Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.46.0-wmf.24
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Thành viên:Mrfly911
2
68467
204905
204868
2026-04-27T08:37:07Z
Mrfly911
2215
/* Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn */
204905
wikitext
text/x-wiki
== Các tài liệu đóng góp và tham khảo ==
===Nho giáo===
* [[:zh:詩經]] - [[Biên dịch:Kinh Thi]]
* [[:zh:禮記/大學 (證釋本)]] - [[Biên dịch:Đại Học]]
* [[:zh:禮記/中庸]] - [[Biên dịch:Trung Dung]]
* [[Luận ngữ]]
* [[:zh:孟子]] - [[Biên dịch:Mạnh Tử]]
* [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[w:Bách gia tính]] (có đủ trên Wikipedia)
* [[Biên dịch:Thiên tự văn]]
===Đạo giáo===
* [[Đạo Đức kinh]]
===Y dược===
* [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]]
* [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]]
* [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]]
* [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]]
** [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]]
** [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]]
* [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]]
* [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]]
* [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]]
* Nam dược thần hiệu (南藥神效)
* Hồng Nghĩa giác tư y thư
* Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領)
* [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]]
* [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]]
* [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]]
* [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]]
* [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]]
* [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]]
* [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]]
{{Kinh điển Phật giáo}}
==Lịch sử==
{{Nhị thập tứ sử}}
=== Hán (206 TCN - 9)===
* [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]]
** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]]
** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]]
* [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]]
** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾)
* [[Tác gia:Tư Mã Thiên]]
** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]]
*** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]]
** [[:zh:素王妙論]]
** [[:zh:悲士不遇賦]]
** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944)
** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch)
** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]])
* [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]]
** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]]
* [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]]
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
===Đông Hán (25–220)===
* [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]]
** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]]
*[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]]
----
* [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]]
** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]]
=== Tào Ngụy ===
* [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360)
=== Đông Ngô ===
* [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]]
* [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]]
** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]]
** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]]
=== Tấn ===
* [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]]
----
* [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]]
** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]]
* [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]]
** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]]
===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)===
* [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]]
** KINH (經)
*** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển
***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển
*** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng)
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển)
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển
** LUẬT (律)
*** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển
** LUẬN (論) & PHÁP (法)
*** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển
*** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển
*** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp)
** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP
*** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển
----
* [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]]
** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]]
**:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng.
** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]]
----
* [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442)
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
===Nam–Bắc triều (420–589)===
==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ====
* [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]]
=== Đường 618–907)===
* [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]]
* [[Lữ ngụ An Nam]]
* [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]]
* [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]]
* [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]]
* [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]]
** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]]
** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]]
----
* [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]]
* [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713)
** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]]
** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762)
** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]]
* [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]]
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]])
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]])
===Ngũ đại Thập quốc (907–979)===
* [[Tân Ngũ Đại sử]]
===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)===
* [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178)
* [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186)
* [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]]
* [[Tục tư trị thông giám]]
* [[Tư trị thông giám trường biên]]
=== Trần # Nguyên (1260–1368)===
* [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]]
* [[:zh:安南志畧]]
** [[Biên dịch:An Nam chí lược]]
* [[Biên dịch:Nguyên sử]]
** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]]
*[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]]
**Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]]
* [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]]
=== Trần - Lê # Minh (1368–1644)===
* [[:zh:越史略|越史略]]
** [[Biên dịch:Việt sử lược]]
* [[Biên dịch:Minh thực lục]]
** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]]
*** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]]
* [[Biên dịch:Minh sử]]
** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]]
* [[Bình An Nam chiếu]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]]
* [[:zh:殊域周咨錄]]
** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]]
* [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]]
* [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]]
* [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội]
=== Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)===
* [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]]
* [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]]
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]]
***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]]
*** ...
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]]
* [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]]
** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]]
*[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
**[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
*[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]]
**[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]]
*[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
*[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
* [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]]
* [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]]
* [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]]
* [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]]
----
====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành====
* [[:zh:欽定古今圖書集成]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]])
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]]
==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu==
<nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki>
hoặc
<pre>
<inputbox>
type=search
width=30
placeholder=Tìm trong trang này
searchbuttonlabel=Tìm
fulltext=false
prefix={{FULLPAGENAME}}
</inputbox>
</pre>
==Cú pháp==
<pre>{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}</pre>
<pre>
{| align="center"
! Nguyên văn chữ Hán
! Phiên âm Hán Việt
|-
|
<poem>
關關雎鳩,在河之洲。
窈窕淑女,君子好逑。
參差荇菜,左右流之。
窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。
悠哉悠哉,輾轉反側。
參差荇菜,左右采之。
窈窕淑女,琴瑟友之。
參差荇菜,左右芼之。
窈窕淑女,鐘鼓樂之。
</poem>
|
<poem>
Quan quan thư cưu, tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.
Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục.
Du tai du tai, triển chuyển phản trắc.
Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi.
Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi.
</poem>
|}
</pre>
==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn==
Việt dịch toàn văn, giữ nguyên định dạng:
===Dịch lịch sử===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ.
===Dịch kinh Phật, kinh Thi===
Dịch đoạn văn sang tiếng Việt theo yêu cầu sau: các đoạn văn xuôi dịch ngắn gọn, không giải thích. Các bài thơ, bài kệ dịch thành 2 bản, bản 1 theo đúng cú pháp nguyên văn, bản 2 theo thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ đúng âm luật, âm hưởng trang trọng. Giữ đúng bố cục, không lược bỏ.
===Dịch y học===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ.
kgd8p4vmss8in8x5fqv2o78dmy1dn87
Luận ngữ
0
71097
204917
204861
2026-04-27T09:11:41Z
Mrfly911
2215
204917
wikitext
text/x-wiki
{{bản dịch
| bản gốc = 論語
| bản dịch = Luận ngữ
| tác giả = Khổng Tử
| ghi chú =
}}
* [[Luận ngữ (Dương Bá Trạc dịch)|Luận ngữ]] do [[Tác gia:Dương Bá Trạc|Dương Bá Trạc]] dịch (1922)
* [[Luận ngữ trích cú diễn âm]] do [[Tác gia:Nguyễn Phúc Ưng Ân|Nguyễn Phúc Ưng Ân]] dịch (1930)
{{Tứ thư}}
[[Thể loại:Nho giáo]]
duxyoqtbmakkr9jmkvkusr8mlx59wbg
Biên dịch:Đại Học
114
72012
204915
204877
2026-04-27T09:11:02Z
Mrfly911
2215
204915
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Đại học
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 禮記/大學 (證釋本)
| năm=
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú = Đại Học nguyên là một chương trong Lễ Ký được viết thành sách trong khoảng thời gian từ thời chiến quốc đến thời Tần Hán, được xem là một trong những sách chủ yếu của Nho gia. Tác giả của Đại Học là ai hiện nay vẫn chưa xác định rõ, có người cho là của Tử Tư viết, nhưng Chu Hy đời Tống lại cho là của Tăng Tử viết. Bởi Chu Hy cho rằng Tăng Tử là học trò của Khổng Tử nên Tăng Tử ghi chép lại lời của Khổng Tử là hợp đạo lý. Và đa số người ta tin vào giả thiết này hơn. {{Wikipediaref}}
}}
{{Tứ thư}}
{| align="center"
! Nguyên văn chữ Hán
! Phiên âm Hán Việt
|-
|
<poem>
'''一、綱領'''
大學之道,在明明德,在親親,在新民,在止於至善。
'''二、述明明德'''
古之欲明明德於天下者,先治其國;欲治其國者,先齊其家;欲齊其家者,先修其身;欲修其身者,先正其心;欲正其心者,先誠其意;欲誠其意者,先致其知;致知在格物。物格而後知至,知至而後意誠,意誠而後心正,心正而後身修,身修而後家齊,家齊而後國治,國治而後天下平。
康誥曰:「克明德。」太甲曰:「顧諟天之明命。」帝典曰:「克明峻德。」皆自明也。
'''三、述親親新民'''
物有本末,事有終始,知所先後,則近道矣。自天子以至於庶人,壹是皆以親親為本,其本亂而末治者否矣;其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也。
湯之盤銘曰:「苟日新,日日新,又日新。」康誥曰:「作新民。」詩曰:「周雖舊邦,其命維新。」是故,君子畏天愛民。
'''四、述止至善'''
知止而後有定,定而後能靜,靜而後能安,安而後能慮,慮而後能得。是故,君子無所不用其極。
詩云:「邦畿千里,維民所止。」詩云:「緡蠻黃鳥,止於丘隅。」子曰:「於止,知其所止,可以人而不如鳥乎?」
詩云:「穆穆文王,於緝熙敬止。」為人君,止於仁;為人臣,止於敬;為人子,止於孝;為人父,止於慈;與國人交,止於信。
'''五、總結綱領'''
詩云:「瞻彼淇澳,菉竹猗猗;有斐君子,如切如磋,如琢如磨,瑟兮僩兮,赫兮喧兮;有斐君子,終不可諠兮。」如切如磋者,道學也;如琢如磨者,自修也;瑟兮僩兮者,恂慄也;赫兮喧兮者,威儀也。有斐君子,終不可諠兮者,道盛德至善,民之不能忘也。
詩云:「於戲!前王不忘。」君子賢其賢而親其親,小人樂其樂而利其利,此以沒世不忘也。
'''六、述格物致知'''
所謂「致知在格物」者:人之其所親愛而辟焉,之其所賤惡而辟焉,之其所畏敬而辟焉,之其所哀矜而辟焉,之其所敖惰而辟焉。故好而知其惡,惡而知其美者,天下鮮矣。故諺有之曰:「人莫知其子之惡,莫知其苗之碩。」
子曰:「聽訟,吾猶人也;必也,使無訟乎!」無物不得盡其情也。此謂物格,此謂知本,此謂知之至也。
'''七、述誠意'''
所謂「誠其意」者,毋自欺也。如惡惡臭,如好好色;故君子必慎其獨也。
小人閒居為不善,無所不至;見君子而後厭然,揜其不善,而著其善;人之視己,如見其肺肝然,則何益矣?此之謂自慊;故君子必慎其獨也。曾子曰:「十目所視,十手所指,其嚴乎!」富潤屋,德潤身,心廣體胖。此謂誠於中形於外;故君子必誠其意。
'''八、述正心修身'''
所謂「修身在正其心」者:身有所忿懥,則不得其正;有所恐懼,則不得其正;有所好樂,則不得其正;有所憂患,則不得其正。心不在焉,視而不見,聽而不聞,食而不知其味。此謂修身在正其心。
'''九、述修身齊家'''
所謂「齊其家在修其身」者:堯、舜帥天下以仁,而民從之;桀、紂帥天下以暴,而民從之。其所令反其所好,而民不從。是故君子有諸己,而後求諸人;無諸己,而後非諸人。所藏乎身不恕,而能喻諸人者,未之有也。此謂身不修,不可以齊其家。
'''十、述齊家治國'''
所謂「治國必先齊其家」者:其家不可教,而能教人者,無之。故君子不出家,而成教於國。孝者,所以事君也;弟者,所以事長也;慈者,所以使眾也。康誥曰:「如保赤子。」心誠求之,雖不中,不遠矣。未有學養子而後嫁者也。
一家仁,一國興仁;一家讓,一國興讓;一人貪利,一國作亂;其機如此。此謂一言僨事,一人定國。
詩云:「桃之夭夭,其葉蓁蓁,之子于歸,宜其家人。」宜其家人,而後可以教國人。詩云:「宜兄宜弟。」宜兄宜弟,而後可以教國人。詩云:「其儀不忒,正是四國。」其為父子兄弟足法,而後民法之也。此謂治國在齊其家。
'''十一、述治國平天下'''
所謂「平天下在治其國」者:上老老,而民興孝;上長長,而民興弟;上恤孤,而民不倍。是以君子有絜矩之道也。所惡於上,毋以使下;所惡於下,毋以事上;所惡於前,毋以先後;所惡於後,毋以從前;所惡於右,毋以交於左;所惡於左,毋以交於右;此之謂絜矩之道。
詩云:「節彼南山,維石巖巖;赫赫師尹,民具爾瞻。」有國者不可以不慎,辟,則為天下僇矣!
詩云:「殷之未喪師,克配上帝;儀監於殷,峻命不易。」道得眾,則得國;失眾,則失國。是故君子有大道:必忠信以得之,驕泰以失之。
康誥曰:「惟命不於常。」道善則得之;不善則失之矣。楚書曰:「楚國無以為寶,惟善以為寶。」舅犯曰:「亡人無以為寶,仁親以為寶。」
秦誓曰:「若有一個臣,斷斷兮,無他技;其心休休焉,其如有容焉;人之有技,若己有之;人之彥聖,其心好之;不啻若自其己出,寔能容之,以能保我子孫黎民,尚亦有利哉!人之有技,媢嫉以惡之;人之彥聖,而違之俾不通;寔不能容,以不能保我子孫黎民,亦曰殆哉!」唯仁人放流之,迸諸四夷,不與同中國。此謂「唯仁人為能愛人,能惡人。」
見賢而不能舉,舉而不能先,命也;見不善而不能退,退而不能遠,過也。好人之所惡,惡人之所好,是謂拂人之性,菑必逮夫身。詩云:「樂只君子,民之父母。」民之所好好之,民之所惡惡之,此之謂民之父母。
是故君子先慎乎德;有德此有人,有人此有土,有土此有財,有財此有用。德者,本也;財者,末也;外本內末,爭民施奪。是故財聚則民散,財散則民聚。是故言悖而出者,亦悖而入;貨悖而入者,亦悖而出。
生財有大道:生之者眾,食之者寡;為之者疾,用之者舒,則財恆足矣。
仁者以財發身,不仁者以身發財。未有上好仁,而下不好義者也;未有好義,其事不終者也;未有府庫財,非其財者也。
孟獻子曰:「畜馬乘,不察於雞豚;伐冰之家,不畜牛羊;百乘之家,不畜聚斂之臣;與其有聚斂之臣,寧有盜臣。」此謂國不以利為利,以義為利也。
長國家而務財用者,必自小人矣;彼為善之,小人之使為國家,菑害竝至,雖有善者,亦無如之何矣!此謂國不以利為利,以義為利也。
</poem>
|
<poem>
'''Nhất, cương lĩnh'''
Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân thân, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.
'''Nhị, thuật minh minh đức'''
Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc; dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân; dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm; dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý; dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri; trí tri tại cách vật. Vật cách nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành, ý thành nhi hậu tâm chính, tâm chính nhi hậu thân tu, thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị, quốc trị nhi hậu thiên hạ bình.
Khang cáo viết: 「khắc minh đức. 」thái giáp viết: 「cố thị thiên chi minh mệnh. 」đế điển viết: 「khắc minh tuấn đức. 」giai tự minh dã.
'''Tam, thuật thân thân tân dân'''
Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thuỷ, tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hỹ. Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ thân thân vy bản, kỳ bản loạn nhi mạt trị giả bĩ hỹ; kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu dã.
Thang chi bàn minh viết: 「cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân. 」khang cáo viết: 「tác tân dân. 」thi viết: 「chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy tân. 」thị cố, quân tử uý thiên ái dân.
'''Tứ, thuật chỉ chí thiện'''
Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc. Thị cố, quân tử vô sở bất dụng kỳ cực.
Thi vân: 「bang kỳ thiên lý, duy dân sở chỉ. 」thi vân: 「mân man hoàng điểu, chỉ ư khâu ngung. 」tử viết: 「ư chỉ, tri kỳ sở chỉ, khả dĩ nhân nhi bất như điểu hồ? 」
Thi vân: 「mục mục văn vương, ư tập hy kính chỉ. 」vy nhân quân, chỉ ư nhân; vy nhân thần, chỉ ư kính; vy nhân tử, chỉ ư hiếu; vy nhân phụ, chỉ ư từ; dữ quốc nhân giao, chỉ ư tín.
'''Ngũ, tổng kết cương lĩnh'''
Thi vân: 「chiêm bỉ kỳ áo, lục trúc y y; hữu phỉ quân tử, như thiết như tha, như trác như ma, sắt hề dản hề, hách hề huyên hề; hữu phỉ quân tử, chung bất khả huyên hề. 」như thiết như tha giả, đạo học dã; như trác như ma giả, tự tu dã; sắt hề dản hề giả, tuân lật dã; hách hề huyên hề giả, uy nghi dã. Hữu phỉ quân tử, chung bất khả huyên hề giả, đạo thịnh đức chí thiện, dân chi bất năng vong dã.
Thi vân: 「ư hý! Tiền vương bất vong. 」quân tử hiền kỳ hiền nhi thân kỳ thân, tiểu nhân nhạc kỳ nhạc nhi lợi kỳ lợi, thử dĩ một thế bất vong dã.
'''Lục, thuật cách vật trí tri'''
Sở vị 「trí tri tại cách vật 」giả: nhân chi kỳ sở thân ái nhi tịch yên, chi kỳ sở tiện ác nhi tịch yên, chi kỳ sở uý kính nhi tịch yên, chi kỳ sở ai căng nhi tịch yên, chi kỳ sở ngao noạ nhi tịch yên. Cố hảo nhi tri kỳ ác, ác nhi tri kỳ mỹ giả, thiên hạ tiên hỹ. Cố ngạn hữu chi viết: 「nhân mạc tri kỳ tử chi ác, mạc tri kỳ miêu chi thạc. 」
Tử viết: 「thính tụng, ngô do nhân dã; tất dã, sử vô tụng hồ! 」vô vật bất đắc tận kỳ tình dã. Thử vị vật cách, thử vị tri bản, thử vị tri chi chí dã.
'''Thất, thuật thành ý'''
Sở vị 「thành kỳ ý 」giả, vô tự khi dã. Như ác ác xú, như hảo hảo sắc; cố quân tử tất thận kỳ độc dã.
Tiểu nhân nhàn cư vy bất thiện, vô sở bất chí; kiến quân tử nhi hậu yếm nhiên, yểm kỳ bất thiện, nhi trước kỳ thiện; nhân chi thị kỷ, như kiến kỳ phế can nhiên, tắc hà ích hỹ? Thử chi vị tự khiểm; cố quân tử tất thận kỳ độc dã. Tằng tử viết: 「thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ, kỳ nghiêm hồ! 」phú nhuận ốc, đức nhuận thân, tâm quảng thể bàn. Thử vị thành ư trung hình ư ngoại; cố quân tử tất thành kỳ ý.
'''Bát, thuật chính tâm tu thân'''
Sở vị 「tu thân tại chính kỳ tâm 」giả: thân hữu sở phẫn chí, tắc bất đắc kỳ chính; hữu sở khủng cụ, tắc bất đắc kỳ chính; hữu sở hảo nhạc, tắc bất đắc kỳ chính; hữu sở ưu hoạn, tắc bất đắc kỳ chính. Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ vị. Thử vị tu thân tại chính kỳ tâm.
'''Cửu, thuật tu thân tề gia'''
Sở vị 「tề kỳ gia tại tu kỳ thân 」giả: nghiêu, thuấn suý thiên hạ dĩ nhân, nhi dân tòng chi; kiệt, trụ suý thiên hạ dĩ bạo, nhi dân tòng chi. Kỳ sở linh phản kỳ sở hảo, nhi dân bất tòng. Thị cố quân tử hữu chư kỷ, nhi hậu cầu chư nhân; vô chư kỷ, nhi hậu phi chư nhân. Sở tàng hồ thân bất thứ, nhi năng dụ chư nhân giả, vị chi hữu dã. Thử vị thân bất tu, bất khả dĩ tề kỳ gia.
'''Thập, thuật tề gia trị quốc'''
Sở vị 「trị quốc tất tiên tề kỳ gia 」giả: kỳ gia bất khả giáo, nhi năng giáo nhân giả, vô chi. Cố quân tử bất xuất gia, nhi thành giáo ư quốc. Hiếu giả, sở dĩ sự quân dã; đệ giả, sở dĩ sự trưởng dã; từ giả, sở dĩ sử chúng dã. Khang cáo viết: 「như bảo xích tử. 」tâm thành cầu chi, tuy bất trung, bất viễn hỹ. Vị hữu học dưỡng tử nhi hậu giá giả dã.
Nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân; nhất gia nhượng, nhất quốc hưng nhượng; nhất nhân tham lợi, nhất quốc tác loạn; kỳ cơ như thử. Thử vị nhất ngôn phẫn sự, nhất nhân định quốc.
Thi vân: 「đào chi yêu yêu, kỳ diệp trăn trăn, chi tử vu quy, nghi kỳ gia nhân. 」nghi kỳ gia nhân, nhi hậu khả dĩ giáo quốc nhân. Thi vân: 「nghi huynh nghi đệ. 」nghi huynh nghi đệ, nhi hậu khả dĩ giáo quốc nhân. Thi vân: 「kỳ nghi bất thắc, chính thị tứ quốc. 」kỳ vy phụ tử huynh đệ túc pháp, nhi hậu dân pháp chi dã. Thử vị trị quốc tại tề kỳ gia.
'''Thập nhất, thuật trị quốc bình thiên hạ'''
Sở vị 「bình thiên hạ tại trị kỳ quốc 」giả: thượng lão lão, nhi dân hưng hiếu; thượng trưởng trưởng, nhi dân hưng đệ; thượng tuất cô, nhi dân bất bội. Thị dĩ quân tử hữu khiết củ chi đạo dã. Sở ác ư thượng, vô dĩ sử hạ; sở ác ư hạ, vô dĩ sự thượng; sở ác ư tiền, vô dĩ tiên hậu; sở ác ư hậu, vô dĩ tòng tiền; sở ác ư hữu, vô dĩ giao ư tả; sở ác ư tả, vô dĩ giao ư hữu; thử chi vị khiết củ chi đạo.
Thi vân: 「tiết bỉ nam sơn, duy thạch nham nham; hách hách sư doãn, dân cụ nhĩ chiêm. 」hữu quốc giả bất khả dĩ bất thận, tịch, tắc vy thiên hạ lục hỹ!
Thi vân: 「ân chi vị táng sư, khắc phối thượng đế; nghi giám ư ân, tuấn mệnh bất dị. 」đạo đắc chúng, tắc đắc quốc; thất chúng, tắc thất quốc. Thị cố quân tử hữu đại đạo: tất trung tín dĩ đắc chi, kiêu thái dĩ thất chi.
Khang cáo viết: 「duy mệnh bất ư thường. 」đạo thiện tắc đắc chi; bất thiện tắc thất chi hỹ. Sở thư viết: 「sở quốc vô dĩ vy bảo, duy thiện dĩ vy bảo. 」cữu phạm viết: 「vong nhân vô dĩ vy bảo, nhân thân dĩ vy bảo. 」
Tần thệ viết: 「nhược hữu nhất cá thần, đoạn đoạn hề, vô tha kỹ; kỳ tâm hưu hưu yên, kỳ như hữu dung yên; nhân chi hữu kỹ, nhược kỷ hữu chi; nhân chi ngạn thánh, kỳ tâm hảo chi; bất thí nhược tự kỳ kỷ xuất, tẩm năng dung chi, dĩ năng bảo ngã tử tôn lê dân, thượng diệc hữu lợi tai! Nhân chi hữu kỹ, mạo tật dĩ ác chi; nhân chi ngạn thánh, nhi vy chi tỷ bất thông; tẩm bất năng dung, dĩ bất năng bảo ngã tử tôn lê dân, diệc viết đãi tai! 」duy nhân nhân phóng lưu chi, bính chư tứ di, bất dữ đồng trung quốc. Thử vị 「duy nhân nhân vy năng ái nhân, năng ác nhân. 」
Kiến hiền nhi bất năng cử, cử nhi bất năng tiên, mệnh dã; kiến bất thiện nhi bất năng thoái, thoái nhi bất năng viễn, quá dã. Hảo nhân chi sở ác, ác nhân chi sở hảo, thị vị phất nhân chi tính, tri tất đãi phu thân. Thi vân: 「nhạc chỉ quân tử, dân chi phụ mẫu. 」dân chi sở hảo hảo chi, dân chi sở ác ác chi, thử chi vị dân chi phụ mẫu.
Thị cố quân tử tiên thận hồ đức; hữu đức thử hữu nhân, hữu nhân thử hữu thổ, hữu thổ thử hữu tài, hữu tài thử hữu dụng. Đức giả, bản dã; tài giả, mạt dã; ngoại bản nội mạt, tranh dân thi đoạt. Thị cố tài tụ tắc dân tán, tài tán tắc dân tụ. Thị cố ngôn bội nhi xuất giả, diệc bội nhi nhập; hoá bội nhi nhập giả, diệc bội nhi xuất.
Sinh tài hữu đại đạo: sinh chi giả chúng, thực chi giả quả; vy chi giả tật, dụng chi giả thư, tắc tài hằng túc hỹ.
Nhân giả dĩ tài phát thân, bất nhân giả dĩ thân phát tài. Vị hữu thượng hảo nhân, nhi hạ bất hảo nghĩa giả dã; vị hữu hảo nghĩa, kỳ sự bất chung giả dã; vị hữu phủ khố tài, phi kỳ tài giả dã.
Mạnh hiến tử viết: 「súc mã thừa, bất sát ư kê đồn; phạt băng chi gia, bất súc ngưu dương; bách thừa chi gia, bất súc tụ liễm chi thần; dữ kỳ hữu tụ liễm chi thần, ninh hữu đạo thần. 」thử vị quốc bất dĩ lợi vy lợi, dĩ nghĩa vy lợi dã.
Trưởng quốc gia nhi vụ tài dụng giả, tất tự tiểu nhân hỹ; bỉ vy thiện chi, tiểu nhân chi sử vy quốc gia, tri hại tịnh chí, tuy hữu thiện giả, diệc vô như chi hà hỹ! Thử vị quốc bất dĩ lợi vy lợi, dĩ nghĩa vy lợi dã.
</poem>
|}
==Dịch nghĩa==
===I. Cương lĩnh===
Đạo học của bậc đại nhân: cốt ở làm sáng đức sáng, ở chỗ gần gũi (đổi mới) dân, ở chỗ đạt đến mức thiện tối cao.
===II. Thuật về Minh minh đức===
Người xưa muốn làm sáng đức sáng ra thiên hạ thì trước hết phải trị quốc; muốn trị quốc phải tề gia; muốn tề gia phải tu thân; muốn tu thân phải chính tâm; muốn chính tâm phải thành ý; muốn thành ý phải trí tri; trí tri cốt ở cách vật. Sự vật được nghiên cứu thấu đáo thì trí thức mới đạt đến; trí thức đạt đến thì ý niệm mới thành thực; ý niệm thành thực thì tâm mới ngay chính; tâm ngay chính thì thân mới tu chỉnh; thân tu chỉnh thì nhà mới yên vui; nhà yên vui thì nước mới thịnh trị; nước thịnh trị thì thiên hạ mới thái bình.
* Khang cáo viết: "Khắc phục bản thân để làm sáng đức".
* Thái Giáp viết: "Dõi theo mệnh sáng của trời".
* Đế Điển viết: "Làm sáng đức lớn".
Tất cả đều là tự làm sáng mình.
===III. Thuật về Thân dân (Tân dân)===
Vật có gốc ngọn, việc có đầu cuối, biết được trước sau thì gần với Đạo vậy. Từ thiên tử đến thứ dân, tất cả đều lấy tu thân (thân dân) làm gốc. Gốc loạn mà ngọn trị là điều không thể; coi nhẹ việc trọng yếu, coi trọng việc thứ yếu là điều chưa từng có.
*Bàn minh của vua Thang viết: "Nếu ngày nay mới, ngày ngày đều mới, lại ngày càng mới". Khang cáo viết: "Làm mới dân". Kinh Thi viết: "Nước Chu tuy cũ, mệnh trời duy mới". Do đó, quân tử kính sợ trời, thương yêu dân.
===IV. Thuật về Chỉ ư chí thiện===
Biết dừng đúng chỗ thì mới định, định rồi mới tĩnh, tĩnh rồi mới an, an rồi mới lo nghĩ sâu xa, lo nghĩ sâu xa rồi mới đạt được kết quả. Do đó, bậc quân tử làm việc gì cũng nỗ lực đến cùng cực.
*Kinh Thi viết: "Vùng đất nghìn dặm, là nơi dân dừng chân". Lại viết: "Líu lo chim hoàng oanh, đậu nơi gò núi". Khổng Tử nói: "Về việc đậu (dừng), chim còn biết chỗ mà dừng, chẳng lẽ người lại không bằng chim sao?".
*Kinh Thi viết: "Vua Văn Vương uy nghi, kính cẩn dừng lại ở nơi sáng láng". Làm vua, dừng ở lòng Nhân; làm tôi, dừng ở lòng Kính; làm con, dừng ở lòng Hiếu; làm cha, dừng ở lòng Từ; giao thiệp với người dân, dừng ở chữ Tín.
===V. Tổng kết cương lĩnh===
*Kinh Thi viết: "Nhìn vực sông Kỳ, tre xanh mướt; có bậc quân tử, như cắt như giũa, như mài như chạm; nghiêm nghị mà hiên ngang, rạng rỡ mà hiển hách; bậc quân tử đẹp đẽ, thật khó quên thay". "Như cắt như giũa" là việc học đạo; "như mài như chạm" là việc tự tu thân; "nghiêm nghị hiên ngang" là vẻ thận trọng cung kính; "rạng rỡ hiển hách" là vẻ uy nghi. "Bậc quân tử khó quên" là vì đức thịnh, thiện tới cực điểm nên dân không thể quên.
*Kinh Thi viết: "Ôi! Các vua đời trước chẳng thể quên". Bậc quân tử quý người hiền, thân người thân; tiểu nhân vui cái vui của họ, lợi cái lợi của họ; bởi vậy đời sau vẫn không quên.
===VI. Thuật về Cách vật Trí tri===
Cái gọi là "Trí tri tại cách vật" là thế này: Người ta đối với người mình thân yêu thường thiên lệch, đối với kẻ mình khinh ghét thường thiên lệch, đối với người mình kính sợ thường thiên lệch, đối với người mình thương xót thường thiên lệch, đối với người mình kiêu ngạo thường thiên lệch. Thế nên, yêu mà biết điểm xấu, ghét mà biết điểm tốt của người, thiên hạ hiếm thay. Tục ngữ có câu: "Người ta không biết con mình xấu, không biết mạ mình tốt".
Khổng Tử nói: "Xử kiện, ta cũng như người thôi; cái chính là làm sao để không còn kiện tụng nữa!". Không vật gì không thấu hết sự tình. Đó gọi là vật được nghiên cứu thấu đáo, là biết cái gốc, là cái trí đạt đến tột cùng.
===VII. Thuật về Thành ý===
Nói "Thành ý" là không tự lừa dối mình. Như ghét mùi thối, như yêu màu đẹp; nên người quân tử tất phải thận trọng khi ở một mình (thận độc).
Kẻ tiểu nhân khi ở riêng thường làm việc bất thiện, không gì không làm; khi thấy quân tử thì che đậy việc xấu, phô trương việc tốt. Người khác nhìn mình như thấy rõ cả gan phổi, vậy có ích gì đâu? Đó gọi là tự mãn nguyện với lòng; nên quân tử phải thận trọng khi ở một mình. Tăng Tử nói: "Mười mắt nhìn vào, mười tay chỉ vào, thật đáng sợ thay!". Giàu làm đẹp nhà, đức làm đẹp thân, tâm rộng rãi thì thân thể thư thái. Đó gọi là trong thực thì ngoài hiện; nên quân tử tất phải thành thực với ý niệm của mình.
===VIII. Thuật về Chính tâm Tu thân===
Nói "Tu thân tại chính tâm" là vì: Khi lòng có oán hận thì không được ngay chính; có sợ hãi thì không được ngay chính; có vui thích thì không được ngay chính; có lo âu thì không được ngay chính. Tâm không ở đó thì nhìn mà chẳng thấy, nghe mà chẳng thông, ăn mà chẳng biết mùi vị. Đó gọi là tu thân cốt ở chính tâm.
===IX. Thuật về Tu thân Tề gia===
Nói "Tề gia ở chỗ tu thân" là vì: Vua Nghiêu, Thuấn dùng nhân đức dẫn dắt thiên hạ, dân theo đó mà nhân đức; Kiệt, Trụ dùng bạo ngược dẫn dắt thiên hạ, dân theo đó mà bạo ngược. Lệnh ban ra trái với sở thích của mình thì dân không nghe. Cho nên, quân tử có đức ở mình rồi mới yêu cầu ở người; mình không có tính xấu rồi mới phê phán người. Trong mình không có lòng trung thứ mà có thể giáo hóa được người là chuyện chưa từng có. Thế nên thân không tu thì không thể tề gia.
===X. Thuật về Tề gia Trị quốc===
Nói "Trị quốc phải tề gia" là vì: Nhà mình không dạy được mà dạy được người khác, chuyện đó không có. Cho nên quân tử không ra khỏi nhà mà thành tựu giáo hóa cả nước. Hiếu là để thờ vua; Đễ là để thờ trưởng thượng; Từ là để trị dân chúng. Khang cáo viết: "Chăm dân như chăm trẻ đỏ". Lòng thành tìm kiếm, tuy không trúng đích nhưng cũng chẳng xa. Chưa có ai học cách nuôi con rồi mới đi lấy chồng cả.
Một nhà nhân, cả nước dấy lên lòng nhân; một nhà nhường, cả nước dấy lên lòng nhường; một người tham lợi, cả nước sinh loạn; cái cơ là như thế. Đó gọi là một lời hỏng việc, một người định nước.
*Kinh Thi viết: "Cây đào tơ đào tơ, lá đào xanh mướt mườn mượt; cô gái kia về nhà chồng, làm yên vui cả nhà". Yên vui cả nhà rồi mới dạy được người trong nước. Kinh Thi viết: "Hòa thuận anh em". Hòa thuận anh em rồi mới dạy được người trong nước. Kinh Thi viết: "Oai nghi không sai, làm mẫu cho bốn phương". Làm cha con anh em đủ để làm gương thì dân mới theo. Đó gọi là trị quốc ở chỗ tề gia.
===XI. Thuật về Trị quốc Bình thiên hạ===
Nói "Bình thiên hạ ở chỗ trị quốc" là vì: Bề trên kính già thì dân dấy lòng hiếu; bề trên kính trưởng thì dân dấy lòng đễ; bề trên thương kẻ mồ côi thì dân không phản bội. Thế nên quân tử có đạo "Khế củ" (phép thước kẻ). Điều gì ghét ở trên thì đừng đem dùng với dưới; ghét ở dưới thì đừng đem thờ trên; ghét ở trước thì đừng làm gương cho sau; ghét ở sau thì đừng theo gót trước; ghét bên phải thì đừng giao bên trái; ghét bên trái thì đừng giao bên phải. Đó gọi là đạo Khế củ.
*Kinh Thi viết: "Núi Nam cao ngất, đá lởm chởm; Thầy Doãn rạng rỡ, dân đều trông vào". Người giữ nước không thể không cẩn trọng, thiên lệch thì bị thiên hạ giết.
*Kinh Thi viết: "Nhà Ân khi chưa mất dân, còn xứng với mệnh trời; hãy soi gương nhà Ân, mệnh lớn giữ chẳng dễ". Được lòng dân thì được nước; mất lòng dân thì mất nước. Thế nên quân tử có đạo lớn: Phải trung tín mới được nước, kiêu xa thì mất nước.
*Khang cáo viết: "Mệnh trời không ở mãi một nơi". Làm thiện thì được, không thiện thì mất. Sách nước Sở viết: "Nước Sở không lấy gì làm báu, chỉ lấy thiện làm báu". Cậu Phạm nói: "Kẻ lưu vong không có gì làm báu, chỉ lấy lòng nhân với người thân làm báu".
*Tần thệ viết: "Nếu có vị thần dứt khoát, dù không tài lẻ nhưng lòng khoan dung, thấy người có tài như chính mình có, thấy người hiền đức thì lòng yêu quý hơn cả chính mình, thực sự dung nạp được người, ấy là có thể bảo vệ con cháu dân đen, thật có lợi thay! Nếu thấy người có tài mà đố kỵ, thấy người hiền đức mà ngăn cản, thực không dung được người, chẳng thể bảo vệ con cháu dân đen, thật nguy khốn thay!". Chỉ người nhân mới có thể xua đuổi kẻ ấy ra bốn phương, không cho sống chung ở Trung Quốc. Đó gọi là: "Chỉ người nhân mới có thể yêu người và ghét người".
Thấy người hiền mà không đề bạt, đề bạt mà không trọng dụng, ấy là mệnh vậy; thấy kẻ bất thiện mà không đẩy lui, đẩy lui mà không đuổi đi xa, ấy là lỗi vậy. Yêu điều người ta ghét, ghét điều người ta yêu, ấy là trái tính người, tai họa tất đến thân. Kinh Thi viết: "Vui thay bậc quân tử, là cha mẹ của dân". Dân thích gì thì thích nấy, dân ghét gì thì ghét nấy, đó gọi là cha mẹ của dân.
Thế nên quân tử trước hết phải thận trọng về đức; có đức mới có người, có người mới có đất, có đất mới có tài, có tài mới có dụng. Đức là gốc; tài là ngọn. Coi nhẹ gốc coi trọng ngọn là tranh giành với dân, dạy dân cướp bóc. Thế nên tài tụ thì dân tán, tài tán thì dân tụ. Lời nói trái đạo phát ra thì lời trái đạo dội về; của cải bất chính vào nhà thì của cải bất chính sẽ đi ra.
Làm ra của cải có đạo lớn: Người làm ra nhiều, người ăn tiêu ít; làm ra nhanh, dùng tiết kiệm, thì tài dụng luôn đủ.
Người nhân dùng của cải để tu thân, kẻ không nhân dùng thân để tích của. Chưa từng có bề trên yêu lòng nhân mà bề dưới không yêu nghĩa; chưa từng có người yêu nghĩa mà công việc không thành; chưa từng có kho tàng nào chứa của cải không phải của mình.
Mạnh Hiến Tử nói: "Nhà có xe ngựa thì không lo tính chuyện gà lợn; nhà quyền quý dùng băng (tế lễ) thì không nuôi bò cừu; nhà có trăm xe thì không nuôi quan lại tham nhũng; thà có quan lại trộm cắp còn hơn có quan lại tham nhũng". Đó gọi là quốc gia không lấy lợi làm lợi, mà lấy Nghĩa làm lợi.
Người đứng đầu nước mà chỉ lo tích trữ của cải, tất do tiểu nhân xúi giục; cho rằng tiểu nhân là tốt mà dùng họ trị nước, thì tai họa cùng đến, dù có người hiền cũng không cứu vãn nổi. Đó gọi là nước không lấy lợi làm lợi, lấy Nghĩa làm lợi.
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
sawikv84zxu8l4pgpl37jozloawn28h
Biên dịch:Trung Dung
114
72015
204916
204858
2026-04-27T09:11:18Z
Mrfly911
2215
204916
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Trung Dung
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 禮記/中庸
| năm=
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú = Trung Dung (中庸 Zhōng Yóng) là một trong bốn cuốn của bộ Tứ Thư. Ba quyển còn lại là Đại học (大學 Dà Xué), Luận Ngữ (論語 Lùn Yǔ), Mạnh Tử (孟子 Mèng Zǐ).
Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra cũng trên cơ sở mộ thiên trong Kinh Lễ. Tử Tư là học trò của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử. {{Wikipediaref}}
}}
{{Tứ thư}}
{| align="center"
! Nguyên văn chữ Hán
! Phiên âm Hán Việt
|-
|
<poem>
天命之謂性;率性之謂道;修道之謂敎。道也者,不可須臾離也;可離,非道也。是故君子戒愼乎其所不睹,恐懼乎其所不聞。莫見乎隱,莫顯乎微。故君子愼其獨也。喜怒哀樂之未發,謂之中。發而皆中節,謂之和。中也者,天下之大本也。和也者,天下之達道也。致中和,天地位焉,萬物育焉。
仲尼曰:" 君子中庸;小人反中庸。君子之中庸也,君子而時中。小人之反中庸也,小人而無忌憚也。"
子曰:" 中庸其至矣乎!民鮮能久矣。"
子曰:" 道之不行也,我知之矣:知者過之;愚者不及也。道之不明也,我知之矣:賢者過之;不肖者不及也。人莫不飲食也。鮮能知味也。"
子曰:" 道其不行矣夫。"
子曰:" 舜其大知也與!舜好問以好察邇言。隱惡而揚善。執其兩端,用其中於民。其斯以爲舜乎!"
子曰:" 人皆曰:『予知』,驅而納諸罟擭陷阱之中,而莫之知辟也。人皆曰:『予知』,擇乎中庸,而不能期月守也。"
子曰:" 回之爲人也:擇乎中庸,得一善,則拳拳服膺,而弗失之矣。"
子曰:" 天下國家,可均也;爵祿,可辭也;白刃,可蹈也;中庸,不可能也。"
子路問強。子曰:" 南方之強與,北方之強與,抑而強與?寬柔以敎,不報無道,南方之強也。君子居之。衽金革,死而不厭,北方之強也。而強者居之。故君子和而不流;強哉矯。中立而不倚;強哉矯。國有道,不變塞焉;強哉矯。國無道,至死不變;強哉矯。"
子曰:" 素隱行怪,後世有述焉:吾弗爲之矣。君子遵道而行,半塗而廢:吾弗能已矣。君子依乎中庸。遯世不見知而不悔:唯聖者能之。"
君子之道,費而隱。夫婦之愚,可以與之焉,及其至也,雖聖人亦有所不知焉。夫婦之不肖,可以能行焉,及其至也,雖聖人亦有所不能焉。天地之大也,人猶有所憾。故君子語大,天下莫能載焉,語小,天下莫能破焉。《詩》 云:" 鳶飛戾天;魚躍於淵。" 言其上下察也。君子之道,造端夫婦;及其至也,察乎天地。
子曰:" 道不遠人。人之爲道而遠人,不可以爲道。《詩》 云,『伐柯伐柯,其則不遠。』執柯以伐柯,睨而視之。猶以爲遠。故君子以人治人,改而止。忠恕違道不遠。施諸己而不願,亦勿施於人。君子之道四,丘未能一焉:所求乎子,以事父,未能也;所求乎臣,以事君,未能也;所求乎弟,以事兄,未能也;所求乎朋友,先施之,未能也。庸德之行,庸言之謹;有所不足,不敢不勉;有餘,不敢盡。言顧行,行顧言。君子胡不慥慥爾。"
君子素其位而行,不願乎其外。素富貴,行乎富貴;素貧賤,行乎貧賤;素夷狄,行乎夷狄;素患難,行乎患難。君子無入而不自得焉。在上位,不陵下;在下位,不援上;正己而不求於人,則無怨。上不怨天,下不尤人。故君子居易以俟命,小人行險以徼辛。子曰:" 射有似乎君子。失諸正鵠,反求諸其身。"
君子之道,辟如行遠必自邇,辟如登高必自卑。《詩》 曰:" 妻子好合,如鼓瑟琴。兄弟既翕,和樂且耽。宜爾室家,樂爾妻帑。" 子曰:" 父母其順矣乎!"
子曰:" 鬼神之爲德其盛矣乎。視之而弗見;聽之而弗聞;體物而不可遺。使天下之人,齊明盛服,以承祭祀。洋洋乎,如在其上,如在其左右。《詩》 曰:『神之格思,不可度思,矧可射思?』夫微之顯。誠之不可揜,如此夫。"
子曰:" 舜其大孝也與!德爲聖人,尊爲天子,富有四海之內。宗廟饗之,子孫保之。故大德,必得其位,必得其祿,必得其名,必得其壽。故天之生物必因其材而篤焉。故栽者培之,傾者覆之。《詩》 曰:『嘉樂君子,憲憲令德,宜民宜人。受祿於天。保佑命之,自天申之。』" 故大德者必受命。
子曰:" 無憂者,其惟文王乎。以王季爲父,以武王爲子。父作之,子述之。武王纘大王、王季、文王之緒。壹戎衣,而有天下。身不失天下之顯名。尊爲天子。富有四海之內。宗廟饗之。子孫保之。武王末受命,周公成文武之德。追王大王、王季,上祀先公以天子之禮。斯禮也,達乎諸侯大夫,及士庶人。父爲大夫,子爲士;葬以大夫,祭以士。父爲士,子爲大夫;葬以士,祭以大夫。期之喪,達乎大夫;三年之喪,達乎天子;父母之喪,無貴賤,一也。"
子曰:" 武王、周公,其達孝矣乎。夫孝者,善繼人之志,善述人之事者也。春秋,脩其祖廟,陳其宗器,設其裳衣,薦其時食。宗廟之禮,所以序昭穆也。序爵,所以辨貴賤也。序事,所以辨賢也。旅酬下爲上,所以達賤也。燕毛所以序齒也。踐其位,行其禮,奏其樂,敬其所尊,愛其所親,事死如事生,事亡如事存,孝之至也。郊社之禮,所以事上帝也。宗廟之禮,所以祀乎其先也。明乎郊社之禮,禘嘗之義,治國其如示諸掌乎。"
哀公問政。子曰:" 文武之政,布在方策。其人存,則其政舉;其人亡,則其政息。人道敏政,地道敏樹。夫政也者,蒲盧也。故爲政在人。取人以身。脩身以道。脩道以仁。仁者,人也,親親爲大。義者,宜也,尊賢爲大。親親之殺,尊賢之等,禮所生也。在下位,不獲乎上,民不可得而治矣。故君子,不可以不脩身。思脩身,不可以不事親。思事親,不可以不知人。思知人,不可以不知天。天下之達道五,所以行之者三,曰:君臣也、父子也、夫婦也、昆弟也、朋友之交也。五者,天下之達道也。知、仁、勇三者,天下之達德也。所以行之者一也。或生而知之;或學而知之;或困而知之:及其知之,一也。或安而行之;或利而行之;或勉強而行之:及其成功,一也。"
子曰:" 好學近乎知。力行近乎仁。知恥近乎勇。知斯三者,則知所以脩身。知所以脩身,則知所以治人。知所以治人,則知所以治天下國家矣。凡爲天下國家有九經,曰:脩身也、尊賢也、親親也、敬大臣也、體群臣也、子庶民也、來百工也、柔遠人也、懷諸侯也。脩身,則道立。尊賢,則不惑。親親,則諸父昆弟不怨。敬大臣,則不眩。體群臣,則士之報禮重。子庶民,則百姓勸。來百工,則財用足。柔遠人,則四方歸之。懷諸侯,則天下畏之。齊明盛服,非禮不動:所以脩身也。去讒遠色,賤貨而貴德,所以勸賢也。尊其位,重其祿,同其好惡,所以勸親親也。官盛任使,所以勸大臣也。忠信重祿,所以勸士也。時使薄斂,所以勸百姓也。日省月試,既稟稱事,所以勸百工也。送往迎來,嘉善而矜不能所以柔遠人也。繼絕世,舉廢國,治亂持危,朝聘以時,厚往而薄來,所以懷諸侯也。凡爲天下國家有九經,所以行之者一也。凡事,豫則立,不豫則廢。言前定,則不跲。事前定,則不困。行前定,則不疚。道前定,則不窮。在下位不獲乎上,民不可得而治矣。獲乎上有道:不信乎朋友,不獲乎上矣。信乎朋友有道:不順乎親,不信乎朋友矣。順乎親有道:反諸身不誠,不順乎親矣。誠身有道:不明乎善,不誠乎身矣。誠者,天之道也。誠之者,人之道也。誠者,不勉而中不思而得:從容中道,聖人也。誠之者,擇善而固執之者也。博學之,審問之,愼思之,明辨之,篤行之。有弗學,學之弗能,弗措也。有弗問,問之弗知,弗措也。有弗思,思之弗得,弗措也。有弗辨,辨之弗明,弗措也。有弗行,行之弗篤,弗措也。人一能之,己百之。人十能之,己千之。果能此道矣,雖愚必明,雖柔必強。"
自誠明,謂之性;自明誠,謂之敎。誠則明矣;明則誠矣。
唯天下至誠,爲能盡其性。能盡其性,則能盡人之性。能盡人之性,則能盡物之性。能盡物之性,則可以贊天地之化育。可以贊天地之化育,則可以與天地參矣。
其次致曲。曲能友誠。誠則形。形則著。著則明。明則動。動則變。變則化。唯天下至誠爲能化。
至誠之道可以前知。國家將興,必有禎祥;國家將亡,必有妖孽。見乎蓍龜,動乎四體。禍福將至,善必先知之;不善,必先知之。故至誠如神。
誠者自成也,而道自道也。誠者,物之終始。不誠無物。是故君子誠之爲貴。誠者,非自成己而已也。所以成物也。成己仁也。成物知也。性之德也,合外內之道也。故時措之宜也。
故至誠無息。不息則久,久則徵。徵則悠遠。悠遠,則博厚。博厚,則高明。博厚,所以載物也。高明,所以覆物也。悠久,所以成物也。博厚,配地。高明,配天。悠久,無疆。如此者,不見而章,不動而變,無爲而成。天地之道,可一言而盡也。其爲物不貳,則其生物不測。天地之道,博也、厚也、高也、明也、悠也、久也。今夫天,斯昭昭之多,及其無窮也,日月星辰系焉,萬物覆焉。今夫地,一撮土之多,及其廣厚,載華岳而不重,振河海而不泄,萬物載焉。今夫山,一卷石之多,及其廣大,草木生之,禽獸居之,寶藏興焉。今夫水,一勺之多,及其不測,黿鼉、蛟龍、魚鱉生焉,貨財殖焉。《詩》 云:" 維天之命,於穆不已。" 蓋曰,天之所以爲天也。" 於乎不顯,文王之德之純。" 蓋曰,文王之所以爲文也。純亦不已。
大哉聖人之道!洋洋乎,發育萬物,峻極於天。優優大哉,禮儀三百威儀三千。待其人而後行。故曰:" 茍不至德,至道不凝焉。" 故君子尊德性,而道問學,致廣大,而盡精微,極高明,而道中庸。溫故,而知新,敦厚以崇禮。是故居上不驕,爲下不倍。國有道,其言足以興;國無道,其默足以容。詩曰:" 既明且哲,以保其身。" 其此之謂與?
子曰:" 愚而好自用,賤而好字專。生乎今之世,反古之道。如此者菑及其身者也。" 非天子不議禮,不制度,不考文。今天下,車同軌,書同文,行同倫。雖有其位,茍無其德,不敢作禮樂焉。雖有其德,茍無其位,亦不敢作禮樂焉。子曰:" 吾說夏禮,杞不足徵也。吾學殷禮,有宋存焉。吾學周禮,今用之。吾從周。"
王天下有三重焉,其寡過矣乎!上焉者雖善,無徵。無徵,不信。不信,民弗從。下焉者雖善,不尊。不尊,不信。不信,民弗從。故君子之道,本諸身,徵諸庶民。考諸三王而不繆,建諸天地而不悖。質諸鬼神而無疑。百世以俟聖人而不惑。質鬼神而無疑,知天也。百世以俟聖人而不惑,知人也。是故君子動而世爲天下道,行而世爲天下法,言而世爲天下則。遠之,則有望;近之,則不厭。詩曰:" 在彼無惡,在此無射;庶幾夙夜,以永終譽。" 君子未有不如此,而蚤有譽於天下者也。
仲尼祖述堯舜,憲章文武。上律天時,下襲水土。辟如天地之無不持載,無不覆幬。辟如四時之錯行,如日月之代明。萬物並育而不相害。道並行而不相悖。小德川流;大德敦化。此天地之所以爲大也。
唯天下至聖,爲能聰、明、睿、知、足以有臨也;寬、裕、溫、柔、足以有容也;發、強、剛、毅、足以有執也;齊、庄、中、正、足以有敬也;文、理、密、察、足以有別也。溥博,淵泉,而時出之。溥博如天;淵泉如淵。見而民莫不敬;言而民莫不信;行而民莫不說。是以聲名洋溢乎中國,施及蠻貊。舟車所至,人力所通,天之所覆,地之所載,日月所照,霜露所隊:凡有血氣者莫不尊親。故曰:" 配天" 。
唯天下至誠,爲能經綸天下之大經,立天下之大本,知天地之化育。夫焉有所倚?肫肫其仁!淵淵其淵!浩浩其天!茍不固聰明聖知,達天德者,其孰能知之?
詩曰:" 衣錦尚絅," 惡其文之著也。故君子之道,闇然而日章;小人之道,的然而日亡。君子之道,淡而不厭、簡而文、溫而理。知遠之近,知風之自,知微之顯。可與入德矣。《詩》 云:" 潛雖伏矣,亦孔之昭。" 故君子內省不疚,無惡於志。君子之所不可及者,其唯人之所不見乎。《詩》 云:" 相在爾室,尚不愧於屋漏。" 故君子不動而敬,不言而信。詩曰:" 奏假無言,時靡有爭。" 是故君子不賞而民勸,不怒而民威於鈇鉞。詩曰:" 不顯惟德,百辟其刑之。" 是故君子篤恭而天下平。《詩》 云:" 予懷明德,不大聲以色。" 子曰:" 聲色之於以化民,末也。《詩》 云,『德輶如毛。』" 毛猶有倫。" 上天之載,無聲無臭。" 至矣。
</poem>
|
<poem>
Thiên mệnh chi vị tính; suất tính chi vị đạo; tu đạo chi vị giáo. Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã; khả ly, phi đạo dã. Thị cố quân tử giới thận hồ kỳ sở bất đổ, khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. Mạc kiến hồ ẩn, mạc hiển hồ vy. Cố quân tử thận kỳ độc dã. Hỷ nộ ai nhạc chi vị phát, vị chi trung. Phát nhi giai trung tiết, vị chi hoà. Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã. Hoà dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã. Trí trung hoà, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên.
Trọng ni viết: " quân tử trung dong; tiểu nhân phản trung dong. Quân tử chi trung dong dã, quân tử nhi thì trung. Tiểu nhân chi phản trung dong dã, tiểu nhân nhi vô kỵ đạn dã. "
Tử viết: " trung dong kỳ chí hỹ hồ! Dân tiên năng cửu hỹ. "
Tử viết: " đạo chi bất hành dã, ngã tri chi hỹ: tri giả quá chi; ngu giả bất cập dã. Đạo chi bất minh dã, ngã tri chi hỹ: hiền giả quá chi; bất tiêu giả bất cập dã. Nhân mạc bất ẩm thực dã. Tiên năng tri vị dã. "
Tử viết: " đạo kỳ bất hành hỹ phu. "
Tử viết: " thuấn kỳ đại tri dã dữ! Thuấn hảo vấn dĩ hảo sát nhĩ ngôn. Ẩn ác nhi dương thiện. Chấp kỳ lưỡng đoan, dụng kỳ trung ư dân. Kỳ tư dĩ vy thuấn hồ! "
Tử viết: " nhân giai viết:“ dư tri”, khu nhi nạp chư cổ hoạch hãm tỉnh chi trung, nhi mạc chi tri tịch dã. Nhân giai viết:“ dư tri”, trạch hồ trung dong, nhi bất năng kỳ nguyệt thủ dã. "
Tử viết: " hồi chi vy nhân dã: trạch hồ trung dong, đắc nhất thiện, tắc quyền quyền phục ưng, nhi phất thất chi hỹ. "
Tử viết: " thiên hạ quốc gia, khả quân dã; tước lộc, khả từ dã; bạch nhận, khả đạo dã; trung dong, bất khả năng dã. "
Tử lộ vấn cường. Tử viết: " nam phương chi cường dữ, bắc phương chi cường dữ, ức nhi cường dữ? Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường dã. Quân tử cư chi. Nhẫm kim cách, tử nhi bất yếm, bắc phương chi cường dã. Nhi cường giả cư chi. Cố quân tử hoà nhi bất lưu; cường tai kiểu. Trung lập nhi bất ỷ; cường tai kiểu. Quốc hữu đạo, bất biến tắc yên; cường tai kiểu. Quốc vô đạo, chí tử bất biến; cường tai kiểu. "
Tử viết: " tố ẩn hành quái, hậu thế hữu thuật yên: ngô phất vy chi hỹ. Quân tử tuân đạo nhi hành, bán đồ nhi phế: ngô phất năng dĩ hỹ. Quân tử y hồ trung dong. Độn thế bất kiến tri nhi bất hối: duy thánh giả năng chi. "
Quân tử chi đạo, phí nhi ẩn. Phu phụ chi ngu, khả dĩ dữ chi yên, cập kỳ chí dã, tuy thánh nhân diệc hữu sở bất tri yên. Phu phụ chi bất tiêu, khả dĩ năng hành yên, cập kỳ chí dã, tuy thánh nhân diệc hữu sở bất năng yên. Thiên địa chi đại dã, nhân do hữu sở hám. Cố quân tử ngữ đại, thiên hạ mạc năng tải yên, ngữ tiểu, thiên hạ mạc năng phá yên. 《thi 》 vân: " diên phi lệ thiên; ngư dược ư uyên. " ngôn kỳ thượng hạ sát dã. Quân tử chi đạo, tạo đoan phu phụ; cập kỳ chí dã, sát hồ thiên địa.
Tử viết: " đạo bất viễn nhân. Nhân chi vy đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vy đạo. 《thi 》 vân,“ phạt kha phạt kha, kỳ tắc bất viễn.” chấp kha dĩ phạt kha, nghễ nhi thị chi. Do dĩ vy viễn. Cố quân tử dĩ nhân trị nhân, cải nhi chỉ. Trung thứ vy đạo bất viễn. Thi chư kỷ nhi bất nguyện, diệc vật thi ư nhân. Quân tử chi đạo tứ, khâu vị năng nhất yên: sở cầu hồ tử, dĩ sự phụ, vị năng dã; sở cầu hồ thần, dĩ sự quân, vị năng dã; sở cầu hồ đệ, dĩ sự huynh, vị năng dã; sở cầu hồ bằng hữu, tiên thi chi, vị năng dã. Dong đức chi hành, dong ngôn chi cẩn; hữu sở bất túc, bất cảm bất miễn; hữu dư, bất cảm tận. Ngôn cố hành, hành cố ngôn. Quân tử hồ bất tháo tháo nhĩ. "
Quân tử tố kỳ vị nhi hành, bất nguyện hồ kỳ ngoại. Tố phú quý, hành hồ phú quý; tố bần tiện, hành hồ bần tiện; tố di địch, hành hồ di địch; tố hoạn nan, hành hồ hoạn nan. Quân tử vô nhập nhi bất tự đắc yên. Tại thượng vị, bất lăng hạ; tại hạ vị, bất viện thượng; chính kỷ nhi bất cầu ư nhân, tắc vô oán. Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân. Cố quân tử cư dị dĩ sĩ mệnh, tiểu nhân hành hiểm dĩ kiêu tân. Tử viết: " xạ hữu tự hồ quân tử. Thất chư chính hộc, phản cầu chư kỳ thân. "
Quân tử chi đạo, tịch như hành viễn tất tự nhĩ, tịch như đăng cao tất tự ty. 《thi 》 viết: " thê tử hảo hợp, như cổ sắt cầm. Huynh đệ ký hấp, hoà nhạc thả đam. Nghi nhĩ thất gia, nhạc nhĩ thê thảng. " tử viết: " phụ mẫu kỳ thuận hỹ hồ! "
Tử viết: " quỷ thần chi vy đức kỳ thịnh hỹ hồ. Thị chi nhi phất kiến; thính chi nhi phất văn; thể vật nhi bất khả di. Sử thiên hạ chi nhân, tề minh thịnh phục, dĩ thừa tế tự. Dương dương hồ, như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu. 《thi 》 viết:“ thần chi cách tư, bất khả độ tư, thẩn khả xạ tư?” phu vy chi hiển. Thành chi bất khả yểm, như thử phu. "
Tử viết: " thuấn kỳ đại hiếu dã dữ! Đức vy thánh nhân, tôn vy thiên tử, phú hữu tứ hải chi nội. Tông miếu hưởng chi, tử tôn bảo chi. Cố đại đức, tất đắc kỳ vị, tất đắc kỳ lộc, tất đắc kỳ danh, tất đắc kỳ thọ. Cố thiên chi sinh vật tất nhân kỳ tài nhi đốc yên. Cố tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi. 《thi 》 viết:“ gia nhạc quân tử, hiến hiến linh đức, nghi dân nghi nhân. Thâu lộc ư thiên. Bảo hữu mệnh chi, tự thiên thân chi.” " cố đại đức giả tất thâu mệnh.
Tử viết: " vô ưu giả, kỳ duy văn vương hồ. Dĩ vương quý vy phụ, dĩ võ vương vy tử. Phụ tác chi, tử thuật chi. Võ vương toản đại vương, vương quý, văn vương chi tự. Nhất nhung y, nhi hữu thiên hạ. Thân bất thất thiên hạ chi hiển danh. Tôn vy thiên tử. Phú hữu tứ hải chi nội. Tông miếu hưởng chi. Tử tôn bảo chi. Võ vương mạt thâu mệnh, chu công thành văn võ chi đức. Truy vương đại vương, vương quý, thượng tự tiên công dĩ thiên tử chi lễ. Tư lễ dã, đạt hồ chư hầu đại phu, cập sĩ thứ nhân. Phụ vy đại phu, tử vy sĩ; táng dĩ đại phu, tế dĩ sĩ. Phụ vy sĩ, tử vy đại phu; táng dĩ sĩ, tế dĩ đại phu. Kỳ chi táng, đạt hồ đại phu; tam niên chi táng, đạt hồ thiên tử; phụ mẫu chi táng, vô quý tiện, nhất dã. "
Tử viết: " võ vương, chu công, kỳ đạt hiếu hỹ hồ. Phu hiếu giả, thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự giả dã. Xuân thu, tu kỳ tổ miếu, trần kỳ tông khí, thiết kỳ thường y, tiến kỳ thì thực. Tông miếu chi lễ, sở dĩ tự chiêu mục dã. Tự tước, sở dĩ biện quý tiện dã. Tự sự, sở dĩ biện hiền dã. Lữ thù hạ vy thượng, sở dĩ đạt tiện dã. Yến mao sở dĩ tự xỉ dã. Tiễn kỳ vị, hành kỳ lễ, tấu kỳ nhạc, kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã. Giao xã chi lễ, sở dĩ sự thượng đế dã. Tông miếu chi lễ, sở dĩ tự hồ kỳ tiên dã. Minh hồ giao xã chi lễ, đế thường chi nghĩa, trị quốc kỳ như kỳ chư chưởng hồ. "
Ai công vấn chính. Tử viết: " văn võ chi chính, bố tại phương sách. Kỳ nhân tồn, tắc kỳ chính cử; kỳ nhân vong, tắc kỳ chính tức. Nhân đạo mẫn chính, địa đạo mẫn thụ. Phu chính dã giả, bồ lô dã. Cố vy chính tại nhân. Thủ nhân dĩ thân. Tu thân dĩ đạo. Tu đạo dĩ nhân. Nhân giả, nhân dã, thân thân vy đại. Nghĩa giả, nghi dã, tôn hiền vy đại. Thân thân chi sát, tôn hiền chi đẳng, lễ sở sinh dã. Tại hạ vị, bất hoạch hồ thượng, dân bất khả đắc nhi trị hỹ. Cố quân tử, bất khả dĩ bất tu thân. Tư tu thân, bất khả dĩ bất sự thân. Tư sự thân, bất khả dĩ bất tri nhân. Tư tri nhân, bất khả dĩ bất tri thiên. Thiên hạ chi đạt đạo ngũ, sở dĩ hành chi giả tam, viết: quân thần dã, phụ tử dã, phu phụ dã, côn đệ dã, bằng hữu chi giao dã. Ngũ giả, thiên hạ chi đạt đạo dã. Tri, nhân, dũng tam giả, thiên hạ chi đạt đức dã. Sở dĩ hành chi giả nhất dã. Hoặc sinh nhi tri chi; hoặc học nhi tri chi; hoặc khốn nhi tri chi: cập kỳ tri chi, nhất dã. Hoặc an nhi hành chi; hoặc lợi nhi hành chi; hoặc miễn cường nhi hành chi: cập kỳ thành công, nhất dã. "
Tử viết: " hảo học cận hồ tri. Lực hành cận hồ nhân. Tri sỉ cận hồ dũng. Tri tư tam giả, tắc tri sở dĩ tu thân. Tri sở dĩ tu thân, tắc tri sở dĩ trị nhân. Tri sở dĩ trị nhân, tắc tri sở dĩ trị thiên hạ quốc gia hỹ. Phàm vy thiên hạ quốc gia hữu cửu kinh, viết: tu thân dã, tôn hiền dã, thân thân dã, kính đại thần dã, thể quần thần dã, tử thứ dân dã, lai bách công dã, nhu viễn nhân dã, hoài chư hầu dã. Tu thân, tắc đạo lập. Tôn hiền, tắc bất hoặc. Thân thân, tắc chư phụ côn đệ bất oán. Kính đại thần, tắc bất huyễn. Thể quần thần, tắc sĩ chi báo lễ trùng. Tử thứ dân, tắc bách tính khuyến. Lai bách công, tắc tài dụng túc. Nhu viễn nhân, tắc tứ phương quy chi. Hoài chư hầu, tắc thiên hạ uý chi. Tề minh thịnh phục, phi lễ bất động: sở dĩ tu thân dã. Khứ sàm viễn sắc, tiện hoá nhi quý đức, sở dĩ khuyến hiền dã. Tôn kỳ vị, trùng kỳ lộc, đồng kỳ hảo ác, sở dĩ khuyến thân thân dã. Quan thịnh nhậm sử, sở dĩ khuyến đại thần dã. Trung tín trùng lộc, sở dĩ khuyến sĩ dã. Thì sử bạc liễm, sở dĩ khuyến bách tính dã. Nhật tỉnh nguyệt thí, ký bẩm xưng sự, sở dĩ khuyến bách công dã. Tống vãng nghinh lai, gia thiện nhi căng bất năng sở dĩ nhu viễn nhân dã. Kế tuyệt thế, cử phế quốc, trị loạn trì nguy, triêu sính dĩ thì, hậu vãng nhi bạc lai, sở dĩ hoài chư hầu dã. Phàm vy thiên hạ quốc gia hữu cửu kinh, sở dĩ hành chi giả nhất dã. Phàm sự, dự tắc lập, bất dự tắc phế. Ngôn tiền định, tắc bất cấp. Sự tiền định, tắc bất khốn. Hành tiền định, tắc bất cứu. Đạo tiền định, tắc bất cùng. Tại hạ vị bất hoạch hồ thượng, dân bất khả đắc nhi trị hỹ. Hoạch hồ thượng hữu đạo: bất tín hồ bằng hữu, bất hoạch hồ thượng hỹ. Tín hồ bằng hữu hữu đạo: bất thuận hồ thân, bất tín hồ bằng hữu hỹ. Thuận hồ thân hữu đạo: phản chư thân bất thành, bất thuận hồ thân hỹ. Thành thân hữu đạo: bất minh hồ thiện, bất thành hồ thân hỹ. Thành giả, thiên chi đạo dã. Thành chi giả, nhân chi đạo dã. Thành giả, bất miễn nhi trung bất tư nhi đắc: tòng dung trung đạo, thánh nhân dã. Thành chi giả, trạch thiện nhi cố chấp chi giả dã. Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi. Hữu phất học, học chi phất năng, phất thố dã. Hữu phất vấn, vấn chi phất tri, phất thố dã. Hữu phất tư, tư chi phất đắc, phất thố dã. Hữu phất biện, biện chi phất minh, phất thố dã. Hữu phất hành, hành chi phất đốc, phất thố dã. Nhân nhất năng chi, kỷ bách chi. Nhân thập năng chi, kỷ thiên chi. Quả năng thử đạo hỹ, tuy ngu tất minh, tuy nhu tất cường. "
Tự thành minh, vị chi tính; tự minh thành, vị chi giáo. Thành tắc minh hỹ; minh tắc thành hỹ.
Duy thiên hạ chí thành, vy năng tận kỳ tính. Năng tận kỳ tính, tắc năng tận nhân chi tính. Năng tận nhân chi tính, tắc năng tận vật chi tính. Năng tận vật chi tính, tắc khả dĩ tán thiên địa chi hoá dục. Khả dĩ tán thiên địa chi hoá dục, tắc khả dĩ dữ thiên địa tam hỹ.
Kỳ thứ trí khúc. Khúc năng hữu thành. Thành tắc hình. Hình tắc trước. Trước tắc minh. Minh tắc động. Động tắc biến. Biến tắc hoá. Duy thiên hạ chí thành vy năng hoá.
Chí thành chi đạo khả dĩ tiền tri. Quốc gia tướng hưng, tất hữu trinh tường; quốc gia tướng vong, tất hữu yêu nghiệt. Kiến hồ thi quy, động hồ tứ thể. Hoạ phúc tướng chí, thiện tất tiên tri chi; bất thiện, tất tiên tri chi. Cố chí thành như thần.
Thành giả tự thành dã, nhi đạo tự đạo dã. Thành giả, vật chi chung thuỷ. Bất thành vô vật. Thị cố quân tử thành chi vy quý. Thành giả, phi tự thành kỷ nhi dĩ dã. Sở dĩ thành vật dã. Thành kỷ nhân dã. Thành vật tri dã. Tính chi đức dã, hợp ngoại nội chi đạo dã. Cố thì thố chi nghi dã.
Cố chí thành vô tức. Bất tức tắc cửu, cửu tắc trưng. Trưng tắc du viễn. Du viễn, tắc bác hậu. Bác hậu, tắc cao minh. Bác hậu, sở dĩ tải vật dã. Cao minh, sở dĩ phúc vật dã. Du cửu, sở dĩ thành vật dã. Bác hậu, phối địa. Cao minh, phối thiên. Du cửu, vô cương. Như thử giả, bất kiến nhi chương, bất động nhi biến, vô vy nhi thành. Thiên địa chi đạo, khả nhất ngôn nhi tận dã. Kỳ vy vật bất nhị, tắc kỳ sinh vật bất trắc. Thiên địa chi đạo, bác dã, hậu dã, cao dã, minh dã, du dã, cửu dã. Kim phu thiên, tư chiêu chiêu chi đa, cập kỳ vô cùng dã, nhật nguyệt tinh thần hệ yên, vạn vật phúc yên. Kim phu địa, nhất toát thổ chi đa, cập kỳ quảng hậu, tải hoa nhạc nhi bất trùng, chấn hà hải nhi bất tiết, vạn vật tải yên. Kim phu sơn, nhất quyển thạch chi đa, cập kỳ quảng đại, thảo mộc sinh chi, cầm thú cư chi, bảo tàng hưng yên. Kim phu thuỷ, nhất chước chi đa, cập kỳ bất trắc, ngoan đà, giao long, ngư biết sinh yên, hoá tài thực yên. 《thi 》 vân: " duy thiên chi mệnh, ư mục bất dĩ. " cái viết, thiên chi sở dĩ vy thiên dã. " ư hồ bất hiển, văn vương chi đức chi thuần. " cái viết, văn vương chi sở dĩ vy văn dã. Thuần diệc bất dĩ.
Đại tai thánh nhân chi đạo! Dương dương hồ, phát dục vạn vật, tuấn cực ư thiên. Ưu ưu đại tai, lễ nghi tam bách uy nghi tam thiên. Đãi kỳ nhân nhi hậu hành. Cố viết: " cẩu bất chí đức, chí đạo bất ngưng yên. " cố quân tử tôn đức tính, nhi đạo vấn học, trí quảng đại, nhi tận tinh vy, cực cao minh, nhi đạo trung dong. Ôn cố, nhi tri tân, đôn hậu dĩ sùng lễ. Thị cố cư thượng bất kiêu, vy hạ bất bội. Quốc hữu đạo, kỳ ngôn túc dĩ hưng; quốc vô đạo, kỳ mặc túc dĩ dung. Thi viết: " ký minh thả triết, dĩ bảo kỳ thân. " kỳ thử chi vị dữ?
Tử viết: " ngu nhi hảo tự dụng, tiện nhi hảo tự chuyên. Sinh hồ kim chi thế, phản cổ chi đạo. Như thử giả tri cập kỳ thân giả dã. " phi thiên tử bất nghị lễ, bất chế độ, bất khảo văn. Kim thiên hạ, xa đồng quỹ, thư đồng văn, hành đồng luân. Tuy hữu kỳ vị, cẩu vô kỳ đức, bất cảm tác lễ nhạc yên. Tuy hữu kỳ đức, cẩu vô kỳ vị, diệc bất cảm tác lễ nhạc yên. Tử viết: " ngô thuyết hạ lễ, kỷ bất túc trưng dã. Ngô học ân lễ, hữu tống tồn yên. Ngô học chu lễ, kim dụng chi. Ngô tòng chu. "
Vương thiên hạ hữu tam trùng yên, kỳ quả quá hỹ hồ! Thượng yên giả tuy thiện, vô trưng. Vô trưng, bất tín. Bất tín, dân phất tòng. Hạ yên giả tuy thiện, bất tôn. Bất tôn, bất tín. Bất tín, dân phất tòng. Cố quân tử chi đạo, bản chư thân, trưng chư thứ dân. Khảo chư tam vương nhi bất mâu, kiến chư thiên địa nhi bất bội. Chất chư quỷ thần nhi vô nghi. Bách thế dĩ sĩ thánh nhân nhi bất hoặc. Chất quỷ thần nhi vô nghi, tri thiên dã. Bách thế dĩ sĩ thánh nhân nhi bất hoặc, tri nhân dã. Thị cố quân tử động nhi thế vy thiên hạ đạo, hành nhi thế vy thiên hạ pháp, ngôn nhi thế vy thiên hạ tắc. Viễn chi, tắc hữu vọng; cận chi, tắc bất yếm. Thi viết: " tại bỉ vô ác, tại thử vô xạ; thứ kỷ túc dạ, dĩ vĩnh chung dự. " quân tử vị hữu bất như thử, nhi tảo hữu dự ư thiên hạ giả dã.
Trọng ni tổ thuật nghiêu thuấn, hiến chương văn võ. Thượng luật thiên thì, hạ tập thuỷ thổ. Tịch như thiên địa chi vô bất trì tải, vô bất phúc trù. Tịch như tứ thì chi thác hành, như nhật nguyệt chi đại minh. Vạn vật tịnh dục nhi bất tương hại. Đạo tịnh hành nhi bất tương bội. Tiểu đức xuyên lưu; đại đức đôn hoá. Thử thiên địa chi sở dĩ vy đại dã.
Duy thiên hạ chí thánh, vy năng thông, minh, duệ, tri, túc dĩ hữu lâm dã; khoan, dụ, ôn, nhu, túc dĩ hữu dung dã; phát, cường, cương, nghị, túc dĩ hữu chấp dã; tề, trang, trung, chính, túc dĩ hữu kính dã; văn, lý, mật, sát, túc dĩ hữu biệt dã. Phổ bác, uyên tuyền, nhi thì xuất chi. Phổ bác như thiên; uyên tuyền như uyên. Kiến nhi dân mạc bất kính; ngôn nhi dân mạc bất tín; hành nhi dân mạc bất thuyết. Thị dĩ thanh danh dương dật hồ trung quốc, thi cập man mạch. Chu xa sở chí, nhân lực sở thông, thiên chi sở phúc, địa chi sở tải, nhật nguyệt sở chiếu, sương lộ sở đội: phàm hữu huyết khí giả mạc bất tôn thân. Cố viết: " phối thiên " .
Duy thiên hạ chí thành, vy năng kinh luân thiên hạ chi đại kinh, lập thiên hạ chi đại bản, tri thiên địa chi hoá dục. Phu yên hữu sở ỷ? Truân truân kỳ nhân! Uyên uyên kỳ uyên! Hạo hạo kỳ thiên! Cẩu bất cố thông minh thánh tri, đạt thiên đức giả, kỳ thục năng tri chi?
Thi viết: " y cẩm thượng quýnh, " ác kỳ văn chi trước dã. Cố quân tử chi đạo, ám nhiên nhi nhật chương; tiểu nhân chi đạo, đích nhiên nhi nhật vong. Quân tử chi đạo, đạm nhi bất yếm, giản nhi văn, ôn nhi lý. Tri viễn chi cận, tri phong chi tự, tri vy chi hiển. Khả dữ nhập đức hỹ. 《thi 》 vân: " tiềm tuy phục hỹ, diệc khổng chi chiêu. " cố quân tử nội tỉnh bất cứu, vô ác ư chí. Quân tử chi sở bất khả cập giả, kỳ duy nhân chi sở bất kiến hồ. 《thi 》 vân: " tương tại nhĩ thất, thượng bất quý ư ốc lậu. " cố quân tử bất động nhi kính, bất ngôn nhi tín. Thi viết: " tấu giả vô ngôn, thì mỹ hữu tranh. " thị cố quân tử bất thưởng nhi dân khuyến, bất nộ nhi dân uy ư phu việt. Thi viết: " bất hiển duy đức, bách tịch kỳ hình chi. " thị cố quân tử đốc cung nhi thiên hạ bình. 《thi 》 vân: " dư hoài minh đức, bất đại thanh dĩ sắc. " tử viết: " thanh sắc chi ư dĩ hoá dân, mạt dã. 《thi 》 vân,“ đức du như mao.” " mao do hữu luân. " thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú. " chí hỹ.
</poem>
|}
==Dịch nghĩa==
<center><big>TRUNG DUNG</big></center>
===Chương 1===
Mệnh trời gọi là '''Tính'''; theo tính gọi là '''Đạo'''; sửa mình theo đạo gọi là '''Giáo'''. Đạo là thứ không thể rời bỏ dù trong chốc lát; nếu có thể rời bỏ, không phải là Đạo. Thế nên, người quân tử răn sợ ở nơi mình không nhìn thấy, lo hãi ở nơi mình không nghe thấy. Không gì hiển hiện hơn chỗ ẩn khuất, không gì rõ rệt hơn cái nhỏ bé. Cho nên người quân tử thận trọng khi ở một mình ('''Thận độc''').
Khi vui, giận, buồn, vui chưa phát ra, gọi là '''Trung'''. Phát ra mà đều đúng chừng mực, gọi là '''Hòa'''. Trung là cái gốc lớn của thiên hạ. Hòa là con đường đạt đạo của thiên hạ. Đạt đến độ Trung Hòa, trời đất giữ đúng vị trí, muôn vật được nuôi dưỡng.
===Chương 2===
Trọng Ni nói: "Quân tử giữ Trung Dung; tiểu nhân làm trái Trung Dung. Quân tử giữ Trung Dung vì là bậc quân tử mà luôn hành động đúng lúc (thời trung). Tiểu nhân trái Trung Dung vì là kẻ tiểu nhân mà không biết kiêng sợ gì."
===Chương 3===
Khổng Tử nói: "Trung Dung là bậc chí cao thay! Dân chúng ít người giữ được lâu dài vậy."
===Chương 4===
Khổng Tử nói: "Đạo không thực hành được, ta biết rồi: kẻ trí thì làm quá mức, kẻ ngu thì không theo kịp. Đạo không sáng tỏ được, ta biết rồi: người hiền làm quá, kẻ kém cỏi không tới nơi. Người ta ai mà không ăn uống, nhưng ít ai biết rõ mùi vị."
===Chương 5===
Khổng Tử nói: "Đạo xem chừng không thực hành được vậy thay!"
===Chương 6===
Khổng Tử nói: "Vua Thuấn thật là bậc đại trí vậy! Thuấn thích hỏi han và thích xét kỹ cả những lời tầm thường. Ông giấu cái xấu của người và tán dương cái tốt. Nắm lấy hai đầu cực đoan, chọn điểm giữa mà dùng cho dân. Đó chính là điều làm nên vua Thuấn vậy!"
===Chương 7===
Khổng Tử nói: "Người ta đều nói: 'Ta khôn ngoan', nhưng khi bị lùa vào lưới, sập bẫy, rơi vào hầm hố mà không biết đường tránh. Người ta đều nói: 'Ta khôn ngoan', nhưng chọn đạo Trung Dung mà không giữ nổi một tháng."
===Chương 8===
Khổng Tử nói: "Nhan Hồi làm người: chọn đạo Trung Dung, hễ được một điều thiện thì cung kính nắm chặt trong lòng mà không để mất."
===Chương 9===
Khổng Tử nói: "Thiên hạ quốc gia có thể trị cho bình ổn; tước lộc có thể từ chối; gươm đao trắng có thể dẫm lên; nhưng đạo Trung Dung thì không thể (dễ dàng) làm được."
===Chương 10===
Tử Lộ hỏi về sức mạnh. Khổng Tử đáp: "Là sức mạnh phương Nam, sức mạnh phương Bắc, hay sức mạnh của nhà ngươi? Dùng sự khoan dung mềm mỏng để dạy dỗ, không báo thù kẻ không có đạo đức, đó là cái mạnh của phương Nam, bậc quân tử ở đó. Mặc áo giáp, nằm trên binh khí, chết không hối tiếc, đó là cái mạnh của phương Bắc, kẻ dũng sĩ ở đó. Cho nên, người quân tử hòa hợp mà không a tòng; mạnh mẽ thay sự cứng cỏi! Đứng trung lập mà không nghiêng lệch; mạnh mẽ thay sự cứng cỏi! Nước có đạo, không thay đổi khí tiết lúc khốn cùng; mạnh mẽ thay sự cứng cỏi! Nước không đạo, giữ vững tiết tháo đến chết không đổi; mạnh mẽ thay sự cứng cỏi!"
===Chương 11===
Khổng Tử nói: "Tìm những điều bí ẩn, làm những việc quái dị để đời sau ca tụng: ta không làm vậy. Người quân tử theo Đạo mà hành động, đi nửa đường rồi bỏ: ta không thể thôi vậy. Người quân tử nương theo Trung Dung, ẩn dật mà thế gian không biết đến cũng không hối hận: chỉ có bậc thánh mới làm được."
===Chương 12===
Đạo của người quân tử, rộng lớn mà kín đáo. Những kẻ ngu dốt cũng có thể hiểu biết được, nhưng đến chỗ tột cùng, dù bậc thánh nhân cũng có chỗ không biết đến. Kẻ kém cỏi cũng có thể thực hành được, nhưng đến chỗ tột cùng, dù bậc thánh nhân cũng có chỗ không làm được. Trời đất lớn là thế, con người vẫn còn chỗ chưa vừa lòng. Thế nên, người quân tử nói về cái lớn, thiên hạ không gì chứa nổi; nói về cái nhỏ, thiên hạ không gì phá vỡ được.
Kinh Thi viết: "Chim diều bay vút tận trời, cá nhảy dưới vực sâu." Ý nói đạo hiển hiện ở khắp trên dưới. Đạo của người quân tử bắt đầu từ đạo vợ chồng, đến lúc tột cùng thì soi sáng khắp trời đất.
===Chương 13===
Khổng Tử nói: "Đạo không xa người. Người hành đạo mà xa lánh con người thì không thể gọi là Đạo.
Kinh Thi viết: 'Đẽo cán rìu, đẽo cán rìu, mẫu ngay tại đó thôi.' Cầm cán rìu cũ để đẽo cán rìu mới, nhìn liếc một cái vẫn thấy còn xa. Thế nên người quân tử lấy đạo người để trị người, sửa đổi được thì thôi. Lòng trung và thứ (trung thành và vị tha) cách Đạo không xa. Điều gì mình không muốn, đừng làm cho người khác. Đạo người quân tử có bốn điều, Khâu này chưa làm được điều nào: Điều đòi hỏi ở con để thờ cha, chưa làm được; điều đòi hỏi ở tôi để thờ vua, chưa làm được; điều đòi hỏi ở em để thờ anh, chưa làm được; điều đòi hỏi ở bạn bè, mình làm trước cho họ, chưa làm được. Thực hành đức bình thường, thận trọng lời nói bình thường; có chỗ chưa đủ thì không dám không cố gắng; có chỗ dư thì không dám làm hết. Lời nói nhìn vào việc làm, việc làm nhìn vào lời nói. Người quân tử sao chẳng dốc lòng làm vậy!"
===Chương 14===
Người quân tử theo đúng vị trí của mình mà hành động, không mong cầu điều gì ngoài vị thế đó. Ở chỗ giàu sang, hành động theo giàu sang; ở chỗ nghèo hèn, hành động theo nghèo hèn; ở giữa dân tộc lạc hậu, hành động theo cảnh đó; ở nơi hoạn nạn, hành động theo cảnh hoạn nạn. Người quân tử không rơi vào hoàn cảnh nào mà không tự tại. Ở vị trí trên không lăng mạ kẻ dưới; ở vị trí dưới không bám víu kẻ trên; sửa mình mà không cầu ở người thì không oán hận. Trên không oán trời, dưới không trách người. Cho nên người quân tử ở nơi bình an để chờ mệnh trời, kẻ tiểu nhân làm liều để cầu may mắn.
Khổng Tử nói: "Nghề bắn cung có nét giống người quân tử. Bắn không trúng đích thì quay lại tìm nguyên nhân ở bản thân mình."
===Chương 15===
Đạo của người quân tử giống như đi xa phải bắt đầu từ chỗ gần, như leo cao phải bắt đầu từ chỗ thấp.
Kinh Thi nói: "Vợ con hòa hợp, như đàn cầm đàn sắt. Anh em sum họp, vui vẻ nồng nàn. Làm yên ấm gia đình, làm vui lòng vợ con." Khổng Tử nói: "Cha mẹ hẳn là sẽ vui lòng thay!"
===Chương 16===
Khổng Tử nói: "Đức của quỷ thần cực thịnh thay! Nhìn không thấy, nghe không tiếng nhưng thể hiện ở muôn vật mà không bỏ sót. Khiến cho thiên hạ người người tắm gội sạch sẽ, mặc áo lễ để tế tự. Tràn đầy thay, như ở trên đầu, như ở bên trái bên phải vậy.
Kinh Thi nói: 'Thần ghé thăm, không thể đoán được, huống hồ là chán ghét sao?' Cái nhỏ bé hiển hiện ra cái rõ rệt. Sự thành thực không thể che giấu được là như thế đó."
===Chương 17===
Khổng Tử nói: "Vua Thuấn thật là bậc đại hiếu vậy! Đức là bậc thánh, tôn làm thiên tử, giàu có trong bốn biển. Tông miếu thờ phụng, con cháu giữ gìn. Cho nên người có đại đức ắt được ngôi vị, ắt được bổng lộc, ắt được danh tiếng, ắt được trường thọ. Trời sinh muôn vật ắt dựa vào tư chất mà bồi đắp. Cây nào tốt thì vun bón, cây nào nghiêng thì đổ đổ.
Kinh Thi nói: 'Vui thay bậc quân tử, đức hạnh sáng ngời, hợp lòng dân, hợp lòng người. Nhận bổng lộc của trời. Trời bảo vệ ban mệnh cho, từ trời cao ban xuống mãi.' Thế nên người có đại đức ắt nhận mệnh trời."
===Chương 18===
Khổng Tử nói: "Bậc không lo âu, chỉ có Văn Vương chăng? Có Vương Quý làm cha, có Võ Vương làm con. Cha gây dựng, con tiếp nối. Võ Vương kế thừa sự nghiệp của Đại Vương, Vương Quý, Văn Vương. Một lần mặc áo giáp ra quân mà có được thiên hạ. Bản thân không mất danh tiếng lẫy lừng. Tôn làm thiên tử, giàu có trong bốn biển. Tông miếu thờ phụng, con cháu giữ gìn. Võ Vương cuối đời nhận mệnh trời, Chu Công hoàn thành đức của Văn và Võ. Truy tôn Đại Vương, Vương Quý làm vua, tế tự tiên tổ theo lễ thiên tử. Lễ này thông suốt đến chư hầu, đại phu và sĩ dân. Cha là đại phu, con là sĩ thì khi chôn theo lễ đại phu, khi tế theo lễ sĩ. Cha là sĩ, con là đại phu thì khi chôn theo lễ sĩ, khi tế theo lễ đại phu. Tang một năm (kỳ) thông đến đại phu; tang ba năm thông đến thiên tử. Tang cha mẹ thì không phân sang hèn, đều như nhau."
===Chương 19===
Khổng Tử nói: "Võ Vương và Chu Công thật là bậc đạt hiếu vậy! Người hiếu là kẻ khéo nối tiếp chí hướng của người đi trước, khéo tiếp nối sự nghiệp của cha ông. Mùa xuân mùa thu, tu sửa tông miếu, bày biện đồ thờ, đặt y phục, dâng thức ăn theo mùa. Lễ ở tông miếu là để phân thứ tự tổ tiên (chiêu mục). Định phẩm tước để phân biệt sang hèn. Phân định công việc để phân biệt người hiền. Kẻ dưới dâng rượu chúc người trên là để ơn huệ đến cả kẻ hèn. Tiệc mừng phân theo màu tóc là để sắp xếp theo tuổi tác. Đứng đúng vị trí, làm đúng lễ, tấu đúng nhạc, kính bậc mình nên kính, yêu người mình nên yêu; thờ người chết như lúc sống, thờ người đã mất như lúc còn, ấy là tột cùng của hiếu vậy. Lễ tế Giao Xã là để thờ Thượng đế. Lễ tông miếu là để thờ tiên tổ. Hiểu rõ lễ tế Giao Xã và ý nghĩa tế Đề, tế Thường thì trị nước dễ như lật bàn tay vậy."
===Chương 20===
Ai Công hỏi về chính trị.
Khổng Tử nói: "Chính sự của Văn Vương, Võ Vương còn ghi trong sử sách. Người còn thì chính trị còn; người mất thì chính trị tắt. Đạo người làm cho chính sự thịnh, đạo đất làm cho cây cối tươi. Chính trị như giống cỏ lau (dễ mọc). Cho nên trị nước cốt ở dùng người. Chọn người dựa vào nhân cách mình. Tu thân theo Đạo. Theo Đạo theo lòng Nhân. Nhân là tính người, thương người thân là lớn nhất. Nghĩa là lẽ phải, tôn kính bậc hiền tài là lớn nhất. Việc yêu người thân có mức độ, việc kính hiền tài có thứ bậc, đó là do Lễ sinh ra. Ở vị trí dưới mà không được lòng người trên thì dân không thể trị được. Thế nên người quân tử không thể không tu thân. Muốn tu thân phải thờ phụng cha mẹ. Muốn thờ cha mẹ phải biết nhìn người. Muốn biết nhìn người phải biết đạo Trời.
Thiên hạ có 5 đạo đạt tới (đạt đạo), dùng 3 đức để thực hành. Đó là: đạo vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. 5 điều này là đạo đạt tới của thiên hạ. Trí, Nhân, Dũng là 3 đức đạt tới của thiên hạ. Nhưng cái để hành động thì chỉ là một (chữ Thành). Có người sinh ra đã biết, có người học mới biết, có người khốn đốn mới biết; nhưng khi đã biết thì là như nhau. Có người thản nhiên mà làm, có người vì lợi mà làm, có người gượng ép mà làm; nhưng khi thành công thì là như nhau."
Khổng Tử nói: "Thích học gần với Trí. Cố gắng làm gần với Nhân. Biết hổ thẹn gần với Dũng. Biết ba điều đó thì biết cách tu thân. Biết cách tu thân thì biết cách trị người. Biết cách trị người thì biết cách trị thiên hạ quốc gia.
Phàm trị thiên hạ quốc gia có 9 nguyên tắc (cửu kinh): tu thân, tôn hiền, yêu người thân, kính đại thần, thương xót quần thần, thương dân như con, khuyến khích trăm nghề, vỗ về người phương xa, vỗ về chư hầu. Tu thân thì đạo lập. Tôn hiền thì không lầm lạc. Yêu người thân thì chú bác anh em không oán hận. Kính đại thần thì không bị rối loạn. Thương quần thần thì kẻ sĩ báo đáp nồng hậu. Thương dân như con thì trăm họ nỗ lực. Khuyến trăm nghề thì tài dùng đầy đủ. Vỗ về người xa thì bốn phương quy thuận. Vỗ về chư hầu thì thiên hạ nể sợ.
Giữ lòng thanh tịnh, mặc áo lễ, không làm điều phi lễ: ấy là tu thân. Bỏ lời sàm nịnh, xa sắc dục, coi nhẹ tiền của mà trọng đức hạnh: ấy là khuyến khích bậc hiền. Cho vị trí cao, bổng lộc hậu, cùng chung sở thích: ấy là khuyến khích người thân. Cho đủ quan lại để làm việc: ấy là khuyến khích đại thần. Lòng tin chân thành, bổng lộc trọng hậu: ấy là khuyến khích kẻ sĩ. Dùng dân đúng thời vụ, thuế nhẹ: ấy là khuyến khích dân chúng. Kiểm tra hằng ngày, thi cử hằng tháng, ban cấp lương bổng xứng với công việc: ấy là khuyến khích trăm nghề. Tiễn người đi, đón người đến, khen điều thiện, thương người yếu: ấy là vỗ về người phương xa. Nối lại dòng giống đã dứt, dựng lại nước đã mất, trị loạn phò nguy, triều cống đúng kỳ, ban thưởng nhiều, nhận lễ vật ít: ấy là vỗ về chư hầu. Phàm trị thiên hạ có 9 nguyên tắc, nhưng để hành động chỉ cần một (chữ Thành).
Phàm việc gì có chuẩn bị (dự) trước thì nên, không chuẩn bị thì hỏng. Lời nói định trước thì không vấp. Việc làm định trước thì không khốn. Hành động định trước thì không hối hận. Đạo định trước thì không cùng tận. Ở vị trí dưới không được lòng người trên thì dân không thể trị được. Được lòng người trên có đạo: không được bạn bè tin cậy thì không được lòng người trên. Tin cậy bạn bè có đạo: không thuận với cha mẹ thì không được bạn bè tin cậy. Thuận với cha mẹ có đạo: tự xét mình không thành thực thì không thuận với cha mẹ. Thành thực với mình có đạo: không hiểu rõ điều thiện thì không thể thành thực với mình.
'''Thành''' là đạo của Trời. '''Làm cho thành''' là đạo của người. Bậc chân thành thì không cần gắng sức mà vẫn đúng, không cần suy nghĩ mà vẫn đạt; ung dung đúng đạo, ấy là bậc thánh nhân. Kẻ làm cho thành là người chọn điều thiện mà nắm giữ thật chặt. Phải học cho rộng, hỏi cho kỹ, nghĩ cho thấu, phân biệt cho minh bạch, thực hành cho nồng hậu. Có chỗ chưa học, đã học mà chưa làm được thì không bỏ qua. Có chỗ chưa hỏi, đã hỏi mà chưa biết thì không bỏ qua. Có chỗ chưa nghĩ, đã nghĩ mà chưa ra thì không bỏ qua. Có chỗ chưa phân biệt, phân biệt mà chưa rõ thì không bỏ qua. Có chỗ chưa làm, đã làm mà chưa nồng hậu thì không bỏ qua. Người khác làm một lần được, ta làm trăm lần. Người khác làm mười lần được, ta làm nghìn lần. Nếu quả thực làm được đạo này, dù ngu ắt sẽ sáng, dù yếu ắt sẽ mạnh."
===Chương 21===
Từ "Thành" mà dẫn đến "Minh" (sáng suốt), gọi là Tính. Từ "Minh" mà dẫn đến "Thành", gọi là Giáo. Đã Thành ắt sẽ Minh; đã Minh ắt sẽ Thành.
===Chương 22===
Chỉ có bậc chí thành trong thiên hạ mới có thể thấu hiểu hết bản tính của mình. Thấu hiểu bản tính mình thì thấu hiểu bản tính người. Thấu hiểu bản tính người thì thấu hiểu bản tính muôn vật. Thấu hiểu bản tính muôn vật thì có thể giúp trời đất hóa dục. Giúp trời đất hóa dục thì có thể đứng ngang hàng với trời đất.
===Chương 23===
Bậc kế đó thì chuyên chú vào những điều nhỏ hẹp (致曲). Từ nhỏ hẹp cũng có thể đạt đến Thành. Có Thành ắt thể hiện ra ngoài. Thể hiện ắt rõ rệt. Rõ rệt ắt sáng sủa. Sáng sủa ắt cử động. Cử động ắt biến đổi. Biến đổi ắt hóa thân. Chỉ có bậc chí thành trong thiên hạ mới có thể cảm hóa được.
===Chương 24===
Đạo chí thành có thể biết trước. Quốc gia sắp hưng thịnh ắt có điềm lành; quốc gia sắp mất ắt có yêu nghiệt. Thể hiện qua cỏ thi, mu rùa; động qua chân tay. Họa phúc sắp đến, điều thiện ắt biết trước, điều không thiện ắt biết trước. Thế nên bậc chí thành như thần linh vậy.
===Chương 25===
Thành là tự hoàn thành mình, Đạo là tự dẫn dắt mình. Thành là khởi đầu và kết thúc của muôn vật, không có Thành thì không có vật. Thế nên người quân tử coi trọng chữ Thành. Thành không chỉ là hoàn thành chính mình, mà còn là hoàn thành cho muôn vật. Hoàn thành chính mình là Nhân. Hoàn thành muôn vật là Trí. Đó là đức tính của bản tính, là đạo hợp nhất trong ngoài. Thế nên lúc nào áp dụng cũng đều thích đáng.
===Chương 26===
Cho nên bậc chí thành thì không ngừng nghỉ. Không nghỉ ắt lâu dài. Lâu dài ắt có hiệu nghiệm. Hiệu nghiệm ắt vươn xa. Vươn xa ắt rộng dày. Rộng dày ắt cao sáng. Rộng dày để chở vật. Cao sáng để che vật. Lâu dài để thành vật. Rộng dày sánh với Đất. Cao sáng sánh với Trời. Lâu dài là vô tận. Như thế, không cần phô trương mà vẫn rạng rỡ, không cử động mà vẫn biến hóa, không làm mà vẫn thành công.
Đạo trời đất có thể dùng một lời mà nói hết: Sự vật của nó không hai lòng, nên sinh ra muôn vật không thể lường hết. Đạo trời đất: rộng, dày, cao, sáng, xa, lâu. Nay như bầu trời, chỉ là một chút ánh sáng này thôi, nhưng đến chỗ vô cùng thì nhật nguyệt tinh tú treo ở đó, muôn vật được che phủ. Nay như mặt đất, chỉ là một nắm đất này thôi, nhưng đến chỗ rộng dày thì chở núi Hoa Sơn mà không thấy nặng, chứa sông biển mà không rò rỉ, muôn vật được chuyên chở. Nay như ngọn núi, chỉ là một hòn đá này thôi, nhưng đến chỗ to lớn thì cỏ cây mọc trên đó, chim muông ở đó, kho báu nảy sinh. Nay như dòng nước, chỉ là một gáo nước này thôi, nhưng đến chỗ sâu thẳm khôn lường thì thuồng luồng, rồng, cá ba ba sinh sôi, tiền của nảy nở.
Kinh Thi nói: "Mệnh trời huyền vi, ôi đẹp đẽ thay chẳng ngừng." Đó là nói lý do trời là trời vậy. "Ôi, chẳng rõ rệt thay, đức của Văn Vương thuần khiết." Đó là nói lý do Văn Vương là "Văn" vậy. Sự thuần khiết ấy cũng chẳng ngừng nghỉ.
===Chương 27===
Lớn lao thay đạo của bậc thánh! Mênh mông vô tận, nuôi dưỡng muôn vật, cao chạm tới trời. Đầy đủ lớn lao thay! Lễ nghi có ba trăm, oai nghi có ba ngàn. Phải đợi đúng người (đức hạnh) mới thực hành được. Thế nên nói: "Nếu không có bậc chí đức, thì đạo chí cao không thể ngưng tụ được." Cho nên người quân tử tôn sùng đức tính mà theo đuổi học vấn, đạt đến chỗ rộng lớn mà thấu suốt chỗ tinh vi, đạt đến cực điểm cao sáng mà vẫn giữ đạo Trung Dung. Ôn lại cái cũ để biết cái mới, đôn hậu để tôn sùng lễ nghĩa. Thế nên ở vị trí trên không kiêu ngạo, ở vị trí dưới không phản nghịch. Nước có đạo, lời nói đủ để hưng thịnh; nước không đạo, sự im lặng đủ để bảo toàn thân mình.
Kinh Thi viết: "Vừa minh vừa triết, để bảo vệ thân mình." Chính là ý đó vậy.
===Chương 28===
Khổng Tử nói: "Ngu mà thích tự chuyên, hèn mà thích tự quyết. Sống ở đời nay mà muốn quay ngược đạo cổ. Kẻ như thế tai vạ sẽ đến thân vậy." Không phải thiên tử thì không bàn về lễ, không định ra chế độ, không khảo cứu văn tự. Nay thiên hạ xe cùng khổ bánh, chữ cùng một lối, hành vi cùng một chuẩn mực đạo đức. Dù có địa vị, nếu không có đức thì không dám làm ra lễ nhạc. Dù có đức, nếu không có địa vị cũng không dám làm ra lễ nhạc. Khổng Tử nói: "Ta bàn về lễ nhà Hạ, nước Khải không đủ chứng cứ. Ta học lễ nhà Ân, còn lưu ở nước Tống. Ta học lễ nhà Chu, nay đang dùng, ta theo nhà Chu."
===Chương 29===
Cai trị thiên hạ có ba điều quan trọng (lễ, độ, văn), làm được vậy ắt ít sai lầm. Bậc trên dù tốt nhưng không có chứng cứ, không chứng cứ ắt không tin, không tin ắt dân không theo. Bậc dưới dù tốt nhưng không có địa vị tôn quý, không tôn quý ắt không tin, không tin ắt dân không theo. Thế nên đạo của người quân tử lấy bản thân làm gốc, kiểm chứng qua dân chúng. Khảo sát nơi các vua đời trước mà không sai lầm, dựng giữa trời đất mà không trái ngược. Chất vấn trước quỷ thần mà không nghi ngại, đợi trăm đời sau gặp bậc thánh mà không lầm lạc. Chất vấn quỷ thần không nghi ngại là biết đạo Trời. Đợi trăm đời sau không lầm lạc là biết đạo Người.
Cho nên người quân tử mỗi cử động đều là đạo cho thiên hạ, hành động là phép cho thiên hạ, lời nói là chuẩn mực cho thiên hạ. Ở xa thì người ta trông ngóng, ở gần thì không thấy chán.
Kinh Thi nói: "Ở kia không bị ghét, ở đây không bị chê; sớm tối như một, để giữ mãi tiếng thơm." Người quân tử chưa ai không làm được như thế mà sớm có tiếng vang trong thiên hạ.
===Chương 30===
Trọng Ni tổ thuật theo Nghiêu Thuấn, noi gương Văn Võ. Trên thuận thời trời, dưới theo thủy thổ. Giống như trời đất không gì không chuyên chở, không gì không che phủ. Giống như bốn mùa thay nhau đi, như nhật nguyệt thay nhau sáng. Muôn vật cùng nuôi dưỡng mà không hại nhau. Đạo cùng vận hành mà không trái nhau. Đức nhỏ chảy như sông, đức lớn hóa dục đôn hậu. Đó là lý do trời đất trở nên vĩ đại.
===Chương 31===
Chỉ có bậc chí thánh trong thiên hạ mới có đủ thông minh duệ trí để cai quản; rộng rãi ôn hòa để bao dung; mạnh mẽ kiên cường để nắm giữ; nghiêm trang trung chính để được kính trọng; văn lý tinh vi để phân biệt. Rộng lớn sâu xa như suối nguồn, lúc nào cũng tuôn chảy. Rộng lớn như trời, sâu xa như vực. Hiện ra thì dân không ai không kính; nói ra thì dân không ai không tin; hành động thì dân không ai không vui lòng. Thế nên danh tiếng vang khắp Trung Hoa, lan đến tận vùng man di. Nơi nào thuyền xe đi tới, sức người thông suốt, trời che đất chở, nhật nguyệt soi sáng, sương lộ rơi xuống: phàm kẻ có máu mủ linh hồn không ai không tôn kính yêu mến. Thế nên gọi là "Sánh ngang với trời".
===Chương 32===
Chỉ có bậc chí thành trong thiên hạ mới có thể sửa sang những mối quan hệ lớn lao (đại kinh), lập nên cái gốc lớn lao (đại bản), thấu hiểu sự hóa dục của trời đất. Bậc ấy nào có dựa vào đâu? Lòng nhân nồng hậu thay! Vực thẳm sâu thẳm thay! Bầu trời bao la thay! Nếu không phải bậc thực sự thông minh thánh trí, đạt đến đức trời, thì ai có thể thấu hiểu được?
===Chương 33===
Kinh Thi nói: "Mặc áo gấm rồi khoác thêm áo đơn," vì ghét sự rực rỡ lộ ra ngoài. Cho nên đạo của người quân tử kín đáo mà ngày càng rạng rỡ; đạo kẻ tiểu nhân lộ liễu mà ngày càng tàn lụi. Đạo quân tử đạm mạc mà không chán, giản dị mà văn vẻ, ôn hòa mà có lý lẽ. Biết cái xa bắt đầu từ cái gần, biết gió từ đâu thổi tới, biết cái nhỏ hiển hiện thành cái lớn. Được vậy có thể vào cửa đức rồi.
Kinh Thi viết: "Dù lặn sâu dưới vực, vẫn thấy rõ ràng." Thế nên người quân tử tự xét lòng mình không thấy hổ thẹn, không có gì cắn rứt chí hướng. Người quân tử đạt đến chỗ người khác không theo kịp, chính là ở chỗ người đời không nhìn thấy được.
Kinh Thi viết: "Khi ở trong phòng mình, chớ có làm điều gì hổ thẹn với góc nhà khuất (ốc lậu)." Cho nên người quân tử không cử động mà vẫn được kính trọng, không nói năng mà vẫn được tin cậy.
Kinh Thi nói: "Dâng lễ im lặng, lúc ấy chẳng hề tranh giành." Thế nên người quân tử không cần ban thưởng mà dân vẫn nỗ lực, không cần nổi giận mà dân vẫn sợ hơn búa rìu.
Kinh Thi nói: "Đức sáng tỏ thay, trăm quan đều noi theo." Thế nên người quân tử đôn hậu cung kính mà thiên hạ thái bình.
Kinh Thi viết: "Ta nhớ đức sáng, chẳng cần lớn tiếng sắc mặt." Khổng Tử nói: "Dùng âm thanh sắc mặt để giáo hóa dân là việc ngọn thôi."
Kinh Thi nói: "Đức nhẹ như lông." Sợi lông vẫn còn có thứ để so sánh. "Việc của trời cao, không tiếng không mùi." Đó mới là tột cùng vậy.
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
3lhukl0nj6oyc1u3w2a40uuqbxcgc7a
Nơi luân hồi và sinh học giao nhau
0
72017
204881
2026-04-27T00:56:56Z
Phucsinhdao
20112
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa | tác giả = Ian Stevenson | dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn) | phần = 16.05.1987 | trước = | sau = | năm = 1987 - 1997 | ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson. }} [[Tập tin:Cb12038350c.jpg|giữa|vô khung|350px|Hình ảnh minh họa công trình nghiên cứu của Ian Stevenson.]]…”
204881
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[Tập tin:Cb12038350c.jpg|giữa|vô khung|350px|Hình ảnh minh họa công trình nghiên cứu của Ian Stevenson.]]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" /> Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* Mục từ dữ liệu quốc tế (Wikidata): [[d:Q131333425]]
* Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson: [[d:Q731300]]
* Chuyên mục nghiên cứu tại Đại học Virginia: [[d:Q131333425]]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
7mxkm0u9qilzscw52z5wg12e2onwqyr
204882
204881
2026-04-27T00:57:59Z
Phucsinhdao
20112
/* Tiếp nhận và phê bình */
204882
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[Tập tin:Cb12038350c.jpg|giữa|vô khung|350px|Hình ảnh minh họa công trình nghiên cứu của Ian Stevenson.]]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* Mục từ dữ liệu quốc tế (Wikidata): [[d:Q131333425]]
* Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson: [[d:Q731300]]
* Chuyên mục nghiên cứu tại Đại học Virginia: [[d:Q131333425]]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
dzh0tles42k2c5f3v3frhdsvbtb5un0
204883
204882
2026-04-27T01:06:50Z
Phucsinhdao
20112
204883
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[Tập tin:Cb12038350c.jpg|giữa|vô khung|350px|Hình ảnh minh họa công trình nghiên cứu của Ian Stevenson.]]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Ấn bản tiếng Việt ==
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* Mục từ dữ liệu quốc tế (Wikidata): [[d:Q131333425]]
* Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson: [[d:Q731300]]
* Chuyên mục nghiên cứu tại Đại học Virginia: [[d:Q131333425]]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
co57tgok6hyc7ypx9t7c3lneqywibs4
204884
204883
2026-04-27T01:13:35Z
Phucsinhdao
20112
/* Liên kết ngoài */
204884
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[Tập tin:Cb12038350c.jpg|giữa|vô khung|350px|Hình ảnh minh họa công trình nghiên cứu của Ian Stevenson.]]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Ấn bản tiếng Việt ==
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* Mục từ dữ liệu quốc tế (Wikidata): [[d: Q7993331]]
* Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson: [[d:Q731300]]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
q4ro5r0lvvq1w9xc6etr4i63o1qu933
204885
204884
2026-04-27T01:18:38Z
Phucsinhdao
20112
/* Liên kết ngoài */Liên kết ngoài
204885
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[Tập tin:Cb12038350c.jpg|giữa|vô khung|350px|Hình ảnh minh họa công trình nghiên cứu của Ian Stevenson.]]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Ấn bản tiếng Việt ==
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* Mục từ dữ liệu quốc tế (Wikidata): [[d: Q7993331]]
* Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson: [[d:Q731300]]
* [https://med.virginia.edu/perceptual-studies/ Phân khoa Nghiên cứu Nhận thức (DOPS) - Đại học Virginia]
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587 Dữ liệu định danh Q139548587 trên Wikidata]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
0akfg8b1y8m63ac76gmhmxt5pqa67iw
204886
204885
2026-04-27T01:21:05Z
Phucsinhdao
20112
204886
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[File:Where Reincarnation and Biology Intersect.jpg|thumb|Bìa sách ''Where Reincarnation and Biology Intersect'']]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Ấn bản tiếng Việt ==
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* Mục từ dữ liệu quốc tế (Wikidata): [[d: Q7993331]]
* Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson: [[d:Q731300]]
* [https://med.virginia.edu/perceptual-studies/ Phân khoa Nghiên cứu Nhận thức (DOPS) - Đại học Virginia]
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587 Dữ liệu định danh Q139548587 trên Wikidata]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
hpxw5vez4yfcacd6yaqb7rz3hvi535v
204887
204886
2026-04-27T01:25:00Z
Phucsinhdao
20112
/* Ấn bản tiếng Việt */Ấn bản tiếng Việt
204887
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[File:Where Reincarnation and Biology Intersect.jpg|thumb|Bìa sách ''Where Reincarnation and Biology Intersect'']]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Ấn bản tiếng Việt ==
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
<center>
[[Tập tin:Cb12038350c.jpg|vô khung|350px|Hình ảnh minh họa công trình nghiên cứu của Ian Stevenson.]]
</center>
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* Mục từ dữ liệu quốc tế (Wikidata): [[d: Q7993331]]
* Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson: [[d:Q731300]]
* [https://med.virginia.edu/perceptual-studies/ Phân khoa Nghiên cứu Nhận thức (DOPS) - Đại học Virginia]
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587 Dữ liệu định danh Q139548587 trên Wikidata]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
9b148eekisa1c3hel5ic1gxzbcfp6zj
204888
204887
2026-04-27T01:27:32Z
Phucsinhdao
20112
/* Liên kết ngoài */
204888
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[File:Where Reincarnation and Biology Intersect.jpg|thumb|Bìa sách ''Where Reincarnation and Biology Intersect'']]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Ấn bản tiếng Việt ==
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
<center>
[[Tập tin:Cb12038350c.jpg|vô khung|350px|Hình ảnh minh họa công trình nghiên cứu của Ian Stevenson.]]
</center>
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331 Mục từ dữ liệu quốc tế Q7993331 trên Wikidata]
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q731300 Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson trên Wikidata]
* [https://med.virginia.edu/perceptual-studies/ Phân khoa Nghiên cứu Nhận thức (DOPS) - Đại học Virginia]
*[https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587 Dữ liệu định danh Q139548587 trên Wikidata]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
k7n8j8nilhafh0iis8893eqgfgkytxm
204889
204888
2026-04-27T02:44:34Z
Phucsinhdao
20112
/* Ấn bản tiếng Việt */
204889
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[File:Where Reincarnation and Biology Intersect.jpg|thumb|Bìa sách ''Where Reincarnation and Biology Intersect'']]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Ấn bản tiếng Việt ==
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
[[File:cb12038350c.jpg|thumb|''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa'']]
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331 Mục từ dữ liệu quốc tế Q7993331 trên Wikidata]
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q731300 Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson trên Wikidata]
* [https://med.virginia.edu/perceptual-studies/ Phân khoa Nghiên cứu Nhận thức (DOPS) - Đại học Virginia]
*[https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587 Dữ liệu định danh Q139548587 trên Wikidata]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
k3175wwxm5ojyz6mlknsbmagwgtprxt
204890
204889
2026-04-27T02:46:00Z
Phucsinhdao
20112
204890
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[File:Where Reincarnation and Biology Intersect.jpg|thumb|Bìa sách ''Where Reincarnation and Biology Intersect'']]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
Ấn bản tiếng Việt
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
[[File:cb12038350c.jpg|thumb|''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa'']]
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331 Mục từ dữ liệu quốc tế Q7993331 trên Wikidata]
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q731300 Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson trên Wikidata]
* [https://med.virginia.edu/perceptual-studies/ Phân khoa Nghiên cứu Nhận thức (DOPS) - Đại học Virginia]
*[https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587 Dữ liệu định danh Q139548587 trên Wikidata]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
nqcl9x7dq3gp2y253jr68fazf021z1y
204891
204890
2026-04-27T02:51:17Z
Phucsinhdao
20112
204891
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[File:Where Reincarnation and Biology Intersect.jpg|thumb|Bìa sách ''Where Reincarnation and Biology Intersect'']]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
'''''Ấn bản tiếng Việt: Nơi luân hồi và sinh học giao thoa'''''
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
[[File:cb12038350c.jpg|thumb|''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa'']]
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331 Mục từ dữ liệu quốc tế Q7993331 trên Wikidata]
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q731300 Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson trên Wikidata]
* [https://med.virginia.edu/perceptual-studies/ Phân khoa Nghiên cứu Nhận thức (DOPS) - Đại học Virginia]
*[https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587 Dữ liệu định danh Q139548587 trên Wikidata]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
ibq75uzvi6vsirgzehjaokuwz17mbh3
204892
204891
2026-04-27T02:53:32Z
Phucsinhdao
20112
204892
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nơi luân hồi và sinh học giao thoa
| tác giả = Ian Stevenson
| dịch giả = Trần Ngọc Lâm (biên soạn)
| phần = 16.05.1987
| trước =
| sau =
| năm = 1987 - 1997
| ghi chú = Tổng hợp nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson.
}}
[[File:Where Reincarnation and Biology Intersect.jpg|thumb|Bìa sách ''Where Reincarnation and Biology Intersect'']]
'''''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa''''' (tựa gốc tiếng Anh: '''''Where Reincarnation and Biology Intersect''''') là một công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Ian Stevenson, giáo sư tâm thần học tại Đại học Virginia.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Praeger.</ref> Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1997, đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông từ bộ dữ liệu thực chứng đồ sộ của ông.<ref>Kelly, Edward F. (2007). "Ian Stevenson and Cases of the Reincarnation Type". ''Journal of Scientific Exploration''. 21 (4): 743–761.</ref>
Khác với các chuyên khảo dành cho giới chuyên gia, ấn bản này trình bày một cách cô đọng các bằng chứng về sự tương quan giữa các vết bớt bẩm sinh và ký ức tiền kiếp đã được xác minh.<ref name="NYT">Fox, Margalit (2007-02-11). "Ian Stevenson, 88, Dies; Studied Claims of Past Lives". ''The New York Times''.</ref> Tác phẩm được xem là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và những câu hỏi về bản chất tồn tại của con người.
== Ấn bản tiếng Việt ==
'''''Ấn bản tiếng Việt: Nơi luân hồi và sinh học giao thoa'''''
Tại Việt Nam, tác phẩm được chuyển ngữ với tiêu đề "Nơi luân hồi và sinh học giao nhau", giúp độc giả tiếp cận gần hơn với những công trình nghiên cứu thực nghiệm của Tiến sĩ Ian Stevenson. Ấn bản này không chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng trong lĩnh vực cận tâm lý học mà còn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu nghiêm túc về các hiện tượng luân hồi - tái sinh dưới lăng kính y học hiện đại.<ref>Thư viện tỉnh Bình Thuận. "Giới thiệu sách: Nơi luân hồi và sinh học giao nhau". Truy cập ngày 25-04-2026 tại: https://thuvienbinhthuan.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/noi-luan-hoi-va-sinh-hoc-giao-nhau-681.html</ref>
[[File:cb12038350c.jpg|thumb|''Nơi luân hồi và sinh học giao thoa'']]
Tác phẩm đóng vai trò là bản tóm tắt dành cho độc giả phổ thông, chắt lọc dữ liệu từ bộ công trình thực chứng đồ sộ về các dấu vết sinh học liên quan đến ký ức tiền kiếp. Tệp dữ liệu hình ảnh của tác phẩm đã được số hoá và kết nối với các hệ thống định danh quốc tế nhằm bảo tồn giá trị thực nghiệm của nghiên cứu luân hồi trong môi trường tri thức mở.<ref name="Q139548587">Trần Ngọc Lâm. "Dữ liệu định danh quốc tế cho tác phẩm Nơi luân hồi và sinh học giao thoa". Wikidata Q139548587: https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Việc thiết lập các liên kết dữ liệu này không chỉ đơn thuần là số hóa tài liệu, mà còn là bước đi chiến lược trong việc đồng bộ hóa hồ sơ nghiên cứu của Ian Stevenson với hệ thống quản lý tri thức toàn cầu. Thông qua mã định danh thực thể quốc tế, các thông tin về ấn bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa và bảo vệ trước nguy cơ thất lạc dữ liệu trong kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Hồ sơ lưu trữ thực thể tiếng Việt Q139548587". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Sự hiện diện của ấn bản tiếng Việt trong hệ sinh thái dữ liệu quốc tế còn làm rõ vai trò của nó như một phiên bản ngôn ngữ chính thức trực thuộc tác phẩm gốc tiếng Anh mang tên Where Reincarnation and Biology Intersect (định danh bởi mã Q7993331).<ref name="WikidataEN">Wikidata. "Where Reincarnation and Biology Intersect (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Sự giao thoa này không chỉ tăng cường tính minh bạch cho công trình nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả quốc tế tiếp cận, đối soát và xác thực hồ sơ di sản của Stevenson thông qua các đầu mối định danh đã được liên kết đồng bộ.<ref>Wikidata. "External links and identifiers for Q7993331". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331#identifiers</ref>
Việc duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa mã định danh tiếng Việt (Q139548587) và thực thể gốc tiếng Anh (Q7993331) khẳng định vị thế của bản dịch này như một thành tố không thể tách rời trong hệ sinh thái nghiên cứu của Ian Stevenson.<ref name="Q139497421">Wikidata. "Báo cáo trường hợp thực chứng (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hơn thế nữa, tệp dữ liệu hình ảnh thực nghiệm đi kèm tác phẩm đã được định danh và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở, giúp bảo toàn nguyên trạng các bằng chứng khoa học như dấu vết bớt bẩm sinh và hồ sơ y khoa trước những thách thức của kỷ nguyên số.<ref>Wikidata. "Data records for reincarnation and biology cases (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
Hệ thống định danh này không chỉ dừng lại ở mức độ phân loại mà còn đóng vai trò là 'hộ chiếu số' cho các dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam. Việc đồng bộ hóa này cho phép các nhà nghiên cứu kết nối trực tiếp đến các thực thể tri thức liên quan trong mạng lưới toàn cầu.<ref>Wikidata. "Digital identifiers for Vietnamese edition (Q139548587)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587</ref>
Đây là minh chứng cho việc ứng dụng công nghệ định danh hiện đại để bảo vệ tính nhất quán của di sản Stevenson, đảm bảo rằng mọi thông tin trích dẫn đều có thể truy xuất nguồn gốc một cách chính xác nhất trên không gian số.<ref>Wikidata. "Global research consistency for Ian Stevenson's work (Q7993331)". https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331</ref>
Thông qua sự giao thoa dữ liệu giữa tác phẩm gốc và các báo cáo chi tiết, vị trí của ấn bản tiếng Việt được khẳng định như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới tri thức mở quốc tế.<ref>Wikidata. "Structured data for scientific evidence (Q139497421)". https://www.wikidata.org/wiki/Q139497421</ref>
== Nội dung chính ==
Cuốn sách tập trung vào việc đối chiếu các dữ liệu sinh học để chứng minh hiện tượng luân hồi thông qua hai yếu tố:
* '''Vết bớt và dị tật bẩm sinh:''' Stevenson chứng minh nhiều trẻ em có các dấu vết vật lý trên cơ thể trùng khớp với các vết thương trên thi thể của người mà trẻ nhớ lại là tiền kiếp.<ref>Stevenson, Ian (1997). ''Where Reincarnation and Biology Intersect''. Chương 3: Birthmarks.</ref>
* '''Đối chiếu hồ sơ y tế:''' Các trường hợp được nghiên cứu đều được đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi hoặc hồ sơ bệnh án của người đã khuất.<ref name="NYT" />
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Xenoglossy (khả năng nói ngoại ngữ chưa từng học)<ref>Stevenson, Ian (1984). ''Unlearned Language: New Studies in Xenoglossy''. University of Virginia Press.</ref> và các hành vi đặc trưng như sở thích, thói quen hoặc nỗi sợ hãi vô lý liên quan đến cách thức qua đời ở kiếp trước.<ref>Stevenson, Ian (1990). "Phobias in Children Who Claim to Remember Previous Lives". ''Journal of Scientific Exploration''. 4 (2).</ref>
== Tiếp nhận và phê bình ==
Công trình của Stevenson nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Trong khi những người ủng hộ coi ông là một thiên tài, giới khoa học chính thống thường giữ thái độ hoài nghi hoặc phớt lờ.<ref name="NYT" />
Tom Shroder, biên tập viên của tờ Washington Post, đã ghi lại quá trình điều tra thực địa đầy khắt khe của Stevenson trong cuốn "Old Souls" để cung cấp một cái nhìn khách quan hơn.<ref>Shroder, Tom (1999). ''Old Souls: The Scientific Search for Proof of Past Lives''. Simon & Schuster.</ref>
Tại Việt Nam, các công trình của Stevenson được cộng đồng Phật giáo ghi nhận là một nỗ lực phi thường trong việc dùng phương pháp thực chứng để làm sáng tỏ hiện tượng luân hồi.<ref>"Giáo sư Ian Stevenson: Người chứng minh luân hồi bằng khoa học". ''Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam'' (2024).</ref>
== Sự đánh giá khách quan ==
Nhiều tạp chí y khoa danh tiếng đã đánh giá cao phương pháp tiếp cận của ông:
* '''JAMA (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ):''' Ghi nhận các báo cáo của ông được xây dựng trên sự quan sát khách quan, tỉ mỉ và khó có thể giải thích bằng giả thuyết nào khác ngoài sự tái sinh.<ref>King, L. S. (1975). "Twenty Cases Suggestive of Reincarnation". ''JAMA''. 234 (10).</ref>
* '''The Journal of Nervous and Mental Disease:''' Khẳng định phương pháp điều tra của Stevenson mang tính khoa học thuần túy với những dữ liệu thực tế mà giới khoa học không thể bỏ qua.<ref>"Review of cases suggestive of reincarnation". ''JNMD''. (1977). 165 (2).</ref>
== Tài liệu tham khảo ==
<references />
== Liên kết ngoài ==
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q7993331 Mục từ dữ liệu quốc tế Q7993331 trên Wikidata]
* [https://www.wikidata.org/wiki/Q731300 Hồ sơ lưu trữ tác giả Ian Stevenson trên Wikidata]
* [https://med.virginia.edu/perceptual-studies/ Phân khoa Nghiên cứu Nhận thức (DOPS) - Đại học Virginia]
*[https://www.wikidata.org/wiki/Q139548587 Dữ liệu định danh Q139548587 trên Wikidata]
[[Thể loại:Sách khoa học]]
[[Thể loại:Nghiên cứu luân hồi]]
2xp3em0i1842t9jppfu5d1lco3medif
Biên dịch:Mạnh Tử
114
72018
204893
2026-04-27T07:23:33Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子 | năm= | phần = | trước= | sau= | ghi chú = Sách Mạnh Tử là tác phẩm triết học, đạo đức học và chính trị học về Mạnh Tử và các môn đệ của ông như Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v... ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư h…”
204893
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子
| năm=
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú = Sách Mạnh Tử là tác phẩm triết học, đạo đức học và chính trị học về Mạnh Tử và các môn đệ của ông như Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v... ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu. Sách Mạnh Tử là một kinh điển rất quan trọng của Nho học. {{Wikipediaref}}
}}
{{Tìm kiếm}}
Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Mạnh Tử thượng và Mạnh Tử hạ.
===Mạnh Tử thượng gồm 3 thiên===
# [[/Lương Huệ Vương thượng|Lương Huệ Vương (thượng)]]
# [[/Lương Huệ Vương hạ|Lương Huệ Vương (hạ)]]
# [[/Công Tôn Sửu thượng|Công Tôn Sửu (thượng)]]
# [[/Công Tôn Sửu hạ|Công Tôn Sửu (hạ)]]
# [[/Đằng Văn Công thượng|Đằng Văn Công (thượng)]]
# [[/Đằng Văn Công hạ|Đằng Văn Công (hạ)]]
===Mạnh Tử hạ gồm 4 thiên===
# [[/Ly Lâu thượng|Ly Lâu (thượng)]]
# [[/Ly Lâu hạ|Ly Lâu (hạ)]]
# [[/Vạn Chương thượng|Vạn Chương (thượng)]]
# [[/Vạn Chương hạ|Vạn Chương (hạ)]]
# [[/Cáo tử thượng|Cáo tử (thượng)]]
# [[/Cáo tử hạ|Cáo tử (hạ)]]
# [[Tận tâm thượng|Tận tâm (thượng)]]
# [[Tận tâm hạ|Tận tâm (hạ)]]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
a30veowryqnhkqvykpv54lco5kj6004
204909
204893
2026-04-27T08:51:16Z
Mrfly911
2215
204909
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子
| năm=
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú = Sách Mạnh Tử là tác phẩm triết học, đạo đức học và chính trị học về Mạnh Tử và các môn đệ của ông như Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v... ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu. Sách Mạnh Tử là một kinh điển rất quan trọng của Nho học. {{Wikipediaref}}
}}
{{Tìm kiếm}}
Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Mạnh Tử thượng và Mạnh Tử hạ.
===Mạnh Tử thượng gồm 3 thiên===
# [[/Lương Huệ Vương thượng|Lương Huệ Vương (thượng)]]
# [[/Lương Huệ Vương hạ|Lương Huệ Vương (hạ)]]
# [[/Công Tôn Sửu thượng|Công Tôn Sửu (thượng)]]
# [[/Công Tôn Sửu hạ|Công Tôn Sửu (hạ)]]
# [[/Đằng Văn Công thượng|Đằng Văn Công (thượng)]]
# [[/Đằng Văn Công hạ|Đằng Văn Công (hạ)]]
===Mạnh Tử hạ gồm 4 thiên===
# [[/Ly Lâu thượng|Ly Lâu (thượng)]]
# [[/Ly Lâu hạ|Ly Lâu (hạ)]]
# [[/Vạn Chương thượng|Vạn Chương (thượng)]]
# [[/Vạn Chương hạ|Vạn Chương (hạ)]]
# [[/Cáo tử thượng|Cáo tử (thượng)]]
# [[/Cáo tử hạ|Cáo tử (hạ)]]
# [[/Tận tâm thượng|Tận tâm (thượng)]]
# [[/Tận tâm hạ|Tận tâm (hạ)]]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
ptdmc520zewypyzzg459evisw6xrlig
204911
204909
2026-04-27T08:53:42Z
Mrfly911
2215
204911
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子
| năm=
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú = Sách Mạnh Tử là tác phẩm triết học, đạo đức học và chính trị học về Mạnh Tử và các môn đệ của ông như Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v... ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu. Sách Mạnh Tử là một kinh điển rất quan trọng của Nho học. {{Wikipediaref}}
}}
{{Tìm kiếm}}
Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Mạnh Tử thượng và Mạnh Tử hạ.
[[File:Half_Portraits_of_the_Great_Sage_and_Virtuous_Men_of_Old_-_Meng_Ke_(孟軻).jpg|thumb|right|Bức chân dung của Mạnh Kha được trưng bày tại Bảo tàng Cung điện Quốc gia, Đài Bắc.]]
===Mạnh Tử thượng gồm 3 thiên===
# [[/Lương Huệ Vương thượng|Lương Huệ Vương (thượng)]]
# [[/Lương Huệ Vương hạ|Lương Huệ Vương (hạ)]]
# [[/Công Tôn Sửu thượng|Công Tôn Sửu (thượng)]]
# [[/Công Tôn Sửu hạ|Công Tôn Sửu (hạ)]]
# [[/Đằng Văn Công thượng|Đằng Văn Công (thượng)]]
# [[/Đằng Văn Công hạ|Đằng Văn Công (hạ)]]
===Mạnh Tử hạ gồm 4 thiên===
# [[/Ly Lâu thượng|Ly Lâu (thượng)]]
# [[/Ly Lâu hạ|Ly Lâu (hạ)]]
# [[/Vạn Chương thượng|Vạn Chương (thượng)]]
# [[/Vạn Chương hạ|Vạn Chương (hạ)]]
# [[/Cáo tử thượng|Cáo tử (thượng)]]
# [[/Cáo tử hạ|Cáo tử (hạ)]]
# [[/Tận tâm thượng|Tận tâm (thượng)]]
# [[/Tận tâm hạ|Tận tâm (hạ)]]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
gsqrb12p9cuntw2cfyoa8f2ccn7nmf1
204912
204911
2026-04-27T08:55:38Z
Mrfly911
2215
204912
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả= Mạnh Tử
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子
| năm=
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú = Sách Mạnh Tử là tác phẩm triết học, đạo đức học và chính trị học về Mạnh Tử và các môn đệ của ông như Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v... ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu. Sách Mạnh Tử là một kinh điển rất quan trọng của Nho học. {{Wikipediaref}}
}}
{{Tìm kiếm}}
Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Mạnh Tử thượng và Mạnh Tử hạ.
[[File:Half_Portraits_of_the_Great_Sage_and_Virtuous_Men_of_Old_-_Meng_Ke_(孟軻).jpg|thumb|right|Bức chân dung của Mạnh Kha được trưng bày tại Bảo tàng Cung điện Quốc gia, Đài Bắc.]]
===Mạnh Tử thượng gồm 3 thiên===
# [[/Lương Huệ Vương thượng|Lương Huệ Vương (thượng)]]
# [[/Lương Huệ Vương hạ|Lương Huệ Vương (hạ)]]
# [[/Công Tôn Sửu thượng|Công Tôn Sửu (thượng)]]
# [[/Công Tôn Sửu hạ|Công Tôn Sửu (hạ)]]
# [[/Đằng Văn Công thượng|Đằng Văn Công (thượng)]]
# [[/Đằng Văn Công hạ|Đằng Văn Công (hạ)]]
===Mạnh Tử hạ gồm 4 thiên===
# [[/Ly Lâu thượng|Ly Lâu (thượng)]]
# [[/Ly Lâu hạ|Ly Lâu (hạ)]]
# [[/Vạn Chương thượng|Vạn Chương (thượng)]]
# [[/Vạn Chương hạ|Vạn Chương (hạ)]]
# [[/Cáo tử thượng|Cáo tử (thượng)]]
# [[/Cáo tử hạ|Cáo tử (hạ)]]
# [[/Tận tâm thượng|Tận tâm (thượng)]]
# [[/Tận tâm hạ|Tận tâm (hạ)]]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
573vq3vzfxzwvcbswi3m49z0h4nlw3y
204918
204912
2026-04-27T09:12:03Z
Mrfly911
2215
204918
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả= Mạnh Tử
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子
| năm=
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú = Sách Mạnh Tử là tác phẩm triết học, đạo đức học và chính trị học về Mạnh Tử và các môn đệ của ông như Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v... ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu. Sách Mạnh Tử là một kinh điển rất quan trọng của Nho học. {{Wikipediaref}}
}}
{{Tìm kiếm}}
{{Tứ thư}}
Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Mạnh Tử thượng và Mạnh Tử hạ.
[[File:Half_Portraits_of_the_Great_Sage_and_Virtuous_Men_of_Old_-_Meng_Ke_(孟軻).jpg|thumb|right|Bức chân dung của Mạnh Kha được trưng bày tại Bảo tàng Cung điện Quốc gia, Đài Bắc.]]
===Mạnh Tử thượng gồm 3 thiên===
# [[/Lương Huệ Vương thượng|Lương Huệ Vương (thượng)]]
# [[/Lương Huệ Vương hạ|Lương Huệ Vương (hạ)]]
# [[/Công Tôn Sửu thượng|Công Tôn Sửu (thượng)]]
# [[/Công Tôn Sửu hạ|Công Tôn Sửu (hạ)]]
# [[/Đằng Văn Công thượng|Đằng Văn Công (thượng)]]
# [[/Đằng Văn Công hạ|Đằng Văn Công (hạ)]]
===Mạnh Tử hạ gồm 4 thiên===
# [[/Ly Lâu thượng|Ly Lâu (thượng)]]
# [[/Ly Lâu hạ|Ly Lâu (hạ)]]
# [[/Vạn Chương thượng|Vạn Chương (thượng)]]
# [[/Vạn Chương hạ|Vạn Chương (hạ)]]
# [[/Cáo tử thượng|Cáo tử (thượng)]]
# [[/Cáo tử hạ|Cáo tử (hạ)]]
# [[/Tận tâm thượng|Tận tâm (thượng)]]
# [[/Tận tâm hạ|Tận tâm (hạ)]]
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
protyvhc1qqjif6v8767qes2ejvecpd
Biên dịch:Mạnh Tử/Lương Huệ Vương thượng
114
72019
204894
2026-04-27T07:30:57Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/梁惠王上 | năm= | phần = Lương Huệ Vương (thượng) | trước= | sau= [[../Lương Huệ Vương hạ]] | ghi chú = }} ===1=== Mạnh Tử đến kiến kiến Lương Huệ Vương. Vua nói: "Cụ già! Chẳng quản dặm dài nghìn dặm mà đến, hẳn cũng có cách gì để làm lợi cho nước tôi chứ?" M…”
204894
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/梁惠王上
| năm=
| phần = Lương Huệ Vương (thượng)
| trước=
| sau= [[../Lương Huệ Vương hạ]]
| ghi chú =
}}
===1===
Mạnh Tử đến kiến kiến Lương Huệ Vương. Vua nói: "Cụ già! Chẳng quản dặm dài nghìn dặm mà đến, hẳn cũng có cách gì để làm lợi cho nước tôi chứ?"
Mạnh Tử đáp: "Vua hà tất phải nói đến lợi? Chỉ cần có nhân nghĩa mà thôi. Vua nói 'làm lợi cho nước', đại phu nói 'làm lợi cho nhà', kẻ sĩ và dân thường nói 'làm lợi cho thân mình'. Trên dưới tranh nhau cái lợi thì nước nguy khốn. Trong nước vạn xe, kẻ giết vua tất là nhà nghìn xe; trong nước nghìn xe, kẻ giết vua tất là nhà trăm xe. Lấy nghìn trong vạn, lấy trăm trong nghìn, không phải là không nhiều. Nhưng nếu coi nhẹ nghĩa mà coi trọng lợi, thì chưa cướp được chưa thỏa lòng. Chưa từng có người nhân nào lại bỏ rơi cha mẹ, chưa từng có người nghĩa nào lại coi nhẹ vua mình. Vua cũng chỉ nên nói nhân nghĩa mà thôi, hà tất phải nói đến lợi?"
===2===
Mạnh Tử kiến kiến Lương Huệ Vương. Vua đứng bên hồ, nhìn chim chóc hươu nai mà hỏi: "Bậc hiền giả có vui với những thứ này không?"
Mạnh Tử đáp: "Bậc hiền giả rồi mới được vui cái vui này; kẻ không hiền dù có những thứ này cũng chẳng thấy vui. Kinh Thi viết rằng: 'Bắt đầu xây Linh Đài, dân đến làm việc đông đảo, chẳng mấy chốc mà xong; vua ở trong vườn Linh, hươu cái nằm nghỉ thảnh thơi, chim trắng vỗ cánh trắng ngần; vua ở bên hồ Linh, cá nhảy tung tăng.' Văn Vương dùng sức dân xây đài, xây hồ mà dân lại vui mừng, gọi đài là Linh Đài, hồ là Linh Hồ, vui vì vua có hươu nai cá rùa. Người xưa cùng vui với dân nên mới có được niềm vui thật sự. Ngược lại, kinh Thư chép lời dân nói về bạo chúa: 'Bao giờ mặt trời kia mất đi, ta nguyện cùng chết với nhà ngươi!' Dân đã muốn cùng chết, thì vua dù có đài cao ao sâu, chim quý thú lạ, há có thể vui một mình được sao?"
===3===
Lương Huệ Vương nói: "Quả nhân đối với nước nhà thật là hết lòng. Vùng Hà Nội gặp hạn thì dời dân sang Hà Đông, chuyển thóc về Hà Nội; vùng Hà Đông gặp hạn cũng làm như vậy. Xem chính sự nước láng giềng, chẳng ai tận tâm như quả nhân. Thế mà dân nước họ không ít đi, dân nước tôi không đông lên, là cớ làm sao?"
Mạnh Tử đáp: "Vua thích chiến tranh, xin lấy việc binh làm dụ. Tiếng trống vang lên, binh khí giao nhau, có kẻ vứt giáp kéo lê vũ khí mà chạy. Kẻ chạy trăm bước rồi dừng, kẻ chạy năm mươi bước rồi dừng. Nếu kẻ chạy năm mươi bước cười kẻ chạy trăm bước là hèn nhát, thì vua thấy thế nào?"
Vua đáp: "Không được, chỉ là chạy không xa bằng thôi, chứ cũng là bỏ chạy cả."
Mạnh Tử nói: "Vua biết thế thì đừng mong dân đông hơn nước láng giềng. Không làm lỡ thời vụ thì thóc ăn chẳng hết; lưới dày không thả vào ao sâu thì cá rùa ăn không xuể; rìu búa chặt cây đúng mùa thì gỗ dùng khôn cùng. Thóc, cá, gỗ dùng không hết khiến dân nuôi sống người thân, lo việc tang ma không điều gì oán hận; đó là khởi đầu của Vương đạo. Nhà có năm mẫu đất trồng dâu thì người năm mươi tuổi được mặc lụa; chăn nuôi súc vật đúng lúc thì người bảy mươi được ăn thịt; ruộng trăm mẫu không bị tước đoạt thời gian canh tác thì nhà mấy miệng ăn không bị đói. Chăm lo giáo dục trường học, giảng dạy đạo hiếu đê, thì người già tóc bạc không phải đội nặng gánh gồng trên đường. Người già mặc lụa ăn thịt, dân đen không đói không rét, như thế mà không lên ngôi vương thì chưa từng có vậy. Nay kẻ giàu để lợn chó ăn thức ăn của người mà không biết hạn chế, đường có người chết đói mà không biết mở kho cứu tế. Người chết lại bảo: 'Chẳng phải tại tôi, tại mất mùa'. Thế có khác gì đâm chết người ta rồi bảo: 'Chẳng phải tại tôi, tại vũ khí'. Vua đừng đổ lỗi cho năm hạn, thì dân thiên hạ sẽ tìm đến với vua."
===4===
Lương Huệ Vương nói: "Quả nhân xin kính cẩn nghe giáo huấn."
Mạnh Tử hỏi: "Giết người bằng gậy hay bằng dao, có gì khác nhau không?"
Vua đáp: "Không khác gì."
Mạnh Tử hỏi: "Dùng dao hay dùng chính sách tàn bạo để giết người, có gì khác nhau không?"
Vua đáp: "Không khác gì."
Mạnh Tử nói: "Trong bếp có thịt béo, trong chuồng có ngựa béo, mà dân mặt có sắc đói, ngoài đồng có xác chết đói; đó là cầm thú ăn thịt người. Loài thú ăn thịt lẫn nhau, con người còn ghét; nay làm cha mẹ dân mà cai trị để dân đến mức như thú ăn thịt người, thì sao xứng là cha mẹ dân? Khổng Tử nói: 'Kẻ đầu tiên làm ra tượng người để chôn theo người chết chắc chẳng có hậu duệ', là vì tượng ấy giống người mà bị đem dùng. Huống chi lại để dân đói mà chết sao?"
===5===
Lương Huệ Vương nói: "Nước Tấn ta xưa kia mạnh nhất thiên hạ, cụ đã biết rõ. Đến đời quả nhân, phía đông thua nước Tề, thái tử tử trận; phía tây mất bảy trăm dặm đất cho nước Tần; phía nam bị nước Sở làm nhục. Quả nhân lấy làm hổ thẹn, muốn vì những người đã khuất mà rửa hận một lần, phải làm thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Đất dù chỉ trăm dặm vẫn có thể xưng vương. Nếu vua thi hành nhân chính: giảm hình phạt, nhẹ thuế khóa, dạy dân cày sâu cuốc bẫm; trai trẻ lúc rảnh rỗi thì rèn luyện hiếu đê trung tín, trong phụng sự cha anh, ngoài kính trọng bề trên; như thế có thể khiến họ chỉ dùng gậy gộc mà đánh thắng được giáp sắc binh bén của Tần, Sở. Bọn chúng tước đoạt thời giờ của dân, khiến dân không thể cày cấy để nuôi cha mẹ. Cha mẹ đói rét, anh em vợ con ly tán. Bọn chúng đẩy dân vào cảnh khốn cùng, vua đi chinh phạt chúng, ai sẽ đối địch với vua? Cho nên nói: 'Người nhân không có kẻ thù'. Xin vua đừng nghi ngờ."
===6===
Mạnh Tử kiến kiến Lương Tương Vương. Khi ra ngoài, ông bảo mọi người: "Nhìn xa không giống một vị quân chủ, đến gần cũng chẳng thấy vẻ uy nghiêm. Ông ta đột ngột hỏi: 'Thiên hạ làm sao để định?' Tôi đáp: 'Định ở chỗ thống nhất'. Ông ta hỏi: 'Ai có thể thống nhất?' Tôi đáp: 'Người không thích giết người có thể thống nhất'. Ông ta lại hỏi: 'Ai sẽ theo người đó?' Tôi đáp: 'Thiên hạ không ai là không theo. Vua có biết mầm lúa không? Tháng bảy tháng tám gặp hạn, mầm lúa khô héo. Khi mây kéo đến, mưa đổ dạt dào, mầm lúa lại bừng sức sống. Như thế thì ai ngăn nổi? Nay những kẻ cai trị dân trong thiên hạ không ai không thích giết người. Nếu có người không thích giết người, dân thiên hạ sẽ nghển cổ mà trông chờ. Thật được như vậy, dân tìm về như nước chảy xuống chỗ thấp, cuồn cuộn không ai ngăn nổi'."
===7===
Tề Tuyên Vương hỏi: "Việc của Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công có thể cho ta nghe được không?"
Mạnh Tử đáp: "Môn đồ của Khổng Tử không ai bàn về việc của Hoàn, Văn, nên hậu thế không truyền lại, tôi cũng chưa từng nghe. Nếu không được từ chối, xin bàn về việc vương đạo chăng?"
Vua hỏi: "Đức độ thế nào thì có thể xưng vương?"
Mạnh Tử đáp: "Bảo vệ dân mà xưng vương, không ai ngăn nổi."
Vua hỏi: "Như quả nhân đây có thể bảo vệ dân được chăng?"
Mạnh Tử đáp: "Được."
Vua hỏi: "Dựa vào đâu mà biết tôi có thể?"
Mạnh Tử đáp: "Tôi nghe quan hầu kể rằng: Vua ngồi trên điện, thấy người dắt bò đi ngang qua, vua hỏi: 'Dắt bò đi đâu?' Người ấy đáp: 'Dắt đi tế chuông'. Vua nói: 'Thả nó ra! Ta không nỡ nhìn nó run rẩy như người không tội mà đi vào chỗ chết'. Người ấy hỏi: 'Vậy bỏ việc tế chuông sao?' Vua bảo: 'Sao bỏ được? Lấy con dê thay thế!' Không biết có chuyện đó chăng?"
Vua đáp: "Có chuyện đó."
Mạnh Tử nói: "Tấm lòng ấy đủ để xưng vương rồi. Dân chúng đều cho là vua bủn xỉn, nhưng tôi biết là vua vì lòng không nỡ."
Vua nói: "Đúng vậy. Dân chúng có ý đó cũng phải. Nước Tề dù nhỏ, tôi đâu tiếc một con bò? Chỉ vì không nỡ nhìn nó run rẩy sợ hãi nên mới thay bằng dê."
Mạnh Tử nói: "Vua đừng lạ khi dân cho là vua bủn xỉn. Lấy con nhỏ thay con lớn, họ sao hiểu được ý vua? Nếu vua thương xót cái cảnh không tội mà đi vào chỗ chết, thì bò với dê có gì khác nhau?"
Vua cười nói: "Thật là tâm trạng gì đây? Ta không phải tiếc của mà thay bằng dê, nhưng dân bảo ta bủn xỉn cũng là lẽ thường."
Mạnh Tử nói: "Không sao, đó chính là phương pháp của nhân đức: vì vua thấy bò mà chưa thấy dê. Người quân tử đối với cầm thú: thấy nó sống không nỡ thấy nó chết, nghe tiếng kêu không nỡ ăn thịt nó. Cho nên quân tử giữ khoảng cách với nhà bếp."
Vua vui mừng nói: "Kinh Thi có câu: 'Lòng người có ý gì, ta đoán biết được ngay'. Chính là nói về thầy đấy. Ta làm việc đó rồi tự xét lại cũng không hiểu rõ lòng mình. Thầy nói ra, lòng ta thấy cảm động vô cùng. Nhưng tâm lòng này hợp với vương đạo là vì sao?"
Mạnh Tử đáp: "Có người thưa với vua rằng: 'Sức tôi đủ nâng trăm quân nhưng không nâng nổi một chiếc lông; mắt tôi đủ nhìn rõ sợi lông tơ nhưng không thấy cả xe củi'. Vua có tin không?"
Vua đáp: "Không."
Mạnh Tử nói: "Nay ơn huệ của vua đủ ban đến cầm thú mà công đức không đến được với dân, là vì sao? Chiếc lông không nâng là vì không dùng sức; xe củi không thấy là vì không dùng mắt; dân không được bảo vệ là vì vua không ban ơn. Cho nên vua không xưng vương được là vì không làm, chứ không phải không thể."
Vua hỏi: "Không làm và không thể khác nhau thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Kẹp núi Thái Sơn nhảy qua biển Bắc, bảo rằng 'tôi không làm được', đó là thật sự không thể. Vì người già mà bẻ cành cây (hoặc xoa bóp), bảo rằng 'tôi không làm được', đó là không làm chứ không phải không thể. Việc vua không xưng vương thuộc loại 'bẻ cành cây' vậy. Kính già người như già mình, yêu trẻ người như trẻ mình, thì thiên hạ có thể xoay chuyển trong lòng bàn tay. Đưa tấm lòng này ban phát cho dân thì ơn huệ đủ bảo vệ bốn biển, không ban phát thì ngay cả vợ con cũng không bảo vệ nổi. Người xưa hơn người khác là vì giỏi mở rộng việc mình làm. Nay ơn đến cầm thú mà không đến được với dân là tại sao? Cân rồi mới biết nặng nhẹ, đo rồi mới biết ngắn dài. Mọi vật đều thế, lòng người lại càng như vậy. Xin vua suy xét kỹ. Hay là vua phải điều binh khiển tướng, làm nguy khốn tướng sĩ, gây oán với chư hầu thì lòng mới thấy khoái lạc?"
Vua nói: "Không, ta đâu có vui gì việc đó, chẳng qua là để cầu điều ta đại dục (mong muốn lớn nhất) mà thôi."
Mạnh Tử hỏi: "Điều đại dục của vua có thể cho nghe chăng?" Vua cười không nói.
Mạnh Tử tiếp: "Vì thức ngon không đủ miệng, áo đẹp không đủ thân, hay sắc đẹp không đủ mắt nhìn, âm thanh không đủ tai nghe, kẻ hầu hạ không đủ sai bảo? Những thứ đó quần thần đều có thể cung phụng đủ, vua đâu phải vì những thứ đó?"
Vua đáp: "Không, ta không phải vì những thứ đó."
Mạnh Tử nói: "Vậy thì điều đại dục của vua đã rõ: muốn mở rộng đất đai, khiến Tần Sở phải triều bái, thống trị trung nguyên và vỗ về bốn phương. Dùng cách hiện tại để cầu điều đó thì chẳng khác gì leo cây tìm cá."
Vua hỏi: "Đến mức thế sao?"
Mạnh Tử đáp: "Còn tệ hơn thế. Leo cây tìm cá tuy không được cá nhưng không có hậu họa. Dùng cách hiện tại mà làm hết sức mình, sau tất có tai ương."
Vua hỏi: "Xin cho biết lý do."
Mạnh Tử đáp: "Nước Trâu đánh với nước Sở, vua nghĩ ai thắng?"
Vua đáp: "Sở thắng."
Mạnh Tử nói: "Vậy thì nhỏ không thắng được lớn, ít không thắng được nhiều, yếu không thắng được mạnh. Đất đai thiên hạ có chín phần, Tề chỉ chiếm một. Dùng một phần để khuất phục tám phần, có khác gì Trâu đánh Sở? Sao không quay về cái gốc? Nay vua thi hành nhân chính, khiến kẻ sĩ thiên hạ đều muốn đứng trong triều vua, người cày ruộng muốn cày trên đất vua, thương nhân muốn buôn bán ở chợ vua, người đi đường muốn đi trên lộ của vua, kẻ bị áp bức muốn đến kêu oan với vua. Nếu được như thế, ai ngăn nổi vua?"
Vua nói: "Ta u mê, chưa tiến đến được mức đó. Mong thầy giúp đỡ ý chí của ta, dạy bảo rõ ràng. Ta dù không thông minh nhưng xin thử làm xem."
Mạnh Tử đáp: "Không có sản nghiệp ổn định mà vẫn giữ được lòng hướng thiện, chỉ có kẻ sĩ mới làm được. Còn dân chúng, không có sản nghiệp tất không có định tâm. Khi không có định tâm thì việc gì xấu xa cũng dám làm. Đến khi họ phạm tội mới đem ra xử phạt, đó là lừa dân vào lưới. Có người nhân nào trị vì mà lại làm việc lừa dân? Cho nên minh quân chế định sản nghiệp cho dân phải khiến họ trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ nuôi dưỡng vợ con; năm được mùa thì no ấm, năm mất mùa cũng tránh được cái chết. Sau đó mới khuyên dân hướng thiện, dân theo đó mà làm rất dễ. Nay sản nghiệp của dân trên không đủ thờ cha mẹ, dưới không đủ nuôi vợ con; năm được mùa cũng khổ cực, năm mất mùa thì không thoát chết. Cứu cái chết còn không kịp, thì giờ đâu mà lo lễ nghĩa? Vua muốn hành vương đạo thì phải quay về cái gốc: nhà có năm mẫu đất trồng dâu thì người năm mươi tuổi được mặc lụa; chăn nuôi đúng thời thì người bảy mươi được ăn thịt; ruộng trăm mẫu không bị tước đoạt mùa vụ thì nhà tám miệng ăn không bị đói; chăm lo giáo dục trường học, dạy điều hiếu đê thì người già không phải vất vả trên đường. Người già mặc lụa ăn thịt, dân đen không đói không rét, như thế mà không xưng vương thì chưa từng có vậy."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
cnecnikpj519k44vmzryyyrgrrqxy8t
Biên dịch:Mạnh Tử/Lương Huệ Vương hạ
114
72020
204895
2026-04-27T07:41:53Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/梁惠王下 | năm= | phần = Lương Huệ Vương (hạ) | trước= [[../Lương Huệ Vương thượng]] | sau= [[../Công Tôn Sửu thượng]] | ghi chú = }} ===1=== Trang Bạo kiến Mạnh Tử, nói: "Tôi triều kiến vua, vua nói với tôi về sở thích âm nhạc, tôi chưa biết đối đáp sao." Rồi hỏi: "Thí…”
204895
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/梁惠王下
| năm=
| phần = Lương Huệ Vương (hạ)
| trước= [[../Lương Huệ Vương thượng]]
| sau= [[../Công Tôn Sửu thượng]]
| ghi chú =
}}
===1===
Trang Bạo kiến Mạnh Tử, nói: "Tôi triều kiến vua, vua nói với tôi về sở thích âm nhạc, tôi chưa biết đối đáp sao." Rồi hỏi: "Thích âm nhạc thì thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Vua mà cực kỳ thích âm nhạc thì nước Tề có hy vọng vậy!"
Hôm sau, Mạnh Tử kiến vua Tề, hỏi: "Vua từng nói với Trang Tử là thích âm nhạc, có chuyện đó chăng?"
Vua biến sắc đáp: "Quả nhân không thể thích nhạc của tiên vương, chỉ thích nhạc đời nay thôi."
Mạnh Tử nói: "Vua cực kỳ thích âm nhạc thì nước Tề có hy vọng. Nhạc nay cũng như nhạc xưa vậy."
Vua hỏi: "Có thể cho nghe lẽ đó chăng?"
Mạnh Tử hỏi: "Một mình thưởng nhạc và cùng người khác thưởng nhạc, cái nào vui hơn?"
Vua đáp: "Không bằng cùng người khác."
Mạnh Tử hỏi: "Cùng ít người thưởng nhạc và cùng đám đông thưởng nhạc, cái nào vui hơn?"
Vua đáp: "Không bằng cùng đám đông."
Mạnh Tử nói: "Xin vì vua mà bàn về âm nhạc. Nay vua tấu nhạc ở đây, dân nghe tiếng chuông trống, sáo kèn, đều nhức đầu nhíu mày bảo nhau: 'Vua ta thích âm nhạc sao lại để chúng ta khốn khổ thế này, cha con không được gặp nhau, anh em vợ con ly tán'. Lại như vua đi săn, dân nghe tiếng xe ngựa, thấy cờ xí lộng lẫy, đều nhức đầu nhíu mày bảo nhau: 'Vua ta thích đi săn sao lại để chúng ta khốn khổ thế này'. Ấy không có gì khác, là vì không cùng dân vui vầy. Nếu vua tấu nhạc hay đi săn mà dân nghe thấy đều hớn hở bảo nhau: 'Vua ta chắc khỏe mạnh nên mới tấu nhạc, đi săn được như thế', ấy là vì vua cùng dân chung vui. Vua cùng dân chung vui thì sẽ xưng vương thiên hạ."
===2===
Tề Tuyên Vương hỏi: "Vườn của Văn Vương rộng bảy mươi dặm, có chuyện đó chăng?"
Mạnh Tử đáp: "Sách cũ có chép."
Vua hỏi: "Lớn đến thế sao?"
Mạnh Tử đáp: "Dân còn cho là nhỏ."
Vua hỏi: "Vườn quả nhân rộng bốn mươi dặm, dân lại cho là lớn, là tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Vườn Văn Vương bảy mươi dặm, người cắt cỏ, kẻ săn bắn đều được vào, vua cùng dân dùng chung, dân cho là nhỏ chẳng phải lẽ sao? Tôi khi mới vào biên cảnh, hỏi về đại cấm mới dám nhập cảnh. Nghe nói trong kinh thành có vườn bốn mươi dặm, ai giết hươu nai ở đó thì tội như giết người; thế là vua đào cái bẫy rộng bốn mươi dặm giữa nước vậy. Dân cho là lớn chẳng phải lẽ sao?"
===3===
Tề Tuyên Vương hỏi: "Giao thiệp với nước láng giềng có đạo lý gì không?"
Mạnh Tử đáp: "Có. Chỉ người nhân mới có thể lấy nước lớn thờ nước nhỏ, như Thành Thang thờ nước Cát, Văn Vương thờ quân Côn Di. Chỉ người trí mới có thể lấy nước nhỏ thờ nước lớn, như Thái Vương thờ quân Huân Dục, Câu Tiễn thờ nước Ngô. Nước lớn thờ nước nhỏ là người vui với đạo trời; nước nhỏ thờ nước lớn là người sợ mệnh trời. Người vui với đạo trời thì giữ được thiên hạ; người sợ mệnh trời thì giữ được nước mình."
Vua nói: "Lời ngài thật lớn lao! Nhưng quả nhân có tật xấu là ưa sự dũng mãnh."
Mạnh Tử đáp: "Xin vua đừng ưa cái dũng nhỏ. Kẻ tuốt gươm trợn mắt quát: 'Ai dám chống ta!', đó là cái dũng của kẻ thất phu, chỉ địch nổi một người. Xin vua hãy mở rộng cái dũng ấy! Văn Vương nổi giận một lần mà làm yên dân thiên hạ. Vũ Vương nổi giận một lần mà làm yên dân thiên hạ. Nay vua nổi giận một lần mà làm yên dân thiên hạ, thì dân chỉ sợ vua không ưa sự dũng mãnh mà thôi."
===4===
Tề Tuyên Vương gặp Mạnh Tử ở Tuyết Cung, hỏi: "Bậc hiền giả cũng có niềm vui này (cung điện) sao?"
Mạnh Tử đáp: "Có. Dân không được hưởng thì oán trách bề trên. Không được hưởng mà oán trách bề trên là sai; nhưng làm bề trên mà không cùng dân chung vui cũng là sai. Vua vui cái vui của dân, dân sẽ vui cái vui của vua; vua lo cái lo của dân, dân sẽ lo cái lo của vua. Vui cùng thiên hạ, lo cùng thiên hạ, như thế mà không xưng vương thì chưa từng có vậy." Mạnh Tử kể chuyện vua Cảnh Công nước Tề đi du ngoạn, nghe lời Án Tử mà mở kho cứu tế, giúp dân bớt khổ, cùng dân chung vui, đó mới là cái đạo của tiên vương.
===5===
Tề Tuyên Vương hỏi: "Mọi người khuyên ta phá bỏ Minh Đường, nên phá hay thôi?"
Mạnh Tử đáp: "Minh Đường là nơi của bậc vương giả. Vua muốn hành vương chính thì đừng phá."
Vua hỏi: "Vương chính thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Xưa Văn Vương trị nước: thu thuế chín phần lấy một, quan lại được hưởng lộc cha truyền con nối, kiểm soát biên quan mà không thu thuế hàng hóa, ao hồ không cấm dân đánh cá, tội nhân không phạt lây vợ con. Những người góa vợ, góa chồng, già không con, trẻ không cha là hạng cùng khổ nhất. Văn Vương thi hành nhân chính tất ưu tiên bốn hạng người này trước."
Vua khen hay, Mạnh Tử bảo: "Hay sao vua không làm?"
Vua đáp: "Quả nhân có tật ham tiền của, ham sắc dục."
Mạnh Tử dẫn tích xưa cho thấy nếu vua ham tiền của, sắc dục mà biết cùng dân hưởng chung, khiến dân ai cũng có kho tàng, ai cũng có đôi lứa, không ai oán hận, thì việc ham muốn đó chẳng hại gì đến vương đạo.
===6===
Mạnh Tử bảo vua Tề: "Có người gửi vợ con cho bạn để sang nước Sở du ngoạn, khi về thấy vợ con đói rét, thì xử sao?"
Vua đáp: "Cắt đứt tình bạn."
Mạnh Tử hỏi: "Quan tòa không quản được thuộc cấp, thì xử sao?"
Vua đáp: "Cách chức."
Mạnh Tử hỏi: "Trong nước không được trị yên, thì xử sao?"
Vua Tề nhìn sang hai bên mà nói sang chuyện khác.
===7===
Mạnh Tử kiến vua Tề, nói: "Gọi là nước cũ không phải vì có cây cổ thụ, mà vì có các đại thần truyền đời. Vua nay không có thân tín, người hôm qua mới dùng hôm nay mất tích cũng không hay."
Vua hỏi: "Làm sao biết kẻ không tài mà bỏ?"
Mạnh Tử đáp: "Dùng người hiền phải thận trọng. Người bên cạnh bảo hiền, chưa tin được; các quan bảo hiền, chưa tin được; dân cả nước bảo hiền, bấy giờ mới xem xét, thấy hiền thật mới dùng. Khi bỏ hay giết cũng phải như vậy, phải dựa vào sự kiểm chứng của dân cả nước. Làm được vậy mới có thể coi là cha mẹ của dân."
===8===
Tề Tuyên Vương hỏi: "Thành Thang đuổi Kiệt, Vũ Vương đánh Trụ, có chuyện đó chăng? Kẻ làm tôi mà giết vua có được không?"
Mạnh Tử đáp: "Kẻ phá hoại nhân nghĩa gọi là tặc, là tàn. Kẻ tàn tặc chỉ là một gã độc phu. Tôi mới nghe việc giết gã độc phu Trụ thôi, chưa nghe chuyện giết vua."
===9===
Mạnh Tử nói với vua Tề: "Xây nhà lớn tất nhờ thợ tìm gỗ lớn. Thợ đẽo nhỏ đi vua liền giận. Người ta từ nhỏ đã học đạo, lớn lên muốn hành đạo, vua lại bảo: 'Hãy bỏ điều ngươi học mà theo ý ta', thì sao? Có viên ngọc quý, vua tất nhờ thợ ngọc mài giũa. Đến việc trị nước, vua lại bảo người tài bỏ cái họ học để nghe theo vua, chẳng phải là dạy thợ ngọc cách mài ngọc sao?"
===10===
Nước Tề đánh nước Yên thắng lợi. Vua hỏi có nên chiếm luôn không. Mạnh Tử đáp: "Nếu chiếm mà dân Yên vui lòng thì chiếm, như Vũ Vương xưa. Nếu chiếm mà dân Yên không vui thì đừng chiếm, như Văn Vương xưa. Dân Yên đón quân Tề bằng giỏ cơm bầu rượu, ấy là vì muốn tránh nạn nước lửa. Nếu vua chiếm lấy mà lại làm khổ dân hơn, thì dân sẽ tìm lối thoát khác mà thôi."
===11===
Nước Tề chiếm nước Yên, chư hầu bàn mưu cứu Yên. Vua Tề lo lắng, Mạnh Tử bảo: "Xưa Thành Thang từ bảy mươi dặm mà trị thiên hạ, đi đến đâu dân trông chờ như nắng hạn mong mưa. Nay dân Yên đón quân Tề là mong thoát nạn, vua lại giết cha anh họ, bắt bớ con em họ, phá miếu thờ, cướp của cải, thế sao được? Thiên hạ sợ Tề mạnh, nay Tề lại tham đất mà không hành nhân chính là tự chuốc họa binh đao. Vua nên lập tức trả lại người già trẻ nhỏ, dừng việc cướp bóc, bàn với dân Yên lập vua mới cho họ rồi rút quân, thế mới ngăn được chư hầu."
===12===
Nước Trâu xung đột với nước Lỗ. Mục Công hỏi: "Quan lại của ta chết ba mươi ba người mà dân không ai cứu. Giết dân thì không xuể, không giết thì căm hận kẻ coi thường bề trên, phải làm sao?"
Mạnh Tử đáp: "Lúc đói kém, dân của vua chết bờ chết bụi, kẻ khỏe mạnh phiêu tán khắp nơi, trong khi kho vựa của vua đầy ắp mà quan lại không báo cáo, đó là bề trên bỏ mặc dân. Tăng Tử nói: 'Gieo gì gặt nấy'. Nay dân mới có dịp trả thù thôi, vua đừng trách dân. Vua hành nhân chính thì dân sẽ yêu kính và sẵn sàng chết vì bề trên."
===13===
Đằng Văn Công hỏi: "Nước Đằng nhỏ bé, nằm giữa Tề và Sở. Nên thờ Tề hay thờ Sở?"
Mạnh Tử đáp: "Mưu kế này tôi không đủ sức. Nếu chẳng đặng đừng, chỉ có một cách: đào hào đắp thành, cùng dân canh giữ, dân liều chết không bỏ vua, thế mới làm được."
===14===
Đằng Văn Công lo lắng việc nước Tề xây thành ở đất Tiết. Mạnh Tử bảo: "Xưa Thái Vương lánh giặc Địch mà dời đến núi Kỳ, là chuyện bất khả kháng. Nếu vua làm điều thiện, hậu thế tất có người xưng vương. Quân tử lập nghiệp là để truyền nối, còn thành công hay không là tại trời. Vua lo gì họ, cứ gắng sức làm điều thiện mà thôi."
===15===
Đằng Văn Công hỏi cách đối phó với nước lớn. Mạnh Tử dẫn chuyện Thái Vương xưa dâng da lụa, chó ngựa, châu ngọc cho quân Địch mà chúng không tha, vì chúng muốn đất. Thái Vương thà bỏ đất ra đi chứ không muốn vì đất nuôi người mà hại người. Dân thấy ông nhân đức nên theo về rất đông.
Mạnh Tử bảo: "Hoặc là lánh đi như Thái Vương, hoặc là liều chết giữ đất tổ tông không được bỏ, vua hãy chọn một trong hai."
===16===
Lỗ Bình Công định đi gặp Mạnh Tử, bị cận thần Tang Thương ngăn cản vì cho rằng Mạnh Tử làm lễ tang sau trọng hơn lễ tang trước là trái lễ. Nhạc Chính Tử vào giải thích với vua rằng đó là do giàu nghèo khác nhau chứ không phải trái lễ, nhưng vua đã thôi không đi.
Nhạc Chính Tử kể lại với Mạnh Tử, Mạnh Tử nói: "Việc đi hay dừng, đôi khi có sức mạnh thôi thúc hoặc ngăn trở, nhưng không hoàn toàn do người. Ta không gặp được vua Lỗ là do ý trời. Đứa con nhà họ Tang kia làm sao ngăn được mệnh trời?"
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
5cvuks1nwahmdgs8ew88lvxs3kns345
Biên dịch:Mạnh Tử/Công Tôn Sửu thượng
114
72021
204896
2026-04-27T07:46:41Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/公孫丑上 | năm= | phần = Công Tôn Sửu (thượng) | trước= [[../Lương Huệ Vương hạ]] | sau= [[../Công Tôn Sửu hạ]] | ghi chú = }} === 1 === Công Tôn Sửu hỏi: "Thầy nắm quyền ở nước Tề, thì công trạng của Quản Trọng, Án Tử có thể lập lại được chăng?" Mạnh Tử đáp: "…”
204896
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/公孫丑上
| năm=
| phần = Công Tôn Sửu (thượng)
| trước= [[../Lương Huệ Vương hạ]]
| sau= [[../Công Tôn Sửu hạ]]
| ghi chú =
}}
=== 1 ===
Công Tôn Sửu hỏi: "Thầy nắm quyền ở nước Tề, thì công trạng của Quản Trọng, Án Tử có thể lập lại được chăng?"
Mạnh Tử đáp: "Anh đúng là người nước Tề, chỉ biết có Quản Trọng và Án Tử mà thôi. Có người hỏi Tăng Tây: 'Ông với Tử Lộ ai hiền hơn?'. Tăng Tây lo lắng nói: 'Đó là người mà tiền nhân tôi kính sợ'. Người kia lại hỏi: 'Vậy ông với Quản Trọng ai hiền hơn?'. Tăng Tây sa sầm nét mặt không vui nói: 'Sao anh lại đem tôi so với Quản Trọng? Quản Trọng được vua tin dùng chuyên nhất, nắm chính sự lâu như thế, mà công nghiệp lại thấp kém như thế. Sao lại so tôi với ông ta!'." Mạnh Tử nói tiếp: "Quản Trọng là người mà Tăng Tây còn không thèm làm, thế mà anh lại muốn tôi làm như ông ta sao?"
Công Tôn Sửu hỏi: "Quản Trọng giúp vua xưng bá, Án Tử giúp vua hiển danh, Quản Trọng và Án Tử vẫn không đáng để học theo sao?"
Mạnh Tử đáp: "Giúp vua Tề xưng vương dễ như trở bàn tay vậy."
Công Tôn Sửu nói: "Nếu thế thì lòng nghi hoặc của đệ tử càng lớn. Như đức của Văn Vương, trăm tuổi mới mất mà vẫn chưa thấm nhuần khắp thiên hạ; phải đợi Võ Vương và Chu Công kế nghiệp sau đó đạo mới hành khắp. Nay thầy nói xưng vương dễ như vậy, hóa ra Văn Vương không đáng làm phép tắc sao?"
Mạnh Tử đáp: "Văn Vương sao có thể so được? Từ Thành Thang đến Võ Đinh, có sáu bảy vị vua hiền thánh xuất hiện. Thiên hạ theo nhà Ân đã lâu, lâu thì khó thay đổi. Võ Đinh khiến chư hầu triều bái, nắm thiên hạ dễ như vận hành trong lòng bàn tay. Đời Trụ cách Võ Đinh không xa, những di phong thiện chính của đời trước vẫn còn; lại có các hiền nhân như Vi Tử, Vi Trọng, Tỷ Can, Cơ Tử, Giao Cách cùng phò tá, nên mãi sau này mới mất nước. Lúc đó từng tấc đất, từng người dân đều là của nhà Ân; Văn Vương lại khởi nghiệp từ vùng đất chỉ trăm dặm nên mới khó. Người Tề có câu: 'Dù có trí tuệ, không bằng thừa thế; dù có công cụ, không bằng đợi thời'. Thời nay xưng vương dễ là vì: Thời cực thịnh nhà Hạ, Thương, Chu, đất đai không quá nghìn dặm, mà nước Tề nay đã có đủ; gà kêu chó sủa nghe tiếng nhau khắp bốn cõi, nước Tề đã có đủ dân. Đất không cần mở thêm, dân không cần tụ thêm, chỉ cần hành nhân chính mà xưng vương thì không ai ngăn nổi. Vả lại, chưa bao giờ vắng bóng thiên tử lâu như lúc này, dân chưa bao giờ khốn khổ vì bạo chính hơn lúc này. Người đói dễ ăn, người khát dễ uống. Khổng Tử nói: 'Đức lan truyền còn nhanh hơn trạm bưu truyền mệnh'. Thời nay, nước vạn xe hành nhân chính thì dân vui mừng như được giải cứu khỏi cảnh treo ngược. Cho nên bỏ công một nửa người xưa mà công hiệu tất gấp đôi, chỉ có thời này mới làm được."
=== 2 ===
Công Tôn Sửu hỏi: "Nếu thầy được làm khanh tướng nước Tề, được thực hành đạo của mình, dù nhờ đó mà xưng bá hay xưng vương cũng không lạ. Nếu vậy thầy có động tâm (lo sợ, xao động) không?"
Mạnh Tử đáp: "Không, ta bốn mươi tuổi đã bất động tâm rồi."
Công Tôn Sửu nói: "Nếu vậy thầy đã vượt xa Mạnh Bôn (dũng sĩ xưa) rồi."
Mạnh Tử đáp: "Điều đó không khó. Cáo Tử còn bất động tâm trước ta."
Công Tôn Sửu hỏi: "Bất động tâm có đạo lý gì không?"
Mạnh Tử đáp: "Có. Cái dũng của Bắc Cung Uẩn là da không run, mắt không nháy. Nghĩ rằng bị người khác xúc phạm dù chỉ một tơ hào cũng như bị đánh giữa chợ. Không chịu nhục trước kẻ áo vải, cũng không chịu nhục trước vua vạn xe. Xem việc ám sát vua vạn xe như đâm một kẻ thường dân. Không nể sợ chư hầu. Có tiếng xấu đến tai tất phản kháng lại. Còn cái dũng của Mạnh Thi Xá là nói: 'Xem không thắng cũng như thắng. Lường địch rồi mới tiến, lo thắng rồi mới đánh, ấy là sợ ba quân vậy. Ta đâu thể chắc thắng? Chỉ là không sợ hãi mà thôi'. Mạnh Thi Xá giống Tăng Tử, Bắc Cung Uẩn giống Tử Hạ. Cái dũng của hai người không biết ai hơn, nhưng Mạnh Thi Xá giữ được điều cốt yếu. Xưa Tăng Tử bảo Tử Tương: 'Anh thích cái dũng sao? Ta từng nghe về cái Đại Dũng từ Phu tử: Tự xét mình mà thấy không chính trực, dù là kẻ áo vải ta cũng lo sợ; tự xét mình mà thấy chính trực, dù nghìn vạn người ta cũng cứ đi'. Cái giữ 'khí' của Mạnh Thi Xá không bằng cái giữ 'nghĩa' cốt yếu của Tăng Tử."
Công Tôn Sửu hỏi: "Xin hỏi sự bất động tâm của thầy và của Cáo Tử khác nhau thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Cáo Tử nói: 'Điều gì không hiểu qua lời nói thì đừng tìm trong tâm; điều gì không thông trong tâm thì đừng tìm ở khí'. Không thông trong tâm mà không tìm ở khí là đúng; nhưng không hiểu qua lời nói mà không tìm trong tâm là sai. Chí là người chỉ huy của khí; khí là cái làm đầy cơ thể. Chí đi đến đâu, khí theo đến đó. Cho nên nói: hãy giữ vững cái chí, đừng làm loạn cái khí."
Công Tôn Sửu hỏi: "Đã nói 'chí là chỉ huy, khí theo sau', lại nói 'giữ vững chí, đừng làm loạn khí', là sao?"
Mạnh Tử đáp: "Chí tập trung thái quá thì làm động khí; khí tập trung thái quá thì làm động chí. Như người chạy, người vấp, ấy là cái khí vận động mà làm động đến tâm."
Công Tôn Sửu hỏi: "Xin hỏi thầy có sở trường gì?"
Mạnh Tử đáp: "Ta biết rõ lời nói (tri ngôn), ta giỏi nuôi dưỡng cái khí hạo nhiên của mình."
Công Tôn Sửu hỏi: "Hạo nhiên chi khí là gì?"
Mạnh Tử đáp: "Thật khó nói rõ. Đó là thứ khí cực lớn, cực cương, lấy sự chính trực mà nuôi dưỡng, không làm hại nó, thì nó lấp đầy khoảng trời đất. Khí ấy phải đi đôi với nghĩa và đạo, không có chúng thì nó sẽ héo mòn. Đó là thứ khí do tích tụ việc nghĩa sinh ra, chứ không phải giả vờ làm nghĩa mà có được. Làm việc gì mà lòng không tự toại nguyện thì khí sẽ héo mòn ngay. Ta vì thế mới nói Cáo Tử chưa từng biết Nghĩa, vì ông ta coi Nghĩa là cái bên ngoài. Nuôi khí phải thực hành liên tục nhưng không được nóng vội mong kết quả ngay, tâm không được quên nhưng cũng không được gượng ép giúp nó lớn nhanh. Đừng như người nước Tống: Lo mạ không lớn mà kéo mạ lên, mệt lả trở về bảo người nhà: 'Hôm nay mệt quá, ta đã giúp mạ lớn rồi!'. Con anh ta chạy ra xem thì mạ đã chết khô cả. Thiên hạ kẻ giúp mạ lớn nhanh như thế rất nhiều. Kẻ cho rằng vô ích mà bỏ mặc là người không chăm mạ; kẻ gượng ép cho nó lớn là kẻ kéo mạ lên, chẳng những không ích gì mà còn gây hại."
Công Tôn Sửu hỏi: "Thế nào là biết rõ lời nói (tri ngôn)?"
Mạnh Tử đáp: "Nghe lời thiên lệch biết họ bị che lấp; nghe lời phóng túng biết họ bị sa đà; nghe lời tà bậy biết họ đã rời xa đạo lý; nghe lời quanh co biết họ đã cùng đường. Những điều ấy sinh ra từ tâm, hại đến chính sự; phát ra chính sự, hại đến công việc. Bậc thánh nhân có sống lại cũng tất theo lời ta."
Công Tôn Sửu nói: "Tể Ngã, Tử Cống giỏi thuyết phục; Nhiễm Ngưu, Mân Tử, Nhan Uyên giỏi bàn đức hạnh; Khổng Tử bao hàm tất cả nhưng lại khiêm tốn nói mình không giỏi từ lệnh. Vậy thầy đã là thánh nhân rồi sao?"
Mạnh Tử nói: "Ôi! Sao anh lại nói thế! Xưa Tử Cống hỏi Khổng Tử: 'Thầy là thánh nhân rồi chăng?'. Khổng Tử đáp: 'Thánh thì ta không dám nhận, ta chỉ là người học không biết chán, dạy không biết mỏi mà thôi'. Tử Cống nói: 'Học không chán là trí, dạy không mỏi là nhân. Đã nhân lại trí, thầy đúng là thánh nhân rồi'. Đến như Khổng Tử còn không nhận mình là thánh, anh nói thế là sao?"
Công Tôn Sửu hỏi tiếp: "Đệ tử nghe nói Tử Hạ, Tử Du, Tử Trương mỗi người có một phần của thánh nhân; Nhiễm Ngưu, Mân Tử, Nhan Uyên thì có đầy đủ nhưng ở quy mô nhỏ hơn. Xin hỏi thầy đứng ở bậc nào?"
Mạnh Tử đáp: "Hãy tạm gác chuyện đó lại."
Công Tôn Sửu hỏi: "Bá Di, Y Doãn thì sao?"
Mạnh Tử đáp: "Đạo các vị khác nhau. Không phải vua hiền không thờ, không phải dân tốt không sai bảo, trị thì ra làm quan, loạn thì ẩn dật, đó là Bá Di. Vua nào mà chẳng thờ được? Dân nào mà chẳng sai bảo được? Trị cũng ra làm quan, loạn cũng ra làm quan, đó là Y Doãn. Đáng làm quan thì làm, đáng dừng thì dừng, đáng ở lâu thì ở, đáng đi nhanh thì đi, đó là Khổng Tử. Tất cả đều là bậc thánh nhân đời xưa. Ta chưa làm được như họ, nhưng nguyện vọng của ta là học theo Khổng Tử."
Công Tôn Sửu hỏi: "Bá Di, Y Doãn so với Khổng Tử có ngang hàng không?"
Mạnh Tử đáp: "Không. Từ khi có loài người đến nay, chưa có ai bằng Khổng Tử."
Công Tôn Sửu hỏi: "Vậy họ có điểm gì chung?"
Mạnh Tử đáp: "Có. Nếu cho họ đất trăm dặm để cai trị, họ đều có thể khiến chư hầu triều bái, có được thiên hạ. Nhưng nếu phải làm một việc bất nghĩa, giết một người vô tội mà được thiên hạ, họ đều không làm. Đó là điểm chung."
Công Tôn Sửu hỏi: "Vậy điểm khác biệt là gì?"
Mạnh Tử đáp: "Tể Ngã, Tử Cống, Hữu Nhược có trí tuệ đủ để hiểu bậc thánh nhân, họ không bao giờ a tòng nịnh hót người mình yêu kính. Tể Ngã nói: 'Theo tôi thấy, Phu tử còn hiền hơn cả Nghiêu, Thuấn nhiều'. Tử Cống nói: 'Xem lễ của thầy mà biết chính sự, nghe nhạc của thầy mà biết đức độ. Dù trăm đời sau, có bậc vương giả nào xuất hiện cũng không thể thay đổi đạo lý của thầy. Từ khi có loài người đến nay chưa có ai bằng thầy'. Hữu Nhược nói: 'Đâu chỉ riêng loài người mới thế! Kỳ lân so với loài chạy, Phượng hoàng so với loài bay, Thái Sơn so với gò đất, sông biển so với vũng nước; đều cùng loài nhưng cái này vượt trội hơn hẳn cái kia. Bậc thánh nhân đối với dân chúng cũng vậy, ngài vươn cao khỏi đồng loại, vượt lên trên đám đông. Từ khi có loài người đến nay, chưa có ai rực rỡ hơn Khổng Tử'."
=== 3 ===
Mạnh Tử nói: "Dùng sức mạnh mà giả mượn nhân nghĩa thì xưng bá, kẻ xưng bá phải có nước lớn. Dùng đức hạnh mà thực hành nhân nghĩa thì xưng vương, kẻ xưng vương không cần đợi nước lớn, Thành Thang chỉ có bảy mươi dặm, Văn Vương chỉ có trăm dặm. Dùng sức mạnh phục người thì người ta không tâm phục, chẳng qua vì sức không đủ chống lại; dùng đức phục người thì người ta lòng vui mừng mà thực lòng phục, như bảy mươi môn đồ tâm phục Khổng Tử vậy. Kinh Thi nói: 'Từ tây sang đông, từ nam chí bắc, không ai không phục', chính là nghĩa đó."
=== 4 ===
Mạnh Tử nói: "Làm điều nhân thì vinh, không nhân thì nhục. Nay ghét nhục mà lại ở trong cảnh bất nhân, chẳng khác nào ghét ẩm ướt mà lại ở chỗ thấp trũng. Nếu ghét nhục, không gì bằng quý trọng đức và tôn trọng kẻ sĩ. Người hiền ở địa vị cao, người tài giữ chức vụ đúng; lúc quốc gia nhàn hạ, nhân thời cơ này làm sáng tỏ chính trị và hình luật, thì dù là nước lớn cũng phải nể sợ. Kinh Thi có câu: 'Đợi lúc trời chưa mưa, hái vỏ rễ dâu về, đan kín cửa sổ lỗ hổng. Nay dưới dân đen này, ai dám khinh lừa ta?'. Khổng Tử nói: 'Người làm bài thơ này chắc biết đạo lý! Biết trị nước mình thì ai dám khinh lừa?'. Nay quốc gia nhàn hạ, lại nhân lúc này mà ăn chơi lười biếng, ấy là tự chuốc lấy họa. Họa phúc không gì là không do mình cầu lấy. Kinh Thi nói: 'Mãi xứng với thiên mệnh, tự cầu nhiều phúc cho mình'. Sách Thái Giáp nói: 'Trời gây họa còn có thể tránh; mình gây họa thì không thể sống', chính là nghĩa này."
=== 5 ===
Mạnh Tử nói: "Tôn trọng người hiền, sử dụng người tài, người tuấn kiệt giữ chức vị, thì kẻ sĩ thiên hạ đều vui mừng muốn đứng trong triều của vua. Nơi chợ búa, chỉ cho thuê chỗ mà không thu thuế hàng, hoặc thực hiện luật lệ mà không buộc thuê chỗ, thì thương nhân thiên hạ đều vui mừng muốn chứa hàng ở chợ của vua. Nơi biên quan, chỉ kiểm tra mà không thu thuế, thì hành khách thiên hạ đều vui mừng muốn đi trên đường của vua. Người cày ruộng, chỉ cần giúp việc công điền mà không thu thuế thóc riêng, thì nông dân thiên hạ đều vui mừng muốn cày trên đồng nội của vua. Nơi cư trú, không thu thuế thân và thuế ngõ hẻm vô lý, thì dân chúng thiên hạ đều vui mừng muốn làm dân của vua. Thực sự làm được năm điều này, thì dân nước láng giềng sẽ ngưỡng vọng vua như cha mẹ. Đem con em đi đánh cha mẹ chúng, từ khi có loài người đến nay chưa ai làm được. Như thế sẽ không có đối thủ trong thiên hạ. Kẻ không có đối thủ trong thiên hạ chính là người thực thi mệnh trời. Như thế mà không xưng vương thì chưa từng có vậy."
=== 6 ===
Mạnh Tử nói: "Người ta ai cũng có lòng không nỡ nhìn người khác đau khổ. Các bậc tiên vương có lòng không nỡ này nên mới có chính sách thương dân. Dùng tấm lòng ấy hành chính sách ấy thì trị thiên hạ dễ như vận hành trong lòng bàn tay. Sở dĩ nói ai cũng có lòng không nỡ là vì: Nay nếu người ta đột nhiên thấy một đứa trẻ sắp rơi xuống giếng, ai cũng có lòng hãi hùng thương xót; không phải vì muốn làm quen với cha mẹ đứa trẻ, không phải vì muốn cầu danh tiếng với làng xóm bạn bè, cũng không phải vì ghét tiếng khóc của đứa trẻ mà làm vậy. Xét thế thì thấy: không có lòng thương xót không phải là người; không có lòng thẹn ghét (việc xấu) không phải là người; không có lòng khiêm nhường không phải là người; không có lòng thị phi (biết đúng sai) không phải là người. Lòng thương xót là đầu mối của Nhân; lòng thẹn ghét là đầu mối của Nghĩa; lòng khiêm nhường là đầu mối của Lễ; lòng thị phi là đầu mối của Trí. Con người có bốn đầu mối ấy cũng như có bốn chân tay vậy. Có đủ bốn đầu mối mà tự bảo mình không làm được là tự hại mình; bảo vua mình không làm được là hại vua mình. Phàm người có đủ bốn đầu mối, nếu biết mở rộng và làm đầy chúng, thì như lửa mới nhen, như suối mới chảy. Nếu làm đầy được thì đủ để bảo vệ bốn biển; nếu không làm đầy thì ngay cả phụng dưỡng cha mẹ cũng không xong."
=== 7 ===
Mạnh Tử nói: "Thợ làm tên há lại kém nhân đức hơn thợ làm áo giáp sao? Thợ làm tên chỉ sợ tên không làm bị thương người, thợ làm áo giáp chỉ sợ người bị thương. Thầy cúng và thợ đóng quan tài cũng thế (một bên cầu sống, một bên mong chết). Cho nên chọn nghề nghiệp không thể không thận trọng. Khổng Tử nói: 'Sống ở nơi có lòng nhân mới là đẹp. Chọn chỗ ở mà không chọn nơi có lòng nhân, sao gọi là trí?'. Nhân là chức tước cao quý của trời, là ngôi nhà an ổn của người. Không ai ngăn cản mà mình không giữ lòng nhân, ấy là không trí. Không nhân không trí, không lễ không nghĩa, tất phải làm tôi tớ cho người. Đã làm tôi tớ mà lại xấu hổ vì việc đó, thì chẳng khác nào thợ làm cung xấu hổ vì làm cung, thợ làm tên xấu hổ vì làm tên. Nếu đã biết hổ thẹn, không gì bằng hành nhân. Người nhân như người bắn cung: chỉnh đốn mình ngay ngắn rồi mới bắn; bắn không trúng thì không oán trách người thắng mình, mà chỉ tự trách mình (phản cầu chư kỷ) mà thôi."
=== 8 ===
Mạnh Tử nói: "Tử Lộ hễ được người ta chỉ cho lỗi lầm là vui mừng. Vua Vũ nghe được lời lành thì bái tạ. Vua Thuấn còn vĩ đại hơn thế: coi điều thiện là của chung với mọi người, bỏ ý riêng theo ý người, vui vẻ học điều thiện của người khác để làm điều thiện cho mình. Từ lúc đi cày, làm gốm, đánh cá cho đến khi làm hoàng đế, không việc gì là không học ở người khác. Học điều thiện ở người để làm điều thiện cho mình, ấy là giúp người khác cùng làm điều thiện. Cho nên đức của người quân tử không gì lớn bằng việc giúp người cùng làm điều thiện (dữ nhân vi thiện)."
=== 9 ===
Mạnh Tử nói: "Bá Di không phải vua hiền thì không thờ, không phải bạn tốt thì không kết giao. Không đứng ở triều đình của kẻ ác, không nói chuyện với kẻ ác; đứng ở triều kẻ ác, nói chuyện với kẻ ác, ông coi như mặc áo gấm đội mũ cao mà ngồi vào đống than bụi. Ông giữ lòng ghét cái ác đến mức: đứng cùng người làng mà thấy mũ họ không ngay ngắn, ông liền bỏ đi ngay không nhìn lại, như sợ bị lây bẩn vậy. Cho nên các chư hầu dù có lời lẽ khéo léo mời đến, ông cũng không nhận. Không nhận là vì không thèm đến vậy. Liễu Hạ Huệ thì khác, không hổ thẹn khi thờ vua xấu, không chê chức quan nhỏ. Ra làm quan không giấu tài đức, nhất định hành đạo của mình. Bị bỏ rơi không oán hận, gặp khốn cùng không lo sầu. Ông nói: 'Anh là anh, tôi là tôi. Dù anh có cởi trần lộ thân bên cạnh tôi, sao có thể làm bẩn tôi được!'. Cho nên ông vui vẻ ở bên họ mà không đánh mất mình, người ta kéo giữ lại ông liền ở lại. Người ta kéo giữ mà ông ở lại, là vì ông thấy chẳng cần thiết phải rời đi vậy." Mạnh Tử nhận xét: "Bá Di quá hẹp hòi, Liễu Hạ Huệ quá suồng sã. Hẹp hòi và suồng sã, người quân tử đều không theo."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
l7frfs1o8vbymdmx7wi1stgl25pzcdh
Biên dịch:Mạnh Tử/Công Tôn Sửu hạ
114
72022
204897
2026-04-27T07:50:32Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/公孫丑下 | năm= | phần = Công Tôn Sửu (hạ) | trước= [[../Công Tôn Sửu thượng]] | sau= [[../Đằng Văn Công thượng]] | ghi chú = }} ===1=== Mạnh Tử nói: "Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Thành quy mô ba dặm, quách quy mô bảy dặm, vây đánh mà không…”
204897
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/公孫丑下
| năm=
| phần = Công Tôn Sửu (hạ)
| trước= [[../Công Tôn Sửu thượng]]
| sau= [[../Đằng Văn Công thượng]]
| ghi chú =
}}
===1===
Mạnh Tử nói: "Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Thành quy mô ba dặm, quách quy mô bảy dặm, vây đánh mà không thắng. Phàm đã vây đánh tất có được thiên thời, thế mà không thắng, ấy là thiên thời không bằng địa lợi. Thành chẳng phải không cao, hào chẳng phải không sâu, binh khí giáp trụ chẳng phải không sắc bén cứng cáp, lương thực chẳng phải không nhiều, thế mà quân lính lại bỏ thành mà chạy, ấy là địa lợi không bằng nhân hòa. Cho nên nói: giữ dân không dựa vào biên giới ngăn cách, giữ nước không dựa vào núi sông hiểm trở, uy hiếp thiên hạ không dựa vào binh khí sắc bén. Người đắc đạo thì được nhiều người giúp, kẻ thất đạo thì ít người giúp. Ít người giúp đến cực điểm thì ngay cả thân thích cũng phản lại; nhiều người giúp đến cực điểm thì thiên hạ đều thuận theo. Lấy cái mà cả thiên hạ thuận theo để đánh kẻ mà ngay cả thân thích cũng phản lại, cho nên người quân tử không đánh thì thôi, đã đánh tất thắng vậy."
===2===
Mạnh Tử định đi triều kiến vua Tề. Vua sai người đến bảo: "Quả nhân vốn định đến thăm cụ, nhưng vì bị cảm lạnh, không thể ra gió. Sáng mai quả nhân vẫn phải ra triều tiếp kiến quần thần, chẳng hay cụ có thể để quả nhân được gặp cụ ở triều không?"
Mạnh Tử đáp: "Không may tôi cũng đang bệnh, không thể đến triều được."
Hôm sau, Mạnh Tử đi viếng đám tang ở nhà họ Đông Quách. Công Tôn Sửu hỏi: "Hôm qua thầy cáo bệnh, hôm nay lại đi viếng đám tang, liệu có ổn không?"
Mạnh Tử nói: "Hôm qua bệnh, hôm nay khỏi, sao lại không đi viếng?"
Vua sai người đến hỏi thăm bệnh, dẫn cả thầy thuốc đến. Mạnh Trọng Tử (em họ Mạnh Tử) đối đáp rằng: "Hôm trước có mệnh vua gọi nhưng Phu tử đang có chút mệt mỏi nên không thể đến triều. Nay bệnh hơi thuyên giảm, ông đã vội vã đi đến triều rồi, tôi không rõ đã đến nơi chưa." Rồi lập tức sai người chặn đường Mạnh Tử mà dặn: "Xin thầy tuyệt đối đừng về nhà mà hãy đi thẳng đến triều kiến vua."
Mạnh Tử bất đắc dĩ phải lánh sang nhà họ Cảnh Sửu để ngủ nhờ qua đêm.
Cảnh Tử nói: "Trong nhà có tình cha con, ngoài đời có nghĩa quân thần, đó là những luân lý lớn của con người. Cha con trọng ơn đức, quân thần trọng sự tôn kính. Tôi chỉ thấy vua kính trọng cụ, chứ chưa thấy cụ thể hiện sự kính trọng vua."
Mạnh Tử đáp: "Ôi! Sao lại nói thế! Người nước Tề không ai đem nhân nghĩa ra bàn với vua, há lẽ họ cho rằng nhân nghĩa là không tốt? Chỉ vì trong lòng họ nghĩ: 'Vua này không đáng để bàn về nhân nghĩa', thế thì cái sự bất kính nào còn lớn hơn thế nữa? Còn tôi, nếu chẳng phải đạo Nghiêu Thuấn thì không dám đem trình bày trước mặt vua, cho nên người nước Tề không ai kính vua bằng tôi vậy."
Cảnh Tử nói: "Không phải ý đó. Lễ dạy rằng: 'Cha gọi không được chậm trễ; vua triệu đến thì không đợi thắng xe'. Cụ vốn định đi triều kiến, nghe mệnh vua gọi lại thành ra không đi, xem ra không giống với lễ cho lắm."
Mạnh Tử nói: "Há lại như thế sao? Tăng Tử nói: 'Của cải nước Tấn, nước Sở ta không bì kịp. Họ cậy vào giàu sang, ta cậy vào đức nhân của ta; họ cậy vào tước vị, ta cậy vào nghĩa khí của ta, ta có gì phải hối tiếc?'. Lẽ nào Tăng Tử lại nói điều không nghĩa? Ấy là vì một đạo lý khác. Thiên hạ có ba thứ đáng tôn kính bậc nhất: tước vị là một, tuổi tác là một, đức độ là một. Ở triều đình không gì bằng tước vị, ở làng xóm không gì bằng tuổi tác, giúp đời trị dân không gì bằng đức độ. Sao có thể cậy vào một thứ mà xem thường hai thứ kia? Cho nên bậc quân chủ muốn làm nên nghiệp lớn tất phải có những vị tôi hiền mà mình không thể triệu gọi; muốn mưu tính việc gì thì phải thân hành đến gặp họ. Nếu không tôn trọng đức, vui với đạo như thế thì không đủ sức làm nên đại sự. Thế nên Thành Thang đối với Y Doãn, học rồi sau mới dùng làm tôi, nên không nhọc sức mà xưng vương; Hoàn Công đối với Quản Trọng, học rồi sau mới dùng làm tôi, nên không nhọc sức mà xưng bá. Nay thiên hạ đất đai tương đương, đức độ ngang nhau, không ai vượt hẳn ai, không có gì khác ngoài việc: thích dùng những người nghe lệnh mình, mà không thích dùng những người có thể dạy bảo mình. Thành Thang với Y Doãn, Hoàn Công với Quản Trọng đều không dám gọi đến; đến như Quản Trọng còn không thể triệu gọi, huống chi là người không thèm làm Quản Trọng?"
===3===
Trần Trăn hỏi: "Ngày trước ở nước Tề, vua tặng một trăm lạng vàng ròng mà thầy không nhận; ở nước Tống, tặng bảy mươi dật vàng thì thầy nhận; ở đất Tiết, tặng năm mươi dật thầy cũng nhận. Nếu trước đây không nhận là đúng thì sau này nhận là sai; nếu sau này nhận là đúng thì trước đây không nhận là sai. Thầy tất phải thuộc một trong hai trường hợp đó."
Mạnh Tử đáp: "Cả hai đều đúng cả. Khi ở nước Tống, ta sắp đi xa, người đi xa tất cần tiền đi đường. Vua nói tặng 'lộ phí', sao ta lại không nhận? Khi ở đất Tiết, ta nghe có tin báo cần phòng bị, vua nói tặng để mua vũ khí phòng thân, sao ta lại không nhận? Còn như ở nước Tề thì không có lý do gì để nhận. Không có lý do mà đem vàng tặng, ấy là muốn dùng của cải mua chuộc ta. Có bậc quân tử nào lại để người khác dùng tiền của mua chuộc mình sao?"
===4===
Mạnh Tử đến Bình Lục, bảo vị đại phu cai quản vùng đó rằng: "Nếu quân cầm kích của ông, một ngày ba lần làm mất hàng ngũ, ông có đuổi hắn đi không?"
Đại phu đáp: "Không đợi đến ba lần đâu."
Mạnh Tử nói: "Thế thì ông làm mất hàng ngũ cũng nhiều rồi đấy. Năm mất mùa đói kém, dân của ông người già yếu chết lăn bên khe rãnh, người khỏe mạnh ly tán khắp bốn phương có đến hàng nghìn người."
Đại phu (Khổng Cự Tâm) đáp: "Đó không phải là việc mà Cự Tâm tôi có thể giải quyết được (do chính sách chung)."
Mạnh Tử nói: "Nay có người nhận trâu ngựa của người khác về chăn nuôi, thì tất phải tìm đồng cỏ và cỏ khô cho chúng. Nếu tìm đồng cỏ và cỏ không được, thì đem trả lại trâu ngựa cho chủ, hay là đứng nhìn chúng chết?"
Đại phu đáp: "Đó là tội của Cự Tâm tôi vậy."
Hôm sau, Mạnh Tử kiến vua Tề, nói: "Những người cai quản vùng đô thị của vua, tôi biết năm người. Người biết nhận tội mình chỉ có Khổng Cự Tâm. Tôi xin kể lại cho vua nghe."
Vua Tề nói: "Đó thực là tội của quả nhân vậy."
===5===
Mạnh Tử nói với Trì Oa: "Ông từ bỏ chức quan ở Linh Khâu mà xin làm chức Sĩ sư (quan tư pháp), xem ra cũng có lý, vì chức ấy có quyền can gián vua. Nay đã mấy tháng rồi, ông vẫn chưa có lời can gián nào sao?"
Trì Oa sau đó can gián vua Tề nhưng không được dùng, bèn từ quan mà đi.
Người nước Tề nói: "Việc ông Mạnh Tử làm cho Trì Oa thì tốt thật; nhưng còn việc ông ấy làm cho chính mình thì chúng tôi không hiểu nổi (sao ông ấy chưa đi)."
Công Đô Tử đem lời ấy kể lại.
Mạnh Tử nói: "Ta nghe thế này: Người có chức trách cai quản, nếu không làm tròn chức phận thì ra đi; người có trách nhiệm can gián, nếu lời can không được nghe thì ra đi. Ta không có chức trách cai quản, cũng không có trách nhiệm can gián, thế thì việc tiến thoái của ta chẳng phải là rất thong dong tự tại sao?"
===6===
Mạnh Tử làm khanh ở nước Tề, đi viếng tang ở nước Đằng. Vua Tề sai đại phu vùng Cái là Vương Hoan làm phó đoàn. Vương Hoan sáng tối đều gặp Mạnh Tử, trên suốt quãng đường đi về giữa Tề và Đằng, nhưng Mạnh Tử chưa từng cùng hắn bàn bạc về việc công.
Công Tôn Sửu hỏi: "Tước Khanh ở Tề không phải nhỏ, đường từ Tề sang Đằng không phải gần. Đi về suốt chuyến mà thầy chưa từng cùng hắn bàn việc, là tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Những việc đó đã có người lo liệu cả rồi, ta còn nói làm gì nữa?"
===7===
Mạnh Tử từ nước Tề về nước Lỗ để mai táng mẹ. Xong việc trở lại Tề, ông dừng chân ở đất Doanh. Môn đồ Sung Ngu hỏi: "Hôm trước thầy không chê tôi bất tài, cho tôi trông coi việc đóng quan tài. Vì lúc đó công việc đang gấp, tôi không dám hỏi. Nay xin mạn phép hỏi thầy: gỗ quan tài hình như hơi quá đẹp chăng?"
Mạnh Tử đáp: "Đời xưa quan quách không có quy định cố định. Thời trung cổ, quan tài dày bảy tấc, quách cũng tương xứng, từ thiên tử đến thứ dân đều như vậy. Đó không phải chỉ để cho đẹp mắt, mà là để làm trọn lòng hiếu kính của người con. Nếu không được loại gỗ tốt thì lòng không vui; không có tài chính để mua thì lòng không vui. Nếu có đủ điều kiện và mua được, người xưa đều làm vậy, sao ta lại không làm? Vả lại, làm cho thi hài người quá cố không bị đất chạm vào da thịt, lòng người con chẳng thấy yên tâm hơn sao? Ta nghe bậc quân tử nói: Không nên vì tiết kiệm của cải mà làm sơ sài việc hiếu với cha mẹ."
===8===
Thẩm Đồng mượn danh nghĩa cá nhân hỏi Mạnh Tử: "Có thể đánh nước Yên không?"
Mạnh Tử đáp: "Có thể. Tử Cối (vua Yên) không được quyền tự ý đem nước Yên cho người, Tử Chi cũng không được quyền tự ý nhận nước Yên từ Tử Cối. Ví như có người làm quan ở đây, ông mến hắn, không báo với vua mà tự ý đem lộc tước của ông cho hắn; người ấy cũng không có mệnh vua mà tự ý nhận lấy từ ông, như vậy có được không? Việc nước Yên cũng chẳng khác gì như thế."
Sau đó quân Tề đánh Yên. Có người hỏi: "Thầy khuyên vua Tề đánh Yên, có chuyện đó chăng?"
Mạnh Tử nói: "Không phải. Thẩm Đồng hỏi: 'Nước Yên có thể đánh không?', ta đáp: 'Có thể'. Họ thấy thế liền đem quân đi đánh. Nếu họ hỏi: 'Ai có thể đánh Yên?', ta sẽ đáp: 'Phải là người thực thi mệnh trời (thiên lệ) mới có thể đánh'. Nay ví như có kẻ giết người, có người hỏi: 'Kẻ đó có thể giết không?', ta sẽ đáp: 'Có thể'. Nếu họ hỏi: 'Ai có thể giết kẻ đó?', ta sẽ đáp: 'Phải là quan Sĩ sư (tư pháp) mới có thể giết'. Nay lấy một nước tàn bạo như nước Yên (nước Tề) để đánh nước Yên, sao ta lại khuyên họ làm điều đó được?"
===9===
Người nước Yên nổi dậy phản lại nước Tề. Vua Tề nói: "Ta rất lấy làm xấu hổ với Mạnh Tử."
Trần Giả nói: "Vua đừng lo. Vua tự thấy mình so với Chu Công, ai nhân đức và trí tuệ hơn?"
Vua nói: "Ôi! Sao lại nói thế!"
Trần Giả nói: "Chu Công sai Quản Thúc trông coi đất Ân, Quản Thúc lại dựa vào đất Ân mà phản loạn. Nếu biết hắn sẽ phản mà vẫn sai đi, ấy là không nhân; nếu không biết hắn sẽ phản mà vẫn sai đi, ấy là không trí. Nhân và Trí, đến như Chu Công còn chưa trọn vẹn, huống chi là vua? Tôi xin vào gặp để giải vây cho vua."
Trần Giả gặp Mạnh Tử hỏi: "Chu Công là người thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Là bậc thánh nhân đời xưa."
Trần Giả hỏi: "Việc ông sai Quản Thúc trông coi đất Ân rồi Quản Thúc làm phản, có thật không?"
Mạnh Tử đáp: "Thật."
Trần Giả hỏi: "Chu Công biết hắn sẽ phản mà vẫn sai đi sao?"
Mạnh Tử đáp: "Không biết."
Trần Giả nói: "Vậy ra thánh nhân cũng có lỗi lầm sao?"
Mạnh Tử đáp: "Chu Công là em, Quản Thúc là anh. Chu Công tin anh mình mà phạm lỗi, chẳng phải cũng là lẽ thường sao? Vả lại, người quân tử xưa hễ có lỗi thì sửa; kẻ quân tử ngày nay hễ có lỗi thì cứ thuận theo đó mà làm tiếp. Lỗi lầm của người quân tử xưa như nhật thực nguyệt thực, dân đều nhìn thấy; đến khi họ sửa lỗi, dân đều ngước nhìn kính trọng. Kẻ quân tử ngày nay, chẳng những thuận theo lỗi lầm, mà còn tìm mọi lời lẽ để bào chữa cho cái lỗi đó."
===10===
Mạnh Tử từ quan để về quê.
Vua Tề đến gặp Mạnh Tử nói: "Trước đây mong gặp cụ mà không được, khi được cùng đứng chung triều đình, ta rất vui mừng. Nay cụ lại bỏ quả nhân mà về, không rõ sau này có còn được gặp cụ nữa không?"
Mạnh Tử đáp: "Đó vốn là điều tôi mong muốn, chỉ là không dám thỉnh cầu mà thôi."
Hôm sau, vua bảo Thời Tử: "Ta muốn cấp cho Mạnh Tử một ngôi nhà ở trung tâm kinh đô, chu cấp cho các đệ tử của cụ vạn chung thóc, để các đại thần và người dân đều có tấm gương mà noi theo. Ông hãy thay ta nói với cụ."
Thời Tử nhờ Trần Tử nói lại với Mạnh Tử.
Mạnh Tử nói: "Phải rồi, ông Thời Tử kia làm sao biết được việc đó là không thể? Nếu ta là kẻ ham giàu, thì bỏ chức quan mười vạn chung mà nhận lấy vạn chung, ấy là ham giàu sao? Quý Tôn từng nói: 'Thật lạ thay ông Tử Thúc Nghi! Bản thân ra làm chính sự, không được dùng thì thôi đi, lại còn đưa con em mình vào làm khanh tướng. Ai mà chẳng muốn giàu sang? Nhưng trong vòng giàu sang lại muốn độc chiếm cái thế có lợi nhất (long đoạn)'. Đời xưa họp chợ là để đem cái mình có đổi lấy cái mình không, quan lại chỉ việc cai quản trật tự mà thôi. Nhưng có kẻ hạ tiện kia, cứ tìm chỗ đất cao nhất (long đoạn) mà đứng, nhìn dòm hai bên để thâu tóm mọi lợi lộc của chợ. Mọi người đều cho hắn là hạ tiện, nên mới thu thuế hắn. Việc thu thuế thương nhân bắt đầu từ kẻ hạ tiện đó vậy."
===11===
Mạnh Tử rời nước Tề, nghỉ lại ở đất Trú. Có người muốn vì vua Tề mà giữ chân Mạnh Tử ở lại, hắn ngồi nói chuyện rất lâu. Mạnh Tử không đáp lại, cứ tựa vào ghế mà ngủ.
Hắn không vui nói: "Đệ tử tôi đã trai giới tắm gội rồi mới dám đến nói chuyện, thế mà thầy lại nằm ngủ không nghe, tôi không dám xin gặp lại nữa."
Mạnh Tử nói: "Hãy ngồi xuống, ta nói rõ cho ông nghe: Ngày xưa nếu không có người thân tín bên cạnh Lỗ Mục Công thì vua không làm yên lòng Tử Tư được; Tiết Liễu và Thân Tường nếu không có người thân tín bên cạnh Mục Công thì họ không giữ yên được thân mình. Ông vì ta mà lo nghĩ, nhưng sự chu đáo lại không bằng người xưa đối với Tử Tư. Là ông tuyệt giao với ta, hay ta tuyệt giao với ông?"
===12===
Mạnh Tử rời nước Tề, Doãn Sĩ bảo người ta rằng: "Nếu không biết vua Tề không thể làm được như vua Thang, vua Võ, ấy là kẻ không sáng suốt; nếu biết không thể mà vẫn đến, ấy là kẻ cầu bổng lộc. Đi nghìn dặm đến gặp vua, không được trọng dụng nên bỏ đi, thế mà nghỉ lại đất Trú đến ba đêm rồi mới ra khỏi biên giới, sao mà chần chừ chậm chạp thế! Tôi rất không vui vì điều đó."
Cao Tử đem lời ấy kể lại.
Mạnh Tử nói: "Ông Doãn Sĩ kia sao hiểu được lòng ta? Đi nghìn dặm đến gặp vua là mong ước của ta. Không được dùng phải ra đi, há phải là điều ta mong muốn? Chẳng qua là ta bất đắc dĩ thôi. Ta ở lại đất Trú ba đêm rồi mới đi, trong lòng vẫn còn cho là quá nhanh. Ta mong vua sớm thay đổi! Nếu vua thay đổi, vua tất sẽ gọi ta quay lại. Ra khỏi đất Trú mà vua không sai người đuổi theo giữ lại, bấy giờ ta mới dứt khoát ý chí trở về quê. Dù vậy, ta há nỡ bỏ mặc vua sao? Vua vẫn đủ khả năng làm điều thiện. Nếu vua dùng ta, đâu chỉ dân Tề được yên mà cả dân thiên hạ đều được yên. Ta mong vua thay đổi, ngày ngày trông đợi! Ta há lại như hạng tiểu nhân, can gián vua không được thì nổi giận, hầm hầm nét mặt, khi ra đi thì gắng hết sức chạy cả ngày cho thật xa mới dừng lại nghỉ sao?"
Doãn Sĩ nghe vậy liền nói: "Tôi thực là kẻ tiểu nhân vậy."
===13===
Mạnh Tử rời nước Tề, trên đường đi Sung Ngu hỏi: "Trông thầy có vẻ không vui. Trước đây tôi nghe thầy dạy: 'Quân tử không oán trời, không trách người'."
Mạnh Tử nói: "Lúc đó khác, lúc này khác. Cứ năm trăm năm tất có bậc vương giả trỗi dậy, trong khoảng đó tất có người hiền danh vang thế giới. Từ nhà Chu đến nay đã hơn bảy trăm năm rồi; tính theo số năm thì đã quá, xét theo thời thế thì đã đến lúc. Nhưng trời chưa muốn thiên hạ thái bình đó thôi. Nếu muốn thiên hạ thái bình, trong đời này, ngoài ta ra còn ai vào đây nữa? Ta có gì mà không vui?"
===14===
Mạnh Tử rời nước Tề, ở đất Hưu. Công Tôn Sửu hỏi: "Làm quan mà không nhận bổng lộc, có phải đạo người xưa không?"
Mạnh Tử đáp: "Không phải. Khi ở đất Sùng, ta được gặp vua; khi lui ra đã có ý muốn đi, vì không muốn thay đổi chí hướng nên không nhận bổng lộc. Tiếp đó vì có việc quân nên chưa thể xin đi ngay. Ở lại nước Tề lâu ngày như thế vốn không phải là chí nguyện của ta."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
kdfj1ak4c97r35fgsuwh46xyxq9n4zk
Biên dịch:Mạnh Tử/Đằng Văn Công thượng
114
72023
204898
2026-04-27T07:53:16Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/滕文公上 | năm= | phần = Đằng Văn Công thượng | trước= [[../Công Tôn Sửu hạ]] | sau= [[../Đằng Văn Công hạ]] | ghi chú = }} ===1=== Khi Đằng Văn Công còn làm Thế tử, lúc sắp sang nước Sở, có ghé qua nước Tống để kiến diện Mạnh Tử. Mạnh Tử giảng về thuyết "Tính thi…”
204898
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/滕文公上
| năm=
| phần = Đằng Văn Công thượng
| trước= [[../Công Tôn Sửu hạ]]
| sau= [[../Đằng Văn Công hạ]]
| ghi chú =
}}
===1===
Khi Đằng Văn Công còn làm Thế tử, lúc sắp sang nước Sở, có ghé qua nước Tống để kiến diện Mạnh Tử. Mạnh Tử giảng về thuyết "Tính thiện", lời nào cũng dẫn chứng từ Nghiêu, Thuấn.
Thế tử từ nước Sở trở về, lại đến gặp Mạnh Tử. Mạnh Tử hỏi: "Thế tử nghi ngờ lời tôi nói chăng? Đạo lý chỉ có một mà thôi. Thành Khoán từng nói với Tề Cảnh Công rằng: 'Hắn là bậc trượng phu, ta cũng là bậc trượng phu, ta việc gì phải sợ hắn?'. Nhan Uyên nói: 'Vua Thuấn là người thế nào? Ta là người thế nào? Kẻ có chí làm nên việc lớn cũng sẽ được như vậy'. Công Minh Nghi nói: 'Văn Vương là thầy ta, Chu Công lẽ nào lại lừa ta sao?'. Nay nước Đằng tuy nhỏ, cắt chỗ thừa bù chỗ thiếu cũng được gần năm mươi dặm, vẫn có thể trở thành một quốc gia tốt đẹp. Sách Thư có chép: 'Nếu thuốc không đủ mạnh làm cho choáng váng, thì bệnh sẽ không khỏi được'."
===2===
Đằng Định Công qua đời, Thế tử bảo Nhiên Hữu rằng: "Ngày trước khi ở nước Tống, Mạnh Tử từng giảng giải cho ta, lòng ta mãi không quên. Nay chẳng may gặp đại tang, ta muốn ông đi hỏi ý kiến Mạnh Tử rồi sau mới lo việc tang sự."
Nhiên Hữu sang nước Trâu hỏi Mạnh Tử.
Mạnh Tử nói: "Thế thì tốt quá! Tang cha mẹ vốn là việc mà phận làm con phải dốc hết lòng thành. Tăng Tử nói: 'Lúc sống, phụng sự theo lễ; lúc chết, chôn cất theo lễ, cúng tế theo lễ, có thể gọi là hiếu vậy'. Lễ của bậc chư hầu tôi chưa được học kỹ, nhưng tôi có nghe thế này: Tang ba năm, mặc áo xô gai sơ sài, ăn cháo loãng, từ thiên tử đến dân thường đều như nhau, đó là quy tắc chung của cả ba triều đại Hạ, Thương, Chu."
Nhiên Hữu về báo lại, Thế tử quyết định giữ tang ba năm. Tuy nhiên, các vị trưởng bối trong tông tộc và quan lại đều không muốn, họ nói: "Nước tông chủ của ta là Lỗ, các tiên quân của họ không ai làm thế; tiên quân nước ta cũng không ai làm thế. Đến đời ngài mà lại làm ngược lại thì không nên. Huống hồ sách Chí có chép: 'Tang lễ và tế lễ phải theo tổ tiên'." Ý họ là: "Chúng tôi đã theo lệ cũ lâu rồi."
Thế tử lại bảo Nhiên Hữu: "Trước đây ta không chăm lo học hỏi, chỉ thích cưỡi ngựa múa kiếm. Nay các vị trưởng bối và quan lại đều không hài lòng với ta, ta sợ mình không thể hoàn thành chu tất đại sự này. Ông hãy vì ta mà hỏi Mạnh Tử một lần nữa."
Nhiên Hữu lại sang Trâu hỏi Mạnh Tử.
Mạnh Tử đáp: "Phải vậy, việc này không thể cầu xin ở người khác được. Khổng Tử nói: 'Vua mất, Thế tử giao việc cho quan Tể tướng, còn mình thì ăn cháo, sắc mặt đen sạm, đứng vào vị trí mà khóc. Quan lại thuộc cấp không ai dám không đau buồn, ấy là vì người trên làm gương vậy. Người trên thích gì, kẻ dưới tất sẽ làm quá hơn thế. Đức của người quân tử như gió, đức của tiểu nhân như cỏ. Gió thổi lên cỏ, cỏ tất phải rạp xuống'. Việc này hoàn toàn phụ thuộc vào Thế tử."
Nhiên Hữu về báo lại.
Thế tử nói: "Phải, việc này thực sự nằm ở nơi ta."
Thế tử ở trong nhà tang năm tháng trời, không ra lệnh truyền chỉ. Quan lại và người trong tộc đều cho rằng Thế tử là người hiểu biết lễ nghĩa. Đến lúc đưa tang, người khắp bốn phương kéo đến xem. Nhìn sắc mặt sầu thảm, nghe tiếng khóc đau thương của Thế tử, những người đến viếng đều vô cùng cảm động và tán thưởng.
===3===
Đằng Văn Công hỏi về cách trị quốc.
Mạnh Tử nói: "Việc của dân không thể chậm trễ. Kinh Thi có câu: 'Ngày đi cắt cỏ tranh, tối về bện dây thừng. Mau mau sửa mái nhà, để bắt đầu gieo hạt'. Đạo lý của dân là: có tài sản hằng sản thì mới có lòng kiên định (hằng tâm), không có hằng sản tất sẽ không có hằng tâm. Nếu không có hằng tâm, người ta sẽ phóng túng, gian tà, không việc ác nào không làm. Đợi đến khi họ phạm tội rồi mới dùng hình phạt để trị, ấy là giăng lưới bẫy dân. Có bậc nhân đức nào ở ngôi cao mà lại đi bẫy dân mình sao? Cho nên vị vua hiền tất phải cung kính, tiết kiệm, lễ độ với kẻ dưới, thu thuế của dân có chừng mực. Dương Hổ từng nói: 'Làm giàu thì không nhân; làm nhân thì không giàu'."
"Nhà Hạ thực hiện chế độ 'cống' (năm mươi mẫu thu một phần), nhà Ân thực hiện chế độ 'trợ' (bảy mươi mẫu làm chung công điền), nhà Chu thực hiện chế độ 'triệt' (trăm mẫu thu thuế chung). Thực chất đều là thuế một phần mười (thập nhất). Long Tử nói: 'Trị đất không gì tốt bằng phép trợ, không gì tệ bằng phép cống. Phép cống là lấy mức trung bình của vài năm làm định mức. Năm trúng mùa thóc gạo dư thừa, thu nhiều một chút cũng không gọi là bạo ngược, nhưng lại chỉ thu theo định mức thấp; năm mất mùa dân phải lấy phân bón ruộng cũng không đủ, thế mà vẫn bắt nộp cho đủ mức cũ. Làm cha mẹ dân mà để dân phải trố mắt nhìn nhau khốn khổ, quanh năm lao dịch mà không đủ nuôi cha mẹ, lại còn phải vay mượn để nộp thêm thuế, khiến người già trẻ nhỏ chết lăn bên khe rãnh, thì sao gọi là cha mẹ dân được?'. Chế độ thế lộc (con cháu quan lại được hưởng lộc) nước Đằng đã thực hiện rồi. Kinh Thi nói: 'Mưa rơi xuống ruộng công, rồi mới đến ruộng tư'. Chỉ có phép 'trợ' mới có ruộng công. Xem thế thì thấy nhà Chu thực chất cũng dùng phép trợ."
"Nên lập ra các trường Tường, Tự, Học, Giáo để giáo hóa dân. 'Tường' là nuôi dưỡng, 'Giáo' là dạy bảo, 'Tự' là tập bắn cung. Nhà Hạ gọi là 'Giáo', nhà Ân gọi là 'Tự', nhà Chu gọi là 'Tường', còn 'Học' thì cả ba đời đều dùng; tất cả đều để làm sáng tỏ nhân luân. Khi nhân luân được sáng tỏ ở trên, dân chúng sẽ thân thiết với nhau ở dưới. Nếu có bậc vương giả trỗi dậy, tất sẽ đến học tập phép tắc của ngài, thế là ngài trở thành thầy của bậc vương giả vậy. Kinh Thi nói: 'Chu tuy là nước cũ, nhưng mệnh trời thì luôn đổi mới'. Ấy là nói về Văn Vương vậy. Ngài hãy gắng sức thực hành, cũng là để đổi mới đất nước ngài!"
Vua sai Tất Chiến hỏi về chế độ tỉnh điền (ruộng hình chữ tỉnh).
Mạnh Tử nói: "Vua của ông sắp hành nhân chính, chọn lựa ông mà sai đi, ông phải cố gắng lên. Nhân chính tất phải bắt đầu từ việc phân chia ranh giới ruộng đất (kinh giới). Ranh giới không chính thì ruộng tỉnh điền không đều, bổng lộc thóc gạo không công bằng. Cho nên bọn bạo quân ô lại tất thường làm xáo trộn ranh giới. Khi ranh giới đã chính, việc chia ruộng định lộc có thể ngồi yên mà quyết định được."
"Nước Đằng đất đai nhỏ hẹp, nhưng cũng có hạng quân tử (người cai trị), cũng có hạng dã nhân (người lao động). Không có quân tử thì không ai trị dã nhân, không có dã nhân thì không ai nuôi quân tử. Xin chia ruộng ở vùng quê theo tỷ lệ chín phần một (phép trợ), còn ở trong đô thị thì thu thuế một phần mười để dân tự nộp. Từ bậc Khanh trở xuống tất phải có 'khuê điền' (ruộng để lo việc tế tự). Khuê điền rộng năm mươi mẫu, người giúp việc được hai mươi lăm mẫu. Khi chết hay dời chỗ không ra khỏi làng; dân trong cùng một 'tỉnh' (khu đất hình chữ tỉnh) đi lại thăm nhau, canh gác giúp nhau, lúc đau ốm phù trì nhau, thì trăm họ sẽ hòa mục. Cứ một dặm vuông là một 'tỉnh'; một tỉnh chín trăm mẫu, ở giữa là ruộng công. Tám gia đình mỗi nhà có riêng một trăm mẫu, cùng nhau cày cấy ruộng công. Việc công xong rồi mới dám làm việc tư, đó là cách để phân biệt với dã nhân. Đó là đại lược vậy. Còn như việc vận dụng linh hoạt cho tốt đẹp hơn, ấy là ở nơi vua và ông."
===4===
Có người theo học thuyết Thần Nông tên là Hứa Hành, từ nước Sở sang Đằng, đến cửa cung báo với Văn Công rằng: "Kẻ ở xa này nghe vua hành nhân chính, nguyện xin một mảnh đất để làm dân mọn." Văn Công cấp chỗ ở cho ông ta. Đệ tử của ông ta có vài chục người, đều mặc áo thô, đóng giày cỏ, dệt chiếu để kiếm ăn.
Đệ tử của Trần Lương là Trần Tương cùng em là Trần Tân, đeo cày cuốc từ nước Tống sang Đằng, nói: "Nghe vua hành chính pháp của thánh nhân, ấy cũng là bậc thánh nhân, nguyện làm dân của thánh nhân."
Trần Tương gặp Hứa Hành thì vô cùng vui mừng, bỏ sạch những gì đã học trước đây mà theo học ông ta.
Trần Tương đến gặp Mạnh Tử, thuật lại lời của Hứa Hành rằng: "Vua nước Đằng quả thật là hiền quân; tuy nhiên ông ta vẫn chưa biết đạo. Người hiền phải cùng dân cày ruộng mà ăn, tự nấu cơm mà trị quốc. Nay nước Đằng có kho tàng phủ khố, ấy là làm khổ dân để nuôi mình, sao có thể gọi là hiền?"
Mạnh Tử hỏi: "Hứa tử nhất định phải tự mình gieo hạt rồi mới ăn chăng?"
Trần Tương đáp: "Phải."
"Hứa tử nhất định phải tự dệt vải rồi mới mặc chăng?"
Đáp: "Không, Hứa tử mặc áo thô (áo lông thủ công)."
"Hứa tử có đội mũ không?"
Đáp: "Có đội."
Mạnh Tử hỏi: "Đội mũ gì?"
Đáp: "Đội mũ bằng lụa trắng."
Mạnh Tử hỏi: "Tự dệt lấy chăng?"
Đáp: "Không, dùng thóc mà đổi lấy."
Mạnh Tử hỏi: "Sao Hứa tử không tự dệt lấy?"
Đáp: "Vì sợ hại đến việc cày cấy."
Mạnh Tử hỏi: "Hứa tử có dùng nồi niêu để nấu nướng, dùng đồ sắt để cày ruộng không?"
Đáp: "Có."
"Tự mình đúc lấy chăng?"
Đáp: "Không, dùng thóc mà đổi lấy."
Mạnh Tử nói: "Dùng thóc đổi lấy đồ dùng không phải là làm khổ thợ đúc, thợ gốm; thợ đúc thợ gốm dùng đồ dùng của mình đổi lấy thóc cũng đâu có làm khổ nông phu? Hơn nữa, sao Hứa tử không tự mình đúc nặn, mọi thứ đều lấy từ trong nhà mình mà dùng? Sao phải lăng xăng giao dịch với trăm thợ? Sao Hứa tử không sợ phiền phức?"
Đáp: "Công việc của trăm thợ vốn không thể vừa cày ruộng vừa làm được."
Mạnh Tử nói: "Vậy trị thiên hạ lại có thể vừa cày ruộng vừa làm được sao? Có việc của bậc đại nhân (người cai trị), có việc của tiểu nhân (người lao động). Một thân người cần đến sản phẩm của trăm thợ mới đủ dùng. Nếu nhất định phải tự mình làm rồi mới dùng, ấy là dắt nhau vào chỗ khốn cùng. Cho nên nói: Có người lao tâm, có người lao lực. Người lao tâm thì trị người, người lao lực thì bị người trị. Người bị trị thì nuôi người, người trị người thì được người nuôi – đó là cái nghĩa thông đạt trong thiên hạ vậy."
"Thời vua Nghiêu, thiên hạ chưa yên, nước lụt tràn lan, chảy khắp thiên hạ; thảo mộc mọc rậm rạp, cầm thú sinh sôi; ngũ cốc không trồng được, cầm thú bức bách con người; đường chim dấu thú giao nhau ở khắp vùng trung tâm. Vua Nghiêu lo lắng về điều đó, cử vua Thuấn ra trông coi việc trị thủy. Vua Thuấn sai ông Ích quản lửa; ông Ích đốt rừng ở núi đầm, cầm thú chạy đi ẩn trốn. Vua Vũ khơi thông chín dòng sông, nạo vét sông Tế, sông Tháp cho chảy ra biển; đào kênh sông Nhữ, sông Hán, khơi dòng sông Hoài, sông Tứ cho chảy vào Trường Giang, sau đó vùng trung tâm mới có đất để trồng trọt mà ăn. Lúc bấy giờ, vua Vũ tám năm ở ngoài, ba lần đi qua cửa nhà mà không vào, dù muốn cày ruộng, liệu có được không?"
"Hậu Tắc dạy dân việc đồng áng, trồng trọt ngũ cốc, ngũ cốc chín thì dân mới được nuôi dưỡng. Đạo làm người là: ăn no mặc ấm, ở yên mà không được giáo hóa thì gần như cầm thú. Thánh nhân lo lắng về điều đó, sai ông Khiết làm quan Tư đồ, dạy cho dân biết nhân luân: cha con có tình thân, quân thần có nghĩa, vợ chồng có biệt, anh em có thứ tự, bạn bè có lòng tin. Vua Nghiêu nói: 'Hãy an ủi dân, đưa dân đến, sửa sang dân, uốn nắn dân, phù trợ dân, giúp đỡ dân, để họ tự đắc đạo; rồi theo đó mà ban ân đức cho họ'. Thánh nhân lo cho dân như thế, còn thì giờ đâu mà cày ruộng?"
"Vua Nghiêu lấy việc không tìm được người như vua Thuấn làm nỗi lo của mình; vua Thuấn lấy việc không tìm được người như vua Vũ, ông Cao Đào làm nỗi lo của mình. Còn kẻ lấy việc trăm mẫu ruộng không được tươi tốt làm nỗi lo của mình, ấy là nông phu vậy. Đem tiền của chia cho người gọi là huệ, dạy người làm điều thiện gọi là trung, vì thiên hạ mà tìm người tài gọi là nhân. Cho nên đem thiên hạ nhường cho người thì dễ, vì thiên hạ mà tìm được người tài mới là khó. Khổng Tử nói: 'Vĩ đại thay vua Nghiêu làm vua! Chỉ có trời là lớn, chỉ có Nghiêu là phỏng theo trời. Cao rộng bao la đến mức dân không biết lấy lời gì mà ca tụng! Vĩ đại thay vua Thuấn làm vua! Nguy nga lồng lộng thay, có được thiên hạ mà không tự chiếm lấy cho riêng mình!'. Vua Nghiêu, vua Thuấn trị thiên hạ, lẽ nào không dùng tâm sức? Chỉ là không dùng tâm sức vào việc cày ruộng mà thôi."
"Tôi nghe nói dùng văn hóa Hoa Hạ để biến đổi di địch, chứ chưa nghe nói bị di địch biến đổi bao giờ. Trần Lương vốn sinh ở nước Sở; vì yêu mến đạo của Chu Công và Trọng Ni nên mới đi về phương Bắc học tập ở Trung Quốc (vùng trung tâm), các học giả phương Bắc không ai vượt qua được ông ta. Đó là bậc hào kiệt vậy. Anh em ông phụng sự thầy mấy chục năm, thầy mất rồi liền phản lại đạo của thầy. Ngày xưa Khổng Tử mất, sau ba năm mãn tang, các môn đồ thu dọn hành lý định ra về; họ vào chào Tử Cống, nhìn nhau mà khóc đến mất tiếng rồi mới đi. Tử Cống trở lại, dựng nhà bên cạnh mộ thầy, một mình ở đó thêm ba năm nữa mới về. Sau này Tử Hạ, Tử Trương, Tử Du thấy Hữu Nhược có phong thái giống bậc thánh nhân (Khổng Tử), muốn đem lễ tiết phụng sự Khổng Tử mà phụng sự Hữu Nhược, liền ép Tăng Tử. Tăng Tử nói: 'Không được, thầy ta như được nước sông Giang sông Hán tắm rửa, như được nắng mùa thu hong phơi, trắng trẻo sáng sủa đến mức không gì có thể vượt qua được'. Nay có kẻ phương Nam nói tiếng như chim kêu, bác bỏ đạo của tiên vương, ông lại phản lại thầy mình mà theo học hắn, thật khác xa Tăng Tử. Tôi nghe nói có loài chim bay ra từ thung lũng tối tăm mà dời đến cây cao, chứ chưa nghe nói bỏ cây cao mà chui vào thung lũng tối tăm bao giờ. Kinh Thi có câu: 'Đánh đuổi nhung địch, trừng phạt Kinh Thư'. Chu Công còn đánh đuổi họ, thế mà ông lại đi học họ, thật là sự biến đổi chẳng lành vậy."
Trần Tương nói: "Theo đạo của Hứa tử thì giá cả ngoài chợ sẽ nhất quán, trong nước không có kẻ gian dối; dù sai đứa trẻ cao năm thước ra chợ cũng không ai lừa được. Vải vóc dài ngắn như nhau thì giá bằng nhau; gai sợi nặng nhẹ như nhau thì giá bằng nhau; ngũ cốc nhiều ít như nhau thì giá bằng nhau; giày lớn nhỏ như nhau thì giá bằng nhau."
Mạnh Tử đáp: "Vạn vật không đồng đều, đó là lẽ tự nhiên của sự vật. Có cái chênh lệch nhau gấp đôi gấp năm, có cái gấp mười gấp trăm, có cái gấp nghìn gấp vạn; ông muốn san bằng cho giống nhau, ấy là làm loạn thiên hạ vậy. Giày đóng thô kệch và giày đóng tinh xảo mà giá bằng nhau, thì người ta ai thèm đóng đồ tinh xảo nữa? Theo đạo của Hứa tử, ấy là dắt nhau làm điều gian dối, sao có thể trị quốc được?"
===5===
Người theo phái Mặc gia là Di Chi, nhờ Từ Bích cầu kiến Mạnh Tử. Mạnh Tử nói: "Ta vốn cũng muốn gặp, nhưng nay ta đang bệnh, khi nào khỏi bệnh ta sẽ đi thăm." Nhưng Di Chi không đến nữa!
Hôm sau Di Chi lại cầu kiến. Mạnh Tử nói: "Nay ta có thể gặp rồi. Nếu không nói thẳng thì đạo lý không sáng tỏ, để ta nói thẳng cho. Ta nghe Di Chi là người theo phái Mặc, mà phái Mặc quan niệm tang lễ lấy mỏng nhẹ làm đạo. Di Chi muốn đem điều đó thay đổi thiên hạ, há chẳng phải ông ta cho rằng không theo đạo ấy thì không đáng quý sao? Thế nhưng Di Chi lại an táng cha mẹ mình rất hậu, tức là ông ta đem cái điều mà mình cho là 'thấp hèn' để phụng sự cha mẹ mình."
Từ tử đem lời ấy nói lại với Di Chi.
Di Chi nói: "Theo đạo của nhà Nho, người xưa nói 'thương dân như con đỏ', lời ấy nghĩa là gì? Tôi cho rằng tình yêu thương thì không có phân biệt cao thấp (ái vô sai đẳng), nhưng khi thực hiện thì bắt đầu từ người thân trước."
Từ tử đem lời ấy nói lại với Mạnh Tử.
Mạnh Tử hỏi: "Di Chi thực sự tin rằng người ta yêu con của anh mình cũng giống như yêu đứa con đỏ của nhà hàng xóm sao? Lời ví von kia có ý nghĩa khác. Nếu thấy đứa trẻ đang bò sắp rơi xuống giếng, đó không phải là tội của đứa trẻ (nên ai cũng động lòng thương). Hơn nữa, trời sinh ra muôn vật đều từ một gốc (cha mẹ mình), mà Di Chi lại muốn lập ra hai gốc (yêu người ngoài như người thân). Xưa kia có thời người ta không chôn cất cha mẹ, cha mẹ chết thì khiêng bỏ xuống khe núi. Ngày sau đi ngang qua, thấy cáo hồ ăn thịt, ruồi muỗi hút máu. Người con nhìn thấy mồ hôi vã ra trên trán, liếc mắt nhìn mà không nỡ nhìn thẳng. Cái mồ hôi ấy không phải vã ra cho người khác xem, mà là từ trong lòng bộc phát ra mặt mũi. Thế là họ về lấy giỏ và xẻng đem đất đến lấp đi. Việc che lấp ấy là thực lòng và đúng đắn. Vậy nên kẻ hiếu tử nhân nhân khi che lấp thi hài cha mẹ mình, tất phải có cái đạo lý tự nhiên của nó."
Từ tử nói lại với Di Chi. Di Chi ngẩn người một hồi lâu rồi nói: "Thầy đã dạy bảo tôi rồi!"
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
h0z44jbmt9up1sl8s48dk41vsblzim6
Biên dịch:Mạnh Tử/Đằng Văn Công hạ
114
72024
204899
2026-04-27T07:59:30Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/滕文公下 | năm= | phần = Đằng Văn Công hạ | trước= [[../Đằng Văn Công thượng]] | sau= [[../Ly Lâu thượng]] | ghi chú = }} ===1=== Trần Đại nói: "Không đi kiến diện chư hầu, xem ra dường như là vì việc nhỏ (giữ kẽ). Nay nếu một lần đến gặp họ, lớn thì có thể giúp h…”
204899
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/滕文公下
| năm=
| phần = Đằng Văn Công hạ
| trước= [[../Đằng Văn Công thượng]]
| sau= [[../Ly Lâu thượng]]
| ghi chú =
}}
===1===
Trần Đại nói: "Không đi kiến diện chư hầu, xem ra dường như là vì việc nhỏ (giữ kẽ). Nay nếu một lần đến gặp họ, lớn thì có thể giúp họ xưng Vương, nhỏ thì có thể giúp họ xưng Bá. Huống hồ sách *Chí* có chép: 'Uốn cong một thước mà duỗi thẳng được một tầm (tám thước)'. Xem ra đó là việc nên làm."
Mạnh Tử đáp: "Xưa kia Tề Cảnh Công đi săn, dùng cờ tinh (loại cờ của bậc đại phu) để gọi người giữ vườn thú (ngự nhân), người ấy không đến, vua giận muốn giết đi. Khổng Tử nói: 'Chí sĩ không quên mình có thể phải bỏ xác nơi khe rãnh, dũng sĩ không quên mình có thể phải mất đầu'. Tại sao Khổng Tử lại khen người giữ vườn thú ấy? Là vì khen ông ta giữ đúng lễ, không phải vật hiệu triệu đúng cho mình thì không đi. Nếu không đợi hiệu triệu đúng mà đã vội đi, thì ra làm sao? Vả lại, cái thuyết 'uốn thước thẳng tầm' là nói về cái lợi. Nếu vì lợi, thì dù 'uốn một tầm để thẳng một thước' mà có lợi, ông cũng làm sao? Ngày trước, Triệu Giản Tử sai Vương Lương đánh xe cho sủng thần là Hề, suốt ngày không săn được con chim nào. Hề về báo rằng: 'Hắn là hạng đánh xe hèn hạ nhất thiên hạ'. Có người đem lời ấy bảo Vương Lương, Lương nói: 'Xin cho thử lại lần nữa'. Gượng ép mãi Hề mới chịu, kết quả một buổi sáng săn được mười con chim. Hề về báo: 'Hắn đúng là hạng đánh xe giỏi nhất thiên hạ'. Giản Tử bảo Vương Lương: 'Ta sai ngươi chuyên trách đánh xe cho hắn'. Vương Lương không chịu, nói: 'Tôi theo đúng phép tắc mà đánh xe, cho ngựa chạy đúng điệu, thì suốt ngày hắn không bắn trúng một con; tôi dùng thủ đoạn tà vạy (lùa thú vào miệng cung) để hắn bắn, thì một buổi sáng hắn được mười con. Kinh *Thi* nói: «Không sai nhịp ngựa phi, bắn tên như phá đá». Tôi không quen đánh xe cho hạng tiểu nhân, xin từ chức'. Kẻ đánh xe còn thấy xấu hổ khi phải a tòng với hạng thợ săn tồi. Dẫu a tòng mà săn được cầm thú chất cao như gò đống, họ cũng không làm. Nay nếu ta uốn cong đạo lý mà theo hạng chư hầu kia, thì ra làm sao? Vả lại ông lầm rồi: kẻ tự uốn cong mình thì chưa bao giờ có thể làm cho người khác ngay thẳng được."
===2===
Cảnh Xuân nói: "Công Tôn Diễn, Trương Nghi há chẳng phải thực sự là bậc đại trượng phu sao? Một khi nổi giận thì chư hầu run sợ, lúc sống yên ổn thì thiên hạ tắt lửa chiến tranh."
Mạnh Tử đáp: "Kẻ ấy sao có thể gọi là đại trượng phu được? Ông chưa học lễ sao? Khi người con trai làm lễ quán (đội mũ trưởng thành), cha dặn dò; khi người con gái về nhà chồng, mẹ dặn bảo, tiễn ra tận cửa mà dặn rằng: «Về nhà chồng phải kính trọng, phải kiêng nể, chớ có trái ý chồng». Lấy sự thuận tùng làm nguyên tắc chính, đó là đạo của hạng thiếp phụ (vợ lẽ, người hầu). Bậc đại trượng phu phải: Ở trong cái nhà rộng lớn nhất thiên hạ (Nhân), đứng ở vị trí ngay chính nhất thiên hạ (Lễ), đi trên con đường rộng lớn nhất thiên hạ (Nghĩa). Đắc chí thì cùng dân thực hiện đạo ấy, không đắc chí thì một mình đi theo đạo của mình. Giàu sang không thể làm cho mê muội, nghèo hèn không thể làm cho thay đổi, uy vũ không thể làm cho khuất phục – thế mới gọi là đại trượng phu."
===3===
Chu Tiêu hỏi: "Bậc quân tử ngày xưa có ra làm quan không?"
Mạnh Tử đáp: "Có chứ. Truyện có chép: «Khổng Tử ba tháng không có vua để phụng sự thì bồn chồn không yên. Khi ra khỏi biên giới nước nào tất mang theo lễ vật ra mắt (chất)». Công Minh Nghi cũng nói: «Người xưa ba tháng không có vua thì người khác đến chia buồn (điếu)»."
Chu Tiêu hỏi: "Ba tháng không có vua mà đã đến chia buồn, chẳng phải là quá vội vã sao?"
Mạnh Tử đáp: "Kẻ sĩ mất chức vị cũng giống như chư hầu mất nước vậy. Kinh *Lễ* chép: «Chư hầu tự cày ruộng để có thóc tế, phu nhân tự nuôi tằm dệt lụa để làm y phục tế tự. Vật hy sinh không nuôi đúng cách, thóc tế không sạch sẽ, y phục không đủ đầy, thì không dám cúng tế. Kẻ sĩ không có ruộng lộc thì cũng không thể cúng tế». Vật tế khí cụ y phục không đủ không dám cúng tế, mà không cúng tế thì không dám yến tiệc vui vẻ, như thế chẳng đủ để đến chia buồn sao?"
Chu Tiêu hỏi: "Khi ra khỏi biên giới tất mang theo lễ vật ra mắt, là vì sao?"
Mạnh Tử đáp: "Kẻ sĩ ra làm quan cũng giống như nông phu cày ruộng vậy. Nông phu lẽ nào khi ra khỏi biên giới lại vứt bỏ cày cuốc của mình sao?"
Chu Tiêu nói: "Nước Tấn cũng là nước có nhiều người làm quan, nhưng tôi chưa từng nghe chuyện làm quan lại khẩn cấp đến thế. Nếu làm quan khẩn cấp như vậy, thì tại sao bậc quân tử lại coi việc ra làm quan là khó khăn (không chịu cầu cạnh)?"
Mạnh Tử đáp: "Con trai sinh ra, cha mẹ mong cho nó có vợ; con gái sinh ra, cha mẹ mong cho nó có chồng. Lòng cha mẹ ấy ai cũng có. Nhưng nếu không đợi mệnh cha mẹ, lời kẻ mai dong, mà tự đục ngạch khoét tường nhìn trộm nhau, trèo tường theo nhau, thì cha mẹ và người trong nước đều khinh rẻ. Người xưa không phải là không muốn làm quan, nhưng lại ghét việc không đi theo đúng con đường chính đạo. Không theo đúng đạo mà cố đi làm quan, thì cũng giống như hạng đục ngạch khoét tường kia vậy."
===4===
Bành Canh hỏi: "Đi sau có hàng chục cỗ xe, theo hầu có hàng trăm người, nhận lương thực từ các nước chư hầu để sống, chẳng phải là quá xa hoa sao?"
Mạnh Tử đáp: "Nếu không đúng đạo, thì một giỏ cơm cũng không được nhận của người. Nếu đúng đạo, thì vua Thuấn nhận cả thiên hạ từ vua Nghiêu cũng không cho là quá, ông lại cho là quá sao?"
Bành Canh nói: "Không phải ý đó. Nhưng kẻ sĩ không làm việc mà lại ăn của người, thì không nên."
Mạnh Tử đáp: "Nếu ông không cho lưu thông công sức, trao đổi công việc, lấy chỗ dư thừa bù chỗ thiếu hụt, thì nông phu có thừa thóc, phụ nữ có thừa vải. Nếu ông cho lưu thông, thì thợ mộc, thợ rèn, thợ đóng xe đều có thể nhờ ông mà có cái ăn. Nay ở đây có một người; trong nhà thì hiếu thảo, ra ngoài thì kính nhường, giữ vững đạo của tiền nhân để dạy bảo hậu thế, thế mà lại không được ông cho ăn. Sao ông lại coi trọng thợ mộc, thợ đóng xe mà lại coi nhẹ người thực hành nhân nghĩa?"
Bành Canh nói: "Thợ mộc, thợ đóng xe, ý định của họ là để kiếm ăn. Bậc quân tử thực hành đạo lý, ý định của họ cũng là để kiếm ăn sao?"
Mạnh Tử đáp: "Ông quan tâm đến ý định của họ làm gì? Miễn là họ có công trạng với ông, đáng được nuôi thì ông nuôi thôi. Vả lại, ông trả công dựa trên ý định (chí) hay dựa trên công lao (công)?"
Bành Canh đáp: "Dựa trên ý định."
Mạnh Tử nói: "Nếu có kẻ ở đây, đập ngói của ông, bôi bẩn tường của ông, nhưng ý định của hắn là để kiếm ăn, vậy ông có cho hắn ăn không?"
Bành Canh đáp: "Không."
Mạnh Tử nói: "Thế thì rõ ràng ông không dựa trên ý định, mà dựa trên công lao vậy."
===5===
Vạn Chương hỏi: "Nước Tống là nước nhỏ, nay muốn thực hành vương chính (chính trị nhân nghĩa), nước Tề và nước Sở ghét mà đem quân đánh thì làm thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Xưa vua Thang ở đất Bạc, làm láng giềng với nước Cát. Cát Bá phóng túng không chịu tế tự tổ tiên. Vua Thang sai người đến hỏi: «Sao không tế tự?». Đáp: «Không có vật hy sinh». Vua Thang sai người tặng bò cừu, Cát Bá đem ăn hết, vẫn không tế. Vua Thang lại hỏi: «Sao không tế?». Đáp: «Không có thóc làm lễ vật». Vua Thang sai dân đất Bạc sang cày giúp cho, người già trẻ nhỏ mang cơm nước đến. Cát Bá lại dẫn dân ra chặn đường cướp bóc rượu thịt thóc gạo của họ, ai không đưa thì giết đi. Có đứa trẻ mang cơm thịt đến, bị hắn giết mà cướp lấy. Kinh *Thư* chép: «Cát Bá thù ghét người mang cơm», là nói việc này vậy. Vì hắn giết đứa trẻ ấy mà vua Thang đem quân đi trừng phạt, thiên hạ đều nói: «Không phải vua muốn giàu có thiên hạ, mà là trả thù cho kẻ bình dân vậy». Vua Thang bắt đầu cuộc chinh phạt từ nước Cát, đánh mười một trận không đối thủ trong thiên hạ. Đánh phương đông thì dân phương tây oán; đánh phương nam thì dân phương bắc oán, họ nói: «Sao lại đến cứu chúng tôi sau cùng?». Dân trông mong vua như nắng hạn trông mưa. Người đi chợ không phải dừng, người làm cỏ ruộng không phải đổi tính (không sợ hãi). Giết tên vua bạo ngược, an ủi dân chúng, như mưa đúng lúc rơi xuống, dân rất vui mừng. Kinh *Thư* chép: «Đợi vua ta đến, vua đến rồi ta không còn bị phạt nữa». Khi vua quân tử mang lụa là đón bậc quân tử, tiểu nhân mang giỏ cơm bầu nước đón tiểu nhân của vua. Đó là cứu dân khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng, chỉ tiêu diệt kẻ tàn ác mà thôi. Sách *Thái Thệ* nói: «Uy vũ ta lừng lẫy, đánh vào bờ cõi nó. Diệt kẻ tàn bạo, việc sát phạt mở ra, thật rạng rỡ thay vua Thang». Chỉ là không chịu hành vương chính mà thôi; nếu thực sự hành vương chính, người trong bốn biển đều sẽ ngước đầu trông ngóng, muốn nhận làm vua. Tề và Sở dù lớn, có gì phải sợ?"
===6===
Mạnh Tử bảo Đới Bất Thắng: "Ông muốn vua nước ông hướng thiện chăng? Tôi nói rõ cho ông nghe: Ví như có một vị đại phu nước Sở, muốn con mình nói được tiếng nước Tề, thì nên mời người nước Tề dạy hay mời người nước Sở dạy?"
Đáp: "Nên mời người nước Tề dạy."
Mạnh Tử nói: "Dù có một người nước Tề dạy nó, nhưng xung quanh đám đông người nước Sở cứ huyên náo nói tiếng Sở, thì dù hàng ngày có đánh đòn bắt nó nói tiếng Tề, cũng không thể được. Nhưng nếu đưa nó đến ở vùng Trang, vùng Nhạc nước Tề vài năm, thì dù hàng ngày có đánh đòn bắt nó nói tiếng Sở, cũng không thể được nữa. Ông nói Tiết Cư Châu là người hiền, cho ông ấy ở bên cạnh vua. Nếu quanh vua, từ trẻ đến già, từ cao đến thấp đều là người như Tiết Cư Châu, thì vua biết làm điều ác với ai? Nhưng nếu quanh vua, từ trẻ đến già, từ cao đến thấp đều không phải là Tiết Cư Châu, thì vua biết làm điều thiện với ai? Chỉ một mình Tiết Cư Châu thì làm gì được vua nước Tống?"
===7===
Công Tôn Sửu hỏi: "Không đi kiến diện chư hầu, là nghĩa gì?"
Mạnh Tử đáp: "Ngày xưa, nếu không phải là bề tôi thì không vào gặp. Đoạn Can Mộc trèo tường tránh vua, Tiết Liễu đóng cửa không tiếp. Những người đó đều làm hơi quá; nếu vua đến mời một cách khẩn khoản (bách thiết) thì có thể gặp. Dương Hóa muốn gặp Khổng Tử nhưng lại ghét việc mình vô lễ. Lệ rằng hễ bậc đại phu có quà ban cho kẻ sĩ mà kẻ sĩ không có nhà để nhận, thì sau đó kẻ sĩ phải đến nhà đại phu bái tạ. Dương Hóa rình lúc Khổng Tử đi vắng, sai người mang tặng một con lợn sữa quay. Khổng Tử cũng rình lúc hắn đi vắng để đến bái tạ. Lúc đó, nếu chẳng may gặp nhau trên đường, Khổng Tử há lại không gặp sao? Tăng Tử nói: «Khúm núm vai, nịnh hót cười, còn khổ nhọc hơn làm ruộng mùa hè». Tử Lộ nói: «Chưa cùng chí hướng mà đã gượng nói chuyện, nhìn sắc mặt đỏ bừng ngượng ngùng, đó không phải là hạng người mà Trọng Do này muốn biết». Từ đó mà xem, cái chí khí nuôi dưỡng của bậc quân tử có thể biết được vậy."
===8===
Đới Doanh Chi nói: "Thuế mười lấy một, bỏ các thứ thuế nơi biên quan và chợ búa, năm nay tôi chưa làm ngay được. Xin cho giảm nhẹ đi một chút, đợi đến sang năm rồi mới bỏ hẳn, được chăng?"
Mạnh Tử đáp: "Nay có kẻ mỗi ngày ăn trộm một con gà của hàng xóm. Có người bảo hắn: «Đó không phải là đạo của người quân tử». Hắn nói: «Xin cho tôi bớt đi, mỗi tháng trộm một con thôi, đợi đến sang năm rồi mới bỏ hẳn». Nếu đã biết việc đó là phi nghĩa, thì phải mau chóng chấm dứt ngay, sao còn đợi đến sang năm?"
===9===
Công Đô Tử nói: "Người ngoài đều bảo Phu tử là người ham tranh biện, xin hỏi tại sao vậy?"
Mạnh Tử đáp: "Ta há lại ham tranh biện sao? Ta bất đắc dĩ đó thôi. Thiên hạ sinh ra đã lâu rồi, khi trị khi loạn luân hồi. Thời vua Nghiêu, nước chảy ngược, tràn lan khắp Trung Hoa. Rồng rắn bò ra chiếm chỗ, dân không có nơi ở định. Người ở thấp thì làm tổ trên cây, người ở cao thì đào hang hốc. Sách *Thư* chép: «Nước lụt cảnh báo ta». Nước lụt ấy chính là hồng thủy. Vua Nghiêu sai vua Vũ trị thủy. Vua Vũ đào đất cho nước chảy ra biển, đuổi rồng rắn vào đầm lầy, nước theo dòng mà chảy, thành sông Trường Giang, sông Hoài, sông Hoàng Hà, sông Hán. Hiểm họa lùi xa, chim muông thú dữ hại người bị tiêu diệt, dân mới có đất bằng để ở."
"Vua Nghiêu vua Thuấn mất rồi, đạo của thánh nhân suy vi. Những tên bạo quân thay nhau trỗi dậy, phá hủy nhà cửa của dân làm ao hồ khiến dân không nơi nghỉ ngơi; bỏ ruộng vườn làm vườn thượng uyển khiến dân không có cái ăn mặc. Tà thuyết và hành vi bạo ngược lại nảy sinh. Vườn tược ao hồ nhiều thì cầm thú kéo đến. Đến đời vua Trụ, thiên hạ lại đại loạn. Chu Công giúp Võ Vương giết vua Trụ, đánh nước Yểm, ba năm mới dẹp yên; đuổi Phi Liêm ra tận góc biển mà giết đi; diệt trừ năm mươi nước phản nghịch; đuổi hổ báo tê voi ra nơi xa xăm. Thiên hạ rất vui mừng. Kinh *Thư* chép: «Rạng rỡ thay mưu lược Văn Vương! Nối tiếp vĩ đại thay công nghiệp Võ Vương! Giúp đỡ mở mang cho hậu thế chúng ta, đều theo đường ngay không chút thiếu sót»."
"Thế đạo suy vi, tà thuyết bạo hành lại trỗi dậy. Có kẻ tôi giết vua, có kẻ con giết cha. Khổng Tử lo sợ, bèn soạn kinh *Xuân Thu*. *Xuân Thu* là việc của Thiên tử (phán xét thiên hạ). Cho nên Khổng Tử nói: «Người hiểu ta tất chỉ dựa vào kinh *Xuân Thu*! Người kết tội ta tất cũng chỉ dựa vào kinh *Xuân Thu*!»."
"Đời không có thánh vương, chư hầu phóng túng, kẻ sĩ bàn luận càn rỡ. Lời của Dương Chu, Mặc Địch đầy rẫy thiên hạ. Lời bàn của thiên hạ, không theo Dương tất theo Mặc. Thuyết của họ Dương là 'vị ngã' (vì mình), ấy là không có vua. Thuyết của họ Mặc là 'kiêm ái' (yêu hết mọi người như nhau), ấy là không có cha. Không cha không vua, ấy là hạng cầm thú. Công Minh Nghi nói: «Trong bếp có thịt béo, trong chuồng có ngựa béo, mà dân có vẻ mặt đói khát, ngoài đồng có xác chết đói, ấy là dắt thú dữ mà ăn thịt người vậy». Đạo của Dương, Mặc không dứt, đạo của Khổng Tử không sáng, thì tà thuyết lừa dân sẽ làm nghẽn lối nhân nghĩa. Nhân nghĩa nghẽn lối thì sẽ dẫn đến cảnh dắt thú ăn thịt người, người lại ăn thịt nhau. Ta vì lo sợ điều đó nên phải bảo vệ đạo của tiên thánh, chống lại Dương Mặc, bài trừ lời lẽ phóng túng, để tà thuyết không thể nảy sinh. Tà thuyết nảy sinh trong tâm thì hại đến công việc; nảy sinh trong công việc thì hại đến chính sự. Bậc thánh nhân có sống lại, cũng không thay đổi lời ta đâu."
"Xưa kia vua Vũ dẹp nạn lụt mà thiên hạ bình yên, Chu Công thu phục di địch, đuổi mãnh thú mà trăm họ an ninh, Khổng Tử soạn xong kinh *Xuân Thu* mà bọn loạn thần tặc tử run sợ. Kinh *Thi* nói: «Đánh đuổi Nhung Địch, trừng trị Kinh Thư; thì không ai dám chống lại ta». Kẻ không cha không vua chính là đối tượng mà Chu Công đánh đuổi. Ta cũng muốn chính lại lòng người, dẹp bỏ tà thuyết, chống lại hành vi tà vạy, bài trừ lời lẽ phóng túng, để nối tiếp sự nghiệp của ba vị thánh nhân kia. Ta há lại ham tranh biện sao? Ta bất đắc dĩ đó thôi. Kẻ nào có thể dùng lời nói mà chống lại được Dương Mặc, kẻ đó chính là học trò của thánh nhân vậy."
===10===
Khuông Chương nói: "Trần Trọng Tử há chẳng phải thực sự là bậc sĩ phu thanh liêm sao? Khi ở Ô Lăng, ba ngày không ăn, tai không nghe thấy gì, mắt không nhìn thấy gì. Bên giếng có cây mận, sâu đã ăn quá nửa quả, ông bò đến hái mà ăn, nuốt được ba miếng thì tai mới nghe lại được, mắt mới nhìn thấy lại được."
Mạnh Tử đáp: "Trong hàng kẻ sĩ nước Tề, ta nhất định coi Trọng Tử là bậc nhất (cự phách). Tuy nhiên, Trọng Tử sao có thể gọi là thanh liêm? Nếu muốn làm trọn cái tiết tháo của Trọng Tử, thì phải biến thành con giun đất mới làm được. Con giun đất trên ăn đất khô, dưới uống nước vàng. Ngôi nhà Trọng Tử đang ở, là do Bá Di (người thanh liêm) xây hay là do Đạo Chích (kẻ trộm) xây? Thóc ông ta ăn, là do Bá Di trồng hay do Đạo Chích trồng? Điều đó không thể biết được."
Khuông Chương nói: "Việc đó có hại gì? Ông ta tự tay dệt giày, vợ ông ta quay sợi để đổi lấy thức ăn đồ dùng mà."
Mạnh Tử nói: "Trọng Tử vốn là dòng dõi thế gia nước Tề. Anh ông ta là Đới, hưởng lộc vùng Cái vạn chung thóc. Ông ta cho lộc của anh mình là bất nghĩa nên không ăn, cho ngôi nhà của anh mình là bất nghĩa nên không ở, lánh mặt anh, rời xa mẹ, đến ở đất Ô Lăng. Một hôm về thăm, có người tặng anh ông ta một con ngỗng sống, ông ta nhăn mặt nói: «Dùng cái thứ kêu quác quác này làm gì?». Mấy hôm sau, bà mẹ giết con ngỗng ấy cho ông ta ăn. Người anh từ ngoài về nói: «Đó là thịt của cái thứ kêu quác quác đấy». Trọng Tử nghe xong liền chạy ra ngoài mà nôn thốc nôn tháo. Lấy lộc của mẹ thì không ăn, nhưng ăn thịt do vợ đổi về thì lại ăn; nhà của anh thì không ở, nhưng nhà ở Ô Lăng thì lại ở. Như thế có làm trọn được cái nguyên tắc của mình không? Hạng người như Trọng Tử, phải làm con giun mới giữ trọn được cái tiết tháo ấy."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
4z0s53u04u9srov57tog1uo40ctfwyd
204900
204899
2026-04-27T08:00:29Z
Mrfly911
2215
204900
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/滕文公下
| năm=
| phần = Đằng Văn Công hạ
| trước= [[../Đằng Văn Công thượng]]
| sau= [[../Ly Lâu thượng]]
| ghi chú =
}}
===1===
Trần Đại nói: "Không đi kiến diện chư hầu, xem ra dường như là vì việc nhỏ (giữ kẽ). Nay nếu một lần đến gặp họ, lớn thì có thể giúp họ xưng Vương, nhỏ thì có thể giúp họ xưng Bá. Huống hồ sách '''Chí''' có chép: 'Uốn cong một thước mà duỗi thẳng được một tầm (tám thước)'. Xem ra đó là việc nên làm."
Mạnh Tử đáp: "Xưa kia Tề Cảnh Công đi săn, dùng cờ tinh (loại cờ của bậc đại phu) để gọi người giữ vườn thú (ngự nhân), người ấy không đến, vua giận muốn giết đi. Khổng Tử nói: 'Chí sĩ không quên mình có thể phải bỏ xác nơi khe rãnh, dũng sĩ không quên mình có thể phải mất đầu'. Tại sao Khổng Tử lại khen người giữ vườn thú ấy? Là vì khen ông ta giữ đúng lễ, không phải vật hiệu triệu đúng cho mình thì không đi. Nếu không đợi hiệu triệu đúng mà đã vội đi, thì ra làm sao? Vả lại, cái thuyết 'uốn thước thẳng tầm' là nói về cái lợi. Nếu vì lợi, thì dù 'uốn một tầm để thẳng một thước' mà có lợi, ông cũng làm sao? Ngày trước, Triệu Giản Tử sai Vương Lương đánh xe cho sủng thần là Hề, suốt ngày không săn được con chim nào. Hề về báo rằng: 'Hắn là hạng đánh xe hèn hạ nhất thiên hạ'. Có người đem lời ấy bảo Vương Lương, Lương nói: 'Xin cho thử lại lần nữa'. Gượng ép mãi Hề mới chịu, kết quả một buổi sáng săn được mười con chim. Hề về báo: 'Hắn đúng là hạng đánh xe giỏi nhất thiên hạ'. Giản Tử bảo Vương Lương: 'Ta sai ngươi chuyên trách đánh xe cho hắn'. Vương Lương không chịu, nói: 'Tôi theo đúng phép tắc mà đánh xe, cho ngựa chạy đúng điệu, thì suốt ngày hắn không bắn trúng một con; tôi dùng thủ đoạn tà vạy (lùa thú vào miệng cung) để hắn bắn, thì một buổi sáng hắn được mười con. Kinh '''Thi''' nói: «Không sai nhịp ngựa phi, bắn tên như phá đá». Tôi không quen đánh xe cho hạng tiểu nhân, xin từ chức'. Kẻ đánh xe còn thấy xấu hổ khi phải a tòng với hạng thợ săn tồi. Dẫu a tòng mà săn được cầm thú chất cao như gò đống, họ cũng không làm. Nay nếu ta uốn cong đạo lý mà theo hạng chư hầu kia, thì ra làm sao? Vả lại ông lầm rồi: kẻ tự uốn cong mình thì chưa bao giờ có thể làm cho người khác ngay thẳng được."
===2===
Cảnh Xuân nói: "Công Tôn Diễn, Trương Nghi há chẳng phải thực sự là bậc đại trượng phu sao? Một khi nổi giận thì chư hầu run sợ, lúc sống yên ổn thì thiên hạ tắt lửa chiến tranh."
Mạnh Tử đáp: "Kẻ ấy sao có thể gọi là đại trượng phu được? Ông chưa học lễ sao? Khi người con trai làm lễ quán (đội mũ trưởng thành), cha dặn dò; khi người con gái về nhà chồng, mẹ dặn bảo, tiễn ra tận cửa mà dặn rằng: «Về nhà chồng phải kính trọng, phải kiêng nể, chớ có trái ý chồng». Lấy sự thuận tùng làm nguyên tắc chính, đó là đạo của hạng thiếp phụ (vợ lẽ, người hầu). Bậc đại trượng phu phải: Ở trong cái nhà rộng lớn nhất thiên hạ (Nhân), đứng ở vị trí ngay chính nhất thiên hạ (Lễ), đi trên con đường rộng lớn nhất thiên hạ (Nghĩa). Đắc chí thì cùng dân thực hiện đạo ấy, không đắc chí thì một mình đi theo đạo của mình. Giàu sang không thể làm cho mê muội, nghèo hèn không thể làm cho thay đổi, uy vũ không thể làm cho khuất phục – thế mới gọi là đại trượng phu."
===3===
Chu Tiêu hỏi: "Bậc quân tử ngày xưa có ra làm quan không?"
Mạnh Tử đáp: "Có chứ. Truyện có chép: «Khổng Tử ba tháng không có vua để phụng sự thì bồn chồn không yên. Khi ra khỏi biên giới nước nào tất mang theo lễ vật ra mắt (chất)». Công Minh Nghi cũng nói: «Người xưa ba tháng không có vua thì người khác đến chia buồn (điếu)»."
Chu Tiêu hỏi: "Ba tháng không có vua mà đã đến chia buồn, chẳng phải là quá vội vã sao?"
Mạnh Tử đáp: "Kẻ sĩ mất chức vị cũng giống như chư hầu mất nước vậy. Kinh '''Lễ''' chép: «Chư hầu tự cày ruộng để có thóc tế, phu nhân tự nuôi tằm dệt lụa để làm y phục tế tự. Vật hy sinh không nuôi đúng cách, thóc tế không sạch sẽ, y phục không đủ đầy, thì không dám cúng tế. Kẻ sĩ không có ruộng lộc thì cũng không thể cúng tế». Vật tế khí cụ y phục không đủ không dám cúng tế, mà không cúng tế thì không dám yến tiệc vui vẻ, như thế chẳng đủ để đến chia buồn sao?"
Chu Tiêu hỏi: "Khi ra khỏi biên giới tất mang theo lễ vật ra mắt, là vì sao?"
Mạnh Tử đáp: "Kẻ sĩ ra làm quan cũng giống như nông phu cày ruộng vậy. Nông phu lẽ nào khi ra khỏi biên giới lại vứt bỏ cày cuốc của mình sao?"
Chu Tiêu nói: "Nước Tấn cũng là nước có nhiều người làm quan, nhưng tôi chưa từng nghe chuyện làm quan lại khẩn cấp đến thế. Nếu làm quan khẩn cấp như vậy, thì tại sao bậc quân tử lại coi việc ra làm quan là khó khăn (không chịu cầu cạnh)?"
Mạnh Tử đáp: "Con trai sinh ra, cha mẹ mong cho nó có vợ; con gái sinh ra, cha mẹ mong cho nó có chồng. Lòng cha mẹ ấy ai cũng có. Nhưng nếu không đợi mệnh cha mẹ, lời kẻ mai dong, mà tự đục ngạch khoét tường nhìn trộm nhau, trèo tường theo nhau, thì cha mẹ và người trong nước đều khinh rẻ. Người xưa không phải là không muốn làm quan, nhưng lại ghét việc không đi theo đúng con đường chính đạo. Không theo đúng đạo mà cố đi làm quan, thì cũng giống như hạng đục ngạch khoét tường kia vậy."
===4===
Bành Canh hỏi: "Đi sau có hàng chục cỗ xe, theo hầu có hàng trăm người, nhận lương thực từ các nước chư hầu để sống, chẳng phải là quá xa hoa sao?"
Mạnh Tử đáp: "Nếu không đúng đạo, thì một giỏ cơm cũng không được nhận của người. Nếu đúng đạo, thì vua Thuấn nhận cả thiên hạ từ vua Nghiêu cũng không cho là quá, ông lại cho là quá sao?"
Bành Canh nói: "Không phải ý đó. Nhưng kẻ sĩ không làm việc mà lại ăn của người, thì không nên."
Mạnh Tử đáp: "Nếu ông không cho lưu thông công sức, trao đổi công việc, lấy chỗ dư thừa bù chỗ thiếu hụt, thì nông phu có thừa thóc, phụ nữ có thừa vải. Nếu ông cho lưu thông, thì thợ mộc, thợ rèn, thợ đóng xe đều có thể nhờ ông mà có cái ăn. Nay ở đây có một người; trong nhà thì hiếu thảo, ra ngoài thì kính nhường, giữ vững đạo của tiền nhân để dạy bảo hậu thế, thế mà lại không được ông cho ăn. Sao ông lại coi trọng thợ mộc, thợ đóng xe mà lại coi nhẹ người thực hành nhân nghĩa?"
Bành Canh nói: "Thợ mộc, thợ đóng xe, ý định của họ là để kiếm ăn. Bậc quân tử thực hành đạo lý, ý định của họ cũng là để kiếm ăn sao?"
Mạnh Tử đáp: "Ông quan tâm đến ý định của họ làm gì? Miễn là họ có công trạng với ông, đáng được nuôi thì ông nuôi thôi. Vả lại, ông trả công dựa trên ý định (chí) hay dựa trên công lao (công)?"
Bành Canh đáp: "Dựa trên ý định."
Mạnh Tử nói: "Nếu có kẻ ở đây, đập ngói của ông, bôi bẩn tường của ông, nhưng ý định của hắn là để kiếm ăn, vậy ông có cho hắn ăn không?"
Bành Canh đáp: "Không."
Mạnh Tử nói: "Thế thì rõ ràng ông không dựa trên ý định, mà dựa trên công lao vậy."
===5===
Vạn Chương hỏi: "Nước Tống là nước nhỏ, nay muốn thực hành vương chính (chính trị nhân nghĩa), nước Tề và nước Sở ghét mà đem quân đánh thì làm thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Xưa vua Thang ở đất Bạc, làm láng giềng với nước Cát. Cát Bá phóng túng không chịu tế tự tổ tiên. Vua Thang sai người đến hỏi: «Sao không tế tự?». Đáp: «Không có vật hy sinh». Vua Thang sai người tặng bò cừu, Cát Bá đem ăn hết, vẫn không tế. Vua Thang lại hỏi: «Sao không tế?». Đáp: «Không có thóc làm lễ vật». Vua Thang sai dân đất Bạc sang cày giúp cho, người già trẻ nhỏ mang cơm nước đến. Cát Bá lại dẫn dân ra chặn đường cướp bóc rượu thịt thóc gạo của họ, ai không đưa thì giết đi. Có đứa trẻ mang cơm thịt đến, bị hắn giết mà cướp lấy. Kinh '''Thư''' chép: «Cát Bá thù ghét người mang cơm», là nói việc này vậy. Vì hắn giết đứa trẻ ấy mà vua Thang đem quân đi trừng phạt, thiên hạ đều nói: «Không phải vua muốn giàu có thiên hạ, mà là trả thù cho kẻ bình dân vậy». Vua Thang bắt đầu cuộc chinh phạt từ nước Cát, đánh mười một trận không đối thủ trong thiên hạ. Đánh phương đông thì dân phương tây oán; đánh phương nam thì dân phương bắc oán, họ nói: «Sao lại đến cứu chúng tôi sau cùng?». Dân trông mong vua như nắng hạn trông mưa. Người đi chợ không phải dừng, người làm cỏ ruộng không phải đổi tính (không sợ hãi). Giết tên vua bạo ngược, an ủi dân chúng, như mưa đúng lúc rơi xuống, dân rất vui mừng. Kinh '''Thư''' chép: «Đợi vua ta đến, vua đến rồi ta không còn bị phạt nữa». Khi vua quân tử mang lụa là đón bậc quân tử, tiểu nhân mang giỏ cơm bầu nước đón tiểu nhân của vua. Đó là cứu dân khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng, chỉ tiêu diệt kẻ tàn ác mà thôi. Sách '''Thái Thệ''' nói: «Uy vũ ta lừng lẫy, đánh vào bờ cõi nó. Diệt kẻ tàn bạo, việc sát phạt mở ra, thật rạng rỡ thay vua Thang». Chỉ là không chịu hành vương chính mà thôi; nếu thực sự hành vương chính, người trong bốn biển đều sẽ ngước đầu trông ngóng, muốn nhận làm vua. Tề và Sở dù lớn, có gì phải sợ?"
===6===
Mạnh Tử bảo Đới Bất Thắng: "Ông muốn vua nước ông hướng thiện chăng? Tôi nói rõ cho ông nghe: Ví như có một vị đại phu nước Sở, muốn con mình nói được tiếng nước Tề, thì nên mời người nước Tề dạy hay mời người nước Sở dạy?"
Đáp: "Nên mời người nước Tề dạy."
Mạnh Tử nói: "Dù có một người nước Tề dạy nó, nhưng xung quanh đám đông người nước Sở cứ huyên náo nói tiếng Sở, thì dù hàng ngày có đánh đòn bắt nó nói tiếng Tề, cũng không thể được. Nhưng nếu đưa nó đến ở vùng Trang, vùng Nhạc nước Tề vài năm, thì dù hàng ngày có đánh đòn bắt nó nói tiếng Sở, cũng không thể được nữa. Ông nói Tiết Cư Châu là người hiền, cho ông ấy ở bên cạnh vua. Nếu quanh vua, từ trẻ đến già, từ cao đến thấp đều là người như Tiết Cư Châu, thì vua biết làm điều ác với ai? Nhưng nếu quanh vua, từ trẻ đến già, từ cao đến thấp đều không phải là Tiết Cư Châu, thì vua biết làm điều thiện với ai? Chỉ một mình Tiết Cư Châu thì làm gì được vua nước Tống?"
===7===
Công Tôn Sửu hỏi: "Không đi kiến diện chư hầu, là nghĩa gì?"
Mạnh Tử đáp: "Ngày xưa, nếu không phải là bề tôi thì không vào gặp. Đoạn Can Mộc trèo tường tránh vua, Tiết Liễu đóng cửa không tiếp. Những người đó đều làm hơi quá; nếu vua đến mời một cách khẩn khoản (bách thiết) thì có thể gặp. Dương Hóa muốn gặp Khổng Tử nhưng lại ghét việc mình vô lễ. Lệ rằng hễ bậc đại phu có quà ban cho kẻ sĩ mà kẻ sĩ không có nhà để nhận, thì sau đó kẻ sĩ phải đến nhà đại phu bái tạ. Dương Hóa rình lúc Khổng Tử đi vắng, sai người mang tặng một con lợn sữa quay. Khổng Tử cũng rình lúc hắn đi vắng để đến bái tạ. Lúc đó, nếu chẳng may gặp nhau trên đường, Khổng Tử há lại không gặp sao? Tăng Tử nói: «Khúm núm vai, nịnh hót cười, còn khổ nhọc hơn làm ruộng mùa hè». Tử Lộ nói: «Chưa cùng chí hướng mà đã gượng nói chuyện, nhìn sắc mặt đỏ bừng ngượng ngùng, đó không phải là hạng người mà Trọng Do này muốn biết». Từ đó mà xem, cái chí khí nuôi dưỡng của bậc quân tử có thể biết được vậy."
===8===
Đới Doanh Chi nói: "Thuế mười lấy một, bỏ các thứ thuế nơi biên quan và chợ búa, năm nay tôi chưa làm ngay được. Xin cho giảm nhẹ đi một chút, đợi đến sang năm rồi mới bỏ hẳn, được chăng?"
Mạnh Tử đáp: "Nay có kẻ mỗi ngày ăn trộm một con gà của hàng xóm. Có người bảo hắn: «Đó không phải là đạo của người quân tử». Hắn nói: «Xin cho tôi bớt đi, mỗi tháng trộm một con thôi, đợi đến sang năm rồi mới bỏ hẳn». Nếu đã biết việc đó là phi nghĩa, thì phải mau chóng chấm dứt ngay, sao còn đợi đến sang năm?"
===9===
Công Đô Tử nói: "Người ngoài đều bảo Phu tử là người ham tranh biện, xin hỏi tại sao vậy?"
Mạnh Tử đáp: "Ta há lại ham tranh biện sao? Ta bất đắc dĩ đó thôi. Thiên hạ sinh ra đã lâu rồi, khi trị khi loạn luân hồi. Thời vua Nghiêu, nước chảy ngược, tràn lan khắp Trung Hoa. Rồng rắn bò ra chiếm chỗ, dân không có nơi ở định. Người ở thấp thì làm tổ trên cây, người ở cao thì đào hang hốc. Sách '''Thư''' chép: «Nước lụt cảnh báo ta». Nước lụt ấy chính là hồng thủy. Vua Nghiêu sai vua Vũ trị thủy. Vua Vũ đào đất cho nước chảy ra biển, đuổi rồng rắn vào đầm lầy, nước theo dòng mà chảy, thành sông Trường Giang, sông Hoài, sông Hoàng Hà, sông Hán. Hiểm họa lùi xa, chim muông thú dữ hại người bị tiêu diệt, dân mới có đất bằng để ở."
"Vua Nghiêu vua Thuấn mất rồi, đạo của thánh nhân suy vi. Những tên bạo quân thay nhau trỗi dậy, phá hủy nhà cửa của dân làm ao hồ khiến dân không nơi nghỉ ngơi; bỏ ruộng vườn làm vườn thượng uyển khiến dân không có cái ăn mặc. Tà thuyết và hành vi bạo ngược lại nảy sinh. Vườn tược ao hồ nhiều thì cầm thú kéo đến. Đến đời vua Trụ, thiên hạ lại đại loạn. Chu Công giúp Võ Vương giết vua Trụ, đánh nước Yểm, ba năm mới dẹp yên; đuổi Phi Liêm ra tận góc biển mà giết đi; diệt trừ năm mươi nước phản nghịch; đuổi hổ báo tê voi ra nơi xa xăm. Thiên hạ rất vui mừng. Kinh '''Thư''' chép: «Rạng rỡ thay mưu lược Văn Vương! Nối tiếp vĩ đại thay công nghiệp Võ Vương! Giúp đỡ mở mang cho hậu thế chúng ta, đều theo đường ngay không chút thiếu sót»."
"Thế đạo suy vi, tà thuyết bạo hành lại trỗi dậy. Có kẻ tôi giết vua, có kẻ con giết cha. Khổng Tử lo sợ, bèn soạn kinh '''Xuân Thu'''. '''Xuân Thu''' là việc của Thiên tử (phán xét thiên hạ). Cho nên Khổng Tử nói: «Người hiểu ta tất chỉ dựa vào kinh '''Xuân Thu'''! Người kết tội ta tất cũng chỉ dựa vào kinh '''Xuân Thu'''!»."
"Đời không có thánh vương, chư hầu phóng túng, kẻ sĩ bàn luận càn rỡ. Lời của Dương Chu, Mặc Địch đầy rẫy thiên hạ. Lời bàn của thiên hạ, không theo Dương tất theo Mặc. Thuyết của họ Dương là 'vị ngã' (vì mình), ấy là không có vua. Thuyết của họ Mặc là 'kiêm ái' (yêu hết mọi người như nhau), ấy là không có cha. Không cha không vua, ấy là hạng cầm thú. Công Minh Nghi nói: «Trong bếp có thịt béo, trong chuồng có ngựa béo, mà dân có vẻ mặt đói khát, ngoài đồng có xác chết đói, ấy là dắt thú dữ mà ăn thịt người vậy». Đạo của Dương, Mặc không dứt, đạo của Khổng Tử không sáng, thì tà thuyết lừa dân sẽ làm nghẽn lối nhân nghĩa. Nhân nghĩa nghẽn lối thì sẽ dẫn đến cảnh dắt thú ăn thịt người, người lại ăn thịt nhau. Ta vì lo sợ điều đó nên phải bảo vệ đạo của tiên thánh, chống lại Dương Mặc, bài trừ lời lẽ phóng túng, để tà thuyết không thể nảy sinh. Tà thuyết nảy sinh trong tâm thì hại đến công việc; nảy sinh trong công việc thì hại đến chính sự. Bậc thánh nhân có sống lại, cũng không thay đổi lời ta đâu."
"Xưa kia vua Vũ dẹp nạn lụt mà thiên hạ bình yên, Chu Công thu phục di địch, đuổi mãnh thú mà trăm họ an ninh, Khổng Tử soạn xong kinh '''Xuân Thu''' mà bọn loạn thần tặc tử run sợ. Kinh '''Thi''' nói: «Đánh đuổi Nhung Địch, trừng trị Kinh Thư; thì không ai dám chống lại ta». Kẻ không cha không vua chính là đối tượng mà Chu Công đánh đuổi. Ta cũng muốn chính lại lòng người, dẹp bỏ tà thuyết, chống lại hành vi tà vạy, bài trừ lời lẽ phóng túng, để nối tiếp sự nghiệp của ba vị thánh nhân kia. Ta há lại ham tranh biện sao? Ta bất đắc dĩ đó thôi. Kẻ nào có thể dùng lời nói mà chống lại được Dương Mặc, kẻ đó chính là học trò của thánh nhân vậy."
===10===
Khuông Chương nói: "Trần Trọng Tử há chẳng phải thực sự là bậc sĩ phu thanh liêm sao? Khi ở Ô Lăng, ba ngày không ăn, tai không nghe thấy gì, mắt không nhìn thấy gì. Bên giếng có cây mận, sâu đã ăn quá nửa quả, ông bò đến hái mà ăn, nuốt được ba miếng thì tai mới nghe lại được, mắt mới nhìn thấy lại được."
Mạnh Tử đáp: "Trong hàng kẻ sĩ nước Tề, ta nhất định coi Trọng Tử là bậc nhất (cự phách). Tuy nhiên, Trọng Tử sao có thể gọi là thanh liêm? Nếu muốn làm trọn cái tiết tháo của Trọng Tử, thì phải biến thành con giun đất mới làm được. Con giun đất trên ăn đất khô, dưới uống nước vàng. Ngôi nhà Trọng Tử đang ở, là do Bá Di (người thanh liêm) xây hay là do Đạo Chích (kẻ trộm) xây? Thóc ông ta ăn, là do Bá Di trồng hay do Đạo Chích trồng? Điều đó không thể biết được."
Khuông Chương nói: "Việc đó có hại gì? Ông ta tự tay dệt giày, vợ ông ta quay sợi để đổi lấy thức ăn đồ dùng mà."
Mạnh Tử nói: "Trọng Tử vốn là dòng dõi thế gia nước Tề. Anh ông ta là Đới, hưởng lộc vùng Cái vạn chung thóc. Ông ta cho lộc của anh mình là bất nghĩa nên không ăn, cho ngôi nhà của anh mình là bất nghĩa nên không ở, lánh mặt anh, rời xa mẹ, đến ở đất Ô Lăng. Một hôm về thăm, có người tặng anh ông ta một con ngỗng sống, ông ta nhăn mặt nói: «Dùng cái thứ kêu quác quác này làm gì?». Mấy hôm sau, bà mẹ giết con ngỗng ấy cho ông ta ăn. Người anh từ ngoài về nói: «Đó là thịt của cái thứ kêu quác quác đấy». Trọng Tử nghe xong liền chạy ra ngoài mà nôn thốc nôn tháo. Lấy lộc của mẹ thì không ăn, nhưng ăn thịt do vợ đổi về thì lại ăn; nhà của anh thì không ở, nhưng nhà ở Ô Lăng thì lại ở. Như thế có làm trọn được cái nguyên tắc của mình không? Hạng người như Trọng Tử, phải làm con giun mới giữ trọn được cái tiết tháo ấy."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
kqm8jynh3k6iq4nf6v0hf9cvqrgih7j
Biên dịch:Mạnh Tử/Ly Lâu thượng
114
72025
204901
2026-04-27T08:05:21Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/離婁上 | năm= | phần = Ly Lâu thượng | trước= [[../Đằng Văn Công hạ]] | sau= [[../Ly Lâu hạ]] | ghi chú = }} ===1=== Mạnh Tử nói: "Cái tinh mắt của Ly Lâu, cái khéo tay của Công Thâu Tử, nếu không dùng quy và củ (thước đo vòng và thước đo góc), thì không thể vẽ thành hình vu…”
204901
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/離婁上
| năm=
| phần = Ly Lâu thượng
| trước= [[../Đằng Văn Công hạ]]
| sau= [[../Ly Lâu hạ]]
| ghi chú =
}}
===1===
Mạnh Tử nói: "Cái tinh mắt của Ly Lâu, cái khéo tay của Công Thâu Tử, nếu không dùng quy và củ (thước đo vòng và thước đo góc), thì không thể vẽ thành hình vuông hình tròn được. Cái thính tai của Sư Khoáng, nếu không dựa vào sáu luật (thanh luật), thì không thể hiệu chỉnh năm âm cho đúng được. Cái đạo của Nghiêu Thuấn, nếu không thực hành nhân chính, thì không thể bình trị thiên hạ được. Nay có người có lòng nhân, có tiếng nhân đức mà dân không được nhờ ơn huệ, chẳng thể làm gương cho hậu thế, ấy là bởi không thực hành đạo của tiên vương vậy. Cho nên nói: Chỉ có lòng thiện thì không đủ để làm chính trị, chỉ có pháp luật thì chẳng thể tự nó hành thông. Kinh '''Thi''' có câu: 'Chẳng lỗi chẳng quên, noi theo khuôn cũ'. Tuân theo phép tắc của tiên vương mà mắc phải sai lầm, ấy là điều chưa từng có. Bậc thánh nhân sau khi dùng hết sức của mắt, bèn đặt ra thêm quy, củ, chuẩn, thằng (thước vòng, thước góc, mực nước, dây nảy mực) để làm chuẩn cho vuông, tròn, bằng, thẳng, khiến cho việc sử dụng là vô cùng vô tận. Sau khi dùng hết sức của tai, bèn đặt ra sáu luật để hiệu chính năm âm, khiến cho việc sử dụng là vô cùng vô tận. Sau khi dùng hết tâm tư, bèn thực hành chính sách 'lòng không nỡ hại người' (bất nhẫn nhân chi chính) khiến cho lòng nhân bao phủ khắp thiên hạ. Cho nên nói: Xây chỗ cao tất phải dựa vào gò đống, làm chỗ thấp tất phải dựa vào sông rạch. Làm chính trị mà không dựa vào đạo của tiên vương, có thể gọi là trí tuệ chăng? Thế nên, chỉ người nhân mới nên ở ngôi cao. Kẻ không nhân mà ở ngôi cao, ấy là gieo rắc cái xấu ác của mình đến dân chúng. Ở trên không lấy đạo để cân nhắc, ở dưới không lấy pháp để giữ mình; triều đình không tin vào đạo đức, thợ thuyền không tin vào thước đo; người quân tử phạm nghĩa, kẻ tiểu nhân phạm hình, nước ấy còn tồn tại được chỉ là nhờ may mắn thôi. Cho nên nói: Thành quách không kiên cố, binh giáp không nhiều, chẳng phải là tai họa của nước. Ruộng đồng không khai khẩn, của cải không tích tụ, chẳng phải là cái hại của nước. Nếu bề trên vô lễ, bề dưới vô học, bọn gian tặc nổi lên, thì ngày mất nước chẳng còn xa vậy. Kinh '''Thi''' nói: 'Trời sắp đổ sụp, chớ có nhơn nhơn (tiết tiết)'. 'Tiết tiết' cũng như 'đạp đạp' (ba hoa, hời hợt). Thờ vua không có nghĩa, tiến thoái không có lễ, mở miệng là phỉ báng đạo của tiên vương, ấy chính là 'đạp đạp' vậy. Cho nên nói: Đòi hỏi vua làm điều khó (hành đạo) gọi là Cung, bày điều thiện ngăn điều tà gọi là Kính, bảo vua mình không làm được (điều nhân) gọi là Tặc (hại vua)."
===2===
Mạnh Tử nói: "Quy và củ là chuẩn mực cực điểm của hình vuông hình tròn. Thánh nhân là chuẩn mực cực điểm của nhân luân. Muốn làm vua, hãy làm trọn đạo làm vua; muốn làm tôi, hãy làm trọn đạo làm tôi; cả hai đều chỉ cần học theo Nghiêu Thuấn mà thôi. Không dùng cách Thuấn thờ Nghiêu để thờ vua mình, ấy là không kính vua; không dùng cách Nghiêu trị dân để trị dân mình, ấy là làm hại dân mình vậy. Khổng Tử nói: 'Đạo chỉ có hai: nhân và bất nhân mà thôi'. Tàn bạo với dân quá mức, thì bản thân bị giết, nước bị mất; chưa đến mức quá, thì bản thân nguy nan, đất nước bị cắt xén, chết rồi bị đặt thụy hiệu là 'U', là 'Lệ' (ám chỉ vua tăm tối, độc ác), dù có con hiếu cháu hiền trăm đời cũng chẳng thể sửa đổi được. Kinh '''Thi''' nói: 'Gương nhà Ân chẳng đâu xa, ngay tại đời nhà Hạ kia kìa'. Chính là ý này vậy."
===3===
Mạnh Tử nói: "Ba đời (Hạ, Thương, Chu) được thiên hạ là nhờ Nhân, mất thiên hạ là vì Bất nhân. Sự hưng phế tồn vong của các nước cũng vậy. Thiên tử bất nhân thì không giữ được bốn biển; chư hầu bất nhân thì không giữ được xã tắc; khanh đại phu bất nhân thì không giữ được tông miếu; kẻ sĩ và thứ dân bất nhân thì không giữ được thân mình (tứ thể). Nay ghét chết chóc mà lại ưa điều bất nhân, thì cũng như ghét say rượu mà lại cứ cố uống rượu mạnh."
===4===
Mạnh Tử nói: "Yêu người mà người không gần gũi, hãy xem lại lòng nhân của mình; trị người mà người không quy phục, hãy xem lại trí tuệ của mình; đãi người bằng lễ mà người không đáp lại, hãy xem lại sự cung kính của mình. Hành động mà không đạt kết quả, đều phải quay lại tự xét mình. Khi bản thân ngay chính thì thiên hạ sẽ quy thuận. Kinh '''Thi''' nói: 'Mãi hợp mệnh trời, tự cầu nhiều phúc'."
===5===
Mạnh Tử nói: "Người ta có câu nói cửa miệng, đều bảo là 'thiên hạ, quốc gia'. Gốc của thiên hạ ở tại nước, gốc của nước ở tại nhà, gốc của nhà ở tại bản thân mình."
===6===
Mạnh Tử nói: "Làm chính trị chẳng khó, cốt sao không đắc tội với các đại gia tộc (cự thất). Điều các đại gia tộc ngưỡng mộ, cả nước sẽ ngưỡng mộ theo; điều cả nước ngưỡng mộ, thiên hạ sẽ ngưỡng mộ theo. Cho nên ơn đức giáo hóa thấm đẫm như mưa rơi, tràn đầy khắp bốn biển."
===7===
Mạnh Tử nói: "Thiên hạ có đạo, kẻ đức nhỏ phục tùng người đức lớn, kẻ hiền nhỏ phục tùng bậc đại hiền. Thiên hạ vô đạo, kẻ nhỏ phục tùng người lớn, kẻ yếu phục tùng người mạnh. Hai điều đó là lẽ trời vậy. Thuận thiên thì còn, nghịch thiên thì mất. Tề Cảnh Công nói: 'Đã không thể ra lệnh, lại không chịu nhận mệnh, ấy là tự tuyệt đường sống'. Rồi khóc lóc mà đem con gái gả cho vua Ngô (nước mạnh). Nay các nước nhỏ bắt chước nước lớn mà lại hổ thẹn khi nhận mệnh lệnh của họ, thì cũng như người trò mà hổ thẹn khi nhận mệnh lệnh của thầy vậy. Nếu đã hổ thẹn, chẳng gì bằng học theo Văn Vương. Nếu học theo Văn Vương, nước lớn mất năm năm, nước nhỏ mất bảy năm, tất sẽ làm chủ thiên hạ. Kinh '''Thi''' nói: 'Con cháu nhà Thương, số đông hàng vạn. Trời đã định mệnh, đều phục nhà Chu. Đều phục nhà Chu, mệnh trời vô thường. Kẻ sĩ nhà Ân tinh anh mẫn tiệp, giúp lễ cúng tế tại kinh đô (Chu)'. Khổng Tử nói: 'Lòng nhân chẳng sợ phe cánh đông đảo thay! Vua một nước ưa lòng nhân, thì thiên hạ không ai địch nổi'. Nay muốn không ai địch nổi trong thiên hạ mà lại không dùng lòng nhân, thì cũng giống như tay cầm vật nóng mà không dùng nước để rửa. Kinh '''Thi''' nói: 'Ai cầm vật nóng, mà không dùng nước để rửa?'."
===8===
Mạnh Tử nói: "Kẻ bất nhân, há có thể cùng bàn luận được sao? Họ yên ổn trong cảnh nguy khốn, trục lợi từ tai họa của mình, vui thú với những điều khiến họ diệt vong. Nếu kẻ bất nhân mà có thể cùng bàn luận, thì làm gì có chuyện nước mất nhà tan? Có đứa trẻ hát rằng: 'Nước sông Thương Lãng trong xanh, có thể giặt dải mũ của ta; nước sông Thương Lãng vẩn đục, có thể rửa chân của ta'. Khổng Tử nói: 'Các trò nghe kìa! Trong thì giặt dải mũ, đục thì rửa chân, ấy là do nước tự chuốc lấy đó thôi'. Người ta tất phải tự khinh mình trước, rồi người khác mới khinh sau; nhà tất phải tự phá hoại trước, rồi người khác mới phá hoại sau; nước tất phải tự đánh mình trước, rồi người khác mới đánh sau. Thiên '''Thái Giáp''' nói: 'Trời gây tai họa còn có thể tránh; tự mình gây họa, chẳng thể sống sót', chính là ý này vậy."
===9===
Mạnh Tử nói: "Kiệt và Trụ mất thiên hạ là vì mất dân. Mất dân là vì mất lòng dân. Được thiên hạ có đạo lý của nó: Được dân thì được thiên hạ vậy. Được dân có đạo lý của nó: Được lòng dân thì được dân vậy. Được lòng dân có đạo lý của nó: Những gì dân muốn, hãy gom góp lại cho họ; những gì dân ghét, chớ áp đặt lên họ. Dân hướng về người nhân, cũng như nước chảy xuống thấp, thú chạy ra đồng nội vậy. Cho nên, đuổi cá vào vực sâu cho người đánh cá là con rái cá; đuổi chim sẻ vào bụi rậm cho người săn chim là con diều hâu; đuổi dân về phía vua Thang, vua Võ chính là Kiệt và Trụ vậy. Nay nếu trong thiên hạ có vị vua nào ưa lòng nhân, thì các chư hầu đều giúp vua ấy đuổi dân về phía mình; dù vua ấy không muốn xưng vương cũng không được. Nay kẻ muốn xưng vương (mà không hành nhân) thì cũng như bệnh bảy năm mới đi tìm lá ngải cứu ba năm. Nếu không lo tích trữ từ sớm, suốt đời chẳng có mà dùng. Nếu không chí hướng vào lòng nhân, suốt đời sẽ lo âu nhục nhã, rồi lún sâu vào chỗ chết. Kinh '''Thi''' nói: 'Làm sao có thể tốt đẹp? Chỉ cùng nhau chìm đắm mà thôi', chính là ý này vậy."
===10===
Mạnh Tử nói: "Với kẻ tự bạo (tự làm hại mình), không thể cùng bàn bạc; với kẻ tự khí (tự bỏ mình), không thể cùng làm việc. Nói lời phỉ báng lễ nghĩa gọi là tự bạo; tự bảo thân mình không thể ở trong lòng nhân, không thể theo đường nghĩa gọi là tự khí. Nhân là ngôi nhà yên ổn của người; Nghĩa là con đường chính đáng của người. Bỏ trống ngôi nhà yên ổn mà không ở, lìa xa con đường chính đáng mà không đi, thật đáng thương thay!"
===11===
Mạnh Tử nói: "Đạo ở ngay gần mà người ta lại cầu ở xa; việc vốn dễ mà người ta lại cầu ở chỗ khó. Ai nấy đều yêu thương cha mẹ mình, kính trọng bậc trưởng thượng của mình, thì thiên hạ thái bình."
===12===
Mạnh Tử nói: "Ở ngôi dưới mà không được lòng người trên, thì không thể trị được dân. Được lòng người trên có đạo lý của nó: không được bạn bè tin cậy thì không được lòng người trên. Được bạn bè tin cậy có đạo lý của nó: thờ phụng cha mẹ mà cha mẹ không vui lòng thì không được bạn bè tin cậy. Làm cha mẹ vui lòng có đạo lý của nó: tự xét thân mình mà không thành thực thì cha mẹ không vui lòng. Làm cho thân mình thành thực có đạo lý của nó: không hiểu rõ điều thiện thì thân mình không thành thực được. Thế nên, 'Thành' (thành thực) là đạo của Trời. 'Tư thành' (nghĩ để đạt đến thành thực) là đạo của người. Cực kỳ thành thực mà không làm cảm động được lòng người, ấy là điều chưa từng có. Không thành thực thì chẳng bao giờ cảm động được ai."
===13===
Mạnh Tử nói: "Bá Di lánh vua Trụ, ở bờ biển Bắc, nghe Văn Vương trỗi dậy, bèn nói: 'Sao không về theo ngài? Ta nghe Tây Bá là người khéo nuôi dưỡng người già'. Thái Công lánh vua Trụ, ở bờ biển Đông, nghe Văn Vương trỗi dậy, bèn nói: 'Sao không về theo ngài? Ta nghe Tây Bá là người khéo nuôi dưỡng người già'. Hai vị lão trượng này là những bậc lão thành của thiên hạ mà quy thuận ngài, ấy là bậc cha già của thiên hạ quy thuận ngài vậy. Cha già của thiên hạ đã quy thuận, thì con cái họ còn đi đâu nữa? Chư hầu nào thực hành chính sách của Văn Vương, thì trong vòng bảy năm, tất sẽ làm chủ thiên hạ."
===14===
Mạnh Tử nói: "Nhiễm Cầu làm tể cho nhà Quý thị, không thể thay đổi đức hạnh của chủ mình, lại còn thu thuế thóc gấp đôi ngày trước. Khổng Tử nói: 'Cầu không phải là học trò của ta nữa, các trò cứ đánh trống mà tấn công nó cũng được'. Xem đó thì thấy, vua không hành nhân chính mà lại làm cho vua giàu thêm, đều bị Khổng Tử ruồng bỏ, huống chi là kẻ giúp vua đánh trận tàn bạo? Tranh đất mà đánh, giết người đầy đồng; tranh thành mà đánh, giết người đầy thành, đó gọi là 'dắt đất đai mà ăn thịt người', tội ác chết cũng không hết. Cho nên kẻ giỏi chiến tranh phải chịu hình phạt cao nhất, kẻ liên kết chư hầu (để đánh nhau) chịu hình phạt thứ kế, kẻ khai khẩn hoang vu bắt dân cày cấy để nộp thuế chịu hình phạt sau đó."
===15===
Mạnh Tử nói: "Để quan sát một người, chẳng gì tốt bằng đôi mắt. Đôi mắt không thể che giấu được cái xấu trong lòng. Trong lòng ngay chính thì đôi mắt sáng sủa; trong lòng không ngay chính thì đôi mắt mờ mịt. Nghe lời họ nói, nhìn đôi mắt họ xem, người ta sao giấu mình được?"
===16===
Mạnh Tử nói: "Người cung kính thì không khinh bỉ người, người tiết kiệm thì không cướp đoạt của người. Vị vua thường khinh bỉ và cướp đoạt của người khác, chỉ sợ người ta không phục tùng mình, thì sao gọi là cung kính tiết kiệm được? Cung kính tiết kiệm há có thể chỉ làm ra ở giọng nói và nét mặt cười cợt sao?"
===17===
Thuần Vu Khôn hỏi: "Nam nữ thụ thụ bất thân (trai gái không trực tiếp chạm tay nhau), đó có phải là Lễ không?"
Mạnh Tử đáp: "Là Lễ."
Hỏi: "Nếu chị dâu bị đuối nước, có nên dùng tay để kéo lên không?"
Đáp: "Chị dâu đuối nước mà không cứu, ấy là loài lang sói. Nam nữ thụ thụ bất thân là Lễ; chị dâu đuối nước dùng tay kéo lên là Quyền (phép tùy nghi châm chước)."
Hỏi: "Nay thiên hạ đang đuối nước (trong cảnh loạn lạc), sao Phu tử không ra tay cứu?"
Đáp: "Thiên hạ đuối nước thì phải dùng Đạo để cứu; chị dâu đuối nước thì dùng tay để cứu. Ông muốn tôi dùng tay để cứu thiên hạ sao?"
===18===
Công Tôn Sửu hỏi: "Tại sao người quân tử không tự mình dạy con?"
Mạnh Tử đáp: "Vì tình thế không thuận. Dạy con tất phải lấy điều ngay chính; lấy điều ngay chính mà con không làm theo, tất sẽ nảy sinh bực bội; nảy sinh bực bội thì sẽ làm tổn thương tình cảm. Đứa con sẽ nghĩ: 'Thầy dạy ta điều ngay chính, mà bản thân thầy chưa chắc đã ngay chính'. Thế là cha con làm tổn thương nhau. Cha con tổn thương nhau thì thật tệ hại. Người xưa đổi con cho nhau để dạy; giữa cha con không nên đòi hỏi quá gắt gao về điều thiện (trách thiện). Đòi hỏi gắt gao thì sẽ xa cách, mà cha con xa cách thì không còn gì bất hạnh bằng."
===19===
Mạnh Tử nói: "Phụng thờ ai là lớn nhất? Phụng thờ cha mẹ là lớn nhất. Giữ gìn điều gì là lớn nhất? Giữ gìn bản thân là lớn nhất. Không làm hư hỏng bản thân mà phụng thờ được cha mẹ, ta đã từng nghe; làm hư hỏng bản thân mà phụng thờ được cha mẹ, ta chưa từng nghe bao giờ. Việc gì mà chẳng phải là phụng thờ? Nhưng phụng thờ cha mẹ là gốc của mọi việc phụng thờ. Việc gì mà chẳng phải là giữ gìn? Nhưng giữ gìn bản thân là gốc của mọi việc giữ gìn. Tăng Tử nuôi Tăng Tích, bữa nào cũng có rượu thịt; khi dọn đi, tất hỏi chỗ thừa cho ai; cha hỏi còn thừa không, tất đáp 'còn'. Tăng Tích mất, Tăng Nguyên nuôi Tăng Tử, bữa nào cũng có rượu thịt; khi dọn đi, không hỏi chỗ thừa cho ai; cha hỏi còn thừa không, đáp 'hết rồi', cốt để bữa sau lại dâng món khác. Đó gọi là nuôi dưỡng phần miệng xác (dưỡng khẩu thể). Còn như Tăng Tử mới thực là nuôi dưỡng phần chí hướng (dưỡng chí) của cha. Phụng thờ cha mẹ phải như Tăng Tử mới được."
===20===
Mạnh Tử nói: "Những người dưới quyền không đáng để trách mắng, chính sự không đáng để châm chọc; chỉ bậc đại nhân mới có thể sửa trị cái sai trong lòng vua. Vua nhân thì không ai không nhân; vua nghĩa thì không ai không nghĩa; vua chính thì không ai không chính. Chỉ cần một lần sửa trị vua cho ngay chính thì đất nước sẽ định yên."
===21===
Mạnh Tử nói: "Có những lời khen ngợi không ngờ tới, có những lời chê bai đòi hỏi sự toàn mỹ (vô lý)."
===22===
Mạnh Tử nói: "Người ta dễ dàng thốt ra những lời không hay, ấy là bởi họ không phải chịu trách nhiệm về lời nói đó."
===23===
Mạnh Tử nói: "Cái họa của con người là ở chỗ ưa làm thầy kẻ khác."
===24===
Nhạc Chính Tử theo Tử Ao sang nước Tề. Nhạc Chính Tử đến gặp Mạnh Tử, Mạnh Tử hỏi: "Con cũng đến gặp ta sao?"
Đáp: "Sao tiên sinh lại nói lời ấy?"
Hỏi: "Con đến đây mấy ngày rồi?"
Đáp: "Đến từ hôm qua."
Hỏi: "Đã đến từ hôm qua mà nay mới gặp, ta nói lời ấy chẳng phải là phải sao?"
Đáp: "Tại chỗ trọ chưa ổn định."
Hỏi: "Con nghe nói hễ chỗ trọ ổn định rồi mới đi gặp bậc trưởng thượng sao?"
Đáp: "Khắc (tên Nhạc Chính Tử) này có tội."
===25===
Mạnh Tử bảo Nhạc Chính Tử: "Con đi theo Tử Ao sang đây, chẳng qua chỉ là để kiếm cái ăn cái uống. Ta không ngờ con học đạo của người xưa mà lại chỉ vì chuyện ăn uống thôi vậy."
===26===
Mạnh Tử nói: "Tội bất hiếu có ba, không có con nối dõi là lớn nhất. Vua Thuấn không báo với cha mẹ mà cưới vợ, ấy là vì sợ không có con nối dõi, nên người quân tử cho rằng như thế cũng coi như có báo vậy."
===27===
Mạnh Tử nói: "Thực chất của Nhân là phụng thờ cha mẹ. Thực chất của Nghĩa là vâng lời anh. Thực chất của Trí là hiểu rõ hai điều trên mà không lìa bỏ. Thực chất của Lễ là tiết chế và trang sức cho hai điều trên. Thực chất của Nhạc (vui vẻ/âm nhạc) là vui với hai điều trên; đã vui thì nó nảy nở ra. Đã nảy nở ra thì sao dừng lại được? Khi không dừng lại được, thì tự khắc chân sẽ nhảy, tay sẽ múa mà không biết vậy."
===28===
Mạnh Tử nói: "Cả thiên hạ vui mừng mà muốn quy thuận mình, nhưng nhìn cảnh thiên hạ vui mừng quy thuận ấy mà coi như cỏ rác, chỉ có vua Thuấn mới làm được vậy. Nếu không được lòng cha mẹ, thì không thể làm người; nếu không thuận với cha mẹ, thì không thể làm con. Vua Thuấn làm trọn đạo phụng thờ cha mẹ, khiến cho ông Cố Tẩu (người cha mù quáng) cũng được vui lòng. Cố Tẩu vui lòng mà cả thiên hạ được cảm hóa; Cố Tẩu vui lòng mà đạo cha con trong thiên hạ được định vững. Đó gọi là Đại hiếu."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
h97n1nw8pzdv2fdi3phayc9xbpgt3eg
Biên dịch:Mạnh Tử/Ly Lâu hạ
114
72026
204902
2026-04-27T08:07:53Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/離婁下 | năm= | phần = Ly Lâu hạ | trước= [[../Ly Lâu thượng]] | sau= [[../Vạn Chương thượng]] | ghi chú = }} ===1=== Mạnh Tử nói: "Vua Thuấn sinh ở Chư Phùng, dời đến Phụ Hạ, mất ở Minh Điều, là người Đông Di. Văn Vương sinh ở Kỳ Chu, mất ở Tất Dĩnh, là người Tây Di.…”
204902
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/離婁下
| năm=
| phần = Ly Lâu hạ
| trước= [[../Ly Lâu thượng]]
| sau= [[../Vạn Chương thượng]]
| ghi chú =
}}
===1===
Mạnh Tử nói: "Vua Thuấn sinh ở Chư Phùng, dời đến Phụ Hạ, mất ở Minh Điều, là người Đông Di. Văn Vương sinh ở Kỳ Chu, mất ở Tất Dĩnh, là người Tây Di. Địa điểm cách nhau hơn nghìn dặm; thời đại cách nhau hơn nghìn năm. Thế nhưng khi đắc chí và thực hành đạo lý ở Trung Hoa thì khớp nhau như hai mảnh phù tiết. Các bậc thánh nhân đời trước đời sau, nguyên tắc là một vậy."
===2===
Tử Sản lúc cầm quyền chính nước Trịnh, từng dùng xe của mình để chở dân vượt qua sông Trăn, sông Vị. Mạnh Tử nói: "Ông ấy có lòng huệ nhưng không biết cách làm chính trị. Nếu tháng mười một hằng năm làm xong cầu cho người đi bộ, tháng mười hai làm xong cầu cho xe cộ, thì dân đâu có khổ vì việc lội sông. Bậc quân tử trị nước một cách công bình, lúc đi ra có người dẹp đường còn được; lẽ nào lại đi chở từng người qua sông? Cho nên kẻ làm chính trị mà muốn làm hài lòng từng cá nhân một, thì thời gian một ngày cũng không đủ vậy."
===3===
Mạnh Tử nói với Tề Tuyên Vương rằng: "Vua xem trọng thần tử như tay chân, thì thần tử xem trọng vua như bụng dạ; vua coi thần tử như chó ngựa, thì thần tử coi vua như người lạ dọc đường; vua coi thần tử như đất bụi cỏ rác, thì thần tử coi vua như kẻ thù."
Vua hỏi: "Theo lễ, khi vua cũ mất, người bề tôi cũ vẫn có tang phục. Phải như thế nào thì thần tử mới giữ tang phục cho vua?"
Mạnh Tử đáp: "Lời can gián được thực hành, lời đề nghị được lắng nghe, ơn huệ ban xuống tận dân; khi thần tử có cớ phải rời đi, vua sai người dẫn đường ra khỏi biên giới, lại cử người báo trước với nơi họ sắp đến; người ấy đi ba năm không về, bấy giờ vua mới thu lại ruộng đất và nhà cửa. Như thế gọi là ba điều có lễ. Được như vậy thì thần tử sẽ giữ tang phục cho vua. Ngày nay làm tôi, can thì vua không làm, nói thì vua không nghe, ơn huệ không xuống tới dân; khi có cớ phải đi, vua bèn vây bắt, lại dồn họ vào đường cùng ở nơi họ sắp tới; ngày họ đi là thu ngay ruộng đất nhà cửa. Như thế gọi là kẻ thù. Đã là kẻ thù thì có tang phục gì nữa?"
===4===
Mạnh Tử nói: "Giết kẻ sĩ không tội, thì bậc Đại phu có thể bỏ đi; sát hại dân lành không tội, thì kẻ sĩ có thể dời đi nơi khác."
===5===
Mạnh Tử nói: "Vua nhân thì không ai không nhân, vua nghĩa thì không ai không nghĩa."
===6===
Mạnh Tử nói: "Cái lễ không phải lễ, cái nghĩa không phải nghĩa, bậc đại nhân không làm."
===7===
Mạnh Tử nói: "Người đạt đạo nuôi dưỡng kẻ chưa đạt, người tài đức bồi dưỡng kẻ kém tài, cho nên người ta mới vui vì có cha anh hiền đức. Nếu người đạt đạo bỏ rơi kẻ chưa đạt, người tài đức ruồng rẫy kẻ kém tài, thì khoảng cách giữa người hiền và kẻ ngu chẳng cách nhau được một tấc vậy."
===8===
Mạnh Tử nói: "Con người phải có những việc kiên quyết không làm, thì sau đó mới có thể làm nên những việc lớn."
===9===
Mạnh Tử nói: "Cứ hay rêu rao về điều không tốt của người khác, thì đối phó thế nào với hậu họa sau này?"
===10===
Mạnh Tử nói: "Đức Trọng Ni là người không làm việc gì quá mức."
===11===
Mạnh Tử nói: "Bậc đại nhân, lời nói không nhất thiết phải giữ đúng từng chữ (tín), hành động không nhất thiết phải khăng khăng cho ra kết quả (quả), mà chỉ cốt sao cho đúng với Nghĩa mà thôi."
===12===
Mạnh Tử nói: "Bậc đại nhân là người không để mất cái tâm hồn nhiên của đứa trẻ (xích tử chi tâm)."
===13===
Mạnh Tử nói: "Phụng dưỡng cha mẹ lúc sống chưa đủ gọi là việc lớn, chỉ có lo chu toàn việc tang lễ lúc cha mẹ qua đời mới có thể coi là việc lớn."
===14===
Mạnh Tử nói: "Bậc quân tử đi sâu vào nghiên cứu đạo lý là muốn tự mình đạt được (tự đắc). Tự mình đạt được thì giữ đạo mới vững, giữ vững thì tích lũy mới sâu, tích lũy sâu thì vận dụng linh hoạt, đâu đâu cũng thấy nguồn mạch. Cho nên quân tử muốn tự mình đạt được là vậy."
===15===
Mạnh Tử nói: "Học rộng và giảng giải chi tiết, là để quay về chỗ cốt yếu (ước)."
===16===
Mạnh Tử nói: "Dùng cái thiện để khuất phục người thì chưa bao giờ phục được người. Dùng cái thiện để nuôi dưỡng (giáo hóa) người, thì sau đó mới có thể phục được thiên hạ. Thiên hạ không tâm phục mà có thể xưng vương, ấy là điều chưa từng có."
===17===
Mạnh Tử nói: "Lời nói không có thực chất là điều chẳng lành. Cái thực chất của điều chẳng lành ấy, chính là làm che lấp người hiền tài."
===18===
Từ Tử hỏi: "Đức Trọng Ni nhiều lần khen ngợi nước: 'Nước ơi! Nước ơi!'. Ngài lấy gì ở nước mà khen vậy?"
Mạnh Tử đáp: "Nguồn nước cuồn cuộn, không kể đêm ngày, chảy đầy các hố rồi mới tiến ra bốn biển; kẻ có bản gốc (thực tài) thì cũng như vậy, ngài khen là khen chỗ đó. Nếu như không có bản gốc, thì cũng như mưa lớn tháng bảy tháng tám, các hào rãnh đều đầy; nhưng sự khô cạn của nó có thể đứng đợi mà thấy ngay. Cho nên, tiếng tăm vượt quá thực chất là điều bậc quân tử hổ thẹn."
===19===
Mạnh Tử nói: "Cái điểm khác biệt giữa con người và cầm thú rất là ít ỏi, thứ dân thì bỏ mất nó, quân tử thì giữ lấy nó. Vua Thuấn hiểu rõ lẽ biến hóa của vạn vật, tinh tường về nhân luân; ngài từ lòng nhân nghĩa mà hành động, chứ không phải chỉ là thực hành nhân nghĩa (một cách máy móc)."
===20===
Mạnh Tử nói: "Vua Vũ ghét rượu ngon mà ưa lời thiện. Vua Thang giữ đạo trung, lập người hiền không phân biệt nơi chốn. Văn Vương thương dân như người bị thương, nhìn thấy đạo rồi mà vẫn ngỡ như chưa thấy (để không ngừng cầu tiến). Võ Vương không khinh lờn người gần, không bỏ quên kẻ xa. Chu Công muốn kiêm cả công nghiệp của ba vị vua trên (Vũ, Thang, Văn) để thi hành bốn việc đó. Nếu có điều gì chưa hợp, ngài ngửa mặt suy nghĩ từ đêm sang ngày; khi may mắn nghĩ ra được, ngài ngồi đợi đến sáng để thi hành ngay."
===21===
Mạnh Tử nói: "Khi dấu tích các bậc vương giả biến mất thì kinh '''Thi''' không còn sáng tỏ, sau đó kinh '''Xuân Thu''' mới được soạn ra. Sách '''Thừa''' của nước Tấn, sách '''Đào Ngột''' của nước Sở, sách '''Xuân Thu''' của nước Lỗ, thực chất đều là một loại. Ghi chép việc của Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, lời văn là của quan sử. Khổng Tử nói: 'Cái nghĩa của kinh sách thì Khâu này xin mạn phép lấy ra (để bình xét) vậy'."
===22===
Mạnh Tử nói: "Ơn trạch của người quân tử truyền được năm đời thì dứt; ơn trạch của kẻ tiểu nhân truyền năm đời cũng dứt. Ta không được trực tiếp làm học trò của Khổng Tử, nhưng ta đã nhờ học hỏi từ những người đi trước (tư thục) mà được truyền thừa vậy."
===23===
Mạnh Tử nói: "Việc có thể nhận mà cũng có thể không nhận, nếu nhận thì tổn hại đến sự thanh liêm. Việc có thể cho mà cũng có thể không cho, nếu cho thì tổn hại đến sự ban huệ (không đúng chỗ). Việc có thể chết mà cũng có thể không chết, nếu chết thì tổn hại đến khí dũng."
===24===
Phùng Mông học bắn cung nơi Hậu Nghệ, học hết cái đạo của Nghệ, nghĩ rằng thiên hạ chỉ có Nghệ giỏi hơn mình, bèn giết Nghệ. Mạnh Tử nói: "Trong việc này Hậu Nghệ cũng có lỗi."
Công Minh Nghi hỏi: "Lẽ ra Nghệ không có lỗi chứ?"
Mạnh Tử đáp: "Chỉ có thể nói lỗi của Nghệ nhẹ hơn thôi, chứ sao lại không có lỗi? Nước Trịnh sai Tử Trạc Như Tử đi đánh nước Vệ, nước Vệ sai Dữu Công Chi Tư đuổi theo. Tử Trạc Như Tử nói: 'Hôm nay bệnh cũ của ta tái phát, không cầm cung được, ta chết chắc rồi!'. Ông hỏi người đánh xe: 'Kẻ đuổi theo là ai?'. Người đánh xe đáp: 'Là Dữu Công Chi Tư'. Ông nói: 'Ta sống rồi'. Người đánh xe hỏi: 'Dữu Công Chi Tư là tay thiện xạ của nước Vệ, phu tử bảo «Sống rồi» nghĩa là sao?'. Ông đáp: 'Dữu Công Chi Tư học bắn từ Doãn Công Chi Tha, Doãn Công Chi Tha học bắn từ ta. Doãn Công Chi Tha là người đoan chính, kẻ ông ta chọn làm bạn tất cũng đoan chính'. Dữu Công Chi Tư đến nơi, hỏi: 'Phu tử sao không cầm cung?'. Đáp: 'Hôm nay ta phát bệnh, không cầm cung được'. Tư nói: 'Tiểu nhân học bắn từ Doãn Công Chi Tha, Doãn Công Chi Tha học bắn từ phu tử. Tôi không nỡ lấy cái đạo của phu tử mà quay lại hại phu tử. Tuy nhiên, việc hôm nay là việc của quân vương, tôi không dám phế bỏ'. Nói rồi, Tư rút tên ra gõ vào bánh xe cho rụng đầu sắt, bắn đi bốn mũi tên (để đủ lệ bộ) rồi mới trở về."
===25===
Mạnh Tử nói: "Dẫu là Tây Thi mà mình đầy uế tạp, thì người ta cũng che mũi mà đi qua. Tuy là hạng người xấu xí, nhưng nếu biết giữ mình thanh sạch, tắm gội ăn chay, thì cũng có thể cúng tế Thượng đế."
===26===
Mạnh Tử nói: "Thiên hạ nói về tính chất (của vạn vật), chẳng qua là dựa trên cái dấu vết cũ (cố) mà thôi. Cái gốc của dấu vết ấy là lấy sự thuận lợi làm bản tính. Người ta ghét kẻ có trí tuệ là vì họ hay đục khoét (gượng ép). Nếu kẻ trí mà như vua Vũ dẫn nước, thì chẳng có gì đáng ghét. Vua Vũ dẫn nước là để nước chảy theo tự nhiên không cưỡng ép. Kẻ trí mà hành động thuận tự nhiên, không gượng ép như vậy, thì trí ấy thật lớn lao. Trời dù cao, tinh tú dù xa, nếu tìm được quy luật (cố) của chúng, thì ngày hạ chí của nghìn năm sau cũng có thể ngồi đó mà tính ra được."
===27===
Công Hành Tử có tang con trai, quan Hữu sư đến viếng. Lúc vào cửa, có người tiến lại nói chuyện với Hữu sư, có người đến tận chỗ ngồi của Hữu sư mà nói chuyện. Chỉ có Mạnh Tử là không nói chuyện với Hữu sư. Hữu sư không vui nói: "Các vị quân tử đều nói chuyện với Hoan (tên của Hữu sư), duy có Mạnh Tử là không, ấy là khinh lờn Hoan này." Mạnh Tử nghe vậy bèn nói: "Theo lễ: nơi triều đình không được băng ngang vị trí của người khác để nói chuyện với nhau, không được vượt cấp bậc thềm để chào nhau. Ta muốn giữ đúng lễ, thế mà Tử Ao (tên tự của Hữu sư) lại coi ta là khinh lờn, chẳng phải lạ sao?"
===28===
Mạnh Tử nói: "Cái mà người quân tử khác với người thường là ở tấm lòng. Quân tử giữ lòng Nhân, giữ lòng Lễ. Người nhân thì yêu người, người có lễ thì kính người. Yêu người thì người hằng yêu lại; kính người thì người hằng kính lại. Có người ở đây, đối đãi với ta một cách ngang ngược, quân tử tất phải tự xét mình: 'Ta chắc là không nhân, chắc là vô lễ, nếu không sao chuyện này lại xảy đến với ta?'. Tự xét mà thấy mình đã nhân, đã có lễ rồi, nhưng kẻ kia vẫn ngang ngược như cũ, quân tử lại tự xét mình: 'Ta chắc là không thành tâm'. Tự xét thấy đã thành tâm rồi mà kẻ kia vẫn ngang ngược, quân tử nói: 'Đây chỉ là hạng người càn rỡ mà thôi. Đã như thế thì có khác gì cầm thú? Mà đã là cầm thú thì có gì để mà trách phạt!'. Cho nên quân tử có cái lo suốt đời (lo không đạt được đức như thánh nhân), chứ không có cái họa một sớm một chiều (vì họ đã biết cách xử lý tâm thế). Cái lo đó là: Thuấn là người, ta cũng là người; Thuấn làm gương cho thiên hạ, truyền lại đời sau, còn ta thì vẫn chỉ là một kẻ tầm thường, đó mới là đáng lo. Lo rồi làm gì? Làm được như vua Thuấn mà thôi. Còn như cái họa mà quân tử bận tâm thì không có. Không phải điều nhân thì không làm, không phải điều lễ thì không hành. Nếu lỡ có cái họa bất ngờ đến, quân tử cũng không lấy đó làm lo phiền."
===29===
Vua Vũ, ông Tắc ở thời bình, ba lần đi qua cửa nhà mà không vào, Khổng Tử khen là hiền. Nhan Hồi ở thời loạn, ở trong ngõ hẻm, một giỏ cơm, một bầu nước, người khác không chịu nổi cảnh khổ cực đó, nhưng Nhan Hồi vẫn không đổi niềm vui, Khổng Tử cũng khen là hiền. Mạnh Tử nói: "Vua Vũ, ông Tắc và Nhan Hồi cùng chung một đạo. Vua Vũ nghĩ thiên hạ có người chết đuối là như chính mình làm họ chết đuối; ông Tắc nghĩ thiên hạ có người chịu đói là như chính mình làm họ đói. Vì thế nên các ngài mới khẩn trương cứu dân như vậy. Nếu Vũ, Tắc và Nhan Hồi đổi địa vị cho nhau, họ cũng sẽ hành động như nhau. Nay nếu có người cùng phòng đánh nhau, ta đi cứu, dẫu đầu bù tóc rối chưa kịp đội mũ mà chạy tới cứu cũng được. Nhưng nếu người trong làng đánh nhau, mà ta cũng đầu bù tóc rối chạy tới cứu, thì thật là mê lầm, lúc đó cứ đóng cửa lại cũng không sao."
===30===
Công Đô Tử nói: "Khuông Chương, cả nước đều bảo là kẻ bất hiếu. Thế mà Phu tử lại kết bạn với ông ta, còn đối đãi rất lễ độ, xin hỏi tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Thói đời gọi là bất hiếu có năm điều: Lười nhác chân tay, không lo phụng dưỡng cha mẹ, là một; đánh bạc uống rượu, không lo phụng dưỡng cha mẹ, là hai; ham mê của cải, thiên vị vợ con, không lo phụng dưỡng cha mẹ, là ba; buông thả theo dục vọng tai mắt, làm nhục đến cha mẹ, là bốn; ham dũng ưa đấu đá, gây nguy hiểm cho cha mẹ, là năm. Chương Tử có điều nào trong năm điều đó không? Vả lại Chương Tử và cha là do đôi bên đòi hỏi điều thiện ở nhau (trách thiện) mà không hợp nhau. Đòi hỏi điều thiện là đạo của bạn bè. Cha con mà đòi hỏi gắt gao điều thiện ở nhau, ấy là làm tổn thương tình ân nghĩa lớn nhất. Chương Tử há không muốn có đủ vợ chồng con cái sao? Nhưng vì đắc tội với cha, không được lại gần, nên ông mới đuổi vợ bỏ con, suốt đời không nhận sự phụng sự của họ. Ông ta nghĩ rằng nếu không làm như thế (tự phạt mình) thì tội lỗi càng lớn hơn. Đó chính là nỗi lòng của Chương Tử vậy."
===31===
Tăng Tử ở đất Vũ Thành, có giặc nước Việt đến. Có người bảo: "Giặc đến rồi, sao ngài không lánh đi?". Tăng Tử dặn: "Đừng để ai ở trong nhà ta, kẻo họ làm hư hại cây cối". Giặc rút, ông lại dặn: "Sửa sang lại tường vách nhà cửa, ta sẽ về". Giặc tan, Tăng Tử về. Những người xung quanh nói: "Mọi người đối với tiên sinh trung kính là thế, vậy mà giặc đến ngài lại lánh đi trước để dân trông vào, giặc tan ngài lại về, e là không nên". Thẩm Do Hành nói: "Các ngươi không hiểu đâu. Ngày trước Thẩm Do ta gặp nạn Phụ Sô, có bảy mươi môn đồ theo tiên sinh, chẳng ai phải chịu vạ lây cả".
Tử Tư ở nước Vệ, có giặc nước Tề đến. Có người bảo: "Giặc đến rồi, sao ngài không lánh đi?". Tử Tư nói: "Nếu tôi đi, thì vua lấy ai cùng giữ nước?".
Mạnh Tử nói: "Tăng Tử và Tử Tư cùng chung một đạo. Tăng Tử khi ấy ở vị thế người thầy, người cha anh (khách khanh); còn Tử Tư là người bề tôi, chức nhỏ. Nếu Tăng Tử và Tử Tư đổi địa vị cho nhau, họ cũng sẽ hành động như nhau."
===32===
Trữ Tử nói: "Vua sai người rình xem Phu tử, xem ngài thực sự có gì khác người không?"
Mạnh Tử nói: "Có gì khác người đâu? Vua Nghiêu, vua Thuấn cũng giống như người thường thôi mà."
===33===
Nước Tề có kẻ có một vợ một thiếp chung sống một nhà. Anh chồng hễ ra ngoài là tất ăn uống no nê rượu thịt rồi mới về. Vợ hỏi anh ta ăn uống với ai, anh ta đều bảo là toàn những bậc giàu sang cả. Người vợ nói với người thiếp: "Chồng mình ra ngoài là tất no nê rượu thịt mới về; hỏi ăn với ai thì bảo toàn kẻ giàu sang. Thế mà chẳng thấy có vị khách quyền quý nào đến nhà bao giờ. Ta sẽ rình xem anh ta đi đâu". Sáng sớm, chị vợ lén đi theo chồng. Khắp trong thành, chẳng thấy ai đứng nói chuyện với anh ta. Cuối cùng anh ta ra bãi tha ma ở cửa đông, đến chỗ những người đang cúng tế, xin ăn đồ thừa; không đủ, lại nhìn quanh rồi đến chỗ khác – đó chính là cách anh ta ăn uống no nê vậy. Chị vợ về bảo người thiếp: "Chồng là người mà chúng ta trông cậy cả đời. Nay lại như thế này!". Rồi cùng người thiếp chê cười anh chồng, hai người cùng khóc ở giữa sân. Trong khi đó anh chồng không hề hay biết, vẫn nhơn nhơn tự đắc từ ngoài đi vào, lên mặt kiêu ngạo với vợ thiếp. Dưới nhãn quan của bậc quân tử, cái cách mà người đời nay dùng để cầu tìm phú quý lợi lộc, mà khiến vợ con họ không phải xấu hổ và khóc lóc, thật là ít thay!
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
anfabjf9m18awkp5ix9i61lp0q1qd2c
Biên dịch:Mạnh Tử/Vạn Chương thượng
114
72027
204903
2026-04-27T08:10:39Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/萬章上 | năm= | phần = Vạn Chương thượng | trước= [[../Ly Lâu hạ]] | sau= [[../Vạn Chương hạ]] | ghi chú = }} ===1=== Vạn Chương hỏi: "Vua Thuấn đi ra đồng ruộng, hướng về trời xanh mà gào khóc. Tại sao Ngài lại gào khóc như thế?" Mạnh Tử đáp: "Ấy là vì lòng oán trách v…”
204903
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/萬章上
| năm=
| phần = Vạn Chương thượng
| trước= [[../Ly Lâu hạ]]
| sau= [[../Vạn Chương hạ]]
| ghi chú =
}}
===1===
Vạn Chương hỏi: "Vua Thuấn đi ra đồng ruộng, hướng về trời xanh mà gào khóc. Tại sao Ngài lại gào khóc như thế?"
Mạnh Tử đáp: "Ấy là vì lòng oán trách và thương mến (cha mẹ)."
Vạn Chương nói: "Cha mẹ yêu thương thì vui mà chẳng quên; cha mẹ ghét bỏ thì vất vả mà chẳng oán. Vậy thì vua Thuấn có lòng oán trách sao?"
Mạnh Tử nói: "Trường Tức từng hỏi Công Minh Cao rằng: 'Chuyện vua Thuấn đi ra đồng ruộng thì tôi đã được nghe dạy rồi; còn chuyện Ngài gào khóc hướng về trời xanh, hướng về cha mẹ thì tôi chưa hiểu'. Công Minh Cao đáp: 'Đó không phải là điều anh hiểu được'. Công Minh Cao cho rằng tâm lòng của người con hiếu không thể thản nhiên như thế này được: 'Ta đã dốc sức cày ruộng, làm trọn phận sự con cái mà thôi; còn việc cha mẹ không yêu ta, thì liên quan gì đến ta đâu?'. Lúc ấy, vua Nghiêu sai chín người con trai và hai người con gái đến giúp, trăm quan, trâu bò, kho tẫm đều sẵn sàng để hầu hạ vua Thuấn giữa nơi đồng nội. Kẻ sĩ trong thiên hạ đến theo Ngài rất đông, vua Nghiêu sắp đem cả thiên hạ mà truyền cho Ngài. Thế nhưng vì không được lòng cha mẹ, Ngài cảm thấy mình như kẻ cùng khổ không nơi nương tựa. Được kẻ sĩ trong thiên hạ yêu mến, ấy là điều người ta mong muốn, nhưng bấy nhiêu không đủ để giải nỗi ưu sầu của Ngài. Sắc đẹp là điều người ta mong muốn, lấy hai con gái của vua mà vẫn không đủ giải sầu. Giàu sang là điều người ta mong muốn, giàu có cả thiên hạ mà vẫn không đủ giải sầu. Cao quý là điều người ta mong muốn, quý làm Thiên tử mà vẫn không đủ giải sầu. Được người yêu mến, có sắc đẹp, có giàu sang đều không đủ giải nỗi ưu sầu, chỉ khi thuận được lòng cha mẹ mới có thể giải sầu mà thôi. Con người ta lúc nhỏ thì thương mến cha mẹ, biết đến sắc đẹp thì thương mến người thiếu nữ xinh tươi, có vợ con thì thương mến vợ con, đi làm quan thì thương mến quân vương, không được vua tin dùng thì lòng nóng như lửa. Bậc đại hiếu thì suốt đời thương mến cha mẹ. Đến năm mươi tuổi mà vẫn còn thương mến cha mẹ, ta thấy được điều ấy ở vua Đại Thuấn vậy."
===2===
Vạn Chương hỏi: "Kinh '''Thi''' chép: 'Lấy vợ phải làm thế nào? Tất phải thưa cùng cha mẹ'. Tin theo lời ấy thì không ai bằng vua Thuấn. Vậy tại sao vua Thuấn lấy vợ lại không thưa?"
Mạnh Tử đáp: "Thưa thì sẽ không được lấy. Trai gái chung sống là mối luân thường lớn của con người. Nếu thưa mà để lỡ mất mối luân thường lớn ấy, lại khiến cha mẹ thêm oán giận, cho nên Ngài mới không thưa vậy."
Vạn Chương hỏi: "Vua Thuấn không thưa mà lấy vợ thì tôi đã được nghe dạy rồi. Nhưng vua Nghiêu gả con cho vua Thuấn mà không thưa với cha mẹ Ngài, là tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Vua Nghiêu cũng biết rằng nếu thưa thì sẽ không gả con được vậy."
Vạn Chương hỏi: "Cha mẹ sai vua Thuấn lên lợp kho lúa rồi rút thang đi, ông Cố Tẩu phóng hỏa đốt kho. Lại sai Ngài xuống đào giếng, Ngài vừa ra khỏi thì họ lấp giếng lại. Tượng (em vua Thuấn) nói: 'Mưu kế lấp chết Đô quân (vua Thuấn) đều là công của ta. Trâu bò chia cho cha mẹ, kho tẫm chia cho cha mẹ; còn gươm giáo thuộc về ta, đàn cầm thuộc về ta, cung nỏ thuộc về ta; hai chị dâu thì phải hầu hạ giường chiếu cho ta'. Tượng đi vào cung của Thuấn, thấy Thuấn đang ngồi trên giường gảy đàn. Tượng nói: 'Tôi vì lo nghĩ bồn chồn mà nhớ đến Ngài đấy thôi'. Nhưng trong lòng lấy làm thẹn thùng. Thuấn nói: 'Ta đang lo cho đám tôi tớ trăm họ, chú hãy giúp ta cai trị'. Chẳng lẽ vua Thuấn không biết Tượng sắp giết mình sao?"
Mạnh Tử đáp: "Sao lại không biết? Có điều khi Tượng buồn thì Ngài cũng buồn, khi Tượng vui thì Ngài cũng vui."
Vạn Chương hỏi: "Vậy chẳng lẽ vua Thuấn giả vờ vui sao?"
Mạnh Tử đáp: "Không phải. Ngày xưa có người biếu Tử Sản nước Trịnh một con cá sống, Tử Sản sai người giữ ao đem thả vào ao. Người ấy lại đem nấu ăn mất, rồi về báo rằng: 'Lúc mới thả, nó còn lờ đờ, một lát sau thì tung tăng, rồi vụt cái biến mất'. Tử Sản nói: 'Đã được nơi ở rồi! Đã được nơi ở rồi!'. Người ấy đi ra nói: 'Ai bảo Tử Sản là người trí? Ta đã nấu ăn mất rồi mà ông ta còn bảo: Đã được nơi ở rồi!'. Cho nên người quân tử có thể bị lừa bằng những lẽ chính đáng, nhưng khó bị phỉnh phờ bằng những điều phi đạo lý. Tượng mang cái vẻ đạo lý yêu kính anh mà đến, nên Thuấn thành tâm tin cậy mà vui mừng. Sao gọi là giả vờ được?"
===3===
Vạn Chương hỏi: "Tượng hằng ngày lấy việc giết vua Thuấn làm sự nghiệp, đến khi Thuấn lên làm Thiên tử, lại đem đày Tượng đi, là tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Ấy là phong vương cho Tượng đấy, nhưng có người lại gọi là đày."
Vạn Chương nói: "Vua Thuấn đày Cộng Công đến U Châu, đày Hoan Đâu đến Sùng Sơn, giết quân Tam Miêu tại Tam Nguy, giết Cổn tại Vũ Sơn, trị tội bốn kẻ ấy mà thiên hạ đều nể phục. Đó là vì trị tội kẻ bất nhân. Tượng là kẻ cực kỳ bất nhân, thế mà lại được phong vương ở đất Hữu Tỵ. Dân Hữu Tỵ có tội tình gì? Người nhân lại làm như thế sao? Đối với người khác thì trị tội, đối với em mình thì lại phong vương."
Mạnh Tử đáp: "Người nhân đối với em mình, không chứa chấp sự giận dữ, không để lâu lòng oán hận, chỉ đem lòng yêu thương gần gũi mà thôi. Gần gũi nên muốn em được cao quý; yêu thương nên muốn em được giàu sang. Phong vương ở Hữu Tỵ là để cho em được giàu sang và cao quý vậy. Nếu mình làm Thiên tử mà em mình lại là kẻ dân thường (thất phu), thì sao gọi là gần gũi yêu thương được?"
Vạn Chương hỏi: "Xin hỏi 'có người gọi là đày' nghĩa là thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Tượng không được tự ý hành động ở nước đó, Thiên tử sai quan lại đến cai trị và thu thuế nộp về, cho nên gọi đó là đày. Lẽ nào lại để Tượng bạo ngược với dân nơi đó? Tuy vậy, vì muốn thường xuyên được gặp em, nên Tượng cứ phải liên tục triều kiến. Câu 'không đợi đến kỳ nộp cống, vì việc chính sự mà tiếp đãi chúa đất Hữu Tỵ' chính là ý này vậy."
===4===
Hàm Khâu Mông hỏi: "Lời xưa nói rằng: 'Bậc sĩ có đức lớn thì vua không được coi là tôi, cha không được coi là con'. Vua Thuấn ngồi ngoảnh mặt về phương Nam trị vì, vua Nghiêu dẫn các chư hầu ngoảnh mặt phương Bắc mà triều kiến, ông Cố Tẩu cũng ngoảnh mặt phương Bắc mà triều kiến. Thuấn thấy Cố Tẩu thì vẻ mặt lo lắng không yên. Khổng Tử nói: 'Lúc bấy giờ thiên hạ thật là nguy kịch thay, chênh vênh lắm thay!'. Chẳng hay lời ấy có thực như thế không?"
Mạnh Tử đáp: "Không phải, đó không phải lời của quân tử, mà là lời của kẻ dã nhân đất Tề Đông. Khi vua Nghiêu già thì vua Thuấn nhiếp chính. Kinh '''Thư''' thiên '''Nghiêu Điển''' chép: 'Được hai mươi tám năm thì Phóng Huân (vua Nghiêu) băng hà, trăm họ than khóc như mất cha mất mẹ. Suốt ba năm, trong bốn biển ngưng mọi tiếng nhạc'. Khổng Tử nói: 'Trời không hai mặt trời, dân không hai vua'. Nếu vua Thuấn đã là Thiên tử, lại còn dẫn đầu các chư hầu để tang vua Nghiêu ba năm, chẳng hóa ra là có hai Thiên tử sao?"
Hàm Khâu Mông nói: "Chuyện vua Thuấn không coi vua Nghiêu là bề tôi thì tôi đã được nghe dạy rồi. Nhưng kinh '''Thi''' có câu: 'Dưới gầm trời này, đâu chẳng phải đất vua; khắp cõi bờ này, ai chẳng phải tôi vua'. Mà vua Thuấn đã là Thiên tử rồi, xin hỏi việc Cố Tẩu không phải là bề tôi là như thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Bài thơ ấy không phải nói về ý đó, mà nói về việc vất vả với việc vua mà không được phụng dưỡng cha mẹ. Ý thơ là: 'Việc này chẳng việc nào không phải việc vua, thế mà chỉ một mình ta vất vả nhọc nhằn'. Cho nên người giải kinh '''Thi''' không được vì chữ mà hại câu, không được vì câu mà hại ý; phải lấy ý mình mà đón lấy ý người làm thơ, như thế mới gọi là đạt được. Nếu chỉ dựa vào câu chữ mà thôi, thì như bài thơ '''Vân Hán''' có câu: 'Dân sót nhà Chu, chẳng còn một ai', nếu tin lời ấy thì nhà Chu không còn dân sót sao? Cái tột cùng của đạo hiếu, không gì lớn bằng tôn kính cha mẹ; cái tột cùng của tôn kính cha mẹ, không gì lớn bằng lấy thiên hạ mà phụng dưỡng. Làm cha của Thiên tử, ấy là tôn quý tột bậc; được phụng dưỡng bằng cả thiên hạ, ấy là phụng dưỡng tột bậc. Kinh '''Thi''' nói: 'Mãi nhớ đạo hiếu, đạo hiếu là khuôn mẫu', chính là ý này. Kinh '''Thư''' chép: 'Kính cẩn vào gặp Cố Tẩu, vẻ mặt cung kính sợ sệt, Cố Tẩu cũng tin yêu thuận hòa', đó mà gọi là cha không được coi là con sao?"
===5===
Vạn Chương hỏi: "Vua Nghiêu đem thiên hạ nhường cho vua Thuấn, có chuyện đó không?"
Mạnh Tử đáp: "Không. Thiên tử không thể đem thiên hạ cho người khác."
"Vậy thì vua Thuấn có được thiên hạ, là ai cho?"
Mạnh Tử đáp: "Trời cho vậy."
"Trời cho có phải là phán bảo rành rọt không?"
Mạnh Tử đáp: "Không, Trời không nói, chỉ dùng hành động và sự việc mà biểu thị thôi."
Hỏi: "Dùng hành động và sự việc biểu thị là thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Thiên tử có thể tiến cử người với Trời, nhưng không thể bắt Trời cho người ấy thiên hạ; chư hầu có thể tiến cử người với Thiên tử, nhưng không thể bắt Thiên tử cho người ấy làm chư hầu; đại phu có thể tiến cử người với chư hầu, nhưng không thể bắt chư hầu cho người ấy làm đại phu. Xưa vua Nghiêu tiến cử vua Thuấn với Trời và Trời đã chấp nhận, bày ra cho dân thấy và dân đã chấp nhận. Cho nên nói: Trời không nói, chỉ dùng hành động và sự việc mà biểu thị mà thôi."
Hỏi: "Xin hỏi tiến cử với Trời mà Trời chấp nhận, bày ra cho dân mà dân chấp nhận là thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Sai Ngài chủ trì việc tế tự mà trăm thần đều hưởng, ấy là Trời chấp nhận. Sai Ngài chủ trì công việc mà việc được trị yên, dân chúng an lòng, ấy là dân chấp nhận. Trời cho Ngài, dân cho Ngài, nên nói: Thiên tử không thể đem thiên hạ cho người khác. Thuấn làm tể tướng cho Nghiêu hai mươi tám năm, ấy không phải sức người làm nổi, là do Trời vậy. Khi vua Nghiêu băng, mãn tang ba năm, vua Thuấn tránh con vua Nghiêu mà dời đến phía nam sông Nam Hà. Nhưng chư hầu trong thiên hạ khi về triều kiến lại không đến với con vua Nghiêu mà đến với vua Thuấn; kẻ thưa kiện không đến với con vua Nghiêu mà đến với vua Thuấn; người ca hát không ca tụng con vua Nghiêu mà ca tụng vua Thuấn. Cho nên nói đó là ý Trời vậy. Sau đó Ngài mới trở về trung tâm thiên hạ mà lên ngôi Thiên tử. Nếu cứ ở lại cung điện của Nghiêu, ép con Nghiêu phải nhường ngôi, thì đó là 'cướp ngôi' chứ không phải 'Trời cho'. Sách '''Thái Thệ''' nói: 'Trời nhìn qua cái nhìn của dân ta, Trời nghe qua cái nghe của dân ta', chính là ý này vậy."
===6===
Vạn Chương hỏi: "Có người nói 'Đến đời vua Vũ thì đức suy, không truyền ngôi cho người hiền mà truyền cho con', có chuyện đó không?"
Mạnh Tử đáp: "Không phải vậy. Trời muốn cho người hiền thì cho người hiền, Trời muốn cho con thì cho con. Xưa kia vua Thuấn tiến cử vua Vũ với Trời được mười bảy năm. Khi Thuấn băng, mãn tang ba năm, Vũ tránh con Thuấn mà dời đến thành Dương Thành; dân chúng thiên hạ đi theo Ngài, cũng như sau khi Nghiêu băng dân không theo con Nghiêu mà theo Thuấn vậy. Vua Vũ tiến cử ông Ích với Trời được bảy năm. Khi Vũ băng, mãn tang ba năm, ông Ích tránh con vua Vũ là Khải mà dời đến phía bắc núi Cơ Sơn. Thế nhưng kẻ triều kiến và thưa kiện không đến với Ích mà đến với Khải, nói rằng: 'Đây là con của vua ta'. Người ca hát không ca tụng Ích mà ca tụng Khải, nói rằng: 'Đây là con của vua ta'. Đan Chu (con vua Nghiêu) không ra gì, con vua Thuấn cũng không ra gì. Vua Thuấn làm tể tướng cho Nghiêu, vua Vũ làm tể tướng cho Thuấn, số năm trải qua rất nhiều, ơn đức ban cho dân đã lâu. Khải là người hiền, lại kính cẩn kế thừa đạo của Vũ; còn ông Ích giúp Vũ số năm còn ít, ơn đức ban cho dân chưa lâu. Thời gian làm tướng của Thuấn, Vũ và Ích dài ngắn khác nhau, còn con cái họ hiền hay không đều do Trời cả, không phải sức người làm nổi. Việc không ai làm mà thành, ấy là Trời; việc không ai mời mà đến, ấy là Mệnh. Kẻ thất phu mà có được thiên hạ thì đức phải như Thuấn, Vũ, lại còn có Thiên tử tiến cử nữa; cho nên Trọng Ni không có được thiên hạ. Kẻ nối đời mà giữ được thiên hạ, nếu bị Trời phế bỏ thì tất phải như Kiệt, Trụ; cho nên Ích, Y Doãn, Chu Công không có được thiên hạ. Y Doãn giúp vua Thang làm vương thiên hạ. Khi Thang băng, Thái Đinh chưa lập, Ngoại Bính làm vua hai năm, Trọng Nhâm bốn năm. Thái Đáp phá bỏ điển hình của vua Thang, Y Doãn đày ra đất Đồng ba năm; Thái Giáp hối lỗi, tự oán tự sửa, ở đất Đồng làm điều nhân chuyển sang điều nghĩa, nghe theo lời huấn thị của Y Doãn trong ba năm, rồi mới được trở về kinh đô Bạc. Việc Chu Công không có thiên hạ cũng giống như ông Ích ở đời Hạ, Y Doãn ở đời Thương vậy. Khổng Tử nói: 'Đời Đường, Ngu thì nhường ngôi, đời Hạ, Thương, Chu thì nối ngôi, cái nghĩa (thuận theo mệnh Trời) vốn là một vậy'."
===7===
Vạn Chương hỏi: "Có người nói 'Y Doãn dùng tài nấu nướng để cầu cạnh vua Thang', có chuyện đó không?"
Mạnh Tử đáp: "Không, không phải thế. Y Doãn cày ruộng ở đất Hữu Sân mà vui với đạo của Nghiêu Thuấn. Nếu không hợp nghĩa, không đúng đạo, thì dẫu đem cả thiên hạ làm bổng lộc Ngài cũng chẳng màng, đem nghìn cỗ xe ngựa biếu Ngài cũng chẳng thèm nhìn. Nếu không hợp nghĩa, không đúng đạo, một mảy may Ngài cũng không cho người và một mảy may Ngài cũng không lấy của người. Vua Thang sai người đem lễ vật đến mời. Ngài thản nhiên nói: 'Ta cần gì lễ vật của vua Thang? Sao bằng ta ở giữa ruộng đồng mà vui với đạo của Nghiêu Thuấn?'. Vua Thang ba lần sai người đến mời. Sau đó Ngài mới đổi ý mà nói rằng: 'Ta ở giữa ruộng đồng mà vui với đạo của Nghiêu Thuấn, sao bằng ta giúp vị vua này trở thành vị vua như Nghiêu Thuấn? Sao bằng ta giúp dân này trở thành dân của Nghiêu Thuấn? Sao bằng chính bản thân ta được thấy điều đó? Trời sinh ra dân này, là để kẻ biết trước thức tỉnh kẻ biết sau, kẻ giác ngộ trước thức tỉnh kẻ giác ngộ sau. Ta là người giác ngộ trước trong đám dân của Trời đây. Ta sẽ đem đạo này mà thức tỉnh dân này, ngoài ta ra thì còn ai?'. Ngài nghĩ rằng trong thiên hạ nếu có một người dân thường nào không được hưởng ơn trạch của Nghiêu Thuấn, thì cũng như chính Ngài xô họ xuống rãnh nước vậy. Ngài tự gánh vác việc nặng của thiên hạ như thế, nên mới đến với vua Thang mà khuyên đi đánh nhà Hạ để cứu dân. Ta chưa từng nghe kẻ tự uốn cong mình mà lại làm cho người khác ngay thẳng được, huống hồ là kẻ tự làm nhục mình để chính đốn thiên hạ sao? Hành động của các bậc thánh nhân tuy khác nhau, kẻ ở xa người ở gần, kẻ bỏ đi người ở lại, nhưng rốt cuộc đều là giữ cho thân mình thanh khiết mà thôi. Ta chỉ nghe nói Ngài dùng đạo của Nghiêu Thuấn để thuyết phục vua Thang, chứ chưa từng nghe Ngài dùng tài nấu nướng vậy. Sách '''Y Huấn''' có câu: 'Trời trừng phạt quân bạo ngược bắt đầu từ trong cung Mục, ta bắt đầu công nghiệp từ đất Bạc'."
===8===
Vạn Chương hỏi: "Có người nói 'Khổng Tử ở nước Vệ thì trọ ở nhà tên hoạn quan Ung Thư, ở nước Tề thì trọ ở nhà tên thị nhân Tích Hoàn', có chuyện đó không?"
Mạnh Tử đáp: "Không, không phải thế, đó là do kẻ hiếu sự đặt ra thôi. Ở nước Vệ, Ngài trọ ở nhà Nhan Thù Do. Vợ của Di Tử (sủng thần vua Vệ) và vợ của Tử Lộ là chị em với nhau. Di Tử bảo Tử Lộ rằng: 'Nếu Khổng Tử trọ ở nhà tôi, thì chức khanh nước Vệ có thể có được'. Tử Lộ đem lời ấy thưa lại, Khổng Tử nói: 'Đã có mệnh Trời'. Khổng Tử tiến thân bằng Lễ, lui bước bằng Nghĩa, được hay không đều bảo: 'Đã có mệnh Trời'. Nếu Ngài trọ ở nhà Ung Thư và Tích Hoàn, ấy là kẻ vô nghĩa và không biết mệnh Trời vậy. Khổng Tử không được lòng vua nước Lỗ và nước Vệ, gặp lúc Hoàn Ti Mã nước Tống muốn đón đường giết Ngài, Ngài phải mặc áo thường dân mà đi qua nước Tống. Lúc lâm nạn đó, Ngài trọ ở nhà Tư Thành Trinh Tử, người ấy bấy giờ đang làm thần tử cho Trần Hầu Chu. Ta nghe nói: quan sát người bề tôi ở gần vua thì xem kẻ mà họ cho trọ; quan sát người bề tôi từ xa đến thì xem chủ nhà mà họ đến trọ. Nếu Khổng Tử trọ ở nhà Ung Thư và Tích Hoàn, thì sao còn là Khổng Tử nữa?"
===9===
Vạn Chương hỏi: "Có người nói: 'Bách Lý Hề tự bán mình cho người nuôi súc vật nước Tần lấy năm bộ da cừu đen. Ngài chăn bò để cầu cạnh Tần Mục Công'. Điều đó có thực không?"
Mạnh Tử đáp: "Không phải, ấy là do kẻ hiếu sự đặt ra thôi. Bách Lý Hề là người nước Ngu. Người nước Tấn đem viên ngọc đất Thùy Kích và cỗ xe ngựa đất Khuất Sản để mượn đường nước Ngu đi đánh nước Quắc. Cung Chi Kỳ can ngăn, còn Bách Lý Hề không can, vì Ngài biết vua Ngu không thể can nổi nên mới bỏ đi. Lúc sang nước Tần, Ngài đã bảy mươi tuổi rồi, lẽ nào lại không biết rằng việc chăn bò để cầu cạnh Tần Mục Công là nhơ bẩn sao? Thế thì có gọi là người trí không? Biết không thể can mà không can, có thể gọi là không trí sao? Biết nước Ngu sắp mất mà bỏ đi trước, không thể gọi là không trí. Khi được trọng dụng ở nước Tần, biết Mục Công là vị vua có thể cùng làm việc lớn mà giúp ông ta làm tể tướng, có thể gọi là không trí sao? Làm tể tướng nước Tần mà làm cho vua lừng lẫy thiên hạ, truyền lại đời sau, nếu không phải người hiền thì làm nổi sao? Tự bán mình để giúp vua, ngay cả kẻ có chút lòng tự trọng ở thôn quê cũng không làm, mà lại bảo người hiền làm việc đó sao?"
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
aipql3ykgl3b8bcj1fwufia1ift60kt
Biên dịch:Mạnh Tử/Vạn Chương hạ
114
72028
204904
2026-04-27T08:35:02Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/萬章下 | năm= | phần = Vạn Chương hạ | trước= [[../Vạn Chương thượng]] | sau= [[../Cáo tử thượng]] | ghi chú = }} ===1=== Mạnh Tử nói: "Bá Di mắt không nhìn sắc xấu, tai không nghe thanh âm xấu. Không phải vua hiền thì không thờ, không phải dân lành thì không sai khiến. Gặp đ…”
204904
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/萬章下
| năm=
| phần = Vạn Chương hạ
| trước= [[../Vạn Chương thượng]]
| sau= [[../Cáo tử thượng]]
| ghi chú =
}}
===1===
Mạnh Tử nói: "Bá Di mắt không nhìn sắc xấu, tai không nghe thanh âm xấu. Không phải vua hiền thì không thờ, không phải dân lành thì không sai khiến. Gặp đời trị thì ra làm quan, đời loạn thì lui về. Nơi nào có chính sách bạo ngược và dân chúng ngang tàn, ông không nỡ ở lại. Nghĩ đến việc ở chung với người thô lậu trong làng, ông thấy như mặc áo mũ triều đình mà ngồi trên bùn than. Đương thời vua Trụ, ông ở bờ biển Bắc để đợi thiên hạ thanh bình. Cho nên, nghe phong thái của Bá Di, kẻ tham lam trở nên liêm khiết, kẻ nhu nhược có ý chí tự lập."
"Y Doãn nói: 'Thờ vị vua nào chẳng được? Sai khiến người dân nào chẳng xong?'. Đời trị cũng ra làm quan, đời loạn cũng ra làm quan. Ông nói: 'Trời sinh ra dân này, là để kẻ biết trước thức tỉnh kẻ biết sau, kẻ giác ngộ trước thức tỉnh kẻ giác ngộ sau. Ta là người giác ngộ trước trong đám dân của Trời; ta sẽ đem đạo này mà thức tỉnh dân này'. Ngài nghĩ rằng trong thiên hạ nếu có một người dân thường nào không được hưởng ơn trạch của Nghiêu Thuấn, thì cũng như chính Ngài xô họ xuống rãnh nước vậy. Ngài tự gánh vác việc nặng của thiên hạ như thế."
"Liễu Hạ Huệ không hổ thẹn khi thờ vua xấu, không từ chối chức quan nhỏ. Ra làm quan thì không che giấu tài hiền, tất phải hành động theo đạo lý. Bị ruồng bỏ mà không oán, gặp khốn cùng mà không lo. Ở chung với người trong làng, ông vui vẻ không nỡ rời đi. Ông nói: 'Anh là anh, tôi là tôi, dẫu anh có ở trần trước mặt tôi, sao có thể làm nhơ bẩn tôi được?'. Cho nên nghe phong thái của Liễu Hạ Huệ, kẻ hẹp hòi trở nên khoan dung, kẻ bạc bẽo trở nên đôn hậu."
"Đức Khổng Tử lúc rời nước Tề, đang vò gạo chưa kịp nấu mà đã đi ngay; lúc rời nước Lỗ, ngài nói: 'Ta hãy cứ đi thong thả thôi'. Ấy là cách rời bỏ nước cha mẹ (tổ quốc). Có thể nhanh thì nhanh, có thể lâu thì lâu, có thể ở thì ở, có thể làm thì làm, đó là Khổng Tử vậy."
Mạnh Tử nói: "Bá Di là bậc thánh thanh khiết; Y Doãn là bậc thánh đảm đương; Liễu Hạ Huệ là bậc thánh hòa hợp; Khổng Tử là bậc thánh thức thời. Khổng Tử được gọi là bậc tập đại thành. Tập đại thành có nghĩa là như âm thanh chuông đồng bắt đầu và tiếng khánh ngọc kết thúc. Tiếng chuông đồng là khởi đầu của sự ngăn nắp (điều lý); tiếng khánh ngọc là kết thúc của sự ngăn nắp. Khởi đầu ngăn nắp là việc của trí tuệ; kết thúc ngăn nắp là việc của thánh nhân. Trí tuệ giống như sự khéo léo; thánh đức giống như sức mạnh. Như bắn tên cách xa trăm bước; tên bắn đến đích được là nhờ sức lực, nhưng tên trúng đích hay không thì không chỉ nhờ sức lực vậy."
===2===
Bắc Cung Kì hỏi rằng: "Nhà Chu định ra các bậc tước lộc như thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Chi tiết thế nào thì không được nghe rõ, vì các chư hầu ghét những điều ấy có hại cho quyền lợi của mình nên đã hủy hết sổ sách. Tuy nhiên, Kha này cũng từng nghe được đại lược. Thiên tử một bậc, Công một bậc, Hầu một bậc, Bá một bậc, Tử và Nam cùng một bậc, tổng cộng là năm bậc tước. Đối với quan lại trong nước: Vua một bậc, Khanh một bậc, Đại phu một bậc, Thượng sĩ một bậc, Trung sĩ một bậc, Hạ sĩ một bậc, tổng cộng sáu bậc. Chế độ đất đai của Thiên tử rộng nghìn dặm; Công và Hầu đều rộng trăm dặm; Bá rộng bảy mươi dặm; Tử và Nam rộng năm mươi dặm, tổng cộng bốn hạng. Nước nào không đủ năm mươi dặm thì không trực tiếp triều kiến Thiên tử, mà phải phụ thuộc vào các chư hầu, gọi là phụ dung. Chức Khanh của Thiên tử hưởng lộc đất bằng tước Hầu, Đại phu hưởng lộc bằng tước Bá, Nguyên sĩ hưởng lộc bằng tước Tử và Nam. Nước lớn rộng trăm dặm, lộc của vua gấp mười lần Khanh, lộc của Khanh gấp bốn lần Đại phu, lộc của Đại phu gấp đôi Thượng sĩ, lộc của Thượng sĩ gấp đôi Trung sĩ, lộc của Trung sĩ gấp đôi Hạ sĩ, lộc của Hạ sĩ bằng với dân thường làm việc công; bổng lộc đó đủ để họ khỏi phải cày cấy. Nước hạng nhì rộng bảy mươi dặm, lộc của vua gấp mười lần Khanh, lộc của Khanh gấp ba lần Đại phu, lộc của Đại phu gấp đôi Thượng sĩ, Thượng sĩ gấp đôi Trung sĩ, Trung sĩ gấp đôi Hạ sĩ, Hạ sĩ bằng với dân thường làm việc công; bổng lộc đó đủ để họ khỏi phải cày cấy. Nước nhỏ rộng năm mươi dặm, lộc của vua gấp mười lần Khanh, lộc của Khanh gấp đôi Đại phu, lộc của Đại phu gấp đôi Thượng sĩ, Thượng sĩ gấp đôi Trung sĩ, Trung sĩ gấp đôi Hạ sĩ, Hạ sĩ bằng với dân thường làm việc công; bổng lộc đó đủ để họ khỏi phải cày cấy. Sản vật thu được của người cày ruộng: mỗi người được trăm mẫu; dùng phân bón chăm sóc, hạng nông phu bậc thượng có thể nuôi chín người, bậc thượng kế nuôi tám người, bậc trung nuôi bảy người, bậc trung kế nuôi sáu người, bậc hạ nuôi năm người. Những dân thường làm quan (tại sai), bổng lộc sẽ theo mức đó mà phân hạng cao thấp."
===3===
Vạn Chương hỏi: "Xin hỏi về đạo kết bạn."
Mạnh Tử nói: "Không cậy mình lớn tuổi hơn, không cậy mình địa vị cao hơn, không cậy anh em mình quyền quý mà kết bạn. Kết bạn là kết bạn với cái đức của người ta, không được có lòng cậy thế (hợp). Mạnh Hiến Tử là nhà có trăm cỗ xe, có năm người bạn là Lạc Chính Cầu, Mục Trọng, còn ba người nữa ta đã quên tên. Hiến Tử kết bạn với năm người này mà không hề có ý mình là nhà quyền quý. Năm người này nếu thấy Hiến Tử có ý cậy nhà quyền quý, thì đã không kết bạn với ông ta. Không chỉ nhà trăm cỗ xe mới thế, ngay cả vua nước nhỏ cũng có người như vậy. Phí Huệ Công nói: 'Ta đối với Tử Tư thì tôn làm thầy; đối với Nhan Ban thì kết bạn; còn Vương Thuận, Trường Tức là những người hầu hạ ta'. Không chỉ vua nước nhỏ, ngay cả vua nước lớn cũng có người như vậy. Tấn Bình Công đối với Hợi Đường, bảo vào là vào, bảo ngồi là ngồi, bảo ăn là ăn. Dẫu chỉ có cơm rau canh rau, chưa bao giờ không ăn no, vì ông không dám không ăn no (để tỏ lòng kính). Nhưng sự việc cũng chỉ dừng lại ở đó mà thôi, chứ không cùng ngồi chung ngôi báu, không cùng trị việc dân, không cùng hưởng bổng lộc của trời. Đó là cái cách kẻ sĩ tôn trọng người hiền, chứ không phải cách Vương công tôn trọng người hiền. Vua Thuấn thuở còn hàn vi đi gặp vua Nghiêu, vua Nghiêu gả con rể ở nhà riêng, lại thết tiệc cho Thuấn, thay nhau làm khách làm chủ, đó là bậc Thiên tử kết bạn với kẻ thất phu vậy. Kẻ dưới kính người trên gọi là 'quý người có địa vị' (quý quý); người trên kính kẻ dưới gọi là 'tôn trọng người hiền' (tôn hiền). Quý quý và tôn hiền, cái nghĩa đều là một vậy."
===4===
Vạn Chương hỏi: "Xin hỏi sự giao tế cần tâm thế gì?"
Mạnh Tử đáp: "Là sự cung kính."
Hỏi: "Từ chối quà cáp thì bị coi là không cung kính, là tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Bậc tôn quý ban cho, mà mình lại nghĩ: 'Đồ vật này lấy có hợp nghĩa hay không hợp nghĩa?' rồi mới chịu nhận, như thế là không cung kính, nên thường không từ chối ngay."
Hỏi: "Nếu không dùng lời nói để từ chối, mà dùng lòng để từ chối, tự nhủ: 'Đây là thứ lấy của dân không hợp nghĩa', rồi dùng lời lẽ khác để khước từ không nhận, có được không?"
Mạnh Tử đáp: "Nếu họ kết giao đúng đạo, tiếp đãi đúng lễ, thì Khổng Tử cũng nhận quà vậy."
Vạn Chương hỏi: "Nay có kẻ đón đường trấn lột người ta ở ngoài cửa thành, nhưng khi kết giao lại đúng đạo, biếu tặng đúng lễ, vậy có thể nhận đồ trấn lột đó không?"
Mạnh Tử đáp: "Không thể. Thiên *Khang Cáo* nói: 'Kẻ giết người, cướp đoạt của cải, hung tàn không sợ chết, toàn dân đều căm ghét', đó là hạng người không cần giáo hóa mà phải giết ngay. Nhà Ân thay nhà Hạ, nhà Chu thay nhà Ân, đều không bỏ quy định đó. Ngày nay thói đó còn dữ dội hơn, sao có thể nhận được?"
Hỏi: "Nay các vua chư hầu lấy của dân cũng giống như trấn lột vậy. Thế mà Phu tử bảo: 'Chỉ cần họ làm đúng lễ giao tế thì người quân tử sẽ nhận', xin hỏi giải thích thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Anh tưởng hễ có bậc vương giả trỗi dậy, là ngài sẽ đem các vua chư hầu hiện nay ra giết sạch sao? Hay là ngài giáo hóa họ trước, nếu không sửa mới giết? Vả lại, nói rằng lấy cái không thuộc về mình là trộm đạo, ấy là đẩy cái nghĩa đến mức tột cùng. Lúc Khổng Tử làm quan ở nước Lỗ, người nước Lỗ có tục săn bắn rồi tranh nhau con mồi, Khổng Tử cũng tham gia tranh mồi. Việc tranh mồi còn có thể làm, huống chi là nhận quà ban tặng sao?"
Hỏi: "Vậy chẳng lẽ lúc Khổng Tử ra làm quan không phải vì thực hành đạo sao?"
Mạnh Tử đáp: "Có vì thực hành đạo chứ."
"Nếu vì thực hành đạo sao lại còn tranh mồi?"
Mạnh Tử đáp: "Khổng Tử trước hết chỉnh đốn các sổ sách tế khí, không dùng các thức ăn từ bốn phương không đúng quy định để tế lễ."
Hỏi: "Tại sao Ngài không bỏ đi ngay?"
Mạnh Tử đáp: "Ngài muốn cho họ một dấu hiệu bắt đầu. Dấu hiệu đã đưa ra mà đạo vẫn không được hành, bấy giờ Ngài mới đi. Vì thế Ngài chưa bao giờ ở đâu quá ba năm. Khổng Tử ra làm quan có khi vì thấy đạo có thể hành (kiến hành khả), có khi vì được tiếp đãi đúng lễ (tế khả), có khi vì để được nuôi dưỡng (công dưỡng). Với Quý Hoàn Tử là thấy đạo có thể hành; với Vệ Linh Công là vì được tiếp đãi đúng lễ; với Vệ Hiếu Công là vì được nuôi dưỡng."
===5===
Mạnh Tử nói: "Ra làm quan không phải vì nghèo, nhưng đôi khi cũng vì nghèo mà làm quan; lấy vợ không phải vì để phụng dưỡng cha mẹ, nhưng đôi khi cũng vì để phụng dưỡng mà lấy vợ. Người làm quan vì nghèo thì nên từ chối chỗ cao mà ở chỗ thấp, từ chối chỗ giàu mà ở chỗ nghèo. Từ chối chỗ cao ở chỗ thấp, từ chối giàu ở chỗ nghèo, thì làm việc gì là thích hợp? Đó là giữ cửa, gõ mõ canh đêm. Khổng Tử từng làm quan coi kho (ủy lại), Ngài nói: 'Sổ sách tính toán đúng đắn là được'. Từng làm quan coi việc chăn nuôi (thừa điền), Ngài nói: 'Trâu cừu lớn lên mập mạnh là được'. Ở vị trí thấp mà bàn chuyện cao xa, ấy là có tội. Đứng ở triều đình của người ta mà đạo không hành được, ấy là điều hổ thẹn."
===6===
Vạn Chương hỏi: "Kẻ sĩ không nương nhờ các chư hầu là tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Vì không dám. Chư hầu bị mất nước rồi nương nhờ vào chư hầu khác, đó là Lễ. Kẻ sĩ mà nương nhờ vào chư hầu (khi chưa làm quan) là không đúng Lễ."
Vạn Chương hỏi: "Vua ban thóc cho, có nhận không?"
Mạnh Tử đáp: "Nhận chứ."
"Nhận dựa trên nghĩa gì?"
Mạnh Tử đáp: "Vua đối với dân phiêu tán đến nước mình thì vốn phải cứu giúp (chu cấp)."
Hỏi: "Bảo là cứu giúp thì nhận, còn ban tặng thì không nhận, là tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Vì không dám."
Hỏi: "Xin hỏi tại sao không dám?"
Mạnh Tử đáp: "Kẻ giữ cửa, gõ mõ đều có chức phận thường xuyên để hưởng lộc từ bề trên. Người không có chức phận mà nhận ban tặng của bề trên, thì bị coi là không cung kính."
Hỏi: "Nếu vua cứu giúp thì nhận, nhưng chẳng hay có thể nhận liên tục mãi được không?"
Mạnh Tử đáp: "Mục Công đối với Tử Tư, thường xuyên hỏi thăm và thường xuyên tặng thịt quý trong vạc. Tử Tư không vui, cuối cùng xua tay đuổi sứ giả ra ngoài cửa lớn, rồi ngoảnh mặt về phương Bắc dập đầu lạy hai lạy mà không nhận, nói rằng: 'Nay tôi mới biết vua coi Cấp này (tên Tử Tư) như chó ngựa nuôi trong nhà!'. Từ đó về sau không còn sứ giả đến tặng thịt nữa. Yêu người hiền mà không thể dùng họ, lại cũng không biết nuôi dưỡng họ đúng cách, thì có gọi là yêu người hiền được không?"
Hỏi: "Xin hỏi vua muốn nuôi dưỡng quân tử thì phải thế nào mới gọi là nuôi dưỡng?"
Mạnh Tử đáp: "Ban đầu dùng mệnh vua đem quà đến, quân tử dập đầu lạy hai lạy mà nhận; sau đó quan coi kho tiếp tế thóc, quan coi bếp tiếp tế thịt, mà không cần dùng mệnh vua đưa đến nữa. Tử Tư cho rằng đem thịt trong vạc đến khiến mình phải tất bật lạy tạ mãi, đó không phải đạo nuôi dưỡng quân tử. Vua Nghiêu đối với vua Thuấn, sai chín người con trai đến hầu hạ, hai người con gái đến làm vợ, trâu bò kho tẫm đầy đủ để nuôi Thuấn giữa ruộng đồng, sau đó mới cất nhắc lên ngôi cao. Thế mới gọi là cách Vương công tôn trọng người hiền vậy."
===7===
Vạn Chương hỏi: "Xin hỏi kẻ sĩ không chủ động đi kiến chư hầu, là dựa trên nghĩa gì?"
Mạnh Tử đáp: "Ở trong thành gọi là tôi tớ nơi thị tỉnh, ở chốn quê gọi là tôi tớ chốn thảo mang, đều là thứ dân cả. Thứ dân mà chưa dâng sính lễ (chí vật) để làm tôi, thì không dám vào gặp chư hầu, đó là Lễ vậy."
Vạn Chương hỏi: "Thứ dân nếu vua gọi đi làm xâu thì phải đi; thế mà vua muốn gặp, gọi đến, lại không vào gặp, là tại sao?"
Mạnh Tử đáp: "Đi làm xâu là vì nghĩa (bổn phận dân); vào gặp vua (như một tân khách) là bất nghĩa. Vả lại vua muốn gặp họ để làm gì?"
Hỏi: "Vì họ có kiến thức rộng, vì họ là người hiền."
Mạnh Tử đáp: "Nếu vì họ có kiến thức rộng, thì ngay cả Thiên tử còn không được gọi thầy, huống chi chư hầu? Nếu vì họ là người hiền, thì ta chưa từng nghe nói muốn gặp người hiền mà lại gọi họ đến cả. Mục Công nhiều lần đến gặp Tử Tư, hỏi: 'Ngày xưa nước nghìn cỗ xe kết bạn với kẻ sĩ, thấy thế nào?'. Tử Tư không vui đáp: 'Người xưa có câu: Phải nói là thờ phụng họ, chứ sao lại nói là kết bạn với họ?'. Tử Tư không vui, há chẳng phải muốn nói rằng: 'Về địa vị, ngài là vua, tôi là tôi, sao tôi dám kết bạn với vua? Về đức hạnh, ngài là người phải thờ phụng tôi, sao có thể kết bạn với tôi?'. Vua nước nghìn cỗ xe muốn cầu kết bạn mà còn không được, huống chi là gọi đến? Tề Cảnh Công đi săn, dùng cờ tinh để gọi người giữ vườn thú (người canh rừng); người ấy không đến, vua định giết đi. Khổng Tử nói: 'Kẻ sĩ có chí không quên mình có thể phải nằm nơi ngòi rãnh, kẻ dũng cảm không quên mình có thể phải mất đầu'. Khổng Tử khen người giữ vườn thú ở điểm nào? Khen ở chỗ không phải tín hiệu đúng cách gọi mình thì không đi."
Hỏi: "Xin hỏi gọi người giữ vườn thú thì phải dùng gì?"
Mạnh Tử đáp: "Dùng mũ da (bì quan). Gọi thứ dân dùng cờ đỏ (chiên), gọi sĩ dùng cờ có thêu hình (kỳ), gọi đại phu dùng cờ có gắn lông chim (tinh). Lấy tín hiệu gọi đại phu mà gọi người giữ vườn thú, người đó thà chết không dám đi; lấy tín hiệu gọi sĩ mà gọi thứ dân, thứ dân sao dám đi? Huống chi lấy cách gọi người thường mà gọi người hiền sao? Muốn gặp người hiền mà không dùng đúng đạo, thì cũng như muốn người ta vào nhà mà lại đóng chặt cửa. Nghĩa là con đường; Lễ là cái cửa. Chỉ bậc quân tử mới có thể theo đường ấy mà ra vào cửa ấy. Kinh *Thi* nói: 'Đường nhà Chu bằng phẳng như đá mài, thẳng như mũi tên; quân tử giẫm lên đó, tiểu nhân trông vào đó'."
Vạn Chương hỏi: "Khổng Tử khi có mệnh vua gọi, không đợi thắng xe xong là đi ngay. Vậy chẳng lẽ Khổng Tử làm sai sao?"
Mạnh Tử đáp: "Khổng Tử lúc đó đang đương chức, có quan hàm, vua dùng danh nghĩa chức quan mà gọi, nên Ngài phải đi ngay."
===8===
Mạnh Tử nói với Vạn Chương: "Bậc thiện sĩ của một làng thì kết bạn với bậc thiện sĩ của làng đó; bậc thiện sĩ của một nước thì kết bạn với bậc thiện sĩ của nước đó; bậc thiện sĩ của thiên hạ thì kết bạn với bậc thiện sĩ của thiên hạ. Nếu kết bạn với bậc thiện sĩ thiên hạ mà chưa đủ, lại còn bàn luận ngược lên những người thời cổ. Ngâm thơ của họ, đọc sách của họ, mà không biết con người họ thì có được chăng? Thế nên mới bàn luận về thời đại của họ. Đó gọi là tìm bạn ở thời cổ (thượng hữu) vậy."
===9===
Tề Tuyên Vương hỏi về chức Khanh. Mạnh Tử hỏi: "Vua muốn hỏi về hạng Khanh nào?"
Vua hỏi: "Các Khanh không giống nhau sao?"
Mạnh Tử đáp: "Không giống nhau, có hạng Khanh là người trong hoàng tộc (quý thích), có hạng Khanh là người khác họ (dị tánh)."
Vua nói: "Xin hỏi về hạng Khanh trong hoàng tộc."
Mạnh Tử đáp: "Vua có lỗi lớn thì can gián, can đi can lại nhiều lần mà không nghe, thì họ sẽ thay ngôi vua (lập người khác cùng họ)."
Vua nghe vậy biến sắc, lộ vẻ giận dữ.
Mạnh Tử nói: "Xin vua đừng lấy làm lạ. Vua hỏi thần, thần không dám không lấy lời ngay chính mà đáp."
Vua bình tĩnh lại, rồi hỏi về hạng Khanh khác họ.
Mạnh Tử đáp: "Vua có lỗi thì can gián, can đi can lại nhiều lần mà không nghe, thì họ bỏ đi (sang nước khác)."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
3eo2ofgwx7yfforx5orjdsuroayqlfj
Biên dịch:Mạnh Tử/Cáo tử thượng
114
72029
204906
2026-04-27T08:37:52Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/告子上 | năm= | phần = Cáo tử thượng | trước= [[../Vạn Chương hạ]] | sau= [[../Cáo tử hạ]] | ghi chú = }} ===1=== Cáo Tử nói: "Bản tính con người giống như cây khởi, cây liễu; nhân nghĩa giống như cái chén, cái khay. Lấy bản tính con người mà làm ra nhân nghĩa, cũng giống nh…”
204906
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/告子上
| năm=
| phần = Cáo tử thượng
| trước= [[../Vạn Chương hạ]]
| sau= [[../Cáo tử hạ]]
| ghi chú =
}}
===1===
Cáo Tử nói: "Bản tính con người giống như cây khởi, cây liễu; nhân nghĩa giống như cái chén, cái khay. Lấy bản tính con người mà làm ra nhân nghĩa, cũng giống như lấy gỗ khởi liễu mà làm ra chén khay vậy."
Mạnh Tử đáp: "Ông có thể thuận theo tính của cây khởi liễu mà làm ra chén khay chăng? Hay là ông phải tàn hại cây khởi liễu rồi mới làm ra chén khay được? Nếu phải tàn hại cây khởi liễu để làm chén khay, thì chẳng lẽ cũng phải tàn hại con người để làm ra nhân nghĩa sao? Kẻ dẫn dắt thiên hạ coi nhân nghĩa là tai họa, hẳn là do lời nói của ông vậy."
===2===
Cáo Tử nói: "Bản tính con người giống như dòng nước xiết. Khơi sang hướng Đông thì chảy về phương Đông, khơi sang hướng Tây thì chảy về phương Tây. Bản tính con người không phân biệt giữa thiện và bất thiện, cũng giống như nước không phân biệt giữa phương Đông và phương Tây vậy."
Mạnh Tử đáp: "Nước quả thực không phân biệt Đông Tây, nhưng không phân biệt Trên Dưới sao? Bản tính thiện của con người giống như dòng nước chảy xuống thấp. Người ta không ai không thiện, nước không thứ gì không chảy xuống. Nay nếu ta vỗ nước cho bắn lên, có thể làm nó cao quá trán; ngăn dòng mà dẫn đi, có thể khiến nó lên tận núi. Đó há phải là tính tự nhiên của nước sao? Chẳng qua do thế lực tác động mà ra như vậy. Con người có thể bị làm cho trở thành bất thiện, bản tính bị tác động cũng giống như thế."
===3===
Cáo Tử nói: "Sự sống (bản năng sinh học) gọi là Tính."
Mạnh Tử hỏi: "Sự sống gọi là Tính, có giống như màu trắng gọi là Trắng chăng?"
Đáp: "Đúng vậy."
Mạnh Tử hỏi tiếp: "Cái trắng của lông trắng giống như cái trắng của tuyết trắng; cái trắng của tuyết trắng giống như cái trắng của ngọc trắng sao?"
Đáp: "Đúng vậy."
Mạnh Tử kết luận: "Vậy thì tính của loài chó giống như tính của loài bò, tính của loài bò giống như tính của con người sao?"
===4===
Cáo Tử nói: "Ăn uống và sắc dục là bản tính. Nhân là ở bên trong (nội), không phải ở bên ngoài (ngoại). Nghĩa là ở bên ngoài, không phải ở bên trong."
Mạnh Tử hỏi: "Tại sao nói Nhân ở trong còn Nghĩa ở ngoài?"
Đáp: "Người kia lớn tuổi nên ta kính trọng người ấy là người lớn, chứ không phải vì có cái tính 'lớn' sẵn ở trong ta. Giống như vật kia trắng nên ta gọi nó là trắng, ấy là thuận theo cái trắng ở bên ngoài vật vậy. Cho nên gọi Nghĩa là ở ngoài."
Mạnh Tử đáp: "Khác chứ. Cái trắng của con ngựa trắng không khác gì cái trắng của người da trắng. Nhưng chẳng hay sự kính trọng con ngựa già có giống như sự kính trọng bậc trưởng thượng không? Vả lại, ông cho rằng bản thân người lớn tuổi là 'Nghĩa', hay việc ta thực hành sự kính trọng người lớn tuổi mới là 'Nghĩa'?"
Cáo Tử nói: "Em ta thì ta yêu, em người nước Tần thì ta không yêu; ấy là do lòng ta tự thấy vui (mà làm), nên gọi là ở trong. Kính trọng người lớn tuổi nước Sở cũng như kính trọng người lớn tuổi nhà mình; ấy là dựa trên cái tuổi tác của họ, nên gọi là ở ngoài."
Mạnh Tử đáp: "Ưa thích món thịt nướng của người Tần cũng chẳng khác gì ưa thích món thịt nướng của mình. Sự vật khách quan đều như vậy cả. Thế chẳng lẽ lòng ưa thích thịt nướng cũng là ở bên ngoài sao?"
===5===
Mạnh Quý Tử hỏi Công Đô Tử: "Tại sao lại nói Nghĩa ở bên trong?"
Công Đô Tử đáp: "Vì ta thực hành lòng kính trọng của chính mình, nên gọi là ở trong."
Quý Tử hỏi: "Nếu người trong làng lớn hơn anh mình một tuổi, thì kính trọng ai?"
Đáp: "Kính trọng anh mình."
Quý Tử hỏi: "Lúc rót rượu mời, thì mời ai trước?"
Đáp: "Mời người trong làng trước."
Quý Tử nói: "Lòng kính trọng thì dành cho người này (anh), nhưng sự tôn lễ lại thực hiện cho người kia (người làng). Vậy rõ ràng Nghĩa ở ngoài chứ đâu phải do từ bên trong phát ra?"
Công Đô Tử không đáp được, bèn đem chuyện hỏi Mạnh Tử.
Mạnh Tử nói: "Ông hãy hỏi người ấy rằng: 'Kính trọng chú mình hơn hay kính trọng em mình hơn?'. Người ấy sẽ đáp: 'Kính trọng chú'. Ông lại hỏi: 'Nếu em mình đang đóng vai 'thi thể' để tế lễ (thụ thi), thì kính trọng ai?'. Người ấy tất nói: 'Kính trọng em'. Ông hãy hỏi: 'Thế cái lòng kính trọng chú đâu mất rồi?'. Người ấy sẽ nói: 'Vì lúc đó em đang ở địa vị tế lễ'. Bấy giờ ông cũng đáp lại rằng: 'Đúng vậy, trường hợp mời rượu cũng là vì vị trí (địa vị khách mời) mà thôi'. Lòng kính trọng thường xuyên là dành cho anh, nhưng sự cung kính nhất thời là dành cho người trong làng."
Quý Tử nghe xong, lại nói: "Kính chú là kính, kính em (lúc tế) là kính. Quả thực Nghĩa ở bên ngoài, không phải do bên trong."
Công Đô Tử liền đáp: "Mùa đông thì uống nước nóng, mùa hạ thì uống nước lạnh. Vậy chẳng lẽ việc ăn uống cũng là ở bên ngoài sao?"
===6===
Công Đô Tử nói: "Cáo Tử bảo: 'Tính không thiện cũng không bất thiện'. Có người lại nói: 'Tính có thể làm thiện, có thể làm bất thiện; cho nên vua Văn, vua Võ hưng thịnh thì dân ưa điều thiện, vua U, vua Lệ trỗi dậy thì dân ưa bạo tàn'. Lại có người nói: 'Có người tính thiện, có người tính bất thiện; cho nên có vua Nghiêu làm chủ mà vẫn có kẻ ác như Tượng, có người cha như Cổ Sấu mà vẫn sinh ra Thuấn, có bạo chúa Trụ làm vua mà vẫn có các hiền thần như Vi Tử Khải, Vương Tử Tỉ Can'. Nay Phu tử nói 'Tính thiện', vậy chẳng lẽ những thuyết kia đều sai sao?"
Mạnh Tử đáp: "Xét về bản tình (cái mầm mống tự nhiên) thì con người có thể làm điều thiện được; đó chính là ý ta nói tính thiện. Còn như làm điều bất thiện, đó không phải lỗi của thiên tài (cái vốn có). Lòng trắc ẩn, ai cũng có; lòng thẹn ác, ai cũng có; lòng cung kính, ai cũng có; lòng thị phi, ai cũng có. Lòng trắc ẩn là Nhân; lòng thẹn ác là Nghĩa; lòng cung kính là Lễ; lòng thị phi là Trí. Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí không phải từ bên ngoài rèn đúc cho ta, mà là ta vốn sẵn có đó thôi, chẳng qua ta không chịu suy xét đến. Cho nên nói: Tìm thì được, bỏ thì mất. Sở dĩ có người kém hơn người khác gấp bội, không thể tính đếm hết được, là vì họ không phát huy hết cái vốn có của mình. Kinh *Thi* nói: 'Trời sinh ra dân, có vật có quy tắc. Dân giữ được tính thường, nên ưa đức tốt này'. Khổng Tử khen: 'Người làm bài thơ này thật hiểu Đạo vậy! Có sự vật tất có quy tắc; dân giữ tính thường nên mới ưa đức tốt'."
===7===
Mạnh Tử nói: "Năm trúng mùa, con em đa số lành hiền; năm mất mùa, con em đa số hung bạo. Đó không phải do Trời phú cho họ tài chất khác nhau, mà do hoàn cảnh làm vây hãm, đắm đuối cái tâm họ mà ra vậy. Nay đem giống lúa mạch gieo và chăm sóc như nhau; đất như nhau, thời vụ như nhau, lúa mọc lên xanh tốt, đến ngày hạ chí đều chín cả. Dù có chỗ không đều, đó là do đất có nơi màu mỡ nơi khô cằn, do mưa lộ bồi dưỡng hay sức người chăm bón không đồng đều. Cho nên, phàm vật cùng loài thì đều tương tự nhau, sao riêng đối với con người ta lại nghi ngờ điều đó? Thánh nhân cũng cùng loài với ta vậy. Cho nên Long Tử nói: 'Kẻ không biết cỡ chân mà đóng giày, ta biết kẻ đó không đóng thành cái giỏ đâu'. Giày giống nhau vì bàn chân thiên hạ đều tương tự. Miệng đối với hương vị thì có chung sự ưa thích; Dịch Nha là người sớm đạt được cái mà miệng ta ưa thích nhất. Nếu tính ưa hương vị của miệng người mà khác nhau như tính của chó ngựa khác loài với ta, thì sao thiên hạ đều theo khẩu vị của Dịch Nha? Về hương vị, cả thiên hạ đều mong được như Dịch Nha, ấy là vì miệng người trong thiên hạ đều tương tự. Tai cũng vậy, về âm thanh, cả thiên hạ đều mong được như Sư Khoáng, ấy là vì tai người trong thiên hạ tương tự. Mắt cũng thế, về sắc đẹp, cả thiên hạ không ai không biết Tử Đô là đẹp; kẻ không biết Tử Đô đẹp là kẻ không có mắt. Cho nên nói: Miệng đối với vị có chung cái ưa, tai đối với thanh có chung cái nghe, mắt đối với sắc có chung cái nhìn đẹp. Vậy đến cái Tâm, lẽ nào lại không có điểm chung sao? Cái điểm chung của tâm là gì? Ấy là Lý và Nghĩa. Thánh nhân chẳng qua là người sớm đạt được cái điểm chung của tâm ta mà thôi. Cho nên Lý Nghĩa làm vui lòng ta cũng như thịt béo làm ngon miệng ta vậy."
===8===
Mạnh Tử nói: "Cây cối ở núi Ngưu Sơn thuở xưa vốn rất xanh tốt. Nhưng vì núi ở gần một nước lớn (kinh đô), búa rìu cứ chặt đốn mãi, thì còn giữ được vẻ đẹp sao? Dù đêm ngày cây cối có nảy nở, mưa lộ có thấm nhuần, không phải không có mầm mống sinh ra, nhưng người ta lại đem trâu dê đến chăn thả, khiến núi trở nên trọc lóc. Người ta thấy núi trọc lóc, lại tưởng núi ấy xưa nay chưa từng có cây xanh, đó há có phải tính tự nhiên của núi đâu? Xét đến cái tâm con người, lẽ nào lại thiếu lòng nhân nghĩa? Sở dĩ người ta đánh mất lương tâm cũng giống như búa rìu đối với cây cối vậy. Ngày ngày chặt đốn, thì tâm sao đẹp cho được? Dù đêm ngày có chút nảy nở của khí bình minh (bình đán chi khí), khiến lòng yêu ghét gần với đạo nhất, nhưng những việc làm trong ngày lại trói buộc, làm tiêu tan đi mất. Sự trói buộc ấy lặp đi lặp lại khiến 'khí ban đêm' không đủ để bảo tồn lương tâm. Khí ban đêm không đủ bảo tồn thì con người chẳng cách cầm thú là bao. Người ta thấy kẻ ấy như cầm thú, liền bảo kẻ ấy chưa từng có thiên tài (tâm tốt), đó há có phải là tình trạng thực sự của người ta đâu? Cho nên, nếu được bồi dưỡng thì vật gì cũng lớn; nếu mất sự bồi dưỡng thì vật gì cũng tiêu hao. Khổng Tử nói: 'Giữ thì còn, bỏ thì mất. Ra vào không chừng, chẳng biết đi đâu'. Đó chẳng phải là nói về cái Tâm sao?"
===9===
Mạnh Tử nói: "Đừng lấy làm lạ khi nhà vua không có trí tuệ. Dẫu là vật dễ sống nhất thiên hạ, nếu đem phơi nắng một ngày rồi lại để lạnh mười ngày, thì không vật nào sống nổi. Ta gặp vua thì ít, mà khi ta lui về thì những kẻ làm vua nguội lạnh lại đến quá nhiều, dẫu ta có làm nảy nở được mầm thiện nào thì phỏng có ích gì! Nay như nghề đánh cờ, chỉ là một kỹ thuật nhỏ; nhưng nếu không chuyên tâm trí chí thì không thể giỏi được. Dịch Thu là tay cờ giỏi nhất nước. Giả sử Dịch Thu dạy hai người đánh cờ: một người chuyên tâm trí chí, chỉ nghe lời Dịch Thu; người kia tuy cũng nghe nhưng lòng lại nghĩ có con chim hồng chim hạc sắp bay đến, muốn cầm cung tên mà bắn. Tuy cùng học một thầy nhưng kết quả không bằng người kia. Đó là do trí tuệ không bằng sao? Đáp rằng: Không phải vậy."
===10===
Mạnh Tử nói: "Cá là thứ ta muốn; tay gấu cũng là thứ ta muốn. Nếu không được cả hai, ta bỏ cá mà lấy tay gấu. Sự sống là thứ ta muốn; nghĩa cũng là thứ ta muốn. Nếu không được cả hai, ta bỏ sống mà lấy nghĩa. Sự sống tuy ta muốn, nhưng có cái ta muốn hơn cả sự sống, nên ta không làm việc cầu sống một cách hèn hạ. Cái chết tuy ta ghét, nhưng có cái ta ghét hơn cả cái chết, nên có những hoạn nạn ta không tránh né. Giả sử người ta không có gì muốn hơn sự sống, thì phàm cách gì để sống sao lại không dùng? Giả sử người ta không có gì ghét hơn cái chết, thì phàm việc gì để tránh họa sao lại không làm? Làm như vậy thì sống được nhưng người ta có lúc không dùng; làm như vậy thì tránh được họa nhưng người ta có lúc không làm. Thế nên mới biết có cái ta muốn hơn cả sự sống, có cái ta ghét hơn cả cái chết. Không chỉ bậc hiền giả mới có tâm này, ai cũng có cả, chỉ là bậc hiền giả giữ được mà không để mất thôi.
Một giỏ cơm, một bát canh, được thì sống, không được thì chết. Nhưng nếu quát mắng mà đưa cho, thì người đi đường cũng không nhận; nếu dùng chân đá mà đưa cho, thì kẻ ăn mày cũng khinh rẻ. Thế mà vì bổng lộc muôn chung, có người lại không màng lễ nghĩa mà nhận lấy. Muôn chung ấy có thêm gì cho ta không? Chẳng qua là vì để cho nhà cửa đẹp đẽ, vợ thiếp phụng thờ, hoặc để ban ơn cho những kẻ nghèo túng quen biết ta đó sao? Khi xưa thà chết chứ không nhận (vì trái lễ nghĩa), nay vì nhà cửa đẹp mà làm; khi xưa thà chết chứ không nhận, nay vì vợ thiếp phụng thờ mà làm; khi xưa thà chết chứ không nhận, nay vì muốn ban ơn cho kẻ nghèo túng mà làm. Chẳng lẽ những việc ấy không thể thôi đi sao? Như thế gọi là đánh mất bản tâm vậy."
===11===
Mạnh Tử nói: "Nhân là cái tâm của người. Nghĩa là con đường của người. Bỏ con đường mình đi mà không theo, để mất cái tâm mình mà không biết tìm. Đáng thương thay! Người ta có con gà con chó lạc mất thì biết đi tìm; có cái tâm lạc mất (phóng tâm) lại không biết tìm. Đạo học vấn không có gì khác, chẳng qua là tìm lại cái tâm đã mất đó mà thôi."
===12===
Mạnh Tử nói: "Nay có người ngón tay áp út bị co quắp không duỗi thẳng được, tuy không đau đớn hay hỏng việc gì, nhưng nếu có ai chữa được cho thẳng, thì dẫu đường sá xa xôi sang nước Tần, nước Sở cũng không quản, chỉ vì ngón tay mình không bằng người. Ngón tay không bằng người thì biết ghét; cái tâm không bằng người thì không biết ghét. Thế gọi là không biết nặng nhẹ vậy."
===13===
Mạnh Tử nói: "Cây đồng, cây tử nhỏ bằng một ôm, một nắm tay, nếu muốn nó sống, ai cũng biết cách bồi dưỡng. Đến cái thân mình lại không biết cách bồi dưỡng, há lẽ lòng yêu thân mình không bằng yêu cây đồng, cây tử sao? Ấy là vì thiếu suy xét đến cực điểm vậy."
===14===
Mạnh Tử nói: "Con người đối với thân thể mình thì cái gì cũng yêu; cái gì cũng yêu thì cái gì cũng phải bồi dưỡng. Không một tấc da nào không yêu, thì không một tấc da nào không bồi dưỡng. Muốn xét xem mình bồi dưỡng tốt hay không, há có cách nào khác đâu? Chỉ là tự xem mình coi trọng bộ phận nào mà thôi. Thân thể có phần quý, phần tiện; có phần lớn, phần nhỏ. Đừng vì phần nhỏ mà hại phần lớn, đừng vì phần tiện mà hại phần quý. Ai bồi dưỡng phần nhỏ là tiểu nhân, ai bồi dưỡng phần lớn là đại nhân. Nay có người làm vườn, bỏ cây ngô đồng, cây giá quý giá mà đi chăm bón cây táo dại, cây gai, thì là người làm vườn tồi. Kẻ chỉ lo bồi dưỡng một ngón tay mà để mất cả vai lưng mà không biết, thì là người lú lẫn. Kẻ chỉ lo ăn uống thì bị người đời khinh rẻ, vì họ bồi dưỡng cái nhỏ (miệng bụng) mà làm mất cái lớn (tâm đức). Nếu người lo ăn uống mà không để mất cái lớn, thì cái miệng bụng đâu chỉ đơn thuần là tấc da tấc thịt sao?"
===15===
Công Đô Tử hỏi: "Cùng là người như nhau, tại sao có người là đại nhân, có người là tiểu nhân?"
Mạnh Tử đáp: "Ai theo những bộ phận lớn của mình (tâm) thì làm đại nhân; ai theo những bộ phận nhỏ của mình (耳目 - tai mắt) thì làm tiểu nhân."
Hỏi: "Cùng là người như nhau, tại sao có người theo phần lớn, có người lại theo phần nhỏ?"
Đáp: "Các cơ quan như tai mắt không biết suy nghĩ nên bị vật chất che lấp. Vật chất tiếp xúc với vật chất thì dẫn dụ người ta đi thôi. Cái Tâm là cơ quan biết suy nghĩ; suy nghĩ thì đạt được Đạo, không suy nghĩ thì không đạt được. Đó là cái Trời phú cho ta. Trước hết hãy đứng vững ở cái Lớn (tâm đức), thì cái Nhỏ (dục vọng) không thể cướp mất chí hướng của ta. Như thế là làm đại nhân vậy thôi."
===16===
Mạnh Tử nói: "Có Thiên tước (tước vị của Trời), có Nhân tước (tước vị của người). Nhân, nghĩa, trung, tín, ưa làm điều thiện không mệt mỏi, đó là Thiên tước. Công, khanh, đại phu, đó là Nhân tước. Người xưa tu dưỡng Thiên tước rồi thì Nhân tước tự nhiên theo đến. Người nay tu dưỡng Thiên tước để làm phương tiện mưu cầu Nhân tước. Khi đã được Nhân tước rồi thì vứt bỏ luôn Thiên tước; thật là lầm lạc đến cực điểm, cuối cùng rồi cũng mất luôn cả Nhân tước mà thôi."
===17===
Mạnh Tử nói: "Muốn được cao quý là lòng mong cầu chung của mọi người. Nhưng trong mỗi người thực ra đã có sẵn cái cao quý rồi, chẳng qua người ta không chịu suy xét đó thôi. Cái cao quý mà người đời ban tặng không phải là cái quý thực sự (lương quý). Cái quý mà họ Triệu Mạnh ban cho, họ Triệu Mạnh cũng có thể làm cho nó trở nên hèn hạ. Kinh *Thi* nói: 'Đã say bằng rượu, đã no bằng đức'. Ý nói đã no đủ về nhân nghĩa, nên không còn thèm muốn vị béo tốt của người khác nữa. Tiếng thơm vang xa lừng lẫy ở nơi mình, nên không còn thèm muốn áo gấm thêu hoa của người khác nữa."
===18===
Mạnh Tử nói: "Lòng nhân thắng được cái bất nhân cũng giống như nước thắng được lửa. Những kẻ làm điều nhân ngày nay giống như lấy một chén nước mà cứu xe củi đang cháy. Lửa không tắt thì lại bảo nước không thắng được lửa. Cách làm này lại giúp sức thêm cho cái bất nhân đến cực điểm, rốt cuộc cũng sẽ tiêu vong mà thôi."
===19===
Mạnh Tử nói: "Năm loại ngũ cốc là giống cây tốt nhất. Nhưng nếu trồng mà không chín, thì chẳng bằng cỏ dại, lúa mòng. Đạo Nhân cũng vậy, quý ở chỗ thực hành cho chín muồi (thành thục) mà thôi."
===20===
Mạnh Tử nói: "Hậu Nghệ dạy người bắn tên, tất phải nhắm đến việc kéo đủ cung (cấu); người học cũng tất phải nhắm đến việc kéo đủ cung. Thợ giỏi dạy người, tất phải dùng thước và com-pa; người học cũng tất phải theo đúng thước và com-pa vậy."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
phf7zf7ap8gb4o6dfr4ae9k35ffqajt
Biên dịch:Mạnh Tử/Cáo tử hạ
114
72030
204907
2026-04-27T08:43:38Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/告子下 | năm= | phần = Cáo tử hạ | trước= [[../Cáo tử thượng]] | sau= [[../Tận tâm thượng]] | ghi chú = }} ===1=== Có người nước Nhậm hỏi Ốc Lư Tử rằng: "Lễ và Ăn, cái nào quan trọng hơn?" Đáp: "Lễ quan trọng hơn." Hỏi: "Sắc dục và Lễ, cái nào quan trọng hơn?" Đáp:…”
204907
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/告子下
| năm=
| phần = Cáo tử hạ
| trước= [[../Cáo tử thượng]]
| sau= [[../Tận tâm thượng]]
| ghi chú =
}}
===1===
Có người nước Nhậm hỏi Ốc Lư Tử rằng: "Lễ và Ăn, cái nào quan trọng hơn?"
Đáp: "Lễ quan trọng hơn."
Hỏi: "Sắc dục và Lễ, cái nào quan trọng hơn?"
Đáp: "Lễ quan trọng hơn."
Người đó lại hỏi: "Nếu theo đúng Lễ mà ăn thì phải chịu đói mà chết, không theo Lễ mà ăn thì có cái ăn, vậy có nhất định phải theo Lễ chăng? Theo đúng Lễ thân hành đi đón vợ thì không lấy được vợ, không thân hành đi đón thì lấy được vợ, vậy có nhất định phải thân hành đi đón chăng?"
Ốc Lư Tử không đối đáp được. Ngày hôm sau sang nước Sâu đem chuyện này hỏi Mạnh Tử.
Mạnh Tử nói: "Đáp lại lời đó có khó gì? Không xét từ gốc rễ mà chỉ so sánh ở ngọn, thì một mẩu gỗ vuông nhỏ có thể làm cho trông cao hơn cả tòa lầu cao trên núi. Vàng nặng hơn lông chim, há chẳng phải là so sánh một chiếc móc thắt lưng bằng vàng với một xe lông chim sao? Lấy cái việc hệ trọng nhất của Ăn so với cái tiết lễ nhỏ nhặt nhất của Lễ, thì đâu chỉ có Ăn là nặng? Lấy cái việc hệ trọng nhất của Sắc dục so với cái tiết lễ nhỏ nhặt nhất của Lễ, thì đâu chỉ có Sắc dục là nặng? Hãy đi đáp lại hắn rằng: 'Vặn gãy tay anh mình mà cướp lấy thức ăn thì được ăn, không vặn thì không được ăn, vậy anh có vặn không? Trèo qua tường nhà hàng xóm mà kéo con gái nhà người ta về thì được vợ, không kéo thì không được vợ, vậy anh có kéo không?'"
===2===
Tào Giao hỏi rằng: "Mọi người đều có thể trở thành vua Nghiêu, vua Thuấn, có thực như thế không?"
Mạnh Tử đáp: "Đúng vậy."
Tào Giao nói: "Giao này nghe nói vua Văn Vương cao mười thước, vua Thang cao chín thước. Nay Giao tôi cao chín thước bốn tấc hơn, hằng ngày cũng chỉ biết ăn cơm thôi, phải làm sao mới được như vậy?"
Mạnh Tử đáp: "Điều đó có hệ gì ở hình vóc? Chẳng qua là có chịu làm hay không mà thôi. Có người ở đây, sức không nhấc nổi một con gà con thì là người không có sức. Nếu bảo nhấc được vật nặng trăm quân thì là người có sức. Vậy thì làm cái việc gánh vác của Ô Hoạch, cũng chính là Ô Hoạch vậy. Con người ta há lại lo vì không làm nổi sao? Chẳng qua là không chịu làm đó thôi. Đi thong thả sau người lớn tuổi thì gọi là có đạo hiếu đê (nhường nhịn); đi thật nhanh vượt trước người lớn tuổi thì gọi là không hiếu đê. Việc đi thong thả há phải là điều người ta không làm nổi sao? Chẳng qua là không chịu làm đó thôi. Đạo của Nghiêu Thuấn cũng chỉ là Hiếu và Đê mà thôi. Anh mặc quần áo của Nghiêu, nói lời của Nghiêu, làm việc của Nghiêu, thì anh chính là Nghiêu vậy. Anh mặc quần áo của Kiệt, nói lời của Kiệt, làm việc của Kiệt, thì anh chính là Kiệt vậy."
Tào Giao nói: "Giao tôi sắp được vào yết kiến vua nước Sâu, có thể mượn được quán trọ, xin được ở lại để học đạo nơi cửa của Phu tử."
Mạnh Tử đáp: "Đạo cũng như con đường lớn vậy, há phải là khó biết sao? Chỉ khổ là người ta không chịu tìm cầu đó thôi. Anh hãy về nhà mà tự tìm lấy, ở đó cũng dư thầy dạy rồi."
===3===
Công Tôn Sửu hỏi: "Cao Tử nói rằng: 'Bài *Tiểu Biện* là bài thơ của kẻ tiểu nhân'."
Mạnh Tử hỏi: "Dựa vào đâu mà ông ấy nói vậy?"
Đáp: "Vì bài thơ đó có lòng oán trách."
Mạnh Tử nói: "Ông già họ Cao giải kinh *Thi* thật là cố chấp! Có người ở đây, người nước Việt giương cung bắn mình, mình có thể vừa cười vừa nói mà kể lại chuyện ấy; không vì gì khác, chỉ vì quan hệ với họ xa lạ. Nhưng nếu anh mình giương cung bắn mình, thì mình vừa khóc lóc vừa kể lại chuyện ấy; không vì gì khác, chỉ vì quan hệ thân thuộc. Cái oán trong bài *Tiểu Biện* là tấm lòng yêu mến người thân. Yêu mến người thân là Nhân vậy. Ông già họ Cao giải kinh *Thi* thật cố chấp quá!"
Hỏi: "Vậy tại sao bài *Khải Phong* lại không oán trách?"
Mạnh Tử đáp: "Trong bài *Khải Phong*, lỗi của cha mẹ là nhỏ; còn bài *Tiểu Biện*, lỗi của cha mẹ là lớn. Cha mẹ có lỗi lớn mà không oán trách, ấy là càng thêm xa cách. Cha mẹ có lỗi nhỏ mà oán trách, ấy là lòng dạ hẹp hòi không chịu nổi sự va chạm nhẹ. Càng thêm xa cách là bất hiếu; hẹp hòi quá cũng là bất hiếu. Khổng Tử nói: 'Vua Thuấn quả là bậc chí hiếu, đến năm mươi tuổi vẫn còn thương mến (cha mẹ)'."
===4===
Tống Khanh sắp sang nước Sở, Mạnh Tử gặp ở Thạch Khâu, hỏi rằng: "Tiên sinh định đi đâu thế?"
Đáp: "Tôi nghe nói nước Tần và nước Sở sắp đánh nhau, tôi định đi gặp vua Sở để thuyết phục ông ta bãi binh; nếu vua Sở không nghe, tôi sẽ đi gặp vua Tần để thuyết phục ông ta bãi binh. Trong hai vua ấy, thế nào tôi cũng gặp được một người nghe theo."
Mạnh Tử nói: "Kha này xin không hỏi chi tiết, chỉ muốn nghe tôn chỉ. Tiên sinh định thuyết phục họ như thế nào?"
Đáp: "Tôi định nói về cái 'Bất Lợi' của việc chiến tranh."
Mạnh Tử nói: "Chí của tiên sinh thì lớn thật, nhưng cái khẩu hiệu của tiên sinh thì không được. Tiên sinh dùng cái 'Lợi' để thuyết phục vua Tần, vua Sở, nếu họ vì thích cái 'Lợi' mà bãi binh, thì quân sĩ ba quân cũng vì thấy có lợi mà vui mừng bãi binh. Làm kẻ bề tôi mà ôm lòng vụ lợi để thờ vua, làm con mà ôm lòng vụ lợi để thờ cha, làm em mà ôm lòng vụ lợi để thờ anh, như thế thì quân thần, phụ tử, huynh đệ cuối cùng đều bỏ cả nhân nghĩa, chỉ lấy cái 'Lợi' mà đối đãi với nhau. Như thế mà nước không mất thì chưa từng có vậy. Ngược lại, nếu tiên sinh dùng 'Nhân Nghĩa' để thuyết phục vua Tần, vua Sở, họ vì yêu nhân nghĩa mà bãi binh, thì quân sĩ ba quân cũng vì yêu nhân nghĩa mà vui mừng bãi binh. Kẻ bề tôi, người con, người em đều ôm lòng nhân nghĩa mà đối đãi với nhau; làm được như thế mà không lên ngôi vương thiên hạ thì chưa từng có vậy. Sao nhất định cứ phải nói chữ Lợi?"
===5===
Mạnh Tử ở nước Sâu, Quý Nhậm lúc đó đang trấn thủ nước Nhậm, có gửi lễ vật đến kết giao, Mạnh Tử nhận nhưng không đáp lễ. Lúc Ngài ở đất Bình Lục, Trữ Tử làm tể tướng nước Tề cũng gửi lễ vật kết giao, Mạnh Tử nhận nhưng cũng không đáp lễ. Sau này, khi Ngài từ Sâu đi sang nước Nhậm thì vào thăm Quý Nhậm; nhưng khi từ Bình Lục đi sang nước Tề thì không vào thăm Trữ Tử. Ốc Lư Tử mừng rỡ nói: "Lần này con nắm được sơ hở của Phu tử rồi."
Ốc Lư Tử hỏi: "Phu tử sang Nhậm thì gặp Quý Nhậm, sang Tề lại không gặp Trữ Tử, có phải vì ông ta chỉ là tể tướng thôi không?"
Mạnh Tử đáp: "Không phải vậy. Kinh *Thư* có chép: 'Lễ dâng mà nghi thức trang trọng, nhưng nghi thức không tương xứng với vật phẩm (không thành tâm) thì gọi là không dâng. Ấy là vì người dâng không đặt tâm chí vào việc dâng lễ'. Đó là vì Trữ Tử tặng lễ không đúng cách thức (thiếu thành tâm)." Ốc Lư Tử lấy làm vui. Có người hỏi tại sao, Ốc Lư Tử đáp: "Quý Nhậm (là quan trấn thủ) không thể rời nước Nhậm mà đến Sâu thăm Phu tử, còn Trữ Tử (là tể tướng) vốn có thể đi từ kinh đô đến Bình Lục để gặp Phu tử mà ông ta không đi."
===6===
Thuần Vu Khôn nói: "Kẻ coi trọng danh thực là vì người khác; kẻ coi nhẹ danh thực là vì mình. Phu tử từng ở vào hàng ba chức Khanh cao nhất, thế mà danh thực chưa kịp thi triển với bề trên hay kẻ dưới mà đã bỏ đi, người nhân quả thực như vậy sao?"
Mạnh Tử nói: "Ở ngôi thấp, không đem tài hiền mà thờ kẻ bất tiếu, đó là Bá Di. Năm lần đến với vua Thang, năm lần đến với vua Kiệt, đó là Y Doãn. Không ghét vua xấu, không từ chức quan nhỏ, đó là Liễu Hạ Huệ. Ba vị ấy hành đạo khác nhau nhưng mục tiêu chỉ có một. Một là gì? Đó là chữ Nhân. Người quân tử cũng chỉ vì chữ Nhân mà thôi, sao nhất định phải giống nhau?"
Thuần Vu Khôn nói: "Thời Lỗ Mục Công, Công Nghi Tử nắm chính sự, Tử Liễu và Tử Tư làm thần tử, thế mà nước Lỗ lại càng bị lấn chiếm nặng nề hơn. Như vậy chẳng lẽ người hiền lại không có ích gì cho quốc gia sao?"
Mạnh Tử đáp: "Nước Ngu không dùng Bách Lý Hề mà mất nước, Tần Mục Công dùng ông ta mà xưng bá. Không dùng người hiền thì mất nước, chứ đâu chỉ là bị lấn chiếm thôi đâu?"
Khôn nói: "Ngày xưa Vương Báo ở ven sông Kỳ mà người Hà Tây giỏi hát ví. Miên Câu ở Cao Đường mà người vùng Tề Hữu giỏi ca xướng. Vợ của Hoa Chu và Kỷ Lương khóc chồng giỏi mà làm thay đổi cả phong tục của nước. Những gì có ở bên trong tất phải hiện ra bên ngoài. Làm việc mà không có công tích, Khôn này chưa từng thấy bao giờ. Thế nên nước Lỗ không có người hiền; nếu có thì Khôn tôi tất phải biết."
Mạnh Tử đáp: "Khổng Tử làm Tư khấu nước Lỗ, không được trọng dụng, Ngài đi theo dự lễ tế, nhưng miếng thịt tế không được đưa đến, Ngài liền không kịp cởi mũ miện mà đi ngay. Kẻ không biết tưởng Ngài đi vì miếng thịt; người biết thì hiểu Ngài đi vì sự vô lễ. Nhưng Khổng Tử là muốn mượn một cái lỗi nhỏ để đi, chứ không muốn rời bỏ một cách tùy tiện. Những việc quân tử làm, kẻ tầm thường quả thực không hiểu nổi vậy."
===7===
Mạnh Tử nói: "Năm vị Bá (Ngũ Bá) là tội nhân của ba vị Vua (Tam Vương - Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn Vương). Các chư hầu ngày nay là tội nhân của Ngũ Bá. Các quan Đại phu ngày nay là tội nhân của các chư hầu ngày nay. Thiên tử đi xem xét các nước chư hầu gọi là Tuần thú; chư hầu về chầu Thiên tử gọi là Thuật chức. Mùa xuân xem việc cày cấy để bù chỗ thiếu thốn, mùa thu xem việc thu hoạch để giúp chỗ không đủ. Vào biên cảnh một nước, nếu đất đai được khai khẩn, ruộng vườn trị yên, người già được nuôi dưỡng, người hiền được tôn trọng, kẻ tuấn kiệt ở vị trí chỉ huy, thì vua nước đó được khen thưởng, thưởng bằng đất đai. Vào biên cảnh, nếu đất đai hoang vu, bỏ mặc người già, mất người hiền, kẻ tham lam đục khoét ở vị trí chỉ huy, thì vua nước đó bị quở trách. Một lần không về chầu thì hạ bậc tước; hai lần không chầu thì cắt bớt đất; ba lần không chầu thì Thiên tử sai sáu quân đến chinh phạt. Thế nên Thiên tử chỉ thảo phạt (trị tội) chứ không đánh chiếm (vì tư lợi), chư hầu đánh chiếm lẫn nhau chứ không có quyền thảo phạt. Ngũ Bá là những kẻ ép buộc chư hầu này để đánh chư hầu khác, nên nói Ngũ Bá là tội nhân của Tam Vương. Trong Ngũ Bá, Tề Hoàn Công là lừng lẫy nhất. Ở hội thề Quỳ Khâu, các chư hầu buộc vật tế, đặt tờ hịch mà không cần uống máu ăn thề. Điều lệnh thứ nhất nói: 'Trị tội kẻ bất hiếu, không được thay đổi thế tử đã lập, không được lấy thiếp làm vợ'. Điều thứ hai: 'Tôn trọng người hiền, nuôi dưỡng tài năng để làm sáng tỏ người có đức'. Điều thứ ba: 'Kính lão từ ấu, không quên khách lữ hành'. Điều thứ tư: 'Kẻ sĩ không được hưởng chức quan cha truyền con nối, quan lại không được kiêm nhiệm nhiều việc, chọn sĩ phải được người tài, không được tự ý giết quan đại phu'. Điều thứ năm: 'Không được đắp đập ngăn nước quanh co, không được ngăn chặn việc bán lúa gạo, không được phong tước mà không báo cáo'. Rồi nói: 'Phàm những người đồng minh với ta, sau khi thề xong, hãy giữ tình giao hảo'. Nay các chư hầu đều vi phạm năm điều cấm này, nên nói chư hầu ngày nay là tội nhân của Ngũ Bá. Nuôi dưỡng cái ác của vua thì tội nhỏ; chiều theo cái ác của vua để nịnh bợ thì tội lớn. Các quan đại phu ngày nay đều nịnh bợ theo cái ác của vua, nên nói đại phu ngày nay là tội nhân của chư hầu."
===8===
Nước Lỗ muốn cử Thận Tử làm tướng quân. Mạnh Tử nói: "Không dạy dân mà đem dân đi đánh trận, gọi là làm hại dân. Kẻ làm hại dân thì không thể dung thứ được trong thời Nghiêu Thuấn. Dẫu một trận mà thắng được nước Tề, chiếm được đất Nam Dương, cũng vẫn là không nên."
Thận Tử bỗng nhiên không vui, nói: "Điều này thì Hoạt Ly (tên của Thận Tử) tôi không hiểu được."
Mạnh Tử nói: "Ta nói rõ cho ông biết, đất của Thiên tử rộng nghìn dặm; không đủ nghìn dặm thì không đủ để tiếp đãi chư hầu. Đất của chư hầu rộng trăm dặm; không đủ trăm dặm thì không đủ để giữ gìn điển tịch tông miếu. Chu Công được phong ở nước Lỗ chỉ rộng trăm dặm; đất không phải là không đủ, nhưng ông chỉ giữ trong mức trăm dặm. Thái Công được phong ở nước Tề cũng rộng trăm dặm; đất không phải là không đủ, nhưng ông cũng chỉ giữ trong mức trăm dặm. Nay nước Lỗ rộng gấp năm lần trăm dặm, ông tưởng nếu có bậc vương giả trỗi dậy thì nước Lỗ sẽ được thêm đất hay bị bớt đất? Chỉ là lấy của người này cho người kia mà người nhân còn không nỡ làm, huống chi là giết người để cầu thêm đất sao? Người quân tử thờ vua, cốt phải dẫn dắt vua đi đúng đạo, đặt chí vào chữ Nhân mà thôi."
===9===
Mạnh Tử nói: "Kẻ thờ vua ngày nay đều nói rằng: 'Tôi có thể vì vua mà mở mang bờ cõi, làm đầy kho tàng'. Cái mà nay gọi là lương thần (bề tôi giỏi), thực chất ngày xưa gọi là dân tặc (kẻ cướp của dân). Vua không hướng về đạo, không đặt chí ở nhân, mà lại tìm cách làm cho vua giàu thêm, ấy là làm giàu cho vua Kiệt vậy. Lại nói: 'Tôi có thể vì vua mà liên kết đồng minh, đánh đâu thắng đó'. Cái mà nay gọi là lương thần, thực chất ngày xưa gọi là dân tặc. Vua không hướng về đạo, không đặt chí ở nhân, mà lại tìm cách giúp vua đánh thắng, ấy là giúp sức cho vua Kiệt vậy. Đi theo con đường ngày nay, không thay đổi thói tục ngày nay, dẫu có đem cả thiên hạ dâng cho, vua cũng không thể ngồi yên được một buổi sáng vậy."
===10===
Bạch Khuê nói: "Tôi muốn đánh thuế hai mươi lấy một (5%), thấy thế nào?"
Mạnh Tử nói: "Đạo của ông là đạo của dân Mạch (mọi rợ). Một nước vạn nhà mà chỉ có một người làm đồ gốm thì có được chăng?"
Đáp: "Không được, vì đồ dùng sẽ không đủ."
Mạnh Tử nói: "Dân Mạch ngũ cốc không mọc, chỉ có lúa nếp, không có thành quách, cung thất, tông miếu, nghi lễ tế tự, không có lễ vật ngoại giao cho chư hầu, không có trăm quan hệ thống; cho nên đánh thuế hai mươi lấy một là đủ rồi. Nay ở Trung Quốc mà bỏ nhân luân, không có quân tử, thì làm sao trị quốc được? Nghề gốm ít người còn không làm nổi một nước, huống chi là không có quân tử? Muốn đánh thuế nhẹ hơn đạo của Nghiêu Thuấn là hạng đại Mạch, tiểu Mạch; muốn đánh thuế nặng hơn đạo của Nghiêu Thuấn là hạng đại Kiệt, tiểu Kiệt vậy."
===11===
Bạch Khuê nói: "Việc trị nước (ngăn lũ) của Đan này còn giỏi hơn cả vua Vũ."
Mạnh Tử nói: "Ông lầm rồi. Vua Vũ trị thủy là thuận theo đạo của nước. Thế nên vua Vũ lấy bốn biển làm cái hố chứa. Nay ông lại lấy nước láng giềng làm cái hố chứa (để tháo nước sang). Nước chảy ngược dòng gọi là 'giáng thủy'; giáng thủy tức là lũ lụt, là điều người nhân đức ghét nhất. Ông lầm to rồi."
===12===
Mạnh Tử nói: "Người quân tử mà không có lòng tin thực (thành thực), thì sao có thể giữ vững được chí hướng?"
===13===
Nước Lỗ muốn cử Nhạc Chính Tử nắm chính sự. Mạnh Tử nói: "Ta nghe tin đó mà mừng đến nỗi không ngủ được."
Công Tôn Sửu hỏi: "Nhạc Chính Tử là người có bản lĩnh mạnh mẽ chăng?"
Đáp: "Không." "Có trí tuệ lo xa chăng?"
Đáp: "Không."
"Có học rộng nghe nhiều chăng?"
Đáp: "Không."
"Vậy thì tại sao Phu tử lại mừng đến không ngủ được?"
Mạnh Tử đáp: "Vì tính cách của ông ấy là 'ưa điều thiện'."
Sửu hỏi: "Chỉ ưa điều thiện thôi mà đã đủ sao?"
Đáp: "Ưa điều thiện thì dẫu cả thiên hạ còn đủ để trị yên, huống chi là nước Lỗ? Nếu một người thực sự ưa điều thiện, thì người trong bốn biển đều sẽ không quản xa xôi nghìn dặm đến để mách bảo điều thiện cho mình. Còn nếu không ưa điều thiện, người ta sẽ nói: 'Hắn ta có vẻ tự đắc (hi hi), cho rằng mình đã biết cả rồi'. Cái âm thanh sắc mặt tự đắc ấy sẽ đuổi người ta đi xa nghìn dặm. Khi kẻ sĩ đã dừng lại ở ngoài nghìn dặm, thì quân nịnh hót sàm tấu sẽ kéo đến. Ở chung với quân nịnh hót sàm tấu, mà muốn trị nước cho yên, liệu có được chăng?"
===14===
Trần Tử hỏi: "Người quân tử thời xưa gặp điều kiện thế nào thì ra làm quan?"
Mạnh Tử đáp: "Có ba trường hợp thì đến, ba trường hợp thì đi. Được đón tiếp cung kính đúng lễ, lời mình nói ra vua hứa sẽ thực hành, thì đến; sau đó lễ mạo vẫn chưa suy giảm nhưng lời nói không được thực hành, thì đi. Thứ nữa, tuy lời nói chưa chắc được thực hành, nhưng được đón tiếp cung kính đúng lễ, thì đến; sau đó lễ mạo suy giảm, thì đi. Cuối cùng, trường hợp sáng không có ăn, tối không có ăn, đói lả không ra khỏi cửa được; vua nghe tin ấy nói rằng: 'Ta tuy không thể thực hành đạo của ông ấy, cũng không thể nghe theo lời của ông ấy, nhưng để ông ấy chết đói trên đất của ta là điều ta hổ thẹn'. Vua đem đồ cứu tế đến cho, bấy giờ có thể nhận, nhưng cũng chỉ là để khỏi chết đói mà thôi."
===15===
Mạnh Tử nói: "Vua Thuấn khởi nghiệp từ giữa đồng ruộng, Phó Thuyết được cử lên từ trong nhóm thợ đắp thành, Giao Cách được cử lên từ nghề bán cá muối, Quản Di Ngô được cử lên từ tay cai ngục, Thúc Tôn Ngao được cử lên từ nơi bờ biển, Bách Lý Hề được cử lên từ nơi chợ búa. Cho nên khi Trời định giao phó sứ mệnh lớn lao cho người nào, tất trước tiên phải làm cho lòng dạ họ cực khổ, làm cho gân cốt họ nhọc nhằn, làm cho thân thể họ đói khát, làm cho thân hình họ thiếu thốn khốn cùng, làm cho mỗi việc họ làm đều gặp trắc trở ngược ý. Qua đó mà làm cho tâm họ rung động, tính họ kiên nhẫn, để tăng thêm tài năng mà trước nay họ chưa có. Con người thường hay mắc sai lầm, sau đó mới có thể sửa đổi. Lòng dạ có khốn quẫn, tâm tư có lo lắng thì mới trỗi dậy được. Hiện ra sắc mặt, phát ra âm thanh thì người khác mới hiểu được. Ở trong nước mà không có những gia đình pháp độ và những kẻ sĩ can gián, ở ngoài nước mà không có địch quốc và ngoại hoạn, thì nước đó thường bị diệt vong. Thế mới biết: sống vì lo âu hoạn nạn, mà chết vì an lạc hưởng lạc vậy."
===16===
Mạnh Tử nói: "Cách dạy người có nhiều thuật lắm. Ta có khi dùng cách không thèm dạy bảo mà dạy họ, đó cũng là một cách dạy bảo vậy thôi."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
kw9m45jiw264zqwid4wl8ve87nyjkvh
Biên dịch:Mạnh Tử/Tận tâm thượng
114
72031
204908
2026-04-27T08:48:12Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/盡心上 | năm= | phần = Tận tâm thượng | trước= [[../Cáo tử hạ]] | sau= [[../Tận tâm hạ]] | ghi chú = }} ===1=== Mạnh Tử nói: "Người nỗ lực mở rộng hết lòng mình thì sẽ biết được bản tính của mình. Biết được bản tính của mình thì sẽ biết được Đạo Trời. Giữ…”
204908
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/盡心上
| năm=
| phần = Tận tâm thượng
| trước= [[../Cáo tử hạ]]
| sau= [[../Tận tâm hạ]]
| ghi chú =
}}
===1===
Mạnh Tử nói: "Người nỗ lực mở rộng hết lòng mình thì sẽ biết được bản tính của mình. Biết được bản tính của mình thì sẽ biết được Đạo Trời. Giữ lấy lòng mình, bồi dưỡng bản tính của mình, đó là cách phụng sự Trời vậy. Dẫu sống thọ hay chết yểu cũng không thay lòng đổi dạ, lo tu thân để chờ mệnh Trời, đó là cách lập mệnh vậy."
===2===
Mạnh Tử nói: "Mọi sự đều do mệnh Trời, hãy thuận theo mà nhận lấy cái mệnh chính đáng. Vì thế, người biết mệnh thì không đứng dưới bức tường lung lay sắp đổ. Tận lực thực hành Đạo rồi chết, ấy là chính mệnh. Bị xiềng xích mà chết (vì phạm tội), ấy không phải là chính mệnh."
===3===
Mạnh Tử nói: "'Cầu thì được, bỏ thì mất', đó là sự cầu có ích cho việc đạt được, vì cái ta cầu nằm ở trong ta (đức hạnh). 'Cầu có phương đạo, được do mệnh Trời', đó là sự cầu không ích gì cho việc đạt được, vì cái ta cầu nằm ở bên ngoài ta (tiền tài, danh vọng)."
===4===
Mạnh Tử nói: "Muôn vật đều đã có sẵn trong ta. Quay lại soi xét mình mà thấy thành thực, thì không niềm vui nào lớn hơn thế. Cố gắng hết sức theo đạo Thứ (suy lòng mình ra lòng người) mà hành động, thì cầu đạo Nhân không gì gần hơn thế."
===5===
Mạnh Tử nói: "Thực hành mà không hiểu rõ, quen tay mà không suy xét, suốt đời đi theo con đường ấy mà không biết Đạo là gì, hạng người đó là hạng đông đảo (chúng nhân) vậy."
===6===
Mạnh Tử nói: "Con người không thể không biết hổ thẹn. Biết hổ thẹn về việc mình không biết hổ thẹn, thì mới có thể không còn điều gì đáng thẹn nữa."
===7===
Mạnh Tử nói: "Lòng hổ thẹn đối với con người thật lớn lao thay. Những kẻ chuyên làm việc mưu mô xảo quyệt thì không còn chỗ cho lòng hổ thẹn dùng đến. Không biết hổ thẹn vì mình không bằng người, thì sao có thể bằng người được?"
===8===
Mạnh Tử nói: "Các bậc hiền vương đời xưa ưa điều thiện mà quên đi quyền thế của mình. Các bậc hiền sĩ đời xưa há chẳng phải cũng thế sao? Họ vui với Đạo của mình mà quên đi quyền thế của người. Cho nên các bậc Vương công nếu không hết lòng kính trọng, giữ đúng lễ tiết thì không thể thường xuyên gặp họ được. Gặp mặt còn chẳng dễ dàng, huống chi là muốn coi họ như bề tôi để sai khiến sao?"
===9===
Mạnh Tử nói với Tống Cú Tiễn rằng: "Ông thích đi du thuyết chăng? Ta nói cho ông nghe về đạo đi du thuyết: Người ta biết đến mình, mình cũng thản nhiên tự đắc (kiêu kiêu); người ta không biết đến mình, mình cũng vẫn thản nhiên tự đắc."
Tống Cú Tiễn hỏi: "Phải làm sao mới có thể thản nhiên tự đắc như vậy?"
Mạnh Tử đáp: "Tôn trọng Đức, vui với Nghĩa thì có thể thản nhiên tự đắc vậy. Cho nên kẻ sĩ lúc cùng khốn không mất Nghĩa, lúc đạt hiển không lìa Đạo. Cùng khốn không mất Nghĩa nên kẻ sĩ giữ được mình; đạt hiển không lìa Đạo nên dân chúng không thất vọng. Người xưa khi đắc chí thì đem ơn trạch ban cho dân; khi không đắc chí thì tu thân để danh tiếng xuất hiện với đời. Lúc nghèo hèn thì tự rèn luyện lấy thân mình cho tốt (độc thiện kỳ thân); lúc giàu sang đạt hiển thì giúp cho cả thiên hạ cùng tốt (kiêm thiện thiên hạ)."
===10===
Mạnh Tử nói: "Phải đợi có Văn Vương rồi mới trỗi dậy, đó là dân thường. Còn bậc hào kiệt thì dẫu không có Văn Vương vẫn cứ tự trỗi dậy."
===11===
Mạnh Tử nói: "Dẫu được cấp thêm của cải như các nhà giàu nước Hàn, nước Ngụy mà vẫn tự thấy chưa bằng lòng với mình (khiêm tốn), thì người đó đã vượt xa người thường lắm rồi."
===12===
Mạnh Tử nói: "Dùng con đường an vui (dật đạo) mà sai khiến dân, dân dẫu nhọc nhằn cũng không oán hận. Dùng con đường vì sự sống (sinh đạo) mà giết dân, dân dẫu chết cũng không oán người giết mình."
===13===
Mạnh Tử nói: "Dưới thời bậc Bá giả, dân chúng vui vẻ hớn hở. Dưới thời bậc Vương giả, dân chúng thong dong tự tại. Chết cũng không oán, được lợi cũng không ca tụng, dân ngày càng hướng thiện mà không biết ai đã khiến họ như vậy. Bậc quân tử đi qua nơi nào thì nơi ấy được hóa dục, ở lại nơi nào thì nơi ấy trở nên thần diệu, trên dưới cùng lưu chuyển với Trời Đất, đó há chỉ là những giúp ích nhỏ mọn sao?"
===14===
Mạnh Tử nói: "Lời nói nhân đức không vào lòng người sâu bằng âm hưởng của lòng nhân. Chính sách tốt không bằng giáo dục tốt trong việc thu phục lòng dân. Chính sách tốt thì dân sợ; giáo dục tốt thì dân yêu. Chính sách tốt thu được tiền tài của dân; giáo dục tốt thu được lòng dân."
===15===
Mạnh Tử nói: "Cái mà con người không cần học cũng làm được, đó là 'Lương năng' (năng lực sẵn có). Cái mà con người không cần suy nghĩ cũng biết được, đó là 'Lương tri' (trí tuệ sẵn có). Đứa trẻ con còn ẵm ngửa không đứa nào là không biết yêu cha mẹ mình; đến khi lớn lên không ai là không biết kính anh mình. Yêu cha mẹ là Nhân, kính người lớn là Nghĩa. Không có gì khác, chỉ vì hai điều đó phổ biến khắp thiên hạ vậy."
===16===
Mạnh Tử nói: "Vua Thuấn lúc ở trong núi sâu, ở cùng cây đá, chơi cùng hươu lợn, cái khác biệt giữa ông với người dã man chốn rừng sâu chẳng là bao. Nhưng khi ông nghe được một lời thiện, thấy được một hành vi thiện, thì tâm thiện của ông bùng lên như nước sông vỡ bờ, cuồn cuộn không gì ngăn nổi."
===17===
Mạnh Tử nói: "Đừng làm điều mà mình không nên làm, đừng muốn điều mà mình không nên muốn, chỉ vậy mà thôi."
===18===
Mạnh Tử nói: "Người có đức hạnh, trí tuệ, kỹ thuật và tri thức thường trưởng thành từ trong nghịch cảnh, bệnh tật. Những kẻ tôi tớ cô độc hay đứa con vợ lẽ bị ghẻ lạnh, vì tâm trí họ luôn cảnh giác trước hiểm nguy, lo nghĩ sâu xa về hoạn nạn nên mới đạt được thông đạt."
===19===
Mạnh Tử nói: "Có hạng người thờ vua, chỉ chuyên làm việc nịnh hót để vua vui lòng. Có hạng bề tôi yên xã tắc, lấy việc làm cho xã tắc thái bình làm niềm vui. Có hạng Thiên dân (dân của Trời), đợi khi Đạo của mình có thể thực hành khắp thiên hạ rồi mới ra làm. Có bậc Đại nhân, tự sửa mình cho chính mà vạn vật theo đó cũng chính theo."
===20===
Mạnh Tử nói: "Bậc quân tử có ba niềm vui, mà làm vua cả thiên hạ cũng không nằm trong đó. Cha mẹ đều còn, anh em không có sự gì xảy ra, đó là một niềm vui. Trên không thẹn với Trời, dưới không hổ với người, đó là niềm vui thứ hai. Được các bậc anh tài trong thiên hạ mà giáo dục họ, đó là niềm vui thứ ba. Bậc quân tử có ba niềm vui, mà làm vua cả thiên hạ không nằm trong đó."
===21===
Mạnh Tử nói: "Đất rộng dân đông là điều quân tử muốn, nhưng niềm vui của họ không nằm ở đó. Đứng ở giữa thiên hạ để làm cho dân bốn biển yên ổn là điều quân tử ưa thích, nhưng bản tính (thiên tính) của họ không nằm ở đó. Bản tính của quân tử thì dẫu lý tưởng được thực hiện rộng rãi cũng không tăng thêm, dẫu cùng khốn ẩn cư cũng không giảm bớt, vì chức phận của họ đã định sẵn rồi. Bản tính của quân tử là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí rễ sâu trong lòng. Những đức ấy phát ra sắc thái, hiện rõ rạng rỡ trên mặt, đầy đặn trên lưng, lan tỏa ra chân tay, khiến chân tay không cần nói cũng hiện ra rõ ràng."
===22===
Mạnh Tử nói: "Bá Di tránh vua Trụ, ở bờ biển Bắc, nghe Văn Vương trỗi dậy, nói rằng: 'Sao không về theo Ngài? Ta nghe Tây Bá là người giỏi nuôi người già'. Thái Công tránh vua Trụ, ở bờ biển Đông, nghe Văn Vương trỗi dậy, nói rằng: 'Sao không về theo Ngài? Ta nghe Tây Bá là người giỏi nuôi người già'. Trong thiên hạ nếu có người giỏi nuôi người già, thì người nhân đức sẽ coi đó là nơi mình trở về. Nhà có năm mẫu đất, dưới chân tường trồng dâu, phụ nữ nuôi tằm, thì người già đủ áo lụa mặc. Nuôi năm con gà mái, hai con lợn nái, không bỏ lỡ thời vụ, thì người già đủ thịt ăn. Ruộng trăm mẫu, đàn ông cày cấy, gia đình tám miệng ăn sẽ không bị đói. Việc Tây Bá giỏi nuôi người già chính là định ra chế độ ruộng đất cho dân, dạy dân trồng trọt chăn nuôi, hướng dẫn vợ con chăm sóc người già. Người năm mươi tuổi không có lụa thì không ấm, bảy mươi tuổi không có thịt thì không no. Không ấm không no gọi là đói rét. Dân của Văn Vương không có người già bị đói rét, chính là ý đó."
===23===
Mạnh Tử nói: "Làm cho ruộng đất tươm tất, giảm nhẹ thuế khóa, dân có thể giàu lên. Ăn uống có chừng mực, dùng lễ mà chi tiêu, thì tài sản dùng không bao giờ hết. Dân nếu không có nước và lửa thì không sống nổi, nhưng chiều tối gõ cửa nhà người ta xin nước lửa, không ai là không cho, vì nước lửa quá dồi dào. Bậc thánh nhân trị thiên hạ, làm cho lương thực dồi dào như nước với lửa. Khi lương thực dồi dào như nước lửa, dân chúng lẽ nào lại không nhân đức?"
===24===
Mạnh Tử nói: "Khổng Tử lên núi Đông Sơn mà thấy nước Lỗ nhỏ lại, lên đỉnh núi Thái Sơn mà thấy cả thiên hạ nhỏ lại. Cho nên kẻ đã thấy biển cả thì khó còn thấy nước nào là lớn; kẻ đã học nơi cửa thánh nhân thì khó còn thấy lời nào là hay. Ngắm nước có thuật, tất phải ngắm chỗ sóng lớn. Nhật nguyệt có ánh sáng rực rỡ, hễ có khe hở là chiếu tới. Nước chảy thành dòng, nếu chưa đầy các trũng thì không chảy tiếp; quân tử chí ở đạo, nếu chưa có thành tựu rạng rỡ thì không thể thông đạt."
===25===
Mạnh Tử nói: "Tiếng gà gáy đã dậy, cần mẫn làm điều thiện, đó là học trò của vua Thuấn. Tiếng gà gáy đã dậy, cần mẫn mưu cầu lợi lộc, đó là học trò của Đạo Chích. Muốn biết sự khác nhau giữa Thuấn và Chích, không có gì khác, chính là ở ranh giới giữa cái Lợi và cái Thiện."
===26===
Mạnh Tử nói: "Dương Tử theo thuyết 'Vị kỷ' (vì mình), dẫu nhổ một sợi lông mà lợi cho thiên hạ cũng không làm. Mặc Tử theo thuyết 'Kiêm ái' (yêu hết thảy), dẫu mòn đầu mòn gót mà lợi cho thiên hạ cũng làm. Tử Mạc theo thuyết 'Chấp trung' (giữ mức giữa). Giữ mức giữa là gần với đạo rồi, nhưng nếu giữ mức giữa mà không biết biến thông theo quyền biến thì cũng như giữ chặt một phía. Sở dĩ ghét việc giữ chặt một phía vì nó làm hại đến Đạo, nâng cao một điểm mà bỏ phế trăm điểm khác."
===27===
Mạnh Tử nói: "Người đang đói thì ăn gì cũng thấy ngon, người đang khát thì uống gì cũng thấy ngọt, đó là vì chưa đạt được cái chuẩn chính xác của ăn uống, do cơn đói khát làm hại đến cảm giác. Há chỉ có miệng bụng mới bị cơn đói khát làm hại sao? Lòng người cũng có cái hại như vậy. Nếu người ta không để cái hại 'đói khát' (ham muốn vật chất) làm hại đến tâm mình, thì dẫu không bằng người khác cũng chẳng có gì phải lo phiền."
===28===
Mạnh Tử nói: "Liễu Hạ Huệ không vì tước vị Tam công mà thay đổi khí tiết của mình."
===29===
Mạnh Tử nói: "Người làm việc cũng giống như đào giếng. Đào sâu đến chín nhẫn (đơn vị đo) mà chưa đến mạch nước thì cũng như vứt bỏ cái giếng đó vậy."
===30===
Mạnh Tử nói: "Nghiêu Thuấn làm điều thiện theo bản tính (tự nhiên). Thang Vũ làm điều thiện theo sự tu thân. Ngũ Bá giả bộ làm điều thiện (mượn danh nghĩa). Mượn lâu ngày mà không trả, sao biết được họ không thực sự có điều thiện đó?"
===31===
Công Tôn Sửu hỏi: "Y Doãn nói: 'Ta không thân cận với kẻ bất thuận'. Ông ta đày vua Thái Giáp ra đất Đồng, dân rất vui; khi Thái Giáp hiền đức trở lại, ông ta đón về, dân cũng rất vui. Kẻ hiền khi làm bề tôi, nếu vua không hiền, thì quả thực có thể đày đi như vậy chăng?"
Mạnh Tử đáp: "Có chí của Y Doãn (vì dân vì nước) thì được; không có chí của Y Doãn thì đó là hành vi chiếm ngôi (tiếm đoạt)."
===32===
Công Tôn Sửu hỏi: "Kinh *Thi* có câu: 'Không ăn cơm không công'. Người quân tử không cày cấy mà vẫn ăn, tại sao vậy?"
Mạnh Tử đáp: "Bậc quân tử ở nước nào, vua nước đó dùng họ thì yên ổn, giàu có, tôn vinh; con em nước đó theo họ thì học được hiếu, đê, trung, tín. 'Không ăn cơm không công', có việc gì vĩ đại hơn thế chăng?"
===33===
Vương tử Điếm hỏi: "Kẻ sĩ làm việc gì?"
Mạnh Tử đáp: "Nâng cao chí hướng."
Hỏi: "Thế nào là nâng cao chí hướng?"
Đáp: "Chỉ là Nhân và Nghĩa mà thôi. Giết một người không tội là không Nhân; không phải của mình mà lấy là không Nghĩa. Nhà ở đâu? Nhân là nhà. Đường đi đâu? Nghĩa là đường. Ở trong đức Nhân, đi theo đức Nghĩa, việc của bậc đại nhân đã đầy đủ rồi."
===34===
Mạnh Tử nói: "Trần Trọng Tử, nếu cho cả nước Tề mà không hợp nghĩa thì ông ta không nhận, người ta đều tin như vậy. Nhưng đó chỉ là giữ cái nghĩa của kẻ từ chối giỏ cơm bát canh mà thôi. Tội của con người không gì lớn hơn việc bỏ mặc người thân, bỏ mặc quân thần, trên dưới. Chỉ vì một cái đức nhỏ mà tin ông ta có cái đức lớn, sao có thể được?"
===35===
Đào Ứng hỏi: "Thuấn làm Thiên tử, Cao Dao làm quan tư pháp, nếu cha của Thuấn là Gổ Sấu giết người, thì phải làm sao?"
Mạnh Tử đáp: "Thì cứ bắt lấy thôi."
"Thế Thuấn không ngăn cấm sao?"
Đáp: "Thuấn sao có thể ngăn cấm được? Cao Dao thực thi luật pháp là theo chức phận được giao (từ Trời)."
"Vậy Thuấn sẽ làm gì?"
Đáp: "Thuấn coi việc bỏ thiên hạ như vứt bỏ chiếc giày cũ. Ông sẽ lén cõng cha chạy trốn, đến ở ven bờ biển, suốt đời vui vẻ mà quên cả thiên hạ."
===36===
Mạnh Tử từ đất Phạm đi sang nước Tề, trông thấy thái tử nước Tề, bèn bùi ngùi than rằng: "Địa vị làm thay đổi khí sắc, sự nuôi dưỡng làm thay đổi thể chất. Địa vị quan trọng thay! Há chẳng phải thái tử cũng là con người như bao người sao?"
Mạnh Tử nói: "Cung thất, xe ngựa, quần áo của vương tử đa số giống với mọi người, nhưng thần thái vương tử lại khác biệt như vậy, ấy là do địa vị tạo nên. Huống chi là người ở vào cái địa vị rộng lớn nhất thiên hạ (đạo đức)? Vua nước Lỗ sang nước Tống, kêu cửa cửa Điệt Trạch. Người giữ cửa nói: 'Đây không phải vua tôi, sao giọng nói lại giống vua tôi thế?'. Đó không có gì khác, là vì địa vị của họ tương đồng vậy."
===37===
Mạnh Tử nói: "Cho ăn mà không yêu thương, ấy là đối xử như nuôi lợn. Yêu thương mà không kính trọng, ấy là đối xử như nuôi thú vật. Sự cung kính là tấm lòng có trước khi dâng lễ vật. Cung kính mà không có thực tâm, quân tử không để mình bị gò bó trong cái hư danh đó."
===38===
Mạnh Tử nói: "Hình dáng sắc diện là thiên tính. Chỉ có bậc thánh nhân mới có thể thể hiện trọn vẹn bản tính thông qua hình dáng bên ngoài (tiễn hình)."
===39===
Tề Tuyên Vương muốn rút ngắn thời gian để tang. Công Tôn Sửu hỏi: "Để tang một năm vẫn tốt hơn là bỏ hẳn phải không?"
Mạnh Tử đáp: "Việc này cũng giống như có kẻ vặn gãy tay anh mình, anh lại bảo hắn 'Hãy làm thong thả một chút'. Chẳng bằng hãy dạy cho họ về đạo hiếu đê mà thôi."
Có vị vương tử có mẹ qua đời, thầy dạy của vương tử xin cho tang lễ vài tháng. Công Tôn Sửu hỏi: "Trường hợp này thì sao?"
Đáp: "Đó là vì vương tử muốn để tang trọn kỳ mà không được, nên dẫu thêm được một ngày vẫn tốt hơn là bỏ hẳn. Những gì ta nói ở trên là dành cho kẻ không ai cấm mà lại không chịu làm."
===40===
Mạnh Tử nói: "Bậc quân tử dạy người có năm cách: Có cách như mưa rơi đúng lúc làm biến hóa vạn vật; có cách giúp thành tựu đức hạnh; có cách giúp đạt được tài năng; có cách dùng để giải đáp thắc mắc; có cách dạy cho những người tự học mà thành (tư thục). Năm cách này là cách quân tử dạy người vậy."
===41===
Công Tôn Sửu nói: "Đạo thì cao thật, đẹp thật, nhưng giống như lên trời, dường như không thể tới được. Sao không làm cho Đạo trông có vẻ dễ đạt tới hơn để người ta hằng ngày chăm chỉ theo đuổi?"
Mạnh Tử đáp: "Thợ giỏi không vì người thợ vụng mà thay đổi dây mực; Hậu Nghệ không vì người bắn vụng mà thay đổi cách kéo cung. Quân tử giương cung nhưng không bắn, chỉ làm tư thế như sắp bắn vậy. Họ đứng giữa Đạo, ai có năng lực thì theo đó mà làm."
===42===
Mạnh Tử nói: "Thiên hạ có Đạo, đem Đạo theo mình. Thiên hạ vô Đạo, đem thân mình theo Đạo. Chưa từng nghe nói đem Đạo để chiều theo người bao giờ."
===43===
Công Đô Tử hỏi: "Đằng Canh đến cửa học, dường như cũng là người hiếu lễ, mà Phu tử không đáp lời, tại sao vậy?"
Mạnh Tử đáp: "Cậy mình quyền quý mà hỏi, cậy mình hiền tài mà hỏi, cậy mình lớn tuổi mà hỏi, cậy mình có công lao mà hỏi, cậy mình là chỗ quen cũ mà hỏi, đều là những trường hợp ta không đáp. Đằng Canh phạm vào hai điều trong đó."
===44===
Mạnh Tử nói: "Đối với việc không nên bỏ qua mà lại bỏ qua, thì việc gì cũng có thể bỏ qua được. Đối với người mình nên hậu đãi mà lại bạc bẽo, thì với ai cũng có thể bạc bẽo được. Kẻ tiến lên quá nhanh thì rút lui cũng rất mau."
===45===
Mạnh Tử nói: "Bậc quân tử đối với vạn vật thì yêu quý nhưng không dùng đức Nhân (như với người); đối với dân chúng thì dùng đức Nhân nhưng không dùng tình thân (như với gia đình). Phải biết thân thiết với người thân rồi mới nhân từ với dân; nhân từ với dân rồi mới yêu quý vạn vật."
===46===
Mạnh Tử nói: "Bậc trí giả không gì là không biết, nhưng coi trọng việc cấp bách trước mắt là hàng đầu; bậc nhân giả không ai là không yêu thương, nhưng coi trọng việc thân cận người hiền là hàng đầu. Trí tuệ của Nghiêu Thuấn không biết hết mọi vật, vì các Ngài lo làm trước những việc hệ trọng. Lòng nhân của Nghiêu Thuấn không yêu thương hết mọi người, vì các Ngài lo thân cận người hiền trước. Nay không làm nổi tang ba năm mà lại đi soi xét những tang lễ nhỏ (si, tiểu công); đang ăn uống phàm tục mà lại đi hỏi về lễ nghi tế nhị, đó gọi là không biết việc gì là hệ trọng."
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
lu213ttqqjaeg40pfqbcvprehznnckr
Biên dịch:Mạnh Tử/Tận tâm hạ
114
72032
204910
2026-04-27T08:51:44Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Mạnh Tử | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 孟子/盡心下 | năm= | phần = Tận tâm hạ | trước= [[../Tận tâm thượng]] | sau= | ghi chú = }} ===1=== Mạnh Tử nói: "Vua Lương Huệ Vương thật là không nhân đức thay! Người nhân đức lấy người mình yêu thương mà lan tỏa ơn trạch đến cả người mình không yêu thương; kẻ không nh…”
204910
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Mạnh Tử
| tác giả=
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 孟子/盡心下
| năm=
| phần = Tận tâm hạ
| trước= [[../Tận tâm thượng]]
| sau=
| ghi chú =
}}
===1===
Mạnh Tử nói: "Vua Lương Huệ Vương thật là không nhân đức thay! Người nhân đức lấy người mình yêu thương mà lan tỏa ơn trạch đến cả người mình không yêu thương; kẻ không nhân đức lấy người mình không yêu thương làm hại lây đến cả người mình yêu thương."
Công Tôn Sửu hỏi: "Ý Phu tử là thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Lương Huệ Vương vì cớ đất đai mà làm cho dân chúng bị băm vằn xương thịt nơi chiến trường, bị đại bại; rồi vì muốn phục thù, lo sợ không thắng nổi, lại lùa cả những con em mà mình yêu quý ra chết trận cùng; đó chính là lấy người mình không yêu thương (dân chúng) làm hại lây đến cả người mình yêu thương (con em) vậy."
===2===
Mạnh Tử nói: "Trong thời *Xuân Thu* không có cuộc chiến nào là nghĩa chiến cả. Chẳng qua là nước này (bớt ác) hơn nước kia mà thôi. Chữ 'Chinh' có nghĩa là bề trên đi đánh phạt kẻ dưới, các nước đối địch ngang hàng thì không được dùng chữ 'Chinh' để đánh nhau."
===3===
Mạnh Tử nói: "Tin hoàn toàn vào kinh *Thư* thì chẳng thà không có kinh *Thư* còn hơn. Ta đối với thiên *Vũ Thành*, chỉ tin lấy hai ba thẻ tre mà thôi. Người nhân đức thì không ai địch nổi trong thiên hạ. Lấy bậc chí nhân đi đánh kẻ chí bất nhân, lẽ đâu máu lại chảy đến mức trôi cả chày giã gạo?"
===4===
Mạnh Tử nói: "Có kẻ nói: 'Tôi giỏi bày trận, tôi giỏi đánh nhau', đó là tội lớn. Nếu quốc quân ưa chuộng nhân đức, thiên hạ sẽ không có ai địch nổi. Khi vua quay mặt về hướng Nam mà đi chinh phạt, quân rợ Bắc oán; quay mặt về hướng Đông mà đi chinh phạt, quân di Tây oán, họ nói: 'Sao lại để chúng tôi ở lại sau cùng?' Khi Võ Vương phạt nhà Ân, có ba trăm cỗ xe bọc da, ba nghìn dũng sĩ hổ bôn. Nhà vua nói: 'Chớ sợ! Ta đến để làm các ngươi yên ổn, không phải làm kẻ thù của trăm họ'. Dân chúng khi đó mừng rỡ lạy sụp xuống như núi lở. Chữ 'Chinh' (chinh phạt) nghĩa là 'Chính' (ngay ngắn), ai nấy đều muốn sửa mình cho ngay ngắn, việc gì phải dùng đến chiến tranh?"
===5===
Mạnh Tử nói: "Thợ mộc, thợ đóng xe có thể cho người ta cái quy, cái củ (khuôn mẫu), chứ không thể làm cho người ta khéo tay được."
===6===
Mạnh Tử nói: "Vua Thuấn lúc ăn cơm gạo rang, rau dại, cứ như là sẽ sống như thế suốt đời. Đến khi làm Thiên tử, mặc áo thêu hoa, gảy đàn cầm, hai con gái vua Nghiêu hầu hạ, ông lại điềm nhiên như đó là điều vốn sẵn có từ lâu."
===7===
Mạnh Tử nói: "Ta từ nay về sau mới biết rằng việc giết người thân của kẻ khác là hệ trọng thế nào: Giết cha người ta thì người ta cũng giết cha mình; giết anh người ta thì người ta cũng giết anh mình. Như thế tuy không tự tay giết cha anh mình, nhưng cũng chẳng khác gì nhau bao nhiêu."
===8===
Mạnh Tử nói: "Xưa kia lập ra cửa ải là để ngăn chặn quân bạo ngược; ngày nay lập ra cửa ải là để thực hiện hành vi bạo ngược (thuế khóa nặng nề)."
===9===
Mạnh Tử nói: "Thân mình không hành Đạo thì Đạo không hành được với cả vợ con; sai khiến người không theo Đạo thì cũng không sai khiến nổi vợ con."
===10===
Mạnh Tử nói: "Người biết lo liệu chu toàn về lợi lộc (tích trữ) thì năm mất mùa không chết đói; người biết giữ vẹn đức hạnh thì đời loạn lạc không bị rối tâm."
===11===
Mạnh Tử nói: "Kẻ ham danh tiếng có thể nhường cả nước nghìn cỗ xe. Nhưng nếu không phải thực tâm là hạng người đó, thì chỉ một giỏ cơm, một bát canh cũng đã hiện rõ vẻ tham lam ra mặt rồi."
===12===
Mạnh Tử nói: "Không tin dùng người nhân hiền thì đất nước trống rỗng; không có lễ nghĩa thì trên dưới loạn lạc; không có chính sự thì tài dụng thiếu hụt."
===13===
Mạnh Tử nói: "Kẻ không nhân đức mà chiếm được một nước thì đã có; chứ kẻ không nhân đức mà đắc được cả thiên hạ thì chưa từng có bao giờ."
===14===
Mạnh Tử nói: "Dân là quý nhất, xã tắc thứ hai, vua là nhẹ hơn cả. Thế nên có được lòng dân chúng (khâu dân) thì làm Thiên tử; được lòng Thiên tử thì làm Chư hầu; được lòng Chư hầu thì làm Đại phu. Khi Chư hầu làm nguy hại đến xã tắc thì thay đổi vị trí của họ; khi vật tế đã đủ, thóc lúa đã sạch, tế lễ đúng mùa mà vẫn gặp hạn hán lụt lội, thì thay đổi vị trí thần xã tắc."
===15===
Mạnh Tử nói: "Thánh nhân là bậc thầy của trăm đời, Bá Di và Liễu Hạ Huệ là những người như thế. Cho nên, nghe phong thái của Bá Di thì kẻ tham lam trở nên thanh liêm, kẻ nhu nhược biết lập chí. Nghe phong thái của Liễu Hạ Huệ thì kẻ bạc bẽo trở nên hậu hĩnh, kẻ hẹp hòi trở nên khoan dung. Các Ngài nỗ lực từ trăm đời trước, mà trăm đời sau kẻ nghe danh không ai là không phấn chấn trỗi dậy. Nếu không phải thánh nhân thì sao làm được như thế? Huống chi là những người được trực tiếp thọ giáo?"
===16===
Mạnh Tử nói: "Nhân chính là Đạo làm Người; hợp cả hai lại mà nói thì gọi là Đạo."
===17===
Mạnh Tử nói: "Khổng Tử rời nước Lỗ, nói rằng: 'Ta đi thong thả vậy', đó là đạo rời bỏ đất nước cha mẹ (tổ quốc). Khi Ngài rời nước Tề, đang vo gạo phải xách cả gạo ướt mà đi ngay, đó là đạo rời bỏ một nước khác."
===18===
Mạnh Tử nói: "Bậc quân tử gặp nạn ở giữa vùng nước Trần và nước Thái, là vì không có sự giao tiếp với giới trên và giới dưới (của các nước đó)."
===19===
Hạc Kê nói: "Kê này bị miệng thế gian chỉ trích rất nặng nề."
Mạnh Tử nói: "Không sao cả. Kẻ sĩ thường bị người ta căm ghét vì bị lắm lời thêu dệt. Kinh *Thi* nói: 'Lòng ưu sầu lặng lẽ, bị đám tiểu nhân giận ghét', đó là nói về Khổng Tử. 'Cho nên không dứt bỏ lòng giận ghét của chúng, nhưng cũng chẳng để mất đi danh tiếng của mình', đó là nói về Văn Vương."
===20===
Mạnh Tử nói: "Bậc hiền giả lấy cái sáng suốt của mình để làm cho người khác sáng suốt; người đời nay lại lấy cái u tối của mình để bắt người khác phải sáng suốt."
===21===
Mạnh Tử nói với Cao Tử rằng: "Con đường mòn trên núi, nếu thường xuyên đi lại thì thành đường lớn; nếu một thời gian không đi thì cỏ dại lại mọc lấp mất. Nay cỏ dại đã mọc lấp cái tâm của ông rồi."
===22===
Cao Tử nói: "Nhạc khí thời vua Vũ hay hơn nhạc khí thời vua Văn Vương."
Mạnh Tử hỏi: "Dựa vào đâu mà ông nói vậy?"
Đáp: "Dựa vào vết mòn trên núm treo chuông (vì dùng nhiều)."
Mạnh Tử nói: "Thế sao đủ để kết luận? Vết bánh xe dưới cổng thành mòn sâu, lẽ nào là do sức của hai con ngựa thôi sao?"
===23===
Nước Tề bị đói. Trần Trăn nói: "Người trong nước đều tưởng Phu tử sẽ lại khuyên vua mở kho lương Đường giống như lần trước, nhưng e rằng không thể làm lại lần nữa."
Mạnh Tử nói: "Làm vậy thì chẳng khác gì Phùng Phụ. Nước Tấn có người tên Phùng Phụ, giỏi đánh hổ, sau này trở thành kẻ sĩ hiền lành; một hôm ra đồng thấy đám đông đang đuổi hổ, con hổ dựa lưng vào vách đá, không ai dám lại gần; thấy Phùng Phụ, họ chạy lại đón; Phùng Phụ xắn tay áo xuống xe, đám đông đều mừng rỡ, nhưng những người là kẻ sĩ thì lại cười chê ông ta."
===24===
Mạnh Tử nói: "Miệng đối với vị, mắt đối với sắc, tai đối với thanh, mũi đối với hương, bốn chi đối với sự an nhàn; đó là bản tính, nhưng cũng có mệnh Trời trong đó, nên quân tử không coi đó là tính (để buông thả). Đức Nhân đối với cha con, đức Nghĩa đối với quân thần, đức Lễ đối với khách chủ, trí tuệ đối với người hiền, thánh nhân đối với Thiên đạo; đó là mệnh Trời, nhưng cũng có bản tính trong đó, nên quân tử không coi đó là mệnh (để phó mặc)."
===25===
Hạo Sinh Bất Hại hỏi: "Nhạc Chính Tử là hạng người thế nào?"
Mạnh Tử đáp: "Là người thiện, người đáng tin."
Hỏi: "Thế nào gọi là thiện? Thế nào gọi là tin?"
Đáp: "Đáng để người ta yêu chuộng gọi là Thiện. Có đức hạnh ấy trong mình gọi là Tin. Đức hạnh đầy đủ gọi là Mỹ. Đầy đủ mà phát ra ánh sáng rực rỡ gọi là Đại. Lớn lao mà hóa độ được dân chúng gọi là Thánh. Thánh đức đến mức huyền diệu không thể thấu triệt gọi là Thần. Nhạc Chính Tử nằm ở giữa hai bậc đầu (Thiện, Tin) và ở dưới bốn bậc sau (Mỹ, Đại, Thánh, Thần)."
===26===
Mạnh Tử nói: "Kẻ bỏ học thuyết Mặc Tử tất sẽ đi theo Dương Tử, kẻ bỏ học thuyết Dương Tử tất sẽ quay về với Nho gia. Đã quay về thì ta đón nhận mà thôi. Nay những kẻ tranh biện với học trò Dương, Mặc cũng giống như đi đuổi con lợn sổng chuồng, khi nó đã vào chuồng rồi lại còn xông vào trói chân nó lại."
===27===
Mạnh Tử nói: "Có thuế vải lụa, có thuế thóc gạo, có thuế lao dịch. Quân tử dùng một loại và nới lỏng hai loại kia. Dùng hai loại thì dân có người chết đói; dùng cả ba loại thì cha con ly tán."
===28===
Mạnh Tử nói: "Chư hầu có ba món bảo vật: Đất đai, nhân dân và chính sự. Kẻ nào coi châu ngọc là bảo vật thì tai ương tất sẽ giáng xuống thân mình."
===29===
Bàn Thành Quát ra làm quan ở nước Tề.
Mạnh Tử nói: "Bàn Thành Quát chết đến nơi rồi!"
Khi Bàn Thành Quát bị giết thật, môn đồ hỏi: "Sao Phu tử biết ông ta sẽ bị giết?"
Đáp: "Hắn là người có chút tài mọn nhưng chưa từng nghe qua đại đạo của quân tử, cái tài ấy chỉ đủ để đem lại cái chết cho thân mình mà thôi."
===30===
Mạnh Tử sang nước Đằng, ở trọ tại Thượng Cung. Có đôi giày cỏ đang tết dở đặt trên cửa sổ, người giữ nhà trọ tìm mãi không thấy.
Có người hỏi rằng: "Phải chăng những người đi theo Phu tử đã giấu nó đi?"
Mạnh Tử hỏi: "Ông tưởng họ vì đi ăn trộm giày mà đến đây sao?"
Người đó đáp: "Hẳn là không phải. Chẳng qua Phu tử lập ra cách dạy học: người đi không truy cứu, người đến không cự tuyệt. Nếu ai có tâm muốn học mà đến thì Phu tử tiếp nhận mà thôi."
===31===
Mạnh Tử nói: "Người ta ai cũng có điều không nỡ làm, đem lòng đó mở rộng đến cả những điều mình vốn có thể nỡ làm, đó là Nhân; người ta ai cũng có điều không muốn làm, đem lòng đó mở rộng đến cả những điều mình vốn có thể làm, đó là Nghĩa. Người ta nếu có thể làm sung mãn cái tâm 'không muốn hại người', thì đức Nhân dùng không bao giờ hết. Người ta nếu có thể làm sung mãn cái tâm 'không trộm cắp' (xuyên du), thì đức Nghĩa dùng không bao giờ hết. Người ta nếu có thể thực hiện được việc không chấp nhận sự khinh khi 'mày, tao', thì đi đâu cũng không làm điều trái Nghĩa. Kẻ sĩ chưa đến lúc nói mà nói, ấy là dùng lời nói để mồi chài; đến lúc cần nói mà không nói, ấy là dùng sự im lặng để mồi chài. Đó đều là cùng loại với phường trộm cắp cả."
===32===
Mạnh Tử nói: "Lời nói giản gần mà ý chỉ xa rộng là lời nói hay; giữ đạo giản yếu mà ban bố rộng khắp là đạo tốt. Lời nói của quân tử không cần cao xa (không quá thắt lưng) mà Đạo vẫn nằm ở đó. Sự giữ đạo của quân tử là tu sửa thân mình mà thiên hạ được bình yên. Người đời khổ vì bỏ ruộng mình mà đi làm cỏ ruộng người, đòi hỏi ở người khác thì nặng mà tự giao trách nhiệm cho mình thì nhẹ."
===33===
Mạnh Tử nói: "Vua Nghiêu, vua Thuấn hành động theo bản tính; vua Thang, vua Võ quay về với bản tính. Mọi cử chỉ, đi đứng đều đúng với lễ tiết là bậc đại đức chí cực. Khóc người chết mà thương xót là vì tình cảm thực, chứ không phải vì người sống. Giữ vững đạo đức không đổi thay là vì lòng thành, chứ không phải để cầu bổng lộc. Lời nói tất có tín thực là vì bản tâm, chứ không phải để tỏ ra mình đoan chính. Quân tử cứ theo đúng phép tắc mà làm, rồi chờ mệnh Trời mà thôi."
===34===
Mạnh Tử nói: "Đi thuyết phục giới quyền quý thì phải coi thường họ, đừng nhìn vào cái vẻ nguy nga của họ. Nhà cao mấy trượng, rầm cửa mấy thước, ta nếu đắc chí cũng không thèm làm vậy. Thức ăn bày đầy trước mặt, hầu thiếp hàng trăm người, ta nếu đắc chí cũng không thèm làm vậy. Vui chơi uống rượu, săn bắn rầm rộ, xe theo sau hàng nghìn cỗ, ta nếu đắc chí cũng không thèm làm vậy. Những gì họ có đều là những thứ ta không làm; những gì ta giữ gìn đều là chế độ của người xưa, ta việc gì phải sợ họ?"
===35===
Mạnh Tử nói: "Bồi dưỡng cái tâm không gì tốt bằng ít ham muốn (quả dục). Người nào ít ham muốn thì dẫu bản tâm có lúc bị mất cũng chỉ là ít thôi. Người nào nhiều ham muốn thì dẫu bản tâm có lúc còn giữ được cũng chỉ là ít thôi."
===36===
Tăng Tích thích ăn táo tàu rừng, nên con là Tăng Tử không nỡ ăn táo tàu rừng (để tỏ lòng nhớ cha). Công Tôn Sửu hỏi: "Món thịt băm nướng với món táo tàu rừng món nào ngon hơn?"
Mạnh Tử đáp: "Thịt băm nướng ngon hơn chứ!"
Công Tôn Sửu hỏi: "Vậy sao Tăng Tử vẫn ăn thịt băm nướng mà không ăn táo tàu rừng?"
Mạnh Tử đáp: "Thịt băm nướng là món ngon chung mọi người đều thích, còn táo tàu rừng là sở thích riêng của cha ông. Cũng giống như việc kiêng tên húy chứ không kiêng họ; họ là của chung, tên húy là của riêng vậy."
===37===
Vạn Chương hỏi: "Khổng Tử ở nước Trần có nói: 'Sao không về đi thôi! Kẻ sĩ ở quê ta chí khí cao ngạo nhưng giản lược, tiến thủ mà không quên cái tâm ban đầu'. Khổng Tử ở nước Trần, sao lại nhớ đến hạng 'cuồng sĩ' (kẻ sĩ ngông cuồng) ở nước Lỗ?"
Mạnh Tử đáp: "Khổng Tử nói: 'Nếu không tìm được người đi theo đạo Trung dung mà kết giao, tất phải tìm hạng cuồng sĩ hoặc hạng quyên sĩ vậy! Kẻ cuồng sĩ thì hăng hái tiến thủ; kẻ quyên sĩ thì có những việc bất khiết nhất định không làm'. Khổng Tử há lại không muốn người theo đạo Trung dung sao? Nhưng vì không chắc tìm được, nên mới nghĩ đến hạng người thứ nhì đó."
"Xin hỏi hạng người thế nào thì gọi là cuồng sĩ?"
Đáp: "Như Cầm Trương, Tăng Tích, Mục Bì là những người Khổng Tử gọi là cuồng sĩ."
"Tại sao lại gọi họ là cuồng sĩ?"
Đáp: "Chí hướng của họ cao xa vời vợi, thường nói: 'Người xưa thế này, người xưa thế kia', nhưng xét lại hành vi của họ thì thường không tương xứng với lời nói. Nếu cả hạng cuồng sĩ cũng không tìm được, thì muốn tìm hạng người không thèm làm những điều bất khiết, đó là hạng 'quyên sĩ' (kẻ giữ mình). Đó là hạng thứ ba. Khổng Tử nói: 'Kẻ đi qua cửa nhà ta mà không vào phòng ta, ta không cảm thấy tiếc nuối, chỉ có hạng hương nguyên (người hiền lành giả tạo trong làng) mà thôi! Hạng hương nguyên là kẻ thù của đức hạnh vậy'."
Vạn Chương hỏi: "Thế nào thì gọi là hạng hương nguyên?"
Đáp: "Hạng đó nói: 'Làm gì mà phải cao xa vời vợi thế? Lời nói chẳng đoái hoài đến việc làm, việc làm chẳng đoái hoài đến lời nói, rồi cứ luôn miệng: người xưa người xưa. Hành động thì sao lại cứ phải lẻ loi lạnh lùng như thế? Sống ở đời này, làm cho đời này, cứ khéo léo là tốt rồi'. Kẻ luồn cúi lấy lòng thế gian như thế chính là hạng hương nguyên vậy."
Vạn Chương nói: "Cả làng đều khen đó là người hiền lành đức độ, đi đâu cũng tỏ ra hiền lành; thế mà Khổng Tử lại cho là kẻ thù của đức hạnh, tại sao vậy?"
Đáp: "Muốn chê họ thì không có gì để nêu ra, muốn chỉ trích họ thì không có gì để chỉ trích; họ xu phụ theo thói tục, hùa theo cõi đời nhơ bẩn; ở thì giống như trung tín, làm thì giống như liêm khiết; mọi người đều ưa thích họ; họ cũng tự cho mình là đúng, nhưng lại không thể cùng họ bước vào đạo của Nghiêu Thuấn, nên mới gọi là 'kẻ thù của đức hạnh'. Khổng Tử nói: 'Ta ghét những thứ mập mờ giống mà không phải: Ghét cỏ lồng vực vì sợ nó làm loạn lúa mầm; ghét kẻ nịnh hót vì sợ họ làm loạn nghĩa lý; ghét kẻ lợi miệng vì sợ họ làm loạn tín thực; ghét nhạc nước Trịnh vì sợ nó làm loạn chính nhạc; ghét màu tím vì sợ nó làm lấn át màu đỏ tía; ghét hạng hương nguyên vì sợ họ làm loạn đức hạnh'. Bậc quân tử chỉ cốt quay về với đạo thường (kinh) mà thôi. Đạo thường mà đúng thì thứ dân hưng khởi; thứ dân hưng khởi thì những điều tà ác sẽ tự biến mất."
===38===
Mạnh Tử nói: "Từ thời Nghiêu, Thuấn đến thời vua Thang là hơn năm trăm năm; những bậc như Vũ, Cao Dao thì được trực tiếp thấy mà biết Đạo; còn vua Thang thì do nghe truyền lại mà biết Đạo. Từ vua Thang đến Văn Vương là hơn năm trăm năm; những bậc như Y Doãn, Lai Chu thì trực tiếp thấy mà biết Đạo; còn Văn Vương thì do nghe truyền lại mà biết Đạo. Từ Văn Vương đến Khổng Tử là hơn năm trăm năm; những bậc như Thái Công Vọng, Tán Nghi Sinh thì trực tiếp thấy mà biết Đạo; còn Khổng Tử thì do nghe truyền lại mà biết Đạo. Từ thời Khổng Tử đến nay là hơn một trăm năm, cách thời đại của thánh nhân chưa gọi là xa; ở gần nơi thánh nhân cư ngụ đến như thế, vậy mà chẳng có ai (thấy mà biết), thì cũng chẳng còn ai (nghe mà biết) nữa vậy!"
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Trung Quốc]]
[[Thể loại:Nho giáo]]
b7wji9ycqjuky29j1gcg03dn809tdam
Tác gia:Mạnh Tử
102
72033
204913
2026-04-27T08:58:41Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{tác gia | tên-họ = | tên = Tử | họ = Mạnh | chữ đầu tên = T | năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | mô tả = }} ==Tác phẩm== * [[Biên dịch:Mạnh Tử|Mạnh Tử (bản dịch tiếng Việt)]]”
204913
wikitext
text/x-wiki
{{tác gia
| tên-họ =
| tên = Tử
| họ = Mạnh
| chữ đầu tên = T
| năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp-->
| năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp-->
| mô tả =
}}
==Tác phẩm==
* [[Biên dịch:Mạnh Tử|Mạnh Tử (bản dịch tiếng Việt)]]
8gqr6782qv9nj9x3jkxunvgxtk55mz0
Bản mẫu:Tứ thư
10
72034
204914
2026-04-27T09:10:25Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{|style="width:100%; margin-bottom:0px;background-color:#F7FBFD; text-align:center;" !style="background-color:#E8F1F7"|[[w:Tứ thư|Tứ thư]] |- |[[Biên dịch:Đại Học|Đại Học]] | [[Biên dịch:Trung Dung|Trung Dung]] | [[Luận ngữ]] | [[Biên dịch:Mạnh Tử|Mạnh Tử]] | |}”
204914
wikitext
text/x-wiki
{|style="width:100%; margin-bottom:0px;background-color:#F7FBFD; text-align:center;"
!style="background-color:#E8F1F7"|[[w:Tứ thư|Tứ thư]]
|-
|[[Biên dịch:Đại Học|Đại Học]] | [[Biên dịch:Trung Dung|Trung Dung]] | [[Luận ngữ]] | [[Biên dịch:Mạnh Tử|Mạnh Tử]] |
|}
270pj4qchnemk8l9bcyqiv0t51tr9yi