Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.46.0-wmf.24
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Tam quốc diễn nghĩa (Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỷ hiệu đính)/Hồi 18
0
4196
204751
142600
2026-04-16T23:21:09Z
~2026-23545-56
20081
204751
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = [[../|Tam quốc diễn nghĩa]]
| tác giả = La Quán Trung
| dịch giả = Phan Kế Bính
| người hiệu đính = Bùi Kỷ
| phần = Hồi 18
| trước = [[../Hồi 17|Hồi 17]]
| sau = [[../Hồi 19|Hồi 19]]
| ghi chú =
}}
{{g|HỒI THỨ MƯỜI TÁM
'''<poem>
Giả Văn-hòa bày núi đánh được giặc;
Hạ Hầu-đôn rút tên nuốt con ngươi.
</poem>'''
}}
Giả Hủ biết ý Tào Tháo, muốn nhân kế Tháo làm kế mình, bèn bảo Trương Tú rằng:
- Tôi ở trên thành, thấy Tào Tháo đi chung quanh thành xem xét ba hôm nay, hắn thấy góc đông-nam màu gạch, đất mới cũ không được đều, hàng rào chông trà đã nát quá nửa, ý nó muốn đánh vào mặt ấy, nhưng mà giả tảng chứa cỏ rác ở góc tây bắc để đánh lừa ta rút quân về giữ tây-bắc, rồi nó nhân đêm tối, trèo lên góc đông-nam tiến quân vào thành.
Trương Tú vội hỏi:
- Thế thì làm thế nào?
Hủ thưa:
- Khó chi việc ấy. Ngày mai nên sai quân tinh tráng ăn cơm no, mặc quần áo chẽn, phục cả trong buồng các trại ở mé đông nam, còn dân trong thành thì ăn mặc giả làm lính giữ mặt tây bắc. Ðến đêm mặc kệ cho chúng nó trèo vào góc đông-nam, đợi khi chúng nó vào trong thành rồi, thì phát một hiệu súng, bao nhiêu quân phục đổ ra, Tháo có chạy đi đằng trời.
Tú nghe, dùng kế ấy. Quả thị có quân thám báo với Tào Tháo rằng: Trương Tú rút cả quân về mặt tây bắc, hò reo giữ thành, còn mặt đông nam bỏ trống.
Tháo mừng mà reo lên rằng:
- Nó mắc kế ta rồi!
Liền sai quân sĩ sắp sẵn thuổng cuốc để đào thành vào; ban ngày chỉ đem quân đánh mặt tây bắc, đến tối vào độ canh hai mới đem cả tinh binh ra góc đông nam, lội qua hào, dọn sạch rào chông mà kéo vào.
Trong thành vẫn im phăng phắc.
Quân Tháo kéo ùa cả vào, bỗng nghe một tiếng súng nổ, quân phục bốn mặt đổ ra. Quân Tào vội vàng rút lui. Trương Tú thúc quân dũng tráng đánh vào. Quân Tháo thua to.
Tháo ra thành chạy hơn hai mươi dặm.
Tú đánh mãi đến tang tảng sáng mới rút quân về.
Tháo điểm quân mất hơn năm vạn người; xe lương cùng các đồ khí giới mang đi theo mất nhiều lắm; Lã Kiền, Vu Cấm đều bị thương.
Giả Hủ thấy Tháo thua chạy, bảo ngay Trương Tú đưa thư cho Lưu Biểu, sai đem quân ra chẹn đường sau.
Biểu được thư muốn kéo binh ngay, chợt có thám mã đến báo rằng:
- Tôn Sách đóng binh ở cửa sông.
Khoái Lương nói:
- Sách đóng binh ở cửa sông là mẹo của Tào Tháo. Nay Tào Tháo mới thua, nếu mình không thừa thế đánh ngay, về sau tất rồi sinh lo.
Biểu mới sai Hoàng Tổ giữ vững cửa ải, mình tự đem quân đến huyện An-chúng, chẹn đường Tào Tháo, một mặt giao ước hội với Trương Tú.
Tú thấy Biểu đã khởi binh, cùng Giả Hủ đem quân đuổi Tào Tháo.
Tào Tháo dẫn quân đi dần dần đến Tương-thành gần sông Dục-thuỷ. Tháo tự dưng ngồi trên ngựa, khóc hu hu lên.
Các tướng ngạc nhiên hỏi vì cớ gì, Tháo nói rằng:
- Ta khóc là vì nhớ năm ngoái đại tướng của ta là Ðiển Vi chết ở chỗ này. Nghĩ đến, ta lại thương mà khóc.
Tháo lau nước mắt rồi truyền lệnh hãy đóng quân mã lại đó, mở một tuần lễ lớn, tế vong hồn Ðiển Vi.
Tháo tự mình thắp hương khóc rồi lễ. Ba quân ai thấy cũng động lòng. Tế Ðiển Vi xong rồi, Tháo tế cháu là Tào An-dân và con cả là Tào Cung, rồi lại tế cả những quân lính chết ở đấy năm trước, tế cả đến con ngựa Ðại-uyển cùng chết một trận.
Hôm sau Tuân Úc sai người đến báo rằng:
- Lưu Biểu giúp Trương Tú đóng quân ở An-chúng định chẹn đường ta.
Tháo trả lời Úc rằng:
- Mỗi ngày ta đi có vài dặm. Không phải là ta không biết có quân giặc đuổi theo sau đâu. Ta đã định đâu vào đấy cả rồi. Nếu đến An-chúng, ta chắc phá được quân Tú. Các ngươi chớ lo.
Nói rồi, giục quân đi cho mau đến đầu huyện An-chúng. Quân Lưu Biểu đã giữ cả những chốn hiểm yếu, đằng sau thì Trương Tú kéo quân đuổi theo.
Tháo sai quân đêm hôm ấy đào những nơi hiểm mở đường mai phục kỳ binh. Ðến sớm hôm sau, Lưu Biểu, Trương Tú, hai bên hội quân với nhau, thấy quân Tháo có ít, tưởng Tháo đã đi trốn rồi, kéo binh vào đường hẻm để đánh. Bấy giờ Tháo mới thả quân phục ra, đánh vỡ tan cả quân hai nhà, rồi ra khỏi cửa huyện An-chúng, hạ trại ở mé ngoài cửa ải đóng quân.
Lưu Biểu, Trương Tú thua nhặt nhạnh tàn quân rồi cùng bàn với nhau. Biểu nói:
- Không ngờ lại mắc phải kế Tào Tháo!
Tú nói:
- Ðể thong thả ta sẽ liệu.
Hai bên cùng đóng quân ở An-chúng.
Tuân Úc do thám được rằng Viên Thiệu muốn đem binh phạm vào Hứa-đô, lập tức sai người đem thư cho Tào Tháo.
Tháo thất kinh, ngay hôm ấy rút quân về.
Quân Trương Tú có đứa do thám thấy thế, về báo với Tú. Tú muốn đuổi theo. Giả Hủ can rằng:
- Không nên đuổi, đuổi tất thua!
Lưu Biểu không nghe, nói rằng:
- Nay không thừa thế đuổi dấn đi, bỏ phí mất cơ hội hay.
Biểu cố khuyên Tú, cùng dẫn một vạn quân đuổi theo.
Ði được mười dặm, đuổi kịp hậu quân Tào Tháo. Quân Tào cố sức đánh lại. Bỉểu, Tú cùng thua to chạy về. Tú than với Hủ rằng:
- Tại tôi không nghe lời ông, quả nhiên thua thật.
Giả Hủ cười bảo rằng:
- Bây giờ hai ông nên thu quân lại mà đuổi.
Biểu và Tú nói:
- Vừa thua xong, lại còn đuổi làm gì nữa?
Hủ nói:
- Hai ông cứ đuổi đi. Phen này chắc hẳn là được. Hễ thua cứ chặt đầu tôi đi.
Tú tin lời Hủ, Biểu còn nghi hoặc, không chịu đi. Tú dẫn quân một mình đi đuổi.
Quân Tháo quả nhiên thua to. Xe ngựa lương thảo bỏ đầy cả ra đường mà chạy. Tú đương đuổi, sau núi bỗng có một cánh quân kéo ra, không dám đuổi nữa, thu quân về An-chúng.
Lưu Biểu thấy Tú được trận về, mới hỏi Giả Hủ:
- Trước đem binh đuổi theo, ông bảo rằng tất thua; sau đem quân thua lại đuổi đánh quân được, ông lại bảo: tất được. Trước sau đều như lời ông cả. Sau cùng hai việc ông nói hai cách đều nghiệm cả, xin ông giảng cho tôi nghe.
Hủ thưa:
- Việc ấy dễ hiểu lắm! Tướng quân dẫu biết dùng binh, nhưng không phải là tay địch nổi với Tào Tháo. Tào Tháo thua chạy tất nhiên phải để những tướng giỏi đi sau để phòng quân đuổi, quân ta dù giỏi cũng không địch nổi, bởi vậy tôi biết tất là thua. Tháo sở dĩ vội lui quân, chắc vì Hứa-đô có việc, khi đã đánh được quân ta, tất nhiên xe nhẹ đi nhanh không phòng bị gì nữa, ta nhân lúc Tháo không phòng bị mà đuổi, chắc là được.
Lưu Biểu, Trương Tú đều phục là cao kiến.
Hủ lại khuyên Biểu về Kinh-châu và Tú giữ lấy Tương-thành để giúp đỡ lẫn nhau. Hai bên đều thu quân về. Ðây nói lúc Tào Tháo đang đi nghe thấy báo:
- Hậu quân bị Trương Tú đuổi đánh.
Tháo liền đem các tướng lại cứu, đã thấy quân Trương Tú rút về rồi, bấy giờ đám hậu quân thua lại bẩm với Tháo rằng:
- Cũng may ở sau núi có toán quân ra chẹn đường, nếu không thì bị bắt hết cả.
Tháo vội hỏi:
- Người nào thế?
Một tướng vác giáo, xuống ngựa vào bái kiến Tào Tháo, thì là trấn-oai trung-lang-tướng, người ở Giang-hạ, họ Lý tên Thông, tên chữ là Văn-đạt.
Tháo hỏi:
- Anh ở đâu đến?
Thông nói:
- Gần đây tôi giữ Nhữ-nam. Nghe tin thừa-tướng đánh nhau với Trương Tú, Lưu Biểu, nên tôi lại để tiếp ứng.
Tháo mừng, phong cho Thông làm Kiến-công-hầu, sai giữ mé tây đất Nhữ-nam, để phòng Biểu, Tú.
Thông lạy tạ rồi đi.
Tháo về Hứa-đô, dâng biểu tâu Tôn Sách có công, xin phong làm Thảo-nghịch tướng-quân, tước Ngô-hầu; sai sứ cầm chiếu đến Giang-đông, sai phải phòng đánh Lưu Biểu.
Tháo về phủ. Các quan đều đến chào mừng xong cả rồi, Tuân Úc mới hỏi rằng:
- Thừa-tướng đi thong thả đến An-chúng. Sao biết rằng tất phá được quân giặc?
Tháo nói:
- Quân đi không có đường về, tất sống chết cũng phải cố đánh. Ta đi thong thả là để dử đằng kia nó đến, vả ta đã có quân phục chỉ chực để đánh. Thế thì làm gì mà không chắc được!
Tuân Úc bái phục. Bấy giờ Quách Gia mới vào. Tháo hỏi:
- Sao ông lại chậm thế?
Gia sờ vào trong tay áo lấy ra một phong thư, đưa cho Tào Tháo thưa rằng:
- Viên Thiệu sai người đưa thư cho thừa-tướng, nói rằng muốn đem binh đánh Công Tôn-toản, cho đến mượn binh lương.
Tháo nói:
- Ta nghe Thiệu muốn dòm Hứa-đô, nay thấy ta về, nên mới xoay ra cách khác.
Nói rồi mở thư ra xem. Thấy nói lời lẽ kiêu ngạo, Tháo hỏi Gia rằng:
- Viên Thiệu láo. Ta muốn sang đánh, ngặt vì sức ta không nổi, nên làm thế nào?
Quách Gia thưa:
- Họ Lưu không địch được họ Hạng, ông cũng đã biết, thế mà Hạng Vũ sau bị bắt là vì Cao Tổ được bằng mưu trí. Như Viên Thiệu có mười điều thua, còn ông có mười điều được.
Quân Thiệu dẫu nhiều, nhưng tính Thiệu hay vẽ vời nghi lễ; ông thì cứ thều thào xong thôi, thế là được về đạo;
Thiệu dễ dãi tự nhiên, trái lẽ; ông thuận lẽ phải, thế là được về nghĩa;
Từ đời Hoàn Linh đến giờ, phàm các việc chính trị trễ nải, Thiệu khoan quá, mà ông thì nghiêm để đưa vào quy củ, thế là được về chính trị;
Viên Thiệu ngoài khoan hòa, mà trong nghi kỵ, lại dùng toàn những người thân thích; ông thì ngoài giản dị, trong sáng suốt, dùng người toàn là nhân tài, thế là được về độ lượng;
Thiệu nhiều mưu mà ít quyết đoán; ông được mưu hay là làm ngay, thế là được về mưu lược;
Thiệu hiếu danh; ông thì lấy bụng thực đãi người, thế là được về đức;
Thiệu nghĩ chỗ gần, quên chỗ xa; ông thì nghĩ đâu cũng khắp, thế là được về nhân;
Thiệu hay nghe gièm pha, ngờ vực người; ông thì không tin những đứa sàm nịnh, thế là được về sự sáng suốt;
Thiệu phải trái hồ đồ; ông thì phép tắc phân minh, thế là được về văn;
Thiệu thích hư trương thanh thế, nhưng không biết cách dùng binh; ông thì lấy ít đánh được nhiều, dùng binh như thần, thế là được về võ.
Ông có mười điều được ấy, đánh thua Thiệu thì có khó gì.
Tháo cười nói rằng:
- Ông nói thế! Tôi sao có đủ được mười điều ấy.
Tuân Úc nói:
- Quách Phụng-hiếu kể mười điều được của ông và mười điều thua của Viên Thiệu, quả là hợp ý tôi lắm. Quân Thiệu dù nhiều cũng không đủ sợ.
Gia lại nói:
- Nay tôi xin lại hiến một kế: Lã Bố ở Từ-châu là một mối lo ở kẽ nách. Nay Thiệu lên mặt Bắc để đánh Công Tôn-toản. Ta nhân nó đi xa hãy đánh Lã Bố trước, quét sạch cõi đông nam đã, rồi sẽ đánh Viên Thiệu sau. Thế là hơn cả. Nếu ta đang đánh Viên Thiệu, Lã Bố thừa cơ phạm vào Hứa-đô, thì lại hại to.
Tào Tháo cho là phải, bèn bàn việc kéo quân sang đông đánh Lã Bố.
Tuân Úc nói:
- Hãy sai người sang hẹn với Lưu Bị, đợi xem về báo thế nào, bấy giờ ta sẽ khởi binh.
Tháo nghe lời, một mặt đưa thư cho Lưu Bị, một mặt hậu đãi sứ Viên Thiệu tâu cho Thiệu làm đại-tướng-quân thái-úy, và đô-đốc cả bốn châu: Ký, Thanh, U, Tịnh, lại đưa mật thư nói rằng: “Ông cứ sang đánh Công Tôn-toản, tôi sẽ giúp ông”.
Thiệu được thư mừng lắm, liền sai tiến binh đánh Công Tôn-toản.
Ở Từ-châu, mỗi lần yến hội tân khách, bố con Trần Khuê cực lực ca tụng Lã Bố. Trần Cung không bằng lòng, nhân lúc vắng nói với Lã Bố rằng:
- Cha con Trần Khuê ngoài mặt nịnh tướng quân, nhưng thâm hiểm khó lường được. Tướng quân phải giữ gìn cho khéo.
Bố giận mắng rằng:
- Mày vô cớ gièm pha, muốn hại người tốt hay sao?
Cung trở lui ra than rằng:
- Lời trung chẳng nghe. Lũ ta sẽ mắc nạn cả.
Cung muốn bỏ Lã Bố đi nơi khác, nhưng không nỡ, lại sợ người ta chê cười, cả ngày buồn rầu, không vui.
Một hôm Cung đem vài mươi quân kỵ đi săn ở Tiểu-bái để giải trí, chợt gặp trên đường cái quan một người cưỡi ngựa trạm phóng ngựa lên trước.
Cung có bụng nghi, bỏ ngay vây săn, đem quân chạy đường tắt đuổi kịp, hỏi rằng:
- Ngươi là sứ giả của ai?
Người cưỡi ngựa biết Cung là bộ hạ Lã Bố, sợ lúng túng không nói được. Cung sai khám trong mình, bắt được một phong mật thư của Lưu Bị trả lời Tào Tháo.
Cung lập tức lôi cả người lẫn thư lại trình Lã Bố. Bố hỏi người mang thư, người mang thư thưa: Tào thừa tướng sai tôi mang thư đưa đến Lưu Dự-châu, nay được thư trả lời, tôi không biết trong thư nói gì. Bố mở thư ra xem, thư nói rằng:
“''Tôi vâng lời minh công, muốn trừ Lã Bố, ngày đêm vẫn phải lưu tâm. Ngặt tôi binh mọn tướng ít chưa dám khinh động. Nếu thừa tướng cất quân sang đánh tôi xin làm tiền khu. Nay xin sắp binh sửa giáp để đợi mệnh ngài''”.
Lã Bố xem xong giận lắm, liền sai đem chém sứ giả, rồi sai Trần Cung, Tang Bá kết liên với giặc Thái-sơn là Tôn Quan, Ngô Ðôn, Doãn Lễ và Xương Hi, sang phía đông đánh các quận Sơn-đông, Duyện-châu; sai Cao Thuận, Trương Liêu đánh Bái-thành, bắt Lưu Bị; sai Tống Hiến, Ngụy Tục sang phía tây đánh Nhữ-nam, Dĩnh-xuyên; Bố thì tổng thống trung quân để cứu ứng ba mặt.
Cao Thuận dẫn quân từ Từ-châu sắp đến Tiểu-bái, có người vào báo với Lưu Bị. Lưu Bị họp ngay các quan lại bàn. Tôn Càn nói:
- Trước hết nên cáo cấp ngay với Tào Tháo đã.
Lưu Bị hỏi:
- Ai sang Hứa-đô bây giờ?
Ở dưới thềm có một người bước ra xin đi, hỏi ra thì là người cùng làng với Lưu Bị, tên là Dản Ung, biểu-tự là Hiến-hòa, hiện đương làm mạc-tân. Huyền-đức lập tức viết thư giao cho Ung, sai phải cấp tốc đi cho mau đến Hứa-đô cấp cứu. Một mặt chuẩn bị khí cụ giữ thành. Lưu Bị giữ cửa nam, Tôn Càn giữ cửa tây, Quan-công giữ cửa bắc, Trương Phi giữ cửa đông; lại sai My Chúc và em là My Phương giữ trung quân.
Nguyên My Chúc có em gái gả cho Lưu Bị làm vợ thứ, bởi thế Lưu Bị mới sai giữ ở trung quân để trông nom vợ con.
Khi quân Cao Thuận đến, Huyền-đức đứng trên địch-lâu hỏi rằng:
- Ta cùng Phụng-tiên không hiềm khích gì, cớ sao dẫn quân đến đây?
Thuận nói:
- Mày kết liên với Tào Tháo, quyết hại chủ tao, nay việc đã tiết lộ, sao không chịu trói ngay!
Thuận nói xong vẫy quân vào thành, Huyền-đức đóng cửa không ra.
Hôm sau Trương Liêu dẫn quân đánh cửa bắc.
Quan-công đứng ở trên thành bảo Trương Liêu rằng:
- Tôi trông ông nghi-biểu cũng không phải người thường, sao lại thất thân theo giặc?
Trương Liêu nghe nói, cúi đầu xuống, chẳng nói gì cả. Vân-trường biết rằng người ấy có khí trung nghĩa, không nỡ nói quá, và cũng không ra đánh.
Liêu dẫn quân lui đến cửa đông. Trương Phi ra đánh. Có người báo với Quan Vũ, Quan Vũ vội vàng ra cửa đông xem thì thấy Trương Phi vừa ra thành thì Trương Liêu đã lui quân. Phi muốn đuổi theo, Quan gọi lại bảo vào thành. Phi nói:
- Hắn sợ mà chạy làm sao không đuổi?
Quan-công nói:
- Võ nghệ người ấy chẳng kém gì hai anh em ta đâu. Vì anh đã lấy lời phải bảo y, nên y có bụng hối nên không đánh nhau với ta đó.
Phi từ ấy không ra đánh nữa chỉ sai quân sĩ cố giữ lấy thành.
Dản Ung đến Hứa-đô, vào ra mắt Tào Tháo, kể hết đầu đuôi. Tháo họp mưu sĩ lại để bàn, nói rằng:
- Nay ta muốn sang đánh Lã Bố, chẳng lo gì Viên Thiệu chẹn nách, nhưng chỉ sợ Lưu Biểu với Trương Tú nó chực ở đằng sau đánh tập hậu.
Tuân Du nói:
- Hai người ấy mới thua, chưa dám khinh động. Lã Bố kiêu dũng lắm, nếu để nó kết liên được với Viên Thuật, tung hoành bên vùng Hoài, Từ thì khó lòng trừ được.
Quách Gia nói:
- Nay nhân nó mới làm phản, bụng quân chưa ai phục, ta nên đánh ngay đi.
Tháo lập tức sai Hạ Hầu-đôn, Hạ Hầu-uyên, Lã Kiền lĩnh năm vạn quân đi trước. Tự mình thống đại quân lần lượt kéo đi sau.
Dản Ung cũng theo về.
Có thám mã báo với Cao Thuận. Thuận báo với Lã Bố. Hầu Thành, Hác Manh, Tào Tính dẫn hơn ba trăm quân kỵ tiếp ứng Cao Thuận, sai ra đón Tháo ngoài Bái-thành ba mươi dặm. Lã Bố tự dẫn đại quân đến tiếp ứng sau.
Lưu Bị ở trong thành Tiểu-bái thấy Cao Thuận lui quân, biết rằng binh Tào đã đến, chỉ để Tôn Càn giữ thành; My Chúc, My Phương giữ nhà, mình thì đem Quan, Trương ra ngoài thành, chia đường đóng trại, tiếp ứng Tào Tháo.
Hạ Hầu-đôn dẫn quân đi lên, vừa gặp ngay Cao Thuận kéo quân đến, lập tức vác giáo cưỡi ngựa ra thách đánh. Cao Thuận lại địch.
Hai bên đánh nhau bốn năm mươi hợp. Cao Thuận chống đỡ không nổi, thua chạy về trận. Ðôn tế ngựa đuổi theo. Thuận chạy vòng quanh trận. Ðôn không tha cũng chạy vòng quanh đuổi.
Tào Tính đứng trong trận trông thấy hai người đuổi nhau ngầm giương cung đặt tên, nhìn thực đích xác, bắn một phát tin ngay mắt bên tả Hạ Hầu-đôn.
Ðôn kêu to một tiếng, lấy tay rút mũi tên ra, cả con ngươi cũng bật ra. Ðôn nói rằng: ''Tinh cha huyết mẹ không nên bỏ'', rồi đút con ngươi vào mồm nuốt chửng, lại cầm giáo tế ngựa xông vào đánh Tào Tính.
Tính chưa kịp đề phòng bị Ðôn đến đâm một nhát vào giữa mặt, chết ngã quay xuống.
Quân sĩ hai bên, trông thấy ai cũng khiếp đảm.
Ðôn giết được Tính rồi quay ngựa về. Cao Thuận tự đằng sau đuổi lại vẫy quân kéo ùa cả lên.
Quân bên Tào thua. Hạ Hầu-uyên hộ vệ anh chạy thoát.
Lã Kiền, Lý Ðiển rút bại quân về Tế-bắc đóng trại.
Cao Thuận được trận ấy rồi quay trở về để đánh Lưu Bị. Giữa lúc ấy đại quân Lã Bố cũng đến.
Bố cùng Trương Liêu, Cao Thuận chia quân làm ba đường tiến đánh...
Thế mới biết rằng:
{{khối giữa|
''<poem>
Mãnh tướng nuốt ngươi tuy đánh giỏi,
Tiên phong trúng đạn có sao bền?
</poem>''
}}
Chưa biết Huyền-đức chuyến này ra làm sao, xem đến hồi sau sẽ rõ.
htqhv4ifdg75b4uduhq4l5zm1h1knyn
Wikisource:GUS2Wiki
4
46964
204758
204614
2026-04-17T11:58:17Z
Alexis Jazz
15437
Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]])
204758
wikitext
text/x-wiki
{{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}}
Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-04-16T23:31:22Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm.
{| class="sortable wikitable"
! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực
|-
|AutoOldStyleVi || 7 || 0
|-
|HotCat || 44 || 1
|-
|NopInserter || 9 || 1
|-
|Preload Page Images || 5 || 0
|-
|QualityButton || 12 || 0
|-
|Subpages || 7 || 0
|-
|TemplatePreloader || 37 || 1
|-
|UTCLiveClock || 21 || 0
|-
|addsection-plus || 20 || 0
|-
|edittop || 22 || 0
|-
|mark-proofread || 11 || 1
|-
|navpop || 35 || 1
|-
|purgetab || 26 || 0
|-
|removeAccessKeys || 4 || 0
|-
|wiked || 11 || 0
|}
* [[Đặc biệt:GadgetUsage]]
* [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]]
<!-- data in CSV format:
AutoOldStyleVi,7,0
HotCat,44,1
NopInserter,9,1
Preload Page Images,5,0
QualityButton,12,0
Subpages,7,0
TemplatePreloader,37,1
UTCLiveClock,21,0
addsection-plus,20,0
edittop,22,0
mark-proofread,11,1
navpop,35,1
purgetab,26,0
removeAccessKeys,4,0
wiked,11,0
-->
pahu6r7qwhjkatulvh65xivxrjttizc
Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên
114
71973
204752
2026-04-17T08:40:38Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編 | năm= 1726 | phần = Bác vật vị biên | trước= | sau= | ghi chú= Bác vật (博物): Ghi chép về Kỹ nghệ (thủ công, bói toán, y thuật), thần linh dị giáo, cùng các loài cầm thú, thảo mộc (mọi hình thái sinh mệnh tr…”
204752
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編
| năm= 1726
| phần = Bác vật vị biên
| trước=
| sau=
| ghi chú= Bác vật (博物): Ghi chép về Kỹ nghệ (thủ công, bói toán, y thuật), thần linh dị giáo, cùng các loài cầm thú, thảo mộc (mọi hình thái sinh mệnh trên mặt đất).
}}
* [[/Nghệ thuật điển|Nghệ thuật điển]]
* [[/Thần dị điển|Thần dị điển]]
* [[/Cầm trùng điển|Cầm trùng điển]]
* [[/Thảo mộc điển|Thảo mộc điển]]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
8j2cpwsva9zu45nzewsr0lekzo4f2om
Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển
114
71974
204753
2026-04-17T08:59:51Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典 | năm= 1726 | phần = Bác vật vị biên<br>'''Nghệ thuật điển''' | trước= | sau= | ghi chú= }} {{tìm kiếm}} {| class="wikitable" style="width: 75%; " ! style="width: 17%;"| Bộ ! style="width: 11%;"| Vị khảo ! style="width: 1…”
204753
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典
| năm= 1726
| phần = Bác vật vị biên<br>'''Nghệ thuật điển'''
| trước=
| sau=
| ghi chú=
}}
{{tìm kiếm}}
{| class="wikitable" style="width: 75%; "
! style="width: 17%;"| Bộ
! style="width: 11%;"| Vị khảo
! style="width: 11%;"| Tổng luận
! style="width: 11%;"| Nghệ văn
! style="width: 11%;"| Tuyển cú
! style="width: 11%;"| Kỷ sự
! style="width: 11%;"| Tạp lục
! style="width: 11%;"| Ngoại biên
|-
! [[/Nghệ Thuật Tổng bộ |Nghệ Thuật Tổng Bộ ]]
| [[/quyển 001|1]] || [[/quyển 001|1]] || || [[/quyển 002|2]] || || [[/quyển 002|2]] || [[/quyển 002|2]] ||
|-
! [[/Nông bộ |Nông Bộ ]]
| [[/quyển 003|3]] [[/quyển 004|4]] [[/quyển 005|5]] [[/quyển 006|6]] [[/quyển 007|7]] [[/quyển 008|8]] [[/quyển 009|9]] || [[/quyển 010|10]] || || [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]]
|-
! [[/Phố bộ |Phố Bộ ]]
| [[/quyển 013|13]] || || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]]
|-
! [[/Ngư bộ |Ngư Bộ ]]
| [[/quyển 014|14]] || || || [[/quyển 014|14]] [[/quyển 015|15]] || [[/quyển 015|15]] || [[/quyển 016|16]] || [[/quyển 016|16]] || [[/quyển 016|16]]
|-
! [[/Tiều bộ |Tiều Bộ ]]
| [[/quyển 017|17]] || || || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]]
|-
! [[/Mục bộ |Mục Bộ ]]
| [[/quyển 018|18]] || || || [[/quyển 018|18]] || || [[/quyển 018|18]] || [[/quyển 018|18]] || [[/quyển 018|18]]
|-
! [[/Ngự bộ |Ngự Bộ ]]
| [[/quyển 019|19]] || || || || || [[/quyển 019|19]] || [[/quyển 019|19]] ||
|-
! [[/Dặc bộ |Dặc Bộ ]]
| [[/quyển 020|20]] || || || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]]
|-
! [[/Lạp bộ |Lạp Bộ ]]
| [[/quyển 020|20]] || || || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] ||
|-
! [[/Y Bộ|Y Bộ]]
| [[/quyển 021|21]] [[/quyển 022|22]] [[/quyển 023|23]] [[/quyển 024|24]] [[/quyển 025|25]] [[/quyển 026|26]] [[/quyển 027|27]] [[/quyển 028|28]] [[/quyển 029|29]] [[/quyển 030|30]] [[/quyển 031|31]] [[/quyển 032|32]] [[/quyển 033|33]] [[/quyển 034|34]] [[/quyển 035|35]] [[/quyển 036|36]] [[/quyển 037|37]] [[/quyển 038|38]] [[/quyển 039|39]] [[/quyển 040|40]] [[/quyển 041|41]] [[/quyển 042|42]] [[/quyển 043|43]] [[/quyển 044|44]] [[/quyển 045|45]] [[/quyển 046|46]] [[/quyển 047|47]] [[/quyển 048|48]] [[/quyển 049|49]] [[/quyển 050|50]] [[/quyển 051|51]] [[/quyển 052|52]] [[/quyển 053|53]] [[/quyển 054|54]] [[/quyển 055|55]] [[/quyển 056|56]] [[/quyển 057|57]] [[/quyển 058|58]] [[/quyển 059|59]] [[/quyển 060|60]] [[/quyển 061|61]] [[/quyển 062|62]] [[/quyển 063|63]] [[/quyển 064|64]] [[/quyển 065|65]] [[/quyển 066|66]] [[/quyển 067|67]] [[/quyển 068|68]] [[/quyển 069|69]] [[/quyển 070|70]] [[/quyển 071|71]] [[/quyển 072|72]] [[/quyển 073|73]] [[/quyển 074|74]] [[/quyển 075|75]] [[/quyển 076|76]] [[/quyển 077|77]] [[/quyển 078|78]] [[/quyển 079|79]] [[/quyển 080|80]] [[/quyển 081|81]] [[/quyển 082|82]] [[/quyển 083|83]] [[/quyển 084|84]] [[/quyển 085|85]] [[/quyển 086|86]] [[/quyển 087|87]] [[/quyển 088|88]] [[/quyển 089|89]] [[/quyển 090|90]] [[/quyển 091|91]] [[/quyển 092|92]] [[/quyển 093|93]] [[/quyển 094|94]] [[/quyển 095|95]] [[/quyển 096|96]] [[/quyển 097|97]] [[/quyển 098|98]] [[/quyển 099|99]] [[/quyển 100|100]] [[/quyển 101|101]] [[/quyển 102|102]] [[/quyển 103|103]] [[/quyển 104|104]] [[/quyển 105|105]] [[/quyển 106|106]] [[/quyển 107|107]] [[/quyển 108|108]] [[/quyển 109|109]] [[/quyển 110|110]] [[/quyển 111|111]] [[/quyển 112|112]] [[/quyển 113|113]] [[/quyển 114|114]] [[/quyển 115|115]] [[/quyển 116|116]] [[/quyển 117|117]] [[/quyển 118|118]] [[/quyển 119|119]] [[/quyển 120|120]] [[/quyển 121|121]] [[/quyển 122|122]] [[/quyển 123|123]] [[/quyển 124|124]] [[/quyển 125|125]] [[/quyển 126|126]] [[/quyển 127|127]] [[/quyển 128|128]] [[/quyển 129|129]] [[/quyển 130|130]] [[/quyển 131|131]] [[/quyển 132|132]] [[/quyển 133|133]] [[/quyển 134|134]] [[/quyển 135|135]] [[/quyển 136|136]] [[/quyển 137|137]] [[/quyển 138|138]] [[/quyển 139|139]] [[/quyển 140|140]] [[/quyển 141|141]] [[/quyển 142|142]] [[/quyển 143|143]] [[/quyển 144|144]] [[/quyển 145|145]] [[/quyển 146|146]] [[/quyển 147|147]] [[/quyển 148|148]] [[/quyển 149|149]] [[/quyển 150|150]] [[/quyển 151|151]] [[/quyển 152|152]] [[/quyển 153|153]] [[/quyển 154|154]] [[/quyển 155|155]] [[/quyển 156|156]] [[/quyển 157|157]] [[/quyển 158|158]] [[/quyển 159|159]] [[/quyển 160|160]] [[/quyển 161|161]] [[/quyển 162|162]] [[/quyển 163|163]] [[/quyển 164|164]] [[/quyển 165|165]] [[/quyển 166|166]] [[/quyển 167|167]] [[/quyển 168|168]] [[/quyển 169|169]] [[/quyển 170|170]] [[/quyển 171|171]] [[/quyển 172|172]] [[/quyển 173|173]] [[/quyển 174|174]] [[/quyển 175|175]] [[/quyển 176|176]] [[/quyển 177|177]] [[/quyển 178|178]] [[/quyển 179|179]] [[/quyển 180|180]] [[/quyển 181|181]] [[/quyển 182|182]] [[/quyển 183|183]] [[/quyển 184|184]] [[/quyển 185|185]] [[/quyển 186|186]] [[/quyển 187|187]] [[/quyển 188|188]] [[/quyển 189|189]] [[/quyển 190|190]] [[/quyển 191|191]] [[/quyển 192|192]] [[/quyển 193|193]] [[/quyển 194|194]] [[/quyển 195|195]] [[/quyển 196|196]] [[/quyển 197|197]] [[/quyển 198|198]] [[/quyển 199|199]] [[/quyển 200|200]] [[/quyển 201|201]] [[/quyển 202|202]] [[/quyển 203|203]] [[/quyển 204|204]] [[/quyển 205|205]] [[/quyển 206|206]] [[/quyển 207|207]] [[/quyển 208|208]] [[/quyển 209|209]] [[/quyển 210|210]] [[/quyển 211|211]] [[/quyển 212|212]] [[/quyển 213|213]] [[/quyển 214|214]] [[/quyển 215|215]] [[/quyển 216|216]] [[/quyển 217|217]] [[/quyển 218|218]] [[/quyển 219|219]] [[/quyển 220|220]] [[/quyển 221|221]] [[/quyển 222|222]] [[/quyển 223|223]] [[/quyển 224|224]] [[/quyển 225|225]] [[/quyển 226|226]] [[/quyển 227|227]] [[/quyển 228|228]] [[/quyển 229|229]] [[/quyển 230|230]] [[/quyển 231|231]] [[/quyển 232|232]] [[/quyển 233|233]] [[/quyển 234|234]] [[/quyển 235|235]] [[/quyển 236|236]] [[/quyển 237|237]] [[/quyển 238|238]] [[/quyển 239|239]] [[/quyển 240|240]] [[/quyển 241|241]] [[/quyển 242|242]] [[/quyển 243|243]] [[/quyển 244|244]] [[/quyển 245|245]] [[/quyển 246|246]] [[/quyển 247|247]] [[/quyển 248|248]] [[/quyển 249|249]] [[/quyển 250|250]] [[/quyển 251|251]] [[/quyển 252|252]] [[/quyển 253|253]] [[/quyển 254|254]] [[/quyển 255|255]] [[/quyển 256|256]] [[/quyển 257|257]] [[/quyển 258|258]] [[/quyển 259|259]] [[/quyển 260|260]] [[/quyển 261|261]] [[/quyển 262|262]] [[/quyển 263|263]] [[/quyển 264|264]] [[/quyển 265|265]] [[/quyển 266|266]] [[/quyển 267|267]] [[/quyển 268|268]] [[/quyển 269|269]] [[/quyển 270|270]] [[/quyển 271|271]] [[/quyển 272|272]] [[/quyển 273|273]] [[/quyển 274|274]] [[/quyển 275|275]] [[/quyển 276|276]] [[/quyển 277|277]] [[/quyển 278|278]] [[/quyển 279|279]] [[/quyển 280|280]] [[/quyển 281|281]] [[/quyển 282|282]] [[/quyển 283|283]] [[/quyển 284|284]] [[/quyển 285|285]] [[/quyển 286|286]] [[/quyển 287|287]] [[/quyển 288|288]] [[/quyển 289|289]] [[/quyển 290|290]] [[/quyển 291|291]] [[/quyển 292|292]] [[/quyển 293|293]] [[/quyển 294|294]] [[/quyển 295|295]] [[/quyển 296|296]] [[/quyển 297|297]] [[/quyển 298|298]] [[/quyển 299|299]] [[/quyển 300|300]] [[/quyển 301|301]] [[/quyển 302|302]] [[/quyển 303|303]] [[/quyển 304|304]] [[/quyển 305|305]] [[/quyển 306|306]] [[/quyển 307|307]] [[/quyển 308|308]] [[/quyển 309|309]] [[/quyển 310|310]] [[/quyển 311|311]] [[/quyển 312|312]] [[/quyển 313|313]] [[/quyển 314|314]] [[/quyển 315|315]] [[/quyển 316|316]] [[/quyển 317|317]] [[/quyển 318|318]] [[/quyển 319|319]] [[/quyển 320|320]] [[/quyển 321|321]] [[/quyển 322|322]] [[/quyển 323|323]] [[/quyển 324|324]] [[/quyển 325|325]] [[/quyển 326|326]] [[/quyển 327|327]] [[/quyển 328|328]] [[/quyển 329|329]] [[/quyển 330|330]] [[/quyển 331|331]] [[/quyển 332|332]] [[/quyển 333|333]] [[/quyển 334|334]] [[/quyển 335|335]] [[/quyển 336|336]] [[/quyển 337|337]] [[/quyển 338|338]] [[/quyển 339|339]] [[/quyển 340|340]] [[/quyển 341|341]] [[/quyển 342|342]] [[/quyển 343|343]] [[/quyển 344|344]] [[/quyển 345|345]] [[/quyển 346|346]] [[/quyển 347|347]] [[/quyển 348|348]] [[/quyển 349|349]] [[/quyển 350|350]] [[/quyển 351|351]] [[/quyển 352|352]] [[/quyển 353|353]] [[/quyển 354|354]] [[/quyển 355|355]] [[/quyển 356|356]] [[/quyển 357|357]] [[/quyển 358|358]] [[/quyển 359|359]] [[/quyển 360|360]] [[/quyển 361|361]] [[/quyển 362|362]] [[/quyển 363|363]] [[/quyển 364|364]] [[/quyển 365|365]] [[/quyển 366|366]] [[/quyển 367|367]] [[/quyển 368|368]] [[/quyển 369|369]] [[/quyển 370|370]] [[/quyển 371|371]] [[/quyển 372|372]] [[/quyển 373|373]] [[/quyển 374|374]] [[/quyển 375|375]] [[/quyển 376|376]] [[/quyển 377|377]] [[/quyển 378|378]] [[/quyển 379|379]] [[/quyển 380|380]] [[/quyển 381|381]] [[/quyển 382|382]] [[/quyển 383|383]] [[/quyển 384|384]] [[/quyển 385|385]] [[/quyển 386|386]] [[/quyển 387|387]] [[/quyển 388|388]] [[/quyển 389|389]] [[/quyển 390|390]] [[/quyển 391|391]] [[/quyển 392|392]] [[/quyển 393|393]] [[/quyển 394|394]] [[/quyển 395|395]] [[/quyển 396|396]] [[/quyển 397|397]] [[/quyển 398|398]] [[/quyển 399|399]] [[/quyển 400|400]] [[/quyển 401|401]] [[/quyển 402|402]] [[/quyển 403|403]] [[/quyển 404|404]] [[/quyển 405|405]] [[/quyển 406|406]] [[/quyển 407|407]] [[/quyển 408|408]] [[/quyển 409|409]] [[/quyển 410|410]] [[/quyển 411|411]] [[/quyển 412|412]] [[/quyển 413|413]] [[/quyển 414|414]] [[/quyển 415|415]] [[/quyển 416|416]] [[/quyển 417|417]] [[/quyển 418|418]] [[/quyển 419|419]] [[/quyển 420|420]] [[/quyển 421|421]] [[/quyển 422|422]] [[/quyển 423|423]] [[/quyển 424|424]] [[/quyển 425|425]] [[/quyển 426|426]] [[/quyển 427|427]] [[/quyển 428|428]] [[/quyển 429|429]] [[/quyển 430|430]] [[/quyển 431|431]] [[/quyển 432|432]] [[/quyển 433|433]] [[/quyển 434|434]] [[/quyển 435|435]] [[/quyển 436|436]] [[/quyển 437|437]] [[/quyển 438|438]] [[/quyển 439|439]] [[/quyển 440|440]] [[/quyển 441|441]] [[/quyển 442|442]] [[/quyển 443|443]] [[/quyển 444|444]] [[/quyển 445|445]] [[/quyển 446|446]] [[/quyển 447|447]] [[/quyển 448|448]] [[/quyển 449|449]] [[/quyển 450|450]] [[/quyển 451|451]] [[/quyển 452|452]] [[/quyển 453|453]] [[/quyển 454|454]] [[/quyển 455|455]] [[/quyển 456|456]] [[/quyển 457|457]] [[/quyển 458|458]] [[/quyển 459|459]] [[/quyển 460|460]] [[/quyển 461|461]] [[/quyển 462|462]] [[/quyển 463|463]] [[/quyển 464|464]] [[/quyển 465|465]] [[/quyển 466|466]] [[/quyển 467|467]] [[/quyển 468|468]] [[/quyển 469|469]] [[/quyển 470|470]] [[/quyển 471|471]] [[/quyển 472|472]] [[/quyển 473|473]] [[/quyển 474|474]] [[/quyển 475|475]] [[/quyển 476|476]] [[/quyển 477|477]] [[/quyển 478|478]] [[/quyển 479|479]] [[/quyển 480|480]] [[/quyển 481|481]] [[/quyển 482|482]] [[/quyển 483|483]] [[/quyển 484|484]] [[/quyển 485|485]] [[/quyển 486|486]] [[/quyển 487|487]] [[/quyển 488|488]] [[/quyển 489|489]] [[/quyển 490|490]] [[/quyển 491|491]] [[/quyển 492|492]] [[/quyển 493|493]] [[/quyển 494|494]] [[/quyển 495|495]] [[/quyển 496|496]] [[/quyển 497|497]] [[/quyển 498|498]] [[/quyển 499|499]] [[/quyển 500|500]] [[/quyển 501|501]] [[/quyển 502|502]] [[/quyển 503|503]] [[/quyển 504|504]] [[/quyển 505|505]] [[/quyển 506|506]] [[/quyển 507|507]] [[/quyển 508|508]] [[/quyển 509|509]] [[/quyển 510|510]] [[/quyển 511|511]] [[/quyển 512|512]] [[/quyển 513|513]] [[/quyển 514|514]] [[/quyển 515|515]] [[/quyển 516|516]] [[/quyển 517|517]] [[/quyển 518|518]] [[/quyển 519|519]] [[/quyển 520|520]] || [[/quyển 521|521]] [[/quyển 522|522]] [[/quyển 523|523]] || [[/quyển 524|524]] [[/quyển 525|525]] [[/quyển 526|526]] [[/quyển 527|527]] [[/quyển 528|528]] [[/quyển 529|529]] [[/quyển 530|530]] [[/quyển 531|531]] [[/quyển 532|532]] [[/quyển 533|533]] [[/quyển 534|534]] [[/quyển 535|535]] [[/quyển 536|536]] [[/quyển 537|537]] || [[/quyển 538|538]] [[/quyển 539|539]] || || [[/quyển 539|539]] || [[/quyển 540|540]] || [[/quyển 540|540]]
|-
! [[/Bốc Thệ bộ |Bốc Thệ Bộ ]]
| [[/quyển 541|541]] [[/quyển 542|542]] [[/quyển 543|543]] [[/quyển 544|544]] [[/quyển 545|545]] [[/quyển 546|546]] [[/quyển 547|547]] [[/quyển 548|548]] [[/quyển 549|549]] [[/quyển 550|550]] [[/quyển 551|551]] [[/quyển 552|552]] [[/quyển 553|553]] [[/quyển 554|554]] [[/quyển 555|555]] [[/quyển 556|556]] [[/quyển 557|557]] || [[/quyển 558|558]] || [[/quyển 559|559]] [[/quyển 560|560]] [[/quyển 561|561]] [[/quyển 562|562]] || [[/quyển 562|562]] || || [[/quyển 563|563]] [[/quyển 564|564]] || [[/quyển 564|564]] ||
|-
! [[/Tinh Mệnh bộ |Tinh Mệnh Bộ ]]
| [[/quyển 565|565]] [[/quyển 566|566]] [[/quyển 567|567]] [[/quyển 568|568]] [[/quyển 569|569]] [[/quyển 570|570]] [[/quyển 571|571]] [[/quyển 572|572]] [[/quyển 573|573]] [[/quyển 574|574]] [[/quyển 575|575]] [[/quyển 576|576]] [[/quyển 577|577]] [[/quyển 578|578]] [[/quyển 579|579]] [[/quyển 580|580]] [[/quyển 581|581]] [[/quyển 582|582]] [[/quyển 583|583]] [[/quyển 584|584]] [[/quyển 585|585]] [[/quyển 586|586]] [[/quyển 587|587]] [[/quyển 588|588]] [[/quyển 589|589]] [[/quyển 590|590]] [[/quyển 591|591]] [[/quyển 592|592]] [[/quyển 593|593]] [[/quyển 594|594]] [[/quyển 595|595]] [[/quyển 596|596]] [[/quyển 597|597]] [[/quyển 598|598]] [[/quyển 599|599]] [[/quyển 600|600]] [[/quyển 601|601]] [[/quyển 602|602]] [[/quyển 603|603]] [[/quyển 604|604]] [[/quyển 605|605]] [[/quyển 606|606]] [[/quyển 607|607]] [[/quyển 608|608]] [[/quyển 609|609]] [[/quyển 610|610]] [[/quyển 611|611]] [[/quyển 612|612]] [[/quyển 613|613]] [[/quyển 614|614]] [[/quyển 615|615]] [[/quyển 616|616]] [[/quyển 617|617]] [[/quyển 618|618]] [[/quyển 619|619]] [[/quyển 620|620]] [[/quyển 621|621]] [[/quyển 622|622]] [[/quyển 623|623]] [[/quyển 624|624]] [[/quyển 625|625]] [[/quyển 626|626]] [[/quyển 627|627]] [[/quyển 628|628]] || [[/quyển 629|629]] || [[/quyển 629|629]] || [[/quyển 629|629]] || || [[/quyển 630|630]] || [[/quyển 630|630]] ||
|-
! [[/Tương Thuật bộ |Tương Thuật Bộ ]]
| [[/quyển 631|631]] [[/quyển 632|632]] [[/quyển 633|633]] [[/quyển 634|634]] [[/quyển 635|635]] [[/quyển 636|636]] [[/quyển 637|637]] [[/quyển 638|638]] [[/quyển 639|639]] [[/quyển 640|640]] [[/quyển 641|641]] [[/quyển 642|642]] [[/quyển 643|643]] [[/quyển 644|644]] [[/quyển 645|645]] [[/quyển 646|646]] || [[/quyển 647|647]] || [[/quyển 647|647]] [[/quyển 648|648]] || [[/quyển 648|648]] || || [[/quyển 648|648]] [[/quyển 649|649]] [[/quyển 650|650]] || [[/quyển 650|650]] ||
|-
! [[/Kham Dư bộ |Kham Dư Bộ ]]
| [[/quyển 651|651]] [[/quyển 652|652]] [[/quyển 653|653]] [[/quyển 654|654]] [[/quyển 655|655]] [[/quyển 656|656]] [[/quyển 657|657]] [[/quyển 658|658]] [[/quyển 659|659]] [[/quyển 660|660]] [[/quyển 661|661]] [[/quyển 662|662]] [[/quyển 663|663]] [[/quyển 664|664]] [[/quyển 665|665]] [[/quyển 666|666]] [[/quyển 667|667]] [[/quyển 668|668]] [[/quyển 669|669]] [[/quyển 670|670]] [[/quyển 671|671]] [[/quyển 672|672]] [[/quyển 673|673]] [[/quyển 674|674]] [[/quyển 675|675]] [[/quyển 676|676]] [[/quyển 677|677]] [[/quyển 678|678]] || [[/quyển 679|679]] || [[/quyển 679|679]] || [[/quyển 680|680]] || || [[/quyển 680|680]] || [[/quyển 680|680]] ||
|-
! [[/Tuyển Trạch bộ |Tuyển Trạch Bộ ]]
| [[/quyển 681|681]] [[/quyển 682|682]] [[/quyển 683|683]] [[/quyển 684|684]] [[/quyển 685|685]] || [[/quyển 686|686]] || || [[/quyển 686|686]] || || [[/quyển 686|686]] || [[/quyển 686|686]] ||
|-
! [[/Thuật Sổ bộ |Thuật Sổ Bộ ]]
| [[/quyển 687|687]] [[/quyển 688|688]] [[/quyển 689|689]] [[/quyển 690|690]] [[/quyển 691|691]] [[/quyển 692|692]] [[/quyển 693|693]] [[/quyển 694|694]] [[/quyển 695|695]] [[/quyển 696|696]] [[/quyển 697|697]] [[/quyển 698|698]] [[/quyển 699|699]] [[/quyển 700|700]] [[/quyển 701|701]] [[/quyển 702|702]] [[/quyển 703|703]] [[/quyển 704|704]] [[/quyển 705|705]] [[/quyển 706|706]] [[/quyển 707|707]] [[/quyển 708|708]] [[/quyển 709|709]] [[/quyển 710|710]] [[/quyển 711|711]] [[/quyển 712|712]] [[/quyển 713|713]] [[/quyển 714|714]] [[/quyển 715|715]] [[/quyển 716|716]] [[/quyển 717|717]] [[/quyển 718|718]] [[/quyển 719|719]] [[/quyển 720|720]] [[/quyển 721|721]] [[/quyển 722|722]] [[/quyển 723|723]] [[/quyển 724|724]] [[/quyển 725|725]] [[/quyển 726|726]] [[/quyển 727|727]] [[/quyển 728|728]] [[/quyển 729|729]] [[/quyển 730|730]] [[/quyển 731|731]] [[/quyển 732|732]] [[/quyển 733|733]] [[/quyển 734|734]] [[/quyển 735|735]] [[/quyển 736|736]] [[/quyển 737|737]] [[/quyển 738|738]] [[/quyển 739|739]] [[/quyển 740|740]] [[/quyển 741|741]] [[/quyển 742|742]] [[/quyển 743|743]] [[/quyển 744|744]] || [[/quyển 745|745]] || [[/quyển 745|745]] [[/quyển 746|746]] || [[/quyển 746|746]] || || [[/quyển 746|746]] || [[/quyển 746|746]] ||
|-
! [[/Xạ Phúc bộ |Xạ Phúc Bộ ]]
| || || || || || [[/quyển 747|747]] || ||
|-
! [[/Quải Ảnh bộ |Quải Ảnh Bộ ]]
| || || || || || [[/quyển 747|747]] || [[/quyển 747|747]] ||
|-
! [[/Sách Tự bộ |Sách Tự Bộ ]]
| [[/quyển 747|747]] [[/quyển 748|748]] || || || || || [[/quyển 748|748]] || ||
|-
! [[/Hoạch bộ |Hoạch Bộ ]]
| [[/quyển 749|749]] [[/quyển 750|750]] [[/quyển 751|751]] [[/quyển 752|752]] [[/quyển 753|753]] [[/quyển 754|754]] [[/quyển 755|755]] [[/quyển 756|756]] [[/quyển 757|757]] [[/quyển 758|758]] [[/quyển 759|759]] [[/quyển 760|760]] [[/quyển 761|761]] [[/quyển 762|762]] [[/quyển 763|763]] [[/quyển 764|764]] [[/quyển 765|765]] || [[/quyển 766|766]] || [[/quyển 767|767]] [[/quyển 768|768]] [[/quyển 769|769]] [[/quyển 770|770]] [[/quyển 771|771]] [[/quyển 772|772]] [[/quyển 773|773]] [[/quyển 774|774]] [[/quyển 775|775]] [[/quyển 776|776]] [[/quyển 777|777]] [[/quyển 778|778]] [[/quyển 779|779]] [[/quyển 780|780]] [[/quyển 781|781]] [[/quyển 782|782]] [[/quyển 783|783]] [[/quyển 784|784]] [[/quyển 785|785]] [[/quyển 786|786]] [[/quyển 787|787]] [[/quyển 788|788]] || [[/quyển 789|789]] [[/quyển 790|790]] [[/quyển 791|791]] [[/quyển 792|792]] || || [[/quyển 793|793]] [[/quyển 794|794]] || [[/quyển 795|795]] [[/quyển 796|796]] || [[/quyển 796|796]]
|-
! [[/Đầu Hồ bộ |Đầu Hồ Bộ ]]
| [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]] || || [[/quyển 797|797]] || || [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]]
|-
! [[/Dịch Kỳ bộ |Dịch Kỳ Bộ ]]
| [[/quyển 798|798]] || [[/quyển 799|799]] || [[/quyển 799|799]] || [[/quyển 799|799]] [[/quyển 800|800]] || || [[/quyển 800|800]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]]
|-
! [[/Đàn Kỳ bộ |Đàn Kỳ Bộ ]]
| [[/quyển 801|801]] || || || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]]
|-
! [[/Xúc Cúc bộ |Xúc Cúc Bộ ]]
| [[/quyển 802|802]] || || || [[/quyển 802|802]] || || [[/quyển 802|802]] || [[/quyển 802|802]] || [[/quyển 802|802]]
|-
! [[/Lộng Hoàn bộ |Lộng Hoàn Bộ ]]
| [[/quyển 803|803]] || || || || || [[/quyển 803|803]] || [[/quyển 803|803]] ||
|-
! [[/Tàng Câu bộ |Tàng Câu Bộ ]]
| [[/quyển 804|804]] || || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Thu Thiên bộ |Thu Thiên Bộ ]]
| [[/quyển 804|804]] || || || [[/quyển 804|804]] || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Phong Tranh bộ |Phong Tranh Bộ ]]
| || || || [[/quyển 804|804]] || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Kỹ Hý bộ |Kỹ Hý Bộ ]]
| [[/quyển 805|805]] || || || [[/quyển 805|805]] || || [[/quyển 805|805]] || [[/quyển 805|805]] ||
|-
! [[/Ảo Thuật bộ |Ảo Thuật Bộ ]]
| || || || [[/quyển 806|806]] || || [[/quyển 806|806]] || [[/quyển 806|806]] ||
|-
! [[/Bác Hý bộ |Bác Hý Bộ ]]
| || || || [[/quyển 807|807]] || || [[/quyển 807|807]] || [[/quyển 807|807]] || [[/quyển 807|807]]
|-
! [[/Thương Giả bộ |Thương Giả Bộ ]]
| [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] ||
|-
! [[/Vu Hích bộ |Vu Hích Bộ ]]
| [[/quyển 809|809]] || || || [[/quyển 809|809]] || || [[/quyển 809|809]] [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]] ||
|-
! [[/Quyền Bác bộ |Quyền Bác Bộ ]]
| [[/quyển 810|810]] || || || [[/quyển 810|810]] || || [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]]
|-
! [[/Thích Khách bộ |Thích Khách Bộ ]]
| || || [[/quyển 811|811]] || [[/quyển 812|812]] || || [[/quyển 812|812]] || [[/quyển 812|812]] || [[/quyển 812|812]]
|-
! [[/Dong Công bộ |Dong Công Bộ ]]
| [[/quyển 813|813]] || || || [[/quyển 813|813]] || || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]]
|-
! [[/Đao Nhiếp bộ |Đao Nhiếp Bộ ]]
| || || || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] ||
|-
! [[/Bao Tể bộ |Bao Tể Bộ ]]
| [[/quyển 814|814]] || || || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]]
|-
! [[/Nha Quái bộ |Nha Quái Bộ ]]
| [[/quyển 814|814]] || || || || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] ||
|-
! [[/Khất Cái bộ |Khất Cái Bộ ]]
| [[/quyển 815|815]] || || [[/quyển 815|815]] || [[/quyển 815|815]] || || [[/quyển 815|815]] || [[/quyển 815|815]] ||
|-
! [[/Ưu Linh bộ |Ưu Linh Bộ ]]
| [[/quyển 816|816]] || || [[/quyển 817|817]] || || || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]]
|-
! [[/Ổi Lỗi bộ |Ổi Lỗi Bộ ]]
| [[/quyển 818|818]] || || || [[/quyển 818|818]] || || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]] ||
|-
! [[/Xướng Kỹ bộ |Xướng Kỹ Bộ ]]
| [[/quyển 819|819]] [[/quyển 820|820]] [[/quyển 821|821]] || || || [[/quyển 822|822]] [[/quyển 823|823]] || || [[/quyển 824|824]] || [[/quyển 824|824]] ||
|}
{{PD-old}}
sknw91mqihuksv0i1hetvfwgpn18q6z
204754
204753
2026-04-17T09:08:13Z
Mrfly911
2215
204754
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典
| năm= 1726
| phần = Bác vật vị biên<br>'''Nghệ thuật điển'''
| trước=
| sau=
| ghi chú=
}}
{{tìm kiếm}}
{| class="wikitable" style="width: 100%; "
! style="width: 17%;"| Bộ
! style="width: 100%;"| Vị khảo
! style="width: 11%;"| Tổng luận
! style="width: 11%;"| Liệt truyện
! style="width: 11%;"| Nghệ văn
! style="width: 11%;"| Tuyển cú
! style="width: 11%;"| Kỷ sự
! style="width: 11%;"| Tạp lục
! style="width: 11%;"| Ngoại biên
|-
! [[/Nghệ Thuật Tổng bộ |Nghệ Thuật Tổng bộ]]
| [[/quyển 001|1]] || [[/quyển 001|1]] || || [[/quyển 002|2]] || || [[/quyển 002|2]] || [[/quyển 002|2]] ||
|-
! [[/Nông bộ |Nông bộ]]
| [[/quyển 003|3]] [[/quyển 004|4]] [[/quyển 005|5]] [[/quyển 006|6]] [[/quyển 007|7]] [[/quyển 008|8]] [[/quyển 009|9]] || [[/quyển 010|10]] || || [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]]
|-
! [[/Phố bộ |Phố bộ]]
| [[/quyển 013|13]] || || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]]
|-
! [[/Ngư bộ |Ngư bộ]]
| [[/quyển 014|14]] || || || [[/quyển 014|14]] [[/quyển 015|15]] || [[/quyển 015|15]] || [[/quyển 016|16]] || [[/quyển 016|16]] || [[/quyển 016|16]]
|-
! [[/Tiều bộ |Tiều bộ]]
| [[/quyển 017|17]] || || || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]]
|-
! [[/Mục bộ |Mục bộ]]
| [[/quyển 018|18]] || || || [[/quyển 018|18]] || || [[/quyển 018|18]] || [[/quyển 018|18]] || [[/quyển 018|18]]
|-
! [[/Ngự bộ |Ngự bộ]]
| [[/quyển 019|19]] || || || || || [[/quyển 019|19]] || [[/quyển 019|19]] ||
|-
! [[/Dặc bộ |Dặc bộ]]
| [[/quyển 020|20]] || || || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]]
|-
! [[/Lạp bộ |Lạp bộ]]
| [[/quyển 020|20]] || || || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] ||
|-
! [[/Y Bộ|Y bộ]]
| [[/quyển 021|21]] [[/quyển 022|22]] [[/quyển 023|23]] [[/quyển 024|24]] [[/quyển 025|25]] [[/quyển 026|26]] [[/quyển 027|27]] [[/quyển 028|28]] [[/quyển 029|29]] [[/quyển 030|30]] [[/quyển 031|31]] [[/quyển 032|32]] [[/quyển 033|33]] [[/quyển 034|34]] [[/quyển 035|35]] [[/quyển 036|36]] [[/quyển 037|37]] [[/quyển 038|38]] [[/quyển 039|39]] [[/quyển 040|40]] [[/quyển 041|41]] [[/quyển 042|42]] [[/quyển 043|43]] [[/quyển 044|44]] [[/quyển 045|45]] [[/quyển 046|46]] [[/quyển 047|47]] [[/quyển 048|48]] [[/quyển 049|49]] [[/quyển 050|50]] [[/quyển 051|51]] [[/quyển 052|52]] [[/quyển 053|53]] [[/quyển 054|54]] [[/quyển 055|55]] [[/quyển 056|56]] [[/quyển 057|57]] [[/quyển 058|58]] [[/quyển 059|59]] [[/quyển 060|60]] [[/quyển 061|61]] [[/quyển 062|62]] [[/quyển 063|63]] [[/quyển 064|64]] [[/quyển 065|65]] [[/quyển 066|66]] [[/quyển 067|67]] [[/quyển 068|68]] [[/quyển 069|69]] [[/quyển 070|70]] [[/quyển 071|71]] [[/quyển 072|72]] [[/quyển 073|73]] [[/quyển 074|74]] [[/quyển 075|75]] [[/quyển 076|76]] [[/quyển 077|77]] [[/quyển 078|78]] [[/quyển 079|79]] [[/quyển 080|80]] [[/quyển 081|81]] [[/quyển 082|82]] [[/quyển 083|83]] [[/quyển 084|84]] [[/quyển 085|85]] [[/quyển 086|86]] [[/quyển 087|87]] [[/quyển 088|88]] [[/quyển 089|89]] [[/quyển 090|90]] [[/quyển 091|91]] [[/quyển 092|92]] [[/quyển 093|93]] [[/quyển 094|94]] [[/quyển 095|95]] [[/quyển 096|96]] [[/quyển 097|97]] [[/quyển 098|98]] [[/quyển 099|99]] [[/quyển 100|100]] [[/quyển 101|101]] [[/quyển 102|102]] [[/quyển 103|103]] [[/quyển 104|104]] [[/quyển 105|105]] [[/quyển 106|106]] [[/quyển 107|107]] [[/quyển 108|108]] [[/quyển 109|109]] [[/quyển 110|110]] [[/quyển 111|111]] [[/quyển 112|112]] [[/quyển 113|113]] [[/quyển 114|114]] [[/quyển 115|115]] [[/quyển 116|116]] [[/quyển 117|117]] [[/quyển 118|118]] [[/quyển 119|119]] [[/quyển 120|120]] [[/quyển 121|121]] [[/quyển 122|122]] [[/quyển 123|123]] [[/quyển 124|124]] [[/quyển 125|125]] [[/quyển 126|126]] [[/quyển 127|127]] [[/quyển 128|128]] [[/quyển 129|129]] [[/quyển 130|130]] [[/quyển 131|131]] [[/quyển 132|132]] [[/quyển 133|133]] [[/quyển 134|134]] [[/quyển 135|135]] [[/quyển 136|136]] [[/quyển 137|137]] [[/quyển 138|138]] [[/quyển 139|139]] [[/quyển 140|140]] [[/quyển 141|141]] [[/quyển 142|142]] [[/quyển 143|143]] [[/quyển 144|144]] [[/quyển 145|145]] [[/quyển 146|146]] [[/quyển 147|147]] [[/quyển 148|148]] [[/quyển 149|149]] [[/quyển 150|150]] [[/quyển 151|151]] [[/quyển 152|152]] [[/quyển 153|153]] [[/quyển 154|154]] [[/quyển 155|155]] [[/quyển 156|156]] [[/quyển 157|157]] [[/quyển 158|158]] [[/quyển 159|159]] [[/quyển 160|160]] [[/quyển 161|161]] [[/quyển 162|162]] [[/quyển 163|163]] [[/quyển 164|164]] [[/quyển 165|165]] [[/quyển 166|166]] [[/quyển 167|167]] [[/quyển 168|168]] [[/quyển 169|169]] [[/quyển 170|170]] [[/quyển 171|171]] [[/quyển 172|172]] [[/quyển 173|173]] [[/quyển 174|174]] [[/quyển 175|175]] [[/quyển 176|176]] [[/quyển 177|177]] [[/quyển 178|178]] [[/quyển 179|179]] [[/quyển 180|180]] [[/quyển 181|181]] [[/quyển 182|182]] [[/quyển 183|183]] [[/quyển 184|184]] [[/quyển 185|185]] [[/quyển 186|186]] [[/quyển 187|187]] [[/quyển 188|188]] [[/quyển 189|189]] [[/quyển 190|190]] [[/quyển 191|191]] [[/quyển 192|192]] [[/quyển 193|193]] [[/quyển 194|194]] [[/quyển 195|195]] [[/quyển 196|196]] [[/quyển 197|197]] [[/quyển 198|198]] [[/quyển 199|199]] [[/quyển 200|200]] [[/quyển 201|201]] [[/quyển 202|202]] [[/quyển 203|203]] [[/quyển 204|204]] [[/quyển 205|205]] [[/quyển 206|206]] [[/quyển 207|207]] [[/quyển 208|208]] [[/quyển 209|209]] [[/quyển 210|210]] [[/quyển 211|211]] [[/quyển 212|212]] [[/quyển 213|213]] [[/quyển 214|214]] [[/quyển 215|215]] [[/quyển 216|216]] [[/quyển 217|217]] [[/quyển 218|218]] [[/quyển 219|219]] [[/quyển 220|220]] [[/quyển 221|221]] [[/quyển 222|222]] [[/quyển 223|223]] [[/quyển 224|224]] [[/quyển 225|225]] [[/quyển 226|226]] [[/quyển 227|227]] [[/quyển 228|228]] [[/quyển 229|229]] [[/quyển 230|230]] [[/quyển 231|231]] [[/quyển 232|232]] [[/quyển 233|233]] [[/quyển 234|234]] [[/quyển 235|235]] [[/quyển 236|236]] [[/quyển 237|237]] [[/quyển 238|238]] [[/quyển 239|239]] [[/quyển 240|240]] [[/quyển 241|241]] [[/quyển 242|242]] [[/quyển 243|243]] [[/quyển 244|244]] [[/quyển 245|245]] [[/quyển 246|246]] [[/quyển 247|247]] [[/quyển 248|248]] [[/quyển 249|249]] [[/quyển 250|250]] [[/quyển 251|251]] [[/quyển 252|252]] [[/quyển 253|253]] [[/quyển 254|254]] [[/quyển 255|255]] [[/quyển 256|256]] [[/quyển 257|257]] [[/quyển 258|258]] [[/quyển 259|259]] [[/quyển 260|260]] [[/quyển 261|261]] [[/quyển 262|262]] [[/quyển 263|263]] [[/quyển 264|264]] [[/quyển 265|265]] [[/quyển 266|266]] [[/quyển 267|267]] [[/quyển 268|268]] [[/quyển 269|269]] [[/quyển 270|270]] [[/quyển 271|271]] [[/quyển 272|272]] [[/quyển 273|273]] [[/quyển 274|274]] [[/quyển 275|275]] [[/quyển 276|276]] [[/quyển 277|277]] [[/quyển 278|278]] [[/quyển 279|279]] [[/quyển 280|280]] [[/quyển 281|281]] [[/quyển 282|282]] [[/quyển 283|283]] [[/quyển 284|284]] [[/quyển 285|285]] [[/quyển 286|286]] [[/quyển 287|287]] [[/quyển 288|288]] [[/quyển 289|289]] [[/quyển 290|290]] [[/quyển 291|291]] [[/quyển 292|292]] [[/quyển 293|293]] [[/quyển 294|294]] [[/quyển 295|295]] [[/quyển 296|296]] [[/quyển 297|297]] [[/quyển 298|298]] [[/quyển 299|299]] [[/quyển 300|300]] [[/quyển 301|301]] [[/quyển 302|302]] [[/quyển 303|303]] [[/quyển 304|304]] [[/quyển 305|305]] [[/quyển 306|306]] [[/quyển 307|307]] [[/quyển 308|308]] [[/quyển 309|309]] [[/quyển 310|310]] [[/quyển 311|311]] [[/quyển 312|312]] [[/quyển 313|313]] [[/quyển 314|314]] [[/quyển 315|315]] [[/quyển 316|316]] [[/quyển 317|317]] [[/quyển 318|318]] [[/quyển 319|319]] [[/quyển 320|320]] [[/quyển 321|321]] [[/quyển 322|322]] [[/quyển 323|323]] [[/quyển 324|324]] [[/quyển 325|325]] [[/quyển 326|326]] [[/quyển 327|327]] [[/quyển 328|328]] [[/quyển 329|329]] [[/quyển 330|330]] [[/quyển 331|331]] [[/quyển 332|332]] [[/quyển 333|333]] [[/quyển 334|334]] [[/quyển 335|335]] [[/quyển 336|336]] [[/quyển 337|337]] [[/quyển 338|338]] [[/quyển 339|339]] [[/quyển 340|340]] [[/quyển 341|341]] [[/quyển 342|342]] [[/quyển 343|343]] [[/quyển 344|344]] [[/quyển 345|345]] [[/quyển 346|346]] [[/quyển 347|347]] [[/quyển 348|348]] [[/quyển 349|349]] [[/quyển 350|350]] [[/quyển 351|351]] [[/quyển 352|352]] [[/quyển 353|353]] [[/quyển 354|354]] [[/quyển 355|355]] [[/quyển 356|356]] [[/quyển 357|357]] [[/quyển 358|358]] [[/quyển 359|359]] [[/quyển 360|360]] [[/quyển 361|361]] [[/quyển 362|362]] [[/quyển 363|363]] [[/quyển 364|364]] [[/quyển 365|365]] [[/quyển 366|366]] [[/quyển 367|367]] [[/quyển 368|368]] [[/quyển 369|369]] [[/quyển 370|370]] [[/quyển 371|371]] [[/quyển 372|372]] [[/quyển 373|373]] [[/quyển 374|374]] [[/quyển 375|375]] [[/quyển 376|376]] [[/quyển 377|377]] [[/quyển 378|378]] [[/quyển 379|379]] [[/quyển 380|380]] [[/quyển 381|381]] [[/quyển 382|382]] [[/quyển 383|383]] [[/quyển 384|384]] [[/quyển 385|385]] [[/quyển 386|386]] [[/quyển 387|387]] [[/quyển 388|388]] [[/quyển 389|389]] [[/quyển 390|390]] [[/quyển 391|391]] [[/quyển 392|392]] [[/quyển 393|393]] [[/quyển 394|394]] [[/quyển 395|395]] [[/quyển 396|396]] [[/quyển 397|397]] [[/quyển 398|398]] [[/quyển 399|399]] [[/quyển 400|400]] [[/quyển 401|401]] [[/quyển 402|402]] [[/quyển 403|403]] [[/quyển 404|404]] [[/quyển 405|405]] [[/quyển 406|406]] [[/quyển 407|407]] [[/quyển 408|408]] [[/quyển 409|409]] [[/quyển 410|410]] [[/quyển 411|411]] [[/quyển 412|412]] [[/quyển 413|413]] [[/quyển 414|414]] [[/quyển 415|415]] [[/quyển 416|416]] [[/quyển 417|417]] [[/quyển 418|418]] [[/quyển 419|419]] [[/quyển 420|420]] [[/quyển 421|421]] [[/quyển 422|422]] [[/quyển 423|423]] [[/quyển 424|424]] [[/quyển 425|425]] [[/quyển 426|426]] [[/quyển 427|427]] [[/quyển 428|428]] [[/quyển 429|429]] [[/quyển 430|430]] [[/quyển 431|431]] [[/quyển 432|432]] [[/quyển 433|433]] [[/quyển 434|434]] [[/quyển 435|435]] [[/quyển 436|436]] [[/quyển 437|437]] [[/quyển 438|438]] [[/quyển 439|439]] [[/quyển 440|440]] [[/quyển 441|441]] [[/quyển 442|442]] [[/quyển 443|443]] [[/quyển 444|444]] [[/quyển 445|445]] [[/quyển 446|446]] [[/quyển 447|447]] [[/quyển 448|448]] [[/quyển 449|449]] [[/quyển 450|450]] [[/quyển 451|451]] [[/quyển 452|452]] [[/quyển 453|453]] [[/quyển 454|454]] [[/quyển 455|455]] [[/quyển 456|456]] [[/quyển 457|457]] [[/quyển 458|458]] [[/quyển 459|459]] [[/quyển 460|460]] [[/quyển 461|461]] [[/quyển 462|462]] [[/quyển 463|463]] [[/quyển 464|464]] [[/quyển 465|465]] [[/quyển 466|466]] [[/quyển 467|467]] [[/quyển 468|468]] [[/quyển 469|469]] [[/quyển 470|470]] [[/quyển 471|471]] [[/quyển 472|472]] [[/quyển 473|473]] [[/quyển 474|474]] [[/quyển 475|475]] [[/quyển 476|476]] [[/quyển 477|477]] [[/quyển 478|478]] [[/quyển 479|479]] [[/quyển 480|480]] [[/quyển 481|481]] [[/quyển 482|482]] [[/quyển 483|483]] [[/quyển 484|484]] [[/quyển 485|485]] [[/quyển 486|486]] [[/quyển 487|487]] [[/quyển 488|488]] [[/quyển 489|489]] [[/quyển 490|490]] [[/quyển 491|491]] [[/quyển 492|492]] [[/quyển 493|493]] [[/quyển 494|494]] [[/quyển 495|495]] [[/quyển 496|496]] [[/quyển 497|497]] [[/quyển 498|498]] [[/quyển 499|499]] [[/quyển 500|500]] [[/quyển 501|501]] [[/quyển 502|502]] [[/quyển 503|503]] [[/quyển 504|504]] [[/quyển 505|505]] [[/quyển 506|506]] [[/quyển 507|507]] [[/quyển 508|508]] [[/quyển 509|509]] [[/quyển 510|510]] [[/quyển 511|511]] [[/quyển 512|512]] [[/quyển 513|513]] [[/quyển 514|514]] [[/quyển 515|515]] [[/quyển 516|516]] [[/quyển 517|517]] [[/quyển 518|518]] [[/quyển 519|519]] [[/quyển 520|520]] || [[/quyển 521|521]] [[/quyển 522|522]] [[/quyển 523|523]] || [[/quyển 524|524]] [[/quyển 525|525]] [[/quyển 526|526]] [[/quyển 527|527]] [[/quyển 528|528]] [[/quyển 529|529]] [[/quyển 530|530]] [[/quyển 531|531]] [[/quyển 532|532]] [[/quyển 533|533]] [[/quyển 534|534]] [[/quyển 535|535]] [[/quyển 536|536]] [[/quyển 537|537]] || [[/quyển 538|538]] [[/quyển 539|539]] || || [[/quyển 539|539]] || [[/quyển 540|540]] || [[/quyển 540|540]]
|-
! [[/Bốc Thệ bộ |Bốc Thệ bộ]]
| [[/quyển 541|541]] [[/quyển 542|542]] [[/quyển 543|543]] [[/quyển 544|544]] [[/quyển 545|545]] [[/quyển 546|546]] [[/quyển 547|547]] [[/quyển 548|548]] [[/quyển 549|549]] [[/quyển 550|550]] [[/quyển 551|551]] [[/quyển 552|552]] [[/quyển 553|553]] [[/quyển 554|554]] [[/quyển 555|555]] [[/quyển 556|556]] [[/quyển 557|557]] || [[/quyển 558|558]] || [[/quyển 559|559]] [[/quyển 560|560]] [[/quyển 561|561]] [[/quyển 562|562]] || [[/quyển 562|562]] || || [[/quyển 563|563]] [[/quyển 564|564]] || [[/quyển 564|564]] ||
|-
! [[/Tinh Mệnh bộ |Tinh Mệnh bộ]]
| [[/quyển 565|565]] [[/quyển 566|566]] [[/quyển 567|567]] [[/quyển 568|568]] [[/quyển 569|569]] [[/quyển 570|570]] [[/quyển 571|571]] [[/quyển 572|572]] [[/quyển 573|573]] [[/quyển 574|574]] [[/quyển 575|575]] [[/quyển 576|576]] [[/quyển 577|577]] [[/quyển 578|578]] [[/quyển 579|579]] [[/quyển 580|580]] [[/quyển 581|581]] [[/quyển 582|582]] [[/quyển 583|583]] [[/quyển 584|584]] [[/quyển 585|585]] [[/quyển 586|586]] [[/quyển 587|587]] [[/quyển 588|588]] [[/quyển 589|589]] [[/quyển 590|590]] [[/quyển 591|591]] [[/quyển 592|592]] [[/quyển 593|593]] [[/quyển 594|594]] [[/quyển 595|595]] [[/quyển 596|596]] [[/quyển 597|597]] [[/quyển 598|598]] [[/quyển 599|599]] [[/quyển 600|600]] [[/quyển 601|601]] [[/quyển 602|602]] [[/quyển 603|603]] [[/quyển 604|604]] [[/quyển 605|605]] [[/quyển 606|606]] [[/quyển 607|607]] [[/quyển 608|608]] [[/quyển 609|609]] [[/quyển 610|610]] [[/quyển 611|611]] [[/quyển 612|612]] [[/quyển 613|613]] [[/quyển 614|614]] [[/quyển 615|615]] [[/quyển 616|616]] [[/quyển 617|617]] [[/quyển 618|618]] [[/quyển 619|619]] [[/quyển 620|620]] [[/quyển 621|621]] [[/quyển 622|622]] [[/quyển 623|623]] [[/quyển 624|624]] [[/quyển 625|625]] [[/quyển 626|626]] [[/quyển 627|627]] [[/quyển 628|628]] || [[/quyển 629|629]] || [[/quyển 629|629]] || [[/quyển 629|629]] || || [[/quyển 630|630]] || [[/quyển 630|630]] ||
|-
! [[/Tương Thuật bộ |Tương Thuật bộ]]
| [[/quyển 631|631]] [[/quyển 632|632]] [[/quyển 633|633]] [[/quyển 634|634]] [[/quyển 635|635]] [[/quyển 636|636]] [[/quyển 637|637]] [[/quyển 638|638]] [[/quyển 639|639]] [[/quyển 640|640]] [[/quyển 641|641]] [[/quyển 642|642]] [[/quyển 643|643]] [[/quyển 644|644]] [[/quyển 645|645]] [[/quyển 646|646]] || [[/quyển 647|647]] || [[/quyển 647|647]] [[/quyển 648|648]] || [[/quyển 648|648]] || || [[/quyển 648|648]] [[/quyển 649|649]] [[/quyển 650|650]] || [[/quyển 650|650]] ||
|-
! [[/Kham Dư bộ |Kham Dư bộ]]
| [[/quyển 651|651]] [[/quyển 652|652]] [[/quyển 653|653]] [[/quyển 654|654]] [[/quyển 655|655]] [[/quyển 656|656]] [[/quyển 657|657]] [[/quyển 658|658]] [[/quyển 659|659]] [[/quyển 660|660]] [[/quyển 661|661]] [[/quyển 662|662]] [[/quyển 663|663]] [[/quyển 664|664]] [[/quyển 665|665]] [[/quyển 666|666]] [[/quyển 667|667]] [[/quyển 668|668]] [[/quyển 669|669]] [[/quyển 670|670]] [[/quyển 671|671]] [[/quyển 672|672]] [[/quyển 673|673]] [[/quyển 674|674]] [[/quyển 675|675]] [[/quyển 676|676]] [[/quyển 677|677]] [[/quyển 678|678]] || [[/quyển 679|679]] || [[/quyển 679|679]] || [[/quyển 680|680]] || || [[/quyển 680|680]] || [[/quyển 680|680]] ||
|-
! [[/Tuyển Trạch bộ |Tuyển Trạch bộ]]
| [[/quyển 681|681]] [[/quyển 682|682]] [[/quyển 683|683]] [[/quyển 684|684]] [[/quyển 685|685]] || [[/quyển 686|686]] || || [[/quyển 686|686]] || || [[/quyển 686|686]] || [[/quyển 686|686]] ||
|-
! [[/Thuật Sổ bộ |Thuật Sổ bộ]]
| [[/quyển 687|687]] [[/quyển 688|688]] [[/quyển 689|689]] [[/quyển 690|690]] [[/quyển 691|691]] [[/quyển 692|692]] [[/quyển 693|693]] [[/quyển 694|694]] [[/quyển 695|695]] [[/quyển 696|696]] [[/quyển 697|697]] [[/quyển 698|698]] [[/quyển 699|699]] [[/quyển 700|700]] [[/quyển 701|701]] [[/quyển 702|702]] [[/quyển 703|703]] [[/quyển 704|704]] [[/quyển 705|705]] [[/quyển 706|706]] [[/quyển 707|707]] [[/quyển 708|708]] [[/quyển 709|709]] [[/quyển 710|710]] [[/quyển 711|711]] [[/quyển 712|712]] [[/quyển 713|713]] [[/quyển 714|714]] [[/quyển 715|715]] [[/quyển 716|716]] [[/quyển 717|717]] [[/quyển 718|718]] [[/quyển 719|719]] [[/quyển 720|720]] [[/quyển 721|721]] [[/quyển 722|722]] [[/quyển 723|723]] [[/quyển 724|724]] [[/quyển 725|725]] [[/quyển 726|726]] [[/quyển 727|727]] [[/quyển 728|728]] [[/quyển 729|729]] [[/quyển 730|730]] [[/quyển 731|731]] [[/quyển 732|732]] [[/quyển 733|733]] [[/quyển 734|734]] [[/quyển 735|735]] [[/quyển 736|736]] [[/quyển 737|737]] [[/quyển 738|738]] [[/quyển 739|739]] [[/quyển 740|740]] [[/quyển 741|741]] [[/quyển 742|742]] [[/quyển 743|743]] [[/quyển 744|744]] || [[/quyển 745|745]] || [[/quyển 745|745]] [[/quyển 746|746]] || [[/quyển 746|746]] || || [[/quyển 746|746]] || [[/quyển 746|746]] ||
|-
! [[/Xạ Phúc bộ |Xạ Phúc bộ]]
| || || || || || [[/quyển 747|747]] || ||
|-
! [[/Quải Ảnh bộ |Quải Ảnh bộ]]
| || || || || || [[/quyển 747|747]] || [[/quyển 747|747]] ||
|-
! [[/Sách Tự bộ |Sách Tự bộ]]
| [[/quyển 747|747]] [[/quyển 748|748]] || || || || || [[/quyển 748|748]] || ||
|-
! [[/Hoạch bộ |Hoạch bộ]]
| [[/quyển 749|749]] [[/quyển 750|750]] [[/quyển 751|751]] [[/quyển 752|752]] [[/quyển 753|753]] [[/quyển 754|754]] [[/quyển 755|755]] [[/quyển 756|756]] [[/quyển 757|757]] [[/quyển 758|758]] [[/quyển 759|759]] [[/quyển 760|760]] [[/quyển 761|761]] [[/quyển 762|762]] [[/quyển 763|763]] [[/quyển 764|764]] [[/quyển 765|765]] || [[/quyển 766|766]] || [[/quyển 767|767]] [[/quyển 768|768]] [[/quyển 769|769]] [[/quyển 770|770]] [[/quyển 771|771]] [[/quyển 772|772]] [[/quyển 773|773]] [[/quyển 774|774]] [[/quyển 775|775]] [[/quyển 776|776]] [[/quyển 777|777]] [[/quyển 778|778]] [[/quyển 779|779]] [[/quyển 780|780]] [[/quyển 781|781]] [[/quyển 782|782]] [[/quyển 783|783]] [[/quyển 784|784]] [[/quyển 785|785]] [[/quyển 786|786]] [[/quyển 787|787]] [[/quyển 788|788]] || [[/quyển 789|789]] [[/quyển 790|790]] [[/quyển 791|791]] [[/quyển 792|792]] || || [[/quyển 793|793]] [[/quyển 794|794]] || [[/quyển 795|795]] [[/quyển 796|796]] || [[/quyển 796|796]]
|-
! [[/Đầu Hồ bộ |Đầu Hồ bộ]]
| [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]] || || [[/quyển 797|797]] || || [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]]
|-
! [[/Dịch Kỳ bộ |Dịch Kỳ bộ]]
| [[/quyển 798|798]] || [[/quyển 799|799]] || [[/quyển 799|799]] || [[/quyển 799|799]] [[/quyển 800|800]] || || [[/quyển 800|800]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]]
|-
! [[/Đàn Kỳ bộ |Đàn Kỳ bộ]]
| [[/quyển 801|801]] || || || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]]
|-
! [[/Xúc Cúc bộ |Xúc Cúc bộ]]
| [[/quyển 802|802]] || || || [[/quyển 802|802]] || || [[/quyển 802|802]] || [[/quyển 802|802]] || [[/quyển 802|802]]
|-
! [[/Lộng Hoàn bộ |Lộng Hoàn bộ]]
| [[/quyển 803|803]] || || || || || [[/quyển 803|803]] || [[/quyển 803|803]] ||
|-
! [[/Tàng Câu bộ |Tàng Câu bộ]]
| [[/quyển 804|804]] || || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Thu Thiên bộ |Thu Thiên bộ]]
| [[/quyển 804|804]] || || || [[/quyển 804|804]] || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Phong Tranh bộ |Phong Tranh bộ]]
| || || || [[/quyển 804|804]] || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Kỹ Hý bộ |Kỹ Hý bộ]]
| [[/quyển 805|805]] || || || [[/quyển 805|805]] || || [[/quyển 805|805]] || [[/quyển 805|805]] ||
|-
! [[/Ảo Thuật bộ |Ảo Thuật bộ]]
| || || || [[/quyển 806|806]] || || [[/quyển 806|806]] || [[/quyển 806|806]] ||
|-
! [[/Bác Hý bộ |Bác Hý bộ]]
| || || || [[/quyển 807|807]] || || [[/quyển 807|807]] || [[/quyển 807|807]] || [[/quyển 807|807]]
|-
! [[/Thương Giả bộ |Thương Giả bộ]]
| [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] ||
|-
! [[/Vu Hích bộ |Vu Hích bộ]]
| [[/quyển 809|809]] || || || [[/quyển 809|809]] || || [[/quyển 809|809]] [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]] ||
|-
! [[/Quyền Bác bộ |Quyền Bác bộ]]
| [[/quyển 810|810]] || || || [[/quyển 810|810]] || || [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]]
|-
! [[/Thích Khách bộ |Thích Khách bộ]]
| || || [[/quyển 811|811]] || [[/quyển 812|812]] || || [[/quyển 812|812]] || [[/quyển 812|812]] || [[/quyển 812|812]]
|-
! [[/Dong Công bộ |Dong Công bộ]]
| [[/quyển 813|813]] || || || [[/quyển 813|813]] || || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]]
|-
! [[/Đao Nhiếp bộ |Đao Nhiếp bộ]]
| || || || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] ||
|-
! [[/Bao Tể bộ |Bao Tể bộ]]
| [[/quyển 814|814]] || || || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]]
|-
! [[/Nha Quái bộ |Nha Quái bộ]]
| [[/quyển 814|814]] || || || || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] ||
|-
! [[/Khất Cái bộ |Khất Cái bộ]]
| [[/quyển 815|815]] || || [[/quyển 815|815]] || [[/quyển 815|815]] || || [[/quyển 815|815]] || [[/quyển 815|815]] ||
|-
! [[/Ưu Linh bộ |Ưu Linh bộ]]
| [[/quyển 816|816]] || || [[/quyển 817|817]] || || || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]]
|-
! [[/Ổi Lỗi bộ |Ổi Lỗi bộ]]
| [[/quyển 818|818]] || || || [[/quyển 818|818]] || || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]] ||
|-
! [[/Xướng Kỹ bộ |Xướng Kỹ bộ]]
| [[/quyển 819|819]] [[/quyển 820|820]] [[/quyển 821|821]] || || || [[/quyển 822|822]] [[/quyển 823|823]] || || [[/quyển 824|824]] || [[/quyển 824|824]] ||
|}
{{PD-old}}
0syc8hgb628yhgxoqonnwdazwofuuvf
204755
204754
2026-04-17T09:09:38Z
Mrfly911
2215
204755
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典
| năm= 1726
| phần = Bác vật vị biên<br>'''Nghệ thuật điển'''
| trước=
| sau=
| ghi chú=
}}
{{tìm kiếm}}
{| class="wikitable" style="width: 100%; "
! style="width: 17%;"| Bộ
! style="width: 100%;"| Vị khảo
! style="width: 11%;"| Tổng luận
! style="width: 11%;"| Liệt truyện
! style="width: 11%;"| Nghệ văn
! style="width: 11%;"| Tuyển cú
! style="width: 11%;"| Kỷ sự
! style="width: 11%;"| Tạp lục
! style="width: 11%;"| Ngoại biên
|-
! [[/Nghệ Thuật Tổng bộ |Nghệ Thuật Tổng bộ]]
| [[/quyển 001|1]] || [[/quyển 001|1]] || || [[/quyển 002|2]] || || [[/quyển 002|2]] || [[/quyển 002|2]] ||
|-
! [[/Nông bộ |Nông bộ]]
| [[/quyển 003|3]] [[/quyển 004|4]] [[/quyển 005|5]] [[/quyển 006|6]] [[/quyển 007|7]] [[/quyển 008|8]] [[/quyển 009|9]] || [[/quyển 010|10]] || || [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 011|11]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]] || [[/quyển 012|12]]
|-
! [[/Phố bộ |Phố bộ]]
| [[/quyển 013|13]] || || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]] || [[/quyển 013|13]]
|-
! [[/Ngư bộ |Ngư bộ]]
| [[/quyển 014|14]] || || || [[/quyển 014|14]] [[/quyển 015|15]] || [[/quyển 015|15]] || [[/quyển 016|16]] || [[/quyển 016|16]] || [[/quyển 016|16]]
|-
! [[/Tiều bộ |Tiều bộ]]
| [[/quyển 017|17]] || || || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]] || [[/quyển 017|17]]
|-
! [[/Mục bộ |Mục bộ]]
| [[/quyển 018|18]] || || || [[/quyển 018|18]] || || [[/quyển 018|18]] || [[/quyển 018|18]] || [[/quyển 018|18]]
|-
! [[/Ngự bộ |Ngự bộ]]
| [[/quyển 019|19]] || || || || || [[/quyển 019|19]] || [[/quyển 019|19]] ||
|-
! [[/Dặc bộ |Dặc bộ]]
| [[/quyển 020|20]] || || || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]]
|-
! [[/Lạp bộ |Lạp bộ]]
| [[/quyển 020|20]] || || || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] || [[/quyển 020|20]] ||
|-
! [[/Y Bộ|Y bộ]]
| [[/quyển 021|21]] [[/quyển 022|22]] [[/quyển 023|23]] [[/quyển 024|24]] [[/quyển 025|25]] [[/quyển 026|26]] [[/quyển 027|27]] [[/quyển 028|28]] [[/quyển 029|29]] [[/quyển 030|30]] [[/quyển 031|31]] [[/quyển 032|32]] [[/quyển 033|33]] [[/quyển 034|34]] [[/quyển 035|35]] [[/quyển 036|36]] [[/quyển 037|37]] [[/quyển 038|38]] [[/quyển 039|39]] [[/quyển 040|40]] [[/quyển 041|41]] [[/quyển 042|42]] [[/quyển 043|43]] [[/quyển 044|44]] [[/quyển 045|45]] [[/quyển 046|46]] [[/quyển 047|47]] [[/quyển 048|48]] [[/quyển 049|49]] [[/quyển 050|50]] [[/quyển 051|51]] [[/quyển 052|52]] [[/quyển 053|53]] [[/quyển 054|54]] [[/quyển 055|55]] [[/quyển 056|56]] [[/quyển 057|57]] [[/quyển 058|58]] [[/quyển 059|59]] [[/quyển 060|60]] [[/quyển 061|61]] [[/quyển 062|62]] [[/quyển 063|63]] [[/quyển 064|64]] [[/quyển 065|65]] [[/quyển 066|66]] [[/quyển 067|67]] [[/quyển 068|68]] [[/quyển 069|69]] [[/quyển 070|70]] [[/quyển 071|71]] [[/quyển 072|72]] [[/quyển 073|73]] [[/quyển 074|74]] [[/quyển 075|75]] [[/quyển 076|76]] [[/quyển 077|77]] [[/quyển 078|78]] [[/quyển 079|79]] [[/quyển 080|80]] [[/quyển 081|81]] [[/quyển 082|82]] [[/quyển 083|83]] [[/quyển 084|84]] [[/quyển 085|85]] [[/quyển 086|86]] [[/quyển 087|87]] [[/quyển 088|88]] [[/quyển 089|89]] [[/quyển 090|90]] [[/quyển 091|91]] [[/quyển 092|92]] [[/quyển 093|93]] [[/quyển 094|94]] [[/quyển 095|95]] [[/quyển 096|96]] [[/quyển 097|97]] [[/quyển 098|98]] [[/quyển 099|99]] [[/quyển 100|100]] [[/quyển 101|101]] [[/quyển 102|102]] [[/quyển 103|103]] [[/quyển 104|104]] [[/quyển 105|105]] [[/quyển 106|106]] [[/quyển 107|107]] [[/quyển 108|108]] [[/quyển 109|109]] [[/quyển 110|110]] [[/quyển 111|111]] [[/quyển 112|112]] [[/quyển 113|113]] [[/quyển 114|114]] [[/quyển 115|115]] [[/quyển 116|116]] [[/quyển 117|117]] [[/quyển 118|118]] [[/quyển 119|119]] [[/quyển 120|120]] [[/quyển 121|121]] [[/quyển 122|122]] [[/quyển 123|123]] [[/quyển 124|124]] [[/quyển 125|125]] [[/quyển 126|126]] [[/quyển 127|127]] [[/quyển 128|128]] [[/quyển 129|129]] [[/quyển 130|130]] [[/quyển 131|131]] [[/quyển 132|132]] [[/quyển 133|133]] [[/quyển 134|134]] [[/quyển 135|135]] [[/quyển 136|136]] [[/quyển 137|137]] [[/quyển 138|138]] [[/quyển 139|139]] [[/quyển 140|140]] [[/quyển 141|141]] [[/quyển 142|142]] [[/quyển 143|143]] [[/quyển 144|144]] [[/quyển 145|145]] [[/quyển 146|146]] [[/quyển 147|147]] [[/quyển 148|148]] [[/quyển 149|149]] [[/quyển 150|150]] [[/quyển 151|151]] [[/quyển 152|152]] [[/quyển 153|153]] [[/quyển 154|154]] [[/quyển 155|155]] [[/quyển 156|156]] [[/quyển 157|157]] [[/quyển 158|158]] [[/quyển 159|159]] [[/quyển 160|160]] [[/quyển 161|161]] [[/quyển 162|162]] [[/quyển 163|163]] [[/quyển 164|164]] [[/quyển 165|165]] [[/quyển 166|166]] [[/quyển 167|167]] [[/quyển 168|168]] [[/quyển 169|169]] [[/quyển 170|170]] [[/quyển 171|171]] [[/quyển 172|172]] [[/quyển 173|173]] [[/quyển 174|174]] [[/quyển 175|175]] [[/quyển 176|176]] [[/quyển 177|177]] [[/quyển 178|178]] [[/quyển 179|179]] [[/quyển 180|180]] [[/quyển 181|181]] [[/quyển 182|182]] [[/quyển 183|183]] [[/quyển 184|184]] [[/quyển 185|185]] [[/quyển 186|186]] [[/quyển 187|187]] [[/quyển 188|188]] [[/quyển 189|189]] [[/quyển 190|190]] [[/quyển 191|191]] [[/quyển 192|192]] [[/quyển 193|193]] [[/quyển 194|194]] [[/quyển 195|195]] [[/quyển 196|196]] [[/quyển 197|197]] [[/quyển 198|198]] [[/quyển 199|199]] [[/quyển 200|200]] [[/quyển 201|201]] [[/quyển 202|202]] [[/quyển 203|203]] [[/quyển 204|204]] [[/quyển 205|205]] [[/quyển 206|206]] [[/quyển 207|207]] [[/quyển 208|208]] [[/quyển 209|209]] [[/quyển 210|210]] [[/quyển 211|211]] [[/quyển 212|212]] [[/quyển 213|213]] [[/quyển 214|214]] [[/quyển 215|215]] [[/quyển 216|216]] [[/quyển 217|217]] [[/quyển 218|218]] [[/quyển 219|219]] [[/quyển 220|220]] [[/quyển 221|221]] [[/quyển 222|222]] [[/quyển 223|223]] [[/quyển 224|224]] [[/quyển 225|225]] [[/quyển 226|226]] [[/quyển 227|227]] [[/quyển 228|228]] [[/quyển 229|229]] [[/quyển 230|230]] [[/quyển 231|231]] [[/quyển 232|232]] [[/quyển 233|233]] [[/quyển 234|234]] [[/quyển 235|235]] [[/quyển 236|236]] [[/quyển 237|237]] [[/quyển 238|238]] [[/quyển 239|239]] [[/quyển 240|240]] [[/quyển 241|241]] [[/quyển 242|242]] [[/quyển 243|243]] [[/quyển 244|244]] [[/quyển 245|245]] [[/quyển 246|246]] [[/quyển 247|247]] [[/quyển 248|248]] [[/quyển 249|249]] [[/quyển 250|250]] [[/quyển 251|251]] [[/quyển 252|252]] [[/quyển 253|253]] [[/quyển 254|254]] [[/quyển 255|255]] [[/quyển 256|256]] [[/quyển 257|257]] [[/quyển 258|258]] [[/quyển 259|259]] [[/quyển 260|260]] [[/quyển 261|261]] [[/quyển 262|262]] [[/quyển 263|263]] [[/quyển 264|264]] [[/quyển 265|265]] [[/quyển 266|266]] [[/quyển 267|267]] [[/quyển 268|268]] [[/quyển 269|269]] [[/quyển 270|270]] [[/quyển 271|271]] [[/quyển 272|272]] [[/quyển 273|273]] [[/quyển 274|274]] [[/quyển 275|275]] [[/quyển 276|276]] [[/quyển 277|277]] [[/quyển 278|278]] [[/quyển 279|279]] [[/quyển 280|280]] [[/quyển 281|281]] [[/quyển 282|282]] [[/quyển 283|283]] [[/quyển 284|284]] [[/quyển 285|285]] [[/quyển 286|286]] [[/quyển 287|287]] [[/quyển 288|288]] [[/quyển 289|289]] [[/quyển 290|290]] [[/quyển 291|291]] [[/quyển 292|292]] [[/quyển 293|293]] [[/quyển 294|294]] [[/quyển 295|295]] [[/quyển 296|296]] [[/quyển 297|297]] [[/quyển 298|298]] [[/quyển 299|299]] [[/quyển 300|300]] [[/quyển 301|301]] [[/quyển 302|302]] [[/quyển 303|303]] [[/quyển 304|304]] [[/quyển 305|305]] [[/quyển 306|306]] [[/quyển 307|307]] [[/quyển 308|308]] [[/quyển 309|309]] [[/quyển 310|310]] [[/quyển 311|311]] [[/quyển 312|312]] [[/quyển 313|313]] [[/quyển 314|314]] [[/quyển 315|315]] [[/quyển 316|316]] [[/quyển 317|317]] [[/quyển 318|318]] [[/quyển 319|319]] [[/quyển 320|320]] [[/quyển 321|321]] [[/quyển 322|322]] [[/quyển 323|323]] [[/quyển 324|324]] [[/quyển 325|325]] [[/quyển 326|326]] [[/quyển 327|327]] [[/quyển 328|328]] [[/quyển 329|329]] [[/quyển 330|330]] [[/quyển 331|331]] [[/quyển 332|332]] [[/quyển 333|333]] [[/quyển 334|334]] [[/quyển 335|335]] [[/quyển 336|336]] [[/quyển 337|337]] [[/quyển 338|338]] [[/quyển 339|339]] [[/quyển 340|340]] [[/quyển 341|341]] [[/quyển 342|342]] [[/quyển 343|343]] [[/quyển 344|344]] [[/quyển 345|345]] [[/quyển 346|346]] [[/quyển 347|347]] [[/quyển 348|348]] [[/quyển 349|349]] [[/quyển 350|350]] [[/quyển 351|351]] [[/quyển 352|352]] [[/quyển 353|353]] [[/quyển 354|354]] [[/quyển 355|355]] [[/quyển 356|356]] [[/quyển 357|357]] [[/quyển 358|358]] [[/quyển 359|359]] [[/quyển 360|360]] [[/quyển 361|361]] [[/quyển 362|362]] [[/quyển 363|363]] [[/quyển 364|364]] [[/quyển 365|365]] [[/quyển 366|366]] [[/quyển 367|367]] [[/quyển 368|368]] [[/quyển 369|369]] [[/quyển 370|370]] [[/quyển 371|371]] [[/quyển 372|372]] [[/quyển 373|373]] [[/quyển 374|374]] [[/quyển 375|375]] [[/quyển 376|376]] [[/quyển 377|377]] [[/quyển 378|378]] [[/quyển 379|379]] [[/quyển 380|380]] [[/quyển 381|381]] [[/quyển 382|382]] [[/quyển 383|383]] [[/quyển 384|384]] [[/quyển 385|385]] [[/quyển 386|386]] [[/quyển 387|387]] [[/quyển 388|388]] [[/quyển 389|389]] [[/quyển 390|390]] [[/quyển 391|391]] [[/quyển 392|392]] [[/quyển 393|393]] [[/quyển 394|394]] [[/quyển 395|395]] [[/quyển 396|396]] [[/quyển 397|397]] [[/quyển 398|398]] [[/quyển 399|399]] [[/quyển 400|400]] [[/quyển 401|401]] [[/quyển 402|402]] [[/quyển 403|403]] [[/quyển 404|404]] [[/quyển 405|405]] [[/quyển 406|406]] [[/quyển 407|407]] [[/quyển 408|408]] [[/quyển 409|409]] [[/quyển 410|410]] [[/quyển 411|411]] [[/quyển 412|412]] [[/quyển 413|413]] [[/quyển 414|414]] [[/quyển 415|415]] [[/quyển 416|416]] [[/quyển 417|417]] [[/quyển 418|418]] [[/quyển 419|419]] [[/quyển 420|420]] [[/quyển 421|421]] [[/quyển 422|422]] [[/quyển 423|423]] [[/quyển 424|424]] [[/quyển 425|425]] [[/quyển 426|426]] [[/quyển 427|427]] [[/quyển 428|428]] [[/quyển 429|429]] [[/quyển 430|430]] [[/quyển 431|431]] [[/quyển 432|432]] [[/quyển 433|433]] [[/quyển 434|434]] [[/quyển 435|435]] [[/quyển 436|436]] [[/quyển 437|437]] [[/quyển 438|438]] [[/quyển 439|439]] [[/quyển 440|440]] [[/quyển 441|441]] [[/quyển 442|442]] [[/quyển 443|443]] [[/quyển 444|444]] [[/quyển 445|445]] [[/quyển 446|446]] [[/quyển 447|447]] [[/quyển 448|448]] [[/quyển 449|449]] [[/quyển 450|450]] [[/quyển 451|451]] [[/quyển 452|452]] [[/quyển 453|453]] [[/quyển 454|454]] [[/quyển 455|455]] [[/quyển 456|456]] [[/quyển 457|457]] [[/quyển 458|458]] [[/quyển 459|459]] [[/quyển 460|460]] [[/quyển 461|461]] [[/quyển 462|462]] [[/quyển 463|463]] [[/quyển 464|464]] [[/quyển 465|465]] [[/quyển 466|466]] [[/quyển 467|467]] [[/quyển 468|468]] [[/quyển 469|469]] [[/quyển 470|470]] [[/quyển 471|471]] [[/quyển 472|472]] [[/quyển 473|473]] [[/quyển 474|474]] [[/quyển 475|475]] [[/quyển 476|476]] [[/quyển 477|477]] [[/quyển 478|478]] [[/quyển 479|479]] [[/quyển 480|480]] [[/quyển 481|481]] [[/quyển 482|482]] [[/quyển 483|483]] [[/quyển 484|484]] [[/quyển 485|485]] [[/quyển 486|486]] [[/quyển 487|487]] [[/quyển 488|488]] [[/quyển 489|489]] [[/quyển 490|490]] [[/quyển 491|491]] [[/quyển 492|492]] [[/quyển 493|493]] [[/quyển 494|494]] [[/quyển 495|495]] [[/quyển 496|496]] [[/quyển 497|497]] [[/quyển 498|498]] [[/quyển 499|499]] [[/quyển 500|500]] [[/quyển 501|501]] [[/quyển 502|502]] [[/quyển 503|503]] [[/quyển 504|504]] [[/quyển 505|505]] [[/quyển 506|506]] [[/quyển 507|507]] [[/quyển 508|508]] [[/quyển 509|509]] [[/quyển 510|510]] [[/quyển 511|511]] [[/quyển 512|512]] [[/quyển 513|513]] [[/quyển 514|514]] [[/quyển 515|515]] [[/quyển 516|516]] [[/quyển 517|517]] [[/quyển 518|518]] [[/quyển 519|519]] [[/quyển 520|520]] || [[/quyển 521|521]] [[/quyển 522|522]] [[/quyển 523|523]] || [[/quyển 524|524]] [[/quyển 525|525]] [[/quyển 526|526]] [[/quyển 527|527]] [[/quyển 528|528]] [[/quyển 529|529]] [[/quyển 530|530]] [[/quyển 531|531]] [[/quyển 532|532]] [[/quyển 533|533]] [[/quyển 534|534]] [[/quyển 535|535]] [[/quyển 536|536]] [[/quyển 537|537]] || [[/quyển 538|538]] [[/quyển 539|539]] || || [[/quyển 539|539]] || [[/quyển 540|540]] || [[/quyển 540|540]]
|-
! [[/Bốc Thệ bộ |Bốc Thệ bộ]]
| [[/quyển 541|541]] [[/quyển 542|542]] [[/quyển 543|543]] [[/quyển 544|544]] [[/quyển 545|545]] [[/quyển 546|546]] [[/quyển 547|547]] [[/quyển 548|548]] [[/quyển 549|549]] [[/quyển 550|550]] [[/quyển 551|551]] [[/quyển 552|552]] [[/quyển 553|553]] [[/quyển 554|554]] [[/quyển 555|555]] [[/quyển 556|556]] [[/quyển 557|557]] || [[/quyển 558|558]] || [[/quyển 559|559]] [[/quyển 560|560]] [[/quyển 561|561]] [[/quyển 562|562]] || [[/quyển 562|562]] || || [[/quyển 563|563]] [[/quyển 564|564]] || [[/quyển 564|564]] ||
|-
! [[/Tinh Mệnh bộ |Tinh Mệnh bộ]]
| [[/quyển 565|565]] [[/quyển 566|566]] [[/quyển 567|567]] [[/quyển 568|568]] [[/quyển 569|569]] [[/quyển 570|570]] [[/quyển 571|571]] [[/quyển 572|572]] [[/quyển 573|573]] [[/quyển 574|574]] [[/quyển 575|575]] [[/quyển 576|576]] [[/quyển 577|577]] [[/quyển 578|578]] [[/quyển 579|579]] [[/quyển 580|580]] [[/quyển 581|581]] [[/quyển 582|582]] [[/quyển 583|583]] [[/quyển 584|584]] [[/quyển 585|585]] [[/quyển 586|586]] [[/quyển 587|587]] [[/quyển 588|588]] [[/quyển 589|589]] [[/quyển 590|590]] [[/quyển 591|591]] [[/quyển 592|592]] [[/quyển 593|593]] [[/quyển 594|594]] [[/quyển 595|595]] [[/quyển 596|596]] [[/quyển 597|597]] [[/quyển 598|598]] [[/quyển 599|599]] [[/quyển 600|600]] [[/quyển 601|601]] [[/quyển 602|602]] [[/quyển 603|603]] [[/quyển 604|604]] [[/quyển 605|605]] [[/quyển 606|606]] [[/quyển 607|607]] [[/quyển 608|608]] [[/quyển 609|609]] [[/quyển 610|610]] [[/quyển 611|611]] [[/quyển 612|612]] [[/quyển 613|613]] [[/quyển 614|614]] [[/quyển 615|615]] [[/quyển 616|616]] [[/quyển 617|617]] [[/quyển 618|618]] [[/quyển 619|619]] [[/quyển 620|620]] [[/quyển 621|621]] [[/quyển 622|622]] [[/quyển 623|623]] [[/quyển 624|624]] [[/quyển 625|625]] [[/quyển 626|626]] [[/quyển 627|627]] [[/quyển 628|628]] || [[/quyển 629|629]] || [[/quyển 629|629]] || [[/quyển 629|629]] || || [[/quyển 630|630]] || [[/quyển 630|630]] ||
|-
! [[/Tương Thuật bộ |Tương Thuật bộ]]
| [[/quyển 631|631]] [[/quyển 632|632]] [[/quyển 633|633]] [[/quyển 634|634]] [[/quyển 635|635]] [[/quyển 636|636]] [[/quyển 637|637]] [[/quyển 638|638]] [[/quyển 639|639]] [[/quyển 640|640]] [[/quyển 641|641]] [[/quyển 642|642]] [[/quyển 643|643]] [[/quyển 644|644]] [[/quyển 645|645]] [[/quyển 646|646]] || [[/quyển 647|647]] || [[/quyển 647|647]] [[/quyển 648|648]] || [[/quyển 648|648]] || || [[/quyển 648|648]] [[/quyển 649|649]] [[/quyển 650|650]] || [[/quyển 650|650]] ||
|-
! [[/Kham Dư bộ |Kham Dư bộ]]
| [[/quyển 651|651]] [[/quyển 652|652]] [[/quyển 653|653]] [[/quyển 654|654]] [[/quyển 655|655]] [[/quyển 656|656]] [[/quyển 657|657]] [[/quyển 658|658]] [[/quyển 659|659]] [[/quyển 660|660]] [[/quyển 661|661]] [[/quyển 662|662]] [[/quyển 663|663]] [[/quyển 664|664]] [[/quyển 665|665]] [[/quyển 666|666]] [[/quyển 667|667]] [[/quyển 668|668]] [[/quyển 669|669]] [[/quyển 670|670]] [[/quyển 671|671]] [[/quyển 672|672]] [[/quyển 673|673]] [[/quyển 674|674]] [[/quyển 675|675]] [[/quyển 676|676]] [[/quyển 677|677]] [[/quyển 678|678]] || [[/quyển 679|679]] || [[/quyển 679|679]] || [[/quyển 680|680]] || || [[/quyển 680|680]] || [[/quyển 680|680]] ||
|-
! [[/Tuyển Trạch bộ |Tuyển Trạch bộ]]
| [[/quyển 681|681]] [[/quyển 682|682]] [[/quyển 683|683]] [[/quyển 684|684]] [[/quyển 685|685]] || [[/quyển 686|686]] || || [[/quyển 686|686]] || || [[/quyển 686|686]] || [[/quyển 686|686]] ||
|-
! [[/Thuật Sổ bộ |Thuật Sổ bộ]]
| [[/quyển 687|687]] [[/quyển 688|688]] [[/quyển 689|689]] [[/quyển 690|690]] [[/quyển 691|691]] [[/quyển 692|692]] [[/quyển 693|693]] [[/quyển 694|694]] [[/quyển 695|695]] [[/quyển 696|696]] [[/quyển 697|697]] [[/quyển 698|698]] [[/quyển 699|699]] [[/quyển 700|700]] [[/quyển 701|701]] [[/quyển 702|702]] [[/quyển 703|703]] [[/quyển 704|704]] [[/quyển 705|705]] [[/quyển 706|706]] [[/quyển 707|707]] [[/quyển 708|708]] [[/quyển 709|709]] [[/quyển 710|710]] [[/quyển 711|711]] [[/quyển 712|712]] [[/quyển 713|713]] [[/quyển 714|714]] [[/quyển 715|715]] [[/quyển 716|716]] [[/quyển 717|717]] [[/quyển 718|718]] [[/quyển 719|719]] [[/quyển 720|720]] [[/quyển 721|721]] [[/quyển 722|722]] [[/quyển 723|723]] [[/quyển 724|724]] [[/quyển 725|725]] [[/quyển 726|726]] [[/quyển 727|727]] [[/quyển 728|728]] [[/quyển 729|729]] [[/quyển 730|730]] [[/quyển 731|731]] [[/quyển 732|732]] [[/quyển 733|733]] [[/quyển 734|734]] [[/quyển 735|735]] [[/quyển 736|736]] [[/quyển 737|737]] [[/quyển 738|738]] [[/quyển 739|739]] [[/quyển 740|740]] [[/quyển 741|741]] [[/quyển 742|742]] [[/quyển 743|743]] [[/quyển 744|744]] || [[/quyển 745|745]] || [[/quyển 745|745]] [[/quyển 746|746]] || [[/quyển 746|746]] || || [[/quyển 746|746]] || [[/quyển 746|746]] ||
|-
! [[/Xạ Phúc bộ |Xạ Phúc bộ]]
| || || || || || [[/quyển 747|747]] || ||
|-
! [[/Quải Ảnh bộ |Quải Ảnh bộ]]
| || || || || || [[/quyển 747|747]] || [[/quyển 747|747]] ||
|-
! [[/Sách Tự bộ |Sách Tự bộ]]
| [[/quyển 747|747]] [[/quyển 748|748]] || || || || || [[/quyển 748|748]] || ||
|-
! [[/Hoạch bộ |Hoạch bộ]]
| [[/quyển 749|749]] [[/quyển 750|750]] [[/quyển 751|751]] [[/quyển 752|752]] [[/quyển 753|753]] [[/quyển 754|754]] [[/quyển 755|755]] [[/quyển 756|756]] [[/quyển 757|757]] [[/quyển 758|758]] [[/quyển 759|759]] [[/quyển 760|760]] [[/quyển 761|761]] [[/quyển 762|762]] [[/quyển 763|763]] [[/quyển 764|764]] [[/quyển 765|765]] || [[/quyển 766|766]] || [[/quyển 767|767]] [[/quyển 768|768]] [[/quyển 769|769]] [[/quyển 770|770]] [[/quyển 771|771]] [[/quyển 772|772]] [[/quyển 773|773]] [[/quyển 774|774]] [[/quyển 775|775]] [[/quyển 776|776]] [[/quyển 777|777]] [[/quyển 778|778]] [[/quyển 779|779]] [[/quyển 780|780]] [[/quyển 781|781]] [[/quyển 782|782]] [[/quyển 783|783]] [[/quyển 784|784]] [[/quyển 785|785]] [[/quyển 786|786]] [[/quyển 787|787]] [[/quyển 788|788]] || [[/quyển 789|789]] [[/quyển 790|790]] [[/quyển 791|791]] [[/quyển 792|792]] || || [[/quyển 793|793]] [[/quyển 794|794]] || [[/quyển 795|795]] [[/quyển 796|796]] || [[/quyển 796|796]]
|-
! [[/Đầu Hồ bộ |Đầu Hồ bộ]]
| [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]] || || [[/quyển 797|797]] || || [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]] || [[/quyển 797|797]]
|-
! [[/Dịch Kỳ bộ |Dịch Kỳ bộ]]
| [[/quyển 798|798]] || [[/quyển 799|799]] || [[/quyển 799|799]] || [[/quyển 799|799]] [[/quyển 800|800]] || || [[/quyển 800|800]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]]
|-
! [[/Đàn Kỳ bộ |Đàn Kỳ bộ]]
| [[/quyển 801|801]] || || || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]] || [[/quyển 801|801]]
|-
! [[/Xúc Cúc bộ |Xúc Cúc bộ]]
| [[/quyển 802|802]] || || || [[/quyển 802|802]] || || [[/quyển 802|802]] || [[/quyển 802|802]] || [[/quyển 802|802]]
|-
! [[/Lộng Hoàn bộ |Lộng Hoàn bộ]]
| [[/quyển 803|803]] || || || || || [[/quyển 803|803]] || [[/quyển 803|803]] ||
|-
! [[/Tàng Câu bộ |Tàng Câu bộ]]
| [[/quyển 804|804]] || || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Thu Thiên bộ |Thu Thiên bộ]]
| [[/quyển 804|804]] || || || [[/quyển 804|804]] || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Phong Tranh bộ |Phong Tranh bộ]]
| || || || [[/quyển 804|804]] || || [[/quyển 804|804]] || [[/quyển 804|804]] ||
|-
! [[/Kỹ Hý bộ |Kỹ Hý bộ]]
| [[/quyển 805|805]] || || || [[/quyển 805|805]] || || [[/quyển 805|805]] || [[/quyển 805|805]] ||
|-
! [[/Ảo Thuật bộ |Ảo Thuật bộ]]
| || || || [[/quyển 806|806]] || || [[/quyển 806|806]] || [[/quyển 806|806]] ||
|-
! [[/Bác Hý bộ |Bác Hý bộ]]
| || || || [[/quyển 807|807]] || || [[/quyển 807|807]] || [[/quyển 807|807]] || [[/quyển 807|807]]
|-
! [[/Thương Giả bộ |Thương Giả bộ]]
| [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] || || [[/quyển 808|808]] || [[/quyển 808|808]] ||
|-
! [[/Vu Hích bộ |Vu Hích bộ]]
| [[/quyển 809|809]] || || || [[/quyển 809|809]] || || [[/quyển 809|809]] [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]] ||
|-
! [[/Quyền Bác bộ |Quyền Bác bộ]]
| [[/quyển 810|810]] || || || [[/quyển 810|810]] || || [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]] || [[/quyển 810|810]]
|-
! [[/Thích Khách bộ |Thích Khách bộ]]
| || || [[/quyển 811|811]] || [[/quyển 812|812]] || || [[/quyển 812|812]] || [[/quyển 812|812]] || [[/quyển 812|812]]
|-
! [[/Dong Công bộ |Dong Công bộ]]
| [[/quyển 813|813]] || || || [[/quyển 813|813]] || || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]]
|-
! [[/Đao Nhiếp bộ |Đao Nhiếp bộ]]
| || || || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] || [[/quyển 813|813]] ||
|-
! [[/Bao Tể bộ |Bao Tể bộ]]
| [[/quyển 814|814]] || || || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]]
|-
! [[/Nha Quái bộ |Nha Quái bộ]]
| [[/quyển 814|814]] || || || || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] || [[/quyển 814|814]] ||
|-
! [[/Khất Cái bộ |Khất Cái bộ]]
| [[/quyển 815|815]] || || [[/quyển 815|815]] || [[/quyển 815|815]] || || [[/quyển 815|815]] || [[/quyển 815|815]] ||
|-
! [[/Ưu Linh bộ |Ưu Linh bộ]]
| [[/quyển 816|816]] || || [[/quyển 817|817]] || || || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]]
|-
! [[/Ổi Lỗi bộ |Ổi Lỗi bộ]]
| [[/quyển 818|818]] || || || [[/quyển 818|818]] || || [[/quyển 818|818]] || [[/quyển 818|818]] ||
|-
! [[/Xướng Kỹ bộ |Xướng Kỹ bộ]]
| [[/quyển 819|819]] [[/quyển 820|820]] [[/quyển 821|821]] || || || [[/quyển 822|822]] [[/quyển 823|823]] || || [[/quyển 824|824]] || [[/quyển 824|824]] ||
|}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
6fxh60oggduv49yg2vtb58y1wjb0041
Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/quyển 538
114
71975
204756
2026-04-17T10:10:44Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành | tác giả= Trần Mộng Lôi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/第538卷 | năm= 1726 | phần = Bác vật vị biên<br>Nghệ thuật điển<br>'''Y bộ'' - '''quyển 538''' | trước= [[../quyển 537|quyển 537]] | sau= [[../quyển 539|quyển 539]] | ghi chú = }} ==Y bộ Nghệ văn 1== ===Biển Th…”
204756
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/第538卷
| năm= 1726
| phần = Bác vật vị biên<br>Nghệ thuật điển<br>'''Y bộ'' - '''quyển 538'''
| trước= [[../quyển 537|quyển 537]]
| sau= [[../quyển 539|quyển 539]]
| ghi chú =
}}
==Y bộ Nghệ văn 1==
===Biển Thước Thương Công truyện tán===
'''Hán · Tư Mã Thiên (司馬遷)'''
Thái Sử Công (太史公) nói: Con gái không kể đẹp hay xấu, hễ vào cung là bị đố kỵ; kẻ sĩ không kể hiền tài hay bất tài, hễ vào triều là bị nghi kỵ. Thế nên Biển Thước (扁鵲) vì tài năng của mình mà gặp họa, Thương Công (倉公) phải che giấu dấu vết, ở ẩn mà vẫn bị hình phạt. Đề Oanh (緹縈) dâng thư dài 1 thước, nhờ đó người cha mới được yên ổn về sau. Cho nên sách "Lão Tử (老子) có câu: "Kẻ tài giỏi là vật không lành". Phải chăng là nói về những người như Biển Thước (扁鵲)? Còn như Thương Công (倉公), có thể nói là gần với đạo ấy vậy.
===Hán Thư Nghệ văn chí tự===
'''Ban Cố (班固)'''
"Y kinh (醫經) là thứ tìm về nguồn cội huyết mạch, kinh lạc, xương tủy, âm dương, biểu lý của con người để khởi đầu việc tìm gốc rễ của 100 bệnh, phân định ranh giới giữa cái chết và sự sống; từ đó dùng mức độ của châm thạch, thang hỏa để thi triển, điều hòa sự thích hợp của 100 vị thuốc. Đạt được đến chỗ tinh vi thì như đá nam châm hút sắt, vật này điều khiển vật kia. Kẻ vụng về thì làm mất lý lẽ, khiến bệnh đang lành trở nên kịch liệt, khiến người đáng sống phải tử vong.
"Kinh phương (經方) là dựa trên tính hàn ôn của thảo mộc và đá, đo lường nông sâu của bệnh tật, mượn sự bồi bổ của vị thuốc, nương theo sự thích hợp của khí cảm, biện biệt 5 vị đắng, 6 vị cay, đạt đến sự điều hòa của thủy hỏa, để thông chỗ tắc, giải chỗ kết, đưa cơ thể trở lại trạng thái quân bình. Đến như kẻ làm mất đi sự thích hợp, lại dùng nóng thêm nóng, dùng lạnh tăng lạnh, khiến tinh khí nội thương mà không lộ ra ngoài, đó là cái sai lầm riêng biệt vậy. Thế nên tục ngữ có câu: "Có bệnh không chữa, thường được như thầy thuốc hạng trung."
===Lại nói (Cùng tác giả)===
Phương kỹ (方技) đều là công cụ để bảo vệ sự sống, là một chức trách của hàng vương quan. Thời Thái cổ có Kỳ Bá (岐伯), Du Phụ (俞跗); thời Trung thế có Biển Thước (扁鵲), Tần Hòa (秦和). Họ luận bệnh để suy đến quốc gia, xét chẩn đoán để biết việc chính trị. Đời Hán (漢) hưng thịnh có Thương Công (倉公). Nay kỹ thuật ấy mờ mịt, nên luận về sách đó để làm tự cho phần "Phương kỹ".
===Khuyến y luận===
'''Lương (梁) · Giản Văn Đế (簡文帝)'''
Bài "Khuyến y" nói rằng: Trong trời đất, chỉ con người là linh thiêng nhất. Điều con người coi trọng không gì bằng tính mạng. Tuy thọ ngắn hay dài có phần định sẵn, chết non hay sống lâu do trời quyết định, nhưng thời tiết nóng lạnh thất thường, ham muốn quá độ sai tiết nhịp, nên cái lạnh của sốt rét, cái nóng của bệnh tiêu khát dẫn đến cái chết khác nhau. Việc hủy hoại bản tính, nát ruột gan, làm tiêu tan tuổi thọ không chỉ có 1 nguyên nhân. Yếu điểm để cứu giúp việc này thực sự nằm ở phương thuốc tốt.
Cho nên Kỳ Vực (祇域) là bậc Y vương, am hiểu điển tích nhà Phật; như Đại sư lấy hiệu là Y vương, vì Như Lai có thể chữa bệnh phiền não, còn thầy thuốc chỉ có thể chữa sự rối loạn của 4 đại. Lại có những tao nhân ngâm vịnh về Bành Thành (彭城), nước Tần (秦) khen ngợi Hòa (和), Hoãn (緩), Quý Lương (季梁) gặp được Lư Thị (盧氏), Quách Thái tử (虢子) gặp được Việt Nhân (越人). Cho đến đạo tiên bay bổng nhìn xa, đạo mầu trường sinh, biến "lục nhất" thành kim dịch, đổi "tam thất" thành ngân hoàn, cất giữ bí mật trong hộp ngọc, nghiên cứu sự sâu thẳm của sách tím. Nhựa đào là gì mà Bắc Đẩu không giấu được hình; kim tương chẳng xa, minh châu còn phải hổ thẹn về giá trị. Có thể khiến dưới cửa nghiệp môn, tiếng trống vang truyền riêng biệt; bên cạnh miếu Ung (雍), tiếng sáo vẫn còn.
Chế độ "Chu Lễ (周禮), chức Tật y nắm giữ bệnh tật của vạn dân, hễ dân có bệnh thì phân chia mà cứu chữa. Cuối năm thì mỗi người viết lại những ca đã trị, nộp lên Y sư, để biết bệnh lành hay không, lấy đó làm phép tắc răn dạy về sau. Đến như việc nghiên cứu tinh vi nguyên lý, khảo hạch tông phái Nho gia, suốt ngày thanh đàm, thâu đêm giảng tập; mới học thì nương nhờ nơi chợ búa mà ưa lời nịnh hót, tích công đức lâu ngày thì làm thầy mới hiển danh, ngày tiến tháng tới mới gọi là bậc thạc học. Sau khi chuyên tâm vào kinh điển, vẫn cần luận bàn sắc sảo, lưới giăng càng rộng, đào sâu thấy lý, say mê không tỉnh, chỉ thấy ngày giờ là không đủ.
Lại như làm thơ, thì cần thấy được ý tứ, hoặc cổ hoặc kim, hoặc nhã hoặc tục, đều phải lọt vào mắt, xét kỹ việc bỏ hay lấy, sau đó lời hay mới thốt ra, vần điệu mới nảy sinh. Làm gì có chuyện cầm bút không hỏi mà giỏi thơ, ngậm miệng không bàn mà giỏi nghĩa. Dương Tử Vân (揚子雲) nói: "Đọc 1.000 bài phú thì có thể làm được phú." Huống hồ đạo làm thuốc, việc chẩn mạch ở 9 bộ rất tinh vi, phẩm loại của 100 vị thuốc khó cứu tận gốc; xem sắc diện, phân biệt âm thanh, công phu ấy rất bí ẩn; vị cay mùa thu, vị đắng mùa hè, những biến đổi nhỏ nhặt khó nhận biết.
Mà những kẻ học thuật hiện nay chưa từng tra cứu hợp nhất, chẳng có thảo luận. Đa phần lấy lúc thời trẻ tuổi, xem qua phương thuốc sơ sài, chỉ biết sơ lược cam thảo là ngọt, quế tâm là cay, đã tự cho là đủ, vứt bỏ kinh phương. Giống như Dữu Khải (庾敳) đọc sách "Trang Tử (莊子), khác hẳn Khổng Khâu (孔丘) yêu thích "Chu Dịch (周易). Thế nhưng người bệnh tìm đến mình, lại không thể hết ý chữa trị. Giả sử không thể giúp người, tự có thể giúp mình. Sở dĩ như vậy là vì nếu không phân biệt sang hèn, dốc lòng xem xét, lấy cái đã nghiệm trước để soi cái sau, tự khắc sẽ hiểu được. Mỗi ngày biết thêm cái mình chưa biết, ngồi đó cũng thành diệu thuật; vậy mà lại cáo lỗi là không làm được.
Người chữa bệnh thì đông, nhưng chắc chắn dùng sự cẩu thả để đáp ứng, kẻ làm lầm lỗi thì nhiều, người yêu thương người thì ít. Đó là vì mỗi ngày kê 100 phương thuốc, mỗi tháng viết 1.000 quyển trục, mà chưa từng xem nhẹ dược tính, phó mặc sống chết, cái công phu phù hoa ấy làm sao mà đạt được? Đến khi tình cảm sâu nặng với thân thuộc, tình thiết cốt nhục, bệnh khởi từ cao hoang, đau phát từ phủ du, dù muốn dốc hết công trị liệu nhưng nghĩ không ra cách. Tại sao vậy? Vì vốn dĩ không thường xuyên luyện tập, lúc gấp rút khó mà thay đổi được. Mè đen, lộc hoắc chỉ cứu được chứng đau đầu; mạch khúc, xuyên khung lại ngăn được bệnh "hà ngư (tiêu chảy). Suy nghĩ không thấu đáo, sự việc bó hẹp dưới ách xe, muốn cầu cứu người chết ở Nguyên Đô (元都), rạng danh mình trên sách xanh, liệu có được chăng?
Đạo thuật khốn cùng thực sự đã đến mức này, thật đáng nên suy nghĩ kỹ ý này, đổi mới cái tốt đẹp, không chỉ để truyền danh về sau, mà còn là công đức rất sâu dày. So với việc thả 1 con chim bồ câu khỏi cân đo, cứu sống 10.000 con cá dưới ao nước, không thể cùng ngày mà bàn luận vậy.
===Ngôn Y (Bàn về việc dùng lời nói làm thuốc)===
'''Đường (唐) · Lý Hoa (李華)'''
Tấn Hầu (晉侯) đang mưu tính đánh nước Tần (秦), bỗng nhiên đổ bệnh. Tần Bá (秦伯) sai thầy thuốc tên là Hòa (和) sang thăm khám. Lúc sắp đi, Tần Bá dặn rằng: "Hai nước lân bang đang lúc bất hòa, đại phu định hành động thế nào?". Hòa đáp: "Thần không cần dùng đến thuốc đá, xin dùng lời nói để chữa khỏi bệnh cho Tấn Hầu mà quốc gia không bị tổn hại". Tần Bá vui mừng, dùng lễ nghi hàng khanh tướng tiễn đi.
Hòa đến nước Tấn (晉), vua Tấn tiếp đãi tại cung Đồng Đê (銅鞮). Vua dựa lưng vào nệm dày béo, dựa thân vào vẻ dung mạo mềm mại, những người hầu hạ thay áo gấm thêu châu ngọc có đến hơn 100 người. Đầu bếp bày vạc nấu thức ăn đầy sân rồi mới mời khách. Khách từ chối rằng: "Lúc đầu thần nhận mệnh của quân chủ nước tôi, coi việc trừ bệnh cho ngài là nhiệm vụ. Nay đại quốc lại dùng sắc đẹp và ăn uống để làm bệnh thêm cho thần, đó không phải việc thần có thể đảm đương". Quân sư Trung quân đáp: "Đây là lễ tiết quân chủ chúng tôi đãi tiên sinh, không ngờ lại thành quá đáng, kính xin tiên sinh tự chọn theo ý". Khách nói: "Thần rong ruổi dặm xa 1.000 dặm, hình hài mệt mỏi mà khí lực không đủ. Chỉ mong có 1 thịnh rượu, 1 khí quả, chút thịt khô cá khô để đưa cơm mà thôi, còn lại không dám làm phiền đại quốc".
Hòa lạy 2 lạy nhận ban thưởng rồi mới chẩn mạch, nói rằng: "Tiếng của ngài lưu tán mà thuộc dương, khí đục mà nổi, sắc mặt lạnh mà dung mạo mạnh mẽ, rất giống với Sở Vương (楚王). Như thế cũng có thể chữa được, mà cũng có thể không chữa được". Tấn Hầu hỏi: "Sở Tử (楚子 - tức Sở Vương) thế nào mà so với quả nhân?". Khách đáp: "Thần từng sang sứ nước Sở (楚), cõi Sở lớn mà giàu, núi sông rừng chầm tươi tốt, vượt qua sông Hoài (淮) đến tận Nam Hải (南海), Tấn (晉) cùng với Tề (齊), Tần (秦) đều không địch nổi". Tấn Hầu nói: "Quả nhân chưa từng đến đất Sở, hãy gác chuyện Sở Vương lại, muốn nghe thuyết về nước ấy".
Khách nói: "Ngài không nghĩ đến thần, cũng chưa xét đến chuyện biên cương nước Sở, thần xin cứ theo những gì mắt thấy mà nói. Đất Sở ấy, từ vùng ngoại ô đã cách thành Dĩnh (郢) còn những 300 dặm. Đánh xe lên gò, nhìn ngang các cung điện, màu đỏ trắng sáng rực cả trời, ngẩng đầu không thấy khoảng không, như vật trôi nổi giữa dòng nước. Sóng xanh lay động, cao thấp theo gió. Mịt mù phương Nam, thông núi không dứt, lúc ẩn lúc hiện, cao thấp so le. Mây trôi nặng nhẹ, lúc mất lúc sáng. Đường sá xa xăm, quanh núi lượn sông. Lọng xe như mái hiên, thoáng chốc đã lên đến nguyên cao, mây đỏ bao phủ đỉnh đầu, giơ tay có thể chạm trời. Những nơi vốn cao nay lại ở dưới bánh xe. Vực thẳm âm u, ném đá không nghe tiếng vọng...
Sở Vương hưởng lạc quá mức mà người dân Sở rất khốn khổ, Thân Thúc (申叔) đã xin cáo lão không tham gia chính sự nữa". Lời chưa dứt, Tấn Hầu thở hắt ra, vươn vai nói: "Lúc nãy tiên sinh nói có thể chữa được là vì sao?". Khách đáp: "Điều này chưa đủ để làm lụy nước Sở, nên nói là có thể chữa. Nếu cứ trương lên mãi mà không biết chán, thì không thể chữa được". Tấn Hầu sắc mặt tươi tỉnh, sức lực trỗi dậy, đuổi người đánh xe đi, dẹp bỏ bàn tiệc mà thưa rằng: "Tiên sinh hãy nói hết đi, bệnh của quả nhân may mắn đã thuyên giảm rồi".
Khách nhân thời cơ đó mà thuyết phục: "Nước Sở sai Lệnh doãn và Tư mã luyện binh ở biên giới phía Bắc để lấn át tệ ấp (nước Tần). Những đại phu trẻ tuổi của tệ ấp thì xin mở cửa quan để quyết chiến, những người già thì bảo: 'Quân thượng nên chăm lo cho dân nghỉ ngơi, Sở cậy giàu mạnh, vì xa hoa mà sinh dục vọng, chưa đáng sợ đâu'. Quân chủ tôi bèn mở kho phát chẩn, bốn cõi dân nghèo đem đồ dùng 4 mùa đến xin dâng. Quân chủ tôi nói: 'Vật này từ dân mà ra, nay trả lại cho dân, không có dân thì không có vật này, có gì mà tiếc?'. Lại hạ lệnh cho Thượng đại phu đem tiền của ban cho dân và tạ rằng: 'Cô gia thiếu đức, khiến cha con anh em các ngươi không tự bảo toàn được trước quân Sở, nên dốc hết của cải để an ủi'. Người Tần cảm động đều khóc. Phụ nữ, thiếu nữ cũng xin ra sức báo thù Sở. Triều đình Sở nghe tin đó, buổi sáng biết chuyện thì buổi tối đã thu quân. Quân thần nước Sở sợ hãi mà thần phục nước Tần. Đây là thuật không đánh mà thắng của tiên vương vậy".
Tấn Hầu bừng tỉnh, lấy chuyện nước Sở mà soi chiếu vào nước Tấn, bèn bãi bỏ mưu đồ đánh Tần. Từ đó đại quốc tu sửa giao hảo, tiểu quốc đến triều kiến, thiên hạ đều phục. Khách quả nhiên dùng lời nói mà chữa khỏi bệnh cho Tấn, nên gọi là "Ngôn Y".
===Thuật Y (Thuật lại việc y đức)===
'''Tống (宋) · Cung Đỉnh Thần (龔鼎臣)'''
Sách "Chu Quan (周官) chép: "Thầy thuốc nắm giữ việc nuôi dưỡng bệnh tật của vạn dân". Phàm là người mắc bệnh đều có thể chữa được. Chỉ có để lâu không chữa mới dẫn đến cái chết. Chưa thấy ai có bệnh được chữa mà lại không thể khỏi.
Đất Ba (巴), Sở (楚), phong tục tin vào phù thủy và ma quỷ, thực ra đã có từ xưa. Khi 5 khí tương khắc, hoặc dẫn đến nỗi khổ của bệnh dịch, người dân đều cho rằng đó là thiên thời, không phải thuốc men có thể chống lại. Vì thế việc cúng tế cầu đảo quỷ thần không lúc nào ngơi, lễ vật gà, lợn, vịt, cừu chỉ sợ không phong phú. Đến khi không khỏi, thì ai nấy tự trách mình sự thờ phụng quỷ thần chưa thấu đáo. Hoặc nếu may mắn khỏi bệnh, lại bảo rằng: "Nhờ cầu khẩn siêng năng, dâng lễ nhiều lần đấy. Nếu không, sao chống lại được thiên thời?".
Lại có người không chữa trị sớm, độc tính của bệnh hằng ngày hun đúc, cả nhà đều mắc bệnh. Thế nên dù là bạn thân thiết, cách xa 100 bước cũng không dám nhìn vào cửa ngõ. Thậm chí người trong nhà bệnh sợ lây nhiễm lẫn nhau, con sợ cha, vợ tránh chồng. Nếu nhà giàu có thì còn thuê được 1 thầy phù thủy đứng canh, kẻ nghèo khổ thì chỉ biết nằm liệt rên rỉ trong căn buồng độc nhất mà thôi. Như thế không chỉ tuyệt đường thuốc men, mà ngay cả ăn uống cũng bị cắt đứt. Những người chết như vậy thường chiếm đến 8 hay 9 phần trong số 10 phần, vậy mà dân vẫn không tỉnh ngộ.
Tôi từng hỏi mọi người, cái họa ấy không gì khác ngoài việc thầy phù thủy được tin trọng hơn thầy thuốc. Than ôi! Phù thủy sao có thể chắc chắn thắng được thầy thuốc? Sở dĩ thắng được là vì người đời thường dễ bị tà thuyết làm mê hoặc. Bệnh tật xâm nhập bên trong, quỷ thần u minh bên ngoài, thuốc tốt là để trị bên trong. Nay không lo trừ bệnh ở trong mà chỉ cầu phúc từ bên ngoài, đến mức những nghĩa cử thăm hỏi an ủi cũng không thông thuộc nữa, chẳng phải lầm lạc lắm sao?
Ví như lúa tốt trên đồng bị sâu đục thân làm hại, chỉ cần trừ hết sâu thì lúa mới trổ bông kết hạt được. Nhà tích của quý mà trộm vào cửa, chủ nhà cầm dao gậy, hoặc giết hoặc bắt thì tài sản mới vẹn toàn. Thân thể con người cũng vậy, mắc phải khí âm dương, gặp lúc dịch bệnh, phải nhờ thầy thuốc xem sắc diện nghe âm thanh, bắt mạch bốc thuốc, khiến bệnh rời khỏi bụng, tim, gan, hoành cách mô, sau đó thân thể mới bình phục. Nếu không dùng y học, khác gì không trừ sâu mà mong lúa chín, không đuổi trộm mà cầu của cải còn nguyên, quyết không thể được.
Huống hồ quốc gia coi trọng sách thuốc, coi đó là việc trọng yếu nhất. Tiền triều đã biên soạn các danh phương, ban bố khắp thiên hạ các quận quốc, trong đó mô tả trạng thái bệnh dịch thời tiết rất chi tiết. Đến năm Khánh Lịch (慶曆 - năm 1041-1048 dương lịch), Phạm Văn Chính Công (範文正公 - Phạm Trọng Yêm) dâng kế sách, khiến cho những người học y từ kinh sư đến bốn phương đều tập trung giảng tập để tinh thông thuật ấy, đào thải kẻ tầm thường lầm lỗi, cứu sống linh hồn, rõ ràng là một sự trợ giúp cho đạo trị quốc. Vậy mà người đời không hiểu ý nhân ái của triều đình, cứ mù quáng tin theo tà thuyết mà làm hại tính mạng, tôi thực sự thương xót.
Nay đã răn dạy các Y bác sĩ hằng ngày cùng đám môn đồ, khảo cứu thuật của Thần Nông (神農), Tử Nghi (子儀), Biển Thước (扁鵲), Tần Hòa (秦和), cùng hội tụ tại đạo của Kỳ Bá (岐伯), Du Phụ (俞柎), lấy chính thống trừ tà phái, lấy sự chân thành tiêu diệt sự hoang đường, khiến cho bệnh có thể trị không cuối cùng gây hại cho người, cũng là một việc cứu giúp dân vậy. Nhưng lo rằng dân vùng Ba (巴), Biền (賨) vẫn giữ thói cũ, không biết sự thần hiệu của y học, lại đi cầu khẩn quỷ thần dâm tế nhiều gấp bội, nên khắc lời này để thông cáo.
===Y Minh (醫銘)===
'''Lữ Hối (呂誨)'''
Vũ Thái (武泰) là người nước Tấn (晉), thông hiểu y thuật, quan thủ thần dâng sớ tiến cử, được bổ làm Đại y chính. Khi về quê nhà, ông lập miếu Ứng Thánh Hầu (應聖侯). Nghề nghiệp đã thành, ông quy công đức cho thầy, lại muốn mở rộng việc dạy bảo kẻ đến học, chí hướng ấy thật đáng khen ngợi. Ta bị giáng chức, chuyển đến làm thủ quận tại Bồ Trung (蒲中). Lúc ta sắp đi, ông xin bài văn để làm rạng danh ngôi miếu, nên ta làm bài Y Minh này. Khen ngợi ý định ân cần của ông, ta giúp ông hoàn thành tâm nguyện, biết rằng lời của ta có thể làm tăng thêm điều thiện vậy. Bài minh rằng:
6 khí 5 hành, con người bẩm thụ mà sinh ra. 3 bộ 9 hậu, nạp vào sự hòa bình. Xưa gọi là tuyệt kỹ, rửa ruột sạch dạ dày, phụ thêm bằng đá châm (biếm thạch), nhờ đó mà quyết vỡ chỗ ung nhọt. Xem xét nguồn gốc của mạch, phải làm từ khi bệnh chưa hình thành. Không đánh mà thắng, gần như 10 phần toàn vẹn. Chữa bệnh cho đời, như cầm cán cân quốc gia, thường khiến lũ tà khí không thể xâm phạm chính khí. Nếu tận dụng được ý chí của mình, bệnh ở cao hoang tất phải khỏi. "Nếu có lợi cho nghề nghiệp, sai 1 ly đi 1.000 dặm. Thái (泰) là người có hành vi, lòng không quên thầy, coi trọng nghĩa hơn lợi, cẩn trọng trong việc cứu chữa."
===Hàn lâm Y quan Thượng dược Phụng ngự Vương Vĩnh Khả y tiền Thượng dược Phụng ngự Trực Hàn lâm Y quan(翰林醫官尚藥奉御王永可依前尚藥奉御直翰林醫官)===
'''Lý Thanh Thần (李清臣)'''
Phàm các phương kỹ có ích cho con người, đều được chuẩn bị như một chức trách của hàng vương quan. Mà ngươi vốn giỏi chẩn bệnh xét sắc diện, được khen là tinh thông sáng suốt, xét sự chuyên cần qua các kỳ khảo khóa, nay thăng trật tự cho ngươi. Hãy càng thêm cố gắng vậy!
===Cái Công đường ký (蓋公堂記)===
'''Tô Thức (蘇軾)'''
Lúc đầu ta ở quê, có người bị bệnh hàn mà ho, hỏi các thầy thuốc, thầy thuốc cho là bị trúng cổ độc, không chữa sẽ chết người. Họ lấy của người đó 100 lạng vàng để chữa trị, cho uống thuốc trị cổ, đánh phá vào thận và ruột, đốt cháy da thịt, cấm đoán những thức ăn ngon. Sau 1 tháng, 100 thứ bệnh cùng phát ra, trong nóng ngoài lạnh mà tiếng ho chẳng dứt, gầy mòn rộc đi như người trúng cổ thật vậy. Lại tìm thầy thuốc khác, thầy thuốc cho là bị nhiệt, đưa cho thuốc hàn, sáng sớm thì nôn ra, tối muộn thì tiêu chảy, thế là bắt đầu không ăn được nữa. Sợ quá mà làm ngược lại, thì chung nhũ, ô uế đủ loại cùng đưa vào, khiến các trạng thái ung nhọt, lở ngứa, chóng mặt hoa mắt không gì không đến. Thay đổi thầy thuốc 3 lần mà bệnh càng nặng.
Ông lão trong làng dạy rằng: "Đó là tội của thầy thuốc, lỗi của thuốc vậy. Anh vốn có bệnh gì đâu? Con người sinh ra lấy khí làm chủ, ăn uống làm bổ trợ. Nay anh suốt ngày thuốc không rời miệng, mùi vị hỗn loạn bên ngoài, 100 thứ độc giao chiến bên trong, làm nhọc cái chủ (khí), ngăn cách cái trợ (ăn), vì thế mà sinh bệnh. Anh hãy lui về nghỉ ngơi, tạ từ thầy thuốc, bỏ hết thuốc đi, ăn những thứ mình thích, khí sẽ vẹn toàn mà ăn sẽ thấy ngon. Khi đó, thuốc tốt thực sự chỉ cần uống 1 lần là có hiệu quả." Làm theo trong 1 tháng, bệnh quả nhiên khỏi hẳn.
===Dược tụng (藥誦)===
'''Tác giả như trên (Tô Thức)'''
Kê Trung Tán (嵇中散) làm bài U phẫn thi , biết là không tránh khỏi cái chết, nhưng chương cuối lại nói: "Hái rau vi nơi sườn núi, xõa tóc chốn hang sâu, ca hát dài lâu, dưỡng tính luyện thọ", ấy là đau xót vì chí hướng này không thực hiện được. Tư Mã Cảnh Vương (司馬景王) sau khi giết Trung Tán (中散) thì hối hận. Nếu hối hận từ trước khi giết, để Trung Tán (中散) thoát chết, ta biết ông ấy sẽ xóa sạch dấu vết nơi nhân gian, như thỏ thoát cũi vào rừng vậy. Hái rau vi, xõa tóc há phải là việc khó sao?
Tôn Chân Nhân (孫真人) viết trong Đại phong ác tật luận rằng: Trong Thần tiên truyền có vài mươi người, đều nhờ mắc bệnh hiểm nghèo mà đắc đạo tiên. Tại sao vậy? Vì cắt bỏ được bụi trần, mang phong thái của Dĩnh Dương (穎陽), ấy là nhờ họa mà được phúc. Ta mới đắc tội bị đày đến Lĩnh Biểu (嶺表), không tự nghĩ là toàn mạng, đã qua 1 năm, không có mệnh lệnh gì thêm, biết là không chết rồi. Nhưng bệnh trĩ cũ hành hạ, đến nay phát tác lớn, rên rỉ gần 100 ngày, đất này không có thầy thuốc, có thuốc cũng không hiệu quả.
Đạo sĩ dạy ta bỏ mùi vị ngon ngọt, dứt bỏ hành hẹ máu thịt, dùng sự thanh tịnh để chiến thắng nó. Bệnh trĩ có con trùng trú ngụ ở hậu môn của ta. Mùi vị và máu thịt vốn để dưỡng thân ta, cũng là để dưỡng trùng. Từ nay trở đi, sáng tối ăn 4 lạng mì nhạt, nếu vẫn nghĩ đến ăn thì dùng hồ ma, phục linh bổ sung vào. Ngoài việc ăn uống chính, không ăn thêm một vật gì. Chủ nhà (thân thể) khô héo thì khách (trùng) tự bỏ đi. Lại sợ tập tính dễ thay đổi, nên lấy lời của Trung Tán Chân Nhân (中散真人) để đối trị bệnh làm thuốc. Sai người tụng bài đó mỗi ngày 3 lần, rằng: "Đông Pha cư sĩ (東坡居士), ngươi quên nỗi lo của hơn 1 năm qua, nỗi khổ của 100 ngày sao? Nếu ngươi không may gặp họa như Trung Tán (中散), mắc bệnh như Bá Ngưu (伯牛), dù muốn hái rau vi xõa tóc, liệu có được chăng?"
Nay ăn hồ ma, lúa mạch, phục linh đã nhiều. Cư sĩ bèn hát đáp lại rằng: "Làm việc của không việc, 100 việc đều yên thay! Ăn vị của không vị, 5 vị đủ đầy thay! Phục linh, hồ ma, lúa mạch có lúc cạn thay! Có thì ăn, không thì thôi, đối với ta chẳng bao giờ hết thay! Ô hô hi hi, khách trọ không ở đến cùng, lấy đó làm hổ thẹn thay!"
===Tống Hạ y tự (Lời tựa tiễn thầy thuốc họ Hạ)===
'''Chu Hy (朱熹)'''
Ta từng khổ tâm vì: "Kẻ bàn luận trong đời đều cho rằng mọi việc thiên hạ hễ thích hợp với nay thì không nhất thiết phải bắt nguồn từ xưa, hễ hợp với tục thì không nhất thiết phải dựa vào kinh điển." Đến khi quan sát cách làm thuốc của Hạ quân (夏君), ta mới biết rằng ý kiến đó quyết không đúng. Cách Hạ quân (夏君) làm thuốc, lập phương dùng dược đều kỳ lạ xuất chúng, có những điểm dường như không hợp nhân tình, nhưng kết quả cuối cùng phần nhiều lại hiệu nghiệm. Đến khi hỏi vì sao lại như vậy, ông đều dựa vào kinh điển, khảo cứu tích xưa, chưa từng có điều gì là không có căn cứ. Ta vì thế thầm có cảm xúc, bèn viết bài này tặng ông để củng cố sự tin tưởng vào thuật của ông trong đương thế, đồng thời cũng để răn dạy những kẻ trong phe nhóm ta thường không chịu học theo người xưa mà chỉ biết tự dùng ý riêng vậy.
===Dữ Dương Nguyên Phủ luận Lương Khoan Phủ bệnh chứng thư (Thư bàn về chứng bệnh của Lương Khoan Phủ gửi Dương Nguyên Phủ)===
'''Nguyên (元) · Hứa Hành (許衡)'''
Về bệnh tình của Lương Khoan Phủ (梁寬甫): Hông bên phải là bộ phận của phổi. Ho mà nhổ ra huyết, cử động thì thở dốc, ấy là phế mạch vậy. Phát sốt, mạch sác (nhanh), không thể ăn uống được, ấy là hỏa đến hình khắc kim, cả phổi và tỳ đều hư. Phổi và tỳ đều hư mà hỏa thừa cơ lấn tới, bệnh đó là nghịch. Trường hợp như thế này, theo lệ thường không thể dùng phép bổ hay tả. Bởi bổ kim thì lo kim và hỏa đối chọi nhau khiến chứng suyễn và ho càng tăng; tả hỏa thì lo hỏa không thoái vị mà chứng huyễn bích (khối u) trái lại càng thịnh.
Chính đáng là nên dùng bài "Bổ trung ích khí thang", trước hết để phù trợ nguyên khí, thêm một ít thuốc hoạt bệnh vào. Nghe nói đã dùng thuốc này mà chưa hiệu quả, ý chừng là thế bệnh cực nghịch mà dược lực chưa thấu vậy. Nên cùng Khoan Phủ (寬甫) bàn bạc kỹ, đợi đến mùa thu mát mẻ, họa chăng mới bình phục được. Bởi lẽ mạch bệnh ghét mùa xuân và mùa hạ, khí hỏa đến mùa thu và mùa đông sẽ lui vậy. Chỉ nên dùng trong bài "Ích khí thang", tùy theo âm dương 4 mùa, thăng giáng phù trầm, ôn lương hàn nhiệt và các chứng tăng giảm mà uống. Thăng giáng phù trầm thì thuận theo nó, ôn lương hàn nhiệt thì làm ngược lại (phản trị), thuận cái thuận, hòa cái hòa, ấy là phương pháp lớn của việc trị bệnh.
Nếu cảm thấy khí bị tắc nghẽn thì uống xen kẽ "Gia giảm Chỉ thuật hoàn", nếu có tích trệ ăn uống thì uống xen kẽ "Chỉ thuật thang" của Cục phương. Sau vài tháng, họa chăng nghịch khí giảm bớt, nghịch khí giảm thì mới có thể thi triển pháp trị. Chỉ sợ từ nay đến lúc sắc mặt hiện màu xanh, màu đỏ, cùng mạch huyền, mạch hồng, thì không kịp nữa rồi.
Gần đây bàn về y học, có người chủ trương theo phái Lưu thị (劉氏) ở Hà Gian (河間), có người chủ trương theo phái Trương thị (張氏) ở Dịch Châu (易州). Trương thị (張氏) dùng thuốc dựa chuẩn theo âm dương 4 mùa mà tăng giảm, chính là nghĩa của việc "Tứ khí điều thần" trong "Nội kinh (內經), làm thầy thuốc mà không biết điều này là hành động càn rỡ. Lưu thị (劉氏) dùng thuốc cốt ở việc đẩy cái cũ ra, nạp cái mới vào (thôi trần trí tân), không để một chút u uất nào, chính là nghĩa của việc "tạo hóa luôn đổi mới mà không gây hại", làm thầy thuốc mà không biết điều này là không có thuật.
Tuy nhiên, kẻ chủ trương theo Trương thị (張氏) có khi chưa thấu hết cái diệu của Trương thị (張氏), nên các phương thuốc gây chấn động mạnh (minh huyễn) cuối cùng không dám dùng, dẫn đến lỡ mất cơ hội, quá thời điểm mà không cứu được rất nhiều. Kẻ chủ trương theo Lưu thị (劉氏) có khi chưa hiểu hết cái sâu sắc của Lưu thị (劉氏), nên chỉ mưu cầu hiệu quả nhất thời trước mắt, làm tổn hại ngầm đến chính khí, để lại tai họa về sau rất nhiều. Nếu có thể dùng cái sở trường của 2 nhà mà không mắc phải cái tệ của 2 nhà, thì việc trị bệnh gần như trọn vẹn vậy!
Bệnh tình của Khoan Phủ (寬甫) lúc mới cảm thụ hẳn là bị thương do vật gì rất sâu, bấy giờ tiêu đạo không hết, tích trệ kéo dài, biến sinh ra các chứng khác cho đến nay. E rằng cũng nên phỏng theo ý "Thôi trần trí tân" của Lưu thị (劉氏), thêm ít thuốc tiêu đạo vào trong "Ích khí thang", họa chăng mới có kỳ thuyên giảm dần. Ý kiến thiển cận của ta là vậy, không dám cho là tất nhiên, chỉ mong bực tài đức như Tài Khanh (才卿), Nguyên Phủ (元甫), Tử Ích (子益) cùng thương thảo luận bàn.
===Độc dược thư mạn ký (Ghi chép tản mạn khi đọc sách thuốc)===
'''Tác giả như trên (Lưu Nhân - 劉因)'''
Con người bẩm thụ khí này để tạo thành thân thể gồm 5 tạng và 100 đốt xương, hình thể thực sự tương ứng mà khí cũng lưu thông. Những thanh âm, màu sắc, khí vị tiếp xúc với miệng, mũi, tai, mắt của con người, tuy dường như hời hợt, nhưng những gì ở trong ta mà cùng loại với chúng thì đã tương hợp rồi; những gì khác loại thì tất sẽ bực dọc mà chống đối nhau, dù là bản thân người đó cũng không tự biết được.
Như kẻ uống thuốc, lấy gỗ khô xương mục tán thành bột mịn, trộn lẫn hợp lại mà uống, chúng cũng đều theo khí loại của mình mà tìm đến đúng chỗ, bởi gốc rễ là một vậy. Cho nên bậc tiên nho nói: "Vị của mộc là chua, rễ cây đứng trong đất giống như xương, nên xương được nuôi dưỡng bằng vị chua. Vị của kim là cay, sự quấn quýt của kim với vật lạ giống như gân, nên gân được nuôi dưỡng bằng vị cay." Vị mặn thuộc thủy giống như mạch; vị đắng thuộc hỏa giống như khí; vị ngọt thuộc thổ giống như thịt. Hình thể của chúng vốn đã cùng loại rồi, thì khí của chúng lẽ nào lại không lưu thông với nhau? Suy rộng ra, sự cát hung đối với thiện ác cũng cùng một loại như vậy.
==='''Lại nói (Cùng tác giả)'''===
Trời sinh ra một đời người này, thì mọi việc trong một đời tự khắc có thể lo liệu được. Đó là vì mọi thứ đã đủ ở nơi mình mà không cần chờ đợi ở bên ngoài. Vùng Lĩnh Nam (嶺南) nhiều độc tố, thì có Kim xà, Bạch dược để trị độc; vùng Hồ Nam (湖南) nhiều chướng khí, thì có gừng, quýt, thù du để trị khí; cá, ba ba, ốc, hến trị được thấp khí mà chúng lại sinh ra từ dưới nước; xạ hương, linh dương trị được độc của đá mà chúng lại sinh ra từ trên núi. Bởi nếu không có cái gì thắng được khí của nơi kia, thì không thể sinh trưởng trong cái khí ấy được. Mà sự vật cùng sinh ra với cái khí ấy, tất nhiên phải khiến chúng có ích cho cái khí đó.
Giống như Chu Tử (朱子) nói: "Trời sắp giáng xuống loạn lạc, tất sinh ra người dẹp loạn để dự phòng về sau." Nhìn vào đó mà xem, thế gian vốn không có người vô dụng, con người vốn không có thời thế nào là không thể nương thân vậy.
===Đan Khê Ông truyện tán (丹溪翁傳贊)===
'''Đới Lương (戴良)'''
Lời luận rằng: "Xưa Nghiêm Quân Bình (嚴君平) thời Hán (漢) học rộng không gì không thông, bán quẻ bói ở Thành Đô (成都). Có người hỏi việc tà ác phi chính nghĩa, ông bèn dựa vào cỏ thi cỏ rùa mà trình bày lợi hại; với người làm con thì nói điều hiếu, với người làm em thì nói điều thuận, với người làm tôi thì nói điều trung." Sử sách khen ngợi phong thái khí tiết của ông đủ để khích lệ người tham, rèn giũa thói tục. Đan Khê Ông (翁) ở Vụ Châu (婺) đắc được nguồn gốc của Đạo học, nhưng lại ẩn mình trong nghề y. Có người vì bệnh đến gặp, ông chưa từng không dùng việc bảo tồn tinh hoa, nuôi dưỡng tinh thần để khai mở tâm trí họ. Đến như một lời nói, một sự im lặng, một lúc xuất thế hay một lúc ẩn cư, phàm những gì liên quan đến luân lý, ông lại càng tận tình dạy bảo, khiến người ta cảm khái phấn chấn không thôi. Tả Khâu Minh (左丘明) có nói: "Lời của người nhân đức, lợi ích rộng lớn thay." Thật đúng vậy. Như Đan Khê Ông (翁), hẳn là bậc ích hữu chính trực, thành thật và nghe nhiều biết rộng như người xưa nói, há có thể coi nhẹ ông chỉ như một y sĩ thông thường sao?
===Tặng Giả Tư Thành tự (贈賈思誠序)===
'''Tống Liêm (宋·濂)'''
Người cùng làng là Trương quân (張君) gửi thư nói với Liêm (濂) tôi rằng: "Mùa thu năm Nhâm Thần (1352 dương lịch), binh biến nổ ra ở Trung Nguyên (中原), phía Nam sông Trường Giang (長江) nơi nơi đều loạn lạc. Bấy giờ chỉ có Bá Gia Nạp Công (伯嘉納公) giữ cờ tiết Bộ sứ, đến trị vì Chiết Đông (浙東), cẩn thận chọn lựa hiền tài, phong quan nhậm chức để bảo vệ một phương. Tôi tuy không nhạy bén, Công không chê là bất tài, cho giữ chức Nhiếp lục sự Phán quan. Chức Phán quan là vỗ về trị lý dân cư một thành, phàm các kế sách chống giữ, an dân, tôi chẳng quản ngày đêm chuyên cần thực hiện để báo đáp ơn tri ngộ của Công trong muôn một. Tuy nhiên việc điều tiết không hiệu quả, ngày tích tháng sâu, vì lao lực mà thành bệnh. Bệnh mới phát, cơn nóng dữ dội phát ra 4 chi, tiếp đó là hôn mê ngã quỵ. Đến khi tỉnh lại, 2 mắt hoa chóng mặt, trong tai vang tiếng ve thu kêu, tinh thần hoảng hốt, như lẻ loi rời đàn đứng một mình, như cưỡi cơn gió dữ dạo chơi giữa thái không, như ngồi con thuyền không dây buộc bồng bềnh giữa Ba Tháp (三峽) và bốn biển (4 biển), thực sự không tự chủ được.
Nghe danh Chu Ngạn Tu (朱彥修) tiên sinh ở Đan Khê (丹溪) lừng lẫy bốn phương, tôi vội mời về chữa trị. Tiên sinh đến, bắt mạch xong nói: 'Bên trong dao động chân khí, bên ngoài lao lực hình hài, làm suy hao phần âm, tổn thương sự sống. Nên thu giữ cái nhìn, quay về sự lắng nghe tại chốn thái hư, không thể chỉ chuyên dựa vào thuốc mà khỏi được.' Bèn giao cho người đệ tử ưu tú là Giả Tư Thành (賈思誠) quân ở lại chăm sóc. Giả quân (賈君) xem tôi như tình thân thủ túc, không việc gì không chu toàn. Ông ấy lo tôi giận quá độ thì dùng nỗi bi thương để trị; bi thương quá độ thì trị bằng niềm vui; vui quá độ thì trị bằng nỗi sợ; sợ quá độ thì trị bằng sự suy tư; suy tư quá độ thì trị bằng cơn giận. Khi bên trái khi bên phải, dìu dắt nâng đỡ, lại theo đó mà điều hòa cho mềm mại. Không chỉ có thế, khi tôi bị quyết nghịch (ngất), ông ấy dùng thuốc vào huyệt Dũng Tuyền để làm tôi thức tỉnh; khi tôi bị hồi hộp (chinh xung), ông ấy ấn huyệt Tâm Du để định thần. Như thế suốt vài năm (số năm), không thể rời xa dù một sớm một chiều. Thà ăn không ngon, mặc không ấm, chứ sao có thể một ngày thiếu Giả quân (賈君)? Thà kẻ sĩ không thông Lỗ, Trâu, khách chẳng phải công hầu, chứ sao có thể một ngày thiếu Giả quân (賈君)?
Bệnh của tôi nhờ đó mà khỏi, Giả quân (賈君) có công với tôi rất lớn. Hy vọng ngài ban cho một lời, khen ngợi cái thiện của Giả quân (賈君) và tỏ rõ tôi không dám quên ơn, chẳng hay có được chăng?"
Tôi mở thư của Trương quân (張君), càng thêm cảm thán. Kẻ làm quan cai trị dân đời nay thường chỉ biết ăn no vui chơi, nhìn dân khốn khổ mà dửng dưng như người Tần (秦), người Việt (越) nhìn cái béo cái gầy của nhau chẳng liên can gì. Chẳng những không liên can, lại còn hút tủy khoét mỡ dân mà không biết dừng. Có ai được như Trương quân (張君) lo cho cái bệnh của dân không? Thầy thuốc đời nay tiếp khách bận rộn, không rảnh rỗi ung dung, chưa quá 2 đêm đã tạ từ đi mất. Đến mức nhìn không kịp mạch, mạch không kịp bốc phương thuốc mà không thể níu giữ được. Có ai được như Giả quân (賈君) điều hộ suốt vài năm (số năm) dài mà không nảy sinh chán nản chăng? Những việc này đều đáng chép lại. Tôi đang cầm bút theo gót các nhà văn chương, việc này mà không chép thì chép việc gì?
Tuy nhiên, quan chính ngày nay hà khắc bạo ngược, đánh đập khảo tra chỉ sợ ngày dài không đủ, dân ta khổ vì việc này đã lâu rồi. Tôi nhìn bốn phương, dân chúng đông đúc nơi châu ấp, liệu có bậc mục tể hiền năng nào có thể thi triển liều thuốc "đao khuê" để chấn hưng dân chúng chăng? Nếu có người như thế, tôi dù không nhạy bén, vẫn năng mài mực thấm ngòi, viết chữ lớn mà khen ngợi mãi không thôi. Đây là lời tựa.
===Tặng Y sư Cát mỗ tự (贈醫師葛某序)===
'''Tác giả như trên (Tống Liêm)'''
Thầy thuốc thời xưa tất phải thông hiểu sách của "ba đời (3 đời). Cái gọi là ba đời (3 đời) ấy là: một là Châm cứu, hai là Thần Nông bản thảo , ba là Thái Tố mạch quyết . Mạch quyết để xét chứng, Bản thảo để biện thuốc, Châm cứu để trừ bệnh, không có 3 thứ này thì không thể bàn về y. Cho nên người ghi kinh Lễ có nói: "Y không đủ ba đời (3 đời), không uống thuốc của họ." Người truyền kinh đã nêu rõ thuyết ấy, lại bác bỏ cái sai, cho rằng phải là cha con kế thừa qua 3 đời (3 đời) mới là đúng, sao mà lầm lạc vậy?
Đạo làm thuốc tất phải có ý chí sâu xa tinh vi, cơ trí sáng suốt, sau đó mới có thể dự vào, dù là cha cũng không thể truyền cho con được. Quê tôi có Nghiêm sinh (嚴生), 3 đời (3 đời) làm nghề y. Việc làm thuốc của ông ta chỉ chuyên dựa vào các phương thuốc trong sách Đại Quan , những thứ khác đều mờ mịt không hề biết tới. Lại có Chu Sính Quân (朱聘君), nhà vốn học Nho, đến Sính Quân (聘君) mới bắt đầu nổi danh về y thuật, các sách y gia không gì không tinh thông.
Có một thiếu niên mắc bệnh phổi khí bốc lên kêu khẹc khẹc, trong cổ gấp gáp thì nhổ ra máu thành sợi. Nghiêm (嚴) nói: "Đây là bệnh lao (瘵)", sau 3 tháng (3 tháng) thì chết. Sính Quân (聘君) nói: "Không phải. Khí thăng lên mà tươi tốt, bên trong mất đi trục chính, hỏa quan nắm quyền, nung nấu kim trong lò, đây gọi là Phổi héo (phế nuy), chữa thì sống." Sau đó quả nhiên sống.
Một ông lão 60 tuổi (60 tuổi) mắc chứng hàn nhiệt, lúc đầu lông tóc dựng đứng, răng đánh vào nhau, sau đó nóng bừng như hấp trong xửng. Nghiêm (嚴) nói: "Đây là đờm, không trị sẽ khỏi." Sính Quân (聘君) nói: "Không phải. Mạch dâm và khâu, nhanh mà loạn nhịp thở, ngoài mạnh trong khô, họa đến phúc cùng, đây gọi là Giải dịch. Dùng thuốc thì khỏi, không thuốc thì nặng thêm." Sau đó quả nhiên bệnh nặng, chữa mới khỏi.
Một người phụ nữ mắc chứng nấc cụt (uế), mỗi lần nôn ra vài thăng dãi, mùi tanh nồng nặc, người lại gần cũng muốn nôn theo. Nghiêm (嚴) nói: "Đây là hàn uế, pháp nên dùng thuốc ấm." Sính Quân (聘君) nói: "Không phải. Âm dương chưa bình, khí bao lấy huyết tụ, thế đang ngăn trở, không có chỗ nương, đây gọi là Ác trở. Theo pháp không nên trị, lâu dần tự yên, lại sinh con trai." Lời nói sau đó đều linh nghiệm.
Nghiêm sinh (嚴生) làm y đã 3 đời (3 đời) rồi, Sính Quân (聘君) thì mới bắt đầu học, mà ưu liệt như thế, y thuật há có thể luận theo đời được sao? Than ôi, danh y xưa nhiều lắm, không rảnh bàn hết, như Hoa Nguyên Đà (華元佗), như Trương Tự Bá (張嗣伯), như Hứa Trí Tạng (許智藏), việc trị bệnh của họ đều nhập thần, nhưng ban đầu chẳng nghe nói cha con họ tương truyền. Từ khi người truyền kinh lầm lẫn giữa đúng sai, khiến ý nghĩa của Lễ Kinh bị mờ tối không sáng rõ đã 3.000 năm (3.000 năm) rồi. Người đời tìm thầy thuốc không hỏi họ có thông hiểu sách vở hay không, hễ thấy ai làm nghề lâu năm thì mù quáng theo đó. Hỏi lý do thì bảo: "Đó là lời người ghi kinh Lễ nói vậy." Như thế có được chăng?
Cát sinh (葛生) mỗ, là danh gia vọng tộc ở vùng Hoài (淮), sáng suốt về y thuật, sách của ba đời (3 đời) đều đã học và thông hiểu. Ra tay trị bệnh, quyết định tử sinh, nghiệm rõ bệnh nặng nhẹ, như đuốc soi như rùa bói không chút sai chạy. Kẻ sĩ nếu không đủ tiền mua thuốc, ông bèn cho thuốc, không đòi báo đáp, các bậc sĩ quân tử đều hết lời khen ngợi. Danh tiếng truyền đến phủ Thừa tướng, được ban phục sức thất phẩm (7 phẩm), cho làm Đề cử các y quan, người có bệnh đều dựa vào ông như mạng sống. Duy nhất thay! Như Cát sinh (葛生) kia, thật không thẹn với bậc y sư thời cổ vậy!
===Tặng Y sư Giả mỗ tự (贈醫師賈某序)===
'''Tác giả như trên (Tống Liêm)'''
Đạo làm thuốc là điều khó nói đã lâu rồi. Nhưng tất phải xét chẩn để khởi độ lượng, lập quy củ, cân nhắc quyền hành, hợp nhất sắc và mạch, phân rõ biểu lý dư hay thiếu, phép thuận hay nghịch, lại tham khảo thêm động tĩnh của người đó và sự tương ứng với hơi thở, sau đó mới tiến hành trị liệu, thì việc đó thực sự không nhẹ nhàng chút nào. Nếu không am tường cái được và mất của các sách ứng thế thì sao có thể dự vào việc này?
Sách Hoàng Đế Nội Kinh (黃帝內經), tuy nghi là do kẻ sĩ thời Tiền Tần (先秦) mô phỏng rồi thác danh, nhưng lời lẽ sâu xa, tôn chỉ thâm thúy rộng lớn, khảo biện tin cậy có bằng chứng, xứng đáng là tông chủ của y gia. Dưới đó thì có Tần Việt Nhân (秦越人), Hòa (和), Hoãn (緩), không có sách truyền lại. Quyển Bát thập nhất nan kinh (八十一難經) do Việt Nhân (越人) soạn đều là nêu ra những điểm trọng yếu của Nội Kinh (內經) mà suy rộng ra vậy.
Dưới đó nữa là phép "hùng kinh si cố (gấu trèo chim ngó) của Thuần Vu Ý (淳于意) và Hoa Đà (華佗), vốn cũng là một thuật của nhà đạo dẫn. Còn như việc mổ bụng khoét lưng, rửa ruột dạ dày để trừ bệnh thì đã nhuốm màu thần quái rồi. Bệnh trạng của Ý (意) được Tư Mã Tiên (司馬遷) ghi chép đầy đủ, những gì gọi là "hồi phong", "yểu phong" thì người nay tuyệt nhiên không biết là chứng bệnh gì, huống hồ lại cầu tìm thâm ý trong trị liệu?
Dưới nữa thì có Kim quỹ Ngọc hàm kinh (金匱玉函經) của Trương Cơ (張機) và các luận thuyết về Thương hàn (傷寒), thật là điển tích nghìn thu không thay đổi. Có điều sách này chi tiết về những tổn thương do lục khí, nhưng về những bệnh do tình dục, ăn uống, mệt nhọc gây ra thì lại sơ lược không bàn đến, thêm vào đó văn tự lại sai lạc, không dễ gì tìm theo thứ tự được.
Dưới nữa là Vương Thúc Hòa (王叔和), Thúc Hòa (叔和) soạn lại sách của Kỳ Bá (岐伯), Hoa Đà (華佗) làm thành quyển Mạch kinh (脈經), trình bày âm dương nội ngoại, biện biệt 3 bộ 9 hậu, phân chia nhân nghênh khí khẩu, trình bày rõ ràng 12 kinh lạc, cho đến bệnh của tam tiêu ngũ tạng lục phủ, là rõ rệt nhất. Tiếc thay bị kẻ ngu dốt tóm lược bằng bài "Mạch ca" nông cạn, khiến cho nguyên tác không được truyền bá rộng rãi ở đời.
Dưới nữa là Sào Nguyên Phương (巢元方), quyển Bệnh nguyên hậu luận (病源候論) của ông dường như không phải là không có kiến giải, nhưng chỉ nói về phong hàn nhị thấp mà không chép văn tự về thấp nhiệt, đó là cái sai lầm vậy. Dưới nữa là Vương Băng (王冰), Băng (冰) suy luận sự biến hóa của ngũ vận lục khí, soạn ra quyển Thiên nguyên ngọc sách (天元玉策), chu đáo thiết thực, cũng là việc người thường khó làm được, nếu câu nệ vào đó thì sẽ cục bộ bế tắc không thông.
Dưới nữa là Vương Đảo (王燾), Tôn Tư Mạo (孫思邈). Tư Mạo (思邈) với kiến thức siêu quần, giữ lòng từ nhân trắc ẩn, liệt kê trong Thiên kim phương dực (千金方翼) về cái họa của kẻ làm nghề y hại người, thật là căm phẫn thiết tha. Người sau chỉ cần chạm đến ngưỡng cửa của ông cũng đủ nổi danh về thuật ấy, nhưng không biết về số của thương hàn, có lẽ không thể không có điều đáng tiếc. Đảo (燾) tuy kém cỏi, nhưng sự chi tiết về phương, chứng, phù cấm, châm cứu trong Ngoại đài bí yếu (外台祕要) khá có căn cứ. Nhưng nói rằng châm có thể giết người sống mà không thể cứu người chết thì là cái nhìn phiến diện.
Dưới nữa là Tiền Ất (錢乙), Bàng An Thời (龐安時), Hứa Thúc Vi (許叔微). Thúc Vi (許叔微) nằm trong khuôn khổ chuẩn mực mà không có phát minh gì mới. An Thời (安時) tuy có thể xuất kỳ ứng biến nhưng chung quy không rời khỏi phạm vi. Hai người đều mới đắc được cái thô của cơ lý. Chỉ có Ất (乙) là đi sâu vào chỗ thâm ảo, chắt lọc tinh hoa, lập ra phương thuốc cho ngũ tạng, tùy theo sự thích hợp. Gan có tướng hỏa thì có tả mà không có bổ; thận là chân thủy thì có bổ mà không có tả. Đều khai mở bí mật của Nội Kinh (內經), là điều mà kẻ thức giả nên học tập. Người đời cứ coi ông là "thầy thuốc trẻ con (anh nhu y), thật là biết về Ất (乙) nông cạn thay! Sách của ông để lại bị tán lạc, phần do Diêm Hiếu Trung (閻孝忠) tập hợp lại đa phần là ý của Hiếu Trung (孝忠), ban đầu không phải bản chân của Ất (乙).
Dưới nữa là Trương Nguyên Tố (張元素) ở Thượng Cốc (上谷), Lưu Hoàn Tố (劉完素) ở Hà Gian (河間), Trương Tòng Chính (張從正) ở Thư Thủy (雎水). Nguyên Tố (元素) và Hoàn Tố (完素) tuy bày ra chuyện giấc mộng kỳ lạ, người dị thường để thần thánh hóa việc truyền thụ, thực chất là nghe danh tiếng của Ất (乙) mà hưng khởi. Còn Tòng Chính (從正) lại tôn Hoàn Tố (完素) làm tông chủ. Nguyên Tố (元素) cho rằng phương thuốc cổ không trị được bệnh mới, nên trị bệnh nhất thiết không dùng phương có sẵn, vì thế sách của ông cũng không truyền lại. Những gì còn lại đến nay đều do người đời sau gán ghép, học thuật của ông thì Lý Cảo (李杲) ở Đông Viên (東垣) đắc được sâu sắc nhất. Cảo (Cảo) làm sáng tỏ thuyết nội ngoại nhị thương, chú trọng vào thuyết bổ tỳ thổ. Vì lấy thổ làm chủ của thân thể, thổ bình thì các tạng đều bình. Tòng Chính (從正) lấy 3 pháp: thổ, hãn, hạ và 6 môn: phong, hàn, thử, thấp, hỏa, táo làm then chốt của y học. Cách trị của ông thiên về công phạt, dược tễ đa phần là峻 liệt, kẻ không giỏi học theo sẽ giết người. Hoàn Tố (完素) luận về bệnh phong hỏa, dựa vào 19 điều bệnh cơ khí nghi của Nội Kinh (內經) soạn ra quyển Nguyên bệnh thức (原病式), giản lược mà thâm thúy tinh vi, không phải các thầy thuốc ở cục Đại Quan có thể phỏng theo được. Xét kỹ cách thi triển thì cũng không vượt ra ngoài hai chữ "bổ" và "công".
Than ôi! Từ khi có Nội Kinh (內經) đến nay, sách y được các cơ quan lưu giữ gồm 179 nhà (179 nhà), 209 bộ (209 bộ), 2.259 quyển (2.259 quyển), cũng không phải là ít. Những sách khác chưa rảnh bàn sâu, chỉ nói về những điều vừa luận ở đây, thầy thuốc trên đời liệu có thể tận tâm với chúng không? Nếu chưa tận tâm với những điều này, thì việc khởi độ lượng, lập quy củ, cân nhắc quyền hành, hợp nhất sắc mạch sao có thể thấu rõ mà thực hành, để không coi mạng người như trò đùa, thật là hiếm thay!
Tuy nhiên, cũng có điều cốt yếu, đó là thuận và nghịch. Rằng thăng giáng, rằng phù trầm, ta thì thuận theo nó; rằng ôn lương, rằng hàn nhiệt, ta thì làm ngược lại (nghịch). Nếu thực sự hiểu được đạo này, thì so với cách trị của các bậc tiền y, tuy không trúng hẳn cũng không xa lắm, nhưng cũng không dễ gì một bước mà tới được. Nếu không cầu tìm cực rộng mà xem xét chỗ hội thông, sao có thể đột nhiên trở về cõi chí ước (giản yếu nhất) được? Đạo làm thuốc khó nói là vì lẽ đó vậy.
Giả Tư Thành (賈思誠) ở Ô Thương (烏傷) là em họ bên ngoại của Liêm (濂) tôi, tính tình thuần hậu ngay thẳng, có phong thái quân tử. Từng cùng Liêm (濂) theo học ở Thành Nam (城南), nghe tiên sinh dạy trị kinh học. Lâu dần, Tư Thành (思誠) rời đi, theo học y thuyết tại cửa của Chu Ngạn Tu (朱彥修) tiên sinh. Các sách của chư nhà Nho viết ra không gì không xem xét, ra tay trị bệnh thường có hiệu nghiệm kỳ lạ. Các bậc tiến thân thường làm thơ tặng, rồi nhờ Liêm (濂) làm lời tựa. Liêm (濂) không phải kẻ biết về y, sẽ lấy gì để bảo ban Tư Thành (思誠) đây? Mà Tư Thành (思誠) thỉnh cầu không mệt mỏi, nên tôi mới trực tiếp trình bày cái được và mất của các sách qua các đời, để khích lệ Tư Thành (思誠) rằng việc học nên như vậy, ban đầu không rảnh rỗi như những tác giả khác múa bút múa lưỡi, đan xen để thành văn chương vậy.
===Luận y (論醫)===
'''Vương Huy (王褘)'''
Ta quan sát những người bàn về y gần đây, không nơi nào thịnh bằng vùng Ngô Trung (吳中). Mà những nhà làm nghề y cha truyền con nối ở Ngô Trung (吳中) không ai thịnh bằng họ Cát (葛). Y thuật của họ Cát (葛) giỏi về việc suy luận sự thịnh suy của ngũ vận lục khí để xét bệnh chứng mà định phép trị. Đây chính là điểm mà thuật của Trọng Chính (仲正) khác biệt với mọi người vậy.
Bậc cha chú của Trọng Chính (仲正) là Hằng Trai (恆齋) từng tự soạn sách, thuyết của ông cho rằng: "Thầy thuốc nên nhìn vào sự thịnh suy của thời đại mà thêm bớt (tổn ích). Bọn Lưu Thủ Chân (劉守真), Trương Tử Hòa (張子和) gặp lúc người Kim (金) cường thịnh, dân tính hung hãn khí cương cường, nên đa phần dùng phép tuyên tiết. Đến khi thời đại suy vi, sau cơn binh cách, đói kém liên miên, dân lao lực chí khốn khổ, nên bọn Trương Khiết Cổ (張潔古), Lý Minh Chi (李明之) đa phần dùng công phu bổ ích. Đến niên hiệu thời Tống (宋), thầy thuốc đại để chỉ lo giữ gìn khí nguyên mà không biết cái then chốt của công phạt, có thể nuôi bệnh mà không thể trị bệnh, cái sai là ở chỗ không biết thông thạo sự biến đổi vậy." Thuyết của ông như thế, có thể gọi là hiểu rõ sự biến đổi của khí vận mà thông suốt hóa dục của âm dương vậy.
===Minh y châm (明醫箴)===
'''Cung Tín (龔信)'''
Bậc minh y nay, lòng giữ nhân nghĩa, đọc khắp các sách, tinh thông đạo nghệ, thấu hiểu âm dương, rõ biết vận khí, thuốc phân ôn lương, mạch chia biểu lý, trị dùng bổ tả, bệnh xét hư thực, tùy bệnh lập phương, đúng chứng bốc thuốc, diệu pháp tại tâm, biến hóa linh hoạt, không khoe danh huyễn, chỉ mong cứu giúp. Không tính công lao, không mưu lợi lộc, chẳng kể giàu nghèo, thuốc ban như một, cải tử hoàn sinh, ơn đồng trời đất, bậc minh y này, tiếng thơm muôn đời.
===Yong y châm (庸醫箴 - Châm về thầy thuốc tầm thường)===
'''Tác giả như trên (Cung Tín)'''
Thầy thuốc tầm thường đời nay, khoe khoang cái kỳ lạ, lập ra cái dị biệt, không học kinh thư, không thông chữ nghĩa, vọng tự kiêu căng để lừa dối đương thế. Tranh nhau chạy đến cửa người ta, không mời mà tự đến. Thường xuyên dâng quà cáp biếu xén (bao thả), lấy việc hỏi bệnh làm ý đồ, tự phô trương năng lực, trăm phương ngàn kế nịnh hót. Nhà người bệnh không xét kỹ, để họ chữa trị mơ hồ. Không xét nguồn gốc bệnh, không phân biệt hư thực, không sợ chuyện sống chết, nhất thời làm liều (mạnh lãng). Hễ thấy bệnh biến chuyển đột ngột thì vội vàng lẩn đi. Làm lỡ tính mạng con người chỉ vì mưu cầu chút lợi nhỏ. Những thầy thuốc tầm thường như thế, thật đáng hổ thẹn và đáng kiêng dè.
===Bệnh gia châm (病家箴 - Châm về người bệnh)===
'''Tác giả như trên (Cung Tín)'''
Người bệnh ngày nay, đa phần tiếc tiền của, không chịu gấp rút tìm thầy, đợi đến khi tự khỏi. Không tìm bậc cao minh, chỉ mong cầu việc dễ dàng. Không xét tình trạng bệnh, nhẹ dạ giao thân làm thử nghiệm càn rỡ. Hoặc là cầu cúng quỷ thần, bày ra đủ thứ trò chẳng khác nào dẫm lên sương không cẩn thận thì băng giá sẽ đến ngay. Đến khi mời được minh y thì bệnh đã chuyển nặng. Dẫu có linh đan cũng khó lòng cứu chữa. Mê muội không tỉnh ngộ rằng đó là do sự chậm trễ gây ra. Chỉ nói là "số tận" hoặc "tận lực cầu phúc", chứ chưa thấy ai hối lỗi vì sự hồ đồ này, thật đáng than thở. Những người bệnh như thế, nên sửa đổi thói xấu này.
===Cảnh y châm (警醫箴 - Châm cảnh tỉnh thầy thuốc)===
'''Tác giả như trên (Cung Tín)'''
Trọng nhất chỉ có mạng người, khó nhất chính là nghề y. Nguồn bệnh phải tường tận, thuốc men cần thận trọng thi triển. Phải mưu cầu hiệu quả vạn toàn, chớ nên tranh thủ lúc 10 năm (10 năm) thời thế. Sống chết quan hệ rất lớn, chỉ có trời cao thấu hiểu. Dặn dò những người cùng chí hướng, cứu đời phải thêm phần suy xét kỹ.
===Nguyên đạo thống thuyết (原道統說 - Thuyết về nguồn gốc đạo thống)===
'''Lý Diên (李梴)'''
Lớn lao thay nghề y, nguồn gốc từ xa xưa vậy! Kể từ khi hỗn độn mới phân, hồng hoang mới tách. Phần khí nhẹ trong của Dương bốc lên cao thành Trời; phần hình nặng đục của Âm ngưng tụ phía dưới thành Đất. Trời cao lồng lộng vị thế ở trên, Đất vững chãi vị thế ở dưới. Thế là tinh hoa của Dương thành Mặt Trời, mọc ở phương Đông lặn ở phương Tây; tinh hoa của Âm thành Mặt Trăng, hiện ban đêm ẩn ban ngày. Lưỡng nghi được xác lập, nhị diệu vận hành. Từ đó nguyên khí ngưng tụ trên không, Nước (Thủy) bắt đầu sinh ra; sắc đỏ rực không trung, Lửa (Hỏa) bắt đầu sinh ra; sắc xanh nổi trên không, Gỗ (Mộc) bắt đầu sinh ra; sắc trắng ngang trời, Kim bắt đầu sinh ra; sắc vàng khắp không gian, Đất (Thổ) bắt đầu sinh ra. 5 hành đầy đủ, vạn vật sinh sôi, đạo Tam tài (Thiên - Địa - Nhân) hiển rõ.
Cho nên duy chỉ sự sinh trưởng của con người là đắc được chính khí của trời đất. Đầu tròn tượng trưng cho trời, chân vuông tượng trưng cho đất. Trời có âm dương, người có khí huyết; trời có 5 hành, người có 5 tạng. Dân thời Cát Thiên Thị (葛天氏) ở trong hang trên tổ, ăn lông ở lỗ, vận động để tránh rét, ở chỗ râm để tránh nóng. Tính chất chất phác (đại phác) chưa mở, nào có bệnh gì? Đợi đến lúc Phục Hy Thị (伏羲氏) xem thiên văn trông khí mà vạch quẻ quái. Đời sau có bộ Thiên nguyên ngọc sách (天元玉冊) mà người ta coi là sách của Phục Hy (伏羲), vốn do Quỷ Du Khu (鬼臾區) truyền miệng qua 10 đời (10 đời). Thần Nông Thị (神農氏) nếm trăm cỏ (100 cỏ), một ngày gặp 70 độc (70 độc), sau đó sách Bản thảo (本草) mới hưng khởi.
Hoàng Đế (黃帝) buông xiêm áo mà thiên hạ trị, cùng Kỳ Bá (岐伯), Thiên sư thay nhau hỏi đáp, trên xét thiên văn, dưới cùng địa lý, ở giữa cứu giúp nỗi khổ của dân, sách Nội kinh (內經) từ đó mà tác thành. Kinh này đã làm ra, dân có bệnh tật tất phải mượn châm đá để trị bên ngoài, thang dịch để chữa bên trong. Sau này tính chất phác tan dần, phong hóa mở mang, công việc của dân bề bộn mà lòng dục buông thả, tai ương nhiều bề, nếu không có thuốc đại độc, tiểu độc, thường độc, vô độc thì không thể dẹp bỏ được.
Gốc lớn của y học, chỉ có một bộ Tố vấn (素問) mà thôi. Gồm 24 quyển (24 quyển), 81 bài (81 bài). Trong đó suy nguyên sự lâm hành của vận khí, làm rõ gốc ngọn của kinh lạc, luận bệnh tất quy về chỗ trọng yếu, xử trị đều được sự thích nghi, rành mạch có quy củ, sáng sủa không rối loạn. Những bài như Thiên nguyên kỷ đại luận , Lục nguyên chính kỷ đại luận , Ngũ thường chính đại luận , Khí giao biến đại luận , Chí chân yếu đại luận là diệu đạo chí tinh chí vi, thực là đại điển để muôn đời cởi bỏ trói buộc, thoát khỏi ách nạn, bảo toàn chân khí dẫn dắt hơi thở, cứu dân vào cõi nhân thọ, giúp kẻ yếu hèn được bình an vậy.
Từ thời Hiên Viên (軒) - Kỳ Bá (岐) trở xuống, đời nào cũng không thiếu người tài. Biển Thước (扁鵲) đắc được 1, 2 phần (1, 2 phần), diễn giải mà thuật lại thành Nan kinh (難經). Hoàng Phủ Sĩ An (皇甫士安) biên thứ thành Giáp ất (甲乙), Dương Thượng Thiện (楊上善) soạn thành Thái tố (太素). Như lời giải của Toàn Nguyên Khởi (全元起), lời chú của Khải Nguyên Tử (啟元子), gọi là "nguồn sạch thì dòng trong, biểu thẳng thì hình đúng", đều là minh y các đại. Duy có Thái thú Trường Sa (長沙) đời Hán (漢) là Trương Trọng Cảnh (張仲景), suy xét gốc rễ tìm kiếm nguồn cội, dò tìm chỗ vi diệu u ẩn, lấy chế độ đại tiểu kỳ ngẫu, định ra phép "Quân - Thần - Tá - Sứ" mà lập phương thuốc. Biểu lý hư thực, thực là bí mật nghìn năm không truyền, đó là tư chất của bậc đại hiền á thánh, có công kế thừa quá khứ mở lối tương lai vậy.
Từ đời Hán (漢), Đường (唐) trở xuống, học giả há không muốn lội vào bến bờ thâm vi ấy sao? Khổ nỗi lý lẽ của Nội kinh (內經) thâm u không có lối vào, như Sào Nguyên Phương (巢元方) soạn sách Bệnh nguyên (病源), Tôn Tư Mạo (孫思邈) soạn Thiên kim phương (千金方), lời lẽ càng nhiều mà lý càng mờ, phương càng rộng mà pháp càng mất chân tính. Sách Nội kinh (內經) ít người thi triển được. Đến khi Chu Phụng Nghị (朱奉議) tôn theo luận thuyết của Thái thú Trường Sa (長沙), biên soạn sách Nam dương hoạt nhân (南陽活人). Trọng Cảnh (仲景) huấn giải âm dương là biểu lý, Phụng Nghị (奉議) lại giải âm dương là hàn nhiệt, sai một ly đi một dặm. Người sống được tuy nhiều, nhưng người chết cũng chẳng ít.
May thay khi hai bộ sách Yếu chỉ luận , Nguyên bệnh thức của Lưu Thủ Chân (劉守真) ra đời, thì lý của Nội kinh (內經) sáng như nhật nguyệt. Hai bộ sách Trực cách thư , Tuyên minh luận ra đời thì pháp của Trường Sa (長沙) giản yếu như then chốt máy móc. Như đổi "Quế chi Ma hoàng các bán thang" thành "Song giải tán", biến "Thập táo thang" thành "Tam hoa thần hựu hoàn", công lao đối với thánh môn không nhỏ vậy. Cùng thời đó có Trương Tử Hòa (張子和), làm sáng tỏ đại đạo của Nội kinh (內經), nối tiếp nguồn chính của Hà Gian (河澗 - tức Lưu Thủ Chân), cùng Ma Tri Cơ (麻知幾) giảng học mà soạn sách Nhu môn sự thân (儒門事親), nói rằng: "Trong thổ (nôn) có hãn (mồ hôi), trong tả (tẩy) có bổ; thánh nhân chỉ có 3 pháp (3 pháp), không có pháp thứ 4 (4 pháp)". Đó là xác luận không đổi, cách ngôn chí tinh. Từ đó có phái Lưu (劉) - Trương (張).
Bậc Đông Viên lão nhân (東垣老人 - tức Lý Cảo) làm sáng tỏ lý của Tố vấn (素問), tôn theo pháp của Trọng Cảnh (仲景), soạn 10 bộ sách Tế sinh bạt tụy (濟生拔萃十書) truyền lại cho đời. Xem mạch lấy chuẩn quyền hành quy củ, dùng thuốc theo thể thăng giáng phù trầm, vì thế có ví dụ về vương đạo và bá đạo. Đến Chu Đan Khê (朱丹溪), về thương hàn, nội thương, tạp bệnh không gì không tinh nghiên, nghĩa sâu xa về đờm hỏa lại càng đắc ý riêng biệt. Thái sử nhà Minh là Tống Liêm (宋濂) khen ông là "Tập đại thành của y gia", lời ấy thật đúng vậy.
Đến triều đại ta (Minh triều), tu soạn Đại quan bản thảo , đúc Đồng nhân du huyệt châm cứu kinh , ban sách Ngự tứ y phương , đặt Thái y để hộ vệ thánh thể, lập Lương y để giúp vương phủ, đặt Huệ dân dược cục để cứu giúp dân gian khỏi chết non (yêu trát). Lòng nhân đức với thiên hạ ấy thật giống hệt Hiên Viên (軒) - Kỳ Bá (岐), mà vượt xa Hán (漢), Đường (唐). Vì thế minh y nối tiếp ra đời, như Đào Tiết Am (陶節菴) với sách về Thương hàn , phát kiến những điều Trọng Cảnh (仲景) chưa nói; Tiết Kỷ (薛己) với Ngoại khoa, bổ khuyết cho Đông Viên (東垣); Cát Khả Cửu (葛可久) với Nội thương, Tiền Anh (錢瑛) với Nhi khoa, cũng đều xuất phát từ Đan Khê (丹溪). Công lao đào tạo người tài của triều đại rực rỡ (Chiêu đại), thật hưng thịnh thay! Hậu học biết được nguồn gốc đạo thống thì cửa ngõ không sai, mà y đạo cũng có thể gần vậy. Thế nên nói: "Biết được chỗ trọng yếu, một lời là xong vậy."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS17/chapter/1lpaanbq9gum8?page_from=searching_page&version=11 古今圖書集成·藝術典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
gor7flgibslz8i1gjnru76x3upxktbb
204757
204756
2026-04-17T10:12:06Z
Mrfly911
2215
204757
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Khâm định cổ kim đồ thư tập thành
| tác giả= Trần Mộng Lôi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/第538卷
| năm= 1726
| phần = Bác vật vị biên<br>Nghệ thuật điển<br>'''Y bộ''' - '''quyển 538'''
| trước= [[../quyển 537|quyển 537]]
| sau= [[../quyển 539|quyển 539]]
| ghi chú =
}}
==Y bộ Nghệ văn 1==
===Biển Thước Thương Công truyện tán===
'''Hán · Tư Mã Thiên (司馬遷)'''
Thái Sử Công (太史公) nói: Con gái không kể đẹp hay xấu, hễ vào cung là bị đố kỵ; kẻ sĩ không kể hiền tài hay bất tài, hễ vào triều là bị nghi kỵ. Thế nên Biển Thước (扁鵲) vì tài năng của mình mà gặp họa, Thương Công (倉公) phải che giấu dấu vết, ở ẩn mà vẫn bị hình phạt. Đề Oanh (緹縈) dâng thư dài 1 thước, nhờ đó người cha mới được yên ổn về sau. Cho nên sách "Lão Tử (老子) có câu: "Kẻ tài giỏi là vật không lành". Phải chăng là nói về những người như Biển Thước (扁鵲)? Còn như Thương Công (倉公), có thể nói là gần với đạo ấy vậy.
===Hán Thư Nghệ văn chí tự===
'''Ban Cố (班固)'''
"Y kinh (醫經) là thứ tìm về nguồn cội huyết mạch, kinh lạc, xương tủy, âm dương, biểu lý của con người để khởi đầu việc tìm gốc rễ của 100 bệnh, phân định ranh giới giữa cái chết và sự sống; từ đó dùng mức độ của châm thạch, thang hỏa để thi triển, điều hòa sự thích hợp của 100 vị thuốc. Đạt được đến chỗ tinh vi thì như đá nam châm hút sắt, vật này điều khiển vật kia. Kẻ vụng về thì làm mất lý lẽ, khiến bệnh đang lành trở nên kịch liệt, khiến người đáng sống phải tử vong.
"Kinh phương (經方) là dựa trên tính hàn ôn của thảo mộc và đá, đo lường nông sâu của bệnh tật, mượn sự bồi bổ của vị thuốc, nương theo sự thích hợp của khí cảm, biện biệt 5 vị đắng, 6 vị cay, đạt đến sự điều hòa của thủy hỏa, để thông chỗ tắc, giải chỗ kết, đưa cơ thể trở lại trạng thái quân bình. Đến như kẻ làm mất đi sự thích hợp, lại dùng nóng thêm nóng, dùng lạnh tăng lạnh, khiến tinh khí nội thương mà không lộ ra ngoài, đó là cái sai lầm riêng biệt vậy. Thế nên tục ngữ có câu: "Có bệnh không chữa, thường được như thầy thuốc hạng trung."
===Lại nói (Cùng tác giả)===
Phương kỹ (方技) đều là công cụ để bảo vệ sự sống, là một chức trách của hàng vương quan. Thời Thái cổ có Kỳ Bá (岐伯), Du Phụ (俞跗); thời Trung thế có Biển Thước (扁鵲), Tần Hòa (秦和). Họ luận bệnh để suy đến quốc gia, xét chẩn đoán để biết việc chính trị. Đời Hán (漢) hưng thịnh có Thương Công (倉公). Nay kỹ thuật ấy mờ mịt, nên luận về sách đó để làm tự cho phần "Phương kỹ".
===Khuyến y luận===
'''Lương (梁) · Giản Văn Đế (簡文帝)'''
Bài "Khuyến y" nói rằng: Trong trời đất, chỉ con người là linh thiêng nhất. Điều con người coi trọng không gì bằng tính mạng. Tuy thọ ngắn hay dài có phần định sẵn, chết non hay sống lâu do trời quyết định, nhưng thời tiết nóng lạnh thất thường, ham muốn quá độ sai tiết nhịp, nên cái lạnh của sốt rét, cái nóng của bệnh tiêu khát dẫn đến cái chết khác nhau. Việc hủy hoại bản tính, nát ruột gan, làm tiêu tan tuổi thọ không chỉ có 1 nguyên nhân. Yếu điểm để cứu giúp việc này thực sự nằm ở phương thuốc tốt.
Cho nên Kỳ Vực (祇域) là bậc Y vương, am hiểu điển tích nhà Phật; như Đại sư lấy hiệu là Y vương, vì Như Lai có thể chữa bệnh phiền não, còn thầy thuốc chỉ có thể chữa sự rối loạn của 4 đại. Lại có những tao nhân ngâm vịnh về Bành Thành (彭城), nước Tần (秦) khen ngợi Hòa (和), Hoãn (緩), Quý Lương (季梁) gặp được Lư Thị (盧氏), Quách Thái tử (虢子) gặp được Việt Nhân (越人). Cho đến đạo tiên bay bổng nhìn xa, đạo mầu trường sinh, biến "lục nhất" thành kim dịch, đổi "tam thất" thành ngân hoàn, cất giữ bí mật trong hộp ngọc, nghiên cứu sự sâu thẳm của sách tím. Nhựa đào là gì mà Bắc Đẩu không giấu được hình; kim tương chẳng xa, minh châu còn phải hổ thẹn về giá trị. Có thể khiến dưới cửa nghiệp môn, tiếng trống vang truyền riêng biệt; bên cạnh miếu Ung (雍), tiếng sáo vẫn còn.
Chế độ "Chu Lễ (周禮), chức Tật y nắm giữ bệnh tật của vạn dân, hễ dân có bệnh thì phân chia mà cứu chữa. Cuối năm thì mỗi người viết lại những ca đã trị, nộp lên Y sư, để biết bệnh lành hay không, lấy đó làm phép tắc răn dạy về sau. Đến như việc nghiên cứu tinh vi nguyên lý, khảo hạch tông phái Nho gia, suốt ngày thanh đàm, thâu đêm giảng tập; mới học thì nương nhờ nơi chợ búa mà ưa lời nịnh hót, tích công đức lâu ngày thì làm thầy mới hiển danh, ngày tiến tháng tới mới gọi là bậc thạc học. Sau khi chuyên tâm vào kinh điển, vẫn cần luận bàn sắc sảo, lưới giăng càng rộng, đào sâu thấy lý, say mê không tỉnh, chỉ thấy ngày giờ là không đủ.
Lại như làm thơ, thì cần thấy được ý tứ, hoặc cổ hoặc kim, hoặc nhã hoặc tục, đều phải lọt vào mắt, xét kỹ việc bỏ hay lấy, sau đó lời hay mới thốt ra, vần điệu mới nảy sinh. Làm gì có chuyện cầm bút không hỏi mà giỏi thơ, ngậm miệng không bàn mà giỏi nghĩa. Dương Tử Vân (揚子雲) nói: "Đọc 1.000 bài phú thì có thể làm được phú." Huống hồ đạo làm thuốc, việc chẩn mạch ở 9 bộ rất tinh vi, phẩm loại của 100 vị thuốc khó cứu tận gốc; xem sắc diện, phân biệt âm thanh, công phu ấy rất bí ẩn; vị cay mùa thu, vị đắng mùa hè, những biến đổi nhỏ nhặt khó nhận biết.
Mà những kẻ học thuật hiện nay chưa từng tra cứu hợp nhất, chẳng có thảo luận. Đa phần lấy lúc thời trẻ tuổi, xem qua phương thuốc sơ sài, chỉ biết sơ lược cam thảo là ngọt, quế tâm là cay, đã tự cho là đủ, vứt bỏ kinh phương. Giống như Dữu Khải (庾敳) đọc sách "Trang Tử (莊子), khác hẳn Khổng Khâu (孔丘) yêu thích "Chu Dịch (周易). Thế nhưng người bệnh tìm đến mình, lại không thể hết ý chữa trị. Giả sử không thể giúp người, tự có thể giúp mình. Sở dĩ như vậy là vì nếu không phân biệt sang hèn, dốc lòng xem xét, lấy cái đã nghiệm trước để soi cái sau, tự khắc sẽ hiểu được. Mỗi ngày biết thêm cái mình chưa biết, ngồi đó cũng thành diệu thuật; vậy mà lại cáo lỗi là không làm được.
Người chữa bệnh thì đông, nhưng chắc chắn dùng sự cẩu thả để đáp ứng, kẻ làm lầm lỗi thì nhiều, người yêu thương người thì ít. Đó là vì mỗi ngày kê 100 phương thuốc, mỗi tháng viết 1.000 quyển trục, mà chưa từng xem nhẹ dược tính, phó mặc sống chết, cái công phu phù hoa ấy làm sao mà đạt được? Đến khi tình cảm sâu nặng với thân thuộc, tình thiết cốt nhục, bệnh khởi từ cao hoang, đau phát từ phủ du, dù muốn dốc hết công trị liệu nhưng nghĩ không ra cách. Tại sao vậy? Vì vốn dĩ không thường xuyên luyện tập, lúc gấp rút khó mà thay đổi được. Mè đen, lộc hoắc chỉ cứu được chứng đau đầu; mạch khúc, xuyên khung lại ngăn được bệnh "hà ngư (tiêu chảy). Suy nghĩ không thấu đáo, sự việc bó hẹp dưới ách xe, muốn cầu cứu người chết ở Nguyên Đô (元都), rạng danh mình trên sách xanh, liệu có được chăng?
Đạo thuật khốn cùng thực sự đã đến mức này, thật đáng nên suy nghĩ kỹ ý này, đổi mới cái tốt đẹp, không chỉ để truyền danh về sau, mà còn là công đức rất sâu dày. So với việc thả 1 con chim bồ câu khỏi cân đo, cứu sống 10.000 con cá dưới ao nước, không thể cùng ngày mà bàn luận vậy.
===Ngôn Y (Bàn về việc dùng lời nói làm thuốc)===
'''Đường (唐) · Lý Hoa (李華)'''
Tấn Hầu (晉侯) đang mưu tính đánh nước Tần (秦), bỗng nhiên đổ bệnh. Tần Bá (秦伯) sai thầy thuốc tên là Hòa (和) sang thăm khám. Lúc sắp đi, Tần Bá dặn rằng: "Hai nước lân bang đang lúc bất hòa, đại phu định hành động thế nào?". Hòa đáp: "Thần không cần dùng đến thuốc đá, xin dùng lời nói để chữa khỏi bệnh cho Tấn Hầu mà quốc gia không bị tổn hại". Tần Bá vui mừng, dùng lễ nghi hàng khanh tướng tiễn đi.
Hòa đến nước Tấn (晉), vua Tấn tiếp đãi tại cung Đồng Đê (銅鞮). Vua dựa lưng vào nệm dày béo, dựa thân vào vẻ dung mạo mềm mại, những người hầu hạ thay áo gấm thêu châu ngọc có đến hơn 100 người. Đầu bếp bày vạc nấu thức ăn đầy sân rồi mới mời khách. Khách từ chối rằng: "Lúc đầu thần nhận mệnh của quân chủ nước tôi, coi việc trừ bệnh cho ngài là nhiệm vụ. Nay đại quốc lại dùng sắc đẹp và ăn uống để làm bệnh thêm cho thần, đó không phải việc thần có thể đảm đương". Quân sư Trung quân đáp: "Đây là lễ tiết quân chủ chúng tôi đãi tiên sinh, không ngờ lại thành quá đáng, kính xin tiên sinh tự chọn theo ý". Khách nói: "Thần rong ruổi dặm xa 1.000 dặm, hình hài mệt mỏi mà khí lực không đủ. Chỉ mong có 1 thịnh rượu, 1 khí quả, chút thịt khô cá khô để đưa cơm mà thôi, còn lại không dám làm phiền đại quốc".
Hòa lạy 2 lạy nhận ban thưởng rồi mới chẩn mạch, nói rằng: "Tiếng của ngài lưu tán mà thuộc dương, khí đục mà nổi, sắc mặt lạnh mà dung mạo mạnh mẽ, rất giống với Sở Vương (楚王). Như thế cũng có thể chữa được, mà cũng có thể không chữa được". Tấn Hầu hỏi: "Sở Tử (楚子 - tức Sở Vương) thế nào mà so với quả nhân?". Khách đáp: "Thần từng sang sứ nước Sở (楚), cõi Sở lớn mà giàu, núi sông rừng chầm tươi tốt, vượt qua sông Hoài (淮) đến tận Nam Hải (南海), Tấn (晉) cùng với Tề (齊), Tần (秦) đều không địch nổi". Tấn Hầu nói: "Quả nhân chưa từng đến đất Sở, hãy gác chuyện Sở Vương lại, muốn nghe thuyết về nước ấy".
Khách nói: "Ngài không nghĩ đến thần, cũng chưa xét đến chuyện biên cương nước Sở, thần xin cứ theo những gì mắt thấy mà nói. Đất Sở ấy, từ vùng ngoại ô đã cách thành Dĩnh (郢) còn những 300 dặm. Đánh xe lên gò, nhìn ngang các cung điện, màu đỏ trắng sáng rực cả trời, ngẩng đầu không thấy khoảng không, như vật trôi nổi giữa dòng nước. Sóng xanh lay động, cao thấp theo gió. Mịt mù phương Nam, thông núi không dứt, lúc ẩn lúc hiện, cao thấp so le. Mây trôi nặng nhẹ, lúc mất lúc sáng. Đường sá xa xăm, quanh núi lượn sông. Lọng xe như mái hiên, thoáng chốc đã lên đến nguyên cao, mây đỏ bao phủ đỉnh đầu, giơ tay có thể chạm trời. Những nơi vốn cao nay lại ở dưới bánh xe. Vực thẳm âm u, ném đá không nghe tiếng vọng...
Sở Vương hưởng lạc quá mức mà người dân Sở rất khốn khổ, Thân Thúc (申叔) đã xin cáo lão không tham gia chính sự nữa". Lời chưa dứt, Tấn Hầu thở hắt ra, vươn vai nói: "Lúc nãy tiên sinh nói có thể chữa được là vì sao?". Khách đáp: "Điều này chưa đủ để làm lụy nước Sở, nên nói là có thể chữa. Nếu cứ trương lên mãi mà không biết chán, thì không thể chữa được". Tấn Hầu sắc mặt tươi tỉnh, sức lực trỗi dậy, đuổi người đánh xe đi, dẹp bỏ bàn tiệc mà thưa rằng: "Tiên sinh hãy nói hết đi, bệnh của quả nhân may mắn đã thuyên giảm rồi".
Khách nhân thời cơ đó mà thuyết phục: "Nước Sở sai Lệnh doãn và Tư mã luyện binh ở biên giới phía Bắc để lấn át tệ ấp (nước Tần). Những đại phu trẻ tuổi của tệ ấp thì xin mở cửa quan để quyết chiến, những người già thì bảo: 'Quân thượng nên chăm lo cho dân nghỉ ngơi, Sở cậy giàu mạnh, vì xa hoa mà sinh dục vọng, chưa đáng sợ đâu'. Quân chủ tôi bèn mở kho phát chẩn, bốn cõi dân nghèo đem đồ dùng 4 mùa đến xin dâng. Quân chủ tôi nói: 'Vật này từ dân mà ra, nay trả lại cho dân, không có dân thì không có vật này, có gì mà tiếc?'. Lại hạ lệnh cho Thượng đại phu đem tiền của ban cho dân và tạ rằng: 'Cô gia thiếu đức, khiến cha con anh em các ngươi không tự bảo toàn được trước quân Sở, nên dốc hết của cải để an ủi'. Người Tần cảm động đều khóc. Phụ nữ, thiếu nữ cũng xin ra sức báo thù Sở. Triều đình Sở nghe tin đó, buổi sáng biết chuyện thì buổi tối đã thu quân. Quân thần nước Sở sợ hãi mà thần phục nước Tần. Đây là thuật không đánh mà thắng của tiên vương vậy".
Tấn Hầu bừng tỉnh, lấy chuyện nước Sở mà soi chiếu vào nước Tấn, bèn bãi bỏ mưu đồ đánh Tần. Từ đó đại quốc tu sửa giao hảo, tiểu quốc đến triều kiến, thiên hạ đều phục. Khách quả nhiên dùng lời nói mà chữa khỏi bệnh cho Tấn, nên gọi là "Ngôn Y".
===Thuật Y (Thuật lại việc y đức)===
'''Tống (宋) · Cung Đỉnh Thần (龔鼎臣)'''
Sách "Chu Quan (周官) chép: "Thầy thuốc nắm giữ việc nuôi dưỡng bệnh tật của vạn dân". Phàm là người mắc bệnh đều có thể chữa được. Chỉ có để lâu không chữa mới dẫn đến cái chết. Chưa thấy ai có bệnh được chữa mà lại không thể khỏi.
Đất Ba (巴), Sở (楚), phong tục tin vào phù thủy và ma quỷ, thực ra đã có từ xưa. Khi 5 khí tương khắc, hoặc dẫn đến nỗi khổ của bệnh dịch, người dân đều cho rằng đó là thiên thời, không phải thuốc men có thể chống lại. Vì thế việc cúng tế cầu đảo quỷ thần không lúc nào ngơi, lễ vật gà, lợn, vịt, cừu chỉ sợ không phong phú. Đến khi không khỏi, thì ai nấy tự trách mình sự thờ phụng quỷ thần chưa thấu đáo. Hoặc nếu may mắn khỏi bệnh, lại bảo rằng: "Nhờ cầu khẩn siêng năng, dâng lễ nhiều lần đấy. Nếu không, sao chống lại được thiên thời?".
Lại có người không chữa trị sớm, độc tính của bệnh hằng ngày hun đúc, cả nhà đều mắc bệnh. Thế nên dù là bạn thân thiết, cách xa 100 bước cũng không dám nhìn vào cửa ngõ. Thậm chí người trong nhà bệnh sợ lây nhiễm lẫn nhau, con sợ cha, vợ tránh chồng. Nếu nhà giàu có thì còn thuê được 1 thầy phù thủy đứng canh, kẻ nghèo khổ thì chỉ biết nằm liệt rên rỉ trong căn buồng độc nhất mà thôi. Như thế không chỉ tuyệt đường thuốc men, mà ngay cả ăn uống cũng bị cắt đứt. Những người chết như vậy thường chiếm đến 8 hay 9 phần trong số 10 phần, vậy mà dân vẫn không tỉnh ngộ.
Tôi từng hỏi mọi người, cái họa ấy không gì khác ngoài việc thầy phù thủy được tin trọng hơn thầy thuốc. Than ôi! Phù thủy sao có thể chắc chắn thắng được thầy thuốc? Sở dĩ thắng được là vì người đời thường dễ bị tà thuyết làm mê hoặc. Bệnh tật xâm nhập bên trong, quỷ thần u minh bên ngoài, thuốc tốt là để trị bên trong. Nay không lo trừ bệnh ở trong mà chỉ cầu phúc từ bên ngoài, đến mức những nghĩa cử thăm hỏi an ủi cũng không thông thuộc nữa, chẳng phải lầm lạc lắm sao?
Ví như lúa tốt trên đồng bị sâu đục thân làm hại, chỉ cần trừ hết sâu thì lúa mới trổ bông kết hạt được. Nhà tích của quý mà trộm vào cửa, chủ nhà cầm dao gậy, hoặc giết hoặc bắt thì tài sản mới vẹn toàn. Thân thể con người cũng vậy, mắc phải khí âm dương, gặp lúc dịch bệnh, phải nhờ thầy thuốc xem sắc diện nghe âm thanh, bắt mạch bốc thuốc, khiến bệnh rời khỏi bụng, tim, gan, hoành cách mô, sau đó thân thể mới bình phục. Nếu không dùng y học, khác gì không trừ sâu mà mong lúa chín, không đuổi trộm mà cầu của cải còn nguyên, quyết không thể được.
Huống hồ quốc gia coi trọng sách thuốc, coi đó là việc trọng yếu nhất. Tiền triều đã biên soạn các danh phương, ban bố khắp thiên hạ các quận quốc, trong đó mô tả trạng thái bệnh dịch thời tiết rất chi tiết. Đến năm Khánh Lịch (慶曆 - năm 1041-1048 dương lịch), Phạm Văn Chính Công (範文正公 - Phạm Trọng Yêm) dâng kế sách, khiến cho những người học y từ kinh sư đến bốn phương đều tập trung giảng tập để tinh thông thuật ấy, đào thải kẻ tầm thường lầm lỗi, cứu sống linh hồn, rõ ràng là một sự trợ giúp cho đạo trị quốc. Vậy mà người đời không hiểu ý nhân ái của triều đình, cứ mù quáng tin theo tà thuyết mà làm hại tính mạng, tôi thực sự thương xót.
Nay đã răn dạy các Y bác sĩ hằng ngày cùng đám môn đồ, khảo cứu thuật của Thần Nông (神農), Tử Nghi (子儀), Biển Thước (扁鵲), Tần Hòa (秦和), cùng hội tụ tại đạo của Kỳ Bá (岐伯), Du Phụ (俞柎), lấy chính thống trừ tà phái, lấy sự chân thành tiêu diệt sự hoang đường, khiến cho bệnh có thể trị không cuối cùng gây hại cho người, cũng là một việc cứu giúp dân vậy. Nhưng lo rằng dân vùng Ba (巴), Biền (賨) vẫn giữ thói cũ, không biết sự thần hiệu của y học, lại đi cầu khẩn quỷ thần dâm tế nhiều gấp bội, nên khắc lời này để thông cáo.
===Y Minh (醫銘)===
'''Lữ Hối (呂誨)'''
Vũ Thái (武泰) là người nước Tấn (晉), thông hiểu y thuật, quan thủ thần dâng sớ tiến cử, được bổ làm Đại y chính. Khi về quê nhà, ông lập miếu Ứng Thánh Hầu (應聖侯). Nghề nghiệp đã thành, ông quy công đức cho thầy, lại muốn mở rộng việc dạy bảo kẻ đến học, chí hướng ấy thật đáng khen ngợi. Ta bị giáng chức, chuyển đến làm thủ quận tại Bồ Trung (蒲中). Lúc ta sắp đi, ông xin bài văn để làm rạng danh ngôi miếu, nên ta làm bài Y Minh này. Khen ngợi ý định ân cần của ông, ta giúp ông hoàn thành tâm nguyện, biết rằng lời của ta có thể làm tăng thêm điều thiện vậy. Bài minh rằng:
6 khí 5 hành, con người bẩm thụ mà sinh ra. 3 bộ 9 hậu, nạp vào sự hòa bình. Xưa gọi là tuyệt kỹ, rửa ruột sạch dạ dày, phụ thêm bằng đá châm (biếm thạch), nhờ đó mà quyết vỡ chỗ ung nhọt. Xem xét nguồn gốc của mạch, phải làm từ khi bệnh chưa hình thành. Không đánh mà thắng, gần như 10 phần toàn vẹn. Chữa bệnh cho đời, như cầm cán cân quốc gia, thường khiến lũ tà khí không thể xâm phạm chính khí. Nếu tận dụng được ý chí của mình, bệnh ở cao hoang tất phải khỏi. "Nếu có lợi cho nghề nghiệp, sai 1 ly đi 1.000 dặm. Thái (泰) là người có hành vi, lòng không quên thầy, coi trọng nghĩa hơn lợi, cẩn trọng trong việc cứu chữa."
===Hàn lâm Y quan Thượng dược Phụng ngự Vương Vĩnh Khả y tiền Thượng dược Phụng ngự Trực Hàn lâm Y quan(翰林醫官尚藥奉御王永可依前尚藥奉御直翰林醫官)===
'''Lý Thanh Thần (李清臣)'''
Phàm các phương kỹ có ích cho con người, đều được chuẩn bị như một chức trách của hàng vương quan. Mà ngươi vốn giỏi chẩn bệnh xét sắc diện, được khen là tinh thông sáng suốt, xét sự chuyên cần qua các kỳ khảo khóa, nay thăng trật tự cho ngươi. Hãy càng thêm cố gắng vậy!
===Cái Công đường ký (蓋公堂記)===
'''Tô Thức (蘇軾)'''
Lúc đầu ta ở quê, có người bị bệnh hàn mà ho, hỏi các thầy thuốc, thầy thuốc cho là bị trúng cổ độc, không chữa sẽ chết người. Họ lấy của người đó 100 lạng vàng để chữa trị, cho uống thuốc trị cổ, đánh phá vào thận và ruột, đốt cháy da thịt, cấm đoán những thức ăn ngon. Sau 1 tháng, 100 thứ bệnh cùng phát ra, trong nóng ngoài lạnh mà tiếng ho chẳng dứt, gầy mòn rộc đi như người trúng cổ thật vậy. Lại tìm thầy thuốc khác, thầy thuốc cho là bị nhiệt, đưa cho thuốc hàn, sáng sớm thì nôn ra, tối muộn thì tiêu chảy, thế là bắt đầu không ăn được nữa. Sợ quá mà làm ngược lại, thì chung nhũ, ô uế đủ loại cùng đưa vào, khiến các trạng thái ung nhọt, lở ngứa, chóng mặt hoa mắt không gì không đến. Thay đổi thầy thuốc 3 lần mà bệnh càng nặng.
Ông lão trong làng dạy rằng: "Đó là tội của thầy thuốc, lỗi của thuốc vậy. Anh vốn có bệnh gì đâu? Con người sinh ra lấy khí làm chủ, ăn uống làm bổ trợ. Nay anh suốt ngày thuốc không rời miệng, mùi vị hỗn loạn bên ngoài, 100 thứ độc giao chiến bên trong, làm nhọc cái chủ (khí), ngăn cách cái trợ (ăn), vì thế mà sinh bệnh. Anh hãy lui về nghỉ ngơi, tạ từ thầy thuốc, bỏ hết thuốc đi, ăn những thứ mình thích, khí sẽ vẹn toàn mà ăn sẽ thấy ngon. Khi đó, thuốc tốt thực sự chỉ cần uống 1 lần là có hiệu quả." Làm theo trong 1 tháng, bệnh quả nhiên khỏi hẳn.
===Dược tụng (藥誦)===
'''Tác giả như trên (Tô Thức)'''
Kê Trung Tán (嵇中散) làm bài U phẫn thi , biết là không tránh khỏi cái chết, nhưng chương cuối lại nói: "Hái rau vi nơi sườn núi, xõa tóc chốn hang sâu, ca hát dài lâu, dưỡng tính luyện thọ", ấy là đau xót vì chí hướng này không thực hiện được. Tư Mã Cảnh Vương (司馬景王) sau khi giết Trung Tán (中散) thì hối hận. Nếu hối hận từ trước khi giết, để Trung Tán (中散) thoát chết, ta biết ông ấy sẽ xóa sạch dấu vết nơi nhân gian, như thỏ thoát cũi vào rừng vậy. Hái rau vi, xõa tóc há phải là việc khó sao?
Tôn Chân Nhân (孫真人) viết trong Đại phong ác tật luận rằng: Trong Thần tiên truyền có vài mươi người, đều nhờ mắc bệnh hiểm nghèo mà đắc đạo tiên. Tại sao vậy? Vì cắt bỏ được bụi trần, mang phong thái của Dĩnh Dương (穎陽), ấy là nhờ họa mà được phúc. Ta mới đắc tội bị đày đến Lĩnh Biểu (嶺表), không tự nghĩ là toàn mạng, đã qua 1 năm, không có mệnh lệnh gì thêm, biết là không chết rồi. Nhưng bệnh trĩ cũ hành hạ, đến nay phát tác lớn, rên rỉ gần 100 ngày, đất này không có thầy thuốc, có thuốc cũng không hiệu quả.
Đạo sĩ dạy ta bỏ mùi vị ngon ngọt, dứt bỏ hành hẹ máu thịt, dùng sự thanh tịnh để chiến thắng nó. Bệnh trĩ có con trùng trú ngụ ở hậu môn của ta. Mùi vị và máu thịt vốn để dưỡng thân ta, cũng là để dưỡng trùng. Từ nay trở đi, sáng tối ăn 4 lạng mì nhạt, nếu vẫn nghĩ đến ăn thì dùng hồ ma, phục linh bổ sung vào. Ngoài việc ăn uống chính, không ăn thêm một vật gì. Chủ nhà (thân thể) khô héo thì khách (trùng) tự bỏ đi. Lại sợ tập tính dễ thay đổi, nên lấy lời của Trung Tán Chân Nhân (中散真人) để đối trị bệnh làm thuốc. Sai người tụng bài đó mỗi ngày 3 lần, rằng: "Đông Pha cư sĩ (東坡居士), ngươi quên nỗi lo của hơn 1 năm qua, nỗi khổ của 100 ngày sao? Nếu ngươi không may gặp họa như Trung Tán (中散), mắc bệnh như Bá Ngưu (伯牛), dù muốn hái rau vi xõa tóc, liệu có được chăng?"
Nay ăn hồ ma, lúa mạch, phục linh đã nhiều. Cư sĩ bèn hát đáp lại rằng: "Làm việc của không việc, 100 việc đều yên thay! Ăn vị của không vị, 5 vị đủ đầy thay! Phục linh, hồ ma, lúa mạch có lúc cạn thay! Có thì ăn, không thì thôi, đối với ta chẳng bao giờ hết thay! Ô hô hi hi, khách trọ không ở đến cùng, lấy đó làm hổ thẹn thay!"
===Tống Hạ y tự (Lời tựa tiễn thầy thuốc họ Hạ)===
'''Chu Hy (朱熹)'''
Ta từng khổ tâm vì: "Kẻ bàn luận trong đời đều cho rằng mọi việc thiên hạ hễ thích hợp với nay thì không nhất thiết phải bắt nguồn từ xưa, hễ hợp với tục thì không nhất thiết phải dựa vào kinh điển." Đến khi quan sát cách làm thuốc của Hạ quân (夏君), ta mới biết rằng ý kiến đó quyết không đúng. Cách Hạ quân (夏君) làm thuốc, lập phương dùng dược đều kỳ lạ xuất chúng, có những điểm dường như không hợp nhân tình, nhưng kết quả cuối cùng phần nhiều lại hiệu nghiệm. Đến khi hỏi vì sao lại như vậy, ông đều dựa vào kinh điển, khảo cứu tích xưa, chưa từng có điều gì là không có căn cứ. Ta vì thế thầm có cảm xúc, bèn viết bài này tặng ông để củng cố sự tin tưởng vào thuật của ông trong đương thế, đồng thời cũng để răn dạy những kẻ trong phe nhóm ta thường không chịu học theo người xưa mà chỉ biết tự dùng ý riêng vậy.
===Dữ Dương Nguyên Phủ luận Lương Khoan Phủ bệnh chứng thư (Thư bàn về chứng bệnh của Lương Khoan Phủ gửi Dương Nguyên Phủ)===
'''Nguyên (元) · Hứa Hành (許衡)'''
Về bệnh tình của Lương Khoan Phủ (梁寬甫): Hông bên phải là bộ phận của phổi. Ho mà nhổ ra huyết, cử động thì thở dốc, ấy là phế mạch vậy. Phát sốt, mạch sác (nhanh), không thể ăn uống được, ấy là hỏa đến hình khắc kim, cả phổi và tỳ đều hư. Phổi và tỳ đều hư mà hỏa thừa cơ lấn tới, bệnh đó là nghịch. Trường hợp như thế này, theo lệ thường không thể dùng phép bổ hay tả. Bởi bổ kim thì lo kim và hỏa đối chọi nhau khiến chứng suyễn và ho càng tăng; tả hỏa thì lo hỏa không thoái vị mà chứng huyễn bích (khối u) trái lại càng thịnh.
Chính đáng là nên dùng bài "Bổ trung ích khí thang", trước hết để phù trợ nguyên khí, thêm một ít thuốc hoạt bệnh vào. Nghe nói đã dùng thuốc này mà chưa hiệu quả, ý chừng là thế bệnh cực nghịch mà dược lực chưa thấu vậy. Nên cùng Khoan Phủ (寬甫) bàn bạc kỹ, đợi đến mùa thu mát mẻ, họa chăng mới bình phục được. Bởi lẽ mạch bệnh ghét mùa xuân và mùa hạ, khí hỏa đến mùa thu và mùa đông sẽ lui vậy. Chỉ nên dùng trong bài "Ích khí thang", tùy theo âm dương 4 mùa, thăng giáng phù trầm, ôn lương hàn nhiệt và các chứng tăng giảm mà uống. Thăng giáng phù trầm thì thuận theo nó, ôn lương hàn nhiệt thì làm ngược lại (phản trị), thuận cái thuận, hòa cái hòa, ấy là phương pháp lớn của việc trị bệnh.
Nếu cảm thấy khí bị tắc nghẽn thì uống xen kẽ "Gia giảm Chỉ thuật hoàn", nếu có tích trệ ăn uống thì uống xen kẽ "Chỉ thuật thang" của Cục phương. Sau vài tháng, họa chăng nghịch khí giảm bớt, nghịch khí giảm thì mới có thể thi triển pháp trị. Chỉ sợ từ nay đến lúc sắc mặt hiện màu xanh, màu đỏ, cùng mạch huyền, mạch hồng, thì không kịp nữa rồi.
Gần đây bàn về y học, có người chủ trương theo phái Lưu thị (劉氏) ở Hà Gian (河間), có người chủ trương theo phái Trương thị (張氏) ở Dịch Châu (易州). Trương thị (張氏) dùng thuốc dựa chuẩn theo âm dương 4 mùa mà tăng giảm, chính là nghĩa của việc "Tứ khí điều thần" trong "Nội kinh (內經), làm thầy thuốc mà không biết điều này là hành động càn rỡ. Lưu thị (劉氏) dùng thuốc cốt ở việc đẩy cái cũ ra, nạp cái mới vào (thôi trần trí tân), không để một chút u uất nào, chính là nghĩa của việc "tạo hóa luôn đổi mới mà không gây hại", làm thầy thuốc mà không biết điều này là không có thuật.
Tuy nhiên, kẻ chủ trương theo Trương thị (張氏) có khi chưa thấu hết cái diệu của Trương thị (張氏), nên các phương thuốc gây chấn động mạnh (minh huyễn) cuối cùng không dám dùng, dẫn đến lỡ mất cơ hội, quá thời điểm mà không cứu được rất nhiều. Kẻ chủ trương theo Lưu thị (劉氏) có khi chưa hiểu hết cái sâu sắc của Lưu thị (劉氏), nên chỉ mưu cầu hiệu quả nhất thời trước mắt, làm tổn hại ngầm đến chính khí, để lại tai họa về sau rất nhiều. Nếu có thể dùng cái sở trường của 2 nhà mà không mắc phải cái tệ của 2 nhà, thì việc trị bệnh gần như trọn vẹn vậy!
Bệnh tình của Khoan Phủ (寬甫) lúc mới cảm thụ hẳn là bị thương do vật gì rất sâu, bấy giờ tiêu đạo không hết, tích trệ kéo dài, biến sinh ra các chứng khác cho đến nay. E rằng cũng nên phỏng theo ý "Thôi trần trí tân" của Lưu thị (劉氏), thêm ít thuốc tiêu đạo vào trong "Ích khí thang", họa chăng mới có kỳ thuyên giảm dần. Ý kiến thiển cận của ta là vậy, không dám cho là tất nhiên, chỉ mong bực tài đức như Tài Khanh (才卿), Nguyên Phủ (元甫), Tử Ích (子益) cùng thương thảo luận bàn.
===Độc dược thư mạn ký (Ghi chép tản mạn khi đọc sách thuốc)===
'''Tác giả như trên (Lưu Nhân - 劉因)'''
Con người bẩm thụ khí này để tạo thành thân thể gồm 5 tạng và 100 đốt xương, hình thể thực sự tương ứng mà khí cũng lưu thông. Những thanh âm, màu sắc, khí vị tiếp xúc với miệng, mũi, tai, mắt của con người, tuy dường như hời hợt, nhưng những gì ở trong ta mà cùng loại với chúng thì đã tương hợp rồi; những gì khác loại thì tất sẽ bực dọc mà chống đối nhau, dù là bản thân người đó cũng không tự biết được.
Như kẻ uống thuốc, lấy gỗ khô xương mục tán thành bột mịn, trộn lẫn hợp lại mà uống, chúng cũng đều theo khí loại của mình mà tìm đến đúng chỗ, bởi gốc rễ là một vậy. Cho nên bậc tiên nho nói: "Vị của mộc là chua, rễ cây đứng trong đất giống như xương, nên xương được nuôi dưỡng bằng vị chua. Vị của kim là cay, sự quấn quýt của kim với vật lạ giống như gân, nên gân được nuôi dưỡng bằng vị cay." Vị mặn thuộc thủy giống như mạch; vị đắng thuộc hỏa giống như khí; vị ngọt thuộc thổ giống như thịt. Hình thể của chúng vốn đã cùng loại rồi, thì khí của chúng lẽ nào lại không lưu thông với nhau? Suy rộng ra, sự cát hung đối với thiện ác cũng cùng một loại như vậy.
==='''Lại nói (Cùng tác giả)'''===
Trời sinh ra một đời người này, thì mọi việc trong một đời tự khắc có thể lo liệu được. Đó là vì mọi thứ đã đủ ở nơi mình mà không cần chờ đợi ở bên ngoài. Vùng Lĩnh Nam (嶺南) nhiều độc tố, thì có Kim xà, Bạch dược để trị độc; vùng Hồ Nam (湖南) nhiều chướng khí, thì có gừng, quýt, thù du để trị khí; cá, ba ba, ốc, hến trị được thấp khí mà chúng lại sinh ra từ dưới nước; xạ hương, linh dương trị được độc của đá mà chúng lại sinh ra từ trên núi. Bởi nếu không có cái gì thắng được khí của nơi kia, thì không thể sinh trưởng trong cái khí ấy được. Mà sự vật cùng sinh ra với cái khí ấy, tất nhiên phải khiến chúng có ích cho cái khí đó.
Giống như Chu Tử (朱子) nói: "Trời sắp giáng xuống loạn lạc, tất sinh ra người dẹp loạn để dự phòng về sau." Nhìn vào đó mà xem, thế gian vốn không có người vô dụng, con người vốn không có thời thế nào là không thể nương thân vậy.
===Đan Khê Ông truyện tán (丹溪翁傳贊)===
'''Đới Lương (戴良)'''
Lời luận rằng: "Xưa Nghiêm Quân Bình (嚴君平) thời Hán (漢) học rộng không gì không thông, bán quẻ bói ở Thành Đô (成都). Có người hỏi việc tà ác phi chính nghĩa, ông bèn dựa vào cỏ thi cỏ rùa mà trình bày lợi hại; với người làm con thì nói điều hiếu, với người làm em thì nói điều thuận, với người làm tôi thì nói điều trung." Sử sách khen ngợi phong thái khí tiết của ông đủ để khích lệ người tham, rèn giũa thói tục. Đan Khê Ông (翁) ở Vụ Châu (婺) đắc được nguồn gốc của Đạo học, nhưng lại ẩn mình trong nghề y. Có người vì bệnh đến gặp, ông chưa từng không dùng việc bảo tồn tinh hoa, nuôi dưỡng tinh thần để khai mở tâm trí họ. Đến như một lời nói, một sự im lặng, một lúc xuất thế hay một lúc ẩn cư, phàm những gì liên quan đến luân lý, ông lại càng tận tình dạy bảo, khiến người ta cảm khái phấn chấn không thôi. Tả Khâu Minh (左丘明) có nói: "Lời của người nhân đức, lợi ích rộng lớn thay." Thật đúng vậy. Như Đan Khê Ông (翁), hẳn là bậc ích hữu chính trực, thành thật và nghe nhiều biết rộng như người xưa nói, há có thể coi nhẹ ông chỉ như một y sĩ thông thường sao?
===Tặng Giả Tư Thành tự (贈賈思誠序)===
'''Tống Liêm (宋·濂)'''
Người cùng làng là Trương quân (張君) gửi thư nói với Liêm (濂) tôi rằng: "Mùa thu năm Nhâm Thần (1352 dương lịch), binh biến nổ ra ở Trung Nguyên (中原), phía Nam sông Trường Giang (長江) nơi nơi đều loạn lạc. Bấy giờ chỉ có Bá Gia Nạp Công (伯嘉納公) giữ cờ tiết Bộ sứ, đến trị vì Chiết Đông (浙東), cẩn thận chọn lựa hiền tài, phong quan nhậm chức để bảo vệ một phương. Tôi tuy không nhạy bén, Công không chê là bất tài, cho giữ chức Nhiếp lục sự Phán quan. Chức Phán quan là vỗ về trị lý dân cư một thành, phàm các kế sách chống giữ, an dân, tôi chẳng quản ngày đêm chuyên cần thực hiện để báo đáp ơn tri ngộ của Công trong muôn một. Tuy nhiên việc điều tiết không hiệu quả, ngày tích tháng sâu, vì lao lực mà thành bệnh. Bệnh mới phát, cơn nóng dữ dội phát ra 4 chi, tiếp đó là hôn mê ngã quỵ. Đến khi tỉnh lại, 2 mắt hoa chóng mặt, trong tai vang tiếng ve thu kêu, tinh thần hoảng hốt, như lẻ loi rời đàn đứng một mình, như cưỡi cơn gió dữ dạo chơi giữa thái không, như ngồi con thuyền không dây buộc bồng bềnh giữa Ba Tháp (三峽) và bốn biển (4 biển), thực sự không tự chủ được.
Nghe danh Chu Ngạn Tu (朱彥修) tiên sinh ở Đan Khê (丹溪) lừng lẫy bốn phương, tôi vội mời về chữa trị. Tiên sinh đến, bắt mạch xong nói: 'Bên trong dao động chân khí, bên ngoài lao lực hình hài, làm suy hao phần âm, tổn thương sự sống. Nên thu giữ cái nhìn, quay về sự lắng nghe tại chốn thái hư, không thể chỉ chuyên dựa vào thuốc mà khỏi được.' Bèn giao cho người đệ tử ưu tú là Giả Tư Thành (賈思誠) quân ở lại chăm sóc. Giả quân (賈君) xem tôi như tình thân thủ túc, không việc gì không chu toàn. Ông ấy lo tôi giận quá độ thì dùng nỗi bi thương để trị; bi thương quá độ thì trị bằng niềm vui; vui quá độ thì trị bằng nỗi sợ; sợ quá độ thì trị bằng sự suy tư; suy tư quá độ thì trị bằng cơn giận. Khi bên trái khi bên phải, dìu dắt nâng đỡ, lại theo đó mà điều hòa cho mềm mại. Không chỉ có thế, khi tôi bị quyết nghịch (ngất), ông ấy dùng thuốc vào huyệt Dũng Tuyền để làm tôi thức tỉnh; khi tôi bị hồi hộp (chinh xung), ông ấy ấn huyệt Tâm Du để định thần. Như thế suốt vài năm (số năm), không thể rời xa dù một sớm một chiều. Thà ăn không ngon, mặc không ấm, chứ sao có thể một ngày thiếu Giả quân (賈君)? Thà kẻ sĩ không thông Lỗ, Trâu, khách chẳng phải công hầu, chứ sao có thể một ngày thiếu Giả quân (賈君)?
Bệnh của tôi nhờ đó mà khỏi, Giả quân (賈君) có công với tôi rất lớn. Hy vọng ngài ban cho một lời, khen ngợi cái thiện của Giả quân (賈君) và tỏ rõ tôi không dám quên ơn, chẳng hay có được chăng?"
Tôi mở thư của Trương quân (張君), càng thêm cảm thán. Kẻ làm quan cai trị dân đời nay thường chỉ biết ăn no vui chơi, nhìn dân khốn khổ mà dửng dưng như người Tần (秦), người Việt (越) nhìn cái béo cái gầy của nhau chẳng liên can gì. Chẳng những không liên can, lại còn hút tủy khoét mỡ dân mà không biết dừng. Có ai được như Trương quân (張君) lo cho cái bệnh của dân không? Thầy thuốc đời nay tiếp khách bận rộn, không rảnh rỗi ung dung, chưa quá 2 đêm đã tạ từ đi mất. Đến mức nhìn không kịp mạch, mạch không kịp bốc phương thuốc mà không thể níu giữ được. Có ai được như Giả quân (賈君) điều hộ suốt vài năm (số năm) dài mà không nảy sinh chán nản chăng? Những việc này đều đáng chép lại. Tôi đang cầm bút theo gót các nhà văn chương, việc này mà không chép thì chép việc gì?
Tuy nhiên, quan chính ngày nay hà khắc bạo ngược, đánh đập khảo tra chỉ sợ ngày dài không đủ, dân ta khổ vì việc này đã lâu rồi. Tôi nhìn bốn phương, dân chúng đông đúc nơi châu ấp, liệu có bậc mục tể hiền năng nào có thể thi triển liều thuốc "đao khuê" để chấn hưng dân chúng chăng? Nếu có người như thế, tôi dù không nhạy bén, vẫn năng mài mực thấm ngòi, viết chữ lớn mà khen ngợi mãi không thôi. Đây là lời tựa.
===Tặng Y sư Cát mỗ tự (贈醫師葛某序)===
'''Tác giả như trên (Tống Liêm)'''
Thầy thuốc thời xưa tất phải thông hiểu sách của "ba đời (3 đời). Cái gọi là ba đời (3 đời) ấy là: một là Châm cứu, hai là Thần Nông bản thảo , ba là Thái Tố mạch quyết . Mạch quyết để xét chứng, Bản thảo để biện thuốc, Châm cứu để trừ bệnh, không có 3 thứ này thì không thể bàn về y. Cho nên người ghi kinh Lễ có nói: "Y không đủ ba đời (3 đời), không uống thuốc của họ." Người truyền kinh đã nêu rõ thuyết ấy, lại bác bỏ cái sai, cho rằng phải là cha con kế thừa qua 3 đời (3 đời) mới là đúng, sao mà lầm lạc vậy?
Đạo làm thuốc tất phải có ý chí sâu xa tinh vi, cơ trí sáng suốt, sau đó mới có thể dự vào, dù là cha cũng không thể truyền cho con được. Quê tôi có Nghiêm sinh (嚴生), 3 đời (3 đời) làm nghề y. Việc làm thuốc của ông ta chỉ chuyên dựa vào các phương thuốc trong sách Đại Quan , những thứ khác đều mờ mịt không hề biết tới. Lại có Chu Sính Quân (朱聘君), nhà vốn học Nho, đến Sính Quân (聘君) mới bắt đầu nổi danh về y thuật, các sách y gia không gì không tinh thông.
Có một thiếu niên mắc bệnh phổi khí bốc lên kêu khẹc khẹc, trong cổ gấp gáp thì nhổ ra máu thành sợi. Nghiêm (嚴) nói: "Đây là bệnh lao (瘵)", sau 3 tháng (3 tháng) thì chết. Sính Quân (聘君) nói: "Không phải. Khí thăng lên mà tươi tốt, bên trong mất đi trục chính, hỏa quan nắm quyền, nung nấu kim trong lò, đây gọi là Phổi héo (phế nuy), chữa thì sống." Sau đó quả nhiên sống.
Một ông lão 60 tuổi (60 tuổi) mắc chứng hàn nhiệt, lúc đầu lông tóc dựng đứng, răng đánh vào nhau, sau đó nóng bừng như hấp trong xửng. Nghiêm (嚴) nói: "Đây là đờm, không trị sẽ khỏi." Sính Quân (聘君) nói: "Không phải. Mạch dâm và khâu, nhanh mà loạn nhịp thở, ngoài mạnh trong khô, họa đến phúc cùng, đây gọi là Giải dịch. Dùng thuốc thì khỏi, không thuốc thì nặng thêm." Sau đó quả nhiên bệnh nặng, chữa mới khỏi.
Một người phụ nữ mắc chứng nấc cụt (uế), mỗi lần nôn ra vài thăng dãi, mùi tanh nồng nặc, người lại gần cũng muốn nôn theo. Nghiêm (嚴) nói: "Đây là hàn uế, pháp nên dùng thuốc ấm." Sính Quân (聘君) nói: "Không phải. Âm dương chưa bình, khí bao lấy huyết tụ, thế đang ngăn trở, không có chỗ nương, đây gọi là Ác trở. Theo pháp không nên trị, lâu dần tự yên, lại sinh con trai." Lời nói sau đó đều linh nghiệm.
Nghiêm sinh (嚴生) làm y đã 3 đời (3 đời) rồi, Sính Quân (聘君) thì mới bắt đầu học, mà ưu liệt như thế, y thuật há có thể luận theo đời được sao? Than ôi, danh y xưa nhiều lắm, không rảnh bàn hết, như Hoa Nguyên Đà (華元佗), như Trương Tự Bá (張嗣伯), như Hứa Trí Tạng (許智藏), việc trị bệnh của họ đều nhập thần, nhưng ban đầu chẳng nghe nói cha con họ tương truyền. Từ khi người truyền kinh lầm lẫn giữa đúng sai, khiến ý nghĩa của Lễ Kinh bị mờ tối không sáng rõ đã 3.000 năm (3.000 năm) rồi. Người đời tìm thầy thuốc không hỏi họ có thông hiểu sách vở hay không, hễ thấy ai làm nghề lâu năm thì mù quáng theo đó. Hỏi lý do thì bảo: "Đó là lời người ghi kinh Lễ nói vậy." Như thế có được chăng?
Cát sinh (葛生) mỗ, là danh gia vọng tộc ở vùng Hoài (淮), sáng suốt về y thuật, sách của ba đời (3 đời) đều đã học và thông hiểu. Ra tay trị bệnh, quyết định tử sinh, nghiệm rõ bệnh nặng nhẹ, như đuốc soi như rùa bói không chút sai chạy. Kẻ sĩ nếu không đủ tiền mua thuốc, ông bèn cho thuốc, không đòi báo đáp, các bậc sĩ quân tử đều hết lời khen ngợi. Danh tiếng truyền đến phủ Thừa tướng, được ban phục sức thất phẩm (7 phẩm), cho làm Đề cử các y quan, người có bệnh đều dựa vào ông như mạng sống. Duy nhất thay! Như Cát sinh (葛生) kia, thật không thẹn với bậc y sư thời cổ vậy!
===Tặng Y sư Giả mỗ tự (贈醫師賈某序)===
'''Tác giả như trên (Tống Liêm)'''
Đạo làm thuốc là điều khó nói đã lâu rồi. Nhưng tất phải xét chẩn để khởi độ lượng, lập quy củ, cân nhắc quyền hành, hợp nhất sắc và mạch, phân rõ biểu lý dư hay thiếu, phép thuận hay nghịch, lại tham khảo thêm động tĩnh của người đó và sự tương ứng với hơi thở, sau đó mới tiến hành trị liệu, thì việc đó thực sự không nhẹ nhàng chút nào. Nếu không am tường cái được và mất của các sách ứng thế thì sao có thể dự vào việc này?
Sách Hoàng Đế Nội Kinh (黃帝內經), tuy nghi là do kẻ sĩ thời Tiền Tần (先秦) mô phỏng rồi thác danh, nhưng lời lẽ sâu xa, tôn chỉ thâm thúy rộng lớn, khảo biện tin cậy có bằng chứng, xứng đáng là tông chủ của y gia. Dưới đó thì có Tần Việt Nhân (秦越人), Hòa (和), Hoãn (緩), không có sách truyền lại. Quyển Bát thập nhất nan kinh (八十一難經) do Việt Nhân (越人) soạn đều là nêu ra những điểm trọng yếu của Nội Kinh (內經) mà suy rộng ra vậy.
Dưới đó nữa là phép "hùng kinh si cố (gấu trèo chim ngó) của Thuần Vu Ý (淳于意) và Hoa Đà (華佗), vốn cũng là một thuật của nhà đạo dẫn. Còn như việc mổ bụng khoét lưng, rửa ruột dạ dày để trừ bệnh thì đã nhuốm màu thần quái rồi. Bệnh trạng của Ý (意) được Tư Mã Tiên (司馬遷) ghi chép đầy đủ, những gì gọi là "hồi phong", "yểu phong" thì người nay tuyệt nhiên không biết là chứng bệnh gì, huống hồ lại cầu tìm thâm ý trong trị liệu?
Dưới nữa thì có Kim quỹ Ngọc hàm kinh (金匱玉函經) của Trương Cơ (張機) và các luận thuyết về Thương hàn (傷寒), thật là điển tích nghìn thu không thay đổi. Có điều sách này chi tiết về những tổn thương do lục khí, nhưng về những bệnh do tình dục, ăn uống, mệt nhọc gây ra thì lại sơ lược không bàn đến, thêm vào đó văn tự lại sai lạc, không dễ gì tìm theo thứ tự được.
Dưới nữa là Vương Thúc Hòa (王叔和), Thúc Hòa (叔和) soạn lại sách của Kỳ Bá (岐伯), Hoa Đà (華佗) làm thành quyển Mạch kinh (脈經), trình bày âm dương nội ngoại, biện biệt 3 bộ 9 hậu, phân chia nhân nghênh khí khẩu, trình bày rõ ràng 12 kinh lạc, cho đến bệnh của tam tiêu ngũ tạng lục phủ, là rõ rệt nhất. Tiếc thay bị kẻ ngu dốt tóm lược bằng bài "Mạch ca" nông cạn, khiến cho nguyên tác không được truyền bá rộng rãi ở đời.
Dưới nữa là Sào Nguyên Phương (巢元方), quyển Bệnh nguyên hậu luận (病源候論) của ông dường như không phải là không có kiến giải, nhưng chỉ nói về phong hàn nhị thấp mà không chép văn tự về thấp nhiệt, đó là cái sai lầm vậy. Dưới nữa là Vương Băng (王冰), Băng (冰) suy luận sự biến hóa của ngũ vận lục khí, soạn ra quyển Thiên nguyên ngọc sách (天元玉策), chu đáo thiết thực, cũng là việc người thường khó làm được, nếu câu nệ vào đó thì sẽ cục bộ bế tắc không thông.
Dưới nữa là Vương Đảo (王燾), Tôn Tư Mạo (孫思邈). Tư Mạo (思邈) với kiến thức siêu quần, giữ lòng từ nhân trắc ẩn, liệt kê trong Thiên kim phương dực (千金方翼) về cái họa của kẻ làm nghề y hại người, thật là căm phẫn thiết tha. Người sau chỉ cần chạm đến ngưỡng cửa của ông cũng đủ nổi danh về thuật ấy, nhưng không biết về số của thương hàn, có lẽ không thể không có điều đáng tiếc. Đảo (燾) tuy kém cỏi, nhưng sự chi tiết về phương, chứng, phù cấm, châm cứu trong Ngoại đài bí yếu (外台祕要) khá có căn cứ. Nhưng nói rằng châm có thể giết người sống mà không thể cứu người chết thì là cái nhìn phiến diện.
Dưới nữa là Tiền Ất (錢乙), Bàng An Thời (龐安時), Hứa Thúc Vi (許叔微). Thúc Vi (許叔微) nằm trong khuôn khổ chuẩn mực mà không có phát minh gì mới. An Thời (安時) tuy có thể xuất kỳ ứng biến nhưng chung quy không rời khỏi phạm vi. Hai người đều mới đắc được cái thô của cơ lý. Chỉ có Ất (乙) là đi sâu vào chỗ thâm ảo, chắt lọc tinh hoa, lập ra phương thuốc cho ngũ tạng, tùy theo sự thích hợp. Gan có tướng hỏa thì có tả mà không có bổ; thận là chân thủy thì có bổ mà không có tả. Đều khai mở bí mật của Nội Kinh (內經), là điều mà kẻ thức giả nên học tập. Người đời cứ coi ông là "thầy thuốc trẻ con (anh nhu y), thật là biết về Ất (乙) nông cạn thay! Sách của ông để lại bị tán lạc, phần do Diêm Hiếu Trung (閻孝忠) tập hợp lại đa phần là ý của Hiếu Trung (孝忠), ban đầu không phải bản chân của Ất (乙).
Dưới nữa là Trương Nguyên Tố (張元素) ở Thượng Cốc (上谷), Lưu Hoàn Tố (劉完素) ở Hà Gian (河間), Trương Tòng Chính (張從正) ở Thư Thủy (雎水). Nguyên Tố (元素) và Hoàn Tố (完素) tuy bày ra chuyện giấc mộng kỳ lạ, người dị thường để thần thánh hóa việc truyền thụ, thực chất là nghe danh tiếng của Ất (乙) mà hưng khởi. Còn Tòng Chính (從正) lại tôn Hoàn Tố (完素) làm tông chủ. Nguyên Tố (元素) cho rằng phương thuốc cổ không trị được bệnh mới, nên trị bệnh nhất thiết không dùng phương có sẵn, vì thế sách của ông cũng không truyền lại. Những gì còn lại đến nay đều do người đời sau gán ghép, học thuật của ông thì Lý Cảo (李杲) ở Đông Viên (東垣) đắc được sâu sắc nhất. Cảo (Cảo) làm sáng tỏ thuyết nội ngoại nhị thương, chú trọng vào thuyết bổ tỳ thổ. Vì lấy thổ làm chủ của thân thể, thổ bình thì các tạng đều bình. Tòng Chính (從正) lấy 3 pháp: thổ, hãn, hạ và 6 môn: phong, hàn, thử, thấp, hỏa, táo làm then chốt của y học. Cách trị của ông thiên về công phạt, dược tễ đa phần là峻 liệt, kẻ không giỏi học theo sẽ giết người. Hoàn Tố (完素) luận về bệnh phong hỏa, dựa vào 19 điều bệnh cơ khí nghi của Nội Kinh (內經) soạn ra quyển Nguyên bệnh thức (原病式), giản lược mà thâm thúy tinh vi, không phải các thầy thuốc ở cục Đại Quan có thể phỏng theo được. Xét kỹ cách thi triển thì cũng không vượt ra ngoài hai chữ "bổ" và "công".
Than ôi! Từ khi có Nội Kinh (內經) đến nay, sách y được các cơ quan lưu giữ gồm 179 nhà (179 nhà), 209 bộ (209 bộ), 2.259 quyển (2.259 quyển), cũng không phải là ít. Những sách khác chưa rảnh bàn sâu, chỉ nói về những điều vừa luận ở đây, thầy thuốc trên đời liệu có thể tận tâm với chúng không? Nếu chưa tận tâm với những điều này, thì việc khởi độ lượng, lập quy củ, cân nhắc quyền hành, hợp nhất sắc mạch sao có thể thấu rõ mà thực hành, để không coi mạng người như trò đùa, thật là hiếm thay!
Tuy nhiên, cũng có điều cốt yếu, đó là thuận và nghịch. Rằng thăng giáng, rằng phù trầm, ta thì thuận theo nó; rằng ôn lương, rằng hàn nhiệt, ta thì làm ngược lại (nghịch). Nếu thực sự hiểu được đạo này, thì so với cách trị của các bậc tiền y, tuy không trúng hẳn cũng không xa lắm, nhưng cũng không dễ gì một bước mà tới được. Nếu không cầu tìm cực rộng mà xem xét chỗ hội thông, sao có thể đột nhiên trở về cõi chí ước (giản yếu nhất) được? Đạo làm thuốc khó nói là vì lẽ đó vậy.
Giả Tư Thành (賈思誠) ở Ô Thương (烏傷) là em họ bên ngoại của Liêm (濂) tôi, tính tình thuần hậu ngay thẳng, có phong thái quân tử. Từng cùng Liêm (濂) theo học ở Thành Nam (城南), nghe tiên sinh dạy trị kinh học. Lâu dần, Tư Thành (思誠) rời đi, theo học y thuyết tại cửa của Chu Ngạn Tu (朱彥修) tiên sinh. Các sách của chư nhà Nho viết ra không gì không xem xét, ra tay trị bệnh thường có hiệu nghiệm kỳ lạ. Các bậc tiến thân thường làm thơ tặng, rồi nhờ Liêm (濂) làm lời tựa. Liêm (濂) không phải kẻ biết về y, sẽ lấy gì để bảo ban Tư Thành (思誠) đây? Mà Tư Thành (思誠) thỉnh cầu không mệt mỏi, nên tôi mới trực tiếp trình bày cái được và mất của các sách qua các đời, để khích lệ Tư Thành (思誠) rằng việc học nên như vậy, ban đầu không rảnh rỗi như những tác giả khác múa bút múa lưỡi, đan xen để thành văn chương vậy.
===Luận y (論醫)===
'''Vương Huy (王褘)'''
Ta quan sát những người bàn về y gần đây, không nơi nào thịnh bằng vùng Ngô Trung (吳中). Mà những nhà làm nghề y cha truyền con nối ở Ngô Trung (吳中) không ai thịnh bằng họ Cát (葛). Y thuật của họ Cát (葛) giỏi về việc suy luận sự thịnh suy của ngũ vận lục khí để xét bệnh chứng mà định phép trị. Đây chính là điểm mà thuật của Trọng Chính (仲正) khác biệt với mọi người vậy.
Bậc cha chú của Trọng Chính (仲正) là Hằng Trai (恆齋) từng tự soạn sách, thuyết của ông cho rằng: "Thầy thuốc nên nhìn vào sự thịnh suy của thời đại mà thêm bớt (tổn ích). Bọn Lưu Thủ Chân (劉守真), Trương Tử Hòa (張子和) gặp lúc người Kim (金) cường thịnh, dân tính hung hãn khí cương cường, nên đa phần dùng phép tuyên tiết. Đến khi thời đại suy vi, sau cơn binh cách, đói kém liên miên, dân lao lực chí khốn khổ, nên bọn Trương Khiết Cổ (張潔古), Lý Minh Chi (李明之) đa phần dùng công phu bổ ích. Đến niên hiệu thời Tống (宋), thầy thuốc đại để chỉ lo giữ gìn khí nguyên mà không biết cái then chốt của công phạt, có thể nuôi bệnh mà không thể trị bệnh, cái sai là ở chỗ không biết thông thạo sự biến đổi vậy." Thuyết của ông như thế, có thể gọi là hiểu rõ sự biến đổi của khí vận mà thông suốt hóa dục của âm dương vậy.
===Minh y châm (明醫箴)===
'''Cung Tín (龔信)'''
Bậc minh y nay, lòng giữ nhân nghĩa, đọc khắp các sách, tinh thông đạo nghệ, thấu hiểu âm dương, rõ biết vận khí, thuốc phân ôn lương, mạch chia biểu lý, trị dùng bổ tả, bệnh xét hư thực, tùy bệnh lập phương, đúng chứng bốc thuốc, diệu pháp tại tâm, biến hóa linh hoạt, không khoe danh huyễn, chỉ mong cứu giúp. Không tính công lao, không mưu lợi lộc, chẳng kể giàu nghèo, thuốc ban như một, cải tử hoàn sinh, ơn đồng trời đất, bậc minh y này, tiếng thơm muôn đời.
===Yong y châm (庸醫箴 - Châm về thầy thuốc tầm thường)===
'''Tác giả như trên (Cung Tín)'''
Thầy thuốc tầm thường đời nay, khoe khoang cái kỳ lạ, lập ra cái dị biệt, không học kinh thư, không thông chữ nghĩa, vọng tự kiêu căng để lừa dối đương thế. Tranh nhau chạy đến cửa người ta, không mời mà tự đến. Thường xuyên dâng quà cáp biếu xén (bao thả), lấy việc hỏi bệnh làm ý đồ, tự phô trương năng lực, trăm phương ngàn kế nịnh hót. Nhà người bệnh không xét kỹ, để họ chữa trị mơ hồ. Không xét nguồn gốc bệnh, không phân biệt hư thực, không sợ chuyện sống chết, nhất thời làm liều (mạnh lãng). Hễ thấy bệnh biến chuyển đột ngột thì vội vàng lẩn đi. Làm lỡ tính mạng con người chỉ vì mưu cầu chút lợi nhỏ. Những thầy thuốc tầm thường như thế, thật đáng hổ thẹn và đáng kiêng dè.
===Bệnh gia châm (病家箴 - Châm về người bệnh)===
'''Tác giả như trên (Cung Tín)'''
Người bệnh ngày nay, đa phần tiếc tiền của, không chịu gấp rút tìm thầy, đợi đến khi tự khỏi. Không tìm bậc cao minh, chỉ mong cầu việc dễ dàng. Không xét tình trạng bệnh, nhẹ dạ giao thân làm thử nghiệm càn rỡ. Hoặc là cầu cúng quỷ thần, bày ra đủ thứ trò chẳng khác nào dẫm lên sương không cẩn thận thì băng giá sẽ đến ngay. Đến khi mời được minh y thì bệnh đã chuyển nặng. Dẫu có linh đan cũng khó lòng cứu chữa. Mê muội không tỉnh ngộ rằng đó là do sự chậm trễ gây ra. Chỉ nói là "số tận" hoặc "tận lực cầu phúc", chứ chưa thấy ai hối lỗi vì sự hồ đồ này, thật đáng than thở. Những người bệnh như thế, nên sửa đổi thói xấu này.
===Cảnh y châm (警醫箴 - Châm cảnh tỉnh thầy thuốc)===
'''Tác giả như trên (Cung Tín)'''
Trọng nhất chỉ có mạng người, khó nhất chính là nghề y. Nguồn bệnh phải tường tận, thuốc men cần thận trọng thi triển. Phải mưu cầu hiệu quả vạn toàn, chớ nên tranh thủ lúc 10 năm (10 năm) thời thế. Sống chết quan hệ rất lớn, chỉ có trời cao thấu hiểu. Dặn dò những người cùng chí hướng, cứu đời phải thêm phần suy xét kỹ.
===Nguyên đạo thống thuyết (原道統說 - Thuyết về nguồn gốc đạo thống)===
'''Lý Diên (李梴)'''
Lớn lao thay nghề y, nguồn gốc từ xa xưa vậy! Kể từ khi hỗn độn mới phân, hồng hoang mới tách. Phần khí nhẹ trong của Dương bốc lên cao thành Trời; phần hình nặng đục của Âm ngưng tụ phía dưới thành Đất. Trời cao lồng lộng vị thế ở trên, Đất vững chãi vị thế ở dưới. Thế là tinh hoa của Dương thành Mặt Trời, mọc ở phương Đông lặn ở phương Tây; tinh hoa của Âm thành Mặt Trăng, hiện ban đêm ẩn ban ngày. Lưỡng nghi được xác lập, nhị diệu vận hành. Từ đó nguyên khí ngưng tụ trên không, Nước (Thủy) bắt đầu sinh ra; sắc đỏ rực không trung, Lửa (Hỏa) bắt đầu sinh ra; sắc xanh nổi trên không, Gỗ (Mộc) bắt đầu sinh ra; sắc trắng ngang trời, Kim bắt đầu sinh ra; sắc vàng khắp không gian, Đất (Thổ) bắt đầu sinh ra. 5 hành đầy đủ, vạn vật sinh sôi, đạo Tam tài (Thiên - Địa - Nhân) hiển rõ.
Cho nên duy chỉ sự sinh trưởng của con người là đắc được chính khí của trời đất. Đầu tròn tượng trưng cho trời, chân vuông tượng trưng cho đất. Trời có âm dương, người có khí huyết; trời có 5 hành, người có 5 tạng. Dân thời Cát Thiên Thị (葛天氏) ở trong hang trên tổ, ăn lông ở lỗ, vận động để tránh rét, ở chỗ râm để tránh nóng. Tính chất chất phác (đại phác) chưa mở, nào có bệnh gì? Đợi đến lúc Phục Hy Thị (伏羲氏) xem thiên văn trông khí mà vạch quẻ quái. Đời sau có bộ Thiên nguyên ngọc sách (天元玉冊) mà người ta coi là sách của Phục Hy (伏羲), vốn do Quỷ Du Khu (鬼臾區) truyền miệng qua 10 đời (10 đời). Thần Nông Thị (神農氏) nếm trăm cỏ (100 cỏ), một ngày gặp 70 độc (70 độc), sau đó sách Bản thảo (本草) mới hưng khởi.
Hoàng Đế (黃帝) buông xiêm áo mà thiên hạ trị, cùng Kỳ Bá (岐伯), Thiên sư thay nhau hỏi đáp, trên xét thiên văn, dưới cùng địa lý, ở giữa cứu giúp nỗi khổ của dân, sách Nội kinh (內經) từ đó mà tác thành. Kinh này đã làm ra, dân có bệnh tật tất phải mượn châm đá để trị bên ngoài, thang dịch để chữa bên trong. Sau này tính chất phác tan dần, phong hóa mở mang, công việc của dân bề bộn mà lòng dục buông thả, tai ương nhiều bề, nếu không có thuốc đại độc, tiểu độc, thường độc, vô độc thì không thể dẹp bỏ được.
Gốc lớn của y học, chỉ có một bộ Tố vấn (素問) mà thôi. Gồm 24 quyển (24 quyển), 81 bài (81 bài). Trong đó suy nguyên sự lâm hành của vận khí, làm rõ gốc ngọn của kinh lạc, luận bệnh tất quy về chỗ trọng yếu, xử trị đều được sự thích nghi, rành mạch có quy củ, sáng sủa không rối loạn. Những bài như Thiên nguyên kỷ đại luận , Lục nguyên chính kỷ đại luận , Ngũ thường chính đại luận , Khí giao biến đại luận , Chí chân yếu đại luận là diệu đạo chí tinh chí vi, thực là đại điển để muôn đời cởi bỏ trói buộc, thoát khỏi ách nạn, bảo toàn chân khí dẫn dắt hơi thở, cứu dân vào cõi nhân thọ, giúp kẻ yếu hèn được bình an vậy.
Từ thời Hiên Viên (軒) - Kỳ Bá (岐) trở xuống, đời nào cũng không thiếu người tài. Biển Thước (扁鵲) đắc được 1, 2 phần (1, 2 phần), diễn giải mà thuật lại thành Nan kinh (難經). Hoàng Phủ Sĩ An (皇甫士安) biên thứ thành Giáp ất (甲乙), Dương Thượng Thiện (楊上善) soạn thành Thái tố (太素). Như lời giải của Toàn Nguyên Khởi (全元起), lời chú của Khải Nguyên Tử (啟元子), gọi là "nguồn sạch thì dòng trong, biểu thẳng thì hình đúng", đều là minh y các đại. Duy có Thái thú Trường Sa (長沙) đời Hán (漢) là Trương Trọng Cảnh (張仲景), suy xét gốc rễ tìm kiếm nguồn cội, dò tìm chỗ vi diệu u ẩn, lấy chế độ đại tiểu kỳ ngẫu, định ra phép "Quân - Thần - Tá - Sứ" mà lập phương thuốc. Biểu lý hư thực, thực là bí mật nghìn năm không truyền, đó là tư chất của bậc đại hiền á thánh, có công kế thừa quá khứ mở lối tương lai vậy.
Từ đời Hán (漢), Đường (唐) trở xuống, học giả há không muốn lội vào bến bờ thâm vi ấy sao? Khổ nỗi lý lẽ của Nội kinh (內經) thâm u không có lối vào, như Sào Nguyên Phương (巢元方) soạn sách Bệnh nguyên (病源), Tôn Tư Mạo (孫思邈) soạn Thiên kim phương (千金方), lời lẽ càng nhiều mà lý càng mờ, phương càng rộng mà pháp càng mất chân tính. Sách Nội kinh (內經) ít người thi triển được. Đến khi Chu Phụng Nghị (朱奉議) tôn theo luận thuyết của Thái thú Trường Sa (長沙), biên soạn sách Nam dương hoạt nhân (南陽活人). Trọng Cảnh (仲景) huấn giải âm dương là biểu lý, Phụng Nghị (奉議) lại giải âm dương là hàn nhiệt, sai một ly đi một dặm. Người sống được tuy nhiều, nhưng người chết cũng chẳng ít.
May thay khi hai bộ sách Yếu chỉ luận , Nguyên bệnh thức của Lưu Thủ Chân (劉守真) ra đời, thì lý của Nội kinh (內經) sáng như nhật nguyệt. Hai bộ sách Trực cách thư , Tuyên minh luận ra đời thì pháp của Trường Sa (長沙) giản yếu như then chốt máy móc. Như đổi "Quế chi Ma hoàng các bán thang" thành "Song giải tán", biến "Thập táo thang" thành "Tam hoa thần hựu hoàn", công lao đối với thánh môn không nhỏ vậy. Cùng thời đó có Trương Tử Hòa (張子和), làm sáng tỏ đại đạo của Nội kinh (內經), nối tiếp nguồn chính của Hà Gian (河澗 - tức Lưu Thủ Chân), cùng Ma Tri Cơ (麻知幾) giảng học mà soạn sách Nhu môn sự thân (儒門事親), nói rằng: "Trong thổ (nôn) có hãn (mồ hôi), trong tả (tẩy) có bổ; thánh nhân chỉ có 3 pháp (3 pháp), không có pháp thứ 4 (4 pháp)". Đó là xác luận không đổi, cách ngôn chí tinh. Từ đó có phái Lưu (劉) - Trương (張).
Bậc Đông Viên lão nhân (東垣老人 - tức Lý Cảo) làm sáng tỏ lý của Tố vấn (素問), tôn theo pháp của Trọng Cảnh (仲景), soạn 10 bộ sách Tế sinh bạt tụy (濟生拔萃十書) truyền lại cho đời. Xem mạch lấy chuẩn quyền hành quy củ, dùng thuốc theo thể thăng giáng phù trầm, vì thế có ví dụ về vương đạo và bá đạo. Đến Chu Đan Khê (朱丹溪), về thương hàn, nội thương, tạp bệnh không gì không tinh nghiên, nghĩa sâu xa về đờm hỏa lại càng đắc ý riêng biệt. Thái sử nhà Minh là Tống Liêm (宋濂) khen ông là "Tập đại thành của y gia", lời ấy thật đúng vậy.
Đến triều đại ta (Minh triều), tu soạn Đại quan bản thảo , đúc Đồng nhân du huyệt châm cứu kinh , ban sách Ngự tứ y phương , đặt Thái y để hộ vệ thánh thể, lập Lương y để giúp vương phủ, đặt Huệ dân dược cục để cứu giúp dân gian khỏi chết non (yêu trát). Lòng nhân đức với thiên hạ ấy thật giống hệt Hiên Viên (軒) - Kỳ Bá (岐), mà vượt xa Hán (漢), Đường (唐). Vì thế minh y nối tiếp ra đời, như Đào Tiết Am (陶節菴) với sách về Thương hàn , phát kiến những điều Trọng Cảnh (仲景) chưa nói; Tiết Kỷ (薛己) với Ngoại khoa, bổ khuyết cho Đông Viên (東垣); Cát Khả Cửu (葛可久) với Nội thương, Tiền Anh (錢瑛) với Nhi khoa, cũng đều xuất phát từ Đan Khê (丹溪). Công lao đào tạo người tài của triều đại rực rỡ (Chiêu đại), thật hưng thịnh thay! Hậu học biết được nguồn gốc đạo thống thì cửa ngõ không sai, mà y đạo cũng có thể gần vậy. Thế nên nói: "Biết được chỗ trọng yếu, một lời là xong vậy."
----
'''Nguồn tham khảo bổ sung'''
* [https://www.shidianguji.com/zh/book/GJTS17/chapter/1lpaanbq9gum8?page_from=searching_page&version=11 古今圖書集成·藝術典]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
f0p4usjs9nc83f6joqacas2g3h478y8