Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.46.0-wmf.26
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Sợi tóc (truyện ngắn)
0
7801
204927
204702
2026-04-28T13:50:44Z
~2026-25947-71
20121
204927
wikitext
text/x-wiki
{{Chất lượng vk|50%}}{{đầu đề
| tựa đề = Sợi tóc
| tác giả = Thạch Lam
| dịch giả =
| năm = 1942
| phần =
| trước =
| sau =
| ghi chú = Rút từ tập truyện ngắn [[Sợi tóc]]. {{Ấn bản}}
}}
{{văn|
Anh Thành nhỏm dậy, nghiêng mình chống khuỷu tay xuống giường rồi bắt đầu nói với một giọng trầm và thong thả khiến người nghe hiểu được hết các ý tứ của câu chuyện:
Tôi có một người anh họ rất giàu và rất ngốc (có lẽ mình cho anh ta là ngốc, bởi vì hắn không xử sự như mình, không có những quan niệm về cuộc đời như mình; nhưng thật ra biết đâu cách ăn ở của anh ta lại không khôn ngoan hơn, bởi vì anh ta đã giầu và sung sướng?). Tên anh ta là Bân, Bân rất phục tôi, coi tôi là một người sành sỏi, thạo đời và nhất là thạo các ngón ăn chơi. Bởi vậy, động có việc gì, hoặc là muốn mua bán cái gì, anh ta đều không quên đến hỏi tôi trước.
Hôm ấy, Bân đến rủ tôi cùng đi mua một cái đồng hồ. Anh ta muốn mua hạng thật tốt, và nhờ tôi xem hộ. Hai chúng tôi đến hiệu Chabot ở phố Tràng Tiền. Đồng hồ ở hãng này thì không còn phải nói gì nữa: Thật là những đồng hồ các hiệu có tiếng, có bảo hành chắc chắn và cố nhiên là giá đắt. Tôi chọn cho hắn ta cái đồng hồ đeo tay hiệu Movado, xuống nước hay vùi cát cũng không hề gì. Chiếc đồng hồ trông rất đẹp. Tôi thấy anh ta mân mê cầm lên ngắm nghía, xem chừng cũng muốn mua lắm. Nhưng cái tính hà tiện của anh ta lại thắng cái thích, nên rồi lưỡng lự một lát, anh ta trả lại nhà hàng, kéo tôi đi ra và bảo:
- Đẹp thì đẹp thật, nhưng mà đắt quá, anh ạ. Thôi, chúng ta lại các hiệu khách mà mua thì hơn.
Tôi yên lặng gật đầu, và theo đi, cũng chả muốn nói gì. Trong bụng nghĩ anh chàng này thật là ngốc, có tiền mà không biết chơi đồng hồ tốt. Lại kiệt nữa. Không biết hắn để tiền làm cái gì?
Vào một hiệu ở Hàng Ngang, sau khi mặc cả ráo riết từng hào, anh ta bằng lòng mua một cái đồng hồ hiệu không mấy ai biết tiếng. Hắn có hỏi ý kiến tôi, song tôi cũng ừ hữ bảo dùng được cho xong chuyện, vì hắn có mua được thứ tốt hay không, bấy giờ tôi thực không thấy quan hệ mấy.
Lúc trả tiền, tôi thấy hắn giở ra một cái ví da lớn, phồng chặt. Hắn đếm giấy bạc thong thả và cẩn thận.
Thoáng nhìn qua, tôi cũng biết trong ví nhiều tiền lắm: ngoài số tiền bạc lẻ hắn mang ra trả, tôi còn thấy gấp ở ngăn trên đến năm, sáu cái giấy bạc một trăm nữa, những giấy bạc mới, màu còn tươi nguyên - "Quái, thằng cha này làm gì mà lắm tiền thế? Mình thì chả bao giờ có đến được một trăm bạc bỏ túi!"
Tôi nghĩ thầm và so sánh thế.
Mua xong đồng hồ. Bân rủ tôi đi ăn:
- Ta lên hiệu chén, rồi lát nữa làm một chầu chứ, - hắn vỗ vào túi - tôi có đủ tiền đây!
Chúng tôi vào hiệu. Bân ăn vui vẻ lắm, có lẽ hắn vừa ý vì cái đồng hồ mua rẻ. Tôi thì trong óc cứ vơ vẩn cái ý nghĩ sao một thằng ngốc như hắn - tôi thấy hắn càng ngốc - lại có lắm tiền thế, còn mình...
Tuy vậy, ý nghĩ cũng không làm tôi ăn mất ngon. Tôi tỏ mặt sành, gọi những thức ăn quý và đắt tiền, và hai chúng tôi uống rượu say sưa.
Cơm xong, Bân đưa tôi xuống Vạn Thái, vào nhà một người nhân tình của hắn. Hình như đã lâu không được đi hát, nên hắn có vẻ tha thiết và sung sướng đến đáng ghét. Về phần tôi, không thấy hứng lắm, - đi chơi với một anh có nhiều tiền mà mình lại khinh là ngốc, không có thú vị mấy - nhưng chẳng lẽ lại bỏ hắn nửa chừng. Tôi định bụng ở chơi qua quýt đến nửa đêm thì về.
Nhà hát, ngoài cô nhân tình của Bân, các con em khác trông cũng khá. Tôi nằm bên bàn đèn nói vài câu chuyện tầm phơ. Còn Bân, hắn không nghe hát hiếc gì cả. Ngồi nói chuyện với tôi một lát lấy lệ, rồi hắn cùng với cô nhân tình vào buồng trong đi nằm một chỗ. Hắn không quên - tính cẩn thận của anh kiệt! - đem cả cái áo tây trong có ví tiền vào chỗ nằm, vất trên thành đầu giường.
Một mình tôi ở ngoài đâm chán. Nằm một lát rồi tôi cũng đứng dậy sửa soạn ra về; Bân vẫn ở trong màn, nói vọng ra giữ lại:
- Anh hãy ở chơi đã, về làm gì vội. Ngày mai chủ nhật cơ mà.
- Thôi, tôi phải về. Sáng mai còn có việc.
Vừa nói tôi vừa với cái áo tây của tôi treo trên mắc. Bỗng nhiên có cái gì chuyển mạnh qua tim: tay tôi yên hẳn lại; tôi vừa mới nhận ra rằng cái áo tôi đương cầm không phải là áo của tôi. Thì ra lúc mang áo vào giường nằm, Bân đã mang nhầm áo. Hai chúng tôi cùng mặc thứ hàng len giống màu, như vậy dễ lẫn lắm. Tôi ghé nhìn vào phía trong áo thấy cái ví tiền ở túi thò ra ngoài một ít. Cái ví tiền... mấy tờ giấy bạc...
- Ở chơi đã anh. Ở chơi sáng sớm mai về với tôi một thể.
- Ờ... ờ...
Tôi điềm nhiên treo cái áo vào chỗ cũ, quay ra. Mấy chị em cũng phụ họa vào lời mời của Bân, nài nỉ:
- Tội gì mà về bây giờ anh, khuya và lạnh chết.
Tôi chỉ thoáng nghe thấy, trong trí như còn bận sự gì. Bâng khuâng tôi lại gần giường; một chị nâng chén mời:
- Anh uống chén nước nóng. Rồi nằm xuống đây có hơn không?
- Ờ thì hẵng nằm một lát đã.
Tiếng Bân trong màn đưa ra:
- Phải đấy, đến mai hẵng về. Tôi bảo chị Lan phải làm thế nào giữ anh ấy lại thì làm...
- Không... thể nào tôi cũng phải về, anh ạ...
Những lời đối đáp ấy cứ tự nhiên buột miệng ra, tôi không để ý đến. Trước mắt tôi, mấy tờ giấy bạc một trăm gấp trong ngăn ví, hiện ra rất rõ rệt. Lấy mấy tờ, độ hai tờ - tại sao lại hai? Tôi không biết - thật dễ dàng quá. Tôi cứ việc điềm nhiên với lấy áo, mở ví rút ra hai tờ, rồi khoác áo ở trên vai, ra ý sắp sửa về. Rồi chọn lúc mọi người vô ý - mà dẫu có ý cũng không ai biết được - tôi đổi lấy áo của tôi vắt ở đầu giường Bân... Thế là xong, và gọn. Mai dậy Bân biết mất chắc chẳng bao giờ dám nghi ngờ cho tôi. Mà nghi ngờ thế nào được?
Tôi về từ đêm cơ mà! Vả lại cái áo đựng tiền hắn đã cẩn thận mang vào giường ngay từ chập tối, vậy nếu có người lấy, thì chỉ có người nhà cô đầu mà thôi. Mà người nhà thì cũng khó lòng đến đấy lấy được, họa chăng có ngay cô nằm với Bân. ừ, có lẽ Bân sẽ nghi cho nhân tình của hắn lấy... Chắc thế. Tôi mỉm cười: Bân sẽ không dám nói gì đâu; biết nhân tình lấy, hắn sẽ im lặng, sợ làm cho nhân tình xấu hổ, và sợ làm tai tiếng chủ nhà. Hắn vốn tính nhát, với lại hai trăm đối với hắn chắc chả là bao.
Tất cả những cách xếp đặt ấy diễn qua rất nhanh trong trí tôi. Chỉ một thoáng thôi, tôi đủ tưởng trước được các việc xảy ra như thế, êm thấm và yên lặng, và trôi chảy... dễ dàng quá, mà không còn sợ cái gì cả...
- Mời anh xơi thuốc.
Tôi giật mình đỡ lấy dọc tẩu. Cô Lan đã tiêm xong điếu thuốc từ bao giờ, quay dọc sang mời. Mắt cô nhìn tôi âu yếm. Tôi đưa mắt nhìn xuống, cầm lấy dọc hút. Điếu thuốc kêu vo vo, tiếng như ở đâu đưa lại. Qua làn khói trắng tỏa ra, tôi tưởng nhìn thấy tập giấy bạc một trăm, còn mới nguyên gấp trong ngăn ví. Hắn làm gì mà có lắm tiền thế? Lại mang để trong ví làm gì? Rõ anh chàng ngốc không biết dùng đồng tiền, tiền ở trong tay hắn cũng uổng. Ngộ có đứa lấy đi thì sao? Để thế có bữa mất thật...
- Anh nghĩ gì mà thần người ra thế? Say thuốc có phải không?
Lan để tay nhẹ nhàng lên người tôi, lẳng lơ đưa mắt hỏi. Tôi giả vờ cười không đáp, rồi xoay nằm ngửa, nhìn lên trần nhà. Trong người bứt rứt không yên... Lắng nghe thấy tiếng Bân thì thào và tiếng cười khúc khích của nhân tình hắn trong màn. Chiếc áo vắt ở đầu giường - chiếc áo của tôi - chắc vẫn còn y nguyên ở đấy.
Tôi tưởng tượng khi có hai trăm trong túi rồi, lên xe về điềm tĩnh đi nằm ngủ. Sớm mai mất tiền, thế nào hắn chả về qua nhà mình. Hắn gọi cửa vào, đánh thức mình dậy và bơ phờ bảo:
- Tôi mất hai trăm bạc tối hôm qua rồi, anh ạ...
Tôi thấy trước bộ mặt ngạc nhiên của tôi lúc bấy giờ - một vẻ mặt rất tự nhiên, - và tôi hỏi: "Chết chửa, mất bao giờ? Ở đâu?" - Hắn sẽ thuật lại buổi tối hôm nay, lúc mang áo vào giường, đến lúc thấy mất: "Chỉ có con nhân tình tôi nó lấy thôi, anh ạ. Chả còn ai vào đấy nữa..."
- Thế giấy bạc của anh có biên số không?
Nếu hắn không biên số thì mình cứ việc tiêu tự nhiên! Vạn nhất hắn có biên số rồi, thì bảo hắn đi trình cẩm. Nhưng mình sẽ tiêu ngay hôm ấy... Một người như mình cầm tờ giấy trăm vào Gô Đa mua hàng, ai dám nghi ngờ?...
Tôi nhớ lúc ấy tuy vẫn nói chuyện với mấy cô em, tôi xếp đặt đâu vào đấy rất chu đáo, phòng ngừa đủ mọi việc xảy ra. Chỉ còn việc lấy, và đổi áo nữa là xong. Rất dễ.
- Ấy kìa, anh đi đâu đấy?
- Tôi đi về đây, mai có việc bận, không thể ở lại được.
Tôi đã nhổm dậy đến bên mắc, với áo, chiếc áo của Bân. Qua lần vải tôi thấy chiếc ví kềnh kệnh răn rắn. Khoác áo lên một bên vai, tôi đi lại trong nhà, bồn chồn nóng ruột. Một cô đầu lê guốc ra hé cửa, nhìn ra ngoài trời:
- Tối lắm. Phải vạ gì mà đi bây giờ anh ạ.
- Đâu xem nào...
Tôi cũng đến bên cửa nghiêng nhìn ra ngoài. Tay tôi đưa vào trong áo, luồn vào khe ví, sờ vào mấy tấm giấy bạc. Tôi rùng mình. Mấy ngón tay mân mê đầu tấm giấy, một cái, hai cái...
- Thôi, vào không gió, anh ạ. Vào nằm cho ấm...
Tôi bỏ tay ra - thong thả, không vội gì, - theo vào, cái áo vẫn đè trĩu trên vai. Tôi ngồi ghé xuống cạnh giường, cầm chén nước lên nhấp, rồi lại đặt xuống.
Tiếng Bân trong nhà cất lên:
- Ông ấy về rồi à?
Tôi đáp:
- Không, đã về đâu. Tí nữa.
Bân nói câu gì sau, tôi cũng không nghe thấy. Tâm hồn tôi lúc bấy giờ thế nào, tôi không biết rõ. Tôi đứng lên, ngồi xuống, như một cái máy. Tôi chỉ băn khoăn, bứt rứt, và thời giờ qua... tôi cảm thấy đi qua tâm hồn tôi từ bên này sang bên kia... như thế không biết trong bao nhiêu lâu... Tôi khẽ thở dài, đứng lên lần này thì nhất định.
- Về thôi. Không mai đi sớm lại nhọc chết.
Bân hỏi vọng ra:
- Ồ, anh về à? Mấy giờ rồi đấy nhỉ?
- Gần một giờ rồi. Anh cứ ở đây. Cả mấy cô này nữa, đi ngủ đi cho béo mắt. Bận sau tôi ở lâu nhé.
Tôi đưa tay vuốt mái tóc một cô sán đến gần, hai tay để lên vai tôi, mắt nhìn ra vẻ âu yếm. Hai cô khác ngồi yên trên giường, cũng đưa mắt nhìn tôi như chờ đợi.
- Thôi đi ngủ đi.
Tôi gạt tay cô ấy ra, gấp cái áo tây trên cánh tay, rồi đi vào phía giường Bân nằm. Tôi cúi xuống, tì vào thành giường - cố ý tì vào chỗ vắt cái áo - nhìn vào trong, qua màn.
- Anh ở lại nhé - tôi mỉm cười - tri kỷ hết đêm nay cho nó sướng...
Cô nhân tình khúc khích trong chăn. Và Bân ngửa đầu trông lên, tay với vào tấm màn:
- Mai nhé.
- Oui, à demain.
Nhưng tôi chưa quay ra. Tôi vẫn cứ tì mình trên thành giường, lưỡng lự, một lát bấy giờ sao lâu thế. Rồi, không biết tại sao, bỗng nhiên:
- Áo anh đây này, đây là áo của tôi.
Và nói thêm bằng tiếng Pháp:
- Anh đếm lại tiền đi. Và để cẩn thận vào trong ấy.
Bân nhỏm nửa người dậy, cầm lấy áo:
- Merci, được rồi.
Tôi bước một bước lùi ra. Thế là hết. Bây giờ thì không sao đụng đến ví được nữa. Tôi bần thần ngơ ngẩn, mặc lấy chiếc áo của tôi, và đội mũ... Vừa gài khuy, tôi vừa nói mấy câu bông đùa vô vị với cô ả đứng ở chân giường sắp tiễn tôi về. Tôi trùng trình uống nước và hút thuốc, muốn cái thời khắc này cứ kéo dài ra mãi.
Đến khi ngồi trên xe về qua những phố khuya vắng vẻ, tâm trí tôi mới dần bình tĩnh lại. Gió lạnh thổi mát trên vừng trán nóng, và cái cảm giác mát ấy khiến tôi dễ chịu. Tôi nghĩ lại đến những cử chỉ và dự định của tôi lúc nãy, thật vừa như một người khôn khéo lại như một người mất hồn. Tất cả những cái đó bây giờ xa quá. Tâm trí tôi giãn ra, như một cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường. Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị, khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ. Và một mối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng cố ý không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một vẻ rờn rợn và sâu sắc.
{{ba sao}}
Sáng hôm sau tỉnh dậy ở nhà, tôi ngẩn ngơ nghĩ lại các việc tối hôm trước, y như trong một giấc mộng, chứ không phải việc đã xảy ra... Tôi ngạc nhiên tự hỏi sao mình hãy còn là người lương thiện, không phải là kẻ ăn cắp. Mà tôi thú thực rằng nếu bấy giờ tôi đã là kẻ ăn cắp, cái đó cũng không khiến tôi lấy làm ngạc nhiên hơn. Mà còn là người lương thiện, tôi tự thấy cũng chẳng có gì là đáng khen. Tôi nhớ rõ lúc đó không có một ý nghĩ nào về danh dự, về điều phải, điều trái ngăn cản tôi, và khiến tôi đi vào con đường ngay, như người ta vẫn nói. Không, không có một chút gì như thế. Cái gì đã giữ tôi lại? Tôi không biết... Có lẽ chỉ một lời nói không đâu, một cử chỉ nào đấy, về phía này hay phía kia, đã khiến tôi có ăn cắp hay không ăn cắp. Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên... Tôi có tiếc đã không lấy hay không, hay bằng lòng mình vì đã chống giữ lại cái ý xấu? Tôi cũng không tìm biết rõ hơn. Hình như ý nghĩ ham muốn hay trù trừ tối ấy không phải là của tôi, hình như của ai ấy, của một người nào khác lạ, khác với cái người thường của tôi bây giờ...
Chúng tôi đều yên lặng. Anh Thành nói xong, với cái điếu hút một hơi thuốc lào rất kêu. Rồi anh thở ra thong thả, mắt lờ mờ nhìn dõi theo làn khói đi.
}}
[[Thể loại:Truyện ngắn Việt Nam]]
kaj44y2kgrxwhh79yhwnwgtfp5dlhug
Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949
114
20858
204928
204179
2026-04-28T16:50:43Z
~2026-25888-59
20122
204928
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Điện Élysée (Paris) vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948 vốn chỉ mang tính sơ bộ. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập khi thay thế Hòa ước Giáp Thân 1884 giữa hai nước, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ do Pháp trực trị quay trở về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của Quốc gia Việt Nam với tư cách là một quốc gia liên kết với Pháp và nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, tuy nhiên nó chỉ được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp ký vào ngày 2 tháng 2. Quân Pháp vẫn còn ở lại Việt Nam để chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng không còn là quân đội thực dân nữa mà là để bảo vệ Quốc gia Việt Nam, một thành viên đồng minh trong Liên hiệp Pháp. Dù Quốc gia Việt Nam còn bị Pháp cai trị, hiệp định là hành lang pháp lý để Pháp trao dần quyền tự chủ. Quốc gia Việt Nam giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp khi hai bên ký Hiệp ước Matignon vào ngày 4 tháng 6 năm 1954, gồm hai hiệp con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Dù hiệp ước con độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn có hiệu lực từ ngày ký theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7 để kết thúc chiến tranh, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
hz8fndgugin9ix8fnnxxbnpqubvmkec
204929
204928
2026-04-28T16:52:47Z
~2026-25888-59
20122
204929
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Điện Élysée (Paris) vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948 vốn chỉ mang tính sơ bộ. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập khi thay thế Hòa ước Giáp Thân 1884 giữa hai nước, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ do Pháp trực trị quay trở về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của Quốc gia Việt Nam với tư cách là một quốc gia liên kết với Pháp và nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, tuy nhiên nó chỉ được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp ký vào ngày 2 tháng 2. Quân Pháp vẫn còn ở lại Việt Nam để chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng không còn là quân đội thực dân nữa mà là để bảo vệ Quốc gia Việt Nam, một thành viên đồng minh trong Liên hiệp Pháp. Dù Quốc gia Việt Nam còn bị Pháp cai trị, hiệp định là hành lang pháp lý để Pháp trao dần quyền tự chủ. Quốc gia Việt Nam giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp khi hai bên ký Hiệp ước Matignon vào ngày 4 tháng 6 năm 1954, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Dù hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn có hiệu lực từ ngày ký theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7 để kết thúc chiến tranh, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
sziph15q6lmy8p1n6soce7ifqsp8vmx
204930
204929
2026-04-28T16:54:23Z
~2026-25888-59
20122
204930
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Điện Élysée (Paris) vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948 vốn chỉ mang tính sơ bộ. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập khi thay thế Hòa ước Giáp Thân 1884 giữa hai nước, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ do Pháp trực trị quay trở về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của Quốc gia Việt Nam với tư cách là một quốc gia liên kết với Pháp và nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, tuy nhiên nó chỉ được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp ký vào ngày 2 tháng 2. Quân Pháp vẫn còn ở lại Việt Nam để chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng không còn là quân đội thực dân nữa mà là để bảo vệ Quốc gia Việt Nam, một thành viên đồng minh trong Liên hiệp Pháp. Dù Quốc gia Việt Nam còn bị Pháp cai trị, hiệp định là hành lang pháp lý để Pháp trao dần quyền tự chủ. Quốc gia Việt Nam giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp khi hai bên ký Hiệp ước Matignon vào ngày 4 tháng 6 năm 1954, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7 để kết thúc chiến tranh, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
pcksvtusn6xuvx5hrnuvmg3vj1jhgo4
Trên đàn văn học thế giới, văn học Trung Hoa ở địa vị nào?
0
23676
204931
204926
2026-04-29T00:32:00Z
LMQ2401
3550
Đã lùi lại sửa đổi [[Special:Diff/204926|204926]] của [[Special:Contributions/~2026-25861-94|~2026-25861-94]] ([[User talk:~2026-25861-94|thảo luận]])
204931
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Trên đàn văn học thế giới, văn học Trung Hoa ở địa vị nào?
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1937
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Đông Dương tạp chí'', Hà Nội, số 28 (20 Novembre 1937), trang 19 - 20.
}}
{{văn|
Cái bước tiến hóa của một dân tộc trước hết ở sự giác ngộ. Về phương diện nào cũng vậy, một dân tộc phải biết của mình ra sao, của người ra sao, nếu thấy mình kém thì mới sinh lòng hổ thẹn mà lo bươn tới cho kịp người. Bằng chẳng vậy, cái gì cũng tự phụ mình hay mình giỏi, kém mà không biết là kém, ấy là cái không giác ngộ, thì không khi nào tiến hóa được.
Người Tàu đã tiến hóa được như ngày nay, ấy là nhờ ở sự giác ngộ của cả dân tộc họ mà ra. Hôm nay tôi xin kể chuyện cho bạn đọc biết sơ qua một sự giác ngộ của họ về phương diện văn học.
Từ khi bắt đầu giao thông với các nước Âu Mỹ, bên Tàu, triều Minh và triều Thanh lúc còn thịnh, cứ coi người da trắng là mọi rợ không biết chi, chỉ có mình là xứ văn hiến, mọi sự đều tốt lành. Dần dần có cơ hội cho hai bên tiếp xúc nhau, quái lạ, sao cứ đánh đâu thua đó, khi ấy người Tàu mới nhận thấy người Tây chẳng qua có cái sở trường riêng tức là tàu bền súng sắc. Lại dần dần thấy người Tây đem những hàng khéo của lạ bán cho mình, người Tàu tìm tòi thêm mới nhận thấy họ chẳng qua có một cái sở trường nữa, tức là khoa học cơ khí. Lại dần dần nữa, thấy người Tây kinh doanh ở các thuộc địa hay tô giới, như Hương Cảng và Thượng Hải, mỗi ngày mỗi phát đạt và thịnh vượng, người Tàu cực chẳng đã phải nhận thấy một lần nữa rằng người Tây chẳng qua có thêm một cái sở trường tức là chính trị kinh tế mà thôi.
“Chẳng qua”, “mà thôi”, ấy là những chữ để chỉ ra người Tàu tuy thấy mình thua Tây nhưng vẫn còn khinh họ. Trong ý nói rằng ta thua là thua về tàu bền súng sắc, về khoa học cơ khí, cùng lắm nữa là về chính trị kinh tế, chứ nói đến triết học, văn học, đạo đức, luân lý thì họ làm thế nào cho bằng được ta? Cái thuyết ấy, với cái thuyết “văn minh Tây phương là văn minh vật chất, văn minh Đông phương là văn minh tinh thần” tuy khác lời mà cùng một ý.
Nói như thế chỉ để lấy thể diện chứ không đúng sự thực. Theo sự thực, cái trình độ văn minh của dân tộc Trung Hoa đã kém các dân tộc bên Âu Mỹ thì bất kỳ về phương diện nào cũng kém.
Riêng về phương diện văn học: đem văn học Trung Hoa đặt trên đàn văn học thế giới, nghĩa là đem so sánh với văn học các nước có danh tiếng trong hoàn cầu, thì nó phải đứng vào cái địa vị rất kém cỏi. Lời ấy chẳng phải bởi một người nào muốn dìm nước Tàu xuống mà nói ra được đâu, song chính bởi các văn nhân học sĩ nước Tàu đã nói ra do sự giác ngộ của họ vậy.
Sự giác ngộ ấy ra nẩy sinh vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi bên Tàu có nhiều học sinh du học ở ngoại quốc và nhất là khi đã có nhiều sách vở ngoại quốc dịch ra chữ Tàu. Một mình Nghiêm Phục dịch hơn mười bộ sách về triết học của các nhà triết học Pháp và Anh, một mình Lâm Thư dịch hơn một trăm bộ tiểu thuyết của nhiều tay văn hào trong thế giới, sự ấy để làm cho người Tàu mở mắt thấy văn học của các nước thế nào và của nước mình thế nào.
Lúc bấy giờ cả nước Tàu người nào cũng như đương trong giấc ngủ mê mà vùng thức dậy. Người thì nói: À ra bên Tây cũng có văn học! Người thì nói: không khéo mà văn học của các nước lại còn phong phú và thâm thúy hơn văn học nước mình! Đây tôi xin cử ra một bức thư luận về văn học gởi cho bạn của Trần Quý Đồng, người gồm thông cả văn học Trung – Tây, để làm chứng:
“… Chúng ta ở thời đại này, chẳng những phải bươn theo khoa học mới sống nổi, mà cả về văn học chúng ta cũng không nên tự phụ, không nên tự cho nước mình là nước văn học có một không hai. Phải biết văn học của nước người ta cũng tiến bộ chóng lắm như các món học khác. Phải biết trong khi người thế giới nói đến văn học, họ không thèm đếm xỉa đến nước ta đâu, họ cho văn học nước ta còn chưa bằng Nhật Bản.
Tôi (Trần Quý Đồng tự xưng) ở lâu bên nước Pháp, giao du với nhiều người nước ấy, thường thường nghe những lời họ phê bình văn học nước mình, thiếu điều tức mà chết! Trừ ra mấy người này, như Abel Rémusat, một học giả chuyên nghiên cứu chữ Hán, có viết cuốn sách ''Luận về ngữ ngôn và văn học Trung Hoa'', trong đó lập luận còn là công bình. Lại Guillaume Pauthier, sùng bái triết học nước ta lắm, có dịch các sách tứ thư, ''Kinh Thi'' và ''[[Đạo Đức kinh|Lão Tử]]''; ông ấy nhìn nhận Khổng Tử, Mạnh Tử đều là nhà triết học về chính trị và đạo đức, ''Lão Tử'' là sách về lý tính rất cao. Lại Guillard d’ Arcy thì dịch thần thoại của Trung Quốc và mấy người nữa thì dịch tiểu thuyết, cái luận điệu của họ đối với ta là nửa khen ngợi nửa chê cười. Ngoài những người đó ra, phần nhiều họ đối với ta, nếu chẳng khinh rẻ thì là chán ghét.
Cho đến như Voltaire là người có cảm tình với nước ta lắm mà trong bản kịch ''Trung Quốc cô nhi'' (L’ Orphelin de la Chine), nơi bài ở đầu cuốn sách viết dâng cho tể tướng Richelieu cũng có mấy lời mỉa mai chúng ta, nói chúng ta đã biết phát minh ra nghệ thuật trước đây ba ngàn năm, mà sao đi tới chậm như rùa, đến nay cũng còn vẫn giữ cái trình độ ba ngàn năm về trước! Còn nói chi đến A. France, một văn hào hiện đại thì rất thực tình, không còn chút khách sáo nào hết, cứ việc mắng nhiếc chúng ta ra mặt!
A. France phê bình tiểu thuyết của chúng ta, có nói rằng: “Không cứ ở trong vận văn hay tản văn, đều thấy ra cái tư tưởng của một dân tộc đáng ghét, ngoài mặt thì ra dáng lễ văn mà trong lòng thì rặt những hung ác”. Khi phê bình thần thoại, lại nói: “Hết già nửa làm cho người ta đọc mà tới mà không thích, vì văn nặng mà không thật. Nói tóm lại, văn học của China là cái thứ bất kham!” Hết thảy những lời phê bình của A. France đó đều đăng trên báo mới ác cho chớ!
Tôi tưởng có hai nguyên nhân gây ra cái hiện trạng không tốt ấy: Một là tại chúng ta không chú ý sự tuyên truyền, các tác phẩm văn học dịch ra rất ít, hoặc không chọn sách hay mà dịch, hoặc sách hay mà dịch không hay, thành thử họ khó lòng nhận hết cái chân giá trị của ta. Hai là tại cái phạm vi văn học mà ta chú trọng có khác với họ. Ta chỉ sùng thượng thi và cổ văn, cái phạm vi ấy hẹp hòi quá, không như họ chú trọng cả đến tiểu thuyết và kịch bản, điều ấy lại còn dễ làm cho họ hiểu lầm.
Vậy chúng ta bây giờ phải gắng sức lên mới được, thứ nhất là đừng có làm thánh làm tướng trên sân khấu văn học một nước mình mà phải mở rộng ra, tham gia vào sân khấu văn học thế giới. Đã muốn thế thì phải đọc nhiều sách của họ, dịch nhiều sách của họ, bỏ các thành kiến, các tập quán trong văn học giới của mình để cùng đi tới rập với họ mới xong…”
Trong bức thư ấy, thấy ra văn học Trung Hoa ở cái địa vị nào trên đàn văn học thế giới ngày nay rõ ràng lắm. “Còn chưa bằng Nhật Bản” thì chỉ có là hạng bét chứ gì! Tôi xin nhắc lại lần nữa, điều ấy chính ở miệng một người Tàu khai ra. Lời khai ấy cách nay chừng vào khoảng hơn hai mươi năm, văn học Trung Hoa cũng đã tiến bộ theo một con đường khác với trước, thế mà các ông nhà nho xứ An Nam này vẫn còn khen thơ Tàu hay hơn thơ Tây, văn học Tàu đứng nhất thế giới, thì thật là một sự đáng thương hại biết bao!
Nhờ có sự giác ngộ như nói trong bức thư Trần Quý Đồng đó nên đến năm Dân quốc thứ sáu (1917) ở Trung Hoa mới có gây ra cái phong trào gọi là “văn học cách mạng”.<ref name="A">Tổ hợp từ “văn học cách mạng” ở bài này được đặt theo kiểu ghép từ của chữ Hán (định ngữ đứng trước danh ngữ; đây là một đặc điểm hành văn khá phổ biến trong viết văn quốc ngữ /chữ Việt/ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước), tương ứng với tổ hợp chữ Anh “literary revolution”, chữ Nga “литературная революция”, chữ Pháp “révolution littéraire”, và trong tiếng Việt ngày nay cần được hiểu là “cách mạng văn học”, như ý tác giả nói trong đoạn văn tiếp theo.</ref> Hồ Thích và Trần Độc Tú<ref>Hồ Thích 胡 適 Hu Shi, (1891-1962), học giả, triết gia Trung Quốc; Trần Độc Tú 陳 獨 秀 Chén Dúxiù, (1879-1942) nhà chính trị, nhà văn Trung Quốc, Tổng bí thư (1921-27) đầu tiên của Đảng cộng sản Trung Quốc.</ref> là người đứng chủ trương cái phong trào ấy. Họ xướng lên bỏ “văn ngôn”, từ nay sấp sau viết văn bằng “bạch thoại”. Lại công kích mọi sự hủ bại của văn thể đương thời mà lập ra những quy tắc cho văn thể mới.
Liền đó cả nước hưởng ứng theo, đến năm Dân quốc thứ mười (1921) thì hết thảy các báo chí trong nước đều dùng bạch thoại và cho đến chính phủ cũng cải cách học quy mà dùng bạch thoại. Cái lợi của văn bạch thoại ở chỗ viết và nói có một, không như văn ngôn khác với tiếng nói thường. Những người chủ trương cuộc cách mạng ấy gọi văn ngôn là “văn học chết”, còn bạch thoại là “văn học sống”. Vì họ chôn cái “chết” đi mà đưa cái “sống” ra, là sự thuận tiện và ích lợi hẳn, nên họ đã được thành công trong cuộc cách mạng.
Từ cuộc cách mạng ấy đến nay vừa hai mươi năm, văn học Tàu như một người già bỗng dưng biến ra trai trẻ. Họ có những tay văn hào mới mọc lên và có những thơ, kịch, tiểu thuyết theo lối mới mỗi năm một tiến, về đằng phẩm cũng như về đằng lượng. Bây giờ ta thử hỏi: Trên đàn văn học thế giới tương lai, văn học Trung Hoa sẽ ở vào địa vị nào thì thật không ai dám đoán trước được vậy.
Cuộc văn học cách mạng<ref name="A"/> vừa nói đó rất trọng yếu, để có dịp tôi sẽ nói đến trong một bài khác.
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
{{chú thích cuối trang}}
[[Thể loại:Bài báo]]
pxqz8gqwgojyghb7dsx1wugtay6hta9
Thành viên:Mrfly911
2
68467
204932
204905
2026-04-29T09:22:26Z
Mrfly911
2215
204932
wikitext
text/x-wiki
== Các tài liệu đóng góp và tham khảo ==
===Nho giáo===
* [[:zh:詩經]] - [[Biên dịch:Kinh Thi]]
* [[:zh:禮記/大學 (證釋本)]] - [[Biên dịch:Đại Học]]
* [[:zh:禮記/中庸]] - [[Biên dịch:Trung Dung]]
* [[Luận ngữ]]
* [[:zh:孟子]] - [[Biên dịch:Mạnh Tử]]
* [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[w:Bách gia tính]] (có đủ trên Wikipedia)
* [[Biên dịch:Thiên tự văn]]
===Đạo giáo===
* [[Đạo Đức kinh]]
* [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]]
** [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]]
** [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]]
===Y dược===
* [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]]
* [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]]
* [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]]
* [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]]
* [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]]
* [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]]
* Nam dược thần hiệu (南藥神效)
* Hồng Nghĩa giác tư y thư
* Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領)
* [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]]
* [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]]
* [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]]
* [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]]
* [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]]
* [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]]
* [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]]
{{Kinh điển Phật giáo}}
==Lịch sử==
{{Nhị thập tứ sử}}
=== Hán (206 TCN - 9)===
* [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]]
** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]]
** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]]
* [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]]
** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾)
* [[Tác gia:Tư Mã Thiên]]
** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]]
*** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]]
** [[:zh:素王妙論]]
** [[:zh:悲士不遇賦]]
** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944)
** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch)
** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]])
* [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]]
** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]]
* [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]]
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
===Đông Hán (25–220)===
* [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]]
** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]]
*[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]]
----
* [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]]
** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]]
=== Tào Ngụy ===
* [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360)
=== Đông Ngô ===
* [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]]
* [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]]
** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]]
** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]]
=== Tấn ===
* [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]]
----
* [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]]
** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]]
* [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]]
** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]]
===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)===
* [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]]
** KINH (經)
*** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển
***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển
*** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng)
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển)
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển
** LUẬT (律)
*** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển
** LUẬN (論) & PHÁP (法)
*** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển
*** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển
*** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp)
** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP
*** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển
----
* [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]]
** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]]
**:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng.
** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]]
----
* [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442)
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
===Nam–Bắc triều (420–589)===
==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ====
* [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]]
=== Đường 618–907)===
* [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]]
* [[Lữ ngụ An Nam]]
* [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]]
* [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]]
* [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]]
* [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]]
** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]]
** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]]
----
* [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]]
* [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713)
** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]]
** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762)
** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]]
* [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]]
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]])
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]])
===Ngũ đại Thập quốc (907–979)===
* [[Tân Ngũ Đại sử]]
===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)===
* [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178)
* [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186)
* [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]]
* [[Tục tư trị thông giám]]
* [[Tư trị thông giám trường biên]]
=== Trần # Nguyên (1260–1368)===
* [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]]
* [[:zh:安南志畧]]
** [[Biên dịch:An Nam chí lược]]
* [[Biên dịch:Nguyên sử]]
** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]]
*[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]]
**Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]]
* [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]]
=== Trần - Lê # Minh (1368–1644)===
* [[:zh:越史略|越史略]]
** [[Biên dịch:Việt sử lược]]
* [[Biên dịch:Minh thực lục]]
** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]]
*** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]]
* [[Biên dịch:Minh sử]]
** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]]
* [[Bình An Nam chiếu]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]]
* [[:zh:殊域周咨錄]]
** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]]
* [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]]
* [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]]
* [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội]
=== Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)===
* [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]]
* [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]]
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]]
***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]]
*** ...
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]]
* [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]]
** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]]
*[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
**[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
*[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]]
**[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]]
*[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
*[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
* [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]]
* [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]]
* [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]]
* [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]]
----
====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành====
* [[:zh:欽定古今圖書集成]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]])
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]]
==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu==
<nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki>
hoặc
<pre>
<inputbox>
type=search
width=30
placeholder=Tìm trong trang này
searchbuttonlabel=Tìm
fulltext=false
prefix={{FULLPAGENAME}}
</inputbox>
</pre>
==Cú pháp==
<pre>{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}</pre>
<pre>
{| align="center"
! Nguyên văn chữ Hán
! Phiên âm Hán Việt
|-
|
<poem>
關關雎鳩,在河之洲。
窈窕淑女,君子好逑。
參差荇菜,左右流之。
窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。
悠哉悠哉,輾轉反側。
參差荇菜,左右采之。
窈窕淑女,琴瑟友之。
參差荇菜,左右芼之。
窈窕淑女,鐘鼓樂之。
</poem>
|
<poem>
Quan quan thư cưu, tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.
Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục.
Du tai du tai, triển chuyển phản trắc.
Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi.
Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi.
</poem>
|}
</pre>
==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn==
Việt dịch toàn văn, giữ nguyên định dạng:
===Dịch lịch sử===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ.
===Dịch kinh Phật, kinh Thi===
Dịch đoạn văn sang tiếng Việt theo yêu cầu sau: các đoạn văn xuôi dịch ngắn gọn, không giải thích. Các bài thơ, bài kệ dịch thành 2 bản, bản 1 theo đúng cú pháp nguyên văn, bản 2 theo thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ đúng âm luật, âm hưởng trang trọng. Giữ đúng bố cục, không lược bỏ.
===Dịch y học===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ.
bxn0y7i3pitz87phwldat0m35o4iqiz
204933
204932
2026-04-29T09:43:58Z
Mrfly911
2215
/* Đạo giáo */
204933
wikitext
text/x-wiki
== Các tài liệu đóng góp và tham khảo ==
===Nho giáo===
* [[:zh:詩經]] - [[Biên dịch:Kinh Thi]]
* [[:zh:禮記/大學 (證釋本)]] - [[Biên dịch:Đại Học]]
* [[:zh:禮記/中庸]] - [[Biên dịch:Trung Dung]]
* [[Luận ngữ]]
* [[:zh:孟子]] - [[Biên dịch:Mạnh Tử]]
* [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[w:Bách gia tính]] (có đủ trên Wikipedia)
* [[Biên dịch:Thiên tự văn]]
===Đạo giáo===
* [[Đạo Đức kinh]]
* [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]]
* [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]]
* [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]]
===Y dược===
* [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]]
* [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]]
* [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]]
* [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]]
* [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]]
* [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]]
* Nam dược thần hiệu (南藥神效)
* Hồng Nghĩa giác tư y thư
* Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領)
* [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]]
* [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]]
* [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]]
* [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]]
* [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]]
* [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]]
* [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]]
{{Kinh điển Phật giáo}}
==Lịch sử==
{{Nhị thập tứ sử}}
=== Hán (206 TCN - 9)===
* [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]]
** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]]
** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]]
* [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]]
** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾)
* [[Tác gia:Tư Mã Thiên]]
** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]]
*** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]]
** [[:zh:素王妙論]]
** [[:zh:悲士不遇賦]]
** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944)
** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch)
** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]])
* [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]]
** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]]
* [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]]
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
===Đông Hán (25–220)===
* [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]]
** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]]
*[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]]
----
* [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]]
** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]]
=== Tào Ngụy ===
* [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360)
=== Đông Ngô ===
* [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]]
* [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]]
** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]]
** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]]
=== Tấn ===
* [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]]
----
* [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]]
** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]]
* [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]]
** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]]
===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)===
* [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]]
** KINH (經)
*** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển
***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển
*** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng)
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển)
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển
** LUẬT (律)
*** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển
** LUẬN (論) & PHÁP (法)
*** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển
*** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển
*** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp)
** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP
*** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển
----
* [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]]
** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]]
**:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng.
** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]]
----
* [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442)
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
===Nam–Bắc triều (420–589)===
==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ====
* [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]]
=== Đường 618–907)===
* [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]]
* [[Lữ ngụ An Nam]]
* [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]]
* [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]]
* [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]]
* [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]]
** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]]
** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]]
----
* [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]]
* [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713)
** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]]
** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762)
** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]]
* [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]]
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]])
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]])
===Ngũ đại Thập quốc (907–979)===
* [[Tân Ngũ Đại sử]]
===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)===
* [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178)
* [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186)
* [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]]
* [[Tục tư trị thông giám]]
* [[Tư trị thông giám trường biên]]
=== Trần # Nguyên (1260–1368)===
* [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]]
* [[:zh:安南志畧]]
** [[Biên dịch:An Nam chí lược]]
* [[Biên dịch:Nguyên sử]]
** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]]
*[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]]
**Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]]
* [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]]
=== Trần - Lê # Minh (1368–1644)===
* [[:zh:越史略|越史略]]
** [[Biên dịch:Việt sử lược]]
* [[Biên dịch:Minh thực lục]]
** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]]
*** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]]
* [[Biên dịch:Minh sử]]
** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]]
* [[Bình An Nam chiếu]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]]
* [[:zh:殊域周咨錄]]
** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]]
* [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]]
* [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]]
* [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội]
=== Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)===
* [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]]
* [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]]
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]]
***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]]
*** ...
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]]
* [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]]
** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]]
*[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
**[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
*[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]]
**[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]]
*[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
*[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
* [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]]
* [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]]
* [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]]
* [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]]
----
====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành====
* [[:zh:欽定古今圖書集成]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]])
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]]
==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu==
<nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki>
hoặc
<pre>
<inputbox>
type=search
width=30
placeholder=Tìm trong trang này
searchbuttonlabel=Tìm
fulltext=false
prefix={{FULLPAGENAME}}
</inputbox>
</pre>
==Cú pháp==
<pre>{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}</pre>
<pre>
{| align="center"
! Nguyên văn chữ Hán
! Phiên âm Hán Việt
|-
|
<poem>
關關雎鳩,在河之洲。
窈窕淑女,君子好逑。
參差荇菜,左右流之。
窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。
悠哉悠哉,輾轉反側。
參差荇菜,左右采之。
窈窕淑女,琴瑟友之。
參差荇菜,左右芼之。
窈窕淑女,鐘鼓樂之。
</poem>
|
<poem>
Quan quan thư cưu, tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.
Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục.
Du tai du tai, triển chuyển phản trắc.
Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi.
Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi.
</poem>
|}
</pre>
==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn==
Việt dịch toàn văn, giữ nguyên định dạng:
===Dịch lịch sử===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ.
===Dịch kinh Phật, kinh Thi===
Dịch đoạn văn sang tiếng Việt theo yêu cầu sau: các đoạn văn xuôi dịch ngắn gọn, không giải thích. Các bài thơ, bài kệ dịch thành 2 bản, bản 1 theo đúng cú pháp nguyên văn, bản 2 theo thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ đúng âm luật, âm hưởng trang trọng. Giữ đúng bố cục, không lược bỏ.
===Dịch y học===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ.
omaagy3rd8ftr4lqjch6w84z08v1lzl