Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.47.0-wmf.2
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Thảo luận Thành viên:Vinhtantran
3
3283
205359
203134
2026-05-14T15:59:08Z
Hiyuune
17482
/* Đặc biệt:Đóng góp/Anster1322 */ Đề tài mới ([[mw:c:Special:MyLanguage/User:JWBTH/CD|CD]])
205359
wikitext
text/x-wiki
{{Trang thảo luận mã wiki chuyển đổi qua Thảo luận Cấu trúc|archive=Thảo luận Thành viên:Vinhtantran/Lưu Thảo luận Cấu trúc 1|date=2022-08-07}}
==36==
Chết, anh Tân chưa đổi lại thành chữ viết thường à, mục phía sau "băm sáu phố phường/..." ấy --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> :01:39, ngày 21 tháng 3 năm 2010 (UTC)
:Chú biết làm sai thì chú tự sửa đi chứ, tôi đâu có biết. Ngoài ra, tại trang [[Hà Nội băm sáu phố phường]] cần phải là cái mục lục. Còn phần Lời mở đầu cho vào một trang con. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 08:15, ngày 21 tháng 3 năm 2010 (UTC)
== Dấu gạch nối==
Mấy cuốn sách xưa người ta hay viết dấu gạch nối giữa các tiếng như gian-nan, vội-vã, năn-nỉ... để làm gì vậy? Và nhân tiện cho hỏi anh gõ cặp dấu « » bằng cách nào vậy, copy và paste thấy mệt quá. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 16:08, ngày 27 tháng 3 năm 2010 (UTC)
:Theo tôi biết thì trước năm 1975, ở miền Nam, người ta quy định từ ghép và từ láy, nếu tách từng từ ra mà làm thay đổi nghĩa của cụm từ, thì có dấu gạch nối (điều này tôi nhớ có ghi trong 1 quyển sách giáo khoa Ngữ văn mà tôi có đọc ở nhà đứa bạn, chắc của ba hay mẹ nó); còn ở miền Bắc thì ít thấy (tuy vẫn có). Những cái này sau này thì bỏ hẳn, có lẽ cho giản tiện. Một số chỗ trong Wikisource tôi ghi như vậy chẳng qua để tuân thủ theo đúng bản gốc cũ xưa mà mình biết được mà thôi. Còn gặp dấu hai móc kiểu Pháp thì tôi cũng làm thủ công lắm, đó là kéo xuống phần Trợ giúp gõ tiếng Việt ở dưới khung sửa đổi, nhấn 1 cái, sau đó copy lại, cứ gặp ở đâu lại paste ra. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 02:47, ngày 28 tháng 3 năm 2010 (UTC)
== Cộng tác trong tháng==
Sang tháng cộng tác [[Tác gia:Nguyễn Trãi|Nguyễn Trãi]] được không anh? Có quyển [http://www.songhuong.com.vn/main.php?cid=40,3&id=22&case=2&left=40,18&gr= Nguyễn Trãi toàn tập] làm nguồn uy tín đấy. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 17:23, ngày 30 tháng 3 năm 2010 (UTC)
:Đồng ý, anh cũng có cuốn này trong nhà, chỗ nào mờ hoặc thiếu trang có thể đối chiếu. Ngoài ra, em có biết đọc chữ Hán và gõ chữ Hán không? Anh có cuốn "Nguyễn Du tác phẩm và lịch sử văn bản", thực ra là "Toàn tập" có đầy đủ chữ Hán nhưng anh chỉ mới bắt đầu học chữ Hán, không đủ khả năng gõ nó vào Wiki. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 03:47, ngày 31 tháng 3 năm 2010 (UTC)
::Em không biết gõ chữ Hán đâu, chép của người ta thì nhanh chứ gõ thì khó lắm. Mới gõ có mấy cái chú thích bằng chữ Hán trong cuốn ''Việt Nam thi văn hợp tuyển'' mà thấy mệt bở hơi tai: chữ thì nhỏ, nhiều nét quá, phải căng mắt ra xem nó ở bộ nào, mấy nét... Ngoài ra em thấy trên trang [http://www.timsach.com.vn/viewSACHXUA15_479_Tho_Chu_Han_Nguyen_Du.html timsach.com.vn] có cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du của NXB Văn học nhưng sao họ chỉ scan có vài trang rồi bỏ đấy? Xem vài cuốn ở đấy cũng không thấy có cuốn nào họ scan đầy đủ cả? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 15:03, ngày 31 tháng 3 năm 2010 (UTC)
:::Vậy nếu trên mạng chưa có thì đành khuyết chữ Hán vậy. Còn trang timsach, nó chỉ cho em xem miễn phí vài trang thôi. Muốn xem đầy đủ, em phải đăng ký, rồi sau đó nhắn tin nạp tiền, cách đây mấy tháng là 7000đ/phần. Anh thấy thế cũng hợp lý, nhưng anh không mua vì thấy không cần thiết. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 16:20, ngày 31 tháng 3 năm 2010 (UTC)
== Lịch sử thế giới==
Chán quá, em muốn post về Lịch sử thế giới, nhất là Thế chiến II (em có tham gia dự án bên pedia mà). Mà không biết mình tự dịch rồi chép lên được không nhỉ? --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> 08:59, ngày 31 tháng 3 năm 2010 (UTC)
:Rất hoan nghênh thôi, nhưng cuốn sách về Lịch sử thế giới phải hết hạn bản quyền thì mới được dịch nhé. Sau khi dịch xong thì trong phần người dịch ghi là Wikisource. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 16:20, ngày 31 tháng 3 năm 2010 (UTC)
::Minh Huy nếu muốn làm về chiến tranh có thể dịch các văn kiện chiến tranh ở [[en:Wikisource:Wars]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 18:50, ngày 31 tháng 3 năm 2010 (UTC)
:::Dĩ nhiên, [[w:Hiệp ước Xô-Đức|Hiệp ước Xô-Đức]] hết hạn bản quyền rồi :) --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> 08:52, ngày 1 tháng 4 năm 2010 (UTC)
== Nguyễn Trãi toàn tập==
Sao các tác phẩm chữ Hán trong Nguyễn Trãi toàn tập không thấy ghi tên dịch giả? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 22:59, ngày 2 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:Em xem ở Trang 9 quyển Nguyễn Trãi toàn tập. Trong đó có ghi ''Ông Đào Duy Anh đã dịch và chú giải toàn bộ thơ văn chữ Hán của Nguyễn Trãi (trừ Lam Sơn thực lục, Bình Ngô đại cáo, Phú núi Chí Linh, Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh, Văn bia Vĩnh Lăng)'', và phía dưới có nói các bài trong ngoặc đơn do ông Văn Tân dịch. Các bài văn thì do các ông khác, em có thể xem kỹ hơn trong đoạn đó. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 09:09, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
::Thề thì các tác phẩm nào có thể đưa vào Wikisource được? Các tác phẩm do Đào Duy Anh dịch thì không đưa vào được vì [[w:Đào Duy Anh|Đào Duy Anh]] mới mất năm 1988. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 20:57, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:::Anh thấy chỉ có thể đưa được phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa bài thơ vào đây mà thôi. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 00:27, ngày 4 tháng 4 năm 2010 (UTC)
==Gianh==
Em thấy tất cả các bài còn lại của Nguyễn Du đều như vậy mà? --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> 09:27, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:Em cứ đọc phần em ghi là "dịch nghĩa" là hiểu ý anh liền. Dịch nghĩa tức là dịch rất suôn, không cần vần điệu, cốt để người khác hiểu rõ bài thơ. Còn dịch thơ tức là chuyển tải ý nghĩa sang chữ quốc ngữ hoặc vần nôm để người không biết chữ Hán đọc hiểu. Việc dịch thơ gần như là sáng tác lại dựa trên ý bài cũ. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 09:39, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
::Rồi, em sửa lại thành "dịch thơ". Mà bên en có trang dạng như vầy: [[:en:Omnibuses and Cabs/Part I/Chapter IV]]. Cái viền màu xanh ở đầu trang ấy mình đem về đây được không (nó như nhấn mạnh trang chính của sách vậy) --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> 11:42, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:::Thêm nữa là có vài trang bên en tạo một cài viền màu vàng bọc hết trang đẹp lắm (quên mất rồi),anh có biết mã nào tạo không? --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> 11:55, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
::::Thêm một chuyện nữa: tại sao [[MediaWiki:Sitenotice]] lại hiển thị ngày tháng năm theo kiểu Tây? Và em muốn dịch [[:en:Potsdam Declaration|tuyên bố Potsdam]] thì dùng giấy phép nào cho đúng nguyên bản? --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> 12:29, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
== Djvu và Pdf==
Đồng ý, mấy trang U tình lục quá mờ nên em cũng không nhìn rõ dấu. Các trang Việt Nam sử lược thì rõ hơn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 19:45, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:Thêm nữa là Minh Huy đang xin quyền sysop tại [[wikt:Thảo luận Wiktionary:Người quản lý#Tr%E1%BA%A7n_Nguy%E1%BB%85n_Minh_Huy|Wiktionary]], mời anh sang đó bỏ phiếu. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 20:08, ngày 3 tháng 4 năm 2010 (UTC)
::Kì vậy, em thấy nó cũng như [[Biệt Nguyễn đại lang|bài này]] thôi mà? --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> 01:27, ngày 4 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:::Các bài đó là dịch nghĩa mà, đâu phải dịch thơ. Ví dụ như Biệt Nguyễn đại lang I, dịch nghĩa là:
<poem>
Tôi cùng qua sông,
Đưa anh về nơi ở cũ.
Cả trời đất, chỉ còn lại mái nhà tranh,
Khi mưa gió thì nằm trong chiếc thuyền côi.
Đêm thu cá rồng ẩn nấp,
Hươu nai nhởn nhơ trong rừng sâu.
Ngày vui không còn xa lắm nữa,
Sẽ gặp nhau ở trung châu.
</poem>
Dịch nghĩa ra văn xuôi, không theo thể thơ nào, không vần điệu gì hết.
Còn đây là dịch thơ của Nguyễn Thạch Giang (đưa vào đây là vi phạm bản quyền vì [http://www.ussh.edu.vn/ussh-cv/85-khoa-vietnamhoc/620 Nguyễn Thạch Giang] còn sống):
<poem>
Tôi sắp qua sông đây,
Tiễn anh về chốn cũ.
Nhà trơ giữa đất trời,
Thuyền đậu trong mưa gió.
Rồng cá nép đêm thu,
Hươu nai đùa góc rú.
Ngày vui chắc cũng gần,
Sẽ ở trung châu đó.
</poem>
Dịch theo thể thơ ngũ ngôn, có vần có điệu.
Đó là điểm khác nhau giữa dịch thơ và dịch nghĩa. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:08, ngày 4 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:Vấn đề là ban đầu mình dùng "dịch nghĩa" thì anh Tân lại bảo không biết ai dịch. Còn khi sửa thành dịch thơ thì là không biết ai dịch thơ? --'''<span>[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<span style="background:yellow;color:red"><font color="#B8860B">minhhuy*=</font></span>]]'''<sup><small>'''''<font color="green">[[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy#footer|talk]]</font>'''''<font color="lime">-[[Đặc biệt:Đóng góp/Trần Nguyễn Minh Huy|butions]]</font></small></sup> 05:24, ngày 4 tháng 4 năm 2010 (UTC)
::Vậy là Huy hiểu sai ý tôi rồi. Ban đầu tôi nói ''"Đoạn Huy đưa vào bài không phải dịch nghĩa, mà là dịch thơ, vì nó có vần điệu hẳn hoi"'', và tiếp sau là câu hỏi ''"ai là người dịch thơ"''. Cái đầu là Huy ghi nhầm, và cái sau là Huy ghi thiếu thông tin. Vì từ trước đến nay, '''dịch nghĩa''' thơ chữ Hán thường không được xem trọng, và không ai ký tên tác giả cả, nên mình có thể không cần quan tâm người dịch nghĩa, nhưng '''dịch thơ''' thì phải có. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 06:42, ngày 4 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:::Theo [http://www.vphausa.org/vphavn/vanhoc/NamTrung_ND_Unicode.pdf] thì dịch giả là '''Sóng Việt Đàm Giang''', đề ngày 24 November 2005, chắc là dịch giả còn sống? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 18:53, ngày 4 tháng 4 năm 2010 (UTC)
::::Có vẻ là một ông nhà thơ nào đó ở hải ngoại. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 18:58, ngày 4 tháng 4 năm 2010 (UTC)
:::::Nhân nói đến sách PDF, sau một hồi loay hoay đi tìm pass theo lời bác Muavededay, em cũng tìm ra pass để đọc. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 21:25, ngày 4 tháng 4 năm 2010 (UTC)
== Hiệp định Paris (bản tiếng Việt)==
Đến hôm qua tôi mới rõ là tại sao Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sử dụng bản tiếng Anh của Hiệp định Paris và tự dịch ra. Số là ba ngày trước, tôi có mua 13 tập phim "Việt Nam, Thiên lịch sử truyền hình" (Vietnam, the television of history) của hãng NBC. Khi xem đến tập 10 (Hòa bình trong tầm tay), mới tnghe lời kể của ông Hoàng Đức Nhã, cố vấn chính trị của ông Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta kể rằng khi ông ta hỏi tướng Alexanđr Haige về bản tiếng Việt thì Alexandr Haige trả lời rằng: "Vội quá, chúng tôi sơ suất không mang theo". Ông Trần Văn Lắm trước khi ký kết cũng có đọc qua bản tiếng Việt do các chuyên viên của VNDCCH và Hoa Kỳ cùng thống nhất dịch thuật và thấy nó phản ánh đúng bản tiếng Anh nên đã ký và không có ý kiến gì khác. Sau khi ký kết, phía Việt Nam Cộng hòa cũng có một bản thiến Việt được ký chính thức nhưng họ không phổ biến bản tiếng Việt được ký đó mà phổ biến bản tiếng Anh do họ tự dịch. Do đó mới có dị bản dịch Anh-Việt không chính thức mà lâu nay người ta vẫn nghĩ đó là văn bản đựoc ký chính thức. --[[Thành viên:Minh Tâm-T41-BCA|Minh]]-[[Thảo luận Thành viên:Minh Tâm-T41-BCA|Tâm]] 07:38, ngày 6 tháng 4 năm 2010 (UTC)--
Bản tiếng Anh và bản tiếng Việt trên wikisource hiện nay đều là hai bản chính thức. Như mình đã nói hôm trước, theo như ông Hoàng Đức Nhã kể lại thì phía VNCH không được Hoa Kỳ trao bản dự thảo Hiệp định bằng tiếng Việt do các chuyên gia ngôn ngữ của hai bên VNDCCH và Hoa Kỳ cùng làm; (Hoàng Đức Nhã trả lời phỏng vấn của truyền hình NBC - Hoa Kỳ trong phim: "Việt Nam-Thien lịch sử truyền hình). Họ cũng có một bản tiếng Việt (được ký kết ở Paris ngày 27 tháng 1 năm 1873) nhưng không bao giờ được Nguyễn Văn Thiệu cho phép phổ biến. Chủ trương của nhiều tướng lĩnh VNCH là "không có hòa bình với hiệp định gì hết". Nguyễn Văn Thiệu coi Hiệp định Paris là "văn bản bán đứng VNCH cho cộng sản" (trả lời phỏng vấn của Canada TV trong phim "Việt Nam, cuộc chiến tranh 10.000 ngày). Các sách cũ xuất bản tại miền Nam Việt Nam đề cập đến văn bản Hiệp định Paris trước năm 1975 đều phải dịch từ bản tiếng Anh của Hoa Kỳ, thậm chí là mỗi NXB dùng một số từ ngữ khác nhau ở nhiều đoạn quan trọng. Kể cả trong các nhà tù cũng vậy thôi, các tù nhân (nhất là tù cộng sản) không bao giờ được biết đến toàn văn Hiệp định này cho đến sau năm 1975. Theo Hiệp định thì đáng ra nó phải được phổ biến toàn bộ, nhưng chính quyền VNCH chỉ cung cấp cho tù nhân chính trị những điều họ biết có liên quan đến việc trao trả tù binh mà thôi vì cái này có Ủy ban giám sát quốc tế kiểm tra. Một số tài liệu lẻ tẻ về Hiệp định đều được đưa đến tù nhân bằng con đường không chính thức. --[[Thành viên:Minh Tâm-T41-BCA|Minh]]-[[Thảo luận Thành viên:Minh Tâm-T41-BCA|Tâm]] 05:24, ngày 11 tháng 5 năm 2010 (UTC)--
P/s Nhân đây báo tin mừng cho bạn, mình đã thay máy tính mới, nó hiển thị được nhiều loại chữ tượng hình. Có cái này mình không tiện hỏi bên wiki. Minh Huy có vẻ buồn lắm, không rõ tại sau. Mình tiếc vì cậu ấy rất năng nổ. --[[Thành viên:Minh Tâm-T41-BCA|Minh]]-[[Thảo luận Thành viên:Minh Tâm-T41-BCA|Tâm]] 05:24, ngày 11 tháng 5 năm 2010 (UTC)--
== Bản quyền ở Nga==
[[w:en:Vasili Eroshenko|Vasili Eroshenko]] mất năm 1952 vậy các tác phẩm Kể chuyện mình và Bờ ao do Phan Khôi dịch có đưa vào Wikisource được không anh? Không rõ thời hạn bản quyền ở Nga là bao lâu? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:07, ngày 30 tháng 5 năm 2010 (UTC)
:Anh vừa dịch {{tl|PVCC-Nga}} từ Wikisource tiếng Anh sang. Có vẻ là không. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 04:28, ngày 30 tháng 5 năm 2010 (UTC)
== Gõ tiếng Việt==
Không biết cái khung gõ tiếng việt chạy đâu mất rồi? Em đang xài vectơ, trước đây vẫn thấy mà. Mà chừng nào source mới đổi giao diện vậy? --[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|minhhuy*=]] ([[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|thảo luận]]) 23:10, ngày 10 tháng 6 năm 2010 (UTC)
:Đã phát hiện và sửa lại từ hôm qua, vector có thay đổi một chút về cấu trúc. Source chắc cũng còn rất lâu, viwiki chắc chắn cũng vậy. Xem [http://usability.wikimedia.org/wiki/Releases/Default_Switch trang này] để biết lịch trình chuyển đổi. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 01:09, ngày 11 tháng 6 năm 2010 (UTC)
== Văn kiện chính phủ, chính đảng==
Các văn kiện của chính phủ, đảng phái có đưa lên Wikisource được không anh? Bên tiếng Trung bao nhiêu chỉ thị, nghị quyết, thông báo, báo cáo... của các cơ quan đảng, chính phủ, nhà nước... đều được đưa lên hết ([[:zh:Wikisource:政府文件]] và [[:zh:Wikisource:政党文件]]). Văn kiện loại này thì nhiều vô kể. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:12, ngày 30 tháng 8 năm 2010 (UTC)
:Được chứ, văn kiện của chính phủ, nhà nước Việt Nam đều không thuộc diện bảo hộ bản quyền. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 15:07, ngày 14 tháng 9 năm 2010 (UTC)
== Nhờ giúp==
Nhờ anh làm giùm cái bảng trong bài [[Phép làm văn]] với ([http://lainguyenan.free.fr/pk1930/pheplam.html nguồn]), em không biết cách để gộp các ô lại với nhau. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 16:39, ngày 24 tháng 9 năm 2010 (UTC)
{| border="1" cellpadding="0" cellspacing="0" style="border-collapse: collapse" width="70%" bordercolor="#111111"
|-
| width="20%" rowspan="7" |Quán từ
| width="20%" rowspan="4" |Về cách chỉ nghĩa
| width="20%" rowspan="2" |số một
| width="20%" |<i>Xác chỉ:</i>
| width="20%" |<b>Cái</b>
|-
| width="20%" |<i>Phiếm chỉ:</i>
| width="20%" |<b>Một</b>
|-
| width="20%" rowspan="2" |số nhiều
| width="20%" |<i>Xác chỉ:</i>
| width="20%" |<b>Các</b>
|-
| width="20%" |<i>Phiếm chỉ:</i>
| width="20%" |<b>Những</b>
|-
| width="20%" rowspan="3" |Về cách cử loại
| width="20%" |số một
| width="20%" |<i>Đơn cử:</i>
| width="20%" |<b>Mỗi</b>
|-
| width="20%" rowspan="2" |số nhiều
| width="20%" |<i>Toàn cử:</i>
| width="20%" |<b>Mọi</b>
|-
| width="20%" |<i>Thiên cử:</i>
| width="20%" |<b>Mỗi</b>
|}
:Khóa giùm em bài [[Ông Khổng Tử ở đầu lưỡi nhà chính trị]] lại, có phá hoại. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 12:12, ngày 2 tháng 10 năm 2010 (UTC)
==Vector==
Em thử bê mấy nút thơ chữ Hán, thơ, văn xuôi, chú thích cuối trang... sang Vector (ở [[Thành viên:Tranminh360/vector.js]]) nhưng sao không thấy nó hoạt động? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:53, ngày 9 tháng 10 năm 2010 (UTC)
:Trong giao diện Vector, các chỉnh sửa để thêm nút không dễ dàng như trong Monobook, mà hiện nay anh cũng chưa thấy dự án nào đã đổi được để mình học tập theo. Anh sẽ hỏi kỹ hơn về vấn đề này. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 07:43, ngày 12 tháng 10 năm 2010 (UTC)
::Anh thử làm theo hướng dẫn tại [[usability:Toolbar customization]] xem sao. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:39, ngày 13 tháng 10 năm 2010 (UTC)
::Tôi đã chỉnh sửa các nút ký tự tại Wikipedia để trình bày tất cả các ký tự tiếng Việt trong một bảng đơn giản. Xem các hàm <code>bindVietCharPage()</code> và <code>addVietCharPage()</code> tại [[w:MediaWiki:Common.js/edit.js|MediaWiki:Common.js/edit.js]]. Đáng tiếc là tính năng này không có phép đưa chuỗi vào một nút; mỗi nút chỉ được có một ký tự thôi. – [[Thành viên:Mxn|Nguyễn Xuân Minh]] <small>([[Thảo luận Thành viên:Mxn|thảo luận]], [[Đặc biệt:Đóng góp/Mxn|đóng góp]])</small> 16:53, ngày 8 tháng 11 năm 2011 (UTC)
==Trang VNSL==
Em muốn tên của các cột như Năm Tây lịch, Nước Nam, Nước Tàu, Nước Pháp không in đậm (giống như trong sách) nhưng không biết cách làm sao cho nó không in đậm. Và nhân tiện cho em hỏi cách trình bày [[Trang:Viet Nam Su Luoc.djvu/373]] với, làm thế nào để tạo dòng kẻ chia trang làm 2 cột như trong sách vậy? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:41, ngày 27 tháng 10 năm 2010 (UTC)
:Làm dòng kẻ chia hai cột thì không có vấn đề gì, tuy nhiên trong mỗi cột phải canh phải canh trái nữa mới là khó. Có lẽ em làm theo mẫu của anh do từng dòng đã, như vậy chắc cũng tạm được.
::Canh phải trái [[Trang:Viet Nam Su Luoc.djvu/373|như thế này]] được không anh? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:30, ngày 30 tháng 10 năm 2010 (UTC)
:::Ồ, bảng trong bảng. Thông minh đấy ;) [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:56, ngày 30 tháng 10 năm 2010 (UTC)
==[[Main Page]]==
Hi, I just wondered why the redirect was deleted? Many of the other Wikisource will point to it, so it seems a little unusual for it to not be present, at least as a redirect. I will fix the redirect at enWS. [[Thành viên:Billinghurst|Billinghurst]] ([[Thảo luận Thành viên:Billinghurst|thảo luận]]) 09:04, ngày 6 tháng 11 năm 2011 (UTC)
== Fwd: [[w:Thảo luận Thành viên:Mxn/2011#V%E1%BA%A5n_%C4%91%E1%BB%81_giao_di%E1%BB%87n_%E1%BB%9F_vi_wikisource|Vấn đề giao diện ở vi wikisource]] ==
Xin bạn thực hiện hai công việc ở dưới dành cho bảo quản viên để sửa vài lỗi trong giao diện Wikisource tiếng Việt:
#Tại [[MediaWiki:Common.js]], trong hàm <code>BilingualLink()</code>, xóa "<code>http:</code>" khỏi dòng bắt đầu với "<code>var bilang</code>".
#Tại [[MediaWiki:Proofreadpage index attributes]], thêm dòng "<code>Nơi xuất bản</code>" vào giữa các dòng "<code>Nhà xuất bản</code>" và "<code>Lần|Lần xuất bản</code>".
Cám ơn!
– [[Thành viên:Mxn|Nguyễn Xuân Minh]] <small>([[Thảo luận Thành viên:Mxn|thảo luận]], [[Đặc biệt:Đóng góp/Mxn|đóng góp]])</small> 10:08, ngày 9 tháng 11 năm 2011 (UTC)
:Vì Wikisource tiếng Việt hiện không còn sysop hoạt động, các yêu cầu hiện tại có thể nhờ cậy một global sysop hay steward ở meta. Hoặc một thành viên đang đóng góp tích cực tại đây có thể nhờ steward phong cấp sysop (tạm thời) để giải quyết công việc. --[[Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|<font color="green">'''minhhuy'''</font>]] <sup>([[Thảo luận Thành viên:Trần Nguyễn Minh Huy|talk]])</sup> ([[foundation:User:Trần Nguyễn Minh Huy|'''WMF''']]) 12:25, ngày 9 tháng 11 năm 2011 (UTC)
==Tham gia==
Muốn tham gia đóng góp wikisource việt nhưng làm sao biết được Văn kiện đó có còn bản quyền hay tự do hay không? [[Thành viên:Quá đúng|Quá đúng]] ([[Thảo luận Thành viên:Quá đúng|thảo luận]]) 16:18, ngày 12 tháng 11 năm 2011 (UTC)
== Đại Nam quấc âm tự vị==
Nhờ anh tải giùm cuốn [http://www.songhuong.com.vn/main.php?cid=40,3&id=32&case=2&left=40,18&gr=6# Đại Nam quấc âm tự vị] (1895-1896) của [[w:Huỳnh Tịnh Của|Huỳnh Tịnh Của]] (1834-1907). Nên tải làm 2 tập: tập 1 (1895) từ [http://www.songhuong.com.vn/fullsize.php?id=32&page=A.jpg] đến [http://www.songhuong.com.vn/fullsize.php?id=32&page=608.jpg], tập 2 (1896) từ [http://www.songhuong.com.vn/fullsize.php?id=32&page=609.jpg] đến [http://www.songhuong.com.vn/fullsize.php?id=32&page=1210.jpg]. (Dạo này em không còn nhiều thời gian vào Wikisource nữa, thôi cứ tải sẵn rồi từ từ làm). [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 15:08, ngày 5 tháng 4 năm 2013 (UTC)
:Hi Minh, tôi để mấy đoạn mã tải trang từ songhuong ở nhà hết rồi. Nếu muốn làm phải viết lại từ đầu, hoặc khi nào về nhà tôi sẽ kiếm lại nhé. Với nữa, tôi đề nghị Minh tiếp tục giữ vai trò bảo quản viên tại Wikisource, lần này không có thời hạn. Wikisource cần có người thay phiên, và tôi cũng không thể biết mình sẽ lại "tắt bóng" trong thời gian tới hay không. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 18:15, ngày 9 tháng 4 năm 2013 (UTC)
:::Xin lỗi anh nhưng vì dạo này em không còn thời gian để đóng góp cho Wikisource nữa nên không thể tiếp tục làm BQV tại đây. Nếu cũng "tắt bóng" luôn thì dự án này đành "bỏ hoang" vậy <code>:)</code> [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 14:17, ngày 10 tháng 7 năm 2013 (UTC)
::Em cho anh email rồi đó. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 14:28, ngày 12 tháng 4 năm 2013 (UTC)
:::Tình cờ thấy cuốn [http://www.bsb-muenchen-digital.de/~web/web1034/bsb10347734/images/index.html?digID=bsb10347734&pimage=00001&v=100&md=1&l=en Phép giảng tám ngày] của Alexandre de Rhodes nhưng lại thấy đề ''Digitised Book from the copyright-free holdings of the Bavarian State Library Munich [Germany] 2007-2013'' và ''The files are provided for personal, non-commercial purposes only'' thì không biết có tải lên Commons được không? Hiện Wikisource đã có [[Phép giảng tám ngày]] nhưng mà được viết bằng chữ quốc ngữ "hiện đại", còn văn bản gốc được viết bằng chữ quốc ngữ "cổ", cộng thêm cả phần tiếng Latin nữa. Anh Mxn có kinh nghiệm làm [[Từ điển Việt–Bồ–La]] chắc là biết tiếng Latin và chữ quốc ngữ "cổ" ([http://www.1ec5.org/software/daclo/ phông chữ Đắc Lộ]). [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 16:19, ngày 12 tháng 4 năm 2013 (UTC)
::::Những gì website đó đề là "non commercial" thì không đủ tự do để tải lên Commons hoặc Wikisource. Nhưng bản thân cuốn sách thì quá cũ và bản scan y hệt của nó thì không phái sinh ra bản quyền mới theo luật Hoa Kỳ. Để tôi hỏi thử những thành viên khác bên Wikisource xem sao. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 16:40, ngày 12 tháng 4 năm 2013 (UTC)
:::::Các sách thuộc phạm vi công cộng do Google Books scan cũng có yêu cầu tương tự như website đó: ''Make non-commercial use of the files'': We designed Google Book Search for use by individuals, and we request that you use these files for personal, non-commercial purposes. Ở đầu các sách do Google scan đều có trang thông báo này. Bên Wikisource tiếng Anh có [[:en:Help:DjVu files#Removing a copyright page|hướng dẫn gỡ bỏ trang bản quyền của Google]] ra khỏi tập tin djvu, cho nên em nghĩ Wikisource vẫn có thể sử dụng các tập tin như vậy. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 17:19, ngày 12 tháng 4 năm 2013 (UTC)
::::::Anh đã gửi tập tin sách Đại Nam quấc âm tự vị cho em chưa vậy? Mà thôi, nếu anh tải được rồi thì tải thẳng lên Commons luôn chứ gửi cho em làm gì cho mất công thêm. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 17:47, ngày 24 tháng 4 năm 2013 (UTC)
:::::::Xin lỗi em, anh định đóng gói thành djvu rồi gửi cho em nhưng anh vẫn chưa làm được, bữa giờ lại bận. Anh sẽ đóng gói các file JPG để gửi cho em vậy. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 05:36, ngày 26 tháng 4 năm 2013 (UTC)
::::::::Anh gửi file JPG cho em làm gì vậy? Gửi file djvu thì mới tải lên Commons được chứ, giống như [[Mục lục:Viet Nam Su Luoc 1.djvu]] đó. Chứ file JPG thì làm sao mà tải lên Commons? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 15:25, ngày 3 tháng 5 năm 2013 (UTC)
== [[Tạm ước Việt - Pháp 14-9-1946]] ==
Tôi vừa tải lên văn bản này. Nguồn sách in tôi đã dẫn trong trang văn hiện và trang thảo luận. Nguồn sách điện tử (PDF và Word) [http://thehehochiminh.wordpress.com/tp/ tại đây]. Trân trọng nhờ Trần Vĩnh Tân kiểm tra, thẩm định và hiệu đính. Rất cảm ơn.--[[Thành viên:Minh Tâm-T41-BCA|Minh]]-[[Thảo luận Thành viên:Minh Tâm-T41-BCA|Tâm]] 10:20, ngày 25 tháng 5 năm 2013 (UTC)--
== Hiện trạng vấn đề==
Tân kiểm tra dùm. Nếu được thì đưa vào mục văn kiện mới luôn nhé.
http://vi.wikisource.org/wiki/Hi%E1%BB%87n_tr%E1%BA%A1ng_v%E1%BA%A5n_%C4%91%E1%BB%81
Hình như đây là bản dịch của Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), cháu ngoại Phan Châu Trinh.
http://phamquynh.wordpress.com/2013/01/18/ba-le-thi-kinh-tuc-phan-thi-minh-va-bo-sach-phan-chau-trinh-qua-nhung-tai-lieu-moi/
Đọc tài liệu này tôi thấy rất rõ nguồn gốc của mọi bi kịch của chúng ta từ lúc tiếp xúc với nền văn minh phương Tây đến tận ngày nay nên mới đưa lên. Hy vọng nhờ Wikisource sẽ có nhiều người có thể tiếp cận với tài liệu. Vấn đề bản quyền tôi không lo được, nếu có thể mong Tân liên lạc với người dịch để giải quyết chuyện này.
Một tài liệu khá hay nữa là Thoát Á luận. Không thể đưa tài liệu lên được cũng vì vướng bản quyền. Nếu có thể Tân lo dùm chuyện này luôn nhé.
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-01-14-thoat-a-luan
[[Thành viên:Brum|Brum]] ([[Thảo luận Thành viên:Brum|thảo luận]]) 18:35, ngày 18 tháng 8 năm 2013 (UTC)
== Nhờ tải sách==
Nếu anh có thời gian, nhờ anh tải giùm bản scan cuốn [http://sach.nlv.gov.vn/sach/cgi-bin/sach?a=d&d=NFvBJzixyW1897 Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn] của [[Tác gia:Huỳnh Tịnh Của|Huỳnh Tịnh Của]] lên Commons. [[Thành viên:LMQ2401]] đang làm tác phẩm [[Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn]] nhưng vì không biết cách tải xuống bản scan nên đành nhập nội dung vào không gian chính. Cảm ơn anh. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 01:21, ngày 24 tháng 7 năm 2015 (UTC)
:[[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]], mình đã dò ra source các tập tin, nhưng cái script download vứt đâu mất rồi. Mình sẽ tìm cách khác download, nhưng mà watermark của Thư viện quốc gia tùm lum hết, không biết Commons có phiền hà gì không, và cũng ko biết có vấn đề gì với tác quyền của Thư viện quốc gia không. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 13:26, ngày 28 tháng 7 năm 2015 (UTC)
::[[:en:Help:DjVu files#Removing a copyright page|Trang này]] hình như có hướng dẫn gỡ watermark thì phải? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 01:30, ngày 29 tháng 7 năm 2015 (UTC)
:::Nó bày gỡ trang tuyên bố bản quyền trong một cuốn sách chứ không phải xóa watermark. Trong cuốn trên TVQG, anh gỡ trang cuối có dán phiếu phân loại thôi. Watermark nó đóng thẳng vào file hình chắc vô phương. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 03:37, ngày 29 tháng 7 năm 2015 (UTC)
== Nhờ xóa Trang:Dictionarium Anamitico-Latinum.pdf/5==
Xin nhờ [[Thành viên:Vinhtantran|Vinhtantran]] xóa giúp trang [[Trang:Dictionarium Anamitico-Latinum.pdf/5]] và sẵn xóa luôn các trang khác trong [[:Thể loại:Đề nghị xóa nhanh]]. Xin cảm ơn.--[[Thành viên:LMQ2401|LMQ2401]] ([[Thảo luận Thành viên:LMQ2401|thảo luận]]) 16:23, ngày 13 tháng 2 năm 2016 (UTC)
== Nhờ tải sách (2)==
Nhờ anh tải giùm [http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=HxpJ19390923.2.18&srpos=&dliv=none&e=-------vi-20--1--img-txIN------ bản scan vở kịch Sương tháng Tám] của [[Tác gia:Thâm Tâm]], đây là yêu cầu của Minh Huy ở trang [[Wikisource:Văn kiện thỉnh cầu#Sương tháng Tám]]. Cảm ơn anh. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:16, ngày 17 tháng 2 năm 2016 (UTC)
== Văn bản hợp nhất==
Các văn bản pháp luật do Wikisource tự hợp nhất như [[Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009]] thực ra không có giá trị về pháp lý. Chỉ có các văn bản hợp nhất theo [http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=27569 Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật] mới có giá trị về pháp lý. Ví dụ: [https://www.thuvienphapluat.vn/van-ban/so-huu-tri-tue/Van-ban-hop-nhat-19-VBHN-VPQH-nam-2013-hop-nhat-Luat-so-huu-tri-tue-220039.aspx Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất] mang số hiệu 19/VBHN-VPQH ngày 18 tháng 12 năm 2013, được Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội xác thực hợp nhất mới có giá trị về pháp lý. Không biết vấn đề này nên xử lý như thế nào? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 06:11, ngày 16 tháng 11 năm 2018 (UTC)
:{{ping|Tranminh360}} Nếu vậy thì ta đổi văn bản do Wikisource tự hợp nhất thành tác giả là Wikisource thay vì của tổ chức nhà nước nếu chưa có văn bản chính thức trên đây. Mình sẽ xóa văn bản do Wikisource tự làm sau khi văn bản chính thức do nhà nước làm có mặt trên đây. Giờ tôi mới biết đến sự hiện hữu của thẩm quyền và thời hạn hợp nhất của các văn bản chỉnh sửa. Hồi giờ tôi cứ nghĩ nhà nước không bao giờ ban hành văn bản hợp nhất mà chỉ có bản gốc và bản sửa đổi được ban hành riêng lẻ. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 06:18, ngày 16 tháng 11 năm 2018 (UTC)
== Bộ Pháp điển==
Xem [http://phapdien.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-bo-phap-dien.aspx Bộ Pháp điển của Việt Nam] và [https://thanhtra.most.gov.vn/thanhtra/pages/bophapdien.aspx Bộ pháp điển về sở hữu trí tuệ]. Đáng tiếc, [[Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam#%C4%90i%E1%BB%81u 14. X%E1%BB%AD l%C3%BD sai s%C3%B3t, duy tr%C3%AC B%E1%BB%99 ph%C3%A1p %C4%91i%E1%BB%83n tr%C3%AAn Trang th%C3%B4ng tin %C4%91i%E1%BB%87n t%E1%BB%AD ph%C3%A1p %C4%91i%E1%BB%83n|Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Điều 14]] lại quy định: ''Nhà nước giữ bản quyền đối với Bộ pháp điển'' :(. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:37, ngày 17 tháng 11 năm 2018 (UTC)
== Lỗi bot==
Nhờ anh xem lại TVT-bot: ở [[Đặc biệt:Khác/63332]] nó chỉ xóa năm mất, không xóa năm sinh, xóa hết tham số <code>| mô tả =</code>. Ở [[Đặc biệt:Khác/63335]], nó cũng chỉ xóa năm mất, không xóa năm sinh, xóa hết khoảng trắng từ dấu = đến chữ "mất" làm cho dấu = trong tham số <code>năm mất</code> bị lệch với dấu = của các tham số khác. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:52, ngày 20 tháng 11 năm 2018 (UTC)
:{{ping|Tranminh360}} trường hợp thứ hai tôi không ngờ lại có người viết bản mẫu dàn ngang như vậy nên regex của tôi dò và xóa đến hết hàng. Nhờ Mình lùi sửa giúp. Trường hợp đầu là bình thường vì tôi chỉ mới chạy bot trên thể loại ngày mất, chưa chạy trên ngày sinh. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 11:58, ngày 20 tháng 11 năm 2018 (UTC)
== Cộng tác Phan Khôi==
Sang tháng 12 cộng tác Phan Khôi được không anh? Hiện nay [[Tác gia:Phan Khôi]] mới chỉ có các tác phẩm đăng báo từ 1928 đến 1931. Cần bổ sung thêm: [http://lainguyenan.free.fr/pk1932/index.html Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1932], [http://lainguyenan.free.fr/pk1933-1934/index.html Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1933-1934], [http://lainguyenan.free.fr/pk1935/index.html Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1935], [http://lainguyenan.free.fr/pk1936/index.html Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1936], [http://lainguyenan.free.fr/pk1937/index.html Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1937], [http://lainguyenan.free.fr/pk1938-42/index.html Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1938-1942]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:16, ngày 27 tháng 11 năm 2018 (UTC)
:Đồng ý với Minh. Thật là tiếc là chúng ta không có những bản scan thế này. Nếu có thì việc kêu gọi hiệu đính sẽ dễ dàng và thú vị biết chừng nào. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 04:21, ngày 27 tháng 11 năm 2018 (UTC)
== Ấn bản==
Anh xem giùm vì sao khi dùng tham số <code>| ấn bản = có</code> trong bản mẫu {{tl|đầu đề}} thì lại hiện ra 2 bản mẫu {{tl|ấn bản}}? Ví dụ như bài [[Chánh phủ Pháp vẫn trông nom đến cái bao lơn trên Thái Bình Dương]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:17, ngày 7 tháng 12 năm 2018 (UTC)
== Mục lục==
Ở [[Trang:Ton Ngo Binh Phap - Ngo Van Trien.pdf/281]], dùng bản mẫu {{tl|Dotted TOC page listing}} thì nó sẽ tạo ra các dấu chấm chấm như trong bản scan. Dùng bản mẫu {{tl|TOC page listing}} để tạo mục lục mà không có dấu chấm chấm. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 00:49, ngày 19 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:Cảm ơn {{ping|Tranminh360}}, nhưng lỡ tạo rồi, giờ phải dùng bản mẫu cho từng dòng :(. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 01:19, ngày 19 tháng 12 năm 2018 (UTC)
::Dùng bản mẫu {{tl|rh}} để thêm đầu trang vào phần noinclude, ví dụ [[Trang:Truyen ky man luc NVT.pdf/14]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:26, ngày 20 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:::Tôi định để đến khi hiệu đính sẽ thêm, vì nó làm gián đoạn việc sao chép và kiểm tra nội dung. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 05:51, ngày 20 tháng 12 năm 2018 (UTC)
== Tùy chọn hiển thị==
Xem các trang nhúng bản scan như [[Truyền kỳ mạn lục]] thì không thấy mục "Tùy chọn hiển thị" ở thanh bên. Hình như [[MediaWiki:PageNumbers.js]] không hoạt động? Xem các trang nhúng bản scan ở Wikisource tiếng Anh như [[:en:Messiah (1749)]] thì vẫn thấy có mục "Display Options" ở thanh bên (đấy là em mở giao diện máy tính trên Safari thấy thế). [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:11, ngày 20 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:Ừ, các mã javascript này đều không hiển thị vì một lý do nào đó. Anh biết từ lâu nhưng chưa có thời gian mở ra và sắp xếp lại. Hiện giờ toàn bộ mã JS đều đưa vào [[MediaWiki:Common.js]] rất lộn xộn và có thể đã bị đè lên nhau ở đâu đó. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 10:21, ngày 20 tháng 12 năm 2018 (UTC)
::Bản mẫu {{tl|số}} dường như cũng không hiển thị được? Xem [[Sáng thế ký/Chương 1]] trong giao diện máy tính cũng không thấy số câu. Cả tùy chọn "So thu tu" ở thanh bên cũng không thấy nữa. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:50, ngày 20 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:::Và cũng chẳng hiểu tại sao trang [[Truyền kỳ mạn lục/Tại sao]] lại hiển thị cả phần "văn chương" luôn? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:41, ngày 20 tháng 12 năm 2018 (UTC)
::::Bây giờ thì tham số <code>| wikipedia =</code> trong bản mẫu {{tl|đầu đề}} cũng không hiển thị được luôn, ví dụ như ở trang [[Truyền kỳ mạn lục]]. Em thử chép phần {{tl|đầu đề}} trong bài [[Chánh sách nội các mới của Nhựt với dư luận Nhựt vẫn nghịch nhau]] sang [[Trợ giúp:Chỗ thử]] thì thấy trong [[Trợ giúp:Chỗ thử]] không hiển thị dòng {{tl|ấn bản}} nào, trong khi bài [[Chánh sách nội các mới của Nhựt với dư luận Nhựt vẫn nghịch nhau]] vẫn hiển thị 2 dòng "Thông tin về bản này". Rút cục là lỗi gì vậy ạ? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 15:21, ngày 20 tháng 12 năm 2018 (UTC)
::{{ping|Tranminh360}} Cái nào trả lời được trả lời trước nhé. Liên kết Wikipedia giờ được đưa sang thanh bên giống như một liên kết ngôn ngữ khác. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 06:08, ngày 23 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:::Xem [[:en:Template:Header#Sister, related author, and portal wiki links]] vẫn thấy hiển thị related portal, related author, sister project mà. Mà theo như bên en (và cả mã nguồn của bản mẫu {{tl|đầu đề}}) thì hễ kết nối văn kiện với Wikidata thì các tham số đó tự động hiện ra chứ, giống như bản mẫu {{tl|Tác gia}} vậy. Thế thì bản mẫu {{tl|đầu đề}} bị lỗi gì đó, nó không hiển thị giống như bên en. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 06:59, ngày 23 tháng 12 năm 2018 (UTC)
::::{{ping|Tranminh360}} {{tick}} Cái này đã sửa. Một lỗi nhỏ tí ti nhưng rất nghiêm trọng :(. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 15:36, ngày 23 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:Trong [[MediaWiki:Common.js]] có đoạn mã này:
<source lang="javascript">
[[OldWikisource:MediaWiki:PageNumbers.js]]
"optlist": "Tùy chọn hiển thị",
"hide_page_numbers": "Ẩn liên kết trang",
"show_page_numbers": "Hiện liên kết trang",
</source>
<span><!--__DTEMPTYTALKPAGE__--></span>
<span></span>
Không biết có phải là nó ghi đè lên không? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:28, ngày 23 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:{{ping|Tranminh360}} Anh vừa xóa mấy dòng đó đi nhưng hiện thời vẫn không thấy đổi gì cả. Có thể phải đợi 10, 15p xem sao. Giá như có người biết cách debug JS tốt hơn. Nhiều bug quá mà anh thì không rành debugging JS phức tạp thế này. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 06:12, ngày 23 tháng 12 năm 2018 (UTC)
==Prose==
Anh thêm mã cho class prose trong [[MediaWiki:Gadget-viws-tweaks.css]] thụt vào dòng đầu tiên trong đoạn văn (first line indent) đi ạ. Cách sách vẫn in thụt vào dòng đầu tiên trong đoạn văn mà. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 09:31, ngày 24 tháng 12 năm 2018 (UTC)
== {{User|Bộ lọc sai phạm}} ==
Trong [[Đặc biệt:Danh sách thành viên/sysop]] tự dưng xuất hiện tài khoản {{User|Bộ lọc sai phạm}} mở ngày 17-12-2018. Xem [[metawiki:Special:CentralAuth/Bộ lọc sai phạm|m:Special:CentralAuth/Bộ lọc sai phạm]] thì thành viên này cũng là BQV ở Wikipedia (đã bị cấm vô hạn), Wikibooks, Wikiquote, Wikivoyage, Wiktionary. Không hiểu tài khoản BQV này ở đâu ra vậy anh? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:41, ngày 26 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:{{ping|Tranminh360}} nó xuất hiện trong toàn bộ các dự án Wiki, có lẽ phần mềm đang cập nhật cái gì đấy. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 06:49, ngày 26 tháng 12 năm 2018 (UTC)
== Từ điển giải nghĩa bằng tiếng Latin==
Anh có chấp nhận lưu trữ từ điển giải nghĩa bằng tiếng Latin trong Wikisource tiếng Việt không ạ? Ví dụ như [[Từ điển Việt–Bồ–La]] và [[Từ điển Taberd]]. Đây là các từ điển tiếng Việt nhưng giải nghĩa bằng tiếng Latin (và tiếng Bồ Đào Nha), phần giới thiệu cũng bằng tiếng Latin. Những người không biết tiếng Latin thì đọc không hiểu gì hết. Hay là chuyển các từ điển này sang [[:la:|Wikisource tiếng Latin]], [[:oldwikisource:|Wikisource đa ngôn ngữ]]? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:04, ngày 27 tháng 12 năm 2018 (UTC)
:{{ping|Tranminh360}} Đây quả thật là một văn kiện đồ sộ của Mxn và LMQ đã soạn vào. Nó là tác phẩm rất nổi tiếng của tiếng Việt nên để nó ở đây vẫn tốt. Cuốn từ điển này quả thật thể hiện được sức mạnh của Wikisource trong việc số hóa các tác phẩm khó. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 04:21, ngày 27 tháng 12 năm 2018 (UTC)
== {{tl|số}} ==
Anh sửa bản mẫu {{tl|số}} cho nó hiển thị trở lại giống như [[:fr:Modèle:NumVers]] đi ạ. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:53, ngày 4 tháng 1 năm 2019 (UTC)
:Anh dùng máy tính để bàn thì hai bản mẫu hiển thị rất giống nhau. Em thấy sự khác biệt trong phiên bản nào? – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 12:39, ngày 29 tháng 8 năm 2022 (UTC)
::Không có tùy chọn hiện/ẩn các số thứ tự. Ví dụ: ở [[fr:La Légende des siècles/Clarté d’âmes]], ở thanh bên có mục Options d’affichage, khi bấm vào dòng ''Vers numérotés'' thì các số thứ tự sẽ ẩn đi, bấm lại một lần nữa thì các số thứ tự sẽ hiện ra. Anh xem mã nguồn của {{tl|số}} có đoạn <code><nowiki> <span class="OptionText" title="{{{2|So thu tu}}}" ></nowiki></code>, tùy chọn này hiện không hiển thị được. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:29, ngày 30 tháng 8 năm 2022 (UTC)
== Giấy phép ==
Em tìm được [https://bibliotheques-specialisees.paris.fr/ark:/73873/pf0001613420 bản gốc] của [[c:File:9-lam_ghe_may.png|tấm ảnh]] được dùng trong [[Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/49]]
Em không rõ là những hình ảnh do ''Service photocinématographique Indochine'' xuất bản có thuộc phạm vi công cộng chưa? Và nếu thuộc phạm vi công cộng thì mình nên dùng giấy phép gì cho nó?
Xin cảm ơn anh. – [[Thành viên:LMQ2401|LMQ2401]] ([[Thảo luận Thành viên:LMQ2401|thảo luận]]) 14:14, ngày 18 tháng 8 năm 2022 (UTC)
Những hình như vậy đều thuộc phạm vi công cộng tại cả Việt Nam (nơi xuất bản lần đầu) lẫn Hoa Kỳ (nơi đặt máy chủ). Em có thể tải nó lên Commons, ghi rõ nguồn, và dùng cùng lúc 2 bản mẫu <nowiki>{{PD-Vietnam}}</nowiki> và <nowiki>{{PD-1996 |country= Vietnam}}</nowiki>. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 18:08, ngày 18 tháng 8 năm 2022 (UTC)
== [[c:File:Com Thay Com Co va Luc Si 1937.pdf]] ==
Em thấy trong [https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/archive/c/cd/20220827023119%21Com_Thay_Com_Co_va_Luc_Si_1937.pdf bản quét gốc] của cuốn này ở cuối có bài ''Từ thanh niên S. 0. S đến Một chiến sĩ'' của [[w:Trương Tửu|Trương Tửu]], ông này mất năm 1999, chưa hết hạn bản quyền nên em cắt bỏ 2 trang có bài của Trương Tửu đi rồi tải lên phiên bản mới thì hình thu nhỏ lại hiện ra chữ A màu đỏ, phần mô tả lại hiển thị 0×0 điểm ảnh, không hiểu tại sao? Nhưng khi bấm vào hình thu nhỏ vẫn hiện ra [https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/cd/Com_Thay_Com_Co_va_Luc_Si_1937.pdf phiên bản mới] đã cắt bỏ 2 trang có bài của Trương Tửu. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:58, ngày 29 tháng 8 năm 2022 (UTC)
:Anh không rõ tại sao lại như vậy. Có thể do Commons, cũng có thể do phần mềm xóa trang của em. Nhưng anh xem qua trang Mục lục thì tất cả có vẻ đều hiển thị đúng. Thôi cứ để như vậy vậy. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 12:35, ngày 29 tháng 8 năm 2022 (UTC)
::Em thấy có [https://quantrimang.com/cong-nghe/chinh-sua-file-pdf-bang-ung-dung-files-187094?mode=amp hướng dẫn sửa file PDF trên iPhone bằng ứng dụng Tệp] nên làm theo chứ em không có máy tính để làm. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:20, ngày 30 tháng 8 năm 2022 (UTC)
== Thư viện Quốc gia Pháp ==
Bây giờ em mới thấy rằng Thư viện Quốc gia Pháp đưa lên mạng cả những tác phẩm của các tác giả chưa hết hạn bản quyền mà họ cứ vô tư ghi public domain mới lạ chứ? Ví dụ, em tìm [https://gallica.bnf.fr/services/engine/search/sru?operation=searchRetrieve&version=1.2&query=%28%28dc.creator%20all%20%22Huy%20Cận%22%20or%20dc.contributor%20all%20%22Huy%20Cận%22%29%29&keywords=Huy%20Cận&suggest=2# Huy Cận], mục số 5 ra '''Kinh cầu tự.../ Huy Cận''' 1942, bấm vào Informations détaillées ra '''Auteur''': '''Huy Cận''' (1919-2005). Auteur du texte mà ở dưới lại ghi '''Droits''': Public domain, chẳng hiểu tác phẩm của Huy Cận thuộc public domain theo luật bản quyền của nước nào? Hoặc thử tìm [https://gallica.bnf.fr/services/engine/search/sru?operation=searchRetrieve&version=1.2&startRecord=0&maximumRecords=15&page=1&query=%28%28dc.creator%20all%20%22Thê%20́%20Lư%20̃%22%20or%20dc.contributor%20all%20%22Thê%20́%20Lư%20̃%22%29%29# Thế Lữ], mục số 2 ra '''Mấy vần thơ. Tập mới''' - 1941, bấm vào Informations détaillées ra '''Auteur''': '''Thế Lữ''' (1907-1989). Auteur du texte mà ở dưới lại ghi '''Droits''': Public domain, chẳng hiểu tác phẩm của Thế Lữ thuộc public domain theo luật bản quyền của nước nào? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:32, ngày 25 tháng 9 năm 2022 (UTC)
== Đề nghị mở khóa [[Đặc biệt:Tải lên]] ==
Theo thảo luận ở [[w:Thảo luận Thành viên:Băng Tỏa#URAA]], thành viên Băng Tỏa đề nghị Wikisource chúng ta yêu cầu Phabricator mở khóa trang [[Đặc biệt:Tải lên]] ([[Wikisource:Thảo luận/Lưu trữ/2014#Using only UploadWizard for uploads|chức năng này bị khóa từ năm 2014, chỉ có BQV tải lên được]]) để tải các tập tin thuộc phạm vi công cộng ở Việt Nam nhưng không thuộc phạm vi công cộng ở Hoa Kỳ theo URAA vì Commons chỉ chấp nhận các tập tin thuộc phạm vi công cộng ở cả quốc gia gốc và Hoa Kỳ. Các tập tin như [[c:File:Phật Lục - Trần Trọng Kim.pdf]] hoàn toàn có thể bị gắn thẻ [[c:Template:Not-PD-US-URAA]] và bị đề nghị xóa vì không thuộc phạm vi công cộng ở Hoa Kỳ theo URAA, [[c:Category:URAA-related deletion requests/deleted]] có tới 1175 trang trong khi [[c:Category:URAA-related deletion requests/kept]] chỉ có 73 trang, nghĩa là số lượng tập tin bị xóa vì không thuộc phạm vi công cộng ở Hoa Kỳ theo URAA vẫn nhiều hơn số lượng tập tin được giữ. Chuyển các tập tin như vậy sang Wikisource tiếng Việt thì an toàn hơn, khỏi lo tập tin bị xóa. Ý kiến của anh? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:12, ngày 17 tháng 10 năm 2022 (UTC)
:Anh hoàn toàn đồng ý với đề xuất của em. Chúng ta mở bình chọn trên trang Cộng đồng? – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 00:06, ngày 18 tháng 10 năm 2022 (UTC)
::Vậy nhờ anh đưa vấn đề này ra trang [[Wikisource:Thảo luận]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 01:41, ngày 18 tháng 10 năm 2022 (UTC)
== [[:Thể loại:Đề nghị xóa nhanh]] ==
Nhờ anh xóa các trang trong [[:Thể loại:Đề nghị xóa nhanh]], cảm ơn anh. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:33, ngày 20 tháng 11 năm 2022 (UTC)
== Lỗi OCR ==
OCR trang nào cũng báo lỗi: ''Địa chỉ URL của hình phải bắt đầu bằng một trong các tên miền sau và kết thúc bằng một phần mở rộng tập tin hợp lệ: upload.wikimedia.org và upload.wikimedia.beta.wmflabs.org'', phải bấm vào nút "Tùy chọn nâng cao" đề dẫn tới trang [https://ocr.wmcloud.org/?engine=google&langs%5B%5D=vi&image=%2F%2Fupload.wikimedia.org%2Fwikipedia%2Fcommons%2Fthumb%2F9%2F92%2FTho_ngu_ngon_La_Fontaine_Nguyen_Van_Vinh_1951.pdf%2Fpage19-2048px-Tho_ngu_ngon_La_Fontaine_Nguyen_Van_Vinh_1951.pdf.jpg&uselang=vi WikimediaOCR] rồi phải thêm <code>https:</code> vào trước URL hình thì mới tách văn bản được. Chẳng hiểu tại sao? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:12, ngày 8 tháng 12 năm 2022 (UTC)
:Đã có người báo lỗi ở [[phab:T324740]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:12, ngày 9 tháng 12 năm 2022 (UTC)
== [[Trang:Len tam.pdf/1]] ==
Anh xem có cách nào dùng bản mẫu {{tl|Xoay}} để hiển thị cho giống với bản gốc trong [[Trang:Len tam.pdf/1]], chứ em là toàn ra [[Trợ giúp:Chỗ thử|thế này]]. Cảm ơn anh. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 01:33, ngày 15 tháng 12 năm 2022 (UTC)
== Hợp nhất tài khoản ==
Chào anh,
Em mới nhận ra là Wikisource phân biệt 2 tài khoản LMQ2401 và Lmq2401 của em là 2 tài khoản khác nhau. Mình có cách nào để hợp nhất 2 tài khoản để cho dễ quản lý không anh? Cảm ơn anh. – [[Thành viên:LMQ2401|LMQ2401]] ([[Thảo luận Thành viên:LMQ2401|thảo luận]]) 07:21, ngày 1 tháng 1 năm 2023 (UTC)
:{{ping|LMQ2401}} Ở [[m:Steward requests/Username changes#Requests involving merges, usurps or other complications]] có treo thông báo: ''We are sorry to announce that Global User Account Merges are not possible as the UserMerge extension is incompatible with CentralAuth. As such, we will not accept any request to merge user accounts as it is technically impossible at this moment to do so''. Do đó không thể hợp nhất tài khoản được. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:47, ngày 3 tháng 1 năm 2023 (UTC)
::Xin cảm ơn anh @[[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]]. – [[Thành viên:LMQ2401|LMQ2401]] ([[Thảo luận Thành viên:LMQ2401|thảo luận]]) 03:38, ngày 9 tháng 1 năm 2023 (UTC)
== Công báo của Chính phủ Việt Nam là có bản quyền ==
Theo [https://congbao.chinhphu.vn/tai-ve-van-ban-so-02-vbhn-vpcp-38446-42806?format=pdf Thông tư Hướng dẫn thực hiện quy định về Công báo tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật] (được sửa đổi, bổ sung 2022), Điều 7, khoản 2 quy định: ''Văn phòng Chính phủ giữ bản quyền đối với Công báo điện tử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giữ bản quyền đối với Công báo điện tử cấp tỉnh.'' Như vậy theo Thông tư trên thì các Công báo của Chính phủ Việt Nam ở [[c:Category:Official Bulletins of Vietnam]] là do Văn phòng Chính phủ giữ bản quyền chứ không thuộc phạm vi công cộng đâu. Điều 7, khoản 3 của Thông tư trên nói rằng: ''Công báo điện tử được khai thác miễn phí'', nghĩa là Văn phòng Chính phủ giữ bản quyền nhưng cho dùng miễn phí là không phù hợp với chính sách bản quyền của Commons và Wikisource. Cho nên không thể dùng Công báo của Chính phủ để làm nguồn cho các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam được. Đồng thời các Công báo trong [[Chủ đề:Chính phủ Việt Nam#Công báo]] đều có bản quyền nên không thể lưu trữ ở Wikisource được.
[[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:53, ngày 13 tháng 1 năm 2023 (UTC)
:Trường hợp tương tự đối với [https://phapdien.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-bo-phap-dien.aspx Bộ Pháp điển] khi [https://bientap.vbpl.vn//FileData/TW/Lists/vbpq/Attachments/27573/VanBanGoc_03.2012.UBTVQH13.pdf Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật], Điều 14, khoản 2 quy định: ''Bộ pháp điển được duy trì liên tục trên Trang thông tin điện tử pháp điển và được sử dụng miễn phí. Nhà nước giữ bản quyền đối với Bộ pháp điển''. Cho dùng miễn phí nhưng Nhà nước giữ bản quyền thì không phù hợp với các giấy phép bản quyền trong [[Wikisource:Thẻ bản quyền]]. Có lẽ nên thêm cảnh báo vào {{tl|PVCC-CPVN}} rằng bản mẫu này không áp dụng đối với Công báo điện tử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (do Văn phòng Chính phủ giữ bản quyền); Công báo điện tử cấp tỉnh (do Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giữ bản quyền); Bộ Pháp điển (do Nhà nước giữ bản quyền). [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 09:20, ngày 19 tháng 1 năm 2023 (UTC)
::Đồng thời tên bản mẫu {{tl|PVCC-CPVN}} có thể gây nhầm lẫn rằng các tác phẩm của Chính phủ Việt Nam là thuộc phạm vi công cộng trong khi trên thực tế Công báo điện tử và Bộ Pháp điển hiện đang do Nhà nước giữ bản quyền, và [[Luật Sở hữu trí tuệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022)]], ở Điều 42 cũng quy định: ''Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là Nhà nước'', chứ không phải tác phẩm nào của Nhà nước cũng thuộc phạm vi công cộng cả đâu. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 06:51, ngày 22 tháng 1 năm 2023 (UTC)
== [[c:File:Ho Xuan Huong 2.jpg]] ==
Nhờ anh xóa giùm dòng "Mà em vẫn giữ tấm lòng son" và dòng chấm chấm ở trên trong [[c:File:Ho Xuan Huong 2.jpg]]. Em cần nhúng hình này vào các trang [[Trang:Giai nhan di mac 1.pdf/1]], [[Trang:Giai nhan di mac 1.pdf/3]] và [[Trang:Giai nhan di mac 2.pdf/1]]. Cảm ơn anh. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:49, ngày 2 tháng 2 năm 2023 (UTC)
:Xong nhé. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 17:44, ngày 3 tháng 2 năm 2023 (UTC)
== IP spam tiếng Ả Rập ==
Có 2 IP 193.233.90.53 và 185.89.100.144 đang spam hàng loạt các trang bằng tiếng Ả Rập vào Wikisource, nhờ anh xử lý gấp. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:59, ngày 9 tháng 2 năm 2023 (UTC)
== [[Giấc mộng lớn]] ==
Anh có truy cập được trang [[Giấc mộng lớn]] không? Sao em truy cập được, dùng Safari trên iPhone toàn báo lỗi "Đã có sự cố xảy ra liên tục với https://vi.m.wikisource.org/wiki/Giấc_mộng_lớn". Em dùng Chrome và Opera trên iPhone cũng không truy cập được. – [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:08, ngày 24 tháng 2 năm 2023 (UTC)
== [[Quốc ca Việt Nam]] ==
Theo [[Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2022]], có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2023, khoản 2 Điều 7 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã được bổ sung quy định: ''Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.'' Nhưng ở Wikipedia tiếng Anh [[w:en:Talk:Tiến Quân Ca#Lyrics]], 1 BQV cho rằng: ''The Vietnamese government is not the copyright holder, and such an announcement is not the same thing as the copyright holder releasing the lyrics into the public domain.'' Trong khi đó, ở Commons [[c:Commons:Deletion requests/File:National Anthem of Vietnam.ogg]], BQV đã quyết định giữ lại [[c:File:National Anthem of Vietnam.ogg]] với lý do ''no valid reason for deletion'', hoàn toàn trái ngược với các lập luận và quyết định của các BQV Commons ở [[c:Commons:Undeletion requests/Archive/2021-02#File:United States Navy Band - Tiến Quân Ca.ogg]]. Vậy theo ý anh có nên khôi phục lại trang [[Quốc ca Việt Nam]] ở Wikisource tiếng Việt hay không? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:35, ngày 12 tháng 3 năm 2023 (UTC)
:Sự mâu thuẫn giữa en.wiki và cả bên trong Commons thể hiện sự thiếu nhất quán về cách diễn giải và cả ảnh hưởng của một cá nhân lên một bài viết. Nếu thành viên Diannaa không nằng nặc bảo rằng lời bài hát vẫn còn hạn bản quyền tại Hoa Kỳ thì lời bài hát sẽ vẫn trong bài viết. Trên Commons, nếu dựa vào tiền lệ của mục biểu quyết do em tạo thì bản United States Navy cũng sẽ được phục hồi với cùng một lý do. Tại Wikisource, anh không phản đối việc khôi phục [[Quốc ca Việt Nam]]. Luật pháp Việt Nam dù không ghi rõ ràng về việc thuộc về công chúng, nhưng ngày càng tiến gần đến việc đó hơn (dù vẫn nhập nhèm để giữ quyền nhân thân 19.4). – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:16, ngày 21 tháng 3 năm 2023 (UTC)
::{{ping|Vinhtantran|label=Tân}} [[c:File:National Anthem of Vietnam.ogg]] mà BQV Commons quyết định giữ lại thông qua [[c:Commons:Deletion requests/File:National Anthem of Vietnam.ogg]] cũng là bản US Navy Band đó. Xem [https://commons.wikimedia.org/w/index.php?title=File:National_Anthem_of_Vietnam.ogg&action=history lịch sử tập tin] thì thấy thành viên Trương Bá Bình Phương [https://commons.wikimedia.org/w/index.php?title=File:National_Anthem_of_Vietnam.ogg&oldid=730638156 tải phiên bản mới từ Cổng thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam] lên, sau đó thành viên Bookish Worm lùi về phiên bản của US Navy Band với lý do ''Restored the anthem back to US Navy band version. The version by the Vietnamese Army band is copyrighted and not in public domain'', không biết lập luận như thế có đúng không? [[c:Category:Tiến Quân Ca]] thì vẫn cứ ghi cảnh báo ''The song is under copyright by Vietnamese laws (until 2046) and US laws (until 2041)'', ''These works or works by this artist may not be in the public domain, because the artist is still living or has not been dead for at least 50 years. Please do not upload photographs or scans of works by this artist'', trong khi em thấy trong thể loại này có cả [[c:File:TienQuanCa 1946 French records.ogg]] và [[c:File:TienQuanCa PAVN records.ogg]], nên cũng chẳng biết thế nào mà lần. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 01:45, ngày 22 tháng 3 năm 2023 (UTC)
:::Mà bài hát và bản ghi âm của bài hát là hai khái niệm khác nhau, có thời hạn bảo hộ bản quyền khác nhau. [[Luật Sở hữu trí tuệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022)/Phần thứ hai/Chương II|Điều 34 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam]] quy định: ''2. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố'' và ''4. Thời hạn bảo hộ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan''. [[Luật Sở hữu trí tuệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022)/Phần thứ hai/Chương III|Điều 43 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam]] quy định: ''Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này và cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 34 của Luật này thì thuộc về công chúng''. Như vậy tác phẩm (bài hát) và bản ghi âm, ghi hình của bài hát đó độc lập với nhau. [[c:File:TienQuanCa 1946 French records.ogg|Bản ghi âm bài Tiến quân ca của Pháp năm 1946]] đã thuộc về công chúng theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam vì bản ghi âm này đã được công bố năm 1946 (quá 50 năm '''tính từ năm tiếp theo năm công bố''' (1947)). Còn [[c:File:TienQuanCa PAVN records.ogg|bản ghi âm bài Tiến quân ca của Đoàn Ca múa quân đội, Quân đội Nhân dân Việt Nam]] thì không rõ công bố năm nào để có thể xác định có thuộc về công chúng hay không. Lưu ý là khi gia đình nhạc sĩ Văn Cao hiến tặng bài Tiến quân ca cho Nhà nước là hiến tặng tác phẩm âm nhạc (bài hát, bao gồm nhạc và lời) chứ không hiến tặng bản ghi âm, ghi hình nào của bài hát cả. Còn bản ghi âm bài Tiến quân ca của US Navy Band thì đương nhiên thuộc phạm vi công cộng vì là tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ theo [https://www.law.cornell.edu/uscode/text/17/105 17 U.S. Code § 105]. [[c:Commons:Copyright rules by subject matter#Music]] cũng quy định: '' In order to upload a piece of recorded music to Commons, both the composition and the recording must be freely-licensed or in the public domain. A specific recording of a song in the public domain can still be copyrighted, as the specific arrangement is considered a derivative work that is eligible for its own copyright, regardless of the copyright status of the original composition''. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:03, ngày 22 tháng 3 năm 2023 (UTC)
Bài ''Tiến quân ca'' dường như rơi vào điểm b, khoản 1 Điều 42 [[Luật Sở hữu trí tuệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022)/Phần thứ hai/Chương III|Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam]]: ''1. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trong các trường hợp sau đây: b) Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan cho Nhà nước;'' vì gia đình nhạc sĩ Văn Cao đã hiến tặng bài hát này cho Quốc hội, Quốc hội giao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý. Theo [https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2023/5/17-cp.signed.pdf Nghị định số 17/2023/NĐ-CP], Điều 22 quy định:
<i>1. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ phải tôn trọng quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2, 4 Điều 19 và khoản 2 Điều 29 của Luật Sở hữu trí tuệ và thực hiện các nghĩa vụ đối với quyền tài sản như sau:
a) Phải xin phép sử dụng và trả tiền bản quyền đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20, khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31 của Luật Sở hữu trí tuệ;
[...]
3. Tổ chức, cá nhân xin phép sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thực hiện như sau:
a) Nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính tới cơ quan quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Thành phần hồ sơ:
Tờ khai đề nghị chấp thuận việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan (theo Mẫu số 01 của Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này);
Kế hoạch sử dụng;
Bản sao chứng từ nộp chi phí thực hiện chấp thuận việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan (trường hợp nộp chi phí qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tiếp vào tài khoản);
Văn bản ủy quyền (có công chứng, chứng thực hoặc hợp pháp hóa lãnh sự) trong trường hợp nộp hồ sơ thông qua ủy quyền.
c) Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều này gửi thông báo nộp tiền bản quyền kèm theo bản dự tính tiền bản quyền đến tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ;
d) Tổ chức, cá nhân nhận được thông báo phải nộp tiền bản quyền theo bản dự tính tiền bản quyền trong thời hạn 5 ngày làm việc (có bản sao chứng từ nộp tiền bản quyền);
đ) Sau khi nhận được tiền bản quyền, trong thời hạn 5 ngày làm việc, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều này ban hành văn bản chấp thuận việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan;
e) Tổ chức, cá nhân được chấp thuận sử dụng chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng theo hồ sơ đã được chấp thuận;
g) Trường hợp từ chối hồ sơ đề nghị chấp thuận việc sử dụng:
Hồ sơ không đầy đủ theo quy định tại điểm b khoản này;
Hết thời hạn quy định tại điểm d khoản này mà tổ chức, cá nhân không nộp tiền bản quyền theo thông báo.</i>
Nếu sử dụng bài ''Tiến quân ca'' mà phải xin phép và trả tiền bản quyền theo thủ tục nêu trên thì không tự do rồi. Mà Nghị định cũng không loại trừ bài ''Tiến quân ca''. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:35, ngày 6 tháng 5 năm 2023 (UTC)
== Đổi tên [[Hai sắc hoa Tigôn]] ==
Xin nhờ bạn đổi tên bài này thành "Hai sắc hoa Ti-gôn", theo đúng với tên gốc của nơi đầu tiên đăng thơ [http://2014vbmt.blogspot.com/2013/12/hai-sac-hoa-tigon-t-t-kh-in-lan-au-nam.html]. – [[Thành viên:Nguyenmy2302|Nguyenmy2302]] ([[Thảo luận Thành viên:Nguyenmy2302|thảo luận]]) 19:16, ngày 21 tháng 3 năm 2023 (UTC)
== Các trang văn bản luật do Tnt1984 tạo ==
[https://xtools.wmflabs.org/pages/vi.wikisource.org/Tnt1984 Các trang văn bản luật do Tnt1984 tạo], dấu chấm dùng để phân cách giữa số Điều và tên Điều đều bị Tnt1984 sửa lại thành dấu hai chấm. Ví dụ ở [[Luật Viên chức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2010]], bản gốc là '''Điều 1. Phạm vi điều chỉnh''' thì bị Tnt1984 sửa thành '''Điều 1: Phạm vi điều chỉnh'''. Anh có thể dùng bot để sửa lại thành dấu chấm như trong bản gốc được không? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 01:17, ngày 10 tháng 4 năm 2023 (UTC)
== [[Cô bé Lọ Lem]] ==
Dường như IP dịch từ [[:en:Cinderella (Grimm)]] nhưng cứ như dịch máy ấy: "''Con yêu dấu, hãy luôn ngoan đạo và tốt bụng, rồi Chúa yêu dấu của chúng ta sẽ luôn bảo vệ bạn, và tôi sẽ nhìn xuống bạn từ trên trời và ở gần bạn.''" [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 06:44, ngày 22 tháng 4 năm 2023 (UTC)
:Nhờ anh xem bản dịch ở [[Biên dịch:Rapunzel]] đọc cứ như là dịch máy ấy: ''Sao mày dám đến vườn tao ăn trộm củ cải như một tên trộm? Bạn không biết rằng một bất hạnh có thể đến với bạn?''... ''Tôi sẽ đối xử tốt với anh ấy, và tôi sẽ chăm sóc anh ấy như thể anh ấy là mẹ của anh ấy.'' [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 09:59, ngày 27 tháng 6 năm 2023 (UTC)
== [[Tam quốc diễn nghĩa (Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỷ hiệu đính)]] ==
Anh không có bản scan bản in năm 1959 của NXB Phổ thông à? Mấy hồi anh hiệu đính theo bản 1959 toàn bị IP sửa lại theo các bản in sau này. Nếu không có bản scan thì tốt nhất nên bán khóa các hồi đã hiệu đính theo bản 1959 để IP khỏi sửa lại theo các bản in sau này. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 01:08, ngày 3 tháng 5 năm 2023 (UTC)
:Anh không có bản scan năm 1959. Bản scan anh đang dùng là lần tái bản sau này với lời ghi "trung thành với bản 1959". Chính vì vậy anh đâu có dám tải lên. Có lẽ nên bán khoá như em nói, nhất là những Chương đã được hiệu đính. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 01:33, ngày 3 tháng 5 năm 2023 (UTC)
::Em thấy có link ebook bộ 13 tập [http://tve-4u.org/threads/tam-quoc-dien-nghia-la-quan-trung-dich-gia-phan-ke-binh-bo-13-tap.28541/page-10 ở đây], hay là chép nội dung ebook này vào Wikisource đối với các hồi còn lại cho nhanh? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:22, ngày 3 tháng 5 năm 2023 (UTC)
:::Em có thể làm như vậy. Có khá là nhiều người tiếp tục "sửa" nó nên chắc chắn cần phải hiệu đính lại để trả nó về đúng (thậm chí là sai) theo đúng bản gốc. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 09:38, ngày 4 tháng 5 năm 2023 (UTC)
::::Bản in lại của Đông A năm 2009 theo link [http://tve-4u.org/threads/tam-quoc-dien-nghia-la-quan-trung-bo-13-tap-pdf.15082/ ở đây] có ghi: ''Bìa do họa sĩ Tạ thúc Bình trình bày. Tranh bìa và minh họa: chụp lại trong bộ tranh truyện "Tam Quốc" của hai họa sĩ Trung-quốc: Từ chính Bình và Từ hoằng Đại.'' Tra cứu thì thấy: Họa sĩ [https://designs.vn/hoa-si-ta-thuc-binh-dung-di-mot-hon-que-kinh-bac/ Tạ Thúc Bình] mất năm 1998, họa sĩ Trung Quốc [https://baike.baidu.com/item/徐正平/62553 Từ Chính Bình] còn sống. Em không tra được họa sĩ Trung Quốc nào tên Từ Hoằng Đại, như tra trang [https://baike.baidu.com/item/三国演义/7088722 Tam quốc diễn nghĩa liên hoàn họa] thì thấy ghi tác giả có họa sĩ Từ Hoằng Đạt (徐宏达), vậy chắc là ông này, [https://baike.baidu.com/item/徐宏达/2984861 Baidu Baike] ghi ông này mất năm 1986. Vậy nếu có bản scan bản in năm 1959 của NXB Phổ thông thì cũng chẳng tải lên Commons được vì các tranh minh họa vẫn còn hạn bản quyền. Mà cái bìa là do họa sĩ Tạ Thúc Bình thiết kế, vậy có tính bản quyền của cái bìa hay không? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:19, ngày 17 tháng 5 năm 2023 (UTC)
:::::Đúng rồi. Không những trang bìa mà hình ảnh minh họa trong một số chương truyện đều lấy từ cuốn Liên hoàn họa, còn hạn bản quyền. Tóm lại, bộ 13 tập đó chỉ có nội dung là "có thể" đã hết hạn bản quyền (do năm mất của Bùi Kỷ không thỏa mãn tại Hoa Kỳ), còn bản thân cuốn sách đó không thể tải lên Commons được. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:19, ngày 17 tháng 5 năm 2023 (UTC)
::::::Tra cứu thêm các tác giả của [https://baike.baidu.com/item/三国演义/7088722 Tam quốc diễn nghĩa liên hoàn họa] do NXB Mỹ thuật Nhân dân Thượng Hải xuất bản từ năm 1956 đến năm 1964: [https://baike.baidu.com/item/刘锡永/3843784 Lưu Tích Vĩnh] mất năm 1973, [https://baike.baidu.com/item/汪玉山/2984875 Uông Ngọc Sơn] mất năm 1996, [https://baike.baidu.com/item/李铁生/1873314 Lý Thiết Sinh] còn sống, [https://baike.baidu.com/item/严绍唐/2984829 Nghiêm Thiệu Đường] mất năm 1979, [https://baike.baidu.com/item/张令涛/4006142 Trương Lệnh Đào] mất năm 1988, [https://baike.baidu.com/item/陈光镒 Trần Quang Dật] mất năm 1991, [https://baike.baidu.com/item/凌涛/10661907 Lăng Đào] còn sống, [https://baike.baidu.com/item/卢汶 Lư Vấn] mất năm 2010 v.v. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 14:55, ngày 17 tháng 5 năm 2023 (UTC)
== Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ==
Chính phủ Việt Nam vừa ban hành [https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2023/5/17-cp.signed.pdf Nghị định số 17/2023/NĐ-CP] Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan, thay thế cho [[Nghị định số 22/2018/NĐ-CP]], có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26 tháng 4 năm 2023 (đã có hiệu lực). Theo Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, Điều 17: ''Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm di cảo thực hiện theo quy định tại Điều 27 của Luật Sở hữu trí tuệ''. Như vậy không còn quy định ''Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm di cảo là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên'' như ở Điều 24 của [[Nghị định số 22/2018/NĐ-CP/Chương II|Nghị định số 22/2018/NĐ-CP]] nữa. Đối với [[Tác gia:Trần Trọng Kim]], tác phẩm [[Thư Trần Trọng Kim gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947]] (di cảo, công bố lần đầu 2013), nếu theo Nghị định số 22/2018/NĐ-CP thì tác phẩm này sẽ được bảo hộ bản quyền đến hết năm 2053 (50 năm kể từ khi tác phẩm di cảo được công bố lần đầu tiên), nhưng theo Nghị định số 17/2023/NĐ-CP thì tác phẩm này sẽ được bảo hộ bản quyền đến hết năm 2003 (thực hiện theo quy định tại Điều 27 của Luật Sở hữu trí tuệ = cuộc đời tác giả + 50 năm sau khi tác giả chết). Như vậy theo Nghị định số 17/2023/NĐ-CP thì tác phẩm này đã hết hạn bản quyền rồi, không biết có thể khôi phục được không? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:41, ngày 5 tháng 5 năm 2023 (UTC)
:Mà nếu tính đến chuyện "không hồi tố" thì thông thường nếu tăng thời hạn bảo hộ thì các tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng sẽ không được phục hồi. Còn trong trường hợp này là giảm thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm di cảo (từ công bố + 50 năm rút ngắn xuống cuộc đời tác giả + 50 năm sau khi tác giả chết, vì tác phẩm di cảo là tác phẩm được công bố lần đầu sau khi tác giả chết nên thời hạn 50 năm sau khi tác giả chết sẽ ngắn hơn thời hạn 50 năm sau khi tác phẩm di cảo được công bố), vậy phải áp dụng như thế nào? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:59, ngày 5 tháng 5 năm 2023 (UTC)
::Ở đây, "không hồi tố" có lẽ phải đứng từ góc nhìn là quyền lợi của tác giả, coi như tác phẩm di cảo này vẫn còn thời hạn bản quyền. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:22, ngày 17 tháng 5 năm 2023 (UTC)
== Thiết kế đồ họa là tác phẩm mỹ thuật hay tác phẩm mỹ thuật ứng dụng? ==
Xem [[Nghị định số 17/2023/NĐ-CP/Chương II]], ở Điều 6, khoản 7 nói về tác phẩm mỹ thuật và khoản 8 nói về tác phẩm mỹ thuật ứng dụng đều có thiết kế đồ họa:
''7. Tác phẩm mỹ thuật quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục bao gồm:''
''a) Hội họa: Tranh sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu, màu nước, giấy dó và các chất liệu khác;''
''b) Đồ họa: Tranh khắc gỗ, khắc kim loại, khắc cao su, khắc thạch cao, in độc bản, in đá, in lưới, tranh cổ động,'' '''''thiết kế đồ họa''''' ''và các chất liệu khác;''
''c) Điêu khắc: Tượng, tượng đài, phù điêu, đài, khối biểu tượng;''
''d) Nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện nghệ thuật đương đại khác.''
''Tác phẩm hội họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức nghệ thuật đương đại khác tồn tại dưới dạng độc bản. Tác phẩm đồ họa có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả.''
''8. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp bao gồm:'' '''''Thiết kế đồ họa''''' ''(hình thức thể hiện của biểu trưng, bộ nhận diện và bao bì sản phẩm; hình thức thể hiện của nhân vật); thiết kế thời trang; thiết kế mang tính mỹ thuật gắn liền với tạo dáng sản phẩm; thiết kế nội thất, trang trí nội thất, ngoại thất mang tính mỹ thuật. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được thể hiện dưới dạng tạo dáng sản phẩm mang tính mỹ thuật, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực tương ứng và không bao gồm tạo dáng bên ngoài của sản phẩm bắt buộc phải có để thực hiện chức năng của sản phẩm.''
Vậy thiết kế đồ họa là tác phẩm mỹ thuật hay tác phẩm mỹ thuật ứng dụng? Vì theo [[Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2009]], tác phẩm mỹ thuật ứng dụng có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên (điểm a khoản 2 Điều 27), còn tác phẩm mỹ thuật (trước đây gọi là tác phẩm tạo hình, [[Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2022]] thay bằng tác phẩm mỹ thuật) sẽ rơi vào điểm b khoản 2 Điều 27 với thời hạn bảo hộ là cuộc đời tác giả + 50 năm sau khi tác giả chết. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 12:39, ngày 21 tháng 5 năm 2023 (UTC)
== Nghị định số 142-HĐBT ngày 14-11-1986 ==
Theo một số nguồn thì văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam quy định về bản quyền là Nghị định số 142-HĐBT ngày 14-11-1986 của Hội đồng Bộ trưởng quy định quyền tác giả, nhưng em không tìm thấy văn bản của Nghị định này trên mạng. Tuy nhiên, em tìm thấy [https://www.thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Thong-tu-04-VH-TT-quyen-tac-gia-huong-danNghi-dinh-142-HDBT-42445.aspx Thông tư số 04-VH/TT] ngày 7-1-1987 hướng dẫn, giải thích Nghị định số 142-HĐBT ngày 14-11-1986 của Hội đồng Bộ trưởng quy định quyền tác giả, và đặc biệt là [https://www.thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Thong-tu-63-VH-TT-huong-dan-su-dung-phan-phoi-nhuan-but-tac-pham-van-hoc-nghe-thuat-khoa-hoc-het-thoi-han-huong-quyen-tac-gia-37599.aspx Thông tư số 63-VH/TT] ngày 16-7-1988 hướng dẫn việc sử dụng và phân phối nhuận bút đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hết thời hạn hưởng quyền tác giả, Thông tư này có ghi:
<i>Điều 5 của Nghị định số 142-HĐBT ngày 14- 11- 1986 của Hội đồng Bộ trưởng quy định quyền tác giả đã ghi rõ thời hạn hưởng quyền tác giả như sau:
"Người sáng tác ra tác phẩm công trình hưởng quyền tác giả trong cả cuộc đời mình và cho đến hết 30 năm sau khi chết. Đối với đồng tác giả thì mốc để tính 30 năm kể từ khi tác giả cuối cùng chết. Thời điểm để tính 30 năm là từ ngày 1 tháng giêng năm tiếp theo năm tác giả chết".
"Tác giả có quyền viết chúc thư cho cá nhân hoặc một tổ chức tiếp tục hưởng quyền tác giả đối với toàn bộ hay một phần những tác phẩm, công trình của mình sau khi tác giả chết. Trường hợp không có chúc thư, người thừa kế tài sản theo pháp luật quy định được hưởng quyền tác giả. Tổ chức hoặc người thừa kế chỉ được hưởng các quyền cho phép người khác sử dụng tác phẩm, công trình, hưởng nhuận bút; không được phép đứng tên, không được sửa chữa hoặc cho sửa chữa nội dung của tác phẩm, công trình".
"Trường hợp người thừa kế của tác giả chết trong thời hạn 30 năm hưởng quyền tác giả, thì người thừa kế tiếp theo được hưởng cho đến hết thời hạn 30 năm".
"Bản quyền đối với một tổ chức là không hạn định. Nếu tổ chức đó giải thể, thì bản quyền thuộc về Nhà nước".</i>
Như vậy vào năm 1986 Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ bản quyền là 30 năm, đến năm 1994 [https://m.thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Phap-lenh-Bao-ho-Quyen-Tac-gia-1994-38-L-CTN-38903.aspx Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả] mới nâng lên thành 50 năm, vậy không biết có tính chuyện "hồi tố" với "không hồi tố" gì ở đây không? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 14:49, ngày 3 tháng 6 năm 2023 (UTC)
:Bài [[w:Vũ Trọng Phụng#Bản quyền tác phẩm]] viết: ''"Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, thời hạn bảo hộ tác quyền chỉ là 50 năm kể từ năm mất của tác giả, đồng nghĩa với việc đối với tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là đến hết năm 1989. Tuy nhiên, 28 tác phẩm của ông đã được Hãng Bảo hộ bản quyền tác giả Việt Nam (nay là Cục Bản quyền Tác giả Việt Nam) gia hạn thời hạn bảo hộ thêm 30 năm, gây lúng túng về nghĩa vụ thanh toán tiền tác quyền của một số hãng chuyển thể hoặc tái sử dụng tác phẩm của ông"'' là nhầm, vì theo nguồn [https://nhandan.vn/rac-roi-quanh-chuyen-tra-tien-tac-quyen-cho-nha-van-vu-trong-phung-post398202.html báo Nhân dân] thì ''"Theo Nghị định 142 của HĐBT ra ngày 14-11-1986 quy định về quyền tác giả thì những tác phẩm của những tác giả đã mất sau 30 năm sẽ trở thành tài sản công cộng. Tuy nhiên sau đó bà Vũ Mỵ Hằng - con gái duy nhất của nhà văn Vũ Trọng Phụng đã có đơn gửi Bộ Văn hóa, Hãng Bảo hộ quyền tác giả Việt Nam xin được hưởng quyền gia hạn thêm 30 năm nhằm có điều kiện chăm lo hương khói, mộ phần cho nhà văn. Sau khi xem xét, Hãng Bảo hộ tác quyền đã thống nhất với Hội Nhà văn Việt Nam, Bộ Văn hóa chấp thuận ý kiến này và đã đăng ký bảo hộ tác quyền cho 28 tác phẩm của nhà văn Vũ Trọng Phụng từ ngày 9-11-1989"''. Như vậy vào năm 1989 thời hạn bảo hộ bản quyền ở Việt Nam chỉ có 30 năm. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 15:21, ngày 3 tháng 6 năm 2023 (UTC)
== [[betawiki:Mediawiki:Wikimedia-copyrightwarning/vi]] ==
Nhờ anh sửa liên kết trong [[betawiki:Mediawiki:Wikimedia-copyrightwarning/vi]], từ https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Nguyên_văn_Giấy_phép_Creative_Commons_Ghi_công–Chia_sẻ_tương_tự_phiên_bản_4.0_Chưa_chuyển_đổi thành https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Nguyên_văn_Giấy_phép_Creative_Commons_Ghi_công–Chia_sẻ_tương_tự_phiên_bản_4.0_Quốc_tế – [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:49, ngày 13 tháng 6 năm 2023 (UTC)
:Ở [[Mediawiki:Wikimedia-copyright]], liên kết //wikimediafoundation.org/wiki/Điều_khoản_Sử_dụng đã bị hỏng, cần thay bằng liên kết https://foundation.wikimedia.org/wiki/Policy:Terms_of_Use (bản dịch tiếng Việt ở https://foundation.wikimedia.org/wiki/Policy:Terms_of_Use/vi đã lỗi thời vì chưa được cập nhật). [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:03, ngày 13 tháng 6 năm 2023 (UTC)
::Anh đã bổ sung các bản dịch tại Điều khoản Sử dụng và đã sửa đổi các liên kết như yêu cầu. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 04:39, ngày 15 tháng 6 năm 2023 (UTC)
:::Còn có [[foundation:Policy:Terms of Use/Summary/vi]] chưa được dịch. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:12, ngày 15 tháng 6 năm 2023 (UTC)
::::Ở [[betawiki:Wikimedia:Wikimedia-ocr-tesseract-psm-help/vi]], nhờ anh sửa "hợ trợ" thành "hỗ trợ". [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 06:30, ngày 16 tháng 6 năm 2023 (UTC)
:::::Ở [[betawiki:Mediawiki:Wm-codeofconduct/vi]], nên sửa "Điều lệ Hạnh kiểm" thành "Bộ Quy tắc Ứng xử" (vì đã dịch "Universal Code of Conduct" thành [[foundation:Policy:Universal Code of Conduct/vi|Bộ Quy tắc Ứng xử Chung]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:53, ngày 19 tháng 6 năm 2023 (UTC)
::::::Đã xong. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 12:11, ngày 19 tháng 6 năm 2023 (UTC)
== Chân trang (footer) trên giao diện di động ==
Bây giờ trên giao diện di động, cuối các trang văn kiện như [[Hoàng Lê nhất thống chí/XXI]] xuất hiện 2 chân trang (footer), chắc là do [[phab:T328610|các tiện ích trên phiên bản máy tính đã hoạt động được trên phiên bản di động]], mà anh lại [[Đề tài:Wajiw9euv6ujda0k|tạo tiện ích chân trang cho giao diện di động]] nên bây giờ mới có 2 chân trang, vậy nhờ anh bỏ đi 1 chân trang. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:10, ngày 4 tháng 7 năm 2023 (UTC)
:Anh [[Đặc biệt:Khác/157154|bỏ DisplayFooter.js ra khỏi tiện ích Site]] làm cho footer không hoạt động trên giao diện máy tính luôn. Trong [[Mediawiki:Gadgets-definition]] anh nên bỏ DisplayFooter.js ra khỏi tiện ích MobileSite và thêm lại DisplayFooter.js vào tiện ích Site. Vì tiện ích MobileSite anh định nghĩa skins=minerva nên nó chỉ hoạt động trên giao diện di động thôi. Chuyển DisplayFooter.js vào lại tiện ích Site thì nó sẽ hoạt động cả trên giao diện máy tính và di động. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 12:18, ngày 7 tháng 7 năm 2023 (UTC)
== Need your input on a policy impacting gadgets and UserJS ==
<div lang="en" dir="ltr" class="mw-content-ltr">
Dear interface administrator,
This is Samuel from the Security team and I hope my message finds you well.
There is an [[m:Talk:Third-party resources policy|ongoing discussion]] on a proposed policy governing the use of external resources in gadgets and UserJS. The proposed [[m:Special:MyLanguage/Third-party resources policy|Third-party resources policy]] aims at making the UserJS and Gadgets landscape a bit safer by encouraging best practices around external resources. After an initial non-public conversation with a small number of interface admins and staff, we've launched a much larger, public consultation to get a wider pool of feedback for improving the policy proposal. Based on the ideas received so far, the proposed policy now includes some of the risks related to user scripts and gadgets loading third-party resources, best practices for gadgets and UserJS developers, and exemptions requirements such as code transparency and inspectability.
As an interface administrator, your feedback and suggestions are warmly welcome until July 17, 2023 on the [[m:Talk:Third-party resources policy|policy talk page]].
Have a great day!</div>
<bdi lang="en" dir="ltr">[[m:User:Samuel (WMF)|Samuel (WMF)]], on behalf of the Foundation's Security team</bdi> 12:08, ngày 10 tháng 7 năm 2023 (UTC)
<!-- Tin nhắn của Thành viên:Samuel (WMF)@metawiki gửi cho mọi người trong danh sách tại https://meta.wikimedia.org/w/index.php?title=User:Samuel_(WMF)/IAdmins_MassMessage_list_2&oldid=25272792 -->
== [[Biên dịch:Chúng ta sẽ chiến đấu trên các bãi biển]] ==
So sánh với Google Dịch thấy giống y chang, diễn đạt rất tối nghĩa và lủng củng. Một số đoạn bị lặp lại, ví dụ: ''Tôi hiểu rằng một số yêu cầu sẽ được đưa ra về chủ đề này và Chính phủ của Bệ hạ sẽ sẵn sàng chấp thuận. và Chính phủ sẽ được hưởng lợi từ các quan điểm được các Thành viên tự do bày tỏ trong tất cả các phần của Hạ viện với sự hiểu biết của họ về rất nhiều vùng khác nhau của đất nước. Tôi hiểu rằng một số yêu cầu sẽ được đưa ra về chủ đề này và Chính phủ của Bệ hạ sẽ sẵn sàng chấp thuận. và Chính phủ sẽ được hưởng lợi từ các quan điểm được các Thành viên tự do bày tỏ trong tất cả các phần của Hạ viện với sự hiểu biết của họ về rất nhiều vùng khác nhau của đất nước. Tôi hiểu rằng một số yêu cầu sẽ được đưa ra về chủ đề này và Chính phủ của Bệ hạ sẽ sẵn sàng chấp thuận.'' [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 09:02, ngày 19 tháng 7 năm 2023 (UTC)
== {{User|Nguyễn Năng Quang}} ==
Tài khoản chỉ nhằm mục đích spam (anh xem thêm các đóng góp đã bị xóa của tài khoản này). Ở [[w:Thảo luận Thành viên:Nguyễn Năng Quang]], tài khoản này đã bị cấm 1 tuần ở Wikipedia vì tạo trang spam, bỏ qua cảnh báo. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:23, ngày 28 tháng 7 năm 2023 (UTC)
:Anh sẽ tiếp tục theo dõi thành viên này. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 15:19, ngày 28 tháng 7 năm 2023 (UTC)
== Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ==
Em vừa tìm thấy [https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2014/03/18-nd.signed.pdf Nghị định số 18/2014/NĐ-CP] quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, trong đó Điều 8, khoản 2 quy định: ''Người sưu tầm, người hiệu đính tác phẩm, người cung cấp tác phẩm, văn bản, tài liệu được cơ quan, tổ chức sử dụng xuất bản phẩm trả thù lao đối với: b) Văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và bản dịch của những văn bản đó.'' Khoản 3 quy định: ''Nhuận bút và tiền thù lao được tính trong giá thành xuất bản phẩm.'' Nghĩa là theo Nghị định số 18/2014/NĐ-CP, nếu sử dụng ''văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và bản dịch của những văn bản đó'' để xuất bản thành sách thì phải trả thù lao cho người cung cấp văn bản, quy định này mâu thuẫn với {{tl|PVCC-CPVN}} nói rằng ''văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân'' không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Mà em thấy có cả [https://wipolex-resources-eu-central-1-358922420655.s3.amazonaws.com/edocs/lexdocs/laws/en/vn/vn121en.pdf bản dịch tiếng Anh của Nghị định này] trên WIPO (''Collectors and correctors of works, suppliers of works, documents and materials that are paid remuneration by agencies or organizations using the publications, including: b/ Documents of state agencies, political organizations, socio-political organizations, social organizations, socio-professional organizations and economic organizations, and translations of these documents. [...] Royalties and remuneration shall be included in the costs of publications''), mà căn cứ ban hành còn ghi ''Căn cứ Luật sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ ngày 19 tháng 6 năm 2009'' (?) Theo đó nếu in các văn bản của cơ quan nhà nước thành sách như [https://newshop.vn/bo-luat-hinh-su-nam-2015-sua-doi-bo-sung-nam-2017-hien-hanh.html?gclid=CjwKCAjw29ymBhAKEiwAHJbJ8tvJ7MWJo6_GFugF4RYEdP8IuddeSyZJ0P2dwsU7zKUMMy6JTPatexoCJ-UQAvD_BwE sách Bộ luật Hình sự của NXB Lao động] thì NXB sẽ phải trả thù lao cho người cung cấp văn bản (?) và tiền thù lao được tính vào giá bán sách (?) [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:26, ngày 13 tháng 8 năm 2023 (UTC)
== [[Mục lục:Ngoc le hon, Ngo Van Trien dich.pdf]] ==
Sau khi em [[Thảo luận Thành viên:LMQ2401#Mục lục:Ngoc le hon, Ngo Van Trien dich.pdf|nhờ LMQ2401 thêm giùm 2 trang bị thiếu]] vào [[c:File:Ngoc le hon, Ngo Van Trien dich.pdf]] thì bây giờ cả tập tin và [[Mục lục:Ngoc le hon, Ngo Van Trien dich.pdf]] đều bị hỏng luôn, bấm vào bất kỳ trang quét nào cũng hiện ra thông báo "Failed to initialize OpenSeadragon, no image found" nên cũng chẳng OCR và hiệu đính gì được luôn. Có vẻ giống với trường hợp [[#c:File:Com Thay Com Co va Luc Si 1937.pdf]]. Chẳng lẽ cứ sửa tập tin trên Commons rồi tải đè lên tập tin cũ là bị như vậy? Không biết phải mất bao nhiêu thời gian để [[c:File:Ngoc le hon, Ngo Van Trien dich.pdf]] hiển thị được bình thường? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 09:13, ngày 6 tháng 9 năm 2023 (UTC)
:Ở [[#c:File:Com Thay Com Co va Luc Si 1937.pdf]] thì ''anh xem qua trang Mục lục thì tất cả có vẻ đều hiển thị đúng''. Đó là vào tháng 8 năm 2022. [[Wikisource:Thảo luận/Lưu trữ/2022#Tin tức Kỹ thuật: Tuần 49 năm 2022|Từ tháng 12 năm 2022 Wikisource chuyển sang dùng]] [[mw:Extension:Proofread Page/Page viewer#mw.hook|OpenSeadragon API mới]], nếu tập tin trên Commons bị lỗi (hình thu nhỏ hiển thị chữ A màu đỏ, phần mô tả hiển thị 0 x 0 điểm ảnh) là nó báo lỗi <code>ext.proofreadpage.osd-no-image-found</code>, thế là trang Mục lục cũng hỏng luôn. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:50, ngày 6 tháng 9 năm 2023 (UTC)
== [[Kinh Thánh Tiếng Việt 1926]] ==
Theo bản gốc ở [[Mục lục:Kinh Thanh Cuu Uoc Va Tan Uoc 1925.pdf]] thì bản Kinh Thánh này được xuất bản năm 1925, vậy có nên đổi trang [[Kinh Thánh Tiếng Việt 1926]] thành [[Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước 1925]] như trong bản gốc không? Thứ hai là bản gốc không gọi "chương" mà gọi là "đoạn", ví dụ như trang mục lục ở [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc Va Tan Uoc 1925.pdf/11]], hay [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc Va Tan Uoc 1925.pdf/1051]] ghi "Từ đoạn 1 đến 3", vậy các trang con như [[Mi-chê/Chương 1]] có nên đổi thành [[Mi-chê/Đoạn 1]] hay là đổi thành [[Mi-chê/1]]? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:58, ngày 3 tháng 10 năm 2023 (UTC)
:Anh ủng hộ theo đúng nguyên tác. Đổi tên 1926 thành 1925 và đổi tên từ Chương thành Đoạn. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 01:54, ngày 19 tháng 10 năm 2023 (UTC)
::Mà em thấy ở Wikisource ngôn ngữ khác người ta cho mỗi cuốn sách trong Kinh Thánh vào 1 trang con chứ không chia mỗi chương (đoạn) làm 1 trang con, ví dụ [[:en:Bible (King James)/Matthew]], [[:fr:Bible Ostervald 1867/Matthieu]]. Hay là mình cũng làm như họ, chuyển trang [[Ma-thi-ơ]] thành [[Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước 1925/Ma-thi-ơ]] và gộp hết các chương (đoạn) như [[Ma-thi-ơ/1]] vào trang [[Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước 1925/Ma-thi-ơ]]? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:47, ngày 26 tháng 11 năm 2023 (UTC)
:::PS: Kinh Thánh Tin Lành có tổng cộng 66 sách, 1189 chương (đoạn) nên theo cách trình bày trên chúng ta sẽ mất hơn 1000 trang con văn kiện (từ 1189 trang con xuống chỉ còn 66 trang con). [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:58, ngày 26 tháng 11 năm 2023 (UTC)
== Nhờ xóa trang ==
Nhờ anh xóa các trang này:
[[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/10]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/1083]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/1084]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/12]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/2]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/3]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/4]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/5]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/6]], [[Trang:Kinh Thanh Cuu Uoc 1925.pdf/8]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/2]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/332]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/333]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/335]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/336]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/4]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/325]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/326]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/327]], [[Trang:Kinh Thanh Tan Uoc 1925.pdf/328]] vì các tập tin tương ứng đã bị xóa ở Commons. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 03:53, ngày 31 tháng 10 năm 2023 (UTC)
== [[Trang:Giac mong con 1926.pdf/62]] ==
Em nhờ ChatGPT xếp 4 câu thơ trong [[Trang:Giac mong con 1926.pdf/62]] thành vòng tròn thì nó ra thế này:
<div style="width: 200px; height: 200px; border: 2px solid #000; border-radius: 50%; position: relative;">
<div style="width: 100%; height: 100%; position: absolute;">
<div style="width: 50%; height: 50%; position: absolute; top: 0; left: 0; text-align: center; transform: rotate(0deg);">Trăm năm cõi tục còn dài</div>
<div style="width: 50%; height: 50%; position: absolute; top: 0; right: 0; text-align: center; transform: rotate(90deg);">Con đường vô hạn trên đời còn xa</div>
<div style="width: 50%; height: 50%; position: absolute; bottom: 0; left: 0; text-align: center; transform: rotate(180deg);">Có chăng ta biết cùng ta</div>
<div style="width: 50%; height: 50%; position: absolute; bottom: 0; right: 0; text-align: center; transform: rotate(270deg);">Rõ-ràng mở mắt bây giờ hỏi ai</div>
</div>
</div>
Anh có thể sửa cho nó giống với [[Trang:Giac mong con 1926.pdf/62]] được không? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 12:14, ngày 5 tháng 11 năm 2023 (UTC)
== Luân lý giáo khoa thư ==
Theo [https://www.nxbtre.com.vn/sach/luan-ly-giao-khoa-thu-44836.html bản in lại hiện nay] thì tác giả bao gồm 4 người: Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:42, ngày 1 tháng 10 năm 2024 (UTC)
:Cảm ơn em. Tại [[:w:Quốc văn giáo khoa thư|Wikipedia cũng ghi như vậy]]. Ngoài ra còn ghi cả tên họa sĩ vẽ tranh là [[:w:Nam Sơn (họa sĩ)|Nam Sơn]] nhưng có vẻ không chính xác. Các tranh minh họa trong sách này có các chữ ký khác nhau. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 10:37, ngày 1 tháng 10 năm 2024 (UTC)
== {{tl|Khung}} ==
Tham số <code>|biên=</code> không còn hoạt động nữa hả anh? Ví dụ: <code><nowiki>{{khung|biên=4px|
}}</nowiki></code>
cho ra
{{khung|biên=4px|
}}
[[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:57, ngày 3 tháng 10 năm 2024 (UTC)
:Anh đã lùi chỉnh sửa lại về bản trước năm 2024. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 10:23, ngày 3 tháng 10 năm 2024 (UTC)
::Hình như [[:en:Template:Frame]] hoạt động dựa trên [[:en:Module:Border]], nhưng khi em cập nhật [[Mô đun:Border]] theo [[:en:Module:Border]] thì thấy báo lỗi {{lớn|{{đỏ|'''Lỗi Lua trong Mô_đun:Border tại dòng 15: attempt to call upvalue 'CSS_unit' (a nil value).'''}}}} [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 13:22, ngày 3 tháng 10 năm 2024 (UTC)
== Khóa tác phẩm chọn lọc ==
Sao anh không khóa các tác phẩm chọn lọc mới theo [[Wikisource:Quy định khóa#Bảo vệ tính toàn vẹn và chọn lọc của văn kiện]]? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 08:22, ngày 31 tháng 10 năm 2024 (UTC)
:Cảm ơn em. Anh quên mất. Đã sửa. – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 14:37, ngày 31 tháng 10 năm 2024 (UTC)
::Anh nên khóa cả các trang con nữa, vừa rồi có trang [[Lên sáu/Vần chữ chính đứng trên chữ phụ]] bị IP phá hoại. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 14:48, ngày 13 tháng 11 năm 2024 (UTC)
:::Bây giờ IP phá hoại cả các trang quét như [[Trang:Len sau.pdf/12]]. Nhờ anh theo dõi [[Đặc biệt:Đóng góp/123.16.146.99]], [[Đặc biệt:Đóng góp/123.16.151.70]] và [[Đặc biệt:Đóng góp/113.190.215.197]], chắc là cùng 1 người. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 10:37, ngày 16 tháng 11 năm 2024 (UTC)
::::[[Đặc biệt:Đóng góp/123.16.129.131]]: Tiếp tục phá hoại tác phẩm [[Lên sáu]]. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 00:34, ngày 21 tháng 11 năm 2024 (UTC)
:::::[[Đặc biệt:Đóng góp/113.190.211.169]]: IP tạo lại các trang đã xóa. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 01:08, ngày 22 tháng 11 năm 2024 (UTC)
::::::IP trên tiếp tục phá hoại và spam, đề nghị cấm IP trên. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:52, ngày 23 tháng 11 năm 2024 (UTC)
:::::::[[Đặc biệt:Đóng góp/14.231.128.53]]: chắc cùng 1 người với mấy IP ở trên, tiếp tục tạo các trang quét của tác phẩm [[Lên sáu]] nhưng lại có dấu chấm ở cuối trang: [[Trang:Len sau.pdf/1.]], không biết để làm gì? [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 23:55, ngày 27 tháng 11 năm 2024 (UTC)
::::::::Trang [[Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa]] là tác phẩm chọn lọc nhưng chưa được khóa, nhờ anh khóa giùm. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 11:25, ngày 1 tháng 4 năm 2025 (UTC)
== Bản quyền hình ảnh ==
Anh Tân ơi, check email giúp em. Em muốn hỏi về bản quyền hình ảnh ạ. – [[Thành viên:Băng Tỏa|Băng Tỏa]] ([[Thảo luận Thành viên:Băng Tỏa|thảo luận]]) 14:08, ngày 9 tháng 11 năm 2024 (UTC)
:Hi em, anh thấy email của em về nhóm Facebook rồi. Em muốn hỏi gì bản quyền hình ảnh? – [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|thảo luận]]) 03:42, ngày 11 tháng 11 năm 2024 (UTC)
== Luật mới ==
Có các luật mới đăng từ [https://congbao.chinhphu.vn/cong-bao-so-1519-1520-nam-2024-43546 Công báo 1519+1520] đến [https://congbao.chinhphu.vn/cong-bao-so-1539-1540-nam-2024-43599 Công báo 1539+1540], anh làm trên máy tính cho nhanh, em làm trên điện thoại chậm lắm. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 05:37, ngày 11 tháng 1 năm 2025 (UTC)
== Nhờ khôi phục trang [[Thượng kinh ký sự]] ==
Bản dịch [[Thượng kinh ký sự]] của Phan Võ từng bị xóa ở [[Wikisource:Có thể vi phạm bản quyền/Lưu#Thượng kinh ký sự]] vì lúc đó chưa xác định được năm mất của dịch giả Phan Võ. Hiện nay trang [https://www.thivien.net/Phan-V%C3%B5/author-HQi6FuRn06YNV9NcLEISZw thivien] ghi dịch giả Phan Võ mất năm 1962, đã hết hạn bản quyền nên nhờ anh khôi phục lại trang [[Thượng kinh ký sự]]. Cảm ơn anh. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 07:37, ngày 1 tháng 3 năm 2025 (UTC)
== [[MediaWiki:Sidebar]] ==
Theo [[m:Tech/News/2025/13/vi|bản tin kỹ thuật]], cần thêm <code>* specialpages-url|specialpages</code> vào [[MediaWiki:Sidebar]] (xem [[phab:T388927]]). [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:08, ngày 25 tháng 3 năm 2025 (UTC)
== {{tl|Khối lớn}} ==
Bản mẫu {{tl|Khối lớn}} có vẻ không hoạt động, các trang như [[Trang:Len sau.pdf/15]] vẫn hiển thị cỡ chữ bình thường. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:06, ngày 1 tháng 5 năm 2025 (UTC)
:Các bản mẫu khối như {{tl|khối lớn}}, {{tl|khối x-lớn}} dường như chỉ hiển thị được trên giao diện máy tính chứ không còn hiển thị được trên giao diện di động nữa. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 04:22, ngày 2 tháng 5 năm 2025 (UTC)
== [[Đặc biệt:Đóng góp/Wiki IP Account|Wiki IP Account]] ==
Nhờ anh xóa các trang do [[Đặc biệt:Đóng góp/Wiki IP Account|Wiki IP Account]] tạo ra, đây là tài khoản con rối của [[w:Wikipedia:Rối phá hoại dai dẳng/Không hề giả trân|Không hề giả trân]] bên Wikipedia, hiện nay [[m:Special:CentralAuth/Wiki IP Account|tài khoản Wiki IP Account đã bị cấm ở Meta và Wiktionary]] vì phá hoại. [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 12:09, ngày 20 tháng 6 năm 2025 (UTC)
== Thể loại năm ==
Các trang có ký tự / trong tiêu đề như [[Lệnh số 04/2014/L-CTN]] bị hệ thống nhận nhầm là trang con nên không xếp vào [[:Thể loại:Tác phẩm 2014]]. Không biết phải sửa sao, hay là thêm [[:Thể loại:Tác phẩm 2014]] bằng tay? – [[Thành viên:Tranminh360|Tranminh360]] ([[Thảo luận Thành viên:Tranminh360|thảo luận]]) 02:19, ngày 11 tháng 8 năm 2025 (UTC)
== Nhờ ==
Theo [[m:Tech/News/2022/02]] thì việc ẩn tiêu đề Trang Chính giờ đây chỉ cần tạo [[MediaWiki:Mainpage-title]] và [[MediaWiki:Mainpage-title-loggedin]] chứ cũng không cần phụ thuộc vào CSS nữa. Hiện tại trên giao diện Minerva thì tiêu đề Trang Chính vẫn đang hiển thị khi chưa đăng nhập. Vì bạn là BQVGD ở đây nên nhờ bạn tạo hai giúp trang này. Chỉ cần tạo trang trống là được, không có dấu -
[[Thành viên:Nvdtn19|Nvdtn19]] ([[Thảo luận Thành viên:Nvdtn19|thảo luận]]) 11:40, ngày 1 tháng 10 năm 2025 (UTC)
== [[Quốc ca Việt Nam]] ==
Em cho rằng chúng ta có thể khôi phục lại trang [[Quốc ca Việt Nam]], bởi vì theo quy định hiện hành, rõ ràng bài hát không hết hạn bản quyền ở Việt Nam, nhưng vì tác giả đã hiến tặng cho công chúng, em cho rằng tác phẩm này đã thuộc phạm vi công cộng, chỉ là nó không hợp pháp về mặt pháp lý ở Việt Nam do thiếu quy định về tác phẩm hết hạn quyền bảo vệ do tác giả hiến tặng. Thế nên em xin phép tạo lại trang này vì rõ ràng vụ xóa năm 2021 là một sự nhầm lẫn do sự việc tắt quốc ca làm vấn đề bị nghiêm trọng hóa quá mức dẫn đến kết luận tình trạng bản quyền sai. – [[Thành viên:Kateru Zakuro|Kateru Zakuro]] ([[Thảo luận Thành viên:Kateru Zakuro|thảo luận]]) 04:45, ngày 14 tháng 12 năm 2025 (UTC)
== [[Đặc biệt:Đóng góp/Anster1322]] ==
Phiền bạn xóa hàng loạt các trang do thành viên này tạo ra. Đây là rối chuyên đi lạm dụng liên wiki, liên tục tạo trang vô nghĩa và phá hoại tàng hình. [[User:Hiyuune|<span style="font-family: Segoe UI Light;color:#FF69B4;letter-spacing:">Linh Huynh</span>]] ([[User talk:Hiyuune|<span style="color:#008080;">talk</span>]]) 15:59, ngày 14 tháng 5 năm 2026 (UTC)
sw9ijoo12ke64p1qson3b26dbay1zfy
Thành viên:Mrfly911
2
68467
205355
204933
2026-05-14T12:41:20Z
Mrfly911
2215
/* Dịch kinh Phật, kinh Thi */
205355
wikitext
text/x-wiki
== Các tài liệu đóng góp và tham khảo ==
===Nho giáo===
* [[:zh:詩經]] - [[Biên dịch:Kinh Thi]]
* [[:zh:禮記/大學 (證釋本)]] - [[Biên dịch:Đại Học]]
* [[:zh:禮記/中庸]] - [[Biên dịch:Trung Dung]]
* [[Luận ngữ]]
* [[:zh:孟子]] - [[Biên dịch:Mạnh Tử]]
* [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[w:Bách gia tính]] (có đủ trên Wikipedia)
* [[Biên dịch:Thiên tự văn]]
===Đạo giáo===
* [[Đạo Đức kinh]]
* [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]]
* [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]]
* [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]]
===Y dược===
* [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]]
* [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]]
* [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]]
* [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]]
* [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]]
* [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]]
* Nam dược thần hiệu (南藥神效)
* Hồng Nghĩa giác tư y thư
* Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領)
* [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]]
* [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]]
* [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]]
* [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]]
* [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]]
* [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]]
* [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]]
{{Kinh điển Phật giáo}}
==Lịch sử==
{{Nhị thập tứ sử}}
=== Hán (206 TCN - 9)===
* [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]]
** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]]
** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]]
* [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]]
** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾)
* [[Tác gia:Tư Mã Thiên]]
** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]]
*** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]]
** [[:zh:素王妙論]]
** [[:zh:悲士不遇賦]]
** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944)
** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch)
** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]])
* [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]]
** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]]
* [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]]
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
===Đông Hán (25–220)===
* [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]]
** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]]
*[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]]
----
* [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]]
** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]]
=== Tào Ngụy ===
* [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360)
=== Đông Ngô ===
* [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]]
* [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]]
** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]]
** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]]
=== Tấn ===
* [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]]
----
* [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]]
** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]]
* [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]]
** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]]
===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)===
* [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]]
** KINH (經)
*** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển
***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển
*** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng)
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển)
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển
** LUẬT (律)
*** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển
** LUẬN (論) & PHÁP (法)
*** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển
*** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển
*** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp)
** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP
*** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển
----
* [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]]
** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]]
**:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng.
** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]]
----
* [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442)
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
===Nam–Bắc triều (420–589)===
==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ====
* [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]]
=== Đường 618–907)===
* [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]]
* [[Lữ ngụ An Nam]]
* [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]]
* [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]]
* [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]]
* [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]]
** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]]
** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]]
----
* [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]]
* [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713)
** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]]
** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762)
** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]]
* [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]]
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]])
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]])
===Ngũ đại Thập quốc (907–979)===
* [[Tân Ngũ Đại sử]]
===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)===
* [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178)
* [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186)
* [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]]
* [[Tục tư trị thông giám]]
* [[Tư trị thông giám trường biên]]
=== Trần # Nguyên (1260–1368)===
* [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]]
* [[:zh:安南志畧]]
** [[Biên dịch:An Nam chí lược]]
* [[Biên dịch:Nguyên sử]]
** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]]
*[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]]
**Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]]
* [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]]
=== Trần - Lê # Minh (1368–1644)===
* [[:zh:越史略|越史略]]
** [[Biên dịch:Việt sử lược]]
* [[Biên dịch:Minh thực lục]]
** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]]
*** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]]
* [[Biên dịch:Minh sử]]
** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]]
* [[Bình An Nam chiếu]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]]
* [[:zh:殊域周咨錄]]
** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]]
* [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]]
* [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]]
* [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội]
=== Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)===
* [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]]
* [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]]
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]]
***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]]
*** ...
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]]
* [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]]
** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]]
*[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
**[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
*[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]]
**[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]]
*[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
*[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
* [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]]
* [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]]
* [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]]
* [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]]
----
====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành====
* [[:zh:欽定古今圖書集成]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]])
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]]
==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu==
<nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki>
hoặc
<pre>
<inputbox>
type=search
width=30
placeholder=Tìm trong trang này
searchbuttonlabel=Tìm
fulltext=false
prefix={{FULLPAGENAME}}
</inputbox>
</pre>
==Cú pháp==
<pre>{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}</pre>
<pre>
{| align="center"
! Nguyên văn chữ Hán
! Phiên âm Hán Việt
|-
|
<poem>
關關雎鳩,在河之洲。
窈窕淑女,君子好逑。
參差荇菜,左右流之。
窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。
悠哉悠哉,輾轉反側。
參差荇菜,左右采之。
窈窕淑女,琴瑟友之。
參差荇菜,左右芼之。
窈窕淑女,鐘鼓樂之。
</poem>
|
<poem>
Quan quan thư cưu, tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.
Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục.
Du tai du tai, triển chuyển phản trắc.
Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi.
Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi.
</poem>
|}
</pre>
==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn==
Việt dịch toàn văn, giữ nguyên định dạng:
===Dịch lịch sử===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ.
===Dịch kinh Phật, kinh Thi===
Dịch đoạn văn sang tiếng Việt theo yêu cầu sau: các đoạn văn xuôi dịch ngắn gọn, không giải thích. Giữ đúng bố cục, không lược bỏ.
Các bài thơ, bài kệ dịch thành 2 bản, bản 1 theo đúng cú pháp nguyên văn, bản 2 theo thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ đúng âm luật, âm hưởng trang trọng.
===Dịch y học===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ.
0q3fhq99nukurvtdztubpyd0i9by62l
205365
205355
2026-05-15T03:25:39Z
Mrfly911
2215
/* Dịch kinh Phật, kinh Thi */
205365
wikitext
text/x-wiki
== Các tài liệu đóng góp và tham khảo ==
===Nho giáo===
* [[:zh:詩經]] - [[Biên dịch:Kinh Thi]]
* [[:zh:禮記/大學 (證釋本)]] - [[Biên dịch:Đại Học]]
* [[:zh:禮記/中庸]] - [[Biên dịch:Trung Dung]]
* [[Luận ngữ]]
* [[:zh:孟子]] - [[Biên dịch:Mạnh Tử]]
* [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[w:Bách gia tính]] (có đủ trên Wikipedia)
* [[Biên dịch:Thiên tự văn]]
===Đạo giáo===
* [[Đạo Đức kinh]]
* [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]]
* [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]]
* [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]]
===Y dược===
* [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]]
* [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]]
* [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]]
* [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]]
* [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]]
* [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]]
* Nam dược thần hiệu (南藥神效)
* Hồng Nghĩa giác tư y thư
* Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領)
* [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]]
* [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]]
* [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]]
* [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]]
* [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]]
* [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]]
* [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]]
{{Kinh điển Phật giáo}}
==Lịch sử==
{{Nhị thập tứ sử}}
=== Hán (206 TCN - 9)===
* [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]]
** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]]
** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]]
* [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]]
** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾)
* [[Tác gia:Tư Mã Thiên]]
** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]]
*** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]]
** [[:zh:素王妙論]]
** [[:zh:悲士不遇賦]]
** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944)
** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch)
** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]])
* [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]]
** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]]
* [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]]
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
===Đông Hán (25–220)===
* [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]]
** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]]
*[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]]
----
* [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]]
** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]]
=== Tào Ngụy ===
* [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360)
=== Đông Ngô ===
* [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]]
* [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]]
** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]]
** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]]
=== Tấn ===
* [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]]
----
* [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]]
** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]]
* [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]]
** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]]
===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)===
* [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]]
** KINH (經)
*** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển
***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển
*** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng)
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển)
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển
** LUẬT (律)
*** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển
** LUẬN (論) & PHÁP (法)
*** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển
*** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển
*** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp)
** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP
*** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển
----
* [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]]
** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]]
**:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng.
** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]]
----
* [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442)
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
===Nam–Bắc triều (420–589)===
==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ====
* [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]]
=== Đường 618–907)===
* [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]]
* [[Lữ ngụ An Nam]]
* [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]]
* [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]]
* [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]]
* [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]]
** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]]
** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]]
----
* [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]]
* [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713)
** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]]
** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762)
** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]]
* [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]]
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]])
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]])
===Ngũ đại Thập quốc (907–979)===
* [[Tân Ngũ Đại sử]]
===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)===
* [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178)
* [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186)
* [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]]
* [[Tục tư trị thông giám]]
* [[Tư trị thông giám trường biên]]
=== Trần # Nguyên (1260–1368)===
* [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]]
* [[:zh:安南志畧]]
** [[Biên dịch:An Nam chí lược]]
* [[Biên dịch:Nguyên sử]]
** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]]
*[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]]
**Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]]
* [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]]
=== Trần - Lê # Minh (1368–1644)===
* [[:zh:越史略|越史略]]
** [[Biên dịch:Việt sử lược]]
* [[Biên dịch:Minh thực lục]]
** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]]
*** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]]
* [[Biên dịch:Minh sử]]
** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]]
* [[Bình An Nam chiếu]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]]
* [[:zh:殊域周咨錄]]
** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]]
* [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]]
* [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]]
* [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội]
=== Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)===
* [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]]
* [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]]
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]]
***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]]
*** ...
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]]
* [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]]
** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]]
*[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
**[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
*[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]]
**[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]]
*[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
*[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
* [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]]
* [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]]
* [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]]
* [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]]
----
====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành====
* [[:zh:欽定古今圖書集成]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]])
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]]
==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu==
<nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki>
hoặc
<pre>
<inputbox>
type=search
width=30
placeholder=Tìm trong trang này
searchbuttonlabel=Tìm
fulltext=false
prefix={{FULLPAGENAME}}
</inputbox>
</pre>
==Cú pháp==
<pre>{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}</pre>
<pre>
{| align="center"
! Nguyên văn chữ Hán
! Phiên âm Hán Việt
|-
|
<poem>
關關雎鳩,在河之洲。
窈窕淑女,君子好逑。
參差荇菜,左右流之。
窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。
悠哉悠哉,輾轉反側。
參差荇菜,左右采之。
窈窕淑女,琴瑟友之。
參差荇菜,左右芼之。
窈窕淑女,鐘鼓樂之。
</poem>
|
<poem>
Quan quan thư cưu, tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.
Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục.
Du tai du tai, triển chuyển phản trắc.
Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi.
Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi.
</poem>
|}
</pre>
==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn==
Việt dịch toàn văn, giữ nguyên định dạng:
===Dịch lịch sử===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ.
===Dịch kinh Phật, kinh Thi===
Dịch đoạn văn sang tiếng Việt theo yêu cầu sau: các đoạn văn xuôi dịch ngắn gọn, không giải thích. Giữ đúng bố cục, không lược bỏ.
Viết một đoạn ngắn tóm tắt nội dung kinh.
Các bài thơ, bài kệ dịch thành 2 bản, bản 1 theo đúng cú pháp nguyên văn, bản 2 theo thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ đúng âm luật, âm hưởng trang trọng.
===Dịch y học===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ.
5k31jd0pj70uimw8w3xcnmezje30yld
205371
205365
2026-05-15T08:30:24Z
Mrfly911
2215
/* Nho giáo */
205371
wikitext
text/x-wiki
== Các tài liệu đóng góp và tham khảo ==
===Nho giáo===
* Tứ thư
** [[:zh:禮記/大學 (證釋本)]] - [[Biên dịch:Đại Học]]
** [[:zh:禮記/中庸]] - [[Biên dịch:Trung Dung]]
** [[Luận ngữ]]
** [[:zh:孟子]] - [[Biên dịch:Mạnh Tử]]
* [[:zh:詩經]] - [[Biên dịch:Kinh Thi]]
* [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[w:Bách gia tính]] (có đủ trên Wikipedia)
* [[Biên dịch:Thiên tự văn]]
===Đạo giáo===
* [[Đạo Đức kinh]]
* [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]]
* [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]]
* [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]]
===Y dược===
* [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]]
* [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]]
* [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]]
* [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]]
* [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]]
* [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]]
* Nam dược thần hiệu (南藥神效)
* Hồng Nghĩa giác tư y thư
* Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領)
* [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]]
* [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]]
* [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]]
* [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]]
* [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]]
* [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]]
* [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]]
{{Kinh điển Phật giáo}}
==Lịch sử==
{{Nhị thập tứ sử}}
=== Hán (206 TCN - 9)===
* [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]]
** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]]
** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]]
* [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]]
** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾)
* [[Tác gia:Tư Mã Thiên]]
** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]]
*** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]]
** [[:zh:素王妙論]]
** [[:zh:悲士不遇賦]]
** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944)
** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch)
** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]])
* [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]]
** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]]
* [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]]
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí
** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
===Đông Hán (25–220)===
* [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]]
** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]]
*[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]]
**[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]]
----
* [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]]
** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]]
=== Tào Ngụy ===
* [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360)
=== Đông Ngô ===
* [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]]
* [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]]
** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]]
** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]]
=== Tấn ===
* [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]]
----
* [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]]
** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]]
* [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]]
** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]]
===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)===
* [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]]
** KINH (經)
*** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển
***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển
*** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển
*** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng)
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển)
*** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển)
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển
*** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển
*** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển
** LUẬT (律)
*** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển
** LUẬN (論) & PHÁP (法)
*** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển
*** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển
*** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển
*** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển
*** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch)
*** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp)
** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP
*** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển
*** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển
*** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển
----
* [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]]
** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]]
**:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng.
** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]]
----
* [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442)
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
===Nam–Bắc triều (420–589)===
==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ====
* [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]]
=== Đường 618–907)===
* [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]]
* [[Lữ ngụ An Nam]]
* [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]]
* [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]]
* [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]]
* [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]]
** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]]
** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]]
----
* [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]]
* [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]]
** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]]
** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713)
** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]]
** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762)
** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]]
* [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]]
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]])
** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]])
===Ngũ đại Thập quốc (907–979)===
* [[Tân Ngũ Đại sử]]
===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)===
* [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178)
* [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186)
* [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]]
** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]]
* [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]]
* [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]]
* [[Tục tư trị thông giám]]
* [[Tư trị thông giám trường biên]]
=== Trần # Nguyên (1260–1368)===
* [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]]
* [[:zh:安南志畧]]
** [[Biên dịch:An Nam chí lược]]
* [[Biên dịch:Nguyên sử]]
** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]]
*[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]]
**Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]]
* [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]]
=== Trần - Lê # Minh (1368–1644)===
* [[:zh:越史略|越史略]]
** [[Biên dịch:Việt sử lược]]
* [[Biên dịch:Minh thực lục]]
** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]]
*** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]]
* [[Biên dịch:Minh sử]]
** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]]
* [[Bình An Nam chiếu]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]]
* [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]]
* [[:zh:殊域周咨錄]]
** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]]
* [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]]
* [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]]
* [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội]
=== Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)===
* [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]]
* [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]]
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]]
***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]]
*** ...
**[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]]
* [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]]
** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]]
*[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
**[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống)
*[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]]
**[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]]
*[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
*[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
**[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành)
* [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]]
* [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]]
* [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]]
* [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]]
----
====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành====
* [[:zh:欽定古今圖書集成]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]])
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]]
** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]]
*** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]]
**** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]]
==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu==
<nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki>
hoặc
<pre>
<inputbox>
type=search
width=30
placeholder=Tìm trong trang này
searchbuttonlabel=Tìm
fulltext=false
prefix={{FULLPAGENAME}}
</inputbox>
</pre>
==Cú pháp==
<pre>{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}</pre>
<pre>
{| align="center"
! Nguyên văn chữ Hán
! Phiên âm Hán Việt
|-
|
<poem>
關關雎鳩,在河之洲。
窈窕淑女,君子好逑。
參差荇菜,左右流之。
窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。
悠哉悠哉,輾轉反側。
參差荇菜,左右采之。
窈窕淑女,琴瑟友之。
參差荇菜,左右芼之。
窈窕淑女,鐘鼓樂之。
</poem>
|
<poem>
Quan quan thư cưu, tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.
Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục.
Du tai du tai, triển chuyển phản trắc.
Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi.
Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi.
</poem>
|}
</pre>
==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn==
Việt dịch toàn văn, giữ nguyên định dạng:
===Dịch lịch sử===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ.
===Dịch kinh Phật, kinh Thi===
Dịch đoạn văn sang tiếng Việt theo yêu cầu sau: các đoạn văn xuôi dịch ngắn gọn, không giải thích. Giữ đúng bố cục, không lược bỏ.
Viết một đoạn ngắn tóm tắt nội dung kinh.
Các bài thơ, bài kệ dịch thành 2 bản, bản 1 theo đúng cú pháp nguyên văn, bản 2 theo thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ đúng âm luật, âm hưởng trang trọng.
===Dịch y học===
Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ.
5djaybchcro360ng5ely885u31qoqts
Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo
10
71854
205353
205347
2026-05-14T12:16:43Z
Mrfly911
2215
Thêm 2 kinh của Tì-ni-đa-lưu-chi
205353
wikitext
text/x-wiki
<noinclude>'''Kinh điển Phật giáo''' có số lượng cực kỳ lớn, thậm chí xưa lấy 84.000 để ước chừng tượng trưng về số lượng pháp uẩn. Kinh văn Phật giáo truyền miệng hoặc được viết ở trên giấy mực được chia theo nội dung làm ba loại là Kinh, Luật và Luận. {{wikipediaref}}</noinclude>
{{Navbox
| name = Kinh điển Phật giáo
| title = [[Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo|Kinh điển Phật giáo]]
| state = {{{state|autocollapse}}}
| listclass = hlist
| image =
| group1 = Kinh
| list1 = {{Navbox|child
| group1 = A hàm bộ
| list1 =
* [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh|Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh|Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]]
* [[Pháp cú kinh]]
* [[Từ kinh]]
* [[Bản sinh kinh]]
* [[Tứ niệm xứ kinh]]
* [[Đại-bát Niết-bàn kinh]]
| group2 = Bát nhã bộ
| list2 =
* [[Đại phẩm bát-nhã kinh]]
* [[Tiểu phẩm bát-nhã kinh]]
* [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]]
* [[Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh]]
* [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]]
| group3 = Pháp hoa bộ
| list3 =
* [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Pháp Hoa kinh]]
* [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Kinh Phổ Môn]]
* [[Thập địa kinh]]
* [[Biên dịch:Đại thừa phương quảng tổng trì kinh|Đại thừa phương quảng tổng trì kinh]]
| group4 = Hoa nghiêm bộ
| list4 =
* [[Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh|Hoa Nghiêm kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]]
| group5 = Bảo tích & Tịnh độ
| list5 =
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Vô Lượng Thọ Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|A Di Đà Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]]
* [[Thắng Man kinh]]
* [[Niết bàn kinh]]
| group6 = Kinh tập bộ
| list6 =
* [[Biên dịch:Tứ thập nhị chương kinh|Tứ thập nhị chương kinh]]
* [[Duy-ma-cật sở thuyết kinh]]
* [[Giải thâm mật kinh]]
* [[Nhập Lăng-già kinh]]
* [[Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh|Lăng-nghiêm kinh]]
* [[Viên Giác Kinh]]
* [[Kim quang minh tối thắng vương kinh|Kim quang minh kinh]]
* [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Kinh Dược Sư]]
* [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Dược Sư Thất Phật Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Di Lặc Hạ Sinh Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]]
* [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh|Như Lai Tạng Kinh]]
* [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Vấn Bồ Đề Kinh]]
* [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]]
* [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]]
* [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]]
* [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]]
* [[Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh|Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh]]
| group7 = Mật giáo bộ
| list7 =
* [[Đại Nhật kinh]]
* [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni]]
* [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]]
* [[Tô tất địa yết la kinh]]
}}
| group2 = Luật
| list2 =
* [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Giới Bản]]
* [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Kinh]]
| group3 = Luận
| list3 =
* [[A-tì-đạt-ma]]
* [[Trung quán luận]]
* [[Thành duy thức luận]]
* [[Duy thức nhị thập tụng]]
* [[Du-già sư địa luận]]
* [[Nhiếp đại thừa luận]]
* [[A-tì-đạt-ma câu-xá luận|Câu-xá luận]]
* [[Đại thừa khởi tín luận]]
* [[Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận|Bảo tính luận]]
* [[Bồ-đề đạo đăng luận]]
* [[Nhập Bồ-đề hành luận]]
* [[Tập Bồ Tát học luận]]
* [[Tập lượng luận]]
* [[Nhiếp chân thật luận]]
* [[Thanh tịnh đạo luận]]
| group4 = Khác & Sử truyện
| list4 =
* [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]]
* [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Kinh Tự]]
* [[Biên dịch:Hiển Tông Ký|Hiển Tông Ký]]
* [[Biên dịch:Hồng danh bảo sám|Hồng danh bảo sám]]
* [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]]
* [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thọ Bồ Tát Truyện]]
* [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]]
| below = Các kinh điển này phần lớn thuộc bộ [[:zh:大正新脩大藏經|Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh]].
}}<noinclude>
[[Thể loại:Phật giáo]]
</noinclude>
5zgu9pwx9wsn07zzt9jmq4wxiupwwkj
205366
205353
2026-05-15T06:09:52Z
Mrfly911
2215
205366
wikitext
text/x-wiki
<noinclude>'''Kinh điển Phật giáo''' có số lượng cực kỳ lớn, thậm chí xưa lấy 84.000 để ước chừng tượng trưng về số lượng pháp uẩn. Kinh văn Phật giáo truyền miệng hoặc được viết ở trên giấy mực được chia theo nội dung làm ba loại là Kinh, Luật và Luận. {{wikipediaref}}</noinclude>
{{Navbox
| name = Kinh điển Phật giáo
| title = [[Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo|Kinh điển Phật giáo]]
| state = {{{state|autocollapse}}}
| listclass = hlist
| image =
| group1 = Kinh
| list1 = {{Navbox|child
| group1 = A hàm bộ
| list1 =
* [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh|Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh|Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]]
* [[Pháp cú kinh]]
* [[Từ kinh]]
* [[Bản sinh kinh]]
* [[Tứ niệm xứ kinh]]
* [[Đại-bát Niết-bàn kinh]]
| group2 = Bát nhã bộ
| list2 =
* [[Đại phẩm bát-nhã kinh]]
* [[Tiểu phẩm bát-nhã kinh]]
* [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]]
* [[Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh]]
* [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]]
| group3 = Pháp hoa bộ
| list3 =
* [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Pháp Hoa kinh]]
* [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Kinh Phổ Môn]]
* [[Thập địa kinh]]
* [[Biên dịch:Đại thừa phương quảng tổng trì kinh|Đại thừa phương quảng tổng trì kinh]]
| group4 = Hoa nghiêm bộ
| list4 =
* [[Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh|Hoa Nghiêm kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]]
| group5 = Bảo tích & Tịnh độ
| list5 =
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Vô Lượng Thọ Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|A Di Đà Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Quán Vô Lượng Thọ Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]]
* [[Thắng Man kinh]]
* [[Niết bàn kinh]]
| group6 = Kinh tập bộ
| list6 =
* [[Biên dịch:Tứ thập nhị chương kinh|Tứ thập nhị chương kinh]]
* [[Duy-ma-cật sở thuyết kinh]]
* [[Giải thâm mật kinh]]
* [[Nhập Lăng-già kinh]]
* [[Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh|Lăng-nghiêm kinh]]
* [[Viên Giác Kinh]]
* [[Kim quang minh tối thắng vương kinh|Kim quang minh kinh]]
* [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Kinh Dược Sư]]
* [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Dược Sư Thất Phật Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Di Lặc Hạ Sinh Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]]
* [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh|Như Lai Tạng Kinh]]
* [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Vấn Bồ Đề Kinh]]
* [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Kinh]]
* [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]]
* [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]]
* [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]]
* [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]]
* [[Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh|Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh]]
| group7 = Mật giáo bộ
| list7 =
* [[Đại Nhật kinh]]
* [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni]]
* [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]]
* [[Tô tất địa yết la kinh]]
}}
| group2 = Luật
| list2 =
* [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Giới Bản]]
* [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Kinh]]
| group3 = Luận
| list3 =
* [[A-tì-đạt-ma]]
* [[Trung quán luận]]
* [[Thành duy thức luận]]
* [[Duy thức nhị thập tụng]]
* [[Du-già sư địa luận]]
* [[Nhiếp đại thừa luận]]
* [[A-tì-đạt-ma câu-xá luận|Câu-xá luận]]
* [[Đại thừa khởi tín luận]]
* [[Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận|Bảo tính luận]]
* [[Bồ-đề đạo đăng luận]]
* [[Nhập Bồ-đề hành luận]]
* [[Tập Bồ Tát học luận]]
* [[Tập lượng luận]]
* [[Nhiếp chân thật luận]]
* [[Thanh tịnh đạo luận]]
* [[Biên dịch:Lý Hoặc Luận|Lý Hoặc Luận]]
| group4 = Khác & Sử truyện
| list4 =
* [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]]
* [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]]
* [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Kinh Tự]]
* [[Biên dịch:Hiển Tông Ký|Hiển Tông Ký]]
* [[Biên dịch:Hồng danh bảo sám|Hồng danh bảo sám]]
* [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]]
* [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thọ Bồ Tát Truyện]]
* [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]]
| below = Các kinh điển này phần lớn thuộc bộ [[:zh:大正新脩大藏經|Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh]].
}}<noinclude>
[[Thể loại:Phật giáo]]
</noinclude>
cqp3kkuxgku1ehp5d8g46dfityg3naw
Thành viên:Cay Senhong
2
72181
205361
205274
2026-05-14T21:31:40Z
Cay Senhong
20143
/* Tác phẩm */
205361
wikitext
text/x-wiki
{{Tác gia
| tên = Cay Senhong
| năm sinh = 1965
| mất =
| quê quán = Xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (địa chỉ mới sát nhập :Xóm Hưng Trung 8,Xã Yên Trung ,Nghệ An
| nghề nghiệp = Nhà Nông (Nông dân) Nhà thơ
| hình =
| Cay Senhong = Tác giả bài thơ ''Khắc họa xã Hưng Trung''
}}
Cay Senhong là một nhà thơ người xã Hưng Trung, Hưng Nguyên, Nghệ An.(xã Yên Trung,Nghệ An)
== Tác phẩm ==
* [[Khắc họa xã Hưng Trung]] (2018)
* [[Tình quê Hưng Trung]] (2026)
* [[ Hưng Trung thương lúa yêu người]] (2026)
* [[ Tình quê Hưng Trung.]]
* [[ Tuổi thơ ngày ấy ]]
== Liên kết ngoài ==
[ https://www.facebook.com/share/1HvdY8ryQH/ ]
[ https://www.facebook.com/share/p/1DeUVusV3q/ ]
https://youtube.com/@nguyenvanlien_caysenhong2334?si=d_0w6ZWGqOI0p4kQ
s771mrskbpuv5kt1m34mwkyxb4tjsjp
Bản mẫu:Cấm blocked text
10
72227
205357
205333
2026-05-14T15:54:26Z
Hiyuune
17482
Requesting deletion ([[:m:Special:MyLanguage/User:TenWhile6/XReport|XReport]] v3.1b)
205357
wikitext
text/x-wiki
<noinclude>{{delete|trang do thành viên bị cấm tạo ra <small>[[:m:Special:MyLanguage/User:TenWhile6/XReport|XReport]]</small>}}</noinclude>
6qicepfkhje3ywcutonmwcmw7s1uh1b
Thành viên:Anster1322
2
72228
205358
205334
2026-05-14T15:54:46Z
Hiyuune
17482
Requesting deletion ([[:m:Special:MyLanguage/User:TenWhile6/XReport|XReport]] v3.1b)
205358
wikitext
text/x-wiki
<noinclude>{{delete|trang do thành viên bị cấm tạo ra <small>[[:m:Special:MyLanguage/User:TenWhile6/XReport|XReport]]</small>}}</noinclude>
{{Cấm blocked text|[[User:Vinhtantran|Vinhtantran]]|Lý do nào đó|14.231.128.53|Vinhtantran|824|16:59, ngày 6 tháng 12 năm 2024|14.231.128.53|16:59, ngày 29 tháng 11 năm 2024}}
{{Cấm blocked text|[[User:Vinhtantran|Vinhtantran]]|Lý do nào đó|113.190.215.65|Vinhtantran|825|17:00, ngày 6 tháng 12 năm 2024|113.190.215.65|17:00, ngày 29 tháng 11 năm 2024}}
{{Cấm blocked text|[[User:Vinhtantran|Vinhtantran]]|Phá hoại|14.231.192.174|Vinhtantran|826|16:08, ngày 16 tháng 12 năm 2024|14.231.192.174|16:08, ngày 2 tháng 11 năm 2024}}
{{Cấm blocked text|[[User:Vinhtantran|Vinhtantran]]|Phá hoại|113.190.213.87|Vinhtantran|827|01:35, ngày 19 tháng 12 năm 2024|113.190.208.0/20|01:35, ngày 5 tháng 12 năm 2024}}
{{Cấm blocked text|[[User:Vinhtantran|Vinhtantran]]|Phá hoại|14.231.132.25|Vinhtantran|828|00:40, ngày 22 tháng 12 năm 2024|14.231.128.0/20|00:40, ngày 8 tháng 12 năm 2024}}
{{Cấm blocked text|[[User:Vinhtantran|Vinhtantran]]|Lý do nào đó|14.231.147.193|Vinhtantran|829|15:07, ngày 20 tháng 1 năm 2025|14.231.144.0/20|15:07, ngày 20 tháng 12 năm 2024}}
{{Cấm blocked text|[[User:Tanbiruzzaman|Tanbiruzzaman]]|Vandalism ([[:m:Special:MyLanguage/GS|global sysop]] action)|14.177.255.251|Tanbiruzzaman|830|19:02, ngày 26 tháng 12 năm 2024|113.190.215.65|19:02, ngày 25 tháng 12 năm 2024}}
{{Cấm blocked text|[[User:Tanbiruzzaman|Tanbiruzzaman]]|Vandalism ([[:m:GS|global sysop]] action)|14.232.217.234|Tanbiruzzaman|831|04:37, ngày 14 tháng 3 năm 2025|14.232.217.234|04:37, ngày 11 tháng 3 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:SHB2000|SHB2000]]|vandalism|113.190.213.174|SHB2000|835|12:27, ngày 11 tháng 7 năm 2025|113.190.213.174|12:27, ngày 4 tháng 7 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:DreamRimmer|DreamRimmer]]|Nonsense|113.190.213.174|DreamRimmer|836|22:09, ngày 13 tháng 7 năm 2025|113.190.213.174|15:09, ngày 12 tháng 7 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:Svartava|Svartava]]|Vandalism|113.190.213.174|Svartava|837|03:40, ngày 17 tháng 7 năm 2025|Cô nhung 2|03:40, ngày 16 tháng 7 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:Svartava|Svartava]]|Vandalism-only account|113.190.213.174|Svartava|838|vô hạn|Cô nhung 2|11:41, ngày 16 tháng 7 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:Tanbiruzzaman|Tanbiruzzaman]]|Vandalism ([[:m:Special:MyLanguage/GS|global sysop]] action)|113.190.213.174|Tanbiruzzaman|839|05:08, ngày 19 tháng 7 năm 2025|113.190.213.174|05:08, ngày 18 tháng 7 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:DreamRimmer|DreamRimmer]]|Vandalism|14.177.151.87|DreamRimmer|842|vô hạn|Srabai Abaria 1|15:46, ngày 3 tháng 8 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:Tanbiruzzaman|Tanbiruzzaman]]|Vandalism ([[:m:Special:MyLanguage/GS|global sysop]] action)|14.162.210.56|Tanbiruzzaman|843|13:03, ngày 8 tháng 8 năm 2025|14.162.210.56|13:03, ngày 7 tháng 8 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:Tanbiruzzaman|Tanbiruzzaman]]|Vandalism ([[:m:Special:MyLanguage/GS|global sysop]] action)|14.177.160.6|Tanbiruzzaman|844|vô hạn|April Roblox Duolingo|11:06, ngày 16 tháng 8 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:Tanbiruzzaman|Tanbiruzzaman]]|Vandalism ([[:m:Special:MyLanguage/GS|global sysop]] action)|113.190.212.78|DreamRimmer|845|04:43, ngày 5 tháng 9 năm 2025|113.190.212.78|04:43, ngày 30 tháng 8 năm 2025}}
{{Cấm blocked text|[[User:A09|A09]]|vandalism|14.175.21.246|A09|849|vô hạn|May Duolingo|20:18, ngày 30 tháng 4 năm 2026}}
edug3kj78updustwv2c8z2gtatefzog
Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh
114
72240
205354
2026-05-14T12:40:52Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh | tác giả= Tì-ni-đa-lưu-chi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 佛說象頭精舍經 | năm= [[w:Nhà Tùy|Tùy]] | phần = | trước= | sau= | ghi chú= }} <center><big>PHẬT THUYẾT TƯỢNG ĐẦU TINH XÁ KINH</big></center> '''Đời nhà Tùy, Thiên Trúc Tam Tạng là Tì Ni Đa Lưu Chi (毘尼多流支) dịch''' Tôi nghe như thế này:…”
205354
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh
| tác giả= Tì-ni-đa-lưu-chi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 佛說象頭精舍經
| năm= [[w:Nhà Tùy|Tùy]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú=
}}
<center><big>PHẬT THUYẾT TƯỢNG ĐẦU TINH XÁ KINH</big></center>
'''Đời nhà Tùy, Thiên Trúc Tam Tạng là Tì Ni Đa Lưu Chi (毘尼多流支) dịch'''
Tôi nghe như thế này:
Một thời, Đức Bà Già Bà ở tại tinh xá Tượng Đầu, thành Già Da. Khi ấy, Như Lai thành Phật chưa bao lâu, cùng với chúng đại Tì-kheo đủ một ngàn người — đều là các vị tiên nhân búi tóc xoắn ngày trước, việc làm đã xong, đặt gánh nặng xuống, vĩnh ly sinh tử, dứt sạch phiền não, trí tuệ không tịch bình đẳng, tâm trí chánh thọ, giác tri tất cả, đã đến bờ kia, đều là bậc A-la-hán — lại cùng với vô lượng chúng đại Bồ-tát Ma-ha-tát câu hội.
Bấy giờ, Thế Tôn ngồi một mình tư duy, nhập các tam muội, quán khắp pháp giới, tự giác thành đạo — đủ nhất thiết trí, việc làm đã xong, bỏ các gánh nặng, vượt dòng sinh tử, lìa bỏ bỏn xẻn tham lam, nhổ gai ba độc, dứt sạch khát ái, tập hợp thuyền pháp lớn, đánh trống pháp lớn, thổi ốc pháp lớn, dựng cờ pháp lớn, đã đoạn sinh tử — diễn nói chánh pháp:
"Đóng các đường ác, mở cửa đạo lành, vĩnh viễn lìa đất dữ, dạo chơi các nước tịnh. Ta quán pháp kia, ai tu Bồ-đề, ai đắc Bồ-đề, ai muốn đắc? Quá khứ, hiện tại và vị lai, là ai sở chứng? Là thân đắc hay tâm đắc?
Nếu lấy thân đắc, thì thân này không biết, như cỏ cây, cát sỏi, tường vách, chẳng có giác tri. Bốn đại hòa hợp, cha mẹ sinh ra, thường cần ăn uống, mặc áo, tắm rửa, xoa xát, cuối cùng quy về bại hoại, là pháp mài diệt. Bồ-đề ấy chỉ có hư danh mà không thực tướng, không thanh, không sắc, không thành, không thấy, không vào, không biết, không đi, không đến; các pháp như thế cũng không trói buộc. Có thể vượt qua các pháp, ra khỏi ba cõi, không thấy, không nghe, không ngã và ngã sở, không người làm, không nơi chốn, không hang ổ, không lấy, không dính, không ra, không vào, không nguyện, không trụ, không tướng, không vẻ, không kia, không đây, không hiển thị, ví như huyễn hóa. Do mười hai nhân duyên sinh, không nơi chốn, không thể thấy, lìa tướng, như hư không hiện ra, tịch tĩnh, không tiếng, không vang, không văn, không chữ, cũng không ngôn thuyết. Biết được như thế, gọi là Bồ-đề.
Nếu lấy tâm đắc, thì tâm này không định, ví như huyễn hóa, đều do nghiệp vọng tưởng quá khứ sinh ra, không hình, không chấp, ví như hư không. Bồ-đề ấy không có nơi chốn, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, tất cả pháp đều không. Dẫu có ngôn thuyết, cũng có danh không thực, là pháp vô vi, không, vô tướng, vô tác, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng thể hiển hiện, không nói, không nghe. Bồ-đề ấy chẳng phải quá khứ đắc, chẳng phải vị lai đắc, chẳng phải hiện tại đắc, cũng chẳng lìa ba đời mà đắc; không tướng, chẳng phải làm, chẳng phải không làm; nếu có thể giác hiểu pháp ba đời như thế, tức là Bồ-đề."
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Nếu vô tướng là Bồ-đề, thì nay các thiện nam tử, thiện nữ nhân nương vào đâu mà trụ để đắc thành Bồ-đề?"
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: "Các Bồ-tát học Bồ-đề, nên trụ như thế này."
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Các Bồ-tát nên trụ như thế nào?"
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-đề ấy vượt ra khỏi ba cõi, vượt ngoài ngôn thuyết, lìa các văn tự, không có chỗ trụ. Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi! Bồ-tát Ma-ha-tát trụ vào chỗ không có chỗ trụ, ấy là trụ Bồ-đề; trụ vào không chấp trước, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi pháp không, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi pháp tánh, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi tất cả pháp không có thể tướng, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi lòng tin vô lượng, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi không tăng giảm, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi không dị niệm, ấy là trụ Bồ-đề; trụ như hình bóng trong gương, như tiếng vang trong hang trống, như trăng dưới nước, như bóng nắng giữa trời nóng. Văn Thù Sư Lợi! Trụ vào các pháp như thế, ấy là trụ Bồ-đề."
Bấy giờ, Tịnh Quang Diễm Thiên Tử bạch Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử rằng: "Tu hành thế nào? Dùng nghiệp gì để làm hạnh Bồ-tát?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đối với các chúng sinh khởi tâm đại từ, đó là hạnh Bồ-tát."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Các Bồ-tát tu hành thế nào để khởi tâm đại từ?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Tâm không xiểm nịnh dối trá, đó là đại từ của Bồ-tát."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Tu hành thế nào để được không xiểm nịnh dối trá?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng, đó là không xiểm nịnh dối trá, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát tu hành thế nào để đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt, đó là hạnh bình đẳng, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát lại tu thế nào để không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt và thực hiện hạnh bình đẳng đối với tất cả chúng sinh?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Khéo niệm cung kính, không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt và pháp bình đẳng, các Bồ-tát nên tu như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát khéo niệm cung kính, cho đến không kia không đây không các dị kiến, do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Khéo niệm cung kính là do phát tâm Bồ-đề, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Tâm Bồ-đề do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Tâm Bồ-đề từ sáu Ba-la-mật mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Sáu Ba-la-mật từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ phương tiện trí tuệ mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát phương tiện trí tuệ từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Phương tiện trí tuệ từ không phóng dật mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Không phóng dật lại từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Không phóng dật từ tu ba nghiệp lành mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Tu ba nghiệp lành do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ tu mười nghiệp thiện mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Tu mười nghiệp thiện do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ khéo nhiếp phục thân, khẩu, ý mà khởi."
Thiên tử lại hỏi Văn Thù Sư Lợi: "Ba nghiệp lành này lại do đâu khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ khéo tư duy mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Khéo tư duy do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ khéo tư duy quán hạnh mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Khéo tư duy quán hạnh do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ ức trì không quên mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Ức trì không quên có mấy loại tâm? Do nhân duyên gì mà được quả báo?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Bồ-tát Ma-ha-tát có bốn loại phát tâm, từ nhân mà được quả. Bốn loại đó là gì? Một là sơ phát tâm, hai là hệ niệm tu hành, ba là bất thoái, bốn là cùng thiện đồng sinh. Nhờ sơ phát tâm mà được hệ niệm; nhờ tu hệ niệm mà được bất thoái chuyển; nhờ bất thoái chuyển mà cùng thiện đồng sinh.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như gieo hạt giống xuống ruộng lành; hệ niệm tu hành như mầm cây mọc lên; tu hành bất thoái như thân, cành, lá tăng trưởng; cùng thiện đồng sinh như hoa quả kết trái, chín muồi. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như thợ làm xe, khéo biết các loại gỗ; hệ niệm tu hành như lắp ghép gỗ; tu hành bất thoái như xe đã làm xong; cùng thiện đồng sinh như đem xe ra chở đồ và sử dụng. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như trăng mới mọc; hệ niệm tu hành như trăng mùng năm đến mùng bảy; tu hành bất thoái như trăng mười ngày; cùng thiện đồng sinh như trăng mười bốn; trí tuệ Như Lai viên mãn không khuyết như trăng rằm mười lăm. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm vượt qua địa vị Thanh văn; phát tâm thứ hai vượt qua địa vị Bích-chi Phật; phát tâm thứ ba vượt qua địa vị bất định; phát tâm thứ tư đạt đến địa vị định.
Lại nữa, Thiên tử! Như các âm 'A', 'A-xà' là căn bản của tất cả văn tự; sơ phát tâm cũng lại như thế, là căn bản của tất cả điều thiện. Như học văn tự thì được phần nhỏ trí tuệ; hệ niệm tu hành cũng lại như thế. Được ít phần trí tuệ như người giỏi tính toán tính hết vô lượng, biết rõ giới hạn của nó; tâm bất thoái chuyển cũng lại như thế. Biết tâm chẳng thoái lùi ví như có người hiểu rõ kinh luận; cùng thiện đồng sinh khiến tâm lành sáng suốt cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là hệ niệm nhân lành; phát tâm thứ hai là hệ niệm trí tuệ; phát tâm thứ ba là hệ niệm thiền định; phát tâm thứ tư là hệ niệm nơi quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là thụ trì nhân lành; phát tâm thứ hai là thụ trì trí tuệ; phát tâm thứ ba là thụ trì thiền định; phát tâm thứ tư là thụ trì nơi quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là thành tựu nhân lành; phát tâm thứ hai là thành tựu trí tuệ; phát tâm thứ ba là thành tựu thiền định; phát tâm thứ tư là thành tựu chính quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là nhờ thiện mà vào đạo; phát tâm thứ hai là nhờ trí mà vào đạo; phát tâm thứ ba là nhờ thiền mà vào đạo; phát tâm thứ tư là nhờ quả mà vào đạo.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như thầy thuốc biết dược tính; phát tâm thứ hai là khéo biết liều lượng thuốc; phát tâm thứ ba là tùy bệnh cho thuốc; phát tâm thứ tư là khiến người bệnh uống và thực hành theo.
Lại nữa, Thiên tử! Nhờ sơ phát tâm mà sinh vào nhà Pháp vương; phát tâm thứ hai là học pháp của Pháp vương; phát tâm thứ ba là tu hạnh của Pháp vương; phát tâm thứ tư là viên mãn ngôi vị vương giả. Đó gọi là bốn loại phát tâm."
Bấy giờ, Tịnh Quang Diễm Thiên tử bạch Văn Thù Sư Lợi: "Đâu là đạo mau chóng của Bồ-tát Ma-ha-tát? Bồ-tát đi theo đạo này sẽ mau đắc A-nốt-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề."
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đạo mau chóng có hai loại, Bồ-tát cưỡi hai đạo này sẽ mau đắc đạo quả vô thượng. Hai loại đó là gì? Một là phương tiện đạo, hai là bát-nhã đạo. Thụ trì phương tiện trí nên có thể quan sát tất cả chúng sinh; thụ trì bát-nhã nên quán thấy tất cả pháp đều không, có thể đoạn trừ nghi chấp. Dùng phương tiện trí nên hòa hợp các pháp; dùng bát-nhã nên các pháp không hòa hợp. Phương tiện là nhân, bát-nhã là quả. Dùng phương tiện nên biết tất cả pháp; dùng bát-nhã nên biết các pháp đều không. Dùng phương tiện trí để trang nghiêm cõi Phật; dùng bát-nhã nên biết các cõi Phật thảy đều bình đẳng. Dùng phương tiện nên biết căn tính chúng sinh sai biệt; dùng bát-nhã nên biết căn tính chúng sinh đều không. Dùng phương tiện nên được vị cam lộ, chứng thành Bồ-đề; dùng bát-nhã nên giác ngộ các Phật pháp, đạt chính đạo bình đẳng.
Lại nữa, Thiên tử! Lại có hai hạnh có thể khiến Bồ-tát mau đắc quả vị vô thượng. Một là hữu vi, hai là vô vi. Hữu vi tổng nhiếp năm Ba-la-mật; vô vi tổng nhiếp Bát-nhã Ba-la-mật. Lại có hai hạnh khiến Bồ-tát mau đắc Bồ-đề: Một là hữu lậu hạnh (năm Ba-la-mật), hai là vô lậu hạnh (Bát-nhã Ba-la-mật). Lại có hai hạnh nữa: Một là trụ hạnh (năm Ba-la-mật), hai là bất trụ hạnh (Bát-nhã Ba-la-mật). Lại có hai hạnh nữa: Một là hữu lượng (năm Ba-la-mật), hai là vô lượng (Bát-nhã Ba-la-mật). Hữu lượng hạnh là pháp có tướng; vô lượng hạnh là pháp không tướng. Lại có hai hạnh nữa: Một là trí hạnh, hai là định hạnh. Nhờ trí hạnh nên đi từ sơ địa đến thất địa; nhờ định hạnh nên đi từ bát địa đến thập địa."
Khi ấy, Bồ-tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì bạch Văn Thù Sư Lợi Đồng tử: "Bồ-tát Ma-ha-tát làm sao biết Nghĩa? Làm sao biết Trí?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiện nam tử! Nghĩa không có thực thể, Trí cũng không có thực thể."
Bồ-tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì hỏi lại: "Tại sao Nghĩa không thực thể, Trí cũng không thực thể?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Nghĩa không thực thể là vô vi, vô tác, vô tướng, không hình dáng, không đến không đi. Trí không thực thể là chẳng phải pháp định, chẳng phải pháp bất định. Nghĩa không thực thể là phi hữu phi vô; Trí thể tánh là không, phi hữu phi vô, không lấy không bỏ. Lại nữa, Nghĩa chẳng phải định hay chẳng định; Trí gọi là tâm đạo, tâm và trí bình đẳng không sai biệt. Trí lấy thiền làm thể, thiền trí bình đẳng. Dùng phương tiện quán ngũ uẩn, thập nhị nhập, thập bát giới, mười hai nhân duyên và sự lưu chuyển sinh tử, thấy tướng thiện ác như huyễn hóa, phi hữu phi vô. Bồ-tát nên quán các pháp như thế.
Lại nữa, Bồ-tát có mười loại trí hạnh: trí về nhân, trí về quả, trí về nghĩa, trí phương tiện, trí bát-nhã, trí thụ trì, trí ba-la-mật, trí đại bi, trí lân mẫn giáo hóa chúng sinh, và trí không dính mắc tất cả pháp.
Bồ-tát phát mười loại hạnh thanh tịnh: tự phát thân nghiệp thanh tịnh, phát thân nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; tự phát khẩu nghiệp thanh tịnh, phát khẩu nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; tự phát ý nghiệp thanh tịnh, phát ý nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; phát hạnh thanh tịnh bình đẳng bên trong, phát hạnh thanh tịnh bình đẳng bên ngoài cho chúng sinh; phát trí hạnh thanh tịnh của Phật; phát hạnh tịnh Phật quốc độ thành tựu chúng sinh (ban thuốc cho người bệnh, dùng trí vô vi giáo hóa người phiền não lìa ba cõi, khiến đủ công đức trí tuệ).
Bồ-tát có mười loại phương tiện: phương tiện bờ kia, thụ trì, trí tuệ, phương tiện của phương tiện, đại bi, trí mãn, huệ mãn, tĩnh niệm, thực hạnh, và phương tiện bình đẳng không ghét thương đối với chúng sinh.
Bồ-tát có mười loại phân biệt thân vô tận: phân biệt sự vật, phiền não, pháp, khát ái, các kiến giải, thiện ác, tạo tác, không chấp trước, hòa hợp, và trí Bồ-đề viên mãn; tất cả đều vô tận.
Bồ-tát có mười loại hạnh điều phục: điều phục thiện hạnh, điều phục bỏn xẻn (bố thí như mưa), tinh tiến, ba nghiệp, tâm độc (không sân hận), khởi tâm từ mẫn, biếng nhác, siêng tu Phật pháp, tâm bất thiện, và thiền định giải thoát tự tại. Lại có mười hạnh điều phục khác: phá ngu si, phương tiện tổng trì bát-nhã, điều phục phiền não, sinh khởi đạo nghiệp, tổng trì tín thực, không đọa đường ác, tâm bất thiện, thời và phi thời tự tại, điều phục bản thân, và quán không.
Bồ-tát có mười cách điều phục người khác: điều phục để xa lìa ba ác nghiệp của thân, bốn của miệng, ba của ý. Lại có mười pháp quán nội ngoại không chấp trước: quán nội giới không, ngoại giới không, nội ngoại pháp không, trí tuệ không, đạo hạnh không, thánh địa không, thanh tịnh không, bát-nhã không, giáo hóa không, và từ bi phương tiện không; tất cả đều không chấp trước.
Bồ-tát phải lập tâm kiên cố tu đạo Bồ-đề. Kiên cố là ba nghiệp tương ưng, không trái nghịch; không kiên cố là ba nghiệp trái nghịch nhau.
Có các cặp chính hạnh kiên cố: một là chính niệm Bồ-đề và tu thiền đoạn phiền não; hai là tự điều thân và điều thân chúng sinh; ba là siêng tu tập và không tu tập (vô công dụng hạnh) mà đắc nhất thiết trí; bốn là trụ địa phương tiện và trụ địa bất động; mười là xa lìa nhiễm địa và tu tập viên mãn các địa; mười một là thị hiện địa Thanh văn, Duyên giác mà không thoái chuyển nơi Bồ-đề. Nhờ các chính hạnh và phương tiện này, Bồ-tát sẽ đắc quả Vô thượng Chính đẳng Chính giác."
Bấy giờ Thế Tôn khen ngợi Văn Thù Sư Lợi: "Lành thay! Lành thay! Ngươi đã khéo nói lời ấy." Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng trời, người, A-tu-la... nghe Phật thuyết pháp, đều tin nhận, đảnh lễ và vui vẻ làm theo.
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
c7ogg8fm5gb8zjq4jf1mpm319qizest
205362
205354
2026-05-15T02:59:24Z
Mrfly911
2215
205362
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh
| tác giả= Tì-ni-đa-lưu-chi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 佛說象頭精舍經
| năm= [[w:Nhà Tùy|Tùy]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= '''Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh''' được trích lục từ Kinh tập bộ thuộc Đại Chính Tạng.
}}
<center><big>PHẬT THUYẾT TƯỢNG ĐẦU TINH XÁ KINH</big></center>
'''Đời nhà Tùy, Thiên Trúc Tam Tạng là Tì Ni Đa Lưu Chi (毘尼多流支) dịch'''
Tôi nghe như thế này:
Một thời, Đức Bà Già Bà ở tại tinh xá Tượng Đầu, thành Già Da. Khi ấy, Như Lai thành Phật chưa bao lâu, cùng với chúng đại Tì-kheo đủ một ngàn người — đều là các vị tiên nhân búi tóc xoắn ngày trước, việc làm đã xong, đặt gánh nặng xuống, vĩnh ly sinh tử, dứt sạch phiền não, trí tuệ không tịch bình đẳng, tâm trí chánh thọ, giác tri tất cả, đã đến bờ kia, đều là bậc A-la-hán — lại cùng với vô lượng chúng đại Bồ-tát Ma-ha-tát câu hội.
Bấy giờ, Thế Tôn ngồi một mình tư duy, nhập các tam muội, quán khắp pháp giới, tự giác thành đạo — đủ nhất thiết trí, việc làm đã xong, bỏ các gánh nặng, vượt dòng sinh tử, lìa bỏ bỏn xẻn tham lam, nhổ gai ba độc, dứt sạch khát ái, tập hợp thuyền pháp lớn, đánh trống pháp lớn, thổi ốc pháp lớn, dựng cờ pháp lớn, đã đoạn sinh tử — diễn nói chánh pháp:
"Đóng các đường ác, mở cửa đạo lành, vĩnh viễn lìa đất dữ, dạo chơi các nước tịnh. Ta quán pháp kia, ai tu Bồ-đề, ai đắc Bồ-đề, ai muốn đắc? Quá khứ, hiện tại và vị lai, là ai sở chứng? Là thân đắc hay tâm đắc?
Nếu lấy thân đắc, thì thân này không biết, như cỏ cây, cát sỏi, tường vách, chẳng có giác tri. Bốn đại hòa hợp, cha mẹ sinh ra, thường cần ăn uống, mặc áo, tắm rửa, xoa xát, cuối cùng quy về bại hoại, là pháp mài diệt. Bồ-đề ấy chỉ có hư danh mà không thực tướng, không thanh, không sắc, không thành, không thấy, không vào, không biết, không đi, không đến; các pháp như thế cũng không trói buộc. Có thể vượt qua các pháp, ra khỏi ba cõi, không thấy, không nghe, không ngã và ngã sở, không người làm, không nơi chốn, không hang ổ, không lấy, không dính, không ra, không vào, không nguyện, không trụ, không tướng, không vẻ, không kia, không đây, không hiển thị, ví như huyễn hóa. Do mười hai nhân duyên sinh, không nơi chốn, không thể thấy, lìa tướng, như hư không hiện ra, tịch tĩnh, không tiếng, không vang, không văn, không chữ, cũng không ngôn thuyết. Biết được như thế, gọi là Bồ-đề.
Nếu lấy tâm đắc, thì tâm này không định, ví như huyễn hóa, đều do nghiệp vọng tưởng quá khứ sinh ra, không hình, không chấp, ví như hư không. Bồ-đề ấy không có nơi chốn, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, tất cả pháp đều không. Dẫu có ngôn thuyết, cũng có danh không thực, là pháp vô vi, không, vô tướng, vô tác, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng thể hiển hiện, không nói, không nghe. Bồ-đề ấy chẳng phải quá khứ đắc, chẳng phải vị lai đắc, chẳng phải hiện tại đắc, cũng chẳng lìa ba đời mà đắc; không tướng, chẳng phải làm, chẳng phải không làm; nếu có thể giác hiểu pháp ba đời như thế, tức là Bồ-đề."
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Nếu vô tướng là Bồ-đề, thì nay các thiện nam tử, thiện nữ nhân nương vào đâu mà trụ để đắc thành Bồ-đề?"
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: "Các Bồ-tát học Bồ-đề, nên trụ như thế này."
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Các Bồ-tát nên trụ như thế nào?"
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-đề ấy vượt ra khỏi ba cõi, vượt ngoài ngôn thuyết, lìa các văn tự, không có chỗ trụ. Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi! Bồ-tát Ma-ha-tát trụ vào chỗ không có chỗ trụ, ấy là trụ Bồ-đề; trụ vào không chấp trước, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi pháp không, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi pháp tánh, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi tất cả pháp không có thể tướng, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi lòng tin vô lượng, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi không tăng giảm, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi không dị niệm, ấy là trụ Bồ-đề; trụ như hình bóng trong gương, như tiếng vang trong hang trống, như trăng dưới nước, như bóng nắng giữa trời nóng. Văn Thù Sư Lợi! Trụ vào các pháp như thế, ấy là trụ Bồ-đề."
Bấy giờ, Tịnh Quang Diễm Thiên Tử bạch Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử rằng: "Tu hành thế nào? Dùng nghiệp gì để làm hạnh Bồ-tát?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đối với các chúng sinh khởi tâm đại từ, đó là hạnh Bồ-tát."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Các Bồ-tát tu hành thế nào để khởi tâm đại từ?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Tâm không xiểm nịnh dối trá, đó là đại từ của Bồ-tát."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Tu hành thế nào để được không xiểm nịnh dối trá?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng, đó là không xiểm nịnh dối trá, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát tu hành thế nào để đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt, đó là hạnh bình đẳng, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát lại tu thế nào để không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt và thực hiện hạnh bình đẳng đối với tất cả chúng sinh?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Khéo niệm cung kính, không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt và pháp bình đẳng, các Bồ-tát nên tu như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát khéo niệm cung kính, cho đến không kia không đây không các dị kiến, do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Khéo niệm cung kính là do phát tâm Bồ-đề, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Tâm Bồ-đề do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Tâm Bồ-đề từ sáu Ba-la-mật mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Sáu Ba-la-mật từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ phương tiện trí tuệ mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát phương tiện trí tuệ từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Phương tiện trí tuệ từ không phóng dật mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Không phóng dật lại từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Không phóng dật từ tu ba nghiệp lành mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Tu ba nghiệp lành do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ tu mười nghiệp thiện mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Tu mười nghiệp thiện do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ khéo nhiếp phục thân, khẩu, ý mà khởi."
Thiên tử lại hỏi Văn Thù Sư Lợi: "Ba nghiệp lành này lại do đâu khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ khéo tư duy mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Khéo tư duy do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ khéo tư duy quán hạnh mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Khéo tư duy quán hạnh do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ ức trì không quên mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Ức trì không quên có mấy loại tâm? Do nhân duyên gì mà được quả báo?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Bồ-tát Ma-ha-tát có bốn loại phát tâm, từ nhân mà được quả. Bốn loại đó là gì? Một là sơ phát tâm, hai là hệ niệm tu hành, ba là bất thoái, bốn là cùng thiện đồng sinh. Nhờ sơ phát tâm mà được hệ niệm; nhờ tu hệ niệm mà được bất thoái chuyển; nhờ bất thoái chuyển mà cùng thiện đồng sinh.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như gieo hạt giống xuống ruộng lành; hệ niệm tu hành như mầm cây mọc lên; tu hành bất thoái như thân, cành, lá tăng trưởng; cùng thiện đồng sinh như hoa quả kết trái, chín muồi. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như thợ làm xe, khéo biết các loại gỗ; hệ niệm tu hành như lắp ghép gỗ; tu hành bất thoái như xe đã làm xong; cùng thiện đồng sinh như đem xe ra chở đồ và sử dụng. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như trăng mới mọc; hệ niệm tu hành như trăng mùng năm đến mùng bảy; tu hành bất thoái như trăng mười ngày; cùng thiện đồng sinh như trăng mười bốn; trí tuệ Như Lai viên mãn không khuyết như trăng rằm mười lăm. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm vượt qua địa vị Thanh văn; phát tâm thứ hai vượt qua địa vị Bích-chi Phật; phát tâm thứ ba vượt qua địa vị bất định; phát tâm thứ tư đạt đến địa vị định.
Lại nữa, Thiên tử! Như các âm 'A', 'A-xà' là căn bản của tất cả văn tự; sơ phát tâm cũng lại như thế, là căn bản của tất cả điều thiện. Như học văn tự thì được phần nhỏ trí tuệ; hệ niệm tu hành cũng lại như thế. Được ít phần trí tuệ như người giỏi tính toán tính hết vô lượng, biết rõ giới hạn của nó; tâm bất thoái chuyển cũng lại như thế. Biết tâm chẳng thoái lùi ví như có người hiểu rõ kinh luận; cùng thiện đồng sinh khiến tâm lành sáng suốt cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là hệ niệm nhân lành; phát tâm thứ hai là hệ niệm trí tuệ; phát tâm thứ ba là hệ niệm thiền định; phát tâm thứ tư là hệ niệm nơi quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là thụ trì nhân lành; phát tâm thứ hai là thụ trì trí tuệ; phát tâm thứ ba là thụ trì thiền định; phát tâm thứ tư là thụ trì nơi quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là thành tựu nhân lành; phát tâm thứ hai là thành tựu trí tuệ; phát tâm thứ ba là thành tựu thiền định; phát tâm thứ tư là thành tựu chính quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là nhờ thiện mà vào đạo; phát tâm thứ hai là nhờ trí mà vào đạo; phát tâm thứ ba là nhờ thiền mà vào đạo; phát tâm thứ tư là nhờ quả mà vào đạo.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như thầy thuốc biết dược tính; phát tâm thứ hai là khéo biết liều lượng thuốc; phát tâm thứ ba là tùy bệnh cho thuốc; phát tâm thứ tư là khiến người bệnh uống và thực hành theo.
Lại nữa, Thiên tử! Nhờ sơ phát tâm mà sinh vào nhà Pháp vương; phát tâm thứ hai là học pháp của Pháp vương; phát tâm thứ ba là tu hạnh của Pháp vương; phát tâm thứ tư là viên mãn ngôi vị vương giả. Đó gọi là bốn loại phát tâm."
Bấy giờ, Tịnh Quang Diễm Thiên tử bạch Văn Thù Sư Lợi: "Đâu là đạo mau chóng của Bồ-tát Ma-ha-tát? Bồ-tát đi theo đạo này sẽ mau đắc A-nốt-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề."
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đạo mau chóng có hai loại, Bồ-tát cưỡi hai đạo này sẽ mau đắc đạo quả vô thượng. Hai loại đó là gì? Một là phương tiện đạo, hai là bát-nhã đạo. Thụ trì phương tiện trí nên có thể quan sát tất cả chúng sinh; thụ trì bát-nhã nên quán thấy tất cả pháp đều không, có thể đoạn trừ nghi chấp. Dùng phương tiện trí nên hòa hợp các pháp; dùng bát-nhã nên các pháp không hòa hợp. Phương tiện là nhân, bát-nhã là quả. Dùng phương tiện nên biết tất cả pháp; dùng bát-nhã nên biết các pháp đều không. Dùng phương tiện trí để trang nghiêm cõi Phật; dùng bát-nhã nên biết các cõi Phật thảy đều bình đẳng. Dùng phương tiện nên biết căn tính chúng sinh sai biệt; dùng bát-nhã nên biết căn tính chúng sinh đều không. Dùng phương tiện nên được vị cam lộ, chứng thành Bồ-đề; dùng bát-nhã nên giác ngộ các Phật pháp, đạt chính đạo bình đẳng.
Lại nữa, Thiên tử! Lại có hai hạnh có thể khiến Bồ-tát mau đắc quả vị vô thượng. Một là hữu vi, hai là vô vi. Hữu vi tổng nhiếp năm Ba-la-mật; vô vi tổng nhiếp Bát-nhã Ba-la-mật. Lại có hai hạnh khiến Bồ-tát mau đắc Bồ-đề: Một là hữu lậu hạnh (năm Ba-la-mật), hai là vô lậu hạnh (Bát-nhã Ba-la-mật). Lại có hai hạnh nữa: Một là trụ hạnh (năm Ba-la-mật), hai là bất trụ hạnh (Bát-nhã Ba-la-mật). Lại có hai hạnh nữa: Một là hữu lượng (năm Ba-la-mật), hai là vô lượng (Bát-nhã Ba-la-mật). Hữu lượng hạnh là pháp có tướng; vô lượng hạnh là pháp không tướng. Lại có hai hạnh nữa: Một là trí hạnh, hai là định hạnh. Nhờ trí hạnh nên đi từ sơ địa đến thất địa; nhờ định hạnh nên đi từ bát địa đến thập địa."
Khi ấy, Bồ-tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì bạch Văn Thù Sư Lợi Đồng tử: "Bồ-tát Ma-ha-tát làm sao biết Nghĩa? Làm sao biết Trí?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiện nam tử! Nghĩa không có thực thể, Trí cũng không có thực thể."
Bồ-tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì hỏi lại: "Tại sao Nghĩa không thực thể, Trí cũng không thực thể?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Nghĩa không thực thể là vô vi, vô tác, vô tướng, không hình dáng, không đến không đi. Trí không thực thể là chẳng phải pháp định, chẳng phải pháp bất định. Nghĩa không thực thể là phi hữu phi vô; Trí thể tánh là không, phi hữu phi vô, không lấy không bỏ. Lại nữa, Nghĩa chẳng phải định hay chẳng định; Trí gọi là tâm đạo, tâm và trí bình đẳng không sai biệt. Trí lấy thiền làm thể, thiền trí bình đẳng. Dùng phương tiện quán ngũ uẩn, thập nhị nhập, thập bát giới, mười hai nhân duyên và sự lưu chuyển sinh tử, thấy tướng thiện ác như huyễn hóa, phi hữu phi vô. Bồ-tát nên quán các pháp như thế.
Lại nữa, Bồ-tát có mười loại trí hạnh: trí về nhân, trí về quả, trí về nghĩa, trí phương tiện, trí bát-nhã, trí thụ trì, trí ba-la-mật, trí đại bi, trí lân mẫn giáo hóa chúng sinh, và trí không dính mắc tất cả pháp.
Bồ-tát phát mười loại hạnh thanh tịnh: tự phát thân nghiệp thanh tịnh, phát thân nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; tự phát khẩu nghiệp thanh tịnh, phát khẩu nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; tự phát ý nghiệp thanh tịnh, phát ý nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; phát hạnh thanh tịnh bình đẳng bên trong, phát hạnh thanh tịnh bình đẳng bên ngoài cho chúng sinh; phát trí hạnh thanh tịnh của Phật; phát hạnh tịnh Phật quốc độ thành tựu chúng sinh (ban thuốc cho người bệnh, dùng trí vô vi giáo hóa người phiền não lìa ba cõi, khiến đủ công đức trí tuệ).
Bồ-tát có mười loại phương tiện: phương tiện bờ kia, thụ trì, trí tuệ, phương tiện của phương tiện, đại bi, trí mãn, huệ mãn, tĩnh niệm, thực hạnh, và phương tiện bình đẳng không ghét thương đối với chúng sinh.
Bồ-tát có mười loại phân biệt thân vô tận: phân biệt sự vật, phiền não, pháp, khát ái, các kiến giải, thiện ác, tạo tác, không chấp trước, hòa hợp, và trí Bồ-đề viên mãn; tất cả đều vô tận.
Bồ-tát có mười loại hạnh điều phục: điều phục thiện hạnh, điều phục bỏn xẻn (bố thí như mưa), tinh tiến, ba nghiệp, tâm độc (không sân hận), khởi tâm từ mẫn, biếng nhác, siêng tu Phật pháp, tâm bất thiện, và thiền định giải thoát tự tại. Lại có mười hạnh điều phục khác: phá ngu si, phương tiện tổng trì bát-nhã, điều phục phiền não, sinh khởi đạo nghiệp, tổng trì tín thực, không đọa đường ác, tâm bất thiện, thời và phi thời tự tại, điều phục bản thân, và quán không.
Bồ-tát có mười cách điều phục người khác: điều phục để xa lìa ba ác nghiệp của thân, bốn của miệng, ba của ý. Lại có mười pháp quán nội ngoại không chấp trước: quán nội giới không, ngoại giới không, nội ngoại pháp không, trí tuệ không, đạo hạnh không, thánh địa không, thanh tịnh không, bát-nhã không, giáo hóa không, và từ bi phương tiện không; tất cả đều không chấp trước.
Bồ-tát phải lập tâm kiên cố tu đạo Bồ-đề. Kiên cố là ba nghiệp tương ưng, không trái nghịch; không kiên cố là ba nghiệp trái nghịch nhau.
Có các cặp chính hạnh kiên cố: một là chính niệm Bồ-đề và tu thiền đoạn phiền não; hai là tự điều thân và điều thân chúng sinh; ba là siêng tu tập và không tu tập (vô công dụng hạnh) mà đắc nhất thiết trí; bốn là trụ địa phương tiện và trụ địa bất động; mười là xa lìa nhiễm địa và tu tập viên mãn các địa; mười một là thị hiện địa Thanh văn, Duyên giác mà không thoái chuyển nơi Bồ-đề. Nhờ các chính hạnh và phương tiện này, Bồ-tát sẽ đắc quả Vô thượng Chính đẳng Chính giác."
Bấy giờ Thế Tôn khen ngợi Văn Thù Sư Lợi: "Lành thay! Lành thay! Ngươi đã khéo nói lời ấy." Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng trời, người, A-tu-la... nghe Phật thuyết pháp, đều tin nhận, đảnh lễ và vui vẻ làm theo.
{{Kinh điển Phật giáo}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
l88yvt46t9y053t86eo1jo6c4fqn199
205364
205362
2026-05-15T03:25:03Z
Mrfly911
2215
205364
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh
| tác giả= Tì-ni-đa-lưu-chi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 佛說象頭精舍經
| năm= [[w:Nhà Tùy|Tùy]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= Kinh '''Phật thuyết Tượng Đầu Tinh Xá''' (tên Phạn: *Gayaśīrṣa Sūtra*) là một bản kinh Đại thừa quan trọng, ghi lại cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi tại núi Tượng Đầu (Gayaśīrṣa). Nội dung kinh tập trung vào các chủ đề cốt lõi sau:
* '''Bản chất của Bồ-đề:''' Đức Phật giải thích rằng Bồ-đề (giác ngộ) không phải là một pháp hữu hình có thể nắm bắt. Nó không có tướng trạng, không thể diễn tả bằng ngôn từ và bản tính vốn là Không, vắng lặng.
* '''Hành vi của Bồ-tát (Bồ-tát hạnh):''' Kinh nhấn mạnh rằng Bồ-tát dù thấu hiểu tính Không nhưng không rời bỏ chúng sinh. Bồ-tát thực hành các thiện pháp nhưng không chấp vào tướng, duy trì sự cân bằng giữa trí tuệ (thấy rõ thực tại) và phương tiện (cứu độ đời).
* '''Sự khác biệt giữa các thừa:''' Đức Phật phân tích sự khác biệt trong tư duy và quả vị giữa Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát. Tuy nhiên, Ngài khẳng định đích đến cuối cùng của Bồ-tát là trí tuệ toàn giác, vượt lên trên sự giải thoát cá nhân đơn thuần.
* '''Trí tuệ Văn Thù:''' Qua những câu hỏi sắc bén của Bồ-tát Văn Thù, kinh làm sáng tỏ tư tưởng "vô sinh" (không sinh không diệt). Mọi hiện tượng pháp giới đều như mộng huyễn, người tu hành cần đạt đến tâm thái không phân biệt để chạm tới chân lý.
'''Tóm lại:''' Kinh Tượng Đầu Tinh Xá là bài học sâu sắc về '''Tính Không''' và '''Trí Tuệ''', dạy người tu hành cách nhập thế mà không bị nhiễm ô, dùng trí tuệ bát-nhã để phá tan mọi kiến chấp.
}}
<center><big>PHẬT THUYẾT TƯỢNG ĐẦU TINH XÁ KINH</big></center>
'''Đời nhà Tùy, Thiên Trúc Tam Tạng là Tì Ni Đa Lưu Chi (毘尼多流支) dịch'''
Tôi nghe như thế này:
Một thời, Đức Bà Già Bà ở tại tinh xá Tượng Đầu, thành Già Da. Khi ấy, Như Lai thành Phật chưa bao lâu, cùng với chúng đại Tì-kheo đủ một ngàn người — đều là các vị tiên nhân búi tóc xoắn ngày trước, việc làm đã xong, đặt gánh nặng xuống, vĩnh ly sinh tử, dứt sạch phiền não, trí tuệ không tịch bình đẳng, tâm trí chánh thọ, giác tri tất cả, đã đến bờ kia, đều là bậc A-la-hán — lại cùng với vô lượng chúng đại Bồ-tát Ma-ha-tát câu hội.
Bấy giờ, Thế Tôn ngồi một mình tư duy, nhập các tam muội, quán khắp pháp giới, tự giác thành đạo — đủ nhất thiết trí, việc làm đã xong, bỏ các gánh nặng, vượt dòng sinh tử, lìa bỏ bỏn xẻn tham lam, nhổ gai ba độc, dứt sạch khát ái, tập hợp thuyền pháp lớn, đánh trống pháp lớn, thổi ốc pháp lớn, dựng cờ pháp lớn, đã đoạn sinh tử — diễn nói chánh pháp:
"Đóng các đường ác, mở cửa đạo lành, vĩnh viễn lìa đất dữ, dạo chơi các nước tịnh. Ta quán pháp kia, ai tu Bồ-đề, ai đắc Bồ-đề, ai muốn đắc? Quá khứ, hiện tại và vị lai, là ai sở chứng? Là thân đắc hay tâm đắc?
Nếu lấy thân đắc, thì thân này không biết, như cỏ cây, cát sỏi, tường vách, chẳng có giác tri. Bốn đại hòa hợp, cha mẹ sinh ra, thường cần ăn uống, mặc áo, tắm rửa, xoa xát, cuối cùng quy về bại hoại, là pháp mài diệt. Bồ-đề ấy chỉ có hư danh mà không thực tướng, không thanh, không sắc, không thành, không thấy, không vào, không biết, không đi, không đến; các pháp như thế cũng không trói buộc. Có thể vượt qua các pháp, ra khỏi ba cõi, không thấy, không nghe, không ngã và ngã sở, không người làm, không nơi chốn, không hang ổ, không lấy, không dính, không ra, không vào, không nguyện, không trụ, không tướng, không vẻ, không kia, không đây, không hiển thị, ví như huyễn hóa. Do mười hai nhân duyên sinh, không nơi chốn, không thể thấy, lìa tướng, như hư không hiện ra, tịch tĩnh, không tiếng, không vang, không văn, không chữ, cũng không ngôn thuyết. Biết được như thế, gọi là Bồ-đề.
Nếu lấy tâm đắc, thì tâm này không định, ví như huyễn hóa, đều do nghiệp vọng tưởng quá khứ sinh ra, không hình, không chấp, ví như hư không. Bồ-đề ấy không có nơi chốn, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, tất cả pháp đều không. Dẫu có ngôn thuyết, cũng có danh không thực, là pháp vô vi, không, vô tướng, vô tác, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng thể hiển hiện, không nói, không nghe. Bồ-đề ấy chẳng phải quá khứ đắc, chẳng phải vị lai đắc, chẳng phải hiện tại đắc, cũng chẳng lìa ba đời mà đắc; không tướng, chẳng phải làm, chẳng phải không làm; nếu có thể giác hiểu pháp ba đời như thế, tức là Bồ-đề."
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Nếu vô tướng là Bồ-đề, thì nay các thiện nam tử, thiện nữ nhân nương vào đâu mà trụ để đắc thành Bồ-đề?"
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: "Các Bồ-tát học Bồ-đề, nên trụ như thế này."
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Các Bồ-tát nên trụ như thế nào?"
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-đề ấy vượt ra khỏi ba cõi, vượt ngoài ngôn thuyết, lìa các văn tự, không có chỗ trụ. Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi! Bồ-tát Ma-ha-tát trụ vào chỗ không có chỗ trụ, ấy là trụ Bồ-đề; trụ vào không chấp trước, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi pháp không, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi pháp tánh, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi tất cả pháp không có thể tướng, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi lòng tin vô lượng, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi không tăng giảm, ấy là trụ Bồ-đề; trụ nơi không dị niệm, ấy là trụ Bồ-đề; trụ như hình bóng trong gương, như tiếng vang trong hang trống, như trăng dưới nước, như bóng nắng giữa trời nóng. Văn Thù Sư Lợi! Trụ vào các pháp như thế, ấy là trụ Bồ-đề."
Bấy giờ, Tịnh Quang Diễm Thiên Tử bạch Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử rằng: "Tu hành thế nào? Dùng nghiệp gì để làm hạnh Bồ-tát?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đối với các chúng sinh khởi tâm đại từ, đó là hạnh Bồ-tát."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Các Bồ-tát tu hành thế nào để khởi tâm đại từ?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Tâm không xiểm nịnh dối trá, đó là đại từ của Bồ-tát."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Tu hành thế nào để được không xiểm nịnh dối trá?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng, đó là không xiểm nịnh dối trá, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát tu hành thế nào để đối với tất cả chúng sinh khởi tâm bình đẳng?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt, đó là hạnh bình đẳng, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát lại tu thế nào để không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt và thực hiện hạnh bình đẳng đối với tất cả chúng sinh?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Khéo niệm cung kính, không kia, không đây, không các kiến giải khác biệt và pháp bình đẳng, các Bồ-tát nên tu như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát khéo niệm cung kính, cho đến không kia không đây không các dị kiến, do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Khéo niệm cung kính là do phát tâm Bồ-đề, các Bồ-tát nên học như thế."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Tâm Bồ-đề do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Tâm Bồ-đề từ sáu Ba-la-mật mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Sáu Ba-la-mật từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ phương tiện trí tuệ mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Bồ-tát Ma-ha-tát phương tiện trí tuệ từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Phương tiện trí tuệ từ không phóng dật mà khởi."
Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: "Không phóng dật lại từ đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Không phóng dật từ tu ba nghiệp lành mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Tu ba nghiệp lành do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ tu mười nghiệp thiện mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Tu mười nghiệp thiện do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Từ khéo nhiếp phục thân, khẩu, ý mà khởi."
Thiên tử lại hỏi Văn Thù Sư Lợi: "Ba nghiệp lành này lại do đâu khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ khéo tư duy mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Khéo tư duy do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ khéo tư duy quán hạnh mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Khéo tư duy quán hạnh do đâu mà khởi?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Từ ức trì không quên mà khởi."
Thiên tử lại hỏi: "Ức trì không quên có mấy loại tâm? Do nhân duyên gì mà được quả báo?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Bồ-tát Ma-ha-tát có bốn loại phát tâm, từ nhân mà được quả. Bốn loại đó là gì? Một là sơ phát tâm, hai là hệ niệm tu hành, ba là bất thoái, bốn là cùng thiện đồng sinh. Nhờ sơ phát tâm mà được hệ niệm; nhờ tu hệ niệm mà được bất thoái chuyển; nhờ bất thoái chuyển mà cùng thiện đồng sinh.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như gieo hạt giống xuống ruộng lành; hệ niệm tu hành như mầm cây mọc lên; tu hành bất thoái như thân, cành, lá tăng trưởng; cùng thiện đồng sinh như hoa quả kết trái, chín muồi. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như thợ làm xe, khéo biết các loại gỗ; hệ niệm tu hành như lắp ghép gỗ; tu hành bất thoái như xe đã làm xong; cùng thiện đồng sinh như đem xe ra chở đồ và sử dụng. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như trăng mới mọc; hệ niệm tu hành như trăng mùng năm đến mùng bảy; tu hành bất thoái như trăng mười ngày; cùng thiện đồng sinh như trăng mười bốn; trí tuệ Như Lai viên mãn không khuyết như trăng rằm mười lăm. Phát tâm, hệ niệm tu hành, bất thoái và cùng thiện đồng sinh cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm vượt qua địa vị Thanh văn; phát tâm thứ hai vượt qua địa vị Bích-chi Phật; phát tâm thứ ba vượt qua địa vị bất định; phát tâm thứ tư đạt đến địa vị định.
Lại nữa, Thiên tử! Như các âm 'A', 'A-xà' là căn bản của tất cả văn tự; sơ phát tâm cũng lại như thế, là căn bản của tất cả điều thiện. Như học văn tự thì được phần nhỏ trí tuệ; hệ niệm tu hành cũng lại như thế. Được ít phần trí tuệ như người giỏi tính toán tính hết vô lượng, biết rõ giới hạn của nó; tâm bất thoái chuyển cũng lại như thế. Biết tâm chẳng thoái lùi ví như có người hiểu rõ kinh luận; cùng thiện đồng sinh khiến tâm lành sáng suốt cũng lại như thế.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là hệ niệm nhân lành; phát tâm thứ hai là hệ niệm trí tuệ; phát tâm thứ ba là hệ niệm thiền định; phát tâm thứ tư là hệ niệm nơi quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là thụ trì nhân lành; phát tâm thứ hai là thụ trì trí tuệ; phát tâm thứ ba là thụ trì thiền định; phát tâm thứ tư là thụ trì nơi quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là thành tựu nhân lành; phát tâm thứ hai là thành tựu trí tuệ; phát tâm thứ ba là thành tựu thiền định; phát tâm thứ tư là thành tựu chính quả.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm là nhờ thiện mà vào đạo; phát tâm thứ hai là nhờ trí mà vào đạo; phát tâm thứ ba là nhờ thiền mà vào đạo; phát tâm thứ tư là nhờ quả mà vào đạo.
Lại nữa, Thiên tử! Sơ phát tâm như thầy thuốc biết dược tính; phát tâm thứ hai là khéo biết liều lượng thuốc; phát tâm thứ ba là tùy bệnh cho thuốc; phát tâm thứ tư là khiến người bệnh uống và thực hành theo.
Lại nữa, Thiên tử! Nhờ sơ phát tâm mà sinh vào nhà Pháp vương; phát tâm thứ hai là học pháp của Pháp vương; phát tâm thứ ba là tu hạnh của Pháp vương; phát tâm thứ tư là viên mãn ngôi vị vương giả. Đó gọi là bốn loại phát tâm."
Bấy giờ, Tịnh Quang Diễm Thiên tử bạch Văn Thù Sư Lợi: "Đâu là đạo mau chóng của Bồ-tát Ma-ha-tát? Bồ-tát đi theo đạo này sẽ mau đắc A-nốt-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề."
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiên tử! Đạo mau chóng có hai loại, Bồ-tát cưỡi hai đạo này sẽ mau đắc đạo quả vô thượng. Hai loại đó là gì? Một là phương tiện đạo, hai là bát-nhã đạo. Thụ trì phương tiện trí nên có thể quan sát tất cả chúng sinh; thụ trì bát-nhã nên quán thấy tất cả pháp đều không, có thể đoạn trừ nghi chấp. Dùng phương tiện trí nên hòa hợp các pháp; dùng bát-nhã nên các pháp không hòa hợp. Phương tiện là nhân, bát-nhã là quả. Dùng phương tiện nên biết tất cả pháp; dùng bát-nhã nên biết các pháp đều không. Dùng phương tiện trí để trang nghiêm cõi Phật; dùng bát-nhã nên biết các cõi Phật thảy đều bình đẳng. Dùng phương tiện nên biết căn tính chúng sinh sai biệt; dùng bát-nhã nên biết căn tính chúng sinh đều không. Dùng phương tiện nên được vị cam lộ, chứng thành Bồ-đề; dùng bát-nhã nên giác ngộ các Phật pháp, đạt chính đạo bình đẳng.
Lại nữa, Thiên tử! Lại có hai hạnh có thể khiến Bồ-tát mau đắc quả vị vô thượng. Một là hữu vi, hai là vô vi. Hữu vi tổng nhiếp năm Ba-la-mật; vô vi tổng nhiếp Bát-nhã Ba-la-mật. Lại có hai hạnh khiến Bồ-tát mau đắc Bồ-đề: Một là hữu lậu hạnh (năm Ba-la-mật), hai là vô lậu hạnh (Bát-nhã Ba-la-mật). Lại có hai hạnh nữa: Một là trụ hạnh (năm Ba-la-mật), hai là bất trụ hạnh (Bát-nhã Ba-la-mật). Lại có hai hạnh nữa: Một là hữu lượng (năm Ba-la-mật), hai là vô lượng (Bát-nhã Ba-la-mật). Hữu lượng hạnh là pháp có tướng; vô lượng hạnh là pháp không tướng. Lại có hai hạnh nữa: Một là trí hạnh, hai là định hạnh. Nhờ trí hạnh nên đi từ sơ địa đến thất địa; nhờ định hạnh nên đi từ bát địa đến thập địa."
Khi ấy, Bồ-tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì bạch Văn Thù Sư Lợi Đồng tử: "Bồ-tát Ma-ha-tát làm sao biết Nghĩa? Làm sao biết Trí?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Thiện nam tử! Nghĩa không có thực thể, Trí cũng không có thực thể."
Bồ-tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì hỏi lại: "Tại sao Nghĩa không thực thể, Trí cũng không thực thể?"
Văn Thù Sư Lợi đáp: "Nghĩa không thực thể là vô vi, vô tác, vô tướng, không hình dáng, không đến không đi. Trí không thực thể là chẳng phải pháp định, chẳng phải pháp bất định. Nghĩa không thực thể là phi hữu phi vô; Trí thể tánh là không, phi hữu phi vô, không lấy không bỏ. Lại nữa, Nghĩa chẳng phải định hay chẳng định; Trí gọi là tâm đạo, tâm và trí bình đẳng không sai biệt. Trí lấy thiền làm thể, thiền trí bình đẳng. Dùng phương tiện quán ngũ uẩn, thập nhị nhập, thập bát giới, mười hai nhân duyên và sự lưu chuyển sinh tử, thấy tướng thiện ác như huyễn hóa, phi hữu phi vô. Bồ-tát nên quán các pháp như thế.
Lại nữa, Bồ-tát có mười loại trí hạnh: trí về nhân, trí về quả, trí về nghĩa, trí phương tiện, trí bát-nhã, trí thụ trì, trí ba-la-mật, trí đại bi, trí lân mẫn giáo hóa chúng sinh, và trí không dính mắc tất cả pháp.
Bồ-tát phát mười loại hạnh thanh tịnh: tự phát thân nghiệp thanh tịnh, phát thân nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; tự phát khẩu nghiệp thanh tịnh, phát khẩu nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; tự phát ý nghiệp thanh tịnh, phát ý nghiệp thanh tịnh cho chúng sinh; phát hạnh thanh tịnh bình đẳng bên trong, phát hạnh thanh tịnh bình đẳng bên ngoài cho chúng sinh; phát trí hạnh thanh tịnh của Phật; phát hạnh tịnh Phật quốc độ thành tựu chúng sinh (ban thuốc cho người bệnh, dùng trí vô vi giáo hóa người phiền não lìa ba cõi, khiến đủ công đức trí tuệ).
Bồ-tát có mười loại phương tiện: phương tiện bờ kia, thụ trì, trí tuệ, phương tiện của phương tiện, đại bi, trí mãn, huệ mãn, tĩnh niệm, thực hạnh, và phương tiện bình đẳng không ghét thương đối với chúng sinh.
Bồ-tát có mười loại phân biệt thân vô tận: phân biệt sự vật, phiền não, pháp, khát ái, các kiến giải, thiện ác, tạo tác, không chấp trước, hòa hợp, và trí Bồ-đề viên mãn; tất cả đều vô tận.
Bồ-tát có mười loại hạnh điều phục: điều phục thiện hạnh, điều phục bỏn xẻn (bố thí như mưa), tinh tiến, ba nghiệp, tâm độc (không sân hận), khởi tâm từ mẫn, biếng nhác, siêng tu Phật pháp, tâm bất thiện, và thiền định giải thoát tự tại. Lại có mười hạnh điều phục khác: phá ngu si, phương tiện tổng trì bát-nhã, điều phục phiền não, sinh khởi đạo nghiệp, tổng trì tín thực, không đọa đường ác, tâm bất thiện, thời và phi thời tự tại, điều phục bản thân, và quán không.
Bồ-tát có mười cách điều phục người khác: điều phục để xa lìa ba ác nghiệp của thân, bốn của miệng, ba của ý. Lại có mười pháp quán nội ngoại không chấp trước: quán nội giới không, ngoại giới không, nội ngoại pháp không, trí tuệ không, đạo hạnh không, thánh địa không, thanh tịnh không, bát-nhã không, giáo hóa không, và từ bi phương tiện không; tất cả đều không chấp trước.
Bồ-tát phải lập tâm kiên cố tu đạo Bồ-đề. Kiên cố là ba nghiệp tương ưng, không trái nghịch; không kiên cố là ba nghiệp trái nghịch nhau.
Có các cặp chính hạnh kiên cố: một là chính niệm Bồ-đề và tu thiền đoạn phiền não; hai là tự điều thân và điều thân chúng sinh; ba là siêng tu tập và không tu tập (vô công dụng hạnh) mà đắc nhất thiết trí; bốn là trụ địa phương tiện và trụ địa bất động; mười là xa lìa nhiễm địa và tu tập viên mãn các địa; mười một là thị hiện địa Thanh văn, Duyên giác mà không thoái chuyển nơi Bồ-đề. Nhờ các chính hạnh và phương tiện này, Bồ-tát sẽ đắc quả Vô thượng Chính đẳng Chính giác."
Bấy giờ Thế Tôn khen ngợi Văn Thù Sư Lợi: "Lành thay! Lành thay! Ngươi đã khéo nói lời ấy." Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng trời, người, A-tu-la... nghe Phật thuyết pháp, đều tin nhận, đảnh lễ và vui vẻ làm theo.
{{Kinh điển Phật giáo}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
sypnbq6y4rmpu1pyfl31qwa0kvrx6jx
Tác gia:Tì-ni-đa-lưu-chi
102
72241
205356
2026-05-14T12:43:02Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{tác gia | tên-họ = Tì-ni-đa-lưu-chi | tên = | họ = Tì-ni-đa-lưu-chi | chữ đầu tên = T | năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | mô tả = }} ==Tác phẩm== * Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá k…”
205356
wikitext
text/x-wiki
{{tác gia
| tên-họ = Tì-ni-đa-lưu-chi
| tên =
| họ = Tì-ni-đa-lưu-chi
| chữ đầu tên = T
| năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp-->
| năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp-->
| mô tả =
}}
==Tác phẩm==
* [[Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh|Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh]]
* [[Biên dịch:Đại thừa phương quảng tổng trì kinh|Đại thừa phương quảng tổng trì kinh]]
8gzjfawveeruei7kmzq5nhr3jcsyi3i
Tuổi thơ ngày ấy
0
72242
205360
2026-05-14T21:29:51Z
Cay Senhong
20143
Bổ sung nội dung
205360
wikitext
text/x-wiki
{{
| Tựa đề : Tuổi thơ ngày ấy |
| Tác giả : Cay Senhong |
|Thể loại : Thơ tám chữ |
|Phần:|
|Trước : |
|Sau : |
|Năm : 1998 |
|Ghi chú : Tác giả là người con của xã Hưng Trung,Hưng Nguyên,Nghệ An(Yên Trung,Nghệ An)}}
Đêm buông xuống và trăng hồng đã mọc <br/>
Gió tây nam kèo kẹt rặng tre ngà <br/>
Đưa nhịp trống dồn thôi thúc vang xa <br/>
Chẳng mấy chốc sân làng vui như hội <br/>
Dứt tiếng còi là hai luống thẳng băng <br/>
Đồng diễn khớp với cùng liên đội trưởng <br/>
Đây chị,đó anh chạy lên kéo xuống <br/>
Nắn nót từng em cho đạt đội hình <br/>
Chưa kể có nàng hờn dỗi linh tinh <br/>
Mai em nghỉ từ nay không tập nữa <br/>
Để chi đội buồn mấy bữa không vui... <br/>
Chẳng mấy chốc đến ngày thi duyệt đội <br/>
Trên sân trường của Đoàn xã Hưng Trung <br/>
Cơ đỏ quàng khăn ngập cả sân trường <br/>
Già trẻ gái trai về xem duyệt đội... <br/>
Đêm tổng kết hè chia tay bịn rịn <br/>
Nhớ chị nhớ anh nhớ bạn nhớ bè <br/>
Nhớ nắng trưa hè nhớ vầng trăng nữa <br/>
Tuổi thơ qua mau,sân trường còn đó <br/>
Vẫn khăn quàng đỏ,điệu múa say mê <br/>
Nhắn ai nhớ về,Hưng Trung Đoàn,Đội <br/>
1orslh53yc4ijots9acf6kbv53jg1av
Biên dịch:Đại thừa phương quảng tổng trì kinh
114
72243
205363
2026-05-15T03:23:07Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Đại thừa phương quảng tổng trì kinh | tác giả= Tì-ni-đa-lưu-chi | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 大乘方廣總持經 | năm= [[w:Nhà Tùy|Tùy]] | phần = | trước= | sau= | ghi chú= '''Kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì''' (hay còn gọi là kinh Phật Thuyết Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì) tập trung vào những nội dung cốt lõi sau: * Cảnh bá…”
205363
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Đại thừa phương quảng tổng trì kinh
| tác giả= Tì-ni-đa-lưu-chi
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 大乘方廣總持經
| năm= [[w:Nhà Tùy|Tùy]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= '''Kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì''' (hay còn gọi là kinh Phật Thuyết Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì) tập trung vào những nội dung cốt lõi sau:
* Cảnh báo về tội hủy báng: Đức Phật nhấn mạnh hậu quả thảm khốc của việc phỉ báng chính pháp và các vị pháp sư. Ngài dùng chính tiền thân của mình (Tỳ-kheo Đạt-ma) làm ví dụ để cảnh báo rằng sự đố kỵ, chia chẻ giáo pháp (cho rằng pháp này đúng, pháp kia sai) sẽ dẫn đến đọa lạc địa ngục muôn kiếp.
* Tinh thần bình đẳng và viên dung: Kinh khẳng định tất cả các pháp (từ sáu Ba-la-mật đến các phương tiện của Thanh văn, Duyên giác) đều là một lộ trình thống nhất dẫn đến Bồ-đề. Bồ-tát không được thiên chấp hay phân biệt giữa các pháp môn.
* Hạnh nguyện Bồ-tát: Khuyên dạy người tu hành phải giữ tâm không chấp trước, tôn trọng lẫn nhau như cung kính Phật, và thực hành bốn pháp bình đẳng (bình đẳng với chúng sinh, với pháp, với Bồ-đề và với sự thuyết pháp).
* Công đức thụ trì: Khẳng định giá trị vô lượng của việc đọc tụng và truyền bá kinh này, vượt xa mọi công đức bố thí vật chất hay tu tập các pháp riêng lẻ khác.
Tóm lại, đây là bản kinh răn đe sự kiêu mạn, phá tan kiến chấp hẹp hòi và hướng người tu hành đến cái nhìn toàn diện, dung thông của đại thừa.
}}
<center><big>ĐẠI THỪA PHƯƠNG QUẢNG TỔNG TRÌ KINH</big></center>
'''Đời nhà Tùy, Thiên Trúc Tam Tạng là Tì Ni Đa Lưu Chi (毘尼多流支) dịch'''
Tôi nghe như thế này:
Một thời Đức Phật ở trong núi Kỳ Xà Quật, thành Vương Xá, cùng với sáu vạn hai nghìn đại Tỳ-kheo, tám mươi ức Bồ-tát Ma-ha-tát và sáu mươi ức trăm nghìn ưu-bà-di nước Ma-kiệt-đà.
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi an cư kiết hạ, lúc sắp nhập Niết-bàn liền vào Như Pháp Tam-muội. Khi Ngài vào Tam-muội, ba ngàn đại thiên thế giới khắp nơi trang nghiêm: treo phướn lọng, đặt bình hương báu, xức các loại hương, khắp nơi rải hoa sen ngàn cánh.
Lúc ấy, trăm ngàn ức chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới này, các Phạm Thiên vương cùng trăm ngàn ức quyến thuộc đến chỗ Phật. Đến nơi, họ cúi đầu lễ chân Phật, chắp tay hướng về Ngài rồi đứng sang một bên. Lại có trăm ngàn ức Tịnh Cư thiên tử, Tự Tại thiên vương, Đại Tự Tại thiên vương, Long vương, Dạ-xoa vương, A-tu-la vương, Ca-lâu-la vương, Khẩn-na-la vương, Ma-hầu-la-già vương, mỗi vị cùng trăm ngàn ức quyến thuộc đến chỗ Phật. Đến nơi, họ cúi đầu lễ chân Phật, chắp tay hướng về Ngài rồi đứng sang một bên. Bấy giờ, các vị Đại Uy Đức Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như cát sông Hằng từ mười phương đến chỗ Phật. Đến nơi, họ cúi đầu lễ chân Phật, chắp tay hướng về Ngài rồi đứng sang một bên. Lúc ấy, từ ba ngàn đại thiên thế giới này cho đến cõi Hữu Đỉnh đều đến tập hội, đại chúng đông đầy, không còn chỗ trống. Lại có các vị trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già có uy lực lớn khác cũng đều đến tập hội.
Khi ấy, Thế Tôn chính niệm hiện tiền, từ Tam-muội đứng dậy, quán sát khắp đại chúng. Ngài chuyển mình vươn vai như sư tử vương, như thế đến ba lần. Bấy giờ, từ nơi diện môn, Thế Tôn phóng lưỡi rộng dài che khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Sau khi hiện thần thông, Như Lai lại quán sát đại chúng. Lúc đó, tất cả đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay làm lễ, im lặng mà đứng.
Bấy giờ, Phật bảo Bồ-tát Ma-ha-tát Di-lặc rằng: "A-dật-đa! Như Lai chẳng bao lâu nữa sẽ nhập Niết-bàn. Nếu ông đối với các pháp có chỗ nào nghi ngờ, nay Ta còn ở đây, muốn hỏi gì thì chính là lúc này. Sau khi Phật diệt độ, chớ có buồn hối."
Lúc ấy, Bồ-tát Ma-ha-tát Di-lặc bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Con đã biết thời. Chư Phật Như Lai đối với tất cả pháp đều rốt ráo, chỉ nguyện Ngài tuyên thuyết để pháp nhãn này trụ lâu ở đời."
Bấy giờ, trong hội có Đại Tự Tại thiên tử cùng tám mươi ức quyến thuộc Tịnh Cư thiên vây quanh, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Pháp môn Đại thừa Phương Quảng Tổng Trì này, vô lượng chư Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri trong quá khứ đã từng tuyên thuyết. Chỉ nguyện Thế Tôn nay lại diễn thuyết để lợi ích, an lạc cho vô lượng nhân thiên, làm cho Phật pháp trụ lâu ở thế gian." Khi ấy, Thế Tôn im lặng hứa khả. Đại Tự Tại thiên tử biết Phật đã hứa, vui mừng nhảy nhót, chắp tay làm lễ rồi đứng sang một bên.
Bấy giờ, Phật bảo Bồ-tát Ma-ha-tát Di-lặc: "A-dật-đa! Pháp môn Đại thừa Phương Quảng Tổng Trì này không chỉ mình Ta thuyết, mà vô lượng chư Phật trong mười phương thế giới quá khứ, vị lai và hiện tại cũng thường tuyên thuyết. Nếu có chúng sinh nào đối với lời Phật thuyết mà nói không phải Phật thuyết, cùng hủy báng Pháp và Tăng, thì người hủy báng đó sẽ đọa vào ác đạo, chịu khổ địa ngục."
Phật bảo Bồ-tát Ma-ha-tát Di-lặc: "Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Bồ-đề, đối với kinh điển Đại thừa Phương Quảng Tổng Trì này mà thụ trì, đọc tụng, lại vì người khác mà diễn nói, phải biết người này không đọa vào ác đạo."
Thế Tôn lại bảo Bồ-tát Ma-ha-tát Di-lặc: "A-dật-đa! Ta từ đêm thành Phật cho đến khi sắp nhập Vô Dư Niết-bàn, trong khoảng thời gian đó, những gì thân, khẩu, ý của Phật đã làm, đã nói, đã niệm, đã tư duy, liệu có chút gì quên mất hay khởi ác nghiệp không?"
Bồ-tát Di-lặc thưa: "Bạch Thế Tôn, không ạ!"
Phật nói: "Di-lặc! Đúng như ông nói. Ta từ khi thành đạo cho đến lúc Niết-bàn, trong khoảng thời gian đó, những gì đã nói ra đều chân thật, không có hư vọng. Nếu có kẻ ngu si không hiểu lời thuyết phương tiện của Như Lai mà nói rằng: 'Pháp này là thế này, pháp này không phải thế kia', rồi phỉ báng chính pháp cùng Phật, Bồ-tát, Ta nói hạng người này đang hướng thẳng đến địa ngục."
Phật nói: "A-dật-đa! Sau khi Ta diệt độ, trong đời năm trược, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thực chất không phải Bồ-tát mà tự xưng là Bồ-tát, đó là hạng ngoại đạo. Do sức nguyện phát ra khi từng cúng nhường chư Phật trong quá khứ nên được xuất gia trong pháp luật của Phật. Nhưng đến đâu cũng chỉ lo tìm cầu thân hữu, danh tiếng, lợi dưỡng, buông lung làm điều ô uế, bỏ mất đức tin, thành tựu ác hạnh, không tự kiềm chế, không tự điều phục, tham các lợi dưỡng, đối với tất cả pháp môn và sự sinh khởi Kiên Cố Tam-muội đều xa lìa, thực chất không biết gì cả. Vì người thân thuộc mà vọng xưng hiểu biết, trú nơi siểm khúc, miệng nói một đằng, thân làm một nẻo.
"A-dật-đa! Đạo Bồ-đề của Ta đối với tất cả chúng sinh đều bình đẳng, an trụ trong đại bi, dùng phương tiện khéo léo, chính niệm không quên. Như Lai an trụ trong lực Vô Đẳng Đẳng, không chướng không ngại mà thuyết pháp. Nếu có chúng sinh nói rằng: 'Kinh điển Phật thuyết cho Thanh văn thì các Bồ-tát không nên học tập, không nên thọ nhận, đó không phải chính pháp, không phải chính đạo; pháp Bích-chi-phật cũng không nên học.' Lại nói: 'Pháp hành của các Bồ-tát thì người Thanh văn cũng không nên học, không nên thọ nhận; pháp Bích-chi-phật cũng lại như thế.' Lại nói: 'Tất cả lời nói của các Bồ-tát, hạng Thanh văn và Bích-chi-phật không nên nghe nhận. Lời nói và hành động của bên này bên kia trái ngược nhau, không tương ưng với Tu-đa-la.' Đối với pháp giải thoát chân thực nói đúng như thật mà không thể tin nhận, thì kẻ nương theo pháp (tà) đó còn không được sinh thiên, huống chi là giải thoát?
"A-dật-đa! Nay Ta thuyết pháp, tùy theo đức tin của họ mà điều phục, nhiều như cát sông Hằng.
"A-dật-đa! Nay Ta muốn đi khắp mười phương thế giới để tùy thuận thuyết pháp, lợi ích chúng sinh. Ta không vì hạng người thực không phải Bồ-tát mà giả tướng Bồ-tát, cũng không vì kẻ độc ác, dối trá, ít nghe.
"Trong pháp của Ta mà chia làm hai thuyết, kẻ tạo ra hai thuyết đó hoặc nói: 'Đây là điều Bồ-tát nên học, đây là điều không nên học', rồi hủy báng Phật, Pháp, Tăng, hạng người này khi thân hoại mạng chung sẽ đọa vào địa ngục, trải qua trăm ngàn kiếp không thể ra được. Dẫu cho được ra, cũng sinh vào nhà nghèo khó. Đến thời kỳ sau, dù được thụ ký thành Đẳng Chính Giác trong đời năm trược, cũng giống như Ta ngày nay thành Phật đạo trong thế gian năm trược đầy sinh tử này. Vì nhân duyên đó, ông nên lắng nghe, nên tin biết; tùy thuận bạn ác thì hành vi sẽ như thế."
"A-dật-đa! Ta nhớ thuở quá khứ cách nay vô số kiếp, bấy giờ có đức Phật hiệu là Vô Cấu Diễm Xưng Khởi Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn xuất hiện ở đời. Khi ấy đức Phật đó thọ tám vạn na-do-tha tuổi, vì chúng thuyết pháp.
"Bấy giờ, trong giáo pháp của đức Vô Cấu Diễm Xưng Khởi Vương Như Lai có một vị Tỳ-kheo tên là Tịnh Mệnh. Vị này tổng trì mười bốn ức bộ kinh, sáu triệu bộ kinh điển Đại thừa, là một bậc đại pháp sư. Lời lẽ thanh tao tốt đẹp, biện tài không ngại, làm lợi ích cho vô lượng vô biên chúng sinh, chỉ dạy và đem lại niềm vui.
"Lúc đức Vô Cấu Diễm Xưng Khởi Vương Như Lai sắp nhập Niết-bàn, Ngài bảo Tỳ-kheo Tịnh Mệnh rằng: 'Trong đời vị lai, ông hãy hộ trì chính pháp nhãn của Ta.'
"Khi ấy, Tịnh Mệnh nhận lời Phật dạy, sau khi Phật diệt độ suốt trong nghìn vạn năm đã giữ gìn và lưu thông kho tàng bí mật của chư Phật. Vị ấy đối với pháp môn Đại thừa Phương Quảng Tổng Trì này mà thụ trì đọc tụng, hiểu sâu nghĩa lý; ở trong tám vạn thành của thế giới đó, tùy theo ý muốn của chúng sinh mà rộng vì họ tuyên thuyết.
"Bấy giờ có một đại thành tên là Bạt-đà. Vị ấy đến thành đó, vì tám mươi ức gia đình mà tùy hỷ thuyết pháp. Lúc đó, tám mươi ức người trong thành có được niềm tin thanh tịnh: một ức người trụ vào đạo Bồ-đề, bảy mươi chín ức người trụ nơi Thanh văn thừa mà được điều phục. Khi ấy, pháp sư Tịnh Mệnh lại cùng mười nghìn Tỳ-kheo đi theo tu hạnh Bồ-đề.
"Lúc đó, trong thành Bạt-đà lại có vị Tỳ-kheo tên là Đạt-ma. Đối với các kinh điển Đại thừa Phương Quảng thụ trì được một nghìn bộ, chứng được bốn thiền. Vị này chỉ dùng pháp Không của Phương Quảng mà hóa độ hết thảy chúng sinh trong thành, không thể dùng phương tiện khéo léo tùy theo mong muốn của họ mà thuyết. Vị ấy nói rằng: 'Hết thảy các pháp đều là không tịch, lời tôi nói mới thật là Phật thuyết. Tỳ-kheo Tịnh Mệnh kia nói năng tạp uế không sạch, vị đó thực không phải tịnh mệnh mà xưng là Tịnh Mệnh. Vì sao? Vì vị ấy nhận các thứ hoa mà không dùng cúng dường lại tự thọ dụng, hương xoa, hương bột cũng lại như thế. Tịnh Mệnh Tỳ-kheo ngu si không trí, chẳng biết tôi đã tu hành phạm hạnh lâu ngày. Hắn ta còn trẻ, xuất gia chưa lâu, ngã mạn không tin, nhiều sự phóng dật. Những người này chẳng biết gì, cứ gọi hắn là Tỳ-kheo Tịnh Mệnh trì giới.'
"Bấy giờ, Đạt-ma vì ác tâm hủy báng người trì pháp nên khi thân hoại mạng chung đọa vào địa ngục, trải qua bảy mươi kiếp chịu đủ mọi khổ não. Mãn bảy mươi kiếp xong, đọa vào loài súc sinh. Qua sáu mươi kiếp sau, gặp đức Phật Hương Bảo Quang, ở trong pháp của Ngài mà phát tâm Bồ-đề, nhưng suốt chín vạn đời vẫn phải sinh làm súc sinh. Qua chín vạn đời rồi, được sinh làm người, suốt sáu vạn đời nghèo cùng hạ tiện, thường không có lưỡi.
"Còn Tỳ-kheo Tịnh Mệnh ở trong các pháp đắc được đức tin thanh tịnh, vì người thuyết pháp. Vị ấy về sau gặp được sáu mươi ba na-do-tha đức Phật, thường làm pháp sư, đầy đủ năm thông, khuyến thỉnh các đức Phật đó chuyển pháp luân mầu nhiệm.
"A-dật-đa! Ông nay nên biết, Tỳ-kheo Tịnh Mệnh thuở xưa há phải người nào khác? Chớ nhìn khác biệt, chính là đức Phật A Di Đà nay vậy. A-dật-đa! Ông nay nên biết, Tỳ-kheo Đạt-ma thuở xưa há phải người nào khác? Chớ nhìn khác biệt, chính là thân Ta nay vậy.
Do xưa kia Ta ngu si, không trí, hủy báng người khác nên phải chịu khổ như thế. Ta do nghiệp nhân duyên này mà phải ở đời năm trược thành Đẳng Chính Giác.
"Thế nên, A-dật-đa! Nếu có Bồ-tát đối với các pháp mà khởi hai thuyết, do nhân duyên đó, đời sau ở thế giới năm trược mới thành Phật đạo. Trong nước của đức Phật đó sẽ có các loài ma thường làm chướng nạn khi thuyết pháp."
Lúc ấy, đại chúng nghe Phật thuyết xong đều bi thảm khóc lóc, nước mắt tuôn trào, cùng thốt lời: "Nguyện ở trong Phật pháp không khởi hai thuyết như Tỳ-kheo Đạt-ma."
Bấy giờ trong hội có một trăm vị Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối phải sát đất, gào khóc rơi lệ.
Khi ấy Thế Tôn biết mà vẫn hỏi các vị Bồ-tát rằng: "Thiện nam tử! Các ông vì sao mà gào khóc như thế?"
Các vị Bồ-tát đồng thanh bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Chúng con tự quán xét, thấy mình chắc cũng có những nghiệp chướng ác này."
Bấy giờ Thế Tôn bảo rằng: "Đúng thế, đúng thế! Các ông cũng từng ở chỗ đức Phật Nhiên Đăng thuở xưa, trong giáo pháp của Ngài mà xuất gia tu đạo. Sau khi đức Phật Nhiên Đăng diệt độ, lúc đó có vị Tỳ-kheo tên là Trí Tích, các ông khi ấy đã hủy báng vị Tỳ-kheo này. Do đó đến nay không được thấy Phật, không thể phát tâm Bồ-đề, không đắc được Đà-la-ni và các tam-muội, về sau mới cùng các ông đồng thời an trụ đạo Bồ-đề. Này các thiện nam tử! Ở chỗ đức Phật cuối cùng của hiền kiếp này, các ông sẽ đắc Vô San Pháp Nhẫn, lại sau đó trải qua ba tăng-kỳ kiếp hành đạo Bồ-tát sẽ đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
"Thế nên các thiện nam tử! Nếu Bồ-tát thấy vị Bồ-tát khác, không nên sinh lòng phân biệt bỉ thử, phải cung kính như kính tháp, như thấy Phật. Vì vậy, Bồ-tát thấy Bồ-tát khác chớ khởi niệm khác, chớ cho rằng không phải Phật. Nếu khởi niệm khác là tự lừa dối mình. Phải thụ trì điều này, đừng khởi tưởng khác, hãy hòa hợp cùng nhau: 'Nếu nay tôi nhìn Bồ-tát sơ phát tâm mà không như tưởng thấy Phật, thì tôi chính là lừa dối tất cả vô lượng tăng-kỳ chư Phật hiện tại trong mười phương.'
"Thế nên các thiện nam tử! Bồ-tát đời vị lai trong thế giới năm trược đắc được Đà-la-ni tam-muội, thảy đều là do uy lực của Phật. Vậy nên các thiện nam tử! Nếu có kẻ hủy báng vị pháp sư ấy, tức là hủy báng Phật, không khác gì nhau.
"Thiện nam tử! Sau khi Phật diệt độ, nếu có pháp sư khéo tùy theo mong cầu mà vì người thuyết pháp, khiến cho người học Đại thừa và đại chúng phát một mảy may tâm hoan hỷ cho đến tạm nhỏ một giọt lệ, phải biết đó đều là thần lực của Phật.
"Nếu có kẻ ngu thực không phải Bồ-tát mà giả xưng Bồ-tát, hủy báng Bồ-tát chân chính và pháp họ hành, lại nói rằng: 'Hắn biết gì? Hắn hiểu gì?' Di-lặc! Ta nhớ thuở xưa ở Diêm-phù-đề khi học đạo Bồ-tát, vì yêu trọng Pháp mà vì một câu một kệ đã bỏ cả đầu, mắt, vợ con yêu quý và xả bỏ vương vị. Vì sao? Vì cầu Pháp vậy. Đâu như kẻ ngu kia chỉ vì danh tiếng, đam mê lợi dưỡng, tự cậy chút tài mọn mà không đến chỗ người truyền pháp của Như Lai để nghe nhận chính pháp.
"Di-lặc! Nếu đôi bên hòa hợp thì có thể trụ trì lưu thông pháp của Ta, nếu đôi bên tranh cãi thì chính pháp không hành. A-dật-đa! Ông hãy xem kẻ hủy báng pháp này, thành tựu tội nghiệp cực lớn như thế, đọa vào ba đường ác khó mong thoát ly.
"Lại nữa, Di-lặc! Ta thuở mới thành Phật dùng trí tuệ mầu nhiệm rộng vì chúng sinh tuyên thuyết chính pháp.
"Nếu có kẻ ngu đối với lời Phật thuyết mà không tin nhận, như Tỳ-kheo Đạt-ma kia dù đọc tụng nghìn bộ Đại thừa, giải thuyết cho người, đắc được bốn thiền, nhưng vì hủy báng người khác mà trong bảy mươi kiếp chịu khổ não lớn. Huống chi kẻ ngu si hạ liệt, thực không biết gì mà lại nói: 'Ta là pháp sư, hiểu rõ Đại thừa, có thể lưu truyền rộng rãi', lại báng vị pháp sư chân chính là không hiểu biết, cũng báng Phật pháp mà tự cao tự đại.
"Nếu kẻ ngu đó đối với Đại thừa của Phật mà cho đến hủy báng dù chỉ một bài kệ bốn câu, phải biết nghiệp ấy định đọa địa ngục. Vì sao? Vì hủy báng Phật pháp và pháp sư. Do nhân duyên đó thường ở ác đạo, vĩnh viễn không thấy Phật. Vì đã từng hủy báng Phật, Pháp, Tăng nên đối với người mới phát tâm Bồ-đề cũng có thể tạo chướng ngại khiến họ thoái thất chính đạo. Phải biết người đó dùng tội nghiệp lớn để tự trang nghiêm, trong vô lượng kiếp thân đọa địa ngục chịu báo khổ lớn; vì dùng mắt ác nhìn người phát tâm Bồ-đề nên bị báo không mắt; vì dùng miệng ác hủy báng người phát tâm Bồ-đề nên bị báo không lưỡi.
"A-dật-đa! Ta không thấy một ác pháp nào có thể vượt qua tội nặng của việc hủy phá tâm Bồ-đề. Do tội này mà đọa vào ác đạo, huống chi lại hủy báng các vị Bồ-tát khác?
"Nếu có Bồ-tát vì chúng sinh có thể nói đúng như thật, không khởi kiến chấp đoạn, thường, không nói chúng sinh định có định không, cũng không chuyên chấp các pháp có hay không. A-dật-đa! Người học Bồ-tát nên trụ như thế. Trụ như thế là thiện nghiệp thanh tịnh của các Bồ-tát, phàm những gì tu tập đều không chấp trước. Nếu có chúng sinh khởi lòng chấp trước, phải biết người đó sinh ở đời năm trược.
"Lại có Bồ-tát khéo tùy theo căn tánh, mong cầu mà có thể vì chúng sinh thuyết các thứ pháp. A-dật-đa! Bồ-tát như thế đầy đủ tu hành sáu ba-la-mật mới có thể thành tựu Vô thượng Bồ-đề.
"Kẻ ngu si kia tin vào sự chấp nhất của mình mà nói rằng: 'Bồ-tát chỉ học Bát-nhã ba-la-mật, đừng học các ba-la-mật khác, vì Bát-nhã ba-la-mật là thù thắng nhất.' Nói như thế là nghĩa không đúng. Vì sao? A-dật-đa! Thuở xưa vua Ca-thi khi học đạo Bồ-tát đã bố thí thân, đầu, mắt, tủy, não yêu quý. Lúc đó vị vua này há không có trí tuệ sao?"
Di-lặc bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Đúng như lời thánh dạy, thực có trí tuệ."
Phật bảo A-dật-đa: "Ta từ xưa đến nay trải qua vô lượng thời gian, đầy đủ tu hành sáu ba-la-mật. Nếu không tu đủ sáu ba-la-mật thì cuối cùng chẳng thể thành tựu Vô thượng Bồ-đề."
"Bạch Thế Tôn, đúng như vậy!"
Phật bảo A-dật-đa: "Đúng như ông nói. Ta từng trong quá khứ suốt sáu mươi kiếp tu hành Đàn ba-la-mật, Thi-la ba-la-mật, Sằn-đề ba-la-mật, Tỳ-li-da ba-la-mật, Thiền-na ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật, mỗi thứ đều trải qua sáu mươi kiếp.
"Kẻ ngu si kia vọng nói rằng: 'Chỉ tu một Bát-nhã ba-la-mật là đắc thành Bồ-đề', điều đó không bao giờ có. Họ ôm giữ không kiến nên mới nói pháp bất tịnh như vậy. Kẻ nói lời này thì thân, khẩu, ý nghiệp đều trái nghịch với pháp. Dẫu hiểu pháp Không, đem diễn thuyết cho người, nhưng đối với pháp Không lại không hành đúng như lời nói. Vì không thực hành nên cách xa nghĩa Không, lòng ôm đố kỵ, thâm nhiễm lợi dưỡng còn hơn cả tình thân thuộc.
"A-dật-đa! Ta thuở xưa làm Chuyển Luân Vương, xả bỏ các trân bảo, đầu, mắt, tay, chân mà còn chưa đắc thành Vô thượng Bồ-đề; huống chi kẻ ngu kia vì ăn uống mà lui tới nhà người, diễn thuyết chỉ tán dương pháp Không, nói lời mình thuyết mới là đạo Bồ-đề, là hạnh Bồ-tát, chỉ pháp này đúng còn các pháp khác đều sai? Lại nói: 'Điều tôi hiểu, vô lượng pháp sư đều chứng biết.' Họ vì danh tiếng mà tự khen tài mình, ganh ghét bậc minh giải.
"A-dật-đa! Ta thấy tâm họ mưu cầu lợi dưỡng để sống qua ngày, dẫu có hạnh lành trải qua trăm kiếp còn không đắc được chút tâm pháp nhẫn, huống chi có thể thành Vô thượng Bồ-đề? A-dật-đa! Ta không vì hạng người lòng miệng trái nhau, dối gạt mà nói Bồ-đề; không vì hạng đố kỵ, ngạo mạn bất kính, không tin tưởng, không điều phục, tà dâm, tự cho mình đúng mà chê người khác mà nói Bồ-đề.
"A-dật-đa! Kẻ ngu si kia vì ngã mạn nên tự cho mình hơn Phật, hủy báng kinh điển Đại thừa do Phật thuyết, nói đó là giáo pháp Tiểu thừa của Thanh văn."
Bấy giờ, Phật bảo Tôn giả Tu-bồ-đề: "Không nên vì người chấp hai kiến mà thuyết Bát-nhã ba-la-mật."
Tu-bồ-đề bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, đúng như vậy! Như lời Phật dạy."
Phật nói: "Đúng thế, Tu-bồ-đề! Bố thí với tâm không chấp trước, đó gọi là Bồ-đề."
Tu-bồ-đề thưa: "Bạch Thế Tôn, đúng như vậy!"
Phật nói: "Tu-bồ-đề! Bố thí mà không tự khen mình chê người, đó gọi là Bồ-đề."
Tu-bồ-đề thưa: "Bạch Thế Tôn, đúng như vậy!"
Phật nói: "Tu-bồ-đề! Ông hãy xem kẻ ngu si khởi ngã, ngã kiến, không hổ không thẹn, vì yêu người thân, tham cầu sống còn mà ưa nhận đồ bố thí của người khác. Phải biết kẻ đó chuyên tạo ác nghiệp.
"Lại nữa, A-dật-đa! Bồ-tát đối với tất cả pháp, đối với tất cả pháp Bồ-tát đừng sinh kinh sợ; đối với tất cả pháp Bích-chi-phật, pháp Thanh văn, pháp phàm phu, pháp phiền não, pháp tận, sự nan tinh tấn, cái đúng cái sai, cái làm cái không làm, cái sợ cái không sợ, cái có cái không, cái tâm cái phi tâm, cái giác cái bất giác, cái nghiệp cái phi nghiệp, cái thiện cái bất thiện, cái an cái bất an, cái giải thoát cái không giải thoát, cái tu cái không tu, cái pháp cái phi pháp, cái tĩnh cái loạn, cái giả cái thực, cái tin cái không tin, thiện niệm hay bất thiện niệm, trụ hay không trụ, thảy đều đừng sinh kinh sợ. Như thế, Bồ-tát đối với tất cả pháp không sinh kinh sợ.
"A-dật-đa! Ta thuở xưa nhờ tu các pháp không sợ hãi như thế nên đắc thành Chính Giác, thấu suốt cảnh giới tâm của tất cả chúng sinh mà đối với cái đã biết không khởi tướng biết. Ta đem cái đã chứng tùy cơ diễn thuyết, khiến các Bồ-tát nghe pháp đắc được Quang Minh Đà-la-ni Ấn, nhờ đắc pháp ấn nên vĩnh viễn không thoái chuyển. Nếu đối với pháp này không biết đúng như thật, nói là không có phương tiện khéo, thì cuối cùng chẳng thể thành Vô thượng Bồ-đề.
"A-dật-đa! Khi Ta vì chúng sinh bốn thiên hạ nói pháp này, các chúng sinh đó nhờ thần lực của Phật, mỗi người tự thấy Thích Ca Như Lai vì mình thuyết pháp. Cứ thứ tự như thế cho đến trời A-ca-ni-tra, chúng sinh nơi đó cũng cho rằng 'Như Lai chỉ vì mình ta thuyết'; cho đến một bốn thiên hạ hay ba ngàn đại thiên thế giới cũng lại như vậy, chúng sinh thảy đều niệm rằng: 'Thích Ca Như Lai chỉ sinh ra ở nước ta, chỉ vì ta mà chuyển đại pháp luân.'
"A-dật-đa! Ta dùng sức đại phương tiện như thế, ở vô lượng vô biên thế giới, thường vào sáng sớm quan sát khắp chúng sinh ứng hóa mà thuyết pháp; buổi trưa và buổi chiều thường dùng pháp nhãn bình đẳng quán chúng sinh, ở thế giới đó vì chúng sinh thuyết tất cả pháp. Cảnh giới vô lượng chư Phật như thế, những người học hạnh Bồ-tát nên tu hành như vậy.
"Nếu kẻ ngu kia đối với lời Phật thuyết mà hủy báng chính pháp, vọng chấp hiểu biết của mình là chân thực, kẻ báng pháp thì không tin Phật, do ác nghiệp này mà đọa địa ngục, chịu đủ mọi khổ não, vĩnh viễn không được nghe pháp.
"Lại nữa, A-dật-đa! Ông nên thụ trì giáo pháp bí mật của Như Lai, dùng phương tiện khéo rộng vì người diễn thuyết."
Bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi Đồng tử cùng các vị Bồ-tát Phúc Quang Bình Đẳng, Vô Nghi Hoặc, Định Phát Tâm, Diệu Tâm Khai Ý, Quang Minh, Hoan Hỷ Vương, Vô Úy, Tâm Niệm Biến Đáo Vô Biên Phật Sát, Quán Thế Âm, Hương Tượng, Diệt Nhất Thiết Ác Nghiệp, Trụ Định, Bách Thiên Công Đức Trang Nghiêm, Diệu Âm Viễn Văn, Nhất Thiết Trí Bất Vọng, Đại Danh Viễn Chấn Bảo Tràng Trang Nghiêm, Cầu Nhất Thiết Pháp, Trụ Phật Cảnh Giới, Nguyệt Quang Trang Nghiêm, Nhất Thiết Thế Gian Đại Chúng Trang Nghiêm, các vị Bồ-tát Ma-ha-tát như thế bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Đúng thế, đúng thế! Thật đúng như lời thánh dạy. Chúng con ở phương Đông này, cách đây sáu mươi hằng hà sa Phật sát, đã từng cung kính lễ bái chư Phật. Tại mỗi mỗi Phật sát, chỉ thấy Thích Ca Như Lai xuất hiện ở đời. Chúng con trong bảy ngày đi khắp mười phương cũng chỉ thấy Thích Ca Như Lai xuất hiện ở đời, không thấy đức Phật nào khác. Đi khắp nơi rồi mới trở về bản thổ để nghe nhận chính pháp."
Bấy giờ, Phật bảo Văn-thù-sư-lợi Đồng tử: "Ông nay hãy quán xét kỹ trí tuệ Như Lai không thể nghĩ bàn, cảnh giới Như Lai cũng không thể nghĩ bàn. Pháp Như Lai vô đẳng đẳng như thế, mà kẻ ngu si kia lại nói rằng: 'Chỉ một Bát-nhã ba-la-mật là hạnh Như Lai, là hạnh Bồ-tát, là hạnh cam lộ.'"
Phật bảo Văn-thù-sư-lợi: "Kẻ nói lời ấy là trái nghịch với pháp. Vì sao? Vì hành pháp Bồ-tát đầy đủ rất khó. Hạnh không chấp trước là hạnh Bồ-tát, hạnh không ngã ngã là hạnh Bồ-tát, hạnh Không là hạnh Bồ-tát, hạnh Vô tướng là hạnh Bồ-tát.
"Văn-thù-sư-lợi! Các hạnh như thế là hạnh Bồ-tát, người học Bồ-tát phải thụ trì như vậy. Nếu kẻ ngu lòng ôm tà kiến, phải biết người đó không hiểu pháp của Ta.
"Văn-thù-sư-lợi! Các ông là các Bồ-tát phải giữ gìn thân khẩu, đối với pháp bất thiện chớ có phóng dật, kiên cố tâm mình khiến không thoái chuyển, vì chúng sinh mà thuyết pháp đầy đủ, và chính mình cũng phải trụ trong pháp.
"Ta từ vô lượng tăng-kỳ kiếp đã thành tựu đầy đủ Vô thượng Bồ-đề, dùng phương tiện khéo rộng vì người diễn thuyết, khiến chúng sinh xa lìa ác thú.
"Văn-thù-sư-lợi! Nếu có kẻ ngu báng pháp nhiệm mầu, tức là báng Phật, cũng gọi là báng Tăng.
"Lại nói rằng: 'Pháp này đúng, pháp kia sai', nói như thế cũng gọi là báng pháp.
"'Pháp này vì Bồ-tát thuyết, pháp này vì Thanh văn thuyết', nói như thế cũng gọi là báng pháp.
"'Đây là Bồ-tát học, đây không phải Bồ-tát học', nói như thế cũng gọi là báng pháp.
"Lại nói: 'Phật quá khứ đã diệt, Phật vị lai chưa đến, Phật hiện tại không trụ, chỉ có ta đắc được pháp Đà-la-ni', nói như thế cũng gọi là báng pháp. Vì báng pháp nên kẻ nói đắc Đà-la-ni đó là pháp bất tịnh.
"Đối với bậc chân pháp sư thì hủy báng sự tu hành, lại báng pháp sư dù có trí hiểu biết nhưng không hành đúng lời nói, báng pháp sư hành trái với đạo, báng pháp sư thân không trì giới, báng pháp sư tâm không trí tuệ, báng pháp sư ý không minh giải, báng pháp sư lời không biện tài; lại đối với văn tự Như Lai thuyết thì lòng không tin nhận, lại nói: 'Kinh này đúng, kinh kia sai; bài kệ này đúng, bài kệ kia sai; pháp này đáng tin, pháp này không đáng tin'; thấy người thuyết chính pháp thì vọng khởi dị luận, đối với người nghe chính pháp thì gây ngăn trở; 'đây là hành, đây không phải hành; đây thành tựu, đây không thành tựu; đây đúng thời, đây không đúng thời'. Tất cả những lời như thế đều gọi là báng pháp.
"Lại nữa, Văn-thù-sư-lợi! Hoặc Thanh văn thuyết pháp, hoặc Bồ-tát thuyết pháp, phải biết đều do uy thần hộ niệm của Như Lai khiến các Bồ-tát nói được như thế.
"Văn-thù-sư-lợi! Như kẻ ngu kia khi Phật còn tại thế mà còn sinh hủy báng, huống chi sau khi Ta diệt độ, các pháp sư thụ trì pháp Ta lại không bị báng sao? Vì sao? Vì họ là quyến thuộc của ma. Phải biết người đó sẽ đọa vào ác đạo.
"Như kẻ ngu kia tham cầu lợi dưỡng để nuôi thân tộc, đối với pháp Như Lai lòng không tin tưởng mà lại phá hoại giáo pháp Như Lai. Người thân của kẻ đó dùng tâm bè phái đến nhà Bà-la-môn và các trưởng giả mà tán dương kẻ ngu kia rằng: 'Người này đối với pháp và nghĩa đều thông hiểu, đạt thấu căn tánh, khéo vì người thuyết pháp.' Họ nhận đồ cúng dường mà không chút hổ thẹn, vì báng pháp nên cả bản thân và quyến thuộc đều đọa địa ngục.
"Văn-thù-sư-lợi! Ta quyết không vì người không tin mà nói hạnh Bồ-tát, không vì người tham luyến tại gia mà nói pháp thanh tịnh, không vì người chấp hai kiến mà nói pháp giải thoát, không vì người chấp một kiến mà nói pháp thoát khổ, không vì người ưa thích thế gian mà nói pháp chân tịnh.
"Văn-thù-sư-lợi! Ta đối với hằng hà sa pháp môn dùng tâm không chấp trước vì người diễn thuyết; lại đối với hằng hà sa pháp môn dùng tâm có chấp trước vì chúng sinh thuyết.
"Nếu có chúng sinh ưa pháp Không, vì họ thuyết pháp Không; ưa trí tuệ, vì họ thuyết pháp Trí; ưa vô tướng, thuyết vô tướng; ưa hữu tướng, thuyết hữu tướng; ưa từ bi, thuyết pháp Từ; ưa nhân duyên, thuyết nhân duyên; ưa không nhân duyên, thuyết không nhân duyên.
"'Đây là pháp có uy nghi, đây là pháp không uy nghi; đây là pháp Không, đây là pháp Hữu; đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi; đây là pháp nhiếp thụ, đây là pháp che đậy; đây là pháp phàm phu, đây là pháp thánh nhân; đây là pháp sắc, đây là pháp bất thiện; đây là pháp kẻ ngu, đây là pháp định.'"
Phật bảo Văn-thù-sư-lợi: "Hết thảy các pháp như thế đều là đạo Bát-nhã ba-la-mật, kẻ ngu si kia khi nói năng không dựa vào giáo pháp chân tịnh của Như Lai, ấy là báng chính pháp của Phật."
Bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi Đồng tử bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy, kẻ ngu si đó vì gần gũi bạn ác nên hiện đời khởi lòng hủy báng. Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì có thể tránh khỏi lỗi lầm này?"
Phật bảo Văn-thù-sư-lợi: "Ta thuở xưa trong suốt bảy năm, ngày đêm sáu thời sám hối trọng tội do thân, khẩu và ý nghiệp tạo ra, từ đó về sau mới được thanh tịnh. Trải qua mười kiếp mới đắc được Pháp nhẫn.
"Văn-thù-sư-lợi! Phải biết kinh này là Bồ-tát thừa, kẻ chưa giác ngộ có thể khiến họ giác ngộ. Nghe thuyết kinh này mà không tin nhận, do nhân báng pháp này sẽ đọa vào ác đạo. Các Bồ-tát hãy minh bạch nhận pháp của Ta, sau đó mới có thể tuyên thuyết cho người, thụ trì như thế có thể xa lìa ác thú."
Phật bảo Văn-thù-sư-lợi: "Có bốn pháp bình đẳng mà Bồ-tát nên học. Những gì là bốn? Một là Bồ-tát bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, hai là bình đẳng đối với tất cả pháp, ba là bình đẳng đối với Bồ-đề, bốn là bình đẳng đối với sự thuyết pháp. Đó là bốn pháp.
"Bồ-tát nên biết bốn thứ pháp này. Biết rồi thì vì chúng sinh thuyết. Nếu ai tin theo thì xa lìa ác thú; nếu không tin sẽ đọa ác đạo. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân trụ nơi bốn pháp này, phải biết người đó không đọa ác thú.
"Lại có bốn pháp. Những gì là bốn? Một là đối với các chúng sinh lòng không thoái chuyển, hai là đối với các pháp sư không khinh chê, ba là đối với các bậc trí giả lòng không sinh hủy báng, bốn là đối với tất cả lời Như Lai thuyết thường sinh tôn trọng. Bốn pháp như thế, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân khéo tu học thì cuối cùng không đọa vào các ác thú.
"Lại nữa, Văn-thù-sư-lợi! Nếu Bồ-tát dùng bảy báu đầy khắp hằng hà sa Phật sát, trong hằng hà sa kiếp mỗi ngày đều dâng cúng hằng hà sa chư Phật Thế Tôn. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có thể đối với kinh điển Đại thừa Phương Quảng nhiệm mầu này, cho đến một câu một kệ đọc tụng ba lần, thì công đức đạt được còn hơn cả công đức bố thí trước kia; nếu có người tụng trì kinh điển này, công đức đạt được còn gấp bội hơn thế. Giả sử lại có người tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ sáu ba-la-mật, công đức đạt được cũng không thể sánh bằng.
"Văn-thù-sư-lợi! Kinh điển này danh nghĩa rộng lớn không gì sánh bằng. Các ông là các Bồ-tát Ma-ha-tát nên khéo tu học, thụ trì, đọc tụng, rộng vì chúng sinh phân biệt giải thuyết."
Bấy giờ, tất cả đại chúng cho đến các vị Bồ-tát Ma-ha-tát từ mười phương đến đều bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Đúng thế, đúng thế! Như lời Phật dạy, chúng con xin thụ trì."
Khi thuyết pháp này, ba mươi hằng hà sa vị Bồ-tát đắc Vô san pháp nhẫn, bảy mươi hằng hà sa vị Bồ-tát đắc không thoái chuyển nơi Vô thượng Chính đẳng Chính giác.
Lại có sáu mươi ba ức trăm nghìn na-do-tha ba ngàn đại thiên thế giới tất cả đại chúng nghe Phật thuyết xong lòng sinh hoan hỷ, trong tám mươi kiếp vượt dòng sinh tử; lại ở nơi Vô thượng Chính đẳng Chính giác không thoái chuyển, trải qua sáu mươi ba kiếp đã thành tựu đầy đủ Vô thượng Bồ-đề.
Các vị Bồ-tát cùng tất cả đại chúng gồm trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và phi nhân... nghe Phật thuyết xong đều đại hoan hỷ, đảnh lễ kính tin thọ hành.
{{Kinh điển Phật giáo}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
fwjlgodirmiqrwojw8iuwqciuq8wglh
Biên dịch:Lý Hoặc Luận
114
72244
205367
2026-05-15T06:32:47Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Lý Hoặc Luận | tác giả= Mâu Tử | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 理惑論 | năm= [[w:Nhà Hán|Hán]] | phần = | trước= | sau= | ghi chú= '''Lý Hoặc Luận''' (chữ Hán: 理惑論) có nghĩa là '''bộ luận lý giải những điều mê lầm của một số người không hiểu đạo Phật''', do Mâu Tử (người Thương Ngô, nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc) viế…”
205367
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Lý Hoặc Luận
| tác giả= Mâu Tử
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 理惑論
| năm= [[w:Nhà Hán|Hán]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= '''Lý Hoặc Luận''' (chữ Hán: 理惑論) có nghĩa là '''bộ luận lý giải những điều mê lầm của một số người không hiểu đạo Phật''', do Mâu Tử (người Thương Ngô, nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc) viết bằng chữ Hán vào cuối thế kỷ 2 nhưng năm nào thì chưa rõ. {{Wikipediaref}}
}}
<center><big>Lý Hoặc Luận</big></center>
<div style="background-color:pink;">
Mâu Tử đã tu sửa kinh truyện và chư tử, sách không kể lớn nhỏ, chẳng gì không thích. Tuy không vui việc binh pháp, nhưng vẫn đọc qua. Dẫu đọc sách thần tiên bất tử, song nén lòng không tin, cho là hư huyễn. Bấy giờ sau khi Linh Đế băng hà, thiên hạ rối loạn, chỉ có Giao Châu tương đối yên ổn. Dị nhân phương Bắc đều đến đây, đa số luyện thuật thần tiên tịch cốc trường sinh, người thời đó theo học rất đông. Mâu Tử thường dùng Ngũ Kinh để chất vấn, các thuật sĩ Đạo gia không ai dám đối đáp. Có thể ví như Mạnh Kha ngăn chặn Dương Chu, Mặc Địch.
Trước đó, Mâu Tử cùng mẹ lánh đời tại Giao Chỉ, năm 26 tuổi về Thương Ngô lấy vợ. Thái thú nghe danh ông giữ đạo hiếu học, bèn mời giữ chức lại. Lúc ấy tuổi đang sung mãn, chí chuyên vào học thuật, lại thấy đời loạn lạc nên không có ý làm quan, rốt cuộc không nhận lời. Bấy giờ các châu quận nghi kị lẫn nhau, giao thông bế tắc. Thái thú vì nể ông bác học đa văn, sai đi sứ Kinh Châu. Mâu Tử cho rằng tước lộc dễ nhường nhưng sứ mệnh khó từ, bèn sửa soạn lên đường. Gặp lúc Châu mục ban văn ưu đãi hiền sĩ để chiêu mộ, ông lại cáo bệnh không dậy. Em trai Châu mục làm Thái thú Dự Chương, bị Trung lang tướng Sạ Dung giết hại. Khi ấy Châu mục phái Kỵ đô úy Lưu Ngạn đem binh ứng cứu, sợ ngoại giới nghi kị, binh không tiến được.
Châu mục bèn thỉnh Mâu Tử rằng: "Em ta bị nghịch tặc hãm hại, nỗi đau cốt nhục phẫn uất tận tâm can. Nay phái Lưu đô úy đi, sợ ngoại giới nghi nan, người đi không thông. Ông văn võ kiêm toàn, có tài đối đáp. Nay muốn khuất thân ông sang Linh Lăng, Quế Dương mượn đường để thông suốt, ông thấy thế nào?". Mâu Tử đáp: "Kẻ hèn này như ngựa ăn cỏ trong chuồng, được đối đãi đã lâu; liệt sĩ quên mình, hẹn sẽ dốc sức". Lúc sắp lên đường thì mẹ mất, nên không đi được.
Lâu sau ông suy ngẫm: Vì có tài biện bác nên hay bị sai phái, lúc thế gian nhiễu nhương, không phải lúc để hiển lộ. Bèn than rằng: "Lão Tử tuyệt thánh khí trí, tu thân bảo chân, vạn vật không làm loạn được chí, thiên hạ không đổi được niềm vui. Thiên tử không thể bắt làm tôi, chư hầu không thể kết làm bạn, cho nên mới đáng quý". Thế là ông dốc chí vào Phật đạo, nghiên cứu thêm năm ngàn chữ của Lão Tử. Lấy huyền diệu làm rượu ngọt, lấy Ngũ Kinh làm đàn sáo. Người đời nhiều kẻ chê bai, cho rằng ông phản Ngũ Kinh mà theo dị đạo. Muốn tranh luận thì trái đạo, muốn im lặng thì không đành, bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền để chứng giải. Tên gọi là '''Mâu Tử Lý Hoặc'''.
</div>
----
Có người hỏi: "Phật sinh ra từ đâu? Có tổ tiên và quốc ấp không? Hành trạng thế nào? Hình dáng ra sao?".
Mâu Tử đáp: "Câu hỏi phong phú thay! Xin lấy sự kém cỏi này mà nói lược điểm chính. Nghe rằng sự hóa hiện của Phật tích lũy đạo đức qua nghìn ức năm không thể ghi chép hết. Lúc sắp đắc quả Phật, Ngài sinh tại Thiên Trúc, mượn thân nơi phu nhân vua Bạch Tịnh. Bà nằm ngủ trưa mơ thấy cưỡi voi trắng sáu ngà, lòng vui mừng rồi cảm ứng thụ thai. Ngày mồng tám tháng tư, Ngài từ sườn phải mẹ sinh ra. Rơi xuống đất đi bảy bước, giơ tay phải nói: 'Trên trời dưới đất, không ai hơn ta'. Lúc đó trời đất chuyển động lớn, trong cung sáng rực. Ngày ấy tỳ nữ nhà vua cũng sinh một con trai, ngựa trắng trong chuồng sinh ngựa con. Người hầu tên Xa Nặc, ngựa tên Kiền Trắc, vua thường sai theo hầu Thái tử.
Thái tử có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Thân cao một trượng sáu, mình màu kim sắc, đỉnh đầu có nhục kế, xương má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có hình bánh xe ngàn căm, hào quang nơi cổ chiếu vạn dặm. Đó là nói lược về tướng mạo. Năm 17 tuổi, vua cưới vợ cho Ngài là con gái nước láng giềng. Thái tử ngồi thì dời ghế, ngủ thì khác giường, thiên đạo sáng tỏ, âm dương thông hòa. Sau đó vợ mang thai một con trai, sáu năm mới sinh.
Phụ vương trân quý Thái tử, xây dựng cung đài, bày biện kỹ nữ bảo vật trước mặt. Thái tử không ham vui thế tục, ý để nơi đạo đức. Năm 19 tuổi, đêm mồng tám tháng tư, Ngài gọi Xa Nặc thắng yên ngựa Kiền Trắc mà cưỡi, quỷ thần nâng chân ngựa bay ra khỏi cung. Sáng hôm sau, không ai biết Ngài ở đâu. Nhà vua và dân chúng đều than khóc, đuổi theo đến cánh đồng. Vua nói: 'Trước kia chưa có con, ta đã cầu khẩn thần kỳ; nay đã có con quý như ngọc khuê, phải nối nghiệp vị, sao lại ra đi?'. Thái tử đáp: 'Vạn vật vô thường, có tồn tại ắt có diệt vong; nay con muốn học đạo để cứu độ mười phương'.
Vua biết chí Ngài kiên định nên quay về. Thái tử đi thẳng, tu hành sáu năm rồi thành Phật. Sinh vào tháng giữa mùa hạ vì thời tiết không lạnh không nóng, cỏ hoa tươi tốt, là lúc cởi áo lông cáo mà mặc áo vải thưa. Sinh tại Thiên Trúc vì đó là trung tâm trời đất, nơi điều hòa nhất. Kinh điển Ngài để lại gồm 12 bộ, hợp thành 8 ức 4 ngàn vạn quyển. Quyển lớn dưới vạn chữ, quyển nhỏ trên ngàn chữ. Phật dạy dỗ thiên hạ, cứu độ nhân dân, rồi vào ngày 15 tháng hai mà nhập Niết-bàn. Kinh giới của Ngài vẫn còn, ai có thể tuân hành cũng sẽ đắc vô vi, phúc lưu hậu thế. Người giữ Ngũ giới thì mỗi tháng có 6 ngày trai giới, ngày đó chuyên tâm nhất ý, hối lỗi tự mới. Sa-môn giữ 250 giới, ngày ngày trai giới, giới đó hàng Ưu-bà-tắc không được nghe. Uy nghi đi đứng không khác điển lễ cổ xưa, suốt ngày đêm giảng đạo tụng kinh, không dự việc đời. Lão Tử nói: 'Cái dung mạo của đức lớn, chỉ thuận theo đạo'. Chính là ý này vậy".
Hỏi: “Tại sao gọi chính xác là Phật? Phật nghĩa là gì?”
Mâu Tử đáp: “Phật là thụy hiệu, giống như gọi Tam Hoàng là Thần, Ngũ Đế là Thánh vậy. Phật là nguyên tổ của đạo đức, là tông tự của thần minh. Chữ Phật nghĩa là Giác. Ngài biến hóa thấp thoáng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, có thể thu nhỏ phóng to, có thể hóa tròn hóa vuông, có thể hóa già hóa trẻ, có thể ẩn mình hiện rõ; giẫm vào lửa không cháy, đi trên lưỡi dao không thương, ở nơi ô uế không bị nhục, gặp tai họa không bị ương; muốn đi liền bay, ngồi thì tỏa sáng, cho nên hiệu là Phật.”
Hỏi: “Thế nào gọi là Đạo? Đạo thuộc loại nào?”
Mâu Tử đáp: “Chữ Đạo nghĩa là dẫn dắt. Dẫn dắt con người đạt đến vô vi. Kéo đi thì không thấy phía trước, dắt đi thì không thấy phía sau; nâng lên thì không thấy phía trên, ấn xuống thì không thấy phía dưới; nhìn thì không thấy hình, nghe thì không thấy tiếng; bao la ngoài bốn cõi là lớn, len lỏi trong mảy may là nhỏ. Cho nên gọi là Đạo.”
Hỏi: “Khổng Tử dùng Ngũ Kinh làm đạo giáo, có thể chắp tay mà tụng, dốc lòng mà hành. Nay ông nói Đạo hư vô thấp thoáng, không thấy ý tứ, không chỉ rõ sự việc, sao lại khác biệt với lời Thánh nhân như vậy?”
Mâu Tử đáp: “Không nên xem trọng những gì mình đã quen, xem nhẹ những gì mình hiếm thấy. Hoặc bị lầm lẫn bởi vẻ bề ngoài mà đánh mất cái thực chất bên trong. Lập sự không rời đạo đức, giống như điều chỉnh dây đàn không sai cung thương. Thiên đạo phỏng theo bốn mùa, nhân đạo phỏng theo ngũ thường. Lão Tử nói: ‘Có vật hỗn thành, sinh trước cả trời đất, có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên nó, gượng đặt chữ là Đạo’. Đạo là một vật, ở nhà có thể phụng thờ cha mẹ, trị quốc có thể quản lý người dân, độc lập có thể tu sửa bản thân; áp dụng hành trì thì tràn đầy khắp trời đất, bỏ đi không dùng thì tiêu biến nhưng không rời xa. Ông không hiểu điều đó, chứ có gì là khác biệt đâu?”
Hỏi: “Phát ngôn chân thực nhất thì không hoa mỹ, lời lẽ chí lý nhất thì không trang sức. Lời tóm lược mà đạt ý là đẹp, sự việc ít ỏi mà thông suốt là sáng suốt. Cho nên châu ngọc ít thì quý, ngói sỏi nhiều thì rẻ. Thánh nhân chế định cái gốc của Thất Kinh không quá ba vạn lời, mà muôn việc đều đầy đủ ở trong. Nay kinh Phật quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, không phải sức một người có thể kham nổi. Tôi cho là rườm rà mà không trọng yếu.”
Mâu Tử đáp: “Sông biển sở dĩ khác với nước vũng rãnh là vì nó sâu rộng; năm núi lớn sở sở dĩ khác với gò đồi là vì nó cao lớn. Nếu núi cao không vượt hơn gò đống, cừu què cũng leo lên đỉnh; vực sâu không tách rời dòng nước nhỏ, trẻ con cũng tắm ở trong đầm. Ngựa kỳ ký không ở trong vườn thú, cá nuốt thuyền không bơi ở khe nước sâu vài thước. Mổ con trai ba tấc mà đòi tìm ngọc minh nguyệt, tìm trong tổ cây gai góc mà đòi kiếm chim non phượng hoàng, tất khó mà đạt được. Vì sao vậy? Cái nhỏ không thể chứa được cái lớn. Kinh Phật phía trước nói chuyện trăm triệu năm, phía sau nói điều cốt yếu của muôn đời. Thuở thái tố chưa dấy, thái thủy chưa sinh, càn khôn mới mở, cái vi diệu của nó không thể nắm bắt, cái tinh tế của nó không thể đi vào, Phật đều bao quát bên ngoài cái rộng lớn ấy, mổ xẻ bên trong cái thâm diệu ấy, không gì không ghi chép. Cho nên kinh quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, càng nhiều càng đầy đủ, càng đông càng phong phú. Sao lại nói là không trọng yếu? Tuy không phải một người có thể kham nổi, nhưng ví như đến bên sông uống nước, uống no thì tự đủ, cần gì phải biết đến phần nước còn lại?”
Hỏi: “Kinh Phật nhiều như vậy, nay muốn lấy chỗ cốt lõi mà bỏ phần còn lại, chỉ nói thẳng cái chân thực mà bỏ đi cái hoa mỹ, được chăng?”
Mâu Tử đáp: “Không được. Mặt trời mặt trăng đều sáng, mỗi bên soi chiếu một nơi; hai mươi tám vì sao, mỗi sao chủ quản một việc; trăm phương thuốc cùng sinh, mỗi vị chữa lành một bệnh. Áo lông cáo để chống rét, áo vải thưa để ngồi mát; thuyền và xe đi đường khác nhau, đều đưa hành khách đến nơi. Khổng Tử không vì Ngũ Kinh đã đầy đủ mà không sáng tác thêm 《Xuân Thu》, 《Hiếu Kinh》, ấy là muốn mở rộng đạo thuật, thuận theo ý muốn của mỗi người. Kinh Phật tuy nhiều, nhưng quy tụ lại là một. Giống như Thất điển tuy khác nhau, nhưng chỗ coi trọng đạo đức, nhân nghĩa cũng là một. Kinh Hiếu sở dĩ nói nhiều điều, là tùy theo hành vi của mỗi người mà ban dạy. Như Tử Trương và Tử Du cùng hỏi về một chữ Hiếu, mà Trọng Ni đáp lại mỗi người một khác, ấy là để uốn nắn chỗ ngắn của họ. Có gì mà phải bỏ đi?”
Hỏi: “Phật đạo chí tôn chí đại, tại sao Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng không tu theo? Trong Thất Kinh không thấy lời lẽ nào về Phật. Ông đã say mê 《Kinh Thi》, 《Kinh Thư》, vui thích 《Kinh Lễ》, 《Kinh Nhạc》, cớ sao lại quay sang ưa chuộng Phật đạo, thích học thuật lạ? Há có thể vượt qua kinh truyền, làm đẹp thêm sự nghiệp của Thánh nhân sao? Tôi trộm nghĩ ông không nên theo.”
Mâu Tử đáp: “Sách không nhất thiết phải là lời của Khổng Khâu, thuốc không nhất thiết phải là phương của Biển Thước; hợp với nghĩa thì theo, chữa lành bệnh là tốt. Quân tử thu nhận rộng rãi các điều thiện để bổ trợ cho bản thân. Tử Cống nói: ‘Thầy ta có một bậc thầy cố định nào đâu?’. Vua Nghiêu học Doãn Thọ, vua Thuấn học Vụ Thành, Chu Công học Lã Vọng, Khổng Khâu học Lão Đam, những điều này cũng đều không thấy trong Thất Kinh. Bốn vị thầy ấy tuy là bậc thánh, nhưng so với Phật, thì như hươu trắng so với kỳ lân, chim én so với phượng hoàng vậy. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng còn đi học họ, huống chi Phật thân tướng tốt đẹp, biến hóa thần lực vô cùng, sao lại có thể bỏ mà không học? Sự nghĩa trong Ngũ Kinh có chỗ còn khuyết thiếu; việc Phật không được ghi chép lại, có gì đáng để quái lạ và nghi ngờ?”
Hỏi: “Nói rằng Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, sao lại khác người đến thế? Đó chắc là lời nói ngoa dụ, không phải chuyện có thực.”
Mâu Tử đáp: “Tục ngữ có câu: Thấy ít thì lạ nhiều, nhìn thấy lạc đà lại bảo là con ngựa bị sưng lưng. Vua Nghiêu lông mày tám màu, vua Thuấn mắt có hai con ngươi, Cao Dao mỏ chim, Văn Vương bốn đầu vú, Hạ Vũ tai có ba lỗ, Chu Công lưng còng, Phục Hy mũi rồng, Trọng Ni đầu lõm; Lão Tử trán nổi hình sừng mặt lộ vẻ huyền vi, mũi có hai sống, tay nắm mười chữ, chân đạp hai số năm. Đây chẳng phải là khác với người thường sao? Tướng tốt của Phật có gì đáng để nghi ngờ!”
Hỏi: “《Hiếu Kinh》 nói: ‘Thân thể, tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám hủy thương’. Tăng Tử lúc sắp mất, bảo mở tay mở chân ta xem. Nay Sa-môn cạo đầu, sao lại trái với lời Thánh nhân, không hợp với đạo con hiếu như vậy? Ông thường thích luận bàn thị phi, phân định cong thẳng, mà ngược lại cho việc đó là tốt sao?”
Mâu Tử đáp: “Nói xấu thánh hiền là bất nhân, phân định không đúng là bất trí. Bất nhân bất trí thì lấy gì lập đức? Đức đã không lập, thì cũng như hạng ngu muội. Luận bàn đâu có dễ dàng! Xưa có người nước Tề đi thuyền qua sông, cha bị ngã xuống nước, con giật cánh tay, túm tóc cha, kéo lộn ngược để nước trong miệng chảy ra, nhờ đó mạng cha được cứu sống. Việc túm tóc, kéo ngược là bất hiếu không gì lớn bằng; nhưng vì để vẹn toàn thân mạng cho cha, nếu cứ chắp tay sửa mình theo lẽ thường của con hiếu thì mạng cha đã dứt dưới dòng nước rồi. Khổng Tử nói: ‘Có thể cùng đi trên đạo, nhưng chưa thể cùng tùy quyền biến’. Đó là việc tùy thời nghi mà áp dụng vậy.
Hơn nữa 《Hiếu Kinh》 nói: ‘Bậc tiên vương có đức lớn đạo trọng’, vậy mà Thái Bá cắt tóc vẽ mình, tự theo phong tục xứ Ngô Việt, trái với nghĩa của thân thể tóc da, thế nhưng Khổng Tử lại ngợi khen: ‘Như thế có thể gọi là đức lớn vậy’. Trọng Ni không vì việc ông cắt tóc mà chê trách. Từ đó mà nhìn, nếu có đại đức thì không câu nệ tiểu tiết. Sa-môn hiến của cải, bỏ vợ con, không nghe âm thanh không xem sắc đẹp, có thể gọi là bậc nhường nhịn đến cùng cực. Sao lại bảo trái lời Thánh nhân, không hợp với đạo hiếu? Dự Nhượng nuốt than, sơn mình, Nhiếp Chính rạch mặt tự hình, Bá Cơ lao vào lửa cao hạnh, Cắt Dung tự rạch mặt. Quân tử cho họ là dũng cảm vì đại nghĩa mà chết, chưa từng nghe ai mỉa mai họ tự hủy hoại thân mình. Sa-môn cạo bỏ râu tóc, đem so với bốn người kia, chẳng phải còn tiến xa hơn sao?”
Hỏi: “Trong các phúc không gì hơn có người nối dõi, trong các tội bất hiếu không gì lớn bằng vô hậu. Sa-môn từ bỏ vợ con, hiến bỏ tài sản, có người suốt đời không lấy vợ, sao lại trái với hành vi hưởng phúc và hành hiếu như vậy! Tự làm khổ mình mà chẳng có gì kỳ lạ, tự đẩy mình đến cùng cực mà chẳng có gì khác biệt.”
Mâu Tử đáp: “Kẻ dài bên trái ắt ngắn bên phải, lớn phía trước ắt hẹp phía sau. Mạnh Công Chước làm tổng quản họ Triệu, họ Ngụy thì dư sức, nhưng không thể làm đại phu nước Đằng, nước Tiết. Vợ con, tài vật là vật thừa của cõi đời; trong sạch bản thân, vô vi là cái diệu của đạo. Lão Tử nói: ‘Danh vọng với thân mình, cái nào thân hơn? Thân mình với của cải, cái nào quý hơn?’. Lại nói: ‘Xem di phong của ba đời, nhìn đạo thuật của Nho Mặc, tụng thi thư, tu lễ tiết, sùng nhân nghĩa, coi trọng sự thanh khiết, người trong làng truyền nghiệp, danh tiếng lẫy lừng. Đó là việc kẻ trung sĩ thi hành, người điềm đạm chẳng thèm đoái hoài. Cho nên phía trước có ngọc tùy châu, phía sau có hổ dữ, thấy vậy liền chạy mà không dám lấy, vì sao? Vì đặt tính mạng lên trước, lợi lộc theo sau’. Hứa Do làm tổ trên cây, Di Tề chịu đói núi Thủ Dương, vua Thuấn và Khổng Tử khen họ hiền rằng: ‘Ấy là hạng người cầu nhân được nhân vậy’. Chưa từng nghe ai mỉa mai họ không có người nối dõi, không có của cải. Sa-môn tu đạo đức để đổi lấy thú vui rong chơi ở đời; hướng về sự thục hiền để từ bỏ niềm vui vợ con. Điều đó không gọi là kỳ lạ thì cái gì là kỳ lạ? Điều đó không gọi là khác biệt thì cái gì là khác biệt?”
Hỏi: “Hoàng Đế buông vạt áo làm xiêm xướng, chế định phục sức; Cơ Tử bày ra 《Hồng Phạm》, tướng mạo đứng đầu năm việc; Khổng Tử làm 《Hiếu Kinh》, trang phục là khởi đầu của ba đức. Lại nói: sửa sang y quan, tôn nghiêm tầm nhìn. Nguyên Hiến tuy nghèo nhưng không rời mũ hoa; Tử Lộ gặp nạn không quên thắt dải mũ. Nay Sa-môn cạo tóc, khoác vải đỏ, gặp người không có lễ nghi quỳ dậy, không có dáng vẻ đi đứng khoan thai, sao lại trái với chế độ về tướng mạo trang phục, đi ngược với lối điểm trang của bậc sỹ phu.”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Bậc thượng đức không hiển lộ đức, cho nên có đức; bậc hạ đức không rời bỏ đức, cho nên không có đức’. Thời Tam Hoàng, ăn thịt mặc da, ở tổ trong hang để tôn sùng chất phác; há lại cần đến mũ chương phủ, áo lông cừu cong để trang sức sao? Thế nhưng người thời đó được khen là có đức, thuần hậu, thành thực và vô vi. Hành vi của Sa-môn có phần giống như vậy.”
Có người hỏi: “Như lời ông nói, thì những bậc như Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều bị vứt bỏ, không đáng để noi theo sao?”
Mâu Tử đáp: “Thấy rộng thì không lầm, nghe thông thì không hoặc. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng tu sửa việc đời; Phật và Lão Tử giữ chí vô vi. Trọng Ni bôn ba hơn bảy mươi nước, Hứa Do nghe nhường ngôi liền rửa tai bên vực sâu. Đạo của quân tử, hoặc xuất thế hoặc xử thế, hoặc im lặng hoặc nói năng, không để tràn trề cái tình, không buông thả cái tính. Cho nên cái quý của đạo là ở chỗ vận dụng phù hợp, có gì mà phải vứt bỏ đâu?”
Hỏi: “Phật đạo nói: Người chết rồi sẽ lại đầu thai sinh ra đời khác. Tôi không tin điều này là xác thực.”
Mâu Tử đáp: “Người sắp chết, người nhà trèo lên nóc nhà hú gọi. Người đã chết rồi, lại gọi ai?”
Người kia đáp: “Gọi hồn phách của người đó”.
Mâu Tử nói: “Thần hồn quay về thì sống, không quay về thì thần hồn đi đâu?”
Đáp: “Thành quỷ thần”.
Mâu Tử nói: “Đúng thế. Hồn thần vốn không diệt, chỉ có thân xác tự mục nát mà thôi. Thân xác ví như gốc lá của ngũ cốc, hồn thần như hạt giống của ngũ cốc; gốc lá mọc lên ắt phải chết, hạt giống há lại có lúc mất đi sao? Kẻ đắc đạo thì thân diệt mà thôi. Lão Tử nói: ‘Ta sở dĩ có nỗi lo lớn, là vì ta có thân; nếu ta không có thân, ta còn lo gì?’. Lại nói: ‘Công thành danh toại, thân lui về, ấy là đạo trời vậy’.”
Có người hỏi: “Tu đạo cũng chết, không tu đạo cũng chết, có gì khác biệt đâu?”
Mâu Tử đáp: “Đây gọi là kẻ không có nổi một ngày làm thiện mà lại đòi hỏi tiếng thơm suốt đời vậy. Người có đạo tuy chết, thần hồn về nhà phúc; kẻ làm ác đã chết, thần hồn chịu tai ương. Kẻ ngu muội tăm tối khi việc đã thành, người hiền trí dự tính từ khi chưa nảy mầm. Người có đạo và không có đạo, như vàng so với cỏ; điều thiện cùng niềm phúc, như sắc trắng đối với sắc đen. Sao lại không khác biệt, mà lại bảo có gì khác đâu?”
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Chưa biết thờ người, sao biết thờ quỷ?', 'Chưa biết việc sống, sao biết việc chết?'. Đây là những điều Thánh nhân ghi chép. Nay nhà Phật lại hay nói chuyện sống chết, việc quỷ thần, đây hẳn không phải lời của bậc Thánh triết. Người hành đạo nên hư vô điềm đạm, giữ chí chất phác. Cớ sao lại bàn chuyện sống chết làm loạn tâm chí, thuyết chuyện quỷ thần là việc dư thừa?"
Mâu Tử đáp: "Lời ông nói là thấy vẻ ngoài mà chưa hiểu bên trong. Khổng Tử ghét Tử Lộ không hỏi gốc ngọn nên mới dùng lời đó ức chế mà thôi. 《Hiếu Kinh》 nói: 'Lập tông miếu để quỷ hưởng tế; xuân thu cúng tế theo thời mà tưởng nhớ'. Lại nói: 'Lúc sống thờ bằng lòng yêu kính, khi chết thờ bằng nỗi đau buồn'. Há chẳng phải dạy người thờ quỷ thần, biết chuyện sống chết sao! Chu Công vì vua Vũ Vương mà khấn xin mệnh rằng: 'Đán này đa tài đa nghệ, có thể thờ phụng quỷ thần'. Ấy là vì việc gì! Chuyện sống chết mà kinh Phật nói đến há chẳng phải cùng loại đó sao? Lão Tử nói: 'Biết con mình lại giữ lấy mẹ mình, suốt đời không nguy'. Lại nói: 'Dùng hào quang trở về sự sáng suốt, không để thân bị tai ương'. Đây là hướng đến của đạo sống chết, nơi trú ngụ của cát hung. Chỗ yếu cốt của chí đạo thực quý ở lặng lẽ, nhà Phật há lại thích nói sao? Chẳng qua vì ông hỏi nên không thể không đáp vậy! Chuông trống há tự kêu? Do dùi đánh vào mới có tiếng đó."
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Người Di Địch có vua, không bằng các nước Hoa Hạ mất vua'. Mạnh Tử chê Trần Tương đổi sang học thuật của Hứa Hành rằng: 'Ta nghe dùng Hoa Hạ biến đổi Di Địch, chưa nghe dùng Di Địch biến đổi Hoa Hạ'. Ông từ lúc trẻ học đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng, nay lại vứt bỏ mà học thuật Di Địch, chẳng phải là lầm lạc lắm sao?"
Mâu Tử đáp: "Đây là những lời lẽ lúc tôi chưa hiểu đại đạo mà thôi. Ông có thể nói là thấy cái hoa mỹ của lễ chế mà tăm tối trước cái thực của đạo đức; nhìn ánh sáng đuốc đèn mà chưa thấy mặt trời nơi thiên đình. Lời Khổng Tử nói là để sửa phép đời. Lời Mạnh Kha nói là vì ghét sự chuyên nhất. Xưa Khổng Tử muốn sang ở đất Cửu Di, nói rằng: 'Quân tử ở đó thì có gì là hèn lậu?'. Đến như lúc Trọng Ni không được dùng ở Lỗ, Vệ; Mạnh Kha không được dùng ở Tề, Lương, há lại sang làm quan cho Di Địch sao? Vũ xuất thân từ Tây Khương mà là bậc Thánh triết, Cổ Sưu sinh ra Thuấn mà là kẻ ngu ngoan, Do Dư sinh ở nước Địch mà giúp Tần xưng bá, Quản Sái từ vùng Hà Lạc mà gieo lời phao tin. 《Truyện》 nói: 'Sao Bắc Thần ở giữa trời, ở phía Bắc của người'. Nhìn từ đó thì đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời. Kinh Phật nói khắp trên dưới vòng quanh, loài có máu thịt đều thuộc về Phật. Thế nên tôi tôn sùng mà học theo, việc gì phải bỏ đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng? Vàng ngọc không hại nhau, ngọc tùy ngọc bích không ngăn nhau, bảo người là lầm lạc, thì chính mình đang tự lầm lạc vậy."
Hỏi: "Lấy của cải của cha cho người đi đường thì không thể gọi là ban ơn; cha mẹ còn sống mà giết mình thay người thì không thể gọi là nhân. Nay kinh Phật chép: Thái tử Tu Đại lấy của cải của cha bố thí cho người phương xa; lấy voi báu của nước tặng kẻ thù; đem cả vợ con cho người khác. Không kính cha mẹ mà kính người ngoài gọi là nghịch lễ; không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài gọi là nghịch đức. Tu Đại bất hiếu bất nhân mà nhà Phật tôn thờ, há chẳng lạ lùng sao!"
Mâu Tử đáp: "Nghĩa trong Ngũ Kinh là lập con trưởng. Văn Vương thấy chí của Cơ Xương nên chuyển ngôi đích cho con thứ, rốt cuộc thành nghiệp nhà Chu, đạt đến thái bình. Nghĩa cưới vợ là phải thưa cha mẹ; vua Thuấn không thưa mà cưới để thành đại luân. Kẻ sĩ trinh tiết chờ sính lễ, hiền thần đợi trưng triệu; Y Doãn vác vạc đến gặp vua Thang, Ninh Thích gõ sừng trâu tìm gặp Tề Hoàn Công; Thang nhờ đó mà vương, Tề nhờ đó mà bá. 《Lễ》 dạy: 'Trai gái không trao nhận trực tiếp, nhưng chị dâu đuối nước thì phải đưa tay ra cứu'. Ấy là tùy quyền khi cấp bách. Nếu thấy cái lớn thì không câu nệ cái nhỏ, bậc đại nhân há lại câu nệ lẽ thường! Tu Đại thấy đời vô thường, tài vật không phải kho báu của mình, nên tự ý bố thí để thành đại đạo. Nước của cha được hưởng phúc, quân thù không dám xâm phạm; đến khi thành Phật, cha mẹ anh em đều được độ thoát. Nếu đó không phải hiếu, không phải nhân, thì ai là người nhân hiếu?"
Hỏi: "Phật đạo trọng vô vi, vui bố thí, giữ giới luật, nơm nớp như đứng bên vực sâu. Nay Sa-môn ham mê rượu chè, hoặc nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên làm việc dối trá, đó là sự giả dối lớn trong đời, mà Phật đạo gọi là vô vi sao?"
Mâu Tử đáp: "Công Thâu Ban có thể cho người ta rìu đục dây mực, nhưng không thể khiến người ta thành thợ giỏi; Thánh nhân có thể truyền đạo cho người, nhưng không thể bắt họ phải thực hành đúng. Cao Dao có thể trị tội kẻ trộm, nhưng không thể khiến kẻ tham thành như Bá Di, Thúc Tề; ngũ hình có thể giết kẻ vô đạo, nhưng không thể khiến đứa con ác thành như Tăng Sâm, Mân Tử Khiên. Vua Nghiêu không hóa được Đan Chu, Chu Công không dạy được Quản Sái, há là do giáo hóa thời Đường không hiển, đạo nhà Chu không đủ sao? Chẳng qua là không làm gì được kẻ ác vậy. Ví như người đời học thông Thất Kinh mà mê đắm tài sắc, thì có thể gọi Lục Nghệ là tà dâm sao? Hà Bá tuy linh thiêng nhưng không dìm chết người trên đất bằng; gió lốc tuy nhanh nhưng không thể khiến bụi bay dưới nước sâu. Đáng lo là người không thực hành được đạo, sao có thể bảo Phật đạo có điều ác?"
Hỏi: "Khổng Tử khen: 'Xa hoa thì không khiêm tốn, tiết kiệm thì cố chấp, thà cố chấp còn hơn không khiêm tốn'. Thúc Tôn nói: 'Tiết kiệm là sự cung kính của đức, xa xỉ là cái lớn của ác'. Nay nhà Phật dốc hết tài sản để bố thí, đem hết của cải cho người là quý, liệu có phúc chăng?"
Mâu Tử đáp: "Đó là một thời, đây là một thời. Lời của Trọng Ni là ghét sự xa hoa vô lễ; luận của Thúc Tôn là châm chọc việc chạm trổ cột nhà. Chứ không phải cấm bố thí. Vua Thuấn cày núi Lịch, ơn không đến được xóm giềng; Thái Công mổ trâu, huệ không đến được vợ con. Đến khi được trọng dụng, ơn lưu tám cõi, huệ ban bốn biển. Của cải nhiều thì quý ở chỗ biết cho; nghèo khổ túng thiếu thì quý ở chỗ giữ đạo. Hứa Do không tham bốn biển; Bá Di không màng đến nước nhà; Ngu Khanh bỏ phong tước vạn hộ để cứu người lúc khốn cùng; mỗi người một chí vậy. Hi Phụ Cơ nhờ ơn một bữa ăn mà bảo toàn được xóm mình; Tuyên Mạnh vì một bát cơm mà cứu mạng sống quý báu. Ngầm ban ơn thì kín đáo, quả báo hiện ra rạng rỡ như ban ngày. Huống chi dốc của cải nhà phát tâm thiện, công đức ấy sừng sững như núi Tung, núi Thái, mênh mông như sông rộng, biển dài. Người ôm lòng thiện sẽ được hưởng phúc, kẻ gieo điều ác sẽ chịu tai ương, chưa từng có ai trồng lúa mà được mạch, làm họa mà được phúc bao giờ!"
Hỏi: “Việc làm không gì hơn thành thực, lời nói không gì hơn chân thực. 《Lão Tử》 bỏ lời hoa mỹ trang sức, sùng bái lời chất phác. Kinh Phật nói không chỉ rõ sự việc, chỉ rộng lấy ví dụ. Ví dụ không phải là điều cốt yếu của đạo, gộp cái khác làm cái giống nhau không phải là cái diệu của sự việc. Tuy lời lẽ nhiều và rộng, nhưng như một xe mảnh ngọc vụn, không thể coi là báu vật.”
Mâu Tử đáp: “Sự việc thường cùng thấy thì có thể nói bằng sự thực. Một người thấy một người không thấy thì khó nói bằng lời thành thực vậy. Xưa có người chưa thấy con lân, hỏi người từng thấy: Lân thuộc loại nào? Người thấy nói: Lân giống như con lân vậy. Người hỏi nói: Nếu tôi từng thấy lân thì đã không hỏi ông; nay ông nói lân như lân, sao mà hiểu được? Người thấy bèn nói: Lân thân giống mễn, đuôi bò, móng nai, lưng ngựa. Người hỏi liền hiểu ra. Khổng Tử nói: ‘Người ta không biết mà không giận, chẳng phải quân tử sao!’. Lão Tử nói: ‘Khoảng giữa trời đất há như ống thụt bễ sao?’. Lại nói: ‘Ví Đạo trong thiên hạ như sông khe với sông biển, há lại hoa mỹ trang sức sao?’. 《Luận Ngữ》 nói: ‘Vì chính bằng đức, ví như sao Bắc Thần’. Ấy là dẫn trời để ví với người vậy. Tử Hạ nói: ‘Ví như các loài cỏ cây, phân khu để phân biệt vậy’. Ba trăm bài thơ kéo vật hợp loại, cho đến chư tử sấm vĩ, điều bí yếu của thánh nhân, không gì không dẫn dụ lấy ví dụ. Sao ông lại một mực ghét việc kinh Phật nói hay dùng ví dụ chứ?”
Hỏi: “Con người ở đời, không ai không thích phú quý mà ghét nghèo hèn, vui sướng an dật mà sợ lao nhọc mỏi mệt. Hoàng Đế nuôi tính, lấy năm món ăn làm trọng. Khổng Tử nói: ‘Cơm không chê tinh, gỏi không chê thái nhỏ’. Nay Sa-môn khoác vải đỏ, ngày ăn một bữa, đóng sáu tình, tự khép mình ở đời. Như thế thì có gì là vui sống?”
Mâu Tử đáp: “Giàu và sang là điều người ta muốn, nhưng không dùng đạo mà được thì không ở vậy. Nghèo và hèn là điều người ta ghét, nhưng không dùng đạo mà được thì không bỏ vậy. Lão Tử nói: ‘Năm màu khiến người ta mù mắt, năm âm khiến người ta điếc tai, năm vị khiến người ta tê lưỡi. Ruổi ngựa săn bắn khiến lòng người phát cuồng, của cải khó được khiến hành vi bị tổn hại. Cho nên thánh nhân vì bụng không vì mắt’. Phương thuốc này há luống suông sao! Liễu Hạ Huệ không vì ngôi Tam công mà đổi hành vi của mình; Đoạn Can Mộc không vì thân mình mà đổi lấy cái giàu của Ngụy Văn Hầu; Hứa Do, Sào Phủ làm tổ trên cây mà ở, tự cho là yên ổn hơn cung điện đế vương; Di Tề nhịn đói ở núi Thủ Dương, tự cho là no đủ hơn thời Văn Vũ. Ấy là mỗi người đều được chí của mình mà thôi. Có gì là không vui sống?”
Hỏi: “Nếu kinh Phật sâu nhiệm đẹp đẽ như thế, sao ông không bàn luận nơi triều đình, luận bàn với quân phụ, sửa trị nơi khuê môn, tiếp đãi nơi bạn bè? Sao lại còn học kinh truyền, đọc chư tử làm gì?”
Mâu Tử đáp: “Chưa thấu nguồn của nó mà đã hỏi dòng của nó vậy. Kế bày thớt cúng nơi cửa lũy, dựng cờ xí nơi triều đường, mặc áo lông cáo để đón tiết Nhuy tân, khoác vải thưa để chống tiết Hoàng chung, không phải là không đẹp, nhưng trái chỗ sai thời vậy. Cho nên giữ thuật của Khổng Tử vào cửa Thương 鞅, mang thuyết của Mạnh Kha đến sân Tô Trương, công không được phân tấc mà tội có trượng xích vậy. Lão Tử nói: ‘Bậc thượng sĩ nghe đạo, chăm chỉ hành trì; bậc trung sĩ nghe đạo, như còn như mất; bậc hạ sĩ nghe đạo, cười lớn một tiếng’. Tôi sợ tiếng cười lớn ấy nên không bàn luận vậy. Khát không nhất thiết phải đợi sông dài, mà uống nước giếng suối, có gì là không no đủ? Vì vậy tôi mới trị lại kinh truyền vậy.”
Hỏi: "Đất Hán bắt đầu nghe đạo Phật từ đâu mà ra?"
Mâu Tử đáp: "Xưa Hiếu Minh Hoàng đế mộng thấy thần nhân, thân có ánh sáng mặt trời, bay trước điện. Vua hớn hở vui mừng. Hôm sau hỏi khắp quần thần: Đây là vị thần nào? Có người uyên bác là Phó Nghị thưa: 'Thần nghe ở Thiên Trúc có người đắc đạo hiệu là Phật, bay đi trên hư không, thân có ánh sáng mặt trời, hẳn là vị thần ấy vậy'. Thế là vua tỉnh ngộ, sai Trung lang Thái Âm, Vũ lâm lang trung Tần Cảnh, bác sĩ đệ tử Vương Tuân cùng mười tám người đến nước Đại Nguyệt Chi, chép kinh Phật bốn mươi hai chương, cất ở gian thứ mười bốn trong thạch thất Lan Đài. Bấy giờ ở ngoài cửa Ung môn phía tây thành Lạc Dương xây chùa Phật, trên vách vẽ nghìn xe muôn ngựa nhiễu tháp ba vòng. Lại ở đài Thanh Lương trong Nam Cung và trên cửa thành Khai Dương làm tượng Phật. Minh Đế khi còn sống tự xây sẵn thọ lăng, gọi là Hiển Tiết, cũng ở trên đó làm hình vẽ Phật. Bấy giờ nước giàu dân an, di địch phương xa mến nghĩa. Người học từ đó mà thêm đông."
Hỏi: “Lão Tử nói: ‘Người biết không nói, người nói không biết’. Lại nói: ‘Khéo biện như nói ngọng, khéo léo như vụng về’. Quân tử hổ thẹn vì lời nói quá hành vi, giả sử Sa-môn có chí đạo, sao không ngồi đó mà hành trì? Sao lại còn bàn luận thị phi phân định cong thẳng? Tôi cho rằng, đây là kẻ tặc hại đức hạnh.”
Mâu Tử đáp: “Mùa xuân tới gặp năm đói lớn, mùa thu này không ăn; tiết Hoàng chung đáng lạnh, tiết Nhuy tân lại mặc áo lông dày. Đề phòng tuy sớm nhưng không tránh khỏi ngu xuẩn. Lời Lão Tử nói là chỉ người đắc đạo vậy. Người chưa đắc đạo thì biết gì mà nói! Đại đạo một lời mà thiên hạ vui mừng, há chẳng phải đại biện sao? Lão Tử há chẳng nói: ‘Công toại thân thoái, đạo trời vậy’ đó sao. Thân đã thoái rồi, còn nói gì nữa! Nay Sa-môn chưa kịp đắc đạo, sao được không nói? Lão Tử cũng vẫn nói đó thôi. Nếu như không nói, năm ngàn chữ chép việc gì? Nếu biết mà không nói thì được; đã không thể biết lại không thể nói, ấy là người ngu vậy. Cho nên, nói được không hành được là thầy của nước; hành được không nói được là đồ dùng của nước; hành được nói được là báu vật của nước. Ba hạng mỗi hạng có chỗ dùng, sao lại là tặc hại đức hạnh? Chỉ có kẻ không nói được lại không hành được, mới gọi là tặc vậy.”
Hỏi: “Như lời ông nói, thì chỉ nên học biện đạt, tu ngôn luận; há lại còn sửa tình tính, xỏ giày đi theo đạo đức sao?”
Mâu Tử đáp: “Sao khó hiểu đến thế vậy! Lời nói đàm luận, mỗi lúc một khác. Cừ Viện nói: ‘Nước có đạo thì ra giúp thẳng, nước không đạo thì cuốn cuốn mà giấu đi’. Ninh Vũ Tử nước có đạo thì khôn, nước không đạo thì ngu. Khổng Tử nói: ‘Có thể nói cùng mà không nói cùng, mất người; không thể nói cùng mà nói cùng, mất lời’. Cho nên khôn ngu tự có thời, đàm luận mỗi đường có ý, cớ sao khi đáng ngôn luận lại không hành trì?”
Hỏi: “Sao nói đạo Phật chí tôn, chí khoái, vô vi, điềm đạm? Người đời và học sĩ nhiều kẻ báng bổ chê bai rằng: Lời thuyết của nó trống rỗng khó dùng, hư vô khó tin, là sao?”
Mâu Tử đáp: “Vị ngon nhất không hợp với miệng đám đông, tiếng lớn không vừa với tai đám đông. Trỗi nhạc Hàm trì, bày nhạc Đại chương; phát nhạc Tiêu thiều, ca bài Cửu thành; không ai họa theo cả. Gảy khúc đàn Trương, Trịnh, Vệ, là âm thanh thời tục, tất không hẹn mà vỗ tay rầm rập. Cho nên Tống Ngọc nói: ‘Khách hát ở đất Dĩnh, làm khúc Hạ lý, người họa theo có nghìn người. Dẫn điệu Thương kích điệu Giác, đám đông không ai ứng theo’. Đây đều là kẻ vui tiếng tà, không hiểu đại độ vậy. Hàn Phi lấy cái thấy qua ống tre mà trách Nghiêu Thuấn; Tiếp Dư lấy cái phân biệt sợi lông mảy mà mỉa mai Trọng Ni; đều là kẻ mê cái nhỏ mà bỏ qua cái lớn vậy. Kẻ nghe điệu Thanh thương mà bảo là điệu Giác, không phải lỗi của người gảy đàn, mà tại người nghe không thông vậy. Thấy ngọc Hòa bích mà gọi là hòn đá, không phải ngọc hèn, mà tại người nhìn không sáng vậy. Rắn thần có thể đứt rồi lại nối, nhưng không thể khiến người ta không chặt đứt nó; rùa thiêng báo mộng cho Tống Nguyên Công, nhưng không lánh khỏi lưới của Dự Thư. Đại đạo vô vi, không phải cõi tục nhìn thấy được. Không vì người khen mà quý, không vì người chê mà hèn, dùng hay không dùng là tự trời vậy! Hành hay không hành là tại thời vậy! Tin hay không tin là cái mệnh vậy!”
Hỏi: “Ông dùng kinh truyền để luận giải lời Phật, lời lẽ phong phú mà nghĩa lý hiển hiện, văn phong sắc sảo mà lý luận đẹp đẽ. Chẳng hay đó có phải là không từ lòng thành, mà chỉ là tài biện bác của ông sao?”
Mâu Tử đáp: “Không phải cái biện của tôi, mà vì thấy rộng nên không lầm lẫn vậy.”
Hỏi: “Thấy rộng có phương thuật gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Nhờ vào kinh Phật vậy. Khi tôi chưa hiểu kinh Phật, lòng còn mê muội hơn ông. Tuy tụng Ngũ Kinh nhưng chỉ coi đó là hoa mỹ, chưa thành quả thực. Từ khi tôi xem lời thuyết của kinh Phật, duyệt qua điều cốt yếu của 《Lão Tử》, giữ tính khí điềm đạm, xem hành vi vô vi, nhìn lại việc đời như đứng bên giếng trời mà nhìn xuống khe núi, lên núi Tung núi Thái mà nhìn xuống gò đống vậy. Ngũ Kinh là năm vị, Phật đạo là năm ngũ cốc vậy. Tôi từ khi nghe đạo đến nay, như gạt mây thấy mặt trời, cầm đuốc lớn vào phòng tối vậy.”
Hỏi: “Ông nói kinh như sông biển, văn như gấm vóc, sao không dùng kinh Phật để đáp lời tôi hỏi, mà lại dẫn 《Kinh Thi》, 《Kinh Thư》, gộp cái khác làm cái giống nhau?”
Mâu Tử đáp: “Người khát không nhất thiết phải đợi sông biển mới uống, người đói không nhất thiết phải đợi kho vựa mới no. Đạo mở cho người trí, biện thông cho người đạt, sách truyền cho người hiểu, việc sáng cho người thấy. Tôi vì biết ông hiểu ý đó nên dẫn việc đó. Nếu nói lời kinh Phật, bàn điều cốt yếu của vô vi, thì ví như đối với người mù mà nói năm màu, vì người điếc mà gảy năm âm vậy. Sư Khoáng dù khéo không thể gảy cây đàn không dây, lông cáo dù ấm không thể làm nóng người không còn khí. Công Minh Nghi vì trâu gảy khúc Thanh giác, trâu vẫn cúi đầu ăn cỏ như cũ, không phải trâu không nghe thấy, mà vì không hợp tai nó vậy. Chuyển sang làm tiếng muỗi mòng, tiếng nghé con độc nhất, trâu liền vẫy đuôi vểnh tai, đi thong thả mà nghe. Thế nên tôi dùng Kinh Thi, Kinh Thư để lý giải với ông vậy.”
Hỏi: “Tôi xưa ở kinh sư, vào Đông Quán chơi Thái Học, xem điều các bậc tuấn sĩ quy định, nghe điều chốn nho lâm luận bàn. Chưa từng nghe việc tu Phật đạo là quý, tự hủy hoại dung mạo là cao thượng. Ông cớ sao lại say mê thế? Phải chăng đi lầm đường thì đổi lối, học thuật cùng thì quay về cội cũ, há không thể nghĩ lại sao?”
Mâu Tử đáp: “Kẻ giỏi biến hóa không thể cho xem sự dối trá, người thông suốt đạo không thể làm kinh hãi bằng sự quái dị, kẻ xét kỹ lời không thể làm mê hoặc bằng ngôn từ, người đạt thấu nghĩa không thể làm lay động bằng lợi lộc vậy. 《Lão Tử》 nói: ‘Danh là cái hại của thân, lợi là cái uế của hạnh’. Lại nói: ‘Bày dối trá lập quyền biến, hư vô tự làm quý’. Tu sửa lễ thuật chốn khuê môn, giao tế theo thời tục; tìm đến chỗ xu hướng, nắm lấy thời cơ, cốt để hợp với đương thế; đó là việc làm của kẻ hạ sĩ, là điều bậc trung sĩ vứt bỏ vậy. Huống chi đại đạo thênh thang, là việc hành trì của bậc thượng thánh sao? Sâu thẳm như trời, thăm thẳm như biển, không hợp với kẻ ghé mắt nhìn tường, hạng người tầm thường, vốn là lẽ đương nhiên vậy. Họ nhìn thấy cửa, tôi thấy nhà; họ hái hoa của nó, tôi lấy quả của nó; họ cầu cái đầy đủ, tôi giữ cái duy nhất. Ông hãy mau đổi đường, còn tôi xin bước tiếp. Nguồn gốc của họa phúc, chưa biết thế nào đâu!”
Hỏi: “Ông dùng lời lẽ kinh truyền, thuyết khoa trương hoa lệ để khen ngợi hạnh Phật, ca tụng đức Phật. Cao thì vượt tầng mây trong, rộng thì hơn bờ cõi đất, chẳng hay có vượt quá cái gốc, quá cái thực của nó sao? Còn tôi chê bai trách cứ, lại khá trúng vào căn bệnh của nó vậy.”
Mâu Tử đáp: “Ôi! Sự ca tụng của tôi như đem hạt bụi dính vào núi Tung núi Thái, gom giọt sương mai đổ vào sông biển. Sự báng bổ của ông như cầm bầu múc nước muốn làm giảm sông biển; dắt cày cuốc muốn làm mòn núi Côn Lôn; nghiêng một bàn tay muốn che ánh mặt trời; hốt cục đất muốn lấp dòng sông lớn. Sự ca tụng của tôi không thể làm Phật cao lên, sự hủy báng của ông không thể làm Phật thấp xuống vậy.”
Hỏi: “Vương Kiều, Xích Tùng vào sổ thần tiên, sách thần có một trăm bảy mươi quyển. Chuyện trường sinh ấy với kinh Phật há giống nhau sao?”
Mâu Tử đáp: “So sánh loại đó như Ngũ bá so với Ngũ đế, Dương Hóa so với Trọng Ni; so sánh hình thể ấy như gò đống so với núi Hoa núi Hằng, dòng nước nhỏ so với sông biển; so sánh văn phong ấy như da hổ trơn so với da cừu, hoa văn rực rỡ so với gấm vóc vậy. Đạo có chín mươi sáu thứ, đến như tôn đại không gì hơn Phật đạo. Sách thần tiên nghe thì tràn ngập bên tai, nhưng tìm hiệu quả của nó thì như nắm gió bắt bóng. Thế nên đại đạo không chọn, vô vi không quý, sao có thể giống nhau được!”
Hỏi: “Người tu đạo có kẻ tịch cốc không ăn mà lại uống rượu ăn thịt, cũng nói là phương thuật của Lão thị. Thế nhưng Phật đạo lấy rượu thịt làm giới luật hàng đầu, mà ngược lại ăn ngũ cốc. Sao lại trái ngược nhau như thế?”
Mâu Tử đáp: “Các đạo vụn vặt có tất cả chín mươi sáu thứ. Điềm đạm vô vi không gì hơn Phật. Tôi xem hai thiên thượng hạ của Lão thị, nghe có giới cấm năm vị, chưa thấy có lời nào tuyệt ngũ cốc. Thánh nhân chế định văn tự trong Thất điển không có thuật dừng ăn lương thực. Lão Tử viết năm ngàn chữ không có việc tịch cốc. Thánh nhân nói: Ăn ngũ cốc thì trí, ăn cỏ thì si, ăn thịt thì bạo悍, ăn khí thì thọ. Người đời không đạt việc đó, thấy sáu loài chim muông đóng khí không thở, mùa thu mùa đông không ăn, liền muốn bắt chước làm theo. Không biết vật loại mỗi thứ tự có tính riêng, như đá nam châm hút sắt, không thể hút nổi sợi lông mảy vậy.”
Hỏi: “Ngũ cốc có thể tuyệt được không?”
Mâu Tử đáp: “Khi tôi chưa hiểu đại đạo cũng từng học qua. Phép tịch cốc có hàng ngàn hàng trăm thuật, hành trì không hiệu quả, làm mà không có chứng nghiệm, nên bỏ đi mà thôi. Xem các thầy tôi theo học, gồm ba người, kẻ tự xưng bảy trăm, năm trăm, ba trăm tuổi. Nhưng tôi theo học chưa đầy ba năm, họ đều lần lượt qua đời. Sở dĩ như thế là vì tuyệt ngũ cốc không ăn mà lại ăn trăm quả, gặp thịt thì bày đầy mâm, uống rượu thì nghiêng vò; tinh loạn thần hôn, cốc khí không đầy; tai mắt mê muội, dâm tà không cấm. Tôi hỏi cớ sao? Họ đáp: ‘Lão Tử nói: bớt rồi lại bớt để đến mức vô vi, chỉ nên ngày ngày bớt đi mà thôi’. Nhưng tôi xem ra, họ chỉ ngày càng tăng lên chứ không bớt đi, thế nên đều chưa đến tuổi biết mệnh đã chết rồi. Vả lại Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều không sống được trăm năm, mà kẻ ngu hoặc đời sau lại muốn uống thuốc tịch cốc, cầu tuổi thọ khôn cùng, thương thay!”
Hỏi: “Người tu đạo nói có thể đẩy lùi tật bệnh không đau, không dùng châm thuốc mà khỏi. Có chuyện đó không? Sao nhà Phật có bệnh lại dùng châm thuốc?”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Vật tráng thì già, gọi là không hợp đạo’. Không hợp đạo thì sớm hết, chỉ có người đắc đạo là không sinh. Không sinh thì không tráng, không tráng thì không già, không già thì không bệnh, không bệnh thì không mục nát. Thế nên Lão Tử lấy thân làm nỗi lo lớn vậy. Vũ Vương nằm bệnh, Chu Công cầu mệnh; Trọng Ni có bệnh, Tử Lộ xin cầu đảo. Tôi thấy thánh nhân đều có bệnh cả, chưa thấy ai không bệnh vậy. Thần Nông nếm cỏ suýt chết mấy mươi lần; Hoàng Đế cúi đầu nhận châm nơi Kỳ Bá. Ba vị thánh nhân này há lại không bằng các đạo sĩ ngày nay sao? Xét kỹ lời này cũng đủ để bỏ thuyết đó rồi.”
Hỏi: “Đạo đều vô vi là một. Sao ông lại phân biệt sắp đặt, nói là có khác biệt? Lại khiến người học đâm ra hồ nghi, tôi cho là tốn công mà không có ích.”
Mâu Tử đáp: “Đều gọi là cỏ nhưng tính của muôn cỏ không thể nói hết; đều gọi là kim loại nhưng tính của các kim loại không thể nói hết. Cùng loài khác tính, vạn vật đều như vậy, há chỉ có đạo đâu? Xưa Dương, Mặc chắn đường của quần nho, xe không thể tiến trước, người không thể bước đi. Mạnh Kha bác bỏ họ, người ta mới biết chỗ theo. Sư Khoáng gảy đàn đợi tri âm ở đời sau; thánh nhân lập pháp mong quân tử sẽ nhìn thấy vậy. Ngọc đá cùng hòm, Y Đốn vì thế đổi sắc mặt; màu đỏ màu tía lẫn lộn, Trọng Ni vì thế thở dài. Mặt trời mặt trăng không phải không sáng, tại muôn cái tối che khuất ánh sáng; Phật đạo không phải không chính, tại muôn cái tư che lấp cái công. Thế nên tôi phân chia mà khác biệt đi. Cái trí của Tang Văn, cái thẳng của Vi Sinh mà Trọng Ni không khen ngợi, đều là lời nói để sửa chính cho đời, sao lại tốn công mà không có ích?”
Hỏi: “Ông chê thần tiên, dập quái dị, không tin có đạo bất tử là đúng rồi. Cớ sao lại chỉ tin Phật đạo sẽ được độ thế? Phật ở cõi khác, chân ông chưa từng đạp đến đất đó, mắt không thấy nơi đó, chỉ xem văn tự của Ngài mà tin hành vi của Ngài. Kẻ xem hoa không thể biết quả, người nhìn bóng không thể xét hình, hẳn là không chân thực sao?”
Mâu Tử đáp: “Khổng Tử nói: ‘Xem việc họ làm, xét do đâu họ làm, rõ chỗ họ an tâm, người ta giấu vào đâu được’. Xưa Lã Vọng, Chu Công hỏi về việc thi chính, đều biết kết cục về sau của nước kia. Ngày Nhan Uyên xem xe bốn ngựa chạy, thấy cách đánh xe của Đông Dã Tất liền biết xe sẽ đổ. Tử Cống xem cuộc hội thề Chu Lỗ, biết rõ lý do nước họ sẽ mất. Trọng Ni nghe tiếng đàn của Sư Khoáng mà nhận ra khúc dạo của Văn Vương. Quý Tử nghe nhạc mà xem được phong tục các nước. Cần gì phải chân đạp mắt thấy chứ?”
Hỏi: "Tôi từng đi chơi nước Vu Điền, nhiều lần gặp các Sa-môn đạo nhân, lấy việc của tôi để chất vấn họ, họ đều không đối đáp được mà cáo lui. Nhiều người đổi chí dời ý, sao một mình ông khó cải cách vậy?"
Mâu Tử đáp: "Lông nhẹ ở trên cao gặp gió liền bay; đá nhỏ dưới khe gặp dòng liền chuyển. Chỉ có núi Thái Sơn không vì gió lốc mà lay động, đá tảng không vì dòng nước xiết mà dời đi. Cây mai cây lý gặp sương thì rụng lá, chỉ có tùng bách là khó héo úa vậy. Những đạo nhân ông gặp hẳn là học chưa thấu, thấy chưa rộng, nên mới chịu khuất mà lui thôi. Với cái ngu muội của tôi còn không thể bẻ bẻ được, huống chi là người sáng đạo? Ông không tự sửa mình mà muốn sửa người; tôi chưa từng nghe Trọng Ni đuổi theo Đạo Chích, Thang Vũ bắt chước Kiệt Trụ bao giờ."
Hỏi: “Phương thuật thần tiên mùa thu mùa đông không ăn, hoặc vào phòng mười ngày không ra, có thể gọi là điềm đạm đến cùng cực. Tôi cho là đáng tôn đáng quý, hẳn là Phật đạo không bằng chăng?”
Mâu Tử đáp: “Chỉ Nam làm Bắc tự bảo không lầm; lấy Tây làm Đông tự bảo không mê; lấy chim cú chim diều mà cười chim phượng hoàng; bắt con sâu con giun mà trêu rùa thần rồng thiêng. Con ve không ăn, quân tử không quý; ếch rắn trốn hang, thánh nhân không trọng. Khổng Tử nói: ‘Tính của trời đất con người là quý’. Chưa từng nghe tôn sùng ve rắn vậy. Nhưng người đời vốn có kẻ ăn xương bồ mà bỏ quế gừng, đổ cam lộ mà húp nước giấm vậy. Sợi lông mảy tuy nhỏ nhìn vào có thể xét rõ; núi Thái Sơn tuy lớn quay lưng lại thì không thấy. Chí có đọng lại hay không, ý có sắc bén hay không; nước Lỗ tôn họ Quý hạ Trọng Ni, nước Ngô cho Tể Phỉ là hiền cho Tử Tư là bất tài. Sự nghi ngờ của ông chẳng phải cũng hợp lý sao?”
Hỏi: “Đạo gia nói Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng và bảy mươi hai đệ tử đều không chết mà thành tiên. Phật gia nói người đều phải chết, không ai tránh khỏi. Là sao?”
Mâu Tử đáp: “Đó là lời yêu vọng, không phải lời thánh nhân nói. Lão Tử nói: ‘Trời đất còn không được lâu dài, huống chi là con người?’. Khổng Tử nói: ‘Bậc hiền giả lánh đời, nhân hiếu thường còn’. Tôi duyệt Lục nghệ, xem truyền ký, vua Nghiêu có điềm băng, vua Thuấn có núi Thương Ngô, vua Vũ có lăng Hội Kê, Bá Di, Thúc Tề có mộ Thủ Dương, Văn Vương chưa kịp diệt Trộm mà mất, Vũ Vương không đợi được Thành Vương lớn mà băng, Chu Công có thiên ‘Cải táng’, Trọng Ni có giấc mộng ‘Hai cột’, Bá Ngư chết trước cha, Tử Lộ có lời ‘Bị băm nhỏ’, Bá Ngưu có lời ‘Mệnh vậy thay’, Tăng Tham có lời ‘Mở chân ta xem’, Nhan Uyên có quở trách bất hạnh ngắn mệnh, có ví dụ lúa trổ mà không bông. Đều chép rõ trong kinh điển, là lời chí lý của thánh nhân. Tôi lấy kinh truyền làm chứng, lấy người đời làm nghiệm. Mà bảo là không chết, há chẳng lầm lạc sao?”
Hỏi: “Lời giải của ông thực sự đầy đủ hết cả, vốn không phải điều bọn tôi được nghe. Nhưng lời luận giải của ông sao chỉ dừng ở đúng ba mươi bảy điều, cũng có phép tắc gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Cỏ bồng quay lông lốc mà bánh xe thành, gỗ trũng trôi nổi mà thuyền chèo lập. Nhện chăng tơ mà lưới bẫy bày, dấu chân chim hiện mà chữ viết làm ra. Cho nên có phép bắt chước thì thành dễ, không phép bắt chước thì thành khó. Tôi xem điều cốt yếu của kinh Phật có ba mươi bảy phẩm, Đạo kinh của Lão thị cũng có ba mươi bảy thiên, nên bắt chước theo vậy.”
Thế rồi người mê muội nghe xong, bùi ngùi đổi sắc mặt, chắp tay rời chiếu, lui bước cúi đầu thưa: “Bỉ nhân mù lòa sinh nơi tối tăm khuất lấp, dám thốt lời ngu muội, không nghĩ đến họa phúc. Nay được nghe lời dạy, như tuyết tan sạch, xin được đổi lòng, rửa tâm tự răn, nguyện nhận năm giới, làm Ưu-bà-tắc.”
{{Kinh điển Phật giáo}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
kf3ue78uzy7c3os4d8cb5tgrytl3m6e
205369
205367
2026-05-15T08:00:53Z
Mrfly911
2215
205369
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Lý Hoặc Luận
| tác giả= Mâu Tử
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 理惑論
| năm= [[w:Nhà Hán|Hán]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= '''Lý Hoặc Luận''' (chữ Hán: 理惑論) có nghĩa là '''bộ luận lý giải những điều mê lầm của một số người không hiểu đạo Phật''', do Mâu Tử (người Thương Ngô, nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc) viết bằng chữ Hán vào cuối thế kỷ 2 nhưng năm nào thì chưa rõ. {{Wikipediaref}}
}}
<center><big>Lý Hoặc Luận</big></center>
<div style="background-color:pink;">
Mâu Tử đã tu sửa kinh truyện và chư tử, sách không kể lớn nhỏ, chẳng gì không thích. Tuy không vui việc binh pháp, nhưng vẫn đọc qua. Dẫu đọc sách thần tiên bất tử, song nén lòng không tin, cho là hư huyễn. Bấy giờ sau khi Linh Đế băng hà, thiên hạ rối loạn, chỉ có Giao Châu tương đối yên ổn. Dị nhân phương Bắc đều đến đây, đa số luyện thuật thần tiên tịch cốc trường sinh, người thời đó theo học rất đông. Mâu Tử thường dùng Ngũ Kinh để chất vấn, các thuật sĩ Đạo gia không ai dám đối đáp. Có thể ví như Mạnh Kha ngăn chặn Dương Chu, Mặc Địch.
Trước đó, Mâu Tử cùng mẹ lánh đời tại Giao Chỉ, năm 26 tuổi về Thương Ngô lấy vợ. Thái thú nghe danh ông giữ đạo hiếu học, bèn mời giữ chức lại. Lúc ấy tuổi đang sung mãn, chí chuyên vào học thuật, lại thấy đời loạn lạc nên không có ý làm quan, rốt cuộc không nhận lời. Bấy giờ các châu quận nghi kị lẫn nhau, giao thông bế tắc. Thái thú vì nể ông bác học đa văn, sai đi sứ Kinh Châu. Mâu Tử cho rằng tước lộc dễ nhường nhưng sứ mệnh khó từ, bèn sửa soạn lên đường. Gặp lúc Châu mục ban văn ưu đãi hiền sĩ để chiêu mộ, ông lại cáo bệnh không dậy. Em trai Châu mục làm Thái thú Dự Chương, bị Trung lang tướng Sạ Dung giết hại. Khi ấy Châu mục phái Kỵ đô úy Lưu Ngạn đem binh ứng cứu, sợ ngoại giới nghi kị, binh không tiến được.
Châu mục bèn thỉnh Mâu Tử rằng: "Em ta bị nghịch tặc hãm hại, nỗi đau cốt nhục phẫn uất tận tâm can. Nay phái Lưu đô úy đi, sợ ngoại giới nghi nan, người đi không thông. Ông văn võ kiêm toàn, có tài đối đáp. Nay muốn khuất thân ông sang Linh Lăng, Quế Dương mượn đường để thông suốt, ông thấy thế nào?". Mâu Tử đáp: "Kẻ hèn này như ngựa ăn cỏ trong chuồng, được đối đãi đã lâu; liệt sĩ quên mình, hẹn sẽ dốc sức". Lúc sắp lên đường thì mẹ mất, nên không đi được.
Lâu sau ông suy ngẫm: Vì có tài biện bác nên hay bị sai phái, lúc thế gian nhiễu nhương, không phải lúc để hiển lộ. Bèn than rằng: "Lão Tử tuyệt thánh khí trí, tu thân bảo chân, vạn vật không làm loạn được chí, thiên hạ không đổi được niềm vui. Thiên tử không thể bắt làm tôi, chư hầu không thể kết làm bạn, cho nên mới đáng quý". Thế là ông dốc chí vào Phật đạo, nghiên cứu thêm năm ngàn chữ của Lão Tử. Lấy huyền diệu làm rượu ngọt, lấy Ngũ Kinh làm đàn sáo. Người đời nhiều kẻ chê bai, cho rằng ông phản Ngũ Kinh mà theo dị đạo. Muốn tranh luận thì trái đạo, muốn im lặng thì không đành, bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền để chứng giải. Tên gọi là '''Mâu Tử Lý Hoặc'''.
</div>
----
Có người hỏi: "Phật sinh ra từ đâu? Có tổ tiên và quốc ấp không? Hành trạng thế nào? Hình dáng ra sao?".
Mâu Tử đáp: "Câu hỏi phong phú thay! Xin lấy sự kém cỏi này mà nói lược điểm chính. Nghe rằng sự hóa hiện của Phật tích lũy đạo đức qua nghìn ức năm không thể ghi chép hết. Lúc sắp đắc quả Phật, Ngài sinh tại Thiên Trúc, mượn thân nơi phu nhân vua Bạch Tịnh. Bà nằm ngủ trưa mơ thấy cưỡi voi trắng sáu ngà, lòng vui mừng rồi cảm ứng thụ thai. Ngày mồng tám tháng tư, Ngài từ sườn phải mẹ sinh ra. Rơi xuống đất đi bảy bước, giơ tay phải nói: 'Trên trời dưới đất, không ai hơn ta'. Lúc đó trời đất chuyển động lớn, trong cung sáng rực. Ngày ấy tỳ nữ nhà vua cũng sinh một con trai, ngựa trắng trong chuồng sinh ngựa con. Người hầu tên Xa Nặc, ngựa tên Kiền Trắc, vua thường sai theo hầu Thái tử.
Thái tử có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Thân cao một trượng sáu, mình màu kim sắc, đỉnh đầu có nhục kế, xương má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có hình bánh xe ngàn căm, hào quang nơi cổ chiếu vạn dặm. Đó là nói lược về tướng mạo. Năm 17 tuổi, vua cưới vợ cho Ngài là con gái nước láng giềng. Thái tử ngồi thì dời ghế, ngủ thì khác giường, thiên đạo sáng tỏ, âm dương thông hòa. Sau đó vợ mang thai một con trai, sáu năm mới sinh.
Phụ vương trân quý Thái tử, xây dựng cung đài, bày biện kỹ nữ bảo vật trước mặt. Thái tử không ham vui thế tục, ý để nơi đạo đức. Năm 19 tuổi, đêm mồng tám tháng tư, Ngài gọi Xa Nặc thắng yên ngựa Kiền Trắc mà cưỡi, quỷ thần nâng chân ngựa bay ra khỏi cung. Sáng hôm sau, không ai biết Ngài ở đâu. Nhà vua và dân chúng đều than khóc, đuổi theo đến cánh đồng. Vua nói: 'Trước kia chưa có con, ta đã cầu khẩn thần kỳ; nay đã có con quý như ngọc khuê, phải nối nghiệp vị, sao lại ra đi?'. Thái tử đáp: 'Vạn vật vô thường, có tồn tại ắt có diệt vong; nay con muốn học đạo để cứu độ mười phương'.
Vua biết chí Ngài kiên định nên quay về. Thái tử đi thẳng, tu hành sáu năm rồi thành Phật. Sinh vào tháng giữa mùa hạ vì thời tiết không lạnh không nóng, cỏ hoa tươi tốt, là lúc cởi áo lông cáo mà mặc áo vải thưa. Sinh tại Thiên Trúc vì đó là trung tâm trời đất, nơi điều hòa nhất. Kinh điển Ngài để lại gồm 12 bộ, hợp thành 8 ức 4 ngàn vạn quyển. Quyển lớn dưới vạn chữ, quyển nhỏ trên ngàn chữ. Phật dạy dỗ thiên hạ, cứu độ nhân dân, rồi vào ngày 15 tháng hai mà nhập Niết-bàn. Kinh giới của Ngài vẫn còn, ai có thể tuân hành cũng sẽ đắc vô vi, phúc lưu hậu thế. Người giữ Ngũ giới thì mỗi tháng có 6 ngày trai giới, ngày đó chuyên tâm nhất ý, hối lỗi tự mới. Sa-môn giữ 250 giới, ngày ngày trai giới, giới đó hàng Ưu-bà-tắc không được nghe. Uy nghi đi đứng không khác điển lễ cổ xưa, suốt ngày đêm giảng đạo tụng kinh, không dự việc đời. Lão Tử nói: 'Cái dung mạo của đức lớn, chỉ thuận theo đạo'. Chính là ý này vậy".
Hỏi: “Tại sao gọi chính xác là Phật? Phật nghĩa là gì?”
Mâu Tử đáp: “Phật là thụy hiệu, giống như gọi Tam Hoàng là Thần, Ngũ Đế là Thánh vậy. Phật là nguyên tổ của đạo đức, là tông tự của thần minh. Chữ Phật nghĩa là Giác. Ngài biến hóa thấp thoáng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, có thể thu nhỏ phóng to, có thể hóa tròn hóa vuông, có thể hóa già hóa trẻ, có thể ẩn mình hiện rõ; giẫm vào lửa không cháy, đi trên lưỡi dao không thương, ở nơi ô uế không bị nhục, gặp tai họa không bị ương; muốn đi liền bay, ngồi thì tỏa sáng, cho nên hiệu là Phật.”
Hỏi: “Thế nào gọi là Đạo? Đạo thuộc loại nào?”
Mâu Tử đáp: “Chữ Đạo nghĩa là dẫn dắt. Dẫn dắt con người đạt đến vô vi. Kéo đi thì không thấy phía trước, dắt đi thì không thấy phía sau; nâng lên thì không thấy phía trên, ấn xuống thì không thấy phía dưới; nhìn thì không thấy hình, nghe thì không thấy tiếng; bao la ngoài bốn cõi là lớn, len lỏi trong mảy may là nhỏ. Cho nên gọi là Đạo.”
Hỏi: “Khổng Tử dùng Ngũ Kinh làm đạo giáo, có thể chắp tay mà tụng, dốc lòng mà hành. Nay ông nói Đạo hư vô thấp thoáng, không thấy ý tứ, không chỉ rõ sự việc, sao lại khác biệt với lời Thánh nhân như vậy?”
Mâu Tử đáp: “Không nên xem trọng những gì mình đã quen, xem nhẹ những gì mình hiếm thấy. Hoặc bị lầm lẫn bởi vẻ bề ngoài mà đánh mất cái thực chất bên trong. Lập sự không rời đạo đức, giống như điều chỉnh dây đàn không sai cung thương. Thiên đạo phỏng theo bốn mùa, nhân đạo phỏng theo ngũ thường. Lão Tử nói: ‘Có vật hỗn thành, sinh trước cả trời đất, có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên nó, gượng đặt chữ là Đạo’. Đạo là một vật, ở nhà có thể phụng thờ cha mẹ, trị quốc có thể quản lý người dân, độc lập có thể tu sửa bản thân; áp dụng hành trì thì tràn đầy khắp trời đất, bỏ đi không dùng thì tiêu biến nhưng không rời xa. Ông không hiểu điều đó, chứ có gì là khác biệt đâu?”
Hỏi: “Phát ngôn chân thực nhất thì không hoa mỹ, lời lẽ chí lý nhất thì không trang sức. Lời tóm lược mà đạt ý là đẹp, sự việc ít ỏi mà thông suốt là sáng suốt. Cho nên châu ngọc ít thì quý, ngói sỏi nhiều thì rẻ. Thánh nhân chế định cái gốc của Thất Kinh không quá ba vạn lời, mà muôn việc đều đầy đủ ở trong. Nay kinh Phật quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, không phải sức một người có thể kham nổi. Tôi cho là rườm rà mà không trọng yếu.”
Mâu Tử đáp: “Sông biển sở dĩ khác với nước vũng rãnh là vì nó sâu rộng; năm núi lớn sở sở dĩ khác với gò đồi là vì nó cao lớn. Nếu núi cao không vượt hơn gò đống, cừu què cũng leo lên đỉnh; vực sâu không tách rời dòng nước nhỏ, trẻ con cũng tắm ở trong đầm. Ngựa kỳ ký không ở trong vườn thú, cá nuốt thuyền không bơi ở khe nước sâu vài thước. Mổ con trai ba tấc mà đòi tìm ngọc minh nguyệt, tìm trong tổ cây gai góc mà đòi kiếm chim non phượng hoàng, tất khó mà đạt được. Vì sao vậy? Cái nhỏ không thể chứa được cái lớn. Kinh Phật phía trước nói chuyện trăm triệu năm, phía sau nói điều cốt yếu của muôn đời. Thuở thái tố chưa dấy, thái thủy chưa sinh, càn khôn mới mở, cái vi diệu của nó không thể nắm bắt, cái tinh tế của nó không thể đi vào, Phật đều bao quát bên ngoài cái rộng lớn ấy, mổ xẻ bên trong cái thâm diệu ấy, không gì không ghi chép. Cho nên kinh quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, càng nhiều càng đầy đủ, càng đông càng phong phú. Sao lại nói là không trọng yếu? Tuy không phải một người có thể kham nổi, nhưng ví như đến bên sông uống nước, uống no thì tự đủ, cần gì phải biết đến phần nước còn lại?”
Hỏi: “Kinh Phật nhiều như vậy, nay muốn lấy chỗ cốt lõi mà bỏ phần còn lại, chỉ nói thẳng cái chân thực mà bỏ đi cái hoa mỹ, được chăng?”
Mâu Tử đáp: “Không được. Mặt trời mặt trăng đều sáng, mỗi bên soi chiếu một nơi; hai mươi tám vì sao, mỗi sao chủ quản một việc; trăm phương thuốc cùng sinh, mỗi vị chữa lành một bệnh. Áo lông cáo để chống rét, áo vải thưa để ngồi mát; thuyền và xe đi đường khác nhau, đều đưa hành khách đến nơi. Khổng Tử không vì Ngũ Kinh đã đầy đủ mà không sáng tác thêm Xuân Thu, Hiếu Kinh, ấy là muốn mở rộng đạo thuật, thuận theo ý muốn của mỗi người. Kinh Phật tuy nhiều, nhưng quy tụ lại là một. Giống như Thất điển tuy khác nhau, nhưng chỗ coi trọng đạo đức, nhân nghĩa cũng là một. Kinh Hiếu sở dĩ nói nhiều điều, là tùy theo hành vi của mỗi người mà ban dạy. Như Tử Trương và Tử Du cùng hỏi về một chữ Hiếu, mà Trọng Ni đáp lại mỗi người một khác, ấy là để uốn nắn chỗ ngắn của họ. Có gì mà phải bỏ đi?”
Hỏi: “Phật đạo chí tôn chí đại, tại sao Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng không tu theo? Trong Thất Kinh không thấy lời lẽ nào về Phật. Ông đã say mê Kinh Thi, Kinh Thư, vui thích Kinh Lễ, Kinh Nhạc, cớ sao lại quay sang ưa chuộng Phật đạo, thích học thuật lạ? Há có thể vượt qua kinh truyền, làm đẹp thêm sự nghiệp của Thánh nhân sao? Tôi trộm nghĩ ông không nên theo.”
Mâu Tử đáp: “Sách không nhất thiết phải là lời của Khổng Khâu, thuốc không nhất thiết phải là phương của Biển Thước; hợp với nghĩa thì theo, chữa lành bệnh là tốt. Quân tử thu nhận rộng rãi các điều thiện để bổ trợ cho bản thân. Tử Cống nói: ‘Thầy ta có một bậc thầy cố định nào đâu?’. Vua Nghiêu học Doãn Thọ, vua Thuấn học Vụ Thành, Chu Công học Lã Vọng, Khổng Khâu học Lão Đam, những điều này cũng đều không thấy trong Thất Kinh. Bốn vị thầy ấy tuy là bậc thánh, nhưng so với Phật, thì như hươu trắng so với kỳ lân, chim én so với phượng hoàng vậy. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng còn đi học họ, huống chi Phật thân tướng tốt đẹp, biến hóa thần lực vô cùng, sao lại có thể bỏ mà không học? Sự nghĩa trong Ngũ Kinh có chỗ còn khuyết thiếu; việc Phật không được ghi chép lại, có gì đáng để quái lạ và nghi ngờ?”
Hỏi: “Nói rằng Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, sao lại khác người đến thế? Đó chắc là lời nói ngoa dụ, không phải chuyện có thực.”
Mâu Tử đáp: “Tục ngữ có câu: Thấy ít thì lạ nhiều, nhìn thấy lạc đà lại bảo là con ngựa bị sưng lưng. Vua Nghiêu lông mày tám màu, vua Thuấn mắt có hai con ngươi, Cao Dao mỏ chim, Văn Vương bốn đầu vú, Hạ Vũ tai có ba lỗ, Chu Công lưng còng, Phục Hy mũi rồng, Trọng Ni đầu lõm; Lão Tử trán nổi hình sừng mặt lộ vẻ huyền vi, mũi có hai sống, tay nắm mười chữ, chân đạp hai số năm. Đây chẳng phải là khác với người thường sao? Tướng tốt của Phật có gì đáng để nghi ngờ!”
Hỏi: “Hiếu Kinh nói: ‘Thân thể, tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám hủy thương’. Tăng Tử lúc sắp mất, bảo mở tay mở chân ta xem. Nay Sa-môn cạo đầu, sao lại trái với lời Thánh nhân, không hợp với đạo con hiếu như vậy? Ông thường thích luận bàn thị phi, phân định cong thẳng, mà ngược lại cho việc đó là tốt sao?”
Mâu Tử đáp: “Nói xấu thánh hiền là bất nhân, phân định không đúng là bất trí. Bất nhân bất trí thì lấy gì lập đức? Đức đã không lập, thì cũng như hạng ngu muội. Luận bàn đâu có dễ dàng! Xưa có người nước Tề đi thuyền qua sông, cha bị ngã xuống nước, con giật cánh tay, túm tóc cha, kéo lộn ngược để nước trong miệng chảy ra, nhờ đó mạng cha được cứu sống. Việc túm tóc, kéo ngược là bất hiếu không gì lớn bằng; nhưng vì để vẹn toàn thân mạng cho cha, nếu cứ chắp tay sửa mình theo lẽ thường của con hiếu thì mạng cha đã dứt dưới dòng nước rồi. Khổng Tử nói: ‘Có thể cùng đi trên đạo, nhưng chưa thể cùng tùy quyền biến’. Đó là việc tùy thời nghi mà áp dụng vậy.
Hơn nữa Hiếu Kinh nói: ‘Bậc tiên vương có đức lớn đạo trọng’, vậy mà Thái Bá cắt tóc vẽ mình, tự theo phong tục xứ Ngô Việt, trái với nghĩa của thân thể tóc da, thế nhưng Khổng Tử lại ngợi khen: ‘Như thế có thể gọi là đức lớn vậy’. Trọng Ni không vì việc ông cắt tóc mà chê trách. Từ đó mà nhìn, nếu có đại đức thì không câu nệ tiểu tiết. Sa-môn hiến của cải, bỏ vợ con, không nghe âm thanh không xem sắc đẹp, có thể gọi là bậc nhường nhịn đến cùng cực. Sao lại bảo trái lời Thánh nhân, không hợp với đạo hiếu? Dự Nhượng nuốt than, sơn mình, Nhiếp Chính rạch mặt tự hình, Bá Cơ lao vào lửa cao hạnh, Cắt Dung tự rạch mặt. Quân tử cho họ là dũng cảm vì đại nghĩa mà chết, chưa từng nghe ai mỉa mai họ tự hủy hoại thân mình. Sa-môn cạo bỏ râu tóc, đem so với bốn người kia, chẳng phải còn tiến xa hơn sao?”
Hỏi: “Trong các phúc không gì hơn có người nối dõi, trong các tội bất hiếu không gì lớn bằng vô hậu. Sa-môn từ bỏ vợ con, hiến bỏ tài sản, có người suốt đời không lấy vợ, sao lại trái với hành vi hưởng phúc và hành hiếu như vậy! Tự làm khổ mình mà chẳng có gì kỳ lạ, tự đẩy mình đến cùng cực mà chẳng có gì khác biệt.”
Mâu Tử đáp: “Kẻ dài bên trái ắt ngắn bên phải, lớn phía trước ắt hẹp phía sau. Mạnh Công Chước làm tổng quản họ Triệu, họ Ngụy thì dư sức, nhưng không thể làm đại phu nước Đằng, nước Tiết. Vợ con, tài vật là vật thừa của cõi đời; trong sạch bản thân, vô vi là cái diệu của đạo. Lão Tử nói: ‘Danh vọng với thân mình, cái nào thân hơn? Thân mình với của cải, cái nào quý hơn?’. Lại nói: ‘Xem di phong của ba đời, nhìn đạo thuật của Nho Mặc, tụng thi thư, tu lễ tiết, sùng nhân nghĩa, coi trọng sự thanh khiết, người trong làng truyền nghiệp, danh tiếng lẫy lừng. Đó là việc kẻ trung sĩ thi hành, người điềm đạm chẳng thèm đoái hoài. Cho nên phía trước có ngọc tùy châu, phía sau có hổ dữ, thấy vậy liền chạy mà không dám lấy, vì sao? Vì đặt tính mạng lên trước, lợi lộc theo sau’. Hứa Do làm tổ trên cây, Di Tề chịu đói núi Thủ Dương, vua Thuấn và Khổng Tử khen họ hiền rằng: ‘Ấy là hạng người cầu nhân được nhân vậy’. Chưa từng nghe ai mỉa mai họ không có người nối dõi, không có của cải. Sa-môn tu đạo đức để đổi lấy thú vui rong chơi ở đời; hướng về sự thục hiền để từ bỏ niềm vui vợ con. Điều đó không gọi là kỳ lạ thì cái gì là kỳ lạ? Điều đó không gọi là khác biệt thì cái gì là khác biệt?”
Hỏi: “Hoàng Đế buông vạt áo làm xiêm xướng, chế định phục sức; Cơ Tử bày ra Hồng Phạm, tướng mạo đứng đầu năm việc; Khổng Tử làm Hiếu Kinh, trang phục là khởi đầu của ba đức. Lại nói: sửa sang y quan, tôn nghiêm tầm nhìn. Nguyên Hiến tuy nghèo nhưng không rời mũ hoa; Tử Lộ gặp nạn không quên thắt dải mũ. Nay Sa-môn cạo tóc, khoác vải đỏ, gặp người không có lễ nghi quỳ dậy, không có dáng vẻ đi đứng khoan thai, sao lại trái với chế độ về tướng mạo trang phục, đi ngược với lối điểm trang của bậc sỹ phu.”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Bậc thượng đức không hiển lộ đức, cho nên có đức; bậc hạ đức không rời bỏ đức, cho nên không có đức’. Thời Tam Hoàng, ăn thịt mặc da, ở tổ trong hang để tôn sùng chất phác; há lại cần đến mũ chương phủ, áo lông cừu cong để trang sức sao? Thế nhưng người thời đó được khen là có đức, thuần hậu, thành thực và vô vi. Hành vi của Sa-môn có phần giống như vậy.”
Có người hỏi: “Như lời ông nói, thì những bậc như Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều bị vứt bỏ, không đáng để noi theo sao?”
Mâu Tử đáp: “Thấy rộng thì không lầm, nghe thông thì không hoặc. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng tu sửa việc đời; Phật và Lão Tử giữ chí vô vi. Trọng Ni bôn ba hơn bảy mươi nước, Hứa Do nghe nhường ngôi liền rửa tai bên vực sâu. Đạo của quân tử, hoặc xuất thế hoặc xử thế, hoặc im lặng hoặc nói năng, không để tràn trề cái tình, không buông thả cái tính. Cho nên cái quý của đạo là ở chỗ vận dụng phù hợp, có gì mà phải vứt bỏ đâu?”
Hỏi: “Phật đạo nói: Người chết rồi sẽ lại đầu thai sinh ra đời khác. Tôi không tin điều này là xác thực.”
Mâu Tử đáp: “Người sắp chết, người nhà trèo lên nóc nhà hú gọi. Người đã chết rồi, lại gọi ai?”
Người kia đáp: “Gọi hồn phách của người đó”.
Mâu Tử nói: “Thần hồn quay về thì sống, không quay về thì thần hồn đi đâu?”
Đáp: “Thành quỷ thần”.
Mâu Tử nói: “Đúng thế. Hồn thần vốn không diệt, chỉ có thân xác tự mục nát mà thôi. Thân xác ví như gốc lá của ngũ cốc, hồn thần như hạt giống của ngũ cốc; gốc lá mọc lên ắt phải chết, hạt giống há lại có lúc mất đi sao? Kẻ đắc đạo thì thân diệt mà thôi. Lão Tử nói: ‘Ta sở dĩ có nỗi lo lớn, là vì ta có thân; nếu ta không có thân, ta còn lo gì?’. Lại nói: ‘Công thành danh toại, thân lui về, ấy là đạo trời vậy’.”
Có người hỏi: “Tu đạo cũng chết, không tu đạo cũng chết, có gì khác biệt đâu?”
Mâu Tử đáp: “Đây gọi là kẻ không có nổi một ngày làm thiện mà lại đòi hỏi tiếng thơm suốt đời vậy. Người có đạo tuy chết, thần hồn về nhà phúc; kẻ làm ác đã chết, thần hồn chịu tai ương. Kẻ ngu muội tăm tối khi việc đã thành, người hiền trí dự tính từ khi chưa nảy mầm. Người có đạo và không có đạo, như vàng so với cỏ; điều thiện cùng niềm phúc, như sắc trắng đối với sắc đen. Sao lại không khác biệt, mà lại bảo có gì khác đâu?”
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Chưa biết thờ người, sao biết thờ quỷ?', 'Chưa biết việc sống, sao biết việc chết?'. Đây là những điều Thánh nhân ghi chép. Nay nhà Phật lại hay nói chuyện sống chết, việc quỷ thần, đây hẳn không phải lời của bậc Thánh triết. Người hành đạo nên hư vô điềm đạm, giữ chí chất phác. Cớ sao lại bàn chuyện sống chết làm loạn tâm chí, thuyết chuyện quỷ thần là việc dư thừa?"
Mâu Tử đáp: "Lời ông nói là thấy vẻ ngoài mà chưa hiểu bên trong. Khổng Tử ghét Tử Lộ không hỏi gốc ngọn nên mới dùng lời đó ức chế mà thôi. Hiếu Kinh nói: 'Lập tông miếu để quỷ hưởng tế; xuân thu cúng tế theo thời mà tưởng nhớ'. Lại nói: 'Lúc sống thờ bằng lòng yêu kính, khi chết thờ bằng nỗi đau buồn'. Há chẳng phải dạy người thờ quỷ thần, biết chuyện sống chết sao! Chu Công vì vua Vũ Vương mà khấn xin mệnh rằng: 'Đán này đa tài đa nghệ, có thể thờ phụng quỷ thần'. Ấy là vì việc gì! Chuyện sống chết mà kinh Phật nói đến há chẳng phải cùng loại đó sao? Lão Tử nói: 'Biết con mình lại giữ lấy mẹ mình, suốt đời không nguy'. Lại nói: 'Dùng hào quang trở về sự sáng suốt, không để thân bị tai ương'. Đây là hướng đến của đạo sống chết, nơi trú ngụ của cát hung. Chỗ yếu cốt của chí đạo thực quý ở lặng lẽ, nhà Phật há lại thích nói sao? Chẳng qua vì ông hỏi nên không thể không đáp vậy! Chuông trống há tự kêu? Do dùi đánh vào mới có tiếng đó."
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Người Di Địch có vua, không bằng các nước Hoa Hạ mất vua'. Mạnh Tử chê Trần Tương đổi sang học thuật của Hứa Hành rằng: 'Ta nghe dùng Hoa Hạ biến đổi Di Địch, chưa nghe dùng Di Địch biến đổi Hoa Hạ'. Ông từ lúc trẻ học đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng, nay lại vứt bỏ mà học thuật Di Địch, chẳng phải là lầm lạc lắm sao?"
Mâu Tử đáp: "Đây là những lời lẽ lúc tôi chưa hiểu đại đạo mà thôi. Ông có thể nói là thấy cái hoa mỹ của lễ chế mà tăm tối trước cái thực của đạo đức; nhìn ánh sáng đuốc đèn mà chưa thấy mặt trời nơi thiên đình. Lời Khổng Tử nói là để sửa phép đời. Lời Mạnh Kha nói là vì ghét sự chuyên nhất. Xưa Khổng Tử muốn sang ở đất Cửu Di, nói rằng: 'Quân tử ở đó thì có gì là hèn lậu?'. Đến như lúc Trọng Ni không được dùng ở Lỗ, Vệ; Mạnh Kha không được dùng ở Tề, Lương, há lại sang làm quan cho Di Địch sao? Vũ xuất thân từ Tây Khương mà là bậc Thánh triết, Cổ Sưu sinh ra Thuấn mà là kẻ ngu ngoan, Do Dư sinh ở nước Địch mà giúp Tần xưng bá, Quản Sái từ vùng Hà Lạc mà gieo lời phao tin. Truyện nói: 'Sao Bắc Thần ở giữa trời, ở phía Bắc của người'. Nhìn từ đó thì đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời. Kinh Phật nói khắp trên dưới vòng quanh, loài có máu thịt đều thuộc về Phật. Thế nên tôi tôn sùng mà học theo, việc gì phải bỏ đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng? Vàng ngọc không hại nhau, ngọc tùy ngọc bích không ngăn nhau, bảo người là lầm lạc, thì chính mình đang tự lầm lạc vậy."
Hỏi: "Lấy của cải của cha cho người đi đường thì không thể gọi là ban ơn; cha mẹ còn sống mà giết mình thay người thì không thể gọi là nhân. Nay kinh Phật chép: Thái tử Tu Đại lấy của cải của cha bố thí cho người phương xa; lấy voi báu của nước tặng kẻ thù; đem cả vợ con cho người khác. Không kính cha mẹ mà kính người ngoài gọi là nghịch lễ; không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài gọi là nghịch đức. Tu Đại bất hiếu bất nhân mà nhà Phật tôn thờ, há chẳng lạ lùng sao!"
Mâu Tử đáp: "Nghĩa trong Ngũ Kinh là lập con trưởng. Văn Vương thấy chí của Cơ Xương nên chuyển ngôi đích cho con thứ, rốt cuộc thành nghiệp nhà Chu, đạt đến thái bình. Nghĩa cưới vợ là phải thưa cha mẹ; vua Thuấn không thưa mà cưới để thành đại luân. Kẻ sĩ trinh tiết chờ sính lễ, hiền thần đợi trưng triệu; Y Doãn vác vạc đến gặp vua Thang, Ninh Thích gõ sừng trâu tìm gặp Tề Hoàn Công; Thang nhờ đó mà vương, Tề nhờ đó mà bá. Lễ dạy: 'Trai gái không trao nhận trực tiếp, nhưng chị dâu đuối nước thì phải đưa tay ra cứu'. Ấy là tùy quyền khi cấp bách. Nếu thấy cái lớn thì không câu nệ cái nhỏ, bậc đại nhân há lại câu nệ lẽ thường! Tu Đại thấy đời vô thường, tài vật không phải kho báu của mình, nên tự ý bố thí để thành đại đạo. Nước của cha được hưởng phúc, quân thù không dám xâm phạm; đến khi thành Phật, cha mẹ anh em đều được độ thoát. Nếu đó không phải hiếu, không phải nhân, thì ai là người nhân hiếu?"
Hỏi: "Phật đạo trọng vô vi, vui bố thí, giữ giới luật, nơm nớp như đứng bên vực sâu. Nay Sa-môn ham mê rượu chè, hoặc nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên làm việc dối trá, đó là sự giả dối lớn trong đời, mà Phật đạo gọi là vô vi sao?"
Mâu Tử đáp: "Công Thâu Ban có thể cho người ta rìu đục dây mực, nhưng không thể khiến người ta thành thợ giỏi; Thánh nhân có thể truyền đạo cho người, nhưng không thể bắt họ phải thực hành đúng. Cao Dao có thể trị tội kẻ trộm, nhưng không thể khiến kẻ tham thành như Bá Di, Thúc Tề; ngũ hình có thể giết kẻ vô đạo, nhưng không thể khiến đứa con ác thành như Tăng Sâm, Mân Tử Khiên. Vua Nghiêu không hóa được Đan Chu, Chu Công không dạy được Quản Sái, há là do giáo hóa thời Đường không hiển, đạo nhà Chu không đủ sao? Chẳng qua là không làm gì được kẻ ác vậy. Ví như người đời học thông Thất Kinh mà mê đắm tài sắc, thì có thể gọi Lục Nghệ là tà dâm sao? Hà Bá tuy linh thiêng nhưng không dìm chết người trên đất bằng; gió lốc tuy nhanh nhưng không thể khiến bụi bay dưới nước sâu. Đáng lo là người không thực hành được đạo, sao có thể bảo Phật đạo có điều ác?"
Hỏi: "Khổng Tử khen: 'Xa hoa thì không khiêm tốn, tiết kiệm thì cố chấp, thà cố chấp còn hơn không khiêm tốn'. Thúc Tôn nói: 'Tiết kiệm là sự cung kính của đức, xa xỉ là cái lớn của ác'. Nay nhà Phật dốc hết tài sản để bố thí, đem hết của cải cho người là quý, liệu có phúc chăng?"
Mâu Tử đáp: "Đó là một thời, đây là một thời. Lời của Trọng Ni là ghét sự xa hoa vô lễ; luận của Thúc Tôn là châm chọc việc chạm trổ cột nhà. Chứ không phải cấm bố thí. Vua Thuấn cày núi Lịch, ơn không đến được xóm giềng; Thái Công mổ trâu, huệ không đến được vợ con. Đến khi được trọng dụng, ơn lưu tám cõi, huệ ban bốn biển. Của cải nhiều thì quý ở chỗ biết cho; nghèo khổ túng thiếu thì quý ở chỗ giữ đạo. Hứa Do không tham bốn biển; Bá Di không màng đến nước nhà; Ngu Khanh bỏ phong tước vạn hộ để cứu người lúc khốn cùng; mỗi người một chí vậy. Hi Phụ Cơ nhờ ơn một bữa ăn mà bảo toàn được xóm mình; Tuyên Mạnh vì một bát cơm mà cứu mạng sống quý báu. Ngầm ban ơn thì kín đáo, quả báo hiện ra rạng rỡ như ban ngày. Huống chi dốc của cải nhà phát tâm thiện, công đức ấy sừng sững như núi Tung, núi Thái, mênh mông như sông rộng, biển dài. Người ôm lòng thiện sẽ được hưởng phúc, kẻ gieo điều ác sẽ chịu tai ương, chưa từng có ai trồng lúa mà được mạch, làm họa mà được phúc bao giờ!"
Hỏi: “Việc làm không gì hơn thành thực, lời nói không gì hơn chân thực. Lão Tử bỏ lời hoa mỹ trang sức, sùng bái lời chất phác. Kinh Phật nói không chỉ rõ sự việc, chỉ rộng lấy ví dụ. Ví dụ không phải là điều cốt yếu của đạo, gộp cái khác làm cái giống nhau không phải là cái diệu của sự việc. Tuy lời lẽ nhiều và rộng, nhưng như một xe mảnh ngọc vụn, không thể coi là báu vật.”
Mâu Tử đáp: “Sự việc thường cùng thấy thì có thể nói bằng sự thực. Một người thấy một người không thấy thì khó nói bằng lời thành thực vậy. Xưa có người chưa thấy con lân, hỏi người từng thấy: Lân thuộc loại nào? Người thấy nói: Lân giống như con lân vậy. Người hỏi nói: Nếu tôi từng thấy lân thì đã không hỏi ông; nay ông nói lân như lân, sao mà hiểu được? Người thấy bèn nói: Lân thân giống mễn, đuôi bò, móng nai, lưng ngựa. Người hỏi liền hiểu ra. Khổng Tử nói: ‘Người ta không biết mà không giận, chẳng phải quân tử sao!’. Lão Tử nói: ‘Khoảng giữa trời đất há như ống thụt bễ sao?’. Lại nói: ‘Ví Đạo trong thiên hạ như sông khe với sông biển, há lại hoa mỹ trang sức sao?’. Luận Ngữ nói: ‘Vì chính bằng đức, ví như sao Bắc Thần’. Ấy là dẫn trời để ví với người vậy. Tử Hạ nói: ‘Ví như các loài cỏ cây, phân khu để phân biệt vậy’. Ba trăm bài thơ kéo vật hợp loại, cho đến chư tử sấm vĩ, điều bí yếu của thánh nhân, không gì không dẫn dụ lấy ví dụ. Sao ông lại một mực ghét việc kinh Phật nói hay dùng ví dụ chứ?”
Hỏi: “Con người ở đời, không ai không thích phú quý mà ghét nghèo hèn, vui sướng an dật mà sợ lao nhọc mỏi mệt. Hoàng Đế nuôi tính, lấy năm món ăn làm trọng. Khổng Tử nói: ‘Cơm không chê tinh, gỏi không chê thái nhỏ’. Nay Sa-môn khoác vải đỏ, ngày ăn một bữa, đóng sáu tình, tự khép mình ở đời. Như thế thì có gì là vui sống?”
Mâu Tử đáp: “Giàu và sang là điều người ta muốn, nhưng không dùng đạo mà được thì không ở vậy. Nghèo và hèn là điều người ta ghét, nhưng không dùng đạo mà được thì không bỏ vậy. Lão Tử nói: ‘Năm màu khiến người ta mù mắt, năm âm khiến người ta điếc tai, năm vị khiến người ta tê lưỡi. Ruổi ngựa săn bắn khiến lòng người phát cuồng, của cải khó được khiến hành vi bị tổn hại. Cho nên thánh nhân vì bụng không vì mắt’. Phương thuốc này há luống suông sao! Liễu Hạ Huệ không vì ngôi Tam công mà đổi hành vi của mình; Đoạn Can Mộc không vì thân mình mà đổi lấy cái giàu của Ngụy Văn Hầu; Hứa Do, Sào Phủ làm tổ trên cây mà ở, tự cho là yên ổn hơn cung điện đế vương; Di Tề nhịn đói ở núi Thủ Dương, tự cho là no đủ hơn thời Văn Vũ. Ấy là mỗi người đều được chí của mình mà thôi. Có gì là không vui sống?”
Hỏi: “Nếu kinh Phật sâu nhiệm đẹp đẽ như thế, sao ông không bàn luận nơi triều đình, luận bàn với quân phụ, sửa trị nơi khuê môn, tiếp đãi nơi bạn bè? Sao lại còn học kinh truyền, đọc chư tử làm gì?”
Mâu Tử đáp: “Chưa thấu nguồn của nó mà đã hỏi dòng của nó vậy. Kế bày thớt cúng nơi cửa lũy, dựng cờ xí nơi triều đường, mặc áo lông cáo để đón tiết Nhuy tân, khoác vải thưa để chống tiết Hoàng chung, không phải là không đẹp, nhưng trái chỗ sai thời vậy. Cho nên giữ thuật của Khổng Tử vào cửa Thương 鞅, mang thuyết của Mạnh Kha đến sân Tô Trương, công không được phân tấc mà tội có trượng xích vậy. Lão Tử nói: ‘Bậc thượng sĩ nghe đạo, chăm chỉ hành trì; bậc trung sĩ nghe đạo, như còn như mất; bậc hạ sĩ nghe đạo, cười lớn một tiếng’. Tôi sợ tiếng cười lớn ấy nên không bàn luận vậy. Khát không nhất thiết phải đợi sông dài, mà uống nước giếng suối, có gì là không no đủ? Vì vậy tôi mới trị lại kinh truyền vậy.”
Hỏi: "Đất Hán bắt đầu nghe đạo Phật từ đâu mà ra?"
Mâu Tử đáp: "Xưa Hiếu Minh Hoàng đế mộng thấy thần nhân, thân có ánh sáng mặt trời, bay trước điện. Vua hớn hở vui mừng. Hôm sau hỏi khắp quần thần: Đây là vị thần nào? Có người uyên bác là Phó Nghị thưa: 'Thần nghe ở Thiên Trúc có người đắc đạo hiệu là Phật, bay đi trên hư không, thân có ánh sáng mặt trời, hẳn là vị thần ấy vậy'. Thế là vua tỉnh ngộ, sai Trung lang Thái Âm, Vũ lâm lang trung Tần Cảnh, bác sĩ đệ tử Vương Tuân cùng mười tám người đến nước Đại Nguyệt Chi, chép kinh Phật bốn mươi hai chương, cất ở gian thứ mười bốn trong thạch thất Lan Đài. Bấy giờ ở ngoài cửa Ung môn phía tây thành Lạc Dương xây chùa Phật, trên vách vẽ nghìn xe muôn ngựa nhiễu tháp ba vòng. Lại ở đài Thanh Lương trong Nam Cung và trên cửa thành Khai Dương làm tượng Phật. Minh Đế khi còn sống tự xây sẵn thọ lăng, gọi là Hiển Tiết, cũng ở trên đó làm hình vẽ Phật. Bấy giờ nước giàu dân an, di địch phương xa mến nghĩa. Người học từ đó mà thêm đông."
Hỏi: “Lão Tử nói: ‘Người biết không nói, người nói không biết’. Lại nói: ‘Khéo biện như nói ngọng, khéo léo như vụng về’. Quân tử hổ thẹn vì lời nói quá hành vi, giả sử Sa-môn có chí đạo, sao không ngồi đó mà hành trì? Sao lại còn bàn luận thị phi phân định cong thẳng? Tôi cho rằng, đây là kẻ tặc hại đức hạnh.”
Mâu Tử đáp: “Mùa xuân tới gặp năm đói lớn, mùa thu này không ăn; tiết Hoàng chung đáng lạnh, tiết Nhuy tân lại mặc áo lông dày. Đề phòng tuy sớm nhưng không tránh khỏi ngu xuẩn. Lời Lão Tử nói là chỉ người đắc đạo vậy. Người chưa đắc đạo thì biết gì mà nói! Đại đạo một lời mà thiên hạ vui mừng, há chẳng phải đại biện sao? Lão Tử há chẳng nói: ‘Công toại thân thoái, đạo trời vậy’ đó sao. Thân đã thoái rồi, còn nói gì nữa! Nay Sa-môn chưa kịp đắc đạo, sao được không nói? Lão Tử cũng vẫn nói đó thôi. Nếu như không nói, năm ngàn chữ chép việc gì? Nếu biết mà không nói thì được; đã không thể biết lại không thể nói, ấy là người ngu vậy. Cho nên, nói được không hành được là thầy của nước; hành được không nói được là đồ dùng của nước; hành được nói được là báu vật của nước. Ba hạng mỗi hạng có chỗ dùng, sao lại là tặc hại đức hạnh? Chỉ có kẻ không nói được lại không hành được, mới gọi là tặc vậy.”
Hỏi: “Như lời ông nói, thì chỉ nên học biện đạt, tu ngôn luận; há lại còn sửa tình tính, xỏ giày đi theo đạo đức sao?”
Mâu Tử đáp: “Sao khó hiểu đến thế vậy! Lời nói đàm luận, mỗi lúc một khác. Cừ Viện nói: ‘Nước có đạo thì ra giúp thẳng, nước không đạo thì cuốn cuốn mà giấu đi’. Ninh Vũ Tử nước có đạo thì khôn, nước không đạo thì ngu. Khổng Tử nói: ‘Có thể nói cùng mà không nói cùng, mất người; không thể nói cùng mà nói cùng, mất lời’. Cho nên khôn ngu tự có thời, đàm luận mỗi đường có ý, cớ sao khi đáng ngôn luận lại không hành trì?”
Hỏi: “Sao nói đạo Phật chí tôn, chí khoái, vô vi, điềm đạm? Người đời và học sĩ nhiều kẻ báng bổ chê bai rằng: Lời thuyết của nó trống rỗng khó dùng, hư vô khó tin, là sao?”
Mâu Tử đáp: “Vị ngon nhất không hợp với miệng đám đông, tiếng lớn không vừa với tai đám đông. Trỗi nhạc Hàm trì, bày nhạc Đại chương; phát nhạc Tiêu thiều, ca bài Cửu thành; không ai họa theo cả. Gảy khúc đàn Trương, Trịnh, Vệ, là âm thanh thời tục, tất không hẹn mà vỗ tay rầm rập. Cho nên Tống Ngọc nói: ‘Khách hát ở đất Dĩnh, làm khúc Hạ lý, người họa theo có nghìn người. Dẫn điệu Thương kích điệu Giác, đám đông không ai ứng theo’. Đây đều là kẻ vui tiếng tà, không hiểu đại độ vậy. Hàn Phi lấy cái thấy qua ống tre mà trách Nghiêu Thuấn; Tiếp Dư lấy cái phân biệt sợi lông mảy mà mỉa mai Trọng Ni; đều là kẻ mê cái nhỏ mà bỏ qua cái lớn vậy. Kẻ nghe điệu Thanh thương mà bảo là điệu Giác, không phải lỗi của người gảy đàn, mà tại người nghe không thông vậy. Thấy ngọc Hòa bích mà gọi là hòn đá, không phải ngọc hèn, mà tại người nhìn không sáng vậy. Rắn thần có thể đứt rồi lại nối, nhưng không thể khiến người ta không chặt đứt nó; rùa thiêng báo mộng cho Tống Nguyên Công, nhưng không lánh khỏi lưới của Dự Thư. Đại đạo vô vi, không phải cõi tục nhìn thấy được. Không vì người khen mà quý, không vì người chê mà hèn, dùng hay không dùng là tự trời vậy! Hành hay không hành là tại thời vậy! Tin hay không tin là cái mệnh vậy!”
Hỏi: “Ông dùng kinh truyền để luận giải lời Phật, lời lẽ phong phú mà nghĩa lý hiển hiện, văn phong sắc sảo mà lý luận đẹp đẽ. Chẳng hay đó có phải là không từ lòng thành, mà chỉ là tài biện bác của ông sao?”
Mâu Tử đáp: “Không phải cái biện của tôi, mà vì thấy rộng nên không lầm lẫn vậy.”
Hỏi: “Thấy rộng có phương thuật gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Nhờ vào kinh Phật vậy. Khi tôi chưa hiểu kinh Phật, lòng còn mê muội hơn ông. Tuy tụng Ngũ Kinh nhưng chỉ coi đó là hoa mỹ, chưa thành quả thực. Từ khi tôi xem lời thuyết của kinh Phật, duyệt qua điều cốt yếu của Lão Tử, giữ tính khí điềm đạm, xem hành vi vô vi, nhìn lại việc đời như đứng bên giếng trời mà nhìn xuống khe núi, lên núi Tung núi Thái mà nhìn xuống gò đống vậy. Ngũ Kinh là năm vị, Phật đạo là năm ngũ cốc vậy. Tôi từ khi nghe đạo đến nay, như gạt mây thấy mặt trời, cầm đuốc lớn vào phòng tối vậy.”
Hỏi: “Ông nói kinh như sông biển, văn như gấm vóc, sao không dùng kinh Phật để đáp lời tôi hỏi, mà lại dẫn Kinh Thi, Kinh Thư, gộp cái khác làm cái giống nhau?”
Mâu Tử đáp: “Người khát không nhất thiết phải đợi sông biển mới uống, người đói không nhất thiết phải đợi kho vựa mới no. Đạo mở cho người trí, biện thông cho người đạt, sách truyền cho người hiểu, việc sáng cho người thấy. Tôi vì biết ông hiểu ý đó nên dẫn việc đó. Nếu nói lời kinh Phật, bàn điều cốt yếu của vô vi, thì ví như đối với người mù mà nói năm màu, vì người điếc mà gảy năm âm vậy. Sư Khoáng dù khéo không thể gảy cây đàn không dây, lông cáo dù ấm không thể làm nóng người không còn khí. Công Minh Nghi vì trâu gảy khúc Thanh giác, trâu vẫn cúi đầu ăn cỏ như cũ, không phải trâu không nghe thấy, mà vì không hợp tai nó vậy. Chuyển sang làm tiếng muỗi mòng, tiếng nghé con độc nhất, trâu liền vẫy đuôi vểnh tai, đi thong thả mà nghe. Thế nên tôi dùng Kinh Thi, Kinh Thư để lý giải với ông vậy.”
Hỏi: “Tôi xưa ở kinh sư, vào Đông Quán chơi Thái Học, xem điều các bậc tuấn sĩ quy định, nghe điều chốn nho lâm luận bàn. Chưa từng nghe việc tu Phật đạo là quý, tự hủy hoại dung mạo là cao thượng. Ông cớ sao lại say mê thế? Phải chăng đi lầm đường thì đổi lối, học thuật cùng thì quay về cội cũ, há không thể nghĩ lại sao?”
Mâu Tử đáp: “Kẻ giỏi biến hóa không thể cho xem sự dối trá, người thông suốt đạo không thể làm kinh hãi bằng sự quái dị, kẻ xét kỹ lời không thể làm mê hoặc bằng ngôn từ, người đạt thấu nghĩa không thể làm lay động bằng lợi lộc vậy. Lão Tử nói: ‘Danh là cái hại của thân, lợi là cái uế của hạnh’. Lại nói: ‘Bày dối trá lập quyền biến, hư vô tự làm quý’. Tu sửa lễ thuật chốn khuê môn, giao tế theo thời tục; tìm đến chỗ xu hướng, nắm lấy thời cơ, cốt để hợp với đương thế; đó là việc làm của kẻ hạ sĩ, là điều bậc trung sĩ vứt bỏ vậy. Huống chi đại đạo thênh thang, là việc hành trì của bậc thượng thánh sao? Sâu thẳm như trời, thăm thẳm như biển, không hợp với kẻ ghé mắt nhìn tường, hạng người tầm thường, vốn là lẽ đương nhiên vậy. Họ nhìn thấy cửa, tôi thấy nhà; họ hái hoa của nó, tôi lấy quả của nó; họ cầu cái đầy đủ, tôi giữ cái duy nhất. Ông hãy mau đổi đường, còn tôi xin bước tiếp. Nguồn gốc của họa phúc, chưa biết thế nào đâu!”
Hỏi: “Ông dùng lời lẽ kinh truyền, thuyết khoa trương hoa lệ để khen ngợi hạnh Phật, ca tụng đức Phật. Cao thì vượt tầng mây trong, rộng thì hơn bờ cõi đất, chẳng hay có vượt quá cái gốc, quá cái thực của nó sao? Còn tôi chê bai trách cứ, lại khá trúng vào căn bệnh của nó vậy.”
Mâu Tử đáp: “Ôi! Sự ca tụng của tôi như đem hạt bụi dính vào núi Tung núi Thái, gom giọt sương mai đổ vào sông biển. Sự báng bổ của ông như cầm bầu múc nước muốn làm giảm sông biển; dắt cày cuốc muốn làm mòn núi Côn Lôn; nghiêng một bàn tay muốn che ánh mặt trời; hốt cục đất muốn lấp dòng sông lớn. Sự ca tụng của tôi không thể làm Phật cao lên, sự hủy báng của ông không thể làm Phật thấp xuống vậy.”
Hỏi: “Vương Kiều, Xích Tùng vào sổ thần tiên, sách thần có một trăm bảy mươi quyển. Chuyện trường sinh ấy với kinh Phật há giống nhau sao?”
Mâu Tử đáp: “So sánh loại đó như Ngũ bá so với Ngũ đế, Dương Hóa so với Trọng Ni; so sánh hình thể ấy như gò đống so với núi Hoa núi Hằng, dòng nước nhỏ so với sông biển; so sánh văn phong ấy như da hổ trơn so với da cừu, hoa văn rực rỡ so với gấm vóc vậy. Đạo có chín mươi sáu thứ, đến như tôn đại không gì hơn Phật đạo. Sách thần tiên nghe thì tràn ngập bên tai, nhưng tìm hiệu quả của nó thì như nắm gió bắt bóng. Thế nên đại đạo không chọn, vô vi không quý, sao có thể giống nhau được!”
Hỏi: “Người tu đạo có kẻ tịch cốc không ăn mà lại uống rượu ăn thịt, cũng nói là phương thuật của Lão thị. Thế nhưng Phật đạo lấy rượu thịt làm giới luật hàng đầu, mà ngược lại ăn ngũ cốc. Sao lại trái ngược nhau như thế?”
Mâu Tử đáp: “Các đạo vụn vặt có tất cả chín mươi sáu thứ. Điềm đạm vô vi không gì hơn Phật. Tôi xem hai thiên thượng hạ của Lão thị, nghe có giới cấm năm vị, chưa thấy có lời nào tuyệt ngũ cốc. Thánh nhân chế định văn tự trong Thất điển không có thuật dừng ăn lương thực. Lão Tử viết năm ngàn chữ không có việc tịch cốc. Thánh nhân nói: Ăn ngũ cốc thì trí, ăn cỏ thì si, ăn thịt thì bạo悍, ăn khí thì thọ. Người đời không đạt việc đó, thấy sáu loài chim muông đóng khí không thở, mùa thu mùa đông không ăn, liền muốn bắt chước làm theo. Không biết vật loại mỗi thứ tự có tính riêng, như đá nam châm hút sắt, không thể hút nổi sợi lông mảy vậy.”
Hỏi: “Ngũ cốc có thể tuyệt được không?”
Mâu Tử đáp: “Khi tôi chưa hiểu đại đạo cũng từng học qua. Phép tịch cốc có hàng ngàn hàng trăm thuật, hành trì không hiệu quả, làm mà không có chứng nghiệm, nên bỏ đi mà thôi. Xem các thầy tôi theo học, gồm ba người, kẻ tự xưng bảy trăm, năm trăm, ba trăm tuổi. Nhưng tôi theo học chưa đầy ba năm, họ đều lần lượt qua đời. Sở dĩ như thế là vì tuyệt ngũ cốc không ăn mà lại ăn trăm quả, gặp thịt thì bày đầy mâm, uống rượu thì nghiêng vò; tinh loạn thần hôn, cốc khí không đầy; tai mắt mê muội, dâm tà không cấm. Tôi hỏi cớ sao? Họ đáp: ‘Lão Tử nói: bớt rồi lại bớt để đến mức vô vi, chỉ nên ngày ngày bớt đi mà thôi’. Nhưng tôi xem ra, họ chỉ ngày càng tăng lên chứ không bớt đi, thế nên đều chưa đến tuổi biết mệnh đã chết rồi. Vả lại Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều không sống được trăm năm, mà kẻ ngu hoặc đời sau lại muốn uống thuốc tịch cốc, cầu tuổi thọ khôn cùng, thương thay!”
Hỏi: “Người tu đạo nói có thể đẩy lùi tật bệnh không đau, không dùng châm thuốc mà khỏi. Có chuyện đó không? Sao nhà Phật có bệnh lại dùng châm thuốc?”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Vật tráng thì già, gọi là không hợp đạo’. Không hợp đạo thì sớm hết, chỉ có người đắc đạo là không sinh. Không sinh thì không tráng, không tráng thì không già, không già thì không bệnh, không bệnh thì không mục nát. Thế nên Lão Tử lấy thân làm nỗi lo lớn vậy. Vũ Vương nằm bệnh, Chu Công cầu mệnh; Trọng Ni có bệnh, Tử Lộ xin cầu đảo. Tôi thấy thánh nhân đều có bệnh cả, chưa thấy ai không bệnh vậy. Thần Nông nếm cỏ suýt chết mấy mươi lần; Hoàng Đế cúi đầu nhận châm nơi Kỳ Bá. Ba vị thánh nhân này há lại không bằng các đạo sĩ ngày nay sao? Xét kỹ lời này cũng đủ để bỏ thuyết đó rồi.”
Hỏi: “Đạo đều vô vi là một. Sao ông lại phân biệt sắp đặt, nói là có khác biệt? Lại khiến người học đâm ra hồ nghi, tôi cho là tốn công mà không có ích.”
Mâu Tử đáp: “Đều gọi là cỏ nhưng tính của muôn cỏ không thể nói hết; đều gọi là kim loại nhưng tính của các kim loại không thể nói hết. Cùng loài khác tính, vạn vật đều như vậy, há chỉ có đạo đâu? Xưa Dương, Mặc chắn đường của quần nho, xe không thể tiến trước, người không thể bước đi. Mạnh Kha bác bỏ họ, người ta mới biết chỗ theo. Sư Khoáng gảy đàn đợi tri âm ở đời sau; thánh nhân lập pháp mong quân tử sẽ nhìn thấy vậy. Ngọc đá cùng hòm, Y Đốn vì thế đổi sắc mặt; màu đỏ màu tía lẫn lộn, Trọng Ni vì thế thở dài. Mặt trời mặt trăng không phải không sáng, tại muôn cái tối che khuất ánh sáng; Phật đạo không phải không chính, tại muôn cái tư che lấp cái công. Thế nên tôi phân chia mà khác biệt đi. Cái trí của Tang Văn, cái thẳng của Vi Sinh mà Trọng Ni không khen ngợi, đều là lời nói để sửa chính cho đời, sao lại tốn công mà không có ích?”
Hỏi: “Ông chê thần tiên, dập quái dị, không tin có đạo bất tử là đúng rồi. Cớ sao lại chỉ tin Phật đạo sẽ được độ thế? Phật ở cõi khác, chân ông chưa từng đạp đến đất đó, mắt không thấy nơi đó, chỉ xem văn tự của Ngài mà tin hành vi của Ngài. Kẻ xem hoa không thể biết quả, người nhìn bóng không thể xét hình, hẳn là không chân thực sao?”
Mâu Tử đáp: “Khổng Tử nói: ‘Xem việc họ làm, xét do đâu họ làm, rõ chỗ họ an tâm, người ta giấu vào đâu được’. Xưa Lã Vọng, Chu Công hỏi về việc thi chính, đều biết kết cục về sau của nước kia. Ngày Nhan Uyên xem xe bốn ngựa chạy, thấy cách đánh xe của Đông Dã Tất liền biết xe sẽ đổ. Tử Cống xem cuộc hội thề Chu Lỗ, biết rõ lý do nước họ sẽ mất. Trọng Ni nghe tiếng đàn của Sư Khoáng mà nhận ra khúc dạo của Văn Vương. Quý Tử nghe nhạc mà xem được phong tục các nước. Cần gì phải chân đạp mắt thấy chứ?”
Hỏi: "Tôi từng đi chơi nước Vu Điền, nhiều lần gặp các Sa-môn đạo nhân, lấy việc của tôi để chất vấn họ, họ đều không đối đáp được mà cáo lui. Nhiều người đổi chí dời ý, sao một mình ông khó cải cách vậy?"
Mâu Tử đáp: "Lông nhẹ ở trên cao gặp gió liền bay; đá nhỏ dưới khe gặp dòng liền chuyển. Chỉ có núi Thái Sơn không vì gió lốc mà lay động, đá tảng không vì dòng nước xiết mà dời đi. Cây mai cây lý gặp sương thì rụng lá, chỉ có tùng bách là khó héo úa vậy. Những đạo nhân ông gặp hẳn là học chưa thấu, thấy chưa rộng, nên mới chịu khuất mà lui thôi. Với cái ngu muội của tôi còn không thể bẻ bẻ được, huống chi là người sáng đạo? Ông không tự sửa mình mà muốn sửa người; tôi chưa từng nghe Trọng Ni đuổi theo Đạo Chích, Thang Vũ bắt chước Kiệt Trụ bao giờ."
Hỏi: “Phương thuật thần tiên mùa thu mùa đông không ăn, hoặc vào phòng mười ngày không ra, có thể gọi là điềm đạm đến cùng cực. Tôi cho là đáng tôn đáng quý, hẳn là Phật đạo không bằng chăng?”
Mâu Tử đáp: “Chỉ Nam làm Bắc tự bảo không lầm; lấy Tây làm Đông tự bảo không mê; lấy chim cú chim diều mà cười chim phượng hoàng; bắt con sâu con giun mà trêu rùa thần rồng thiêng. Con ve không ăn, quân tử không quý; ếch rắn trốn hang, thánh nhân không trọng. Khổng Tử nói: ‘Tính của trời đất con người là quý’. Chưa từng nghe tôn sùng ve rắn vậy. Nhưng người đời vốn có kẻ ăn xương bồ mà bỏ quế gừng, đổ cam lộ mà húp nước giấm vậy. Sợi lông mảy tuy nhỏ nhìn vào có thể xét rõ; núi Thái Sơn tuy lớn quay lưng lại thì không thấy. Chí có đọng lại hay không, ý có sắc bén hay không; nước Lỗ tôn họ Quý hạ Trọng Ni, nước Ngô cho Tể Phỉ là hiền cho Tử Tư là bất tài. Sự nghi ngờ của ông chẳng phải cũng hợp lý sao?”
Hỏi: “Đạo gia nói Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng và bảy mươi hai đệ tử đều không chết mà thành tiên. Phật gia nói người đều phải chết, không ai tránh khỏi. Là sao?”
Mâu Tử đáp: “Đó là lời yêu vọng, không phải lời thánh nhân nói. Lão Tử nói: ‘Trời đất còn không được lâu dài, huống chi là con người?’. Khổng Tử nói: ‘Bậc hiền giả lánh đời, nhân hiếu thường còn’. Tôi duyệt Lục nghệ, xem truyền ký, vua Nghiêu có điềm băng, vua Thuấn có núi Thương Ngô, vua Vũ có lăng Hội Kê, Bá Di, Thúc Tề có mộ Thủ Dương, Văn Vương chưa kịp diệt Trộm mà mất, Vũ Vương không đợi được Thành Vương lớn mà băng, Chu Công có thiên ‘Cải táng’, Trọng Ni có giấc mộng ‘Hai cột’, Bá Ngư chết trước cha, Tử Lộ có lời ‘Bị băm nhỏ’, Bá Ngưu có lời ‘Mệnh vậy thay’, Tăng Tham có lời ‘Mở chân ta xem’, Nhan Uyên có quở trách bất hạnh ngắn mệnh, có ví dụ lúa trổ mà không bông. Đều chép rõ trong kinh điển, là lời chí lý của thánh nhân. Tôi lấy kinh truyền làm chứng, lấy người đời làm nghiệm. Mà bảo là không chết, há chẳng lầm lạc sao?”
Hỏi: “Lời giải của ông thực sự đầy đủ hết cả, vốn không phải điều bọn tôi được nghe. Nhưng lời luận giải của ông sao chỉ dừng ở đúng ba mươi bảy điều, cũng có phép tắc gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Cỏ bồng quay lông lốc mà bánh xe thành, gỗ trũng trôi nổi mà thuyền chèo lập. Nhện chăng tơ mà lưới bẫy bày, dấu chân chim hiện mà chữ viết làm ra. Cho nên có phép bắt chước thì thành dễ, không phép bắt chước thì thành khó. Tôi xem điều cốt yếu của kinh Phật có ba mươi bảy phẩm, Đạo kinh của Lão thị cũng có ba mươi bảy thiên, nên bắt chước theo vậy.”
Thế rồi người mê muội nghe xong, bùi ngùi đổi sắc mặt, chắp tay rời chiếu, lui bước cúi đầu thưa: “Bỉ nhân mù lòa sinh nơi tối tăm khuất lấp, dám thốt lời ngu muội, không nghĩ đến họa phúc. Nay được nghe lời dạy, như tuyết tan sạch, xin được đổi lòng, rửa tâm tự răn, nguyện nhận năm giới, làm Ưu-bà-tắc.”
{{Kinh điển Phật giáo}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
f3fv7j3crths6d99f8m2ix35d0njsqw
205370
205369
2026-05-15T08:16:51Z
Mrfly911
2215
205370
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Lý Hoặc Luận
| tác giả= Mâu Tử
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 理惑論
| năm= [[w:Nhà Hán|Hán]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= '''Lý Hoặc Luận''' (chữ Hán: 理惑論) có nghĩa là '''bộ luận lý giải những điều mê lầm của một số người không hiểu đạo Phật''', do Mâu Tử (người Thương Ngô, nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc) viết bằng chữ Hán vào cuối thế kỷ 2 nhưng năm nào thì chưa rõ. {{Wikipediaref}}
}}
<center><big>Lý Hoặc Luận</big></center>
<div style="background-color:pink;">
Mâu Tử đã tu sửa kinh truyện và chư tử, sách không kể lớn nhỏ, chẳng gì không thích. Tuy không vui việc binh pháp, nhưng vẫn đọc qua. Dẫu đọc sách thần tiên bất tử, song nén lòng không tin, cho là hư huyễn. Bấy giờ sau khi Linh Đế băng hà, thiên hạ rối loạn, chỉ có Giao Châu tương đối yên ổn. Dị nhân phương Bắc đều đến đây, đa số luyện thuật thần tiên tịch cốc trường sinh, người thời đó theo học rất đông. Mâu Tử thường dùng Ngũ Kinh để chất vấn, các thuật sĩ Đạo gia không ai dám đối đáp. Có thể ví như Mạnh Kha ngăn chặn Dương Chu, Mặc Địch.
Trước đó, Mâu Tử cùng mẹ lánh đời tại Giao Chỉ, năm 26 tuổi về Thương Ngô lấy vợ. Thái thú nghe danh ông giữ đạo hiếu học, bèn mời giữ chức lại. Lúc ấy tuổi đang sung mãn, chí chuyên vào học thuật, lại thấy đời loạn lạc nên không có ý làm quan, rốt cuộc không nhận lời. Bấy giờ các châu quận nghi kị lẫn nhau, giao thông bế tắc. Thái thú vì nể ông bác học đa văn, sai đi sứ Kinh Châu. Mâu Tử cho rằng tước lộc dễ nhường nhưng sứ mệnh khó từ, bèn sửa soạn lên đường. Gặp lúc Châu mục ban văn ưu đãi hiền sĩ để chiêu mộ, ông lại cáo bệnh không dậy. Em trai Châu mục làm Thái thú Dự Chương, bị Trung lang tướng Sạ Dung giết hại. Khi ấy Châu mục phái Kỵ đô úy Lưu Ngạn đem binh ứng cứu, sợ ngoại giới nghi kị, binh không tiến được.
Châu mục bèn thỉnh Mâu Tử rằng: "Em ta bị nghịch tặc hãm hại, nỗi đau cốt nhục phẫn uất tận tâm can. Nay phái Lưu đô úy đi, sợ ngoại giới nghi nan, người đi không thông. Ông văn võ kiêm toàn, có tài đối đáp. Nay muốn khuất thân ông sang Linh Lăng, Quế Dương mượn đường để thông suốt, ông thấy thế nào?". Mâu Tử đáp: "Kẻ hèn này như ngựa ăn cỏ trong chuồng, được đối đãi đã lâu; liệt sĩ quên mình, hẹn sẽ dốc sức". Lúc sắp lên đường thì mẹ mất, nên không đi được.
Lâu sau ông suy ngẫm: Vì có tài biện bác nên hay bị sai phái, lúc thế gian nhiễu nhương, không phải lúc để hiển lộ. Bèn than rằng: "Lão Tử tuyệt thánh khí trí, tu thân bảo chân, vạn vật không làm loạn được chí, thiên hạ không đổi được niềm vui. Thiên tử không thể bắt làm tôi, chư hầu không thể kết làm bạn, cho nên mới đáng quý". Thế là ông dốc chí vào Phật đạo, nghiên cứu thêm năm ngàn chữ của Lão Tử. Lấy huyền diệu làm rượu ngọt, lấy Ngũ Kinh làm đàn sáo. Người đời nhiều kẻ chê bai, cho rằng ông phản Ngũ Kinh mà theo dị đạo. Muốn tranh luận thì trái đạo, muốn im lặng thì không đành, bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền để chứng giải. Tên gọi là '''Mâu Tử Lý Hoặc'''.
</div>
----
Có người hỏi: "Phật sinh ra từ đâu? Có tổ tiên và quốc ấp không? Hành trạng thế nào? Hình dáng ra sao?".
Mâu Tử đáp: "Câu hỏi phong phú thay! Xin lấy sự kém cỏi này mà nói lược điểm chính. Nghe rằng sự hóa hiện của Phật tích lũy đạo đức qua nghìn ức năm không thể ghi chép hết. Lúc sắp đắc quả Phật, Ngài sinh tại Thiên Trúc, mượn thân nơi phu nhân vua Bạch Tịnh. Bà nằm ngủ trưa mơ thấy cưỡi voi trắng sáu ngà, lòng vui mừng rồi cảm ứng thụ thai. Ngày mồng tám tháng tư, Ngài từ sườn phải mẹ sinh ra. Rơi xuống đất đi bảy bước, giơ tay phải nói: 'Trên trời dưới đất, không ai hơn ta'. Lúc đó trời đất chuyển động lớn, trong cung sáng rực. Ngày ấy tỳ nữ nhà vua cũng sinh một con trai, ngựa trắng trong chuồng sinh ngựa con. Người hầu tên Xa Nặc, ngựa tên Kiền Trắc, vua thường sai theo hầu Thái tử.
Thái tử có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Thân cao một trượng sáu, mình màu kim sắc, đỉnh đầu có nhục kế, xương má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có hình bánh xe ngàn căm, hào quang nơi cổ chiếu vạn dặm. Đó là nói lược về tướng mạo. Năm 17 tuổi, vua cưới vợ cho Ngài là con gái nước láng giềng. Thái tử ngồi thì dời ghế, ngủ thì khác giường, thiên đạo sáng tỏ, âm dương thông hòa. Sau đó vợ mang thai một con trai, sáu năm mới sinh.
Phụ vương trân quý Thái tử, xây dựng cung đài, bày biện kỹ nữ bảo vật trước mặt. Thái tử không ham vui thế tục, ý để nơi đạo đức. Năm 19 tuổi, đêm mồng tám tháng tư, Ngài gọi Xa Nặc thắng yên ngựa Kiền Trắc mà cưỡi, quỷ thần nâng chân ngựa bay ra khỏi cung. Sáng hôm sau, không ai biết Ngài ở đâu. Nhà vua và dân chúng đều than khóc, đuổi theo đến cánh đồng. Vua nói: 'Trước kia chưa có con, ta đã cầu khẩn thần kỳ; nay đã có con quý như ngọc khuê, phải nối nghiệp vị, sao lại ra đi?'. Thái tử đáp: 'Vạn vật vô thường, có tồn tại ắt có diệt vong; nay con muốn học đạo để cứu độ mười phương'.
Vua biết chí Ngài kiên định nên quay về. Thái tử đi thẳng, tu hành sáu năm rồi thành Phật. Sinh vào tháng giữa mùa hạ vì thời tiết không lạnh không nóng, cỏ hoa tươi tốt, là lúc cởi áo lông cáo mà mặc áo vải thưa. Sinh tại Thiên Trúc vì đó là trung tâm trời đất, nơi điều hòa nhất. Kinh điển Ngài để lại gồm 12 bộ, hợp thành 8 ức 4 ngàn vạn quyển. Quyển lớn dưới vạn chữ, quyển nhỏ trên ngàn chữ. Phật dạy dỗ thiên hạ, cứu độ nhân dân, rồi vào ngày 15 tháng hai mà nhập Niết-bàn. Kinh giới của Ngài vẫn còn, ai có thể tuân hành cũng sẽ đắc vô vi, phúc lưu hậu thế. Người giữ Ngũ giới thì mỗi tháng có 6 ngày trai giới, ngày đó chuyên tâm nhất ý, hối lỗi tự mới. Sa-môn giữ 250 giới, ngày ngày trai giới, giới đó hàng Ưu-bà-tắc không được nghe. Uy nghi đi đứng không khác điển lễ cổ xưa, suốt ngày đêm giảng đạo tụng kinh, không dự việc đời. Lão Tử nói: 'Cái dung mạo của đức lớn, chỉ thuận theo đạo'. Chính là ý này vậy".
Hỏi: “Tại sao gọi chính xác là Phật? Phật nghĩa là gì?”
Mâu Tử đáp: “Phật là thụy hiệu, giống như gọi Tam Hoàng là Thần, Ngũ Đế là Thánh vậy. Phật là nguyên tổ của đạo đức, là tông tự của thần minh. Chữ Phật nghĩa là Giác. Ngài biến hóa thấp thoáng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, có thể thu nhỏ phóng to, có thể hóa tròn hóa vuông, có thể hóa già hóa trẻ, có thể ẩn mình hiện rõ; giẫm vào lửa không cháy, đi trên lưỡi dao không thương, ở nơi ô uế không bị nhục, gặp tai họa không bị ương; muốn đi liền bay, ngồi thì tỏa sáng, cho nên hiệu là Phật.”
Hỏi: “Thế nào gọi là Đạo? Đạo thuộc loại nào?”
Mâu Tử đáp: “Chữ Đạo nghĩa là dẫn dắt. Dẫn dắt con người đạt đến vô vi. Kéo đi thì không thấy phía trước, dắt đi thì không thấy phía sau; nâng lên thì không thấy phía trên, ấn xuống thì không thấy phía dưới; nhìn thì không thấy hình, nghe thì không thấy tiếng; bao la ngoài bốn cõi là lớn, len lỏi trong mảy may là nhỏ. Cho nên gọi là Đạo.”
Hỏi: “Khổng Tử dùng Ngũ Kinh làm đạo giáo, có thể chắp tay mà tụng, dốc lòng mà hành. Nay ông nói Đạo hư vô thấp thoáng, không thấy ý tứ, không chỉ rõ sự việc, sao lại khác biệt với lời Thánh nhân như vậy?”
Mâu Tử đáp: “Không nên xem trọng những gì mình đã quen, xem nhẹ những gì mình hiếm thấy. Hoặc bị lầm lẫn bởi vẻ bề ngoài mà đánh mất cái thực chất bên trong. Lập sự không rời đạo đức, giống như điều chỉnh dây đàn không sai cung thương. Thiên đạo phỏng theo bốn mùa, nhân đạo phỏng theo ngũ thường. Lão Tử nói: ‘Có vật hỗn thành, sinh trước cả trời đất, có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên nó, gượng đặt chữ là Đạo’. Đạo là một vật, ở nhà có thể phụng thờ cha mẹ, trị quốc có thể quản lý người dân, độc lập có thể tu sửa bản thân; áp dụng hành trì thì tràn đầy khắp trời đất, bỏ đi không dùng thì tiêu biến nhưng không rời xa. Ông không hiểu điều đó, chứ có gì là khác biệt đâu?”
Hỏi: “Phát ngôn chân thực nhất thì không hoa mỹ, lời lẽ chí lý nhất thì không trang sức. Lời tóm lược mà đạt ý là đẹp, sự việc ít ỏi mà thông suốt là sáng suốt. Cho nên châu ngọc ít thì quý, ngói sỏi nhiều thì rẻ. Thánh nhân chế định cái gốc của Thất Kinh không quá ba vạn lời, mà muôn việc đều đầy đủ ở trong. Nay kinh Phật quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, không phải sức một người có thể kham nổi. Tôi cho là rườm rà mà không trọng yếu.”
Mâu Tử đáp: “Sông biển sở dĩ khác với nước vũng rãnh là vì nó sâu rộng; năm núi lớn sở sở dĩ khác với gò đồi là vì nó cao lớn. Nếu núi cao không vượt hơn gò đống, cừu què cũng leo lên đỉnh; vực sâu không tách rời dòng nước nhỏ, trẻ con cũng tắm ở trong đầm. Ngựa kỳ ký không ở trong vườn thú, cá nuốt thuyền không bơi ở khe nước sâu vài thước. Mổ con trai ba tấc mà đòi tìm ngọc minh nguyệt, tìm trong tổ cây gai góc mà đòi kiếm chim non phượng hoàng, tất khó mà đạt được. Vì sao vậy? Cái nhỏ không thể chứa được cái lớn. Kinh Phật phía trước nói chuyện trăm triệu năm, phía sau nói điều cốt yếu của muôn đời. Thuở thái tố chưa dấy, thái thủy chưa sinh, càn khôn mới mở, cái vi diệu của nó không thể nắm bắt, cái tinh tế của nó không thể đi vào, Phật đều bao quát bên ngoài cái rộng lớn ấy, mổ xẻ bên trong cái thâm diệu ấy, không gì không ghi chép. Cho nên kinh quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, càng nhiều càng đầy đủ, càng đông càng phong phú. Sao lại nói là không trọng yếu? Tuy không phải một người có thể kham nổi, nhưng ví như đến bên sông uống nước, uống no thì tự đủ, cần gì phải biết đến phần nước còn lại?”
Hỏi: “Kinh Phật nhiều như vậy, nay muốn lấy chỗ cốt lõi mà bỏ phần còn lại, chỉ nói thẳng cái chân thực mà bỏ đi cái hoa mỹ, được chăng?”
Mâu Tử đáp: “Không được. Mặt trời mặt trăng đều sáng, mỗi bên soi chiếu một nơi; hai mươi tám vì sao, mỗi sao chủ quản một việc; trăm phương thuốc cùng sinh, mỗi vị chữa lành một bệnh. Áo lông cáo để chống rét, áo vải thưa để ngồi mát; thuyền và xe đi đường khác nhau, đều đưa hành khách đến nơi. Khổng Tử không vì Ngũ Kinh đã đầy đủ mà không sáng tác thêm Xuân Thu, Hiếu Kinh, ấy là muốn mở rộng đạo thuật, thuận theo ý muốn của mỗi người. Kinh Phật tuy nhiều, nhưng quy tụ lại là một. Giống như Thất điển tuy khác nhau, nhưng chỗ coi trọng đạo đức, nhân nghĩa cũng là một. Kinh Hiếu sở dĩ nói nhiều điều, là tùy theo hành vi của mỗi người mà ban dạy. Như Tử Trương và Tử Du cùng hỏi về một chữ Hiếu, mà Trọng Ni đáp lại mỗi người một khác, ấy là để uốn nắn chỗ ngắn của họ. Có gì mà phải bỏ đi?”
Hỏi: “Phật đạo chí tôn chí đại, tại sao Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng không tu theo? Trong Thất Kinh không thấy lời lẽ nào về Phật. Ông đã say mê Kinh Thi, Kinh Thư, vui thích Kinh Lễ, Kinh Nhạc, cớ sao lại quay sang ưa chuộng Phật đạo, thích học thuật lạ? Há có thể vượt qua kinh truyền, làm đẹp thêm sự nghiệp của Thánh nhân sao? Tôi trộm nghĩ ông không nên theo.”
Mâu Tử đáp: “Sách không nhất thiết phải là lời của Khổng Khâu, thuốc không nhất thiết phải là phương của Biển Thước; hợp với nghĩa thì theo, chữa lành bệnh là tốt. Quân tử thu nhận rộng rãi các điều thiện để bổ trợ cho bản thân. Tử Cống nói: ‘Thầy ta có một bậc thầy cố định nào đâu?’. Vua Nghiêu học Doãn Thọ, vua Thuấn học Vụ Thành, Chu Công học Lã Vọng, Khổng Khâu học Lão Đam, những điều này cũng đều không thấy trong Thất Kinh. Bốn vị thầy ấy tuy là bậc thánh, nhưng so với Phật, thì như hươu trắng so với kỳ lân, chim én so với phượng hoàng vậy. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng còn đi học họ, huống chi Phật thân tướng tốt đẹp, biến hóa thần lực vô cùng, sao lại có thể bỏ mà không học? Sự nghĩa trong Ngũ Kinh có chỗ còn khuyết thiếu; việc Phật không được ghi chép lại, có gì đáng để quái lạ và nghi ngờ?”
Hỏi: “Nói rằng Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, sao lại khác người đến thế? Đó chắc là lời nói ngoa dụ, không phải chuyện có thực.”
Mâu Tử đáp: “Tục ngữ có câu: Thấy ít thì lạ nhiều, nhìn thấy lạc đà lại bảo là con ngựa bị sưng lưng. Vua Nghiêu lông mày tám màu, vua Thuấn mắt có hai con ngươi, Cao Dao mỏ chim, Văn Vương bốn đầu vú, Hạ Vũ tai có ba lỗ, Chu Công lưng còng, Phục Hy mũi rồng, Trọng Ni đầu lõm; Lão Tử trán nổi hình sừng mặt lộ vẻ huyền vi, mũi có hai sống, tay nắm mười chữ, chân đạp hai số năm. Đây chẳng phải là khác với người thường sao? Tướng tốt của Phật có gì đáng để nghi ngờ!”
Hỏi: “Hiếu Kinh nói: ‘Thân thể, tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám hủy thương’. Tăng Tử lúc sắp mất, bảo mở tay mở chân ta xem. Nay Sa-môn cạo đầu, sao lại trái với lời Thánh nhân, không hợp với đạo con hiếu như vậy? Ông thường thích luận bàn thị phi, phân định cong thẳng, mà ngược lại cho việc đó là tốt sao?”
Mâu Tử đáp: “Nói xấu thánh hiền là bất nhân, phân định không đúng là bất trí. Bất nhân bất trí thì lấy gì lập đức? Đức đã không lập, thì cũng như hạng ngu muội. Luận bàn đâu có dễ dàng! Xưa có người nước Tề đi thuyền qua sông, cha bị ngã xuống nước, con giật cánh tay, túm tóc cha, kéo lộn ngược để nước trong miệng chảy ra, nhờ đó mạng cha được cứu sống. Việc túm tóc, kéo ngược là bất hiếu không gì lớn bằng; nhưng vì để vẹn toàn thân mạng cho cha, nếu cứ chắp tay sửa mình theo lẽ thường của con hiếu thì mạng cha đã dứt dưới dòng nước rồi. Khổng Tử nói: ‘Có thể cùng đi trên đạo, nhưng chưa thể cùng tùy quyền biến’. Đó là việc tùy thời nghi mà áp dụng vậy.
Hơn nữa Hiếu Kinh nói: ‘Bậc tiên vương có đức lớn đạo trọng’, vậy mà Thái Bá cắt tóc vẽ mình, tự theo phong tục xứ Ngô Việt, trái với nghĩa của thân thể tóc da, thế nhưng Khổng Tử lại ngợi khen: ‘Như thế có thể gọi là đức lớn vậy’. Trọng Ni không vì việc ông cắt tóc mà chê trách. Từ đó mà nhìn, nếu có đại đức thì không câu nệ tiểu tiết. Sa-môn hiến của cải, bỏ vợ con, không nghe âm thanh không xem sắc đẹp, có thể gọi là bậc nhường nhịn đến cùng cực. Sao lại bảo trái lời Thánh nhân, không hợp với đạo hiếu? Dự Nhượng nuốt than, sơn mình, Nhiếp Chính rạch mặt tự hình, Bá Cơ lao vào lửa cao hạnh, Cắt Dung tự rạch mặt. Quân tử cho họ là dũng cảm vì đại nghĩa mà chết, chưa từng nghe ai mỉa mai họ tự hủy hoại thân mình. Sa-môn cạo bỏ râu tóc, đem so với bốn người kia, chẳng phải còn tiến xa hơn sao?”
Hỏi: “Trong các phúc không gì hơn có người nối dõi, trong các tội bất hiếu không gì lớn bằng vô hậu. Sa-môn từ bỏ vợ con, hiến bỏ tài sản, có người suốt đời không lấy vợ, sao lại trái với hành vi hưởng phúc và hành hiếu như vậy! Tự làm khổ mình mà chẳng có gì kỳ lạ, tự đẩy mình đến cùng cực mà chẳng có gì khác biệt.”
Mâu Tử đáp: “Kẻ dài bên trái ắt ngắn bên phải, lớn phía trước ắt hẹp phía sau. Mạnh Công Chước làm tổng quản họ Triệu, họ Ngụy thì dư sức, nhưng không thể làm đại phu nước Đằng, nước Tiết. Vợ con, tài vật là vật thừa của cõi đời; trong sạch bản thân, vô vi là cái diệu của đạo. Lão Tử nói: ‘Danh vọng với thân mình, cái nào thân hơn? Thân mình với của cải, cái nào quý hơn?’. Lại nói: ‘Xem di phong của ba đời, nhìn đạo thuật của Nho Mặc, tụng thi thư, tu lễ tiết, sùng nhân nghĩa, coi trọng sự thanh khiết, người trong làng truyền nghiệp, danh tiếng lẫy lừng. Đó là việc kẻ trung sĩ thi hành, người điềm đạm chẳng thèm đoái hoài. Cho nên phía trước có ngọc tùy châu, phía sau có hổ dữ, thấy vậy liền chạy mà không dám lấy, vì sao? Vì đặt tính mạng lên trước, lợi lộc theo sau’. Hứa Do làm tổ trên cây, Di Tề chịu đói núi Thủ Dương, vua Thuấn và Khổng Tử khen họ hiền rằng: ‘Ấy là hạng người cầu nhân được nhân vậy’. Chưa từng nghe ai mỉa mai họ không có người nối dõi, không có của cải. Sa-môn tu đạo đức để đổi lấy thú vui rong chơi ở đời; hướng về sự thục hiền để từ bỏ niềm vui vợ con. Điều đó không gọi là kỳ lạ thì cái gì là kỳ lạ? Điều đó không gọi là khác biệt thì cái gì là khác biệt?”
Hỏi: “Hoàng Đế buông vạt áo làm xiêm xướng, chế định phục sức; Cơ Tử bày ra Hồng Phạm, tướng mạo đứng đầu năm việc; Khổng Tử làm Hiếu Kinh, trang phục là khởi đầu của ba đức. Lại nói: sửa sang y quan, tôn nghiêm tầm nhìn. Nguyên Hiến tuy nghèo nhưng không rời mũ hoa; Tử Lộ gặp nạn không quên thắt dải mũ. Nay Sa-môn cạo tóc, khoác vải đỏ, gặp người không có lễ nghi quỳ dậy, không có dáng vẻ đi đứng khoan thai, sao lại trái với chế độ về tướng mạo trang phục, đi ngược với lối điểm trang của bậc sỹ phu.”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Bậc thượng đức không hiển lộ đức, cho nên có đức; bậc hạ đức không rời bỏ đức, cho nên không có đức’. Thời Tam Hoàng, ăn thịt mặc da, ở tổ trong hang để tôn sùng chất phác; há lại cần đến mũ chương phủ, áo lông cừu cong để trang sức sao? Thế nhưng người thời đó được khen là có đức, thuần hậu, thành thực và vô vi. Hành vi của Sa-môn có phần giống như vậy.”
Có người hỏi: “Như lời ông nói, thì những bậc như Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều bị vứt bỏ, không đáng để noi theo sao?”
Mâu Tử đáp: “Thấy rộng thì không lầm, nghe thông thì không hoặc. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng tu sửa việc đời; Phật và Lão Tử giữ chí vô vi. Trọng Ni bôn ba hơn bảy mươi nước, Hứa Do nghe nhường ngôi liền rửa tai bên vực sâu. Đạo của quân tử, hoặc xuất thế hoặc xử thế, hoặc im lặng hoặc nói năng, không để tràn trề cái tình, không buông thả cái tính. Cho nên cái quý của đạo là ở chỗ vận dụng phù hợp, có gì mà phải vứt bỏ đâu?”
Hỏi: “Phật đạo nói: Người chết rồi sẽ lại đầu thai sinh ra đời khác. Tôi không tin điều này là xác thực.”
Mâu Tử đáp: “Người sắp chết, người nhà trèo lên nóc nhà hú gọi. Người đã chết rồi, lại gọi ai?”
Người kia đáp: “Gọi hồn phách của người đó”.
Mâu Tử nói: “Thần hồn quay về thì sống, không quay về thì thần hồn đi đâu?”
Đáp: “Thành quỷ thần”.
Mâu Tử nói: “Đúng thế. Hồn thần vốn không diệt, chỉ có thân xác tự mục nát mà thôi. Thân xác ví như gốc lá của ngũ cốc, hồn thần như hạt giống của ngũ cốc; gốc lá mọc lên ắt phải chết, hạt giống há lại có lúc mất đi sao? Kẻ đắc đạo thì thân diệt mà thôi. Lão Tử nói: ‘Ta sở dĩ có nỗi lo lớn, là vì ta có thân; nếu ta không có thân, ta còn lo gì?’. Lại nói: ‘Công thành danh toại, thân lui về, ấy là đạo trời vậy’.”
Có người hỏi: “Tu đạo cũng chết, không tu đạo cũng chết, có gì khác biệt đâu?”
Mâu Tử đáp: “Đây gọi là kẻ không có nổi một ngày làm thiện mà lại đòi hỏi tiếng thơm suốt đời vậy. Người có đạo tuy chết, thần hồn về nhà phúc; kẻ làm ác đã chết, thần hồn chịu tai ương. Kẻ ngu muội tăm tối khi việc đã thành, người hiền trí dự tính từ khi chưa nảy mầm. Người có đạo và không có đạo, như vàng so với cỏ; điều thiện cùng niềm phúc, như sắc trắng đối với sắc đen. Sao lại không khác biệt, mà lại bảo có gì khác đâu?”
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Chưa biết thờ người, sao biết thờ quỷ?', 'Chưa biết việc sống, sao biết việc chết?'. Đây là những điều Thánh nhân ghi chép. Nay nhà Phật lại hay nói chuyện sống chết, việc quỷ thần, đây hẳn không phải lời của bậc Thánh triết. Người hành đạo nên hư vô điềm đạm, giữ chí chất phác. Cớ sao lại bàn chuyện sống chết làm loạn tâm chí, thuyết chuyện quỷ thần là việc dư thừa?"
Mâu Tử đáp: "Lời ông nói là thấy vẻ ngoài mà chưa hiểu bên trong. Khổng Tử ghét Tử Lộ không hỏi gốc ngọn nên mới dùng lời đó ức chế mà thôi. Hiếu Kinh nói: 'Lập tông miếu để quỷ hưởng tế; xuân thu cúng tế theo thời mà tưởng nhớ'. Lại nói: 'Lúc sống thờ bằng lòng yêu kính, khi chết thờ bằng nỗi đau buồn'. Há chẳng phải dạy người thờ quỷ thần, biết chuyện sống chết sao! Chu Công vì vua Vũ Vương mà khấn xin mệnh rằng: 'Đán này đa tài đa nghệ, có thể thờ phụng quỷ thần'. Ấy là vì việc gì! Chuyện sống chết mà kinh Phật nói đến há chẳng phải cùng loại đó sao? Lão Tử nói: 'Biết con mình lại giữ lấy mẹ mình, suốt đời không nguy'. Lại nói: 'Dùng hào quang trở về sự sáng suốt, không để thân bị tai ương'. Đây là hướng đến của đạo sống chết, nơi trú ngụ của cát hung. Chỗ yếu cốt của chí đạo thực quý ở lặng lẽ, nhà Phật há lại thích nói sao? Chẳng qua vì ông hỏi nên không thể không đáp vậy! Chuông trống há tự kêu? Do dùi đánh vào mới có tiếng đó."
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Người Di Địch có vua, không bằng các nước Hoa Hạ mất vua'. Mạnh Tử chê Trần Tương đổi sang học thuật của Hứa Hành rằng: 'Ta nghe dùng Hoa Hạ biến đổi Di Địch, chưa nghe dùng Di Địch biến đổi Hoa Hạ'. Ông từ lúc trẻ học đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng, nay lại vứt bỏ mà học thuật Di Địch, chẳng phải là lầm lạc lắm sao?"
Mâu Tử đáp: "Đây là những lời lẽ lúc tôi chưa hiểu đại đạo mà thôi. Ông có thể nói là thấy cái hoa mỹ của lễ chế mà tăm tối trước cái thực của đạo đức; nhìn ánh sáng đuốc đèn mà chưa thấy mặt trời nơi thiên đình. Lời Khổng Tử nói là để sửa phép đời. Lời Mạnh Kha nói là vì ghét sự chuyên nhất. Xưa Khổng Tử muốn sang ở đất Cửu Di, nói rằng: 'Quân tử ở đó thì có gì là hèn lậu?'. Đến như lúc Trọng Ni không được dùng ở Lỗ, Vệ; Mạnh Kha không được dùng ở Tề, Lương, há lại sang làm quan cho Di Địch sao? Vũ xuất thân từ Tây Khương mà là bậc Thánh triết, Cổ Sưu sinh ra Thuấn mà là kẻ ngu ngoan, Do Dư sinh ở nước Địch mà giúp Tần xưng bá, Quản Sái từ vùng Hà Lạc mà gieo lời phao tin. Truyện nói: 'Sao Bắc Thần ở giữa trời, ở phía Bắc của người'. Nhìn từ đó thì đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời. Kinh Phật nói khắp trên dưới vòng quanh, loài có máu thịt đều thuộc về Phật. Thế nên tôi tôn sùng mà học theo, việc gì phải bỏ đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng? Vàng ngọc không hại nhau, ngọc tùy ngọc bích không ngăn nhau, bảo người là lầm lạc, thì chính mình đang tự lầm lạc vậy."
Hỏi: "Lấy của cải của cha cho người đi đường thì không thể gọi là ban ơn; cha mẹ còn sống mà giết mình thay người thì không thể gọi là nhân. Nay kinh Phật chép: Thái tử Tu Đại lấy của cải của cha bố thí cho người phương xa; lấy voi báu của nước tặng kẻ thù; đem cả vợ con cho người khác. Không kính cha mẹ mà kính người ngoài gọi là nghịch lễ; không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài gọi là nghịch đức. Tu Đại bất hiếu bất nhân mà nhà Phật tôn thờ, há chẳng lạ lùng sao!"
Mâu Tử đáp: "Nghĩa trong Ngũ Kinh là lập con trưởng. Văn Vương thấy chí của Cơ Xương nên chuyển ngôi đích cho con thứ, rốt cuộc thành nghiệp nhà Chu, đạt đến thái bình. Nghĩa cưới vợ là phải thưa cha mẹ; vua Thuấn không thưa mà cưới để thành đại luân. Kẻ sĩ trinh tiết chờ sính lễ, hiền thần đợi trưng triệu; Y Doãn vác vạc đến gặp vua Thang, Ninh Thích gõ sừng trâu tìm gặp Tề Hoàn Công; Thang nhờ đó mà vương, Tề nhờ đó mà bá. Lễ dạy: 'Trai gái không trao nhận trực tiếp, nhưng chị dâu đuối nước thì phải đưa tay ra cứu'. Ấy là tùy quyền khi cấp bách. Nếu thấy cái lớn thì không câu nệ cái nhỏ, bậc đại nhân há lại câu nệ lẽ thường! Tu Đại thấy đời vô thường, tài vật không phải kho báu của mình, nên tự ý bố thí để thành đại đạo. Nước của cha được hưởng phúc, quân thù không dám xâm phạm; đến khi thành Phật, cha mẹ anh em đều được độ thoát. Nếu đó không phải hiếu, không phải nhân, thì ai là người nhân hiếu?"
Hỏi: "Phật đạo trọng vô vi, vui bố thí, giữ giới luật, nơm nớp như đứng bên vực sâu. Nay Sa-môn ham mê rượu chè, hoặc nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên làm việc dối trá, đó là sự giả dối lớn trong đời, mà Phật đạo gọi là vô vi sao?"
Mâu Tử đáp: "Công Thâu Ban có thể cho người ta rìu đục dây mực, nhưng không thể khiến người ta thành thợ giỏi; Thánh nhân có thể truyền đạo cho người, nhưng không thể bắt họ phải thực hành đúng. Cao Dao có thể trị tội kẻ trộm, nhưng không thể khiến kẻ tham thành như Bá Di, Thúc Tề; ngũ hình có thể giết kẻ vô đạo, nhưng không thể khiến đứa con ác thành như Tăng Sâm, Mân Tử Khiên. Vua Nghiêu không hóa được Đan Chu, Chu Công không dạy được Quản Sái, há là do giáo hóa thời Đường không hiển, đạo nhà Chu không đủ sao? Chẳng qua là không làm gì được kẻ ác vậy. Ví như người đời học thông Thất Kinh mà mê đắm tài sắc, thì có thể gọi Lục Nghệ là tà dâm sao? Hà Bá tuy linh thiêng nhưng không dìm chết người trên đất bằng; gió lốc tuy nhanh nhưng không thể khiến bụi bay dưới nước sâu. Đáng lo là người không thực hành được đạo, sao có thể bảo Phật đạo có điều ác?"
Hỏi: "Khổng Tử khen: 'Xa hoa thì không khiêm tốn, tiết kiệm thì cố chấp, thà cố chấp còn hơn không khiêm tốn'. Thúc Tôn nói: 'Tiết kiệm là sự cung kính của đức, xa xỉ là cái lớn của ác'. Nay nhà Phật dốc hết tài sản để bố thí, đem hết của cải cho người là quý, liệu có phúc chăng?"
Mâu Tử đáp: "Đó là một thời, đây là một thời. Lời của Trọng Ni là ghét sự xa hoa vô lễ; luận của Thúc Tôn là châm chọc việc chạm trổ cột nhà. Chứ không phải cấm bố thí. Vua Thuấn cày núi Lịch, ơn không đến được xóm giềng; Thái Công mổ trâu, huệ không đến được vợ con. Đến khi được trọng dụng, ơn lưu tám cõi, huệ ban bốn biển. Của cải nhiều thì quý ở chỗ biết cho; nghèo khổ túng thiếu thì quý ở chỗ giữ đạo. Hứa Do không tham bốn biển; Bá Di không màng đến nước nhà; Ngu Khanh bỏ phong tước vạn hộ để cứu người lúc khốn cùng; mỗi người một chí vậy. Hi Phụ Cơ nhờ ơn một bữa ăn mà bảo toàn được xóm mình; Tuyên Mạnh vì một bát cơm mà cứu mạng sống quý báu. Ngầm ban ơn thì kín đáo, quả báo hiện ra rạng rỡ như ban ngày. Huống chi dốc của cải nhà phát tâm thiện, công đức ấy sừng sững như núi Tung, núi Thái, mênh mông như sông rộng, biển dài. Người ôm lòng thiện sẽ được hưởng phúc, kẻ gieo điều ác sẽ chịu tai ương, chưa từng có ai trồng lúa mà được mạch, làm họa mà được phúc bao giờ!"
Hỏi: “Việc làm không gì hơn thành thực, lời nói không gì hơn chân thực. Lão Tử bỏ lời hoa mỹ trang sức, sùng bái lời chất phác. Kinh Phật nói không chỉ rõ sự việc, chỉ rộng lấy ví dụ. Ví dụ không phải là điều cốt yếu của đạo, gộp cái khác làm cái giống nhau không phải là cái diệu của sự việc. Tuy lời lẽ nhiều và rộng, nhưng như một xe mảnh ngọc vụn, không thể coi là báu vật.”
Mâu Tử đáp: “Sự việc thường cùng thấy thì có thể nói bằng sự thực. Một người thấy một người không thấy thì khó nói bằng lời thành thực vậy. Xưa có người chưa thấy con lân, hỏi người từng thấy: Lân thuộc loại nào? Người thấy nói: Lân giống như con lân vậy. Người hỏi nói: Nếu tôi từng thấy lân thì đã không hỏi ông; nay ông nói lân như lân, sao mà hiểu được? Người thấy bèn nói: Lân thân giống mễn, đuôi bò, móng nai, lưng ngựa. Người hỏi liền hiểu ra. Khổng Tử nói: ‘Người ta không biết mà không giận, chẳng phải quân tử sao!’. Lão Tử nói: ‘Khoảng giữa trời đất há như ống thụt bễ sao?’. Lại nói: ‘Ví Đạo trong thiên hạ như sông khe với sông biển, há lại hoa mỹ trang sức sao?’. Luận Ngữ nói: ‘Vì chính bằng đức, ví như sao Bắc Thần’. Ấy là dẫn trời để ví với người vậy. Tử Hạ nói: ‘Ví như các loài cỏ cây, phân khu để phân biệt vậy’. Ba trăm bài thơ kéo vật hợp loại, cho đến chư tử sấm vĩ, điều bí yếu của thánh nhân, không gì không dẫn dụ lấy ví dụ. Sao ông lại một mực ghét việc kinh Phật nói hay dùng ví dụ chứ?”
Hỏi: “Con người ở đời, không ai không thích phú quý mà ghét nghèo hèn, vui sướng an dật mà sợ lao nhọc mỏi mệt. Hoàng Đế nuôi tính, lấy năm món ăn làm trọng. Khổng Tử nói: ‘Cơm không chê tinh, gỏi không chê thái nhỏ’. Nay Sa-môn khoác vải đỏ, ngày ăn một bữa, đóng sáu tình, tự khép mình ở đời. Như thế thì có gì là vui sống?”
Mâu Tử đáp: “Giàu và sang là điều người ta muốn, nhưng không dùng đạo mà được thì không ở vậy. Nghèo và hèn là điều người ta ghét, nhưng không dùng đạo mà được thì không bỏ vậy. Lão Tử nói: ‘Năm màu khiến người ta mù mắt, năm âm khiến người ta điếc tai, năm vị khiến người ta tê lưỡi. Ruổi ngựa săn bắn khiến lòng người phát cuồng, của cải khó được khiến hành vi bị tổn hại. Cho nên thánh nhân vì bụng không vì mắt’. Phương thuốc này há luống suông sao! Liễu Hạ Huệ không vì ngôi Tam công mà đổi hành vi của mình; Đoạn Can Mộc không vì thân mình mà đổi lấy cái giàu của Ngụy Văn Hầu; Hứa Do, Sào Phủ làm tổ trên cây mà ở, tự cho là yên ổn hơn cung điện đế vương; Di Tề nhịn đói ở núi Thủ Dương, tự cho là no đủ hơn thời Văn Vũ. Ấy là mỗi người đều được chí của mình mà thôi. Có gì là không vui sống?”
Hỏi: “Nếu kinh Phật sâu nhiệm đẹp đẽ như thế, sao ông không bàn luận nơi triều đình, luận bàn với quân phụ, sửa trị nơi khuê môn, tiếp đãi nơi bạn bè? Sao lại còn học kinh truyền, đọc chư tử làm gì?”
Mâu Tử đáp: “Chưa thấu nguồn của nó mà đã hỏi dòng của nó vậy. Kế bày thớt cúng nơi cửa lũy, dựng cờ xí nơi triều đường, mặc áo lông cáo để đón tiết Nhuy tân, khoác vải thưa để chống tiết Hoàng chung, không phải là không đẹp, nhưng trái chỗ sai thời vậy. Cho nên giữ thuật của Khổng Tử vào cửa Thương Ưởng, mang thuyết của Mạnh Kha đến sân Tô Trương, công không được phân tấc mà tội có trượng xích vậy. Lão Tử nói: ‘Bậc thượng sĩ nghe đạo, chăm chỉ hành trì; bậc trung sĩ nghe đạo, như còn như mất; bậc hạ sĩ nghe đạo, cười lớn một tiếng’. Tôi sợ tiếng cười lớn ấy nên không bàn luận vậy. Khát không nhất thiết phải đợi sông dài, mà uống nước giếng suối, có gì là không no đủ? Vì vậy tôi mới trị lại kinh truyền vậy.”
Hỏi: "Đất Hán bắt đầu nghe đạo Phật từ đâu mà ra?"
Mâu Tử đáp: "Xưa Hiếu Minh Hoàng đế mộng thấy thần nhân, thân có ánh sáng mặt trời, bay trước điện. Vua hớn hở vui mừng. Hôm sau hỏi khắp quần thần: Đây là vị thần nào? Có người uyên bác là Phó Nghị thưa: 'Thần nghe ở Thiên Trúc có người đắc đạo hiệu là Phật, bay đi trên hư không, thân có ánh sáng mặt trời, hẳn là vị thần ấy vậy'. Thế là vua tỉnh ngộ, sai Trung lang Thái Âm, Vũ lâm lang trung Tần Cảnh, bác sĩ đệ tử Vương Tuân cùng mười tám người đến nước Đại Nguyệt Chi, chép kinh Phật bốn mươi hai chương, cất ở gian thứ mười bốn trong thạch thất Lan Đài. Bấy giờ ở ngoài cửa Ung môn phía tây thành Lạc Dương xây chùa Phật, trên vách vẽ nghìn xe muôn ngựa nhiễu tháp ba vòng. Lại ở đài Thanh Lương trong Nam Cung và trên cửa thành Khai Dương làm tượng Phật. Minh Đế khi còn sống tự xây sẵn thọ lăng, gọi là Hiển Tiết, cũng ở trên đó làm hình vẽ Phật. Bấy giờ nước giàu dân an, di địch phương xa mến nghĩa. Người học từ đó mà thêm đông."
Hỏi: “Lão Tử nói: ‘Người biết không nói, người nói không biết’. Lại nói: ‘Khéo biện như nói ngọng, khéo léo như vụng về’. Quân tử hổ thẹn vì lời nói quá hành vi, giả sử Sa-môn có chí đạo, sao không ngồi đó mà hành trì? Sao lại còn bàn luận thị phi phân định cong thẳng? Tôi cho rằng, đây là kẻ tặc hại đức hạnh.”
Mâu Tử đáp: “Mùa xuân tới gặp năm đói lớn, mùa thu này không ăn; tiết Hoàng chung đáng lạnh, tiết Nhuy tân lại mặc áo lông dày. Đề phòng tuy sớm nhưng không tránh khỏi ngu xuẩn. Lời Lão Tử nói là chỉ người đắc đạo vậy. Người chưa đắc đạo thì biết gì mà nói! Đại đạo một lời mà thiên hạ vui mừng, há chẳng phải đại biện sao? Lão Tử há chẳng nói: ‘Công toại thân thoái, đạo trời vậy’ đó sao. Thân đã thoái rồi, còn nói gì nữa! Nay Sa-môn chưa kịp đắc đạo, sao được không nói? Lão Tử cũng vẫn nói đó thôi. Nếu như không nói, năm ngàn chữ chép việc gì? Nếu biết mà không nói thì được; đã không thể biết lại không thể nói, ấy là người ngu vậy. Cho nên, nói được không hành được là thầy của nước; hành được không nói được là đồ dùng của nước; hành được nói được là báu vật của nước. Ba hạng mỗi hạng có chỗ dùng, sao lại là tặc hại đức hạnh? Chỉ có kẻ không nói được lại không hành được, mới gọi là tặc vậy.”
Hỏi: “Như lời ông nói, thì chỉ nên học biện đạt, tu ngôn luận; há lại còn sửa tình tính, xỏ giày đi theo đạo đức sao?”
Mâu Tử đáp: “Sao khó hiểu đến thế vậy! Lời nói đàm luận, mỗi lúc một khác. Cừ Viện nói: ‘Nước có đạo thì ra giúp thẳng, nước không đạo thì cuốn cuốn mà giấu đi’. Ninh Vũ Tử nước có đạo thì khôn, nước không đạo thì ngu. Khổng Tử nói: ‘Có thể nói cùng mà không nói cùng, mất người; không thể nói cùng mà nói cùng, mất lời’. Cho nên khôn ngu tự có thời, đàm luận mỗi đường có ý, cớ sao khi đáng ngôn luận lại không hành trì?”
Hỏi: “Sao nói đạo Phật chí tôn, chí khoái, vô vi, điềm đạm? Người đời và học sĩ nhiều kẻ báng bổ chê bai rằng: Lời thuyết của nó trống rỗng khó dùng, hư vô khó tin, là sao?”
Mâu Tử đáp: “Vị ngon nhất không hợp với miệng đám đông, tiếng lớn không vừa với tai đám đông. Trỗi nhạc Hàm trì, bày nhạc Đại chương; phát nhạc Tiêu thiều, ca bài Cửu thành; không ai họa theo cả. Gảy khúc đàn Trương, Trịnh, Vệ, là âm thanh thời tục, tất không hẹn mà vỗ tay rầm rập. Cho nên Tống Ngọc nói: ‘Khách hát ở đất Dĩnh, làm khúc Hạ lý, người họa theo có nghìn người. Dẫn điệu Thương kích điệu Giác, đám đông không ai ứng theo’. Đây đều là kẻ vui tiếng tà, không hiểu đại độ vậy. Hàn Phi lấy cái thấy qua ống tre mà trách Nghiêu Thuấn; Tiếp Dư lấy cái phân biệt sợi lông mảy mà mỉa mai Trọng Ni; đều là kẻ mê cái nhỏ mà bỏ qua cái lớn vậy. Kẻ nghe điệu Thanh thương mà bảo là điệu Giác, không phải lỗi của người gảy đàn, mà tại người nghe không thông vậy. Thấy ngọc Hòa bích mà gọi là hòn đá, không phải ngọc hèn, mà tại người nhìn không sáng vậy. Rắn thần có thể đứt rồi lại nối, nhưng không thể khiến người ta không chặt đứt nó; rùa thiêng báo mộng cho Tống Nguyên Công, nhưng không lánh khỏi lưới của Dự Thư. Đại đạo vô vi, không phải cõi tục nhìn thấy được. Không vì người khen mà quý, không vì người chê mà hèn, dùng hay không dùng là tự trời vậy! Hành hay không hành là tại thời vậy! Tin hay không tin là cái mệnh vậy!”
Hỏi: “Ông dùng kinh truyền để luận giải lời Phật, lời lẽ phong phú mà nghĩa lý hiển hiện, văn phong sắc sảo mà lý luận đẹp đẽ. Chẳng hay đó có phải là không từ lòng thành, mà chỉ là tài biện bác của ông sao?”
Mâu Tử đáp: “Không phải cái biện của tôi, mà vì thấy rộng nên không lầm lẫn vậy.”
Hỏi: “Thấy rộng có phương thuật gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Nhờ vào kinh Phật vậy. Khi tôi chưa hiểu kinh Phật, lòng còn mê muội hơn ông. Tuy tụng Ngũ Kinh nhưng chỉ coi đó là hoa mỹ, chưa thành quả thực. Từ khi tôi xem lời thuyết của kinh Phật, duyệt qua điều cốt yếu của Lão Tử, giữ tính khí điềm đạm, xem hành vi vô vi, nhìn lại việc đời như đứng bên giếng trời mà nhìn xuống khe núi, lên núi Tung núi Thái mà nhìn xuống gò đống vậy. Ngũ Kinh là năm vị, Phật đạo là năm ngũ cốc vậy. Tôi từ khi nghe đạo đến nay, như gạt mây thấy mặt trời, cầm đuốc lớn vào phòng tối vậy.”
Hỏi: “Ông nói kinh như sông biển, văn như gấm vóc, sao không dùng kinh Phật để đáp lời tôi hỏi, mà lại dẫn Kinh Thi, Kinh Thư, gộp cái khác làm cái giống nhau?”
Mâu Tử đáp: “Người khát không nhất thiết phải đợi sông biển mới uống, người đói không nhất thiết phải đợi kho vựa mới no. Đạo mở cho người trí, biện thông cho người đạt, sách truyền cho người hiểu, việc sáng cho người thấy. Tôi vì biết ông hiểu ý đó nên dẫn việc đó. Nếu nói lời kinh Phật, bàn điều cốt yếu của vô vi, thì ví như đối với người mù mà nói năm màu, vì người điếc mà gảy năm âm vậy. Sư Khoáng dù khéo không thể gảy cây đàn không dây, lông cáo dù ấm không thể làm nóng người không còn khí. Công Minh Nghi vì trâu gảy khúc Thanh giác, trâu vẫn cúi đầu ăn cỏ như cũ, không phải trâu không nghe thấy, mà vì không hợp tai nó vậy. Chuyển sang làm tiếng muỗi mòng, tiếng nghé con độc nhất, trâu liền vẫy đuôi vểnh tai, đi thong thả mà nghe. Thế nên tôi dùng Kinh Thi, Kinh Thư để lý giải với ông vậy.”
Hỏi: “Tôi xưa ở kinh sư, vào Đông Quán chơi Thái Học, xem điều các bậc tuấn sĩ quy định, nghe điều chốn nho lâm luận bàn. Chưa từng nghe việc tu Phật đạo là quý, tự hủy hoại dung mạo là cao thượng. Ông cớ sao lại say mê thế? Phải chăng đi lầm đường thì đổi lối, học thuật cùng thì quay về cội cũ, há không thể nghĩ lại sao?”
Mâu Tử đáp: “Kẻ giỏi biến hóa không thể cho xem sự dối trá, người thông suốt đạo không thể làm kinh hãi bằng sự quái dị, kẻ xét kỹ lời không thể làm mê hoặc bằng ngôn từ, người đạt thấu nghĩa không thể làm lay động bằng lợi lộc vậy. Lão Tử nói: ‘Danh là cái hại của thân, lợi là cái uế của hạnh’. Lại nói: ‘Bày dối trá lập quyền biến, hư vô tự làm quý’. Tu sửa lễ thuật chốn khuê môn, giao tế theo thời tục; tìm đến chỗ xu hướng, nắm lấy thời cơ, cốt để hợp với đương thế; đó là việc làm của kẻ hạ sĩ, là điều bậc trung sĩ vứt bỏ vậy. Huống chi đại đạo thênh thang, là việc hành trì của bậc thượng thánh sao? Sâu thẳm như trời, thăm thẳm như biển, không hợp với kẻ ghé mắt nhìn tường, hạng người tầm thường, vốn là lẽ đương nhiên vậy. Họ nhìn thấy cửa, tôi thấy nhà; họ hái hoa của nó, tôi lấy quả của nó; họ cầu cái đầy đủ, tôi giữ cái duy nhất. Ông hãy mau đổi đường, còn tôi xin bước tiếp. Nguồn gốc của họa phúc, chưa biết thế nào đâu!”
Hỏi: “Ông dùng lời lẽ kinh truyền, thuyết khoa trương hoa lệ để khen ngợi hạnh Phật, ca tụng đức Phật. Cao thì vượt tầng mây trong, rộng thì hơn bờ cõi đất, chẳng hay có vượt quá cái gốc, quá cái thực của nó sao? Còn tôi chê bai trách cứ, lại khá trúng vào căn bệnh của nó vậy.”
Mâu Tử đáp: “Ôi! Sự ca tụng của tôi như đem hạt bụi dính vào núi Tung núi Thái, gom giọt sương mai đổ vào sông biển. Sự báng bổ của ông như cầm bầu múc nước muốn làm giảm sông biển; dắt cày cuốc muốn làm mòn núi Côn Lôn; nghiêng một bàn tay muốn che ánh mặt trời; hốt cục đất muốn lấp dòng sông lớn. Sự ca tụng của tôi không thể làm Phật cao lên, sự hủy báng của ông không thể làm Phật thấp xuống vậy.”
Hỏi: “Vương Kiều, Xích Tùng vào sổ thần tiên, sách thần có một trăm bảy mươi quyển. Chuyện trường sinh ấy với kinh Phật há giống nhau sao?”
Mâu Tử đáp: “So sánh loại đó như Ngũ bá so với Ngũ đế, Dương Hóa so với Trọng Ni; so sánh hình thể ấy như gò đống so với núi Hoa núi Hằng, dòng nước nhỏ so với sông biển; so sánh văn phong ấy như da hổ trơn so với da cừu, hoa văn rực rỡ so với gấm vóc vậy. Đạo có chín mươi sáu thứ, đến như tôn đại không gì hơn Phật đạo. Sách thần tiên nghe thì tràn ngập bên tai, nhưng tìm hiệu quả của nó thì như nắm gió bắt bóng. Thế nên đại đạo không chọn, vô vi không quý, sao có thể giống nhau được!”
Hỏi: “Người tu đạo có kẻ tịch cốc không ăn mà lại uống rượu ăn thịt, cũng nói là phương thuật của Lão thị. Thế nhưng Phật đạo lấy rượu thịt làm giới luật hàng đầu, mà ngược lại ăn ngũ cốc. Sao lại trái ngược nhau như thế?”
Mâu Tử đáp: “Các đạo vụn vặt có tất cả chín mươi sáu thứ. Điềm đạm vô vi không gì hơn Phật. Tôi xem hai thiên thượng hạ của Lão thị, nghe có giới cấm năm vị, chưa thấy có lời nào tuyệt ngũ cốc. Thánh nhân chế định văn tự trong Thất điển không có thuật dừng ăn lương thực. Lão Tử viết năm ngàn chữ không có việc tịch cốc. Thánh nhân nói: Ăn ngũ cốc thì trí, ăn cỏ thì si, ăn thịt thì bạo悍, ăn khí thì thọ. Người đời không đạt việc đó, thấy sáu loài chim muông đóng khí không thở, mùa thu mùa đông không ăn, liền muốn bắt chước làm theo. Không biết vật loại mỗi thứ tự có tính riêng, như đá nam châm hút sắt, không thể hút nổi sợi lông mảy vậy.”
Hỏi: “Ngũ cốc có thể tuyệt được không?”
Mâu Tử đáp: “Khi tôi chưa hiểu đại đạo cũng từng học qua. Phép tịch cốc có hàng ngàn hàng trăm thuật, hành trì không hiệu quả, làm mà không có chứng nghiệm, nên bỏ đi mà thôi. Xem các thầy tôi theo học, gồm ba người, kẻ tự xưng bảy trăm, năm trăm, ba trăm tuổi. Nhưng tôi theo học chưa đầy ba năm, họ đều lần lượt qua đời. Sở dĩ như thế là vì tuyệt ngũ cốc không ăn mà lại ăn trăm quả, gặp thịt thì bày đầy mâm, uống rượu thì nghiêng vò; tinh loạn thần hôn, cốc khí không đầy; tai mắt mê muội, dâm tà không cấm. Tôi hỏi cớ sao? Họ đáp: ‘Lão Tử nói: bớt rồi lại bớt để đến mức vô vi, chỉ nên ngày ngày bớt đi mà thôi’. Nhưng tôi xem ra, họ chỉ ngày càng tăng lên chứ không bớt đi, thế nên đều chưa đến tuổi biết mệnh đã chết rồi. Vả lại Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều không sống được trăm năm, mà kẻ ngu hoặc đời sau lại muốn uống thuốc tịch cốc, cầu tuổi thọ khôn cùng, thương thay!”
Hỏi: “Người tu đạo nói có thể đẩy lùi tật bệnh không đau, không dùng châm thuốc mà khỏi. Có chuyện đó không? Sao nhà Phật có bệnh lại dùng châm thuốc?”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Vật tráng thì già, gọi là không hợp đạo’. Không hợp đạo thì sớm hết, chỉ có người đắc đạo là không sinh. Không sinh thì không tráng, không tráng thì không già, không già thì không bệnh, không bệnh thì không mục nát. Thế nên Lão Tử lấy thân làm nỗi lo lớn vậy. Vũ Vương nằm bệnh, Chu Công cầu mệnh; Trọng Ni có bệnh, Tử Lộ xin cầu đảo. Tôi thấy thánh nhân đều có bệnh cả, chưa thấy ai không bệnh vậy. Thần Nông nếm cỏ suýt chết mấy mươi lần; Hoàng Đế cúi đầu nhận châm nơi Kỳ Bá. Ba vị thánh nhân này há lại không bằng các đạo sĩ ngày nay sao? Xét kỹ lời này cũng đủ để bỏ thuyết đó rồi.”
Hỏi: “Đạo đều vô vi là một. Sao ông lại phân biệt sắp đặt, nói là có khác biệt? Lại khiến người học đâm ra hồ nghi, tôi cho là tốn công mà không có ích.”
Mâu Tử đáp: “Đều gọi là cỏ nhưng tính của muôn cỏ không thể nói hết; đều gọi là kim loại nhưng tính của các kim loại không thể nói hết. Cùng loài khác tính, vạn vật đều như vậy, há chỉ có đạo đâu? Xưa Dương, Mặc chắn đường của quần nho, xe không thể tiến trước, người không thể bước đi. Mạnh Kha bác bỏ họ, người ta mới biết chỗ theo. Sư Khoáng gảy đàn đợi tri âm ở đời sau; thánh nhân lập pháp mong quân tử sẽ nhìn thấy vậy. Ngọc đá cùng hòm, Y Đốn vì thế đổi sắc mặt; màu đỏ màu tía lẫn lộn, Trọng Ni vì thế thở dài. Mặt trời mặt trăng không phải không sáng, tại muôn cái tối che khuất ánh sáng; Phật đạo không phải không chính, tại muôn cái tư che lấp cái công. Thế nên tôi phân chia mà khác biệt đi. Cái trí của Tang Văn, cái thẳng của Vi Sinh mà Trọng Ni không khen ngợi, đều là lời nói để sửa chính cho đời, sao lại tốn công mà không có ích?”
Hỏi: “Ông chê thần tiên, dập quái dị, không tin có đạo bất tử là đúng rồi. Cớ sao lại chỉ tin Phật đạo sẽ được độ thế? Phật ở cõi khác, chân ông chưa từng đạp đến đất đó, mắt không thấy nơi đó, chỉ xem văn tự của Ngài mà tin hành vi của Ngài. Kẻ xem hoa không thể biết quả, người nhìn bóng không thể xét hình, hẳn là không chân thực sao?”
Mâu Tử đáp: “Khổng Tử nói: ‘Xem việc họ làm, xét do đâu họ làm, rõ chỗ họ an tâm, người ta giấu vào đâu được’. Xưa Lã Vọng, Chu Công hỏi về việc thi chính, đều biết kết cục về sau của nước kia. Ngày Nhan Uyên xem xe bốn ngựa chạy, thấy cách đánh xe của Đông Dã Tất liền biết xe sẽ đổ. Tử Cống xem cuộc hội thề Chu Lỗ, biết rõ lý do nước họ sẽ mất. Trọng Ni nghe tiếng đàn của Sư Khoáng mà nhận ra khúc dạo của Văn Vương. Quý Tử nghe nhạc mà xem được phong tục các nước. Cần gì phải chân đạp mắt thấy chứ?”
Hỏi: "Tôi từng đi chơi nước Vu Điền, nhiều lần gặp các Sa-môn đạo nhân, lấy việc của tôi để chất vấn họ, họ đều không đối đáp được mà cáo lui. Nhiều người đổi chí dời ý, sao một mình ông khó cải cách vậy?"
Mâu Tử đáp: "Lông nhẹ ở trên cao gặp gió liền bay; đá nhỏ dưới khe gặp dòng liền chuyển. Chỉ có núi Thái Sơn không vì gió lốc mà lay động, đá tảng không vì dòng nước xiết mà dời đi. Cây mai cây lý gặp sương thì rụng lá, chỉ có tùng bách là khó héo úa vậy. Những đạo nhân ông gặp hẳn là học chưa thấu, thấy chưa rộng, nên mới chịu khuất mà lui thôi. Với cái ngu muội của tôi còn không thể bẻ bẻ được, huống chi là người sáng đạo? Ông không tự sửa mình mà muốn sửa người; tôi chưa từng nghe Trọng Ni đuổi theo Đạo Chích, Thang Vũ bắt chước Kiệt Trụ bao giờ."
Hỏi: “Phương thuật thần tiên mùa thu mùa đông không ăn, hoặc vào phòng mười ngày không ra, có thể gọi là điềm đạm đến cùng cực. Tôi cho là đáng tôn đáng quý, hẳn là Phật đạo không bằng chăng?”
Mâu Tử đáp: “Chỉ Nam làm Bắc tự bảo không lầm; lấy Tây làm Đông tự bảo không mê; lấy chim cú chim diều mà cười chim phượng hoàng; bắt con sâu con giun mà trêu rùa thần rồng thiêng. Con ve không ăn, quân tử không quý; ếch rắn trốn hang, thánh nhân không trọng. Khổng Tử nói: ‘Tính của trời đất con người là quý’. Chưa từng nghe tôn sùng ve rắn vậy. Nhưng người đời vốn có kẻ ăn xương bồ mà bỏ quế gừng, đổ cam lộ mà húp nước giấm vậy. Sợi lông mảy tuy nhỏ nhìn vào có thể xét rõ; núi Thái Sơn tuy lớn quay lưng lại thì không thấy. Chí có đọng lại hay không, ý có sắc bén hay không; nước Lỗ tôn họ Quý hạ Trọng Ni, nước Ngô cho Tể Phỉ là hiền cho Tử Tư là bất tài. Sự nghi ngờ của ông chẳng phải cũng hợp lý sao?”
Hỏi: “Đạo gia nói Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng và bảy mươi hai đệ tử đều không chết mà thành tiên. Phật gia nói người đều phải chết, không ai tránh khỏi. Là sao?”
Mâu Tử đáp: “Đó là lời yêu vọng, không phải lời thánh nhân nói. Lão Tử nói: ‘Trời đất còn không được lâu dài, huống chi là con người?’. Khổng Tử nói: ‘Bậc hiền giả lánh đời, nhân hiếu thường còn’. Tôi duyệt Lục nghệ, xem truyền ký, vua Nghiêu có điềm băng, vua Thuấn có núi Thương Ngô, vua Vũ có lăng Hội Kê, Bá Di, Thúc Tề có mộ Thủ Dương, Văn Vương chưa kịp diệt Trộm mà mất, Vũ Vương không đợi được Thành Vương lớn mà băng, Chu Công có thiên ‘Cải táng’, Trọng Ni có giấc mộng ‘Hai cột’, Bá Ngư chết trước cha, Tử Lộ có lời ‘Bị băm nhỏ’, Bá Ngưu có lời ‘Mệnh vậy thay’, Tăng Tham có lời ‘Mở chân ta xem’, Nhan Uyên có quở trách bất hạnh ngắn mệnh, có ví dụ lúa trổ mà không bông. Đều chép rõ trong kinh điển, là lời chí lý của thánh nhân. Tôi lấy kinh truyền làm chứng, lấy người đời làm nghiệm. Mà bảo là không chết, há chẳng lầm lạc sao?”
Hỏi: “Lời giải của ông thực sự đầy đủ hết cả, vốn không phải điều bọn tôi được nghe. Nhưng lời luận giải của ông sao chỉ dừng ở đúng ba mươi bảy điều, cũng có phép tắc gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Cỏ bồng quay lông lốc mà bánh xe thành, gỗ trũng trôi nổi mà thuyền chèo lập. Nhện chăng tơ mà lưới bẫy bày, dấu chân chim hiện mà chữ viết làm ra. Cho nên có phép bắt chước thì thành dễ, không phép bắt chước thì thành khó. Tôi xem điều cốt yếu của kinh Phật có ba mươi bảy phẩm, Đạo kinh của Lão thị cũng có ba mươi bảy thiên, nên bắt chước theo vậy.”
Thế rồi người mê muội nghe xong, bùi ngùi đổi sắc mặt, chắp tay rời chiếu, lui bước cúi đầu thưa: “Bỉ nhân mù lòa sinh nơi tối tăm khuất lấp, dám thốt lời ngu muội, không nghĩ đến họa phúc. Nay được nghe lời dạy, như tuyết tan sạch, xin được đổi lòng, rửa tâm tự răn, nguyện nhận năm giới, làm Ưu-bà-tắc.”
{{Kinh điển Phật giáo}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
6hnpzh0ebmi84kait2ghlyo526b1u0y
205372
205370
2026-05-15T08:37:01Z
Mrfly911
2215
205372
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Lý Hoặc Luận
| tác giả= Mâu Tử
| ngôn ngữ = zh
| bản gốc= 理惑論
| năm= [[w:Nhà Hán|Hán]]
| phần =
| trước=
| sau=
| ghi chú= '''Lý Hoặc Luận''' (chữ Hán: 理惑論) có nghĩa là '''bộ luận lý giải những điều mê lầm của một số người không hiểu đạo Phật''', do Mâu Tử (người Thương Ngô, nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc) viết bằng chữ Hán vào cuối thế kỷ 2 nhưng năm nào thì chưa rõ. {{Wikipediaref}}
}}
<center><big>Lý Hoặc Luận</big></center>
<div style="background-color:pink;">
Mâu Tử đã tu sửa kinh truyện và chư tử, sách không kể lớn nhỏ, chẳng gì không thích. Tuy không vui việc binh pháp, nhưng vẫn đọc qua. Dẫu đọc sách thần tiên bất tử, song nén lòng không tin, cho là hư huyễn. Bấy giờ sau khi Linh Đế băng hà, thiên hạ rối loạn, chỉ có Giao Châu tương đối yên ổn. Dị nhân phương Bắc đều đến đây, đa số luyện thuật thần tiên tịch cốc trường sinh, người thời đó theo học rất đông. Mâu Tử thường dùng Ngũ Kinh để chất vấn, các thuật sĩ Đạo gia không ai dám đối đáp. Có thể ví như Mạnh Kha ngăn chặn Dương Chu, Mặc Địch.
Trước đó, Mâu Tử cùng mẹ lánh đời tại Giao Chỉ, năm 26 tuổi về Thương Ngô lấy vợ. Thái thú nghe danh ông giữ đạo hiếu học, bèn mời giữ chức lại. Lúc ấy tuổi đang sung mãn, chí chuyên vào học thuật, lại thấy đời loạn lạc nên không có ý làm quan, rốt cuộc không nhận lời. Bấy giờ các châu quận nghi kị lẫn nhau, giao thông bế tắc. Thái thú vì nể ông bác học đa văn, sai đi sứ Kinh Châu. Mâu Tử cho rằng tước lộc dễ nhường nhưng sứ mệnh khó từ, bèn sửa soạn lên đường. Gặp lúc Châu mục ban văn ưu đãi hiền sĩ để chiêu mộ, ông lại cáo bệnh không dậy. Em trai Châu mục làm Thái thú Dự Chương, bị Trung lang tướng Sạ Dung giết hại. Khi ấy Châu mục phái Kỵ đô úy Lưu Ngạn đem binh ứng cứu, sợ ngoại giới nghi kị, binh không tiến được.
Châu mục bèn thỉnh Mâu Tử rằng: "Em ta bị nghịch tặc hãm hại, nỗi đau cốt nhục phẫn uất tận tâm can. Nay phái Lưu đô úy đi, sợ ngoại giới nghi nan, người đi không thông. Ông văn võ kiêm toàn, có tài đối đáp. Nay muốn khuất thân ông sang Linh Lăng, Quế Dương mượn đường để thông suốt, ông thấy thế nào?". Mâu Tử đáp: "Kẻ hèn này như ngựa ăn cỏ trong chuồng, được đối đãi đã lâu; liệt sĩ quên mình, hẹn sẽ dốc sức". Lúc sắp lên đường thì mẹ mất, nên không đi được.
Lâu sau ông suy ngẫm: Vì có tài biện bác nên hay bị sai phái, lúc thế gian nhiễu nhương, không phải lúc để hiển lộ. Bèn than rằng: "Lão Tử tuyệt thánh khí trí, tu thân bảo chân, vạn vật không làm loạn được chí, thiên hạ không đổi được niềm vui. Thiên tử không thể bắt làm tôi, chư hầu không thể kết làm bạn, cho nên mới đáng quý". Thế là ông dốc chí vào Phật đạo, nghiên cứu thêm năm ngàn chữ của Lão Tử. Lấy huyền diệu làm rượu ngọt, lấy Ngũ Kinh làm đàn sáo. Người đời nhiều kẻ chê bai, cho rằng ông phản Ngũ Kinh mà theo dị đạo. Muốn tranh luận thì trái đạo, muốn im lặng thì không đành, bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền để chứng giải. Tên gọi là '''Mâu Tử Lý Hoặc'''.
</div>
----
Có người hỏi: "Phật sinh ra từ đâu? Có tổ tiên và quốc ấp không? Hành trạng thế nào? Hình dáng ra sao?".
Mâu Tử đáp: "Câu hỏi phong phú thay! Xin lấy sự kém cỏi này mà nói lược điểm chính. Nghe rằng sự hóa hiện của Phật tích lũy đạo đức qua nghìn ức năm không thể ghi chép hết. Lúc sắp đắc quả Phật, Ngài sinh tại Thiên Trúc, mượn thân nơi phu nhân vua Bạch Tịnh. Bà nằm ngủ trưa mơ thấy cưỡi voi trắng sáu ngà, lòng vui mừng rồi cảm ứng thụ thai. Ngày mồng tám tháng tư, Ngài từ sườn phải mẹ sinh ra. Rơi xuống đất đi bảy bước, giơ tay phải nói: 'Trên trời dưới đất, không ai hơn ta'. Lúc đó trời đất chuyển động lớn, trong cung sáng rực. Ngày ấy tỳ nữ nhà vua cũng sinh một con trai, ngựa trắng trong chuồng sinh ngựa con. Người hầu tên Xa Nặc, ngựa tên Kiền Trắc, vua thường sai theo hầu Thái tử.
Thái tử có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Thân cao một trượng sáu, mình màu kim sắc, đỉnh đầu có nhục kế, xương má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có hình bánh xe ngàn căm, hào quang nơi cổ chiếu vạn dặm. Đó là nói lược về tướng mạo. Năm 17 tuổi, vua cưới vợ cho Ngài là con gái nước láng giềng. Thái tử ngồi thì dời ghế, ngủ thì khác giường, thiên đạo sáng tỏ, âm dương thông hòa. Sau đó vợ mang thai một con trai, sáu năm mới sinh.
Phụ vương trân quý Thái tử, xây dựng cung đài, bày biện kỹ nữ bảo vật trước mặt. Thái tử không ham vui thế tục, ý để nơi đạo đức. Năm 19 tuổi, đêm mồng tám tháng tư, Ngài gọi Xa Nặc thắng yên ngựa Kiền Trắc mà cưỡi, quỷ thần nâng chân ngựa bay ra khỏi cung. Sáng hôm sau, không ai biết Ngài ở đâu. Nhà vua và dân chúng đều than khóc, đuổi theo đến cánh đồng. Vua nói: 'Trước kia chưa có con, ta đã cầu khẩn thần kỳ; nay đã có con quý như ngọc khuê, phải nối nghiệp vị, sao lại ra đi?'. Thái tử đáp: 'Vạn vật vô thường, có tồn tại ắt có diệt vong; nay con muốn học đạo để cứu độ mười phương'.
Vua biết chí Ngài kiên định nên quay về. Thái tử đi thẳng, tu hành sáu năm rồi thành Phật. Sinh vào tháng giữa mùa hạ vì thời tiết không lạnh không nóng, cỏ hoa tươi tốt, là lúc cởi áo lông cáo mà mặc áo vải thưa. Sinh tại Thiên Trúc vì đó là trung tâm trời đất, nơi điều hòa nhất. Kinh điển Ngài để lại gồm 12 bộ, hợp thành 8 ức 4 ngàn vạn quyển. Quyển lớn dưới vạn chữ, quyển nhỏ trên ngàn chữ. Phật dạy dỗ thiên hạ, cứu độ nhân dân, rồi vào ngày 15 tháng hai mà nhập Niết-bàn. Kinh giới của Ngài vẫn còn, ai có thể tuân hành cũng sẽ đắc vô vi, phúc lưu hậu thế. Người giữ Ngũ giới thì mỗi tháng có 6 ngày trai giới, ngày đó chuyên tâm nhất ý, hối lỗi tự mới. Sa-môn giữ 250 giới, ngày ngày trai giới, giới đó hàng Ưu-bà-tắc không được nghe. Uy nghi đi đứng không khác điển lễ cổ xưa, suốt ngày đêm giảng đạo tụng kinh, không dự việc đời. Lão Tử nói: 'Cái dung mạo của đức lớn, chỉ thuận theo đạo'. Chính là ý này vậy".
Hỏi: “Tại sao gọi chính xác là Phật? Phật nghĩa là gì?”
Mâu Tử đáp: “Phật là thụy hiệu, giống như gọi Tam Hoàng là Thần, Ngũ Đế là Thánh vậy. Phật là nguyên tổ của đạo đức, là tông tự của thần minh. Chữ Phật nghĩa là Giác. Ngài biến hóa thấp thoáng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, có thể thu nhỏ phóng to, có thể hóa tròn hóa vuông, có thể hóa già hóa trẻ, có thể ẩn mình hiện rõ; giẫm vào lửa không cháy, đi trên lưỡi dao không thương, ở nơi ô uế không bị nhục, gặp tai họa không bị ương; muốn đi liền bay, ngồi thì tỏa sáng, cho nên hiệu là Phật.”
Hỏi: “Thế nào gọi là Đạo? Đạo thuộc loại nào?”
Mâu Tử đáp: “Chữ Đạo nghĩa là dẫn dắt. Dẫn dắt con người đạt đến vô vi. Kéo đi thì không thấy phía trước, dắt đi thì không thấy phía sau; nâng lên thì không thấy phía trên, ấn xuống thì không thấy phía dưới; nhìn thì không thấy hình, nghe thì không thấy tiếng; bao la ngoài bốn cõi là lớn, len lỏi trong mảy may là nhỏ. Cho nên gọi là Đạo.”
Hỏi: “Khổng Tử dùng Ngũ Kinh làm đạo giáo, có thể chắp tay mà tụng, dốc lòng mà hành. Nay ông nói Đạo hư vô thấp thoáng, không thấy ý tứ, không chỉ rõ sự việc, sao lại khác biệt với lời Thánh nhân như vậy?”
Mâu Tử đáp: “Không nên xem trọng những gì mình đã quen, xem nhẹ những gì mình hiếm thấy. Hoặc bị lầm lẫn bởi vẻ bề ngoài mà đánh mất cái thực chất bên trong. Lập sự không rời đạo đức, giống như điều chỉnh dây đàn không sai cung thương. Thiên đạo phỏng theo bốn mùa, nhân đạo phỏng theo ngũ thường. Lão Tử nói: ‘Có vật hỗn thành, sinh trước cả trời đất, có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên nó, gượng đặt chữ là Đạo’. Đạo là một vật, ở nhà có thể phụng thờ cha mẹ, trị quốc có thể quản lý người dân, độc lập có thể tu sửa bản thân; áp dụng hành trì thì tràn đầy khắp trời đất, bỏ đi không dùng thì tiêu biến nhưng không rời xa. Ông không hiểu điều đó, chứ có gì là khác biệt đâu?”
Hỏi: “Phát ngôn chân thực nhất thì không hoa mỹ, lời lẽ chí lý nhất thì không trang sức. Lời tóm lược mà đạt ý là đẹp, sự việc ít ỏi mà thông suốt là sáng suốt. Cho nên châu ngọc ít thì quý, ngói sỏi nhiều thì rẻ. Thánh nhân chế định cái gốc của Thất Kinh không quá ba vạn lời, mà muôn việc đều đầy đủ ở trong. Nay kinh Phật quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, không phải sức một người có thể kham nổi. Tôi cho là rườm rà mà không trọng yếu.”
Mâu Tử đáp: “Sông biển sở dĩ khác với nước vũng rãnh là vì nó sâu rộng; năm núi lớn sở sở dĩ khác với gò đồi là vì nó cao lớn. Nếu núi cao không vượt hơn gò đống, cừu què cũng leo lên đỉnh; vực sâu không tách rời dòng nước nhỏ, trẻ con cũng tắm ở trong đầm. Ngựa kỳ ký không ở trong vườn thú, cá nuốt thuyền không bơi ở khe nước sâu vài thước. Mổ con trai ba tấc mà đòi tìm ngọc minh nguyệt, tìm trong tổ cây gai góc mà đòi kiếm chim non phượng hoàng, tất khó mà đạt được. Vì sao vậy? Cái nhỏ không thể chứa được cái lớn. Kinh Phật phía trước nói chuyện trăm triệu năm, phía sau nói điều cốt yếu của muôn đời. Thuở thái tố chưa dấy, thái thủy chưa sinh, càn khôn mới mở, cái vi diệu của nó không thể nắm bắt, cái tinh tế của nó không thể đi vào, Phật đều bao quát bên ngoài cái rộng lớn ấy, mổ xẻ bên trong cái thâm diệu ấy, không gì không ghi chép. Cho nên kinh quyển tính bằng hàng vạn, lời tính bằng hàng ức, càng nhiều càng đầy đủ, càng đông càng phong phú. Sao lại nói là không trọng yếu? Tuy không phải một người có thể kham nổi, nhưng ví như đến bên sông uống nước, uống no thì tự đủ, cần gì phải biết đến phần nước còn lại?”
Hỏi: “Kinh Phật nhiều như vậy, nay muốn lấy chỗ cốt lõi mà bỏ phần còn lại, chỉ nói thẳng cái chân thực mà bỏ đi cái hoa mỹ, được chăng?”
Mâu Tử đáp: “Không được. Mặt trời mặt trăng đều sáng, mỗi bên soi chiếu một nơi; hai mươi tám vì sao, mỗi sao chủ quản một việc; trăm phương thuốc cùng sinh, mỗi vị chữa lành một bệnh. Áo lông cáo để chống rét, áo vải thưa để ngồi mát; thuyền và xe đi đường khác nhau, đều đưa hành khách đến nơi. Khổng Tử không vì Ngũ Kinh đã đầy đủ mà không sáng tác thêm Xuân Thu, Hiếu Kinh, ấy là muốn mở rộng đạo thuật, thuận theo ý muốn của mỗi người. Kinh Phật tuy nhiều, nhưng quy tụ lại là một. Giống như Thất điển tuy khác nhau, nhưng chỗ coi trọng đạo đức, nhân nghĩa cũng là một. Kinh Hiếu sở dĩ nói nhiều điều, là tùy theo hành vi của mỗi người mà ban dạy. Như Tử Trương và Tử Du cùng hỏi về một chữ Hiếu, mà Trọng Ni đáp lại mỗi người một khác, ấy là để uốn nắn chỗ ngắn của họ. Có gì mà phải bỏ đi?”
Hỏi: “Phật đạo chí tôn chí đại, tại sao Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng không tu theo? Trong Thất Kinh không thấy lời lẽ nào về Phật. Ông đã say mê Kinh Thi, Kinh Thư, vui thích Kinh Lễ, Kinh Nhạc, cớ sao lại quay sang ưa chuộng Phật đạo, thích học thuật lạ? Há có thể vượt qua kinh truyền, làm đẹp thêm sự nghiệp của Thánh nhân sao? Tôi trộm nghĩ ông không nên theo.”
Mâu Tử đáp: “Sách không nhất thiết phải là lời của Khổng Khâu, thuốc không nhất thiết phải là phương của Biển Thước; hợp với nghĩa thì theo, chữa lành bệnh là tốt. Quân tử thu nhận rộng rãi các điều thiện để bổ trợ cho bản thân. Tử Cống nói: ‘Thầy ta có một bậc thầy cố định nào đâu?’. Vua Nghiêu học Doãn Thọ, vua Thuấn học Vụ Thành, Chu Công học Lã Vọng, Khổng Khâu học Lão Đam, những điều này cũng đều không thấy trong Thất Kinh. Bốn vị thầy ấy tuy là bậc thánh, nhưng so với Phật, thì như hươu trắng so với kỳ lân, chim én so với phượng hoàng vậy. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng còn đi học họ, huống chi Phật thân tướng tốt đẹp, biến hóa thần lực vô cùng, sao lại có thể bỏ mà không học? Sự nghĩa trong Ngũ Kinh có chỗ còn khuyết thiếu; việc Phật không được ghi chép lại, có gì đáng để quái lạ và nghi ngờ?”
Hỏi: “Nói rằng Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, sao lại khác người đến thế? Đó chắc là lời nói ngoa dụ, không phải chuyện có thực.”
Mâu Tử đáp: “Tục ngữ có câu: Thấy ít thì lạ nhiều, nhìn thấy lạc đà lại bảo là con ngựa bị sưng lưng. Vua Nghiêu lông mày tám màu, vua Thuấn mắt có hai con ngươi, Cao Dao mỏ chim, Văn Vương bốn đầu vú, Hạ Vũ tai có ba lỗ, Chu Công lưng còng, Phục Hy mũi rồng, Trọng Ni đầu lõm; Lão Tử trán nổi hình sừng mặt lộ vẻ huyền vi, mũi có hai sống, tay nắm mười chữ, chân đạp hai số năm. Đây chẳng phải là khác với người thường sao? Tướng tốt của Phật có gì đáng để nghi ngờ!”
Hỏi: “Hiếu Kinh nói: ‘Thân thể, tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám hủy thương’. Tăng Tử lúc sắp mất, bảo mở tay mở chân ta xem. Nay Sa-môn cạo đầu, sao lại trái với lời Thánh nhân, không hợp với đạo con hiếu như vậy? Ông thường thích luận bàn thị phi, phân định cong thẳng, mà ngược lại cho việc đó là tốt sao?”
Mâu Tử đáp: “Nói xấu thánh hiền là bất nhân, phân định không đúng là bất trí. Bất nhân bất trí thì lấy gì lập đức? Đức đã không lập, thì cũng như hạng ngu muội. Luận bàn đâu có dễ dàng! Xưa có người nước Tề đi thuyền qua sông, cha bị ngã xuống nước, con giật cánh tay, túm tóc cha, kéo lộn ngược để nước trong miệng chảy ra, nhờ đó mạng cha được cứu sống. Việc túm tóc, kéo ngược là bất hiếu không gì lớn bằng; nhưng vì để vẹn toàn thân mạng cho cha, nếu cứ chắp tay sửa mình theo lẽ thường của con hiếu thì mạng cha đã dứt dưới dòng nước rồi. Khổng Tử nói: ‘Có thể cùng đi trên đạo, nhưng chưa thể cùng tùy quyền biến’. Đó là việc tùy thời nghi mà áp dụng vậy.
Hơn nữa Hiếu Kinh nói: ‘Bậc tiên vương có đức lớn đạo trọng’, vậy mà Thái Bá cắt tóc vẽ mình, tự theo phong tục xứ Ngô Việt, trái với nghĩa của thân thể tóc da, thế nhưng Khổng Tử lại ngợi khen: ‘Như thế có thể gọi là đức lớn vậy’. Trọng Ni không vì việc ông cắt tóc mà chê trách. Từ đó mà nhìn, nếu có đại đức thì không câu nệ tiểu tiết. Sa-môn hiến của cải, bỏ vợ con, không nghe âm thanh không xem sắc đẹp, có thể gọi là bậc nhường nhịn đến cùng cực. Sao lại bảo trái lời Thánh nhân, không hợp với đạo hiếu? Dự Nhượng nuốt than, sơn mình, Nhiếp Chính rạch mặt tự hình, Bá Cơ lao vào lửa cao hạnh, Cắt Dung tự rạch mặt. Quân tử cho họ là dũng cảm vì đại nghĩa mà chết, chưa từng nghe ai mỉa mai họ tự hủy hoại thân mình. Sa-môn cạo bỏ râu tóc, đem so với bốn người kia, chẳng phải còn tiến xa hơn sao?”
Hỏi: “Trong các phúc không gì hơn có người nối dõi, trong các tội bất hiếu không gì lớn bằng vô hậu. Sa-môn từ bỏ vợ con, hiến bỏ tài sản, có người suốt đời không lấy vợ, sao lại trái với hành vi hưởng phúc và hành hiếu như vậy! Tự làm khổ mình mà chẳng có gì kỳ lạ, tự đẩy mình đến cùng cực mà chẳng có gì khác biệt.”
Mâu Tử đáp: “Kẻ dài bên trái ắt ngắn bên phải, lớn phía trước ắt hẹp phía sau. Mạnh Công Chước làm tổng quản họ Triệu, họ Ngụy thì dư sức, nhưng không thể làm đại phu nước Đằng, nước Tiết. Vợ con, tài vật là vật thừa của cõi đời; trong sạch bản thân, vô vi là cái diệu của đạo. Lão Tử nói: ‘Danh vọng với thân mình, cái nào thân hơn? Thân mình với của cải, cái nào quý hơn?’. Lại nói: ‘Xem di phong của ba đời, nhìn đạo thuật của Nho Mặc, tụng thi thư, tu lễ tiết, sùng nhân nghĩa, coi trọng sự thanh khiết, người trong làng truyền nghiệp, danh tiếng lẫy lừng. Đó là việc kẻ trung sĩ thi hành, người điềm đạm chẳng thèm đoái hoài. Cho nên phía trước có ngọc tùy châu, phía sau có hổ dữ, thấy vậy liền chạy mà không dám lấy, vì sao? Vì đặt tính mạng lên trước, lợi lộc theo sau’. Hứa Do làm tổ trên cây, Di Tề chịu đói núi Thủ Dương, vua Thuấn và Khổng Tử khen họ hiền rằng: ‘Ấy là hạng người cầu nhân được nhân vậy’. Chưa từng nghe ai mỉa mai họ không có người nối dõi, không có của cải. Sa-môn tu đạo đức để đổi lấy thú vui rong chơi ở đời; hướng về sự thục hiền để từ bỏ niềm vui vợ con. Điều đó không gọi là kỳ lạ thì cái gì là kỳ lạ? Điều đó không gọi là khác biệt thì cái gì là khác biệt?”
Hỏi: “Hoàng Đế buông vạt áo làm xiêm xướng, chế định phục sức; Cơ Tử bày ra Hồng Phạm, tướng mạo đứng đầu năm việc; Khổng Tử làm Hiếu Kinh, trang phục là khởi đầu của ba đức. Lại nói: sửa sang y quan, tôn nghiêm tầm nhìn. Nguyên Hiến tuy nghèo nhưng không rời mũ hoa; Tử Lộ gặp nạn không quên thắt dải mũ. Nay Sa-môn cạo tóc, khoác vải đỏ, gặp người không có lễ nghi quỳ dậy, không có dáng vẻ đi đứng khoan thai, sao lại trái với chế độ về tướng mạo trang phục, đi ngược với lối điểm trang của bậc sỹ phu.”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Bậc thượng đức không hiển lộ đức, cho nên có đức; bậc hạ đức không rời bỏ đức, cho nên không có đức’. Thời Tam Hoàng, ăn thịt mặc da, ở tổ trong hang để tôn sùng chất phác; há lại cần đến mũ chương phủ, áo lông cừu cong để trang sức sao? Thế nhưng người thời đó được khen là có đức, thuần hậu, thành thực và vô vi. Hành vi của Sa-môn có phần giống như vậy.”
Có người hỏi: “Như lời ông nói, thì những bậc như Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều bị vứt bỏ, không đáng để noi theo sao?”
Mâu Tử đáp: “Thấy rộng thì không lầm, nghe thông thì không hoặc. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng tu sửa việc đời; Phật và Lão Tử giữ chí vô vi. Trọng Ni bôn ba hơn bảy mươi nước, Hứa Do nghe nhường ngôi liền rửa tai bên vực sâu. Đạo của quân tử, hoặc xuất thế hoặc xử thế, hoặc im lặng hoặc nói năng, không để tràn trề cái tình, không buông thả cái tính. Cho nên cái quý của đạo là ở chỗ vận dụng phù hợp, có gì mà phải vứt bỏ đâu?”
Hỏi: “Phật đạo nói: Người chết rồi sẽ lại đầu thai sinh ra đời khác. Tôi không tin điều này là xác thực.”
Mâu Tử đáp: “Người sắp chết, người nhà trèo lên nóc nhà hú gọi. Người đã chết rồi, lại gọi ai?”
Người kia đáp: “Gọi hồn phách của người đó”.
Mâu Tử nói: “Thần hồn quay về thì sống, không quay về thì thần hồn đi đâu?”
Đáp: “Thành quỷ thần”.
Mâu Tử nói: “Đúng thế. Hồn thần vốn không diệt, chỉ có thân xác tự mục nát mà thôi. Thân xác ví như gốc lá của ngũ cốc, hồn thần như hạt giống của ngũ cốc; gốc lá mọc lên ắt phải chết, hạt giống há lại có lúc mất đi sao? Kẻ đắc đạo thì thân diệt mà thôi. Lão Tử nói: ‘Ta sở dĩ có nỗi lo lớn, là vì ta có thân; nếu ta không có thân, ta còn lo gì?’. Lại nói: ‘Công thành danh toại, thân lui về, ấy là đạo trời vậy’.”
Có người hỏi: “Tu đạo cũng chết, không tu đạo cũng chết, có gì khác biệt đâu?”
Mâu Tử đáp: “Đây gọi là kẻ không có nổi một ngày làm thiện mà lại đòi hỏi tiếng thơm suốt đời vậy. Người có đạo tuy chết, thần hồn về nhà phúc; kẻ làm ác đã chết, thần hồn chịu tai ương. Kẻ ngu muội tăm tối khi việc đã thành, người hiền trí dự tính từ khi chưa nảy mầm. Người có đạo và không có đạo, như vàng so với cỏ; điều thiện cùng niềm phúc, như sắc trắng đối với sắc đen. Sao lại không khác biệt, mà lại bảo có gì khác đâu?”
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Chưa biết thờ người, sao biết thờ quỷ?', 'Chưa biết việc sống, sao biết việc chết?'. Đây là những điều Thánh nhân ghi chép. Nay nhà Phật lại hay nói chuyện sống chết, việc quỷ thần, đây hẳn không phải lời của bậc Thánh triết. Người hành đạo nên hư vô điềm đạm, giữ chí chất phác. Cớ sao lại bàn chuyện sống chết làm loạn tâm chí, thuyết chuyện quỷ thần là việc dư thừa?"
Mâu Tử đáp: "Lời ông nói là thấy vẻ ngoài mà chưa hiểu bên trong. Khổng Tử ghét Tử Lộ không hỏi gốc ngọn nên mới dùng lời đó ức chế mà thôi. Hiếu Kinh nói: 'Lập tông miếu để quỷ hưởng tế; xuân thu cúng tế theo thời mà tưởng nhớ'. Lại nói: 'Lúc sống thờ bằng lòng yêu kính, khi chết thờ bằng nỗi đau buồn'. Há chẳng phải dạy người thờ quỷ thần, biết chuyện sống chết sao! Chu Công vì vua Vũ Vương mà khấn xin mệnh rằng: 'Đán này đa tài đa nghệ, có thể thờ phụng quỷ thần'. Ấy là vì việc gì! Chuyện sống chết mà kinh Phật nói đến há chẳng phải cùng loại đó sao? Lão Tử nói: 'Biết con mình lại giữ lấy mẹ mình, suốt đời không nguy'. Lại nói: 'Dùng hào quang trở về sự sáng suốt, không để thân bị tai ương'. Đây là hướng đến của đạo sống chết, nơi trú ngụ của cát hung. Chỗ yếu cốt của chí đạo thực quý ở lặng lẽ, nhà Phật há lại thích nói sao? Chẳng qua vì ông hỏi nên không thể không đáp vậy! Chuông trống há tự kêu? Do dùi đánh vào mới có tiếng đó."
Hỏi: "Khổng Tử nói: 'Người Di Địch có vua, không bằng các nước Hoa Hạ mất vua'. Mạnh Tử chê Trần Tương đổi sang học thuật của Hứa Hành rằng: 'Ta nghe dùng Hoa Hạ biến đổi Di Địch, chưa nghe dùng Di Địch biến đổi Hoa Hạ'. Ông từ lúc trẻ học đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng, nay lại vứt bỏ mà học thuật Di Địch, chẳng phải là lầm lạc lắm sao?"
Mâu Tử đáp: "Đây là những lời lẽ lúc tôi chưa hiểu đại đạo mà thôi. Ông có thể nói là thấy cái hoa mỹ của lễ chế mà tăm tối trước cái thực của đạo đức; nhìn ánh sáng đuốc đèn mà chưa thấy mặt trời nơi thiên đình. Lời Khổng Tử nói là để sửa phép đời. Lời Mạnh Kha nói là vì ghét sự chuyên nhất. Xưa Khổng Tử muốn sang ở đất Cửu Di, nói rằng: 'Quân tử ở đó thì có gì là hèn lậu?'. Đến như lúc Trọng Ni không được dùng ở Lỗ, Vệ; Mạnh Kha không được dùng ở Tề, Lương, há lại sang làm quan cho Di Địch sao? Vũ xuất thân từ Tây Khương mà là bậc Thánh triết, Cổ Sưu sinh ra Thuấn mà là kẻ ngu ngoan, Do Dư sinh ở nước Địch mà giúp Tần xưng bá, Quản Sái từ vùng Hà Lạc mà gieo lời phao tin. Truyện nói: 'Sao Bắc Thần ở giữa trời, ở phía Bắc của người'. Nhìn từ đó thì đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời. Kinh Phật nói khắp trên dưới vòng quanh, loài có máu thịt đều thuộc về Phật. Thế nên tôi tôn sùng mà học theo, việc gì phải bỏ đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng? Vàng ngọc không hại nhau, ngọc tùy ngọc bích không ngăn nhau, bảo người là lầm lạc, thì chính mình đang tự lầm lạc vậy."
Hỏi: "Lấy của cải của cha cho người đi đường thì không thể gọi là ban ơn; cha mẹ còn sống mà giết mình thay người thì không thể gọi là nhân. Nay kinh Phật chép: Thái tử Tu Đại lấy của cải của cha bố thí cho người phương xa; lấy voi báu của nước tặng kẻ thù; đem cả vợ con cho người khác. Không kính cha mẹ mà kính người ngoài gọi là nghịch lễ; không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài gọi là nghịch đức. Tu Đại bất hiếu bất nhân mà nhà Phật tôn thờ, há chẳng lạ lùng sao!"
Mâu Tử đáp: "Nghĩa trong Ngũ Kinh là lập con trưởng. Văn Vương thấy chí của Cơ Xương nên chuyển ngôi đích cho con thứ, rốt cuộc thành nghiệp nhà Chu, đạt đến thái bình. Nghĩa cưới vợ là phải thưa cha mẹ; vua Thuấn không thưa mà cưới để thành đại luân. Kẻ sĩ trinh tiết chờ sính lễ, hiền thần đợi trưng triệu; Y Doãn vác vạc đến gặp vua Thang, Ninh Thích gõ sừng trâu tìm gặp Tề Hoàn Công; Thang nhờ đó mà vương, Tề nhờ đó mà bá. Lễ dạy: 'Trai gái không trao nhận trực tiếp, nhưng chị dâu đuối nước thì phải đưa tay ra cứu'. Ấy là tùy quyền khi cấp bách. Nếu thấy cái lớn thì không câu nệ cái nhỏ, bậc đại nhân há lại câu nệ lẽ thường! Tu Đại thấy đời vô thường, tài vật không phải kho báu của mình, nên tự ý bố thí để thành đại đạo. Nước của cha được hưởng phúc, quân thù không dám xâm phạm; đến khi thành Phật, cha mẹ anh em đều được độ thoát. Nếu đó không phải hiếu, không phải nhân, thì ai là người nhân hiếu?"
Hỏi: "Phật đạo trọng vô vi, vui bố thí, giữ giới luật, nơm nớp như đứng bên vực sâu. Nay Sa-môn ham mê rượu chè, hoặc nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên làm việc dối trá, đó là sự giả dối lớn trong đời, mà Phật đạo gọi là vô vi sao?"
Mâu Tử đáp: "Công Thâu Ban có thể cho người ta rìu đục dây mực, nhưng không thể khiến người ta thành thợ giỏi; Thánh nhân có thể truyền đạo cho người, nhưng không thể bắt họ phải thực hành đúng. Cao Dao có thể trị tội kẻ trộm, nhưng không thể khiến kẻ tham thành như Bá Di, Thúc Tề; ngũ hình có thể giết kẻ vô đạo, nhưng không thể khiến đứa con ác thành như Tăng Sâm, Mân Tử Khiên. Vua Nghiêu không hóa được Đan Chu, Chu Công không dạy được Quản Sái, há là do giáo hóa thời Đường không hiển, đạo nhà Chu không đủ sao? Chẳng qua là không làm gì được kẻ ác vậy. Ví như người đời học thông Thất Kinh mà mê đắm tài sắc, thì có thể gọi Lục Nghệ là tà dâm sao? Hà Bá tuy linh thiêng nhưng không dìm chết người trên đất bằng; gió lốc tuy nhanh nhưng không thể khiến bụi bay dưới nước sâu. Đáng lo là người không thực hành được đạo, sao có thể bảo Phật đạo có điều ác?"
Hỏi: "Khổng Tử khen: 'Xa hoa thì không khiêm tốn, tiết kiệm thì cố chấp, thà cố chấp còn hơn không khiêm tốn'. Thúc Tôn nói: 'Tiết kiệm là sự cung kính của đức, xa xỉ là cái lớn của ác'. Nay nhà Phật dốc hết tài sản để bố thí, đem hết của cải cho người là quý, liệu có phúc chăng?"
Mâu Tử đáp: "Đó là một thời, đây là một thời. Lời của Trọng Ni là ghét sự xa hoa vô lễ; luận của Thúc Tôn là châm chọc việc chạm trổ cột nhà. Chứ không phải cấm bố thí. Vua Thuấn cày núi Lịch, ơn không đến được xóm giềng; Thái Công mổ trâu, huệ không đến được vợ con. Đến khi được trọng dụng, ơn lưu tám cõi, huệ ban bốn biển. Của cải nhiều thì quý ở chỗ biết cho; nghèo khổ túng thiếu thì quý ở chỗ giữ đạo. Hứa Do không tham bốn biển; Bá Di không màng đến nước nhà; Ngu Khanh bỏ phong tước vạn hộ để cứu người lúc khốn cùng; mỗi người một chí vậy. Hi Phụ Cơ nhờ ơn một bữa ăn mà bảo toàn được xóm mình; Tuyên Mạnh vì một bát cơm mà cứu mạng sống quý báu. Ngầm ban ơn thì kín đáo, quả báo hiện ra rạng rỡ như ban ngày. Huống chi dốc của cải nhà phát tâm thiện, công đức ấy sừng sững như núi Tung, núi Thái, mênh mông như sông rộng, biển dài. Người ôm lòng thiện sẽ được hưởng phúc, kẻ gieo điều ác sẽ chịu tai ương, chưa từng có ai trồng lúa mà được mạch, làm họa mà được phúc bao giờ!"
Hỏi: “Việc làm không gì hơn thành thực, lời nói không gì hơn chân thực. Lão Tử bỏ lời hoa mỹ trang sức, sùng bái lời chất phác. Kinh Phật nói không chỉ rõ sự việc, chỉ rộng lấy ví dụ. Ví dụ không phải là điều cốt yếu của đạo, gộp cái khác làm cái giống nhau không phải là cái diệu của sự việc. Tuy lời lẽ nhiều và rộng, nhưng như một xe mảnh ngọc vụn, không thể coi là báu vật.”
Mâu Tử đáp: “Sự việc thường cùng thấy thì có thể nói bằng sự thực. Một người thấy một người không thấy thì khó nói bằng lời thành thực vậy. Xưa có người chưa thấy con lân, hỏi người từng thấy: Lân thuộc loại nào? Người thấy nói: Lân giống như con lân vậy. Người hỏi nói: Nếu tôi từng thấy lân thì đã không hỏi ông; nay ông nói lân như lân, sao mà hiểu được? Người thấy bèn nói: Lân thân giống mễn, đuôi bò, móng nai, lưng ngựa. Người hỏi liền hiểu ra. Khổng Tử nói: ‘Người ta không biết mà không giận, chẳng phải quân tử sao!’. Lão Tử nói: ‘Khoảng giữa trời đất há như ống thụt bễ sao?’. Lại nói: ‘Ví Đạo trong thiên hạ như sông khe với sông biển, há lại hoa mỹ trang sức sao?’. Luận Ngữ nói: ‘Vì chính bằng đức, ví như sao Bắc Thần’. Ấy là dẫn trời để ví với người vậy. Tử Hạ nói: ‘Ví như các loài cỏ cây, phân khu để phân biệt vậy’. Ba trăm bài thơ kéo vật hợp loại, cho đến chư tử sấm vĩ, điều bí yếu của thánh nhân, không gì không dẫn dụ lấy ví dụ. Sao ông lại một mực ghét việc kinh Phật nói hay dùng ví dụ chứ?”
Hỏi: “Con người ở đời, không ai không thích phú quý mà ghét nghèo hèn, vui sướng an dật mà sợ lao nhọc mỏi mệt. Hoàng Đế nuôi tính, lấy năm món ăn làm trọng. Khổng Tử nói: ‘Cơm không chê tinh, gỏi không chê thái nhỏ’. Nay Sa-môn khoác vải đỏ, ngày ăn một bữa, đóng sáu tình, tự khép mình ở đời. Như thế thì có gì là vui sống?”
Mâu Tử đáp: “Giàu và sang là điều người ta muốn, nhưng không dùng đạo mà được thì không ở vậy. Nghèo và hèn là điều người ta ghét, nhưng không dùng đạo mà được thì không bỏ vậy. Lão Tử nói: ‘Năm màu khiến người ta mù mắt, năm âm khiến người ta điếc tai, năm vị khiến người ta tê lưỡi. Ruổi ngựa săn bắn khiến lòng người phát cuồng, của cải khó được khiến hành vi bị tổn hại. Cho nên thánh nhân vì bụng không vì mắt’. Phương thuốc này há luống suông sao! Liễu Hạ Huệ không vì ngôi Tam công mà đổi hành vi của mình; Đoạn Can Mộc không vì thân mình mà đổi lấy cái giàu của Ngụy Văn Hầu; Hứa Do, Sào Phủ làm tổ trên cây mà ở, tự cho là yên ổn hơn cung điện đế vương; Di Tề nhịn đói ở núi Thủ Dương, tự cho là no đủ hơn thời Văn Vũ. Ấy là mỗi người đều được chí của mình mà thôi. Có gì là không vui sống?”
Hỏi: “Nếu kinh Phật sâu nhiệm đẹp đẽ như thế, sao ông không bàn luận nơi triều đình, luận bàn với quân phụ, sửa trị nơi khuê môn, tiếp đãi nơi bạn bè? Sao lại còn học kinh truyền, đọc chư tử làm gì?”
Mâu Tử đáp: “Chưa thấu nguồn của nó mà đã hỏi dòng của nó vậy. Kế bày thớt cúng nơi cửa lũy, dựng cờ xí nơi triều đường, mặc áo lông cáo để đón tiết Nhuy tân, khoác vải thưa để chống tiết Hoàng chung, không phải là không đẹp, nhưng trái chỗ sai thời vậy. Cho nên giữ thuật của Khổng Tử vào cửa Thương Ưởng, mang thuyết của Mạnh Kha đến sân Tô Trương, công không được phân tấc mà tội có trượng xích vậy. Lão Tử nói: ‘Bậc thượng sĩ nghe đạo, chăm chỉ hành trì; bậc trung sĩ nghe đạo, như còn như mất; bậc hạ sĩ nghe đạo, cười lớn một tiếng’. Tôi sợ tiếng cười lớn ấy nên không bàn luận vậy. Khát không nhất thiết phải đợi sông dài, mà uống nước giếng suối, có gì là không no đủ? Vì vậy tôi mới trị lại kinh truyền vậy.”
Hỏi: "Đất Hán bắt đầu nghe đạo Phật từ đâu mà ra?"
Mâu Tử đáp: "Xưa Hiếu Minh Hoàng đế mộng thấy thần nhân, thân có ánh sáng mặt trời, bay trước điện. Vua hớn hở vui mừng. Hôm sau hỏi khắp quần thần: Đây là vị thần nào? Có người uyên bác là Phó Nghị thưa: 'Thần nghe ở Thiên Trúc có người đắc đạo hiệu là Phật, bay đi trên hư không, thân có ánh sáng mặt trời, hẳn là vị thần ấy vậy'. Thế là vua tỉnh ngộ, sai Trung lang Thái Âm, Vũ lâm lang trung Tần Cảnh, bác sĩ đệ tử Vương Tuân cùng mười tám người đến nước Đại Nguyệt Chi, chép kinh Phật bốn mươi hai chương, cất ở gian thứ mười bốn trong thạch thất Lan Đài. Bấy giờ ở ngoài cửa Ung môn phía tây thành Lạc Dương xây chùa Phật, trên vách vẽ nghìn xe muôn ngựa nhiễu tháp ba vòng. Lại ở đài Thanh Lương trong Nam Cung và trên cửa thành Khai Dương làm tượng Phật. Minh Đế khi còn sống tự xây sẵn thọ lăng, gọi là Hiển Tiết, cũng ở trên đó làm hình vẽ Phật. Bấy giờ nước giàu dân an, di địch phương xa mến nghĩa. Người học từ đó mà thêm đông."
Hỏi: “Lão Tử nói: ‘Người biết không nói, người nói không biết’. Lại nói: ‘Khéo biện như nói ngọng, khéo léo như vụng về’. Quân tử hổ thẹn vì lời nói quá hành vi, giả sử Sa-môn có chí đạo, sao không ngồi đó mà hành trì? Sao lại còn bàn luận thị phi phân định cong thẳng? Tôi cho rằng, đây là kẻ tặc hại đức hạnh.”
Mâu Tử đáp: “Mùa xuân tới gặp năm đói lớn, mùa thu này không ăn; tiết Hoàng chung đáng lạnh, tiết Nhuy tân lại mặc áo lông dày. Đề phòng tuy sớm nhưng không tránh khỏi ngu xuẩn. Lời Lão Tử nói là chỉ người đắc đạo vậy. Người chưa đắc đạo thì biết gì mà nói! Đại đạo một lời mà thiên hạ vui mừng, há chẳng phải đại biện sao? Lão Tử há chẳng nói: ‘Công toại thân thoái, đạo trời vậy’ đó sao. Thân đã thoái rồi, còn nói gì nữa! Nay Sa-môn chưa kịp đắc đạo, sao được không nói? Lão Tử cũng vẫn nói đó thôi. Nếu như không nói, năm ngàn chữ chép việc gì? Nếu biết mà không nói thì được; đã không thể biết lại không thể nói, ấy là người ngu vậy. Cho nên, nói được không hành được là thầy của nước; hành được không nói được là đồ dùng của nước; hành được nói được là báu vật của nước. Ba hạng mỗi hạng có chỗ dùng, sao lại là tặc hại đức hạnh? Chỉ có kẻ không nói được lại không hành được, mới gọi là tặc vậy.”
Hỏi: “Như lời ông nói, thì chỉ nên học biện đạt, tu ngôn luận; há lại còn sửa tình tính, xỏ giày đi theo đạo đức sao?”
Mâu Tử đáp: “Sao khó hiểu đến thế vậy! Lời nói đàm luận, mỗi lúc một khác. Cừ Viện nói: ‘Nước có đạo thì ra giúp thẳng, nước không đạo thì cuốn cuốn mà giấu đi’. Ninh Vũ Tử nước có đạo thì khôn, nước không đạo thì ngu. Khổng Tử nói: ‘Có thể nói cùng mà không nói cùng, mất người; không thể nói cùng mà nói cùng, mất lời’. Cho nên khôn ngu tự có thời, đàm luận mỗi đường có ý, cớ sao khi đáng ngôn luận lại không hành trì?”
Hỏi: “Sao nói đạo Phật chí tôn, chí khoái, vô vi, điềm đạm? Người đời và học sĩ nhiều kẻ báng bổ chê bai rằng: Lời thuyết của nó trống rỗng khó dùng, hư vô khó tin, là sao?”
Mâu Tử đáp: “Vị ngon nhất không hợp với miệng đám đông, tiếng lớn không vừa với tai đám đông. Trỗi nhạc Hàm trì, bày nhạc Đại chương; phát nhạc Tiêu thiều, ca bài Cửu thành; không ai họa theo cả. Gảy khúc đàn Trương, Trịnh, Vệ, là âm thanh thời tục, tất không hẹn mà vỗ tay rầm rập. Cho nên Tống Ngọc nói: ‘Khách hát ở đất Dĩnh, làm khúc Hạ lý, người họa theo có nghìn người. Dẫn điệu Thương kích điệu Giác, đám đông không ai ứng theo’. Đây đều là kẻ vui tiếng tà, không hiểu đại độ vậy. Hàn Phi lấy cái thấy qua ống tre mà trách Nghiêu Thuấn; Tiếp Dư lấy cái phân biệt sợi lông mảy mà mỉa mai Trọng Ni; đều là kẻ mê cái nhỏ mà bỏ qua cái lớn vậy. Kẻ nghe điệu Thanh thương mà bảo là điệu Giác, không phải lỗi của người gảy đàn, mà tại người nghe không thông vậy. Thấy ngọc Hòa bích mà gọi là hòn đá, không phải ngọc hèn, mà tại người nhìn không sáng vậy. Rắn thần có thể đứt rồi lại nối, nhưng không thể khiến người ta không chặt đứt nó; rùa thiêng báo mộng cho Tống Nguyên Công, nhưng không lánh khỏi lưới của Dự Thư. Đại đạo vô vi, không phải cõi tục nhìn thấy được. Không vì người khen mà quý, không vì người chê mà hèn, dùng hay không dùng là tự trời vậy! Hành hay không hành là tại thời vậy! Tin hay không tin là cái mệnh vậy!”
Hỏi: “Ông dùng kinh truyền để luận giải lời Phật, lời lẽ phong phú mà nghĩa lý hiển hiện, văn phong sắc sảo mà lý luận đẹp đẽ. Chẳng hay đó có phải là không từ lòng thành, mà chỉ là tài biện bác của ông sao?”
Mâu Tử đáp: “Không phải cái biện của tôi, mà vì thấy rộng nên không lầm lẫn vậy.”
Hỏi: “Thấy rộng có phương thuật gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Nhờ vào kinh Phật vậy. Khi tôi chưa hiểu kinh Phật, lòng còn mê muội hơn ông. Tuy tụng Ngũ Kinh nhưng chỉ coi đó là hoa mỹ, chưa thành quả thực. Từ khi tôi xem lời thuyết của kinh Phật, duyệt qua điều cốt yếu của Lão Tử, giữ tính khí điềm đạm, xem hành vi vô vi, nhìn lại việc đời như đứng bên giếng trời mà nhìn xuống khe núi, lên núi Tung núi Thái mà nhìn xuống gò đống vậy. Ngũ Kinh là năm vị, Phật đạo là năm ngũ cốc vậy. Tôi từ khi nghe đạo đến nay, như gạt mây thấy mặt trời, cầm đuốc lớn vào phòng tối vậy.”
Hỏi: “Ông nói kinh như sông biển, văn như gấm vóc, sao không dùng kinh Phật để đáp lời tôi hỏi, mà lại dẫn Kinh Thi, Kinh Thư, gộp cái khác làm cái giống nhau?”
Mâu Tử đáp: “Người khát không nhất thiết phải đợi sông biển mới uống, người đói không nhất thiết phải đợi kho vựa mới no. Đạo mở cho người trí, biện thông cho người đạt, sách truyền cho người hiểu, việc sáng cho người thấy. Tôi vì biết ông hiểu ý đó nên dẫn việc đó. Nếu nói lời kinh Phật, bàn điều cốt yếu của vô vi, thì ví như đối với người mù mà nói năm màu, vì người điếc mà gảy năm âm vậy. Sư Khoáng dù khéo không thể gảy cây đàn không dây, lông cáo dù ấm không thể làm nóng người không còn khí. Công Minh Nghi vì trâu gảy khúc Thanh giác, trâu vẫn cúi đầu ăn cỏ như cũ, không phải trâu không nghe thấy, mà vì không hợp tai nó vậy. Chuyển sang làm tiếng muỗi mòng, tiếng nghé con độc nhất, trâu liền vẫy đuôi vểnh tai, đi thong thả mà nghe. Thế nên tôi dùng Kinh Thi, Kinh Thư để lý giải với ông vậy.”
Hỏi: “Tôi xưa ở kinh sư, vào Đông Quán chơi Thái Học, xem điều các bậc tuấn sĩ quy định, nghe điều chốn nho lâm luận bàn. Chưa từng nghe việc tu Phật đạo là quý, tự hủy hoại dung mạo là cao thượng. Ông cớ sao lại say mê thế? Phải chăng đi lầm đường thì đổi lối, học thuật cùng thì quay về cội cũ, há không thể nghĩ lại sao?”
Mâu Tử đáp: “Kẻ giỏi biến hóa không thể cho xem sự dối trá, người thông suốt đạo không thể làm kinh hãi bằng sự quái dị, kẻ xét kỹ lời không thể làm mê hoặc bằng ngôn từ, người đạt thấu nghĩa không thể làm lay động bằng lợi lộc vậy. Lão Tử nói: ‘Danh là cái hại của thân, lợi là cái uế của hạnh’. Lại nói: ‘Bày dối trá lập quyền biến, hư vô tự làm quý’. Tu sửa lễ thuật chốn khuê môn, giao tế theo thời tục; tìm đến chỗ xu hướng, nắm lấy thời cơ, cốt để hợp với đương thế; đó là việc làm của kẻ hạ sĩ, là điều bậc trung sĩ vứt bỏ vậy. Huống chi đại đạo thênh thang, là việc hành trì của bậc thượng thánh sao? Sâu thẳm như trời, thăm thẳm như biển, không hợp với kẻ ghé mắt nhìn tường, hạng người tầm thường, vốn là lẽ đương nhiên vậy. Họ nhìn thấy cửa, tôi thấy nhà; họ hái hoa của nó, tôi lấy quả của nó; họ cầu cái đầy đủ, tôi giữ cái duy nhất. Ông hãy mau đổi đường, còn tôi xin bước tiếp. Nguồn gốc của họa phúc, chưa biết thế nào đâu!”
Hỏi: “Ông dùng lời lẽ kinh truyền, thuyết khoa trương hoa lệ để khen ngợi hạnh Phật, ca tụng đức Phật. Cao thì vượt tầng mây trong, rộng thì hơn bờ cõi đất, chẳng hay có vượt quá cái gốc, quá cái thực của nó sao? Còn tôi chê bai trách cứ, lại khá trúng vào căn bệnh của nó vậy.”
Mâu Tử đáp: “Ôi! Sự ca tụng của tôi như đem hạt bụi dính vào núi Tung núi Thái, gom giọt sương mai đổ vào sông biển. Sự báng bổ của ông như cầm bầu múc nước muốn làm giảm sông biển; dắt cày cuốc muốn làm mòn núi Côn Lôn; nghiêng một bàn tay muốn che ánh mặt trời; hốt cục đất muốn lấp dòng sông lớn. Sự ca tụng của tôi không thể làm Phật cao lên, sự hủy báng của ông không thể làm Phật thấp xuống vậy.”
Hỏi: “Vương Kiều, Xích Tùng vào sổ thần tiên, sách thần có một trăm bảy mươi quyển. Chuyện trường sinh ấy với kinh Phật há giống nhau sao?”
Mâu Tử đáp: “So sánh loại đó như Ngũ bá so với Ngũ đế, Dương Hóa so với Trọng Ni; so sánh hình thể ấy như gò đống so với núi Hoa núi Hằng, dòng nước nhỏ so với sông biển; so sánh văn phong ấy như da hổ trơn so với da cừu, hoa văn rực rỡ so với gấm vóc vậy. Đạo có chín mươi sáu thứ, đến như tôn đại không gì hơn Phật đạo. Sách thần tiên nghe thì tràn ngập bên tai, nhưng tìm hiệu quả của nó thì như nắm gió bắt bóng. Thế nên đại đạo không chọn, vô vi không quý, sao có thể giống nhau được!”
Hỏi: “Người tu đạo có kẻ tịch cốc không ăn mà lại uống rượu ăn thịt, cũng nói là phương thuật của Lão thị. Thế nhưng Phật đạo lấy rượu thịt làm giới luật hàng đầu, mà ngược lại ăn ngũ cốc. Sao lại trái ngược nhau như thế?”
Mâu Tử đáp: “Các đạo vụn vặt có tất cả chín mươi sáu thứ. Điềm đạm vô vi không gì hơn Phật. Tôi xem hai thiên thượng hạ của Lão thị, nghe có giới cấm năm vị, chưa thấy có lời nào tuyệt ngũ cốc. Thánh nhân chế định văn tự trong Thất điển không có thuật dừng ăn lương thực. Lão Tử viết năm ngàn chữ không có việc tịch cốc. Thánh nhân nói: Ăn ngũ cốc thì trí, ăn cỏ thì si, ăn thịt thì hung bạo, ăn khí thì thọ. Người đời không đạt việc đó, thấy sáu loài chim muông đóng khí không thở, mùa thu mùa đông không ăn, liền muốn bắt chước làm theo. Không biết vật loại mỗi thứ tự có tính riêng, như đá nam châm hút sắt, không thể hút nổi sợi lông mảy vậy.”
Hỏi: “Ngũ cốc có thể tuyệt được không?”
Mâu Tử đáp: “Khi tôi chưa hiểu đại đạo cũng từng học qua. Phép tịch cốc có hàng ngàn hàng trăm thuật, hành trì không hiệu quả, làm mà không có chứng nghiệm, nên bỏ đi mà thôi. Xem các thầy tôi theo học, gồm ba người, kẻ tự xưng bảy trăm, năm trăm, ba trăm tuổi. Nhưng tôi theo học chưa đầy ba năm, họ đều lần lượt qua đời. Sở dĩ như thế là vì tuyệt ngũ cốc không ăn mà lại ăn trăm quả, gặp thịt thì bày đầy mâm, uống rượu thì nghiêng vò; tinh loạn thần hôn, cốc khí không đầy; tai mắt mê muội, dâm tà không cấm. Tôi hỏi cớ sao? Họ đáp: ‘Lão Tử nói: bớt rồi lại bớt để đến mức vô vi, chỉ nên ngày ngày bớt đi mà thôi’. Nhưng tôi xem ra, họ chỉ ngày càng tăng lên chứ không bớt đi, thế nên đều chưa đến tuổi biết mệnh đã chết rồi. Vả lại Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng đều không sống được trăm năm, mà kẻ ngu hoặc đời sau lại muốn uống thuốc tịch cốc, cầu tuổi thọ khôn cùng, thương thay!”
Hỏi: “Người tu đạo nói có thể đẩy lùi tật bệnh không đau, không dùng châm thuốc mà khỏi. Có chuyện đó không? Sao nhà Phật có bệnh lại dùng châm thuốc?”
Mâu Tử đáp: “Lão Tử nói: ‘Vật tráng thì già, gọi là không hợp đạo’. Không hợp đạo thì sớm hết, chỉ có người đắc đạo là không sinh. Không sinh thì không tráng, không tráng thì không già, không già thì không bệnh, không bệnh thì không mục nát. Thế nên Lão Tử lấy thân làm nỗi lo lớn vậy. Vũ Vương nằm bệnh, Chu Công cầu mệnh; Trọng Ni có bệnh, Tử Lộ xin cầu đảo. Tôi thấy thánh nhân đều có bệnh cả, chưa thấy ai không bệnh vậy. Thần Nông nếm cỏ suýt chết mấy mươi lần; Hoàng Đế cúi đầu nhận châm nơi Kỳ Bá. Ba vị thánh nhân này há lại không bằng các đạo sĩ ngày nay sao? Xét kỹ lời này cũng đủ để bỏ thuyết đó rồi.”
Hỏi: “Đạo đều vô vi là một. Sao ông lại phân biệt sắp đặt, nói là có khác biệt? Lại khiến người học đâm ra hồ nghi, tôi cho là tốn công mà không có ích.”
Mâu Tử đáp: “Đều gọi là cỏ nhưng tính của muôn cỏ không thể nói hết; đều gọi là kim loại nhưng tính của các kim loại không thể nói hết. Cùng loài khác tính, vạn vật đều như vậy, há chỉ có đạo đâu? Xưa Dương, Mặc chắn đường của quần nho, xe không thể tiến trước, người không thể bước đi. Mạnh Kha bác bỏ họ, người ta mới biết chỗ theo. Sư Khoáng gảy đàn đợi tri âm ở đời sau; thánh nhân lập pháp mong quân tử sẽ nhìn thấy vậy. Ngọc đá cùng hòm, Y Đốn vì thế đổi sắc mặt; màu đỏ màu tía lẫn lộn, Trọng Ni vì thế thở dài. Mặt trời mặt trăng không phải không sáng, tại muôn cái tối che khuất ánh sáng; Phật đạo không phải không chính, tại muôn cái tư che lấp cái công. Thế nên tôi phân chia mà khác biệt đi. Cái trí của Tang Văn, cái thẳng của Vi Sinh mà Trọng Ni không khen ngợi, đều là lời nói để sửa chính cho đời, sao lại tốn công mà không có ích?”
Hỏi: “Ông chê thần tiên, dập quái dị, không tin có đạo bất tử là đúng rồi. Cớ sao lại chỉ tin Phật đạo sẽ được độ thế? Phật ở cõi khác, chân ông chưa từng đạp đến đất đó, mắt không thấy nơi đó, chỉ xem văn tự của Ngài mà tin hành vi của Ngài. Kẻ xem hoa không thể biết quả, người nhìn bóng không thể xét hình, hẳn là không chân thực sao?”
Mâu Tử đáp: “Khổng Tử nói: ‘Xem việc họ làm, xét do đâu họ làm, rõ chỗ họ an tâm, người ta giấu vào đâu được’. Xưa Lã Vọng, Chu Công hỏi về việc thi chính, đều biết kết cục về sau của nước kia. Ngày Nhan Uyên xem xe bốn ngựa chạy, thấy cách đánh xe của Đông Dã Tất liền biết xe sẽ đổ. Tử Cống xem cuộc hội thề Chu Lỗ, biết rõ lý do nước họ sẽ mất. Trọng Ni nghe tiếng đàn của Sư Khoáng mà nhận ra khúc dạo của Văn Vương. Quý Tử nghe nhạc mà xem được phong tục các nước. Cần gì phải chân đạp mắt thấy chứ?”
Hỏi: "Tôi từng đi chơi nước Vu Điền, nhiều lần gặp các Sa-môn đạo nhân, lấy việc của tôi để chất vấn họ, họ đều không đối đáp được mà cáo lui. Nhiều người đổi chí dời ý, sao một mình ông khó cải cách vậy?"
Mâu Tử đáp: "Lông nhẹ ở trên cao gặp gió liền bay; đá nhỏ dưới khe gặp dòng liền chuyển. Chỉ có núi Thái Sơn không vì gió lốc mà lay động, đá tảng không vì dòng nước xiết mà dời đi. Cây mai cây lý gặp sương thì rụng lá, chỉ có tùng bách là khó héo úa vậy. Những đạo nhân ông gặp hẳn là học chưa thấu, thấy chưa rộng, nên mới chịu khuất mà lui thôi. Với cái ngu muội của tôi còn không thể bẻ bẻ được, huống chi là người sáng đạo? Ông không tự sửa mình mà muốn sửa người; tôi chưa từng nghe Trọng Ni đuổi theo Đạo Chích, Thang Vũ bắt chước Kiệt Trụ bao giờ."
Hỏi: “Phương thuật thần tiên mùa thu mùa đông không ăn, hoặc vào phòng mười ngày không ra, có thể gọi là điềm đạm đến cùng cực. Tôi cho là đáng tôn đáng quý, hẳn là Phật đạo không bằng chăng?”
Mâu Tử đáp: “Chỉ Nam làm Bắc tự bảo không lầm; lấy Tây làm Đông tự bảo không mê; lấy chim cú chim diều mà cười chim phượng hoàng; bắt con sâu con giun mà trêu rùa thần rồng thiêng. Con ve không ăn, quân tử không quý; ếch rắn trốn hang, thánh nhân không trọng. Khổng Tử nói: ‘Tính của trời đất con người là quý’. Chưa từng nghe tôn sùng ve rắn vậy. Nhưng người đời vốn có kẻ ăn xương bồ mà bỏ quế gừng, đổ cam lộ mà húp nước giấm vậy. Sợi lông mảy tuy nhỏ nhìn vào có thể xét rõ; núi Thái Sơn tuy lớn quay lưng lại thì không thấy. Chí có đọng lại hay không, ý có sắc bén hay không; nước Lỗ tôn họ Quý hạ Trọng Ni, nước Ngô cho Tể Phỉ là hiền cho Tử Tư là bất tài. Sự nghi ngờ của ông chẳng phải cũng hợp lý sao?”
Hỏi: “Đạo gia nói Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng và bảy mươi hai đệ tử đều không chết mà thành tiên. Phật gia nói người đều phải chết, không ai tránh khỏi. Là sao?”
Mâu Tử đáp: “Đó là lời yêu vọng, không phải lời thánh nhân nói. Lão Tử nói: ‘Trời đất còn không được lâu dài, huống chi là con người?’. Khổng Tử nói: ‘Bậc hiền giả lánh đời, nhân hiếu thường còn’. Tôi duyệt Lục nghệ, xem truyền ký, vua Nghiêu có điềm băng, vua Thuấn có núi Thương Ngô, vua Vũ có lăng Hội Kê, Bá Di, Thúc Tề có mộ Thủ Dương, Văn Vương chưa kịp diệt Trộm mà mất, Vũ Vương không đợi được Thành Vương lớn mà băng, Chu Công có thiên ‘Cải táng’, Trọng Ni có giấc mộng ‘Hai cột’, Bá Ngư chết trước cha, Tử Lộ có lời ‘Bị băm nhỏ’, Bá Ngưu có lời ‘Mệnh vậy thay’, Tăng Tham có lời ‘Mở chân ta xem’, Nhan Uyên có quở trách bất hạnh ngắn mệnh, có ví dụ lúa trổ mà không bông. Đều chép rõ trong kinh điển, là lời chí lý của thánh nhân. Tôi lấy kinh truyền làm chứng, lấy người đời làm nghiệm. Mà bảo là không chết, há chẳng lầm lạc sao?”
Hỏi: “Lời giải của ông thực sự đầy đủ hết cả, vốn không phải điều bọn tôi được nghe. Nhưng lời luận giải của ông sao chỉ dừng ở đúng ba mươi bảy điều, cũng có phép tắc gì chăng?”
Mâu Tử đáp: “Cỏ bồng quay lông lốc mà bánh xe thành, gỗ trũng trôi nổi mà thuyền chèo lập. Nhện chăng tơ mà lưới bẫy bày, dấu chân chim hiện mà chữ viết làm ra. Cho nên có phép bắt chước thì thành dễ, không phép bắt chước thì thành khó. Tôi xem điều cốt yếu của kinh Phật có ba mươi bảy phẩm, Đạo kinh của Lão thị cũng có ba mươi bảy thiên, nên bắt chước theo vậy.”
Thế rồi người mê muội nghe xong, bùi ngùi đổi sắc mặt, chắp tay rời chiếu, lui bước cúi đầu thưa: “Bỉ nhân mù lòa sinh nơi tối tăm khuất lấp, dám thốt lời ngu muội, không nghĩ đến họa phúc. Nay được nghe lời dạy, như tuyết tan sạch, xin được đổi lòng, rửa tâm tự răn, nguyện nhận năm giới, làm Ưu-bà-tắc.”
{{Kinh điển Phật giáo}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Phật giáo]]
eku1g3hyh4vud6uds7j7iya79egq2us
Tác gia:Mâu Tử
102
72245
205368
2026-05-15T06:33:56Z
Mrfly911
2215
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{tác gia | tên-họ = | tên = Tử | họ = Mâu | chữ đầu tên = T | năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp--> | mô tả = }} ==Tác phẩm== * [[Biên dịch:Lý Hoặc Luận|Lý Hoặc Luận]]”
205368
wikitext
text/x-wiki
{{tác gia
| tên-họ =
| tên = Tử
| họ = Mâu
| chữ đầu tên = T
| năm sinh = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp-->
| năm mất = <!--hiện dữ liệu được lấy từ wikidata, hãy xóa tham số này nếu khớp-->
| mô tả =
}}
==Tác phẩm==
* [[Biên dịch:Lý Hoặc Luận|Lý Hoặc Luận]]
5cicgqsb6m2mytvrcaa0p0u7e7z2xuo