phía Tây có nước Chu Giang (朱江). Vua họ Sát Lợi (剎利氏), tên là Chất Đa Tư Na (質多斯那). Từ thời tổ tiên đã dần cường thịnh, đến đời Chất Đa Tư Na (質多斯那) bèn kiêm tính và chiếm hữu đất Phù Nam (扶南). Khi vua chết, con là Y Xa Na (伊奢那) lên ngôi thay thế. Vua cư ngụ tại thành Y Xa Na (伊奢那城), dưới thành có 20.000 hộ. Trong thành có một tòa đại đường là nơi vua nghe chính sự. Tổng cộng có 30 tòa thành lớn, mỗi thành có vài ngàn hộ, đều có bộ soái riêng, tên quan chức giống với Lâm Ấp (林邑).
Vua cứ 3 ngày nghe triều một lần, ngồi trên giường ngũ hương thất bảo, phía trên căng màn báu. Màn dùng gỗ có vân làm cột, dùng ngà voi và hoa vàng (kim điền) làm vách, hình dáng như ngôi nhà nhỏ, treo ánh vàng rực rỡ, giống như nước Xích Thổ (赤土). Phía trước có lư hương vàng, có 2 người hầu hai bên. Vua mặc vải cổ bối triều hà, quấn quanh thắt lưng và bụng, rủ xuống đến tận ống chân. Đầu đội mũ hoa bằng vàng báu, đeo anh lạc trân châu, chân đi giày da, tai đeo khuyên vàng. Thường mặc áo vải bạch điệp, lấy ngà voi làm guốc (kiêu), nếu để tóc trần thì không đeo anh lạc. Trang phục của thần dân đại để cũng tương tự.
Có 5 đại thần: một là Cô Lạc Chi (孤落支), hai là Cao Tương Bằng (高相憑), ba là Bà Hà Đa Lăng (婆何多陵), bốn là Xá Ma Lăng (舍摩陵), năm là Nhiêm Đa Lâu (髯多婁). Các tiểu thần khi vào chầu vua thảy đều dập đầu 3 lần ở dưới bậc thềm. Vua gọi lên thềm thì quỳ, dùng hai tay ôm vai, ngồi vòng quanh vua. Bàn bạc chính sự xong thì quỳ lạy mà lui ra. Thị vệ ở thềm đình, cửa các có hơn 1.000 người, mặc giáp cầm binh khí. Nước này hòa hiếu với hai nước Tham Bán (參半) và Chu Giang (朱江), nhưng thường xuyên chiến tranh với hai nước Lâm Ấp (林邑) và Đà Hoàn (陀洹). Người dân khi đi đứng đều mang theo binh khí, nếu có chinh phạt thì dùng luôn.
Theo tục lệ, nếu không phải con của chính thê thì không được làm người kế vị. Ngày vua mới lên ngôi, tất cả anh em đều bị hình phạt tàn tật, hoặc chặt 1 ngón tay, hoặc xẻo mũi, rồi đưa đi cung phụng ở nơi khác, không được ra làm quan. Người dân vóc dáng nhỏ và sắc da đen, phụ nữ cũng có người trắng, thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài, tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi. Nhà cửa khí dụng khá giống nước Xích Thổ (赤土). Coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn. Mỗi sáng sớm đều tắm rửa, dùng cành dương làm sạch răng, tụng đọc kinh chú, lại tắm rửa rồi mới ăn, ăn xong lại dùng cành dương sạch răng và đọc kinh chú. Ăn uống nhiều tô lạc (váng sữa), đường cát, gạo tẻ, bánh mì. Khi muốn ăn, trước tiên lấy canh thịt tạp hòa với bánh, dùng tay nắm mà ăn.
Cưới vợ chỉ tặng 1 bộ quần áo, chọn ngày sai bà mối đón dâu. Hai nhà trai gái mỗi bên đều 8 ngày không ra ngoài, đêm ngày đốt đèn không tắt. Nam giới làm lễ cưới xong là chia tài sản với cha mẹ, ra ở riêng. Khi cha mẹ chết, nếu còn ai chưa cưới thì chia tài sản còn lại cho người đó. Nếu đã cưới hết thì tài sản nộp vào quan phủ. Tang lễ thì con cái đều 7 ngày không ăn, cắt tóc mà khóc. Tăng ni, đạo sĩ và thân hữu đều tụ tập, dùng âm nhạc đưa tiễn. Dùng gỗ ngũ hương thiêu xác rồi thu tro, đựng bằng bình vàng bạc, tiễn đưa vào trong vùng nước lớn. Người nghèo có khi dùng bình gốm rồi vẽ màu lên. Cũng có người không thiêu, đưa xác vào trong núi để mặc thú dữ ăn.
Phía Bắc nước này nhiều đồi núi, phía Nam có đầm lầy, khí đất rất nóng, không có sương tuyết, nhiều chướng khí và độc trùng. Đất hợp trồng lúa gạo, ít kê sáp, hoa quả và rau cỏ tương tự Nhật Nam (日南) và Cửu Chân (九真). Điểm khác biệt là có cây Bà Na Sa (婆那娑), không hoa, lá như hồng, quả như đông qua; cây Am La (菴羅), hoa lá như táo, quả như mận; cây Tì Dã (毗野), hoa như mộc qua, lá như hạnh, quả như giấy; cây Bà Điền La (婆田羅), hoa lá quả đều giống táo nhưng hơi khác. Cây Ca Tất Đà (歌畢佗), hoa như lâm cầm, lá như du nhưng dày lớn, quả như mận, to như cái thăng (1 lít), còn lại phần lớn đều giống nhau.
Trong biển Cửu Chân (九真) có loài cá tên là Kiến Đồng (建同), có 4 chân, không vảy, mũi như voi, hút nước phun lên cao 50 đến 60 thước. Có cá Phù Hồ (浮胡), hình như cá lươn, mỏ như vẹt, có 8 chân. Nhiều loài cá lớn, nửa thân nhô lên mặt nước trông như núi. Cứ mỗi tháng 5 tháng 6 âm lịch, khí độc lưu hành, dân lại dùng lợn trắng, bò trắng, dê trắng để tế lễ ngoài cửa Tây thành, nếu không làm vậy thì ngũ cốc không chín, sáu loại gia súc chết nhiều, dân chúng bệnh dịch. Gần kinh đô có núi Lăng Già Bát Bà (陵伽缽婆山), trên có thần từ, thường dùng 5.000 binh sĩ canh giữ. Phía Đông thành có vị thần tên Bà Đa Lợi (婆多利), tế lễ dùng thịt người. Vua nước này hằng năm đều giết người để tế lễ cầu khẩn vào ban đêm. Cũng có 1.000 người canh giữ, việc kính quỷ thần là như vậy. Phần lớn phụng thờ Phật pháp, đặc biệt tin theo đạo sĩ, Phật và đạo sĩ thảy đều lập tượng trong quán. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], sai sứ vào cống hiến, Hoàng đế tiếp đãi rất hậu, sau đó thì đứt đoạn."
===THỜI ĐƯỜNG===
'''CAO TỔ (唐高祖)'''
'''Năm Vũ Đức (武德) [618–626], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Chân Lạp (真臘) còn gọi là Cát Miệt (吉蔑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cách kinh sư 20.700 dặm. Phía Đông giáp Xa Cừ (車渠), phía Tây thuộc Phiêu (驃), phía Nam sát biển, phía Bắc tiếp giáp Đạo Minh (道明), phía Đông Bắc giáp Hoan Châu (驩州). Vua là Sát Lợi Y Kim Na (剎利伊金那), đầu năm Trinh Quán (貞觀) [năm 627] thôn tính Phù Nam (扶南), chiếm đất ấy. Nhà cửa đều quay hướng Đông, khi ngồi thì ngồi phía trên. Khi khách phương Đông tới, họ nghiền trầu cau, long não, hương cáp để mời. Không uống rượu, coi rượu như dâm uế, chỉ cùng vợ uống trong phòng riêng, tránh mặt tôn trưởng. Có 5.000 chiến tượng, những con tốt được cho ăn thịt. Đời đời giao hảo với Tham Bán (參半) và Phiêu (驃). Thường đánh nhau với Hoàn Vương (環王) và Càn Đà Hoàn (乾陀洹). Từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) [618–700], phàm 4 lần vào triều."
Theo Triều dã thiêm tái (朝野僉載): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Hoan Châu (驩州) 500 dặm. Tục lệ khi có khách thì bày trầu cau, long não, hộp hương nghiền... để thết đãi, coi rượu như thứ dâm uế. Trong phòng riêng thì cùng vợ uống, nhưng đối với bậc bề trên thì lánh đi. Lại nữa, vợ chồng ngủ không cho người khác thấy. Tục này giống với Trung Quốc. Người trong nước không mặc quần áo, thấy ai mặc quần áo thì cùng cười nhạo. Tục không có muối sắt, dùng nỏ tre bắn sâu bọ chim chóc."
'''ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG (元宗/玄宗)'''
'''Năm Khai Nguyên (開元) [713–741], Chân Lạp (真臘) chia làm hai nước Nam Bắc là Thủy và Lục. Vương tử Lục Chân Lạp (陸真臘) dẫn thuộc hạ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Huyền Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Sau năm Thần Long (神龍) [năm 707], chia làm hai nửa: Phía Bắc nhiều đồi núi, gọi là nửa Lục Chân Lạp (陸真臘); phía Nam sát biển, nhiều đầm hồ, gọi là nửa Thủy Chân Lạp (水真臘). Thủy Chân Lạp (水真臘) đất rộng 800 dặm, vua cư ngụ tại thành Bà La Đề Bạt (婆羅提拔城). Lục Chân Lạp (陸真臘) còn gọi là Văn Đan (文單), gọi là Bà Lậu (婆鏤), đất rộng 700 dặm, tước hiệu vua là Khuất (屈). Thời Khai Nguyên (開元) và Thiên Bảo (天寶) [713–756], vương tử dẫn 26 người thuộc hạ vào triều, được bái làm Quả nghị đô úy."
'''ĐƯỜNG ĐẠI TÔNG (代宗)'''
'''Năm Đại Lịch (大曆) thứ 14 [năm 779], Phó vương Lục Chân Lạp (陸真臘) là Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Đại Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Khoảng năm Đại Lịch (大曆), Phó vương Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều, dâng 11 con voi thuần. Thăng chức Bà Di (婆彌) làm Thử Điện trung giám, ban tên là Tân Hán (賓漢). Lúc ấy Đức Tông (德宗) mới lên ngôi, tất cả chim quý thú lạ thảy đều thả đi. Những con voi thuần do quân Man Di hiến tặng nuôi trong ngự uyển, phàm có 32 con thường sung vào sân chầu ngày Nguyên hội, thảy đều thả về phía Nam núi Kinh Sơn (荊山)."
'''ĐƯỜNG HIẾN TÔNG (憲宗)'''
'''Năm Nguyên Hòa (元和) [806–820], Thủy Chân Lạp (水真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Đường thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Khoảng năm Nguyên Hòa (元和), Thủy Chân Lạp (水真臘) cũng sai sứ vào cống."
===Tống===
'''TỐNG HUY TÔNG NĂM CHÍNH HÒA THỨ 6, MÙA ĐÔNG THÁNG 12, NƯỚC CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ: (Nội dung như trên). Theo Chân Lạp bản truyền (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Nước này ở phía Nam Chiêm Thành (占城), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam đến Gia La Hy (加羅希). Phong tục các huyện trấn giống với Chiêm Thành (占城). Đất đai rộng hơn 7.000 dặm, có đài đồng, liệt kê 24 tháp đồng, 8 voi đồng để trấn giữ phía trên, mỗi con voi nặng 4.000 cân. Nước này có gần 200.000 chiến tượng, ngựa nhiều nhưng nhỏ. Tháng 12 âm lịch năm Chính Hòa (政和) thứ 6 [năm 1116], sai Tiến tấu sứ Phụng hóa lang tướng Khâu Ma Tăng Ca (鳩摩僧哥), Phó sứ An hóa lang tướng Ma Quân Minh Khê (摩君明稽) cùng 14 người đến cống, được ban cho triều phục. Tăng Ca (僧哥) nói: 'Nước xa vạn dặm, ngưỡng trông thánh hóa, mà vẫn còn mặc y phục cỏ cây (hủy phục), chưa xứng với lòng thành hướng mộ thiết tha, nguyện xin được phép mặc đồ đã ban'. Chiếu chỉ chấp thuận, đồng thời đem việc đó giao cho Sử quán, ghi vào sách lược. Tháng 3 âm lịch năm sau [năm 1117], đoàn sứ giả từ biệt ra về."
'''Năm Tuyên Hòa thứ 2, tháng 12 [năm 1120], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ và Chân Lạp bản truyền: "Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 2 [năm 1120], lại sai Lang tướng Ma Lạp (摩臘), Ma Đột Phòng (摩禿防) đến triều kiến, phong cho vua nước ấy ngang hàng với Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Kiến Viêm thứ 2 [năm 1128], thời Cao Tông, gia phong tước hiệu và thực ấp cho vua Chân Lạp, định làm thường chế.'''
Theo Tống sử (宋史) - Cao Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyền: "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 2 [năm 1128], nhân ơn tế Giao, trao cho vua nước ấy là Kim Bâu Tân Thâm (金裒賓深) chức Kiểm hiệu Tư đồ, thêm thực ấp, từ đó định làm thường chế."
'''Năm Khánh Nguyên thứ 6 [năm 1200], thời Ninh Tông, ấp thuộc của Chân Lạp là Chân Lý Phú dâng biểu cống phương vật.'''
Theo Tống sử (宋史) - Ninh Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyền: "Ấp thuộc của Chân Lạp (真臘) có Chân Lý Phú (真里富), ở góc Tây Nam, phía Đông Nam giáp Ba Tư Lan (波斯蘭), phía Tây Nam làm láng giềng với Đăng Lưu Mi (登流眉), bộ tộc quản lý hơn 60 tụ lạc." Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 [năm 1200], chúa nước ấy đã lập được 20 năm, sai sứ dâng biểu cống phương vật và 2 con voi thuần. Chiếu chỉ ưu ái ban thưởng đáp lễ, nhưng vì đường biển xa xôi, nên từ sau không cần vào cống nữa.
===Minh===
'''MINH THÁI TỔ NĂM HỒNG VŨ THỨ 4, CHÂN LẠP SAI SỨ TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyền: "Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 3 ngày đêm có thể đến. Các triều Tùy, Đường và Tống đều triều cống. Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元) nhà Tống, Chân Lạp diệt Chiêm Thành (占城) mà gộp đất ấy lại, vì vậy đổi quốc hiệu thành Chiêm Lạp (占臘). Thời Nguyên (元), vẫn gọi là Chân Lạp (真臘). Tháng 8 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], sai sứ thần Quách Trưng (郭徵) mang chiếu thư đi vỗ về nước đó. Tháng 11 âm lịch năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Ba Sơn Vương Hốt Nhi Na (巴山王忽兒那) sai sứ dâng biểu cống phương vật, chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372]. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu, sứ giả cũng được ban thưởng có sai biệt."
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Chân Lạp (真臘), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam liền Gia La Hy (加囉希), phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城). Nước này vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Vua họ Sát Lợi (剎利), người tên Chất Đa Tư Na (質多斯那) bắt đầu thôn tính Phù Nam (扶南) mà chiếm đất. Năm Đại Nghiệp (大業) nhà Tùy bắt đầu thông sứ Trung Quốc. Nhà Đường từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) phàm 4 lần vào triều. Sau năm Thần Long (神龍), nước chia làm hai. Phía Nam gần biển, nhiều đầm lầy, là Thủy Chân Lạp (水真臘); phía Bắc nhiều đồi núi, là Lục Chân Lạp (陸真臘). Sau lại hợp lại làm một. Thời Chính Hòa (政和) nhà Tống, sai sứ đến cống. Đầu năm Tuyên Hòa (宣和), phong làm Chân Lạp quốc vương (真臘國王), ngang với Chiêm Thành (占城). Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元), người trong nước dấy binh lớn đánh Chiêm Thành (占城), phá được, lập người Chân Lạp (真臘) làm vua Chiêm Thành (占城). Vì vậy lúc bấy giờ Chiêm Thành (占城) cũng là thuộc quốc. Các thuộc quốc còn có Tham Bán (參半), Chân Lý (真里), Đăng Lưu Mi (登流眉), Bồ Cam (蒲甘)... thống lĩnh hơn 60 tụ lạc, đất đai hơn 7.000 dặm. Đầu triều ta năm Hồng Vũ (洪武), quốc vương Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử là Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật, từ đó triều cống không dứt."
Theo Hoàn vũ ký (寰宇記): "Tục nước Chân Lạp (真臘) mở cửa hướng về phía Đông, lấy hướng Đông làm trọng, nam nữ thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài. Tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi, coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn."
Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Đất Chân Lạp (真臘) màu mỡ, ruộng không có bờ giới, tầm mắt nhìn đến đâu thì cày cấy đến đó."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Nước Chân Lạp (真臘) có thành chu vi hơn 70 dặm, điện đài hơn 30 tòa, khá là tráng lệ. Đồ dùng của vua và quý tộc đa số trang trí bằng vàng ngọc. Tục chuộng hoa lệ xa xỉ, điền sản phong phú, nam nữ búi tóc hình dùi. Con gái đủ 10 tuổi thì gả chồng. Lấy gấm quấn thân, mày và trán bôi đỏ. Tục ngữ nói 'Phú quý Chân Lạp', chính là thế này vậy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Đầu năm Hồng Vũ (洪武), vua Chân Lạp (真臘) là Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật: voi, ngà voi, tô mộc, hồ tiêu, sáp vàng, sừng tê, ô mộc, hoàng hoa mộc thổ, giáng hương, bảo thạch, lông công. Sứ giả khi về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp (真臘) vào cống."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], ban cho quốc vương lịch Đại Thống (大統曆) và gấm vóc màu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Vua nước ấy là Tham Đáp Cam Vũ Giả Đặc Đạt Chí (參荅甘武者特達志) sai sứ đến cống, yến tiệc ban thưởng như trước."
'''Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền (Nội dung như trên).
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua Chân Lạp, đồng thời ban cho gấm vàng và đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua nước ấy. Phàm sứ Trung Quốc đến mà Khám hợp không khớp thì đều là giả mạo, cho phép bắt trói báo cáo. Lại sai sứ ban cho 32 xấp gấm dệt kim, 19.000 món đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ đến cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn sang ban đồ sứ cho nước Chân Lạp.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn (劉敏), Đường Kính (唐敬) cùng Trung quan mang đồ sứ sang ban tặng."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], bọn Đường Kính (唐敬) về nước, vua nước ấy sai sứ cống 59 con voi, 60.000 cân hương. Chẳng bao lâu sai sứ ban cho vua ấn bạc mạ vàng, vua và phi đều được ban thưởng. Vua là Tham Liệt Bảo Tì Da Cam Bồ Giả (參烈寶毗邪甘菩者) sai sứ cống voi và phương vật."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 7 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], Hành nhân Đường Kính (唐敬) từ Chân Lạp (真臘) về, vua nước ấy sai sứ cống 50 con voi, 60.000 cân hương, từ đó triều cống không dứt."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 [năm 1388], lại cống 28 con voi, 34 quản tượng, 45 nô tỳ phiên, để tạ ơn ban ấn."
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Chân Lạp 3 lần vào cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Chân Lạp lại vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu ở trên).
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, SAI SỨ TUYÊN DỤ NƯỚC ẤY'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai Hành nhân Tưởng Tân Hưng (蔣賓興), Vương Khuê (王樞) mang chiếu thư lên ngôi đến tuyên dụ nước ấy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai sứ đến Chân Lạp (真臘), ban chiếu dụ việc lên ngôi. Đến nước ấy thấy khí hậu thường nóng, lúa ruộng chín quanh năm, nấu nước biển làm muối. Phong tục giàu có, nam nữ búi tóc hình dùi (chuỳ kế), mặc áo ngắn, quấn vải sao (tiêu bố), không còn ở trần nữa. Các nước thuộc quốc của họ vẫn có người ở trần, thấy ai mặc quần áo thì người ta lại cười nhạo. Pháp luật có các hình phạt xẻo mũi (tị), chặt chân (nguyệt), xăm chữ vào mặt (thứ), đày đi xa (phối). Phạm tội trộm cắp thì chặt tay chân. Dân nước ấy giết người Trung Quốc thì phải đền mạng. Người Trung Quốc giết dân nước ấy thì phạt tiền vàng. Không có tiền thì bán thân chuộc tội."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 2 [năm 1404], Chân Lạp sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước ấy là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), có 3 người lính bộ tốt trốn đi, tìm không được, nhà vua lấy 3 người nước mình để thay thế. Đến nay đưa vào yết kiến, Hoàng đế phán: 'Người Hoa tự bỏ trốn sang đó, can dự gì đến họ mà trách phạt đòi bồi thường? Vả lại ngôn ngữ không thông, phong thổ không quen, ta dùng họ làm gì?'. Mệnh ban cho quần áo và chi phí đi đường, rồi cho về."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua Chân Lạp (真臘) là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai bồi thần là Nại Chức (奈職) cùng 9 người triều cống phương vật, ban thưởng tiền giấy và vải vóc. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), lúc sắp về có 3 người lính đi theo bỏ trốn, tìm không được, quốc vương lấy 3 người trong nước theo Trung quan về để bổ sung vào hàng ngũ. Đến nay, Lễ bộ (禮部) đưa vào yết kiến, Thượng (Hoàng đế) phán: 'Người Trung Quốc tự bỏ trốn, can hệ gì đến việc của họ mà bắt đền? Vả lại có được 3 người này thì ngôn ngữ không thông, phong tục chẳng hiểu, ta dùng làm gì? Huống hồ họ đều có gia đình, lẽ nào vui vẻ ở lại đây? Ngươi hãy bảo Lễ bộ (禮部) cấp cho cơm áo, chi phí đi đường, cho họ về Chân Lạp (真臘)'. Thượng thư Lý Chí Cương (李至剛) cùng những người khác thưa: 'Thần trộm nghĩ người Trung Quốc tất không phải tự trốn ở đó, hoặc giả là bị họ giấu đi, thì 3 người này cũng không nên cho về'. Thượng phán: 'Làm vua không nên dùng lòng nghi kỵ để đối đãi người, chỉ cần suy rộng lòng của trời đất để đối đãi với người là được'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến phúng viếng tang lễ quốc vương Chân Lạp. Lại ban chiếu phong Thế tử lên làm vương. Liền đó sai sứ đến tạ ơn.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến cống, báo tang cố vương, mệnh cho Hồng lô tự Tự ban Vương Tư (王孜) đến tế lễ, Cấp sự trung Tất Tiến (畢進), Trung quan Vương Tông (王琮) mang chiếu thư phong Thế tử là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương. Khi bọn Tất Tiến (進) trở về, tân vương sai sứ cùng đi theo đến tạ ơn."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) mất, mệnh Tự ban Vương Tư (王孜) sang tế, phong con trưởng là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương, ban cho gấm lụa màu và các vật phẩm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 12 [năm 1414], Chân Lạp lại vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 [năm 1414] lại vào cống, sứ giả lấy cớ nước mình nhiều lần bị Chiêm Thành (占城) xâm nhiễu nên ở lại lâu không đi. Hoàng đế sai Trung quan tiễn về, đồng thời hạ sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城) bãi binh tu hảo."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) sai sứ dâng biểu văn khắc trên vàng (kim lũ biểu văn), cống voi thuần và phương vật."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 3, CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
'''[Năm 1452]'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Trong những năm Tuyên Đức (宣德) [1426–1435] và Cảnh Thái (景泰) [1450–1456] cũng sai sứ vào cống, về sau không đến thường xuyên. Kinh thành nước ấy chu vi hơn 70 dặm, bờ cõi rộng mấy ngàn dặm. Trong nước có tháp vàng cầu vàng, điện đài hơn 30 tòa. Vua mỗi năm hội họp một lần, la liệt khỉ ngọc, công, voi trắng, tê ngưu ở phía trước, gọi là Bách Tháp Châu (百塔洲). Dùng mâm vàng bát vàng để đựng đồ ăn, nên có câu tục ngữ 'Phú quý Chân Lạp'. Dân tục giàu có, tiết trời thường nóng, không biết sương tuyết. Lúa một năm chín mấy vụ, nam nữ búi tóc hình dùi, mặc áo ngắn, quấn vải tiêu. Hình pháp có xẻo mũi, chặt chân, xăm chữ, đày đi; trộm cắp thì bỏ tay chân. Người phiên giết người Đường (Đường nhân) thì tội chết. Người Đường giết người phiên thì phạt tiền vàng, không tiền thì bán thân chuộc tội. 'Đường nhân' (唐人) là cách các nước phiên gọi người Hoa vậy, các nước hải ngoại thảy đều như thế. Việc cưới xin, hai nhà thảy đều 8 ngày không ra khỏi cửa, đốt đèn đêm ngày. Người chết thì bỏ ra đồng, mặc cho diều quạ ăn, trong chốc lát mà ăn hết sạch thì gọi là được phúc báo. Có tang thì chỉ cạo trọc đầu. Con gái thì cắt tóc trên trán to bằng đồng tiền, nói rằng 'dùng việc này để báo đáp cha mẹ'. Chữ viết dùng các loại da hoẵng da hươu nhuộm đen, dùng bột làm thỏi nhỏ để vẽ lên trên, vĩnh viễn không phai. Lấy tháng 10 âm lịch làm đầu năm, tháng nhuận thảy đều dùng tháng 9 âm lịch, đêm chia làm 4 canh. Cũng có người am hiểu thiên văn, có thể tính toán nhật thực nguyệt thực tại địa phương đó. Gọi nhà Nho là 'Ban cật' (班詰), tăng là 'Trữ cô' (苧姑), đạo là 'Bát tư' (八思). Ban cật không biết đọc sách gì, ai do đường này vào làm quan thì được coi là hiển đạt (hoa quán). Trước khi sang trọng thì đeo một sợi chỉ trắng ở cổ để tự phân biệt, khi đã quý hiển rồi vẫn kéo sợi chỉ trắng như cũ. Tục chuộng đạo Phật, sư đều ăn cá thịt, hoặc dùng để cúng Phật, duy chỉ không uống rượu. Nước ấy tự xưng là 'Cam Bột Trí' (甘孛智), sau gọi chệch thành 'Cam Phá Giá' (甘破蔗). Sau đời Vạn Lịch (萬曆) lại đổi thành 'Đông Phố Trại' (東埔寨 - Campuchia)."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 [năm 1452], ban cho vua Chân Lạp (真臘) 2 đoạn gấm, 6 xấp lụa trừu (trữ ti), 4 xấp sa, 4 xấp la; ban cho Vương phi 4 xấp lụa trừu, 3 xấp sa, 3 xấp la. Các đầu mục cùng Tổng quản thông sự, Hỏa trưởng đi theo được ban quần áo, lụa trừu, quyến, vải có sai biệt, ban yến tiệc 1 lần. Sứ thần khi về đến Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) được quản đãi 1 lần, cấp lộ phí (hạ trình) 1 lần cho 10 ngày. Cứ mỗi 10 người thì cấp 2 con dê, ngỗng, gà; 20 bình rượu, 1 đấu gạo, 5 đấu mì, rau xanh và gia vị..."
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 2 (真臘部彙考二)==
=== 《Chân Lạp phong thổ ký》 (真臘風土記) ===
'''Tổng tự (總敘)'''
Nước Chân Lạp (真臘), hoặc gọi là Chiêm Lạp (占臘), nước ấy tự xưng là "Cam Bột Trí" (甘孛智). Nay Thánh triều dựa theo Tây Phiên kinh (西蕃經), đặt tên nước ấy là "Gạm Phổ Chỉ" (澉浦只), đó cũng là âm cận với Cam Bột Trí (甘孛智) vậy. Từ Ôn Châu (溫州) ra khơi, theo kim chỉ hướng Đinh Mùi, đi qua các cảng khẩu thuộc các châu ngoài khơi của Mân (閩 - Phúc Kiến), Quảng (廣 - Quảng Đông), vượt biển Thất Châu (七洲洋), qua biển Giao Chỉ (交趾洋) đến Chiêm Thành (占城). Lại từ Chiêm Thành (占城) thuận gió mất khoảng nửa tháng thì đến Chân Bồ (真蒲), ấy là biên cảnh của nước này. Lại từ Chân Bồ (真蒲) hành trình theo kim chỉ hướng Khôn Thân, qua biển Côn Lôn (崑崙洋) vào cửa sông. Cửa sông có đến mấy chục, chỉ có cửa sông thứ 4 là có thể vào được, còn lại thảy đều cát nông, nên thuyền lớn không thông. Tuy nhiên nhìn khắp nơi chỉ thấy mây ngàn cây cổ, cát vàng lau trắng, lúc vội vã không dễ nhận ra, vì thế người đi thuyền coi việc tìm cửa sông là việc khó. Từ cửa sông đi về hướng Bắc, thuận dòng mất khoảng nửa tháng thì tới địa danh là Tra Nam (查南), ấy là một quận thuộc nước này. Lại từ Tra Nam (查南) đổi sang thuyền nhỏ, thuận dòng hơn 10 ngày, đi qua làng Bán Lộ (半路村), làng Phật (佛村), vượt hồ Đạm Dương (淡洋), có thể đến nơi gọi là Can Báng (干傍), cách thành 50 dặm.
Theo Chư phiên chí (諸蕃志) chép rằng: "Đất ấy rộng 7.000 dặm, phía Bắc nước này đến Chiêm Thành (占城) mất nửa tháng đường, phía Tây Nam cách Xiêm La (暹羅) nửa tháng hành trình, phía Nam cách Phiên Ngung (番禺) 10 ngày hành trình, phía Đông là biển lớn vậy". Xưa kia đây là nước thông thương qua lại, Thánh triều nay nhận mệnh trời, thống lĩnh bốn biển. Khi Toa Đô (唆都) Nguyên soái đặt hành tỉnh ở Chiêm Thành (占城), từng sai một Hổ phù Bách hộ, một Kim bài Thiên hộ cùng đến nước này, rốt cuộc bị bắt giữ không cho về. Tháng 6 âm lịch năm Ất Vị thời Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], Thiên tử sai sứ chiêu dụ, ta đi theo đoàn. Tháng 2 âm lịch năm sau [năm 1296] rời Minh Châu (明州), ngày 20 ra khơi từ cửa biển Ôn Châu (溫州), ngày 15 tháng 3 âm lịch đến Chiêm Thành (占城), giữa đường gió ngược không thuận, tháng 7 âm lịch mới tới nơi. Tháng 6 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức (大德) [năm 1297] quay thuyền về, ngày 12 tháng 8 âm lịch đến bến thuyền Tứ Minh (四明). Những chi tiết về phong thổ, quốc sự nước ấy, tuy không thể biết hết, nhưng đại lược cũng có thể thấy được vậy.
'''Thành quách (城郭)'''
Thành của châu vi chu vi khoảng 20 dặm, có 5 cửa, cửa đều có hai tầng, duy chỉ hướng Đông mở 2 cửa, các hướng còn lại đều 1 cửa. Bên ngoài thành có hào lớn, ngoài hào đều là đường cái và cầu lớn, hai bên cầu mỗi bên có 54 pho tượng thần bằng đá, hình dáng như Thạch tướng quân, rất lớn và dữ tợn, 5 cửa đều tương tự như nhau. Lan can cầu đều làm bằng đá, đục theo hình rắn, rắn đều có 9 đầu, 54 vị thần đều dùng tay kéo rắn, có thế như không cho rắn chạy thoát. Phía trên cửa thành có 5 đầu Phật bằng đá lớn, mặt hướng về phía Tây, chính giữa đặt một đầu trang trí bằng vàng. Hai bên cửa thành đục đá thành hình voi. Thành đều xếp đá mà thành, cao khoảng 2 trượng (khoảng 6.6 mét), đá rất khít và kiên cố, lại không mọc cỏ dại, nhưng không có nữ tường (tường thấp trên mặt thành). Trên thành đôi khi trồng cây quặng lang (cây thốt nốt), rải rác là các dãy nhà trống, phía trong thành như một cái dốc, dày khoảng hơn 10 trượng. Trên dốc đều có cửa lớn, đêm đóng sáng mở. Cũng có người canh cửa, riêng chó không được vào cửa. Thành ấy rất vuông vức, bốn góc mỗi góc có một tháp đá, người từng chịu hình phạt chặt ngón chân cũng không được vào cửa.
Ngay giữa nước có một tháp vàng, bên cạnh có hơn 20 tháp đá, hơn 100 gian nhà đá, hướng về phía Đông có một cây cầu vàng, 2 con sư tử vàng đặt ở tả hữu cầu, 8 pho tượng Phật vàng đặt dưới nhà đá. Phía Bắc tháp vàng khoảng hơn 1 dặm có một tháp đồng, cao hơn tháp vàng, nhìn xa thấy sừng sững. Dưới tháp cũng có mười mấy gian nhà đá. Lại phía Bắc tháp ấy 1 dặm là cung thất của quốc chủ, trong phòng ngủ lại có một tháp vàng nữa. Vì thế khách buôn trên thuyền từ xưa đã có lời khen "Phú quý Chân Lạp", tưởng là vì lẽ này. Tháp đá ở ngoài cửa Nam hơn nửa dặm, tục truyền do Lỗ Ban (魯般) xây xong trong một đêm. Mộ Lỗ Ban (魯般) ở ngoài cửa Nam khoảng hơn 1 dặm, chu vi khoảng 10 dặm, có hàng trăm gian nhà đá. Hồ Đông (Đông Trì) cách thành 10 dặm về phía Đông, chu vi khoảng 100 dặm, trong hồ có tháp đá nhà đá, trong tháp có một pho tượng Phật đồng nằm, từ rốn thường có nước chảy ra. Hồ Bắc (Bắc Trì) cách thành 5 dặm về phía Bắc, trong hồ có một tháp vàng vuông, mấy chục gian nhà đá, sư tử vàng, Phật vàng, voi đồng, bò đồng, ngựa đồng đều có đủ.
'''Cung thất (宮室)'''
Cung điện và dinh thự quan lại đều hướng về phía Đông. Quốc cung ở phía Bắc tháp vàng cầu vàng, gần cửa chu vi khoảng 5 đến 6 dặm. Ngói của chính thất làm bằng chì, còn lại đều là ngói đất màu vàng. Cột cầu rất lớn, đều chạm vẽ hình Phật. Mái nhà tráng lệ, hành lang dài bao quanh, cao thấp so le, khá có quy mô. Nơi làm việc có cửa sổ vàng, cột vuông hai bên, trên có gương, ước chừng 40 đến 50 chiếc đặt bên cạnh cửa sổ. Phía dưới làm hình voi, nghe nói bên trong có nhiều nơi kỳ lạ, canh phòng rất nghiêm, không thể nhìn thấy được. Trong tháp vàng bên nội cung, quốc chủ đêm nằm trên đó, người bản địa đều nói trong tháp có tinh rắn 9 đầu, là chủ đất của một nước, thân là nữ, mỗi đêm đều hiện ra gặp quốc chủ, vua phải cùng ngủ giao cấu trước, dù là vợ vua cũng không dám vào. Đến canh hai vua mới ra, bấy giờ mới có thể ngủ cùng vợ thiếp. Nếu tinh này một đêm không hiện ra thì ngày chết của vương phiên đã đến. Nếu vương phiên một đêm không tới thì tất sẽ gặp tai họa. Kế đến như dinh thự của quốc thích, đại thần, chế độ rộng lớn, khác hẳn nhà thường dân. Xung quanh đều lợp bằng cỏ, duy chỉ có gia miếu và chính tẩm (phòng ngủ chính) là 2 nơi được dùng ngói, cũng tùy theo đẳng cấp chức quan mà định chế độ nhà rộng hẹp khác nhau. Phía dưới như nhà của bách tính, chỉ lợp cỏ, không dám dùng dù chỉ một mảnh ngói trên mái, rộng hẹp tuy tùy vào sự nghèo giàu của gia đình, nhưng tuyệt nhiên không dám bắt chước chế độ của phủ đệ.
'''Phục sức (服飾)'''
Từ quốc chủ trở xuống nam nữ đều búi tóc hình dùi, để trần thân trên, chỉ lấy vải quấn ngang hông, khi ra ngoài thì thêm một dải vải lớn quấn lên trên lớp vải nhỏ. Vải có phân đẳng cấp rõ rệt, vải của quốc chủ quấn có giá trị 3 đến 4 lạng vàng, cực kỳ hoa lệ tinh mỹ. Trong nước tuy tự dệt vải, nhưng người Xiêm La (暹羅) và Chiêm Thành (占城) đều mang vải đến bán, thường lấy vải từ Tây Dương (西洋) làm hạng thượng đẳng vì tinh xảo và hoa văn nhỏ, vì thế chỉ riêng quốc chủ mới được quấn vải hoa thuần chất. Trên đầu đội mũ vương miện vàng, như loại mũ trên đầu các vị Kim Cang vậy. Hoặc có lúc không đội mũ, chỉ lấy dây xâu hoa thơm như hoa nhài quấn quanh búi tóc. Trên đỉnh đầu đội khối trân châu lớn nặng khoảng 3 cân, tay chân và các ngón tay đều đeo vòng vàng, nhẫn đều khảm đá mắt mèo. Phía dưới đi chân đất, lòng bàn chân và lòng bàn tay đều dùng thuốc hồng nhuộm đỏ, khi ra ngoài tay cầm gươm vàng. Trong dân gian chỉ phụ nữ mới được nhuộm lòng bàn tay chân, đàn ông không dám vậy. Đại thần quốc thích có thể quấn vải hoa thưa, chỉ người trong cung mới được quấn vải hoa hai đầu, phụ nữ trong dân gian cũng có thể quấn loại này. Nếu là người Đường mới đến (tân Đường nhân) dù có quấn vải hoa hai đầu, người ta cũng không dám trách tội, vì họ "ám đinh bát sát" vậy. "Ám đinh bát sát" nghĩa là không biết thể lệ, quy tắc vậy. (Ghi chú: Trên đỉnh đầu đội trân châu nặng khoảng 3 cân, chữ "cân" này có vẻ nhầm lẫn nhưng chuyện ngoại quốc cũng không thể dùng lý thường mà đoán định, tạm theo nguyên bản).
'''QUAN THUỘC (官屬)'''
Trong nước cũng có các quan Thừa tướng, Tướng soái, Tư thiên, bên dưới mỗi quan lại đặt các thuộc viên Tư lại, chỉ là danh xưng khác biệt mà thôi. Đại để các chức ấy đều do quốc thích nắm giữ, nếu không thì cũng là người có con gái nạp làm phi tần. Nghi thức và đoàn tùy tùng khi ra ngoài cũng có đẳng cấp. Dùng kiệu vàng có 4 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhất; kiệu vàng 2 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhì; kiệu vàng 1 người khiêng và lọng cán vàng là hạng kế tiếp; chỉ dùng 1 lọng cán vàng lại là hạng sau đó nữa. Kẻ cấp thấp hơn nữa thì chỉ dùng 1 lọng cán bạc mà thôi, cũng có người dùng kiệu có đòn khiêng bằng bạc. Các quan từ cấp lọng cán vàng trở lên đều gọi là "Bả đinh" (把丁), hoặc gọi là "Ám đinh" (暗丁). Người dùng lọng cán bạc thì gọi là "Sư lạt đích tản" (廝辣的傘). Lọng đều dùng lụa đỏ của Trung Quốc mà làm, dải rủ xuống kéo dài chạm đất. Ô che dầu thì đều dùng lụa xanh, dải rủ lại ngắn.
''' TAM GIÁO (三教)'''
Bậc học giả (Nho) gọi là Ban cật (班詰), bậc đi tu (Sư) gọi là Trữ cô (苧姑), bậc theo đạo (Đạo sĩ) gọi là Bát tư duy (八思惟). Ban cật không biết tổ sư là ai, cũng không có nơi gọi là học xá để giảng tập, cũng khó lòng tìm hiểu họ đọc sách gì, chỉ thấy ngoài việc quấn vải như người thường, họ còn treo một sợi chỉ trắng trên đỉnh đầu, lấy đó làm dấu hiệu phân biệt là Nho. Những người từ hàng Ban cật mà ra làm quan thì được coi là bậc cao sang. Sợi chỉ trên cổ ấy suốt đời không bỏ.
Trữ cô thì cạo tóc mặc áo vàng, để hở vai phải, phía dưới thắt váy vải vàng. Đi chân đất. Chùa cũng được phép dùng ngói lợp. Chính giữa chỉ thờ một pho tượng, hình dáng giống hệt Thích Ca Phật, gọi là Bột lại (孛賴), mặc áo đỏ nặn bằng bùn, trang trí màu sắc, ngoài ra không có tượng nào khác. Phật trong tháp thì tướng mạo lại khác, đều đúc bằng đồng, không có chuông trống, não bạt hay tràng phan bảo cái. Tăng sĩ đều ăn cá thịt, chỉ là không uống rượu, cúng Phật cũng dùng cá thịt. Mỗi ngày dùng một bữa chay, đều lấy từ nhà thí chủ. Trong chùa không đặt bếp núc. Kinh văn tụng đọc rất nhiều, đều chép trên lá bối (bối diệp) xếp lại cực kỳ chỉnh tề, trên đó viết chữ đen, đã không dùng bút mực thì chẳng rõ họ dùng vật gì để viết. Tăng sĩ cũng dùng kiệu và lọng có cán vàng, bạc. Khi quốc vương có đại chính sự cũng thường tìm đến hỏi ý kiến, nhưng ở đây không có ni cô.
Bát tư duy cũng như người thường, ngoài việc quấn vải thì trên đầu đội một miếng vải đỏ hoặc trắng, giống như mũ Cố cô (罟姑) của người đàn bà Đạt Đát (韃靼) nhưng hơi thấp hơn. Cũng có cung quán (nơi tu hành), nhưng so với chùa chiền thì hẹp hơn, mà Đạo giáo cũng không hưng thịnh bằng Phật giáo. Nơi thờ phụng không có tượng gì khác, chỉ có một khối đá, như đá trong đàn xã tắc của Trung Quốc, cũng không rõ tổ sư là ai. Lại có cả cung quán cho nữ đạo sĩ. Bát tư duy cũng được dùng ngói lợp. Họ không ăn đồ của người khác nấu, cũng không cho người khác thấy mình ăn, không uống rượu, cũng chưa từng thấy họ tụng kinh hay làm các việc công quả cho người. Theo tục lệ, trẻ con đi học đều trước hết đến nhà chùa để học tập với tăng sĩ, khi lớn lên mới hoàn tục, chi tiết cụ thể không thể khảo chứng rõ được.
'''NHÂN VẬT (人物)'''
Người ta chỉ biết nhân vật vùng Man tục thô xấu và rất đen, nhưng không biết rằng những người ở hải đảo u tịch hay ngõ phố tầm thường mới đúng là như vậy. Còn như cung nhân và phụ nữ ở Nam Bằng (南棚), nhiều người trắng trẻo như ngọc, ấy là vì không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vậy. Đại để ngoài một mảnh vải quấn ngang hông, bất luận nam nữ đều để lộ ngực, búi tóc hình dùi, đi chân đất, ngay cả vợ quốc vương cũng chỉ như thế. Quốc vương có tất cả 5 người vợ, 1 người ở chính thất, 4 người ở bốn phương. Phía dưới là phi tần và tỳ thiếp, nghe đâu có từ 3.000 đến 5.000 người, cũng phân chia đẳng cấp, không mấy khi ra khỏi cửa.
Mỗi khi ta vào nội cung, thấy phiên chủ tất cùng ra với chính thê, ngồi trong cửa sổ vàng nơi chính thất, các cung nhân đều thứ tự đứng liệt dưới cửa sổ hai bên hành lang, đứng tựa mà nhìn trộm, ta có dịp được thấy hết một lượt. Hễ nhà dân có con gái đẹp đều bị triệu vào cung. Những người phục dịch việc đi lại bên dưới gọi là "Trần gia lan" (陳家蘭), cũng không dưới 1.000 đến 2.000 người. Họ đều có chồng, sống lẫn lộn trong dân gian, chỉ ở trước thóp đầu thì cạo tóc, bôi phấn hồng (ngân chu) và bôi ở hai bên thái dương để làm dấu hiệu phân biệt là Trần gia lan. Chỉ hạng phụ nữ này mới được vào nội cung, hạng người khác bên dưới không được vào. Trước sau nội cung, hạng người này đi lại nườm nượp trên đường. Phụ nữ tầm thường ngoài việc búi tóc hình dùi ra không có đồ trang sức trâm lược nào khác, nhưng trên cánh tay đeo vòng vàng, ngón tay đeo nhẫn vàng; các Trần gia lan và cung nhân trong nội đình đều dùng như vậy. Nam nữ trên mình thường xức thuốc thơm, hợp thành từ hương đàn, xạ; nhà nhà đều tu sửa Phật sự. Trong nước có nhiều người lưỡng tính (nhị hình nhân), mỗi ngày từng đoàn mười mấy người đi lại giữa chợ búa, thường có ý lôi kéo người Đường (người Trung Quốc), ngược lại còn tặng quà hậu hĩnh, thật là xấu xa đáng ghét.
'''SẢN PHỤ (產婦)'''
Phụ nữ phiên sau khi sinh, liền lấy cơm nóng trộn muối xoa vào và nạp vào âm hộ, sau 1 ngày đêm thì lấy ra, nhờ đó mà trong lúc sinh không mắc bệnh, lại thu hẹp lại như người con gái còn trinh. Ta mới nghe qua thì lấy làm lạ, rất nghi ngờ không phải vậy. Sau đó nhà nơi ta tạm trú có người sinh con, mới biết rõ sự việc đó, và ngày hôm sau người ấy đã ôm đứa bé cùng ra sông tắm rửa, thật là chuyện quái lạ thấy được. Lại thường thấy người ta nói phụ nữ phiên rất dâm đãng, nếu chồng không đáp ứng được dục vọng thì liền có việc bị vợ ruồng bỏ. Nếu chồng có việc đi xa, chỉ có thể đi vài đêm. Quá 10 đêm, người vợ tất nói: "Ta không phải là ma quỷ, sao có thể ngủ cô độc?", lòng dâm đãng càng khẩn thiết. Tuy nhiên cũng nghe có người giữ tiết chí. Phụ nữ ở đây rất nhanh già. Có lẽ vì việc cưới xin sinh nở quá sớm, người 20 đến 30 tuổi đã như người 40 đến 50 tuổi ở Trung Quốc rồi.
'''THIẾU NỮ (室女)'''
Nhà dân nuôi con gái, cha mẹ tất cầu nguyện rằng: "Nguyện cho con có người muốn, sau này lấy được hàng ngàn hàng trăm người chồng". Con gái nhà giàu từ 7 tuổi đến 9 tuổi, nhà cực nghèo thì đến 11 tuổi, tất phải mời tăng sĩ hoặc đạo sĩ làm lễ phá trinh, gọi là "Trận thảm" (陣毯). Đại để quan phủ mỗi năm vào 1 ngày trong tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] sẽ ban hành lệnh, nhà dân có con gái đến tuổi Trận thảm phải báo cáo quan phủ trước. Quan phủ trước hết cấp cho 1 cây nến lớn, trên nến có khắc một vạch, ước chừng đêm đó khi trời tối thì đốt nến, khi cháy đến vạch khắc thì là lúc làm lễ Trận thảm.
Trước kỳ hạn 1 tháng, hoặc nửa tháng, hoặc 10 ngày, cha mẹ tất chọn lấy 1 tăng sĩ hoặc đạo sĩ tùy theo chùa quán nào, thường cũng có nơi quen thuộc. Các tăng sĩ tốt, bậc cao đều được các nhà quan lại giàu có chọn trước, nhà nghèo thì không kịp chọn lựa. Nhà giàu sang thì biếu tặng rượu, gạo, vải vóc, trầu cau, đồ bạc các loại, có khi đến 100 gánh, giá trị bằng 200 đến 300 lạng bạc trắng của Trung Quốc; nhà ít hơn thì 30 đến 40 gánh, hoặc 10 đến 20 gánh, tùy nhà giàu nghèo, cho nên nhà nghèo đến 11 tuổi mới làm lễ là vì khó biện được các vật phẩm này. Cũng có người bố thí tiền cho con gái nhà nghèo làm lễ Trận thảm, gọi là "làm việc thiện" (tố hảo sự).
Đại để trong 1 năm, một tăng sĩ chỉ được nhận 1 cô gái, tăng sĩ đã nhận lời rồi thì không được nhận nơi khác. Đêm đó, bày tiệc ăn uống lớn, khua trống nhạc hội họp người thân hàng xóm. Ngoài cửa dựng một cái lán cao, trang trí hình nặn người bùn, thú bùn các loại trên đó, hoặc hơn 10 cái, hoặc chỉ 3 đến 4 cái, nhà nghèo thì không có. Mỗi nhà theo tích cũ, phàm 7 ngày mới dỡ bỏ. Khi trời tối, dùng kiệu lọng trống nhạc đón tăng sĩ này về. Dùng vải màu kết thành 2 cái đình nhỏ, một cái để cô gái ngồi trong đó, một cái tăng sĩ ngồi trong đó, không rõ miệng họ nói lời gì, tiếng trống nhạc ồn ã vang trời. Đêm đó không cấm việc đi đêm.
Nghe nói đến giờ, tăng cùng con gái vào phòng, tự tay làm lễ phá trinh, rồi bỏ vào trong rượu; có người nói cha mẹ và hàng xóm đều chấm lên trán, có người nói thảy đều nếm bằng miệng, có người nói tăng cùng con gái giao cấu, có người lại nói không có việc này, nhưng họ không cho người Đường thấy nên không biết chắc được. Đến khi trời sắp sáng, lại dùng kiệu lọng trống nhạc tiễn tăng đi, sau đó phải dùng vải vóc các loại đưa cho tăng để "chuộc thân", nếu không cô gái này sẽ mãi thuộc về vị tăng đó, không thể gả cho người khác được.
Việc ta thấy tận mắt là vào đêm mùng 6 tháng 4 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức [năm 1297]. Trước đó cha mẹ tất ngủ cùng con gái, sau lễ này thì đuổi ra ngoài phòng, mặc cho đi đâu thì đi, không còn gò bó hay đề phòng gì nữa. Đến như việc cưới xin, tuy có lễ nạp tệ nhưng cũng chỉ làm sơ sài cho xong chuyện, nhiều người tư thông trước rồi mới cưới sau, phong tục ấy họ chẳng cho là nhục, cũng chẳng cho là lạ. Đêm Trận thảm, trong một ngõ có khi đến hơn 10 nhà làm lễ, trong thành người đón tăng sĩ đạo sĩ đi lại đan xen trên đường, tiếng trống nhạc không nơi nào không có.
'''NÔ TỲ (奴婢)'''
Nô tỳ trong các gia đình đều mua người dã man (dã nhân) để sung vào việc phục dịch, nhà nhiều có hơn 100 người, nhà ít cũng có 10 đến 20 người, trừ những nhà cực nghèo thì mới không có. Những người dã man này là người ở vùng núi rừng, tự có chủng loại riêng, tục gọi là "Trông" (獞). Khi bọn giặc này đến trong thành, cũng không dám ra vào nhà người khác. Người trong thành khi mắng chửi nhau, hễ gọi đối phương là "Trông" (獞) thì kẻ đó hận thấu xương tủy, sự khinh rẻ của mọi người đối với họ là như thế. Người trẻ khỏe giá 100 tấm vải, người già yếu chỉ giá 30 đến 40 tấm vải. Họ chỉ được phép ngồi nằm dưới sàn lầu. Nếu có việc sai bảo mới được lên lầu, nhưng phải quỳ gối, chắp tay, đảnh lễ rồi mới dám tiến tới. Họ gọi chủ nam là "Ba đà" (巴駝), chủ mẫu là "Mễ" (米). Đà (駝) nghĩa là cha, Mễ (米) nghĩa là mẹ. Nếu có lỗi mà bị đánh, họ cúi đầu chịu gậy, chẳng dám cử động. Nam nữ nô tỳ tự phối đôi với nhau, chủ nhân tuyệt không có lễ giao tiếp (cưới hỏi) với họ. Có người Đường (唐人) đến đó, vì xa nhà lâu ngày nên không chọn lựa mà giao cấu với họ, chủ nhân nghe thấy thì ngày hôm sau không thèm ngồi cùng chỗ, vì người đó đã từng tiếp xúc với dã nhân vậy. Nếu nô tỳ giao cấu với người ngoài đến mức có thai, sinh con, chủ nhân cũng không gặng hỏi lai lịch, vì coi họ là hạng không đáng kể (bất xỉ), lại có lợi là thêm được đứa trẻ, sau này vẫn làm nô tỳ được. Nếu có kẻ bỏ trốn mà bị bắt lại, tất sẽ bị xăm màu xanh vào mặt, hoặc đeo vòng sắt quanh cổ để khóa lại, cũng có người bị đeo vòng sắt ở cánh tay hoặc bắp chân.
'''NGÔN NGỮ (語言)'''
Ngôn ngữ trong nước tự thành hệ thống riêng, âm thanh tuy gần giống nhưng người Chiêm Thành (占城) và người Xiêm (暹人) đều không thông hiểu lời nói. Ví như 1 là "Mai", 2 là "Biệt", 3 là "Ti", 4 là "Ban", 5 là "Bột giam", 6 là "Bột giam mai", 7 là "Bột giam biệt", 8 là "Bột giam ti", 9 là "Bột giam ban", 10 là "Đáp hô". Cha gọi là "Ba đà", chú bác cũng gọi là "Ba đà". Mẹ gọi là "Mễ", cô, dì, thím, mợ cho đến bậc cao tuổi hàng xóm cũng gọi là "Mễ". Anh gọi là "Bang", chị cũng gọi là "Bang". Em gọi là "Bổ ôn". Cậu gọi là "Khiết lại", dượng (chồng của cô) cũng gọi là "Bột lại". Đại để họ đặt chữ "Dưới" lên trên (ngữ pháp ngược), như trong đảng phái thường tự sát hại lẫn nhau. Vùng đất gần đó cũng có người trồng đậu khấu, bông vải dệt vải để làm nghề nghiệp, vải rất thô dày, hoa văn rất khác biệt.
'''CHỮ VIẾT (文字)'''
Chữ viết thông thường và văn thư quan phủ đều dùng các vật như da hoẵng, da hươu nhuộm đen, tùy theo kích thước rộng hẹp mà cắt theo ý muốn. Dùng một loại phấn như đất phấn trắng (bạch oắc) của Trung Quốc, vê thành thỏi nhỏ gọi là "Sa" (梭), cầm trong tay rồi viết chữ lên da, vĩnh viễn không phai. Dùng xong thì giắt lên trên tai. Chữ viết có thể nhận ra là do ai viết, phải dùng vật ướt lau sạch mới mất đi. Đại suất mặt chữ giống như chữ Hồi Hột (回鶻), sách chữ đều viết từ sau ra trước, chứ không viết từ trên xuống dưới. Ta nghe Dã Tiên Hải Nha (也先海牙) nói rằng: "Chữ ấy không có âm thanh, chính là gần với âm người Mông Cổ (蒙古), chỉ khác nhau 2 đến 3 chữ mà thôi". Ban đầu không có ấn tín, người dân đi kiện cáo cũng có cửa hàng chép thuê (thư phô) viết giúp.
'''CHÍNH SÓC THỜI TỰ (正朔時序)'''
Thường lấy tháng 10 âm lịch của Trung Quốc làm tháng Giêng. Tháng ấy tên là "Giai đắc" (佳得). Trước nội cung dựng một cái giàn lớn, trên có thể chứa hơn 1.000 người, treo đầy đèn cầu, hoa lá các loại. Phía đối diện cách xa 20 trượng, dùng gỗ nối nhau dựng thành giàn cao như cột leo (phác can) khi xây tháp, cao khoảng hơn 20 trượng. Mỗi đêm dựng 3 đến 4 tòa hoặc 5 đến 6 tòa, trang bị pháo hoa, pháo tre (bộc trượng) trên đó. Việc này đều do các thuộc quận và các phủ đệ nhận trách nhiệm (nhận trực). Đêm đến mời quốc vương ra xem, châm đốt pháo hoa và pháo tre. Pháo hoa tỏa sáng dù cách xa 100 dặm cũng thấy. Pháo tre to như đại bác, tiếng vang động cả thành. Các quan thuộc và quý thích, mỗi người được chia nến lớn và trầu cau, chi phí rất lớn. Quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem, như thế suốt nửa tháng mới thôi.
Mỗi tháng tất có một sự lệ, như tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì ném cầu (phao cầu), tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì áp liệt (tập hợp thợ săn), tụ tập dân chúng cả nước đều vào thành, duyệt binh trước nội cung. Tháng 5 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì nghênh Phật, các tượng Phật từ xa gần trong cả nước đều được đưa đến dâng nước cho quốc chủ tắm mình. Trên cạn có thuyền đi (lục địa hành chu), quốc chủ lên lầu để xem. Tháng 7 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì đốt lúa, khi ấy lúa mới đã chín, đón ở ngoài cửa Nam, đốt đi để cúng Phật, phụ nữ đến xem vô số, nhưng quốc chủ không ra. Tháng 8 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì Ai lam (挨藍), Ai lam nghĩa là múa vậy. Vua mỗi ngày ở trong nội cung múa Ai lam, lại cho lợn đấu, voi đấu, quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem. Như thế suốt 1 tuần trăng (10 ngày), các tháng còn lại không thể ghi nhớ tường tận được.
Người trong nước cũng có kẻ thông thiên văn, nhật thực nguyệt thực đều có thể tính toán, nhưng tháng đủ tháng thiếu lại khác với Trung Quốc. Năm nhuận thì họ cũng đặt nhuận, nhưng chỉ nhuận tháng 9 âm lịch, thật không hiểu nổi. Một đêm chỉ chia làm 4 canh. Cứ mỗi 7 ngày là một vòng, cũng như Trung Quốc gọi là "Khai bế kiến trừ" (các trực). Người phiên đã không có danh tính, cũng không nhớ ngày sinh, nhiều người lấy tên ngày sinh làm tên gọi. Có 2 ngày là đại cát, 3 ngày bình thường, 4 ngày là đại hung. Ngày nào có thể xuất hành hướng Đông, ngày nào có thể xuất hành hướng Tây, dù là phụ nữ cũng đều biết tính. 12 con giáp (thập nhị sinh tiếu) cũng giống Trung Quốc, nhưng tên gọi thì khác. Như gọi ngựa là "Bốc tái", tiếng gọi gà là "Loan", tiếng gọi lợn là "Trực lư", gọi bò là "Cá".
'''TRANH TỤNG (爭訟)'''
Dân gian tranh tụng, dù là việc nhỏ cũng phải tâu lên. Quốc chủ ban đầu không dùng hình phạt roi trượng, chỉ nghe việc "phạt tiền vàng" (phạt kim) mà thôi. Người phạm tội đại nghịch trọng sự cũng không có việc treo cổ hay chém đầu, chỉ ở ngoài cửa Tây thành đào đất thành hố, bỏ tội nhân vào trong, lấp đầy đất đá, nén chặt là xong. Kế đến có kẻ bị chặt ngón tay chân, có kẻ bị xẻo mũi. Nhưng việc gian dâm và hối lộ thì không cấm, chồng của người đàn bà gian dâm nếu biết được, thì dùng 2 thanh củi kẹp chặt chân kẻ gian phu, đau đớn không chịu nổi, phải bỏ hết tiền của đưa cho người chồng mới được tha. Tuy nhiên cũng có kẻ dàn cảnh lừa bịp, hoặc có kẻ chết ở ngay cửa nhà, thì họ tự dùng dây kéo vứt ra bãi đất trống ngoài thành, ban đầu không có việc báo quan kiểm nghiệm. Gia đình bắt được trộm, cũng có thể thi hành hình phạt giam giữ khảo tra, nhưng có một điều đáng nói: như nhà mất đồ, nghi người này là trộm mà họ không nhận, bèn lấy nồi đun dầu thật nóng, lệnh cho người đó nhúng tay vào, nếu quả thực trộm đồ thì tay bị thối rữa, nếu không thì da thịt vẫn như cũ. Người phiên có pháp thuật như vậy.
Lại có 2 nhà tranh tụng, không phân rõ phải trái. Phía đối diện nội cung có 12 tòa tháp đá nhỏ, lệnh cho mỗi người ngồi trong một tháp, bên ngoài người thân hai nhà tự canh phòng lẫn nhau. Ngồi 1 hoặc 2 ngày, hoặc 3 đến 4 ngày, kẻ không có lý tất sẽ phát bệnh mà ra. Hoặc trên thân mọc mụn nhọt, hoặc bị ho, sốt nóng các loại; người có lý thì chẳng có việc gì. Dựa vào đó để phân định phải trái, gọi là "Thiên ngục". Ấy là linh khí của mảnh đất đó có sự như vậy.
'''BỆNH HỦI (病癩)'''
Người trong nước thông thường có bệnh, đa số là xuống nước tắm ngâm, và thường xuyên gội đầu, tự khắc sẽ khỏi. Tuy nhiên người bị bệnh hủi (bệnh lùi) rất nhiều, rải rác trên đường. Người bản địa dù cùng nằm cùng ăn với họ cũng không nề hà. Có người nói do phong thổ nơi đó có tật bệnh này, từng có quốc chủ mắc bệnh này nên mọi người không hiềm khích. Theo ý kiến thiển cận của ta, thường là sau khi mây mưa (hảo sắc), liền xuống nước tắm rửa, nên mới thành bệnh này. Nghe nói người bản địa sau khi xong việc sắc dục đều xuống nước tắm rửa. Những người mắc bệnh lỵ thì 10 người chết đến 8, 9 người. Cũng có người bán thuốc ở chợ, không giống Trung Quốc, không rõ là vật gì. Lại còn một hạng thầy phù thủy (sư vu) làm phép cho người, càng đáng cười hơn.
'''TỬ VONG (死亡)'''
Người chết không có quan tài, chỉ dùng chiếu tre các loại, đắp lên bằng vải. Lúc đưa tang, phía trước phía sau dùng cờ xí trống nhạc, lại dùng 2 mâm gạo rang, đi dọc đường vung vãi, khiêng đến nơi hoang vắng xa xôi không người, quẳng bỏ lại đó. Đợi có diều quạ, chó hoặc các loài súc vật đến ăn, trong chốc lát mà ăn hết thì bảo cha mẹ có phúc nên mới được báo đáp này. Nếu không ăn, hoặc ăn không hết, lại bảo cha mẹ có tội. Đến nay cũng dần có người thiêu xác, thường là dòng giống còn sót lại của người Đường (唐人). Cha mẹ chết, không có tang phục riêng, nam giới thì cạo trọc đầu, nữ giới thì ở đỉnh đầu cắt tóc to bằng đồng tiền, lấy đó làm hiếu vậy. Quốc chủ thì có tháp để chôn cất, nhưng không rõ là táng cả thân xác hay táng xương cốt.
'''CANH CHÚNG (耕種)'''
Đại để một năm có thể thu hoạch gieo trồng 3, 4 bận, vì bốn mùa thường như tiết tháng 5, 6 âm lịch, vả lại không biết đến sương tuyết vậy. Đất ấy nửa năm có mưa, nửa năm tuyệt không. Từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], mỗi ngày đều mưa, sau buổi trưa mới mưa. Trong hồ Đạm Dương (淡水洋) mực nước cao đến 7, 8 trượng, cây lớn đều ngập hết, chỉ còn lại ngọn. Những nhà ở ven nước đều dời vào sau núi. Từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], một giọt mưa cũng không có, trong hồ chỉ có thể thông thuyền nhỏ, chỗ sâu không quá 3, 5 thước, dân chúng lại dời xuống canh tác. Họ chỉ định lúc nào lúa chín, lúc đó nước có thể ngập đến đâu, tùy theo địa thế mà gieo giống. Cày không dùng bò. Các công cụ như cày, liềm, cuốc tuy hơi giống nhưng chế tác thì khác biệt. Lại có một loại ruộng thấp, không trồng mà tự mọc, nước cao đến 1 trượng thì lúa cũng cao theo. Nhưng việc bón ruộng và trồng rau đều không dùng phân uế, vì ghét sự không sạch sẽ. Người Đường (唐人) đến đó đều không nói với họ chuyện dùng phân bón ở Trung Quốc, sợ bị khinh bỉ. Cứ 2, 3 nhà cùng đào một cái hố đất, hễ cỏ đầy thì lấp đi, lại đào hố khác. Phàm sau khi đi vệ sinh (đăng mỗ), tất phải vào ao tắm sạch, chỉ dùng tay trái, tay phải để dành nắm cơm. Thấy người Đường đi vệ sinh dùng giấy chùi thì cười nhạo, thậm chí không muốn cho vào cửa. Phụ nữ cũng có người đứng mà tiểu tiện, thật đáng cười thay!
'''SƠN XUYÊN (山川)'''
Từ khi vào Chân Bồ (真蒲) đến nay, phần lớn là rừng phẳng rậm rạp. Sông dài cảng lớn trải dài mấy trăm dặm, cây cổ thụ dây leo chằng chịt, bóng râm che phủ, tiếng chim thú rộn ràng trong đó. Đến giữa cửa sông mới bắt đầu thấy ruộng đồng bát ngát, tuyệt không có một bóng cây, nhìn xa chỉ thấy lúa nếp xanh tốt. Bò rừng tụ tập nơi đây từng đàn hàng ngàn hàng trăm con. Lại có những đồi tre, cũng trải dài mấy trăm dặm, tre ở đó các đốt mọc gai đan xen, măng vị rất đắng. Bốn phía đều có núi cao.
'''SẢN VẬT (出產)'''
Núi nhiều gỗ lạ, nơi không có cây cối là nơi tê ngưu và voi tụ tập sinh sôi, chim quý thú lạ không kế xiết. Hàng tinh tế (tế sắc) có lông chim trả (thúy mao), ngà voi, sừng tê, sáp vàng. Hàng thô (thô sắc) có giáng chân (giáng hương), đậu khấu, khương hoàng (nghệ), tử cảnh (nhựa cánh kiến), dầu đại phong tử, phỉ thúy (chim trả), việc kiếm được chúng khá khó khăn. Đại để trong rừng rậm có ao, trong ao có cá, chim trả từ trong rừng bay ra kiếm cá. Người Phiên lấy lá cây che thân, ngồi bên bờ nước, nhốt một con chim mái trong lồng để nhử, tay cầm lưới nhỏ, đợi nó đến thì chụp lấy; có ngày bắt được 3 đến 5 con, có khi cả ngày chẳng được con nào.
Ngà voi thì ở nhà dân nơi núi sâu hẻo lánh mới có; mỗi con voi chết mới có 2 chiếc ngà; xưa truyền rằng "mỗi năm voi thay ngà một lần" là sai vậy. Ngà voi do dùng lao (tiêu) đâm chết mà lấy là hạng thượng đẳng; voi tự chết rồi người ta tiện tay lấy được là hạng thứ; voi chết trong núi đã nhiều năm thì là hạng hạ đẳng. Sáp vàng sản sinh trong kẽ cây mục nơi thôn xóm, do một loại ong eo nhỏ như con kiến đen (lâu nghị) tạo ra, người Phiên lấy được; mỗi chuyến thuyền có thể thu gom 2.000 đến 3.000 khối, mỗi khối lớn nặng 30 đến 40 cân, khối nhỏ cũng không dưới 18 đến 19 cân. Sừng tê trắng mà có hoa văn là hạng thượng đẳng, màu đen là hạng hạ đẳng.
Giáng chân sinh trong rừng rậm, người Phiên rất tốn công đốn chặt, vì đây là lõi của cây vậy. Lớp gỗ trắng bên ngoài dày 8 đến 9 tấc, cây nhỏ cũng không dưới 4 đến 5 tấc. Đậu khấu đều do người dã man (dã nhân) trồng trên núi. Họa hoàng (nhựa cây hoàng đằng) là nhựa tiết ra từ một loại cây, người Phiên trước đó 1 năm dùng dao chặt vào thân cây cho nhựa nhỏ ra, đến năm sau mới thu hoạch. Tử cảnh sinh trên cành một loại cây, hình dáng như tầm gửi cây dâu (tang ký sinh), cũng rất khó kiếm. Dầu đại phong tử là hạt của một loại cây lớn, hình dáng như quả dừa mà tròn, bên trong có mấy chục hạt. Hồ tiêu đôi khi cũng có, mọc theo kiểu dây leo, kết trái lủng lẳng như hạt cỏ xanh; lúc còn tươi xanh thì vị càng cay hơn.
'''THƯƠNG MẠI (貿易)'''
Người trong nước giao dịch đều do phụ nữ đảm nhiệm. Cho nên người Đường (唐人) đến đó, trước hết tất phải nạp một người vợ, cũng là để lợi dụng tài mua bán của họ vậy. Mỗi ngày có một buổi chợ (khu), từ giờ Mão đến giờ Ngọ thì tan. Không có cửa hàng cố định, chỉ dùng các loại lều cỏ, chiếu tre trải trên đất, mỗi người đều có chỗ riêng. Phải nộp tiền thuê đất cho quan phủ. Giao dịch nhỏ thì dùng gạo thóc và hàng hóa người Đường mang tới, kế đến dùng vải. Nếu là giao dịch lớn thì dùng vàng bạc. Người bản thổ thường rất chất phác, thấy người Đường thì khá kính sợ, gọi là "Phật" (佛), thấy người Đường thì phục lạy sát đất. Gần đây cũng có kẻ lừa gạt, bắt nạt người Đường, ấy là do người qua lại đã đông vậy.
'''HÀNG HÓA NGƯỜI ĐƯỜNG MUỐN MANG TỚI (欲得唐貨)'''
Đất ấy nghĩ là không sản sinh vàng bạc, nên coi vàng bạc của người Đường là thứ nhất; lụa là năm màu (ngũ sắc kiêm bạch) đứng thứ hai; kế đến là thiếc chì của Chân Châu (真州), khay sơn của Ôn Châu (溫州), đồ sứ xanh (thanh từ khí) của Tuyền Châu (泉州), cùng với thủy ngân, ngân chu (phấn hồng), giấy tờ, lưu huỳnh, diêm tiêu, đàn hương, bạch chỉ, xạ hương, vải lanh (ma bố), vải cỏ vàng (hoàng thảo bố), ô dù, nồi sắt, mâm đồng, hạt cườm gỗ, dầu đồng, lược bí, lược gỗ, kim khâu; hàng thô nặng thì như chiếu của Minh Châu (明州). Thứ họ rất muốn có được là đậu và lúa mạch, nhưng không thể mang (hạt giống) đi được vậy.
'''CỎ CÂY (草木)'''
Lựu, mía, hoa sen, gương sen, ngó sen, khoai môn, đào, chuối, khung (xuyên khung) đều giống với Trung Quốc. Vải, quýt hình dáng tuy giống nhưng vị chua; còn lại đều là thứ ở Trung Quốc chưa từng thấy. Cây cối cũng rất khác biệt. Hoa cỏ thì nhiều vô kể, lại thơm và đẹp. Hoa dưới nước lại càng nhiều chủng loại, thảy đều không biết tên. Còn như các loại đào, mận, hạnh, mai, thông, bách, sam, quế, lan, cúc... thì thảy đều không có. Ở đó vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] cũng có hoa sen.
'''CHIM MUÔNG (飛鳥)'''
Chim có chim công (khổng tước), chim trả (phỉ thúy), vẹt (anh ca) là thứ Trung Quốc không có. Còn lại như diều hâu, quạ, cò, diệc, chim cốc, chim quán, sếu, vịt trời, chim sẻ vàng các thứ đều có. Thứ không có là chim khách, chim hồng nhạn, chim oanh vàng, chim đỗ quyên, chim én, chim bồ câu.
'''THÚ CHẠY (走獸)'''
Thú có tê ngưu, voi, bò rừng, ngựa núi là những thứ Trung Quốc không có. Còn lại như hổ, báo, gấu, lợn rừng, nai, hươu, hoẵng, khỉ, cáo các loại rất nhiều. Thứ thiếu là sư tử, đười ươi, lạc đà. Gà, vịt, bò, ngựa, lợn, dê thì không cần bàn đến. Ngựa rất lùn nhỏ. Bò rất nhiều. Lúc sống người dân dám cưỡi, nhưng chết thì không dám ăn, cũng không dám lột da, cứ để mặc cho thối rữa mà thôi, vì cho rằng bò đã giúp sức cho người, chỉ dùng để kéo xe thôi. Trước kia không có ngỗng, gần đây có người đi thuyền từ Trung Quốc mang sang nên mới có giống đó. Chuột có con to như mèo. Lại có một loại đầu chuột nhưng tuyệt nhiên giống như chó con mới đẻ.
'''RAU CỦ (蔬菜)'''
Rau củ có hành, mù tạt (giới), hẹ, cà, dưa chuột, dưa hấu, vương qua, bí đao, rau dền. Thứ không có là củ cải, xà lách (sinh thái), khổ mãi, rau chân vịt (ba lăng). Dưa và cà vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] đã có rồi. Cây cà có khi trải qua mấy năm không nhổ bỏ. Cây bông vải (mộc miên) cao vượt cả mái nhà, 10 năm không thay. Các loại rau không biết tên rất nhiều, rau dưới nước cũng có nhiều loại.
'''NGƯ LONG (魚龍)'''
Cá và ba ba, chỉ có cá chép đen là nhiều nhất, các loại khác như cá chép, cá diếc, cá trắm cũng rất nhiều, con lớn nặng trên 2 cân. Có những loại cá không biết tên cũng rất nhiều, thảy đều từ hồ Đạm Dương (淡水洋) mà ra. Còn như cá ở biển thì loại gì cũng có. Lươn, chình, ếch nhái người bản thổ không ăn, đêm đến chúng bò ngang dọc đầy đường. Giải và cá sấu lớn như cái bồ, dù là loại rùa 6 mai cũng được dùng làm thức ăn. Tôm ở Tra Nam (查南) nặng trên 1 cân. Rùa ở Chân Bồ (真蒲) chân có thể dài khoảng 8 đến 9 tấc. Cá sấu lớn như chiếc thuyền, có 4 chân, cực giống hình rồng nhưng không có sừng, bụng rất giòn và ngon. Các loại trai, hến, ốc ở hồ Đạm Dương có thể vốc tay là được. Duy nhất không thấy cua, nghĩ là cũng có nhưng người ta không ăn vậy.
'''UỔN NHƯỠNG (醞釀 - Nấu rượu)'''
Rượu có 4 hạng: Thứ nhất, người Đường (唐人) gọi là "rượu mật đường", dùng men thuốc pha với mật và nước mỗi thứ một nửa mà thành. Thứ nhì, chủ nhà gọi là "Bằng nha tứ" (朋牙四), làm bằng lá cây. Bằng nha tứ (朋牙四) là tên một loại lá cây vậy. Thứ ba nữa là dùng gạo hoặc cơm thừa mà làm, tên gọi là "Bao lăng giác" (包稜角), vì Bao lăng giác (包稜角) nghĩa là gạo vậy. Hạng thấp nhất là "rượu đường giám", làm bằng đường. Lại nữa, khi vào cửa sông ven nước có "rượu giao tương", vì có một loại lá giao mọc ven nước, nhựa của nó có thể nấu rượu.
'''MUỐI, GIẤM, TƯƠNG, MÌ (鹽醋醬麪)'''
Việc nấu muối trong nước không cấm, từ Chân Bồ (真蒲), Ba Giản (巴澗) ven biển trở đi thảy đều nấu muối. Trong núi lại có một loại đá vị còn ngon hơn muối, có thể đẽo gọt thành đồ dùng. Người bản thổ không biết làm giấm, trong canh muốn có vị chua thì bỏ lá cây "Hàm bình" (咸平), cây có quả thì dùng quả, có hạt thì dùng hạt. Họ cũng không làm tương vì không có lúa mạch và đậu. Cũng không có men đại mạch (khúc), vì nấu rượu bằng mật nước và lá cây nên cái họ dùng là men thuốc (tửu dược), hình dáng giống như men rượu trắng ở vùng quê Trung Quốc.
''' TẰM TANG (蠶桑)'''
Người bản thổ đều không làm nghề tằm tang, phụ nữ cũng không hiểu việc kim chỉ khâu vá, chỉ có thể dệt vải bông (mộc miên) mà thôi. Họ cũng không biết quay sợi, chỉ lấy tay vuốt thành sợi. Không có khung cửi để dệt, chỉ dùng một đầu buộc vào thắt lưng, một đầu gác lên trên, thoi dệt cũng chỉ dùng một ống tre. Những năm gần đây người Xiêm (暹人) đến ở mới lấy nghề tằm tang làm nghiệp. Giống dâu, giống tằm đều từ nước Xiêm mang đến. Ở đây cũng không có gai, đay, chỉ có lạc ma (một loại sợi). Người Xiêm tự dùng tơ dệt áo lăng đen để mặc, phụ nữ Xiêm thì biết khâu vá. Người bản thổ khi vải quấn bị rách đều thuê họ vá giúp.
'''KHÍ DỤNG (器用 - Đồ dùng)'''
Ngoài phòng xá của những nhà tầm thường ra không có các loại bàn ghế hay thùng chậu. Chỉ khi nấu cơm thì dùng một nồi đất (ngõa phủ), nấu canh dùng một siêu đất (ngõa điêu), chôn 3 hòn đá xuống đất làm bếp, dùng gáo dừa làm muôi. Đựng cơm dùng bồn đất Trung Quốc hoặc mâm đồng. Canh thì dùng lá cây chế thành một cái bát nhỏ, dù đựng nước cũng không rò rỉ. Lại lấy lá giao làm một cái muôi nhỏ để múc nước canh vào miệng, dùng xong thì vứt đi, dù là lúc tế lễ thần Phật cũng vậy. Lại dùng một đồ thiếc hoặc đồ đất đựng nước bên cạnh để nhúng tay, vì ăn cơm chỉ dùng tay bốc, cơm dính vào tay nếu không có nước này thì không sạch được. Uống rượu dùng ấm bằng thiếc (lạp chú tử), người nghèo dùng bát đất, nếu là phủ đệ nhà giàu thì thảy đều dùng đồ bạc, thậm chí có nhà dùng vàng. Các dịp khánh hạ của quốc gia đa số dùng vàng làm đồ dùng, chế độ hình dáng lại khác biệt. Trên đất thì trải chiếu cỏ Minh Châu (明州), hoặc có nhà trải da hổ, báo, hoẵng, hươu và thảm mây. Gần đây mới đặt bàn thấp, cao khoảng 1 xích (hơn 30cm), lúc ngủ chỉ nằm chiếu tre trên ván. Gần đây lại có người dùng giường thấp, thảy đều do người Đường (唐人) chế tác. Đồ ăn dùng vải che lại, trong cung quốc chủ dùng gấm lụa dát vàng (tiêu kim kiêm bạch), thảy đều do khách buôn trên thuyền biếu tặng. Lúa không dùng cối xay, chỉ dùng chày giã mà thôi.
'''XA KIÊU (車轎 - Xe và kiệu)'''
Chế độ của kiệu là lấy một khúc gỗ uốn cong ở giữa, hai đầu dựng đứng lên, điêu khắc hoa văn và bọc vàng bạc, đó chính là cái gọi là "đòn khiêng kiệu vàng bạc" vậy. Mỗi đầu trong khoảng 1 xích thì đóng móc sắt, dùng một tấm vải lớn gấp dày, lấy dây buộc vào hai đầu móc, người ngồi trong vải, dùng 2 người khiêng. Kiệu lớn thì thêm một vật như mui thuyền nhưng rộng hơn, trang trí bằng gấm lụa năm màu, dùng 4 người khiêng, có người chạy theo kiệu. Nếu đi xa cũng có người cưỡi voi, cưỡi ngựa. Cũng có người dùng xe, chế độ của xe giống như những nơi khác. Ngựa không có yên, voi không có ghế để ngồi.
'''CHU TẬP (舟楫 - Thuyền bè)'''
Thuyền lớn dùng gỗ cứng xẻ ván mà làm. Thợ không có cưa, chỉ dùng rìu đục mà đẽo thành ván, vừa tốn gỗ vừa tốn công. Phàm muốn cắt gỗ thành đoạn cũng chỉ dùng đục mà đục đứt, dựng nhà cũng vậy. Thuyền cũng dùng đinh sắt, trên lợp lá giao, lấy mảnh gỗ cây cau ép lên trên. Loại thuyền này tên là "Tân nã" (新拏). Dầu dán mái chèo là dầu cá, vôi trộn là vôi đá. Thuyền nhỏ thì lấy gỗ lớn đục thành máng, dùng lửa hơ mềm rồi lấy gỗ chống cho choãi ra; bụng to, hai đầu nhọn, không mui, chở được vài người, chỉ dùng mái chèo mà khua, tên là "Bì lan" (皮闌).
'''THUỘC QUẬN (屬郡)'''
Các quận thuộc quyền có hơn 90 nơi: như Chân Bồ (真蒲), Tra Nam (查南), Ba Giản (巴澗), Mạc Lương (莫良), Bát Tiết (八薛), Bồ Mãi (蒲買), Trĩ Côn (雉棍), Mộc Tân Ba (木津波), Lại Cảm Khanh (賴敢坑), Bát Tư Lý (八廝里). Còn lại không thể nhớ hết. Mỗi nơi đều đặt quan thuộc, đều lấy hàng rào gỗ làm thành.
'''THÔN LẠC (村落)'''
Mỗi làng hoặc có chùa, hoặc có tháp. Nơi nhà cửa hơi đông đúc tất có quan trấn thủ, gọi là "Mai tiết" (買節). Trên đường lớn có nơi nghỉ ngơi như nhà trạm, tên là "Sâm mộc" (森木). Gần đây vì đánh nhau với người Xiêm (暹人) nên thảy đều thành đất hoang.
'''THỦ ĐẢM (取膽 - Lấy mật người)'''
Trước kia vào tháng 8 âm lịch [thời kỳ trước năm 1296], có tục lấy mật người. Nguyên do là vua Chiêm Thành (占城) mỗi năm đòi hàng ngàn chiếc mật người đựng trong một chiếc bình lớn. Đêm đến, họ tìm nhiều cách sai người vào trong thành và các thôn lạc, gặp người đi đêm thì dùng dây thòng lọng giữ chặt đầu, dùng dao nhỏ lấy mật ở dưới sườn phải, đợi cho đủ số để dâng cho vua Chiêm Thành (占城). Duy chỉ không lấy mật của người Đường (唐人), vì có một năm lấy một cái mật của người Đường trộn vào trong đó, khiến cho mật trong cả bình đều thối rữa không dùng được. Những năm gần đây đã bỏ việc lấy mật này, lập ra chức quan lấy mật riêng, ở phía trong cửa Bắc.
'''DỊ SỰ (異事 - Chuyện lạ)'''
Phía trong cửa Đông có người Man phạm tội dâm ô với em gái mình, da thịt dính chặt không rời, trải qua 3 ngày không ăn mà cả hai cùng chết. Người đồng hương của ta là họ Tiết, ở phiên bang đã 35 năm, ông ta bảo đã 2 lần thấy chuyện này, ấy là vì uy linh của Thánh Phật nên mới như vậy.
'''TẢO DỤC (澡浴 - Tắm rửa)'''
Đất này cực kỳ nóng nực, mỗi ngày nếu không tắm rửa vài lần thì không chịu nổi, đêm đến cũng không tránh khỏi 1 đến 2 lần. Ban đầu không có phòng tắm hay bồn chậu, nhưng mỗi nhà đều phải có một cái ao, nếu không thì 2 đến 3 nhà chung một ao. Không phân biệt nam nữ thảy đều trần truồng xuống ao. Duy chỉ có cha mẹ bậc tôn trưởng ở trong ao thì con cái bậc thấp không dám vào. Nếu bậc thấp ở trong ao trước, thấy bậc tôn trưởng đến thì cũng phải tránh đi. Nếu hàng vai vế ngang hàng thì không gò bó. Lúc xuống nước chỉ dùng tay trái che bộ phận kín là được. Cứ 3 đến 4 ngày, hoặc 5 đến 6 ngày, phụ nữ trong thành từng nhóm 3 đến 5 người cùng ra sông ngoài thành tắm rửa. Đến bờ sông, cởi bỏ tấm vải quấn mà xuống nước, người tụ tập ở sông có đến hàng ngàn, dù là phụ nữ nhà quyền quý cũng dự vào, tuyệt không cho là nhục. Từ gót chân đến đỉnh đầu thảy đều nhìn thấy rõ. Ở con sông lớn ngoài thành, không ngày nào không có cảnh này, người Đường (唐人) lúc rảnh rỗi thường lấy việc này làm thú vui tiêu khiển. Nghe nói cũng có kẻ ước hẹn tư thông ngay dưới nước. Nước thường ấm như nước nóng, chỉ đến canh 5 mới hơi mát, hễ mặt trời mọc là lại ấm ngay.
'''LƯU NGỤ (流寓)'''
Những người Đường (唐人) làm thủy thủ thấy nước này có lợi là không cần mặc quần áo, gạo thóc dễ kiếm, phụ nữ dễ lấy, nhà cửa dễ lo, đồ dùng dễ đủ, mua bán dễ làm, nên thường trốn ở lại đó.
'''QUÂN MÃ (軍馬)'''
Quân lính cũng trần truồng đi chân đất, tay phải cầm lao (tiêu thương), tay trái cầm khiên (chiến bài), không có các thứ gọi là cung tên, pháo đá, giáp trụ. Nghe nói khi đánh nhau với người Xiêm (暹人) đều lùa bách tính ra trận, thường cũng chẳng có mưu lược trí kế gì.
'''QUỐC CHỦ XUẤT NHẬP (國主出入 - Việc đi lại của vua)'''
Nghe nói trước kia quốc chủ không mấy khi ra khỏi cửa, ấy là để phòng những biến cố bất trắc. Vị chủ mới này là con rể của quốc chủ cũ, nguyên giữ chức thống lĩnh quân đội. Nhạc phụ yêu con gái, người con gái ấy mật mật lấy trộm gươm vàng giao cho chồng, khiến cho con trai ruột không được kế vị. Người con trai ấy từng mưu dấy binh nhưng bị chủ mới phát giác, bị chặt ngón chân rồi giam vào phòng tối. Chủ mới thân khảm "sắt thánh", dù đao tên chạm vào mình cũng không hại được, nhờ cậy vào đó mới dám ra khỏi cửa. Ta ở lại hơn 1 năm, thấy vua ra ngoài 4 đến 5 lần. Phàm khi ra ngoài, quân mã vây bọc phía trước, cờ xí trống nhạc theo sau. Cung nữ 300 đến 500 người, mặc vải hoa, búi tóc hoa, tay cầm nến lớn thành một đội, dù ban ngày cũng đốt nến. Lại có cung nữ thảy đều cầm đồ dùng bằng vàng bạc và đồ trang sức trong cung, chế độ khác biệt, không rõ dùng làm gì. Lại có cung nữ cầm lao và khiên làm quân nội đình, lập thành một đội. Lại có xe dê, xe ngựa thảy đều trang trí bằng vàng. Các quan đại thần và quốc thích đều cưỡi voi đi trước, nhìn xa lọng che màu đỏ (hồng lương tản) không kế xiết. Kế đến là vợ và thiếp của quốc chủ, hoặc ngồi kiệu, ngồi xe, cưỡi ngựa hay cưỡi voi, lọng che dát vàng (tiêu kim lương tản) có hơn 100 chiếc. Sau cùng là quốc chủ, đứng trên lưng voi, tay cầm bảo kiếm, ngà voi cũng được bọc vàng. Lọng che màu trắng dát vàng (tiêu kim bạch lương tản) phàm hơn 20 chiếc, cán lọng đều bằng vàng. Chung quanh vây bọc rất nhiều voi và có quân mã bảo vệ. Nếu đi chơi gần thì chỉ dùng kiệu vàng, đều do cung nữ khiêng. Đại phàm ra vào, tất rước tháp vàng nhỏ và Phật vàng đi trước, người xem thảy đều phải quỳ xuống đảnh lễ, gọi là "Tam bãi" (三罷). Nếu không sẽ bị quân canh bắt giữ, không được thả ra vô ích. Mỗi ngày quốc chủ ra ngự triều trị sự 2 lần, cũng không có văn bản nhất định. Các quan và bách tính muốn gặp quốc chủ đều ngồi liệt trên đất để đợi. Một lát sau, bên trong ẩn hiện tiếng nhạc, bên ngoài mới thổi ốc tù và để đón. Nghe nói vua chỉ dùng xe vàng đến từ nơi hơi xa, chốc lát thấy 2 cung nữ dùng bàn tay thon dài cuốn rèm lên, quốc chủ tay chống kiếm đứng trong cửa sổ vàng. Từ quan lại trở xuống đều chắp tay cúi đầu, tiếng ốc vừa dứt mới được ngẩng đầu. Vua lúc đó cũng liền ngồi xuống. Chỗ ngồi có một tấm da sư tử, là vật báu truyền quốc. Sau khi bàn việc xong, quốc chủ liền quay mình đi vào, 2 cung nữ lại hạ rèm xuống, mọi người cùng đứng dậy. Xem thế thì biết dù là nơi man di, chưa từng không biết có quân vương vậy.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic111 - 真臘國.svg|center]]
Theo Tam tài đồ hội (三才圖會): Nước Chân Lạp (真臘) phát thuyền từ Quảng Châu (廣州), đi gió Bắc 10 ngày thì đến nơi, thời tiết không có mùa lạnh. Mỗi khi cưới hỏi thì người nam về ở nhà người nữ. Sinh con gái đến 9 tuổi, liền mời sư tăng tụng kinh làm phép Phạn (Phạn pháp), lấy ngón tay chọc phá thân đồng trinh, lấy máu đó điểm lên trán con gái, người mẹ cũng dùng điểm lên trán mình, gọi đó là "Lợi thị" (利市). Làm như vậy thì người con gái ấy sau này lấy chồng sẽ hòa hợp vui vẻ. Phàm con gái đủ 10 tuổi là gả chồng. Người trong nước phạm tội trộm cắp thì bị chặt tay chân, nung lửa đóng dấu vào ngực lưng hoặc xăm mặt, phạm tội đến mức chết thì bị chém. Người phiên giết người Đường (唐人) thì y theo pháp luật người phiên mà đền mạng; nếu người Đường giết người phiên thì bị phạt tiền vàng rất nặng; nếu không có tiền vàng thì bán thân lấy tiền chuộc tội. Phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城), bên cạnh có các nước Tây Bằng (西棚)...
== ĐỖ BẠC bộ vị khảo (杜薄部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đỗ Bạc (杜薄) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Đỗ Bạc (杜薄) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong biển Trướng Hải (漲海) về phía Đông của Phù Nam (扶南), đi thuyền thẳng trên biển mấy chục ngày thì tới. Người nước ấy diện mạo trắng trẻo, thảy đều mặc quần áo. Trong nước có ruộng lúa, phụ nữ dệt vải hoa bằng bông trắng (bạch điệp hoa bố). Sản sinh vàng, bạc, sắt, lấy vàng làm tiền. Sản sinh hương Kê thiệt (雞舌香), có thể ngậm được. Vì hương thơm nên không cho vào quần áo. Cây Kê thiệt ấy khí vị cay mà tính mãnh liệt, chim thú không thể đến gần, nên chưa có ai nhận biết được cây ấy thế nào. Hoa chín tự rụng, trôi theo dòng nước mà ra, bấy giờ mới lấy được. Trên đảo Đỗ Bạc có hơn 10 tòa thành nước, đều xưng Vương."
== BẠC LẠT bộ vị khảo (薄剌部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Bạc Lạt (薄剌) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Bạc Lạt (薄剌) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong vịnh biển phía Nam của Câu Lợi (拘利). Người ở đó da đen răng trắng, mắt đỏ, nam nữ thảy đều không mặc quần áo."
==HỎA SƠN bộ vị khảo (火山部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Hỏa Sơn (火山) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Hỏa Sơn (火山) được biết đến vào thời Tùy. Cách các đảo Chư Bạc (諸薄) 5.000 dặm về phía Đông. Trong núi ở nước ấy thảy đều có lửa, dù mưa cũng không tắt, trong lửa có loài chuột trắng." Thổ tục Phù Nam (扶南) truyền rằng: "Đảo Hỏa Sơn ở phía Đông đảo Mã Ngũ (馬五) khoảng hơn 1.000 dặm, tháng mùa xuân mưa dầm, mưa tạnh thì lửa cháy. Cây cối trên đảo hễ gặp mưa thì vỏ đen, gặp lửa thì vỏ trắng. Người ở các đảo lân cận vào tháng mùa xuân thường lấy vỏ cây ấy, bện lại làm vải, hoặc làm tim đèn; vải hễ hơi bẩn, quăng vào trong lửa lại sạch như cũ." Lại có nước Gia Doanh (加營), phía Bắc các đảo Chư Bạc, có ngọn núi phía Tây chu vi 300 dặm, từ tháng 4 âm lịch lửa sinh ra, tháng Giêng âm lịch lửa tắt; khi lửa cháy thì cỏ cây rụng lá như mùa lạnh ở Trung Quốc. Người thời ấy vào tháng 3 âm lịch đến núi này lấy vỏ cây, bện làm vải hỏa hoạn (vải chịu lửa)."
== ĐÔ CÔN bộ vị khảo (都昆部彙考)==
'''(Đính kèm nước Biên Đẩu, Câu Lợi, Tỉ Tùng)'''
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đô Côn (都昆) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Biên Đẩu (邊斗), còn gọi là Ban Đẩu (班斗); nước Đô Côn (都昆), còn gọi là Đô Quân (都軍); nước Câu Lợi (拘利), còn gọi là Cửu Ly (九離); nước Tỉ Tùng (比嵩), thảy đều được biết đến từ thời Tùy. Từ Phù Nam (扶南) vượt vịnh lớn Kim Lân (金鄰), đi về phía Nam 3.000 dặm thì có 4 nước này. Việc nông tác của họ giống với Kim Lân (金鄰), người đa số da trắng. Đô Côn (都昆) sản sinh hương Trản (棧香) tốt, hương Hoắc (藿香) và lưu huỳnh. Cây hương Hoắc ở đó sống đến 1.000 năm, gốc rễ rất lớn; chặt xuống để 4 đến 5 năm, phần gỗ đều mục nát, chỉ có các đốt ở giữa kiên cố, hương thơm còn lưu lại, lấy đó làm hương."
== VÔ LUÂN bộ vị khảo (無論部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Vô Luân (無論) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Vô Luân (無論) được biết đến vào thời Tùy. Ở phía Tây Phù Nam (扶南) hơn 2.000 dặm. Hai bên đường cái của nước ấy trồng xen kẽ cây tỳ bà và các loại hoa quả, đi dưới tán cây luôn có bóng râm mát. Cứ 10 dặm có 1 trạm đình, trạm đình đều có giếng nước. Họ ăn cơm mạch, uống rượu bồ đào (nho), rượu đặc như keo, khi uống pha thêm nước, vị rất ngọt ngon."
==LA SÁT bộ vị khảo (羅剎部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp thứ 3 đời Tùy Dạng Đế, sai sứ sang nước Xích Thổ, đi đến La Sát.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước La Sát (羅剎) ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với Lâm Ấp (林邑) vào ban đêm, ban ngày thì che mặt." Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế [năm 607], sai sứ là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ (赤土), đi đến La Sát (羅剎).
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Phía Đông Bà Lợi (婆利) có nước La Sát (羅剎), người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với người Lâm Ấp (林邑), đến vào ban đêm, tự che mặt mình. Nước ấy sản sinh hỏa châu (ngọc lửa), hình dáng như thủy tinh, vào lúc giữa trưa lấy viên châu hứng bóng mặt trời để bắt vào ngải, nương theo đó lửa sẽ phát ra."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
nzsguvc1kwpf7b63az3zypf6s0t2gz3
204746
204745
2026-04-16T09:57:52Z
Mrfly911
2215
204746
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第101卷
| năm= 1726
| phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 101'''
| trước= [[../quyển 100|quyển 100]]
| sau= [[../quyển 102|quyển 102]]
| ghi chú =
}}
==XIÊM LA bộ vị khảo (暹羅部彙考)==
''' (Xích Thổ 赤土 - Xiêm La Hộc 暹羅斛) '''
===Tùy===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế (隋煬帝) [năm 607], sai quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ.'''
Theo Tùy thư - Dạng Đế bản kỷ (隋書煬帝本紀) thì không chép việc này. Theo Xích Thổ bản truyện (赤土本傳): "Nước Xích Thổ (赤土國) là một chủng loại khác của Phù Nam (扶南). Nằm ở trong biển Nam Hải (南海), đi đường thủy hơn 100 ngày thì đến kinh đô. Đất sắc đỏ nhiều nên lấy đó làm tên nước. Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Bà La Sa (婆羅娑國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm.
Vua nước ấy họ Cù Đàm (瞿曇氏), tên là Lợi Phú Đa Tắc (利富多塞), không rõ nước thành lập đã bao lâu. Nghe nói cha vua nhường ngôi, xuất gia làm đạo, truyền vị cho Lợi Phú Đa Tắc, đến nay đã tại vị được 16 năm. Vua có 3 vợ, đều là con gái của vua các nước láng giềng. Cư ngụ tại thành Tăng Kỳ (僧祗城), có 3 tầng cửa, mỗi cửa cách nhau chừng 100 bước, mỗi cửa đều vẽ hình tượng Phi tiên (飛仙), Tiên nhân (仙人), Bồ Tát (菩薩). Treo chuông hoa vàng và bờm ngựa, có mấy chục phụ nữ, người thì tấu nhạc, người thì bưng hoa vàng. Lại trang điểm cho 4 người phụ nữ, dung mạo như Phật, đứng hai bên cửa như hình trạng Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士) bên cạnh tháp. Người đứng ngoài cửa cầm binh khí, người đứng trong cửa cầm phất trần trắng, giăng lưới trắng kết hoa dọc lối đi."
Các gian nhà trong cung vua thảy đều là lầu gác cao. Vua ngồi ở cửa phía Bắc, mặt hướng về phía Bắc, ngồi trên sập 3 tầng, mặc vải Triều Hà (朝霞布), đội mũ hoa vàng, treo anh lạc bằng ngọc báu hỗn hợp. Có 4 nữ nhân đứng hầu, tả hữu có hơn 100 lính bảo vệ. Sau sập vua có một khám thờ bằng gỗ, dùng vàng bạc và 5 loại gỗ thơm khảm trai trang trí; sau khám treo một vầng hào quang vàng rực, hai bên sập dựng 2 chiếc gương vàng, trước gương bày bình vàng, trước bình có lư hương vàng, phía trước đặt một con trâu nằm bằng vàng, trước trâu dựng 1 bảo cái, hai bên bảo cái đều có quạt quý. Hàng trăm người Bà La Môn (婆羅門) ngồi đối diện nhau thành từng hàng ở phía Đông và Tây.
Quan lại có: 1 người gọi là Tát Đà Ca La (薩陀迦羅), 2 người gọi là Đà Noa Đạt Xoa (陀挐達叉), 3 người gọi là Ca Lợi Mật Ca (迦利密迦), cùng nhau nắm chính sự; 1 người gọi là Câu La Mật Đế (俱羅末帝) nắm hình pháp. Mỗi thành đặt 1 người Na Gia Ca (那邪迦), 10 người Bát Đế (缽帝).
Phong tục ở đó đều xỏ tai cắt tóc, không có lễ quỳ lạy, dùng dầu thơm xức thân. Dân chúng kính Phật, đặc biệt trọng Bà La Môn. Phụ nữ búi tóc sau gáy, nam nữ đều dùng vải ngũ sắc Triều Hà (朝霞), Triều Vân (朝雲) làm áo. Nhà hào phú thì xa hoa tùy ý, duy có xích vàng nếu không phải vua ban thì không được dùng. Mỗi khi cưới gả thì chọn ngày lành, nhà gái trước kỳ hạn 5 ngày sẽ tấu nhạc uống rượu, người cha cầm tay con gái trao cho chàng rể, sau 7 ngày mới thành phối hợp. Cưới xong thì chia tài sản ra ở riêng, duy con út ở chung với cha. Cha mẹ anh em chết thì cạo tóc mặc áo trắng, dựng sàn gỗ tre trên mặt nước, trong sàn chất củi, đặt thi thể lên trên, đốt hương dựng phướn, thổi ốc đánh trống để tiễn đưa. Phóng hỏa đốt củi, thi thể rơi xuống nước. Sang hèn đều như nhau, duy tro cốt của vua sau khi thiêu xong thì thu lại, đựng vào bình vàng, cất trong miếu thờ.
Khí hậu đông hè thường ấm, mưa nhiều tạnh ít, gieo trồng không cứ mùa màng. Đặc biệt thích hợp trồng lúa, kê, đậu trắng, mè đen; các sản vật khác đa phần giống với Giao Chỉ (交趾). Dùng mía làm rượu, pha với rễ dưa tím, rượu màu vàng đỏ, vị thơm ngon; cũng gọi nước dừa là rượu.
Khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, chiêu mộ những người có thể thông sứ với các vùng đất xa xôi. Tháng 10 âm lịch năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607], Truân điền Chủ sự Thường Tuấn (常駿), Ngu bộ Chủ sự Vương Quân Chính (王君政) xin đi sứ Xích Thổ. Đế rất vui, ban cho Tuấn mỗi người 100 xấp lụa, 1 bộ triều phục, và sai mang theo 5.000 đoạn vật phẩm để ban cho vua Xích Thổ.
Tháng 10 năm đó, bọn Tuấn từ quận Nam Hải (南海郡) đi thuyền, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, đi qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵迦缽拔多洲), phía Tây đối diện với Lâm Ấp (林邑), trên đó có miếu thờ thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (師子石), từ đó đảo nhỏ nối liền nhau. Đi tiếp 2 đến 3 ngày, nhìn về phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙須國), bèn đi về hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), rồi tới biên giới Xích Thổ.
Vua nước ấy sai Bà La Môn tên là Câu Ma La (鳩摩羅) mang 30 chiếc thuyền đến đón, thổi ốc đánh trống để chào mừng sứ giả nhà Tùy, dâng xích vàng để buộc thuyền của Tuấn. Sau hơn 1 tháng thì đến kinh đô, vua sai con trai là Na Gia Ca (那邪迦) mời bọn Tuấn vào hội kiến theo lễ. Trước hết sai người đưa mâm vàng đựng hoa thơm cùng gương và kẹp tóc, 2 hộp vàng đựng dầu thơm, 8 bình vàng đựng nước thơm, 4 dải vải trắng để cho sứ giả tắm gội. Vào giờ Mùi ngày hôm đó, Na Gia Ca lại dắt 2 con voi, cầm lọng lông công để đón sứ giả, đồng thời dâng hoa vàng mâm vàng để đỡ chiếu thư. 100 nam nữ tấu loa trống, 2 người Bà La Môn dẫn đường đến cung vua. Bọn Tuấn dâng chiếu thư lên lầu, từ vua trở xuống đều quỳ. Tuyên chiếu xong, mời bọn Tuấn ngồi, tấu nhạc Thiên Trúc (天竺). Xong việc, bọn Tuấn về quán xá. Vua lại sai Bà La Môn đến quán đưa cơm, dùng lá cỏ làm mâm, rộng 1 trượng vuông, nói với Tuấn rằng: "Nay ngài là người của đại quốc, không còn ở nước Xích Thổ nữa. Ăn uống sơ sài, xin vì ý của đại quốc mà dùng cho."
Mấy ngày sau, mời bọn Tuấn vào dự tiệc, nghi vệ dẫn đường như lễ kiến diện ban đầu. Trước mặt vua đặt 2 chiếc giường, trên giường đều đặt mâm lá cỏ rộng 1 trượng 5 thước, trên đó có các loại bánh 4 màu vàng, trắng, tím, đỏ; hơn 100 món thịt trâu, dê, cá, ba ba, lợn, đồi mồi. Mời Tuấn lên giường ngồi, người đi theo ngồi trên chiếu dưới đất, mỗi người dùng chén vàng rót rượu, nữ nhạc luân phiên tấu diễn, lễ vật tặng vô cùng hậu hĩnh.
Sau đó vua sai Na Gia Ca theo Tuấn về cống phương vật, cùng dâng mũ hoa sen vàng (Kim Phù Dung quán), hương Long Não, dùng vàng đúc thành lá Đa La (多羅葉), chạm nổi thành chữ để làm biểu, bỏ trong hộp vàng phong kín lại. Sai Bà La Môn dâng hoa thơm tấu loa trống tiễn đưa. Khi ra biển, thấy bầy cá xanh bay trên mặt nước, đi biển hơn 10 ngày thì đến phía Đông Nam Lâm Ấp (林邑), đi men theo núi. Vùng biển đó rộng hơn 1.000 bước, màu nước vàng và khí vị tanh hôi, thuyền đi 1 ngày không hết, nghe nói đó là phân của cá lớn (Đại ngư phế). Men theo bờ Bắc biển mà đạt đến Giao Chỉ (交趾).
Mùa xuân năm Đại Nghiệp thứ 6 [năm 610], Tuấn cùng Na Gia Ca vào bệ kiến Đế tại Hoằng Nông (弘農). Đế rất vui, ban cho Tuấn 200 đoạn vật phẩm, phong cả hai làm Bỉnh Nghĩa Úy (秉義尉), những người khác trong đoàn Na Gia Ca đều được ban thưởng có sai biệt.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Cương vực Xích Thổ giống với Xiêm La (暹羅). Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Ba La Bà (婆羅婆國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm. Thời Tùy, Thường Tuấn (常駿) từ quận Nam Hải (南海郡) đi đường thủy, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵伽缽拔多洲), phía Tây đối diện Lâm Ấp (林邑), trên có miếu thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (獅子石), từ đó đảo nối tiếp nhau. Đi thêm 2 đến 3 ngày, phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙修國), bèn hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), tới biên giới Xích Thổ. Lâm Ấp (林邑) nay là Chiêm Thành (占城). Sách Tinh tra thắng lãm (星槎勝覽) chép: 'Từ Chiêm Thành thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến', chính là chỗ này vậy."
===Nguyên===
'''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Nguyên Thành Tông (元成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu xin sai sứ giả đến.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyện (暹國本傳): Vào năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Thành Tông (成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu bằng chữ vàng, muốn triều đình sai sứ giả đến nước mình. Đến khi biểu văn ấy tới nơi, thì triều đình đã sai sứ giả đi từ trước rồi, vốn là do bên kia chưa biết vậy. Triều đình ban cho sứ giả nước họ đến lạy một chiếc phù bằng vàng trơn (tố kim phù) để đeo, rồi sai đi gấp để đuổi theo đoàn chiếu sứ cùng đi. Vì người Xiêm (暹人) và người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒) vốn có thù hận chém giết nhau cũ, đến nay thảy đều quy thuận. Có chỉ dụ bảo người Xiêm (暹人) rằng: "Chớ làm tổn thương người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒), để giữ trọn lời hứa của các ngươi."
'''Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], nước Xiêm xin ban yên ngựa, chiếu ban cho áo thêu chỉ vàng nhưng không cho ngựa.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Thành Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyện (暹國本傳): Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], quốc chủ nước Xiêm (暹國) dâng lời rằng: "Lúc cha tôi còn tại vị, triều đình từng ban cho yên cương, ngựa trắng cùng áo thêu chỉ vàng, nay xin theo lệ cũ mà ban cho." Hoàng đế dựa theo lời của Thừa tướng Hoàn Trạch Đáp Lạt Hãn (完澤荅剌罕) rằng: "Kia là nước nhỏ mà ban cho ngựa, e rằng bọn lân bang như Hân Đô (忻都) sẽ chê cười." Triều đình vẫn ban cho áo thêu chỉ vàng, nhưng không ban cho ngựa.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹邏國), vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (邏斛), cũng tức là đất cũ của Xích Thổ (赤土) và Bà La Sát (婆羅剎). Nằm ở cực Nam của Chiêm Thành (占城), phía Bắc thẳng hướng đến Liêm Châu (廉州), men theo bờ Bắc biển nối liền với Giao Chỉ (交趾). Đất nước Xiêm (暹) khô cằn, không hợp cho việc cày cấy trồng trọt; đất ruộng nước La Hộc (羅斛) thì bằng phẳng, rộng rãi và nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm phải trông cậy vào đó để cung cấp. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607] đời Tùy, quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác từ quận Nam Hải (南海郡) cưỡi thuyền đi sứ Xích Thổ (赤土), đến nay truyền sai là di chủng của Xích Mi (赤眉), sau đổi tên gọi là Xiêm (暹). Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295] thời Nguyên, người Xiêm (暹人) từng sai sứ vào cống. Trong khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục nước La Hộc (羅斛), mà hợp lại thành 1 nước."
===Minh===
'''Minh Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ 4, Xiêm La sai sứ triều cống'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Xiêm La (暹羅) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến, chính là nước Xích Thổ (赤土國) thời Tùy Đường. Sau chia làm 2 nước là La Hộc (羅斛) và Xiêm (暹). Đất Xiêm (暹) khô cằn không hợp gieo trồng, đất La Hộc (羅斛) bằng phẳng, trồng trọt thu hoạch nhiều, nước Xiêm (暹) phải trông cậy vào đó. Thời Nguyên (元), nước Xiêm (暹) thường vào cống. Sau đó nước La Hộc (羅斛) mạnh lên, thôn tính đất Xiêm (暹), nên gọi là nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國)."
Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], mệnh sứ thần Lữ Tông Tuấn (呂宗俊) mang chiếu thư đi dụ nước đó. Năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai sứ dâng biểu, cùng bọn Tông Tuấn (宗俊) đến cống voi thuần, rùa 6 chân và phương vật. Chiếu ban cho vua gấm vóc và ban cho sứ giả tiền vải có sai biệt. Sau đó, lại sai sứ đến chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372], chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu.
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Xiêm La (暹羅) vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛). Nước Xiêm (暹) là di chủng của quân Xích Mi (赤眉) nhà Hán, đất nước ấy khô cằn, không hợp cày cấy. Đất ruộng La Hộc (羅斛) bằng phẳng nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm trông cậy vào đó. Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], người Xiêm (暹人) thường sai sứ vào cống. Khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục La Hộc (羅斛) mà hợp thành 1 nước. Đầu năm Hồng Vũ (洪武) triều ta, vua nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國) là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai các sứ thần Nại Tư Lý Sài Lạt Thức Tất Thế (奈思俚儕剌識悉替) đến triều cống, dâng biểu lá vàng. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆)."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Khí hậu Xiêm La (暹羅) không điều hòa, tục chuộng xâm chiếm. Nấu biển làm muối, nấu gạo nếp làm rượu. Trai gái búi tóc hình dùi, dùng vải trắng quấn đầu, mặc áo dài. Mỗi khi có việc bàn bạc, hình pháp nặng nhẹ, tiền thóc ra vào, thảy đều do phụ nữ quyết định. Ý chí và năng lực của họ trên cả nam giới. Dùng vỏ ốc (nghệ tử) thay tiền lưu thông. Người chết thì đổ thủy ngân vào để giữ xác."
Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Đất Xiêm La (暹羅) rộng 1.000 dặm, quanh nước đều là núi, hiểm trở gồ ghề, đất dưới thấp ẩm ướt lỏng lẻo, hiếm chỗ trồng trọt được. Khí hậu không ổn định, lúc sương mù lúc nóng nực. Từ phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), đi thuyền 7 ngày đêm mới đến cửa biển Tân Môn (新門海口), vào cảng mới đạt đến nước ấy. Vua ở cung thất tráng lệ, dân ở nhà sàn, sàn nhà lợp san sát cây bàng lang, dùng mây sợi buộc rất chặt, trải chiếu mây, chiếu tre để ngủ nghỉ bên trong. Vua vốn là người Tỏa Lý (鎖里), dùng vải trắng quấn đầu, không mặc áo, lưng thắt khăn thêu sợi, thêm gấm vóc áp lưng, cưỡi voi đi hoặc ngồi kiệu, lọng cán vàng làm bằng lá giao. Chuộng đạo Phật, người trong nước đều như vậy. Tăng ni rất nhiều, trang phục giống Trung Quốc, có am quan, ăn chay thụ giới. Phụ nữ dân dã nhiều trí tuệ, chồng nghe theo vợ, vợ có tư thông với người Trung Quốc, ăn ngủ cùng nhau, chồng vẫn điềm nhiên không lấy làm lạ. Nam giới quấn đầu vải trắng, mặc áo dài, phụ nữ cũng vậy và búi tóc hình dùi. Nam giới năm 20 tuổi, bộ phận sinh dục tất phải khảm châu ngọc, kẻ phú quý đúc vàng bọc châu, phát ra tiếng kêu mới coi là đẹp, nếu không là người bần tiện. Khi cưới thì bầy tăng đón rể đến nhà gái, tăng lấy chỉ đỏ dán lên trán nam gọi là 'lợi thị', hủ lậu không thể tả xiết. Qua 3 ngày, tăng cùng thân quyến đẩy thuyền hoa bàng lang tiễn về, rồi mở tiệc tấu nhạc. Lễ tang, kẻ phú quý thì đổ thủy ngân mà chôn, dân gian thì khiêng xác quăng xuống biển. Ở các cồn bãi có hàng chục con chim sắc vàng bay đến ăn, có khi xác bị bỏ trôi biển, gọi là 'điểu táng'. Sau đó dùng giáo pháp Phù Đồ để làm chay. Ngôn ngữ giống Quảng Đông (廣東), phong tục nông nổi, thạo thủy chiến. Thường chinh phạt lân bang. Thị trường dùng vỏ ốc biển, giá trị như tiền. Sản vật có đá Hồng Mã Khẩn Đích (紅馬肯的石), kém hơn đá Hồng Nha (紅鴉), sáng trong như hạt lựu. Phía Tây Bắc nước này hơn 200 dặm có thị trấn gọi là Thượng Thủy (上水), thông về phía Nam, dân cư chừng 600 nhà, các loại hàng phiên đều có: hoàng liên hương, la hắc, tốc hương, giáng chân, trầm thủy, cũng có gỗ hoa lê, bạch đậu khấu, đại phong tử, huyết kiệt đằng, kết tô mộc, thiếc hoa, ngà voi, lông chim thúy. Tô mộc rẻ như củi, sắc cực tốt. Thú có voi trắng, sư tử, mèo, chuột trắng. Rau quả như Chiêm Thành (占城). Có rượu gạo, rượu dừa, đều là rượu nấu. Cống vật là tô mộc, hương giáng chân."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], nước Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 [năm 1372], cống gấu đen, vượn trắng và phương vật. Năm sau lại đến cống. Chị của vua là Tham Liệt Tư Ninh (參烈思寧) riêng sai sứ dâng biểu lá vàng, cống phương vật cho Trung cung (Hoàng hậu), bị từ chối. Sau đó người chị lại sai sứ đến cống, Đế vẫn từ chối, nhưng ban yến tiệc cho sứ giả. Lúc bấy giờ vua nước ấy nhu nhược không có võ công, người trong nước suy tôn bác là Tham Liệt Bảo Tì Nha Tì Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙毗哩哆囉祿) làm chủ việc nước, sai sứ đến báo, cống phương vật, ban yến tiệc theo chế độ. Sau đó tân vương sai sứ đến cống tạ ơn, sứ giả cũng có vật hiến tặng, Đế không nhận. Tiếp đó, sai sứ chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1374], cống phương vật, lại dâng bản đồ nước mình."
'''Năm Hồng Vũ thứ 7 [năm 1374], sứ thần Xiêm La vào cống, nói rằng "thuyền cống gặp gió trôi mất", thu nhặt những vật còn sót lại để tiến dâng. Chiếu vì không có biểu văn nên từ chối.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 [năm 1374], sứ thần Sa Lý Bạt (沙里拔) đến cống, nói rằng năm ngoái thuyền dừng tại Dương Ô Chư (烏豬洋), gặp gió làm hỏng thuyền, trôi đến Hải Nam (海南), nhờ quan lại cứu hộ, còn giữ được các vật sót lại như gấm đầu la, giáng hương, tô mộc tiến hiến. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên. Đế trách không có biểu văn, đã nói chìm thuyền mà phương vật lại còn, nghi là thương buôn phiên bang, mệnh từ chối. Dụ cho các thần ở Trung thư và Lễ bộ rằng: 'Xưa chư hầu đối với Thiên tử, hằng năm có tiểu sính, 3 năm có đại sính. Ngoài chín châu (Cửu châu) thì mỗi đời triều kiến một lần, phương vật tiến cống cốt để tỏ lòng thành kính mà thôi. Duy Cao Ly (高麗) khá biết lễ nghĩa, nên lệnh 3 năm một lần cống. Các nước xa khác như Chiêm Thành (占城), An Nam (安南), Tây Dương Tỏa Lý (西洋瑣里), Qua Oa (瓜哇), Bột Ni (浡泥), Tam Phật Tề (三佛齊), Xiêm La Hộc (暹羅斛), Chân Lạp (真臘), vào cống đã tần suất cao, hao phí quá lớn, nay không cần phải như thế nữa, hãy gửi văn thư cho các nước biết'. Tuy nhiên kẻ đến vẫn không dứt, Thế tử là Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) cũng sai sứ dâng thư lên Hoàng thái tử, cống phương vật, mệnh dẫn sứ giả triều kiến Đông Cung, ban yến tiệc rồi cho về."
'''Năm Hồng Vũ thứ 8 [năm 1375], nước Xiêm La vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 8 [năm 1375] lại vào cống. Mà Thế tử cũ là Minh Đài Vương Thế tử Chiêu Bột La Cục (昭孛羅局) cũng sai sứ dâng biểu triều cống, ban yến tiệc như sứ của vua."
'''Năm Hồng Vũ thứ 9 [năm 1376], chiếu dụ vua nước Xiêm La, ban ấn và 1 bộ áo.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 9 năm thứ 9 [năm 1376], vua nước ấy sai con là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) dâng biểu cống voi và phương vật, ban chiếu khen ngợi. Dụ vua nước Xiêm La rằng: Làm vua trị dân, nếu không phải mệnh sáng của trời, ơn lớn của đất, sao được như vậy? Hoa Hạ và Di Địch tuy cách biệt, nhưng vui cái vui của thiên hạ thì ở đâu cũng thế. Nếu làm kẻ bề trên, biết thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế, hòa hợp người và thần, thì lộc truyền đời đời không dứt. Ngươi là Đa La Lộc (哆囉祿) từ khi nối ngôi đến nay, trong thì sửa đạo tề gia, ngoài thì tạo phương cách hòa mục láng giềng, huống hồ nhiều lần sai sứ đến Trung Quốc, xưng thần nhập cống, xét trong các vương thời nay, Đa La Lộc (哆囉祿) có thể gọi là hiền đức vậy, há chẳng tiếng vang các nước phiên sao? Mùa thu năm nay, cống voi đến triều, trẫm sai sứ sang dụ, đặc biệt ban ấn nước Xiêm và 1 bộ áo. Ngươi nên vỗ về dân bang, mãi hưởng nhiều phúc. Nay ban chiếu dụ, mong hãy thấu hiểu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], nước Xiêm La đến triều.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 [năm 1377], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) vâng mệnh cha đến triều kiến. Đế vui mừng, mệnh Lễ bộ Viên ngoại lang Vương Hằng (王恆) cùng những người khác mang chiếu và ấn ban cho, văn ấn khắc 'Xiêm La quốc vương chi ấn' (暹羅國王之印), đồng thời ban cho Thế tử áo, tiền vải và phí đi đường. Từ đó, nước ấy tuân theo mệnh triều đình, bắt đầu gọi là Xiêm La (暹羅). Cứ 1 năm 1 lần cống, hoặc 1 năm 2 lần cống. Đến sau năm Chính Thống (正統) [sau năm 1449], mới là mấy năm 1 lần cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], ban cho nước Xiêm La văn sách Khám hợp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], ban văn sách Khám hợp cùng gấm vóc đồ sứ cho bọn Chân Lạp (真臘)."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], nước Xiêm La cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], cống 10.000 cân hồ tiêu, 10.000 cân tô mộc. Đế sai quan báo đáp hậu hĩnh. Lúc đó dân Ôn Châu (溫州) có người mua trầm hương các vật của họ, hữu trách khép vào tội thông phiên, đáng phải chém bêu đầu. Đế phán: 'Ôn Châu là nơi Xiêm La tất phải đi qua, nhân họ qua lại mà mua bán, không phải thông phiên'. Bèn được tha tội."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Xiêm La cống 30 ngà voi, 60 nô tỳ phiên.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Thế tử Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ đến cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Xiêm La cống tô mộc, hồ tiêu, giáng hương tổng cộng 170.000 cân.'''
*Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử - Xiêm La truyện" đã nêu ở trên.
'''Năm Hồng Vũ thứ 28 [năm 1395], Thế tử nước Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) triều cống, và báo tang cha. Sắc phong Thế tử nối ngôi vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 [năm 1395], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ triều cống, và báo tang cha. Mệnh trung quan Triệu Đạt (趙達) cùng những người khác sang tế, sắc phong Thế tử nối ngôi vương, ban thưởng thêm hậu. Dụ rằng: 'Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, sai sứ ra biên giới, đi khắp bốn phương, nơi đặt chân đến có 36 nước, nơi tiếng tăm thông đạt có 31 nước. Phong tục khác biệt, nước lớn có 18, nước nhỏ có 149, so với ngày nay thì Xiêm La gần nhất. Vừa rồi sứ đến, biết tiên vương đã mất. Vương nối tiếp nghiệp tiên vương, có đạo với bang gia, thần dân vui mừng. Nay đặc biệt sai người ban mệnh, Vương chớ làm mất pháp độ, chớ dâm dật hưởng lạc, để làm rạng rỡ tiền liệt. Hãy kính cẩn thay'."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 28 [năm 1395], chiếu sai nội sứ Triệu Đạt (趙達), Tống Phúc (宋福) làm sứ giả đi nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國), tế vua Tham Liệt Bảo Tì Nha Tư Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙思哩哆囉祿), ban cho嗣 vương (vua nối ngôi) Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) 4 xấp gấm, 4 xấp là, 40 xấp vải mưu ti (mâu ti bố); ban cho vương phi 4 xấp gấm, 4 xấp là, 12 xấp vải mưu ti, có sắc dụ."
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, BAN CHO VUA NƯỚC XIÊM LA ẤN BẠC MẠ VÀNG NÚM LẠC ĐÀ CÙNG CÁC VẬT PHẨM'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Thành Tổ (成祖) lên ngôi, sai chiếu dụ nước ấy. Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], ban cho vua nước ấy là Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) ấn bạc mạ vàng núm lạc đà, vua nước ấy liền sai sứ đến tạ ơn. Tháng 6 âm lịch [năm 1403], nhân việc dâng tôn thụy cho Cao Hoàng đế (高皇帝), sai quan đi ban bố chiếu thư và ban thưởng. Tháng 8 âm lịch [năm 1403], lại mệnh cho Cấp sự trung Vương Triết (王哲), Hành nhân Thành Vụ (成務) ban cho vua nước ấy gấm vóc. Tháng 9 âm lịch [năm 1403], mệnh Trung quan Lý Hưng (李興) mang sắc thư đến thăm hỏi và ban thưởng cho vua nước ấy, các quan văn võ cũng đều được ban thưởng. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước Xiêm La (暹羅) sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật."
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 9 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], có thuyền phiên trôi dạt đến bờ biển Phúc Kiến (福建), thẩm vấn thì ra là thuyền thông hảo giữa Xiêm La (暹羅) và Lưu Cầu (琉球). Ty sở tại kiểm kê hàng hóa rồi tâu lên. Hoàng đế nói: 'Hai nước tu hảo là việc rất tốt. Không may gặp gió bão, chính là lúc nên thương xót, lẽ nào lại nhân đó mà trục lợi?'. Mệnh cho ty sở tại sửa thuyền cấp thóc, đợi khi gió thuận thì tiễn đi Lưu Cầu (琉球). Tháng này, vua nước ấy vì được nhận玺 thư (tỷ thư) thăm hỏi ban thưởng của Hoàng đế, nên sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật, ban thưởng thêm hậu, lại ban cho 100 cuốn Liệt nữ truyện (列女傳). Sứ giả xin ban hành quy chuẩn đo lường (lượng hành) làm mẫu mực vĩnh viễn cho quốc gia, Hoàng đế chấp thuận."
Trước đó, sứ giả cống nạp của Chiêm Thành (占城) khi về, gió thổi thuyền đến Bành Hanh (彭亨), nước Xiêm La (暹羅) cưỡng đoạt sứ giả đó, giam giữ không cho về. Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌) và Mãn Lạt Gia (滿剌加) lại kiện Xiêm La (暹羅) cậy mạnh phát binh, đoạt ấn cáo do Thiên triều ban cho. Hoàng đế bèn hạ sắc trách phạt rằng: "Chiêm Thành (占城), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加) cùng ngươi đều chịu mệnh triều đình, sao dám cậy thế uy quyền? Giam giữ sứ giả, đoạt ấn cáo của họ. Trời có đạo hiển hiện, phúc cho kẻ thiện họa cho kẻ dâm, giặc Lê (黎) ở An Nam (安南) có thể làm gương soi. Hãy lập tức trả lại sứ giả Chiêm Thành (占城), hoàn lại ấn cáo cho Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加). Từ nay về sau phụng pháp theo lý, giữ yên bờ cõi hòa mục láng giềng, mới mong hưởng phúc thái bình vĩnh viễn." Lúc bấy giờ sứ giả cống nạp do Xiêm La (暹羅) sai đi bị lạc gió trôi đến An Nam (安南), thảy đều bị giặc Lê (黎) giết chết, chỉ còn dư lại 1 người là Bột Hắc (孛黑). Sau khi quan quân đánh An Nam (安南), cứu được người này đưa về, Hoàng đế rất thương xót.
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 4 [năm 1406], Xiêm La sai sứ vào cống, xin sách và mẫu đo lường.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 [năm 1406], sứ giả Xiêm La (暹羅) là Nại Tất (奈必) dâng biểu cống phương vật, được tặng sách Cổ kim liệt nữ truyện (古今列女傳). Lại xin mẫu đo lường làm chuẩn mực trong nước, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Xiêm La sai sứ cống phương vật, tạ tội trước.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 [năm 1408], mệnh Trung quan Trương Nguyên (張原) đưa sứ giả về nước, ban cho vua tiền vải, lệnh cho vua phải chu cấp hậu hĩnh cho gia đình những người bị giết. Tháng 9 âm lịch [năm 1408], Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy, vua nước ấy sai sứ cống phương vật, tạ lỗi trước."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 7 [năm 1409], Xiêm La sai sứ đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), lại đưa dân gian trốn tránh về nước, cùng cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sứ giả đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh cho Trung quan tâu cáo trước linh sàng. Lúc đó quân gian là Hà Bát Quan (何八觀) cùng những người khác trốn vào Xiêm La (暹羅), Hoàng đế mệnh sứ giả về báo với chủ họ, đừng thu nhận kẻ đào tẩu. Vua nước ấy liền phụng mệnh sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa bọn Bát Quan (八觀) về, mệnh Trương Nguyên (張原) mang sắc thư và tiền lụa đến khen ngợi."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sai sứ dâng nghi vật đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh Trung cung quan đến cáo trước linh sàng. Tháng 9 âm lịch [năm 1409], lại sai sứ là Khôn Văn Côn (坤文琨) cùng những người khác dâng biểu cống phương vật, ban tiền vải rồi tiễn về. Lúc bấy giờ người Nam Hải (南海) là Hà Bát Quan (何八觀) lưu dạt ra đảo biển, rồi vào Xiêm La (暹羅). Đến nay nhân lúc bọn Văn Côn (文琨) về, Thượng (Hoàng đế) lệnh dụ quốc vương nước ấy, sai đưa bọn Bát Quan (八觀) về, chớ thu nhận kẻ đào tẩu mà chuốc lấy tội lỗi, đồng thời ban cho vua nước ấy gấm thêu vàng, lụa trừu, sa, la, nhung gấm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 8 [năm 1410], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 [năm 1410], Xiêm La (暹羅) sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa người Trung Quốc lưu dạt về, ban sắc thư thăm hỏi cùng tiền lụa màu."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải cho Xiêm La. Năm này vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], lại đến triều cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 13 [năm 1415], vua nước Xiêm La qua đời.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 5 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 [năm 1415], Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) qua đời."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 14 [năm 1416], phong Thế tử nước Xiêm La làm vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 14 [năm 1416], vương tử Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) sai sứ cáo tang cha, mệnh Trung quan Quách Văn (郭文) sang tế, riêng sai quan mang chiếu phong con trai làm vua, ban cho gấm trắng lụa trắng, liền sau đó sai sứ đến tạ ơn."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], định số lượng gấm vóc ban cho vua và vương phi nước Xiêm La.'''
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], cấp cho vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 10 xấp lụa trừu, sa, la, trong đó mỗi loại có 4 xấp dệt kim; vương phi mỗi loại trừu, sa, la có 6 xấp, trong đó mỗi loại có 2 xấp dệt kim."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La xâm lấn Mãn Lạt Gia, sai sứ giả trách phạt. Vua Xiêm La sai sứ giả tạ tội.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La (暹羅) xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加) nên sai sứ giả trách lệnh phải hòa mục. Sau khi sứ giả nước họ vào cống, mệnh Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về. Vua lại sai sứ tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加)."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], sai sứ dụ vua nước Xiêm La (暹羅), khiến cho hòa bình với Mãn Lạt Gia (滿剌加). Sắc dụ Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) rằng: 'Trẫm vâng mệnh trời, làm chủ cả Hoa Hạ và Di Địch, lấy tâm hiếu sinh của天地 (thiên địa) để trị quốc, nhất thị đồng nhân, không phân biệt bên này bên kia. Vương có thể kính trời thờ nước lớn, giữ chức vụ phụng cống, lòng trẫm rất khen ngợi, vốn chẳng phải chỉ trong một ngày. Gần đây vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) là Y Tư Hạn Đáp Nhi Sa (亦思罕答兒沙) lên nối ngôi, có thể tiếp nối chí hướng của cha, tự thân dẫn vợ con đến cửa khuyết triều cống, lòng thành thờ nước lớn đó không khác gì Vương. Nhưng nghe tin Vương vô cớ muốn động binh. Phàm binh khí là vật hung, hai bên đánh nhau tất cùng bị thương, cho nên chuộng binh không phải là tâm của người nhân. Huống hồ vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) đã nội thuộc, tức là thần tử của triều đình. Họ có lỗi, nên trình bày lên triều đình. Không làm theo cách này mà tự tiện động binh, ấy là không nể triều đình vậy. Đây chắc không phải ý của Vương, hoặc là thuộc hạ bên cạnh mượn danh Vương, dùng binh để thỏa tư thù. Vương nên suy xét kỹ, chớ để bị mê hoặc, hãy hòa mục với láng giềng, không xâm lấn nhau, để cùng hưởng phúc, há có giới hạn sao! Vương hãy lưu tâm cho'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 18 [năm 1420], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 4 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 [năm 1420], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ vào cống phương vật, ban tiền vải, vẫn sai Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về nước, vẫn ban cho vua gấm vóc sa la các thứ."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 19 [năm 1421], Xiêm La sai sứ vào cống, và tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 [năm 1421], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Nại Hoài (奈懷) cùng 60 người cống phương vật, tạ tội xâm lấn nước Mãn Lạt Gia (滿剌加), ban tiền vải có sai biệt. Tháng 7 âm lịch lại vào cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 21 [năm 1423], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 [năm 1423], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Mai (坤梅) cống phương vật, ban cho tiền vải."
'''MINH TUYÊN TÔNG NĂM TUYÊN ĐỨC THỨ 8, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 [năm 1433], vua nước ấy là Tất Lý Ma Ha Lạt (悉里麻哈賴) sai sứ triều cống. Trước đó, bồi thần nước này là Nại Tam Đạc (奈三鐸) cùng những người khác đi cống, thuyền ghé cảng Tân Châu (新州港) nước Chiêm Thành (占城), thảy đều bị người nước ấy cướp bóc."
'''MINH ANH TÔNG NĂM CHÍNH THỐNG THỨ 1, SỨ CỐNG XIÊM LA TỐ CÁO VIỆC CHIÊM THÀNH CƯỚP BÓC, LỆNH CHIÊM THÀNH TRẢ LẠI NGƯỜI VÀ VẬT ĐÃ CƯỚP'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 1 [năm 1436], Nại Tam Đạc (奈三鐸) lén đi thuyền nhỏ đến kinh đô, mà sứ cống do vua nước ấy sai đi cũng tới nơi, đều tố cáo tình trạng Chiêm Thành (占城) đánh cướp. Hoàng đế mệnh triệu sứ giả Chiêm Thành (占城) đến để đối chất, sứ giả không có gì để đáp lại, bèn sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城), lệnh phải hoàn trả toàn bộ người và vật đã cướp. Sau đó, nước Chiêm Thành (占城) gửi văn thư cho Lễ bộ (禮部), nói rằng: 'Năm kia nước tôi sai sứ đi Tu Văn Đát Na (須文達那), cũng bị người tặc nước Xiêm La (暹羅) cướp đi, tất nhiên Xiêm La (暹羅) phải trả lại những gì đã cướp trước, thì nước tôi tự nhiên không dám không trả'."
Theo Minh hội điển (明會典): "Xiêm La (暹羅) vào cống. Khoảng năm Tuyên Đức (宣德), ban thưởng đều giảm một nửa. Sau năm Chính Thống (正統), đều chiếu theo lệ năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], sứ thần chính và phó khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là dệt kim, 1 đôi giày và tất. Những người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai vàng trơn. Những người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai vàng chạm hoa. Phần thưởng chính là 4 xấp lụa trừu và 4 xấp là, đổi sang 2 xấp sa quyến, 1 xấp vải bông, 1 bộ áo trừu dệt kim. Đám người thông sự khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là trơn, 1 đôi giày và tất; người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai bạc trơn. Người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai bạc chạm hoa. Phần thưởng chính là 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là, đổi sang 1 xấp quyến bằng tiền giấy (钞绢), 1 bộ áo trừu trơn. Bạn phiên (người đi theo) khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo quyến, 1 đôi giày và tất; phần thưởng chính đổi sang 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Những người lưu lại Quảng Đông (廣東) mà có tiến cống thì hạng đầu mục mỗi người thưởng 1 bộ áo trừu trơn, 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là; người theo hầu mỗi người 1 bộ áo quyến trừu, 1 xấp lụa trừu; hạng bạn phiên mỗi người 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Hàng hóa của đám sứ thần mang tới theo lệ không thu thuế, mà trả bằng tiền giấy theo giá trị."
'''Năm Chính Thống thứ 3 [năm 1438], Xiêm La vào cống, vẫn lệnh phải trả lại người và vật của Chiêm Thành đã cướp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 3 [năm 1438], sứ cống Xiêm La (暹羅) lại đến, nhân đó ban sắc thư, lệnh phải gấp rút hoàn trả người và vật cho Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Chính Thống thứ 11 [năm 1446], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 11 [năm 1446], vua nước ấy là Tư Lợi Ba La Ma Na Nhược Trí Lạt (思利波羅麻那若智剌) lại sai sứ vào cống."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 4, PHONG TỰ TỬ CỦA XIÊM LA LÀ BẢ LA LAN MỄ TUÂN LẠT LÀM XIÊM LA QUỐC VƯƠNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 [năm 1453], mệnh Cấp sự trung Lưu Chu (劉洙), Hành nhân Lưu Thái (劉泰) sang tế cố vương Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (波羅摩剌劄的賴), nhân đó phong cho con nối ngôi (tự tử) là Bả La Lan Mễ Tuân Lạt (把羅蘭米孫剌) làm vua."
'''MINH ANH TÔNG NĂM THIÊN THUẬN THỨ 1, BAN CHO SỨ CỐNG XIÊM LA ĐAI VÀNG CHẠM HOA'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳) đã nêu.
'''Năm Thiên Thuận thứ 6 [năm 1462], Xiêm La sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 [năm 1462], vua nước ấy là Bột Lạt Lam La Giả Trực Ba Trí (孛剌藍羅者直波智) sai sứ triều cống."
'''MINH HIẾN TÔNG NĂM THÀNH HÓA THỨ 9, NƯỚC XIÊM LA XIN CẤP ĐỔI KHÁM HỢP, CHẤP THUẬN'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 9 [năm 1473], sứ cống nói rằng văn bản Khám hợp (勘合) ban năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 [năm 1457] bị mọt ăn, xin cấp đổi cái mới, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], sứ cống Xiêm La về đến giữa đường, lén mua con cái nhà lành, chở muối lậu, mệnh sai quan răn đe.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 [năm 1481], sứ cống về nước, đến giữa đường lén mua trẻ con làm nô tỳ, lại chở nhiều muối lậu, Hoàng đế mệnh sai quan đi răn đe các nước phiên. Trước đó có người vùng Đinh Châu (汀州) là Tạ Văn Bân (謝文彬), vì buôn muối ra biển, trôi dạt vào nước đó, làm quan đến chức Khôn Nhạc (坤岳), tương đương với Học sĩ (學士) của Thiên triều. Sau đó sung làm sứ giả đến triều kiến, vì buôn bán đồ cấm, việc bị lộ, bị hạ ngục."
'''Năm Thành Hóa thứ 18 [năm 1482], Thế tử Xiêm La sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh phong làm Xiêm La quốc vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 18 [năm 1482], sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh Cấp sự trung Lâm Tiêu (林霄), Hành nhân Diêu Long (姚隆) sang phong cho con trai là Quốc Long Bột Lạt Lược Khôn Tức Lạt Ưu Địa (國隆勃剌略坤息剌尤地) làm vua."
'''MINH HIẾU TÔNG NĂM HỒNG TRỊ THỨ 10, XIÊM LA VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khi vào cống năm Hồng Trị (弘治) thứ 10 [năm 1497], Tứ Di Quán (四夷館) không có quan dịch thuật tiếng Xiêm La (暹羅), các đại thần nội các là Từ Phổ (徐溥) và những người khác xin gửi văn thư đến Quảng Đông (廣東), tìm chọn những người thông thạo ngôn ngữ và văn tự nước ấy đưa về kinh đô để dự bị sử dụng, Hoàng đế chấp thuận."
'''MINH VŨ TÔNG NĂM CHÍNH ĐỨC THỨ 10, XIÊM LA TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Đức (正德) thứ 4 [năm 1509], có thuyền Xiêm La (暹羅) trôi dạt đến Quảng Đông (廣東), Trung quan Thị bạc là Hùng Tuyên (熊宣) bàn với các quan thủ thành, đánh thuế hàng hóa đó để cung ứng quân nhu. Việc đến tai triều đình, chiếu chỉ khiển trách Tuyên (宣) lạm quyền, điều về Nam Kinh (南京). Năm thứ 10 [năm 1515], dâng biểu lá vàng sang triều cống, trong quán không ai nhận mặt được mặt chữ ấy. Các đại thần nội các là Lương Trữ (梁儲) và những người khác xin chọn lưu lại 1 đến 2 người trong đoàn sứ giả vào quán để rèn luyện học tập, Hoàng đế phê chuẩn."
'''MINH THẾ TÔNG NĂM GIA TĨNH THỨ 32, XIÊM LA CỐNG PHƯƠNG VẬT'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 [năm 1522], thuyền hàng Xiêm La (暹羅), Chiêm Thành (占城) đến Quảng Đông (廣東) buôn bán, Trung quan Ngưu Vinh (牛榮) thả cho người nhà riêng tự buôn bán, bị luận tội chết theo luật. Năm thứ 32 [năm 1553], sai sứ cống voi trắng và phương vật. Voi chết trên đường đi, sứ giả lấy châu báu trang điểm trên ngà, đựng vào mâm vàng cùng với đuôi voi đem đến dâng hiến. Đế khen ngợi ý đó, ban thưởng hậu hĩnh cho về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹羅), từ sau các năm Hồng Hy (洪熙) [1425], Tuyên Đức (宣德) [1426-1435], việc nhập cống vẫn như kỳ hạn thường lệ. Khoảng năm Chính Thống (正統) [1436-1449], Cảnh Thái (景泰) [1450-1456], việc cống nạp đôi khi không thường xuyên. Từ năm Thành Hóa (成化) [1465-1487] đến nay, đại để 6 năm một lần cống. Gần đây vào năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 32 [năm 1553], sai sứ là Khôn Tùy Ly (坤隋離) và những người khác cống voi trắng và phương vật. Voi trắng đã chết, để lại 1 chiếc ngà voi dài 6 thước, đầu và gốc khảm vàng chạm hoa; đầu ngà lớn 5 tấc 7 phân, khảm 10 hạt lựu, ở giữa khảm 10 viên trân châu, 4 viên bảo thạch; phần đuôi lớn 1 tấc, khảm 1 viên kim cương. Trong hộp vàng đựng lông đuôi voi trắng để làm bằng chứng." Lại có 19 chiếc ngà voi, tổng cộng 350 cân; 37 cây gỗ mun (ô mộc), tổng cộng 3.600 cân; 600 cân thụ hương; 480 cân đằng hoàng; 580 cân đại phong tử; 300 cân tử cánh; 21 cây tốc hương, tổng cộng 650 cân; 20 cân mộc hương; 60 cân bạch đậu khấu; 810 cân hồ tiêu; 14.200 cân tô mộc.
'''Năm Gia Tĩnh thứ 37 [năm 1558], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 8 âm lịch năm thứ 37 [năm 1558], Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Ứng Mệnh (坤應命) và những người khác cống phương vật: 300 cân ngà voi, 650 cân thụ hương, 150 cân đằng hoàng, 310 cân tốc hương, 30 cân bạch đậu khấu, 13.200 cân tô mộc, 450 cân hồ tiêu, 3.800 cân ô mộc, 5.000 cân đại phong tử." Số lượng so với trước kia khá khác biệt.
'''MINH MỤC TÔNG NĂM LONG KHÁNH, NƯỚC XIÊM LA BỊ ĐÔNG MAN NGƯU PHÁ, BẮT THẾ TỬ VÀ ẤN MANG VỀ, CON THỨ NỐI NGÔI DÂNG BIỂU XIN ẤN, TRIỀU ĐÌNH BAN CHO'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Trong năm Long Khánh (隆慶) [1567-1572], nước láng giềng là Đông Man Ngưu (東蠻牛) cầu hôn không được, hổ thẹn tức giận, huy động đại binh công phá nước ấy. Vua nước ấy tự thắt cổ, Thế tử cùng ấn tín do Thiên triều ban cho bị bắt mang đi. Con thứ lên nối ngôi, dâng biểu xin ấn, triều đình ban cho. Từ đó bị nước Đông Man Ngưu (東蠻牛) chế ngự, vua nối ngôi lập chí phục thù."
'''MINH THẦN TÔNG NĂM VẠN LỊCH THỨ 6, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khoảng năm Vạn Lịch (萬曆), quân Đông Man Ngưu (東蠻牛) lại đến, Vua chỉnh đốn binh mã phấn đấu đánh trả, đại phá chúng, giết chết con trai vua ấy. Số quân còn lại chạy trốn trong đêm, Xiêm La (暹羅) từ đó hùng bá trên biển, dời binh công phá Chân Lạp (真臘), bắt vua nước ấy đầu hàng. Từ đó hằng năm dùng binh, bèn xưng bá các nước. Năm thứ 6 [năm 1578], sai sứ vào cống."
'''Năm Vạn Lịch thứ 20 [năm 1592], Xiêm La xin ngầm dùng quân giúp đánh Nhật Bản.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 [năm 1592], Nhật Bản (日本) đánh phá Triều Tiên (朝鮮), Xiêm La (暹羅) xin ngầm dùng quân đánh thẳng vào Nhật Bản (日本) để kiềm chế phía sau. Trung khu Thạch Tinh (石星) bàn định đồng ý, nhưng Đốc thần Lưỡng Quảng là Tiêu Ngạn (蕭彥) kiên trì phản đối, nên thôi. Sau đó việc phụng cống không thay đổi. Đến tháng 3 âm lịch năm Sùng Trinh (崇禎) thứ 16 [năm 1643], vẫn còn vào cống. Nước ấy chu vi 1.000 dặm, phong tục cứng cỏi hung hãn, thạo thủy chiến. Đại tướng dùng 'thánh thiết' bọc thân, đao tên không đâm thủng được. Thánh thiết ấy là xương sọ người vậy. Vua là người Tỏa Lý (鎖里), quan lại chia làm 10 cấp, từ vua đến dân thường, mọi việc đều do vợ quyết định. Ý chí và năng lực của phụ nữ thực sự vượt trên nam giới. Vợ tư thông với người Hoa thì chồng bày rượu cùng uống, điềm nhiên không lấy làm lạ, nói rằng: 'Vợ ta đẹp nên mới được người Hoa yêu mến'. Sùng tín đạo Phật, nam nữ đa số làm tăng ni, cũng ở am chùa, ăn chay thụ giới, trang phục khá giống Trung Quốc. Kẻ phú quý càng kính Phật, có tài sản 100 lạng vàng thì đem một nửa bố thí. Khí hậu không điều hòa, lúc lạnh lúc nóng, đất thấp ẩm ướt, người dân đều ở nhà sàn. Nam nữ búi tóc hình dùi, lấy vải trắng quấn đầu. Kẻ phú quý chết thì dùng thủy ngân đổ vào miệng mà chôn. Kẻ nghèo thì dời xác ra ven biển, tức thì có đàn chim bay đến mổ, chốc lát là hết sạch. Người nhà nhặt xương, khóc lóc rồi vứt xuống biển, gọi là 'điểu táng'. Cũng mời tăng lập đàn chay lễ Phật. Giao dịch dùng vỏ ốc biển (hải nghệ), năm nào không dùng vỏ ốc thì trong nước tất có dịch bệnh lớn. Đồ cống có: voi, ngà voi, sừng tê, lông công, lông thúy, mai rùa, rùa 6 chân, bảo thạch, san hô, phiến não, mễ não, khang não, não du, não sài, tường vi thủy, uyển thạch, đinh bì, a ngụy, tử cánh đằng, kiệt đằng hoàng, lưu hoàng, một dược, ô điêu nê, an tức hương, la hộc hương, tốc hương, đàn hương, hoàng thục hương, giáng chân hương, nhũ hương, thụ hương, mộc hương, đinh hương, ô hương, hồ tiêu, tô mộc, nhục đậu khấu, bạch đậu khấu, tất bát, ô mộc, đại phong tử cùng các loại vải tát cá lạt (sa-ha-la), Tây Dương. Nước ấy có 'miếu Tam Bảo', thờ Trung quan Trịnh Hòa (鄭和)."
===Thanh===
'''THẾ TỔ CHƯƠNG HOÀNG ĐẾ (世祖章皇帝)'''
'''Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653]'''
Theo Đại Thanh Hội điển (大清會典): "Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653], Tuần phủ Quảng Đông (廣東巡撫) tâu rằng, nước Xiêm La (暹羅) xin vào cống."
Xét thấy Xiêm La (暹羅), vốn là 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛) ở Hải Nam (海南), sau hợp thành một. Năm thứ 10 [năm 1653] xin vào cống.
'''Năm Thuận Trị thứ 16 [năm 1659]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Thuận Trị (順治) thứ 16 [năm 1659], Tổng đốc Lưỡng Quảng (兩廣總督) đề chuẩn cho nước Xiêm La (暹羅) lại đến thăm dò việc nộp cống. Các hàng hóa mang theo để đè thuyền (áp thuyền hóa vật) được cho phép giao dịch tại địa phương. Các sổ sách thanh tra thuế bạc hàng hóa trên thuyền đều được chuyển đến Hộ bộ (戶部) để kiểm tra."
'''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], nước Xiêm La (暹羅) có 2 chiếc thuyền chính cống, đi đến vùng biển Thất Châu (七洲海), gặp gió dạt mất, chỉ có 1 chiếc thuyền 'Hộ cống' đến được Hổ Môn (虎門), vẫn lệnh cho quay về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 12 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], sai sứ triều cống, dâng 1 đạo biểu văn bằng lá vàng, cống hiến phương vật gồm: 1 cân long diên hương, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương."
Phương vật dâng Hoàng hậu: 8 lạng long diên hương, 4 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 150 cân ngà voi, 150 cân hồ tiêu, 150 cân đằng hoàng, 150 cân đậu khấu, 150 cân tô mộc, 150 cân tốc hương, 150 cân đại phong tử, 150 cân kim ngân hương.
'''Năm Khang Hy thứ 3 [năm 1664]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 [năm 1664], nước Xiêm La (暹羅) dâng biểu tiến cống. Mệnh cho 2 thuyền chính cống cử 20 viên chức đến kinh đô để nộp bổ cống. 1 thuyền khác lệnh cho 6 người đến kinh đô."
'''Năm Khang Hy thứ 4 [năm 1665]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 [năm 1665], Xiêm La (暹羅) tiến cống đến kinh đô, Lễ bộ (禮部) đề định kỳ hạn cống là 3 năm 1 lần cống. Đường đi qua Quảng Đông (廣東)."
'''Năm Khang Hy thứ 6 [năm 1667]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 6 [năm 1667], Xiêm La (暹羅) tiến cống gồm 1 chiếc thuyền chính cống, 1 chiếc thuyền hộ cống, 1 chiếc thuyền chở voi, và 1 chiếc thuyền thăm dò phát sau. Lễ bộ (禮部) duyệt chuẩn, thuyền tiến cống không được quá 3 chiếc, mỗi thuyền không được quá 100 người, viên chức đến kinh đô là 22 người; các thuyền tiếp cống và thuyền thăm dò đều không được thả người lên bờ."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 6 âm lịch năm thứ 6 [năm 1667], sai sứ triều hạ. Dâng 1 bản biểu văn lá vàng nhân lễ Vạn thọ, 1 bản biểu văn dịch chữ. Cống hiến phương vật gồm: 1 tòa Long đình, 1 cân long diên hương, 300 cân tốc hương, 3.000 cân tô mộc, 300 cân ngà voi, 300 cân an tức hương, 300 cân bạch đậu khấu, 300 cân đại phong tử, 300 cân đằng hoàng, 4 con chim công, 300 cân ô mộc, 300 cân hồ tiêu, 300 cân giáng hương, 1 con voi thuần, 6 chiếc sừng tê, 4 con rùa 6 chân, 10 bức bình phong đuôi công, 600 tấm lông chim trả (thúy điểu), 100 cân hương nhựa cây (thụ giao hương), 2 cân hương trầm thủy, 100 cân hương vỏ cây (thụ bì hương), 100 cân nhi trà, 100 cân hoa hồ tiêu, 1 cân uyển thạch, 100 cân tử cánh, 6 xấp vải giao kiêu, 6 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 4 dải thiên thanh, 1 xấp vải đỏ, 6 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 10 xấp vải hoa chữ 'nhân' (人), 4 dải hoa văn hình người và voi, 10 xấp vải Tây Dương, 1 cân băng phiến loại lớn, 2 cân băng phiến loại vừa, 20 gáo dầu phiến, 100 cân long não, 100 cân hoàng đàn hương, 60 hũ nước hoa hồng (tường vi lộ), 100 cân lưu huỳnh."
Phương vật dâng Hoàng hậu tề niên (齊年): 8 lạng long diên hương, 150 cân tốc hương, 1.500 cân tô mộc, 150 cân ngà voi, 150 cân an tức hương, 150 cân bạch đậu khấu, 150 cân đại phong tử, 150 cân đằng hoàng, 2 con chim công, 150 cân ô mộc, 150 cân hồ tiêu, 150 cân giáng hương, 3 chiếc sừng tê, 2 con rùa 6 chân, 5 bức bình phong đuôi công, 300 tấm lông chim trả, 50 cân hương nhựa cây, 50 cân nhi trà, 50 cân hoa hồ tiêu, 1 cân hương trầm thủy, 50 cân hương vỏ cây, 8 lạng uyển thạch, 50 cân tử cánh, 3 xấp vải giao kiêu, 3 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 2 dải thiên thanh, 5 xấp vải đỏ, 3 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 5 xấp vải hoa chữ 'nhân', 5 xấp vải Tây Dương, 2 dải hoa tạp sắc hình người và voi, 8 lạng băng phiến loại lớn, 1 cân băng phiến loại vừa, 10 gáo dầu phiến, 50 cân long não, 50 cân hoàng đàn hương, 30 hũ nước hoa hồng, 50 cân lưu huỳnh.
'''Năm Khang Hy thứ 7 [năm 1668]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 [năm 1668], chính sứ Xiêm La (暹羅) vào cống đến kinh đô, các đầu mục lưu lại ở biên giới được cấp khẩu phần ăn."
'''Năm Khang Hy thứ 10 [năm 1671]'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 11 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 10 [năm 1671], cống hiến phương vật. Phụng chiếu ban tặng vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 6 xấp đoạn, 4 xấp đoạn dệt kim, 6 xấp sa, 4 xấp sa dệt kim, 6 xấp la, 4 xấp la dệt kim."
Chiếu ban cho Vương phi 4 xấp đoạn, 2 xấp đoạn dệt kim, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 4 xấp sa, 2 xấp sa dệt kim. Chính sứ, Phó sứ (nhị cống sứ), Tam sứ, mỗi người 7 xấp đoạn, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 2 xấp quyến, 1 xấp vải lót, 1 xấp vải thường, cùng 1 đôi tất nỉ gắn liền, 1 đôi ủng hạng nhất da xanh khâu kẽ; Thông sự thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành (Bành đoạn); Biện sự thưởng 4 xấp đoạn, 2 xấp la, 1 xấp quyến, 1 đôi ủng da ngựa lau mặt có tất nỉ; 22 người theo hầu, mỗi người 2 xấp quyến, 5 xấp vải, 1 đôi ủng da bò có tất nỉ; Quan hộ tống (bạn cống quan) thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành. Các vật phẩm ban thưởng này do hai bộ Hộ và Công chuyển tới trước Ngọ Môn (午門), ban cấp trong 2 lần yến tiệc tại bộ. Đợi đến ngày sứ cống Xiêm La (暹羅) về đến tỉnh, theo lệ thiết tiệc rượu 1 lần rồi tiễn về. Các lần tiến cống trên đều theo lệ ban thưởng như vậy. Khi sứ giả về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi.
'''Năm Khang Hy thứ 12 [năm 1673]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 12 [năm 1673], vua nước Xiêm La (暹羅) là Sâm Liệt Phách Lạt Chiếu Cổ Long Phách Lạt Mã Hô Lục Khôn Tư Do Đề Nha Bồ Ai (森列拍臘照古龍拍臘馬呼陸坤司由提呀菩埃) tiến cống và xin phong điển, Lễ bộ (禮部) đề chuẩn cấp cho Cáo mệnh cùng ấn bạc mạ vàng núm lạc đà. Sau khi sứ cống xong việc, các quan viên của Lễ bộ mặc triều phục trước Ngọ Môn (午門) cung kính đặt án kỷ. Quan Hồng lô tự (鴻蒚寺) dẫn các sứ cống hành lễ 3 quỳ 9 khấu đầu, quỳ nhận Cáo mệnh và Ấn tín, gửi văn thư cho quốc vương nước ấy, lệnh cho vua ra ngoài thành cung kính đón nhận Cáo ấn."
Lại có dụ rằng: "Nước ấy đi biển từ xa đến, bày tỏ lòng thành tiến cống. Những vật bị mọt ăn hoặc thiếu hụt đều miễn cho việc nộp bổ."
'''Năm Khang Hy thứ 23 [năm 1684]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 23 [năm 1684]. Dụ rằng: Viên chức tiến cống nước Xiêm La (暹羅) khi về nước, ai không cưỡi được ngựa thì quan phủ cấp cho kiệu khiêng, người theo hầu cấp cho phu gánh. Ngoài quan hộ tống, đặc phái thêm 1 Ty quan và 1 Bút thiếp thức của Lễ bộ (禮部) để bảo vệ cống vật. Ngoài lệ cống thường, lệ có thêm vật cống tăng thêm. Trước đây có chim công và rùa, sau lệnh miễn tiến dâng."
Cung tiến trước ngự tiền: 1 cân long diên hương đựng trong hộp bạc, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương.
Cống vật cho Hoàng hậu cũng giống như vậy, số lượng giảm đi một nửa.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic110 - 暹羅國.svg|center]]
Theo sách Tam tài đồ hội (三才圖會): "Phong tục vùng ven biển nước Xiêm La (暹羅), nam giới từ nhỏ đã cắt bộ phận sinh dục để khảm tám loại bảo vật (bát bảo) nhằm khoe khoang sự phú quý, nếu không làm vậy thì nhà gái sẽ không gả con gái cho."
Gần đây có người khách buôn đi biển tới Xiêm La (暹羅), dừng chân tại một hòn đảo nọ, khắp núi thảy đều là những chiếc thìa và đũa (thì trứ) màu đen tuyền, nơi ấy có rất nhiều cây lớn. Người khách ngẩng lên nhìn kỹ những chiếc thìa đũa ấy, hóa ra chúng chính là hoa và râu của loài cây đó. Bèn nhặt hơn 100 đôi mang về sử dụng, dù dính mỡ cũng không bị bẩn (nhiễm), sau tình cờ lấy ra khuấy trà, chúng liền theo đó mà tan biến mất.
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 1 (真臘部彙考一)==
'''[Cát Miệt (吉蔑), Cam Bột Trí (甘孛智), Gạm Phổ Chỉ (澉浦只)]'''
===THỜI TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 12, tháng 2 [năm 616], nước Chân Lạp (真臘) bắt đầu sai sứ dâng phương vật.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ: (Nội dung như trên).
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp (林邑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南). Cách quận Nhật Nam (日南郡) 60 ngày đi thuyền, phía Nam giáp nước Xa Cừ (車渠), phía Tây có nước Chu Giang (朱江). Vua họ Sát Lợi (剎利氏), tên là Chất Đa Tư Na (質多斯那). Từ thời tổ tiên đã dần cường thịnh, đến đời Chất Đa Tư Na (質多斯那) bèn kiêm tính và chiếm hữu đất Phù Nam (扶南). Khi vua chết, con là Y Xa Na (伊奢那) lên ngôi thay thế. Vua cư ngụ tại thành Y Xa Na (伊奢那城), dưới thành có 20.000 hộ. Trong thành có một tòa đại đường là nơi vua nghe chính sự. Tổng cộng có 30 tòa thành lớn, mỗi thành có vài ngàn hộ, đều có bộ soái riêng, tên quan chức giống với Lâm Ấp (林邑).
Vua cứ 3 ngày nghe triều một lần, ngồi trên giường ngũ hương thất bảo, phía trên căng màn báu. Màn dùng gỗ có vân làm cột, dùng ngà voi và hoa vàng (kim điền) làm vách, hình dáng như ngôi nhà nhỏ, treo ánh vàng rực rỡ, giống như nước Xích Thổ (赤土). Phía trước có lư hương vàng, có 2 người hầu hai bên. Vua mặc vải cổ bối triều hà, quấn quanh thắt lưng và bụng, rủ xuống đến tận ống chân. Đầu đội mũ hoa bằng vàng báu, đeo anh lạc trân châu, chân đi giày da, tai đeo khuyên vàng. Thường mặc áo vải bạch điệp, lấy ngà voi làm guốc (kiêu), nếu để tóc trần thì không đeo anh lạc. Trang phục của thần dân đại để cũng tương tự.
Có 5 đại thần: một là Cô Lạc Chi (孤落支), hai là Cao Tương Bằng (高相憑), ba là Bà Hà Đa Lăng (婆何多陵), bốn là Xá Ma Lăng (舍摩陵), năm là Nhiêm Đa Lâu (髯多婁). Các tiểu thần khi vào chầu vua thảy đều dập đầu 3 lần ở dưới bậc thềm. Vua gọi lên thềm thì quỳ, dùng hai tay ôm vai, ngồi vòng quanh vua. Bàn bạc chính sự xong thì quỳ lạy mà lui ra. Thị vệ ở thềm đình, cửa các có hơn 1.000 người, mặc giáp cầm binh khí. Nước này hòa hiếu với hai nước Tham Bán (參半) và Chu Giang (朱江), nhưng thường xuyên chiến tranh với hai nước Lâm Ấp (林邑) và Đà Hoàn (陀洹). Người dân khi đi đứng đều mang theo binh khí, nếu có chinh phạt thì dùng luôn.
Theo tục lệ, nếu không phải con của chính thê thì không được làm người kế vị. Ngày vua mới lên ngôi, tất cả anh em đều bị hình phạt tàn tật, hoặc chặt 1 ngón tay, hoặc xẻo mũi, rồi đưa đi cung phụng ở nơi khác, không được ra làm quan. Người dân vóc dáng nhỏ và sắc da đen, phụ nữ cũng có người trắng, thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài, tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi. Nhà cửa khí dụng khá giống nước Xích Thổ (赤土). Coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn. Mỗi sáng sớm đều tắm rửa, dùng cành dương làm sạch răng, tụng đọc kinh chú, lại tắm rửa rồi mới ăn, ăn xong lại dùng cành dương sạch răng và đọc kinh chú. Ăn uống nhiều tô lạc (váng sữa), đường cát, gạo tẻ, bánh mì. Khi muốn ăn, trước tiên lấy canh thịt tạp hòa với bánh, dùng tay nắm mà ăn.
Cưới vợ chỉ tặng 1 bộ quần áo, chọn ngày sai bà mối đón dâu. Hai nhà trai gái mỗi bên đều 8 ngày không ra ngoài, đêm ngày đốt đèn không tắt. Nam giới làm lễ cưới xong là chia tài sản với cha mẹ, ra ở riêng. Khi cha mẹ chết, nếu còn ai chưa cưới thì chia tài sản còn lại cho người đó. Nếu đã cưới hết thì tài sản nộp vào quan phủ. Tang lễ thì con cái đều 7 ngày không ăn, cắt tóc mà khóc. Tăng ni, đạo sĩ và thân hữu đều tụ tập, dùng âm nhạc đưa tiễn. Dùng gỗ ngũ hương thiêu xác rồi thu tro, đựng bằng bình vàng bạc, tiễn đưa vào trong vùng nước lớn. Người nghèo có khi dùng bình gốm rồi vẽ màu lên. Cũng có người không thiêu, đưa xác vào trong núi để mặc thú dữ ăn.
Phía Bắc nước này nhiều đồi núi, phía Nam có đầm lầy, khí đất rất nóng, không có sương tuyết, nhiều chướng khí và độc trùng. Đất hợp trồng lúa gạo, ít kê sáp, hoa quả và rau cỏ tương tự Nhật Nam (日南) và Cửu Chân (九真). Điểm khác biệt là có cây Bà Na Sa (婆那娑), không hoa, lá như hồng, quả như đông qua; cây Am La (菴羅), hoa lá như táo, quả như mận; cây Tì Dã (毗野), hoa như mộc qua, lá như hạnh, quả như giấy; cây Bà Điền La (婆田羅), hoa lá quả đều giống táo nhưng hơi khác. Cây Ca Tất Đà (歌畢佗), hoa như lâm cầm, lá như du nhưng dày lớn, quả như mận, to như cái thăng (1 lít), còn lại phần lớn đều giống nhau.
Trong biển Cửu Chân (九真) có loài cá tên là Kiến Đồng (建同), có 4 chân, không vảy, mũi như voi, hút nước phun lên cao 50 đến 60 thước. Có cá Phù Hồ (浮胡), hình như cá lươn, mỏ như vẹt, có 8 chân. Nhiều loài cá lớn, nửa thân nhô lên mặt nước trông như núi. Cứ mỗi tháng 5 tháng 6 âm lịch, khí độc lưu hành, dân lại dùng lợn trắng, bò trắng, dê trắng để tế lễ ngoài cửa Tây thành, nếu không làm vậy thì ngũ cốc không chín, sáu loại gia súc chết nhiều, dân chúng bệnh dịch. Gần kinh đô có núi Lăng Già Bát Bà (陵伽缽婆山), trên có thần từ, thường dùng 5.000 binh sĩ canh giữ. Phía Đông thành có vị thần tên Bà Đa Lợi (婆多利), tế lễ dùng thịt người. Vua nước này hằng năm đều giết người để tế lễ cầu khẩn vào ban đêm. Cũng có 1.000 người canh giữ, việc kính quỷ thần là như vậy. Phần lớn phụng thờ Phật pháp, đặc biệt tin theo đạo sĩ, Phật và đạo sĩ thảy đều lập tượng trong quán. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], sai sứ vào cống hiến, Hoàng đế tiếp đãi rất hậu, sau đó thì đứt đoạn."
===THỜI ĐƯỜNG===
'''CAO TỔ (唐高祖)'''
'''Năm Vũ Đức (武德) [618–626], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Chân Lạp (真臘) còn gọi là Cát Miệt (吉蔑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cách kinh sư 20.700 dặm. Phía Đông giáp Xa Cừ (車渠), phía Tây thuộc Phiêu (驃), phía Nam sát biển, phía Bắc tiếp giáp Đạo Minh (道明), phía Đông Bắc giáp Hoan Châu (驩州). Vua là Sát Lợi Y Kim Na (剎利伊金那), đầu năm Trinh Quán (貞觀) [năm 627] thôn tính Phù Nam (扶南), chiếm đất ấy. Nhà cửa đều quay hướng Đông, khi ngồi thì ngồi phía trên. Khi khách phương Đông tới, họ nghiền trầu cau, long não, hương cáp để mời. Không uống rượu, coi rượu như dâm uế, chỉ cùng vợ uống trong phòng riêng, tránh mặt tôn trưởng. Có 5.000 chiến tượng, những con tốt được cho ăn thịt. Đời đời giao hảo với Tham Bán (參半) và Phiêu (驃). Thường đánh nhau với Hoàn Vương (環王) và Càn Đà Hoàn (乾陀洹). Từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) [618–700], phàm 4 lần vào triều."
Theo Triều dã thiêm tái (朝野僉載): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Hoan Châu (驩州) 500 dặm. Tục lệ khi có khách thì bày trầu cau, long não, hộp hương nghiền... để thết đãi, coi rượu như thứ dâm uế. Trong phòng riêng thì cùng vợ uống, nhưng đối với bậc bề trên thì lánh đi. Lại nữa, vợ chồng ngủ không cho người khác thấy. Tục này giống với Trung Quốc. Người trong nước không mặc quần áo, thấy ai mặc quần áo thì cùng cười nhạo. Tục không có muối sắt, dùng nỏ tre bắn sâu bọ chim chóc."
'''ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG (元宗/玄宗)'''
'''Năm Khai Nguyên (開元) [713–741], Chân Lạp (真臘) chia làm hai nước Nam Bắc là Thủy và Lục. Vương tử Lục Chân Lạp (陸真臘) dẫn thuộc hạ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Huyền Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Sau năm Thần Long (神龍) [năm 707], chia làm hai nửa: Phía Bắc nhiều đồi núi, gọi là nửa Lục Chân Lạp (陸真臘); phía Nam sát biển, nhiều đầm hồ, gọi là nửa Thủy Chân Lạp (水真臘). Thủy Chân Lạp (水真臘) đất rộng 800 dặm, vua cư ngụ tại thành Bà La Đề Bạt (婆羅提拔城). Lục Chân Lạp (陸真臘) còn gọi là Văn Đan (文單), gọi là Bà Lậu (婆鏤), đất rộng 700 dặm, tước hiệu vua là Khuất (屈). Thời Khai Nguyên (開元) và Thiên Bảo (天寶) [713–756], vương tử dẫn 26 người thuộc hạ vào triều, được bái làm Quả nghị đô úy."
'''ĐƯỜNG ĐẠI TÔNG (代宗)'''
'''Năm Đại Lịch (大曆) thứ 14 [năm 779], Phó vương Lục Chân Lạp (陸真臘) là Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Đại Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Khoảng năm Đại Lịch (大曆), Phó vương Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều, dâng 11 con voi thuần. Thăng chức Bà Di (婆彌) làm Thử Điện trung giám, ban tên là Tân Hán (賓漢). Lúc ấy Đức Tông (德宗) mới lên ngôi, tất cả chim quý thú lạ thảy đều thả đi. Những con voi thuần do quân Man Di hiến tặng nuôi trong ngự uyển, phàm có 32 con thường sung vào sân chầu ngày Nguyên hội, thảy đều thả về phía Nam núi Kinh Sơn (荊山)."
'''ĐƯỜNG HIẾN TÔNG (憲宗)'''
'''Năm Nguyên Hòa (元和) [806–820], Thủy Chân Lạp (水真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Đường thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Khoảng năm Nguyên Hòa (元和), Thủy Chân Lạp (水真臘) cũng sai sứ vào cống."
===Tống===
'''TỐNG HUY TÔNG NĂM CHÍNH HÒA THỨ 6, MÙA ĐÔNG THÁNG 12, NƯỚC CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ: (Nội dung như trên). Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Nước này ở phía Nam Chiêm Thành (占城), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam đến Gia La Hy (加羅希). Phong tục các huyện trấn giống với Chiêm Thành (占城). Đất đai rộng hơn 7.000 dặm, có đài đồng, liệt kê 24 tháp đồng, 8 voi đồng để trấn giữ phía trên, mỗi con voi nặng 4.000 cân. Nước này có gần 200.000 chiến tượng, ngựa nhiều nhưng nhỏ. Tháng 12 âm lịch năm Chính Hòa (政和) thứ 6 [năm 1116], sai Tiến tấu sứ Phụng hóa lang tướng Khâu Ma Tăng Ca (鳩摩僧哥), Phó sứ An hóa lang tướng Ma Quân Minh Khê (摩君明稽) cùng 14 người đến cống, được ban cho triều phục. Tăng Ca (僧哥) nói: 'Nước xa vạn dặm, ngưỡng trông thánh hóa, mà vẫn còn mặc y phục cỏ cây (hủy phục), chưa xứng với lòng thành hướng mộ thiết tha, nguyện xin được phép mặc đồ đã ban'. Chiếu chỉ chấp thuận, đồng thời đem việc đó giao cho Sử quán, ghi vào sách lược. Tháng 3 âm lịch năm sau [năm 1117], đoàn sứ giả từ biệt ra về."
'''Năm Tuyên Hòa thứ 2, tháng 12 [năm 1120], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ và Chân Lạp bản truyện: "Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 2 [năm 1120], lại sai Lang tướng Ma Lạp (摩臘), Ma Đột Phòng (摩禿防) đến triều kiến, phong cho vua nước ấy ngang hàng với Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Kiến Viêm thứ 2 [năm 1128], thời Cao Tông, gia phong tước hiệu và thực ấp cho vua Chân Lạp, định làm thường chế.'''
Theo Tống sử (宋史) - Cao Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyện: "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 2 [năm 1128], nhân ơn tế Giao, trao cho vua nước ấy là Kim Bâu Tân Thâm (金裒賓深) chức Kiểm hiệu Tư đồ, thêm thực ấp, từ đó định làm thường chế."
'''Năm Khánh Nguyên thứ 6 [năm 1200], thời Ninh Tông, ấp thuộc của Chân Lạp là Chân Lý Phú dâng biểu cống phương vật.'''
Theo Tống sử (宋史) - Ninh Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyện: "Ấp thuộc của Chân Lạp (真臘) có Chân Lý Phú (真里富), ở góc Tây Nam, phía Đông Nam giáp Ba Tư Lan (波斯蘭), phía Tây Nam làm láng giềng với Đăng Lưu Mi (登流眉), bộ tộc quản lý hơn 60 tụ lạc." Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 [năm 1200], chúa nước ấy đã lập được 20 năm, sai sứ dâng biểu cống phương vật và 2 con voi thuần. Chiếu chỉ ưu ái ban thưởng đáp lễ, nhưng vì đường biển xa xôi, nên từ sau không cần vào cống nữa.
===Minh===
'''MINH THÁI TỔ NĂM HỒNG VŨ THỨ 4, CHÂN LẠP SAI SỨ TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyền: "Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 3 ngày đêm có thể đến. Các triều Tùy, Đường và Tống đều triều cống. Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元) nhà Tống, Chân Lạp diệt Chiêm Thành (占城) mà gộp đất ấy lại, vì vậy đổi quốc hiệu thành Chiêm Lạp (占臘). Thời Nguyên (元), vẫn gọi là Chân Lạp (真臘). Tháng 8 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], sai sứ thần Quách Trưng (郭徵) mang chiếu thư đi vỗ về nước đó. Tháng 11 âm lịch năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Ba Sơn Vương Hốt Nhi Na (巴山王忽兒那) sai sứ dâng biểu cống phương vật, chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372]. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu, sứ giả cũng được ban thưởng có sai biệt."
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Chân Lạp (真臘), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam liền Gia La Hy (加囉希), phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城). Nước này vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Vua họ Sát Lợi (剎利), người tên Chất Đa Tư Na (質多斯那) bắt đầu thôn tính Phù Nam (扶南) mà chiếm đất. Năm Đại Nghiệp (大業) nhà Tùy bắt đầu thông sứ Trung Quốc. Nhà Đường từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) phàm 4 lần vào triều. Sau năm Thần Long (神龍), nước chia làm hai. Phía Nam gần biển, nhiều đầm lầy, là Thủy Chân Lạp (水真臘); phía Bắc nhiều đồi núi, là Lục Chân Lạp (陸真臘). Sau lại hợp lại làm một. Thời Chính Hòa (政和) nhà Tống, sai sứ đến cống. Đầu năm Tuyên Hòa (宣和), phong làm Chân Lạp quốc vương (真臘國王), ngang với Chiêm Thành (占城). Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元), người trong nước dấy binh lớn đánh Chiêm Thành (占城), phá được, lập người Chân Lạp (真臘) làm vua Chiêm Thành (占城). Vì vậy lúc bấy giờ Chiêm Thành (占城) cũng là thuộc quốc. Các thuộc quốc còn có Tham Bán (參半), Chân Lý (真里), Đăng Lưu Mi (登流眉), Bồ Cam (蒲甘)... thống lĩnh hơn 60 tụ lạc, đất đai hơn 7.000 dặm. Đầu triều ta năm Hồng Vũ (洪武), quốc vương Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử là Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật, từ đó triều cống không dứt."
Theo Hoàn vũ ký (寰宇記): "Tục nước Chân Lạp (真臘) mở cửa hướng về phía Đông, lấy hướng Đông làm trọng, nam nữ thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài. Tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi, coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn."
Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Đất Chân Lạp (真臘) màu mỡ, ruộng không có bờ giới, tầm mắt nhìn đến đâu thì cày cấy đến đó."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Nước Chân Lạp (真臘) có thành chu vi hơn 70 dặm, điện đài hơn 30 tòa, khá là tráng lệ. Đồ dùng của vua và quý tộc đa số trang trí bằng vàng ngọc. Tục chuộng hoa lệ xa xỉ, điền sản phong phú, nam nữ búi tóc hình dùi. Con gái đủ 10 tuổi thì gả chồng. Lấy gấm quấn thân, mày và trán bôi đỏ. Tục ngữ nói 'Phú quý Chân Lạp', chính là thế này vậy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Đầu năm Hồng Vũ (洪武), vua Chân Lạp (真臘) là Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật: voi, ngà voi, tô mộc, hồ tiêu, sáp vàng, sừng tê, ô mộc, hoàng hoa mộc thổ, giáng hương, bảo thạch, lông công. Sứ giả khi về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp (真臘) vào cống."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], ban cho quốc vương lịch Đại Thống (大統曆) và gấm vóc màu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Vua nước ấy là Tham Đáp Cam Vũ Giả Đặc Đạt Chí (參荅甘武者特達志) sai sứ đến cống, yến tiệc ban thưởng như trước."
'''Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền (Nội dung như trên).
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua Chân Lạp, đồng thời ban cho gấm vàng và đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua nước ấy. Phàm sứ Trung Quốc đến mà Khám hợp không khớp thì đều là giả mạo, cho phép bắt trói báo cáo. Lại sai sứ ban cho 32 xấp gấm dệt kim, 19.000 món đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ đến cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn sang ban đồ sứ cho nước Chân Lạp.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn (劉敏), Đường Kính (唐敬) cùng Trung quan mang đồ sứ sang ban tặng."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], bọn Đường Kính (唐敬) về nước, vua nước ấy sai sứ cống 59 con voi, 60.000 cân hương. Chẳng bao lâu sai sứ ban cho vua ấn bạc mạ vàng, vua và phi đều được ban thưởng. Vua là Tham Liệt Bảo Tì Da Cam Bồ Giả (參烈寶毗邪甘菩者) sai sứ cống voi và phương vật."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 7 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], Hành nhân Đường Kính (唐敬) từ Chân Lạp (真臘) về, vua nước ấy sai sứ cống 50 con voi, 60.000 cân hương, từ đó triều cống không dứt."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 [năm 1388], lại cống 28 con voi, 34 quản tượng, 45 nô tỳ phiên, để tạ ơn ban ấn."
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Chân Lạp 3 lần vào cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Chân Lạp lại vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu ở trên).
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, SAI SỨ TUYÊN DỤ NƯỚC ẤY'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai Hành nhân Tưởng Tân Hưng (蔣賓興), Vương Khuê (王樞) mang chiếu thư lên ngôi đến tuyên dụ nước ấy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai sứ đến Chân Lạp (真臘), ban chiếu dụ việc lên ngôi. Đến nước ấy thấy khí hậu thường nóng, lúa ruộng chín quanh năm, nấu nước biển làm muối. Phong tục giàu có, nam nữ búi tóc hình dùi (chuỳ kế), mặc áo ngắn, quấn vải sao (tiêu bố), không còn ở trần nữa. Các nước thuộc quốc của họ vẫn có người ở trần, thấy ai mặc quần áo thì người ta lại cười nhạo. Pháp luật có các hình phạt xẻo mũi (tị), chặt chân (nguyệt), xăm chữ vào mặt (thứ), đày đi xa (phối). Phạm tội trộm cắp thì chặt tay chân. Dân nước ấy giết người Trung Quốc thì phải đền mạng. Người Trung Quốc giết dân nước ấy thì phạt tiền vàng. Không có tiền thì bán thân chuộc tội."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 2 [năm 1404], Chân Lạp sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước ấy là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), có 3 người lính bộ tốt trốn đi, tìm không được, nhà vua lấy 3 người nước mình để thay thế. Đến nay đưa vào yết kiến, Hoàng đế phán: 'Người Hoa tự bỏ trốn sang đó, can dự gì đến họ mà trách phạt đòi bồi thường? Vả lại ngôn ngữ không thông, phong thổ không quen, ta dùng họ làm gì?'. Mệnh ban cho quần áo và chi phí đi đường, rồi cho về."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua Chân Lạp (真臘) là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai bồi thần là Nại Chức (奈職) cùng 9 người triều cống phương vật, ban thưởng tiền giấy và vải vóc. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), lúc sắp về có 3 người lính đi theo bỏ trốn, tìm không được, quốc vương lấy 3 người trong nước theo Trung quan về để bổ sung vào hàng ngũ. Đến nay, Lễ bộ (禮部) đưa vào yết kiến, Thượng (Hoàng đế) phán: 'Người Trung Quốc tự bỏ trốn, can hệ gì đến việc của họ mà bắt đền? Vả lại có được 3 người này thì ngôn ngữ không thông, phong tục chẳng hiểu, ta dùng làm gì? Huống hồ họ đều có gia đình, lẽ nào vui vẻ ở lại đây? Ngươi hãy bảo Lễ bộ (禮部) cấp cho cơm áo, chi phí đi đường, cho họ về Chân Lạp (真臘)'. Thượng thư Lý Chí Cương (李至剛) cùng những người khác thưa: 'Thần trộm nghĩ người Trung Quốc tất không phải tự trốn ở đó, hoặc giả là bị họ giấu đi, thì 3 người này cũng không nên cho về'. Thượng phán: 'Làm vua không nên dùng lòng nghi kỵ để đối đãi người, chỉ cần suy rộng lòng của trời đất để đối đãi với người là được'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến phúng viếng tang lễ quốc vương Chân Lạp. Lại ban chiếu phong Thế tử lên làm vương. Liền đó sai sứ đến tạ ơn.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến cống, báo tang cố vương, mệnh cho Hồng lô tự Tự ban Vương Tư (王孜) đến tế lễ, Cấp sự trung Tất Tiến (畢進), Trung quan Vương Tông (王琮) mang chiếu thư phong Thế tử là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương. Khi bọn Tất Tiến (進) trở về, tân vương sai sứ cùng đi theo đến tạ ơn."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) mất, mệnh Tự ban Vương Tư (王孜) sang tế, phong con trưởng là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương, ban cho gấm lụa màu và các vật phẩm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 12 [năm 1414], Chân Lạp lại vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 [năm 1414] lại vào cống, sứ giả lấy cớ nước mình nhiều lần bị Chiêm Thành (占城) xâm nhiễu nên ở lại lâu không đi. Hoàng đế sai Trung quan tiễn về, đồng thời hạ sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城) bãi binh tu hảo."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) sai sứ dâng biểu văn khắc trên vàng (kim lũ biểu văn), cống voi thuần và phương vật."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 3, CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
'''[Năm 1452]'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyền: "Trong những năm Tuyên Đức (宣德) [1426–1435] và Cảnh Thái (景泰) [1450–1456] cũng sai sứ vào cống, về sau không đến thường xuyên. Kinh thành nước ấy chu vi hơn 70 dặm, bờ cõi rộng mấy ngàn dặm. Trong nước có tháp vàng cầu vàng, điện đài hơn 30 tòa. Vua mỗi năm hội họp một lần, la liệt khỉ ngọc, công, voi trắng, tê ngưu ở phía trước, gọi là Bách Tháp Châu (百塔洲). Dùng mâm vàng bát vàng để đựng đồ ăn, nên có câu tục ngữ 'Phú quý Chân Lạp'. Dân tục giàu có, tiết trời thường nóng, không biết sương tuyết. Lúa một năm chín mấy vụ, nam nữ búi tóc hình dùi, mặc áo ngắn, quấn vải tiêu. Hình pháp có xẻo mũi, chặt chân, xăm chữ, đày đi; trộm cắp thì bỏ tay chân. Người phiên giết người Đường (Đường nhân) thì tội chết. Người Đường giết người phiên thì phạt tiền vàng, không tiền thì bán thân chuộc tội. 'Đường nhân' (唐人) là cách các nước phiên gọi người Hoa vậy, các nước hải ngoại thảy đều như thế. Việc cưới xin, hai nhà thảy đều 8 ngày không ra khỏi cửa, đốt đèn đêm ngày. Người chết thì bỏ ra đồng, mặc cho diều quạ ăn, trong chốc lát mà ăn hết sạch thì gọi là được phúc báo. Có tang thì chỉ cạo trọc đầu. Con gái thì cắt tóc trên trán to bằng đồng tiền, nói rằng 'dùng việc này để báo đáp cha mẹ'. Chữ viết dùng các loại da hoẵng da hươu nhuộm đen, dùng bột làm thỏi nhỏ để vẽ lên trên, vĩnh viễn không phai. Lấy tháng 10 âm lịch làm đầu năm, tháng nhuận thảy đều dùng tháng 9 âm lịch, đêm chia làm 4 canh. Cũng có người am hiểu thiên văn, có thể tính toán nhật thực nguyệt thực tại địa phương đó. Gọi nhà Nho là 'Ban cật' (班詰), tăng là 'Trữ cô' (苧姑), đạo là 'Bát tư' (八思). Ban cật không biết đọc sách gì, ai do đường này vào làm quan thì được coi là hiển đạt (hoa quán). Trước khi sang trọng thì đeo một sợi chỉ trắng ở cổ để tự phân biệt, khi đã quý hiển rồi vẫn kéo sợi chỉ trắng như cũ. Tục chuộng đạo Phật, sư đều ăn cá thịt, hoặc dùng để cúng Phật, duy chỉ không uống rượu. Nước ấy tự xưng là 'Cam Bột Trí' (甘孛智), sau gọi chệch thành 'Cam Phá Giá' (甘破蔗). Sau đời Vạn Lịch (萬曆) lại đổi thành 'Đông Phố Trại' (東埔寨 - Campuchia)."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 [năm 1452], ban cho vua Chân Lạp (真臘) 2 đoạn gấm, 6 xấp lụa trừu (trữ ti), 4 xấp sa, 4 xấp la; ban cho Vương phi 4 xấp lụa trừu, 3 xấp sa, 3 xấp la. Các đầu mục cùng Tổng quản thông sự, Hỏa trưởng đi theo được ban quần áo, lụa trừu, quyến, vải có sai biệt, ban yến tiệc 1 lần. Sứ thần khi về đến Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) được quản đãi 1 lần, cấp lộ phí (hạ trình) 1 lần cho 10 ngày. Cứ mỗi 10 người thì cấp 2 con dê, ngỗng, gà; 20 bình rượu, 1 đấu gạo, 5 đấu mì, rau xanh và gia vị..."
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 2 (真臘部彙考二)==
=== 《Chân Lạp phong thổ ký》 (真臘風土記) ===
'''Tổng tự (總敘)'''
Nước Chân Lạp (真臘), hoặc gọi là Chiêm Lạp (占臘), nước ấy tự xưng là "Cam Bột Trí" (甘孛智). Nay Thánh triều dựa theo Tây Phiên kinh (西蕃經), đặt tên nước ấy là "Gạm Phổ Chỉ" (澉浦只), đó cũng là âm cận với Cam Bột Trí (甘孛智) vậy. Từ Ôn Châu (溫州) ra khơi, theo kim chỉ hướng Đinh Mùi, đi qua các cảng khẩu thuộc các châu ngoài khơi của Mân (閩 - Phúc Kiến), Quảng (廣 - Quảng Đông), vượt biển Thất Châu (七洲洋), qua biển Giao Chỉ (交趾洋) đến Chiêm Thành (占城). Lại từ Chiêm Thành (占城) thuận gió mất khoảng nửa tháng thì đến Chân Bồ (真蒲), ấy là biên cảnh của nước này. Lại từ Chân Bồ (真蒲) hành trình theo kim chỉ hướng Khôn Thân, qua biển Côn Lôn (崑崙洋) vào cửa sông. Cửa sông có đến mấy chục, chỉ có cửa sông thứ 4 là có thể vào được, còn lại thảy đều cát nông, nên thuyền lớn không thông. Tuy nhiên nhìn khắp nơi chỉ thấy mây ngàn cây cổ, cát vàng lau trắng, lúc vội vã không dễ nhận ra, vì thế người đi thuyền coi việc tìm cửa sông là việc khó. Từ cửa sông đi về hướng Bắc, thuận dòng mất khoảng nửa tháng thì tới địa danh là Tra Nam (查南), ấy là một quận thuộc nước này. Lại từ Tra Nam (查南) đổi sang thuyền nhỏ, thuận dòng hơn 10 ngày, đi qua làng Bán Lộ (半路村), làng Phật (佛村), vượt hồ Đạm Dương (淡洋), có thể đến nơi gọi là Can Báng (干傍), cách thành 50 dặm.
Theo Chư phiên chí (諸蕃志) chép rằng: "Đất ấy rộng 7.000 dặm, phía Bắc nước này đến Chiêm Thành (占城) mất nửa tháng đường, phía Tây Nam cách Xiêm La (暹羅) nửa tháng hành trình, phía Nam cách Phiên Ngung (番禺) 10 ngày hành trình, phía Đông là biển lớn vậy". Xưa kia đây là nước thông thương qua lại, Thánh triều nay nhận mệnh trời, thống lĩnh bốn biển. Khi Toa Đô (唆都) Nguyên soái đặt hành tỉnh ở Chiêm Thành (占城), từng sai một Hổ phù Bách hộ, một Kim bài Thiên hộ cùng đến nước này, rốt cuộc bị bắt giữ không cho về. Tháng 6 âm lịch năm Ất Vị thời Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], Thiên tử sai sứ chiêu dụ, ta đi theo đoàn. Tháng 2 âm lịch năm sau [năm 1296] rời Minh Châu (明州), ngày 20 ra khơi từ cửa biển Ôn Châu (溫州), ngày 15 tháng 3 âm lịch đến Chiêm Thành (占城), giữa đường gió ngược không thuận, tháng 7 âm lịch mới tới nơi. Tháng 6 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức (大德) [năm 1297] quay thuyền về, ngày 12 tháng 8 âm lịch đến bến thuyền Tứ Minh (四明). Những chi tiết về phong thổ, quốc sự nước ấy, tuy không thể biết hết, nhưng đại lược cũng có thể thấy được vậy.
'''Thành quách (城郭)'''
Thành của châu vi chu vi khoảng 20 dặm, có 5 cửa, cửa đều có hai tầng, duy chỉ hướng Đông mở 2 cửa, các hướng còn lại đều 1 cửa. Bên ngoài thành có hào lớn, ngoài hào đều là đường cái và cầu lớn, hai bên cầu mỗi bên có 54 pho tượng thần bằng đá, hình dáng như Thạch tướng quân, rất lớn và dữ tợn, 5 cửa đều tương tự như nhau. Lan can cầu đều làm bằng đá, đục theo hình rắn, rắn đều có 9 đầu, 54 vị thần đều dùng tay kéo rắn, có thế như không cho rắn chạy thoát. Phía trên cửa thành có 5 đầu Phật bằng đá lớn, mặt hướng về phía Tây, chính giữa đặt một đầu trang trí bằng vàng. Hai bên cửa thành đục đá thành hình voi. Thành đều xếp đá mà thành, cao khoảng 2 trượng (khoảng 6.6 mét), đá rất khít và kiên cố, lại không mọc cỏ dại, nhưng không có nữ tường (tường thấp trên mặt thành). Trên thành đôi khi trồng cây quặng lang (cây thốt nốt), rải rác là các dãy nhà trống, phía trong thành như một cái dốc, dày khoảng hơn 10 trượng. Trên dốc đều có cửa lớn, đêm đóng sáng mở. Cũng có người canh cửa, riêng chó không được vào cửa. Thành ấy rất vuông vức, bốn góc mỗi góc có một tháp đá, người từng chịu hình phạt chặt ngón chân cũng không được vào cửa.
Ngay giữa nước có một tháp vàng, bên cạnh có hơn 20 tháp đá, hơn 100 gian nhà đá, hướng về phía Đông có một cây cầu vàng, 2 con sư tử vàng đặt ở tả hữu cầu, 8 pho tượng Phật vàng đặt dưới nhà đá. Phía Bắc tháp vàng khoảng hơn 1 dặm có một tháp đồng, cao hơn tháp vàng, nhìn xa thấy sừng sững. Dưới tháp cũng có mười mấy gian nhà đá. Lại phía Bắc tháp ấy 1 dặm là cung thất của quốc chủ, trong phòng ngủ lại có một tháp vàng nữa. Vì thế khách buôn trên thuyền từ xưa đã có lời khen "Phú quý Chân Lạp", tưởng là vì lẽ này. Tháp đá ở ngoài cửa Nam hơn nửa dặm, tục truyền do Lỗ Ban (魯般) xây xong trong một đêm. Mộ Lỗ Ban (魯般) ở ngoài cửa Nam khoảng hơn 1 dặm, chu vi khoảng 10 dặm, có hàng trăm gian nhà đá. Hồ Đông (Đông Trì) cách thành 10 dặm về phía Đông, chu vi khoảng 100 dặm, trong hồ có tháp đá nhà đá, trong tháp có một pho tượng Phật đồng nằm, từ rốn thường có nước chảy ra. Hồ Bắc (Bắc Trì) cách thành 5 dặm về phía Bắc, trong hồ có một tháp vàng vuông, mấy chục gian nhà đá, sư tử vàng, Phật vàng, voi đồng, bò đồng, ngựa đồng đều có đủ.
'''Cung thất (宮室)'''
Cung điện và dinh thự quan lại đều hướng về phía Đông. Quốc cung ở phía Bắc tháp vàng cầu vàng, gần cửa chu vi khoảng 5 đến 6 dặm. Ngói của chính thất làm bằng chì, còn lại đều là ngói đất màu vàng. Cột cầu rất lớn, đều chạm vẽ hình Phật. Mái nhà tráng lệ, hành lang dài bao quanh, cao thấp so le, khá có quy mô. Nơi làm việc có cửa sổ vàng, cột vuông hai bên, trên có gương, ước chừng 40 đến 50 chiếc đặt bên cạnh cửa sổ. Phía dưới làm hình voi, nghe nói bên trong có nhiều nơi kỳ lạ, canh phòng rất nghiêm, không thể nhìn thấy được. Trong tháp vàng bên nội cung, quốc chủ đêm nằm trên đó, người bản địa đều nói trong tháp có tinh rắn 9 đầu, là chủ đất của một nước, thân là nữ, mỗi đêm đều hiện ra gặp quốc chủ, vua phải cùng ngủ giao cấu trước, dù là vợ vua cũng không dám vào. Đến canh hai vua mới ra, bấy giờ mới có thể ngủ cùng vợ thiếp. Nếu tinh này một đêm không hiện ra thì ngày chết của vương phiên đã đến. Nếu vương phiên một đêm không tới thì tất sẽ gặp tai họa. Kế đến như dinh thự của quốc thích, đại thần, chế độ rộng lớn, khác hẳn nhà thường dân. Xung quanh đều lợp bằng cỏ, duy chỉ có gia miếu và chính tẩm (phòng ngủ chính) là 2 nơi được dùng ngói, cũng tùy theo đẳng cấp chức quan mà định chế độ nhà rộng hẹp khác nhau. Phía dưới như nhà của bách tính, chỉ lợp cỏ, không dám dùng dù chỉ một mảnh ngói trên mái, rộng hẹp tuy tùy vào sự nghèo giàu của gia đình, nhưng tuyệt nhiên không dám bắt chước chế độ của phủ đệ.
'''Phục sức (服飾)'''
Từ quốc chủ trở xuống nam nữ đều búi tóc hình dùi, để trần thân trên, chỉ lấy vải quấn ngang hông, khi ra ngoài thì thêm một dải vải lớn quấn lên trên lớp vải nhỏ. Vải có phân đẳng cấp rõ rệt, vải của quốc chủ quấn có giá trị 3 đến 4 lạng vàng, cực kỳ hoa lệ tinh mỹ. Trong nước tuy tự dệt vải, nhưng người Xiêm La (暹羅) và Chiêm Thành (占城) đều mang vải đến bán, thường lấy vải từ Tây Dương (西洋) làm hạng thượng đẳng vì tinh xảo và hoa văn nhỏ, vì thế chỉ riêng quốc chủ mới được quấn vải hoa thuần chất. Trên đầu đội mũ vương miện vàng, như loại mũ trên đầu các vị Kim Cang vậy. Hoặc có lúc không đội mũ, chỉ lấy dây xâu hoa thơm như hoa nhài quấn quanh búi tóc. Trên đỉnh đầu đội khối trân châu lớn nặng khoảng 3 cân, tay chân và các ngón tay đều đeo vòng vàng, nhẫn đều khảm đá mắt mèo. Phía dưới đi chân đất, lòng bàn chân và lòng bàn tay đều dùng thuốc hồng nhuộm đỏ, khi ra ngoài tay cầm gươm vàng. Trong dân gian chỉ phụ nữ mới được nhuộm lòng bàn tay chân, đàn ông không dám vậy. Đại thần quốc thích có thể quấn vải hoa thưa, chỉ người trong cung mới được quấn vải hoa hai đầu, phụ nữ trong dân gian cũng có thể quấn loại này. Nếu là người Đường mới đến (tân Đường nhân) dù có quấn vải hoa hai đầu, người ta cũng không dám trách tội, vì họ "ám đinh bát sát" vậy. "Ám đinh bát sát" nghĩa là không biết thể lệ, quy tắc vậy. (Ghi chú: Trên đỉnh đầu đội trân châu nặng khoảng 3 cân, chữ "cân" này có vẻ nhầm lẫn nhưng chuyện ngoại quốc cũng không thể dùng lý thường mà đoán định, tạm theo nguyên bản).
'''QUAN THUỘC (官屬)'''
Trong nước cũng có các quan Thừa tướng, Tướng soái, Tư thiên, bên dưới mỗi quan lại đặt các thuộc viên Tư lại, chỉ là danh xưng khác biệt mà thôi. Đại để các chức ấy đều do quốc thích nắm giữ, nếu không thì cũng là người có con gái nạp làm phi tần. Nghi thức và đoàn tùy tùng khi ra ngoài cũng có đẳng cấp. Dùng kiệu vàng có 4 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhất; kiệu vàng 2 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhì; kiệu vàng 1 người khiêng và lọng cán vàng là hạng kế tiếp; chỉ dùng 1 lọng cán vàng lại là hạng sau đó nữa. Kẻ cấp thấp hơn nữa thì chỉ dùng 1 lọng cán bạc mà thôi, cũng có người dùng kiệu có đòn khiêng bằng bạc. Các quan từ cấp lọng cán vàng trở lên đều gọi là "Bả đinh" (把丁), hoặc gọi là "Ám đinh" (暗丁). Người dùng lọng cán bạc thì gọi là "Sư lạt đích tản" (廝辣的傘). Lọng đều dùng lụa đỏ của Trung Quốc mà làm, dải rủ xuống kéo dài chạm đất. Ô che dầu thì đều dùng lụa xanh, dải rủ lại ngắn.
''' TAM GIÁO (三教)'''
Bậc học giả (Nho) gọi là Ban cật (班詰), bậc đi tu (Sư) gọi là Trữ cô (苧姑), bậc theo đạo (Đạo sĩ) gọi là Bát tư duy (八思惟). Ban cật không biết tổ sư là ai, cũng không có nơi gọi là học xá để giảng tập, cũng khó lòng tìm hiểu họ đọc sách gì, chỉ thấy ngoài việc quấn vải như người thường, họ còn treo một sợi chỉ trắng trên đỉnh đầu, lấy đó làm dấu hiệu phân biệt là Nho. Những người từ hàng Ban cật mà ra làm quan thì được coi là bậc cao sang. Sợi chỉ trên cổ ấy suốt đời không bỏ.
Trữ cô thì cạo tóc mặc áo vàng, để hở vai phải, phía dưới thắt váy vải vàng. Đi chân đất. Chùa cũng được phép dùng ngói lợp. Chính giữa chỉ thờ một pho tượng, hình dáng giống hệt Thích Ca Phật, gọi là Bột lại (孛賴), mặc áo đỏ nặn bằng bùn, trang trí màu sắc, ngoài ra không có tượng nào khác. Phật trong tháp thì tướng mạo lại khác, đều đúc bằng đồng, không có chuông trống, não bạt hay tràng phan bảo cái. Tăng sĩ đều ăn cá thịt, chỉ là không uống rượu, cúng Phật cũng dùng cá thịt. Mỗi ngày dùng một bữa chay, đều lấy từ nhà thí chủ. Trong chùa không đặt bếp núc. Kinh văn tụng đọc rất nhiều, đều chép trên lá bối (bối diệp) xếp lại cực kỳ chỉnh tề, trên đó viết chữ đen, đã không dùng bút mực thì chẳng rõ họ dùng vật gì để viết. Tăng sĩ cũng dùng kiệu và lọng có cán vàng, bạc. Khi quốc vương có đại chính sự cũng thường tìm đến hỏi ý kiến, nhưng ở đây không có ni cô.
Bát tư duy cũng như người thường, ngoài việc quấn vải thì trên đầu đội một miếng vải đỏ hoặc trắng, giống như mũ Cố cô (罟姑) của người đàn bà Đạt Đát (韃靼) nhưng hơi thấp hơn. Cũng có cung quán (nơi tu hành), nhưng so với chùa chiền thì hẹp hơn, mà Đạo giáo cũng không hưng thịnh bằng Phật giáo. Nơi thờ phụng không có tượng gì khác, chỉ có một khối đá, như đá trong đàn xã tắc của Trung Quốc, cũng không rõ tổ sư là ai. Lại có cả cung quán cho nữ đạo sĩ. Bát tư duy cũng được dùng ngói lợp. Họ không ăn đồ của người khác nấu, cũng không cho người khác thấy mình ăn, không uống rượu, cũng chưa từng thấy họ tụng kinh hay làm các việc công quả cho người. Theo tục lệ, trẻ con đi học đều trước hết đến nhà chùa để học tập với tăng sĩ, khi lớn lên mới hoàn tục, chi tiết cụ thể không thể khảo chứng rõ được.
'''NHÂN VẬT (人物)'''
Người ta chỉ biết nhân vật vùng Man tục thô xấu và rất đen, nhưng không biết rằng những người ở hải đảo u tịch hay ngõ phố tầm thường mới đúng là như vậy. Còn như cung nhân và phụ nữ ở Nam Bằng (南棚), nhiều người trắng trẻo như ngọc, ấy là vì không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vậy. Đại để ngoài một mảnh vải quấn ngang hông, bất luận nam nữ đều để lộ ngực, búi tóc hình dùi, đi chân đất, ngay cả vợ quốc vương cũng chỉ như thế. Quốc vương có tất cả 5 người vợ, 1 người ở chính thất, 4 người ở bốn phương. Phía dưới là phi tần và tỳ thiếp, nghe đâu có từ 3.000 đến 5.000 người, cũng phân chia đẳng cấp, không mấy khi ra khỏi cửa.
Mỗi khi ta vào nội cung, thấy phiên chủ tất cùng ra với chính thê, ngồi trong cửa sổ vàng nơi chính thất, các cung nhân đều thứ tự đứng liệt dưới cửa sổ hai bên hành lang, đứng tựa mà nhìn trộm, ta có dịp được thấy hết một lượt. Hễ nhà dân có con gái đẹp đều bị triệu vào cung. Những người phục dịch việc đi lại bên dưới gọi là "Trần gia lan" (陳家蘭), cũng không dưới 1.000 đến 2.000 người. Họ đều có chồng, sống lẫn lộn trong dân gian, chỉ ở trước thóp đầu thì cạo tóc, bôi phấn hồng (ngân chu) và bôi ở hai bên thái dương để làm dấu hiệu phân biệt là Trần gia lan. Chỉ hạng phụ nữ này mới được vào nội cung, hạng người khác bên dưới không được vào. Trước sau nội cung, hạng người này đi lại nườm nượp trên đường. Phụ nữ tầm thường ngoài việc búi tóc hình dùi ra không có đồ trang sức trâm lược nào khác, nhưng trên cánh tay đeo vòng vàng, ngón tay đeo nhẫn vàng; các Trần gia lan và cung nhân trong nội đình đều dùng như vậy. Nam nữ trên mình thường xức thuốc thơm, hợp thành từ hương đàn, xạ; nhà nhà đều tu sửa Phật sự. Trong nước có nhiều người lưỡng tính (nhị hình nhân), mỗi ngày từng đoàn mười mấy người đi lại giữa chợ búa, thường có ý lôi kéo người Đường (người Trung Quốc), ngược lại còn tặng quà hậu hĩnh, thật là xấu xa đáng ghét.
'''SẢN PHỤ (產婦)'''
Phụ nữ phiên sau khi sinh, liền lấy cơm nóng trộn muối xoa vào và nạp vào âm hộ, sau 1 ngày đêm thì lấy ra, nhờ đó mà trong lúc sinh không mắc bệnh, lại thu hẹp lại như người con gái còn trinh. Ta mới nghe qua thì lấy làm lạ, rất nghi ngờ không phải vậy. Sau đó nhà nơi ta tạm trú có người sinh con, mới biết rõ sự việc đó, và ngày hôm sau người ấy đã ôm đứa bé cùng ra sông tắm rửa, thật là chuyện quái lạ thấy được. Lại thường thấy người ta nói phụ nữ phiên rất dâm đãng, nếu chồng không đáp ứng được dục vọng thì liền có việc bị vợ ruồng bỏ. Nếu chồng có việc đi xa, chỉ có thể đi vài đêm. Quá 10 đêm, người vợ tất nói: "Ta không phải là ma quỷ, sao có thể ngủ cô độc?", lòng dâm đãng càng khẩn thiết. Tuy nhiên cũng nghe có người giữ tiết chí. Phụ nữ ở đây rất nhanh già. Có lẽ vì việc cưới xin sinh nở quá sớm, người 20 đến 30 tuổi đã như người 40 đến 50 tuổi ở Trung Quốc rồi.
'''THIẾU NỮ (室女)'''
Nhà dân nuôi con gái, cha mẹ tất cầu nguyện rằng: "Nguyện cho con có người muốn, sau này lấy được hàng ngàn hàng trăm người chồng". Con gái nhà giàu từ 7 tuổi đến 9 tuổi, nhà cực nghèo thì đến 11 tuổi, tất phải mời tăng sĩ hoặc đạo sĩ làm lễ phá trinh, gọi là "Trận thảm" (陣毯). Đại để quan phủ mỗi năm vào 1 ngày trong tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] sẽ ban hành lệnh, nhà dân có con gái đến tuổi Trận thảm phải báo cáo quan phủ trước. Quan phủ trước hết cấp cho 1 cây nến lớn, trên nến có khắc một vạch, ước chừng đêm đó khi trời tối thì đốt nến, khi cháy đến vạch khắc thì là lúc làm lễ Trận thảm.
Trước kỳ hạn 1 tháng, hoặc nửa tháng, hoặc 10 ngày, cha mẹ tất chọn lấy 1 tăng sĩ hoặc đạo sĩ tùy theo chùa quán nào, thường cũng có nơi quen thuộc. Các tăng sĩ tốt, bậc cao đều được các nhà quan lại giàu có chọn trước, nhà nghèo thì không kịp chọn lựa. Nhà giàu sang thì biếu tặng rượu, gạo, vải vóc, trầu cau, đồ bạc các loại, có khi đến 100 gánh, giá trị bằng 200 đến 300 lạng bạc trắng của Trung Quốc; nhà ít hơn thì 30 đến 40 gánh, hoặc 10 đến 20 gánh, tùy nhà giàu nghèo, cho nên nhà nghèo đến 11 tuổi mới làm lễ là vì khó biện được các vật phẩm này. Cũng có người bố thí tiền cho con gái nhà nghèo làm lễ Trận thảm, gọi là "làm việc thiện" (tố hảo sự).
Đại để trong 1 năm, một tăng sĩ chỉ được nhận 1 cô gái, tăng sĩ đã nhận lời rồi thì không được nhận nơi khác. Đêm đó, bày tiệc ăn uống lớn, khua trống nhạc hội họp người thân hàng xóm. Ngoài cửa dựng một cái lán cao, trang trí hình nặn người bùn, thú bùn các loại trên đó, hoặc hơn 10 cái, hoặc chỉ 3 đến 4 cái, nhà nghèo thì không có. Mỗi nhà theo tích cũ, phàm 7 ngày mới dỡ bỏ. Khi trời tối, dùng kiệu lọng trống nhạc đón tăng sĩ này về. Dùng vải màu kết thành 2 cái đình nhỏ, một cái để cô gái ngồi trong đó, một cái tăng sĩ ngồi trong đó, không rõ miệng họ nói lời gì, tiếng trống nhạc ồn ã vang trời. Đêm đó không cấm việc đi đêm.
Nghe nói đến giờ, tăng cùng con gái vào phòng, tự tay làm lễ phá trinh, rồi bỏ vào trong rượu; có người nói cha mẹ và hàng xóm đều chấm lên trán, có người nói thảy đều nếm bằng miệng, có người nói tăng cùng con gái giao cấu, có người lại nói không có việc này, nhưng họ không cho người Đường thấy nên không biết chắc được. Đến khi trời sắp sáng, lại dùng kiệu lọng trống nhạc tiễn tăng đi, sau đó phải dùng vải vóc các loại đưa cho tăng để "chuộc thân", nếu không cô gái này sẽ mãi thuộc về vị tăng đó, không thể gả cho người khác được.
Việc ta thấy tận mắt là vào đêm mùng 6 tháng 4 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức [năm 1297]. Trước đó cha mẹ tất ngủ cùng con gái, sau lễ này thì đuổi ra ngoài phòng, mặc cho đi đâu thì đi, không còn gò bó hay đề phòng gì nữa. Đến như việc cưới xin, tuy có lễ nạp tệ nhưng cũng chỉ làm sơ sài cho xong chuyện, nhiều người tư thông trước rồi mới cưới sau, phong tục ấy họ chẳng cho là nhục, cũng chẳng cho là lạ. Đêm Trận thảm, trong một ngõ có khi đến hơn 10 nhà làm lễ, trong thành người đón tăng sĩ đạo sĩ đi lại đan xen trên đường, tiếng trống nhạc không nơi nào không có.
'''NÔ TỲ (奴婢)'''
Nô tỳ trong các gia đình đều mua người dã man (dã nhân) để sung vào việc phục dịch, nhà nhiều có hơn 100 người, nhà ít cũng có 10 đến 20 người, trừ những nhà cực nghèo thì mới không có. Những người dã man này là người ở vùng núi rừng, tự có chủng loại riêng, tục gọi là "Trông" (獞). Khi bọn giặc này đến trong thành, cũng không dám ra vào nhà người khác. Người trong thành khi mắng chửi nhau, hễ gọi đối phương là "Trông" (獞) thì kẻ đó hận thấu xương tủy, sự khinh rẻ của mọi người đối với họ là như thế. Người trẻ khỏe giá 100 tấm vải, người già yếu chỉ giá 30 đến 40 tấm vải. Họ chỉ được phép ngồi nằm dưới sàn lầu. Nếu có việc sai bảo mới được lên lầu, nhưng phải quỳ gối, chắp tay, đảnh lễ rồi mới dám tiến tới. Họ gọi chủ nam là "Ba đà" (巴駝), chủ mẫu là "Mễ" (米). Đà (駝) nghĩa là cha, Mễ (米) nghĩa là mẹ. Nếu có lỗi mà bị đánh, họ cúi đầu chịu gậy, chẳng dám cử động. Nam nữ nô tỳ tự phối đôi với nhau, chủ nhân tuyệt không có lễ giao tiếp (cưới hỏi) với họ. Có người Đường (唐人) đến đó, vì xa nhà lâu ngày nên không chọn lựa mà giao cấu với họ, chủ nhân nghe thấy thì ngày hôm sau không thèm ngồi cùng chỗ, vì người đó đã từng tiếp xúc với dã nhân vậy. Nếu nô tỳ giao cấu với người ngoài đến mức có thai, sinh con, chủ nhân cũng không gặng hỏi lai lịch, vì coi họ là hạng không đáng kể (bất xỉ), lại có lợi là thêm được đứa trẻ, sau này vẫn làm nô tỳ được. Nếu có kẻ bỏ trốn mà bị bắt lại, tất sẽ bị xăm màu xanh vào mặt, hoặc đeo vòng sắt quanh cổ để khóa lại, cũng có người bị đeo vòng sắt ở cánh tay hoặc bắp chân.
'''NGÔN NGỮ (語言)'''
Ngôn ngữ trong nước tự thành hệ thống riêng, âm thanh tuy gần giống nhưng người Chiêm Thành (占城) và người Xiêm (暹人) đều không thông hiểu lời nói. Ví như 1 là "Mai", 2 là "Biệt", 3 là "Ti", 4 là "Ban", 5 là "Bột giam", 6 là "Bột giam mai", 7 là "Bột giam biệt", 8 là "Bột giam ti", 9 là "Bột giam ban", 10 là "Đáp hô". Cha gọi là "Ba đà", chú bác cũng gọi là "Ba đà". Mẹ gọi là "Mễ", cô, dì, thím, mợ cho đến bậc cao tuổi hàng xóm cũng gọi là "Mễ". Anh gọi là "Bang", chị cũng gọi là "Bang". Em gọi là "Bổ ôn". Cậu gọi là "Khiết lại", dượng (chồng của cô) cũng gọi là "Bột lại". Đại để họ đặt chữ "Dưới" lên trên (ngữ pháp ngược), như trong đảng phái thường tự sát hại lẫn nhau. Vùng đất gần đó cũng có người trồng đậu khấu, bông vải dệt vải để làm nghề nghiệp, vải rất thô dày, hoa văn rất khác biệt.
'''CHỮ VIẾT (文字)'''
Chữ viết thông thường và văn thư quan phủ đều dùng các vật như da hoẵng, da hươu nhuộm đen, tùy theo kích thước rộng hẹp mà cắt theo ý muốn. Dùng một loại phấn như đất phấn trắng (bạch oắc) của Trung Quốc, vê thành thỏi nhỏ gọi là "Sa" (梭), cầm trong tay rồi viết chữ lên da, vĩnh viễn không phai. Dùng xong thì giắt lên trên tai. Chữ viết có thể nhận ra là do ai viết, phải dùng vật ướt lau sạch mới mất đi. Đại suất mặt chữ giống như chữ Hồi Hột (回鶻), sách chữ đều viết từ sau ra trước, chứ không viết từ trên xuống dưới. Ta nghe Dã Tiên Hải Nha (也先海牙) nói rằng: "Chữ ấy không có âm thanh, chính là gần với âm người Mông Cổ (蒙古), chỉ khác nhau 2 đến 3 chữ mà thôi". Ban đầu không có ấn tín, người dân đi kiện cáo cũng có cửa hàng chép thuê (thư phô) viết giúp.
'''CHÍNH SÓC THỜI TỰ (正朔時序)'''
Thường lấy tháng 10 âm lịch của Trung Quốc làm tháng Giêng. Tháng ấy tên là "Giai đắc" (佳得). Trước nội cung dựng một cái giàn lớn, trên có thể chứa hơn 1.000 người, treo đầy đèn cầu, hoa lá các loại. Phía đối diện cách xa 20 trượng, dùng gỗ nối nhau dựng thành giàn cao như cột leo (phác can) khi xây tháp, cao khoảng hơn 20 trượng. Mỗi đêm dựng 3 đến 4 tòa hoặc 5 đến 6 tòa, trang bị pháo hoa, pháo tre (bộc trượng) trên đó. Việc này đều do các thuộc quận và các phủ đệ nhận trách nhiệm (nhận trực). Đêm đến mời quốc vương ra xem, châm đốt pháo hoa và pháo tre. Pháo hoa tỏa sáng dù cách xa 100 dặm cũng thấy. Pháo tre to như đại bác, tiếng vang động cả thành. Các quan thuộc và quý thích, mỗi người được chia nến lớn và trầu cau, chi phí rất lớn. Quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem, như thế suốt nửa tháng mới thôi.
Mỗi tháng tất có một sự lệ, như tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì ném cầu (phao cầu), tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì áp liệt (tập hợp thợ săn), tụ tập dân chúng cả nước đều vào thành, duyệt binh trước nội cung. Tháng 5 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì nghênh Phật, các tượng Phật từ xa gần trong cả nước đều được đưa đến dâng nước cho quốc chủ tắm mình. Trên cạn có thuyền đi (lục địa hành chu), quốc chủ lên lầu để xem. Tháng 7 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì đốt lúa, khi ấy lúa mới đã chín, đón ở ngoài cửa Nam, đốt đi để cúng Phật, phụ nữ đến xem vô số, nhưng quốc chủ không ra. Tháng 8 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì Ai lam (挨藍), Ai lam nghĩa là múa vậy. Vua mỗi ngày ở trong nội cung múa Ai lam, lại cho lợn đấu, voi đấu, quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem. Như thế suốt 1 tuần trăng (10 ngày), các tháng còn lại không thể ghi nhớ tường tận được.
Người trong nước cũng có kẻ thông thiên văn, nhật thực nguyệt thực đều có thể tính toán, nhưng tháng đủ tháng thiếu lại khác với Trung Quốc. Năm nhuận thì họ cũng đặt nhuận, nhưng chỉ nhuận tháng 9 âm lịch, thật không hiểu nổi. Một đêm chỉ chia làm 4 canh. Cứ mỗi 7 ngày là một vòng, cũng như Trung Quốc gọi là "Khai bế kiến trừ" (các trực). Người phiên đã không có danh tính, cũng không nhớ ngày sinh, nhiều người lấy tên ngày sinh làm tên gọi. Có 2 ngày là đại cát, 3 ngày bình thường, 4 ngày là đại hung. Ngày nào có thể xuất hành hướng Đông, ngày nào có thể xuất hành hướng Tây, dù là phụ nữ cũng đều biết tính. 12 con giáp (thập nhị sinh tiếu) cũng giống Trung Quốc, nhưng tên gọi thì khác. Như gọi ngựa là "Bốc tái", tiếng gọi gà là "Loan", tiếng gọi lợn là "Trực lư", gọi bò là "Cá".
'''TRANH TỤNG (爭訟)'''
Dân gian tranh tụng, dù là việc nhỏ cũng phải tâu lên. Quốc chủ ban đầu không dùng hình phạt roi trượng, chỉ nghe việc "phạt tiền vàng" (phạt kim) mà thôi. Người phạm tội đại nghịch trọng sự cũng không có việc treo cổ hay chém đầu, chỉ ở ngoài cửa Tây thành đào đất thành hố, bỏ tội nhân vào trong, lấp đầy đất đá, nén chặt là xong. Kế đến có kẻ bị chặt ngón tay chân, có kẻ bị xẻo mũi. Nhưng việc gian dâm và hối lộ thì không cấm, chồng của người đàn bà gian dâm nếu biết được, thì dùng 2 thanh củi kẹp chặt chân kẻ gian phu, đau đớn không chịu nổi, phải bỏ hết tiền của đưa cho người chồng mới được tha. Tuy nhiên cũng có kẻ dàn cảnh lừa bịp, hoặc có kẻ chết ở ngay cửa nhà, thì họ tự dùng dây kéo vứt ra bãi đất trống ngoài thành, ban đầu không có việc báo quan kiểm nghiệm. Gia đình bắt được trộm, cũng có thể thi hành hình phạt giam giữ khảo tra, nhưng có một điều đáng nói: như nhà mất đồ, nghi người này là trộm mà họ không nhận, bèn lấy nồi đun dầu thật nóng, lệnh cho người đó nhúng tay vào, nếu quả thực trộm đồ thì tay bị thối rữa, nếu không thì da thịt vẫn như cũ. Người phiên có pháp thuật như vậy.
Lại có 2 nhà tranh tụng, không phân rõ phải trái. Phía đối diện nội cung có 12 tòa tháp đá nhỏ, lệnh cho mỗi người ngồi trong một tháp, bên ngoài người thân hai nhà tự canh phòng lẫn nhau. Ngồi 1 hoặc 2 ngày, hoặc 3 đến 4 ngày, kẻ không có lý tất sẽ phát bệnh mà ra. Hoặc trên thân mọc mụn nhọt, hoặc bị ho, sốt nóng các loại; người có lý thì chẳng có việc gì. Dựa vào đó để phân định phải trái, gọi là "Thiên ngục". Ấy là linh khí của mảnh đất đó có sự như vậy.
'''BỆNH HỦI (病癩)'''
Người trong nước thông thường có bệnh, đa số là xuống nước tắm ngâm, và thường xuyên gội đầu, tự khắc sẽ khỏi. Tuy nhiên người bị bệnh hủi (bệnh lùi) rất nhiều, rải rác trên đường. Người bản địa dù cùng nằm cùng ăn với họ cũng không nề hà. Có người nói do phong thổ nơi đó có tật bệnh này, từng có quốc chủ mắc bệnh này nên mọi người không hiềm khích. Theo ý kiến thiển cận của ta, thường là sau khi mây mưa (hảo sắc), liền xuống nước tắm rửa, nên mới thành bệnh này. Nghe nói người bản địa sau khi xong việc sắc dục đều xuống nước tắm rửa. Những người mắc bệnh lỵ thì 10 người chết đến 8, 9 người. Cũng có người bán thuốc ở chợ, không giống Trung Quốc, không rõ là vật gì. Lại còn một hạng thầy phù thủy (sư vu) làm phép cho người, càng đáng cười hơn.
'''TỬ VONG (死亡)'''
Người chết không có quan tài, chỉ dùng chiếu tre các loại, đắp lên bằng vải. Lúc đưa tang, phía trước phía sau dùng cờ xí trống nhạc, lại dùng 2 mâm gạo rang, đi dọc đường vung vãi, khiêng đến nơi hoang vắng xa xôi không người, quẳng bỏ lại đó. Đợi có diều quạ, chó hoặc các loài súc vật đến ăn, trong chốc lát mà ăn hết thì bảo cha mẹ có phúc nên mới được báo đáp này. Nếu không ăn, hoặc ăn không hết, lại bảo cha mẹ có tội. Đến nay cũng dần có người thiêu xác, thường là dòng giống còn sót lại của người Đường (唐人). Cha mẹ chết, không có tang phục riêng, nam giới thì cạo trọc đầu, nữ giới thì ở đỉnh đầu cắt tóc to bằng đồng tiền, lấy đó làm hiếu vậy. Quốc chủ thì có tháp để chôn cất, nhưng không rõ là táng cả thân xác hay táng xương cốt.
'''CANH CHÚNG (耕種)'''
Đại để một năm có thể thu hoạch gieo trồng 3, 4 bận, vì bốn mùa thường như tiết tháng 5, 6 âm lịch, vả lại không biết đến sương tuyết vậy. Đất ấy nửa năm có mưa, nửa năm tuyệt không. Từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], mỗi ngày đều mưa, sau buổi trưa mới mưa. Trong hồ Đạm Dương (淡水洋) mực nước cao đến 7, 8 trượng, cây lớn đều ngập hết, chỉ còn lại ngọn. Những nhà ở ven nước đều dời vào sau núi. Từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], một giọt mưa cũng không có, trong hồ chỉ có thể thông thuyền nhỏ, chỗ sâu không quá 3, 5 thước, dân chúng lại dời xuống canh tác. Họ chỉ định lúc nào lúa chín, lúc đó nước có thể ngập đến đâu, tùy theo địa thế mà gieo giống. Cày không dùng bò. Các công cụ như cày, liềm, cuốc tuy hơi giống nhưng chế tác thì khác biệt. Lại có một loại ruộng thấp, không trồng mà tự mọc, nước cao đến 1 trượng thì lúa cũng cao theo. Nhưng việc bón ruộng và trồng rau đều không dùng phân uế, vì ghét sự không sạch sẽ. Người Đường (唐人) đến đó đều không nói với họ chuyện dùng phân bón ở Trung Quốc, sợ bị khinh bỉ. Cứ 2, 3 nhà cùng đào một cái hố đất, hễ cỏ đầy thì lấp đi, lại đào hố khác. Phàm sau khi đi vệ sinh (đăng mỗ), tất phải vào ao tắm sạch, chỉ dùng tay trái, tay phải để dành nắm cơm. Thấy người Đường đi vệ sinh dùng giấy chùi thì cười nhạo, thậm chí không muốn cho vào cửa. Phụ nữ cũng có người đứng mà tiểu tiện, thật đáng cười thay!
'''SƠN XUYÊN (山川)'''
Từ khi vào Chân Bồ (真蒲) đến nay, phần lớn là rừng phẳng rậm rạp. Sông dài cảng lớn trải dài mấy trăm dặm, cây cổ thụ dây leo chằng chịt, bóng râm che phủ, tiếng chim thú rộn ràng trong đó. Đến giữa cửa sông mới bắt đầu thấy ruộng đồng bát ngát, tuyệt không có một bóng cây, nhìn xa chỉ thấy lúa nếp xanh tốt. Bò rừng tụ tập nơi đây từng đàn hàng ngàn hàng trăm con. Lại có những đồi tre, cũng trải dài mấy trăm dặm, tre ở đó các đốt mọc gai đan xen, măng vị rất đắng. Bốn phía đều có núi cao.
'''SẢN VẬT (出產)'''
Núi nhiều gỗ lạ, nơi không có cây cối là nơi tê ngưu và voi tụ tập sinh sôi, chim quý thú lạ không kế xiết. Hàng tinh tế (tế sắc) có lông chim trả (thúy mao), ngà voi, sừng tê, sáp vàng. Hàng thô (thô sắc) có giáng chân (giáng hương), đậu khấu, khương hoàng (nghệ), tử cảnh (nhựa cánh kiến), dầu đại phong tử, phỉ thúy (chim trả), việc kiếm được chúng khá khó khăn. Đại để trong rừng rậm có ao, trong ao có cá, chim trả từ trong rừng bay ra kiếm cá. Người Phiên lấy lá cây che thân, ngồi bên bờ nước, nhốt một con chim mái trong lồng để nhử, tay cầm lưới nhỏ, đợi nó đến thì chụp lấy; có ngày bắt được 3 đến 5 con, có khi cả ngày chẳng được con nào.
Ngà voi thì ở nhà dân nơi núi sâu hẻo lánh mới có; mỗi con voi chết mới có 2 chiếc ngà; xưa truyền rằng "mỗi năm voi thay ngà một lần" là sai vậy. Ngà voi do dùng lao (tiêu) đâm chết mà lấy là hạng thượng đẳng; voi tự chết rồi người ta tiện tay lấy được là hạng thứ; voi chết trong núi đã nhiều năm thì là hạng hạ đẳng. Sáp vàng sản sinh trong kẽ cây mục nơi thôn xóm, do một loại ong eo nhỏ như con kiến đen (lâu nghị) tạo ra, người Phiên lấy được; mỗi chuyến thuyền có thể thu gom 2.000 đến 3.000 khối, mỗi khối lớn nặng 30 đến 40 cân, khối nhỏ cũng không dưới 18 đến 19 cân. Sừng tê trắng mà có hoa văn là hạng thượng đẳng, màu đen là hạng hạ đẳng.
Giáng chân sinh trong rừng rậm, người Phiên rất tốn công đốn chặt, vì đây là lõi của cây vậy. Lớp gỗ trắng bên ngoài dày 8 đến 9 tấc, cây nhỏ cũng không dưới 4 đến 5 tấc. Đậu khấu đều do người dã man (dã nhân) trồng trên núi. Họa hoàng (nhựa cây hoàng đằng) là nhựa tiết ra từ một loại cây, người Phiên trước đó 1 năm dùng dao chặt vào thân cây cho nhựa nhỏ ra, đến năm sau mới thu hoạch. Tử cảnh sinh trên cành một loại cây, hình dáng như tầm gửi cây dâu (tang ký sinh), cũng rất khó kiếm. Dầu đại phong tử là hạt của một loại cây lớn, hình dáng như quả dừa mà tròn, bên trong có mấy chục hạt. Hồ tiêu đôi khi cũng có, mọc theo kiểu dây leo, kết trái lủng lẳng như hạt cỏ xanh; lúc còn tươi xanh thì vị càng cay hơn.
'''THƯƠNG MẠI (貿易)'''
Người trong nước giao dịch đều do phụ nữ đảm nhiệm. Cho nên người Đường (唐人) đến đó, trước hết tất phải nạp một người vợ, cũng là để lợi dụng tài mua bán của họ vậy. Mỗi ngày có một buổi chợ (khu), từ giờ Mão đến giờ Ngọ thì tan. Không có cửa hàng cố định, chỉ dùng các loại lều cỏ, chiếu tre trải trên đất, mỗi người đều có chỗ riêng. Phải nộp tiền thuê đất cho quan phủ. Giao dịch nhỏ thì dùng gạo thóc và hàng hóa người Đường mang tới, kế đến dùng vải. Nếu là giao dịch lớn thì dùng vàng bạc. Người bản thổ thường rất chất phác, thấy người Đường thì khá kính sợ, gọi là "Phật" (佛), thấy người Đường thì phục lạy sát đất. Gần đây cũng có kẻ lừa gạt, bắt nạt người Đường, ấy là do người qua lại đã đông vậy.
'''HÀNG HÓA NGƯỜI ĐƯỜNG MUỐN MANG TỚI (欲得唐貨)'''
Đất ấy nghĩ là không sản sinh vàng bạc, nên coi vàng bạc của người Đường là thứ nhất; lụa là năm màu (ngũ sắc kiêm bạch) đứng thứ hai; kế đến là thiếc chì của Chân Châu (真州), khay sơn của Ôn Châu (溫州), đồ sứ xanh (thanh từ khí) của Tuyền Châu (泉州), cùng với thủy ngân, ngân chu (phấn hồng), giấy tờ, lưu huỳnh, diêm tiêu, đàn hương, bạch chỉ, xạ hương, vải lanh (ma bố), vải cỏ vàng (hoàng thảo bố), ô dù, nồi sắt, mâm đồng, hạt cườm gỗ, dầu đồng, lược bí, lược gỗ, kim khâu; hàng thô nặng thì như chiếu của Minh Châu (明州). Thứ họ rất muốn có được là đậu và lúa mạch, nhưng không thể mang (hạt giống) đi được vậy.
'''CỎ CÂY (草木)'''
Lựu, mía, hoa sen, gương sen, ngó sen, khoai môn, đào, chuối, khung (xuyên khung) đều giống với Trung Quốc. Vải, quýt hình dáng tuy giống nhưng vị chua; còn lại đều là thứ ở Trung Quốc chưa từng thấy. Cây cối cũng rất khác biệt. Hoa cỏ thì nhiều vô kể, lại thơm và đẹp. Hoa dưới nước lại càng nhiều chủng loại, thảy đều không biết tên. Còn như các loại đào, mận, hạnh, mai, thông, bách, sam, quế, lan, cúc... thì thảy đều không có. Ở đó vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] cũng có hoa sen.
'''CHIM MUÔNG (飛鳥)'''
Chim có chim công (khổng tước), chim trả (phỉ thúy), vẹt (anh ca) là thứ Trung Quốc không có. Còn lại như diều hâu, quạ, cò, diệc, chim cốc, chim quán, sếu, vịt trời, chim sẻ vàng các thứ đều có. Thứ không có là chim khách, chim hồng nhạn, chim oanh vàng, chim đỗ quyên, chim én, chim bồ câu.
'''THÚ CHẠY (走獸)'''
Thú có tê ngưu, voi, bò rừng, ngựa núi là những thứ Trung Quốc không có. Còn lại như hổ, báo, gấu, lợn rừng, nai, hươu, hoẵng, khỉ, cáo các loại rất nhiều. Thứ thiếu là sư tử, đười ươi, lạc đà. Gà, vịt, bò, ngựa, lợn, dê thì không cần bàn đến. Ngựa rất lùn nhỏ. Bò rất nhiều. Lúc sống người dân dám cưỡi, nhưng chết thì không dám ăn, cũng không dám lột da, cứ để mặc cho thối rữa mà thôi, vì cho rằng bò đã giúp sức cho người, chỉ dùng để kéo xe thôi. Trước kia không có ngỗng, gần đây có người đi thuyền từ Trung Quốc mang sang nên mới có giống đó. Chuột có con to như mèo. Lại có một loại đầu chuột nhưng tuyệt nhiên giống như chó con mới đẻ.
'''RAU CỦ (蔬菜)'''
Rau củ có hành, mù tạt (giới), hẹ, cà, dưa chuột, dưa hấu, vương qua, bí đao, rau dền. Thứ không có là củ cải, xà lách (sinh thái), khổ mãi, rau chân vịt (ba lăng). Dưa và cà vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] đã có rồi. Cây cà có khi trải qua mấy năm không nhổ bỏ. Cây bông vải (mộc miên) cao vượt cả mái nhà, 10 năm không thay. Các loại rau không biết tên rất nhiều, rau dưới nước cũng có nhiều loại.
'''NGƯ LONG (魚龍)'''
Cá và ba ba, chỉ có cá chép đen là nhiều nhất, các loại khác như cá chép, cá diếc, cá trắm cũng rất nhiều, con lớn nặng trên 2 cân. Có những loại cá không biết tên cũng rất nhiều, thảy đều từ hồ Đạm Dương (淡水洋) mà ra. Còn như cá ở biển thì loại gì cũng có. Lươn, chình, ếch nhái người bản thổ không ăn, đêm đến chúng bò ngang dọc đầy đường. Giải và cá sấu lớn như cái bồ, dù là loại rùa 6 mai cũng được dùng làm thức ăn. Tôm ở Tra Nam (查南) nặng trên 1 cân. Rùa ở Chân Bồ (真蒲) chân có thể dài khoảng 8 đến 9 tấc. Cá sấu lớn như chiếc thuyền, có 4 chân, cực giống hình rồng nhưng không có sừng, bụng rất giòn và ngon. Các loại trai, hến, ốc ở hồ Đạm Dương có thể vốc tay là được. Duy nhất không thấy cua, nghĩ là cũng có nhưng người ta không ăn vậy.
'''UỔN NHƯỠNG (醞釀 - Nấu rượu)'''
Rượu có 4 hạng: Thứ nhất, người Đường (唐人) gọi là "rượu mật đường", dùng men thuốc pha với mật và nước mỗi thứ một nửa mà thành. Thứ nhì, chủ nhà gọi là "Bằng nha tứ" (朋牙四), làm bằng lá cây. Bằng nha tứ (朋牙四) là tên một loại lá cây vậy. Thứ ba nữa là dùng gạo hoặc cơm thừa mà làm, tên gọi là "Bao lăng giác" (包稜角), vì Bao lăng giác (包稜角) nghĩa là gạo vậy. Hạng thấp nhất là "rượu đường giám", làm bằng đường. Lại nữa, khi vào cửa sông ven nước có "rượu giao tương", vì có một loại lá giao mọc ven nước, nhựa của nó có thể nấu rượu.
'''MUỐI, GIẤM, TƯƠNG, MÌ (鹽醋醬麪)'''
Việc nấu muối trong nước không cấm, từ Chân Bồ (真蒲), Ba Giản (巴澗) ven biển trở đi thảy đều nấu muối. Trong núi lại có một loại đá vị còn ngon hơn muối, có thể đẽo gọt thành đồ dùng. Người bản thổ không biết làm giấm, trong canh muốn có vị chua thì bỏ lá cây "Hàm bình" (咸平), cây có quả thì dùng quả, có hạt thì dùng hạt. Họ cũng không làm tương vì không có lúa mạch và đậu. Cũng không có men đại mạch (khúc), vì nấu rượu bằng mật nước và lá cây nên cái họ dùng là men thuốc (tửu dược), hình dáng giống như men rượu trắng ở vùng quê Trung Quốc.
''' TẰM TANG (蠶桑)'''
Người bản thổ đều không làm nghề tằm tang, phụ nữ cũng không hiểu việc kim chỉ khâu vá, chỉ có thể dệt vải bông (mộc miên) mà thôi. Họ cũng không biết quay sợi, chỉ lấy tay vuốt thành sợi. Không có khung cửi để dệt, chỉ dùng một đầu buộc vào thắt lưng, một đầu gác lên trên, thoi dệt cũng chỉ dùng một ống tre. Những năm gần đây người Xiêm (暹人) đến ở mới lấy nghề tằm tang làm nghiệp. Giống dâu, giống tằm đều từ nước Xiêm mang đến. Ở đây cũng không có gai, đay, chỉ có lạc ma (một loại sợi). Người Xiêm tự dùng tơ dệt áo lăng đen để mặc, phụ nữ Xiêm thì biết khâu vá. Người bản thổ khi vải quấn bị rách đều thuê họ vá giúp.
'''KHÍ DỤNG (器用 - Đồ dùng)'''
Ngoài phòng xá của những nhà tầm thường ra không có các loại bàn ghế hay thùng chậu. Chỉ khi nấu cơm thì dùng một nồi đất (ngõa phủ), nấu canh dùng một siêu đất (ngõa điêu), chôn 3 hòn đá xuống đất làm bếp, dùng gáo dừa làm muôi. Đựng cơm dùng bồn đất Trung Quốc hoặc mâm đồng. Canh thì dùng lá cây chế thành một cái bát nhỏ, dù đựng nước cũng không rò rỉ. Lại lấy lá giao làm một cái muôi nhỏ để múc nước canh vào miệng, dùng xong thì vứt đi, dù là lúc tế lễ thần Phật cũng vậy. Lại dùng một đồ thiếc hoặc đồ đất đựng nước bên cạnh để nhúng tay, vì ăn cơm chỉ dùng tay bốc, cơm dính vào tay nếu không có nước này thì không sạch được. Uống rượu dùng ấm bằng thiếc (lạp chú tử), người nghèo dùng bát đất, nếu là phủ đệ nhà giàu thì thảy đều dùng đồ bạc, thậm chí có nhà dùng vàng. Các dịp khánh hạ của quốc gia đa số dùng vàng làm đồ dùng, chế độ hình dáng lại khác biệt. Trên đất thì trải chiếu cỏ Minh Châu (明州), hoặc có nhà trải da hổ, báo, hoẵng, hươu và thảm mây. Gần đây mới đặt bàn thấp, cao khoảng 1 xích (hơn 30cm), lúc ngủ chỉ nằm chiếu tre trên ván. Gần đây lại có người dùng giường thấp, thảy đều do người Đường (唐人) chế tác. Đồ ăn dùng vải che lại, trong cung quốc chủ dùng gấm lụa dát vàng (tiêu kim kiêm bạch), thảy đều do khách buôn trên thuyền biếu tặng. Lúa không dùng cối xay, chỉ dùng chày giã mà thôi.
'''XA KIÊU (車轎 - Xe và kiệu)'''
Chế độ của kiệu là lấy một khúc gỗ uốn cong ở giữa, hai đầu dựng đứng lên, điêu khắc hoa văn và bọc vàng bạc, đó chính là cái gọi là "đòn khiêng kiệu vàng bạc" vậy. Mỗi đầu trong khoảng 1 xích thì đóng móc sắt, dùng một tấm vải lớn gấp dày, lấy dây buộc vào hai đầu móc, người ngồi trong vải, dùng 2 người khiêng. Kiệu lớn thì thêm một vật như mui thuyền nhưng rộng hơn, trang trí bằng gấm lụa năm màu, dùng 4 người khiêng, có người chạy theo kiệu. Nếu đi xa cũng có người cưỡi voi, cưỡi ngựa. Cũng có người dùng xe, chế độ của xe giống như những nơi khác. Ngựa không có yên, voi không có ghế để ngồi.
'''CHU TẬP (舟楫 - Thuyền bè)'''
Thuyền lớn dùng gỗ cứng xẻ ván mà làm. Thợ không có cưa, chỉ dùng rìu đục mà đẽo thành ván, vừa tốn gỗ vừa tốn công. Phàm muốn cắt gỗ thành đoạn cũng chỉ dùng đục mà đục đứt, dựng nhà cũng vậy. Thuyền cũng dùng đinh sắt, trên lợp lá giao, lấy mảnh gỗ cây cau ép lên trên. Loại thuyền này tên là "Tân nã" (新拏). Dầu dán mái chèo là dầu cá, vôi trộn là vôi đá. Thuyền nhỏ thì lấy gỗ lớn đục thành máng, dùng lửa hơ mềm rồi lấy gỗ chống cho choãi ra; bụng to, hai đầu nhọn, không mui, chở được vài người, chỉ dùng mái chèo mà khua, tên là "Bì lan" (皮闌).
'''THUỘC QUẬN (屬郡)'''
Các quận thuộc quyền có hơn 90 nơi: như Chân Bồ (真蒲), Tra Nam (查南), Ba Giản (巴澗), Mạc Lương (莫良), Bát Tiết (八薛), Bồ Mãi (蒲買), Trĩ Côn (雉棍), Mộc Tân Ba (木津波), Lại Cảm Khanh (賴敢坑), Bát Tư Lý (八廝里). Còn lại không thể nhớ hết. Mỗi nơi đều đặt quan thuộc, đều lấy hàng rào gỗ làm thành.
'''THÔN LẠC (村落)'''
Mỗi làng hoặc có chùa, hoặc có tháp. Nơi nhà cửa hơi đông đúc tất có quan trấn thủ, gọi là "Mai tiết" (買節). Trên đường lớn có nơi nghỉ ngơi như nhà trạm, tên là "Sâm mộc" (森木). Gần đây vì đánh nhau với người Xiêm (暹人) nên thảy đều thành đất hoang.
'''THỦ ĐẢM (取膽 - Lấy mật người)'''
Trước kia vào tháng 8 âm lịch [thời kỳ trước năm 1296], có tục lấy mật người. Nguyên do là vua Chiêm Thành (占城) mỗi năm đòi hàng ngàn chiếc mật người đựng trong một chiếc bình lớn. Đêm đến, họ tìm nhiều cách sai người vào trong thành và các thôn lạc, gặp người đi đêm thì dùng dây thòng lọng giữ chặt đầu, dùng dao nhỏ lấy mật ở dưới sườn phải, đợi cho đủ số để dâng cho vua Chiêm Thành (占城). Duy chỉ không lấy mật của người Đường (唐人), vì có một năm lấy một cái mật của người Đường trộn vào trong đó, khiến cho mật trong cả bình đều thối rữa không dùng được. Những năm gần đây đã bỏ việc lấy mật này, lập ra chức quan lấy mật riêng, ở phía trong cửa Bắc.
'''DỊ SỰ (異事 - Chuyện lạ)'''
Phía trong cửa Đông có người Man phạm tội dâm ô với em gái mình, da thịt dính chặt không rời, trải qua 3 ngày không ăn mà cả hai cùng chết. Người đồng hương của ta là họ Tiết, ở phiên bang đã 35 năm, ông ta bảo đã 2 lần thấy chuyện này, ấy là vì uy linh của Thánh Phật nên mới như vậy.
'''TẢO DỤC (澡浴 - Tắm rửa)'''
Đất này cực kỳ nóng nực, mỗi ngày nếu không tắm rửa vài lần thì không chịu nổi, đêm đến cũng không tránh khỏi 1 đến 2 lần. Ban đầu không có phòng tắm hay bồn chậu, nhưng mỗi nhà đều phải có một cái ao, nếu không thì 2 đến 3 nhà chung một ao. Không phân biệt nam nữ thảy đều trần truồng xuống ao. Duy chỉ có cha mẹ bậc tôn trưởng ở trong ao thì con cái bậc thấp không dám vào. Nếu bậc thấp ở trong ao trước, thấy bậc tôn trưởng đến thì cũng phải tránh đi. Nếu hàng vai vế ngang hàng thì không gò bó. Lúc xuống nước chỉ dùng tay trái che bộ phận kín là được. Cứ 3 đến 4 ngày, hoặc 5 đến 6 ngày, phụ nữ trong thành từng nhóm 3 đến 5 người cùng ra sông ngoài thành tắm rửa. Đến bờ sông, cởi bỏ tấm vải quấn mà xuống nước, người tụ tập ở sông có đến hàng ngàn, dù là phụ nữ nhà quyền quý cũng dự vào, tuyệt không cho là nhục. Từ gót chân đến đỉnh đầu thảy đều nhìn thấy rõ. Ở con sông lớn ngoài thành, không ngày nào không có cảnh này, người Đường (唐人) lúc rảnh rỗi thường lấy việc này làm thú vui tiêu khiển. Nghe nói cũng có kẻ ước hẹn tư thông ngay dưới nước. Nước thường ấm như nước nóng, chỉ đến canh 5 mới hơi mát, hễ mặt trời mọc là lại ấm ngay.
'''LƯU NGỤ (流寓)'''
Những người Đường (唐人) làm thủy thủ thấy nước này có lợi là không cần mặc quần áo, gạo thóc dễ kiếm, phụ nữ dễ lấy, nhà cửa dễ lo, đồ dùng dễ đủ, mua bán dễ làm, nên thường trốn ở lại đó.
'''QUÂN MÃ (軍馬)'''
Quân lính cũng trần truồng đi chân đất, tay phải cầm lao (tiêu thương), tay trái cầm khiên (chiến bài), không có các thứ gọi là cung tên, pháo đá, giáp trụ. Nghe nói khi đánh nhau với người Xiêm (暹人) đều lùa bách tính ra trận, thường cũng chẳng có mưu lược trí kế gì.
'''QUỐC CHỦ XUẤT NHẬP (國主出入 - Việc đi lại của vua)'''
Nghe nói trước kia quốc chủ không mấy khi ra khỏi cửa, ấy là để phòng những biến cố bất trắc. Vị chủ mới này là con rể của quốc chủ cũ, nguyên giữ chức thống lĩnh quân đội. Nhạc phụ yêu con gái, người con gái ấy mật mật lấy trộm gươm vàng giao cho chồng, khiến cho con trai ruột không được kế vị. Người con trai ấy từng mưu dấy binh nhưng bị chủ mới phát giác, bị chặt ngón chân rồi giam vào phòng tối. Chủ mới thân khảm "sắt thánh", dù đao tên chạm vào mình cũng không hại được, nhờ cậy vào đó mới dám ra khỏi cửa. Ta ở lại hơn 1 năm, thấy vua ra ngoài 4 đến 5 lần. Phàm khi ra ngoài, quân mã vây bọc phía trước, cờ xí trống nhạc theo sau. Cung nữ 300 đến 500 người, mặc vải hoa, búi tóc hoa, tay cầm nến lớn thành một đội, dù ban ngày cũng đốt nến. Lại có cung nữ thảy đều cầm đồ dùng bằng vàng bạc và đồ trang sức trong cung, chế độ khác biệt, không rõ dùng làm gì. Lại có cung nữ cầm lao và khiên làm quân nội đình, lập thành một đội. Lại có xe dê, xe ngựa thảy đều trang trí bằng vàng. Các quan đại thần và quốc thích đều cưỡi voi đi trước, nhìn xa lọng che màu đỏ (hồng lương tản) không kế xiết. Kế đến là vợ và thiếp của quốc chủ, hoặc ngồi kiệu, ngồi xe, cưỡi ngựa hay cưỡi voi, lọng che dát vàng (tiêu kim lương tản) có hơn 100 chiếc. Sau cùng là quốc chủ, đứng trên lưng voi, tay cầm bảo kiếm, ngà voi cũng được bọc vàng. Lọng che màu trắng dát vàng (tiêu kim bạch lương tản) phàm hơn 20 chiếc, cán lọng đều bằng vàng. Chung quanh vây bọc rất nhiều voi và có quân mã bảo vệ. Nếu đi chơi gần thì chỉ dùng kiệu vàng, đều do cung nữ khiêng. Đại phàm ra vào, tất rước tháp vàng nhỏ và Phật vàng đi trước, người xem thảy đều phải quỳ xuống đảnh lễ, gọi là "Tam bãi" (三罷). Nếu không sẽ bị quân canh bắt giữ, không được thả ra vô ích. Mỗi ngày quốc chủ ra ngự triều trị sự 2 lần, cũng không có văn bản nhất định. Các quan và bách tính muốn gặp quốc chủ đều ngồi liệt trên đất để đợi. Một lát sau, bên trong ẩn hiện tiếng nhạc, bên ngoài mới thổi ốc tù và để đón. Nghe nói vua chỉ dùng xe vàng đến từ nơi hơi xa, chốc lát thấy 2 cung nữ dùng bàn tay thon dài cuốn rèm lên, quốc chủ tay chống kiếm đứng trong cửa sổ vàng. Từ quan lại trở xuống đều chắp tay cúi đầu, tiếng ốc vừa dứt mới được ngẩng đầu. Vua lúc đó cũng liền ngồi xuống. Chỗ ngồi có một tấm da sư tử, là vật báu truyền quốc. Sau khi bàn việc xong, quốc chủ liền quay mình đi vào, 2 cung nữ lại hạ rèm xuống, mọi người cùng đứng dậy. Xem thế thì biết dù là nơi man di, chưa từng không biết có quân vương vậy.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic111 - 真臘國.svg|center]]
Theo Tam tài đồ hội (三才圖會): Nước Chân Lạp (真臘) phát thuyền từ Quảng Châu (廣州), đi gió Bắc 10 ngày thì đến nơi, thời tiết không có mùa lạnh. Mỗi khi cưới hỏi thì người nam về ở nhà người nữ. Sinh con gái đến 9 tuổi, liền mời sư tăng tụng kinh làm phép Phạn (Phạn pháp), lấy ngón tay chọc phá thân đồng trinh, lấy máu đó điểm lên trán con gái, người mẹ cũng dùng điểm lên trán mình, gọi đó là "Lợi thị" (利市). Làm như vậy thì người con gái ấy sau này lấy chồng sẽ hòa hợp vui vẻ. Phàm con gái đủ 10 tuổi là gả chồng. Người trong nước phạm tội trộm cắp thì bị chặt tay chân, nung lửa đóng dấu vào ngực lưng hoặc xăm mặt, phạm tội đến mức chết thì bị chém. Người phiên giết người Đường (唐人) thì y theo pháp luật người phiên mà đền mạng; nếu người Đường giết người phiên thì bị phạt tiền vàng rất nặng; nếu không có tiền vàng thì bán thân lấy tiền chuộc tội. Phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城), bên cạnh có các nước Tây Bằng (西棚)...
== ĐỖ BẠC bộ vị khảo (杜薄部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đỗ Bạc (杜薄) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Đỗ Bạc (杜薄) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong biển Trướng Hải (漲海) về phía Đông của Phù Nam (扶南), đi thuyền thẳng trên biển mấy chục ngày thì tới. Người nước ấy diện mạo trắng trẻo, thảy đều mặc quần áo. Trong nước có ruộng lúa, phụ nữ dệt vải hoa bằng bông trắng (bạch điệp hoa bố). Sản sinh vàng, bạc, sắt, lấy vàng làm tiền. Sản sinh hương Kê thiệt (雞舌香), có thể ngậm được. Vì hương thơm nên không cho vào quần áo. Cây Kê thiệt ấy khí vị cay mà tính mãnh liệt, chim thú không thể đến gần, nên chưa có ai nhận biết được cây ấy thế nào. Hoa chín tự rụng, trôi theo dòng nước mà ra, bấy giờ mới lấy được. Trên đảo Đỗ Bạc có hơn 10 tòa thành nước, đều xưng Vương."
== BẠC LẠT bộ vị khảo (薄剌部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Bạc Lạt (薄剌) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Bạc Lạt (薄剌) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong vịnh biển phía Nam của Câu Lợi (拘利). Người ở đó da đen răng trắng, mắt đỏ, nam nữ thảy đều không mặc quần áo."
==HỎA SƠN bộ vị khảo (火山部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Hỏa Sơn (火山) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Hỏa Sơn (火山) được biết đến vào thời Tùy. Cách các đảo Chư Bạc (諸薄) 5.000 dặm về phía Đông. Trong núi ở nước ấy thảy đều có lửa, dù mưa cũng không tắt, trong lửa có loài chuột trắng." Thổ tục Phù Nam (扶南) truyền rằng: "Đảo Hỏa Sơn ở phía Đông đảo Mã Ngũ (馬五) khoảng hơn 1.000 dặm, tháng mùa xuân mưa dầm, mưa tạnh thì lửa cháy. Cây cối trên đảo hễ gặp mưa thì vỏ đen, gặp lửa thì vỏ trắng. Người ở các đảo lân cận vào tháng mùa xuân thường lấy vỏ cây ấy, bện lại làm vải, hoặc làm tim đèn; vải hễ hơi bẩn, quăng vào trong lửa lại sạch như cũ." Lại có nước Gia Doanh (加營), phía Bắc các đảo Chư Bạc, có ngọn núi phía Tây chu vi 300 dặm, từ tháng 4 âm lịch lửa sinh ra, tháng Giêng âm lịch lửa tắt; khi lửa cháy thì cỏ cây rụng lá như mùa lạnh ở Trung Quốc. Người thời ấy vào tháng 3 âm lịch đến núi này lấy vỏ cây, bện làm vải hỏa hoạn (vải chịu lửa)."
== ĐÔ CÔN bộ vị khảo (都昆部彙考)==
'''(Đính kèm nước Biên Đẩu, Câu Lợi, Tỉ Tùng)'''
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đô Côn (都昆) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Biên Đẩu (邊斗), còn gọi là Ban Đẩu (班斗); nước Đô Côn (都昆), còn gọi là Đô Quân (都軍); nước Câu Lợi (拘利), còn gọi là Cửu Ly (九離); nước Tỉ Tùng (比嵩), thảy đều được biết đến từ thời Tùy. Từ Phù Nam (扶南) vượt vịnh lớn Kim Lân (金鄰), đi về phía Nam 3.000 dặm thì có 4 nước này. Việc nông tác của họ giống với Kim Lân (金鄰), người đa số da trắng. Đô Côn (都昆) sản sinh hương Trản (棧香) tốt, hương Hoắc (藿香) và lưu huỳnh. Cây hương Hoắc ở đó sống đến 1.000 năm, gốc rễ rất lớn; chặt xuống để 4 đến 5 năm, phần gỗ đều mục nát, chỉ có các đốt ở giữa kiên cố, hương thơm còn lưu lại, lấy đó làm hương."
== VÔ LUÂN bộ vị khảo (無論部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Vô Luân (無論) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Vô Luân (無論) được biết đến vào thời Tùy. Ở phía Tây Phù Nam (扶南) hơn 2.000 dặm. Hai bên đường cái của nước ấy trồng xen kẽ cây tỳ bà và các loại hoa quả, đi dưới tán cây luôn có bóng râm mát. Cứ 10 dặm có 1 trạm đình, trạm đình đều có giếng nước. Họ ăn cơm mạch, uống rượu bồ đào (nho), rượu đặc như keo, khi uống pha thêm nước, vị rất ngọt ngon."
==LA SÁT bộ vị khảo (羅剎部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp thứ 3 đời Tùy Dạng Đế, sai sứ sang nước Xích Thổ, đi đến La Sát.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước La Sát (羅剎) ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với Lâm Ấp (林邑) vào ban đêm, ban ngày thì che mặt." Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế [năm 607], sai sứ là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ (赤土), đi đến La Sát (羅剎).
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Phía Đông Bà Lợi (婆利) có nước La Sát (羅剎), người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với người Lâm Ấp (林邑), đến vào ban đêm, tự che mặt mình. Nước ấy sản sinh hỏa châu (ngọc lửa), hình dáng như thủy tinh, vào lúc giữa trưa lấy viên châu hứng bóng mặt trời để bắt vào ngải, nương theo đó lửa sẽ phát ra."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
9dygf03a4yo1p7zg3ha17nu6nk3c0vq
204747
204746
2026-04-16T10:05:08Z
Mrfly911
2215
204747
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第101卷
| năm= 1726
| phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 101'''
| trước= [[../quyển 100|quyển 100]]
| sau= [[../quyển 102|quyển 102]]
| ghi chú =
}}
==XIÊM LA bộ vị khảo (暹羅部彙考)==
''' (Xích Thổ 赤土 - Xiêm La Hộc 暹羅斛) '''
===Tùy===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế (隋煬帝) [năm 607], sai quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ.'''
Theo Tùy thư - Dạng Đế bản kỷ (隋書煬帝本紀) thì không chép việc này. Theo Xích Thổ bản truyện (赤土本傳): "Nước Xích Thổ (赤土國) là một chủng loại khác của Phù Nam (扶南). Nằm ở trong biển Nam Hải (南海), đi đường thủy hơn 100 ngày thì đến kinh đô. Đất sắc đỏ nhiều nên lấy đó làm tên nước. Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Bà La Sa (婆羅娑國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm.
Vua nước ấy họ Cù Đàm (瞿曇氏), tên là Lợi Phú Đa Tắc (利富多塞), không rõ nước thành lập đã bao lâu. Nghe nói cha vua nhường ngôi, xuất gia làm đạo, truyền vị cho Lợi Phú Đa Tắc, đến nay đã tại vị được 16 năm. Vua có 3 vợ, đều là con gái của vua các nước láng giềng. Cư ngụ tại thành Tăng Kỳ (僧祗城), có 3 tầng cửa, mỗi cửa cách nhau chừng 100 bước, mỗi cửa đều vẽ hình tượng Phi tiên (飛仙), Tiên nhân (仙人), Bồ Tát (菩薩). Treo chuông hoa vàng và bờm ngựa, có mấy chục phụ nữ, người thì tấu nhạc, người thì bưng hoa vàng. Lại trang điểm cho 4 người phụ nữ, dung mạo như Phật, đứng hai bên cửa như hình trạng Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士) bên cạnh tháp. Người đứng ngoài cửa cầm binh khí, người đứng trong cửa cầm phất trần trắng, giăng lưới trắng kết hoa dọc lối đi."
Các gian nhà trong cung vua thảy đều là lầu gác cao. Vua ngồi ở cửa phía Bắc, mặt hướng về phía Bắc, ngồi trên sập 3 tầng, mặc vải Triều Hà (朝霞布), đội mũ hoa vàng, treo anh lạc bằng ngọc báu hỗn hợp. Có 4 nữ nhân đứng hầu, tả hữu có hơn 100 lính bảo vệ. Sau sập vua có một khám thờ bằng gỗ, dùng vàng bạc và 5 loại gỗ thơm khảm trai trang trí; sau khám treo một vầng hào quang vàng rực, hai bên sập dựng 2 chiếc gương vàng, trước gương bày bình vàng, trước bình có lư hương vàng, phía trước đặt một con trâu nằm bằng vàng, trước trâu dựng 1 bảo cái, hai bên bảo cái đều có quạt quý. Hàng trăm người Bà La Môn (婆羅門) ngồi đối diện nhau thành từng hàng ở phía Đông và Tây.
Quan lại có: 1 người gọi là Tát Đà Ca La (薩陀迦羅), 2 người gọi là Đà Noa Đạt Xoa (陀挐達叉), 3 người gọi là Ca Lợi Mật Ca (迦利密迦), cùng nhau nắm chính sự; 1 người gọi là Câu La Mật Đế (俱羅末帝) nắm hình pháp. Mỗi thành đặt 1 người Na Gia Ca (那邪迦), 10 người Bát Đế (缽帝).
Phong tục ở đó đều xỏ tai cắt tóc, không có lễ quỳ lạy, dùng dầu thơm xức thân. Dân chúng kính Phật, đặc biệt trọng Bà La Môn. Phụ nữ búi tóc sau gáy, nam nữ đều dùng vải ngũ sắc Triều Hà (朝霞), Triều Vân (朝雲) làm áo. Nhà hào phú thì xa hoa tùy ý, duy có xích vàng nếu không phải vua ban thì không được dùng. Mỗi khi cưới gả thì chọn ngày lành, nhà gái trước kỳ hạn 5 ngày sẽ tấu nhạc uống rượu, người cha cầm tay con gái trao cho chàng rể, sau 7 ngày mới thành phối hợp. Cưới xong thì chia tài sản ra ở riêng, duy con út ở chung với cha. Cha mẹ anh em chết thì cạo tóc mặc áo trắng, dựng sàn gỗ tre trên mặt nước, trong sàn chất củi, đặt thi thể lên trên, đốt hương dựng phướn, thổi ốc đánh trống để tiễn đưa. Phóng hỏa đốt củi, thi thể rơi xuống nước. Sang hèn đều như nhau, duy tro cốt của vua sau khi thiêu xong thì thu lại, đựng vào bình vàng, cất trong miếu thờ.
Khí hậu đông hè thường ấm, mưa nhiều tạnh ít, gieo trồng không cứ mùa màng. Đặc biệt thích hợp trồng lúa, kê, đậu trắng, mè đen; các sản vật khác đa phần giống với Giao Chỉ (交趾). Dùng mía làm rượu, pha với rễ dưa tím, rượu màu vàng đỏ, vị thơm ngon; cũng gọi nước dừa là rượu.
Khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, chiêu mộ những người có thể thông sứ với các vùng đất xa xôi. Tháng 10 âm lịch năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607], Truân điền Chủ sự Thường Tuấn (常駿), Ngu bộ Chủ sự Vương Quân Chính (王君政) xin đi sứ Xích Thổ. Đế rất vui, ban cho Tuấn mỗi người 100 xấp lụa, 1 bộ triều phục, và sai mang theo 5.000 đoạn vật phẩm để ban cho vua Xích Thổ.
Tháng 10 năm đó, bọn Tuấn từ quận Nam Hải (南海郡) đi thuyền, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, đi qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵迦缽拔多洲), phía Tây đối diện với Lâm Ấp (林邑), trên đó có miếu thờ thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (師子石), từ đó đảo nhỏ nối liền nhau. Đi tiếp 2 đến 3 ngày, nhìn về phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙須國), bèn đi về hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), rồi tới biên giới Xích Thổ.
Vua nước ấy sai Bà La Môn tên là Câu Ma La (鳩摩羅) mang 30 chiếc thuyền đến đón, thổi ốc đánh trống để chào mừng sứ giả nhà Tùy, dâng xích vàng để buộc thuyền của Tuấn. Sau hơn 1 tháng thì đến kinh đô, vua sai con trai là Na Gia Ca (那邪迦) mời bọn Tuấn vào hội kiến theo lễ. Trước hết sai người đưa mâm vàng đựng hoa thơm cùng gương và kẹp tóc, 2 hộp vàng đựng dầu thơm, 8 bình vàng đựng nước thơm, 4 dải vải trắng để cho sứ giả tắm gội. Vào giờ Mùi ngày hôm đó, Na Gia Ca lại dắt 2 con voi, cầm lọng lông công để đón sứ giả, đồng thời dâng hoa vàng mâm vàng để đỡ chiếu thư. 100 nam nữ tấu loa trống, 2 người Bà La Môn dẫn đường đến cung vua. Bọn Tuấn dâng chiếu thư lên lầu, từ vua trở xuống đều quỳ. Tuyên chiếu xong, mời bọn Tuấn ngồi, tấu nhạc Thiên Trúc (天竺). Xong việc, bọn Tuấn về quán xá. Vua lại sai Bà La Môn đến quán đưa cơm, dùng lá cỏ làm mâm, rộng 1 trượng vuông, nói với Tuấn rằng: "Nay ngài là người của đại quốc, không còn ở nước Xích Thổ nữa. Ăn uống sơ sài, xin vì ý của đại quốc mà dùng cho."
Mấy ngày sau, mời bọn Tuấn vào dự tiệc, nghi vệ dẫn đường như lễ kiến diện ban đầu. Trước mặt vua đặt 2 chiếc giường, trên giường đều đặt mâm lá cỏ rộng 1 trượng 5 thước, trên đó có các loại bánh 4 màu vàng, trắng, tím, đỏ; hơn 100 món thịt trâu, dê, cá, ba ba, lợn, đồi mồi. Mời Tuấn lên giường ngồi, người đi theo ngồi trên chiếu dưới đất, mỗi người dùng chén vàng rót rượu, nữ nhạc luân phiên tấu diễn, lễ vật tặng vô cùng hậu hĩnh.
Sau đó vua sai Na Gia Ca theo Tuấn về cống phương vật, cùng dâng mũ hoa sen vàng (Kim Phù Dung quán), hương Long Não, dùng vàng đúc thành lá Đa La (多羅葉), chạm nổi thành chữ để làm biểu, bỏ trong hộp vàng phong kín lại. Sai Bà La Môn dâng hoa thơm tấu loa trống tiễn đưa. Khi ra biển, thấy bầy cá xanh bay trên mặt nước, đi biển hơn 10 ngày thì đến phía Đông Nam Lâm Ấp (林邑), đi men theo núi. Vùng biển đó rộng hơn 1.000 bước, màu nước vàng và khí vị tanh hôi, thuyền đi 1 ngày không hết, nghe nói đó là phân của cá lớn (Đại ngư phế). Men theo bờ Bắc biển mà đạt đến Giao Chỉ (交趾).
Mùa xuân năm Đại Nghiệp thứ 6 [năm 610], Tuấn cùng Na Gia Ca vào bệ kiến Đế tại Hoằng Nông (弘農). Đế rất vui, ban cho Tuấn 200 đoạn vật phẩm, phong cả hai làm Bỉnh Nghĩa Úy (秉義尉), những người khác trong đoàn Na Gia Ca đều được ban thưởng có sai biệt.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Cương vực Xích Thổ giống với Xiêm La (暹羅). Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Ba La Bà (婆羅婆國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm. Thời Tùy, Thường Tuấn (常駿) từ quận Nam Hải (南海郡) đi đường thủy, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵伽缽拔多洲), phía Tây đối diện Lâm Ấp (林邑), trên có miếu thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (獅子石), từ đó đảo nối tiếp nhau. Đi thêm 2 đến 3 ngày, phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙修國), bèn hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), tới biên giới Xích Thổ. Lâm Ấp (林邑) nay là Chiêm Thành (占城). Sách Tinh tra thắng lãm (星槎勝覽) chép: 'Từ Chiêm Thành thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến', chính là chỗ này vậy."
===Nguyên===
'''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Nguyên Thành Tông (元成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu xin sai sứ giả đến.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyện (暹國本傳): Vào năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Thành Tông (成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu bằng chữ vàng, muốn triều đình sai sứ giả đến nước mình. Đến khi biểu văn ấy tới nơi, thì triều đình đã sai sứ giả đi từ trước rồi, vốn là do bên kia chưa biết vậy. Triều đình ban cho sứ giả nước họ đến lạy một chiếc phù bằng vàng trơn (tố kim phù) để đeo, rồi sai đi gấp để đuổi theo đoàn chiếu sứ cùng đi. Vì người Xiêm (暹人) và người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒) vốn có thù hận chém giết nhau cũ, đến nay thảy đều quy thuận. Có chỉ dụ bảo người Xiêm (暹人) rằng: "Chớ làm tổn thương người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒), để giữ trọn lời hứa của các ngươi."
'''Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], nước Xiêm xin ban yên ngựa, chiếu ban cho áo thêu chỉ vàng nhưng không cho ngựa.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Thành Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyện (暹國本傳): Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], quốc chủ nước Xiêm (暹國) dâng lời rằng: "Lúc cha tôi còn tại vị, triều đình từng ban cho yên cương, ngựa trắng cùng áo thêu chỉ vàng, nay xin theo lệ cũ mà ban cho." Hoàng đế dựa theo lời của Thừa tướng Hoàn Trạch Đáp Lạt Hãn (完澤荅剌罕) rằng: "Kia là nước nhỏ mà ban cho ngựa, e rằng bọn lân bang như Hân Đô (忻都) sẽ chê cười." Triều đình vẫn ban cho áo thêu chỉ vàng, nhưng không ban cho ngựa.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹邏國), vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (邏斛), cũng tức là đất cũ của Xích Thổ (赤土) và Bà La Sát (婆羅剎). Nằm ở cực Nam của Chiêm Thành (占城), phía Bắc thẳng hướng đến Liêm Châu (廉州), men theo bờ Bắc biển nối liền với Giao Chỉ (交趾). Đất nước Xiêm (暹) khô cằn, không hợp cho việc cày cấy trồng trọt; đất ruộng nước La Hộc (羅斛) thì bằng phẳng, rộng rãi và nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm phải trông cậy vào đó để cung cấp. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607] đời Tùy, quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác từ quận Nam Hải (南海郡) cưỡi thuyền đi sứ Xích Thổ (赤土), đến nay truyền sai là di chủng của Xích Mi (赤眉), sau đổi tên gọi là Xiêm (暹). Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295] thời Nguyên, người Xiêm (暹人) từng sai sứ vào cống. Trong khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục nước La Hộc (羅斛), mà hợp lại thành 1 nước."
===Minh===
'''Minh Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ 4, Xiêm La sai sứ triều cống'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Xiêm La (暹羅) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến, chính là nước Xích Thổ (赤土國) thời Tùy Đường. Sau chia làm 2 nước là La Hộc (羅斛) và Xiêm (暹). Đất Xiêm (暹) khô cằn không hợp gieo trồng, đất La Hộc (羅斛) bằng phẳng, trồng trọt thu hoạch nhiều, nước Xiêm (暹) phải trông cậy vào đó. Thời Nguyên (元), nước Xiêm (暹) thường vào cống. Sau đó nước La Hộc (羅斛) mạnh lên, thôn tính đất Xiêm (暹), nên gọi là nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國)."
Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], mệnh sứ thần Lữ Tông Tuấn (呂宗俊) mang chiếu thư đi dụ nước đó. Năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai sứ dâng biểu, cùng bọn Tông Tuấn (宗俊) đến cống voi thuần, rùa 6 chân và phương vật. Chiếu ban cho vua gấm vóc và ban cho sứ giả tiền vải có sai biệt. Sau đó, lại sai sứ đến chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372], chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu.
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Xiêm La (暹羅) vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛). Nước Xiêm (暹) là di chủng của quân Xích Mi (赤眉) nhà Hán, đất nước ấy khô cằn, không hợp cày cấy. Đất ruộng La Hộc (羅斛) bằng phẳng nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm trông cậy vào đó. Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], người Xiêm (暹人) thường sai sứ vào cống. Khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục La Hộc (羅斛) mà hợp thành 1 nước. Đầu năm Hồng Vũ (洪武) triều ta, vua nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國) là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai các sứ thần Nại Tư Lý Sài Lạt Thức Tất Thế (奈思俚儕剌識悉替) đến triều cống, dâng biểu lá vàng. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆)."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Khí hậu Xiêm La (暹羅) không điều hòa, tục chuộng xâm chiếm. Nấu biển làm muối, nấu gạo nếp làm rượu. Trai gái búi tóc hình dùi, dùng vải trắng quấn đầu, mặc áo dài. Mỗi khi có việc bàn bạc, hình pháp nặng nhẹ, tiền thóc ra vào, thảy đều do phụ nữ quyết định. Ý chí và năng lực của họ trên cả nam giới. Dùng vỏ ốc (nghệ tử) thay tiền lưu thông. Người chết thì đổ thủy ngân vào để giữ xác."
Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Đất Xiêm La (暹羅) rộng 1.000 dặm, quanh nước đều là núi, hiểm trở gồ ghề, đất dưới thấp ẩm ướt lỏng lẻo, hiếm chỗ trồng trọt được. Khí hậu không ổn định, lúc sương mù lúc nóng nực. Từ phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), đi thuyền 7 ngày đêm mới đến cửa biển Tân Môn (新門海口), vào cảng mới đạt đến nước ấy. Vua ở cung thất tráng lệ, dân ở nhà sàn, sàn nhà lợp san sát cây bàng lang, dùng mây sợi buộc rất chặt, trải chiếu mây, chiếu tre để ngủ nghỉ bên trong. Vua vốn là người Tỏa Lý (鎖里), dùng vải trắng quấn đầu, không mặc áo, lưng thắt khăn thêu sợi, thêm gấm vóc áp lưng, cưỡi voi đi hoặc ngồi kiệu, lọng cán vàng làm bằng lá giao. Chuộng đạo Phật, người trong nước đều như vậy. Tăng ni rất nhiều, trang phục giống Trung Quốc, có am quan, ăn chay thụ giới. Phụ nữ dân dã nhiều trí tuệ, chồng nghe theo vợ, vợ có tư thông với người Trung Quốc, ăn ngủ cùng nhau, chồng vẫn điềm nhiên không lấy làm lạ. Nam giới quấn đầu vải trắng, mặc áo dài, phụ nữ cũng vậy và búi tóc hình dùi. Nam giới năm 20 tuổi, bộ phận sinh dục tất phải khảm châu ngọc, kẻ phú quý đúc vàng bọc châu, phát ra tiếng kêu mới coi là đẹp, nếu không là người bần tiện. Khi cưới thì bầy tăng đón rể đến nhà gái, tăng lấy chỉ đỏ dán lên trán nam gọi là 'lợi thị', hủ lậu không thể tả xiết. Qua 3 ngày, tăng cùng thân quyến đẩy thuyền hoa bàng lang tiễn về, rồi mở tiệc tấu nhạc. Lễ tang, kẻ phú quý thì đổ thủy ngân mà chôn, dân gian thì khiêng xác quăng xuống biển. Ở các cồn bãi có hàng chục con chim sắc vàng bay đến ăn, có khi xác bị bỏ trôi biển, gọi là 'điểu táng'. Sau đó dùng giáo pháp Phù Đồ để làm chay. Ngôn ngữ giống Quảng Đông (廣東), phong tục nông nổi, thạo thủy chiến. Thường chinh phạt lân bang. Thị trường dùng vỏ ốc biển, giá trị như tiền. Sản vật có đá Hồng Mã Khẩn Đích (紅馬肯的石), kém hơn đá Hồng Nha (紅鴉), sáng trong như hạt lựu. Phía Tây Bắc nước này hơn 200 dặm có thị trấn gọi là Thượng Thủy (上水), thông về phía Nam, dân cư chừng 600 nhà, các loại hàng phiên đều có: hoàng liên hương, la hắc, tốc hương, giáng chân, trầm thủy, cũng có gỗ hoa lê, bạch đậu khấu, đại phong tử, huyết kiệt đằng, kết tô mộc, thiếc hoa, ngà voi, lông chim thúy. Tô mộc rẻ như củi, sắc cực tốt. Thú có voi trắng, sư tử, mèo, chuột trắng. Rau quả như Chiêm Thành (占城). Có rượu gạo, rượu dừa, đều là rượu nấu. Cống vật là tô mộc, hương giáng chân."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], nước Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 [năm 1372], cống gấu đen, vượn trắng và phương vật. Năm sau lại đến cống. Chị của vua là Tham Liệt Tư Ninh (參烈思寧) riêng sai sứ dâng biểu lá vàng, cống phương vật cho Trung cung (Hoàng hậu), bị từ chối. Sau đó người chị lại sai sứ đến cống, Đế vẫn từ chối, nhưng ban yến tiệc cho sứ giả. Lúc bấy giờ vua nước ấy nhu nhược không có võ công, người trong nước suy tôn bác là Tham Liệt Bảo Tì Nha Tì Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙毗哩哆囉祿) làm chủ việc nước, sai sứ đến báo, cống phương vật, ban yến tiệc theo chế độ. Sau đó tân vương sai sứ đến cống tạ ơn, sứ giả cũng có vật hiến tặng, Đế không nhận. Tiếp đó, sai sứ chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1374], cống phương vật, lại dâng bản đồ nước mình."
'''Năm Hồng Vũ thứ 7 [năm 1374], sứ thần Xiêm La vào cống, nói rằng "thuyền cống gặp gió trôi mất", thu nhặt những vật còn sót lại để tiến dâng. Chiếu vì không có biểu văn nên từ chối.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 [năm 1374], sứ thần Sa Lý Bạt (沙里拔) đến cống, nói rằng năm ngoái thuyền dừng tại Dương Ô Chư (烏豬洋), gặp gió làm hỏng thuyền, trôi đến Hải Nam (海南), nhờ quan lại cứu hộ, còn giữ được các vật sót lại như gấm đầu la, giáng hương, tô mộc tiến hiến. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên. Đế trách không có biểu văn, đã nói chìm thuyền mà phương vật lại còn, nghi là thương buôn phiên bang, mệnh từ chối. Dụ cho các thần ở Trung thư và Lễ bộ rằng: 'Xưa chư hầu đối với Thiên tử, hằng năm có tiểu sính, 3 năm có đại sính. Ngoài chín châu (Cửu châu) thì mỗi đời triều kiến một lần, phương vật tiến cống cốt để tỏ lòng thành kính mà thôi. Duy Cao Ly (高麗) khá biết lễ nghĩa, nên lệnh 3 năm một lần cống. Các nước xa khác như Chiêm Thành (占城), An Nam (安南), Tây Dương Tỏa Lý (西洋瑣里), Qua Oa (瓜哇), Bột Ni (浡泥), Tam Phật Tề (三佛齊), Xiêm La Hộc (暹羅斛), Chân Lạp (真臘), vào cống đã tần suất cao, hao phí quá lớn, nay không cần phải như thế nữa, hãy gửi văn thư cho các nước biết'. Tuy nhiên kẻ đến vẫn không dứt, Thế tử là Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) cũng sai sứ dâng thư lên Hoàng thái tử, cống phương vật, mệnh dẫn sứ giả triều kiến Đông Cung, ban yến tiệc rồi cho về."
'''Năm Hồng Vũ thứ 8 [năm 1375], nước Xiêm La vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 8 [năm 1375] lại vào cống. Mà Thế tử cũ là Minh Đài Vương Thế tử Chiêu Bột La Cục (昭孛羅局) cũng sai sứ dâng biểu triều cống, ban yến tiệc như sứ của vua."
'''Năm Hồng Vũ thứ 9 [năm 1376], chiếu dụ vua nước Xiêm La, ban ấn và 1 bộ áo.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 9 năm thứ 9 [năm 1376], vua nước ấy sai con là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) dâng biểu cống voi và phương vật, ban chiếu khen ngợi. Dụ vua nước Xiêm La rằng: Làm vua trị dân, nếu không phải mệnh sáng của trời, ơn lớn của đất, sao được như vậy? Hoa Hạ và Di Địch tuy cách biệt, nhưng vui cái vui của thiên hạ thì ở đâu cũng thế. Nếu làm kẻ bề trên, biết thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế, hòa hợp người và thần, thì lộc truyền đời đời không dứt. Ngươi là Đa La Lộc (哆囉祿) từ khi nối ngôi đến nay, trong thì sửa đạo tề gia, ngoài thì tạo phương cách hòa mục láng giềng, huống hồ nhiều lần sai sứ đến Trung Quốc, xưng thần nhập cống, xét trong các vương thời nay, Đa La Lộc (哆囉祿) có thể gọi là hiền đức vậy, há chẳng tiếng vang các nước phiên sao? Mùa thu năm nay, cống voi đến triều, trẫm sai sứ sang dụ, đặc biệt ban ấn nước Xiêm và 1 bộ áo. Ngươi nên vỗ về dân bang, mãi hưởng nhiều phúc. Nay ban chiếu dụ, mong hãy thấu hiểu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], nước Xiêm La đến triều.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 [năm 1377], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) vâng mệnh cha đến triều kiến. Đế vui mừng, mệnh Lễ bộ Viên ngoại lang Vương Hằng (王恆) cùng những người khác mang chiếu và ấn ban cho, văn ấn khắc 'Xiêm La quốc vương chi ấn' (暹羅國王之印), đồng thời ban cho Thế tử áo, tiền vải và phí đi đường. Từ đó, nước ấy tuân theo mệnh triều đình, bắt đầu gọi là Xiêm La (暹羅). Cứ 1 năm 1 lần cống, hoặc 1 năm 2 lần cống. Đến sau năm Chính Thống (正統) [sau năm 1449], mới là mấy năm 1 lần cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], ban cho nước Xiêm La văn sách Khám hợp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], ban văn sách Khám hợp cùng gấm vóc đồ sứ cho bọn Chân Lạp (真臘)."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], nước Xiêm La cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], cống 10.000 cân hồ tiêu, 10.000 cân tô mộc. Đế sai quan báo đáp hậu hĩnh. Lúc đó dân Ôn Châu (溫州) có người mua trầm hương các vật của họ, hữu trách khép vào tội thông phiên, đáng phải chém bêu đầu. Đế phán: 'Ôn Châu là nơi Xiêm La tất phải đi qua, nhân họ qua lại mà mua bán, không phải thông phiên'. Bèn được tha tội."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Xiêm La cống 30 ngà voi, 60 nô tỳ phiên.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Thế tử Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ đến cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Xiêm La cống tô mộc, hồ tiêu, giáng hương tổng cộng 170.000 cân.'''
*Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử - Xiêm La truyện" đã nêu ở trên.
'''Năm Hồng Vũ thứ 28 [năm 1395], Thế tử nước Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) triều cống, và báo tang cha. Sắc phong Thế tử nối ngôi vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 [năm 1395], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ triều cống, và báo tang cha. Mệnh trung quan Triệu Đạt (趙達) cùng những người khác sang tế, sắc phong Thế tử nối ngôi vương, ban thưởng thêm hậu. Dụ rằng: 'Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, sai sứ ra biên giới, đi khắp bốn phương, nơi đặt chân đến có 36 nước, nơi tiếng tăm thông đạt có 31 nước. Phong tục khác biệt, nước lớn có 18, nước nhỏ có 149, so với ngày nay thì Xiêm La gần nhất. Vừa rồi sứ đến, biết tiên vương đã mất. Vương nối tiếp nghiệp tiên vương, có đạo với bang gia, thần dân vui mừng. Nay đặc biệt sai người ban mệnh, Vương chớ làm mất pháp độ, chớ dâm dật hưởng lạc, để làm rạng rỡ tiền liệt. Hãy kính cẩn thay'."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 28 [năm 1395], chiếu sai nội sứ Triệu Đạt (趙達), Tống Phúc (宋福) làm sứ giả đi nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國), tế vua Tham Liệt Bảo Tì Nha Tư Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙思哩哆囉祿), ban cho嗣 vương (vua nối ngôi) Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) 4 xấp gấm, 4 xấp là, 40 xấp vải mưu ti (mâu ti bố); ban cho vương phi 4 xấp gấm, 4 xấp là, 12 xấp vải mưu ti, có sắc dụ."
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, BAN CHO VUA NƯỚC XIÊM LA ẤN BẠC MẠ VÀNG NÚM LẠC ĐÀ CÙNG CÁC VẬT PHẨM'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Thành Tổ (成祖) lên ngôi, sai chiếu dụ nước ấy. Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], ban cho vua nước ấy là Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) ấn bạc mạ vàng núm lạc đà, vua nước ấy liền sai sứ đến tạ ơn. Tháng 6 âm lịch [năm 1403], nhân việc dâng tôn thụy cho Cao Hoàng đế (高皇帝), sai quan đi ban bố chiếu thư và ban thưởng. Tháng 8 âm lịch [năm 1403], lại mệnh cho Cấp sự trung Vương Triết (王哲), Hành nhân Thành Vụ (成務) ban cho vua nước ấy gấm vóc. Tháng 9 âm lịch [năm 1403], mệnh Trung quan Lý Hưng (李興) mang sắc thư đến thăm hỏi và ban thưởng cho vua nước ấy, các quan văn võ cũng đều được ban thưởng. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước Xiêm La (暹羅) sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật."
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 9 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], có thuyền phiên trôi dạt đến bờ biển Phúc Kiến (福建), thẩm vấn thì ra là thuyền thông hảo giữa Xiêm La (暹羅) và Lưu Cầu (琉球). Ty sở tại kiểm kê hàng hóa rồi tâu lên. Hoàng đế nói: 'Hai nước tu hảo là việc rất tốt. Không may gặp gió bão, chính là lúc nên thương xót, lẽ nào lại nhân đó mà trục lợi?'. Mệnh cho ty sở tại sửa thuyền cấp thóc, đợi khi gió thuận thì tiễn đi Lưu Cầu (琉球). Tháng này, vua nước ấy vì được nhận玺 thư (tỷ thư) thăm hỏi ban thưởng của Hoàng đế, nên sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật, ban thưởng thêm hậu, lại ban cho 100 cuốn Liệt nữ truyện (列女傳). Sứ giả xin ban hành quy chuẩn đo lường (lượng hành) làm mẫu mực vĩnh viễn cho quốc gia, Hoàng đế chấp thuận."
Trước đó, sứ giả cống nạp của Chiêm Thành (占城) khi về, gió thổi thuyền đến Bành Hanh (彭亨), nước Xiêm La (暹羅) cưỡng đoạt sứ giả đó, giam giữ không cho về. Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌) và Mãn Lạt Gia (滿剌加) lại kiện Xiêm La (暹羅) cậy mạnh phát binh, đoạt ấn cáo do Thiên triều ban cho. Hoàng đế bèn hạ sắc trách phạt rằng: "Chiêm Thành (占城), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加) cùng ngươi đều chịu mệnh triều đình, sao dám cậy thế uy quyền? Giam giữ sứ giả, đoạt ấn cáo của họ. Trời có đạo hiển hiện, phúc cho kẻ thiện họa cho kẻ dâm, giặc Lê (黎) ở An Nam (安南) có thể làm gương soi. Hãy lập tức trả lại sứ giả Chiêm Thành (占城), hoàn lại ấn cáo cho Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加). Từ nay về sau phụng pháp theo lý, giữ yên bờ cõi hòa mục láng giềng, mới mong hưởng phúc thái bình vĩnh viễn." Lúc bấy giờ sứ giả cống nạp do Xiêm La (暹羅) sai đi bị lạc gió trôi đến An Nam (安南), thảy đều bị giặc Lê (黎) giết chết, chỉ còn dư lại 1 người là Bột Hắc (孛黑). Sau khi quan quân đánh An Nam (安南), cứu được người này đưa về, Hoàng đế rất thương xót.
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 4 [năm 1406], Xiêm La sai sứ vào cống, xin sách và mẫu đo lường.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 [năm 1406], sứ giả Xiêm La (暹羅) là Nại Tất (奈必) dâng biểu cống phương vật, được tặng sách Cổ kim liệt nữ truyện (古今列女傳). Lại xin mẫu đo lường làm chuẩn mực trong nước, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Xiêm La sai sứ cống phương vật, tạ tội trước.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 [năm 1408], mệnh Trung quan Trương Nguyên (張原) đưa sứ giả về nước, ban cho vua tiền vải, lệnh cho vua phải chu cấp hậu hĩnh cho gia đình những người bị giết. Tháng 9 âm lịch [năm 1408], Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy, vua nước ấy sai sứ cống phương vật, tạ lỗi trước."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 7 [năm 1409], Xiêm La sai sứ đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), lại đưa dân gian trốn tránh về nước, cùng cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sứ giả đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh cho Trung quan tâu cáo trước linh sàng. Lúc đó quân gian là Hà Bát Quan (何八觀) cùng những người khác trốn vào Xiêm La (暹羅), Hoàng đế mệnh sứ giả về báo với chủ họ, đừng thu nhận kẻ đào tẩu. Vua nước ấy liền phụng mệnh sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa bọn Bát Quan (八觀) về, mệnh Trương Nguyên (張原) mang sắc thư và tiền lụa đến khen ngợi."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sai sứ dâng nghi vật đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh Trung cung quan đến cáo trước linh sàng. Tháng 9 âm lịch [năm 1409], lại sai sứ là Khôn Văn Côn (坤文琨) cùng những người khác dâng biểu cống phương vật, ban tiền vải rồi tiễn về. Lúc bấy giờ người Nam Hải (南海) là Hà Bát Quan (何八觀) lưu dạt ra đảo biển, rồi vào Xiêm La (暹羅). Đến nay nhân lúc bọn Văn Côn (文琨) về, Thượng (Hoàng đế) lệnh dụ quốc vương nước ấy, sai đưa bọn Bát Quan (八觀) về, chớ thu nhận kẻ đào tẩu mà chuốc lấy tội lỗi, đồng thời ban cho vua nước ấy gấm thêu vàng, lụa trừu, sa, la, nhung gấm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 8 [năm 1410], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 [năm 1410], Xiêm La (暹羅) sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa người Trung Quốc lưu dạt về, ban sắc thư thăm hỏi cùng tiền lụa màu."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải cho Xiêm La. Năm này vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], lại đến triều cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 13 [năm 1415], vua nước Xiêm La qua đời.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 5 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 [năm 1415], Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) qua đời."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 14 [năm 1416], phong Thế tử nước Xiêm La làm vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 14 [năm 1416], vương tử Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) sai sứ cáo tang cha, mệnh Trung quan Quách Văn (郭文) sang tế, riêng sai quan mang chiếu phong con trai làm vua, ban cho gấm trắng lụa trắng, liền sau đó sai sứ đến tạ ơn."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], định số lượng gấm vóc ban cho vua và vương phi nước Xiêm La.'''
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], cấp cho vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 10 xấp lụa trừu, sa, la, trong đó mỗi loại có 4 xấp dệt kim; vương phi mỗi loại trừu, sa, la có 6 xấp, trong đó mỗi loại có 2 xấp dệt kim."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La xâm lấn Mãn Lạt Gia, sai sứ giả trách phạt. Vua Xiêm La sai sứ giả tạ tội.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La (暹羅) xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加) nên sai sứ giả trách lệnh phải hòa mục. Sau khi sứ giả nước họ vào cống, mệnh Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về. Vua lại sai sứ tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加)."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], sai sứ dụ vua nước Xiêm La (暹羅), khiến cho hòa bình với Mãn Lạt Gia (滿剌加). Sắc dụ Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) rằng: 'Trẫm vâng mệnh trời, làm chủ cả Hoa Hạ và Di Địch, lấy tâm hiếu sinh của天地 (thiên địa) để trị quốc, nhất thị đồng nhân, không phân biệt bên này bên kia. Vương có thể kính trời thờ nước lớn, giữ chức vụ phụng cống, lòng trẫm rất khen ngợi, vốn chẳng phải chỉ trong một ngày. Gần đây vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) là Y Tư Hạn Đáp Nhi Sa (亦思罕答兒沙) lên nối ngôi, có thể tiếp nối chí hướng của cha, tự thân dẫn vợ con đến cửa khuyết triều cống, lòng thành thờ nước lớn đó không khác gì Vương. Nhưng nghe tin Vương vô cớ muốn động binh. Phàm binh khí là vật hung, hai bên đánh nhau tất cùng bị thương, cho nên chuộng binh không phải là tâm của người nhân. Huống hồ vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) đã nội thuộc, tức là thần tử của triều đình. Họ có lỗi, nên trình bày lên triều đình. Không làm theo cách này mà tự tiện động binh, ấy là không nể triều đình vậy. Đây chắc không phải ý của Vương, hoặc là thuộc hạ bên cạnh mượn danh Vương, dùng binh để thỏa tư thù. Vương nên suy xét kỹ, chớ để bị mê hoặc, hãy hòa mục với láng giềng, không xâm lấn nhau, để cùng hưởng phúc, há có giới hạn sao! Vương hãy lưu tâm cho'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 18 [năm 1420], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 4 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 [năm 1420], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ vào cống phương vật, ban tiền vải, vẫn sai Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về nước, vẫn ban cho vua gấm vóc sa la các thứ."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 19 [năm 1421], Xiêm La sai sứ vào cống, và tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 [năm 1421], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Nại Hoài (奈懷) cùng 60 người cống phương vật, tạ tội xâm lấn nước Mãn Lạt Gia (滿剌加), ban tiền vải có sai biệt. Tháng 7 âm lịch lại vào cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 21 [năm 1423], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 [năm 1423], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Mai (坤梅) cống phương vật, ban cho tiền vải."
'''MINH TUYÊN TÔNG NĂM TUYÊN ĐỨC THỨ 8, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 [năm 1433], vua nước ấy là Tất Lý Ma Ha Lạt (悉里麻哈賴) sai sứ triều cống. Trước đó, bồi thần nước này là Nại Tam Đạc (奈三鐸) cùng những người khác đi cống, thuyền ghé cảng Tân Châu (新州港) nước Chiêm Thành (占城), thảy đều bị người nước ấy cướp bóc."
'''MINH ANH TÔNG NĂM CHÍNH THỐNG THỨ 1, SỨ CỐNG XIÊM LA TỐ CÁO VIỆC CHIÊM THÀNH CƯỚP BÓC, LỆNH CHIÊM THÀNH TRẢ LẠI NGƯỜI VÀ VẬT ĐÃ CƯỚP'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 1 [năm 1436], Nại Tam Đạc (奈三鐸) lén đi thuyền nhỏ đến kinh đô, mà sứ cống do vua nước ấy sai đi cũng tới nơi, đều tố cáo tình trạng Chiêm Thành (占城) đánh cướp. Hoàng đế mệnh triệu sứ giả Chiêm Thành (占城) đến để đối chất, sứ giả không có gì để đáp lại, bèn sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城), lệnh phải hoàn trả toàn bộ người và vật đã cướp. Sau đó, nước Chiêm Thành (占城) gửi văn thư cho Lễ bộ (禮部), nói rằng: 'Năm kia nước tôi sai sứ đi Tu Văn Đát Na (須文達那), cũng bị người tặc nước Xiêm La (暹羅) cướp đi, tất nhiên Xiêm La (暹羅) phải trả lại những gì đã cướp trước, thì nước tôi tự nhiên không dám không trả'."
Theo Minh hội điển (明會典): "Xiêm La (暹羅) vào cống. Khoảng năm Tuyên Đức (宣德), ban thưởng đều giảm một nửa. Sau năm Chính Thống (正統), đều chiếu theo lệ năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], sứ thần chính và phó khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là dệt kim, 1 đôi giày và tất. Những người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai vàng trơn. Những người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai vàng chạm hoa. Phần thưởng chính là 4 xấp lụa trừu và 4 xấp là, đổi sang 2 xấp sa quyến, 1 xấp vải bông, 1 bộ áo trừu dệt kim. Đám người thông sự khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là trơn, 1 đôi giày và tất; người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai bạc trơn. Người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai bạc chạm hoa. Phần thưởng chính là 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là, đổi sang 1 xấp quyến bằng tiền giấy (钞绢), 1 bộ áo trừu trơn. Bạn phiên (người đi theo) khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo quyến, 1 đôi giày và tất; phần thưởng chính đổi sang 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Những người lưu lại Quảng Đông (廣東) mà có tiến cống thì hạng đầu mục mỗi người thưởng 1 bộ áo trừu trơn, 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là; người theo hầu mỗi người 1 bộ áo quyến trừu, 1 xấp lụa trừu; hạng bạn phiên mỗi người 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Hàng hóa của đám sứ thần mang tới theo lệ không thu thuế, mà trả bằng tiền giấy theo giá trị."
'''Năm Chính Thống thứ 3 [năm 1438], Xiêm La vào cống, vẫn lệnh phải trả lại người và vật của Chiêm Thành đã cướp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 3 [năm 1438], sứ cống Xiêm La (暹羅) lại đến, nhân đó ban sắc thư, lệnh phải gấp rút hoàn trả người và vật cho Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Chính Thống thứ 11 [năm 1446], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 11 [năm 1446], vua nước ấy là Tư Lợi Ba La Ma Na Nhược Trí Lạt (思利波羅麻那若智剌) lại sai sứ vào cống."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 4, PHONG TỰ TỬ CỦA XIÊM LA LÀ BẢ LA LAN MỄ TUÂN LẠT LÀM XIÊM LA QUỐC VƯƠNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 [năm 1453], mệnh Cấp sự trung Lưu Chu (劉洙), Hành nhân Lưu Thái (劉泰) sang tế cố vương Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (波羅摩剌劄的賴), nhân đó phong cho con nối ngôi (tự tử) là Bả La Lan Mễ Tuân Lạt (把羅蘭米孫剌) làm vua."
'''MINH ANH TÔNG NĂM THIÊN THUẬN THỨ 1, BAN CHO SỨ CỐNG XIÊM LA ĐAI VÀNG CHẠM HOA'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳) đã nêu.
'''Năm Thiên Thuận thứ 6 [năm 1462], Xiêm La sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 [năm 1462], vua nước ấy là Bột Lạt Lam La Giả Trực Ba Trí (孛剌藍羅者直波智) sai sứ triều cống."
'''MINH HIẾN TÔNG NĂM THÀNH HÓA THỨ 9, NƯỚC XIÊM LA XIN CẤP ĐỔI KHÁM HỢP, CHẤP THUẬN'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 9 [năm 1473], sứ cống nói rằng văn bản Khám hợp (勘合) ban năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 [năm 1457] bị mọt ăn, xin cấp đổi cái mới, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], sứ cống Xiêm La về đến giữa đường, lén mua con cái nhà lành, chở muối lậu, mệnh sai quan răn đe.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 [năm 1481], sứ cống về nước, đến giữa đường lén mua trẻ con làm nô tỳ, lại chở nhiều muối lậu, Hoàng đế mệnh sai quan đi răn đe các nước phiên. Trước đó có người vùng Đinh Châu (汀州) là Tạ Văn Bân (謝文彬), vì buôn muối ra biển, trôi dạt vào nước đó, làm quan đến chức Khôn Nhạc (坤岳), tương đương với Học sĩ (學士) của Thiên triều. Sau đó sung làm sứ giả đến triều kiến, vì buôn bán đồ cấm, việc bị lộ, bị hạ ngục."
'''Năm Thành Hóa thứ 18 [năm 1482], Thế tử Xiêm La sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh phong làm Xiêm La quốc vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 18 [năm 1482], sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh Cấp sự trung Lâm Tiêu (林霄), Hành nhân Diêu Long (姚隆) sang phong cho con trai là Quốc Long Bột Lạt Lược Khôn Tức Lạt Ưu Địa (國隆勃剌略坤息剌尤地) làm vua."
'''MINH HIẾU TÔNG NĂM HỒNG TRỊ THỨ 10, XIÊM LA VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khi vào cống năm Hồng Trị (弘治) thứ 10 [năm 1497], Tứ Di Quán (四夷館) không có quan dịch thuật tiếng Xiêm La (暹羅), các đại thần nội các là Từ Phổ (徐溥) và những người khác xin gửi văn thư đến Quảng Đông (廣東), tìm chọn những người thông thạo ngôn ngữ và văn tự nước ấy đưa về kinh đô để dự bị sử dụng, Hoàng đế chấp thuận."
'''MINH VŨ TÔNG NĂM CHÍNH ĐỨC THỨ 10, XIÊM LA TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Đức (正德) thứ 4 [năm 1509], có thuyền Xiêm La (暹羅) trôi dạt đến Quảng Đông (廣東), Trung quan Thị bạc là Hùng Tuyên (熊宣) bàn với các quan thủ thành, đánh thuế hàng hóa đó để cung ứng quân nhu. Việc đến tai triều đình, chiếu chỉ khiển trách Tuyên (宣) lạm quyền, điều về Nam Kinh (南京). Năm thứ 10 [năm 1515], dâng biểu lá vàng sang triều cống, trong quán không ai nhận mặt được mặt chữ ấy. Các đại thần nội các là Lương Trữ (梁儲) và những người khác xin chọn lưu lại 1 đến 2 người trong đoàn sứ giả vào quán để rèn luyện học tập, Hoàng đế phê chuẩn."
'''MINH THẾ TÔNG NĂM GIA TĨNH THỨ 32, XIÊM LA CỐNG PHƯƠNG VẬT'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 [năm 1522], thuyền hàng Xiêm La (暹羅), Chiêm Thành (占城) đến Quảng Đông (廣東) buôn bán, Trung quan Ngưu Vinh (牛榮) thả cho người nhà riêng tự buôn bán, bị luận tội chết theo luật. Năm thứ 32 [năm 1553], sai sứ cống voi trắng và phương vật. Voi chết trên đường đi, sứ giả lấy châu báu trang điểm trên ngà, đựng vào mâm vàng cùng với đuôi voi đem đến dâng hiến. Đế khen ngợi ý đó, ban thưởng hậu hĩnh cho về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹羅), từ sau các năm Hồng Hy (洪熙) [1425], Tuyên Đức (宣德) [1426-1435], việc nhập cống vẫn như kỳ hạn thường lệ. Khoảng năm Chính Thống (正統) [1436-1449], Cảnh Thái (景泰) [1450-1456], việc cống nạp đôi khi không thường xuyên. Từ năm Thành Hóa (成化) [1465-1487] đến nay, đại để 6 năm một lần cống. Gần đây vào năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 32 [năm 1553], sai sứ là Khôn Tùy Ly (坤隋離) và những người khác cống voi trắng và phương vật. Voi trắng đã chết, để lại 1 chiếc ngà voi dài 6 thước, đầu và gốc khảm vàng chạm hoa; đầu ngà lớn 5 tấc 7 phân, khảm 10 hạt lựu, ở giữa khảm 10 viên trân châu, 4 viên bảo thạch; phần đuôi lớn 1 tấc, khảm 1 viên kim cương. Trong hộp vàng đựng lông đuôi voi trắng để làm bằng chứng." Lại có 19 chiếc ngà voi, tổng cộng 350 cân; 37 cây gỗ mun (ô mộc), tổng cộng 3.600 cân; 600 cân thụ hương; 480 cân đằng hoàng; 580 cân đại phong tử; 300 cân tử cánh; 21 cây tốc hương, tổng cộng 650 cân; 20 cân mộc hương; 60 cân bạch đậu khấu; 810 cân hồ tiêu; 14.200 cân tô mộc.
'''Năm Gia Tĩnh thứ 37 [năm 1558], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 8 âm lịch năm thứ 37 [năm 1558], Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Ứng Mệnh (坤應命) và những người khác cống phương vật: 300 cân ngà voi, 650 cân thụ hương, 150 cân đằng hoàng, 310 cân tốc hương, 30 cân bạch đậu khấu, 13.200 cân tô mộc, 450 cân hồ tiêu, 3.800 cân ô mộc, 5.000 cân đại phong tử." Số lượng so với trước kia khá khác biệt.
'''MINH MỤC TÔNG NĂM LONG KHÁNH, NƯỚC XIÊM LA BỊ ĐÔNG MAN NGƯU PHÁ, BẮT THẾ TỬ VÀ ẤN MANG VỀ, CON THỨ NỐI NGÔI DÂNG BIỂU XIN ẤN, TRIỀU ĐÌNH BAN CHO'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Trong năm Long Khánh (隆慶) [1567-1572], nước láng giềng là Đông Man Ngưu (東蠻牛) cầu hôn không được, hổ thẹn tức giận, huy động đại binh công phá nước ấy. Vua nước ấy tự thắt cổ, Thế tử cùng ấn tín do Thiên triều ban cho bị bắt mang đi. Con thứ lên nối ngôi, dâng biểu xin ấn, triều đình ban cho. Từ đó bị nước Đông Man Ngưu (東蠻牛) chế ngự, vua nối ngôi lập chí phục thù."
'''MINH THẦN TÔNG NĂM VẠN LỊCH THỨ 6, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khoảng năm Vạn Lịch (萬曆), quân Đông Man Ngưu (東蠻牛) lại đến, Vua chỉnh đốn binh mã phấn đấu đánh trả, đại phá chúng, giết chết con trai vua ấy. Số quân còn lại chạy trốn trong đêm, Xiêm La (暹羅) từ đó hùng bá trên biển, dời binh công phá Chân Lạp (真臘), bắt vua nước ấy đầu hàng. Từ đó hằng năm dùng binh, bèn xưng bá các nước. Năm thứ 6 [năm 1578], sai sứ vào cống."
'''Năm Vạn Lịch thứ 20 [năm 1592], Xiêm La xin ngầm dùng quân giúp đánh Nhật Bản.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 [năm 1592], Nhật Bản (日本) đánh phá Triều Tiên (朝鮮), Xiêm La (暹羅) xin ngầm dùng quân đánh thẳng vào Nhật Bản (日本) để kiềm chế phía sau. Trung khu Thạch Tinh (石星) bàn định đồng ý, nhưng Đốc thần Lưỡng Quảng là Tiêu Ngạn (蕭彥) kiên trì phản đối, nên thôi. Sau đó việc phụng cống không thay đổi. Đến tháng 3 âm lịch năm Sùng Trinh (崇禎) thứ 16 [năm 1643], vẫn còn vào cống. Nước ấy chu vi 1.000 dặm, phong tục cứng cỏi hung hãn, thạo thủy chiến. Đại tướng dùng 'thánh thiết' bọc thân, đao tên không đâm thủng được. Thánh thiết ấy là xương sọ người vậy. Vua là người Tỏa Lý (鎖里), quan lại chia làm 10 cấp, từ vua đến dân thường, mọi việc đều do vợ quyết định. Ý chí và năng lực của phụ nữ thực sự vượt trên nam giới. Vợ tư thông với người Hoa thì chồng bày rượu cùng uống, điềm nhiên không lấy làm lạ, nói rằng: 'Vợ ta đẹp nên mới được người Hoa yêu mến'. Sùng tín đạo Phật, nam nữ đa số làm tăng ni, cũng ở am chùa, ăn chay thụ giới, trang phục khá giống Trung Quốc. Kẻ phú quý càng kính Phật, có tài sản 100 lạng vàng thì đem một nửa bố thí. Khí hậu không điều hòa, lúc lạnh lúc nóng, đất thấp ẩm ướt, người dân đều ở nhà sàn. Nam nữ búi tóc hình dùi, lấy vải trắng quấn đầu. Kẻ phú quý chết thì dùng thủy ngân đổ vào miệng mà chôn. Kẻ nghèo thì dời xác ra ven biển, tức thì có đàn chim bay đến mổ, chốc lát là hết sạch. Người nhà nhặt xương, khóc lóc rồi vứt xuống biển, gọi là 'điểu táng'. Cũng mời tăng lập đàn chay lễ Phật. Giao dịch dùng vỏ ốc biển (hải nghệ), năm nào không dùng vỏ ốc thì trong nước tất có dịch bệnh lớn. Đồ cống có: voi, ngà voi, sừng tê, lông công, lông thúy, mai rùa, rùa 6 chân, bảo thạch, san hô, phiến não, mễ não, khang não, não du, não sài, tường vi thủy, uyển thạch, đinh bì, a ngụy, tử cánh đằng, kiệt đằng hoàng, lưu hoàng, một dược, ô điêu nê, an tức hương, la hộc hương, tốc hương, đàn hương, hoàng thục hương, giáng chân hương, nhũ hương, thụ hương, mộc hương, đinh hương, ô hương, hồ tiêu, tô mộc, nhục đậu khấu, bạch đậu khấu, tất bát, ô mộc, đại phong tử cùng các loại vải tát cá lạt (sa-ha-la), Tây Dương. Nước ấy có 'miếu Tam Bảo', thờ Trung quan Trịnh Hòa (鄭和)."
===Thanh===
'''THẾ TỔ CHƯƠNG HOÀNG ĐẾ (世祖章皇帝)'''
'''Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653]'''
Theo Đại Thanh Hội điển (大清會典): "Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653], Tuần phủ Quảng Đông (廣東巡撫) tâu rằng, nước Xiêm La (暹羅) xin vào cống."
Xét thấy Xiêm La (暹羅), vốn là 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛) ở Hải Nam (海南), sau hợp thành một. Năm thứ 10 [năm 1653] xin vào cống.
'''Năm Thuận Trị thứ 16 [năm 1659]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Thuận Trị (順治) thứ 16 [năm 1659], Tổng đốc Lưỡng Quảng (兩廣總督) đề chuẩn cho nước Xiêm La (暹羅) lại đến thăm dò việc nộp cống. Các hàng hóa mang theo để đè thuyền (áp thuyền hóa vật) được cho phép giao dịch tại địa phương. Các sổ sách thanh tra thuế bạc hàng hóa trên thuyền đều được chuyển đến Hộ bộ (戶部) để kiểm tra."
'''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], nước Xiêm La (暹羅) có 2 chiếc thuyền chính cống, đi đến vùng biển Thất Châu (七洲海), gặp gió dạt mất, chỉ có 1 chiếc thuyền 'Hộ cống' đến được Hổ Môn (虎門), vẫn lệnh cho quay về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 12 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], sai sứ triều cống, dâng 1 đạo biểu văn bằng lá vàng, cống hiến phương vật gồm: 1 cân long diên hương, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương."
Phương vật dâng Hoàng hậu: 8 lạng long diên hương, 4 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 150 cân ngà voi, 150 cân hồ tiêu, 150 cân đằng hoàng, 150 cân đậu khấu, 150 cân tô mộc, 150 cân tốc hương, 150 cân đại phong tử, 150 cân kim ngân hương.
'''Năm Khang Hy thứ 3 [năm 1664]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 [năm 1664], nước Xiêm La (暹羅) dâng biểu tiến cống. Mệnh cho 2 thuyền chính cống cử 20 viên chức đến kinh đô để nộp bổ cống. 1 thuyền khác lệnh cho 6 người đến kinh đô."
'''Năm Khang Hy thứ 4 [năm 1665]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 [năm 1665], Xiêm La (暹羅) tiến cống đến kinh đô, Lễ bộ (禮部) đề định kỳ hạn cống là 3 năm 1 lần cống. Đường đi qua Quảng Đông (廣東)."
'''Năm Khang Hy thứ 6 [năm 1667]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 6 [năm 1667], Xiêm La (暹羅) tiến cống gồm 1 chiếc thuyền chính cống, 1 chiếc thuyền hộ cống, 1 chiếc thuyền chở voi, và 1 chiếc thuyền thăm dò phát sau. Lễ bộ (禮部) duyệt chuẩn, thuyền tiến cống không được quá 3 chiếc, mỗi thuyền không được quá 100 người, viên chức đến kinh đô là 22 người; các thuyền tiếp cống và thuyền thăm dò đều không được thả người lên bờ."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 6 âm lịch năm thứ 6 [năm 1667], sai sứ triều hạ. Dâng 1 bản biểu văn lá vàng nhân lễ Vạn thọ, 1 bản biểu văn dịch chữ. Cống hiến phương vật gồm: 1 tòa Long đình, 1 cân long diên hương, 300 cân tốc hương, 3.000 cân tô mộc, 300 cân ngà voi, 300 cân an tức hương, 300 cân bạch đậu khấu, 300 cân đại phong tử, 300 cân đằng hoàng, 4 con chim công, 300 cân ô mộc, 300 cân hồ tiêu, 300 cân giáng hương, 1 con voi thuần, 6 chiếc sừng tê, 4 con rùa 6 chân, 10 bức bình phong đuôi công, 600 tấm lông chim trả (thúy điểu), 100 cân hương nhựa cây (thụ giao hương), 2 cân hương trầm thủy, 100 cân hương vỏ cây (thụ bì hương), 100 cân nhi trà, 100 cân hoa hồ tiêu, 1 cân uyển thạch, 100 cân tử cánh, 6 xấp vải giao kiêu, 6 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 4 dải thiên thanh, 1 xấp vải đỏ, 6 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 10 xấp vải hoa chữ 'nhân' (人), 4 dải hoa văn hình người và voi, 10 xấp vải Tây Dương, 1 cân băng phiến loại lớn, 2 cân băng phiến loại vừa, 20 gáo dầu phiến, 100 cân long não, 100 cân hoàng đàn hương, 60 hũ nước hoa hồng (tường vi lộ), 100 cân lưu huỳnh."
Phương vật dâng Hoàng hậu tề niên (齊年): 8 lạng long diên hương, 150 cân tốc hương, 1.500 cân tô mộc, 150 cân ngà voi, 150 cân an tức hương, 150 cân bạch đậu khấu, 150 cân đại phong tử, 150 cân đằng hoàng, 2 con chim công, 150 cân ô mộc, 150 cân hồ tiêu, 150 cân giáng hương, 3 chiếc sừng tê, 2 con rùa 6 chân, 5 bức bình phong đuôi công, 300 tấm lông chim trả, 50 cân hương nhựa cây, 50 cân nhi trà, 50 cân hoa hồ tiêu, 1 cân hương trầm thủy, 50 cân hương vỏ cây, 8 lạng uyển thạch, 50 cân tử cánh, 3 xấp vải giao kiêu, 3 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 2 dải thiên thanh, 5 xấp vải đỏ, 3 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 5 xấp vải hoa chữ 'nhân', 5 xấp vải Tây Dương, 2 dải hoa tạp sắc hình người và voi, 8 lạng băng phiến loại lớn, 1 cân băng phiến loại vừa, 10 gáo dầu phiến, 50 cân long não, 50 cân hoàng đàn hương, 30 hũ nước hoa hồng, 50 cân lưu huỳnh.
'''Năm Khang Hy thứ 7 [năm 1668]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 [năm 1668], chính sứ Xiêm La (暹羅) vào cống đến kinh đô, các đầu mục lưu lại ở biên giới được cấp khẩu phần ăn."
'''Năm Khang Hy thứ 10 [năm 1671]'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 11 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 10 [năm 1671], cống hiến phương vật. Phụng chiếu ban tặng vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 6 xấp đoạn, 4 xấp đoạn dệt kim, 6 xấp sa, 4 xấp sa dệt kim, 6 xấp la, 4 xấp la dệt kim."
Chiếu ban cho Vương phi 4 xấp đoạn, 2 xấp đoạn dệt kim, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 4 xấp sa, 2 xấp sa dệt kim. Chính sứ, Phó sứ (nhị cống sứ), Tam sứ, mỗi người 7 xấp đoạn, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 2 xấp quyến, 1 xấp vải lót, 1 xấp vải thường, cùng 1 đôi tất nỉ gắn liền, 1 đôi ủng hạng nhất da xanh khâu kẽ; Thông sự thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành (Bành đoạn); Biện sự thưởng 4 xấp đoạn, 2 xấp la, 1 xấp quyến, 1 đôi ủng da ngựa lau mặt có tất nỉ; 22 người theo hầu, mỗi người 2 xấp quyến, 5 xấp vải, 1 đôi ủng da bò có tất nỉ; Quan hộ tống (bạn cống quan) thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành. Các vật phẩm ban thưởng này do hai bộ Hộ và Công chuyển tới trước Ngọ Môn (午門), ban cấp trong 2 lần yến tiệc tại bộ. Đợi đến ngày sứ cống Xiêm La (暹羅) về đến tỉnh, theo lệ thiết tiệc rượu 1 lần rồi tiễn về. Các lần tiến cống trên đều theo lệ ban thưởng như vậy. Khi sứ giả về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi.
'''Năm Khang Hy thứ 12 [năm 1673]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 12 [năm 1673], vua nước Xiêm La (暹羅) là Sâm Liệt Phách Lạt Chiếu Cổ Long Phách Lạt Mã Hô Lục Khôn Tư Do Đề Nha Bồ Ai (森列拍臘照古龍拍臘馬呼陸坤司由提呀菩埃) tiến cống và xin phong điển, Lễ bộ (禮部) đề chuẩn cấp cho Cáo mệnh cùng ấn bạc mạ vàng núm lạc đà. Sau khi sứ cống xong việc, các quan viên của Lễ bộ mặc triều phục trước Ngọ Môn (午門) cung kính đặt án kỷ. Quan Hồng lô tự (鴻蒚寺) dẫn các sứ cống hành lễ 3 quỳ 9 khấu đầu, quỳ nhận Cáo mệnh và Ấn tín, gửi văn thư cho quốc vương nước ấy, lệnh cho vua ra ngoài thành cung kính đón nhận Cáo ấn."
Lại có dụ rằng: "Nước ấy đi biển từ xa đến, bày tỏ lòng thành tiến cống. Những vật bị mọt ăn hoặc thiếu hụt đều miễn cho việc nộp bổ."
'''Năm Khang Hy thứ 23 [năm 1684]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 23 [năm 1684]. Dụ rằng: Viên chức tiến cống nước Xiêm La (暹羅) khi về nước, ai không cưỡi được ngựa thì quan phủ cấp cho kiệu khiêng, người theo hầu cấp cho phu gánh. Ngoài quan hộ tống, đặc phái thêm 1 Ty quan và 1 Bút thiếp thức của Lễ bộ (禮部) để bảo vệ cống vật. Ngoài lệ cống thường, lệ có thêm vật cống tăng thêm. Trước đây có chim công và rùa, sau lệnh miễn tiến dâng."
Cung tiến trước ngự tiền: 1 cân long diên hương đựng trong hộp bạc, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương.
Cống vật cho Hoàng hậu cũng giống như vậy, số lượng giảm đi một nửa.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic110 - 暹羅國.svg|center]]
Theo sách Tam tài đồ hội (三才圖會): "Phong tục vùng ven biển nước Xiêm La (暹羅), nam giới từ nhỏ đã cắt bộ phận sinh dục để khảm tám loại bảo vật (bát bảo) nhằm khoe khoang sự phú quý, nếu không làm vậy thì nhà gái sẽ không gả con gái cho."
Gần đây có người khách buôn đi biển tới Xiêm La (暹羅), dừng chân tại một hòn đảo nọ, khắp núi thảy đều là những chiếc thìa và đũa (thì trứ) màu đen tuyền, nơi ấy có rất nhiều cây lớn. Người khách ngẩng lên nhìn kỹ những chiếc thìa đũa ấy, hóa ra chúng chính là hoa và râu của loài cây đó. Bèn nhặt hơn 100 đôi mang về sử dụng, dù dính mỡ cũng không bị bẩn (nhiễm), sau tình cờ lấy ra khuấy trà, chúng liền theo đó mà tan biến mất.
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 1 (真臘部彙考一)==
'''[Cát Miệt (吉蔑), Cam Bột Trí (甘孛智), Gạm Phổ Chỉ (澉浦只)]'''
===THỜI TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 12, tháng 2 [năm 616], nước Chân Lạp (真臘) bắt đầu sai sứ dâng phương vật.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ: (Nội dung như trên).
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp (林邑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南). Cách quận Nhật Nam (日南郡) 60 ngày đi thuyền, phía Nam giáp nước Xa Cừ (車渠), phía Tây có nước Chu Giang (朱江). Vua họ Sát Lợi (剎利氏), tên là Chất Đa Tư Na (質多斯那). Từ thời tổ tiên đã dần cường thịnh, đến đời Chất Đa Tư Na (質多斯那) bèn kiêm tính và chiếm hữu đất Phù Nam (扶南). Khi vua chết, con là Y Xa Na (伊奢那) lên ngôi thay thế. Vua cư ngụ tại thành Y Xa Na (伊奢那城), dưới thành có 20.000 hộ. Trong thành có một tòa đại đường là nơi vua nghe chính sự. Tổng cộng có 30 tòa thành lớn, mỗi thành có vài ngàn hộ, đều có bộ soái riêng, tên quan chức giống với Lâm Ấp (林邑).
Vua cứ 3 ngày nghe triều một lần, ngồi trên giường ngũ hương thất bảo, phía trên căng màn báu. Màn dùng gỗ có vân làm cột, dùng ngà voi và hoa vàng (kim điền) làm vách, hình dáng như ngôi nhà nhỏ, treo ánh vàng rực rỡ, giống như nước Xích Thổ (赤土). Phía trước có lư hương vàng, có 2 người hầu hai bên. Vua mặc vải cổ bối triều hà, quấn quanh thắt lưng và bụng, rủ xuống đến tận ống chân. Đầu đội mũ hoa bằng vàng báu, đeo anh lạc trân châu, chân đi giày da, tai đeo khuyên vàng. Thường mặc áo vải bạch điệp, lấy ngà voi làm guốc (kiêu), nếu để tóc trần thì không đeo anh lạc. Trang phục của thần dân đại để cũng tương tự.
Có 5 đại thần: một là Cô Lạc Chi (孤落支), hai là Cao Tương Bằng (高相憑), ba là Bà Hà Đa Lăng (婆何多陵), bốn là Xá Ma Lăng (舍摩陵), năm là Nhiêm Đa Lâu (髯多婁). Các tiểu thần khi vào chầu vua thảy đều dập đầu 3 lần ở dưới bậc thềm. Vua gọi lên thềm thì quỳ, dùng hai tay ôm vai, ngồi vòng quanh vua. Bàn bạc chính sự xong thì quỳ lạy mà lui ra. Thị vệ ở thềm đình, cửa các có hơn 1.000 người, mặc giáp cầm binh khí. Nước này hòa hiếu với hai nước Tham Bán (參半) và Chu Giang (朱江), nhưng thường xuyên chiến tranh với hai nước Lâm Ấp (林邑) và Đà Hoàn (陀洹). Người dân khi đi đứng đều mang theo binh khí, nếu có chinh phạt thì dùng luôn.
Theo tục lệ, nếu không phải con của chính thê thì không được làm người kế vị. Ngày vua mới lên ngôi, tất cả anh em đều bị hình phạt tàn tật, hoặc chặt 1 ngón tay, hoặc xẻo mũi, rồi đưa đi cung phụng ở nơi khác, không được ra làm quan. Người dân vóc dáng nhỏ và sắc da đen, phụ nữ cũng có người trắng, thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài, tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi. Nhà cửa khí dụng khá giống nước Xích Thổ (赤土). Coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn. Mỗi sáng sớm đều tắm rửa, dùng cành dương làm sạch răng, tụng đọc kinh chú, lại tắm rửa rồi mới ăn, ăn xong lại dùng cành dương sạch răng và đọc kinh chú. Ăn uống nhiều tô lạc (váng sữa), đường cát, gạo tẻ, bánh mì. Khi muốn ăn, trước tiên lấy canh thịt tạp hòa với bánh, dùng tay nắm mà ăn.
Cưới vợ chỉ tặng 1 bộ quần áo, chọn ngày sai bà mối đón dâu. Hai nhà trai gái mỗi bên đều 8 ngày không ra ngoài, đêm ngày đốt đèn không tắt. Nam giới làm lễ cưới xong là chia tài sản với cha mẹ, ra ở riêng. Khi cha mẹ chết, nếu còn ai chưa cưới thì chia tài sản còn lại cho người đó. Nếu đã cưới hết thì tài sản nộp vào quan phủ. Tang lễ thì con cái đều 7 ngày không ăn, cắt tóc mà khóc. Tăng ni, đạo sĩ và thân hữu đều tụ tập, dùng âm nhạc đưa tiễn. Dùng gỗ ngũ hương thiêu xác rồi thu tro, đựng bằng bình vàng bạc, tiễn đưa vào trong vùng nước lớn. Người nghèo có khi dùng bình gốm rồi vẽ màu lên. Cũng có người không thiêu, đưa xác vào trong núi để mặc thú dữ ăn.
Phía Bắc nước này nhiều đồi núi, phía Nam có đầm lầy, khí đất rất nóng, không có sương tuyết, nhiều chướng khí và độc trùng. Đất hợp trồng lúa gạo, ít kê sáp, hoa quả và rau cỏ tương tự Nhật Nam (日南) và Cửu Chân (九真). Điểm khác biệt là có cây Bà Na Sa (婆那娑), không hoa, lá như hồng, quả như đông qua; cây Am La (菴羅), hoa lá như táo, quả như mận; cây Tì Dã (毗野), hoa như mộc qua, lá như hạnh, quả như giấy; cây Bà Điền La (婆田羅), hoa lá quả đều giống táo nhưng hơi khác. Cây Ca Tất Đà (歌畢佗), hoa như lâm cầm, lá như du nhưng dày lớn, quả như mận, to như cái thăng (1 lít), còn lại phần lớn đều giống nhau.
Trong biển Cửu Chân (九真) có loài cá tên là Kiến Đồng (建同), có 4 chân, không vảy, mũi như voi, hút nước phun lên cao 50 đến 60 thước. Có cá Phù Hồ (浮胡), hình như cá lươn, mỏ như vẹt, có 8 chân. Nhiều loài cá lớn, nửa thân nhô lên mặt nước trông như núi. Cứ mỗi tháng 5 tháng 6 âm lịch, khí độc lưu hành, dân lại dùng lợn trắng, bò trắng, dê trắng để tế lễ ngoài cửa Tây thành, nếu không làm vậy thì ngũ cốc không chín, sáu loại gia súc chết nhiều, dân chúng bệnh dịch. Gần kinh đô có núi Lăng Già Bát Bà (陵伽缽婆山), trên có thần từ, thường dùng 5.000 binh sĩ canh giữ. Phía Đông thành có vị thần tên Bà Đa Lợi (婆多利), tế lễ dùng thịt người. Vua nước này hằng năm đều giết người để tế lễ cầu khẩn vào ban đêm. Cũng có 1.000 người canh giữ, việc kính quỷ thần là như vậy. Phần lớn phụng thờ Phật pháp, đặc biệt tin theo đạo sĩ, Phật và đạo sĩ thảy đều lập tượng trong quán. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], sai sứ vào cống hiến, Hoàng đế tiếp đãi rất hậu, sau đó thì đứt đoạn."
===THỜI ĐƯỜNG===
'''CAO TỔ (唐高祖)'''
'''Năm Vũ Đức (武德) [618–626], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Chân Lạp (真臘) còn gọi là Cát Miệt (吉蔑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cách kinh sư 20.700 dặm. Phía Đông giáp Xa Cừ (車渠), phía Tây thuộc Phiêu (驃), phía Nam sát biển, phía Bắc tiếp giáp Đạo Minh (道明), phía Đông Bắc giáp Hoan Châu (驩州). Vua là Sát Lợi Y Kim Na (剎利伊金那), đầu năm Trinh Quán (貞觀) [năm 627] thôn tính Phù Nam (扶南), chiếm đất ấy. Nhà cửa đều quay hướng Đông, khi ngồi thì ngồi phía trên. Khi khách phương Đông tới, họ nghiền trầu cau, long não, hương cáp để mời. Không uống rượu, coi rượu như dâm uế, chỉ cùng vợ uống trong phòng riêng, tránh mặt tôn trưởng. Có 5.000 chiến tượng, những con tốt được cho ăn thịt. Đời đời giao hảo với Tham Bán (參半) và Phiêu (驃). Thường đánh nhau với Hoàn Vương (環王) và Càn Đà Hoàn (乾陀洹). Từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) [618–700], phàm 4 lần vào triều."
Theo Triều dã thiêm tái (朝野僉載): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Hoan Châu (驩州) 500 dặm. Tục lệ khi có khách thì bày trầu cau, long não, hộp hương nghiền... để thết đãi, coi rượu như thứ dâm uế. Trong phòng riêng thì cùng vợ uống, nhưng đối với bậc bề trên thì lánh đi. Lại nữa, vợ chồng ngủ không cho người khác thấy. Tục này giống với Trung Quốc. Người trong nước không mặc quần áo, thấy ai mặc quần áo thì cùng cười nhạo. Tục không có muối sắt, dùng nỏ tre bắn sâu bọ chim chóc."
'''ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG (元宗/玄宗)'''
'''Năm Khai Nguyên (開元) [713–741], Chân Lạp (真臘) chia làm hai nước Nam Bắc là Thủy và Lục. Vương tử Lục Chân Lạp (陸真臘) dẫn thuộc hạ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Huyền Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Sau năm Thần Long (神龍) [năm 707], chia làm hai nửa: Phía Bắc nhiều đồi núi, gọi là nửa Lục Chân Lạp (陸真臘); phía Nam sát biển, nhiều đầm hồ, gọi là nửa Thủy Chân Lạp (水真臘). Thủy Chân Lạp (水真臘) đất rộng 800 dặm, vua cư ngụ tại thành Bà La Đề Bạt (婆羅提拔城). Lục Chân Lạp (陸真臘) còn gọi là Văn Đan (文單), gọi là Bà Lậu (婆鏤), đất rộng 700 dặm, tước hiệu vua là Khuất (屈). Thời Khai Nguyên (開元) và Thiên Bảo (天寶) [713–756], vương tử dẫn 26 người thuộc hạ vào triều, được bái làm Quả nghị đô úy."
'''ĐƯỜNG ĐẠI TÔNG (代宗)'''
'''Năm Đại Lịch (大曆) thứ 14 [năm 779], Phó vương Lục Chân Lạp (陸真臘) là Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Đại Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Khoảng năm Đại Lịch (大曆), Phó vương Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều, dâng 11 con voi thuần. Thăng chức Bà Di (婆彌) làm Thử Điện trung giám, ban tên là Tân Hán (賓漢). Lúc ấy Đức Tông (德宗) mới lên ngôi, tất cả chim quý thú lạ thảy đều thả đi. Những con voi thuần do quân Man Di hiến tặng nuôi trong ngự uyển, phàm có 32 con thường sung vào sân chầu ngày Nguyên hội, thảy đều thả về phía Nam núi Kinh Sơn (荊山)."
'''ĐƯỜNG HIẾN TÔNG (憲宗)'''
'''Năm Nguyên Hòa (元和) [806–820], Thủy Chân Lạp (水真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Đường thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Khoảng năm Nguyên Hòa (元和), Thủy Chân Lạp (水真臘) cũng sai sứ vào cống."
===Tống===
'''TỐNG HUY TÔNG NĂM CHÍNH HÒA THỨ 6, MÙA ĐÔNG THÁNG 12, NƯỚC CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ: (Nội dung như trên). Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Nước này ở phía Nam Chiêm Thành (占城), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam đến Gia La Hy (加羅希). Phong tục các huyện trấn giống với Chiêm Thành (占城). Đất đai rộng hơn 7.000 dặm, có đài đồng, liệt kê 24 tháp đồng, 8 voi đồng để trấn giữ phía trên, mỗi con voi nặng 4.000 cân. Nước này có gần 200.000 chiến tượng, ngựa nhiều nhưng nhỏ. Tháng 12 âm lịch năm Chính Hòa (政和) thứ 6 [năm 1116], sai Tiến tấu sứ Phụng hóa lang tướng Khâu Ma Tăng Ca (鳩摩僧哥), Phó sứ An hóa lang tướng Ma Quân Minh Khê (摩君明稽) cùng 14 người đến cống, được ban cho triều phục. Tăng Ca (僧哥) nói: 'Nước xa vạn dặm, ngưỡng trông thánh hóa, mà vẫn còn mặc y phục cỏ cây (hủy phục), chưa xứng với lòng thành hướng mộ thiết tha, nguyện xin được phép mặc đồ đã ban'. Chiếu chỉ chấp thuận, đồng thời đem việc đó giao cho Sử quán, ghi vào sách lược. Tháng 3 âm lịch năm sau [năm 1117], đoàn sứ giả từ biệt ra về."
'''Năm Tuyên Hòa thứ 2, tháng 12 [năm 1120], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ và Chân Lạp bản truyện: "Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 2 [năm 1120], lại sai Lang tướng Ma Lạp (摩臘), Ma Đột Phòng (摩禿防) đến triều kiến, phong cho vua nước ấy ngang hàng với Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Kiến Viêm thứ 2 [năm 1128], thời Cao Tông, gia phong tước hiệu và thực ấp cho vua Chân Lạp, định làm thường chế.'''
Theo Tống sử (宋史) - Cao Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyện: "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 2 [năm 1128], nhân ơn tế Giao, trao cho vua nước ấy là Kim Bâu Tân Thâm (金裒賓深) chức Kiểm hiệu Tư đồ, thêm thực ấp, từ đó định làm thường chế."
'''Năm Khánh Nguyên thứ 6 [năm 1200], thời Ninh Tông, ấp thuộc của Chân Lạp là Chân Lý Phú dâng biểu cống phương vật.'''
Theo Tống sử (宋史) - Ninh Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyện: "Ấp thuộc của Chân Lạp (真臘) có Chân Lý Phú (真里富), ở góc Tây Nam, phía Đông Nam giáp Ba Tư Lan (波斯蘭), phía Tây Nam làm láng giềng với Đăng Lưu Mi (登流眉), bộ tộc quản lý hơn 60 tụ lạc." Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 [năm 1200], chúa nước ấy đã lập được 20 năm, sai sứ dâng biểu cống phương vật và 2 con voi thuần. Chiếu chỉ ưu ái ban thưởng đáp lễ, nhưng vì đường biển xa xôi, nên từ sau không cần vào cống nữa.
===Minh===
'''MINH THÁI TỔ NĂM HỒNG VŨ THỨ 4, CHÂN LẠP SAI SỨ TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyện: "Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 3 ngày đêm có thể đến. Các triều Tùy, Đường và Tống đều triều cống. Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元) nhà Tống, Chân Lạp diệt Chiêm Thành (占城) mà gộp đất ấy lại, vì vậy đổi quốc hiệu thành Chiêm Lạp (占臘). Thời Nguyên (元), vẫn gọi là Chân Lạp (真臘). Tháng 8 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], sai sứ thần Quách Trưng (郭徵) mang chiếu thư đi vỗ về nước đó. Tháng 11 âm lịch năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Ba Sơn Vương Hốt Nhi Na (巴山王忽兒那) sai sứ dâng biểu cống phương vật, chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372]. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu, sứ giả cũng được ban thưởng có sai biệt."
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Chân Lạp (真臘), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam liền Gia La Hy (加囉希), phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城). Nước này vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Vua họ Sát Lợi (剎利), người tên Chất Đa Tư Na (質多斯那) bắt đầu thôn tính Phù Nam (扶南) mà chiếm đất. Năm Đại Nghiệp (大業) nhà Tùy bắt đầu thông sứ Trung Quốc. Nhà Đường từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) phàm 4 lần vào triều. Sau năm Thần Long (神龍), nước chia làm hai. Phía Nam gần biển, nhiều đầm lầy, là Thủy Chân Lạp (水真臘); phía Bắc nhiều đồi núi, là Lục Chân Lạp (陸真臘). Sau lại hợp lại làm một. Thời Chính Hòa (政和) nhà Tống, sai sứ đến cống. Đầu năm Tuyên Hòa (宣和), phong làm Chân Lạp quốc vương (真臘國王), ngang với Chiêm Thành (占城). Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元), người trong nước dấy binh lớn đánh Chiêm Thành (占城), phá được, lập người Chân Lạp (真臘) làm vua Chiêm Thành (占城). Vì vậy lúc bấy giờ Chiêm Thành (占城) cũng là thuộc quốc. Các thuộc quốc còn có Tham Bán (參半), Chân Lý (真里), Đăng Lưu Mi (登流眉), Bồ Cam (蒲甘)... thống lĩnh hơn 60 tụ lạc, đất đai hơn 7.000 dặm. Đầu triều ta năm Hồng Vũ (洪武), quốc vương Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử là Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật, từ đó triều cống không dứt."
Theo Hoàn vũ ký (寰宇記): "Tục nước Chân Lạp (真臘) mở cửa hướng về phía Đông, lấy hướng Đông làm trọng, nam nữ thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài. Tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi, coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn."
Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Đất Chân Lạp (真臘) màu mỡ, ruộng không có bờ giới, tầm mắt nhìn đến đâu thì cày cấy đến đó."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Nước Chân Lạp (真臘) có thành chu vi hơn 70 dặm, điện đài hơn 30 tòa, khá là tráng lệ. Đồ dùng của vua và quý tộc đa số trang trí bằng vàng ngọc. Tục chuộng hoa lệ xa xỉ, điền sản phong phú, nam nữ búi tóc hình dùi. Con gái đủ 10 tuổi thì gả chồng. Lấy gấm quấn thân, mày và trán bôi đỏ. Tục ngữ nói 'Phú quý Chân Lạp', chính là thế này vậy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Đầu năm Hồng Vũ (洪武), vua Chân Lạp (真臘) là Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật: voi, ngà voi, tô mộc, hồ tiêu, sáp vàng, sừng tê, ô mộc, hoàng hoa mộc thổ, giáng hương, bảo thạch, lông công. Sứ giả khi về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp (真臘) vào cống."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], ban cho quốc vương lịch Đại Thống (大統曆) và gấm vóc màu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Vua nước ấy là Tham Đáp Cam Vũ Giả Đặc Đạt Chí (參荅甘武者特達志) sai sứ đến cống, yến tiệc ban thưởng như trước."
'''Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện (Nội dung như trên).
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua Chân Lạp, đồng thời ban cho gấm vàng và đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua nước ấy. Phàm sứ Trung Quốc đến mà Khám hợp không khớp thì đều là giả mạo, cho phép bắt trói báo cáo. Lại sai sứ ban cho 32 xấp gấm dệt kim, 19.000 món đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ đến cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn sang ban đồ sứ cho nước Chân Lạp.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn (劉敏), Đường Kính (唐敬) cùng Trung quan mang đồ sứ sang ban tặng."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], bọn Đường Kính (唐敬) về nước, vua nước ấy sai sứ cống 59 con voi, 60.000 cân hương. Chẳng bao lâu sai sứ ban cho vua ấn bạc mạ vàng, vua và phi đều được ban thưởng. Vua là Tham Liệt Bảo Tì Da Cam Bồ Giả (參烈寶毗邪甘菩者) sai sứ cống voi và phương vật."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 7 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], Hành nhân Đường Kính (唐敬) từ Chân Lạp (真臘) về, vua nước ấy sai sứ cống 50 con voi, 60.000 cân hương, từ đó triều cống không dứt."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 [năm 1388], lại cống 28 con voi, 34 quản tượng, 45 nô tỳ phiên, để tạ ơn ban ấn."
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Chân Lạp 3 lần vào cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Chân Lạp lại vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu ở trên).
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, SAI SỨ TUYÊN DỤ NƯỚC ẤY'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai Hành nhân Tưởng Tân Hưng (蔣賓興), Vương Khuê (王樞) mang chiếu thư lên ngôi đến tuyên dụ nước ấy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai sứ đến Chân Lạp (真臘), ban chiếu dụ việc lên ngôi. Đến nước ấy thấy khí hậu thường nóng, lúa ruộng chín quanh năm, nấu nước biển làm muối. Phong tục giàu có, nam nữ búi tóc hình dùi (chuỳ kế), mặc áo ngắn, quấn vải sao (tiêu bố), không còn ở trần nữa. Các nước thuộc quốc của họ vẫn có người ở trần, thấy ai mặc quần áo thì người ta lại cười nhạo. Pháp luật có các hình phạt xẻo mũi (tị), chặt chân (nguyệt), xăm chữ vào mặt (thứ), đày đi xa (phối). Phạm tội trộm cắp thì chặt tay chân. Dân nước ấy giết người Trung Quốc thì phải đền mạng. Người Trung Quốc giết dân nước ấy thì phạt tiền vàng. Không có tiền thì bán thân chuộc tội."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 2 [năm 1404], Chân Lạp sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước ấy là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), có 3 người lính bộ tốt trốn đi, tìm không được, nhà vua lấy 3 người nước mình để thay thế. Đến nay đưa vào yết kiến, Hoàng đế phán: 'Người Hoa tự bỏ trốn sang đó, can dự gì đến họ mà trách phạt đòi bồi thường? Vả lại ngôn ngữ không thông, phong thổ không quen, ta dùng họ làm gì?'. Mệnh ban cho quần áo và chi phí đi đường, rồi cho về."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua Chân Lạp (真臘) là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai bồi thần là Nại Chức (奈職) cùng 9 người triều cống phương vật, ban thưởng tiền giấy và vải vóc. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), lúc sắp về có 3 người lính đi theo bỏ trốn, tìm không được, quốc vương lấy 3 người trong nước theo Trung quan về để bổ sung vào hàng ngũ. Đến nay, Lễ bộ (禮部) đưa vào yết kiến, Thượng (Hoàng đế) phán: 'Người Trung Quốc tự bỏ trốn, can hệ gì đến việc của họ mà bắt đền? Vả lại có được 3 người này thì ngôn ngữ không thông, phong tục chẳng hiểu, ta dùng làm gì? Huống hồ họ đều có gia đình, lẽ nào vui vẻ ở lại đây? Ngươi hãy bảo Lễ bộ (禮部) cấp cho cơm áo, chi phí đi đường, cho họ về Chân Lạp (真臘)'. Thượng thư Lý Chí Cương (李至剛) cùng những người khác thưa: 'Thần trộm nghĩ người Trung Quốc tất không phải tự trốn ở đó, hoặc giả là bị họ giấu đi, thì 3 người này cũng không nên cho về'. Thượng phán: 'Làm vua không nên dùng lòng nghi kỵ để đối đãi người, chỉ cần suy rộng lòng của trời đất để đối đãi với người là được'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến phúng viếng tang lễ quốc vương Chân Lạp. Lại ban chiếu phong Thế tử lên làm vương. Liền đó sai sứ đến tạ ơn.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến cống, báo tang cố vương, mệnh cho Hồng lô tự Tự ban Vương Tư (王孜) đến tế lễ, Cấp sự trung Tất Tiến (畢進), Trung quan Vương Tông (王琮) mang chiếu thư phong Thế tử là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương. Khi bọn Tất Tiến (進) trở về, tân vương sai sứ cùng đi theo đến tạ ơn."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) mất, mệnh Tự ban Vương Tư (王孜) sang tế, phong con trưởng là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương, ban cho gấm lụa màu và các vật phẩm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 12 [năm 1414], Chân Lạp lại vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 [năm 1414] lại vào cống, sứ giả lấy cớ nước mình nhiều lần bị Chiêm Thành (占城) xâm nhiễu nên ở lại lâu không đi. Hoàng đế sai Trung quan tiễn về, đồng thời hạ sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城) bãi binh tu hảo."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) sai sứ dâng biểu văn khắc trên vàng (kim lũ biểu văn), cống voi thuần và phương vật."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 3, CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
'''[Năm 1452]'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Trong những năm Tuyên Đức (宣德) [1426–1435] và Cảnh Thái (景泰) [1450–1456] cũng sai sứ vào cống, về sau không đến thường xuyên. Kinh thành nước ấy chu vi hơn 70 dặm, bờ cõi rộng mấy ngàn dặm. Trong nước có tháp vàng cầu vàng, điện đài hơn 30 tòa. Vua mỗi năm hội họp một lần, la liệt khỉ ngọc, công, voi trắng, tê ngưu ở phía trước, gọi là Bách Tháp Châu (百塔洲). Dùng mâm vàng bát vàng để đựng đồ ăn, nên có câu tục ngữ 'Phú quý Chân Lạp'. Dân tục giàu có, tiết trời thường nóng, không biết sương tuyết. Lúa một năm chín mấy vụ, nam nữ búi tóc hình dùi, mặc áo ngắn, quấn vải tiêu. Hình pháp có xẻo mũi, chặt chân, xăm chữ, đày đi; trộm cắp thì bỏ tay chân. Người phiên giết người Đường (Đường nhân) thì tội chết. Người Đường giết người phiên thì phạt tiền vàng, không tiền thì bán thân chuộc tội. 'Đường nhân' (唐人) là cách các nước phiên gọi người Hoa vậy, các nước hải ngoại thảy đều như thế. Việc cưới xin, hai nhà thảy đều 8 ngày không ra khỏi cửa, đốt đèn đêm ngày. Người chết thì bỏ ra đồng, mặc cho diều quạ ăn, trong chốc lát mà ăn hết sạch thì gọi là được phúc báo. Có tang thì chỉ cạo trọc đầu. Con gái thì cắt tóc trên trán to bằng đồng tiền, nói rằng 'dùng việc này để báo đáp cha mẹ'. Chữ viết dùng các loại da hoẵng da hươu nhuộm đen, dùng bột làm thỏi nhỏ để vẽ lên trên, vĩnh viễn không phai. Lấy tháng 10 âm lịch làm đầu năm, tháng nhuận thảy đều dùng tháng 9 âm lịch, đêm chia làm 4 canh. Cũng có người am hiểu thiên văn, có thể tính toán nhật thực nguyệt thực tại địa phương đó. Gọi nhà Nho là 'Ban cật' (班詰), tăng là 'Trữ cô' (苧姑), đạo là 'Bát tư' (八思). Ban cật không biết đọc sách gì, ai do đường này vào làm quan thì được coi là hiển đạt (hoa quán). Trước khi sang trọng thì đeo một sợi chỉ trắng ở cổ để tự phân biệt, khi đã quý hiển rồi vẫn kéo sợi chỉ trắng như cũ. Tục chuộng đạo Phật, sư đều ăn cá thịt, hoặc dùng để cúng Phật, duy chỉ không uống rượu. Nước ấy tự xưng là 'Cam Bột Trí' (甘孛智), sau gọi chệch thành 'Cam Phá Giá' (甘破蔗). Sau đời Vạn Lịch (萬曆) lại đổi thành 'Đông Phố Trại' (東埔寨 - Campuchia)."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 [năm 1452], ban cho vua Chân Lạp (真臘) 2 đoạn gấm, 6 xấp lụa trừu (trữ ti), 4 xấp sa, 4 xấp la; ban cho Vương phi 4 xấp lụa trừu, 3 xấp sa, 3 xấp la. Các đầu mục cùng Tổng quản thông sự, Hỏa trưởng đi theo được ban quần áo, lụa trừu, quyến, vải có sai biệt, ban yến tiệc 1 lần. Sứ thần khi về đến Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) được quản đãi 1 lần, cấp lộ phí (hạ trình) 1 lần cho 10 ngày. Cứ mỗi 10 người thì cấp 2 con dê, ngỗng, gà; 20 bình rượu, 1 đấu gạo, 5 đấu mì, rau xanh và gia vị..."
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 2 (真臘部彙考二)==
=== 《Chân Lạp phong thổ ký》 (真臘風土記) ===
'''Tổng tự (總敘)'''
Nước Chân Lạp (真臘), hoặc gọi là Chiêm Lạp (占臘), nước ấy tự xưng là "Cam Bột Trí" (甘孛智). Nay Thánh triều dựa theo Tây Phiên kinh (西蕃經), đặt tên nước ấy là "Gạm Phổ Chỉ" (澉浦只), đó cũng là âm cận với Cam Bột Trí (甘孛智) vậy. Từ Ôn Châu (溫州) ra khơi, theo kim chỉ hướng Đinh Mùi, đi qua các cảng khẩu thuộc các châu ngoài khơi của Mân (閩 - Phúc Kiến), Quảng (廣 - Quảng Đông), vượt biển Thất Châu (七洲洋), qua biển Giao Chỉ (交趾洋) đến Chiêm Thành (占城). Lại từ Chiêm Thành (占城) thuận gió mất khoảng nửa tháng thì đến Chân Bồ (真蒲), ấy là biên cảnh của nước này. Lại từ Chân Bồ (真蒲) hành trình theo kim chỉ hướng Khôn Thân, qua biển Côn Lôn (崑崙洋) vào cửa sông. Cửa sông có đến mấy chục, chỉ có cửa sông thứ 4 là có thể vào được, còn lại thảy đều cát nông, nên thuyền lớn không thông. Tuy nhiên nhìn khắp nơi chỉ thấy mây ngàn cây cổ, cát vàng lau trắng, lúc vội vã không dễ nhận ra, vì thế người đi thuyền coi việc tìm cửa sông là việc khó. Từ cửa sông đi về hướng Bắc, thuận dòng mất khoảng nửa tháng thì tới địa danh là Tra Nam (查南), ấy là một quận thuộc nước này. Lại từ Tra Nam (查南) đổi sang thuyền nhỏ, thuận dòng hơn 10 ngày, đi qua làng Bán Lộ (半路村), làng Phật (佛村), vượt hồ Đạm Dương (淡洋), có thể đến nơi gọi là Can Báng (干傍), cách thành 50 dặm.
Theo Chư phiên chí (諸蕃志) chép rằng: "Đất ấy rộng 7.000 dặm, phía Bắc nước này đến Chiêm Thành (占城) mất nửa tháng đường, phía Tây Nam cách Xiêm La (暹羅) nửa tháng hành trình, phía Nam cách Phiên Ngung (番禺) 10 ngày hành trình, phía Đông là biển lớn vậy". Xưa kia đây là nước thông thương qua lại, Thánh triều nay nhận mệnh trời, thống lĩnh bốn biển. Khi Toa Đô (唆都) Nguyên soái đặt hành tỉnh ở Chiêm Thành (占城), từng sai một Hổ phù Bách hộ, một Kim bài Thiên hộ cùng đến nước này, rốt cuộc bị bắt giữ không cho về. Tháng 6 âm lịch năm Ất Vị thời Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], Thiên tử sai sứ chiêu dụ, ta đi theo đoàn. Tháng 2 âm lịch năm sau [năm 1296] rời Minh Châu (明州), ngày 20 ra khơi từ cửa biển Ôn Châu (溫州), ngày 15 tháng 3 âm lịch đến Chiêm Thành (占城), giữa đường gió ngược không thuận, tháng 7 âm lịch mới tới nơi. Tháng 6 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức (大德) [năm 1297] quay thuyền về, ngày 12 tháng 8 âm lịch đến bến thuyền Tứ Minh (四明). Những chi tiết về phong thổ, quốc sự nước ấy, tuy không thể biết hết, nhưng đại lược cũng có thể thấy được vậy.
'''Thành quách (城郭)'''
Thành của châu vi chu vi khoảng 20 dặm, có 5 cửa, cửa đều có hai tầng, duy chỉ hướng Đông mở 2 cửa, các hướng còn lại đều 1 cửa. Bên ngoài thành có hào lớn, ngoài hào đều là đường cái và cầu lớn, hai bên cầu mỗi bên có 54 pho tượng thần bằng đá, hình dáng như Thạch tướng quân, rất lớn và dữ tợn, 5 cửa đều tương tự như nhau. Lan can cầu đều làm bằng đá, đục theo hình rắn, rắn đều có 9 đầu, 54 vị thần đều dùng tay kéo rắn, có thế như không cho rắn chạy thoát. Phía trên cửa thành có 5 đầu Phật bằng đá lớn, mặt hướng về phía Tây, chính giữa đặt một đầu trang trí bằng vàng. Hai bên cửa thành đục đá thành hình voi. Thành đều xếp đá mà thành, cao khoảng 2 trượng (khoảng 6.6 mét), đá rất khít và kiên cố, lại không mọc cỏ dại, nhưng không có nữ tường (tường thấp trên mặt thành). Trên thành đôi khi trồng cây quặng lang (cây thốt nốt), rải rác là các dãy nhà trống, phía trong thành như một cái dốc, dày khoảng hơn 10 trượng. Trên dốc đều có cửa lớn, đêm đóng sáng mở. Cũng có người canh cửa, riêng chó không được vào cửa. Thành ấy rất vuông vức, bốn góc mỗi góc có một tháp đá, người từng chịu hình phạt chặt ngón chân cũng không được vào cửa.
Ngay giữa nước có một tháp vàng, bên cạnh có hơn 20 tháp đá, hơn 100 gian nhà đá, hướng về phía Đông có một cây cầu vàng, 2 con sư tử vàng đặt ở tả hữu cầu, 8 pho tượng Phật vàng đặt dưới nhà đá. Phía Bắc tháp vàng khoảng hơn 1 dặm có một tháp đồng, cao hơn tháp vàng, nhìn xa thấy sừng sững. Dưới tháp cũng có mười mấy gian nhà đá. Lại phía Bắc tháp ấy 1 dặm là cung thất của quốc chủ, trong phòng ngủ lại có một tháp vàng nữa. Vì thế khách buôn trên thuyền từ xưa đã có lời khen "Phú quý Chân Lạp", tưởng là vì lẽ này. Tháp đá ở ngoài cửa Nam hơn nửa dặm, tục truyền do Lỗ Ban (魯般) xây xong trong một đêm. Mộ Lỗ Ban (魯般) ở ngoài cửa Nam khoảng hơn 1 dặm, chu vi khoảng 10 dặm, có hàng trăm gian nhà đá. Hồ Đông (Đông Trì) cách thành 10 dặm về phía Đông, chu vi khoảng 100 dặm, trong hồ có tháp đá nhà đá, trong tháp có một pho tượng Phật đồng nằm, từ rốn thường có nước chảy ra. Hồ Bắc (Bắc Trì) cách thành 5 dặm về phía Bắc, trong hồ có một tháp vàng vuông, mấy chục gian nhà đá, sư tử vàng, Phật vàng, voi đồng, bò đồng, ngựa đồng đều có đủ.
'''Cung thất (宮室)'''
Cung điện và dinh thự quan lại đều hướng về phía Đông. Quốc cung ở phía Bắc tháp vàng cầu vàng, gần cửa chu vi khoảng 5 đến 6 dặm. Ngói của chính thất làm bằng chì, còn lại đều là ngói đất màu vàng. Cột cầu rất lớn, đều chạm vẽ hình Phật. Mái nhà tráng lệ, hành lang dài bao quanh, cao thấp so le, khá có quy mô. Nơi làm việc có cửa sổ vàng, cột vuông hai bên, trên có gương, ước chừng 40 đến 50 chiếc đặt bên cạnh cửa sổ. Phía dưới làm hình voi, nghe nói bên trong có nhiều nơi kỳ lạ, canh phòng rất nghiêm, không thể nhìn thấy được. Trong tháp vàng bên nội cung, quốc chủ đêm nằm trên đó, người bản địa đều nói trong tháp có tinh rắn 9 đầu, là chủ đất của một nước, thân là nữ, mỗi đêm đều hiện ra gặp quốc chủ, vua phải cùng ngủ giao cấu trước, dù là vợ vua cũng không dám vào. Đến canh hai vua mới ra, bấy giờ mới có thể ngủ cùng vợ thiếp. Nếu tinh này một đêm không hiện ra thì ngày chết của vương phiên đã đến. Nếu vương phiên một đêm không tới thì tất sẽ gặp tai họa. Kế đến như dinh thự của quốc thích, đại thần, chế độ rộng lớn, khác hẳn nhà thường dân. Xung quanh đều lợp bằng cỏ, duy chỉ có gia miếu và chính tẩm (phòng ngủ chính) là 2 nơi được dùng ngói, cũng tùy theo đẳng cấp chức quan mà định chế độ nhà rộng hẹp khác nhau. Phía dưới như nhà của bách tính, chỉ lợp cỏ, không dám dùng dù chỉ một mảnh ngói trên mái, rộng hẹp tuy tùy vào sự nghèo giàu của gia đình, nhưng tuyệt nhiên không dám bắt chước chế độ của phủ đệ.
'''Phục sức (服飾)'''
Từ quốc chủ trở xuống nam nữ đều búi tóc hình dùi, để trần thân trên, chỉ lấy vải quấn ngang hông, khi ra ngoài thì thêm một dải vải lớn quấn lên trên lớp vải nhỏ. Vải có phân đẳng cấp rõ rệt, vải của quốc chủ quấn có giá trị 3 đến 4 lạng vàng, cực kỳ hoa lệ tinh mỹ. Trong nước tuy tự dệt vải, nhưng người Xiêm La (暹羅) và Chiêm Thành (占城) đều mang vải đến bán, thường lấy vải từ Tây Dương (西洋) làm hạng thượng đẳng vì tinh xảo và hoa văn nhỏ, vì thế chỉ riêng quốc chủ mới được quấn vải hoa thuần chất. Trên đầu đội mũ vương miện vàng, như loại mũ trên đầu các vị Kim Cang vậy. Hoặc có lúc không đội mũ, chỉ lấy dây xâu hoa thơm như hoa nhài quấn quanh búi tóc. Trên đỉnh đầu đội khối trân châu lớn nặng khoảng 3 cân, tay chân và các ngón tay đều đeo vòng vàng, nhẫn đều khảm đá mắt mèo. Phía dưới đi chân đất, lòng bàn chân và lòng bàn tay đều dùng thuốc hồng nhuộm đỏ, khi ra ngoài tay cầm gươm vàng. Trong dân gian chỉ phụ nữ mới được nhuộm lòng bàn tay chân, đàn ông không dám vậy. Đại thần quốc thích có thể quấn vải hoa thưa, chỉ người trong cung mới được quấn vải hoa hai đầu, phụ nữ trong dân gian cũng có thể quấn loại này. Nếu là người Đường mới đến (tân Đường nhân) dù có quấn vải hoa hai đầu, người ta cũng không dám trách tội, vì họ "ám đinh bát sát" vậy. "Ám đinh bát sát" nghĩa là không biết thể lệ, quy tắc vậy. (Ghi chú: Trên đỉnh đầu đội trân châu nặng khoảng 3 cân, chữ "cân" này có vẻ nhầm lẫn nhưng chuyện ngoại quốc cũng không thể dùng lý thường mà đoán định, tạm theo nguyên bản).
'''QUAN THUỘC (官屬)'''
Trong nước cũng có các quan Thừa tướng, Tướng soái, Tư thiên, bên dưới mỗi quan lại đặt các thuộc viên Tư lại, chỉ là danh xưng khác biệt mà thôi. Đại để các chức ấy đều do quốc thích nắm giữ, nếu không thì cũng là người có con gái nạp làm phi tần. Nghi thức và đoàn tùy tùng khi ra ngoài cũng có đẳng cấp. Dùng kiệu vàng có 4 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhất; kiệu vàng 2 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhì; kiệu vàng 1 người khiêng và lọng cán vàng là hạng kế tiếp; chỉ dùng 1 lọng cán vàng lại là hạng sau đó nữa. Kẻ cấp thấp hơn nữa thì chỉ dùng 1 lọng cán bạc mà thôi, cũng có người dùng kiệu có đòn khiêng bằng bạc. Các quan từ cấp lọng cán vàng trở lên đều gọi là "Bả đinh" (把丁), hoặc gọi là "Ám đinh" (暗丁). Người dùng lọng cán bạc thì gọi là "Sư lạt đích tản" (廝辣的傘). Lọng đều dùng lụa đỏ của Trung Quốc mà làm, dải rủ xuống kéo dài chạm đất. Ô che dầu thì đều dùng lụa xanh, dải rủ lại ngắn.
''' TAM GIÁO (三教)'''
Bậc học giả (Nho) gọi là Ban cật (班詰), bậc đi tu (Sư) gọi là Trữ cô (苧姑), bậc theo đạo (Đạo sĩ) gọi là Bát tư duy (八思惟). Ban cật không biết tổ sư là ai, cũng không có nơi gọi là học xá để giảng tập, cũng khó lòng tìm hiểu họ đọc sách gì, chỉ thấy ngoài việc quấn vải như người thường, họ còn treo một sợi chỉ trắng trên đỉnh đầu, lấy đó làm dấu hiệu phân biệt là Nho. Những người từ hàng Ban cật mà ra làm quan thì được coi là bậc cao sang. Sợi chỉ trên cổ ấy suốt đời không bỏ.
Trữ cô thì cạo tóc mặc áo vàng, để hở vai phải, phía dưới thắt váy vải vàng. Đi chân đất. Chùa cũng được phép dùng ngói lợp. Chính giữa chỉ thờ một pho tượng, hình dáng giống hệt Thích Ca Phật, gọi là Bột lại (孛賴), mặc áo đỏ nặn bằng bùn, trang trí màu sắc, ngoài ra không có tượng nào khác. Phật trong tháp thì tướng mạo lại khác, đều đúc bằng đồng, không có chuông trống, não bạt hay tràng phan bảo cái. Tăng sĩ đều ăn cá thịt, chỉ là không uống rượu, cúng Phật cũng dùng cá thịt. Mỗi ngày dùng một bữa chay, đều lấy từ nhà thí chủ. Trong chùa không đặt bếp núc. Kinh văn tụng đọc rất nhiều, đều chép trên lá bối (bối diệp) xếp lại cực kỳ chỉnh tề, trên đó viết chữ đen, đã không dùng bút mực thì chẳng rõ họ dùng vật gì để viết. Tăng sĩ cũng dùng kiệu và lọng có cán vàng, bạc. Khi quốc vương có đại chính sự cũng thường tìm đến hỏi ý kiến, nhưng ở đây không có ni cô.
Bát tư duy cũng như người thường, ngoài việc quấn vải thì trên đầu đội một miếng vải đỏ hoặc trắng, giống như mũ Cố cô (罟姑) của người đàn bà Đạt Đát (韃靼) nhưng hơi thấp hơn. Cũng có cung quán (nơi tu hành), nhưng so với chùa chiền thì hẹp hơn, mà Đạo giáo cũng không hưng thịnh bằng Phật giáo. Nơi thờ phụng không có tượng gì khác, chỉ có một khối đá, như đá trong đàn xã tắc của Trung Quốc, cũng không rõ tổ sư là ai. Lại có cả cung quán cho nữ đạo sĩ. Bát tư duy cũng được dùng ngói lợp. Họ không ăn đồ của người khác nấu, cũng không cho người khác thấy mình ăn, không uống rượu, cũng chưa từng thấy họ tụng kinh hay làm các việc công quả cho người. Theo tục lệ, trẻ con đi học đều trước hết đến nhà chùa để học tập với tăng sĩ, khi lớn lên mới hoàn tục, chi tiết cụ thể không thể khảo chứng rõ được.
'''NHÂN VẬT (人物)'''
Người ta chỉ biết nhân vật vùng Man tục thô xấu và rất đen, nhưng không biết rằng những người ở hải đảo u tịch hay ngõ phố tầm thường mới đúng là như vậy. Còn như cung nhân và phụ nữ ở Nam Bằng (南棚), nhiều người trắng trẻo như ngọc, ấy là vì không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vậy. Đại để ngoài một mảnh vải quấn ngang hông, bất luận nam nữ đều để lộ ngực, búi tóc hình dùi, đi chân đất, ngay cả vợ quốc vương cũng chỉ như thế. Quốc vương có tất cả 5 người vợ, 1 người ở chính thất, 4 người ở bốn phương. Phía dưới là phi tần và tỳ thiếp, nghe đâu có từ 3.000 đến 5.000 người, cũng phân chia đẳng cấp, không mấy khi ra khỏi cửa.
Mỗi khi ta vào nội cung, thấy phiên chủ tất cùng ra với chính thê, ngồi trong cửa sổ vàng nơi chính thất, các cung nhân đều thứ tự đứng liệt dưới cửa sổ hai bên hành lang, đứng tựa mà nhìn trộm, ta có dịp được thấy hết một lượt. Hễ nhà dân có con gái đẹp đều bị triệu vào cung. Những người phục dịch việc đi lại bên dưới gọi là "Trần gia lan" (陳家蘭), cũng không dưới 1.000 đến 2.000 người. Họ đều có chồng, sống lẫn lộn trong dân gian, chỉ ở trước thóp đầu thì cạo tóc, bôi phấn hồng (ngân chu) và bôi ở hai bên thái dương để làm dấu hiệu phân biệt là Trần gia lan. Chỉ hạng phụ nữ này mới được vào nội cung, hạng người khác bên dưới không được vào. Trước sau nội cung, hạng người này đi lại nườm nượp trên đường. Phụ nữ tầm thường ngoài việc búi tóc hình dùi ra không có đồ trang sức trâm lược nào khác, nhưng trên cánh tay đeo vòng vàng, ngón tay đeo nhẫn vàng; các Trần gia lan và cung nhân trong nội đình đều dùng như vậy. Nam nữ trên mình thường xức thuốc thơm, hợp thành từ hương đàn, xạ; nhà nhà đều tu sửa Phật sự. Trong nước có nhiều người lưỡng tính (nhị hình nhân), mỗi ngày từng đoàn mười mấy người đi lại giữa chợ búa, thường có ý lôi kéo người Đường (người Trung Quốc), ngược lại còn tặng quà hậu hĩnh, thật là xấu xa đáng ghét.
'''SẢN PHỤ (產婦)'''
Phụ nữ phiên sau khi sinh, liền lấy cơm nóng trộn muối xoa vào và nạp vào âm hộ, sau 1 ngày đêm thì lấy ra, nhờ đó mà trong lúc sinh không mắc bệnh, lại thu hẹp lại như người con gái còn trinh. Ta mới nghe qua thì lấy làm lạ, rất nghi ngờ không phải vậy. Sau đó nhà nơi ta tạm trú có người sinh con, mới biết rõ sự việc đó, và ngày hôm sau người ấy đã ôm đứa bé cùng ra sông tắm rửa, thật là chuyện quái lạ thấy được. Lại thường thấy người ta nói phụ nữ phiên rất dâm đãng, nếu chồng không đáp ứng được dục vọng thì liền có việc bị vợ ruồng bỏ. Nếu chồng có việc đi xa, chỉ có thể đi vài đêm. Quá 10 đêm, người vợ tất nói: "Ta không phải là ma quỷ, sao có thể ngủ cô độc?", lòng dâm đãng càng khẩn thiết. Tuy nhiên cũng nghe có người giữ tiết chí. Phụ nữ ở đây rất nhanh già. Có lẽ vì việc cưới xin sinh nở quá sớm, người 20 đến 30 tuổi đã như người 40 đến 50 tuổi ở Trung Quốc rồi.
'''THIẾU NỮ (室女)'''
Nhà dân nuôi con gái, cha mẹ tất cầu nguyện rằng: "Nguyện cho con có người muốn, sau này lấy được hàng ngàn hàng trăm người chồng". Con gái nhà giàu từ 7 tuổi đến 9 tuổi, nhà cực nghèo thì đến 11 tuổi, tất phải mời tăng sĩ hoặc đạo sĩ làm lễ phá trinh, gọi là "Trận thảm" (陣毯). Đại để quan phủ mỗi năm vào 1 ngày trong tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] sẽ ban hành lệnh, nhà dân có con gái đến tuổi Trận thảm phải báo cáo quan phủ trước. Quan phủ trước hết cấp cho 1 cây nến lớn, trên nến có khắc một vạch, ước chừng đêm đó khi trời tối thì đốt nến, khi cháy đến vạch khắc thì là lúc làm lễ Trận thảm.
Trước kỳ hạn 1 tháng, hoặc nửa tháng, hoặc 10 ngày, cha mẹ tất chọn lấy 1 tăng sĩ hoặc đạo sĩ tùy theo chùa quán nào, thường cũng có nơi quen thuộc. Các tăng sĩ tốt, bậc cao đều được các nhà quan lại giàu có chọn trước, nhà nghèo thì không kịp chọn lựa. Nhà giàu sang thì biếu tặng rượu, gạo, vải vóc, trầu cau, đồ bạc các loại, có khi đến 100 gánh, giá trị bằng 200 đến 300 lạng bạc trắng của Trung Quốc; nhà ít hơn thì 30 đến 40 gánh, hoặc 10 đến 20 gánh, tùy nhà giàu nghèo, cho nên nhà nghèo đến 11 tuổi mới làm lễ là vì khó biện được các vật phẩm này. Cũng có người bố thí tiền cho con gái nhà nghèo làm lễ Trận thảm, gọi là "làm việc thiện" (tố hảo sự).
Đại để trong 1 năm, một tăng sĩ chỉ được nhận 1 cô gái, tăng sĩ đã nhận lời rồi thì không được nhận nơi khác. Đêm đó, bày tiệc ăn uống lớn, khua trống nhạc hội họp người thân hàng xóm. Ngoài cửa dựng một cái lán cao, trang trí hình nặn người bùn, thú bùn các loại trên đó, hoặc hơn 10 cái, hoặc chỉ 3 đến 4 cái, nhà nghèo thì không có. Mỗi nhà theo tích cũ, phàm 7 ngày mới dỡ bỏ. Khi trời tối, dùng kiệu lọng trống nhạc đón tăng sĩ này về. Dùng vải màu kết thành 2 cái đình nhỏ, một cái để cô gái ngồi trong đó, một cái tăng sĩ ngồi trong đó, không rõ miệng họ nói lời gì, tiếng trống nhạc ồn ã vang trời. Đêm đó không cấm việc đi đêm.
Nghe nói đến giờ, tăng cùng con gái vào phòng, tự tay làm lễ phá trinh, rồi bỏ vào trong rượu; có người nói cha mẹ và hàng xóm đều chấm lên trán, có người nói thảy đều nếm bằng miệng, có người nói tăng cùng con gái giao cấu, có người lại nói không có việc này, nhưng họ không cho người Đường thấy nên không biết chắc được. Đến khi trời sắp sáng, lại dùng kiệu lọng trống nhạc tiễn tăng đi, sau đó phải dùng vải vóc các loại đưa cho tăng để "chuộc thân", nếu không cô gái này sẽ mãi thuộc về vị tăng đó, không thể gả cho người khác được.
Việc ta thấy tận mắt là vào đêm mùng 6 tháng 4 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức [năm 1297]. Trước đó cha mẹ tất ngủ cùng con gái, sau lễ này thì đuổi ra ngoài phòng, mặc cho đi đâu thì đi, không còn gò bó hay đề phòng gì nữa. Đến như việc cưới xin, tuy có lễ nạp tệ nhưng cũng chỉ làm sơ sài cho xong chuyện, nhiều người tư thông trước rồi mới cưới sau, phong tục ấy họ chẳng cho là nhục, cũng chẳng cho là lạ. Đêm Trận thảm, trong một ngõ có khi đến hơn 10 nhà làm lễ, trong thành người đón tăng sĩ đạo sĩ đi lại đan xen trên đường, tiếng trống nhạc không nơi nào không có.
'''NÔ TỲ (奴婢)'''
Nô tỳ trong các gia đình đều mua người dã man (dã nhân) để sung vào việc phục dịch, nhà nhiều có hơn 100 người, nhà ít cũng có 10 đến 20 người, trừ những nhà cực nghèo thì mới không có. Những người dã man này là người ở vùng núi rừng, tự có chủng loại riêng, tục gọi là "Trông" (獞). Khi bọn giặc này đến trong thành, cũng không dám ra vào nhà người khác. Người trong thành khi mắng chửi nhau, hễ gọi đối phương là "Trông" (獞) thì kẻ đó hận thấu xương tủy, sự khinh rẻ của mọi người đối với họ là như thế. Người trẻ khỏe giá 100 tấm vải, người già yếu chỉ giá 30 đến 40 tấm vải. Họ chỉ được phép ngồi nằm dưới sàn lầu. Nếu có việc sai bảo mới được lên lầu, nhưng phải quỳ gối, chắp tay, đảnh lễ rồi mới dám tiến tới. Họ gọi chủ nam là "Ba đà" (巴駝), chủ mẫu là "Mễ" (米). Đà (駝) nghĩa là cha, Mễ (米) nghĩa là mẹ. Nếu có lỗi mà bị đánh, họ cúi đầu chịu gậy, chẳng dám cử động. Nam nữ nô tỳ tự phối đôi với nhau, chủ nhân tuyệt không có lễ giao tiếp (cưới hỏi) với họ. Có người Đường (唐人) đến đó, vì xa nhà lâu ngày nên không chọn lựa mà giao cấu với họ, chủ nhân nghe thấy thì ngày hôm sau không thèm ngồi cùng chỗ, vì người đó đã từng tiếp xúc với dã nhân vậy. Nếu nô tỳ giao cấu với người ngoài đến mức có thai, sinh con, chủ nhân cũng không gặng hỏi lai lịch, vì coi họ là hạng không đáng kể (bất xỉ), lại có lợi là thêm được đứa trẻ, sau này vẫn làm nô tỳ được. Nếu có kẻ bỏ trốn mà bị bắt lại, tất sẽ bị xăm màu xanh vào mặt, hoặc đeo vòng sắt quanh cổ để khóa lại, cũng có người bị đeo vòng sắt ở cánh tay hoặc bắp chân.
'''NGÔN NGỮ (語言)'''
Ngôn ngữ trong nước tự thành hệ thống riêng, âm thanh tuy gần giống nhưng người Chiêm Thành (占城) và người Xiêm (暹人) đều không thông hiểu lời nói. Ví như 1 là "Mai", 2 là "Biệt", 3 là "Ti", 4 là "Ban", 5 là "Bột giam", 6 là "Bột giam mai", 7 là "Bột giam biệt", 8 là "Bột giam ti", 9 là "Bột giam ban", 10 là "Đáp hô". Cha gọi là "Ba đà", chú bác cũng gọi là "Ba đà". Mẹ gọi là "Mễ", cô, dì, thím, mợ cho đến bậc cao tuổi hàng xóm cũng gọi là "Mễ". Anh gọi là "Bang", chị cũng gọi là "Bang". Em gọi là "Bổ ôn". Cậu gọi là "Khiết lại", dượng (chồng của cô) cũng gọi là "Bột lại". Đại để họ đặt chữ "Dưới" lên trên (ngữ pháp ngược), như trong đảng phái thường tự sát hại lẫn nhau. Vùng đất gần đó cũng có người trồng đậu khấu, bông vải dệt vải để làm nghề nghiệp, vải rất thô dày, hoa văn rất khác biệt.
'''CHỮ VIẾT (文字)'''
Chữ viết thông thường và văn thư quan phủ đều dùng các vật như da hoẵng, da hươu nhuộm đen, tùy theo kích thước rộng hẹp mà cắt theo ý muốn. Dùng một loại phấn như đất phấn trắng (bạch oắc) của Trung Quốc, vê thành thỏi nhỏ gọi là "Sa" (梭), cầm trong tay rồi viết chữ lên da, vĩnh viễn không phai. Dùng xong thì giắt lên trên tai. Chữ viết có thể nhận ra là do ai viết, phải dùng vật ướt lau sạch mới mất đi. Đại suất mặt chữ giống như chữ Hồi Hột (回鶻), sách chữ đều viết từ sau ra trước, chứ không viết từ trên xuống dưới. Ta nghe Dã Tiên Hải Nha (也先海牙) nói rằng: "Chữ ấy không có âm thanh, chính là gần với âm người Mông Cổ (蒙古), chỉ khác nhau 2 đến 3 chữ mà thôi". Ban đầu không có ấn tín, người dân đi kiện cáo cũng có cửa hàng chép thuê (thư phô) viết giúp.
'''CHÍNH SÓC THỜI TỰ (正朔時序)'''
Thường lấy tháng 10 âm lịch của Trung Quốc làm tháng Giêng. Tháng ấy tên là "Giai đắc" (佳得). Trước nội cung dựng một cái giàn lớn, trên có thể chứa hơn 1.000 người, treo đầy đèn cầu, hoa lá các loại. Phía đối diện cách xa 20 trượng, dùng gỗ nối nhau dựng thành giàn cao như cột leo (phác can) khi xây tháp, cao khoảng hơn 20 trượng. Mỗi đêm dựng 3 đến 4 tòa hoặc 5 đến 6 tòa, trang bị pháo hoa, pháo tre (bộc trượng) trên đó. Việc này đều do các thuộc quận và các phủ đệ nhận trách nhiệm (nhận trực). Đêm đến mời quốc vương ra xem, châm đốt pháo hoa và pháo tre. Pháo hoa tỏa sáng dù cách xa 100 dặm cũng thấy. Pháo tre to như đại bác, tiếng vang động cả thành. Các quan thuộc và quý thích, mỗi người được chia nến lớn và trầu cau, chi phí rất lớn. Quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem, như thế suốt nửa tháng mới thôi.
Mỗi tháng tất có một sự lệ, như tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì ném cầu (phao cầu), tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì áp liệt (tập hợp thợ săn), tụ tập dân chúng cả nước đều vào thành, duyệt binh trước nội cung. Tháng 5 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì nghênh Phật, các tượng Phật từ xa gần trong cả nước đều được đưa đến dâng nước cho quốc chủ tắm mình. Trên cạn có thuyền đi (lục địa hành chu), quốc chủ lên lầu để xem. Tháng 7 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì đốt lúa, khi ấy lúa mới đã chín, đón ở ngoài cửa Nam, đốt đi để cúng Phật, phụ nữ đến xem vô số, nhưng quốc chủ không ra. Tháng 8 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì Ai lam (挨藍), Ai lam nghĩa là múa vậy. Vua mỗi ngày ở trong nội cung múa Ai lam, lại cho lợn đấu, voi đấu, quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem. Như thế suốt 1 tuần trăng (10 ngày), các tháng còn lại không thể ghi nhớ tường tận được.
Người trong nước cũng có kẻ thông thiên văn, nhật thực nguyệt thực đều có thể tính toán, nhưng tháng đủ tháng thiếu lại khác với Trung Quốc. Năm nhuận thì họ cũng đặt nhuận, nhưng chỉ nhuận tháng 9 âm lịch, thật không hiểu nổi. Một đêm chỉ chia làm 4 canh. Cứ mỗi 7 ngày là một vòng, cũng như Trung Quốc gọi là "Khai bế kiến trừ" (các trực). Người phiên đã không có danh tính, cũng không nhớ ngày sinh, nhiều người lấy tên ngày sinh làm tên gọi. Có 2 ngày là đại cát, 3 ngày bình thường, 4 ngày là đại hung. Ngày nào có thể xuất hành hướng Đông, ngày nào có thể xuất hành hướng Tây, dù là phụ nữ cũng đều biết tính. 12 con giáp (thập nhị sinh tiếu) cũng giống Trung Quốc, nhưng tên gọi thì khác. Như gọi ngựa là "Bốc tái", tiếng gọi gà là "Loan", tiếng gọi lợn là "Trực lư", gọi bò là "Cá".
'''TRANH TỤNG (爭訟)'''
Dân gian tranh tụng, dù là việc nhỏ cũng phải tâu lên. Quốc chủ ban đầu không dùng hình phạt roi trượng, chỉ nghe việc "phạt tiền vàng" (phạt kim) mà thôi. Người phạm tội đại nghịch trọng sự cũng không có việc treo cổ hay chém đầu, chỉ ở ngoài cửa Tây thành đào đất thành hố, bỏ tội nhân vào trong, lấp đầy đất đá, nén chặt là xong. Kế đến có kẻ bị chặt ngón tay chân, có kẻ bị xẻo mũi. Nhưng việc gian dâm và hối lộ thì không cấm, chồng của người đàn bà gian dâm nếu biết được, thì dùng 2 thanh củi kẹp chặt chân kẻ gian phu, đau đớn không chịu nổi, phải bỏ hết tiền của đưa cho người chồng mới được tha. Tuy nhiên cũng có kẻ dàn cảnh lừa bịp, hoặc có kẻ chết ở ngay cửa nhà, thì họ tự dùng dây kéo vứt ra bãi đất trống ngoài thành, ban đầu không có việc báo quan kiểm nghiệm. Gia đình bắt được trộm, cũng có thể thi hành hình phạt giam giữ khảo tra, nhưng có một điều đáng nói: như nhà mất đồ, nghi người này là trộm mà họ không nhận, bèn lấy nồi đun dầu thật nóng, lệnh cho người đó nhúng tay vào, nếu quả thực trộm đồ thì tay bị thối rữa, nếu không thì da thịt vẫn như cũ. Người phiên có pháp thuật như vậy.
Lại có 2 nhà tranh tụng, không phân rõ phải trái. Phía đối diện nội cung có 12 tòa tháp đá nhỏ, lệnh cho mỗi người ngồi trong một tháp, bên ngoài người thân hai nhà tự canh phòng lẫn nhau. Ngồi 1 hoặc 2 ngày, hoặc 3 đến 4 ngày, kẻ không có lý tất sẽ phát bệnh mà ra. Hoặc trên thân mọc mụn nhọt, hoặc bị ho, sốt nóng các loại; người có lý thì chẳng có việc gì. Dựa vào đó để phân định phải trái, gọi là "Thiên ngục". Ấy là linh khí của mảnh đất đó có sự như vậy.
'''BỆNH HỦI (病癩)'''
Người trong nước thông thường có bệnh, đa số là xuống nước tắm ngâm, và thường xuyên gội đầu, tự khắc sẽ khỏi. Tuy nhiên người bị bệnh hủi (bệnh lùi) rất nhiều, rải rác trên đường. Người bản địa dù cùng nằm cùng ăn với họ cũng không nề hà. Có người nói do phong thổ nơi đó có tật bệnh này, từng có quốc chủ mắc bệnh này nên mọi người không hiềm khích. Theo ý kiến thiển cận của ta, thường là sau khi mây mưa (hảo sắc), liền xuống nước tắm rửa, nên mới thành bệnh này. Nghe nói người bản địa sau khi xong việc sắc dục đều xuống nước tắm rửa. Những người mắc bệnh lỵ thì 10 người chết đến 8, 9 người. Cũng có người bán thuốc ở chợ, không giống Trung Quốc, không rõ là vật gì. Lại còn một hạng thầy phù thủy (sư vu) làm phép cho người, càng đáng cười hơn.
'''TỬ VONG (死亡)'''
Người chết không có quan tài, chỉ dùng chiếu tre các loại, đắp lên bằng vải. Lúc đưa tang, phía trước phía sau dùng cờ xí trống nhạc, lại dùng 2 mâm gạo rang, đi dọc đường vung vãi, khiêng đến nơi hoang vắng xa xôi không người, quẳng bỏ lại đó. Đợi có diều quạ, chó hoặc các loài súc vật đến ăn, trong chốc lát mà ăn hết thì bảo cha mẹ có phúc nên mới được báo đáp này. Nếu không ăn, hoặc ăn không hết, lại bảo cha mẹ có tội. Đến nay cũng dần có người thiêu xác, thường là dòng giống còn sót lại của người Đường (唐人). Cha mẹ chết, không có tang phục riêng, nam giới thì cạo trọc đầu, nữ giới thì ở đỉnh đầu cắt tóc to bằng đồng tiền, lấy đó làm hiếu vậy. Quốc chủ thì có tháp để chôn cất, nhưng không rõ là táng cả thân xác hay táng xương cốt.
'''CANH CHÚNG (耕種)'''
Đại để một năm có thể thu hoạch gieo trồng 3, 4 bận, vì bốn mùa thường như tiết tháng 5, 6 âm lịch, vả lại không biết đến sương tuyết vậy. Đất ấy nửa năm có mưa, nửa năm tuyệt không. Từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], mỗi ngày đều mưa, sau buổi trưa mới mưa. Trong hồ Đạm Dương (淡水洋) mực nước cao đến 7, 8 trượng, cây lớn đều ngập hết, chỉ còn lại ngọn. Những nhà ở ven nước đều dời vào sau núi. Từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], một giọt mưa cũng không có, trong hồ chỉ có thể thông thuyền nhỏ, chỗ sâu không quá 3, 5 thước, dân chúng lại dời xuống canh tác. Họ chỉ định lúc nào lúa chín, lúc đó nước có thể ngập đến đâu, tùy theo địa thế mà gieo giống. Cày không dùng bò. Các công cụ như cày, liềm, cuốc tuy hơi giống nhưng chế tác thì khác biệt. Lại có một loại ruộng thấp, không trồng mà tự mọc, nước cao đến 1 trượng thì lúa cũng cao theo. Nhưng việc bón ruộng và trồng rau đều không dùng phân uế, vì ghét sự không sạch sẽ. Người Đường (唐人) đến đó đều không nói với họ chuyện dùng phân bón ở Trung Quốc, sợ bị khinh bỉ. Cứ 2, 3 nhà cùng đào một cái hố đất, hễ cỏ đầy thì lấp đi, lại đào hố khác. Phàm sau khi đi vệ sinh (đăng mỗ), tất phải vào ao tắm sạch, chỉ dùng tay trái, tay phải để dành nắm cơm. Thấy người Đường đi vệ sinh dùng giấy chùi thì cười nhạo, thậm chí không muốn cho vào cửa. Phụ nữ cũng có người đứng mà tiểu tiện, thật đáng cười thay!
'''SƠN XUYÊN (山川)'''
Từ khi vào Chân Bồ (真蒲) đến nay, phần lớn là rừng phẳng rậm rạp. Sông dài cảng lớn trải dài mấy trăm dặm, cây cổ thụ dây leo chằng chịt, bóng râm che phủ, tiếng chim thú rộn ràng trong đó. Đến giữa cửa sông mới bắt đầu thấy ruộng đồng bát ngát, tuyệt không có một bóng cây, nhìn xa chỉ thấy lúa nếp xanh tốt. Bò rừng tụ tập nơi đây từng đàn hàng ngàn hàng trăm con. Lại có những đồi tre, cũng trải dài mấy trăm dặm, tre ở đó các đốt mọc gai đan xen, măng vị rất đắng. Bốn phía đều có núi cao.
'''SẢN VẬT (出產)'''
Núi nhiều gỗ lạ, nơi không có cây cối là nơi tê ngưu và voi tụ tập sinh sôi, chim quý thú lạ không kế xiết. Hàng tinh tế (tế sắc) có lông chim trả (thúy mao), ngà voi, sừng tê, sáp vàng. Hàng thô (thô sắc) có giáng chân (giáng hương), đậu khấu, khương hoàng (nghệ), tử cảnh (nhựa cánh kiến), dầu đại phong tử, phỉ thúy (chim trả), việc kiếm được chúng khá khó khăn. Đại để trong rừng rậm có ao, trong ao có cá, chim trả từ trong rừng bay ra kiếm cá. Người Phiên lấy lá cây che thân, ngồi bên bờ nước, nhốt một con chim mái trong lồng để nhử, tay cầm lưới nhỏ, đợi nó đến thì chụp lấy; có ngày bắt được 3 đến 5 con, có khi cả ngày chẳng được con nào.
Ngà voi thì ở nhà dân nơi núi sâu hẻo lánh mới có; mỗi con voi chết mới có 2 chiếc ngà; xưa truyền rằng "mỗi năm voi thay ngà một lần" là sai vậy. Ngà voi do dùng lao (tiêu) đâm chết mà lấy là hạng thượng đẳng; voi tự chết rồi người ta tiện tay lấy được là hạng thứ; voi chết trong núi đã nhiều năm thì là hạng hạ đẳng. Sáp vàng sản sinh trong kẽ cây mục nơi thôn xóm, do một loại ong eo nhỏ như con kiến đen (lâu nghị) tạo ra, người Phiên lấy được; mỗi chuyến thuyền có thể thu gom 2.000 đến 3.000 khối, mỗi khối lớn nặng 30 đến 40 cân, khối nhỏ cũng không dưới 18 đến 19 cân. Sừng tê trắng mà có hoa văn là hạng thượng đẳng, màu đen là hạng hạ đẳng.
Giáng chân sinh trong rừng rậm, người Phiên rất tốn công đốn chặt, vì đây là lõi của cây vậy. Lớp gỗ trắng bên ngoài dày 8 đến 9 tấc, cây nhỏ cũng không dưới 4 đến 5 tấc. Đậu khấu đều do người dã man (dã nhân) trồng trên núi. Họa hoàng (nhựa cây hoàng đằng) là nhựa tiết ra từ một loại cây, người Phiên trước đó 1 năm dùng dao chặt vào thân cây cho nhựa nhỏ ra, đến năm sau mới thu hoạch. Tử cảnh sinh trên cành một loại cây, hình dáng như tầm gửi cây dâu (tang ký sinh), cũng rất khó kiếm. Dầu đại phong tử là hạt của một loại cây lớn, hình dáng như quả dừa mà tròn, bên trong có mấy chục hạt. Hồ tiêu đôi khi cũng có, mọc theo kiểu dây leo, kết trái lủng lẳng như hạt cỏ xanh; lúc còn tươi xanh thì vị càng cay hơn.
'''THƯƠNG MẠI (貿易)'''
Người trong nước giao dịch đều do phụ nữ đảm nhiệm. Cho nên người Đường (唐人) đến đó, trước hết tất phải nạp một người vợ, cũng là để lợi dụng tài mua bán của họ vậy. Mỗi ngày có một buổi chợ (khu), từ giờ Mão đến giờ Ngọ thì tan. Không có cửa hàng cố định, chỉ dùng các loại lều cỏ, chiếu tre trải trên đất, mỗi người đều có chỗ riêng. Phải nộp tiền thuê đất cho quan phủ. Giao dịch nhỏ thì dùng gạo thóc và hàng hóa người Đường mang tới, kế đến dùng vải. Nếu là giao dịch lớn thì dùng vàng bạc. Người bản thổ thường rất chất phác, thấy người Đường thì khá kính sợ, gọi là "Phật" (佛), thấy người Đường thì phục lạy sát đất. Gần đây cũng có kẻ lừa gạt, bắt nạt người Đường, ấy là do người qua lại đã đông vậy.
'''HÀNG HÓA NGƯỜI ĐƯỜNG MUỐN MANG TỚI (欲得唐貨)'''
Đất ấy nghĩ là không sản sinh vàng bạc, nên coi vàng bạc của người Đường là thứ nhất; lụa là năm màu (ngũ sắc kiêm bạch) đứng thứ hai; kế đến là thiếc chì của Chân Châu (真州), khay sơn của Ôn Châu (溫州), đồ sứ xanh (thanh từ khí) của Tuyền Châu (泉州), cùng với thủy ngân, ngân chu (phấn hồng), giấy tờ, lưu huỳnh, diêm tiêu, đàn hương, bạch chỉ, xạ hương, vải lanh (ma bố), vải cỏ vàng (hoàng thảo bố), ô dù, nồi sắt, mâm đồng, hạt cườm gỗ, dầu đồng, lược bí, lược gỗ, kim khâu; hàng thô nặng thì như chiếu của Minh Châu (明州). Thứ họ rất muốn có được là đậu và lúa mạch, nhưng không thể mang (hạt giống) đi được vậy.
'''CỎ CÂY (草木)'''
Lựu, mía, hoa sen, gương sen, ngó sen, khoai môn, đào, chuối, khung (xuyên khung) đều giống với Trung Quốc. Vải, quýt hình dáng tuy giống nhưng vị chua; còn lại đều là thứ ở Trung Quốc chưa từng thấy. Cây cối cũng rất khác biệt. Hoa cỏ thì nhiều vô kể, lại thơm và đẹp. Hoa dưới nước lại càng nhiều chủng loại, thảy đều không biết tên. Còn như các loại đào, mận, hạnh, mai, thông, bách, sam, quế, lan, cúc... thì thảy đều không có. Ở đó vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] cũng có hoa sen.
'''CHIM MUÔNG (飛鳥)'''
Chim có chim công (khổng tước), chim trả (phỉ thúy), vẹt (anh ca) là thứ Trung Quốc không có. Còn lại như diều hâu, quạ, cò, diệc, chim cốc, chim quán, sếu, vịt trời, chim sẻ vàng các thứ đều có. Thứ không có là chim khách, chim hồng nhạn, chim oanh vàng, chim đỗ quyên, chim én, chim bồ câu.
'''THÚ CHẠY (走獸)'''
Thú có tê ngưu, voi, bò rừng, ngựa núi là những thứ Trung Quốc không có. Còn lại như hổ, báo, gấu, lợn rừng, nai, hươu, hoẵng, khỉ, cáo các loại rất nhiều. Thứ thiếu là sư tử, đười ươi, lạc đà. Gà, vịt, bò, ngựa, lợn, dê thì không cần bàn đến. Ngựa rất lùn nhỏ. Bò rất nhiều. Lúc sống người dân dám cưỡi, nhưng chết thì không dám ăn, cũng không dám lột da, cứ để mặc cho thối rữa mà thôi, vì cho rằng bò đã giúp sức cho người, chỉ dùng để kéo xe thôi. Trước kia không có ngỗng, gần đây có người đi thuyền từ Trung Quốc mang sang nên mới có giống đó. Chuột có con to như mèo. Lại có một loại đầu chuột nhưng tuyệt nhiên giống như chó con mới đẻ.
'''RAU CỦ (蔬菜)'''
Rau củ có hành, mù tạt (giới), hẹ, cà, dưa chuột, dưa hấu, vương qua, bí đao, rau dền. Thứ không có là củ cải, xà lách (sinh thái), khổ mãi, rau chân vịt (ba lăng). Dưa và cà vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] đã có rồi. Cây cà có khi trải qua mấy năm không nhổ bỏ. Cây bông vải (mộc miên) cao vượt cả mái nhà, 10 năm không thay. Các loại rau không biết tên rất nhiều, rau dưới nước cũng có nhiều loại.
'''NGƯ LONG (魚龍)'''
Cá và ba ba, chỉ có cá chép đen là nhiều nhất, các loại khác như cá chép, cá diếc, cá trắm cũng rất nhiều, con lớn nặng trên 2 cân. Có những loại cá không biết tên cũng rất nhiều, thảy đều từ hồ Đạm Dương (淡水洋) mà ra. Còn như cá ở biển thì loại gì cũng có. Lươn, chình, ếch nhái người bản thổ không ăn, đêm đến chúng bò ngang dọc đầy đường. Giải và cá sấu lớn như cái bồ, dù là loại rùa 6 mai cũng được dùng làm thức ăn. Tôm ở Tra Nam (查南) nặng trên 1 cân. Rùa ở Chân Bồ (真蒲) chân có thể dài khoảng 8 đến 9 tấc. Cá sấu lớn như chiếc thuyền, có 4 chân, cực giống hình rồng nhưng không có sừng, bụng rất giòn và ngon. Các loại trai, hến, ốc ở hồ Đạm Dương có thể vốc tay là được. Duy nhất không thấy cua, nghĩ là cũng có nhưng người ta không ăn vậy.
'''UỔN NHƯỠNG (醞釀 - Nấu rượu)'''
Rượu có 4 hạng: Thứ nhất, người Đường (唐人) gọi là "rượu mật đường", dùng men thuốc pha với mật và nước mỗi thứ một nửa mà thành. Thứ nhì, chủ nhà gọi là "Bằng nha tứ" (朋牙四), làm bằng lá cây. Bằng nha tứ (朋牙四) là tên một loại lá cây vậy. Thứ ba nữa là dùng gạo hoặc cơm thừa mà làm, tên gọi là "Bao lăng giác" (包稜角), vì Bao lăng giác (包稜角) nghĩa là gạo vậy. Hạng thấp nhất là "rượu đường giám", làm bằng đường. Lại nữa, khi vào cửa sông ven nước có "rượu giao tương", vì có một loại lá giao mọc ven nước, nhựa của nó có thể nấu rượu.
'''MUỐI, GIẤM, TƯƠNG, MÌ (鹽醋醬麪)'''
Việc nấu muối trong nước không cấm, từ Chân Bồ (真蒲), Ba Giản (巴澗) ven biển trở đi thảy đều nấu muối. Trong núi lại có một loại đá vị còn ngon hơn muối, có thể đẽo gọt thành đồ dùng. Người bản thổ không biết làm giấm, trong canh muốn có vị chua thì bỏ lá cây "Hàm bình" (咸平), cây có quả thì dùng quả, có hạt thì dùng hạt. Họ cũng không làm tương vì không có lúa mạch và đậu. Cũng không có men đại mạch (khúc), vì nấu rượu bằng mật nước và lá cây nên cái họ dùng là men thuốc (tửu dược), hình dáng giống như men rượu trắng ở vùng quê Trung Quốc.
''' TẰM TANG (蠶桑)'''
Người bản thổ đều không làm nghề tằm tang, phụ nữ cũng không hiểu việc kim chỉ khâu vá, chỉ có thể dệt vải bông (mộc miên) mà thôi. Họ cũng không biết quay sợi, chỉ lấy tay vuốt thành sợi. Không có khung cửi để dệt, chỉ dùng một đầu buộc vào thắt lưng, một đầu gác lên trên, thoi dệt cũng chỉ dùng một ống tre. Những năm gần đây người Xiêm (暹人) đến ở mới lấy nghề tằm tang làm nghiệp. Giống dâu, giống tằm đều từ nước Xiêm mang đến. Ở đây cũng không có gai, đay, chỉ có lạc ma (một loại sợi). Người Xiêm tự dùng tơ dệt áo lăng đen để mặc, phụ nữ Xiêm thì biết khâu vá. Người bản thổ khi vải quấn bị rách đều thuê họ vá giúp.
'''KHÍ DỤNG (器用 - Đồ dùng)'''
Ngoài phòng xá của những nhà tầm thường ra không có các loại bàn ghế hay thùng chậu. Chỉ khi nấu cơm thì dùng một nồi đất (ngõa phủ), nấu canh dùng một siêu đất (ngõa điêu), chôn 3 hòn đá xuống đất làm bếp, dùng gáo dừa làm muôi. Đựng cơm dùng bồn đất Trung Quốc hoặc mâm đồng. Canh thì dùng lá cây chế thành một cái bát nhỏ, dù đựng nước cũng không rò rỉ. Lại lấy lá giao làm một cái muôi nhỏ để múc nước canh vào miệng, dùng xong thì vứt đi, dù là lúc tế lễ thần Phật cũng vậy. Lại dùng một đồ thiếc hoặc đồ đất đựng nước bên cạnh để nhúng tay, vì ăn cơm chỉ dùng tay bốc, cơm dính vào tay nếu không có nước này thì không sạch được. Uống rượu dùng ấm bằng thiếc (lạp chú tử), người nghèo dùng bát đất, nếu là phủ đệ nhà giàu thì thảy đều dùng đồ bạc, thậm chí có nhà dùng vàng. Các dịp khánh hạ của quốc gia đa số dùng vàng làm đồ dùng, chế độ hình dáng lại khác biệt. Trên đất thì trải chiếu cỏ Minh Châu (明州), hoặc có nhà trải da hổ, báo, hoẵng, hươu và thảm mây. Gần đây mới đặt bàn thấp, cao khoảng 1 xích (hơn 30cm), lúc ngủ chỉ nằm chiếu tre trên ván. Gần đây lại có người dùng giường thấp, thảy đều do người Đường (唐人) chế tác. Đồ ăn dùng vải che lại, trong cung quốc chủ dùng gấm lụa dát vàng (tiêu kim kiêm bạch), thảy đều do khách buôn trên thuyền biếu tặng. Lúa không dùng cối xay, chỉ dùng chày giã mà thôi.
'''XA KIÊU (車轎 - Xe và kiệu)'''
Chế độ của kiệu là lấy một khúc gỗ uốn cong ở giữa, hai đầu dựng đứng lên, điêu khắc hoa văn và bọc vàng bạc, đó chính là cái gọi là "đòn khiêng kiệu vàng bạc" vậy. Mỗi đầu trong khoảng 1 xích thì đóng móc sắt, dùng một tấm vải lớn gấp dày, lấy dây buộc vào hai đầu móc, người ngồi trong vải, dùng 2 người khiêng. Kiệu lớn thì thêm một vật như mui thuyền nhưng rộng hơn, trang trí bằng gấm lụa năm màu, dùng 4 người khiêng, có người chạy theo kiệu. Nếu đi xa cũng có người cưỡi voi, cưỡi ngựa. Cũng có người dùng xe, chế độ của xe giống như những nơi khác. Ngựa không có yên, voi không có ghế để ngồi.
'''CHU TẬP (舟楫 - Thuyền bè)'''
Thuyền lớn dùng gỗ cứng xẻ ván mà làm. Thợ không có cưa, chỉ dùng rìu đục mà đẽo thành ván, vừa tốn gỗ vừa tốn công. Phàm muốn cắt gỗ thành đoạn cũng chỉ dùng đục mà đục đứt, dựng nhà cũng vậy. Thuyền cũng dùng đinh sắt, trên lợp lá giao, lấy mảnh gỗ cây cau ép lên trên. Loại thuyền này tên là "Tân nã" (新拏). Dầu dán mái chèo là dầu cá, vôi trộn là vôi đá. Thuyền nhỏ thì lấy gỗ lớn đục thành máng, dùng lửa hơ mềm rồi lấy gỗ chống cho choãi ra; bụng to, hai đầu nhọn, không mui, chở được vài người, chỉ dùng mái chèo mà khua, tên là "Bì lan" (皮闌).
'''THUỘC QUẬN (屬郡)'''
Các quận thuộc quyền có hơn 90 nơi: như Chân Bồ (真蒲), Tra Nam (查南), Ba Giản (巴澗), Mạc Lương (莫良), Bát Tiết (八薛), Bồ Mãi (蒲買), Trĩ Côn (雉棍), Mộc Tân Ba (木津波), Lại Cảm Khanh (賴敢坑), Bát Tư Lý (八廝里). Còn lại không thể nhớ hết. Mỗi nơi đều đặt quan thuộc, đều lấy hàng rào gỗ làm thành.
'''THÔN LẠC (村落)'''
Mỗi làng hoặc có chùa, hoặc có tháp. Nơi nhà cửa hơi đông đúc tất có quan trấn thủ, gọi là "Mai tiết" (買節). Trên đường lớn có nơi nghỉ ngơi như nhà trạm, tên là "Sâm mộc" (森木). Gần đây vì đánh nhau với người Xiêm (暹人) nên thảy đều thành đất hoang.
'''THỦ ĐẢM (取膽 - Lấy mật người)'''
Trước kia vào tháng 8 âm lịch [thời kỳ trước năm 1296], có tục lấy mật người. Nguyên do là vua Chiêm Thành (占城) mỗi năm đòi hàng ngàn chiếc mật người đựng trong một chiếc bình lớn. Đêm đến, họ tìm nhiều cách sai người vào trong thành và các thôn lạc, gặp người đi đêm thì dùng dây thòng lọng giữ chặt đầu, dùng dao nhỏ lấy mật ở dưới sườn phải, đợi cho đủ số để dâng cho vua Chiêm Thành (占城). Duy chỉ không lấy mật của người Đường (唐人), vì có một năm lấy một cái mật của người Đường trộn vào trong đó, khiến cho mật trong cả bình đều thối rữa không dùng được. Những năm gần đây đã bỏ việc lấy mật này, lập ra chức quan lấy mật riêng, ở phía trong cửa Bắc.
'''DỊ SỰ (異事 - Chuyện lạ)'''
Phía trong cửa Đông có người Man phạm tội dâm ô với em gái mình, da thịt dính chặt không rời, trải qua 3 ngày không ăn mà cả hai cùng chết. Người đồng hương của ta là họ Tiết, ở phiên bang đã 35 năm, ông ta bảo đã 2 lần thấy chuyện này, ấy là vì uy linh của Thánh Phật nên mới như vậy.
'''TẢO DỤC (澡浴 - Tắm rửa)'''
Đất này cực kỳ nóng nực, mỗi ngày nếu không tắm rửa vài lần thì không chịu nổi, đêm đến cũng không tránh khỏi 1 đến 2 lần. Ban đầu không có phòng tắm hay bồn chậu, nhưng mỗi nhà đều phải có một cái ao, nếu không thì 2 đến 3 nhà chung một ao. Không phân biệt nam nữ thảy đều trần truồng xuống ao. Duy chỉ có cha mẹ bậc tôn trưởng ở trong ao thì con cái bậc thấp không dám vào. Nếu bậc thấp ở trong ao trước, thấy bậc tôn trưởng đến thì cũng phải tránh đi. Nếu hàng vai vế ngang hàng thì không gò bó. Lúc xuống nước chỉ dùng tay trái che bộ phận kín là được. Cứ 3 đến 4 ngày, hoặc 5 đến 6 ngày, phụ nữ trong thành từng nhóm 3 đến 5 người cùng ra sông ngoài thành tắm rửa. Đến bờ sông, cởi bỏ tấm vải quấn mà xuống nước, người tụ tập ở sông có đến hàng ngàn, dù là phụ nữ nhà quyền quý cũng dự vào, tuyệt không cho là nhục. Từ gót chân đến đỉnh đầu thảy đều nhìn thấy rõ. Ở con sông lớn ngoài thành, không ngày nào không có cảnh này, người Đường (唐人) lúc rảnh rỗi thường lấy việc này làm thú vui tiêu khiển. Nghe nói cũng có kẻ ước hẹn tư thông ngay dưới nước. Nước thường ấm như nước nóng, chỉ đến canh 5 mới hơi mát, hễ mặt trời mọc là lại ấm ngay.
'''LƯU NGỤ (流寓)'''
Những người Đường (唐人) làm thủy thủ thấy nước này có lợi là không cần mặc quần áo, gạo thóc dễ kiếm, phụ nữ dễ lấy, nhà cửa dễ lo, đồ dùng dễ đủ, mua bán dễ làm, nên thường trốn ở lại đó.
'''QUÂN MÃ (軍馬)'''
Quân lính cũng trần truồng đi chân đất, tay phải cầm lao (tiêu thương), tay trái cầm khiên (chiến bài), không có các thứ gọi là cung tên, pháo đá, giáp trụ. Nghe nói khi đánh nhau với người Xiêm (暹人) đều lùa bách tính ra trận, thường cũng chẳng có mưu lược trí kế gì.
'''QUỐC CHỦ XUẤT NHẬP (國主出入 - Việc đi lại của vua)'''
Nghe nói trước kia quốc chủ không mấy khi ra khỏi cửa, ấy là để phòng những biến cố bất trắc. Vị chủ mới này là con rể của quốc chủ cũ, nguyên giữ chức thống lĩnh quân đội. Nhạc phụ yêu con gái, người con gái ấy mật mật lấy trộm gươm vàng giao cho chồng, khiến cho con trai ruột không được kế vị. Người con trai ấy từng mưu dấy binh nhưng bị chủ mới phát giác, bị chặt ngón chân rồi giam vào phòng tối. Chủ mới thân khảm "sắt thánh", dù đao tên chạm vào mình cũng không hại được, nhờ cậy vào đó mới dám ra khỏi cửa. Ta ở lại hơn 1 năm, thấy vua ra ngoài 4 đến 5 lần. Phàm khi ra ngoài, quân mã vây bọc phía trước, cờ xí trống nhạc theo sau. Cung nữ 300 đến 500 người, mặc vải hoa, búi tóc hoa, tay cầm nến lớn thành một đội, dù ban ngày cũng đốt nến. Lại có cung nữ thảy đều cầm đồ dùng bằng vàng bạc và đồ trang sức trong cung, chế độ khác biệt, không rõ dùng làm gì. Lại có cung nữ cầm lao và khiên làm quân nội đình, lập thành một đội. Lại có xe dê, xe ngựa thảy đều trang trí bằng vàng. Các quan đại thần và quốc thích đều cưỡi voi đi trước, nhìn xa lọng che màu đỏ (hồng lương tản) không kế xiết. Kế đến là vợ và thiếp của quốc chủ, hoặc ngồi kiệu, ngồi xe, cưỡi ngựa hay cưỡi voi, lọng che dát vàng (tiêu kim lương tản) có hơn 100 chiếc. Sau cùng là quốc chủ, đứng trên lưng voi, tay cầm bảo kiếm, ngà voi cũng được bọc vàng. Lọng che màu trắng dát vàng (tiêu kim bạch lương tản) phàm hơn 20 chiếc, cán lọng đều bằng vàng. Chung quanh vây bọc rất nhiều voi và có quân mã bảo vệ. Nếu đi chơi gần thì chỉ dùng kiệu vàng, đều do cung nữ khiêng. Đại phàm ra vào, tất rước tháp vàng nhỏ và Phật vàng đi trước, người xem thảy đều phải quỳ xuống đảnh lễ, gọi là "Tam bãi" (三罷). Nếu không sẽ bị quân canh bắt giữ, không được thả ra vô ích. Mỗi ngày quốc chủ ra ngự triều trị sự 2 lần, cũng không có văn bản nhất định. Các quan và bách tính muốn gặp quốc chủ đều ngồi liệt trên đất để đợi. Một lát sau, bên trong ẩn hiện tiếng nhạc, bên ngoài mới thổi ốc tù và để đón. Nghe nói vua chỉ dùng xe vàng đến từ nơi hơi xa, chốc lát thấy 2 cung nữ dùng bàn tay thon dài cuốn rèm lên, quốc chủ tay chống kiếm đứng trong cửa sổ vàng. Từ quan lại trở xuống đều chắp tay cúi đầu, tiếng ốc vừa dứt mới được ngẩng đầu. Vua lúc đó cũng liền ngồi xuống. Chỗ ngồi có một tấm da sư tử, là vật báu truyền quốc. Sau khi bàn việc xong, quốc chủ liền quay mình đi vào, 2 cung nữ lại hạ rèm xuống, mọi người cùng đứng dậy. Xem thế thì biết dù là nơi man di, chưa từng không biết có quân vương vậy.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic111 - 真臘國.svg|center]]
Theo Tam tài đồ hội (三才圖會): Nước Chân Lạp (真臘) phát thuyền từ Quảng Châu (廣州), đi gió Bắc 10 ngày thì đến nơi, thời tiết không có mùa lạnh. Mỗi khi cưới hỏi thì người nam về ở nhà người nữ. Sinh con gái đến 9 tuổi, liền mời sư tăng tụng kinh làm phép Phạn (Phạn pháp), lấy ngón tay chọc phá thân đồng trinh, lấy máu đó điểm lên trán con gái, người mẹ cũng dùng điểm lên trán mình, gọi đó là "Lợi thị" (利市). Làm như vậy thì người con gái ấy sau này lấy chồng sẽ hòa hợp vui vẻ. Phàm con gái đủ 10 tuổi là gả chồng. Người trong nước phạm tội trộm cắp thì bị chặt tay chân, nung lửa đóng dấu vào ngực lưng hoặc xăm mặt, phạm tội đến mức chết thì bị chém. Người phiên giết người Đường (唐人) thì y theo pháp luật người phiên mà đền mạng; nếu người Đường giết người phiên thì bị phạt tiền vàng rất nặng; nếu không có tiền vàng thì bán thân lấy tiền chuộc tội. Phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城), bên cạnh có các nước Tây Bằng (西棚)...
== ĐỖ BẠC bộ vị khảo (杜薄部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đỗ Bạc (杜薄) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Đỗ Bạc (杜薄) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong biển Trướng Hải (漲海) về phía Đông của Phù Nam (扶南), đi thuyền thẳng trên biển mấy chục ngày thì tới. Người nước ấy diện mạo trắng trẻo, thảy đều mặc quần áo. Trong nước có ruộng lúa, phụ nữ dệt vải hoa bằng bông trắng (bạch điệp hoa bố). Sản sinh vàng, bạc, sắt, lấy vàng làm tiền. Sản sinh hương Kê thiệt (雞舌香), có thể ngậm được. Vì hương thơm nên không cho vào quần áo. Cây Kê thiệt ấy khí vị cay mà tính mãnh liệt, chim thú không thể đến gần, nên chưa có ai nhận biết được cây ấy thế nào. Hoa chín tự rụng, trôi theo dòng nước mà ra, bấy giờ mới lấy được. Trên đảo Đỗ Bạc có hơn 10 tòa thành nước, đều xưng Vương."
== BẠC LẠT bộ vị khảo (薄剌部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Bạc Lạt (薄剌) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Bạc Lạt (薄剌) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong vịnh biển phía Nam của Câu Lợi (拘利). Người ở đó da đen răng trắng, mắt đỏ, nam nữ thảy đều không mặc quần áo."
==HỎA SƠN bộ vị khảo (火山部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Hỏa Sơn (火山) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Hỏa Sơn (火山) được biết đến vào thời Tùy. Cách các đảo Chư Bạc (諸薄) 5.000 dặm về phía Đông. Trong núi ở nước ấy thảy đều có lửa, dù mưa cũng không tắt, trong lửa có loài chuột trắng." Thổ tục Phù Nam (扶南) truyền rằng: "Đảo Hỏa Sơn ở phía Đông đảo Mã Ngũ (馬五) khoảng hơn 1.000 dặm, tháng mùa xuân mưa dầm, mưa tạnh thì lửa cháy. Cây cối trên đảo hễ gặp mưa thì vỏ đen, gặp lửa thì vỏ trắng. Người ở các đảo lân cận vào tháng mùa xuân thường lấy vỏ cây ấy, bện lại làm vải, hoặc làm tim đèn; vải hễ hơi bẩn, quăng vào trong lửa lại sạch như cũ." Lại có nước Gia Doanh (加營), phía Bắc các đảo Chư Bạc, có ngọn núi phía Tây chu vi 300 dặm, từ tháng 4 âm lịch lửa sinh ra, tháng Giêng âm lịch lửa tắt; khi lửa cháy thì cỏ cây rụng lá như mùa lạnh ở Trung Quốc. Người thời ấy vào tháng 3 âm lịch đến núi này lấy vỏ cây, bện làm vải hỏa hoạn (vải chịu lửa)."
== ĐÔ CÔN bộ vị khảo (都昆部彙考)==
'''(Đính kèm nước Biên Đẩu, Câu Lợi, Tỉ Tùng)'''
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đô Côn (都昆) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Biên Đẩu (邊斗), còn gọi là Ban Đẩu (班斗); nước Đô Côn (都昆), còn gọi là Đô Quân (都軍); nước Câu Lợi (拘利), còn gọi là Cửu Ly (九離); nước Tỉ Tùng (比嵩), thảy đều được biết đến từ thời Tùy. Từ Phù Nam (扶南) vượt vịnh lớn Kim Lân (金鄰), đi về phía Nam 3.000 dặm thì có 4 nước này. Việc nông tác của họ giống với Kim Lân (金鄰), người đa số da trắng. Đô Côn (都昆) sản sinh hương Trản (棧香) tốt, hương Hoắc (藿香) và lưu huỳnh. Cây hương Hoắc ở đó sống đến 1.000 năm, gốc rễ rất lớn; chặt xuống để 4 đến 5 năm, phần gỗ đều mục nát, chỉ có các đốt ở giữa kiên cố, hương thơm còn lưu lại, lấy đó làm hương."
== VÔ LUÂN bộ vị khảo (無論部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Vô Luân (無論) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Vô Luân (無論) được biết đến vào thời Tùy. Ở phía Tây Phù Nam (扶南) hơn 2.000 dặm. Hai bên đường cái của nước ấy trồng xen kẽ cây tỳ bà và các loại hoa quả, đi dưới tán cây luôn có bóng râm mát. Cứ 10 dặm có 1 trạm đình, trạm đình đều có giếng nước. Họ ăn cơm mạch, uống rượu bồ đào (nho), rượu đặc như keo, khi uống pha thêm nước, vị rất ngọt ngon."
==LA SÁT bộ vị khảo (羅剎部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp thứ 3 đời Tùy Dạng Đế, sai sứ sang nước Xích Thổ, đi đến La Sát.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước La Sát (羅剎) ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với Lâm Ấp (林邑) vào ban đêm, ban ngày thì che mặt." Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế [năm 607], sai sứ là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ (赤土), đi đến La Sát (羅剎).
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Phía Đông Bà Lợi (婆利) có nước La Sát (羅剎), người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với người Lâm Ấp (林邑), đến vào ban đêm, tự che mặt mình. Nước ấy sản sinh hỏa châu (ngọc lửa), hình dáng như thủy tinh, vào lúc giữa trưa lấy viên châu hứng bóng mặt trời để bắt vào ngải, nương theo đó lửa sẽ phát ra."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
81v2cctpa77gvdrgyvey7n3n3nwhd7c
204749
204747
2026-04-16T10:28:54Z
Mrfly911
2215
/* Minh */
204749
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第101卷
| năm= 1726
| phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 101'''
| trước= [[../quyển 100|quyển 100]]
| sau= [[../quyển 102|quyển 102]]
| ghi chú =
}}
==XIÊM LA bộ vị khảo (暹羅部彙考)==
''' (Xích Thổ 赤土 - Xiêm La Hộc 暹羅斛) '''
===Tùy===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế (隋煬帝) [năm 607], sai quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ.'''
Theo Tùy thư - Dạng Đế bản kỷ (隋書煬帝本紀) thì không chép việc này. Theo Xích Thổ bản truyện (赤土本傳): "Nước Xích Thổ (赤土國) là một chủng loại khác của Phù Nam (扶南). Nằm ở trong biển Nam Hải (南海), đi đường thủy hơn 100 ngày thì đến kinh đô. Đất sắc đỏ nhiều nên lấy đó làm tên nước. Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Bà La Sa (婆羅娑國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm.
Vua nước ấy họ Cù Đàm (瞿曇氏), tên là Lợi Phú Đa Tắc (利富多塞), không rõ nước thành lập đã bao lâu. Nghe nói cha vua nhường ngôi, xuất gia làm đạo, truyền vị cho Lợi Phú Đa Tắc, đến nay đã tại vị được 16 năm. Vua có 3 vợ, đều là con gái của vua các nước láng giềng. Cư ngụ tại thành Tăng Kỳ (僧祗城), có 3 tầng cửa, mỗi cửa cách nhau chừng 100 bước, mỗi cửa đều vẽ hình tượng Phi tiên (飛仙), Tiên nhân (仙人), Bồ Tát (菩薩). Treo chuông hoa vàng và bờm ngựa, có mấy chục phụ nữ, người thì tấu nhạc, người thì bưng hoa vàng. Lại trang điểm cho 4 người phụ nữ, dung mạo như Phật, đứng hai bên cửa như hình trạng Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士) bên cạnh tháp. Người đứng ngoài cửa cầm binh khí, người đứng trong cửa cầm phất trần trắng, giăng lưới trắng kết hoa dọc lối đi."
Các gian nhà trong cung vua thảy đều là lầu gác cao. Vua ngồi ở cửa phía Bắc, mặt hướng về phía Bắc, ngồi trên sập 3 tầng, mặc vải Triều Hà (朝霞布), đội mũ hoa vàng, treo anh lạc bằng ngọc báu hỗn hợp. Có 4 nữ nhân đứng hầu, tả hữu có hơn 100 lính bảo vệ. Sau sập vua có một khám thờ bằng gỗ, dùng vàng bạc và 5 loại gỗ thơm khảm trai trang trí; sau khám treo một vầng hào quang vàng rực, hai bên sập dựng 2 chiếc gương vàng, trước gương bày bình vàng, trước bình có lư hương vàng, phía trước đặt một con trâu nằm bằng vàng, trước trâu dựng 1 bảo cái, hai bên bảo cái đều có quạt quý. Hàng trăm người Bà La Môn (婆羅門) ngồi đối diện nhau thành từng hàng ở phía Đông và Tây.
Quan lại có: 1 người gọi là Tát Đà Ca La (薩陀迦羅), 2 người gọi là Đà Noa Đạt Xoa (陀挐達叉), 3 người gọi là Ca Lợi Mật Ca (迦利密迦), cùng nhau nắm chính sự; 1 người gọi là Câu La Mật Đế (俱羅末帝) nắm hình pháp. Mỗi thành đặt 1 người Na Gia Ca (那邪迦), 10 người Bát Đế (缽帝).
Phong tục ở đó đều xỏ tai cắt tóc, không có lễ quỳ lạy, dùng dầu thơm xức thân. Dân chúng kính Phật, đặc biệt trọng Bà La Môn. Phụ nữ búi tóc sau gáy, nam nữ đều dùng vải ngũ sắc Triều Hà (朝霞), Triều Vân (朝雲) làm áo. Nhà hào phú thì xa hoa tùy ý, duy có xích vàng nếu không phải vua ban thì không được dùng. Mỗi khi cưới gả thì chọn ngày lành, nhà gái trước kỳ hạn 5 ngày sẽ tấu nhạc uống rượu, người cha cầm tay con gái trao cho chàng rể, sau 7 ngày mới thành phối hợp. Cưới xong thì chia tài sản ra ở riêng, duy con út ở chung với cha. Cha mẹ anh em chết thì cạo tóc mặc áo trắng, dựng sàn gỗ tre trên mặt nước, trong sàn chất củi, đặt thi thể lên trên, đốt hương dựng phướn, thổi ốc đánh trống để tiễn đưa. Phóng hỏa đốt củi, thi thể rơi xuống nước. Sang hèn đều như nhau, duy tro cốt của vua sau khi thiêu xong thì thu lại, đựng vào bình vàng, cất trong miếu thờ.
Khí hậu đông hè thường ấm, mưa nhiều tạnh ít, gieo trồng không cứ mùa màng. Đặc biệt thích hợp trồng lúa, kê, đậu trắng, mè đen; các sản vật khác đa phần giống với Giao Chỉ (交趾). Dùng mía làm rượu, pha với rễ dưa tím, rượu màu vàng đỏ, vị thơm ngon; cũng gọi nước dừa là rượu.
Khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, chiêu mộ những người có thể thông sứ với các vùng đất xa xôi. Tháng 10 âm lịch năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607], Truân điền Chủ sự Thường Tuấn (常駿), Ngu bộ Chủ sự Vương Quân Chính (王君政) xin đi sứ Xích Thổ. Đế rất vui, ban cho Tuấn mỗi người 100 xấp lụa, 1 bộ triều phục, và sai mang theo 5.000 đoạn vật phẩm để ban cho vua Xích Thổ.
Tháng 10 năm đó, bọn Tuấn từ quận Nam Hải (南海郡) đi thuyền, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, đi qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵迦缽拔多洲), phía Tây đối diện với Lâm Ấp (林邑), trên đó có miếu thờ thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (師子石), từ đó đảo nhỏ nối liền nhau. Đi tiếp 2 đến 3 ngày, nhìn về phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙須國), bèn đi về hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), rồi tới biên giới Xích Thổ.
Vua nước ấy sai Bà La Môn tên là Câu Ma La (鳩摩羅) mang 30 chiếc thuyền đến đón, thổi ốc đánh trống để chào mừng sứ giả nhà Tùy, dâng xích vàng để buộc thuyền của Tuấn. Sau hơn 1 tháng thì đến kinh đô, vua sai con trai là Na Gia Ca (那邪迦) mời bọn Tuấn vào hội kiến theo lễ. Trước hết sai người đưa mâm vàng đựng hoa thơm cùng gương và kẹp tóc, 2 hộp vàng đựng dầu thơm, 8 bình vàng đựng nước thơm, 4 dải vải trắng để cho sứ giả tắm gội. Vào giờ Mùi ngày hôm đó, Na Gia Ca lại dắt 2 con voi, cầm lọng lông công để đón sứ giả, đồng thời dâng hoa vàng mâm vàng để đỡ chiếu thư. 100 nam nữ tấu loa trống, 2 người Bà La Môn dẫn đường đến cung vua. Bọn Tuấn dâng chiếu thư lên lầu, từ vua trở xuống đều quỳ. Tuyên chiếu xong, mời bọn Tuấn ngồi, tấu nhạc Thiên Trúc (天竺). Xong việc, bọn Tuấn về quán xá. Vua lại sai Bà La Môn đến quán đưa cơm, dùng lá cỏ làm mâm, rộng 1 trượng vuông, nói với Tuấn rằng: "Nay ngài là người của đại quốc, không còn ở nước Xích Thổ nữa. Ăn uống sơ sài, xin vì ý của đại quốc mà dùng cho."
Mấy ngày sau, mời bọn Tuấn vào dự tiệc, nghi vệ dẫn đường như lễ kiến diện ban đầu. Trước mặt vua đặt 2 chiếc giường, trên giường đều đặt mâm lá cỏ rộng 1 trượng 5 thước, trên đó có các loại bánh 4 màu vàng, trắng, tím, đỏ; hơn 100 món thịt trâu, dê, cá, ba ba, lợn, đồi mồi. Mời Tuấn lên giường ngồi, người đi theo ngồi trên chiếu dưới đất, mỗi người dùng chén vàng rót rượu, nữ nhạc luân phiên tấu diễn, lễ vật tặng vô cùng hậu hĩnh.
Sau đó vua sai Na Gia Ca theo Tuấn về cống phương vật, cùng dâng mũ hoa sen vàng (Kim Phù Dung quán), hương Long Não, dùng vàng đúc thành lá Đa La (多羅葉), chạm nổi thành chữ để làm biểu, bỏ trong hộp vàng phong kín lại. Sai Bà La Môn dâng hoa thơm tấu loa trống tiễn đưa. Khi ra biển, thấy bầy cá xanh bay trên mặt nước, đi biển hơn 10 ngày thì đến phía Đông Nam Lâm Ấp (林邑), đi men theo núi. Vùng biển đó rộng hơn 1.000 bước, màu nước vàng và khí vị tanh hôi, thuyền đi 1 ngày không hết, nghe nói đó là phân của cá lớn (Đại ngư phế). Men theo bờ Bắc biển mà đạt đến Giao Chỉ (交趾).
Mùa xuân năm Đại Nghiệp thứ 6 [năm 610], Tuấn cùng Na Gia Ca vào bệ kiến Đế tại Hoằng Nông (弘農). Đế rất vui, ban cho Tuấn 200 đoạn vật phẩm, phong cả hai làm Bỉnh Nghĩa Úy (秉義尉), những người khác trong đoàn Na Gia Ca đều được ban thưởng có sai biệt.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Cương vực Xích Thổ giống với Xiêm La (暹羅). Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Ba La Bà (婆羅婆國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm. Thời Tùy, Thường Tuấn (常駿) từ quận Nam Hải (南海郡) đi đường thủy, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵伽缽拔多洲), phía Tây đối diện Lâm Ấp (林邑), trên có miếu thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (獅子石), từ đó đảo nối tiếp nhau. Đi thêm 2 đến 3 ngày, phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙修國), bèn hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), tới biên giới Xích Thổ. Lâm Ấp (林邑) nay là Chiêm Thành (占城). Sách Tinh tra thắng lãm (星槎勝覽) chép: 'Từ Chiêm Thành thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến', chính là chỗ này vậy."
===Nguyên===
'''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Nguyên Thành Tông (元成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu xin sai sứ giả đến.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyện (暹國本傳): Vào năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Thành Tông (成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu bằng chữ vàng, muốn triều đình sai sứ giả đến nước mình. Đến khi biểu văn ấy tới nơi, thì triều đình đã sai sứ giả đi từ trước rồi, vốn là do bên kia chưa biết vậy. Triều đình ban cho sứ giả nước họ đến lạy một chiếc phù bằng vàng trơn (tố kim phù) để đeo, rồi sai đi gấp để đuổi theo đoàn chiếu sứ cùng đi. Vì người Xiêm (暹人) và người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒) vốn có thù hận chém giết nhau cũ, đến nay thảy đều quy thuận. Có chỉ dụ bảo người Xiêm (暹人) rằng: "Chớ làm tổn thương người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒), để giữ trọn lời hứa của các ngươi."
'''Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], nước Xiêm xin ban yên ngựa, chiếu ban cho áo thêu chỉ vàng nhưng không cho ngựa.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Thành Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyện (暹國本傳): Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], quốc chủ nước Xiêm (暹國) dâng lời rằng: "Lúc cha tôi còn tại vị, triều đình từng ban cho yên cương, ngựa trắng cùng áo thêu chỉ vàng, nay xin theo lệ cũ mà ban cho." Hoàng đế dựa theo lời của Thừa tướng Hoàn Trạch Đáp Lạt Hãn (完澤荅剌罕) rằng: "Kia là nước nhỏ mà ban cho ngựa, e rằng bọn lân bang như Hân Đô (忻都) sẽ chê cười." Triều đình vẫn ban cho áo thêu chỉ vàng, nhưng không ban cho ngựa.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹邏國), vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (邏斛), cũng tức là đất cũ của Xích Thổ (赤土) và Bà La Sát (婆羅剎). Nằm ở cực Nam của Chiêm Thành (占城), phía Bắc thẳng hướng đến Liêm Châu (廉州), men theo bờ Bắc biển nối liền với Giao Chỉ (交趾). Đất nước Xiêm (暹) khô cằn, không hợp cho việc cày cấy trồng trọt; đất ruộng nước La Hộc (羅斛) thì bằng phẳng, rộng rãi và nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm phải trông cậy vào đó để cung cấp. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607] đời Tùy, quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác từ quận Nam Hải (南海郡) cưỡi thuyền đi sứ Xích Thổ (赤土), đến nay truyền sai là di chủng của Xích Mi (赤眉), sau đổi tên gọi là Xiêm (暹). Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295] thời Nguyên, người Xiêm (暹人) từng sai sứ vào cống. Trong khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục nước La Hộc (羅斛), mà hợp lại thành 1 nước."
===Minh===
'''Minh Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ 4, Xiêm La sai sứ triều cống'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Xiêm La (暹羅) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến, chính là nước Xích Thổ (赤土國) thời Tùy Đường. Sau chia làm 2 nước là La Hộc (羅斛) và Xiêm (暹). Đất Xiêm (暹) khô cằn không hợp gieo trồng, đất La Hộc (羅斛) bằng phẳng, trồng trọt thu hoạch nhiều, nước Xiêm (暹) phải trông cậy vào đó. Thời Nguyên (元), nước Xiêm (暹) thường vào cống. Sau đó nước La Hộc (羅斛) mạnh lên, thôn tính đất Xiêm (暹), nên gọi là nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國)."
Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], mệnh sứ thần Lữ Tông Tuấn (呂宗俊) mang chiếu thư đi dụ nước đó. Năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai sứ dâng biểu, cùng bọn Tông Tuấn (宗俊) đến cống voi thuần, rùa 6 chân và phương vật. Chiếu ban cho vua gấm vóc và ban cho sứ giả tiền vải có sai biệt. Sau đó, lại sai sứ đến chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372], chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu.
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Xiêm La (暹羅) vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛). Nước Xiêm (暹) là di chủng của quân Xích Mi (赤眉) nhà Hán, đất nước ấy khô cằn, không hợp cày cấy. Đất ruộng La Hộc (羅斛) bằng phẳng nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm trông cậy vào đó. Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], người Xiêm (暹人) thường sai sứ vào cống. Khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục La Hộc (羅斛) mà hợp thành 1 nước. Đầu năm Hồng Vũ (洪武) triều ta, vua nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國) là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai các sứ thần Nại Tư Lý Sài Lạt Thức Tất Thế (奈思俚儕剌識悉替) đến triều cống, dâng biểu lá vàng. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆)."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Khí hậu Xiêm La (暹羅) không điều hòa, tục chuộng xâm chiếm. Nấu biển làm muối, nấu gạo nếp làm rượu. Trai gái búi tóc hình dùi, dùng vải trắng quấn đầu, mặc áo dài. Mỗi khi có việc bàn bạc, hình pháp nặng nhẹ, tiền thóc ra vào, thảy đều do phụ nữ quyết định. Ý chí và năng lực của họ trên cả nam giới. Dùng vỏ ốc (nghệ tử) thay tiền lưu thông. Người chết thì đổ thủy ngân vào để giữ xác."
Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Đất Xiêm La (暹羅) rộng 1.000 dặm, quanh nước đều là núi, hiểm trở gồ ghề, đất dưới thấp ẩm ướt lỏng lẻo, hiếm chỗ trồng trọt được. Khí hậu không ổn định, lúc sương mù lúc nóng nực. Từ phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), đi thuyền 7 ngày đêm mới đến cửa biển Tân Môn (新門海口), vào cảng mới đạt đến nước ấy. Vua ở cung thất tráng lệ, dân ở nhà sàn, sàn nhà lợp san sát cây bàng lang, dùng mây sợi buộc rất chặt, trải chiếu mây, chiếu tre để ngủ nghỉ bên trong. Vua vốn là người Tỏa Lý (鎖里), dùng vải trắng quấn đầu, không mặc áo, lưng thắt khăn thêu sợi, thêm gấm vóc áp lưng, cưỡi voi đi hoặc ngồi kiệu, lọng cán vàng làm bằng lá giao. Chuộng đạo Phật, người trong nước đều như vậy. Tăng ni rất nhiều, trang phục giống Trung Quốc, có am quan, ăn chay thụ giới. Phụ nữ dân dã nhiều trí tuệ, chồng nghe theo vợ, vợ có tư thông với người Trung Quốc, ăn ngủ cùng nhau, chồng vẫn điềm nhiên không lấy làm lạ. Nam giới quấn đầu vải trắng, mặc áo dài, phụ nữ cũng vậy và búi tóc hình dùi. Nam giới năm 20 tuổi, bộ phận sinh dục tất phải khảm châu ngọc, kẻ phú quý đúc vàng bọc châu, phát ra tiếng kêu mới coi là đẹp, nếu không là người bần tiện. Khi cưới thì bầy tăng đón rể đến nhà gái, tăng lấy chỉ đỏ dán lên trán nam gọi là 'lợi thị', hủ lậu không thể tả xiết. Qua 3 ngày, tăng cùng thân quyến đẩy thuyền hoa bàng lang tiễn về, rồi mở tiệc tấu nhạc. Lễ tang, kẻ phú quý thì đổ thủy ngân mà chôn, dân gian thì khiêng xác quăng xuống biển. Ở các cồn bãi có hàng chục con chim sắc vàng bay đến ăn, có khi xác bị bỏ trôi biển, gọi là 'điểu táng'. Sau đó dùng giáo pháp Phù Đồ để làm chay. Ngôn ngữ giống Quảng Đông (廣東), phong tục nông nổi, thạo thủy chiến. Thường chinh phạt lân bang. Thị trường dùng vỏ ốc biển, giá trị như tiền. Sản vật có đá Hồng Mã Khẩn Đích (紅馬肯的石), kém hơn đá Hồng Nha (紅鴉), sáng trong như hạt lựu. Phía Tây Bắc nước này hơn 200 dặm có thị trấn gọi là Thượng Thủy (上水), thông về phía Nam, dân cư chừng 600 nhà, các loại hàng phiên đều có: hoàng liên hương, la hắc, tốc hương, giáng chân, trầm thủy, cũng có gỗ hoa lê, bạch đậu khấu, đại phong tử, huyết kiệt đằng, kết tô mộc, thiếc hoa, ngà voi, lông chim thúy. Tô mộc rẻ như củi, sắc cực tốt. Thú có voi trắng, sư tử, mèo, chuột trắng. Rau quả như Chiêm Thành (占城). Có rượu gạo, rượu dừa, đều là rượu nấu. Cống vật là tô mộc, hương giáng chân."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], nước Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 [năm 1372], cống gấu đen, vượn trắng và phương vật. Năm sau lại đến cống. Chị của vua là Tham Liệt Tư Ninh (參烈思寧) riêng sai sứ dâng biểu lá vàng, cống phương vật cho Trung cung (Hoàng hậu), bị từ chối. Sau đó người chị lại sai sứ đến cống, Đế vẫn từ chối, nhưng ban yến tiệc cho sứ giả. Lúc bấy giờ vua nước ấy nhu nhược không có võ công, người trong nước suy tôn bác là Tham Liệt Bảo Tì Nha Tì Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙毗哩哆囉祿) làm chủ việc nước, sai sứ đến báo, cống phương vật, ban yến tiệc theo chế độ. Sau đó tân vương sai sứ đến cống tạ ơn, sứ giả cũng có vật hiến tặng, Đế không nhận. Tiếp đó, sai sứ chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1374], cống phương vật, lại dâng bản đồ nước mình."
'''Năm Hồng Vũ thứ 7 [năm 1374], sứ thần Xiêm La vào cống, nói rằng "thuyền cống gặp gió trôi mất", thu nhặt những vật còn sót lại để tiến dâng. Chiếu vì không có biểu văn nên từ chối.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 [năm 1374], sứ thần Sa Lý Bạt (沙里拔) đến cống, nói rằng năm ngoái thuyền dừng tại Dương Ô Chư (烏豬洋), gặp gió làm hỏng thuyền, trôi đến Hải Nam (海南), nhờ quan lại cứu hộ, còn giữ được các vật sót lại như gấm đầu la, giáng hương, tô mộc tiến hiến. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên. Đế trách không có biểu văn, đã nói chìm thuyền mà phương vật lại còn, nghi là thương buôn phiên bang, mệnh từ chối. Dụ cho các thần ở Trung thư và Lễ bộ rằng: 'Xưa chư hầu đối với Thiên tử, hằng năm có tiểu sính, 3 năm có đại sính. Ngoài chín châu (Cửu châu) thì mỗi đời triều kiến một lần, phương vật tiến cống cốt để tỏ lòng thành kính mà thôi. Duy Cao Ly (高麗) khá biết lễ nghĩa, nên lệnh 3 năm một lần cống. Các nước xa khác như Chiêm Thành (占城), An Nam (安南), Tây Dương Tỏa Lý (西洋瑣里), Qua Oa (瓜哇), Bột Ni (浡泥), Tam Phật Tề (三佛齊), Xiêm La Hộc (暹羅斛), Chân Lạp (真臘), vào cống đã tần suất cao, hao phí quá lớn, nay không cần phải như thế nữa, hãy gửi văn thư cho các nước biết'. Tuy nhiên kẻ đến vẫn không dứt, Thế tử là Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) cũng sai sứ dâng thư lên Hoàng thái tử, cống phương vật, mệnh dẫn sứ giả triều kiến Đông Cung, ban yến tiệc rồi cho về."
'''Năm Hồng Vũ thứ 8 [năm 1375], nước Xiêm La vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 8 [năm 1375] lại vào cống. Mà Thế tử cũ là Minh Đài Vương Thế tử Chiêu Bột La Cục (昭孛羅局) cũng sai sứ dâng biểu triều cống, ban yến tiệc như sứ của vua."
'''Năm Hồng Vũ thứ 9 [năm 1376], chiếu dụ vua nước Xiêm La, ban ấn và 1 bộ áo.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 9 năm thứ 9 [năm 1376], vua nước ấy sai con là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) dâng biểu cống voi và phương vật, ban chiếu khen ngợi. Dụ vua nước Xiêm La rằng: Làm vua trị dân, nếu không phải mệnh sáng của trời, ơn lớn của đất, sao được như vậy? Hoa Hạ và Di Địch tuy cách biệt, nhưng vui cái vui của thiên hạ thì ở đâu cũng thế. Nếu làm kẻ bề trên, biết thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế, hòa hợp người và thần, thì lộc truyền đời đời không dứt. Ngươi là Đa La Lộc (哆囉祿) từ khi nối ngôi đến nay, trong thì sửa đạo tề gia, ngoài thì tạo phương cách hòa mục láng giềng, huống hồ nhiều lần sai sứ đến Trung Quốc, xưng thần nhập cống, xét trong các vương thời nay, Đa La Lộc (哆囉祿) có thể gọi là hiền đức vậy, há chẳng tiếng vang các nước phiên sao? Mùa thu năm nay, cống voi đến triều, trẫm sai sứ sang dụ, đặc biệt ban ấn nước Xiêm và 1 bộ áo. Ngươi nên vỗ về dân bang, mãi hưởng nhiều phúc. Nay ban chiếu dụ, mong hãy thấu hiểu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], nước Xiêm La đến triều.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 [năm 1377], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) vâng mệnh cha đến triều kiến. Đế vui mừng, mệnh Lễ bộ Viên ngoại lang Vương Hằng (王恆) cùng những người khác mang chiếu và ấn ban cho, văn ấn khắc 'Xiêm La quốc vương chi ấn' (暹羅國王之印), đồng thời ban cho Thế tử áo, tiền vải và phí đi đường. Từ đó, nước ấy tuân theo mệnh triều đình, bắt đầu gọi là Xiêm La (暹羅). Cứ 1 năm 1 lần cống, hoặc 1 năm 2 lần cống. Đến sau năm Chính Thống (正統) [sau năm 1449], mới là mấy năm 1 lần cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], ban cho nước Xiêm La văn sách Khám hợp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], ban văn sách Khám hợp cùng gấm vóc đồ sứ cho bọn Chân Lạp (真臘)."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], nước Xiêm La cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], cống 10.000 cân hồ tiêu, 10.000 cân tô mộc. Đế sai quan báo đáp hậu hĩnh. Lúc đó dân Ôn Châu (溫州) có người mua trầm hương các vật của họ, hữu trách khép vào tội thông phiên, đáng phải chém bêu đầu. Đế phán: 'Ôn Châu là nơi Xiêm La tất phải đi qua, nhân họ qua lại mà mua bán, không phải thông phiên'. Bèn được tha tội."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Xiêm La cống 30 ngà voi, 60 nô tỳ phiên.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Thế tử Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ đến cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Xiêm La cống tô mộc, hồ tiêu, giáng hương tổng cộng 170.000 cân.'''
*Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử - Xiêm La truyện" đã nêu ở trên.
'''Năm Hồng Vũ thứ 28 [năm 1395], Thế tử nước Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) triều cống, và báo tang cha. Sắc phong Thế tử nối ngôi vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 [năm 1395], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ triều cống, và báo tang cha. Mệnh trung quan Triệu Đạt (趙達) cùng những người khác sang tế, sắc phong Thế tử nối ngôi vương, ban thưởng thêm hậu. Dụ rằng: 'Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, sai sứ ra biên giới, đi khắp bốn phương, nơi đặt chân đến có 36 nước, nơi tiếng tăm thông đạt có 31 nước. Phong tục khác biệt, nước lớn có 18, nước nhỏ có 149, so với ngày nay thì Xiêm La gần nhất. Vừa rồi sứ đến, biết tiên vương đã mất. Vương nối tiếp nghiệp tiên vương, có đạo với bang gia, thần dân vui mừng. Nay đặc biệt sai người ban mệnh, Vương chớ làm mất pháp độ, chớ dâm dật hưởng lạc, để làm rạng rỡ tiền liệt. Hãy kính cẩn thay'."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 28 [năm 1395], chiếu sai nội sứ Triệu Đạt (趙達), Tống Phúc (宋福) làm sứ giả đi nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國), tế vua Tham Liệt Bảo Tì Nha Tư Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙思哩哆囉祿), ban cho嗣 vương (vua nối ngôi) Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) 4 xấp gấm, 4 xấp là, 40 xấp vải mưu ti (mâu ti bố); ban cho vương phi 4 xấp gấm, 4 xấp là, 12 xấp vải mưu ti, có sắc dụ."
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, BAN CHO VUA NƯỚC XIÊM LA ẤN BẠC MẠ VÀNG NÚM LẠC ĐÀ CÙNG CÁC VẬT PHẨM'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Thành Tổ (成祖) lên ngôi, sai chiếu dụ nước ấy. Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], ban cho vua nước ấy là Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) ấn bạc mạ vàng núm lạc đà, vua nước ấy liền sai sứ đến tạ ơn. Tháng 6 âm lịch [năm 1403], nhân việc dâng tôn thụy cho Cao Hoàng đế (高皇帝), sai quan đi ban bố chiếu thư và ban thưởng. Tháng 8 âm lịch [năm 1403], lại mệnh cho Cấp sự trung Vương Triết (王哲), Hành nhân Thành Vụ (成務) ban cho vua nước ấy gấm vóc. Tháng 9 âm lịch [năm 1403], mệnh Trung quan Lý Hưng (李興) mang sắc thư đến thăm hỏi và ban thưởng cho vua nước ấy, các quan văn võ cũng đều được ban thưởng. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước Xiêm La (暹羅) sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật."
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 9 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], có thuyền phiên trôi dạt đến bờ biển Phúc Kiến (福建), thẩm vấn thì ra là thuyền thông hảo giữa Xiêm La (暹羅) và Lưu Cầu (琉球). Ty sở tại kiểm kê hàng hóa rồi tâu lên. Hoàng đế nói: 'Hai nước tu hảo là việc rất tốt. Không may gặp gió bão, chính là lúc nên thương xót, lẽ nào lại nhân đó mà trục lợi?'. Mệnh cho ty sở tại sửa thuyền cấp thóc, đợi khi gió thuận thì tiễn đi Lưu Cầu (琉球). Tháng này, vua nước ấy vì được nhận玺 thư (tỷ thư) thăm hỏi ban thưởng của Hoàng đế, nên sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật, ban thưởng thêm hậu, lại ban cho 100 cuốn Liệt nữ truyện (列女傳). Sứ giả xin ban hành quy chuẩn đo lường (lượng hành) làm mẫu mực vĩnh viễn cho quốc gia, Hoàng đế chấp thuận."
Trước đó, sứ giả cống nạp của Chiêm Thành (占城) khi về, gió thổi thuyền đến Bành Hanh (彭亨), nước Xiêm La (暹羅) cưỡng đoạt sứ giả đó, giam giữ không cho về. Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌) và Mãn Lạt Gia (滿剌加) lại kiện Xiêm La (暹羅) cậy mạnh phát binh, đoạt ấn cáo do Thiên triều ban cho. Hoàng đế bèn hạ sắc trách phạt rằng: "Chiêm Thành (占城), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加) cùng ngươi đều chịu mệnh triều đình, sao dám cậy thế uy quyền? Giam giữ sứ giả, đoạt ấn cáo của họ. Trời có đạo hiển hiện, phúc cho kẻ thiện họa cho kẻ dâm, giặc Lê (黎) ở An Nam (安南) có thể làm gương soi. Hãy lập tức trả lại sứ giả Chiêm Thành (占城), hoàn lại ấn cáo cho Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加). Từ nay về sau phụng pháp theo lý, giữ yên bờ cõi hòa mục láng giềng, mới mong hưởng phúc thái bình vĩnh viễn." Lúc bấy giờ sứ giả cống nạp do Xiêm La (暹羅) sai đi bị lạc gió trôi đến An Nam (安南), thảy đều bị giặc Lê (黎) giết chết, chỉ còn dư lại 1 người là Bột Hắc (孛黑). Sau khi quan quân đánh An Nam (安南), cứu được người này đưa về, Hoàng đế rất thương xót.
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 4 [năm 1406], Xiêm La sai sứ vào cống, xin sách và mẫu đo lường.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 [năm 1406], sứ giả Xiêm La (暹羅) là Nại Tất (奈必) dâng biểu cống phương vật, được tặng sách Cổ kim liệt nữ truyện (古今列女傳). Lại xin mẫu đo lường làm chuẩn mực trong nước, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Xiêm La sai sứ cống phương vật, tạ tội trước.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 [năm 1408], mệnh Trung quan Trương Nguyên (張原) đưa sứ giả về nước, ban cho vua tiền vải, lệnh cho vua phải chu cấp hậu hĩnh cho gia đình những người bị giết. Tháng 9 âm lịch [năm 1408], Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy, vua nước ấy sai sứ cống phương vật, tạ lỗi trước."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 7 [năm 1409], Xiêm La sai sứ đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), lại đưa dân gian trốn tránh về nước, cùng cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sứ giả đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh cho Trung quan tâu cáo trước linh sàng. Lúc đó quân gian là Hà Bát Quan (何八觀) cùng những người khác trốn vào Xiêm La (暹羅), Hoàng đế mệnh sứ giả về báo với chủ họ, đừng thu nhận kẻ đào tẩu. Vua nước ấy liền phụng mệnh sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa bọn Bát Quan (八觀) về, mệnh Trương Nguyên (張原) mang sắc thư và tiền lụa đến khen ngợi."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sai sứ dâng nghi vật đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh Trung cung quan đến cáo trước linh sàng. Tháng 9 âm lịch [năm 1409], lại sai sứ là Khôn Văn Côn (坤文琨) cùng những người khác dâng biểu cống phương vật, ban tiền vải rồi tiễn về. Lúc bấy giờ người Nam Hải (南海) là Hà Bát Quan (何八觀) lưu dạt ra đảo biển, rồi vào Xiêm La (暹羅). Đến nay nhân lúc bọn Văn Côn (文琨) về, Thượng (Hoàng đế) lệnh dụ quốc vương nước ấy, sai đưa bọn Bát Quan (八觀) về, chớ thu nhận kẻ đào tẩu mà chuốc lấy tội lỗi, đồng thời ban cho vua nước ấy gấm thêu vàng, lụa trừu, sa, la, nhung gấm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 8 [năm 1410], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 [năm 1410], Xiêm La (暹羅) sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa người Trung Quốc lưu dạt về, ban sắc thư thăm hỏi cùng tiền lụa màu."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải cho Xiêm La. Năm này vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], lại đến triều cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 13 [năm 1415], vua nước Xiêm La qua đời.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 5 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 [năm 1415], Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) qua đời."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 14 [năm 1416], phong Thế tử nước Xiêm La làm vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 14 [năm 1416], vương tử Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) sai sứ cáo tang cha, mệnh Trung quan Quách Văn (郭文) sang tế, riêng sai quan mang chiếu phong con trai làm vua, ban cho gấm trắng lụa trắng, liền sau đó sai sứ đến tạ ơn."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], định số lượng gấm vóc ban cho vua và vương phi nước Xiêm La.'''
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], cấp cho vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 10 xấp lụa trừu, sa, la, trong đó mỗi loại có 4 xấp dệt kim; vương phi mỗi loại trừu, sa, la có 6 xấp, trong đó mỗi loại có 2 xấp dệt kim."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La xâm lấn Mãn Lạt Gia, sai sứ giả trách phạt. Vua Xiêm La sai sứ giả tạ tội.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La (暹羅) xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加) nên sai sứ giả trách lệnh phải hòa mục. Sau khi sứ giả nước họ vào cống, mệnh Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về. Vua lại sai sứ tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加)."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], sai sứ dụ vua nước Xiêm La (暹羅), khiến cho hòa bình với Mãn Lạt Gia (滿剌加). Sắc dụ Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) rằng: 'Trẫm vâng mệnh trời, làm chủ cả Hoa Hạ và Di Địch, lấy tâm hiếu sinh của天地 (thiên địa) để trị quốc, nhất thị đồng nhân, không phân biệt bên này bên kia. Vương có thể kính trời thờ nước lớn, giữ chức vụ phụng cống, lòng trẫm rất khen ngợi, vốn chẳng phải chỉ trong một ngày. Gần đây vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) là Y Tư Hạn Đáp Nhi Sa (亦思罕答兒沙) lên nối ngôi, có thể tiếp nối chí hướng của cha, tự thân dẫn vợ con đến cửa khuyết triều cống, lòng thành thờ nước lớn đó không khác gì Vương. Nhưng nghe tin Vương vô cớ muốn động binh. Phàm binh khí là vật hung, hai bên đánh nhau tất cùng bị thương, cho nên chuộng binh không phải là tâm của người nhân. Huống hồ vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) đã nội thuộc, tức là thần tử của triều đình. Họ có lỗi, nên trình bày lên triều đình. Không làm theo cách này mà tự tiện động binh, ấy là không nể triều đình vậy. Đây chắc không phải ý của Vương, hoặc là thuộc hạ bên cạnh mượn danh Vương, dùng binh để thỏa tư thù. Vương nên suy xét kỹ, chớ để bị mê hoặc, hãy hòa mục với láng giềng, không xâm lấn nhau, để cùng hưởng phúc, há có giới hạn sao! Vương hãy lưu tâm cho'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 18 [năm 1420], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 4 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 [năm 1420], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ vào cống phương vật, ban tiền vải, vẫn sai Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về nước, vẫn ban cho vua gấm vóc sa la các thứ."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 19 [năm 1421], Xiêm La sai sứ vào cống, và tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 [năm 1421], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Nại Hoài (奈懷) cùng 60 người cống phương vật, tạ tội xâm lấn nước Mãn Lạt Gia (滿剌加), ban tiền vải có sai biệt. Tháng 7 âm lịch lại vào cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 21 [năm 1423], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 [năm 1423], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Mai (坤梅) cống phương vật, ban cho tiền vải."
'''MINH TUYÊN TÔNG NĂM TUYÊN ĐỨC THỨ 8, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 [năm 1433], vua nước ấy là Tất Lý Ma Ha Lạt (悉里麻哈賴) sai sứ triều cống. Trước đó, bồi thần nước này là Nại Tam Đạc (奈三鐸) cùng những người khác đi cống, thuyền ghé cảng Tân Châu (新州港) nước Chiêm Thành (占城), thảy đều bị người nước ấy cướp bóc."
'''MINH ANH TÔNG NĂM CHÍNH THỐNG THỨ 1, SỨ CỐNG XIÊM LA TỐ CÁO VIỆC CHIÊM THÀNH CƯỚP BÓC, LỆNH CHIÊM THÀNH TRẢ LẠI NGƯỜI VÀ VẬT ĐÃ CƯỚP'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 1 [năm 1436], Nại Tam Đạc (奈三鐸) lén đi thuyền nhỏ đến kinh đô, mà sứ cống do vua nước ấy sai đi cũng tới nơi, đều tố cáo tình trạng Chiêm Thành (占城) đánh cướp. Hoàng đế mệnh triệu sứ giả Chiêm Thành (占城) đến để đối chất, sứ giả không có gì để đáp lại, bèn sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城), lệnh phải hoàn trả toàn bộ người và vật đã cướp. Sau đó, nước Chiêm Thành (占城) gửi văn thư cho Lễ bộ (禮部), nói rằng: 'Năm kia nước tôi sai sứ đi Tu Văn Đát Na (須文達那), cũng bị người tặc nước Xiêm La (暹羅) cướp đi, tất nhiên Xiêm La (暹羅) phải trả lại những gì đã cướp trước, thì nước tôi tự nhiên không dám không trả'."
Theo Minh hội điển (明會典): "Xiêm La (暹羅) vào cống. Khoảng năm Tuyên Đức (宣德), ban thưởng đều giảm một nửa. Sau năm Chính Thống (正統), đều chiếu theo lệ năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], sứ thần chính và phó khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là dệt kim, 1 đôi giày và tất. Những người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai vàng trơn. Những người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai vàng chạm hoa. Phần thưởng chính là 4 xấp lụa trừu và 4 xấp là, đổi sang 2 xấp sa quyến, 1 xấp vải bông, 1 bộ áo trừu dệt kim. Đám người thông sự khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là trơn, 1 đôi giày và tất; người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai bạc trơn. Người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai bạc chạm hoa. Phần thưởng chính là 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là, đổi sang 1 xấp quyến bằng tiền giấy (钞绢), 1 bộ áo trừu trơn. Bạn phiên (người đi theo) khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo quyến, 1 đôi giày và tất; phần thưởng chính đổi sang 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Những người lưu lại Quảng Đông (廣東) mà có tiến cống thì hạng đầu mục mỗi người thưởng 1 bộ áo trừu trơn, 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là; người theo hầu mỗi người 1 bộ áo quyến trừu, 1 xấp lụa trừu; hạng bạn phiên mỗi người 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Hàng hóa của đám sứ thần mang tới theo lệ không thu thuế, mà trả bằng tiền giấy theo giá trị."
'''Năm Chính Thống thứ 3 [năm 1438], Xiêm La vào cống, vẫn lệnh phải trả lại người và vật của Chiêm Thành đã cướp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 3 [năm 1438], sứ cống Xiêm La (暹羅) lại đến, nhân đó ban sắc thư, lệnh phải gấp rút hoàn trả người và vật cho Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Chính Thống thứ 11 [năm 1446], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 11 [năm 1446], vua nước ấy là Tư Lợi Ba La Ma Na Nhược Trí Lạt (思利波羅麻那若智剌) lại sai sứ vào cống."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 4, PHONG TỰ TỬ CỦA XIÊM LA LÀ BẢ LA LAN MỄ TUÂN LẠT LÀM XIÊM LA QUỐC VƯƠNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 [năm 1453], mệnh Cấp sự trung Lưu Chu (劉洙), Hành nhân Lưu Thái (劉泰) sang tế cố vương Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (波羅摩剌劄的賴), nhân đó phong cho con nối ngôi (tự tử) là Bả La Lan Mễ Tuân Lạt (把羅蘭米孫剌) làm vua."
'''MINH ANH TÔNG NĂM THIÊN THUẬN THỨ 1, BAN CHO SỨ CỐNG XIÊM LA ĐAI VÀNG CHẠM HOA'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳) đã nêu.
'''Năm Thiên Thuận thứ 6 [năm 1462], Xiêm La sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 [năm 1462], vua nước ấy là Bột Lạt Lam La Giả Trực Ba Trí (孛剌藍羅者直波智) sai sứ triều cống."
'''MINH HIẾN TÔNG NĂM THÀNH HÓA THỨ 9, NƯỚC XIÊM LA XIN CẤP ĐỔI KHÁM HỢP, CHẤP THUẬN'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 9 [năm 1473], sứ cống nói rằng văn bản Khám hợp (勘合) ban năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 [năm 1457] bị mọt ăn, xin cấp đổi cái mới, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], sứ cống Xiêm La về đến giữa đường, lén mua con cái nhà lành, chở muối lậu, mệnh sai quan răn đe.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 [năm 1481], sứ cống về nước, đến giữa đường lén mua trẻ con làm nô tỳ, lại chở nhiều muối lậu, Hoàng đế mệnh sai quan đi răn đe các nước phiên. Trước đó có người vùng Đinh Châu (汀州) là Tạ Văn Bân (謝文彬), vì buôn muối ra biển, trôi dạt vào nước đó, làm quan đến chức Khôn Nhạc (坤岳), tương đương với Học sĩ (學士) của Thiên triều. Sau đó sung làm sứ giả đến triều kiến, vì buôn bán đồ cấm, việc bị lộ, bị hạ ngục."
'''Năm Thành Hóa thứ 18 [năm 1482], Thế tử Xiêm La sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh phong làm Xiêm La quốc vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 18 [năm 1482], sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh Cấp sự trung Lâm Tiêu (林霄), Hành nhân Diêu Long (姚隆) sang phong cho con trai là Quốc Long Bột Lạt Lược Khôn Tức Lạt Ưu Địa (國隆勃剌略坤息剌尤地) làm vua."
'''MINH HIẾU TÔNG NĂM HỒNG TRỊ THỨ 10, XIÊM LA VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khi vào cống năm Hồng Trị (弘治) thứ 10 [năm 1497], Tứ Di Quán (四夷館) không có quan dịch thuật tiếng Xiêm La (暹羅), các đại thần nội các là Từ Phổ (徐溥) và những người khác xin gửi văn thư đến Quảng Đông (廣東), tìm chọn những người thông thạo ngôn ngữ và văn tự nước ấy đưa về kinh đô để dự bị sử dụng, Hoàng đế chấp thuận."
'''MINH VŨ TÔNG NĂM CHÍNH ĐỨC THỨ 10, XIÊM LA TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Đức (正德) thứ 4 [năm 1509], có thuyền Xiêm La (暹羅) trôi dạt đến Quảng Đông (廣東), Trung quan Thị bạc là Hùng Tuyên (熊宣) bàn với các quan thủ thành, đánh thuế hàng hóa đó để cung ứng quân nhu. Việc đến tai triều đình, chiếu chỉ khiển trách Tuyên (宣) lạm quyền, điều về Nam Kinh (南京). Năm thứ 10 [năm 1515], dâng biểu lá vàng sang triều cống, trong quán không ai nhận mặt được mặt chữ ấy. Các đại thần nội các là Lương Trữ (梁儲) và những người khác xin chọn lưu lại 1 đến 2 người trong đoàn sứ giả vào quán để rèn luyện học tập, Hoàng đế phê chuẩn."
'''MINH THẾ TÔNG NĂM GIA TĨNH THỨ 32, XIÊM LA CỐNG PHƯƠNG VẬT'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 [năm 1522], thuyền hàng Xiêm La (暹羅), Chiêm Thành (占城) đến Quảng Đông (廣東) buôn bán, Trung quan Ngưu Vinh (牛榮) thả cho người nhà riêng tự buôn bán, bị luận tội chết theo luật. Năm thứ 32 [năm 1553], sai sứ cống voi trắng và phương vật. Voi chết trên đường đi, sứ giả lấy châu báu trang điểm trên ngà, đựng vào mâm vàng cùng với đuôi voi đem đến dâng hiến. Đế khen ngợi ý đó, ban thưởng hậu hĩnh cho về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹羅), từ sau các năm Hồng Hy (洪熙) [1425], Tuyên Đức (宣德) [1426-1435], việc nhập cống vẫn như kỳ hạn thường lệ. Khoảng năm Chính Thống (正統) [1436-1449], Cảnh Thái (景泰) [1450-1456], việc cống nạp đôi khi không thường xuyên. Từ năm Thành Hóa (成化) [1465-1487] đến nay, đại để 6 năm một lần cống. Gần đây vào năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 32 [năm 1553], sai sứ là Khôn Tùy Ly (坤隋離) và những người khác cống voi trắng và phương vật. Voi trắng đã chết, để lại 1 chiếc ngà voi dài 6 thước, đầu và gốc khảm vàng chạm hoa; đầu ngà lớn 5 tấc 7 phân, khảm 10 hạt lựu, ở giữa khảm 10 viên trân châu, 4 viên bảo thạch; phần đuôi lớn 1 tấc, khảm 1 viên kim cương. Trong hộp vàng đựng lông đuôi voi trắng để làm bằng chứng." Lại có 19 chiếc ngà voi, tổng cộng 350 cân; 37 cây gỗ mun (ô mộc), tổng cộng 3.600 cân; 600 cân thụ hương; 480 cân đằng hoàng; 580 cân đại phong tử; 300 cân tử cánh; 21 cây tốc hương, tổng cộng 650 cân; 20 cân mộc hương; 60 cân bạch đậu khấu; 810 cân hồ tiêu; 14.200 cân tô mộc.
'''Năm Gia Tĩnh thứ 37 [năm 1558], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 8 âm lịch năm thứ 37 [năm 1558], Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Ứng Mệnh (坤應命) và những người khác cống phương vật: 300 cân ngà voi, 650 cân thụ hương, 150 cân đằng hoàng, 310 cân tốc hương, 30 cân bạch đậu khấu, 13.200 cân tô mộc, 450 cân hồ tiêu, 3.800 cân ô mộc, 5.000 cân đại phong tử." Số lượng so với trước kia khá khác biệt.
'''MINH MỤC TÔNG NĂM LONG KHÁNH, NƯỚC XIÊM LA BỊ ĐÔNG MAN NGƯU PHÁ, BẮT THẾ TỬ VÀ ẤN MANG VỀ, CON THỨ NỐI NGÔI DÂNG BIỂU XIN ẤN, TRIỀU ĐÌNH BAN CHO'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Trong năm Long Khánh (隆慶) [1567-1572], nước láng giềng là Đông Man Ngưu (東蠻牛) cầu hôn không được, hổ thẹn tức giận, huy động đại binh công phá nước ấy. Vua nước ấy tự thắt cổ, Thế tử cùng ấn tín do Thiên triều ban cho bị bắt mang đi. Con thứ lên nối ngôi, dâng biểu xin ấn, triều đình ban cho. Từ đó bị nước Đông Man Ngưu (東蠻牛) chế ngự, vua nối ngôi lập chí phục thù."
'''MINH THẦN TÔNG NĂM VẠN LỊCH THỨ 6, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khoảng năm Vạn Lịch (萬曆), quân Đông Man Ngưu (東蠻牛) lại đến, Vua chỉnh đốn binh mã phấn đấu đánh trả, đại phá chúng, giết chết con trai vua ấy. Số quân còn lại chạy trốn trong đêm, Xiêm La (暹羅) từ đó hùng bá trên biển, dời binh công phá Chân Lạp (真臘), bắt vua nước ấy đầu hàng. Từ đó hằng năm dùng binh, bèn xưng bá các nước. Năm thứ 6 [năm 1578], sai sứ vào cống."
'''Năm Vạn Lịch thứ 20 [năm 1592], Xiêm La xin ngầm dùng quân giúp đánh Nhật Bản.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 [năm 1592], Nhật Bản (日本) đánh phá Triều Tiên (朝鮮), Xiêm La (暹羅) xin ngầm dùng quân đánh thẳng vào Nhật Bản (日本) để kiềm chế phía sau. Trung khu Thạch Tinh (石星) bàn định đồng ý, nhưng Đốc thần Lưỡng Quảng là Tiêu Ngạn (蕭彥) kiên trì phản đối, nên thôi. Sau đó việc phụng cống không thay đổi. Đến tháng 3 âm lịch năm Sùng Trinh (崇禎) thứ 16 [năm 1643], vẫn còn vào cống. Nước ấy chu vi 1.000 dặm, phong tục cứng cỏi hung hãn, thạo thủy chiến. Đại tướng dùng 'thánh thiết' bọc thân, đao tên không đâm thủng được. Thánh thiết ấy là xương sọ người vậy. Vua là người Tỏa Lý (鎖里), quan lại chia làm 10 cấp, từ vua đến dân thường, mọi việc đều do vợ quyết định. Ý chí và năng lực của phụ nữ thực sự vượt trên nam giới. Vợ tư thông với người Hoa thì chồng bày rượu cùng uống, điềm nhiên không lấy làm lạ, nói rằng: 'Vợ ta đẹp nên mới được người Hoa yêu mến'. Sùng tín đạo Phật, nam nữ đa số làm tăng ni, cũng ở am chùa, ăn chay thụ giới, trang phục khá giống Trung Quốc. Kẻ phú quý càng kính Phật, có tài sản 100 lạng vàng thì đem một nửa bố thí. Khí hậu không điều hòa, lúc lạnh lúc nóng, đất thấp ẩm ướt, người dân đều ở nhà sàn. Nam nữ búi tóc hình dùi, lấy vải trắng quấn đầu. Kẻ phú quý chết thì dùng thủy ngân đổ vào miệng mà chôn. Kẻ nghèo thì dời xác ra ven biển, tức thì có đàn chim bay đến mổ, chốc lát là hết sạch. Người nhà nhặt xương, khóc lóc rồi vứt xuống biển, gọi là 'điểu táng'. Cũng mời tăng lập đàn chay lễ Phật. Giao dịch dùng vỏ ốc biển (hải nghệ), năm nào không dùng vỏ ốc thì trong nước tất có dịch bệnh lớn. Đồ cống có: voi, ngà voi, sừng tê, lông công, lông thúy, mai rùa, rùa 6 chân, bảo thạch, san hô, phiến não, mễ não, khang não, não du, não sài, tường vi thủy, uyển thạch, đinh bì, a ngụy, tử cánh đằng, kiệt đằng hoàng, lưu hoàng, một dược, ô điêu nê, an tức hương, la hộc hương, tốc hương, đàn hương, hoàng thục hương, giáng chân hương, nhũ hương, thụ hương, mộc hương, đinh hương, ô hương, hồ tiêu, tô mộc, nhục đậu khấu, bạch đậu khấu, tất bát, ô mộc, đại phong tử cùng các loại vải tát cá lạt (sa-ha-la), Tây Dương. Nước ấy có 'miếu Tam Bảo', thờ Trung quan Trịnh Hòa (鄭和)."
===Thanh===
'''THẾ TỔ CHƯƠNG HOÀNG ĐẾ (世祖章皇帝)'''
'''Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653]'''
Theo Đại Thanh Hội điển (大清會典): "Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653], Tuần phủ Quảng Đông (廣東巡撫) tâu rằng, nước Xiêm La (暹羅) xin vào cống."
Xét thấy Xiêm La (暹羅), vốn là 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛) ở Hải Nam (海南), sau hợp thành một. Năm thứ 10 [năm 1653] xin vào cống.
'''Năm Thuận Trị thứ 16 [năm 1659]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Thuận Trị (順治) thứ 16 [năm 1659], Tổng đốc Lưỡng Quảng (兩廣總督) đề chuẩn cho nước Xiêm La (暹羅) lại đến thăm dò việc nộp cống. Các hàng hóa mang theo để đè thuyền (áp thuyền hóa vật) được cho phép giao dịch tại địa phương. Các sổ sách thanh tra thuế bạc hàng hóa trên thuyền đều được chuyển đến Hộ bộ (戶部) để kiểm tra."
'''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], nước Xiêm La (暹羅) có 2 chiếc thuyền chính cống, đi đến vùng biển Thất Châu (七洲海), gặp gió dạt mất, chỉ có 1 chiếc thuyền 'Hộ cống' đến được Hổ Môn (虎門), vẫn lệnh cho quay về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 12 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], sai sứ triều cống, dâng 1 đạo biểu văn bằng lá vàng, cống hiến phương vật gồm: 1 cân long diên hương, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương."
Phương vật dâng Hoàng hậu: 8 lạng long diên hương, 4 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 150 cân ngà voi, 150 cân hồ tiêu, 150 cân đằng hoàng, 150 cân đậu khấu, 150 cân tô mộc, 150 cân tốc hương, 150 cân đại phong tử, 150 cân kim ngân hương.
'''Năm Khang Hy thứ 3 [năm 1664]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 [năm 1664], nước Xiêm La (暹羅) dâng biểu tiến cống. Mệnh cho 2 thuyền chính cống cử 20 viên chức đến kinh đô để nộp bổ cống. 1 thuyền khác lệnh cho 6 người đến kinh đô."
'''Năm Khang Hy thứ 4 [năm 1665]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 [năm 1665], Xiêm La (暹羅) tiến cống đến kinh đô, Lễ bộ (禮部) đề định kỳ hạn cống là 3 năm 1 lần cống. Đường đi qua Quảng Đông (廣東)."
'''Năm Khang Hy thứ 6 [năm 1667]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 6 [năm 1667], Xiêm La (暹羅) tiến cống gồm 1 chiếc thuyền chính cống, 1 chiếc thuyền hộ cống, 1 chiếc thuyền chở voi, và 1 chiếc thuyền thăm dò phát sau. Lễ bộ (禮部) duyệt chuẩn, thuyền tiến cống không được quá 3 chiếc, mỗi thuyền không được quá 100 người, viên chức đến kinh đô là 22 người; các thuyền tiếp cống và thuyền thăm dò đều không được thả người lên bờ."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 6 âm lịch năm thứ 6 [năm 1667], sai sứ triều hạ. Dâng 1 bản biểu văn lá vàng nhân lễ Vạn thọ, 1 bản biểu văn dịch chữ. Cống hiến phương vật gồm: 1 tòa Long đình, 1 cân long diên hương, 300 cân tốc hương, 3.000 cân tô mộc, 300 cân ngà voi, 300 cân an tức hương, 300 cân bạch đậu khấu, 300 cân đại phong tử, 300 cân đằng hoàng, 4 con chim công, 300 cân ô mộc, 300 cân hồ tiêu, 300 cân giáng hương, 1 con voi thuần, 6 chiếc sừng tê, 4 con rùa 6 chân, 10 bức bình phong đuôi công, 600 tấm lông chim trả (thúy điểu), 100 cân hương nhựa cây (thụ giao hương), 2 cân hương trầm thủy, 100 cân hương vỏ cây (thụ bì hương), 100 cân nhi trà, 100 cân hoa hồ tiêu, 1 cân uyển thạch, 100 cân tử cánh, 6 xấp vải giao kiêu, 6 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 4 dải thiên thanh, 1 xấp vải đỏ, 6 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 10 xấp vải hoa chữ 'nhân' (人), 4 dải hoa văn hình người và voi, 10 xấp vải Tây Dương, 1 cân băng phiến loại lớn, 2 cân băng phiến loại vừa, 20 gáo dầu phiến, 100 cân long não, 100 cân hoàng đàn hương, 60 hũ nước hoa hồng (tường vi lộ), 100 cân lưu huỳnh."
Phương vật dâng Hoàng hậu tề niên (齊年): 8 lạng long diên hương, 150 cân tốc hương, 1.500 cân tô mộc, 150 cân ngà voi, 150 cân an tức hương, 150 cân bạch đậu khấu, 150 cân đại phong tử, 150 cân đằng hoàng, 2 con chim công, 150 cân ô mộc, 150 cân hồ tiêu, 150 cân giáng hương, 3 chiếc sừng tê, 2 con rùa 6 chân, 5 bức bình phong đuôi công, 300 tấm lông chim trả, 50 cân hương nhựa cây, 50 cân nhi trà, 50 cân hoa hồ tiêu, 1 cân hương trầm thủy, 50 cân hương vỏ cây, 8 lạng uyển thạch, 50 cân tử cánh, 3 xấp vải giao kiêu, 3 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 2 dải thiên thanh, 5 xấp vải đỏ, 3 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 5 xấp vải hoa chữ 'nhân', 5 xấp vải Tây Dương, 2 dải hoa tạp sắc hình người và voi, 8 lạng băng phiến loại lớn, 1 cân băng phiến loại vừa, 10 gáo dầu phiến, 50 cân long não, 50 cân hoàng đàn hương, 30 hũ nước hoa hồng, 50 cân lưu huỳnh.
'''Năm Khang Hy thứ 7 [năm 1668]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 [năm 1668], chính sứ Xiêm La (暹羅) vào cống đến kinh đô, các đầu mục lưu lại ở biên giới được cấp khẩu phần ăn."
'''Năm Khang Hy thứ 10 [năm 1671]'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 11 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 10 [năm 1671], cống hiến phương vật. Phụng chiếu ban tặng vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 6 xấp đoạn, 4 xấp đoạn dệt kim, 6 xấp sa, 4 xấp sa dệt kim, 6 xấp la, 4 xấp la dệt kim."
Chiếu ban cho Vương phi 4 xấp đoạn, 2 xấp đoạn dệt kim, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 4 xấp sa, 2 xấp sa dệt kim. Chính sứ, Phó sứ (nhị cống sứ), Tam sứ, mỗi người 7 xấp đoạn, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 2 xấp quyến, 1 xấp vải lót, 1 xấp vải thường, cùng 1 đôi tất nỉ gắn liền, 1 đôi ủng hạng nhất da xanh khâu kẽ; Thông sự thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành (Bành đoạn); Biện sự thưởng 4 xấp đoạn, 2 xấp la, 1 xấp quyến, 1 đôi ủng da ngựa lau mặt có tất nỉ; 22 người theo hầu, mỗi người 2 xấp quyến, 5 xấp vải, 1 đôi ủng da bò có tất nỉ; Quan hộ tống (bạn cống quan) thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành. Các vật phẩm ban thưởng này do hai bộ Hộ và Công chuyển tới trước Ngọ Môn (午門), ban cấp trong 2 lần yến tiệc tại bộ. Đợi đến ngày sứ cống Xiêm La (暹羅) về đến tỉnh, theo lệ thiết tiệc rượu 1 lần rồi tiễn về. Các lần tiến cống trên đều theo lệ ban thưởng như vậy. Khi sứ giả về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi.
'''Năm Khang Hy thứ 12 [năm 1673]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 12 [năm 1673], vua nước Xiêm La (暹羅) là Sâm Liệt Phách Lạt Chiếu Cổ Long Phách Lạt Mã Hô Lục Khôn Tư Do Đề Nha Bồ Ai (森列拍臘照古龍拍臘馬呼陸坤司由提呀菩埃) tiến cống và xin phong điển, Lễ bộ (禮部) đề chuẩn cấp cho Cáo mệnh cùng ấn bạc mạ vàng núm lạc đà. Sau khi sứ cống xong việc, các quan viên của Lễ bộ mặc triều phục trước Ngọ Môn (午門) cung kính đặt án kỷ. Quan Hồng lô tự (鴻蒚寺) dẫn các sứ cống hành lễ 3 quỳ 9 khấu đầu, quỳ nhận Cáo mệnh và Ấn tín, gửi văn thư cho quốc vương nước ấy, lệnh cho vua ra ngoài thành cung kính đón nhận Cáo ấn."
Lại có dụ rằng: "Nước ấy đi biển từ xa đến, bày tỏ lòng thành tiến cống. Những vật bị mọt ăn hoặc thiếu hụt đều miễn cho việc nộp bổ."
'''Năm Khang Hy thứ 23 [năm 1684]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 23 [năm 1684]. Dụ rằng: Viên chức tiến cống nước Xiêm La (暹羅) khi về nước, ai không cưỡi được ngựa thì quan phủ cấp cho kiệu khiêng, người theo hầu cấp cho phu gánh. Ngoài quan hộ tống, đặc phái thêm 1 Ty quan và 1 Bút thiếp thức của Lễ bộ (禮部) để bảo vệ cống vật. Ngoài lệ cống thường, lệ có thêm vật cống tăng thêm. Trước đây có chim công và rùa, sau lệnh miễn tiến dâng."
Cung tiến trước ngự tiền: 1 cân long diên hương đựng trong hộp bạc, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương.
Cống vật cho Hoàng hậu cũng giống như vậy, số lượng giảm đi một nửa.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic110 - 暹羅國.svg|center]]
Theo sách Tam tài đồ hội (三才圖會): "Phong tục vùng ven biển nước Xiêm La (暹羅), nam giới từ nhỏ đã cắt bộ phận sinh dục để khảm tám loại bảo vật (bát bảo) nhằm khoe khoang sự phú quý, nếu không làm vậy thì nhà gái sẽ không gả con gái cho."
Gần đây có người khách buôn đi biển tới Xiêm La (暹羅), dừng chân tại một hòn đảo nọ, khắp núi thảy đều là những chiếc thìa và đũa (thì trứ) màu đen tuyền, nơi ấy có rất nhiều cây lớn. Người khách ngẩng lên nhìn kỹ những chiếc thìa đũa ấy, hóa ra chúng chính là hoa và râu của loài cây đó. Bèn nhặt hơn 100 đôi mang về sử dụng, dù dính mỡ cũng không bị bẩn (nhiễm), sau tình cờ lấy ra khuấy trà, chúng liền theo đó mà tan biến mất.
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 1 (真臘部彙考一)==
'''[Cát Miệt (吉蔑), Cam Bột Trí (甘孛智), Gạm Phổ Chỉ (澉浦只)]'''
===THỜI TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 12, tháng 2 [năm 616], nước Chân Lạp (真臘) bắt đầu sai sứ dâng phương vật.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ: (Nội dung như trên).
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp (林邑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南). Cách quận Nhật Nam (日南郡) 60 ngày đi thuyền, phía Nam giáp nước Xa Cừ (車渠), phía Tây có nước Chu Giang (朱江). Vua họ Sát Lợi (剎利氏), tên là Chất Đa Tư Na (質多斯那). Từ thời tổ tiên đã dần cường thịnh, đến đời Chất Đa Tư Na (質多斯那) bèn kiêm tính và chiếm hữu đất Phù Nam (扶南). Khi vua chết, con là Y Xa Na (伊奢那) lên ngôi thay thế. Vua cư ngụ tại thành Y Xa Na (伊奢那城), dưới thành có 20.000 hộ. Trong thành có một tòa đại đường là nơi vua nghe chính sự. Tổng cộng có 30 tòa thành lớn, mỗi thành có vài ngàn hộ, đều có bộ soái riêng, tên quan chức giống với Lâm Ấp (林邑).
Vua cứ 3 ngày nghe triều một lần, ngồi trên giường ngũ hương thất bảo, phía trên căng màn báu. Màn dùng gỗ có vân làm cột, dùng ngà voi và hoa vàng (kim điền) làm vách, hình dáng như ngôi nhà nhỏ, treo ánh vàng rực rỡ, giống như nước Xích Thổ (赤土). Phía trước có lư hương vàng, có 2 người hầu hai bên. Vua mặc vải cổ bối triều hà, quấn quanh thắt lưng và bụng, rủ xuống đến tận ống chân. Đầu đội mũ hoa bằng vàng báu, đeo anh lạc trân châu, chân đi giày da, tai đeo khuyên vàng. Thường mặc áo vải bạch điệp, lấy ngà voi làm guốc (kiêu), nếu để tóc trần thì không đeo anh lạc. Trang phục của thần dân đại để cũng tương tự.
Có 5 đại thần: một là Cô Lạc Chi (孤落支), hai là Cao Tương Bằng (高相憑), ba là Bà Hà Đa Lăng (婆何多陵), bốn là Xá Ma Lăng (舍摩陵), năm là Nhiêm Đa Lâu (髯多婁). Các tiểu thần khi vào chầu vua thảy đều dập đầu 3 lần ở dưới bậc thềm. Vua gọi lên thềm thì quỳ, dùng hai tay ôm vai, ngồi vòng quanh vua. Bàn bạc chính sự xong thì quỳ lạy mà lui ra. Thị vệ ở thềm đình, cửa các có hơn 1.000 người, mặc giáp cầm binh khí. Nước này hòa hiếu với hai nước Tham Bán (參半) và Chu Giang (朱江), nhưng thường xuyên chiến tranh với hai nước Lâm Ấp (林邑) và Đà Hoàn (陀洹). Người dân khi đi đứng đều mang theo binh khí, nếu có chinh phạt thì dùng luôn.
Theo tục lệ, nếu không phải con của chính thê thì không được làm người kế vị. Ngày vua mới lên ngôi, tất cả anh em đều bị hình phạt tàn tật, hoặc chặt 1 ngón tay, hoặc xẻo mũi, rồi đưa đi cung phụng ở nơi khác, không được ra làm quan. Người dân vóc dáng nhỏ và sắc da đen, phụ nữ cũng có người trắng, thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài, tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi. Nhà cửa khí dụng khá giống nước Xích Thổ (赤土). Coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn. Mỗi sáng sớm đều tắm rửa, dùng cành dương làm sạch răng, tụng đọc kinh chú, lại tắm rửa rồi mới ăn, ăn xong lại dùng cành dương sạch răng và đọc kinh chú. Ăn uống nhiều tô lạc (váng sữa), đường cát, gạo tẻ, bánh mì. Khi muốn ăn, trước tiên lấy canh thịt tạp hòa với bánh, dùng tay nắm mà ăn.
Cưới vợ chỉ tặng 1 bộ quần áo, chọn ngày sai bà mối đón dâu. Hai nhà trai gái mỗi bên đều 8 ngày không ra ngoài, đêm ngày đốt đèn không tắt. Nam giới làm lễ cưới xong là chia tài sản với cha mẹ, ra ở riêng. Khi cha mẹ chết, nếu còn ai chưa cưới thì chia tài sản còn lại cho người đó. Nếu đã cưới hết thì tài sản nộp vào quan phủ. Tang lễ thì con cái đều 7 ngày không ăn, cắt tóc mà khóc. Tăng ni, đạo sĩ và thân hữu đều tụ tập, dùng âm nhạc đưa tiễn. Dùng gỗ ngũ hương thiêu xác rồi thu tro, đựng bằng bình vàng bạc, tiễn đưa vào trong vùng nước lớn. Người nghèo có khi dùng bình gốm rồi vẽ màu lên. Cũng có người không thiêu, đưa xác vào trong núi để mặc thú dữ ăn.
Phía Bắc nước này nhiều đồi núi, phía Nam có đầm lầy, khí đất rất nóng, không có sương tuyết, nhiều chướng khí và độc trùng. Đất hợp trồng lúa gạo, ít kê sáp, hoa quả và rau cỏ tương tự Nhật Nam (日南) và Cửu Chân (九真). Điểm khác biệt là có cây Bà Na Sa (婆那娑), không hoa, lá như hồng, quả như đông qua; cây Am La (菴羅), hoa lá như táo, quả như mận; cây Tì Dã (毗野), hoa như mộc qua, lá như hạnh, quả như giấy; cây Bà Điền La (婆田羅), hoa lá quả đều giống táo nhưng hơi khác. Cây Ca Tất Đà (歌畢佗), hoa như lâm cầm, lá như du nhưng dày lớn, quả như mận, to như cái thăng (1 lít), còn lại phần lớn đều giống nhau.
Trong biển Cửu Chân (九真) có loài cá tên là Kiến Đồng (建同), có 4 chân, không vảy, mũi như voi, hút nước phun lên cao 50 đến 60 thước. Có cá Phù Hồ (浮胡), hình như cá lươn, mỏ như vẹt, có 8 chân. Nhiều loài cá lớn, nửa thân nhô lên mặt nước trông như núi. Cứ mỗi tháng 5 tháng 6 âm lịch, khí độc lưu hành, dân lại dùng lợn trắng, bò trắng, dê trắng để tế lễ ngoài cửa Tây thành, nếu không làm vậy thì ngũ cốc không chín, sáu loại gia súc chết nhiều, dân chúng bệnh dịch. Gần kinh đô có núi Lăng Già Bát Bà (陵伽缽婆山), trên có thần từ, thường dùng 5.000 binh sĩ canh giữ. Phía Đông thành có vị thần tên Bà Đa Lợi (婆多利), tế lễ dùng thịt người. Vua nước này hằng năm đều giết người để tế lễ cầu khẩn vào ban đêm. Cũng có 1.000 người canh giữ, việc kính quỷ thần là như vậy. Phần lớn phụng thờ Phật pháp, đặc biệt tin theo đạo sĩ, Phật và đạo sĩ thảy đều lập tượng trong quán. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], sai sứ vào cống hiến, Hoàng đế tiếp đãi rất hậu, sau đó thì đứt đoạn."
===THỜI ĐƯỜNG===
'''CAO TỔ (唐高祖)'''
'''Năm Vũ Đức (武德) [618–626], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Chân Lạp (真臘) còn gọi là Cát Miệt (吉蔑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cách kinh sư 20.700 dặm. Phía Đông giáp Xa Cừ (車渠), phía Tây thuộc Phiêu (驃), phía Nam sát biển, phía Bắc tiếp giáp Đạo Minh (道明), phía Đông Bắc giáp Hoan Châu (驩州). Vua là Sát Lợi Y Kim Na (剎利伊金那), đầu năm Trinh Quán (貞觀) [năm 627] thôn tính Phù Nam (扶南), chiếm đất ấy. Nhà cửa đều quay hướng Đông, khi ngồi thì ngồi phía trên. Khi khách phương Đông tới, họ nghiền trầu cau, long não, hương cáp để mời. Không uống rượu, coi rượu như dâm uế, chỉ cùng vợ uống trong phòng riêng, tránh mặt tôn trưởng. Có 5.000 chiến tượng, những con tốt được cho ăn thịt. Đời đời giao hảo với Tham Bán (參半) và Phiêu (驃). Thường đánh nhau với Hoàn Vương (環王) và Càn Đà Hoàn (乾陀洹). Từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) [618–700], phàm 4 lần vào triều."
Theo Triều dã thiêm tái (朝野僉載): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Hoan Châu (驩州) 500 dặm. Tục lệ khi có khách thì bày trầu cau, long não, hộp hương nghiền... để thết đãi, coi rượu như thứ dâm uế. Trong phòng riêng thì cùng vợ uống, nhưng đối với bậc bề trên thì lánh đi. Lại nữa, vợ chồng ngủ không cho người khác thấy. Tục này giống với Trung Quốc. Người trong nước không mặc quần áo, thấy ai mặc quần áo thì cùng cười nhạo. Tục không có muối sắt, dùng nỏ tre bắn sâu bọ chim chóc."
'''ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG (元宗/玄宗)'''
'''Năm Khai Nguyên (開元) [713–741], Chân Lạp (真臘) chia làm hai nước Nam Bắc là Thủy và Lục. Vương tử Lục Chân Lạp (陸真臘) dẫn thuộc hạ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Huyền Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Sau năm Thần Long (神龍) [năm 707], chia làm hai nửa: Phía Bắc nhiều đồi núi, gọi là nửa Lục Chân Lạp (陸真臘); phía Nam sát biển, nhiều đầm hồ, gọi là nửa Thủy Chân Lạp (水真臘). Thủy Chân Lạp (水真臘) đất rộng 800 dặm, vua cư ngụ tại thành Bà La Đề Bạt (婆羅提拔城). Lục Chân Lạp (陸真臘) còn gọi là Văn Đan (文單), gọi là Bà Lậu (婆鏤), đất rộng 700 dặm, tước hiệu vua là Khuất (屈). Thời Khai Nguyên (開元) và Thiên Bảo (天寶) [713–756], vương tử dẫn 26 người thuộc hạ vào triều, được bái làm Quả nghị đô úy."
'''ĐƯỜNG ĐẠI TÔNG (代宗)'''
'''Năm Đại Lịch (大曆) thứ 14 [năm 779], Phó vương Lục Chân Lạp (陸真臘) là Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Đại Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Khoảng năm Đại Lịch (大曆), Phó vương Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều, dâng 11 con voi thuần. Thăng chức Bà Di (婆彌) làm Thử Điện trung giám, ban tên là Tân Hán (賓漢). Lúc ấy Đức Tông (德宗) mới lên ngôi, tất cả chim quý thú lạ thảy đều thả đi. Những con voi thuần do quân Man Di hiến tặng nuôi trong ngự uyển, phàm có 32 con thường sung vào sân chầu ngày Nguyên hội, thảy đều thả về phía Nam núi Kinh Sơn (荊山)."
'''ĐƯỜNG HIẾN TÔNG (憲宗)'''
'''Năm Nguyên Hòa (元和) [806–820], Thủy Chân Lạp (水真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Đường thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Khoảng năm Nguyên Hòa (元和), Thủy Chân Lạp (水真臘) cũng sai sứ vào cống."
===Tống===
'''TỐNG HUY TÔNG NĂM CHÍNH HÒA THỨ 6, MÙA ĐÔNG THÁNG 12, NƯỚC CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ: (Nội dung như trên). Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Nước này ở phía Nam Chiêm Thành (占城), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam đến Gia La Hy (加羅希). Phong tục các huyện trấn giống với Chiêm Thành (占城). Đất đai rộng hơn 7.000 dặm, có đài đồng, liệt kê 24 tháp đồng, 8 voi đồng để trấn giữ phía trên, mỗi con voi nặng 4.000 cân. Nước này có gần 200.000 chiến tượng, ngựa nhiều nhưng nhỏ. Tháng 12 âm lịch năm Chính Hòa (政和) thứ 6 [năm 1116], sai Tiến tấu sứ Phụng hóa lang tướng Khâu Ma Tăng Ca (鳩摩僧哥), Phó sứ An hóa lang tướng Ma Quân Minh Khê (摩君明稽) cùng 14 người đến cống, được ban cho triều phục. Tăng Ca (僧哥) nói: 'Nước xa vạn dặm, ngưỡng trông thánh hóa, mà vẫn còn mặc y phục cỏ cây (hủy phục), chưa xứng với lòng thành hướng mộ thiết tha, nguyện xin được phép mặc đồ đã ban'. Chiếu chỉ chấp thuận, đồng thời đem việc đó giao cho Sử quán, ghi vào sách lược. Tháng 3 âm lịch năm sau [năm 1117], đoàn sứ giả từ biệt ra về."
'''Năm Tuyên Hòa thứ 2, tháng 12 [năm 1120], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ và Chân Lạp bản truyện: "Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 2 [năm 1120], lại sai Lang tướng Ma Lạp (摩臘), Ma Đột Phòng (摩禿防) đến triều kiến, phong cho vua nước ấy ngang hàng với Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Kiến Viêm thứ 2 [năm 1128], thời Cao Tông, gia phong tước hiệu và thực ấp cho vua Chân Lạp, định làm thường chế.'''
Theo Tống sử (宋史) - Cao Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyện: "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 2 [năm 1128], nhân ơn tế Giao, trao cho vua nước ấy là Kim Bâu Tân Thâm (金裒賓深) chức Kiểm hiệu Tư đồ, thêm thực ấp, từ đó định làm thường chế."
'''Năm Khánh Nguyên thứ 6 [năm 1200], thời Ninh Tông, ấp thuộc của Chân Lạp là Chân Lý Phú dâng biểu cống phương vật.'''
Theo Tống sử (宋史) - Ninh Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyện: "Ấp thuộc của Chân Lạp (真臘) có Chân Lý Phú (真里富), ở góc Tây Nam, phía Đông Nam giáp Ba Tư Lan (波斯蘭), phía Tây Nam làm láng giềng với Đăng Lưu Mi (登流眉), bộ tộc quản lý hơn 60 tụ lạc." Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 [năm 1200], chúa nước ấy đã lập được 20 năm, sai sứ dâng biểu cống phương vật và 2 con voi thuần. Chiếu chỉ ưu ái ban thưởng đáp lễ, nhưng vì đường biển xa xôi, nên từ sau không cần vào cống nữa.
===Minh===
'''MINH THÁI TỔ NĂM HỒNG VŨ THỨ 4, CHÂN LẠP SAI SỨ TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyện: "Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 3 ngày đêm có thể đến. Các triều Tùy, Đường và Tống đều triều cống. Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元) nhà Tống, Chân Lạp diệt Chiêm Thành (占城) mà gộp đất ấy lại, vì vậy đổi quốc hiệu thành Chiêm Lạp (占臘). Thời Nguyên (元), vẫn gọi là Chân Lạp (真臘). Tháng 8 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], sai sứ thần Quách Trưng (郭徵) mang chiếu thư đi vỗ về nước đó. Tháng 11 âm lịch năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Ba Sơn Vương Hốt Nhi Na (巴山王忽兒那) sai sứ dâng biểu cống phương vật, chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372]. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu, sứ giả cũng được ban thưởng có sai biệt."
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Chân Lạp (真臘), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam liền Gia La Hy (加囉希), phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城). Nước này vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Vua họ Sát Lợi (剎利), người tên Chất Đa Tư Na (質多斯那) bắt đầu thôn tính Phù Nam (扶南) mà chiếm đất. Năm Đại Nghiệp (大業) nhà Tùy bắt đầu thông sứ Trung Quốc. Nhà Đường từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) phàm 4 lần vào triều. Sau năm Thần Long (神龍), nước chia làm hai. Phía Nam gần biển, nhiều đầm lầy, là Thủy Chân Lạp (水真臘); phía Bắc nhiều đồi núi, là Lục Chân Lạp (陸真臘). Sau lại hợp lại làm một. Thời Chính Hòa (政和) nhà Tống, sai sứ đến cống. Đầu năm Tuyên Hòa (宣和), phong làm Chân Lạp quốc vương (真臘國王), ngang với Chiêm Thành (占城). Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元), người trong nước dấy binh lớn đánh Chiêm Thành (占城), phá được, lập người Chân Lạp (真臘) làm vua Chiêm Thành (占城). Vì vậy lúc bấy giờ Chiêm Thành (占城) cũng là thuộc quốc. Các thuộc quốc còn có Tham Bán (參半), Chân Lý (真里), Đăng Lưu Mi (登流眉), Bồ Cam (蒲甘)... thống lĩnh hơn 60 tụ lạc, đất đai hơn 7.000 dặm. Đầu triều ta năm Hồng Vũ (洪武), quốc vương Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử là Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật, từ đó triều cống không dứt."
Theo Hoàn vũ ký (寰宇記): "Tục nước Chân Lạp (真臘) mở cửa hướng về phía Đông, lấy hướng Đông làm trọng, nam nữ thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài. Tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi, coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn."
Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Đất Chân Lạp (真臘) màu mỡ, ruộng không có bờ giới, tầm mắt nhìn đến đâu thì cày cấy đến đó."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Nước Chân Lạp (真臘) có thành chu vi hơn 70 dặm, điện đài hơn 30 tòa, khá là tráng lệ. Đồ dùng của vua và quý tộc đa số trang trí bằng vàng ngọc. Tục chuộng hoa lệ xa xỉ, điền sản phong phú, nam nữ búi tóc hình dùi. Con gái đủ 10 tuổi thì gả chồng. Lấy gấm quấn thân, mày và trán bôi đỏ. Tục ngữ nói 'Phú quý Chân Lạp', chính là thế này vậy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Đầu năm Hồng Vũ (洪武), vua Chân Lạp (真臘) là Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật: voi, ngà voi, tô mộc, hồ tiêu, sáp vàng, sừng tê, ô mộc, hoàng hoa mộc thổ, giáng hương, bảo thạch, lông công. Sứ giả khi về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp (真臘) vào cống."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], ban cho quốc vương lịch Đại Thống (大統曆) và gấm vóc màu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Vua nước ấy là Tham Đáp Cam Vũ Giả Đặc Đạt Chí (參荅甘武者特達志) sai sứ đến cống, yến tiệc ban thưởng như trước."
'''Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện (Nội dung như trên).
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua Chân Lạp, đồng thời ban cho gấm vàng và đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua nước ấy. Phàm sứ Trung Quốc đến mà Khám hợp không khớp thì đều là giả mạo, cho phép bắt trói báo cáo. Lại sai sứ ban cho 32 xấp gấm dệt kim, 19.000 món đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ đến cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn sang ban đồ sứ cho nước Chân Lạp.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn (劉敏), Đường Kính (唐敬) cùng Trung quan mang đồ sứ sang ban tặng."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], bọn Đường Kính (唐敬) về nước, vua nước ấy sai sứ cống 59 con voi, 60.000 cân hương. Chẳng bao lâu sai sứ ban cho vua ấn bạc mạ vàng, vua và phi đều được ban thưởng. Vua là Tham Liệt Bảo Tì Da Cam Bồ Giả (參烈寶毗邪甘菩者) sai sứ cống voi và phương vật."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 7 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], Hành nhân Đường Kính (唐敬) từ Chân Lạp (真臘) về, vua nước ấy sai sứ cống 50 con voi, 60.000 cân hương, từ đó triều cống không dứt."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 [năm 1388], lại cống 28 con voi, 34 quản tượng, 45 nô tỳ phiên, để tạ ơn ban ấn."
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Chân Lạp 3 lần vào cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Chân Lạp lại vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu ở trên).
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, SAI SỨ TUYÊN DỤ NƯỚC ẤY'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai Hành nhân Tưởng Tân Hưng (蔣賓興), Vương Khuê (王樞) mang chiếu thư lên ngôi đến tuyên dụ nước ấy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai sứ đến Chân Lạp (真臘), ban chiếu dụ việc lên ngôi. Đến nước ấy thấy khí hậu thường nóng, lúa ruộng chín quanh năm, nấu nước biển làm muối. Phong tục giàu có, nam nữ búi tóc hình dùi (chuỳ kế), mặc áo ngắn, quấn vải sao (tiêu bố), không còn ở trần nữa. Các nước thuộc quốc của họ vẫn có người ở trần, thấy ai mặc quần áo thì người ta lại cười nhạo. Pháp luật có các hình phạt xẻo mũi (tị), chặt chân (nguyệt), xăm chữ vào mặt (thứ), đày đi xa (phối). Phạm tội trộm cắp thì chặt tay chân. Dân nước ấy giết người Trung Quốc thì phải đền mạng. Người Trung Quốc giết dân nước ấy thì phạt tiền vàng. Không có tiền thì bán thân chuộc tội."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 2 [năm 1404], Chân Lạp sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước ấy là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), có 3 người lính bộ tốt trốn đi, tìm không được, nhà vua lấy 3 người nước mình để thay thế. Đến nay đưa vào yết kiến, Hoàng đế phán: 'Người Hoa tự bỏ trốn sang đó, can dự gì đến họ mà trách phạt đòi bồi thường? Vả lại ngôn ngữ không thông, phong thổ không quen, ta dùng họ làm gì?'. Mệnh ban cho quần áo và chi phí đi đường, rồi cho về."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua Chân Lạp (真臘) là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai bồi thần là Nại Chức (奈職) cùng 9 người triều cống phương vật, ban thưởng tiền giấy và vải vóc. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), lúc sắp về có 3 người lính đi theo bỏ trốn, tìm không được, quốc vương lấy 3 người trong nước theo Trung quan về để bổ sung vào hàng ngũ. Đến nay, Lễ bộ (禮部) đưa vào yết kiến, Thượng (Hoàng đế) phán: 'Người Trung Quốc tự bỏ trốn, can hệ gì đến việc của họ mà bắt đền? Vả lại có được 3 người này thì ngôn ngữ không thông, phong tục chẳng hiểu, ta dùng làm gì? Huống hồ họ đều có gia đình, lẽ nào vui vẻ ở lại đây? Ngươi hãy bảo Lễ bộ (禮部) cấp cho cơm áo, chi phí đi đường, cho họ về Chân Lạp (真臘)'. Thượng thư Lý Chí Cương (李至剛) cùng những người khác thưa: 'Thần trộm nghĩ người Trung Quốc tất không phải tự trốn ở đó, hoặc giả là bị họ giấu đi, thì 3 người này cũng không nên cho về'. Thượng phán: 'Làm vua không nên dùng lòng nghi kỵ để đối đãi người, chỉ cần suy rộng lòng của trời đất để đối đãi với người là được'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến phúng viếng tang lễ quốc vương Chân Lạp. Lại ban chiếu phong Thế tử lên làm vương. Liền đó sai sứ đến tạ ơn.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến cống, báo tang cố vương, mệnh cho Hồng lô tự Tự ban Vương Tư (王孜) đến tế lễ, Cấp sự trung Tất Tiến (畢進), Trung quan Vương Tông (王琮) mang chiếu thư phong Thế tử là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương. Khi bọn Tất Tiến (進) trở về, tân vương sai sứ cùng đi theo đến tạ ơn."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) mất, mệnh Tự ban Vương Tư (王孜) sang tế, phong con trưởng là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương, ban cho gấm lụa màu và các vật phẩm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 12 [năm 1414], Chân Lạp lại vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 [năm 1414] lại vào cống, sứ giả lấy cớ nước mình nhiều lần bị Chiêm Thành (占城) xâm nhiễu nên ở lại lâu không đi. Hoàng đế sai Trung quan tiễn về, đồng thời hạ sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城) bãi binh tu hảo."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) sai sứ dâng biểu văn khắc trên vàng (kim lũ biểu văn), cống voi thuần và phương vật."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 3, CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
'''[Năm 1452]'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Trong những năm Tuyên Đức (宣德) [1426–1435] và Cảnh Thái (景泰) [1450–1456] cũng sai sứ vào cống, về sau không đến thường xuyên. Kinh thành nước ấy chu vi hơn 70 dặm, bờ cõi rộng mấy ngàn dặm. Trong nước có tháp vàng cầu vàng, điện đài hơn 30 tòa. Vua mỗi năm hội họp một lần, la liệt khỉ ngọc, công, voi trắng, tê ngưu ở phía trước, gọi là Bách Tháp Châu (百塔洲). Dùng mâm vàng bát vàng để đựng đồ ăn, nên có câu tục ngữ 'Phú quý Chân Lạp'. Dân tục giàu có, tiết trời thường nóng, không biết sương tuyết. Lúa một năm chín mấy vụ, nam nữ búi tóc hình dùi, mặc áo ngắn, quấn vải tiêu. Hình pháp có xẻo mũi, chặt chân, xăm chữ, đày đi; trộm cắp thì bỏ tay chân. Người phiên giết người Đường (Đường nhân) thì tội chết. Người Đường giết người phiên thì phạt tiền vàng, không tiền thì bán thân chuộc tội. 'Đường nhân' (唐人) là cách các nước phiên gọi người Hoa vậy, các nước hải ngoại thảy đều như thế. Việc cưới xin, hai nhà thảy đều 8 ngày không ra khỏi cửa, đốt đèn đêm ngày. Người chết thì bỏ ra đồng, mặc cho diều quạ ăn, trong chốc lát mà ăn hết sạch thì gọi là được phúc báo. Có tang thì chỉ cạo trọc đầu. Con gái thì cắt tóc trên trán to bằng đồng tiền, nói rằng 'dùng việc này để báo đáp cha mẹ'. Chữ viết dùng các loại da hoẵng da hươu nhuộm đen, dùng bột làm thỏi nhỏ để vẽ lên trên, vĩnh viễn không phai. Lấy tháng 10 âm lịch làm đầu năm, tháng nhuận thảy đều dùng tháng 9 âm lịch, đêm chia làm 4 canh. Cũng có người am hiểu thiên văn, có thể tính toán nhật thực nguyệt thực tại địa phương đó. Gọi nhà Nho là 'Ban cật' (班詰), tăng là 'Trữ cô' (苧姑), đạo là 'Bát tư' (八思). Ban cật không biết đọc sách gì, ai do đường này vào làm quan thì được coi là hiển đạt (hoa quán). Trước khi sang trọng thì đeo một sợi chỉ trắng ở cổ để tự phân biệt, khi đã quý hiển rồi vẫn kéo sợi chỉ trắng như cũ. Tục chuộng đạo Phật, sư đều ăn cá thịt, hoặc dùng để cúng Phật, duy chỉ không uống rượu. Nước ấy tự xưng là 'Cam Bột Trí' (甘孛智), sau gọi chệch thành 'Cam Phá Giá' (甘破蔗). Sau đời Vạn Lịch (萬曆) lại đổi thành 'Đông Phố Trại' (東埔寨 - Campuchia)."<ref>Nguyên văn bản in trên [https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e1/Gujin_Tushu_Jicheng%2C_Volume_217_%281700-1725%29.djvu/page115-1920px-Gujin_Tushu_Jicheng%2C_Volume_217_%281700-1725%29.djvu.jpg Gujin Tushu Jicheng, Volume 217 (1700-1725).djvu/115] và [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpkaa4kxybkr?page_from=profile&version=1 shidianguji] đều là 東埔寨 (Đông Phố Trại). [https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B9_lao_Ph%E1%BB%91#V%E1%BB%81_t%C3%AAn_g%E1%BB%8Di_%C4%90%C3%B4ng_Ph%E1%BB%91_v%C3%A0_Gi%E1%BA%A3n_Ph%E1%BB%91_Tr%E1%BA%A1i Bản chép tay của Minh Thực Lục về Chân Lạp], nhiều người đọc thành 柬埔寨 (Giản Phố Trại).</ref>
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 [năm 1452], ban cho vua Chân Lạp (真臘) 2 đoạn gấm, 6 xấp lụa trừu (trữ ti), 4 xấp sa, 4 xấp la; ban cho Vương phi 4 xấp lụa trừu, 3 xấp sa, 3 xấp la. Các đầu mục cùng Tổng quản thông sự, Hỏa trưởng đi theo được ban quần áo, lụa trừu, quyến, vải có sai biệt, ban yến tiệc 1 lần. Sứ thần khi về đến Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) được quản đãi 1 lần, cấp lộ phí (hạ trình) 1 lần cho 10 ngày. Cứ mỗi 10 người thì cấp 2 con dê, ngỗng, gà; 20 bình rượu, 1 đấu gạo, 5 đấu mì, rau xanh và gia vị..."
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 2 (真臘部彙考二)==
=== 《Chân Lạp phong thổ ký》 (真臘風土記) ===
'''Tổng tự (總敘)'''
Nước Chân Lạp (真臘), hoặc gọi là Chiêm Lạp (占臘), nước ấy tự xưng là "Cam Bột Trí" (甘孛智). Nay Thánh triều dựa theo Tây Phiên kinh (西蕃經), đặt tên nước ấy là "Gạm Phổ Chỉ" (澉浦只), đó cũng là âm cận với Cam Bột Trí (甘孛智) vậy. Từ Ôn Châu (溫州) ra khơi, theo kim chỉ hướng Đinh Mùi, đi qua các cảng khẩu thuộc các châu ngoài khơi của Mân (閩 - Phúc Kiến), Quảng (廣 - Quảng Đông), vượt biển Thất Châu (七洲洋), qua biển Giao Chỉ (交趾洋) đến Chiêm Thành (占城). Lại từ Chiêm Thành (占城) thuận gió mất khoảng nửa tháng thì đến Chân Bồ (真蒲), ấy là biên cảnh của nước này. Lại từ Chân Bồ (真蒲) hành trình theo kim chỉ hướng Khôn Thân, qua biển Côn Lôn (崑崙洋) vào cửa sông. Cửa sông có đến mấy chục, chỉ có cửa sông thứ 4 là có thể vào được, còn lại thảy đều cát nông, nên thuyền lớn không thông. Tuy nhiên nhìn khắp nơi chỉ thấy mây ngàn cây cổ, cát vàng lau trắng, lúc vội vã không dễ nhận ra, vì thế người đi thuyền coi việc tìm cửa sông là việc khó. Từ cửa sông đi về hướng Bắc, thuận dòng mất khoảng nửa tháng thì tới địa danh là Tra Nam (查南), ấy là một quận thuộc nước này. Lại từ Tra Nam (查南) đổi sang thuyền nhỏ, thuận dòng hơn 10 ngày, đi qua làng Bán Lộ (半路村), làng Phật (佛村), vượt hồ Đạm Dương (淡洋), có thể đến nơi gọi là Can Báng (干傍), cách thành 50 dặm.
Theo Chư phiên chí (諸蕃志) chép rằng: "Đất ấy rộng 7.000 dặm, phía Bắc nước này đến Chiêm Thành (占城) mất nửa tháng đường, phía Tây Nam cách Xiêm La (暹羅) nửa tháng hành trình, phía Nam cách Phiên Ngung (番禺) 10 ngày hành trình, phía Đông là biển lớn vậy". Xưa kia đây là nước thông thương qua lại, Thánh triều nay nhận mệnh trời, thống lĩnh bốn biển. Khi Toa Đô (唆都) Nguyên soái đặt hành tỉnh ở Chiêm Thành (占城), từng sai một Hổ phù Bách hộ, một Kim bài Thiên hộ cùng đến nước này, rốt cuộc bị bắt giữ không cho về. Tháng 6 âm lịch năm Ất Vị thời Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], Thiên tử sai sứ chiêu dụ, ta đi theo đoàn. Tháng 2 âm lịch năm sau [năm 1296] rời Minh Châu (明州), ngày 20 ra khơi từ cửa biển Ôn Châu (溫州), ngày 15 tháng 3 âm lịch đến Chiêm Thành (占城), giữa đường gió ngược không thuận, tháng 7 âm lịch mới tới nơi. Tháng 6 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức (大德) [năm 1297] quay thuyền về, ngày 12 tháng 8 âm lịch đến bến thuyền Tứ Minh (四明). Những chi tiết về phong thổ, quốc sự nước ấy, tuy không thể biết hết, nhưng đại lược cũng có thể thấy được vậy.
'''Thành quách (城郭)'''
Thành của châu vi chu vi khoảng 20 dặm, có 5 cửa, cửa đều có hai tầng, duy chỉ hướng Đông mở 2 cửa, các hướng còn lại đều 1 cửa. Bên ngoài thành có hào lớn, ngoài hào đều là đường cái và cầu lớn, hai bên cầu mỗi bên có 54 pho tượng thần bằng đá, hình dáng như Thạch tướng quân, rất lớn và dữ tợn, 5 cửa đều tương tự như nhau. Lan can cầu đều làm bằng đá, đục theo hình rắn, rắn đều có 9 đầu, 54 vị thần đều dùng tay kéo rắn, có thế như không cho rắn chạy thoát. Phía trên cửa thành có 5 đầu Phật bằng đá lớn, mặt hướng về phía Tây, chính giữa đặt một đầu trang trí bằng vàng. Hai bên cửa thành đục đá thành hình voi. Thành đều xếp đá mà thành, cao khoảng 2 trượng (khoảng 6.6 mét), đá rất khít và kiên cố, lại không mọc cỏ dại, nhưng không có nữ tường (tường thấp trên mặt thành). Trên thành đôi khi trồng cây quặng lang (cây thốt nốt), rải rác là các dãy nhà trống, phía trong thành như một cái dốc, dày khoảng hơn 10 trượng. Trên dốc đều có cửa lớn, đêm đóng sáng mở. Cũng có người canh cửa, riêng chó không được vào cửa. Thành ấy rất vuông vức, bốn góc mỗi góc có một tháp đá, người từng chịu hình phạt chặt ngón chân cũng không được vào cửa.
Ngay giữa nước có một tháp vàng, bên cạnh có hơn 20 tháp đá, hơn 100 gian nhà đá, hướng về phía Đông có một cây cầu vàng, 2 con sư tử vàng đặt ở tả hữu cầu, 8 pho tượng Phật vàng đặt dưới nhà đá. Phía Bắc tháp vàng khoảng hơn 1 dặm có một tháp đồng, cao hơn tháp vàng, nhìn xa thấy sừng sững. Dưới tháp cũng có mười mấy gian nhà đá. Lại phía Bắc tháp ấy 1 dặm là cung thất của quốc chủ, trong phòng ngủ lại có một tháp vàng nữa. Vì thế khách buôn trên thuyền từ xưa đã có lời khen "Phú quý Chân Lạp", tưởng là vì lẽ này. Tháp đá ở ngoài cửa Nam hơn nửa dặm, tục truyền do Lỗ Ban (魯般) xây xong trong một đêm. Mộ Lỗ Ban (魯般) ở ngoài cửa Nam khoảng hơn 1 dặm, chu vi khoảng 10 dặm, có hàng trăm gian nhà đá. Hồ Đông (Đông Trì) cách thành 10 dặm về phía Đông, chu vi khoảng 100 dặm, trong hồ có tháp đá nhà đá, trong tháp có một pho tượng Phật đồng nằm, từ rốn thường có nước chảy ra. Hồ Bắc (Bắc Trì) cách thành 5 dặm về phía Bắc, trong hồ có một tháp vàng vuông, mấy chục gian nhà đá, sư tử vàng, Phật vàng, voi đồng, bò đồng, ngựa đồng đều có đủ.
'''Cung thất (宮室)'''
Cung điện và dinh thự quan lại đều hướng về phía Đông. Quốc cung ở phía Bắc tháp vàng cầu vàng, gần cửa chu vi khoảng 5 đến 6 dặm. Ngói của chính thất làm bằng chì, còn lại đều là ngói đất màu vàng. Cột cầu rất lớn, đều chạm vẽ hình Phật. Mái nhà tráng lệ, hành lang dài bao quanh, cao thấp so le, khá có quy mô. Nơi làm việc có cửa sổ vàng, cột vuông hai bên, trên có gương, ước chừng 40 đến 50 chiếc đặt bên cạnh cửa sổ. Phía dưới làm hình voi, nghe nói bên trong có nhiều nơi kỳ lạ, canh phòng rất nghiêm, không thể nhìn thấy được. Trong tháp vàng bên nội cung, quốc chủ đêm nằm trên đó, người bản địa đều nói trong tháp có tinh rắn 9 đầu, là chủ đất của một nước, thân là nữ, mỗi đêm đều hiện ra gặp quốc chủ, vua phải cùng ngủ giao cấu trước, dù là vợ vua cũng không dám vào. Đến canh hai vua mới ra, bấy giờ mới có thể ngủ cùng vợ thiếp. Nếu tinh này một đêm không hiện ra thì ngày chết của vương phiên đã đến. Nếu vương phiên một đêm không tới thì tất sẽ gặp tai họa. Kế đến như dinh thự của quốc thích, đại thần, chế độ rộng lớn, khác hẳn nhà thường dân. Xung quanh đều lợp bằng cỏ, duy chỉ có gia miếu và chính tẩm (phòng ngủ chính) là 2 nơi được dùng ngói, cũng tùy theo đẳng cấp chức quan mà định chế độ nhà rộng hẹp khác nhau. Phía dưới như nhà của bách tính, chỉ lợp cỏ, không dám dùng dù chỉ một mảnh ngói trên mái, rộng hẹp tuy tùy vào sự nghèo giàu của gia đình, nhưng tuyệt nhiên không dám bắt chước chế độ của phủ đệ.
'''Phục sức (服飾)'''
Từ quốc chủ trở xuống nam nữ đều búi tóc hình dùi, để trần thân trên, chỉ lấy vải quấn ngang hông, khi ra ngoài thì thêm một dải vải lớn quấn lên trên lớp vải nhỏ. Vải có phân đẳng cấp rõ rệt, vải của quốc chủ quấn có giá trị 3 đến 4 lạng vàng, cực kỳ hoa lệ tinh mỹ. Trong nước tuy tự dệt vải, nhưng người Xiêm La (暹羅) và Chiêm Thành (占城) đều mang vải đến bán, thường lấy vải từ Tây Dương (西洋) làm hạng thượng đẳng vì tinh xảo và hoa văn nhỏ, vì thế chỉ riêng quốc chủ mới được quấn vải hoa thuần chất. Trên đầu đội mũ vương miện vàng, như loại mũ trên đầu các vị Kim Cang vậy. Hoặc có lúc không đội mũ, chỉ lấy dây xâu hoa thơm như hoa nhài quấn quanh búi tóc. Trên đỉnh đầu đội khối trân châu lớn nặng khoảng 3 cân, tay chân và các ngón tay đều đeo vòng vàng, nhẫn đều khảm đá mắt mèo. Phía dưới đi chân đất, lòng bàn chân và lòng bàn tay đều dùng thuốc hồng nhuộm đỏ, khi ra ngoài tay cầm gươm vàng. Trong dân gian chỉ phụ nữ mới được nhuộm lòng bàn tay chân, đàn ông không dám vậy. Đại thần quốc thích có thể quấn vải hoa thưa, chỉ người trong cung mới được quấn vải hoa hai đầu, phụ nữ trong dân gian cũng có thể quấn loại này. Nếu là người Đường mới đến (tân Đường nhân) dù có quấn vải hoa hai đầu, người ta cũng không dám trách tội, vì họ "ám đinh bát sát" vậy. "Ám đinh bát sát" nghĩa là không biết thể lệ, quy tắc vậy. (Ghi chú: Trên đỉnh đầu đội trân châu nặng khoảng 3 cân, chữ "cân" này có vẻ nhầm lẫn nhưng chuyện ngoại quốc cũng không thể dùng lý thường mà đoán định, tạm theo nguyên bản).
'''QUAN THUỘC (官屬)'''
Trong nước cũng có các quan Thừa tướng, Tướng soái, Tư thiên, bên dưới mỗi quan lại đặt các thuộc viên Tư lại, chỉ là danh xưng khác biệt mà thôi. Đại để các chức ấy đều do quốc thích nắm giữ, nếu không thì cũng là người có con gái nạp làm phi tần. Nghi thức và đoàn tùy tùng khi ra ngoài cũng có đẳng cấp. Dùng kiệu vàng có 4 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhất; kiệu vàng 2 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhì; kiệu vàng 1 người khiêng và lọng cán vàng là hạng kế tiếp; chỉ dùng 1 lọng cán vàng lại là hạng sau đó nữa. Kẻ cấp thấp hơn nữa thì chỉ dùng 1 lọng cán bạc mà thôi, cũng có người dùng kiệu có đòn khiêng bằng bạc. Các quan từ cấp lọng cán vàng trở lên đều gọi là "Bả đinh" (把丁), hoặc gọi là "Ám đinh" (暗丁). Người dùng lọng cán bạc thì gọi là "Sư lạt đích tản" (廝辣的傘). Lọng đều dùng lụa đỏ của Trung Quốc mà làm, dải rủ xuống kéo dài chạm đất. Ô che dầu thì đều dùng lụa xanh, dải rủ lại ngắn.
''' TAM GIÁO (三教)'''
Bậc học giả (Nho) gọi là Ban cật (班詰), bậc đi tu (Sư) gọi là Trữ cô (苧姑), bậc theo đạo (Đạo sĩ) gọi là Bát tư duy (八思惟). Ban cật không biết tổ sư là ai, cũng không có nơi gọi là học xá để giảng tập, cũng khó lòng tìm hiểu họ đọc sách gì, chỉ thấy ngoài việc quấn vải như người thường, họ còn treo một sợi chỉ trắng trên đỉnh đầu, lấy đó làm dấu hiệu phân biệt là Nho. Những người từ hàng Ban cật mà ra làm quan thì được coi là bậc cao sang. Sợi chỉ trên cổ ấy suốt đời không bỏ.
Trữ cô thì cạo tóc mặc áo vàng, để hở vai phải, phía dưới thắt váy vải vàng. Đi chân đất. Chùa cũng được phép dùng ngói lợp. Chính giữa chỉ thờ một pho tượng, hình dáng giống hệt Thích Ca Phật, gọi là Bột lại (孛賴), mặc áo đỏ nặn bằng bùn, trang trí màu sắc, ngoài ra không có tượng nào khác. Phật trong tháp thì tướng mạo lại khác, đều đúc bằng đồng, không có chuông trống, não bạt hay tràng phan bảo cái. Tăng sĩ đều ăn cá thịt, chỉ là không uống rượu, cúng Phật cũng dùng cá thịt. Mỗi ngày dùng một bữa chay, đều lấy từ nhà thí chủ. Trong chùa không đặt bếp núc. Kinh văn tụng đọc rất nhiều, đều chép trên lá bối (bối diệp) xếp lại cực kỳ chỉnh tề, trên đó viết chữ đen, đã không dùng bút mực thì chẳng rõ họ dùng vật gì để viết. Tăng sĩ cũng dùng kiệu và lọng có cán vàng, bạc. Khi quốc vương có đại chính sự cũng thường tìm đến hỏi ý kiến, nhưng ở đây không có ni cô.
Bát tư duy cũng như người thường, ngoài việc quấn vải thì trên đầu đội một miếng vải đỏ hoặc trắng, giống như mũ Cố cô (罟姑) của người đàn bà Đạt Đát (韃靼) nhưng hơi thấp hơn. Cũng có cung quán (nơi tu hành), nhưng so với chùa chiền thì hẹp hơn, mà Đạo giáo cũng không hưng thịnh bằng Phật giáo. Nơi thờ phụng không có tượng gì khác, chỉ có một khối đá, như đá trong đàn xã tắc của Trung Quốc, cũng không rõ tổ sư là ai. Lại có cả cung quán cho nữ đạo sĩ. Bát tư duy cũng được dùng ngói lợp. Họ không ăn đồ của người khác nấu, cũng không cho người khác thấy mình ăn, không uống rượu, cũng chưa từng thấy họ tụng kinh hay làm các việc công quả cho người. Theo tục lệ, trẻ con đi học đều trước hết đến nhà chùa để học tập với tăng sĩ, khi lớn lên mới hoàn tục, chi tiết cụ thể không thể khảo chứng rõ được.
'''NHÂN VẬT (人物)'''
Người ta chỉ biết nhân vật vùng Man tục thô xấu và rất đen, nhưng không biết rằng những người ở hải đảo u tịch hay ngõ phố tầm thường mới đúng là như vậy. Còn như cung nhân và phụ nữ ở Nam Bằng (南棚), nhiều người trắng trẻo như ngọc, ấy là vì không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vậy. Đại để ngoài một mảnh vải quấn ngang hông, bất luận nam nữ đều để lộ ngực, búi tóc hình dùi, đi chân đất, ngay cả vợ quốc vương cũng chỉ như thế. Quốc vương có tất cả 5 người vợ, 1 người ở chính thất, 4 người ở bốn phương. Phía dưới là phi tần và tỳ thiếp, nghe đâu có từ 3.000 đến 5.000 người, cũng phân chia đẳng cấp, không mấy khi ra khỏi cửa.
Mỗi khi ta vào nội cung, thấy phiên chủ tất cùng ra với chính thê, ngồi trong cửa sổ vàng nơi chính thất, các cung nhân đều thứ tự đứng liệt dưới cửa sổ hai bên hành lang, đứng tựa mà nhìn trộm, ta có dịp được thấy hết một lượt. Hễ nhà dân có con gái đẹp đều bị triệu vào cung. Những người phục dịch việc đi lại bên dưới gọi là "Trần gia lan" (陳家蘭), cũng không dưới 1.000 đến 2.000 người. Họ đều có chồng, sống lẫn lộn trong dân gian, chỉ ở trước thóp đầu thì cạo tóc, bôi phấn hồng (ngân chu) và bôi ở hai bên thái dương để làm dấu hiệu phân biệt là Trần gia lan. Chỉ hạng phụ nữ này mới được vào nội cung, hạng người khác bên dưới không được vào. Trước sau nội cung, hạng người này đi lại nườm nượp trên đường. Phụ nữ tầm thường ngoài việc búi tóc hình dùi ra không có đồ trang sức trâm lược nào khác, nhưng trên cánh tay đeo vòng vàng, ngón tay đeo nhẫn vàng; các Trần gia lan và cung nhân trong nội đình đều dùng như vậy. Nam nữ trên mình thường xức thuốc thơm, hợp thành từ hương đàn, xạ; nhà nhà đều tu sửa Phật sự. Trong nước có nhiều người lưỡng tính (nhị hình nhân), mỗi ngày từng đoàn mười mấy người đi lại giữa chợ búa, thường có ý lôi kéo người Đường (người Trung Quốc), ngược lại còn tặng quà hậu hĩnh, thật là xấu xa đáng ghét.
'''SẢN PHỤ (產婦)'''
Phụ nữ phiên sau khi sinh, liền lấy cơm nóng trộn muối xoa vào và nạp vào âm hộ, sau 1 ngày đêm thì lấy ra, nhờ đó mà trong lúc sinh không mắc bệnh, lại thu hẹp lại như người con gái còn trinh. Ta mới nghe qua thì lấy làm lạ, rất nghi ngờ không phải vậy. Sau đó nhà nơi ta tạm trú có người sinh con, mới biết rõ sự việc đó, và ngày hôm sau người ấy đã ôm đứa bé cùng ra sông tắm rửa, thật là chuyện quái lạ thấy được. Lại thường thấy người ta nói phụ nữ phiên rất dâm đãng, nếu chồng không đáp ứng được dục vọng thì liền có việc bị vợ ruồng bỏ. Nếu chồng có việc đi xa, chỉ có thể đi vài đêm. Quá 10 đêm, người vợ tất nói: "Ta không phải là ma quỷ, sao có thể ngủ cô độc?", lòng dâm đãng càng khẩn thiết. Tuy nhiên cũng nghe có người giữ tiết chí. Phụ nữ ở đây rất nhanh già. Có lẽ vì việc cưới xin sinh nở quá sớm, người 20 đến 30 tuổi đã như người 40 đến 50 tuổi ở Trung Quốc rồi.
'''THIẾU NỮ (室女)'''
Nhà dân nuôi con gái, cha mẹ tất cầu nguyện rằng: "Nguyện cho con có người muốn, sau này lấy được hàng ngàn hàng trăm người chồng". Con gái nhà giàu từ 7 tuổi đến 9 tuổi, nhà cực nghèo thì đến 11 tuổi, tất phải mời tăng sĩ hoặc đạo sĩ làm lễ phá trinh, gọi là "Trận thảm" (陣毯). Đại để quan phủ mỗi năm vào 1 ngày trong tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] sẽ ban hành lệnh, nhà dân có con gái đến tuổi Trận thảm phải báo cáo quan phủ trước. Quan phủ trước hết cấp cho 1 cây nến lớn, trên nến có khắc một vạch, ước chừng đêm đó khi trời tối thì đốt nến, khi cháy đến vạch khắc thì là lúc làm lễ Trận thảm.
Trước kỳ hạn 1 tháng, hoặc nửa tháng, hoặc 10 ngày, cha mẹ tất chọn lấy 1 tăng sĩ hoặc đạo sĩ tùy theo chùa quán nào, thường cũng có nơi quen thuộc. Các tăng sĩ tốt, bậc cao đều được các nhà quan lại giàu có chọn trước, nhà nghèo thì không kịp chọn lựa. Nhà giàu sang thì biếu tặng rượu, gạo, vải vóc, trầu cau, đồ bạc các loại, có khi đến 100 gánh, giá trị bằng 200 đến 300 lạng bạc trắng của Trung Quốc; nhà ít hơn thì 30 đến 40 gánh, hoặc 10 đến 20 gánh, tùy nhà giàu nghèo, cho nên nhà nghèo đến 11 tuổi mới làm lễ là vì khó biện được các vật phẩm này. Cũng có người bố thí tiền cho con gái nhà nghèo làm lễ Trận thảm, gọi là "làm việc thiện" (tố hảo sự).
Đại để trong 1 năm, một tăng sĩ chỉ được nhận 1 cô gái, tăng sĩ đã nhận lời rồi thì không được nhận nơi khác. Đêm đó, bày tiệc ăn uống lớn, khua trống nhạc hội họp người thân hàng xóm. Ngoài cửa dựng một cái lán cao, trang trí hình nặn người bùn, thú bùn các loại trên đó, hoặc hơn 10 cái, hoặc chỉ 3 đến 4 cái, nhà nghèo thì không có. Mỗi nhà theo tích cũ, phàm 7 ngày mới dỡ bỏ. Khi trời tối, dùng kiệu lọng trống nhạc đón tăng sĩ này về. Dùng vải màu kết thành 2 cái đình nhỏ, một cái để cô gái ngồi trong đó, một cái tăng sĩ ngồi trong đó, không rõ miệng họ nói lời gì, tiếng trống nhạc ồn ã vang trời. Đêm đó không cấm việc đi đêm.
Nghe nói đến giờ, tăng cùng con gái vào phòng, tự tay làm lễ phá trinh, rồi bỏ vào trong rượu; có người nói cha mẹ và hàng xóm đều chấm lên trán, có người nói thảy đều nếm bằng miệng, có người nói tăng cùng con gái giao cấu, có người lại nói không có việc này, nhưng họ không cho người Đường thấy nên không biết chắc được. Đến khi trời sắp sáng, lại dùng kiệu lọng trống nhạc tiễn tăng đi, sau đó phải dùng vải vóc các loại đưa cho tăng để "chuộc thân", nếu không cô gái này sẽ mãi thuộc về vị tăng đó, không thể gả cho người khác được.
Việc ta thấy tận mắt là vào đêm mùng 6 tháng 4 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức [năm 1297]. Trước đó cha mẹ tất ngủ cùng con gái, sau lễ này thì đuổi ra ngoài phòng, mặc cho đi đâu thì đi, không còn gò bó hay đề phòng gì nữa. Đến như việc cưới xin, tuy có lễ nạp tệ nhưng cũng chỉ làm sơ sài cho xong chuyện, nhiều người tư thông trước rồi mới cưới sau, phong tục ấy họ chẳng cho là nhục, cũng chẳng cho là lạ. Đêm Trận thảm, trong một ngõ có khi đến hơn 10 nhà làm lễ, trong thành người đón tăng sĩ đạo sĩ đi lại đan xen trên đường, tiếng trống nhạc không nơi nào không có.
'''NÔ TỲ (奴婢)'''
Nô tỳ trong các gia đình đều mua người dã man (dã nhân) để sung vào việc phục dịch, nhà nhiều có hơn 100 người, nhà ít cũng có 10 đến 20 người, trừ những nhà cực nghèo thì mới không có. Những người dã man này là người ở vùng núi rừng, tự có chủng loại riêng, tục gọi là "Trông" (獞). Khi bọn giặc này đến trong thành, cũng không dám ra vào nhà người khác. Người trong thành khi mắng chửi nhau, hễ gọi đối phương là "Trông" (獞) thì kẻ đó hận thấu xương tủy, sự khinh rẻ của mọi người đối với họ là như thế. Người trẻ khỏe giá 100 tấm vải, người già yếu chỉ giá 30 đến 40 tấm vải. Họ chỉ được phép ngồi nằm dưới sàn lầu. Nếu có việc sai bảo mới được lên lầu, nhưng phải quỳ gối, chắp tay, đảnh lễ rồi mới dám tiến tới. Họ gọi chủ nam là "Ba đà" (巴駝), chủ mẫu là "Mễ" (米). Đà (駝) nghĩa là cha, Mễ (米) nghĩa là mẹ. Nếu có lỗi mà bị đánh, họ cúi đầu chịu gậy, chẳng dám cử động. Nam nữ nô tỳ tự phối đôi với nhau, chủ nhân tuyệt không có lễ giao tiếp (cưới hỏi) với họ. Có người Đường (唐人) đến đó, vì xa nhà lâu ngày nên không chọn lựa mà giao cấu với họ, chủ nhân nghe thấy thì ngày hôm sau không thèm ngồi cùng chỗ, vì người đó đã từng tiếp xúc với dã nhân vậy. Nếu nô tỳ giao cấu với người ngoài đến mức có thai, sinh con, chủ nhân cũng không gặng hỏi lai lịch, vì coi họ là hạng không đáng kể (bất xỉ), lại có lợi là thêm được đứa trẻ, sau này vẫn làm nô tỳ được. Nếu có kẻ bỏ trốn mà bị bắt lại, tất sẽ bị xăm màu xanh vào mặt, hoặc đeo vòng sắt quanh cổ để khóa lại, cũng có người bị đeo vòng sắt ở cánh tay hoặc bắp chân.
'''NGÔN NGỮ (語言)'''
Ngôn ngữ trong nước tự thành hệ thống riêng, âm thanh tuy gần giống nhưng người Chiêm Thành (占城) và người Xiêm (暹人) đều không thông hiểu lời nói. Ví như 1 là "Mai", 2 là "Biệt", 3 là "Ti", 4 là "Ban", 5 là "Bột giam", 6 là "Bột giam mai", 7 là "Bột giam biệt", 8 là "Bột giam ti", 9 là "Bột giam ban", 10 là "Đáp hô". Cha gọi là "Ba đà", chú bác cũng gọi là "Ba đà". Mẹ gọi là "Mễ", cô, dì, thím, mợ cho đến bậc cao tuổi hàng xóm cũng gọi là "Mễ". Anh gọi là "Bang", chị cũng gọi là "Bang". Em gọi là "Bổ ôn". Cậu gọi là "Khiết lại", dượng (chồng của cô) cũng gọi là "Bột lại". Đại để họ đặt chữ "Dưới" lên trên (ngữ pháp ngược), như trong đảng phái thường tự sát hại lẫn nhau. Vùng đất gần đó cũng có người trồng đậu khấu, bông vải dệt vải để làm nghề nghiệp, vải rất thô dày, hoa văn rất khác biệt.
'''CHỮ VIẾT (文字)'''
Chữ viết thông thường và văn thư quan phủ đều dùng các vật như da hoẵng, da hươu nhuộm đen, tùy theo kích thước rộng hẹp mà cắt theo ý muốn. Dùng một loại phấn như đất phấn trắng (bạch oắc) của Trung Quốc, vê thành thỏi nhỏ gọi là "Sa" (梭), cầm trong tay rồi viết chữ lên da, vĩnh viễn không phai. Dùng xong thì giắt lên trên tai. Chữ viết có thể nhận ra là do ai viết, phải dùng vật ướt lau sạch mới mất đi. Đại suất mặt chữ giống như chữ Hồi Hột (回鶻), sách chữ đều viết từ sau ra trước, chứ không viết từ trên xuống dưới. Ta nghe Dã Tiên Hải Nha (也先海牙) nói rằng: "Chữ ấy không có âm thanh, chính là gần với âm người Mông Cổ (蒙古), chỉ khác nhau 2 đến 3 chữ mà thôi". Ban đầu không có ấn tín, người dân đi kiện cáo cũng có cửa hàng chép thuê (thư phô) viết giúp.
'''CHÍNH SÓC THỜI TỰ (正朔時序)'''
Thường lấy tháng 10 âm lịch của Trung Quốc làm tháng Giêng. Tháng ấy tên là "Giai đắc" (佳得). Trước nội cung dựng một cái giàn lớn, trên có thể chứa hơn 1.000 người, treo đầy đèn cầu, hoa lá các loại. Phía đối diện cách xa 20 trượng, dùng gỗ nối nhau dựng thành giàn cao như cột leo (phác can) khi xây tháp, cao khoảng hơn 20 trượng. Mỗi đêm dựng 3 đến 4 tòa hoặc 5 đến 6 tòa, trang bị pháo hoa, pháo tre (bộc trượng) trên đó. Việc này đều do các thuộc quận và các phủ đệ nhận trách nhiệm (nhận trực). Đêm đến mời quốc vương ra xem, châm đốt pháo hoa và pháo tre. Pháo hoa tỏa sáng dù cách xa 100 dặm cũng thấy. Pháo tre to như đại bác, tiếng vang động cả thành. Các quan thuộc và quý thích, mỗi người được chia nến lớn và trầu cau, chi phí rất lớn. Quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem, như thế suốt nửa tháng mới thôi.
Mỗi tháng tất có một sự lệ, như tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì ném cầu (phao cầu), tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì áp liệt (tập hợp thợ săn), tụ tập dân chúng cả nước đều vào thành, duyệt binh trước nội cung. Tháng 5 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì nghênh Phật, các tượng Phật từ xa gần trong cả nước đều được đưa đến dâng nước cho quốc chủ tắm mình. Trên cạn có thuyền đi (lục địa hành chu), quốc chủ lên lầu để xem. Tháng 7 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì đốt lúa, khi ấy lúa mới đã chín, đón ở ngoài cửa Nam, đốt đi để cúng Phật, phụ nữ đến xem vô số, nhưng quốc chủ không ra. Tháng 8 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì Ai lam (挨藍), Ai lam nghĩa là múa vậy. Vua mỗi ngày ở trong nội cung múa Ai lam, lại cho lợn đấu, voi đấu, quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem. Như thế suốt 1 tuần trăng (10 ngày), các tháng còn lại không thể ghi nhớ tường tận được.
Người trong nước cũng có kẻ thông thiên văn, nhật thực nguyệt thực đều có thể tính toán, nhưng tháng đủ tháng thiếu lại khác với Trung Quốc. Năm nhuận thì họ cũng đặt nhuận, nhưng chỉ nhuận tháng 9 âm lịch, thật không hiểu nổi. Một đêm chỉ chia làm 4 canh. Cứ mỗi 7 ngày là một vòng, cũng như Trung Quốc gọi là "Khai bế kiến trừ" (các trực). Người phiên đã không có danh tính, cũng không nhớ ngày sinh, nhiều người lấy tên ngày sinh làm tên gọi. Có 2 ngày là đại cát, 3 ngày bình thường, 4 ngày là đại hung. Ngày nào có thể xuất hành hướng Đông, ngày nào có thể xuất hành hướng Tây, dù là phụ nữ cũng đều biết tính. 12 con giáp (thập nhị sinh tiếu) cũng giống Trung Quốc, nhưng tên gọi thì khác. Như gọi ngựa là "Bốc tái", tiếng gọi gà là "Loan", tiếng gọi lợn là "Trực lư", gọi bò là "Cá".
'''TRANH TỤNG (爭訟)'''
Dân gian tranh tụng, dù là việc nhỏ cũng phải tâu lên. Quốc chủ ban đầu không dùng hình phạt roi trượng, chỉ nghe việc "phạt tiền vàng" (phạt kim) mà thôi. Người phạm tội đại nghịch trọng sự cũng không có việc treo cổ hay chém đầu, chỉ ở ngoài cửa Tây thành đào đất thành hố, bỏ tội nhân vào trong, lấp đầy đất đá, nén chặt là xong. Kế đến có kẻ bị chặt ngón tay chân, có kẻ bị xẻo mũi. Nhưng việc gian dâm và hối lộ thì không cấm, chồng của người đàn bà gian dâm nếu biết được, thì dùng 2 thanh củi kẹp chặt chân kẻ gian phu, đau đớn không chịu nổi, phải bỏ hết tiền của đưa cho người chồng mới được tha. Tuy nhiên cũng có kẻ dàn cảnh lừa bịp, hoặc có kẻ chết ở ngay cửa nhà, thì họ tự dùng dây kéo vứt ra bãi đất trống ngoài thành, ban đầu không có việc báo quan kiểm nghiệm. Gia đình bắt được trộm, cũng có thể thi hành hình phạt giam giữ khảo tra, nhưng có một điều đáng nói: như nhà mất đồ, nghi người này là trộm mà họ không nhận, bèn lấy nồi đun dầu thật nóng, lệnh cho người đó nhúng tay vào, nếu quả thực trộm đồ thì tay bị thối rữa, nếu không thì da thịt vẫn như cũ. Người phiên có pháp thuật như vậy.
Lại có 2 nhà tranh tụng, không phân rõ phải trái. Phía đối diện nội cung có 12 tòa tháp đá nhỏ, lệnh cho mỗi người ngồi trong một tháp, bên ngoài người thân hai nhà tự canh phòng lẫn nhau. Ngồi 1 hoặc 2 ngày, hoặc 3 đến 4 ngày, kẻ không có lý tất sẽ phát bệnh mà ra. Hoặc trên thân mọc mụn nhọt, hoặc bị ho, sốt nóng các loại; người có lý thì chẳng có việc gì. Dựa vào đó để phân định phải trái, gọi là "Thiên ngục". Ấy là linh khí của mảnh đất đó có sự như vậy.
'''BỆNH HỦI (病癩)'''
Người trong nước thông thường có bệnh, đa số là xuống nước tắm ngâm, và thường xuyên gội đầu, tự khắc sẽ khỏi. Tuy nhiên người bị bệnh hủi (bệnh lùi) rất nhiều, rải rác trên đường. Người bản địa dù cùng nằm cùng ăn với họ cũng không nề hà. Có người nói do phong thổ nơi đó có tật bệnh này, từng có quốc chủ mắc bệnh này nên mọi người không hiềm khích. Theo ý kiến thiển cận của ta, thường là sau khi mây mưa (hảo sắc), liền xuống nước tắm rửa, nên mới thành bệnh này. Nghe nói người bản địa sau khi xong việc sắc dục đều xuống nước tắm rửa. Những người mắc bệnh lỵ thì 10 người chết đến 8, 9 người. Cũng có người bán thuốc ở chợ, không giống Trung Quốc, không rõ là vật gì. Lại còn một hạng thầy phù thủy (sư vu) làm phép cho người, càng đáng cười hơn.
'''TỬ VONG (死亡)'''
Người chết không có quan tài, chỉ dùng chiếu tre các loại, đắp lên bằng vải. Lúc đưa tang, phía trước phía sau dùng cờ xí trống nhạc, lại dùng 2 mâm gạo rang, đi dọc đường vung vãi, khiêng đến nơi hoang vắng xa xôi không người, quẳng bỏ lại đó. Đợi có diều quạ, chó hoặc các loài súc vật đến ăn, trong chốc lát mà ăn hết thì bảo cha mẹ có phúc nên mới được báo đáp này. Nếu không ăn, hoặc ăn không hết, lại bảo cha mẹ có tội. Đến nay cũng dần có người thiêu xác, thường là dòng giống còn sót lại của người Đường (唐人). Cha mẹ chết, không có tang phục riêng, nam giới thì cạo trọc đầu, nữ giới thì ở đỉnh đầu cắt tóc to bằng đồng tiền, lấy đó làm hiếu vậy. Quốc chủ thì có tháp để chôn cất, nhưng không rõ là táng cả thân xác hay táng xương cốt.
'''CANH CHÚNG (耕種)'''
Đại để một năm có thể thu hoạch gieo trồng 3, 4 bận, vì bốn mùa thường như tiết tháng 5, 6 âm lịch, vả lại không biết đến sương tuyết vậy. Đất ấy nửa năm có mưa, nửa năm tuyệt không. Từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], mỗi ngày đều mưa, sau buổi trưa mới mưa. Trong hồ Đạm Dương (淡水洋) mực nước cao đến 7, 8 trượng, cây lớn đều ngập hết, chỉ còn lại ngọn. Những nhà ở ven nước đều dời vào sau núi. Từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], một giọt mưa cũng không có, trong hồ chỉ có thể thông thuyền nhỏ, chỗ sâu không quá 3, 5 thước, dân chúng lại dời xuống canh tác. Họ chỉ định lúc nào lúa chín, lúc đó nước có thể ngập đến đâu, tùy theo địa thế mà gieo giống. Cày không dùng bò. Các công cụ như cày, liềm, cuốc tuy hơi giống nhưng chế tác thì khác biệt. Lại có một loại ruộng thấp, không trồng mà tự mọc, nước cao đến 1 trượng thì lúa cũng cao theo. Nhưng việc bón ruộng và trồng rau đều không dùng phân uế, vì ghét sự không sạch sẽ. Người Đường (唐人) đến đó đều không nói với họ chuyện dùng phân bón ở Trung Quốc, sợ bị khinh bỉ. Cứ 2, 3 nhà cùng đào một cái hố đất, hễ cỏ đầy thì lấp đi, lại đào hố khác. Phàm sau khi đi vệ sinh (đăng mỗ), tất phải vào ao tắm sạch, chỉ dùng tay trái, tay phải để dành nắm cơm. Thấy người Đường đi vệ sinh dùng giấy chùi thì cười nhạo, thậm chí không muốn cho vào cửa. Phụ nữ cũng có người đứng mà tiểu tiện, thật đáng cười thay!
'''SƠN XUYÊN (山川)'''
Từ khi vào Chân Bồ (真蒲) đến nay, phần lớn là rừng phẳng rậm rạp. Sông dài cảng lớn trải dài mấy trăm dặm, cây cổ thụ dây leo chằng chịt, bóng râm che phủ, tiếng chim thú rộn ràng trong đó. Đến giữa cửa sông mới bắt đầu thấy ruộng đồng bát ngát, tuyệt không có một bóng cây, nhìn xa chỉ thấy lúa nếp xanh tốt. Bò rừng tụ tập nơi đây từng đàn hàng ngàn hàng trăm con. Lại có những đồi tre, cũng trải dài mấy trăm dặm, tre ở đó các đốt mọc gai đan xen, măng vị rất đắng. Bốn phía đều có núi cao.
'''SẢN VẬT (出產)'''
Núi nhiều gỗ lạ, nơi không có cây cối là nơi tê ngưu và voi tụ tập sinh sôi, chim quý thú lạ không kế xiết. Hàng tinh tế (tế sắc) có lông chim trả (thúy mao), ngà voi, sừng tê, sáp vàng. Hàng thô (thô sắc) có giáng chân (giáng hương), đậu khấu, khương hoàng (nghệ), tử cảnh (nhựa cánh kiến), dầu đại phong tử, phỉ thúy (chim trả), việc kiếm được chúng khá khó khăn. Đại để trong rừng rậm có ao, trong ao có cá, chim trả từ trong rừng bay ra kiếm cá. Người Phiên lấy lá cây che thân, ngồi bên bờ nước, nhốt một con chim mái trong lồng để nhử, tay cầm lưới nhỏ, đợi nó đến thì chụp lấy; có ngày bắt được 3 đến 5 con, có khi cả ngày chẳng được con nào.
Ngà voi thì ở nhà dân nơi núi sâu hẻo lánh mới có; mỗi con voi chết mới có 2 chiếc ngà; xưa truyền rằng "mỗi năm voi thay ngà một lần" là sai vậy. Ngà voi do dùng lao (tiêu) đâm chết mà lấy là hạng thượng đẳng; voi tự chết rồi người ta tiện tay lấy được là hạng thứ; voi chết trong núi đã nhiều năm thì là hạng hạ đẳng. Sáp vàng sản sinh trong kẽ cây mục nơi thôn xóm, do một loại ong eo nhỏ như con kiến đen (lâu nghị) tạo ra, người Phiên lấy được; mỗi chuyến thuyền có thể thu gom 2.000 đến 3.000 khối, mỗi khối lớn nặng 30 đến 40 cân, khối nhỏ cũng không dưới 18 đến 19 cân. Sừng tê trắng mà có hoa văn là hạng thượng đẳng, màu đen là hạng hạ đẳng.
Giáng chân sinh trong rừng rậm, người Phiên rất tốn công đốn chặt, vì đây là lõi của cây vậy. Lớp gỗ trắng bên ngoài dày 8 đến 9 tấc, cây nhỏ cũng không dưới 4 đến 5 tấc. Đậu khấu đều do người dã man (dã nhân) trồng trên núi. Họa hoàng (nhựa cây hoàng đằng) là nhựa tiết ra từ một loại cây, người Phiên trước đó 1 năm dùng dao chặt vào thân cây cho nhựa nhỏ ra, đến năm sau mới thu hoạch. Tử cảnh sinh trên cành một loại cây, hình dáng như tầm gửi cây dâu (tang ký sinh), cũng rất khó kiếm. Dầu đại phong tử là hạt của một loại cây lớn, hình dáng như quả dừa mà tròn, bên trong có mấy chục hạt. Hồ tiêu đôi khi cũng có, mọc theo kiểu dây leo, kết trái lủng lẳng như hạt cỏ xanh; lúc còn tươi xanh thì vị càng cay hơn.
'''THƯƠNG MẠI (貿易)'''
Người trong nước giao dịch đều do phụ nữ đảm nhiệm. Cho nên người Đường (唐人) đến đó, trước hết tất phải nạp một người vợ, cũng là để lợi dụng tài mua bán của họ vậy. Mỗi ngày có một buổi chợ (khu), từ giờ Mão đến giờ Ngọ thì tan. Không có cửa hàng cố định, chỉ dùng các loại lều cỏ, chiếu tre trải trên đất, mỗi người đều có chỗ riêng. Phải nộp tiền thuê đất cho quan phủ. Giao dịch nhỏ thì dùng gạo thóc và hàng hóa người Đường mang tới, kế đến dùng vải. Nếu là giao dịch lớn thì dùng vàng bạc. Người bản thổ thường rất chất phác, thấy người Đường thì khá kính sợ, gọi là "Phật" (佛), thấy người Đường thì phục lạy sát đất. Gần đây cũng có kẻ lừa gạt, bắt nạt người Đường, ấy là do người qua lại đã đông vậy.
'''HÀNG HÓA NGƯỜI ĐƯỜNG MUỐN MANG TỚI (欲得唐貨)'''
Đất ấy nghĩ là không sản sinh vàng bạc, nên coi vàng bạc của người Đường là thứ nhất; lụa là năm màu (ngũ sắc kiêm bạch) đứng thứ hai; kế đến là thiếc chì của Chân Châu (真州), khay sơn của Ôn Châu (溫州), đồ sứ xanh (thanh từ khí) của Tuyền Châu (泉州), cùng với thủy ngân, ngân chu (phấn hồng), giấy tờ, lưu huỳnh, diêm tiêu, đàn hương, bạch chỉ, xạ hương, vải lanh (ma bố), vải cỏ vàng (hoàng thảo bố), ô dù, nồi sắt, mâm đồng, hạt cườm gỗ, dầu đồng, lược bí, lược gỗ, kim khâu; hàng thô nặng thì như chiếu của Minh Châu (明州). Thứ họ rất muốn có được là đậu và lúa mạch, nhưng không thể mang (hạt giống) đi được vậy.
'''CỎ CÂY (草木)'''
Lựu, mía, hoa sen, gương sen, ngó sen, khoai môn, đào, chuối, khung (xuyên khung) đều giống với Trung Quốc. Vải, quýt hình dáng tuy giống nhưng vị chua; còn lại đều là thứ ở Trung Quốc chưa từng thấy. Cây cối cũng rất khác biệt. Hoa cỏ thì nhiều vô kể, lại thơm và đẹp. Hoa dưới nước lại càng nhiều chủng loại, thảy đều không biết tên. Còn như các loại đào, mận, hạnh, mai, thông, bách, sam, quế, lan, cúc... thì thảy đều không có. Ở đó vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] cũng có hoa sen.
'''CHIM MUÔNG (飛鳥)'''
Chim có chim công (khổng tước), chim trả (phỉ thúy), vẹt (anh ca) là thứ Trung Quốc không có. Còn lại như diều hâu, quạ, cò, diệc, chim cốc, chim quán, sếu, vịt trời, chim sẻ vàng các thứ đều có. Thứ không có là chim khách, chim hồng nhạn, chim oanh vàng, chim đỗ quyên, chim én, chim bồ câu.
'''THÚ CHẠY (走獸)'''
Thú có tê ngưu, voi, bò rừng, ngựa núi là những thứ Trung Quốc không có. Còn lại như hổ, báo, gấu, lợn rừng, nai, hươu, hoẵng, khỉ, cáo các loại rất nhiều. Thứ thiếu là sư tử, đười ươi, lạc đà. Gà, vịt, bò, ngựa, lợn, dê thì không cần bàn đến. Ngựa rất lùn nhỏ. Bò rất nhiều. Lúc sống người dân dám cưỡi, nhưng chết thì không dám ăn, cũng không dám lột da, cứ để mặc cho thối rữa mà thôi, vì cho rằng bò đã giúp sức cho người, chỉ dùng để kéo xe thôi. Trước kia không có ngỗng, gần đây có người đi thuyền từ Trung Quốc mang sang nên mới có giống đó. Chuột có con to như mèo. Lại có một loại đầu chuột nhưng tuyệt nhiên giống như chó con mới đẻ.
'''RAU CỦ (蔬菜)'''
Rau củ có hành, mù tạt (giới), hẹ, cà, dưa chuột, dưa hấu, vương qua, bí đao, rau dền. Thứ không có là củ cải, xà lách (sinh thái), khổ mãi, rau chân vịt (ba lăng). Dưa và cà vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] đã có rồi. Cây cà có khi trải qua mấy năm không nhổ bỏ. Cây bông vải (mộc miên) cao vượt cả mái nhà, 10 năm không thay. Các loại rau không biết tên rất nhiều, rau dưới nước cũng có nhiều loại.
'''NGƯ LONG (魚龍)'''
Cá và ba ba, chỉ có cá chép đen là nhiều nhất, các loại khác như cá chép, cá diếc, cá trắm cũng rất nhiều, con lớn nặng trên 2 cân. Có những loại cá không biết tên cũng rất nhiều, thảy đều từ hồ Đạm Dương (淡水洋) mà ra. Còn như cá ở biển thì loại gì cũng có. Lươn, chình, ếch nhái người bản thổ không ăn, đêm đến chúng bò ngang dọc đầy đường. Giải và cá sấu lớn như cái bồ, dù là loại rùa 6 mai cũng được dùng làm thức ăn. Tôm ở Tra Nam (查南) nặng trên 1 cân. Rùa ở Chân Bồ (真蒲) chân có thể dài khoảng 8 đến 9 tấc. Cá sấu lớn như chiếc thuyền, có 4 chân, cực giống hình rồng nhưng không có sừng, bụng rất giòn và ngon. Các loại trai, hến, ốc ở hồ Đạm Dương có thể vốc tay là được. Duy nhất không thấy cua, nghĩ là cũng có nhưng người ta không ăn vậy.
'''UỔN NHƯỠNG (醞釀 - Nấu rượu)'''
Rượu có 4 hạng: Thứ nhất, người Đường (唐人) gọi là "rượu mật đường", dùng men thuốc pha với mật và nước mỗi thứ một nửa mà thành. Thứ nhì, chủ nhà gọi là "Bằng nha tứ" (朋牙四), làm bằng lá cây. Bằng nha tứ (朋牙四) là tên một loại lá cây vậy. Thứ ba nữa là dùng gạo hoặc cơm thừa mà làm, tên gọi là "Bao lăng giác" (包稜角), vì Bao lăng giác (包稜角) nghĩa là gạo vậy. Hạng thấp nhất là "rượu đường giám", làm bằng đường. Lại nữa, khi vào cửa sông ven nước có "rượu giao tương", vì có một loại lá giao mọc ven nước, nhựa của nó có thể nấu rượu.
'''MUỐI, GIẤM, TƯƠNG, MÌ (鹽醋醬麪)'''
Việc nấu muối trong nước không cấm, từ Chân Bồ (真蒲), Ba Giản (巴澗) ven biển trở đi thảy đều nấu muối. Trong núi lại có một loại đá vị còn ngon hơn muối, có thể đẽo gọt thành đồ dùng. Người bản thổ không biết làm giấm, trong canh muốn có vị chua thì bỏ lá cây "Hàm bình" (咸平), cây có quả thì dùng quả, có hạt thì dùng hạt. Họ cũng không làm tương vì không có lúa mạch và đậu. Cũng không có men đại mạch (khúc), vì nấu rượu bằng mật nước và lá cây nên cái họ dùng là men thuốc (tửu dược), hình dáng giống như men rượu trắng ở vùng quê Trung Quốc.
''' TẰM TANG (蠶桑)'''
Người bản thổ đều không làm nghề tằm tang, phụ nữ cũng không hiểu việc kim chỉ khâu vá, chỉ có thể dệt vải bông (mộc miên) mà thôi. Họ cũng không biết quay sợi, chỉ lấy tay vuốt thành sợi. Không có khung cửi để dệt, chỉ dùng một đầu buộc vào thắt lưng, một đầu gác lên trên, thoi dệt cũng chỉ dùng một ống tre. Những năm gần đây người Xiêm (暹人) đến ở mới lấy nghề tằm tang làm nghiệp. Giống dâu, giống tằm đều từ nước Xiêm mang đến. Ở đây cũng không có gai, đay, chỉ có lạc ma (một loại sợi). Người Xiêm tự dùng tơ dệt áo lăng đen để mặc, phụ nữ Xiêm thì biết khâu vá. Người bản thổ khi vải quấn bị rách đều thuê họ vá giúp.
'''KHÍ DỤNG (器用 - Đồ dùng)'''
Ngoài phòng xá của những nhà tầm thường ra không có các loại bàn ghế hay thùng chậu. Chỉ khi nấu cơm thì dùng một nồi đất (ngõa phủ), nấu canh dùng một siêu đất (ngõa điêu), chôn 3 hòn đá xuống đất làm bếp, dùng gáo dừa làm muôi. Đựng cơm dùng bồn đất Trung Quốc hoặc mâm đồng. Canh thì dùng lá cây chế thành một cái bát nhỏ, dù đựng nước cũng không rò rỉ. Lại lấy lá giao làm một cái muôi nhỏ để múc nước canh vào miệng, dùng xong thì vứt đi, dù là lúc tế lễ thần Phật cũng vậy. Lại dùng một đồ thiếc hoặc đồ đất đựng nước bên cạnh để nhúng tay, vì ăn cơm chỉ dùng tay bốc, cơm dính vào tay nếu không có nước này thì không sạch được. Uống rượu dùng ấm bằng thiếc (lạp chú tử), người nghèo dùng bát đất, nếu là phủ đệ nhà giàu thì thảy đều dùng đồ bạc, thậm chí có nhà dùng vàng. Các dịp khánh hạ của quốc gia đa số dùng vàng làm đồ dùng, chế độ hình dáng lại khác biệt. Trên đất thì trải chiếu cỏ Minh Châu (明州), hoặc có nhà trải da hổ, báo, hoẵng, hươu và thảm mây. Gần đây mới đặt bàn thấp, cao khoảng 1 xích (hơn 30cm), lúc ngủ chỉ nằm chiếu tre trên ván. Gần đây lại có người dùng giường thấp, thảy đều do người Đường (唐人) chế tác. Đồ ăn dùng vải che lại, trong cung quốc chủ dùng gấm lụa dát vàng (tiêu kim kiêm bạch), thảy đều do khách buôn trên thuyền biếu tặng. Lúa không dùng cối xay, chỉ dùng chày giã mà thôi.
'''XA KIÊU (車轎 - Xe và kiệu)'''
Chế độ của kiệu là lấy một khúc gỗ uốn cong ở giữa, hai đầu dựng đứng lên, điêu khắc hoa văn và bọc vàng bạc, đó chính là cái gọi là "đòn khiêng kiệu vàng bạc" vậy. Mỗi đầu trong khoảng 1 xích thì đóng móc sắt, dùng một tấm vải lớn gấp dày, lấy dây buộc vào hai đầu móc, người ngồi trong vải, dùng 2 người khiêng. Kiệu lớn thì thêm một vật như mui thuyền nhưng rộng hơn, trang trí bằng gấm lụa năm màu, dùng 4 người khiêng, có người chạy theo kiệu. Nếu đi xa cũng có người cưỡi voi, cưỡi ngựa. Cũng có người dùng xe, chế độ của xe giống như những nơi khác. Ngựa không có yên, voi không có ghế để ngồi.
'''CHU TẬP (舟楫 - Thuyền bè)'''
Thuyền lớn dùng gỗ cứng xẻ ván mà làm. Thợ không có cưa, chỉ dùng rìu đục mà đẽo thành ván, vừa tốn gỗ vừa tốn công. Phàm muốn cắt gỗ thành đoạn cũng chỉ dùng đục mà đục đứt, dựng nhà cũng vậy. Thuyền cũng dùng đinh sắt, trên lợp lá giao, lấy mảnh gỗ cây cau ép lên trên. Loại thuyền này tên là "Tân nã" (新拏). Dầu dán mái chèo là dầu cá, vôi trộn là vôi đá. Thuyền nhỏ thì lấy gỗ lớn đục thành máng, dùng lửa hơ mềm rồi lấy gỗ chống cho choãi ra; bụng to, hai đầu nhọn, không mui, chở được vài người, chỉ dùng mái chèo mà khua, tên là "Bì lan" (皮闌).
'''THUỘC QUẬN (屬郡)'''
Các quận thuộc quyền có hơn 90 nơi: như Chân Bồ (真蒲), Tra Nam (查南), Ba Giản (巴澗), Mạc Lương (莫良), Bát Tiết (八薛), Bồ Mãi (蒲買), Trĩ Côn (雉棍), Mộc Tân Ba (木津波), Lại Cảm Khanh (賴敢坑), Bát Tư Lý (八廝里). Còn lại không thể nhớ hết. Mỗi nơi đều đặt quan thuộc, đều lấy hàng rào gỗ làm thành.
'''THÔN LẠC (村落)'''
Mỗi làng hoặc có chùa, hoặc có tháp. Nơi nhà cửa hơi đông đúc tất có quan trấn thủ, gọi là "Mai tiết" (買節). Trên đường lớn có nơi nghỉ ngơi như nhà trạm, tên là "Sâm mộc" (森木). Gần đây vì đánh nhau với người Xiêm (暹人) nên thảy đều thành đất hoang.
'''THỦ ĐẢM (取膽 - Lấy mật người)'''
Trước kia vào tháng 8 âm lịch [thời kỳ trước năm 1296], có tục lấy mật người. Nguyên do là vua Chiêm Thành (占城) mỗi năm đòi hàng ngàn chiếc mật người đựng trong một chiếc bình lớn. Đêm đến, họ tìm nhiều cách sai người vào trong thành và các thôn lạc, gặp người đi đêm thì dùng dây thòng lọng giữ chặt đầu, dùng dao nhỏ lấy mật ở dưới sườn phải, đợi cho đủ số để dâng cho vua Chiêm Thành (占城). Duy chỉ không lấy mật của người Đường (唐人), vì có một năm lấy một cái mật của người Đường trộn vào trong đó, khiến cho mật trong cả bình đều thối rữa không dùng được. Những năm gần đây đã bỏ việc lấy mật này, lập ra chức quan lấy mật riêng, ở phía trong cửa Bắc.
'''DỊ SỰ (異事 - Chuyện lạ)'''
Phía trong cửa Đông có người Man phạm tội dâm ô với em gái mình, da thịt dính chặt không rời, trải qua 3 ngày không ăn mà cả hai cùng chết. Người đồng hương của ta là họ Tiết, ở phiên bang đã 35 năm, ông ta bảo đã 2 lần thấy chuyện này, ấy là vì uy linh của Thánh Phật nên mới như vậy.
'''TẢO DỤC (澡浴 - Tắm rửa)'''
Đất này cực kỳ nóng nực, mỗi ngày nếu không tắm rửa vài lần thì không chịu nổi, đêm đến cũng không tránh khỏi 1 đến 2 lần. Ban đầu không có phòng tắm hay bồn chậu, nhưng mỗi nhà đều phải có một cái ao, nếu không thì 2 đến 3 nhà chung một ao. Không phân biệt nam nữ thảy đều trần truồng xuống ao. Duy chỉ có cha mẹ bậc tôn trưởng ở trong ao thì con cái bậc thấp không dám vào. Nếu bậc thấp ở trong ao trước, thấy bậc tôn trưởng đến thì cũng phải tránh đi. Nếu hàng vai vế ngang hàng thì không gò bó. Lúc xuống nước chỉ dùng tay trái che bộ phận kín là được. Cứ 3 đến 4 ngày, hoặc 5 đến 6 ngày, phụ nữ trong thành từng nhóm 3 đến 5 người cùng ra sông ngoài thành tắm rửa. Đến bờ sông, cởi bỏ tấm vải quấn mà xuống nước, người tụ tập ở sông có đến hàng ngàn, dù là phụ nữ nhà quyền quý cũng dự vào, tuyệt không cho là nhục. Từ gót chân đến đỉnh đầu thảy đều nhìn thấy rõ. Ở con sông lớn ngoài thành, không ngày nào không có cảnh này, người Đường (唐人) lúc rảnh rỗi thường lấy việc này làm thú vui tiêu khiển. Nghe nói cũng có kẻ ước hẹn tư thông ngay dưới nước. Nước thường ấm như nước nóng, chỉ đến canh 5 mới hơi mát, hễ mặt trời mọc là lại ấm ngay.
'''LƯU NGỤ (流寓)'''
Những người Đường (唐人) làm thủy thủ thấy nước này có lợi là không cần mặc quần áo, gạo thóc dễ kiếm, phụ nữ dễ lấy, nhà cửa dễ lo, đồ dùng dễ đủ, mua bán dễ làm, nên thường trốn ở lại đó.
'''QUÂN MÃ (軍馬)'''
Quân lính cũng trần truồng đi chân đất, tay phải cầm lao (tiêu thương), tay trái cầm khiên (chiến bài), không có các thứ gọi là cung tên, pháo đá, giáp trụ. Nghe nói khi đánh nhau với người Xiêm (暹人) đều lùa bách tính ra trận, thường cũng chẳng có mưu lược trí kế gì.
'''QUỐC CHỦ XUẤT NHẬP (國主出入 - Việc đi lại của vua)'''
Nghe nói trước kia quốc chủ không mấy khi ra khỏi cửa, ấy là để phòng những biến cố bất trắc. Vị chủ mới này là con rể của quốc chủ cũ, nguyên giữ chức thống lĩnh quân đội. Nhạc phụ yêu con gái, người con gái ấy mật mật lấy trộm gươm vàng giao cho chồng, khiến cho con trai ruột không được kế vị. Người con trai ấy từng mưu dấy binh nhưng bị chủ mới phát giác, bị chặt ngón chân rồi giam vào phòng tối. Chủ mới thân khảm "sắt thánh", dù đao tên chạm vào mình cũng không hại được, nhờ cậy vào đó mới dám ra khỏi cửa. Ta ở lại hơn 1 năm, thấy vua ra ngoài 4 đến 5 lần. Phàm khi ra ngoài, quân mã vây bọc phía trước, cờ xí trống nhạc theo sau. Cung nữ 300 đến 500 người, mặc vải hoa, búi tóc hoa, tay cầm nến lớn thành một đội, dù ban ngày cũng đốt nến. Lại có cung nữ thảy đều cầm đồ dùng bằng vàng bạc và đồ trang sức trong cung, chế độ khác biệt, không rõ dùng làm gì. Lại có cung nữ cầm lao và khiên làm quân nội đình, lập thành một đội. Lại có xe dê, xe ngựa thảy đều trang trí bằng vàng. Các quan đại thần và quốc thích đều cưỡi voi đi trước, nhìn xa lọng che màu đỏ (hồng lương tản) không kế xiết. Kế đến là vợ và thiếp của quốc chủ, hoặc ngồi kiệu, ngồi xe, cưỡi ngựa hay cưỡi voi, lọng che dát vàng (tiêu kim lương tản) có hơn 100 chiếc. Sau cùng là quốc chủ, đứng trên lưng voi, tay cầm bảo kiếm, ngà voi cũng được bọc vàng. Lọng che màu trắng dát vàng (tiêu kim bạch lương tản) phàm hơn 20 chiếc, cán lọng đều bằng vàng. Chung quanh vây bọc rất nhiều voi và có quân mã bảo vệ. Nếu đi chơi gần thì chỉ dùng kiệu vàng, đều do cung nữ khiêng. Đại phàm ra vào, tất rước tháp vàng nhỏ và Phật vàng đi trước, người xem thảy đều phải quỳ xuống đảnh lễ, gọi là "Tam bãi" (三罷). Nếu không sẽ bị quân canh bắt giữ, không được thả ra vô ích. Mỗi ngày quốc chủ ra ngự triều trị sự 2 lần, cũng không có văn bản nhất định. Các quan và bách tính muốn gặp quốc chủ đều ngồi liệt trên đất để đợi. Một lát sau, bên trong ẩn hiện tiếng nhạc, bên ngoài mới thổi ốc tù và để đón. Nghe nói vua chỉ dùng xe vàng đến từ nơi hơi xa, chốc lát thấy 2 cung nữ dùng bàn tay thon dài cuốn rèm lên, quốc chủ tay chống kiếm đứng trong cửa sổ vàng. Từ quan lại trở xuống đều chắp tay cúi đầu, tiếng ốc vừa dứt mới được ngẩng đầu. Vua lúc đó cũng liền ngồi xuống. Chỗ ngồi có một tấm da sư tử, là vật báu truyền quốc. Sau khi bàn việc xong, quốc chủ liền quay mình đi vào, 2 cung nữ lại hạ rèm xuống, mọi người cùng đứng dậy. Xem thế thì biết dù là nơi man di, chưa từng không biết có quân vương vậy.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic111 - 真臘國.svg|center]]
Theo Tam tài đồ hội (三才圖會): Nước Chân Lạp (真臘) phát thuyền từ Quảng Châu (廣州), đi gió Bắc 10 ngày thì đến nơi, thời tiết không có mùa lạnh. Mỗi khi cưới hỏi thì người nam về ở nhà người nữ. Sinh con gái đến 9 tuổi, liền mời sư tăng tụng kinh làm phép Phạn (Phạn pháp), lấy ngón tay chọc phá thân đồng trinh, lấy máu đó điểm lên trán con gái, người mẹ cũng dùng điểm lên trán mình, gọi đó là "Lợi thị" (利市). Làm như vậy thì người con gái ấy sau này lấy chồng sẽ hòa hợp vui vẻ. Phàm con gái đủ 10 tuổi là gả chồng. Người trong nước phạm tội trộm cắp thì bị chặt tay chân, nung lửa đóng dấu vào ngực lưng hoặc xăm mặt, phạm tội đến mức chết thì bị chém. Người phiên giết người Đường (唐人) thì y theo pháp luật người phiên mà đền mạng; nếu người Đường giết người phiên thì bị phạt tiền vàng rất nặng; nếu không có tiền vàng thì bán thân lấy tiền chuộc tội. Phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城), bên cạnh có các nước Tây Bằng (西棚)...
== ĐỖ BẠC bộ vị khảo (杜薄部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đỗ Bạc (杜薄) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Đỗ Bạc (杜薄) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong biển Trướng Hải (漲海) về phía Đông của Phù Nam (扶南), đi thuyền thẳng trên biển mấy chục ngày thì tới. Người nước ấy diện mạo trắng trẻo, thảy đều mặc quần áo. Trong nước có ruộng lúa, phụ nữ dệt vải hoa bằng bông trắng (bạch điệp hoa bố). Sản sinh vàng, bạc, sắt, lấy vàng làm tiền. Sản sinh hương Kê thiệt (雞舌香), có thể ngậm được. Vì hương thơm nên không cho vào quần áo. Cây Kê thiệt ấy khí vị cay mà tính mãnh liệt, chim thú không thể đến gần, nên chưa có ai nhận biết được cây ấy thế nào. Hoa chín tự rụng, trôi theo dòng nước mà ra, bấy giờ mới lấy được. Trên đảo Đỗ Bạc có hơn 10 tòa thành nước, đều xưng Vương."
== BẠC LẠT bộ vị khảo (薄剌部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Bạc Lạt (薄剌) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Bạc Lạt (薄剌) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong vịnh biển phía Nam của Câu Lợi (拘利). Người ở đó da đen răng trắng, mắt đỏ, nam nữ thảy đều không mặc quần áo."
==HỎA SƠN bộ vị khảo (火山部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Hỏa Sơn (火山) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Hỏa Sơn (火山) được biết đến vào thời Tùy. Cách các đảo Chư Bạc (諸薄) 5.000 dặm về phía Đông. Trong núi ở nước ấy thảy đều có lửa, dù mưa cũng không tắt, trong lửa có loài chuột trắng." Thổ tục Phù Nam (扶南) truyền rằng: "Đảo Hỏa Sơn ở phía Đông đảo Mã Ngũ (馬五) khoảng hơn 1.000 dặm, tháng mùa xuân mưa dầm, mưa tạnh thì lửa cháy. Cây cối trên đảo hễ gặp mưa thì vỏ đen, gặp lửa thì vỏ trắng. Người ở các đảo lân cận vào tháng mùa xuân thường lấy vỏ cây ấy, bện lại làm vải, hoặc làm tim đèn; vải hễ hơi bẩn, quăng vào trong lửa lại sạch như cũ." Lại có nước Gia Doanh (加營), phía Bắc các đảo Chư Bạc, có ngọn núi phía Tây chu vi 300 dặm, từ tháng 4 âm lịch lửa sinh ra, tháng Giêng âm lịch lửa tắt; khi lửa cháy thì cỏ cây rụng lá như mùa lạnh ở Trung Quốc. Người thời ấy vào tháng 3 âm lịch đến núi này lấy vỏ cây, bện làm vải hỏa hoạn (vải chịu lửa)."
== ĐÔ CÔN bộ vị khảo (都昆部彙考)==
'''(Đính kèm nước Biên Đẩu, Câu Lợi, Tỉ Tùng)'''
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đô Côn (都昆) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Biên Đẩu (邊斗), còn gọi là Ban Đẩu (班斗); nước Đô Côn (都昆), còn gọi là Đô Quân (都軍); nước Câu Lợi (拘利), còn gọi là Cửu Ly (九離); nước Tỉ Tùng (比嵩), thảy đều được biết đến từ thời Tùy. Từ Phù Nam (扶南) vượt vịnh lớn Kim Lân (金鄰), đi về phía Nam 3.000 dặm thì có 4 nước này. Việc nông tác của họ giống với Kim Lân (金鄰), người đa số da trắng. Đô Côn (都昆) sản sinh hương Trản (棧香) tốt, hương Hoắc (藿香) và lưu huỳnh. Cây hương Hoắc ở đó sống đến 1.000 năm, gốc rễ rất lớn; chặt xuống để 4 đến 5 năm, phần gỗ đều mục nát, chỉ có các đốt ở giữa kiên cố, hương thơm còn lưu lại, lấy đó làm hương."
== VÔ LUÂN bộ vị khảo (無論部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Vô Luân (無論) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Vô Luân (無論) được biết đến vào thời Tùy. Ở phía Tây Phù Nam (扶南) hơn 2.000 dặm. Hai bên đường cái của nước ấy trồng xen kẽ cây tỳ bà và các loại hoa quả, đi dưới tán cây luôn có bóng râm mát. Cứ 10 dặm có 1 trạm đình, trạm đình đều có giếng nước. Họ ăn cơm mạch, uống rượu bồ đào (nho), rượu đặc như keo, khi uống pha thêm nước, vị rất ngọt ngon."
==LA SÁT bộ vị khảo (羅剎部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp thứ 3 đời Tùy Dạng Đế, sai sứ sang nước Xích Thổ, đi đến La Sát.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước La Sát (羅剎) ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với Lâm Ấp (林邑) vào ban đêm, ban ngày thì che mặt." Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế [năm 607], sai sứ là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ (赤土), đi đến La Sát (羅剎).
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Phía Đông Bà Lợi (婆利) có nước La Sát (羅剎), người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với người Lâm Ấp (林邑), đến vào ban đêm, tự che mặt mình. Nước ấy sản sinh hỏa châu (ngọc lửa), hình dáng như thủy tinh, vào lúc giữa trưa lấy viên châu hứng bóng mặt trời để bắt vào ngải, nương theo đó lửa sẽ phát ra."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
1sznjeohafpacza2hykiv3ad5x0bfjm
204750
204749
2026-04-16T10:30:28Z
Mrfly911
2215
/* TÙY (隋) */
204750
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第101卷
| năm= 1726
| phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 101'''
| trước= [[../quyển 100|quyển 100]]
| sau= [[../quyển 102|quyển 102]]
| ghi chú =
}}
==XIÊM LA bộ vị khảo (暹羅部彙考)==
''' (Xích Thổ 赤土 - Xiêm La Hộc 暹羅斛) '''
===Tùy===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế (隋煬帝) [năm 607], sai quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ.'''
Theo Tùy thư - Dạng Đế bản kỷ (隋書煬帝本紀) thì không chép việc này. Theo Xích Thổ bản truyện (赤土本傳): "Nước Xích Thổ (赤土國) là một chủng loại khác của Phù Nam (扶南). Nằm ở trong biển Nam Hải (南海), đi đường thủy hơn 100 ngày thì đến kinh đô. Đất sắc đỏ nhiều nên lấy đó làm tên nước. Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Bà La Sa (婆羅娑國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm.
Vua nước ấy họ Cù Đàm (瞿曇氏), tên là Lợi Phú Đa Tắc (利富多塞), không rõ nước thành lập đã bao lâu. Nghe nói cha vua nhường ngôi, xuất gia làm đạo, truyền vị cho Lợi Phú Đa Tắc, đến nay đã tại vị được 16 năm. Vua có 3 vợ, đều là con gái của vua các nước láng giềng. Cư ngụ tại thành Tăng Kỳ (僧祗城), có 3 tầng cửa, mỗi cửa cách nhau chừng 100 bước, mỗi cửa đều vẽ hình tượng Phi tiên (飛仙), Tiên nhân (仙人), Bồ Tát (菩薩). Treo chuông hoa vàng và bờm ngựa, có mấy chục phụ nữ, người thì tấu nhạc, người thì bưng hoa vàng. Lại trang điểm cho 4 người phụ nữ, dung mạo như Phật, đứng hai bên cửa như hình trạng Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士) bên cạnh tháp. Người đứng ngoài cửa cầm binh khí, người đứng trong cửa cầm phất trần trắng, giăng lưới trắng kết hoa dọc lối đi."
Các gian nhà trong cung vua thảy đều là lầu gác cao. Vua ngồi ở cửa phía Bắc, mặt hướng về phía Bắc, ngồi trên sập 3 tầng, mặc vải Triều Hà (朝霞布), đội mũ hoa vàng, treo anh lạc bằng ngọc báu hỗn hợp. Có 4 nữ nhân đứng hầu, tả hữu có hơn 100 lính bảo vệ. Sau sập vua có một khám thờ bằng gỗ, dùng vàng bạc và 5 loại gỗ thơm khảm trai trang trí; sau khám treo một vầng hào quang vàng rực, hai bên sập dựng 2 chiếc gương vàng, trước gương bày bình vàng, trước bình có lư hương vàng, phía trước đặt một con trâu nằm bằng vàng, trước trâu dựng 1 bảo cái, hai bên bảo cái đều có quạt quý. Hàng trăm người Bà La Môn (婆羅門) ngồi đối diện nhau thành từng hàng ở phía Đông và Tây.
Quan lại có: 1 người gọi là Tát Đà Ca La (薩陀迦羅), 2 người gọi là Đà Noa Đạt Xoa (陀挐達叉), 3 người gọi là Ca Lợi Mật Ca (迦利密迦), cùng nhau nắm chính sự; 1 người gọi là Câu La Mật Đế (俱羅末帝) nắm hình pháp. Mỗi thành đặt 1 người Na Gia Ca (那邪迦), 10 người Bát Đế (缽帝).
Phong tục ở đó đều xỏ tai cắt tóc, không có lễ quỳ lạy, dùng dầu thơm xức thân. Dân chúng kính Phật, đặc biệt trọng Bà La Môn. Phụ nữ búi tóc sau gáy, nam nữ đều dùng vải ngũ sắc Triều Hà (朝霞), Triều Vân (朝雲) làm áo. Nhà hào phú thì xa hoa tùy ý, duy có xích vàng nếu không phải vua ban thì không được dùng. Mỗi khi cưới gả thì chọn ngày lành, nhà gái trước kỳ hạn 5 ngày sẽ tấu nhạc uống rượu, người cha cầm tay con gái trao cho chàng rể, sau 7 ngày mới thành phối hợp. Cưới xong thì chia tài sản ra ở riêng, duy con út ở chung với cha. Cha mẹ anh em chết thì cạo tóc mặc áo trắng, dựng sàn gỗ tre trên mặt nước, trong sàn chất củi, đặt thi thể lên trên, đốt hương dựng phướn, thổi ốc đánh trống để tiễn đưa. Phóng hỏa đốt củi, thi thể rơi xuống nước. Sang hèn đều như nhau, duy tro cốt của vua sau khi thiêu xong thì thu lại, đựng vào bình vàng, cất trong miếu thờ.
Khí hậu đông hè thường ấm, mưa nhiều tạnh ít, gieo trồng không cứ mùa màng. Đặc biệt thích hợp trồng lúa, kê, đậu trắng, mè đen; các sản vật khác đa phần giống với Giao Chỉ (交趾). Dùng mía làm rượu, pha với rễ dưa tím, rượu màu vàng đỏ, vị thơm ngon; cũng gọi nước dừa là rượu.
Khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, chiêu mộ những người có thể thông sứ với các vùng đất xa xôi. Tháng 10 âm lịch năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607], Truân điền Chủ sự Thường Tuấn (常駿), Ngu bộ Chủ sự Vương Quân Chính (王君政) xin đi sứ Xích Thổ. Đế rất vui, ban cho Tuấn mỗi người 100 xấp lụa, 1 bộ triều phục, và sai mang theo 5.000 đoạn vật phẩm để ban cho vua Xích Thổ.
Tháng 10 năm đó, bọn Tuấn từ quận Nam Hải (南海郡) đi thuyền, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, đi qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵迦缽拔多洲), phía Tây đối diện với Lâm Ấp (林邑), trên đó có miếu thờ thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (師子石), từ đó đảo nhỏ nối liền nhau. Đi tiếp 2 đến 3 ngày, nhìn về phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙須國), bèn đi về hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), rồi tới biên giới Xích Thổ.
Vua nước ấy sai Bà La Môn tên là Câu Ma La (鳩摩羅) mang 30 chiếc thuyền đến đón, thổi ốc đánh trống để chào mừng sứ giả nhà Tùy, dâng xích vàng để buộc thuyền của Tuấn. Sau hơn 1 tháng thì đến kinh đô, vua sai con trai là Na Gia Ca (那邪迦) mời bọn Tuấn vào hội kiến theo lễ. Trước hết sai người đưa mâm vàng đựng hoa thơm cùng gương và kẹp tóc, 2 hộp vàng đựng dầu thơm, 8 bình vàng đựng nước thơm, 4 dải vải trắng để cho sứ giả tắm gội. Vào giờ Mùi ngày hôm đó, Na Gia Ca lại dắt 2 con voi, cầm lọng lông công để đón sứ giả, đồng thời dâng hoa vàng mâm vàng để đỡ chiếu thư. 100 nam nữ tấu loa trống, 2 người Bà La Môn dẫn đường đến cung vua. Bọn Tuấn dâng chiếu thư lên lầu, từ vua trở xuống đều quỳ. Tuyên chiếu xong, mời bọn Tuấn ngồi, tấu nhạc Thiên Trúc (天竺). Xong việc, bọn Tuấn về quán xá. Vua lại sai Bà La Môn đến quán đưa cơm, dùng lá cỏ làm mâm, rộng 1 trượng vuông, nói với Tuấn rằng: "Nay ngài là người của đại quốc, không còn ở nước Xích Thổ nữa. Ăn uống sơ sài, xin vì ý của đại quốc mà dùng cho."
Mấy ngày sau, mời bọn Tuấn vào dự tiệc, nghi vệ dẫn đường như lễ kiến diện ban đầu. Trước mặt vua đặt 2 chiếc giường, trên giường đều đặt mâm lá cỏ rộng 1 trượng 5 thước, trên đó có các loại bánh 4 màu vàng, trắng, tím, đỏ; hơn 100 món thịt trâu, dê, cá, ba ba, lợn, đồi mồi. Mời Tuấn lên giường ngồi, người đi theo ngồi trên chiếu dưới đất, mỗi người dùng chén vàng rót rượu, nữ nhạc luân phiên tấu diễn, lễ vật tặng vô cùng hậu hĩnh.
Sau đó vua sai Na Gia Ca theo Tuấn về cống phương vật, cùng dâng mũ hoa sen vàng (Kim Phù Dung quán), hương Long Não, dùng vàng đúc thành lá Đa La (多羅葉), chạm nổi thành chữ để làm biểu, bỏ trong hộp vàng phong kín lại. Sai Bà La Môn dâng hoa thơm tấu loa trống tiễn đưa. Khi ra biển, thấy bầy cá xanh bay trên mặt nước, đi biển hơn 10 ngày thì đến phía Đông Nam Lâm Ấp (林邑), đi men theo núi. Vùng biển đó rộng hơn 1.000 bước, màu nước vàng và khí vị tanh hôi, thuyền đi 1 ngày không hết, nghe nói đó là phân của cá lớn (Đại ngư phế). Men theo bờ Bắc biển mà đạt đến Giao Chỉ (交趾).
Mùa xuân năm Đại Nghiệp thứ 6 [năm 610], Tuấn cùng Na Gia Ca vào bệ kiến Đế tại Hoằng Nông (弘農). Đế rất vui, ban cho Tuấn 200 đoạn vật phẩm, phong cả hai làm Bỉnh Nghĩa Úy (秉義尉), những người khác trong đoàn Na Gia Ca đều được ban thưởng có sai biệt.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Cương vực Xích Thổ giống với Xiêm La (暹羅). Phía Đông giáp nước Ba La Lạt (波羅剌國), phía Tây giáp nước Ba La Bà (婆羅婆國), phía Nam giáp nước Ha La Đán (訶羅旦國), phía Bắc ngăn bởi biển lớn, đất rộng mấy 1.000 dặm. Thời Tùy, Thường Tuấn (常駿) từ quận Nam Hải (南海郡) đi đường thủy, ngày đêm đi ròng rã 20 ngày, gặp gió thuận, qua núi Tiêu Thạch (焦石山), về hướng Đông Nam đậu ở châu Lăng Già Bát Bạt Đa (陵伽缽拔多洲), phía Tây đối diện Lâm Ấp (林邑), trên có miếu thần. Lại đi về hướng Nam đến đá Sư Tử (獅子石), từ đó đảo nối tiếp nhau. Đi thêm 2 đến 3 ngày, phía Tây thấy núi của nước Lang Nha Tu (狼牙修國), bèn hướng Nam đến đảo Kê Lung (雞籠島), tới biên giới Xích Thổ. Lâm Ấp (林邑) nay là Chiêm Thành (占城). Sách Tinh tra thắng lãm (星槎勝覽) chép: 'Từ Chiêm Thành thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến', chính là chỗ này vậy."
===Nguyên===
'''Năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Nguyên Thành Tông (元成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu xin sai sứ giả đến.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyện (暹國本傳): Vào năm Nguyên Trinh (元貞) thứ 1 [năm 1295] đời Thành Tông (成宗), nước Xiêm (暹國) dâng biểu bằng chữ vàng, muốn triều đình sai sứ giả đến nước mình. Đến khi biểu văn ấy tới nơi, thì triều đình đã sai sứ giả đi từ trước rồi, vốn là do bên kia chưa biết vậy. Triều đình ban cho sứ giả nước họ đến lạy một chiếc phù bằng vàng trơn (tố kim phù) để đeo, rồi sai đi gấp để đuổi theo đoàn chiếu sứ cùng đi. Vì người Xiêm (暹人) và người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒) vốn có thù hận chém giết nhau cũ, đến nay thảy đều quy thuận. Có chỉ dụ bảo người Xiêm (暹人) rằng: "Chớ làm tổn thương người Ma Lý Dư Nhi (麻里予兒), để giữ trọn lời hứa của các ngươi."
'''Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], nước Xiêm xin ban yên ngựa, chiếu ban cho áo thêu chỉ vàng nhưng không cho ngựa.'''
Theo Nguyên sử (元史) - Thành Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Xiêm quốc bản truyện (暹國本傳): Năm Đại Đức (大德) thứ 3 [năm 1299], quốc chủ nước Xiêm (暹國) dâng lời rằng: "Lúc cha tôi còn tại vị, triều đình từng ban cho yên cương, ngựa trắng cùng áo thêu chỉ vàng, nay xin theo lệ cũ mà ban cho." Hoàng đế dựa theo lời của Thừa tướng Hoàn Trạch Đáp Lạt Hãn (完澤荅剌罕) rằng: "Kia là nước nhỏ mà ban cho ngựa, e rằng bọn lân bang như Hân Đô (忻都) sẽ chê cười." Triều đình vẫn ban cho áo thêu chỉ vàng, nhưng không ban cho ngựa.
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹邏國), vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (邏斛), cũng tức là đất cũ của Xích Thổ (赤土) và Bà La Sát (婆羅剎). Nằm ở cực Nam của Chiêm Thành (占城), phía Bắc thẳng hướng đến Liêm Châu (廉州), men theo bờ Bắc biển nối liền với Giao Chỉ (交趾). Đất nước Xiêm (暹) khô cằn, không hợp cho việc cày cấy trồng trọt; đất ruộng nước La Hộc (羅斛) thì bằng phẳng, rộng rãi và nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm phải trông cậy vào đó để cung cấp. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 [năm 607] đời Tùy, quan Truân điền Chủ sự là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác từ quận Nam Hải (南海郡) cưỡi thuyền đi sứ Xích Thổ (赤土), đến nay truyền sai là di chủng của Xích Mi (赤眉), sau đổi tên gọi là Xiêm (暹). Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295] thời Nguyên, người Xiêm (暹人) từng sai sứ vào cống. Trong khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục nước La Hộc (羅斛), mà hợp lại thành 1 nước."
===Minh===
'''Minh Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ 4, Xiêm La sai sứ triều cống'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Xiêm La (暹羅) ở phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 10 ngày đêm có thể đến, chính là nước Xích Thổ (赤土國) thời Tùy Đường. Sau chia làm 2 nước là La Hộc (羅斛) và Xiêm (暹). Đất Xiêm (暹) khô cằn không hợp gieo trồng, đất La Hộc (羅斛) bằng phẳng, trồng trọt thu hoạch nhiều, nước Xiêm (暹) phải trông cậy vào đó. Thời Nguyên (元), nước Xiêm (暹) thường vào cống. Sau đó nước La Hộc (羅斛) mạnh lên, thôn tính đất Xiêm (暹), nên gọi là nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國)."
Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], mệnh sứ thần Lữ Tông Tuấn (呂宗俊) mang chiếu thư đi dụ nước đó. Năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai sứ dâng biểu, cùng bọn Tông Tuấn (宗俊) đến cống voi thuần, rùa 6 chân và phương vật. Chiếu ban cho vua gấm vóc và ban cho sứ giả tiền vải có sai biệt. Sau đó, lại sai sứ đến chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372], chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu.
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Xiêm La (暹羅) vốn là đất của 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛). Nước Xiêm (暹) là di chủng của quân Xích Mi (赤眉) nhà Hán, đất nước ấy khô cằn, không hợp cày cấy. Đất ruộng La Hộc (羅斛) bằng phẳng nhiều lúa mạ, người Xiêm (暹人) hằng năm trông cậy vào đó. Đầu năm Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], người Xiêm (暹人) thường sai sứ vào cống. Khoảng năm Chí Chính (至正) [năm 1341–1370], nước Xiêm (暹) mới hàng phục La Hộc (羅斛) mà hợp thành 1 nước. Đầu năm Hồng Vũ (洪武) triều ta, vua nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國) là Tham Liệt Chiêu Tì Nha (參烈昭毗牙) sai các sứ thần Nại Tư Lý Sài Lạt Thức Tất Thế (奈思俚儕剌識悉替) đến triều cống, dâng biểu lá vàng. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆)."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Khí hậu Xiêm La (暹羅) không điều hòa, tục chuộng xâm chiếm. Nấu biển làm muối, nấu gạo nếp làm rượu. Trai gái búi tóc hình dùi, dùng vải trắng quấn đầu, mặc áo dài. Mỗi khi có việc bàn bạc, hình pháp nặng nhẹ, tiền thóc ra vào, thảy đều do phụ nữ quyết định. Ý chí và năng lực của họ trên cả nam giới. Dùng vỏ ốc (nghệ tử) thay tiền lưu thông. Người chết thì đổ thủy ngân vào để giữ xác."
Theo Doanh nhai thắng lãm (瀛涯勝覽): "Đất Xiêm La (暹羅) rộng 1.000 dặm, quanh nước đều là núi, hiểm trở gồ ghề, đất dưới thấp ẩm ướt lỏng lẻo, hiếm chỗ trồng trọt được. Khí hậu không ổn định, lúc sương mù lúc nóng nực. Từ phía Tây Nam Chiêm Thành (占城), đi thuyền 7 ngày đêm mới đến cửa biển Tân Môn (新門海口), vào cảng mới đạt đến nước ấy. Vua ở cung thất tráng lệ, dân ở nhà sàn, sàn nhà lợp san sát cây bàng lang, dùng mây sợi buộc rất chặt, trải chiếu mây, chiếu tre để ngủ nghỉ bên trong. Vua vốn là người Tỏa Lý (鎖里), dùng vải trắng quấn đầu, không mặc áo, lưng thắt khăn thêu sợi, thêm gấm vóc áp lưng, cưỡi voi đi hoặc ngồi kiệu, lọng cán vàng làm bằng lá giao. Chuộng đạo Phật, người trong nước đều như vậy. Tăng ni rất nhiều, trang phục giống Trung Quốc, có am quan, ăn chay thụ giới. Phụ nữ dân dã nhiều trí tuệ, chồng nghe theo vợ, vợ có tư thông với người Trung Quốc, ăn ngủ cùng nhau, chồng vẫn điềm nhiên không lấy làm lạ. Nam giới quấn đầu vải trắng, mặc áo dài, phụ nữ cũng vậy và búi tóc hình dùi. Nam giới năm 20 tuổi, bộ phận sinh dục tất phải khảm châu ngọc, kẻ phú quý đúc vàng bọc châu, phát ra tiếng kêu mới coi là đẹp, nếu không là người bần tiện. Khi cưới thì bầy tăng đón rể đến nhà gái, tăng lấy chỉ đỏ dán lên trán nam gọi là 'lợi thị', hủ lậu không thể tả xiết. Qua 3 ngày, tăng cùng thân quyến đẩy thuyền hoa bàng lang tiễn về, rồi mở tiệc tấu nhạc. Lễ tang, kẻ phú quý thì đổ thủy ngân mà chôn, dân gian thì khiêng xác quăng xuống biển. Ở các cồn bãi có hàng chục con chim sắc vàng bay đến ăn, có khi xác bị bỏ trôi biển, gọi là 'điểu táng'. Sau đó dùng giáo pháp Phù Đồ để làm chay. Ngôn ngữ giống Quảng Đông (廣東), phong tục nông nổi, thạo thủy chiến. Thường chinh phạt lân bang. Thị trường dùng vỏ ốc biển, giá trị như tiền. Sản vật có đá Hồng Mã Khẩn Đích (紅馬肯的石), kém hơn đá Hồng Nha (紅鴉), sáng trong như hạt lựu. Phía Tây Bắc nước này hơn 200 dặm có thị trấn gọi là Thượng Thủy (上水), thông về phía Nam, dân cư chừng 600 nhà, các loại hàng phiên đều có: hoàng liên hương, la hắc, tốc hương, giáng chân, trầm thủy, cũng có gỗ hoa lê, bạch đậu khấu, đại phong tử, huyết kiệt đằng, kết tô mộc, thiếc hoa, ngà voi, lông chim thúy. Tô mộc rẻ như củi, sắc cực tốt. Thú có voi trắng, sư tử, mèo, chuột trắng. Rau quả như Chiêm Thành (占城). Có rượu gạo, rượu dừa, đều là rượu nấu. Cống vật là tô mộc, hương giáng chân."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], nước Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 5 [năm 1372], cống gấu đen, vượn trắng và phương vật. Năm sau lại đến cống. Chị của vua là Tham Liệt Tư Ninh (參烈思寧) riêng sai sứ dâng biểu lá vàng, cống phương vật cho Trung cung (Hoàng hậu), bị từ chối. Sau đó người chị lại sai sứ đến cống, Đế vẫn từ chối, nhưng ban yến tiệc cho sứ giả. Lúc bấy giờ vua nước ấy nhu nhược không có võ công, người trong nước suy tôn bác là Tham Liệt Bảo Tì Nha Tì Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙毗哩哆囉祿) làm chủ việc nước, sai sứ đến báo, cống phương vật, ban yến tiệc theo chế độ. Sau đó tân vương sai sứ đến cống tạ ơn, sứ giả cũng có vật hiến tặng, Đế không nhận. Tiếp đó, sai sứ chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1374], cống phương vật, lại dâng bản đồ nước mình."
'''Năm Hồng Vũ thứ 7 [năm 1374], sứ thần Xiêm La vào cống, nói rằng "thuyền cống gặp gió trôi mất", thu nhặt những vật còn sót lại để tiến dâng. Chiếu vì không có biểu văn nên từ chối.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 7 [năm 1374], sứ thần Sa Lý Bạt (沙里拔) đến cống, nói rằng năm ngoái thuyền dừng tại Dương Ô Chư (烏豬洋), gặp gió làm hỏng thuyền, trôi đến Hải Nam (海南), nhờ quan lại cứu hộ, còn giữ được các vật sót lại như gấm đầu la, giáng hương, tô mộc tiến hiến. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên. Đế trách không có biểu văn, đã nói chìm thuyền mà phương vật lại còn, nghi là thương buôn phiên bang, mệnh từ chối. Dụ cho các thần ở Trung thư và Lễ bộ rằng: 'Xưa chư hầu đối với Thiên tử, hằng năm có tiểu sính, 3 năm có đại sính. Ngoài chín châu (Cửu châu) thì mỗi đời triều kiến một lần, phương vật tiến cống cốt để tỏ lòng thành kính mà thôi. Duy Cao Ly (高麗) khá biết lễ nghĩa, nên lệnh 3 năm một lần cống. Các nước xa khác như Chiêm Thành (占城), An Nam (安南), Tây Dương Tỏa Lý (西洋瑣里), Qua Oa (瓜哇), Bột Ni (浡泥), Tam Phật Tề (三佛齊), Xiêm La Hộc (暹羅斛), Chân Lạp (真臘), vào cống đã tần suất cao, hao phí quá lớn, nay không cần phải như thế nữa, hãy gửi văn thư cho các nước biết'. Tuy nhiên kẻ đến vẫn không dứt, Thế tử là Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) cũng sai sứ dâng thư lên Hoàng thái tử, cống phương vật, mệnh dẫn sứ giả triều kiến Đông Cung, ban yến tiệc rồi cho về."
'''Năm Hồng Vũ thứ 8 [năm 1375], nước Xiêm La vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 8 [năm 1375] lại vào cống. Mà Thế tử cũ là Minh Đài Vương Thế tử Chiêu Bột La Cục (昭孛羅局) cũng sai sứ dâng biểu triều cống, ban yến tiệc như sứ của vua."
'''Năm Hồng Vũ thứ 9 [năm 1376], chiếu dụ vua nước Xiêm La, ban ấn và 1 bộ áo.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 9 năm thứ 9 [năm 1376], vua nước ấy sai con là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) dâng biểu cống voi và phương vật, ban chiếu khen ngợi. Dụ vua nước Xiêm La rằng: Làm vua trị dân, nếu không phải mệnh sáng của trời, ơn lớn của đất, sao được như vậy? Hoa Hạ và Di Địch tuy cách biệt, nhưng vui cái vui của thiên hạ thì ở đâu cũng thế. Nếu làm kẻ bề trên, biết thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế, hòa hợp người và thần, thì lộc truyền đời đời không dứt. Ngươi là Đa La Lộc (哆囉祿) từ khi nối ngôi đến nay, trong thì sửa đạo tề gia, ngoài thì tạo phương cách hòa mục láng giềng, huống hồ nhiều lần sai sứ đến Trung Quốc, xưng thần nhập cống, xét trong các vương thời nay, Đa La Lộc (哆囉祿) có thể gọi là hiền đức vậy, há chẳng tiếng vang các nước phiên sao? Mùa thu năm nay, cống voi đến triều, trẫm sai sứ sang dụ, đặc biệt ban ấn nước Xiêm và 1 bộ áo. Ngươi nên vỗ về dân bang, mãi hưởng nhiều phúc. Nay ban chiếu dụ, mong hãy thấu hiểu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], nước Xiêm La đến triều.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 10 [năm 1377], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) vâng mệnh cha đến triều kiến. Đế vui mừng, mệnh Lễ bộ Viên ngoại lang Vương Hằng (王恆) cùng những người khác mang chiếu và ấn ban cho, văn ấn khắc 'Xiêm La quốc vương chi ấn' (暹羅國王之印), đồng thời ban cho Thế tử áo, tiền vải và phí đi đường. Từ đó, nước ấy tuân theo mệnh triều đình, bắt đầu gọi là Xiêm La (暹羅). Cứ 1 năm 1 lần cống, hoặc 1 năm 2 lần cống. Đến sau năm Chính Thống (正統) [sau năm 1449], mới là mấy năm 1 lần cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], ban cho nước Xiêm La văn sách Khám hợp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], ban văn sách Khám hợp cùng gấm vóc đồ sứ cho bọn Chân Lạp (真臘)."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], nước Xiêm La cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], cống 10.000 cân hồ tiêu, 10.000 cân tô mộc. Đế sai quan báo đáp hậu hĩnh. Lúc đó dân Ôn Châu (溫州) có người mua trầm hương các vật của họ, hữu trách khép vào tội thông phiên, đáng phải chém bêu đầu. Đế phán: 'Ôn Châu là nơi Xiêm La tất phải đi qua, nhân họ qua lại mà mua bán, không phải thông phiên'. Bèn được tha tội."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Xiêm La cống 30 ngà voi, 60 nô tỳ phiên.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Thế tử Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ đến cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Xiêm La cống tô mộc, hồ tiêu, giáng hương tổng cộng 170.000 cân.'''
*Ghi chú: Theo "Minh ngoại sử - Xiêm La truyện" đã nêu ở trên.
'''Năm Hồng Vũ thứ 28 [năm 1395], Thế tử nước Xiêm La là Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) triều cống, và báo tang cha. Sắc phong Thế tử nối ngôi vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 28 [năm 1395], Chiêu Lộc Quần Ưng (昭祿群膺) sai sứ triều cống, và báo tang cha. Mệnh trung quan Triệu Đạt (趙達) cùng những người khác sang tế, sắc phong Thế tử nối ngôi vương, ban thưởng thêm hậu. Dụ rằng: 'Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, sai sứ ra biên giới, đi khắp bốn phương, nơi đặt chân đến có 36 nước, nơi tiếng tăm thông đạt có 31 nước. Phong tục khác biệt, nước lớn có 18, nước nhỏ có 149, so với ngày nay thì Xiêm La gần nhất. Vừa rồi sứ đến, biết tiên vương đã mất. Vương nối tiếp nghiệp tiên vương, có đạo với bang gia, thần dân vui mừng. Nay đặc biệt sai người ban mệnh, Vương chớ làm mất pháp độ, chớ dâm dật hưởng lạc, để làm rạng rỡ tiền liệt. Hãy kính cẩn thay'."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 năm thứ 28 [năm 1395], chiếu sai nội sứ Triệu Đạt (趙達), Tống Phúc (宋福) làm sứ giả đi nước Xiêm La Hộc (暹羅斛國), tế vua Tham Liệt Bảo Tì Nha Tư Lý Đa La Lộc (參烈寶毗牙思哩哆囉祿), ban cho嗣 vương (vua nối ngôi) Tô Môn Bang Vương Chiêu Lộc Quần Ưng (蘇門邦王昭祿群膺) 4 xấp gấm, 4 xấp là, 40 xấp vải mưu ti (mâu ti bố); ban cho vương phi 4 xấp gấm, 4 xấp là, 12 xấp vải mưu ti, có sắc dụ."
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, BAN CHO VUA NƯỚC XIÊM LA ẤN BẠC MẠ VÀNG NÚM LẠC ĐÀ CÙNG CÁC VẬT PHẨM'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Thành Tổ (成祖) lên ngôi, sai chiếu dụ nước ấy. Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], ban cho vua nước ấy là Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) ấn bạc mạ vàng núm lạc đà, vua nước ấy liền sai sứ đến tạ ơn. Tháng 6 âm lịch [năm 1403], nhân việc dâng tôn thụy cho Cao Hoàng đế (高皇帝), sai quan đi ban bố chiếu thư và ban thưởng. Tháng 8 âm lịch [năm 1403], lại mệnh cho Cấp sự trung Vương Triết (王哲), Hành nhân Thành Vụ (成務) ban cho vua nước ấy gấm vóc. Tháng 9 âm lịch [năm 1403], mệnh Trung quan Lý Hưng (李興) mang sắc thư đến thăm hỏi và ban thưởng cho vua nước ấy, các quan văn võ cũng đều được ban thưởng. Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước Xiêm La (暹羅) sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật."
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 9 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], có thuyền phiên trôi dạt đến bờ biển Phúc Kiến (福建), thẩm vấn thì ra là thuyền thông hảo giữa Xiêm La (暹羅) và Lưu Cầu (琉球). Ty sở tại kiểm kê hàng hóa rồi tâu lên. Hoàng đế nói: 'Hai nước tu hảo là việc rất tốt. Không may gặp gió bão, chính là lúc nên thương xót, lẽ nào lại nhân đó mà trục lợi?'. Mệnh cho ty sở tại sửa thuyền cấp thóc, đợi khi gió thuận thì tiễn đi Lưu Cầu (琉球). Tháng này, vua nước ấy vì được nhận玺 thư (tỷ thư) thăm hỏi ban thưởng của Hoàng đế, nên sai sứ đến tạ ơn, cống phương vật, ban thưởng thêm hậu, lại ban cho 100 cuốn Liệt nữ truyện (列女傳). Sứ giả xin ban hành quy chuẩn đo lường (lượng hành) làm mẫu mực vĩnh viễn cho quốc gia, Hoàng đế chấp thuận."
Trước đó, sứ giả cống nạp của Chiêm Thành (占城) khi về, gió thổi thuyền đến Bành Hanh (彭亨), nước Xiêm La (暹羅) cưỡng đoạt sứ giả đó, giam giữ không cho về. Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌) và Mãn Lạt Gia (滿剌加) lại kiện Xiêm La (暹羅) cậy mạnh phát binh, đoạt ấn cáo do Thiên triều ban cho. Hoàng đế bèn hạ sắc trách phạt rằng: "Chiêm Thành (占城), Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加) cùng ngươi đều chịu mệnh triều đình, sao dám cậy thế uy quyền? Giam giữ sứ giả, đoạt ấn cáo của họ. Trời có đạo hiển hiện, phúc cho kẻ thiện họa cho kẻ dâm, giặc Lê (黎) ở An Nam (安南) có thể làm gương soi. Hãy lập tức trả lại sứ giả Chiêm Thành (占城), hoàn lại ấn cáo cho Tô Môn Đáp Lạt (蘇門荅剌), Mãn Lạt Gia (滿剌加). Từ nay về sau phụng pháp theo lý, giữ yên bờ cõi hòa mục láng giềng, mới mong hưởng phúc thái bình vĩnh viễn." Lúc bấy giờ sứ giả cống nạp do Xiêm La (暹羅) sai đi bị lạc gió trôi đến An Nam (安南), thảy đều bị giặc Lê (黎) giết chết, chỉ còn dư lại 1 người là Bột Hắc (孛黑). Sau khi quan quân đánh An Nam (安南), cứu được người này đưa về, Hoàng đế rất thương xót.
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 4 [năm 1406], Xiêm La sai sứ vào cống, xin sách và mẫu đo lường.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 4 [năm 1406], sứ giả Xiêm La (暹羅) là Nại Tất (奈必) dâng biểu cống phương vật, được tặng sách Cổ kim liệt nữ truyện (古今列女傳). Lại xin mẫu đo lường làm chuẩn mực trong nước, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Xiêm La sai sứ cống phương vật, tạ tội trước.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 6 [năm 1408], mệnh Trung quan Trương Nguyên (張原) đưa sứ giả về nước, ban cho vua tiền vải, lệnh cho vua phải chu cấp hậu hĩnh cho gia đình những người bị giết. Tháng 9 âm lịch [năm 1408], Trung quan Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy, vua nước ấy sai sứ cống phương vật, tạ lỗi trước."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 7 [năm 1409], Xiêm La sai sứ đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), lại đưa dân gian trốn tránh về nước, cùng cống phương vật.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sứ giả đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh cho Trung quan tâu cáo trước linh sàng. Lúc đó quân gian là Hà Bát Quan (何八觀) cùng những người khác trốn vào Xiêm La (暹羅), Hoàng đế mệnh sứ giả về báo với chủ họ, đừng thu nhận kẻ đào tẩu. Vua nước ấy liền phụng mệnh sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa bọn Bát Quan (八觀) về, mệnh Trương Nguyên (張原) mang sắc thư và tiền lụa đến khen ngợi."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 1 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 7 [năm 1409], sai sứ dâng nghi vật đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), mệnh Trung cung quan đến cáo trước linh sàng. Tháng 9 âm lịch [năm 1409], lại sai sứ là Khôn Văn Côn (坤文琨) cùng những người khác dâng biểu cống phương vật, ban tiền vải rồi tiễn về. Lúc bấy giờ người Nam Hải (南海) là Hà Bát Quan (何八觀) lưu dạt ra đảo biển, rồi vào Xiêm La (暹羅). Đến nay nhân lúc bọn Văn Côn (文琨) về, Thượng (Hoàng đế) lệnh dụ quốc vương nước ấy, sai đưa bọn Bát Quan (八觀) về, chớ thu nhận kẻ đào tẩu mà chuốc lấy tội lỗi, đồng thời ban cho vua nước ấy gấm thêu vàng, lụa trừu, sa, la, nhung gấm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 8 [năm 1410], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 8 [năm 1410], Xiêm La (暹羅) sai sứ cống ngựa và phương vật, đồng thời đưa người Trung Quốc lưu dạt về, ban sắc thư thăm hỏi cùng tiền lụa màu."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải cho Xiêm La. Năm này vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], mệnh Trung quan Phùng Bảo (馮保) cùng những người khác sang ban tiền vải."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 12 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 10 [năm 1412], lại đến triều cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 13 [năm 1415], vua nước Xiêm La qua đời.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 5 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 13 [năm 1415], Chiêu Lộc Quần Ưng Đa La Đế Lạt (昭祿群膺哆囉諦剌) qua đời."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 14 [năm 1416], phong Thế tử nước Xiêm La làm vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 14 [năm 1416], vương tử Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) sai sứ cáo tang cha, mệnh Trung quan Quách Văn (郭文) sang tế, riêng sai quan mang chiếu phong con trai làm vua, ban cho gấm trắng lụa trắng, liền sau đó sai sứ đến tạ ơn."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], định số lượng gấm vóc ban cho vua và vương phi nước Xiêm La.'''
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], cấp cho vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 10 xấp lụa trừu, sa, la, trong đó mỗi loại có 4 xấp dệt kim; vương phi mỗi loại trừu, sa, la có 6 xấp, trong đó mỗi loại có 2 xấp dệt kim."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La xâm lấn Mãn Lạt Gia, sai sứ giả trách phạt. Vua Xiêm La sai sứ giả tạ tội.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], vì Xiêm La (暹羅) xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加) nên sai sứ giả trách lệnh phải hòa mục. Sau khi sứ giả nước họ vào cống, mệnh Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về. Vua lại sai sứ tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia (滿剌加)."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 10 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], sai sứ dụ vua nước Xiêm La (暹羅), khiến cho hòa bình với Mãn Lạt Gia (滿剌加). Sắc dụ Tam Lại Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (三賴波羅摩剌劄的賴) rằng: 'Trẫm vâng mệnh trời, làm chủ cả Hoa Hạ và Di Địch, lấy tâm hiếu sinh của天地 (thiên địa) để trị quốc, nhất thị đồng nhân, không phân biệt bên này bên kia. Vương có thể kính trời thờ nước lớn, giữ chức vụ phụng cống, lòng trẫm rất khen ngợi, vốn chẳng phải chỉ trong một ngày. Gần đây vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) là Y Tư Hạn Đáp Nhi Sa (亦思罕答兒沙) lên nối ngôi, có thể tiếp nối chí hướng của cha, tự thân dẫn vợ con đến cửa khuyết triều cống, lòng thành thờ nước lớn đó không khác gì Vương. Nhưng nghe tin Vương vô cớ muốn động binh. Phàm binh khí là vật hung, hai bên đánh nhau tất cùng bị thương, cho nên chuộng binh không phải là tâm của người nhân. Huống hồ vua nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) đã nội thuộc, tức là thần tử của triều đình. Họ có lỗi, nên trình bày lên triều đình. Không làm theo cách này mà tự tiện động binh, ấy là không nể triều đình vậy. Đây chắc không phải ý của Vương, hoặc là thuộc hạ bên cạnh mượn danh Vương, dùng binh để thỏa tư thù. Vương nên suy xét kỹ, chớ để bị mê hoặc, hãy hòa mục với láng giềng, không xâm lấn nhau, để cùng hưởng phúc, há có giới hạn sao! Vương hãy lưu tâm cho'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 18 [năm 1420], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 4 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 18 [năm 1420], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ vào cống phương vật, ban tiền vải, vẫn sai Trung quan Dương Mẫn (楊敏) cùng những người khác hộ tống về nước, vẫn ban cho vua gấm vóc sa la các thứ."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 19 [năm 1421], Xiêm La sai sứ vào cống, và tạ tội xâm lấn Mãn Lạt Gia.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 19 [năm 1421], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Nại Hoài (奈懷) cùng 60 người cống phương vật, tạ tội xâm lấn nước Mãn Lạt Gia (滿剌加), ban tiền vải có sai biệt. Tháng 7 âm lịch lại vào cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 21 [năm 1423], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 21 [năm 1423], nước Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Mai (坤梅) cống phương vật, ban cho tiền vải."
'''MINH TUYÊN TÔNG NĂM TUYÊN ĐỨC THỨ 8, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 8 [năm 1433], vua nước ấy là Tất Lý Ma Ha Lạt (悉里麻哈賴) sai sứ triều cống. Trước đó, bồi thần nước này là Nại Tam Đạc (奈三鐸) cùng những người khác đi cống, thuyền ghé cảng Tân Châu (新州港) nước Chiêm Thành (占城), thảy đều bị người nước ấy cướp bóc."
'''MINH ANH TÔNG NĂM CHÍNH THỐNG THỨ 1, SỨ CỐNG XIÊM LA TỐ CÁO VIỆC CHIÊM THÀNH CƯỚP BÓC, LỆNH CHIÊM THÀNH TRẢ LẠI NGƯỜI VÀ VẬT ĐÃ CƯỚP'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 1 [năm 1436], Nại Tam Đạc (奈三鐸) lén đi thuyền nhỏ đến kinh đô, mà sứ cống do vua nước ấy sai đi cũng tới nơi, đều tố cáo tình trạng Chiêm Thành (占城) đánh cướp. Hoàng đế mệnh triệu sứ giả Chiêm Thành (占城) đến để đối chất, sứ giả không có gì để đáp lại, bèn sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城), lệnh phải hoàn trả toàn bộ người và vật đã cướp. Sau đó, nước Chiêm Thành (占城) gửi văn thư cho Lễ bộ (禮部), nói rằng: 'Năm kia nước tôi sai sứ đi Tu Văn Đát Na (須文達那), cũng bị người tặc nước Xiêm La (暹羅) cướp đi, tất nhiên Xiêm La (暹羅) phải trả lại những gì đã cướp trước, thì nước tôi tự nhiên không dám không trả'."
Theo Minh hội điển (明會典): "Xiêm La (暹羅) vào cống. Khoảng năm Tuyên Đức (宣德), ban thưởng đều giảm một nửa. Sau năm Chính Thống (正統), đều chiếu theo lệ năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 15 [năm 1417], sứ thần chính và phó khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là dệt kim, 1 đôi giày và tất. Những người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai vàng trơn. Những người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai vàng chạm hoa. Phần thưởng chính là 4 xấp lụa trừu và 4 xấp là, đổi sang 2 xấp sa quyến, 1 xấp vải bông, 1 bộ áo trừu dệt kim. Đám người thông sự khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo là trơn, 1 đôi giày và tất; người chưa có mũ đai thì cấp mũ sa và đai bạc trơn. Người trước đây từng đến kinh đô đã có mũ đai thì đổi cấp đai bạc chạm hoa. Phần thưởng chính là 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là, đổi sang 1 xấp quyến bằng tiền giấy (钞绢), 1 bộ áo trừu trơn. Bạn phiên (người đi theo) khi mới đến, mỗi người 1 bộ áo quyến, 1 đôi giày và tất; phần thưởng chính đổi sang 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Những người lưu lại Quảng Đông (廣東) mà có tiến cống thì hạng đầu mục mỗi người thưởng 1 bộ áo trừu trơn, 2 xấp lụa trừu và 2 xấp là; người theo hầu mỗi người 1 bộ áo quyến trừu, 1 xấp lụa trừu; hạng bạn phiên mỗi người 1 xấp vải bông bằng tiền giấy, 1 bộ áo bông, quần và giày. Hàng hóa của đám sứ thần mang tới theo lệ không thu thuế, mà trả bằng tiền giấy theo giá trị."
'''Năm Chính Thống thứ 3 [năm 1438], Xiêm La vào cống, vẫn lệnh phải trả lại người và vật của Chiêm Thành đã cướp.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 3 [năm 1438], sứ cống Xiêm La (暹羅) lại đến, nhân đó ban sắc thư, lệnh phải gấp rút hoàn trả người và vật cho Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Chính Thống thứ 11 [năm 1446], Xiêm La sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Thống (正統) thứ 11 [năm 1446], vua nước ấy là Tư Lợi Ba La Ma Na Nhược Trí Lạt (思利波羅麻那若智剌) lại sai sứ vào cống."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 4, PHONG TỰ TỬ CỦA XIÊM LA LÀ BẢ LA LAN MỄ TUÂN LẠT LÀM XIÊM LA QUỐC VƯƠNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 4 [năm 1453], mệnh Cấp sự trung Lưu Chu (劉洙), Hành nhân Lưu Thái (劉泰) sang tế cố vương Ba La Ma Lạt Trát Đích Lạt (波羅摩剌劄的賴), nhân đó phong cho con nối ngôi (tự tử) là Bả La Lan Mễ Tuân Lạt (把羅蘭米孫剌) làm vua."
'''MINH ANH TÔNG NĂM THIÊN THUẬN THỨ 1, BAN CHO SỨ CỐNG XIÊM LA ĐAI VÀNG CHẠM HOA'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳) đã nêu.
'''Năm Thiên Thuận thứ 6 [năm 1462], Xiêm La sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thiên Thuận (天順) thứ 6 [năm 1462], vua nước ấy là Bột Lạt Lam La Giả Trực Ba Trí (孛剌藍羅者直波智) sai sứ triều cống."
'''MINH HIẾN TÔNG NĂM THÀNH HÓA THỨ 9, NƯỚC XIÊM LA XIN CẤP ĐỔI KHÁM HỢP, CHẤP THUẬN'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 9 [năm 1473], sứ cống nói rằng văn bản Khám hợp (勘合) ban năm Thiên Thuận (天順) thứ 1 [năm 1457] bị mọt ăn, xin cấp đổi cái mới, Hoàng đế chấp thuận."
'''Năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], sứ cống Xiêm La về đến giữa đường, lén mua con cái nhà lành, chở muối lậu, mệnh sai quan răn đe.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 17 [năm 1481], sứ cống về nước, đến giữa đường lén mua trẻ con làm nô tỳ, lại chở nhiều muối lậu, Hoàng đế mệnh sai quan đi răn đe các nước phiên. Trước đó có người vùng Đinh Châu (汀州) là Tạ Văn Bân (謝文彬), vì buôn muối ra biển, trôi dạt vào nước đó, làm quan đến chức Khôn Nhạc (坤岳), tương đương với Học sĩ (學士) của Thiên triều. Sau đó sung làm sứ giả đến triều kiến, vì buôn bán đồ cấm, việc bị lộ, bị hạ ngục."
'''Năm Thành Hóa thứ 18 [năm 1482], Thế tử Xiêm La sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh phong làm Xiêm La quốc vương.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Thành Hóa (成化) thứ 18 [năm 1482], sai sứ triều cống, đồng thời báo tang cha. Mệnh Cấp sự trung Lâm Tiêu (林霄), Hành nhân Diêu Long (姚隆) sang phong cho con trai là Quốc Long Bột Lạt Lược Khôn Tức Lạt Ưu Địa (國隆勃剌略坤息剌尤地) làm vua."
'''MINH HIẾU TÔNG NĂM HỒNG TRỊ THỨ 10, XIÊM LA VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khi vào cống năm Hồng Trị (弘治) thứ 10 [năm 1497], Tứ Di Quán (四夷館) không có quan dịch thuật tiếng Xiêm La (暹羅), các đại thần nội các là Từ Phổ (徐溥) và những người khác xin gửi văn thư đến Quảng Đông (廣東), tìm chọn những người thông thạo ngôn ngữ và văn tự nước ấy đưa về kinh đô để dự bị sử dụng, Hoàng đế chấp thuận."
'''MINH VŨ TÔNG NĂM CHÍNH ĐỨC THỨ 10, XIÊM LA TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Chính Đức (正德) thứ 4 [năm 1509], có thuyền Xiêm La (暹羅) trôi dạt đến Quảng Đông (廣東), Trung quan Thị bạc là Hùng Tuyên (熊宣) bàn với các quan thủ thành, đánh thuế hàng hóa đó để cung ứng quân nhu. Việc đến tai triều đình, chiếu chỉ khiển trách Tuyên (宣) lạm quyền, điều về Nam Kinh (南京). Năm thứ 10 [năm 1515], dâng biểu lá vàng sang triều cống, trong quán không ai nhận mặt được mặt chữ ấy. Các đại thần nội các là Lương Trữ (梁儲) và những người khác xin chọn lưu lại 1 đến 2 người trong đoàn sứ giả vào quán để rèn luyện học tập, Hoàng đế phê chuẩn."
'''MINH THẾ TÔNG NĂM GIA TĨNH THỨ 32, XIÊM LA CỐNG PHƯƠNG VẬT'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 1 [năm 1522], thuyền hàng Xiêm La (暹羅), Chiêm Thành (占城) đến Quảng Đông (廣東) buôn bán, Trung quan Ngưu Vinh (牛榮) thả cho người nhà riêng tự buôn bán, bị luận tội chết theo luật. Năm thứ 32 [năm 1553], sai sứ cống voi trắng và phương vật. Voi chết trên đường đi, sứ giả lấy châu báu trang điểm trên ngà, đựng vào mâm vàng cùng với đuôi voi đem đến dâng hiến. Đế khen ngợi ý đó, ban thưởng hậu hĩnh cho về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Nước Xiêm La (暹羅), từ sau các năm Hồng Hy (洪熙) [1425], Tuyên Đức (宣德) [1426-1435], việc nhập cống vẫn như kỳ hạn thường lệ. Khoảng năm Chính Thống (正統) [1436-1449], Cảnh Thái (景泰) [1450-1456], việc cống nạp đôi khi không thường xuyên. Từ năm Thành Hóa (成化) [1465-1487] đến nay, đại để 6 năm một lần cống. Gần đây vào năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 32 [năm 1553], sai sứ là Khôn Tùy Ly (坤隋離) và những người khác cống voi trắng và phương vật. Voi trắng đã chết, để lại 1 chiếc ngà voi dài 6 thước, đầu và gốc khảm vàng chạm hoa; đầu ngà lớn 5 tấc 7 phân, khảm 10 hạt lựu, ở giữa khảm 10 viên trân châu, 4 viên bảo thạch; phần đuôi lớn 1 tấc, khảm 1 viên kim cương. Trong hộp vàng đựng lông đuôi voi trắng để làm bằng chứng." Lại có 19 chiếc ngà voi, tổng cộng 350 cân; 37 cây gỗ mun (ô mộc), tổng cộng 3.600 cân; 600 cân thụ hương; 480 cân đằng hoàng; 580 cân đại phong tử; 300 cân tử cánh; 21 cây tốc hương, tổng cộng 650 cân; 20 cân mộc hương; 60 cân bạch đậu khấu; 810 cân hồ tiêu; 14.200 cân tô mộc.
'''Năm Gia Tĩnh thứ 37 [năm 1558], Xiêm La vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 8 âm lịch năm thứ 37 [năm 1558], Xiêm La (暹羅) sai sứ là Khôn Ứng Mệnh (坤應命) và những người khác cống phương vật: 300 cân ngà voi, 650 cân thụ hương, 150 cân đằng hoàng, 310 cân tốc hương, 30 cân bạch đậu khấu, 13.200 cân tô mộc, 450 cân hồ tiêu, 3.800 cân ô mộc, 5.000 cân đại phong tử." Số lượng so với trước kia khá khác biệt.
'''MINH MỤC TÔNG NĂM LONG KHÁNH, NƯỚC XIÊM LA BỊ ĐÔNG MAN NGƯU PHÁ, BẮT THẾ TỬ VÀ ẤN MANG VỀ, CON THỨ NỐI NGÔI DÂNG BIỂU XIN ẤN, TRIỀU ĐÌNH BAN CHO'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Trong năm Long Khánh (隆慶) [1567-1572], nước láng giềng là Đông Man Ngưu (東蠻牛) cầu hôn không được, hổ thẹn tức giận, huy động đại binh công phá nước ấy. Vua nước ấy tự thắt cổ, Thế tử cùng ấn tín do Thiên triều ban cho bị bắt mang đi. Con thứ lên nối ngôi, dâng biểu xin ấn, triều đình ban cho. Từ đó bị nước Đông Man Ngưu (東蠻牛) chế ngự, vua nối ngôi lập chí phục thù."
'''MINH THẦN TÔNG NĂM VẠN LỊCH THỨ 6, XIÊM LA SAI SỨ VÀO CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Khoảng năm Vạn Lịch (萬曆), quân Đông Man Ngưu (東蠻牛) lại đến, Vua chỉnh đốn binh mã phấn đấu đánh trả, đại phá chúng, giết chết con trai vua ấy. Số quân còn lại chạy trốn trong đêm, Xiêm La (暹羅) từ đó hùng bá trên biển, dời binh công phá Chân Lạp (真臘), bắt vua nước ấy đầu hàng. Từ đó hằng năm dùng binh, bèn xưng bá các nước. Năm thứ 6 [năm 1578], sai sứ vào cống."
'''Năm Vạn Lịch thứ 20 [năm 1592], Xiêm La xin ngầm dùng quân giúp đánh Nhật Bản.'''
Theo Minh ngoại sử - Xiêm La truyện (明外史暹羅傳): "Năm Vạn Lịch (萬曆) thứ 20 [năm 1592], Nhật Bản (日本) đánh phá Triều Tiên (朝鮮), Xiêm La (暹羅) xin ngầm dùng quân đánh thẳng vào Nhật Bản (日本) để kiềm chế phía sau. Trung khu Thạch Tinh (石星) bàn định đồng ý, nhưng Đốc thần Lưỡng Quảng là Tiêu Ngạn (蕭彥) kiên trì phản đối, nên thôi. Sau đó việc phụng cống không thay đổi. Đến tháng 3 âm lịch năm Sùng Trinh (崇禎) thứ 16 [năm 1643], vẫn còn vào cống. Nước ấy chu vi 1.000 dặm, phong tục cứng cỏi hung hãn, thạo thủy chiến. Đại tướng dùng 'thánh thiết' bọc thân, đao tên không đâm thủng được. Thánh thiết ấy là xương sọ người vậy. Vua là người Tỏa Lý (鎖里), quan lại chia làm 10 cấp, từ vua đến dân thường, mọi việc đều do vợ quyết định. Ý chí và năng lực của phụ nữ thực sự vượt trên nam giới. Vợ tư thông với người Hoa thì chồng bày rượu cùng uống, điềm nhiên không lấy làm lạ, nói rằng: 'Vợ ta đẹp nên mới được người Hoa yêu mến'. Sùng tín đạo Phật, nam nữ đa số làm tăng ni, cũng ở am chùa, ăn chay thụ giới, trang phục khá giống Trung Quốc. Kẻ phú quý càng kính Phật, có tài sản 100 lạng vàng thì đem một nửa bố thí. Khí hậu không điều hòa, lúc lạnh lúc nóng, đất thấp ẩm ướt, người dân đều ở nhà sàn. Nam nữ búi tóc hình dùi, lấy vải trắng quấn đầu. Kẻ phú quý chết thì dùng thủy ngân đổ vào miệng mà chôn. Kẻ nghèo thì dời xác ra ven biển, tức thì có đàn chim bay đến mổ, chốc lát là hết sạch. Người nhà nhặt xương, khóc lóc rồi vứt xuống biển, gọi là 'điểu táng'. Cũng mời tăng lập đàn chay lễ Phật. Giao dịch dùng vỏ ốc biển (hải nghệ), năm nào không dùng vỏ ốc thì trong nước tất có dịch bệnh lớn. Đồ cống có: voi, ngà voi, sừng tê, lông công, lông thúy, mai rùa, rùa 6 chân, bảo thạch, san hô, phiến não, mễ não, khang não, não du, não sài, tường vi thủy, uyển thạch, đinh bì, a ngụy, tử cánh đằng, kiệt đằng hoàng, lưu hoàng, một dược, ô điêu nê, an tức hương, la hộc hương, tốc hương, đàn hương, hoàng thục hương, giáng chân hương, nhũ hương, thụ hương, mộc hương, đinh hương, ô hương, hồ tiêu, tô mộc, nhục đậu khấu, bạch đậu khấu, tất bát, ô mộc, đại phong tử cùng các loại vải tát cá lạt (sa-ha-la), Tây Dương. Nước ấy có 'miếu Tam Bảo', thờ Trung quan Trịnh Hòa (鄭和)."
===Thanh===
'''THẾ TỔ CHƯƠNG HOÀNG ĐẾ (世祖章皇帝)'''
'''Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653]'''
Theo Đại Thanh Hội điển (大清會典): "Năm Thuận Trị (順治) thứ 10 [năm 1653], Tuần phủ Quảng Đông (廣東巡撫) tâu rằng, nước Xiêm La (暹羅) xin vào cống."
Xét thấy Xiêm La (暹羅), vốn là 2 nước Xiêm (暹) và La Hộc (羅斛) ở Hải Nam (海南), sau hợp thành một. Năm thứ 10 [năm 1653] xin vào cống.
'''Năm Thuận Trị thứ 16 [năm 1659]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Thuận Trị (順治) thứ 16 [năm 1659], Tổng đốc Lưỡng Quảng (兩廣總督) đề chuẩn cho nước Xiêm La (暹羅) lại đến thăm dò việc nộp cống. Các hàng hóa mang theo để đè thuyền (áp thuyền hóa vật) được cho phép giao dịch tại địa phương. Các sổ sách thanh tra thuế bạc hàng hóa trên thuyền đều được chuyển đến Hộ bộ (戶部) để kiểm tra."
'''Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], nước Xiêm La (暹羅) có 2 chiếc thuyền chính cống, đi đến vùng biển Thất Châu (七洲海), gặp gió dạt mất, chỉ có 1 chiếc thuyền 'Hộ cống' đến được Hổ Môn (虎門), vẫn lệnh cho quay về."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Tháng 12 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 2 [năm 1663], sai sứ triều cống, dâng 1 đạo biểu văn bằng lá vàng, cống hiến phương vật gồm: 1 cân long diên hương, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương."
Phương vật dâng Hoàng hậu: 8 lạng long diên hương, 4 xấp gấm hoa vàng bạc lấp lánh Tây Dương, 150 cân ngà voi, 150 cân hồ tiêu, 150 cân đằng hoàng, 150 cân đậu khấu, 150 cân tô mộc, 150 cân tốc hương, 150 cân đại phong tử, 150 cân kim ngân hương.
'''Năm Khang Hy thứ 3 [năm 1664]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 3 [năm 1664], nước Xiêm La (暹羅) dâng biểu tiến cống. Mệnh cho 2 thuyền chính cống cử 20 viên chức đến kinh đô để nộp bổ cống. 1 thuyền khác lệnh cho 6 người đến kinh đô."
'''Năm Khang Hy thứ 4 [năm 1665]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 4 [năm 1665], Xiêm La (暹羅) tiến cống đến kinh đô, Lễ bộ (禮部) đề định kỳ hạn cống là 3 năm 1 lần cống. Đường đi qua Quảng Đông (廣東)."
'''Năm Khang Hy thứ 6 [năm 1667]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 6 [năm 1667], Xiêm La (暹羅) tiến cống gồm 1 chiếc thuyền chính cống, 1 chiếc thuyền hộ cống, 1 chiếc thuyền chở voi, và 1 chiếc thuyền thăm dò phát sau. Lễ bộ (禮部) duyệt chuẩn, thuyền tiến cống không được quá 3 chiếc, mỗi thuyền không được quá 100 người, viên chức đến kinh đô là 22 người; các thuyền tiếp cống và thuyền thăm dò đều không được thả người lên bờ."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 6 âm lịch năm thứ 6 [năm 1667], sai sứ triều hạ. Dâng 1 bản biểu văn lá vàng nhân lễ Vạn thọ, 1 bản biểu văn dịch chữ. Cống hiến phương vật gồm: 1 tòa Long đình, 1 cân long diên hương, 300 cân tốc hương, 3.000 cân tô mộc, 300 cân ngà voi, 300 cân an tức hương, 300 cân bạch đậu khấu, 300 cân đại phong tử, 300 cân đằng hoàng, 4 con chim công, 300 cân ô mộc, 300 cân hồ tiêu, 300 cân giáng hương, 1 con voi thuần, 6 chiếc sừng tê, 4 con rùa 6 chân, 10 bức bình phong đuôi công, 600 tấm lông chim trả (thúy điểu), 100 cân hương nhựa cây (thụ giao hương), 2 cân hương trầm thủy, 100 cân hương vỏ cây (thụ bì hương), 100 cân nhi trà, 100 cân hoa hồ tiêu, 1 cân uyển thạch, 100 cân tử cánh, 6 xấp vải giao kiêu, 6 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 4 dải thiên thanh, 1 xấp vải đỏ, 6 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 10 xấp vải hoa chữ 'nhân' (人), 4 dải hoa văn hình người và voi, 10 xấp vải Tây Dương, 1 cân băng phiến loại lớn, 2 cân băng phiến loại vừa, 20 gáo dầu phiến, 100 cân long não, 100 cân hoàng đàn hương, 60 hũ nước hoa hồng (tường vi lộ), 100 cân lưu huỳnh."
Phương vật dâng Hoàng hậu tề niên (齊年): 8 lạng long diên hương, 150 cân tốc hương, 1.500 cân tô mộc, 150 cân ngà voi, 150 cân an tức hương, 150 cân bạch đậu khấu, 150 cân đại phong tử, 150 cân đằng hoàng, 2 con chim công, 150 cân ô mộc, 150 cân hồ tiêu, 150 cân giáng hương, 3 chiếc sừng tê, 2 con rùa 6 chân, 5 bức bình phong đuôi công, 300 tấm lông chim trả, 50 cân hương nhựa cây, 50 cân nhi trà, 50 cân hoa hồ tiêu, 1 cân hương trầm thủy, 50 cân hương vỏ cây, 8 lạng uyển thạch, 50 cân tử cánh, 3 xấp vải giao kiêu, 3 xấp vải đại bố tạp sắc hoa. 2 dải thiên thanh, 5 xấp vải đỏ, 3 xấp vải đỏ tát cá lạt lị (sa-ha-la-li), 5 xấp vải hoa chữ 'nhân', 5 xấp vải Tây Dương, 2 dải hoa tạp sắc hình người và voi, 8 lạng băng phiến loại lớn, 1 cân băng phiến loại vừa, 10 gáo dầu phiến, 50 cân long não, 50 cân hoàng đàn hương, 30 hũ nước hoa hồng, 50 cân lưu huỳnh.
'''Năm Khang Hy thứ 7 [năm 1668]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 7 [năm 1668], chính sứ Xiêm La (暹羅) vào cống đến kinh đô, các đầu mục lưu lại ở biên giới được cấp khẩu phần ăn."
'''Năm Khang Hy thứ 10 [năm 1671]'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 11 âm lịch năm Khang Hy (康熙) thứ 10 [năm 1671], cống hiến phương vật. Phụng chiếu ban tặng vua nước Xiêm La (暹羅) 4 xấp gấm, 6 xấp đoạn, 4 xấp đoạn dệt kim, 6 xấp sa, 4 xấp sa dệt kim, 6 xấp la, 4 xấp la dệt kim."
Chiếu ban cho Vương phi 4 xấp đoạn, 2 xấp đoạn dệt kim, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 4 xấp sa, 2 xấp sa dệt kim. Chính sứ, Phó sứ (nhị cống sứ), Tam sứ, mỗi người 7 xấp đoạn, 4 xấp la, 2 xấp la dệt kim, 2 xấp quyến, 1 xấp vải lót, 1 xấp vải thường, cùng 1 đôi tất nỉ gắn liền, 1 đôi ủng hạng nhất da xanh khâu kẽ; Thông sự thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành (Bành đoạn); Biện sự thưởng 4 xấp đoạn, 2 xấp la, 1 xấp quyến, 1 đôi ủng da ngựa lau mặt có tất nỉ; 22 người theo hầu, mỗi người 2 xấp quyến, 5 xấp vải, 1 đôi ủng da bò có tất nỉ; Quan hộ tống (bạn cống quan) thưởng 1 chiếc áo bào gấm bành. Các vật phẩm ban thưởng này do hai bộ Hộ và Công chuyển tới trước Ngọ Môn (午門), ban cấp trong 2 lần yến tiệc tại bộ. Đợi đến ngày sứ cống Xiêm La (暹羅) về đến tỉnh, theo lệ thiết tiệc rượu 1 lần rồi tiễn về. Các lần tiến cống trên đều theo lệ ban thưởng như vậy. Khi sứ giả về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi.
'''Năm Khang Hy thứ 12 [năm 1673]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 12 [năm 1673], vua nước Xiêm La (暹羅) là Sâm Liệt Phách Lạt Chiếu Cổ Long Phách Lạt Mã Hô Lục Khôn Tư Do Đề Nha Bồ Ai (森列拍臘照古龍拍臘馬呼陸坤司由提呀菩埃) tiến cống và xin phong điển, Lễ bộ (禮部) đề chuẩn cấp cho Cáo mệnh cùng ấn bạc mạ vàng núm lạc đà. Sau khi sứ cống xong việc, các quan viên của Lễ bộ mặc triều phục trước Ngọ Môn (午門) cung kính đặt án kỷ. Quan Hồng lô tự (鴻蒚寺) dẫn các sứ cống hành lễ 3 quỳ 9 khấu đầu, quỳ nhận Cáo mệnh và Ấn tín, gửi văn thư cho quốc vương nước ấy, lệnh cho vua ra ngoài thành cung kính đón nhận Cáo ấn."
Lại có dụ rằng: "Nước ấy đi biển từ xa đến, bày tỏ lòng thành tiến cống. Những vật bị mọt ăn hoặc thiếu hụt đều miễn cho việc nộp bổ."
'''Năm Khang Hy thứ 23 [năm 1684]'''
Theo Đại Thanh Hội điển: "Năm Khang Hy (康熙) thứ 23 [năm 1684]. Dụ rằng: Viên chức tiến cống nước Xiêm La (暹羅) khi về nước, ai không cưỡi được ngựa thì quan phủ cấp cho kiệu khiêng, người theo hầu cấp cho phu gánh. Ngoài quan hộ tống, đặc phái thêm 1 Ty quan và 1 Bút thiếp thức của Lễ bộ (禮部) để bảo vệ cống vật. Ngoài lệ cống thường, lệ có thêm vật cống tăng thêm. Trước đây có chim công và rùa, sau lệnh miễn tiến dâng."
Cung tiến trước ngự tiền: 1 cân long diên hương đựng trong hộp bạc, 300 cân ngà voi, 6 xấp gấm hoa vàng lấp lánh Tây Dương, 300 cân hồ tiêu, 300 cân đằng hoàng, 300 cân đậu khấu, 3.000 cân tô mộc, 300 cân tốc hương, 300 cân ô mộc, 300 cân đại phong tử, 300 cân kim ngân hương.
Cống vật cho Hoàng hậu cũng giống như vậy, số lượng giảm đi một nửa.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic110 - 暹羅國.svg|center]]
Theo sách Tam tài đồ hội (三才圖會): "Phong tục vùng ven biển nước Xiêm La (暹羅), nam giới từ nhỏ đã cắt bộ phận sinh dục để khảm tám loại bảo vật (bát bảo) nhằm khoe khoang sự phú quý, nếu không làm vậy thì nhà gái sẽ không gả con gái cho."
Gần đây có người khách buôn đi biển tới Xiêm La (暹羅), dừng chân tại một hòn đảo nọ, khắp núi thảy đều là những chiếc thìa và đũa (thì trứ) màu đen tuyền, nơi ấy có rất nhiều cây lớn. Người khách ngẩng lên nhìn kỹ những chiếc thìa đũa ấy, hóa ra chúng chính là hoa và râu của loài cây đó. Bèn nhặt hơn 100 đôi mang về sử dụng, dù dính mỡ cũng không bị bẩn (nhiễm), sau tình cờ lấy ra khuấy trà, chúng liền theo đó mà tan biến mất.
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 1 (真臘部彙考一)==
'''[Cát Miệt (吉蔑), Cam Bột Trí (甘孛智), Gạm Phổ Chỉ (澉浦只)]'''
===THỜI TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 12, tháng 2 [năm 616], nước Chân Lạp (真臘) bắt đầu sai sứ dâng phương vật.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ: (Nội dung như trên).
'''Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Tùy thư (隋書) - Dạng Đế bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp (林邑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南). Cách quận Nhật Nam (日南郡) 60 ngày đi thuyền, phía Nam giáp nước Xa Cừ (車渠), phía Tây có nước Chu Giang (朱江). Vua họ Sát Lợi (剎利氏), tên là Chất Đa Tư Na (質多斯那). Từ thời tổ tiên đã dần cường thịnh, đến đời Chất Đa Tư Na (質多斯那) bèn kiêm tính và chiếm hữu đất Phù Nam (扶南). Khi vua chết, con là Y Xa Na (伊奢那) lên ngôi thay thế. Vua cư ngụ tại thành Y Xa Na (伊奢那城), dưới thành có 20.000 hộ. Trong thành có một tòa đại đường là nơi vua nghe chính sự. Tổng cộng có 30 tòa thành lớn, mỗi thành có vài ngàn hộ, đều có bộ soái riêng, tên quan chức giống với Lâm Ấp (林邑).
Vua cứ 3 ngày nghe triều một lần, ngồi trên giường ngũ hương thất bảo, phía trên căng màn báu. Màn dùng gỗ có vân làm cột, dùng ngà voi và hoa vàng (kim điền) làm vách, hình dáng như ngôi nhà nhỏ, treo ánh vàng rực rỡ, giống như nước Xích Thổ (赤土). Phía trước có lư hương vàng, có 2 người hầu hai bên. Vua mặc vải cổ bối triều hà, quấn quanh thắt lưng và bụng, rủ xuống đến tận ống chân. Đầu đội mũ hoa bằng vàng báu, đeo anh lạc trân châu, chân đi giày da, tai đeo khuyên vàng. Thường mặc áo vải bạch điệp, lấy ngà voi làm guốc (kiêu), nếu để tóc trần thì không đeo anh lạc. Trang phục của thần dân đại để cũng tương tự.
Có 5 đại thần: một là Cô Lạc Chi (孤落支), hai là Cao Tương Bằng (高相憑), ba là Bà Hà Đa Lăng (婆何多陵), bốn là Xá Ma Lăng (舍摩陵), năm là Nhiêm Đa Lâu (髯多婁). Các tiểu thần khi vào chầu vua thảy đều dập đầu 3 lần ở dưới bậc thềm. Vua gọi lên thềm thì quỳ, dùng hai tay ôm vai, ngồi vòng quanh vua. Bàn bạc chính sự xong thì quỳ lạy mà lui ra. Thị vệ ở thềm đình, cửa các có hơn 1.000 người, mặc giáp cầm binh khí. Nước này hòa hiếu với hai nước Tham Bán (參半) và Chu Giang (朱江), nhưng thường xuyên chiến tranh với hai nước Lâm Ấp (林邑) và Đà Hoàn (陀洹). Người dân khi đi đứng đều mang theo binh khí, nếu có chinh phạt thì dùng luôn.
Theo tục lệ, nếu không phải con của chính thê thì không được làm người kế vị. Ngày vua mới lên ngôi, tất cả anh em đều bị hình phạt tàn tật, hoặc chặt 1 ngón tay, hoặc xẻo mũi, rồi đưa đi cung phụng ở nơi khác, không được ra làm quan. Người dân vóc dáng nhỏ và sắc da đen, phụ nữ cũng có người trắng, thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài, tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi. Nhà cửa khí dụng khá giống nước Xích Thổ (赤土). Coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn. Mỗi sáng sớm đều tắm rửa, dùng cành dương làm sạch răng, tụng đọc kinh chú, lại tắm rửa rồi mới ăn, ăn xong lại dùng cành dương sạch răng và đọc kinh chú. Ăn uống nhiều tô lạc (váng sữa), đường cát, gạo tẻ, bánh mì. Khi muốn ăn, trước tiên lấy canh thịt tạp hòa với bánh, dùng tay nắm mà ăn.
Cưới vợ chỉ tặng 1 bộ quần áo, chọn ngày sai bà mối đón dâu. Hai nhà trai gái mỗi bên đều 8 ngày không ra ngoài, đêm ngày đốt đèn không tắt. Nam giới làm lễ cưới xong là chia tài sản với cha mẹ, ra ở riêng. Khi cha mẹ chết, nếu còn ai chưa cưới thì chia tài sản còn lại cho người đó. Nếu đã cưới hết thì tài sản nộp vào quan phủ. Tang lễ thì con cái đều 7 ngày không ăn, cắt tóc mà khóc. Tăng ni, đạo sĩ và thân hữu đều tụ tập, dùng âm nhạc đưa tiễn. Dùng gỗ ngũ hương thiêu xác rồi thu tro, đựng bằng bình vàng bạc, tiễn đưa vào trong vùng nước lớn. Người nghèo có khi dùng bình gốm rồi vẽ màu lên. Cũng có người không thiêu, đưa xác vào trong núi để mặc thú dữ ăn.
Phía Bắc nước này nhiều đồi núi, phía Nam có đầm lầy, khí đất rất nóng, không có sương tuyết, nhiều chướng khí và độc trùng. Đất hợp trồng lúa gạo, ít kê sáp, hoa quả và rau cỏ tương tự Nhật Nam (日南) và Cửu Chân (九真). Điểm khác biệt là có cây Bà Na Sa (婆那娑), không hoa, lá như hồng, quả như đông qua; cây Am La (菴羅), hoa lá như táo, quả như mận; cây Tì Dã (毗野), hoa như mộc qua, lá như hạnh, quả như giấy; cây Bà Điền La (婆田羅), hoa lá quả đều giống táo nhưng hơi khác. Cây Ca Tất Đà (歌畢佗), hoa như lâm cầm, lá như du nhưng dày lớn, quả như mận, to như cái thăng (1 lít), còn lại phần lớn đều giống nhau.
Trong biển Cửu Chân (九真) có loài cá tên là Kiến Đồng (建同), có 4 chân, không vảy, mũi như voi, hút nước phun lên cao 50 đến 60 thước. Có cá Phù Hồ (浮胡), hình như cá lươn, mỏ như vẹt, có 8 chân. Nhiều loài cá lớn, nửa thân nhô lên mặt nước trông như núi. Cứ mỗi tháng 5 tháng 6 âm lịch, khí độc lưu hành, dân lại dùng lợn trắng, bò trắng, dê trắng để tế lễ ngoài cửa Tây thành, nếu không làm vậy thì ngũ cốc không chín, sáu loại gia súc chết nhiều, dân chúng bệnh dịch. Gần kinh đô có núi Lăng Già Bát Bà (陵伽缽婆山), trên có thần từ, thường dùng 5.000 binh sĩ canh giữ. Phía Đông thành có vị thần tên Bà Đa Lợi (婆多利), tế lễ dùng thịt người. Vua nước này hằng năm đều giết người để tế lễ cầu khẩn vào ban đêm. Cũng có 1.000 người canh giữ, việc kính quỷ thần là như vậy. Phần lớn phụng thờ Phật pháp, đặc biệt tin theo đạo sĩ, Phật và đạo sĩ thảy đều lập tượng trong quán. Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 13 [năm 617], sai sứ vào cống hiến, Hoàng đế tiếp đãi rất hậu, sau đó thì đứt đoạn."
===THỜI ĐƯỜNG===
'''CAO TỔ (唐高祖)'''
'''Năm Vũ Đức (武德) [618–626], Chân Lạp (真臘) sai sứ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Cao Tổ bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Chân Lạp (真臘) còn gọi là Cát Miệt (吉蔑), vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cách kinh sư 20.700 dặm. Phía Đông giáp Xa Cừ (車渠), phía Tây thuộc Phiêu (驃), phía Nam sát biển, phía Bắc tiếp giáp Đạo Minh (道明), phía Đông Bắc giáp Hoan Châu (驩州). Vua là Sát Lợi Y Kim Na (剎利伊金那), đầu năm Trinh Quán (貞觀) [năm 627] thôn tính Phù Nam (扶南), chiếm đất ấy. Nhà cửa đều quay hướng Đông, khi ngồi thì ngồi phía trên. Khi khách phương Đông tới, họ nghiền trầu cau, long não, hương cáp để mời. Không uống rượu, coi rượu như dâm uế, chỉ cùng vợ uống trong phòng riêng, tránh mặt tôn trưởng. Có 5.000 chiến tượng, những con tốt được cho ăn thịt. Đời đời giao hảo với Tham Bán (參半) và Phiêu (驃). Thường đánh nhau với Hoàn Vương (環王) và Càn Đà Hoàn (乾陀洹). Từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) [618–700], phàm 4 lần vào triều."
Theo Triều dã thiêm tái (朝野僉載): "Nước Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Hoan Châu (驩州) 500 dặm. Tục lệ khi có khách thì bày trầu cau, long não, hộp hương nghiền... để thết đãi, coi rượu như thứ dâm uế. Trong phòng riêng thì cùng vợ uống, nhưng đối với bậc bề trên thì lánh đi. Lại nữa, vợ chồng ngủ không cho người khác thấy. Tục này giống với Trung Quốc. Người trong nước không mặc quần áo, thấy ai mặc quần áo thì cùng cười nhạo. Tục không có muối sắt, dùng nỏ tre bắn sâu bọ chim chóc."
'''ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG (元宗/玄宗)'''
'''Năm Khai Nguyên (開元) [713–741], Chân Lạp (真臘) chia làm hai nước Nam Bắc là Thủy và Lục. Vương tử Lục Chân Lạp (陸真臘) dẫn thuộc hạ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Huyền Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Sau năm Thần Long (神龍) [năm 707], chia làm hai nửa: Phía Bắc nhiều đồi núi, gọi là nửa Lục Chân Lạp (陸真臘); phía Nam sát biển, nhiều đầm hồ, gọi là nửa Thủy Chân Lạp (水真臘). Thủy Chân Lạp (水真臘) đất rộng 800 dặm, vua cư ngụ tại thành Bà La Đề Bạt (婆羅提拔城). Lục Chân Lạp (陸真臘) còn gọi là Văn Đan (文單), gọi là Bà Lậu (婆鏤), đất rộng 700 dặm, tước hiệu vua là Khuất (屈). Thời Khai Nguyên (開元) và Thiên Bảo (天寶) [713–756], vương tử dẫn 26 người thuộc hạ vào triều, được bái làm Quả nghị đô úy."
'''ĐƯỜNG ĐẠI TÔNG (代宗)'''
'''Năm Đại Lịch (大曆) thứ 14 [năm 779], Phó vương Lục Chân Lạp (陸真臘) là Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều.'''
Theo Đường thư (唐書) - Đại Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Khoảng năm Đại Lịch (大曆), Phó vương Bà Di (婆彌) cùng vợ vào triều, dâng 11 con voi thuần. Thăng chức Bà Di (婆彌) làm Thử Điện trung giám, ban tên là Tân Hán (賓漢). Lúc ấy Đức Tông (德宗) mới lên ngôi, tất cả chim quý thú lạ thảy đều thả đi. Những con voi thuần do quân Man Di hiến tặng nuôi trong ngự uyển, phàm có 32 con thường sung vào sân chầu ngày Nguyên hội, thảy đều thả về phía Nam núi Kinh Sơn (荊山)."
'''ĐƯỜNG HIẾN TÔNG (憲宗)'''
'''Năm Nguyên Hòa (元和) [806–820], Thủy Chân Lạp (水真臘) sai sứ vào cống.'''
Theo Đường thư (唐書) - Hiến Tông bản kỷ không chép việc này. Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Khoảng năm Nguyên Hòa (元和), Thủy Chân Lạp (水真臘) cũng sai sứ vào cống."
===Tống===
'''TỐNG HUY TÔNG NĂM CHÍNH HÒA THỨ 6, MÙA ĐÔNG THÁNG 12, NƯỚC CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ: (Nội dung như trên). Theo Chân Lạp bản truyện (真臘本傳): "Nước Chân Lạp (真臘) cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Nước này ở phía Nam Chiêm Thành (占城), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam đến Gia La Hy (加羅希). Phong tục các huyện trấn giống với Chiêm Thành (占城). Đất đai rộng hơn 7.000 dặm, có đài đồng, liệt kê 24 tháp đồng, 8 voi đồng để trấn giữ phía trên, mỗi con voi nặng 4.000 cân. Nước này có gần 200.000 chiến tượng, ngựa nhiều nhưng nhỏ. Tháng 12 âm lịch năm Chính Hòa (政和) thứ 6 [năm 1116], sai Tiến tấu sứ Phụng hóa lang tướng Khâu Ma Tăng Ca (鳩摩僧哥), Phó sứ An hóa lang tướng Ma Quân Minh Khê (摩君明稽) cùng 14 người đến cống, được ban cho triều phục. Tăng Ca (僧哥) nói: 'Nước xa vạn dặm, ngưỡng trông thánh hóa, mà vẫn còn mặc y phục cỏ cây (hủy phục), chưa xứng với lòng thành hướng mộ thiết tha, nguyện xin được phép mặc đồ đã ban'. Chiếu chỉ chấp thuận, đồng thời đem việc đó giao cho Sử quán, ghi vào sách lược. Tháng 3 âm lịch năm sau [năm 1117], đoàn sứ giả từ biệt ra về."
'''Năm Tuyên Hòa thứ 2, tháng 12 [năm 1120], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Tống sử (宋史) - Huy Tông bản kỷ và Chân Lạp bản truyện: "Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 2 [năm 1120], lại sai Lang tướng Ma Lạp (摩臘), Ma Đột Phòng (摩禿防) đến triều kiến, phong cho vua nước ấy ngang hàng với Chiêm Thành (占城)."
'''Năm Kiến Viêm thứ 2 [năm 1128], thời Cao Tông, gia phong tước hiệu và thực ấp cho vua Chân Lạp, định làm thường chế.'''
Theo Tống sử (宋史) - Cao Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyện: "Năm Kiến Viêm (建炎) thứ 2 [năm 1128], nhân ơn tế Giao, trao cho vua nước ấy là Kim Bâu Tân Thâm (金裒賓深) chức Kiểm hiệu Tư đồ, thêm thực ấp, từ đó định làm thường chế."
'''Năm Khánh Nguyên thứ 6 [năm 1200], thời Ninh Tông, ấp thuộc của Chân Lạp là Chân Lý Phú dâng biểu cống phương vật.'''
Theo Tống sử (宋史) - Ninh Tông bản kỷ không chép. Theo Chân Lạp bản truyện: "Ấp thuộc của Chân Lạp (真臘) có Chân Lý Phú (真里富), ở góc Tây Nam, phía Đông Nam giáp Ba Tư Lan (波斯蘭), phía Tây Nam làm láng giềng với Đăng Lưu Mi (登流眉), bộ tộc quản lý hơn 60 tụ lạc." Năm Khánh Nguyên (慶元) thứ 6 [năm 1200], chúa nước ấy đã lập được 20 năm, sai sứ dâng biểu cống phương vật và 2 con voi thuần. Chiếu chỉ ưu ái ban thưởng đáp lễ, nhưng vì đường biển xa xôi, nên từ sau không cần vào cống nữa.
===Minh===
'''MINH THÁI TỔ NĂM HỒNG VŨ THỨ 4, CHÂN LẠP SAI SỨ TRIỀU CỐNG'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyện: "Chân Lạp (真臘) ở phía Nam Chiêm Thành (占城), thuận gió đi 3 ngày đêm có thể đến. Các triều Tùy, Đường và Tống đều triều cống. Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元) nhà Tống, Chân Lạp diệt Chiêm Thành (占城) mà gộp đất ấy lại, vì vậy đổi quốc hiệu thành Chiêm Lạp (占臘). Thời Nguyên (元), vẫn gọi là Chân Lạp (真臘). Tháng 8 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 3 [năm 1370], sai sứ thần Quách Trưng (郭徵) mang chiếu thư đi vỗ về nước đó. Tháng 11 âm lịch năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy là Ba Sơn Vương Hốt Nhi Na (巴山王忽兒那) sai sứ dâng biểu cống phương vật, chúc mừng ngày Chính đán năm sau [năm 1372]. Chiếu ban cho lịch Đại Thống (大統曆) và tiền lụa màu, sứ giả cũng được ban thưởng có sai biệt."
Theo Minh nhất thống chí (明一統志): "Nước Chân Lạp (真臘), phía Đông sát biển, phía Tây giáp Bồ Cam (蒲甘), phía Nam liền Gia La Hy (加囉希), phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城). Nước này vốn là thuộc quốc của Phù Nam (扶南), cũng tên là Chiêm Lạp (占臘). Vua họ Sát Lợi (剎利), người tên Chất Đa Tư Na (質多斯那) bắt đầu thôn tính Phù Nam (扶南) mà chiếm đất. Năm Đại Nghiệp (大業) nhà Tùy bắt đầu thông sứ Trung Quốc. Nhà Đường từ năm Vũ Đức (武德) đến năm Thánh Lịch (聖曆) phàm 4 lần vào triều. Sau năm Thần Long (神龍), nước chia làm hai. Phía Nam gần biển, nhiều đầm lầy, là Thủy Chân Lạp (水真臘); phía Bắc nhiều đồi núi, là Lục Chân Lạp (陸真臘). Sau lại hợp lại làm một. Thời Chính Hòa (政和) nhà Tống, sai sứ đến cống. Đầu năm Tuyên Hòa (宣和), phong làm Chân Lạp quốc vương (真臘國王), ngang với Chiêm Thành (占城). Khoảng năm Khánh Nguyên (慶元), người trong nước dấy binh lớn đánh Chiêm Thành (占城), phá được, lập người Chân Lạp (真臘) làm vua Chiêm Thành (占城). Vì vậy lúc bấy giờ Chiêm Thành (占城) cũng là thuộc quốc. Các thuộc quốc còn có Tham Bán (參半), Chân Lý (真里), Đăng Lưu Mi (登流眉), Bồ Cam (蒲甘)... thống lĩnh hơn 60 tụ lạc, đất đai hơn 7.000 dặm. Đầu triều ta năm Hồng Vũ (洪武), quốc vương Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử là Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật, từ đó triều cống không dứt."
Theo Hoàn vũ ký (寰宇記): "Tục nước Chân Lạp (真臘) mở cửa hướng về phía Đông, lấy hướng Đông làm trọng, nam nữ thảy đều tóc xoăn, tai chảy dài. Tính khí nhanh nhẹn cứng cỏi, coi tay phải là sạch, tay trái là bẩn."
Theo Chư phiên chí (諸蕃志): "Đất Chân Lạp (真臘) màu mỡ, ruộng không có bờ giới, tầm mắt nhìn đến đâu thì cày cấy đến đó."
Theo Đảo di chí (島夷志): "Nước Chân Lạp (真臘) có thành chu vi hơn 70 dặm, điện đài hơn 30 tòa, khá là tráng lệ. Đồ dùng của vua và quý tộc đa số trang trí bằng vàng ngọc. Tục chuộng hoa lệ xa xỉ, điền sản phong phú, nam nữ búi tóc hình dùi. Con gái đủ 10 tuổi thì gả chồng. Lấy gấm quấn thân, mày và trán bôi đỏ. Tục ngữ nói 'Phú quý Chân Lạp', chính là thế này vậy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Đầu năm Hồng Vũ (洪武), vua Chân Lạp (真臘) là Hốt Nhi Na (忽兒那) sai thần tử Nại Di Cát Lang (柰亦吉郎) dâng biểu hiến phương vật: voi, ngà voi, tô mộc, hồ tiêu, sáp vàng, sừng tê, ô mộc, hoàng hoa mộc thổ, giáng hương, bảo thạch, lông công. Sứ giả khi về, lệnh cho Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) quản đãi."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], Chân Lạp (真臘) vào cống."
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 6 [năm 1373], ban cho quốc vương lịch Đại Thống (大統曆) và gấm vóc màu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Vua nước ấy là Tham Đáp Cam Vũ Giả Đặc Đạt Chí (參荅甘武者特達志) sai sứ đến cống, yến tiệc ban thưởng như trước."
'''Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện (Nội dung như trên).
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua Chân Lạp, đồng thời ban cho gấm vàng và đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 16 [năm 1383], sai sứ mang văn sách Khám hợp ban cho vua nước ấy. Phàm sứ Trung Quốc đến mà Khám hợp không khớp thì đều là giả mạo, cho phép bắt trói báo cáo. Lại sai sứ ban cho 32 xấp gấm dệt kim, 19.000 món đồ sứ. Vua nước ấy liền sai sứ đến cống."
'''Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn sang ban đồ sứ cho nước Chân Lạp.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 19 [năm 1386], lại sai Hành nhân Lưu Mẫn (劉敏), Đường Kính (唐敬) cùng Trung quan mang đồ sứ sang ban tặng."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], bọn Đường Kính (唐敬) về nước, vua nước ấy sai sứ cống 59 con voi, 60.000 cân hương. Chẳng bao lâu sai sứ ban cho vua ấn bạc mạ vàng, vua và phi đều được ban thưởng. Vua là Tham Liệt Bảo Tì Da Cam Bồ Giả (參烈寶毗邪甘菩者) sai sứ cống voi và phương vật."
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 7 âm lịch năm Hồng Vũ (洪武) thứ 20 [năm 1387], Hành nhân Đường Kính (唐敬) từ Chân Lạp (真臘) về, vua nước ấy sai sứ cống 50 con voi, 60.000 cân hương, từ đó triều cống không dứt."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], Chân Lạp cống voi và hương.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 21 [năm 1388], lại cống 28 con voi, 34 quản tượng, 45 nô tỳ phiên, để tạ ơn ban ấn."
'''Năm Hồng Vũ thứ 22 [năm 1389], Chân Lạp 3 lần vào cống.'''
'''Năm Hồng Vũ thứ 23 [năm 1390], Chân Lạp lại vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu ở trên).
'''MINH THÀNH TỔ NĂM VĨNH LẠC THỨ 1, SAI SỨ TUYÊN DỤ NƯỚC ẤY'''
Theo Minh ngoại sử (明外史) - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai Hành nhân Tưởng Tân Hưng (蔣賓興), Vương Khuê (王樞) mang chiếu thư lên ngôi đến tuyên dụ nước ấy."
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1 [năm 1403], sai sứ đến Chân Lạp (真臘), ban chiếu dụ việc lên ngôi. Đến nước ấy thấy khí hậu thường nóng, lúa ruộng chín quanh năm, nấu nước biển làm muối. Phong tục giàu có, nam nữ búi tóc hình dùi (chuỳ kế), mặc áo ngắn, quấn vải sao (tiêu bố), không còn ở trần nữa. Các nước thuộc quốc của họ vẫn có người ở trần, thấy ai mặc quần áo thì người ta lại cười nhạo. Pháp luật có các hình phạt xẻo mũi (tị), chặt chân (nguyệt), xăm chữ vào mặt (thứ), đày đi xa (phối). Phạm tội trộm cắp thì chặt tay chân. Dân nước ấy giết người Trung Quốc thì phải đền mạng. Người Trung Quốc giết dân nước ấy thì phạt tiền vàng. Không có tiền thì bán thân chuộc tội."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 2 [năm 1404], Chân Lạp sai sứ triều cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua nước ấy là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai sứ đến triều kiến, dâng phương vật. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), có 3 người lính bộ tốt trốn đi, tìm không được, nhà vua lấy 3 người nước mình để thay thế. Đến nay đưa vào yết kiến, Hoàng đế phán: 'Người Hoa tự bỏ trốn sang đó, can dự gì đến họ mà trách phạt đòi bồi thường? Vả lại ngôn ngữ không thông, phong thổ không quen, ta dùng họ làm gì?'. Mệnh ban cho quần áo và chi phí đi đường, rồi cho về."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 2 [năm 1404], vua Chân Lạp (真臘) là Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) sai bồi thần là Nại Chức (奈職) cùng 9 người triều cống phương vật, ban thưởng tiền giấy và vải vóc. Trước đó, Trung quan đi sứ Chân Lạp (真臘), lúc sắp về có 3 người lính đi theo bỏ trốn, tìm không được, quốc vương lấy 3 người trong nước theo Trung quan về để bổ sung vào hàng ngũ. Đến nay, Lễ bộ (禮部) đưa vào yết kiến, Thượng (Hoàng đế) phán: 'Người Trung Quốc tự bỏ trốn, can hệ gì đến việc của họ mà bắt đền? Vả lại có được 3 người này thì ngôn ngữ không thông, phong tục chẳng hiểu, ta dùng làm gì? Huống hồ họ đều có gia đình, lẽ nào vui vẻ ở lại đây? Ngươi hãy bảo Lễ bộ (禮部) cấp cho cơm áo, chi phí đi đường, cho họ về Chân Lạp (真臘)'. Thượng thư Lý Chí Cương (李至剛) cùng những người khác thưa: 'Thần trộm nghĩ người Trung Quốc tất không phải tự trốn ở đó, hoặc giả là bị họ giấu đi, thì 3 người này cũng không nên cho về'. Thượng phán: 'Làm vua không nên dùng lòng nghi kỵ để đối đãi người, chỉ cần suy rộng lòng của trời đất để đối đãi với người là được'."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến phúng viếng tang lễ quốc vương Chân Lạp. Lại ban chiếu phong Thế tử lên làm vương. Liền đó sai sứ đến tạ ơn.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], sai sứ đến cống, báo tang cố vương, mệnh cho Hồng lô tự Tự ban Vương Tư (王孜) đến tế lễ, Cấp sự trung Tất Tiến (畢進), Trung quan Vương Tông (王琮) mang chiếu thư phong Thế tử là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương. Khi bọn Tất Tiến (進) trở về, tân vương sai sứ cùng đi theo đến tạ ơn."
Theo Quảng Đông thông chí: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 3 [năm 1405], Tham Liệt Bà Tì Nha (參烈婆毗牙) mất, mệnh Tự ban Vương Tư (王孜) sang tế, phong con trưởng là Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) làm vương, ban cho gấm lụa màu và các vật phẩm."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 12 [năm 1414], Chân Lạp lại vào cống.'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 12 [năm 1414] lại vào cống, sứ giả lấy cớ nước mình nhiều lần bị Chiêm Thành (占城) xâm nhiễu nên ở lại lâu không đi. Hoàng đế sai Trung quan tiễn về, đồng thời hạ sắc lệnh cho vua Chiêm Thành (占城) bãi binh tu hảo."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 15 [năm 1417], Chân Lạp vào cống.'''
(Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện đã nêu).
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 17 [năm 1419], Chân Lạp vào cống.'''
Theo Quảng Đông thông chí: "Tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 17 [năm 1419], Tham Liệt Chiêu Bình Nha (參烈昭平牙) sai sứ dâng biểu văn khắc trên vàng (kim lũ biểu văn), cống voi thuần và phương vật."
'''MINH ĐẠI TÔNG NĂM CẢNH THÁI THỨ 3, CHÂN LẠP VÀO CỐNG'''
'''[Năm 1452]'''
Theo Minh ngoại sử - Chân Lạp truyện: "Trong những năm Tuyên Đức (宣德) [1426–1435] và Cảnh Thái (景泰) [1450–1456] cũng sai sứ vào cống, về sau không đến thường xuyên. Kinh thành nước ấy chu vi hơn 70 dặm, bờ cõi rộng mấy ngàn dặm. Trong nước có tháp vàng cầu vàng, điện đài hơn 30 tòa. Vua mỗi năm hội họp một lần, la liệt khỉ ngọc, công, voi trắng, tê ngưu ở phía trước, gọi là Bách Tháp Châu (百塔洲). Dùng mâm vàng bát vàng để đựng đồ ăn, nên có câu tục ngữ 'Phú quý Chân Lạp'. Dân tục giàu có, tiết trời thường nóng, không biết sương tuyết. Lúa một năm chín mấy vụ, nam nữ búi tóc hình dùi, mặc áo ngắn, quấn vải tiêu. Hình pháp có xẻo mũi, chặt chân, xăm chữ, đày đi; trộm cắp thì bỏ tay chân. Người phiên giết người Đường (Đường nhân) thì tội chết. Người Đường giết người phiên thì phạt tiền vàng, không tiền thì bán thân chuộc tội. 'Đường nhân' (唐人) là cách các nước phiên gọi người Hoa vậy, các nước hải ngoại thảy đều như thế. Việc cưới xin, hai nhà thảy đều 8 ngày không ra khỏi cửa, đốt đèn đêm ngày. Người chết thì bỏ ra đồng, mặc cho diều quạ ăn, trong chốc lát mà ăn hết sạch thì gọi là được phúc báo. Có tang thì chỉ cạo trọc đầu. Con gái thì cắt tóc trên trán to bằng đồng tiền, nói rằng 'dùng việc này để báo đáp cha mẹ'. Chữ viết dùng các loại da hoẵng da hươu nhuộm đen, dùng bột làm thỏi nhỏ để vẽ lên trên, vĩnh viễn không phai. Lấy tháng 10 âm lịch làm đầu năm, tháng nhuận thảy đều dùng tháng 9 âm lịch, đêm chia làm 4 canh. Cũng có người am hiểu thiên văn, có thể tính toán nhật thực nguyệt thực tại địa phương đó. Gọi nhà Nho là 'Ban cật' (班詰), tăng là 'Trữ cô' (苧姑), đạo là 'Bát tư' (八思). Ban cật không biết đọc sách gì, ai do đường này vào làm quan thì được coi là hiển đạt (hoa quán). Trước khi sang trọng thì đeo một sợi chỉ trắng ở cổ để tự phân biệt, khi đã quý hiển rồi vẫn kéo sợi chỉ trắng như cũ. Tục chuộng đạo Phật, sư đều ăn cá thịt, hoặc dùng để cúng Phật, duy chỉ không uống rượu. Nước ấy tự xưng là 'Cam Bột Trí' (甘孛智), sau gọi chệch thành 'Cam Phá Giá' (甘破蔗). Sau đời Vạn Lịch (萬曆) lại đổi thành 'Đông Phố Trại' (東埔寨 - Campuchia)."<ref>Nguyên văn bản in trên [https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e1/Gujin_Tushu_Jicheng%2C_Volume_217_%281700-1725%29.djvu/page115-1920px-Gujin_Tushu_Jicheng%2C_Volume_217_%281700-1725%29.djvu.jpg Gujin Tushu Jicheng, Volume 217 (1700-1725).djvu/115] và [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpkaa4kxybkr?page_from=profile&version=1 shidianguji] đều là 東埔寨 (Đông Phố Trại). [https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B9_lao_Ph%E1%BB%91#V%E1%BB%81_t%C3%AAn_g%E1%BB%8Di_%C4%90%C3%B4ng_Ph%E1%BB%91_v%C3%A0_Gi%E1%BA%A3n_Ph%E1%BB%91_Tr%E1%BA%A1i Bản chép tay của Minh Thực Lục về Chân Lạp], nhiều người đọc thành 柬埔寨 (Giản Phố Trại).</ref>
Theo Minh hội điển (明會典): "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3 [năm 1452], ban cho vua Chân Lạp (真臘) 2 đoạn gấm, 6 xấp lụa trừu (trữ ti), 4 xấp sa, 4 xấp la; ban cho Vương phi 4 xấp lụa trừu, 3 xấp sa, 3 xấp la. Các đầu mục cùng Tổng quản thông sự, Hỏa trưởng đi theo được ban quần áo, lụa trừu, quyến, vải có sai biệt, ban yến tiệc 1 lần. Sứ thần khi về đến Bố chính ty Quảng Đông (廣東布政司) được quản đãi 1 lần, cấp lộ phí (hạ trình) 1 lần cho 10 ngày. Cứ mỗi 10 người thì cấp 2 con dê, ngỗng, gà; 20 bình rượu, 1 đấu gạo, 5 đấu mì, rau xanh và gia vị..."
== CHÂN LẠP bộ vị khảo 2 (真臘部彙考二)==
=== 《Chân Lạp phong thổ ký》 (真臘風土記) ===
'''Tổng tự (總敘)'''
Nước Chân Lạp (真臘), hoặc gọi là Chiêm Lạp (占臘), nước ấy tự xưng là "Cam Bột Trí" (甘孛智). Nay Thánh triều dựa theo Tây Phiên kinh (西蕃經), đặt tên nước ấy là "Gạm Phổ Chỉ" (澉浦只), đó cũng là âm cận với Cam Bột Trí (甘孛智) vậy. Từ Ôn Châu (溫州) ra khơi, theo kim chỉ hướng Đinh Mùi, đi qua các cảng khẩu thuộc các châu ngoài khơi của Mân (閩 - Phúc Kiến), Quảng (廣 - Quảng Đông), vượt biển Thất Châu (七洲洋), qua biển Giao Chỉ (交趾洋) đến Chiêm Thành (占城). Lại từ Chiêm Thành (占城) thuận gió mất khoảng nửa tháng thì đến Chân Bồ (真蒲), ấy là biên cảnh của nước này. Lại từ Chân Bồ (真蒲) hành trình theo kim chỉ hướng Khôn Thân, qua biển Côn Lôn (崑崙洋) vào cửa sông. Cửa sông có đến mấy chục, chỉ có cửa sông thứ 4 là có thể vào được, còn lại thảy đều cát nông, nên thuyền lớn không thông. Tuy nhiên nhìn khắp nơi chỉ thấy mây ngàn cây cổ, cát vàng lau trắng, lúc vội vã không dễ nhận ra, vì thế người đi thuyền coi việc tìm cửa sông là việc khó. Từ cửa sông đi về hướng Bắc, thuận dòng mất khoảng nửa tháng thì tới địa danh là Tra Nam (查南), ấy là một quận thuộc nước này. Lại từ Tra Nam (查南) đổi sang thuyền nhỏ, thuận dòng hơn 10 ngày, đi qua làng Bán Lộ (半路村), làng Phật (佛村), vượt hồ Đạm Dương (淡洋), có thể đến nơi gọi là Can Báng (干傍), cách thành 50 dặm.
Theo Chư phiên chí (諸蕃志) chép rằng: "Đất ấy rộng 7.000 dặm, phía Bắc nước này đến Chiêm Thành (占城) mất nửa tháng đường, phía Tây Nam cách Xiêm La (暹羅) nửa tháng hành trình, phía Nam cách Phiên Ngung (番禺) 10 ngày hành trình, phía Đông là biển lớn vậy". Xưa kia đây là nước thông thương qua lại, Thánh triều nay nhận mệnh trời, thống lĩnh bốn biển. Khi Toa Đô (唆都) Nguyên soái đặt hành tỉnh ở Chiêm Thành (占城), từng sai một Hổ phù Bách hộ, một Kim bài Thiên hộ cùng đến nước này, rốt cuộc bị bắt giữ không cho về. Tháng 6 âm lịch năm Ất Vị thời Nguyên Trinh (元貞) [năm 1295], Thiên tử sai sứ chiêu dụ, ta đi theo đoàn. Tháng 2 âm lịch năm sau [năm 1296] rời Minh Châu (明州), ngày 20 ra khơi từ cửa biển Ôn Châu (溫州), ngày 15 tháng 3 âm lịch đến Chiêm Thành (占城), giữa đường gió ngược không thuận, tháng 7 âm lịch mới tới nơi. Tháng 6 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức (大德) [năm 1297] quay thuyền về, ngày 12 tháng 8 âm lịch đến bến thuyền Tứ Minh (四明). Những chi tiết về phong thổ, quốc sự nước ấy, tuy không thể biết hết, nhưng đại lược cũng có thể thấy được vậy.
'''Thành quách (城郭)'''
Thành của châu vi chu vi khoảng 20 dặm, có 5 cửa, cửa đều có hai tầng, duy chỉ hướng Đông mở 2 cửa, các hướng còn lại đều 1 cửa. Bên ngoài thành có hào lớn, ngoài hào đều là đường cái và cầu lớn, hai bên cầu mỗi bên có 54 pho tượng thần bằng đá, hình dáng như Thạch tướng quân, rất lớn và dữ tợn, 5 cửa đều tương tự như nhau. Lan can cầu đều làm bằng đá, đục theo hình rắn, rắn đều có 9 đầu, 54 vị thần đều dùng tay kéo rắn, có thế như không cho rắn chạy thoát. Phía trên cửa thành có 5 đầu Phật bằng đá lớn, mặt hướng về phía Tây, chính giữa đặt một đầu trang trí bằng vàng. Hai bên cửa thành đục đá thành hình voi. Thành đều xếp đá mà thành, cao khoảng 2 trượng (khoảng 6.6 mét), đá rất khít và kiên cố, lại không mọc cỏ dại, nhưng không có nữ tường (tường thấp trên mặt thành). Trên thành đôi khi trồng cây quặng lang (cây thốt nốt), rải rác là các dãy nhà trống, phía trong thành như một cái dốc, dày khoảng hơn 10 trượng. Trên dốc đều có cửa lớn, đêm đóng sáng mở. Cũng có người canh cửa, riêng chó không được vào cửa. Thành ấy rất vuông vức, bốn góc mỗi góc có một tháp đá, người từng chịu hình phạt chặt ngón chân cũng không được vào cửa.
Ngay giữa nước có một tháp vàng, bên cạnh có hơn 20 tháp đá, hơn 100 gian nhà đá, hướng về phía Đông có một cây cầu vàng, 2 con sư tử vàng đặt ở tả hữu cầu, 8 pho tượng Phật vàng đặt dưới nhà đá. Phía Bắc tháp vàng khoảng hơn 1 dặm có một tháp đồng, cao hơn tháp vàng, nhìn xa thấy sừng sững. Dưới tháp cũng có mười mấy gian nhà đá. Lại phía Bắc tháp ấy 1 dặm là cung thất của quốc chủ, trong phòng ngủ lại có một tháp vàng nữa. Vì thế khách buôn trên thuyền từ xưa đã có lời khen "Phú quý Chân Lạp", tưởng là vì lẽ này. Tháp đá ở ngoài cửa Nam hơn nửa dặm, tục truyền do Lỗ Ban (魯般) xây xong trong một đêm. Mộ Lỗ Ban (魯般) ở ngoài cửa Nam khoảng hơn 1 dặm, chu vi khoảng 10 dặm, có hàng trăm gian nhà đá. Hồ Đông (Đông Trì) cách thành 10 dặm về phía Đông, chu vi khoảng 100 dặm, trong hồ có tháp đá nhà đá, trong tháp có một pho tượng Phật đồng nằm, từ rốn thường có nước chảy ra. Hồ Bắc (Bắc Trì) cách thành 5 dặm về phía Bắc, trong hồ có một tháp vàng vuông, mấy chục gian nhà đá, sư tử vàng, Phật vàng, voi đồng, bò đồng, ngựa đồng đều có đủ.
'''Cung thất (宮室)'''
Cung điện và dinh thự quan lại đều hướng về phía Đông. Quốc cung ở phía Bắc tháp vàng cầu vàng, gần cửa chu vi khoảng 5 đến 6 dặm. Ngói của chính thất làm bằng chì, còn lại đều là ngói đất màu vàng. Cột cầu rất lớn, đều chạm vẽ hình Phật. Mái nhà tráng lệ, hành lang dài bao quanh, cao thấp so le, khá có quy mô. Nơi làm việc có cửa sổ vàng, cột vuông hai bên, trên có gương, ước chừng 40 đến 50 chiếc đặt bên cạnh cửa sổ. Phía dưới làm hình voi, nghe nói bên trong có nhiều nơi kỳ lạ, canh phòng rất nghiêm, không thể nhìn thấy được. Trong tháp vàng bên nội cung, quốc chủ đêm nằm trên đó, người bản địa đều nói trong tháp có tinh rắn 9 đầu, là chủ đất của một nước, thân là nữ, mỗi đêm đều hiện ra gặp quốc chủ, vua phải cùng ngủ giao cấu trước, dù là vợ vua cũng không dám vào. Đến canh hai vua mới ra, bấy giờ mới có thể ngủ cùng vợ thiếp. Nếu tinh này một đêm không hiện ra thì ngày chết của vương phiên đã đến. Nếu vương phiên một đêm không tới thì tất sẽ gặp tai họa. Kế đến như dinh thự của quốc thích, đại thần, chế độ rộng lớn, khác hẳn nhà thường dân. Xung quanh đều lợp bằng cỏ, duy chỉ có gia miếu và chính tẩm (phòng ngủ chính) là 2 nơi được dùng ngói, cũng tùy theo đẳng cấp chức quan mà định chế độ nhà rộng hẹp khác nhau. Phía dưới như nhà của bách tính, chỉ lợp cỏ, không dám dùng dù chỉ một mảnh ngói trên mái, rộng hẹp tuy tùy vào sự nghèo giàu của gia đình, nhưng tuyệt nhiên không dám bắt chước chế độ của phủ đệ.
'''Phục sức (服飾)'''
Từ quốc chủ trở xuống nam nữ đều búi tóc hình dùi, để trần thân trên, chỉ lấy vải quấn ngang hông, khi ra ngoài thì thêm một dải vải lớn quấn lên trên lớp vải nhỏ. Vải có phân đẳng cấp rõ rệt, vải của quốc chủ quấn có giá trị 3 đến 4 lạng vàng, cực kỳ hoa lệ tinh mỹ. Trong nước tuy tự dệt vải, nhưng người Xiêm La (暹羅) và Chiêm Thành (占城) đều mang vải đến bán, thường lấy vải từ Tây Dương (西洋) làm hạng thượng đẳng vì tinh xảo và hoa văn nhỏ, vì thế chỉ riêng quốc chủ mới được quấn vải hoa thuần chất. Trên đầu đội mũ vương miện vàng, như loại mũ trên đầu các vị Kim Cang vậy. Hoặc có lúc không đội mũ, chỉ lấy dây xâu hoa thơm như hoa nhài quấn quanh búi tóc. Trên đỉnh đầu đội khối trân châu lớn nặng khoảng 3 cân, tay chân và các ngón tay đều đeo vòng vàng, nhẫn đều khảm đá mắt mèo. Phía dưới đi chân đất, lòng bàn chân và lòng bàn tay đều dùng thuốc hồng nhuộm đỏ, khi ra ngoài tay cầm gươm vàng. Trong dân gian chỉ phụ nữ mới được nhuộm lòng bàn tay chân, đàn ông không dám vậy. Đại thần quốc thích có thể quấn vải hoa thưa, chỉ người trong cung mới được quấn vải hoa hai đầu, phụ nữ trong dân gian cũng có thể quấn loại này. Nếu là người Đường mới đến (tân Đường nhân) dù có quấn vải hoa hai đầu, người ta cũng không dám trách tội, vì họ "ám đinh bát sát" vậy. "Ám đinh bát sát" nghĩa là không biết thể lệ, quy tắc vậy. (Ghi chú: Trên đỉnh đầu đội trân châu nặng khoảng 3 cân, chữ "cân" này có vẻ nhầm lẫn nhưng chuyện ngoại quốc cũng không thể dùng lý thường mà đoán định, tạm theo nguyên bản).
'''QUAN THUỘC (官屬)'''
Trong nước cũng có các quan Thừa tướng, Tướng soái, Tư thiên, bên dưới mỗi quan lại đặt các thuộc viên Tư lại, chỉ là danh xưng khác biệt mà thôi. Đại để các chức ấy đều do quốc thích nắm giữ, nếu không thì cũng là người có con gái nạp làm phi tần. Nghi thức và đoàn tùy tùng khi ra ngoài cũng có đẳng cấp. Dùng kiệu vàng có 4 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhất; kiệu vàng 2 người khiêng và lọng cán vàng là hạng nhì; kiệu vàng 1 người khiêng và lọng cán vàng là hạng kế tiếp; chỉ dùng 1 lọng cán vàng lại là hạng sau đó nữa. Kẻ cấp thấp hơn nữa thì chỉ dùng 1 lọng cán bạc mà thôi, cũng có người dùng kiệu có đòn khiêng bằng bạc. Các quan từ cấp lọng cán vàng trở lên đều gọi là "Bả đinh" (把丁), hoặc gọi là "Ám đinh" (暗丁). Người dùng lọng cán bạc thì gọi là "Sư lạt đích tản" (廝辣的傘). Lọng đều dùng lụa đỏ của Trung Quốc mà làm, dải rủ xuống kéo dài chạm đất. Ô che dầu thì đều dùng lụa xanh, dải rủ lại ngắn.
''' TAM GIÁO (三教)'''
Bậc học giả (Nho) gọi là Ban cật (班詰), bậc đi tu (Sư) gọi là Trữ cô (苧姑), bậc theo đạo (Đạo sĩ) gọi là Bát tư duy (八思惟). Ban cật không biết tổ sư là ai, cũng không có nơi gọi là học xá để giảng tập, cũng khó lòng tìm hiểu họ đọc sách gì, chỉ thấy ngoài việc quấn vải như người thường, họ còn treo một sợi chỉ trắng trên đỉnh đầu, lấy đó làm dấu hiệu phân biệt là Nho. Những người từ hàng Ban cật mà ra làm quan thì được coi là bậc cao sang. Sợi chỉ trên cổ ấy suốt đời không bỏ.
Trữ cô thì cạo tóc mặc áo vàng, để hở vai phải, phía dưới thắt váy vải vàng. Đi chân đất. Chùa cũng được phép dùng ngói lợp. Chính giữa chỉ thờ một pho tượng, hình dáng giống hệt Thích Ca Phật, gọi là Bột lại (孛賴), mặc áo đỏ nặn bằng bùn, trang trí màu sắc, ngoài ra không có tượng nào khác. Phật trong tháp thì tướng mạo lại khác, đều đúc bằng đồng, không có chuông trống, não bạt hay tràng phan bảo cái. Tăng sĩ đều ăn cá thịt, chỉ là không uống rượu, cúng Phật cũng dùng cá thịt. Mỗi ngày dùng một bữa chay, đều lấy từ nhà thí chủ. Trong chùa không đặt bếp núc. Kinh văn tụng đọc rất nhiều, đều chép trên lá bối (bối diệp) xếp lại cực kỳ chỉnh tề, trên đó viết chữ đen, đã không dùng bút mực thì chẳng rõ họ dùng vật gì để viết. Tăng sĩ cũng dùng kiệu và lọng có cán vàng, bạc. Khi quốc vương có đại chính sự cũng thường tìm đến hỏi ý kiến, nhưng ở đây không có ni cô.
Bát tư duy cũng như người thường, ngoài việc quấn vải thì trên đầu đội một miếng vải đỏ hoặc trắng, giống như mũ Cố cô (罟姑) của người đàn bà Đạt Đát (韃靼) nhưng hơi thấp hơn. Cũng có cung quán (nơi tu hành), nhưng so với chùa chiền thì hẹp hơn, mà Đạo giáo cũng không hưng thịnh bằng Phật giáo. Nơi thờ phụng không có tượng gì khác, chỉ có một khối đá, như đá trong đàn xã tắc của Trung Quốc, cũng không rõ tổ sư là ai. Lại có cả cung quán cho nữ đạo sĩ. Bát tư duy cũng được dùng ngói lợp. Họ không ăn đồ của người khác nấu, cũng không cho người khác thấy mình ăn, không uống rượu, cũng chưa từng thấy họ tụng kinh hay làm các việc công quả cho người. Theo tục lệ, trẻ con đi học đều trước hết đến nhà chùa để học tập với tăng sĩ, khi lớn lên mới hoàn tục, chi tiết cụ thể không thể khảo chứng rõ được.
'''NHÂN VẬT (人物)'''
Người ta chỉ biết nhân vật vùng Man tục thô xấu và rất đen, nhưng không biết rằng những người ở hải đảo u tịch hay ngõ phố tầm thường mới đúng là như vậy. Còn như cung nhân và phụ nữ ở Nam Bằng (南棚), nhiều người trắng trẻo như ngọc, ấy là vì không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vậy. Đại để ngoài một mảnh vải quấn ngang hông, bất luận nam nữ đều để lộ ngực, búi tóc hình dùi, đi chân đất, ngay cả vợ quốc vương cũng chỉ như thế. Quốc vương có tất cả 5 người vợ, 1 người ở chính thất, 4 người ở bốn phương. Phía dưới là phi tần và tỳ thiếp, nghe đâu có từ 3.000 đến 5.000 người, cũng phân chia đẳng cấp, không mấy khi ra khỏi cửa.
Mỗi khi ta vào nội cung, thấy phiên chủ tất cùng ra với chính thê, ngồi trong cửa sổ vàng nơi chính thất, các cung nhân đều thứ tự đứng liệt dưới cửa sổ hai bên hành lang, đứng tựa mà nhìn trộm, ta có dịp được thấy hết một lượt. Hễ nhà dân có con gái đẹp đều bị triệu vào cung. Những người phục dịch việc đi lại bên dưới gọi là "Trần gia lan" (陳家蘭), cũng không dưới 1.000 đến 2.000 người. Họ đều có chồng, sống lẫn lộn trong dân gian, chỉ ở trước thóp đầu thì cạo tóc, bôi phấn hồng (ngân chu) và bôi ở hai bên thái dương để làm dấu hiệu phân biệt là Trần gia lan. Chỉ hạng phụ nữ này mới được vào nội cung, hạng người khác bên dưới không được vào. Trước sau nội cung, hạng người này đi lại nườm nượp trên đường. Phụ nữ tầm thường ngoài việc búi tóc hình dùi ra không có đồ trang sức trâm lược nào khác, nhưng trên cánh tay đeo vòng vàng, ngón tay đeo nhẫn vàng; các Trần gia lan và cung nhân trong nội đình đều dùng như vậy. Nam nữ trên mình thường xức thuốc thơm, hợp thành từ hương đàn, xạ; nhà nhà đều tu sửa Phật sự. Trong nước có nhiều người lưỡng tính (nhị hình nhân), mỗi ngày từng đoàn mười mấy người đi lại giữa chợ búa, thường có ý lôi kéo người Đường (người Trung Quốc), ngược lại còn tặng quà hậu hĩnh, thật là xấu xa đáng ghét.
'''SẢN PHỤ (產婦)'''
Phụ nữ phiên sau khi sinh, liền lấy cơm nóng trộn muối xoa vào và nạp vào âm hộ, sau 1 ngày đêm thì lấy ra, nhờ đó mà trong lúc sinh không mắc bệnh, lại thu hẹp lại như người con gái còn trinh. Ta mới nghe qua thì lấy làm lạ, rất nghi ngờ không phải vậy. Sau đó nhà nơi ta tạm trú có người sinh con, mới biết rõ sự việc đó, và ngày hôm sau người ấy đã ôm đứa bé cùng ra sông tắm rửa, thật là chuyện quái lạ thấy được. Lại thường thấy người ta nói phụ nữ phiên rất dâm đãng, nếu chồng không đáp ứng được dục vọng thì liền có việc bị vợ ruồng bỏ. Nếu chồng có việc đi xa, chỉ có thể đi vài đêm. Quá 10 đêm, người vợ tất nói: "Ta không phải là ma quỷ, sao có thể ngủ cô độc?", lòng dâm đãng càng khẩn thiết. Tuy nhiên cũng nghe có người giữ tiết chí. Phụ nữ ở đây rất nhanh già. Có lẽ vì việc cưới xin sinh nở quá sớm, người 20 đến 30 tuổi đã như người 40 đến 50 tuổi ở Trung Quốc rồi.
'''THIẾU NỮ (室女)'''
Nhà dân nuôi con gái, cha mẹ tất cầu nguyện rằng: "Nguyện cho con có người muốn, sau này lấy được hàng ngàn hàng trăm người chồng". Con gái nhà giàu từ 7 tuổi đến 9 tuổi, nhà cực nghèo thì đến 11 tuổi, tất phải mời tăng sĩ hoặc đạo sĩ làm lễ phá trinh, gọi là "Trận thảm" (陣毯). Đại để quan phủ mỗi năm vào 1 ngày trong tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] sẽ ban hành lệnh, nhà dân có con gái đến tuổi Trận thảm phải báo cáo quan phủ trước. Quan phủ trước hết cấp cho 1 cây nến lớn, trên nến có khắc một vạch, ước chừng đêm đó khi trời tối thì đốt nến, khi cháy đến vạch khắc thì là lúc làm lễ Trận thảm.
Trước kỳ hạn 1 tháng, hoặc nửa tháng, hoặc 10 ngày, cha mẹ tất chọn lấy 1 tăng sĩ hoặc đạo sĩ tùy theo chùa quán nào, thường cũng có nơi quen thuộc. Các tăng sĩ tốt, bậc cao đều được các nhà quan lại giàu có chọn trước, nhà nghèo thì không kịp chọn lựa. Nhà giàu sang thì biếu tặng rượu, gạo, vải vóc, trầu cau, đồ bạc các loại, có khi đến 100 gánh, giá trị bằng 200 đến 300 lạng bạc trắng của Trung Quốc; nhà ít hơn thì 30 đến 40 gánh, hoặc 10 đến 20 gánh, tùy nhà giàu nghèo, cho nên nhà nghèo đến 11 tuổi mới làm lễ là vì khó biện được các vật phẩm này. Cũng có người bố thí tiền cho con gái nhà nghèo làm lễ Trận thảm, gọi là "làm việc thiện" (tố hảo sự).
Đại để trong 1 năm, một tăng sĩ chỉ được nhận 1 cô gái, tăng sĩ đã nhận lời rồi thì không được nhận nơi khác. Đêm đó, bày tiệc ăn uống lớn, khua trống nhạc hội họp người thân hàng xóm. Ngoài cửa dựng một cái lán cao, trang trí hình nặn người bùn, thú bùn các loại trên đó, hoặc hơn 10 cái, hoặc chỉ 3 đến 4 cái, nhà nghèo thì không có. Mỗi nhà theo tích cũ, phàm 7 ngày mới dỡ bỏ. Khi trời tối, dùng kiệu lọng trống nhạc đón tăng sĩ này về. Dùng vải màu kết thành 2 cái đình nhỏ, một cái để cô gái ngồi trong đó, một cái tăng sĩ ngồi trong đó, không rõ miệng họ nói lời gì, tiếng trống nhạc ồn ã vang trời. Đêm đó không cấm việc đi đêm.
Nghe nói đến giờ, tăng cùng con gái vào phòng, tự tay làm lễ phá trinh, rồi bỏ vào trong rượu; có người nói cha mẹ và hàng xóm đều chấm lên trán, có người nói thảy đều nếm bằng miệng, có người nói tăng cùng con gái giao cấu, có người lại nói không có việc này, nhưng họ không cho người Đường thấy nên không biết chắc được. Đến khi trời sắp sáng, lại dùng kiệu lọng trống nhạc tiễn tăng đi, sau đó phải dùng vải vóc các loại đưa cho tăng để "chuộc thân", nếu không cô gái này sẽ mãi thuộc về vị tăng đó, không thể gả cho người khác được.
Việc ta thấy tận mắt là vào đêm mùng 6 tháng 4 âm lịch năm Đinh Dậu thời Đại Đức [năm 1297]. Trước đó cha mẹ tất ngủ cùng con gái, sau lễ này thì đuổi ra ngoài phòng, mặc cho đi đâu thì đi, không còn gò bó hay đề phòng gì nữa. Đến như việc cưới xin, tuy có lễ nạp tệ nhưng cũng chỉ làm sơ sài cho xong chuyện, nhiều người tư thông trước rồi mới cưới sau, phong tục ấy họ chẳng cho là nhục, cũng chẳng cho là lạ. Đêm Trận thảm, trong một ngõ có khi đến hơn 10 nhà làm lễ, trong thành người đón tăng sĩ đạo sĩ đi lại đan xen trên đường, tiếng trống nhạc không nơi nào không có.
'''NÔ TỲ (奴婢)'''
Nô tỳ trong các gia đình đều mua người dã man (dã nhân) để sung vào việc phục dịch, nhà nhiều có hơn 100 người, nhà ít cũng có 10 đến 20 người, trừ những nhà cực nghèo thì mới không có. Những người dã man này là người ở vùng núi rừng, tự có chủng loại riêng, tục gọi là "Trông" (獞). Khi bọn giặc này đến trong thành, cũng không dám ra vào nhà người khác. Người trong thành khi mắng chửi nhau, hễ gọi đối phương là "Trông" (獞) thì kẻ đó hận thấu xương tủy, sự khinh rẻ của mọi người đối với họ là như thế. Người trẻ khỏe giá 100 tấm vải, người già yếu chỉ giá 30 đến 40 tấm vải. Họ chỉ được phép ngồi nằm dưới sàn lầu. Nếu có việc sai bảo mới được lên lầu, nhưng phải quỳ gối, chắp tay, đảnh lễ rồi mới dám tiến tới. Họ gọi chủ nam là "Ba đà" (巴駝), chủ mẫu là "Mễ" (米). Đà (駝) nghĩa là cha, Mễ (米) nghĩa là mẹ. Nếu có lỗi mà bị đánh, họ cúi đầu chịu gậy, chẳng dám cử động. Nam nữ nô tỳ tự phối đôi với nhau, chủ nhân tuyệt không có lễ giao tiếp (cưới hỏi) với họ. Có người Đường (唐人) đến đó, vì xa nhà lâu ngày nên không chọn lựa mà giao cấu với họ, chủ nhân nghe thấy thì ngày hôm sau không thèm ngồi cùng chỗ, vì người đó đã từng tiếp xúc với dã nhân vậy. Nếu nô tỳ giao cấu với người ngoài đến mức có thai, sinh con, chủ nhân cũng không gặng hỏi lai lịch, vì coi họ là hạng không đáng kể (bất xỉ), lại có lợi là thêm được đứa trẻ, sau này vẫn làm nô tỳ được. Nếu có kẻ bỏ trốn mà bị bắt lại, tất sẽ bị xăm màu xanh vào mặt, hoặc đeo vòng sắt quanh cổ để khóa lại, cũng có người bị đeo vòng sắt ở cánh tay hoặc bắp chân.
'''NGÔN NGỮ (語言)'''
Ngôn ngữ trong nước tự thành hệ thống riêng, âm thanh tuy gần giống nhưng người Chiêm Thành (占城) và người Xiêm (暹人) đều không thông hiểu lời nói. Ví như 1 là "Mai", 2 là "Biệt", 3 là "Ti", 4 là "Ban", 5 là "Bột giam", 6 là "Bột giam mai", 7 là "Bột giam biệt", 8 là "Bột giam ti", 9 là "Bột giam ban", 10 là "Đáp hô". Cha gọi là "Ba đà", chú bác cũng gọi là "Ba đà". Mẹ gọi là "Mễ", cô, dì, thím, mợ cho đến bậc cao tuổi hàng xóm cũng gọi là "Mễ". Anh gọi là "Bang", chị cũng gọi là "Bang". Em gọi là "Bổ ôn". Cậu gọi là "Khiết lại", dượng (chồng của cô) cũng gọi là "Bột lại". Đại để họ đặt chữ "Dưới" lên trên (ngữ pháp ngược), như trong đảng phái thường tự sát hại lẫn nhau. Vùng đất gần đó cũng có người trồng đậu khấu, bông vải dệt vải để làm nghề nghiệp, vải rất thô dày, hoa văn rất khác biệt.
'''CHỮ VIẾT (文字)'''
Chữ viết thông thường và văn thư quan phủ đều dùng các vật như da hoẵng, da hươu nhuộm đen, tùy theo kích thước rộng hẹp mà cắt theo ý muốn. Dùng một loại phấn như đất phấn trắng (bạch oắc) của Trung Quốc, vê thành thỏi nhỏ gọi là "Sa" (梭), cầm trong tay rồi viết chữ lên da, vĩnh viễn không phai. Dùng xong thì giắt lên trên tai. Chữ viết có thể nhận ra là do ai viết, phải dùng vật ướt lau sạch mới mất đi. Đại suất mặt chữ giống như chữ Hồi Hột (回鶻), sách chữ đều viết từ sau ra trước, chứ không viết từ trên xuống dưới. Ta nghe Dã Tiên Hải Nha (也先海牙) nói rằng: "Chữ ấy không có âm thanh, chính là gần với âm người Mông Cổ (蒙古), chỉ khác nhau 2 đến 3 chữ mà thôi". Ban đầu không có ấn tín, người dân đi kiện cáo cũng có cửa hàng chép thuê (thư phô) viết giúp.
'''CHÍNH SÓC THỜI TỰ (正朔時序)'''
Thường lấy tháng 10 âm lịch của Trung Quốc làm tháng Giêng. Tháng ấy tên là "Giai đắc" (佳得). Trước nội cung dựng một cái giàn lớn, trên có thể chứa hơn 1.000 người, treo đầy đèn cầu, hoa lá các loại. Phía đối diện cách xa 20 trượng, dùng gỗ nối nhau dựng thành giàn cao như cột leo (phác can) khi xây tháp, cao khoảng hơn 20 trượng. Mỗi đêm dựng 3 đến 4 tòa hoặc 5 đến 6 tòa, trang bị pháo hoa, pháo tre (bộc trượng) trên đó. Việc này đều do các thuộc quận và các phủ đệ nhận trách nhiệm (nhận trực). Đêm đến mời quốc vương ra xem, châm đốt pháo hoa và pháo tre. Pháo hoa tỏa sáng dù cách xa 100 dặm cũng thấy. Pháo tre to như đại bác, tiếng vang động cả thành. Các quan thuộc và quý thích, mỗi người được chia nến lớn và trầu cau, chi phí rất lớn. Quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem, như thế suốt nửa tháng mới thôi.
Mỗi tháng tất có một sự lệ, như tháng 4 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì ném cầu (phao cầu), tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì áp liệt (tập hợp thợ săn), tụ tập dân chúng cả nước đều vào thành, duyệt binh trước nội cung. Tháng 5 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì nghênh Phật, các tượng Phật từ xa gần trong cả nước đều được đưa đến dâng nước cho quốc chủ tắm mình. Trên cạn có thuyền đi (lục địa hành chu), quốc chủ lên lầu để xem. Tháng 7 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì đốt lúa, khi ấy lúa mới đã chín, đón ở ngoài cửa Nam, đốt đi để cúng Phật, phụ nữ đến xem vô số, nhưng quốc chủ không ra. Tháng 8 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] thì Ai lam (挨藍), Ai lam nghĩa là múa vậy. Vua mỗi ngày ở trong nội cung múa Ai lam, lại cho lợn đấu, voi đấu, quốc chủ cũng mời sứ giả cùng xem. Như thế suốt 1 tuần trăng (10 ngày), các tháng còn lại không thể ghi nhớ tường tận được.
Người trong nước cũng có kẻ thông thiên văn, nhật thực nguyệt thực đều có thể tính toán, nhưng tháng đủ tháng thiếu lại khác với Trung Quốc. Năm nhuận thì họ cũng đặt nhuận, nhưng chỉ nhuận tháng 9 âm lịch, thật không hiểu nổi. Một đêm chỉ chia làm 4 canh. Cứ mỗi 7 ngày là một vòng, cũng như Trung Quốc gọi là "Khai bế kiến trừ" (các trực). Người phiên đã không có danh tính, cũng không nhớ ngày sinh, nhiều người lấy tên ngày sinh làm tên gọi. Có 2 ngày là đại cát, 3 ngày bình thường, 4 ngày là đại hung. Ngày nào có thể xuất hành hướng Đông, ngày nào có thể xuất hành hướng Tây, dù là phụ nữ cũng đều biết tính. 12 con giáp (thập nhị sinh tiếu) cũng giống Trung Quốc, nhưng tên gọi thì khác. Như gọi ngựa là "Bốc tái", tiếng gọi gà là "Loan", tiếng gọi lợn là "Trực lư", gọi bò là "Cá".
'''TRANH TỤNG (爭訟)'''
Dân gian tranh tụng, dù là việc nhỏ cũng phải tâu lên. Quốc chủ ban đầu không dùng hình phạt roi trượng, chỉ nghe việc "phạt tiền vàng" (phạt kim) mà thôi. Người phạm tội đại nghịch trọng sự cũng không có việc treo cổ hay chém đầu, chỉ ở ngoài cửa Tây thành đào đất thành hố, bỏ tội nhân vào trong, lấp đầy đất đá, nén chặt là xong. Kế đến có kẻ bị chặt ngón tay chân, có kẻ bị xẻo mũi. Nhưng việc gian dâm và hối lộ thì không cấm, chồng của người đàn bà gian dâm nếu biết được, thì dùng 2 thanh củi kẹp chặt chân kẻ gian phu, đau đớn không chịu nổi, phải bỏ hết tiền của đưa cho người chồng mới được tha. Tuy nhiên cũng có kẻ dàn cảnh lừa bịp, hoặc có kẻ chết ở ngay cửa nhà, thì họ tự dùng dây kéo vứt ra bãi đất trống ngoài thành, ban đầu không có việc báo quan kiểm nghiệm. Gia đình bắt được trộm, cũng có thể thi hành hình phạt giam giữ khảo tra, nhưng có một điều đáng nói: như nhà mất đồ, nghi người này là trộm mà họ không nhận, bèn lấy nồi đun dầu thật nóng, lệnh cho người đó nhúng tay vào, nếu quả thực trộm đồ thì tay bị thối rữa, nếu không thì da thịt vẫn như cũ. Người phiên có pháp thuật như vậy.
Lại có 2 nhà tranh tụng, không phân rõ phải trái. Phía đối diện nội cung có 12 tòa tháp đá nhỏ, lệnh cho mỗi người ngồi trong một tháp, bên ngoài người thân hai nhà tự canh phòng lẫn nhau. Ngồi 1 hoặc 2 ngày, hoặc 3 đến 4 ngày, kẻ không có lý tất sẽ phát bệnh mà ra. Hoặc trên thân mọc mụn nhọt, hoặc bị ho, sốt nóng các loại; người có lý thì chẳng có việc gì. Dựa vào đó để phân định phải trái, gọi là "Thiên ngục". Ấy là linh khí của mảnh đất đó có sự như vậy.
'''BỆNH HỦI (病癩)'''
Người trong nước thông thường có bệnh, đa số là xuống nước tắm ngâm, và thường xuyên gội đầu, tự khắc sẽ khỏi. Tuy nhiên người bị bệnh hủi (bệnh lùi) rất nhiều, rải rác trên đường. Người bản địa dù cùng nằm cùng ăn với họ cũng không nề hà. Có người nói do phong thổ nơi đó có tật bệnh này, từng có quốc chủ mắc bệnh này nên mọi người không hiềm khích. Theo ý kiến thiển cận của ta, thường là sau khi mây mưa (hảo sắc), liền xuống nước tắm rửa, nên mới thành bệnh này. Nghe nói người bản địa sau khi xong việc sắc dục đều xuống nước tắm rửa. Những người mắc bệnh lỵ thì 10 người chết đến 8, 9 người. Cũng có người bán thuốc ở chợ, không giống Trung Quốc, không rõ là vật gì. Lại còn một hạng thầy phù thủy (sư vu) làm phép cho người, càng đáng cười hơn.
'''TỬ VONG (死亡)'''
Người chết không có quan tài, chỉ dùng chiếu tre các loại, đắp lên bằng vải. Lúc đưa tang, phía trước phía sau dùng cờ xí trống nhạc, lại dùng 2 mâm gạo rang, đi dọc đường vung vãi, khiêng đến nơi hoang vắng xa xôi không người, quẳng bỏ lại đó. Đợi có diều quạ, chó hoặc các loài súc vật đến ăn, trong chốc lát mà ăn hết thì bảo cha mẹ có phúc nên mới được báo đáp này. Nếu không ăn, hoặc ăn không hết, lại bảo cha mẹ có tội. Đến nay cũng dần có người thiêu xác, thường là dòng giống còn sót lại của người Đường (唐人). Cha mẹ chết, không có tang phục riêng, nam giới thì cạo trọc đầu, nữ giới thì ở đỉnh đầu cắt tóc to bằng đồng tiền, lấy đó làm hiếu vậy. Quốc chủ thì có tháp để chôn cất, nhưng không rõ là táng cả thân xác hay táng xương cốt.
'''CANH CHÚNG (耕種)'''
Đại để một năm có thể thu hoạch gieo trồng 3, 4 bận, vì bốn mùa thường như tiết tháng 5, 6 âm lịch, vả lại không biết đến sương tuyết vậy. Đất ấy nửa năm có mưa, nửa năm tuyệt không. Từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], mỗi ngày đều mưa, sau buổi trưa mới mưa. Trong hồ Đạm Dương (淡水洋) mực nước cao đến 7, 8 trượng, cây lớn đều ngập hết, chỉ còn lại ngọn. Những nhà ở ven nước đều dời vào sau núi. Từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch [năm 1296 hoặc 1297], một giọt mưa cũng không có, trong hồ chỉ có thể thông thuyền nhỏ, chỗ sâu không quá 3, 5 thước, dân chúng lại dời xuống canh tác. Họ chỉ định lúc nào lúa chín, lúc đó nước có thể ngập đến đâu, tùy theo địa thế mà gieo giống. Cày không dùng bò. Các công cụ như cày, liềm, cuốc tuy hơi giống nhưng chế tác thì khác biệt. Lại có một loại ruộng thấp, không trồng mà tự mọc, nước cao đến 1 trượng thì lúa cũng cao theo. Nhưng việc bón ruộng và trồng rau đều không dùng phân uế, vì ghét sự không sạch sẽ. Người Đường (唐人) đến đó đều không nói với họ chuyện dùng phân bón ở Trung Quốc, sợ bị khinh bỉ. Cứ 2, 3 nhà cùng đào một cái hố đất, hễ cỏ đầy thì lấp đi, lại đào hố khác. Phàm sau khi đi vệ sinh (đăng mỗ), tất phải vào ao tắm sạch, chỉ dùng tay trái, tay phải để dành nắm cơm. Thấy người Đường đi vệ sinh dùng giấy chùi thì cười nhạo, thậm chí không muốn cho vào cửa. Phụ nữ cũng có người đứng mà tiểu tiện, thật đáng cười thay!
'''SƠN XUYÊN (山川)'''
Từ khi vào Chân Bồ (真蒲) đến nay, phần lớn là rừng phẳng rậm rạp. Sông dài cảng lớn trải dài mấy trăm dặm, cây cổ thụ dây leo chằng chịt, bóng râm che phủ, tiếng chim thú rộn ràng trong đó. Đến giữa cửa sông mới bắt đầu thấy ruộng đồng bát ngát, tuyệt không có một bóng cây, nhìn xa chỉ thấy lúa nếp xanh tốt. Bò rừng tụ tập nơi đây từng đàn hàng ngàn hàng trăm con. Lại có những đồi tre, cũng trải dài mấy trăm dặm, tre ở đó các đốt mọc gai đan xen, măng vị rất đắng. Bốn phía đều có núi cao.
'''SẢN VẬT (出產)'''
Núi nhiều gỗ lạ, nơi không có cây cối là nơi tê ngưu và voi tụ tập sinh sôi, chim quý thú lạ không kế xiết. Hàng tinh tế (tế sắc) có lông chim trả (thúy mao), ngà voi, sừng tê, sáp vàng. Hàng thô (thô sắc) có giáng chân (giáng hương), đậu khấu, khương hoàng (nghệ), tử cảnh (nhựa cánh kiến), dầu đại phong tử, phỉ thúy (chim trả), việc kiếm được chúng khá khó khăn. Đại để trong rừng rậm có ao, trong ao có cá, chim trả từ trong rừng bay ra kiếm cá. Người Phiên lấy lá cây che thân, ngồi bên bờ nước, nhốt một con chim mái trong lồng để nhử, tay cầm lưới nhỏ, đợi nó đến thì chụp lấy; có ngày bắt được 3 đến 5 con, có khi cả ngày chẳng được con nào.
Ngà voi thì ở nhà dân nơi núi sâu hẻo lánh mới có; mỗi con voi chết mới có 2 chiếc ngà; xưa truyền rằng "mỗi năm voi thay ngà một lần" là sai vậy. Ngà voi do dùng lao (tiêu) đâm chết mà lấy là hạng thượng đẳng; voi tự chết rồi người ta tiện tay lấy được là hạng thứ; voi chết trong núi đã nhiều năm thì là hạng hạ đẳng. Sáp vàng sản sinh trong kẽ cây mục nơi thôn xóm, do một loại ong eo nhỏ như con kiến đen (lâu nghị) tạo ra, người Phiên lấy được; mỗi chuyến thuyền có thể thu gom 2.000 đến 3.000 khối, mỗi khối lớn nặng 30 đến 40 cân, khối nhỏ cũng không dưới 18 đến 19 cân. Sừng tê trắng mà có hoa văn là hạng thượng đẳng, màu đen là hạng hạ đẳng.
Giáng chân sinh trong rừng rậm, người Phiên rất tốn công đốn chặt, vì đây là lõi của cây vậy. Lớp gỗ trắng bên ngoài dày 8 đến 9 tấc, cây nhỏ cũng không dưới 4 đến 5 tấc. Đậu khấu đều do người dã man (dã nhân) trồng trên núi. Họa hoàng (nhựa cây hoàng đằng) là nhựa tiết ra từ một loại cây, người Phiên trước đó 1 năm dùng dao chặt vào thân cây cho nhựa nhỏ ra, đến năm sau mới thu hoạch. Tử cảnh sinh trên cành một loại cây, hình dáng như tầm gửi cây dâu (tang ký sinh), cũng rất khó kiếm. Dầu đại phong tử là hạt của một loại cây lớn, hình dáng như quả dừa mà tròn, bên trong có mấy chục hạt. Hồ tiêu đôi khi cũng có, mọc theo kiểu dây leo, kết trái lủng lẳng như hạt cỏ xanh; lúc còn tươi xanh thì vị càng cay hơn.
'''THƯƠNG MẠI (貿易)'''
Người trong nước giao dịch đều do phụ nữ đảm nhiệm. Cho nên người Đường (唐人) đến đó, trước hết tất phải nạp một người vợ, cũng là để lợi dụng tài mua bán của họ vậy. Mỗi ngày có một buổi chợ (khu), từ giờ Mão đến giờ Ngọ thì tan. Không có cửa hàng cố định, chỉ dùng các loại lều cỏ, chiếu tre trải trên đất, mỗi người đều có chỗ riêng. Phải nộp tiền thuê đất cho quan phủ. Giao dịch nhỏ thì dùng gạo thóc và hàng hóa người Đường mang tới, kế đến dùng vải. Nếu là giao dịch lớn thì dùng vàng bạc. Người bản thổ thường rất chất phác, thấy người Đường thì khá kính sợ, gọi là "Phật" (佛), thấy người Đường thì phục lạy sát đất. Gần đây cũng có kẻ lừa gạt, bắt nạt người Đường, ấy là do người qua lại đã đông vậy.
'''HÀNG HÓA NGƯỜI ĐƯỜNG MUỐN MANG TỚI (欲得唐貨)'''
Đất ấy nghĩ là không sản sinh vàng bạc, nên coi vàng bạc của người Đường là thứ nhất; lụa là năm màu (ngũ sắc kiêm bạch) đứng thứ hai; kế đến là thiếc chì của Chân Châu (真州), khay sơn của Ôn Châu (溫州), đồ sứ xanh (thanh từ khí) của Tuyền Châu (泉州), cùng với thủy ngân, ngân chu (phấn hồng), giấy tờ, lưu huỳnh, diêm tiêu, đàn hương, bạch chỉ, xạ hương, vải lanh (ma bố), vải cỏ vàng (hoàng thảo bố), ô dù, nồi sắt, mâm đồng, hạt cườm gỗ, dầu đồng, lược bí, lược gỗ, kim khâu; hàng thô nặng thì như chiếu của Minh Châu (明州). Thứ họ rất muốn có được là đậu và lúa mạch, nhưng không thể mang (hạt giống) đi được vậy.
'''CỎ CÂY (草木)'''
Lựu, mía, hoa sen, gương sen, ngó sen, khoai môn, đào, chuối, khung (xuyên khung) đều giống với Trung Quốc. Vải, quýt hình dáng tuy giống nhưng vị chua; còn lại đều là thứ ở Trung Quốc chưa từng thấy. Cây cối cũng rất khác biệt. Hoa cỏ thì nhiều vô kể, lại thơm và đẹp. Hoa dưới nước lại càng nhiều chủng loại, thảy đều không biết tên. Còn như các loại đào, mận, hạnh, mai, thông, bách, sam, quế, lan, cúc... thì thảy đều không có. Ở đó vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] cũng có hoa sen.
'''CHIM MUÔNG (飛鳥)'''
Chim có chim công (khổng tước), chim trả (phỉ thúy), vẹt (anh ca) là thứ Trung Quốc không có. Còn lại như diều hâu, quạ, cò, diệc, chim cốc, chim quán, sếu, vịt trời, chim sẻ vàng các thứ đều có. Thứ không có là chim khách, chim hồng nhạn, chim oanh vàng, chim đỗ quyên, chim én, chim bồ câu.
'''THÚ CHẠY (走獸)'''
Thú có tê ngưu, voi, bò rừng, ngựa núi là những thứ Trung Quốc không có. Còn lại như hổ, báo, gấu, lợn rừng, nai, hươu, hoẵng, khỉ, cáo các loại rất nhiều. Thứ thiếu là sư tử, đười ươi, lạc đà. Gà, vịt, bò, ngựa, lợn, dê thì không cần bàn đến. Ngựa rất lùn nhỏ. Bò rất nhiều. Lúc sống người dân dám cưỡi, nhưng chết thì không dám ăn, cũng không dám lột da, cứ để mặc cho thối rữa mà thôi, vì cho rằng bò đã giúp sức cho người, chỉ dùng để kéo xe thôi. Trước kia không có ngỗng, gần đây có người đi thuyền từ Trung Quốc mang sang nên mới có giống đó. Chuột có con to như mèo. Lại có một loại đầu chuột nhưng tuyệt nhiên giống như chó con mới đẻ.
'''RAU CỦ (蔬菜)'''
Rau củ có hành, mù tạt (giới), hẹ, cà, dưa chuột, dưa hấu, vương qua, bí đao, rau dền. Thứ không có là củ cải, xà lách (sinh thái), khổ mãi, rau chân vịt (ba lăng). Dưa và cà vào tháng Giêng âm lịch [năm 1296 hoặc 1297] đã có rồi. Cây cà có khi trải qua mấy năm không nhổ bỏ. Cây bông vải (mộc miên) cao vượt cả mái nhà, 10 năm không thay. Các loại rau không biết tên rất nhiều, rau dưới nước cũng có nhiều loại.
'''NGƯ LONG (魚龍)'''
Cá và ba ba, chỉ có cá chép đen là nhiều nhất, các loại khác như cá chép, cá diếc, cá trắm cũng rất nhiều, con lớn nặng trên 2 cân. Có những loại cá không biết tên cũng rất nhiều, thảy đều từ hồ Đạm Dương (淡水洋) mà ra. Còn như cá ở biển thì loại gì cũng có. Lươn, chình, ếch nhái người bản thổ không ăn, đêm đến chúng bò ngang dọc đầy đường. Giải và cá sấu lớn như cái bồ, dù là loại rùa 6 mai cũng được dùng làm thức ăn. Tôm ở Tra Nam (查南) nặng trên 1 cân. Rùa ở Chân Bồ (真蒲) chân có thể dài khoảng 8 đến 9 tấc. Cá sấu lớn như chiếc thuyền, có 4 chân, cực giống hình rồng nhưng không có sừng, bụng rất giòn và ngon. Các loại trai, hến, ốc ở hồ Đạm Dương có thể vốc tay là được. Duy nhất không thấy cua, nghĩ là cũng có nhưng người ta không ăn vậy.
'''UỔN NHƯỠNG (醞釀 - Nấu rượu)'''
Rượu có 4 hạng: Thứ nhất, người Đường (唐人) gọi là "rượu mật đường", dùng men thuốc pha với mật và nước mỗi thứ một nửa mà thành. Thứ nhì, chủ nhà gọi là "Bằng nha tứ" (朋牙四), làm bằng lá cây. Bằng nha tứ (朋牙四) là tên một loại lá cây vậy. Thứ ba nữa là dùng gạo hoặc cơm thừa mà làm, tên gọi là "Bao lăng giác" (包稜角), vì Bao lăng giác (包稜角) nghĩa là gạo vậy. Hạng thấp nhất là "rượu đường giám", làm bằng đường. Lại nữa, khi vào cửa sông ven nước có "rượu giao tương", vì có một loại lá giao mọc ven nước, nhựa của nó có thể nấu rượu.
'''MUỐI, GIẤM, TƯƠNG, MÌ (鹽醋醬麪)'''
Việc nấu muối trong nước không cấm, từ Chân Bồ (真蒲), Ba Giản (巴澗) ven biển trở đi thảy đều nấu muối. Trong núi lại có một loại đá vị còn ngon hơn muối, có thể đẽo gọt thành đồ dùng. Người bản thổ không biết làm giấm, trong canh muốn có vị chua thì bỏ lá cây "Hàm bình" (咸平), cây có quả thì dùng quả, có hạt thì dùng hạt. Họ cũng không làm tương vì không có lúa mạch và đậu. Cũng không có men đại mạch (khúc), vì nấu rượu bằng mật nước và lá cây nên cái họ dùng là men thuốc (tửu dược), hình dáng giống như men rượu trắng ở vùng quê Trung Quốc.
''' TẰM TANG (蠶桑)'''
Người bản thổ đều không làm nghề tằm tang, phụ nữ cũng không hiểu việc kim chỉ khâu vá, chỉ có thể dệt vải bông (mộc miên) mà thôi. Họ cũng không biết quay sợi, chỉ lấy tay vuốt thành sợi. Không có khung cửi để dệt, chỉ dùng một đầu buộc vào thắt lưng, một đầu gác lên trên, thoi dệt cũng chỉ dùng một ống tre. Những năm gần đây người Xiêm (暹人) đến ở mới lấy nghề tằm tang làm nghiệp. Giống dâu, giống tằm đều từ nước Xiêm mang đến. Ở đây cũng không có gai, đay, chỉ có lạc ma (một loại sợi). Người Xiêm tự dùng tơ dệt áo lăng đen để mặc, phụ nữ Xiêm thì biết khâu vá. Người bản thổ khi vải quấn bị rách đều thuê họ vá giúp.
'''KHÍ DỤNG (器用 - Đồ dùng)'''
Ngoài phòng xá của những nhà tầm thường ra không có các loại bàn ghế hay thùng chậu. Chỉ khi nấu cơm thì dùng một nồi đất (ngõa phủ), nấu canh dùng một siêu đất (ngõa điêu), chôn 3 hòn đá xuống đất làm bếp, dùng gáo dừa làm muôi. Đựng cơm dùng bồn đất Trung Quốc hoặc mâm đồng. Canh thì dùng lá cây chế thành một cái bát nhỏ, dù đựng nước cũng không rò rỉ. Lại lấy lá giao làm một cái muôi nhỏ để múc nước canh vào miệng, dùng xong thì vứt đi, dù là lúc tế lễ thần Phật cũng vậy. Lại dùng một đồ thiếc hoặc đồ đất đựng nước bên cạnh để nhúng tay, vì ăn cơm chỉ dùng tay bốc, cơm dính vào tay nếu không có nước này thì không sạch được. Uống rượu dùng ấm bằng thiếc (lạp chú tử), người nghèo dùng bát đất, nếu là phủ đệ nhà giàu thì thảy đều dùng đồ bạc, thậm chí có nhà dùng vàng. Các dịp khánh hạ của quốc gia đa số dùng vàng làm đồ dùng, chế độ hình dáng lại khác biệt. Trên đất thì trải chiếu cỏ Minh Châu (明州), hoặc có nhà trải da hổ, báo, hoẵng, hươu và thảm mây. Gần đây mới đặt bàn thấp, cao khoảng 1 xích (hơn 30cm), lúc ngủ chỉ nằm chiếu tre trên ván. Gần đây lại có người dùng giường thấp, thảy đều do người Đường (唐人) chế tác. Đồ ăn dùng vải che lại, trong cung quốc chủ dùng gấm lụa dát vàng (tiêu kim kiêm bạch), thảy đều do khách buôn trên thuyền biếu tặng. Lúa không dùng cối xay, chỉ dùng chày giã mà thôi.
'''XA KIÊU (車轎 - Xe và kiệu)'''
Chế độ của kiệu là lấy một khúc gỗ uốn cong ở giữa, hai đầu dựng đứng lên, điêu khắc hoa văn và bọc vàng bạc, đó chính là cái gọi là "đòn khiêng kiệu vàng bạc" vậy. Mỗi đầu trong khoảng 1 xích thì đóng móc sắt, dùng một tấm vải lớn gấp dày, lấy dây buộc vào hai đầu móc, người ngồi trong vải, dùng 2 người khiêng. Kiệu lớn thì thêm một vật như mui thuyền nhưng rộng hơn, trang trí bằng gấm lụa năm màu, dùng 4 người khiêng, có người chạy theo kiệu. Nếu đi xa cũng có người cưỡi voi, cưỡi ngựa. Cũng có người dùng xe, chế độ của xe giống như những nơi khác. Ngựa không có yên, voi không có ghế để ngồi.
'''CHU TẬP (舟楫 - Thuyền bè)'''
Thuyền lớn dùng gỗ cứng xẻ ván mà làm. Thợ không có cưa, chỉ dùng rìu đục mà đẽo thành ván, vừa tốn gỗ vừa tốn công. Phàm muốn cắt gỗ thành đoạn cũng chỉ dùng đục mà đục đứt, dựng nhà cũng vậy. Thuyền cũng dùng đinh sắt, trên lợp lá giao, lấy mảnh gỗ cây cau ép lên trên. Loại thuyền này tên là "Tân nã" (新拏). Dầu dán mái chèo là dầu cá, vôi trộn là vôi đá. Thuyền nhỏ thì lấy gỗ lớn đục thành máng, dùng lửa hơ mềm rồi lấy gỗ chống cho choãi ra; bụng to, hai đầu nhọn, không mui, chở được vài người, chỉ dùng mái chèo mà khua, tên là "Bì lan" (皮闌).
'''THUỘC QUẬN (屬郡)'''
Các quận thuộc quyền có hơn 90 nơi: như Chân Bồ (真蒲), Tra Nam (查南), Ba Giản (巴澗), Mạc Lương (莫良), Bát Tiết (八薛), Bồ Mãi (蒲買), Trĩ Côn (雉棍), Mộc Tân Ba (木津波), Lại Cảm Khanh (賴敢坑), Bát Tư Lý (八廝里). Còn lại không thể nhớ hết. Mỗi nơi đều đặt quan thuộc, đều lấy hàng rào gỗ làm thành.
'''THÔN LẠC (村落)'''
Mỗi làng hoặc có chùa, hoặc có tháp. Nơi nhà cửa hơi đông đúc tất có quan trấn thủ, gọi là "Mai tiết" (買節). Trên đường lớn có nơi nghỉ ngơi như nhà trạm, tên là "Sâm mộc" (森木). Gần đây vì đánh nhau với người Xiêm (暹人) nên thảy đều thành đất hoang.
'''THỦ ĐẢM (取膽 - Lấy mật người)'''
Trước kia vào tháng 8 âm lịch [thời kỳ trước năm 1296], có tục lấy mật người. Nguyên do là vua Chiêm Thành (占城) mỗi năm đòi hàng ngàn chiếc mật người đựng trong một chiếc bình lớn. Đêm đến, họ tìm nhiều cách sai người vào trong thành và các thôn lạc, gặp người đi đêm thì dùng dây thòng lọng giữ chặt đầu, dùng dao nhỏ lấy mật ở dưới sườn phải, đợi cho đủ số để dâng cho vua Chiêm Thành (占城). Duy chỉ không lấy mật của người Đường (唐人), vì có một năm lấy một cái mật của người Đường trộn vào trong đó, khiến cho mật trong cả bình đều thối rữa không dùng được. Những năm gần đây đã bỏ việc lấy mật này, lập ra chức quan lấy mật riêng, ở phía trong cửa Bắc.
'''DỊ SỰ (異事 - Chuyện lạ)'''
Phía trong cửa Đông có người Man phạm tội dâm ô với em gái mình, da thịt dính chặt không rời, trải qua 3 ngày không ăn mà cả hai cùng chết. Người đồng hương của ta là họ Tiết, ở phiên bang đã 35 năm, ông ta bảo đã 2 lần thấy chuyện này, ấy là vì uy linh của Thánh Phật nên mới như vậy.
'''TẢO DỤC (澡浴 - Tắm rửa)'''
Đất này cực kỳ nóng nực, mỗi ngày nếu không tắm rửa vài lần thì không chịu nổi, đêm đến cũng không tránh khỏi 1 đến 2 lần. Ban đầu không có phòng tắm hay bồn chậu, nhưng mỗi nhà đều phải có một cái ao, nếu không thì 2 đến 3 nhà chung một ao. Không phân biệt nam nữ thảy đều trần truồng xuống ao. Duy chỉ có cha mẹ bậc tôn trưởng ở trong ao thì con cái bậc thấp không dám vào. Nếu bậc thấp ở trong ao trước, thấy bậc tôn trưởng đến thì cũng phải tránh đi. Nếu hàng vai vế ngang hàng thì không gò bó. Lúc xuống nước chỉ dùng tay trái che bộ phận kín là được. Cứ 3 đến 4 ngày, hoặc 5 đến 6 ngày, phụ nữ trong thành từng nhóm 3 đến 5 người cùng ra sông ngoài thành tắm rửa. Đến bờ sông, cởi bỏ tấm vải quấn mà xuống nước, người tụ tập ở sông có đến hàng ngàn, dù là phụ nữ nhà quyền quý cũng dự vào, tuyệt không cho là nhục. Từ gót chân đến đỉnh đầu thảy đều nhìn thấy rõ. Ở con sông lớn ngoài thành, không ngày nào không có cảnh này, người Đường (唐人) lúc rảnh rỗi thường lấy việc này làm thú vui tiêu khiển. Nghe nói cũng có kẻ ước hẹn tư thông ngay dưới nước. Nước thường ấm như nước nóng, chỉ đến canh 5 mới hơi mát, hễ mặt trời mọc là lại ấm ngay.
'''LƯU NGỤ (流寓)'''
Những người Đường (唐人) làm thủy thủ thấy nước này có lợi là không cần mặc quần áo, gạo thóc dễ kiếm, phụ nữ dễ lấy, nhà cửa dễ lo, đồ dùng dễ đủ, mua bán dễ làm, nên thường trốn ở lại đó.
'''QUÂN MÃ (軍馬)'''
Quân lính cũng trần truồng đi chân đất, tay phải cầm lao (tiêu thương), tay trái cầm khiên (chiến bài), không có các thứ gọi là cung tên, pháo đá, giáp trụ. Nghe nói khi đánh nhau với người Xiêm (暹人) đều lùa bách tính ra trận, thường cũng chẳng có mưu lược trí kế gì.
'''QUỐC CHỦ XUẤT NHẬP (國主出入 - Việc đi lại của vua)'''
Nghe nói trước kia quốc chủ không mấy khi ra khỏi cửa, ấy là để phòng những biến cố bất trắc. Vị chủ mới này là con rể của quốc chủ cũ, nguyên giữ chức thống lĩnh quân đội. Nhạc phụ yêu con gái, người con gái ấy mật mật lấy trộm gươm vàng giao cho chồng, khiến cho con trai ruột không được kế vị. Người con trai ấy từng mưu dấy binh nhưng bị chủ mới phát giác, bị chặt ngón chân rồi giam vào phòng tối. Chủ mới thân khảm "sắt thánh", dù đao tên chạm vào mình cũng không hại được, nhờ cậy vào đó mới dám ra khỏi cửa. Ta ở lại hơn 1 năm, thấy vua ra ngoài 4 đến 5 lần. Phàm khi ra ngoài, quân mã vây bọc phía trước, cờ xí trống nhạc theo sau. Cung nữ 300 đến 500 người, mặc vải hoa, búi tóc hoa, tay cầm nến lớn thành một đội, dù ban ngày cũng đốt nến. Lại có cung nữ thảy đều cầm đồ dùng bằng vàng bạc và đồ trang sức trong cung, chế độ khác biệt, không rõ dùng làm gì. Lại có cung nữ cầm lao và khiên làm quân nội đình, lập thành một đội. Lại có xe dê, xe ngựa thảy đều trang trí bằng vàng. Các quan đại thần và quốc thích đều cưỡi voi đi trước, nhìn xa lọng che màu đỏ (hồng lương tản) không kế xiết. Kế đến là vợ và thiếp của quốc chủ, hoặc ngồi kiệu, ngồi xe, cưỡi ngựa hay cưỡi voi, lọng che dát vàng (tiêu kim lương tản) có hơn 100 chiếc. Sau cùng là quốc chủ, đứng trên lưng voi, tay cầm bảo kiếm, ngà voi cũng được bọc vàng. Lọng che màu trắng dát vàng (tiêu kim bạch lương tản) phàm hơn 20 chiếc, cán lọng đều bằng vàng. Chung quanh vây bọc rất nhiều voi và có quân mã bảo vệ. Nếu đi chơi gần thì chỉ dùng kiệu vàng, đều do cung nữ khiêng. Đại phàm ra vào, tất rước tháp vàng nhỏ và Phật vàng đi trước, người xem thảy đều phải quỳ xuống đảnh lễ, gọi là "Tam bãi" (三罷). Nếu không sẽ bị quân canh bắt giữ, không được thả ra vô ích. Mỗi ngày quốc chủ ra ngự triều trị sự 2 lần, cũng không có văn bản nhất định. Các quan và bách tính muốn gặp quốc chủ đều ngồi liệt trên đất để đợi. Một lát sau, bên trong ẩn hiện tiếng nhạc, bên ngoài mới thổi ốc tù và để đón. Nghe nói vua chỉ dùng xe vàng đến từ nơi hơi xa, chốc lát thấy 2 cung nữ dùng bàn tay thon dài cuốn rèm lên, quốc chủ tay chống kiếm đứng trong cửa sổ vàng. Từ quan lại trở xuống đều chắp tay cúi đầu, tiếng ốc vừa dứt mới được ngẩng đầu. Vua lúc đó cũng liền ngồi xuống. Chỗ ngồi có một tấm da sư tử, là vật báu truyền quốc. Sau khi bàn việc xong, quốc chủ liền quay mình đi vào, 2 cung nữ lại hạ rèm xuống, mọi người cùng đứng dậy. Xem thế thì biết dù là nơi man di, chưa từng không biết có quân vương vậy.
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic111 - 真臘國.svg|center]]
Theo Tam tài đồ hội (三才圖會): Nước Chân Lạp (真臘) phát thuyền từ Quảng Châu (廣州), đi gió Bắc 10 ngày thì đến nơi, thời tiết không có mùa lạnh. Mỗi khi cưới hỏi thì người nam về ở nhà người nữ. Sinh con gái đến 9 tuổi, liền mời sư tăng tụng kinh làm phép Phạn (Phạn pháp), lấy ngón tay chọc phá thân đồng trinh, lấy máu đó điểm lên trán con gái, người mẹ cũng dùng điểm lên trán mình, gọi đó là "Lợi thị" (利市). Làm như vậy thì người con gái ấy sau này lấy chồng sẽ hòa hợp vui vẻ. Phàm con gái đủ 10 tuổi là gả chồng. Người trong nước phạm tội trộm cắp thì bị chặt tay chân, nung lửa đóng dấu vào ngực lưng hoặc xăm mặt, phạm tội đến mức chết thì bị chém. Người phiên giết người Đường (唐人) thì y theo pháp luật người phiên mà đền mạng; nếu người Đường giết người phiên thì bị phạt tiền vàng rất nặng; nếu không có tiền vàng thì bán thân lấy tiền chuộc tội. Phía Bắc giáp Chiêm Thành (占城), bên cạnh có các nước Tây Bằng (西棚)...
== ĐỖ BẠC bộ vị khảo (杜薄部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đỗ Bạc (杜薄) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Đỗ Bạc (杜薄) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong biển Trướng Hải (漲海) về phía Đông của Phù Nam (扶南), đi thuyền thẳng trên biển mấy chục ngày thì tới. Người nước ấy diện mạo trắng trẻo, thảy đều mặc quần áo. Trong nước có ruộng lúa, phụ nữ dệt vải hoa bằng bông trắng (bạch điệp hoa bố). Sản sinh vàng, bạc, sắt, lấy vàng làm tiền. Sản sinh hương Kê thiệt (雞舌香), có thể ngậm được. Vì hương thơm nên không cho vào quần áo. Cây Kê thiệt ấy khí vị cay mà tính mãnh liệt, chim thú không thể đến gần, nên chưa có ai nhận biết được cây ấy thế nào. Hoa chín tự rụng, trôi theo dòng nước mà ra, bấy giờ mới lấy được. Trên đảo Đỗ Bạc có hơn 10 tòa thành nước, đều xưng Vương."
== BẠC LẠT bộ vị khảo (薄剌部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Bạc Lạt (薄剌) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Bạc Lạt (薄剌) được biết đến vào thời Tùy. Nước này nằm trong vịnh biển phía Nam của Câu Lợi (拘利). Người ở đó da đen răng trắng, mắt đỏ, nam nữ thảy đều không mặc quần áo."
==HỎA SƠN bộ vị khảo (火山部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Hỏa Sơn (火山) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Hỏa Sơn (火山) được biết đến vào thời Tùy. Cách các đảo Chư Bạc (諸薄) 5.000 dặm về phía Đông. Trong núi ở nước ấy thảy đều có lửa, dù mưa cũng không tắt, trong lửa có loài chuột trắng." Thổ tục Phù Nam (扶南) truyền rằng: "Đảo Hỏa Sơn ở phía Đông đảo Mã Ngũ (馬五) khoảng hơn 1.000 dặm, tháng mùa xuân mưa dầm, mưa tạnh thì lửa cháy. Cây cối trên đảo hễ gặp mưa thì vỏ đen, gặp lửa thì vỏ trắng. Người ở các đảo lân cận vào tháng mùa xuân thường lấy vỏ cây ấy, bện lại làm vải, hoặc làm tim đèn; vải hễ hơi bẩn, quăng vào trong lửa lại sạch như cũ." Lại có nước Gia Doanh (加營), phía Bắc các đảo Chư Bạc, có ngọn núi phía Tây chu vi 300 dặm, từ tháng 4 âm lịch lửa sinh ra, tháng Giêng âm lịch lửa tắt; khi lửa cháy thì cỏ cây rụng lá như mùa lạnh ở Trung Quốc. Người thời ấy vào tháng 3 âm lịch đến núi này lấy vỏ cây, bện làm vải hỏa hoạn (vải chịu lửa)."
== ĐÔ CÔN bộ vị khảo (都昆部彙考)==
'''(Đính kèm nước Biên Đẩu, Câu Lợi, Tỉ Tùng)'''
=== TÙY (隋)===
'''Nước Đô Côn (都昆) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Biên Đẩu (邊斗), còn gọi là Ban Đẩu (班斗); nước Đô Côn (都昆), còn gọi là Đô Quân (都軍); nước Câu Lợi (拘利), còn gọi là Cửu Ly (九離); nước Tỉ Tùng (比嵩), thảy đều được biết đến từ thời Tùy. Từ Phù Nam (扶南) vượt vịnh lớn Kim Lân (金鄰), đi về phía Nam 3.000 dặm thì có 4 nước này. Việc nông tác của họ giống với Kim Lân (金鄰), người đa số da trắng. Đô Côn (都昆) sản sinh hương Trản (棧香) tốt, hương Hoắc (藿香) và lưu huỳnh. Cây hương Hoắc ở đó sống đến 1.000 năm, gốc rễ rất lớn; chặt xuống để 4 đến 5 năm, phần gỗ đều mục nát, chỉ có các đốt ở giữa kiên cố, hương thơm còn lưu lại, lấy đó làm hương."
== VÔ LUÂN bộ vị khảo (無論部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Nước Vô Luân (無論) thời Tùy bắt đầu được Trung Quốc biết đến.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước Vô Luân (無論) được biết đến vào thời Tùy. Ở phía Tây Phù Nam (扶南) hơn 2.000 dặm. Hai bên đường cái của nước ấy trồng xen kẽ cây tỳ bà và các loại hoa quả, đi dưới tán cây luôn có bóng râm mát. Cứ 10 dặm có 1 trạm đình, trạm đình đều có giếng nước. Họ ăn cơm mạch, uống rượu bồ đào (nho), rượu đặc như keo, khi uống pha thêm nước, vị rất ngọt ngon."
==LA SÁT bộ vị khảo (羅剎部彙考)==
=== TÙY (隋)===
'''Năm Đại Nghiệp thứ 3 đời Tùy Dạng Đế, sai sứ sang nước Xích Thổ, đi đến La Sát.'''
Theo Tùy thư (隋書) không chép. Theo Thông điển (通典) của họ Đỗ: "Nước La Sát (羅剎) ở phía Đông nước Bà Lợi (婆利). Người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với Lâm Ấp (林邑) vào ban đêm, ban ngày thì che mặt." Năm Đại Nghiệp (大業) thứ 3 đời Tùy Dạng Đế [năm 607], sai sứ là Thường Tuấn (常駿) cùng những người khác đi sứ nước Xích Thổ (赤土), đi đến La Sát (羅剎).
Theo Quảng Đông thông chí (廣東通志): "Phía Đông Bà Lợi (婆利) có nước La Sát (羅剎), người ở đó cực kỳ xấu xí, tóc đỏ thân đen, răng thú móng chim ưng. Thường buôn bán với người Lâm Ấp (林邑), đến vào ban đêm, tự che mặt mình. Nước ấy sản sinh hỏa châu (ngọc lửa), hình dáng như thủy tinh, vào lúc giữa trưa lấy viên châu hứng bóng mặt trời để bắt vào ngải, nương theo đó lửa sẽ phát ra."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{Chú thích cuối trang}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
2zf0xek5h4fla22wiyif3fanejmgbuu
Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 103
114
71972
204743
2026-04-16T07:41:50Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第103卷 | năm= 1726 | phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 103''' | trước= [[../quyển 102|quyển 102]] | sau= [[../quyển 104|quyển 104]] | ghi chú = }} == CHIÊM THÀNH BỘ VỰNG KHẢO 1 (占城部彙…”
204743
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/第103卷
| năm= 1726
| phần = Phương Dư Vị Biên<br>Biên Duệ Điển<br>'''quyển 103'''
| trước= [[../quyển 102|quyển 102]]
| sau= [[../quyển 104|quyển 104]]
| ghi chú =
}}
== CHIÊM THÀNH BỘ VỰNG KHẢO 1 (占城部彙考一)==
===Hậu Chu===
'''Năm Hiển Đức thứ 5 thời Hậu Chu Thế Tông [năm 958], Chiêm Thành bắt đầu sai sứ sang nhập cống.'''
Dựa theo Ngũ Đại Sử – Chu bản kỷ: "Năm Hiển Đức (顯德) thứ 5, quốc vương Chiêm Thành là Thích Lợi Nhân Đức Mạn (釋利因德縵) sai Bồ Ha Tán (莆訶散) đến." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Chiêm Thành ở trên biển phía Tây Nam, đất vuông 1.000 dặm, phía Đông giáp biển, phía Tây đến Vân Nam (雲南), phía Nam giáp Chân Lạp (真臘), phía Bắc đến Hoan Châu (驩州). Phong tục người ở đó giống với Đại Thực (大食 - Ả Rập). Họ cưỡi voi và ngựa; ăn gạo tẻ; có thủy tê (tê giác nước), sơn dương; chim thú có các loài lạ như tê giác, công; từ tiền thế chưa từng thông với Trung Quốc. Năm Hiển Đức thứ 5 [năm 958], quốc vương nước ấy là Nhân Đức Mạn (因德縵) sai sứ giả Bồ Ha Tán (莆訶散) đến cống 84 bình dầu mãnh hỏa (mãnh hỏa du), 15 bình nước hoa hồng (tường vi thủy). Biểu chương viết trên lá Bối Đa (貝多葉), dùng gỗ thơm làm hộp. Dầu mãnh hỏa dùng rưới lên vật, hễ gặp nước thì lửa phát ra. Nước hoa hồng nói là lấy từ Tây Vực (西域), dùng rưới lên áo, dù áo đã rách nát mà hương thơm chẳng mất. Thời Ngũ Đại, các nước tứ di thấy ở Trung Quốc, xa nhất không quá Vu Điền (于闐) và Chiêm Thành. Sử sách chép về phía Tây Bắc khá tường tận, nhưng phía Đông Nam lại rất sơ lược, vì nơi ấy xa xôi hiếm khi tới được, vả lại không can dự đến lợi hại của Trung Quốc vậy."
===Tống===
'''Tháng Giêng mùa xuân năm Kiến Long thứ 2 thời Tống Thái Tổ [năm 961], quốc vương Chiêm Thành sai sứ sang triều cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ đã dẫn. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Nước Chiêm Thành ở phía Tây Nam Trung Quốc, phía Đông đến biển, phía Tây đến Vân Nam (雲南), phía Nam đến nước Chân Lạp (真臘), phía Bắc đến giới hạn Hoan Châu (驩州) rồi vượt biển. Phía Nam cách Tam Phật Tề (三佛齊) 5 ngày hành trình đường biển; đi đường bộ đến nước Tân Đà La (賓陀羅) mất 1 tháng hành trình, nước này lệ thuộc Chiêm Thành. Phía Đông cách nước Ma Dật (麻逸) 2 ngày hành trình, cách nước Bồ Đoan (蒲端) 7 ngày hành trình. Phía Bắc đến Quảng Châu (廣州) nếu thuận gió mất nửa tháng hành trình; phía Đông Bắc đến Lưỡng Chiết (兩浙) mất 1 tháng hành trình; phía Tây Bắc đến Giao Châu (交州) mất 2 ngày đường biển hoặc nửa tháng đường bộ. Đất ấy chiều Đông Tây rộng 700 dặm, chiều Nam Bắc dài 3.000 dặm. Phía Nam gọi là Thi Bị Châu (施備州), phía Tây là Thượng Nguyên Châu (上源州), phía Bắc là Ô Lý Châu (烏里州). Thống lĩnh cả thảy 38 châu lớn nhỏ, dân số không đầy 30.000 hộ.
Nước ấy không có thành quách, có hơn 100 làng, mỗi làng có từ 300 đến 500 hộ hoặc đến 700 hộ. Cũng có danh xưng huyện, trấn. Sản vật đất ấy có: hương tiễn, trầm hương, nhục quế, gỗ trầm đen (ô mạn mộc), tô mộc, mây trắng, sáp vàng, bông cát bối (cát bối), vải hoa, vải tơ, vải trắng, chiếu mây, chiếu lá bối đa, vàng bạc, sắt thỏi... và các loài ngũ cốc. Không có lúa mạch, có lúa tẻ, gạo, kê, đậu, hạt gai. Quan cấp cho 1 hộc hạt giống thì thu thuế 100 hộc. Hoa quả có sen, mía, chuối, dừa. Chim thú nhiều công, tê giác. Gia súc nhiều bò vàng, trâu nước mà không có lừa. Cũng có bò núi (sơn ngưu), không dùng để cày cấy, chỉ giết để tế quỷ. Khi sắp giết, bảo thầy phù thủy cầu khấn rằng: 'A La Hòa' (阿羅和) và 'Bạt' (拔), dịch nghĩa là 'Sớm cho nó được đi đầu thai'. Dân bắt được tê giác, voi đều phải nộp cho vua.
Người trong nước đa số cưỡi voi, hoặc ngồi cáng vải mềm, hoặc đến chợ Giao Châu (交州) mua ngựa. Thường ăn thịt sơn dương, thủy tê. Phong tục, quần áo giống với nước Đại Thực (大食). Không có nghề dệt tơ tằm, dùng vải trắng quấn trước ngực, rủ xuống tận chân. Áo ngắn tay hẹp, búi tóc ở sau gáy, để thừa vài lọn rủ phía sau. Giao thương không dùng tiền xu, chỉ dùng vàng bạc so sánh từng đồng cân hoặc dùng gấm cát bối định giá trao đổi. Nhạc khí có hồ cầm, sáo, trống nhỏ, trống lớn (đại xí). Đội âm nhạc cũng liệt kê cả người múa. Quốc vương búi tóc sau gáy, mặc áo vải cát bối để xõa, đội mũ hoa vàng, trang trí bằng anh lạc khảm thất bảo, để lộ cả bắp chân và đùi, đi giày da, không đi tất. Phụ nữ cũng búi tóc sau gáy, không dùng trâm. Y phục và cách bái lạy giống hệt nam giới.
Mỗi ngày vào buổi trưa, vua ngồi nhận quan thuộc vào yết kiến, họ chỉ màng bái (lạy) 1 lần rồi thôi; sau khi thưa việc xong lại màng bái 1 lần rồi lui ra. Hoặc vua ra ngoài xem voi, săn bắn, xem đánh cá, đều phải mất mấy ngày mới về. Đi gần thì ngồi cáng vải mềm, đi xa thì cưỡi voi; hoặc ngồi trên một đòn gỗ do 4 người khiêng. Trước tiên lệnh cho một người cầm khay trầu cau đi dẫn đường, người theo hầu có mười mấy kẻ, mỗi kẻ cầm cung tên, đao thương, khiên tay. Dân chúng thấy vua thì màng bái 1 lần rồi thôi; mỗi ngày vua có thể ra ngoài 1 đến 2 lần. Hằng năm khi lúa chín, vua tự cắt một nắm, các tùy tùng và đám phụ nữ tranh nhau cắt theo. Quốc vương hoặc lấy anh làm Phó vương, hoặc lấy em làm Thứ vương. Đặt 8 viên quan cao cấp, chia làm Đông Tây Nam Bắc mỗi phương 2 người để trị sự. Không có bổng lộc, lệnh cho dân địa phương quản hạt cung phụng. Lại đặt hơn 50 viên văn lại, có các danh xưng Lang trung, Viên ngoại, Tú tài để quản lý kho tàng báu vật, cũng không có bổng lộc, chỉ cấp rùa và cá để ăn, và được miễn sưu dịch mà thôi. Lại có 12 viên quản kho tàng, hơn 200 viên quản quân tốt, thảy đều không có lương hằng tháng. Quân đội tinh nhuệ có hơn 10.000 người, mỗi tháng cấp 2 hộc gạo tẻ, quần áo bằng vải mỗi mùa đông hạ từ 3 đến 5 xấp. Mỗi đêm, chỉ vua được lên giường nằm, các quần thần đều ngủ trên đệm trải dưới đất. Cận thần thấy vua thì quỳ một gối làm lễ, người hơi xa thì chỉ chắp tay mà thôi.
Tục lệ nước ấy, ngày 1 tháng Giêng, dắt voi đi vòng quanh nơi ở, sau đó đuổi ra ngoài thành, gọi là 'trục tà' (đuổi tà ma). Tháng 4 có trò chơi thuyền (du thuyền). Định ngày 15 tháng 11 là ngày Đông chí, mọi người đều chúc mừng nhau. Các châu huyện lấy sản vật địa phương và vải vóc hiến cho vua. Hằng năm vào ngày 15 tháng 12, ngoài thành dựng gỗ làm tháp, vua và dân chúng đem quần áo, hương thuốc đặt lên tháp rồi đốt đi để tế Trời. Người có bệnh thì hái thuốc tươi về uống. Đất không sản sinh trà, cũng không biết cách nấu rượu, chỉ uống rượu dừa và ăn trầu cau. Hình luật cũng đặt gông cùm, tội nhẹ thì sai 4 người kéo nằm úp xuống đất, dùng roi mây quất, 2 người hai bên thay phiên nhau đánh. Tùy mức độ đánh từ 50, 60 đến 100 roi; tội đáng chết thì dùng dây buộc vào cây, dùng giáo (sa thương) đâm vào họng hoặc chặt đầu. Nếu là tội cố sát, cướp giết thì sai voi dẫm chết, hoặc dùng vòi quăng xuống đất. Voi đều được huấn luyện sẵn, khi sắp hành hình thì sai người nuôi voi bảo số tội cho nó biết, voi đều hiểu cả. Kẻ phạm tội gian dâm thì nam nữ cùng phải nộp bò để chuộc tội; kẻ thiếu nợ vật phẩm của vua thì bị dùng dây nhốt ở đầm hoang, khi bù đủ vật phẩm mới được ra.
Nước ấy thời trước hiếm khi thông thương với Trung Quốc. Năm Hiển Đức (顯德) thời Chu [năm 954-959], quốc vương Thích Lợi Nhân Đức Mạn (釋利因德漫) sai thần hạ là Bồ Ha Tán (莆訶散) cống phương vật, có đai tê giác thông thiên (thông tê đái) hình vân long, đá Bồ Tát. Lại có nước hoa hồng rưới lên áo, qua cả năm hương không dứt; dầu mãnh hỏa gặp nước càng cháy mạnh, đều đựng bằng bình lưu ly. Năm Kiến Long (建隆) thứ 2 [năm 961], quốc vương Thích Lợi Nhân Đà Bàn (釋利因陁盤) sai sứ Bồ Ha Tán (莆訶散) đến triều kiến, biểu chương viết trên lá bối đa, đựng trong hộp gỗ thơm. Cống sừng tê, ngà voi, long não, hương thuốc, 4 con công, 20 bình Đại Thực. Sứ giả về được ban thưởng theo thứ bậc, lấy đồ dùng và tiền lụa hậu thưởng cho quốc vương.
'''Năm Kiến Long thứ 3 [năm 962], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ: "Tháng 9 năm Kiến Long thứ 3, nước Chiêm Thành đến dâng lễ vật." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 3 lại cống 22 chiếc ngà voi, 1.000 cân nhũ hương."
'''Năm Càn Đức thứ 4 [năm 966], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ: "Tháng 3 năm Càn Đức thứ 4, Chiêm Thành sai sứ đến dâng lễ vật." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Càn Đức thứ 4, quốc vương Tất Lợi Nhân Đà Bàn (悉利因陁盤) sai sứ Nhân Đà Phân Lý Đế Bà La (因陁玢李帝婆羅) cống voi thuần, tê giác đực, ngà voi, vải trắng. Vợ của vương là Ca Mạn Việt Nặc (哥縵越諾) - Ba Lương Bộc Mạo (波良僕瑁), con trai là Chiêm Mưu Luật Tú Quỳnh (占謀律秀瓊) các vị mỗi người đều cống hương thuốc."
'''Năm Càn Đức thứ 5 [năm 967], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 5 lại sai sứ là Lý Lý Bị Tha (李李被瑳) nối tiếp nhau đến cống hiến."
'''Năm Khai Bảo thứ 3 [năm 970], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Khai Bảo (開寶) thứ 3 sai sứ cống phương vật và voi cái."
'''Năm Khai Bảo thứ 4 [năm 971], Tất Lợi Đa Bàn (悉利多盤), Phó quốc vương Lý Nậu (李耨), vợ vương là Quách thị (郭氏), con là Bồ Lộ Kê Ba La (蒲路雞波羅) các vị đều sai sứ đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ không chép, dựa theo Chiêm Thành bản truyện đã dẫn.
'''Tháng 3 năm Khai Bảo thứ 5 [năm 972], quốc vương Chiêm Thành là Ba Mỹ Thuế (波美稅) sai sứ đến dâng phương vật.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ đã dẫn.
'''Tháng 4 mùa hạ năm Khai Bảo thứ 6 [năm 973], quốc vương Chiêm Thành là Tất Lợi Đà Bàn Ấn Trà (悉利陀盤印茶) sai sứ đến dâng phương vật.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ đã dẫn.
'''Tháng Giêng mùa xuân năm Khai Bảo thứ 7 [năm 974], quốc vương Chiêm Thành là Ba Mỹ Thuế (波美稅) sai sứ dâng phương vật.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ đã dẫn. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 7 lại cống 2 chiếc lọng lông công, 40 cân sắt Tây Thiên Phong (西天烽鐵)."
'''Năm Khai Bảo thứ 9 [năm 976], nước Chiêm Thành sai sứ Chu Đà Lợi (朱陀利), Trần Đà Dã (陳陀野) các vị đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tổ bản kỷ không chép, dựa theo Chiêm Thành bản truyện đã dẫn.
'''Tháng 2 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 2 [năm 977] thời Thái Tông, nước Chiêm Thành (占城) sai sứ đến cống.'''
Dựa theo: Tống Sử – Thái Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Tháng 5 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 3 [năm 978], nước Chiêm Thành (占城) sai sứ hiến phương vật.'''
Dựa theo: Tống Sử – Thái Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Tháng 12 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 [năm 979], nước Chiêm Thành (占城) sai sứ đến cống.'''
Dựa theo: Tống Sử – Thái Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 6 [năm 981], Lê Hoàn (黎桓) ở Giao Châu (交州) dâng lời lên, muốn đem 93 người tù binh Chiêm Thành (占城) hiến cho kinh sư. Thái Tông lệnh cho Quảng Châu (廣州) giữ những tù binh đó lại, vỗ về nuôi nấng, cấp cho quần áo và lương thực, rồi cho trở về Chiêm Thành (占城), đồng thời xuống chiếu dụ cho vua nước ấy.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ không chép, dựa theo Chiêm Thành bản truyện đã dẫn.
'''Tháng 12 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 7 [năm 982], nước Chiêm Thành (占城) hiến voi thuần.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ đã dẫn. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 7 sai sứ cưỡi voi vào cống. Xuống chiếu lưu voi lại Quảng Châu (廣州) để chăn nuôi."
'''Tháng 9 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 [năm 983], nước Chiêm Thành (占城) hiến voi thuần.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ đã dẫn. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 8 hiến voi thuần, biết quỳ lạy. Xuống chiếu chăn nuôi voi ở huyện Ninh Lăng (寧陵) thuộc kinh kì."
'''Năm Ung Hy thứ 2 [năm 985], nước Chiêm Thành (占城) sai sứ đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ: "Tháng 2 năm Ung Hy (雍熙) thứ 2, Chiêm Thành sai sứ đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Ung Hy thứ 2, vua nước ấy là Thi Lợi Đà Bàn Ngô Nhật Hoan (施利陀盤吳日歡) sai Bà La Môn (婆羅門) Kim Ca Ma (金歌麻) hiến phương vật, đồng thời thưa kiện việc bị Giao Châu (交州) xâm lấn, xuống chiếu đáp lại, lệnh cho phải giữ nước và hòa mục với lân bang."
'''Năm Ung Hy thứ 3 [năm 986], nước Chiêm Thành (占城) sai sứ đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ: "Tháng 3 năm Ung Hy (雍熙) thứ 3, nước Chiêm Thành sai sứ đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 3, vua nước ấy là Lưu Kế Tông (劉繼宗) sai sứ Lý Triều Tiên (李朝仙) đến cống." Đam Châu (儋州) tâu lên rằng: "Người Chiêm Thành là Bồ La Át (蒲羅遏) bị Giao Châu (交州) bức bách, đã dẫn theo bộ tộc hơn 100 người đến xin quy phụ."
'''Năm Ung Hy thứ 4 [năm 987], di dân Chiêm Thành (占城) đến quy thuận.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Mùa thu năm Ung Hy (雍熙) thứ 4, Quảng Châu (廣州) tâu lên rằng chính quyền Lôi Hóa và Ân Châu áp giải di dân Chiêm Thành là Tư Đương Lý Nương (斯當李娘) cùng bộ tộc 150 người đến quy thuận, chia ra cho lệ thuộc vào huyện Thanh Viễn (清遠) thuộc Nam Hải (南海)."
'''Năm Đoan Củng thứ 1 [năm 988], di dân Chiêm Thành (占城) xin phụ thuộc.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Đoan Củng (端拱) thứ 1, Quảng Châu (廣州) lại báo rằng di dân Chiêm Thành là bộ tộc Hốt Tuyên (忽宣) gồm 301 người xin được quy phụ."
'''Năm Thuần Hóa thứ 1 [năm 990], nước Chiêm Thành (占城) sai sứ cống phương vật.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Thuần Hóa (淳化) thứ 1, Chiêm Thành sai sứ đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Thuần Hóa thứ 1, tân vương Dương Đà Bài (楊陁排) tự xưng là tân vương của nước Phật Thệ (佛逝). Dương Đà Bài sai sứ Lý Trăn (李臻) cống voi thuần và phương vật, dâng biểu thưa việc bị Giao Châu (交州) tấn công, nhân dân và tài bảo trong nước đều bị cướp bóc. Thiên tử ban chiếu cho Lê Hoàn (黎桓), lệnh cho mỗi bên tự giữ biên cảnh."
'''Năm Thuần Hóa thứ 3 [năm 992], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Thuần Hóa (淳化) thứ 3, vua Chiêm Thành là Dương Đà Bài (楊陁排) sai sứ đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 3, sai sứ Lý Lương Bồ (李良莆) cống phương vật, ban cho vua nước ấy 2 con ngựa trắng và binh khí. Tăng sĩ bản quốc là Tịnh Giới (淨戒) hiến long não, chuông vàng, lư hương đồng, gậy như ý, thảy đều được ban thưởng hậu hĩnh."
'''Năm Chí Đạo thứ 1 [năm 995], nước Chiêm Thành (占城) sai sứ đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thái Tông bản kỷ: "Tháng Giêng năm Chí Đạo (至道) thứ 1, vua Chiêm Thành là Dương Đà Bài (楊陁排) sai sứ đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng Giêng năm Chí Đạo thứ 1, vua nước ấy sai sứ đến cống, dâng biểu nói rằng: 'Sứ thần tiến cống trước đó là Lý Lương Bồ (李良莆) trở về, cúi nhận thánh từ ban cho thần 2 con ngựa trắng, 5 bức cờ, 5 thanh kiếm nạm bạc, 5 cây thương quấn bạc, cung nỏ mỗi loại 5 chiếc cùng tên bắn, thần cảm kích khôn cùng, kính cẩn dập đầu. Thần sinh trưởng ở ngoại quốc, xa cách thiên đô, trộm nghe Hoàng đế thánh minh uy đức rộng lớn, thần chẳng nệ mình ở nơi góc biển hẻo lánh mà sai sứ nhập triều. Hoàng đế không chê bỏ nước núi của rợ man, ban thưởng hậu hĩnh. Tuy nhiên thần vốn là thủ lĩnh bản địa, thanh thế còn thấp kém, thường khi bị ngoại quốc xâm nhiễu, huống hồ dân chúng trước đây như cỏ rác, theo gió tản mát khắp nơi, lưu lạc không tự bảo vệ được mình. Vừa qua được Hoàng đế ban cho ngựa quý nội nhàn cùng cờ xí binh khí, lân bang nghe thấy, biết thần được nước lớn sủng ái mà thảy đều sợ hãi thiên uy, không dám mưu hại. Nay nước thần an ninh, dân lưu tán trở về, nếu không nhờ thiên đức của Hoàng đế che chở thì sao được đến mức này? Cả nước thần ngưỡng vọng Nhân thánh, che phủ như trời, nâng đỡ như đất. Thần tự suy nghĩ, hồng ân chẳng nông cạn. Từ thiên tử chi đô đến quốc gia của thần, vượt biển mịt mù không dưới mấy vạn dặm, mà ngựa và khí giới được ban thảy đều an toàn đến nơi, đều nhờ thánh đức lan tỏa vậy. Từ trước đến nay bản quốc tiến cống chưa từng được ban cờ xí cung tên, nay thần may mắn dường nào khi một mình được hưởng ơn lạ? Đây là nhờ thiên uy tỏa rộng, làm mạnh thêm bờ cõi của thần, thần dù nát thân cũng không lấy gì báo đáp được. Lại thêm sứ giả của thần đi về đều được cung phụng đầy đủ, ơn nặng như núi Nhạc, không thể kể xiết. Nay đặc phái chuyên sứ Lý Ba Châu (李波珠), phó sứ Ha Sán (訶散), phán quan Lý Ma Vật (李磨勿) tiến cống 10 chiếc sừng tê, 30 chiếc ngà voi, 10 cân đồi mồi, 2 cân long não, 100 cân trầm hương, 90 cân hương hoàng thục, 160 cân đàn hương, 24.300 con gà núi, 200 cân hồ tiêu, 5 tấm chiếu. Những vật trên tuy không phải trân quý, chỉ để tỏ lòng thành khẩn. Thần sinh sống tại dị vực, may gặp thời minh trị, không quý lạ trân bảo, chỉ trọng ngựa tốt. Kính mong Hoàng đế nghĩ đến ngoại quốc mà không bắt tội kẻ cầu xin. Nếu sứ giả về Nam, nguyện được ban thưởng thêm, ấy là phúc của thần vậy. Lại nữa, bản quốc vốn có 300 dân lưu tán sống rải rác ở Nam Hải (南海), từng được thánh chỉ cho phép thả về, nay còn có người tại Quảng Châu (廣州); lại có người của bản quốc trước đây từng đi tiến cống là La Thường Chiêm (羅常占) hiện đang trú tại Quảng Châu, xin hạ chiếu cho bản châu điểm tập đầy đủ binh tịch giao cho Thường Chiêm, lệnh cho đóng thuyền buồm, nhân lúc gió thuận dẫn lĩnh về nước, mong cho họ được an cư lạc nghiệp để lấp đầy biên cương cũ. Vạn dặm cảm ơn, một lòng thờ bề trên là chí nguyện của thần vậy.' Thượng xem biểu xong, sai sứ đến Quảng Châu hỏi han, ai muốn về thì đều giao cho Ba Châu mang đi. Sứ giả về, lại ban thêm 2 con ngựa trắng, từ đó trở thành thường lệ."
'''Tháng 3 năm Chí Đạo thứ 3 [năm 997], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo: Tống Sử – Thái Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Năm Hàm Bình thứ 2 [năm 999] thời Chân Tông, nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Chân Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Hàm Bình (咸平) thứ 2, nước Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Hàm Bình thứ 2, vua nước ấy là Dương Phổ Câu Tì Trà Dật Thi Ly (楊普俱毗茶逸施离) sai sứ là Chu Trần Nghiêu (朱陳堯), phó sứ Bồ Tát Đà Bà (蒲薩陀婆), phán quan Lê Cô Luân (黎姑倫), mang theo tê giác, voi, đồi mồi, hương thuốc đến cống. Ban cho bọn Nghiêu quan đai, y phục, nệm nằm có thứ bậc khác nhau."
'''Năm Cảnh Đức thứ 1 [năm 1004], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Chân Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Cảnh Đức (景德) thứ 1, nước Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Cảnh Đức thứ 1 lại sai sứ đến cống, xuống chiếu lấy ngựa tốt, giáp trụ, binh khí ban cho."
'''Năm Cảnh Đức thứ 4 [năm 1007], Chiêm Thành sai Bố Lộc Đê Địa Gia dâng biểu triều kiến.'''
Dựa theo Tống Sử – Chân Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm thứ 4, Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 4 sai sứ là Bố Lộc Đê Địa Gia (布祿爹地加) dâng biểu triều kiến, hộp đựng biểu bọc bằng gấm hoa. Lời biểu viết: 'Quốc vương Chiêm Thành là Dương Phổ Câu Tì Trà Thất Ly (楊普俱毗茶室离) dập đầu thưa rằng: Thần nghe cương vực Nhị Đế (Nghiêu, Thuấn) phía Nam chỉ đến vùng Tương Sở, cảnh giới Tam Vương phía Bắc không chạm tới vùng U Yên. Ngước trông thời kỳ hưng thịnh này thực vượt xa dấu cũ. Kính duy Hoàng đế bệ hạ, bẩm thụ khí tiết của Càn Khôn, tích tụ tinh anh của Nhật Nguyệt. Ngự trên ngôi cao, thừa kế cơ đồ cai trị thiên hạ. Lòng từ bi ban khắp thế gian, thanh giáo lan tỏa khắp bờ cõi. Sự nghiệp rạng rỡ hơn các vua trước, công đức thơm ngát hơn đời xưa. Luôn lo nghĩ đến thương sinh, không màng đến ngôi báu. Khắp nơi không đâu không quy phục, sinh linh hễ có đất đai thảy đều làm thần thiếp. Gió nhân đức ban khắp, ơn trạch tưới nhuần, phàm ai được soi chiếu đều thêm phần kính phục. Thần sinh nơi biên bỉ, may mắn theo được phong hóa Hoa hạ, như tổ kiến tổ ong, tạm sống theo bản tính. Lầu rồng gác phượng, vẫn ngăn cách việc chiêm bái. Lại nghĩ từ khi nương nhờ thiên uy, mới giữ toàn được bờ cõi. Lân bang không xâm đoạt, phong tục được thái bình. Hằng năm lạy sai hạ thần, sang vấn an thượng quốc, được bệ hạ ban ơn đến cả cỏ cây, phúc lành tới cả loài muông thú, đặc biệt nhân lúc người về lại ban cho binh khí. Bản quốc thần chỉ biết hướng về cửa khuyết đốt hương, hoan hô lạy nhận. Tâm can biết mình quá đỗi may mắn, biết lấy gì đáp lại hồng ân. Thánh quân đã đoái hoài đến bậc tân vương, chút lòng thành mọn này sao dám quên việc thực thi chức trách. Nay sai tín thần Bố Lộc Đê Địa Gia (布祿爹地加), phó sứ Trừ Phu Ma Hà Gia Gia (除逋麻瑕珈耶), phán quan Bì Bá Đê (皮霸抵) cùng đoàn tùy tùng, sắp xếp sản vật địa phương, từ xa đến sung vào tuế cống. Tuy là lễ mọn nhưng thực lòng lo lắng sâu sắc. Kính mong bậc duệ minh tha thứ cho những điều sai sót. Ngày các tín thần trở về, những vật dụng quân dụng trang bị uy vũ, cúi xin ngài gia ân ban tặng thêm. Bởi nghĩ mình làm phận tôi con, hợp lẽ phải cáo với quân thân, phục sức xe cộ, uy nghi rìu búa, không dám tự ý chế tác, chỉ mong được ơn ban. Mạo muội can gián trước tôn nhan, chẳng ngại tội chết.' Bố Lộc Đê Địa Gia thưa rằng, bản quốc xưa vốn lệ thuộc Giao Châu (交州), sau dời đến Phật Du (佛遊 - Vijaya), cách nơi cũ 700 dặm về phía Bắc. Sứ giả về, được ban tặng vật phẩm rất hậu."
'''Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 [năm 1010], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Chân Tông bản kỷ: "Tháng 8 năm Đại Trung Tường Phù (大中祥符) thứ 3, ban cho nước Chiêm Thành ngựa và khí giáp. Năm ấy, Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 3, quốc vương Thi Ly Hà Ly Tì Ma Đê (施離霞離鼻麻底) sai sứ là Chu Bột Lễ (朱浡禮) đến cống."
'''Năm Đại Trung Tường Phù thứ 4 [năm 1011], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Chân Tông bản kỷ: "Tháng 11 năm Đại Trung Tường Phù thứ 4, nước Chiêm Thành cống sư tử." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 4 sai sứ cống sư tử, xuống chiếu nuôi trong vườn uyển, sứ giả để lại 2 người Man để lo việc chăn nuôi, Hoàng thượng thương họ nhớ quê hương, cấp cho nhiều lương tiền rồi cho về nước."
'''Năm Đại Trung Tường Phù thứ 8 [năm 1015], Chiêm Thành đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Chân Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Đại Trung Tường Phù thứ 8, Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 8 sai sứ là Ba Luân Ha La Đế (波輪訶羅帝) đến cống. Ha La Đế nhân đó tâu rằng: 'Có em trai là Đào Châu (陶珠), thuở trước từ Giao Châu (交州) áp giải voi thuần đến cửa khuyết, nay may mắn được gặp lại, muốn đưa về cùng.' Vua chuẩn y, lại ban cho Đào Châu y phục, tiền bạc để lo trang trải."
'''Năm Thiên Hy thứ 2 [năm 1018], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Chân Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Thiên Hy (天禧) thứ 2, nước Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Thiên Hy thứ 2, vua nước ấy là Thi Hắc Bài Ma Điệp (尸嘿排摩惵) sai sứ là La Bì Đế Gia (羅皮帝加) mang 72 chiếc ngà voi, 86 chiếc sừng tê, 1.000 miếng đồi mồi, 50 cân nhũ hương, 80 cân đinh hương hoa, 65 cân đậu khấu, 100 cân trầm hương, 200 cân tiễn hương, 1 liều tiễn hương khác nặng 68 cân, 100 cân hồi hương, 1.500 cân trầu cau đến cống. La Bì Đế Gia thưa rằng: 'Người trong nước sang Quảng Châu (廣州) hoặc gặp gió thổi dạt thuyền đến Thạch Đường (石塘), thường mấy năm không thông tin được.' Năm thứ 3 [năm 1019], sứ giả về, xuống chiếu ban cho Thi Hắc Bài Ma Điệp 4.700 lượng bạc cùng binh khí, yên ngựa."
'''Năm Thiên Thánh thứ 8 [năm 1030] thời Nhân Tông, nước Chiêm Thành (占城) sai sứ đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Nhân Tông bản kỷ: "Năm Thiên Thánh (天聖) thứ 8, Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng 10 năm Thiên Thánh thứ 8, vua Chiêm Thành là Dương Bổ Cô Thi Ly Bì Lan Đức Gia Bạt Ma Điệp (陽補孤施離皮蘭德加拔麻疊) sai sứ là Lý Bồ Tát Ma Hà Đà Ba (李菩薩麻瑕陁琶) đến cống mộc hương, đồi mồi, nhũ hương, sừng tê, ngà voi."
'''Năm Khánh Lịch thứ 2 [năm 1042], Chiêm Thành hiến voi.'''
Dựa theo Tống Sử – Nhân Tông bản kỷ: "Tháng 11 năm Khánh Lịch (慶曆) thứ 2, nước Chiêm Thành hiến 3 con voi." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng 9 năm Khánh Lịch thứ 1 [năm 1041], thương nhân Quảng Đông là Thiệu Bảo (邵保) thấy tên giặc Ngạc Lân (鄂鄰) cùng hơn 100 người ở Chiêm Thành, Ty Chuyển vận chọn 2 viên sứ thần, mang chiếu thư và khí tệ ban cho Chiêm Thành, mua chuộc Lân đưa về cửa khuyết, số dư đảng còn lại lệnh cho hành quyết. Tháng 11 năm sau [năm 1042], vua nước ấy là Hình Bốc Thi Ly Trị Tinh Hà Phất (刑卜施離值星霞弗) sai sứ hiến 3 con voi thuần."
'''Năm Hoàng Hựu thứ 2 [năm 1050], Chiêm Thành đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Nhân Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Hoàng Hựu (皇祐) thứ 2, Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng Giêng năm Hoàng Hựu thứ 2, lại sai Câu Xá Lị Ba Vi Thu La Bà Ma Đề Dương Bổ (俱舍唎波微收羅婆麻提楊卜) cống 201 chiếc ngà voi, 79 chiếc sừng tê, 2 bản biểu chương, 1 bản dùng chữ bản quốc, 1 bản dùng chữ Trung Quốc."
'''Năm Hoàng Hựu thứ 5 [năm 1053], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Nhân Tông bản kỷ đã dẫn. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng 4 năm thứ 5, sứ giả là Bồ Tư Mã Ứng (蒲思馬應) đến cống phương vật."
'''Năm Gia Hựu thứ 1 [năm 1056], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Nhân Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Gia Hựu (嘉祐) thứ 1, nước Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng nhuận tháng 3 năm Gia Hựu thứ 1, sứ giả là Bồ Tức Đà Ba (蒲息陁琶) cống phương vật, khi trở về đến Thái Bình Châu (太平州), bờ sông bị sạt lở chìm đắm, mất hết hành lý. Tháng Giêng năm sau [năm 1057], xuống chiếu cho Quảng Châu (廣州) ban tặng 1.000 lượng bạc."
'''Năm Gia Hựu thứ 6 [năm 1061], nước Chiêm Thành (占城) hiến voi thuần.'''
Dựa theo Tống Sử – Nhân Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Năm Gia Hựu thứ 7 [năm 1062], nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Nhân Tông bản kỷ: "Năm Gia Hựu thứ 7, Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng Giêng năm thứ 7, Ty An phủ Kinh lược Quảng Tây báo rằng: 'Chiêm Thành vốn không thạo việc binh, lân cận với Giao Chỉ (交趾), thường khổ vì bị xâm lấn, nay Chiêm Thành lại đang tu sửa võ bị để kháng cự Giao Chỉ, sắp theo đường Quảng Đông (廣東) vào kinh sư tiến cống, mong được vỗ về bằng ân tín.' Tháng 5, sứ giả là Đốn Ba Ni (頓琶尼) đến cống phương vật. Tháng 6, ban cho vua nước ấy là Thi Lý Luật Trà Bàn Ma Thường Dương Phổ (施里律茶盤麻常楊溥) 1 con ngựa trắng, theo như lời cầu xin vậy."
'''Năm Hy Ninh thứ 1 [năm 1068] thời Thần Tông, Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thần Tông bản kỷ: "Tháng 6 năm Hy Ninh (熙寧) thứ 1, Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Hy Ninh thứ 1, vua nước ấy là Dương Bổ Thi Lợi Luật Đà Ban Ma Đề Bà (楊卜尸利律陀般摩提婆) sai sứ cống phương vật, xin được mua ngựa trạm. Xuống chiếu ban cho 1 con ngựa trắng, lệnh cho được mua lừa tại Quảng Châu (廣州) mang về."
'''Năm Hy Ninh thứ 5 [năm 1072], nước Chiêm Thành (占城) cống phương vật.'''
Dựa theo Tống Sử – Thần Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Hy Ninh thứ 5, cống lưu ly, san hô, đồ đựng rượu, long não, nhũ hương, đinh hương, tất đăng già (hạt tiêu rừng), tử khoáng (nhựa cánh kiến)."
'''Năm Hy Ninh thứ 7 [năm 1074], Chiêm Thành sang hàng.'''
Dựa theo Tống Sử – Thần Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 7, Lý Càn Đức (李乾德) ở Giao Châu (交州) nói rằng vua nước ấy [Chiêm Thành] dẫn 3.000 quân cùng vợ con sang hàng, đến bản đạo vào tháng Giêng âm lịch [năm 1074]."
'''Năm Hy Ninh thứ 9 [năm 1076], Chiêm Thành đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Thần Tông bản kỷ: "Ngày Canh Tử tháng 8 năm Hy Ninh thứ 9, Chiêm Thành đến cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 9 lại sai sứ đến nói rằng: Nước ấy đi đường biển đến Chân Lạp (真臘) mất 1 tháng hành trình, phía Tây Bắc đến Giao Châu (交州) mất 40 ngày, đều là đường núi. Nơi cai trị có 105 tụ lạc, đại lược giống như các châu huyện. Vua nước ấy 36 tuổi, mặc áo bào lớn bằng gấm Đại Thực hoặc gấm Xuyên Pháp, đeo 7 dải anh lạc vàng, đội vương miện vàng khảm thất bảo, xỏ giày da đỏ. Khi ra ngoài có 500 người theo hầu, 10 phụ nữ bưng khay vàng đựng trầu cau, dẫn đường bằng âm nhạc. Quân triều đình đi đánh Giao Chỉ (交趾), vì nước ấy là kẻ thù lâu đời, nên xuống chiếu sai họ thừa cơ hiệp lực, trừ khử các chiến thuyền tại hành doanh. Đô giám Dương Tòng Tiên (楊從先) sai tiểu hiệu Phàn Thực (樊實) sang truyền dụ chỉ. Thực trở về tâu rằng nước ấy tuyển 7.000 quân trấn giữ các đường yếu đạo của giặc. Vua nước ấy dùng lá cây viết thư trả lời dâng lên chiếu sứ, nhưng rốt cuộc cũng không thành công. Sau này hai nước cùng vào tiến cống, sứ giả Chiêm Thành xin tránh mặt người Giao Chỉ. Xuống chiếu cho Chiêm Thành vào chầu điện Văn Đức vào ngày mồng 1, đứng phân ra hai bên Đông Tây. Ngày rằm thì người Giao Chỉ vào điện Thùy Củng, còn người Chiêm Thành vào điện Tử Thần. Khi đại yến thì ngồi phân ra hai bên Đông Tây."
'''Ngày Giáp Ngọ tháng 8 năm Nguyên Hựu thứ 1 [năm 1086] thời Triết Tông, nước Chiêm Thành (占城) sai sứ nhập cống.'''
Dựa theo: Tống Sử – Triết Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Năm Nguyên Hựu thứ 7 [năm 1092], Chiêm Thành đến cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Triết Tông bản kỷ: "Năm Nguyên Hựu (元祐) thứ 7, nước Chiêm Thành nhập cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Nguyên Hựu thứ 7 lại dâng biểu nói rằng nếu thiên triều đánh Giao Chỉ (交趾), nguyện dẫn binh đánh úp. Triều đình cho rằng Giao Chỉ thường xuyên vào cống, không dứt tiết nghĩa tôi con, khó mà dấy binh, bèn viết sắc thư trả lời. Đồng thời phong cho sứ giả nước ấy là Lương Bảo Cố Luân Ngất Đan (良保故倫軋丹), phó sứ Bàng Mộc Tri Đột (傍木知突) làm Bảo Thuận lang tướng."
'''Tháng 6 năm Sùng Ninh thứ 3 [năm 1104] thời Huy Tông, Chiêm Thành nhập cống.'''
'''Tháng 6 năm Sùng Ninh thứ 4 [năm 1105], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo các phần trong Tống Sử – Huy Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Tháng 12 năm Đại Quan thứ 3 [năm 1109], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo: Tống Sử – Huy Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Năm Chính Hòa thứ 6 [năm 1116], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Huy Tông bản kỷ: "Tháng 12 năm Chính Hòa (政和) thứ 6, Chiêm Thành nhập cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Trong năm Chính Hòa, phong cho vua nước ấy là Dương Bổ Ma Điệp (楊卜麻疊) làm Kim tử Quang lộc đại phu, lĩnh chức Liêm Bạch châu Thứ sử. Dương Bổ Ma Điệp tâu rằng: 'Thân ở nơi hóa ngoại, không được hưởng lộc ăn, nguyện được ban cho bổng lộc ít ỏi để làm vẻ vang cho nước nhỏ.' Vua chuẩn y."
'''Năm Tuyên Hòa thứ 1 [năm 1119], phong Dương Bổ Ma Điệp làm Chiêm Thành quốc vương.'''
Dựa theo Tống Sử – Huy Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Tuyên Hòa (宣和) thứ 1, tiến chức Kiểm hiệu Ty không, kiêm Ngự sử đại phu, Hoài Viễn quân Tiết độ sứ, Lâm Châu quản nội Quan sát Xử trí sứ, phong làm Chiêm Thành quốc vương. Từ đó mỗi khi gặp dịp ân điển, lại xuống chế phong thêm thái ấp."
'''Tháng Giêng mùa xuân năm Kiến Viêm thứ 3 [năm 1129] thời Cao Tông, nước Chiêm Thành (占城) nhập cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Cao Tông bản kỷ: "Tháng Giêng mùa xuân năm Kiến Viêm (建炎) thứ 3, nước Chiêm Thành nhập cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Kiến Viêm thứ 3, Dương Bổ Ma Điệp (楊卜麻疊) sai sứ nhập cống. Gặp dịp ân điển tế Giao, xuống chế phong chức Kiểm hiệu Thái phó, gia tăng thái ấp."
'''Năm Thiệu Hưng thứ 2 [năm 1132], nước Chiêm Thành (占城) cống phương vật.'''
Dựa theo Tống Sử – Cao Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Lễ chí: "Năm Thiệu Hưng (紹興) thứ 2, quốc vương Chiêm Thành sai sứ cống trầm hương, tê giác, voi, đồi mồi... đáp lại bằng lụa lăng, gấm, bạc và lụa quyện."
'''Năm Thiệu Hưng thứ 25 [năm 1155], vương tử nước Chiêm Thành là Trâu Thời Lan Ba (鄒時闌巴) sai sứ cống phương vật, cầu phong tước, bèn lấy tước vị lúc đầu của cha ông ta mà ban cho.'''
Dựa theo Tống Sử – Cao Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Thiệu Hưng thứ 25, con trai là Trâu Thời Lan Ba (鄒時闌巴) nối ngôi, sai sứ dâng phương vật, cầu phong tước. Vua ban yến tại dịch trạm Hoài Viễn, lấy chức tước lúc mới phong của cha ông ta mà trao cho, ban thưởng đáp lễ rất hậu."
'''Tháng 10 năm Càn Đạo thứ 3 [năm 1167] thời Hiếu Tông, Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo Tống Sử – Hiếu Tông bản kỷ: "Ngày Ất Mùi tháng 10 năm Càn Đạo (乾道) thứ 3, Chiêm Thành nhập cống." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Càn Đạo thứ 3, con là Trâu Á Na (鄒亞娜) nối ngôi, cướp phương vật của nước Đại Thực (大食) sai người đến cống để cầu phong. Bị người nước ấy tố cáo, xuống chiếu khước từ, thế là không bàn đến việc phong tước nữa."
'''Năm Càn Đạo thứ 7 [năm 1171], Chiêm Thành chiến đấu với Chân Lạp (真臘), người đất Mân (Phúc Kiến) dạy vua Chiêm Thành tập cưỡi ngựa bắn cung để giành chiến thắng.'''
Dựa theo Tống Sử – Hiếu Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm thứ 7, có người đất Mân lênh đênh trên biển đến quân Cát Dương (吉陽), gió thổi bạt thuyền đến Chiêm Thành. Nước ấy đang lúc chiến tranh với Chân Lạp (真臘), đôi bên đều cưỡi voi lớn, thắng bại chưa phân. Người đất Mân dạy vua nước ấy nên tập cưỡi ngựa bắn cung để thắng. Vua rất mừng, sắm thuyền đưa người ấy về Cát Dương, mua được mấy chục con ngựa mang về chiến đấu đại thắng. Năm sau người ấy lại đến, Quỳnh Châu (瓊州) ngăn cản, người ấy phẫn nộ đại lược (cướp phá lớn) rồi mới về."
'''Ngày Mậu Dần tháng 10 năm Thuần Hy thứ 1 [năm 1174], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo: Tống Sử – Hiếu Tông bản kỷ đã dẫn.
'''Năm Thuần Hy thứ 3 [năm 1176], Chiêm Thành cầu xin thông thương, xuống chiếu không cho.'''
Dựa theo Tống Sử – Hiếu Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Thuần Hy (淳熙) thứ 2, triều đình siết chặt lệnh cấm ngựa, không được bán cho phiên bang. Năm thứ 3, Chiêm Thành trả lại 83 người dân đã bắt báp trước đó, cầu xin thông thương, xuống chiếu không cho."
'''Năm Thuần Hy thứ 4 [năm 1177], Chiêm Thành bị Chân Lạp (真臘) đánh phá, nước bị mất, đất đai thảy đều thuộc về Chân Lạp.'''
Dựa theo Tống Sử – Hiếu Tông bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Năm Thuần Hy thứ 4, Chiêm Thành dùng thủy quân đánh úp Chân Lạp, tiến thẳng vào kinh đô nước ấy. Từ niên hiệu Khánh Nguyên [năm 1195] trở đi, Chân Lạp dấy quân lớn đánh Chiêm Thành để trả thù, sát hại gần hết, bắt sống vua nước ấy mang về, nước Chiêm Thành liền mất, đất đai thảy đều thuộc về Chân Lạp (真臘)."
===Nguyên===
'''Năm Chí Nguyên thứ 15 [năm 1278] thời Nguyên Thế Tổ, vua Chiêm Thành có ý định nội phụ. Xuống chiếu ban Hổ phù, phong làm Vinh lộc Đại phu, phong tước Chiêm Thành quận vương.'''
Dựa theo Nguyên Sử – Thế Tổ bản kỷ không chép. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Chiêm Thành gần Quỳnh Châu (瓊州), thuận gió đi thuyền 1 ngày có thể đến nước ấy. Khoảng niên hiệu Chí Nguyên (至元) thời Thế Tổ, Tuyên úy sứ Quảng Nam Tây đạo là Mã Thành Vượng (馬成旺) từng xin 3.000 quân, 300 con ngựa để chinh phạt. Năm thứ 15 [năm 1278], Hữu thừa Toa Đô (唆都) nhân việc bình định nhà Tống sai người đến Chiêm Thành, khi về nói rằng vua nước ấy là Thất Lý Tá Nha Tín Hợp Bát Lạt Cáp Điệt Oa (失里咱牙信合八剌哈迭瓦) có ý định nội phụ. Xuống chiếu ban Hổ phù, trao chức Vinh lộc Đại phu, phong làm Chiêm Thành quận vương."
'''Năm Chí Nguyên thứ 16 [năm 1279], Chiêm Thành đến dâng lễ vật.'''
Dựa theo Nguyên Sử – Thế Tổ bản kỷ: "Tháng 6 năm thứ 16, Chiêm Thành đem trân bảo cùng voi, tê giác mỗi thứ 1 con đến hiến, ban cho bạc sáp, quần áo, tiền lụa, yên cương, cung tên cùng tiền mua cừu, ngựa..." Tháng 12 xuống chiếu dụ quốc chủ Chiêm Thành sai người thân đến triều kiến. Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng 12 năm thứ 16, sai Binh bộ Thị lang Giáo Hóa Đích (教化的), Tổng quản Mạnh Khánh Nguyên (孟慶元), Vạn hộ Tôn Thắng Phu (孫勝夫) cùng Toa Đô (唆都) sứ sang Chiêm Thành, dụ vua nước ấy nhập triều."
'''Năm Chí Nguyên thứ 17 [năm 1280], Chiêm Thành dâng biểu xưng thần nhập cống.'''
Dựa theo Nguyên Sử – Thế Tổ bản kỷ: "Tháng 8 năm Chí Nguyên thứ 17, Chiêm Thành sai sứ dâng biểu xưng thần, cống bảo vật và voi, tê giác. Tháng 11 lại sai Tuyên úy Giáo Hóa (教化), Mạnh Khánh Nguyên (孟慶元) mang chiếu dụ quốc chủ Chiêm Thành, lệnh cho con em hoặc đại thần vào triều." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng 2 năm thứ 17, quốc vương Chiêm Thành là Bảo Bảo Đán Na La Da Quỳnh Nam Bạt Chiêm Ba Địa La Da (保寶旦拏囉耶卭南詙占把地囉耶) sai sứ cống phương vật, dâng biểu xin hàng."
'''Năm Chí Nguyên thứ 19 [năm 1282], nước Chiêm Thành nộp khoản quy thuận.'''
Dựa theo Nguyên Sử – Thế Tổ bản kỷ: "Ngày Giáp Thìn tháng 10 mùa đông năm thứ 19, sứ giả nộp khoản quy thuận của Chiêm Thành trở về, ban cho quần áo." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng 10 năm thứ 19, triều đình cho rằng quốc chủ Chiêm Thành là Bột Do Bổ Lạt Giả Ngô (孛由補剌者吾) những năm trước sai sứ sang triều, xưng thần thuộc nội, bèn mệnh cho Tả thừa Toa Đô (唆都) đến ngay đất đó lập tỉnh để vỗ về an dân. Sau đó con vua là Bổ Đích (補的) chuyên quyền trong nước, cậy hiểm không phục, bắt giữ Vạn hộ Hà Tử Chí (何子志), Thiên hộ Hoàng Phủ Kiệt (皇甫傑) khi đi sứ nước Xiêm (暹國), cùng Tuyên úy sứ Ưu Cầu Hiền (尤求賢), Á Lan (亞闌) khi đi sứ nước Mã Bát Nhi (馬八兒國) lúc thuyền đi qua Chiêm Thành, vì vậy sai binh chinh phạt. Đế phán: 'Lão vương không tội, kẻ nghịch mệnh là con hắn cùng 1 người Man mà thôi. Nếu bắt được 2 người này, nên theo điển cũ của Tào Bân, không giết hại 1 người dân nào của bách tính.' Tháng 11, quan chức hành tỉnh Chiêm Thành soái quân từ Quảng Châu (廣州) vượt biển, đến cảng Chiêm Thành. Cửa cảng phía Bắc thông biển, bên biển có 5 cảng nhỏ thông vào đại châu của nước ấy. Phía Đông Nam dừng ở núi, phía Tây dựa vào thành gỗ (mộc thành), quan quân dựa bờ biển đóng trại. Quân Chiêm xây thành gỗ, bốn mặt dài khoảng hơn 20 dặm, dựng lầu gác, đặt hơn 100 tòa súng đá (hồi hồi tam sao pháo). Lại xây hành cung cách thành gỗ 10 dặm về phía Tây, Bột Do Bổ Lạt Giả Ngô thân hành dẫn trọng binh đóng giữ ứng cứu. Hành tỉnh sai Đô trấn phủ Lý Thiên Hữu (李天祐), Tổng bả Giả Phủ (賈甫) đến chiêu hàng 7 lần, cuối cùng vẫn không phục. Tháng 12, chiêu dụ sứ nước Chân Lạp (真臘) là Tốc Lỗ Man (速魯蠻) xin đi chiêu dụ, lại cùng Thiên Hữu và Phủ đi cùng, nhận được thư trả lời rằng: 'Đã sửa thành gỗ, bị binh giáp, định ngày mời chiến'."
'''Năm Chí Nguyên thứ 20 [năm 1283], phá được Chiêm Thành, xuống chiếu thư chiêu lái.'''
Dựa theo Nguyên Sử – Thế Tổ bản kỷ: "Tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 20, lệnh cho hành tỉnh Long Hưng (隆興) phái quân hộ tống thuyền lương của Chiêm Thành. Tháng 5, hành tỉnh đã phá được Chiêm Thành, quốc chủ là Bổ Đích (補的) bỏ trốn, xuống chiếu thư chiêu dụ về." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Tháng Giêng năm thứ 20, hành tỉnh truyền lệnh trong quân lấy đêm rằm nửa đêm xuất thuyền công thành. Đến kỳ chia phái An phủ sứ Quỳnh Châu Trần Trọng Đạt (陳仲達), Tổng quản Lưu Kim (劉金), Tổng bả Lật Toàn (栗全) dẫn 1.600 quân theo đường thủy đánh thành gỗ. Phía Bắc sai Tổng bả Trương Bân (張斌), Bách hộ Triệu Đắc (趙達) dẫn 300 người đánh bãi cát phía Đông (Sa Chủy). Quan tỉnh 3.000 người chia 3 đạo đánh phía Nam. Thuyền đi đến sáng cập bến, bị sóng gió đánh vỡ mất 17, 18 phần. Giặc mở cửa Nam thành gỗ, dựng cờ trống, hơn 10.000 người xông ra, kẻ cưỡi voi có vài chục, cũng chia 3 đội nghênh địch, tên đá bắn xuống như mưa, từ giờ Mão đến giờ Ngọ, giặc bại chạy về Bắc. Quan quân vào thành gỗ, hợp cùng 2 đạo quân Đông Bắc kích đánh, giết và làm chết đuối vài ngàn người, số người giữ thành cung cấp lương nhu vài vạn người đều tan rã. Quốc chủ bỏ hành cung, đốt kho lẫm, giết Vĩnh Hiền (永賢), Á Lan (亞闌)... cùng các đại thần trốn vào núi. Ngày 17, chỉnh binh đánh Đại Châu. Ngày 19, quốc chủ sai Báo Đáp Giả (報答者) đến cầu hàng. Ngày 20, quân đến phía Đông Nam Đại Châu, sai Báo Đáp Giả về, hứa cho hàng, miễn tội. Ngày 21 vào Đại Châu. Lại sai Bác Tư Ngột Lỗ Ban Giả (博思兀魯班者) đến nói: 'Vâng mệnh vương, quốc chủ và thái tử sau này sẽ tự đến.' Hành tỉnh truyền hịch triệu đến, quan quân lại đóng ngoài thành. Ngày 22, sai cậu là Bảo Thoát Thốc Hoa (寶脫禿花) cùng hơn 30 người, dâng tín vật của quốc vương là 200 xấp vải tạp, 3 thỏi bạc lớn, 57 thỏi bạc nhỏ, 1 hũ bạc vụn làm tin, đến xin quy thuận. Lại dâng ngọn giáo chín đốt lá vàng (kim diệp cửu tiết tiêu thương), nói: 'Quốc chủ muốn đến nhưng bệnh chưa thể tiến, trước sai mang giáo đến để tỏ lòng thành.' Con trưởng là Bổ Đích hẹn 3 ngày xin kiến quan tỉnh, quan tỉnh từ chối vật phẩm. Bảo Thoát Thốc Hoa nói: 'Không nhận là coi thường vậy.' Hành tỉnh liệu không thể từ chối, tạm lệnh thu xếp, rồi báo lên trên. Bảo Thoát Thốc Hoa lại lệnh cho con trai thứ 4 của chủ là Lợi Thế Ma Bát Đô Bát Đức Lạt (利世麻八都八德剌), con thứ 5 là Thế Lị Ấn Đức Lạt (世利印德剌) đến gặp, nói rằng trước có 100.000 quân nên mới cầu chiến, nay đều bại tán. Nghe bại binh nói Bổ Đích bị thương đã chết, quốc chủ bị tên bắn vào má, nay hơi bớt, hổ thẹn sợ hãi chưa thể gặp, nên trước sai 2 con đến bàn việc phó khuyết tiến kiến. Quan tỉnh nghi không phải con thật, cho về, dụ quốc chủ sớm hàng, lấy cớ hỏi thăm bệnh tình sai Thiên hộ Lâm Tử Toàn (林子全), Tổng bả Lật Toàn (栗全), Lý Đức Kiên (李德堅) cùng đi xem xét, 2 người con đi đường trốn về trước. Tử Toàn vào núi 2 chặng đường, quốc chủ sai người đến ngăn, không thành. Gặp Bảo Thoát Thốc Hoa, hắn bảo Tử Toàn rằng: 'Quốc chủ trì hoãn không chịu ra hàng, nay lại tung tin muốn giết ta. Hãy về bảo quan tỉnh, đến thì đến, không đến ta sẽ bắt hắn mang đi.' Tử Toàn về trại. Ngày hôm đó giặc lại giết Hà Tử Chí (何子志), Hoàng Phủ Kiệt (皇甫傑) cùng hơn 100 người. Ngày 8 tháng 2, Bảo Thoát Thốc Hoa lại đến, tự nói: 'Tổ phụ bá thúc ta trước đều là quốc chủ, đến anh ta là Bột Do Bổ Lạt Giả Ngô giết đi mà đoạt vị, chặt 2 ngón tay cái của ta, ta thực oán hắn. Nguyện bắt cha con Bột Do Bổ Lạt Giả Ngô, Bổ Đích cùng Đại Bạt Tát Cơ Nhi (大拔撒機兒) để hiến, xin được cấp phục sắc Đại Nguyên.' Hành tỉnh ban cho y quan, vỗ về cho đi. Ngày 13, người Đường ở Chiêm Thành là Tăng Diên (曾延) đến nói quốc chủ trốn ở núi Nha Hầu (鴉候山) phía Tây Bắc Đại Châu, tụ tập hơn 3.000 quân và chiêu tập binh các quận khác chưa đến, không nhật sẽ giao chiến với quan quân, sợ người Đường tiết lộ chuyện nên định giết hết, Diên biết nên trốn đến. Ngày 15, Bảo Thoát Thốc Hoa cùng Tể tướng Báo Tôn Đạt Nhi (報孫達兒) và Toát Cập đại sư (撮及大師)... cả thảy 5 người đến hàng. Quan hành tỉnh dẫn Tăng Diên đến gặp Bảo Thoát Thốc Hoa, chất vấn hắn, hắn nói: 'Diên là kẻ gian tế, xin hãy trói lại. Quân quốc chủ đều tan rã, sao dám đánh lại!' Lại nói: 'Nay các châu quận chưa phụ cả thảy 12 nơi, mỗi châu sai 1 người đến chiêu dụ. Đường thủy Cựu Châu, xin hành tỉnh cùng Trần An phủ và Bảo Thoát Thốc Hoa mỗi bên sai 1 người đi thuyền chiêu dụ. Đánh lấy đường bộ thì xin quan hành tỉnh, Trần An phủ cùng tôi đi bắt cha con quốc chủ Bổ Đích và đánh thành.' Hành tỉnh còn tin lời hắn, điều 1.000 quân đóng ở tháp Bán Sơn, sai Tử Toàn, Đức Kiên dẫn 100 quân cùng Bảo Thoát Thốc Hoa đi Đại Châu tiến đánh, hẹn hễ gấp thì báo quân Bán Sơn. Tử Toàn đến phía Tây thành, Bảo Thoát Thốc Hoa bội ước, lẻn đi từ cửa Bắc cưỡi voi trốn vào núi. Quan quân bắt được kẻ do thám nói: 'Quốc chủ thực ở núi Nha Hầu, lập trại tụ binh ước hơn 20.000 người, sai sứ sang các nước Giao Chỉ (交趾), Chân Lạp (真臘), Xà Bà (闍婆) mượn binh, và trưng quân các vùng Tân, Đa Long, Cựu Châu... chưa đến.' Ngày 16, sai Vạn hộ Trương Ngung (張顒) dẫn binh đến nơi quốc chủ trú ngụ. Ngày 19, binh Ngung cách thành gỗ 20 dặm, giặc đào hào rãnh, dùng gỗ lớn ngăn chặn. Quan quân chặt phá vượt rào, phấn kích phá được hơn 2.000 quân giặc. Đánh đến dưới thành gỗ, rừng núi hiểm trở không thể tiến, giặc lẻn ra cắt đường về, quân thảy đều liều chết chiến đấu mới giải vây về trại được. Hành tỉnh bèn chỉnh quân tụ lương, xây thành gỗ, sai Tổng quản Lưu Kim (劉金), Thiên hộ Lưu Quyên (劉涓), Nhạc Vinh (岳榮) trấn thủ."
'''Năm Chí Nguyên thứ 21 [năm 1284], Chiêm Thành dâng biểu đến hiến.'''
Dựa theo Nguyên Sử – Thế Tổ bản kỷ: "Tháng 5 năm Chí Nguyên thứ 21, hành tỉnh Chiêm Thành tại Kinh Hồ tâu rằng: Hốt Đô Hổ (忽都虎), Hốt Mã Nhi (忽馬兒)... dẫn binh chinh phạt Chiêm Thành, tiền phong thủy quân đến cảng Thư Mi Liên (舒眉蓮港) không biết đi hướng nào, lệnh Vạn hộ Lưu Quân Khánh (劉君慶) tiến quân, dừng tại Tân Châu, bắt được người Man Chiêm mới biết quân ta đã về rồi. Bèn sai người Man dẫn đường đến địa giới Chiêm Thành, quốc chủ sai A Bất Lan (阿不蘭) đưa thư xin hàng, nói rằng nước bị quân mã Toa Đô cướp phá, quốc kế đã trống rỗng, đợi năm sau sai đích tử mang phương vật tiến cống. Sau đó sai cháu là Lộ Tư Lý Lặc Trập (路司理勒蟄)... dâng biểu về kinh. Tháng 7 mùa thu, xuống chiếu phong Trấn Nam vương Thoát Hoan (脫歡) chinh phạt Chiêm Thành. Tháng 8, quốc vương Chiêm Thành xin rút quân Toa Đô, nguyện dùng thổ sản hằng năm tu sửa chức cống, sai Đại Bàn Á La Nhật Gia Ế (大盤亞羅日加翳), Đại Ba Nam (大巴南)... cả thảy 11 người dâng biểu về kinh, hiến 3 con voi. Tháng 11, quốc vương Chiêm Thành sai sứ Đại La Bàn Á La Nhật Gia Ế... dâng biểu chúc mừng tiết Thánh đản, hiến lễ vật và 2 con voi." Dựa theo Chiêm Thành bản truyện: "Ngày 6 tháng 3 năm thứ 21, Toa Đô dẫn quân về. Ngày 15, Vạn hộ Hốt Đô Hổ (忽都虎)... do tỉnh Giang Hoài phái đến trợ quân Toa Đô tới Chiêm Thành. Toa Đô theo chế cũ của hành tỉnh đóng tại cảng Thư Mi Liên, thấy doanh trại bị đốt sạch mới biết quan quân đã về. Ngày 20, Hốt Đô Hổ lệnh cho Bách hộ Trần Khuê (陳奎) chiêu dụ quốc chủ đến hàng. Ngày 27, chủ Chiêm Thành sai Vương Thông sự (王通事) đến xưng nộp hàng, Hốt Đô Hổ dụ lệnh cha con dâng biểu tiến hiến. Quốc chủ sai Văn Lao Quỳnh Đại Ba Nam (文勞卭大巴南)... đến thưa: 'Toa Đô quét sạch nước này, nghèo không có gì để hiến, năm sau sẽ bị lễ vật, lệnh cho đích tử nhập triều.' Ngày 12 tháng 4, quốc chủ lệnh cháu là Tế Mục Lý Lặc Trập (濟目理勒蟄), Văn Lao Quỳnh Đại Ba Nam... dâng biểu quy thuận. Năm ấy mệnh cho Bình chương chính sự A Lý Hải Nha (阿里海牙) theo Trấn Nam vương Thoát Hoan phát binh, mượn đường Giao Chỉ đánh Chiêm Thành, nhưng không thực hiện được."
===Minh===
'''Năm Hồng Vũ thứ 2 [năm 1369] thời Minh Thái Tổ, Chiêm Thành (占城) sai sứ triều cống. Xuống chiếu phong làm Chiêm Thành quốc vương, ban tiền lụa màu và lịch pháp.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Chiêm Thành nằm giữa biển Nam Hải (南海), từ Quỳnh Châu (瓊州) đi thuyền, thuận gió 1 ngày đêm có thể đến; từ Phúc Châu (福州) đi về phía Tây Nam 10 ngày đêm có thể đến; tức là đất Việt Thường (越裳) đời Chu. Thời Tần là huyện Lâm Ấp (林邑), thời Hán là huyện Tượng Lâm (象林). Cuối thời Hậu Hán, Khu Liên (區連) chiếm đất này, bắt đầu xưng là Lâm Ấp vương (林邑王). Từ đời Tấn đến đời Tùy vẫn giữ như vậy. Thời Đường có lúc gọi là Chiêm Bất Lao (占不勞), có lúc gọi là Chiêm Bà (占婆). Nơi vua ở gọi là Chiêm Thành (占城). Sau niên hiệu Chí Đức, đổi quốc hiệu là Hoàn (環). Đến các đời Chu, Tống bèn lấy Chiêm Thành làm hiệu, triều cống không dứt. Nguyên Thế Tổ ghét việc nước này nghịch mệnh, bèn dấy đại quân đánh phá, nhưng cũng không định yên được. Năm Hồng Vũ (洪武) thứ 2 [năm 1369], Thái Tổ sai quan mang chiếu chỉ tức vị đến dụ nước ấy. Vua nước đó là A Đáp A Giả (阿答阿者) trước đó đã sai sứ dâng biểu đến triều, cống voi, hổ và phương vật. Hoàng đế mừng, liền sai quan mang tỷ thư, lịch Đại Thống (大統曆), gấm vóc, sa la cùng sứ giả về ban tặng. Vua nước ấy lại sai sứ đến cống. Từ đó về sau, hoặc hằng năm cống, hoặc cách năm, hoặc 1 năm cống 2 lần làm thường lệ. Chẳng bao lâu, mệnh cho Trung thư tỉnh Quản câu Cam Hoàn (甘桓), Hội đồng quán Phó sứ Lộ Cảnh Hiền (路景賢) mang chiếu phong A Đáp A Giả (阿答阿者) làm Chiêm Thành quốc vương (占城國王), ban 40 xấp tiền lụa màu và 3.000 quyển lịch Đại Thống."
Dựa theo Minh hội điển: "Năm Hồng Vũ thứ 2 [năm 1369], ban cho quốc vương Chiêm Thành lịch Đại Thống, ban cho sứ thần gấm vóc, sa la mỗi thứ 1 xấp, đồng thời cấp cho mũ đai."
'''Năm Hồng Vũ thứ 3 [năm 1370], sai sứ sang Chiêm Thành tế sơn xuyên, ban chiếu về Khoa cử cho nước ấy. Lại vì việc nước ấy và An Nam (安南) đánh nhau, bèn ban chiếu vỗ về.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hồng Vũ thứ 3 [năm 1370], sai sứ sang tế sơn xuyên (núi sông), sau đó ban chiếu về Khoa cử cho nước ấy. Ban đầu, An Nam và Chiêm Thành gây hấn binh đao, Thiên tử vì thế sai sứ sang dụ giải, nhưng An Nam lại tiếp tục xâm lấn. Năm thứ 4 [năm 1371], vua nước ấy dâng biểu bằng lá vàng (kim diệp biểu) đến triều, dài hơn 1 thước, rộng 5 tấc, khắc chữ bản quốc, người ở dịch quán dịch ra, ý rằng: 'Đại Minh Hoàng đế lên ngôi báu, vỗ về bốn biển, như trời đất che chở, như nhật nguyệt soi chiếu. A Đáp A Giả (阿答阿者) ví như một ngọn cỏ cây vậy. Kính mong sai sứ mang kim ấn phong làm Quốc vương, cảm kích mừng vui, gấp vạn lần tình thường. Chỉ vì An Nam dùng binh, xâm nhiễu bờ cõi, giết cướp quan dân. Cúi xin Hoàng đế rủ lòng thương, ban cho binh khí cùng nhạc khí, nhạc nhân, để An Nam biết Chiêm Thành ta là nơi được hưởng thanh giáo, là đất nộp cống, mong chúng không dám khinh lăng'. Hoàng đế liền mệnh cho Lễ bộ dụ rằng: 'Chiêm Thành, An Nam cùng thờ triều đình, cùng phụng chính sóc. Nay tự tiện gây binh, độc hại sinh linh, vừa mất lễ thờ bề trên, vừa trái đạo giao lân. Đã gửi văn thư cho quốc vương An Nam, lệnh phải bãi binh ngay lập tức. Bản quốc cũng nên giảng tín tu mục, mỗi bên giữ vững bờ cõi. Còn như binh khí đã hỏi, với Vương có tiếc gì? Nhưng hai nước đang gây hấn, mà ban cho Chiêm Thành tức là giúp các ngươi đánh nhau, rất trái nghĩa vỗ về an dân. Nhạc khí, nhạc nhân thì tiếng nói khác biệt, khó lòng phái đi. Nước ngươi có ai hiểu tiếng Hoa thì chọn lọc đưa tới, sẽ cho tập luyện'. Nhân đó mệnh cho quan lại tỉnh Phúc Kiến (福建) không thu thuế của họ để tỏ ý hoài nhu."
'''Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], Chiêm Thành vì gặp hải khấu cướp bóc, đã đánh phá được, dâng tiệp báo lên triều đình, ban chiếu khen ngợi. Lại dâng tin thắng trận trước An Nam, xuống chiếu giải dụ.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hồng Vũ thứ 6 [năm 1373], sứ giả đến cống nói rằng: 'Hải khấu Trương Nhữ Hậu (張汝厚), Lâm Phúc (林福) tự xưng Nguyên soái, điêu đoạt trên biển. Quốc chủ đánh phá được, tên cầm đầu chết đuối, thu được 20 chiếc thuyền, 7 vạn cân tô mộc, kính cẩn dâng nộp'. Hoàng đế khen ngợi, mệnh cho ban thưởng tăng thêm cấp bậc. Mùa đông năm ấy, sai sứ dâng tiệp báo thắng An Nam. Hoàng đế bảo quan tỉnh rằng: 'Năm ngoái, An Nam nói Chiêm Thành phạm cảnh; năm nay, Chiêm Thành nói An Nam nhiễu biên, chưa rõ thực hư. Có thể sai người sang dụ, mỗi bên bãi binh cho dân nghỉ ngơi, chớ xâm nhiễu nhau'."
'''Năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], Chiêm Thành đại bại binh An Nam, vua An Nam là Trần Duệ Tông (Trần Thản - 陳煓) tử trận.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Tháng Giêng năm Hồng Vũ thứ 10 [năm 1377], đại chiến với vua An Nam là Trần Thản (陳煓), Thản bại trận chết."
'''Năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], sứ cống Chiêm Thành đến, Trung thư tỉnh không kịp thời tâu lên, bị trách mắng nghiêm khắc Thừa tướng. Lại dụ vua Chiêm Thành tu hảo với An Nam.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Tháng 9 năm Hồng Vũ thứ 12 [năm 1379], sứ cống đến kinh đô, Trung thư tỉnh không kịp thời tâu báo, Hoàng đế trách mắng nghiêm khắc hai người Thừa tướng là Hồ Duy Dung (胡惟庸) và Uông Quảng Dương (汪廣洋), hai người này sau đó đều đắc tội. Tháng 10, sai quan ban cho vua lịch Đại Thống cùng y phục, tiền bạc, lệnh cho tu hảo với An Nam, bãi binh."
'''Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], Chiêm Thành nhập cống, vì việc gây binh với An Nam, bèn ban sắc dụ cho vua nước ấy.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hồng Vũ thứ 13 [năm 1380], sai sứ mừng tiết Vạn Thọ. Hoàng đế nghe tin nước ấy thủy chiến với An Nam bất lợi, bèn ban sắc dụ rằng: 'Ngày trước binh An Nam ra quân, bị bại dưới tay Chiêm Thành, Chiêm Thành thừa thắng tiến vào nước An Nam, cái nhục của An Nam đã quá lắm rồi. Vương nếu có thể bảo cảnh tức dân thì phúc có thể hưởng dài lâu. Nếu cứ xua quân khổ chiến, thắng bại khó lường, mà ngao cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi, ngày sau hối hận chẳng phải đã muộn sao!'"
'''Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], Chiêm Thành nhập cống, ban cho tiền vàng.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hồng Vũ thứ 16 [năm 1383], cống 200 chiếc ngà voi cùng các phương vật khác, sai quan ban cho văn sách khảm hợp, lại ban 32 xấp gấm dệt vàng, 19.000 món đồ sứ."
'''Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], Chiêm Thành sai con trai vào triều, mừng tiết Vạn Thọ. Hoàng thái tử cũng có lễ vật dâng hiến, được ban thưởng hậu hĩnh, mệnh cho Trung quan tống tiễn về nước.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hồng Vũ thứ 19 [năm 1386], sai con trai là Bảo Bộ Lĩnh Thi Na Nhật Hốt (寶部領詩那日忽) vào triều mừng tiết Vạn Thọ, hiến 54 con voi. Hoàng thái tử cũng có lễ vật dâng hiến. Hoàng đế khen ngợi lòng thành, ban thưởng ưu hậu, mệnh cho Trung quan đưa về."
'''Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], Chiêm Thành lại cống phương vật.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hồng Vũ thứ 20 [năm 1387], lại cống 51 con voi cùng các vật già nam, sừng tê. Hoàng đế đã ban tiệc thưởng, khi về đến Quảng Đông (廣東), lại mệnh cho Trung quan yến tiệc tiễn biệt, cấp cho lộ phí đi đường."
'''Năm Hồng Vũ thứ 21 [năm 1388], vì Chiêm Thành cướp voi cống của Chân Lạp (真臘), mệnh cho Hành nhân Đổng Thiệu (董紹) mang sắc trách mắng. Chiêm Thành sai sứ tạ tội, vẫn được ban yến thưởng theo chế độ.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Chân Lạp cống voi, Chiêm Thành cướp mất 1/4 (tức 1 phần trong 4 phần), các việc thất đức khác cũng rất nhiều. Hoàng đế nghe được thì giận. Mùa hè năm thứ 21 [năm 1388], mệnh cho Hành nhân Đổng Thiệu mang sắc trách mắng. Thiệu chưa đến nơi mà sứ cống của họ đã tới kinh đô, sau đó lại sai sứ sang tạ tội, bèn mệnh ban yến thưởng theo chế độ."
'''Năm Hồng Vũ thứ 24 [năm 1391], đại thần Chiêm Thành là Các Thắng (閣勝) giết vua tự lập, sai người đến cống. Xuống chiếu khước từ.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Bấy giờ A Đáp A Giả (阿答 A Giả) mất đạo, đại thần Các Thắng (閣勝) ôm lòng bất chính, mưu đồ vào năm thứ 23 [năm 1390] giết vua tự lập. Năm sau sai Thái sư dâng biểu đến cống. Hoàng đế ghét kẻ bội nghịch, khước từ không nhận. Đến sau năm thứ 30 [năm 1397] mới tiếp tục nhập cống."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 1 [năm 1403] thời Thành Tổ, Chiêm Thành (占城) nhập cống, báo việc bị An Nam (安南) xâm lược. Xuống sắc chỉ răn đe An Nam.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Vĩnh Lạc (永樂) thứ 1, lấy chiếu chỉ tức vị dụ nước ấy. Vua nước ấy là Chiêm Ba Đích Lại (占巴的賴) dâng biểu bằng lá vàng triều cống, đồng thời báo việc An Nam xâm lược, xin xuống sắc chỉ răn đe. Hoàng đế chấp thuận, sai Hành nhân Tưởng Tân Hưng (蔣賓興), Vương Khu (王樞) đi sứ nước ấy, ban cho nhung gấm, gấm dệt vàng, sa la."
Dựa theo Minh hội điển: "Năm Vĩnh Lạc thứ 1, ban cho quốc vương Chiêm Thành 3 xấp gấm, 6 xấp trừ ti, sa la mỗi loại 4 xấp; vương phi 4 xấp trừ ti, sa la mỗi loại 3 xấp. Sau này sai phái đều chiếu theo lệ này. Vương đệ và vương tôn mới đến lần đầu, thưởng 1 bộ áo là dệt vàng cùng 1 bộ áo trừ ti; phần thưởng chính thức là 6 xấp trừ ti, sa la mỗi loại 4 xấp, 1 bộ áo trừ ti, chi trả thay bằng 2 xấp lụa quyện. Chánh, phó sứ mới đến, mỗi người 1 bộ áo là dệt vàng; phần thưởng chính là 4 bộ đoạn màu, 2 xấp lụa quyện, chi trả thay áo bằng 2 bộ đoạn màu. Chánh, phó thông sự và tượng nô (người chăn voi) mới đến, mỗi người thưởng 1 bộ áo là trơn, phần thưởng chính là 2 bộ đoạn màu, chi trả thay bằng 1 xấp lụa quyện, chi trả thay áo bằng 1 bộ đoạn màu. Người đi theo mới đến, mỗi người 1 bộ áo lụa quyện, phần thưởng chính chi trả bằng 1 xấp bông vải, chi trả thay áo bằng 4 xấp lụa quyện, đều kèm 1 đôi ủng và tất. Các chánh phó sứ, thông sự, được cấp ban mũ đai và thay đổi theo lệ giống nước Xiêm La (暹羅). Các chánh tướng sĩ, đại đầu mục cùng xá nhân, biện sự, hỏa trưởng, tổng quản, cán sự, mỗi danh vị cấp 1 mũ ô sa, 1 đai sừng."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 2 [năm 1404], lấy tấu chương của vua An Nam dụ vua Chiêm Thành. Vua Chiêm Thành vẫn báo An Nam xâm lược. Hoàng đế giận, xuống sắc trách tội An Nam.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Vĩnh Lạc thứ 2, lấy việc tâu của vua An Nam là Hồ Đê (胡𡗨 - tức Hồ Hán Thương) mà xuống chiếu ngưng binh, sai quan dụ vua Chiêm Thành. Nhưng vua Chiêm lại sai sứ tâu: 'An Nam không tuân chiếu chỉ, dùng thủy quân sang xâm lược; người triều cống trở về bị cướp sạch vật ban tặng. Lại ép thần nhận mũ áo, ấn chương, bắt làm thần thuộc. Đã chiếm các đất Sa Ly Nha (沙離牙) của thần, xâm lược chưa dứt, thần e không tự tồn tại được, xin được liệt vào bản đồ Đại Minh, sai quan sang cai trị'. Hoàng đế giận, xuống sắc trách mắng Hồ Đê, đồng thời ban tiền giấy và tiền lụa cho vua Chiêm Thành."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 4 [năm 1406], Chiêm Thành nhập cống, báo nạn An Nam. Xuống chiếu đại phát binh đánh An Nam. Sắc lệnh Chiêm Thành bắt những kẻ bại trận chạy trốn gửi về kinh sư.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Vĩnh Lạc thứ 4, cống voi trắng và phương vật. Lại báo nạn An Nam. Hoàng đế đang lúc đại phát binh sang đánh, bèn sắc lệnh Chiêm Thành nghiêm binh tại biên cảnh, chặn đường tháo chạy, bắt được ai thì giải về kinh sư ngay."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 5 [năm 1407], Chiêm Thành đánh chiếm lại đất bị An Nam xâm lược, dâng tù binh tại cửa khuyết, nhân đó cống phương vật tạ ơn.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 5, Chiêm Thành đánh lấy lại vùng đất bị An Nam xâm chiếm, bắt được đảng giặc là Hồ Liệt (胡烈), Phan Ma Hưu (潘麻休)... đem dâng tù binh tại cửa khuyết, nhân đó cống phương vật tạ ơn. Hoàng đế khen ngợi việc trợ binh đánh kẻ nghịch, sai Trung quan Vương Quý Thông (王貴通) mang sắc thư cùng bạc, tiền lụa ban tặng."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 6 [năm 1408], Chiêm Thành nhập cống.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Vĩnh Lạc thứ 6, Trịnh Hòa (鄭和) đi sứ nước ấy, vua Chiêm sai cháu là Xá (舍), Dương Cai (楊該) cống voi cùng phương vật tạ ơn."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [năm 1412], sứ cống Chiêm Thành xin mũ đai, triều đình ban cho.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Vĩnh Lạc thứ 10, sứ cống xin mũ đai, triều đình ban cho, lại mệnh Trịnh Hòa đi sứ nước ấy."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 13 [năm 1415], vương sư chinh phạt An Nam, sắc lệnh Chiêm Thành trợ binh. Chiêm Thành quá hạn không tiến quân, ngược lại còn giúp giặc chiến đấu, chiếm đất 4 châu 11 huyện. Xuống sắc chỉ trách mắng nghiêm khắc.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Vĩnh Lạc thứ 13, vương sư đang chinh phạt Trần Quý Khoáng (陳季擴), mệnh Chiêm Thành trợ binh. Thượng thư Trần Hiệp (陳洽) tâu rằng vua Chiêm ngầm hoài hai lòng, quá hạn không tiến quân, trái lại còn đem vàng lụa và voi chiến giúp Quý Khoáng; Quý Khoáng đem con gái Lê Thương (黎蒼) tặng cho ông ta. Lại hẹn với cậu của Quý Khoáng là Trần Ông Tiễn (陳翁挺) xâm chiếm đất 4 châu 11 huyện thuộc phủ Thăng Hoa (升華府). Tội ấy tương đương nhau, nên sai binh thảo phạt. Hoàng đế vì Giao Chỉ (交阯) mới bình định, không muốn làm nhọc quân đội, chỉ ban sắc trách mắng nghiêm khắc, buộc trả lại đất chiếm. Vua Chiêm liền sai sứ tạ tội."
'''Năm Vĩnh Lạc thứ 16 [năm 1418], Chiêm Thành sai cháu là Xá Na Tỏa (舍那挫) vào triều cống phương vật.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Vĩnh Lạc thứ 16, sai cháu là Xá Na Tỏa đến triều. Mệnh Trung quan Lâm Quý (林貴), Hành nhân Nghê Tuấn (倪俊) đưa về, có ban thưởng."
'''Năm Tuyên Đức thứ 1 [năm 1426] thời Tuyên Tông, sai sứ sang Chiêm Thành.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Tuyên Đức (宣德) thứ 1, Hành nhân Hoàng Nguyên Xương (黃原昌) sang ban lịch chính sóc, khiển trách vua Chiêm không cung kính, khước từ vàng và tiền lụa đáp lễ mà trở về, được thăng làm Hộ bộ Viên ngoại lang."
'''Năm Chính Thống thứ 1 [năm 1436] thời Anh Tông, nghị định lệ Chiêm Thành 3 năm 1 lần cống.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Chính Thống (正統) thứ 1, Tri phủ Quỳnh Châu là Trình Oánh (程瑩) tâu rằng Chiêm Thành hằng năm đều cống, hao tốn rất nhiều. Xin theo lệ các nước như Xiêm La, 3 năm 1 lần cống. Hoàng đế cho là phải, sắc dụ sứ giả nước ấy như lời Oánh tâu, ban tiền lụa cho vua và vương phi. Tuy nhiên người phiên lợi việc giao thương tại Trung Quốc, nên dù có lệnh này, họ vẫn không tuân theo."
'''Năm Chính Thống thứ 6 [năm 1441], vương tôn Chiêm Thành sai sứ nhập cống và xin nối ngôi. Xuống chiếu phong làm vua.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Chính Thống thứ 6, vua Chiêm Ba Đích Lại chết, cháu là Ma Ha Bí Cai (摩訶賁該) theo di mệnh sai vương tôn Thuật Đề Côn (述提昆) đến triều cống và xin nối ngôi. Bèn sai Cấp sự trung Quản Đồng (管瞳), Hành nhân Ngô Huệ (吳惠) mang chiếu phong làm vua, tân vương và vương phi đều có ban thưởng."
Dựa theo Minh hội điển: "Năm Chính Thống thứ 6, đoàn vương tôn Chiêm Thành 23 người được cấp khẩu phần gồm 2 con bò, 4 con dê, 4 con ngỗng, 10 con gà, 40 bình rượu, 2 thạch gạo cùng rau củ gia vị."
'''Năm Chính Thống thứ 7 [năm 1442], sứ cống Chiêm Thành mất trên đường, sai quan ban tế.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Mùa xuân năm Chính Thống thứ 7, Thuật Đề Côn mất trên đường đi, Hoàng đế thương xót, sai quan ban tế."
'''Năm Chính Thống thứ 8 [năm 1443], Chiêm Thành đến cống.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Chính Thống thứ 8, sai cháu là Thả Dương Lạc (且揚樂) giục cống khiên múa, cờ và voi đen."
'''Năm Chính Thống thứ 11 [năm 1446], sắc lệnh vua Chiêm tuân chế độ "3 năm 1 lần cống".'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Chính Thống thứ 11, sắc dụ Ma Ha Bí Cai: Gần đây vua An Nam là Lê Tuấn (黎濬 - Lê Nhân Tông) sai sứ tâu rằng Vương khinh họ cô yếu, trước đã chiếm 4 châu Thăng Hoa, Tư Nghĩa, nay lại nhiều lần đánh Hóa Châu, cướp người súc tài vật. Hai nước đều chịu mệnh triều đình, mỗi bên có biên giới, sao có thể dấy binh gây hận, trái nghĩa hòa mục lân bang? Vương nên giữ lễ tiết, nghiêm trách biên thần chớ tự tiện xâm lấn, gây họa cho sinh linh. Đồng thời dụ An Nam nghiêm túc phòng bị, chớ ôm tư thù trả đũa. Ban đầu định lệ 3 năm 1 lần cống nhưng nước ấy không tuân. Đến khi chất vấn sứ giả thì bảo: 'Tiên vương đã mất, sắc thư cũ không còn, nay Vương không biết lệnh này'. Năm ấy sứ cống lại đến, tiếp tục sắc lệnh Vương tuân chế độ, ban tiền lụa cho Vương và vương phi. Mùa đông năm ấy lại sai sứ sang cống."
'''Năm Chính Thống thứ 12 [năm 1447], phong cháu của cố vương Chiêm Ba Đích Lại là Ma Ha Quý Lai làm vua.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Chính Thống thứ 12, vua Chiêm chiến đấu với An Nam, đại bại bị bắt. Cháu của cố vương Chiêm Ba Đích Lại là Ma Ha Quý Lai (摩訶貴來) sai sứ tâu: 'Tiên vương lúc bệnh từng lập thần làm thế tử, muốn cho nối ngôi. Thần khi ấy còn nhỏ, nhường ngôi cho cậu là Ma Ha Bí Cai. Sau này Ma Ha Bí Cai nhiều lần dấy binh đánh An Nam, khiến quân địch đánh vào Cựu Châu, Cổ Lũy... giết cướp người súc gần hết, vua cũng bị bắt. Người trong nước vì thần là cháu tiên vương, lại có di mệnh, nên mời thần thay ngôi'. Từ chối 3 lần không được, mới bắt đầu trị sự tại phủ tiền. Thần không dám tự chuyên, cúi đợi mệnh triều đình. Bèn sai Cấp sự trung Trần Nghị (陳誼), Hành nhân Tiết Cán (薛幹) cầm tiết phong làm vua, dụ việc giữ nước giao lân, và dụ thần dân trong nước cùng nhau phò tá. Năm thứ 13, sắc lệnh An Nam đưa Ma Ha Bí Cai về nước, nhưng An Nam không phụng mệnh."
'''Năm Cảnh Thái thứ 3 [năm 1452] thời Đại Tông, nước Chiêm Thành đến cống và báo tang. Phong em vua là Ma Ha Quý Do làm vua.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Cảnh Thái (景泰) thứ 3, sai sứ sang cống và báo tang vua. Mệnh Cấp sự trung Phan Bản Ngu (潘本愚), Hành nhân Biên Vĩnh (邊永) phong em vua là Ma Ha Quý Do (摩訶貴由) làm vua."
'''Năm Thiên Thuận thứ 1 [năm 1457] thời Anh Tông, Chiêm Thành nhập cống, ban cho chánh phó sứ đai vàng chạm hoa.'''
'''Năm Thiên Thuận thứ 2 [năm 1458], vua Chiêm Thành là Ma Ha Bàn La Duyệt mới lập, sai sứ dâng biểu triều cống.'''
Dựa theo các phần trong Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền đã dẫn.
'''Năm Thiên Thuận thứ 4 [năm 1460], Chiêm Thành nhập cống, tố cáo "bị An Nam xâm lấn", lại sai sứ báo tang. Phong em vua là Bàn La Trà Toàn làm vua.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Thiên Thuận (天順) thứ 4 lại cống, từ chánh sứ trở xuống đều ban mũ sa cùng đai vàng, bạc, sừng có thứ bậc. Sứ giả tố cáo bị An Nam xâm lấn, nhân đó sắc dụ vua An Nam. Tháng 9, sứ đến báo tang vua, mệnh Cấp sự trung Hoàng Nhữ Lâm (黃汝霖), Hành nhân Lưu Thứ (劉恕) phong em vua là Bàn La Trà Toàn (槃羅茶全) làm vua."
Dựa theo Minh hội điển: "Năm Thiên Thuận thứ 4, khẩu phần của vương tộc Chiêm Thành giống như vương tôn, nhưng giảm đi 1 con bò."
'''Năm Thiên Thuận thứ 8 [năm 1464], Chiêm Thành nhập cống, vẫn tố An Nam xâm lấn, xin lập bia đá giới bài.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Thiên Thuận thứ 8 nhập cống, Hiến Tông đã nối ngôi, ứng lệ ban gấm lụa cho các nước phiên, lễ quan xin giao cho sứ thần mang về, vua nghe theo. Sứ giả lại tố cáo bị An Nam xâm lấn, đòi hỏi voi trắng. Xin như thời Vĩnh Lạc, sai quan sang an phủ, dựng giới bài bia đá để ngăn chặn việc xâm lăng. Bộ Binh cho rằng hai nước đang tranh chấp, không tiện sai sứ, xin lệnh cho sứ thần về dụ quốc vương, phải tuân theo lễ pháp, giữ vững bờ cõi, chống ngoại lăng, chớ khinh suất gây họa, vua nghe theo."
'''Năm Thành Hóa thứ 7 [năm 1471] thời Hiến Tông, An Nam (安南) đánh phá Chiêm Thành, bắt vua và gia thuộc. Em vua sai sứ báo nạn, bộ Binh tấu rằng nên phái quan đến tuyên dụ, Hoàng đế lo An Nam nghịch mệnh, đợi khi sứ cống An Nam đến sẽ ban sắc trách mắng.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Vào lúc nhập cống năm Thành Hóa (成化) thứ 5 [năm 1469], An Nam đòi Chiêm Thành đưa tê giác, voi và bảo vật, bắt phải dùng lễ thờ Thiên triều mà thờ họ. Chiêm Thành không theo, An Nam bèn dấy đại quân chinh phạt. Vào tháng 2 năm thứ 7 [năm 1471], An Nam đánh phá nước ấy, bắt vua là Bàn La Trà Toàn (槃羅茶全) cùng gia thuộc hơn 50 người, cướp ấn phù, mặc sức đốt phá cướp bóc, rồi chiếm lấy đất đai. Em vua là Bàn La Trà Duyệt (槃羅茶悅) trốn vào trong núi, sai sứ báo nạn. Bộ Binh nói: An Nam thôn tính nước đồng minh, nếu không xử phân, chẳng những mất lòng quy phụ của Chiêm Thành, mà còn e làm nảy sinh chí bạt hổ của An Nam. Nên phái quan mang sắc đến tuyên dụ, trả lại quốc vương và quyến thuộc. Hoàng đế lo An Nam nghịch mệnh, lệnh đợi đến ngày sứ cống [An Nam] tới, sẽ ban sắc trách mắng."
'''Năm Thành Hóa thứ 8 [năm 1472], An Nam phá Chiêm Thành, đổi tên thành Châu Giao Nam (交南州), việc sách phong sứ Chiêm Thành bị ngăn trở tại cảng Tân Châu (新州港) nên quay về.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Thành Hóa thứ 8 [năm 1472], vì Bàn La Trà Duyệt xin phong, mệnh cho Cấp sự trung Trần Tuấn (陳峻), Hành nhân Lý San (李珊) cầm tiết đi sứ. Bọn Tuấn đến cảng Tân Châu, người canh giữ ngăn lại, biết nước ấy đã bị An Nam chiếm cứ, đổi thành Châu Giao Nam, bèn không dám vào. Mùa đông năm thứ 10 [năm 1474] trở về."
'''Năm Thành Hóa thứ 10 [năm 1474], An Nam phá Chiêm Thành, phái binh lập cháu vua trước là Trai Á Ma Phất Am làm vua.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Mùa đông năm Thành Hóa thứ 10 [năm 1474], Lý San, Trần Tuấn về triều. An Nam sau khi phá Chiêm Thành, lại phái binh bắt Bàn La Trà Duyệt, lập cháu vua trước là Trai Á Ma Phất Am (齋亞麻弗菴) làm vua, cắt đất biên giới phía Nam của nước ấy trao cho."
'''Năm Thành Hóa thứ 14 [năm 1478], cháu vua trước của Chiêm Thành là Trai Á Ma Phất Am xin phong, đúng lúc sắc phong chưa tới nơi thì chết, người em lại sai sứ đến xin. An Nam đã dùng sắc thư giả lập Đề Bà Thai làm vua.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Thành Hóa thứ 14 [năm 1478], sai sứ triều cống xin phong, mệnh cho Cấp sự trung Phùng Nghĩa (馮義), Hành nhân Trương Cẩn (張瑾) sang phong. Bọn Nghĩa mang theo nhiều đồ riêng, khi đến Quảng Đông (廣東), nghe tin Trai Á Ma Phất Am đã chết, em là Cổ Lai (古來) sai sứ cầu phong. Bọn Nghĩa lo về không sẽ mất lợi, vội vã đến Chiêm Thành. Nhưng người Chiêm Thành nói: Sau khi vương tôn xin phong thì bị Cổ Lai giết. An Nam đã dùng sắc chỉ giả lập người nước ấy là Đề Bà Thai (提婆苔) làm vua. Bọn Nghĩa không đợi tấu báo, tự tiện lấy ấn và tiền lụa trao cho Đề Bà Thai để phong vương, nhận hối lộ hơn 100 lượng vàng, lại sang nước Mãn Lạt Gia (滿剌加) bán hết đồ riêng rồi mới về. Nghĩa đi đến đại dương thì bệnh chết. Cẩn thuật lại sự việc, đồng thời dâng sắc giả lên triều đình, lúc ấy triều đình chưa biết."
'''Năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], cháu vua trước của Chiêm Thành là Cổ Lai sai sứ triều cống xin phong.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Tháng 9 năm Thành Hóa thứ 17 [năm 1481], Cổ Lai sai sứ triều cống, nói rằng khi An Nam phá nước thần, em của cố vương là Bàn La Trà Duyệt trốn ở núi Phật Linh (佛靈山), khi thiên sứ mang sắc phong tới thì đã bị quân giặc bắt đi. Thần cùng anh là Trai Á Ma Phất Am lẩn lút trong sơn cốc. Sau quân giặc sợ hãi thiên uy, sai người tìm kiếm anh thần, trả lại đất cũ. Nhưng từ Bang Đô Lang (邦都郎) đến biên giới Chiêm Lạp (占臘) chỉ có 5 nơi mà thôi. Anh thần quyền quốc chẳng bao lâu thì đột ngột qua đời. Thần đương nối ngôi, không dám tự chuyên, mong ngóng thiên ân ban cho sách ấn. Đất đai nước thần có cả thảy 27 nơi, gồm 4 phủ, 1 châu, 22 huyện. Phía Đông giáp biển, phía Nam giáp Chiêm Lạp, phía Tây giáp núi người Lê, phía Bắc giáp A Bản Lạt Bổ (阿本喇補), phàm hơn 3.500 dặm. Lại xin đặc biệt dụ người Giao trả hết đất cho bản quốc. Sớ dâng lên đình nghị, Anh Quốc công Trương Mậu (張懋) xin phái 2 cận thần có uy vọng sang sứ. Lúc ấy sứ cống An Nam vừa về, bèn ban sắc chất vấn Lê Hạo (黎灝 - tức vua Lê Thánh Tông), lệnh sớm trả đất, chớ kháng triều mệnh. Lễ quan bèn hạch tội Cẩn tự tiện phong vương, bắt hạ ngục, tra rõ tình tiết, luận tội chết. Lúc bấy giờ sứ thần của Cổ Lai đang ở công quán, gọi vào hỏi thì nói Cổ Lai thực là em vua, vua ấy bệnh chết chứ không phải bị giết, còn Đề Bà Thai không biết là ai. Bèn mệnh sứ thần tạm về Quảng Đông, đợi sứ của Đề Bà Thai đến, xét rõ thực giả mới xử lý. Sứ thần đợi mệnh suốt 1 năm mà sứ của Đề Bà Thai không đến, bèn cho về nước."
'''Năm Thành Hóa thứ 20 [năm 1484], coi ngụy vương Chiêm Thành là Đề Bà Thai là đầu mục, phong vương tôn Chiêm Thành là Cổ Lai làm Quốc vương.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Thành Hóa thứ 20 [năm 1484], sắc dụ Cổ Lai vỗ về Đề Bà Thai, sai nộp lại ấn Quốc vương đã ban trước đó, xá tội nhận phong giả, cho làm đầu mục. Đề Bà Thai không chịu nghe mệnh, bèn sai Cấp sự trung Lý Mạnh Dương (李孟暘), Hành nhân Diệp Ứng (葉應) sách phong Cổ Lai làm Quốc vương. Bọn Mạnh Dương nói: Chiêm Thành hiểm viễn, An Nam gây hấn chưa dứt, mà Đề Bà Thai lại chiếm cứ đất ấy. Nếu không cẩn trọng sẽ tổn thương quốc uy. Nên lệnh cho sứ thần truyền dụ Cổ Lai đến Quảng Đông thụ phong, đồng thời sắc dụ An Nam hối lỗi. Vua nghe theo. Cổ Lai bèn từ Lão Qua (老撾 - Lào) đưa gia quyến đến Nhai Châu (崖州), Mạnh Dương xong việc sách phong rồi về."
'''Năm Thành Hóa thứ 23 [năm 1487], phái quan truyền hịch sang An Nam, hộ tống vua Chiêm là Cổ Lai về nước.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Cổ Lai muốn thân hành đến cửa khuyết để tâu tội của An Nam. Tháng Giêng năm Thành Hóa thứ 23 [năm 1487], Tổng đốc Tống Mân (宋旻) tâu lên, đình nghị phái 1 đại thần sang vỗ về, truyền hịch cho An Nam phục hồi nước đã mất, đón Cổ Lai về Chiêm Thành. Hoàng đế chuẩn tấu, bèn mệnh Nam Kinh Hữu đô Ngự sử Tuân Dung (屠滽) sang Quảng Đông, lập tức truyền hịch cho An Nam, tuyên thị họa phúc, đồng thời mộ 2.000 tráng sĩ, điều 20 chiến thuyền vượt biển, hộ tống Cổ Lai về nước. An Nam vì Dung là đại thần được đặc phái nên không dám chống đối, Cổ Lai nhờ đó mới vào được."
'''Năm Hoằng Trị thứ 2 [năm 1489] thời Hiếu Tông, vua Chiêm Thành xin phái tướng đốc binh trấn giữ bảo hộ nước mình, không cho.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hoằng Trị (弘治) thứ 2 [năm 1489], sai em là Bốc Cổ Lương (卜古良) đến Quảng Đông nói rằng An Nam vẫn mặc sức xâm lăng, xin như thời Vĩnh Lạc phái tướng đốc binh bảo hộ. Tổng đốc Tần Hoành (秦紘) tâu lên. Bộ Binh nói: An Nam, Chiêm Thành đều là những nước không nên chinh phạt ghi trong Tổ huấn. Thời Vĩnh Lạc mệnh tướng ra quân là để trị tội sạt nghịch của giặc Lê, không phải vì chuyện lân bang hiềm khích. Nay Lê Hạo tu cống cung kính, lời kêu cầu của Cổ Lai có lẽ quá sự thật, không thể tin lời phiến diện mà làm nhọc quân đội tại nước không chinh phạt. Nên lệnh thủ thần trả lời rằng: Gần đây người Giao giết hại vương tử Cổ Tô Ma (古蘇麻), Vương đã soái chúng đánh bại họ, thù nhục đã rửa sạch. Vương nên tự cường tu chính, vỗ về quốc nhân, giữ vững bờ cõi, tiếp tục hữu nghị với An Nam, những hiềm khích nhỏ mọn thảy đều nên bỏ qua. Nếu không thể tự cường, chỉ dựa vào triều đình phát binh vượt biển giữ nước thay Vương, xưa nay không có lý đó. Hoàng đế nghe theo lời ấy."
'''Năm Hoằng Trị thứ 3 [năm 1490], Chiêm Thành sai sứ tạ ơn.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Tháng 7 năm Hoằng Trị thứ 3 [năm 1490], sai sứ tạ ơn. Nước ấy từ sau khi bị tàn phá, dân vật điêu linh, sứ cống dần thưa thớt."
'''Năm Hoằng Trị thứ 12 [năm 1499], lập trưởng tử vua Chiêm Thành là Sa Cổ Bốc Lạc làm Thế tử.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hoằng Trị thứ 12 [năm 1499], sai sứ tâu: Đất cảng Tân Châu của bản quốc vẫn bị An Nam xâm đoạt, họa chưa dứt. Thần tuổi đã già, xin khi thần chưa chết, mệnh cho trưởng tử Sa Cổ Bốc Lạc (沙古卜落) tập phong, để mai sau có thể giữ được đất nước. Đình nghị: An Nam là mối họa của Chiêm Thành đã chẳng phải một ngày. Triều đình từng vì lời kêu của Chiêm Thành mà nhiều lần xuống tỷ thư dụ bảo. An Nam trước sau tấu báo đều nói kính thừa triều mệnh, đất đai nhân dân thảy đã trả lại. Nhưng lời biện giải của An Nam vừa tới thì lời khống tố của Chiêm Thành lại nghe thấy, e thực có tình cảnh bất đắc dĩ. Nên tiếp tục lệnh thủ thần dụ bảo nghiêm khắc An Nam, chớ tham đất người mà tự gây họa. Nếu không sẽ bàn việc phái thiên sư sang hỏi tội. Còn trưởng tử vua Chiêm không có cha thì theo lý tập phong, xin lệnh lập trước làm Thế tử, nhiếp chính quốc sự. Đợi ngày sau khi tập vị sẽ theo lệ xin phong. Hoàng đế chuẩn y. Sau đó sai vương tôn Sa Bất Đăng Cổ Lỗ (沙不登古魯) đến cống."
'''Năm Hoằng Trị thứ 18 [năm 1505], Thế tử Chiêm Thành là Sa Cổ Bốc Lạc sai chú đến nhập cống, nhân đó xin phong sách. Sứ phong ngại đi xa, xin theo lệ cũ lĩnh phong tại Quảng Đông.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Hoằng Trị thứ 18 [năm 1505], Cổ Lai chết, con là Sa Cổ Bốc Lạc sai sứ đến cống nhưng không báo tang cha, chỉ xin mệnh đại thần sang nước mình, phong cho các đất như cảng Tân Châu. Lại có tấu chương về việc bị chiếm đoạt đất đai. Không đề cập đến việc cha mất, Cấp sự trung Nhậm Lương Bật (任良弼) nói: Chiêm Thành trước vì đất đai suy yếu, mượn việc cống để xin phong, dựa vào thiên uy để răn đe lân quốc. Thực tế quốc vương có lập hay không, không phụ thuộc vào việc triều đình có phong hay không. Nay xưng Cổ Lai đã mất, thực hư khó biết. Vạn nhất sứ ta đến đó mà Cổ Lai còn sống, thì sẽ phong cho con hay thôi? Trong lúc bị ép buộc, việc cực khó xử. Như trước đây khoa thần Lâm Tiêu đi sứ Mãn Lạt Gia, không chịu quỳ lạy phương Bắc, bị giam bỏ đói mà chết, đến nay vẫn không thể trị tội. Mệnh vua quốc uy, không thể không thận trọng. Đại để các phiên bang ngoài biển, vô sự thì bỏ triều cống mà tự lập, có sự thì mượn triều cống mà xin phong. Nay sứ cống đến, đâu phải gấp rút cầu phong, chẳng qua muốn lấy lại đất bị An Nam chiếm, đòi lại người chạy trốn ở Quảng Đông mà thôi. Đất bị An Nam chiếm, tỷ thư đã nhiều lần dụ trả mà họ vẫn chiếm giữ như cũ. Nay nếu lại dụ, họ sẽ coi thường, thiên uy bị lờ đi. Nhỡ sứ ta sang phong Chiêm Thành bị giữ lại không cho về để đòi xử lý, triều đình lấy gì ứng phó? Hoặc lại giữ sứ giả đòi người trốn, ấy là lấy quý thần của Thiên triều làm con tin ở man bang ngoài biển vậy. Nên theo việc Cổ Lai thụ phong tại Quảng Đông năm xưa, lệnh cho họ lĩnh sắc về nước là tiện nhất. Lễ bộ cũng vì việc Cổ Lai sống chết chưa rõ, xin lệnh thủ thần Quảng Đông gửi văn thư sang Chiêm Thành tra báo, vua theo lời ấy. Sau đó việc phong vương đình trệ lâu ngày. 5 năm sau, vào tháng 7 [năm 1510], Sa Cổ Bốc Lạc sai chú là Sa Hệ Ba Ma (沙係把麻) nhập cống, nhân đó xin phong. Mệnh Cấp sự trung Lý Quán (李貫), Hành nhân Lưu Đình Thụy (劉廷瑞) đi. Quán đến Quảng Đông, ngại đi xa, xin theo lệ cũ của Cổ Lai, lệnh sứ thần lĩnh phong. Đình nghị: Phái quan đã 2 năm, nay nếu dừng lại thì không phải nghĩa hưng diệt kế tuyệt. Nhỡ sứ thần không muốn lĩnh phong, hoặc lĩnh về mà trao không đúng người, lại sinh sự đoan, càng hại quốc thể. Nên lệnh bọn Quán gấp đi. Quán cuối cùng vẫn ngại đi, lấy cớ thiếu thông sự và hỏa trưởng. Đình nghị lệnh thủ thần Quảng Đông tìm người, nếu cuối cùng không được thì theo lệ cũ. Quán lại đặt lời nói: 'Thần nhận mệnh đã 5 năm, ai chẳng bảo là ngại sóng gió hiểm nguy? Nhưng không biết Chiêm Thành từ sau khi Cổ Lai bị đuổi, dời đến ở nước Xích Khảm Bang Đô Lang (赤坎邦都郎), không phải cương vực cũ, thế không thể đi. Huống hồ Cổ Lai là đầu mục của vua trước Trai Á Ma Phất Am, thực giết vua đoạt ngôi. Vua có 3 con, 1 người còn sống, thì về nghĩa lại có chỗ không thể'. Chiếu theo pháp kinh Xuân Thu: 'Dẫu không hưng binh hỏi tội, cũng tất phải tuyệt sứ triều cống'. Cớ sao lại bàn việc tìm người, kéo dài năm tháng mà không ích gì cho sự việc! Gặp lúc Tuần án Quảng Đông Đinh Khải (丁楷) cũng phụ họa tấu lên, đình thần bèn nghị theo đó, vào tháng 7 năm thứ 10 [năm 1515] lệnh cho sứ thần mang sắc về. Từ đó về sau lấy làm lệ thường, và sứ cống của nước ấy cũng không thường xuyên đến nữa."
'''Năm Gia Tĩnh thứ 22 [năm 1543] thời Thế Tông, nước Chiêm Thành (占城) đến cống.'''
Dựa theo Minh ngoại sử – Chiêm Thành truyền: "Năm Gia Tĩnh (嘉靖) thứ 22 [năm 1543], vua sai thúc phụ của vương là Sa Bất Đăng Cổ Lỗ (沙不登古魯) đến cống, tố cáo nhiều lần bị An Nam (安南) xâm nhiễu, đường sá ngăn trở khó về, xin phái quan hộ tống về nước. Vua chuẩn tấu. Nước ấy không có sương tuyết, 4 mùa đều như mùa hè, cỏ cây thường xanh. Dân lấy nghề chài lưới làm nghiệp, không có 2 loại lúa mạch, ít người ra sức cày cấy nên thu hoạch ít. Người trong nước đều ăn trầu, suốt ngày không rời miệng, không hiểu sóc vọng (ngày mồng 1 và rằm). Chỉ lấy lúc trăng mọc làm đầu tháng, trăng lặn làm cuối tháng, không đặt tháng nhuận. Chia ngày đêm làm 10 canh, không giữa trưa thì không dậy, không nửa đêm thì không nằm. Thấy trăng thì uống rượu, ca múa làm vui. Không có giấy bút, dùng da cừu nện mỏng hun đen, vót tre nhỏ chấm vôi trắng viết chữ, hình dạng như con giun. Có thành quách giáp binh. Tính người hung dữ mà xảo quyệt, giao dịch nhiều điều bất bình. Cửa nhà đều hướng về phía Bắc, nhà dân thảy đều lợp mái tranh, cao không quá 3 thước. Cấp bậc bộ lãnh phân chia khác nhau, cửa cao hay thấp cũng có hạn định. Ăn uống uế tạp, cá không thối rữa thì không ăn, rượu ủ không sinh dòi thì không cho là ngon. Người đen đúa, đàn ông tóc bù xù, đàn bà búi tóc hình dùi, đều đi chân đất. Vua là người Tỏa Lý (瑣里), sùng đạo Phật, hằng năm lấy mật người sống cho vào rượu, cùng người nhà uống, lại dùng để tắm thân, gọi là 'thông thân thị đảm' (cả người đều là gan). Người trong nước tìm mật hiến vua, lại dùng để rửa mắt voi. Họ thường rình người trên đường, nhân lúc không ngờ thì kíp giết đi, lấy mật mang đi. Nếu người đó kinh động nhận ra thì mật đã nứt vỡ trước, không dùng được nữa. Đặt các loại mật vào dụng cụ, mật của người Hoa thường nằm bên trên, nên họ càng quý trọng. Khoảng tháng 5, tháng 6, thương nhân ra ngoài tất phải đề phòng. Vua tại vị 30 năm thì nhường ngôi vào núi sâu, để anh em con cháu thay thế. Giữ chay thụ giới, khấn trời rằng: 'Ta làm vua vô đạo, nguyện để hổ lang ăn thịt ta, hoặc bị bệnh chết'. Ở 1 năm không việc gì thì lại phục vị như cũ. Trong nước gọi là 'Phương Mã Cáp Lạt' (芳馬哈剌), ấy là danh xưng chí tôn chí thánh vậy. Nước không giàu lắm, chỉ có tê giác và voi là nhiều nhất. Gỗ mun, giáng hương, họ đốn làm củi. Trầm hương già nam chỉ sản sinh tại một ngọn núi ở đất ấy, tù trưởng sai người canh giữ, dân không được hái, kẻ phạm tội bị chặt tay. Có ngục đầm cá sấu, kẻ có nghi án không quyết được thì lệnh cho hai bên cưỡi trâu đi qua bên cạnh, kẻ gian thì cá nhảy lên ăn thịt, kẻ ngay dù đi lại mấy lần cá cũng không ăn. Có loài 'Thi đầu man', còn gọi là 'Thi trí ngư' (屍致魚), vốn là phụ nữ, chỉ có điểm dị biệt là không có con ngươi. Đêm tối nằm ngủ cùng người, bỗng bay đầu đi ăn đồ uế tạp của người, rồi quay lại sống lại như cũ. Nếu người biết mà dán kín cổ họ, hoặc dời xác đi nơi khác, người đàn bà ấy sẽ chết. Nước lập lệnh cấm rất nghiêm, kẻ nào biết mà không tố cáo thì tội vạ lây đến cả nhà."
Dựa theo Doanh nhai thắng lãm: "Nước Chiêm Thành (占城) ở phía Nam biển lớn, phía Nam giáp Chân Lạp (真臘), phía Tây giáp Giao Chỉ (交趾), phía Đông Bắc sát biển. Từ cửa Ngũ Hổ (五虎門) huyện Trường Lạc (長樂) tỉnh Mân (Phúc Kiến) xuất phát đi thuyền về hướng Tây Nam, thuận gió khoảng 10 ngày có thể đến nước ấy. Phía Đông Bắc nước này khoảng 100 dặm có cửa biển gọi là cảng Tân Châu (新洲港), ven cảng dựng tháp đá làm mốc, tàu bè đến đó thì buộc dây vào. Có trại tên là Một Bỉ Nại (沒比奈), chủ trại dùng 2 tù trưởng lĩnh 50 đến 60 quân chuyên việc trấn thủ. Đi về phía Tây Nam 100 dặm thì đến vương thành, tên là Chiêm Thành (占城). Thành vuông có 4 cửa, cửa có người canh, vua là người Tỏa Lý (瑣里), sùng đạo Phật. Đội mũ tam sơn bằng hoa vàng tinh xảo. Trên mặc áo vải phiên hoa, hình trạng như tơ lụa, dưới quấn khăn lụa màu nhiều vòng, đi chân đất cưỡi voi. Hoặc ngồi xe nhỏ, kéo bằng 2 con bò vàng. Bầy tôi đội mũ lá giao, cũng giống mũ vua, trang trí vàng và màu sắc. Mũ ấy có phẩm trật, áo trên không quá đầu gối, dưới cũng quấn khăn màu. Cung vua hùng tráng, tường vách sạch sẽ. Cửa dựng thú gỗ chạm khắc để làm uy nghi. Nhà dân lợp cỏ tranh, cao không quá 3 thước, phải khom mình ra vào, kẻ làm sai quy chế sẽ có tội. Quần áo màu tím, chỉ vua mặc đồ trắng. Cấm mặc màu đen và vàng, kẻ vi phạm bị tội chết. Nam giới tóc bù, nữ giới búi tóc sau đầu, da dẻ đều đen, áo ngắn không có tay. Dưới áo cũng quấn vải màu, thảy đều là lối phục sức của phụ nữ. Trai gái đều đi chân đất. 4 mùa ấm nóng, tuyệt không sương tuyết, cỏ cây hằng xanh. Ăn trầu không dứt miệng, như tục vùng Mân Việt. Bàn chuyện cưới hỏi, trai đến nhà gái thành đôi trước, hoặc 10 ngày, hoặc 15 ngày, sau đó cha mẹ họ hàng dẫn đoàn trống nhạc đón về. Bày tiệc rượu, rượu thì ủ trong hũ cơm, đợi chín dùng ống hút, khách và chủ vây quanh hũ lần lượt hút, khi hút phải đổ thêm nước, đến khi nhạt vị mới thôi. Chữ viết không có giấy, dùng da cừu nện và vỏ cây đen để viết. Hình phạt nhẹ thì trói bằng mây, nặng thì cắt mũi. Kẻ trộm tất bị chặt cánh tay; gian dâm không hỏi nam hay nữ đều đốt cháy má. Cực hình thì vót gỗ nhọn trên thuyền, bắt tội nhân ngồi lên rồi thả trôi theo dòng, đến khi gỗ xuyên qua miệng mà chết. Ấy là để răn đe dân chúng vậy. Năm không có tháng nhuận, ngày đêm chia làm 50 khắc, đánh trống để ghi. Vua vào ngày lễ hạ, dùng mật người tắm rửa; tướng lĩnh hiến mật người làm lễ. Vua lên ngôi được 30 năm thì vào núi ăn chay thụ giới, mệnh cho con cháu nhiếp chính. Ở 1 năm, kêu với trời tự thề rằng: 'Ta vô đạo, đáng làm mồi cho hổ lang, nếu không thì bệnh chết'. Hết năm không việc gì thì phục vị. Do đó, người trong nước gọi vua là 'Phương Mã Cáp Lạt Trát' (芳馬哈剌札), ấy là danh xưng cực kỳ tôn quý. Có loài gọi là 'Thi trí ngư' (屍致魚), vốn là phụ nữ. Mắt họ không có con ngươi, đêm ngủ thì đầu bay vào nhà dân ăn thịt trẻ nhỏ, uế khí xâm nhập vào bụng trẻ tất chết. Đầu bay về hợp với thân như cũ, nếu dời thân đi thì không hợp lại được mà chết. Người chồng giấu diếm không báo thì tội lây đến gia thuộc. Trong cảnh nội có đầm cá sấu, kẻ kiện tụng khó làm sáng tỏ thì dẫn đến đầm, người ngay dù đi lại 10 mấy lần cũng không bị hại. Trâu rừng ven biển rất dữ, hễ gặp người mặc áo xanh là húc đến chết, vốn là trâu cày chạy vào núi, tích lâu ngày thành đàn vậy. Người nước ấy trọng cái đầu, ai phạm đến tất không giết không thôi. Chợ búa giao dịch dùng vàng, thi thoảng dùng bạc. Cực kỳ quý ái đồ sứ xanh Trung Hoa cùng các loại gấm lụa, thấy thì dùng vàng đổi lấy. Sản vật có trầm hương già nam, trúc Quan Âm, giáng chân hương, gỗ mun, đều hơn các nước khác. Trầm hương già nam chỉ nơi này có, giá cũng cao. Trúc Quan Âm như mây, dài khoảng 1 trượng 8 thước, màu như sắt đen, mỗi tấc khoảng 2 đến 3 đốt. Sừng tê, ngà voi rất nhiều. Tê giác như trâu nước, con lớn nặng 800 cân. Thân không lông, màu đen, da dày như giáp vảy, móng có 3 ngăn, một sừng ở đầu mũi, con dài có thể tới 1 thước 5 tấc, chỉ ăn lá cây gai và cành khô. Ngựa nhỏ hơn lừa; trâu nước, bò vàng, lợn dê cũng có; ngỗng vịt thì hiếm; gà con lớn không quá 3 cân. Quả có mai, quýt, dưa hấu, mía, dừa, chuối. Quả mít (ba la mật) hình như bí đao; vải (lệ chi) lớn như trứng gà, vỏ vàng vị hơn mật, hạt cũng có thể rang ăn. Rau có bí đao, dưa chuột, bầu, cải, hành, gừng. Dân chuyên nghề chài lưới, không chuyên cày cấy. Hạt gạo nhỏ, hạt dài và lẫn sắc đỏ. Vật phẩm tiến cống gồm sừng tê, ngà voi, trầm hương già nam."
==CHIÊM THÀNH BỘ HỐI KHẢO II==
===Minh Nhất thống chí (明一統志)===
'''Khảo cứu về sơn xuyên của nước Chiêm Thành (占城國山川考)'''
'''Kim Sơn (金山):''' Ở nước cũ Lâm Ấp (林邑), đá núi đều màu đỏ, trong đó sản sinh ra vàng. Ban đêm vàng bay ra, hình trạng như đom đóm.
'''Bất Lao Sơn (不勞山):''' Ở ngoài bến Lâm Ấp (林邑). Người trong nước phạm tội thì bị đưa vào núi này để tự chết.
'''Nha Hầu Sơn (鴉候山):''' Ở phía Tây Bắc Đại Châu (大州) thuộc nước Chiêm Thành. Quốc chủ nước ấy từng bị quân Nguyên đánh bại và chạy trốn đến núi này.
'''Khảo cứu về thổ sản của nước Chiêm Thành (占城國土產考)'''
Vàng, bạc, thiếc, sắt.
'''Sư tử và Voi:''' Dân bắt được sư tử hoặc voi thảy đều phải nộp cho Vua.
'''Tê giác:''' Năm Hiển Đức (顯德) thời Hậu Chu [năm 954 - 959], từng cống sừng tê thông hình vân rồng.
'''Đồi mồi, Trầm hương già nam (伽南木香).'''
'''Hạt lửa lớn triều hà (朝霞大火珠):''' Lớn như trứng gà, hình trạng loại như thủy tinh. Lúc giữa trưa đặt dưới mặt trời, lấy ngải cứu lót phía dưới thì lửa liền phát ra.
'''Bồ tát thạch (菩薩石).'''
'''Nước hoa hồng (薔薇水):''' Rảy lên áo, trải qua 1 năm hương vẫn không dứt.
'''Dầu mãnh hỏa (猛火油):''' Gặp nước càng cháy mạnh, người trong nước dùng để thủy chiến.
Nhũ hương, Trầm hương, Đàn hương, Đinh hương.
Trầu cau, Hồi hương, Gỗ mun (烏樠木), Tô mộc.
Hồ tiêu, Tất trừng già, Mây trắng.
'''Cát bối (吉貝):''' Cát bối là tên cây. Khi vỏ cây thành thục thì như lông ngỗng. Rút tơ ấy, dệt thành vải; cũng nhuộm thành 5 màu, dệt thành vải đốm.
Vải tơ giao (絲絞布), Vải bạch điệp (白㲲布), Lá bối đa (貝多葉), Long não hương.
Mía, Chuối, Dừa, Công.
Sơn kê (gà núi).
[[File:Imperial Encyclopaedia - Borders - pic115 - 占城國.svg|center]]
Dựa theo '''"Tam tài đồ hội" (三才圖會)''': Nước Chiêm Thành (占城國), thời Hán là Lâm Ấp (林邑). Các quận thuộc quốc có Tân Đồng Long (賓童龍), Tân Đà Lăng (賓陀陵), Hóa Châu (化州), An Nam (安南), Tam Xá Thành (三舍城). Lương thực tiền bạc dùng hằng năm trong nước, cùng nô bộc sai dịch riêng, thảy đều do An Nam cống nộp, nên gọi An Nam là "Nô quốc" (奴國). Phía Bắc giáp An Nam, phía Nam giáp Chân Lạp (真臘). Từ Quảng Xuyên (廣川) phát thuyền, thuận gió 8 ngày có thể đến. Người trong nước đa số họ Ông (翁), đất sản sinh danh hương, tê giác, voi. Đất đều là cát trắng, là vùng đất có thể canh tác. Nếu dân bị hổ hay cá sấu ăn thịt, bèn dâng sớ lên Vua, Vua mệnh cho Quốc sư trì chú viết bùa quăng vào nơi dân chết, hổ và cá sấu sẽ tự đến. Nếu có vụ kiện lừa dối công quyền mà quan không thể quyết được, liền lệnh cho đi qua đầm cá sấu. Kẻ trái đạo lý thì bị cá ăn thịt, kẻ ngay thẳng thì cá tránh đi mà không dám ăn vậy.
==Chiêm Thành bộ kỷ sự==
'''"Trác Anh Đình bút ký" (濯纓亭筆記):''' Cuối thời Tống, Thẩm Kính Chi (沈敬之) trốn sang Chiêm Thành (占城), cầu binh để hưng phục. Chiêm Thành lấy cớ nước nhỏ mà từ chối, Kính Chi học theo cái khóc ở sân đình nước Tần mà không được về, Chiêm Thành lấy lễ khách mà đãi chứ không coi là thần tử. Kính Chi cuối cùng vì ưu phiền mà phát bệnh chết. Vua nước ấy làm thơ viếng rằng:
"Thống khốc Giang Nam lão cự khanh,
Xuân phong uấn lệ vị thương tình.
Vô đoan thiên hạ biên niên nguyệt,
Trí sử nhân gian hữu tử sinh.
Vạn điệp bạch vân già cố quốc,
Nhất phôi hoàng thổ cái hương danh.
Anh hồn hảo trục đông phong khứ,
Mạc hướng biên ngu oán bất bình."
(Dịch ý: Đau đớn khóc thương bậc lão đại thần đất Giang Nam, gió xuân thấm lệ vì nỗi thương tình. Cớ sao thiên hạ lại chia ra năm tháng, khiến cho nhân gian có lẽ tử sinh. Muôn lớp mây trắng che khuất nước cũ, một nấm đất vàng vùi lấp danh thơm. Anh hồn hãy theo gió đông mà đi, chớ hướng về nơi biên góc mà oán hận nỗi bất bình.)
Phàm như Chiêm Thành là giống đảo di mà còn biết trọng nghĩa như thế.
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS08/chapter/1lpka9qlu2jar?page_from=profile&version=1 欽定古今圖書集成方輿彙編邊裔典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
14sw0uimdas2me3sfzpf9tx7yv5ba2p