Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.47.0-wmf.2
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Tác gia:Phạm trọng yêm
102
71595
205336
203250
2026-05-12T14:41:46Z
~2026-28721-59
20179
205336
wikitext
text/x-wiki
{{delete|tên sai chính tả}}
{{tác gia
| họ-tên = Phạm Trọng Yêm
| họ = Phạm
| tên = Trọng Yêm
| chữ đầu tên = Y
| năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp-->989
| năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp-->1054
| mô tả = người Ngô Huyện (nay thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc). Ông là người chính trực có khí tiết, từng nói: “Kẻ sĩ phu phải lo trước thiên hạ mà vui sau thiên hạ”. Ông từng trấn thủ biên cương rất có uy vọng, người Khương gọi ông là Long đầu lão tử, không dám xâm phạm biên cương. Bài từ của ông không nhiều song với nhiệt tình ái quốc và khâm hoài hào tráng đó, thực đã khai thác cảnh giới cho Tô Đông Pha, và Tân Khí Tật vậy. Từ của ông rất hào hùng.
}}
==Tác phẩm==
[[Giang thượng ngư giả]],wikisource dịch
[[Ngư gia ngạo - Thu tứ]],wikisource dịch
[[Ngự nhai hành - Thu nhật hoài cựu]],wikisource dịch
[[Nhạc Dương lâu ký ]],wikisource dịch
[[Phó Đồng Lư quận Hoài thượng ngộ phong]],wikisoure dịch
[[Tô mạc già]],wikisoure dịch
<!-- vui lòng ghi giấy phép của tác gia ở đây, xem [[Trợ giúp:Thẻ bản quyền]] -->
{{kiểm soát tính nhất quán}}
hykwqhzs7snkuu72bqwcc48cq9fhrhk
Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo
10
71854
205347
204399
2026-05-13T10:45:09Z
Mrfly911
2215
205347
wikitext
text/x-wiki
<noinclude>'''Kinh điển Phật giáo''' có số lượng cực kỳ lớn, thậm chí xưa lấy 84.000 để ước chừng tượng trưng về số lượng pháp uẩn. Kinh văn Phật giáo truyền miệng hoặc được viết ở trên giấy mực được chia theo nội dung làm ba loại là Kinh, Luật và Luận. {{wikipediaref}}</noinclude>
{{Navbox
| name = Kinh điển Phật giáo
| title = [[Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo|Kinh điển Phật giáo]]
| state = {{{state|autocollapse}}}
| listclass = hlist
| image =
| group1 = Kinh
| list1 = {{Navbox|child
| group1 = A hàm bộ
| list1 =
* [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh|Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh|Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]]
* [[Pháp cú kinh]]
* [[Từ kinh]]
* [[Bản sinh kinh]]
* [[Tứ niệm xứ kinh]]
* [[Đại-bát Niết-bàn kinh]]
| group2 = Bát nhã bộ
| list2 =
* [[Đại phẩm bát-nhã kinh]]
* [[Tiểu phẩm bát-nhã kinh]]
* [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]]
* [[Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh]]
* [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]]
| group3 = Pháp hoa bộ
| list3 =
* [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Pháp Hoa kinh]]
* [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Kinh Phổ Môn]]
* [[Thập địa kinh]]
| group4 = Hoa nghiêm bộ
| list4 =
* [[Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh|Hoa Nghiêm kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]]
| group5 = Bảo tích & Tịnh độ
| list5 =
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Vô Lượng Thọ Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|A Di Đà Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]]
* [[Thắng Man kinh]]
* [[Niết bàn kinh]]
| group6 = Kinh tập bộ
| list6 =
* [[Biên dịch:Tứ thập nhị chương kinh|Tứ thập nhị chương kinh]]
* [[Duy-ma-cật sở thuyết kinh]]
* [[Giải thâm mật kinh]]
* [[Nhập Lăng-già kinh]]
* [[Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh|Lăng-nghiêm kinh]]
* [[Viên Giác Kinh]]
* [[Kim quang minh tối thắng vương kinh|Kim quang minh kinh]]
* [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Kinh Dược Sư]]
* [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Dược Sư Thất Phật Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Di Lặc Hạ Sinh Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]]
* [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh|Như Lai Tạng Kinh]]
* [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Vấn Bồ Đề Kinh]]
* [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]]
* [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]]
* [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]]
* [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]]
| group7 = Mật giáo bộ
| list7 =
* [[Đại Nhật kinh]]
* [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni]]
* [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]]
* [[Tô tất địa yết la kinh]]
}}
| group2 = Luật
| list2 =
* [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Giới Bản]]
* [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Kinh]]
| group3 = Luận
| list3 =
* [[A-tì-đạt-ma]]
* [[Trung quán luận]]
* [[Thành duy thức luận]]
* [[Duy thức nhị thập tụng]]
* [[Du-già sư địa luận]]
* [[Nhiếp đại thừa luận]]
* [[A-tì-đạt-ma câu-xá luận|Câu-xá luận]]
* [[Đại thừa khởi tín luận]]
* [[Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận|Bảo tính luận]]
* [[Bồ-đề đạo đăng luận]]
* [[Nhập Bồ-đề hành luận]]
* [[Tập Bồ Tát học luận]]
* [[Tập lượng luận]]
* [[Nhiếp chân thật luận]]
* [[Thanh tịnh đạo luận]]
| group4 = Khác & Sử truyện
| list4 =
* [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]]
* [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Kinh Tự]]
* [[Biên dịch:Hiển Tông Ký|Hiển Tông Ký]]
* [[Biên dịch:Hồng danh bảo sám|Hồng danh bảo sám]]
* [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]]
* [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thọ Bồ Tát Truyện]]
* [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]]
| below = Các kinh điển này phần lớn thuộc bộ [[:zh:大正新脩大藏經|Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh]].
}}<noinclude>
[[Thể loại:Phật giáo]]
</noinclude>
pnsyosuz1ji40d03lb3krdrgh02j2s3
Trang:Tien bac bac tien.pdf/56
104
72229
205337
2026-05-13T10:10:08Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
205337
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 54 —|}}</noinclude>Bịnh Bá-Vạn coi càng ngày càng nặng, mà Đỗ-Thị trông Thái-Thường không thấy ra. Đến chiều bữa sau mới sai Như Bình đi kêu. Tối lại Thái-Thường ra tới nói rằng mình mắc gác nhà-thương nên không ra thường được và khuyên Đỗ-Thị rước Thầy thuốc Tây ngoài Saigon đặng gần-gũi cho tiện.
Đỗ-Thị nghe lời sáng bữa sau rước Thầy-thuốc Tây trị bịnh cho chồng. Bá-Vạn uống thuốc gần nửa tháng mà bịnh cũng chưa dảm, lại cũng không thấy mặt Thái-Thường ra thăm viếng. Khách đến thăm ai hỏi vì sao Thái-Thường không trị bịnh cho cha vợ, thì Đỗ-Thị nói rằng: « Nó mắc coi nhà-thương, làm sao bỏ mà đi cho đặng. »
Bữa nọ bịnh Bá-Vạn trở nặng quá vợ con đều khóc hết thảy. Lý-như-Bình thấy vậy mới viết thơ rồi sai đứa ở đi vô Chợlớn mà cho Thái-Thường hay. Thái-Thường ra tới liền nắm tay chẩn mạch rồi lắc đầu nói rằng: « Sợ không xong. » Đỗ-Thị nghe mấy lời ấy thì nhào lăn mà khóc, nghe rất thảm thiết. Thanh-Kiều với Thanh-Huê cũng khóc rống lên, làm cho Thái-Thường với Như-Bình động lòng dắc nhau bước ra ngoài.
Đêm ấy đúng 4 giờ khuya thì Bá-Vạn tắt hơi.<noinclude></noinclude>
38qb06h156oq6ya7sr1gem04n0cjy06
Trang:Tien bac bac tien.pdf/57
104
72230
205338
2026-05-13T10:10:09Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
205338
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 55 —|}}</noinclude>Bà Phủ Khánh-Long nghe em chết lật-đật ra thăm. Bà thấy em dâu với mấy cháu níu bà mà khóc thì bà động lòng nên cũng khóc theo, song khóc một hồi rồi bà mắng nhiếc Bá-Vạn dại-dột không nghe lời bà, bày tranh cử Hội-đồng làm chi cho tốn hao bạc tiền rồi buồn rầu đến nỗi bỏ mạng.
Hiếu-Liêm hay tin chẳng lành ấy thì lật-đật lên Tân-Định mà tỏ lời phân ưu cùng Đỗ-Thị và bữa tống-táng Bá-Vạn anh ta cũng xin phép nghỉ dạy học đặng đi đưa. Anh ta ngó thấy Thầy-thuốc Thái-Thường thì trong lòng không vui mà lại hổ thẹn, bỡi vậy hễ Thái-Thường lại gần thì anh ta day mặt chỗ khác.
Còn Thái-Thường tuy trên nón có quấn một miếng nỉ đen, nhưng mà từ khi động quan phát hành cho tới hồi hạ khoán, mặt mày hớn-hở luôn luôn chẳng hề có sắc bi ai, bỡi vậy người không quen biết thì chẳng ai dè là rể của Bá-Vạn.
{{vạch tùy chỉnh|Fancy4|50}}<section end="III"/>
<section begin="IV"/>{{g|{{lớn|'''IV'''}}}}
Tranh cử Hội-đồng tốn hao hơn 2 muôn rưỡi đồng bạc, rồi kế chồng đau chạy thuốc gần một tháng và chồng chết lo tống táng nữa, bỡi<noinclude></noinclude>
952bpa3yhn9p9tof6adgm2pphqrv87e
Trang:Tien bac bac tien.pdf/58
104
72231
205339
2026-05-13T10:10:11Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
205339
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 56 —|}}</noinclude>vậy Đỗ-Thị chôn chồng rồi thì trong tủ sắt không còn đến một trăm đồng bạc. Đỗ-Thị rầu buồn nỗi nợ nần, phần chồng vay của chà xã-tri một muôn, còn phần bà vay riêng của bà đội Thinh ba ngàn, bây giờ biết lấy chi mà trả.
Đến bữa cúng thất mà bà không thấy Thái-Thường ra. Chiều lại bà sai Như-Bình vô Chợlớn biểu Thái-Thường ra cho bà nói chuyện.
Như-Bình, Thái-Thường và Thanh-Huê tựu đủ rồi Đỗ-Thị mới tỏ thiệt việc nhà cho con rể biết, rồi hỏi chúng nó coi bây giờ phải liệu lẽ nào.
Thái-Thường ngồi hút thuốc, bộ vui-vẻ như thường, song không nói chi hết.
Như-Bình ngó vợ rồi nói rằng: « Thưa má, nhà nầy thuở này ăn xài quá độ. Nếu muốn trả nợ cho được thì mỗi người phải tiện tặn mà cũng phải lo làm ăn nữa mới được ».
Đỗ-Thị thở dài rồi nói rằng:
— Tao thuở nay sung sướng quen rồi, bây giờ mầy biểu tao đi mua gánh bán bưng tao làm sao đặng.
— Phải rán chớ.
— Dầu mẹ con tao có làm ăn đi nữa, lại có lời đủ mà trả nợ hay sao?
{{nop}}<noinclude></noinclude>
6149zw7ox9n875q7fuw1wcpw00z9plw
Trang:Tien bac bac tien.pdf/59
104
72232
205340
2026-05-13T10:10:14Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
205340
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 57 —|}}</noinclude>— Con tính như vầy: bây giờ ba với má mắc nợ hết thảy là 13 ngàn đồng. Má bán cái xe hơi với mấy bộ hột xoàn có lẽ đủ trả cho bà đội Thinh được. Còn mối nợ của xã-tri một muôn thì mà bán hết nhà đất và đồ đạc trong nhà chắc là đủ trả.
— Ủa! Mầy tính như vậy rồi mẹ con tao ra ngoài chợ mà ở hay sao?
— Con tính đó là tính phỏng, chớ nếu má bán hết gia tài thì trả nợ rồi có lẽ cũng còn dư được chút đỉnh. Má mướn một căn phố nhỏ nhỏ mà ở rồi dùng số bạc dư ấy làm vốn mà ở rồi dùng số bạc dư ấy làm vốn mua bán chắc cũng đủ ăn mà.
Thanh-Huê nãy giờ ngồi lặng thinh, tưởng là có sầu não quá không nói được, chẳng dè có suy nghĩ bây giờ cha mẹ nghèo rồi, cô không nhờ cậy xin xỏ được nữa, nên có tức rồi vùng nói rằng: « Giàu rồi mà còn sanh sự muốn làm Hội-đồng chi vậy không biết! Mà tính sao thì má tính. Phần tôi thì tôi không lo, hễ túng tiền tôi vô cô Phủ tôi xin tôi xài. »
Đỗ-Thị nghe dọng nói của Thanh-Huê thì giận lắm, nên liếc ngó rồi mắng rằng: « Mầy là đồ khốn nạn! Mầy lo cho phận mầy mà thôi, tao chết trối kệ tao hả? »
{{nop}}<noinclude></noinclude>
3dyl5w3x4gthi4d74l99y03v9jhwwby
Trang:Tien bac bac tien.pdf/60
104
72233
205341
2026-05-13T10:10:16Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
205341
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 58 —|}}</noinclude>Thanh-Huê đứng dậy bỏ đi ra nhà sau. Đỗ-Thị buồn tủi nên kéo gối mà nằm, không thèm nói nữa.
Thái-Thường đứng dậy từ mà về.
Qua ngày sau Đỗ-Thị dắc Thanh-Kiều vô lạy-lục khóc-lóc xin bà Phủ Khánh-Long giúp tiền đặng trả nợ cho chồng, nói rằng nếu không giúp thì chắc họ kiện, rồi thi-hành phát-mãi nhà cữa xấu hổ lắm.
Bà Phủ hú một cái rồi gio-dảnh nói rằng: « Mầy cũng là đồ hư lắm! Tại mầy muốn làm bà Hội-đồng, mầy xúi giục chồng mầy, nên bây giờ mới tàn mạt đó đa! Mầy biểu tao cứu mầy há! Hồi trước mầy chưng mầy là con nhà trâm-anh, còn mày chê tao là đồ vợ Tây vợ Tà. Thứ vợ Tây mà có tài gì nên cứu con nhà trâm-anh cho được. Thôi, thôi, đừng có lạy-lục chi hết. Về tính lấy, tao không biết đâu. »
Bà Phủ nói mấy lời rồi ngoe-ngoảy bỏ đi vô buồng mà nằm. Đỗ-Thị liệu thế nói nữa cũng vô ích, nên lau nước mắt rồi mẹ con dắc nhau đi về.
Nợ không trả vốn mà cũng không trả lời, nên cách ít ngày chà xã-tri với bà đội<noinclude></noinclude>
3dlhkimj1bjuccd801w6nvk6p2tfxyl
Trang:Tien bac bac tien.pdf/61
104
72234
205342
2026-05-13T10:10:18Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
205342
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 59 —|}}</noinclude>Thinh đều vào đơn trên Tòa mà kiện, rồi biên tịch tài sản định ngày phát mãi.
Đỗ-Thị gởi thơ ra Hà-Nội cho Bá-Kỳ hay, rồi lén dọn một ít món đồ quí mà gởi cho Như-Bình. Đỗ-Thị với Thanh-Kiều ban ngày cũng như ban đêm, cứ ngồi khóc hoài, tính ở lì tại đó chừng nào họ bán nhà rồi sẽ về ở đậu với thằng rể lớn. Còn Thái-Thường thì biệt tăm tích, không thấy tới lui nữa; có bữa Đỗ-Thị sai Như-Bình và kêu, anh ta cũng không thèm ra.
Bữa nọ, ăn cơm chiều rồi, Đỗ-Thị nằm gác tay qua trán mà lo tính việc nhà. Trời sẫm trong nhà đã tối rồi mà bà không chịu vặn đèn lên. Thình-lình bà Phán Quí ở ngoài bước vô hỏi rằng: « Ủa! Nhà đi đâu mất hết, mà tối rồi chưa đốt đèn, để tối mò như vầy nè? »
Đỗ-Thị lồm-cồm ngồi dậy vặn đèn lên, lật-đật chào hỏi rồi mời chị sui ngồi.
Bà Phán Quí dòm cùng trong nhà rồi hỏi rằng: « Con nhỏ nó đi đâu vắng vậy chị? »
Hổm nay Đỗ-Thị thấy Thái-Thường không tới lui, đến nỗi cho kêu cũng không chịu ra, thì có bụng nghi Thái-Thường thấy nhà mình nghèo rồi nên anh ta muốn bội ước. Nay có<noinclude></noinclude>
n58d6g0he56pnuk4eye8v9l0we2zoeu
Trang:Tien bac bac tien.pdf/62
104
72235
205343
2026-05-13T10:10:20Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
205343
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 60 —|}}</noinclude>bà Phán đến thăm, lại vừa mới ngồi liền hỏi con dâu đi đâu, thì Đỗ-Thị mừng thầm, nên lật-đật kêu Thanh-Kiều.
Thanh-Kiều ở nhà sau, mà nghe nói có bà Phán, cô không chịu ra mặt, nên sai gia-dịch lên thưa dối rằng có đã đi xuống Đất-Hộ mà thăm cô hai Thanh-Huê chưa về.
Đỗ-Thị muốn sai đứa ở chạy đi kêu. Bà Phán cản mà nói rằng: « Thôi, thôi, kêu làm chi; tôi thấy vắng nên tôi hỏi vậy chớ. May không có nó ở nhà, vậy mình nói chuyện mới thong thả. »
Bà Phán têm trầu mà ăn và nói rằng: « Hổm nay tôi muốn ra nói chuyện chơi với chị đặng chị giải khuây, ngặt trong mình không được mạnh nên không đi được..... Thiệt chị vô phước quá, ai thấy vậy cũng thương. Tôi xét phận tôi đây thì tôi biết, hồi ông Phán ở nhà ổng mất tôi buồn rầu biết chừng nào, bởi vậy bây giờ tôi thấy phận chị tôi thương quá. Ảnh sức mạnh lắm, chớ phải là yếu đuối gì đó sao, mà đau sơ-sịa có mấy bữa rồi ra như vậy! »
Đỗ-Thị hít mũi rồi đáp rằng: « Bịnh của ở nhà tôi thì có thấy chỗ gì nặng lắm đâu. Tôi chắc là tại ổng thất cử ổng buồn rầu rồi bịnh nó dồi-dập thêm, nên mới hại như vậy đó. »
{{nop}}<noinclude></noinclude>
jp7s34fu3a9aj02eo3adczmg4snjk8b
Trang:Tien bac bac tien.pdf/63
104
72236
205344
2026-05-13T10:10:23Z
Lcsnes
11706
/* Chưa hiệu đính */ [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “Bà Phán ngồi xích lại gần rồi hỏi nhỏ rằng: « Tôi nghe họ đồn anh mất để nợ đến hai ba muôn đồng, bây giờ mấy chủ nợ họ ó lên họ kiện đặng bán nhà bán đất, thiệt có như vậy hay không chị? Tôi sợ họ ghét rồi họ đòn tầm bậy tầm bạ, nên tôi lật-đật ra hỏi chị đây. » Đỗ-Thị hổ thẹn nên dạy mặt chỗ khác làm bộ kiếm cái khăn và nó…”
205344
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="1" user="Lcsnes" />{{rh||— 61 —|}}</noinclude>Bà Phán ngồi xích lại gần rồi hỏi nhỏ rằng: « Tôi nghe họ đồn anh mất để nợ đến hai ba muôn đồng, bây giờ mấy chủ nợ họ ó lên họ kiện đặng bán nhà bán đất, thiệt có như vậy hay không chị? Tôi sợ họ ghét rồi họ đòn tầm bậy tầm bạ, nên tôi lật-đật ra hỏi chị đây. »
Đỗ-Thị hổ thẹn nên dạy mặt chỗ khác làm bộ kiếm cái khăn và nói nhỏ nhỏ rằng:
— Chuyện họ nói đó cũng có. Lúc ra tranh cử Hội-đồng tốn hao nhiều quá nên ông có vay thêm hết 13 ngàn. Hôm trước tôi có nói chuyện với thằng Thầy-Thuốc. Vậy chớ nó không có nói lại cho chị nghe hay sao? »
— Cơ khổ! Nó có nói ở đâu!
— Bây giờ chủ nợ họ đã vô đơn họ kiện rồi. Tôi tính để tôi bán cái nhà nầy mà trả dứt nợ cho họ, rồi tôi kiếm mua một cái nhà nhỏ nhỏ tôi ở; ổng mất rồi, nay mai đây con tư lấy chồng thì nó theo chồng, còn thằng ba tôi nó đi học, sau nó có về thì nó đi làm việc, tôi có một mình ở nhà lớn minh-mông cũng không ích gì.
— Ảnh mất mà việc nhà chị bối-rối thiệt tội nghiệp quá!
Bà Phán ngồi lặng thinh một hồi rồi nói tiếp<noinclude></noinclude>
lp9y2inbh6heq6a2nf5mxmqaerikt5l
Trang:Tien bac bac tien.pdf/64
104
72237
205345
2026-05-13T10:10:25Z
Lcsnes
11706
/* Đã hiệu đính */
205345
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 62 —|}}</noinclude>rằng: « Tôi ra đây thiệt trước thăm chị, sau tôi nói chuyện sấp nhỏ luôn thể. »
Đỗ-Thị tưởng bà Phán nói ngày cưới nên lóng tai nghe, chẳng dè bà Phán lại nói rằng: « Mấy tháng nay chị đã biết bụng tôi, thiệt tôi thương con tư lắm. Tôi không hiểu tại cớ nào mà hôm trước thằng Thầy-Thuốc nó về nó nói với tôi nó muốn đi Tây học nữa chớ nó không chịu cưới vợ. Tôi rầy la nó hết sắc mà nó không nghe lời. Có con đời nầy khó quá, nó muốn ngang nào được ngang nấy, thiệt tôi không biết làm sao được, nên tôi ra cho chị hay coi chị tính lẽ nào. »
Đỗ-Thị nghe nói giận quá, song bà dằn lòng tỉnh táo mà đáp rằng: « Chị nói mấy lời tôi đủ hiểu rồi. Ông Thầy-thuốc ông thấy mẹ con tôi bây giờ suy sụp rồi, nên ông tính hồi hôn đặng ổng đi kiếm con nhà giàu ông cưới chớ gì. Con trai đời nầy chú nào cũng vậy hết thảy, cứ ham tiền bạc chớ không kể gì là nhơn nghĩa. »
Bà Phán có con làm đến Thầy-thuốc thì bà trọng lắm, coi thiên hạ không ai bằng, bỡi vậy bà nghe Đỗ-Thị nhiếc con bà ham giàu thì bà phiền nên cười gằn mà đáp rằng:
— Chị đừng có nói như vậy. Tôi biết bụng<noinclude></noinclude>
l0hvd7glo2kr80a1j1am49yn05xbgam
Tiền bạc, bạc tiền/III
0
72238
205346
2026-05-13T10:10:28Z
Lcsnes
11706
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = [[../]] | tác giả = Hồ Biểu Chánh | ghi đè tác giả = | dịch giả = | phần = III | trước = [[../II|II]] | sau = [[../IV|IV]] | ghi chú = }} <pages index="Tien bac bac tien.pdf" from=42 to=57 fromsection="III" tosection="III" />”
205346
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = [[../]]
| tác giả = Hồ Biểu Chánh
| ghi đè tác giả =
| dịch giả =
| phần = III
| trước = [[../II|II]]
| sau = [[../IV|IV]]
| ghi chú =
}}
<pages index="Tien bac bac tien.pdf" from=42 to=57 fromsection="III" tosection="III" />
o3s8f79uaqnkhdmu6j492rbdvxcv2uw
Biên dịch:Tứ thập nhị chương kinh
114
72239
205348
2026-05-13T11:02:18Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Tứ thập nhị chương kinh | tác giả= Kasyapa Matanga; Dharmaratna | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 四十二章經 (譯本一) | năm= [[w:Nhà Hán|Đông Hán]] | phần = | trước= | sau= | ghi chú= '''Tứ thập nhị chương kinh''' (chữ Hán: 四十二章經, Kinh Bốn mươi hai chương') thường được xem là bộ kinh Phật giáo đầu tiên của Ấn Độ được dịch…”
205348
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Tứ thập nhị chương kinh
| tác giả= Kasyapa Matanga; Dharmaratna
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 四十二章經 (譯本一)
| năm= [[w:Nhà Hán|Đông Hán]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= '''Tứ thập nhị chương kinh''' (chữ Hán: 四十二章經, Kinh Bốn mươi hai chương') thường được xem là bộ kinh Phật giáo đầu tiên của Ấn Độ được dịch sang chữ Hán. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thực chất bộ tuyển tập nhỏ những lời Phật thuyết này có thể đã xuất hiện một thời gian sau những bản dịch bản ngữ đầu tiên được chứng thực, và thậm chí có thể đã được biên soạn ở Trung Á hoặc Trung Quốc. Theo truyền thống, nó được dịch bởi hai nhà sư Nguyệt Chi là Kasyapa Matanga (迦葉摩騰) và Dharmaratna (竺法蘭), vào năm 67. Do sự liên kết của nó với sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc, nên bộ kinh này có một địa vị rất quan trọng trong truyền thống Phật giáo ở Đông Á. {{Wikipediaref}}
Bản dịch này dựa theo dịch bản 1 thuộc Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新修大正藏經).
}}
<center><big>KINH TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG</big></center>
===TỰA KINH===
Thế Tôn thành đạo rồi, tư duy rằng: "Lìa dục tịch tĩnh là tối thắng hơn cả; trụ đại Thiền định, hàng phục các ma đạo." Tại vườn Lộc Dã, Ngài chuyển pháp luân Tứ Đế; độ nhóm ông Kiều Trần Như năm người mà chứng đạo quả. Lại có các Tỳ-kheo nêu những điều nghi vấn, cầu Phật chỉ dạy việc nên làm hay nên dừng. Thế Tôn giáo sắc, mỗi mỗi đều được khai ngộ; họ chắp tay kính vâng, thuận theo lời dạy của bậc Tôn sư.
===Chương 1: Xuất gia chứng quả===
Đức Phật dạy: Từ biệt người thân đi xuất gia, biết tâm đạt được gốc rễ, hiểu pháp vô vi, gọi là Sa-môn. Thường hành hai trăm năm mươi giới, tiến thoái thanh tịnh, tu hành bốn đạo chân đế mà thành bậc A-la-hán. Bậc A-la-hán có thể phi hành biến hóa, thọ mạng lâu dài nhiều kiếp, khi ở khi đi làm động cả trời đất. Bậc kế đó là A-na-hàm. Bậc A-na-hàm khi mạng chung, linh thần lên tầng trời thứ mười chín mà chứng quả A-la-hán. Bậc kế đó là Tư-đà-hàm. Bậc Tư-đà-hàm một lần lên trời, một lần trở lại nhân gian thì đắc quả A-la-hán. Bậc kế nữa là Tu-đà-hoàn. Bậc Tu-đà-hoàn trải qua bảy lần sinh bảy lần chết liền chứng quả A-la-hán. Người đoạn trừ được ái dục thì như tứ chi đã đoạn, không còn dùng đến nữa.
===Chương 2: Đoạn dục tuyệt cầu===
Đức Phật dạy: Bậc Sa-môn xuất gia thì đoạn dục khử ái, nhận rõ nguồn tâm mình; thông đạt lý sâu của Phật, ngộ pháp vô vi. Bên trong không sở đắc, bên ngoài không sở cầu; tâm không buộc vào đạo, cũng không kết nghiệp. Không niệm không làm, chẳng tu chẳng chứng. Không trải qua các vị thứ mà tự mình cao tột, gọi đó là Đạo.
===Chương 3: Cắt ái lìa tham===
Đức Phật dạy: Cạo bỏ râu tóc mà làm Sa-môn. Người thọ đạo pháp thì bỏ hết tài sản thế gian, đi khất thực vừa đủ dùng. Ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây, thận trọng chớ làm thêm lần thứ hai! Thứ khiến con người ngu muội che lấp chính là ái và dục.
===Chương 4: Thiện ác cùng rõ===
Đức Phật dạy: Chúng sinh lấy mười việc làm thiện, cũng lấy mười việc làm ác. Mười việc đó là gì? Thân có ba, miệng có bốn, ý có ba. Thân ba là: sát sinh, trộm cắp, dâm dục. Miệng bốn là: nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói dối, nói thêu dệt. Ý ba là: ganh ghét, giận dữ, ngu si. Mười việc như thế không thuận thánh đạo, gọi là mười hạnh ác. Nếu dừng được những ác đó, gọi là mười hạnh thiện vậy.
===Chương 5: Chuyển nặng thành nhẹ===
Đức Phật dạy: Người có nhiều lỗi mà không tự hối cải để chấm dứt ngay tâm ấy, thì tội lỗi đổ về thân như nước chảy về biển, dần dần thành sâu rộng. Nếu người có lỗi, tự biết là sai, bỏ ác làm thiện thì tội tự tiêu diệt. Như người bệnh được xuất mồ hôi, bệnh sẽ dần dần thuyên giảm vậy.
===Chương 6: Nhẫn ác không giận===
Đức Phật dạy: Kẻ ác nghe người làm thiện mà cố đến quấy nhiễu, ông hãy tự kiềm chế, đừng nên giận trách. Kẻ đem điều ác đến, sẽ tự mình nhận lấy điều ác đó.
===Chương 7: Ác trả lại thân===
Đức Phật dạy: Có người nghe Ta giữ đạo, thực hành lòng nhân từ lớn, nên cố ý đến mắng Phật. Phật im lặng không đáp. Khi người đó mắng xong, Phật hỏi: "Ông đem lễ vật tặng người, người ấy không nhận thì lễ vật đó có về lại ông chăng?". Đáp rằng: "Về lại chứ!".
Phật dạy: "Nay ông mắng Ta, Ta nay không nhận; ông tự mang họa về thân ông vậy!". Giống như vang ứng theo tiếng, bóng đi theo hình, rốt cuộc không thể rời nhau. Thận trọng chớ làm điều ác!
===Chương 8: Phun nhổ tự bẩn===
Đức Phật dạy: Kẻ ác hại người hiền giống như ngửa mặt lên trời mà nhổ; nước nhổ không tới trời, lại rơi xuống mình. Ngược gió tung bụi, bụi không tới người kia, lại làm bẩn thân mình. Người hiền không thể hủy hoại, họa tất sẽ diệt chính mình.
===Chương 9: Trở về nguồn cội, hội nhập đạo===
Đức Phật dạy: Nghe rộng, yêu đạo thì đạo ấy ắt khó gặp. Giữ chí, phụng đạo thì đạo ấy rất lớn lao.
===Chương 10: Vui vẻ bố thí được phúc===
Đức Phật dạy: Thấy người thực hành bố thí mà vui vẻ giúp đỡ thì được phúc rất lớn. Một vị Sa-môn hỏi: "Phúc này có hết chăng?".
Đức Phật dạy: Ví như ngọn lửa của một bó đuốc, có hàng trăm hàng ngàn người mỗi người đều cầm đuốc đến chia nhau lấy lửa để nấu ăn hay thắp sáng, nhưng ngọn đuốc gốc vẫn như cũ. Phúc báo cũng lại như thế.
===Chương 11: Đãi cơm phúc chuyển hóa hơn kém===
Đức Phật dạy: Cho một trăm kẻ ác ăn không bằng cho một người thiện ăn. Cho một ngàn người thiện ăn không bằng cho một người trì ngũ giới ăn. Cho một vạn người trì ngũ giới ăn không bằng cho một bậc Tu-đà-hoàn ăn. Cho một triệu bậc Tu-đà-hoàn ăn không bằng cho một bậc Tư-đà-hàm ăn. Cho mười triệu bậc Tư-đà-hàm ăn không bằng cho một bậc A-na-hàm ăn. Cho một trăm triệu bậc A-na-hàm ăn không bằng cho một bậc A-la-hán ăn. Cho một tỷ bậc A-la-hán ăn không bằng cho một bậc Bích Chi Phật ăn. Cho mười tỷ bậc Bích Chi Phật ăn không bằng cho một vị Phật trong ba đời ăn. Cho trăm tỷ vị Phật trong ba đời ăn không bằng cho một bậc vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng ăn.
===Chương 12: Nêu những điều khó để khuyên tu===
Đức Phật dạy: Con người có hai mươi điều khó: Nghèo khổ mà bố thí là khó. Giàu sang mà học đạo là khó. Bỏ thân mạng quyết chết là khó. Được xem kinh Phật là khó. Sinh vào thời có Phật ra đời là khó. Nhẫn nhịn sắc dục là khó. Thấy món đồ tốt mà không cầu là khó. Bị nhục mà không giận là khó. Có quyền thế mà không cậy quyền là khó. Chạm việc mà vô tâm là khó. Học rộng cứu xét sâu là khó. Diệt trừ lòng ngã mạn là khó. Không khinh người chưa học là khó. Tâm hạnh bình đẳng là khó. Không nói chuyện thị phi là khó. Gặp được thiện tri thức là khó. Kiến tính học đạo là khó. Tùy cơ giáo hóa độ người là khó. Nhìn cảnh mà tâm không động là khó. Khéo hiểu phương tiện là khó.
===Chương 13: Hỏi về đạo và túc mệnh===
Một vị Sa-môn hỏi Phật: "Dùng nhân duyên gì để biết được túc mệnh (kiếp trước) và hội nhập được đạo chí thượng?".
Đức Phật dạy: "Giữ tâm thanh tịnh, giữ vững chí nguyện thì có thể hội nhập đạo chí thượng. Ví như lau gương, bụi bẩn đi rồi thì cái sáng còn lại; đoạn dục không cầu thì sẽ đắc được túc mệnh".
===Chương 14: Hỏi về cái thiện và cái lớn===
Một vị Sa-môn hỏi Phật: "Cái gì là thiện? Cái gì là lớn nhất?".
Đức Phật dạy: "Thực hành đạo, giữ được cái Chân là thiện; chí nguyện hợp với đạo là lớn nhất".
===Chương 15: Hỏi về sức mạnh và sự sáng suốt===
Một vị Sa-môn hỏi Phật: "Cái gì nhiều sức mạnh? Cái gì sáng suốt nhất?".
Đức Phật dạy: "Nhẫn nhục là nhiều sức mạnh, vì không ôm lòng ác, lại thêm được an ổn khỏe mạnh. Người nhẫn nhục không có lòng ác, tất được mọi người tôn kính. Tâm cấu uế đã diệt sạch, thanh tịnh không vết nhơ, đó là sáng suốt nhất. Từ khi chưa có trời đất cho đến ngày nay, mười phương tất cả không gì không thấy, không gì không biết, không gì không nghe, đạt được Nhất thiết trí; như thế có thể gọi là sáng suốt vậy!".
===Chương 16: Bỏ ái đắc đạo===
Đức Phật dạy: Người ôm lòng ái dục mà không thấy đạo, ví như nước trong bị tay khuấy động; mọi người cùng soi vào nhưng không ai thấy bóng mình. Con người vì ái dục đan xen, lòng đục nổi lên nên không thấy đạo. Các ông là Sa-môn, nên bỏ ái dục; bụi bặm ái dục sạch hết thì đạo có thể thấy vậy.
===Chương 17: Ánh sáng đến thì bóng tối lui===
Đức Phật dạy: Người thấy đạo ví như cầm đuốc đi vào phòng tối, bóng tối liền mất mà ánh sáng còn lại. Học đạo kiến tính thì vô minh liền diệt mà ánh sáng (trí tuệ) thường còn.
===Chương 18: Niệm và các pháp vốn không===
Đức Phật dạy: Pháp của Ta là niệm mà không có tướng niệm, hành mà không có tướng hành, nói mà không có tướng nói, tu mà không có tướng tu. Người hiểu thì rất gần, kẻ mê thì rất xa. Đường ngôn ngữ dứt bặt, không bị sự vật câu thúc; sai đi một ly là mất trong giây lát.
===Chương 19: Cùng quán xét cái giả và cái thật===
Đức Phật dạy: Quán trời đất, niệm là vô thường; quán thế giới, niệm là vô thường; quán linh giác, ấy là Bồ-đề. Biết được như thế thì đắc đạo rất nhanh!
===Chương 20: Suy xét cái ta vốn không===
Đức Phật dạy: Nên nghĩ trong thân có tứ đại, mỗi thứ tự có tên riêng, đều không có cái "Ta" nào cả. Cái "Ta" đã không có thì nó cũng chỉ như huyễn thuật mà thôi.
===Chương 21: Danh tiếng làm mất bản tâm===
Đức Phật dạy: Người ta chạy theo tình dục, cầu lấy danh tiếng; khi danh tiếng lẫy lừng thì thân đã tàn tạ. Tham lấy cái danh hư huyễn ở đời mà không học đạo thì chỉ uổng công nhọc xác. Ví như đốt hương, tuy người ta ngửi được mùi thơm nhưng thân hương đã cháy thành tro; ngọn lửa nguy hiểm cho thân đang theo ngay sát phía sau.
===Chương 22: Tài sắc chiêu khổ===
Đức Phật dạy: Đối với tài bảo và sắc dục, con người khó lòng buông bỏ; ví như lưỡi dao có dính chút mật, không đủ cho một bữa ăn ngon, nhưng đứa trẻ liếm vào thì có cái họa bị cắt đứt lưỡi.
===Chương 23: Vợ con hơn cả lao ngục===
Đức Phật dạy: Con người bị ràng buộc vào vợ con, nhà cửa còn hơn cả lao ngục. Lao ngục còn có kỳ hạn được tháo thả, chứ vợ con thì không ai có ý niệm muốn xa rời. Tình ái đối với sắc dục, há chẳng ngại bị sai khiến sao? Dẫu có cái họa sa vào miệng hổ, lòng vẫn cam tâm tình nguyện. Tự lao mình xuống bùn lầy để chết chìm, nên gọi là phàm phu; vượt qua được cửa này, ấy là bậc La-hán xuất trần.
===Chương 24: Sắc dục ngăn đạo===
Đức Phật dạy: Trong các thứ ái dục, không gì đáng sợ bằng sắc dục. Sự ham muốn sắc dục to lớn không gì ngoài nó. May thay chỉ có một thứ như vậy, nếu có cái thứ hai tương tự, thì khắp thiên hạ không ai có thể tu đạo được nữa!
===Chương 25: Lửa dục đốt thân===
Đức Phật dạy: Người ôm lòng ái dục cũng như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tất sẽ có cái họa bị cháy tay.
===Chương 26: Thiên ma nhiễu Phật===
Thiên thần dâng ngọc nữ cho Phật, muốn làm lay chuyển ý chí của Ngài.
Phật dạy: "Cái túi da chứa mọi thứ dơ bẩn, ngươi đến đây làm gì? Đi mau! Ta không dùng đâu." Thiên thần càng thêm kính trọng, bèn hỏi về ý đạo. Phật vì ông thuyết pháp, ông liền đắc quả Tu-đà-hoàn.
===Chương 27: Không dính mắc đắc đạo===
Đức Phật dạy: Người tu đạo ví như khúc gỗ dưới nước, trôi theo dòng mà đi, không chạm vào hai bờ, không bị người ta vớt lấy, không bị quỷ thần ngăn trở, không bị dòng xoáy giữ lại, cũng không bị mục nát; Ta bảo đảm khúc gỗ này nhất định sẽ ra đến biển. Người học đạo không bị tình dục làm mê lầm, không bị các thứ tà ngụy quấy nhiễu, tinh tấn tu pháp vô vi; Ta bảo đảm người này nhất định đắc đạo vậy!
===Chương 28: Đừng buông lung ý ngựa===
Đức Phật dạy: Thận trọng chớ tin ý ông, ý ông không thể tin được; thận trọng chớ cùng sắc dục gặp gỡ, gặp gỡ sắc dục thì họa liền sinh. Chứng được quả A-la-hán rồi, mới có thể tin được ý ông.
===Chương 29: Chính quán chống lại sắc dục===
Đức Phật dạy: Thận trọng chớ nhìn nữ sắc, cũng đừng nói năng cùng nhau. Nếu phải nói chuyện, hãy chính tâm tư duy rằng: "Ta là bậc Sa-môn sống trong đời đục, phải như hoa sen, chẳng bị bùn làm ô nhiễm." Tưởng người già như mẹ, người lớn tuổi hơn như chị, người ít tuổi hơn như em gái, trẻ nhỏ như con. Sinh lòng độ thoát, dập tắt ác niệm.
===Chương 30: Lìa xa lửa dục===
Đức Phật dạy: Người tu đạo như kẻ mang cỏ khô, thấy lửa đến phải lánh xa. Người học đạo thấy dục lạc, nhất định phải tránh xa vậy.
===Chương 31: Tâm lặng dục trừ===
Đức Phật dạy: Có người khổ vì lòng dâm không dứt, muốn tự thiến cơ quan sinh dục. Phật bảo rằng: "Cắt đứt cái đó không bằng cắt đứt tâm dâm. Tâm như quan công tào, quan công tào mà dừng thì thuộc hạ đều nghỉ cả. Tâm tà không dừng, cắt đứt cái đó có ích gì?". Phật vì đó nói kệ:
<poem>
"Dục sinh từ ý ông,
Ý do tư tưởng sinh;
Hai tâm đều tịch tĩnh,
Chẳng sắc cũng chẳng hành."
</poem>
Phật dạy: Bài kệ này là do đức Phật Ca Diếp nói.
===Chương 32: Ngã không, sợ hãi diệt===
Đức Phật dạy: Con người từ ái dục mà sinh lo âu, từ lo âu mà sinh sợ hãi; nếu lìa được ái dục thì còn gì lo âu, còn gì sợ hãi?
===Chương 33: Trí sáng phá ma===
Đức Phật dạy: Người tu đạo ví như một người chiến đấu với vạn người. Mặc giáp ra cửa, ý chí có khi khiếp nhược: hoặc nửa đường rồi lui bước, hoặc chiến đấu đến chết, hoặc chiến thắng trở về. Sa-môn học đạo nên giữ tâm kiên định, tinh tấn dũng mãnh, không sợ cảnh trước mắt, phá diệt các ma mà đắc đạo quả.
===Chương 34: Giữ mức trung đạo thì đắc đạo===
Một vị Sa-môn đêm tụng kinh Di giáo của đức Phật Ca Diếp, tiếng nghe bi thiết, khẩn trương, có ý hối hận muốn thối lui. Phật hỏi vị ấy: "Xưa kia ông ở nhà, từng làm nghề gì?". Đáp rằng: "Con thích đàn cầm".
Phật hỏi: "Dây đàn chùng thì sao?". Đáp rằng: "Không kêu ạ". "Dây đàn căng quá thì sao?". Đáp rằng: "Tiếng sẽ đứt đoạn ạ". "Căng chùng vừa mức trung bình thì sao?". Đáp rằng: "Các âm thanh đều hòa hiệp ạ".
Phật dạy: "Sa-môn học đạo cũng vậy, tâm nếu điều hòa thích hợp thì có thể đắc đạo. Đối với đạo nếu nôn nóng thì thân sẽ mệt mỏi; thân mệt mỏi thì ý sinh phiền não; ý sinh phiền não thì hành vi thối lui; hành vi đã thối lui thì tội lỗi tất tăng thêm. Chỉ cần thanh tịnh an lạc, đạo sẽ không mất vậy".
===Chương 35: Sạch cấu uế, cái sáng còn lại===
Đức Phật dạy: Như người luyện sắt, bỏ hết cặn bã mới thành dụng cụ, dụng cụ ấy sẽ tinh xảo. Người học đạo bỏ hết cấu nhiễm trong tâm, phẩm hạnh liền trở nên thanh tịnh.
===Chương 36: Lần lượt đạt được sự thù thắng===
Đức Phật dạy: Con người lìa được ác đạo, được làm người là khó. Đã được làm người, bỏ thân nữ thành thân nam là khó. Đã được thân nam, sáu căn vẹn toàn là khó. Sáu căn đã vẹn toàn, sinh ra ở vùng trung tâm (nơi có Phật pháp) là khó. Đã sinh ở vùng trung tâm, gặp thời có Phật là khó. Đã gặp thời có Phật, gặp được người có đạo là khó. Đã gặp được người có đạo, sinh được lòng tin là khó. Đã sinh lòng tin, phát tâm Bồ-đề là khó. Đã phát tâm Bồ-đề, đạt đến cảnh giới vô tu vô chứng là khó.
===Chương 37: Nhớ giới gần đạo===
Đức Phật dạy: Đệ tử Phật dù cách Ta mấy ngàn dặm mà ghi nhớ và giữ giới của Ta, tất đắc đạo quả. Ở ngay bên cạnh Ta, tuy thường thấy Ta mà không tuân theo giới luật của Ta, rốt cuộc cũng không đắc đạo.
===Chương 38: Có sinh ắt có diệt===
Phật hỏi một vị Sa-môn: "Mạng người dài bao lâu?". Đáp rằng: "Chỉ trong vài ngày".
Phật dạy: "Ông chưa hiểu đạo". Lại hỏi một vị Sa-môn khác: "Mạng người dài bao lâu?". Đáp rằng: "Chỉ trong một bữa ăn".
Phật dạy: "Ông chưa hiểu đạo". Lại hỏi một vị Sa-môn nữa: "Mạng người dài bao lâu?". Đáp rằng: "Chỉ trong một hơi thở".
Phật dạy: "Hay thay! Ông đã hiểu đạo rồi vậy".
===Chương 39: Giáo huấn không sai biệt===
Đức Phật dạy: Người học đạo Phật, những gì Phật nói đều nên tin theo. Ví như ăn mật, giữa hay rìa đều ngọt; kinh của Ta cũng lại như thế.
===Chương 40: Hành đạo tại tâm===
Đức Phật dạy: Sa-môn hành đạo, đừng như con bò quay lúa; thân tuy hành đạo mà tâm chẳng hành đạo. Nếu tâm đã hành đạo thì cần gì phải hành đạo (hình thức)?
===Chương 41: Tâm ngay thẳng lìa dục===
Đức Phật dạy: Người tu đạo như con bò chở nặng đi trong bùn sâu, mệt mỏi rã rời không dám nhìn ngó hai bên; ra khỏi bùn lầy mới có thể nghỉ ngơi. Sa-môn nên quán tình dục còn tệ hơn bùn lầy, thẳng tâm niệm đạo thì có thể thoát khổ vậy.
===Chương 42: Thấu hiểu thế gian, biết là hư huyễn===
Đức Phật dạy: Ta nhìn ngôi vị vương hầu như bụi bay qua khe cửa. Nhìn kho báu vàng ngọc như ngói sỏi. Nhìn y phục gấm lụa như vải rách. Nhìn cõi Đại thiên như hạt ha-lê-lặc. Nhìn nước ao A-nậu như dầu thoa chân. Nhìn cửa phương tiện như của báu hóa hiện. Nhìn vô thượng thừa như vàng lụa trong mộng. Nhìn Phật đạo như hoa đốm trước mắt. Nhìn thiền định như trụ núi Tu-di. Nhìn Niết-bàn như giấc ngủ ngày mới tỉnh. Nhìn sự đảo điên và chân chính như sáu con rồng múa. Nhìn sự bình đẳng như một chân địa. Nhìn sự hưng hóa đạo pháp như cây cỏ bốn mùa.
Các vị đại Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, thảy đều hoan hỷ vâng làm.
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
crhsxrbe6sreadujjzjth03y57zie5z
205349
205348
2026-05-13T11:03:44Z
Mrfly911
2215
205349
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Tứ thập nhị chương kinh
| tác giả= Kasyapa Matanga; Dharmaratna
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 四十二章經 (譯本一)
| năm= [[w:Nhà Hán|Đông Hán]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= '''Tứ thập nhị chương kinh''' (chữ Hán: 四十二章經, Kinh Bốn mươi hai chương') thường được xem là bộ kinh Phật giáo đầu tiên của Ấn Độ được dịch sang chữ Hán. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thực chất bộ tuyển tập nhỏ những lời Phật thuyết này có thể đã xuất hiện một thời gian sau những bản dịch bản ngữ đầu tiên được chứng thực, và thậm chí có thể đã được biên soạn ở Trung Á hoặc Trung Quốc. Theo truyền thống, nó được dịch bởi hai nhà sư Nguyệt Chi là Kasyapa Matanga (迦葉摩騰) và Dharmaratna (竺法蘭), vào năm 67. Do sự liên kết của nó với sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc, nên bộ kinh này có một địa vị rất quan trọng trong truyền thống Phật giáo ở Đông Á. {{Wikipediaref}}
Bản dịch này dựa theo dịch bản 1 thuộc Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新修大正藏經).
}}
<center><big>KINH TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG</big></center>
===TỰA KINH===
Thế Tôn thành đạo rồi, tư duy rằng: "Lìa dục tịch tĩnh là tối thắng hơn cả; trụ đại Thiền định, hàng phục các ma đạo." Tại vườn Lộc Dã, Ngài chuyển pháp luân Tứ Đế; độ nhóm ông Kiều Trần Như năm người mà chứng đạo quả. Lại có các Tỳ-kheo nêu những điều nghi vấn, cầu Phật chỉ dạy việc nên làm hay nên dừng. Thế Tôn giáo sắc, mỗi mỗi đều được khai ngộ; họ chắp tay kính vâng, thuận theo lời dạy của bậc Tôn sư.
===Chương 1: Xuất gia chứng quả===
Đức Phật dạy: Từ biệt người thân đi xuất gia, biết tâm đạt được gốc rễ, hiểu pháp vô vi, gọi là Sa-môn. Thường hành hai trăm năm mươi giới, tiến thoái thanh tịnh, tu hành bốn đạo chân đế mà thành bậc A-la-hán. Bậc A-la-hán có thể phi hành biến hóa, thọ mạng lâu dài nhiều kiếp, khi ở khi đi làm động cả trời đất. Bậc kế đó là A-na-hàm. Bậc A-na-hàm khi mạng chung, linh thần lên tầng trời thứ mười chín mà chứng quả A-la-hán. Bậc kế đó là Tư-đà-hàm. Bậc Tư-đà-hàm một lần lên trời, một lần trở lại nhân gian thì đắc quả A-la-hán. Bậc kế nữa là Tu-đà-hoàn. Bậc Tu-đà-hoàn trải qua bảy lần sinh bảy lần chết liền chứng quả A-la-hán. Người đoạn trừ được ái dục thì như tứ chi đã đoạn, không còn dùng đến nữa.
===Chương 2: Đoạn dục tuyệt cầu===
Đức Phật dạy: Bậc Sa-môn xuất gia thì đoạn dục khử ái, nhận rõ nguồn tâm mình; thông đạt lý sâu của Phật, ngộ pháp vô vi. Bên trong không sở đắc, bên ngoài không sở cầu; tâm không buộc vào đạo, cũng không kết nghiệp. Không niệm không làm, chẳng tu chẳng chứng. Không trải qua các vị thứ mà tự mình cao tột, gọi đó là Đạo.
===Chương 3: Cắt ái lìa tham===
Đức Phật dạy: Cạo bỏ râu tóc mà làm Sa-môn. Người thọ đạo pháp thì bỏ hết tài sản thế gian, đi khất thực vừa đủ dùng. Ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây, thận trọng chớ làm thêm lần thứ hai! Thứ khiến con người ngu muội che lấp chính là ái và dục.
===Chương 4: Thiện ác cùng rõ===
Đức Phật dạy: Chúng sinh lấy mười việc làm thiện, cũng lấy mười việc làm ác. Mười việc đó là gì? Thân có ba, miệng có bốn, ý có ba. Thân ba là: sát sinh, trộm cắp, dâm dục. Miệng bốn là: nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói dối, nói thêu dệt. Ý ba là: ganh ghét, giận dữ, ngu si. Mười việc như thế không thuận thánh đạo, gọi là mười hạnh ác. Nếu dừng được những ác đó, gọi là mười hạnh thiện vậy.
===Chương 5: Chuyển nặng thành nhẹ===
Đức Phật dạy: Người có nhiều lỗi mà không tự hối cải để chấm dứt ngay tâm ấy, thì tội lỗi đổ về thân như nước chảy về biển, dần dần thành sâu rộng. Nếu người có lỗi, tự biết là sai, bỏ ác làm thiện thì tội tự tiêu diệt. Như người bệnh được xuất mồ hôi, bệnh sẽ dần dần thuyên giảm vậy.
===Chương 6: Nhẫn ác không giận===
Đức Phật dạy: Kẻ ác nghe người làm thiện mà cố đến quấy nhiễu, ông hãy tự kiềm chế, đừng nên giận trách. Kẻ đem điều ác đến, sẽ tự mình nhận lấy điều ác đó.
===Chương 7: Ác trả lại thân===
Đức Phật dạy: Có người nghe Ta giữ đạo, thực hành lòng nhân từ lớn, nên cố ý đến mắng Phật. Phật im lặng không đáp. Khi người đó mắng xong, Phật hỏi: "Ông đem lễ vật tặng người, người ấy không nhận thì lễ vật đó có về lại ông chăng?". Đáp rằng: "Về lại chứ!".
Phật dạy: "Nay ông mắng Ta, Ta nay không nhận; ông tự mang họa về thân ông vậy!". Giống như vang ứng theo tiếng, bóng đi theo hình, rốt cuộc không thể rời nhau. Thận trọng chớ làm điều ác!
===Chương 8: Phun nhổ tự bẩn===
Đức Phật dạy: Kẻ ác hại người hiền giống như ngửa mặt lên trời mà nhổ; nước nhổ không tới trời, lại rơi xuống mình. Ngược gió tung bụi, bụi không tới người kia, lại làm bẩn thân mình. Người hiền không thể hủy hoại, họa tất sẽ diệt chính mình.
===Chương 9: Trở về nguồn cội, hội nhập đạo===
Đức Phật dạy: Nghe rộng, yêu đạo thì đạo ấy ắt khó gặp. Giữ chí, phụng đạo thì đạo ấy rất lớn lao.
===Chương 10: Vui vẻ bố thí được phúc===
Đức Phật dạy: Thấy người thực hành bố thí mà vui vẻ giúp đỡ thì được phúc rất lớn. Một vị Sa-môn hỏi: "Phúc này có hết chăng?".
Đức Phật dạy: Ví như ngọn lửa của một bó đuốc, có hàng trăm hàng ngàn người mỗi người đều cầm đuốc đến chia nhau lấy lửa để nấu ăn hay thắp sáng, nhưng ngọn đuốc gốc vẫn như cũ. Phúc báo cũng lại như thế.
===Chương 11: Đãi cơm phúc chuyển hóa hơn kém===
Đức Phật dạy: Cho một trăm kẻ ác ăn không bằng cho một người thiện ăn. Cho một ngàn người thiện ăn không bằng cho một người trì ngũ giới ăn. Cho một vạn người trì ngũ giới ăn không bằng cho một bậc Tu-đà-hoàn ăn. Cho một triệu bậc Tu-đà-hoàn ăn không bằng cho một bậc Tư-đà-hàm ăn. Cho mười triệu bậc Tư-đà-hàm ăn không bằng cho một bậc A-na-hàm ăn. Cho một trăm triệu bậc A-na-hàm ăn không bằng cho một bậc A-la-hán ăn. Cho một tỷ bậc A-la-hán ăn không bằng cho một bậc Bích Chi Phật ăn. Cho mười tỷ bậc Bích Chi Phật ăn không bằng cho một vị Phật trong ba đời ăn. Cho trăm tỷ vị Phật trong ba đời ăn không bằng cho một bậc vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng ăn.
===Chương 12: Nêu những điều khó để khuyên tu===
Đức Phật dạy: Con người có hai mươi điều khó: Nghèo khổ mà bố thí là khó. Giàu sang mà học đạo là khó. Bỏ thân mạng quyết chết là khó. Được xem kinh Phật là khó. Sinh vào thời có Phật ra đời là khó. Nhẫn nhịn sắc dục là khó. Thấy món đồ tốt mà không cầu là khó. Bị nhục mà không giận là khó. Có quyền thế mà không cậy quyền là khó. Chạm việc mà vô tâm là khó. Học rộng cứu xét sâu là khó. Diệt trừ lòng ngã mạn là khó. Không khinh người chưa học là khó. Tâm hạnh bình đẳng là khó. Không nói chuyện thị phi là khó. Gặp được thiện tri thức là khó. Kiến tính học đạo là khó. Tùy cơ giáo hóa độ người là khó. Nhìn cảnh mà tâm không động là khó. Khéo hiểu phương tiện là khó.
===Chương 13: Hỏi về đạo và túc mệnh===
Một vị Sa-môn hỏi Phật: "Dùng nhân duyên gì để biết được túc mệnh (kiếp trước) và hội nhập được đạo chí thượng?".
Đức Phật dạy: "Giữ tâm thanh tịnh, giữ vững chí nguyện thì có thể hội nhập đạo chí thượng. Ví như lau gương, bụi bẩn đi rồi thì cái sáng còn lại; đoạn dục không cầu thì sẽ đắc được túc mệnh".
===Chương 14: Hỏi về cái thiện và cái lớn===
Một vị Sa-môn hỏi Phật: "Cái gì là thiện? Cái gì là lớn nhất?".
Đức Phật dạy: "Thực hành đạo, giữ được cái Chân là thiện; chí nguyện hợp với đạo là lớn nhất".
===Chương 15: Hỏi về sức mạnh và sự sáng suốt===
Một vị Sa-môn hỏi Phật: "Cái gì nhiều sức mạnh? Cái gì sáng suốt nhất?".
Đức Phật dạy: "Nhẫn nhục là nhiều sức mạnh, vì không ôm lòng ác, lại thêm được an ổn khỏe mạnh. Người nhẫn nhục không có lòng ác, tất được mọi người tôn kính. Tâm cấu uế đã diệt sạch, thanh tịnh không vết nhơ, đó là sáng suốt nhất. Từ khi chưa có trời đất cho đến ngày nay, mười phương tất cả không gì không thấy, không gì không biết, không gì không nghe, đạt được Nhất thiết trí; như thế có thể gọi là sáng suốt vậy!".
===Chương 16: Bỏ ái đắc đạo===
Đức Phật dạy: Người ôm lòng ái dục mà không thấy đạo, ví như nước trong bị tay khuấy động; mọi người cùng soi vào nhưng không ai thấy bóng mình. Con người vì ái dục đan xen, lòng đục nổi lên nên không thấy đạo. Các ông là Sa-môn, nên bỏ ái dục; bụi bặm ái dục sạch hết thì đạo có thể thấy vậy.
===Chương 17: Ánh sáng đến thì bóng tối lui===
Đức Phật dạy: Người thấy đạo ví như cầm đuốc đi vào phòng tối, bóng tối liền mất mà ánh sáng còn lại. Học đạo kiến tính thì vô minh liền diệt mà ánh sáng (trí tuệ) thường còn.
===Chương 18: Niệm và các pháp vốn không===
Đức Phật dạy: Pháp của Ta là niệm mà không có tướng niệm, hành mà không có tướng hành, nói mà không có tướng nói, tu mà không có tướng tu. Người hiểu thì rất gần, kẻ mê thì rất xa. Đường ngôn ngữ dứt bặt, không bị sự vật câu thúc; sai đi một ly là mất trong giây lát.
===Chương 19: Cùng quán xét cái giả và cái thật===
Đức Phật dạy: Quán trời đất, niệm là vô thường; quán thế giới, niệm là vô thường; quán linh giác, ấy là Bồ-đề. Biết được như thế thì đắc đạo rất nhanh!
===Chương 20: Suy xét cái ta vốn không===
Đức Phật dạy: Nên nghĩ trong thân có tứ đại, mỗi thứ tự có tên riêng, đều không có cái "Ta" nào cả. Cái "Ta" đã không có thì nó cũng chỉ như huyễn thuật mà thôi.
===Chương 21: Danh tiếng làm mất bản tâm===
Đức Phật dạy: Người ta chạy theo tình dục, cầu lấy danh tiếng; khi danh tiếng lẫy lừng thì thân đã tàn tạ. Tham lấy cái danh hư huyễn ở đời mà không học đạo thì chỉ uổng công nhọc xác. Ví như đốt hương, tuy người ta ngửi được mùi thơm nhưng thân hương đã cháy thành tro; ngọn lửa nguy hiểm cho thân đang theo ngay sát phía sau.
===Chương 22: Tài sắc chiêu khổ===
Đức Phật dạy: Đối với tài bảo và sắc dục, con người khó lòng buông bỏ; ví như lưỡi dao có dính chút mật, không đủ cho một bữa ăn ngon, nhưng đứa trẻ liếm vào thì có cái họa bị cắt đứt lưỡi.
===Chương 23: Vợ con hơn cả lao ngục===
Đức Phật dạy: Con người bị ràng buộc vào vợ con, nhà cửa còn hơn cả lao ngục. Lao ngục còn có kỳ hạn được tháo thả, chứ vợ con thì không ai có ý niệm muốn xa rời. Tình ái đối với sắc dục, há chẳng ngại bị sai khiến sao? Dẫu có cái họa sa vào miệng hổ, lòng vẫn cam tâm tình nguyện. Tự lao mình xuống bùn lầy để chết chìm, nên gọi là phàm phu; vượt qua được cửa này, ấy là bậc La-hán xuất trần.
===Chương 24: Sắc dục ngăn đạo===
Đức Phật dạy: Trong các thứ ái dục, không gì đáng sợ bằng sắc dục. Sự ham muốn sắc dục to lớn không gì ngoài nó. May thay chỉ có một thứ như vậy, nếu có cái thứ hai tương tự, thì khắp thiên hạ không ai có thể tu đạo được nữa!
===Chương 25: Lửa dục đốt thân===
Đức Phật dạy: Người ôm lòng ái dục cũng như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tất sẽ có cái họa bị cháy tay.
===Chương 26: Thiên ma nhiễu Phật===
Thiên thần dâng ngọc nữ cho Phật, muốn làm lay chuyển ý chí của Ngài.
Phật dạy: "Cái túi da chứa mọi thứ dơ bẩn, ngươi đến đây làm gì? Đi mau! Ta không dùng đâu." Thiên thần càng thêm kính trọng, bèn hỏi về ý đạo. Phật vì ông thuyết pháp, ông liền đắc quả Tu-đà-hoàn.
===Chương 27: Không dính mắc đắc đạo===
Đức Phật dạy: Người tu đạo ví như khúc gỗ dưới nước, trôi theo dòng mà đi, không chạm vào hai bờ, không bị người ta vớt lấy, không bị quỷ thần ngăn trở, không bị dòng xoáy giữ lại, cũng không bị mục nát; Ta bảo đảm khúc gỗ này nhất định sẽ ra đến biển. Người học đạo không bị tình dục làm mê lầm, không bị các thứ tà ngụy quấy nhiễu, tinh tấn tu pháp vô vi; Ta bảo đảm người này nhất định đắc đạo vậy!
===Chương 28: Đừng buông lung ý ngựa===
Đức Phật dạy: Thận trọng chớ tin ý ông, ý ông không thể tin được; thận trọng chớ cùng sắc dục gặp gỡ, gặp gỡ sắc dục thì họa liền sinh. Chứng được quả A-la-hán rồi, mới có thể tin được ý ông.
===Chương 29: Chính quán chống lại sắc dục===
Đức Phật dạy: Thận trọng chớ nhìn nữ sắc, cũng đừng nói năng cùng nhau. Nếu phải nói chuyện, hãy chính tâm tư duy rằng: "Ta là bậc Sa-môn sống trong đời đục, phải như hoa sen, chẳng bị bùn làm ô nhiễm." Tưởng người già như mẹ, người lớn tuổi hơn như chị, người ít tuổi hơn như em gái, trẻ nhỏ như con. Sinh lòng độ thoát, dập tắt ác niệm.
===Chương 30: Lìa xa lửa dục===
Đức Phật dạy: Người tu đạo như kẻ mang cỏ khô, thấy lửa đến phải lánh xa. Người học đạo thấy dục lạc, nhất định phải tránh xa vậy.
===Chương 31: Tâm lặng dục trừ===
Đức Phật dạy: Có người khổ vì lòng dâm không dứt, muốn tự thiến cơ quan sinh dục. Phật bảo rằng: "Cắt đứt cái đó không bằng cắt đứt tâm dâm. Tâm như quan công tào, quan công tào mà dừng thì thuộc hạ đều nghỉ cả. Tâm tà không dừng, cắt đứt cái đó có ích gì?". Phật vì đó nói kệ:
<poem>
"Dục sinh từ ý ông,
Ý do tư tưởng sinh;
Hai tâm đều tịch tĩnh,
Chẳng sắc cũng chẳng hành."
</poem>
Phật dạy: Bài kệ này là do đức Phật Ca Diếp nói.
===Chương 32: Ngã không, sợ hãi diệt===
Đức Phật dạy: Con người từ ái dục mà sinh lo âu, từ lo âu mà sinh sợ hãi; nếu lìa được ái dục thì còn gì lo âu, còn gì sợ hãi?
===Chương 33: Trí sáng phá ma===
Đức Phật dạy: Người tu đạo ví như một người chiến đấu với vạn người. Mặc giáp ra cửa, ý chí có khi khiếp nhược: hoặc nửa đường rồi lui bước, hoặc chiến đấu đến chết, hoặc chiến thắng trở về. Sa-môn học đạo nên giữ tâm kiên định, tinh tấn dũng mãnh, không sợ cảnh trước mắt, phá diệt các ma mà đắc đạo quả.
===Chương 34: Giữ mức trung đạo thì đắc đạo===
Một vị Sa-môn đêm tụng kinh Di giáo của đức Phật Ca Diếp, tiếng nghe bi thiết, khẩn trương, có ý hối hận muốn thối lui. Phật hỏi vị ấy: "Xưa kia ông ở nhà, từng làm nghề gì?". Đáp rằng: "Con thích đàn cầm".
Phật hỏi: "Dây đàn chùng thì sao?". Đáp rằng: "Không kêu ạ". "Dây đàn căng quá thì sao?". Đáp rằng: "Tiếng sẽ đứt đoạn ạ". "Căng chùng vừa mức trung bình thì sao?". Đáp rằng: "Các âm thanh đều hòa hiệp ạ".
Phật dạy: "Sa-môn học đạo cũng vậy, tâm nếu điều hòa thích hợp thì có thể đắc đạo. Đối với đạo nếu nôn nóng thì thân sẽ mệt mỏi; thân mệt mỏi thì ý sinh phiền não; ý sinh phiền não thì hành vi thối lui; hành vi đã thối lui thì tội lỗi tất tăng thêm. Chỉ cần thanh tịnh an lạc, đạo sẽ không mất vậy".
===Chương 35: Sạch cấu uế, cái sáng còn lại===
Đức Phật dạy: Như người luyện sắt, bỏ hết cặn bã mới thành dụng cụ, dụng cụ ấy sẽ tinh xảo. Người học đạo bỏ hết cấu nhiễm trong tâm, phẩm hạnh liền trở nên thanh tịnh.
===Chương 36: Lần lượt đạt được sự thù thắng===
Đức Phật dạy: Con người lìa được ác đạo, được làm người là khó. Đã được làm người, bỏ thân nữ thành thân nam là khó. Đã được thân nam, sáu căn vẹn toàn là khó. Sáu căn đã vẹn toàn, sinh ra ở vùng trung tâm (nơi có Phật pháp) là khó. Đã sinh ở vùng trung tâm, gặp thời có Phật là khó. Đã gặp thời có Phật, gặp được người có đạo là khó. Đã gặp được người có đạo, sinh được lòng tin là khó. Đã sinh lòng tin, phát tâm Bồ-đề là khó. Đã phát tâm Bồ-đề, đạt đến cảnh giới vô tu vô chứng là khó.
===Chương 37: Nhớ giới gần đạo===
Đức Phật dạy: Đệ tử Phật dù cách Ta mấy ngàn dặm mà ghi nhớ và giữ giới của Ta, tất đắc đạo quả. Ở ngay bên cạnh Ta, tuy thường thấy Ta mà không tuân theo giới luật của Ta, rốt cuộc cũng không đắc đạo.
===Chương 38: Có sinh ắt có diệt===
Phật hỏi một vị Sa-môn: "Mạng người dài bao lâu?". Đáp rằng: "Chỉ trong vài ngày".
Phật dạy: "Ông chưa hiểu đạo". Lại hỏi một vị Sa-môn khác: "Mạng người dài bao lâu?". Đáp rằng: "Chỉ trong một bữa ăn".
Phật dạy: "Ông chưa hiểu đạo". Lại hỏi một vị Sa-môn nữa: "Mạng người dài bao lâu?". Đáp rằng: "Chỉ trong một hơi thở".
Phật dạy: "Hay thay! Ông đã hiểu đạo rồi vậy".
===Chương 39: Giáo huấn không sai biệt===
Đức Phật dạy: Người học đạo Phật, những gì Phật nói đều nên tin theo. Ví như ăn mật, giữa hay rìa đều ngọt; kinh của Ta cũng lại như thế.
===Chương 40: Hành đạo tại tâm===
Đức Phật dạy: Sa-môn hành đạo, đừng như con bò quay lúa; thân tuy hành đạo mà tâm chẳng hành đạo. Nếu tâm đã hành đạo thì cần gì phải hành đạo (hình thức)?
===Chương 41: Tâm ngay thẳng lìa dục===
Đức Phật dạy: Người tu đạo như con bò chở nặng đi trong bùn sâu, mệt mỏi rã rời không dám nhìn ngó hai bên; ra khỏi bùn lầy mới có thể nghỉ ngơi. Sa-môn nên quán tình dục còn tệ hơn bùn lầy, thẳng tâm niệm đạo thì có thể thoát khổ vậy.
===Chương 42: Thấu hiểu thế gian, biết là hư huyễn===
Đức Phật dạy: Ta nhìn ngôi vị vương hầu như bụi bay qua khe cửa. Nhìn kho báu vàng ngọc như ngói sỏi. Nhìn y phục gấm lụa như vải rách. Nhìn cõi Đại thiên như hạt ha-lê-lặc. Nhìn nước ao A-nậu như dầu thoa chân. Nhìn cửa phương tiện như của báu hóa hiện. Nhìn vô thượng thừa như vàng lụa trong mộng. Nhìn Phật đạo như hoa đốm trước mắt. Nhìn thiền định như trụ núi Tu-di. Nhìn Niết-bàn như giấc ngủ ngày mới tỉnh. Nhìn sự đảo điên và chân chính như sáu con rồng múa. Nhìn sự bình đẳng như một chân địa. Nhìn sự hưng hóa đạo pháp như cây cỏ bốn mùa.
Các vị đại Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, thảy đều hoan hỷ vâng làm.
{{Kinh điển Phật giáo}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
jr3ebbjjtiw1tp7eq49i5vys6dy6kfe